Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ngọc Tuyền thảm sử - Thẩm Thệ Hà

5 trả lời, 17 lượt xem — Trang 1 / 1
Ngọc Tuyền thảm sử
Tác giả: Thẩm Thệ Hà
 
- I -
Con sáo sang sông

Năm Nhâm Ngọ (1786), vua Thái Đức cử Nguyễn Huệ làm Tiết Chế thủy quân đánh Bắc Hà. Nhờ tài thao lược của Vũ văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh, đại quân của Nguyễn Huệ đã chiến thắng vẻ vang, quân của Đoan Nam Vương không còn manh giáp.
Huệ và Chỉnh vào chầu vua, lấy danh là diệt Trịnh phò Lê. Vua phong Huệ làm Uy Quốc công và gả Công chúa Ngọc Hân cho Huệ. Lê Hiến Tôn đang ốm, vì bị kích thích quá, nên sau khi cử hành hôn lễ cho Công chúa, vua băng hà. Hoàng Tự Tôn Duy Kỳ lên thay, lấy tên là Lê Chiêu Thống.
Nguyễn Huệ vốn không ưa Chỉnh là một tên gian hùng, xảo quyệt, rất nguy hiểm. Một đêm tháng Tám, Nguyễn Huệ mật truyền cho quân thủy bộ bất ngờ rút lui về Nam, cố ý mượn các phần tử còn lại của họ Trịnh và dân Bắc Hà trừ Chỉnh. Bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn, Nguyễn Hữu Chỉnh căm tức vô cùng. Biết rằng mình ở trong vòng nguy hiểm, Chỉnh về Nghệ An hiệp cùng anh rể là Nguyễn Khuê lo chiêu binh và thao luyện quân sĩ. Sau khi đạo tinh binh đã thuần thục, một lần nữa, Chỉnh kéo quân về phong tỏa Thăng Long. Các hổ tướng của Trịnh Bồng đều vỡ mật, trước vó ngựa kiêu hùng của Chỉnh.
Hữu Chỉnh vào chầu vua. Vua phong Chỉnh làm Bình Chương quân quốc. Con của Chỉnh là Nguyễn Hữu Du được phong tước Bái Đình Hầu.
Bước một bước đến đài vinh quang, Chỉnh tự phụ mình có tài hơn thiên hạ. Các việc quân quốc, Chỉnh đều tự quyết, xem thường cả các quan. Hành động của Chỉnh vô cùng tàn ác, xem như mình có trọng quyền sanh sát trong tay, bất chấp cả phép vua luật nước.
Chỉnh cho thâu chuông đồng ở các chùa về đúc tiền. Chùa nào giấu diếm hay từ chối thì tất cả sư sãi trong chùa bị đem ra hành xử với những hình phạt thật là ghê tởm.
Một hôm, quân sĩ về báo có một ngôi chùa giấu mất chuông, quân sĩ đã tìm khắp nơi mà vẫn không tìm ra. Chỉnh nổi giận, ra lệnh bắt tất cả sư sãi trong chùa tra vấn. Một vị sư già, hai vị tăng trẻ và hai chú tiểu bị tra tấn đủ cách mà vẫn một mực kêu oan.
Chỉnh nổi giận thét to:
- Nếu không đem giấu, vậy chớ chuông biến đi đâu?
Vị sư gia từ tốn đáp:
- Chuông đã bị đánh cắp trước mấy ngày.
- Ai thèm đánh cắp chuông làm gì? Đã tu hành sao lại còn gian dối?
- Bần đạo không hề nói dối.
Hữu Chỉnh mỉm cười nham hiểm:
- Vậy thì chuông đâu đem hiến cho triều đình làm việc công ích. Bằng không, tất cả bọn người sẽ bị trừng phạt đích đáng.
Hai vị tăng cúi đầu kêu oan. Hai chú tiểu khiếp sợ, mặt không còn chút máu. Riêng sư già vẫn bình tĩnh chờ đợi cơn thịnh nộ của bạo quyền.
Hữu Chỉnh ra lệnh:
- Quân sĩ đâu, đem mấy cây mía ra đây.
Lập tức, năm tên quân đem vào năm cây mía, phủ phục chờ lịnh.
Hữu Chỉnh thản nhiên thét to:
- Thi hành.
Năm tên quân đem năm cây mía đặt trên đầu năm nhà tu, rồi từ từ róc mía với năm lưỡi dao thật sắc. Những lát mía từ từ rơi xuống và chỉ vài phút nữa năm lưỡi dao sắc sẽ róc gọn năm mái đầu trọc lóc.
Hữu Chỉnh trợn mắt hỏi:
- Nào, các ngươi có chịu khai chưa?
Vị sư già ung dung đáp:
- Mô Phật, bần đạo không hề nói dối.
Vị sư vừa dứt lời, bốn tiếng thét ré lên một lượt. Năm lưỡi dao đã róc vào đầu năm nhà tu, máu túa ra nhuộm đỏ cả mặt mũi nạn nhân. Bốn tiếng thét của hai vị tăng và hai chú tiểu, riêng sư già vẫn điềm nhiên niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”. Rồi sư già nhìn thẳng vào mặt Chỉnh, giọng vẫn hiền hòa:
- Bần đạo xin quan nhân bớt đi sâu vào tội nghiệt. Ai gieo nhân nào thì sẽ gặt quả nấy. Hôm nay quan nhân đã gieo gió, ngày mai quan nhân sẽ gặt bão.
Hữu Chỉnh cười nhạt:
- Ta mong sẽ gặt được bão, vì đời ta chỉ thích những cơn bão tố, và rất ghét cuộc đời phẳng lặng như nhà tu. Giờ đây, ta giải thoát cho các ngươi sớm về chốn Tây phương cực lạc mà bọn ngươi mong ước.
Vị sư già cúi đầu, miệng không ngớt niệm:
- Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới, Đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. Nam mô A Di Đà Phật...
Tiếng niệm Phật của sư già như đem lại niềm tin thiêng liêng của Đạo pháp, hai vị tăng cũng nối tiếp cất giọng ngân nga:
“Nam mô đại từ đại bi Quan thế Âm Bồ tát...
Nam mô đại lực Địa thế Chí Bồ tát...
Nam mô đại thánh Địa tạng Vương Bồ tát...
Nam mô thanh tịnh Đại hải Chúng Bồ tát...”
Giọng niệm đến đây thì năm thân xác cũng vừa gục xuống. Họ đã chết trong niềm tin tưởng vô biên, làm cho kẻ sắt đá nham hiểm như Chỉnh cũng không khỏi ngạc nhiên, xao xuyến...
Hành vi động ác của Hữu Chỉnh vang động khắp nơi, làm cho nhân dân căm thù oán ghét. Có kẻ lén viết hai câu nầy ở Đại Hưng Môn:
“Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại;
Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần nhi điện diệt không”.
Có nghĩa là:
“Thiên hạ mất chuông, chuông mất đỉnh còn sao được.
Hoàng thượng đốt phủ, phủ đốt thì điện cũng tan”.
Hữu Chỉnh càng ngày càng lộng quyền, càng ngày càng đi sâu vào tội ác. Lời khuyên của vị sư già trước khi chết, không cảnh tỉnh được một hung thần mang nhiều tham vọng, muốn khuynh loát triều đình và xây phú quý trên xương máu đồng bào. Trong dân gian có những câu đồng dao truyền rằng:
“Nam mô đức Phật Như lai,
Vắng chuông chiêu mộ đã hai tháng rày.
Ai đem thằng Nhắng về đây,
Chuông chùa bị cướp, hại lây sư già”.
Các quan trong điều đa số đều oán ghét Chỉnh. Tuy biết vậy, Chỉnh vẫn cứng rắn làm việc theo ý mình, vì Chỉnh tự nghĩ: “Phải cứng mới đứng đầu gió”. Trong lúc đó thì dân chúng truyền miệng câu ca dao nầy đến tai Nguyễn Huệ:
“Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo sổ lồng nó bay...”
Nguyễn Huệ biết dân chúng quá khổ sở dưới bạo quyền của Hữu Chỉnh, nên đâm ra phiền tránh cả mình. Dân chúng làm sao hiểu được kế hoạch thâm sâu của một bậc anh hùng quán thế? Huệ chỉ mỉm cười, im lặng...
Đăng nhập để trả lời
0
- II -
Ngọc Tuyền kiếm

Một hôm, Nguyễn Hữu Chỉnh truyền gọi tất cả những người luyện kiếm giỏi nhất nước vào, bảo với họ rằng:
- Ta muốn đúc một thanh Ngọc Tuyền kiếm. Thanh kiếm ấy phải chém sắt như chém bùn, chém gỗ như chém chuối. Ta sẽ dùng nó mà an bang định quốc.
Bao nhiêu thợ giỏi đều khép nép cúi đầu, không ai dám đảm nhận cái trách nhiệm nặng nề ấy.
Chỉnh bừng bừng nổi giận, hét to:
- Các ngươi chuyên một nghề luyện kiếm mà không có tài đúc nổi một thanh kiếm quý. Ta nghe nước Tàu xưa kia có hai thanh kiếm báu Mạc Gia và Cang Tương, nước Nhật có hai thanh Mãi Mộc và Điểm Nguyệt. Nước ta có tiếng là đã từng bình Nguyên diệt Thanh, lẽ nào không có đặng một thanh báu kiếm như họ hay sao? Các ngươi toàn là bọn bất tài, lại làm điếm nhục quốc thể.
Hét xong, Chỉnh truyền võ đao quân đem bọn thợ ra pháp trường trảm quyết.
Một người thợ run lập cập, quỳ xuống bẩm:
- Tôi tuy có học phép luyện kiếm quý, song vì khó khăn nên chưa thí nghiệm bao giờ. Nay xin vâng mệnh Quốc Công, thử đúc một thanh kiếm báu để Ngài định an xã tắc.
Hữu Chỉnh vui vẻ nói:
- Nước ta ít nhất cũng phải có một thiên tài luyện kiếm chứ! Vậy nhà ngươi hãy chọn những thứ thép tốt, cần bao nhiêu vàng tốt ta sẽ giao cho. Khi rèn xong, ta sẽ ban thưởng trọng hậu.
Người thợ dạ dạ vâng lời. Chỉnh truyền lịnh tha cho tất cả bọn thợ. Họ riu riu ra về, mặt không còn chút máu, thầm cảm ơn đồng nghiệp vừa cứu thoát họ khỏi nanh vuốt tử thần.
Người lãnh nhiệm vụ ấy tên là Huyền Tôn. Vài ngày sau, Huyền Tôn đem những thứ thép tốt vào ra mắt Chỉnh. Chỉnh sai đốt hỏa lò lên, trao cho Tôn năm chục lạng vàng và hai viên ngọc quý.
Tôn bắt đầu luyện kiếm. Ròng rã ba tháng, thanh kiếm luyện gần thành. Tôn dâng lên cho Chỉnh xem. Ánh kiếm long lanh tỏa ra một làn khí lạnh. Cán kiếm bằng vàng chạm hình một con rồng đang giương vuốt. Chuôi kiếm cẩn hai viên ngọc, phản chiếu với ánh kiếm thành những tia sáng ngũ sắc, đẹp và lộng lẫy một cách lạ thường.
Chỉnh hân hoan ngỏ ý muốn thử kiếm. Tôn vội vàng thưa:
- Theo phép luyện báu kiếm, phải có đủ thần khí âm dương. Nếu luyện hai thanh thì một thanh Thư và một thanh Hùng. Nay thanh Ngọc Tuyền chỉ có hình mà chưa có thần, chưa thể gọi là báu kiếm.
Chỉnh hỏi:
- Vậy phải làm thế nào cho kiếm đủ Thần khí?
- Các đạo sĩ ngày xưa thường lấy thần khí bằng linh hồn của hai nam nữ đồng trinh. Mà hai nam nữ ấy phải hợp với tinh thần người luyện thì hồn mới nhập vào kiếm kết thành một tinh anh ảo nhiệm.
Chỉnh nói:
- Tưởng gì khó, chớ tìm hai đứa trẻ thật dễ dàng. Vậy để ta truyền bắt hai đồng trinh về cho nhà ngươi hoàn thành thanh báu kiếm.
Tôn lật đật nói:
- Hai nam nữ đồng trinh ấy phải do tôi tìm mới có công hiệu, vì cần có sự hòa hợp của tinh thần. Nếu Quốc Công muốn có một thanh kiếm quý hơn cả thanh Cang Tương ngày xưa, xin cho phép tôi đích thân tìm lấy nam nữ đồng trinh, vì chỉ có tôi mới tìm ra được mà thôi.
Chỉnh cười rùng rợn:
- Nếu vậy, phiền nhà ngươi một lần nữa, rán tìm được hai đồng tử ấy. Nội trong ba hôm, ngươi trở vào đây luyện nốt thanh thần kiếm.
Huyền Tôn từ tạ lui ra.
* * * * *
Huyền Tôn có một đứa con gái tên là Huyền Tiên. Mới mười sáu tuổi mà sắc nước hương trời, hoa nhường nguyệt thẹn. Nàng chẳng những đàn hay, hát giỏi mà còn có biệt tài về thi phú, văn chương. Nàng thường thích ngâm thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... nhất là thơ hào hùng của Đặng Dung, thơ hào phóng trữ tình của Nguyễn Du.
Hôm nay, một mình thơ thẩn vườn hoa, Huyền Tiên cảm khái cất giọng du dương ngâm bài “Độc Tiểu Thanh Ký” của Nguyễn Du:
Tây hồ mai uyển lẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần lân tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Hồ cũ vườn mai đã xác xơ,
Khóc nàng ta viết một tờ thư.
Đời thương xót mãi hồn son phấn,
Mệnh ghét ghen hoài nghiệp bút thơ.
Trời có hay đâu hờn vạn cổ.
Ta còn mang mãi hận ngàn xưa.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Không biết ai người khóc Tố Như?

(Trần Trọng San dịch)
Ngâm xong bài thơ, Huyền Tiên ngùi ngùi nhớ đến nàng thiếu nữ bạc mệnh trong thơ, nàng Tiểu Thanh đời nhà Minh, vì tài hoa cho lắm, sắc nước hương trời mà chi, để đến nổi tạo hóa ghét ghen, khiến nàng phải phủi sạch nợ trần giữa lúc xuân xanh, năm nàng mới mười tám tuổi. Nhớ người rồi nghĩ đến phận mình, Huyền Tiên lo sợ không biết mình rồi đây có chịu chung số phận với nàng kiều nữ ấy chăng? Nghĩ ngợi, bâng khuâng, nàng cảm thấy lòng vấn vương một nỗi buồn vời vợi, một ám ảnh triền miên...
Giữa lúc đó, Huyền Tôn về đến nhà. Thấy cha mang theo một thanh kiếm, Huyền Tiên ngạc nhiên hỏi:
- Thanh kiếm của ai mà đẹp như vầy, cha?
- Đó là thanh Ngọc Tuyền của Bình Chương quân quốc.
Tôn thuật rõ lại câu chuyện luyện kiếm cho con nghe. Nét mặt sa sầm, nàng chau mày nói:
- Sao cha lại nhận luyện làm gì?
Tôn buồn rầu:
- Nếu không nhận thì bao nhiêu đồng nghiệp bị rơi đầu một cách vô lý.
Nàng vẫn giằn giỗi:
- Bao nhiêu người rơi đầu, còn hơn để giang sơn nghiêng ngửa.
Lặng im một lúc, nàng tiếp:
- Cha lãnh tìm hai đồng tử thật sao?
- Ngộ biến phải tùng quyền. Nếu để thử kiếm thì phải chết, mà không nhận thì cũng chết. Vì kiếm nào lại có thể chém sắt như chém bùn? Họa chăng chỉ có những lưỡi kiếm trong thần thoại hoang đường.
Tiên bĩu môi:
- Vậy mà cũng có người tin, nhất là người ấy vẫn thường tự cho mình là tài ba xuất chúng!
- Vì có người tin như vậy nên ta mới lâm vào một tình cảnh nghịch thường. Thật ác nghiệt thay mấy ông nhà văn Tàu chuyên nói dóc mà vô tình để lụy cho bao nhiêu người khác.
Huyền Tiên thẫn thờ:
- Bây giờ phải làm sao?
Tôn cương quyết:
- Chỉ còn một cách là đào tẩu. Vậy con hãy lo sửa soạn, ta phải lên đường ngay.
Mắt Tiên bừng lên một tia sáng. Nàng ngoan ngoãn đi vào nhà tom góp đồ đạc. Tiên có cảm tưởng như đời nàng đang chuyển dịch đến một đoạn đường nguy hiểm, mà nàng phải cần giữ vững tinh thần phấn đấu trước mọi trở lực, gian lao...
Đăng nhập để trả lời
0
- III -
Suối Ngọc Tuyền

Qua ba ngày, Bình Chương quân quốc Nguyễn Hữu Chỉnh không thấy bóng Huyền Tôn trở lại. Rồi bốn ngày, năm ngày, sáu ngày... Chỉnh biết rằng mình bị lừa. Cơn giận của Chỉnh lên đến cực điểm. Ông hò hét, quát tháo náo động cả dinh. Và lập tức, ông truyền cho quân sĩ tầm nã khắp nơi. Một mặt ông gọi con là Nguyễn Hữu Du lại phán rằng:
- Ta có ý mưu đồ đại sự mới rấp tâm cho luyện thanh báu kiếm Ngọc Tuyền. Nay thanh kiếm gần xong lại bị người mang đi mất. Nếu để tên khốn kiếp Huyền Tôn luyện xong và thanh kiếm lọt vào tay Trịnh chúa, vua Thái Đức hay Bắc Bình Vương, thì bao cơ nghiệp của ta gầy dựng ắt rồi sẽ tiêu tan.
Bái Đình Hầu Nguyễn Hữu Du lễ phép thưa:
- Từ lâu, con đã hiểu chí lớn của cha.
Chỉnh nghiêm giọng:
- Vậy con phải lên đường, gắng công tìm cho được thanh bửu kiếm.
Hữu Du vâng lời cha, lên ngựa ra đi...
Chàng đi khắp kinh kỳ, từ tỉnh nầy qua tỉnh khác, nhưng mây ngàn hạc nội biết đâu mà tìm. Chàng nghĩ thầm: “Có lẽ vì sợ tập nã, Huyền tôn đã trốn về nơi thâm sơn hẻo lánh chăng?” Và bắt đầu từ đó, chàng rời bỏ những nơi phồn hoa đô hội, một mình một ngựa bôn ba khắp chốn rừng xanh.
Ròng rã mấy tháng trường từ núi nầy sang núi khác, từ rừng nầy sang rừng khác, Hữu Du không thấy được tăm hơi thanh kiếm Ngọc Tuyền. Nhưng chàng thanh niên không nản chí. Cái hình ảnh giang san trước mắt khiến chàng phải kiên chí, bền gan. Phong cảnh dầu đẹp đến đâu cũng không thể lưu luyến lòng tráng sĩ.
Cho đến một ngày đầu thu. Gió thu gieo võ vàng trên hoa cỏ, sương thu mờ trên cảnh vật đìu hiu. Chàng đang thơ thẩn buông cương, bỗng nghe gần đâu đây vẳng lại giọng ngâm khảng khái bài thơ hào hùng của chí sĩ Đăng Dung:
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai, đồ điếu thành công dị,
Vận khứ, anh hùng ẩm hận đa.
Tri chủ hữu hoài phù địa trúc,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị phục đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Việc đời man mác tuổi già thôi,
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai.
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Thù trả chưa xong, đầu đã bạc,
Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi.

(Tản Đà dịch)
Giọng ngâm đã dứt mà âm hưởng trầm hùng còn vang dội khắp rừng xanh. Hữu Du ngạc nhiên nghĩ thầm: “Giữa chốn thâm sơn vắng vẻ, giọng ngâm của ai mà hào khí ngất trời? Nếu không phải là một chí sĩ ẩn dật thì cũng là một anh tài bất mãn với triều đình”. Chàng trai trẻ bỗng nhớ đến câu chót “Kỹ độ Long Tuyền đái nguyệt ma”, hai chữ Long Tuyền làm chàng liên tưởng đến hai chữ Ngọc Tuyền. Chàng lại nghĩ: “Biết đâu người ngâm thơ này không ám chỉ đến thanh bửu kiếm Ngọc Tuyền mà chàng đang gắng công tìm kiếm?” Nghĩ như vậy, chàng nôn nả cho ngựa rẽ vào rừng. Chàng thấy dạng một bóng người xa xa. Giục ngựa đến nơi, chàng mừng rỡ nhận ra người ấy là Huyền Tôn.
Không làm sao tả hết nỗi hân hoan của chàng và cũng không làm sao tả đặng nỗi kinh hoàng của lão thợ. Lão muốn tránh cũng không thể nào tránh được. Hữu Du đã sừng sững trước mặt lão như một vị hung thần.
Hữu Du điềm nhiên cúi đầu chào:
- Tôi vâng lệnh phụ thân đi tìm thanh bửu kiếm. Vậy phiền lão hãy trao thanh kiếm Ngọc Tuyền lại cho tôi, rồi theo tôi về yết kiến Bình Chương quân quốc.
Nét mặt Huyền Tôn từ màu xanh mét đổi ra màu đỏ, từ vẻ sợ sệt đổi ra vẻ căm hờn. Lão cười gằn bảo Du:
- Thanh Ngọc Tuyền lão không còn giữ. Công tử cứ lấy đầu lão thay cho thanh bửu kiếm.
Hữu Du căm tức:
- Ta chỉ cần thanh kiếm chớ không cần đầu lão.
Tôn thản nhiên:
- Thế thì công tử hãy trở về không vậy.
Một dòng máu nóng sôi trong huyết quản chàng trai. Chàng rút gươm kề sát vào cổ lão, gằn từng tiếng:
- Thanh kiếm lão giấu đâu, phải chỉ mau?
Ngước mặt nhìn thẳng vào mắt Du, lão khẽ lắc đầu đáp:
- Tiếc thay người vũ dũng như Công tử mà đi lạc đường. Một thanh kiếm báu, có khi nào nỡ để lọt vào tay một kẻ phản quốc.
Tiếng “phản quốc” lão vừa thốt, lưỡi gươm Hữu Du cũng vừa vung lên. Máu từ cổ lão tóe ra nhuộm đỏ cả tay chàng tráng sĩ. Chàng lau tay đút trả gươm vào vỏ rồi ngất ngưởng ruổi ngựa đi. Đôi mắt chàng đỏ ngầu như say máu.
Một làn gió thổi qua, trút những chiếc lá vàng tơi tả. Mây lam đọng trên lưng chừng núi, xây những bức tường thành kiên cố uy nghi.
Đi được một dặm, Hữu Du chợt thấy trước mặt một ngọn suối. Tiếng suối reo róc rách vang vang trong thung lũng tấu thành một bản nhạc êm ái thiên thu. Một thiếu nữ xõa tóc ngang vai ngồi mơ màng trên một hòn đá.
Du lần ngựa tới. Thiếu nữ kinh ngạc nhìn Du, vẻ thẹn thùng bẽn lẽn. Du ngơ ngác bỗng thấy mình đứng trước một vẻ đẹp thiên nhiên, một vẻ đẹp cực kỳ huyền ảo, một vẻ đẹp có thể làm mềm nhũn chí anh hùng. Du có biết đâu nàng giai nhân tuyệt sắc ấy là Huyền Tiên, và thiếu nữ cũng có ngờ đâu chàng tuổi trẻ là Bình Chương công tử. Cho nên sau những câu thanh khí; đôi lòng đã thấy khắng khít cảm tình. Giữa cảnh nên thơ, một mối tình bất diệt. Hai tâm hồn bay bỗng giữa chốn trời mây.
Bóng hoàng hôn nhuộm u hoài trên rặng núi. Rặng phong đón gió, mang những dấu vết cuối cùng của ánh tịch dương.
Huyền Tiên chợt đứng dậy, bảo khẽ:
- Cha em sao chừng nầy chưa về?
Rồi nàng chạy về phía rừng. Hữu Du chạy theo, lòng hồi hộp. Tiếng chân của Tiên giẵm xào xạc trên lá. Từng cánh hoa vàng vướng trên mái tóc, nổi bật như những vì sao.
Một cảnh tượng thương tâm bày ra trước mắt nàng. Thây Huyền Tôn nằm lả trên một vũng máu. Tiên còn ngờ mình chiêm bao, nhưng than ôi! Sự thật tàn nhẫn vẫn ràng ràng trước mắt. Nàng ngất quỵ bên cha.
Hữu Du thấy lòng tê tái. Chàng hối hận đỡ Tiên dậy. Đôi mắt nàng chan chứa những niềm bi thảm thê lương. Nàng tỉnh dậy, hai dòng lệ chan hòa trên má. Du hết sức an ủi nàng, một mặt lo khâm liệm Huyền Tôn. Lần đầu tiên, chàng tuổi trẻ đã từng xông pha trận mạc, đã từng coi mạng người rẻ như bèo, biết ăn năn một hành động bạo tàn ích kỷ chỉ vì giọt nước mắt của giai nhân.
Đến tối, Huyền Tiên và Hữu Du mới trở về. Hai người ở chung trong một chòi lá cất dựa bên rừng. Đó là ngôi nhà mộc mạc, Huyền Tôn đã dựng lên để sống hẩm hiu với con gái. Ngày nay bóng Tôn đã vắng, thay vào đấy bóng của chàng trai.
Huyền Tiên cảm thấy lẻ loi cô độc và cần phải vịn vào một lẽ sống. Người thứ nhất đến trong đời nàng là Du, đến giữa lúc nàng bơ vơ giữa lúc tâm hồn nàng khủng hoảng, lòng người thiếu nữ dễ đi từ cảm kích đến yêu đương. Và chỉ có tình yêu tha thiết chân thành mới làm vơi bớt nỗi niềm đau khổ. Than ôi! Nàng có biết đâu người nàng vịn vào để sống, lại là người gây ra nỗi khổ cho nàng.
Về phần Du, chàng thấy cả một sự mỉa mai chua xót giữa một mối tình đẫm lệ. Chàng thành thật yêu và thành thật ăn năn, nhưng không lúc nào chàng dám hở môi thổ lộ sự thật. Tiếng thổn thức của Tiên đã bao lần làm lòng chàng quặn thắt, chàng chỉ muốn nó chôn vùi trong dĩ vãng, tan đi trong oan khổ của ngày qua...
* * * * *
Một hôm, Du ngồi với Tiên bên bờ suối. Tiên nhìn dòng suối bảo chàng rằng:
- Chàng có thấy làn nước lóng lánh hào quang kia không?
Du nhìn xuống suối, quả thấy những vầng hào quang tỏa ra rực rỡ. Không đợi Du đáp, Tiên buồn bã nói:
- Cha em chết vì những ánh hào quang ấy.
Du ngơ ngác:
- Em nói gì, anh không hiểu?
Tiên như bị khơi lại mạch sầu, mắt lại hoen ngấn lệ:
- Đó là những tia phản chiếu của thanh kiếm Ngọc Tuyền mà cha em thận trọng đặt nó dưới đáy suối.
Du giật mình. Vật mà chàng ra công tìm kiếm cả năm nay, đang hiển hiện ở trước mặt. Chàng nghĩ đến lời cha, lòng cảm thấy bứt rứt. Nhưng khi nhìn lại Tiên, một tràng cảm xúc khiến cho chàng xao xuyến, bồi hồi...
Tiên thở dài não ruột:
- Chỉ vì thanh kiếm đó mà cha con em phải rời bỏ kinh thành hoa lệ, bỏ đời sống nhung lụa, trốn về nơi thâm sơn hẻo lánh, sống cuộc đời vất vả cô đơn. Rồi người chết đi, có lẽ vì một bàn tay oan nghiệt nào có liên hệ mật thiết với thanh kiếm.
Một lần nữa Du giật mình, ngờ nàng đã đoán ra sự thật. Nhưng khi nhìn lại Tiên, chàng thấy nàng vẫn dịu hiền, vẫn tỏ vẻ tin cẩn người yêu. Chàng thấy thương Tiên vô cùng. Đôi mắt như một hồ thu chứa đầy đau khổ kia, có thể nào chàng nỡ phản bội, nỡ nhẫm tâm gieo thêm đau khổ cho nàng? Du nghĩ thầm: “Thà là ở đây vui khổ với nàng cho trọn nghĩa”.
Chàng dịu dàng an ủi:
- Em hãy vui lên, nghĩ đến dĩ vãng làm gì thêm não. Em hãy tin lúc nào cũng có anh bên cạnh.
Tiên nhìn Du, nói như nói với lòng mình:
- Anh là lẽ sống cuối cùng của em. Anh sẽ không bao giờ trở lại kinh kỳ, nơi có muôn ngàn cám dỗ? Anh bỏ đi, em sẽ chết mất.
Du siết chặt tay nàng:
- Không bao giờ anh bỏ đi đâu em.
Và muốn Tiên khuây khỏa, chàng tươi cười nói:
- Để anh ngâm thơ cho em nghe nhé?
Tiên gượng vui, gật đầu:
- Phải đó, anh ngâm đi, em thích nghe thơ lắm. Cha con em lâu nay chỉ biết tìm an ủi qua văn chương. Bây giờ là mùa thu, vậy anh hãy ngâm một bài thơ thu đi.
- Em có thích bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ không?
Tiên trở lại bản tánh hồn nhiên:
- Ừ, anh ngâm bài ấy đi. Em thường nghe ba em ngâm bài ấy mỗi lần chạnh nhớ cố hương. Nhưng tráng sĩ mà ngâm thơ thì mới tuyệt.
Du cất giọng ngâm:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng.
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch đế thành cao cấp mộ châm

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn Vu hiu hắt khí thu già.
Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Khóm trúc tuôn đôi dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,
Thành quạnh dồn châm bóng ác tà.

Du ngâm dứt, Tiên chớp mắt ngậm ngùi:
- Bài thơ buồn quá. Đây cũng rừng phong, cũng khí thu hiu hắt, nhưng cửa ải đâu không thấy, thành đô quá xa vời. Nghe thơ thêm chạnh niềm cố quốc.
Du cũng thấy buồn lâng lâng nhè nhẹ, nhưng chàng vẫn cố gượng làm vui để nàng khỏi bi thảm. Chàng cười nói:
- Đây cũng khóm trúc, cũng lưng trời mặt đất, tuy thiếu con thuyền nhưng mối tình vẫn buộc chặt trong một túp lều tranh.
Huyền Tiên nhoẻn cười duyên dáng:
- Biết được như thế mãi không?
- Sao lại không? Có suối Ngọc Tuyền và bửu kiếm kia làm chứng.
Cả hai nhìn nhau, im lặng. Gió thu hiu hắt hòa với tiếng suối reo thành một điệp khúc buồn tênh...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.12.2017 19:55:57 bởi casau>
- IV -
Vó ngựa truy phong

Một hôm, Tiên vào rừng hái củi, Du thơ thẩn ra dòng suối.
Ngồi bên bờ suối, chàng ngắm nhìn những tia sáng long lanh phản chiếu trên làn nước bạc. Vầng hào quang ám ảnh mãi tâm trí chàng. Chàng nghĩ chắc thanh kiếm kia đẹp lắm, có lẽ Huyền Tôn đã luyện xong thần khí nên lưỡi kiếm mới lóe ánh hào quang lạnh lẽo, rợn người.
Chàng ao ước được cầm thanh kiếm trong tay, múa thử vài đường tuyệt kỹ. Đó là điều ao ước tự nhiên của con nhà võ trước một kỳ trân quý báu. Điều ao ước lúc đầu chỉ hiện ra một cách mơ hồ trong tâm não, nhưng lần lần nó hiện rõ ra, lớn lên rồi xâm chiếm cả trí óc chàng. Chàng muốn quên đi cũng không thể nào quên được. Chàng nhủ thầm: “Hay là mình lấy thanh bửu kiếm lên ngắm nhìn một chút cho thỏa lòng mơ ước rồi trả về chỗ cũ”. Ý nghĩ ấy thôi thúc chàng hành động. Chàng ngần ngại, do dự mấy lần toan thực hiện, mấy lần ngồi bất động, ngẩn ngơ...
Sau cùng, tính tọc mạch và lòng ham muốn chiến thắng tính thuần lương và lòng tự trọng. Chàng vội cởi bỏ áo ngoài, nhảy ùm xuống suối.
Chẳng bao lâu, chàng trồi lên, mang theo thanh bửu kiếm. Chàng mặc áo vào rồi tuốt kiếm ra khỏi vỏ. Lưỡi kiếm sáng xanh, long lanh dưới ánh mặt trời. Chàng sung sướng múa tít vài đường, quanh mình chàng như bao bọc những vầng hào quang rực rỡ.
Chàng dừng múa, ngắm say mê thanh kiếm. Thanh Ngọc Tuyền đẹp thật, đẹp một cách quý phái, đẹp hơn tất cả những thanh kiếm mà chàng được trông thấy từ xưa đến nay. Vậy mà chàng phải đem trả về chỗ cũ để nó nằm yên dưới đáy suối? Một lần nữa, chàng lại ngần ngại, do dự... Chàng chợt nhớ đến câu thơ: “Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma”. Một thanh kiếm quý thế này, lẽ nào để: “Ngọc Tuyền muôn thuở bóng trăng soi”? Chàng lại nghĩ thầm: “Hay là mình đem giấu kín, thỉnh thoảng đem ra múa kiếm dưới trăng, cho đỡ khao khát?” Ý nghĩa nầy chàng tự thấy là chính đáng và chàng quyết thực hành. Chàng mang kiếm về và giấu vào một nơi kín đáo.
Mấy hôm sau, Du cùng Tiên ngồi chơi bên bờ suối. Tiên hỏi:
- Anh dừng bước nơi đây đã được bao lâu rồi?
Du thân mật đáp:
- Anh đến vào độ Trung Thu mà nay thì mùa xuân mới đến.
- Phải rồi, cây rừng đã thay lá, gió bấc cũng đã buốt lạnh từ lâu. Lúc nầy kinh thành thiên hạ đang rộn rịp đón xuân.
Tiên chợt nhìn xuống suối, nàng ngạc nhiên nói:
- Lạ chưa! Làn nước sao hôm nay không tỏa ánh hào quang?
Du cũng giả bộ ngạc nhiên:
- Lạ thật!
Tiên dàu dàu nhìn đăm đăm dòng suối. Du nói đùa:
- Hay là Chúa Xuân đã cướp mất tinh anh thanh thần kiếm?
Tiên thở dài, không đáp. Thật tình, thanh kiếm đối với nàng chỉ là vật vô dụng. Nàng không quan tâm đến nó. Nhưng hiện tượng khác lạ hôm nay làm cho nàng thắc mắc. Nàng nghĩ thầm: “Có lẽ thanh kiếm đã bị người nào lấy mất. Mà người ấy là ai? Ai mà biết được sự bí mật của thanh kiếm?” Mấy câu hỏi ấy cứ vẩn vương trong đầu óc nàng khiến nàng ngồi thừ ra, không buồn nói năng đùa cợt như mọi ngày. Lần đầu tiên, một ý nghĩ lóe lên trong đầu nàng: “Hay người ấy là chàng?” Ý nghĩ đó vừa đến, nàng vội muốn xóa tan ngay. Nàng không muốn có một ý nghĩ gì vẩn đục vì chàng. Nàng không muốn làm tiêu tan hạnh phúc mỏng manh hiện tại.
Nàng cúi đầu, đáp khẽ:
- Em lo sợ quá, anh à.
Du ái ngại:
- Vì sao em lo sợ?
- Em không hiểu vì sao, nhưng em có linh tính có một điều gì không may sắp xảy ra đến cho em.
- Em đừng lo sợ gì cả, có anh đây mà.
Lời trấn an của Du không làm cho Tiên an tâm chút nào. Nàng thẫn thờ nhìn xuống suối, đôi rèm mi chớp nhanh như hai cánh bướm.
Một đêm xuân, lòng tráng sĩ bỗng chạnh niềm cố quốc. Tiếng quyên kêu rộn rã làm náo động giấc tha hương.
Nguyễn Hữu Du thao thức mãi, không tài nào ngủ được. Chàng nhớ kinh kỳ. Nhớ lời cha dặn. Nhớ những ngày xông pha chiến trận. Nhớ những ngày dọc ngang đây đó, tưởng không có gì có thể ngăn được bước chân ngang tàng... Vậy mà mấy tháng nay chàng đã bị ngăn bước nơi đây, chí tang bồng bị trói trong túp lều tranh chật hẹp. Chàng bị ngăn bước chỉ vì một bóng sắc giai nhân.
Bất giác chàng ngâm kẽ hai câu thơ:
Bán kiên cung kiếm lăng tằng thậm,
Nhất phiến nhu hoài chỉ vị khanh.
(Nửa đời sương gió ngang tàng,
Quả tim mềm chỉ vì nàng đấy thôi).

Giờ đây, tiếng quyên kêu nhắc chàng nhớ đến bổn phận. Sứ mạng chàng chưa hoàn thành. Chàng thấy cần phải về, phải đặt ái tình sau nghĩa vụ.
Chàng nhìn Tiên. Nàng vẫn ngủ ngon lành như đứa trẻ. Vẻ mặt lúc nào cũng buồn một cách thê lương. Chàng cúi xuống hôn khẽ vào trán Tiên.
- Em hãy tha thứ cho anh. Anh phải lên đường vì nghĩa vụ.
Tiên có nghe gì đâu, nàng vẫn thiêm thiếp trong giấc ngủ. Nàng như nàng tiên ngủ trong rừng trong truyện thần thoại. Nàng tiên có hay đâu có ác quỷ bên mình.
Hữu Du cương quyết đứng lên. Một lần nầy đi có lẽ là một lần vĩnh biệt. Chàng nhìn Tiên lần chót rồi ra sau vườn lấy thanh thần kiếm.
Chàng lên ngựa. Chàng nhìn túp lều tranh, dòng suối ngọc, khu rừng phong lộng gió, như giã từ những hình ảnh thân yêu.
Chàng ra roi, cho ngựa ruổi về kinh khuyết...
Sáng hôm sau, Tiên thức dậy thấy mất chàng trai. Nàng cất tiếng gọi chàng, không một lời đáp lại. Nàng chạy khắp nơi tìm chàng, bóng chàng đã vắng bặt. Nàng thổn thức, nghẹn ngào.
Thế là sự lo sợ của Tiên đã thành sự thật. Chàng đã bỏ rơi nàng. Chàng đã lừa dối nàng. Chàng đã phản bội. Không còn sự đau khổ nào nặng nề, cay nghiệt hơn. Nàng thấy đời nàng như sa vào một hố sâu thăm thẳm, sâu tận cùng, và tâm hồn nàng đang chơi vơi tan vào cõi tối tăm mờ mịt.
Tiên lần bước ra suối. Nơi đây đã khắc ghi bao kỷ niệm êm đềm. Nhìn dòng suối bạc thiếu ánh hào quang, bây giờ Tiên mới biết chắc chắn ai là kẻ chiếm mất thanh thần kiếm. Bỗng nhiên Tiên thấy không còn mù quáng nữa và trở nên sáng suốt lạ thường. Nàng biết chính chàng đã lấy thanh kiếm, và biết đâu cũng chính chàng là thủ phạm giết chết phụ thân nàng. Vậy mà bấy lâu nàng lầm tin vì chàng đã khéo léo đổi danh đổi hiệu, khéo léo lợi dụng sự đau khổ bơ vơ của nàng để xâm chiếm trọn vẹn một quả tim non. Chàng là ác quỷ mà nàng lầm tưởng là cứu tinh.
Tiên vừa sầu đau vừa uất hận. Nàng nhớ đến lời nguyền của chàng ngày nào: “Có suối Ngọc Tuyền và bửu kiếm kia làm chứng”. Phải, dòng suối và thần kiếm sẽ làm chứng. Kẻ phản bội gian ác sẽ không thể nào thoát khỏi lời nguyền.
Còn nàng, sự bất hiếu vô tình của nàng cũng có dòng suối kia làm chứng. Nàng đã xem kẻ giết cha là người ân, đã coi kẻ thù là người yêu. Tội của nàng cũng không thể nào tha thứ được.
Tiên giàn giụa nước mắt. Nàng đau khổ đến tột cùng. Thế là hết. Nàng phải tìm một nơi để giải thoát niềm khổ hận.
Và Tiên đành mượn dòng suối ngọc để gởi tấm thân ngà và sự đau khổ thiên thu...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.12.2017 19:56:32 bởi casau>
Đoạn kết

Tháng mười năm Đinh Vị, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cử đại binh tiến đánh Bắc Hà.
Nguyễn Hữu Chỉnh cùng con cầm binh ra trận. Hữu Du đi tiên phong bại một trận ở Thanh Quyết. Hữu Chỉnh bại luôn mấy trận ở Thăng Long.
Trên đường bôn tẩu, sau lưng quân của Tướng Tây Sơn Nguyễn văn Hòa trùng điệp đuổi theo, Nguyễn Hữu Chỉnh người ngựa đều mệt lả, Chỉnh bỗng thấy như hiện ra trước mắt hình ảnh vị sư già, hai vị tăng và hai chú tiểu toàn thân vẩy máu. Và Chỉnh dường nghe văng vẳng bên tai lời nói của bậc chân tu: “Ai gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy. Hôm nay quan nhân đã gieo gió, ngày mai quan nhân sẽ gặt bão”. Chỉnh hoa cả mắt, đầu choáng váng. Quả như lời khuyến cáo ấy, giờ đây giông bão đã nổi lên, báo hiệu ngày tàn của đời Chỉnh. Giữa lúc đó, tiếng quân reo vang dậy, tướng Nguyễn văn Hòa đã xông ngựa lướt tới và bắt sống được Chỉnh. Thế là con sáo sang sông và con sáo sa vào lưới rập của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.
Bắt được Chỉnh rồi, quân Tây Sơn đuổi theo đám tàn quân của Nguyễn Hữu Du.
Đám tàn quân đói, mệt, lần lượt ra hàng. Hữu Du đơn thương độc mã bôn đào về miền thượng du sơn cước. Chạy đến suối Ngọc thì người và ngựa đều mệt lả mà quân Tây Sơn đã bao vây khắp thung lũng. Chàng nhìn xuống suối, than rằng: “Mạng ta đã cùng rồi”. Bỗng chàng thấy lồ lộ trên mặt nước hình ảnh của Huyền Tiên. Nàng nhìn chàng, vẻ căm hờn, oán trách. Du hối hận quỳ xuống bên suối, giọng tha thiết: “Huyền Tiên, em tha tội cho anh”.
Tiếng suối reo đáp lại lời chàng một cách lạnh lùng.
Hữu Du chợt nhớ lại lời nguyền ngày nào: “Có suối Ngọc Tuyền và bửu kiếm kia làm chứng”. Như bị hấp dẫn bởi một thần lực huyền bí, Du rút thanh Ngọc Tuyền ra, tự đâm vào cổ. Một dòng máu tóe ra rơi xuống làn nước, vạch một đường đỏ giữa muôn ngàn ngấn bạc long lanh…

Thẩm Thệ Hà
Đăng nhập để trả lời
0
Tiết phụ Nam Xương

Vũ Nương, quê ở Nam Xương, thùy mị nết na, người người đều mến. Năm mười tám tuổi, nàng về làm dâu nhà họ Trương, đối với mẹ chồng trọn lòng hiếu thảo, đối với chàng một dạ yêu chiều. Duyên thắm tình êm, tâm đầu ý hiệp.
Năm ấy có loạn Chiêm Thành, chồng Vũ Nương là Trương Sinh được gọi tùng quân. Khi tiễn biệt, bà mẹ dặn rằng:
- Nước nhà gặp cơn biến, làm trai tất phải đền. Nhưng nơi trường sa vốn không phải là chỗ đùa, con khá nên thận trọng.
Vũ Nương cũng bịn rịn:
- Chén nguyền chưa cạn, tình rẽ đôi nơi. Từ đây thương người cuối bãi đầu ghềnh, nắng mưa dầu dãi; chạnh niềm gối chăn chiếc bóng, vò võ năm canh...
Rồi vợ chồng nhỏ lệ mà chia biệt.
Chàng đi được mười ngày, nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản. Từ đấy, Vũ Nương lấy việc cung phụng mẹ chồng làm bổn phận, chăm nom con trẻ làm niềm vui. Lần lữa tháng ngày, nàng chỉ biết gởi mộng hồn vào nơi gió cát...
Bà mẹ vì nhớ Sinh mà sinh bệnh. Một hôm bà gọi nàng lại, trối rằng:
- Chồng con ra đi thắm thoát đã được nửa năm, mẹ cũng muốn đợi ngày về, cùng vui sum họp. Nào hay số trời đã định, không tránh được nào. Vậy con hãy vui vẻ mà nuôi con, đợi chồng. Trời xanh kia sẽ không phụ.
Bà trối xong thì mất. Nàng hết lòng lo tang lễ, rồi thủ phận nuôi con, đợi chồng.
Năm năm sau, giặc Chiêm bị đánh tan. Trương Sinh về tới nhà mới hay mẹ chết, bèn bế con ra viếng mồ mẹ, giọt lệ khôn cầm. Đản thấy chàng khóc cũng khóc theo. Tiếng khóc chan hòa trong gió, nghe thêm não nùng.
Sinh gạt nước mắt, dỗ Đản:
- Thôi nín đi con. Cha đã khổ, con làm cha càng khổ thêm.
Đản ngây thơ nói:
- Không! Ông không phải là cha Đản.
Sinh ngạc nhiên. Đản tiếp:
- Cha Đản không hề khóc như ông.
Sinh càng ngạc nhiên:
- Vậy chớ cha Đản là ai?
Đản tươi cười nói:
- Cha Đản đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cùng đi, mẹ Đản ngồi cùng ngồi, nhưng chả bao giờ bế Đản cả.
Nghe con nói, Trương Sinh nổi cơn giận dữ. Có cái gì ứ nghẹn trên cổ làm Sinh nghẹn ngào. Thì ra trong lúc Sinh xông pha nơi chốn sa trường, vợ chàng không giữ được thủy chung đã sa vào tay người khác.
Sinh đau đớn về nhà, gọi vợ mắng nhiếc nặng lời. Vũ Nương chỉ biết khóc mà kêu oan. Láng giềng cảm thương hoàn cảnh, hết sức phân trần, chàng vẫn một mực không tin.
Đêm ấy, nàng ôm con khóc suốt sáng. Khi thấy vầng lê minh vừa ló dạng, nàng vội viết mấy vần thơ gởi lại chàng:
Giá trong một mảnh chàng không hiểu,
Trâm gãy, bình rơi đến nỗi này.
Thôi phận mỏng mành cam chịu thẹn,
Tiếng đời còn biết nói sao đây?

Vũ Nương rơi lệ, hôn con một lần chót, rồi lần ra bến Hoàng giang. Nàng ngửa mặt lên trời, than rằng.
- Kẻ bạc mạng giá trong khó chuộc, mượn dòng sông rửa nợ oan khiên. Xin thần linh chứng cho lòng.
Rồi nàng gieo mình tự trầm mà chết.
Trương Sinh hay tin chạy ra thì ngọc đã lặn, châu đã chìm. Cho người tìm thây thì không thấy thây đâu cả. Đọc mấy dòng thơ của nàng gởi lại, chàng thấy lòng se thắt, phân vân chưa biết sự thật là đâu.
Cho đến một hôm, ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chàng chợt nghe con mừng rỡ reo lên:
- Cha Đản lại đến kìa!
Chàng ngoảnh nhìn con, thấy nó chỉ cái bóng chàng in trên vách. Một sự thật làm cho chàng sửng sốt, nghẹn ngào. Chỉ vì cái bóng mà người vợ yêu quý của chàng phải chịu hàm oan, đến nỗi phải gieo ngọc trầm châu. Càng nghĩ đến, Sinh càng muôn phần xa xót...
* * * * *
Cùng làng với Trương Sinh có vị đầu mục tên là Phan Lang. Một đêm, Phan Lang nằm mộng, thấy một nàng áo xanh đến kêu xin tha mạng. Hôm sau quả nhiên có người chài lưới đến biếu một con rùa mai xanh. Nhớ đến điềm chiêm bao, Phan Lang liền đem phóng sinh con rùa xuống sông Hoàng.
Năm ấy, quân Minh mượn tiếng hưng Trần phạt Hồ, cử đại binh qua ải Chi Lăng. Phan Lang trốn ra bể bị đắm thuyền chết đuối. Khi tỉnh dậy, Phan thấy cung điện lộng lẫy. Một bà phu nhân nhìn Phan cười rằng:
- Đây là Thủy Tinh cung và tôi là Linh Phi trong Qui động. Ngày nọ đi chơi ở bến sông bị bắt, may nhờ người cứu thoát. Nay nhớ ơn ấy, cứu người thoát khỏi nạn thủy triều.
Rồi Linh Phi cho đặt tiệc ở gác Triều Dương để thiết đãi. Trong buổi tiệc, Phan để ý đến người con gái giống hệt Vũ Nương. Thấy Phan nhìn, người con gái cười nói:
- Tôi với ông là người đồng hương, ông đã quên sao?
Chừng đó Phan mới nhận ra. Tiệc tan, Phan nói với Vũ Nương:
- Trương Sinh đã ăn năn hối hận; Đản vẫn nhắc mãi mẫu từ. Nàng nỡ nào không nhớ đến nghĩa cũ tình xưa mà trở về?
Nàng chau mày nghĩ ngợi, đoạn đưa Phan một chiếc hoa vàng, dặn rằng:
- Nhờ trao hộ cho Trương lang, bảo với chàng rằng: Nếu còn nhớ đến tình xưa, chàng nên lập một đàn giải oan ở bến sông, lấy ngọn thần đăng chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về.
Hôm sau, Linh Phi tiễn đưa Phan Lang về. Phan thuật chuyện lại cho Trương Sinh nghe. Sinh thấy hoa vàng, tin là thật, liền lập đàn tràng làm lễ, đốt thần đăng đón nàng.
Ngọn thần đăng vừa chiếu xuống sông, quả nhiên Vũ Nương hiện lên trên một chiếc kiệu hoa, cờ tán rực rỡ. Sinh và Đản mừng rỡ kêu to.
Vũ Nương vẫn ở giữa dòng nói vào:
- Về thăm chốc lát, không thể ở lâu. Duyên cũ đã tan, tiên trần có khác.
Rồi nàng lần lần biến mất.
Người trong làng thấy nàng linh hiển, cùng nhau góp tiền xây dựng một ngôi miếu thờ nàng trên bến Hoàng giang.
* * * * *
Một hôm, vua Lê Thánh Tôn du hành đến huyện Nam Xương, trông thấy miếu Vũ Nương ở đầu ghềnh khói hương nghi ngút. Nhà vua tức cảnh làm bài thơ hoài cảm:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương?
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy.
Khá trách chàng Trương khéo phụ phàng.

 
Thẩm Thệ Hà
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0