Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Me Tư Hồng - Nguyễn Ngọc Tiến 🔒

41 trả lời, 142 lượt xem — Trang 2 / 2
Chương 7

1.

Hợp đồng hoàn thành trước thời hạn, công ty Bazin đã thanh toán hết tiền, Lan thanh thản vô cùng. Cô tự thưởng cho mình chuyến đi chơi. Cô không ngồi xe ngựa, muốn đi xe tay cho dân Hà Nội biết mặt con mụ Tư Hồng to gan. Chiếc xe bóng loáng chạy quanh hồ Gươm rồi dừng trước cửa đền Bà Kiệu, ngôi đền thờ ba nữ thần là công chúa Liễu Hạnh, đệ nhị Ngọc Nữ và đệ tam Ngọc Nữ bị Tòa đốc lý phá một nửa lấy đất làm con đường quanh hồ. Cô thắp một nén hương cầu mong ba nữ thần phù hộ.
Xe chạy xuống phía nam, Tòa đốc lý trông lạnh lẽo vì tường vôi trắng toát. Bên tay phải, ngay mép hồ là cây gạo khá cao, hoa nở đỏ trên cành. Loại này thường được trồng ở giữa cánh đồng hay đầu làng làm nơi trú ngụ cho ma quỷ. Hóa ra Tây cũng mê tín, họ trồng để ma quỷ tụ ở đây, không vào Tòa đốc lý quấy nhiễu. Dưới một tí là chùa Báo Ân, nay chỉ còn lại tháp Hòa Phong cô đơn, vài cây cỏ trên đỉnh nghiêng nghiêng theo gió. Vị trí chùa xưa giờ là nhà bưu điện hai tầng, gian giữa gắn chiếc đồng hồ tròn nhưng lấy theo giờ Paris. Hơn mười năm Pháp chiếm, Hà Nội hoàn khác. Phố Paul Bert với tấm biển bằng sơn mài do Bá Kim, hào mục làng Vũ Thạch tặng đứng lẻ loi trên cột gỗ. Chỉ có Tây. Người An Nam vào phố này, nếu không công chức phải là dân giàu có lượn lờ mua những món đồ đắt tiền. Nhìn chiếc xe tay mạ thép sáng loáng, ngồi trên xe là một đàn bà An Nam, viên cảnh sát ra hiệu phu dừng xe. Lan vênh mặt:
- Mày cứ đi, bà chịu.
Chiếc xe chậm lại. Thằng xe đảo mắt nhìn viên cảnh sát phồng mồm huýt còi. Nó buộc phải dừng xe. Lan không xuống xe, giọng đanh đá:
- Tư Hồng đây!
Viên cảnh sát lại gần, từng biết cái tên Tư Hồng trên báo, biết qua các cuộc rượu, hôm nay anh ta mới nhìn rõ mặt. Trông cũng đáng nể.
- Xin lỗi bà.
Thằng phu cho xe chạy tiếp. Các cửa hiệu bán quần áo, bánh mì, quán rượu san sát. Khi còn bán gạo, cô từng đến đây, phố đang xây ngổn ngang. Lan bảo phu xe dừng ở khách sạn Con Gà Trống, cô vào quầy gọi cốc kem. Cô chả hiểu tại sao lại mê món này. Mùi thơm, vị béo ngậy luôn kích thích cô. Mùa đông lạnh buốt, cá hồ Gươm chết cóng mà cô vẫn ăn. Hôm nào bận việc không đi được cô sai người ra mua mang về. Đầu tuần cô ăn kem sôcôla, ngày tiếp theo kem hạnh nhân rồi đến kem sữa.
Ăn xong cô uống cốc nước tráng miệng, vội nhổ phì phì, Tây đầm ngoái nhìn. Hầu bàn An Nam chạy lại.
- Thưa bà, khăn đây ạ!
- Nước gì mà cay thế? Lan nhăn mặt.
- Thưa bà, nước bạc hà để xúc miệng... không phải nước uống ạ...
Lan lầu bầu:
- Xúc miệng phải bằng nước chè chứ.
Trả tiền xong cô đi ra. Đột nhiên cô sai phu xe chạy đến nhà ký Bưởi cuối phố Tràng Thi. Ngôi nhà có gác xây theo kiểu mới. Sau khi thầu làm nhà cho phu, ký Bưởi mở công ty riêng, buôn bán ngày một phát đạt. Kém Lan sáu tuổi nhưng dứt khoát không xưng em, đôi khi nhìn cô bằng đôi mắt long sòng sọc. Ký Bưởi có nhà. Áo gilê vải satanh đen mặc bên ngoài chiếc sơmi màu trắng, đầu chải sáp bóng mượt ra cửa đón Lan.
- Hôm nay hạ cố đến nhà tôi chơi hẳn là chị có việc...
Ký Bưởi nói đúng, từ khi nổi tiếng ở xứ Bắc Kỳ, người đến nhờ vả cầu cạnh suốt ngày khiến cô như trung tâm của thành phố nên chẳng muốn thăm ai. Lan chum chúm cái miệng:
- Tôi đến vì việc dân việc nước, không phải vì việc riêng.
Ký Bưởi cười vang, điệu cười vừa sang vừa uy lực.
- Bà chị lên quan từ bao giờ đấy? - Hỏi xong lại ha hả.
- Tôi nói thật mà. Cậu có nghe cụ cử Lương văn Can nói rằng người An Nam cần phải thực nghiệp không? Nghe tin cậu trúng thầu cung cấp gỗ cho Công ty Hỏa xa Đông Dương nên tôi đến xin việc đây... thế chả là thực nghiệp thì là gì?
- Có việc cho chị đây.
Ký Bưởi có thói quen chờ người nghe sốt ruột mới nói tiếp. Phải chờ lâu Lan quay mặt ra đường.
- Ông Roque, chủ hãng tàu ở Hải Phòng, người từng bị băng cướp Lưu Kỳ bắt cóc đòi năm mươi nghìn đồng tiền chuộc, chán kinh doanh ở Bắc Kỳ đang muốn bán lại ba con tàu sông pha biển với giá rẻ. Ông ta vừa mời nhưng tôi đang chóng mặt vì xuất khẩu ngô và đang đấu thầu thu thuế ở chợ Vinh thêm cả chợ Nam Định nữa, tôi nghĩ chị làm được...
Nghe Ký Bưởi nói Lan quay lại:
- Hay tôi với cậu kinh doanh chung?
- Tôi bỏ tiền nhiều chỗ quá nên không còn vốn. Trước sau tôi sẽ kinh doanh vận tải sông biển, nhà buôn An Nam ngày càng nhiều, nghề đấy sẽ đi lên... với lại tôi thấy Tây Tàu hoành hành, bắt chẹt giá mà nhà buôn phải chịu. Tôi xuất ngô tôi biết, tức lắm.
Nhìn dáng vẻ tươi trẻ của ký Bưởi, cô rạo rực trong người. Ngay lần tiếp xúc đầu tiên, Lan đã bị vẻ mặt nam tính của cậu ta mê hoặc. Quen hơn, cậu ta càng thu hút nhanh nhẹn, quyết đoán, nói là làm, làm là được. Mấy lần Laglan đi công tác, cô chủ động mời cậu ta ăn tối và chia tay bằng nụ hôn. Có lần cô ở lại đến nửa đêm mới về. Lại sát bên, Lan hích tay vào sườn.
- Ngon ăn sao cậu không làm mà xui tôi?
Ký Bưởi chẳng để cô phải chờ lâu, một tay ôm ngang lưng tay kia nâng chiếc váy, đứng giữa nhà hôn nhau...
Về nhà Lan đánh điện ngay cho ông Roque. Ông ta hứa sẽ chuyển cho cả mối bán gạo sang châu Phi. Kinh nghiệm mách bảo Roque đang rất cần tiền và giả rẻ ông ta cũng bán. Chồng chị Ba đã nghỉ hưu, nếu mời chắc sẽ nhận lời đảm nhận việc giao dịch với mối hàng châu Phi. Đó mới chỉ là thuận lợi ban đầu. Thủy thủ có muốn tiếp tục làm cho cô không? Thằng Lân chẳng dư dả sức khỏe và ngờ nghệch liệu có gánh vác được công việc mua thóc? Mà việc này lại không thể giao cho người ngoài, chỉ cần họ tăng mỗi yến lên hai giá thì một tàu thóc đã mất khá tiền. Chú Vẹn nhanh nhẹn nhưng xay xát là việc hoàn toàn mới. Lan chìm vào tính toán. Ngày còn ở với Hồng, dù ông ta không nói, cô cũng biết buôn gạo chẳng hề dễ dàng.
Mấy ngày nay Laglan thấy vợ ngẩn ngơ, ông ta cọ râu vào bộ ngực nhưng hàng ria cứng chẳng còn tác dụng, đầu vợ không co lên, bàn tay cũng không che ngực để chặn những sợi râu lia xuống phía dưới bụng. Chắc cô ta đang tính toán làm gì tiếp theo vì công việc phá tường thành đã xong, cung cấp thực phẩm vào nếp.
- Em muốn làm thêm nghề xuất khẩu gạo.
Laglan trợn mắt, mồm há tròn nhìn vợ như nhìn vật thể lạ. Còn điên hơn cả phá tường thành. Toàn những việc khó mà cô ta lại không có kinh nghiệm, còn ông không đỡ được vì nó chẳng liên quan đến quân đội và ông cũng chẳng hiểu biết chút nào. Hoa thương buôn gạo ở Bắc Kỳ cách đây mấy chục năm, họ có nhiều bí quyết và mưu mẹo, liệu có cạnh tranh được với họ? Đặt tay lên trán vợ, Laglan lo lắng:
- Canh bạc này mạo hiểm quá... phải mất nhiều trí tuệ và công sức mới có được chút vốn...
Laglan vốn là loại người chỉ làm cái gì mình thạo, mình hiểu. Biết chồng có lý nhưng ký Bưởi mở mồm hẳn cậu ta đã quan sát và tính toán kỹ lưỡng, cơ hội đâu có sẵn sao lại bỏ lỡ? Cô thiếp đi. Laglan nhìn vợ thở dài.
0
2.

Ông Sáng áo the khăn đóng đang lễ, nhìn cử chỉ và miệng ông xít xoa sau mỗi câu khấn, Lan biết chú thành tâm. Ông Sáng khấn xong, Lan ra trước bàn thờ chắp hai tay lầm rầm. Gia đình đoàn tụ, không còn đói khổ mà cha mẹ lại chả còn. Mắt Lan rưng rưng. Laglan cũng khấn, chẳng biết cầu xin gì. Nhìn nước mắt thằng cháu rể giàn giụa, ông Sáng và ông Vẹn ngạc nhiên như muốn nói “Thằng rể Tây này chả khác người An Nam”. Laglan lễ xong nói với vợ:
- Khói hương nhiều quá!
Thì ra khói hương làm ông ta chảy nước mắt. Cả nhà phì cười.
Lẽ ra cỗ tất niên năm nay làm ở nhà Lan nhưng biệt thự ở làng Hội Vũ chưa hoàn thành trước Tết như dự tính vì kiến trúc sư Auguste Henry Vildieu đòi sàn gỗ phải đúng lim Thanh Hóa hàng trăm tuổi. Lan đành cho đổi gỗ theo ý ông ta. Việc kiến trúc sư Auguste nhận lời thiết kế ngôi biệt thự đã thành chuyện cho người Pháp bàn tán hàng tuần ở các quán cà phê hay quán rượu absinthe. Ông ta giỏi chuyên môn song tính cách kênh kiệu, chỉ nhận thiết kế các công trình lớn. Sang Bắc Kỳ được giao phụ trách công trình dân sự, lại càng khó tiếp cận với ông ta. Cô khích “danh tiếng ngài sẽ trọn vẹn nếu ngài có thêm duy nhất một công trình tư nhân” và Auguste nhận lời.
Bà Mùng cũng muốn làm ở nhà mình nhưng ông Sáng tranh vì ra Giêng thằng giai cả cưới vợ, ngầm ý mời hai họ xem tài nấu nướng của con dâu tương lai. Không có họ hàng ở Hà Nội mà ba nhà cũng ít người nên Lan muốn mỗi năm ăn tất niên ở một nhà, tập trung mọi người lại tăng tình thân gia đình. Ông Sáng bảo vợ lên phố Hàng Bồ mua miến mua măng và nấm hương. Còn ông ra tận chợ Ngọc Hà mua gà và cá trắm đen theo yêu cầu của con dâu tương lai.
Hương đã tàn, ông Sáng bê mâm đặt xuống chiếu. Nhìn mâm cỗ Lan bất ngờ vì nấu đúng kiểu cỗ Tết Hà Nội. Bát bóng nấu thịt nạc, bát vi cá, đĩa thịt gà chặt úp ngược vàng rộm trên có lá chanh thái nhỏ. Đĩa xôi gấc đỏ như để lấy may. Lại có cả món truyền thống là nem rán. Lan từng ăn tất niên ở nhà bạn buôn nên cô thích món này, nhân nem toàn thứ bổ, có thịt, trứng, miến đậu xanh, nấm hương... Lan thấy còn có cả món cá trắm đen kho, một món đầu vị trong ngày tết. Chế biến món này cần rất nhiều gia giảm nào riềng, sả, ớt, còn cho cả nước chè tươi, nước dừa và mỡ gà. Ăn miếng cá vừa béo vừa thơm. Cô em dâu thấy chị họ chăm chú nhìn mâm cỗ xấu hổ tọt vào trong bếp. Lan ngạc nhiên hơn vì thằng Lân và mấy đứa em răng trắng hếu.
- Trước tết chú với chú Vẹn bắt chúng nó ra hiệu chiết răng nhưng chả đứa nào chịu, bảo lớp học tiếng Tây có ai để răng đen đâu. Nghĩ đi nghĩ lại sống ở đâu theo đấy, nên các chú cũng chẳng bắt nữa.
Lắc lắc chai rượu trắng đục, Laglan hề hề:
- Rượu nha-que à!
Ông Sáng gật đầu.
- Sao không uống rượu ty, uống rượu nha-que là trốn thuế, cảnh sát biết bắt bỏ tù.
Lan dỗ dành chồng:
- Uống nốt lần này thôi.
Ông Sáng rót một lượt ra chén tống, Laglan đưa lên mũi ngửi rồi nếm thử.
- Nhạt quá!
Ông ta từng uống absinthe nên rượu ngang chỉ hơn nước lã. Bữa tất niên đầm ấm và vui vẻ. Lần đầu tiên Lan biết thế nào là hạnh phúc gia đình.
- Xong dãy nhà ở phố Hàng Da, cháu tặng vợ chồng chú Sáng, vợ chồng dì Mùng và thằng Lân, mỗi gia đình một căn. Mà thằng Lân chuẩn bị lấy vợ đi...
Nghe chị nói, Lân chỉ cười hiền. Nó bị lao phổi, tiêm thuốc đã đỡ nhưng da còn xanh. Từ ngày ra Hà Nội, hết đi học rồi lại bệnh, bác sĩ bảo lúc trẻ nó làm việc quá sức nên giờ phát bệnh. Bố mẹ Lan sinh cả thảy sáu anh em nhưng bốn người bị đậu mùa không qua nổi, vì thế Lan chả tiếc em thứ gì. Lợi dụng cháu vui, dì Mùng mắng yêu:
- Cháu cũng đẻ một đứa cho vui cửa vui nhà...
Lan lặng người, câu nói của dì xuyên thẳng vào nỗi đau mà Lan giấu bấy lâu. Cô không thể kể chuyện bị uống thuốc vô sinh cho dì nghe được. Cô tránh câu trả lời bằng cách lảng sang chuyện khác.
- Hôm nay có đông đủ hai bên nội ngoại, cháu thưa với chú dì chuyện này, nhân thể ta bàn luôn. Cháu có ý định mở chi nhánh ở bên Pháp, đầu bên này xuất hàng qua, bên kia nhập về nhưng khó khăn nhất bây giờ là người, phải là họ hàng thân thích, người Tàu họ bền vững là nhờ bà con. Mà người nhà mình thì ai chịu đi đây? Thằng Lân ốm yếu lại còn đang chữa bệnh mà nó cũng không muốn xa cháu, thôi thì không em này có em khác... cháu muốn biết ý chú và dì thế nào?
Bà Mùng hướng mắt về phía ông Sáng ra điều họ nội nói trước.
- Thôi thì tôi nói trước... nhờ có cháu nên chú thím cũng như chú dì không còn long đong vất vả, các em cũng nhờ chị mà nên người. Cháu bảo đi là chúng nó phải đi, làm cho chị cũng là cho chúng nó, lớn cả rồi, chị cho học hành, không chịu đi, không chịu làm thì a lê ra khỏi nhà.
Nói xong ông quay sang bà Mùng.
- Tôi nói thế có phải không ông bà?
Vẹn “xẩm” tủm tỉm nhìn vợ.
- Sao chuyện gì ông cũng đẩy cho tôi nói thế, bảo hát thì ừ ngay đấy.
Câu mắng chồng khiến mọi người cùng cười.
- Dì thấy ông Sáng nói đủ rồi, giờ dì chỉ thêm ý này thôi, nếu các em cháu sang bên đó đứa nào hợp duyên cứ lấy thôi, thời buổi bây giờ khác trước, đâu còn ở Bình Thơ nữa.
Mặt Lan tươi như hoa. Tranh thủ mọi người nói chuyện, Laglan kềnh ra tấm chiếu sau lưng vợ. Có vẻ rượu nếp cái hoa vàng đã ngấm. Ông Sáng cười khoái chí.
- Cu cậu khướt rồi.
Ông Vẹn nổi hứng lấy đôi đũa gõ vào bát và cất giọng hát.
Con ơi đất rộng trời cao... i... sánh làm sao được công lao mẹ hiền. Mẹ mới có thai kể từ một ân thì con... i... mẹ mới có thai. Âm dương là âm dương nhị khí, ới nào ai biết gì. Ở trong lòng ờ ờ... luống những sầu bi...
Rồi ông gõ đũa dồn nhịp lại hát tiếp.
Ở trong lòng mà con ơi... i... luống những sầu bi. Ruột gan chua xót mỗi khi vơi đầy. Sang đến hai ân con ơi mẹ chịu biết bao tầy i i i...
Ông Vẹn dừng hát gõ nhịp. Cả nhà ông cùng hát theo.
Sang đến hai ân con ơi mẹ chịu biết bao tầy. Cưu mang là cưu mang chín tháng ới mười ngày khai sinh, nay mà kể từ vách đất lều tranh, nắng í mưa đùm bọc rách lành mẹ luôn những che chở, lúc mà ra đời con ơi cất a tiếng khóc oe oe...
Nghe tiếng hát, Laglan tỉnh dậy chăm chú nhìn tay ông Vẹn gõ hai chiếc đũa vào bát canh miến. Bàn tay thô ráp của ông chú nha-que sao mà dẻo và khéo đến thế. Âm thanh cũng lọt tai. Sống ở An Nam hai chục năm, hôm nay Laglan mới được nghe hát kiểu dân gian. Dù chả hiểu lời nhưng Laglan cảm nhận câu hát chất chứa nỗi niềm trong đó.
Cất tiếng oe oe là mà dốc lòng là chưng nay mẹ nhưng a nữa vỗ về nâng niu. Sang đến ba ân con ơi ngọn gió hắt hiu. Thân gầy sữa cạn mẹ chắt chiu mỏi mòn, ơ tần tảo ì bú mớm nuôi con...
Cả nhà ông lại hát cùng. Mắt bà Mùng rơm rớm.
Bú mớm nuôi con sòng mà bốn ân chưng đây mẹ kể chợ thôn đi về, kể từ hạt gạo đồng quê tảo tần đi khuya sớm mẹ lo bề rau cháo con ăn...
Laglan ngạc nhiên thấy mắt ai cũng đỏ. Thằng Lân chạy ra một xó hu hu.
- Lời bài hát có ý nghĩa gì mà ai cũng khóc? - Laglan hỏi ông Vẹn. Câu hỏi chạm vào nỗi buồn ông luôn muốn giấu. Ông ôm mặt nức nở. Lan thì thầm:
- Bài này tên là Thập ân phụ mẫu, kể về mười nỗi khó nhọc mà cha mẹ phải chịu đựng từ khi sinh con ra đến lúc chúng trưởng thành. Ông ấy khóc vì dạy con luôn ghi nhớ nhưng chính mình lại chưa giúp gì cho cha mẹ.
Bỗng có tiếng lách cách liên tục của tiền xu va vào ống tre ở ngoài phố. Con Dọc chưa kịp mở cửa, mấy đứa trẻ đã đứng ngoài hát:
Nhà bà còn đèn còn cửa
Mở cửa cho anh em tôi vào
Bước lên giường cao thấy đôi rồng ấp
Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu
Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp
Voi ông còn buộc, ngựa ông còn cầm...

Ông Sáng ra mở cửa. Lan đưa cho con Dọc mấy đồng tiền trinh. Nó hớn hở bỏ vào ống nứa. Một đứa trẻ giơ cao ống tre lắc mạnh, tiếng lách cách rộn ràng. Lũ trẻ lại sang nhà bên cạnh. Pháo tép nổ lạch tạch. Đường phố vắng lặng. Những hạt mưa bay rơi ngang ánh sáng đèn điện màu vàng. Lan chảy nước mắt vì quá hạnh phúc.
0
3.

Hôm nay quốc khánh Pháp. Cờ tam tài [1] treo quanh hồ Gươm, đèn điện sáng trưng hai bên cửa Tòa đốc lý. Người ta còn treo cả đèn lên đầu tượng thần tự do bên vườn hoa Paul Bert. Tiếng là Hà Nội có nhà máy đèn Bờ Hồ từ năm 1895 nhưng chỉ cấp cho các công sở và một vài tư dinh vì công suất quá nhỏ. Đường phố vẫn treo đèn dầu. Cảnh sát mặc quần soóc trắng, đội mũ cát trắng đeo súng nòng dài đi lại. Đôi mắt cú mèo lia qua lia lại. Người Pháp dân sự và đám quân nhân mặc đồ sơvin ùn ùn tới. “Bông xoa” râm ran. Phu trả khách xong vội vã kéo xe ra thật xa ngồi chờ, khu vực này cảnh sát cấm không cho xe đỗ.
Lan mặc váy đầm trắng, đầu đội mũ vải mềm trắng, chỉ thiếu một bông hoa bên ngực trái là giống cô dâu. Cô tươi tắn khoác tay chồng đi vào. Ngoài sảnh đến phòng khánh tiết, bóng điện các màu làm các chậu hoa bị lép vế. Mọi người biết nhau cả vì đều ở quanh quẩn hồ Gươm. Họ đứng thành từng nhóm, chuyện rôm rả. Các ông chồng hỏi thăm bạn bè, các bà vợ An Nam rúm vào một góc, có lẽ vì vốn tiếng Pháp chỉ đủ hỏi tiền lương. Lan gật đầu chào cô thợ may Joséphine. Anh chàng thợ rèn Jardonnet hớn hở bên cô vợ An Nam, anh em nhà buôn François vui vẻ cùng huýt sáo một bài hát Pháp. Còn ca sĩ Héloise trong bộ váy diêm dúa, đêm nay cô có cơ hội hát sướng mồm. Mấy nhạc công mặt mũi căng thẳng thử đàn. Lan đảo mắt khắp lượt mà không nhìn thấy Trúc.
Từ ngày lấy Laglan, quốc khánh năm nào cô cũng cùng chồng dự tiệc chiêu đãi và khiêu vũ nhưng cô không hiểu ngày này, cô lay lay tay chồng.
- Quốc khánh là gì?
Laglan nhún vai tỏ ý chê trách vợ:
- Đó là ngày người dân Pháp đứng lên làm cách mạng lật đổ chế độ quân chủ, tức là lật đổ vua thay bằng chế độ cộng hòa. Và người ta lấy ngày 14-7 là ngày sinh ra chế độ mới gọi là quốc khánh.
Lan vặn vẹo:
- Thế sao An Nam vừa có vua lại có quan Pháp? Cái ngày hạ bệ vua An Nam hay đuổi người Pháp về nước thì gọi là ngày quốc khánh An Nam đúng không?
Laglan hôn nhẹ lên má vợ.
- Em thông minh lắm!
- Nhưng chỉ nên hạ bệ vua thôi, không nên đuổi người Pháp vì chồng em là người Pháp - Lan hóm hỉnh.
Laglan ôm vợ.
- Ồ! Cô gái bán gạo, em đáng yêu lắm!
Lan chúm chím nhìn chồng như muốn nói “chúng ta về nhà đi”.
Tiếng ồn ào nhỏ dần từ ngoài lan vào trong. Ngài Toàn quyền Paul Doumer đang vào. Đám quan chức phủ Toàn quyền, phủ Thống sứ cúi đầu chào trân trọng. Paul bắt tay từng người. Lần trước, Lan đã đến tận dinh xin gặp nhưng ông ta từ chối, lấy lý do bận vì đang chuẩn bị mời thầu xây cầu trên sông Cái. Không bỏ lỡ cơ hội, Lan kéo chồng lại bên vị Toàn quyền.
- Kính chào ngài Toàn quyền!
Con người hiếm khi ban phát nụ cười cho ai hôm nay đã nhếch mép.
- Chào bà Tư Hồng, người nổi tiếng xứ Đông Dương của tôi. Nhân đây cũng xin nói lại cho bà thêm rõ, tôi đến An Nam quá muộn để giữ lại những di tích cần thiết. Đặc biệt là các cửa thành, nhẽ ra nó phải được bảo tồn, chúng có những phong cách lớn gắn bó mật thiết với lịch sử đáng cho ta phải trân trọng. Giống như Khải Hoàn Môn ở Paris, các cửa thành đó rất đẹp cho tương lai thành phố mà không cản trở giao thông và qui hoạch của chúng tôi.
- Cám ơn ngài đã đánh giá tôi quá cao! Cám ơn ngài tiếc cho cái không còn. Vâng, thưa ngài, xứ Đông Dương do ngài cai quản nhưng quan lớn trong suy nghĩ của dân An Nam thì dân chi phụ mẫu [2]. Thưa ngài! Tôi biết ngài bận bịu với kế hoạch khai thác thuộc địa để mang lại phồn vinh cho nước Pháp song tôi hy vọng ngài sẽ dành cho tôi chút ít thời gian, tôi muốn được bày tỏ với ngài suy nghĩ của nhà kinh doanh Bắc Kỳ...
Paul nhìn Lan, biết không thể từ chối.
- Tôi sẵn sàng lắng nghe nếu điều mà bà sẽ trao đổi có ý nghĩa với chính phủ Bảo hộ. Và để bà có nhiều thời gian hơn dành cho kinh doanh bà nên gửi trước cho ông thư ký đây những điều bà muốn bày tỏ.
Paul quay sang phía viên thư ký.
- Ông Daniel đây sẽ sắp lịch và thông báo cho bà biết cụ thể thời gian.
- Vô cùng cám ơn ngài!
Ông ta bắt tay Lan nhưng chỉ gật đầu với Laglan rồi đi về phía sân khấu. Lan đưa danh thiếp cho viên thư ký. Ông này đọc nhanh đến ngạc nhiên:
- Bà đã lắp dây nói?
- Xin hỏi ngài, văn minh của người Pháp mang sang An Nam cho ai dùng?
Lan đanh đá, viên thư ký mỉm cười.
- Tôi không có ý như vậy. Ý tôi muốn nói bà là người An Nam đầu tiên ở Bắc Kỳ sử dụng phương tiện văn minh này. Tôi sẽ gọi cho bà...
Ông Đốc lý vỗ tay ra hiệu cho mọi người trật tự. Ban nhạc tấu quốc thiều Pháp, Lan thấy ai cũng đặt tay phải lên tim, mặt nghiêm trang hát. Tiếng hát vừa dứt, Đốc lý nói rất to:
- Allons enfants de la patrie [3].
Mọi người hồ hởi vỗ tay rầm rầm. Chờ tiếng vỗ tay dứt hẳn, ông Đốc lý cất giọng trầm ấm như diễn viên kịch mà Lan cùng chồng đi xem ở rạp Hội Âm nhạc.
- Tôi muốn các bạn vỗ tay thật nồng nhiệt chào đón ngài Toàn quyền đến dự tiệc chiêu đãi quốc khánh Pháp tại Hà Nội.
Tiếng vỗ tay lại rào rào kèm theo những câu bình luận chỉ hai người nói với nhau nghe được.
- Tôi xin cám ơn các công dân Pháp, bạn bè người An Nam có quan hệ thân thiết với chính quyền Bảo hộ có mặt trong buổi tối hôm nay, những người đã đang và sẽ làm cho nước Pháp ngày càng phồn vinh, cho chính phủ Bảo hộ lớn mạnh. Nhân quốc khánh nước Pháp tôi xin cám ơn bà Trần thị Lan, người phụ nữ An Nam đầu tiên dám mở công ty thầu khoán ở Bắc Kỳ, tạo cảm hứng kinh doanh cho nhiều nhà buôn lập công ty và đóng thuế rất lớn cho chính phủ bảo hộ. Công việc xây dựng Hà Nội, khai hóa văn minh mới đi được chặng đầu tiên nên rất cần những đồng tiền thuế của các bạn. Xin nâng cốc chúc mừng quốc khánh nước Pháp vĩ đại, chúc sức khỏe quý ông, quý bà!
Tiếng chạm cốc canh cách. Bạn bè Laglan ùa lại chúc mừng Lan. Cô dâng lên niềm tự hào. Ông Đốc lý bắt tay khiến Lan cảm động dù biết là xã giao. Đám đông nhốn nháo khi ban nhạc dạo đàn. Ca sĩ Héloise bỗng cất tiếng hát cao vút. Một vài người nhún nhảy theo âm thanh lúc trầm lúc bổng. Lan nhớ lần theo chồng đi khiêu vũ ở khách sạn Grand [4], tối đó các cô vợ An Nam bất động vì nó quá xa lạ. Tất cả ngồi nhìn chồng mình uốn éo với các bà đầm già. Chỉ có Lan mạnh dạn bước ra cùng chồng. Cô đã từng khiêu vũ tại nhà chị Ba. Cô quay người, xoay theo cánh tay của chồng, đêm về chân đau nhức vì đôi giày da cọ vào bàn chân. Sau đó đám me bạo dạn bắt chước và họ gọi cô là “Đệ nhất khiêu vũ Bắc Kỳ”.
Laglan ôm vợ nhảy điệu valse. Ông ta không thể tin nổi sao vợ ông có thể nói chuyện với ngài Paul thoải mái như vậy. Ngay đại tá của Sở chỉ huy chiến dịch Bắc Kỳ trao đổi công việc thường xuyên với ông ta nhưng lần nào cũng lúng túng như gà mắc tóc. Laglan vuốt bờ vai vợ. Cả hai xoay trong tiếng nhạc êm dịu.
* * * * *
Dù có tới sáu, bảy công ty ở Hà Nội do người An Nam thành lập cùng nhiều nhà thầu, nhà buôn lớn nhưng từ tổng trú sứ đến khi chức này đổi thành Toàn quyền, họ chưa bổ nhiệm ai vào Phòng Thương mại. Thương nhân Pháp và Hoa kiều chiếm hết các vị trí. Thậm chí họ còn tìm mọi cách có chân. Cái danh đó hoàn toàn không phù phiếm, chẳng để trang trí, ngược lại nó đảm bảo và tăng sự tin cậy trong các thương vụ, từ đó họ sẽ kéo về những hợp đồng béo bở. Lan bực tức vì chuyện này. Cô từng ép chồng tìm cách gặp ngài Toàn quyền nhưng Laglan chối đây đẩy. Lần gặp này chả biết có kết quả không vì Laglan bảo Paul Doumer là nhà chính trị đầy tham vọng, ông ta chỉ ra lệnh và ra lệnh, ngài không bao giờ giải quyết những chuyện như vậy và sẽ đẩy xuống gặp các ông phụ trách. Ngài chỉ ký nếu có sự đảm bảo từ cấp dưới. Lan đọc đi đọc lại dòng chữ đại tá Croibies viết về ngài Toàn quyền gửi cho cô.
Paul Doumer đỗ bằng cử nhân toán năm hai mươi tuổi, năm sau ông ta lấy bằng cử nhân luật và trở thành chuyên gia tài chính dù ông ta xuất thân trong gia đình lao động. Cha là công nhân xe lửa. Bản thân Paul phải lao động kiếm sống từ năm mười hai tuổi. Nhờ quan điểm cấp tiến, ông ta trở thành nghị sĩ và được cất nhắc làm Bộ trưởng Bộ Tài chính vì đưa ra chính sách tăng thuế thu nhập. Sang Đông Dương năm 1897, Paul là nhà cai trị độc tài theo đuổi chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ trực trị, xóa bỏ chủ quyền và thống nhất An Nam. Paul tập trung hết quyền hành vào mình, ép vua Thành Thái ký dụ bãi bỏ Nha Kinh lược ở Bắc Kỳ, giao quyền này cho Thống sứ Augustin Foures. Ông ta cho rời tỉnh lỵ Hà Nội ra Cầu Đơ, tổ chức khai thác tài nguyên, biến Đông Dương thành thị trường cho kỹ nghệ và thương mại của Pháp...
Ý chí vươn lên của ông ta càng thôi thúc cô phải khám phá về con người này.
Xe ngựa dừng lại trước tòa nhà quá lớn. Kiểu cách hoàn toàn mới lạ. Uy nghiêm và sang trọng. Lan thấy một khuôn mặt quen thuộc từ phòng ngài Toàn quyền đi ra, chợt nhận ra đó là Dumoutier, người đã can ngăn Toàn quyền Lanessan không nên phá tường thành. Cô gật đầu chào. Ông ta cười buồn bã. Chắc bị ngài Toàn quyền mắng nhiếc?
Paul đúng giờ như nhà quân sự. Ông ta mặc áo sơ mi cộc tay, áo bỏ trong quần, đầu rẽ ngôi, khuôn mặt lạnh như băng, cái bắt tay tạm bợ, hờ hững có khoảng cách vốn là kiểu của các nhà chính trị chuyên nghiệp.
- Tôi vô cùng cám ơn ngài đã bớt chút thời gian vàng ngọc mà ngài luôn dành cho nước Pháp để tiếp tôi.
- Cám ơn bà có những lời lẽ tốt đẹp. Điều đầu tiên tôi muốn nói là cám ơn bà đã đóng thuế đều đặn cho chính phủ Bảo hộ. Tôi đọc rất kỹ yêu cầu của bà và hôm nay tôi cũng muốn trao đổi để bà rõ hơn.
- Vâng thưa ngài, từ khi chính phủ Bảo hộ cho lập Phòng Thương mại Hà Nội, chưa một người An Nam nào được bổ nhiệm, tôi cũng như nhiều nhà buôn An Nam ở Hà Nội tự hỏi, phải chăng chúng tôi đóng thuế quá ít, phải chăng chúng tôi không xứng đáng có chân vì chúng tôi làm ăn còn nhỏ hay vì lý do nào khác?
- Tôi chắc là bà quen ẩm thực Pháp?
Lan khựng người, tại sao ông lại chuyển sang chủ đề ăn uống? Laglan nói rằng ông ta là nhà ngoại giao cừ khôi, luôn luôn làm chủ trong các tình huống. Lan cảnh giác.
- Dù bà có nói không thì tôi biết chắc bà đã quen với đồ ăn Pháp, đôi khi bà chẳng thích nhưng chồng bà muốn. Bà thấy đồ ăn Pháp thế nào?
- Ồ, đồ ăn Pháp rất tuyệt nhưng không phải ai cũng uống vang Pháp.
- Vâng, uống hay không tùy sở thích mỗi người miễn họ biết đó là vang Pháp, điều đó cũng giống như nhà buôn cần phải biết làm gì, làm thế nào trước khi mở công ty. Phòng Thương mại Hà Nội có tiêu chuẩn của nó và tôi tin bà đã đọc kỹ?
- Thưa ngài, vang Pháp rất ngon... và tôi nghĩ chắc không có công thức chung cho các giống nho khác nhau, có khi nông dân trồng trên đám ruộng nhỏ bé lại cho ra thứ rượu tuyệt hảo hơn cả cánh đồng nho rộng lớn vì bao đời họ ở đó...
- Cám ơn bà rất thẳng thắn, việc bà chưa thể là thành viên Phòng Thương mại Hà Nội tôi sẽ cho xem lại tiêu chuẩn nhưng dù thế nào tôi hy vọng bà vẫn tiếp tục đóng thuế cho chính phủ Bảo hộ. Xin lỗi bà tôi phải điều hành một cuộc họp để chọn nhà thiết kế cầu sông Cái, cây cầu lớn nhất châu Á. Mong bà thông cảm.
Ông ta chấm dứt cuộc gặp với lý do không có lý do nào chính đáng hơn. Lan ấm ức, thế là cô khó có cơ hội bước chân vào chỗ chỉ có thương nhân Pháp và Hoa.
------------------
[1] Cờ Pháp, vì có ba màu nên dân gian gọi cờ tam tài.
[2] Cha mẹ của dân.
[3] Một câu trong quốc ca Pháp: Đi lên, những con người của Tổ quốc.
[4] Nay là dãy nhà của công ty Intimex trông ra hồ Gươm ở phố Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.
0
4.

Ngôi biệt thự hai tầng được vây quanh bằng các màu hoa và cây cảnh quý càng tôn thêm sự sang trọng. Lan bắt chước đám nhà giàu Pháp trồng bốn cây hoàng lan bốn góc nhà. Những chiếc lá xanh thẫm nhũn nhặn trên cành cây to khỏe đang vươn cao hứa hẹn một mùa hoa lãng mạn. Mặt tiền có hồ nước nhỏ, thầy phong thủy vào nhà khen Tây thiết kế sao am hiểu văn hóa An Nam. Thầy giải thích “khí gặp thủy thì ngưng, gặp phong thì tán”, có hồ nước vừa tạo nên cảnh quan thơ mộng lại vừa tạo thành “minh đường tụ thủy”, khiến khí lực nhà cửa dồi dào. Auguste không dùng gạch lát sàn, ông dùng gỗ lim Thanh Hóa để tránh trơn trượt trong ngày nồm tháng Ba. Phòng ngủ, phòng khách đều có lò sưởi. Còn cầu thang uốn lượn hình rồng cách điệu mềm mại, bên trong bằng gỗ ngoài bọc đồng lá làm tăng tính vĩnh cửu ngôi nhà. Hoa văn ở ban công tầng hai, Auguste dùng sắt uốn mô phỏng đồng tiền trinh có lỗ vuông để khoe sự phú quý của gia chủ mà không hề bị cưỡng ép. Giám đốc nhà máy rượu Fontaine đến chơi phải ghen tỵ dù biệt thự của ông ta ở đối diện dốc Cây Thị được các kiến trúc sư hết lời khen ngợi.
Có tiếng chuông điện thoại, Lan cầm máy ờ ờ rồi văng một tràng tiếng Pháp. Chưa đầy nửa giờ ký Bưởi xuất hiện. Chắc phải có việc cần kíp cậu ta mới mò đến sớm như vậy. Mặc Bưởi ngồi chờ ở phòng khách, cô tắm xong, trang điểm nhẹ mới ra.
- Tôi chưa ăn sáng, chưa cà phê mà cậu đã quấy quả tôi sớm vậy? - Lan nửa đùa nửa thật.
- Cơn sung sướng của chị sao cứ dài mãi thế... Tôi đang bí chỉ có chị mới có thể giúp được.
- Trúng thầu lờ tôi đi, giờ khó khăn lại cầu tôi, nào có việc gì, anh chàng đẹp trai của tôi.
- Thuế khai thác gỗ pơmu tôi đóng đầy đủ và chính phủ đã cấp giấy phép. Theo cách mộ phu của chị, tôi tính toán tiền trả công khai thác quá lớn nên lãi lờ chả đáng là bao. Chị có kế gì bày cho tôi?
Sở Hỏa xa Đông Dương ký hợp đồng cung cấp gỗ với nhà thầu ACG của Pháp. Hãng này chuyên xây dựng các công trình lớn ở những nơi hẻo lánh nên chính phủ muốn tiết kiệm tiền đã bắt các nhà tù cung cấp phu cho họ. Quen dùng phu chỉ trả công bằng bữa ăn, giám đốc ACG xin chính phủ cho tù làm lập tức bị bác ngay vì dự án đường sắt không dùng tiền ngân khố. ACG đành thuê phu nhưng quen thói ra lệnh và ép làm thêm thời gian nên họ trốn sạch. Sợ bị phạt, ACG chấp nhận lỗ sang nhượng cho Công ty Cung ứng vật liệu Quảng Đông. Công ty này mua lại vì tin tưởng xin được giấy phép đưa phu từ Trung Quốc sang giống như nhà thầu đang xây cầu sông Cái. Nhưng chính phủ không chấp thuận vì khai thác gỗ khác làm cầu. Thuê phu An Nam lại sợ đi vào vết xe đổ của ACG, đang loay hoay tìm kế thì ký Bưởi biết chuyện đứng ra thầu lại.
- Tôi hiến kế cho cậu, tôi phải hưởng ba mươi phần trăm lợi nhuận, đồng ý tôi mới giúp?
Ký Bưởi lè lưỡi:
- Chị bóc lột sức tôi giờ lại bóc lột cả tiền bạc.
Lan cười giòn.
- Chính cậu cũng mong tôi bóc lột mà.
Lần Lan trúng thầu cung cấp nguyên liệu xây dựng doanh trại cho hơn trăm lính ở Lào Cai, cô cũng đưa phu từ xuôi lên. Ngày đầu họ hăng hái nhưng sức đuối dần vì không quen ở rừng. Lại bị ngã nước hành hạ, sốt triền miên, da xanh bủng, không trả công cũng phải cho họ tiền xe cộ về quê. Nhìn nhà người Mèo ở đây toàn gỗ pơmu Lan hiểu họ biết cách khai thác loại gỗ này và biết cách chuyển nó về. Tìm gặp già bản giúp đỡ, ông ta nhận lời ngay. Hỏi tiền công, ông nhe cái răng bịt vàng bảo “Tao lấy cái tiền của mày làm gì, có tiền lại mất công đi mua, mày cứ trả bọn nó bằng thuốc phiện”. Lan mừng quýnh nhưng khốn nỗi thuốc phiện ty [1] quá đắt, thuốc sống rẻ hơn nhiều lần mà chả tìm được chỗ mua. Cuối cùng Laglan nhờ cậy viên sĩ quan chỉ huy ở Lạng Sơn, ông ta giúp ngay vì Lạng Sơn là nơi tuồn thuốc phiện sống từ Trung Hoa vào An Nam. Mọi việc thế là xong.
- Đùa cậu thôi, tôi sẽ giúp, chỉ có điều sau vụ này đừng bắt tôi phải bóc lột cậu - Lan cười vang nhà.
Ký Bưởi đi ra khỏi nhà, Laglan cằn nhằn:
- Tại sao lại giúp không?
Lan xoa đầu chồng rồi ấn vào ngực. Laglan rê rê cái mồm như trẻ con tìm vú mẹ. Ông ta nhay nhay đầu ti khiến Lan không chịu nổi ưỡn người lên. Laglan nhấc bổng vợ bế vào phòng. Nhưng hôm nay ông thấy khang khác, mệt hơn mọi lần, chả biết vợ khỏe hơn hay ông yếu đi.
* * * * *
Đang ở Lào Cai, Laglan nhận được tin báo của người bạn, em gái đã đến Hải Phòng. Ông ta giục viên trung úy đồn trưởng kết thúc chuyến đi săn vô bổ để trở về Hà Nội.
Khi Laglan lên tàu sang An Nam, hơn một năm sau Morel mới ra đời. Dù đã xem ảnh nhưng Laglan không thể hình dung nổi em gái mình, cô sinh viên khoa chính trị Đại học Paris đang nuôi ý định trở thành nhà chính trị. Chuyến đi này giúp nó hoàn thành tiểu luận về người Pháp ở ngoài châu Âu. Laglan cũng gửi cho em tấm ảnh chân dung trong bộ dolman [2] chụp cạnh cầu Thê Húc. Laglan bồn chồn vì chưa từng gặp em và rất lâu cũng chẳng biết cha mẹ thế nào. Có lẽ tiểu luận cũng chỉ là lý do. Nó có máu phiêu lưu hoặc cũng tò mò muốn biết anh mình sống ra sao nên sang tận nơi, cái xứ sở mà anh nó đã ở đó liên tục hơn hai mươi năm.
Laglan ôm em gái, cảm giác ruột thịt truyền khắp cơ thể. Đôi mắt rực sáng là của ông nội nhưng khuôn mặt nó lại giống mẹ. Một bà mẹ Pháp luôn che chở cho ông từ bé thơ đến lúc trốn trang trại ra thị trấn. Và mẹ bị cha dội hết tức tối lên đầu hàng tháng trời.
Ngày hôm sau, Morel nhờ anh đưa đi thăm thắng cảnh Hà Nội. Nó từng xem các tấm ảnh chùa Khổ Hình của bác sĩ Hocquard chụp đăng trên tạp chí Thuộc địa nhưng giờ chùa không còn [3]. Thành cổ gần như mất hết. Nó lắc đầu, người Pháp cố gắng đè cái mới lên cái cũ, đó là trò chơi dao. Nó không thể hiểu nổi tại sao anh nó lại bị xứ sở này mê hoặc. Đồ ăn Tàu luôn cho đường quá tay còn đồ ăn An Nam thì nhạt thếch. Rau gì cũng đem luộc, sao họ không hầm củ cải với thịt bò? Lại ăn thứ nước mặn như muối, có lẽ vì thế mà vóc dáng họ nhỏ thó chăng? Nó đưa cho anh một cái hộp nhỏ. Laglan mở ngay. Đó là nhẫn cưới cha ông đã đeo vào tay mẹ và bây giờ bà trao lại cho con trai. Laglan thẫn thờ. Cánh đồng hiện ra, một người đàn bà quàng khăn trùm đầu xách thùng gỗ đầy nho đi sau một người đàn ông có bộ mặt vênh váo...
- Nghỉ hưu anh sẽ về Pháp hay ở lại An Nam?
Câu hỏi quá bất ngờ và nó không hợp lúc đi chơi. Laglan lúng túng, ông cũng có lần nghĩ tới nhưng chưa quyết định, Hà Nội đã quá thân thuộc với ông.
- Theo em, anh nên về hay ở lại?
- Vợ anh còn trẻ, chị ta phây phây, chắc anh chả muốn về... Chị ta lại không thể theo anh vì về Pháp sẽ phải hái nho... Giai đoạn chính phủ Pháp cần đám liều lĩnh, cái đầu lạnh như cò súng đã qua, giờ họ cần người có đầu óc mà anh thì biết bóp cò.
Laglan im lặng. Hóa ra nó sang An Nam lấy tài liệu làm tiểu luận là cái cớ. Việc chính là chuyển thông điệp, nếu ông không về dòng họ François ở Bordeaux chỉ còn trong những cuốn sổ ghi chép, loại rượu có chữ F nổi tiếng cũng chẳng còn. Nó đúng, cha ông đã già. Nhưng ông không thể trả lời ngay, cần phải có thời gian.
Gần đến ngày về Pháp, Morel đưa cho anh trai lá thư của cha. Laglan bóc xoàng xoạc, như sợ chữ biến mất.
Bordeaux ngày...
Con trai của cha! Con chắc đã thỏa lòng khám phá xứ sở mà chỉ có người giàu mới có tiền đến được. Cha khâm phục nghị lực và ý chí của con dành cho nước Pháp. Chỉ có điều con không biết cha đã đóng thuế để con có chuyến đi ấy. Giờ con là ngài quan tư, có vẻ mẹ con tự hào nhưng dù sao cha cũng chúc mừng con. Bạn con nói, con cùng cô vợ An Nam có một công ty thầu khoán và nhận được những gói thầu lớn, như thế con hơn cha vì cả đời cha chỉ có xưởng rượu bé nhỏ. Khi viết cho con những dòng chữ này thì cha đang nằm trên giường bệnh, có thể cha chết mà không nhìn thấy ngài quan tư nhưng Napoléon cũng chỉ là thằng con trai của dòng họ mà thôi. Chúc con thành công ở xứ thuộc địa xa xôi.
Cha của ngài quan tư

Mắt Laglan chớp chớp, lần đầu tiên trong đời ông cảm thấy cha bớt nghiệt ngã hơn dù lời lẽ vẫn đầy kiêu hãnh. Rồi Laglan khóc. Không có gì mặn hơn muối nhưng nước mắt của Laglan chắc sẽ mặn hơn vì bao nhiêu năm ông chưa cay mắt, ngay cả khi những cảnh tượng làm người khác có thể khóc hàng giờ. Ông nhận ra lâu nay mình đã sống nhờ lý tưởng, suy nghĩ của người khác. Da trắng hay da vàng cũng là con người, cũng chỉ một tim với chức phận như nhau. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, cả cuộc đời cha ông quần quật trong nắng gió Đại Tây Dương, chưa bao giờ bỏ tiền để khám phá chính đất nước mình. Uống mãi thứ rượu do chính mình tự làm mà không chán. Về Pháp là đặt dấu chấm cho cuộc đời, chẳng còn gì để làm mà cũng không thể làm thêm được gì, An Nam ám ảnh đến chết. Ở lại có nuốt nước bọt nhìn vợ cũng còn được gần cái mà đàn ông cần. Như thế cô ấy thêm khổ. Laglan bị phân thân.
Ngoái sang nhìn vợ mặc váy ngủ hớ hênh. Gần đây, vài lần ông tỏ ý muốn Lan về Pháp ở hẳn. Chắc lời rủ rê không đúng lúc nên Lan lắc đầu:
- Sao anh không nói lúc em còn trẻ... lúc em định chết ở hồ Gươm...
- Người An Nam có câu “thuyền theo lái, gái theo chồng” mà...
- Chính anh đã làm em gần giống như anh...
Có lẽ Lan đúng. Cô ấy đã ở tuổi trung niên, về Pháp phải làm lại mọi chuyện. Khi tuổi cao lên thì tính phiêu lưu cũng già đi. Cô ta đổi khác do chính ông. Có lẽ không thể tiếp tục quay lưng lại số phận. Laglan mở cửa sổ, gió lạnh ùa vào, như mùa đông ở Pháp. Laglan lấy giấy viết thư cho cha.
Hà Nội ngày...
Thưa cha!
Sau gần ba mươi lá thư con gửi tính từ ngày sang An Nam, cha không hồi âm, có thể cha giận hay cánh đồng nho và thứ nước màu tím sẫm chiếm hết tâm trí cha. Con quá bất ngờ vì cha đã viết thư cho con dù chỉ vài dòng ngắn ngủi. Dù sao đó cũng là sự thừa nhận rằng cha có thằng con trai. Con đi vì không chịu nổi cuộc sống quá đơn điệu, lặp đi lặp lại, con có lỗi với cha nhưng không có lỗi với chính mình. Trong một lần giỗ mẹ vợ (người An Nam có tục lệ giỗ người chết vào đúng ngày mất, họ không làm tiệc vào sinh nhật như người Pháp) con xúc động khi nhìn thấy chai rượu do chính cha làm. Tự nhiên con lại yêu quả nho còn bám lớp phấn trắng xốp. Con hy vọng có ngày trở về, được thấy bóng cha đang cặm cụi trong xưởng rượu đang ngửi mùi nho lên men thơm nồng. Tuy nhiên con không dám chắc ngày nào con về. Chúc cha và mẹ sức khỏe
Con của cha.

Gấp lá thư bỏ vào phong bì. Trời xầm xì, gió vẫn ù ù. Làng Hội Vũ chìm sâu trong đêm đông.
------------------
[1] Thuốc đã chế biến do nhà nước quản lý.
[2] Áo có hàng khuy đồng từ cổ xuống dành cho sĩ quan.
[3] Lính Pháp gọi là chùa Khổ Hình vì thấy có nhiều tượng trơ xương sườn. Người Hà Nội gọi là chùa Báo Ân, chùa được xây dựng năm 1843, có diện tích rất lớn. Chùa bị phá năm 1886 để xây bưu điện Bờ Hồ.
0
5.

Lúa vụ chiêm Bắc Kỳ năm nay mất mùa, cánh buôn thóc chỉ còn trông chờ vào vụ mùa. Trời đất thương nhà nông nên vụ mùa cũng kha khá. Giá gạo thế giới đột ngột tăng cao, các công ty tranh giành mua thóc, Bắc Kỳ không còn một hột. Lan chỉ mua được một tàu. Hợp đồng bán gạo đã có trong tay, để giữ chữ tín với bạn hàng, cô đành sai Lân đưa tàu vào Quảng Ngãi, đi xa tốn phí hơn cũng phải chấp nhận.
Dù mới theo nghề nhưng thằng Lân nhanh chóng học được những bài học giá cả và thời gian. Nó trả thêm một giá nên chưa đầy chục ngày thóc đầy ự ba tàu. Thêm một giá mà rút ngắn thời gian chờ đợi, tính kỹ lại rẻ. Lân hỉ hả cho tàu hướng ra Bắc thì bất ngờ vùng này có bão. Ông thuyền trưởng nhìn giời đoán bão sẽ đổi hướng quay ra biển, quả nhiên đúng như vậy, nào ngờ nó lại quay đầu ập vào đất liền. May tàu gần cửa biển Thuận An, thuyền trưởng lệnh ngay cho tàu ghé bờ tránh bão. Sóng dâng cao, quật xuống, ba con tàu chở nặng nghiêng ngả, tình thế vô cùng nguy hiểm. Ông thuyền trưởng nhiều năm đi biển, kinh nghiệm đầy bồ cũng chỉ còn biết than và cầu giời. Thế nhưng đám thủy thủ nữ lại cứng cỏi hơn, đầu đội mưa họ che thêm tơi lá cho thóc khỏi ướt, vừa làm vừa đùa. Thằng Lân khâm phục chị khi thuê toàn nữ, họ dai sức, chẳng uống rượu lại không mò gái khi tàu cập bến như lũ phu đàn ông.
Cơn bão chà xát đi xát lại đã tàn phá dọc ven biển miền Trung, từ Quảng Bình vào tận Tuy Hòa. Nhưng nặng nhất là Thừa Thiên, nhà sập, nước ngập trắng đồng. Trâu bò, lợn chó bị nước cuốn nổi lềnh bềnh trôi ra cửa Thuận An. Thiếu gạo, dân đói, vua Thành Thái ra chiếu cấm nhà buôn Bắc Kỳ không được mua thóc ở Trung Kỳ, ai không tuân chỉ sẽ bị tịch thu. Tin tưởng mua thóc trước khi có chỉ, Lân cho thuyền rời Thuận An. Ra đến Quảng Bình thì bị quan thuế tỉnh này giữ lại. Nó trình thưa, lạy lục nhưng quan thuế quyết giữ, nó buộc phải đánh điện cho chị. Nhận điện, Lan bàng hoàng. Ba tàu thóc đầy là một món tiền lớn, lại thêm tiền than đá đốt lò chạy hơn nghìn cây số rồi công xá bốc xếp. Mà còn chưa biết công ty nhập khẩu châu Phi phạt bao nhiêu vì sai hẹn hợp đồng. Xót của, Lan rũ người bỏ ăn mấy ngày. Cả công ty như có đám.
Thương vợ, Laglan vỗ về “cái khó ló cái khôn”, chả biết ai bày cho.
Biết lệnh triều đình đã ban ra là không rút lại, ba tàu thóc đó là mất trắng. Từ câu động viên của chồng, Lan bỗng nảy ra ý, biết dân đói nên công ty chở ba tàu thóc cứu giúp dân miền Trung. Lập tức Lan đánh điện gấp cho thằng Lân trình Tổng đốc Quảng Bình. Biết không phải vậy nhưng viên Tổng đốc thấy đây là cơ hội tâng công, cũng là dịp kiếm chác vội cho thảo bản tấu:
Tuân phụng ý chỉ của Hoàng thượng ra tay tìm cách cứu đói cho dân, thần đã khẩn tư đến các công ty của người An Nam ở các tỉnh thành và công ty của Tư Hồng ở tỉnh Hà Nội đã đồng ý chuyển ngay cho ba tàu thóc. Nước vẫn ngập, dân chẳng có gì ăn, số người chết đã lên hàng vạn, thần tấu xin hoàng thượng cho phép được phát ngay chỗ thóc đó cho dân. Thần có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành.
Viết xong lập tức cấp thuyền sai người vào kinh ngay. Ba ngày sau viên tổng đốc nhận được chỉ của vua Thành Thái kèm khẩn tư công ty Tư Hồng vào kinh nhận sắc phong. Nhận điện của Lân, Lan mừng quýnh, có sắc phong, việc mua thóc ở các tỉnh cũng sẽ thuận lợi hơn, đưa sắc cho đám quan huyện, ắt họ phải ép dân bán thóc cho cô. Sắc vua ban không thể ỉm đi, từ quan huyện xuống chánh tổng, lý trưởng Bình Thơ và tất cả già trẻ trong làng đều phải cung kính nghênh đón từ nhà chú Sáng, nghênh quanh tổng rồi tuyên ở đình. Tất cả sẽ phải quỳ lạy lúc quan huyện đọc chiếu. Nhà giàu nhà nghèo đều phải dâng hương dâng lễ vật ở đình, còn phải góp tiền làm cỗ. Phen nay cô cho dân làng Bình Thơ phải sợ cũng là để xóa hẳn tiếng con đĩ Cầu Nôm, rửa mặt cho cha mẹ.
Lan thu xếp lên đường ngay. Tàu hỏa mới chỉ đi đến Nam Định. Đoạn từ Nam Định vào Huế đang làm dở dang nên cô đi xe trạm. Giơ khẩn tư của vua, bọn lính trạm lấy ngựa khỏe, xe tốt lên đường ngay. Năm kia, cô đã được gặp vua Thành Thái khi ông ra Bắc Hà khánh thành cầu Paul Doumer. Ông là vị vua thương dân nhưng chẳng biết làm gì ngoài thương dân.
Vào đến Huế, Lan được vời ngay vào thành. Ngài ban cho cô hàm “Ngũ phẩm nghi nhân” [1] và biển vàng “Lạc quyên nghĩa phụ” [2]. Một quan nhất phẩm ghé tai có thể giúp cô xin ngài ban cho cha cô một sắc phong vì đã có công sinh thành ra người con có hiếu. Cô hiểu quan nhất phẩm muốn gì. Hai ngày sau ông đánh dậm một chữ bẻ đôi không biết được ngài ban sắc “Hàn lâm thị độc”. Cô không ngờ trong cái rủi có cái may. Và người xưa nói đúng “có tiền mua tiên cũng được”.
* * * * *
Lan sướng lịm người khi nghe tú Khai cắt nghĩa. Từ con bé nhà quê váy rách áo vá, cung phu vất vả, phơi mặt bán từng đấu gạo nay trở thành người đàn bà giàu có lại được vua phong hào hoa phong nhã bậc nhất trong đàn bà con gái An Nam. Cô nhẩm đi nhẩm lại câu “Nữ trung phong nhã chi hào, hồng trần bạt tục. Thế thượng vân lôi cho hội, bạch thủ thành gia” [3] trong sắc ban Ngũ phẩm nghi nhân.
Cô xoay ngược ý định ban đầu, quyết định tổ chức tiệc mừng ở tư gia làng Hội Vũ vì đón ở quê, quan Tây, khách sang và bạn buôn bán sẽ ăn uống thế nào, ngủ ở đâu. Nhận được chiếu vua, quan huyện phải ra Hà Nội rồi, lý trưởng cũng đố dám vắng mặt, về quê hai cái loa ấy sẽ lan khắp làng. Mải nghĩ thì dì Mùng mặt đầy mồ hôi nói như sợ cướp lời.
- Chú thím cháu khóa cửa bỏ đi rồi, ông ấy từ thằng cả vì không chịu theo. Lúc nãy hai vợ chồng nó bế con thuê xe tay về bên ngoại. Dì chả rõ ngọn nguồn thế nào.
Nghe dì nói cô hiểu ngay sự tình. Chú Sáng cho đó cơ hội nghìn năm mới có, dứt khoát bắt cô làm lễ đón ở làng để tát vào mặt những kẻ chuyên ăn không nói có trong làng, cho cánh nhà Lý Tung biết “sông có khúc, người có lúc” cũng là để rửa mặt cho họ Trần. Cô giảng giải thế nào ông cũng không chịu còn quát “bố cháu nhưng là anh ruột chú”. Cô không dám nói làm ở quê khách khứa về nhìn làng nghèo xơ xác cô bẽ mặt sợ chú điên thêm. Cô buộc phải nói trắng phớ.
- Họ Trần đã từ chú và hai chị em cháu, đón sắc ở Bình Thơ có trải chiếu hoa ở đình, được ngồi mâm trên, đinh trong họ chắc chắn chẳng ai ra. Rồi anh ruột chú cũng chỉ là ông đánh dậm, mà sắc phong là “Hàn lâm độc thị”, từ tiên chỉ đến con trẻ phải quỳ lạy, sắc vua họ phải chịu, xong việc cánh đầu bò đầu bướu trong làng lại móc máy họ Trần... Chú nghe cháu...
Thế là hết nước hết cái mà chú vẫn lắc đầu bỏ về.
- Họ nội nhà cháu lúc nào cũng nhiều chuyện - Bà Mùng tức tối.
* * * * *
Xe tay tư, xe ngựa đỗ dọc đường gạch. Dân làng Hội Vũ chẳng biết cô me Tây này làm trò gì. Khách nườm nượp ra vào. Tây đầm thì mang hoa, khách An Nam khệ nệ bê mâm đồng phủ nhiễu đỏ. Quan Toàn quyền Beau, quan Đốc lý Hà Nội cũng đến. Lại có cả quan đốc học mặc áo the, khăn đóng. Tiếng ta, tiếng Tây lẫn lộn. Đúng như Lan tính, quan huyện Vụ Bình dẫn theo lý trưởng Bình Thơ và lý trưởng còn dẫn theo mấy lính lệ ra chạy việc.
- Thưa bà xe trạm vừa mang chiếu đến tôi lên đường ngay. Thế có phải đọc chiếu không để tôi chuẩn bị.
- Tôi tổ chức lễ đón theo kiểu Tây, ông không phải đọc. Tôi đã cho người nhà mua sẵn khung kính to lồng chiếu vua vào trong treo lên tường để mọi người cùng hưởng chiếu của ngài.
Laglan mặc áo gấm màu xanh có chữ hỉ dệt nổi, khăn đóng màu đỏ đứng bên vợ đón khách. Ông trưởng phố dẫn theo một người khách, nhanh nhảu nói với Lan:
- Cụ Tam Nguyên đang mệt, nghe tin bà được vua Thành Thái ban sắc, cụ sai người gửi tặng ông bà đôi câu đối, ông bà thật may mắn...
Lan rạng rỡ:
- Cho mang vào treo chính giữa phòng khách để mọi người cùng thưởng chữ cụ.
Trưởng phố lon ton dẫn khách vào ngay, Laglan quay sang hỏi vợ:
- Tam Nguyên là thằng nào?
- Một nhà Nho danh tiếng khắp An Nam, không phải ai cụ cũng cho chữ đâu, em phải nói khó cụ mới gật đấy.
Laglan ngờ chính cụ này nhiều lần làm thơ đả kích người Pháp mà ngài đại tá ở Sở chỉ huy chiến dịch Bắc Kỳ có lần nhắc đến.
Bữa tiệc bắt đầu. Tiếng chạm cốc liên tục như bản nhạc không vần điệu đánh bằng pha lê. Lúc đầu Lan định làm cỗ kiểu ta, thấy bát đĩa quá lích kích nên xoay sang tiệc đứng, chỉ rượu vang với thịt bò nướng, bơ, pho mát và bánh mì.
Khách Tây vừa ăn vừa nói chuyện thì khách khứa An Nam lại xúm quanh chỗ treo câu đối. Có lẽ họ không quen kiểu đứng ăn đứng uống và món ăn lại không hợp mồm. Ăn uống là hưởng thụ, phải ngồi xếp bằng đàng hoàng. Lý trưởng Bình Thơ và mấy lính lệ rúm vào một góc nhìn Tây. Không thấy ai mời nên không dám ăn. Bỗng một anh lính ghé tai lý trưởng thì thầm:
- Sao không thấy vợ chồng thằng Sáng đâu nhỉ?
Họ nhà nó từ không ai ra đã đành. Đón sắc của anh mà em vắng mặt chắc chú cháu hục hặc. Lý trưởng gật gù. Chỗ treo đôi câu đối của cụ Tam Nguyên ngày càng đông hơn. Nhiều người đọc nhíu mày.
Có tàn có tán có hương có án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh
Nào biển nào cờ nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người

Chẳng ai nói gì, chỉ kín đáo đưa mắt nhìn nhau. Quan đốc học tỉnh Hà Nội cũng tặng đôi câu đối Nôm.
Ngũ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Ba thuyền tế độ của bà to

Lần này họ mím miệng cười thầm, không thâm sâu như cụ Tam Nguyên nhưng phũ phàng đến rát mặt.
Tiệc tan, Laglan phải vào thành. Lan cho soạn quà cáp. Thấy đôi câu đối của cụ Tam Nguyên, Lan gọi tú Khai bắt giải nghĩa.
- Thưa bà, cụ ca ngợi bà thôi ạ.
Lại thấy ba chữ trên tờ giấy hồng điều nét bay bướm.
- Thế còn chữ này?
- Dạ... thưa đó là ba chữ chi chi giã, thực ra nó chả có nghĩa gì cả...
Chữ của nhà Nho không bao giờ vô nghĩa, không ý này thì cũng nghĩa khác, Lan nhìn tú Khai ngờ vực:
- Không phải ai cũng được nhà Nho chửi, chửi tức là công nhận tôi, cho phép cậu nói thật.
Tú Khai ậm ừ.
- Tôi cho phép cậu rồi cơ mà! - Lan giục.
- Nếu bà cho phép, tôi mới dám nói... chi chi giã... chi chi giã... nói lái là... cha cha đĩ...
- Cái cụ này thâm thật, nhưng không phải ai cũng làm được đĩ.
Mở cuộn giấy khác lại thấy chữ, cô bắt tú Khai giảng giải. Tú Khai lừng khừng.
- Của nhà Nho nào vậy? Chắc lại chửi tôi?
- Dạ, không thấy đề tên nhưng cũng không chửi...
- Thì cậu đọc tôi nghe.
Tú Khai hắng giọng đọc:
Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long
Vượng khí nghìn năm có nữa không
Hai cửa còn trơ hai thánh miếu
Một thành sót lại một hoàng cung
Nhường ngao ngán nỗi công ông Bạch
Cũng ghê gớm cho của chị Hồng
Còn biết đâu là nền đế bá
Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long

- Cậu vừa đọc công ông Bạch là Bạch Thái Bưởi phải không?
- Dạ không, ông Bạch ở đây chỉ đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, vị thần bảo trợ cho thành Thăng Long ạ.
- Tôi hiểu tâm trạng của nhà Nho này nhưng dù sao cũng có tên tôi trong đó, cậu giữ lại làm khung treo lên tường còn sắc phong, câu đối của cụ Tam Nguyên, đưa xuống nhà kho.
Tú Khai vâng dạ rồi mang đi.
* * * * *
Tiếng ti tỉ của vợ khiến ông Sáng bực bội.
- Có im không thì bảo!
- Ông làm tan cửa nát nhà sao tôi im được.
Rồi bà lại hờ hờ. Ông biết mình có lỗi. Trưởng họ bắn tin, họ từ ông và hai đứa cháu chứ có từ anh ông đâu. Anh ông được vua ban sắc phong, vẻ vang là ơn nhờ phúc đức tổ tiên, sao nỡ vô ơn. Họ có từ cũng phải báo để trưởng họ thắp nén hương kính cáo, ghi vào gia phả, để dân làng biết ơn đinh họ Trần đã mang lại vinh hạnh cho cái làng chiêm khê mùa thối này. Giàu có thì chú cháu nhà nó hưởng, có ai trong họ vay mượn xin xỏ gì đâu. Họ nói vậy nhưng nếu ông đến nhà mời, thế nào cũng sai cháu ra bảo đi vắng. Đúng là lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Lại thêm chuyện lý trưởng về oang oang khắp làng, chú cháu nó cắn nhau, việc của anh ruột mà lại bỏ về quê. Còn dân làng đã ức sẵn vì phải góp tiền sắm lễ cho lý trưởng mang ra nhà con đĩ giờ được dịp xỏ xiên. Sớm nay có con mẹ mồm chó vó ngựa qua ngõ chõ vào “Sắc vua thì phải chịu, chứ cái ngữ nợ không giả được phải treo cổ thì hàn lâm độc thị cái nỗi gì”. Giờ ông thấy cháu đúng nhưng đã muộn. Cũng đã gần chục ngày nay không được bế cháu nội, ông thấy nhớ cháu. Ở quê không xong mà quay ra Hà Nội mặt mũi nào gặp cháu. Đầu đau như có sán chui vào, ông vật mình ra chõng.
--------------------
[1] Chức ban cho vợ quan ngũ phẩm.
[2] Người đàn bà làm việc nghĩa tự ý quyên góp của cải.
[3] Hào hoa phong nhã bậc nhất chị em, đàn bà khác thường gặp thời mây tuôn sấm dậy, tay trắng nên nhà.
0
6.

Hẳn phải việc hệ trọng Trúc mới gọi dây nói muốn gặp cô. Nhân thể chưa đến giờ, cô bảo thằng xe chạy một vòng quanh thủ đô của Liên bang Đông Dương. Qua gian nhà phố bờ sông, chỗ cô từng thuê. Con phố đã hoàn toàn khác, dãy cô ở giờ là gara ô-tô, cái hè đất lúc trời mưa là chỗ trú của khách đi tàu mọc lên vòi nước máy công cộng, mấy con sen đang dẩu mỏ cãi lộn. Đê được nâng cao hơn.
Hàng ngày cô vẫn phải đi qua các phố nhưng đầu óc bộn bề toan tính cô chả để ý sự thay đổi từng ngày của Hà Nội. Phố đã có đèn điện đường, ở nhiều phố trụ đèn dầu bằng gang bị nhổ bỏ thay bằng cột đèn điện bê tông hình trụ. Đường thẳng tắp. Cây xanh trên hè đã cao. Hàng Đào, Hàng Ngang có nhiều nhà xây theo lối Tây. Tàu điện leng keng từ hồ Gươm chạy ra ngoại ô. Trụ sở báo Tương lai Bắc Kỳ có kiến trúc tân kỳ sừng sững trên phố Hàng Thêu. Đó là tòa nhà đẹp nhất quanh hồ Gươm. Đường quanh hồ trải nhựa mịn màng, cây xanh đổ bóng xuống nước làm cho hồ Gươm duyên dáng như thiếu nữ. Phố Paul Bert tấp nập người ra vào các cửa hàng. Phía nam hồ Gươm hiện ra nhiều biệt thự chả thua kém công thự của chính quyền. Mùi hoa sữa trên đường Grand Bouddha [1] hăng hắc. Đường rộng rãi, vỉa hè lát gạch Đông Triều màu đỏ tươi, loại gạch nổi tiếng Bắc Kỳ. Lan sai phu chạy ra ga Hàng Cỏ, nơi từng là chợ bán cỏ ngựa hoang bẩn giờ mọc lên dãy nhà hai tầng lợp ngói đen. Phía trên gian giữa gắn chiếc đồng hồ tròn hai kim. Kẻ gồng gánh, người tay nải tất tả. Giọng hát non nớt của con bé mặc xống trâu vá víu như than chìm trong tiếng ồn ào.
Anh khóa ơi!
Kể từ ngày anh xuống tàu...

Cô mở sắc lấy tiền bỏ vào túi nó một đồng bạc, thằng xe thòm thèm như thể “biết thế con cũng đi ăn mày”. Xe quay lại phố Paul Bert. Hiệu đồng hồ, quần áo Tây, bánh ngọt, tiếng hô hố của một ông Tây vọng ra từ quán rượu. Xe dừng trước quán cà phê Tonkin, Lan vội bước vào.
- Xin lỗi thầy, lâu lắm tôi mới có thời gian dạo quanh Hà Nội, nó khác quá, cựa mình từng ngày.
- Tôi cũng vừa tới. Nhìn chị mặc đồ đầm trông trẻ và đằm thắm hơn, bớt đi phần đanh đá và kiêu sa.
Lan ngạc nhiên, trước đây có khen, Trúc rất tế nhị nhưng cô cũng thấy vui vui - Đã lâu tôi không được trò chuyện với ngài quan tư, chắc ông ta vẫn lạc quan như ngày nào?
- Ồ, đó là mẫu hình của người Pháp.
- Việc buôn bán của chị chắc càng tốt lên?
- Rất tốt, tôi đang lo hợp đồng cung cấp thực phẩm cho các nhà tù trên toàn xứ Bắc Kỳ.
- Việc ngập đầu lại thêm cơm tù thì mấy năm tôi mới được gặp chị đây?
Lan cười. Quan tư Filix quản lý các nhà giam là bạn thân của Laglan. Họ chơi với nhau từ lúc cùng ở Sở pháo binh, khi ấy Filix mới tốt nghiệp trường huấn luyện Bắc Giang. Nghe Filix phàn nàn về chất lượng thực phẩm cho tù, Laglan hứng luôn và quyết định được Filix đưa ra ngay tại bàn cà phê.
Cụ cử Hiền hối thúc Trúc thi Hương, cụ bảo thi để nối truyền thống ông nội. Cụ sợ không còn người hoằng đạo [2] Nho giáo. Trả lời không thì quá phũ phàng, mà thưa có lại trái lòng, Trúc khất cụ mấy lần. Trúc nghĩ Lan nhanh trí, sáng dạ, theo sát thời cuộc có thể giúp tìm câu trả lời.
- Cụ cũng biết từ lâu thầy ký không còn học chữ Hán cơ mà?
- Cụ không dạy nữa nhưng tôi vẫn tự học, sách bây giờ không hiếm như xưa, phố in Hàng Gai bán đầy. Cụ tinh lắm, nói chuyện với tôi cụ biết tôi vẫn đọc sách chữ Hán.
Ngài Toàn quyền muốn các nhà Nho tập trung vào thi để nhãng đi phần chống đối. Bắc Kỳ yên ổn, chính phủ Bảo hộ họ rảnh tay hơn. Nhưng sớm muộn chính phủ cũng sẽ dừng các kỳ thi Nho vì họ bắt buộc dạy tiếng Pháp tại các trường tiểu học. Cấp sách miễn phí, học không mất tiền, chẳng phải để chơi, họ tính toán rồi. Ngay chuyện họ phá thành mở đường cũng nằm trong tính toán đó. Trúc không thi sẽ chẳng còn cơ hội.
- Theo tôi thầy nên thi. Một anh cử lại thành thạo tiếng Tây cả Tây và ta đều cần.
- Chị thật am hiểu thời cuộc.
Lan cười giòn tan. Điều đó chả phải Lan nghĩ ra, cô học lỏm từ bạn của Laglan. Nhà chính trị ngồi trên ghế đối mặt với dân chúng còn nhà buôn giữ cho cái ghế khỏi đổ. Buôn bán to mà không hiểu biết thời thế sập cơ đồ có ngày.
Dù biết các nhà Nho coi khinh hạng người như cô nhưng cô vẫn trọng họ. Họ là tinh hoa trong xã hội. Vì thế cô xuống tận Đồ Sơn đưa ma ông Dumoutier. Bị Toàn quyền Paul Doumer sa thải chức thanh tra học chính, Dumoutier không về Pháp mà chọn Đồ Sơn ở ẩn. Paul hết nhiệm kỳ, Toàn quyền mới tiếp tục hành ông, cấm không được bày tỏ thái độ với các nhà Nho An Nam về cách cai trị của chính phủ Bảo hộ. Buồn vì tư tưởng cai trị bằng sự tôn trọng bị bóp chết, ông treo cổ tự vẫn. Lan rất khâm phục.
Nghe Lan nói Dumoutier chết, Trúc lạnh người. Cụ cử Hiền chắc chưa biết. Nếu biết cụ đau lắm vì Dumoutier là người Pháp duy nhất cụ tôn trọng, hai người hay bàn về chữ Hán, chữ Nôm và đạo Nho.
- Tôi sẽ đi thi.
- Đỗ hay trượt là “học tài thi phận” như thầy có lần nói với tôi. Không đỗ tôi cũng gả đứa em họ cho thầy... hai người sẵn chữ ở với nhau thì hợp lắm...
Trúc ngượng, mặt đỏ như nhót chín. Cũng chẳng còn trẻ trung gì nữa, các chú giục lấy vợ nhiều rồi.
* * * * *
Hai ông con đi một vòng trên con đường mới mở. Không còn phu phen xe đất ồn ào, thành xưa giờ là trại lính. Con hào rộng ngoài thành giờ thành đường, còn đoạn sông Tô Lịch cũng từng là hào phía bắc chảy ra hồ Tây bị san bằng phẳng thành phố Carnot [3]. Đường mới cắt qua kho lương tiền, họ gọi là đại lộ Van Vollenhoven [4]. Đường nào cũng rộng, trên hè có hai hàng cây mới trồng. Nỗi đau dù đã lẩn vào trong nhưng nghĩ đến điện Kính Thiên chỉ còn trơ đôi rồng đá, cụ cất giọng ngâm nga:
Trái phá Tây chăm chực bắn vào
Chỉ không cho đánh biết làm sao?
Ngọn cờ tướng lính oai linh gượng
Chén rượu Đông Môn khảng khái phào
Uất khí Nùng Sơn càng muốn cựa
Thương tâm Nhị thủy sóng tranh veo
Răng hoa Võ Miếu rơi thêm mãi
Sống trộm ghê không thẹn biết bao
[5]
Rồi cụ lấy vạt áo lau nước mắt.
- Thưa cụ, con được biết năm 1884, vẫn còn tượng binh. Hàng ngày quản tượng vẫn giữ lại phân voi để làm nấm cỏ rầy, loại nấm còn ngon hơn cả nấm hương, sau đó đội tượng binh ra sao?
Cử Hiền thườn thượt.
- Biết lính Pháp bỏ đồng hai xu bắt voi quỳ xuống quắp làm trò tiêu khiển, vua Đồng Khánh đề nghị Pháp trả lại đội tượng binh cho triều đình nhưng họ lờ đi. Con voi có ngà đẹp nhất bị giết, đôi ngà bây giờ để trong Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Họ bán hai con cho gánh xiếc thú của một người Hà Lan chuyên biểu diễn ở chợ Hàng Da, số còn lại bắt tải lương đạn cho đoàn quân bình định, chở quá sức, lại giá rét ở miền núi tượng binh chết dần... Hôm trước cụ cử Thạch nói với ta câu của Hiệp chính Nguyễn Trọng Hiệp tại lễ khánh thành cầu Sông Cái cách đây mấy năm, “Che chở một dân tộc bằng đức chính là giúp người sang sông”, đức gì mà lại dùng súng bắn người An Nam... - Cụ nghẹn ngào.
- Ta nghe nói dạo này con càng thân thiết hơn với Tư Hồng... Hà Nội là thành phố có đức thế mà vì tiền nớ nỡ... Ta không trách con...
- Thưa cụ...
- Hình như con thay đổi nhiều quá, không còn là cháu cử Khiêm bạn ta nữa...
- Thưa cụ...
- Nhưng con đồng ý thi Hương là ta mừng rồi, “Vạn sự xuất ư Nho” [6] con à!
Cũng vừa lúc ấy Lan xuất hiện. Cô lại gần lễ phép chào cử Hiền nhưng cụ khinh khỉnh bỏ đi.
* * * * *
Hai ngày sau, người cháu cử Hiền đến nhà Trúc báo tin cụ đã mất. Trước khi đi, cụ tắm nước mưa, thay quần áo mới, người nhà can ngăn nhưng cụ quát và đuổi ra. Chốt chặt cửa buồng, cụ nuốt bốn chục bài thơ chữ Nôm viết trên giấy dó vào bụng. Chiêu thêm hai bát nước vối rồi buông màn xô, đắp chăn, mặc người nhà kêu khóc, van xin. Mọi người áp tai sát vách nghe ngóng, không còn tiếng cụ cựa mình, người con trai út vội phá cửa xông vào thì cụ đã tắt thở, bụng trương phềnh.
Đám tang cụ đông đúc, bạn đồng niên trường Hồ Đình còn vài cụ nhưng học trò nhiều vô kể. Ai cũng mặc áo xô, đội mũ rơm, tay chống gậy. Bà con hàng phố đến đưa đám dài cả cây số. Bãi tha ma làng Vũ Thạch trước nằm gần ở gần bờ sông, khi vua Tự Đức cấp đất cho Pháp xây lãnh sự, tha ma bị di dời, Tổng đốc Hà Nội cấp cho làng rẻo đất sát thôn Giáo Phường [7] để chuyển mồ mả ra đó.
Xe tang đi vào đại lộ Van Vollenhoven, đại lộ ngay sát điện Kính Thiên, bác đánh xe hiểu ý gia đình cho ngựa đi rất chậm. Dân các phố ai biết cụ đều tự chít khăn và nhập vào đám, người đi đường cũng dừng lại bỏ nón cho đến khi xe chở quan đi qua. Nhẽ ra Trúc chít khăn vàng nhưng vì là học trò nên cậu mặc áo xô. Lan không đưa tang nhưng gửi đôi câu đối do tú Khai mang đến.
Vũ Thạch mất vẫn còn chữ đức
Mưa đá không xói được chữ tâm

Hôm sau Trúc đến tòa, Đốc lý Logerot hăm he:
- Người ta thấy cậu trong đám tang cử Hiền. Bà Tư Hồng bạn cậu cũng phúng đôi câu đối, đọc cũng nặng tình lắm.
Trúc chỉ cười rồi ngồi vào bàn lặng lẽ làm việc. Dù sao cảnh báo của ông ta giúp cậu giữ mình và kín đáo hơn. Trước khi được bổ nhiệm Đốc lý, Logerot làm ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Công việc của ông ta là giám sát các nhà Nho, ghi chép họ lập ngôn cũng như thơ văn, giúp Thống sứ có đối sách với tầng lớp dẫn dắt tinh thần phản kháng của dân chúng An Nam.
-----------------
[1] Phố Quán Thánh ngày nay.
[2] Làm rộng cái đạo lý.
[3] Nay là phố Phan Đình Phùng, quận Ba Đình. Sadi Carnot (1837-1894), kỹ sư và chính trị gia, Tổng thống Pháp, bị ám sát năm 1894.
[4] Nay là phố Chu văn An, quận Ba Đình. Van Vollenhoven, Phó toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1913-1915.
[5] Thơ khuyết danh.
[6] Mọi sự đều ở nhà Nho mà ra cả.
[7] Nay tương ứng với phần cuối phố Huế, ngõ Huế, một phần phố Thái Phiên và một phần phố Tô Hiến Thành.
0
7.

Lần đầu tiên Lan biết xơ Antoine khi thằng Lân mới ra Hà Nội. Nó bị bệnh, người hầm hập như lò than hoa, dì Mùng dấp nước đặt miếng vải lên trán cũng không bớt nóng. Cụ lang Cứu Thái đến tận nhà bắt mạch, cụ bốc cho chục thang uống hết nhưng tính mạng Lân vẫn nguy kịch. Lan hoang mang chưa biết làm thế nào thì tú Khai mách đưa đến phòng khám Tây của xơ ở Phủ Doãn. Có bệnh vái tứ phương, lập tức Lan cho võng Lân đi ngay. Ông bác sĩ già sờ nắn, lấy ống nghe đặt vào ngực, rồi nói với xơ giữ lại điều trị vì bệnh lao rất nặng. Những ngày lưu lại phòng khám, xơ cho uống thuốc, tận tình chăm sóc, lại động viên Lan thằng Lân sẽ khỏi. Và nó khỏi sau hai tháng vừa tiêm vừa uống thuốc. Từ đó Lan mang ơn xơ.
Xơ là y tá phục vụ trong quân đội Pháp ở Hà Nội từ năm 1883. Thấy dân An Nam ốm đau chỉ cậy nhờ vào các bài thuốc không mấy hiệu quả của các thầy lang, xơ Antoine cùng hai bác sĩ nhờ đất của quan Phủ Doãn mở phòng khám và phát thuốc miễn phí cho họ [1]. Khi chính phủ Bảo hộ sung công đất này để xây bệnh viện, xơ xin Đốc lý miếng đất di chỉ của huyện Thọ Xương [2] lập nhà tế bần.
Đã lâu không gặp xơ nên hôm nay Lan muốn đến thăm. Laglan đòi theo nhưng cô không cho. Trong lúc xơ đang chầu lễ ở nhà thờ nhỏ, Lan đi vòng quanh và mắt cô ngấn ướt khi nhìn người An Nam tàn tật quẩn quanh trong gian nhà lá. Rồi mục sở thị mấy bà Tây già bị chồng bỏ bễ cặm cụi đan len, Lan định bụng bỏ tiền xây nhà gạch.
* * * * *
Dù đã chuẩn bị tâm thế cho ngày rời khỏi quân đội từ lâu nhưng mặt Laglan vẫn thất khí khi ngài đại tá trao quyết định nghỉ hưu.
- Tôi rất buồn phải nói lời chia tay với ngài quan tư, một người lính dũng cảm, một sĩ quan xuất sắc đã dành trọn đời phục vụ quân đội và cống hiến cho nước Pháp. Nước Pháp sẽ mãi mãi biết ơn công lao của ngài. - Viên đại tá nói bằng chất giọng như đọc điếu văn.
Những lời lẽ kiểu này Laglan đã nghe nhiều lần nhưng cũng làm ông ta bật khóc vì cảm động. Chiếc áo dolman chỉ còn được treo trên mắc. Bữa tiệc diễn ra tại đơn vị, bị các sĩ quan cấp dưới vốn không ưa tính nghiêm cẩn của ông lờ đi, chạm cốc xong Laglan bỏ về.
Laglan vẫn chưa bỏ được thói quen dậy sớm dù nghỉ hưu khá lâu. Thẫn thờ đi lại trong biệt thự trong lúc vợ vội vàng đến văn phòng. Và khi mặt trời lặn khuất, đèn đường ở ngõ Hội Vũ bừng sáng, Lan mới vác mặt về. Câu chuyện trên bàn ăn cũng nhạt hơn và kết thúc bữa tối, cô ta chui tọt vào phòng đóng cửa. Cô ta sống đúng kiểu Pháp. Mấy người bạn tâm giao thì kẻ đã về Pháp, người thuyên chuyển sang Viên Chăn hay Phnom Pênh, chẳng còn ai chia sẻ vui buồn. Rồi chiến tranh thế giới lan rộng khắp châu Âu, Laglan lo cho mạng sống của Morel, có lúc ân hận vì từ ngày cha mẹ mất, ông chưa về Pháp đặt cành hoa lên mộ hai người.
Về nhà nhưng Lan không ăn tối, cô vào phòng ngồi thừ trên giường. Lúc chiều, một thanh niên tóc cắt ngắn, mặc đồ Âu vào văn phòng tự xưng là con trai cả bố Hồng. Lan bàng hoàng vì cậu ta là bản sao chuẩn, từ cái trán, đôi mắt một mí và đặc biệt hai cái tai vểnh như tai chuột. Cậu ta giở tấm ảnh hai cha con chụp chung ở Hương Cảng để chứng minh cho điều vừa nói.
- Sáng nay tôi vào thăm cha, ông ấy gửi cho cô một lá thư.
Lan vội mở ngay.
Gửi cô Tư Hồng!
Sau mấy lần gặp cô vì công việc, lần nào tôi cũng day dứt chuyện đứa con của chúng ta. Trước lúc cha tôi qua đời, tôi gặng hỏi có phải ông đã bày ra trò đánh ghen cô, qua bà cụ già nào đó cho cô uống thuốc vô sinh nhưng ông lắc đầu. Tôi không biết ông trả lời thật hay nói dối nhưng dù sao tôi rất ân hận về chuyện đó.
Cuộc sống xô đẩy tôi phải làm nhiều công việc luôn liên quan đến An Nam. Cách đây gần hai tháng, tôi bị cảnh sát Pháp bắt vì tội vào An Nam trái phép. Những người quen cũng giúp đỡ nhưng họ chẳng thể đưa tôi ra khỏi Hỏa Lò. Tôi biết cô quen biết luật sư giỏi và cô từng cứu nhiều người vô tội thoát khỏi vòng lao lý. Tôi không vịn vào chuyện cũ của hai ta để cô động lòng nhưng mong là cô sẽ giúp tôi. Cô ra vào nhà tù thường xuyên, cô biết tù nhân bị cai ngục đối xử thế nào. Mong cô hiểu cho tôi, một tù nhân cao tuổi. Hãy tha thứ cho tôi về chuyện đã qua. Cám ơn cô!

Đọc xong thư, uấn ức chất chứa trong cô tan biến, chỉ còn lại nỗi xót thương ông ta. Dù sao cũng một thời chăn gối. Thường phạm cũng như chính trị phạm, ăn uống đều kham khổ. Nửa đêm đang ngủ cai dựng cổ dậy hỏi cung. Trò bắt tù đánh giày bằng lưỡi của gã Tây lùn ở Hỏa Lò làm tù khiếp sợ. Đánh xong đôi giày cổ đau muốn gẫy còn lưỡi rớm máu đau rát. Lại thêm ngón thúc giày đinh vào bọng đái nên nhiều phạm chính trị không chịu nổi phải khai. Không giúp mang tiếng bạc tình mà giúp cũng chẳng dễ, Hoa thương ra tay còn không cứu nổi chắc gì mình đã làm được...
Cố nén sự bực tức, Laglan nhẹ nhàng mở cửa rón rén ngồi bên cạnh.
- Hôm nay em đến nhà tế bần của xơ Antoine, cả người Pháp, người An Nam sống trong gian nhà lá ẩm thấp quá... Em đã nói với xơ sẽ xây cho một cái nhà tử tế...
Kiếm được đồng tiền chẳng hề dễ dàng, đôi khi còn phải đánh đổi cả lòng tự trọng bao nhiêu năm ra sức gìn giữ. Lại vắt óc toan tính, sức khỏe hao mòn, đành là giúp nhưng cô ta nói chữ “cho” sao mà nhẹ bẫng. Không có ông sao cô ta có được tiền của như ngày hôm nay. Lại còn coi ông như kẻ ở trong nhà. Laglan lặng im ra ngoài lấy chai vang, mở nút tu ừng ực như đấu với lần uống trước. Và bây giờ ông mới nhận ra khe nứt giữa hai người luôn được cô ta che đậy bằng mệt mỏi vì công việc. Đầu ông dâng lên ý nghĩ về Pháp.
* * * * *
Chiều nay Laglan uống nhiều hơn mọi lần. Vỏ chai lỏng chỏng dưới sàn nhà. Phần bực vợ, phần thấy đau, mới cởi bỏ áo lính thành dân họ đã phủi nhanh quá, cư xử tệ bạc. Sáng nay thằng trung úy đáng tuổi con bắt ông ngồi trên chiếc ghế sắt, chiếc ghế chuyên dành cho kẻ có tội, còn nó ngồi trên ghế xoay bọc da quay ông như quay phạm. Nó bóng gió ông là kẻ bị cắm sừng vì vợ ông dám vác mặt xin tha tội cho người tình cũ. Một kẻ từng bị trục xuất do liên quan đến đường dây buôn lậu thuốc phiện và bây giờ vào An Nam bằng giấy tờ giả. Laglan không đặt nặng chuyện đó, giúp đỡ người tình cũ có gì mà ghen tuông, cô ta xin công khai, không lén lút. Nhưng nhục nhã là phòng nhì nghi ngờ ông cũng tham gia hội kín, có ý phá rối hệ thống luật pháp của nước Pháp. Hơn cả nhục, trong gian phòng hôi hám sặc mùi dọa dẫm, thằng trung úy đó công khai nghi ngờ lòng trung thành của ông với nước Pháp. Chưa bao giờ ông từ chối hay chống mệnh lệnh được giao dù biết có thể chết. Chưa bao giờ nhiệm vụ được giao mà ông không hoàn thành. Rời nước Pháp sang xứ thuộc địa, giáp mặt với tử thần khi nó còn chưa ra đời mà giờ đây nó dạy bảo ông về lòng ái quốc.
Laglan tu đến giọt cuối cùng rồi vung tay ném cái vỏ qua cửa sổ, chẳng ngờ lại đập vào khuôn cửa. Mảnh thủy tinh tóe ra phòng khách. Tiếng loảng xoảng làm Lan tỉnh giấc. Cả chiều nay cô bàn bạc với luật sư tìm kẽ hở luật pháp cứu Hồng, mệt mỏi đến mức về nhà cô vừa thả mình xuống giường đã thiếp ngay. Cô ra phòng khách ngồi đối diện với Laglan. Ông ta nói như ra lệnh:
- Tôi yêu cầu cô chấm dứt ngay việc xin xỏ cho tù nhân.
- Em đâu có làm gì sai với luật pháp?
- Chiều nay phòng nhì gọi tôi lên tra khảo như thằng tù chính trị.
Lan bất ngờ, ông ta là quân nhân về hưu không dính dáng vào việc cô, làm sao bọn họ dám tra khảo. Đầu giờ chiều nay họ cũng gọi cô lên nhưng chẳng đưa ra chứng cứ nào cô liên quan đến hội kín.
- Họ đã làm nhục tôi, tôi cấm cô từ nay không xin xỏ gì hết.
Lan nổi cáu:
- Em không làm anh xấu hổ.
- Nhưng tôi cấm cô. - Laglan ra lệnh.
- Anh không có quyền can dự vào riêng tư của em.
Laglan vung tay tát vào má Lan, cái tát quá mạnh khiến Lan ngã vật ra. Máu trong miếng ứa ra mép rỏ xuống sàn. Ông ta lao vào đỡ vợ nhưng Lan co chân đạp mạnh làm ông bắn ra. Cô ôm miệng lảo đảo chạy về phòng đóng sập cửa lại. Mặt Laglan tái mét. Chắn chắn ông phải tát rất mạnh mới chảy máu. Ông nhìn bàn tay mình. Nó vừa to vừa dày, ngón tay đúng như củ mành tinh gặp đất tốt. Cả đời chưa bao giờ đánh ai dù đó là kẻ thù và lần đầu tiên đánh người thì người bị đánh là đàn bà mà đúng người đàn bà ông yêu. Biết có vật nài Lan cũng không mở cửa, ông chạy vội xuống tầng một gọi hầu gái. Con bé nhanh chóng theo ông chủ lên nhà, vừa mở mồm nói bà ơi cháu mang nước lên cho bà xúc miệng, lập tức có tiếng giày ném vào cánh cửa. Hầu gái vội lùi ra. Laglan khựng người ra hiệu cho nó đi. Ông ngồi phệt trước cửa phòng dựa vào tường như kẻ vô gia cư ở Bờ Hồ.
* * * * *
Người thằng Lân chỉ còn da bọc xương. Hai mắt sâu như lỗ đáo, hơi thở gấp và đuối. Cả ngày nó chỉ ăn được mấy thìa sữa bò. Ông bác sĩ Tây nói vòng vo khiến bà Mùng càng rõ bệnh lao của cháu vô phương cứu chữa, cái chết đang đến rất gần. Lúc bà về nó nắm chặt tay cứ như nắm tay dì lần cuối. Bà co hai chân lên bộ xa lông khóc tu tu, than giời không thương bắt nó đi quá sớm. Lại gào thét chửi bới Lý Tung dã man đầy cháu bà đến bệnh tật..
Laglan đứng ngoài cửa định gõ rồi lại rụt tay. Giá như còn cô Ba, nhờ cô ta thuyết phục chắc Lan sẽ nghe ra, tiếc là vợ chồng cô đã về Pháp. Laglan biết ở An Nam, cha chết thì chú cũng như cha, ông Sáng sẽ lấy quyền huynh thế phụ khuyên bảo cháu nhưng ông tiếc là ông đã lẫn mấy năm nay. Cũng đã mấy lần Laglan năn nỉ xin lỗi mà cô ta cứ lạnh lùng. Cô ta đưa đơn ly hôn, Laglan không ký. Tòa gọi ông ra thẩm vấn vì tội đánh phụ nữ. Nếu Lan không rút đơn tòa sẽ xử theo yêu cầu của Lan. Xưa nay tòa án Pháp luôn bênh vực phụ nữ. Một bà già ăn mày xán lại chìa tay. Định bước đi chả hiểu trời xui đất khiến, Laglan quay lại gõ cửa, còn nước còn tát.
Bà Mùng lau nước mắt ra mở cửa, bà ngạc nhiên đó là Laglan. Ông ta có bao giờ đến nhà bà đâu, chắc chắn phải có chuyện rất to và dính đến con Lan. Mặt ông ta rầu rĩ. Bà Mùng chẳng biết nói gì. Laglan im lặng hồi lâu rồi nhỏ nhẹ kể hết mọi chuyện. Lâu nay bà cũng không hỏi tình cảm của vợ chồng cháu vì nó đâu còn non dại như hồi ở Lương Xá, nếu ở quê, nó đã phải ra đình làm lễ lên bà từ lâu. Bà Mùng hiểu, chuyện vợ chồng xô xát một phần có lỗi của Lan và ông ta muốn nhờ bà khuyên bảo cháu rút đơn ly hôn. Đàn ông biết điều với vợ là đàn ông khôn.
Laglan đi, bà gọi xe tay sang ngay nhà cháu. Đến nhà thấy Lan đang ngồi uống cà phê ở phòng khách, mặt lạnh tanh. Không kìm được bà hỏi:
- Cháu có giận dì cũng nói... Dì không hiểu tại sao cháu cứ thuê luật sư cứu hết người này người khác để làm gì... Cửa nhà đang yên ổn giờ vỡ ra...
Ông ta chưa bao giờ làm phiền họ hàng nhà vợ mà phải nhờ đến dì chứng tỏ ông ta vẫn rất yêu mình, không muốn chia tay. Laglan nghĩ cô đưa đơn ra tòa vì ông tát cô lại là sai lầm tiếp theo. Trong cuộc sống vợ chồng, những khiếm khuyết của chồng liên tục được vợ bỏ qua thì họ lại nghĩ mình có quyền được như vậy và từ sai họ luôn nghĩ mình đúng. Cái tát chỉ là giọt nước làm tràn bát, Lan làm đơn vì nhiều năm nay, hai người đồng sàng dị mộng. Việc Lan cứu người vô tội ra khỏi nhà tù vì luật nước Pháp quy định đưa ai vào tù phải có chứng cứ. Có chống là chống kẻ làm sai luật, không chống nước Pháp. Cô cũng giải thích người khác không làm mà chỉ có cô vì tính cô như vậy. Ông ta chẳng chịu nghe, lại có ý cho rằng cô bao biện cho hành vi chống đối.
- Cháu làm đơn ly hôn không phải vì chuyện đó. Dì không hiểu được.
- Ở đời hết tình thì còn nghĩa cháu à!
- Cháu vì nghĩa nhiều năm nay rồi.
- Nhưng sống phải có đức đời con cháu mới có phúc... cháu ơi nghĩ lại đi, ông ta là người tốt đấy...
Từ bé cô đã nghe quá nhiều những lời dạy bảo sống để phúc cho con cháu. Cô có làm gì vô phúc đâu. Chuyện gì đến thì nó phải đến. Lan lặng lặng đi vào trong nhà. Bất lực, bà đùng đùng ra về, đi bộ đến ngã ba ngõ Hội Vũ và phố Hàng Bông gọi xe thì bất ngờ gặp Laglan. Hóa ra ông ta chờ bà để hỏi kết quả cuộc nói chuyện...
-----------------
[1] Năm 1469, nhà Lê đã đổi phủ Trung Đô, trung tâm hành chính của khu vực Kẻ Chợ, thành phủ Phụng Thiên, gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Câu nói Hà Nội 36 phố phường căn cứ vào quyết định này. Đứng đầu phủ Phụng Thiên là quan Đại Doãn vì thế dân gian gọi tắt là phủ Doãn. Khi nhà Nguyễn cai trị, chuyển kinh đô vào Huế đã đổi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức. Khu vực này nay tương ứng với bệnh viện Việt Đức, quận Hoàn Kiếm.
[2] Tỉnh Hà Nội thời Nguyễn gồm hai huyện là Thọ Xương và Vĩnh Thuận, khi Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa năm 1888, chính phủ Bảo hộ đã xóa bỏ huyện này, nay tương ứng với quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng bây giờ.
0
Chương 8

1.

Sân ga Hàng Cỏ đông đúc. Khách xuống chuyến sớm đứng ngáp vặt chờ người thân đến đón. Khách lần đầu ra Hà Nội lơ ngơ chưa biết về đâu. Đám xe kéo xúm lại mời chào. Đầu phố Gambetta, một gánh xẩm chào đón họ bằng tiếng nhị eo éo và lời hát vui tai. Cái lạnh làm người khỏe phải xuýt xoa mà ông lão vẫn hát.
Bắc Kỳ vui nhất Hà thành
Phố phường sầm uất văn minh rợp trời
Thanh tao, thanh lịch đủ mùi
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy
Đâu đâu khắp hết đông tây
Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn
Cũ thời băm sáu phố phường
Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm...

Gió thổi ào ào kèm theo vài hạt mưa. Mọi người vội chạy vào nấp dưới mái hiên, chỉ còn trơ hai người. Lan như kẻ mất hồn, mặc cho gió thổi tung cái khăn lụa đỏ, cô đứng im như không có mưa. Laglan quay mặt về phía tòa nhà, điếu thuốc lá trên môi cháy đỏ. Tòa xử đã cho hai người ly hôn và hôm nay Laglan đi tàu xuống Hải Phòng về Pháp.
Tối qua, Laglan khóc lóc trên giấy nói xin Lan bỏ qua mọi chuyện. Rằng ông không biết sẽ thế nào nếu sống thiếu cô nhưng Lan cương quyết không chịu. Cô chỉ đồng ý sẽ ra ga tiễn ông. Có lẽ chẳng gì nặng nề hơn chia ly, bao điều cần nói, cần thanh minh, giải thích hay xin lỗi đã nói rồi, chia ly là bậc cuối cùng trong nấc thang tình cảm. Laglan quay lại nhìn Lan rồi rút túi đưa cho cô mảnh giấy.
- Đây là bức thư Hồng gửi cho tôi lúc hai ta cưới nhau chưa lâu.
Lan đã đọc thư này. Sao từ ngày đó ông ta không bao giờ nhắc đến, hôm nay đưa lại chắc có ý “tôi yêu cô, thế mà cô lại bỏ tôi”. Lan lắc đầu:
- Ông ta gửi anh thì nó là của anh.
Laglan thả xuống sân ga. Tiếng loa thông báo mời khách lên tàu đã giải thoát cho cả hai. Móc lá thư trong túi, giọng Laglan trầm trầm.
- Về nhà hãy đọc...
Lan ôm Laglan, mắt rơm rớm. Ông ta vuốt tóc cô rồi xách chiếc va-li đi nhanh vào nhà chờ. Lan đứng nhìn cho đến khi bóng ông ta khuất vào trong. Lan ào lên chiếc Citroën, cô vội vàng bóc thư.
Em yêu thương!
Em là tình yêu đầu và cũng là cuối cùng của anh. Anh từ chối thừa kế cả cánh đồng nho, cả xưởng rượu làm ra những chai vang có chữ F nổi tiếng khắp thế giới. Anh không giải thích nổi tại sao anh yêu em. Có lẽ bản chất của tình yêu là sự mù quáng.
Em biết rõ anh không muốn chia tay em. Nhưng không hiểu tại sao em lại muốn ly hôn, chắc tình cảm đối với anh đã chẳng còn, vì thế lời anh nói, việc anh làm trái ý em khiến em khó chịu. Nói như người An Nam, hết tình còn nghĩa nhưng em hết cả nghĩa. Thôi trách nhau chả để làm gì. Nếu có dịp qua Pháp, em có thể xuống Bordeaux. Không còn là vợ chồng nhưng chẳng có gì ngăn chúng ta không gặp lại nhau. Hy vọng được đón em ở Bordeaux.
Yêu em nhiều.
Laglan
Tái bút: Anh rất lo cho em vì ở An Nam song hành với người tài bao giờ cũng là sự ghen ghét, đố kỵ.

Ô-tô đỗ ngay sảnh giữa, cô lao lên nhanh lên phòng sợ con sen nhìn thấy cô yếu đuối. Gió khan luồn qua khe cửa chớp ngấm cái lạnh qua tấm kính dày. Chưa năm nào rét dài ngày và lạnh thấu như mùa đông năm nay. Khúc củi trong lò sưởi vẫn hồng rực. Lan nhắm mắt lại. những con chữ liêu xiêu cứ hiện ra. Cây hoàng lan bị gió quật liên hồi. Đêm dài lê thê. Hay cô có quá ít cái để nhớ?
* * * * *
Chẳng hiểu hình bà đầm đầu đội vương miện, tay cầm ngọn đuốc ý nghĩa gì, Thiên chỉ biết đám trẻ đánh giày ư ử.
Ông Bôn Be lấy bà đầm xòe
Bà đầm xòe ngoại tình khi Bôn Be vắng nhà
Tên bồi mách với Bôn Be
Bôn Be sẵn gộc tre
Đánh đầm xòe ra Neyret
[1]
Thiên bị bắt đúng lúc ngồi dưới chân tượng ở vườn hoa Neyret, lúc đang ngắm ảnh một cô gái. Bao nhiêu lần nằm dài dưới bệ đá vuông khi tượng này còn đặt ở vườn hoa Paul Bert [2] đâu có thấy cảnh sát nói gì. Kinh nghiệm bao năm bờ bụi đường phố cho Thiên biết, nhiều khi cảnh sát cứ hót bừa người vô công rồi nghề nên anh cãi.
- Thưa ông, con không làm bẩn tượng ạ.
Viên cảnh sát cao lớn quát:
- Mày bị bắt về tội ăn cắp.
Thiên ngớ người.
- Thưa ông, con ăn cắp gì đâu, đây ông khám người con đi!
- Rồi mày sẽ biết!
Hai viên cảnh sát khóa tay đẩy Thiên lên xe hòm đưa về bót Hàng Trống. Vừa tống vào căn phòng rộng chừng hơn chục thước, viên cảnh sát đánh đòn phủ đầu, Thiên ngã sấp mặt xuống sàn xi-măng.
- Mày ăn cắp tấm ảnh này ở đâu?
Thì ra là bị bắt vì tấm ảnh.
- Thưa ông... con nhặt được ở thùng rác... thấy cô gái trong ảnh đẹp con giữ lại để ngắm... con nghĩ gái đẹp ai cũng thích ạ.
- Nói láo! Một tấm ảnh đẹp không ai bỏ vào thùng rác cả.
- Thưa ông, con nói thật mà!
Hai cảnh sát thay nhau đá, đạp vào mạng sườn cho đến khi Thiên bất tỉnh. Một gã lấy xô nước dội vào mặt. Lúc sau thấy Thiên mở mắt gã dựng dậy cho ngồi lên ghế sắt.
- Mày không bịp chúng ông được, bức ảnh do ông Dieulefils chụp chắc chắn cô gái này phải sinh ra trong gia đình giàu có hay đầy thế lực trong thành phố này. Mày không nghề nghiệp thì chỉ có ăn cắp thôi. Mẹ kiếp khai nhanh không ăn đòn săngtan [3].
Sự thật đó là ảnh Lan hồi mới quen Laglan, khi ấy cô ta mới ngoài hai mươi. Để có tấm ảnh, Thiên phải giả làm người của nhà máy đèn Bờ Hồ đến chữa điện và nhân lúc gia nhân không để ý đã nhét nó vào trong bụng. Bố đang ốm nặng, ruộng bỏ hoang không ai làm, gia cảnh túng bấn nên Thiên định ăn cắp tấm ảnh “mang người tình về quê” nhưng lại bị bắt trong tình thế chẳng bao thể ngờ. Cảnh sát đánh thế nào Thiên cũng nhất nhất khai “nhặt được trong thùng rác”, không tiền hậu bất nhất, bài học Thiên nghe dân đường phố truyền lại, và họ sẽ phải tha. Ác nỗi cảnh sát không tha còn tống vào Hỏa Lò. Lan gặp Thiên đúng lúc anh ta bị giam chờ xử. Nhìn anh ta gày gò sau song sắt, hôm đó Lan đã khóc và tự hứa phải giúp anh ta.
* * * * *
Để cứu Thiên, Lan thuê hai luật sư có tiếng người Pháp từ Sài Gòn ra. Chỉ có những luật sư hành nghề lâu năm ở An Nam mới có kinh nghiệm và mưu mẹo đấu với đám cảnh sát gian xảo. Sau năm lần làm việc, Sở Cẩm non chứng cứ, lý thì đuối, họ buộc phải tha.
Nhưng sau vài ngày Thiên ra khỏi Hỏa Lò thì Lan bị mật thám gọi lên tra hỏi. Cảnh sát Tây và An Nam mặt cô hồn xúm vào quay. Hôm bắt gặp buổi sáng, hôm gặp buổi chiều, câu hỏi cứ lặp đi lặp lại “tại sao bà cứu hết người này đến người khác”, “tại sao bà muốn cứu Hồng”, “bà đã nói gì hôm gặp ông Hồng”. Có hôm bọn họ giở trò gây ức chế, gọi lên sở nhưng chẳng hỏi gì, bắt ngồi một lúc rồi cho về.
Một buổi sáng, cô bảo lái xe chuẩn bị ô-tô đưa đến văn phòng thì có chuông điện thoại. Bên kia đầu dây là giám đốc nhà tù Hỏa Lò, ông ta muốn gặp cô có việc gấp. Tù nhân nào đó được cô cứu ra tù chống lại người Pháp chăng? Thực phẩm ôi thiu? Tù nhân bị ngộ độc thức ăn? Cô không đoán được, chỉ linh cảm tin rất xấu. Bước chân vào phòng, chẳng còn vẻ niềm nở kèm vài câu hài hước như mọi lần, viên giám đốc vỗ mặt.
- Thưa bà, nhà giam muốn thanh lý hợp đồng cung cấp thực phẩm của công ty bắt đầu từ ngày hôm nay.
Quá bất ngờ, Lan hỏi:
- Thưa ngài, đã có chuyện gì xảy ra?
- Chẳng có chuyện gì cả. Chúng tôi đã tìm được nhà cung cấp mới.
- Nhưng hợp đồng vẫn còn thời hạn sáu tháng nữa kia mà?
- Chúng tôi tự ý chấm dứt trước thời hạn chúng tôi sẽ bồi thường khoản thiệt hại đó cho bà.
- Ngài có thể nói thẳng lý do được không?
Ông ta cũng chẳng vòng vo.
- Chúng tôi nhận được lệnh cắt đứt hợp đồng với bà. Mong bà thông cảm và cho quản lý sang tính toán ngay.
Vậy là chính phủ Bảo hộ đã ra lệnh. Họ nghi cô chống đối nhà nước Pháp. Cô muốn báo tin này cho con trai Hồng nhưng không biết cậu ta ở đâu. Trở về văn phòng, ký lục gãi đầu báo nhà tù Hải Phòng vừa điện lên mời cô ngày mai xuống làm việc gấp. Lan im lặng. Giờ cô mới thấm thía lời cảnh báo của Laglan. Tại sao họ không làm việc đó khi ông ta chưa về Pháp? Chắc chẳng ai quan trọng bằng nước Pháp, có thể họ chưa nghĩ ra lý do xuôi tai để ra một quyết định. Bỗng dưng nhớ Laglan dữ dội, cô lấy giấy viết thư.
Hà Nội ngày...
Anh yêu nhớ!
Dù là người mạnh mẽ song sâu thẳm em cũng chỉ là một con đàn bà và anh không hề nhận ra em cần anh đến mức nào. Khi còn ít tiền, em muốn ví tiền lúc nào cũng căng phồng nhưng nhiều năm trở lại đây em thấy cần anh hơn, ở với anh em luôn thấy mình còn thiếu nhiều thứ. Bây giờ em mới nhận ra anh là chỗ dựa vững chắc nhất cho em... Không còn anh, em biết cuộc đời sẽ khác... Và em không về Pháp cùng anh là sai lầm lớn nhất của đời em... nó làm em ân hận... dù An Nam là quê em... Sự thật chẳng thể chối cãi, từ khi anh về, giây phút nào rảnh rang trong ngày là em nhớ anh. Khoảng cách như người hay nói đúng là thước đo tình yêu. Anh là người đàn ông có ý chí, nghị lực, anh hài hước một cách khô khan, cứng nhắc, vì thế anh chỉ là một ông quan tư. Một quan tư tốt và là người chồng tử tế. Sự tử tế đã cảm hóa được em, một cô gái quê liều lĩnh trở thành người đàn bà đằm thắm, nhân ái hơn. Song tất cả đã quá muộn... lỗi là ở em quá cố chấp.
Dù anh đã già, sức đã yếu nhưng em vẫn mong ngày nào đó anh sẽ trở lại An Nam. Cho em có lời chúc sức khỏe tới Morel.
Mãi yêu anh.
Lan

Gió heo may thổi nhẹ trên phố Paul Bert, trời hiu hiu lạnh làm tim cô thót lại. Mùa đông sắp về. Cô chợt nhớ lần cùng Laglan dạo quanh Bờ Hồ, lúc cô còn bán gạo, Laglan đã nhặt bông hoa sấu li ti dùng kim xâu thành dây hoa đeo lên cổ cao của cô...
Bỏ lá thư vào thùng, cô quay ra thì gặp Thiên. Kỳ lạ anh ta luôn xuất hiện bất ngờ. Ngày gặp ở Hải Phòng, tóc anh ta còn xanh, giờ cô thấy có nhiều sợi bạc. Gần hết một đời theo đuổi một người như cô để làm gì, cô không hiểu nổi. Đời nay đâu chỉ có mình cô là đàn bà?
- Tôi vô cùng biết ơn cô cứu tôi thoát cảnh tù đày.
Nói xong Thiên đi thẳng. Lan kéo lại.
- Sớm muộn anh cũng sẽ về nhà, tôi muốn anh giả lời giúp tôi một câu hỏi mà từ nhiều năm qua tôi bế tắc... Gói tiền phu xe ngựa đưa cho tôi có phải là của anh không?
- Chuyện lâu rồi tôi không nhớ...
- Anh có tham gia vào màn tuồng đánh ghen rồi lại cứu tôi không?
Thiên lắc đầu. Anh ta đi thẳng ra phía bờ sông.
Nếu gói tiền đó là của anh ta thì sao anh ta có nhiều tiền đến thế. Mà số tiền đó đúng bằng số tiền của cô. Cái nhà bị cố ý sau khi ai đó lấy tiền hay chỉ là vụ cháy do hàng xóm bất cẩn?
Cô rẽ đại lộ Đồng Khánh [4], tàu điện leng keng dừng ngay nhà Godard [5], tiện chân cô bước lên. Từ ngày Hà Nội có tàu điện cô chưa bao giờ đi dù chỉ thử cho biết. Nó dành cho người nghèo. Giàu có như cô ngồi ghế giá vé ba xu bị thiên hạ cho là đồ keo kiệt. Thỉnh thoảng ông lái tàu lại dậm chân vào miếng đồng lồi trên sàn, tiếng leng keng phát ra như trò chơi, cô thấy vô cùng thú vị. Cô nhớ chú Vẹn có lần vừa kéo nhị vừa gân cổ hát.
Thằng Tây ngồi ngẫm cũng tài
Nghĩ ra đèn điện thắp hoài năm canh
Thằng Tây ngồi ngẫm cũng sành
Nghĩ ra tàu điện chạy quanh phố phường
La ga thì ở Thụy Chương
Dây đồng cột sắt tìm đường kéo ngang
Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm sơ vơ
[6]
Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba

Tàu dừng ở chợ Hôm để tránh tàu từ ngã tư Trung Hiền lên, cô thấy các bà bán rau muống nhấc bổng quang rau xuống đất gánh thốc vào chợ. Ra tàu không chỉ chở người. Lại leng keng, tàu chuyển bánh xuống phố Bạch Mai. Đến Ô Chợ Dừa thì dừng cho khách lên và xuống. Ăn mày la liệt kêu la chìa tay. Thấy cô ăn mặc sang trọng, một bà quỳ xuống trước mặt lạy, giọng cực kỳ đau khổ, “Ối bà ơi, khổ cái thân con quá bà ơi, con xin bà thương tình cho con xin vài xu đong đấu gạo, mấy ngày nay con cháu không có gì vào bụng, con lạy bà, xin bà nhủ lòng thương”. Nghe tiếng kêu xin cô thấy nhoi nhói trong lòng. Hiếm khi đi bộ nên hôm nay cô mới chứng kiến dám bị hủi, kẻ cụt chân nằm xoài trên đất lấm lem. Sở Cẩm lập trạm ngay đầu cầu bắc qua sông Kim Ngưu, nối phố Huế với Bạch Mai để chặn ăn mày, cấm họ không được vào nội đô. Nước sông Kim Ngưu, Tô Lịch giờ đâu còn như câu ca dao “vừa trong vừa mát”, nó đen ngòm vì nước thải trong phố đổ ra. Bến tắm Ô Chợ Dừa, mùa hè đông đúc trẻ con ngụp lặn cũng biến mất. Nhà Lục Xì, nơi chuyên khám chữa bệnh lậu, giang mai cho gái điếm mà cô từng cung cấp thực phẩm thời Toàn quyền Paul Doumer giờ là một trường tiểu học.
Sẵn có ít tiền lẻ sơvơ vừa trả lại, cô bỏ vào nón một chị địu thằng bé con mặt lem luốc đang gà gật. Rồi bỏ vào nón một bà cụ mù hai mắt. Cô nhanh chân đi lối tắt vào cánh đồng làng Bạch Mai. Ruộng rau cải hai bên xanh ngắt, mùi nước tiểu còn hăng. Rau muống bè mơn mởn trên mặt ao, một bà cụ ngồi trên thuyền thúng thoăn thoát hái rồi lấy lạt bó thành mớ đến khéo. Cô mở cổng gỗ bước vào lô đất rào kín xung quanh bằng dứa dại. Miếng đất này cô mua sau khi vợ chồng chia tay. Cô sợ ở Hội Vũ ra vào đều va kỷ niệm. Chồng con Nụ đang quát tháo mấy anh phu hồ trát ẩu. Cô thấy mừng vì có được những người giúp việc như vậy, coi việc của chủ như của mình. Sau khi cô mở công ty, con Nụ xin về quê lấy chồng. Giờ là mẹ của năm đứa con. Cuộc sống ở quê khốn khó, hai vợ chồng đầu tắt mặt tối mà vẫn bữa cơm bữa cháo, nó đành phải ra Hà Nội tìm cô xin việc, may cho nó và cũng may cho cô. Con Thơm cũng xin nghỉ sau khi Nụ về quê. Nó lấy anh lính gốc Algierie gác cổng thành và theo về nước khi anh này mãn hạn.
Trang trại đã rõ hình hài. Cây ăn quả đã cao. Giàn nho đã phủ kín sân gạch trước cái nhà một tầng lợp ngói, có sênô xung quanh.
------------------
[1] Nay là vườn hoa Cửa Nam.
[2] Nay là vườn hoa Lý Thái Tổ.
[3] Tù bị đánh dã man khi bị giam ở Maison Centrale (tức nhà tù Hỏa Lò), nên người tù gọi là đòn săngtan (phiên âm của từ Centrale).
[4] Nay là phố Hàng Bài.
[5] Sau 1954 gọi là Bách hóa Tổng hợp, bị phá năm 1998 để xây lại, nay là Tràng Tiền Plaza.
[6] La ga (tiếng Pháp bồi): nơi đỗ toa tàu điện ở Sở xe điện ngày trước. Sơ vơ: Người bán và soát vé trên tàu điện.
0
2.

Bệnh lao phổi của Lân ngày càng trầm trọng. Nó vẫn nằm nhà thương Phủ Doãn từ đận Laglan tát cô. Bác sĩ không nói cụ thể song Lan biết sự sống của em chỉ còn tính từng ngày. Và đúng vào ngày nồm nhất thì Lân mất. Khi thu dọn quần áo đem đốt, bất ngờ dì Mùng phát hiện trong đáy tủ có bức ảnh chụp ở hiệu Hương Ký. Lân mặc áo vét thắt nơ, còn cô gái mặc áo năm thân cài khuy, tóc bỏ đuôi gà. Con bé làm con sen nhà hàng xóm cách nhà Lân đúng một gian, hai đứa kín đến mức hàng ngày bà vẫn gặp mà không hay biết. Bức ảnh chụp từ rất lâu vì con bé về quê lấy chồng và đã có con.
Tang lễ tổ chức chính tại căn nhà ở phố Hàng Da cô tặng em, cạnh nhà chú Sáng và dì Mùng. Hàng phố đến viếng rất đông. Bạn bè Lan đọc phân ưu trên Hà thành ngọ báo cũng mang hoa chia buồn. Lan nhìn thấy cả những người chẳng ưa cô thời cô còn kinh doanh. Hoa trắng và câu đối kín vỉa hè. Phường bát âm quần áo đồng phục màu vàng viền đỏ, chân quấn xà cạp, đầu đội nón chóp bạc tấu điệu Bắc ai oán, bi thảm. Xe tứ mã của nhà đòn Louis Chức phố Hàng Cót chầm chậm chở quan tài dọc con phố đông đúc hàng quán. Đằng trước có hai long đình rước ảnh và vong.
Ngồi ngay cạnh quan tài Lân chỉ có cô và vợ chồng Trúc. Sợ cô mệt, vợ Trúc thủ sẵn trong người củ sâm Cao Ly, thỉnh thoảng con bé lấy dao cắt một miếng đưa cho cô và cho chồng ngậm. Quá trưa xe tang về đến Bình Thơ. Cô bảo xà ích cho xe qua ngôi nhà nó đã sinh ra nay là nhà của cháu nội Lý Tung rồi mới vòng lại ngôi nhà ngói ba gian hai chái to nhất làng. Cô mua đất và xây gần chục năm nay.
Đám đàn ông trong làng ra tận bãi tha ma đưa tiễn. Lan không ngờ họ Trần cũng có mặt đầy đủ. Người quê ghét ai chỉ cần nghe tên cũng ghét luôn cả người nói huống chi là nhìn thấy mặt, có lẽ vì ông trưởng họ thủ cựu không còn, con trai ông thay cha hương khói không phải loại người cố chấp. Lan chôn tấm bia đá chuẩn bị từ trước lên mộ em, trên ghi dòng chữ “Vô cùng thương tiếc em tôi đã chết vì sự độc ác”, cô cũng chôn tấm bia ghi “Đời đời căm thù kẻ đã giết cha tôi” lên mộ cha mẹ. Lạ là cô không thấy Thiên.
Người có khác nhưng làng vẫn thế. Xác xơ mái tranh. Ba đêm cô ở quê nhưng cả ba đêm cô không chợp mắt nổi. Cô thấy khác lạ. Có thể mấy chục năm cô mới ngủ ở quê? Cũng chả phải, quê là đây mà sao xa xôi và cô như người lạ. Dì Mùng cũng không ngủ được, người rũ ra như tàu lá. Chôn cháu xong chắc dì sẽ chôn chồng. Chú Vẹn đang ốm nặng. Chả ngờ cái ông hát xẩm một thời làm nghề bốc vác nặng nhọc còn thọ hơn ông Sáng. Lan đã đánh điện cho thằng Tơi, may ra nó về kịp vì tàu thủy từ Pháp về An Nam bây giờ đi nhanh. Cô trở dậy ra ngõ. Tiếng chó sủa ầm xóm. Cô chợt nghĩ mình rồi cũng sẽ chết. Khi ta cực khổ cuộc đời sao lê thê, khi đầy đủ lại thấy nó quá ngắn.
0
3.

Thầy Cả ở nhà thờ Hàng Bột vừa về. Thi thoảng thầy ghé thăm nhưng bao giờ cũng đến vào ban ngày, hôm nay có việc gấp thầy mới xuống buổi tối. Thầy Cả phiền cô xin thêm ít tiền vì người tàn tật xin trú quá đông, lại không nỡ từ chối mà quỹ ngày càng teo tóp.
Từ ngày giao hết việc buôn bán cho các em các cháu, cô chuyển hẳn về sống ở trại Bạch Mai. Không khí thoáng đãng, nhà lại có vườn có ao nên cô thấy dễ chịu. Chắc ngại xa, đường vào lại hẹp nên khách khứa cũng ít. Trúc làm chủ nhiệm nhật báo Tin Mới bận bịu tối mắt nhưng cứ rỗi là hai vợ chồng dẫn con xuống “thăm chị”. Vốn mở báo là của cô. Trúc hướng Tin Mới ủng hộ phong hóa, phê phán thói hủ lậu bằng giọng điệu hài hước nhẹ nhàng, đúng như cô mong muốn.
Thầy Cả ra về, cô lấy thư của Laglan mới nhận hôm qua ra đọc lại.
Bordeaux ngày...
Em yêu thương!
Có lẽ đây là lá thư cuối cùng anh viết cho em vì mắt anh đã mờ, tay cầm bút đã run. Morel sống ở Paris, chỉ còn mình anh ở Bordeaux. Xưởng ủ rượu bỏ hoang từ lâu vì ruộng nho đã bán. Hàng ngày chỉ còn duy nhất một việc chống gậy đi ra đi vào. Anh sống được là nhờ gặm nhấm kỷ niệm ở An Nam, tưởng tượng ra em ngồi bên đống sổ sách tính toán. Em là phụ nữ mạnh mẽ, luôn biết khát khao, biết bực tức, có những tính cách đó nghĩa là em có tố chất muốn làm, muốn thành công. Con người chẳng bao giờ khám phá hết bản thân ngay cả khi sắp lên Thiên đàng nên anh chỉ khuyên em hãy cảnh giác với bản thân mình. Anh luôn không tin vào số nhưng bây giờ thì anh tin.
Vĩnh biệt em!
Ông già Laglan

Cất lá thư vào hộp. Chuyện cũ lần lượt hiện về. Mùi nhãn chín phảng phất báo hiệu đầu thu. Cô đóng cửa lấy giấy viết thư cho Laglan.
Hà Nội ngày...
Ông già Laglan của em!
Già mà còn nói chuyện yêu đương thật là lãng mạn. Và bất hạnh nếu ai không yêu và không được yêu. Em yêu anh. Đến bây giờ em đủ bình tĩnh chiêm nghiệm, nếu hồi đó không có anh thì em sẽ ra sao? Vẫn mặc áo tứ thân ngồi bán gạo? Hay về quê làm ruộng? Và dù có là gì đi chăng nữa thì cũng không bằng những thứ anh mang lại. Anh làm em thay đổi cách suy nghĩ, điều đó quý hơn tiền bạc và cũng nhờ nó em mới có mọi thứ như ngày hôm nay...

Bỗng ba con chó thi nhau sủa, cô dừng bút. Tiếng sủa dồn dập chắc không phải cắn ma, cũng không phải dọa rắn hổ mang kiếm ăn đêm, có vẻ như dọa kẻ định vào vườn. Ba đêm nay lũ chó đều sủa. Bỏ cây bút Parker, cô đứng dậy nghe ngóng. Tiếng sủa nhỏ dần rồi lịm tắt. Hàng rào bên ngoài bằng dứa dại cao vổng, gai nhọn và sắc, trộm có chui qua cũng chẳng dễ. Cô nhẹ chân ra hiên, dãy nhà ngang không động tĩnh, vợ chồng con Nụ và người làm ngủ say. Cô bước ra sân, ba con chó không chạy đến quấn quýt như mọi đêm khiến cô nhờn nhợn. Hay nó đã trúng bả? Đàn ông làng Bạch Mai hiền lành chăm chỉ lao động, làng không có đầu trộm đuôi cướp. Nếu có trộm thì chỉ từ nơi khác đến. Cách đây một tuần, chợ Mơ vào phiên cô xuống chơi và cũng muốn mua vài cây giống bất ngờ gặp Thiên. Nhìn thấy cô, anh ta nép vào sau cột gỗ tránh mặt. Có thể từ ngày gặp nhau ở Bờ Hồ anh ta chưa về quê. Dạo này các báo hay đăng tin Hà Nội xuất hiện hội kín hay anh ta có chân trong hội nào chăng? Mà tại sao anh ta cứ quẩn quanh chỗ cô ở? Cô chợt nhớ đến lá thư con Nụ thấy trong túi Laglan, cô đã hỏi Hồng hôm thăm ông ta ở Hỏa Lò, ông ta lắc đầu bảo không biết. Người biết kỹ chuyện cô với Hồng chỉ có Thiên. Hồng không viết thì chỉ có anh ta thuê người viết rồi gửi cho Laglan. Quả là không vừa.
Trời lặng nên lá cây nhãn không bị gió đánh thức, chỉ có tiếng quả thi thoảng rơi xuống đất do dơi ăn nhãn. Cô vào trong nhà mở chai vang uống một cốc lấy lại tinh thần. Bỗng một vật giáng mạnh vào đầu cô, bản năng sống mách bảo, cô nghiêng đầu, thanh gỗ đập trúng vào bả vai. Cô ngã xuống sàn nhà và nhìn thấy kẻ đánh mình cao gầy mặt bịt kín chỉ để hở hai con mắt. Hắn vung thanh gỗ nện tiếp, sinh lực trào lên, cô vùng dậy sẵn cái mở rượu trong tay cô đâm mạnh vào bụng tên sát nhân, nó ối một tiếng nhưng thanh gỗ đã kịp đập ngang hông cô. Nó bồi phát nữa. Cô ngã vật bất tỉnh, máu chảy tứa ra sàn. Bóng đen vọt nhanh ra cửa lẩn vào vườn cây.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.01.2018 14:47:56 bởi casau>
Vĩ thanh

Hầu hết các tờ báo chữ quốc ngữ và chữ Pháp đều đưa tin Tư Hồng bị sát hại với đủ các hàng tít thể hiện quan điểm của chủ bút. Có tờ giật hàng tít Người đàn bà phá thành Hà Nội đã bị giết, có tờ chỉ đơn giản như một vụ giết người Cô Tư Hồng bị đánh chết dã man, lại có quan niệm nghĩa tử là nghĩa tận Vĩnh biệt Me Tư Hồng. Báo Tin mới giật hàng tít ngay sát măngsét Một người đàn bà nổi tiếng An Nam vĩnh viễn ra đi, nội dung đầy thương tiếc, cảm phục một người đàn bà An Nam dám vượt lên số phận, vượt qua luật tục và các định kiến xã hội, dám cạnh tranh và thành công trong kinh doanh. Nhiều báo kể lại đời tư, chuyện phá thành, buôn bán và mô tả cái chết thê thảm bên vũng máu, với giọng điệu khác nhau, kính phục, biết ơn lòng tốt bởi cô giúp người nghèo hay móc máy đời làm me Tây, nguyền rủa cô phá thành. Tuy nhiên không một tờ báo nào có tin riêng về kẻ sát nhân hay vì sao cô bị giết. Cái chết của cô Tư Hồng tính đến nay đã gần một thế kỷ, thế nhưng nó vẫn còn là một bí ẩn. Không ai biết chính xác mộ cô chôn ở đâu, tất cả chỉ là đồn đoán.

Hà Nội 7-5-2014 
 
 
HẾT
0
Me Tư Hồng - Nguyễn Ngọc Tiến
 
Đã đưa vào thư viện
Cảm ơn và chúc casau ngày cuối tuần an, vui
 
📎 thank1




0
«« « 1 2 » »»