Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 393 lượt xem — Trang 2 / 6
Tại sao con voi có cái vòi?

Thuở xưa lâu lắm rồi, trong một khu rừng hoang dại, cạnh con sông lớn từ núi đổ ra, có một đôi vợ chồng voi (chỉ có hai con thôi, chớ không nhiều như ngày nay) hiếm hoi không sinh đẻ chi cả. Voi đực rất buồn, ngày đêm cầu Trời khấn Phật cho có một mụn con. Trời, Phật thương tình vợ chồng voi phúc hậu nên cho voi cái sinh được một mụn con. Chú voi con này thật là lý lắc hằng ngày chạy nhảy khắp rừng, hết húc đầu vào cội cây, lại đi tìm hươu, nai, hổ, báo mà đùa bỡn, đôi khi lại đánh nhau với heo rừng, làm voi mẹ phải chạy đến cản ngăn giảng hòa, mới chấm dứt được sự xung đột. Do sự liến máu của chú voi con mà các thú rừng ít ai ưa gia đình voi, và các loài thú cũng xa lánh dần chú voi con nữa.
Buồn tình voi con đi lang thang ra bờ sông. Gặp một con cá sấu khổng lồ, đang nằm trên bãi, quen tánh đùa nghịch, voi con bước lại cười nói:
- Kìa bác cá sấu, cái mũi của bác thò lò thế kia làm sao mà ăn uống. À, bác ăn gì mà sống?
Cá sấu không khỏi bực tức vì sự kiêu ngạo của chú voi con, mới trả lời rằng:
- Cái mũi của ta như vầy mà xấu lắm ư? Coi chừng ngày kia cái mũi của ngươi còn thò lò hơn mũi của ta, nó giống như con đỉa chứ chẳng vừa.
Cá sấu lại tiếp lời:
- Ngươi muốn biết ta ăn gì mà sống thì hãy xích lại gần đây, đưa mũi vào miệng ta mà ngửi thì sẽ biết ngay.
Con voi ngây dại không biết mưu mô thâm hiểm của cá sấu, nên bước lại gần đưa mũi vào miệng cá sấu mà ngửi. Cá sấu liền ngoạm lấy ngậm chặt cứng.
Thuở đó voi chưa có vòi chỉ có cái mũi cũng như mũi lợn. Khi mũi voi con bị kẹp vào miệng sấu thì đau điếng tê dại cả mình. Đang lúc đó cá sấu lại hầm hừ nói:
- Ngươi muốn biết ta ăn gì mà sống ư? Mạng mi đã tiệt rồi, lâu nay ta ăn thịt cọp, bây giờ ta ăn thịt ngươi...
Voi con nghe nói rụng rời kinh khủng, cố giựt mũi ra khỏi miệng sấu mà giựt không ra. Mũi voi bị dính trong miệng sấu. Rồi đằng trì, đằng kéo, đôi bên giằng co từ trưa cho tới chiều. Mũi voi dần dần giãn dài ra thành một cái vòi.
Thấy voi con đi biệt, trời gần tối vẫn chưa về, voi mẹ sanh nghi chạy đi tìm, đến bờ sông nghe tiếng kêu la của voi con, voi mẹ liền áp tới đánh đuổi được cá sấu, cứu sống voi con, nhưng đến lúc đó cái mũi voi biến thành cái vòi dài trông rất kỳ dị.
Voi con lấy làm xấu hổ, nên ngày nào cũng đập vòi vào các thân cây to lớn, mong cho chiếc vòi rụng đi mà không được.
Từ đó, loài voi có vòi và những con voi thường hay quấn vòi vào thân cây là do một thói quen.
0
Ông trạng lấy rùa

Giáp Hải là một nho sĩ nghèo và rất chăm học. Ngày nọ, chàng nho sĩ qua đò gặp lúc vợ chồng người chèo đò bắt được một con rùa định đem làm thịt. Động lòng nhân ái, Giáp Hải lấy một quan tiền trao cho vợ chồng người chèo đò và nói:
- Hai bác hãy để con rùa cho tôi, tôi xin bù lại bằng tiền.
Vợ chồng người chèo đò ưng thuận ngay. Giáp Hải đem rùa về nhà nuôi chớ không ăn thịt.
Từ đó, sau mỗi lần đi học về, Giáp Hải đều thấy nhà cửa ngăn nắp sạch sẽ, lại có cả mâm cơm dọn sẵn. Giáp Hải lấy làm lạ lắm, trong lòng phân vân nghi hoặc.
Một hôm giả đi học, rồi chàng quay trở về đứng trước cửa rình xem. Được một lát, Giáp Hải nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt vời trong mai rùa chui ra làm các công việc hàng ngày. Thoạt đầu Giáp Hải ngỡ rằng yêu quái hiện hình, nhưng dần dần Giáp Hải không tin như vậy. Yêu tinh đâu có hiền hậu dễ thương như cô gái trong mai rùa?
Lập tâm sẵn, Giáp Hải đột ngột bước vào nhà lấy cái mai rùa giấu đi. Chừng thiếu nữ quay lại thấy Giáp Hải thì mặt biến sắc, muốn chạy trốn mà không biết trốn vào đâu vì cái mai rùa bị giấu mất rồi. Giáp Hải liền hỏi:
- Nàng là ai sao lại ở trong cái mai rùa?
Nàng ấy đáp:
- Thiếp là công chúa ở Thủy cung, nhân đội lấy lốt rùa lên trần ngoạn cảnh, chẳng may lọt vào tay vợ chồng người chèo đò, rồi nhờ chàng đến cứu kịp. Cảm ơn ấy, ngày ngày thiếp dọn dẹp trong nhà hầu hạ cơm nước để trả nghĩa cho chàng.
Giáp Hải hỏi:
- Có lẽ là duyên tiền định, vậy nàng cùng ta nên kết nghĩa Châu Trần.
Nàng ấy đáp:
- Kẻ ở Thủy cung người ở trần thế làm sao kết nên duyên? Nếu chàng đã muốn xin hãy xuống tận Thủy cung cầu xin với cha mẹ thiếp.
Nói rồi nàng đưa chàng tới bờ sông, làm phép rẽ nước mà đi. Khi xuống tới Thủy cung, Giáp Hải được Thủy Long Vương thuận tình gả công chúa nhưng buộc chàng phải nán lại ít lâu học hành với một ông thầy đồ danh tiếng, đến khoa thi sẽ cho về.
Ngày khoa thi mở, Giáp Hải được đưa về thi đỗ Trạng nguyên và làm đám cưới thật linh đình.
Người ta thường gọi Giáp Hải là “ông trạng lấy rùa” cũng vì thế.
0
Chim “bắt cô trói cột”

Vào đời Hồng Đức nhà Lê, có một ông phú hộ tính tình không được rộng rãi lắm. Ông có năm con trâu, giao cho một lực điền chăn giữ, không phải vì ông có hảo ý, mà vì muốn bòn công người lực điền, giữ trâu không công.
Lúc ông phú hộ chết, ông để lại cho cô con gái nhiều ruộng đất và bầy trâu này, rất tiếc là cô gái không biết đích xác bầy trâu có mấy con. Cô có tính keo kiệt cũng như cha và hay nghi kỵ người này người kia có ý ăn bớt gia tài của cô. Vì vậy khi tới nhà anh lực điền đòi trâu về cô ta không khỏi rình mò hỏi han từng chút.
Chiều hôm đó, cô tới nhà anh lực điền, đúng vào lúc anh này từ ngoài đồng đuổi trâu về. Nhìn vào chuồng trâu, cô gái bỗng ngạc nhiên vì có những sáu cột mà năm trâu thôi. Lẽ tự nhiên, cô nghi ngờ anh lực điền biết cô tới đem trâu về nên giấu bớt một con, cô ta liền hạch hỏi ngay anh lực điền về một con trâu còn thiếu.
Anh lực điền vốn thật thà bảo rằng trước kia ông phú hộ chỉ giao cho anh giữ có năm con trâu chớ không phải sáu. Anh nói thế nào cô gái cũng nhất định không tin, viện cớ sáu cột phải sáu trâu chớ không lý nào năm trâu được, như vậy anh lực điền giấu bớt một trâu. Anh lực điền thuật rằng, vì có một cột đã mục không dùng được nữa nên chỉ năm trâu mà có đến sáu cột.
Dầu anh lực điền nói thế nào, cô gái nhất định phải có đủ sáu trâu mới nhận, bằng không sẽ đưa anh lực điền đến cửa công.
Bị nghi oan, anh lực điền tức giận quá nói:
- Tôi bắt cô trói vào cột mới đủ là sáu chớ làm sao sáu trâu được.
Nói rồi anh bỏ vào rừng, nghĩ nỗi oan của mình làm sao biện giải, nếu trở về sẽ bị cô gái đưa đến cửa quan, anh liền treo cổ chết trên cành cây để tránh mọi điều phiền phức.
Ở nhà, cô gái thấy anh lực điền đi vào rừng rồi mất dạng, cô ta sinh nghi, nghi anh lực điền giấu trâu trong rừng. Sợ mất của, cô liền đi vào rừng tìm kiếm. Rủi trời tối, lại bị lạc, không biết đường trở về, cô lang thang trong rừng sâu bị bệnh hoạn đói khát mà chết hóa thành chim, thường bay ra lúc ban đêm cất tiếng kêu “Năm trâu, sáu cột”.
Còn anh lực điền, lúc chết cũng ngậm mối oan hờn, nên cũng hóa thành chim, thường cất tiếng kêu “Bắt cô trói cột”.
Trong miền rừng rậm Thái Nguyên, Bắc Cạn, mỗi lúc bóng hoàng hôn xuống, người ở ven rừng thường nghe tiếng chim kêu “Năm trâu, sáu cột”, lập tức tiếng chim khác kêu lên “Bắt cô trói cột”. Cái lạ là chim”Bắt cô trói cột”, không bao giờ chịu gặp chim “Năm trâu, sáu cột”. Hễ chim kia ở đầu rừng thì chim nọ lánh sang cuối rừng để chẳng bao giờ gặp nhau.
0
Vịt bẹp đầu

Do sự tình cờ, Trâu lại đến ở gần Vịt, nếu Trâu ít ăn ít nói lo cặm cụi làm việc bao nhiêu thì Vịt lại bẻm mép tía lia cái miệng tối ngày, làm biếng làm nhác bấy nhiêu.
Cả hai đều sinh sống cạnh một bờ ao. Trâu thì chuyên về làm ruộng, quanh năm lo gieo trồng lúa thóc để ăn, trái lại Vịt không thiết làm chuyện gì, tối ngày lang bang khắp xóm nghêu ngao ca hát, vì vậy cảnh túng thiếu của Vịt không sao tránh khỏi. Những lúc túng thiếu, Vịt thường sang nhà trâu vay mượn để rồi không làm sao trả nổi. Mãi rồi Vịt ê mặt chẳng dám sang nhà Trâu vay mượn nữa.
Từ hôm lúa bắt đầu ửng chín ngoài đồng, Trâu vì lo chim chóc, côn trùng khuấy phá nên ban ngày ra nằm ngoài ruộng canh chừng, chỉ có ban đêm thì về nhà nghỉ ngơi. Chẳng ngờ đêm đêm thừa lúc trâu không canh giữ, kẻ trộm gặt hết lúa trong ruộng đem đi, tới rạng ngày trâu hay được thì muộn rồi. Từ đó Trâu để tâm canh giữ, hễ đêm nào có trâu đi gác thì lúa ngoài ruộng còn nguyên, rủi Trâu mệt mỏi ngủ quên, thì sáng ngày lúa trong ruộng sạch bách. Gần hết mùa Trâu không gặt được giạ lúa nào. Tức quá, Trâu liền tìm nhà một ông đồ nho, nổi tiếng là mưu lược, thưa hết đầu đuôi câu chuyện. Ông đồ nho suy nghĩ giây lâu rồi giúp cho Trâu một kế nhỏ để bắt quả tang kẻ trộm. Ông bảo Trâu về tìm cho thật nhiều nhựa cây, đợi đêm tối đến rắc đầy các thửa ruộng, kẻ trộm mà bén mảng tới thế nào cũng giẫm lên nhựa cây chân sẽ dính vào đó, khỏi cần đuổi bắt, kẻ trộm cũng nộp mình.
Trâu y theo kế, trở về nhà tìm thật nhiều nhựa cây chứa sẵn đó, đợi lúa ngoài ruộng chín tới, và khi trời sụp tối liền đem nhựa cây đổ đầy trên cánh đồng. Trở về nhà, Trâu đánh một giấc tới gần sáng, mới đi ra đồng. Ở xa nhìn lại Trâu rất đỗi ngạc nhiên vì kẻ trộm lúa của mình không ai khác hơn chị... Vịt hàng xóm.
Phần về Vịt, ăn trộm đã nhiều lần, Trâu không bắt được nên lấy làm tự cao tự đại, thường khoe mình hiền lành nhân đức, nay vì vô ý không đề phòng, chân chị dính cứng vào nhựa cây gỡ không ra, đứng chịu trận cho tới gần sáng. Chừng thấy bóng Trâu thấp thoáng gần, Vịt thất kinh hồn vía, co đầu rút cổ lấy đà rút chân chạy đi. Chẳng ngờ Vịt mất thăng bằng, vừa nhấc chân lên được liền ngã tòm xuống ao. Lúc bấy giờ chân Vịt chưa có cái màng mỏng bao xung quanh các ngón chân, lại không biết lội, khi té xuống ao tưởng rằng phen này sẽ chết hụt, chẳng ngờ nhựa cây dính đầy bàn chân bỗng chốc biến thành màng mỏng giúp cho Vịt bơi đi.
Thấy vậy, Trâu tức quá vác gậy nện vào đầu Vịt, Vịt liền lặn xuống để thoát thân. Từ đó chân Vịt thành ra có màng bơi lội thật mau, cũng từ đó đầu Vịt bẹp lại vì bị khúc cây của Trâu nện lên đầu bởi tội ăn trộm lúa.
0
Sự tích chim đa đa

Lâu rồi, ở dựa mé rừng thưa có đôi vợ chồng người tiều phu ăn ở với nhau hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà. Một hôm, vợ chồng bàn với nhau nên đến ngôi chùa ở gần trên núi ăn chay niệm Phật để cầu con.
Quả nhiên đi cầu tự trở về được ít lâu, vợ người tiều phu có thai, sanh được một trai, đặt tên con là Đa Đa. Lúc thằng Đa Đa lên bảy tuổi thì mẹ nó qua đời. Chỉ còn lại một cha một con trong nhà, không ai sớm hôm săn sóc cho đứa trẻ. Người tiều phu ngày ngày phải vào rừng đốn củi mãi tối mịt mới về, sự mệt mỏi làm cho ông không đủ sức để săn sóc nuôi dưỡng con thơ. Sau nhiều lần cân nhắc, người tiều phu không còn biết làm cách nào hơn là cưới thêm một người vợ kế.
Người đàn bà này không được hiền hậu như mẹ ruột của Đa Đa. Ngoài roi vọt, tiếng nặng tiếng nhẹ, chị ta còn bắt Đa Đa phải lặn lội trong cánh đồng lầy chăn đuổi bầy vịt của chị ta nuôi. Đã vậy đến bữa, chị ta chỉ cho thằng Đa Đa ăn cơm thừa canh cặn, đói no mặc kệ. Tủi thân, tối đến thấy cha về, thằng Đa Đa thường thút thít khóc kể với cha về nỗi dì ghẻ hành hạ, bắt chăn vịt, cho ăn đói lại còn hay đánh đòn.
Nghe vậy, người dì ghẻ càng ghét cay ghét đắng thằng Đa Đa, nặng lời nhiếc mắng, đánh đập tàn nhẫn. Rồi để cho chồng tin, đợi lúc gần tối, chị ta xúc một chén cát, lấy cơm trắng trải lên cho thằng Đa Đa bảo ăn. Thằng Đa Đa không dám cãi lời dì ghẻ, lại nghĩ tủi thân, hồi nào còn mẹ được ăn uống đầy đủ, nâng niu, săn sóc, nay thì cực khổ, cơm lại trộn cát bảo ăn, làm sao ăn, được. Nó cứ cầm chén cơm mà khóc cho tới lúc cha lơn tơn xách rựa về nhà.
Phần mệt nhọc, lại nghe tiếng người dì ghẻ chanh chua mắng vốn:
- Đó, ông xem thằng Đa Đa hành hạ tôi đến bực nào, cơm đã bưng tận tay nó không chịu ăn ngồi khóc rấm ra rấm rứt như ma trù ma ẻo thì còn làm ăn gì được.
Người tiều phu vốn nóng tính, nghe vậy, bực mình rồi, lại thấy chén cơm trong tay thằng Đa Đa là cơm trắng ngon lành tại sao không ăn mà ngồi khóc.
Nộ khí xung thiên, ông ta vớ lấy khúc củi đánh thằng Đa Đa, chẳng dè trúng nhằm đầu, đứa bé ngã ra chết. Chén cơm trắng đổ tứ tung bày ra những vữa cát.
Bấy giờ người tiều phu mới hiểu được lòng dạ bạc ác của người vợ kế, nhưng đã muộn... Ông chỉ còn có cách chôn đứa con và đuổi chị ta ra khỏi nhà.
Ba ngày sau ra thăm mả thằng Đa Đa, người tiều phu thấy từ dưới mả một con chim kỳ lạ, sắc xám, bay lên đậu trên cành nhìn ông rồi cất tiếng kêu:
- Bát cơm cát trả cho cha, đánh bể óc ác la, ác la đa.
Gã tiều phu biết ngay rằng hồn thằng Đa Đa hóa thành chim, buông ra những tiếng kêu thê thảm.
0
Tích trái sầu riêng

Thuở xưa kia, có hai anh em cùng nhau dựng nhà bên bờ suối. Người anh là một vị quan Tể tướng tại triều, nhưng vì chán cảnh danh lợi phù du nên lìa bỏ chốn phồn hoa đô hội, bỏ cả hầu thiếp, ăn mặc áo vải hài gai về ẩn dật trong cảnh núi rừng, mượn gió mát trăng thanh, cầm, kỳ, thi, tửu làm bầu bạn...
Bấy lâu nương nhờ vào sự vinh hiển của người anh, nên người em mới tạm theo về hôm sớm bên anh, chứ lòng chỉ nghĩ đến lợi danh, mũ cao áo rộng nơi chốn kinh thành xa hoa tráng lệ. Người em thường tìm cách xa lánh núi rừng để trở về thành thị. Biết vậy người anh thường khuyên em:
- Càng cao danh vọng, càng giàu gian nan, chú lưu luyến cảnh lầu son gác tía, có kẻ hầu người hạ mà làm gì cho bận tâm nhọc xác, chúng ta sống thong dong trong cảnh thiên nhiên như vầy chẳng là thảnh thơi sung sướng lắm sao?
Những lời người anh nói, người em thường gác bỏ ngoài tai, lại chê anh mình gàn dở nên mới bỏ địa vị quan tể tướng tại triều, chọn cách sống mai một như cỏ cây. Ngày ngày người em tìm đủ cách hoặc tạo lấy cơ hội để tiến thân với nhà vua.
Một hôm gần bờ suối có cội cây trổ một quả, trông hình dáng xù xì như quả mít tố nữ, ngặt vì vỏ cứng và có gai lởm chởm nhọn hoắt như kim châm. Thật là một quả lạ chưa từng thấy bao giờ, mùi thơm lại thoảng đưa nồng nàn. Người em cho rằng cơ hội tiến thân của mình đã đến rồi, liền hái quả lạ ủ vào trong lá để ngày mai đem về kinh thành dâng lên cho vua thưởng thức.
Người anh hết sức khuyên lơn em không nên liều lĩnh mà chuốc họa vào thân, nơi chốn triều đình chẳng thiếu chi trái ngon, vật lạ, vua đoái hoài chi đến một quả hình dạng xấu xí. Người em vẫn không nghe, nằng nặc quyết ra đi.
Khi ấy người em xuống đến kinh thành, đem quả lạ dâng lên vua bảo là quả quý có mùi thơm tựa hương trầm. Vua liền đòi người em vào rồi truyền thị vệ lấy dao bổ quả quý ấy ra. Đến khi nhà vua đưa lên mũi ngửi bỗng ngài nhăn mặt, bịt mũi kêu thối om sòm. Các thị vệ bèn xúm lại bắt trói người em rồi đem ra chém đầu về tội khi quân.
Sau lúc chiếc đầu người em rơi rụng, quan Tư đồ vụt có ý tò mò, tìm đến nơi đã quăng trái lạ mà xem, ông thấy trái này có từng múi màu vàng, cơm của nó lầy nhầy như mỡ đặc, ngửi thấy thối mà nếm vào miệng thì ngọt ngào đầy mùi vị thơm ngon. Lập tức quan Tư đồ vào bệ kiến nhà vua trình qua tự sự. Nhà vua vẫn chưa tin, truyền đem cho mình nếm thử. Quả nhiên, nhà vua thưởng thức được các hương vị đặc biệt lạ lùng của trái quý trước giờ chưa từng thưởng thức.
Nghĩ lại, nhà vua lấy làm hối hận lỡ tay giết oan một mạng người đã vì trọng vọng mình mà đem hiến dâng của lạ. Tuy vậy việc đã lỡ rồi, không lẽ để cho triều thần nhìn thấy sự lầm lớ phiên trách mình, nên nhà vua chỉ âm thầm với một nỗi sầu riêng.
Hôm sau, nhà vua truyền cho triều thần tìm xem gốc tích của trái lạ và hiện nơi nào có nó để hái đem về. Quan quân đi lùng kiếm ở khắp nơi vẫn không biết nơi nào có trái lạ đó. Chỉ có người anh là biết, nhưng từ lúc hay tin người em bị rụng đầu vì hiến dâng trái lạ, người anh không khỏi chau mày hối tiếc, tại sao không quyết liệt ngăn cản để em mình đừng lao đầu vào chỗ chết, hổ thẹn và lòng đầy những buồn riêng, người anh âm thầm sầu khổ như thấy em hiện về trách móc, cho đến lúc mối sầu riêng làm người anh nhuốm bệnh qua đời.
Đến đời sau, một vị vua nhà Lý, nhân trẩy quân qua cánh rừng, thấy trái lạ vừa chín vàng trên cây, mùi thơm bay phảng phất mới bảo quân sĩ hái xuống nếm thử, lại được nghe một quân sĩ già kể lại câu chuyện năm xưa, nên đã đặt tên cho trái lạ là trái sầu riêng.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.11.2017 22:06:08 bởi casau>
Bầy thiêu thân

Tại một cái hồ, cạnh lầu son của một nàng Công chúa đang tuổi cặp kê, đêm ấy có một nàng Đom đóm lạc tới đậu trên đài hoa, ánh sáng nơi mình Đom đóm tỏa ra làm cho nàng Công chúa kinh ngạc, mà cũng làm cho loài côn trùng bé nhỏ xung quanh hồ thấy đều trầm trồ:
- Ồ, ánh sáng gì kỳ diệu quá chưa từng thấy bao giờ, chắc là tiên ở trên trời xuống, vậy ta hãy tới bên đóa hoa kia xem nàng tiên mang cái thứ ánh sáng kỳ diệu đó là ai cho biết.
Lũ côn trùng bảo nhau như thế, rồi kéo nhau ồ ạt bay tới bên cụm hoa. Đến khi nhìn rõ, chúng thấy nàng Đom đóm cũng bé nhỏ như chúng nhưng rất đẹp vì từ trong mình tiết ra một thứ ánh sáng lập lòe chưa từng thấy. Chúng tưởng tượng nàng Đom đóm là một nữ tiên mắc đọa nên nhao nhao hỏi:
- Nàng kia, ở Thiên đình nàng làm tội chi mà bị đày đọa xuống trần? Ngẫm như nàng thật là xinh đẹp rực rỡ muôn phần, nếu nàng ưng chịu thì chúng tôi xin tôn nàng làm nữ chúa.
Nàng Đom đóm khép nép trả lời:
- Các bạn sâu bọ của tôi ơi, tôi cũng một kiếp như các bạn chớ có gì khác đâu mà các bạn đòi tôn tôi làm nữ chúa. Tôi nghĩ mà thẹn cho cái thân hèn mọn của mình, nào phải tiên thánh gì bị đọa.
Lũ côn trùng thì thầm bảo nhau, có vẻ không bằng lòng:
- Nó làm cao làm cách để không bầu bạn với mình, nó ỷ nó là tiên nên kiêu kỳ như vậy, mình nên vặn hỏi đôi điều xem nó trả lời ra sao cho biết.
Bàn tính với nhau rồi, lũ côn trùng mới hỏi nàng Đom đóm:
- Này nàng kia ơi, nàng bảo không là tiên giáng trần, vậy chớ làm thế nào nàng có được những vầng hào quang kỳ diệu thế kia?
Nàng Đom đóm cười đáp rằng:
- Á, à, các bạn thấy ánh sáng trong mình tôi tiết ra nên ngờ tôi là tiên thánh chớ gì?
- Phải rồi.
- À, các bạn lầm rồi, đó là thứ ánh sáng tự nhiên của cha mẹ tôi sinh ra như vậy chớ có phải hào quang tiên thánh gì đâu.
Dầu nàng Đom đóm nói vậy, bầy côn trùng nhất định không tin, cho rằng nàng Đom đóm cố ý giấu giếm sự thật. Chúng bàn bạc với nhau nên giết nàng Đom đóm cướp lấy ánh sáng để làm của mình, nhưng chúng lại sợ bị Trời Phật trừng phạt nên rốt cuộc, hẹn nhau để tìm cách khác.
Một đêm kia, công chúa thỉnh vua cha và hoàng hậu đến bên hồ bày hội hoa đăng để mừng được xem ánh sáng kỳ diệu của nàng Đom đóm.
Để cho đêm hoa đăng thêm phần rực rỡ, nhà vua truyền tất cả thần dân trong thành nhà nhà đều treo đèn kết hoa nơi cửa. Cho nên từ bờ hồ đến khắp kinh thần đều có ánh đèn sáng rỡ. Bấy giờ lũ côn trùng thấy ánh đèn tỏa ra ở khắp nơi thì reo mừng sung sướng chia ra từng bầy tủa ra bốn hướng. Lúc đến bên ánh đèn, bầy côn trùng bé nhỏ nhìn kỹ làn ánh sáng đang lặng lờ tỏa ra, rồi chúng kháo bảo nhau rằng:
- Ồ, vậy mà mình cứ tưởng con bé Đom đóm làm tiên thánh gì nên mới có ánh sáng kỳ diệu, không ngờ thứ ánh sáng ấy đây rồi, mình cứ ráp nhau đớp lấy nuốt vào bụng tự nhiên thân mình sẽ hóa hào quang như Đom đóm chớ gì.
Nói xong, từng bầy côn trùng bé nhỏ thi nhau lao mình vào ánh đèn, toan đớp lấy ánh sáng, nhưng tất cả đã bị ánh lửa thiêu đốt cháy tiêu không còn một mống.
Dẫu chết vì ánh sáng, lũ côn trùng bé nhỏ vẫn say mê ánh sáng, đời đời kiếp kiếp hễ thấy ánh sáng thì lao mình vào để làm lũ thiêu thân.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2017 03:18:53 bởi casau>
Chim chèo bẻo

Thuở xưa, có anh nông dân tính tình siêng năng chất phác, chỉ biết có lúa ruộng mà thôi. Mỗi năm vào khoảng tháng 10 úa chín đòng đòng, thì anh nông dân vác chiếu ra đồng để ngủ mà canh chừng lúa.
Đêm kia, vì mệt mỏi quá, anh nông dân ngủ quên, lúc đó có hai tên trộm, muốn trộm lúa nhưng sợ anh thức dậy bắt gặp, mới bàn với nhau nên giết anh đi. Tức thì hai tên trộm dùng gậy đập anh chết.
Oan hồn của anh lên Trời khiếu nại. Ngọc Hoàng liền sai thiên binh đi bắt hai tên trộm đem về trị tội.
Vừa thấy mặt hai tên trộm, Ngọc Hoàng vỗ án quát mắng rằng:
- Hai đứa bây thật là phường đại gian đại ác, đã trộm của người lại còn giết người, thật là đáng tội. Sát nhân giả tử, đã giết người thì phải chịu chết. Bây giờ ta bắt một tên phải hóa kiếp làm loài châu chấu, còn một tên thì làm cào cào trọn đời phải làm kiếp côn trùng bé nhỏ.
Ngọc Hoàng quay lại phía anh nông phu phán rằng:
- Ngươi siêng năng và hiền lành lỡ phải chết oan, vậy ta cho hóa thân làm chim chèo bẻo.
Anh nông phu tâu rằng:
- Nếu thượng đế cho tôi làm chim chèo bẻo thì tôi biết làm gì?
Ngọc Hoàng cắt nghĩa:
- Nhà ngươi chưa hiểu được ý ta. Ta cho ngươi làm chim chèo bẻo là để cho ngươi tiếp tục làm nghề giữ lúa, tức là nghiệp xưa của ngươi vậy. Đồng thời cũng để cho ngươi có dịp báo thù hai tên trộm bất nhân kia. Chúng sẽ là loài cào cào, châu chấu, còn ngươi là chim chèo bẻo, hễ mùa lúa chín ở đâu thì cào cào, châu chấu đổ xô đến đó, chim chèo bẻo sẽ tha hồ mà bắt nó ăn tươi nuốt sống để trả thù. Ngươi đã thấy lẽ công bình của trời đất chưa?
Bấy giờ hồn anh nông phu mới chịu làm chim chèo bẻo.
Vì tích này mà hằng năm đến mùa lúa chín thì chim chèo bẻo bay lượn khắp cánh đồng bắt giết cào cào, châu chấu.
0
Sự tích Hòn Vọng Phu

Trên đường biển từ Nam ra Bắc, dựa mé biển ở cửa Đề Gi thuộc huyện Phù Cát tỉnh Bình Định có hòn đá hình người thiếu phụ bồng con, đó là Hòn Vọng Phu.
Sự tích như thế này: Thuở xưa, lúc lên sáu tuổi, bà Vọng Phu cùng người anh ruột ra vườn đốn mía, hai anh em giành nhau cây mía. Lúc đó người anh đang cầm con dao, vì giận nên chém em trúng đầu chảy máu. Người anh hoảng sợ trốn đi biệt dạng. Chẳng bao lâu cha mẹ đều qua đời, bà con tranh nhau cướp hết của cải rồi đem người em bán cho khách thương hồ.
Tấm thân phiêu bạt, một ngày kia người em lạc đến làng thuyền chài. Bây giờ bà đã lớn khôn và phải lòng một người đàn ông đánh cá. Vợ chồng ăn ở với nhau có một đứa con, tuy nghèo mà trong ấm ngoài êm, vợ chồng thuận thảo.
Hôm nọ rỗi rảnh, chồng mới ngồi lại bắt chấy cho vợ. Lúc vạch tóc ra, chồng thấy nơi đầu vợ có cái thẹo lớn mới hỏi nguyên do. Người vợ thật tình thuật lại câu chuyện xảy ra trong ngày còn bé, vì tranh giành cây mía với người anh nên bị anh chém trên đầu.
Người chồng nghe qua không nói gì, mặt buồn rầu rầu, sáng hôm sau lấy thuyền ra biển bảo rằng đi đánh cá rồi đi biệt luôn.
Người vợ ở nhà đợi chồng mãi không thấy chồng về mới bồng con lên đứng trên núi trông ra biển ngóng trông tăm dạng của chồng.
Ngày tháng trôi qua, người chồng vẫn đi biệt, người vợ cứ ôm con đứng trên núi trông đợi chồng về, cho đến khi cả tấm hình hài của người vợ và đứa con đều hóa đá trơ trơ giữa sương gió núi non.
Người ta gọi đó là Hòn Vọng Phu.
Tục truyền rằng: những ghe thuyền từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vào Nam, khi ngang Hòn Vọng Phu mà muốn cho ghe thuyền đi mau thì cất tiếng gọi lớn:
- Bớ bà Vọng Phu! Thuyền của chồng bà ở phía sau kìa, vậy bà hãy nổi gió cho thuyền chồng bà về.
Tức thì gió to nổi lên đưa thuyền lướt mau trên mặt biển.
Có bài thơ tả Hòn Vọng Phu như sau:
Đường hải lộ từ Nam ra Bắc,
Trải ba ngày sắp tới Quy Nhơn.
Gập ghềnh đầu nổi chập chờn,
Trông ra chợt thấy một hòn núi xanh.
Ngay giữa đỉnh hình nhân lộ vé.
Tay ẵm bồng một trẻ hài nhi.
Đó là hòn núi Vọng Phu,
Có người thiếu phụ con thơ trông chồng.
Trải bao phen thỏ tà, ác lặn,
Thân liễu bồ bao quản nắng mưa.
Một mình đột ngột giữa trời,
Ngàn thu tiếng ấy giang sơn chói lòa.
Kẻ vượt biển lại qua trăm xứ,
Thường thỉnh cầu trinh nữ chiều hôm:
“Lạy bà, bà thổi gió nồm,
Chồng bà ở Quảng kéo buồm theo sau”.

0
Tích cái ống nhổ

Ngày xưa, có một vị sư già nổi danh là bậc đại đức chân tu. Bá tánh thập phương mỗi ngày kéo tới thọ giáo một đông thêm. Vị sư già mới nghĩ tới việc ẩn dật để tránh cho bá tánh khỏi phải phiền phức về chuyện hương đăng trà quả để hầu hạ cung phụng cho thầy.
Ngày kia, vị sư già kêu các đồ đệ mà bảo rằng, mình sẽ đi vào núi để tu khổ hạnh, không muốn phiền các đệ tử đi theo. Vậy ai muốn đi đâu tùy ý.
Hầu hết các đệ tử đều nghe theo lời thầy, chỉ có chú tiểu nọ nằng nặc quyết một đòi theo hầu hạ thầy suốt đời. Chẳng phải chú tiểu nọ dốc lòng tu hành khổ hạnh, hay mến công đức của thầy mà xin theo thầy. Chẳng qua thấy thầy được nhiều người sùng bái, hằng ngày dâng cúng phẩm vật rất nhiều nên việc ăn uống phủ phê, vì ham ăn mà chú tiểu xin theo thầy vậy.
Vị sư già bằng lòng cho chú tiểu đi theo, rồi hai thầy trò băng rừng lướt bụi vào tận trong rừng để tu hành. Từ đó ở giữa nơi thâm sơn cùng cốc, không một ai lui tới dâng cúng phẩm vật, hai thầy trò phải làm việc thật vất vả mới có mà ăn.
Chú tiểu chịu cực nhọc không nổi thì sinh ra thối chí ngã lòng, muốn bỏ thầy trốn đi, song lại sợ bị hùm beo rắn rết hại mạng. Thành thử phải sống tạm bợ bên thầy để chờ cơ hội ra đi.
Một hôm, có cậu bé đến xin làm đệ tử cho vị sư già và bằng lòng gánh chịu tất cả sự nặng nhọc. Chú tiểu nọ rất mừng, đem mọi việc nặng nhọc giao lại cho cậu bé. Nhờ chịu khó, siêng năng nên cậu bé được thầy khen ngợi. Bấy giờ chú tiểu nọ lại sinh lòng ghen ghét cậu bé đồng đạo, rắp tâm làm hại.
Đêm kia, thừa lúc cậu bé ngủ quên, chú tiểu lấy nước tưới tắt mồi lửa dùng để nấu nước cúng Phật.
Vào đầu canh tư, cậu bé giật mình thức giấc mò xuống bếp thấy lửa củi đâu đó tắt câm thì cả kinh, không biết lấy gì nhóm lửa để nấu nước cúng Phật. Cậu bé chỉ còn có nước liều, cắm đầu chạy băng rừng tới xóm nhà nào gần nhất để xin lửa.
Rừng sâu đầy ác thú, cậu bé vừa chạy, trống ngực vừa đánh liên hồi. Lúc đến giữa rừng, cậu bé bỗng nghe văng vẳng bên tai có tiếng gọi mình. Cậu cứ ngỡ là yêu ma hiện ra khuấy phá, liền niệm Phật và chạy ùa. Bỗng cậu bé thấy một bàn tay đưa ra cản mình lại. Cậu bé nhìn lên thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, đôi mắt hiền từ, ông lão ngó cậu bé và hỏi:
- Đêm khuya thế này, con chạy đi đâu mà hớt hơ hớt hải vậy, không sợ ác thú ăn thịt sao?
Cậu bé chắp tay lại vái chào cụ già và kể chuyện rằng mình lãnh phần nấu nước cúng Phật, rủi ngủ quên để lửa tắt ngúm, bấy giờ đã gần giờ nấu nước nếu không có lửa, thầy sẽ quở trách nên mình phải liều chết để chạy tới xóm xa xin lửa.
Cụ già nghe vậy bèn bảo cậu bé:
- Ở đây muốn tới xóm nào gần nhất cũng phải mất một ngày, con cố chạy đi cũng không về kịp giờ nấu nước cúng Phật, nay ta có cách này giúp con không biết con có chịu nghe không?
Cậu bé cảm động đáp rằng:
- Nếu cụ có lòng thương mà giúp đỡ cháu xin cảm tạ ngàn ngày.
Cụ già liền bảo:
- Bây giờ con hãy trèo lên cây kia, hễ nghe tiếng ta bảo thì buông tay thả xuống, nhưng phải nhớ nhắm nghiền đôi mắt lại, chừng nghe im gió thì mở mắt ra. Khi lấy lửa rồi cũng phải trèo cây buông mình xuống, và nhớ nhắm mắt lại, nếu cãi lời ta thì sẽ bị hại tức thì.
Cậu bé ngoan ngoãn làm theo đúng lời dặn của cụ già. Lúc buông mình xuống, cậu bỗng thấy mình rơi vào một lớp lông láng mịn, kế nghe gió thổi ào ào cả mình như bay bổng. Hồi lâu im gió, mở mắt ra thì thấy đáng đứng trước một hòn núi lửa. Cậu bé liền lấy lửa cầm nơi tay, rồi làm theo lời dặn của cụ già.
Chẳng bao lâu cậu bé về tới nơi mở mắt ra thì thấy chỗ động đá của vị sư già. Cậu bé mừng rỡ nhúm lửa lên nấu nước đem lên cúng Phật đúng vào lệ thường ngày.
Rạng sáng, chú tiểu nọ xuống bếp thấy lửa cháy hồng thì lấy làm lạ, không rõ cậu bé lấy lửa đâu mà nấu nước. Gạn hỏi cậu bé, thì cậu bé thật tình kể chuyện gặp cụ râu tóc bạc phơ ở giữa rừng. Chú tiểu đoán biết đó là một vị tiên hiện ra giúp đỡ cậu bé.
Bấy giờ chú tiểu mới nảy ra ý định, xin với thầy cho mình được phép lo về việc nấu nước cúng Phật, còn cậu bé thì lo việc khác.
Vị sư già bằng lòng ngay.
Đêm đó chú tiểu nọ cũng làm cho mồi lửa tắt ngúm, rồi chạy qua rừng y như cậu bé đã làm. Đến giữa rừng, chú tiểu gặp cụ già râu tóc bạc hiện ra. Chú lặp lại y như lời cậu bé đã nói hôm trước. Cụ già liền bảo chú tiểu trèo lên cây buông mình xuống. Chú tiểu khấp khởi mừng thầm phen này được tiên độ.
Chẳng dè khi trèo lên cây buông mình xuống rơi vào đá đập đầu, bể bụng chết tươi hóa thành cái ống nhổ. Hai tay vòng thành cổ bình, miệng há hốc kêu trong khi rơi xuống tòe loe thành miệng ống nhổ.
Bá tánh hay tin có việc không may xảy đến cho thầy trò vị sư già nên kéo nhau vào núi viếng thăm chia buồn, khi nghe rõ đầu đuôi câu chuyện nên ai cũng ghét mới khạc nhổ vào cái miệng tòe loe kia.
Từ đó đến sau người ta làm cái ống nhổ để đựng đồ dơ bẩn, đó là theo sự tích trên đây.
0
Tại sao cọp ghét mèo?

Thuở xưa, cọp và mèo là bà con với nhau, hình dạng giống nhau, cách leo trèo đi đứng cũng chẳng khác gì. Hai con vật lại ở chung với nhau, cọp gọi mèo bằng cô, mèo kêu cọp bằng cháu, cô cháu sống cạnh nhau rất tương đắc, thường bữa mèo dạy cọp leo trèo, chạy, nhảy nên cọp luôn luôn cung kính mèo.
Mèo có tánh lười biếng, ăn xong kiếm chỗ ngủ, ngủ dậy lại ăn, còn cọp siêng năng, ngày đêm lo tìm mồi, xông xáo đầu này đầu kia chớ ít khi tìm chỗ ngủ.
Một hôm, cọp bắt được một con heo, đem về để dành đặng ăn dần. Thừa lúc cọp đi vắng mèo cứ rút rỉa ăn lần lần hết con heo. Cọp không tìm được mồi, trở về đem con heo ra ăn thì mèo đã ăn tất cả món ngon rồi. Cọp tức quá không nhường nhịn nữa nên mắng mèo:
“Cô gì mà cô? Cô lô cô lốc!
Có miếng thịt nào bỏ mồm cô hốc”

Mèo không nhịn, nên hai đằng xô xát nhau, bắt đầu thù ghét nhau. Mèo tuy lười biếng nhưng được cái lanh lợi tinh ranh hơn cọp. Mèo nảy ra mưu kế, mới làm ra vẻ thân thiện bảo cọp rằng:
- Cô nghe thiên hạ khen cháu có tài, nhưng cô chưa thấy tài của cháu bao giờ. Vậy đằng kia có cái cây cao, cô và cháu ta hãy đến đó thử tài leo trèo một lần xem sao.
Cọp nghe bùi tai, ưng thuận liền.
Thế là cọp và mèo đến cây cao thi tài.
Mèo leo lên trước, cọp leo lên sau, tuy vậy mèo vẫn khen:
- Cháu leo trèo khá đó chớ, nhưng vẫn chưa biết được cháu có hơn cô không? Vậy thì nên trèo cả hai bận lên và xuống.
Tự nhiên là cọp đồng ý, tưởng mình sẽ thắng được, chớ không dè mắc mưu mèo.
Nhờ nhỏ thó, nhẹ mình nên trèo lên hay trèo xuống gì cũng dễ dàng lanh lẹ. Duy có cọp to xác, mình mẩy nặng nề nên khi trèo xuống bị ngã phăng xuống đất, mũi dập nát đau đớn vô cùng. Từ đó, cọp bị xẹp mũi. Cũng từ đó, cọp thù ghét mèo, thề sẽ gặp đâu đánh đó, và dọa rằng:
“Cô gì mà cô, cô rô cô rứt,
Cháu bắt được cô, cô không còn cứt”.

Nghe cọp dọa như vậy, mèo sợ quá bỏ rừng xanh trốn về thành thị, ẩn mặt trong nhà loài người, khi ỉa xong lại lấy tro lấp cứt cố ý giấu không cho cọp thấy.
0
Chuyện cá trê và cóc

Có đôi vợ chồng con cóc nọ, sống tại bờ ao. Tình cờ ở dưới ao có đôi cá trê muộn màng không có con. Ngày nọ, cóc cái xuống nước đẻ ra trăm trứng, đến lúc nở ra thành một bầy nòng nọc đầu tròn, đuôi dài, mình đen giống rặt cá trê con.
Đôi vợ chồng cá trê thấy thế lấy làm mừng rỡ, đuổi cả bầy nòng nọc về hang, ngày đêm nuôi dưỡng săn sóc tâng tiu lại khoe khoang với các loài thủy tộc đó là con của mình. Các loài thủy tộc thấy nòng nọc giống cá trê con quá nên đều tin là thật.
Ngày hôm sau, vợ chồng cóc xuống ao, thì thấy đàn con của mình chẳng biết bị ai bắt đem đi biệt dạng. Vừa rầu vừa giận, vợ chồng cóc kéo nhau đi kiếm con khắp nơi, gặp ai cóc cũng hỏi thăm, chẳng một ai biết đàn con giạt về đâu cả.
Vợ chồng cóc không nản chí, tiếp tục việc kiếm tìm, quyết đến lúc nào gặp được con mới thôi. Ngày kia, vợ chồng cóc lạc đến trước hang cá trê, một cảnh tượng hiện ra trước mắt làm cho họ vui mừng và kinh ngạc: bầy con nòng nọc đang cùng nhau nô giỡn trước cửa hang. Tức thì vợ chồng cóc hè hụi gom bầy con lại để đem về. Chẳng dè vào lúc đó, vợ chồng cá trê đi kiếm ăn về, thấy vợ chồng cóc làm như vậy thì xông ra cản lại, cho rằng vợ chồng cóc làm ngang toan bắt cóc con của họ đem đi.
Đôi bên trước còn cãi lẽ, sau đâm ra ẩu đả với nhau. Vợ chồng cóc chậm chạp, không giỏi lặn ở dưới nước nên bị vợ chồng cá trê đánh chém tơi bời, thương tích đầy mình phải bỏ chạy.
Về nhà, vợ chồng cóc chịu không nổi sự ức lòng nên phát đơn đi kiện. Ông Chạch lãnh phần phân xử vụ này, mới cho đòi vợ chồng cá trê, bảo bắt đàn nòng nọc đến cửa công để hầu kiện.
Thoạt đầu, vợ chồng cá trê nằng nặc quyết một mực cho rằng, đàn nòng nọc là con của mình mà vợ chồng cóc toan nhận xằng, bằng cớ là đám nòng nọc giống mình chớ không giống cóc. Phàm con cái thì giống cha mẹ chớ nào giống người dưng, vậy phải trừng trị vợ chồng cóc về tội vu oan giá họa.
Vợ chồng cóc thấy vợ chồng cá trê nói ngược ngang như vậy thì tức lắm, ngặt vì bầy nòng nọc giống cá trê quá lẽ, nên vợ chồng cóc không dám nặng lời trả treo lại.
Ông Chạch vốn là tay xử kiện có nhiều kinh nghiệm đã đoán biết một phần sự ngay, gian trong vụ án này, nên ông bảo:
- Phép nước sẽ thẳng tay trừng trị kẻ nào gian tà xảo trá. Nay có một bầy con mà hai kẻ giành giật, ai cũng tranh bảo là con của mình. Vậy hai kẻ tranh nhau, tất nhiên có kẻ ngay, người gian. Bây giờ ta truyền: Hễ kẻ nào ngay thì được lãnh bầy con và được thưởng ăn trên ngồi trước, nhiều kẻ phục tùng, còn kẻ nào gian thì bị xử một trăm hèo và chịu sự tanh hôi kẻ chê người trách.
Nói rồi, ông Chạch đem bầy nòng nọc nhốt vào một nơi kín đáo, truyền cho trê, cóc ba ngày nữa hãy đi hầu kiện.
Đúng ba ngày, vợ chồng trê cóc đều nôn nóng trở lại cửa công. Ông Chạch mới trịnh trọng nói rằng:
- Bây giờ rất dễ biết bầy nòng nọc là con của ai. Vậy anh trê và anh cóc hãy chờ đúng Ngọ này, ta thả bầy nòng nọc ra, hễ con của ai nó sẽ theo người nấy.
Vợ chồng trê đều vui mừng hí hởn chắc phen này mình thắng kiện, vì họ nuôi bầy nòng nọc đã quen hơi, tất nhiên chúng sẽ theo về với mình.
Không ngờ đó là mẹo của ông Chạch. Vào đúng ngọ thì bầy nòng nọc đứt đuôi hóa thành cóc. Bởi vậy lúc mặt trời vừa đứng bóng, ông Chạch thả bầy nòng nọc ra, thì chỉ thấy một đàn nòng nọc vừa đứt đuôi hóa cóc nhảy lôm xôm theo về với cha mẹ cóc.
Cha mẹ cóc vui mừng, cả cười banh cả miệng ra. Còn cá trê thì xấu hổ cúi gằm mặt xuống.
Ông Chạch cứ theo phép công mà trị kẻ gian tà, truyền đánh vào đầu vợ chồng cá trê một trăm hèo để răn phạt. Vì vậy đầu cá trê trở nên dẹp lép như ngày nay.
0
Tích cây mai và lễ chiêu hồn

Ngày xưa, có người bộ hành lưu lạc trên đường thiên lý đã nhiều ngày nên đói khát đuối sức. Vừa may, đến một vườn mía, trông trước nhìn sau chẳng thấy chủ vườn ở đó, người bộ hành liền bẻ mía ăn đỡ lòng, đoạn lấy một xâu tiền buộc vào một cây mía rồi ra đi.
Một lát sau, người chủ vườn đến, thấy mất một cây mía lại chợt thấy xâu tiền kẽm buộc vào cây mía kế bên, lấy ra đếm thì thấy hơn giá tiền một cây mía quá nhiều. Chủ vườn mía nghĩ rằng có kẻ đã ăn mía trả tiền, nhưng số tiền còn thừa, phải kiếm cho được người ăn mía mà trả lại không thì chẳng yên lòng. Nghĩ như vậy rồi, chủ vườn mía mới đi tìm người bộ hành.
Đến xế chiều, người chủ vườn gặp người bộ hành nằm chết bên đường, nghĩ thương tình, người chủ vườn mới vác xác người bộ hành đến một cái chùa gần đó, kể hết sự tình cho sư ông nghe và nhờ sư ông tụng kinh siêu độ.
Nhà sư liền lấy cây mía buộc tiền vào rồi đặt lên đàn, đoạn đọc kinh cứu khổ (gọi là lễ truy linh hay lễ chiêu hồn).
Cuộc lễ vừa xong, hồn người bộ hành bỗng trở về nhập với xác, giúp người sống lại.
Vì sự tích này mà từ đó về sau, mỗi khi có lễ chiêu hồn, các pháp sư hay thầy sãi đều dùng cây mía có buộc xâu tiền kẽm để làm đồ tế lễ.
0
Sự tích cây phướn

Ở các chùa chiền thường có treo một tấm vải dài, viết chữ nho, gọi là ngọn phướn.
Theo tích xưa, ngọn phướn ấy là hình ảnh của con rắn bị trừng phạt.
Thuở ấy, có anh nông phu nọ bắt được một con rắn nhỏ, đem về nuôi nấng kỹ lưỡng. Tuy bận công việc đồng áng, anh vẫn kiếm bắt cá, nhái, ếch đem về cho rắn ăn, nhiều khi rắn quá đói, anh sẵn sàng cho rắn ăn mấy con gà con nuôi trong nhà.
Rắn càng ngày càng lớn, ăn càng lúc càng nhiều. Hôm ấy, nó than đói. Anh nông phu lắc đầu:
- Hết phương thế rồi. Bữa nay ta chưa kiếm được thức ăn cho mày. Thôi ráng chờ sáng mai vậy.
Rắn nổi giận, trở mặt, phùng mang trợn mắt:
- Ông không nuôi tôi nổi thì tôi phải cắn ông chết.
Anh nông phu vô cùng buồn bã, nói với rắn:
- Lời tục thường nói: Cứu vật, vật trả ơn. Tại sao mi đem oán mà báo ơn. Bây giờ ta sẵn sàng chịu cho mi cắn nếu hành động của mi được các loài vật khác công nhận.
Rắn gật đầu:
- Vậy thì ông đi với tôi.
Hai bên bèn lên đường, chặp sau gặp con hạc đậu trên ngọn cây. Rắn trình bày đầu đuôi sự việc, hạc nghe xong bèn nổi giận:
- Rõ ràng mi là kẻ vong ân bội nghĩa. Nếu không có chủ nhà thì làm sao mi đủ thức ăn, sống đến ngày nay.
Rắn chưa chịu thua, nói với chủ nhà:
- Ta hãy đi tìm vài con vật nữa.
Hai người đi mãi, bỗng gặp con rùa bò lê lết bên bờ ao. Rắn bèn thuật lại hoàn cảnh của mình.
Rùa gật đầu:
- Mi nên cắn chủ nhà cho hắn chết. Hắn nuôi mi, tại sao hắn lười biếng để mi chịu đói khát?
Chủ nhà nói:
- Nãy giờ ta chỉ mới gặp hai con vật, con đồng ý, con phản đối. Để giải quyết, ta cần gặp con vật thứ ba.
Quạ đậu ngất nghểu trên cành cây được mời xuống, nghe vừa dứt câu chuyện, quạ nổi giận:
- Đồ vô ơn bạc nghĩa. Ta đố mi chạy thoát.
Rồi quạ mổ liên tiếp vào đầu, vào bụng rắn. Rắn chết ngay tại chỗ, mình mẩy nát bấy.
Nhưng con rắn vẫn chưa chịu thua. Hồn của nó bay vẩn vơ đến tìm đức Như Lai để nhờ phân xử.
Phật nghe rõ câu chuyện, phán rằng:
- Hạc là loài có nghĩa, từ nay ta cho nó đứng trên cao, rùa nói vô lý, ta cho nó bò dưới thấp. Còn rắn là vật vô ơn bị quạ giết đáng lắm. Quạ hãy tha xác rắn bêu lên ngọn cây, nêu gương cho muôn loài vạn vật soi vào đó mà răn lấy mình.
Từ đó về sau, hạc được đứng chầu trên bàn hương án, rùa phải cố sức đội bia đá, quạ đậu trên chót vót cây phướn và hình dáng lòng thòng của lá phướn chính là hình con rắn phơi xác.
0
Hoàng tử Cam

Ngày xưa, có một bà hoàng hậu sinh được một nàng công chúa xinh đẹp và thông minh. Nhưng khi công chúa đến tuổi cập kê, nhà vua vẫn không kén được phò mã. Công chúa đành ở vậy đến năm ba mươi tuổi.
Một hôm công chúa đi dạo ngoài vườn, đến dưới cây cam, trồng đã trăm năm nay rồi mà không có trái, công chúa bỗng thấy một trái cây chín đỏ treo tòn ten trên cành, liền sai tỳ nữ hái cam xuống. Công chúa ăn vào thấy ngon ngọt lạ thường.
Vài tháng sau, công chúa bỗng thấy bụng to dần lên thì ngạc nhiên vô cùng. Vua cha sinh nghi, cho dò xét xem công chúa có lén lút đi lại với người đàn ông nào không, vì ngài biết từ bé đến lớn lúc nào công chúa cũng tỏ ra là người con gái chính chuyên đức hạnh.
Cuối cùng, vua đành phải hạch hỏi công chúa, bấy giờ công chúa mới tiết lộ việc ăn trái cam chín ở trong vườn. Nhà vua cho rằng công chúa đã thọ thai với thần giữ vườn.
Đến ngày nở nhụy khai hoa, công chúa sinh được một trai khôi ngô đĩnh ngộ. Vừa chào đời đứa bé đã biết nói, biết đi, biết đọc và học hành rất chăm chỉ.
Hoàng đế và hoàng hậu thấy vậy thì cả mừng, cho rằng trời sai thiên tướng xuống giúp vua trị nước, còn triều thần gọi đứa bé là hoàng tử Cam.
Khi hoàng tử lên năm, ngày nọ vua muốn thưởng thức một món ăn lạ thường, bèn gọi người hầu bếp đến đưa cho ba nén bạc và bảo:
- Nay trẫm muốn ăn thịt đàn bà có râu, vậy ngươi hãy ráng tìm cho được.
Người đầu bếp lấy làm kinh sợ, xưa nay chỉ có đàn ông có râu chớ đàn bà làm gì có râu? Vả lại giết người là tội trọng không thể nào người đầu bếp dám làm. Đến sau, người đầu bếp suy nghĩ kỹ biết vua thử mình, nhưng chẳng biết tính cách nào.
Hoàng tử Cam thấy người đầu bếp buồn rầu biếng nói biếng cười liền hỏi thăm duyên cớ. Người này thật tình kể lại lời phán dạy của vua. Hoàng tử Cam đoán biết vua muốn ăn thịt dê cái nên bảo người đầu bếp đi mua dê về làm thịt cho vua ăn. Vua lấy làm vừa lòng.
Ngày khác, vua đòi ăn một món ăn có ngũ vị, song chỉ đưa cho người đầu bếp có ba đồng tiền bảo đi mua. Người đầu bếp đến hỏi hoàng tử Cam, hoàng tử bảo đi mua trầu cau về dâng vua. Miếng trầu gồm có năm vị: cau, vôi, trầu, vỏ giấy và thuốc mà giá chỉ có ba đồng tiền. Vua rất đẹp ý.
Vua lại ngỏ ý muốn ăn cỏ ống, cũng chỉ đưa có ba đồng tiền. Lần này người đầu bếp lại đến thỉnh ý hoàng tử Cam. Hoàng tử bảo đi mua tỏi về dâng vua. Vua rất bằng lòng.
Biết được hoàng tử Cam là bực thần đồng kỳ lạ, vua liền ra một kế để thử tài hoàng tử. Ngài cho mời tất cả bạn hữu của hoàng tử đến dự tiệc cùng hoàng tử. Vua đặt tất cả ghế ngồi xa mâm đồ ăn đến năm ba thước để xem họ xoay trở cách nào. Duy có hoàng tử Cam ăn uống như thường vì biết đem theo đũa để gắp thức ăn.
Lại một ngày nọ, nhà vua bày ra cuộc thi đố xem vật gì nhọn nhất, rồi cùng đình thần bảo là cây kim. Hoàng tử Cam cãi lại cho rằng không phải, vật nhọn nhất là nước chớ không phải cây kim, nước có thể chui qua những lỗ, những kẽ nhỏ nhất, những đường nứt rạn dầu nhỏ thế nào nước cũng lọt qua được.
Nhà vua bắt đầu kinh sợ về trí thông minh tuyệt vời của hoàng tử. Lại lo rằng rồi đây trước tài giỏi của hoàng tử, triều thần sẽ tìm cách phế bỏ nhà vua để đưa hoàng tử lên ngôi. Nhà vua liền mưu tính đầu độc hoàng tử Cam để trừ hậu họa.
Bấy giờ, nhà vua dùng thuốc độc pha vào rượu bảo là ngự tửu ban cho hoàng tử uống. Hoàng tử về đến cung thì trút hơi thở cuối cùng. Muốn được chắc ý, vua sai người tâm phúc đến cung hoàng tử dò hỏi. Mẹ hoàng tử lại bảo chàng đang ngồi đọc sách trong phòng.
Người tâm phúc tưởng thật về tâu lại với vua. Vua muốn biết rõ thật hư nên lấy độc dược, cho con gà trống uống, con gà vùng vẫy rồi bay đi mất. Vua cho rằng vô hại, nên đem ngự tửu có pha thuốc độc cùng đình thần yến ẩm. Chẳng dè chỉ trong chốc lát, cả thảy lăn đùng ra chết.
Ác tâm giết người của vua bại lộ nên bị mọi người oán ghét, họ không chịu mai táng nhà vua mà chỉ lo mai táng hoàng tử Cam vào chiếc áo quan rất đẹp rồi cho hai người mù và điếc đem chôn. Trong lúc khiêng đi, người mù bỗng chạm phải một cành cây, bỗng dưng hai mắt được sáng như xưa. Người điếc thấy vậy, lấy lá xát vào tai, thì tai nghe được rõ ràng. Hai người mừng rỡ vội vàng bẻ cành cây huyền diệu kia cậy áo quan ra xát vào thi hài hoàng tử. Trong chốc lát hoàng tử Cam sống lại. Dân chúng mừng rỡ, tôn lên làm vua.
0
Núi Thị Vãi

Ngọn núi này thuộc về huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa. Theo tích xưa, họ Lê có người con gái rất kén chồng. Đến khi cha mẹ qua đời hết, cô mới lấy chồng, nhưng không được bao lâu chồng cô mang bệnh mà chết. Cô nọ thề không bao giờ tái giá, ngặt lối xóm có nhiều kẻ tới lui trêu ghẹo vì cô là người có nhan sắc.
Buồn bực quá, cô cạo đầu, trốn lên đỉnh núi này ma cất am để tu thân học đạo.
Về sau dân chúng cảm mến cô, đặt tên cho núi là núi Bà Vãi, sau này kêu là Thị Vãi.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2017 03:21:28 bởi casau>
Sự tích cây pháo

Về đời thượng cổ nước Việt Nam ta thường bị các hung thần hiện ra khuấy phá, trong số đó có vị thần tên là Na Á. Vị thần hung tợn này có người vợ hung dữ không kém gì chồng, nên thiên hạ gọi chung là ông bà Na Á.
Hai ông bà Na Á thường ẩn trong bóng tối làm cho con người trăm đắng ngàn cay. Có điều họ rất sợ ánh sáng và sự huyên náo ầm ĩ.
Không có bùa phép nào yếm trừ nổi hai vợ chồng vị hung thần này, ngoài hai thứ kể trên.
Một năm, đến ngày  30 tháng Chạp, các vị lương thần phù trợ dân gian đều phải về trời chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế, thừa lúc đó vợ chồng hung thần Na Á tha hồ nhiễu hại dân lành. Để trừ cái họa vợ chồng Na A làm lộng trong mấy ngày Tết, người ta bày ra việc đốt pháo và thắp nhiều đèn đuốc trong nhà để đuổi vợ chồng hung thần Na Á.
Cho nên, mỗi năm cứ đến đêm vào giờ trừ tịch, giao thừa mọi nhà đua nhau đốt pháo đùng đùng vì mọi người đều tin tưởng rằng tiếng nổ lẫn mùi thuốc pháo có sức mạnh xua đuổi được hung thần, không dám đến gieo họa trong ngày Tết.
Để trừ tà ma, quỷ quái trong mấy ngày xuân, người ta còn lấy vôi bột rắc quanh nhà, dùng vôi vẽ cung tên ở trước cửa. Tục này truyền ra từ đời nhà Đinh. Lúc Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn mười hai Sứ quân, giặc giã trong nước vừa bình yên thì bệnh dịch hạch nổi lên giết hại dân chúng rất nhiều. Vua Đinh Tiên Hoàng biết không thể đương đầu nổi với thần dịch hạch, bèn cầu khẩn Trời, Phật can thiệp giúp dân được yên ổn.
Lúc bấy giờ có một vị thần hiện ra mách bảo với vua dùng vôi rắc quanh nhà, và vẽ cung tên ở trước cửa xua đuổi ma quỷ thì trừ được tai họa. Vua Đinh theo lời ra lệnh cho mọi người làm đúng theo lời thần mách bảo: Từ đó bệnh dịch hạch giảm dần. Đến sau thành ra tục lệ.
0
Đầm tôm ở Thanh Hóa

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta hẳn nhớ đến giai đoạn nội chiến lâu dài do chúa Trịnh và chúa Nguyễn gây ra, gọi là thời Nam Bắc phân tranh.
Về nguồn gốc chúa Trịnh dã sử còn chép lại như sau:
Người gây thế lực đầu tiên cho chúa Trịnh là Trịnh Kiểm. Thuở nhỏ, Kiểm là người bần hàn, thờ mẹ rất có hiếu. Gặp khi đói kém, ông ta dạo hàng xóm, rình xem nhà nào dư lúa gạo trong nhà. Ban đêm, ông ra tay, đánh cắp thóc gạo về nuôi mẹ. Nhờ xoay trở tài tình, lanh tay lanh chân nên chẳng bao giờ ông ta bị bắt tại trận.
Lắm khi, mẹ già đau yếu, thèm ăn thịt gà, ông cũng dám mạo hiểm đi ăn trộm, đem món ngon về cho mẹ.
Người trong xóm lấy làm bất bình vì mấy năm liên tiếp, ai cũng bị trộm cắp không ít thì nhiều. Một người nọ bèn đưa ý kiến:
- Ngày nào mẹ hắn còn sống thì hắn còn ăn trộm. Tại sao chúng ta không giết mẹ hắn đi?
Có kẻ tán thành:
- Vậy thì giết mẹ hắn là xong chuyện. Nhưng giết bằng cách nào, kẻo họa hồ bất thành bọn ta ở tù hoặc bị chém về tội sát nhân.
- Đã có nhiều cách, thí dụ như trói mẹ hắn, quẳng xuống đầm tôm ở cuối xóm. Đầm ấy nước sâu, bờ đầy lau sậy...
Kế hoạch ấy được thi hành nhanh chóng, trong lúc Trịnh Kiểm đi vắng. Hai người trai làng xông vào nhà, bắt mẹ Trịnh Kiểm trói lại, siết cổ đến chết rồi ném xuống đầm tôm (gọi là đầm tôm vì ở đây có tôm rất nhiều).
Dường như do tiền định, nên đêm ấy, sau khi người mẹ già bị ném xuống trời đất rung chuyển, sấm sét vang rền, mưa tuông xuống như cầm chĩnh mà đổ.
Sáng hôm sau, hai kẻ sát nhân đến đầm tôm để xem thử, e rằng cái xác nọ nổi lên. Nhưng họ ngạc nhiên trước khung cảnh mới, nước tràn ngập bờ đầm và ngay giữa đầm có một cồn đất nổi lên.
Dân làng đâm ra sợ sệt, chẳng hiểu đó là điềm gì?
Có thầy địa lý Tàu đi ngang qua ngắm nghía rồi bàn bạc với những vị bô lão trong làng:
- Đây là thiên táng!
Thiên táng nghĩa là ngôi mộ do Trời xây nên, giúp cho con cháu kẻ bạc phước được phát đạt về sau.
Mấy vị bô lão nhìn nhau mà cười:
- Khó tin quá. Nấm mộ xây bằng đất bùn như thế kia thì liệu con cháu phát đạt được bao năm? Phải chi là mộ bằng đá, xây trên sườn núi thì lâu bền ít khi bị sụp.
Thầy địa lý đáp:
- Bởi vậy con cháu của bà lão này giàu sang không lâu cho lắm. Họ làm chức to, có quyền lợi nhiều, nhưng vua không ra vua, quan không ra quan.
Quả nhiên, về sau họ Trịnh áp đảo nhà Lê, xưng là Chúa, nhưng về nghi lễ thì vẫn dưới quyền vua. Và hơn hai trăm năm sau, họ Trịnh mất tất cả oai quyền.
0
Sự tích Vũng Tàu

Mũi Vũng Tàu ở Bà Rịa có ba làng ngày nay hãy còn gọi là Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam.
Tục truyền rằng đời Gia Long, lịnh của triều đình rất nghiêm ngặt, tất cả bọn thủ du thực, ăn mày ở vùng Huế đều bị tập trung lại. Nhà vua chở họ lên ba chiếc ghe, đưa vào mũi Vũng Tàu. Ghe thứ nhứt, thứ nhì, thứ ba cập bến vào những nơi này nên gọi là Thắng Nhứt, Nhì, Tam do chữ Tam Thoàn (Ba chiếc ghe) đọc trại mà ra: Thoàn thành Thắng.
Có người lại giải thích cách khác: Đời Gia Long bọn cướp biển hoành hành vùng Cần Giờ, chận đón các ghe buôn ra vào sông Sài Gòn. Vua ra lịnh đóng đồn tại Vũng Tàu ngày nay, tên đồn là Phước Thắng.
Đời Minh Mạng, các đội binh trong đồn Phước Thắng được giải ngũ, lập ra ba làng.
Đội thứ nhứt do ông Phạm văn Đình chỉ huy lập thành Thắng Nhứt, đội thứ nhì của ông Lê văn Lộc lập làng Thắng Nhì, đội thứ ba của ông Ngô văn Huyên lập nên làng Thắng Tam.
Khi người Pháp đến tên Vũng Tàu mới được đặt sau: tại mé biển, nhà cầm quyền cho đậu thường trực ba chiếc tàu chuyên lo về điện tín. Dân chúng nhân đó mà gọi là Vũng Tàu.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 12:09:32 bởi casau>
Ông Khổng Lồ đúc chuông

Nghề đúc chuông bắt đầu có ở Việt Nam vào khoảng năm 1220 đời nhà Lý.
Lúc ấy, Ngọc Hoàng ra lịnh cho ông Khổng Lồ xuống giúp dân Việt Nam. Ban đầu, ông Khổng Lồ vào chùa tu.
Một hôm, ông tâu với vua nhà Lý rằng:
- Xin bệ hạ cho phép bần tăng qua bên Tàu, lấy ngọc ngà châu báu.
Vua nhà Lý bằng lòng. Ông Khổng Lồ bèn mang bị, mang gậy đi qua nước Tàu, đến đâu ăn xin đến đó. Ngày nọ tới kinh đô, ông nài nỉ vào bái yết vua Tàu.
Vua Tàu hỏi:
- Hòa thượng vào đây có việc chi?
Ông Khổng Lồ đáp:
- Tâu bệ hạ, bần tăng xin phép được vào kho tàng để thỉnh chút đồng đen đem về đúc chuông thờ Phật, bần tăng không lấy nhiều, chỉ xin đầy một bị nhỏ này.
Thấy cái bị của ông Khổng Lồ không lớn mấy, vua bằng lòng cho phép ông vào kho.
Trước cửa kho, có tượng một con trâu to lớn đúc bằng vàng ròng. Quan Tàu giữ kho nói với ông Khổng Lồ, giọng mỉa mai:
- Tôi cho Hòa thượng con trâu vàng này, nếu Hòa thượng vác nó nổi đem về An Nam.
Biết rằng quan giữ kho khinh khi mình, ông Khổng Lồ đáp:
- Bần đạo làm sao vác nó nổi. Là người tu hành, bần đạo chỉ muốn thỉnh chút ít đồng đen đem về đúc chuông.
Vào tới kho đồng đen, ông Khổng Lồ hốt đồng bỏ vào bị. Bỏ vào rất nhiều mà không đầy vì bị của ông có phép. Chừng đầy bị thì kho của vua Tàu đã lưng hơn phân nửa. Quan giữ kho hoảng sợ biết ông Khổng Lồ ra kẻ dị thường, bèn cấp báo cho vua hay. Lập tức, vua Tàu sai quân sĩ tới vây. Vì số đồng đen mang nhiều quá, ông Khổng Lồ không thể nào hóa phép thành con chim để bay được. Ông phải chạy rất nặng nhọc, vất vả. Quân Tàu cưỡi ngựa đuổi theo gần kịp. Nguy hiểm làm sao, chạy tới sông Hồng Hà, ông Khổng Lồ lập tức lấy cái nón thả xuống nước, đứng trên nón. Chiếc nón ấy hóa ra chiếc thuyền chở ông và bị đồng đen nọ đến bên kia sông. Quân Tàu hoảng sợ, không dám đuổi theo.
Thành Hà Nội thuở ấy gọi là Bắc Thành. Về tới đó, ông Khổng Lồ nhờ mấy người thợ rèn thụt ống bễ lên để rèn một cái chuông thật lớn. Ông căn dặn: “Rèn thế nào cho chuông này giống hình cái bông sen nở, khi đánh thì kêu rền lên khắp nơi, khắp chốn ai cũng nghe”.
Vì họ là thợ rèn không chuyên đúc đồng nên cái chuông không được như ý muốn, rốt cuộc ông Khổng Lồ dùng đất sét nắn kiểu khuôn trước, rồi đổ đồng vào sau. Nhờ vậy, cái chuông đã hoàn thành.
Ông Khổng Lồ bèn chuẩn bị cuộc lễ tạ ơn Phật Trời. Đúng ngày, ông đánh chuông. Mấy tiếng đầu vang rền ngân nga khắp Đông, Tây, Nam, Bắc ai nấy đều hay biết... Đến mức con trâu bằng vàng đứng giữ kho bên Tàu cũng giật mình. Ngỡ rằng trâu mẹ gọi mình, tượng trâu vàng nọ chạy một mạch từ kinh đô nước Tàu qua tới kinh đô nước Việt thời ấy.
Ông Khổng Lồ vừa mừng, vừa sợ hãi. Mừng vì thấy của cải mà người Tàu vơ vét của dân Việt bây giờ trở về nước Việt. Sợ vì vua Tàu cử đại binh qua xâm chiếm nước nhà phen nữa. Bởi vậy, ông liệng cái chuông nọ xuống Hồ Tây. Con trâu vàng cũng nhảy xuống nước theo mẹ.
Đời sau, ông Khổng Lồ được tôn thờ là Thần đúc chuông.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 01:55:57 bởi casau>
Chuyện Phan Thanh Giản

Cụ Phan Thanh Giản là quan Kinh lược ba tỉnh phía Tây (An Giang, Hà Tiên, Long Hồ). Làm quan lớn có địa vị quyền thế, vậy mà cụ vẫn sống cuộc đời thanh đạm, bình dân.
Khi cha qua đời, cụ Phan tưng bừng món ăn dâng cúng và đích thân làm cỏ, gánh đất đắp mộ để báo hiếu.
Sản nghiệp của cụ không có gì cả. Phu nhân thì đích thân cấy lúa, trồng bông vải. Nhà thờ tổ tiên thì phên tre, cột dựng bằng cây mấm.
Năm đó, cụ về chịu tang cha, đi bằng ghe nhỏ như thường dân. Qua sông Bà Lai, viên cai đồn kêu xét gắt gao: đích thân cụ lên trình và năn nỉ. Sau cụ đòi viên cai đồn tới dinh. Anh nọ hoảng sợ, xin cụ tha tội vô lễ hôm trước.
Cụ đáp: “Đó là người làm đúng phận sự. Ta khen ngợi”. Rồi thăng anh nọ lên chức chánh đội, thưởng một trăm quan tiền.
Ngày nọ cụ đi thăm mộ. Có tên Cang đi phía trước vác cây tre chưa trảy nhánh. Chừng qua khúc quẹo, ngọn tre đụng nhầm cụ làm trầy da rách áo.
Cụ nói:
- Chú kia! Hạ cây tre xuống lập tức. Đưa cây mác cho ta!
Tên Cang hoảng sợ, e bị trừng phạt nặng nề.
Dè đâu, cụ cầm mác, trảy nhánh tre cho sạch rồi:
- Như vậy có gọn hơn không? Vác về nhà đi. Từ rày về sau phải có ý tứ, kẻo thiệt hại đến người đi đường.
Bình sinh, cụ rất thích bông quỳ. Vì theo cụ bông quỳ có sắc tự nhiên, lòng dạ ngay thẳng nên nó dám nhìn vào mặt trời mà không e thẹn với lương tâm mình.
Năm 1867, quân Pháp kéo đến Vĩnh Long. Thừa lúc cụ còn đang thương thuyết trên chiến hạm, bọn giặc đổ bộ chiếm thành. Cụ Phan nhịn đói mười bảy ngày nhưng không chết. Cuối cùng cụ bưng chén thuốc độc mà uống.
Năm đó cụ được bảy mươi mốt tuổi.
0
Bà Kiêm Giao

Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong vịnh Xiêm La, hình dáng giống như con cá hóa long, đầu ở phía Bắc, đuôi ở phía Nam.
Tục truyền hồi xưa có ông chúa người Cao Miên ra đó lập nghiệp. Ông này tên là ông vua Lối. Về sau, mùa màng thất bát, vua Lối bỏ đảo, trở về đất Cao Miên.
Sau đó, có một bà già người Việt Nam tên là Kiêm Giao ra lập nghiệp. Bà chiêu mộ chừng một trăm dân gồm người Việt và người Miên. Bước đầu là khai phá vùng Cửa Cạn. Thấy đất phì nhiêu, bà cho người vào trong đất liền mua đem ra năm chục con trâu. Nhờ vậy, mùa màng càng thêm bội thu.
Đến năm bà Kiêm Giao được bảy mươi tuổi, nhuốm bệnh nặng, bà gọi gia nhân lại mà trối:
Khi ta chết, bao nhiêu ruộng đất này sẽ đem ra chia đồng đều cho các người vì ta không có con kế tự. Ta chỉ ao ước một điều: Sau đó các ngươi cũng phải thả bầy trâu này cho chúng được thảnh thơi. Nếu còn trói cầm chúng, vong hồn ta ắt bị tội nặng dưới Diêm đình.
Sau khi bà nhắm mắt, bầy trâu nọ được thả ra chạy tứ tán trong rừng. Vì vậy bây giờ ở Phú Quốc trâu rừng rất nhiều. Nơi chuồng trâu cũ của bà Kiêm Giao còn di tích một cây cột. Cột ấy cao chừng một thước rưỡi, cây trở nên cứng như đá.
0
Tích núi Bà Đen ở Tây Ninh

Ngày xưa, núi Bà Đen có tên là núi Một. Trên đó, có tượng Phật bằng đá rất linh thiêng. Người Việt, Cao Miên, Chăm... xúm nhau dọn đường để lên cúng Phật. Họ phải đi từng đoàn vì dọc đường cọp beo rất nhiều.
Lý thị Thiên Hương là cô gái văn hay, võ giỏi, gốc ở Trảng Bàng. Thuở nhỏ, nước da của cô đen đúa nhưng lớn lên trở nên xinh đẹp.
Mỗi ngày rằm, cô đều lên núi Một lạy Phật. Trong làng có chàng thanh niên tên là Lê Sĩ Triệt đem lòng yêu mến cô.
Một hôm, vị quan nọ toan dùng võ lực bắt cô đem về làm thiếp. Quan ta bèn ra lịnh cho tên thầy võ thi hành. Lúc cô Lý thị Thiên Hương bị tên võ phu nọ đánh bại, bỗng nhiên Lê Sĩ Triệt xông ra cứu được. Về nhà, cô thuật lại cho cha mẹ hay. Cha mẹ cô đồng ý cho làm lễ thành hôn. Nhưng lúc ấy nhằm lúc Võ Tánh chiêu binh giúp vua Gia Long đánh Tây Sơn, Lê Sĩ Triệt lập tức tòng quân.
Cô Thiên Hương chờ ngày Lê Sĩ Triệt trở về ca khúc khải hoàn. Rủi thay hôm nọ, lúc đang cầu khẩn trên núi, bọn cướp đến bao vây. Cô phải chạy vào rừng mất tích luôn.
Qua đời Minh Mạng, có vị Hòa thượng trụ trì trên núi Tây Ninh. Một hôm đang niệm Phật, sư cụ thấy một cô gái, mặt đen nhưng xinh đẹp hiện ra nói văng vẳng:
- Ta đây là Lý thị Thiên Hương, năm mười tám tuổi bị bọn cướp rượt nên té xuống hố mà chết. Nay ta đắc quả rồi. Hòa thượng nên xuống triền núi phía Đông nam tìm ra thi hài ta mà chôn cất giùm...
Đúng như lời, Hòa thượng gặp xác của cô, đem về chôn cất.
Quan Thượng Quốc công Lê văn Duyệt bèn lên núi để biết hư thực. Ngài hứa dâng sớ để truy phong cô Thiên Hương nếu cô làm thế nào cho ngài thấy tận mắt sự hiển linh. Dứt lời, cô Thiên Hương bèn nhập vào xác một cô gái mà nói:
- Hồn của thượng quan nay mai được chức thần kỳ linh hiển nhưng xác của thượng quan phải bị hành hạ.
Quan Thượng Quốc công Lê văn Duyệt nói:
- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình. Bổn chức muốn biết rõ căn do của nàng.
Xác nọ bèn rơi nước mắt thuật lại việc chết oan của mình và nhắc lại duyên tiền định với Lê Sĩ Triệt. Theo lời thuật lại thì sau khi thành Bình Định thất thủ, Lê Sĩ Triệt tử tiết theo Võ Tánh, đã được phong chức Thần tướng coi sóc hai tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận. Vì muốn được trường sanh bất tử nên hai đàng không chung gối chăn với nhau. Nhờ vậy cô được phép xuống cõi trần để cứu dân độ thế.
Dứt lời, cô gái nọ nhào ngửa, bất tỉnh nhân sự, hồi lâu mới tỉnh.
Quan Thượng Quốc công bèn thay mặt nhà vua phong Lý thị Thiên Hương chức vị “Linh Sơn Thánh Mẫu” ngự ở núi Một, tức là núi Bà bây giờ.
0
Theo thơ vận Từ Thứ

Hồi quân Pháp mới xâm chiếm nước ta, ở tỉnh Long Hồ (Vĩnh Long) có ông Tôn Thọ Tường là người rất giỏi về thi phú.
Dưới triều Tự Đức, ông làm đến chức huyện, sau đó ông bị bắt tội đưa về kinh. Được ân xá, ông từ quan.
Khi Đề đốc Thủy sư Lagrandière cai trị ba tỉnh miền Đông, Tôn Thọ Tường ra đầu hàng, làm huyện. Bị các nho sĩ thời bấy giờ chê bai là phản quốc, Tôn Thọ Tường ví mình như Từ Thứ quy Tàu trong truyện Tam Quốc nên làm bài thơ này:
Hiếu đâu dám sánh kẻ cày voi!
Muối xát lòng ai nấy mặn mòi!
Ở Hớn còn nhiều trang cột cả!
Về Tàu chi sá một cây còi.
Thực tình nhớ mẹ không nâng chén,
Chạnh nhớ thương vua biến giở roi
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,
Thân này khác thế ngoại vàng thoi.

Bài thơ này biện hộ khéo léo cho hoàn cảnh của Tôn Thọ Tường. Các vần “oi” trong voi, mòi, còi, roi, thoi, thật khó gieo, vậy mà Tôn Thọ Tường dùng rất tự nhiên. Các sĩ phu miền Nam bắt đầu lấy mấy vần đó mà hạn lệ, gọi là vận Từ Thứ.
Theo vận Từ Thứ nói trên, ông cử Phan văn Trị có làm mấy bài thơ dưới đây:

Thơ hát bội
Đứa bị ghẻ ruồi, đứa lác voi,
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi.
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,
Đứa nịnh râu đen may sợi còi
Trên trính có nhà còn lợp lọng.
Dưới sân không ngựa lại giơ roi.
Hèn chi chúng nói là bội bạc,
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi.


Đồn lính mã tà
Quan truyền lính thú tại mô voi:
Làng nhắm chỗ ni đã phải mòi.
Sớm đón ghe lên xin quýt núm,
Chiều ngăn thuyền xuồng kiếm dưa còi.
Tả biên nghiêm chỉnh chiêng cùng trống,
Hữu dực phô trì giáo với roi.
Dọa hẩm đàn bà nên quá giỏi,
Nghe hơi ăn cướp chạy dường thoi.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 03:54:20 bởi casau>
Hoàng hậu Tàu ở Việt Nam

Đời nhà Trần, tại tỉnh Nghệ An có một ông làm nghề câu rất nghèo. Năm đó ngày mùng một tháng Sáu, ông ra vàm rạch bỗng gặp một khúc cây to lớn tấp vào bãi. Ông liền lên đó ngồi, chặt mồi ra từng khúc nhỏ để câu. Dè đâu khi lưỡi dao chạm vào, cây nọ tươm máu ra, lại có phảng phất mùi thơm kỳ diệu.
Ông chạy về báo cho xóm làng hay. Sau khi khấn vái, hồn khúc cây đạp đồng, dân chúng mới biết đó là hồn của bà Hoàng hậu đời Tống bên Tàu và ba người con gái. Lúc trước, mấy mẹ con đều bị quân Nguyên giết chết. Đồng nữ lại nói rằng: “Đem khúc cây bạch đàn này về tiện ra cất bốn mẹ con tôi mà thờ thì xóm làng được phù hộ, làm ăn sung túc”.
Dân làng thưa: “Nếu bà có linh thì hóa phép thế nào cho khúc cây to này lăn lên bờ. Chúng tôi sẽ tạc tượng bà mà thờ”.
Dứt lời khúc cây nọ tự nhiên lăn về làng. Đền thờ được dựng lên cùng với tượng bà Hoàng hậu nọ và ba người con.
Sau này, vua Gia Long ngự giá ra Hà Nội có đi qua đền thờ nọ. Được biết chuyện ấy, vua nói: “Nếu bà có linh thì làm điềm cho biết”.
Hoàng hậu nọ bèn đạp đồng lên mà hỏi:
- Vua muốn điều gì?
Vua bèn đem ra ba vóc lụa, yêu cầu Hoàng hậu cắt may áo lập tức. Chập sau, Hoàng hậu hiện ra lãnh ba vóc lụa. Trong phút giây, một đứa đồng nam hiện ra dâng ba cái áo đã may xong.
Vua bèn phong sắc thần cho Hoàng hậu.
0
Ông vua Heo

Có đứa trẻ mồ côi tên Heo, đến nhà một ông quan mà xin ở mướn. Hằng ngày, ông quan sai nó rửa chân cho ông. Ông dặn:
- Rửa cho thật kỹ. Coi chừng tróc ba cái bớt son ở chân tao. Nếu tróc tao giết mày.
Nghe vậy tên Heo nói:
- Ông có ba cái bớt son. Tôi đây có tới chín bớt. Như vậy là tôi có phước nhiều hơn ông.
Vị quan nọ biết tên Heo là tướng mạng làm vua nên bảo chị đầu bếp lén bỏ thuốc nó. Chị đầu bếp không nỡ làm chuyện ác. Chiều hôm đó, khi cho heo ăn, chị gõ máng mà làm ám hiệu: “Heo ơi! Đừng ăn mà chết! Mầy không ăn thì mầy không chết! Heo ơi là heo”.
Tên Heo nghe được, lập tức chạy lại chị đầu bếp mà hỏi sự tình. Nó hứa nay mai nếu được làm vua thì rước chị nọ về phong Hoàng hậu. Chừng đó, chị nọ cứ bỏ tóc xõa trên vai để làm dấu thì nó nhìn được.
Rồi tên Heo lật đật trốn vào chùa. Ông hòa thượng dạy nó hằng ngày lau chùi mấy cốt Phật. Vì làm biếng khi lau chùi, nó ra lịnh: “Giơ tay lên, để tay xuống...” Tượng Phật làm theo y lời. Hôm nọ, nó bảo tượng giơ tay lên nhưng sau khi lau chùi, nó quên nói: “Để tay xuống”, tượng Phật vẫn giơ tay lên trời hoài. Hòa thượng thấy vậy bèn gọi làng xóm bắt nó để tra hỏi.
Tên Heo bèn trốn lập tức sang làng bên cạnh để làm mướn giữ vườn. Bữa đó, ra vườn nó chỉ ba cây cau rồi vui miệng nói:
- Cây này là ông nội, cây kia là con, cây nọ là cháu nội.
Tức thời mấy cây cau một lứa bỗng thay hình đổi dạng: Cây thì hóa lão, cây đang có quày, cây thì thấp chủn. Chủ nhà tức mình, rầy la tên Heo về tội phá hư vườn của mình, bảo phải sửa lại lời nói:
- Quân tử nhất ngôn, ăn một đọi nói một lời. Tôi đã nói như vầy rồi, không nói ngược lại được.
Thế là bữa sau tên Heo bị đuổi. Nó đi lang thang, đêm đến vào nhà nọ để ngủ trọ. Nhà quá chật, tên Heo đành mời bà Cửu Thiên Huyền Nữ xuống đất, nhường cái trang cho nó. Bữa sau, chủ nhà ngạc nhiên thấy bao nhiêu đồ thờ đều dời xuống đất. Bà Cửu bèn đạp đồng lên mà nói:
- Bởi vì hồi tối, người nọ có khí tượng đế vương đến ngủ, tôi phải nhường chỗ.
Từ đó, tên Heo mất dạng, được làm vua ở nước nào hoặc đầu thai đi đâu, không ai rõ.
0
La Sơn Phu Tử

Cuối đời nhà Lê, ở huyện La Sơn xứ Nghệ An (nay là tỉnh Hà Tĩnh) có một nhân tài lỗi lạc đã từng được vua Quang Trung Nguyễn Huệ mời ra làm quân sư. Đó là ông Nguyễn Thiếp.
Năm được hai mươi tuổi, ông bị mắc bệnh điên. Về sau bệnh không còn, nhưng ông đặt hiệu mình là Cuồng Ẩn (hoặc Điên Ẩn). Thi đậu nhưng không thích làm quan, ông rút lui về tu tiên tại núi Thiên Nhận.
Nghe danh ông, Nguyễn Huệ ba lần gởi thơ mời giúp việc nước nhưng cả ba lần đều bị chối từ. Sau rốt, ông chịu hợp tác với nhà vua, khuyên vua ba điều:
- QUÂN ĐỨC nghĩa là vua phải làm thế nào cho có đức.
- DÂN TÂM nghĩa là làm thế nào cho dân ủng hộ.
- HỌC PHÁP nghĩa là cách học hành kinh sử cho đúng đắn.
Năm ông sáu mươi tuổi, bọn Tôn Sĩ Nghị kéo quân Thanh tràn vào chiếm Thăng Long. Vua Quang Trung bèn xua binh ra Bắc. Lúc đi qua Nghệ An, nhà vua bèn triệu ông để hỏi:
- Nghe thầy học tinh tường về khoa lý số lại hay về mưu lược. Nay Tôn Sĩ Nghị nó sang, thầy nghĩ chước nào?
Ông Nguyễn Thiếp thưa rằng:
- Quân quý thần tốc. Người Mãn Thanh ở xa tới không biết rành tình hình nước ta. Vả lại, chúng nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì trong vòng mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn thì khó lòng mà thắng chúng nó.
Vua Quang Trung nói:
- Phải, phải. Tôi nay ra Bắc Hà đánh nó cho chết. Tôi mà dẹp được giặc Tàu xong thì xin rước thầy ra dạy học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng mua của nước Tàu, người mình tự làm lấy mà xài.
Ông Nguyễn Thiếp thưa rằng:
- Chỉ có thuốc Bắc là phải dùng của Tàu mà thôi?
Quân Mãn Thanh bị tan vỡ ở Đống Đa. Về sau, vua gởi thư cho ông để cảm tạ: “... Tiên sinh đã chịu làm việc thiên hạ. Người xưa bảo: Một lời nói mà dấy nổi đồ cơ. Lời tiên sinh hẳn có thế thật”.
Ý của vua Quang Trung là nhìn nhận ông đã có công trong việc chiến thắng quân Tàu.
La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp thọ được 81 tuổi. Nay ở xã Nam Kim, tỉnh Hà Tĩnh còn ngôi mộ của ông.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2017 03:24:12 bởi casau>
Bão lụt năm Thìn

Ngày 16 tháng Ba âm lịch năm Giáp Thìn nhằm ngày 1 tháng 5 dương lịch (1904), một trận bão nổi lên phá hại toàn cõi Nam Kỳ. Riêng hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công là chịu thiệt hại nặng nhất.
Ông Huỳnh Ngọc Liêng soạn một bài thơ nhắc nhở lại và ai điếu những người bị nạn. Sau đây xin trích vài đoạn:
Mỹ Tho trận bão thình lình.
Cờ trời xui khiến dân tình xót xa.
Giáp Thìn nhằm tiết tháng Ba.
Sớm mai mười sáu trời đà mưa dông.
Tưởng là phong vũ bất đồng.
Chỗ này thì có, nơi không đâu chừng...

Dè đâu là trận bão! Tháng Ba mà có bão thì thật là kỳ.
Trên bờ sập hết cả nhà.
Dưới sông xà lúp chìm đà lăn chiêng.
Ghe bầu, ghe cửa ngả nghiêng.
Ghe chài đò dọc cũng khiêng lên bờ.
Kẻ thời mất vợ bơ vơ,
Người thì con chết ngẩn ngơ đi tìm.
Mấy người bị bão ghe chìm.
Trong lưng không có một chiêm theo mình.
Sáng ngày mười bảy bình minh,
Mấy người bị nạn đi xin mà xài...

Đây là sự hư hao tại chợ Mỹ Tho:
Trận này thiệt bão quá to,
Làm cho dân sự Mỹ Tho nghèo nàn.
Mấy cây dây thép ngã ngang,
Tòa bố tòa án vôi tàn ngói bay
 Lò heo, lò gạch, tiệm may,
Bị dông sập tốc ngói bay còn sườn.
Cồn Rồng mấy cái nhà thương,
Để nuôi cùi ở sập tường tan hoang.
Ghe dừa, ghe chuối, ghe thơm,
Cũng đều trôi hết phải ôm chịu nghèo.
Bang Chạnh thiệt quả vận xiêu,
Nhà lầu mà sập hiếm nghèo lắm thay.
Quan phó nghĩ lại cũng may,
Bão rồi lầu sập sự may dị kỳ.
Đi hầu nào có hay chi,
Bồi liền lật đật chạy đi kêu về.

Ngoài đường phố, phong cảnh thiệt hỗn loạn:
Bão rồi sáng ngó ra đường,
Người đi như thể Tần Dương hội đàm.
Người ta xúm xít ngoài vàm,
Kẻ giành vớt vải người ham vớt dù.
Nồi ơ chén tộ mái lu,
Con nít nó vác, bang bù nó khiêng.
Ở đồng quê, tai nạn cũng không kém, nhứt là ở Cái Bè, Gò Công:
Dâu xoài rụng hết còn chi,
Trầu cây thuốc lá bầm thì nát tan.
Miếu, chùa ngói tốc tan hoang,
Xoài me trốc gốc té ngang hư nhà.
Còn mấy vựa lúa phú gia,
Nước vô linh láng mộng mà đơm lên.

Miệt Gò Công, thiệt hại nhân mạng nhiều hơn hết, hơn 5.000 người:
Vừa đi vừa ngó các đồng,
Trâu heo bò ngựa tràn đồng sình trương.
Tử thi xem thấy thảm thương,
Thây trôi như củi đào mương tấp vào.
Nhiều thây kéo bỏ xuống hào,
Dân làng lấp đất, người nào chẳng ghê.
Bốn làng mé biển dựa kề,
Nước dưng trôi chết chẳng hề còn đâu.
Xảy về tới chợ Cát Khâu,
Vào nhà nghe nói thảm sầu lắm thay.
Chị em mạng bạc chẳng may,
Chết trôi mười một, vớt nay một người.

0
Ông thần xã Đình Lập

Thời Bắc thuộc, nhiều lần dân chúng nổi lên chống ngoại xâm. Vào khoảng thế kỷ thứ X, quan châu nọ khởi nghĩa thất bại, vợ và con chạy thất lạc.
Đứa con lớn lên học võ nghệ tinh thông để báo thù cha. Đang đi trên núi, thình lình gặp con Long Mã. Long Mã hiến cho cái càn khôn quyện, đeo vào cổ thì ra trận bá chiến bá thắng.
Quân Tàu đại bại liên tiếp mấy trận, tập trung binh mã để đối phó. Rủi thay, đứa con nọ bị bao vây, chạy dài. Quân Tàu đuổi theo kịp, chém đứt đầu, cái càn khôn quyện văng ra ngoài.
Một tên quân lượm cái càn khôn quyện chạy đem về nhà của bà mẹ để làm chứng báo tin buồn.
Trong khi đứa con đứt đầu té xuống, thần Long Mã hiện lên, lượm cái đầu đặt lại vào cổ của đồ đệ mình mà nói:
- Con chưa chết đâu. Con hãy mau mau chạy về. Dọc đường gặp ba người đầu tiên thì con hỏi: “Tôi còn sống hay chết”. Nếu họ nhìn sắc diện của con rồi nói rằng con còn sống thì tánh mạng của con chưa đến nỗi nào.
Đứa con vâng lời. Trước tiên, gặp một ông lão. Hỏi thì ông trả lời: Đừng hỏi bậy. Anh còn sống nhăn chớ chết hồi nào.
Gặp một người thứ nhì, người ấy đáp:
- Nhứt định anh còn sống. Nếu chết thì làm sao mở miệng nói chuyện được.
Đứa con nọ mừng quýnh, chạy về nhà, gặp mẹ. Hỏi thì bà mẹ khóc lóc mà nói:
- Con chết thiệt rồi. Con đừng hiện hồn về nhát mẹ. Nếu con còn sống thì cái càn khôn quyện còn đeo trong cổ. Đằng này, nó đẫm máu, có người lượm được đem về cho mẹ đây.
Dứt lời đứa con thất sắc, tay chân bủn rủn, té xuống chết.
Dân chúng trong nước thương tiếc vị nhân tài trẻ tuổi ấy. Làng Đình Lập (tỉnh Móng Cái) hằng năm tổ chức cúng tế.
Có người nói rằng tích trên đây là tích ông Nùng Trí Cao đánh nhà Tống, về sau ông phải bại trận mà chết oan uổng.
0
Bãi Ông Nam

Ở vàm sông Bồ Đề gần mũi Cà Mau hiện nay còn một cái miếu rất linh thiêng. Ấy là miếu ông Nam.
Ông Nam tức là “Nam Hải đại tướng quân”, chức vị mà nhà vua phong cho cá Ông. Tục truyền rằng xưa kia đức Ngọc Hoàng giao cá Ông nhiệm vụ cứu vớt dân chài lưới khi họ bị nạn giông tố. Mỗi “Ông Nam” đều có hai con mực đi cầm cờ dẫn đầu. Hai bên là hai con cá đao hộ vệ. Nếu gặp người lâm nạn mà Ông Nam không cứu vớt tận tình thì cá đao có quyền tiền trảm hậu tấu, giết Ông Nam lập tức.
Một Ông Nam nọ trấn thủ vùng vàm sông Ông Đốc, vịnh Xiêm La.
Nhằm tiết tháng Giêng, nghe lời cá đao và con mực, Ông Nam bày ra một cuộc ngao du bọc theo mũi Cà Mau qua vàm sông Cửu Long. Cá mực và cá đao nói:
- Ngài cứ đi. Dẫu đường xa xôi nhưng chúng ta dư thời giờ trở về vàm sông ông Đốc trước mùa giông.
Qua khỏi mũi Cà Mau, ông Nam đến vàm sông Bồ Đề. Bỗng đâu sóng gió nổi lên ầm ầm; cá mực và cá đao hoảng hốt:
- Trời nổi giông rồi ông ơi? Có người chìm ghe ở sông ông Đốc. Phải về cứu gấp.
Ông Nam giật mình, dè đâu tai họa xảy ra thình lình đến thế này! Từ đây về vàm sông ông Đốc phải đi trên một ngày đường, làm sao cứu kịp. Trong lúc ấy, cá đao hối thúc bên hông. Ông Nam vô cùng hối hận vì không làm tròn trách nhiệm của Ngọc Hoàng giao phó. Ông nói:
- Về đường biển thì không kịp, vì phải đi quanh. Chi bằng ta liều thân mà vào ngọn sông, vượt đường rừng đi tắt.
Dứt lời, ông vào vàm sông Bồ Đề. Mùa nước cạn, thân hình ông Nam quá lớn nên phải trườn trên bãi sông rất mệt nhọc. Nhằm lúc đó ông Nam đang có thai gần kỳ sanh đẻ nên đã bị sảy thai, đứa con trong bụng đẻ non dọc đường.
Nhìn thi hài đứa con yêu dấu, nhưng ông Nam không dám bịn rịn, cứ bò riết xuyên rừng tràm, rừng đước mà về sông ông Đốc, nơi ông lãnh trách nhiệm trấn thủ.
Đến nơi, ông Nam lập tức ra biển, cứu chiếc ghe chìm nọ. Sứ mạng làm tròn tròn ông Nam phải mang bệnh, mất sức khỏe rất nhiều.
Hay được tin ấy, Ngọc Hoàng xá tội cho ông Nam. Và dân chúng ở bãi sông Bồ Đề đã lập miếu để thờ đứa con vô tội của ông.
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»