<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2017 21:54:43 bởi Ct.Ly>
Hoài niệm Sophie
Hinh 01
Vương quốc Annam do giáo sĩ Alexandre de Rhodes họa (1653)
Khuyến khích tự do sao lại, nhứt là ở Việt Nam.
Hinh 1
Việt Nam
1920-1945
Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân
Chuông Rè / L’insomniaque
LỜI PHÀM BIỆT
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
Bắc Kỳ, kinh đô Hà Nội
Trung Kỳ, kinh đô Huế và Nam Kỳ, kinh đô Sài Gòn
(Nay là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: ở Bắc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ở Bắc có dân Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có dân Chàm, cùng các dân /tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sođăng, Mnông, Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khome, tục gọi người Caomên. Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam và người Minh Hương (Tàu lai).
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông thường kể từ 1945.
Những chữ viết tắt
ĐCSĐD - Đảng Công Sản Đông Dương
ĐVNĐL - Đảng Việt Nam Độc Lập
VNQDĐ -Việt Nam Quốc Dân Đảng
sđd - sách đã dân
ntr - như trên
vt - và tiếp theo
Hinh2
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ THAY LỜI TỰA
Kể từ thế kỷ 16, bọn lái buôn và truyền giáo sĩ người xứ Pottugalơ ( Portugal= Bồ Đào Nha) và spa-nhơ (Espagne =Tây Ban Nha), đã từng lui tới các ven biển Đông Dương. Sau đó thì có những người Hòa Lan, Ănglê. Các giáo sĩ giêzuýt (Thiên Chúa Giáo) tới Nam Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, giáo sĩ Alecxănđrơ đơ Rôđơ (Alexandre de Rhodes) chỉ dẫn cùng họ tạo ra chữ quốc ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế chữ nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở thành Rôma (Rome) có xuất bản quyển Giáo Lý bằng tiếng latin và quốc ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng việc phát minh chữ quốc ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá văn hóa Việt vào thế kỷ 20.
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc xâm chiếm thuộc địa.
Chúa Trịnh, chúa Nguyễn
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần vua Lê và thường cùng nhau chinh chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ở Thăng Long, chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ở Huế.
Phía Nam lãnh thổ Việt, quốc vương Chàm chạy dài tới Phan Thiết (Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khơme.
Từ đầu thế kỷ thứ 17, chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ quốc vương Chàm vào lối cuối thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ Chàm ghi nhớ việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: « Con của người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...»
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc lại tác chiến xâm chiếm đất Khơme bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Pơrây Nôkoo năm 1675 (1)
Năm 1673, chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với chúa Trịnh, thừa nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa (2).
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, chúa Nguyễn được trợ giúp: một đạo binh người Tàu 3000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền đô hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ vua Khơme đã phục tùng chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho, sau cùng ở Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cướp giật. Họ là thủy tổ Hoa kiều ở Nam Kỳ.
Một số người Tàu di dân khác ở Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khơme, sau đó họ khuếch trương lĩnh vực của họ từ đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ nhà Nguyễn vào năm 1714, Việt Hoa ăn chung ở lộn sinh ra những người lai, tục gọi Minh Hương.
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín « phản Thanh phục Minh » cảm hóa người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội - thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các tỉnh Gia Định và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hồ (Vĩnh Long) rồi đến Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật nhà Nguyễn rồi người An Nam tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ mới.
Giặc Tây Sơn lật đổ chúa Nguyễn, chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào chúa Nguyễn Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở ấp Tây Sơn (ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn Nhạc làm biện lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ, nhờ « đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo » (3) mà họ chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm thành Qui Nhơn năm 1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát chúa Nguyễn đang cư trú ở đó. Chỉ một mình hoàng tử Nguyễn Anh, 16 tuổi được thoát thân. Rồi đây Nguyễn Anh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngôi chúa.
Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, giám mục Bá Đa Lộc (tên thật là Pigneau de Behaine), người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn Anh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám mục làm thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Anh.
Nguyễn Anh trao trọn quyền thay mặt mình cho giám mục Bá Đa Lộc khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu vua Louis XVI trợ giúp về mặt binh bị. Giám mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
Giám mục tâu với vua Lu-i XVI (Louis XVI):
- Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi (cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường. Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nôi thương và ngoại thương là: vàng, hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, nhựa gôm guýt, vét-ni, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến trúc, v.v. Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam kỳ sẽ là phương hướng chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Ănglê trong toàn các thuộc địa phủ Ấn Độ.
Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới (4).
« Vua Nam Kỳ » và vua xứ Pháp liền ký tờ hiệp ước tương trợ ngày 28 tháng 11 năm 1787 ở thành Vetsâydo (Versailles): Pháp giúp binh thì vua Nam Kỳ phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), đảo Pulô Côngđo (Côn Nôn) Pháp làm chủ, thần dân của « đức vua tận tâm theo Thiên Chúa Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của đức Vua Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu.» (5)
Thế thì giám mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng đại vào thời Đệ nhị Đế quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ tam Cộng Hòa (1870...) Pháp.
Giám mục lìa xứ Pháp vào tháng chạp 17 năm 1787, chỉ được nhà vua hứa giúp thôi. Ông không nhận được trợ giúp chính thức chút nào, nhưng ông được những người Pháp buôn bán giầu có ở Ilơ đơ Fơransơ (Île de France) (bây giờ là đảo Rêuyniôn) (Île de la Réunion), ở Ilo đo Buôcbon (île de Boubon)(bây giờ là đảo Môrixo)(Île Maurice) và ở các cơ nghiệp Pháp ở Ponđixêry (Pondicherry). Ngày 24 tháng 7 năm 1789, giám mục cập bến ở Vũng Tàu, cùng với bọn đánh giặc mướn, tốp lính đào ngũ hoặc bị đuổi khỏi các chiến thuyền của nhà vua và «vọng tưởng phiêu lưu phù phiếm ». Theo sau đó, nhiều chiếc tầu Pháp khác chở khí giới và đạn dược cùng cập bến.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đã thu phục Sài Gòn, vua Tây Sơn Nguyễn Văn Lữ đã từ trần năm 1787 rồi đạo binh của ông bị bại trận và rút lui. Cần phải chinh phục Trung Kỳ, nơi Nguyễn Văn Nhạc trị vì, và xứ Bắc Kỳ do Nguyễn Văn Huệ trấn thủ.
Quân của Nguyễn Ánh, vũ trang theo lối Âu châu, luyện tập với những người lính thủy Pháp đã từng trải, còn đoàn chiến thuyền của ông có chiến hạm do người Pháp chỉ huy hỗ trợ, nhờ đó mà Nguyễn Ánh thắng nổi Tây Sơn.
Nguyễn Văn Huệ bị bệnh mất năm 1792, Nguyễn Văn Nhạc qua đời năm sau đó, toàn quân trấn giữ Qui Nhơn kinh đô của Nhạc, cầm cự đến tháng 7 năm 1799 mới hàng. Cũng trong năm đó, vào tháng 10, vị giám mục háo chiến Bá Đa Lộc bị kiết lỵ mà từ giã cõi đời. Vương thành Huế chỉ thất thủ năm 1801.
Thế thì phải 13 năm ròng rã mà họ Nguyễn vũ trang đầy đủ mới thắng nổi một cuộc nông dân chiến tranh.
Nhà Nguyễn tức vị
Nguyễn Ánh thắng trận nhập thành Huế ngày 12 tháng 6 năm 1801, liền đó ra lệnh quật mồ Bắc Bình Vương Nguyễn Văn Huệ, đem thây chặt đầu và lên án lăng trì người con gái cùng 31 thân nhân gia tộc vua Tây Sơn.(6)
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ
Ngày 20 tháng 7 năm 1802, Nguyễn Anh chiếm lĩnh thổ chúa Trịnh. Bấy giờ ông 40 tuổi. Năm 1806, ông xưng hoàng đế nước Việt Nam, lấy niên hiệu Gia Long sau khi thọ ấn tước của hoàng đế Trung Quốc ban cho.
Gia Long quan niệm Quốc gia của ông - tương tự như Trung Quốc - ở miền Nam khắc phục dưới quyền chủ tể của mình, các quốc vương Khome, Lào, Xiêm, các bộ lạc Mọi... Ông công bố hình luật - luật Gia Long - luật cổ hủ chép theo sách Tàu, lập Văn Miếu chế định phụng thờ Khổng Tử, mở trường học như ngày xưa để đào tạo quan chức. Nhiều trước tác bằng chữ nôm xuất hiện năm 1811, trong đó có truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1765-1820).
Mọi sự việc ấy thực hiện giữa đám nhân dân khốn khổ vì sưu quá cao, thuế quá nặng đến đỗi vô số dân làng bỏ hoang ruộng đất của họ vì không đóng nổi thuế, không chịu nổi sưu dịch. Người ta tu bổ thành trì hoặc xây dựng thành lũy mới:
Ở đây người ta tạo lại những bước tường thành vua. Lính xây tường, dân chúng lấp vũng ao: nhiều người bị chết vì quá mệt đuối; người ta phải làm ban ngày cho tới một phần ban đêm; còn một phần đêm lại phải canh gác; người ta vừa có chút thì giờ để ăn uống. Những sự bất công và hà lạm [thời Gia Long] còn quá hơn thời Tây Sơn.
Đấy là bức tranh miêu tả trong Chỉ giáo thơ mới (Nouvelles lettres édifiantes VIII)[7] .
Thời Gia Long (1802-1819), người ta đếm tới 73 cuộc nông dân nổi loạn, 234 thời Minh Mạng (1820-1841) và 103 thời Tự Đức (1847-1883), trong đó kể cả những cuộc nổi loạn của các chủng tộc thiểu số. Những người cầm đầu là tù trưởng nông dân, sĩ phu, hoàng tộc nhà Lê, quan lại, hương mục.
Sắc lệnh cấm đạo Thiên Chúa
Kế vị vua Gia Long, vua Minh Mạng không theo lối cha mà dung túng việc truyền đạo Thiên Chúa, đạo này xoi bói nền tảng trật tự xã hội truyền thống theo Khổng giáo, tức là cơ bản uy quyền nhà vua. Năm 1825, ông ra sắc lệnh lần đầu cáo giác « tà đạo của người Âu Châu làm bại hoại lòng người và thuần phong mỹ tục ». Năm 1833, ông truyền lệnh cho các quan đồ buộc tín đồ Thiên Chúa giáo phải dậm đạp cây thánh giá trước mặt mình, rồi tha họ lần đó. Các quan phải quan sát kỹ nhà thờ và nhà ở của cố đạo phải hoàn toàn tiêu diệt [8].
Hinh 01
Vương quốc Annam do giáo sĩ Alexandre de Rhodes họa (1653)
Khuyến khích tự do sao lại, nhứt là ở Việt Nam.
Hinh 1
Việt Nam
1920-1945
Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân
Chuông Rè / L’insomniaque
LỜI PHÀM BIỆT
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
Bắc Kỳ, kinh đô Hà Nội
Trung Kỳ, kinh đô Huế và Nam Kỳ, kinh đô Sài Gòn
(Nay là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: ở Bắc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ở Bắc có dân Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có dân Chàm, cùng các dân /tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sođăng, Mnông, Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khome, tục gọi người Caomên. Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam và người Minh Hương (Tàu lai).
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông thường kể từ 1945.
Những chữ viết tắt
ĐCSĐD - Đảng Công Sản Đông Dương
ĐVNĐL - Đảng Việt Nam Độc Lập
VNQDĐ -Việt Nam Quốc Dân Đảng
sđd - sách đã dân
ntr - như trên
vt - và tiếp theo
Hinh2
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ THAY LỜI TỰA
Kể từ thế kỷ 16, bọn lái buôn và truyền giáo sĩ người xứ Pottugalơ ( Portugal= Bồ Đào Nha) và spa-nhơ (Espagne =Tây Ban Nha), đã từng lui tới các ven biển Đông Dương. Sau đó thì có những người Hòa Lan, Ănglê. Các giáo sĩ giêzuýt (Thiên Chúa Giáo) tới Nam Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, giáo sĩ Alecxănđrơ đơ Rôđơ (Alexandre de Rhodes) chỉ dẫn cùng họ tạo ra chữ quốc ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế chữ nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở thành Rôma (Rome) có xuất bản quyển Giáo Lý bằng tiếng latin và quốc ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng việc phát minh chữ quốc ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá văn hóa Việt vào thế kỷ 20.
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc xâm chiếm thuộc địa.
Chúa Trịnh, chúa Nguyễn
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần vua Lê và thường cùng nhau chinh chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ở Thăng Long, chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ở Huế.
Phía Nam lãnh thổ Việt, quốc vương Chàm chạy dài tới Phan Thiết (Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khơme.
Từ đầu thế kỷ thứ 17, chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ quốc vương Chàm vào lối cuối thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ Chàm ghi nhớ việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: « Con của người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...»
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc lại tác chiến xâm chiếm đất Khơme bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Pơrây Nôkoo năm 1675 (1)
Năm 1673, chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với chúa Trịnh, thừa nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa (2).
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, chúa Nguyễn được trợ giúp: một đạo binh người Tàu 3000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền đô hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ vua Khơme đã phục tùng chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho, sau cùng ở Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cướp giật. Họ là thủy tổ Hoa kiều ở Nam Kỳ.
Một số người Tàu di dân khác ở Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khơme, sau đó họ khuếch trương lĩnh vực của họ từ đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ nhà Nguyễn vào năm 1714, Việt Hoa ăn chung ở lộn sinh ra những người lai, tục gọi Minh Hương.
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín « phản Thanh phục Minh » cảm hóa người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội - thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các tỉnh Gia Định và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hồ (Vĩnh Long) rồi đến Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật nhà Nguyễn rồi người An Nam tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ mới.
Giặc Tây Sơn lật đổ chúa Nguyễn, chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào chúa Nguyễn Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở ấp Tây Sơn (ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn Nhạc làm biện lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ, nhờ « đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo » (3) mà họ chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm thành Qui Nhơn năm 1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát chúa Nguyễn đang cư trú ở đó. Chỉ một mình hoàng tử Nguyễn Anh, 16 tuổi được thoát thân. Rồi đây Nguyễn Anh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngôi chúa.
Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, giám mục Bá Đa Lộc (tên thật là Pigneau de Behaine), người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn Anh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám mục làm thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Anh.
Nguyễn Anh trao trọn quyền thay mặt mình cho giám mục Bá Đa Lộc khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu vua Louis XVI trợ giúp về mặt binh bị. Giám mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
Giám mục tâu với vua Lu-i XVI (Louis XVI):
- Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi (cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường. Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nôi thương và ngoại thương là: vàng, hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, nhựa gôm guýt, vét-ni, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến trúc, v.v. Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam kỳ sẽ là phương hướng chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Ănglê trong toàn các thuộc địa phủ Ấn Độ.
Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới (4).
« Vua Nam Kỳ » và vua xứ Pháp liền ký tờ hiệp ước tương trợ ngày 28 tháng 11 năm 1787 ở thành Vetsâydo (Versailles): Pháp giúp binh thì vua Nam Kỳ phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), đảo Pulô Côngđo (Côn Nôn) Pháp làm chủ, thần dân của « đức vua tận tâm theo Thiên Chúa Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của đức Vua Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu.» (5)
Thế thì giám mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng đại vào thời Đệ nhị Đế quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ tam Cộng Hòa (1870...) Pháp.
Giám mục lìa xứ Pháp vào tháng chạp 17 năm 1787, chỉ được nhà vua hứa giúp thôi. Ông không nhận được trợ giúp chính thức chút nào, nhưng ông được những người Pháp buôn bán giầu có ở Ilơ đơ Fơransơ (Île de France) (bây giờ là đảo Rêuyniôn) (Île de la Réunion), ở Ilo đo Buôcbon (île de Boubon)(bây giờ là đảo Môrixo)(Île Maurice) và ở các cơ nghiệp Pháp ở Ponđixêry (Pondicherry). Ngày 24 tháng 7 năm 1789, giám mục cập bến ở Vũng Tàu, cùng với bọn đánh giặc mướn, tốp lính đào ngũ hoặc bị đuổi khỏi các chiến thuyền của nhà vua và «vọng tưởng phiêu lưu phù phiếm ». Theo sau đó, nhiều chiếc tầu Pháp khác chở khí giới và đạn dược cùng cập bến.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đã thu phục Sài Gòn, vua Tây Sơn Nguyễn Văn Lữ đã từ trần năm 1787 rồi đạo binh của ông bị bại trận và rút lui. Cần phải chinh phục Trung Kỳ, nơi Nguyễn Văn Nhạc trị vì, và xứ Bắc Kỳ do Nguyễn Văn Huệ trấn thủ.
Quân của Nguyễn Ánh, vũ trang theo lối Âu châu, luyện tập với những người lính thủy Pháp đã từng trải, còn đoàn chiến thuyền của ông có chiến hạm do người Pháp chỉ huy hỗ trợ, nhờ đó mà Nguyễn Ánh thắng nổi Tây Sơn.
Nguyễn Văn Huệ bị bệnh mất năm 1792, Nguyễn Văn Nhạc qua đời năm sau đó, toàn quân trấn giữ Qui Nhơn kinh đô của Nhạc, cầm cự đến tháng 7 năm 1799 mới hàng. Cũng trong năm đó, vào tháng 10, vị giám mục háo chiến Bá Đa Lộc bị kiết lỵ mà từ giã cõi đời. Vương thành Huế chỉ thất thủ năm 1801.
Thế thì phải 13 năm ròng rã mà họ Nguyễn vũ trang đầy đủ mới thắng nổi một cuộc nông dân chiến tranh.
Nhà Nguyễn tức vị
Nguyễn Ánh thắng trận nhập thành Huế ngày 12 tháng 6 năm 1801, liền đó ra lệnh quật mồ Bắc Bình Vương Nguyễn Văn Huệ, đem thây chặt đầu và lên án lăng trì người con gái cùng 31 thân nhân gia tộc vua Tây Sơn.(6)
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ
Ngày 20 tháng 7 năm 1802, Nguyễn Anh chiếm lĩnh thổ chúa Trịnh. Bấy giờ ông 40 tuổi. Năm 1806, ông xưng hoàng đế nước Việt Nam, lấy niên hiệu Gia Long sau khi thọ ấn tước của hoàng đế Trung Quốc ban cho.
Gia Long quan niệm Quốc gia của ông - tương tự như Trung Quốc - ở miền Nam khắc phục dưới quyền chủ tể của mình, các quốc vương Khome, Lào, Xiêm, các bộ lạc Mọi... Ông công bố hình luật - luật Gia Long - luật cổ hủ chép theo sách Tàu, lập Văn Miếu chế định phụng thờ Khổng Tử, mở trường học như ngày xưa để đào tạo quan chức. Nhiều trước tác bằng chữ nôm xuất hiện năm 1811, trong đó có truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1765-1820).
Mọi sự việc ấy thực hiện giữa đám nhân dân khốn khổ vì sưu quá cao, thuế quá nặng đến đỗi vô số dân làng bỏ hoang ruộng đất của họ vì không đóng nổi thuế, không chịu nổi sưu dịch. Người ta tu bổ thành trì hoặc xây dựng thành lũy mới:
Ở đây người ta tạo lại những bước tường thành vua. Lính xây tường, dân chúng lấp vũng ao: nhiều người bị chết vì quá mệt đuối; người ta phải làm ban ngày cho tới một phần ban đêm; còn một phần đêm lại phải canh gác; người ta vừa có chút thì giờ để ăn uống. Những sự bất công và hà lạm [thời Gia Long] còn quá hơn thời Tây Sơn.
Đấy là bức tranh miêu tả trong Chỉ giáo thơ mới (Nouvelles lettres édifiantes VIII)[7] .
Thời Gia Long (1802-1819), người ta đếm tới 73 cuộc nông dân nổi loạn, 234 thời Minh Mạng (1820-1841) và 103 thời Tự Đức (1847-1883), trong đó kể cả những cuộc nổi loạn của các chủng tộc thiểu số. Những người cầm đầu là tù trưởng nông dân, sĩ phu, hoàng tộc nhà Lê, quan lại, hương mục.
Sắc lệnh cấm đạo Thiên Chúa
Kế vị vua Gia Long, vua Minh Mạng không theo lối cha mà dung túng việc truyền đạo Thiên Chúa, đạo này xoi bói nền tảng trật tự xã hội truyền thống theo Khổng giáo, tức là cơ bản uy quyền nhà vua. Năm 1825, ông ra sắc lệnh lần đầu cáo giác « tà đạo của người Âu Châu làm bại hoại lòng người và thuần phong mỹ tục ». Năm 1833, ông truyền lệnh cho các quan đồ buộc tín đồ Thiên Chúa giáo phải dậm đạp cây thánh giá trước mặt mình, rồi tha họ lần đó. Các quan phải quan sát kỹ nhà thờ và nhà ở của cố đạo phải hoàn toàn tiêu diệt [8].
Chử ký của Nguyễn Văn Nhạc, anh cả trong ba anh em Tây Sơn. Nguyên niên Thái Đức năm thứ 12, ngày 25 tháng ba âm lịch (1789).
Từ năm 1835 đến 1838, 9 truyền giáo sĩ (Pháp vàTây Ban Nha) bị giết; cố đạo và tín đồ An Nam cũng đồng tan xương nát thịt.
Bên Tàu cấm giao dịch thuốc phiện từ năm 1729, bấy giờ chính phủ Bắc Kinh lại cấm một lần nữa, nhưng bọn Ănglê không đếm xỉa đến vì họ thu lợi lớn trong việc bán buôn thuốc phiện. Họ thắng người Tàu trong trận giặc Nha phiến, năm 1842, họ cưỡng bách người Tàu phải nhượng hải cảng Hồng Kông và mở 5 hải cảng khác cho họ khuếch trương thương mại vô luân đó.
Vua Thiệu Trị nối ngôi Minh Mạng, ông rất kinh khủng trước tình thế đó, sợ người Âu Tây cùng tôn giáo của họ tăng cường. Tháng 2 năm 1843, vì ông bị hăm dọa nên ông thả năm truyền giáo sĩ ra khỏi ngục rồi giao lại cho một chiến hạm Pháp. Sau khi đội chiến thuyền của ông bị thủy quân Pháp đánh tan ngày 15 tháng 4 năm 1847, ông bắt đầu sát phạt trở lại (ba sắc lệnh cấm đạo).
Vua Tự Đức lên nối ngôi Minh Mạng, trong một sắc lệnh công bố năm 1848, nhận định rằng:
Đạo Gia Tô là tà đạo vì trong đạo đó người ta không thờ cúng mẹ cha đã quá vãng, người ta móc con mắt những người hấp hối để làm nước thánh dùng mê hoặc lòng dân. Vì lẽ đó những người Âu Tây đầu thầy là những kẻ phạm tội trọng hơn hết, phải buộc một hòn đá nơi cổ họ rồi xô họ xuống biển. Các cố đạo An Nam thì khảo tra họ coi họ có muốn chữa lầm lỗi của họ hay không. Nếu họ chối từ thì phải xâm dấu trên mặt họ, rồi đày họ đi những chỗ rừng sâu nước độc. Còn đối với thường dân thì không nên giết chết để trừng phạt họ nữa, mà chỉ đày lưu hoặc bỏ tù thôi. Các quan chỉ nên sửa trị họ một cách nghiêm khắc thôi [9].
Bốn truyền giáo sĩ Pháp và một giám mục Tây Ban Nha bị chặt đầu năm 1852. Tín đồ Thiên Chúa giáo không hối hận như không bị vong mạng trong tù, thì bị đầy lưu nơi độc hiểm, má trái xâm hai chữ « Tà đạo », má mặt tên chỗ lưu đầy.
Tự Đức trị vì vừa được mười năm. Đến cuối thời kỳ tại vị dài lâu ông đã bị thất bại và thất bại về mặt quân sự cũng như về mặt chính trị và luân lý, ông thường chống lại sự « mê hoặc quái gở » của những kẻ theo một « đạo giáo vô lý dẫy đầy hoang mang». Ông thường dò hỏi ý kiến các quan về việc Thiên Chúa giáo bành trướng, có khi ông khiển trách họ hờ hững trước tình thế ấy, khi thì nghe theo các quan đàn áp gắt gao, có lúc cũng cùng các quan lấy thái độ khoan hồng đối với Thiên Chúa giáo. Năm 1869, ông ban bố các sắc lệnh khoan dung việc truyền giáo.
Việc xâm chiếm thuộc địa vào thời Napoléon III
Tháng giêng năm 1857, truyền giáo sĩ phái Lazarit tên Huc kiến nghị cùng hoàng đế Napoléon III « thành lập cơ sở vững vàng cho ảnh hưởng Pháp ở Đông Dương ». Ông viết cho hoàng đế:
Chiếm Nam Kỳ, - tức là một lãnh thổ mà Pháp có quyền chiếm không thể đối lại được (nguyên văn) - thật là dễ vô cùng. Dân chúng (theo đạo Thiên Chúa) than vãn dưới chế đô áp chế ác ố. Dân chúng sẽ tiếp rước chúng ta như người giải thoát họ, như người ban phúc cho họ [10].
Napoléon quyết định đưa quân đi cứu Thiên Chúa giáo. Về sau đại úy Gôsơlen (Gosselin) viết « ủng hộ truyền giáo sĩ chỉ là một cớ mà chúng ta dựa vào đó để đánh xứ An Nam ».
Trong thời gian hai mươi năm, giai cấp tư sản Pháp thiết lập chủ quyền trên xứ Việt. Chúng dựa vào chính sách ngoại giao bằng súng đồng và một loạt hiệp ước ăn cướp, cưỡng bách vua chúa Việt. Giai cấp sĩ phu và quan lại rường cột chế độ vua chúa, thấy mình bị hâm dọa rụi tàn theo chế độ, thế nên họ kháng chiến một cách vô hy vọng chống lại bọn xâm lăng.
Trong báo Diễn đàn Nhật báo New York Daily Tribune ngày 8 tháng 8 năm 1853, Kac Mac viết về việc Ănglê áp bức Ấn Độ: «Văn minh giai cấp tư sản bày chán chường tính chất giả dối sâu sắc và nguyên bản dã man trước mắt ta không che đậy, ngay từ chỗ phát sinh văn minh ấy còn mang những hình thức có thể tôn kính, cho đến các xứ thuộc địa, nơi mà văn minh ấy chường mặt giả dối và dã man không giấu giếm.»
Chiếm Sài Gòn năm 1859
Ngày 11 tháng 2 năm 1859, đoàn tầu của đội quân viễn chinh vượt lên sông Sài Gòn, có giám mục Lơfevơrơ (Lefevre) và tên Thế, người An Nam tín đồ Thiên Chúa giáo dẫn đường. Ngày 18 tháng 2, quân đội Pháp và Tây Ban Nha hãm thành Sài Gòn, lực lượng trợ giúp họ gồm « một toán lính tập tín đồ Thiên Chúa giáo, độ sáu mươi người thường dân An Nam, cũng đồng một đạo, họ lái tàu chở người và thuốc đạn, trợ giúp khiêng người [bị thương và xác chết] và kéo những súng đồng và trái phá »[11]
Thơ Nam Kỳ kể lại:
Thỏa thanh nông phố thời bình,
Kỷ vì xảy thấy thình lình Tây qua;
Tai nghe tiếng súng vang xa,
Nhơn dân xao xác đặng ba đêm ngày.
Tháng giêng mùng chín mới hay,
Cần giờ Tây lại bắn ngay pháo đài.
Nào hay tàu khói máy tài:
Chạy vào Tắc nghĩa chẳng nài ngược ngang.
Mùng mười quân chạy lang thang,
Thất đồn Ông Nghĩa tàu sang Tam Kỳ
Gieo neo phát pháo tức thì,
Xa Tam Kỳ bảo còn gì đỡ ngăn ?[12]
Mùng 1 tháng 11 năm 1859, hải quân thượng tướng Rigô đơ Giơnuôidy (Rigault de Genouilly) trao quyền lại cho hải quân trung tướng Pagiơ (Pagie). Ông này tả cảnh SàiGòn mà ông kế nghiệp trong một bức thư đề ngày 8 tháng 11:
Ở SàiGòn, chỉ thấy những đống tro tàn, ta chỉ biết phá hủy và đốt nhà; dọc theo bờ sông, hàng trăm chiếc thuyền chở gạo và những món cần yếu khác đều bị thiêu hủy; dân chúng giận dữ đối với ta, họ la lên rằng chúng ta còn dã man hơn các quan [An Nam], binh lính ta thì bị bệnh hoạn mà kiệt sức và chán ghét.[13]
Thật cảnh đã cảm xúc một thi sĩ lúc bấy giờ:
Bến Nghé của tiền tan nước bọt,
Đồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây...
Tứ phía bủa giăng giây thép kéo,
Chân trời mù mịt khói tàu bay...
Tới Sài gòn ngày 2 tháng chạp, tướng Pagie thi hành các phương pháp kinh tế: mở thương cảng cho tàu buôn để thâu vào quỹ người Pháp « hàng trăm ngàn fơrăn (francs), trọn năm 1860, có 110 chiếc tàu Âu châu và 140 thuyền người Tàu ghé cảng và số xuất cảng thương phẩm độ 100.000 tấn. »
Tháng 2 năm 1861, quân tiếp viện khá đông đảo tấn công các vị trí An Nam ở Chí Hòa, mặt trận do đô thống Nguyễn Tri Phương chỉ huy. Vị trí bị thất thủ, đô thống bị thương rút về Biên Hòa cùng những người sống sót, binh Pháp tiến tới Thủ Dầu Một và Tây Ninh.
Cũng trong Thơ Nam Kỳ việc Chí Hòa thất thủ:
Dậu niên mười bốn [tháng giêng] tớ thầy gian nan,
Tảo nhìn súng nổ vang vang,
Liên thinh đại pháo dâm đàng đạn rơi
Quan quân kinh hãi chơi vơi,
Bình minh Chí mộ chi nguôi sở lòng.
Cả đêm Tây đóng giữa đồng,
Mười lăm thái tảo nước chông leo đồn
Phía sau Bà Quẹo hậu môn
Xạ liên trái khói ám hôn tối trời.
Chập tàn rạng thấy bóng người,
Hâu đồn trắng dã sáng ngời nón tây.
Các đồn vỡ chạy bức mây,
Tài hay tướng mạnh khó vầy cầm binh.
Nguyễn quang Táng lý xuất chinh,
Hậu đồn mạng một thông tình dân thương.
Nguyễn Tri [Phương] đại sứ nang đương,
Tay lâm thương đạn quân tương phục dài.
Hết người trí cả anh tài,
Vạn binh thiên tướng chạy dài hồi quê.
Tự Đức hiệu triệu nổi dậy chống Pháp
Mùng 1 tháng 3 năm 1861, vua Tự Đức khuyến khích dân nổi lên, ra giá thưởng mỗi đầu người Pháp hoặc người An Nam giúp việc cho Pháp.
Tuy thế, quân đội Pháp vẫn tiến tới luôn ở Nam Kỳ: miền Đông, Biên Hòa thất thủ ngày 17 tháng chạp năm 1861, Bà Rịa ngày 7 tháng giêng năm 1862 còn miền Tây, thành Vĩnh Long ngày 23 tháng 3, thành Mỹ Tho ngày 12 tháng 4, trong lúc cuộc khởi nghĩa lần lần bùng cháy khắp Nam Kỳ. Quản cơ Trương Công Định, thủ lĩnh cuộc kháng chiến quân sự dán yết thị ngay tại chợ Mỹ Tho tuyên cáo kêu gọi dân chúng vũ trang và ra giá đầu bọn « Tây Âu dã man » nhưng vô ích. Khắp nơi quân lực Pháp – Tây Ban Nha đều thắng trận.
Hiệp ước ngày 5 tháng 6 năm 1862
Hiệp ước này thừa nhận chủ quyền của Pháp trên ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho) và luôn cả cù lao Pulô Côngđo; triều đình An Nam phải trả 20 triệu fơrăn (francs = đồng quan) tiền bồi thường trong thời hạn 10 năm. Triều đình phải chuẩn y hiệp ước này trong thời hạn một năm, nhưng họ không làm chi cả.
Hải quân thượng tướng Bôna(Bonard) tuyên bố ngày 30 tháng 7: Từ nay ba tỉnh là tài sản tuyệt đối của Đức Hoàng đế Pháp. Từ nay dân cư đều là con cái và là dân của đại Hoàng đế ấy [14].
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ
Qua tháng chạp, dân cư nổi loạn ở Biên Hòa tuyên bố với người Pháp:
Xứ các ông ở về biển Tây, xứ chúng tôi thuộc biển Đông. Cũng như trâu với ngựa khác nhau, chúng ta khác nhau về tiếng nói, chữ viết và cách ăn ở. Các ông có tàu chiến và súng canông, không ai chống nổi các ông. Nhưng ơn vua nghĩa chúa ràng buộc chúng tôi theo chân vua chúng tôi. Nếu các ông cố định đến đây để giết người cướp của đốt nhà thì trong xứ sẽ rối loạn vĩnh viễn. Chúng tôi hành động theo lẽ Trời, Trời sẽ giúp chúng tôi và rốt cuộc sự nghiệp của chúng tôi sẽ thành công. Thế thì chúng tôi nguyện thề đánh trả các ông đời đời và không ngưng [15].
Năm 1864, độ 5000 sĩ phu họp tại Huế vào lúc thi hội, khi họ được tin về hiệp ước 1862, họ khẩn cầu Hoàng đế trừ diệt tín đồ Thiên Chúa giáo nào đồng lõa cùng quân xâm lăng, bằng không thì họ tẩy chay cuộc thi hội. Sĩ phu Nam Định cũng phản đối như thế. Giới trí thức giao động, triệu chứng rằng keo sơn Khổng giáo gắn bó vua « dân » hiện đang tan rã, văn thân sắp nổi loạn có ý nghĩa cụ thể hiện tượng tan rã ấy.
Đồng Tháp Mười, Tổng hành dinh quân khởi nghĩa
Trong quyển Cuộc chinh phục Đông Dương, A Thômazi (Thomazi) viết:
Người cầm đầu quân phiến loạn, Trương Công Định bị giết ngày 20 tháng 8, năm 1864. Quân phiến loạn đóng ở miền Tây Bắc Mỹ Tho, quần tụ rất đông trong Đồng Tháp Mười, nơi đó họ xây lũy giữa đất lầy hẻo lánh, có tiếng là khó đi đến được. Họ tung ra những tờ tuyên cáo. Những ngày đầu tháng 4 năm 1865, 100 lính Pháp và 200 lính An Nam thúc giục đến trung tâm Tháp Mười nơi đồn trú Tổng hành dinh loạn quân. Lũy Đồn Tả [bị xung phong triệt hạ ngày 15 tháng 4], chứa 40 súng đồng và 350 người phòng thủ, trong đó có một người Pháp trốn lính và ăn ở theo lối người bản xứ [16].
Trung tâm Đồng Tháp Mười bị phá hủy nhưng bạo động vũ trang vẫn tiếp tục.
Nhiều người có tuổi hiện nay vẫn nhớ tên những tín đồ Thiên Chúa giáo An Nam trợ lực quân xâm chiếm, nổi danh vì họ nhiệt tâm đàn áp: Trần Bá Lộc, chủ tể Đồng Tháp Mười, y đã tham gia cuộc đánh chiếm miền Tây Nam Kỳ (Trong Đồng Tháp Mười có ngọn kinh mang tên Tổng đốc Lộc); đốc phủ Trần Tử Ca, khát máu nổi tiếng ở Hóc Môn, rốt cuộc bị quân khởi nghĩa chặt đầu hồi tháng 2 năm 1885. Còn Huỳnh Công Tấn phản phúc ám sát Trương Công Định được quân Pháp phong chức lãnh binh. Mình cũng không thể quên được tên của một kẻ khác trợ lực quân đội Pháp, tên Đỗ Hữu Phương cũng là một tên khát máu (một con đường ở Chợ Lớn còn mang danh Tổng đốc Phương).
1867, ba tỉnh miền Tây bị chiếm
Ngày 25 tháng 6, phó đại tướng hải quân Đơ Lagơrănđierơ tuyên bố:
Ta đã chiếm ba tỉnh thành Vĩnh Long (ngày 21), Châu Đốc (ngày 22) và Hà Tiên (ngày 24), nước Pháp thống trị ba tỉnh phía Tây xứ Nam Kỳ miền dưới, thay thế cho vương triều An Nam.[17]
Ông Phan Thanh Giản, kinh lược toàn quyền ba tỉnh, muốn tránh đổ máu vô ích, ông tế Trời rồi tự tử ngày 1 tháng 8 năm 1867. Các con ông nổi dậy phía Nam thành Vĩnh Long.
Trong hịch truyền ngày 9 tháng 10, vua Tự Đức thở than:
Từ trước đến giờ không lúc nào xảy ra những bất hạnh như thời kỳ chúng ta, không bao giờ có nhiều thảm họa như năm nay. Toàn một tỉnh vì nắng hạn mà trở nên cùng khổ, xứ Bắc Kỳ bị bão tố vào mùa hè, còn ba tỉnh Nam Kỳ thì bị mất. Trên đầu trẫm sợ mạng Trời, ngó xuống dưới ngày đêm xót thương dân chúng: tấm lòng trẫm vừa run vừa sợ vừa hổ thẹn. Trẫm luôn luôn nhận lấy những điều gây nên oán hận để cho dân khỏi chịu trách nhiêm. Trẫm chưa đền tội thì những tai họa mới xuất hiện. Năm nay trẫm tuổi chưa đến 40 mà tóc râu đã bạc, gần như một lão già, trẫm sợ vì nỗi buồn lo thầm kín, trẫm không còn có thể sớm hôm phụng thờ tiên tổ.18
Cũng trong năm ấy, quyển Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) ra đời, do một người Pháp dịch chữ nôm ra chữ quốc ngữ. Trong đó tác giả tán dương truyền thống Khổng giáo, bài bác văn hóa Âu Tây. Thời buổi chúng tôi quyển thơ này rất phổ thông ở Nam Kỳ. Trong một quyển khác tựa là Dương Từ Hà Mậu, ông chỉ trích đạo Phật và đạo Hòa Lan (Thiên Chúa Giáo) cũng đồng như ông lên án những điều « dị đoan tà mị »:
Cớ sao mình ở nước Trung,
Lòng theo nước ngoại còn mong đạo gì.
Ông bà mồ mả bỏ đi,
Gốc mình chẳng kính lại vì gốc ai?
Khói lửa bùng lên trong tam giác Cửu Long Giang: văn quan, võ quan cùng hương chức đều nổi dậy trong một cuộc chiến đấu bất đồng lực lượng chống quân xâm chiếm và lính bản xứ tiếp lực cho Pháp. Phía kháng chiến năm 1867 thì có Đinh Sâm ở tỉnh Cần Thơ; người Pháp sai Lộc và Tấn dẫn lính tập An Nam đến đánh phó đốc binh Lê Đình Đường, ông này cùng 17 người nghĩa quân vong mạng ở Trà Vinh; Lê Văn Quan, đề đốc Triều và đốc binh Sây từ Bình Thuận vào đây, ba ông đều bị bắt trong vùng Ba Động, làng này bị quân Pháp và lính An Nam đốt rụi, nơi đó 5 thủ lĩnh khởi nghĩa bị chặt đầu, dân chúng chạy tản lạc.
Rạch Giá cũng bị chiếm trong năm ấy, nhưng vào tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực đánh phá được đồn binh Pháp: 30 lính Pháp bị tàn sát trong đồn. Nguyễn Trung Trực bị lính của Trần Bá Lộc bắt ở đảo Phú Quốc rồi bị chém đầu.[19]


