Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Túy hoa đình - Nam Đình

5 trả lời, 58 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2017 16:59:55 bởi casau>
Túy hoa đình
Tác giả: Nam Đình
 
 
Lời nhà xuất bản
 
Với kỳ vọng giới thiệu cùng bạn đọc những tác gia Nam Bộ tiêu biểu có đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa, văn học... của Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung; lần này, chúng tôi cho ra mắt các tác phẩm tiêu biểu của Nam Đình Nguyễn Thế Phương một nhà báo, nhà văn, nhà viết sử... nổi tiếng ở Sài Gòn - Gia Định một thời gồm:
 - 83 năm... nước Pháp với Việt Nam đã mấy lần ký hiệp ước? Cuốn sử luận này bao gồm những tư liệu lịch sử về các hiệp ước mà Triều đình Huế đã ký kết với Pháp.
 - Lửa phiền cháy gan, tiểu thuyết với hai phần là Lửa phiền cháy ganCô Ba Tràng.
 - Túy Hoa Đình, tiểu thuyết gồm hai phần là Bó hoa làiTúy Hoa Đình.
 Nguồn tư liệu quý giá của Nam Đình Nguyễn Thế Phương mà chúng tôi có được là dựa trên công sức sưu tầm, biên khảo, nghiên cứu... công phu, tỉ mỉ của nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng.
 Tuy nhiên, do những điều kiện hạn chế chủ quan lẫn khách quan; những điều chưa ưng ý, những thiếu sót trong quá trình cho ra mắt các tác phẩm này khó mà tránh được. Mong bạn đọc lượng thứ. Chúng tôi sẽ cố gắng hoàn chỉnh hơn nữa các tác phẩm này ở lần xuất bản sau và sẽ tiếp tục giới thiệu các tác phẩm khác của nhà văn, nhà báo, nhà viết sử Nam Đình Nguyễn Thế Phương khi có dịp.
 Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh
📎 001
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2017 17:06:11 bởi casau>
Mấy nét độc đáo về tiểu thuyết trinh thám của Nam Đình
 
  I. Tiểu sử sơ lược
 Nguyễn Thế Phương (1906 - 1978): nguyên quán tỉnh Long An. Ban đầu lúc viết văn, làm báo ông ký tên: Nam Đình Nguyễn Kỳ Nam và sau cùng, ông ký Nam Đình.
 Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà là Long An, sau lên Sài Gòn học trường Chasseloup-Laubat. Ra trường, ông bước vào nghề báo từ năm 1925 ở tuổi đôi mươi. Tờ báo ông cộng tác đầu tiên là tờ Trung lập Báo, rồi Công Luận (1928), Thần Chung (1929), Phụ nữ Tân văn (1929)... Thoạt đầu, ông làm phóng viên cho nhiều tờ báo Pháp - Việt chuyên về tin tức tòa án. Ông từng chủ trương tờ Đuốc Công Lý rất giá trị tại Sài Gòn trước năm 1945; rồi sau đó, đặc biệt là tờ nhật báo Thần Chung - do ông mua lại và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút - in bằng máy rotative tân tiến... Đây là tờ báo nổi tiếng trong báo giới miền Nam. Vào khoảng những năm 1948-1954 nhựt báo Thần Chung của ông phát hành số lượng cao hơn hết... Trong cuộc đời làm báo, ông từng chủ trương, biên tập các báo nổi tiếng: Đuốc Công Lý (1928), Đuốc Nhà Nam (1928 - 1937, 1971); Thần Chung (1929 - 1930); Dư Luận (1945 - 1947); Tin Điển (1945 - 1947); Tin Mới, Việt Thanh (1945 - 1947); Thần Chung (1948 - 1954), chủ nhiệm kiêm chủ bút; Giai phẩm Thần Chung (1975), chủ nhiệm kiêm chủ bút
 Sau năm 1975 ông “rửa tay gác kiếm”. Đầu năm 1976, ông là thành viên của một phái đoàn gồm các nhà báo, nhà văn, nhân sĩ, trí thức Sài Gòn được mời ra thăm miền Bắc.
 Năm 1976, vì tuổi già, bệnh tật ông được con cháu bảo lãnh sang Pháp trị bệnh, đến năm 1978 ông qua đời tại Pháp, thọ 72 tuổi.
 Các con gái ông là Nguyễn thị Cẩm Vân, Nguyễn thị Cẩm Nhung (Tiến sĩ kinh tế) và Nguyễn thị Cẩm Tâm (bác sĩ) hiện định cư tại Pháp.
 Không chỉ là một nhà báo chuyên nghiệp, Nam Đình Nguyễn Thế Phương còn là một nhà nghiên cứu sử, một nhà văn sung sức. Từ thuở thanh xuân cho đến cuối đời, ông đã viết nhiều bộ tiểu thuyết được độc giả hoan nghênh, tuy nhiên, vào tuổi trung niên, ngòi bút của ông vẫn nặng về phong cách báo chí. Ngoài nhiều bộ tiểu thuyết nổi tiếng, ông còn là tác gia của các sách lịch sử, pháp luật có giá trị như: Sài Gòn tháng 9 năm 1946, (1946); 83 năm.... nước Pháp với Việt Nam đã mấy lần ký hiệp ước?, (1947) và một bộ ba tập Hồi ký 1926-1964, (1964) có giá trị lịch sử.

 II. “Định vị” tiểu thuyết của Nam Đình Nguyễn Thế Phương
 1. Nam Đình Nguyễn Thế Phương và tiểu thuyết trinh thám
 Khi bước vào làng báo, Nam Đình Nguyễn Thế Phương phụ trách chuyên mục tin tức tòa án, tức đảm nhiệm các vụ án về xã hội, như các vụ cướp giựt, trộm cắp hoặc săn lùng bọn giang hồ chuyên “đi hát” (cướp lớn có võ trang) các nhà băng, nhà hàng, các trọc phú, triệu phú Nam Kỳ và Sài Gòn, Chợ Lớn... Khi ngòi bút phóng sự, săn tin của Nam Đình Nguyễn Thế Phương trở nên lão luyện; thì song song đó, ông cũng không chỉ còn đóng khung trong lãnh vực báo chí nữa; ông còn là một ngòi bút sáng tác văn chương sắc nét, thể hiện rõ qua các truyện dài đăng trên mục văn chương... Đặc biệt, vận dụng vốn hiểu biết về mảng xã hội “hắc ám”, Nam Đình Nguyễn Thế Phương đã hư cấu nên các tiểu thuyết trinh thám vào hàng sớm nhất ở Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung.
 Các tiểu thuyết của Nam Đình Nguyễn Thế Phương - theo chính ông và các nhà xuất bản lúc bấy giờ (1930 - 1940) - đều cho rằng các tiểu thuyết như cuốn Vô oan trái chẳng hạn, là loại “tiểu thuyết ái tình”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng: khi đọc các tác phẩm của ông, độc giả sẽ thấy truyện được kết cấu sao cho các bí mật luôn luôn được giữ kín trong mỗi chương, mỗi tiết của toàn bộ câu chuyện; cho đến hồi kết cuộc độc giả mới thấy được hậu quả từ những sự kiện ấy... Điều này khiến cho Vô oan trái và các cuốn tương tự đúng là loại tiểu thuyết trinh thám kỳ tình...
 Ở Việt Nam, mảng tiểu thuyết trinh thám vốn khởi đầu từ các tác giả đàn anh và cùng thời với Nam Đình Nguyễn Thế Phương như Viên Hoành (1900 - 1957), Biến Ngũ Nhi (Nguyễn Bính: 1886 - 1973), Lê Hoằng Mưu (Mộng Huê Lầu: 1879 - 1941) và nhất là Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận (1901 - 1970) mà chúng tôi đã giới thiệu trong Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, Tiến trình văn nghệ miền Nam [1]. Loại tiểu thuyết này rất ăn khách tại Sài Gòn - cả toàn quốc - vào các thập niên 20, 30, 40. Như vậy, những truyện trinh thám kỳ tinh của Phú Đức, Biến Ngũ Nhi, Nam Đình Nguyễn Thế Phương... đã xuất hiện sớm - từ khoảng năm 1926 - và mãi đến những năm sau, Thế Lữ mới cho ra đời của tiểu thuyết Lê Phong phóng viên (1937), Mai Hương và Lê Phong (1937), Gói thuốc lá (1940)...; Phạm Cao Củng (1913 - 2012) với Vết tay trên trán (1936), Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Người một mắt (1940), Nhà sư thọt (1941), Đôi hoa tai của bà Chúa (1942), Đám cưới Kỳ Phát (1942)... Có thể nói, đa phần các nhà văn viết tiểu thuyết trinh thám vừa dẫn ở trên, đều từng chịu ảnh hưởng từ văn chương trinh thám phương Tây, nhất là tiểu thuyết trinh thám Pháp hồi thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
 Tiểu thuyết trinh thám kỳ tình của Nam Đình Nguyễn Thế Phương là kiểu “trường giang tiểu thuyết”, cuốn nọ tiếp cuốn kia khiến độc giả tò mò muốn biết các nhân vật ấy có mối liên hệ thế nào mà hành động của họ (các nhân vật) có sự xuyên suốt như vậy... Các tiểu thuyết ấy đầu tiên được đăng nhiều kỳ trên các nhật báo, được độc giả nô nức mua báo đọc; trước khi được tác giả bổ sung, sửa chữa... dựa trên cảm thụ văn chương của độc giả lúc bấy giờ, mà in thành sách vào những năm sau đó: 1928. 1930... Mảng tiểu thuyết trinh thám kỳ tình của Nam Đình Nguyễn Thế Phương gồm các cuốn tiêu biểu (mà chúng tôi còn có thể tìm thấy được) như: Túy Hoa Đình, nhà in Bảo Tồn, 1930; Vô oan trái, nhà in J-Viết, 1931, Sài Gòn; Chén thuốc độc, Phạm văn Thình, 1932, Sài Gòn, nhà in Bảo Tồn tái bản 1934; Bó hoa lài, nhà in Xưa nay, Chợ Lớn, 1932, Phạm Đình Khương, 1935; Lửa phiền cháy gan, Phạm Đình Khương, 1935, nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn; Cô Ba Tràng, Phạm Đình Khương, 1935, nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn... Bên cạnh đó, tác giả Nam Đình Nguyễn Thế Phương còn có một số cuốn tiểu thuyết xã hội cũng mang tính trinh thám kỳ tình gồm các cuồn: Đất bằng sóng dậy, Xưa Nay, 1928, Sài Gòn; Mộng hoa, Tam Thanh, 1928, Sài Gòn; Khép cửa phòng thu, Phạm Đình Khương, 1933, Chợ Lớn; Giọt lệ má hồng, Tín Đức Thư xã, 1934, Sài Gòn; Di hận ngàn thu, báo Công Luận, 1935; Khối tình, Phạm Đình Khương, 1937, Chợ Lớn; Một mặt hai lòng, (?)...
 2. Những đặc trùng nghệ thuật, tư tưởng cơ bản trong tiểu thuyết trinh thám Nam Đình Nguyễn Thế Phương
 Xét về cơ bản, tiểu thuyết trinh thám (roman policier) là một thể loại văn chương nhằm trình bày, mô tả các câu chuyện hay tự sự về việc dò xét các dữ kiện, hành động kín đáo, ẩn nấp bên trong của một sự kiện, sự việc... nào đó. Điều kiện cần thiết để sắp đặt hoặc thưởng thức một truyện trinh thám là khi bắt đầu vào một câu chuyện, độc giả phải đứng trước một bí ẩn hoàn toàn để có thể hồi hộp theo dõi từng pha, từng biến chuyển... cho đến khi “nhân vật trinh thám” làm sáng tỏ bí ẩn đó... Do đó, đưa cho người ta đọc một truyện trinh thám mà lại nói tách bạch trước sau và cho người đọc biết trước ai là thủ phạm, thì thà rằng đừng cho họ đọc gì hết. Nghĩa là câu chuyện phải vừa lạ, bí ẩn, vừa bất ngờ để thu hút sự tò mò, lôi cuốn để khi đọc xong chương này câu chuyện - người ta phải đọc thêm chương nữa - cho đến khi chuyện kết thúc thì mới chịu thôi.
 Trong lịch sử văn chương Tây phương hồi nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; tiểu thuyết trinh thám kỳ tình có xu thế xuất hiện khá nhiều so với các loại tiểu thuyết xã hội, phong tục. Mỗi tác giả có một kỹ thuật kết cấu, dựng truyện riêng. Và như vậy mỗi tác giả có thể gây được một sự thông cảm, cộng hưởng đặc thù đối với một hạng độc giả nhất định. Đó là chưa nói đến việc mỗi truyện (trong tiểu thuyết thì chương, tiết) còn là một bài toán ly kỳ được xếp đặt theo một thứ lớp và một hệ thống suy luận chặt chẽ từ đầu cho đến hồi kết. Với mảng tiểu thuyết trinh thám Việt Nam khởi đầu từ Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhi cho đến Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận, Nam Đình Nguyễn Thế Phương... hoặc đến Thế Lữ, Phạm Cao Củng... đều có một sự xuyên suốt về kỹ thuật dựng truyện tương đối hợp lý, tuy rằng chưa đến độ gây cấn, nghẹt thở kiểu như “tử thần sắp gọi tên mình” của tiểu thuyết trinh thám phương Tây hiện đại.
 Các tác giả dòng trinh thám kỳ tình thường xây dựng tác phẩm của họ trong bối cảnh đô thị hiện đại rộng lớn. Nếu địa bàn hoạt động các nhân vật của Phú Đức xảy ra suốt từ Nam ra Bắc và ngược lại, có lúc còn vươn dài tới Hồng Kông, Thượng Hải... thì bối cảnh tiểu thuyết trinh thám kỳ tình của Nam Đình Nguyễn Thế Phương được xây dựng ở chốn đô thành Sài Gòn, Nam Kỳ lục tỉnh náo nhiệt với vô vàn tội ác của bọn “lục lâm thảo khấu”, giang hồ... đan cài trong rất nhiều tình tiết éo le. Do đó, xét về mặt ngôn ngữ, cũng giống như Phú Đức, Nam Đình Nguyễn Thế Phương sử dụng một thứ ngôn ngữ nói ở đô thị Nam Kỳ mà nhiều khi còn thô ráp của “dân đường phố” hay bóng bẩy theo lối nói văn hoa của người bình dân...; trái với ngôn từ trong các tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ, Phạm Cao Củng... mang chất văn hoa hơn, mượt mà hơn (kiểu ngôn ngữ viết được trau chuốt)...
 Nét nổi bật trong tiểu thuyết trinh thám kỳ tình của Nam Đình Nguyễn Thế Phương là tư tưởng nghệ thuật luôn dựa trên nền tảng đạo lý truyền thống, không bao giờ vượt qua giới hạn đạo lý truyền thống dân tộc. Thật vậy, trước hết và quan trọng nhất trong tác phẩm Nam Đình, bao giờ cũng đặt nặng vấn đề sống - và cả chết - theo đạo lý truyền thống của dân tộc. Trong các tiểu thuyết như Vô oan trái, Lửa phiền cháy gan, Cô Ba Tràng, Bó hoa lài, Túy Hoa Đình... các nhân vật chính đều thực hành theo cách sống đạo đức truyền thống Việt Nam. Tư tưởng đó chi phối suy nghĩ, hành động của các nhân vật dù tốt hay xấu đan xen vào nhau, đan xen trong bản thân mỗi nhân vật. Đó là hành động cứu khổ phò nguy, trọng nghĩa khinh tài, tôn trọng danh dự của Đơn Tâm, Cẩm Nhung... trong Vô oan trái, hoặc trong Lửa phiền cháy gan, Bó hoa lài, Túy Hoa Đình... Đó là cái chết trinh tiết của Cẩm Vân, Lệ Hoa, Loan Anh... trong Túy Hoa Đình, hoặc bị trừng phạt như Tư Sơn, Cô Ba Tràng trong Lửa phiền cháy gan, Cô Ba Tràng... Các nhân vật sống chết với truyền thống giáo dục gia đình và xã hội cho dù họ gặp dữ, như trường hợp hai cha con Hoàng Minh Thượng và Hoàng Minh Phú trong Vô oan trái; Tư Sơn, Tứ Hải, Trần Phong... trong Lửa phiền cháy gan hoặc Hội đồng Tra, Nhẫn Tâm, Ái Hữu, Hồ Sen... trong Bó hoa lài; dù du học ở nước ngoài mà luôn giữ được bản sắc của tinh hoa minh triết Việt như: Trần Ái Quốc, Nhiêu Tôn... trong Vô Oan Trái... Bên cạnh đó, những người ở hiền, làm việc nghĩa, cứu khổ phò nguy như Nhiêu Tôn, Tố Tâm, Thể Ngọc, Lệ Hoa, Cẩm Vân, bà Tư Tị, Lý Thường Khanh, Loan Anh... cuối cùng đều được đền bù xứng đáng. Những nhân vật đó, những sự kiện đó đúng như câu sách cổ Minh tâm Bửu giám: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”; nghĩa là, kẻ làm việc ác trước sau gì cũng bị trời trừng trị, vì lưới trời giăng bủa khăp nơi hay “Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu” (Lưới trời lồng lộng thưa mà khó lọt)...
 Vì thế, cũng không có gì lạ khi một phần đáng kể - nếu không muốn nói là hầu hết - tiểu thuyết trinh thám kỳ tinh của Nam Đình Nguyễn Thế Phương đều dẫn đến một kết cục “có hậu”: thiện bao giờ cũng thắng ác, nhân nghĩa tất thắng hung tàn... Xét rộng ra, thì đây cũng là nét chung của phần lớn các tác giả thời bấy giờ - chịu ảnh hưởng từ văn học phương Tằy; nhất là văn chương Pháp, Việt - như: Trương Duy Toản (1885 - 1957), Trần Chánh Chiếu (1867 - 1917), Hồ Biểu Chánh (1884 - 1958) Nguyễn Chánh Sắt (1869 - 1947), Tân Dân Tử (1875 - 1955)...
 Tuy nhiên, vì điều kiện khách quan lẫn chủ quan, tiểu thuyết trinh thám kỳ tình của Nam Đình Nguyễn Thế Phương còn nhiều những hạn chế. Đã là tiểu thuyết trinh thám, điều cần nhất là xây dựng nên một cấu trúc nghệ thuật chặt chẽ, thì đôi khi tác giả vì quá “ham công tiếc việc”, ông đã thêm nhiều ca, nhiều tình huống bi đát, kéo dài nhân vật từ cuốn này sang tiểu thuyết khác nhằm khiến người đọc tò mò muốn biết hồi kết cuộc ra sao. Nhưng, điều đó có thể, thay vì khiến độc giả say mê tìm đọc tiếp, thì nỗi say mê ấy có lúc cũng “tàn lụi” dần đi... Vả lại; tình hình in ấn, thầy cò (sửa morasse) hồi đó (khoảng 1920 - 1930) chưa có trình độ cao, nên có lắm lỗi kỹ thuật in ấn do thầy cò chưa am hiểu hết phương ngữ Nam Kỳ... nên ngày nay đọc lại tác phẩm của quý vị văn sĩ hồi đó nói chung và của Nam Đình Nguyễn Thế Phương nói riêng, được in ở Sài Gòn - Chợ Lớn, khiến cho độc giả không ít khi cảm thấy rất bực mình vì các lỗi thông thường ấy...
 Trên đây, chúng tôi đã cố gắng vạch ra những nét độc đáo của tiểu thuyết trinh thám của Nam Đình trong tiến trình văn học quốc ngữ. Có thể nói, các công trình văn hóa (văn, báo) của ông là một phần không nhỏ đã góp phần làm phong phú thêm đối với lịch sử, văn hóa, văn học hiện đại Việt Nam. Thiển nghĩ số tác phẩm Nam Đình tính đến thời điểm hôm nay đã gần như mai một; thản lắm có một số ít người lưu giữ được một phần các tác phẩm ông! Chúng tôi đã cố gắng giới thiệu và sao lục những tác phẩm còn có thể tìm thấy được của Nam Đình Nguyễn Thế Phương. Sách bây giờ đã ở trên tay độc giả, nếu có gì sai sót, mong quý vị chỉ giáo cho và mong được xí xóa.
 
 Nguyễn Q. Thắng
----------------------------------------------------------
[1] Tham khảo Nguyễn Q. Thắng, sđd, nxb Văn Học 2008 và Nguyễn Q. Thắng, sđd, nxb An giang 1989.
Đăng nhập để trả lời
0
Phần I
Bó hoa lài
 
Chương thứ nhất
 
  Phường hát xiếc “Góc Trời Nam” mới ghé Sài Gòn lần thứ nhứt, đem trại bày bố ngoài đường Kinh Lấp tối thứ bảy 15 tháng 6 năm 192... khởi sự đêm đầu. Đèn điện thắp chói lòa, người đi nườm nượp. Nam nữ mặc sắc phục cực kỳ huê lệ chen nhau mua giấy vô rạp.
 Chín giờ đúng kéo màn ra, một cô thiếu nữ bận đồ thun màu hường sát vô trong mình, đi vớ cao đến bắp vế bước ra nghiêng mình thi lễ khán quan, miệng cười duyên bày hàm răng trắng khít rịt. Đi giày, nhào đu, nhảy vòng, món nào cũng tinh thông coi như con rắn quanh, con rồng lộn, ai nấy cũng vỗ tay như pháo nổ, ngoài cô thiếu nữ ấy, “Góc Trời Nam” cũng có nhiều người khác đóng nhiều vở tuồng tuyệt diệu, nhưng khán quan ít ai khen cho bằng khen cô thiếu nữ đó. Mỗi lần cô ra, cô chưa múa mà người ta vỗ tay khen vồ tới, mười hai giờ vãn.
 Trần văn Được nãy giờ ngồi coi trong Loge, đứng dậy kiếm ông chủ rạp, thốt lời rằng:
 - Xin lỗi ông, cô đi dây hồi nãy quý danh là chi, tuổi tác được bao nhiêu, học nghề này bao lâu, và cô có đôi bạn chưa?
 Ông chủ rạp Lý Vân Đình, chậm rãi đáp lại vầy: “Người ông hỏi đó quý danh là Mai thị Kỷ Loan, tuổi vừa 18, học nghề này hồi 8 tuổi là lúc lạc loài cha mẹ, theo tôi trọn mười năm trường. Nhiều người danh giá như Đốc công Tài thấy cô nhan sắc tuyệt vời có cậy người đến nói mà cô vẫn không chịu, duy có Lê Tứ Hải là kép đại tài mà ông thấy cỡi ngựa hồi hát, muốn vầy đạo phu thê với cô, nhưng sao cô chưa ưng”.
 Trần văn Được nghe nói xong, đoạn bắt tay tỏ dấu cám ơn, rồi từ giã, bước ra xe Limousine hiệu Delage 6 máy chạy thẳng về nhà.
 Cũng đêm đó, Lê văn Hảo, một tên nghèo khó mà cũng rán mua giấy hạng chót vô coi. Nếu như ai thấy cô Mai thị Kỷ Loan thì chắc cũng ước mơ điều này, sở vọng điều khác, chớ như Lê văn Hảo ta không bao giờ có ý đó. Chàng cũng khen, chàng cũng tặng, mà khen tặng của chàng rất đoan chánh.
 Chiều bữa sau lối 7 giờ là còn 2 giờ nữa hát, nhiều vị mua bouquet (bó hoa), nệm gấm, bông tai, kiềng cẳng, dây chuyền, cà rá, đem tới ra mắt Mai thị Kỷ Loan, gọi rằng tặng người hát hay chớ kỳ dư mỗi người thấy cô chưa chồng, đều muốn kết dây ái tình với cô luôn, người ra vô chỗ cửa phòng riêng của cô nườm nượp, thật Sài Gòn này ít ai cho một ả đào nhiều vật quý vậy. Cô rước mọi người bất hạng Cò mi, Thầy kiện, Quan thầy Đốc phủ, đều như nhau, cô không bao giờ có tình với người nào tất cả.
 Lê văn Hảo tuổi vừa 22, cha mẹ nghèo, được nhà nước cho học bổng đậu cấp bằng tốt nghiệp, ra làm việc ngoài dinh Thượng thơ hai năm nay.
 Làm việc lương bổng được 50 đồng gởi về cho mẹ nuôi hai đứa em gái ở Xuyên Mộc hết 30 đồng; ăn cơm quán hết 12 đồng, dư lại 8 đồng trả tiền giặt ủi, may thêm áo quần. Anh em bạn ai trông vào cũng đều thương chàng cả.
 Từ ngày gánh hát xiếc “Góc Trời Nam” ghé hát Sài Gòn đến nay, đêm nào Lê văn Hảo cũng nhín 5 cắc mua giấy vô cửa. Người làm việc đồng ty với chàng đều ngồi ở hạng 5 đồng, 3 đồng duy có chàng ngồi hạng chót mà thôi. Lê văn Hảo có tánh kỳ, hễ thấy ai giàu thì không bao giờ bợ, đời này ít ai được vậy. Lê văn Hảo thấy Mai thị Kỷ Loan thì thương tài nàng lắm, nên đêm hát thứ nhì vừa vãn, chàng bẻ một cái bông lài đem lại phòng cô. Chàng bước tới cửa phòng thì trong bụng lại sợ, thầm nghĩ:
 Không biết cô có khứng thâu cái bông lài này là vật rẻ giá hay chăng? Rồi lại than một mình:
 “Bông lài ôi! Mi sánh với đồ quý trong kia thì như một trời một vực, mà mi có thể nào nằm trên tay Mai thị Kỷ Loan không? Ta không phải mong mỏi cho Kỷ Loan muốn ta, song ta lại muốn cho mi thay mặt ta mà tặng người tài ba vậy. Ước ao sao điều ước vọng của ta thành, thì mới không uổng công ta bẻ”. Lê văn Hảo đi tới cửa phòng mà không dám vô, giây lâu con tớ của Kỷ Loan bước vô, chàng kêu lại mà rằng:
 - Em làm ơn đem cái hoa này đến tay cô Kỷ Loan, rằng của kẻ nghèo hèn này tặng cô vậy.
 Con tớ thấy cái bông nhỏ nhoi như thế, không muốn lãnh lại nói: “Người ta cho cô vàng, hột xoàn, cô còn không ngó ngàng gì đến, còn cái bông này không có giá trị gì mà thầy mất công đem đến, chẳng hay thầy có ý gì khác chăng?”
 - Qua chẳng có ý gì riêng tất cả nên qua không muốn giáp mặt cô, chỉ nhờ nơi tay em trao lại giùm rằng của tên “Tố Tâm” này cho cô, qua rất cám ơn em lắm.
 Con tớ suy nghĩ một hồi, rồi chịu đem vô cho Mai thị Kỷ Loan. Lê văn Hảo từ giã ra về.
 Rồi từ đó về sau, mỗi khi vãn hát, Lê văn Hảo cũng cứ làm y như bữa đầu, mỗi bữa mỗi bẻ một cái bông lài rồi cũng cứ nhờ tay con tớ đem vô Mai thị Kỷ Loan luôn chớ không khi nào chàng chịu giáp mặt cô Kỷ Loan. Con tớ lấy làm lạ lắm song hỏi duyên cớ thì Lê văn Hảo không bao giờ nói ra.
 
 I. Hồng nhan bạc phận
 Mai thị Kỷ Loan, đêm kia hát rồi vào phòng chong đèn ngồi thao thức, bỗng giựt mình tính lại, co tay tính lại, cầm gương soi lại, mái tóc xanh đã trải mấy mươi lần sương tuyết, đôi gò má thắm đã pha phôi mấy mươi phen phong trần, rồi cô tưởng lại câu “Hồng nhan bạc phận” cô sợ không khỏi, cô mang lấy. Cô thầm than. Nợ ba sinh bao giờ gặp gỡ, đặng đắc tơ đào tác hiệp lương duyên, trót ba năm trời ta không gặp ai là kẻ đồng tâm. Có phải là: đờn Bá Nha chưa kẻ tri âm, cờ Đế Thích không ai địch thủ; Chung Kỳ sẵn đó, mà cao sơn lưu thủy, ngón đờn ta chưa phải là Bá Nha; Lý Thị sẵn đây, mà được mã hoành xa, nước cờ ta chưa phải là Đế Thích. Bất quá ta là một con ả đào biết giữ nền băng tuyết phỉ phong, chớ nào phải con nhà đạo đức. Ta là một con lạc loài cha mẹ thuở nên tám. Ôi! Ta là một con khốn nạn trên đời này.
 Quan thầy, đốc công, nhiều người cậy mai nói ta, song ta vẫn không ưa, vì ta thấy người ta giàu, người ta ỷ thế, người ta muốn cười ta, là tại đồng tiền của người ta, chớ nào phải người ta có tình với ta.
 Nguyệt Lão ông ôi! Bao giờ ông mới cho ta gặp người non nước. Lệ vấn vương, khúc đoạn trường, biết cùng ai tỏ, nói cho ai hay?
 “Bóng đèn leo lét lúc thâm canh,
 Nông nỗi này ai có biết mình.
 Con tạo vẫn ghen người má phấn,
 Làng chơi ai xót kẻ mày xanh.
 Can thường lận đận hai vai nợ,
 Non nước bâng khuâng một khối tình.
 Nghĩ đến bao nhiêu sầu cảm bấy,
 Khắt khe chi bấy cuộc phù sanh”.

 Ta quyết lựa một người bất hạng sang hèn, giàu nghèo, miễn ta khắc ý ta thương là đủ. Nhưng hỡi ôi! Mấy năm trường đi khắp cùng lục tỉnh mà ta vẫn chưa gặp. Thấy sang giàu mà ta bắt ngán, giàu có mà chi, lợi danh ích gì?
 “Khắt khe chi bấy cuộc phù sanh,
 Khéo khéo chui vào đám lợi danh.
 Sự nghiệp trăm năm mây trước gió,
 Giàu sang một khối bọt ngoài gành.
 Trăng hoa sao lắm người đen bạc,
 Bồ liễu riêng thương phận mong manh.
 Một tấm sầu riêng khôn xiết tả,
 Soi lòng may có ngọn đèn xanh”.

 Mai thị Kỷ Loan đương than đến đó bỗng đâu con tớ xô cửa bước vô đưa cho cô một cái bông lài nói rằng của “Tố Tâm” cho; cô cầm cái bông lài nơi tay mà cô thầm nghĩ:
 “Ai đây tự xưng rằng Tố Tâm rồi cứ đem cho ta thứ bông lài này hoài? Nhiều phen ta giả ý bước ra, thì người ấy cứ lánh mặt mãi. Theo thế thường ai cũng chưng mình giàu có muôn hộ đặng gần ta, còn người này nói với con tớ rằng nghèo nàn lại còn không muốn gặp mặt ta là khác. Mà bộ khi Tố Tâm này nghèo thiệt nên không mua tràng hoa, lại cứ mua bông lài là bông không giá trị. Người ta cho vàng ngọc là cố ý muốn trêu ghẹo ta, hoặc may ta động tình mà vầy cuộc ái ân với ta, chớ còn Tố Tâm này ý khác hẳn với thiên hạ. Thôi ngày mai ta lập thế hỏi Tố Tâm coi Tố Tâm nói sao cho biết. Tố Tâm là người thế nào mà trí ta cứ vẩn vơ nhớ mãi?”
 Mai thị Kỷ Loan suy nghĩ như vậy rồi đem cái bông lài dắt trên bình bông coi như của quý lắm vậy.
 Đêm sau Lê văn Hảo cũng cứ đem cái bông lài rồi đứng ngoài cửa đợi con tớ. Thình lình có người nào đứng rình chỗ tối nhảy ra, nắm tay chàng. Lê văn Hảo hoảng hồn day lại thấy cô Mai thị Kỷ Loan. Chàng thất kinh xô tay cô Kỷ Loan rồi chạy mất, bỏ cái bông lài rốt dưới đất.
 Kỷ Loan vô phòng ngẫm nghĩ hoài mà không ra manh mối, song trí nàng cứ tưởng tượng “người cho bông lài” mãi, nhiều khi cô đương múa hát mà đôi mắt cứ tìm người cho bông lài tứ phía.
 Trần văn Được, con nhà giàu có ở Bạc Liêu, không làm nghề gì cả, chỉ ngày tối đi chơi mãi, nhiều người gọi chàng là cậu Tư Được, cậu Tư Được lên Sài Gòn chơi có hơn nửa tháng nay. Đêm nào cậu cũng mua giấy hạng nhất vô coi hát xiếc “Góc Trời Nam” luôn.
 Đêm đầu, cậu đã hỏi lai lịch cô Kỷ Loan rồi, nên cậu quyết làm sao đóa hoa xinh ấy về tay cậu, cậu mới nghe.
 Cậu đem món này vật nọ cho cô Kỷ Loan mãi, rồi cậu cậy mai đến hỏi. Cô Kỷ Loan không ưng, cậu vẫn là người háo sắc, hễ cậu muốn ai mà không được, thì cậu dùng kế xảo quyệt đặng làm hư huyết trong giá sạch người ta. Cậu nghe ông chủ rạp Lý Vân Đình nói rằng Lê Tứ Hải muốn vầy duyên cá nước với cô Kỷ Loan, rồi cậu sợ vì có Lê Tứ Hải mà cô Kỷ Loan không ưng, nên trước hết cậu tính trừ Lê Tứ Hải. Cậu không biết dùng thế gì mà giết Lê Tứ Hải, vì Lê Tứ Hải ít đi chơi, lại là một tay mạnh bạo phi thường. Cậu suy tính hoài mà không ra kế; cậu cho vời Ba Quế là tay bộ hạ của cậu vào mà bàn bạc. Ba Quế bày như vầy... Cậu nghe rồi, cậu hết sức vui mừng, dạy Ba Quế cứ việc thi hành, có đổ bể ra cậu chịu hết; tiền móc ra một trăm đồng bạc cho Ba Quế.
 Gánh hát “Góc Trời Nam” hát được mười đêm. Qua đêm thứ mười một, nhằm ngày 26 tây, trong lúc Lê Tứ Hải đương nhào lộn trên đu; bỗng đâu chàng té xuống đất.
 Lê Tứ Hải nằm sải tay không cựa quậy gì được. Khán quan ai nấy cũng lo sợ cho mạng chàng duy có cậu Tư Được ngồi lẳng lặng không nói gì hết, lại trong bụng có ý vui mừng. Cô Kỷ Loan ở trong buồng hoảng hồn chạy ra đỡ Lê Tứ Hải dậy, thì hồn quế chàng đã mê man, không còn biết gì ráo.
 Lập tức ông chủ rạp đem xe hơi chở tuốt vô nhà thương, sống thác thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ. Cô Kỷ Loan muốn biết duyên cớ làm sao mà Lê Tứ Hải té, nên nàng biểu bắc thang đem ra, rồi nàng leo tuốt lên đu coi lại. Nàng hoảng hồn thấy mối dây treo đu bị người cắt. Nàng nghĩ hoài mà không rõ ai oán thù Lê Tứ Hải vậy. Bởi mối dây ăn lòn ra ngoài rạp, nên dẫu ai tiểu tâm muốn hại người nhào đu thì dễ như trở bàn tay, cô thuật chuyện lại cho Vân Đình nghe, nên từ đây sắp tới có người canh giữ mấy mối dây ấy luôn. Ông Vân Đình đêm ấy ở luôn trên nhà thương săn sóc Lê Tứ Hải, ông sợ Lê Tứ Hải chết, rồi không ai đứng rạp mà được công chúng hoan nghinh vậy. Cũng may, bệnh của Lê Tứ Hải càng ngày càng giảm, song sự mê man của chàng vẫn không bớt.
 Qua đêm sau, lối 8 giờ, thằng Ba Quế tìm cậu Tư Được nói chuyện. Cậu Tư Được thấy mặt Ba Quế, thì cậu chụp nói: “Mày cắt dây treo đu hôm qua đó, thằng Lê Tứ Hải té mà tao nghe nói nó còn sống. Hiện giờ nó nằm nhà thương Chợ Rẫy. Mày tính thế nào làm cho tuyệt mạng nó tao mới nghe”. Ba Quế ngồi suy nghĩ giây lâu rồi kề tai nói nhỏ với cậu Tư Được. Thấy cậu Tư Được gật đầu lia lịa bộ đắc chí lắm, rồi móc một xấp giấy bạc đưa cho Ba Quế mà rằng: “Mày phải kiếm thêm hai đứa nữa mới được”. Ba Quế “dạ” rồi bước ra đi tuốt xuống tiệm nước thằng Lù ở góc đường Massiges, ngồi đợi ai không biết, mà cứ biểu thằng Lù châm nước hoài.
 Bữa nào Lê văn Hảo trước khi đi coi hát xiệc đều ghé quán ấy uống nước chớ không bao giờ đi nhà hàng Tây, vì chàng sợ tốn nhiều.
 Một chập có hai đứa du côn vấn khăn lông trên đầu bước vô, Ba Quế vừa thấy thì la lên:
 “Lại đây, dữ hôn bây giờ bay mới tới, tao đợi nãy giờ lâu rồi. Sao, bay tính được không?”
 Hai thằng du côn lột khăn, ngồi xuống ghế xong rồi nói:
 - “Ôi thứ gì, chớ thứ đồ đó bỏ của tụi tôi. Mười thằng Lê Tứ Hải, tụi tôi cũng không sợ; tụi tôi hứa chắc hai giờ khuya nó phải bị tụi tôi đa. Anh cho thêm tụi tôi vài chục nữa xài chơi anh?”
 Lê văn Hảo ngôi bàn gần đó, nghe hết ráo, một lát chàng ngó lại thấy Ba Quế lấy một xấp giấy bạc đưa cho hai thằng du côn mà nói rằng:
 - Bay đừng lo sự tiền bạc. Cậu Tư Được ở rộng rãi lắm. Bay làm xong việc này, nghĩa mà mai thằng Lê Tứ Hải chết tại nhà thương, bay sẽ có mỗi đứa hai trăm.
 Uống nước một lát lâu rồi, cả ba từ giã về. Lê văn Hảo coi đồng hồ gần chín giờ, nên cũng trả tiền nước, rồi ra đường kêu xe kéo xuống rạp “Góc Trời Nam”.
 Lê văn Hảo là người nghĩa hiệp có chí thanh cao thường làm nhiều việc nghĩa, nên đêm đó chàng ngồi trên giàn coi hát mà bụng lo sợ mãi. Chàng thầm nghĩ: “Cậu Tư Được là ai mà oán Lê Tứ Hải lắm vậy? Còn đêm nay hai đứa du côn bộ hạ của cậu Tư Được lại toan giết Lê Tứ Hải. Nghe người ta nói rằng một ngày kia Lê Tứ Hải sẽ cưới cô Kỷ Loan, mà rủi Lê Tứ Hải bị giết thì chẳng là tội nghiệp cho Kỷ Loan lắm ru. Ta có nên đi cứu Lê Tứ Hải không? Nên lắm chớ. Song ta e đêm nay cô Kỷ Loan lên nhà thương rồi rủi cô gặp ta, ta mới liệu sao? Âu là ta phải cho cô hay rồi cô đi cứu Lê Tứ Hải cũng được. Năm đứa như quân côn đồ ấy, ta nhắm cô Kỷ Loan giết cũng chết, huống gì có hai đứa”.
 Rồi đó chàng lấy một miếng giấy nhỏ móc trong túi cây viết chì ra, rồi kê trên đầu gối viết. Đoạn bỏ vô túi, ngồi lại coi hát như thường. Mười hai giờ vãn hát.
 Đêm nay cô Kỷ Loan về phòng nằm buồn bực, vì nỗi Lê Tứ Hải là kép đại tài, rủi mang bệnh, nên coi khán quan ít ai hoan nghinh. Cô tính đi thăm Lê Tứ Hải. Song cô còn đợi... Cô còn đợi ai? Ấy là “người cho bông lài” vậy. Còn tưởng tượng gần xa, bỗng đâu con tớ bước vô đùa cái bông lài, và thưa:
 - Bữa nay “người cho bông lài” dạy tôi đem nang thơ này cho cô, và hứa rằng người sẽ truy tầm đứa sát nhân giùm cô.
 Cô Kỷ Loan lấy làm lạ lắm, nên lật đật đem cái bông lài để trên bình bông như mọi khi, rồi xé nang thơ ra; nàng thấy mấy hàng sau đây viết chữ nhỏ rít:
 “Kính gởi Quý nương nhả giám
 Vì một cô riêng mà người ta âm mưu toan giết Lê Tứ Hải. Đêm nay lối hai giờ khuya, Quý nương phải lên nhà thương rình bắt chúng nó rồi từ đấy về sau dặn Lê Tứ Hải hãy giữ mình cho lắm. Tôi đây cũng sẵn lòng vì việc nghĩa mà tìm cho ra manh mối vụ này, và có nhiều đoạn bí mật vô cùng. Quý nương hãy giấu nhẹm cái tên của đứa nghèo hèn này, đừng tỏ cho ai biết, khác hơn là con tớ của ‘Quý Nương’.
 Tố Tâm”

 Kỷ Loan coi rồi giật mình suy nghĩ không ra, nên nói thầm rằng: “Ai toan giết Lê Tứ Hải đây? Lê Tứ Hải không đi chơi bời với ai, mà sao lại có người oán kìa? Vì một cớ riêng? Cớ riêng gì? Bí mật quá. Ta không thể tầm cho ra cớ riêng ấy được. Còn Tố Tâm là người gì mà biết người ta toan hại Lê Tứ Hải? Tố Tâm là người nghĩa hiệp hứa với ta trong thơ rằng sẽ tìm cho ra manh mối việc này. Ta có nên tin không? Sau rồi ta sẽ hay, không muộn gì. Tố Tâm vì ý gì mà biểu ta giấu tên? Tố Tâm dạy ta hai giờ khuya phải lên nhà thương cứu Lê Tứ Hải rồi bắt đứa sát nhân.
 Nói vậy đứa sát nhân này cắt dây đu hôm qua chớ gì? Tố Tâm tự xưng mình nghèo hèn, mà chắc gì Tố Tâm nghèo không? Nếu Tố Tâm nghèo thì bao giờ có chí nghĩa hiệp vậy? Thôi không cần suy nghĩ nữa, ta cứ y lời Tố Tâm mà thi hành”.
 Đoạn cô kêu xe kéo lên nhà thương. Tới nơi cô thấy Vân Đình ngồi một bên Lê Tứ Hải mà Lê Tứ Hải vẫn còn mê. Cô kêu Vân Đình ra phía ngoài rồi kề tai nói nhỏ. Ông Vân Đình nghe qua thất sắc điếng hồn, đứng ngó sững Kỷ Loan, Kỷ Loan không sợ chút nào, lại biểu ông Vân Đình qua bên phòng trống khít đó mà coi cô bắt đứa sát nhân. Giờ đó Ba Quế đi với hai tên du côn Tư Hoành và Sáu Ngởi. Sáu Ngởi coi bộ lẹ làng hơn nên biểu Ba Quế và Tư Hoành ở ngoài đợi, còn va bước vô nhà thương, coi bộ không sợ ai hết. Trong nhà thương không còn nghe tiếng gì khác hơn là tiếng tằng hắng chắc lưỡi, dế gáy te te.
 Sáu Ngởi xô cửa phòng bước vô rờ trán Lê Tứ Hải đoạn, rút con dao trong mình sáng dới ra dòm quanh quất không ai. Anh ta mới mạnh tay đâm xuống ngay ngực Lê Tứ Hải. Kỷ Loan núp trong kẹt cửa thấy rõ ràng một tên du côn bộ vạm vỡ mặc đồ đen. Lẹ như chớp nàng bước trái ra xô tay của Sáu Ngởi, thì ngọn dao trịch ra ngoài, găm xuống sâu hơn hai tấc. Cô Kỷ Loan rất tài, phải như ai khác thì chắc Lê Tứ Hải chết về ngọn dao ấy rồi. Sáu Ngởi day lại thấy một người bộ tịt mảnh mai như đàn bà, mặc toàn đồ đen, mang mặt nạ da trắng trong như tuyết, cườm tay no tròn, đi đôi giày cao su. Sáu Ngởi không thèm hỏi gì hết cứ rút lưỡi dao lên rồi vội vàng chém Kỷ Loan một dao lợi hại lắm, Kỷ Loan con mắt sáng phi thường, biết Sáu Ngởi dùng miếng đó, nên có đề phòng trước rồi, liền tránh mình qua, rồi tay trái bắt dao, tay mặt đánh vô hàm Sáu Ngởi, làm cho Sáu Ngởi không thể nào cầm dao được nữa, nên buông dao xuống đất, rớt nghe kêu một tiếng rảng.
 Vân Đình nghe tiếng dao liền rút súng lục liền xô cửa phòng chạy vô. Sáu Ngởi vừa muốn đánh Kỷ Loan, liền thấy có người xô cửa bước vô anh ta hoảng hồn phóng ra cửa sổ chạy mất. Kỷ Loan tưởng rằng Sáu Ngởi tính đào tẩu; cô tức mình giậm cẳng than với Vân Đình rằng:
 - Phải chi ông đừng xô cửa bước vô, thì tôi đã bắt đứa sát nhân rồi.
 Đây nói về Lê văn Hảo khi gởi nang thơ cho Kỷ Loan rồi, trong bụng lại sợ Kỷ Loan bắt không đặng đứa sát nhân, nên chàng cũng lên nhà thương núp ngoài hàng rào mà đợi. Lời đoán của Lê văn Hảo rất trúng; Sáu Ngởi phóng ra cửa sổ vừa rồi, thì chạy lại hàng rào nhảy ra. Lê văn Hảo thấy bộ tịch chàng biết ngay nên lật đật chạy lại chận cẳng, làm cho Sáu Ngởi té sấp xuống đất. Sáu Ngởi vừa ngồi dậy thì đã bị Lê văn Hảo thúc hai tay ra sau, đoạn chàng cột lại dẫn vào cho cô Kỷ Loan.
 Kỷ Loan và Vân Đình cắt phiên người gác Lê Tứ Hải xong rồi hai người xô cửa bước ra. Bỗng đâu ở ngoài có người xô cửa bước vô, mặc đồ đen, đầu đội kết, còn cái mặt lại lấy khăn mouchoir cột từ con mắt chí miệng, nên cô Kỷ Loan và Vân Đình không biết ai. Vừa muốn hỏi thì kế nghe người ấy nói:
 - Tố Tâm xin nạp đứa sát nhân hồi nãy cho Quý nương, cầu xin Quý nương tra khảo nó.
 Kỷ Loan bèn thò tay trong túi của Vân Đình lấy cây súng lục liên ra nàng liền bước lại ngay mặt Lê văn Hảo và đưa mũi súng ngay mặt mà rằng:
 - Người hãy gỡ khăn ra cho tôi biết mặt, bằng không viên đạn này nó sẽ xiên vào óc, người đã rõ tôi bắn súng tài dường nào, đừng tính thoát thân mà mang hại.
 Lê văn Hảo không nao núng chút nào, tay trái vịn vai Sáu Ngởi, tay mặt chống nạnh, lại chậm rãi đáp rằng:
 - Tố Tâm là đứa nghèo hèn, bất quá một tên bồi của Quý nương có trọng gì mà Quý nương muốn biết mặt.
 Kỷ Loan thấy Tố Tâm có khẩu khí anh hùng, lại không sợ mũi súng lục liên nên tiếp nói: “Sang giàu là mây trước gió, là bọt ngoài gành, tôi không sá gì sự sang hèn, tôi trọng người biết nhân nghĩa danh dự mà thôi. Tố Tâm có khứng cho tôi coi mặt không? Bằng nghịch mạng, tôi nói thiệt, viên đạn vô tình này nó không dung Tố Tâm đâu”.
 Lê văn Hảo đưa hai tay lên tỏ dấu quy hàng, mặt không đổi sắc chút nào, còn đôi mắt sáng rỡ như ngôi sao, miệng lại cười chúm chím mà thốt lời rằng: “Viên đạn là loại kim nó không bao giờ có tình hay là vô tình cùng ai tất cả, duy có Quý nương có tình cùng không tình, muốn giết Tố Tâm thì giết phứt đi, mà Quý nương phải biết rằng giết người làm nghĩa thì tội lớn lắm”.
 Kỷ Loan nghe nói có sắc thẹn, nên ngộ bất cập lượng, liền bóp cò. Tố Tâm sáng trí phi thường, tuy đứng đó mà đôi mắt cứ ngó ngay mũi súng mãi, Kỷ Loan vừa bóp cò, thì Tố Tâm cũng vừa đánh cây súng rớt xuống đất, nổ nghe một tiếng “bùm”; viên đạn bay vô cửa xoi một lỗ nhỏ, Kỷ Loan vừa thò tay lượm cây súng lục liên lên, thì cô liền nghe Lê văn Hảo nói:
 - Quý nương thiệt lòng muốn giết Tố Tâm sao? Quý nương giết một người đi tay không như vầy Quý nương không thẹn sao? Quý nương muốn rõ tài Tố Tâm thì Quý nương hãy lưa người đàn ông giỏi hơn Quý nương rồi Quý nương chọn ngày giờ, Tố Tâm sẽ đến nơi kỳ hẹn mà địch thủ; chớ cái tay của Tố Tâm không bao giờ tỉ thí với đàn bà con gái.
 Kỷ Loan cũng cứ việc lượm cây súng lên, vừa đứng dậy thì đã bị Lê văn Hảo nắm cổ Sáu Ngởi xô đại vào mình Kỷ Loan.
 Kỷ Loan vừa lo tránh Sáu Ngởi thì Lê văn Hảo đã mở cửa bước ra ngoài, Kỷ Loan xô cửa rượt theo, nhưng muộn lắm rồi, Lê văn Hảo đã chạy đâu mất, không còn thấy tâm dạng gì nữa.
 Kỷ Loan bước trở lại phòng nói với Vân Đình rằng: “Từ hồi tôi học võ đến nay, tôi không bao giờ gặp người nào mà xứng tay địch thủ với tôi cả, nay tôi gặp Tố Tâm là người có khí anh hùng, không sợ lằn tên mũi đạn, đôi mắt của người sáng rỡ như sao băng, trông vào tôi bắt sợ ngay”.
 Ông Vân Đình tiếp nói:
 - Không biết Tố Tâm là người thế nào mà có dạ hảo tâm lắm vậy. Đã cho hay trước, lại còn rình bắt giùm đứa sát nhân này nữa là khác, cớ sao Tố Tâm lại không cho cô biết mặt?
 - Tôi không biết được, mà tôi đoán hoài cũng không ra duyên cớ tại làm sao mà người lánh mặt tôi.
 Nói rồi cả hai đồng bước ra, dẫn Sáu Ngởi lên xe về rạp thì đồng hồ đã gõ 4 giờ. Ông Vân Đình nói với Kỷ Loan: “Tôi giao thằng sát nhân này cho cô giữ, mai sáng tôi sẽ đem nó nạp cho cò bót, mình không cần gì tra hỏi nó nhọc công!”
 Kỷ Loan nghe nói phải, liền “dạ” rồi trở vô cột Sáu Ngởi vô một cây trụ lớn, đoạn cô thay đổ leo lên giường nằm nghĩ. Cô nằm thao thức, ngủ không yên, lăn qua lộn lại mãi. Cô cứ nhớ cái khí anh hùng của Tố Tâm là “người cho bông lài” hoài, dường như Tố Tâm đứng trước mặt cô vậy. Cô than nho nhỏ trong miệng rằng:
 - Tố Tâm ôi! Tố Tâm là người thế nào mà tôi đoán không ra vậy? Tâm chí của Tố Tâm ra sao mà tôi đoán không ra vậy? Cái khí anh hùng của Tố Tâm đi đến bực nào lận? Bộ khi Tố Tâm không rõ tài ta, nên không chịu tỉ thí với ta chớ gì? Thôi để rồi Tố Tâm sẽ hay, ta sẽ biết sức Tố Tâm trong vài ngày đây. Người cho bông lài ôi! Vì cớ gì mà người cứ lánh mặt không cho ta biết?
 Nói đến đó, đoạn cô ngồi dậy lấy cái bông lài để trên bình bông xuống, cầm hun hai ba cái rồi để nơi miệng mà than tiếp: “Bông lài ôi! Tâm sự của chủ mi ra sao, mi có thể nào bày ra cho ta biết được không? Nếu mi bày cho ta rõ được thì hạnh phúc cho ta lắm đó! Mi có biết chàng? Bông lài ôi! Chủ mi là Tố Tâm có vợ con gì chưa? Sao ta ngày đêm vẫn mơ tưởng mãi. Tố Tâm ôi! Người có biết tâm sự của ta không? Ngày nào rõ được?
 Bấy lâu nay ta quyết trao thân này cho một người nào tài hơn ta, biết trọng nhân nghĩa, biết mến danh dự là đủ. Ta không cần giàu sang muôn hộ. Tố Tâm có biết chăng? Lê Tứ Hải là người tài hơn ta song người vẫn còn mến đồng tiền, vì vậy mà ta không ưng, Tố Tâm có thấu nỗi này không? Tố Tâm tự xưng nghèo mãi; Tố Tâm nghèo đồng tiền chớ Tố Tâm giàu nhân nghĩa lắm. Trên đời này ta chưa thấy ai có khí anh hùng như Tố Tâm vậy. Ta nhớ lời Tố Tâm nói khi nãy, ta nhận biết rằng Tố Tâm có tình cùng ta. Mà chắc gì đâu. Nếu người có tình cùng ta thì người đã cho ta biết mặt rồi chớ có đâu cứ trốn lánh mãi? Âu phải rồi, Tố Tâm nghèo sợ ta không ưng, nên không chịu ra mặt chớ gì. Tố Tâm không dè ta trọng nghĩa khinh tài.
 Phải chi Tố Tâm sẽ cùng ta...” nói đến đây nàng có sắc thẹn. Đồng hồ điểm năm, năm giờ mà cô chưa ngủ. Cô sợ tối mai mệt lắm, vì thức trọn đêm nay, nên cô lật đật lấy ve thuốc đổ ra ly uống. Cô vô nằm lại trên giường không bao lâu đôi mắt cô nhắm khít rồi lần lần cô ngủ quên.
 Tám giờ sáng, Vân Đình lại phòng Kỷ Loan, thấy cô còn yên giấc, Vân Đình đi nhẹ nhẹ ra sau, ông kiếm thằng sát nhân hồi hôm, nhưng không thấy nó. Ông sanh nghi liền trở ra kêu cô Kỷ Loan dậy mà rằng:
 - Thằng sát nhân hồi hôm cô cột đâu?
 Kỷ Loan vừa mở mắt ra thấy ông Vân Đình lật đật ngồi dậy, bước ra sau, trở vô la hoảng lên:
 - Tôi cột chắc lắm, nơi cây trụ này mà! Nó đi đâu rồi? Nó biết tàn hình sao kìa? Hay là ai mở nó ra?
 Kỷ Loan coi kỹ lại thì thấy dấu dao cắt rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Toàn cả đào kép trong rạp đều chưng hửng; ông chủ tính bỏ qua nên nói:
 - Thôi, vụ đó nên bỏ qua đi, từ rày sắp tới mình rán cẩn thận thì hay hơn.
 Tuy ông Vân Đình nói vậy, chớ trí cô Kỷ Loan vẫn lo sợ mãi.
 Lê văn Hảo khi ra khỏi nhà thương liền đi xuống rạp “Góc Trời Nam” ngồi nơi gốc cây me. Một chập chàng thấy Kỷ Loan đi với Vân Đình có dẫn Sáu Ngởi theo vô rạp, chàng lỏn theo sau, không một ai thấy cả. Khi ông Vân Đình từ giã cô Kỷ Loan thì Lê văn Hảo cũng thấy rõ ràng, rồi chàng lại cửa phòng, núp đợi cô Kỷ Loan ngủ đặng có thi hành cái kế của chàng. Trời vừa rạng đông. Lê văn Hảo nhảy vô trong, bước ra sau cắt dây mở Sáu Ngởi ra, rồi chàng nói nhỏ với Sáu Ngởi rằng:
 - Mày đừng la, tao sẽ tha mày, bằng mày cượng lý tao cho mày một kiếm thì mày không trông gì thấy vợ con nữa.
 Sáu Ngởi ríu ríu đi theo Lê văn Hảo. Đoạn chàng mở cửa đem Sáu Ngởi ra đường, rồi dẫn thằng về nhà.
 Lê văn Hảo làm gì kỳ quái lắm vậy? Ấy là chàng muốn cho cô Kỷ Loan rõ tài chàng vậy. Cô Kỷ Loan không bắt Sáu Ngởi được để cho Sáu Ngởi thoát khỏi tay. Lê văn Hảo bắt được thì rõ ràng chàng tài hơn cô Kỷ Loan. Còn bây giờ chàng mở dây đem Sáu Ngởi về nhà chàng là có ý gì vậy?
 Quý vị coi hồi sau sẽ rõ.
 
 II. Anh hùng khí đoản
 Sáng ra Lê văn Hảo hỏi Sáu Ngởi:
 - Tao biết dư rằng Tư Được mướn mày giết Lê Tứ Hải, bây giờ tao muốn bắt hết cả bọn bay thì như trở bàn tay, song tao chỉ hỏi mày muốn chết không?
 - Dạ con chó còn muốn sống huống hồ gì tôi.
 - Mày có thấy tài tao chưa?
 - Dạ, thấy rồi, hồi thầy xô tôi vô mình cô Kỷ Loan thiếu chút nữa tôi chết về viên đạn ấy rồi.
 - Mày muốn ở tù chung thân không?
 - Dạ, tên xa phu còn muốn không ở tù đặng kéo xe kéo kiếm tiền thay, huống hồ gì tôi.
 - Mày chịu giải nghiệp không?
 - Dạ, từ rày về sau, tôi không dám làm việc ác như vậy nữa.
 - Tao tha cho mày, mày đền ơn tao giống gì?
 - Dạ, nếu thầy tha tôi rồi, tôi sẽ tận tâm giúp thầy mọi việc, dầu phải chết, tôi cũng cam tâm, mà đền ơn thầy tha tôi đây.
 - Thôi, mày đừng nói nhiều lời, mày thề đi.
 - Này là Trời đất chứng minh lời thề của tôi. Nếu từ rày sắp tới, tôi không cải ác tùng thiện mà nguyện sống chết theo thầy đến cùng, thì cho tôi chết về thịt nát xương tan, trong một trường huyết chiến.
 - Thôi, bây giờ mày giả ý trở về cậu Tư Được mà làm như vầy... như vầy... tối mày trở qua tao dạy việc.
 - Dạ được. Chuyện ấy có khó gì, 8 giờ tối, tôi sẽ trở qua.
 Lê văn Hảo đứng dậy vỗ vai Sáu Ngời tỏ dấu mừng mà rằng:
 - Việc tao làm đây là việc nghĩa chớ không có can thiệp gì đến quyền lợi tao cả, vậy mày phải rán tận tâm giúp tao mà chuộc tội ác của mày đó.
 - Dạ, một lời tôi thề hồi nãy, thầy chưa tin tôi sao? Cái tội tôi đáng ở tù chung thân khổ sai, mà thầy rộng lượng hải hà tha tôi thì dầu cho vì thầy mà tôi chết, tôi cũng toại lòng nữa.
 - Vậy thì tốt lắm. Mày hãy đi đi, đặng tao sửa soạn đi làm việc 7 giờ rồi.
 Kỷ Loan từ ngày muốn biết mặt Tố Tâm đến nay, thì trong bụng cô quyết tìm cho ra Tố Tâm; bữa kia cô sanh ra một kế, cô cho rằng kế cô tuyệt diệu, cô sẽ biết mặt Tố Tâm, cô sẽ gặp Tố Tâm, đặng bày tâm sự của cô, cô tính vậy, mà con Tạo không chiều theo ý cô, lại còn khiến cho cô mang nhục nữa là khác. Cô liền kêu con tớ vô hỏi:
 - Mày thấy rõ “người cho bông lài” không?
 - Dạ thấy rõ lắm.
 - Bây giờ mày gặp mày nhớ không?
 - Dạ nhớ lắm chớ.
 - Vậy tối mai mày làm như vẩy... như vầy... thì tao sẽ biết mặt “người cho bông lài” ngay.
 Con tớ dạ rồi bước ra. Đêm sau 9 giờ, Lê văn Hảo cùng mua giấy vô rạp coi như thường, khi đương hát, con tớ vâng lời dạy của chủ nó chen trong đám đông người mà đôi mắt cứ kiếm “người cho bông lài” mãi. Trọn một giờ đồng hồ mà con tớ không gặp. Đi vừa giáp vòng, nó thấy dựa bên cột, một người mặc đồ đen, đầu đội nón lá dừa sụp xuống mặt, ai có ý tìm như con tớ mới thấy Lê văn Hảo được. Con tớ nhận kỹ rồi nó liền chạy vô phòng cho cô Kỷ Loan hay. Cô Kỷ Loan chi xiết vui mừng, vừa muốn bước ra, thì kế chuông hát kêu reo. Ấy là tới phiến cô ra hát, cô liền bước ra luôn, cô nhào đu cô đi dây, mà con mắt cô cứ ngó chỗ góc cột bên mé tay trái mãi. Cô thấy xa xa một người đội nón lá sùm sụp cô không thể nhận cho là Tố Tâm vì cách xa hơn mười thước. Vai tuồng của cô vừa mãn, cô liền đi ngay lại chỗ người cho bông lài.
 Lê văn Hảo sáng trí biết Kỷ Loan đi lại chàng, nên chàng giật mình trong bụng không biết tại sao mà Kỷ Loan đoán được. Chàng liền đổi sự sợ hãi ra bình tĩnh. Chàng ngồi nghiêm nét mặt lại, kế chàng nghe cô Kỷ Loan nói:
 - Em kính chào Tố Tâm!
 Lê văn Hảo ngồi làm thinh. Cô Kỷ Loan nói tiếp:
 - Em lấy làm hân hạnh biết thầy là Tố Tâm là đấng nghĩa hiệp.
 Lê văn Hảo cũng làm thinh nữa. Cô Kỷ Loan chắp tay hai lần mà người cho bông lài vẫn ngồi trơ trơ như cục đá và không nói năng gì hết, cô muốn biết mặt nên với tay lấy cái nón lá lên, thì kế bị Lê văn Hảo hất tay ra mà rằng: “Cô nói gì mà tôi không hiểu?”
 - Em kính chào Tố Tâm.
 - Không phải tôi tên đó đâu.
 - Thì hãy lấy nón ra cho tôi nhìn mặt.
 Lê văn Hảo ngồi suy nghĩ: Nếu lấy nón ra thì cô Kỷ Loan biết mặt, còn không lấy ra sợ cô dùng cường lực, thì còn gì là mình, không lẽ chối, sợ e thiên hạ biết mình chăng?
 Chàng lẹ trí chụp trả lời gọn gàng vầy:
 - Để tôi lột khăn lấy nón ra rồi cô nhìn.
 Kỷ Loan tưởng chắc rằng “người cho bông lài” nên đứng đợi, nào dè cô vừa nới ra. thì Lê văn Hảo lòn ra cửa sau, rồi chen vô chỗ đám đông người đi mất.
 Cô Kỷ Loan mặt sượng sùng, liền bước trở vào phòng mà trong trí lại khen “người cho bông lài”. Nãy giờ thiên hạ thấy cô Kỷ Loan bước lại nói chuyện với một người đội nón lá dường như tên cu li, mà cô Kỷ Loan chắp tay rất có lễ phép, thì ào ào lại coi. Một chập thấy cô Kỷ Loan trở vô buồng ai nấy cũng lấy làm lạ cả, không biết người đội nón lá đi đâu mất.
 Vãn hát rồi, cô về phòng nghỉ, trí lại tưởng “người cho bông lài” hoài. Bỗng con tớ chạy vào thưa:
 - “Người cho bông lài” dặn tôi đưa thơ này cho cô và cái bông lài như mọi khi.
 Cô tiếp lấy, dở ra xem, thấy mấy hàng chữ như vầy:
 “Kính gởi Quý nương nhả giám.
 Quý nương thấy mặt Tố Tâm rồi, vậy Tố Tâm xin hỏi Quý nương: Tố Tâm là ai? Quý nương có biết tên thiệt của Tố Tâm không?
 Tố Tâm với Quý nương sẽ còn nhiều khi gặp gỡ: Rán nhìn cho trúng kẻo lầm như đêm nay nữa, mà thiên hạ cười Quý nương.
 Tố Tâm”

 Kỷ Loan coi thơ rồi, trong bụng buồn hoài. Cô cứ tầm kiếm trong trí Tố Tâm mà không ra, cô than một mình rằng:
 - “Tố Tâm đành nhục ta sao? Có lẽ đâu Tố Tâm ở ác đến thế? Phải chi Tố Tâm đừng đội nón thì ta đã rõ mặt, Tố Tâm đành lòng nhục ta trước mắt muôn người sao? Trời ôi!
 Cái nhục hồi hôm này tự nơi tay ta làm ra mà nhục ta, ôi! Tố Tâm có thấu nông nỗi này chăng?”
 Nàng suy tới đó nàng khóc tấm tức tấm tưởi nói không ra tiếng. Qua đêm sau nàng ra hát không được. Ông Vân Đình sợ hãi, năn nỉ cô ra hát, thì cô nói:
 - Tôi hát không được nữa ông! Nếu ông tầm không ra Tố Tâm, thì chắc tôi rầu thét phải bỏ mình ông à!
 Ông chủ Vân Đình tầm không ra phương thế gì mà kiếm Tố Tâm; ông sợ rủi bề gì cô Kỷ Loan không hát thì chắc rằng ông phải bỏ gánh hát. Một chập lâu nghe cô Kỷ Loan nói:
 - Số tiền lương của tôi trọn năm năm nay tôi không lãnh, nhập với số bạc người ta cho tôi cộng hết mười muôn. Tôi xin dâng hết cho ông xin giao lại giùm cho Tố Tâm, miễn cho tôi thấy mặt Tố Tâm đặng cạn giải đôi lời là sở vọng của tôi.
 Nói rồi cô khóc òa, ông Vân Đình bước ra mặt buồn xo, ông xin lỗi khán quan, xin nghỉ ba ngày, vì cô đào Kỷ Loan đau, còn Lê Tứ Hải là người cỡi ngựa có danh cũng đau chưa mạnh. Ông nói xong, thiên hạ đều kéo nhau ra cửa lấy tiền lại, rồi ra về.
 Sáng lại ông lật đật xuống nhà báo “Chiêu Hồn” đăng một bài, đại khái nói rằng:
 “Nếu ai có biết lai lịch hay là biết mặt Tố Tâm, thuật lại cho cô Kỷ Loan nghe, cô sẽ thưởng một ngàn đồng”.
 “Còn nếu Tố Tâm chịu ra mắt cô, nghĩa là cho cô biết mặt, thì có sẽ cho mười ngàn đồng”...
 Lời vừa ra thì chiều lại lối mười một giờ khuya, cô Kỹ Loan đương ngồi chống tay lên trán, bỗng đâu có người xô cửa bước vô, ấy là Lê văn Hảo. Cô day lại thấy một người trạc lối hai mươi hai tuổi, mặc đồ đen, mang mặt nạ, miệng chúm chím cười, cô biết chắc là Tố Tâm, cô liền thò tay vô tủ lấy cây kiếm giấu trong lưng, cô vừa muốn hỏi thì cô liền nghe người mặt nạ nói:
 - Tố Tâm kính chào Quý nương, và chúc cho Quý nương mau lành bệnh.
 - Tôi lấy làm hân hạnh biết Tố Tâm đêm nay.
 - Tố Tâm đọc tờ “Chiêu Hồn” thấy bài Quý nương mời, nên đêm nay tôi đến ra mắt Quý nương.
 - Thôi, lấy mặt nạ xuống đi.
 - Không được.
 - Vì ý gì mà Tố Tâm không cho tôi biết mặt?
 - Vì tôi là một người nghèo nàn không đáng cho Quý nương biết mặt.
 - Nếu Tố Tâm chịu cho tôi rõ tên thật và mặt thiệt thì tôi nguyện dâng hết gia tài của tôi cho Tố Tâm.
 - Không được, Quý nương tưởng Tố Tâm ham đồng tiền lắm sao? Này Quý nương đem đồng tiền nhử người khác chớ Tố Tâm này không bao giờ thọ lãnh tiền của ai cả. Tố Tâm thương tài của Quý nương nên đem tặng bông lài vật không giá trị mà Quý nương thâu nhận thì may cho Tố Tâm lắm.
 - Tài tôi đâu dám bằng tài Tố Tâm; Tố Tâm đừng khiêm nhướng quá lời, hãy cho tôi biết mặt. Bằng không lưỡi kiếm này nó sẽ xiên vô trái tim.
 Tố Tâm cười lớn lên rồi nói:
 - Quý nương thiệt muốn giết Tố Tâm sao? Như muốn giết thì không muộn, đợi Tố Tâm nói ít lời.
 - Tố Tâm nói lời chi?
 - Người sắp cùng Quý nương kết loan phụng là Lê Tứ Hải đương thọ nạn, cái mạng sống của người như chỉ mành treo chuông. Quý nương hãy lập tức dời Lê Tứ Hải về trại này mà săn sóc người. Còn đứa cừu nhân, Tố Tâm sẽ đem nạp nó cho Quý nương trong ba ngày.
 - Tố Tâm nói gì lạ vậy? Lê Tứ Hải là một tên kép của “Góc Trời Nam” chớ nào phải người sẽ cùng tôi nên được vợ chồng?
 - Quý nương giấu Tố Tâm đó.
 - Không đâu, tôi nói thiệt người ấy chưa phải chồng tôi, chưa đáng mặt làm chồng tôi.
 - Vậy Tố Tâm xin hỏi một điều. Người nào mới đáng làm chồng Quý nương?
 - Người nào đánh gươm tài hơn tôi, biết xử nhân nghĩa, biết trọng danh dự, các nước nghe đến tên phải rùng mình khiếp sợ, người ấy mới đáng làm chồng tôi.
 - Việc ấy là việc riêng của Quý nương, đêm nay Tố Tâm đến cho Quý nương hay rằng Lê Tứ Hải sẽ bị nhiều điều hoạn nạn, thôi Tố Tâm đi về.
 - Khoan, hãy gỡ mặt nạ ra cho mau, bằng không...
 - Bằng không, rồi Quý nương sẽ giết Tố Tâm sao?
 - Phải.
 - Tố Tâm không kháng cự đâu, Quý nương cứ giết Tố Tâm đi. Thuở nay Tố Tâm vào ra trăm trường huyết chiến không gặp ai là tay địch thủ, nay vì việc nghĩa mà rủi chết về tay phụ nữ thì là điều thuở nay Tố Tâm chưa gặp.
 - Thuở nay Tố Tâm chưa gặp ai là tay địch thủ, chớ nay Tố Tâm gặp tôi, tôi e cho Tố Tâm khó thắng nổi.
 - Tố Tâm biết dư tài của Quý nương mà. Thuở xưa Quý nương thắng Karaki là tay vô địch về nghề đánh gươm bên cõi Á Đông này. Toàn cầu đều nghe danh của Quý nương mà, lạ gì Tố Tâm không biết?
 - Đừng nói dông dài, nè là cặp kiếm, Tố Tâm lựa lấy một cây rồi đánh với tôi vài hiệp, coi ai thắng ai phụ.
 Kỷ Loan nói vừa rồi, liền với tay lên vách lấy cặp song kiếm đem xuống để trên bàn. Thừa dịp ấy Lê văn Hảo liếc ngó chỗ kẹt cửa sổ thấy vài người đứng chỗ cửa đi vô. Đó là tại con tớ đi báo cho Vân Đình hay, rồi đó Vân Đình liền sai năm người mạnh bạo núp ngoài cửa phòng Kỷ Loan, chờ Tố Tâm ra đặng bắt, Lê văn Hảo lẹ trí phi thường, chàng giả ý, một tay thò lấy cây kiếm một tay thò mở chốt cửa sổ.
 Miệng chàng cười chúm chím còn tay lật qua lật lại cây kiếm, đoạn chàng bẻ làm hai mà rằng:
 - Cây kiếm này không đủ sức cho Tố Tâm cầm, vậy đợi khi khác Tố Tâm sẽ hầu vài đường kiếm với Quý nương, bây giờ Tố Tâm xin phép đi về.
 Lê văn Hảo miệng thì nói, còn tay mặt chàng phóng lưỡi kiếm vào mình Kỷ Loan, tay trái chàng cầm cái cán kiếm liệng bể bóng đèn điện. Đoạn chàng xô cửa sổ thoát ra ngoài đi mất. Kỷ Loan mắc lo đỡ lưỡi kiếm nên không thể nào chận Lê văn Hảo được, còn năm người đứng ngoài nghe một cái rảng mở cửa chun vô thì trong phòng tối đen, không thấy ai mà phân biệt được. Kỷ Loan giậm cẳng chắc lưỡi mà rằng: “Tố Tâm là người đại tài”.
 Rồi đó cô nói với ông Vân Đình, đem Lê Tứ Hải về trại. Ông Vân Đình đem xe lại, rồi hai người đồng bước ra xe đi tuốt lên nhà thương. Tới nơi cô Kỷ Loan hoảng hồn vì không thấy Lê Tứ Hải, còn ông Vân Đình cũng kinh tâm, lại thấy hai người gác Lê Tứ Hải bị cột dưới chân giường Kỷ Loan mở trói thì chúng nó nói:
 - Hai đứa tôi bị năm người đánh gần chết rồi cột vô đây, còn chúng nó khiêng Lê Tứ Hải đi đâu không biết.
 Kỷ Loan chụp hỏi:
 - Đi bao lâu rồi.
 - Mới đi, không đầy năm phút.
 Kỷ Loan chưng hửng nói với Vân Đình:
 - Tố Tâm có cho tôi hay việc này nên Tố Tâm biểu tôi đem Lê Tứ Hải về trại lập tức song tại tôi thách tài cao thấp với Tố Tâm, nên mới có sự thể này.
 Ông Vân Đình than với Kỷ Loan mà rằng:
 - Không biết vì sao mà họ oán Lê Tứ Hải lắm vậy, cô biết không?
 - Tôi không biết, Tố Tâm biết, song người nói với tôi rằng vì có một cớ nên... Tôi có hỏi song người không chịu nói.
 - Bấy giờ có nên mách với cò bót không?
 - Không nên đâu, vì Tố Tâm có hứa với tôi, ba ngày sẽ đem đứa sát nhân nạp cho tôi.
 - Vậy cũng nên rán đợi coi.
 Rồi đó cả hai đồng bước ra xe trở về trại.
 Bước vô phòng, Kỷ Loan mở cửa thấy một miếng giấy nhỏ viết bằng viết chì cột chỗ chìa khóa. Cô mở ra thấy mấy hàng sau đây. Cô đọc cho ông Vân Đình nghe.
 “Hồi nãy Tố Tâm biểu Quý nương lên nhà thương lập tức cứu Lê Tứ Hải, tại Quý nương lo thách tài với Tố Tâm làm cho trễ ra, người ta khiêng Lê Tứ Hải đi xa rồi, cách Sài Gòn gần hai trăm cây số.
 Quý nương yên tâm, nán đợi ba ngày, Tố Tâm sẽ cho Quý nương hay tin tức Lê Tứ Hải.
 Tố Tâm”

 Ông Vân Đình nghe vừa dứt, mặt tái lét, xanh như tàu lá, than với Kỷ Loan mà rằng:
 - Tố Tâm là người gì mà biết cơ mưu của quân sát nhân đó, không lẽ Tố Tâm biết tàng hình?
 Kỷ Loan tiếp:
 - Ông yên tâm, đợi ba ngày nữa rồi sẽ hay. Tôi chắc rằng Tố Tâm sẽ cứu Lê Tứ Hải giùm mình.
 Tùy Kỷ Loan nói vậy chớ ông Vân Đình vẫn lo sợ mãi. Rồi cả hai từ giã nhau về phòng nghỉ.
 Làm gì Kỷ Loan toan giết Lê văn Hảo mãi vậy? Nếu thiệt lòng như vậy thì Kỷ Loan vẫn là một người phi ân chăng ư?
 Chẳng qua là Kỷ Loan muốn làm cho Lê văn Hảo bị bệnh đặng biết mặt mà thôi. Nên mỗi lần Kỷ Loan dùng súng lục liên mà bắn Lê văn Hảo thì đều chỉ mũi xuống cẳng cả. Vì sao mà Lê văn Hảo không sợ lằn tên mũi đạn lại bạo gan làm việc nghĩa hiểm nghèo dường ấy?
 Quý vị cứ coi tới sẽ rõ.
 Đây nói về Sáu Ngởi từ ngày làm tay chân bộ hạ cho Lê văn Hảo thì chàng cứ dọ cách hành động của cậu Tư Được, rồi chàng về thuật lại cho Lê văn Hảo nghe. Bởi vậy nên đêm Lê văn Hảo lại phòng Kỷ Loan, thì chàng đã biết trước rằng cũng đêm đó, giờ đó, cậu Tư Được sai năm người bộ hạ vô nhà thương khiêng Lê văn Hảo đem ra xe hơi chở tuốt lên rừng Bù Đốp.
 Cậu Tư Được khiêng Lê Tứ Hải lên rừng Bù Đốp làm gì? Quý vị có biết không? Quý vị cứ coi tới rồi sẽ rõ.
 Lê văn Hảo đi làm việc về nhà nằm, nghĩ tới chuyện Kỷ Loan, thì chàng than:
 - Cũng vì Kỷ Loan mà Tư Được làm dữ chở Lê Tứ Hải lên rừng Bù Đốp. Ta thấy việc bất bình mà không ra gánh vác thì ai cho rằng: “Tố Tâm” ấy là nghĩa vụ của ta phải làm. Muốn kiếm Lê Tứ Hải thì không phải dễ gì. Ta không có xe hơi, làm sao lên Bù Đốp đặng? Vậy thì ta phải mua một cái xe hơi đua hai chỗ ngồi. Bây giờ tiền đâu mà mua? Cha chả là khổ cho ta. Ta hứa lỡ với cô Kỷ Loan, ta biết liệu sao? Bấy lâu tư giữ lòng thanh bạch, không nhơ bợn của ai, không cướp của ai một đồng, ta biết trọng danh dự của ta, nên ngày nay ta nghèo cũng phải. Thôi ngộ biến phải dụng quyền, vậy Trời đất soi giùm lòng của Tố Tâm đây.
 Lê văn Hảo than tới đó, liền kêu Sáu Ngởi vô nói:
 - Tao cần phải có sáu ngàn đồng đặng mua xe hơi, mày tính sao?
 - Dạ tôi đâu có biết, chắc là phải đi ăn cướp mới có chớ biết đâu mà lấy.
 - Đi ăn cướp, mày sợ không?
 - Dạ, tôi có thể rồi, bây giờ tôi nhất định không đi.
 - Đi ăn cưóp mà lấy tiền xài, mới gọi rằng ác, chớ đi ăn cướp lấy tiền làm việc nghĩa thì là không tội. Mày có chịu đi với tao không?
 - Dạ, tôi sợ ở tù lắm.
 - Không sao đâu, Tố Tâm không bao giờ để cho mày ở tù đâu.
 - Dạ, đi với thầy thì tôi không bao giờ sợ ai cả.
 - À thôi được rồi! Lát nữa mày đi vô Chợ Lớn làm như vầy... rồi về cho tao hay. Sáng đây không thiếu gì tiền, mua ba cái xe hơi cũng đủ nữa mà, huống hồ gì một cái.
 Sáu Ngởi lấy làm đắc chí gật đầu rồi lấy kết đội lên đầu đoạn từ giã Lê văn Hảo ra đường kêu xe kéo xuống ga xe lửa.
 Không đầy hai giờ đồng hồ, Sáu Ngởi trở về thưa cho Lê văn Hảo hay:
 - Dạ, thầỵ biểu vô trong Chợ Lớn kiếm nhà Má chính Lái là tay giàu có nhất ở Chợ Lớn. Tôi dọ hỏi bọn Khách trú thì mới hay nó dọn về đường Cây Mai số 359. Nhà thiệt nguy nga đồ sộ, ngoài có một tên Bangali gác cửa, còn phía trong tôi tớ ở nhà dưới. Má chính Lái ở trên lầu một mình nằm hút hoài; còn vợ con nó ở nhà trệ phía sau.
 Lê văn Hảo rất đỗi mừng, khen Sáu Ngởi đi dọ thiệt kỹ, đoạn chàng thay đồ nỉ đội nón rơm, ngậm một điếu xì gà, mang mắt kiếng gọng vàng giống in một người khách, Lê văn Hảo bước ra đường kêu xe kéo xuống bến xe hơi mướn một cỗ xe vô nhà Má chính Lái, xe chạy không đầy mấy phút đã tới nhà Má chính Lái. Chàng bước xuống chậm rãi không có vẻ sợ sệt chút nào, rồi chàng đi ngay lại tên chà gác cửa mà rằng:
 - Có Má chính ở nhà không?
 - Có, ở trên lầu, chú đi có chuyện gì?
 - Nói chuyện mướn phố hôm qua.
 - Được, chú đi thẳng lên lầu, có ông ở trển.
 Lê văn Hảo đi luôn vô trong bước vô thềm nhà thấy không ai, chàng liền leo lên thang lầu. Trên lầu mênh mông không biết Má chính Lái nằm đâu nên chàng kiếm một hồi mới gặp Má chính Lái đương nằm trong phòng riêng với hai con xẩm hát.
 Một con nằm làm thuốc, còn một con ngồi bóp cẳng cho Má chính Lái, Lê văn Hảo mở trong lưng một ngọn dao sáng giới lén bước ngay lại Má chính Lái, một tay chàng nắm cổ, còn một tay chàng cầm con dao. Má chính Lái với hai con xẩm vừa muốn la thì Lê văn Hảo nói tiếng khách trú rằng [1]:
 - Nếu bay la tao giết Má chính Lái đa. Bay phải ngồi yên, xây mặt vô vách.
 Hai con xẩm muốn la thì Má chính Lái lại cản, vì thấy con dao của Lê văn Hảo, sợ hễ la thì không khỏi chết nên ríu ríu day mặt vô vách, Lê văn Hảo hỏi:
 - Chìa khóa tủ sắt mi để đâu?
 Má chính Lái run lập cập, lật đật móc trong túi xâu chìa khóa ra đưa, Lê văn Hảo nói tiếp.
 - Mi hãy lại mở tủ cho ta coi, bằng nghịch mạng ta giết, chớ không dung?
 Má chính Lái không muốn mở, song lại sợ Lê văn Hảo giết nên bước xuống ván, mở tủ ra. Lê văn Hảo thò tay móc bó giấy xăng, biểu Má chính Lái đếm đủ sáu ngàn mà thôi. Má chính Lái đếm đủ sáu ngàn trao cho Lê văn Hảo. Lê văn Hảo lấy bỏ vô túi, rồi nói:
 - Ta mượn đỡ sáu ngàn trong vài tháng ta sẽ trả lại, nếu bay la lên, ta trở lại lấy hết trong tủ, mà ta lại không dung mạng bay là khác.
 Má chính Lái tuy mất bạc mà có ý mừng vì thấy Lê văn Hảo lấy có sáu ngàn, còn dư lại có trên mấy muôn, nên để Lê văn Hảo đi thong thả. Lê văn Hảo là người cẩn thận. Lấy khăn mouchoir khớp miệng Má chính Lái lại, còn hai con xẩm chàng hăm:
- Nếu bay cượng lý day mặt lại tao giết chớ không để đâu!
 Hai con xẩm úp mặt trong vách không dám nói lời gì cả. Lê văn Hảo bỏ dao vô lưng, rồi bước xuống thang lầu, đi chậm rãi ra xe hơi dông mất.
 Có hơn mười phút đồng hồ, hai con xẩm nghe êm, day lại thì thấy Má chính Lái bị khớp miệng và bị cột vô ghế, la lên... thì... ô hô! Muộn rồi... Lê văn Hảo đã về đến nhà.
 Sáng ra Lê văn Hảo xuống hãng Phan Đủ Xương lựa mua một cái xe hơi hai chỗ ngồi, hiệu Huê Kỳ, sáu máy mười lăm ngựa, sức chạy trên 100 cây số mỗi giờ. Chiều lại sở Trường Tiền cho số xong, chàng đóng bạc lấy xe ra đi [2].
 Cậu Tư Được chở Lê Tứ Hải đem giấu một chỗ kín lắm, xong rồi trở về phòng ngủ Sài Gòn, bàn tính với bọn Ba Quế rằng phải viết một nang thơ gởi cho Kỷ Loan rồi làm như vầy... như vầy thì chắc trong tay nội trong ba bữa cậu ta sẽ được toại kỳ sở nguyện. Rồi đó cậu Tư Được, ngồi lại Bureau viết. Thình lình Sáu Ngởi bước vô. Ba Quế chụp nói:
 - Ngởi, hổm rày mày lập công không được gì cả. Hôm trên nhà thương mày giết không được Lê Tứ Hải, thôi bữa nay mày đem nang thơ của cậu Tư đây vô trại “Góc Trời Nam” rồi mày kiếm cho được Kỷ Loan, mày trao nang thơ này.
 - Chuyến này tôi làm việc đó được như trở bàn tay, đừng sợ, cậu đừng lo. Tôi đi trong nháy mắt trở về liền.
 Cậu Tư Được day lại đưa nang thơ cho Sáu Ngởi và dặn rằng:
 - Ngởi, mày đi phải cẩn thận cho lắm, kẻo Kỷ Loan biết mặt mày, thì khó cho tao lắm.
 - Dạ được không sao, tôi lanh lắm cậu à.
 - Thôi mày đi đi.
 Rồi đó Sáu Ngởi lãnh thơ đem về cho Lê văn Hảo coi và nói rằng:
 - Phen này chắc tôi ở tù quá thầy.
 - Sao vậy?
 - Dạ, cậu Tư Được biểu đem thơ này cho Kỷ Loan, sợ cô biết mặt thì chắc bắt tôi, rồi làm sao mà khỏi ở tù được.
Lê văn Hảo xé thơ ra coi rồi liền lấy một cái bao khác để tên Kỷ Loan, niêm lại đoạn dặn Sáu Ngởi:
 - Không cần gì mày phải trao cho Kỷ Loan, mày đem bỏ trên nhà thơ thì chiều nay bốn giờ Kỷ Loan sẽ được không sai.
 Sáu Ngởi nghe được, rất đỗi vui mừng liền lấy nón ra đi lập tức.
 Thật quả như lời Lê văn Hảo nói, chiều lại bốn giờ, Kỷ Loan được một bức thơ, viết chữ như con nít, có mấy hàng sau đây:
 “Kính gởi cô hai:
 Lê Tứ Hải bị bắt. Nếu cô muốn chuộc thì đích thân cô đi một mình đem mười ngàn đồng lên rừng Bù Đốp tại xóm mọi, rồi có người dẫn đường cho cô đi đến chỗ Lê Tứ Hải bị cầm”.

 Kỷ Loan đọc rồi trong lòng bắt dửng dưng, không biết quân ăn cướp nào dám thị cò bót lắm vậy? Đoạn nàng cho Vân Đình hay.
 Vân Đình đọc thơ rồi liền hỏi cô Kỷ Loan:
 - Bây giờ cô tính sao? Có nên cho cò bót hay đặng truy tầm quân ăn cướp ấy không?
 - Không nên đâu, vì trong rừng mênh mông, lại ở trong xóm mọi có thể nào cò bót bao rừng được đâu. Tôi sợ nếu chúng nó thấy lính lên đông, nó giết phứt Lê Tứ Hải, thì chẳng là thiệt hại cho mình lắm ru.
 - Nói vậy mình phải chiều theo ý chúng nó sao?
 - Phải vậy mới được.
 - Trong thơ nó dặn cô đi một mình tôi sợ thiệt hại cho cô quá?
 - Không sao đâu, ông yên lòng. Sáng tôi mượn xe ông đi liền.
 - Tôi cho hai người theo cô được không?
 - Không được, vì chúng nó dặn tôi đi một mình.
 Rồi đó Vân Đình trở về phòng sai bồi đem đưa cho cô Kỷ Loan mười ngàn. Chín giờ cô vừa leo lên giường nghỉ thì có người gõ cửa. Cô vội vàng bước ra mở cửa. Một người bận đồ đen mang mặt nạ đứng trước mặt cô. Cô biết là Tố Tâm. Phen này cô mềm mỏng, không tỏ dấu kháng cự như mọi lần. Cô tiếp nói:
 - Kính chào Tố Tâm, mời Tố Tâm ngồi ghế.
 - Cám ơn Quý nương, Tố Tâm chúc cho Quý nương đi chuộc Lê Tứ Hải cho thành việc.
 - Sao Tố Tâm biết được việc đó?
 - Sao không biết? Tố Tâm đã nói với Quý nương rằng: Tố Tâm sẵn lòng dọ tin tức của đứa sát nhân thì có thể nào cách hành động của nó mà Tố Tâm không biết!
 - Tôi đi phen này có bề gì không?
 - Có nhiều việc hại cho Quý nương, Quý nương hãy cẩn thận cho lắm.
 - Thôi, tôi không đi.
 - Quý nương không thương Lê Tứ Hải sao?
 - Tôi đã nói với Tố Tâm rằng Lê Tứ Hải là một người kép của “Góc Trời Nam” chớ nào phải...
 - Không, Tố Tâm không phải chủ ý nói vậy, vì việc nghĩa mà Quý nương để mối thương tâm người hoạn nạn, cũng như Tố Tâm thương Quý nương mà ra gánh vác chuyện Quý nương vậy.
 Kỷ Loan lộ sắc e lệ, đôi gò má ửng hồng. Lê văn Hảo biết Kỷ Loan có tình cùng chàng, chàng vừa muốn nói thì kế nghe Kỷ Loan tiếp:
 - Tố Tâm thương tôi, là thương làm sao?
 - Tố Tâm thương Quý nương là thương tài Quý nương, chớ nào phải vì tình ái mà Tố Tâm thương.
 Kỷ Loan nghe nói tới đó, thì bủn rủn tay chân sụm xuống ghế ngồi úp mặt vô bàn, ai trông vào cũng phải biết rằng cô có tình cùng Lê văn Hảo. Cô không nói lời gì cả, chỉ thút thít khóc òa.
 Tố Tâm thấy vậy, đứng nói khẳng khái mà rằng:
 - Tố Tâm đến đây là chủ ý cho Quý nương hay rằng cái sự Quý nương đi chuộc Lê Tứ Hải sẽ gặp nhiều điều nguy hiểm, chớ nào phải đến đây đặng làm cho Quý nương bi lụy, vậy Tố Tâm có thất lễ điều chi xin Quý nương rộng lượng tha giùm.
 Kỷ Loan biết mình lộ vẻ ra ngoài cho Lê văn Hảo rõ, nên nàng lau nước mắt đứng dậy nói:
 - Tôi có một tâm sự rầu buồn riêng, muốn tỏ cho Tố Tâm hay, chẳng biết Tố Tâm có chịu nghe cùng không?
 - Việc ấy sau rồi Quý nương sẽ nói chẳng muộn gì, bây giờ đây Tố Tâm khuyên Quý nương hãy bảo trọng thân thể là hơn, đừng buồn rầu mà mang bệnh. “Góc Trời Nam” nghỉ hát hai đêm là tại nơi Quý nương thiên hạ Sài Gòn ai nấy cũng đều buồn.
 - Chừng nào tôi tỏ tâm sự của tôi cho Tố Tâm nghe rồi chừng đó tôi mới hát được.
 - Tâm sự của Quý nương không nói, Tố Tâm cũng dư biết. Vậy trước hết Quý nương hãy cứu Lê Tứ Hải, rồi Tố Tâm sẽ đi tìm giùm cho Quý nương người anh hùng trong ngũ hồ tứ hải. Thôi bây giờ Tố Tâm xin kiếu Quý nương.
 - Khoan, khoan, đợi tôi phân ít lời.
 Kỷ Loan day lại thì Lê văn Hảo đã ra ngoài rồi. Nàng ngã ngửa trên giường, ruột rối tợ tơ vò lòng co chín khúc. Nàng than nho nhỏ mà rằng: “Tố Tâm là người thế nào mà không có chút tình cùng ta vậy, chắc Tố Tâm đã có vợ rồi chớ gì! Trời ôi! Nếu vậỵ thì khổ cho ta biết ngần nào. Nguyệt lão ông ôi! Ông nỡ nào đem tôi vào một cảnh khó khăn này biết bao giờ tôi gỡ cho ra? Thiệt mà! “Tình là dây oan” sách xưa nói rất nhầm. Con ma ái tình ôi! Hại ta phen này sao? Trót mấy năm trời, ta chưa gặp ai là tay làm cho ta hữu tình, ngày nay “Người cho bông lài” đốt lò lửa lòng của ta cháy dậy, rồi người không giục tắt, lại làm cho ta khổ não trăm bề. Con ma tình ôi! Mi nỡ đem thân ta vào vòng tình ái sao? Nếu mi không cho ta tác thành sở nguyện thì ta e quá, ta e mi liệng dây oan trái mà trói cổ ta chớ gì...
 Tội nghiệp cho một người hồng nhan tài sắc gồm toàn mà phải chịu điều cay nghiệt thì ai không thương tiếc giùm, không biết Lê văn Hảo sẽ gây một mối ái tình cùng cô Kỷ Loan không? Lê văn Hảo là người gì mà không biết động tình? Lê văn Hảo giữ tài đặc biệt ấy đến cùng không? Quý vị cứ coi tới thì rõ.
 Sáng ra cô Kỷ Loan lấy xe ông Vân Đình nhắm hướng Bù Đốp trực chỉ. Gần mười hai giờ cô mới tới. Từ Bù Đốp vô xóm mọi cách đường cái gần 10 cây số, không có đường xe chạy. Cô phải mướn xe trâu rồi cứ trong rừng mà đi, lòn trong cụm tranh này, băng qua vũng nước nọ, thiệt cam go nhiều bề. Ai yếu sức không bao giờ đi nổi. Cô ngồi trên xe trâu với tên mọi đánh xe mà thôi, ngoài ra không còn thấy ai khác nữa. Hai bên cây cối cao vọi vọi, tiếng chim kêu nghe không dứt, lăn liếu trên nhành cây, bay qua liệng lại. Còn khỉ bên này vụt qua bên kia, chuyền cây này qua cây nọ; ai trông vào cái cảnh ấy cũng phải bắt nhớ quanh, nhớ quất, huống hồ là Kỷ Loan có tình cùng Tố Tâm, nên tài nào mà không đổ lụy. Giây lâu cô hỏi:
 - Tới chưa?
 Tên mọi đáp: “Gần tới”.
 Đường rừng đi 10 cây số không bao giờ mau được, nên khuất mặt trời cô mới tới xóm mọi.
 Cô lấy bánh mì cá hộp rồi ngồi trên xe mà ăn. Ăn vừa rồi, cô đi cùng trong xóm thì cô gặp mọi đực với mọi cái chớ không có một người An Nam nào cả. Một lát có một người An Nam, trời tối cô không thấy mặt được, người ấy hỏi cô:
 - Phải cô đi chuộc Lê Tứ Hải không?
 - Phải.
 - Cô có đem mười ngàn theo đó không?
 - Có, vậy cậu làm ơn chỉ giùm chỗ Lê Tứ Hải bị cầm tôi rất cám ơn cậu.
 Người ấy chính là Ba Quế đi với cậu Tư Được lên trên rừng hồi khuya. Ba Quế nói:
 - Cô hãy đi theo tôi.
 Trời tối đen như mực, ngửa bàn tay không thấy gì ráo. Ba Quế cầm một cây đèn khí nhỏ rọi lần lần trong rừng dẫn đường cho Kỷ Loan đi.
 Đi có trên hai giờ nữa, mà không thấy nhà cửa ai hết; một lát nghe tiếng “cà um” bắt rỡn óc, Kỷ Loan thuở nay không có lội rừng, nên đi không muốn nổi, cô nói:
 - Gần tới chưa cậu. Tôi đi không nổi nữa cậu.
 - Gần tới rồi, còn chừng năm trăm thước nữa.
 Kỷ Loan rán đi một chập thấy một cái nhà lá cất sơ sài, ở trong có ngọn đèn leo lét. Ba Quế nói:
 - Đây là chỗ Lê Tứ Hải. Cô vô đi.
 Kỷ Loan bước vô tới cửa, cô không ấy ai cả; cô vừa muốn hỏi, thì bỗng đâu, bốn người bước ra bắt cô, Kỷ Loan rút cây kiếm ra, lẹ như chớp, cô tràn mình qua, vừa đánh vừa đỡ, nghe “rang rang”. Trời tối cô không thấy ai cả, cô đánh thuộc lòng mà thôi.
 Có hơn một giờ đồng hồ, hai tay cô cầm cây kiếm hết muốn nổi, vì tại cô đi đường mệt sẵn rồi, chớ nếu không mệt, cô đánh tới sáng cũng không ai làm gì nổi. Cô than nho nhỏ mà rằng:
 - Trời ôi! Chết tôi rồi Tố Tâm có biết không?
 Cô than vừa dứt lời, thì cô té quỵ xuống đất; bốn người ấy bèn áp lại bắt cô trói tay lại, rồi khiêng để lên giường.
 Cô nằm suy nghĩ hoài, không biết chúng nó bắt cô làm gì mà để cô nằm đó?
 Cậu Tư Được nãy giờ núp trong kẹt cửa thấy trói cô Kỷ Loan rồi thì trong bụng rất mừng, cậu ta chắc trong tay rằng: “Đóa hoa xinh sẽ về tay cậu”, nên cậu cho tiền bốn đứa theo cậu về Sài Gòn. Cậu suy nghĩ hễ bề nào Kỷ Loan có thất thân với cậu rồi thì thế nào Kỷ Loan cũng phải ưng cậu, cậu đắc chí vô cùng. Bước ra cửa thấy mấy đứa ấy đi xa rồi, cậu trở vô gài cửa lại đoạn đốt đèn bưng vô buồng. Kỷ Loan nhờ ánh sáng ngọn đèn, nên cô thấy rõ ràng người mang mặt nạ đứng trước cô. Cô tưởng đâu là Tố Tâm, cô vừa muốn hỏi thì cậu Tư Được nói:
 - Đêm hôm nay tôi đố cô chạy khỏi tay tôi?
 Kỷ Loan nghe giọng nói biết rằng không phải Tố Tâm, nên cô nói:
 - Mi nói đem mười ngàn lên chuộc Lê Tứ Hải, vậy mi đem Lê Tứ Hải ra đây, chớ mi nói gì ta không khỏi tay mi?
 - Đến nỗi này mà cô còn cượng lý.
 - Chớ mi muốn gì?
 - Tôi không muốn chi khác hơn là muốn cùng cô nên điệu vợ chồng.
 - Ê, mi là loài súc sanh, mi dùng cường lực mà ép ta thì mi là đứa không ra gì!
 - Đến nỗi này mà cô không biết thân lại còn nhiếc mắng tôi, song mặc lòng tôi không giận cô chút nào.
 Cậu Tư Được nói đến đó, liền ngồi xuống ôm hun đại Kỷ Loan, Kỷ Loan hết sức vùng vẫy song không được, cô mắng rằng:
 - Nếu ta không bị trói thì ta bẻ cổ mi rồi. Mi dùng kế gạt ta mi có giỏi gì đâu.
 Cậu Tư Được không thèm nói gì nữa, cứ lần xuống quần mở dây lưng, cửa cung nguyệt vừa bán khai, cậu hết sức vui mừng vừa leo lên giường thì thình lình cậu bị một cây tên ở đâu bay vào ghim chỗ vai, sâu đến ba phân. Cậu lần lần té quỵ xuống giường rên la inh ỏi, Kỷ Loan vừa thấy Tư Được leo lên giường thì nàng điếng hồn, muốn đập đầu chết cho rồi, hay đâu nàng lại thấy ở ngoài ai bắn vào một mũi tên trúng Tư Được, làm cho cậu té ngửa. Cô rất đỗi vui mừng.
 Ai bắn Tư Được vậy?
 Quý vị coi hồi sau sẽ rõ.
 
 III. Lưới tình khó gỡ
 Lê văn Hảo xin phép nghỉ một ngày, nên bữa sau chàng lấy cái xe hơi mới mua nhắm hướng Bù Đốp dung ruổi, chàng cứ noi theo dấu của Kỷ Loan, nên khi Kỷ Loan đánh với bọn Tư Được, chàng ngồi trên một cây sao rất cao chàng thấy rõ hết. Đợi khi Tư Được làm hỗn Kỷ Loan, Lê văn Hảo núp chỗ kẹt vách đá, rút một cây tên lắp vào cung nhắm ngay tay của Tư Được mà buông. Đoạn chàng xô cửa bước vô.
 Cửa ngã một cái rầm. Tư Được day lại thấy một người lạ, mặc đồ đen mang mặt nạ, tay cầm một lưỡi kiếm đi khoan thai lại giường. Tư Được mò trong túi quần lấy cây súng lục liên gượng ngồi dậy nhắm Lê văn Hảo. Vừa bóp cò thì đã bị Lê văn Hảo nhảy tới vặn tay, cậu Tư Được buông súng; tiếng nổ nghe rền rừng, đạn ria xuống đất, Lê văn Hảo liền nói:
 - Tư Được, mi đừng ỷ mình, có ta đến đây. Mi tưởng việc mi làm không ai biết sao mà mi giấu mặt?
 Đoạn Lê văn Hảo bước lại gỡ mặt nạ ra. Kỷ Loan nhìn biết, song không nhớ chắc là ai, kế nghe Lê văn Hảo tiếp nói:
 - Mi toan giết Lê Tứ Hải, nay mi muốn hại Kỷ Loan, nếu ta không đến kịp, thì còn gì một mảnh hường nhan, tuyết trong giá sạch, tài sắc làu làu. Tội của mi có đáng chết không?
 Tư Được gầm đầu xuống không nói gì hết. Lê văn Hảo dùng lưỡi kiếm mở dây cho Kỷ Loan. Tư Được thừa lúc lộn xộn nhảy xuống giường rút một cái mác dài quyết giết cho được Lê văn Hảo. Lê văn Hảo mở dây vừa rồi, chàng day lại, bỗng bị một ngọn dao của Tư Được, Lê văn Hảo né mình tránh khỏi, con dao bị trớn mạnh trợt ra ngoài; Tư Được vừa phi bộ về, thì đã bị một đá rất mạnh của Lê văn Hảo ngang hông. Tư Được té ngửa ra, ôm ngực rên như sấm. Lê văn Hảo nói:
 - Mi muốn chống cự với ta sao? Sức của mi không đủ cho ta vặn cổ nữa mà. Nè mi hãy coi lưỡi kiếm này xiên trái tim mi.
 Lê văn Hảo nói vừa rồi chàng liền xuống tay.
 Kỷ Loan nhận biết người cứu cô là Tố Tâm, nên lật đật quỳ xuống đỡ lưỡi kiếm mà rằng:
 - Tôi xin Tố Tâm bớt cơn nóng giận, đừng giết người tội nghiệp.
 Trong lúc giận dữ, Lê văn Hảo tưởng Kỷ Loan binh Tư Được, nên hỏi Kỷ Loan:
 - Hay cho Quý nương! Giỏi cho Quý nương! Quý nương binh đứa súc sanh này? Thôi thôi, Quý nương ở lại đây với nó, tôi đi về.
 Kỷ Loan quỳ ngay trước mặt Lê văn Hảo mà thốt lời rằng:
 - Thưa Tố Tâm, tôi đâu có muốn binh nó, ngặt vì lưỡi kiếm của Tố Tâm đâm nó lấy làm nhơ nhớp lắm. Nó không đáng gì cho Tố Tâm giết, vậy để em đem nó về Sài Gòn giao cho Biện lý hay hơn.
 Lê văn Hảo nghe nói phải, liền gật đầu. Đoạn chàng cột tay Tư Được đem ra xe trâu, Lê văn Hảo cầm đèn đi với Kỷ Loan kiếm Lê Tứ Hải, kiếm trọn trong nhà mà không gặp. Không hiểu Tư Được giấu ở đâu, Kỷ Loan thừa dịp đó, với tay lên mặt Lê văn Hảo giật cái mặt nạ rớt xuống đất. Lê văn Hảo lẹ trí vô cùng, chàng liệng đèn xuống đất tắt liền; trời tối đen như mực, nên Kỷ Loan gỡ mặt nạ mà không thấy gì ráo. Lê văn Hảo cúi xuống đất mò lấy cái mặt nạ lên rồi chàng bỏ Kỷ Loan đó trốn đi mất. Kỷ Loan tức giận khôn cùng kêu Tố Tâm! Tố Tâm hỡi! Mà không nghe Tố Tâm trả lời. Nàng tự trách mình sao có vội lắm vậy. Nàng than nhỏ nhỏ mà rằng:
 - Tố Tâm chàng ôi! Chàng bao nỡ hại thiếp như vầy? Thiếp là người chớ nào phải cỏ cây gì mà chịu sự đau đớn này cho nổi! Dầu chàng chê thiếp là gái không ra gì, thì chàng cũng cho thiếp biết mặt; có đâu chàng cứ lánh hoài? Tố Tâm chàng ôi! Bao giờ cho Ngưu Lang bắc cầu Ô Thước, bỏ công dày chầu chực bấy lâu?
 Nàng khóc mùi, một chập nàng đứng dậy, trở vô nhà thắp đèn lên. Kiếm không ra Lê Tứ Hải thì nàng chắc rằng Tư Được không phải chủ ý biểu nàng đem mười ngàn lên chuộc, nên nàng nghi Lê Tứ Hải còn ở Sài Gòn. Rồi đó nàng lên xe trâu với Tư Được ra đường cái. Ra tới đường thì trời khuya, lối chừng bốn giờ sáng. Nàng dạy sốp phơ chở Tư Được để đàng trước chỗ sốp phơ ngồi, còn nàng ngồi đàng sau, rồi cứ nhắm hướng Sài Gòn trở lại.
 Tư Được ngồi trên xe, lần lần tháo mối dây ra, song chàng không cho biết. Chàng tự nghĩ:
 - Bây giờ mình tay không đâu dám cự với Kỷ Loan, vì Kỷ Loan là tay võ nghệ cao cường láng cháng mình phải mang bại, bấy giờ đây biết lấy thế gì thoát thân? Chớ về tới Sài Gòn, không khỏi Tòa Đại Hình kêu án, chừng ấy còn gì danh giá mình, là tay giàu có muôn hộ. Thôi ta liều mạng ta nhào đại vô rừng trốn, còn chẳng may chết cũng mát thân. Mà không được, xe chạy mau đến 90 cây số mỗi giờ, thì không bao giờ ta nhảy xuống khỏi chết được. À phải rồi... ta làm như vầy, như vầy thì bất quá chết hết.
 Tư Được suy đến đó, bộ có ý mừng, liền bặm gan nhắm mắt, kéo tay bánh của anh sốp phơ qua bên tay mặt, sốp phơ đương ngồi cầm tay bánh không để ý đến việc ấy, nên thình lình xe đảo một cái rất mạnh, nhắm gốc cây đụng một cái rầm. Xe lật ngược lại. Cả ba trên xe đều văng ra xa lắc, có hơn 9 thước tây, nằm như chết rồi không còn biết gì nữa.
 Muốn biết Kỷ Loan, Tư Được và tến sốp phơ sống chết thế nào, xin xem tới quý vị sẽ rõ.
 Lê văn Hảo từ khi bị Kỷ Loan gỡ mặt nạ thì chàng chạy trở lại xóm mọi xin nghỉ nhờ một đêm. Chàng có ý giận sao Kỷ Loan uất ức trong lòng muốn biết mặt, nên thừa dịp trong rừng không ai, lại nữa, trong lúc đương lo kiếm Lê Tứ Hải, mà giật đại cái mặt nạ. Chàng suy tới đó rồi chàng cười một mình, nằm nghỉ luôn tới mặt trời rựng mọc chàng mới thức dậy đánh xe trâu ra đường cái, trời hừng sáng xe trâu đà tới đường cái. Trả tiền xe xong rồi chàng leo lên xe hơi cầm bánh về Sài Gòn.
 Đi không bao xa, chàng gặp một cái xe hơi lật đưa bốn bánh lên trời, còn người ta thì văng nằm ngoài đường. Lê văn Hảo bước xuống xe, chàng thấy rõ ràng nàng Kỷ Loan, chàng điếng hồn, rờ trán thấy còn nóng, chàng biết không sao, nên lật đật khiêng cô lên xe. Đoạn Lê văn Hảo kiếm tên sốp phơ, nhưng hỡi ôi! Hồn nó đã du địa phủ. Chàng thương tiếc khôn cùng; đi vài bước chàng gặp Tư Được nằm dưới xe, hơi thở còn nóng. Chàng muốn khiêng luôn lên xe, nhưng xe có hai chỗ ngồi; chàng nói thầm rằng: “Mi có chết thì chết đi, tội ác của mi dẫy đầy, ngày nay mi đền tội đó; ta tiếc là tiếc tên sốp phơ, vì theo chủ mà phải vong tánh mạng”. Lê văn Hảo lên xe xả máy như tên, có trên 130 cây số mỗi giờ; một chập chàng rờ trán Kỷ Loan thăm chừng nàng.
 Thương thay một dóa hoa xinh, bị nhiều điều khổ não như vầy... Không biết sau này nàng có vết tích chăng? Tạo hóa ghét ghen chi người tài sắc dường này? Mười một giờ xe đã tới Sài Gòn. Lê văn Hảo chở tuốt Kỷ Loan vô nhà thương “Chợ Rẫy”. Quan thầy săn sóc mấy chỗ vết xong rồi liền đem lên phòng cho nàng nằm nghỉ. Quan thầy nói với Lê văn Hảo:
 - Bệnh tuy nặng, nhưng không sao. Chiều nàng tỉnh lại rồi trong mười bữa ắt mạnh như thường.
 Lê văn Hảo bắt tay cám ơn rồi chàng trở ra xe đi về nhà, kêu thằng Sáu Ngởi dặn nó làm như vầy... như vầy...
 Đây nói về ông Vân Đình, chủ rạp “Góc Trời Nam” đợi trọn hai ngày không thấy cô Kỷ Loan về, thì trong lòng lo sợ mãi?
 Chiều lối hai giờ, ông đương ngồi nơi phòng khách, thì bỗng đâu tên bồi đem vô cho ông một bức thơ, nói rằng của Tố Tâm gởi. Ông nghe đến tên Tố Tâm thì nửa mừng nửa sợ không biết việc gì xảy đến mà Tố Tâm bắn tin vậy. Ông liên khai thơ ra thấy mấy hàng này:
 “Kỷ Loan bị nạn xe hơi rất dữ dội, đương nằm nhà thương Chợ Rẫy; Lê Tứ Hải sống chết thể nào chưa rõ, song ông cứ vững lòng, mọi việc sẽ có Tố Tâm luôn.
 TỐ TÂM”

 Ông Vân Đình coi rồi, trong bụng vẫn lo sợ mãi, liền kêu xe vô nhà thương Chợ Rẫv thăm Kỷ Loan.
 Chiều 5 giờ Kỷ Loan tỉnh lại thấy ông Vân Đình ngồi một bên thì lấy làm lạ lắm, nàng hỏi:
 - Chẳng hay ông cứu tôi hồi nào, mà tôi nằm đây?
 - Ai cứu thì tôi không rõ, song quan thầy có nói với tôi rằng có một người độ chừng hai mươi ba tuổi chở cô vô nhà thương.
 - Còn ông, sao ông hay vô đây thăm tôi?
 - Tố Tâm gởi thơ cho tôi.
 - Trời ôi! Tố Tâm là người gì mà biết tôi bị nạn, chắc là Tố Tâm cứu tôi chớ gì? Ủa còn thằng sốp phơ, còn... còn... ai đây... à còn Tư Được, sống chết thể nào?
 - Tôi nào có biết.
 - Vậy ông lập tức lên cây số 135 đường đi Bù Đốp, coi việc ấy ra sao? À mà ông phải nhớ chở Tư Được đem về đây, vì người ấy là người đại thù của gánh “Góc Trời Nam”.
 - Được, cô nằm nghỉ an, tôi mướn xe đi lập tức bây giờ đây, à còn Lê Tứ Hải?
 - Chàng bị bắt đem nơi nào chớ không có trên rừng Bù Đốp. Tôi với Tố Tâm tìm kiếm hết sức không thấy tâm dạng gì ráo.
 - Ủa Tố Tâm đi với cô sao?
 - Không phải đi với tôi, song Tố Tâm đi cứu tôi mà thôi?
 - Lạ dữ này, cô làm gì mà phải đi cứu?
 - Tôi bị nạn nguy hiểm lắm.
 Rồi đó nàng thuật lại cho ông Vân Đình nghe việc Tư Được nài hoa ép liễu. Xong rồi cô nói tiếp:
 - Hiện giờ đây tôi chắc Lê Tứ Hải ở Sài Gòn, mà bây giờ tôi còn đau, biết làm sao mà đi cứu chàng được. Không biết chàng sống chết thể nào?
 - Tố Tâm có nói trong thơ rằng mọi việc sẽ có người; thôi tôi kiếu cô, đặng đi lên Bù Đốp.
 Mười hai giờ khuya, ông Vân Đình tới chỗ xe đụng, tên sốp phơ đã hết thở, mình lạnh ngắt như đồng, còn Tư Được, ông kiếm hoài mà không ra. Cái xe còn nằm tự nhiên đó, máy móc đều hư hết, không còn trông gì sửa lại được nữa. Ông chở tử thi sốp phơ đem về Sài Gòn chôn cất rất tử tế.
 Mười ngày đã qua, Kỷ Loan mạnh lại như thường, ra đứng rạp được, song bộ còn yếu lắm. Lê Tứ Hải biệt tin, không biết đâu mà truy tầm. Kỷ Loan suy nghĩ hoài mà không ra: “Tố Tâm là người gì mà biết mọi việc cả? Cho đến đỗi biết ta kén một người anh hùng hào kiệt danh bay khắp bốn biển năm châu. Người có hứa rằng rồi đây người sẽ tìm người ấy cho ta, người ấy tài bực nào lận? Hơn Tố Tâm chăng? Ta không chắc được, vì từ hồi nhỏ đến tuổi này ta không thấy mà ta cũng không nghe người nào tài trí như Tố Tâm vậy. Ta muốn bỏ gánh hát “Góc Trời Nam” mà đi kiếm Tố Tâm, song vì tình tri ngộ của ông Vân Đình mà ta không nỡ rời rạp hát, chớ lòng ta thiệt muốn tìm cho được Tố Tâm mà thôi.
 Mười ngày rồi, Tố Tâm không đến thăm ta là tại cớ gì? Ta phải rán tìm cho ra duyên cớ.
 Điều thứ nhứt, chắc là Tố Tâm giận ta. Mà không lẽ, Tố Tâm là người anh hùng hào kiệt, không lẽ vì việc nhỏ mọn là gỡ mặt nạ người mà người giận?
 Điều thứ hai, chắc là Tố Tâm mắc lo truy tầm Lê Tứ Hải chớ gì? Duyên cớ này đáng tin lắm. Ta nằm đêm nhớ lại chuyện trên rừng Bù Đốp mà ta bắt xung gan. Tư Được là người gì mà khốn nạn đến thế. Ả ta nhớ ra rồi. Nó có đem cho ta một bộ cà rá, một đôi bông hột xoàn trên hai ngàn đồng, nó có cậy mai đi nói ta song ta không ưng vì tại cái chức “Công tử bột” của nó. Ta nhớ đến nó thì ta lại nhớ việc nó làm mà ta muốn ăn gan nó. Nếu Tố Tâm không đến kịp thì còn gì là ta. Nếu Tố Tâm trễ chừng mười phút thì chắc hôm nay mồ của ta cỏ mọc xanh um, sổ Diêm Chúa thêm một tên nữa.
 À, bộ khi vì việc ấy mà nó toan giết Lê Tứ Hải, bởi nó nghi Lê Tứ Hải sẽ cùng ta nên điệu vợ chồng chớ gì? Trời ôi! Cũng vì ta mà ngày hôm nay Lê Tứ Hải là người vô tội phải thọ hàm oan như vầy! Vậy rồi đây ta sẽ liều sanh tử mà tìm cho được Lê Tứ Hải mới nghe. Còn cái tên Tố Tâm là “Người cho bông lài” hễ ta nghĩ đến dường như ta thấy người ở trước mặt vậy. Ta nhớ giọng cười, tiếng nói, bộ đi thì ta lại thương người. Ta thương người mà sao người vô tình với ta lắm vậy? Không lẽ ta là người không xứng đáng? Chắc là Tố Tâm có vợ rồi chớ gì? Bởi vậy nên người hứa sẽ tìm người anh hùng hoàn cầu đệ nhất cho ta. Nếu thiệt vậy thì chắc cái thân này làm ma không chồng.
 Ta muốn tỏ thiệt cho người nghe, song ta ngại quá. Nếu người nghe thì chẳng nói gì, bằng không thì... trời ôi! Cái kiếp xuân này hết trông toại hưởng.
 Tố Tâm chàng ôi! Ngày hôm nay thiếp đau đớn dường này, thì chắc chàng có hay giùm chăng nhẽ? Nếu chàng biết được sự đau đớn này thì chắc chàng cũng động mối thương tâm, hay là chàng búng rảy. Trời ôi! Tạo đoan sao cắc cớ? Đem mảnh hường nhan này xô vào lưới rập, bao giờ thiếp gỡ cho ra. Trò đời lắm điều cay nghiệt!
 “Ước gì có khắn dây quá hải,
 Hỏi Phật bà duyên bởi vì đâu”.

 Tội nghiệp thiếp lắm, Tố Tâm chàng ôi! Bộ thiếp có nhiều tội, nên ngày hôm nay thiếp phải đền: “Người cho bông lài” ôi! Bao giờ cho:
 “Sông Ngân sẽ bắc cầu Ô Thước.
 Bỏ công dày chầu chực bấy lâu?”

 Hay là thiếp phải:
 “Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa,
 Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”.

 Nàng than đến đây thì nước mắt nàng nhỏ xuống có giọt.
 Bữa kia Kỷ Loan đương ngồi trong buồng, con tớ chạy vô nói, có “Người cho bông lài” đến.
 - Mày hãy mời vào.
 Con tớ chạy ra mở cửa, Lê văn Hảo bước vô chào cô Kỷ Loan mà rằng:
 - Tố Tâm cho Quý nương hay rằng bệnh của Lê Tứ Hải đã bớt nhiều, trong vài ngày sẽ mạnh.
 - Lê Tứ Hải bây giờ ở đâu, làm sao Tố Tâm biết được?
 - Chừng nào chúng nó vách mây lên trời mới chạy khỏi Tố Tâm, bằng chúng nó còn sống ở thế gian này thì đừng trông gì trốn Tố Tâm được. Lê Tứ Hải bị nhốt một chỗ kín vô cùng, không tiện cho Quý nương hay bây giờ.
 - À, còn Tư Được sống chết thế nào?
 - Nó còn sống như thường.
 - Phải Tố Tâm cứu tôi trên Bù Đốp không?
 - Phải.
 - Tố Tâm chở tôi vô nhà thương phải không?
 - Nếu Tố Tâm nhận rằng phải, thì Quý nương lấy gì làm bằng cớ mà rõ được?
 - Tôi tin lời Tố Tâm mà thôi.
 - Thôi việc ấy qua rồi không cần thuật lại, bây giờ Tố Tâm nói việc sẽ tới. Tư Được ngày nào còn sống thì nó sẽ trả thù hoài, việc nó cầm Lê Tứ Hải cho ăn, cho uống, cho thuốc cho men, thì chắc có duyến cớ chi đây.
 Bây giờ Tố Tâm không thể nào diệt trừ chúng nó được, tốt hơn là chúng ta nên coi cách hành động chúng nó mà lần lần gỡ rối. Bằng chúng ta trừ xẵng lắm, Tố Tâm e một mất một còn.
 - Làm thế nào tôi cũng phải vâng lời Tố Tâm hết.
 - Vậy thì tốt lắm, nếu Quý nương có được tin tức chi về việc ấy thì Quý nương gởi thơ cho Tố Tâm để “Tố Tâm poste restante à Cholon” thì Tố Tâm rán giúp Quý nương cho thành việc, Tố Tâm xin kiếu Quý nương.
 - Khoan khoan, chậm chậm, đợi tôi phân ít lời.
 - Phân ít lời gì, chắc Quý nương đòi giết Tố Tâm chớ gì?
 - Không phải.
 - Vậy chớ lời gì? Hay là đòi coi mặt nữa?
 - Không. Tôi có một chuyện muốn nói song tôi e Tố Tâm không nghe.
 - Nếu Quý nương nói việc làm nghĩa thì Tố Tâm nghe hết.
 - Không phải việc nghĩa; ấy là việc tư của tôi.
 - Tố Tâm đã nói rồi, rằng việc tư của Quý nương, Tố Tâm choáng rõ, không cần gì Quý nương phân giải.
 Kỷ Loan dợm nói đôi ba lần mà làm như có sự gì ngăn cản cổ, cô không thể nào nói được, giây lâu cô than nho nhỏ:
 - Tố Tâm chàng ôi! Sự đau đớn này chắc là thiếp chịu không thấu.
 - Quý nương đau đớn việc gì? “Tố Tâm” dám bảo quyết rằng Lê Tứ Hải khỏi bị hại.
 Kỷ Loan nghe Tố Tâm nói tới đó, nàng trợn mắt ngó ngay Tố Tâm mà rằng:
 - Không phải việc đó đâu. Tố Tâm là người tài trí mà nói câu ấy thì ra hẹp hòi. Tố Tâm muốn tôi banh gan, banh phổi ra cho Tố Tâm soi thấy không?
 Tố Tâm không tin lời tôi nói sao?
 - Tố Tâm nói chi cay đắng lắm vậy?
 - Tố Tâm muốn giết tôi sao?
 - Không, Tố Tâm không bao giờ giết ai cả. Quý nương đòi giết Tố Tâm đôi ba phen, song may nhờ cái mạng của Tố Tâm chưa phải chết về viên đạn hay là lưỡi kiếm của Quý nương, nên may mà còn sống đây.
 - Phải, Tố Tâm không cầm súng, cầm kiếm giết ai, chớ cái lời nói của Tố Tâm có thể giết người như chơi.
 - Tố Tâm đâu được tài đến thế.
 Kỷ Loan muốn nói nữa mà không dám. Cô ngồi xuống mà nước mắt chảy ướt gò má; giây lâu cô than rằng:
 - Nếu chàng không chê thiếp là người tài sơ trí siểng thì thiếp nguyện trao thân này nhờ bóng tùng quán của chàng che chở.
 - Hay cho Quý nương dữ a! Sao Quý nương biết Tố Tâm là người thế nào mà dám trao thân gởi phận?
 - Dầu thế nào thiếp cũng nguyện theo chàng mà thôi.
 - “Tố Tâm” là tên ăn trộm, Quý nương biết Tố Tâm là một đứa xấu xa hơn thiên hạ, Quý nương ưng nữa sao?
 - Tội nghiệp thiếp mà, Tố Tâm chàng ôi! Nói chi những lời chua cay ấy?
 - Thôi, Quý nương hãy bỏ qua việc ấy đi, sau rồi sẽ hay hễ “Minh quân lương tể tao phùng dị, tài tử giai nhân tế ngộ nan”, còn “Hữu duyên thiên lý ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”, Quý nương hãy yên tâm chẳng bao lâu Quý nương sẽ thấy “Hoàn cầu anh hùng đệ nhất” ra mặt, chừng ấy Quý nương sẽ liệu. Bây giờ đây, anh hùng trong bốn biển, năm châu còn đương tranh nhau, chưa biết ai đại tài Quý nương rán đợi, lâu là một năm còn mau thì sáu tháng.
 - Tôi không cần chọn lựa khác hơn là Tố Tâm.
 - Ý, không được đâu. Một lời nói như phá thạch; nếu Quý nương không suy đi nghĩ lại thì Tố Tâm đây chê Quý nương lắm đó.
 Nói đến đấy, Kỷ Loan đứng dậy ngó Tố Tâm một cách rất thiết yếu ai trông vào cũng phải thương tâm, đoạn nàng lại gần Tố Tâm, vừa muốn ôm chàng vào lòng thì bỗng đâu Tố Tâm xô ra mà rằng:
 - Giỏi cho Quý nương dữ a! Mấy lâu nay Quý nương lòng trinh bạch, âm chất phỉ phong, ngày nay Quý nương làm trò lả lơi nhảm nhí, không sợ lằn tên mũi đạn dư luận của công chúng bắn vào sao?
 - Tố Tâm đành giết thiếp sao?
 Nàng nói rồi úp mặt trên ghế khóc, giây lâu nàng đứng dậy dòm tứ phía không thấy Tố Tâm, nàng ngã ngửa ra giường bất tỉnh.
 Thật ái tình có cái điển lực gì lạ kỳ? Khiến con người phải tê tái gan vàng, xốn xang đoạn ruột. Kỷ Loan nằm trên giường nước mắt chảy dầm dề, lăn qua lộn lại kêu trời khôn xiết. Giây lâu nàng chắc lưỡi bức đầu ai trông vào cũng phải thảm thiết.
 Tố Tâm có cái tài đặc biệt gì mà không lụy vì tình? Thiệt đáng khen đáng trọng. Một ả tài hoa than giọng thê lương thảm thiết như vầy mà không bao giờ xiêu lòng ngả trí, quyết giữ cho được cái tình cao thượng mà thôi, thiệt ít ai được vậy.
 Hai ngày sau, Kỷ Loan tiếp được một bức thơ của Lê Tứ Hải như sau này:
 “Tôi kính lời cô hay:
 Hiện giờ tôi bị bắt giam cầm tại nhà số 215 đường Colombier. Bệnh tôi trầm trệ tới ngày nay, sợ e không qua khỏi. Nếu cô niệm tình tôi là người đồng nghiệp với cô, xin cô cảm phiền dời gót đến nhà nói trên đây, đặng tôi cạn phân vài lời, một mai hồn tôi có xuống huỳnh tiền thì không bao giờ tôi quên ơn cô được.
 Vài hàng giấy mực, một tấm lòng son, nhờ ơn cô đoái tưởng.
 LÊ TỨ HẢI”

 Nàng Kỷ Loan thấy rõ ràng dấu ký tên của Lê Tứ Hải. Chữ viết của Lê Tứ Hải thì nàng không nghi ngờ gì nữa. Nàng lấy làm thương hại cho Lê Tứ Hải, vì nàng mà ngày hôm nay mạng người như chỉ mành treo chuông. Nàng thương lượng với Vân Đình rồi nàng nhất định đi cho giáp mặt Lê Tứ Hải.
 Một chặp nàng nhớ đến Tố Tâm, nên nàng lại bàn viết ít hàng chữ đề gởi cho Tố Tâm. Nàng lại nhớ Tố Tâm nói với nàng rằng: “Lê Tứ Hải đã mạnh rồi còn sao nay Lê Tứ Hải cho nàng hay rằng bệnh nặng”. Nàng nói một mình: “Không lẽ Tố Tâm gạt ta rồi nói vậy cho ta yên lòng? Điều đó không nên tin đâu. Còn bức thơ của Lê Tứ Hải đây chắc là bọn Tư Được ép Lê Tứ Hải viết chớ gì? Mà ta có nên sụt sè nhát nhúa không đi đến đó không ư? Ta vào ra biết bao nhiêu trường quyết chiến, mà ta chưa nao núng huống hồ việc này là việc nghĩa nên làm, dầu có chết thân này ta cũng không quản gì. Thôi, không cần bàn bạc gần xa, ta nhất định đi”.
 Đoạn chiều lại, 8 giờ tối nàng sửa soạn đâu đó xong rồi, nàng giắt trong mình một lưỡi kiếm một cây súng lục liên, rồi nàng ra xe kéo kiếm đường Colombier dung ruổi.
 * * * * *
 Đây nói về Lê văn Hảo được bức thơ của Kỷ Loan cho hay, thì trong bụng rất mừng. Tuy là có hại song không sao, vì sẽ có người cứu Kỷ Loan. Chàng ngồi một mình mà bộ đắc chí lắm, chàng lại khen Sáu Ngởi có trí, biết sắp mưu bày kế rất tài. Chàng biết rằng Lê Tứ Hải không phải bị cầm nơi đó song chàng muốn cho Kỷ Loan đi đến nơi, đặng Kỷ Loan sẽ rõ tài nghĩa hiệp của “Người cho bông lài”. Lê văn Hảo suy nghĩ một mình tới đó rồi coi đồng hồ thấy 8 giờ thì chàng biết rằng giờ này Kỷ Loan đã đi tìm Lê Tứ Hải, Lê văn Hảo thay đồ rồi cũng kêu xe kéo ra đường đi mất...
 Còn bọn Tư Được sắp bày kế đặng bắt cho được Kỷ Loan; Tư Được nói với Ba Quế và nội bọn mà rằng:
 - Tao quyết một còn một mất với người mặt nạ. Vậy bay hết lòng giúp tao cho đến cùng. Nếu Kỷ Loan về tay tao rồi thì mỗi đứa bay đều được trọng thưởng cả.
 Ba Quế nói:
 - Tôi sợ Kỷ Loan mách cho cò bót quá.
 - Không bao giờ Vân Đình cho Kỷ Loan đi mách bót vì Vân Đình sợ ta oán giết phức Lê Tứ Hải thì còn gì là gánh “Góc Trời Nam”.
 - Câu nói đó rất phải. Thôi gần tối rồi, mình kéo róc lên nhà trên đường Colombier mà đợi.
 Rồi đó Tư Được ra xe hơi đi với nội bọn vô nhà số 315, đường Colombier ngồi đó đợi có trót giờ, người nói chuyện này, kẻ nói chuyện khác cho giải muộn. Tư Được nằm trên giường sắt, Tư Được nghe tiếng xe kéo ngừng. Chàng liền biểu nội bọn lẳng lặng cứ y kế mà thi hành. Kỷ Loan bước vô nhà tay cầm súng sáu. Cửa hi hí nàng nhè nhẹ xô vô. Nàng dòm trong nhà không thấy ai hết.
 Đồ đạc cũng không có, nàng biết là nhà hoang, nàng bước vô vài bước nữa thì cũng không nghe tiếng động tịnh gì cả. Nàng nói một mình rằng: “Nhà hoang sao lại thắp đèn sáng trưng kìa?” Nàng bước vô tới buồng cũng không thấy ai cả. Thình lình trên nóc nhà rớt xuống một cái mền to lớn vô cùng, nàng muốn tránh mà tránh không được. Cái mền ấy rớt ngay xuống đầu nàng rồi bao phủ, nàng không còn thấy gì nữa. Đèn điện tắt ráo. Nàng vừa muốn tung cái mền ra, thì kế bị bọn Tư Được áp lại, kẻ giật súng người rút gươm. Phải như không có cái mền ấy rớt xuống bao phủ nàng thì bao nhiêu người nàng cũng giết hết, bởi vậy nàng mới bạo gan đi một mình. Thật là một gái oanh liệt vô song, bọn Tư Được trói quách nàng lại, đem nàng để trên giường. Nàng hết sức vùng vẫy song vô ích.
 Tư Được thấy việc thành rồi, trong bụng mừng vô cùng chàng nói thầm rằng “Phen này mười mạng nó bây giờ không khỏi ta nữa. Hôm trước trên rừng ta đuổi tụi Ba Quế ra về nên mới có người mặt nạ, bữa nay bốn phía vách tường không, vả lại ta cầm bọn Ba Quế ở lại, người mặt nạ dầu ba đầu sáu tay vô đây cũng không được nữa”.
 Chàng liền nói với bọn Ba Quế:
 - Nè, tụi bay ở đàng trước chơi đợi sáng hãy về. Bay phải coi chừng ngoài đường cho lắm, hồ có ai vô, bay đừng cho vô, bay cứ đánh và bắt trói họ lại.
 Ba Quế và nội bọn gặt đầu bước ra ngoài trước, kẻ ca người hát om sòm.
 Tư Được bước vô thấy Kỷ Loan mày tằm mắt phượng, môi đỏ tợ son đôi gò má ửng hồng, mặt như dồi phấn còn mình mấy diệu nhiễu, lửa lòng phát cháy. Tư Được bước lại vuốt ve Kỷ Loan, kế bị Kỷ Loan mắng rằng:
 - Mi là đứa khốn nạn, không biết liêm sỉ là gì? Phải chi ta không bị trói thì ta ăn gan mi cho đã nư giận.
 - Lúc trước trên rừng Bù Đốp, tôi không cẩn thận, nên mới để cho “người mặt nạ” vào nhà, bữa nay tôi đố cô chạy khỏi tay tôi.
 - É, mi là đồ khốn kiếp, ta tha mi trên Bù Đốp, bằng không vậy ngày nay mi đã làm ma không đầu rồi. Mi không niệm tiền ân, mi lại còn hại ta nữa. Hèn chi người ví: Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán, là phải.
 - Nếu cô không ưng thuận, nè tôi nói thiệt tôi sẽ giết cô chết đa.
 - Thôi mi giết ta đi.
 - Trong lúc giận, cô nói vậy chớ sau rồi cô ăn năn không kịp.
 - Thôi, mi tha ta ra phen này ta nguyện dâng cho mi mười muôn đồng.
 - Cô đừng tưởng tôi ham đồng tiền. Tôi muốn cùng cô nên điệu vợ chồng mà thôi, dẫu tôi mất mấy muôn tôi cũng không sá gì.
 - Mi là đứa súc sanh, không biết nhân đạo...
 Cậu Tư Được không thèm nói gì hết, cứ đem cái thói dã man ấy mà giở ra.
 Kỷ Loan than rằng:
 “Tôi có dè mạo hiểm mà ra cớ đỗi này! Tố Tâm chàng ôi! Thôi phen này, người dương gian toại hưởng ngày xuân, kẻ chín suối ruột tằm đòi đoạn, chàng đâu có hay mà đến tiếp tôi, mà dầu có đến chàng làm sao mà vô được, ở trước thì quân này ngăn giữ, ở sau vách tường chận cản thì dẫu cho Tố Tâm tài đến bực nào chảng vô cũng không được. Thôi còn trông gì đến sự Tố Tâm đến cứu...”
 Nàng than đến đó, nước mắt chảy ròng ròng.
 Đây nói qua bọn Ba Quế ở nhà trước nói chuyện với nhau chơi, trong bọn đó có Sáu Ngởi. Sáu Ngởi tuy giỡn chơi như thường, song lỗ tai chàng cứ để nghe việc Tư Được với Kỷ Loan. Chàng nghe đến lúc làm dữ, chàng liền mở hộp thuốc tây ra mời Ba Quế và nội bọn hút.
 Ba Quế nói:
 - Thằng Sáu Ngởi nãy giờ mày có thuốc mà mày xấu vậy đa!
 - Không phải vậy đâu anh, tại tôi quên chớ.
 Rồi đó mỗi đứa lấy một điếu phì phà, khói bay ngui ngút. Có đứa lại khen: “Thuốc ngon quá”.
 Thuốc đó là tại nơi tay của Lê văn Hảo chế ra tẩm thuốc độc, nên nội bọn Ba Quế hút rồi thì say mèm nằm nghiêng nằm ngửa không còn biết gì hết. Sáu Ngởi cũng hút mà khỏi mê là nhờ anh ta lấy điếu không tẩm thuốc.
 Sáu Ngởi thấy nội bọn đương ngon giấc, liền bước ra mở cửa. Lê văn Hảo đứng ngoài đợi nãy giờ kế thấy Sáu Ngởi mở cửa chàng liền bước vô, đi thẳng tuốt vô buồng. Còn Sáu Ngởi làm bộ nằm ngủ như Ba Quế và nội bọn. Lê văn Hảo đi nhè nhẹ lại giường, nắm cổ Tư Được.
 Tư Được ngồi ngó mặt vô trong, chừng hay có người nắm cổ thì hồn phi phách tán, không biết ai vào nhà được. Kỷ Loan dòm lại thấy rõ ràng “Người mang mặt nạ” nàng đoán chắc là Tố Tâm đi cứu nàng. Nàng hết sức vui mừng, nàng không biết làm sao mà Tố Tâm vô được, nàng tưởng đâu Tố Tâm biết tàng hình. Tư Được muốn la thì đã bị Lê văn Hảo bóp họng, nhét khăn mouchoir vô miệng. Đoạn chàng lấy dây trói lại.
 Lê văn Hảo mở dây cho Kỷ Loan rồi day lại nói với Tư Được:
 - Ta dung mi khỏi chết trên Bù Đốp; sao mi không ăn năn, mi còn giở cái thói dã man của mi ra nữa? Nè ta nói cho mi biết: “Tố Tâm” ra đời thì mười mạng như mi cũng không khỏi tay ta nữa. Mi tưởng nhốt Lê Tứ Hải trên Thủ Đức là nhẹm lắm sao? Mi tưởng đem Kỷ Loan vô nhà này rồi không ai vô cứu phải không? Mi lầm rồi. Mi banh mây lên trời mi ở, họa may mi trốn khỏi ta mà thôi, chớ ngày nào mi còn ở thế gian thì mi đừng có làm chuyện lộng trời lộng đất nữa. Phen này mi đừng kiếm cớ thoát thân vô ích. Khám lớn mở cửa chờ mi rồi đó; mi đừng trông về thấy cha mẹ vợ con mi nữa.
 Lê văn Hảo nói rồi dẫn Kỷ Loan ra về. Ra khỏi cửa, Lê văn Hảo nói:
 - Quý nương về rạp thì sẽ gặp Lê Tứ Hải.
 - Tố Tâm làm sao mà đem người về được đó?
 - Chẳng có lạ gì. Tố Tâm thừa dịp chúng nó kéo róc lại đây, mà lên Thủ Đức đem Lê Tứ Hải về rạp.
 - Thật Tố Tâm là đại tài, à bọn này Tố Tâm tính sao?
 - Tư Được là đứa bày mưu thiết kế, đầu dây mối nhợ là tại nơi nó, còn bọn này vô tội, cũng nên thư nó làm phước.
 - Làm sao mà Tố Tâm vô đây được?
 - Đó là nhờ bọn này trúng thuốc độc của tôi.
 Rồi chàng thuật chuyện Sáu Ngởi làm, Kỷ Loan mừng không xiết kể. Lê văn Hảo đem Tư Được ra xe kéo và biểu cô Kỷ Loan chở tuốt xuống sở tuần cảnh. Kỷ Loan y lời, Lê văn Hảo bước vô, lấy một ve thuốc nhỏ trút ra trong một miếng bông gòn, rồi xé ra làm năm để mỗi miếng trên mũi của bọn Ba Quế.
 Không đầy ba phút, năm đứa ngồi dậy thấy Kỷ Loan đứng với người mặt nạ thì trong trí ngẩn ngơ không nói được lời gì cả. Kỷ Loan và Lê văn Hảo thấy vậy bắt tức cười, Kỷ Loan nói:
 - Bay bắt ta hồi nãy phải không? Bây giờ ai bị bắt ngồi ngoài xe kéo kia?
 Bọn Ba Quế bèn dòm ra thấy Tư Được, kế nghe Lê văn Hảo tiếp:
 - Thôi, ta tha bay về lo làm ăn đừng có lấp lửng mà theo bọn Tư Được nữa, nếu ta mà bắt đặng bọn bay một lần nữa thì ta không dung đâu.
 Bọn Ba Quế nghe nói đều tỏ dấu cám ơn rồi ríu ríu đi ra, còn Lê văn Hảo từ giã Kỷ Loan mà về. Kỷ Loan bắt tay riết lại rất mạnh tỏ dấu cám ơn rồi ra đem Tư Được xuống bót. Kỷ Loan ngồi trên xe kéo mà trí cứ khen Tố Tâm là người tài trí gồm toàn, thật đáng anh hùng hào kiệt. Hai phen rồi phải không nhờ người thì còn gì thân ta.
 Kỷ Loan giao Tư Được cho ông Cò rồi thuật chuyện Tư Được, hai lần toan nài hoa ép liễu, ông Cò làm ăn kết xong rồi cách vài tuần sau Tư Được bị tòa đại hình kêu sáu tháng tù, ấy là nhờ cha mẹ vác tiền đem lo có trên mấy muôn mới được án nhẹ vậy.
-----------------------------------------
[1] Lê văn Hảo biết tiếng Khách trú là nhờ học với một người thông ngôn trên tòa lúc hai năm về trước. Lê văn Hảo nói không sai một chữ.
[2] Lê văn Hảo biết cầm tay bánh, vì nhờ lúc nhỏ có học Trường Bá Nghệ Sàigòn.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.06.2017 03:08:15 bởi casau>
Chương thứ hai
 
I. Tài nghĩa sĩ
Gánh hát “Góc Trời Nam” đến Sài Gòn hát được hai tháng, bình an vô sự.
Bữa kia Lê văn Hảo lên nhà thơ tiếp được một nang thơ của Kỷ Loan gởi, nói như vầy:
“Thưa Tố Tâm:
Em lấy làm hân hạnh mời Tố Tâm chiều mai 9 giờ đến rạp ‘Góc Trời Nam’ dùng một ly rượu gọi mừng cho Lê Tứ Hải được bình an vô sự.
Mong sao Tố Tâm chớ từ.
Mai thị Kỷ Loan”.

Lê văn Hảo coi thơ rồi, không biết Kỷ Loan mời có việc chi, nên trong lòng bán tín bán nghi, chớ chàng biết chắc là Kỷ Loan không phải vì sự Lê Tứ Hải mà mời chàng. Lê văn Hảo than một mình: “Đi đây không biết có sự gì rủi xảy tới cho ta không? Ta sợ e Kỷ Loan biết mặt thì còn gì là ta? Sở liệu của ta bất thành thì ta mới sao đây? Cái đời của ta sẽ trở nên khốn nạn.
Danh của ta càng thêm nhơ nữa. Bấy giờ không đi thì Kỷ Loan chê ta là nhát nhúa, âu ta bạo gan đánh liều. À, còn Kỷ Loan có tình cùng ta rất nặng, nếu gặp mặt nàng một lần nữa rồi rủi nàng trìu mến ta quá, thì ta mới liệu sao? Phen rồi nàng ôm ta, may ta không khứng chiều theo nàng, nên hôm nay ta không có lỗi gì mà ăn năn hết. Bữa nay chắc gì ta sẽ dằn được ngọn lửa lòng của ta không? Điều ấy ta không thể bảo kiết được. Thôi nhắm mắt đánh liều, rồi đến nơi tùy cơ ứng biến chớ biết sao”.
Bữa mời Lê văn Hảo đến đó, “Góc Trời Nam” nghỉ một đêm. Vân Đình bày một tiệc rất long trọng đặng đài Lê văn Hảo.
Tiệc bày sẵn sàng hết, Kỷ Loan mặc một bộ đồ nhung đỏ rất gọn gàng, ngồi giữa, Vân Đình ngồi bên tay mặt, Lê Tứ Hải ngồi bên tay trái; còn đào kép ngồi riêng một cái bàn khác. Đồng hồ gõ 9 giờ, ai nấy cũng đều mừng cứ ngóng ra ngoài mãi?
Kỷ Loan nói: “Chín giờ rồi, sao Tố Tâm không đến?”
Vân Đình nói: “Hay là người mắc việc gì đây nên tới không được chớ gì”.
- Không lẽ, vì nếu không đến thì cũng phải cho tôi hay chớ.
Lê Tứ Hải đợi Tố Tâm hoài mà không thấy thì có ý nghi Tố Tâm không đến. Phút chốc ngoài cửa có tiếng xe hơi nổ “bùn bùn” ai nấy đều ngó ra ngoài, thấy một người mặc toàn đồ hàng đen, trên đầu đội kết, mang mặt nạ, đi giày cao su. Người ấy ai cũng chắc là Tố Tâm cả. Bước vô đến cửa, toàn hết cả đào kép đứng dậy. Kỷ Loan, Vân Đình, Lê Tứ Hải mời lại ghế ngồi. Lê văn Hảo nói:
- Ngày hôm nay tôi lấy làm vinh dự mà được toàn cả gánh “Góc Trời Nam” mời đến dự tiệc, song tôi có đáng gì mà trọng đãi như thế?
Kỷ Loan nói: “Tố Tâm đừng khiêm nhượng quá lời”.
Rối đó hết thảy ngồi lại vầy tiệc. Đến tuần Champagne, bồi đem cho mỗi người môt ly. Lê văn Hảo ngồi ăn mà trí chăm chỉ từng món ăn. Bây giờ chàng dòm trong ly Champagne, thấy có vật gì trắng trắng, dường như thuốc vậy. Chàng định chắc là thuốc độc. Lê văn Hảo giả ý nói:
- Quý nương sẵn lòng mời tôi đến đây sao Quý nương còn biểu ai đứng ngoài cửa, đợi tôi ra về đặng bắt?
Kỷ Loan và hết thảy đều lấy làm ngạc nhiên lật đật bước ra ngoài, Lê văn Hảo thừa dịp lộn xộn đổi ly Champagne cho ông Vân Đình. Kế Kỷ Loan bước vào nói:
- Không phải đâu, ấy là mấy đứa ở núp coi Tố Tâm đó. Tôi đã biểu nó đi rồi. Tố Tâm hãy an lòng.
Rượu rót ra, bọt trào có giọt, ai nấy đều bưng ly, Lê Tứ Hải tỏ vài lời cám ơn Tố Tâm. Tố Tâm cũng đáp lại xong rồi mỗi người bưng uống cạn ly Champagne.
Lê văn Hảo bưng uống như thường không tỏ dấu gì sợ sệt cả, Kỷ Loan, Vân Đình và Lê Tứ Hải chắc rằng Lê văn Hảo sắp mắc kế, nào hay đâu chừng năm phút, ông Vân Đình lần lần té ngửa ra ghế, ai nấy đều lấy làm ngạc nhiên, chạy lại đỡ ông Vân Đình, kế nghe Lê văn Hảo nói:
- Vì sao Quý nương dùng ly thuốc độc mà cho Tố Tâm uống vậy? Ấy là Quý nương trả ơn cho tôi đó hả?
Lê Tứ Hải và Kỷ Loan biết mình lỗi nên ngồi gục mặt xuống không nói gì hết. Giây lâu Kỷ Loan nói:
- Tôi cam thọ tội, vì tôi muốn biết mặt Tố Tâm nên bạo gan đánh liều cho Tố Tâm uống thuốc đó. Thuốc ấy nó làm cho con người say một lúc, rồi uống nước lạnh, tất nhiên tan hết độc.
Nói rồi, nàng liền cho ông Vân Đình uống một ly nước lạnh, quả thật lần lần tỉnh lại. Kế nghe Lê văn Hảo nói:
- Tôi đã nói rằng tôi không đáng gì cho Quý nương biết mặt, sao Quý nương cứ giở cái thủ đoạn ấy hoài? Quý nương không thẹn sao?
- Thôi, việc đó Tố Tâm cũng nên tha lỗi cho tôi, và sẵn đây có Lê Tứ Hải, xin Tố Tâm vui lòng đấu vài món binh khí. Ấy là một dịp cho Lê Tứ Hải dợt võ lại, kẻo người đã bỏ lâu rồi.
- Tôi tài gì mà Quý nương biểu đấu? Quý nương đã thắng Karaki là tay vô địch miền Viễn Đông này, mà Quý nương đấu còn không lại thay, nay tôi tài cán gì Quý nương biểu đấu, đó chẳng qua là múa rìu trước mặt thợ không sợ Lê Tứ Hải cười sao?
- Tôi không phải biểu đấu tài cao thấp, tôi chỉ cậy Tố Tâm chỉ giùm vài thế cho Lê Tứ Hải học thêm, tôi đủ biết tài Tố Tâm, Tố Tâm đừng khiêm nhường.
- Quý nương nói vậy, tôi cũng chiều lòng. Thôi, dẹp bàn ghế đi. Quý nương hãy lấy hai cây trường kiếm đem ra đây.
Kỷ Loan lấy cặp kiếm đem ra, rồi đó Lê Tứ Hải cởi áo lựa một cây trường kiếm cầm tay, Lê văn Hảo cũng vậy. Cả hai bước dang ra, Lê Tứ Hải nói:
- Tố Tâm! Xong chưa?
- Xong rồi.
Cả hai xáp lại, hai lưỡi kiếm qua lại như chớp, một chập không còn phân biệt hai người được, chỉ thấy lằn kiếm sáng ngời mà thôi. Kế Lê văn Hảo dừng kiếm phi bộ ra ngoài, Lê Tứ Hải hỏi: “Bộ mệt rồi sao?”
- Không. Đánh tới sáng tôi cũng còn dư sức mà!
Rổi cả hai xáp lại nữa, Lê Tứ Hải vừa đánh vừa đỡ mà trong trí khen Lê văn Hảo mãi.
Một chập chàng có ý mệt. Vừa muốn phi bộ ra ngoài thì lại nghe Lê văn Hảo nói:
- Lê Tứ Hải rán giữ mình, hãy coi đường kiếm này.
Nói vừa rồi Lê văn Hảo liền dùng miếng gì rất hay đánh văng gươm Lê Tứ Hải.
Kỷ Loan khen ngợi khôn cùng, Lê Tứ Hải có sắc thẹn. Ông Vân Đình nói:
- Thật là anh hùng hào kiệt, thuở nay tôi chưa thấy.
Lê văn Hảo hỏi:
- Lê Tứ Hải trong thập bác ban võ nghệ, chàng tinh thông món nào?
- Món kiếm.
- Vậy Lê Tứ Hải còn muốn đấu thứ khác nữa thôi? Món kiếm là món tôi ít tập luyện hơn hết. Cây siêu là món tinh thông của tôi. Vậy sẵn đây Quý nương đem cho tôi mượn một cây siêu tôi vợt vài đường cho Quý nương coi.
Kỷ Loan y lời, Lê văn Hảo cầm cây siêu múa như rồng lộn, gió dậy ồ ồ. Trông vào không thấy hình của Lê văn Hảo. Kỷ Loan khen thôi nức nở, một chập Lê văn Hảo dừng siêu mà không có chút gì mệt cả. Lê Tứ Hải hắt tay khen Lê văn Hảo là tay võ nghệ siêu quần, toàn cầu anh hùng khó thắng nổi. Kế nghe ông Vân Đình nói:
- Vậy xin phép Tố Tâm, như không muốn cho tôi biết mặt thì Tố Tâm cũng nên cho tôi biết tên được không?
- Tên tôi là Tố Tâm, ông còn muốn hỏi tên gì nữa?
- Ấy là biệt hiệu của thầy.
- Cần gì ông phải biết tên thiệt? Sau rồi ông sẽ rõ chẳng muộn gì. Luôn đây, tôi khuyên ông hãy lập một cái võ đài, tại rạp ông, rồi ông rao cho thiên hạ biết rằng ông chọn Hoàn cầu anh hùng đệ nhất. Chừng ấy gánh “Góc Trời Nam” sẽ đứng đầu trong bốn biển. Vậy mới khỏi hổ với lân bang rằng Việt Nam cũng có kẻ anh tài vậy.
- Tố Tâm giúp tôi không?
- Tôi sẵn lòng giúp ông đặng chọn cho được Hoàn cầu anh hùng đệ nhất giùm cho Kỷ Loan.
Ông Vân Đình cười, cô Kỷ Loan có ý mắc cỡ, kế nghe Tố Tâm nói:
- Trời đã khuya rồi, tôi xin kiếu quý vị.
Rồi đó Lê văn Hảo bắt tay mỗi người, đoạn bước ra ngoài mở máy xe hơi giông mất.
Từ đó về sau Lê văn Hảo cứ ngày đêm dượt võ mãi, chàng sợ một mai có bề gì, thì cái danh chàng hóa ra tro bụi. Sáu Ngởi theo Lê văn Hảo học được nhiều món rất hay; nhất là học quyền. Sáu Ngởi thích hơn hết. Còn ông Vân Đình sáng bữa sau lập tức sai người kêu thợ dựng võ đài liền, nên chẳng bao lâu võ đài đã thành tựu.

II. Trên võ đài
Các hiệu báo ở Sài Gòn đều sẵn lòng cổ động giùm gánh xiếc “Góc Trời Nam” cả. Chẳng bao lâu khắp cả Hoàn cầu đều hay.
Nhiều tay nghề võ có danh trong bốn biển đều lần lượt đến Sài Gòn, mong tranh chức vô địch ấy.
Drakalon là tay võ sĩ Chà có danh tại Nam Kỳ, lại là vô địch xứ Đồng Dương, xin tỉ thí trước hết. Chiều thứ bảy, thiên hạ chen nhau vô cửa đông như kiến. Tiền thâu vô được trên mười lăm ngàn đồng.
Chín giờ khởi sự. Giám cuộc đứng giữa võ đài; tay trái chỉ Drakalon tay mặt chỉ Lê Tứ Hải mà rằng:
- Nhân dịp gánh xiếc “Góc Trời Nam” đến Sài Gòn, ông chủ nhân là Vân Đình sẵn lòng giúp vui cho khán quan nên bày ra cuộc tranh chức “Thiên hạ anh hùng đệ nhất”. Khắp cả Hoàn cầu đâu đâu cũng đều có đánh dây thép đến xin đấu cả. Nay Drakalon là tay vô địch Đông Dương, xin tỉ thí với Lê Tứ Hải là kép cỡi ngựa đại tài của gánh “Góc Trời Nam”.
Ông Vân Đình hứa cho Drakalon năm ngàn đồng, nếu Drakalon thắng nổi Lê Tứ Hải trong ba hiệp đầu.
Giám cuộc nói vừa rồi, thiên hạ vỗ tay như pháo nổ. Kế chuông đổ.
Drakalon xáp lại đánh Lê Tứ Hải rất kịch liệt; Lê Tứ Hải cứ đỡ hoài chớ không chịu đánh lại. Ai nấy đều lo sợ cho Lê Tứ Hải muôn phần. Duy có Kỷ Loan và Vân Đình mỉm cười trong bụng không có ý gì sợ cả.
Mãn hiệp nhứt, Giám cuộc cho nghỉ năm phút. Lê Tứ Hải ngồi nghỉ, mà coi bộ không có mệt chút nào hết. Drakalon ngồi thở hào hển, mà trong bụng anh ta chắc thắng luôn. Chuông đổ lần thứ nhì.
Drakalon ăn quen theo hiệp đầu nhảy đại thoi vào mặt Lê Tứ Hải một thoi mạnh vô cùng, song Lê Tứ Hải cố thủ rồi, nên chi Drakalon vừa đánh tới thì Lê Tứ Hải né qua bên tay mặt: tay của Drakalon phớt ngang lỗ tai của Lê Tứ Hải, trong nội hồi đó Lê Tứ Hải thoi vô con mắt bên tay trái của Drakalon rất mạnh, làm cho Drakalon đứng không vững. Tay mặt cứ dụi con mắt hoài; Thừa dịp đó Lê Tứ Hải đánh một thoi nữa dưới cằm. Drakalon ngã ngửa trên võ đài một cái rầm. Giám cuộc đếm đủ mười tiếng mà Drakalon dậy không nổi.
Giám cuộc tuyên bố cho khán quan hay rằng: Lê Tứ Hải toàn thắng. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi Lê Tứ Hải hoài lại có ý chê Drakalon, sao dám ỷ tài, bấy lâu nay xưng vương xưng bá. Từ đây Lê Tứ Hải nổi danh khắp cả hoàn cầu, không xứ nào không biết.
Ngày kia Vân Đình tiếp được thơ của Nhiêu Hồng là vô địch bên Hồng Kông gởi thơ hứa ngày xin đấu với Lê Tứ Hải. Lê Tứ Hải hay tin ấy bàn với Kỷ Loan mà rằng:
- Phen này không chắc gì tôi thắng nổi Nhiêu Hồng, vì Nhiêu Hồng là tay anh hùng hào kiệt bên Hồng Kông. Nhiêu Hồng hai tay giở nổi trên 100 kí. Tôi tưởng khi phen này chắc là tôi bại quá.
- Lê Tứ Hải, anh đừng lo sợ, Tố Tâm sẵn lòng giúp mình thì có sợ gì mà Nhiêu Hồng thắng nổi.
- Vậy muốn khỏi mất danh giá “Góc Tròi Nam” thì tôi tưởng để cho Tố Tâm đấu hay hơn.
- Phải, anh tính vậy được rồi, thôi để tôi viết thơ nói chuyện này cho Tố Tâm nghe, cầu Tố Tâm thì mọi việc ắt xong.
Thơ gởi cách ba ngày, Mai Thị Kỷ Loan được một bức thơ trả lời như vầy:
“Kính gởi Quý nương nhã giám,
Lê Tứ Hải đủ sức thắng nổi Nhiêu Hồng, song hãy cẩn thận kẻo bị nó phun ngải mà phải mù hai mắt.
TỐ TÂM”

Thật như lời Lê văn Hảo nói. Bữa 12 tây Nhiêu Hồng thất hai hiệp đầu, qua hiệp thứ ba Nhiêu Hồng giở cái thủ doạn hèn mạt ấy, nên chi không đầy nháy mắt Lê Tứ Hải cứ dụi mắt hoài. Nhiêu Hồng đánh nhiều thoi mạnh phi thường, Lê Tứ Hải trớ không khỏi phải té nhiều lần trên võ đài, kế chuông đổ nghỉ năm phút. Ông Vân Đình, cô Kỷ Loan sợ rủi ro, Nhiêu Hồng đánh Lê Tứ Hải phải bỏ mạng nên hỏi Lê Tứ Hải mà rằng:
- Lê Tứ Hải, anh có thể thắng nổi nó không? Làm gì mà anh dụi mắt hoài.
Lê Tứ Hải ngồi nghỉ mà nước mắt anh ta rưng rưng than rằng:
- Trời ôi, phen này ta phải chết. Thầy ôi, thầy có thấy ngày hôm hay con phải bị Nhiêu Hồng hại con như vầy chăng?
Chàng than đến đó, kế nghe Kỷ Loan hỏi nên trả lời rằng:
- Cô ôi! Thật Tố Tâm nói không sai. Nhiêu Hồng phun ngãi, nên bây giờ đây hai con mắt tôi nóng như lửa đốt, không còn thấy gì hết.
Kỷ Loan thấy tình cảnh vậy, cô đau lòng khôn cùng nên khuyên Lê Tứ Hải chịu thua, đặng về dưỡng bệnh, song Lê Tứ Hải đứng dậy trả lời khẳng khái mà rằng:
- Cái ơn tri ngộ của tôi đối với ông Vân Đình không bao giờ tôi quên được, ngày hôm nay dầu tôi phải bỏ thân trên võ đài này, tôi cũng vui lòng nhắm mắt. Huống hồ gì, cũng vì Tố Tâm muốn chọn “Anh hùng đệ nhất” nên cậy ông Vân Đình lập võ đài này trong bốn biển anh hùng đều mong mỏi tỉ thí với tôi, nay tôi chịu thua thì còn gì là tên Lê Tứ Hải, còn gì danh giá gánh “Góc Trời Nam?” Lại nữa Tố Tâm cứu tôi khỏi chết vì tay Tư Được, thì ngày hôm nay cũng vì Tố Tâm mà tôi chết thì có lạ gì?
Chàng nói đến đó kế chuông đổ, Kỷ Loan bước xuống mà ngùi ngùi tấc dạ. Hiệp thứ tư Lê Tứ Hải đứng giữa võ đài, đôi mắt nhắm khít lại rồi giây lát nghe tiếng gió của Nhiêu Hồng đánh tới, thì chàng tránh mà thôi chớ không còn trông gì đánh trả lại. Khán quan thấy vậy ai cũng thương hại giùm cho chàng, còn Kỷ Loan muốn nhảy lên dùng lưỡi kiếm mà giết phứt Nhiêu Hồng cho rồi, song lính tráng đứng dưới võ đài sợ e sau này không khỏi vào vòng pháp luật. Nàng đứng đó mà mắt thì lườm lườm ngó. Nhiêu Hồng rất đỗi vui mừng muốn đánh cho ngã Lê Tứ Hải nên rán hết sức bình sanh thoi vào tam tinh Lê Tứ Hải rất mạnh, nào dè cái tay của Nhiêu Hồng vừa đưa ra bỗng bị một mũi tên găm vào rất sâu.
Mũi tên ấy tẩm thuốc nên chỉ phút chốc Nhiêu Hồng ngã ra chết giấc. Giám cuộc không biết phải cho bên nào thắng nên xin đình cuộc thí võ lại tám ngày.
Rồi đó thiên hạ kéo nhau ra về, bàn luận về mũi tên ấy luôn. Còn ông Vân Đình và cô Kỷ Loan lấy làm lạ lắm, chở Lê Tứ Hải về nhà thương điều trị. Kỷ Loan về phòng nằm suy nghĩ hoài mà không rõ ai cứu Lê Tứ Hải đó. Nàng nói thầm rằng:
- Tội nghiệp cho Lê Tứ Hải khôn ngần. Phải không nhờ mũi tên ấy thì còn gì. Người mà biết ơn tri ngộ thì may cho ta biết ngần nào. Chắc là Lê Tứ Hải đã bỏ hẳn cái thói đê tiện xưa kia, ta khinh bỉ không muốn ngó ngàng đến. Lê Tứ Hải đây, Tố Tâm đó, ai là người xứng tay nghĩa hiệp?
Tố Tâm là người không tình cùng ta còn Lê Tứ Hải là người ngấm nghé bấy lâu, song ta lại mến Tố Tâm hoài.
Lê Tứ Hải là người đại tài, đánh hai hiệp đầu thắng nổi Nhiêu Hồng, phải chi không bị thuốc độc thì chắc đêm nay Lê Tứ Hải đã thắng rồi. Lê Tứ Hải tài, Tố Tâm lại thắng Lê Tứ Hải. Trời ôi! Tơ duyên sao lắt léo, Nguyệt Lão lại thài lai, cái phận mỏng manh này bao giờ mới hết sầu não?
Kỷ Loan than đến đó nước mắt chan hòa, nàng ngồi đối với bóng đèn xanh mà ruột rối tợ tơ vò, lòng sầu thêm nhiều nỗi. Ở ngoài trời mưa như cầm chĩnh mà đổ, chớp nháng lu bù mà nàng nào có hay. Bỗng đâu, nàng nghe tiếng gõ cửa, nàng không biết giờ này đã quá nửa đêm mà ai lại gõ cửa xin vào, nên lật đặt chuốc hài bước ra mở cửa. Cửa vừa mở thì một người mặc toàn là đồ đen, ngoài choàng một cái áo mưa ướt nhẹp, đầu đội kết chân đi giày cao su, còn mặt lại mang mặt nạ, miệng chúm chím cười bày hàm rằng trắng khít rịt.
Nàng định chắc là Tố Tâm nên vừa muốn hỏi, lại nghe người ấy nói:
- Tố Tâm kính chào Quý nương.
Kỷ Loan nghe người ấy nhận là Tố Tâm thì nàng hết sức vui mừng, lửa tình phát cháy, muốn a lại ôm chàng song vì cái tánh khí khái của Lê văn Hảo, nên Kỷ Loan dằn lòng, ngồi sụp xuống mà rằng:
- Em trông chàng ngày đêm không ngớt, mới đây thôi em cũng nhắc chàng nữa, sao lâu rồi mà chàng không ghé thăm em? Em muốn đi thăm chàng mà hỡi ôi! Mênh mông trời biển biết đâu mà tìm?
- Vì đa đoan công chuyện, nên không thể viếng Quý nương được, song lẽ mỗi ngày tin tức của Quý nương tôi đều rõ hết, nên đến thăm không ích gì, còn đêm nay tôi đến đây là bày kế để cứu Lê Tứ Hải.
- Phải hôm trên võ đài, chàng bắn Nhiêu Hồng phải không?
- Tôi đã gởi thơ nói rằng, Lê Tứ Hải đủ sức thắng Nhiêu Hồng. Lời nói ấy suy ra dường như tôi xúi Lê Tứ Hải vậy nên chi tôi phải cứu Lê Tứ Hải, bạo gan bắn Nhiêu Hồng hầu đem Lê Tứ Hải ra khỏi vòng nguy hiểm. Đó là tại Lê Tứ Hải không nghe lời tôi mà đề phòng trước, nên mới có sự rủi ro vậy. Thôi việc ấy đã qua rồi, năm ngày Lê Tứ Hải mạnh lại như thường. Qua ngày thứ tám là ngày Nhiêu Hồng sẽ tỉ thí với Lê Tứ Hải nữa. Vậy bữa lên võ đài, cô trao vật này cho Lê Tứ Hải mang vô, thì mọi việc được như ý nguyện.
Kỷ Loan với tay lấy coi thời nàng lại thấy một cái mặt nạ có hai mắt kiếng, nàng cầm suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Sao lại có mặt nạ? Hai mắt kiếng đủ rồi, vì ý gì mà chàng dạy vậy.
- Quý nương cứ y lời. Sau rồi Quý nương sẽ rõ. Thôi tôi kiếu Quý nương.
Lê văn Hảo nói rồi trở ra đi mất. Kỷ Loan đứng tần ngần giây lâu mới leo lên giường nằm nghỉ.
Ngày giờ lẹ như chong chóng, mới đó mà lật đật đã đến ngày thứ tám. Thiên hạ tựu vô rạp “Góc Trời Nam” như kiến, vì các tờ báo đều nói rằng phen này Lê Tứ Hải quyết liều sống chết tỉ thí với Nhiêu Hồng. Chín giờ khởi sự. Nhiêu Hồng đánh với Lê Tứ Hải trót hai mươi hiệp mà chưa phân thắng bại. Nhiều phen dùng ác khí mà phun Lê Tứ Hải, song chẳng hiệu nghiệm. Qua hiệp thứ hai mươi mốt, Nhiêu Hồng bủn rủn tay chân, bị Lê Tứ Hải đánh một thoi rất mạnh ngay hàm dưới nên Nhiêu Hồng té ngửa trên võ đài một cái rầm.
Giám cuộc đếm mười tiếng mà Nhiêu Hồng dậy không nổi, nên chi cho Lê Tứ Hải toàn thắng. Có hơn mười phút Nhiêu Hồng đứng dậy mặt sượng sùng, tưởng là qua Việt Nam giật chức vô địch, nào hay một phút mà tan tành danh giá, nên nói với Lê Tứ Hải:
- Tôi chịu thua về nghề đánh võ này; tôi muốn chuộc danh giá tôi, nên tôi xin đấu đường kiếm. Người chịu không?
Lê Tứ Hải ỷ sức mình nên hứa với giám cuộc năm ngày nữa sẽ đấu cũng tại rạp “Góc Trời Nam” nữa.
Đêm 15 tây tháng tám, thiên hạ kẻ ba người bảy lũ lượt kéo vào rạp “Góc Trời Nam”, ai ai cũng nói trong bụng rằng:
- Đấu võ thì Nhiêu Hồng thua, chớ đấu trường kiếm thì Nhiêu Hồng chắc thắng trong tay, vì toàn cầu này hễ ai đấu gươm với Nhiêu Hồng thì đều bị người giết luôn, nên ai cũng sợ Lê Tứ Hải bị giết cả.
Chín giờ Nhiêu Hồng bước lên võ đài, không bao lâu Lê Tứ Hải mang mặt nạ có cặp mắt kiếng cũng bước lên. Một cặp song kiếm sáng ngời nằm trên bàn, giám cuộc lấy hai lá thăm đưa cho Nhiêu Hồng và Lê Tứ Hải bắt. Nhiêu Hồng được lá thăm cho phép chọn trước, Nhiêu Hồng khoan thai bước lại lấy một cây rồi bẻ qua bẻ lại, dường như đắc chí lắm vậy. Chuông đổ lần thứ nhất, ráp hiệp đầu. Hai đàng bái tổ xong đoạn hai lưỡi kiếm qua lại như rồng giỡn.
Thiên hạ khen không ngớt. Đánh hơn một giờ. Nhiêu Hồng không thấy mệt chút nào cả, duy có Lê Tứ Hải thở không ra hơi, Lê Tứ Hải cầm kiếm hết muốn nổi, hai tay mỏi rụt. Chàng chắc phải chết trong trận này. Chàng cứ thối hoài, và cứ đỡ chớ không gì đánh được. Ai cũng sợ cho chàng phải chết ngay. Phút chốc Lê Tứ Hải xây xẩm mày mặt vừa muốn buông kiếm thì thình lình đèn trong rạp tắt ráo. Ai cũng cho là tại nhà đèn hay hư, nên ngồi đợi chớ không có gì khác. Cũng trong lúc đó Lê Tứ Hải ngã ra bất tỉnh. Vừa đâu có người mang mặt nạ [1] mặc toàn đồ đen bước lại nói nhỏ với Kỷ Loan mà rằng:
- Quý nương hãy khiêng Lê Tứ Hải vô buông, rồi tôi đánh thế cho Lê Tứ Hải, quyết thắng Nhiêu Hồng.
Kỷ Loan trong lúc đèn tắt tối đen lại vừa nghe ai nói vậy, lấy làm lạ lắm, nên hỏi:
- Người là ai?
- Sau rồi sẽ rõ. Hãy khiêng vô lập tức đi, kẻo Nhiêu Hồng nghi mà sanh chuyện không lành.
Kỷ Loan nghe lời liền khiêng Lê Tứ Hải vô buồng. Phút chốc đèn cháy lên như thường. Khán quan cũng thấy Nhiêu Hồng đứng đó, còn Lê Tứ Hải cũng còn cầm kiếm, nhưng giả như mệt lắm đứng không vững vậy. Ấy là Lê Tứ Hải giả đó. Chuông đổ thứ hai, Nhiêu Hồng chắc thắng trong tay nên đánh dữ dội lắm. Lê Tứ Hải giả cứ lui hoài, dường như đánh không lại vậy. Khán quan hồi hộp khôn cùng.
Nhiêu Hồng quyết thắng trong hiệp này nên dùng thế “Long Đầu” Lê Tứ Hải giả biết dư miếng ấy, nên chi chàng tiếp ngọn “Đào ba” rồi thối lui ba bộ. Nhiêu Hồng đánh róc tới dùng ngọn “Đề thiên” nhảy tới đâm Lê Tứ Hải rất mạnh. Nếu như ai dở thì đã chết về lưỡi kiếm lợi hại ấy rồi, chớ như Lê Tứ Hải giả là người tài tình biết dư ngọn “Đề thiên” nên né mình qua một bên dùng ngọn “Kim ngưu” tay hữu cầm kiếm đánh vẹt lưỡi kiếm Nhiêu Hồng, chân tả tấn tới, tay tả khoát lên, chân hữu bước qua, coi rất gọn gàng, rồi chàng rùng mình xuống chân trái lại phía sau. Nhiêu Hồng lấy làm lạ lắm, vì nãy giờ Lê Tứ Hải mệt ngất, sao bây giờ lại phục sức lại kìa, nên giơ kiếm lên đỡ, thì đã bị tay tả của Lê Tứ Hải giả và chân hữu bắt trái qua bên tải, làm cho Nhiêu Hồng phải té nhào buông kiếm.
Thiên hạ khen không biết sao nói được, kẻ đem tràng hoa, người đem đồ quý đến tặng Lê Tứ Hải. Không ai biết người ấy là Lê Tứ Hải giả được. Rồi đó Lê Tứ Hải giả bước vô buồng lòn ra sau đi mất. Nội đào kép trong rạp ai cũng lấy làm lạ cả, nhất là Kỷ Loan. Nàng vẫn nghi người ấy hoài, song không biết nàng nghi sao mà tác giả viết ra đây được.
Thôi từ đây gánh “Góc Trời Nam” nổi danh như cồn. Hoàn cầu không ai mà không rõ tên Lê Tứ Hải là người anh hùng hào kiệt, chớ nào dè nếu Lê Tứ Hải không nhờ Lê văn Hảo bắn mũi tên trong lúc đánh võ thì hồn chàng đã du địa phủ.
Lúc đấu kiếm, nếu không nhờ Lê văn Hảo giả tắt đèn rồi nhảy vô thế, đã chết vì ngọn kiếm của Nhiêu Hồng rồi, chớ đâu còn mà ngày hôm nay được đứng trên rạp “Góc Trời Nam” nữa. Ai cứu Lê Tứ Hải đây, mà không chịu ra mặt kia? Chắc quý vị đã đoán trước rồi. Ấy là Lê văn Hảo đó, Lê văn Hảo tức là “Người cho bông lài”, tức là Tố Tâm nữa.
Nếu Kỷ Loan rõ được thì ôi thôi! Sự vui nào hơn nữa. Vì cớ gì mà Lê văn Hảo không chịu ra mặt vậy? Ấy là điều khổ tâm của tác giả quyển tiểu thuyết này bố cuộc trong mấy đêm trường, ngồi đối với bóng đèn xanh, lúc canh tàn tim lụn.
Từ đây một khối tình nặng trĩu hai vai làm cho Kỷ Loan ngày đêm mơ tưởng “người cho bông lài” mãi. Trọn hai tháng trường như vậy, Kỷ Loan cứ dàu dàu nét mặt không phút nào vui được.
Ngày kia, ông Lý Vân Đình tính phải dời rạp ra Hà Nội vì trọn sáu tháng ở Sài Gòn nội Lục tỉnh ai cũng đều tựu lên Sài Gòn coi cả. Ông Vân Đình mời cho cả rạp hay rằng nội ngày 28 tây tới đây phải xuống tàu mà ra Bắc.
Thương hại cho Kỷ Loan biết ngần nào! Kỷ Loan vừa nghe tin ấy dường như sét đánh vào tai vậy. Nàng than thầm rằng:
“Tố Tâm chàng ôi! Phen này hết trông gặp gỡ. Duyên nợ ba sinh từ đây biết đâu mà tìm! ‘Người cho bông lài’ ôi! Chàng vì sao mà không ra mặt vậy? Thế thì chàng muốn giết thiếp sao? Chàng ở chi độc làm vầy. Cao xanh ông có thấu! Phải chi, Nguyệt Lão cho ta gặp buổi đầu thì ngày hôm nay ta đâu có sầu muộn.
Ngày nay ta phải từ giã Nam Kỳ mà ra Hà Nội, ôi!
“Hà Thành qua đó mừng mừng tủi,
Nam Thổ xa người nhớ nhớ trông”

Tố Tâm chàng ôi! Vì sao mà chàng vô tình lắm vậy, chàng có rõ tâm sự của thiếp chăng?
“Liễu bồ phận gái còn câm nhỉ,
Hồ thỉ lòng trai hỡi có hay?”

Ta có ngờ đâu, vạ gió tai bay, bất kỳ nổi trận, chưa vui sum hiệp đã sầu chia phôi. Tiếng cười rả rích đêm thanh trong động thiên thai, mới đó đã hóa ra giọng khóc nỉ non với bóng đèn khuya trong lúc canh tàn kia rồi”.
Nàng than đến đó bỗng có người xô cửa bước vô, nàng nhìn kỹ thì quả là “người cho bông lài” nữa. Nàng mừng quá đỗi nên bắt tay Lê văn Hảo dặt lia, rối kế nghe nàng nói:
- Phải chàng cứu Lê Tứ Hải đêm nọ không?
Lê văn Hảo cười, Kỷ Loan biết ngay, kế nghe Lê văn Hảo nói:
- Hoàn cầu không còn ai dám tranh nữa, vậy ngày hôm nay gánh “Góc Trời Nam” tính ra Bắc Kỳ, nên tôi đến đây tỏ vài lời gọi đưa Quý nương vậy.
- Tôi lấy làm cám ơn lắm, song tôi tính không đi.
- Tại sao vậy?
- Vì tôi buồn quá, không muốn rời Sài Gòn này là nơi... - Nói tới đó rồi nín luôn. Kế nghe Lê văn Hảo hỏi.
- Sài Gòn này là nơi... gì? Có phải là nơi đệ nhất thắng cảnh không? Quý nương hãy tiếp cho tôi biết?
- Không phải, Sài Gòn này đối với Hồng Kông còn thua xa còn đối với Ba Lê lại còn thua xa nữa, mấy thành đó tôi chưa cho là vui, huống chi Sài Gòn này là tỉnh nhỏ nhoi song tôi buồn vì Sài Gòn này...
Nàng nói đến đây lại nghẹn nữa. Phút chốc mặt mày nàng buồn dàu dàu, nước mắt rưng rưng, lần lần nhểu xuống gò má. Rồi nàng sụt xuống ngồi trên ghế cúi đầu dựa cạnh bàn, ai trông vào cảnh ấy cũng phải thương hại cho nàng ngay. Vì tình mà không thể thố tận can trường thì có buồn nào hơn được. Kỷ Loan chau mày.
Lê văn Hảo bấy lâu không tỏ dấu gì gọi rằng chàng hữu tình, nay chàng thấy vậy, lửa tình lần lần ngún cháy trong lòng, song Lê văn Hảo chống trả lại mà nói rằng:
- Quý nương hãy nói luôn đi, có gì mà Quý nương phải yểm lụy vậy?
- Chàng ôi! Sài Gòn này là nơi tôi gặp người non nước.
- Vậy là một chỗ quý đó có gì mà Quý nương không muốn rời Sài Gòn?
- Người ấy đối với tôi sao vẫn vô tình, nên tôi quyết ở lại đây, ngày nào người ấy ra mặt, tôi mới chịu theo ông Vân Đình ra Hà Nội.
- Vậy tôi xin lỗi Quý nương mà hỏi vài lời: Người non nước của Quý nương là ai vậy; nếu tôi biết được, tôi sẵn lòng giúp Quý nương cho nên việc?
Kỷ Loan nghe nói vậy, đứng dậy ngó Lê văn Hảo một cách thiết yếu, đôi gò má ửng hồng, bước gần Lê văn Hảo, gần đụng mình chàng mà thốt lời rằng:
- Chính là “Người cho bông lài” tức là “Tố Tâm” vậy.
Lê văn Hảo thấy vậy cầm lòng không đậu, bước tới đụng mình Kỷ Loan ôm nàng vào lòng. Mặt hiệp mặt tay bắt tay, ai trông vào cũng nhận là cặp tài sắc gồm toàn. Lê văn Hảo ôm hôn nàng nơi miệng rất đậm đà thâm thúy. Tác giả quyển tiểu thuyết này không biết dùng văn nào mà tả cái hôn ấy được. Cái hôn ấy có phải là cái hôn bắt đầu mối tơ duyên không? Hay là cái hôn ấy nó làm cho anh hùng phải gian nan nhiều nỗi chăng?
Quý vị cứ coi tới sẽ rõ, cái hôn ấy làm cho Lê văn Hảo phải chịu một nỗi oan kia, chỉ có cao xanh biết mà thôi.
Kỷ Loan rất đỗi vui mừng ôm riết Lê văn Hảo vào lòng rồi một chập buông ra mà rằng:
- Đến nỗi này mà chàng còn giấu mặt với thiếp sao?
Lê văn Hảo ngồi làm thinh, không nói lời gì cả, mà chàng không tỏ dấu kháng cự như mọi lần. Kỷ Loan là người sáng trí biết ngay nên nói rằng:
- Thôi để thiếp mở mặt nạ được không?
Lê văn Hảo vẫn ngồi làm thinh mãi. Kỷ Loan hội ý lần lần rờ sau ót mở gút ra.
Lê văn Hảo không uy động chút nào. Cái mặt nạ rớt ngay xuống đất. Kỷ Loan trông vào thôi thật là một người đẹp trai vô song. Đôi mắt cứ nhắm mãi. Kỷ Loan xô tay, lay động Lê văn Hảo mà rằng:
- Làm gì mà không mở mắt ra vậy?
Rồi đó lần lần Lê văn Hảo mở mắt ra, Kỷ Loan nhận thật là cặp mắt tốt vô ngần, sáng như sao băng, Kỷ Loan hỏi:
- Chàng tên gì mà chàng cứ mai danh dưới hai chữ “Tố Tâm” mãi vậy?
Đến nỗi này Lê văn Hảo không còn giấu diếm gì nữa, nên tỏ ngay cho Kỷ Loan rõ.
Thôi từ đây hai đàng nói chuyện nhau rất vui mừng, bỏ lúc buồn rầu tự thuở. Giây lâu Lê văn Hảo đứng dậy nói với Kỷ Loan rằng:
- Nàng ôi! Hôm nay nàng đã rõ tình của tôi rồi, vậy duyên nợ đôi ta một ngày kia sẽ hội hiệp.
- Chàng tính sao? Vì còn có mấy ngày nữa tôi phải ra Hà Nội.
- Không sao đâu. Nàng cứ bình tâm mà theo ông Vân Đình, còn tôi phải ở lại Sài Gòn mà lo cho xong việc riêng của tôi, chừng sáu tháng thì rồi, chừng đó tôi ra sẽ làm lễ thành hôn không muộn gì?
- Việc riêng gì vậy? Chàng có nên cho em biết chăng? Nếu em có thề theo giúp chàng được thì may mắn biết ngần nào?
- Không được, cái ơn tri ngộ của nàng với Vân Đình rất thâm sâu. Nàng hãy lo trả cho xong, chớ nửa chừng nàng bỏ mà theo tôi thì còn gì là ơn nghĩa, chẳng hóa ra một đứa phi nhân chăng?
- Chàng nói rất phải. Vậy thôi chàng cho em biết tâm sự riêng của chàng cho em nghe, ước vậy có được cùng chăng?
- Cái tâm sự riêng của tôi đây không thể cho nàng biết được. Nàng đừng hỏi vô ích.
Kỷ Loan nhắm hỏi không được nên bỏ qua việc ấy. Đồng hồ gõ 12 giờ, Lê văn Hảo đứng dậy kiếu ra về. Kỷ Loan nói:
- Ngày mốt đây ông Vân Đình có thiết lập một tiệc rất long trọng tại huê viên ở Chợ Lớn mời đủ thân bằng cố hữu, đặng từ giã Nam Kỳ mà ra Bắc. Vậy em kính mời chàng bữa đó lối tám giờ, chàng chớ phụ em hãy đến dùng một ly rượu gọi là đưa em ra Bắc, ước vậy có đặng cùng chăng?
- Nàng ân cần không lẽ tôi phụ, vậy ngày đó sẽ có tôi đến.
- Chàng đừng mang mặt nạ, vì em muốn giới thiệu chàng cho mọi người.
Lê văn Hảo suy nghĩ một hồi rồi gật đầu tỏ dấu bằng lòng, đoạn bước ra ngoài leo lên xe hơi mà dung ruổi.
Kỷ Loan mừng rỡ khôn cùng, nói cho ông Vân Đình và đào kép trong rạp hay rằng: “Người cho bông lài” tức là Lê văn Hảo. Ai cũng đều vui mừng nhất là Vân Đình; duy có người nghe việc ấy có ý bất bình trong bụng không vui chút nào cả, ấy là chàng Lê Tứ Hải vậy.

III. Mối oan khó gỡ
Nơi hồi thứ ba, chương thứ nhất quyển tiểu thuyết này có tả cảnh: “Lưới tình khó gỡ” mà cô Kỷ Loan làm vai chánh trong hồi đó. Nay qua chương thứ nhì, mà cũng hồi thứ ba quý vị gặp. “Mối oan khó gỡ” mà phen này người sắp cùng cô Kỷ Loan nên điệu vợ chồng, phải thọ hàm oan. Ai trông vào cũng đau đớn giùm cho Lê văn Hảo, là người tài ba lỗi lạc, phải chịu bước gian truân, thật thảm khổ cho anh hùng biết mấy. Rồi đây đến một nỗi “Tâm sự riêng” của Lê văn Hảo nữa, biết bao giờ Lê văn Hảo gỡ cho ra.
Ngày yến diện đã tới. Huê viên là một chỗ thanh tịnh vô ngần của Khách trú bày ra ở Chợ Lớn, nơi con đường Thủy Binh. Nếu quý vị có thì giờ dư nên đến đó mà coi. Thật là một cảnh đẹp nhất. Kỳ hoa dị thảo bay thơm ngạt ngào, dưới ao sen nước trong khe, cá nhởn nhơ lội.
Có một cái cầu rất huê mỹ bắt ngang một cái hồ, nước phun lên như bạc. Ngoài sau hòn non bộ chập chùng, đèn điện dăng dăng, băn xằn để dưới lùm cây cối xanh um, còn đường đi thì trải sạn trắng lớp. Một cái khe đàng sau vườn, có đặt ống nước chảy luôn ra sông cái. Hồ rủi ai sa chân xuống đó thì ắt thây trôi theo dòng nước, chớ không bao giờ còn ở dưới khe được.
Cái nhà lầu đãi khách rất rộng rãi nằm khít bên khe đứng trên lầu trông xuống rất đẹp.
Bữa nay Lý Vân Đình có đặt một tiệc rất long trọng tại Huê viên ấy; có hố thén, hát chập rất vui. Đúng tám giờ, những người được giấy mời lần lần vô huê viên. Xe hơi xe kéo đậu đầy đường có trên mấy trăm cái. Gần chín giờ, Lý Vân Đình, Lê Tứ Hải, Kỷ Loan và đào kép đến tề tựu tại Huê viên. Có trên hai ngàn người mời dự tiệc.
Chín giờ, Lê văn Hảo ngồi xe hơi hai chỗ tới, và dạy sốp phơ là Sáu Ngởi đem xe ra đường Cây Mai mà đậu, Lê văn Hảo là người cẩn thận, sợ đậu tại Huê viên thiên hạ biết số xe, và biết chàng dùng xe ấy, thì bất tiện cho chàng nên chàng biểu đem nơi thanh vắng là vậy.
Lê văn Hảo bước vô, thì ông Lý Vân Đình và cô Kỷ Loan đã đứng sẵn nơi cửa mà chực rước. Thật chẳng có sự vinh dự nào hơn nữa. Các người dự tiệc ai cũng lấy làm lạ lắm. Kỷ Loan giới thiệu Lê văn Hảo cho mọi người biết rằng: “Người ấy là chồng hứa của cô vậy”. Mấy anh em bạn của Lê văn Hảo đều lấy làm ngạc nhiên, sao cô Kỷ Loan lại chịu một người nghèo nàn, học vấn không xa, tuy vậy họ cũng mừng giùm cho Lê văn Hảo, chớ không ai có ác cảm gì hết. Duy có Lê Tứ Hải đi một bên cô Kỷ Loan, mà chàng dàu dàu nét mặt tự biết rằng từ rày về sau hết trông kết loan phụng với Kỷ Loan nữa, lại có ý ghét Lý Vân Đình sao không cản Kỷ Loan ngăn đường lá thắm, rào ngõ chim xanh, lại để cho Kỷ Loan tự do kết hôn.
Lê Tứ Hải lại trách Lý Vân Đình sao không giữ lời hứa, vì hồi trước chàng tính thôi gánh “Góc Trời Nam” theo gánh “Italien Circus” thì ông Vân Đình có hứa sau rồi sẽ nối dây cầm sắc chàng với Kỷ Loan. Nay vì “Người cho bông lài” tức là Lê văn Hảo nặng ơn với ông, tổ chức cuộc tranh “Anh hùng đệ nhất” nên ông thâu vô trót mấy chục muôn đồng, danh gánh “Góc Trời Nam” bay cùng hoàn cầu, không một ai không biết. Vì cái ơn ấy mà ông Vân Đình không nhớ lời hứa với Lê Tứ Hải? Lại nữa, cô Kỷ Loan khắc ý thương Lê văn Hảo, có tình với “Người cho bông lài” nên ông Lý Vân Đình dẫu có cản thì nhắm cũng vô ích, ông lại có ý muốn cho Lê văn Hảo và Kỷ Loan sum vầy một ngả, chớ không bao giờ muốn cho rời rã hai phương. Ông Vân Đình thấy Lê Tứ Hải không nói gì tưởng đâu là Lê Tứ Hải cũng bằng lòng như ông vậy, chớ nào dè con người rất nham hiểm, thấy việc bất bình mà không nói ra lại muốn hại thầm. Thật con người độc địa dường bao? Dò sông dò biển dễ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người. Ấy cùng vì tình mà Lê Tứ Hải quyết hại Lý Vân Đình cho đã nư giận, đã hứa lời, rồi lại tráo chác đổi dời.
Nhập tiệc ai nấy cũng đều vui mừng hớn hở, đến tuần sâm banh Lý Vân Đình đọc một bài diễn thuyết tỏ dấu khen Lê văn Hảo là người tài trí gồm toàn, lại mừng hai họ Mai, Lê vui vầy một ngã, bài diễn thuyết ấy càng tỏ dấu mừng chừng nào thì Lê Tứ Hải lại càng oán bấy nhiêu như khiêu lòng Lê Tứ Hải vậy. Hỡi ôi! Ông Vân Đình đâu rõ được.
Mãn tiệc ai nấy đều bước ra ngoài Huê viên, ôi! Lên xuống nói chuyện vui cười khôn xiết, cô Kỷ Loan đi với mấy cô đào kia luồn trong mấy cầu nhỏ, ông Vân Đình rủ Lê Tứ Hải và Lê văn Hảo lên lầu đánh cờ tướng chơi. Cả ba bước lên lầu kêu tửu bảo đem bàn cờ ra, Lý Vân Đình đánh với Lê văn Hảo trước. Đánh không lại, Vân Đình chịu thua, Vân Đình lại muốn đánh với Lê Tứ Hải, nên Lê văn Hảo bước ra ngoài đứng bên cửa sổ dòm xuống khe nước, Lê văn Hảo đứng chống tay nơi cầm mà mặt lại tự nhiên có sắc buồn, ấy là một cái điềm cho chàng đó. Chàng dòm xuống mấy lùm cây mấy nhịp cầu, chàng thấy cô Kỷ Loan chơi giỡn với chị em bạn, thì có ý vui khen thầm rằng: “Thật là một ả tài hoa trên đời không hai được. Nàng cười giỡn ai trông vào cũng nhận là đào nguyên lạc lối”.
Lê Tứ Hải ngồi đánh cờ với Lý Vân Đình mà trong bụng mối thù chất chứa. Chàng quyết ra tay cho rồi, nên lần trong túi lấy ra một ngọn dao tu, đâm ngay cổ Lý Vằn Đình rất mạnh, Vân Đình ngã ra bất tỉnh huyết lưu mãng địa. Lê Tứ Hải tưởng là chết rồi, nên bỏ đó, bước lại cửa sổ.
Lê văn Hảo vẫn còn đứng đó mơ màng như giấc điệp. Lê Tứ Hải quyết hạ sát cho rồi, song chàng tính sao đó không biết mà chàng bước lại lấy cái lục bình, đánh vào đầu của Lê văn Hảo rất mạnh, Lê văn Hảo là người anh hùng đệ nhất, song trong lúc không đề phòng dầu cho ba đầu sáu tay cũng không thể tránh khỏi. Lê văn Hảo té quỵ xuống không còn biết gì nữa.
Trên lầu không có ai, chỉ có Lê văn Hảo, Lê Tứ Hải và Lý Vân Đình, nên Lê Tứ Hải giết hai người ấy mà không ai hay được.
Lê Tứ Hải là người sâu sắc nước đời, biết Lê văn Hảo chưa chết, song chàng tính sao đó mà không giết cho thiệt chết. Chàng kéo Lê văn Hảo để nằm gần Lý Vân Đình, rồi đó chàng lấy cây dao khi nãy, chàng để vào tay Lê văn Hảo, còn cái lục bình mà chàng đánh vào đầu Lê Văn Hào đó, chàng để vào tay Lý Vân Đình. Xong rồi, chàng khoan thai bước xuống lầu ra ngoài Huê viên dạo cảnh. Có hơn nửa giờ mà không ai hay cả.
Giây lâu ông Vân Đình tỉnh lại dòm thấy Lê văn Hảo nằm gần bên mình lại có cầm dao thì ông đã biết Lê Tứ Hải muốn vu oan cho Lê văn Hảo, ông Vân Đình tuy bị vít rất nặng song ông rán ngồi dậy thò tay trong túi lấy cây viết chì, viết trong một miếng giấy nhỏ mấy hàng như vầy:
“Lê Tứ Hải giết tôi, Lê văn Hảo vô can.
Ký tên LÝ VÂN ĐÌNH”

Ông Vân Đình, ký tên rồi liền ngã ngửa ra tắt hơi liền song trong tay vẫn còn cầm tấm giấy đó luôn.
Hỡi ôi! Cái kiếp của ông Vân Đình, có ngần này.
Thằng tửu bảo nãy giờ thấy lâu rồi mà không kêu châm nước, nên lật đật xách ấm nước lên lầu.
Thằng tửu bảo ấy tên Trần Phong quê quán bên Tàu tuổi vừa mười bảy, cha mẹ chết sớm, nên qua bên Việt Nam vào ở làm tửu bảo cho Huê viên, Trần Phong còn nhỏ mà trí huệ thông minh, không biết một chữ Tàu. Chủ nhà tiệc Huê viên có mướn thầy dạy quốc ngữ, đặng coi sổ sách trong tiệm.
Trần Phong biết đọc chữ quốc ngữ mà thôi, chớ viết thì như cua còng. Nhờ qua bên Việt Nam gần hai năm nên nói tiếng An Nam ròng không chút gì trại cả.
Lịch sử của Trần Phong là vậy.
Trần Phong leo lên lầu, xô cửa bước vô buồng, thấy hai cái thây nằm trên một đống máu đỏ lòm, hoảng hồn vừa muốn la lên, bỗng thấy một miếng giấy nhỏ nằm trên tay của Lý Vân Đình. Trần Phong tánh hay tọc mạch lấy lên coi, coi rồi Trần Phong lại lấy bỏ vô túi. Té ra ông Vân Đình muốn minh oan cho Lê văn Hảo, mà rủi tấm giấy ấy đã vào tay Trần Phong rồi thời còn trông gì mà ai minh oan nữa.
Trán Phong lấy tấm giấy ấy bỏ túi xong rồi, đoạn tri hô lên. Hết thảy người dự tiệc đều tựu lên lầu. Kỷ Loan nghe nói kinh tâm rởn óc, lật đật chạy tuốt lên. Tới nơi ai cũng thấy rõ ràng Lê văn Hảo cầm dao đâm Lý Vân Đình, còn Lý Vân Đình cầm lục bình đánh Lê văn Hảo. Ngoài ra không còn ai nghi gì khác nữa.
Tội nghiệp cho Kỷ Loan khóc hết nước mắt, ôm mình Lê văn Hảo kể thôi không xiết, ai trông vào cũng động mối thương tâm.
Không đầy mười phút Lê văn Hảo tỉnh lại, rờ đầu thì nhớ lại mình bị người đánh trộm. Dòm qua thấy Lý Vân Đình chết đã hồi nào, thì lấy làm lạ lắm. Nhớ lại mà không ra manh mối, còn trong tay lại cầm dao. Chừng chàng đứng dậy suy nghĩ một hồi mới biết rằng có người vu oan cho chàng vậy.
Cô Kỷ Loan ôm Lê văn Hảo lắc qua lắc lại mà chàng đứng đó bất tỉnh nhân sự, không nói một lời gì cả.
Kỷ Loan hỏi:
- Chàng ôi! Sao chàng giết Lý Vân Đình vậy?
- Tôi giết Lý Vân Đình, trời ôi! Ai phao cho tôi vậy? Oan cho tôi lắm nàng ôi!
Thiên hạ lưu lại coi đông như kiến, đều nói rằng Lê văn Hảo muốn đoạt gia tài của ông Vân Đình, nên hạ sát ông Vân Đình vậy.
- Tôi thề này là trời đất chứng minh lời thề của tôi, việc này oan cho tôi lắm, tôi vẫn không hay không biết chi cả. Nếu tôi có liên can vô vụ sát nhân này thì cho tôi chết về lằn tên mũi đạn.
Cô Kỷ Loan không biết sao nói được, chỉ đứng đó khóc thôi nức nở. Lê văn Hảo mặt có sắc buồn chớ không rơi một hột nước mắt. Lê Tứ Hải giả ý bước vô hỏi lăng xăng. Lê văn Hảo nhớ lại lúc hồi nãy ông Vân Đình đánh cờ với Lê Tứ Hải, nên vừa muốn hỏi Lê Tứ Hải thì bỗng đâu năm người biện Tây bước vào. Lê văn Hảo không còn nói gì nữa được. Bó tay chịu còng sao? Lê văn Hảo nói thầm rằng:
“Nếu ta bó tay, thì ta vô khám, rồi ai minh oan cho ta? Trời cao có rõ cho lòng? Bây giờ chạy ra khỏi chỗ này chăng ư? Không được. Vậy rồi cái tên Lê văn Hảo này còn gì danh giá? Người đời cho ta khiếp nhược trốn tránh chỗ lao tù.
Phải mà, cũng tại ta vội ra mặt, nên ngày hôm nay có việc trắc trở làm vầy. Phải chi ta ẩn mặt vài trăng nữa thì đâu phải chịu điều oan khúc như vầy. Cha mẹ ôi! Hai mươi năm lao lực, giữa chốn trần ai! Không bao giờ con để ai phạm đốn danh dự của con; nay cũng vì duyên nợ ba sinh mà phải chịu điều oan khúc, cha mẹ có hay chăng nhẽ? Cha mẹ đúc con nên người, dạy nhân nghĩa bảo trọng danh dự lo làm cho tròn nghĩa vụ nam nhi, khỏi hổ mặt non sông, là nơi quê cha đất tổ. Mấy năm trường cái tay ‘Tố Tâm’ này làm biết bao việc nghĩa, lại mới đấy lập võ đài, tranh giải “Anh hùng đệ nhất” nay vì tình mà phải chịu xấu hổ trăm chiều, ai có biết nông nỗi này chăng?” Chàng suy đến đó, liền tính ra một kế, chàng cho rằng tuyệt diệu, nên chàng tính phải làm như vầy... như vầy... hoặc may danh kia còn tỏ rạng. Kế biện Tây lại còng. Lê văn Hảo nói rằng: “Khoan! Chậm chậm một chút, để tôi phân ít lời với người yêu dấu của tôi rồi tôi sẽ bó tay chịu tội”.
Nói rồi chàng day qua nói với Kỷ Loan:
- Nàng ôi! Ngày hôm nay tôi phải chịu điều oan khúc này chỉ có cao xanh soi thấu cho lòng. Song mặc dầu hễ nàng tưởng án mạng này là kẻ bất lương vu oan cho tôi, thì cái ngày hội hiệp của đôi ta cũng y như lời tôi nói trước. Nàng đừng rầu buồn mà thêm hại.
Nói đến đó liền ôm hun Kỷ Loan một lần chót nữa, đoạn xô ra. Chàng liền bước lại lượm con dao hồi nãy Lê Tứ Hải giết Vân Đình cầm trên tay, máu vẫn còn nhuộm hồng. Chàng bước lại cửa sổ rất gọn gàng, năm người biện Tây tưởng đâu Lê văn Hảo muốn trốn khỏi vòng luật pháp nên muốn đón mà bắt, nào hay đâu Lê văn Hảo bước lại gần cửa sổ thót lên đứng chống nạnh tay, coi rất oai nghi lẫm liệt. Lê văn Hảo nói lớn lên rằng:
- “Tôi không bao giờ để cho luật pháp trừng trị tôi. Này là ngọn dao của đứa khiếp nhược kia giết Lý Vân Đình, bây giờ đây ngọn dao này nó cũng giết oan người vô can như tôi vậy”.
Lê văn Hảo nói rồi liền đấm vào ngực một dao, đoạn ngã ra sau, ai cũng cho là phải té dưới khe chết liền. Kỷ Loan lật đật xuống lầu lại gần bên khe dòm xuống nước mà khóc thôi dầm dề, than rằng:
Thật là anh hùng hào kiệt, coi sự chết tợ lông hồng. Chàng ôi! Chàng nán đợi em theo cho kịp, em đâu dè mời chàng đến đây mà phải tuyệt mạng như vầy? Thật duyên nợ của em trắc trở, khiến cho chàng phải liên can. Trời ôi! Té ra em giết chàng sao mà. Sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách. Thôi thôi, thân này còn gì mà kể.
Kỷ Loan vừa muốn gieo mình xuống khe. Nào hay đâu, năm người biện Tây và thiên hạ kéo xuống lầu rất đông, chạy lại dựa bên khe thấy Kỷ Loan vừa muốn gieo mình, thì lật đật kéo lại. Kỷ Loan ngã ngửa ra bất tỉnh nhân sự.
Đào kép chở tuốt về trại. Rồi đó ai nấy đều lần lượt kéo nhau ra về, cho rằng Lê văn Hảo đã chết tan xương dưới khe rồi. Năm người biện Tây lấy án kết gởi ra biện lý, cũng cho rằng Lê văn Hảo là đứa sát nhân hủy mình dưới khe nước.
Chủ nhà tiệc dạy người lặn xuống khe nước nội hồi đó, song mò hoài mà không gặp. Ai nấy cũng chắc là phải trôi luôn dưới cống mà ra sông cái. Qua mấy ngày sau, Kỷ Loan có mướn người đón mấy ngã sông mà vẫn không gặp tử thi thì nàng lại nghi rằng Tố Tâm chưa chết, song mặc dầu, nàng nghĩ rằng không thể nào mà Tố Tâm nhào trên lầu xuống khe nước khỏi chết được, huống hồ gì chàng dùng dao tự vận. Cô Kỷ Loan suy nghĩ biết việc mình tự vận là điều bậy, nên nói thầm rằng:
“Lê văn Hảo vừa muốn hủy mình chàng có nói; Hễ ta tưởng án mạng này là kẻ bất lương vu oan cho chàng thì cái ngày hội hiệp đôi ta sẽ y như lời chàng nói trước..
Chàng có nói với ta là sáu tháng nữa. Vậy ta nên tin không? Chàng đã nhào dưới khe rồi mà! Chắc chàng bỏ mạng nơi đấy không? Ta không thể biết được. Thôi sáu tháng cũng không bao xa, ta nán đợi tới đó sẽ hay...”
Từ đây không còn ai đứng làm chủ gánh “Góc Trời Nam” cả. Nên bán hết đồ đạc, chia tiền lời, nhất là cô Kỷ Loan được nhiều hơn hết. Lê Tứ Hải lãnh được mấy muôn đồng, cất nhà mua ruộng, toại hưởng vinh hoa trong một lúc. Cô Kỷ Loan cất nhà ở Đakao, mua xe hơi rất đẹp, ai không dè cô ở đó cả.
Ngồi mà suy nghĩ cuộc đời thì thấy nhơn tình bắt ngán. Người như Lê Tứ Hải, không biết sao mà nói cho được. Còn người như Lê văn Hảo lại ít có. Lê văn Hảo chịu hàm oan, chỉ có trời biết mà thôi. Có người nói tại va sớm ra mặt, nên mới có điều rủi như vầy, bằng va đợi lo cho rồi “tâm sự riêng” của va trong vài tháng nữa chớ có bao lâu, thì duyên nợ đôi đàng được hòa hiệp trong một cảnh êm đềm đầm thắm. Đó là cơ trời khiến vậy, mấy ai cãi qua cho đặng.
Còn ông Lý Vân Đình bị giết một cách rất thê thảm làm vầy, rồi gánh “Góc Trời Nam” rã rời, tiền bạc dư muôn tiêu trong nháy mắt, ai thấy không thương hại cho ông.
Từ đây duy có Lê Tứ Hải được toại hưởng giàu sang, không lo không sợ điều gì cả. Sở vọng của chàng là muốn cưới cô Kỷ Loan mà thôi, ngoài ra chàng không còn ham điều gì nữa. Chàng cậy mai vong quyến rũ, song cô Kỷ Loan vẫn khư khư giữ một lòng băng tuyết, ở vậy đợi tin tức Lê văn Hảo là “Người cho bông lài” mà thôi.
Đời này khác hẳn với đời xưa, hễ muốn điều gì mà không được như ý nguyện thì thường sanh ra mối oán thù, nhiều khi phải giết lẫn nhau mới vui lòng; như quý vị mới mục kích một cái án mạng ghê gớm nơi hồi này vậy.
Lê Tứ Hải là người gì mà không biết ân nghĩa? Hồi chàng mới lên mười tuổi, ông Lý Vân Đình đem về dạy tập luyện võ nghệ tập đi đu đánh gươm, rồi ngày nay cũng nhờ ông Lý Vân Đình mà danh bay khắp năm hồ, bốn biển, đã không thể đền cái ơn nặng nghĩa dày ấy mà lại còn hạ sát thời cái ân tri ngộ trong sách nói xưa nay nó vẫn là một câu ở đầu chót lưỡi chăng?
Thấy đời mà buồn cười.
Đó chẳng phải một mình chàng Lê Tứ Hải mà thôi, đời nay quý vị gặp nhiều người như chàng trên võ trụ này lắm, thường hay múa mày múa mặt, tự đắc tự kiêu coi như không ai hơn mình nữa, nên thọ ân của người ta mà không bao giờ lấy ân trả lại.
Rồi đây quý vị xem qua chương tới sẽ gặp một cái thảm kịch ghê gớm, cũng tự nơi tay Lê Tứ Hải mà sanh ra, nhiều khi cô Mai thị Kỷ Loan phải vào ra chỗ nguy hiểm, thân cô tợ chỉ mành treo chuông.
Còn Lê văn Hảo là người tài tình trên đời này, nhào xuống khe nước ở Huê viên Chợ Lớn, sống chết thế nào sau rồi quý vị sẽ rõ. Trời là đấng Tạo vật sanh ra mọi người lý nào hại người lòng son như Tố Tâm vậy.
Quý vị xem tới. Còn thằng Trần Phong lấy tấm giấy của ông Lý Vân Đình viết khi gần tắt hơi làm gì vậy? Thật là bí mật vô cùng.
---------------------------------------------------
Cái mặt nạ này có kiếng. Hồi Lê Tứ Hải đánh với Nhiêu Hồng cũng có mang vậy, đặng tránh ác khí của Nhiêu Hồng phun ra. Chớ nào dè cái mặt nạ này của Lê văn Hảo bày ra đặng lánh mặt. Thật Lê Văn Hảo là người tài trí.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2017 13:20:49 bởi casau>
Chương thứ ba
 
I. Ngọn gươm hiệp khách
Lê Tứ Hải lãnh số bạc chia của gánh “Góc Trời Nam” về cất nhà ở lối Đất Hộ nơi con đường Mayer, chiều chiều chàng nhắc ghế ra sân, ngồi ngó mong ra đường ngắm cảnh, ai trông vào cũng nhận là một vị giàu có muôn hộ. Giây lâu chàng biểu trẻ đem rượu khai vị ngồi uống, miệng ngậm thuốc Ăng Lê phì phà khói bay ra ngun ngút, chàng suy nghĩ chi lung lắm, rồi một chập chàng than một mình mà rằng:
- Ta nhiều phen cậy mai dong đến khuyến dụ Kỷ Loan, mà sao nàng vẫn khư khư một lòng thiết thạch, không chịu trao thân ai khác hơn là “Người cho bông lài” vậy? Ta đã nói: “Người cho bông lài” đã tự vận chết nơi khe suối rồi, mà nàng cũng không nghe, lại quyết cõi trần không hiệp mặt bố kình, thì nguyện chín suối khối tình giữ chặt. Người như vậy thời không bao giờ ta lấy lời nói mà nói được, ta sẽ dùng cường lực ép nàng, hoặc may ta sẽ được thỏa nguyện cùng chăng?
Ta thương Kỷ Loan bao nhiêu thời ta lại ghét “Người cho bông lài” bấy nhiêu. Cũng vì mi mà duyên nợ đôi ta trắc trở, bởi vậy nên mi chết thịt nát xương tan, thây trầm dưới nước, có đáng số mi chưa? Rồi nay cũng vì mi mà con Kỷ Loan thủ tiết với mi, mi đã chết mà mi để lại cho ta đêm thảm ngày sầu, thật sự chết của mi không bao giờ ta nhỏ được một hột nước mắt. Kỷ Loan là người tài sắc gồm toàn, ta nghĩ lại thế gian này không ai sánh kịp. Ta trìu mến nàng thuở còn nhỏ, nên ngày hôm nay cục khối tình nặng trĩu, bao giờ cho tan. Kỷ Loan mi rán mà chờ đợi “Người cho bông lài”. Mi rán mà thủ tiết với nó rồi đây mi sẽ coi ta.
Lê Tứ Hải suy nghĩ đến đó, bỗng có một thằng tửng nhỏ bước vô hàng rào sắt, kêu chàng tỏ ý xin vào ra mắt, Lê Tứ Hải bước ra cửa.
Thằng tửng móc trong túi ra một cái thơ mà rằng: “Trần Phong, tửu bảo ở Huê viên Chợ Lớn mượn tôi đưa thơ này cho thầy”.
Nói xong đoạn bước ra đi mất. Lê Tứ Hải muốn kêu lại hỏi, song nó đã đi khuất dạng, chàng lật đật xé thơ ra, thấy mấy hàng chữ như vầy:
“Kính lời thầy hay.
Người chủ mưu trong đám sát nhân tại Huê viên hôm ngày 27 tây tháng rồi là thầy. Tôi có đủ bằng cớ mà minh oan cho Lê văn Hảo. Thầy đừng tưởng là việc thầy làm đó không ai hay.
Ký tên TRẦN PHONG”

Lê Tứ Hải đọc rồi mồ hôi xuất hạn, bủn rủn tay chân không biết sao mà Trần Phong rõ cơ mưu vậy. Nó nói đủ bằng cớ! Bằng cớ gì? Bộ khi nó hăm dọa ta chớ gì. Mà không lẽ, thôi ta nhân công đến nơi hỏi nó thì xong. Đoạn chàng trở vô nhà thay đồ lên xe hơi nhắm Chợ Lớn dung ruổi.
Tới Huê viên, Lê Tứ Hải đi tuốt lên lầu kiếm Trần Phong, chàng không thể nhớ mặt được nên hỏi tên, thì có người dẫn chàng vô một căn phòng nhỏ trong buồng nói rằng: Trần Phong ở đó.
Lê Tứ Hải gặp mặt Trần Phong, liền hỏi:
- Phải em gởi thơ cho qua hồi nãy không?
- Phải.
- Sao em dám nói qua là người chủ mưu trong án mạng ông Vân Đình? Em cáo gian không khỏi tòa buộc tội em mà chớ.
- Thầy nói tôi cáo gian thầy! Thôi thầy hãy về nghỉ, sau rồi thầy sẽ hay.
- Em nói có bằng cớ vậy bằng cớ gì, em nói qua nghe thử?
- Nếu tôi cáo gian thầy thì bằng cớ ấy cũng gian nữa cần gì thầy biết. Thôi xin thầy về nghỉ. Rồi đây tôi có tội mà...
Lê Tứ Hải không thể chối hoài được, lại nghi cho thằng Trần Phong biết rồi, nên năn nỉ mà rằng:
- Thôi em nói vậy qua cũng không lẽ bỏ mà về. Vậy nếu em có bằng cớ gì thì nói qua nghe, qua sẽ trọng thưởng?
- Thầy thưởng bao nhiêu?
- Vài chục đồng, em đi hố thén một đêm được không?
- Thầy giả ngộ sao chớ? Thầy lãnh tiền chia gánh hát xiếc có trên mấy muôn, mà rồi thầy muốn khỏi lên tòa đại hình, thầy chỉ tính với tôi vài chục chớ!
- Vậy em muốn bao nhiếu?
- Tùy ý thầy, tôi không thể liệu được.
- Thôi, qua cho em vài trăm, mua áo quần mới cho em. Mua cho em một cái xe máy thiệt tốt, em chịu không?
- Thầy tưởng tôi ham áo tốt, quần tốt, xe máy tốt sao? Thầy lầm rồi.
- Vậy em muốn gì?
- Tôi muốn có nhà lầu, xe hơi như thầy vậy.
Lê Tứ Hải nói một mình mà rằng: “Thằng này cũng lạ phải chơi, nó đòi tới bạc muôn chớ. Ta có nên tiếc không? Nếu nó đủ bằng cớ thì ta đâu khỏi đền mạng cho Lý Vân Đình và Lê văn Hảo. Thôi, không hại gì mình cho nó vài muôn thì ắt xong việc! Mà cho nó uổng lắm. Thôi ta giết phứt nó là êm...
Làm vậy không được. Giết nó thì không hại gì, sợ bằng cớ nó giao cho người khác thì mới tính sao đây? Âu ta phải làm như vầy như vầy... thì xong”.
Đoạn Lê Tứ Hải hỏi:
- Em muốn gì chớ muốn vậy không khó đâu. Thôi em nói bằng cớ ra đi, mai qua mua nhà và xe hơi liền?
- Thầy nói phải nhớ lời, bằng thầy gạt rồi giết tôi, tôi nói thiệt, thầy cũng không khỏi đền mạng.
- Không đâu, qua là người lớn, qua nói qua quý lời luôn.
Trần Phong liền mở một cái rương cây, lấy tờ di chúc của ông Vân Đình để xa xa cho Lê Tứ Hải coi, rồi bỏ liền vô rương khóa lại. Lê Tứ Hải đọc vừa xong, muốn a lại giựt, song không kịp. Chàng lấy làm lạ lắm, vì cớ nào mà Lý Vân Đình có để lời di chúc. Cha chả là khổ! Chàng đứng ngẩn ngơ không nói sao được. Liền đó chàng thấy trước mặt chàng, hình như ông Lý Vân Đình đầu cáo với Diêm vương vậy.
Chàng thấy ông Vân Đình đòi mạng, biểu chàng phải thường, chàng ngã ra bất tỉnh, Trần Phong đỡ Lê Tứ Hải ra xe hơi, bảo sốp phơ chở về nhà.
Năm ngày đã qua, Lê Tứ Hải mua nhà mua xe hơi cho Trần Phong rồi Lê Tứ Hải năn nỉ với Trần Phong xin tờ di chúc của Vân Đình, mà Trần Phong quyết không đưa.
Thôi từ đây Trần Phong không phải là tửu bảo nữa, lại là một người giàu có, buổi chiều nào. Trần Phong cũng đi khắp châu thành Chợ Lớn. Bà con anh em, cô bác ai cũng lấy làm lạ lắm, có gạn hỏi nó thì nó cứ trả lời: “Ông Trời cho nó”. Nội tỉnh thành Chợ Lớn ai cũng đồn rùm tai. Tờ “Huê kiều nhật báo” có đăng tin ấy, nên khắp lục tỉnh ai cũng biết. Cuộc giàu sang trong nháy mắt. Ai mà chẳng lấy làm lạ.
Chiều ngày 6 tây tháng sáu, nhằm lúc trăng rằm, cô Kỷ Loan ở nhà buồn bực, phần thì ngày đêm thương nhớ Tố Tâm tức là “người cho bông lài” phần thì không giao thiệp với ai mà giải muộn, nên bảo sốp phơ ra Vũng Tàu ngoạn cảnh. Năm giờ nàng đã đi lên đi xuống ở Bãi Trước, mặc một bộ đồ hàng đen, choàng khăn đen, đi giày đen, mặt cô không dồi phấn mà trắng trong, môi cô không thoa son mà đỏ lòm, thật một nàng quốc sắc ít ai sánh kịp. Mặt cô buồn xo không bao giờ nhíp môi cười ai cả, lâu lâu cô lấy khăn chặm đôi mắt, thiên hạ chơi giỡn ngoài bãi, cô đi gần đó mà không bao giờ cô để ý đến. Thuyền đánh cá đậu gần bên cô mấy người chài lưới ngó cô trân trân không nháy mắt. Ai thấy tình cảnh đó đều lấy làm thương tâm nhận ngay cô có một mối sầu vô hạn.
Cô đương đi tưởng tượng gần xa, bỗng đâu có một người đàng kia đi ngay lại, cô ngó xuống đất, nên không thấy người ấy được. Người ấy đụng tay cô, cô giật mình ngó lên thấy rõ ràng là chàng Lê Tứ Hải, mặc đồ tây trắng, có mang máy chụp hình trên vai, cô vừa muốn hỏi, thì cô nghe Lê Tứ Hải nói:
- Tôi chào cô, cô mạnh giỏi thể nào? Cô ra đây hứng gió phải không? Cô đi một mình cô không buồn sao?
Lê Tứ Hải hỏi năm ba câu, mà cô vẫn nín lẳng lặng giây lâu cô nói rằng:
- Tôi mấy bữa rày, có hơi yếu trong mình, nên ra đây hứng gió hoặc may phục sức lại chăng!
Cô nói bao nhiêu đó rồi cô nín thinh, bỏ đi chỗ khác. Lê Tứ Hải cứ theo hỏi chuyện này chuyện nọ, nhiều khi muốn cho cô cười, nói chuyện tiếu lâm mà cô vẫn làm thinh như khúc gỗ vậy. Lê Tứ Hải gặp cô Kỷ Loan dường như: “hạn phùng cam võ”. Mừng không sao nói được.
Còn cô Kỷ Loan đương buồn, rồi gặp Lê Tứ Hải cô lại buồn thêm nữa. Cô muốn yên tĩnh một mình nơi thanh vắng, nên chi thừa lúc mặt trời lặn, cô từ giã Lê Tứ Hải. Lê Tứ Hải năn nỉ cô ở lại vô nhà hàng dùng một bữa cơm, cô cứ từ chối mãi. Cô Kỷ Loan muốn bứt Lê Tứ Hải mà về Sài Gòn liền, vì cô sợ ngoài Vũng Tàu, không khỏi Lê Tứ Hải cứ tìm cô nói chuyện hoài, rồi bây giờ cô lại nghe Lê Tứ Hải mời cô ở lại dùng cơm; cực chẳng đã, Lê Tứ Hải mời nhiều phen, nên cô phải chiều lòng, theo Lê Tứ Hải lên nhà hàng “Hotel de la Plage”. Nhằm bữa lễ, nên chi trong nhà hàng người ăn đông rật. Có một người Nhật Bổn, bịt răng vàng, để râu chút chút trên môi, mặc đồ nỉ trắng, đeo một cặp mắt kiếng gọng vàng, ngồi trong một chỗ góc kia, đôi mắt cứ ngó Lê Tứ Hải và cô Kỷ Loan hoài. Ngồi ăn có trên nửa giờ đồng hồ, mà người ấy không bao giờ rời đôi mắt khỏi bàn Lê Tứ Hải và cô Kỷ Loan.
Tám giờ ăn cơm nước xong, Lê Tứ Hải dẫn cô Kỷ Loan bước ra ngoài băng xanh ngồi nói chuyện. Tuy cô đi theo mà trong bụng cô không muốn chút nào; cô ngồi bên tay trái, cách xa có trên nửa thước. Lê Tứ Hải nói chuyện này sang chuyện nọ nhất là vụ án mạng tại Huê viên. Lê Tứ Hải cứ đề quyết đứa sát nhân ông Vân Đình là Lê văn Hảo, và Lê văn Hảo sợ nhục đến người, nên liều mạng nhào dưới khe suối tự vận. Cô Kỷ Loan tuy ngồi đó mà Lê Tứ Hải nói gì cô không nghe cả, nhất là nhắc đến tên Lê văn Hảo, cô lại càng ghét Lê Tứ Hải thêm nữa.
Đêm một lần một khuya, ngoài vắng tiếng người, quanh mình nghe những tiếng véo von giọng dế, Lê Tứ Hải xích lại gần cô Kỷ Loan rồi đem những tiếng quyển giọng đờn mà rồi bên tai cô Kỷ Loan. Kỷ Loan không để ý đến, nên chi lần lần Lê Tứ Hải gác choàng tay qua vai cô, mà cô không hay gì cả.
Lê Tứ Hải tưởng cô xiêu lòng, nên chàng vội kê mặt vào mặt cô Kỷ Loan, đoạn đặt môi ngay miệng cô Kỷ Loan, mà toan hun cho thỏa dạ...
* * * * *
Nhắc lại người Nhật Bổn đeo kiếng gọng vàng, ngồi ăn trong nhà hàng Hotel de la Plage khi nãy, thấy Lê Tứ Hải dẫn cô Kỷ Loan bước ra ngoài, người ấy cũng lật đật lấy cây canne cầm tay rồi cũng nối gót theo ra ngoài vậy.
Người Nhật Bổn ngồi cách xa chừng sáu thước, trên một cái băng đá cũng gần băng cô Kỷ Loan nữa. Trời khuya rồi, mà người ấy không mỏi lòng, đôi mắt cứ dòm Lê Tứ Hải luôn. Lê Tứ Hải không dè có người rình chàng vậy, nên mới giở cái thủ đoạn dã man toan cưỡng bức cô Kỷ Loan.
Chàng vừa đặt môi vô miệng cô Kỷ Loan thì người Nhật Bổn lần lần bước lại gần, nắm cổ Lê Tứ Hải xô ra rất mạnh.
Kỷ Loan nãy giờ nửa tỉnh nửa say thình lình nghe có tiếng xao động bên mình, nên lật đật dòm lại thấy Lê Tứ Hải nằm dài dưới băng, còn sau lưng nàng một người cao lớn đứng dó, kế cô nghe người Nhật Bổn ấy nói tiếng An Nam rất rành rẽ mà rằng:
- Làm gì nửa đêm cô lại ở ngoài này, để cho thằng súc sanh này nài hoa ép liễu?
Người Nhật Bổn nói vừa rồi, Lê Tứ Hải cũng vừa ngồi dậy đứng hỏi một cách rất khẳng khái.
- Mi là ai mà dám cả gan nắm cổ ta vậy?
Người Nhật Bổn nghe hỏi miệng cười chúm chím, bày hàm răng vàng đỏ lòm thốt lời rằng:
- Tôi là người du lịch, thấy sự bất bình nên dự vào mà sửa phạt thầy.
Lê Tứ Hải nghe lời nói khi thị chàng quá đỗi, nên bước lại thoi vào mặt người Nhật Bổn rất mạnh. Người Nhật Bổn vừa thấy lách mình qua, thì tay của Lê Tứ Hải đã trợt ra ngoài rồi.
Lê Tứ Hải đá tiếp vô ngực người Nhật Bổn, nào hay đâu người Nhật Bổn ấy biết võ Jill Jitsu, nên bắt cẳng Lê Tứ Hải, bóp gân tê, làm cho Lê Tứ Hải tê cả mình không còn đứng vững được, té quỵ xuống đất, kế nghe cô Kỷ Loan hỏi:
- Thầy là ai đến cứu tôi như vậy?
- Tôi là Nhiêu Tôn, người Nhật.
- Tôi rất cám ơn thầy, bây giờ biết lấy chi đền đáp?
Nhiêu Tôn cười mà rằng:
- Có gì mà phải đền ơn, thôi trời đã khuya rồi, cô nên đi về nghỉ, kẻo sương tuyết lạnh lùng, mà không khỏi cảm phong sương.
Nhiêu Tôn nói vừa rồi, thì Lê Tứ Hải đã đứng dậy nói:
- Mi nhục ta tại đây, ta quyết rửa nhục, vậy mi hãy lựa ngày mà đấu gươm với ta. Còn nếu mi có nhát, sợ chết thì đi phứt đi, đừng nói giang ca mà rầy tai.
Nhiêu Tôn không muốn khoe tài như Lê Tứ Hải vậy, nay lại nghe Lê Tứ Hải ăn nói lỗ mãng, nên dằn lòng không được mà rằng:
- Mi tên gì, mà mi nói lớn lối lắm vậy? Bộ mi tới số chết rồi sao chớ? Nên mi mới đòi đánh gươm với ta.
- Ta là Lê Tứ Hải, đệ nhất võ nghệ trong hoàn cầu này.
- Anh hùng đệ nhất! Bộ mi giả ngộ sao chứ? Anh hùng gì mà ta mới nắm cẳng nhẹ hều thì đã té rồi, mà dám khua môi đánh lưỡi?
Lê Tứ Hải hổ thẹn trăm bề, vì có cô Kỷ Loan đứng gần bên nghe không sót một tiếng.
- Chiều mai mi kêu hai người chứng ra tại Bãi Sau thị chứng cho mi đấu gươm với ta thì rõ.
- Này Lê Tứ Hải, ta không muốn nhục danh mi, nên để mi tự đắc lên võ đài xưng vương xưng bá, nay tự nơi mi muốn nhục cái danh của mi, nên mi đòi đấu gươm với ta, song ta không bao giờ muốn nhục mi giữa thập mục sở thị, nên ta cũng chiều lòng, mai đấu gươm với mi vài hiệp. Ta không muốn đấu không, mi có tiền đem ra đây bao nhiêu cũng được. Nếu mi thắng ta thì mi ăn bằng ba. Nghĩa là, ta ăn mi một đồng, còn mi ăn lại ta ba đồng, mi có chịu không?
Lê Tứ Hải đứng suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Ta sẽ đặt một muôn đồng, mi chịu không?
- Được. Chiều mau bốn giờ sẽ có ta tại Bãi Sau.
Nói rồi đoạn bỏ ra đi, chào cô Kỷ Loan, còn Lê Tứ Hải không nói lời gì cả, ríu ríu bước vô phòng nhà ngủ.
Hồi nãy cô Kỷ Loan tính về Sài Gòn, rồi bây giờ cũng tại cô mà sanh ra cuộc đánh gươm, nên cô suy nghĩ sao đó, cô lại biểu sốp phơ vô nhà hàng “Grand Hotel du Cap” mà mướn phòng cho cô nghỉ.
Đêm đó Lê Tứ Hải về phòng ngủ không được. Nằm thao thức lăn qua lộn lại mãi, chàng giận thằng Nhật Bổn sao dám dự vào mà phá cuộc vui của chàng, nên chàng quyết chiều mai giết cho được thằng Nhật Bổn đó.
Sáng ra chàng kêu chủ nhà ngủ mướn gươm dượt một mình cho nhuần nhã, còn Nhiêu Tôn không thèm luyện tập gì cả, cứ đi dạo trên bãi biển lu bù. Ngày giờ mau lẹ như chong chóng, mới đó mà đã thấy chiều rồi. Gần bốn giờ, bốn người chứng hai bên đã tới. Cô Kỷ Loan cũng đi đến coi cuộc đánh gươm đó nữa.
Ngoài bãi biển minh mông trời nước, mà chỉ có hai người chứng Lê Tứ Hải và cô Kỷ Loan đứng đó mà mặt ưu sầu vô hạng, nàng sầu đây tức là sầu vì tình, nàng ra Vũng Tàu là chỗ ít người mà ngoạn cảnh, nào hay ra đây tự mình gây thêm sự sầu vào não cân, thời còn có sầu nào hơn, dẫu cho sắt đá thấy tình cảnh vậy cũng phải đau lòng, huống hồ gì ta đây, ta mục kích một bi kịch thảm đạm dường ấy.
Nàng nhớ đến Lê văn Hảo tức là “Người cho bông lài” thì hai hàng giọt lụy đượm tuôn chảy dài theo má. Lâu lâu nàng than nho nhỏ mà rằng: “Tố Tâm chàng ôi! Cũng vì chàng mà thiếp ngày nay áo não trăm chiều, còn chàng cũng vì thiếp mà chàng phải... Phải sao đây? Chàng chết rồi ư?
Tình lang ôi! Có bề gì thì thiếp đây sẽ cùng chàng nơi chín suối hiệp mặt, chàng có biết chăng nhẽ?
Chàng hứa rằng sáu tháng... ngày nay là ngày 13, trọn một tháng mười bốn ngày rồi, mà thiếp vẫn không được tin tức gì của chàng cả thì biết bao giờ cho hiệp mặt, khỏi cách trở Hớn Hồ hai ngả?
Ngày hôm nay đây Lê Tứ Hải giở thủ đoạn đê tiện rù quến, thiếp thế này ắt không khỏi sau này sanh ra nhiều chuyện rắc rối nữa.
Nhiêu Tôn nào mà sẽ cùng Lê Tứ Hải đấu gươm đây? Nhiêu Tôn bộ chẳng rõ tài đấu gươm của Lê Tứ Hải chớ gì? Lê Tứ Hải thua Tố Tâm tức là “Người cho bông lài” mà thôi, ngoại trừ Tố Tâm thì ta nhắm ít ai thắng nổi mà. Còn Nhiêu Tôn nếu không đủ tài thì đâu dám tự khoe mình, rồi tự mình đem thân vào trường chiến địa, gây ra điều sanh tử này? Thật khó hiểu quá.
Bây giờ đây ta phải liệu sao đây? Thôi nhắm mắt đánh liều để cho con tạo xây vần đến đâu cho biết?”
Kỷ Loan thở than đến đó giật mình dòm lại thì cô thấy có Lê Tứ Hải và Nhiêu Tôn rồi, nên lật đật bước lại gần mà nói rằng:
- Cuộc biến xảy ra hồi hôm này tự nên em gây ra, mà làm cho Nhiêu Tôn phải đấu gươm cùng Lê Tứ Hải đây, vậy em có mấy lời thành thật xin thưa: Cuộc đấu gươm này là một cuộc tranh nhau rửa hờn, chớ hai đàng vẫn không oán thù gì mà phải quyết giết lẫn nhau. Em xin một điều này, hễ người nào thắng thì dừng gươm lại cũng đủ rồi, Lê Tứ Hải chịu không? Nhiêu Tôn chịu không?
Lê Tứ Hải trả lời một tiếng “được” mà thôi, còn Nhiêu Tôn cười chúm chím mà rằng:
- Lưỡi gươm của tôi chưa biết giết người không đủ tài cán, trói gà không chặt, vậy Quý nương vững lòng. Số bạc một muôn đồng này, nếu tôi thắng thì tôi sẽ giao lại Quý nương đem về Sài Gòn cho các nhà phước thiện, chớ số bạc này của một đứa không ra gì mà tôi lấy, thì tôi cũng là một đứa đồng tội với nó.
Lê Tứ Hải nghe Nhiêu Tôn nói bấy nhiêu thì trong lòng giận dữ, muốn nhảy lại ăn gan Nhiêu Tôn, song chàng nghĩ sao đó, rồi chàng định trí dằn tâm xuống. Lê Tứ Hải lấy một tấm giấy cheque một muôn đồng đưa cho người chứng, còn Nhiêu Tôn cũng làm y vậy.
Đoạn hai đàng bước ra. Bốn người chứng đưa hai cây gươm cho hai đàng chọn lựa. Lê Tứ Hải lấy gươm trước rồi bước lui ra sau vài bước, kế nghe Nhiêu Tôn hỏi: “Xong chưa?” Lê Tứ Hải mới nói: “Rồi”. Thì thấy hai ngọn gươm xáp lại kêu nghe rang rang, giây lâu không còn thấy đường gươm nữa. Nhiêu Tôn vừa đánh vừa cười, bày hàm răng vàng ra đỏ quét, coi bộ không nao núng chút nào, duy có Lê Tứ Hải mặt không được vui. Kỷ Loan đứng ngoài chắc lưỡi khen Nhiêu Tôn nức nở. Đánh chưa đầy mấy hiệp mà đã thấy Nhiêu Tôn dừng gươm nhảy ra mà rằng:
- Lê Tứ Hải, thầy có thấy tài tôi chưa? Nếu thầy thấy đủ rồi, thì tôi khuyên thầy tốt hơn là đi về, khỏi mất số một muôn đồng đó, và cái danh của thầy vẫn còn làu làu vậy.
Lê Tứ Hải nói: “Vài hiệp nữa sẽ biết mà...” Rồi đó hai lưỡi kiếm giao kề chớp nhoáng coi ghê gớm, chẳng khác nào rồng tranh trái châu, hai người qua lại tới lui lẹ làng vô cùng khó phân thắng bại.
Độ chừng 10 phút, Lê Tứ Hải mệt ngất. Nhiêu Tôn đánh rốc tới làm cho Lê Tứ Hải hết sức ngăn đỡ. Lê Tứ Hải dùng ngọn “Song ngưu”, Nhiêu Tôn dòm vô biết dư miếng đó, nên liền lấy ngọn “Lưỡng xa khai linh” mà trừ. Lê Tứ Hải vừa dùng ngọn “Phong thọ” thì đã bị Nhiêu Tôn lấy ngọn “Triển thân hổ khẩu”, gạt lưỡi gươm của Lê Tứ Hải ra rất mạnh, làm cho Lê Tứ Hải bủn rủn tay chân không còn gì mà cầm gươm được nữa: Lê Tứ Hải vừa buông gươm xuống bãi cát thì liền té ngửa ra bất tỉnh.
Nhiêu Tôn bước lại, lấy chân để trên ngực Lê Tứ Hải mà rằng:
- Lê Tứ Hải, thầy có thấy tài tôi chưa? Thầy còn mong nữa thôi. Phải thầy nghe theo lời tôi thì ngày nay đâu cò xấu hổ cho cái tên “Hoàn cầu anh hùng đệ nhất” làm vầy? Thầy có biết chăng? Trước khi tôi đi, tôi xin nhắc hai chữ dấu tích vào ngực thầy, mỗi bữa thầy thấy đó hoặc may nó bớt cái thói đê tiện của thầy cùng chăng?
Nhiêu Tôn nói vừa rồi lấy ngọn gươm khắc hai chữ H. K. trên ngực, máu đổ nhuộm hồng, bốn người chứng và cô Kỷ Loan trông vào bắt rùng mình, kế nghe Nhiêu Tôn tiếp nói:
- Lê Tứ Hải! Ta thuở nay chưa biết giết ai, vậy mi hãy về săn sóc vít này, vài ngày thì lành lại.
Nhiêu Tôn nói rồi bỏ gươm xuống đất, lấy nón đội lên đầu, đoạn chào cô Kỷ Loan và bốn người chứng bước ra ngoài đi mất. Kỷ Loan lấy làm lạ vô cùng, và trong bụng khen thầm Nhiêu Tôn là người tài ba, không thua gì Tố Tâm thuở nọ. Nàng lại ước ao phải chi có Tố Tâm tại đây đặng xin đấu chơi với Nhiêu Tôn vài hiệp coi ai thắng bại cho biết. Rồi đó bốn người chứng y lời của Nhiêu Tôn nên trao giấy Chèque một muôn đồng cho Kỷ Loan còn một muôn kia, tối lại giao cho Nhiêu Tôn tại nhà hàng Hôtel de la Plage.
Lê Tứ Hải về phòng buồn bực muôn phần, phần thì chỗ Nhiêu Tôn khắc chữ nhức nhối vô cùng, phần thì trong trí tự nghĩ cái sự nhục ấy không biết sao nói được. Lê Tứ Hải lăn qua lộn lại không sao ngủ được, lâu lâu chàng thở ra một hơi rồi chắc lưỡi năm ba cái...
Tám ngày đã qua, cái vít ấy đã lành rồi, song hai chữ H. K. không phai dợt chút nào, mỗi lần chàng cởi áo chàng dòm vô gương, thấy hai chữ ấy thì ruột rối tơ vò lòng co chín khúc, cao xanh cắc cớ, thợ tạo kéo xây, mà gác phiên cho Lê Tứ Hải đóng một vai tuồng đứt ruột đòi cơn sao không nói được. Tức trong lòng thì chỉ ngồi một mình mà sầu với bóng chớ biết cùng ai tỏ nói cho ai hay...
Thế thì “ngọn gươm hiệp khách” đến đây là hạ màn.
Nhiêu Tôn là ai mà tài tình dường ấy? Quý vị cứ coi tới sẽ rõ.

II. Viên đạn vô tình
Sáu Ngởi bộ hạ của Lê văn Hảo, tức là Tố Tâm, từ ngày hay chủ nó nhào xuống khe suối tại Huê viên Chợ Lớn thì ngày đêm nó vẫn buồn hoài.
Cái xe hơi hai chỗ ngồi của Lê văn Hảo mua lúc nọ vẫn còn đó, nhiều người hỏi mua, anh ta không bao giờ chịu bán. Tiền của Lê văn Hảo để lại có trót hai ngàn đồng, nó vẫn xài chút ít mà thôi. Trong bụng nó nghi hoài, nó thường than một mình mà rằng: “Chủ ta là Tố Tâm, vẫn là một đấng anh hùng hào kiệt, bấy lâu thường dạy ta nhiều điều nhân đạo, công lý gẫm lại đời này ít ai, nghèo đồng tiền mà giàu nhân nghĩa như chủ ta vậy. Chủ của ta lúc trước thường than vãn với ta rằng: ‘Có một tâm sự riêng nào đó, mà chủ ta thệ quyết một mất một còn, giết cho được đứa cừu nhân’, vì vậy mà chủ ta bấy lâu mang một mối thù chất chứa. Chủ ta có nói: Trước khi ta có một mai hồn xuống huỳnh tiền, thì đứa cừu nhân không bao giờ sẩy khỏi tay ta được”.
Đứa cừu nhân nào đây? Ta nhắm lại chủ ta coi ta như ruột, mà còn không nói cho ta biết tâm sự riêng thay, thì còn ai mà chủ ta tỏ nữa. Ngày hôm nay, cũng vì tình... tình là độc địa, thiên biến vạn hóa, nên chủ ta phải bỏ thây theo dòng nước.
À... ta nhớ lại chủ của ta thường đêm khuya thanh vắng trong lúc ai nấy đương nương giấc điệp, thì đem bàn ra giữa trời đốt ba nén hương lâm râm khấn vái rằng:
“Tôi là Lý Thế Khải vì một mối thù nhà phải mai danh với tên Lê văn Hảo, nguyện cùng trời đất chứng minh giùm lòng son này. Ngày nào mà tôi không giết được cả dòng họ đứa cừu nhân, thì cho tôi chết về lằn tên mũi đạn. Cha mẹ ôi! Một ngày mà đứa cừu nhân còn sống thì là một ngày mà con dường như bị một mũi tên bắn vào trái tim con vậy; con không bao giờ dám xao lãng mối thù, xin vái van Trời Đất chứng minh cho lòng thành thật này và cúi lạy cao xanh giúp giùm trẻ trong con đường báo oán”.
“Chủ ta thường vái Trời khẩn Phật như vậy, thì có lẽ nào mà chủ ta tự hủy mình trước ngày giết chết đứa cừu nhân, thật là đáng nghi biết mấy. Ta nghi cho chủ ta còn sống, chủ ta còn ẩn mặt đợi thời, sở nghi của ta không chỗ nào là quấy cả.
Bây giờ ta biết đâu mà tìm chủ ta?
Chủ ôi! Ngày hôm nay tôi biết liệu phương nào mà giải nạn cho chủ? Chủ có rõ lòng trung tín của tôi đây không?...”
Đồng hồ gõ hai giờ mà Sáu Ngởi còn thao thức, ngồi đối với ngọn đèn xanh, lâu lâu lấy khăn ra lau lụy; giây lâu Sáu Ngởi ngồi dựa ghế thiu thỉu muốn ngủ. Phút chút nó mơ màng vía thấy chủ nó mặc toàn đồ đen bước lại vỗ vai nó. Sáu Ngởi giật mình dụi mắt, mở ra thấy rõ ràng là chủ nó đứng trước mặt. Sáu Ngởi tưởng hồn ma về khuấy nó, nên tay chân run lập cập, miệng muốn nói, mà nói không ra lời, đôi mắt ngó ngay không nháy. Đèn vùng tắt, trong nhà tối đen không còn thấy gì cả, Sáu Ngởi lại coi cửa nẻo thì đã bị ai cạy hồi nào rồi, chừng trở lại bàn thì thấy một nang thơ, với một lưỡi kim găm trên bàn. Sáu Ngởi lật đật xé nang thơ ra, thì thấy mấy hàng chữ này viết nhỏ rít.
“Này Sáu Ngởi!
Thầy vẫn biết em là đứa trung tín hết lòng với chủ, nên thầy cho em hay rằng, hiện giờ thầy vẫn còn sống. Chiều mai em bán hết đồ đạc trong nhà rồi lấy xe hơi ra ngoài Vũng Tàu nơi Bến Đình thì sẽ có thầy chực em tại đó.
T.T”

Sáu Ngởi đọc xong trong lòng lấy làm lo sợ quá đỗi. Ban đầu nó tưởng rằng vì tại nó mơ tưởng chủ nó nên nó thấy chủ nó về, rồi bây giờ nó đọc mấy hàng chữ của chủ viết để lại trên bàn thì nó cho rằng việc nó thấy chủ nó đó là thiệt, chớ không phải trong trường mộng ảo. Nó biết chắc chủ nó còn sống, song nó lấy làm lạ lắm vì sao mà chủ nó lánh mặt, cho đến đỗi chủ nó biết nó là một đứa tớ trung tín, mà sao bấy lâu không cho nó biết? Tuy nó lấy làm lạ mặc dầu chớ nó tưởng rằng dầu thế nào nó cũng phải y theo lời chủ nó dạy, nên chi chiều bữa sau, nó chở hết đồ đạc đến nhà tầm tầm đặng bán tất hết một lần. Sáng bữa sau nó tom góp áo quần để trên xe, rồi nhắm Vũng Tàu trực chỉ.
Nó ngồi trên xe hơi mà bụng nó trông cho mau tới, xe chạy thật mau có trên trăm cây số mỗi giờ mà nó tưởng đâu là lối bốn chục. Nhiều khi nó quẹo “cour” thì nó giật mình tưởng phải tan xương mà chớ. Không bao lâu xe tới Vũng Tàu. Nó liền ra Bến Đình, kiếm vòng theo núi, nó không gặp chủ nó. Nó trở lại nhà hàng ngoài chợ ăn uống. Vừng kim ô vừa khuất dạng, thì bóng chị Nguyệt bày hình. Rọc theo đường gần Bãi Trước, đèn điện thắp sáng lòa khách du lịch thả lên thả xuống.
Gió thổi phất phơ nhành cây ngọn lá, xao xuyến cả một vừng, thật không có chỗ nào gió được tinh khiết vậy. Sáu Ngởi bước ra ngồi tại băng đá, ngó ra ngoài biển, bụng suy nghĩ tưởng đến chủ nó luôn. Nó nói thầm trong bụng: “Chủ ta làm gì mà sống được đây? Chủ ta nhào xuống khe suối, mấy ngàn người dự tiệc tại Huê viên đều thấy rõ ràng, có lý đâu chủ ta nhào xuống đó mà vẫn còn sống đến ngày hôm nay? Việc này ta lấy làm lạ vô cùng. Hay là ai đây, giả mạo tự xưng chủ ta? Việc đó khó mà tin được. Ta phải liệu sao đây? Thật khó cho ta muôn bề”.
Sáu Ngởi ngồi tại băng đá suy nghĩ hoài mà không ra phương kế chi đặng tìm chủ nó.
Tối lại nó đi ra ngoài Bãi Trước đi dọc theo mé biển trong lòng bấn loạn. Mười giờ mà nó chưa vô nghỉ. Thình lình có một người bận đồ nỉ xám đội kết, râu ria xòm xàm, độ chừng hai mươi lăm tuổi ở trên nhà hàng đi xuống, ngang chỗ của nó đứng. Mới thấy nó tưởng đâu là Tây, chừng lại gần nó coi lại thì là một người Nhật. Nó vừa tránh thì người Nhật ấy kêu nó lại, hỏi nó như vầy:
- Sáu Ngởi, em lại qua biểu.
Sáu Ngởi nghe kêu trúng tên, nó hoảng hồn, không biết ai đây mà rõ tên thiệt của nó, nên nó suy nghĩ một chập rồi liền đáp:
- Phải, tôi là Sáu Ngởi, thầy là ai mà biết tôi?
- Qua là bạn thiết của Tố Tâm là chủ của em, chủ em dạy qua đợi em tại đây.
- Chủ của tôi còn sống thật sao?
- Sống chết thể nào, em không hề biết được, nếu qua nói chết, thì bằng cớ đâu em rõ. Chi bằng em tưởng như chủ của em còn sống vậy.
- Thầy là ai mà rõ được vụ đó?
- Qua đây là bạn thiết của Tố Tâm. Tố Tâm trong lúc bối rối, không thể lo báo oán được, nên biểu qua hiệp lực với em trước là gỡ mối oán, sau là giải cho rồi nỗi “Tâm sự riêng” của người mà bấy lâu uất ức.
- Thầy kết bạn với chủ tôi hồi nào mà tôi không biết?
- Qua đối với chủ em có một cái cảm tình rất nặng. Nếu qua nói hết với em thì ít nữa là một ngày mới rồi. Thôi qua nói tắt ít lời cho em rõ. Tố Tâm có một “tâm sự riêng” đoạn trường khổ não lắm, ngoài Tố Tâm và qua đây thì không còn ai rõ được. Qua không thể tỏ “Tâm sự riêng” của người ra đây, em cứ theo giúp qua trong vài tháng nữa, em sẽ rõ Tố Tâm có một tâm sự gì.
Bây giờ đây, em cứ cho chủ em có một cái án tử hình, đợi ngày đem ra pháp trường là đủ. Còn qua dây, qua kết bạn với chủ của em thề sống không bỏ nhau hồi mới nên mười tuổi, nghĩa là lúc còn học ở trường sơ đẳng Chợ Lớn.
Qua vốn không cha không mẹ hồi mới nên ba tuổi. Qua ở đậu với chủ của em mà lo việc đèn sách. Thình lình đất bằng sóng dậy, nước lã khuấy nên hồ, làm cho song thân của Tố Tâm phải điều oan khúc. Đó là đầu dây mối nhợ tâm sự đoạn trường của Tố Tâm vậy.
- Vì sao mà song thân chủ tôi bị điều oan khúc vậy? Không ai giải oan nỗi sao?
- Em hãy yên tâm, để qua giãi bày em rõ. Mối oan ấy qua không thể nói cho em biết được, sau này em sẽ rõ. Ngày mà song than của chủ em bị điều oan ấy thì Tố Tâm đồng với qua trốn ra Bà Rịa mà lo sôi kinh nấu sử, mai lau cửa Khổng, chiều quét sân Trình. Qua năm mười ba tuổi Tố Tâm nghị với qua một điều xuất dương du học.
Tố Tâm muốn đi song còn một nỗi xa cội thung đường rồi ai mà lo câu thần tĩnh mộ khan, nên Tố Tâm không thể theo qua được. Qua nhất định đi. Qua mới đặt bàn thề với Tố Tâm ngày nào qua lo cho thành danh rồi, thì qua sẽ về Nam Kỳ lo phương thế mà gỡ oan cho song thân người nhược bằng ngày ấy qua quên lời hứa thì cho qua chết tại xứ người, gởi xương nơi đất khách.
Rồi đó qua từ giã Tố Tâm xuống Sài Gòn. Qua nhất định qua Nhật Bổn. Bây giờ đây trong túi không một đồng biết lấy chi làm phí lộ? Qua mới năn nỉ với cò tàu xin làm bồi; Tàu tới Hương Côn, qua lén lên bờ lộn lạo theo hành khách. Qua ở bên Trung Quốc vài ngày, kế qua sang Nhật. Cái cách qua ở xứ người lo bề sanh nhai thật thảm khổ trăm bề, em ngày nào rảnh sẽ nói hết em nghe. Qua ở bên Nhật Bổn trọn mười năm trường, khi thì qua học văn chương, khi thì luyện võ nghệ. Khi qua rành rẽ mọi bề, qua mới về xứ. Chuyến này qua không phải là người Nam nữa. Qua là người Nhật. Giấy tờ gì qua cũng tên là Nhiêu Tôn cả.
Vì vậy nên nhà nước không thể biết qua là vì một mối thù của một người bạn thiết mà phải mai danh vậy. Qua về Nam Kỳ trót ba năm trường, không một người nào biết khác hơn là Tố Tâm cả. Qua với Tố Tâm giao thiệp luôn, song không hề khi nào qua cho người ngoài biết được. Qua cẩn thận đến thế là cùng rồi. Trong ba năm nay, qua lo gỡ moi oan nữa. Oan kia chưa rồi, mà còn kết thêm oan nữa thì còn gì là thân. Tuy vậy mặc dầu, em đừng lo sợ. Qua sẽ hết lòng đem chủ của em ra khỏi vòng hoạn nạn, mà hưởng thú vui nhàn. Thôi trời đã khuya, qua với em nên lên phòng nghỉ.
Sáu Ngởi nghĩ một mình không biết sao nói được. Cái màn bí mật che trước mắt, khó mà vén lên nổi. Nhiêu Tôn nói chuyện oan khúc của chủ nó thì nó mới tỉnh ngộ nhận rằng chủ nó có một tâm sự đau đớn vô ngần, mà bấy lâu chủ nó bưng kín miệng bình không cho nó biết, cái câu chuyện bí mật của chủ nó tính sẽ làm thì mười phần nó chỉ biết có một mà thôi, còn bao nhiêu nữa thì Nhiêu Tôn không chịu nói ra.
Nó gạn hỏi năm ba phen cái sự oan trái ấy thì Nhiêu Tôn chỉ trả lời bằng sự mỉm cười mà thôi. Nó biết không phương nào nó rõ việc gấp bây giờ được.
Nhiêu Tôn dẫn Sáu Ngởi vô nhà hàng Sinna là nơi của chàng mướn phòng nghỉ mấy ngày rày. Sáu Ngởi bước vô thấy một cô thiếu nữ mặc đồ xẩm, coi dường như một ả ca nhi “hố thén” Sáu Ngởi tưởng trong trí rằng người đờn bà ấy là vợ Nhiêu Tôn nên thi lễ rồi ngồi lại ghế. Người đàn bà ấy cũng chào Sáu Ngởi rồi bước vô buồng.
Sáu Ngởi ngồi suy nghĩ việc Tố Tâm là chủ của nó thì tưởng đâu là một giấc chiêm bao, chớ nào dè một thầy ký lục làm tòa, một vị thiếu niên tuấn tú, mà phải bị hàm oan, gẫm lại thế gian hãn hữu. Còn kết bạn với một người như Nhiêu Tôn thì đời này không bao giờ được vậy. Nhiêu Tôn vì nỗi oan khúc của lịnh song thân Tố Tâm là một người bạn tri âm tri kỷ mà dám bạo gan xuất dương lo tập rèn văn võ, đặng chờ ngày báo oán giùm cho bạn, thì thật là một đấng anh hùng hào kiệt. Nó tuy biết vậy chớ chưa rõ văn võ của Nhiêu Tôn ra thể nào, nên nó hỏi Nhiêu Tôn:
- Thầy du học bên Nhật mười năm chẳng hay sự biết của thầy rộng dường nào?
Nhiêu Tôn lấy thuốc ra hút rồi miệng mỉm cười mà đáp chậm rãi như vầy:
- Qua vừa đậu cấp bằng tấn sĩ Nhật và Anh thì qua không học nữa. Còn về việc võ thì qua đã dày công tập luyện, thập bát ban võ nghệ, món nào qua cũng tinh thông, nhắm lại Nam Kỳ này không ai thắng qua nổi. Qua học võ Tàu tại Sơn Đông sau trở về Nhật học Jiu Jitsu, vì vậy nên qua mới được rành rẽ trong mấy món binh khí. Ba năm nay qua dạy Tố Tâm cũng bộn, mười phần Tố Tâm biết được năm. Tố Tâm có nói với qua rằng em cũng biết chút ít. Vậy sẵn cô em gái của qua đấy, em đi với nó vài đường quyền trước là qua biết sức em, sau nữa em có sơ sót điều chi, qua sẽ chỉ dạy thêm, hầu khi hữu sự mà dùng.
Sáu Ngởi tưởng người thiếu nữ đó là vợ, nay rõ lại là em thì nó lấy làm lạ lắm, nó mới hỏi:
- Thầy nói thầy vẫn mồ côi hồi nên ba tuổi, vậy người này là em thầy sao?
- Ấy là em bạn đó thôi. Người này vốn là con của thầy dạy võ cho qua lúc nọ. Rủi vì thầy qua thọ bệnh ngặt nghèo không phương cứu chữa, nên phải bỏ mình rồi giao lại cho qua nuôi dưỡng.
Nhiêu Tôn nói rồi đoạn kêu:
- Lệ Hoa em! Ra anh dạy việc.
Lệ Hoa dạ rồi, liền bỏ cẳng xuống đất bước ra ngoài, kế nghe Nhiêu Tôn nói:
- Em lấy cặp song kiếm ra đây đi thử vài đường chơi với Sáu Ngởi là tay chân bộ hạ của Tố Tâm.
Lệ Hoa nghe rồi liền vô trong mở tủ ra đem cặp song kiếm sáng ngời, để trên bàn. Sáu Ngởi biết kiếm cũng nhiều nên không sợ sệt chút nào bước lại lựa một cây rồi dẹp bàn ghế lại một bên cho rộng chỗ để bề day trở. Lệ Hoa xăng tay áo rồi cũng bước lại lấy kiếm, lui ra vài bước, kế bái tổ. Hai lưỡi kiếm xáp lại nghe rang rảng giây lâu không còn phân biệt được Sáu Ngởi và Lệ Hoa. Đấu được vài hiệp, Sáu Ngởi đuối tay vừa đỡ vừa lui, chớ không phương nào đánh trả lại được. Sáu Ngởi khen thầm trong bụng một người con gái võ nghệ cao cường quá đỗi.
Lệ Hoa vừa đánh vừa cười bày hàm răng trắng như ngọc. Bộ của Lệ Hoa đi rất gọn gàng, mới ngó tưởng là phụng lộn rồng bay, dẫu ai tài nghệ bực nào cũng phải khen ngợi.
Phút chốc nghe một cái rảng, dòm lại thì thấy Lệ Hoa dùng thế gì rất hay đánh rớt kiếm của Sáu Ngởi, kế nghe Nhiêu Tôn nói:
- Em thấy tài của em gái qua chưa?
Sáu Ngởi có ý thẹn nên không nói gì cả. Nhiêu Tôn nói:
- Em tập luyện cũng nhiều, thôi từ đây về sau, qua sẽ chỉ thêm thì tức nhiên em sẽ giỏi.
Sáu Ngởi ngó bộ tịch mảnh mai của Lệ Hoa thì khen thầm rằng:
- Nàng này tuy nhan sắc không thua gì Kỷ Loan, chớ cặp mắt thật là sáng như sao băng, Kỷ Loan so với Lệ Hoa ai đẹp hơn? Cái đẹp khó mà so sánh được, vì cái sự đẹp tùy theo sở thích của mỗi người. Còn ai tài hơn? Thì chắc Lệ Hoa rành rẽ võ nghệ hơn. Nhưng mà chắc gì hơn Kỷ Loan được, Kỷ Loan theo nghề xiếc với ông Vân Đình hồi còn nhỏ đến giờ.
Sáu Ngởi có tánh háo kỳ nên hỏi Nhiêu Tôn:
- Cô Lệ Hoa đây, đối với cô Kỷ Loan nọ không biết ai tài hơn vậy thầy?
- Em khéo hỏi thì thôi, Kỷ Loan sức mạnh hơn Lệ Hoa, vì mỗi ngày luyện tập gân cốt luôn còn về đường binh khí thì phải nhường sức cho Lệ Hoa.
Sáu Ngởi nghe nói rồi thì nó mới yên trong lòng. Kế giây lâu nó nghe Nhiêu Tôn nói: “Em đã thề chết sống theo Tố Tâm vậy ngày nay em theo qua lo trả mỗi thù, em phải ra vào nhiều chỗ nguy hiểm, nếu không cẩn thận thì ắt là phải xuống Côn Nôn hay lên gươm máy, em có sợ không?”
Sáu Ngởi không biết vì sao mà phải bị những án ghê gớm như thế nên hỏi:
- Thầy làm gì mà phải ra vào những chỗ nguy hiểm ấy.
- Trọn ba năm nay qua dò tin tức bọn cừu nhân đã xong, duy có đợi ngày mà hạ sát. Vậy bắt đầu từ đây qua với em phải vì nghĩa mà phạm luật trời, giết ít nữa là sáu mạng.
Sáu Ngởi nghe nói bắt rùng mình; song mặc dầu nó cũng không nao núng. Nhiêu Tôn nói:
- Em đừng lo. Qua đã liệu định hồi còn nhỏ nên chi qua đã cụ bị xong rồi. Qua có đủ thứ thuốc sửa mặt làm cho người ngoài không rõ được. Thuốc mê, thuốc say, thuốc ngủ, thuốc xông đủ thứ, hễ qua sắp đặt đâu đó yên bài, rồi hễ em đi thì thành việc ngay. Em đừng lo sợ.
Sáu Ngởi vững lòng ngồi lại uống nước. Nhiêu Tôn định tháng chín tây phải giết ba mạng người, nên biểu Sáu Ngởi xuống Bạc Liêu làm như vầy, như vầy, mà trước khi đi phải để cho Nhiêu Tôn sửa mặt. Sáu Ngởi vâng lời rồi liền từ giã Nhiêu Tôn bước ra ngoài, xuống chợ mướn phòng nghỉ.
Việc Nhiêu Tôn hiệp với Sáu Ngởi giết người báo cừu cho Tố Tâm còn lâu, còn đến ba tháng, nên xin tạm ngưng bây giờ xin nói tiếp việc Lê Tứ Hải.
Từ ngày Lê Tứ Hải ra ngoài Vũng Tàu gặp Kỷ Loan giở món đê tiện bị Nhiêu Tôn khắc hai chữ H. K. nơi ngực thì ngày đêm chàng buồn rầu không sao nói được. Chàng ngồi nhìn sững bóng đèn mà ruột tầm đòi đoạn.
Chàng rầu, chàng giận, rầu giận chen lẫn làm cho chàng dã dượi ngày đêm ăn không ngon, nằm không ngủ, cái nhục hôm nọ tại Bãi Sau ngoài cô Kỷ Loan là người yêu của chàng thì không còn ai biết được, vì vậy mà chàng thầm than Nhiêu Tôn là người thế nào mà tài dường ấy, “Người cho bông lài” tức là Tố Tâm không chắc gì thắng nổi, huống gì ta đã đánh thua Tố Tâm. Nếu nhục với ai thì ta còn ít buồn, nhục với người yêu dấu của ta thì mặt mũi nào mà ta ngó chán chường người yêu của ta nữa. Duyên đâu cắc cớ, thợ tạo khéo xây làm cho giữa cuộc vui cười bỗng chút hóa ra buồn nghiến. Trời ôi! Nếu duyên ta chẳng may kết loan phụng với Kỷ Loan thì đừng cho ta gặp buổi đầu, có đâu ngày hôm nay cục khối tình nặng trĩu khiến cho ta mang nặng hai vai, dẫu cho ai đi nữa cũng phải não nề đau đớn.
“Nhiêu Tôn không rõ được việc này, nên giữa đàng thấy việc bất bình ra vai gánh vác. Nhiêu Tôn nào rõ trong lòng của ta có nhiều nỗi đoạn trường, tưởng ngoài ra không còn ai sầu hơn nữa. Trên trần ai hiếm kẻ sống cùng vì tình mà rủi chết cũng vì tình thì ta đây, ta có thể nào sống mà đoạn tình được. Ta không phải như người hễ sầu tình thì hủy mạng, dễ cho kẻ khêu cháy ngọn lửa lòng, toại hưởng ngày xuân mát mẻ. Ta mà thất vọng đây thì ta cũng quyết trước hạ sát nó cho rồi, sau ta tự xử. Sống mà đêm thảm ngày sầu, thì sống có ích chi...
Nhiêu Tôn là người tài ba, sao ngày đấu võ tranh anh hùng hoàn cầu đệ nhất, Nhiêu Tôn không ra mặt? Điều này ta lấy làm lạ lắm. Nhiêu Tôn khắc hai chữ H. K. trên ngực ta là nghĩa gì? Nhiêu Tôn nhục ta trước mặt Kỷ Loan ta có nên trừ Nhiêu Tôn chăng? Việc này khó cho ta quyết tính gấp được. Nhiêu Tôn là người võ nghệ cao cường không dễ gì mà ta trừ nó được, song phải biết rằng một mình ta thì khó, chớ nhiều người hiệp lực với ta thì dẫu cho Nhiêu Tôn ba đầu sáu tay cũng khó mà sống được. Nhiêu Tôn nếu phen này mi bị ta hại mi rồi thì ta sẽ giết mi ngay đặng cho mi biết rằng ‘cao nhân tắc hữu, cao nhân trị’.”
Lê Tứ Hải nghĩ vậy rồi sáng ra chàng liền lên miệt Bà Trà, Tân Khánh mà chiêu mộ võ sĩ. Miệt này là ổ sanh những tay võ nghệ cao cường, nên không đầy hai bữa, bốn tên vạm vỡ mạnh bạo phi thường, theo Lê Tứ Hải về Sài Gòn. Hai Long có gồng tự xưng dao chém không đứt, còn Sáu Hổ thì đi siêu hay lắm, kế nữa là Ba Sơn và Năm Thủy, tuy không bằng Hai Long và Sáu Hổ, chớ cũng là tay gan dạ, vô ra khám đường như ăn cơm bữa. Nhà rộng rãi lắm nên mỗi đêm bốn người này thường luyện tập lại cho Lê Tứ Hải coi, vì bấy lâu mãn lo tìm cuộc sanh nhai mà bỏ phế đường võ nghệ.
Lê Tứ Hải coi đâu đó được nhuần nhã rồi thì chàng liền cắt phiên mỗi người mỗi việc làm, và chờ lịnh chàng ra ngày giờ và thi hành lập tức.
Ngày kia, gánh hát Cải lương Tân Phong đến diễn tại nhà hát Tây đặng giúp cho các vị học sanh xuất dương du học, các hiệu báo Sài Gòn đều vì lòng bác ái mà hiệp nhau cổ động rất sốt sắng. Nhất là tờ dân báo “Tân Không Khí”, Lê Tứ Hải chiều bữa kia ngồi tại nhà hang Continental uống rượu khai vị, mấy đứa nhỏ bán nhật trình mời chàng mua báo. Lê Tứ Hải đưa năm xu lấy tờ Tân Không Khí. Nơi mục Thời sự Sài Gòn, chàng thấy đăng chương trình bữa hát đó, chàng để ly rượu xuống, chiếp miệng cười rồi nói thầm rằng: “Đêm 13 tây tới đây chắc sao Nhiêu Tôn cũng đi coi hát Tân Phong, vì bữa hát này là bữa hát giúp cho hội thế nào Nhiêu Tôn cũng đi.
Kỷ Loan thường cho tiền các hội phước thiện, bữa hát không lẽ Kỷ Loan không đi, ấy là một dịp may cho ta lắm đó...”
Suy đến đó chàng liền lấy nón đội lên đầu lên xe hơi dung ruổi.
Bữa 13 tây đã đến, sớm mai, chiều, tối... chín giờ đúng. Nhà hát Tây thắp đèn điện chói lòa, kẻ mua vui đến đông như kiến, một cái xe Limousine tốt đẹp vô cùng, đậu tại thềm nhà hát. Một cô mặc đồ dài đen, choàng khăn đen, đi giày đen, đeo hột xoàn lóng lánh có ngời, bỏ cẳng xuống xe, lần bước lên thềm. Bàn hội ủy viên lo sắp đặt cuộc hát thấy cô bận đồ đen ấy thì xúm nhau khen thầm rằng: “Thật là một tay quốc sắc thiên hương”. Kế có một thầy nói: “Úy nàng Kỷ Loan đào gánh xiệc Góc Trời Nam đây mà.. ”
Rồi có một thầy khác tiếp: “À, phải đa bạn, mà sao mặt nàng buồn bực vô cùng, cặp mắt của nàng không có tinh thần như lúc nọ, bạn thấy không?” Nói vừa rói thì nàng bước xáng qua ai cũng đưa mắt ngó theo cả. Một chập sau có một người Nhật Bổn đi với một người đàn bà Nhật, da trắng như tuyết, môi đỏ tợ son, miệng cứ cười duyên mãi.
Theo sau, có một người Nhật khác nữa mặc đồ nỉ trắng mang kiếng gọng vàng, để râu chút chút nơi môi trên. Ấy là Nhiêu Tôn đi với Lệ Hoa và Sáu Ngởi. Nhiêu Tôn cải trang sửa dạng cho Sáu Ngởi, ai trông vào không thể biết được người Nhật đó là Sáu Ngởi cả, thiên hạ vô cửa đông lắm. Rạp nhà hát Tây rộng mênh mông, mà người đi coi ngồi chật, ai để ý dòm xem “từ người” thấy Kỷ Loan ngôi loge bên tay mặt, còn Nhiêu Tôn, Lệ Hoa và Sáu Ngởi ngồi bên tay trái. Phía sau Lê Tứ Hải ngồi một mình, mà coi bộ chàng không chủ ý đến việc hát là gì. Cộp cộp cộp ba tiếng... kéo màn ra, diễn tuồng.
“Lưu Bị đánh Đông Ngô báo oán”
Thật là một tấn tuồng hay vô cùng, đào kép đóng các vai đều xứng đáng cả “Ông Lưu vì ông Quan bị Đông Ngô giết nên trong lòng mang một mối thù chan chứa, thề quyết không đội chung trời, đạp chung đất, với quân cừu nhân đã giết thác ông Quan là một người bạn thề sống chết có nhau tại Đào viên, nên liều xuất binh diệt trừ Đông Ngô tiềm cừu nhân giết cho đã nư giận.
Ông Khổng Minh Gia Cát, quân sư của ông Lưu, bấy lâu chỉ biểu đường đi nước bước cho ông Lưu đánh Đông dẹp Bắc không chỗ nào mà ông Lưu không nghe ông Khổng. Lúc này ông Lưu khi hay tin Quan bị giặc giết, thì trong lòng như lửa đốt liền ra lệnh tấn binh đánh Đông Ngô. Ông Khổng Minh biết trước rằng đi đánh Đông Ngô đây không bao giờ thắng được, lại còn phải hao tổn quân lính nên cũng không cho ông Lưu xuất binh. Ông Lưu không nghe lại nói rằng: ‘Phen này mà rủi có sa cơ thất nghiệp đi nữa thì tôi cũng vui lòng, vì một người bạn sống thác không bỏ nhau, thì có lý nào, bạn tôi bị giặc giết, mà tôi điềm nhiên, thì còn gì là nghĩa anh em... mặt mũi nào tôi còn thấy mặt bạn tôi nơi chín suối...’.”
Nhiêu Tôn ngồi nơi ghế thấy cái cảnh ấy thì trong lòng như lửa dậy nói thầm rằng:
“Ông Lưu Bị vì bạn là ông Quan Công không sợ mất còn quyết diệt trừ nghịch tặc... cảnh ấy đối với cảnh của ta đây thì không khác nhau là bao xa, ta đây là Nhiêu Tôn vì bạn ta là Tố Tâm không quản bao nhọc nhằn thệ quyết một lòng lấy gan cừu nhân.
Phải, ông Lưu nhớ nơi Vườn đào... ta lại nhớ tỉnh Bà Rịa, là nơi ta với bạn ta đốt hương thề với trời đất chứng minh giùm lòng của đôi ta. Ôi! Cảnh ấy tình này sao tương tợ nhau lắm vậy?...”
Nhiêu Tôn nhớ tới đó thì trong lòng không còn nhớ chuyện chi khác hơn là “Tâm sự” của Tố Tâm nữa, nên hỏi nhỏ Lệ Hoa mà rằng:
- Em coi mấy màn vừa rồi, em nghĩ sao?
- Em xin lỗi anh, em ít hiểu điệu hát An Nam cho nhiều, nên chi em không để ý đến.
Nhiêu Tôn mỗi lần day lại thì thấy Lệ Hoa cứ ngó sững Kỷ Loan thì lấy làm lạ lắm nên hỏi nhỏ mà rằng:
- Làm gì em chăm chỉ ngó nàng ấy hoài, mà em không chịu coi trên sân khấu?
Lệ Hoa nghe hỏi giật mình nên trả lời:
- Nàng nào đó mà lịch sự quá vậy anh? Nàng ấy làm gì cứ nhìn anh hoài vậy?
Nhiêu Tôn nghe hỏi giật mình nhớ chuyện ngoài Vũng Tàu lúc nọ thì càng có hơi sợ Kỷ Loan hỏi nên nói với Lệ Hoa mà rằng: “Ấy là nàng thấy mình là người Nhật nên lấy làm lạ mà ngó mình là vậy”.
Lệ Hoa tuy nghe vậy hay vậy chớ trong lòng lại không nghĩ vậy. Bấy lâu Nhiêu Tôn đối đãi với nàng như anh em chớ không có ý gì khác. Cách đối đãi rất đặc biệt, không bao giờ có tình với nàng cả. Lệ Hoa là gái mới lớn lên năm nay xuân xanh nên mười chín, bấy lâu không gần ai khác hơn là Nhiêu Tôn, nên tuy bề ngoài không nói ra chớ bề trong nàng có một mối sầu vô hạn. Nàng sầu vì Nhiêu Tôn vô tình với nàng vậy. Gái gần trai như lửa gần rơm, tài gì mà không phát cháy.
Bởi vậy cho nên nhiều khi nàng muốn tỏ thật cho Nhiêu Tôn, mà nàng sợ e Nhiêu Tôn không khứng thì còn gì là nàng, Nhiêu Tôn vẫn là học trò của thân phụ Lệ Hoa, ngày thân phụ của Lệ Hoa gần tầm tiên cỡi hạc thì có kêu Nhiêu Tôn giao Lệ Hoa cho Nhiêu Tôn cần mẫn săn sóc, nên có lý đâu Nhiêu Tôn vì tình mà mị mà làm phong hóa suy đồi, tồi phong bại tục, vì sắc nước hương trời, tài ba lội lạc của Lệ Hoa mà phải ngã nền luân lý con cháu giống Lạc Hồng bấy lâu các nước đều sùng bái. Nhiêu Tôn vì tình thầy trò, nghĩa bầu bạn, mà dẹp tình qua một bên, không lưu ý đến Lệ Hoa, là một nàng con gái, cũng đồng cảnh ngộ với chàng, mà đêm sầu với bóng, trách phận hận duyên.
Lệ Hoa có tình cùng Nhiêu Tôn là lẽ tự nhiên, không đáng trách. Lệ Hoa đi coi hát thấy Kỷ Loan đưa mắt ngó Nhiêu Tôn hoài thì lửa lòng phát dậy. Nàng tuy ngồi đó, mà trong lòng bấn loạn, muốn biết rõ duyên cớ vì đâu mà nàng ngồi đó, tức là Kỷ Loan cứ nhìn sững Nhiêu Tôn. À thật vậy, gái mà liếc trai, trai mà nhìn gái thì có gì khác hơn là một dây ái tình ràng buộc đôi đàng, ngoài ra không còn ý gì khác nữa.
Độc giả gặp một cái cảnh trong rạp hát tây này thì cũng bắt buồn cười. Mỗi người đều có ý riêng không ai rõ được. Như Kỷ Loan nhìn Nhiêu Tôn là vì nàng nhớ đến cái ơn ngoài Vũng Tàu mà muốn lại gần để tỏ dấu cám ơn, ngoài ra thì nàng không có ý gì riêng cả.
Nàng không phải thấy Nhiêu Tôn đẹp trai mà sanh lòng vì nàng đã thề kết bạn với Tố Tâm tức là “Người cho bông lài” thì dầu cho ai sang giàu, tài ba đi nữa không thể mua lòng nàng được, huống hồ gì nàng đã quyết nếu đến ngày tiền định của Tố Tâm mà không đắc kỳ sở nguyện thì chắc ngày ấy nàng sẽ tìm đường lần xuống âm ty, kiếm cho được “Người cho bông lài”, tức là Tố Tâm.
Nàng nghĩ vậy, còn Lệ Hoa thì ý khác. Nàng tưởng Kỷ Loan thấy Nhiêu Tôn mà đẹp lòng, nên mới có sự ngó trân ấy. Nàng thương Nhiêu Tôn bao nhiêu, nàng có tình với Nhiêu Tôn bao nhiêu thì nàng giận Kỷ Loan bấy nhiêu, nàng ghét cay ghét đắng Kỷ Loan bấy nhiêu. Nàng trong bụng ghét giận xen lẫn nhau, Nhiêu Tôn ngồi gần bên nàng mà lương tâm không nói cho chàng biết.
Nhiêu Tôn ngồi coi hát trí nhớ đến sự báo thù, nên nhìn sững trên sân khấu mà không phân biệt tiếng ca hát của đào kép, líu lo những giọng phù trầm, khiến con người nửa say nửa tỉnh. Chàng chỉ biết có một sự đem Tố Tâm ra vòng hoạn nạn, giết lũ cừu nhân mà thôi, ngoài ra chàng không dè Lệ Hoa ngồi gần bến chàng mà có một mối sầu vô hạn, vì chàng mà căm giận trong lòng như người câm ăn ớt.
Kỷ Loan, Lệ Hoa và Nhiêu Tôn mỗi người mỗi ý riêng, cho đến đỗi phía sau là Lê Tứ Hải cũng không phải chủ ý đi coi hát nữa: Lê Tứ Hải quyết giết Nhiêu Tôn, ngồi đếm từ giờ từ khắc trông cho tới giờ vãn hát đặng ra tay giết phứt. Tội nghiệp cho Nhiêu Tôn không dè có người lòng sâu dạ độc dường ấy.
Đêm nay gánh Tân Phong đến diễn trước giúp vui cho công chúng, sau lấy tiền trợ học sanh du học, chớ nào phải là nơi để cho bốn người trên giấy, gây ra sau này lắm điều khổ não. Ấy cũng vì tình, trăm ngàn sự độc địa, trăm ngàn chuyện dở dang cũng vì một chữ tình, than ôi! Người đời may ai để ý. Vui nhau cũng vì tình, sầu nhau cũng vì tình, chết nhau cũng vì tình, mà sống nhau cũng vì tình. Nói vậy sắc lịnh của hàng phụ nữ là gươm giáo để giết anh hùng chăng ư? Thật vậy mà, Từ Hải cũng vì mãng nghe theo giọng quyễn tiếng đờn của nàng Kiều mà phải phút chốc tan tành sự nghiệp, đã được vẻ vang một phương trời, ai nghe đến tên không hãi hùng kinh cụ. Lữ Bố cũng vì những tiếng tiêu tao của Điêu Thuyền mà hạ sát dưỡng phụ, không kể hậu thế người để lời biếm nhẽ. Chàng Ấu Đức Ly, bên Pháp cũng vì cô Josephine mà đành bữa óc người tình của nàng sắc nước hương trời ấy.
Bao nhiêu những sự ghê gớm án mạng trên thế giới này cũng vì tình mà sanh ra, lắm lúc đem những bực anh hùng vừa đưa ra ngoài bể, khác nào một chiếc tiểu thoàn đương bị sóng to biển cả, dồi dập nhiều khi, có lúc phải tan, phải nát.
Đó là việc ngoại của quyển tiểu thuyết này, song nhắc chuyện xưa tích cũ cũng là một sự không lẽ quá ư vô ích vậy. Còn đây, Lê Tứ Hải cũng vì nàng Kỷ Loan mà gây nhiều việc ghê gớm, nay cũng vì mang nhục trước mặt Kỷ Loan mà đành ra tay nhẫn hại Nhiêu Tôn là đấng anh hùng trọng nghĩa anh em, biết xem danh dự...
Thình lình chuông đổ vãn hát.
Lê Tứ Hải lật đật bước ra ngoài cửa. Trong này Nhiêu Tôn đi với nàng Lệ Hoa và Sáu Ngởi chậm rãi nối gót mấy người đi coi hát ra cửa, rồi đồng bước lên xe hơi.
Kỷ Loan nhìn rõ Nhiêu Tôn là người đánh gươm ngoài Bãi Sau, nên muốn lại chào hỏi, song vì đông người, không thể chen lấn lại gần được, đành thủng thẳng ra sau. Ra tới ngoài nàng vội bước lên xe Limousine, biểu sốp phơ mở máy lập tức chạy theo xe của Nhiêu Tôn. Xe hơi của Nhiêu Tôn bắt từ đường Catinat mà chạy, rồi lần lên nhà thờ Đức Chúa Bà, đổ qua đường Norodom nhắm hướng Gia Định dung ruổi. Nhiêu Tôn là người cẩn thận, ngồi cầm tay bánh xe mà con mắt lanh lợi vô cùng. Chàng dòm trong kiếng thấy xe hơi của nàng Kỷ Loan theo sau, thì trong bụng sợ Kỷ Loan biết nhà, nên liền nói với Lệ Hoa mà rằng:
- Trời thanh gió mát, lại nhờ trăng sáng bữa rằm, nên anh muốn rủ em lên Thủ Đức đi một vòng hóng mát, em có khứng không?
Lệ Hoa trong bụng không vui nhưng hay chiều lòng Nhiêu Tôn, nên trả lời:
- Em trong bụng bữa nay có hơi bần thần song mặc dầu anh rủ em, em sẵn lòng theo anh cho có bạn.
Nhiêu Tôn bấy lâu không muốn làm nhọc lòng ai cả, nhưng nay có lý đâu làm nhọc lòng Lệ Hoa là một đứa em yêu dấu của chàng nên chi chàng đáp lại mà rằng:
- Em trong lòng không vui, anh làm sao vui đặng, thôi không đi.
Tội nghiệp cho Lệ Hoa sợ Nhiêu Tôn không bằng lòng nên lật đật tỏ dấu vui cười hớn hở mà rằng:
- Đó là em thử bụng anh đó thôi, chớ em cũng muốn đi một vòng cho mát mặt về ngủ yên giấc, chớ trời lúc này nóng nực quá đỗi.
Nhiêu Tôn cười, rồi đó xe hơi lần lần chạy mau vô cùng. Đồng hồ lần lần chỉ 40, 60, 80, kế bắt đầu số 100 thì đã tới cầu Bình Lợi.
Phía sau, cái xe Limousine Chenard & Waker của Kỷ Loan chạy cũng thật mau, nên theo bén xe của Nhiêu Tôn cách chừng vài chục thước. Lệ Hoa và Sáu Ngởi không để ý đến nên không dè có người nom theo sau, duy có Nhiêu Tôn dòm vô kiếng thấy rõ ràng cái xe không đèn của Kỷ Loan ở sau. Trời sáng như ban ngày Kỷ Loan cẩn thận không thắp đèn là có ý cho Nhiêu Tôn không biết, mà không dè Nhiêu Tôn dư rõ.
Phía sau nữa một cái xe hơi Limousine hiệu Huê Kỳ sáu máy kéo màn, không còn thấy ai ngồi trên cả. Xe hơi này chạy mau vô cùng nên chưa tới Thủ Đức mà đã qua mặt xe Kỷ Loan và Nhiêu Tôn rồi. Vừa qua khỏi cầu Bình Lợi, cái xe Limousine hiệu Huê Kỳ ấy đã tới góc đường mà phải tẽ qua Thủ Dầu Một. Cái xe hơi này tức là xe của Lê Tứ Hải, khi thấy Nhiêu Tôn lên xe rồi thì chàng liền bảo sốp phơ đuổi theo. Tới góc đường nói trên kia, chàng bảo ngừng. Hai Long, Ba Sơn, Năm Thủy đồng bước xuống, cứ theo lời dặn của Lê Tứ Hải mà thi hành.
Xe hơi đậu giữa đường, nên khi xe của Nhiêu Tôn chạy gần tới phải tóp máy ngừng bên tay mặt. Nhiêu Tôn ngồi trên xe rầy sốp phơ của Lê Tứ Hải sao không tuân theo luật, lại đậu giữa đường, không để cho xe sau trườn tới.
Nhiêu Tôn nói vừa rồi, thì đã bị Hai Long, Sáu Hổ và Năm Thủy ngảy ra cầm súng lục liên chỉ vào mặt Nhiêu Tôn, Lệ Hoa, Sáu Ngởi mà rằng: “Nếu bay cượng lý ta không dung mạng!” Nhiêu Tôn tưởng là ăn cướp đón đường nên không kháng cự chút nào, đưa hai tay lên là có ý để cho bọn ấy xét trong mình đặng xuất kỳ bất ý đoạt súng rồi bắt bọn ấy. Lệ Hoa và Sáu Ngởi muốn đoạt súng, đánh lại, song thấy Nhiêu Tôn tỏ dấu quy hàng, nên cũng đưa hai tay. Trong lúc lộn xộn ấy Kỷ Loan phía sau đi tới. Nàng dòm thấy rõ ràng bốn người vạm vỡ mặc đồ đen, mang mặt nạ đương kềm súng lục liên, muốn làm hại ba người kia, nên lật đật lấy súng lục liên, lần lần mở cửa xuống xe, nàng nói thầm trong bụng mà rằng: Nhiêu Tôn lúc nọ cứu ta ngoài Vũng Tàu, nay gặp dịp cho ta trả ân ấy lại.
Hai Long bấy lâu đi ăn cướp nhiều đám, nên lanh lợi lắm. Nó dòm thấy rõ ràng Kỷ Loan bước xuống xe cầm súng lục liên, nên đã phong ngừa rồi.
Hai Long biểu Ba Sơn mở cửa dẫn Nhiêu Tôn xuống xe, Nhiêu Tôn không nao núng chút nào cũng chiều theo ý Ba Sơn bước xuống xe, mà miệng chúm chím cười mãi. Hai Long vừa biểu Ba Sơn lấy dây cột Nhiêu Tôn lại thì thấy Kỷ Loan đưa súng lên muốn bắn Nhiêu Tôn không dè có Kỷ Loan đàng sau núp bắn, nên chi trong bụng tính đánh Ba Sơn mà đoạt súng. Trong lúc đó Hai Long vừa thấy mũi súng của Kỷ Loan đưa lên ngang mắt thì biết nàng muốn bóp cò nên liền lách minh qua xô Nhiêu Tôn qua bên lằn đạn.
Hỡi ôi! Tội nghiệp cho Nhiêu Tôn vô ra nhiều nơi huyết chiến mà vẫn được toàn thắng, nay vì muốn bắt sống Hai Long và nội bọn, nên không dè có người núp sau lưng toan cứu mình mà phải...
Kỷ Loan bóp cò, súng nổ một tiếng “bùm” viên đạn vô tình bay vô cánh tay Nhiêu Tôn.
Nhiêu Tôn tưởng là một đứa nào trong bọn ăn cướp bắn mình, nên tuy bị đạn nhức nhối vô cùng mà vẫn còn tỉnh, đè Hai Long, vặn tay đoạt súng. Vừa muốn đánh vô bản mặt của Hai Long, thì tứ chi rũ liệt, buông Hai Long ra, rồi ngã ngửa xuống đường, không còn biết gì nữa. Hai Long ngồi dậy, tính vác thây Nhiêu Tôn đem lên xe, song nó ngó thấy Kỷ Loan bước lại gần, nó sợ bị Kỷ Loan bắn nữa, nên đồng bỏ Nhiêu Tôn, núp theo xe hơi lần lại xe của Lê Tứ Hải.
Sáu Hổ và Năm Thủy cầm súng giữ Lệ Hoa và Sáu Ngởi, tính bắt Nhiêu Tôn được rồi thì sẽ bỏ lên xe, nào hay tính vậy mà không được vậy. Sáu Hổ và Năm Thủy vừa thấy Hai Long là đầu đãng bỏ Nhiêu Tôn trở lại xe thì chúng nó muốn giết phứt Lệ Hoa và Sáu Ngởi cho rồi, song vì mãng tuân theo lời dặn của Lê Tứ Hải biểu đừng giết ai cả chỉ bắt cho được Nhiêu Tôn mà thôi, nên chúng nó đồng bỏ Lệ Hoa và Sáu Ngởi chạy trở về xe Lê Tứ Hải.
Lệ Hoa và Sáu Ngởi ngồi trong xe thất thế nên thấy việc hỗn độn này mà không làm gì được.
Lệ Hoa và Sáu Ngởi mãng lo chăm chỉ ngó mũi súng, đặng có bề gì mà trớ viên đạn, nên tiếng súng nổ của Kỷ Loan mà hai người không biết bẳn ai cả.
Lê Tứ Hải ngồi trên xe Limousine, bốn phía bịt bùng dòm trong kiếng dọi ra sau thấy một người đàn bà choàng khăn khuất mặt nên chàng lấy súng lục liên ra, núp trong cửa xe bắn một phát, viên đạn trật ra ngoài, chàng bắn luôn một phát nữa, Kỷ Loan vội núp sau xe, nên ba phát súng liên tiếp nội hồi đó mà vẫn không trúng nàng được. Lê Tứ Hải biết việc bất thành, nên biểu sốp phơ chở nội bọn về nhà, Lê Tứ Hải rầy nội bọn mà rằng:
- Bay dại quá, trong lúc lộn xộn đó, sao bay không giết phứt chúng nó cho rồi, lại làm gì mà rút lên xe hết.
Hai Long và nội bọn nói:
- Thầy dặn bắt sống, nên chi chúng tôi tuân lịnh không dám bắn, bằng thầy không dặn thì trong lúc có người rình bắn đó, chúng tôi giết phứt Nhiêu Tôn và nội bọn rồi có đâu để đến người ta làm trước mà thất bại như vầy.
- Tao thấy rõ ràng xe hơi của người đàn bà ấy ngừng, người đàn bà ấy cầm súng lục liên bước xuống xe, tao muốn bắn trước, song sợ bay chưa bắt Nhiêu Tôn mà bể công việc mình sắp đặt, nên lúc sau nghĩa là lúc người đàn bà ấy bắn rồi, tao liền bắn trả lại, song không trúng, vì cách xa quá.
Hai Long nói:
- Tôi chắc sớm muộn gì Nhiêu Tôn cũng phải chết vì viên đạn của người đàn bà ấy.
- Tao không muốn nó chết thế đó. Tao muốn nó về tay tao. Tao mắng nó cho đã nư giận rồi sau sẽ giết nó.
Nói chuyện đến đó xe chạy tới thềm nhà rồi.
Đây nói về Kỷ Loan bắn với theo xe hơi của Lê Tứ Hải nhiều phát và vẫn không trúng, Kỷ Loan bước lại gần thấy Nhiêu Tôn nằm trên vũng máu thì nàng hoảng hồn lật đặt đỡ Nhiêu Tôn dậy. Lệ Hoa vừa bước xuống xe thấy Kỷ Loan đỡ Nhiêu Tôn nằm trên tay thì lửa lòng phát cháy, máu ghen đổ dậy ào ào, bước lại gần nói lớn lên rằng: “Này nàng kia, ta nói cho mi biết, mi giết anh ta, ta quyết không dung mi sống đâu!”
Lệ Hoa nói rồi liền nhảy lại đánh một thoi vô mặt Kỷ Loan. Kỷ Loan nghe Lê Hoa nói ngước mặt lên, thấy Lệ Hoa vừa đánh, nên né vừa khỏi thì vội đứng dậy. Kế bị Lệ Hoa đánh tiếp vào mình. Kỷ Loan tự biết mình quấy nên không dám đánh lại, cứ lo trớ hoài, mà thốt lời đau thương mà rằng:
- Cô ơi! Cô bớt cơn nóng giận, đợi tôi phân cạn đôi lời.
Lệ Hoa không chịu nghe, cứ đánh tới mãi. Sáu Ngởi nhận rõ là Kỷ Loan, nên nói với Lệ Hoa mà rằng:
- Cô ba, xin cô dừng tay lại, sau này sẽ hay, mau mau lại cứu thầy hai.
Lệ Hoa nghe Sáu Ngởi kêu, thì nhớ lại Nhiêu Tôn bị đạn nên nóng lòng trở lại đỡ Nhiêu Tôn. Tội nghiệp cho Nhiêu Tôn, hồn quế mê man, không còn biết gì nữa. Lệ Hoa đỡ Nhiêu Tôn lên xe hơi rồi day lại nói với Kỷ Loan mà rằng:
- Bây giờ ta dưng cho mi sống ít ngày rồi ta sẽ giết mi. Mi có vạch mây lên trời ở thì ta bỏ qua vụ này, bằng mi ngày nào còn ở thế gian - ta nói cho mi biết - ta thề không đội chung trời với mi đó.
Lệ Hoa nói rồi liền dạy Sáu Ngởi cầm tay bánh trở xe về nhà thương Gia Định. Kỷ Loan không biết sao phân giải sự lầm lạc của mình, nên Lệ Hoa nói như thế mà nàng vẫn lẳng lặng không một lời gì đáp lại. Kỷ Loan trở lên xe hơi thì ruột nát như tơ vò, tâm thần bấn loạn. Nàng than nho nhỏ mà rằng: “Trời ôi! Tôi muốn cứu người mà ra tôi giết người ân của tôi. Vợ của Nhiêu Tôn [1] không biết sự của tôi lầm mà buông lời vô lễ...
Ấy cũng phải đó chút. Giết chồng người thì dẫu ai đi nữa cũng phải nóng lòng. À vợ của Nhiêu Tôn thật võ nghệ cao cường, hồi nãy phải chi ta không đề phòng thì đã chết vì mấy đường quyền ấy rồi...
Phải mà, Nhiêu Tôn giỏi thì người vợ lẽ nào không giỏi. Nàng hăm quyết một mất một còn với ta, thì ta liệu sao đây? Khó cha chả là khó. Biết làm sao vén bức mây ngờ, cho nàng trông trời minh bạch? Thật là khổ não cho ta trăm bề...
Vợ của Nhiêu Tôn chắc chở Nhiêu Tôn vô nhà thương cứu chữa, ta có nên đến đó coi Nhiêu Tôn nặng nhẹ thể nào không? Không nên đâu! Lúc này nàng vẫn còn đương cơn giận dữ, ta đến đó không khỏi nàng quyết hạ sát, chi bằng ta về nhà sai người đến nhà thương dọ tin tức”.
Kỷ Loan nghĩ vậy rồi liền trở về nhà sai sốp phơ lén nội đêm dò ra nhà thương hỏi thăm Nhiêu Tôn nặng nhẹ thể nào?
Lệ Hoa đem Nhiêu Tôn vô nhà thương, quan thầy chở tuốt vô nhà mổ, múc đạn ra liền. Băng bó xong xuôi, Lệ Hoa hỏi quan thầy rằng:
- Ông coi bịnh anh tôi nặng nhẹ thể nào?
Quan thấy lắc đầu nói rằng:
- Đạn vô sâu quá tôi múc ra hết rồi, song độ vài ngày mới rõ sự sống chết. Nếu nội ngày mai tỉnh lại thì không hề gì, bằng mê man như vầy thì mạng người nguy lắm, à vì sao mà người bị đạn đây?
Lệ Hoa muốn tỏ việc bị ăn cướp và bị người rình bắn song nàng nghĩ sao đó mà nói xuôi rằng: đêm hồi hôm vì rượt một tên ăn trộm đột nhập vào nhà nên bị nó bắn. Sáng ra cò bót lại nhà thương hỏi Lệ Hoa rồi làm ăn kết gởi cho Biện lý.
Viên đạn vô tình, hại người ân làm cho đất bằng sóng dậy, nước lã mà khuấy nên hồ, ai trông vào cũng để mối thương tâm giùm cho một gái anh thư phải đau đớn trăm bề dường ấy.
Nhiêu Tôn sống chết lẽ nào, quý vị coi tiếp chương tới sẽ rõ.

III. Vì ghen nên mới
Nhiêu Tôn nằm dưỡng đường Gia Định trọn một ngày một đêm, Lệ Hoa lo lắng thuốc men cần mẫn, song chàng vẫn mê mải. Đến chiều bữa sau chàng tỉnh dậy, nhướng mắt ra thấy Lệ Hoa ngồi bên cạnh giường, mà mặt ủ mày chau, chàng cựa mình làm cho Lệ Hoa giật mình day lại, Lệ Hoa lấy thuốc của quan thầy chế sẵn đổ cho Nhiêu Tôn uống, rồi không bao lâu Nhiêu Tôn mê lại. Ai thấy sự đau đớn của Nhiêu Tôn cũng phải động lòng, huống hồ gì Lệ Hoa gần gũi chàng bấy lâu mà tài gì không rơi lụy. Lệ Hoa thấy Nhiêu Tôn mê sảng chừng nào thì nàng càng bận lòng chừng nấy, nàng thức cả đêm ngày mà không mỏi lòng mệt trí. Đến khuya, đồng hồ đổ hai giờ nàng bước ra ngoài thấy trời thanh bạch, chị Hằng tỏ rạng như ban ngày nên chi nàng nhắc ghế ra ngoài ngồi ngó ra đồng ngoại. Mấy cây da cao chớn chở, vài tàu chuối phất phơ, bóng trăng chen mấy nhành cây ngọn lá đưa tới đẩy lui, khiến cho người đa sầu khôn cầm giọt lụy.
Người sầu, gặp cảnh sầu, ôi! Văn nào tả được!
Cái cảnh nhà thương Gia Định tưởng những người Sài Gòn chán biết, thật là một cái cảnh buồn không sao nói được. Nhà thương thì chỉ có vài mươi người nên tối lại ai cũng đều lo nghỉ, duy có mấy con chim ụt lâu lâu nổi giọng gì mà người nghe bắt rỡn óc. Trong ngoài lặng lẽ như tờ, cho đến đỗi con thằn lằn chắc lưỡi cũng nghe được nữa. Ngày hôm nay là ngày rằm tháng tám, thiên hạ đua nhau chơi tráng giỡn nguyệt, duy có Lệ Hoa ngồi một mình mà lụy tuôn lã chã. Lệ Hoa ngoảnh mặt lên trăng mở miệng than nho nhỏ mà rằng: “Chị Hằng ôi! Chị làm gì mà cứ đi mãi vậy, chị có biết tâm sự của ta đây không, mà chị lại khêu ngọn lửa lòng của ta lên hoài, ta người chớ nào phải sắt đá chi mà chịu sự sầu này được? Trót 19 năm trên trần thế, gian nan nhiều nỗi đớn đau lòng. Cha mẹ sớm về âm cảnh, may nhờ Nhiêu Tôn đem ta về nuôi dưỡng đủ đỗi trăm bề. Ta không còn ham muốn điều gì nữa. Hỡi ôi! Chữ tình, chữ tình ràng buộc ta, ta đã mấy phen đánh đổ, mà vẫn không thắng được.
Ta thương... thương ai đây? Trời ôi! Ta dè đâu ân nhân của ta mà ta đem lòng mơ tưởng. Nhiêu Tôn chàng ôi! Chàng sao vô tình với thiếp lắm vầy? Cao xanh ông ôi! Ông có rõ nông nỗi này chăng? Hay là: Vô duyên là phận hồng nhan, mà thiên hạ thường nói đây chăng? Người như Nhiêu Tôn gẫm ra trên đời không hai, biết trọng tình anh em, nghĩa danh dự, nặng tình bầu bạn, nhẹ đồng tiền tài, mấy ai sánh đặng? Nếu kiếp này ta không được toại kỳ sở nguyện, thì chắc là không mong gì cuộc đời mộng mị này nữa.
Nàng con gái nào đi coi hát tại rạp hát tây đêm rồi đó? Nàng con gái nào đi coi? Nàng làm gì mà rình theo Nhiêu Tôn rồi... rồi, lại giết Nhiêu Tôn? Ờ... ờ... phải rồi đây là tại... tại sao đây? Có phải là nàng ấy vẫn có tình với Nhiêu Tôn lâu rồi nên ngày nay thấy ta gần Nhiêu Tôn rồi đem lòng hờn giận Nhiêu Tôn chớ gì? Nhiêu Tôn nói với ta rằng không biết nàng ấy.
Ta có nên tin lời chăng? Nếu nàng ấy đem lòng lang dạ thú, để ý thù vơ, rồi đành giết ân nhân ta, ta nói thiệt, ta quyết không dung mi. Mi có biết không?” Lệ Hoa than một mình đến đó, rồi đứng dậy bộ giận lắm nên nhắc ghế trở vô phòng.
Sáu Ngởi ngủ hồi hôm đến giờ vội thức giấc, ngồi dậy nói với Lệ Hoa rằng:
- Thưa có, cô nằm nghỉ giây lát để tôi coi săn sóc thầy hai, chừng thầy dậy tôi sẽ cho uống thuốc.
Lệ Hoa nằm trên ghế mà không sao nghỉ được. Nàng liền gác tay lên trán mà trí vẫn rầu buồn lung lắm. Sáu Ngởi ngồi nơi ghế ngó Nhiêu Tôn hoài, không phút nào xao lãng. Đồng hồ gõ 4 giờ khuya, thình lình tiếng giày xao động ngoài thềm. Sáu Ngởi ngó ra thấy một nàng con gái mặc đồ đen đi giày tàu lấp ló trước cửa, Sáu Ngởi sáng trí biết có người rình Nhiêu Tôn nên lấy hàm râu giả đặt liền lên môi rồi bước ra ngoài, Sáu Ngởi chưa kịp hỏi kế nghe người ấy hỏi:
- Thầy nặng nhẹ thể nào chú?
- Cô là ai mà hỏi vậy?
- Nhiêu Tôn là ân nhân của tôi, chú làm ơn nói giùm.
- Chủ tôi vẫn còn mê hoài, sống chết chưa rõ được.
Kỷ Loan nghe nói bấy nhiêu lời mà mặt buồn dàu dàu, nàng muốn bước vô thăm, song ngẫm nghĩ sao đó rồi trở ra, lấy khăn lau đôi mắt, đầm đầm giọt lụy. Bỗng đâu Lệ Hoa xô cửa bước ra, Kỷ Loan không phương nào trốn tránh được, nên đứng khép vô vách tường. Tuy trời có trăng mặc dầu, song Kỷ Loan đứng trong hiên nhà, nên Lệ Hoa không thấy rõ được song nàng nhận ngay là nàng bắn Nhiêu Tôn lúc nọ, nên hỏi một cách hùng hồn mà rằng:
- Nửa đêm mi đến đây làm gì bộ khi mi tới số chết rồi, nên đem thân nạp cho ta phải không?
Kỷ Loan không nói một lời gì cả, nàng ngó Lệ Hoa không nháy mắt. Lệ Hoa rút ngọn dao trong mình ra, rồi vội đâm vào ngực Kỷ Loan rất mạnh. Kỷ Loan né mình vừa khỏi thì tay trái nắm tay Lệ Hoa, tay mặt gỡ dao, Lệ Hoa buông dao rút tay phi bộ ra ngoài, rồi liền đánh trả lại một thoi rất mạnh, Kỷ Loan rùng mình xuống rồi lòn ra ngoài bước lại hàng rào phóng ra đường lên xe hơi đi về nhà không nói lời gì cả. Lệ Hoa trở vô buồng nói thầm rằng: “Nó võ nghệ cao cường ta nên đề phòng, ta gặp một lần nữa thì không trông nó chạy khỏi tay ta”.
Kỷ Loan về nhà không biết phương nào mà giải điều lầm lạc ấy được nên ngồi một mình đối với ngọn đèn mà trí rối loạn như tơ vò, lòng sáu muộn nhiều nỗi. Nàng than thở mà rằng:
- Ân nhân ôi! Cũng vì muốn cứu ân nhân tôi... Trời ôi! Ông có thấu? Bây giờ biết sao đem ân nhân tôi ra khỏi vòng hoạn nạn và giải nỗi oan này? Tôi bắn người, mà tôi không phương săn sóc dưỡng nuôi người, thì mặt mũi nào còn ngó người chán chường trên võ trụ này được? Ngày này, giờ này không biết người có tỉnh lại cùng chăng? Hay là vẫn còn mê man hồn điệp? Nhiêu Tôn, là người ân của ta, ta có nên bạo gan đến tỏ bày cho vợ người rõ chăng? Ôi! Mà dễ gì giãi bày minh bạch! Thôi, ta viết một bức thơ lập tức gởi sang cho vợ Nhiêu Tôn, hoặc may nàng có khứng lòng tha cái rủi của ta hay chăng?
Kỷ Loan nghĩ rồi, lại bàn viết, viết một bức thơ, niêm phong kỹ lưỡng rồi sai sốp phơ đem qua phòng Nhiêu Tôn.
Đây nói về Nhiêu Tôn bị viên đạn vô tình xuyên vô cánh tay làm cho chàng nhức nhối trăm bề, cho đến đỗi mê man cả ngày đêm không còn biết gì nữa. Qua hai giờ khuya bữa sau, Nhiêu Tôn tỉnh dậy, cựa mình. Lệ Hoa lật đật lấy thuốc cho uống, lần lần Nhiêu Tôn khá lại.
Nhiêu Tôn nắm tay Lệ Hoa rờ rẫm một hồi rồi để xuống. Một chập Nhiêu Tôn nói rằng:
- Anh nằm nhà của ai đây em?
- Nhà thương, quan thầy dặn anh đừng uy động mà phải bị hại, anh nằm nghỉ tốt hơn.
- Sao em không chở qua về nhà?
- Chở anh về nhà bất tiện lắm, vì tại đây có quan thầy lâu lâu lại tuần mạch.
- Sao em không nghỉ, làm gì ngồi đây hoài?
- Em không buồn ngủ.
- Anh nhớ mại mại anh bị người bắn ở tại Thủ Đức phải không em?
Lệ Hoa muốn nói người đàn bà coi hát hôm nọ bắn Nhiêu Tôn, song nàng nghĩ một hồi rồi trả lời rằng:
- Bọn ăn cướp nó muốn giết anh, đặng giật tiền chớ không chi lạ.
Nàng nói đến đó thì Nhiêu Tôn có ý tìm trong trí nhớ lúc bọn Lê Tứ Hải toan mưu hại chàng, nên nín lẳng lặng một hồi rồi nói:
- Bọn ăn cướp ấy không phải là toan cướp tiền của đâu, anh nghi có người oán anh, muốn giết anh chết.
Lệ Hoa tưởng là Nhiêu Tôn nghi người đàn bà coi hát bữa nọ vì ghen mà nhẫn tâm bắn một người nghĩa hiệp, nên chi có ý bất bình bèn giả ý nói rằng:
- Ai mà oán anh vậy? Từ ngày anh về ở bên Nam Việt đến nay không một ai biết lai lịch của anh, cho đến nhà nước cũng không hay không rõ, có lý đâu anh gây ra ác cảm mà người ta biết được?
Nhiêu Tôn làm thinh không nói lời gì cả Lệ Hoa suy nghĩ một hồi rồi tiếp:
- Bộ anh có làm điều gì trái sao mà anh nghi có người oán anh vậy?
- Không đâu, anh làm việc nghĩa chớ, em có nhớ lúc ra du lịch ngoài Vũng Tàu anh làm cho Lê Tứ Hải không gần nàng Kỷ Loan được chăng?
Lệ Hoa nghe nói đến đó thì trong lòng không nguôi sự giận, lại còn làm cho nàng thêm ghét cay ghét đắng Kỷ Loan thêm nữa nên nói rằng:
- Anh đã làm việc nghĩa thì có gì mà phải sợ người kết oán.
- Này em, em gần gũi với anh lâu rồi, em đã biết choáng cái tánh của anh sao em còn nói anh sợ người kết oán. Em phải biết cho anh rằng: Nếu anh làm việc nghĩa mà có người oán anh thì người ấy không bao giờ sống đội chung trời đạp chung đất với anh được, anh quyết một mất một còn với người ấy đến cùng. Em có rõ chăng?
Lệ Hoa nghe nói bao nhiêu lời thì không biết sao khuyên Nhiêu Tôn bớt buồn được, nên nói nho nhỏ mà rằng:
- Em tự biết em lầm, anh đừng phiền tội nghiệp lắm.
Lệ Hoa nói tới đó kế nghe Sáu Ngởi xô cửa bước vô trên tay cầm một bức thơ, mà dường như có ý sợ sệt làm cho Nhiêu Tôn là người tài trí đoán ra được, nên chụp hỏi:
- Ngởi mày cầm vật gì trong tay vậy?
Sáu Ngởi lính quýnh không thể giấu diếm gì được, vì nó tưởng đâu Nhiêu Tôn còn mê nên xô cửa bước đùa vô, bây giờ Nhiêu Tôn chụp hỏi, nên nó trả lời bợ ngợ mà rằng:
- Thưa, thơ của...
- Của ai, sao mày không nói luôn?
- Thưa, thơ của “người đàn bà coi hát” đêm hôm nọ tại nhà hát tây.
Lệ Hoa nghe đến thơ của “người đàn bà coi hát hôm nọ” thì biến sắc, song nàng giả ý tiếp rằng:
- Cô đó gởi thơ cho ai vậy?
- Thưa, gởi cho cô.
- Ủa cô có quen biết chi với tôi mà gởi kia?
Nhiêu Tôn nói:
- Thế cũng có duyên cớ chi đây, thôi em đọc nghe thử coi cô muốn nói gì.
Nhiêu Tôn nói rồi, Lệ Hoa với lấy thơ đọc chậm rãi như vầy:
Em khép nép viết bức thơ này, mong mỏi sao cô xét kỹ cho em nhờ.
Đọc chỉ có câu đầu mà Nhiêu Tôn hồi hộp, biết có việc chẳng lành. Lệ Hoa nín một chập rồi tiếp:
“Đêm hôm em đi lên Thủ Đức, gặp bọn côn đồ đón xe của cô toan cướp bạc.
Vì cái tánh thấy việc bất bình ra tay cứu chữa nên rủi tay bắn thầy là người ân nhân của em. Em tự biết em lỗi nên nhiều phen em muốn săn sóc thuốc men cho thầy hầu đền cái tội của em, song em không dám trách cô, em chỉ trách lấy em mà thôi - Cô nhiều phen xua đuổi làm cho em càng thêm ăn năn cái tội của em nữa.
Ngày hôm nay, em không biết phương chi giãi bày, nên viết bức thơ này cầu xin cô rộng lòng xét lại cho phép em nuôi dưỡng thầy đến ngày thầy lành bệnh, rồi chừng ấy cô muốn xử em thế nào cũng cam tâm.
Mong sao cô đoái đến thì hạnh phúc cho em biết ngần nào.
Ký tên
MAI THỊ KỶ LOAN”

Lệ Hoa đọc hết bức thơ rồi nín lẳng lặng không nói lời gì hết. Nhiêu Tôn tự nghĩ một mình nói thầm rằng: “Ta quấy lắm. Hôm đêm coi hát ta dối với Lệ Hoa rằng: Không biết Kỷ Loan ngày nay Kỷ Loan nhận ta là ân nhân thì ta phải liệu sao đây?”
Còn vì cớ nào mà Lệ Hoa lại xua đuổi Kỷ Loan? Kỷ Loan rủi tay bắn nhầm ta, chớ nào phải toan giết ta mà Lệ Hoa không chịu tiếp rước Kỷ Loan? Thế cũng là một câu chuyện khó hiểu... Nhiêu Tôn nghĩ một hồi rồi nói:
- Này em, lúc anh ra du lịch ngoài Vũng Tàu, Lê Tứ Hải cưỡng bức Kỷ Loan, anh ra tay trừ Lê Tứ Hải, vì vậy nên Kỷ Loan gọi là ân nhản, chớ ngoài việc đó, anh không có giúp nàng việc chi khác nữa.
- Anh làm việc nghĩa như vậy là tốt lắm chớ, song em vô phép, xin hỏi anh một điều vì sao lúc coi hát em có hỏi anh, anh trả lời rằng anh không biết nàng ấy, và nhất là điều này; vì sao mà anh lại can thiệp cứu nàng Kỷ Loan? Thoảng như nàng Kỷ Loan thuận tình cùng Lê Tứ Hải rồi anh mới ra sao đây?
Nhiêu Tôn nghe hỏi vậy thì trong trí lộn xộn quá, cũng vì người bạn của chàng là Lê văn Hảo nên theo che chở Kỷ Loan được tuyết trong giá sạch, chớ ngoài việc ấy chàng vẫn không có ý gì khác nữa. Ngày hôm nay Lệ Hoa hỏi, rất khó cho Nhiêu Tôn trả lời quá đỗi, vì Nhiêu Tôn giấu không cho Lệ Hoa biết rằng mình trở về Việt Nam lo báo oán cho người bạn là Tố Tâm vậy?
Nếu không nói thiệt thì không khỏi cho Lệ Hoa nghi chàng có tình với Kỷ Loan, vì vậy nên chàng dụ dự năm ba phen, không biết phải trả lời sao cho xuôi, Lệ Hoa đợi lâu không thấy Nhiêu Tôn trả lời, thì hiểu ý liền nói:
- Em hỏi chơi cho biết chớ không có ý gì khác cả, vậy nếu em có sơ thất điều chi xin anh tha thứ, chớ làm gì anh thủ khẩu như bình, không chịu trả lời vậy.
Nhiêu Tôn đáp chậm rãi mà rằng:
- Việc đó sau này em sẽ biết, em không cần biết gấp làm chi, em nên bỏ qua đừng trách Kỷ Loan tội nghiệp nàng lắm. Nàng chịu lỗi, nàng biết ăn năn, thì anh tưởng không nên xua đuổi nàng mà sau này phải sanh ra lắm chuyện rắc rối.
Lệ Hoa không nói gì mà trong lòng không được vui...
Năm ngày đã qua Nhiêu Tôn mạnh rồi, song không được phục sức như xưa, nên vẫn còn nằm nhà thương dưỡng sức.
Lệ Hoa xin phép Nhiêu Tôn xuống chợ cũ Bến Thành mua đồ, nên từ giã Nhiêu Tôn ra đường, lên xe hơi hai chỗ ngồi mở máy ù ù giông mất. Xe qua Cầu Bông, xuống Đất Hộ, quẹo qua đường Mayer, rồi kế đậu trước một cái nhà lầu nguy nga đẹp đẽ, Lệ Hoa coi đồng hồ tay thì đã chín giờ. Trời tối đen như mực không phân biệt ai tất cả. Trong nhà đèn tắt hết, ngoài sân gió thổi cây cối xao động, chen với tiếng ve kêu nghe buồn nghiến. Lệ Hoa, đi vòng ngã sau, bước lại vách tường leo ngang hàng rào vào nhà rất gọn. Lệ Hoa đặt mắt xuống lỗ chìa khóa dòm vô nhà thấy nàng Kỷ Loan đương ngồi đánh đòn piano. Lệ Hoa gõ cửa ba tiếng. Trong nhà con đầy tớ đương đứng hầu Kỷ Loan bước ra mở cửa. Kỷ Loan ngó ngoái lại thấy rõ ràng một nàng con gái tuyệt trần mặc đồ xẩm bước vô. Kỷ Loan nhận ngay rằng nàng con gái đánh cô lúc nọ tại nhà thương.
Chưa kịp hỏi thì đã nghe Lệ Hoa hỏi:
- Kỷ Loan, ta dung cho mi sống mười ngày rồi, đêm nay mi tới số trả rồi nợ thế, nên ta đến đây hầu chuyện với mi.
Kỷ Loan biến sắc. Lệ Hoa tiếp:
- Mi vạch mây lên trời hoặc may khỏi chết, chớ ngày nào mi còn sống ở thế gian này thì không bao giờ mi chạy khỏi ta cả. Mi có biết chăng?
Kỷ Loan không biết nói sao chỉ than nho nhỏ mà rằng:
- Xin cô xét lại cho tôi nhờ. Vì rủi tay nên làm cho Nhiêu Tôn trọng bịnh, em cũng biết lỗi, nên viết bức thơ bày tỏ sự tình, chớ nào phải em muốn trốn, mà cô mong tìm. Nếu cô không cạn xét thì cái tội rủi ấy cô muốn đày đọa em thế nào, em cũng cam tâm, vậy em quỳ xuống đây, cô phân xử sao tùy ý. Vậy gọi trả chút ân của em thọ lúc trước mà Nhiêu Tôn đem em ra khỏi nơi nguy hiểm.
Lệ Hoa rút cây kiếm ra đưa lên cao nói lớn rằng:
- Mi lầm rồi, mi lầm mới giết anh ta, ta nói thiệt, cái tội của mi đáng cho ta giết mi, đáng cho một mũi kiếm xiên vào trái tim mi, song ta vì lòng nhân không lẽ lên án nặng nề như thế, ta muốn hủy cái sắc của mi, hầu sau này mi đừng làm cho anh ta phải gian nan nhiều nỗi, vậy mi hãy ngước mặt lên, ta khắc vào gò má của mi hai chữ, gọi kỷ niệm cái ngày mi giết anh ta đó.
Kỷ Loan ngước lên đôi hàng lụy đượm tuôn, đôi mắt ngó lên một cách thảm thiết, ai trông vào cái mặt như hoa dường ấy mà phải một đám mưa to, gió cả, rồi phải úa phải xào, tức nhiên phải nói nho nhỏ mà rằng: “Đó là một cành hoa tuyệt trần cũng vì... cũng vì tình, vì tình mà Lệ Hoa lên án oan cho nàng một cách đau đớn vô cùng... Tài sắc mà chi?”
Lệ Hoa chẳng biết động lòng chút nào cầm kiếm trên tay, bước xích lại gần...
* * * * *
Đây nói về từ ngày Lê Tứ Hải bắt không được Nhiêu Tôn thì trong lòng mang một mối thù chan chứa, thề quyết một lòng trừ cho được Nhiêu Tôn, nên không lúc nào chàng quên được. Hễ chàng buồn bao nhiêu thì chàng lại nhớ Kỷ Loan bấy nhiêu... chàng nhớ, chàng thương... thương nhớ một nàng tài sắc gồm toàn, tánh tình thuần hậu, Lê Tứ Hải thương nhớ Kỷ Loan bao nhiêu thì càng ghét Nhiêu Tôn bấy nhiêu.
Nhiều khi chàng tò mò đến nhà Kỷ Loan mà nàng cứ lánh mặt hoài, không bao giờ gặp nàng được. Dùng cường lực mà ép nàng thì vẫn là một câu chuyện không thể đoạt được, còn lấy lời mà khuyến dụ nàng, lại càng khó hơn nữa.
Lê Tứ Hải, buổi chiều kia, cơm nước xong rồi, ngồi dựa ngửa ra ghế cầm điếu thuốc phà khói bay lên ngui ngút, rồi chiếp miệng than rằng: “Ở đời chỉ có được một cái gia đình êm đềm chồng vợ đủ đôi, thì là hạnh phúc hơn hết. Ngày nay ta đã nên người, hai mươi ba tuổi có dư, mà sao ta vẫn đêm sầu ngày thảm, một mình hiu quạnh với bóng đèn, biết ngày nào ta được tác thành sở nguyện? Ngoài Kỷ Loan ra thì ta không còn ai là người đáng yêu đáng mến hơn nữa. Chẳng phải ta mến nàng lúc sau này mà thôi đâu, ta vẫn mến nàng hồi còn nhỏ, chung cùng nhau tập võ, luyện văn với Lý Vân Đình, ngày nay tiếng nàng cười, giọng nàng nói, bộ nàng đi, ta đã in sâu vào não cân thì có thế gì mà ta gỡ cho ra...
Cũng vì “Người cho bông lài” ra đời mà nàng đem lòng phụ rẫy ta, không muốn gần ta là người gần nàng từ hồi mười tuổi. Mười mấy năm trường ăn có nhau, chơi có nhau, hát có nhau, vắng một chút có lý do, đi một lát có ý sợ. Kỷ Loan là người không ra gì, mến tài hơn nghĩa, trọng sắc phụ nhân. Ngày chọn anh hùng đệ nhất “Người cho bông lài” được chấm đầu, mai sau này nếu ai có tài hơn thì chắc nàng phụ “Người cho bông lài” nữa. Nhiêu Tôn là người đại tài có lẽ hơn Tố Tâm nổi. Một ngày kia không khỏi Kỷ Loan buông lời thệ hải minh sơn của Tố Tâm tức là “Người cho bông lài”, rồi keo rã hồ tan, không sớm muộn nàng sẽ đem lòng mến người khác nữa... !
Nhơn tình đen bạc, là thường lệ của phe phụ nữ. Ta đã choán biết song ta thắng không nổi, ta giận nàng nhiều chừng nào thì ta thương nàng chừng nấy. Ta nhớ giọng nói, tướng đi, cái bộ hữu duyên, mà ta thêm âu sầu vô hạn. Bây giờ là chín giờ, có lẽ nàng đương đánh đờn piano, ta vì thương nàng quá đỗi nên không kể sự nhục hôm nọ, ta muốn xách cây đờn violon này lại hòa chơi, song ta ngại quá đỗi..
Lê Tứ Hải suy nghĩ đến đó thì ruột rối trăm chiều, gan vàng xao xác. Lê Tứ Hải thay đồ rồi, cầm cây đờn violon nơi tay, bước ra ngoài vài ba bước, rồi trở vô; trở vô một chập lại trở ra, ấy là khi thì chàng trọng danh dự khi thì chàng sợ ái tình. Danh dự với ái tình, bên nào thắng nổi?
Lê Tứ Hải lưỡng lự hai bên ra vô nhiều lần, giây lâu chàng nhất định đi ra đường kêu xe kéo lại nhà Kỷ Loan. Lúc này trời tối đen như mực, Lê Tứ Hải bước lên thềm, rồi trở qua cửa sổ bên tay trái, chàng dòm vào cửa sổ thấy một người xẩm cầm một ngọn kiếm đưa lên, còn dưới đất Kỷ Loan quỳ khoanh tay thì chàng đà biến sắc, song lẹ trí phi thường, một tay rút súng lục liên nhắm bắn mũi kiếm. “Bùm”! Viên đạn vừa bay ra thì ngọn kiếm rớt nghe một tiếng rảng, cũng trong lúc đó chàng với tay lên cái đồng hồ (compteur) đèn khí khóa lại. Đèn điện trong nhà tắt ráo.
Lẹ như chớp chàng xô cửa bước vô, cũng lúc đó Lệ Hoa đưa tay lên đánh cướp vào mặt Kỷ Loan, hay đâu Kỷ Loan nghe tiếng gió đánh tới liền né mình qua một bên, rồi thối lui lại, đứng dậy gọn gàng. Lệ Hoa nghe tiếng mở cửa bước vào, liền thót ra cửa sổ, nhảy xuống thềm đi mất. Lê Tứ Hải vặn đồng hồ đèn điện lại, đèn trong nhà cháy rạng. Kỷ Loan thấy Lê Tứ Hải ở ngoài bước vô, trong bụng biết ngay rằng nhờ Lê Tứ Hải cứu, nên chấp tay xá mà rằng:
- Em kính chào ân huynh! Chẳng hay vì sao ân huynh biết em thọ hại mà đến đây tiếp cứu?
Lẻ Tứ Hải là người sáng trí phi thường, nghe Kỹ Loan hỏi thế đó thì dạ khấp khởi vui mừng, trong bụng nói thầm rằng: “May cho ta lắm, nhân dịp này ta sẽ làm cho nàng phải để ý cảm hoài ngày sau dễ cho ta tới lui cùng nàng lắm”. Lê Tứ Hải nói thầm như vậy, rồi liền tiếp trả lời với Kỷ Loan mà rằng:
- Tôi nghe một chuyện rắc rối xảy ra làm cho có người căm hận cô, nên mới sanh ra mối báo thù, tôi thường để ý đó luôn nên mới gặp dịp mà cứu cô đây, à mà sao cô không thử sức với nàng ấy, lại làm gì mà phải để cho người hủy cái sắc của cô vậy?
- Thưa ân huynh, mình đã làm quấy, mà còn nói phải, chống cự lại thì ai coi mình ra gì, vì vậy nên em mới quỳ xuống thọ tội hoặc may nàng ấy có thứ dung cho em hay chăng, nào hay...
Kỷ Loan nói đến đó, hai hàng giọt lụy chảy dài theo má, rồi sụt xuống ngồi nơi ghế, lấy khăn mouchoir chặm đôi mắt nói nhỏ nhỏ mà rằng: “Trời ôi! Cái kiếp má hồng này sẽ còn chịu nhiều điều đau đớn nữa, Hóa công ông ôi! Ông có thấu nông nỗi này chăng? Tố Tâm chàng ôi! Chàng đi đâu mà để cho thiẽp phải sầu não thẽ này? ‘Người cho bông lài’ ôi! Người mất hay còn mà bặt tin nhạn cá, bây giờ đây thiếp biết liệu làm sao? Phải chi chàng, vì đêm tăm tối, đến viếng thiếp một hai lần hầu chỉ biểu thiếp hoặc may tai qua nạn khỏi, thì hạnh phúc cho thiếp là một cánh hoa yếu ớt, không chắc gì chịu nổi phong ba khí vũ, nặng nề như vầy”.
Kỷ Loan ngồi khóc tấm tức tấm tưởi, dẫu ai nghe cái giọng than thỉ ỷ ôi của nàng, cũng phải động lòng rơi lụy, huống hồ gì Lê Tứ Hải là người nặng tình chăn chiếu. Lê Tứ Hải động lòng khuyên Kỷ Loan mà rằng:
- Có gì mà cô phải đổ lụy? Ngày nào tôi còn sống ở thế gian này thì không bao giờ quên che chở cô cho đến cùng mà cô phòng lo sợ.
Kỷ Loan đứng dậy lau nước mắt nói rằng:
- Em cám ơn lắm, ân huynh nào rõ tâm sự của em được, xin ân huynh tạm lui gót, hầu em vào phòng nghỉ mệt, ít ngày em mạnh, em sẽ đến viếng ân huynh.
Kỷ Loan nói dứt lời, mệt ngất ngã ngửa ra nằm dài trên ghế. Hai con đòi hoảng kinh lật đật đỡ Kỷ Loan vào phòng, để Kỷ Loan nằm yên. Lê Tứ Hải thấy tình cảnh đau đớn dường ấy, liền đứng dậy từ giã ra về mà chín chiều ruột thắt.
Kỷ Loan nằm trên giường mê man hồn điệp, mấy con tớ chạy lăng xăng, đứa đổ thuốc, đứa chạy kêu quan thầy. Kỷ Loan vì rầu buồn lại thêm mệt nữa nên nàng vào phòng nằm nghỉ vài giờ sau nàng tỉnh lại.
Sáng ra Kỷ Loan ăn uống lót lòng xong rồi ra ngoài vườn xem hoa, chơi kiểng. Dạo dưới mấy lùm cây cối xanh um, gần bên một cái hồ nước trong reo rắt. Giây lâu nàng ngồi trên một cái băng xanh, gần bên một đám bông lài trồng rất ngay hàng ngủ, Kỷ Loan chống tay nơi trán, ngồi ngó ngay đám bông, đôi mắt nàng không còn tinh thần nữa. Nếu ai cắc cớ lại gần coi thì thấy đôi mắt nàng ướt nhẹp. Nàng ngồi đó mà trí vơ vẩn nơi đâu, hình như một nàng mất trí rồi vậy.
Ai thấy tình cảnh một cô thiếu nữ mặc đồ lục soạn đen mang đôi dép đen, mặt không dồi phấn mà da trắng như tuyết, môi không thoa son mà đỏ lòm, duy có đôi mắt không còn sáng như khi trước nữa, ắt cũng phải nhận ngay rằng nàng có một tâm sự buồn rầu vô hạn. Mà thật vậy, nàng rầu vì một nỗi Tố Tâm bặt tin, một nỗi Lệ Hoa đem lòng oán hận, lại nữa Lê Tứ Hải ra ân cứu nàng... Kỷ Loan là người biết xử ân nghĩa, nên khi nhờ Lê Tứ Hải cứu đêm hôm rồi thì nàng lại thêm một mối sầu nữa.
Thọ ân của người là một điều khó, người biết trọng danh dự hằng lo sợ ân lắm. Những kẻ vô tâm không biết tiền ân là gì. Cái ân mà Lê Tứ Hải cứu Kỷ Loan đây làm cho nàng phải bối rối trăm bề, Kỷ Loan muốn trả ân, mà trả cách nào đây?
Ai ngộ nhầm cái cảnh như cô Kỷ Loan tưởng cũng khó mà xử cho trọn vẹn.
Kỷ Loan ngồi nơi băng xanh than nho nhỏ rằng: “Lê Tứ Hải là đứa không ra gì, nhiều phen ta xa lánh nó, nay vì ai xui khiến cho ta phải mang ân nó như vầy thì ta mới biết làm sao đây? Không nên gần chăng? Nếu vậy dư luận công chúng cho ta là đứa phi ân, rồi ta mới liệu sao? Ta gần nó thì mặt mũi nào còn thấy Tố Tâm là người yêu, là người đã cùng ta cạn chén thề, đã cùng nhau chỉ non chỉ nước mà đoan thệ với trời đất chứng minh giùm đôi ta. Bây giờ ta không biết phải làm thế nào? Một là người đừng biếm nhẽ ta. Hai là Tố Tâm đừng trách ta vì cảnh ngộ khốn cùng phải gần đứa vô lương tâm. Khổ cho ta trăm bề...
Trời ôi! Phen này ắt ta không còn trông gì sống ở thế gian này được... !
Tố Tâm tức là ‘Người cho bông lài’ có thấu đến nông nỗi này chăng? Tâm sự này biết cùng ai tỏ, nai cho ai hay... ‘một mình mình biết một mình mình hay’, như Tố Như tiên sanh bày tỏ trong truyện Kiều chăng ư...?
Phải ta có người bàn bạc, cùng kẻ tri âm người tri kỷ dạy biểu ta, thì may mắn cho ta biết ngần nào, rủi cho ta là một đứa lạc loài cha mẹ thuở nên ba, ngày nay không biết ai là người xứng đáng cho ta trao tâm sự, hầu ngày nào mà chẳng may hồn ta xuống huỳnh tuyền, Tố Tâm kiếm ta, thì chừng ấy sẽ có người nói lại rằng: ‘Ta là đứa biết giữ lời, đến giờ chót cũng vẫn còn nắm..’
Bằng không ai nói lại sợ khi chàng đến cái nhà vô chủ này, kêu Kỷ Loan ơi, Kỷ Loan hỡi, thì Kỷ Loan ngày ấy đã ra người thiên cổ. Có muốn viếng ta thì chàng ra nấm mồ lạnh ngắt than vãn ít lời. Ngoài ra biết còn ai mà Tố Tâm hỏi đến tâm sự của ta, vì rầu buồn, vì tức tưởi mà phải làm một con ma vô chồng, làm một con ma chết oan chết tức...
Chừng ấy ta còn sợ e Tố Tâm cho ta là một đứa quên lời hứa, chỉ biết sự chết là mát thân rồi quên ai là người non nước, sẽ khóc vì ta, sẽ rầu vì ta thì bao giờ cái hồn oan của ta sẽ được tiêu diêu, khỏi điều bắt buộc!...”
Kỷ Loan than đến đó, trong trí như điên như dại không còn biết gì nữa, ngồi gục mặt xuống khóc lu bù, đôi tròng con mắt đỏ chạch.
Kỷ Loan phải xử sao cho ra điệu con người biết nghĩa?
* * * * *
Ta chỉ suy lời than của Kỷ Loan mà thương hại giùm nàng là một người tài sắc gồm toàn, phải vì tình mà đêm sầu ngày thảm, nuốt đắng ăn cay!...
Kỷ Loan sẽ chết chăng ư? Kỷ Loan sẽ chết cách nào? Quý vị cứ coi tới.
Thật vì “ghen nên mới!!!” làm cho Kỷ Loan phải nát ruột bầm gan, tâm sầu trí loạn, Lệ Hoa sẽ còn gây ra chuyện khác nữa chăng? Quý vị sau này sẽ rõ.
-------------------
[1] Kỷ Loan tưởng Lệ Hoa là vợ của Nhiêu Tôn, chớ không dè Lệ Hoa là em bạn của Nhiêu Tôn.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương thứ tư
 
I. Ai là đứa sát nhân?
Lệ Hoa vì ghen mà làm cho Kỷ Loan cuồng tâm, việc này còn dài, tôi xin đem chuyện Trần Phong đối với Lê Tứ Hải thế nào, còn Nhiêu Tôn lập phương chi tìm bắt đứa sát nhân ông Vân Đình tại Huê viên lúc nọ.
Ngày 15 tây tháng sáu năm 1922, các hiệu báo Sài Gòn có thuật một đám hỏa hoạn rất dữ dội tại góc đường Thủy Binh và Quảng Tống Cái, thiêu luôn năm căn nhà lầu trữ đồ tạp hóa, buôn bán rất lớn tại tỉnh thành.
Tờ dân báo “Tân Không Khí” thuật rất rõ ràng như vầy:
... “Đêm 15 tây, vừa lối mười giờ rưỡi khuya, thình lình ngọn lửa vô tình ở đâu đem đến làm cho một tiệm buôn bán lớn hiệu “Đại Lợi” phải tiêu ra tro tàn, tiền bạc vạn mất trong nháy mắt.
Đã chẳng những là tiệm Đại Lợi hư hại mà thôi, lại còn kéo lan qua tiệm chệt Trần Phong, làm cho chủ nhà cùng tôi tớ không cứu được một vật gì ráo.
Cuộc hư hao phỏng định 250 ngàn đồng.
Tiệm Đại Lợi có bảo kê, duy có tiệm Trần Phong thì không. Cò Sở Tuần cảnh còn đang mở đường tra vấn đặng tìm duyên cớ cuộc hỏa hoạn này. Hiện giờ bổn báo cũng chưa rõ nguyên nhân đám lửa vô tình này được.
Đợi tin sẽ tiếp đăng”.
Cuộc hỏa hoạn là lẽ thường, người viết tiểu thuyết chép vô đây ấy cũng có duyên cớ.
Nguyên Trần Phong tửu bảo Huê viên Chợ Lớn, được số bạc mấy ngàn đồng của Lê Tứ Hải cho, nên lập tiệm buôn bán đồ tạp hóa gần bên tiệm Đại Lợi. Vì cuộc hỏa hoạn này mà Trần Phong không còn một quanh quần. Trần Phong là đứa cẩn thận. Hắn hằng ngày để bức thơ di chúc của Lý Vân Đình trong bóp luôn nên ngày nay tuy nhà cửa đồ đạc tiêu ra tro tàn mặc dầu chớ tờ di chúc lúc nọ vẫn còn nguyên.
Tiệm buôn đã cháy, tiền bạc đã tiêu, Trần Phong lại dùng tờ di chúc của Lý Vân Đình mà tìm Lê Tứ Hải nữa.
Buổi chiều kia, Lê Tứ Hải ngồi trong phòng sách, quạt máy trên đầu chạy ồ ồ, gió thổi vùn vụt, chàng ngồi trên ghế phô tơi hút thuốc phà khói bay nghi ngút. Giây lâu chàng mỉm cười mà rằng:
“Ta đã gặp dịp may rồi, Kỷ Loan là người biết xử nghĩa, ta thừa dịp nàng thọ hại, mà đem nàng ra khỏi vòng nguy hiểm thì có lý nào mà nàng quên tiền ân được. Từ đây ta sẽ gần nàng, ta sẽ lấy lời hay lẽ phải mà khuyên nàng, một ngày không rồi thì một tháng, một tháng không xong thì một năm.
Lâu ngày chày tháng ắt nàng sẽ cùng ta hiệp mặt Tấn Tần, kẻo bấy lâu lòng ta mơ ước, dịp may này là bắt đầu dẫn ta vào cuộc hôn nhân, nhưng mà chắc gì nàng vì ân hôm nọ, đường dài mới biết lòng dạ con người, giọt nước kia còn có thể lâu ngày xoi lủng đá thay huống chi lòng dạ nữ nhi lụy vì ba tấc lưỡi. Gái mới lên thuở nay chưa cùng ai giao thiệp, trừ Tố Tâm ra thì có lý nào nàng giữ một lòng như thiết thạch, ở vậy trọn đời, Tố Tâm chết thì gần đây có ai hơn Lê Tứ Hải này”.
Lê Tứ Hải ngồi suy nghĩ những lời khả ố, ta trông vào bắt ngán cho những hạng người bị tình dục xô đẩy mà làm những điều nhơ nhớp như ta đã thấy trong mấy chương qua rồi vậy.
Lê Tứ Hải vừa muốn bước vô nhà nghỉ thì bỗng đâu ngoài cửa Trần Phong bước vào, Lê Tứ Hải muốn lánh mặt song muộn rồi; Lê Tứ Hải chào hỏi bộ mừng rỡ rồi dẫn Trần Phong vô nhà. Trần Phong mặc bộ đồ đen, đi giày tàu, đội nón nỉ, mặt mày buồn xo, không nói một lời gì cả. Trần Phong ngồi chống tay nơi cằm, cẳng tréo lại, còn mười ngón tay của hắn thì cứ vò vò mãi, có hơn mười phút mà Trần Phong không nói năng gì cả.
Lê Tứ Hải biết Trần Phong đến xin nữa, Lê Tứ Hải là người xảo quyệt giả dối nên than trước với Trần Phong mà rằng:
- Này em Trần Phong, qua vì ham đánh billard, nên thua hổm rày có trên hai muôn rưỡi, qua thiếu nợ Chà gần một muôn nữa, vì vậy nên qua tính bán nhà này mà trốn, nếu em làm ăn mấy tháng nay có khá, nên giúp lại qua, trời nhỏ phước cho qua ăn lại vài bàn qua sẽ trả lại cho em, em nghĩ sao?
Trần Phong là một thằng chệt khôn ngoan, nó chỉ dòm vào gương mặt Lê Tứ Hải mà nó đã đoán ra rằng là giả dối. Hắn ngồi làm thinh giây lâu rồi nói rằng:
- Thưa thầy, nhân vì cuộc hỏa hoạn đêm hôm qua làm cho tôi ngày nay không nhà mà ở, tôi đến đây trước là cho thấy hay sự rủi của tôi như vậy, và cho thầy biết rằng của phù vân của thầy cho tôi, tôi giữ không được mấy tháng mà ngày nay đã tan thành, ấy chẳng qua là hồn của Lê văn Hảo theo vấn vít bên tôi, làm cho tôi phải bị lương tầm cắn rứt. Vậy tôi xin thưa rằng: “Dầu thế nào tôi cũng phải về Tàu, mà trước khi tôi đi tôi sẽ minh oan giùm hồn cho Lê văn Hảo bị tôi đè nén bấy lảu.. ”
Lê Tứ Hải nói thầm trong bụng mà rằng: “Ta xảo với hắn, hắn lại lợi khẩu hơn ta, hắn nói rằng tiền của ta cho hắn là của phù vân, hắn dùng của ấy lương tâm phạt hắn bây giờ hắn tính về Tàu, mà hắn lại kéo ta lên Tòa chớ. Việc này ta phải liệu sao đây? Âu ta phải nói vầy... vầy... hoặc may hắn bỏ qua chăng?”
Rồi đó Lê Tứ Hải nói với Trần Phong mà rằng:
- Qua đã nghèo, em lại nghèo hơn qua nữa, vậy em không biết thương qua lại còn bày những chuyện hại qua nữa? Vậy qua xin em vì lòng nhân đừng đem chuyện cũ nói ra nữa, mà phải làm cho qua thêm đau đớn. Qua tưởng làm như vậy đặng gần Kỷ Loan là người yêu của qua, nào hay đâu qua giết oan Vân Đình lại kéo luôn Lê văn Hảo vào chốn âm ti, rồi ngày nay qua cũng không đắc kỳ sở nguyện.
Em có thương hại giùm qua chăng? Em thấy tình cảnh vậy, rồi em muốn hại qua nữa sao?
- Thầy hai, tôi không thể để cho oan hồn của Lê văn Hảo vấn vít bên tôi, vậy nay mai đây tôi sẽ làm đơn minh oan cho chàng, kẻo bấy lâu ai cũng ngờ rằng chàng giết Vân Đình. Thôi tôi đến cho thầy hay, kẻo sau này thầy cho tôi là đứa phi nhân, bội nghĩa. Thầy có biết chăng?
- Em muốn sao thì tùy ý, qua nói thiệt cho em biết rằng, nếu qua có bị tòa đại hình lên án thì cái mạng của em không trông gì toàn vẹn được.
Trần Phong mỉm cười mà rằng:
- Thầy muốn giết em thì giết, em sẽ chết vì tội lỗi của em dẫy đầy, bấy lâu dung dưỡng một đứa sát nhân ghê gớm, ngày nay em phải đền tội.
Trần Phong nói rồi bỏ ra đi. Lê Tứ Hải là người mạnh bạo phi thường và lẹ làng như chớp, vừa thấy Trần Phong bước ra khỏi thềm, chàng liền xuất kỳ bất ý đánh vào mặt Trần Phong một thoi rất mạnh. Trần Phong bất ý té nhủi xuống đất huyết lưu mãng địa.
Nãy giờ Trần Phong nói chuyện với Lê Tứ Hải, phía ngoài cửa sổ có một người mặc đồ đen, đi giày đen, đầu đội kết, ngoài choàng một cái áo nỉ, đứng rình nghe không sót một lời. Đến chừng Trần Phong bước ra về, người lạ mặt ấy nối gót theo sau, núp gần bến Lê Tứ Hải? Trần Phong vừa ngó xuống đất Lê Tứ Hải móc con dao trong mình ra vừa muốn sát Trần Phong, người lạ mặt ấy bước ra nắm tay Lê Tứ Hải, Lê Tứ Hải hồn phi phách tán hai tay run lập cập không nói lời gì hết.
Lê Tứ Hải lấy làm lạ lắm, trong bụng nói thầm rằng: “Người hay ma đây...?” Song mặc dầu Lê Tứ Hải bạo gan thối lui ba bộ rùng mình xuống rồi trở qua tay mặt, đá cướp vào hông người lạ mặt ấy. Người lạ mặt né vừa khỏi xớt qua, tiếng gió nghe một cái vù. Phải ai lôi thôi không đề phòng thì đã phải bị một đá ấy ắt không còn. Người lạ mặt nào tài tình dường ấy?
Làm gì mà rình Lê Tứ Hải vậy?
Người lạ mặt ấy có quen biết chi với Trần Phong chăng mà ra binh vực vậy? Ai đây? Hay là Tố Tâm sống dậy chăng?
Quý vị coi tới sẽ rõ Ai là đứa sát nhân. Ai là người ngay mắc nạn.
* * * * *
Đây nói về Lệ Hoa từ khi hủy cái sắc ngư trầm lạc nhạn của Kỷ Loan không được thì nàng tức giận vô cùng. Ghét ai, coi hình trạng bề ngoài dễ biết lắm. Nhiêu Tôn nay mạnh lại như xưa nên dọn đồ về nhà, chàng đoán cái sắc của Lệ Hoa thì chàng dư biết nàng căm giận Kỷ Loan nên khí sắc dời đổi rất nhiều, chàng tự xét một mình rằng: “Trong việc lo báo oán cho Tố Tâm ta cần Lệ Hoa theo giúp. Nếu ta đem tâm sự của Tố Tâm mà trần tố cho Lệ Hoa nghe thì ta e cho nàng không chịu giúp ta, vì lúc ta còn bên Trung Quốc ta dối rằng vì một mối thù của ta nên phải về bên Việt Nam lo báo oán, rồi ngày nào thù nhà ta trả xong, sẽ trở về Trung Quốc”.
Ta giấu không cho Lệ Hoa biết bấy lâu nay cũng vì ta theo bảo hộ Kỷ Loan diệt trừ Lê Tứ Hải mà sanh ra việc rầy rà lúc nọ. Tưởng việc vậy rồi êm nào hay đâu đêm coi hát, Kỷ Loan muốn cứu ta, rủi tay bắn nhầm ta; Lệ Hoa có ý hờn ta sao không chịu tỏ thiệt lại bày điều dối trá. Nay ta muốn phân trần hơn thiệt hầu Lệ Hoa dẹp mối hờn đặng rộng trí lo việc cho Tố Tâm, song vì ta đã giữ lời thề với Tố Tâm rằng, ngoài ta ra thì ta không còn ai là người xứng đáng cho ta giao tâm sự. Trong lúc ta thề với Tố Tâm ta tưởng rằng trong đời này ta chỉ biết Tố Tâm với ta đây là hai người bạn đồng tâm, nào hay ta lại gặp Lệ Hoa là một nàng thiếu nữ coi ta như anh ruột. Ta biểu chết, Lệ Hoa cũng dám chết vì lời ta biểu nữa. Thế thì ta phải liệu sao đây?
Nên giữ lời thề hay là không? Trời ôi! Khổ não cho ta trăm bề, thôi ta đánh liều làm như vầy... như vầy... hoặc may có vẹn toàn chăng.
Nhiêu Tôn suy nghĩ mấy ngày, vì chàng nhất định thi hành mật kế, chàng sai Sáu Ngởi ngày đêm cứ dọ coi cách hành động của Kỷ Loan rồi cho chàng hay.
Ngày mà Kỷ Loan ngồi than thở ngoài sau vườn. Sáu Ngởi ngồi núp trong lùm cây nghe không sót một điều, nên chi về nhà báo cho Nhiêu Tôn hay. Nhiêu Tôn dạy Sáu Ngởi làm như vầy... như vầy... thì mới có thể bảo tồn giá trong tuyết sạch của Kỷ Loan là người yêu của Tố Tâm được.
Sáu Ngởi y lời, nên qua bữa sau Sáu Ngởi lại nhà Lê Tứ Hải dọ trong rình ngoài nên rõ cơ mưu của Lê Tứ Hải cả. Chính đêm đó Trần Phong lại nhà Lê Tứ Hải mà than nghèo và đòi đem việc Lê văn Hảo tức là Tố Tâm ra minh oan cho chàng; Sáu Ngởi rình nghe không sót một lời, nên khi Lê Tứ Hải đánh Trần Phong rồi muốn sát luôn, nên Sáu Ngởi nhảy ra bắt tay Lê Tứ Hải rồi xảy ra một tấn kịch mà ta thấy khúc trước đó.
Sáu Ngởi biết sức mình không thể hạ nổi Lê Tứ Hải nên giữ mình chặt lắm. Lê Tứ Hải vừa đá vào hông Sáu Ngởi, thì chàng ta liền trớ, rồi tay mặt nắm chân Lê Tứ Hải bóp gân tê, cẳng trái đá vào bàn tọa của Lê Tứ Hải phải nằm dài dưới gạch, bủn rủn tay chân, tứ chi rủ liệt, không còn sức gì ngồi dậy nổi. Sáu Ngởi thừa thế chận chân nơi cổ rồi nói lớn lên rằng:
- Mi đừng ỷ sức đánh một đứa con nít quá tay lại còn toan giết nó. Nó có tội tình gì mà mi nhẫn tâm hại nò vậy? Ta nói cho mi biết “Mũi gươm hiệp khách” khắc trên ngực mi lúc nọ ngoài Vũng Tàu mi còn nhớ chăng?
Nghĩ tìm song trí không suy ra người Nhật Bổn ấy là ai mà hay can thiệp vào những việc người dưng làm vậy.
Lê Tứ Hải bị Sáu Ngởi đánh ngã trong lòng oán giận Nhiêu Tôn vô cùng, song sự giận ấy không mấy lát đã tiêu ma đi mất. Lê Tứ Hải sực nhớ đến Kỷ Loan thì ruột rối như tơ vò, ưu tư nhiều nỗi. Chàng thay đồ rồi ra ngoài kêu xe kéo xuống nhà Kỷ Loan. Đồng hồ điểm tám tiếng, Kỷ Loan còn đương coi sách, Lê Tứ Hải bước vào, Kỷ Loan đứng dậy chào hỏi xong rồi.
Lê Tứ Hải hớn hở vui cười bao nhiêu, thì Kỷ Loan lại càng sầu muộn bấy nhiêu Lê Tứ Hải hỏi chuyện này sang chuyện nọ, rồi lần lần ghẹo Kỷ Loan mà rằng:
- Tôi không lẽ hỏi việc tư của Quý nương song mặc dầu, tôi xin phép hỏi Quý nương một ít điều, không biết Quý nương có khứng trả lời chăng?
- Ân huynh muốn hỏi việc tư của em, chẳng hay ân huynh muốn hỏi chi? Nếu phải em trả lời, bằng trái thì em làm thinh chớ có gì mà anh lo.
- À, em rộng lòng như thế, tôi mới dám cạn lời. Năm nay Quý nương tuổi đã quá đôi chín, ngày lo cuộc Châu Trần cũng hầu kể, không biết có ai đề thi lá thắm chăng?
- Tuổi em tuy trọng mặc dầu chớ lòng em không tính lo cuộc vợ chồng.
- Quý nương nói vậy là sái lắm. Trai lớn lên cưới vợ, gái tìm chồng là lẽ tự nhiên của tạo hóa sắp đặt hầu sanh con đẻ cháu đời đời, bằng cả hết phụ nữ trên thế giới đồng một lòng như ý nguyện của Quý nương thì tôi chắc không còn sanh con đẻ cháu, giúp ích cho nhân quần xã hội nữa; một ngày kia ắt thế gian này tiêu diệt em tính sao?
- Em đã nặng lời thề với Tố Tâm rồi, dẫu cho ai tài sắc bực nào em tưởng không qua Tố Tâm là người đã cùng em thề quyết một chữ “đồng”. Ngày nay Tố Tâm mất, em mặt mũi nào còn lo việc vợ chồng.
- Rồi em tính ở vậy trọn đời sao?
- Em ở vậy chờ hồn xuống dạ đài tìm cho được Tố Tâm mà thôi.
- Tính vậy sái lắm. Vả chăng Tố Tâm giết Lý Vân Đình, Vân Đình đối với chúng ta tuy bề ngoài thầy trò, chớ bề trong Vân Đình coi chúng ta như con ruột vậy.
- Tố Tâm nhẫn tâm hạ sát Vân Đình thì ý Quý nương nghĩ sao? Theo ý tôi, tôi cho Tố Tâm là người đại thù đã giết dưỡng phụ của chúng ta, là người hiền lành nhân đức. Tội ấy không thể dung được. Cũng may hắn biết xử mình, bằng hắn còn sống, tôi nói thiệt, tôi không đội chung trời đạp đất mà ở trên thế gian này với hắn nữa. Nếu Quý nương dung dưỡng hắn, đem lòng mơ ước vầy điệu phu thê với hắn, thì cái câu của Lý Vân Đình nuôi Quý nương lúc nọ đã phải thả trôi theo lượng ba đào, Quý nương dễ gì mà chịu cho lằn tên mũi đạn của dư luận công chúng?
Kỷ Loan làm thinh không nói một lời gì cả, Lê Tứ Hải tưởng Kỷ Loan xiêu lòng, nên nói tiếp rằng:
- Tôi là người bạn của Quý nương, kết nhau từ hồi sơ giao tôi thấy Quý nương lầm đường lạc nẻo, không chỉ dẫn Quý nương vào đường ngay lẽ phải, thì ắt thiên hạ cho tôi là đồng tội với Quý nương? Quy nương nghĩ sao? Làm gì mà không trả lời?
Kỷ Loan ngồi nghe Lê Tứ Hải nhắc đến Tố Tâm tức là “người cho bông lài” thì nàng sụt xuống ghế, lấy tay chống nơi cằm, hai hàng lụy đượm tuôn, nàng nghẹn ngào không nói gì được nữa. Ta thấy tình cảnh thảm trạng dường này, ta cũng phải để chút mối thương tâm giùm cho một nàng con gái vì tình... mà phải đau đớn trăm chiều, gan xào ruột héo.
Kỷ Loan thật có tình cùng Tố Tâm vô hạn, không văn nào tả cho được cái tình đậm đà chân chất ấy cho cùng tột được.
Kỷ Loan sẽ giữ được cái tình đặc biệt đáng làm gương cho đoàn hậu tấn ấy đến cùng chăng?...
Lê Tứ Hải hỏi nhiều lời, Kỷ Loan rưng rưng nước mắt trả lời nhỏ nhẹ mà rằng:
- Lời ân huynh nói rất phải, em không có gì phản đối lại được. Song...
- Song, sao đó? Quý nương nói hết tôi nghe, chớ có gì mà Quy nương khóc tấm tức, tấm tưởi vậy?
Kỷ Loan làm thinh giây lâu rồi thở ra mà rằng:
- Trong vài tháng nữa đây, ân huynh sẽ biết em mất còn...
- Có gì mà Quý nương buông lời ghê gớm ấy? Quý nương chớ làm những chuyện không đáng gì mà phải thiệt thòi cho một cành hoa tốt tươi xinh đẹp, tài sắc gồm toàn, người đời sẽ chê Quý nương dụng tính. Quý nương có rõ chăng? Trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên một chồng; lời ví ấy rất phải, song Quý nương tự nghĩ lại coi. Tố Tâm cùng Quý nương chỉ có lời hứa mà thôi, ngoài ra thì hai đàng vẫn chưa hiệp mặt Trướng Tô, thì có lý đâu Quý nương nỡ nào một mình mà tự sát, không kể công nuôi dưỡng, không đoái hoài đến người đêm mong ngày ước...
Lê Tứ Hải kéo hết văn ra nói, Kỷ Loan trả lời bằng sự khóc mà thôi.
Trời đã khuya, đồng hồ gõ mười một tiếng, Lê Tứ Hải vừa muốn lấy nón ra về, bỗng đâu ở ngoài có người liệng vô một cục đá rất mạnh, nghe một tiếng “rảng” vài ba cái ly để trên bàn rót xuống đất bể nát.
Lê Tứ Hải giật mình, bước lại cửa sổ, thấy một người mặc đồ đen nhảy ra rào, Kỷ Loan hoảng hồn bước lại bàn, lượm cục đá lên coi; nàng thấy cục đá có cột một miếng giấy nhỏ, mở ra thấy mấy hàng chữ nhỏ rít như vầy:
“Kính gởi Quý nương,
Tôi cho Quý nương hay rằng: Lê Tứ Hải - đứa thủ phạm trong vụ án mạng ông Lý Vân Đình tại Huê viên Chợ Lớn. Cô hãy cẩn thận.
NGƯỜI NẶC DANH”

Kỷ Loan coi rồi mặt biến sắc, làm cho Lê Tứ Hải không biết trong giấy viết những vật gì nên hỏi Kỷ Loan mà Kỷ Loan không chịu nói. Lê Tứ Hải kiếu Kỷ Loan, bước ra đường trở về nhà trong bụng cứ suy đi nghĩ lại những lời nói của Kỷ Loan và cục đá liệng vô nhà mãi, song chàng không thể nào rõ nguyên nhân cục đá ấy được.
Đây nói về từ ngày Sáu Ngởi được lịnh của Nhiêu Tôn dạy rình cách hành động của Lê Tứ Hải và cô Kỷ Loan, nên đêm nọ chàng gặp Trần Phong tại nhà Lê Tứ Hải, Sáu Ngởi nghe câu chuyện cãi lẫy của hai người thì chàng đã tự biết rằng: Lê Tứ Hải giết Vân Đình nên lúc Lê Tứ Hải đánh Trần Phong chàng nhảy vô hạ Lê Tứ Hải, rồi thả Trần Phong đi. Chừng về nhà, chàng thuật lại cho Nhiêu Tôn nghe câu chuyện hồi nãy.
Nhiêu Tôn cười rồi nói:
- Tôi đã đoán trước không sai chút nào, song tôi không phanh phui việc này ra gấp bây giờ, vì Tố Tâm lúc nọ, có hứa với Kỷ Loan sáu tháng, tôi muốn đợi ngày mãn hạn tôi sẽ lập kế minh oan cho chàng, anh không có ý, chớ tôi là người đóng một vai tuồng trọng hệ trong cặp vợ chồng Tố Tâm Kỷ Loan, nên mọi việc tôi quan sát kỹ càng vô cùng; tôi cắt nghĩa sơ sự đoán trước của tôi cho anh nghe: Vân Đình bị giết tại Huê viên. Mười lăm ngày sau, Trần Phong là một tên tửu bảo hèn mạt làm gì sắm nổi xe hơi, mua nhà mua đất?
Nếu Trần Phong không chủ mưu trong đám đó thì cũng một người bà con quen thuộc với nó. Vì vậy nên mỗi đêm tôi thường mướn phòng gần bên phòng Trần Phong. Tôi ở luôn mười ngày. Ngày thứ bảy lối bảy giờ chiều, tôi đang ngồi nghe bọn đờn ca, thình lình có Lê Tứ Hải bước vào phòng Trần Phong. Tôi đã nghi rồi, nên dùng lưỡi dao khoét một lỗ nhỏ tại cửa sổ tôi mới đặt tai vô nghe hai người nói chuyện không sót một lời; tôi không nói vụ đó ra, vì tôi còn sắp đặt cái họa đồ đặng lo báo oán cho bạn tôi. Trần Phong bị nhà cháy, đến xin tiền Lê Tứ Hải. Tôi ở nhà cũng đủ rõ lựa phải đến nơi mục kích như anh vậy.
Sáu Ngởi khen ngợi Nhiêu Tôn nói một mình rằng: Thật là người tài trí vô cùng. Phải đứa bất lương được tài dường ấy ắt làm giàu trong nháy mắt.
Nhiêu Tôn sực nhớ Kỷ Loan thì nói nhỏ với Sáu Ngởi như vầy, như vầy... Sáu Ngởi được lịnh từ giã Nhiêu Tôn bước ra ngoài đường kêu xe kéo xuống nhà Kỷ Loan mà ta thấy chàng cột miếng giấy trong cục đá liệng vào nhà Kỷ Loan, lúc Lê Tứ Hải sắp ra về...
Kỷ Loan từ ngày được tấm giấy nhỏ của Sáu Ngởi cho hay Lê Tứ Hải là đứa thủ phạm trong vụ giết ông Vân Đình thì ngày đêm nàng suy nghĩ mãi, nàng không biết ai ký tên: người nặc danh báo tin cho nàng hay sớm mà xa lánh. Lê Tứ Hải là đứa sát nhân ghê gớm, lại còn môi miếng đổ tội cho Tố Tâm, tức là người yêu dấu của Kỷ Loan, không giấy phút nào nàng quên được.
Kỷ Loan mơ tưởng có một điều là chờ đến kỳ hạn của Tố Tâm (tức là sáu tháng như lời Tố Tâm hứa trước) một là sống hai là chết, Kỷ Loan thương Tố Tâm không văn nào viết được. Sự thương của nàng không lấy gì làm lạ, hễ gái trinh liệt kính thờ một chồng trai hiếu nghĩa quyết một vợ, là lẽ thường chớ không phải như những phường mèo mả gà đồng, mơi lá gió, chiều nhành chim, sớm tình vầy, tối nghĩ khác. Kỷ Loan nặng tình cùng Tố Tâm, nên dẫu nàng có chết vì Tố Tâm ta cũng không nên trách nàng là một tay hiển nữ biết trọng chữ trinh hơn sự sống.
Kỷ Loan chết vì Tố Tâm biệt tin chăng ư? Tố Tâm sẽ tái hội cũng Kỷ Loan theo lời chàng định trước chăng ư? Kỷ Loan sẽ chết cách nào đây?... Quý vị cứ xem tới.
Ai là đứa sát nhân? Lê Tứ Hải hay là Lê văn Hảo? Kỷ Loan không còn nghi ngờ Ai là đứa sát nhân giết Lý Vân Đình, dưỡng phụ của Kỷ Loan, chủ rạp hát xiệc “Góc trời Nam”, như lúc trước nữa.
Nhiêu Tôn là người tài trí nhưng sắp đặt không được khéo làm cho Lệ Hoa giận Kỷ Loan, ta có nên trách chăng? Lệ Hoa gần gũi Nhiêu Tôn, vì tình nuôi dưỡng như em, nên chày ngày, nàng mến tài Nhiêu Tôn rồi ngày nay nàng khó mà dằn lòng, để cho Kỷ Loan mặc tình đối diện với Nhiêu Tôn. Lệ Hoa giận Kỷ Loan mà không dám hở môi chỉ để đêm năm canh than thở một mình, ngày sáu khắc lụy tuôn không dứt, càng ngày càng biếng ăn, biếng ngủ thét rồi nàng không luyện tập võ nghệ như xưa nữa. Nhiêu Tôn tự trách lấy mình song không biết phải làm sao mà nói cho Lệ Hoa rõ tấm lòng trong sạch của chàng được, nên chàng cũng buồn rầu vậy.
Cái cảnh khó khăn của chàng đối với Lệ Hoa thật khó mà gỡ được, Lệ Hoa nằm trên giường cứ đắp mền, đôi mắt nhắm mãi, Nhiêu Tôn bước vào ngồi nơi ghế, chống tay trên nệm, ngó Lệ Hoa giây lâu rồi than một mình mà rằng: “Thật là một nàng thiếu nữ lịch sự trên đời đối với Kỷ Loan, có bề nhan sắc hơn đối với thiên hạ thì nhắm lại ít có, nàng vì đâu xui khiến làm cho nàng phải đớn đau bên lòng? Ta đây là anh nuôi của nàng, ta phải xử làm sao cho ra một người đáng làm anh ta phải xử sao cho thiến hạ kính vì, tội nghiệp cho nàng vì con ma ái tình giục nàng làm cho nàng oán hận Kỷ Loan là người cầm chữ trinh giá đáng ngàn vàng, biết giữ một nền băng tuyết phỉ phong cùng Tố Tâm tức là người bạn thiết của ta vậy.
Ta phải liệu sao đây? Bằng ta không sớm lo thì ta ắt sẽ để cho một nàng tài sắc như Lệ Hoa phải gan xào ruột héo, rồi một ngày kia, không khỏi dẫn nàng vào đường bạc mạng, là thói hồng nhan thường lụy”.
Nhiêu Tôn nghĩ một hồi rồi cầm tay Lệ Hoa, làm cho nàng giật mình mở mắt ra thấy Nhiêu Tôn ngồi khít bên giường. Nhiêu Tôn hỏi:
- Em bữa nay làm gì mà nằm hoài vậy? Em đau gì nói cho anh biết anh kêu quan thầy đến chẩn mạch ra toa bổ thuốc cho em uống?
Lệ Hoa nín thinh không nói gì cả. Nhiêu Tôn cảm động khôn cùng hỏi nữa mà rằng:
- Làm gì ba bữa rày em không dùng cơm nước, em không đói sao?
Lệ Hoa rưng rưng hai hàng nước mắt nói rằng:
- Anh ôi! Em không đói, ăn sao vô. Em muốn chết mà thôi. Em sống một ngày tức là em thêm rầu thêm thảm.
- Úy em nói gì vậy? Em có điều gì uất ức trong lòng hãy cạn phân anh rõ những việc gì mà anh có thể làm giải khuây được, anh hết lòng với em, chớ có gì mà em đòi chết? Chết là một điều quý, song chết sao cho tên tuổi ghi tạc ngàn năm trên thanh sử, như nữ thánh Jeanne d’Arc như Trưng Trắc,Trưng Nhị, vậy mới đáng chết, chết như em chẳng qua làm cho thiên hạ chế em là người không trí, là người vụng tính, đem cái tài ba của song thân hết lòng truyền lại, chôn dưới ba tấc đất. Em còn mơ ước sự chết nữa chăng?
Lệ Hoa nghe Nhiêu Tôn nói lại càng thêm động lòng, đôi hàng nước mắt châu sa, than nhỏ nhỏ mà rằng:
- Anh ôi! Em dư biết nhưng mà...
- Nhưng mà sao đó, em hãy tiếp hết cho anh nghe?
- Nhưng mà em nghĩ lại sống không ích gì.
- Sao lại không ích, em hiệp cùng anh lo trả thù nhà ngày nào xong rồi anh sẽ...
Lệ Hoa nghe nói đến đó dường như ai cho uống một thang thuốc bổ vậy, tự nhiên khỏe lại liền, rồi chặn Nhiêu Tôn mà rằng: “Đến ngày thù nhà trả xong chừng ấy anh sẽ... sẽ gì, nói em nghe?”
Lệ Hoa gạn hỏi hoài Nhiêu Tôn vẫn làm thinh, chỉ nói: “Em tự nghĩ lấy, anh không thể nói bây giờ được”.
Lệ Hoa tuy không thể nghe hết câu chuyện được, chớ trong trí hiểu nhiều lắm. Lệ Hoa lồm cồm ngồi dậy hỏi Nhiêu Tôn:
- Sao anh không cho em biết mối thù độc địa mà anh toan trả đó?
- Anh muốn nói cho em biết lắm, ngặt vì anh có thề với một người bạn thiết của anh, nên anh không thể cho em biết được, em sẽ coi cách báo cừu rất đoan chánh của anh chớ chẳng phải thù vơ oán chạ mà toan giết người đặng rửa hờn như lắm người thường có vậy.
Lệ Hoa biết không thể hỏi được nên nói giả lả qua việc khác. Nhiêu Tôn có ý mừng vì lời nói khôn khéo của chàng mà đem một người bịnh bỏ ăn bỏ uống mấy ngày ra khỏi vòng oan trái được, thật Nhiêu Tôn có tài là dường nào. Ái tình, ái tình sống chết cũng là ái tình, ôi! Ái tình có cái điển lực gì mạnh thế? Cứu người sống cũng được, trăm ngàn sự khó dễ trên đời cũng vì tình mà ra; ôi! Tình, tình là độc địa. Ta nên xa lánh nó kẻo chết mà không hay.
Hai ngày sau, Sáu Ngởi dọ được chỗ ở của Trần Phong rồi nên về cho Nhiêu Tôn biết. Nhiêu Tôn cười rồi dạy Sáu Ngởi coi cái họa đồ của chàng vẽ sẵn mà thi hành. Sáu Ngởi bước ra vô buồng cải trang sửa dạng rồi ra đi mất. Nhiêu Tôn ngó theo mà dường như đắc chí lắm vậy.
Mười hai giờ, đồng hồ nhà thờ Đức Bà đổ nghe rền, nhà nhà đều an giấc. Sáu Ngởi vô hẻm nọ, tối mò, rồi tới một căn phố nhỏ kia, dừng chân lại. Sáu Ngởi chớp đèn điện dọi vô nhà thấy hai số “17” nên gật đầu bước vô thềm nhà. Chàng dòm lỗ chìa khóa thì không thấy chi cả, trong nhà tối đen như mực.
Chàng bước trái ra ngoài, đi vòng ngã sau, nhảy lên nóc nhà rồi tuột xuống nhà bếp. Cái cửa sổ gần bên buồng mở cho có gió, chàng leo lên, banh giây lát, hai cây song sắt cong vòng, chàng đút đầu vô, rồi lại mở cửa cái.
Sáu Ngởi vặn đèn khí lên, trong nhà sáng như ban ngày. Một người khách trú nhỏ nằm trên giường. Ấy là Trần Phong đương an giấc điệp. Sáu Ngởi bước lại gần lấy trong túi một ve thuốc nhỏ đổ trong một miếng bông gòn, rồi đặt trên môi của Trần Phong. Phen này Trần Phong mê man hồn quế. Sáu Ngởi xô qua lắc lại mà Trần Phong không hay biết chi cả. Sáu Ngởi nói thầm mà rằng:
“Mi ham đồng tiền rồi nhẫn tâm để cho chủ ta phải thọ hàm oan, ngày nay tòa đã lên án xử tử, ngày nào người còn sống, ắt không khỏi đền tội giết Lý Vân Đình, đầu lìa khỏi xác. Cái của phù vân của Lê Tứ Hải cho mi ăn xài lãng phí mấy tháng, ngày hôm nay mi lại còn nghèo hơn lúc trước nữa, ta vì lòng nhân đức của Nhiêu Tôn, bằng không vậy, đêm hôm nay hồn mi không trông gì nhập vào xác được”.
Sáu Ngởi lật trong hồ bao của Trần Phong kiếm chìa khóa, may đâu gặp một gói giấy nhỏ; Sáu Ngởi tưởng giấy thuế thân, nào dè khi dở ra rồi, Sáu Ngởi mới rõ là tờ di chúc của ông Lý Vân Đình để lại. Sáu Ngởi mừng khấp khởi, lấy bỏ vô túi, rồi xé một miếng giấy nhật trình, xếp nhỏ gói lại tử tế đoạn để vô hồ bao như cũ.
Sáu Ngởi lấy miếng bông gòn ra rồi, bước lại cửa sổ bẻ song sắt ngay lại đoạn ra ngoài đường kêu xe kéo về nhà đưa cho Nhiêu Tôn coi.
Trần Phong nằm ngủ không hay gì cả, khi thức giấc, hắn không biết mình đã bị người trộm tờ di chúc rồi, hắn kể cho là còn luôn trong hồ bao, nên không để ý coi thử...

II. Bà già nào đây?
Ba giờ chiều ngày 25 tây, Kỷ Loan còn đang ngủ, một bà già nào độ lối sáu mươi, mặc áo hàng đen, quán lãnh đen, đi giày hạ, tay xách cây dù, có một đưa con gái nhỏ độ mười tuổi xách giỏ trầu theo sau, bà già leo lên thềm nhà của cô Kỷ Loan rồi thẳng lại cửa. Đứa nhỏ với lên nhấn chuông điện. Reng... reng...
Con đòi của cô Kỷ Loan lật đật chạy ra mở cửa liền hỏi:
- Thưa bà, bà đi có việc chi?
- Có cô mày ở nhà không?
- Dạ có.
- Vô thưa với cô mày, nói tao ở Bạc Liêu mới lên.
- Cô tôi còn đương ngủ, xin bà tạm nghỉ nơi nhà khách chừng nửa giờ cô tôi dậy.
- Ừ, để đó mặc bà.
Con đòi chạy ra nhà sau châm trà rót nước đem ra để nơi bàn. Đứa nhỏ đi theo bà già lấy giỏ trầu mở ra, rồi têm một miếng để vô ống ngoáy, ngoáy nghe cộp cộp. Chập lâu bà già hỏi: “Rồi chưa”? Đứa nhỏ thưa: “Dạ rồi”. Thì bà già với tay lấy tách nước súc miệng, kế bỏ miếng trầu vô miệng ngồi nhai coi bộ ngon lành lắm. Đợi lối mười lăm phút, bà già kêu con đòi của Kỷ Loan hỏi:
- Này con, con có biết mấy giờ cô mới thức dậy chăng?
- Dạ thưa lối 5 giờ.
- Thôi, con thưa lại với cô nói có bà lại thăm, chiều năm giờ bà sẽ trở lại.
Con đòi hết sức cầm cọng mà bà già quyết đi, nên xách dù ra ngoài bước lên xe hơi Limousine Fiat tốt đẹp vô cùng. Sốp phơ mở máy êm ru, rồi xe từ từ chạy mất. Độ lối mười phút, Kỷ Loan thức dậy rửa mặt xong. Con đòi thuật chuyện bà già này là ai nên trong lòng hồi hộp mãi. Kỷ Loan không quen bà già nào ở Bạc Liêu cả, mà sao nay có bà này lên thăm, thế cũng có duyên cớ chi đây. Kỷ Loan ngồi đánh đờn piano chờ bà già trở lại.
Đồng hồ gõ năm tiếng, Kỷ Loan bước ra thềm nhà ngó ngoài đường dường như trông bà già ấy lắm vậy. Đợi giây lâu Kỷ Loan buồn ý trở vô nhà, thì đồng hồ đã điểm sáu giờ; tuy vậy mặc dầu, Kỷ Loan vẫn còn trông, trông, trông đến mười giờ mà bà già không đến. Kỷ Loan lo sợ nữa. Đêm đó Kỷ Loan thao thức, trằn trọc tìm trong trí không ra bà già ấy là ai cả.
Bà già bí mật nào đến nhà Kỷ Loan rối bỏ ra về, hứa trở lại rồi không trở lại đây?
Bà già ấy có bà con thân thiẽt chi với Kỷ Loan mà đẽn thăm đây?
Quý vị cứ coi tới.
Bữa sau, Kỷ Loan cũng còn trông bà già ấy luôn. Chiều năm giờ con nít rao nhật trình nghe rùm tai, nào là “Sài Gòn Ngọ báo” thầy, “Tảo báo” thầy, “Tân không khí” thầy... La... “bombe” thầy “Lavant garđe” thầy... đủ thủ, ai nghe đám con nít ấy rao cũng phải tức cười. Mỗi ngày Kỷ Loan thường có mua hai tờ “Sài Gòn Ngọ báo” và “Tân không khí” luôn luôn; con nít bán quen rồi nên lại trước cửa chực bán mỗi ngày. Kỷ Loan nghe rao, kêu con đòi ra lấy nhật trình, giở tờ “Sài Gòn Ngọ báo” ra trước; nàng coi một hồi có trên nửa giờ, thình lình nàng buông xuôi tờ báo xuống rồi ngã ngửa ra, con đòi thất kinh, lật đật chạy lại đỡ, thì cô Kỷ Loan mình cô đã lạnh ngắt như đồng. Con đòi đem Kỷ Loan lại giường lấy nước đổ, lấy dầu đánh tay chân. Giây lâu cô tỉnh lại. Cô kêu con đòi lại nói:
- Con lấy tờ “Sài Gòn Ngọ báo” đọc bài “Quảng cáo đồng bào” nói gì mà cô Kỷ Loan coi rồi lại tâm thần rối loạn, trí tợ tơ vò, dường như sét đánh vào tai, sợ cho đến đỗi lạnh mình, giây lâu mới tỉnh.
Nó lật đật chạy ra đàng trước lựa tờ “Sài Gòn Ngọ báo” rồi cất tiếng lên đọc như vầy:
Quảng cáo đồng bào
“Tôi là người tỉnh Bình Định nhà ở đường Tân Long, nhân vì năm 19... Ngày 29 tháng tám trong lúc nửa đêm, tôi cùng chồng con tôi đang an giấc điệp, thình lình một đám ăn cướp phá cửa vô nhà, thì chồng tôi vừa nghe tiếng ăn cướp lọt vào tai liền nhảy xuống giường tay cầm cây siêu, bước ra nhà trước thấy quân ăn cướp đã vào tận bên mình rồi. Chồng tôi đi được chừng vài đường siêu, hai ba đứa trong bọn ấy bị thương ngã xuống đấy. Hay đâu, một lên đầu đảng cầm súng hai nòng, bắn chồng tôi một phát. Mạng chồng tôi vẫn có ngần ấy thôi, nên không bao lâu hồn nương mây bạc. Tôi liền ôm con tôi chạy ra nhà sau, vừa đi được ít bước, quân ăn cướp ấy kéo tôi lại biểu phải đưa chìa khóa. Tôi không cượng lý, nên lần dưới giường móc xâu chìa khóa đưa ra mà ruột tầm đòi đoạn. Quân ăn cướp bạo động ấy mở tủ lấy vàng bạc tính có trên mười muôn đồng. Đoạn chúng nó lại nhẫn tâm bắt con tôi, làm cho mẹ con hai ngã. Tiền của mất, tôi không tiếc, chỉ thương tiếc con tôi vừa nên ba tuổi, mà đã mồ côi cha lại không biết ai là mẹ. Tưởng chồng rủi qua đời, để con lại hủ hỉ ngày đêm, thấy con như thấy mặt chồng, nào hay quân bất lương ấy chẳng biết thương xót là gì, đành phân lìa mẫu tử; chia rẽ vợ chồng.
Chôn cất chồng tôi đâu đó xong rồi, làm mồ làm mả đã xong, tôi về nhà một mình hiu quạnh với bóng đèn, ra vô than thở với ba con thằn lằn chắc lưỡi, nghe bắt rùng mình. Dòm lên linh sàng thấy hình, tưởng bạn lòng càng quặn đau. Một cảnh nhà rộng thinh thinh giữa đồng mà chỉ có một mình thì dẫu ai cũng phải rùng mình rỡn óc huống gì một người đàn bà yếu ớt như tôi vậy, tôi ở lâu chừng nào thì tôi lại nhớ chồng thương con chừng nấy; nên tôi liền bán nhà bán ruộng rồi từ giã tỉnh Bình Định, mà đi tỉnh khác. Mỗi xóm mỗi làng tôi đều hỏi thăm con tôi cả. Mơi làng này chiều chợ nọ, tôi đi luôn mấy năm trời trọn xứ Trung Kỳ mà tôi vẫn không gặp ai hỏi ra con tôi cả. Tôi mới giã từ Trung Kỳ sang ra Bắc. Ngoài Bắc lại càng biệt tin hơn nữa. Tôi lại sợ quân bất lương giết oan con tôi, song mặc dầu tôi tự nguyện ngày nào tôi còn sống trên vùng đất này tôi thệ quyết tìm cho được con tôi mới nghe.
Chừng ra tới đất Bắc, tôi nghe rằng quân bất lương đã đem con tôi bán cho Chệt bên Tàu hồi mới bắt con tôi, tôi tức tốc xuống tàu sang Thượng Hải.
Tôi vái đất trời phò hộ cho con tôi còn lành mạnh, dầu quân ăn cướp muốn đòi mấy muôn tôi cũng chuộc cho được nên không kể nắng mưa thui thủi quê người, một mình bơ vơ nơi cảnh lạ.
Tới nhà họ Đặng ở huyện Ninh Bộ, là nơi quân bất lương bán con tôi; hỏi ra thì người nhà đã bán con tôi ỉại cho một người An Nam đem về Nam Kỳ rồi.
Tôi trở về Nam Kỳ trót mấy tháng trời, hỏi thăm đầu này dọ đầu kia, thì mới rõ con tôi đã theo một ông chủ hát xiệc, ngày nay gánh ấy đã rã rồi.
Con tôi có một cái bớt son ngoài sau lưng nơi chã vai trái; trong kẹt ngón tay cái bên tả, có một cái nút ruồi nhỏ, con tôi lúc còn nhỏ dặt tên là Nguyễn thị Kim Anh năm nay tuổi vừa hai mươi, mặt mày ắt dời đổi xa, song hai cái dấu tích tôi nói trên đây; dẫu mấy năm cũng còn, vậy ai là người quen biết với con tôi, thì xin hãy thương tưởng thân già này mà cho tôi biết hiện giờ ngụ nơi đâu, kẻo mười bảy năm trời tôi lưu lạc cùng nơi, không biết đâu mà tìm.
Hiện giờ tôi nghe người đồn con tôi từ ngày gánh hát xiệc rã, thì về ở Sài Gòn, song tôi không biết phải cùng chăng, xin đồng bào anh em, chị em, ai có biết xin điềm chỉ giùm, thì ơn ấy ngàn năm tôi ghi tạc.
NG. THỊ HỒ SEN
Đường Chasseloup Laubat
Số nhà 12... Sài Gòn”

Con đòi đọc bức thơ vừa rồi Kỷ Loan nằm gác tay trên trán suy đi nghĩ lại hoài, một chập nàng lấy tờ “Sài Gòn Ngọ báo” coi lại nữa, coi hoài bài “Quảng cáo đồng bào” mà sao nàng không biết mỏi.
Quý vị chắc đoán trước vì sao mà nàng Kỷ Loan đọc bài “Quảng cáo đồng bào” rồi tự nhiên giật mình cho đến đỗi phải bất tỉnh. Đứa con gái của bà Nguyễn thị Hồ Sen đương kiêm chính là Kỷ Loan vậy. Kỷ Loan có một cái bớt và một nút ruồi, theo y trong bài bà ấy nói, lại nữa Kỷ Loan lạc loài cha mẹ hồi ba tuổi, nên nàng không rõ cha mẹ nơi nào; từ ngày nàng về ở với Lý Vân Đình đến nay nàng cũng thường khi muốn tìm cha mẹ song không biết đâu tìm, nay đọc bài này nàng nhớ đến cha mẹ thì dạ nào không cảm động. Nàng rưng rưng hai hàng nước mắt mà than rằng:
- Mẹ ôi! Vì đâu xui khiến thợ tạo khéo xây, làm cho vợ chồng xa nhau, mẹ con cách bức, con muốn tìm mẹ mà mẹ nơi nào? Con muốn tìm cha mà cha vĩnh biệt, cao xanh ông có thấu! Nay bà Nguyễn thị Hồ Sen đăng quảng cáo tìm con tên con bà là Nguyễn thị Kim Anh.
Nguyễn thị Kim Anh nào đây mà có bớt, có nút ruồi như ta vậy? Hay là ta đây, ta là Nguyễn thị Kim Anh con ruột của bà Nguyễn thị Hồ Sen đó chớ gì? Trong mình ta, ngoài mẹ ta, thì không còn ai biết được, nay bà Nguyễn thị Hồ Sen quả quyết con bà có hai vít ấy, thì ta còn nghi ngờ gì nữa? Mẹ ôi! Mẹ đâu rõ con đớn đau trăm mối bên lòng, cũng như mẹ lúc lưu lạc quê người, tìm con vậy. Mẹ tìm con, con xiêu lạc hà phương, con kiếm mẹ, mẹ đâu có thấu. Ngày nay mẹ đến xứ Nam Kỳ, biết con ngụ tại Sài Gòn, mà con nào có hay. Bấy lâu Nam Bắc đôi đàng, ngày nay gần mà con không biết, mẹ ôi! Mẹ chớ vội trách con sau vô tình lãnh đạm... À... bà già đến viếng ta hôm qua đây chắc là bà Nguyễn thị Hồ Sen đây chớ gì. Trời ôi! Tôi để cho mẹ tôi ngồi đợi ngoài phòng còn tôi mê man giấc ngủ, ôi! Tệ cho tôi biết ngần nào...
Kỷ Loan than thở một hồi rồi đứng dậy, xuống giường thì tai nghe đồng hồ đã điểm 7 giờ tối. Con đòi mời cô vô phòng dùng cơm, cô không chịu ăn, cô thay đồ rồi biểu sốp phơ đem xe hơi ra thềm nhà cô bước lên xe hơi dung ruổi.
Kỷ Loan giở “Sài Gòn Ngọ báo” ra coi lại nữa... cô biểu sốp phơ xuống đường Chasseloup Laubat kiếm số nhà 12... Chẳng bao lâu, xe ngừng sốp phơ mở cửa xe, cô bước xuống thấy một tòa nhà lầu nguy nga đẹp đẽ vô cùng, ngoài có hàng rào song sắt. Cô nhấn chuông kêu bồi...
* * * * *
Đây nói về từ ngày Nhiêu Tôn cởi lớp sầu cho Lệ Hoa thì ngày đêm chàng để một lòng lo việc Tố Tâm, chẳng phút nào xao lãng. Lệ Hoa thường đêm lấy khăn ra thêu ngồi gần bên Nhiêu Tôn đương làm việc tại bàn bureau, hai đàng nói nói cười cười, thật không có sự vui nào bằng. Một chập chàng hỏi Lệ Hoa:
- Này em: anh cậy em một việc này, phải mạo hiểm mới xong, không biết em có khứng lòng giúp anh chăng?
- Em sẵn lòng giúp anh luôn, dầu trải thân này ra chiến địa, em cũng vui mừng một rủi sa cơ thất nghiệp, bỏ thây nơi xứ người, anh đâu em theo đó, em cũng toại lòng luôn.
Nhiêu Tôn nghe nói mừng biết bao, song chừng Lệ Hoa nói “anh đâu em theo đó” thì phút chốc chàng buồn lại. Chàng ngồi chống tay lên cằm, đôi mắt ngó xuống, không thốt lời gì cả. Chàng nói một mình mà rằng:
- Tội nghiệp nàng thương quá đỗi, rời đi một phút thì nàng buồn, xa đi một bước thì nàng thảm. Thật khổ cho ta biết ngần nào. Đây cũng là vì tình... tình... vì tình mà nàng không chịu xa ta. Bây giờ đây, việc ta sắp thi hành đặng cứu Tố Tâm đây, nếu ta vì tình nàng, sợ nàng thảm, nàng sầu, thì không bao giờ thù nhà trả đặng. Bên tình... bên nghĩa ta liệu sao đây? Trời ơi! Không có sự khó nào bằng? Trên đời này, ta không thể lấp sông, phá núi được mà thôi, chớ ngoài ra việc nào ta lại không làm được, nay tới đây... vì tình... vì tình mà ta không thể thắng nổi.
Nhiêu Tôn ngồi suy đi nghĩ lại một mình mà mặt buồn xo, không nói một lời gì cả. Lệ Hoa thấy vậy, gạn hỏi mà rằng:
- Bộ anh tưởng em nói chơi sao chớ? Anh muốn em thề với anh không? Đến nỗi này anh còn chưa tin em sao?
- Không, anh tin lời em lắm chớ, anh biết tới trong tim em, chớ chẳng phải ngoài miệng mà thôi.
- Mà sao anh lại buồn vậy?
- Không buồn sao được, em nghĩ coi, thù nhà chưa trả, bạn tôi sống thác thế nào, tôi không tàng trong đục, thì có thể nào mà tôi vui cho tròn được.
- Thì anh phải sớm liệu, em tận tâm giúp anh luôn.
- Vậy, nội ngày mai em phải xuống Bạc Liêu.
- Được, xuống nhà ai vậy anh?
- Em xuống nhà Hội đồng Tra, làm như vầy... như vầy... chừng một tháng em trở về.
Tội nghiệp cho Lệ Hoa, nghe nói một tháng trường thì ruột không cắt mà đau, gan không bầm mà bấy, ai trông vào cái mặt thảm đạm của nàng cũng phải để ý thương tâm, huống hồ gì Nhiêu Tôn là anh nuôi nàng vậy. Nhiêu Tôn biết rằng nàng vì phải xa mình trong một tháng trường mà lo trả thù nhà, nên than thở với Lệ Hoa mà rằng:
- Em ôi! Anh không muốn rời em lúc nào cả, nay vì thù nhà mà phải cậy em lo giùm, nếu em bịn rịn không rời anh, anh không nỡ xa em thì không biết ngày nào anh dám ra mặt với thiên hạ, rồi cái tên Nhiêu Tôn này chắc sẽ bị đám mây ngờ che ám. Nếu em không đi, thì không còn ai đi thế cho em được... Vậy em hãy rán vì anh mà lo giùm, có ngày anh sẽ báo đáp.
Lệ Hoa không muốn đi, song ngặt nỗi, bấy lâu mai danh ẩn tích, bực bội trong mình quá đỗi, nên giây lâu chịu đi. Nhiêu Tôn rất đỗi vui mừng, rồi đó cùng nhau giang tay, ai về phòng nấy mà lo dỗ an giấc điệp.
Khuya ba giờ, Lệ Hoa thức dậy sửa soạn đồ hành lý, không bao lâu Nhiêu Tôn cũng thức dậy bước ra ngoài phòng khách đợi Lệ Hoa ra. Đồ đạc sắp đặt xong xuôi, Lệ Hoa xách va-li ra ngoài. Nhiêu Tôn tỏ ý vui mừng đặng phấn chấn lòng Lệ Hoa, song Lệ Hoa mặt thảm mày châu lụy tuôn không dứt. Cái cảnh tiễn biệt này, không văn nào tả được.
Giây lâu Nhiêu Tôn nói:
- Em đi đường hãy cẩn thận cho lắm, tới Bạc Liêu em cứ y lời anh dặn mà thi hành; em chớ nóng lòng vội bứt ra về, thì hư việc lớn của anh sắp đặt bấy chầy.
Lệ Hoa vịnh vai Nhiêu Tôn mà rằng:
- Anh ôi! Có sự đau đớn nào bằng! Một tháng mà không gần nhau, em coi dường như một năm trường vậy; anh có biết giùm cho em nơi lữ thứ; song mặc dầu, anh chớ lo đến em, em sẽ hết lòng tận tâm lo thi hành mật kế, duy có một điều này, em lo...
Lệ Hoa nói đến đó rồi nín thinh. Nhiêu Tôn nóng nảy bèn muốn rõ nỗi lo của Lệ Hoa, nên hỏi:
- Em lo điều chi, em hãy cạn phân anh rõ?
- Em lo là lo cho anh một mình nơi kinh thành đô hội này rồi anh ham vui, quên nghĩa vụ một đấng anh hùng hào kiệt như anh vậy, thì ngày sau danh nhơ biết lấy chi rửa sạch.
- Em chớ lo chi cho bận lòng. Anh thề, này là trời, nọ là đất, ngày nào thù nhà chưa trả, anh không bao giờ tửu điếm, trà đình mà xao lăng cái nghĩa vụ của anh đối với xã hội Việt Nam này, nếu anh sa mê trên biển ái tình thì cho anh chết về lằn tên mũi đạn. Em có nghe rõ chăng? Thôi em yểm lụy, hãy ra xe đi kẻo trễ ngày mà hư việc.
Lệ Hoa bắt tay tỏ ý mừng rồi buông ra nói:
- Em tin lòng anh luôn.
Rồi hai người dẫn rạ đường kêu xe kéo, Lệ Hoa để va-li trên xe, Nhiêu Tôn nhìn theo mà ruột tầm đòi đoạn. Xa phu, kéo xe chạy ra rồi, Lệ Hoa ngó ngoái lại nhìn một lần nữa rói đi luôn xuống bến xe lửa Mỹ.
Lệ Hoa xuống Bạc Liêu, tìm nhà Hội đồng Tra đặng thi hành mặt kế gì vậy?
Quý vị cứ coi tới, sẽ có nhiều đoạn ghê gớm bắt phải rùng mình rỡn óc.
* * * * *
Đây nói về Kỷ Loan ngồi xe hơi đến nhà bà Nguyễn thị Hồ Sen, đường Chasseloup Laubat nhà số... vào nhận chuông kêu bồi. Một đứa nhỏ chạy ra mở cửa. Kỷ Loan hỏi:
- Phải nhà này là nhà bà Nguyễn thị Hồ Sen không em?
- Dạ phải, xin mời cô vào nhà, đợi bà tôi giây lát.
Kỷ Loan nối gót đứa nhỏ vào nhà. Kỷ Loan thấy chưng dọn đồ theo lối kim thời thì trong bụng nói thầm rằng: “Mẹ ta ưa lối văn minh, nên sắm đồ cực kỳ huê mỹ”.
Kỷ Loan ngồi nơi bộ salon, mà cặp mắt dòm tứ phía. Cô đợi có trót giờ mà không thấy bà Nguyễn thị Hồ Sen ra, trong lòng nóng nảy vô cùng, nên kêu con nhỏ hỏi:
- Bà có ở nhà không mà nãy giờ không thấy ra vậy em?
- Dạ, bà tôi nói xuống tòa soạn báo nào đó chừng nửa giờ mà bây giờ cũng đã lâu rồi, sao không thấy bà tôi về.
Kỷ Loan ngồi đợi trót ba giờ đồng hồ mà không thấy tâm dạng bà già ấy về, nên buồn lòng ra xe trở về nhà, trước khi đi Kỷ Loan có dặn con đòi mà rằng:
- Sáng tám giờ cô lại. Con thưa cho bà hay. Thôi cô về.
Vì cớ gì mà bà già rao trong báo rồi cứ lánh mặt mãi không cho Kỷ Loan thấy vậy? Thế cũng có duyên cớ chi đây?
Quý vị cứ coi tới sẽ rõ bà già bí mật này, sắp đặt những điều gì cực kỳ mầu nhiệm vậy?
* * * * *
Đây nói về Lệ Hoa lúc từ giã Nhiêu Tôn xuống Bạc Liêu đã ba ngày rồi, mướn phòng ngủ tạm nghỉ đỡ. Cái sắc khuynh thành của Lệ Hoa, làm cho nhân dân tỉnh thành Bạc Liêu náo động. Một cành hoa tuyệt trần rốt trong một cái nhà ngủ thì thế nào ai cũng phải nhận rằng là phường sớm đưa Tống Ngọc, chiều tìm Tràng Khanh, chớ không một ai cho là người tuyết trong giá sạch được. Tiếng đồn thấu đến nhà Hội đồng Tra. Bọn đa tình háo sắc nghe đến thì dẫu cho đường xa muôn dặm, cũng tìm tới, huống hố là gần bên nhà, sao cho khỏi lết đến coi.
Buổi chiều kia Hội đồng Tra lấy xe hơi ra đi dạo khắp trong châu thành, đi ngang nhà ngủ Nhơn Hòa dòm lên hiên lầu thấy rõ ràng một nàng tuyệt sắc đứng ngó mong xuống đường, mà mặt dường như có vẻ ưu tư sầu não. Hội đồng Tra biểu sốp phơ ngừng xe lại, Hội đồng Tra bước xuống xe lại cửa kêu chủ nhà ngủ hỏi:
- Thầy có biết cô nào mới tới mướn phòng trên lầu không?
- Dạ, cô đó quý danh là Cẩm Vân ở Nam Vian mới xuống.
- Thầy có rõ cô xuống đây làm gì không?
- Dạ, cô nói xuống đây tìm chồng; chồng cô là người khách trú bỏ nhà đi trót tháng nay; người ta nói chồng cô xuống mua bán ở Bạc Liêu, nên cô xuống đây tìm chồng là vậy.
Hội đồng Tra đứng suy nghĩ một hồi rồi nói với chủ nhà ngủ mà rằng:
- Thầy chịu nhọc lên phòng nói với cô như vầy... như vầy... nếu việc thành rồi thấy sẽ đặng trọng thưởng.
Cái oai quyền của Hội đồng Tra ở khắp tỉnh thành, ai cũng ghê sợ, huống hồ là người chủ nhà ngủ, nên chủ nhà ngủ ríu ríu lên lầu, gõ cửa kêu:
-Cô Hai ôi! Cô Hai...
Lệ Hoa ngồi trong phòng rầu buồn nhiều nỗi, nhất là xa lìa Nhiêu Tôn, song mặc dầu nàng để một lòng lo cho rồi mật kế, nên bữa nào nàng cũng mướn xe hơi dạo chơi khắp châu thành. Buổi chiều nọ nàng sắm sửa ra đi, bước ra hiên lầu ngó mong ra đường, thấy xa xa một cái xe hơi Delage số... thì nàng biết là xe của Hội đồng Tra, nên nàng ngó xuống một cách khác rất phi thường, làm cho Hội đồng Tra khó dằn lòng với cặp con mắt hữu tình của nàng vậy.
Giây lâu nàng nghe kêu... nên vội ra mở cửa. Ông chủ nhà ngủ bước vào nói:
- Thưa cô, Hội đồng Tra buôn bán rất lớn tại châu thành, tôi tưởng nhân dịp ông ghé đây thăm tôi, cô xuống hỏi thăm không biết chừng ổng có lẽ biết chồng cô, khỏi thất công cô đi kiếm. Cô nghĩ sao?
Lệ Hoa suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Tôi vẫn không quen biết chi với Hội đồng Tra, vậy tôi sợ ông không vui lòng chỉ chăng?
Chủ nhà ngủ nói vầy nói nọ, Lệ Hoa giả ý không bằng lòng, song rốt lại Lệ Hoa nối gót chủ nhà ngủ mà xuống thang lầu. Hội đồng Tra vừa thấy Lệ Hoa thì trong bụng đã muốn đoạt vợ người rồi, song ông cũng biết lễ nên giữ nét mặt uy nghiêm, Lệ Hoa bước ra thi lễ rồi thưa rằng:
- Thưa ông, mới đây em nghe ông chủ nhà ngủ nói cuộc đại thương mãi của ông đồ sộ dưới này, nên em không nài xin ông cho em hỏi một đôi lời.
- Cô muốn hỏi điều chi?
- Dạ thưa, chồng em từ giã Nam Vian, hồi mới ra đi, chồng em có nói đi lên đây cách một tuần thì về là lâu, còn mau thì ba bữa, ngày nay đã quá hơn hai tháng trường mà em vẫn bặt tin luôn. Tỉnh thành Bạc Liêu này chồng em thường chở đồ lên Nam Vian bán lại, vậy không biết ông có rõ tên Hồng Đường người khách, độ chừng hai mươi lăm tuổi mặt thỏn, da đen, có để chút râu, xin ông chỉ giùm thì ân ấy ngàn năm ghi tạc?
Hội đồng Tra chống tay làm bộ suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Tôi nhớ tên Hồng Đường mại mại một đôi khi, song hiện giờ tôi không biết ở đâu, vậy cô nán đợi vài ngày; tôi biểu người hỏi dọ giùm cô, rồi tôi sẽ cho cô biết.
Lệ Hoa tỏ ý vui mừng để lời cảm tạ rồi trở lại lên lầu. Lệ Hoa bấy lâu không biết giở ngón đê hèn như thế, song vì muốn trả thù giùm cho Nhiêu Tôn, tức là người yêu của nàng, nên không kể nhục là gì. Ta chỉ thấy bấy nhiêu cũng đủ rõ cái sự thương vô hạn của nàng Lệ Hoa không sao tả được. Tội nghiệp Lệ Hoa khi từ giã Hội đồng Tra rồi thì nàng lên lầu nằm khóc tấm tức tấm tưởi, than nho nhỏ mà rằng:
“Nhiêu Tôn chàng ôi! Chàng có rõ giùm em trong lúc đau đớn đoạn trường này chăng? Biết bao giờ, được một cảnh gia đình êm đềm, chồng vợ toại hưởng ngày xuân mát mẻ.
Anh ôi! Ngày hôm nay em nơi đất khách, lạ cảnh lạ người, thân bồ liễu một mình riêng than với bóng đèn, khi mờ khi tỏ, mà ai có biết giùm chăng? Thật là: ‘Tâm sự năm canh một bóng đèn’. Dòm quanh nhìn ai cũng có cha có mẹ, có anh có em, sum vầy đoàn tụ, còn ta đây sao một mình bơ vơ nay tấp chỗ này, mai trồi chỗ khác? Ngày nay, ta vâng lệnh Nhiêu Tôn thi hành mật kế không biết ta sẽ đi đến cùng cái đường Nhiêu Tôn vẽ sẵn đó chăng? Nhiêu Tôn biết đến tim đen ta, nên mới dám để cho ta làm việc khó khăn này, ta tưởng khi thế gian này, ít ai bạo gan như ta vậy, vái đất trời phò hộ bên tôi, hầu mau đắc thành sở nguyện”.
Lệ Hoa đêm ngày than thở, thở than không dứt dòng châu tầm tả... Ba ngày đã hết; bước qua ngày thứ tư, trong lúc đèn ngoài đường vừa cháy, chủ nhà ngủ lên cho Lệ Hoa hay rằng: “Hội đồng Tra đến” Lệ Hoa tỏ sắc vui mừng, lật đật rửa mặt, thay đổi áo quần, xuống đất. Trong nhà đèn điện sáng tòa, nâng thêm cái sắc của Lệ Hoa lên, làm cho Hội đồng Tra hồn xiêu phách lạc. Cái sắc cực kỳ đẹp của Lệ Hoa ai thấy cũng phải thương huống hồ Hội đồng Tra là người đa tình, thấy vậy sao khỏi say mê. Lệ Hoa bước ra đi yểu điệu, mình hạc xương mai, đôi mắt ngó ngay Hội đồng Tra, và nghiêng mình thi lễ, miệng cười coi như hoa tươi đương nở. Hội đồng Tra ngẩn ngơ, ngơ ngẩn quên mình đứng trước người phàm, chớ nào phải du cung trăng gặp Hằng nữ. Hội đồng Tra giật mình nói rằng: “À, hôm trước có hỏi thăm chồng cô là Hồng Đường, tôi có biểu người dọ kiếm giùm cô, song người ta nói Hồng Đường qua Bạc Liêu gặp một người đàn bà lai căng, rồi hai người dẫn luôn lên Sài Gòn cách hai bữa rày”.
Lệ Hoa trong bụng tức cười thầm rằng Hội đồng Tra khéo đặt điều cũng hay, song nàng giả ý buồn bực mặt mày héo hon, đôi mắt đỏ lòm, giây lâu nàng nói một cách khác thường mà rằng: “Nếu chồng em không nghĩ tình vợ chồng thấy trăng phụ đèn, thì cái kiếp xuân này em không còn mong gì mà toại hưởng”.
Hội đồng Tra đứng dậy nói khẳng khái mà rằng:
- Úy, cô lầm rồi, chồng cô chẳng nghĩ đến cô bỏ vợ nhà mà theo người khác, thì phải làm sao cho chồng cô biết rõ là người có gan dạ chớ cô chết tôi tưởng chồng cô lại càng mừng hơn nữa.
- Ông dạy em như thế em rất đội ơn, song ngặt vì em là phận nhược chất liễu bồ, quần vận yếm mang biết làm sao cho ra người có gan dạ.
- Chồng cô theo vợ bé thì cô cứ lấy chồng, tôi đứng làm mai giùm cho một chỗ xứng đáng người có danh phận, buôn bán to, giàu có lớn thì tấm thân cô được sung sướng khỏi phải một mình trằn trọc năm canh, trông tin chồng về sao vắng bặt.
Lệ Hoa làm bộ e lệ cúi đầu xuống làm thinh không nói lời gì cả. Hội đồng Tra đắc ý nói tiếp: “Cô bằng lòng hay không mà sao cô không chịu trả lời vậy cô?”
- Dạ thưa, ông có lòng đoái tưởng đến phận đơn cô này em đâu dám từ, nhưng mà... Khi chồng em hay rồi thì còn mặt mũi nào em dám ngó chồng em cho chán chường được.
- Có gì mà không dám ngó mặt chồng, cô cứ nói: mình theo vợ bé, thì tôi phải lấy chồng.
Người chủ nhà ngủ ngồi nơi ghế thấy ông Hội đồng Tra đã ló mồi “trườu” ra nên khó nín cười được. Lệ Hoa càng them mắc cỡ hơn nữa, nàng bèn nói rằng:
- Ông có lòng huệ cố đến thân bèo dạt hoa trôi này thì em biết lấy chi đền ơn đáp nghĩa, vậy em xin về nhà thu xếp đồ đạc đâu đó yên rồi, em sẽ trở xuống đây, lâu thì một tháng, còn có mau thì chừng lối hai tuần.
Hội đồng Tra nghe Lệ Hoa nói về lâu thì một tháng, mau cũng là hai tuần, thì có hơi bực bội, nên tiếp nói:
- Cô làm gì sắp đặt việc nhà lâu đến thế? Thôi sẵn có xe hơi đây, tôi cho cô mượn về nhà, chừng hai bữa cô trở xuống.
Lệ Hoa suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Em rất cám ơn ông, song em về má em rầy... vì hồi ra đi em lén trốn đi, bây giờ về nhà không có chồng em, em sợ má em không nhìn em nữa...
- Cô nói phải, thôi tôi cho người theo đưa cô, về thưa tự sự cho má của cô hay.
Hội đồng Tra nói rồi láy chủ nhà ngủ. Chủ nhà ngủ hội ý nên nói:
- Ông cho người đi thì tưởng không bằng ông đi. Vì rủi như má của cô không bằng lòng cho cô trở xuống nữa thì mới liệu sao? Chớ có ông thì dễ lắm. Ông nói hơn thiệt, khuyên lơn làm gì mà không được.
Hội đồng Tra mừng quá đỗi nên nói:
- Thầy nói nghe rất phải, vậy khuya này, lối bốn giờ, tôi sẽ lại đây cùng cô về nhà.
Lệ Hoa rõ biết Hội đồng Tra trúng mật kế, dạ chi xiết vui mừng, nên làm thinh, chỉ nghĩa biểu hiện sự bằng lòng. Rồi đó Hội đồng Tra phân tay ra về, dạ mừng khấp khởi.
Sáng ra trời mịt mù tối đen, mù sương xuống có lớp, Hội đồng Tra đem xe hơi Delage lại nhà ngủ. Bóp kèn tò tọ Lệ Hoa xách va-li xuống lầu, bước lên xe hơi, sốp phơ mở máy rì rì chạy mất.
Lệ Hoa đi với Hội đồng Tra làm gì mà Lệ Hoa gọi rằng trúng kế? Thật là bí mật, quý vị coi tới sẽ rõ Hội đồng Tra vì tiếng nói của Lệ Hoa mà phải... sao đây?
* * * * *
Đây nói về Kỷ Loan đến nhà bà Nguyễn thị Hồ Sen ba lần mà không gặp, thì dạ áy náy biết bao. Buổi chiều kia, độ lối ba giờ, Kỷ Loan đến nhà bà một lần nữa. Phen này Kỷ Loan gặp bà đương ngồi trên ghế xích đu. Bà Nguyễn thị Hồ Sen ngồi dậy kêu con đòi pha nước bùng lên. Một chập lâu, có đến mười phút đồng hồ mà bà Nguyễn thị Hồ Sen không nói lời gì cả, Kỷ Loan nóng lòng đứng dậy hỏi bà mà rằng:
- Thưa bà, không biết phải bà đăng bài “Quảng cáo” trong “Sài Gòn Ngọ báo” cách mấy ngày rày không?
- Phải, cô có quen biết chi với con tôi là Nguyễn thị Kim Anh chăng?
Kỷ Loan ngồi làm thinh hai hàng nước mắt đượm tuôn nói tiếng được tiếng mất mà rằng:
- Thưa bà... tôi... tôi... là Nguyễn thị Kim Anh. Chính mình tôi có nút ruồi... và bớt sau lưng.
Bà Nguyễn thị Hồ Sen chậm rãi nói rằng:
- Xin phép cô cho tôi coi bàn tay và sau lưng, vì nhiều người cũng in vậy, nhưng nằm sái chỗ.
Kỷ Loan đứng dậy vô buồng, một chặp lâu hai người trở ra, bà Nguyễn thị Hồ Sen hỏi:
- Vả chăng chi bớt và nút ruồi ấy vẫn in như con Nguyễn thị Kim Anh song xin cô vui lòng cho tôi hỏi: “Không biết hồi cô còn nhỏ, cô thường ngủ với ai, và ai thường bồng ẵm nuôi cô...”
Kỷ Loan ngồi suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Thưa việc đó lâu quá, con quên nhiều, song con vẫn còn nhớ, lúc đó con thường ngủ với cha và mẹ con; còn dì Hai con không nhớ tên - nuôi con, và chơi giỡn với con thường lắm.
Bà Nguyễn thị Hồ Sen nghe dứt câu, liền đứng dậy dạ mừng khấp khởi mà rằng:
- Húy con tôi đây mà...
Rồi đó hai người ôm nhau khóc nức nở, Kỷ Loan mừng quýnh không nói lời gì được, còn bà Nguyễn thị Hồ Sen khóc một hồi, rồi vuốt tóc Kỷ Loan mà nói rằng:
- Con tôi cách biệt mười bảy năm trời, ngày nay đã được bây lớn, thiệt là phước trời dành để, ngày hôm nay mẹ con mới được đoàn viên... má tưởng đâu má không còn thấy mặt con nữa.
Nói rồi bà khóc nữa; cái tấn kịch vui mừng này, không bút mực nào tả cho cùng được. Mẹ nhìn con, con ngó mẹ, mà bốn dòng châu không dứt.
Giây lâu bà hỏi:
- Phải con theo gánh xiệc “Góc Trời Nam” của Vân Đình lúc nọ chăng?
- Dạ thưa má, chính mình con theo người từ nhỏ tới bây giờ; nhân vì người bị ám sát, nên gánh hát rã rời, con về cất nhà ở đây. À, hôm trước không biết phải má có đến nhà con chăng?
- Phải, má có đi, song má không chắc là nhà con; nhờ có người chỉ biểu má xuống tòa soạn “Sài Gòn Ngọ báo” xin đăng bài quảng cáo đó.
Hai mẹ con nói chuyện hoài mà không thấy dứt. Mãi đến tám giờ tối mà cũng còn ngồi nói chuyện. Kỷ Loan hỏi thăm cha chôn cất nơi nào, và phần mộ hiện giờ có ai săn sóc chăng?
Bà già nghe nhắc đến chồng, thì ruột không vò mà rối, gan không dần mà đau, ngồi khóc một hồi nữa, rồi kể từ đầu chí đuôi, từ ngày bị ăn cướp giết, đến ngày chôn cất, xây đắp ngôi mộ vân, vân. Kỷ Loan nghe cha mình bị gian nan như thế thì ngùi ngùi tấc dạ không nói lời gì được, chỉ khóc mà thôi...
Giờ này Kỷ Loan không biết đói; bà Nguyễn thị Hồ Sen hối dọn cơm Kỷ Loan gặp mẹ mừng quá đỗi, mừng đến nỗi nuốt cơm không xuống.
Cơm nước ăn uống xong rồi, Kỷ Loan hỏi mẹ mà rằng:
- Dạ thưa má, không biết nhà này là nhà mướn hay là mua vậy?
- Má mướn mỗi tháng hai trăm đồng.
- Nếu vậy, má biểu trẻ thu xếp đồ đạc đâu đó xong rồi, má dọn qua nhà con ở. Con cất nhà ấy cách chừng vài tháng nay.
- Má cũng tính cất nhà ở Sài Gòn, vì má nói nếu không gặp con phen này, má không đi kiếm nữa, bởi vì tuổi đã lớn rồi, má không thể đi nổi nữa.
- Dạ, nhà con cất tuy không lớn, vì chỉ có một mình con, nhưng nay có má, tưởng không đến đỗi chật hẹp. Có lẽ má cũng sẽ vừa lòng. Nhà cất theo lối kim thời gió ra vô vùn vụt, tư bề mát mẻ vô cùng.
- À, con chưa lấy chồng phải không?
- Dạ thưa chưa.
- Vậy tốt lắm. Để sau này má tính cho con.
Hai mẹ con nói chuyện đến khuya mới hiệp về nhà Kỷ Loan.
Từ đây lấy tên mẹ đặt là “Nguyễn thị Kim Anh” hiệp với ten “Mai thị Kỷ Loan”, của ông Lý Vân Đình đặt mà sửa lại là Nguyễn thị Loan Anh.
Quý quá thay! Nguyễn thị Loan Anh, từ đây có mẹ hủ hỉ đêm ngày. Nhờ vậy mà nàng bớt cơn buồn não bấy lâu vấn vít bên mình, không giây phút nào nàng giải khuây lấp thảm cho được. Thuở nay một mình không biết cùng ai tỏ bày tâm sự, chớ ngày nay, mỗi việc gì Nguyễn thị Loan Anh cũng nhờ có mẹ chỉ biểu “Mười bảy năm lưu lạc, một cảnh đoàn viên” có sự vui thú nào hơn!
* * * * *
Đây nhắc lại từ ngày nàng Lệ Hoa từ giã Nhiêu Tôn xuống Bạc Liêu đến nay, lần tay tính thử, thì cũng đã gần một tuần, Nhiêu Tôn ở nhà sắp đặt việc này việc nọ luôn. Sáu Ngởi được lịnh của Nhiêu Tôn dạy rình theo Lê Tứ Hải nên cũng không phút nào chàng dám xao lãng, Lê Tứ Hải làm những việc gì kín cho mấy đi nữa, Sáu Ngởi cũng thấy rõ ràng, như dòm trong kiếng vậy.
Nhiêu Tôn ngồi sực nhớ đến Lệ Hoa thì chau mày mà than rằng:
“Tội nghiệp nàng Lệ Hoa hết lòng thương ta quá đỗi. Ta là người chớ nào phải sắt đá chi đây mà vô tình để cho nàng phải đêm thảm ngày sầu! Ta có thể lấp nổi biển tình, duy có nàng là một nhành hoa yếu ớt, dằn lòng không được nên nhiều khi phát tiết ra ngoài làm cho ta bối rối trong lòng, không biết sao cho vẹn vẻ con người, khỏi phải tiếng đời dị nghị.
Ta thương nàng vì nết na đằm thắm, cử chỉ đoan trang giá đáng ngàn vàng không mua được. Cái tánh nhu mì của nàng, tưởng không ai có. Đó là về tánh nết. Còn về đức hạnh thì nàng lại càng trong sạch hơn ai. Biết giữ chữ tiết trinh, biết trọng nền băng tuyết, mấy ai sánh kịp. Còn luận về cái sắc, ta nhấm lại người Việt Nam không ai hơn được. Kỷ Loan người tình chung của Tố Tâm tuy có sắc mà không duyên, đối với Lệ Hoa thì một tám, một mười. Cái miệng cười có duyên của nàng, đôi con mắt hữu tình của nàng, ai thấy cũng phải động lòng. Nước da trắng như tuyết mùa đông, miệng cười như hoa sen nở, tưởng anh hùng cũng phải lụy. Người có sắc, có tình, lại mến ta, ta mới liệu sao đấy? Một lời ta hứa, ta không lẽ gạt nàng mà để cho hoa xào liễu úa... Khó cho ta trăm bề. Ngày nay nàng lãnh kế ra đi, nguyện giúp giùm ta cho nên việc, tính nay đã sáu ngày mà nàng vẫn bặt tin. Cái sắc của nàng, ta nằm nhà, cũng có thể đoán được rằng dầu thế nào Hội đồng Tra cũng phải xiêu hồn lạc phách. Hội đồng Tra mà gần Lệ Hoa chừng ba đêm, thì việc cả ắt thành, thù nhà trả được, cái án nặng nề của Tố Tâm sẽ tiêu ma đi mất... Hội đồng Tra ôi! Ngày nào ta còn sống ở thế gian này thì mi đừng hòng chạy khỏi tay ta, mi là đứa không thể nào dung dưỡng được, mi toại hưởng vinh hoa phú quý được. Mi tưởng đâu không có thể làm cho mi tán gia bại sản được, nên mi tự đắc, tự kiêu, mi coi như không ai làm gì mi nổi. Cái ngày mi sẽ đền tội vẫn gần đây, đố mi trốn sao cho khỏi tay ta”.
Nhiêu Tôn đương ngồi than thở một mình, trong lúc lặng lẽ như tờ, bỗng đâu Sáu Ngởi xô cửa bước vào, coi bộ hơ hải, trên tay cầm tờ “Sài Gòn Ngọ báo".
- Ngởi, mày làm gì mà coi bộ thất sắc vậy?
- Dạ thưa...!
- Giống gì vậy?
- Dạ thưa Kỷ Loan có mẹ rồi.
- Mày nói Kỷ Loan có mẹ... làm sao mày biết được?
- Dạ, tờ “Sài Gòn Ngọ báo” có đăng tin ấy.
Sáu Ngởi đưa tờ “Sài Gòn Ngọ báo” cho Nhiêu Tôn. Nhiêu Tôn tánh tình cẩn thận, tuy việc biến xảy tới, mà bộ không lộ sắc gì sợ hãi cả. Nhiêu Tôn lật ra thấy đăng một bài “Tôi tìm được con”, nên chăm chỉ coi, thấy mấy hàng chữ như vầy:
Số báo 2325, ra ngày thứ ba vừa rồi “Ngọ báo” có đăng một bài “Quảng cáo đồng bào” của bà Nguyễn thị Hồ Sen cậy ấn hành. Bài ấy ra chỉ cũng đủ chứng rằng tờ “Sài Gòn Ngọ báo” từ thành thị chí thôn quê nơi mấy hang cùng, nẻo hẻm, cũng có người đởc. Bổn báo xin ấn hành bài hồi đáp của bà Nguyễn thị Hồ Sen, khúc sau đây:
Mười bảy năm trời tôi lưu lạc cùng nơi, mà tìm con tôi là Nguyễn thị Kim Anh, song vẫn bặt tin. Ngày nay tôi đến Nam Kỳ, nhờ tờ “Sài Gòn Ngọ báo” đăng bài quảng cáo của tôi, chỉ có ba ngày mà tôi tìm con được. Con tôi là Nguyễn thị Kim Anh bấy lâu lấy tên của dưỡng phụ đặt là Mai thị Kỷ Loan. Vậy tôi có mấy hàng đăng trong báo gọi cảm tạ ông chủ bút và kính báo đồng bào hay rằng: Con tôi là Mai thị Kỷ Loan từ đây lấy tên là Nguyễn thị Loan Anh, đặng khỏi phụ tấc lòng của ông Vân Đình nuôi dưỡng con tôi từ hồi ba tuổi.
NGUYỄN THỊ HỒ SEN

Nhiêu Tôn đọc rồi chống tay trên trán suy đi nghĩ lại đã có trót hơn nửa giờ. Sáu Ngởi đứng chờ hoài mà không thấy Nhiêu Tôn trả lời coi bà Nguyễn thị Hồ Sen tìm con là Loan Anh thời thế đó ra sao, nhưng mà Nhiêu Tôn cứ ngồi lẳng lặng làm thinh. Sáu Ngởi bỏ ra nhà sau.
Nhiêu Tôn bộ coi bối rối song chàng tỉnh như thường. Một chập chàng gục gặc đầu, rồi chúm chím cười, đoạn đứng dậy chắp tay sau đít đi qua đi lại. Nhiêu Tôn tìm được mầu nhiệm trong sự bà Nguyễn thị Hồ Sen chăng, nên chàng đắc chí vậy?
Quý vị cứ coi tới. Có nhiều đoạn bí mật phi thường, làm cho cô Nguyễn thị Loan Anh phải chịu hoạn nạn nhiều bề, quả là “hồng nhan bạc mạng” trong chương thứ nhứt hồi đầu, có tả ra rõ ràng tưởng quý vị còn có khi nhớ.
Cái màn mầu nhiệm bí mật phi thường này dầu khó khăn thế nào nữa tưởng không khỏi Nhiêu Tôn vén lên mà chớ!
Nhiêu Tôn là người tài trí, nhân vì một lúc gian nan chưa chịu ra mặt với đời, chớ người anh hùng như Nhiêu Tôn tưởng đâu việc chi khó khăn thế nào chàng lại không làm được.

III. Thây người bên sông
Nhiêu Tôn suy đi nghĩ lại hoài về vụ bà Nguyễn thị Hồ Sen nhìn con, song chưa lấy chi làm chắc. Cách hai ngày, Sáu Ngởi cũng đem cho Nhiêu Tôn một số “Sài Gòn Ngọ báo” mới nữa.
Nhiêu Tôn giở ra thấy mấy hàng chữ như vầy:
“Thây người bên sông.
Mười một giờ này, chỉ nghĩa rằng còn chừng một giờ nữa, bổn báo xuất bản, thì nghe tin rằng có một cái thây người bên sông Thị Nghè. Phóng sự viên có đến tận nơi mở đường ăn kết riêng, thì rõ lại là Chệt Trần Phong, hồi trước làm tửu bảo ở Huê viên Chợ Lớn, bị ai giết chết bỏ thây trầm dưới sông Thị Nghè. Duyên cớ vì sao bị ám sát, bổn báo chưa rõ nguyên nhân, đợi tin đích xác, sẽ tường thuật”.

Nhiêu Tôn đọc rồi để tờ báo xuống, chau mày thở ra mà rằng:
“Trần Phong em ôi! Cũng vì tại em mà ngày hôm nay em phải chết một cách đau thương dường ấy. Đây là Lê Tứ Hải giết em chớ có ai. Ta muốn sao, cái ngày Tố Tâm ra mặt, em đến giữa tòa cung chiêu, thì mới là khỏi uổng công ta dò xét tự bấy lâu; còn Lê Tứ Hải, mi đừng tưởng giết Trần Phong là nhẹm vụ mi giết Lý Vân Đình mà mi toại hưởng hạnh phúc, ta nói cho mi biết, ta sẽ làm cho mi bị lương tâm cắn rứt từ đây cho đến ngày mi phải đền tội. Mi dễ nhà ngồi yên với ta đâu?”
Nhiêu Tôn liền kêu Sáu Ngởi vào rồi kề miệng gần lỗ tai nói nhỏ với Sáu Ngởi một hồi, Sáu Ngởi nghe dứt câu chuyện, liền đứng dậy đi lập tức.
Đây nói về Lê Tứ Hải ngày Trần Phong đến nhà hăm dọa thì đã ra tay hạ thủ Trần Phong song có Sáu Ngởi vào tự xưng mình là “Hiệp khách” cứu Trần Phong, thì lại càng giận Trần Phong thêm nữa. Anh ta quyết giết không để cho Trần Phong sống làm hại cho chàng về sau, nên cứ trù mưu lập kế mãi.
Bữa kia Trần Phong đến nhà Lê Tứ Hải nữa, hắn dại đến thế là cùng rồi. Đã một lần đầu là bị Lê Tứ Hải hăm giết mà hôm nay hắn còn bạo gan đến nữa. Thế thì mạng hắn đêm nay đã tuyệt. Thật quả vậy, hắn vừa vô nhà, thì Lê Tứ Hải bỏ arsenic vô trong tách nước trà, nên hắn uống vào, không đầy mấy phút đồng hồ, thì hồn hắn đà nương mây bạc, không kịp trối trăng một lời...
Thôi rồi một đứa lanh lợi, đồng một tội với Lê Tứ Hải mà để cho Tố Tâm tự tử vậy. Phải chi hắn đừng lấy tờ di chúc của Lý Vân Đình lúc nọ, thì Tố Tâm đâu phải trầm mình dưới khe nước ở Huê viên Chợ Lớn. Thế mới biết đấng tạo vật cầm cân rất công.
Lê Tứ Hải chờ đến khuya chở Trần Phong lên xe hơi, đem ra cầu Thị Nghè bỏ xuống nước. Giáp ngày tử thi Trần Phong nổi lên trôi vào bờ, mà ta thấy tờ “Sài Gòn Ngọ báo” thuật lại lúc trước vậy.
Thôi từ đây Lê Tứ Hải vui mừng không kể xiết, trong bụng vững lo, không còn hồi hộp gì nữa. Ngày kia chàng đương ngồi ghế xích đu coi sách, bỗng đâu có người ở ngoài đi giày cao su, đầu đội kết mình mặc đồ đen, ngoài choàng áo mưa, có mang mặt nạ, xăm xăm đi ngay lại Lê Tứ Hải. Lê Tứ Hải mãng lo coi sách mà không ngước mặt lên, chừng người lạ mặt ấy vỗ vai, chàng giật mình day lại; cái sự sợ hãi của chàng lúc này không sao nói được.
Chàng gắng gượng làm tỉnh đứng dậy hỏi:
- Nửa đêm chú là ai mà đến nhà tôi yậy?
- Ta đến cho mi biết rằng: “Tố Tâm đã đầu cáo với Diêm vương, đòi mi đền mạng”.
- Chú là ai mà biết Tố Tâm?
- Ta là... là... người đánh gươm với mi ngoài Vũng Tàu lúc nọ?
- Chú hãy ra khỏi nhà lập tức, bằng diên trì tôi không dung cái mạng chú đâu.
Lê Tứ Hải với lại hộc tủ móc cây súng lục liên, còn người lạ mặt cười hắc hắc mà rằng:
- Mi muốn giết ta sao?
- Phải, ta muốn giết mi!
- Mạng ta chưa dứt; đố mi giết được? Trước khi ta ra khỏi nhà này, ta nói cho mi hay rằng tên Trần Phong là đứa vô can, bị mi ám sát, rồi đem tử thi bỏ ở dưới sông cầu Thị Nghè, mi tưởng Sở Mật thám không thấu đáo, thì không còn ai mà biết nữa sao? Ta cho mi sống ba tháng nữa là mãn hạn. Thôi ta đi về.
Lê Tứ Hải thấy người lạ mặt ấy xây lưng ra, thì vội vàng cầm súng lục liên bắn phía sau lưng. Bắn ba phát, mà súng không nổ. Chàng tức mình mở súng ra coi, thì mới hay súng đã bị ai lấy hết bi ra rồi. Nội hồi đó người lạ mặt đã ra ngoài đi mất dạng.
Người lạ mặt ấy là ai mà thấu đáo cơ mưu của Lê Tứ Hải vậy? Ấy là Sáu Ngởi, là tay sai của Nhiêu Tôn, đến hăm Lê Tứ Hải. Từ đây Lê Tứ Hải càng rầu buồn hơn lúc xưa nữa. Chàng không rõ người lạ mặt ấy là ai mà biết chàng giết Trần Phong; nên đêm ngày gì chàng cũng phập phồng mãi. Sự vọng tưởng ước mơ của chàng là hiệp phối cùng Kỷ Loan, là người mà không phút nào chàng quên được, nhưng duyên nợ của chàng đối với Kỷ Loan vẫn khó mà thành giai ngẫu được, vì vậy mà cuộn cuộn mây sầu, ùn ùn gió thảm, hết thở rồi than, hết than rồi thở. Chàng vui được ba ngày, rồi kể từ ngày Sáu Ngởi lại cho chàng hay thì sự vui của chàng đã tiêu ma đi mất, lại sầu hơn hồi trước nữa. Quý vị sẽ thấy cái đời của Lê Tứ Hải sẽ bị nhiều điều khốn đốn, đến ngày chàng phải chết tức là ngày của chàng đền tội hung vậy.
Lê Tứ Hải không bao giờ biết tội ác của mình mà ăn năn chừa cãi. Chàng quyết giết Nhiêu Tôn đặng trừ hậu hoạn, nhưng dễ gì giết Nhiêu Tôn được, Lê Tứ Hải biết cái tánh khẳng khái của Nhiêu Tôn, nên tính mời Nhiêu Tôn tới nhà. Lê Tứ Hải không biết phương chi tìm cho ra Nhiêu Tôn; chàng suy nghĩ một hồi, đoạn viết ít hàng chữ gởi lại tòa soạn “Sài Gòn Ngọ báo” xin đăng thơ tín sau này:
“Có chuyện cần, tôi xin mời Nhiêu Tôn ngày 11 tây đúng tám giò tối đến nhà tôi ở Đất Hộ.
Lê Tứ Hải”

Thơ tín đăng rồi thì chàng hiệp bốn tay võ sĩ lúc trước có giúp chàng là Hai Long, Sáu Hổ, Tư Sơn và Năm Thùy, đặng sắp đặt trận, chờ ngày giờ Nhiêu Tôn đến, Lê Tứ Hải choán biết cái khí anh hùng của Nhiêu Tôn không bao giờ sợ chết, thế nào Nhiêu Tôn cũng đến, mà thật vậy,
Nhiêu Tôn được tờ “Sài Gòn Ngọ báo” y thấy bài thơ tín, liền bàn bạc với Sáu Ngởi rồi nhất định đi tới nhà Lê Tứ Hải.
Ngày kỳ hẹn đã tới. Bảy giờ Lê Tứ Hải và nội bọn đều dự bị sẵn sáng chờ Nhiêu Tôn đến.
Tám giờ đúng, Nhiêu Tôn với Sáu Ngởi tới nhà Lê Tứ Hải mà dường coi bộ khinh dễ lắm vậy. Sáu Ngởi đứng núp ngoài cửa, còn Nhiêu Tôn bước đại vô nhà. Lê Tứ Hải ngồi trong buồng nghe tiếng giày xao động ngoài thềm, thì trong bụng chàng hồi hộp vô cùng. Chừng thấy Nhiêu Tôn vô tới cửa thì chàng lại phát run. Cái sợ của chàng lúc này không sao nói được. Cặp mắt tinh thần của Nhiêu Tôn liếc qua ngó lại quan sát cùng nơi, không thấy động tĩnh gì cả. Đợi lối mười phút đồng hồ, Nhiêu Tôn vừa muốn trở về, bỗng đâu Lê Tứ Hải trong phòng bước ra. Nhiêu Tôn ngó ngay Lê Tứ Hải cặp mắt không nháy. Nhiêu Tôn biết thâu thần con người, nên chi trong giây phút Lê Tứ Hải không định tâm được.
Nhiêu Tôn hỏi:
- Lê Tứ Hải, thầy mời tôi đến có chuyện chi không?
Lê Tứ Hải bộ run lập cập không nói gì được, ú ớ một hồi rồi trả lời: “Có”.
Nhiêu Tôn vừa xây lưng lại, bỗng đâu đèn điện trong nhà vùng tắt ráo. Nhiêu Tôn sáng trí phi thường, liền nhảy trại ra ngoài. Cũng nội hồi đó, bốn lằn súng bắn ra nghe “bùm bum”. Lằn dạn xuyên ngay vào chỗ Nhiêu Tôn đứng, nếu Nhiêu Tôn không nhảy ra kịp thì chàng đã chết về bốn viên đạn ấy rồi.
Sáu Ngởi vừa nghe bốn tiếng súng nổ liên tiếp, chàng dòm vô kẹt cửa thấy đèn điện tắt ráo. Sáu Ngởi ngó lại công tơ đèn thấy mờ mờ, một người đứng đó. Sáu Ngởi nhẹ bước lại đánh vô kháp sanh người ấy một thoi rất mạnh...
Hai Long không đề phòng nên bị đánh té ngửa ra bất tỉnh nhân sự. Sáu Ngởi mở công tơ đèn điện cháy lại như thường. Lê Tứ Hải không thấy Nhiêu Tôn trong nhà thì lấy làm lạ lắm. Chàng liền hối nội bọn kiếm cùng nhà mà không gặp. Lê Tứ Hải ra hàng ba thấy Hai Long nằm dài dưới đất, thì chàng lấy làm lạ hơn nữa. Liền kêu gọi hai ba lần, Hai Long mở mắt ra nói ú ớ mà rằng: “Tôi bị... bị... đánh trộm”.
Lê Tứ Hải kinh hãi lật đật kêu nội bọn đỡ Hai Long vô nhà, lấy nước rửa mặt, lấy thuốc thoa chỗ vít ấy. Trong lúc đương lăng xăng lộn xộn bỗng đâu Nhiêu Tôn đứng trên nóc tủ nhảy xuống. Lê Tứ Hải giật mình, Sáu Hổ, Hai Long và nội bọn không biết phương nào thoát thân, đương còn nghĩ nghị, kế nghe Nhiêu Tôn rút lưỡi kiếm ra, miệng cười chúm chím mà thốt lời rằng:
- Lê Tứ Hải, thầy chớ toan hại đến tôi mà gây thêm họa cho mình, tôi tưởng bụng thầy nên đến đây hầu chuyện, hay đâu thầy quyết giết tôi.
Lê Tứ Hải láy Hai Long, thì Nhiêu Tôn lại đưa ngọn kiếm ra sáng ngời mà rằng:
- Lê Tứ Hải, ta không muốn giết mi, sao mi lại muốn giết ta? Ta nói cho mi giữ hồn, mi hãy đứng lóng tai lẳng lặng mà nghe bằng đứa nào rục rịch, ta nói thiệt, ngọn kiếm này nó không dung mạng đâu.
Lê Tứ Hải thấy khí anh hùng của Nhiêu Tôn nói khẳng khái như vậy, thì không dám động tịnh chi cả, đứng vững như khúc cây, Nhiêu Tôn nói:
- Cái tội của mi giết Lý Vân Đình lúc nọ, ta choán biết, ta chưa nỡ ra tay, để cho mi tạm sống một thời kỳ, sao mi không biết lỗi mà ăn năn bước trở vào đường lương thiện, lại cứ làm những điều độc ác ghê gớm. Trần Phong trầm mình dưới sông, cò bót truy tầm đứa sát nhân không được, rồi mi tưởng không còn ai thấu đáo cơ mưu của mi nữa, nên mi dường bộ đắc chí. Mi lầm rồi, Nhiêu Tôn ngày nào còn sống trên vùng đất này thì không bao giờ mi làm việc gì núp lén được. Thôi, ta không muốn nói nhiều, mà ta cũng không muốn nói nữa, ngày tử hình mi sắp đến, mi rán dọn mình mà chịu chết.
Nhiêu Tôn nói rồi, lần lần bước thụt lui ra cửa, đoạn nhảy trái ra ngoài, dùng chìa khóa, khóa cửa lại. Nhiêu Tôn lật đật nhảy vô xe hơi, Sáu Ngởi mở máy giông như tên, bụi cuốn lên bay mịt trời, dòm không còn thấy gì cả. Lê Tứ Hải mở được cửa ra ngoài thì... hỡi ôi! Nhiêu Tôn đi đà mất dạng, Lê Tứ Hải tức mình giậm cẳng kêu trời mà rằng:
- Trời ôi! Chắc tôi phải chết vì Nhiêu Tôn quá đỗi! Nhiêu Tôn là người gì mà thấu đáo tâm sự ta hết vậy? Thế thì mạng ta, Nhiêu Tôn cầm trong tay, chắt lỏng tự nơi người định liệu. Nhiêu Tôn không phải bà con cật ruột chi với Lý Vân Đình cùng Tố Tâm, tức là “người cho bông lài” hay là Trần Phong, mà hắn lại can thiệp vào, binh vực lúc trước Loan Anh (Kỷ Loan), ngày nay Trần Phong...?
Ta không thể nào truy tầm cho ra duyên cớ được. Thôi thì ta thệ quyết “một mất một còn” với Nhiêu Tôn, tức một là Nhiêu Tôn sống hay là ta sống; chớ ta không thể nào đội chung trời, đạp chung đất với hắn được.
Lê Tứ Hải nghĩ tới suy lui một hồi rồi chau mày, đổ lụy dầm dề, than tấm tức tấm tưởi mà rằng:
“Cũng vì tình... vì con Loan Anh mà ngày hôm nay ta phải trăm đắng ngàn cay, mà ai có thấu? Loan Anh là con vô tình, không bao giờ biết động tâm rơi giùm vài giọt nước mắt với ta, lại để cho ta bầm gan tím phổi. Tình... tình là biển khổ... tình là dây oan... ta đối với Loan Anh... lấy nghĩa mà xử... thì chắc không bao giờ đoạt được sở vọng mình; lấy sức thì ta đã lắm phen, song rồi việc cũng bất thành... bây giờ đây, chỉ nhờ diệu kế thì hay hơn hết. À mà khổ cho ta biết ngần nào; cũng là Nhiêu Tôn nữa, Nhiêu Tôn chắc rõ diệu kế của ta quá đỗi. Trời ôi! Nhiêu Tôn lợi hại quá chừng! Nhiêu Tôn anh hùng xuất thế... Nhiêu Tôn là ma... Nhiêu Tôn là... gì nữa đây... Trời ôi! Mọi việc cũng có Nhiêu Tôn, âu phải làm như vầy... thì Nhiêu Tôn không trông gì thoát khỏi vòng dũ lý...”
Lê Tứ Hải coi bộ đắc chí, lại bàn bureau, viết một nang thơ, đoạn niêm phong kỹ càng, để gởi cho quan Biên lý.
Lê Tứ Hải làm những gì mà Nhiêu Tôn, rồi đây phải vào nơi dũ lý? Diệu kế của Lê Tứ Hải thể nào mà chàng lại sợ Nhiêu Tôn phá nữa?
Quý vị cứ coi tới. Người độc ác như Lê Tứ Hải không bao giờ thoát khỏi lưới trời được. Người hiền lành như Nhiêu Tôn, sẽ gặp sau này nhiều điều may mắn lạ thường. Thật trời không bao giờ phụ lòng người ngay được. Trời không bao giờ để cho đứa tiểu tâm như Lê Tứ Hải sống yên được! Trời tuy xa ngàn dặm, chớ gần bên ta luôn vậy.
* * * * *
Trần Phong chết tại cầu Thị Nghè đến nay cũng đã lâu rồi, mà không ai tầm cho rõ vụ án sát nhân ghê gớm dường ấy, quan Biện lý túng thế phải bỏ luôn. Còn bà Nguyễn thị Hồ Sen nhìn Loan Anh là con khắp lục châu ai cũng biết; Loan Anh mỗi đêm thường chuyện vãn với mẹ hoài hễ bà mẹ nhắc đến cha, thì nàng đổ lụy mà rằng: “Con người ở đời chỉ nhờ cha mẹ dưỡng nuôi, dạy từ lời ăn tiếng nói, chớ như con đây vô phước mồ côi cha từ thuở nên ba, lạc loại mẹ mười bảy năm trường, ngày nay mẹ gặp con, đoàn viên một cảnh, duy có mồ cha xa xôi muôn dặm. Con tính chọn ngày nào tốt đặng mẹ con mình trở về ngoải, trước làm một bữa chay, sau con biết quê cha đất tổ”.
Bà Nguyễn thị Hồ Sen nghe nói vậy, bà có hơi biến sắc, song bà làm bộ buồn mà rằng: “Con nói nghe rất phải, vậy để má coi ngày rồi sẽ đồng cùng nhau về bản sở. Trước khi đi, má tính định đôi bạn cho con rồi sẽ đi, tưởng cũng không lấy gì làm muộn...”
Kỷ Loan nghe mẹ nói định đôi bạn, thì nàng giật mình không biết phải trả lời làm sao, ngồi xuôi xị không nói lời gì được. Nàng nhớ đến Tố Tâm, thì nước mắt chảy ròng ròng than thầm rằng: “Chàng ôi! Chàng nói sáu tháng, ngày hôm nay chỉ còn có vài tuần mà sao thiếp bặt tin, không biết chàng hiện giờ ở đâu, nương ngụ nơi nào, hay là hồn chàng đã nương mây bạc? Nếu có bề gì ngày kỳ hẹn không thiệt lời thì thiếp có tiếc chi cái thân này mà phải để cho người dương gian, kẻ chín suối; thà là thiếp chết, tức là thiếp tìm sự vui, ngày nào thiếp còn sống tức là thiếp cộng thêm ngày thảm. Chàng ôi! Chàng có lý đâu đành đoạn để cho thiếp một mình trằn trọc năm canh, cô thân nơi trần thế? Ngày nay mẹ thiếp đây, thiếp biết nói sao cho khỏi lỗi đạo làm con cho khỏi phụ lời thề trước. Tức tối cho thiếp biết ngần nào, tâm sự này chỉ một mình mình biết, môt mình mình hay, chớ nào dám cùng ai tỏ, nói cho ai hay? Duyên nợ ba sinh rắc rối đến chừng này, thật không sao nói được...”
Loan Anh suy đến đó, sực nhớ lời mẹ hỏi thì dạ càng bối rối thêm nữa. Nàng tự hỏi lấy mình mà rằng: “Ta nên cho mẹ biết Tố Tâm chăng? Ta nên cho mẹ ta biết lời thệ hải minh sơn của ta chăng? Ta nên nói rằng ta có nơi có chỗ không?... Trời ôi! Khó cha chả?...”
Bà mẹ liếc mắt ngó thấy con mình có hơi bối rối, nên cứ làm thinh ngó chỗ khác. Giây lâu bà gạn hỏi:
- Con đã trọng tuổi rồi, không lẽ theo bên mẹ hoài, con phải lấy chồng đặng đền chút công ơn sanh dưỡng bấy chày, mẹ tính định đôi bạn cho con, sao con lại làm thinh, mà dường như bất bình vậy...
- Thưa má, con đâu có bất bình lời của mẹ dạy. Con nghĩ lại, từ ngày gặp má đến nay, lần tay tính thử, thì chỉ có mấy ngày, sự vui đoàn tụ này chưa lấy gì làm toại chí má lại khiến con lấy chồng, thật là chưa vui sum hiệp, đã sầu chia phui, đã vậy rồi người đời còn để lời thống trách con sao vội muốn lấy chồng bỏ má một mình hiu quạnh vì vậy mà con thêm điều nghĩ nghị, chưa quyết lấy chồng.
- Con nói vậy sao phải, con thảo phải tuân theo lời mẹ dạy, vợ hiền nên nghe lời của chồng khuyên, tôi trung dầu vua dạy thác cũng phải phụng mạng... ba điều ấy con choán rõ, lựa là má phải dạy rành, vậy tùy ý con, con xử sao cho vẹn đạo làm người, đừng để tiếng đời dị nghị là hay?
Loan Anh bực bội trong mình quá đỗi, không biết nói sao cho vừa bụng mẹ, giây lâu nàng nói:
- Má ôi! Việc vợ chồng là việc quan hệ nhất của con, vậy con xin má chớ vội mà lỗi duyên con, rồi thiệt hại cho con lắm. Con thương má, con không muốn rời nửa bước, còn má thương con, sao má đành vội lìa lắm vầy?
- Không phải má vội xa con đâu mà con lo. Má coi chỗ nào xứng đôi vừa lứa với con, tài sắc gồm toàn, má gả, rồi má nuôi rể, thì chồng con với con ở gần bên má hoài, chớ có đi đau xa mà con sợ!
- Hễ xuất giá thì tùng phu, chớ bao giờ còn có quyền gì ở gần bên má mà má tính vậy? Lại nữa má tính lựa người tài sắc mà chi? Con tưởng người đáng làm chồng con là người nào biết trọng nghĩa nhân biết mến danh dự, chớ tài sắc không nghĩa, thì tài sắc ấy mà chi? Tài sắc ra đứng với đời, thấy quyền quý thì ham, đem đồng tiền đánh đổ nhà đạo đức, thì cái tài sắc ấy người đời còn khinh bỉ nữa. Vậy con xin má suy đi nghĩ lại cho tấm thân con được nhờ.
Bà Nguyễn thị Hồ Sen nghe con nói có lý thì không biết nói sao cho con vui lòng, tự trách lấy mình sao vội lắm vậy, nên nói giả lả mà rằng:
- Má thử bụng con chớ má mới tới đất này má biết ai là tài sắc đâu mà má lựa. Việc đó sau này sẽ hay, thôi trời cũng đã xế, ác vàng vừa chen lặn, khí tiết êm đềm, con biểu sốp phơ đem xe ra đi hứng gió một vòng rồi về dùng cơm chiều cho sớm...
Rồi đó hai mẹ con đồng lên xe ra đường dạo thành phố.
* * * * *
Ngoại trừ Nhiêu Tôn và Lê Tứ Hải, thì không còn ai rõ tên họ “thây người bên sông” nữa. Thế thì “Thây người bên sông” đến đây là hạ màn.
Đăng nhập để trả lời
0