Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VIỆT NAM 1920-194

16 trả lời, 132 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2017 21:54:43 bởi Ct.Ly>
Hoài niệm Sophie
 
Hinh 01
 
 
Vương quốc Annam do giáo sĩ Alexandre de Rhodes  họa (1653)
Khuyến khích tự do sao lại, nhứt là ở Việt Nam. 
 
Hinh 1
Việt Nam
1920-1945
Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân
Chuông Rè / L’insomniaque
 
 
 
 
 
LỜI PHÀM BIỆT
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
Bắc Kỳ, kinh đô Hà Nội
Trung Kỳ, kinh đô Huế và Nam Kỳ, kinh đô Sài Gòn
 (Nay là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
 
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: ở Bắc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ở Bắc có dân Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có dân Chàm, cùng các dân /tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sođăng, Mnông, Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khome, tục gọi người Caomên. Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam và người Minh Hương (Tàu lai).
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông thường kể từ 1945.
 
Những chữ viết tắt
 
ĐCSĐD - Đảng Công Sản Đông Dương
ĐVNĐL - Đảng Việt Nam Độc Lập
VNQDĐ -Việt Nam Quốc Dân Đảng
sđd - sách đã dân
 ntr - như trên
 vt - và tiếp theo
 
Hinh2
 
 
 
 
 
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ THAY LỜI TỰA
 Kể từ thế kỷ 16, bọn lái buôn và truyền giáo sĩ người xứ Pottugalơ ( Portugal= Bồ Đào Nha) và spa-nhơ (Espagne =Tây Ban Nha), đã từng lui tới các ven biển Đông Dương. Sau đó thì có những người Hòa Lan, Ănglê. Các giáo sĩ giêzuýt (Thiên Chúa Giáo) tới Nam Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, giáo sĩ Alecxănđrơ đơ Rôđơ (Alexandre de Rhodes) chỉ dẫn cùng họ tạo ra chữ quốc ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế chữ nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở thành Rôma (Rome) có xuất bản quyển Giáo Lý bằng tiếng latin và quốc ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng việc phát minh chữ quốc ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá văn hóa Việt vào thế kỷ 20.
 
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc xâm chiếm thuộc địa.
 
Chúa Trịnh, chúa Nguyễn 
 
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần vua Lê và thường cùng nhau chinh chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ở Thăng Long, chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ở Huế.
 
Phía Nam lãnh thổ Việt, quốc vương Chàm chạy dài tới Phan Thiết (Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khơme.
Từ đầu thế kỷ thứ 17, chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ quốc vương Chàm vào lối cuối thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ Chàm ghi nhớ việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: « Con của người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...»
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc lại tác chiến xâm chiếm đất Khơme bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Pơrây Nôkoo năm 1675 (1)
Năm 1673, chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với chúa Trịnh, thừa nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa (2).
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, chúa Nguyễn được trợ giúp: một đạo binh người Tàu 3000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền đô hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ vua Khơme đã phục tùng chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho, sau cùng ở Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cướp giật. Họ là thủy tổ Hoa kiều ở Nam Kỳ.
 
Một số người Tàu di dân khác ở Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khơme, sau đó họ khuếch trương lĩnh vực của họ từ đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ nhà Nguyễn vào năm 1714, Việt Hoa ăn chung ở lộn sinh ra những người lai, tục gọi Minh Hương.
 
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín « phản Thanh phục Minh » cảm hóa người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội - thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các tỉnh Gia Định và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hồ (Vĩnh Long) rồi đến Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật nhà Nguyễn rồi người An Nam tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ mới.
 
Giặc Tây Sơn lật đổ chúa Nguyễn, chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào chúa Nguyễn Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở ấp Tây Sơn (ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn Nhạc làm biện lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ, nhờ « đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo » (3)  mà họ chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm thành Qui Nhơn năm 1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
 
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát chúa Nguyễn đang cư trú ở đó. Chỉ một mình hoàng tử Nguyễn Anh, 16 tuổi được thoát thân. Rồi đây Nguyễn Anh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngôi chúa.
  Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
 
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, giám mục Bá Đa Lộc (tên thật là Pigneau de Behaine), người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn Anh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám mục làm thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Anh.
 
Nguyễn Anh trao trọn quyền thay mặt mình cho giám mục Bá Đa Lộc khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu vua Louis XVI trợ giúp về mặt binh bị. Giám mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
 
Giám mục tâu với vua Lu-i XVI (Louis XVI):
-       Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi (cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường. Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nôi thương và ngoại thương là: vàng, hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, nhựa gôm guýt, vét-ni, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến trúc, v.v. Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam kỳ sẽ là phương hướng chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Ănglê trong toàn các thuộc địa phủ Ấn Độ. 
 
Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới (4).
« Vua Nam Kỳ » và vua xứ Pháp liền ký tờ hiệp ước tương trợ ngày 28 tháng 11 năm 1787 ở thành Vetsâydo (Versailles): Pháp giúp binh thì vua Nam Kỳ phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), đảo Pulô Côngđo (Côn Nôn) Pháp làm chủ, thần dân của « đức vua tận tâm theo Thiên Chúa Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của đức Vua Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu.» (5)
Thế thì giám mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng đại vào thời Đệ nhị Đế quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ tam Cộng Hòa (1870...) Pháp.
 
Giám mục lìa xứ Pháp vào tháng chạp 17 năm 1787, chỉ được nhà vua hứa giúp thôi. Ông không nhận được trợ giúp chính thức chút nào, nhưng ông được những người Pháp buôn bán giầu có ở Ilơ đơ Fơransơ (Île de France) (bây giờ là đảo Rêuyniôn) (Île de la Réunion), ở Ilo đo Buôcbon (île de Boubon)(bây giờ là đảo Môrixo)(Île Maurice) và ở các cơ nghiệp Pháp ở Ponđixêry (Pondicherry). Ngày 24 tháng 7 năm 1789, giám mục cập bến ở Vũng Tàu, cùng với bọn đánh giặc mướn, tốp lính đào ngũ hoặc bị đuổi khỏi các chiến thuyền của nhà vua và «vọng tưởng phiêu lưu phù phiếm ». Theo sau đó, nhiều chiếc tầu Pháp khác chở khí giới và đạn dược cùng cập bến.
 
Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đã thu phục Sài Gòn, vua Tây Sơn Nguyễn Văn Lữ đã từ trần năm 1787 rồi đạo binh của ông bị bại trận và rút lui. Cần phải chinh phục Trung Kỳ, nơi Nguyễn Văn Nhạc trị vì, và xứ Bắc Kỳ do Nguyễn Văn Huệ trấn thủ.
Quân của Nguyễn Ánh, vũ trang theo lối Âu châu, luyện tập với những người lính thủy Pháp đã từng trải, còn đoàn chiến thuyền của ông có chiến hạm do người Pháp chỉ huy hỗ trợ, nhờ đó mà Nguyễn Ánh thắng nổi Tây Sơn.
 
Nguyễn Văn Huệ bị bệnh mất năm 1792, Nguyễn Văn Nhạc qua đời năm sau đó, toàn quân trấn giữ Qui Nhơn kinh đô của Nhạc, cầm cự đến tháng 7 năm 1799 mới hàng. Cũng trong năm đó, vào tháng 10, vị giám mục háo chiến Bá Đa Lộc bị kiết lỵ mà từ giã cõi đời. Vương thành Huế chỉ thất thủ năm 1801.
 
Thế thì phải 13 năm ròng rã mà họ Nguyễn vũ trang đầy đủ mới thắng nổi một cuộc nông dân chiến tranh.
 
Nhà Nguyễn tức vị
Nguyễn Ánh thắng trận nhập thành Huế ngày 12 tháng 6 năm 1801, liền đó ra lệnh quật mồ Bắc Bình Vương Nguyễn Văn Huệ, đem thây chặt đầu và lên án lăng trì người con gái cùng 31 thân nhân gia tộc vua Tây Sơn.(6)
 
 
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ
Ngày 20 tháng 7 năm 1802, Nguyễn Anh chiếm lĩnh thổ chúa Trịnh. Bấy giờ ông 40 tuổi. Năm 1806, ông xưng hoàng đế nước Việt Nam, lấy niên hiệu Gia Long sau khi thọ ấn tước của hoàng đế Trung Quốc ban cho.
Gia Long quan niệm Quốc gia của ông - tương tự như Trung Quốc - ở miền Nam khắc phục dưới quyền chủ tể của mình, các quốc vương Khome, Lào, Xiêm, các bộ lạc Mọi... Ông công bố hình luật - luật Gia Long - luật cổ hủ chép theo sách Tàu, lập Văn Miếu chế định phụng thờ Khổng Tử, mở trường học như ngày xưa để đào tạo quan chức. Nhiều trước tác bằng chữ nôm xuất hiện năm 1811, trong đó có truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1765-1820).
Mọi sự việc ấy thực hiện giữa đám nhân dân khốn khổ vì sưu quá cao, thuế quá nặng đến đỗi vô số dân làng bỏ hoang ruộng đất của họ vì không đóng nổi thuế, không chịu nổi sưu dịch. Người ta tu bổ thành trì hoặc xây dựng thành lũy mới:
Ở đây người ta tạo lại những bước tường thành vua. Lính xây tường, dân chúng lấp vũng ao: nhiều người bị chết vì quá mệt đuối; người ta phải làm ban ngày cho tới một phần ban đêm; còn một phần đêm lại phải canh gác; người ta vừa có chút thì giờ để ăn uống. Những sự bất công và hà lạm [thời Gia Long] còn quá hơn thời Tây Sơn.
Đấy là bức tranh miêu tả trong Chỉ giáo thơ mới (Nouvelles lettres édifiantes VIII)[7] .
Thời Gia Long (1802-1819), người ta đếm tới 73 cuộc nông dân nổi loạn, 234 thời Minh Mạng (1820-1841) và 103 thời Tự Đức (1847-1883), trong đó kể cả những cuộc nổi loạn của các chủng tộc thiểu số. Những người cầm đầu là tù trưởng nông dân, sĩ phu, hoàng tộc nhà Lê, quan lại, hương mục.
 
Sắc lệnh cấm đạo Thiên Chúa
Kế vị vua Gia Long, vua Minh Mạng không theo lối cha mà dung túng việc truyền đạo Thiên Chúa, đạo này xoi bói nền tảng trật tự xã hội truyền thống theo Khổng giáo, tức là cơ bản uy quyền nhà vua. Năm 1825, ông ra sắc lệnh lần đầu cáo giác « tà đạo của người Âu Châu làm bại hoại lòng người và thuần phong mỹ tục ». Năm 1833, ông truyền lệnh cho các quan đồ buộc tín đồ Thiên Chúa giáo phải dậm đạp cây thánh giá trước mặt mình, rồi tha họ lần đó. Các quan phải quan sát kỹ nhà thờ và nhà ở của cố đạo phải hoàn toàn tiêu diệt [8].

 
Chử ký của Nguyễn Văn Nhạc, anh cả trong ba anh em Tây Sơn. Nguyên niên Thái Đức năm thứ 12, ngày 25 tháng ba âm lịch (1789).
 
Từ năm 1835 đến 1838, 9 truyền giáo sĩ (Pháp vàTây Ban Nha) bị giết; cố đạo và tín đồ An Nam cũng đồng tan xương nát thịt.
Bên Tàu cấm giao dịch thuốc phiện từ năm 1729, bấy giờ chính phủ Bắc Kinh lại cấm một lần nữa, nhưng bọn Ănglê không đếm xỉa đến vì họ thu lợi lớn trong việc bán buôn thuốc phiện. Họ thắng người Tàu trong trận giặc Nha phiến, năm 1842, họ cưỡng bách người Tàu phải nhượng hải cảng Hồng Kông và mở 5 hải cảng khác cho họ khuếch trương thương mại vô luân đó.
Vua Thiệu Trị nối ngôi Minh Mạng, ông rất kinh khủng trước tình thế đó, sợ người Âu Tây cùng tôn giáo của họ tăng cường. Tháng 2 năm 1843, vì ông bị hăm dọa nên ông thả năm truyền giáo sĩ ra khỏi ngục rồi giao lại cho một chiến hạm Pháp. Sau khi đội chiến thuyền của ông bị thủy quân Pháp đánh tan ngày 15 tháng 4 năm 1847, ông bắt đầu sát phạt trở lại (ba sắc lệnh cấm đạo).
Vua Tự Đức lên nối ngôi Minh Mạng, trong một sắc lệnh công bố năm 1848, nhận định rằng:
 
Đạo Gia Tô là tà đạo vì trong đạo đó người ta không thờ cúng mẹ cha đã quá vãng, người ta móc con mắt những người hấp hối để làm nước thánh dùng mê hoặc lòng dân. Vì lẽ đó những người Âu Tây đầu thầy là những kẻ phạm tội trọng hơn hết, phải buộc một hòn đá nơi cổ họ rồi xô họ xuống biển. Các cố đạo An Nam thì khảo tra họ coi họ có muốn chữa lầm lỗi của họ hay không. Nếu họ chối từ thì phải xâm dấu trên mặt họ, rồi đày họ đi những chỗ rừng sâu nước độc. Còn đối với thường dân thì không nên giết chết để trừng phạt họ nữa, mà chỉ đày lưu hoặc bỏ tù thôi. Các quan chỉ nên sửa trị họ một cách nghiêm khắc thôi [9].
 
Bốn truyền giáo sĩ Pháp và một giám mục Tây Ban Nha bị chặt đầu năm 1852. Tín đồ Thiên Chúa giáo không hối hận như không bị vong mạng trong tù, thì bị đầy lưu nơi độc hiểm, má trái xâm hai chữ « Tà đạo », má mặt tên chỗ lưu đầy.
Tự Đức trị vì vừa được mười năm. Đến cuối thời kỳ tại vị dài lâu ông đã bị thất bại và thất bại về mặt quân sự cũng như về mặt chính trị và luân lý, ông thường chống lại sự « mê hoặc quái gở » của những kẻ theo một « đạo giáo vô lý dẫy đầy hoang mang». Ông thường dò hỏi ý kiến các quan về việc Thiên Chúa giáo bành trướng, có khi ông khiển trách họ hờ hững trước tình thế ấy, khi thì nghe theo các quan đàn áp gắt gao, có lúc cũng cùng các quan lấy thái độ khoan hồng đối với Thiên Chúa giáo. Năm 1869, ông ban bố các sắc lệnh khoan dung việc truyền giáo.
 
 
Việc xâm chiếm thuộc địa vào thời Napoléon III
Tháng giêng năm 1857, truyền giáo sĩ phái Lazarit tên Huc kiến nghị cùng hoàng đế Napoléon III « thành lập cơ sở vững vàng cho ảnh hưởng Pháp ở Đông Dương ». Ông viết cho hoàng đế:
 
Chiếm Nam Kỳ, - tức là một lãnh thổ mà Pháp có quyền chiếm không thể đối lại được (nguyên văn) - thật là dễ vô cùng. Dân chúng (theo đạo Thiên Chúa) than vãn dưới chế đô áp chế ác ố. Dân chúng sẽ tiếp rước chúng ta như người giải thoát họ, như người ban phúc cho họ [10].
 
Napoléon quyết định đưa quân đi cứu Thiên Chúa giáo. Về sau đại úy Gôsơlen (Gosselin) viết « ủng hộ truyền giáo sĩ chỉ là một cớ mà chúng ta dựa vào đó để đánh xứ An Nam ».
 
Trong thời gian hai mươi năm, giai cấp tư sản Pháp thiết lập chủ quyền trên xứ Việt. Chúng dựa vào chính sách ngoại giao bằng súng đồng và một loạt hiệp ước ăn cướp, cưỡng bách vua chúa Việt. Giai cấp sĩ phu và quan lại rường cột chế độ vua chúa, thấy mình bị hâm dọa rụi tàn theo chế độ, thế nên họ kháng chiến một cách vô hy vọng chống lại bọn xâm lăng.
 
Trong báo Diễn đàn Nhật báo New York Daily Tribune ngày 8 tháng 8 năm 1853, Kac Mac viết về việc Ănglê áp bức Ấn Độ: «Văn minh giai cấp tư sản bày chán chường tính chất giả dối sâu sắc và nguyên bản dã man trước mắt ta không che đậy, ngay từ chỗ phát sinh văn minh ấy còn mang những hình thức có thể tôn kính, cho đến các xứ thuộc địa, nơi mà văn minh ấy chường mặt giả dối và dã man không giấu giếm.»
 
 
Chiếm Sài Gòn năm 1859
Ngày 11 tháng 2 năm 1859, đoàn tầu của đội quân viễn chinh vượt lên sông Sài Gòn, có giám mục Lơfevơrơ (Lefevre) và tên Thế, người An Nam tín đồ Thiên Chúa giáo dẫn đường. Ngày 18 tháng 2, quân đội Pháp và Tây Ban Nha hãm thành Sài Gòn, lực lượng trợ giúp họ gồm « một toán lính tập tín đồ Thiên Chúa giáo, độ sáu mươi người thường dân An Nam, cũng đồng một đạo, họ lái tàu chở người và thuốc đạn, trợ giúp khiêng người [bị thương và xác chết] và kéo những súng đồng và trái phá »[11]
 
Thơ Nam Kỳ kể lại:
Thỏa thanh nông phố thời bình,
Kỷ vì xảy thấy thình lình Tây qua;
Tai nghe tiếng súng vang xa,
Nhơn dân xao xác đặng ba đêm ngày.
Tháng giêng mùng chín mới hay,
Cần giờ Tây lại bắn ngay pháo đài.
Nào hay tàu khói máy tài:
Chạy vào Tắc nghĩa chẳng nài ngược ngang.
Mùng mười quân chạy lang thang,
Thất đồn Ông Nghĩa tàu sang Tam Kỳ
Gieo neo phát pháo tức thì,
Xa Tam Kỳ bảo còn gì đỡ ngăn ?[12]
 
Mùng 1 tháng 11 năm 1859, hải quân thượng tướng Rigô đơ Giơnuôidy (Rigault de Genouilly) trao quyền lại cho hải quân trung tướng Pagiơ (Pagie). Ông này tả cảnh SàiGòn mà ông kế nghiệp trong một bức thư đề ngày 8 tháng 11:
 
Ở SàiGòn, chỉ thấy những đống tro tàn, ta chỉ biết phá hủy và đốt nhà; dọc theo bờ sông, hàng trăm chiếc thuyền chở gạo và những món cần yếu khác đều bị thiêu hủy; dân chúng giận dữ đối với ta, họ la lên rằng chúng ta còn dã man hơn các quan [An Nam], binh lính ta thì bị bệnh hoạn mà kiệt sức và chán ghét.[13]
 
Thật cảnh đã cảm xúc một thi sĩ lúc bấy giờ:
 
Bến Nghé của tiền tan nước bọt, 
Đồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây... 
Tứ phía bủa giăng giây thép kéo, 
Chân trời mù mịt khói tàu bay... 
 
Tới Sài gòn ngày 2 tháng chạp, tướng Pagie thi hành các phương pháp kinh tế: mở thương cảng cho tàu buôn để thâu vào quỹ người Pháp « hàng trăm ngàn fơrăn (francs), trọn năm 1860, có 110 chiếc tàu Âu châu và 140 thuyền người Tàu ghé cảng và số xuất cảng thương phẩm độ 100.000 tấn. »
 
Tháng 2 năm 1861, quân tiếp viện khá đông đảo tấn công các vị trí An Nam ở Chí Hòa, mặt trận do đô thống Nguyễn Tri Phương chỉ huy. Vị trí bị thất thủ, đô thống bị thương rút về Biên Hòa cùng những người sống sót, binh Pháp tiến tới Thủ Dầu Một và Tây Ninh.
Cũng trong Thơ Nam Kỳ việc Chí Hòa thất thủ:
 
Dậu niên mười bốn [tháng giêng] tớ thầy gian nan,
Tảo nhìn súng nổ vang vang,
Liên thinh đại pháo dâm đàng đạn rơi
 Quan quân kinh hãi chơi vơi,
Bình minh Chí mộ chi nguôi sở lòng.
Cả đêm Tây đóng giữa đồng,
Mười lăm thái tảo nước chông leo đồn
 Phía sau Bà Quẹo hậu môn
 Xạ liên trái khói ám hôn tối trời.
Chập tàn rạng thấy bóng người,
Hâu đồn trắng dã sáng ngời nón tây.
Các đồn vỡ chạy bức mây,
Tài hay tướng mạnh khó vầy cầm binh.
Nguyễn quang Táng lý xuất chinh,
Hậu đồn mạng một thông tình dân thương.
Nguyễn Tri [Phương] đại sứ nang đương,
Tay lâm thương đạn quân tương phục dài.
Hết người trí cả anh tài,
Vạn binh thiên tướng chạy dài hồi quê.
 
 
Tự Đức hiệu triệu nổi dậy chống Pháp
 
Mùng 1 tháng 3 năm 1861, vua Tự Đức khuyến khích dân nổi lên, ra giá thưởng mỗi đầu người Pháp hoặc người An Nam giúp việc cho Pháp.
Tuy thế, quân đội Pháp vẫn tiến tới luôn ở Nam Kỳ: miền Đông, Biên Hòa thất thủ ngày 17 tháng chạp năm 1861, Bà Rịa ngày 7 tháng giêng năm 1862 còn miền Tây, thành Vĩnh Long ngày 23 tháng 3, thành Mỹ Tho ngày 12 tháng 4, trong lúc cuộc khởi nghĩa lần lần bùng cháy khắp Nam Kỳ. Quản cơ Trương Công Định, thủ lĩnh cuộc kháng chiến quân sự dán yết thị ngay tại chợ Mỹ Tho tuyên cáo kêu gọi dân chúng vũ trang và ra giá đầu bọn « Tây Âu dã man » nhưng vô ích. Khắp nơi quân lực Pháp – Tây Ban Nha đều thắng trận.
 
Hiệp ước ngày 5 tháng 6 năm 1862
 
Hiệp ước này thừa nhận chủ quyền của Pháp trên ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho) và luôn cả cù lao Pulô Côngđo; triều đình An Nam phải trả 20 triệu fơrăn (francs = đồng quan) tiền bồi thường trong thời hạn 10 năm. Triều đình phải chuẩn y hiệp ước này trong thời hạn một năm, nhưng họ không làm chi cả.
 
Hải quân thượng tướng Bôna(Bonard) tuyên bố ngày 30 tháng 7: Từ nay ba tỉnh là tài sản tuyệt đối của Đức Hoàng đế Pháp. Từ nay dân cư đều là con cái và là dân của đại Hoàng đế ấy [14].
 
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH SỬ
 
Qua tháng chạp, dân cư nổi loạn ở Biên Hòa tuyên bố với người Pháp:
Xứ các ông ở về biển Tây, xứ chúng tôi thuộc biển Đông. Cũng như trâu với ngựa khác nhau, chúng ta khác nhau về tiếng nói, chữ viết và cách ăn ở. Các ông có tàu chiến và súng canông, không ai chống nổi các ông. Nhưng ơn vua nghĩa chúa ràng buộc chúng tôi theo chân vua chúng tôi. Nếu các ông cố định đến đây để giết người cướp của đốt nhà thì trong xứ sẽ rối loạn vĩnh viễn. Chúng tôi hành động theo lẽ Trời, Trời sẽ giúp chúng tôi và rốt cuộc sự nghiệp của chúng tôi sẽ thành công. Thế thì chúng tôi nguyện thề đánh trả các ông đời đời và không ngưng [15].
 
Năm 1864, độ 5000 sĩ phu họp tại Huế vào lúc thi hội, khi họ được tin về hiệp ước 1862, họ khẩn cầu Hoàng đế trừ diệt tín đồ Thiên Chúa giáo nào đồng lõa cùng quân xâm lăng, bằng không thì họ tẩy chay cuộc thi hội. Sĩ phu Nam Định cũng phản đối như thế. Giới trí thức giao động, triệu chứng rằng keo sơn Khổng giáo gắn bó vua « dân » hiện đang tan rã, văn thân sắp nổi loạn có ý nghĩa cụ thể hiện tượng tan rã ấy.
 
Đồng Tháp Mười, Tổng hành dinh quân khởi nghĩa
 
Trong quyển Cuộc chinh phục Đông Dương, A Thômazi (Thomazi) viết:
Người cầm đầu quân phiến loạn, Trương Công Định bị giết ngày 20 tháng 8, năm 1864. Quân phiến loạn đóng ở miền Tây Bắc Mỹ Tho, quần tụ rất đông trong Đồng Tháp Mười, nơi đó họ xây lũy giữa đất lầy hẻo lánh, có tiếng là khó đi đến được. Họ tung ra những tờ tuyên cáo. Những ngày đầu tháng 4 năm 1865, 100 lính Pháp và 200 lính An Nam thúc giục đến trung tâm Tháp Mười nơi đồn trú Tổng hành dinh loạn quân. Lũy Đồn Tả [bị xung phong triệt hạ ngày 15 tháng 4], chứa 40 súng đồng và 350 người phòng thủ, trong đó có một người Pháp trốn lính và ăn ở theo lối người bản xứ [16].
 
Trung tâm Đồng Tháp Mười bị phá hủy nhưng bạo động vũ trang vẫn tiếp tục.
Nhiều người có tuổi hiện nay vẫn nhớ tên những tín đồ Thiên Chúa giáo An Nam trợ lực quân xâm chiếm, nổi danh vì họ nhiệt tâm đàn áp: Trần Bá Lộc, chủ tể Đồng Tháp Mười, y đã tham gia cuộc đánh chiếm miền Tây Nam Kỳ (Trong Đồng Tháp Mười có ngọn kinh mang tên Tổng đốc Lộc); đốc phủ Trần Tử Ca, khát máu nổi tiếng ở Hóc Môn, rốt cuộc bị quân khởi nghĩa chặt đầu hồi tháng 2 năm 1885. Còn Huỳnh Công Tấn phản phúc ám sát Trương Công Định được quân Pháp phong chức lãnh binh. Mình cũng không thể quên được tên của một kẻ khác trợ lực quân đội Pháp, tên Đỗ Hữu Phương cũng là một tên khát máu (một con đường ở Chợ Lớn còn mang danh Tổng đốc Phương).
 
1867, ba tỉnh miền Tây bị chiếm
 
Ngày 25 tháng 6, phó đại tướng hải quân Đơ Lagơrănđierơ tuyên bố:
 
Ta đã chiếm ba tỉnh thành Vĩnh Long (ngày 21), Châu Đốc (ngày 22) và Hà Tiên (ngày 24), nước Pháp thống trị ba tỉnh phía Tây xứ Nam Kỳ miền dưới, thay thế cho vương triều An Nam.[17]
Ông Phan Thanh Giản, kinh lược toàn quyền ba tỉnh, muốn tránh đổ máu vô ích, ông tế Trời rồi tự tử ngày 1 tháng 8 năm 1867. Các con ông nổi dậy phía Nam thành Vĩnh Long.
Trong hịch truyền ngày 9 tháng 10, vua Tự Đức thở than:
Từ trước đến giờ không lúc nào xảy ra những bất hạnh như thời kỳ chúng ta, không bao giờ có nhiều thảm họa như năm nay. Toàn một tỉnh vì nắng hạn mà trở nên cùng khổ, xứ Bắc Kỳ bị bão tố vào mùa hè, còn ba tỉnh Nam Kỳ thì bị mất. Trên đầu trẫm sợ mạng Trời, ngó xuống dưới ngày đêm xót thương dân chúng: tấm lòng trẫm vừa run vừa sợ vừa hổ thẹn. Trẫm luôn luôn nhận lấy những điều gây nên oán hận để cho dân khỏi chịu trách nhiêm. Trẫm chưa đền tội thì những tai họa mới xuất hiện. Năm nay trẫm tuổi chưa đến 40 mà tóc râu đã bạc, gần như một lão già, trẫm sợ vì nỗi buồn lo thầm kín, trẫm không còn có thể sớm hôm phụng thờ tiên tổ.18
 
Cũng trong năm ấy, quyển Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) ra đời, do một người Pháp dịch chữ nôm ra chữ quốc ngữ. Trong đó tác giả tán dương truyền thống Khổng giáo, bài bác văn hóa Âu Tây. Thời buổi chúng tôi quyển thơ này rất phổ thông ở Nam Kỳ. Trong một quyển khác tựa là Dương Từ Hà Mậu, ông chỉ trích đạo Phật và đạo Hòa Lan (Thiên Chúa Giáo) cũng đồng như ông lên án những điều « dị đoan tà mị »:
 
Cớ sao mình ở nước Trung,
Lòng theo nước ngoại còn mong đạo gì.
Ông bà mồ mả bỏ đi,
Gốc mình chẳng kính lại vì gốc ai?
 
Khói lửa bùng lên trong tam giác Cửu Long Giang: văn quan, võ quan cùng hương chức đều nổi dậy trong một cuộc chiến đấu bất đồng lực lượng chống quân xâm chiếm và lính bản xứ tiếp lực cho Pháp. Phía kháng chiến năm 1867 thì có Đinh Sâm ở tỉnh Cần Thơ; người Pháp sai Lộc và Tấn dẫn lính tập An Nam đến đánh phó đốc binh Lê Đình Đường, ông này cùng 17 người nghĩa quân vong mạng ở Trà Vinh; Lê Văn Quan, đề đốc Triều và đốc binh Sây từ Bình Thuận vào đây, ba ông đều bị bắt trong vùng Ba Động, làng này bị quân Pháp và lính An Nam đốt rụi, nơi đó 5 thủ lĩnh khởi nghĩa bị chặt đầu, dân chúng chạy tản lạc.
 
Rạch Giá cũng bị chiếm trong năm ấy, nhưng vào tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực đánh phá được đồn binh Pháp: 30 lính Pháp bị tàn sát trong đồn. Nguyễn Trung Trực bị lính của Trần Bá Lộc bắt ở đảo Phú Quốc rồi bị chém đầu.[19]
📎 LettreNguyenNhac




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.06.2017 15:24:56 bởi Ct.Ly>
Những quan lại hương chức không đầu hàng, nổi tiếng như huyện Toại, phủ Câu, đề đốc Huân, nguyên soái Trần Văn Nhíp, thiên hộ Dương...
 
Đệ tam Cộng hòa tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1870 tiếp tục chính sách xâm chiếm
 
Chính sách thuộc địa của Đệ tam Cộng hòa do Giule Fery phát biểu như thế này:
Đi xâm chiếm thuộc địa là con đẻ của chính sách phát triển kỹ nghệ.
Xuất khẩu sản vật là một yếu tố căn bản làm cho nước được giàu có, và đó cũng là phạm vi đầu tư tư bản, cũng như sự nhu yếu cho lao đông. Cuộc xuất khẩu có thể đo lường tùy theo bề rộng của thị trường ở ngoại quốc [20].
Sông Cửu Long đã rõ ràng là không thể dùng làm đường buôn bán với xứ Tàu, còn nếu đi theo sông Hồng Hà mà lên đến Vân Nam thì trước hết phải được phép triều đình An Nam cho tàu được thông thương tự do trên dòng sông ấy. Chính vì mục đích ấy mà thống đốc Nam Kỳ phái Forănxi Gacniê (Florency Gasnier) ra Bắc Kỳ, ở đấy bấy giờ tên lái buôn Pháp Đupuy (DuPuy) chuyên chở khí giới trái phép quan trọng nên bị các quan làm khó.
Đấy không phải là một sứ mạng ôn hòa: ngày 20 tháng 11 năm 1873, Forănxi Gacniê (Francis Garnier) xua 250 lính Pháp xung phong đánh thành Hà Nội do thống đốc Nguyễn Tri Phương trấn thủ. Ông này trước kia chỉ huy đồn Chí Hòa năm 1861. Ông bị thương mà chết, rồi qua tháng chạp, Garnier cũng theo ông xuống mồ, sau khi y đã đánh chiếm được miền tam giác sông Hồng nhờ trợ quân do đường biển đến.
 
Hiệp ước 15 tháng 3 năm 1874
 
Cuộc thương thuyết giữa triều đình và Pháp đã bắt đầu, bây giờ tiếp tục với trung úy hải quân Philastre, rốt cuộc hai bên ký tờ « hiệp ước hòa bình, hữu nghị và liên minh vĩnh viễn giữa nước Pháp và Vương quốc An Nam » tại Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1874.
 
Hiệp ước này buộc Tự Đức nhìn nhận chủ quyền Pháp trên lãnh thổ Nam Kỳ, ban bố quyền tự do cho người theo Thiên Chúa giáo, được thu nhận vào các cuộc thi cử và được bổ làm công chức, cùng là mở đường sông Hồng cho Pháp được giao thông buôn bán với Tàu và các hải cảng Qui Nhơn, Hải Phòng và Hà Nội.
 
Văn thán nổi loạn
Sĩ phu nổi dậy chống Triều đình về việc chuẩn y nhượng xứ Nam Kỳ và việc hủy bỏ các sắc lệnh chống đạo Thiên Chúa. Ngày 19 tháng 3 năm ấy, họ kêu gọi dân chúng « bình Tây sát tả! »
Loạn nổi lên khắp nơi. Ở Nghệ An và Hà Tĩnh thì có Trần Tấn, Đặng Như Mai, Trần Quang Hoan...chiêu tập ít ngàn người đồng lòng đánh phá các làng theo đạo Thiên Chúa. Người ta nổi dậy chống việc vua Tự Đức khuất phục người Pháp và cuộc nội chiến khởi đầu này bùng nổ tràn lan tới Quảng Bình. Vua Tự Đức thất vọng sai quân trấn áp, trong vài tháng phong trào bị đánh tan. Tới lượt những người theo đạo Thiên Chúa trả thù đốt nhà những người ngoại đạo (không có đạo).
 
Chỉ có một mình Nguyễn Trường Tộ, một văn thân theo Thiên Chúa giáo...
Chúng ta mất thái độ khách quan nếu chúng ta làm thinh không nhắc đến nhà văn thân theo đạo Thiên Chúa Nguyễn Trường Tộ, người quê quán Nghệ An, được các truyền giáo sĩ Pháp bảo trợ, được giao du ngoại quốc và trú ngụ ở Pháp. Ông là tiền bối các sĩ phu canh tân sau này, kể từ 1863, sau khi ông từ chức phiên dịch phụng sự các thượng tướng hải quân, ông dâng một loạt biểu khẩn cầu Triều đình, kiến nghị một chương trình cải cách để hiện đại hóa xứ nhà theo con đường Âu Tây. Chẳng những ông đề nghị gửi học sinh qua Pháp để học tập kỹ thuật sinh sản, mà còn yêu cầu mở trường kỹ thuật có giáo viên người Pháp, người Anh, cần phải tập nghề cho thợ, kỹ thuật viên, mua máy móc để đóng tàu, khẩn mỏ khai rừng.
 
Khi ông nghe tin nước Pháp bại trận vào tháng 2 năm 1871 trong cuộc chiến tranh Đức Pháp, cùng các cuộc đảo lộn chính trị liền theo đó, Nguyễn Trường Tộ dân biểu đến thượng thư bộ binh để trình bầy « Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ », trong đó điều cần yếu là về dự bị binh lực: tìm ra tiền (vay tiền của bọn lái buôn giàu có ở Hương Cảng, vay độ 8 đến 9 triệu forăn trả lại bằng hàng hóa, nhất là gỗ...) để mua ở Manidơ (Philippin) 500 con ngựa để đánh giặc, 500 khẩu súng kiểu tối tân, mướn độ 100 kỵ mã người Manido để tập luyện Việt binh, đồng thời mua 20 khẩu canông và đạn dược. Dùng canông ấy, bộ binh bắn phá đồn binh địch, quân lính thủ đồn toán loạn, bấy giờ kỵ binh lẹ như chớp nhoáng tàn sát tàn quân ...
 
Rốt lại, Nguyễn Trường Tộ đề nghị tự mình trá ra một viên quan phạm tội, Triều đình giả đày lưu vào Nam, vào đó ông sẽ sắp đặt tổ chức những người đồng tâm để đến lúc thuận tiện thì phát động « tấn công bất ngờ vào Gia Định »; để « quét sạch quân thù và thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ ».
 
Nhưng Triều đình vẫn nghi kỵ đối với những người theo Thiên Chúa giáo, Nguyễn Trường Tộ khẩn cầu vô hiệu quả. Ông mất vào tháng 11 năm 1871, thọ 41 tuổi, chết một cách khả nghi.21
 
Xứ nhà đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc: tiếp theo tai họa chiến tranh lại còn bão lụt, nắng hạn, mất mùa, thiếu gạo. Tháng 3 năm 1878, Triều đình cấm xuất cảng gạo.
 
Thượng tướng hải quân Lafông (Lafont), thống đốc Nam Kỳ viết trong một tờ báo cáo đề ngày 9 tháng 4 năm 1878:
 
Nhiều lần tôi thử can thiệp để bỏ lệnh cấm ấy đi. Nhưng thật khốn nạn quá, các tỉnh trung ương Vương quốc đều bị nạn đói hơn một năm rồi, tai hại ấy còn lan rộng đến các tỉnh miền Nam Bắc Kỳ.
Triều đình trả lời cho tôi rằng dân chúng đang đau khổ vì đói kém, sẽ nổi loạn chắc chắn nếu lúa gạo được phép xuất cảng, bởi vì dân chúng cho rằng họ bị khốn khổ là do biện pháp ấy, rồi họ sẽ tố cáo chính phủ muốn cho họ chết đói để làm lợi lãi cho người Âu và người Tàu. [22]
 
Vua Tự Đức sầu thảm mà chết ngày 17 tháng 7 năm 1883. Triều đại thực ra đã tàn rụi, vương triều còn hấp hối theo bèo bọt tháng ngày trên nửa thế kỷ.
 
Chúng ta trở lại tiếp câu chuyện.
 
Bọn hải phỉ Tàu đánh cướp thương thuyền Pháp trên sông Hồng. Người An Nam trấn giữ thành Hà Nội đều có thái độ thụ động thế thì người Pháp ra tay trở lại: tháng 4 năm 1882, đại tá Rivière thình lình đánh chiếm thành Hà Nội; tháng 8 năm 1883, thiếu tướng Cuôcbê bắn phá các đồn lũy ở Thuận An nơi cửa sông vô Huế; Triều đình bị hăm dọa trực tiếp bèn « thừa nhận và ưng thuận chịu thuộc quyền bảo hộ của nuớc Pháp » (Hiệp uớc Hacmăn ngày 25 tháng 8 năm 1883).
Hiệp ước Patơnôtrơ (Patenôtre) ngày 6 tháng 6 năm 1884.
 
Tuy vậy xứ Bắc Kỳ không chịu đầu hàng, quân Pháp tiếp tục xâm chiếm trong thời chính phủ Giulơ Fery (1883-1885). Trung Quốc đã từ bỏ quyền đô hộ xứ An Nam kể từ ngày 11 tháng 5 năm 1884, qua tháng 6, nuớc An Nam ký tờ hiệp uớc Patơnôtrơ. Đây là lần thứ hai mà nuớc An Nam thừa nhận và ưng thuận chịu thuộc quyền bảo hộ của nuớc Pháp. « (Từ nay về sau) nuớc Pháp sẽ thay mặt cho nuớc An Nam trong toàn cả ngoại giao. Quan chức An Nam tiếp tục cai trị trong xứ từ biên giới Nam Kỳ cho tới biên giới Ninh Bình, duới sự kiểm soát một công sứ thay mặt chính phủ Pháp. Tất cả đồn lũy dọc theo bờ sông vô Huế sẽ phá sạch. »
 
Phong trào Cần Vương
Vì bọn thắng trận muốn làm oai, rồi đây một cuộc tổng khởi nghĩa nổ bùng lên, cuộc nội chiến chống Triều đình và chống Pháp bắt đầu tái diễn. Ngày 2 tháng 7 năm 1885, Tuớng Đơ Cuôcxy ( De Courcy) chỉ huy đạo quân viễn chinh Bắc Kỳ, vừa tới Huế với một số đông quân lực tùy tùng để thị oai khi y trình quốc thu cho vua Hàm Nghi (13 tuổi) để được nhìn nhận y là lãnh sự nuớc Pháp. Hai ông phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đột khởi đánh úp quân Pháp, nhưng thất bại, bèn cùng vua thoát thân, ngày 13 tháng 7, truyền hịch kêu gọi Cần Vương. Khói lửa khởi nghĩa đỏ rực Trung Kỳ, quan làng triệu tập vệ binh sở tại, lấy tầm vông vạt nhọn vũ trang nghĩa binh; những người sống còn trong phong trào văn thân chường mặt trở lại xung pha đánh phá chống những người theo Thiên Chúa giáo một lần nữa. Tờ báo Người Sài Gòn (Le Saigonnais ) viết:
 
Người ta tiếp tục tàn sát nhau ở miền Nam Trung Kỳ. Cuộc náo động lan tràn nhanh chóng như luồng thuốc súng; khẩu hiệu (Tàn sát bọn Tây bên trong rồi sau chúng ta sẽ liệu đối với Tây bên ngoài) truyền ra khắp nơi đều được thực hiện, làng xóm người đạo Thiên Chúa đều bị xâm nhập, cướp phá, đốt rụi. Sĩ phu, quan chức mọi đẳng cấp đều tự mình đứng ra chỉ huy phong trào bạo động .[23]
 
Từ bấy giờ tới lúc vua Hàm Nghi bị bắt vào tháng 11 năm 1888, bên khởi nghĩa vẫn đương đầu chống cuộc « bình định » của Pháp. Người Pháp mộ 6 đội lính tập, rồi đến năm 1887, họ đem lính An Nam hỗ trợ việc xâm chiếm ở Nam Kỳ ra các tỉnh miền Nam Trung Kỳ (Phú Yên, Bình Thuận), lính này do tên khát máu Trần Bá Lộc chỉ huy, tục danh của Lộc là « Hùm Xám Cái Bè » mà chúng ta đã nói đến trong đoạn trên, Lộc tàn sát tù nhân không cần xét xử.
 
Phong trào khởi nghĩa dường như lụn bại, thì năm 1893 lại nổi trở lên mạnh bạo do ông lão bảy tám mươi tuổi Phan Đình Phùng chỉ huy. Ong này truớc kia là quan cáo chức ở trào vua Tự Đức. Hà Tĩnh, Nghệ An khói lửa một lần nữa. Nghĩa quân kháng cự lại những toán lính An Nam do người Pháp chỉ huy trên hai năm trường. Phan Đình Phùng bị thương mà chết năm 1896. Những chiến sĩ bị bắt đều bị chặt đầu ở Huế. Như thế, cuộc chiến đấu bất đồng lực luợng giữa nho sĩ và quan viên chống xâm luợc và chống cả Triều đình đến đây là dứt.
 
Kể từ vua Đồng Khánh (1885-1888), Triều đình trở thành khí cụ thống trị thực dân (tuy vậy không phải bao giờ cũng cúi đầu đâu, chứng cớ là hai ông vua bị đày: Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916). Chính phủ bảo hộ có vua Khải Định (1916-1925) là người cộng tác thật lòng. Trên giường chết trước mặt triều thần, Khải Định giao sứ mạng cho toàn quyền Paskiê (Pasquier), người thay mặt chính phủ bảo hộ đã trị vì vương quốc. Rõ ràng Triều đại đã bị diệt vong.
Nhưng giới trí thức không ngưng nổi dậy chống đối. Những lực luợng mới đã bắt đầu hoạt động chống thực dân Pháp từ bình minh thế kỷ 20.
 
PHỤ CHÚ
1. TRỊNH HOÀI ĐỨC, Gia Định Thông chí, Histoire et description de la Basse Cochinchine, bản dịch tiếng Pháp do G.Aubaret, Paris 1863, tr.2-3.
2. J. SYLVESTRE, L’Empire d’Annam, Paris 1889, tr. 244.
3. Ch.B. MAYBON, Histoire moderne du pays d’Annam (1592-1820), Paris 1931, tr.185.
4. Alexis FAURE, Mgr Pigneau de Behaine, Paris 1891, tr. 83-84.
Theo Khâm định Việt sử, giáo sĩ người Tây đã khởi đầu truyền đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thời vua Lê (1533). Vua Louis XIV ở Pháp có viết cho chúa Trịnh Tạc một bức thơ khuyên chúa Trịnh gia nhập Thiên Chúa giáo, vì đạo nầy « rất đặc biệt tác dụng cho vua chúa tuyệt đối trị vì dân đen ». Theo đây là đoạn chót:
Nous avons commandé qu’on vous portât quelques présents que vous avons cru qui vous seraient agréables. Mais la chose du monde que nous souhaiterions le plus, et pour vous et pour vos États, ce serait d’obtenir pour vos sujets qui ont déjà embrassé la loi du seul vrai Dieu du del et de la terre la liberté de la professer, cette loi étant la plus haute, la plus noble, la plus sainte et surtout la plus propre pour faire régner les rois (absolument) sur les peuples.
Nous sommes même très persuadé que, si vous connaissez les vérités et les maximes qu’elle enseigne, vous donneriez le premier à vos sujets le glorieux exemple de l’embrasser...
Écrit à Saint-Germain-en-Laye, le 10e jour de janvier 1681.
Votre très cher et bon ami,, Louis.
 
Tạm dịch:
Trẫm có ra lịnh cho người đến dâng Bệ hạ một vài món quà trẫm tưởng sẽ được đẹp lòng Bệ hạ. Song cái trong đời mà trẫm ước mong hơn hết, vừa ước mong nơi Bệ hạ cùng tất cả Đất nước của Bệ hạ, là cho thần dân của Bệ hạ, những kẻ [đã theo đạo Thiên Chúa] đã tín phụng pháp tắc của Thiên Chúa, đấng thiết thực một mình là chủ tể trời đất, họ được tự do hành đạo và truyền bá pháp tắc ấy, vì pháp tắc đạo ấy là cao thượng, thánh thiện hơn hết và nhất là rất đặc biệt tác dụng cho vua chúa (tuyệt đối) trị vì dân đen.
Trẫm còn tự tin chắc chắn rằng, nếu Bệ hạ thấu đáo các chân lý v các danh ngôn của đạo [Thiên Chúa], thì Bệ hạ sẽ hân hoan nhập đạo làm một gương quang vinh thứ nhứt cho thần dân. ]
(E. VÕ ĐỨC HẠNH, La place du catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam entre 1851 à 1870 (Vị trí Thiên Chúa giáo trong liên hệ giữa Pháp và Việt Nam từ 1851 đến 1870), Leiden 1969, II tr.5.
5. Ch. GOSSELIN, L’Empire d’Annam, Paris 1904, tr.495.
7. Ch.B. MAYBON, sđd. tr.359.
6. - ntr. tr.104.
8. Ch.GOSSELEN, sđd. tr.114.
9. - ntr. tr. 124.
10.      E. Võ Đức Hạnh, ntr. I tr.46.
11.      - ntr. tr.239-240.
12.      Thơ Nam Kỳ  ou Lettre cochinchinoise sur les événements de la guerre franco-annamite, traduite par M.D.CHAIGNEAU, Paris 1876, tr.2, 16-18.
13. E. Võ Đức Hạnh, sđd. tr.116.
14. - ntr. tr.147.
15. - ntr. II-III, tr.211.
16. - A THOMAZI, La conquête de L’Indochine, Paris 1934, tr. 72.
17. E. Võ Đức Hạnh, sđd., I, tr.170.
18. Ch. GOSSELIN, sđd. tr.546 vt.
19. J.- C. BAURAC, La Cochinchine, Saigon 1894, tr.254 vt.
20. Henri BRUNSCHWIG, Histoke de la colonisation Française, Paris 1949, tr.53.
21. Trương Bá Cam, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, Hô Chí Minh city 1988, tr.325-358.
22. Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait colonial au Vietnam, Paris 1992, tr.22.
23. Paulus VIAL, Nos premières années au Tonkin, Paris 1889, tr.485-488.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.06.2017 23:37:51 bởi Ct.Ly>

PHẦN THỨ NHẤT 
NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 
 
1920 -1929
Hinh 4
 
Hình4.VN
 
Ngũ Long tại Paris
 
Vào những năm đầu của thập kỷ 20 tại Paris, con người bị lưu đày Phan Chu Trinh, đã nhiều tuổi, vẫn liên hệ mật thiết với Phan Văn Trường, rồi sau đó ít lâu, với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh. Điều làm cho họ liên kết với nhau không phải là tuổi tác (giữa người nhiều tuổi nhất và người ít tuổi nhất chênh nhau 27 năm), cũng không phải là nguồn gốc (người thì ở đất bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ, người thì ở Nam Kỳ, đất thuộc địa), mà là do họ có cùng một niềm say mê, đó là giải phóng dân tộc thoát khỏi tình trạng nô lệ hèn mọn và bất công, thoát khỏi tình trạng tù đọng bế tắc do đế quốc Pháp gây nên. Họ thường được những người Việt Nam gọi là Ngũ Long - năm Con Rồng. Phải chăng những người Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay đã tự nhận mình là Con Rồng Cháu Tiên? Họ là những người cắm những mục tiêu đầu tiên cho chặng đường mà từ năm 1930 người ta gọi là cuộc « Cách mạng Đông Dương ».
Thế kỷ 19 đã khép lại với hai cuộc nổi dậy đẫm máu chống lại cuộc chinh phục của thực dân Pháp, đầu tiên là cuộc nổi dậy của các sĩ phu, phong trào Văn Thân, từ 1867 tới 1874, rồi đến cuộc nổi dậy của các quan lại triều đình, phong trào Cần Vương, từ 1885 tới 1896 [1 ]. Hai cuộc nổi dậy đều thất bại, và từ năm 1897 người Pháp làm chủ toàn bộ đất nước Việt Nam.
 
Đầu thế kỷ 20, tầng lớp trí thức hăng hái đã từ bỏ con đường nổi dậy vô vọng. Không khí thời đại không còn phù hợp với những cuộc phiêu lưu đẫm máu theo xu hướng của một chế độ phong kiến bảo thủ không có tương lai; người ta dự cảm khác hẳn tới những điều kiện để giải phóng dân tộc Việt Nam: hiện đại hóa về kinh tế và văn hóa là điều cần thiết. Cùng chung cái đích đó, có hai khuynh hướng nảy sinh, một khuynh hướng do Phan Bội Châu đề xướng, theo quân chủ, ngả về nền giáo dục hiện đại kết hợp với chiến tranh giải phóng [2], một khuynh hướng do Phan Chu Trinh chủ trương, theo hướng cộng hòa và dân chủ, trên tinh thần chung của các nhà triết học Pháp thế kỷ 18 mà ông đọc qua những bản dịch chữ Hán.
Hai nhà trí thức trên có đi cùng nhau một chặng đường, thống nhất với nhau về «cải cách văn hóa và phát triển tinh thần dân tộc » nhằm « tránh cho người Việt Nam trở thành nô lệ » [3]. Đó chính là mục đích của Hội Duy Tân do Phan Bội Châu bí mật thành lập năm 1904, biểu hiện đầu tiên của sự nảy sinh giai cấp tư sản bản xứ. Cả hai đều tán thành việc phổ biến một nền giáo dục tự do bằng chữ quốc ngữ; họ kêu gọi « những người giàu và có ảnh hưởng» đứng ra thành lập các hội đoàn ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ để phát triển thương mại, thủ công và kỹ nghệ bản xứ, đồng thời mở các lớp học trong công xưởng, và từ năm 1906 ngầm tổ chức những cuộc du học sang Nhật (phong trào Đông Du) [4]. Con đường của hai người chia tách hẳn khi Phan Bội Châu và các du học sinh bị trục xuất khỏi Nhật vào năm 1909, Phan Bội Châu tuyên bố tán thành khủng bố và tuyển mộ một đội quân.
 
Cuộc đời của người đứng đầu nhóm Ngũ Long ra sao trước khi ông tới Paris?
 Phan Chu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc (tỉnh Quảng Nam, Trung Kỳ), làm quan tại Bộ Lễ vào năm 1903, nhưng đến năm 1905 ông bất mãn với sự thối nát và trì trệ cổ hủ của Triều đình cố giữ thái độ dè dặt dưới bóng bảo hộ của người Pháp. Phan Chu Trinh từ quan, ông đôn đáo khắp ba kỳ để lắng nghe người dân nghĩ gì và để tìm hiểu về những sự « nhũng lạm của quan lại » ở khắp nơi.
Vào đầu năm 1906, giả trang làm cu li, ông được những người làm đầu bếp trên tầu che giấu, vượt biển tới gặp Phan Bội Châu ở Quảng Châu rồi cùng đi với Phan Bội Châu sang Nhật để Phan Bội Châu chuẩn bị đón tiếp du học sinh và chuẩn bị cho họ được nhận vào các trường võ bị. Phan Chu Trinh cho rằng dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản để đuổi Pháp là một ý tưởng nguy hiểm «một khi quân Nhật vào thì có thể sẽ khó mà đuổi họ ra »; hơn nữa « nếu có quyết tâm nổi dậy thì dân tộc cũng thiếu chỗ dựa, thiếu vũ khí và tài chính » .
Trở về đất nước, Phan Chu Trinh gửi cho toàn quyền Pôl Bô (Pol Pot), vào tháng 10 năm 1906, một bản Ghi nhận về những điều tệ hại mà dân An Nam phải chịu [5], kêu gọi ông ta chú ý tới nạn tham nhũng của quan trường đã làm tăng thêm gánh nặng sưu thuế cho dân. Ông nhấn mạnh vào trách nhiệm của người Pháp, kẻ đồng lõa với tình trạng trên, và kêu gọi người Pháp tiến hành những cuộc cải cách nhằm tuyển lựa kỹ lưỡng quan lại, bãi bỏ chế độ khoa cử cũ, cải tiến pháp luật, sửa đổi bộ Luật dã man của Vua Gia Long [6]còn hiện hành ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, mở rộng hệ thống giáo dục, xây dựng một nền giáo dục hiện đại hướng về phát triển thủ công, kỹ nghệ và thương mại bản xứ,[7]nhằm đưa đất nước ra khỏi « tình thế cấp bách ».
Từ sau khi có bản tường trình đó, giới quan lại tham nhũng tỏ ra căm thù Phan Chu Trinh đến xương tủy.
Trong quá trình vận động của Hội, Lương Văn Can mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục vào năm 1907 với mục đích dùng chữ quốc ngữ để phổ biến những kiến thức mới hữu ích cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước, thay vì đóng khuôn trong nền học kinh sử của đạo Khổng qua chữ Hán. Các thầy giáo tự nguyện bỏ bộ quần áo cổ truyền bằng lụa tàu, và mặc âu phục, bỏ búi tóc, cắt tóc ngắn. Những việc nho nhỏ đó cũng làm cho đám quan lại không chấp nhận được và coi đó như một chứng cứ mưu toan nổi loạn, một dấu hiệu tập hợp. Chính quyền bảo hộ cũng sớm lo ngại về cái trung tâm của chủ nghĩa quốc gia đang tỏa sáng khắp nước: « Đối với các ngài thực dân, bọn An Nam bẩn thỉu này lại dám cho phép mình bắt chước kiểu người Âu! » (Phan Chu Trinh). Thế là chẳng bao lâu nhà trường bị đóng cửa.
 
Vào mùa xuân năm 1908, tại Trung Kỳ đột khởi những cuộc biểu tình của nông dân, phong trào lan nhanh như dây thuốc súng. Lần đầu tiên chủ nghĩa đế quốc thực dân phải đương đầu trực tiếp với quần chúng nông dân bị đè nén trong bần cùng đã nổi dậy chống lại thuế thân và sưu dịch. Cuộc đàn áp của Pháp và Nam Triều diễn ra mau lẹ và đẫm máu. Nhân cớ này triều đình Huế tiến hành ngược đãi tầng lớp sĩ phu Duy Tân. Trong tất cả các tỉnh, nơi nào có trường học và hội buôn, hội thủ công đều diễn ra những cuộc lục soát thanh trừng dữ dội. Trường sở bị phá hủy, thày giáo bị tra khảo, công xưởng bị đóng cửa. Lính khố xanh (lực luợng cảnh sát của quan lại) được thể tha hồ cướp bóc, biến những nơi đó thành chuông ngựa hoặc nhà ở cho vợ con họ...Tại làng Phú Lâm chẳng hạn, người hương trưởng bị kết án ba năm tù khổ sai vì đã xây dựng trường học, lập các hội làm vườn, xây cầu và đường xá cho nông dân; cô em gái họ của ông, một nữ giáo viên, bị giải lên tỉnh lỵ, cổ đeo gông. Ba trường học trống rỗng vì thiếu vắng 150 học sinh.
 
Ngày 9 tháng ba, Phan Chu Trinh đang ở Hà Nội thì nông dân của làng ông tuần hành lên tỉnh lỵ Đại Lộc (Quảng Nam). Bị vu cho là gây nên những cuộc biểu tình đó, ông bị bắt cùng với một số sĩ phu bị chính quyền thực dân nghi ngờ và bị triều đình Huế' bêu xấu, cái triều đình mà họ khinh bỉ. Phan Chu Trinh bị giải về Huế, ở đó ông tuyệt thực làm reo. Triều Huế kết án tử hình Phan Chu Trinh vì đã « tiến hành những mưu đồ cùng với kẻ phản nghịch Phan Bội Châu, đã thu thập những ghi nhận hưởng ứng Phan Bội Châu ».
 
Hình 5.vn
 
 
 
Banh Côn Nôn
 
Hinh 6.VN
 
 
Sĩ phu bị đóng gông sau những cuộc nông dân biểu tình chống sưu thế năm 1908 ở Trung Kỳ.
 
Nếu không có Hội Nhân Quyền can thiệp, Phan Chu Trinh đã bị hành quyết sau một thời gian ngắn. Án tử hình đuợc giảm thành quản thúc chung thân, qua tháng năm ông bị đưa ra ngục Côn Nôn.
Chính thời gian ở Côn Đảo, Phan Chu Trinh sáng tác một số bài thơ, trong đó có bài Đèn Sáp mà học sinh Sài Gòn đã hăng hái đọc thuộc lòng lên vào năm 1926, năm ông mất :
 
Năm nhồi mười nắn thế không oai?
Đèn sáp khen cho thật dẻo dai.
Thẳng rẳng sợi tim trong mấy tấc,
Lăn tròn bao sáp biết nhiêu ngoai.
Đốt đầu dốc tỏ đêm tăm tối,
Nóng ruột vì chưng sự sáng soi.
Hé cửa trách ai cho gió lọt,
Canh tàn rơi giọt tỏ cùng ai !
 
Vào năm 1911, Hội Nhân Quyền lại can thiệp cho Phan Chu Trinh ra khỏi nhà tù Côn Đảo, vụ án của ông được xét lại, và nhà nước bảo hộ chấp thuận lưu đày ông qua Pháp, cùng với con trai nhỏ của ông là Phan Chu Dật, kèm theo một niên bổng là 5.400 fơrăn (francs = quan).
Vừa tới Pháp, Phan Chu Trinh bắt tay ngay vào việc « đòi xét lại những phán quyết bất chính đáng » sau những vụ biểu tình hòa bình 1908-1909, và đòi thả những nạn nhân còn sống sót ra khỏi các nhà tù. Trong một bức thư gửi cho Bộ Thuộc địa, «Những cuộc biểu tình của người An Nam ở Trung Kỳ năm 1908 » ông đã nêu lại lịch sử các sự biến, phân tích một số điều xét xử, mô tả trần trụi cuộc di chuyển quân sự của chuyến tàu chở tù nhân ra đảo Côn Nôn, nơi những sĩ phu bị bắt ở Hà Tĩnh và Nghệ An bị trói chân tay như súc vật nằm rải rác trên boong tàu, giữa giông bão. Ông kết luận : «Phải ân xá đầy đủ và toàn bộ cho những người còn sống sót. Còn giữ họ lâu hơn nữa, tức là đã kết án họ phải chết trong một thời gian ngắn đối với hàng trăm người dân lành vô tội.»
 
Trong khi tường thuật lại sự việc, ông có ngỏ lời tri ân hai con người đã dám kháng lại sự dã man, đó là công sứ Pháp ở Bình Thuận, ông Gacniê (Garnier), người đã không chịu phá hủy các trường học bản xứ theo lệnh của quan chánh sứ Lêvêc (Lévêque); và người thứ hai là quan chưởng tên Nguyễn Đinh (quan thu thuế) ở Thanh Hóa, ông này đã từ chức để phản đối việc đánh đập những nhà trí thức bị bắt.
Gợi ra trường hợp nhà trí thức Lê Bá Trinh bị bắt vào tù chỉ vì đã dạy dỗ «tán thành những nhà ái quốc là một bổn phận đầu tiên, Phan Chu Trinh hỏi rằng khi nói tới dân quyền liệu người ta có đáng bị phạt giam hay không?
 
 
Đầu lính tập bị chém về vụ Hà thành đầu độc năm 1908
 
HÌNH 7.VN
 
 
HÌNH 8.VN

 
 
Lính tập bị cáo trong vụ Hà thành đầu độc
 
 
Tại sao các nhà cai trị lại cứ luôn mồm rêu rao những câu huênh hoang mà rỗng tuếch như công bằng, bác ái, khai hóa văn minh.
Thà cứ cao thượng mà nói toạc ra với chúng tôi rằng: « Chúng ta đã chinh phục được các ngươi, các ngươi là nô lệ của chúng ta. Các ngươi đã bị loại ra khỏi đại gia đình nhân loại ».
 Phan Chu Trinh không mệt mỏi vận động ở Bộ Thuộc địa, nơi ông đã gửi bức thư vào tháng 9 năm 1912.
 Phan Văn Trường, nhân vật thứ hai trong nhóm Ngũ Long, đã kể về Phan Chu Trinh hồi đó: « Họ mời ông ra cửa trước, ông lẻn vào cửa sau ». Thời kỳ này Phan Văn Trường, người đã tới Paris trước Phan Chu Trinh một năm, đã cùng với Phan Chu Trinh lập ra nhóm ‘‘Đồng bào thân ái”, về sau chủ chốt cho « Hội người An Nam yêu nước », đặt trụ sở tại nhà hai ông Phan, số 6 Villa đê Gôbơlen (de Gobelins), quận 13, Paris.
Lúc này Phan Bội Châu đang ở Trung Quốc. Hội Duy Tân đã bị tan rã sau cuộc đàn áp năm 1908. Hội này được thay thế bằng Việt Nam Quang Phục Hội, mà mục tiêu hành động cấp thời là «hạ sát một trong ba tên đầu sỏ đại diện cho Pháp » nhằm «hâm nóng nhiệt tình của dân chúng và làm cho kẻ thù khiếp sợ». Dự định này được thể hiện qua hàng loạt những cuộc ám sát và bạo động từ 1912 đến 1917 (8) và ngày 3 tháng 5 năm 1913 trong cuộc phỏng vấn của báo Nhật Trình (Le Journal) về vụ ám sát hai sĩ quan Pháp ở Hà Nội, Phan Chu Trinh đã nhấn mạnh là phía Pháp phải chịu trách nhiệm. Ông nhắc lại rằng ông luôn luôn chống lại sự chính phủ không chịu tiến hành những cải cách, chống lại độc quyền rượu và thuốc phiện; ông tán thành giáo dục tự do, ân xá tù chính trị ở Côn Đảo, và đòi cải tổ bộ luật bản xứ. Ông yêu cầu người ta bỏ thói khinh miệt dân bản xứ. Và ông nói thêm một cách đại lược là một chế độ đàn áp giống như một đống củi khô chất trong lò, chỉ cần một tàn lửa nhỏ sẽ bốc cháy. Ông nói ở Huế gần đây người ta đã dám đào cả mộ Tự Đức để tìm vàng: Tôi run sợ khi hay tin đó, tôi đã lường trước những hậu quả khủng khiếp, bởi người dân sẽ nghĩ sao đây? Hiện nay người ta đang nói tới một sự đàn áp thẳng tay ở Trung Kỳ; chính quyền có thể bắt bớ tới 500 hay 1000 người và chặt đầu họ... Nhưng rồi sau đó thì sao? Việc đó chỉ thúc đẩy người dân hành động mà thôi. Người Việt Nam không muốn nghe những lời hứa xuông nữa, họ không muốn bị ép phải uống rượu, mà họ muốn học hành, được tôn trọng, được giải phóng.(9)
 
Chúng ta hãy nói về Phan Văn Trường mà cuộc đời từ đó gắn bó chặt chẽ với cuộc đời Phan Chu Trinh. Gốc ở Hà Nội sinh năm 1878, Phan Văn Trường sang Paris học Luật, và để có tiền học ông nhận làm giảng viên giảng đọc tại Trường Ngôn ngữ Đông Phương. Vào năm 1913, ông nhận được tin hai em ông là Phan Tiên Phong và Phan Trường Khiên, bị bắt nhằm trong vụ mưu sát ngày 26 tháng 4 và vừa bị kết án người thì 5 năm biệt xứ, người thì 10 năm lưu đày. « Mười năm, một thời gian đáng kể trong đời một con người! », ông đã viết khi gợi lại cái hành động bất công của chế độ thực dân. Chiến tranh kết thúc, ông đáp biên một luật án tiến sĩ Bình luận về Bộ luật Gia Long, rồi ông ghi danh làm trạng sư tại tòa án Paris.
 
Trong giai đoạn đầu cuộc chiến tranh 1914 - 1918, ngày 14 tháng 9 Phan Chu Trinh bị bắt; hai ngày sau đến lượt Phan Văn Trường, lúc đó đã bị động viên nhập ngũ tại trung đoàn bộ binh 102 ở Sactrơ. Hội đồng quân sự thứ nhất ở Paris khép tội hai người là đã âm mưu chống lại nền an ninh quốc gia », và « Hội người An Nam yêu nước » bị giải tán. Bảy tháng sau, ngày 17 tháng 4 năm 1915, họ được xóa án, trả lại tự do (10)và Trường được cử đi làm thông ngôn tại Binh công xưởng ở Tulusơ (Toulouse). Ở đây ông tiếp xúc với phu phen, lính tập và thủy thủ Việt Nam được «nhập cảng » từ Đông Dương qua để làm trong các xưởng quân nhu hoặc ra tiền tuyến. Sau này Trường có kể lại vụ giả âm mưu trong Câu chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris hay Sự thật về Đông Dương (Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’Indochine), đăng tải từng kỳ trên tờ báo Chuông Rè (La Cloche fêlée) của Nguyễn An Ninh năm 1925. Bài văn châm biếm này, có giọng châm biếm gần với kiểu nhạo báng, có lời diễu cợt sau:
 
Những người An Nam âm mưu ở Paris? Vậy thì có những người An Nam đến tận Paris để âm mưu chống nước Pháp, tìm cách đuổi người Pháp khỏi Đông Dương để lập lại nền độc lập của đế quốc An Nam năm xưa. Thế thì họ đã biết và muốn ứng dụng sớm cái nguyên tắc về dân tộc, quyền dân tộc tự quyết trước khi nguyên tắc ấy phát sinh tại trong mười bốn điểm trứ danh do Wilson đề xướng; vừa phát sinh rồi liền theo đó, Trời biết, nó bị các cường quốc chôn vùi một cách long trọng, các cường quốc ấy đã xưng hô công lý và văn minh trong lúc chiến tranh! Đấy là một chuyện quái gở không thể tưởng tượng! Tuy vậy đấy là chuyện có thật theo ý nghĩa này, nó chính thức có thật, nó có thật bởi vì chính phủ Pháp đã bày đặt nó ra.
 
Nếu như tình trạng kinh tế ở Đông Dương do hậu quả của tình trạng chiến tranh ở Pháp gây nên, cũng như việc đăng lính của người An Nam (gọi là tình nguyện) không sao tránh khỏi làm nổi dậy ở Việt Nam một làn sóng bất mãn và một sự sôi động mà những cuộc rối loạn mới ở thuộc địa sẽ xảy ra minh họa cho tình trạng trên, thì vụ « âm mưu » tại Paris chỉ là một sản phẩm hoang tưởng xuất phát từ nỗi lo lắng thực sự của chính phủ Pháp.
 
Chẳng bao lâu nhóm của hai người anh cả Trinh và Trường có thêm người gia nhập. Đó là ba chàng thanh niên mới mà tâm hồn bị dày vò dằn vặt vì số phận của quê hương.
 
Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1890, tên thật là Nguyễn Tất Thành, con nhà quan, được gia nhập học tại Quốc Học Huế sau khi tốt nghiệp tại địa phương. Vào tháng giêng năm 1910, cha bị bãi chức (vì đã dùng gậy đánh chết một người tù) có lẽ đó là nguyên nhân làm cho Nguyễn Ái Quốc rời bỏ trường Quốc Học, rồi đi dạy học ở trường Dục Thanh, một trường do sáng kiến của Phan Chu Trinh lập ở Phan Thiết vào năm 1905.
 
Không hiểu bởi nhà trường bị đóng cửa hay chính người thanh niên Nguyễn Tất Thành nhu cầu ra đi để tìm đường cứu nước hay để kiếm ăn sinh sống? Ta chỉ biết Nguyễn xuống tàu buôn Đô đốc Latuso-Trêvilo ( của hảng Sacgio Rêuyni, đường Hải Phòng-Đonkec, tại chặng dừng tàu ở Macxâydo vào năm 1911, anh Thành làm đơn xin Tổng thống Cộng hòa Pháp được nhập học có học bổng nội trú tại Trường Thuộc địa ở Paris, nơi không những đào tạo những nhân viên cai trị thuộc địa tương lai mà còn đào tạo cả nhân viên bản xứ phụ tá về kỹ thuật.
 
Trong đơn có đoạn viết: « Tôi hoàn toàn không có nguồn kiếm sống và rất ham học hỏi. Tôi muốn vì đồng bào tôi mà có ích lợi cho nước Pháp, đồng thời muốn cho đồng bào tôi được hưởng những lợi ích do học vấn mang lại » (Nguyên văn tiếng Pháp).
 
Lá đơn bị bác bỏ. Năm sau, anh Thành vẫn làm bồi bếp ở tàu, viết về cho khâm sứ Trung kỳ ở Huế, một bức thơ để ở New York ngày 15 tháng chạp năm 1912, với giọng như sau :
 
Tôi yêu cầu Ngài vui lòng nhận cho cha tôi một công việc như Thừa biện ở các Bộ hay là Huấn đạo hay Giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài. Hy vọng nơi lòng tốt của Ngài sẽ không từ chối lời yêu cầu của một đứa con để làm tròn phận sự của mình mà chỉ trông cậy nơi Ngài, và trong lúc chờ đợi Ngài trả lời, tôi xin Ngài Khâm sứ nhận lời chào kính cẩn của người dân con và kê tùy thuộc thọ ơn của Ngài.
Paul Tất Thành (con Ông Phó bảng Nguyễn Sanh Huy).
 
Từ năm 1914, anh Thành bỏ việc làm bồi bếp trên các chuyến tàu, sống môt cách khó khăn tại Luân Đôn (số 8 Tottenham Road), và trao đổi thư từ với Phan Chu Trinh, người bạn cũ của cha anh.Trong bức thư anh gửi cho Phan Chu Trinh vào tháng 8 có đoạn:

HINH8A.VN
 
 
 
 
 
 
 

 
Đơn Nguyễn Ái Quốc xin nhập Trường thuộc địa.
 
---&-----
 
Số mệnh dành cho chúng ta nhiều điều ngạc nhiên và không thể nói truớc ai sẽ là kẻ chiến thắng... Trong vòng ba bốn tháng tới đây số phận của Á Châu sẽ thay đổi, thay đổi lớn lao. Mặc cho những ai đang tranh đấu và những ai đang khuấy động 11.
 
Nguyễn Ái Quốc ám chỉ ai khi viết « những ai đang tranh đấu và những ai đang khuấy động »? Phải chăng anh định nói tới Việt Nam Quang Phục Hội, tới vụ ném bom năm 1912 ám sát hụt toàn quyền Albe Sarô,tới các vụ nổ bom làm mất mạng hai sĩ quan Pháp ở Hà Nội năm 1913, tới âm mưu của Đỗ Cơ Quang, rốt lại 50 hội viên và những người bị tình nghi ở Hekou cùng 14 người khác ở Yên Bái bị chém đầu «để nêu gương » vào tháng chạp năm 1914 ?12
 
Năm 1919 Nguyễn Tất Thành tham gia vào « Nhóm người An Nam yêu nước » của hai chí sĩ lưu vong tại Villa đê Gôbơlen (Villa de Gobelins). Nhóm này chính trước kia là «Hội người An Nam yêu nước» bị giải tán năm 1914 - nay Thành đã thay đổi tên Nguyễn Ái Quốc lúc này cũng làm nghề rửa ảnh như Phan Chu Trinh, vì từ sau khi bị bắt năm 1914, Phan Chu Trinh không có tiền trợ cấp như trước nữa.
 
Ngày 1 tháng giêng năm 1919, Hội nghị Hòa bình nhóm họp tại Paris. Những nguyên tắc của chủ nghĩa Wilson về quyền các dân tộc tự quyết (13) đã gợi lên những hy vọng lớn lao và ngây thơ. Ngây thơ tới mức là khi Wilson tới Pháp để tham dự Hội nghị, một phái đoàn nghiệp đoàn Pháp đưa tới tay ông một bản thông điệp, trong có đoạn viết:
 
Những người lao đông tập hợp trong tổ chức CGT (Tổng Liên đoàn Lao động Pháp) xin gửi lời chào Ngài. Với Ngài, chúng tôi tin rằng những bản hiệp ước và thỏa ước sẽ chính thức kết thúc cuộc chiến và sẽ thực hiện được nguyên tắc về quyền tự do của các dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình.(14)
 
« Nhóm người An Nam yêu nước », vào giữa tháng 6 có thảo một bản yêu sách về cải cách chính trị dân chủ « trong khi chờ đợi quyền dân tộc tự quyết chuyển từ lý tưởng thành hiện thực». « Những yêu sách của nhân dân An nam » rất khiêm tốn:
1. Đại xá toàn bô chính trị phạm bản xứ;
2. Cải cách nền tư pháp ở Đông Dương bằng cách tạo cho người bản xứ cũng có những đảm bảo về pháp lý như đối với người Âu, và hủy bỏ vĩnh viễn và toàn bộ những tòa án đặc biệt.
3. Tự do ngôn luận và báo chí;
4. Tự do hôi họp và lập hội;
5. Tự do di trú và xuất ngoại;
6. Tự do giáo dục và xây dựng ở các tỉnh những trường kỹ thuật và chuyên môn;
7. Thay thế chế độ nghị định bằng chế độ luật pháp;
8. Có đại biểu thường trực của người bản xứ được bầu bên cạnh Nghị viên Pháp để phản ảnh kịp thời những nguyên vọng của người bản xứ.15
 
Không có một vang vọng nào từ phía các cường quốc phe Đồng minh mà bản yêu sách đã vinh danh họ như là «những chiến sĩ của Văn minh chống lại Man rợ ». Sau đó, Phan Chu Trinh viết: « Rõ ràng chúng ta lầm lạc vì đã quá hy vọng. »16
 
Nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc chẳng bao lâu được củng cố thêm: một người Nam Kỳ là Nguyễn An Ninh, đến Paris học luật, và một người Bắc Kỳ là Nguyễn Thế Truyền, sinh viên khoa học ở Toulouse năm 1919, đến Paris năm 1921 để chuẩn bị thi cử nhân Văn chương. Truyền, hơn Ninh một tuổi, là con một quan huyện ở Ninh Bình. Cả hai đều dốc hết sức mình vào những hoạt động của Nhóm.
Nguyễn An Ninh mới có 20 tuổi khi đến Paris vào năm 1920. Đó là một con người có cao vọng duy tâm lãng mạn luôn hết lòng tha thiết với dân quê trong nước. Anh đã vong mạng tại nhà tù Côn Đảo vào năm 43 tuổi. Thân phụ anh là Nguyễn An Khương, là người nổi tiếng vì đã dịch sang chữ quốc ngữ những tiểu thuyết lịch sử lớn của Trung Hoa, là người đã ủng hộ Hội Duy Tân của Phan Bội Châu do Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu) vận động ở Nam kỳ, và là người hỗ trợ du học sinh sang Nhật (phong trào Đông Du). Tại Paris, Ninh giao thiệp, không phân biệt với những người theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và vô chính phủ, trong đó có Sáclơ Ráppôpo (Charles Rappopor), người đã phản đối chiến tranh vào năm 1914, trở thành cộng sản năm 1919 và đã xuất bản quyển Cuộc Cách mạng thế giới (La Révolution mondiale) năm 1921.
 
Nguyễn Ái Quốc nhập Đảng Xã hội Pháp, tham gia đại hội nhóm ở thành Tua(Tours) vào tháng 12 năm 1920. Quốc theo một số đảng viên nhập vào hàng ngũ Đệ tam Quốc tế, lúc đó tán thành việc giải phóng thuộc địa.17
Thời kỳ này, Phan Chu Trinh sống bằng nghề rửa ảnh tại Pôngxơ (Pons) vùng Sarăngtơ Maritimơ (Charente Maritime) và gặp gỡ các bạn trong Nhóm ở Paris. Ngày 13 tháng 6 năm 1921, ông cùng Nguyễn Ái Quốc tham gia vào một kế hoạch chuẩn bị thành lập Liên minh Thuộc địa. Liên minh này bao gồm Nhóm những người An Nam yêu nước và Hội đòi quyền công dân cho người Madagasca tập họp nhiều nhóm người như An Nam, Mactinicơ (Martinique), Gađơlupơ (Guadeloupe), Madagasca, Sênêgal(Sénégal) và Angiêri (Algérie). Ngày 1 tháng 4 năm 1922, cùng với Mônnecvilơ, Xăngoo, Mêtxali Hatgiơ, v.v... họ xuất bản tờ báo hàng tháng Người cùng khổ (Le Paria), « Diễn đàn Vô sản thuộc địa ». Ảnh hưởng của tờ báo lan nhanh chóng tới các giới bồi bếp, thợ sơn lắc, thủy thủ An Nam. Trong khi đó, Ninh có cảm tình đặc biệt đối với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ, viết ít bài trong báo Người Tự Do (Le Libertaire).
 
Năm 1922, Phan Chu Trinh ở Macxâydơ (Marseille). Tổ chức SFIO (Chi hội Quốc tế Công nhân Pháp, tên của Đảng Xã hội Pháp lúc đó) và Liên minh Nhân quyền đã giúp ông tập họp đồng bào của ông trong các cuộc mít tinh để ông giúp họ nhận thức thân phận nô lệ và nhu cầu tập họp để tự bảo vệ. Ở Paris, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường cũng đấu tranh theo hướng đó qua tờ Le Paria và trên mục thuộc địa của tờ Nhân Đạo (L’Humanité). Hiệp hội Bồi bếp, ở số 8 phố Hôsơ ( ?), mở rộng thành Hiệp hội Lao động Đông Dương vào tháng 5 năm 1923, cũng đấu tranh theo hướng đó.
Cũng vào năm 1922, hoàng đế Khải Định đến viếng cuộc Triển lãm thuộc địa tổ chức ở Marseille. Phan Chu Trinh lên án Khải Định, trong một bức thư ngỏ nêu lên 7 tội « đại ác » :
- Quên lời giáo huấn của Mạnh Tử (Dân vi quí, quân vi khinh);
- Cai trị tùy hứng, thưởng phạt bất minh;
- Duy trì một cách ngu ngốc lễ khấu đầu (quan lại phải quì lạy trước vua) làm trò cười cho thế giới văn minh;
- Xa hoa vô đạo: vua còn bóc của dân vốn đã bị kiệt quệ vì nghèo đói;
- Trang phục bất xứng;
- Tùy tùng quá lộng lẫy phô trương trong cảnh thôn quê xứ Việt ;
- Tự tôn một cách lố bịch khi gọi cuộc du hành sang nước Pháp là chuyến du hành khảo sát trong một nước cộng hòa dân chủ, nhất lại là cho những viên quan không có một trình độ trí thức bằng một đức trẻ mười tuổi người Pháp đi tháp tùng.
 
Kết luận, ông khuyên Khải Định nên « nhường quyền lại cho dân, dân có thể họp tác trực tiếp với dân Pháp. »18
Ngày 12 tháng 2 năm 1922, Phan Chu Trinh viết cho Nguyễn Ái Quốc giục trở về nước, sống lẫn lộn trong nông dân mù chữ để tuyên truyền bằng lời nói những tư tưởng giải phóng :
 
Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan (Văn Trường) đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi lại không thích cái phương pháp « ngoại ngọa chiêu hiền đãi thời đột nội » của anh, và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hòa mà anh đã nói với anh Phan là tôi là hạng hủ nho thủ cựu. Anh lấy cái lẽ ở nuớc mình luới giăng tứ bề, mà về nuớc ắt là sa cơ, bởi thế mà anh cứ khư khư cái phương pháp ngoại ngọa chiêu hiền đãi thời đột nội, cứ như cái phương pháp ấy, thời anh viết bài đăng báo chương trên đất người để mà hô hào quốc dân đồng bào bên nhà đem tinh thần nghị lực ra làm việc nuớc. Tôi coi lối ấy phí công mà thôi. Bởi vì quốc dân đông bào mấy ai biết chữ Tây, chữ quốc ngữ, cầm tờ báo mà đọc nổi. Theo ý tôi mình đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống, mà phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đông bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Bởi cái lẽ đó mà tôi khuyên anh thu xếp mà về.
Lại còn cái điều ngộ bất trắc sa cơ, đương nhiên là sự phòng xa, thời ắt là lợi hơn thiển cận, song lẽ từ xưa đến nay biết bao nhân nhân, chí sĩ nước mình hoặc khởi sự hay ôn hòa đương đầu với cường quyền áp chế, mấy ai khỏi vùng lao lung tù tội, đày ải chém giết. Ngại vì sa cơ thì e rằng bỏ mất cái tài tình của mình, cơ hội chạy qua như dòng nuớc. Bởi thế cho nên phương pháp quy sào giác thế mà anh làm đuợc thì may mắn cho quốc dân đông bào ta biết chừng nào.
 
E rằng Nguyễn Ái Quốc có thể sang Môskơva để dựa vào nước Nga, Phan Chu Trinh tiếp:
 
Anh cứ xem ông Phan Bội Châu hồi trước chẳng nghe lời tôi, mang người mang của đến cái đất Phù Tang, cầu cứu nghĩa cử đông văn đông chủng, chạy đông chạy tây, đi ngoài đột nội, rốt cuộc chỉ làm được mấy lần khởi sự. Thẳng như cái phương pháp của ông Phan mà thành công, thì quốc dân đông bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.[19]
 
Bức thư không đạt hiệu quả, vì Nguyễn đã sớm quyết định ra đi. Ông tới Môskơva, vào tháng 7 năm 1923 và được huấn luyện trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong Tạp chí Cộng sản (Revue Communiste) tháng 5 năm 1921 ông viết: « Chế độ cộng sản phải chăng có thế áp dụng được cho Châu Á nói chung và cho Đông Dương nói riêng ? Với câu hỏi đó, ta có thể trả lời khẳng định rằng được.» Ông chỉ trở về Việt Nam vào năm 1945, dưới tên gọi Hồ Chí Minh, để xây dựng ở xứ nhà «một xã hội chủ nghĩa thực sự » hữu danh vô thực, « thực sự không, có chi là xã hội chủ nghĩa cả »(Maximilien Rubel), phủ trên một xã hội buồn tẻ trong một nước Việt Nam mà ngay cả đến nền độc lập quốc gia cũng không có thực lại kèm thêm những xiềng xích mới cho người vô sản và nông dân nghèo.
Ngược lại, Nguyễn An Ninh trở về Nam Kỳ năm 1922 sau khi ngao du khắp các nước Ý và Đức, những nước đã công nghiệp hóa. Ông sẵn sàng đối mặt công khai với chính quyên thực dân ở SàiGòn trong thử thách hướng dẫn thanh niên theo tư tưởng giải phóng.
Vào năm 1923, một trong hai người em của Phan Văn Trường được ra khỏi tù. Lúc ấy Nguyễn Thế Truyền, một người luôn hoạt động tích cực trong Hội Liên hiệp Thuộc địa, đã nhắc lại vụ án hai anh em này trong tờ Paria, mục Diễn đàn Đông Dương, tháng giêng năm 1924 như sau:
 
Chúng ta hãy nhớ lại.
Hai anh em đó phạm tội gì ? Không ai biết được, nhưng sự việc là nước Pháp bảo hộ đã ban cho họ cùng một lúc người thì 5 năm biệt xứ, người thì 10 năm lưu đày. Ít ra tôi cũng hy vọng rằng, tất cả đồng bào chúng ta đã khắc sâu trong tâm trí hai anh em bị bắt bớ trong những tình trạng khốn nàn, và những lời kết án của tòa án đại hình đặc biệt Hà Nội đột xuất vào năm 1913 dưới quyền đại diện của ông Albe Sarô, và tôi nghĩ rằng đồng bào cũng không quên thái độ bình thản của hai anh em đối diện bọn tra tấn.
Ngày 2 tháng giêng năm 1924, sinh viên Hội Ái hữu Đông Dương (trụ sở ở số 15 Chomerac (Paris 6 ème), một tổ chức được Bộ Thuộc địa bảo trợ để «đón tiếp » (thực ra là để canh chừng về chính trị) mời Phan Chu Trinh chủ tọa cuộc mít tinh tại Hội quán Bác học. Trong số khoảng 300 người tham dự, có 200 người An Nam, đại biểu Hội Lao Động Đông Dương. Cuộc hội họp này, có lẽ được triệu tập trên tinh thần « Pháp Việt liên minh» nhưng tới nửa đêm lại chuyển thành cuộc mít tinh chống đế quốc chủ nghĩa. Bài diễn văn của một Phan Chu Trinh đã gạt bỏ mọi ảo tưởng, những lời kêu gọi của sinh viên Trần Văn Khá, phó chủ tịch Hội Ái hữu hô hào đuổi bọn chiếm đóng ra khỏi đất nước, lôi cuốn hàng năm chục người tham dự đi tuần hành tại khu Latin theo sau Trinh, Khá và một người Pháp tên Graffeuan.
Sau khi Phan Châu Trinh khởi hành về Sài Gòn, vào tháng 5 năm 1925, một luận văn châm biếm nảy lửa do Thư điếm Lao động (Librairie du Travail) phát hành và lập tức bị cấm ở Đông Dương. Đó là tập Bản án chế độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) ký tên Nguyễn ái Quốc, nhưng có thể là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết. Những ấn bản bí mật được đưa lọt vào Việt Nam đã được tầng lớp thanh niên ngấu nghiến. Ta hãy trích vài dòng trong chương « Thuế máu » :
 
Trước năm 1914, họ chỉ là những người mọi rợ da đen bẩn thỉu, chỉ là lũ anamit bẩn thỉu, chỉ đáng làm công việc kéo xe và chịu những trận roi cá đuối do tay các nhà cai trị chúng ta. Cuộc chiến tranh tươi vui được công bố, thế là họ trở thành «những đứa con thân yêu », và «những người bạn dũng cảm » của các quan chủ tỉnh nhân từ như cha mẹ và cả các quan toàn quyền lớn bé của chúng ta. Họ [dân bản xứ] bỗng chốc được thăng trật đến cấp bậc tối cao là «những người đi bảo vệ công quyền và nền tự do ». Tuy nhiên, cái vinh dự thình lình họ được hưởng như thế ấy, họ phải trả giá khá đắt, bởi lẽ đến bảo vệ cho cái công quyền ấy, cái tự do ấy mà chính họ cững không có được, họ đã phút chốc phải từ bỏ ruộng vườn, vợ con, bò cừu, để vượt qua bao đại dương đến những bãi chiến trường Châu Âu rồi bị vùi thây ở đó.
Trên đường vượt biển, có rất nhiều dân bản xứ, sau khi được mời tham dự vào những màn trình diễn khoa học kỳ diệu về thủy lôi, đã lặn sâu xuống đáy đại dượng để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái.
Những kẻ khác đã phải bỏ mình trên sa mạc thơ mộng vùng Banhkăn vẫn tự hỏi phải chăng cái Bà Mẹ -Tổ quốc chắc là có ý định là người đầu tiên dấn thân vào hậu cung của vua xứ  Turquie, chứ nếu không thì sao lại đẩy họ đến chết chui chết nhủi ở cái đất này? Còn những người khác nữa, bên bờ sông Marne hay trong bãi lầy ở tình Champagne, đã chịu tàn sát một cách hùng dững để tưới máu mình trên vòng nguyệt quế của chủ tướng hay lấy xương mình để điêu khắc gậy chỉ huy cho các thống chế. Rồi đến những kẻ làm quần quật tại hậu phương, trong những xưởng thuốc súng khủng khiếp, tránh được nạn ngủi khí ngạt của bọn « Bôsơ » (Boches, tiếng người Pháp miệt thị gọi người Đức), thì lại phải chịu những luồng hơi độc hại loang loáng của người Pháp; rút cục cũng vẫn như nhau bởi lũ người khốn khổ ấy cứ phải khạc phổi mãi như bị « sặc hơi độc » vậy.[20]
 
Trong Nhóm còn lại có Nguyễn Thế Truyền, vẫn ra sức tập hợp đồng bào không mệt mỏi, ta lại thấy Truyền xuất hiện vào năm 1926 giữa đám sinh viên mới di chuyển sang Pháp toan lôi kéo họ ra khỏi đảng Lập hiến, một đảng của giai cấp tư sản và địa chủ Việt Nam thành lập ở Sài Gòn năm 1923 do Bùi Quang Chiêu, với ý đồ hợp tác với chính quyền thực dân để xây dựng một thể chế tự pháp lĩnh (dominion) ở Đông Dương. Truyền phát biểu:Một nạn nhân của kẻ cướp không được phép công tác với kẻ cướp. Mục đích của chúng ta là giành lại nền độc lập chứ không phải là hợp tác Pháp - Việt (Pháp Việt đề huề). Phương thức hành động của chúng ta là để tổ chức làm cách mạng chứ không phải là dể đạt tới những cải cách.[21]
Nguyễn Thế Truyền cho rằng không nên nói tới chủ nghĩa cộng sản, là cái không thể thực hiện được ở các thuộc địa trước khi giải phóng dân tộc, và cho rằng điều cần thiết là phải đoàn kết mọi tầng lớp xã hội, do đó Truyền tách khỏi phân bộ thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 5 năm 1927 và thành lập Đảng An Nam Độc lập.
 
Chúng tôi không phải những người theo chủ nghĩa bè phái, cũng không phải những người theo chủ nghĩa cộng sản, mà cũng không phải những người theo «chủ nghĩa quốc gia » theo lối Châu Âu định nghĩa. Chúng tôi là những người nô lệ muốn trở thành những người tự do. Chúng tôi gồm 20 triệu người bị áp bức muốn tạo lập một quốc gia độc lập. Chẳng gì khác hơn, đảng của chúng tôi chính là một đảng vì độc lập, dân chủ và hòa bình.[22]
📎 HINH.8.VN|Hinh8A.VN




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2017 19:14:35 bởi Ct.Ly>
 

II
 
Sài Gòn 1924 -1926 lớp trí thức trẻ thức tỉnh 
Luồng sáng đầu tiên thấp thoáng không tưởng Kac Mac 
 
Nhóm Ngũ Long được coi như tượng trưng cho bước chuyển tiếp vào đầu thế kỷ 20 giữa tầng lớp sĩ phu theo Nho học cổ truyền với trí thức mới, trẻ, được đào tạo theo kiểu Châu Âu, đóng vai trò tiền cảnh trên sân khấu chính trị những năm 20.
 
Nguyễn An Ninh và báo Chuông Rè (La Cloche Fêlée)
 

Trở về nước vào năm 1922 với bằng cử nhân luật, Nguyễn An Ninh vốn đã có thể tham gia dễ dàng vào xã hội thuộc địa, nhận một chức quan tòa án, được tặng thêm hàng trăm mẫu đất để khai khẩn, thế nhưng mối quan hệ xã hội giữa tầng lớp thực dân Pháp với người An Nam đã coi như sự phủ định cái quan niệm về đạo lý của anh. Do vậy Ninh đã dốc hết tâm lực vào công cuộc giải phóng anh em đồng chủng của mình. Cũng như Phan Chu Trinh, anh coi văn hóa như một phương tiện hành động "chậm mà chắc" trên bước đường giải phóng xứ sở.

Noi theo phương pháp các đảng chính trị ở Pháp, anh phát biểu ngay với lớp thanh niên đất nước trong những cuộc hội họp công khai "nhằm thúc dục thanh niên làm quen với nền văn hóa Âu Tây và cũng để cho người Pháp hiểu tôi hơn nhằm đánh tan mối nghi kỵ vô căn cứ của chính quyền coi chừng tôi", đó là lời phát biểu bằng tiếng Pháp của anh trong khi trình bày về "Cao vọng của thanh niên An Nam" ngày 15 tháng 10 năm 1923.
 
Khi đó Ninh mới có 23 tuổi. Anh muốn lay động giới thanh niên học sinh, thúc đẩy họ dấn bước trên con đường nỗ lực tự học hỏi để có "khả năng hiến thân vì dân tộc ".
 
Nhằm mục đích giải phóng, anh tố cáo nền Khổng học cổ truyền du nhập theo hàng hóa Trung Hoa, đã lỗi thời và hủ lậu, chỉ làm sản sinh một tầng lớp xã hội thượng lưu huyênh hoang tự mãn. Anh cũng tố cáo cái học thực dụng của nhà trường Pháp nhằm đào tạo "nô lệ cho chính phủ Pháp''.
 
Cho tới hiện nay, Ninh nói, ở Việt Nam chỉ có vài con người đủ sáng suốt để chăm lo đào tạo lớp trẻ trở thành những người có khả năng gánh vác nên độc lập trong tương lai và giữ gìn tự do, trong khi đó ở Ân Độ, một xứ sở cũng trong vòng nô lệ như nước ta, lại có những thi sĩ như Rabinđơranat Tagorơ (Tabindranath Tagore), những nhà văn, những nhà phê bình như Ananda Coomaraswamy tránh những hoạt động vô hiệu, đã hết lòng vì sự nghiệp giáo dục nhân dân. Những người Ấn Độ đó đã thành lập nên ba trường học quan trọng; đó là trường của Tagore ở Bôlơpua, trường của Kalasala ở Masulipatam và trường của Gurukula ở Harđơoar.
 
Ninh đã mô tả trường của Gurukula như một mẫu mực. Trường này lấy học sinh vào học bất kể giàu nghèo. Giáo dục được miễn phí, các thày giáo đều tình nguyện. Bảy năm đầu dành cho việc học tập về đạo đức và luân lý thông qua các văn bản tiếng Phạn ở miền Bắc Ấn Độ và rèn luyện thể lực. Trong mười hai năm sau đó, nhà trường giảng dạy về văn học, triết học và khoa học Phương Tây. Học trò sống với thày giáo; đối với gia đình, chỉ được gặp người mẹ thôi. Tới hai mươi nhăm tuổi, họ đã trở thành một người có ích cho xã hội. Cái tinh túy của nền văn hóa cổ Ấn Độ rất hòa hợp với những kiến thức hiện đại hữu ích. Một nỗ lực tương tự đối với nữ sinh nhằm sau này trở thành những đôi vợ chồng có ngang tầm trí tuệ.

Nước ta, cả trường công lẫn trường tư đã làm mù trí óc của thanh niên, bởi chính phủ thực dân cần có một dân tộc yếu hèn và nô lệ. Thật đáng thương thay khi thấy nhà trường sản sinh ra một loại người bị thuần hóa thành tôi tớ như thế.
Trong khi đại đa số người An Nam lao động quần quật để có miếng cơm manh áo thì một thiểu số lại còn cố trích máu mủ của họ dâng cho một cường quốc Châu Âu. Sứ mạng của chúng ta hiện nay là phải chuẩn bị cho nông dân đứng lên đấu tranh, là  "làm sản sinh những hạt nảy mầm thành cây trong tương lai ".
Nền độc lập mà chúng ta mong muốn không nằm trong hiện tại. Muốn có tự do ta phải chuẩn bị thông qua những nhu cầu và phương thức hành động của nó. Không phải cái nền văn học do ông cha ta truyền lại làm cho đầu óc chúng ta sáng sủa, bởi nó chỉ toát lên một tinh thần suy thoái, mệt mỏi, hấp hối. Chúng ta phải tự thoát ra khỏi cái luận lý chật hẹp làm cho chúng ta tê liệt và què quặt, phải thắng được những dư luận ngu ngốc, vượt lên trên cái tầm thường là hy vọng một cuộc sống dễ chịu, vượt qua sự hèn nhát nó làm mê muội ta đi. Cái cần cho thanh niên hiện nay là phải nắm được những nền tảng về trí tuệ và về khoa học cần thiết cho việc xây dựng nền tự do bước đầu cho đất nước.

Các bạn hãy rời khỏi núi non sông hồ của chúng ta. Đến khi nào, bằng con mắt sáng sủa, chúng ta đã nhìn ngó thế giới và xã hội loài người, chúng ta sẽ hiểu chúng ta hơn, và chúng ta sẽ lại trở về đây, trở về nơi chôn rau cắt rốn của chúng ta, nơi mà tinh thần sáng tạo và trí sáng suốt của chúng ta đem lại hữu ích.
 
Cái mà chúng ta cần, không phải là những cái bắt chước nô lệ theo người ta, bởi nó sẽ không giải phóng cho chúng ta mà tệ hơn nó còn trói buộc ta lệ thuộc vào những kẻ mà ta bắt chước. Chúng ta cần có những cái sáng tạo của riêng mình xuất phát từ bầu máu nóng của chúng ta, xuất phát từ những sự nghiệp do chính chúng ta phản ứng mà tạo nên. Người ta thường hay nói tới vai trò văn minh khai hóa của nước Pháp mà đại diện là tầng lớp cầm quyền hiện nay. Người ta đã tôn sùng một cách đê hèn "những người đem ánh sáng tới","những người tạo nên những đều kỳ diệu ở Á Châu '', tưởng chừng như những kẻ thô kệch do bộ Thuộc địa gửi sang, chứ không phải do nước Pháp trí tuệ gửi sang, sẽ có khả năng trong một thời gian ngắn nạn được, như với một chất bột nhão, cái tâm hồn của một chủng tộc trở thành một tác phẩm hoàn hảo. Người ta đã viết một cuốn sách có nhan đề Sự mầu nhiệm của nước Pháp ở Á Châu.
 
Thế thì sự mầu nhiệm đó là gì ? Quả là một sự mầu nhiệm vì chỉ cần một thời gian quá ngắn ngủi người ta đã hạ thấp được tới mức ngu tối dày đặc một cái trình độ trí tuệ vốn đã quá thấp rồi, dồn đẩy một dân tộc có những tư tưởng dân chủ vào một tình trạng nô lệ hoàn toàn. Nói đến vai trò giáo dục, vai trò khai hóa văn minh của bọn đầu thầy ở xứ Đông Dương này, thưa các ngài, thật buồn cười.
Những kẻ chính thức đại diện cho nước Pháp ở Đông Dương chỉ có thể nói tới những công trình xây dựng hoang phí, những đường sắt, những công xưởng hao người tốn của, những đường cáp ngầm, việc duy trì một đôi quân công chức khổng lồ, những công trái quốc gia hàng năm, tóm lại, đó là sự bóc lột quá mức ở Đông Dương (23)
Sau bài diễn thuyết phê phán quyết liệt trên, Ninh được Cognac, thống đốc Nam Kỳ gọi lên :
- Chắc ông thống đốc cũng đã nhận xét là tôi nói toàn những điều có tính chất trí tuệ... 
- Đất nước này quá tầm thường, thống đốc ngắt lời, nếu ông muốn làm công việc trí tuệ, xin mời ông sang Moskova. Hãy hiểu rỏ rằng cái hạt giống mà ông muốn gieo ở đất này không bao giờ mọc mầm cả đâu, ông đi bất cứ nơi nào cũng vẫn gặp ông đốc tơ Cognac này, người của tôi luôn báo cho tôi bất kỳ một hành đông nhỏ nào của ông, cái đất Nam Kỳ này, chốn chốn phải tuân lệnh tôi, và nếu như ông vẫn cứ ngoan cố thì đốc tơ Cognac sẽ sẵn sàng dùng đến những phương tiện cuối cùng. (24)
 
Thái độ thô bạo của thống đốc chỉ thúc đẩy thêm con người đầy cao vọng Nguyễn An Ninh về phía đối lập chính trị cụ thể hơn.
Một giai thoại sau đây sẽ cho ta rõ tính thô bạo thực dân và thái độ phản ứng quyết liệt của Ninh :
 
Một buổi tối ở rạp chiếu bóng. Một viên đại úy và một viên trung úy bộ binh thuộc hải quân Pháp đang ngồi xem ở phía sau Ninh. 
Ghế của Ninh ở ngay trước ghế của viên trung úy. Viên trung úy nắm lấy lưng ghế lay mạnh và bảo Ninh:« Sao mày không chịu ngồi yên hả...mày không cho tao xem à...». Ninh trả lời bằng một giọng lễ phép kiểu Á Đông rằng anh không quen nghe người ta nói với mình bằng cái giọng ấy, hơn nữa nếu như người ta bảo Ninh làm ơn dịch ghế ra thì anh sẵn sàng làm ngay. Viên trung úy vẫn tiếp tục sẵng giọng mày tao với Ninh; Ninh cũng mày tao trở lại làm cho viên trung úy nổi điên. Khi viên trung úy buông một lời thô tục, Ninh nhấc ngay chiếc ghế giơ cao lên. Những người An Nam có mặt vội giữ cánh tay Ninh. Nếu lúc ấy Ninh đập cái ghế xuống thì tất cả người Châu Âu có mặt trong rạp sẽ nhảy xổ vào Ninh. (25)
 
Chưa đầy hai tháng sau lời cảnh cáo của thống đốc Nam Kỳ, ngày 10 tháng chạp năm 1923, Ninh tung ra tờ báo Chuông Rè (La Cloche fêlée), có đề câu "Cơ quan truyền bá tư tưởng Pháp", thoạt nghe có vẻ lạc lõng, nhưng vừa có tính mềm dẻo ngoại giao vừa có tính thành thực. "Những tư tưởng Pháp" này không phải là những tư tưởng của bọn chủ tỉnh và bọn thực dân, mà là những tư tưởng về tự do dân chủ. Ninh tuyên bố: "Sự đè nén áp bức chúng ta xuất phát từ nước Pháp, nhưng tinh thần giải phóng cũng xuất phát từ nước Pháp".(26)
Tờ báo ra bằng tiếng Pháp vì mọi sự ấn hành bằng quốc ngữ đều phải được phép trước. Người đứng ra làm quản lý tờ báo là một người có cảm tình với Ninh, một người Pháp lai, tên là Dejean de la Bâtie.
 
------&&&&----
 
Báo Chuông Rè tấn công vào chính quyền thực dân và xã hội thực dân, từ thống đốc Cognac tới những tên thực dân khác; tờ báo mở đầu cho sự đối lập công khai ở Nam Kỳ giữa báo chí với chính quyền, thử nghiệm những khả năng hợp pháp để kêu gọi đồng bào (nghĩa đen là cùng một bào thai) thức tỉnh và thúc dục họ tự mình chuẩn bị cho tương lai của "dân tộc Đông Dương".

Số báo ngày 21 tháng 4 năm 1924 hô hào thanh niên học sinh, tương tự như nội dung cuộc nói chuyện hồi tháng 10 năm 1923, hãy sang Pháp học hỏi, bên ấy có nền văn hóa tự do và sự tiếp xúc xã hội dễ dàng hơn :
 
Không phải là ở đất nước này mà chúng ta tiếp thu học hỏi đưọc những gì mà chúng ta cần. Không phải những chính quyền ở Đông Dương hiện nay là nơi mà chúng ta đạt những hy vọng về tương lại của dân tộc. Một dân tộc nô lệ tin cậy ở người chủ để nhanh chóng quên đi những nguyên nhân mà người ta bắt mình làm nô lệ. Cái mà chúng ta cần, đó là những con người chỉ tin cậy ở chính mình, biết rằng có một nhiệm vụ, một sứ mạng được giao cho họ và dốc lòng hết sức vì giống nòi của mình. Quả là một niềm tự hào khi thấy từ đất nước chúng ta xuất hiện những con người như Phan Chu Trinh, Phan Bôi Châu, Nguyễn Ái Quốc, những con người như Đề Thám, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến và biết bao anh hùng vô danh khác; thế nhưng đối với đất nước An Nam không phải chỉ là việc lấy lại một nền độc lập sớm sủa, một nền độc lập sẽ có thể bị mất ngay sau khi chiến thắng do thiếu một ý thức kỷ luật và giáo dục về chính trị. Cái ngày mà đất nước ta có khả năng gìn giữ được tự do, cái ngày đó sẽ đến. Cũng còn một vấn đề là phải cách tân tâm hồn An Nam, không phải chỉ là nuôi dưỡng những ước mộng lớn lao, mà còn phải có được một nhóm người có khả năng chuẩn bị cho tương lai. 
 
Ta thấy đó là điều quan tâm thường trực của tầng lớp trí thức An Nam, kể từ đầu thế kỷ 20 với Phan Bội Châu đã nỗ lực vượt qua sự ngăn cản của chính quyền thực dân để tổ chức một tầng lớp thanh niên xuất dương du học tất nhiên bí mật sang Nhật Bản, chỉ một khi thoát khỏi được cái lồng sắt Đông Dương, mới có thế tự hiện đại hóa và có một tầm nhìn thế giới về mọi vấn đề.
 
Bản thân Ninh tự đi bán rao tờ báo trên các đường phố Sài Gòn. Các độc giả của Ninh, ngấm ngầm, chỉ là những người có khả năng hiểu biết tiếng Pháp, thầy giáo, học sinh, công chức người An Nam, họ liều đọc trong nỗi lo sợ bị rầy rà hoặc bị đuổi việc một khi bị bắt chợt đang đọc những « bài viết phản loạn ». Chính quyền thực dân ép buộc, chủ nhà in không dám tiếp tục cộng tác với Ninh; anh đành phải tự lập một nhà in thô sơ tại phố   Pierơ Fơlanđe ( Pierre Fellande),, rồi từ một người vừa biên tập vừa đi bán báo, bây giờ kiếm cả thợ in.
Tại Pháp, cuộc bầu cử tháng 5 năm 1924 đưa được phái Tả vào Nghị viện. Thuộc địa Nam Kỳ có quyền cử một đại biểu, thế nhưng tất nhiên để bầu được một đại biểu người Pháp vào đó thì số cử tri phải là công dân Pháp, hoặc gốc Pháp hay nhập quốc tịch Pháp như một số rất ít người An Nam và Ấn Độ. Polémon, một trạng sư xu hướng tự do, bất bình với những mưu đồ của chính quyền Cognac, kể cả hợp pháp hay bất hợp pháp, đứng ra tranh cử chống đối Ecnêt Utrây, ứng cử viên về phái tài chính thuộc địa. Ông phô bài rõ ràng những nhũng lạm, những bất công của chính quyền thực dân đối với người An Nam, rồi tờ báo của Nguyễn An Ninh lên tiếng ủng hộ Mone. Tiếc thay, trong cuộc bầu ông thất thế với 626 phiếu, so với 1555 phiếu của Utrây. Sau đó vào tháng 6, tờ báo Sự Thật (La Vérité) của Mone bị cấm. Chính quyền thuộc địa phản ứng càng quyết liệt hơn khi xảy ra vụ Phạm Hồng Thái - một lưu học sinh An Nam - ném bom vào toàn quyền Mecle khi hắn ghé qua Quảng Châu, vào ngày 19 tháng 6 năm 1924. (27)

Báo Chuông Rè phải im tiếng một thời gian sau số 19 (14 tháng 7 năm 1924) khi Ninh, mượn cớ chuẩn bị thi lấy bằng tiến sĩ luật khoa, lên đường sang Pháp lần thứ hai để trú tại Paris trong một năm ngắn ngủi. Ở Paris, Ninh gặp lại Phan Chu Trinh và Nguyễn Thế Truyền. Truyền vẫn cộng tác với Hội Liên hiệp Thuộc địa và tờ báo Người Cùng khổ (Le Paria), còn Trinh vẫn đấu tranh đòi những quyền cơ bản đồng thời vẫn tiếp tục vận động để trở về nước một cách hợp pháp. Nằm ở nước ngoài để rung chuông gõ trống chẳng là một việc tốn công vô ích sao? Cuối cùng, vào tháng 5 năm 1925, Trinh nhận được giấy thông hành về Đông Dương cùng một vé tàu thủy hạng nhì, với số tiền là 5000 franc, đó là tất cả các khoản gộp lại đối với số tiền trợ cấp mà ông đã bị cắt từ năm 1914, khi ông bị bắt.
Trước khi lên đường ba hôm, Ninh và Trinh tham dự cuộc mít ting tập hợp hơn 800 người Pháp và Đông Dương tại Khách sạn Hội Bác học (Hôtel des Sociétés Savantes); kết cuộc mít ting quyết nghị như sau:
 
Những người Pháp và Đông Dương tập hợp ngày 25 tháng 5 năm 1925 vào hồi 21 giờ, do ông Phan Chu Trinh chủ tọa, sau khi nghe các bản tường trình của ông Nguyễn An Ninh, Diệp Văn Kỳ và Dương Văn Giáo về tình hình chung ở Đông Dương, đã thông qua nghị quyết sau đây để gửi tới chính phủ Cộng hòa, yêu cầu chính phủ xem xét tình hình hiện nay của Đông Dương để dự định những biện pháp khẩn cấp hầu đảm bảo cho Liên bang Đông Dương: 
- Một thể chế chính trị phù hợp với tình hình tiến triển hiện nay ở Đông Dương; 
- Một đại diện hữu hiệu cho những quyền lợi cơ bản của Đông Dương tại Pháp và tại Đông Dương ;
- Cho dân bản xứ đuợc nhập quốc tịch Pháp;
- Tự do báo chí bằng tiếng bản xứ và tiếng Hán;
- Tự do hôi họp và lập hội;
- Tái lập quyền tự do giáo dục (đã bị bãi bỏ do nghị định ngày 14 tháng 5 năm 1924) (28)
- Bãi bỏ chế độ đặc biệt đối xử với ngưởi bản xứ (Indigénat);
- Đối xử bình đẳng giữa viên chức người Pháp và người bản xứ;
- Tự do di trú sang Pháp và sang nuớc ngoài;
- Xóa bỏ sự bất bình đẳng trong quân dịch;
- Áp dụng cho người bản xứ những luật lao động (nhất là về nghiệp đoàn và tai nạn lao động);
- Cải cách nền tu pháp ở Đông Dương bằng cách cung cấp cho dân bản xứ những đảm bảo pháp lý như người Châu Âu; chấp nhận cho người Đông Dương đuợc dự thẩm án;
- Thành lập ở Paris một Ủy ban Nghiên cứu Đông Dương bao gồm các chuyên viên và kỹ thuật viên người Pháp và Đông Dương để giải quyết những vất đề cấp bách và thông báo cho chính phủ đuợc biết kịp thời những nguyện vọng của dân bản xứ. (29)
 
Ngày 28, Nguyễn An Ninh và Phan Chu Trinh lên tàu trở về Sài Gòn. Phan Văn Trường đang chờ họ ở đó. Thế là ba Con Rồng trong nhóm Ngũ Long lại cùng nhau đứng hàng đầu trận tuyến đối mặt với thực dân phản động.

Ninh mời Phan Chu Trinh về trú tại nhà anh ở Mỹ Hòa (Quán Tre, Gia Định), ở đó nhiều người có cảm tình tìm cách đến thăm ông già chiến sĩ bị ngược đãi này mặc dầu bọn lính kín và săn đầm kiểm soát gắt gao.

Phan Văn Trường lập văn phòng luật sư tại số 119 phố Mac-Mahon. Từ ngày 17 tháng 3 năm 1925 ông kêu gọi thanh niên Sài Gòn suy nghĩ về việc giáo dục học vấn trong dân tộc An Nam (30). Ông lên án việc "sùng bái bằng cấp", do chế độ giáo dục của thực dân duy trì, thúc giục đồng bào lao vào học hỏi, sao chép và dịch sách để phát triển, làm phong phú, làm tinh tế thêm cho chữ quốc ngữ, thứ ngôn ngữ của đất nước đang kỳ thai nghén, sau sẽ trở thành thứ ngôn ngữ đóng vai trò xứng đáng trong mọi lĩnh vực, văn học, nghệ thuật và khoa học, tất cả sẽ góp phần làm nảy nở "tâm hồn dân tộc ".
 
Ngày 17 tháng 6, Polo Mone và Anđơrê Malrô (André Malraux) tung ra tờ báo Đông Dương (’Indochine) để « bảo vệ dân bản xứ ». Lúc đó có những tin tức vang vọng từ Trung Hoa về những cuộc phu phen, thợ thuyền và thủy thủ Trung Quốc đình công phản đối những điều kiện lao động gần như nô lệ ở Thượng Hải, Hương Cảng, Quảng Châu. Tin về những cuộc biểu tình chống đế quốc Nhật, Pháp, Anh đã diễn ra sau vụ bọn Nhật tàn sát công nhân ở Thanh Đảo, sau những loạt liên thanh của bọn Anh và Pháp bắn chết mười hai sinh viên ở Thượng Hải và khoảng 50 người khác ở Quảng Châu. Trên tờ Đông Dương ngày 30 tháng 6, Phan Văn Trường viết:
 
Chúng ta hãy theo dõi chăm chú những sự biến ở Trung Hoa. Những sự kiện này sẽ có ảnh hưởng khắp thế giới. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng số phận của chúng ta có liên quan mật thiết với số phận của cả vùng Viễn Đông.
 
Những người bị bóc lột ở Trung Hoa nổi dậy đã ảnh hưởng đến anh em của họ ở Đông Dương phải chăng? Họ có hưởng ứng chăng, ta chỉ biết rằng cuộc bãi công đã nổ ra ở sở Ba Son (xưởng Thủy binh) Sài Gòn ngày 4 tháng 8 năm 1925 khi một trong ba tàu chiến, chiếc Giulơ Fery (Jules Ferry), cần sửa chữa gấp rút để điều động sang Trung Hoa. Một ngàn người gồm thợ, phu và nhân viên Sở Ba Son ngừng làm việc và tập hợp tại đại lộ Lurô (Boulevard Lurau) dọc theo xưởng tàu binh. Chưa bao giờ người ta thấy có một cuộc đình công qui mô như vậy trong một công sở nhà nước, nơi mà những người lao động có được công việc tương đối ổn định và đồng lương không đến nỗi khốn khổ như những nơi khác. Nguyễn An Ninh kêu gọi thợ thuyền và nhân viên ở khắp các công xưởng khác hãy đoàn kết với các bạn đang đấu tranh. Đến ngày thứ 8, viên chỉ huy hàng hải phải chấp nhận thương lượng với bốn đại biểu công nhân đòi tăng 20% lương, đòi xếp việc cho những công nhân bị giảm trước đó và đòi phải dừng giờ làm việc vào hồi 17 giờ chứ không phải là 17 giờ 15 vào ngày trả lương. Phía đình công thắng cuộc.
 
Alecxănđơrơ Varennơ (Alexandre Varenne), toàn quyền Đông Dương
 
Phong trào thợ thuyền sôi nổi trong các cảng ở miền Nam Trung Hoa và sự sôi động trong dân chúng ở Nam Kỳ đã đủ làm bận tâm Cánh Tả nắm quyền ở Pháp, họ tìm cách làm dịu phong trào của nhân dân An Nam bằng cách cử Varenne, đảng viên Đảng Xã hội, một đại biểu quốc hội có tinh thần cải cách, sang làm toàn quyền Đông Dương, ngày 29 tháng 7 năm 1925.
Trong khi tầng lớp thực dân coi sự chỉ định này như một sự khiêu khích thì giới tư bản bản xứ xu hướng lập hiến lại cảm thấy có hy vọng. Tại Paris, Dương Văn Giáo, lãnh tụ lập hiến là tuyên bố: " Chính phủ của nền Cộng hòa ngày nay dường như cũng đã đồng ý soi rọi đôi chút ánh sáng vào cái đống đổ nát do một thứ chủ nghĩa thực dân lỗi thời tích tụ từ nhiều năm nay ở Đông Dương." Rồi ở Sài Gòn họ lo chuẩn bị để trình cho quan toàn quyền những điều trần và nguyện vọng của họ.
Ngày 18 tháng 11, Varenne bước chân lên cảng Sài Gòn trong bộ âu phục thường chứ không phải trong bộ quân phục hào nhoáng chướng mắt. Tờ báo Đông Dương bị xiềng (L’Indochine enchainée), thay thế cho tờ Đông Dương, đã được đem phát không. Trên đó có đăng một bức thư ngỏ của hai người phụ trách tờ báo là Mone và Malerau gửi cho vị toàn quyền mới. Bức thư trình bày những điều kiện bất hợp pháp trong các cuộc tuyển cử ở Nam Kỳ dưới áp lực của chính quyền Cognac. Bức thư tố cáo những mưu đồ về tài chính, những mưu mô kiềm chế báo chí, việc Cognac có dính líu tới vụ bê bối về ruộng đất ở Cà Mau trong đó 387 nông dân bị tước đoạt ruộng đất (tác giả công bố sẽ gửi tới Varenne ‘‘ hơn năm chục lá đơn kêu nài hợp lệ, rõ ràng và có ký tên liên quan tới vụ bê bối đó’’), cuối cùng lá thư tố cáo Cognac và bạn bè của ông ta mưu đồ muốn biến Nam Kỳ thành khu rừng cấm dành riêng cho họ săn thịt.

Sáu ngày sau, viên hội đồng quản hạt Nguyễn Tấn Dược phê phán nghiêm khắc những điều không chính xác trong Sách Xanh (Livre Vert), bản báo cáo hàng năm của thống đốc thông tư Hội đồng quản hạt. Làm sao Cognac có thể cho rằng tình hình dân chúng là ổn định và sung sướng khi hắn đề nghị một khoản tăng lớn trong ngân sách, không phải để xây dựng trường học và dịch vụ y tế, mà là để cung cấp sở Mật thám, một cơ quan giám sát chính trị chi phí tốn kém ‘‘chuyên theo dõi và tìm bắt những con người chỉ sai lạc là phát ngôn những ý tưởng có tính chất phiến loạn bất kể là đúng hay sai, và không tuyệt đối tận tâm với các nhà cầm quyền đương thời’’.
Dược tố cáo tất cả những điều tai hại đã giãi bày qua bức thư ngỏ, chẳng e ngại gì Cognac cùng số đông chủ tỉnh người An Nam thường hay nịnh bợ chủ Pháp để vinh thân phì gia. Ông nhắc lại sự bất công về mặt thuế khóa, sự khốn khổ của người nông dân chỉ có thể đi vay nặng lời, trong khi chính quyền lại cho những nhà kinh doanh và bọn chủ vườn cao su vay nhẹ lời; ông nhắc cái thời hạn quá lạm, người An Nam xấu số bị bắt đi lính - bốn năm -, bị bất kỳ gửi đi sang tận Syri và Bắc Phi để đàn áp những cuộc nổi dậy... Một số hội đồng quản hạt khác, như luật sư Gales, người bảo vệ Nguyễn An Ninh trước tòa án, như Trương Văn Bền cũng theo hướng phê phán đó. Tuy vậy ngân sách mà Cognac  đề nghị cũng được hai phần ba số hội đồng bỏ phiếu chấp thuận, còn Varenne y tỏ thái độ như không biết mọi chuyện. Các báo chí theo chính phủ im lặng không nêu lên chút gì đáng kể trong buổi họp đó, trong bầu không khí giông bão; chỉ có tờ Đông Dương bị xiềng số 7 có tường thuật chính xác và tỉ mỉ.
 
Truớc hôm lên đường ra Huế và Hà Nội, ngày 28 tháng 11, Varenne lại có dịp để nắm tin tức. Thủ lĩnh lập hiến Nguyễn Phan Long trình lên toàn quyền những đơn dân bản xứ khiếu nại và một Tập đơn thỉnh nguyện của khoảng 600 nhà tư bản, địa chủ và hương lý từ các tỉnh chạy đến. Varenne hứa hẹn mơ hồ sẽ ra lịnh điều tra và trấn chỉnh nhũng hà lạm, nhưng tới việc xuất bản tự do báo chí bằng chữ quốc ngữ thì Varenne khuớc từ : Những người làm báo quốc ngữ, vì chưa chuẩn bị để huởng dụng quyền tự do một cách khôn ngoan, sẽ lạm dụng và tung ra những lời quá khích trong tư tuởng của họ do đó gieo rắc sự rối loạn trong xứ, rồi một làn sóng phản đối sẽ sớm nổi lên.
Không biết có phải do Cognac và những người xung quanh nịnh hót xoa dịu không, để đến mức Varenne thốt ra một cách mềm dịu: Thôi, chúng ta hãy quên quá khứ ! một thái độ đã bị báo Đông Dương bị xiềng châm chọc: ‘‘Hôm qua là đảng viên xã hội, hôm nay đã là bảo thủ thượng thặng trong số những kẻ bảo thủ danh tiếng, lại thêm một sự đổi thái độ dưới dấu hiệu của đồng bạc Đông Dương’’.
Varenne chỉ giữ chức toàn quyền cho tới tháng 10 năm 1927, bởi lẽ cánh hữu ở Pháp cũng như bọn thực dân ở Đông Dương khó mà chấp nhận việc ông ta ân xá ông già phiến loạn Phan Bội Châu, cái xu huớng ông ta cho phép thêm nhiều sinh viên sang Pháp học, sự ông khuớc từ lập lại ngạch trưng thuế cờ bạc, cùng sự ông ta quan tâm đến các Viện Dân biểu ở Trung Kỳ và Bắc kỳ (31) hai viện này rồi sẽ được các viên thống sứ cải thành những cơ quan tư vấn theo đuôi, và từ đó những người An Nam trung thực sẽ từ chối tham gia. Phái hữu ở Pháp cũng không tha thứ ông ta khi đọc bài diễn văn, Varenne chỉ có hơi huớng của chủ nghĩa nhân văn, phần nào còn mang ảo tuởng về một nuớc Pháp thi ân bố đức, mà tờ báo Thời Đại (Le Temps) ngày 12 tháng 3 năm 1926 đăng lại cái đoạn văn đáng để lên án sau đây:
 
Xứ Đông Dương đang tìm số phận của mình. Người ta có thể nghĩ rằng nước Pháp một khi sứ mạng đã hoàn thành, sẽ không đòi hỏi vai trò nào nữa trong cuộc sống ở bán đảo này, hoặc để lãnh đạo hoặc tư vấn cũng không nữa. Liên hợp với nước Pháp hay tách khỏi nước Pháp, thống nhất hay phân chia, không ai có thể biết được tình hình sẽ ra sao trong vòng một thế kỷ nữa đối với nhóm dân tộc mà chúng ta đã tập hợp lại dưới quyền bảo hộ của chúng ta.
 
Rồi tờ Thời Đại kết luận:
Chính phủ của ông Boriăn hiện nay thấy có hai điều cần thiết là phải cảnh báo cho toàn quyền Đông Dương về những lời của ông ta đã phát ngôn rất hiểm nguy và yêu cầu ông ta phải minh định cho rõ cái chủ thuyết thực sự của ông ta.
 
Một tập đoàn thực dân đang bị thất vọng trong việc kiếm lợi lớn trong việc cho thuê các sòng cờ bạc cùng một bộ máy quan quyền đang khát khao quyền lực và tiền bạc, đã toa rập nhau cổ động đầu độc oai thế quan toàn quyền Đông Dương, rốt cuộc chiến dịch ấy đã thắng ‘‘người chính nhân quân tử’’ là ông Alexandre Varenne.
 
Phan Chu Trinh:
Đạo đức và Luận lý Đông Tây



Vào hôm sau ngày Toàn quyền xu hướng xã hội chủ nghĩa tới Đông Dương, Cụ Phan (Phan Chu Trinh) được một mớ thanh niên trí thức Việt Nam mời nói chuyện về Đạo đức và Luận lý Đông Tây (32) trong một quán cà phê của người Pháp tại góc phố Risso và đại lộ Albert 1er, hôm ấy nhằm ngày 19 tháng 11 năm 1925. Một ngàn người tập hợp tại đó, phần lớn là thanh niên, trước hết họ đến là để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người chiến sĩ già từ chốn lưu đày trở về xứ sở. Đám đông tràn ra cả ngoài sân. Cụ khởi nói:
 
Anh em đồng bào thấy tôi là người tuổi tác, ở lâu năm bên nước Pháp mới về, anh em đồng bào có lòng quá yêu, nhường cho tôi bước đầu lên diễn đàn để tỏ ý kiến và hy vọng của tôi đối với xã hội Việt Nam ta từ ấy đến giờ, thì tôi lấy làm cảm tạ vô cùng.
       Không nói, tưởng anh em đồng bào cũng đã biết, tôi vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam mà phải lăn lóc đến mười tám năm nay. Trong khoảng 18 năm (hơn 14 năm ở Pháp) thường mong mỏi được gặp mặt anh em đồng bào nơi cố hương, đặng tỏ chút ý kiến về những sự đã được nghe thấy trong khi trôi nổi nơi đất khách quê người.
Không ngờ giấc mộng được thành, trở về nơi chôn nhau cắt rốn, giáp mặt anh em đông đủ thế này. Tôi vui mừng quá.
 
Sau đó cụ trình bày đại lược như sau: Cái nền đạo đức của chúng ta giống như một trái quả khô héo, chúng ta phải tự trách lấy chúng ta và phải làm sao làm sống lại cái đạo đức đó. Đạo Đức, chính là cái làm cho nên người, ở mọi thời đại, ở khắp mọi nơi chính đạo đức là cái làm cho con người xứng đáng làm con người, nghĩa làn có lòng nhân, sự công bằng, tương kính lẫn nhau, biết lẽ phải, giữ lời hứa, tham gia sự lao động cần thiết. Cái đạo đức ấy nằm trong lời dạy của Khổng Tử: ‘‘Khi ta làm điều thiện, Trời Đất sẽ giúp ta, khi ta làm điều ác, Trời Đất sẽ diệt ta’’, hay như câu của Mạnh Tử: ‘‘Khi mình tự khinh mình thì người khác sẽ khinh mình’’.
 
Ngược lại luận lý là tùy thuộc từng nơi chốn từng thời đại, nó giống như y phục, thay đổi theo quyền lực; cái chế độ quân chủ cổ lỗ của chúng ta kéo theo nó những qui tắc luân lý, không những là cái luân lý gia đình mà theo thời gian đã đi tới chỗ độc đoán đáp ứng với sự chuyên chế của nền quân chủ, trong đó trẻ con đã phải tập thói quen tuân phục và tiếp thu tinh thần nô lệ, trong đó vợ phải vâng lời chồng, đồng thời nó còn kéo theo cả một nền luân lý quốc gia còn tệ hại gấp đôi, bởi lẽ từ thời cổ xưa, nó chỉ gồm trong hai chữ, vua tôi; người dân không có quyền can thiệp vào công việc quốc gia, họ không có quyền công dân. Tại Châu Âu, nền luân lý gia đình đã nhường bước trước nền luân lý quốc gia, song những quốc gia Châu Âu là những quốc gia hiếu chiến, gây những cuộc chiến tranh chẳng có lợi cho ai. Những quốc gia ấy và quốc gia của ta ngày nay phải cùng tiến tới thời đại xã hội xóa bỏ bất công và phân chia giai cấp. Thời đại xã hội đã được hé mở bởi nhiều triết gia lớn, những văn sĩ, thi sĩ, ở phương Đông cũng như phương Tây; đó sẽ là thời đại của đạo đức, của ‘‘tâm đạo’’ chứ không còn là thời đại của tương quan lực lượng. Ở Châu Âu hiện đã có những tầng lớp thanh niên xã hội chủ nghĩa, những thanh niên dân chủ, mà tầm nhìn của họ vượt biên giới quốc gia. Con đường sẽ còn dài, bởi lẽ nếu như xu hướng xã hội chủ nghĩa nẩy nở ở Châu Âu, thì ở nước ta vẫn có phương châm sống chết mặc bây; người ta quên nhân dân; quên nỗi thống khổ nghèo nàn của họ; người ta còn lo học vì danh lợi, vì địa vị; dân càng nô lệ, ngôi vua càng mạnh và các quan càng giàu; cái tinh thần ấy lan đến cả những thầy thông, thầy ký, thậm chí đến cả cậu bồi, anh bếp; ai ai cũng mong trở thành thầy ký, ông chánh... để lại đè nén người khác. Nếu chúng ta muốn rằng một ngày nào đó nước nhà độc lập thì hãy tuyên truyền lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần tương thân tương ái.
 
Từ hơn sáu mươi năm nay, dưới sự bảo hộ của một nước dù sao cũng rất văn minh, thế mà sở mật thám Pháp vẫn cứ ghi tên chúng ta vào sổ đen khi chúng ta nói đến yêu nước, họ ghép chúng ta vào tội âm mưu lật đổ chính quyền. Chúng ta đừng để bị tê liệt nữa. Nếu như người Pháp không cho phép chúng ta yêu nước và đẩy chúng ta vào chỗ tuyệt vọng, thì ta sẽ không mắc tội lỗi gì nếu ta tỏ ra không trung thành với họ. Tôi không nói đến chuyện khích động nổi dậy hay phải ép mình nhờ vả nước này nước khác để tạo nên những sự khuấy động trong nước, vì điều đó sẽ làm chúng ta lệ thuộc vào người. Chúng ta phải trải qua một giai đoạn hai ba chục năm theo một nền luân lý quốc gia mới, giành được một tinh thần tự do, rồi chúng ta mới tiến tới một nền luân lý xã hội. « Người ta có thể giết chứ không thể làm nhục một kẻ sĩ» (Sĩ khả sát bất khả nhục). Chớ để giàu sang làm ta mê đắm, chớ để nghèo nàn làm ta biến đổi, chớ để cường quyền làm ta cúi đầu, đó mới là người chân chính (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thị chi đại trượng phu). Mạnh Tử nói rằng dân là quý nhất. Dân phải làm gì khi vua là hôn quân? Mạnh Tử không trả lời câu hỏi đó, nhưng lịch sử đã có câu trả lời: vua ác thì dân diệt.
Chúng ta hãy coi chừng đừng giục dân nổi dậy với giáo mác, gậy gộc; đừng phơi mình ra để chết vô ích; làm như thế chỉ tạo thêm sự cao ngạo và đè nén áp bức của những kẻ xu nịnh.
 
Ngày 27 tháng 11, trong một cuộc nói chuyện thứ hai, Phan Chu Trinh bàn về Quân chủ và Dân chủ (33)
 
Vụ án Phan Bội Châu, tháng 11 năm 1925
 
Ngày 23 tháng 11, đám người nhiệt tình và sôi nổi bao quanh tòa án Hà Nội, khi mở phiên tòa xử ông già phiến loạn, Phan Sào Nam, người đã bị kết án tử hình vắng mặt vào năm 1913 khi xảy ra vụ ném bom ở Hà Nội. Đứng trước các quan tòa, bị cáo tuyên bố:
 
Thành thực mà nói, tôi tự nhận đã có âm mưu chống lại vua của tôi nhằm lật đổ chế độ quân chủ, tạo nên một nước Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi cũng tự nhận đã có nhiều nỗ lực, bằng lời nói và cây bút, để thức tỉnh đồng bào tôi một tấm lòng yêu nước mà từ trước chưa có, đã phê phán chính phủ bảo hộ trong bước đầu của giai đoạn lưu đày và trách cứ họ để cho nước Nam ngập ngụa trong vòng ngu tối; tôi cũng tự nhận quá nghiêm khắc đối với quan trường và trách cứ họ về những sự nhũng lạm thái quá. Nếu như các ông thấy rằng những hành động của tôi xứng đáng phải tôi chết, thì hãy lấy đầu tôi đi, tôi sẽ sẵn lòng rơi đầu cho các ông bởi đã từ lâu tôi đã tự biến thân mình phục vụ cho lý tưởng của mình. Tôi đã hăng say tranh đấu vì hạnh phúc của tổ quốc tôi, của dân tộc tôi, song chưa hề một phút nào đi chệch khỏi phẩm chất của tôi. (34).
 
Việc kết án tử hình Phan Bội Châu, mặc dù đã giảm xuống thành án khổ sai chung thân, khích động giáo viên và học sinh rầm rộ bãi công, biểu tình tuần hành ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng và Huế. Truyền đơn, điện tín đòi tha cụ Phan tung ra khắp nơi. Nhiều bà cao tuổi tập trung đông nghẹt trên con đường
tập trung đông nghẹt trên con đường nơi xe chở toàn quyền đi qua, họ qùi xuống, xin ân xá cụ Phan.
 
Tại Nam Kỳ, cái tên Phan Bội Châu chưa đuợc thanh niên biết đến nhiều. Cuộc du hành chớp nhoáng của Phan vào năm 1904 tới Sài Gòn rồi tới Lục tỉnh, đến tận cùng Thất Sơn gần Châu Đốc, chỉ để lại đấu vết trong tâm trí của những người lớn tuổi hoạt động trong hội của Cường Để. Thế nhưng, qua bài tường thuật tỉ mỉ và nhắc lại cuộc đời hăng say hoạt động của  ‘‘Cụ Phan Sào Nam’’ (bút danh của Phan Bội Châu), tờ Đông Pháp Thời báo đã làm cho các tầng lớp nhân dân xúc động đặc biệt là đối với những thanh niên cấp tiến. Báo Chuông Rè, sau hai mươi tháng im tiếng, lại được Nguyễn An Ninh tung ra vào ngày 25 tháng 11, phát động chiến dịch bảo vệ Phan Bội Châu. Khi Varenne đã thả Phan Bội Châu vào ngày 24 tháng chạp 1925, báo ấy kêu gọi lạc quyên giúp ông, mọi tầng lớp nhân dân khắp nơi đều hưởng ứng nhiệt liệt.
 
Bị quản thúc ở Huế, Phan Bội Châu sống trong cảnh khó khăn. Với số tiền lạc quyên, ông dựng một túp lều bên bờ sông Hương. Thời gian đầu ông dạy chữ quốc ngữ và chữ nho cho các trẻ em. Nhưng sau đó các phụ huynh đã phải ngăn không cho con đến học, do sức ép ngầm của sở mật thám. Thiếu sự giúp đỡ của những người có cảm tình, ông phải sống một cách chật vật, đôi khi nhà cửa trống trơn. Trong số những thanh niên gần gũi để học tập tấm gương một thời đã quên mình vì đại nghĩa, ta thấy có con rể của ông là Vương Đức Cảnh, phụ trách bí mật đảng Thanh Niên ở Trung Kỳ; thư ký của ông là Phan Đăng Lưu, (sẽ bị bắn vì là cộng sản vào năm 1940); Phan Văn Hùm (sẽ bị những người thuộc đảng của Nguyễn ái Quốc ám sát năm 1945).
 
Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940, để lại nhiều bài thơ, một cuốn phê phán đạo Khổng, Khổng Học Đăng, và tập hồi ký Tự phán, viết trong mười lăm năm cuối đời.
 
Mùa Xuân Sài Gòn, tháng 3-4 năm 1926 
 
Ngày 30 tháng 11 năm 1925, trên tờ báo Chuông Rè của anh, Nguyễn An Ninh lên án chính sách Pháp Việt hợp tác của đảng lập hiến trong bài:  ‘‘Người ta chỉ hợp tác với những người bình đẳng’’. Ngay từ trước, ngày 19 tháng 5 năm 1924, anh đả viết  ‘‘chỉ nên trông cậy nơi mình’’:
 
Tại Nam Kỳ, chúng ta có mảnh đất hợp pháp mà trong những phạm vi giới hạn của nó chúng ta có thể hoạt động được nhiều. Chúng ta có quyền mạnh dạn công bố ở xứ này những nguyên tắc căn bản của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, từ mục đầu tiên nói rằng
 
 
 
 
Đám táng Phan Châu Trinh, Sài Gòn 1926:

Nhóm Jeune Annam

 
Người ta sinh ra ở đời đều có quyền tự do và bình đẳng về công quyền, cho tới mục cuối cùng, mục này công bố bổn phận người công dân nào bị người xâm phạm quyền là phải đứng lên cầm vũ khí chống lại những kẻ áp bức vi phạm quyền của mình. Tự do là phải giành lấy chứ không phải là do người ta thỏa thuận cho. Muốn giành lấy tự do trong tay một cường lực có tổ chức thì phải có một lực lượng đối lập có tổ chức. 
 
Ngày 14 và 24 tháng chạp, anh xác định lập trường đối với chủ nghĩa Gandhi và chủ nghĩa quốc tế:
 
     Hiện nay chỗ nào cũng thấy người An Nam nói tới chủ nghĩa Gandhi. 
Tốt thôi. Tuy nhiên, ta phải công nhận rằng chúng ta đang rạp mình trước những kẻ áp bức, trong khi đó chủ nghĩa Gandhi khuyên chúng ta phải chống đối bằng một tinh thần kiên trì thụ động nhưng tự hào, biểu lộ được ý thức về nhân phẩm của mình. Quả vậy, Gandhi đã tuyên bố rằng ‘‘Ở nơi nào phải lựa chọn giữa sự hèn nhát và bạo động, tôi khuyên nên bạo động. Tôi mong muốn được nhìn thấy một nước Ấn Đô tự do bằng bạo động mà giành được còn hơn là chịu xiềng xích nô lệ dưới bạo lực của những kẻ thống trị.’’
 
      Thế giới đang tiến về chủ nghĩa quốc tế như một con thuyền trôi trên một dòng nước mạnh không sao cưỡng lại nổi. Và chủ nghĩa quốc tế không thể có được nếu không có chủ nghĩa quốc gia. Trước hết các chủng tộc lạc hậu phải thành lập các quốc gia, các dân tộc bị nô lệ bởi bạo lực phải được giải phóng, để cho mọi người và mỗi người có thể đóng góp phần mình một cách tự do tạo nên sự hài hòa của chủ nghĩa quốc tế. 
 
Vào đầu năm 1926, ngọn gió lành do Nguyễn An Ninh thổi lên bị giới thực dân coi như một trận cuồng phong. Thanh niên Sài Gòn thức tỉnh làm sai lạc những dự đoán của Cognac: cái hạt mà y cho rằng không thể nảy mầm được đã lặng lẽ ló ra khỏi mặt đất.
Nhóm dân nhỏ bé ở Sài Gòn hưởng ứng một cách không e ngại lời kêu gọi của Ninh, họ tham dự cuộc mít ting phản đối ở phố Lanxarôttơ (Lanzarotte), họ tuần hành ra tận cảng để đón tiếp ông Bùi Quang Chiêu ‘‘người đã đòi những cải cách’’ , và tham gia đám tang Phan Chu Trinh, con người vì dân vì nước. Nhưng chúng ta hãy theo dõi sự kiện từng bước.
 
Ngày thứ bảy 20 tháng 3, Phan Chu Trinh đang hấp hối, truyền đơn tung ra giữa ban ngày ở Sài Gòn, ký tên Dejean de la Bâtie và Nguyễn An Ninh. Tờ truyền đơn kêu gọi một cuộc tập hợp tại Vườn Xoài để phản đối việc trục xuất nhà báo Trương Cao Động về Trung Kỳ. Ngày hôm sau, lính mả tà và mật thám tràn ngập phố Lănxarôttơ (Lanzarotte) từ sớm. Vào lúc 8 giờ, thợ thuyền, nhân viên, học sinh, viên chức lũ lượt kéo đến, không tỏ ra e ngại chút nào. Báo Chuông Rè ngày 23 tường thuật lại như sau:
 
3000 người An Nam đã tới dự cuộc mít ting. Miếng vườn lớn của Bà đốc phủ Tài tràn ngập người. Có chỗ chật ních như nêm cứng người lại với nhau. Trên khóm cây xoài, những trùm người làm trĩu cả cành. Có khoảng 600 người là học sinh các trường Chasseloup Laubat, trường sư phạm, trường tư. Thợ thuyền cũng chiếm một lượng tương đương. Chủ tịch: ông Lê Quang Liêm, tục gọi ông Bảy, lập hiến; cùng với ông Trương Văn Bền, tư vấn Hội đồng lập hiến thuộc địa, và ông Phan Văn Trường, luật sư, giám đốc báo Chuông Rè. Với tư cách người tổ chức chính, ông Dejean de la Bâtie phát biểu đầu tiên.
 
      Ông Nguyễn An Ninh đọc bài diễn văn cuối cùng. Ông Ninh thấp bé mà bục không cao lắm, thế nên những người tham dự đề nghị ông đứng lên chiếc ghế dựa để mọi người thấy mặt.
 
Quyết nghị: Ba ngàn người An Nam sau khi đã nghe ông Dejean de la Bâtie, Nguyễn Pho, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Lang vá các thư ký của Đảng An Nam Thanh niên, nhận thấy rằng việc trục xuất những người An Nam gốc ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi lãnh thổ Nam Kỳ là một hành động độc đoán, kịch liệt phản đối sự lạm quyền quá đáng đó, đặc biệt đối với việc trục xuất ông Trương Cao Đông, kiên quyết đòi chính phủ Pháp phải tôn trọng ở Đông Dương những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm thuộc nhân quyền và dân quyền đã được Hiến pháp nước Cộng Hòa Pháp công nhận, nhất là quyền tự do báo chí xuất bản bằng chữ quốc ngữ, hủy bỏ việc giam câu lưu về dân sự tố tụng và thương mại, bảo đảm quyền tự do giáo dục, hôi họp và du hành.
      Vào lúc 10 giờ cuộc mít ting giải tán trong tiếng hô vang An Nam vạn tuế !
 
                                                                               Dejean de la Bâtie.
 
Ngày 24, Dejean, Nguyễn An Ninh bị bắt cùng Lâm Hiệp Châu, phóng viên tờ Đông Pháp Thời báo. Phải chăng chính quyền thuộc địa muốn ngăn chận quyết liệt mọi cuộc phản kháng, dù là hợp pháp? Cũng ngày hôm đó, chính quyền thực dân đã phải há mồm ngạc nhiên mà ngó dân chúng Sài Gòn tuần hành biểu tình lần đầu tiên trên đường phố.
 
Do sáng kiến của Đông Pháp Thời báo và Trịnh Hưng Ngẫu (Đảng An Nam Thanh niên), nhiều truyền đơn tung ra mời dân chúng chuẩn bị tiếp đón Bùi Quang Chiêu từ Pháp trở về ngày 24 tháng 3. Tạ Thu Thâu, một trong những người tổ chức Đảng An Nam Thanh niên, về sau viết :
 
Hầu hết chúng ta đều không ưa gì thái độ ôn hòa của Bùi Quang Chiêu. Song vấn đề không phải ở đó. Những nghị lực dồn nén cần phải được biểu lộ, và đây là một lý do quyết định khiến chúng ta, những thanh niên trẻ, không cần lẩn tránh (La Vérité  18- 4 -1930).
Từ lúc 18 giờ, lối vào cảng Mêtsagiori Maritim , và các phố dẫn tới đó đông nghịt người, và đám đông ngày càng lớn hơn sau giờ đóng cửa các công sở, cửa hàng và xưởng thợ. Dân ở các tỉnh kéo về tập trung tại mé sông Ke đo Belgít (Kê de Belgique) từ Cột cờ Thủ ngữ (Mât des Signaux) cho tới Câu Mống và trên cầu quây Khánh Hội, đen nghẹt người. Từng chùm người bám vào dãy rào chắn trên cầu. Nhưng con tàu mãi đến 21 giờ mới xuất hiện. Nhiều thanh niên đeo băng vàng và khoảng 800 dân thợ sở Thủy binh Ba Son đi bảo vệ quanh Bùi Quang Chiêu, được đám đông chào đón một cách im lặng. Trong khi đó những kẻ phá phách biểu tình do De la Sovrôtiero ( De Lachevrotiere), giám đốc báo Trung Lập (L’Impartial), điều động, hô vang lên ‘‘Giết chết nó đi!’’. Hai lần thằng nầy cố tìm cách đá vào người ‘‘quan lớn’’  Chiêu, nhưng hắn thình lình bị Trịnh Hưng Ngẫu đá đít gạt ra.
 
Từ trong đoàn người đi hộ tống Bùi Quang Chiêu qua các phố cho tới trụ sở của đảng lập hiến ở đường Lagrănđiero vang lên những lời hô đồng loạt: « Hãy thả Nguyễn An Ninh ! ». Nhưng thật là điều vô ích khi người ta hy vọng Bùi Quang Chiêu can thiệp để Nguyễn An Ninh được thả ra. Trong một bức thư Bùi Quang Chiêu gửi cho bạn mình, y tỏ ra lo ngại không phải về sự bắt bớ Ninh, y lo ngại  ‘‘dân An Nam thức tỉnh’’, lớp ‘‘thanh niên quá khích và kém giáo dục’’ thức tỉnh. Ông ta dự định ép họ vào ‘‘ khuôn khổ ở ăn nề nếp’’.
 
Cũng ngày 24 tháng 3 đó, Phan Chu Trinh mất. Tin đó làm tăng xúc động dân chúng, họ đã dấy lên từ vụ bắt Nguyễn An Ninh. Phan Tây Hồ - người Sài Gòn hay dùng từ đó để chỉ Phan Chu Trinh - bị bệnh lao làm hao mòn sau mười tám năm tù ngục và lưu đày, đã thở hơi cuối cùng. Mọi người cảm thấy sự mất mát này như một điều bất hạnh. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đông Pháp Thời báo, hàng ngàn người, nam giới, phụ nữ, thanh niên, thuộc đủ mọi tầng lớp cứ diễu hành hàng tuần  trước thi hài của người quá vãng, trước bàn thờ khói hương nghi ngút đặt tại 54 phố Pelore Pellerin.
Bắt đầu từ 6 giờ sáng ngày chủ nhật mồng 4 tháng 4, phố Pelore và các phố lân cận tràn ngập người tập hợp. Quanh linh cữu, nhóm thanh niên thuộc đảng An Nam Thanh niên đêo băng trắng mở đầu đoàn tang lễ. Họ giương lên biểu ngữ lớn ‘‘Cách mạng An Nam muôn năm!’’ . Rồi đến học sinh các trường ở Sài Gòn và các tỉnh, dân thợ và thơ ký sở Ba Son, thợ và phu khuân vác các nhà máy xay lúa Chợ Lớn rời bỏ công việc, rồi đến nông dân Bà Điểm, Hóc Môn những địa điểm nổi danh về tinh thần phản kháng...
 
Những người tổ chức có mặt cả ở đó và người ta thấy dự tang nhiều người từ Bắc kỳ, Trung Kỳ vào, các tỉnh Nam Kỳ đến, với hàng trăm khăn tang trắng và những dòng chữ kính viếng Phan Tây Hồ. Làn sóng người yên lặng đổ vào đại lộ Nôrôđôm (Norodom), diễu qua Dinh toàn quyền, rồi vượt lên phố Pôl Bơlănsy ( Paul Belancy) để tiến về nghĩa trang những người quê quán Gò Công tại Phú Nhuận.
Trong số thư cùng tang trướng gửi lời từ biệt, có bức của Nguyễn An Ninh từ trong tù gửi ra, gợi lại cuộc đấu tranh chung chống bất công và áp bức; có thư của Phan Bội Châu, từ nơi quản thúc ở Huế gửi vào — không còn đối lập quan niệm chinh phục độc lập bằng bạo lực với kế hoạch thu hồi xứ sở bằng cách thấm nhuần sâu sắc về văn hóa và kiên trì của Phan Chu Trinh. Đó là một bài ca thắm thiết tình huynh đệ đối với tinh thần đấu tranh bền bỉ của người đã khuất để cứu giống nòi ra khỏi cảnh ‘‘bần cùng lạc hậu’’.
 
Ba tấc lưỡi nào gươm nào súng, nhà cầm quyền trông giộ đã gai ghê,
Một ngôi lòng vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ, treo đèn thêm sáng chói.
Trước đã giỏi thời sau nên giỏi nữa, dấu Cộng Hòa xin ráng sức theo đòi,
Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, độc lập quyết đều tay xin vói!
 
Đứng trước mộ cụ Phan, Bùi Quang Chiêu đọc bài điếu văn, chỉ định một cách quá đáng Phan Chu Trinh là người đề xướng tinh thần Pháp Việt đề huề. Huỳnh Thúc Kháng, bạn chiến đấu của Phan, cũng bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1908, nhấn mạnh tinh thần bền bỉ của một con người suốt một đời đấu tranh chống đế quốc áp bức, triệt hạ phong kiến, hy sinh vì nhân quyền.

  Nguyễn An Ninh bị bắt, Phan Văn Trường phụ trách tờ Chuông Rè từ số 52. Ông đưa vào tờ báo một tiêu đề bằng câu nói của Mạnh Tử bằng chữ Hán và lời dịch bằng chữ Pháp: Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Ông tiếp tục in trường kỳ bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cùng với lời kêu gọi về triển vọng một thế giới mới: « Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại! ». Vào thời kỳ này, ở Pháp, bản Tuyên ngôn của Kac MacĂng ghen được phổ biến rộng rãi in ra sách nhỏ rẻ tiền. Nó không chứa đựng điều gì làm choáng váng đầu óc của tầng lớp thanh niên trí thức An Nam. Trong đó hai tác giả bản Tuyên ngôn dự kiến cách mạng thợ thuyền trong các xứ kỷ nghệ tiền tiến như Anh, Pháp, Đức, là điều dường như chưa thiệp cập tới một xứ An Nam còn đang ở trong tình trạng kinh tế tự nhiên tự túc, và chương trình quá độ sơ thảo trong Tuyên ngôn có thể làm cho những thanh niên đầy cao vọng phải suy nghĩ.
Trong một xứ mà giai cấp vô sản vừa mới hình thành, những từ ngữ khẩu hiệu như: chũ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc tế vô sản, đoàn kết vô sản, đôi khi mịt mờ như đám mây sao lóng lánh giữa trời đêm đối với người nghe, nhưng cũng mang lại nhiều điều mơ mộng. Những tên tuổi như Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh luôn luôn làm xúc động trong lòng, nhưng thời đại đã thay đổi màu sắc. Nếu như chủ nghĩa quốc gia còn đáp ứng được với thống trị thực dân, thì người ta cũng đã thấy le lói một điều là một khi giành được độc lập, con đường có thể mở ra để xây dựng một xã hội thân ái trong đó tầng lớp dân cày nghèo, phu phen công nhựt và thợ thuyền không còn phải chịu thống khổ vì đói nghèo, và thế là cái ‘‘quái tượng của chủ nghĩa cộng sản’’  bắt đầu ám ảnh xã hội thuộc địa.
Phan Văn Trường mở rộng bộ biên tập khi tờ La Cloche Fêlée (Chuông Rè) đổi thành tờ L’Annam kể từ ngày 1 tháng 5, mời những cộng tác viên không đồng xu hướng nhập vào, trong đó bên cạnh Dejean de la Bâtie có Tạ Thu Thâu, Trịnh Hưng Ngẫu, Nguyễn Khánh Toàn, Diệp Văn Kỳ...
 
Tờ báo tố cáo ‘’cái trò Pháp Việt đề huề’’:
Không một lời hứa nào được thực hiện, không một cải cách nào được tiến hành chỉ trừ những cái, nếu được coi như xếp vào loại cải cách: tăng số công chức ngồi không để lãnh lương, cung cấp thêm những ưu quyền công phẫn, tăng thêm thuế má, tạo thêm những khoản đóng góp mới, những hoang phí và nhiều loại tước đoạt dân bản xứ. Trước khi nói tới hợp tác đáng lẽ phải xét xem nó có thể thực hiện được không. Rất nhiều người An Nam vẫn còn chạy theo cái bóng ma hợp tác đó. (35)
Trong tờ L’Annam ngày 16 tháng 9, Tạ Thu Thâu luận chiến cùng Pôl Mônê về cùng một đề tài này:
 
Sự hợp tác được thực hiện ở Đông Dương đó là sự hợp tác giữa vài ngàn người Pháp với vài ngàn người An Nam đầy tham vọng và đã mất phẩm chất người An Nam. Vì dân tộc An Nam là một dân tộc nô lệ bị khóa mồm nhân cách tinh thần của họ là không tồn tại, thế thì sự hợp tác Pháp Việt chỉ là một trò hề.
 
Tờ L’Annam xuất bản cho tới tháng 2 năm 1928, trong thời gian cách quãng từ tháng 8 đến tháng chạp năm 1927. Báo đình bản hẳn khi Phan Văn Trường bị kết án vào ngày 27 tháng 3 năm 1928 hai năm tù vì đã  ‘‘ kêu gọi khêu khích quân lính bất tuân lịnh nhằm mục đích tuyên truyền vô chính phủ’’.Tòa Thượng thẩm Sài Gòn xác nhận bản án ngày 11 tháng 5. Mặc dầu Trường chống án ở tòa phá án ở Paris, rồi sang Pháp vào tháng 6 để tự bảo vệ, ông bị cảnh sát đến bắt tại nhà, 11 phố Bolenvilo, Paris 5e, và tống giam tại nhà ngục Colecvô. Chúng ta sẽ không nghe thấy nói về ông nữa cho tới khi ông mất ở Hà Nội vào tháng 5 năm 1933.
 
Vụ án Nguyễn An Ninh lần thứ nhất
 
Ta hãy trở lại tháng 4 năm 1926. Ngày 24 bắt đầu xử vụ Nguyễn An Ninh. Cảnh sát và lính lưu động kiểm soát cổng Tòa án Sài Gòn; trong hội trường, nhân viên sở mật thám nhiều hơn khán giả được phép vào. Ninh xuất hiện trong bộ quần áo bà ba đen và tự bào chửa, anh yêu cầu hai luật sư của anh là Gales và Lofevoro không nên xin khoan hồng cho anh. Anh không cần đến sự khoan hồng mà đòi phải có sự công bằng. Anh bị kết án hai năm tù vì ‘’những hành động phiến loạn’’, sau đó án này giảm còn 18 tháng.
 
Khắp xứ lại xúc động lên, giới học sinh lại nổi lên bãi khóa để phản đối. Cũng như sau khi Nguyễn An Ninh bị bắt lại có những cuộc bãi khóa ở trường nữ sinh áo tím Sài Gòn, ngày 28 tháng 3, ở trường Đạo Tabert ngày 1 tháng 4, ở trường tiểu học Phú Lâm (Chợ Lớn) ngày 12..., thì sau khi Ninh bị kết án, học sinh bỏ học hàng loạt tại 16 trường lớn ở Sài Gòn, Cần Thơ, Bến Tre, Mỹ Thơ, Vĩnh Long... Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1926 hơn một ngàn học sinh bị đuổi học.
 
Sau này, Tạ Thu Thâu viết trong tờ Sự Thật (La Vérité) ở Paris ngày 1 tháng 5 năm 1930:
 
Nếu như người ta biết chúng ta đã biểu dương những lực lượng nào để đòi thả Ninh vào thời kỳ ấy! Chúng ta đã nghĩ đến những giải pháp cách mạng nhất. Tổng bãi công! Tổng bãi công trong khi lực lượng thợ thuyền và thơ ký chưa hề được tổ chức và trong khi chúng ta mới chỉ liên hệ được với một vài công nhân sở Bưu điện, Truyền thanh và Xưởng thủy binh Ba Son.
 
Được thả ra khỏi tù có điều kiện vào tháng giêng năm 1927, Nguyễn An Ninh xuống tàu sang Pháp. Tại Paris, anh gặp lại Nguyễn Thế Truyền, lãnh tụ Đảng Việt Nam Độc lập.
Còn Đảng An Nam Thanh niên có một đời hoạt động ngắn ngủi. Điều lệ và tuyên ngôn của đảng này chỉ đến 20 tháng 5 năm 1926 mới được đăng tải trên tờ Tiếng vọng nhà Nam (L’ Écho Annamite). Đảng này hô hào đấu tranh đòi nhân quyền và dân quyền cho người An Nam ở giai đoạn đầu tiên. Trong tờ Sự Thật vừa kể trên, Tạ Thu Thâu nhắc lại việc thành lập và kết thúc của nhóm tổ chức tí hon này, coi như một ‘‘sự điên cuồng thời niên thiếu’’ :
 
Trong mấy năm cuối cùng của tôi ở trường trung học (1923-1925), phong trào cách mạng nổi lên rầm rộ. Chúng tôi đọc báo cấm giữa giờ học, tổ chức họp kín vào những buổi ra chơi. Sau những cuộc hội thảo bất tận, chúng tôi đi đến một kết luận cụ thể: phải tập bắn súng, tất cả chúng tôi đi theo khuynh hướng khủng bố. Chúng tôi chỉ có hai ý tưởng: ám sát cá nhân và xây dựng một đội quân ở Trung Quốc để phục hồi nền độc lập. Sau này vụ án Phan Bội Châu, vụ Trương Cao Đông đã cung cấp cho chúng tôi những dịp tốt để cổ động. Lực lượng của chúng tôi được tập hợp, rồi kết tinh thành Đảng An Nam Thanh niên vào đầu năm 1926. Trong vòng 3 ngày chúng tôi mộ được hơn một trăm đảng viên, không kể hàng ngàn người cảm tình.
 
  Trên kia chúng ta đã thấy Đảng An Nam Thanh niên hoạt động như thế nào trong dịp tiếp đón Bùi Quang Chiêu và đưa tang Phan Chu Trinh. Khẩu hiệu tổng bãi công vào ngày 4 tháng 5 do truyền đơn tung ra, coi như tiếng hát tống chung của đảng.
 
    Nhiều đồng chí bị xét nhà. Những kẻ do dự rời chúng tôi, và chúng tôi lánh xa những người bạn nghi ngờ hoặc khiêu khích. Trong cuộc họp cuối cùng chúng tôi chỉ còn có 6 người. Nhóm tự tan rã. Một bộ phận lẩn vào những nhóm nghiên cứu, một số ẩn vào đạo Cao Đài, một thứ tôn giáo mà bọn linh cảm thần bí ấy hy vọng tìm chỗ nương dựa trong cuộc đấu tranh.
 
Tạ Thu Thâu thêm rằng anh kể lại việc đó chỉ cốt chứng minh một chủ nghĩa quốc gia chủ quan và lãng mạn sẽ chẳng đem lại hiệu quả gì, mà cần phải có một lý tưởng cách mạng và một tổ chức cách mạng.
 
 
 
Phạm Hồng Thái (1896-1924)
 
Mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái (1895-1924) tại công viên Hoàng Hoa Cương Mộ tại Quảng Châu với đài chữ “Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ” (越南范鸿泰之墓)

 
Cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt tháng 10 năm 1926, đảng lập hiến thắng cử, đó là một đảng đại diện cho tầng lớp tu sản địa chủ An Nam, đứng đầu là Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long. Tạ Thu Thâu và Nguyễn Khánh Toàn phản ứng lại bằng cách tung ra tờ báo Le Nhà Quê từ 1 tháng giêng năm 1927, nhưng lập tức bị cấm trước khi phát hành :
 
Truớc những lời xa hoa của những người đàn anh, lớn tuổi nhưng không phải lớn về tinh thần phương pháp, từ nay chúng tôi để ngoài tai, và chính là nhờ vuợt khỏi sự bảo trợ của họ chúng tôi sẽ thực hiện đuợc nhiệm vụ của mình.
 
Nhóm chủ chốt đảng An Nam Thanh niên không lìa cuộc chiến đấu. Hà Huy Giáp ở lại Nam Kỳ, gia nhập bí mật Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi vào Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930; Bùi Công Trừng và Nguyễn Khánh Toàn sẽ sang học tại trường Staline ở Moscou; còn Trịnh Hưng Ngẫu cùng Tạ Thu Thâu sẽ theo chân Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền ở Pháp.
 
 
BÁO CHÍ LA CLOCHE FÊLÉE 

📎 VN1|VN2|PhamHongThai1|PhamHongThaimo2|baolaclocheF|baochihinh1




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2017 18:53:02 bởi Ct.Ly>
III

 
Đợt sinh viên du học mới 
đang tìm đường lối cách mạng 
1925-1929

 
Đợt du học đầu tiên (bí mật) do Phan Bội Châu khởi xướng vào năm 1906 đã đưa sang Nhật được khoảng 200 sinh viên, sau đó họ bị trục xuất vào năm 1909 dưới sức ép của ngoại giao Pháp.
  Phong trào quốc gia bồng bột những năm 1925 đã đề khởi một đợt du học lần thứ hai, lần này chủ yếu là sang Pháp theo đường hợp pháp, và bí mật sang Trung Hoa sang Nga. Tầng lớp thanh niên du học sang Pháp một mặt hưởng ứng lời kêu gọi xuất ngoại của Nguyễn An Ninh, một mặt do tham vọng của tầng lớp tư bản bản xứ và địa chủ An Nam giàu có mơ mộng bằng cấp cho con em. Những học sinh và sinh viên du học sang Pháp tăng từ 177 vào tháng 5 năm 1924 lên tới 1700 vào tháng giêng năm 1929. Trong số đó Đảng cộng sản Pháp chọn khoảng ba chục sinh viên đưa sang học tại Đại học Lao động Đông phương ở Moscou.
 
Tầng lớp trí thức trẻ An Nam nhanh chóng tập hợp dưới lý tưởng làm cách mạng để giành lại nền độc lập. Tại Paris cũng như tại các tỉnh ở nước Pháp, họ tập hợp thành nhiều nhóm nhỏ để thảo luận, tung ra những tờ báo nhỏ, nỗ lực tìm con đường chính trị của mình. Trong các nhóm đó không có người trí óc sáng tân, có năng lực làm đảo lộn tư tưởng của thời đại, nhưng họ đều là những con người đầy thiện chí và sẵn sàng dấn thân. Vào năm 1927 họ sắp thành lập Đảng Việt Nam Độc lập chống lại chủ nghĩa cải cách ảo tưởng của những người theo chủ nghĩa lập hiến, nhưng cũng không vì thế mà họ bị thu hút vào Đảng Cộng sản Pháp.
 
Mặt khác, những thanh niên lưu trú ở Trung Hoa đã hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, ông này sau khi được huấn luyện xong ở Moscou, đứng ra thành lập Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu -đấy là nòng cốt của Đảng cộng sản Đông Dương tương lai- và mở một trường đào tạo cán bộ cách mạng chuyên nghiệp, rèn luyện truớc sau tất cả khoảng 200 người.
 
Nguyễn Thế Truyền và Đảng An Nam Độc lập 
 
Tờ báo Việt Nam Hồn (L’Âme Annamite) do Nguyễn Thế Truyền từng ra ở Paris vào tháng giêng năm 1926, ấn bản 2000 tờ. Cùng hai em và một người chú của Truyền, chung nhau kiên định làm việc, đăng báo liên tiếp từ tháng này sang tháng khác những tin tức về sự biến mới nhất xảy ra ở đất nuớc nhà, nhất là ở Nam Kỳ, đặc biệt là tin về hoạt động của toàn quyền Varenne, vụ án Phan Bội Châu năm 1925, cuộc mít ting ở Vườn Xoài và vụ bắt Nguyễn An Ninh. (Trên tờ Việt Nam Hồn, bố của Nguyễn An Ninh có viết: « Ta hãy lưu ý chổ thời vận, ngày con trai tôi bị bắt là ngày bạn tôi Phan Chu Trinh mất »). Nguyễn Thế Truyền phát động chiến dịch đòi thả Nguyễn An Ninh, tường thuật những cuộc đình công vừa bùng nổ năm 1925: 1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân hãng buôn Grand Magasins Chamer và sở thủy binh Ba Son Sài Gòn; những cuộc đình công năm 1926 tiếp theo của công nhân nhà bưu điện trung ương Sài Gòn và nhà máy ruợu Hải Dương để phản đối việc đánh đập. Tiền đặt mua báo hàng năm là 6 francs (quan), nhưng thực ra thì tờ báo sống đuợc là nhờ những món tiền ủng hộ. Tờ báo thường được phát không cho sinh viên, thợ thuyền binh lính An Nam. Nhà chức nghiệp đoàn Lao động (La Bourse du travail) Paris giúp cho tờ báo phát hành rộng rãi.
 
Chương trình của nhóm Việt Nam Hồn, đăng trong số 1, tóm thành bốn điểm sau:
- bảo vệ người An Nam chống lại sự lạm quyền
- đấu tranh đòi những quyền tự do chính trị và thành lập nghiệp đoàn
- học hỏi lẫn nhau bằng cách trao đổi những ý tưởng, những niềm hy vọng và những kinh nghiệm
- đoàn kết giữa trí thức và lao động chân tay.
 
Vào giữa mùa hè năm 1926, nhóm Việt Nam Hồn đưa ra Lời kêu gọi gửi Hội Quốc Liên đòi quyền dân tộc tự quyết của nhân dân An Nam. Trong đó có câu mô tả tình trạng ‘‘áp bức dân tộc và bóc lột xã hội gây đau khổ cho một dân tộc 20 triệu người bị phó mặc cho thực dân và chính quyền thuộc địa’’, nêu lên rằng nếu Hội Quốc Liên không can thiệp thì nhất định toàn dân bản xứ sẽ nổi dậy.
  Đảng lập hiến vận động thành lập một xứ tự trị (dominion). Lời kêu gọi vuợt khỏi triển vọng ấy, dự kiến thành lập một Cộng hòa liên bang Đông Dương.
 
Tại Marseille, một sinh viên và hai thủy thủ An Nam bị bắt vào tháng 10 vì đã phân phát Lời kêu gọi đó, và tới tháng 2 năm 1927 bị kết án 5 tháng tù vì đã ‘‘  tuyên truyền phản đối quân dịch và manh động vô chính phủ’’!
 
 
Bị đình bản ngày 23 tháng 8 năm 1926, tờ báo hàng tháng lại xuất hiện vào tháng sau bằng chữ quốc ngữ, tên báo Phục Quốc, ấn bản : 5000 tờ. Báo này lại bị cấm ngày 11 tháng 10 năm đó, sau khi đảng lập hiến thắng cử trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ rồi được công nhận là một đảng chính trị. Tờ Phục Quốc được tờ L’Âme annamite thay thế vào tháng giêng năm 1927, ‘‘cơ quan của Phục Việt, Đảng Việt Nam Độc lập » (Parti Annamite de l’Indépendance, PAI). Như vậy với tư cách là một đảng, nghĩa là bình đẳng, nhóm Nguyễn Thế Truyền từ nay đối lập với Đảng lập hiến. Tờ báo toàn chữ Pháp, đồng thời có tờ Hồn Nam Việt viết bằng chữ quốc ngữ, bí mật xuất bản, không có tên chủ nhiệm và tên nhà in.
 
Những vụ bê bối ở Đông Dương, nhất là việc tước đoạt đất đai của dân bản xứ khai phá ở Đắc Lắc (Trung Kỳ) (36) gây nên tình hình bối rối và xáo động trong Quốc hội Pháp. Lợi dụng cơ hội đó, ngày 26 tháng 3 năm 1927, Đảng Việt Nam Độc lập thảo một Thông điệp (Mémorandum) gửi cho Bộ Thuộc địa yêu cầu phải lập một ủy ban, không phải để điều tra như chính phủ Pháp dự kiến, mà để tiến hành toàn diện Pháp tự rút ra khỏi Đông Dương, kể cả về quân sự, hành chính và kinh tế.
 
 Để tuyên truyền phổ biến bản Thông điệp, Nguyễn Thế Truyền cùng Hoàng Quang Giụ tổ chức, từ tháng 4 tới tháng 5, một loạt hội nghị tại Nhà chức nghiệp đoàn Lao động ở Paris, cũng như ở Le Havre, Marseille, Montpellier, Bordeaux, và Lille. Ở Lille cuộc hội họp bị cấm.
 
Ủy ban mà Đảng Việt Nam Độc lập đề nghị sẽ bao gồm số người An Nam và Pháp bằng nhau. Trong đó có thể có những người đã bị bắt giữ hay lưu đày như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Huân... và đại biểu lập hiến Bùi Quang Chiêu, người đề khởi hợp tác Pháp-Việt và chắc chắn là chống ý tưởng Pháp phải rời khỏi Đông Dương... Ủy ban này sẽ chủ trương đưa quân đội Pháp về nước và triệu tập về nước các binh lính An Nam ở Pháp, ở Maroc, Syrie, Trung Hoa. Ủy ban này sẽ xóa bỏ những chức vụ như thống đốc, công sứ, chưởng lý... và cả triều đình Huế cùng bộ máy quan lại. Ủy ban sẽ thiết lập chế độ phổ thông đầu phiếu ở mọi cấp; quốc hội được bầu ra sẽ xây dựng một bản hiến pháp và một bộ luật; đồng thời xây dựng một chính phủ lâm thời. Ủy ban sẽ xóa bỏ những độc quyền về muối, rượu và thuốc phiện (và sẽ cấm). Ủy ban sẽ chuyển giao cho Ngân hàng Nhà nước nhiệm vụ phát hành tiền tệ, quốc hữu hóa đường xe lửa và hầm mỏ, lấy lại những phần đất nhượng cho Hội truyền giáo nước ngoài và những lô đất nhượng lớn để trả lại cho nông dân. Ủy ban sẽ niêm phong những hãng lớn các nước ngoài để sau đó sẽ giao việc quản lý cho Nhà nước An Nam, hoặc giao cho các tư nhân hay các nhóm chủ thầu, công nhân, nhân viên, tôn trọng luật lao động, do Nhà nước kiểm soát. Nhân dân Pháp sẽ được đối xử bình đẳng như người An Nam. Những nhân viên kỹ thuật, nhân viên các loại và thợ thuyền người Pháp đã tham gia từ trước có thể ở lại phục vụ cho chính phủ An Nam. Tóm lại là cả một ‘‘chương trình quá độ’’  tới một xã hội đạo đức và tương thân tương ái. Trong khi chờ đợi, bản Thông điệp cũng yêu cầu chính phủ Pháp thực hiện  ‘‘8 điều khẩn cấp’’, trong đó có việc ân xá tù chính trị và ban hành ngay những quyền tự do cơ bản.
 
Vào tháng 6, Đảng Việt Nam Độc lập đến đăng ký tại sở cảnh sát để hoạt động, nhưng bị từ chối, không được ghi nhận.
 
Nguyễn Thế Truyền, với tư cách một người sáng lập Đảng Việt Nam Độc lập, không thể thuộc vào một đảng phái khác. Vì vậy trước đó Truyền ra khỏi phần bộ thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời phát hành tờ báo hàng tháng Dân Tộc An Nam, (La Nation Annamite, lấy lại giọng điệu của tờ Chuông Rè) hoàn toàn tiếng Pháp, đặt trụ sở tại nhà riêng, số 6 phố Saint Louis en L’ile. Truyền xác định rõ mục đích của Đảng Việt Nam Độc lập trong giai đoạn lịch sử hiện thời của Việt Nam là nhằm giải phóng dân tộc, chứ không phải là hướng tới chủ nghĩa cộng sản ‘‘không thể đạt được trong tình thế hiện nay’’. Trong số 2 và cũng là số cuối cùng, vào tháng 8, nêu rõ thái độ ấy:
 
Một đảng của người An Nam ở cả ba kỳ, Bắc, Trung và Nam Kỳ đã thành lập, lấy tên là Đảng An Nam Độc lập. Trụ sở: số 4 phố Vaugirard, Paris 6e. Mục đích và phương pháp: Dựa theo những nguyên tắc mà thế giới văn minh và nước Pháp đề cao, về quyền phản kháng chống lại áp bức và về quyền dân tộc tự quyết, đồng thời hợp tác thực sự giữa các dân tộc và chủng tộc, Đảng An Nam Độc lập đề ra mục đích giành lại nền độc lập cho An Nam, hợp tác với nước Pháp và tham gia Hội Quốc Liên; về phương pháp: tập hợp một tầng lớp người xuất sắc về tổ chức, tổ chức quần chúng, kêu gọi mọi người Pháp tham gia, cùng bất kể người nào có tâm hồn cao cả, không phân biệt quan điểm chính trị, tính ngưởng tôn giáo và địa vị xã hội của họ, nếu họ công nhận sự nghiệp chúng tôi là chính đáng. 
 
Ba bài khác trong số 2 đó xác định rõ xu hướng Nguyễn Thế Truyền. Bài báo nhiệt tình nhất là bài ‘‘Chúng tôi không phải là những người quốc gia chủ nghĩa theo cái nghĩa Phương Tây của danh từ này’’ đã soi sáng sự hội tụ sâu sắc giữa Truyền và Phan Chu Trinh. Trong bài báo, Truyền có nhắc lại cuộc nói chuyện của Phan Chu Trinh về Đạo đức và Luân lý Đông Tây, nhưng giọng văn cay đắng, tác giả đã quá đà: chỗ mà Phan Chu Trinh nói về  ‘‘các dân tộc hiếu chiến’’, Truyền đâm ra thóa mạ quốc gia chủ nghĩa phương Tây.
 
 
Chúng tôi e ngại đụng chạm tới lòng kiêu hãnh (của người Phương Tây) vẫn phải nói tới cái sự thật chối tai nhất đối với họ, cái sự thật mà chúng tôi đã đọc qua các biên niên sử của đất nước họ. Đó là cái tình trạng mà tổ tiên họ đã sống và ngày nay chính họ cũng đang sống dưới áp lực của một di căn! Di căn gì vậy? Chính là cái di căn về sự tàn sát, sự cướp bóc và hiếp dâm. 
Hãy thử nhìn xéo một cái về phía người Rome, họ là những kẻ cướp nổi tiếng. Còn người Germains thì sao? Họ có giá trị gì đối với thuần phong mỹ tục, nếu như ta tin tưởng nhà sử học Tacite? 
Đạo Thiên Chúa, đã lăn lưng vào những cuộc Thập tự chinh chiến (croisades), một cuộc cướp bóc tập thể khủng khiếp. Rồi đến thời gọi Phục hưng (Renaissance) là thế nào? Sao không phải là thời kỳ mà những sự thèm khát cổ xưa về cướp bóc và tàn sát, vừa mới được thỏa mãn trong các cuộc Thập tự chinh chiến, lại được phục hồi rồi nhờ chiếc địa bàn hướng dẫn, đã phi nhanh đi khắp thế giới.
Thế rồi, cùng với cái di sản khủng khiếp của quá khứ và của chủng tộc đè nặng lên các dân tộc phương Tây, lại có thêm cả máy móc.
Tự thân nó máy móc không tốt không xấu, nhưng nó đã nhanh chóng trở thành công cụ hoàn hảo trong các cuộc hành động bạo tàn. Đây chính là kỷ nguyên xuất sắc của những cuộc tàn sát quốc tế, những cuộc cướp bóc thuộc địa tàn phá đất đai trên toàn thế giới.
Lịch sử các dân tộc phương Tây có thể tóm lại thành vài chữ: tính tàn ác di truyền được kích thích qua nhiều thế kỷ, ngày nay lại được tăng cường thông qua việc sử dụng máy móc.
Người ta có quyền gì mà đem đánh đồng chúng ta với chủ nghĩa quốc gia phương Tây? và tại sao lại ghép tôi chúng ta là những kẻ phong kiến, bọn bài ngoại?
 
Sự suy nghĩ của Nguyễn Thế Truyền về máy móc ‘‘ tự thân nó không tốt không xấu, nhanh chóng trở thành công cụ hoàn hảo trong các cuộc hành động bạo tàn’’, và nhất là sự bao tàn của thực dân, gợi lại sự nguy hiểm của mỗi ‘‘ tiến bộ’’ (progrès) mà Karl Marx  đã nêu ra 71 năm về trước:
 
Ngày nay, mọi vật đều hiện ra cái mặt trái xấu xa của nó. Máy móc có sức mạnh kỳ diệu là rút ngắn thời gian lao động của con người và làm cho sản xuất hữu hiệu hơn nhưng lại có kết quả là con người đói khó và kiệt lực. Do một sự thay đổi bất chợt kỳ lạ của số phận, những nguồn tài phú mới lại trở thành những nguồn tạo nên sự khốn cùng. Dường như mỗi thắng lợi kỹ thuật đều phải trả giá bằng một sự suy thoái của con người. Nhân loại càng làm chủ thiên nhiên thì cá nhân con người càng để cho đồng loại thống trị mình hoặc tự mình vấn thân vào cảnh suy tàn bĩ ổi. Ngay đến cái ánh sáng thanh cao của khoa học muốn cho rực rỡ lên dường như cũng cần phải có những lớp người ngu dốt tối tâm. Tất cả mọi phát minh của chúng ta, tất cả mọi tiến bộ của chúng ta dường như chỉ đem lại một kết quả là cung cấp sự sống và trí tuệ cho những sức mạnh vật chất và hạ thấp đời sống con người xuống ngang hàng với một sức mạnh vật chất. (37)
 
Trong bài Lời kêu gọi những người An Nam tán đồng chủ nghĩa tư bản, người em của Ngyuễn Thế Truyền là Song không bàn luận trên lĩnh vực tâm lý-triết học mà bàn luận trên lĩnh vực kinh tế:
 
Tố cáo những vụ tham nhũng và tội ác của cơ quan cai trị, làm mất mặt chính phủ và bọn quan lại cai trị, kêu gọi đồng bào đứng lên tự bảo vệ, cũng tốt thôi nhưng quên mất cái nguyên nhân đầu tiên làm cho dân tộc ta khốn khổ, là do chủ nghĩa đế quốc tài chính, thì chỉ làm lợi cho bọn lý tài Fontaine, Homberg và các tập đoàn của chúng!
Nếu như đúng là ‘‘sự hợp tác’’ với chính quyền về mặt hành chính chỉ là sự hợp tác giữa cái cày và con bò, thì cũng là đúng nếu có sự hợp tác về phương diện kỹ nghệ, thương mại và nông nghiệp với những ‘‘con cá mập’’ lớn của Ủy ban Đông Dương, là phản phút đối với toàn thể dân tộc ta và cả nhân dân Pháp vì chính nhân dân Pháp cũng không có chi là đồng loạt với bọn cá mập thực dân.
 
Bùi Ái, nguyên là giáo viên, viết bài nói về sự cần thiết phải có một nền giáo dục chuyên nghiệp thực sự để đào tạo những thợ lành nghề và những kỹ thuật viên cao cấp, đem lại lợi ích cho việc giải phóng nền kinh tế An Nam còn hơn là đào tạo một nhóm trí thức tách ngoài đời sống của đại đa số nhân dân. Thế lực tối cao của bọn thực dân sở cậy vào máy móc làm vũ khí, ta phải đem máy móc quay ngược trở lại đập vào chúng. Người An Nam phải tự xuất tiền xây dựng những trường chuyên nghiệp thay đổi chương trình của các hội đoàn giáo dục tương tế theo hướng kỹ thuật, bãi bỏ những cuộc bình thơ bất tận, mở một quỹ ủng hộ quốc gia để giúp đỡ những học sinh kém may mắn và cấp học bổng cho họ ra học nước ngoài... Tóm lại, là phải bù đắp vào chổ kém khuyết mà chính quyền thuộc địa chẳng làm nên điều gì trong vòng nửa thế kỷ nay:
 
Tôi đã học tập 18 tháng tại Trường Chuyên nghiệp ở Huế. Buổi sáng từ 6 đến 12 giờ, buổi chiều từ 1 giờ 30 đến 6 giờ học trò vào xưởng để học việc thoa mỡ thoa dầu vào các máy móc, mài sắc các công cụ, rèn những êke (équerres) và vòng tròn, tiện gỗ và sắt, rồi lau hết và quét dọn công xưởng. Học sinh không được nghe giảng về lý thuyết.
Nghe Bùi Ái người ta nhận ra một chương trình tương tự như của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và những sĩ phu Duy tân đầu thế kỷ, một nỗ lực bị đàn áp vào năm 1908 nhưng vẫn không ngưng tiếp tục nảy sinh.
Vào tháng 9 năm 1927, đảng này mới đăng lời tuyên bố thành lập bằng chữ quốc ngữ trên tờ Việt Nam, cơ quan ngôn luận mới của Đảng Việt Nam Độc lập. Tờ báo do Đặng Văn Thu chủ nhiệm, nhằm phục vụ cho các tầng lớp bồi bếp, thợ sơn lắc, thủy thủ và nhất là dân chúng ở trong nước, nhờ các thủy thủ cách mạng chuyển giao bí mật về xứ nhà.
 
Toàn quyền Đông Dương trong một điện tín gửi cho Bộ trưởng Thuộc địa ngày 10 tháng 4 năm 1927 có ghi: ‘‘Mặc dù kiểm soát gắt gao từ các bến nhập cảng và trong nội địa xứ thuộc địa, nhiều báo chí ấy đã đến tay người nhận rồi lưu hành từ tay này sang tay khác trong các giới cách mạng Đông Dương’’. Vào tháng giêng, sở mật thám tịch thu được 345 tờ Phục Quốc tại Nam kỳ và 242 tờ ở Bắc Kỳ. Tại Sài Gòn, những trẻ em rao báo thường ngầm trao những báo bí mật, đồng thời rao bán Đông Pháp Thời báo, một tờ báo đối lập được phép lưu hành ở địa phương.
 
Báo Việt Nam chỉ ra được một số. Ngày 14 tháng 10, Đặng Văn Thu - chủ nhiệm tờ báo, nguyên là chủ tiệm cơm ở Le Havre, người đã được cảnh sát lưu ý từ 1920 - bị khởi tố vì ‘‘tội phân phát tờ báo bị cấm trên đường phố, cùng tội đánh đập và làm tổn thương nhân viên nhà nước, cùng tội thóa mạ các quan tòa’’. Anh bị kết án 1 tháng tù giam và 600 francs tiền phạt.
Nguyễn Thế Truyền đi vận động khắp nhiều nơi. Vào tháng 9 đồng cùng Nguyễn An Ninh đến chống đối chủ trương của Dương Văn Giáo và Trịnh Đình Thảo tại Đại hội sinh viên họp ở Aix en Provence. Hai luật sư nầy tuyên truyền rằng dân thuộc địa có thể hợp tác với bọn thực dân. Truyền và Ninh cố ngăn ngừa thế hệ thanh niên mới khỏi sa vào ảo vọng ấy, ảo vọng do đảng lập hiến duy trì bền cố từ lâu. Ngày 17 tháng 10, Truyền lên tiếng tại Paris, nơi Hội các Nhà bác học, trong một cuộc họp do Félicien Challaye chủ trì, gồm ‘‘Liên minh chống áp bức thuộc địa và chống đế quốc’’ và ‘‘Liên minh bảo vệ chủng tộc da đen’’.
Cuối tháng 10, có tin bọn chủ đồn điền Michelin ở Phú Riềng săn lùng bắt độ trăm phu đã nổi dậy chống đối (38). Cùng với Hội Nhân quyền, với thủ lĩnh lập hiến Dương Văn Giáo và thủ lĩnh của đảng An Nam Thanh niên Trịnh Hưng Ngẫu, Nguyễn Thế Truyền báo động công chúng Pháp, trong một loạt hội họp mới ‘‘chống khủng bố ở Đông Dương’’: Ở Toulouse ngày 23, ở Montpellier ngày 24, ở Bordeaux ngày 25 và Marseille ngày 27. Rồi tại đây người ta phân phát một truyền đơn ‘‘kêu gọi lương tâm nhân dân Pháp’’.
 
Sau mươi năm tự nguyện lưu vong tại Pháp, Nguyễn Thế Truyền cảm thấy như cầu trở lại đắm mình vào bầu không khí quê hương. Người giao phó trách nhiệm đảng An Nam Độc lập cho các bạn chiến đấu cũ cùng Tạ Thu Thâu, một thanh niên trẻ mà Nguyễn An Ninh vừa giới thiệu. Sau đó vào tháng chạp năm 1927, Truyền xuống tàu cùng vợ (người Pháp) và hai con gái. Nguyễn An Ninh cũng đồng đi một chuyến. Tới Sài Gòn ngày 7 tháng giêng năm 1928, họ được hàng trăm thanh niên tiếp đón với những bó hoa và những lời hô vang ‘‘Việt Nam vạn tuế!’’ .
Trước mắt hai nhà cách mạng đâu là triển vọng? Vào tháng 3 năm 1928, Phan Văn Trường bị kết án ‘‘tuyên truyền vô chính phủ’’, và sau đó báo L’Annam bị cấm, hai sự việc ấy dường như báo hiệu không còn có thể hoạt động hợp pháp ở xứ này nữa.
 
Trần Văn Thạch
và tờ Báo của Sinh viên An Nam
 
Nhà Cách mạng Trần Văn Thạch (1905 -1945)

 
Xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Chợ Lớn, Trần Văn Thạch rời Sài Gòn sang Pháp ngày 3 tháng 5 năm 1926, khi anh 23 tuổi. Tại Toulouse, nơi anh ghi danh khoa học cử nhân triết học, liền thấy mình khấp khởi giữa bầu không khí suy tưởng về chính trị. Anh đọc báo Việt Nam Hồn, báo ấy đã ra tới số 5. Qua ngày 14 tháng 6, anh làm cho cảnh sát đặc biệt lưu ý đến anh về một bài báo anh viết về tình hình Đông Dương đăng trong báo Miền nam xã hội chủ nghĩa (Le Midi socialiste). Từ Toulouse anh tham gia tìm đường giải phóng đất nước. Quá trình này dường như song song với con đường của đảng Việt Nam Độc lập. Vào tháng 3 năm 1927, anh tung ra tờ báo của Sinh viên An Nam (Journal des étudiants annamites). Khoảng đó vào tháng 4 ở Aix en Provence, sinh viên cho ra tờ An Nam Học hiệu (L’Annam scolaire) bằng hai thứ tiếng, bao gồm những bài viết chuẩn bị cho cuộc đại hội vào tháng 9 mà chúng ta đã thấy Nguyễn An Ninh cùng Nguyễn Thế Truyền luận chiến chống lại phái lập hiến. Từ ngày 10 tháng 6, tình hình sôi động của sinh viên làm cho viên chuởng lý ở l’Aix lo ngại, y viết thư cho Bộ Tư pháp:
 
Dường như ta cần phải chọn lọc những đợt du học từ thuộc địa sang Pháp, nếu như ta không muốn cho các trường cao đẳng dẫy đầy những đám người không được chuẩn bị hoàn hảo để học theo hệ thống giáo dục của chúng ta, để noi theo tinh thần tự do về tư tưởng và về ngôn luận; những con người không được chọn lọc như thế thì họ dễ bị những phần tử có hại (mà ta đã biết) cám dỗ họ.
 
‘‘Những phần tử có hại mà ta đã biết’’ chính là những người lưu vong An Nam tại Pháp đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và Đảng An Nam Độc lập; những đảng viên của Đảng An Nam Độc lập đang được tuyên truyền rầm rộ tại các trung tâm đại học ở các tỉnh và các cảng lớn như Le Havre, Marseille, Bordeaux.
Tờ báo của Sinh viên tháng 5 công bố muốn ‘‘làm buớc quá độ giữa một nuớc An Nam đã kết cuộc và một nuớc An Nam mới bắt đầu’’. Vào tháng 7, tờ báo phân tích một cách vô tư hai khuynh huớng của sinh viên: khuynh huớng  ‘‘già’’, tự cho mình là thiết thực, gồm những người theo huớng hạp tác giữa người Pháp và người Việt; còn khuynh huớng kia là ‘‘trẻ’’ chỉ một mực giản đơn là đòi nền độc lập cho xứ sở. Những người ‘‘già’’ cho rằng chỉ cần đề huề với Pháp để được Pháp ban cho người Việt những quyền cơ bản như người Pháp được huởng, không cần gì hơn, bởi vì An Nam không có lực lượng quân sự, lực lượng kinh tế, lực lượng nghiệp đoàn, và cũng chẳng có dư luận công chúng. Còn những người ‘‘trẻ’’ muốn được độc lập ngay, họ không thể chịu đựng lâu nữa ‘‘cái chế độ bất công mà chính phủ Pháp áp đặt ở Đông Dương, một chế độ nô dịch không để một mức độ nào cho thanh niên tự phát biểu, một chế độ mà ở đó công quyền bị khinh thường, còn sức mạnh lại được hoan nghênh cổ vũ’’. Xu huớng trẻ vẫn biết chắc rằng ‘‘sự kiên trì cuối cùng này về cao vọng tập thể của họ’’ sẽ chẳng đi đến đâu. Ngoài ra, chủ trương của xu huớng già là hợp tác giữa chủ và nô lệ căn cứ trên tình trạng không có bình đẳng, rồi ra cũng không đem lại kết quả gì xứng đáng cho dân tộc.
 
Trần Văn Thạch dường như không biết đến phân ban thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, dường như cũng không thoáng nghĩ tới việc có thể dựa vào Đệ tam Quốc tế và Liên Sô.
 
Ngày 15 tháng chạp 1927, Báo Sinh viên đăng bài « Một giấc mơ độc đáo », trong đó Thạch mơ đến một xã hội Sài Gòn vào năm...1953, vẫn còn dưới chế độ thực dân, trong đó hai đảng lớn luôn luôn chạm trán, một đảng độc lập do giai cấp tư sản An Nam chủ trương và đảng kia là của những người lao động; anh kết luận dự đoán của mình bằng lời kêu gọi của một nhà tư sản năm 1955 đề đạt với đảng của mình như sau:
 
Một chương trình hành động tốt nhất mà chúng ta có thể chấp nhận được, là cái chương trình vừa bao gồm giải pháp cho vấn đề xã hội vừa là giải pháp cho vấn đề quốc gia dân tộc. Sự đoàn kết của người An Nam là điều cần thiết và sự đoàn kết này chỉ có thể thực hiện được bằng cách giai cấp tư sản An Nam tự nguyên hy sinh cho giai cấp vô sản, bằng cách chìa tay nhân đạo và thân ái ra với họ.
Nếu như then chốt giải quyết vấn đề độc lập nằm trong sự đoàn kết dân tộc thì sự đoàn kết này chỉ có thể tiến hành được trong một triển vọng xã hội mới; triển vọng này được biểu đạt qua các tờ Báo của Sinh viên, báo Tương lai xứ An Nam (L’Avenir de l’Annam), báo Tái sinh (La Résurrection), và thông qua mọi tổ chức hội đoàn sinh viên. Các lớp thượng lưu trí thức phải tự phán, đó là một nhã quan xã hội mới được coi như cốt cán của công cuộc giải phóng.
 
Tháng giêng năm 1928, Trần Văn Thạch viết :
 
Tôi mong rằng một khi những sinh viên trở về Đông Dương, họ phải giữ mình không nên kết thành một lớp tư sản mới, nhà giàu mới trong giới giáo dục, và sống với thái độ khinh bỉ nhân dân. Trái lại họ phải chia xẻ khốn cùng và khổ nhọc với nhân dân, và chung cùng nhân dân để hoạt động đẩy nhanh tới ngày giải phóng chúng ta. Tôi có những người bạn theo khuynh hướng hợp tác với thực dân. Tôi đã chia xẻ ý tưởng đó với họ. Bây giờ tôi không cùng quan điểm với họ chút nào nữa.
 
Tháng 10 và 11 năm 1928, tờ Tương lai xứ An Nam nêu rõ:
 
Muốn phát động được quảng đại quần chúng nông dân thì không phải chỉ cần hứa hẹn nền độc lập hình thức cho xứ sở là đủ, mà phải gắn bó cuộc đấu tranh giành độc lập ấy vào cuộc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của nhân dân, mà cái nhu cầu cơ bản cấp thiết nhất là vấn đề ruộng đất. Phải chặt đứt những mối giây ràng buộc nô dịch phong kiến không sao chịu đựng nổi, phải chấm dứt cái quyền sở hữu đất đai của các đại địa chủ. Ruộng đất trở về tay người cày! Xứ An Nam hoàn toàn độc lập! Đó là hai mục đích không thể tách rời nhau đuợc.
Muốn đuợc tự do thực sự, giành đuợc độc lập về chính trị chưa đủ đâu. đồng thời phải giành đuợc độc lập về kinh tế, đối kẻ áp bức là người Pháp đông như đối kẻ bóc lột là người đồng hương.
 
Toulouse, sinh viên đã đề khởi xu hướng liên minh chống lại du học về làm công chức và chống việc xin nhập quốc tịch Pháp. Các hội viên đều thề nguyện là sẽ khước từ bất kỳ một chức vụ nào trong quan trường khi họ trở về Đông Dương.
Sau một thời gian ngắn ở Sài Gòn, từ tháng giêng đến tháng 8 năm 1928, Thạch trở sang Paris, tiếp xúc Tạ Thu Thâu và cả nhóm lãnh đạo đảng An Nam Độc lập được tổ chức lại. Anh gặp gỡ Phan Văn Trường, lại phát hành tờ Báo Sinh viên và viết bài trong tập kỷ yếu của Liên minh chống đế quốc, tổ chức này thành lập vào tháng 2 năm 1927 ở Bruxelles (Bỉ).
 
Ngày 12 tháng 2, Trần Văn Thạch chủ trì cuộc họp khoảng 200 sinh viên và lao động An Nam, tại số 3 phố Soufflot để phản đối bài diễn văn của chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương, khuyến khích hợp tác với Pháp và khuyến học để thành chức nghiệp, đọc tại Khu Đại học Paris nhân dịp đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng Ngôi nhà Đông Dương. Một lần nữa anh khẳng định rằng cái mục đích duy nhất của sự học tập là để giải phóng quê hương. Năm tháng sau, văn phòng của Tổng hội Sinh viên Đông Dương tại Paris chuyển sang tay những người tán thành đảng An Nam Độc lập.
 
Tháng giêng năm 1929, Thạch nhấn mạnh trên tờ Báo Sinh viên về sự đoàn kết giữa trí thức với lao động là quan trọng nhất. Anh lên tiếng phản đối Bộ Thuộc địa về việc trục xuất sinh viên An Nam.
Tháng giêng năm 1930 Thạch về ở luôn Sài Gòn, dạy văn học Pháp trong các trường tư để sống. Nhằm năm đầu tiên cuộc khủng hoảng thế giới ghê tởm này, có hai vụ bùn nổ chính trị long trời lở đất làm rung chuyển toàn xứ, cuộc lính tập Yên Bái khởi nghĩa và một phong trào nông dân lan rộng, kéo theo cuộc khủng bố trắng không tránh khỏi.
 
Tạ Thu Thâu với báo Tái sinh (La Résurrection)
 
Sau khi Nguyễn Thế Truyền về xứ, các đồng chí của ông đã phát hành vào ngày 1 tháng 4 năm 1928, một bản chương trình sơ thảo, khổ bỏ túi, đóng bìa vàng có 5 ngôi sao, nhan đề Lời kính chào đồng bào, dưới ký Đảng Việt Nam Độc lập, một lần nữa xác định
 
Mục đích của đảng là tìm mưu đạt kế để khôi phục quyền độc lập cho dân Việt Nam, độc lập rồi sẽ dựng chính thể dân chủ hay chính thể quân chủ, bênh vực và cởi mở cho đồng bào bị bọn quý tộc và kẻ tư bản ức hiếp, nâng đỡ cho họ lên cái địa vị xứng đáng với họ cho hợp lẽ công bình và nhân đạo.
 
Đối với đảng Việt Nam Độc lập thì phong kiến chính là vua ‘‘tên bù nhìn đã ký vào hòa ước bán nước’’, và giới quan lại, ’’bọn chó săn hung dữ chỉ có một việc là săn đuổi dân chúng’’. Còn những ai là bọn tư bản nếu không phải là những chủ thầu và những nhà đầu tư người Pháp? Và sẽ thực hiện nền dân chủ nào? Đó là một nền dân chủ thấm nhuần đạo đức phương Đông, có khả năng hạn chế những tệ nạn của chế độ tư bản. Giai cấp tư sản Việt Nam sẽ biết cách thiết lập nền dân chủ mang tính nhân đạo và họ sẽ quản lý nền dân chủ đó làm số phận của nông dân và thợ thuyền sẽ dễ chịu hơn.
 
Ở đây ta thấy còn xa với tư tưởng của Karl Marx về sự công nhân tự giải phóng lấy mình, và ngay cả  ‘‘giai cấp đông đảo nhất và nghèo khổ nhất’’  tự giải phóng. Chính hạng trí thức sẽ lãnh đạo và cầm quyền trong công cuộc biến đổi xã hội.
Tuy nhiên, đảng Việt Nam Độc lập cũng hứa sẽ từ bỏ việc lãnh đạo chính trị một khi đã giành được độc lập. Bi kịch của Trung Hoa năm 1927 đã làm đảo lộn suy nghĩ của đảng Việt Nam Độc Lập: đảng không muốn có một chính quyền độc đoán kiểu Quốc dân đảng. Đảng Việt Nam Độc Lập mong muốn rằng giới thợ thuyền, nông dân, nhà buôn, công chức, quân nhân, v.v. bầu lấy đại biểu của giới mình nhằm thiết lập một chính phủ ‘‘thỏa mãn quyền lợi của mọi người’’.
Giọng văn bản chương trình này gây xúc động trong khi gợi lại cuộc sống của tầng lớp thợ thuyền và nông dân đồng như trong lời kêu gọi kết thúc:
 
Đồng bào! Người ta to miệng cả lời mà ta phải cầm hơi ngậm tiếng; người ta hống hách vui cười, mà ta thì sẽ bẽ bàng sầu tủi. Kìa tai to, kia mắt lớn, nào tự đại, nào tự cao, thế nào đành nhắm mắt làm thinh, thế mà đành cúi đầu chịu nhục, còn trách chi ai!
Muốn khôn thì phải học, muốn khéo thì phải làm, muốn tự do sung sướng ngồi đó có được không?
Việt Nam Độc lập Đảng là một đảng không muốn làm thinh, không chịu cúi đầu; là một đảng lo cho nước sung sướng, cần cho dân tộc, mong rằng anh em sẽ tán thành phù trợ cho!
 
Tại Paris, đảng Việ Nam Độc Lập tổ chức 150 đảng viên thành ba phần bộ: Sinh viên khu Latin, thợ sơn lắc ở Cổng L’ Orléans, bồi bếp ở Quảng trường L’Étoille. Đảng này nhấn mạnh vào mặt tuyên truyền hơn là hoạt động. Đảng lập một ủy ban tổ chức những cuộc trao đổi thân mật và một Hội khuyến học. Đảng phối hợp công việc bí mật với hoạt động hợp pháp. Tại các tỉnh, khoảng 50 đảng viên giữ mối liên hệ với các hiệp hội thủy thủ và sinh viên.
Mật thám kiểm soát tại sở bưu điện Nam Kỳ tịch thu các gói bưu kiện có những tập sách trên gửi cho bí thư nông hội Long Xuyên, gửi cho một giáo viên ở Gò Công, một thông ngôn ở tòa án Cần Thơ... rồi ngày 16 tháng 9, toàn quyền Đông Dương ra lệnh giải tán đảng Việt Nam Độc Lập.
 
Ngày 17 tháng 7, khi ban cán sự đảng lại đến xin đăng ký hoạt động của đảng tại sở cảnh sát một lần nữa, họ vẫn bị từ chối mặc dù có hai luật sư Torrès  và Rosenthal can thiệp.
Được tin Nguyễn An Ninh bị bắt lần thứ hai, ghép vào tội âm mưu, đảng Việt  Nam Độc Lập tổ chức một cuộc mít ting phản kháng ngày 16 tháng chạp năm 1928 và gửi cho Ninh cùng các bạn của người bản thông điệp đoàn kết hữu ái của 250 người An Nam ở Pháp. Những đại biểu ở các nơi như Le Havre, Toulouse, Bordeaux, Marseille đều có mặt. Năm hôm sau, Liên minh chống áp bức thuộc địa và chống đế quốc củaFélicien Challaye cũng lên án sự đàn áp, đồng thời cũng lên án các thế lực tài chính bóc lột Đông Dương, lên án các độc quyền khả ố đã vận động ép buộc dân phải tiêu thụ một số rượu, và để cho tự do hút thuốc phiện do Nhà nước độc quyền bán ra. Liên minh phản đối mạnh mẽ sự quyết định tăng thêm khoản thu nhập từ các thuộc địa và dự án luật phạt tù từ 1 đến 5 năm và từ 100 đến 5000 francs, đồng thời tước quyền chính trị và đày lưu xứ  ‘‘những ai hoạt động chạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, hoặc phân ly phần lãnh thổ mà chính quyền Pháp cai trị’’. Liên minh tán thành ý đồ của thanh niên Đông Dương đòi quyền độc lập hoàn toàn cho xứ sở, thậm chí Liên minh còn tuyên bố hết sức ủng hộ.
 
Cũng trong tháng đó,Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh... tung ra tờ báo hằng tháng Tái sinh (La Résurrection), ‘‘cơ quan thanh niên cách mạng An Nam’’, đặt trụ sở tại nhà Phương ở Cachan, ngoại ô Paris. Tờ báo bị cấm ngay từ trong nhà in. Số 3 là số cuối cùng in bí mật tại Toulouse. Báo lên tiếng phản kháng dữ dội chống tịch thu, trong bài ‘‘Tư tưởng bị cầm tù’’:
Thời hoàng đế Tibère người ta không trừng phạt tư tưởng: Nemo cogitationis poenam in foro patitur.
 
Thế mà ngày nay, dưới sự bảo hộ của chính phủ Đệ tam Cộng hòa, các nhà in hầu như trở thành những nấm mồ chôn Sự Thật. Chẳng thế mà vừa ló mặt ra với đời, hơn bốn ngàn ấn bản của tờ Tái Sinh  bị thủ tiêu, bị ám sát.
Những cung cách đó không còn làm chúng tôi ngạc nhiên nữa.
Những nguyên tắc Cộng hòa và dân chủ không phải đạt ra cho chúng tôi được hưởng, chúng tôi những kẻ khốn cùng ở thuộc địa.
Vả lại, chính phủ Pháp chỉ làm cái việc mà họ phải làm, đó là: một uy quyền nảy sinh từ võ lực liệu có thể duy trì được không nếu như không độc đoán? Tại sao chúng tôi lại phàn nàn? Chúng tôi xứng đáng với số phận kẻ tùng phục. Chính Clémenceau đã nói thẳng với chúng tôi rằng: ‘‘Không có công lý, không có tổ quốc, không có tự do đối với những kẻ nhẫn nhục, những kẻ cứ chịu mãi mãi phục tùng’’Vậy từ nay chúng tôi không còn gì ngần ngại nữa trên bước đường chúng tôi theo đuổi.
 
Trong thời gian ra đời ngắn ngủi, tờ báo đã đăng bản báo cáo của Delamarre, viên thanh tra có khuynh hướng nhân văn, được phó trách nhiệm điều tra sở cao su Mimot tháng 3 năm 1928, vạch trần cảnh sống phu phen cao su dưới chế độ nô lệ sát nhân ở đó (xem phụ chú 38). Tờ báo đã thử đưa ra những bài lý luân về tiến hóa xã hội và các phong trào cách mạng, đôi chỗ có dùng đến từ ngữ củaKarl Marx nhưng hầu như không minh giải chút nào theo duy vật lịch sử quan, xáo trộn tư tưởng đấu tranh giai cấp vào tư tưởng quốc gia như đã thấy trong tập chương trình phát ra hôm tháng tư:
Nếu người ta quan sát cẩn thận một sự biến đổi nào đó thì người ta sẽ thấy trong quá trình ấy có hai sự việc kế tiếp nhau, mà sự việc thứ hai là kết quả tất yếu của sự việc thứ nhất. Trước hết là một sự biến đổi từ từ về những ý tưởng, về nhu cầu, về những phương tiện hành động trong nội bộ một xã hội. Đến một lúc sự biến đổi tiến tới mức cao rồi phát hiện trong mọi sự việc, lúc ấy xã hội đột ngột khủng hoảng một cách quyết liệt, đó là cách mạng. Vậy cách mạng chỉ là sự biểu hiện đột ngột của một quá trình thay đổi đã được chuẩn bị từ rất lâu và không thể tránh khỏi. Ở An Nam hai giai cấp đứng lên chống chọi nhau, có một đặc điểm là không cùng chung một chủng tộc. Và cuộc đấu tranh giai cấp, đặc tính mọi cuộc nội chiến, đối với chúng ta lại trở thành cuộc đấu tranh chủng tộc. Tại xứ An Nam, cái giai cấp được hưởng những đặc quyền bất công, cái giai cấp mà cách mạng phải đánh đổ, đồng thời cũng chính là kẻ thù chủng tộc của chúng ta, kẻ đã chiến thắng, thống trị và bóc lột chúng ta.
     Tờ báo không chủ trương như Karl Marx, cho rằng mọi triết thuyết chỉ đưa ra những giải pháp hư ảo đối với các vấn đề của loài người nếu các điều kiện kinh tế chưa hiệp hội đầy đủ. Tờ báo chỉ ra rằng đạo đức cổ đại là nguyên động lực của một hành động cách mạng có khả năng không những đạt được nền độc lập mà còn xây dựng được một xã hội công bằng và đoàn kết lâu dài.
 
Đồng thời tờ báo cũng lên tiếng chỉ trích những người theo đảng lập hiến, không những chỉ vì họ tin tưởng ngoan cố rằng có thể hợp tác với chủ nghĩa thực dân, ’’một hành động thô bạo và vạn ác’’, mà còn chỉ trích họ là đã toan tính làm cho đồng bào hãi sợ, họ ‘‘phơ phất cái bóng ma nội chiến’’. Mạnh hơn nữa, tờ báo còn thóa mạ lòng ích kỷ của bọn lập hiến vì đối với họ lợi tư của họ là trọng hơn nền độc lập. Một đảng viên lập hiến phải chăng đã từng trắng trợn tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn của tờ Trung lập (L’Impartial), được đăng lại trong tờ Tái sinh số 3 như sau:
 
Trong giới thượng lưu An Nam, chúng tôi mọi người đều có những quyền lợi, tài sản và chắc các ông cũng biết rằng chúng tôi không có ngu ngốc đến nỗi bỏ liều quyền lợi và tài sản của mình trong một cuộc đảo lộn chính trị.
 
Nhóm Cộng sản An Nam: Lao Nông (1928 -1930)
 
Đệ tam Quốc tế lúc này đã đến đâu?
 
Vào tháng 10 năm 1917, những người Bolchevisme đã hy vọng ‘‘báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây’’, cuộc cách mạng mà Karl Marx đã dự kiến coi như một điều kiện để nước Nga có thể tiến đến chủ nghĩa cộng sản (39), mà họ không cần phải chờ đến khi những sinh sản lực trong xứ của họ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa của giai cấp tư sản.
 
Nhưng cuộc toan mưu cách mạng vô sản đầu tiên trong một nước công nghiệp hóa như nước Đức năm 1918 đã bị thất bại. Karl Liebknecht và Rosa Luxembourg hai nhà lý luận của cuộc cách mạng ấy đã bị ám sát ngày 15 tháng giêng năm 1919 và các Hội đồng công nhân (Conseils Ouvriers) mọc lên từ tháng 11 năm 1918 đã bị đặc quân của Noske tàn sát. Noske là thủ lĩnh đảng dân chủ xã hội, rồi cuộc Cách mạng Đức phải dừng lại ở giai đoạn cộng hòa cải lương.
Tại Moscou, ngày 4 tháng 3 năm 1919, ‘‘Đại hội quốc tế các đảng vô sản cách mạng’’ do đảng Bolchevisme triệu tập, Đại hội tuyên bố thành lập Quốc tế Cộng sản, nhằm tập hợp lực lượng công nhân để thanh toán chế độ nô dịch tư bản chủ nghĩa trên toàn thế giới. Trong thư mời, do Trotski viết, có kêu gọi hướng chung tiến tới một nền ‘‘dân chủ vô sản’’, tiến tới  ‘‘chính quyền của các hội đồng thợ thuyền hay những tổ chức công nhân’’, nói cách khác, là gây dựng chính thể mà Karl Marx gọi là ‘’vô sản chuyên chính’’.
 
Mặc dầu cách mạng thợ thuyền Đức 1918 thất bại và phong trào công nhân thế giới suy thoái, tinh thần lạc quan về cách mạng không diệt vong liền theo đó, vả lại Hồng quân do Trotski lãnh đạo lần lượt giải phóng những đất đai bị quân binh của Ioudenitch, Denikine, Kolchak, Kormilov... chiếm đóng. Trong diễn văn khai mạc Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ hai, ngày 17 tháng 7 năm 1920, Lénine tỏ niềm trông cậy mới vào ‘‘các quần chúng bị áp bức trong các thuộc địa và ở phương Đông’’, và tỏ hy vọng mới cho họ.‘‘Một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta bây giờ là đặt ngay một viên đá đầu tiên của phong trào Sôviêt trong các xứ không phải là xứ tư bản. Những Sôviêt có thể thành lập ở đây sẽ không phải Sôviêt công nhân mà là những Sôviêt nông dân’’ (40) » Mặc dù Hồng quân đang lâm nguy trước vành đai Vasovie, Lénine vẫn kết luận bằng lời công bố niềm tin tưởng này:
 
Nếu các đồng chí chúng ta ở tất cả các xứ hiện nay đều có thể giúp đỡ chúng ta, thì không có gì có thể ngăn cản chúng ta hoàn thành sự nghiệp của chúng ta, là thực hiện cách mạng vô sản toàn thế giới, là xây dựng nền Cộng hòa Sôviêt thế giới.
 
Tuy nhiên, giai cấp vô sản ở các nước công nghiệp hóa không nổi dậy hoặc bị thất bại. Sự chuyển hướng về chính trị bắt đầu và ngay từ trước khi Lénine mất, vào tháng giêng năm 1924, Staline đã dựa trên một giả tưởng mà ông sẽ xây dựng thành học thuyết, đó là ‘‘xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một xứ riêng biệt’’. Triệt tiêu dần dần mọi xu hướng đối lập, Staline ra sức làm biến đổi nhanh chóng Nhà nước cách mạng Sôviêt thành Nhà nước quan liêu của Đảng. Từ đó là sự tăng cường bóc lột công nhân và nông dân, cái nguồn tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản nhà nước, một chế độ thống trị và nô dịch trong đó những quyền lực về kinh tế và chính trị tuyệt đối thuộc về bộ máy quan liêu - giai cấp hoặc đẳng cấp xã hội mới này - đã thay thế cho giai cấp tư sản và địa chủ truyền thống.
 
Lúc bấy giờ không còn nói đến vấn đế cách mạng vô sản ở các nước công nghiệp hóa nữa. Người ta kích động những phong trào nổi dậy trong các nước thuộc địa và bán thuộc địa nhằm làm giảm bớt vòng vây đe dọa của chủ nghĩa đế quốc bằng cách gây rối các cường quốc. Đệ tam Quốc tế từ đó phụ thuộc vào quyền lợi của đẳng cấp thơ lại quan liêu, tục gọi là Sôviêt (Soviétique).
 
Vì vậy ở Trung Hoa, Moscou đã ủng hộ và vũ trang độc nhất cho quân đội tư sản của Quốc dân đảng, chỉ thị cho đảng Cộng sản Trung Quốc buộc phải nhập khối vào Quốc dân đảng, nghĩa là biến thành bộ phận phụ thuộc của đảng này. Lãnh tụ sáng suốt nhất của đảng Cộng sản Trung hoa là Trần Độc Tú, bị Staline giận dữ và trấn áp khi người đòi hỏi quyền độc lập và võ trang cho đảng mình, một điều kiện sống còn đối với cuộc cách mạng ruộng đất và phong trào công nhân. Chính với vũ khí Nga mà Tưởng Giới Thạch đã tàn sát công nhân và đảng viên Cộng sản ở Thượng Hải và Quảng Châu vào tháng 4 và tháng chạp năm 1927.
 
Năm 1928, tại Đại hội thứ sáu Quốc tế Cộng sản, Boukharine buộc Đảng cộng sản Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của Staline. Thế rồi Tổng bí thư Staline phải chấn chỉnh lại sách lược của mình áp dụng ở Á Châu, không phân tích và cũng chẳng sám hối. Từ đó Moscou dứt ủng hộ các đảng quốc gia ở các nuớc thuộc địa, và chỉ còn dự kiến việc đào tạo hoặc củng cố các đảng tôi tớ, các đảng gọi là cộng sản.
Một hậu quả tất nhiên là phân bộ thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp ly khai với đảng Việt Nam Độc Lập.
Người thanh niên lưu vong Nguyễn Văn Tạo (sau này là Bộ truởng Lao động của chính phủ Hồ Chí Minh) bí mật đến Pháp vào tháng 5 năm 1926. Chẳng bao lâu anh là đảng viên đảng Cộng sản Pháp, làm thường vụ có ăn lương. Vào tháng mà đảng Việt Nam Độc lập công bố tập chương trình, anh đã tập hợp vào tháng 4 năm 1928, một nhóm nhỏ gồm những người theo chủ nghĩa quốc gia như Hoàng Quang Giụ, hai thủy thủ ở cảng Le Havre, bốn chiến sĩ ở Marseille và một người cháu của Nguyễn Thế Truyền là Nguyễn Thế Vinh vừa học xong một năm tại trường Đại học Lao động Đông Phương ở Moscou. Họ phát hành tờ báo mới ra hàng tháng Lao Nông, số 1 bí mật ra mắt vào tháng 6. Tờ báo này, chủ yếu dành cho lớp người lao động chân tay, buớc đầu huớng dẫn họ theo ABC ngôn ngữ cộng sản, trong đó tuyên bố như sau:
 
Mục đích của chúng ta là giành lấy độc lập để lật đổ chủ nghĩa tư bản. Khi cách mạng thành công, đảng của công nhân và nông dân (41)phải nắm lấy chính quyền.
Nguyễn Văn Tạo được cử đi dự Đại hội thứ sáu Quốc tế Cộng sản, không lên tiếng phê phán gì về sách lược Staline-Bukharin ở Trung Quốc. Anh chỉ an lòng đề đạt nguyện vọng làm cho Moscou lưu ý đến việc thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương.
 
Vụ Café Turqueti
 
Một cuộc ấu đả diễn ra tại tiệm café Turqueti (84 đại lộ Saint Germain, Paris 6e) ngày 9 tháng giêng năm 1929 đã làm lộ rõ sự chia rẽ giữa Đảng cộng sản Pháp liên minh với Nhóm Lao Nông và đảng Việt Nam Độc Lập. Nhân cuộc họp của nhóm Thanh niên ái quốc của Taittinger, đại biểu của đảng Việt Nam Độc Lập tới đó để phản đối một người tên là Đỗ Đình Thạch đã nói tới  ‘‘công ơn khai hóa’’ của thực dân Pháp. Cuộc họp biến thành cuộc ấu đả. Đỗ Đình Thạch và hai ‘‘Thanh niên ái quốc’’ bị thương. Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương và hai đồng chí công nhân của họ bị dẫn tới bót cảnh sát phố La Huchette, hai hôm sau đuợc thả ra. Chiều 10, trụ sở của đảng Việt Nam Độc Lập bị lục soát, bàn ghế bị đập gẫy. Ngày 11, tờ Nhân Đạo (L’Humanité) cơ quan của đảng Cộng sản Pháp tường thuật vụ trên một cách sai lạc tới mức dối trá:
 
Mọi người đều nhận thấy rõ ràng, các lãnh tụ của Đảng gọi là Việt Nam Độc lập đều vắng mặt một cách thận trọng, một đảng đã bốn lần thay đổi chương trình, nay họ cũng không dám đến phản đối những đồng bào phản bội sự nghiệp độc lập của Đông Dương.
 
Ba tờ truyền đơn - Hỡi đồng bào! Gian xảo hay khiêu khích? Sự thật cứ tiến - chỉ rõ rằng phía bị đả kích đã phản ứng. Tại sao đảng Cộng sản Pháp muốn chia rẽ sinh viên và vô sản An Nam, tại sao họ không phản đối việc bắt bớ và lục soát, tại sao họ tung ra cái tin vu khống rằng các  ‘‘lãnh tụ vắng mặt’’? Tạ Thu Thâu đã dùng ngòi bút của mình mà nguyền rủa ‘‘những kẻ ăn lương của phân ban thuộc địa trong đảng Cộng sản Pháp’’ , đã quyết định khai tử đảng Việt Nam Độc Lập, nguyền rủa ‘‘những chỉ dụ kiểu Nga Hoàng’’  (oukases), ‘‘đế quốc Đỏ’’, ‘‘cái mặt nạ mới của Châu Âu’’ . Gần như một tiếng kêu tuyệt vọng chống lại bọn An Nam làm ‘‘cách mạng chuyên nghiệp’’  để tìm địa vị.
Sự phẫn uất ban đầu đã êm dịu, tờ Tái sinh số 3 không muốn gây thêm chuyện, họ chỉ ra lời cải chính như sau:
 
Những người tới dự cuộc họp đó hẳn đã chú ý là các chiến sĩ của đảng Việt Nam Độc Lập có mặt ở đó, nhưng người ta có thể từ lời dối trá của báo Nhân Đạo mà kết luận rằng đảng Cộng sản Pháp đã làm như vậy để lừa vào cái bẫy phát xít những người cách mạng An Nam nào không được Đệ tam Quốc tế công nhận? Quả thực chúng ta phải công nhận là trong các vụ bê bối ở thuộc địa và trong sự việc mà chúng ta quan tâm, chỉ có tả phái và đặc biệt đảng xã hội và cộng sản đã cố gắng bảo vệ chúng ta.
 
‘‘Xứ An Nam không phải là một bộ phận nước Pháp’’
 
Ngày 21 tháng 3 năm 1929, tòa án dân sự ở Paris tuyên bố giải tán đảng Việt Nam Độc Lập, với tội danh là ‘‘chia rẽ nước Pháp’’.
Trước tòa án, Tạ Thu Thâu ó lên:
 
Làm sao người ta có thể nói rằng nước An Nam là một phần của nước Pháp, khi mà An Nam có lịch sử từ bốn ngàn năm nay và chính người Pháp đã dùng quân lực để chia rẽ nước Nam.
 
Lúc đó Phan Văn Trường đang ở Paris, ông tiếp xúc Tạ Thu Thâu cùng các bạn với thái độ một người đàn anh hiểu đời giàu kinh nghiệm đấu tranh. Ông khuyên không nên phục hồi đãng Việt Nam Độc Lập, có thể vì đã lổi thời, và nên xem xét cẩn thận những vấn đề khó khăn về chính trị, và lại đi tìm tiếp xúc mới trong cánh tả Pháp. Sau đó Nhóm Xuất dương Đông Dương (Groupe des Emigrés Indochinois), một tổ chức khiêm tốn hơn, thay thế đảng Việt Nam Độc Lập. Nhóm nầy tập họp Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh, Lê Bá Cang, Hồ Văn Ngà, Ngô Quang Huy và những người trung thành của đảng đã giải tán, còn những người khác như Hoàng Quang Giụ họ nhập nhóm Lao Nông
 
Tháng 7 năm 1929, Thâu bí mật sang Francfort  ở Đức để dự Đại hội của Liên minh chống đế quốc chủ nghĩa, nhóm lần thứ hai. Anh tỏ lòng khâm phục thanh niên Đức đầy ‘‘nhiệt tình và hoạt động hăng hái’’  (trích thư gửi Trịnh Hưng Ngẫu do mật thám giữ lại). Anh không dè bốn năm sau, thể hệ thanh niên ấy lại không ngăn Hitler lên chính quyền, nếu như họ không đóng góp vào lực lượng fát xít?
 
Tạ Thu Thâu cùng các bạn bắt đầu tiếp xúc những người ly khai đảng Cộng sản Pháp, như Rosmer (42), nhóm Ngược Giòng (Contre le Courant) của Maurice Paz (43) rồi họ tiến về xu hướng cộng sản phê phán. Họ đã đoạn tuyệt với  ‘‘thành kiến về chủng tộc’’  và thứ chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi của họ. Trong tầm con mắt những thanh niên theo chủ nghĩa quốc gia, sự ‘‘đối kháng chủng tộc’’  che mờ đối kháng giai cấp. Phải thoát khỏi thành kiến ấy, nhiệm vụ của ta là làm nảy sinh một thế giới mới. Rosmer sẵn dành cho họ những cột trong báo Sự thật (La Vérité) để họ có thể tự do phát biểu. Trong những số báo từ ngày 1 tháng 5 tới 13 tháng 6 năm 1930, Tạ Thu Thâu viết rỏ về sự chuyển biến đó:
 
Trong các thuộc địa, người thanh niên phiến loạn không khỏi trải qua giai đoạn quốc gia chủ nghĩa. Những người cấp tiến hơn thì nói đến đế quốc chủ nghĩa, nhưng không vượt khỏi giai đoạn không tưởng, đặc gồm những danh từ trừu tượng như cộng lý, tự do, bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết. Những kẻ nói phải đuợc độc lập tức thời, họ chỉ có một khái niệm máy móc và hình thức về cuộc tranh đấu. Họ  tưởng tượng cuộc cách mạng giống như cuộc bạo động của một nhóm âm mưu ít nhiều anh dũng, ít nhiều tài năng khéo léo.
Chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa Gandhi (bất bạo động, bất hợp tác, bất tuân luật lệ) tất cả đều không giải quyết đuợc vấn đề thuộc địa.
Giai cấp tư sản thế giới liên hệ chặc chẻ nhau trên trường quốc tế, giai cấp tư sản bản xứ bất lực từ lúc nảy sinh, thế nên ở Đông Dương, tranh đấu giành độc lập là sứ mạng của quần chúng vô tài sản. Chỉ có quần chúng đông nhất, về mặt xã hội là kẻ thù đế quốc chủ nghĩa, họ đứng lên hành động có tổ chức, mới có năng lực lật đổ đế quốc. Phải nhập một vấn đề độc lập với vấn đề cách mạng vô sản theo con đường xã hội chủ nghĩa.
 
Tạ Thu Thâu và các bạn vẫn trung thành với chủ nghĩa quốc tế cách mạng, liên minh toàn thể nô lệ của tư bản khắp thế giới, cho đến ngày anh và các bạn bị ‘‘thủ tiêu về chính trị’’  (Hồ Chí Minh nói vậy), nói đúng hơn, cho đến khi đảng viên của Hồ Chí Minh ám sát họ năm 1945...
📎 TranVanThach 1905 - 1945




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2017 18:56:33 bởi Ct.Ly>
Tạ Thu Thâu với báo Tái sinh (La Résurrection)
   
                                                 
Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu 
(1906 - 1945)


 

📎 ta_thu_thau




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2017 18:59:32 bởi Ct.Ly>
 
IV
Phong trào quốc gia bí mật  
ở trong nước thời kỳ này 
 
Được thừa hưởng cả một truyền thống đấu tranh chống thống trị thực dân, những phong trào này, cũng như những phong trào trước đó, là sự nghiệp của tầng lớp trí thức thuộc giai cấp trung lưu. Đối trước sức đàn áp dữ dội, những nhóm cách mạng này chỉ có thể nảy sinh và phát triển hoàn toàn bí mặt. Cuộc chiến đấu của họ cũng không thể tách khỏi con đường cũ, như là âm mưu, mưu đồ quân sự, hành động khủng bố. Những thanh niên thức tỉnh cảm thấy mình như bị nhốt trong một khám tù mênh mông, rộng lớn :
 
Trong đó niềm hy vọng, như một chim giơi, 
Đập đôi cánh rụt rè trong bốn bức tường
 Rồi chạm đầu vào những trần nhà mục nát.
(Baudelaire)
 
Những thanh niên không ra nước ngoài sẽ tham gia vào các tổ chức quốc gia bí mật lần lượt được thành lập từ Nam chí Bắc trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1928:
Tân Việt Cách mạng đảng, hay Tân Việt (1925-1929)
Hội kín Nguyễn An Ninh (1928-1929)
Việt Nam Quốc dân đảng, viết tắt là VNQDĐ (1927-1930)
Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội, hay Thanh Niên (1925-1930), sẽ biến thành Đảng cộng sản Đông Dương.
Quan điểm chung của các tổ chức trên là chuẩn bị chiến đấu vũ trang để giành độc lập quốc gia. Một kỷ luật sắt chế ngự trong Thanh Niên và trong
VNQDĐ: đảng viên phải giữ bí mật tuyệt đối về công việc của đảng, và không bao giờ được lộ ra cho cả cha mẹ mình, bạn bè và những người quen biết của mình, nếu không sẽ bị tử hình, đó là điều lệ của Thanh Niên. Đó chính là một thế giới âm u và im lặng.
 
Đảng Tân Việt
Đảng Tân Việt khởi đầu lấy tên Phục Việt, do các trí sĩ bị lưu đày tại ngục Côn Nôn thể hội từ năm 1917, những trí sĩ đồng như Phan Chu Trinh ra đây sau những cuộc nông dân biểu tình năm 1908 tại Trung Kỳ (44). Những người trung kiên tập hợp quanh Lê Huân, trong đó có ba người là Trần Hoành, Tú Kiên và Phạm Cao Đại đã vượt ngục nhằm liên lạc với những người cùng hội của Phan Bội Châu, chủ yếu ở Trung Quốc. Họ vào được đất liền sau đó một người bị bắt ở Sài Gòn vào tháng 9, hai người kia vào tháng 2 năm 1918 ở Thượng Hải, tất cả đều bị đưa trở lại Côn Nôn. Như vậy lần đầu họ mưu toan tập hợp bị thất bại.
 
Bảy năm sau, ngày 14 tháng 7 năm 1925, các nhà cách mạng ra khỏi nhà tù gặp nhau ở Vinh. Nhiều thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ như Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Ngô Đức Trì, Hà Huy Tập... đến tăng cường lực lượng cho nhóm  ‘‘đàn cựu’’  của Lê Huân. Họ tổ chức những lớp học người lớn cho các công nhân nhà máy ở Vinh, rồi Hà Huy Tập nhanh chóng gây được cảm tình và được họ tin cậy. Vào tháng 11 năm 1925, Phục Việt tung truyền đơn đòi thả Phan Bội Châu. Đối với một đảng bí mật và sự bí mật tuyệt đối là điều kiện sống còn, thì đây là một hành động sai lầm. Do đó nhà giáo Trần Mộng Bạch đề nghị đổi tên Phục Việt thành một cái tên khác vô hại để che mắt dễ dàng hơn, đó là Hưng Nam, một hội có nhiệm vụ chính thức là chuẩn bị ‘‘cuộc cách mạng hòa bình’’ bằng con đường giáo dục miễn phí nhằm chống ‘‘mê tín và tệ nạn’’ , và phát triển kinh tế.
Đồng thời với Phục Việt, ở Quảng Châu Nguyễn Ái Quốc tổ chứcThanh Niên vào tháng 6 năm 1925. Hưng Nam cho rằng có thể liên minh với Thanh Niên và sẵn sàng hợp tác các hoạt động với ‘‘đảng ở ngoài nước’’  này. Hưng Nam lấy tên bí mật là Tân Việt Cách mạng Đảng và gửi thanh niên sang Quảng Châu để huấn luyện. Phần lớn những thanh niên này thọ giáo xong lại gia nhập tổ chức Thanh Niên, một tổ chức được Quốc tế cộng sản tài trợ và được đảng cộng sản Trung Quốc ủng hộ, có một hệ thống tư tưởng và cấu trúc theo kiểu mẫu Bolsevik.
Trần Phú, được cử sang thương lượng việc hợp nhất hai tổ chức lại gia nhập Thanh Niên và thề trung thành đến cùng. Nguyễn Ái Quốc đưa Trần Phú đi học trường Đại học Lao động Đông Phương ở Moscou. Tuy vậy họ không bỏ qua ý tưởng hợp nhất. Cả hai tổ chức đều cử đại biểu đến Quảng Châu thảo luận thủ tục thành lập chung một đảng. Các đại biểu về nuớc mang theo tập Đường Cách mệnh của Nguyễn ái Quốc mà đảng Thanh Niên coi như cơ sở chính trị của việc họp nhất lúc đó, nếu có thể. Trong những năm 1927-1928 nhiều cuộc thương thảo đôi lúc cũng tiến buớc, song không đi đến kết quả. Đồng lược bên này tận lực thu hút đảng viên bên kia. Hai bên không thỏa thuận được về cả phương diện học thuyết, nghĩa là hoặc theo chủ nghĩa quốc gia đơn thuần hoặc có mầu sắc Bolchevisme. Cũng như về cả phương diện cách thức họp nhất (Tân Việt đề nghị họp nhất hai tổ chức một cách bình đẳng, Thanh Niên đề ra việc kết nạp từng cá nhân đảng viên Tân Việt sau khi giải tán đảng này). Thanh Niên phê phán gay gắt ‘‘ý thức giai cấp’’  của các lãnh tụ Tân Việt - được gán cho là ý thức tư sản - lại càng làm cho việc dàn xếp khó khăn.
 
Năm 1928, Tân Việt gồm 42 chi bộ, mỗi chi bộ có từ 3 đến 5 đảng viên, trong đó 30 chi bộ ở Trung Kỳ, 7 ở Nam Kỳ, 5 ở Bắc Kỳ. Lúc này đảng huớng cuộc vận động vào Nam Kỳ, nơi mà ảnh huởng của phong trào Nguyễn An Ninh khởi đầu phát triển sâu rộng trong vùng nông thôn. Ban chấp hành trung ương nhóm họp tại núi Thuận Nhan vào tháng 2, cử Tú Kiên và Hà Huy Tập tìm cách buớc đầu thương thảo việc liên minh với phong trào trên. Nhưng đề nghị đó không đặt được kết quả khi Nguyễn An Ninh bị bắt vào tháng 10.
 
Trong lúc đó Tân Việt bắt đầu bị đàn áp. Những người sáng lập ở Vinh, Trần Mộng Bạch và các đồng chí, bị đày lên vùng Tây Nguyên. Đào Duy Anh, một đại biểu mới gia nhập đảng Tân Việt, được giao phó chức vụ bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Vào cuối tháng 6, ông triệu tập xứ ủy tại nhà riêng ở Huế để thảo luận về việc thay đổi bộ mặt bên ngoài của đảng vì từ nay sở mật thám rất quan tâm đến đảng. Tân Việt đề ra một chương trình thành lập một khối đoàn kết quốc gia, chương trình cho thấy rõ xu huớng tách khỏi Thanh Niên, và được chứng tỏ rõ ràng qua lời khai của Đào Duy Anh viết lúc ông bị bắt:
 
Đảng chúng tôi không thể dựa trên một giai cấp duy nhất: không dựa vào giai cấp công nhân còn quá ít ỏi; cũng không dựa vào giai cấp nông dân là một khối không đồng nhất, bảo thủ và phân tán đối với phong trào của chúng tôi; cũng không dựa vào giai cấp tư sản mà quyền lợi thường đối lập với quyền lợi của cách mạng; cũng không dựa vào giai cấp tiểu tư sản không có lực lượng và không thống nhất. Chúng tôi phải tuyển lựa vào đảng những phần tử tiến bộ của mọi giai cấp xã hội. Chúng tôi tránh mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, đường lối chính trị của chúng tôi hoàn toàn là quốc gia chủ nghĩa.
 
 
Khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của Tân Việt còn mơ hồ nhưng có thực. Điều này được xác định qua lời khai của những người do Ủy ban Morché  chất vấn Morché, tên quan tòa điều tra những sự biến đẫm máu ở Trung Kỳ 1930 - 1931)(44). Đặc biệt là lời khai của hai nhà giáo Ngô Đức Diên và Hoàng Đức Thi, bị kết án 7 năm tù chỉ vì tham gia Tân Việt và bị khám thấy trong nhà có lưu giữ tờ Người Cùng khổ (Le Paria) và tờ Việt Nam Hồn (L’ Âme annamite) từ
Paris bí mật gửi về:
Chúng tôi không có ý định vận động quần chúng, mà chỉ vận động những người có học. Tân Việt là một đảng của trí thức. Đảng này được thành lập nhằm xây dựng một nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết lý tưởng đơn thuần và không áp dụng vào được thực tế (của đất nước). Chúng tôi mong muốn xây dựng một nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
 
Đến tháng chạp năm 1928 Tân Việt bị đàn áp ở Nam Kỳ. Sau vụ ám sát ở phố Barbier (xem phần dưới) mật thám tổng ruồng bố tiếp liền làm tan vỡ Xứ ủy: Nguyễn Duy Trinh 20 tuổi, và Đào Xuân Mai, 27 tuổi, bị bắt. Trần Ngọc Danh, Phan Đăng Lưu và một số người khác trốn sang Moscou hoặc sang Trung Quốc; sau này lại thấy họ ở trong Đảng cộng sản Đông Dương. Còn hai đại biểu cử đi công tác thì Tú Kiên bị bắt, còn Hà Huy Tập thoát được, sau đó sang Moscou.
 
Hai người trong Xứ ủy bị kết án người thì 10 năm tù, người thì 18 tháng. Tú Kiên bị 5 năm tù treo, bị giải về làng ông ở Trung Kỳ và quản thúc ở đó. Đến chặng dừng chân tại nhà tù Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques), con người đấu tranh không mệt mỏi này - đã bao lần thất bại - Tú Kiên bị giam cùng với những kẻ thất bại khác, những nạn nhân khốn cùng nhất của chế độ thực dân: những phu đồn điền cao su Nam Kỳ trốn ra khỏi cái địa ngục đó nhưng bị bắt.
 
Cuộc tổng ruồng bố tháng 7 năm 1929 ở Trung Kỳ quyết liệt phá tan Tân Việt. Lê Huân bị chết trong tù, Đào Duy Anh bị giam một năm. Rồi trong khi Thanh Niên bị phân liệt thành hai đảng cộng sản cạnh tranh nhau, thì một nhóm Tân Việt còn sót lại đề ra việc thành lập Đông Dương cộng sản Liên đoàn, đối lập với đường lối xây dựng khối quốc gia chủ nghĩa. Dự định này bị phá vỡ từ trong trứng: 8 đại biểu - 2 ở Nam Kỳ, 5 ở Trung Kỳ, và 1 ở Bắc Kỳ - tập hợp tại Huế bị bắt ngày 1 tháng giêng năm 1930. Sau hai tháng giam giữ họ bị kết án:
1 người bị 3 năm tù, mấy người kia bị quản thúc(46) . Tân Việt ngừng lên tiếng.
 
Sau khi ra tù, Đào Duy Anh, cựu bí thư đảng Tân Việt bị Đảng cộng sản Đông Dương qui là chống cộng sản, ông khước từ mọi hoạt động chính trị.
 
Hội kín Nguyễn An Ninh
Ngày 4 tháng 10 năm 1928, tờ Đồng Pháp Thời báo đăng ‘‘thông cáo của chính phủ’’ như sau:
 
Nguyễn An Ninh trước kia là một nhà làm báo, hồi năm 1926 đã bị án mười tám tháng tù, qua ngày tháng Janvier 1927, nhờ ơn của quan Toàn quyền tạm tha cho ra ngoài. Mới bữa 28 Septembre vừa rồi, Nguyễn An Ninh diễn thuyết ở gần ga xe lửa Bến Lức, trước mặt lối sáu chục người. Nhơn mấy người lính đến hỏi tụ hội để làm chi, thì Nguyễn An Ninh lại đánh một người lính, đến nỗi phải cho vào nhà thương. Hiện nay quan trên đã có ra lệnh bắt Nguyễn An Ninh, nhưng y đã đi đâu mất. Người ta đương tìm kiếm dữ lắm.
 
Nguyễn An Ninh từ Pháp trở về nước hồi tháng Giêng, sống ở Sài Gòn, một châu thành khuấy động do các tổ chức cách mạng bí mật khai sinh ở miền Bắc tiến nhập: Việt Nam Quốc Dân đảng ở Bắc Kỳ, Tân Việt ở Bắc Trung Kỳ, Thanh Niên ở Quảng Châu đang biến Sài Gòn thành nơi tranh giành vai trò giáo dục về chính trị. Nhóm nầy thuyết giảng về chủ nghĩa Tam Dân, nhóm kia giải thich về lịch sử những cuộc cách mạng Pháp, Nga hoặc Trung Hoa. Tất cả đều theo chủ nghĩa quốc gia một cách hăng hái, nhằm vận động chủ yếu là tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, thợ thủ công ở các thành phố. Lĩnh vực kinh tế rất thuận lợi cho việc tuyên truyền của họ: những độc quyền do tư bản Pháp đào tạo ra, như độc quyền thương cảng Sài Gòn, các hầm mỏ ở Trung và Bắc Kỳ bóp nghẹt sáng kiến công nghiệp của người bản xứ.
 
Trong cảnh êm tịnh bên ngoài, những tổ chức chính đảng sơ khai thành lập ở Sài Gòn, ẩn núp ngụy trang bằng các cửa hàng cửa hiệu (giặt là, cắt tóc, xưởng cơ khí). Lứa thanh niên chịu ảnh hưởng của Ninh thời kỳ  ‘‘Mùa Xuân Sài Gòn’’, những học sinh bị đuổi học những năm 1926-1927 dường như biến đâu cả. Tuy nhiên, một số vẫn đi tìm đường một cách bí mật.
 
Nguyễn An Ninh không quên lời Phan Chu Trinh khuyên Nguyễn ái Quốc, hãy về sống chen lộn với dân nghèo đói và dốt nát để giúp họ thoát vòng trì trệ, để làm chất men gây mầm đạo lý cách mạng về tình tương thân tương ái và tinh thần trách nhiệm chung trong công cuộc giải phóng chính trị trước mắt và trong việc tổ chức lại đất nước tương lai. Nguyễn An Ninh cho đó là sứ mạng của mình.
Vả lại, tờ L’Annam bị cấm và Phan Văn Trường bị kết án, vấn đề tái bản tờ Chuông Rè không thể đặt ra được nữa, Ninh liền bán nhà in để giúp Nguyễn Thế Truyền với vợ và các con về Bắc. Sau đó Ninh về quê anh ở Mỹ Hòa cùng
Mỹ Hòa cùng với bố, lúc bấy giờ tàn tật hầu như không làm gì đuợc mà vẫn kiên trì thiết tha với việc phát triển chữ quốc ngữ (ông Nguyễn An Khương đã dịch cuốn tự điển Khang Hi, bộ sách nổi tiếng của Trung Quốc).
        Ninh bỏ kiểu tóc dài để bù xù, cạo trọc đầu như các nhà sư, mặc bộ bà ba đen như hàng xóm láng giêng. Giống như những nông dân có tín nguỡng, anh lập một bàn thờ Phật trong nhà, tiêu biểu cho tấm lòng từ bi khấn trong hoàn vũ, và một bàn thờ Quan Công, một anh hùng huyền thoại thời Tam Quốc, con người hiển thánh đuợc nhân dân Trung Quốc thờ phụng trong các ngôi đền dân gian. Thân thế Quan Công tượng trưng đạo đức Khổng Mạnh thống truyền, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đời đời không cổ hủ như Phan Chu Trinh đã gợi trong cuộc nói chuyện về đạo lý năm kia.
 
Khi anh xuất bản quyển Tôn Giáo, một số người tưởng anh đã ngã về chủ nghĩa thần bí. Sự hiểu nhầm đến mức nguy hiểm khiến anh giật mình khi anh đến thăm một gia đình nông dân, thấy bên cạnh bàn thờ tổ tiên có một bàn thờ có ảnh của anh đằng sau bát hương. Điều mà anh định trình bày trong cuốn Tôn Giáo là một quan niệm khách quan về hiện tượng tôn giáo. Khi anh gợi lại những người ở Pháp, những góa phụ, những người già cô đơn, trở lại với nhà thờ Thiên Chúa sau cuộc thảm sát chiến tranh 1914 -1918, anh không phê phán họ... Đối với anh, lòng tin nguởng của họ chỉ là  ‘‘tiếng thở dài của kiếp nhân sinh chĩu nặng khổ đau, là linh hồn của một thế giới vô nhân ái’’ Karl Marx . Đối với anh, việc đi ‘‘tìm một niềm an ủi nơi cõi trời kỳ bí’’ chỉ là chổ yếu của con người.
Anh cũng viết một vở kịch: Hai Bà Trưng, kể lại lịch sử đấu tranh của hai chị em bà Trưng đầu thế kỷ thứ nhất, đánh đuổi đuợc tên tướng Tàu ra khỏi lãnh thổ, nhưng cuối cùng hai bà thất bại. Dường như Ninh tỏ ý chí mình trong lời nói của một bà:
 
Từ xưa, những ai theo đuổi một lý tưởng cao thượng bao giờ cũng chịu khổ đau; họ chịu đều bất hạnh chỉ vì tính cách cao cường của họ.
 
Anh mang về nhà 5.000 ấn bản có đánh số rồi tự mình phát hành để tránh bị lợi dụng như hồi ăm 1926. Thời ấy, thừa lúc anh ngồi tù, có kẻ đoạt những ấn bản Cao vọng của bọn thanh niên An Nam, Dân Ước (47) của anh rồi dối rằng bán ra để giúp đỡ vợ con anh.
Cùng Phan Văn Hùm, người bạn và cũng là môn đệ của anh, kém anh hai tuổi, hai người đạp xe đạp khắp các vùng Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh, tuyên truyền tư tưởng giải phóng. Anh kêu gọi dân cày tập họ thảo luận, cố mở rộng tầm nhìn của họ ra khỏi lũy tre xanh, để biến chuyển lực lượng sản xuất lúa thóc trở thành lực lượng cách mạng. Anh gây liên hệ cảm tình chặt chẻ và thông đồng ý chí trong các vùng quê xa xôi, mưu đồ vạn sự cùng các bạn như Lê Văn Từ ở Trà Vinh, Mai Văn Ngọc ở Mỹ Tho, ông giáo Giai, ông thanh tra tiểu học Dinh ...
Nông dân tin tưởng anh xem anh như một vị thần bí. Nhiều người cảm thấy mình sẵng sàng theo anh mà không cần biết đích xác là sẻ đi đâu và đi cách nào. Như vậy, năm 1928, trong bóng tối im lìm, Ninh tạo nên một phong trào nông dân tiềm thế, không giống chi với một phong trào có tổ chức và có kỷ luật (theo Lê Văn Thử, Hội kín Nguyễn An Ninh). Uy tín của Nguyễn An Ninh làm cho chính quyền thực dân chủ ý. Phải chăng anh ta đang núp sau cái đời sống khổ hạnh và thiên về văn học để ngấm ngầm xây dựng một hội kín kia giống như Thiên Địa Hội, có năng lực lúc nào đó thình lình xúc động nông dân nổi dậy như lửa bừng lên thiêu hủy bộ máy thống trị?
 
Ngày 28 tháng 5 năm 1928, một bọn côn đồ trong đó có thầy lang Gạo và bạn hắn tên Nghĩa, gây rối vùng Củ Chi (Gia Định) vừa ó lên xưng mình là môn đệ của Nguyễn An Ninh.
Chúng ấu đả, đập bể chén bát trong một quán cơm ở Tân An Tây, chửi rủa và khêu khích hương chức làng khi các người nầy can thiệp. Cả thảy bị bắt giam. Xét xử tại tòa thẩm phán Sài Gòn, chúng được tha liền sau đó. Ngày 29 tháng 6, tờ Diễn Đàn Đông Dương (La Tribune Indochinoise,báo đảng lập hiến), sau khi thuật sơ lược những việc đã xảy ra, lại bàn rằng có thể đây là sở mật thám sử dụng bất chính bọn vô lại để hạ uy tín của Nguyễn An Ninh:
 
Trong vùng Hóc Môn và lân cận, có nhiều người tụ họp lại tự xưng là người của Nguyễn An Ninh để đe dọa dân cư ở nông thôn. Chúng tôi nghĩ rằng ông Ninh chắc hoàn toàn xa lạ với những hành động trên vì nó chỉ làm giảm uy tín của ông mà thôi; nhưng điều kỳ lạ nhất trong vụ này là chính quyền dường như ngoảnh mặt làm ngơ trước những việc làm ác hại của kẻ vô lại mắng chửi hương chức làng và đánh đập dân cư.
 
Chúng ta nhớ rằng báo lập hiến ấy không phải bênh vực một đảng viên, họ lên tiếng che chở một người đã từng phê phán lập trường chính trị của họ trên tờ Đông Pháp Thời báo ngày 21 tháng 5.
Bốn tháng sau, chiều ngày 28 tháng 9 năm 1928, ở Bến Lức, Phan Văn Hùm bị lính lưu động gọi lại để xét giấy tờ. Hùm phản đối, bị người cai là Trần Văn Nên đập roi gân bò trên đầu. Hùm chưa kịp đánh trả, Ninh đã vung tay đấm đá cai Nên. Trong đêm tối bọn lính không biết ai là ai đã ra tay, họ cứ dẫn Hùm tới cùm tại nhà hội làng Long Phú. Khi giải tới Tòa án Sài Gòn, Hùm bị gán tội một cách tưởng tượng, là đã  ‘‘đánh bị thương nhân viên làm công vụ, làm kẻ ấy không làm việc được một thời gian dài’’, rồi anh bị tống vào Khám lớn (Maison Centrale). Vài hôm sau, khi xuất hiện bản thông cáo của chính phủ, Ninh quyết định theo bên Hùm, anh liền cạo trọc và mặc đồ trắng. Thế là cả hai trở thành phạm nhân PJI (Prévenu Juge d’Instruction - bị giam phòng bồi thẳm), theo dấu ghi số trên thẻ gỗ đeo nơi khuy áo.
Chính đây lại thấy tên Nghĩa và Gạo chường mặt một lần nữa. Lần này chúng bị bắt và bị tố cáo là thuộc hội kín Nguyễn An Ninh. Sở mật thám tra tấn, bỏ đói chúng, bắt một bà mẹ 68 tuổi, một ông bố 60, và thế là chúng phải tố cáo hoang mang. Sở mật thám biến chúng trở thành những kẻ buộc tội.
 
Dường như mật thám tin rằng có một hội kín Nguyễn An Ninh đang chuẩn bị vũ trang, tuyển mộ theo tập quán uống máu thề thọ tử theo lối các hội kín xưa kia, một kiểu thề chẳng ăn nhập chút nào với con người lý trí Nguyễn An Ninh (48).
Hàng trăm người bị bắt bớ liên tiếp khoảng tháng 10, tháng 11 và tháng chạp 1928. Trong Khám lớn, gian khám tập trung những người bị giam người ta gọi ‘‘khám hội’’. Mỗi buổi sáng, hàng trăm vợ con những người bị giam từ bỏ thôn quê làng xóm đến trước cửa ngục từ 3 giờ sáng, chờ đợi được thăm nuôi một người cha hay người con trai của mình. Sau khi thăm nuôi, họ cũng được yên lòng vì giờ đây người bị giam đã dứt bị tra tấn, được chuyển khỏi những xà lim sở Mật thám sang Khám lớn. Một số người chỉ được tha ra sau khi đã bị thương tật nặng nề, như hương trưởng Trần Văn Tiên ở Tân Trụ, còn hương chủ Cang thả về ít lâu thì chết.
 
Ngày 27 tháng 11, theo báo Đuốc Nhà Nam, hơn 160 người bị bắt vì nghi có chân trong Hội kín được thả ra tự do tạm thời. Ngày 13 tháng chạp, tờ Đông Pháp Thời báo cho đăng lời công bố của một người tên là Võ Văn Ngân, vô cớ bị bắt giam trong vòng hơn một tháng:
 
Lúc tôi mới bị bắt thì còn giam tại bót để tra. Nghĩ lại lúc tra mà bây giờ tôi còn khiếp. Trong khi tra thì chân trói, tay buộc, thôi mặc sức đánh đập, không biết bao nhiêu mà kể, đánh đã rồi hỏi: Vậy chớ mày có vô hội kín Nguyễn An Ninh không? Tôi trả lời không, rồi đánh nữa, đánh mệt rồi nghỉ, nghỉ rồi lại hỏi, hỏi rồi dỗ tôi rằng: Mầy khai đi, nói có vô hội kín Nguyễn An Ninh. Tôi trả lời: Nào có biết Nguyễn An Ninh đâu mà khai, dầu có đánh tôi cho lắm tôi cũng không biết việc gì mà khai cho đặng. Thì biểu tôi khai như vậy:
Mầy nói lấy kim đâm vô đầu ngón tay, chảy máu ra rồi hòa với rượu uống chung với Nguyễn An Ninh, thề thốt với nhau, rồi tao tha mày. Chủ ý tao chỉ cốt bắt Nguyễn An Ninh chớ không cần chi mầy. Tôi nói: Trời đất ơi! Người ta không có mà ông biểu tôi nói có sao đành.


Ôi! lúc đó rồi đánh tôi không biết bao nhiêu mà kể cho xiết? Đánh rồi đem vô khám mà nhốt thì tôi nằm trong khám nghĩ rằng: Chánh phủ xưa nay lập cò bót để tra khảo những người gian trá chớ tôi không ngờ cò bót gian trá hơn những người bị tra khảo.
 
Ngày 14 tháng chạp, Phan Văn Hùm được thả. Lập tức anh viết ngay những ngày bị nếm trải trong ngục, vạch trần cảnh ‘‘sầu thành một bức, nhốt lại ngót ngàn người, cách tuyệt cõi đời, cảnh tình thống khốc’’. Đến lúc giờ thành sầu vẫn còn là một nơi huyền bí mặc dầu ở tại trung tâm Sài Gòn, bao quanh bằng bốn bức tường cắm đầy mảnh chai và đầu tường có ba vọng gác. Cổng vào nhà ngục này - ở đường Lagrandière - làm cho những ai đi qua phải lạnh lưng sởn gáy vì cái tượng đầu quỷ Gorgone. (theo thần thoại xứ Hy lạp, tóc nữ quỷ là bầy rắn chằng chịt, quỷ nhìn ai người đó hóa đá - N.D.).
 
Hùm đăng hồi ký này trên báo đều đặn, từ tháng giêng đến tháng 2 năm 1929, văn thể theo lối mới. Độc giả hoan nghênh, trước tác xuất bản thành sách nhan đề Ngồi tù Khám lớn. Tiêu đề  ‘‘Trong ngục thất lòng phải ngấu như tương hoặc phải rắn như đồng’’  (Nguyễn An Ninh). Lập tức sách bị cấm lưu hành. Trong cuốn sách này, Hùm phản bác rằng không có ‘‘Hội kín Nguyễn An Ninh’’ theo như mật thám đã bịa đặt. Trong đó anh tố cáo những đòn tra tấn dã man và kích động mối xúc cảm lớn trong dư luận. Sự việc đó diễn ra trong hoàn cảnh khủng bố dữ dội suốt từ Nam chí Bắc.
 
Tháng giêng năm 1929, anh lính tập Lê Văn Lợi lấy trộm hai khẩu liên thanh và bốn khẩu súng ngắn nòng trong trại Ô ma (Camp des Mares), giao cho Hồ Văn Hẹ và Nguyễn Văn Lép (người đã lộ mặt trong cuộc phá khám lớn Sài Gòn năm 1916), cả hai đều có chân trong phong trào ‘‘Hội kín Nguyễn An Ninh’’. Lê Văn Lợi sẽ bị đưa ra tòa trong vụ án 122 đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương năm 1933.
 
Ngày 22 tháng 3, Phan Văn Kim, 35 tuổi, cải trang làm Hoa kiều, bắn thẩm phán Nadaillat tại tòa án Sài Gòn. Khi bị bắt, y khai là bởi vì Nadaillat đã phát lệnh quá lạm dụng để bắt ba bốn trăm người An Nam ‘‘thuộc hội kín’’, y còn nói không những là định giết Nadaillat, mà còn giết cả chưởng lý Duzenat và phó chưởng lý Lafrique) (49).
 
Ngày 26 tháng 3, báo Thần Chung đăng bản báo cáo của viên san đầm Crépin, đề ngày 27 tháng giêng năm 1927, tại Mỹ Tho, dịch ra chữ quốc ngữ. Đấy là một văn kiện chính thức phát lộ những sự tra tấn sử dụng từ lâu nhưng không bao giờ chính quyền phủ nhận. Viên san đầm khai rằng vì lóng nghe ‘‘những tiếng đánh đập trên da thịt người ta và những tiếng kêu la đau đớn’’, y liền trông thấy trong trại của mình một con người khốn khổ ‘‘nằm sấp mặt, tay bị trói quặt ra đằng sau lưng, chân cũng bị trói bằng dây thừng, miệng đầy máu’’, đang bị hai tên lính kín dùng gậy tre lớn đánh vào hai gan bàn chân. Viên san đầm ra lịnh ngưng hành hạ. Quan chủ tỉnh và viên cò mật thám được báo đã tới tận nơi. Sau khi ra lệnh cởi trói cho nạn nhân, viên cò hứa sẽ sa thải hai thằng bạo ngược.
Trong số dân quê bị bắt một cách ác độc, làm họ phải bỏ công ăn việc làm hằng mùa, rồi bị xô ngã vào cái thế giới phi lý đó, Nguyễn An Ninh gặp được hai người bạn cùng xu hướng chính trị là Võ Công Tồn và Nguyễn Hòa Hiệp. Anh liên lạc với những người tù đã bị mật thám tra tấn mà họ không ‘‘thú nhận một cách đột nhiên’’, và cả những người đã chịu khai nhưng sẽ phản cung khi xử án. Anh gặp một ông thầy thuốc nam, ông nầy xé áo lót treo cổ, để hết bị lính kín ép tố cáo kẻ khác. Có hai người phi thường là Sáu Chiếu, một anh chị 40 tuổi, anh ta đã bị nhiều người tố cáo, và ông hương thân Ngà, kẻ bắt các sòng bạc phải cúng tiền, cả hai sẵn sàng khoe khoang kể lại những chuyện phản kháng của họ như thế nào. Khi người ta tát vào má phải, Chiếu cũng tự tát vào má trái; khi người ta đánh y một loi, y tự loi hai cái mạnh hơn, khi người ta lấy điếu thuốc đang cháy dí vào các ngón chân thì y từ chối không nói rằng Ninh là thủ lĩnh của y, y đòi có người chứng. Y khước từ không ký vào tờ khai viết bằng tiếng Pháp, y chỉ ký sau khi y viết ‘‘nó nói láo’’ bằng chữ quốc ngữ. Những câu chuyện như thế làm cho người bị nhốt trong ngục đỡ buồn. Tinh thần cứng rắn cùng nhu nhược, hài hước cùng chán nản, đó là vũ trụ thu nhỏ trong đám người tập hợp ở ‘’khám hội’’ . Từ bên ngoài cũng có vài sự việc an ủi. Ninh được biết hàng ngày có nông dân ở Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, mặc dù bị khủng bố vẫn ký tên thỉnh nguyện xin ân xá cho mình, và biết rằng một giáo viên ở Bến Lức là Nguyễn Văn Tiếp xin ở tù thế cho Ninh.
 
Ngày 8 tháng 5 năm 1929 là ngày xử Nguyễn An Ninh. Người dự thính tràn ngập phòng xử. Khi bắt đầu phiên tòa, họ bị đuổi ra ngoài. Lời khai của Ninh thật rõ ràng:
 
   Nếu như các ông thấy tôi vi phạm pháp luật của chính phủ thì các ông đưa ra những chứng cớ không thể chối cãi được, không còn nghi ngờ gì, và sau đó sẽ kết án tôi như một tội phạm không được miễn giảm. Song, nếu như sau khi đã nghe những lời khai của người này, những lời mớm cung của người khác rồi kết luận tôi là kẻ tội phạm, thì không có công lý, cũng chẳng có chân lý. Tôi thề rằng tôi không có chút quan hệ nào đối với 115 người đứng trước mặt các ông; nếu như có một người nào trong số đó phạm tội gì, tôi cũng chẳng hề có dính líu gì. Họ bị bắt, nhiều người đã vơ cả tôi vào trong công việc của họ; nếu tòa tin tưởng vào lời khai của họ mà kết án tôi, thì có phù hợp với công lý hay không? Hội kín theo chiều Thiên Địa Hội ở đất An Nam này bao giờ cũng vẫn có, đó không phải là do sáng kiến của tôi, và tôi đoán chắc với các ông rằng, những hội đó không bao giờ có thể bị tiêu diệt hết được.
 
Chánh án đáp lại, giọng trắng trợn và phán quyết:
 
Trong hội kín của ông, điều lệ rất nghiêm khắc: người ta đã lấy máu ăn thề và kẻ nào làm lộ bí mật của hội sẽ bị tử hình. Ông chối không thú nhận là thủ lĩnh của hội đó để khỏi mất thể diện và không phản bội lời thê độc. Vì vậy, tôi vẫn giữ ý kiến trong cuộc thẩm vấn này (50).
 
    Án quyết: Nguyễn An Ninh, 3 năm tù, 1000 francs ( tiền quan cũ) tiền vạ và 5 năm mất quyền công dân, vì tội lập hội kín; Phan Văn Hùm, 8 tháng tù và 500 francs tiên vạ; những người khác từ 2 tháng đến 4 năm tù, trong đó 91 người xử án treo.
Ngày 17 tháng 7, 25 người bị án ra trước tòa phúc thẩm xử lại. Trong tòa tràn ngập người. Người Pháp đến cũng nhiều. Ninh đi chân trần, mặc bộ bà ba đen kiểu nông dân An Nam; Hùm mặc âu phục. Những người bị cáo bị hỏi cung từng người một. Ba trong số đó là Gạo, Cội, Nghĩa lại khẳng định một lần nữa là ‘‘Hội kín Nguyễn An Ninh’’có thực và Ninh đã ra lệnh cho họ phải phủ nhận. Công chúng ngạc nhiên vì tòa lại chọn bọn chúng đóng vai buộc tội. Phóng viên tờ Đuốc Nhà Nam ngày 20 tháng 7 gọi người chủ ý ba thằng đó không có nghề nghiệp và đã bị kết án nhiều lần. Ngược lại, những bị cáo trong khi thẩm vấn đã thú nhận là hội viên ‘‘hội kín’’bấy giờ họ lại khẳng định rằng họ nhận vì họ bị tra tấn.
Ninh lại phản đối một lần nữa việc bị cáo thành lập một hội kín. Nếu những hội như thế có thể thành lập thật thì trong vụ án này người ta chỉ lợi dụng cái tên của anh mà thôi. Nếu tòa án, trong cái lôgic (logique) quanh co của mình, lại đem gán tội trọng cho anh mỗi khi có việc gì có gợi tên anh, thì tòa án có thể quy trách nhiệm cho anh về một nhóm lấy tên là ‘‘Thanh niên cao vọng đảng’’. Họ đã tập hợp nhau dưới danh nghĩa bài diễn thuyết của anh phô ra năm 1923, tựa là Cao vọng của bọn thanh niên An Nam.
 
Sau khi sáu trạng sư người Pháp biện hộ Ninh - trong đó trạng sư Loye là người theo xu hướng xã hội - tòa quyết định y án Nguyễn An Ninh. Thế là Ninh sẽ bị khóa mồm hơn một ngàn ngày. Phan Văn Hùm 4 tháng tù treo. Gạo và Nghĩa giảm còn 2 năm. Mười chín người khác: từ 3 đến 18 tháng tù. Hai người được tha bổng.
Các ông lập hiến liệu có hối tiếc vì bài báo Diễn đàn Đồng Dương tháng 6 năm 1928 (biện hộ cho Ninh) hay không? Chỉ biết rằng từ đó họ im tiếng. Diệp Văn Kỳ viết tờ Thần Chung ngày 31 tháng 5, đả kích thái độ lẩn tránh của họ và tuyên bố: Chân lý buộc tôi phải nói rằng Nguyễn An Ninh vô tội.
 
Ninh sau đó bị đưa đi Hà Tiên đập đá sỏi. Nhưng hai ngày sau khi anh tới, chủ tỉnh lo ngại ảnh hưởng của Ninh lan rộng trong tù, liền tống anh trở về Khám lớn Sài Gòn.
Ngày 3 tháng 9 năm 1929, Phan Văn Hùm lên tàu L’Athos II đi tìm chân trời mới. Anh sống ở Pháp rồi chuyển từ chủ nghĩa quốc gia tiểu tư sản sang chủ nghĩa quốc tế vô sản.
 
Trong thời đó, đảng Tân Việt bị xóa tên khỏi lịch sử. Phần bộ Nam Kỳ đảng Thanh Niên tan vỡ. Việt Nam Quốc dân đảng lần đầu bị phá hủy. Chính quyền thực dân chắc tưởng tượng đã thắng các lực lượng phiến loạn phải chăng? Năm 1930 họ sẽ thấy rằng việc đàn áp khủng bố chỉ tạo nên một thế tình êm lặng trước cơn bão tố.




Đăng nhập để trả lời
0
Việt nam quốc dân đảng 
 
Năm 1925 ở Pháp, giữa không khí tương đối tự do, đảng Việt Nam Độc lập thành lập, thì ở Bắc Kỳ, đảng Việt Nam Quốc dân đảng ra đời trong bóng tối. Nhà Xuất bản Nam Đồng Thư Xã gây dựng ở Hà Nội cũng năm 1925, do nhà giáo Phạm Tuấn Tài, làm tấm bình phong tập hợp một số người như Nguyễn Thái Học, sinh viên trường sư phạm Hà Nội, Phó Đức Chính, Nguyễn Thế Nghiệp và Hoàng Phạm Trân bí danh Nhượng Tống. Họ cảm hứng nơi cao vọng Cách mạng Pháp và Quốc dân đảng Trung Hoa, thời kỳ đó đảng nây đang sôi nổi. Mục đích của Việt Nam Quốc dân đảng trùng với mục đích của đảng Việt Nam Độc lập: xây dựng một nước Cộng hòa tư sản độc lập. Tháng 2 năm 1929, khi VNQDĐ bị phát giác và phá hủy thì đảngViệt Nam Độc Lập ở Pháp cũng bị giải tán.
Nếu như Việt Nam Quốc Dân Đảng, cũng như Việt Nam Độc Lập, không chấp nhận quan điểm đấu tranh giai cấp là nền tảng hành động, họ cũng không phải là ít quan tâm tới vấn đề xã hội. Song song với hoạt động bí mật, chương trình của họ cũng gồm công khai ủng hộ thợ thuyền trong các cuộc đình công và lập những lớp học cho công nhân hết mù chữ. VNQDĐ mở một trường tư giảng dậy bằng chữ quốc ngữ, mở rộng ảnh hưởng đến tầng lớp tiểu tư sản có học và đến cả tầng lớp nông dân đông đảo ở đồng bằng sông Hồng. Mặt khác, họ xuất bản bí mật, in bằng rônêo, những tác phẩm như Hồn Cách mệnh, Tam Dân chủ nghĩa (51)  và những cuốn khác về Cách mạng Trung Hoa. Họ dự định âm mưu binh biến và khủng bố cá nhân. Để cướp được chính quyền, rồi sau khi đó, họ tin rằng lẽ tất nhiên với thiện chí dân tộc sẽ cải thiện được xã hội An Nam trong hòa bình.
 
Bấy giờ nhân việc mộ phu đi các đồn điên cao su ở Nam Kỳ, ở Cao Miên (Cambodge), ở Nam Trung Kỳ, ở Calédonie và Nouvells Hébrides, họ gặp cơ hội cổ động dễ dàng. Họ thông tin lan rộng về cuộc sống vô nhân đạo ở các đồn điền cao su, để kêu gọi hàng ngàn phu phen khốn khổ hảy coi chừng bị người dụ dỗ bằng những lời hứa hẹn hão huyền. Thế nên số phu phen tầu chở tới Sài Gòn sụt từ 17606 người năm 1927 còn 7428 người năm 1929. Qua năm 1930 cựu Đại úy bộ binh thuộc địa Paul Monet, còn đưa vụ buôn người nầy ra tố cáo trong cuốn Bọn lái buôn người da vàng, câu chuyện thật (Les Jauniers, histoire vraie – ‘’Gallimard’’), để báo động dư luận Pháp. Trong đó ông bày biện bản tường trình nổi tiếng của Delamarre. Những sự bất công quá bê bối ở Nam Kỳ đã vượt khỏi biên giới. Ngay đến cả một tờ báo khuynh hữu Bạn dân (L’Ami du Peuple) - liệu có thể sẽ mất thuộc địa chỉ vì sự tàn ác ngu ngốc của những kẻ cai trị ở đó hay không ? -  đã đăng bài của Charles Bellan cựu công sứ Pháp ở Đông Dương, viết ngày 14 tháng 9 năm 1928, vạch trần bộ mặt của chính quyền thực dân, qua bản liệt kê những tội ác của chúng ở thuộc địa từ năm 1917. Bài báo công kích khâm sứ Baudouin, một ‘‘kẻ bạo ngược’’ bị kết tội là ‘‘tham nhũng, giả dối, ăn hối lộ và sát nhân, công kích tên công sứ Darles bạo dâm, kẻ tổ chức những đòn tra tấn và những cảnh cùng khốn trong 8 năm ở Bắc Kỳ. Bài báo nhắc lại cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên ngày 31 tháng 8 năm 1917, sự căm thù đè nén trong lòng dân chúng, nguyên nhân các vụ bùng nổ.
 
Thiếu chi biến động sắp xảy ra .
Ngày 7 tháng giêng năm 1929, toàn quyền Pasquier bị ám sát hụt.
Ngày 9 tháng 2, lối 8 giờ tối, Bazin, giám đốc văn phòng mộ phu cho các đồn điền cao su, vừa ra khỏi nhà số 110 phố Huế ở Hà Nội, ngã chết dưới ba phát súng lục. Hắn làm một nghề tàn khốc. Phu phen chịu đi phải ký giao kèo trói buộc họ trong những điều kiện vô cùng khắc khổ. Ở các đồn điền điều kiện sinh hoạt và làm việc quá khốc liệt, số người chết 40% hàng năm. Bazin lĩnh 10 đồng bạc Đông Dương mỗi đầu phu mộ được.
 
Ngày hôm sau Lê Văn Sanh bị bắt bởi tình nghi có nhúng tay trong vụ này. Anh là một học sinh đã bị theo dõi vì rải truyền đơn chống mộ phu. Mật thám thu được quyển ghi danh sách trong nhà anh, do đó họ túm thêm 221 người có chân trong VNQDĐ hoặc bị tình nghi: 40 lính khố đỏ, 36 giáo viên trường công, 4 giáo viên trường tư, 2 thầy dạy chữ Hán, 36 thư ký hành chính Pháp, 13 nhân viên văn phòng hành chính bản xứ, 10 nhân viên thư ký thương mại và kỹ nghệ, 4 nhà báo, 39 nhà buôn và thợ thủ công, và 37 người khác gồm dân cày, thày lang, địa chủ (52). Những nhân vật chủ chốt của đảng còn ngoài vòng.
 
Ngày 3 tháng 7 năm 1929, tòa đại hình Hà Nội kết án 83 người trong số bị cáo từ 2 năm tù tới 20 năm lưu đày về tội ‘‘âm mưu làm cách mạng để thành lập một chính phủ Cộng hòa’’. (Ta hãy nhớ lại cũng tháng này đảng Tân Việt hoàn toàn bị tiêu diệt trong đợt khủng bố lớn này ở Trung Kỳ).
 
VNQDĐ hành tội những kẻ phản đảng. Nguyễn Văn Kinh, họ tin chắc chắn nhiều người mới bi bắt trong tuần tháng 8 là tại Kinh. Anh ta bị đâm chết bằng dao găm trên ghế đá vườn Bách thảo Hà Nội đêm 5 rạng ngày 6 tháng 10- 1929
Trước đó, ngày 31 tháng 5, hai phụ nữ trẻ đảng viên đảng Thanh Niên, Thị Nhu và Thị Uyển, bị nghi ngờ định giao nộp Nguyễn Thái Học để cứu lấy người anh bị bắt, đã bị chung số phận trong một đường phố nhỏ ở Hải Phòng.
 
VNQDĐ sôi sục tuyển mộ đảng viên trong khi lưới mật thám thắt chặt vòng vây. Ngày 20 tháng 11-1929 mật thám phát hiện được một cái chum có chứa 78 quả tạc đạn tại đám ruộng gần trại lính des Sept Pagodes (7 ngôi chùa) (?). Ngày 23 và 26 tháng chạp, lại thu được 150 quả tạc đạn ở làng Nội Viên và 250 quả ở Thái Hà ; bắt sáu người tình nghi chế tạo tạc đạn. Ngày 10 tháng giêng năm 1930, mật thám tìm thấy ở Bắc Ninh những chum chứa đầy truyền đơn cách mạng. Một tháng trước đó, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, các thủ lĩnh VNQDĐ tập hợp ở Võng La, suýt bị bắt. Họ cảm thấy đúng lúc cần phải nổi lên bạo động.
 
Hình
 
Chiến sĩ Thanh Niên và sinh viên trường võ bị Hoàng Phố trước mô Phạm Hồng Thái ngày 19-6-1928.
Hàng trước, Lý Tự Trọng người thứ hai từ bên tả, sẽ bị chém ở Sài Gòn ngày 20-11-1931.
📎 PhamHongThai1|PhamHongThaimo2




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2017 19:19:55 bởi Ct.Ly>
V
Thanh niên Cách mạng Đông chí Hội mầm móng quốc gia chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Đông dương
 
Chương trước đã nói tới đảng Thanh Niên, gắn với lịch sử thành lập các tổ chức chính trị bí mật trong xứ. Bây giờ chúng ta hảy theo dõi từng bước phát triển của tổ chức nầy, từ bản luận văn nhuộm màu bolchevisme trên nền tảng quốc gia chủ nghĩa, cho tới khi chuyển thành đảng cộng sản vào năm 1930.
Trong các nhóm quốc gia chủ nghĩa bí mật chỉ một mình nhóm nầy có trụ sở an toàn ở nước ngoài, do đó tổ chức Thanh Niên không bao giờ bị mất ban chỉ đạo, đã thành công trong việc tạo cơ sở trong nước suốt từ Bắc chí Nam bắt đầu từ năm 1925.
 
Nguyển Ái Quốc, người sáng lập
Tới Moscou vào mùa hè năm 1923, Nguyển Ái Quốc hấp thụ được một quá trình huấn luyện rõ ràng theo lối quan liêu hóa, lối mà bộ máy đảng bolchevisme đang tiến triển(53). Tứ năm 1922 Staline đã trở thành tổng bí thư của đảng Bolchevisme, rồi đẳng cấp bí thư trở thành một tầng lớp xã hội mới, ngày càng xa rời ý thức công nhân. Bộ máy nầy đã ăn tiêu phần lớn trong số thu nhập toàn quốc. Lénine từ tháng 11 năm 1922 đã đề nghị Trotski tổ chức chống lại nguy cơ nầy. Sự phản kháng nầy đã thành việc cụ thể từ tháng mười năm 1923. Trotski can thiệp gay gắt tại Bộ chính trị, rôi năm 1924, phát hành quyển Giòng nước mới (Cours nouveau).
 
  Đường lối chính trị mà điện Kremlin đề ra cho Đảng Cộng sản Đức vào năm 1923 bị chỉ định theo quyền lợi quốc gia Nga: cuộc cách mạng ở Đức bị hy sinh để Nga được giao thiệp thân thiện với Stresmann. Vào mùa xuân, khi Stresmann hướng làm dịu tình hình giữa Nga và Đức thì điện Kremlin ra lệnh cho đảng Cộng sản Đức đứng im. Qua tháng 10, khi Stresmann tiếp cận với nước Anh, điện Kremlin giục đảng Cộng sản Đức lao vào cuộc bạo động phiêu lưu, nhanh chóng bị tàn sát.
Sau khi Lénine chết năm 1924, đẳng cấp hưởng đặc quyền do Staline đứng đầu đã chiếm ưu thế rõ rệt đối với những người ủng hộ Trotski, những người chưa rời bỏ viễn cảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa toàn địa cầu. Nếu như vào tháng tư, trong lần xuất bản đầu tiên cuốn Những vấn đề về chủ nghĩa Lénine, Staline đã trình bày tư tưởng của Lénine như sau: ‘‘Đối với thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội những nỗ lực của một nước duy nhất, nhất là đối với một nước nông dân như nước Nga, là không đủ nữa; phải có nỗ lực của những lực lượng vô sản ở nhiều nước tiên tiến’’, thì qua tháng 10, trong lần tác phẩm xuất bản thứ nhì (Staline ra lệnh thu hồi những ấn bản lần thứ nhất), rồi tuyên bố thẳng rằng nước Nga có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội riêng một mình, với điều kiện là xứ Nga phải được ủng hộ chống lại các cường quốc đế quốc tái can thiệp.
Đẳng cấp quan liêu theo Staline tìm đến ‘‘những lực lượng cách mạng sẵn có ngoài lực lượng vô sản, vì vậy đã vượt giai cấp mà bắt tay với Quốc dân đảng’’ (Trotski, Quốc tế Cộng sản sau Lénine). Đẳng cấp quan liêu lấy lý do tránh vượt qua các giai đoạn, mà ứng dụng một chính sách thỏa hiệp với giai cấp tư sản quốc gia ở các xứ thuộc địa và bán thuộc địa. Đệ tam Quốc tế đang quan liêu hóa, liền theo chính sách thỏa hiệp ấy, và tự chuyển hóa thành một bộ phận phụ thuộc trợ lực chính sách ngoại giao của Nga, chỉ định các đảng cộng sản đóng vai trò ‘‘quân đề phòng biên giới’’ Liên Sô. Vì thế đảng cộng sản còn trẻ trung ở Trung Hoa được lệnh trở thành một bộ phận phụ trợ Quốc dân đảng, một đảng quốc gia tư sản mà Liên Sô muốn tìm cách biến thành tường lũy chống các đế quốc chủ nghĩa.
 
Ở đây nên nhắc lại vào tháng 8 năm 1920 Lénine đã từng lưu ý Quốc tế phải đề phòng đối với một sách lược như thế:
 
Nhiệm vụ của Quốc tế chính là phải ủng hộ những phong trào cách mạng trong các xứ thuộc địa và những xứ lạc hậu, nhưng không phải vì thế mà xen lẫn vào phong trào đó, ngược lại, phải bảo vệ tính chất độc lập của phong trào vô sản, dù phong trào đó chỉ mới có mầm mống (54).
 
Khi chưa đến mức thúc giục đảng Cộng sản Trung Hoa phải phụ thuộc vào Quốc dân đảng, Quốc tế Cộng sản đã tuyên bố ngày 10 tháng giêng năm 1923 rằng cái đảng còn non trẻ này (thành lập năm 1920) không thể mãi xem mình là  ‘‘một lực luợng hoàn toàn độc lập’’ . Thế rồi Staline liên kết giao đặc huệ với Tôn Dật Tiên, người sáng lập Quốc dân đảng. Vào tháng 10, Staline cử Borodine sang làm cố vấn cho Tôn Dật Tiên, với nhiệm vụ tổ chức lại đảng Quốc dân theo kiểu tập trung như đảng Bolchevisme, với một chương trình vừa quan tâm đến quyền lợi công nhân và nông dân, vừa đồng thời tránh vi phạm tới lợi quyền cơ bản của giai cấp tư sản và địa chủ.
Borodine thuyết phục Tôn Dật Tiên dựa vào lực luợng công nhân và nông dân, bằng cách ban hành bộ luật Lao động và giảm địa tô 25%, hai việc này đã hứa với họ thực hiện từ đầu năm 1924.
Vào tháng 5, Borodine dùng tiền trợ cấp, vũ khí và các huấn luyện viên Nga, sáng lập một trường quân sự để tăng cường lực luợng cho Quốc dân đảng, tại đảo Hoàng Phố, cách Quảng Châu 20 km.
 
Nguyễn Ai Quốc, gia nhập vào phân ban Thuộc địa của Quốc tế cộng sản kỳ Đại hội thứ Năm, đuợc cử sang Trung Quốc, chính thức coi như thư ký kiêm phiên dịch cho Borodine, chủ yếu cốt để khuấy động phong trào cách mạng trong xứ mình, từ nơi ‘‘thánh địa’’ này, một phong trào quốc gia thân cộng, chống lại chủ nghĩa đế quốc Pháp.
 
Nguyễn Ai Quốc đến Quảng Châu khoảng 6 tháng sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom. Tổ chức Tâm Tâm xã mà Phạm Hồng Thái là một thành viên, đang suy thoái. Những người sáng lập tổ chức này như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lâm Đức Thụ... mới vừa đua ra lời kêu gọi tập hợp một lực luợng đông đảo hơn, mở rộng cho ‘‘tất cả những ai là người thông minh mẫn tuệ không phân biệt đảng phái để phục hồi nhân cách người Việt’’. Một khi tổ quốc đuợc giải phóng thì ‘‘ý nguyện của đa số’’ sẽ quyết định tính chất chế độ tương lai.
Nguyễn ái Quốc lập tức liên hệ với nhóm mới này, gọi Tân Việt Thanh Niên đoàn, với ý đồ chỉ đạo.
 
Ngày 19 tháng chạp, trong bản báo cáo đầu tiên của ông về Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, ông than phiền những chàng trai đầy nhiệt tình yêu nuớc này ‘‘không hiểu biết chi về chính trị’’. Ông hứa sẽ huớng họ chuyển dần theo chủ nghĩa bolchevisme. Qua ngày 2 tháng 2 năm 1925, ông báo cáo về những kết quả buớc đầu trong bản tường trình thứ 2 của ông như sau:
 
Lúc này, tôi không phải là một người An Nam mà là một người Tàu.
Vì thế tên tôi là Lý Thụy chứ không phải Nguyễn ái Quốc. Chúng tôi lập được một nhóm gồm 9 người hoạt động bí mật. Hai trong số đó đã gửi về nước; ba người ra tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên), còn một người làm nhiệm vụ quân sự (giúp quân Quốc dân đảng). Năm người trong số đó đang chuẩn bị kết nạp vào ĐảngCông sản. Hai người đã được gia nhập đoàn Thanh niên Công sản (55).
‘‘Nhóm bí mật’’  trên đây tự gọi Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội, trụ sở tại số 13 đường Wang Ming ở Quảng Châu, ở đó Nguyễn ái Quốc tổ chức trường học đào tạo cán bộ tương lai cho xứ An Nam.
 
Từ tháng 6 năm 1925, Nguyễn ái Quốc phát hành tờ tuần báo Thanh Niên (56) bằng chữ quốc ngữ, in bằng rônêo, tuyên truyền hai xu hướng: vừa khuyến khích kích động tinh thần nòi giống An Nam, vừa động viên đi theo con đường của đảng Bolchevisme. Số 1 tờ Thanh Niên xác định rõ lý do phát hành báo này và kêu gọi đồng bào chuẩn bị đứng lên làm cách mạng:
 
Trong đất nước chúng ta, chúng ta đều bị người Pháp kiểm soát chặt chẽ; ở nước ngoài, chúng ta lại xa cách nhau.Vì lẽ đó phải xây dựng tờ báo này để chúng ta trao đổi những kinh nghiệm thực tế, để cùng nhau hiệp lực tiến hành sự nghiệp đó. Hỡi anh em cách mạng! Từ nay trở đi, chúng ta hãy vất bỏ những mong ước ão huyền về danh vọng và giầu sang. Vì lòng yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, chúng ta hãy đoàn kết lại! Các bạn hãy làm hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng.
 
Ngày 28 tháng 6, tờ Thanh Niên định nghĩa về cách mạng và cung cấp một tự điển nhỏ, một công cụ trí tuệ mới trong việc thành lập một đảng theo con đường của Lénine ở Việt Nam:
 
Cách mạng, đó là sự thay đổi cái xấu thành cái tốt, là sự bao gồm những hoạt động do đó một dân tộc bị áp bức trở thành mạnh mẽ:
Lịch sử toàn các xứ cho chúng ta một bài học là bao giờ họ cũng nhờ làm cách mạng mà tiến tới một chính phủ hình thức tốt hơn, mà tăng tiến về giáo dục, về công nghệ, về tổ chức xã hội.
 
Ngôn ngữ cách mạng được hướng dẫn một cách đơn giản phỏng theo Trung Hoa, khó hiểu đối với những ai chưa nhập môn:
 
Tiến bộ: có những bước tiến phát triển.
Tản văn: Chuyện ngắn.
Tả phái: những người đại diện phái Tả. Trong từng quốc hội, người ta phân biệt ba nhóm: phái hữu, phái trung và phái tả. Nhóm thuộc phái Hữu thì hèn nhát, nhóm thuộc phái Trung thì lưỡng lự, nhóm thuộc phái Tả thì kiên quyết.
Tự do: không bị bó buộc. Nước Nhật chẳng hạn là một nước tự do. Việt Nam không được tự do, bị người Pháp cai trị.
Tiền phong: người đi trước, làm gương. Người Nga chẳng hạn, là những người tiên phong trong công cuộc cách mạng.
Đế quốc chủ nghĩa: Những nước dùng gươm súng chiếm đất đai của người khác, là những nước theo chủ nghĩa đế quốc. Nước Pháp là một nước đế quốc chủ nghĩa vì nó chiếm đoạt đất nước ta.
Tư bản chủ nghĩa: nhà tư bản, những kẻ không làm gì, chỉ lợi dụng sức lao động của người khác. Chủ tàu chẳng hạn, là một nhà tư sản. Không bao giờ người ta thấy chủ tàu làm ra sắt thép, tham gia vào công việc đóng tàu, cho than vào lò, nhổ neo. Hắn chẳng làm gì cả nhưng thu toàn bộ lời lãi, chứ không đem chia cho thợ thuyền là những người lao động suốt đêm ngày.
Tại sao dân tộc An nam chịu để người Pháp đè nén áp bức trong hơn năm mươi năm nay? Người dân Việt phải chịu thuế khóa quá nặng nề, tình cảnh khốn cùng của họ quá cực khổ. Tại sao họ còn chưa rũ bỏ cái ách nô lệ? Bởi vì cái lý tưởng về tổ quốc còn xa lạ đối với họ, bởi lẽ họ tưởng rằng cách mạng là một điều nguy hiểm, bởi lẽ họ không hiểu rằng mỗi người dân phải có nhiệm vụ đối với tổ quốc, bởi vì họ thiếu sáng kiến chủ động và trông thấy người Pháp còn run sợ.
 
Ngày 19 tháng 7, tờ Thanh Niên chỉ ra một thần phương: ‘‘Nếu nhân dân muốn đòi quyền của mình thì phải có những đảng chính trị. Muốn vậy, họ phải đoàn kết lại’’. Cũng số báo đó có đăng bản Tuyên Ngôn của Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức ở Á Châu, hội do Nguyễn ái Quốc cùng Roy, người Ấn Độ vừa mới thành lập nhằm tập hợp những người An Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Đài Loan, Ấn Độ và Philippins. (Hội này, cũng giống như Hội Liên hiệp Dân thuộc địa ở Paris, vẫn chỉ dừng ở mức dự án).
 
Ngày 26 tháng 7, việc hướng dẫn nhập môn lại tiếp tục:
 
Người ta phân biệt ba loại cách mạng:
- Cách mạng chính trị: Người dân ở những nước bị chính quyền độc đoán áp bức nổi dậy giành lấy tự do và trở thành những nước độc lập. Nước An Nam phải bắt đầu bằng cuộc cách mạng chính trị để giành lại nền độc lập.
- Cách mạng xã hội: nông dân và công nhân đều bị giới chủ trả tiền công rẻ mặt. Người dân lao động cực khổ suốt đời, giới chủ chẳng làm gì mà thu mọi mối lợi trong tay. Cách mạng là cần thiết để xóa bỏ sự bất công đó và phân phối lại số thu hoạch giữa tư bản và vô sản. Công nhân và nông dân Nga đã hoàn thành một cuộc cách mạng xã hội. Nông dân và công nhân các nước khác cần tổ chức lại để làm như anh em mình ở Nga.
- Cách mạng thế giới: Sau khi có những cuộc cách mạng chính trị và cách mạng xã hội thành công, vẫn còn có những nước bị áp bức, vẫn còn có sự phân biệt giữa các dân tộc. Cần phải có một cuộc cách mạng thế giới. Sau đó, các dân tộc trong bốn biển sẽ đoàn kết như anh em một nhà, khi đó sẽ là kỷ nguyên đoàn kết tương thân tương ái toàn thế giới.
 
Sau đó Nguyễn ái Quốc trình bày những phong trào chính trị hiện hành trên thế giới như vô chính phủ, cộng sản, bảo thủ, Ku Klux Klan, fát xít (fascistes), cần lao, dân chủ, tự do, quốc gia, cộng hòa, bảo hoàng và xã hội chủ nghĩa.
 
Ngày 9 tháng 8, ông trình bày về phong trào cách mạng Trung Hoa. Ngày 12 tháng 9, tung ra lời kêu gọi lòng yêu nòi giống, hòa lẫn tinh thần tự hào dân tộc:
 
Chúng ta hãy yêu thương lấy nòi giống của ta. Anh em cùng chung giòng máu hãy yêu thương lẫn nhau! Chúng ta, hai mươi triệu con người máu đỏ da vàng, đều là con cháu Vua Hùng. Biết bao anh hùng đã sinh ra trên đất nước này! Đất nước ta rực rỡ hơn bốn ngàn năm văn hiến. Bao lần quân ta đánh bại quân Nguyên quân Minh.
Chúng ta khuếch trương thanh thế đến tận đất Chàm, đất Miên, và vinh quang của chúng ta vang dội khắp Viễn Đông (57).
 
Thế thì Nguyễn ái Quốc đã tôn vinh tổ tiên của mình trong công cuộc ‘‘Nam tiến’’, một danh từ dè dặt để nói về sự chinh phục dân Chàm ở Trung Kỳ và người Khơme ở Nam Kỳ vào thố kỷ 17. Đó là những giai đoạn lịch sử chiến tranh đen tối đã để lại trong lòng người Khơme (Khmers) ở Cambodge nỗi lo sợ và thù nghịch đối với ‘‘kẻ thù truyền kiếp’’.
 
Ngày 20 tháng 9, Nguyễn ái Quốc cho tái đăng Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, sách đã phát hành từ lâu. Đây là một lời kêu gọi thiết tha dân chúng nổi dậy, năm 1908. Lúc này Phan Bội Châu vừa mới bị bắt cóc ở Thượng Hải ngày 30 tháng 6 năm 1925, từ đây người có uy tín kêu gọi đồng bào tập hợp này sẽ không trở lại Trung Hoa nữa. Những người xuất dương ở Quảng Châu sống vào tình trạng rắn không đầu, lúc nào họ cũng giữ tình cảm lưu luyến với con người khích động đầu tiên và bất hạnh của họ. Tình thế đó tạo cho Nguyễn ái Quốc một triển vọng lớn để tuyển mộ tại chỗ.
 
Xu hướng về chủ nghĩa Bolchevisme trở nên rỏ rệt :
 
Những người Bolchevisme giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và họ không ngừng nhắc lại: các bạn hãy luôn luôn học tập; các bạn chớ để mình bị mê hoặc bởi những bài diễn văn đường mật và hay ho của bọn đế quốc; các bạn là những người bình đẳng đối với chúng tuy rằng thuộc các chủng tộc khác nhau. Như vậy nên chúng ta phải yêu mến người Bolchevisme và căm ghét những kẻ thù của họ là bọn đế quốc.
 
Thật ra, ngày 18 tháng 10 năm 1925, tờ Thanh Niên in tiêu đề, ở trang hai, ‘‘Vô sản toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!’’, lời kêu gọi trong bản Tuyên ngôn cộng sản năm 1848: với hình ảnh búa liềm, biểu trưng nước Nga Bolchevisme. Ngày 8 tháng 11, tờ báo kỷ niệm cuộc Cách mạng Tháng mười. Ngày 22, trong phần kết luận của bài tường trình về những cuộc cách mạng và phong trào chính trị các nước khác nhau, Nguyễn ái Quốc lên án những người theo khuynh hướng xã hội và vô chính phủ, - tuy nhiên ông thận trọng để khỏi mất lòng những kẻ theo hai xu hướng ấy - và ông tuyên bố chỉ tán thành cộng sản mà thôi.
 
Các thủ lĩnh đảng Xã hội đều có liên hệ với bọn đế quốc và tư bản, sau khi được chúng dành cho vinh dự và tiền bạc thì họ khuyến khích những người bạn của họ nên kiên nhẫn hoặc là im lặng một khi họ nhờ sự ủng hộ của công nhân đưa lên nắm chính quyền...
 
Những đảng viên xã hội Pháp đã giúp sức cho chính phủ trong những cuộc chiến tranh chống Maroc và Syrie, và đã cử những người lãnh đạo có uy tín nhất của họ đi cai trị các thuộc địa, như trường,hợp ông Varenne.
Những người theo phái vô chính phủ có tư tưởng và mục đích cao thượng, nhưng họ không hề có tổ chức, không có chương trình hành động và không có hệ thống cấp bậc nào, như thế thì làm sao có thể gây được phong trào cách mạng?
Những người cộng sản được tổ chức một cách rất chặt chẽ, những mục tiêu của họ được xác định rõ ràng, hơn nữa, họ dồn hết sức lực của họ đi tiêu diệt bọn đế quốc và chủ nghĩa tư bản, hai thảm họa của nhân loại.
 
Ngày 22 tháng 8 năm 1926, sau mười bốn tháng kiên trì hướng dẫn nhập môn bằng những công thức tương tự như những câu thần chú, Nguyễn ái Quốc tung ra câu hỏi cho lớp thanh niên yêu nước: ‘‘Chúng ta phải gia nhập đảng nào?... chỉ duy nhất một đảng kiên quyết có khả năng thực hiện, đó là đảng cộng sản’’. Chúng ta hãy lưu ý rằng cái ‘‘đảng’’ đó sẽ ra đời một cách chính thức bốn năm sau.
 
Ngày 20 tháng chạp, ông lập lại những lời trong Tuyên ngôn Cộng sản - những người lao động không có tổ quốc - ông tiến thêm một bước trong việc phân biệt hẳn với những khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa khác, rồi hướng thanh niên chỉ nên gia nhập tổ chức của ông; đó chính là một cú sét đánh vạch ngang bầu trời ái quốc, lòng yêu nước của ông và lòng yêu nước của những đối thủ:
Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia tạo ra để đè đầu nhân dân dưới pháp luật và buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và lợi quyền của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới. Tất cả những người cách mạng đem hết sức mình ra để cải thiện số phận của toàn nhân loại đều là anh em, và tổ quốc duy nhất của họ chính là trái đất này. Việc chứng minh cho thái độ đó chính là việc các đồng chí người Pháp cùng đứng về phía chúng ta chống lại đồng bào của họ kẻ theo chủ nghĩa đế quốc đã cướp nước ta.
Nền giáo dục thân cộng đa tạp do Thanh Niên phổ biến không những bao hàm trong việc hòa hợp về mặt học thuyết giữa chủ nghĩa quốc gia tư sản với chủ nghĩa quốc tế vô sản, mà còn hàm chứa trong sự hòa đồng về mặt văn hóa: chủ nghĩa Lénine cùng Khổng giáo, người ta kỷ niệm Cách mạng Tháng mười nhưng cũng không quên Khổng Tử.
 
Ngày 20 tháng 2 năm 1927, kỷ niệm Khổng Tử, Nguyễn ái Quốc viết: nếu ông thày tư tưởng của Trung Quốc còn sống vào thời đại này thì có lẽ ông đã nhanh chóng trở thành đảng viên xứng đáng của Lénine. Rồi Nguyễn ái Quốc khuyên nên đọc Khổng Tử để tu thân trở thành con người chân chính và đọc Lénine để chuẩn bị đứng lên làm cách mạng.
 
Ngày 29, Nguyễn ái Quốc nhắc lại những cuộc đấu tranh quá khứ chống lại chính quyền thuộc địa không thể thành công được do thiếu sự giáo dục về chính trị, rồi ông kêu gọi đồng bào hãy tập hợp lại và ‘‘tuân theo mệnh lệnh của đảng cách mạng’’.
 
Tháng chạp năm 1927, báo Thanh Niên mở ra một diễn đàn phụ nữ. Trong mục này người ta bày tỏ lòng bi phẫn đối với tình cảnh phụ nữ An Nam và lên tiếng khuyến khích chị em có điều kiện thuận lợi và có trình độ tiến bộ hơn nên giúp đỡ chị em công nhân và nông dân nghèo thoát vòng hủ bại quá khứ. Mục diễn đàn này bao gồm một loạt những tiểu sử những phụ nữ được lựa chọn không những trong số những người tham gia cách mạng như Louise Michel, Rosa Luxemburg, Clara Zetkin, Bà Lénine (nguyên bản viết như vậy), mà có cả những phụ nữ yêu nước mang tính chất thần bí, như Jeanne d’Arc.
 
Thanh Niên nhằm mục đích giáo dục đường lối chính trị cho các đảng viên trong nước, cho in lại những bài giảng ở Quảng Châu. Phần cốt yếu được trình bầy trong tập sách Đường Cách mệnh, xuất bản vào đầu năm 1927 dùng cho đảng viên. Đây là tóm lược nội dung: Cách mạng Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, có nhiệm vụ lật đổ đế quốc Pháp và bè lũ tay sai của chúng là vua quan phong kiến. Cuộc cách mạng này do một đảng theo chủ nghiã Karl Marx và Lénine lãnh đạo, sẽ là sự nghiệp của đa số quần chúng chứ không phải là kết quả của một cuộc đảo chính, một cuộc âm mưu binh biến hay những hành động khủng bố cá nhân. Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, cuộc cách mạng này sẽ đi theo con đường Cách mạng Tháng mười Nga 1917.
 
Đường đi Quảng Châu
 
Nguyễn Đình Tú, một thanh niên 17 tuổi, sau khi đọc Cuộc đời của Phan Bội Châu, Hồi trống Tự do của Trần Hữu Độ, cùng một số sách cấm do anh giáo Hà Huy Tập - một chiến sĩ đảng Tân Việt - đưa cho, chàng bị kích động, bèn bỏ học để đi vào Cách mệnh’’ (58) Ta hãy nhớ lại thuở ấy đảng Tân Việt đang gửi các thanh niên được tuyển mộ sang Quảng Châu để được đào tạo trong trường của tổ chức Thanh Niên.
Cuối tháng 9 năm 1926, Tú cùng với năm thanh niên nữa được bí mật tuyển chọn vì tinh thần cách mạng, rời đất nước, cùng nhau trốn trong sút chứa hành lý dưới hầm một chiếc tàu buôn Trung Hoa. Hành trình suốt bốn ngày từ Hải Phòng sang Quảng Châu. Lâm Đức Thụ đón họ và xếp chỗ trọ trước cửa trường Đại học Trung Sơn (Tôn Dật Tiên), trong một ngôi nhà lầu, nơi đó đã có một số người trọ từ trước. Đấy là: Ngô, làm bếp và in báo; Quang, sau đó được cử sang phân bộ Xiêm năm 1927; Lý Phương Đức và Lý Phương Thuần từ Xiêm tới, hai nữ đồng chí sinh viên trường Đại học Trung Sơn; A Trân, trước kia sang Trung Quốc cùng với Phan Bội Châu.
 
Người ta phân phối cho họ các tập sách chính trị. Ngày hai buổi sáng chiều, họ nghe giảng về các cuộc cách mạng Trung Hoa và Nga, lịch sử phong trào công nhân ở Châu Âu và Châu Mỹ, những cuộc đấu tranh chống đế quốc ở các nước thuộc địa Châu Á và châu Phi. Trong số giảng viên có: Trương Văn Lênh, mặc quân phục thiếu úy Quốc dân đảng; ông Vương (Nguyễn ái Quốc), trên ngực áo có gắn huy hiệu búa liềm bằng đồng; Lâm Đức Thụ, Lê Hồng Sơn, Quí... Các giảng viên hướng dẫn họ học chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên, chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx và Lénine, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa Gandhi, phân tích những cuộc đấu tranh chống thực dân ở An Nam. Họ được hướng dẫn phê phán quan điểm quân chủ của Cường Để và ảo tưởng của Phan Bội Châu, về hành động khủng bố của ông trù tính vô hiệu quả. Nhưng các giảng viên không nhắc gì đến Tân Việt, để tránh làm một điều không khôn khéo.
Sau mỗi bài học, học sinh viết thu hoạch về những điều vừa được nghe giảng. Giảng viên chữa ngay bài và nhận xét trình độ từng người để sắp xếp họ vào cuộc hoạt động tương lai.
 
Người chiến sĩ cách mạng học hỏi lý luận xong, được bổ túc huấn luyện về mặt thực hành cần yếu trong việc hoạt động bí mật, nhầm tạo cho họ có khả năng tuyển chọn những đồng chí mới khi về nước. Làm cách nào để hướng dẫn công nhân thành lập nghiệp đoàn, tổ chức những cuộc bãi công đòi tăng lương hoặc rút ngắn ngày lao động; làm thế nào để thuyết phục người nông dân hợp đoàn tương tế, gây sức mạnh để cùng nhau đứng lên đòi giảm sưu thuế, giảm địa tô; làm thế nào để thâm nhập vào giới lính tập, giới học sinh? Những vấn đề trên được đề cập đến tỉ mỉ từng chi tiết, đồng như phổ biến cách tổ chức một cuộc họp (khai hội), và những điều cần thận trọng về phương diện an toàn. Nếu bị bắt anh chớ có khai gì, dù bị tra tấn. Nếu không, anh sẽ bị tử hình.
 
Sau ba tuần lễ học tập và thảo luận, lớp nhập môn kết thúc, những thành viên mới chỉ được coi là đồng chí sau khi đã tuyên thệ trước mộ Phạm Hồng Thái, trên đồi Hoàng Hoa Cương, nơi chôn cất ‘‘72 vị anh hùng của cuộc Cách mạng Trung Hoa’’ năm 1911.
 
Các giảng viên (trong đó có ông Vương) chứng kiến khi làm lễ kết nạp vào đảng. Nguyễn Đình Tú và bốn đồng chí khác đã tuyên thệ và hứa nếu họ phản lại đảng hoặc làm trái lời thề thì sẽ chịu sự hình phạt của đảng, kể cả tử hình.
Trong nghi lễ thần bí về sự hiến mình cùng việc chấp nhận hình phạt cao nhất nếu phạm ‘‘lỗi nặng’’, đấy là một nghi thức thừa hưởng từ những hội kín xưa kia, gắn bó cả thể xác lẫn tinh thần người gia nhập vào đảng Thanh Niên, một tổ chức đòi hỏi phải ‘‘hy sinh cho đảng về cả ý nghĩ, quyền lợi và đời sống của mình’’.
Trong trường hợp tuyên án tử hình mà người thi hành án vắng mặt, thì hai người đỡ đầu, chịu trách nhiệm về người bị kết án, phải tự lãnh trách nhiệm hành hình.
Sau lễ kết nạp, các đảng viên phải nhớ thuộc lòng chương trình và điều lệ của đảng. Trước khi lên đường trở về nước, Lâm Đức Thụ chụp ảnh Tú và ghi vào sổ đăng ký bí danh của Tú là Văn Cẩm. Cuối cùng Vương và Lâm Đức Thụ dặn dò Tú:
 
Hãy giữ bí mật những gì mà đồng chí biết: không được nói cho ai hay, kể cả bố mẹ, vợ con, họ hàng, bạn bè, và cả những đảng viên Cách mệnh ... Trong vòng sáu tháng, đồng chí xây dựng ở Quảng Trị một chi bộ từ hai đến mười người và gửi về tổng bộ bản báo cáo viết bằng nước gạo trong một lá thư bình thường viết bằng chữ nho gửi cho cô Lý Huệ Quỳnh, học sinh trường thuốc Quang Hoa ở Quảng Châu. Khi một người của chúng ta đến gặp đồng chí giơ tay lên trán làm hiệu và gọi tên Cẩm thì đồng chí phải thi hành mệnh lệnh của người đó. Hãy làm tròn nhiệm vụ một cách hăng hái và tận tâm, nếu không đồng chí sẽ bị Tổng bộ Cách mệnh trừng phạt.
 
Vào tháng chạp năm 1926, Tú trở về nước cùng hai đồng chí cũng theo cách thức như khi ra đi.
Ở Vinh, Hà Huy Tập đưa Tú đến gặp ban lãnh đạo của Tân Việt (Lê Huân, Trần Mộng Bạch và Phạm Kim Huy) để báo cáo tình hình du học ở Quảng Châu. Tú tường trình những nguyên tắc chung của chương trình ‘‘đảng ở ngoài nước’’ đề ra: đoàn kết mọi người dân An Nam chống thực dân Pháp để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc và tuyên bố nền Cộng hòa; chính phủ mới tùy thuộc vào trình độ tiến hóa của nhân dân. Một cuộc tiến triển tốt đẹp sẽ có thể đưa tới chế độ cộng sản, nhưng nếu những người cộng sản còn thiểu số thì đảng Cách mệnh sẽ thành lập một chế độ khác.
Hoạt động của đảng Cách mệnh bao gồm ba giai đoạn: bí mật, với việc tổ chức các chi bộ; nửa bí mật, với việc phát truyền đơn và có thể ngẫu nhiên huy động bạo hành mưu sát để ‘‘kích động quần chúng’’; khi đảng đã có đảng viên ở trong mọi tầng lớp và rộng khắp đất nước đảng sẽ hoạt động công khai, sẽ đoạt chính quyền, huấn luyện quần chúng, tổ chức lại xã hội theo sự chỉ đạo của ban lãnh đạo tối cao.
Tú mắc lời thề với Thanh Niên, cảm thấy mình như không còn dính dáng gì với Tân Việt. Cùng với người em tên là Cường, nhân viên ty Công chính Quảng Trị, anh lập ra một chi bộ gồm 4 người: một bí thư (chính anh), một thủ quỹ (Cường), một phụ trách tuyên truyền và một chịu trách nhiệm điều tra.
Ban lãnh đạo Tân Việt cử một cựu đảng viên là Tú Kiên đến thuyết phục Tú không nên bỏ Tân Việt. Họ những tưởng thực hiện hợp tác với Thanh Niên khi giao cho tổ chức này một số thanh niên để đào tạo, và họ đã bị lúng túng trước tình hình đó.
 
Nguyễn ái Quốc gửi trở về nuớc phần lớn số thanh niên đã đuợc huấn luyện cấp tốc, nhưng trong số đó, ông đưa một ít vào học trường quân sự Hoàng Phố (59): khi thời cơ tới, ở Việt Nam họ sẽ là những người tổ chức các nhóm tự vệ và những người chỉ huy hoạt động quân sự.
 
Những người ‘‘từ Quảng Châu về’’ không chỉ tuyển mộ đảng viên từ môi trường riêng của họ là giới học sinh, mà còn tuyển mộ trong số những hào lý nhỏ ở nông thôn, trong giới thợ mỏ và công nhân các ngành công nghệ ở Bắc Kỳ, trong giới nông dân Trung Kỳ, đồng ruộng Nam Kỳ và trong số các phu đồn điền cao su. Sách báo biên soạn ở Quảng Châu đuợc bí mật đưa về nuớc, qua các thủy thủ tuyến Hải Phòng - Quảng Châu và qua những người đưa người vuợt biên giới Trung Hoa với Bắc Kỳ (60). Ngoài báo Thanh Niên, tờ báo lý luận, có hai tờ báo cổ động đuợc đua vào trong nuớc từ tháng 2 năm 1927 là Báo Công Nông và Lính cách mệnh kêu gọi lính mới nhập ngũ đừng bắn giết đồng bào khi xảy ra hỗn loạn.
 
Ở Xiêm (Thái Lan) từ năm 1926, có tờ Thân Ái kết mối liên hệ giữa 30.000 người trong cộng đồng Việt Kiều và trở thành tờ báo hữu nghị của ‘‘Xiêm La An Nam Thân ái Hội’’
Trong bóng tối, song song với bộ máy thống trị thực dân, đảng Thanh Niên dần dần xây dựng bí mật một mạng lưới cách mệnh, một chính quyền phôi thai. Tổng bộ đặt ở Quảng Châu là đầu não của đảng và là tòa án tối cao. Ở mỗi kỳ (Bắc, Trung và Nam Kỳ) có một Kỳ bộ. Các Kỳ bộ chỉ định ở mỗi tỉnh một Tỉnh bộ, rồi lần lượt xuống dưới là Huyện bộ hay Quận bộ nắm các Chi bộ hay các Tổ ở làng, cơ sở của cả một hệ thống kim tự tháp, trong đó gồm cả các Thành bộ nắm các Chi bộ đường phố và nhà máy.
 
Yếu tố hỗ trợ đắc lực cho Thanh Niên xây dựng đuợc các tổ chức của đảng ở trong nuớc không phải chỉ nhờ sự giúp đỡ về vật chất của Kremlin, cùng vì trụ sở được an toàn ngoài tầm mật thám Pháp. Mà chính là do lòng yêu nuớc thiết tha theo khuynh huớng quốc gia đã nung nấu và khơi dậy bầu nhiệt huyết của tầng lớp thanh niên học sinh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ sau vụ án Phan Bội Châu, nhà cách mạng già khuynh hướng khủng bố, hồi năm 1925, và của giới thanh niên Nam Kỳ sau các vụ án Nguyễn An Ninh, một con người yêu nước theo khuynh hướng vô chính phủ lãng mạn những năm 1926 và 1929.
 
Đuợc tổ chức chặt chẽ, đảng Thanh Niên phát triển mạnh mẽ nhờ kết nạp những phần tử còn sót lại của các đảng quốc gia trong nuớc khi các tổ chức này bị tan vỡ.
Vào năm 1927, Bắc Kỳ và Nam Kỳ đã có Kỳ bộ, còn ở Trung Kỳ vẫn thuộc ảnh huởng của Tân Việt. Tổng bộ quyết định triệu tập một cuộc đại hội toàn quốc ở Quảng Châu, và vào tháng 10, Nguyễn Đình Tú được lệnh vào Huế liên lạc với Lương Béo, con rể của Phan Bội Châu. Ở Huế Tú được biết là mình được cử làm một trong hai đại biểu Trung Kỳ đi dự Đại hội. Lương Béo trao nhiệm vụ cho Tú trình bày trong đại hội ba đề nghị, đó là: lập một Kỳ bộ cho Trung Kỳ, thúc dục tăng số người gửi sang học trường Quảng Châu, và thường xuyên gửi về nước những sách báo của Thanh Niên.
 
Tú lên đường vào tháng chạp cùng với Quốc Anh. Người phụ trách vượt biên giới là Hoàng Lùn chờ họ ở Hà Nội. Từ đó họ lên tàu hỏa đi Đồng Đăng ở biên giới, rồi xuyên rừng tới làng Vĩnh Miên của người Thổ, trọ tại nhà một thổ dân địa phương có vợ là người Việt theo Cách mệnh. Cải dạng ra người Tàu - Quốc Anh biết nói được tiếng Tàu - họ tới Long Châu sau ba giờ đi bộ. Tại đây Tú gặp lại A Trân, rồi sau hai tuần lễ vượt sông bằng thuyền bè, họ tới Quảng Châu lúc đó đang khuynh động trong tình trạng máu lửa.
 
Vương (Nguyễn ái Quốc) và Lâm Đức Thụ không còn ở đó nữa. Ở đây đã xảy ra chuyện gì từ lần du học đầu tiên của Tú đến giờ? Anh không biết gì về cuộc thất bại lớn lao của công nhân và nông dân, mà màn cuối đang diễn ra ở Quảng Châu.
 
Trong nước Trung Hoa ngập lửa
Quốc Dân Đảng và giai cấp công nhân Trung Hoa sau cuộc Cách mạng Cộng hòa 1911.
 
Triều đại phong kiến cuối cùng cai trị Trung Hoa tỏ ra bất lực trước những yêu sách và lấn lướt của các nước đế quốc. Tầng lớp trí thức thanh niên khuynh hướng duy tân thừa thế lật đổ triều đại đó năm 1911. Xuất phát từ Vũ Hán, phong trào cách mạng đã lan nhanh từ miền trung tới miền nam Trung Hoa. Tôn Dật Tiên được bầu làm tổng thống lâm thời nước Cộng hòa ngày 29 tháng mười hai năm 1911, lại nhượng quyền cho tướng Viên Thế Khải, kẻ thống lĩnh quân đội miền Bắc dưới triều phong kiến, y hứa sẽ buộc Hoàng đế cuối cùng thoái vị. Nhưng Viên Thế Khải ý đồ tự xưng vương, bèn đem quân xuống đánh quân cộng hòa ở miền trung và miền nam, làm những năm 1912 tới 1914 là những năm đề kháng chóng bị thất bại, những năm bắt bớ, ám sát và lưu đầy lung tung. Cuộc bạo loạn mãnh liệt bất ngờ hồi tháng chạp năm 1915 làm đảo điên Viên Thế Khải, y bị các tướng lĩnh bỏ rơi, không được trông thấy cái  ‘‘năm thứ nhất của triều đại’’ mình mà y đã công bố một cách kiêu hãnh. Y chết trong thời thất bại ngày 6 tháng 6 năm 1916.
 
Trải qua những năm tháng bạo tàn đó, nước Trung Hoa vẫn ở trong chế độ Cộng hòa nhưng rã rời từng mảnh. Bọn quân phiệt thoái hóa vẫn tiếp tục cai trị từng vùng, từng tỉnh. Các nuớc ngoài càng ngày càng tăng cường lấn ép để khuếch trương khu vực ảnh hưởng.
 
Tôn Dật Tiên sau đợt lưu vong dằng dưa ở Nhật, trở về Trung Hoa thành lập Quốc dân đảng năm 1919. Tướng quân phiệt Chen Jiong Ming - bấy giờ chủ tể Quảng Châu - cho phép ông thành lập một chính phủ ở đô thành này. Chính phủ Tôn Dật Tiên tuy còn yếu ớt nhưng đã mường tượng đến cuộc Bắc phạt, nói cách khác, mơ mộng một nuớc Trung Hoa tái thống nhất bằng quân lực võ trang, một quốc gia có khả năng chống lại sức ép của nuớc ngoài về chính trị, kinh tế và văn hóa.
 
Ở đây, một giai cấp công nhân năng động ra đời, do nhu cầu kinh tế của một châu Âu đang chinh chiến. Từ truớc năm 1919 đã từng có nhiều cuộc bãi công nho nhỏ. Năm 1920, công nhân đường sắt Quảng Châu đã thắng lại trong một cuộc bãi công lớn. Năm 1922, thủy thủ Hương Cảng bãi công chống người Anh đòi được tăng lương, nghiệp đoàn của họ được chấp nhận. Một Tổng liên đoàn lao động phát sinh, thợ thuyền và phu phen muốn thoát khỏi chế độ nô dịch (một từ ngữ được áp dụng một cách đích đáng).
 
Trong các công xưởng của người Trung Hoa hoặc thuộc quyền người nước ngoài ở Quảng Châu, Thượng Hải, Hán Khẩu, Thiên Tân và nhiều thành phố khác, thợ thuyền trong nhà máy sống và làm việc trong những điều kiện tương đương với nhân công nô lệ làm công trong các nhà máy, ở giai đoạn đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh. Người lớn, trẻ em, phụ nữ phải làm việc hàng ngày 12, 14, 16 giờ như họ đang tiếp tục hiện nay (những năm 30) để đổi lấy đồng lương 8 xu một ngày mà không hề có chút biện pháp nào để đảm bảo an toàn lao động và sức khỏe cho họ. Một số nhân công trẻ em đông đảo phải làm việc từ 18 đến 20 tiếng đồng hồ một ngày để đổi lấy bát cơm và tấm ván ngủ.(61)
 
Tổng Liên đoàn Lao động họp đại hội lần thứ nhất tại Quảng Châu tháng 5 năm 1922. Đại biểu của 230.000 đoàn viên tới dự. Tôn Dật Tiên đã tuyên bố hợp pháp hóa các nghiệp đoàn. Những cuộc bãi công lan tràn tới miền Trung và miền Bắc Trung Hoa.
 
Vào năm 1923 Borodine thúc đẩy Quốc dân đảng dựa vào lực lượng dân chúng. Nhờ sách lược đó mà tháng 7 năm 1925, đảng này nắm được chính quyền vững chắc trong tay toàn hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.
 
Ngày 1 tháng 5 năm 1924, 100.000 công nhân tuần hành ở Thượng Hải cùng một số gấp đôi số công nhân đó tuần hành ở Quảng Châu để đòi cải thiện điều kiện làm việc, tôn trọng sinh hoạt, giáo dục con cái và quyền nghiệp đoàn.
 
Tại Đại hội lần thứ hai của Tổng Liên đoàn Lao động ngày 1 tháng 5 năm 1925, 570.000 đoàn viên cử đại biểu tới dự. Những cuộc bãi công vĩ đại nổ ra ngay sau đó tại các cảng quan trọng ở phía Nam, như Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải và những thành phố công nghiệp khác, lên tới cả Bắc Kinh, chủ yếu là chống chủ nghĩa đế quốc Anh mà sự tàn bạo đã gây mầm nổi loạn (tàn sát 12 sinh viên ở Thượng Hải ngày 29 tháng 5 năm 1925, 8 sinh viên ở Hán Khẩu ngày 11 tháng 6, 52 người ở Quảng Châu ngày 23). Phong trào tẩy chay hàng hóa Anh cùng với các cuộc bãi công làm tê liệt Hồng Kông, thành lũy của chủ nghĩa đế quốc Anh ở Trung Hoa. Hơn 250.000 công nhân bãi công rời bỏ Hương Cảng (Hồng Kông) và Sa Diện (Shameen), nhượng địa thuộc Anh-Pháp, rút tới Quảng Châu theo chính phủ Quốc dân đảng.
 
Công nhân sung công các tiệm thuốc phiện và các sòng bạc để biến thành phòng ngủ và làm căng tin. Họ tổ chức các ban củ sát bãi công, toàn thể cấu thành một đội quân thường trực 20.000 người, bày bố một vành đai ngăn chận chặt chẽ bao quanh Hương Cảng và Sa Diện. Cứ 5 công nhân tham gia bãi công cử 1 đại biểu dự cuộc họp đại biểu, cuộc họp này chọn ra ban chấp hành gồm 13 người.
Đấy là mầm mống đầu tiên một chính quyền công nhân ở Trung Quốc. Ban chấp hành bảo trợ xây dựng được một bệnh viện và mười bảy trường học cho công nhân nam nữ và con cái của họ. Có những ủy ban đặc biệt quản lý các quỹ, tổ chức các cuộc bán đấu giá những hàng hóa tịch thu và thành lập các kho lưu trữ tại liệu (62).
 
Phải chăng đấy là bước đầu thực hiện ‘‘quyền tự quyết của những người bị áp bức’’?
Vào tháng giêng năm 1926, trong các tỉnh mà Quốc dân đảng quản trị, có độ 800.000 công nhân tổ chức trong nghiệp đoàn và khoảng 600.000 nông dân gia nhập nông hội. Trên những tuyên cáo của Phòng Thương mại ở Quảng Châu người ta thấy kết thúc bằng khẩu hiệu ‘‘Cách Mạng muôn năm!’’. Chính quyền lúc ấy nắm trong tay Uông Tinh Vệ, một người thuộc cánh ‘‘tả’’ Quốc Dân Đảng, vừa là chủ tịch đảng, vừa là thủ tướng chính phủ kiêm thanh tra quân đội. Lúc đó Tưởng Giới Thạch mới chỉ là Hiệu trưởng trường quân sự Hoàng Phố và chỉ huy trưởng Quân đoàn 1.
 
Trong thời kỳ này, Quốc tế Cộng sản thường mô tả Quốc dân đảng như một  ‘‘lực lượng cách mạng bao gồm công nhân, nông dân, trí thức và giới dân chủ thành thị’’, dường như họ không thấy tính chất cơ bản tư sản giai cấp của đảng này.
Giai cấp tư sản Trung Hoa, bọn mại bản, bọn lái buôn lớn, các chủ thầu, và cả các chủ ngân hàng, quyền lợi chúng mật thiết gắn bó với tư bản ngoại quốc, chúng lo sợ trước cuộc vận động công nhân ngày càng cấp tiến. Đồng thời giai cấp địa chủ cũng hoảng hốt trước hoạt động của nông dân. Tưởng Giới Thạch chính là người mà họ đang cần. Tưởng làm yên tâm giới tư sản, hướng lên nắm chính quyền.
 
Sớm ngày 20 tháng 3 năm 1926, Tưởng cho bắt 50 chính ủy trong các đơn vị quân đội của y, phần đông là đảng viên cộng sản. Y đưa quân chiếm trụ sở Ủy ban bãi công ở Quảng Châu - Hương Cảng, tước vũ khí hai ban củ sát bãi công. Tưởng chiếm cơ quan hành chính của Quốc dân đảng (Uông Tinh Vệ trao ấn triện quyền lực cho y rồi trốn sang Âu châu). Ngày 14 tháng 5, Tưởng ra lệnh thiết quân luật, qua ngày 15 nắm trọn quyền hành.
 
Tưởng ra lệnh phe cộng sản phải giao cho Quốc dân đảng bản danh sách đầy đủ những người là thành viên của hai đảng phái, họ không được quyền giữ những chức vụ quan trọng nữa và cũng không được quyền chiếm quá một phần ba số chức vụ bực thấp trong bộ máy Nhà nước. Y buộc những người cộng sản phải ủng hộ y trong chiến dịch tấn công các lực lượng miền Bắc. Và trong thời gian đó mọi cuộc đình công đều coi là bất hợp pháp. Tóm lại, chính phủ Quảng Châu đã trở thành một chế độ độc tài quân sự chống cộng trong tay Tưởng Giới Thạch.
 
Staline không bộc lộ thái độ. Hơn thế nữa, y ra lệnh cho báo chí im tiếng. Ngay đến Quốc tế Cộng sản một năm sau mới biết được tình thế nói trên.
 
Cũng trong tháng đó, Tưởng Giới Thạch được mời dự Đại hội Lao động toàn quốc lần 3, một lần nữa y lại đội lốt cộng sản. Kết thúc bài diễn văn y giơ nắm tay lên hô ‘‘Cách mạng muôn năm!’’, những tràng pháo tay làm rền vang phòng họp. Đảng Cộng sản Trung Hoa không thông báo cho các nghiệp đoàn biết cái tin Tưởng Giới Thạch đảo chính .
 
Vào tháng 7, quân đội của Tưởng bắt đầu tiến lên phía Bắc, giao quyền cai trị Quảng Đông cho tướng Lý Tế Thâm. Bọn cường hào gian ác trong vùng, thừa cơ bọn quân phiệt sở cậy nơi chúng bèn tập hợp lại, thành lập ‘‘Liên đoàn lao động trung ương’’ được tung ra để chống lại Tổng Liên đoàn Lao động. Thợ thuyền đứng lên tự bảo vệ. Từ ngày 3 đến 9 tháng tám, 50 công nhân bị giết. Những quyền lợi đoạt được sau nhiều năm tranh đấu mất hết. Cờ bạc lan tràn, các sòng bạc lại mở ra. Trong hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, nông dân đã từng chiến đấu hỗ trợ Quốc dân đảng nay bị đội quân thô bạo của Tưởng tấn công, ám sát những người lãnh đạo, triệt hạ các nông đoàn.
 
Còn về cuộc bãi công ở Hương Cảng bắt đầu từ tháng 6 năm 1925 khí thế mãnh liệt như thế, bị chính phủ mới ở Quảng Châu nhận chìm hoàn toàn để gây mối quan hệ thân thiện với thống đốc Anh ở Hương Cảng.
 
Đó là đoạn đầu trong cuộc thất bại của giới lao động Trung Hoa mà người chứng kiến tận mắt là Harold Isaac đã mô tả trong Tấn bi kịch của cuộc cách mạng Trung Hoa.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.06.2017 11:19:16 bởi Ct.Ly>
Tấn bi kịch Trung Hoa
Thượng Hải, tháng 2 đến tháng 4-1927.
 
Khi quân Tưởng Giới Thạch tiến lên phương Bắc thì chính quyền ở Thượng Hải nắm trong tay bọn quân phiệt miền Bắc. Tổng Liên đoàn Lao động dưới ảnh hưởng cộng sản, vẫn có uy thế để kêu gọi lực lượng công nhân 350.000 người đứng lên tổng bãi công. Tên quân phiệt chỉ huy đạo cảnh binh sở tại tung bọn sát thủ ám sát công nhân. Chúng cầm trường kiếm gieo kinh khủng khấp đường phố. Lực lượng cảnh sát ở các khu vực nhượng địa ngoại quốc cũng tiếp tay tham gia bắt bớ.
 
Tưởng Giới Thạch hạ lệnh dừng cuộc tiến quân.
 
Ngày 21 tháng 3, TLĐ Lao động lại kêu gọi bạo động vũ trang. Chiều ngày 22, công nhân tự vũ trang súng trường và liên thanh, khí giới tước đoạt nơi đồn quân cảnh vệ, bày bố kiểm soát khắp Thượng Hải.
 
Ngày 26, Tưởng xung quân nhập thành, được hoan nghênh bằng những tiếng hô ‘‘Cách mạng quốc gia muôn năm! Hoan nghênh Tưởng Giới Thạch!’’. Rồi trong khi ban lãnh đạo TLĐ Lao động hoan hỉ và tuyên bố sẽ đòi các đế quốc phục hồi ngay các nhượng địa, thì Tưởng đưa người của y nắm các chức vị then chốt, tuyên bố thiết quân luật và buộc công nhân nộp vũ khí.
 
Ngày 31, Tưởng trấn an các đế quốc: hắn sẽ không dựa vào bạo lực của quần chúng để làm thay đổi chế độ các cơ sở thuộc nước ngoài. Cùng ngày hôm đó, Moscou nhắc lại chỉ thị là phải tránh tạo ra một phong trào công nhân độc lập: phải cất dấu vũ khí, nói một cách khác là khoanh tay phó mặc chúng tàn sát mình.
 
Ngày 12 tháng 4, vào 4 giờ sáng, Tưởng giục thả bầy thú dữ săn người, 3000 quân bắt tay cùng lũ côn đồ đàn em phái Lục Lâm đang trấn giữ cửa sông Dương Tử. Bên cạnh họ còn có lực lượng cảnh sát của các khu vực nhượng địa của Pháp, Anh và Nhật Bản. Các đội hành quyết không ngưng nổ súng. Tên ‘‘Pilsudski Trung Hoa’’ đã chuyển từ ‘‘cuộc cách mạng quốc gia sang chủ nghĩa fátxít quốc gia’’, như Trotski đã nói trước từ ngày 3.tháng tư.Thế mà ngày 21 Staline còn tuyên bố rằng các biến cố vừa xảy ra xác nhận hoàn toàn đường chính trị Quốc tế Cộng sản là đúng đắn.
 
Vũ Hán, 15 thắng 7-1927
Đảng cộng sản Trung Hoa bị loại ra ngoài vòng pháp luật ở Thượng Hải, những người lãnh đạo chạy đến Vũ Hán trú chân một thời gian ngắn. Nơi đó Uông Tinh Vệ sau khi lưu vong trở về, bèn cùng một số tướng lĩnh đầy tham vọng xây dựng lại một chính phủ mà Moscou vẫn cứ gọi là thuộc phái tả. Các bộ Lao động và Nông nghiệp trong chính phủ đó do cộng sản nắm, nhưng Uông Tinh Vệ vẫn cứ để quân sĩ của mình treo cổ nông dân khốn khổ tập hợp trong các nông hội. Nối gót Tưởng Giới Thạch, Uông ra lệnh cấm bãi công, chiếm đóng 25 trụ sở nghiệp đoàn và hạ lệnh cho đảng viên Quốc dân đảng tuyệt giao với Đảng Cộng sản Trung Hoa.
---&---
Sau cùng, Moscou phản ứng: ngày 14, điện Koremlen tuyệt giao với Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch. Ngày 27, trong lúc các lãnh tụ cộng sản phải chạy trốn, máu của công nhân đang đổ ra ở Vũ Hán, những chùm người bị treo cổ ngày càng nhiều ở nông thôn các tỉnh miền Trung, thì đặc phái viên Nga là Borodine được nghinh tống trong lúc ông rời bỏ thành phố. Người ta phải dành cho ông ta vinh dự đó, lẽ cố nhiên: phải chăng ông đã từng tuyên bố rằng ‘‘trong giai đoạn hiện thời những người cộng sản phải làm phu phen cho Quốc dân đảng’’?
 
Trên đường trở về Nga, Borodine thổ lộ cùng bà Louise Strong, người cùng đi với ông, sự nhận định cuối cùng của ông về cuộc cách mạng Trung Hoa:
 
Giai cấp đại tư sản chẳng bao giờ có thể thực hiện được việc thống nhất Trung Hoa, bởi lẽ họ không thực sự chống lại chủ nghĩa đế quốc. Họ là đồng minh của đế quốc và chia lợi nhuận với đế quốc.
Giai cấp tiểu tư sản không thể thống nhất Trung Hoa, bởi họ lưỡng lự, đứng giữa một bên là lực lượng công nhân và nông dân và bên kia là tư sản, để rồi cuối cùng sẽ liên kết với tư sản. Công nhân và nông dân cũng không thống nhất được Trung Hoa bởi lẽ họ quá tin tưởng vào giai cấp tiểu tư sản (63).
 
Borodine bị hạ ngục ở Moscou vào tháng 2 năm 1949, chết trong một sà lim nhà tù Loubianka tháng 3- 1951.
 
Những cuộc nổi dậy tuyệt vọng
Ngày 7 tháng 8, 1927, Quốc tế Cộng sản đánh điện gọi đảng cộng sản Trung Hoa  ‘‘tổ chức công nhân và nông dân nổi dậy dưới bóng cờ tả phái Quốc dân đảng’’.
 
Đảng Cộng sản Trung Hoa phát biểu một số ý kiến phản bác (chủ yếu là của Trần Độc Tú, người bị đổ lên đầu những lỗi lầm gây nên tổn thất) chống lại chủ trương phiêu lưu đó bị gạt đi. Hướng theo chỉ thị Quốc tế, hai tướng cộng sản chỉ huy đạo binh ‘‘Bắc phạt’’ gần ba ngàn người tại Nam Xương, tỉnh Giang Tây, phất cờ khởi nghĩa, huy động quần chúng nông dân nổi dậy với triển vọng thiết lập chế độ Sôviết. Liền theo đó, họ bị quân đội tả phái Quốc dân đảng đánh tan. Nông dân nổi dậy liền theo đó lần lượt bị thất bại ở Hồ Bắc, Hồ Nam, cũng như ở Quảng Đông, Quảng Tây.
 
Quảng châu, 11 tháng chạp 1927
Hàng ngàn đảng viên cộng sản vong mạng trong cuộc đàn áp và khủng bố. Vào tháng 11, Moscou chỉ thị cho các đồng chí trung thành ở Quảng Châu phát động khởi nghĩa dưới khẩu hiệu ‘‘Tất cả chính quyền về tay các Sôviết đại biểu công nhân, nông dân và dân nghèo’’. Ngày khởi nghĩa được ấn định vào hôm 13 tháng chạp, ngày khai mạc Đại hội lần thứ 15 Đảng cộng sản Liên Sô; nếu Quảng Châu mà được thành công thì có thể loại trừ Trotski và phái tả đối lập rất dễ dàng.
 
Tương quan lực lượng thật nguy hại: các tổ chức công nhân bị Lý Tế Thâm tấn công vào tháng 4, rồi lần thứ hai lại bị đối thủ của Lý Tế Thâm là Trương Phát Khuê đàn áp. Qua tháng 10, Ủy ban Cách mạng thành phố chỉ còn trông cậy ở lực lượng cựu thiếu sinh quân trường Hoàng Phố trong đó 500 người chịu ảnh hưởng đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng với khoảng 500 công nhân còn sống sót sau cuộc bãi công ở Hương Cảng, bị đuổi ra khỏi ký túc xá và chỉ được trang bị một số vũ khí quá ít ỏi: ba chục khẩu súng lục, năm chục khẩu súng trường và hai trăm lựu đạn.
 
Sau đây là đại lược những gì đã xảy ra qua câu chuyện kể lại trong cuốn Bạo động vũ trang của A. Neuberg (Heinz Neuman), người cộng sản Đức được giao nhiệm vụ chỉ huy các chiến dịch.
Âm mưu khởi nghĩa bị lộ, cần phải quyết định hành động sớm; những thiếu sinh quân cộng sản nổi dậy đêm 10 và 11 tháng chạp giết chết tên chỉ huy và một số sĩ quan, rồi cùng với nhóm chỉ huy công nhân có vũ khí, chuyển sang tấn công những phân đội Quốc dân đảng đóng rải rác trong thành phố. Nhờ họ đánh bất ngờ mà những người bạo động làm chủ phần lớn thành phố sau một ngày dài chiến đấu ác liệt trên đường phố. Những phân đội Quốc dân đảng bị tước vũ khí và bị giải tán.
Cơ quan ‘‘Sô viết đại biểu công nông binh’’ đặt trụ sở hành chính tại Tổng Hành dinh quân cảnh sát và tuyên bố thành lập Công xã Quảng Châu.
Công xã phóng thích hàng ngàn tù chính trị, họ liền gia nhập các lực lượng khởi nghĩa. Công xã hạ lệnh tịch thu tài sản của giai cấp tư sản và các chủ ngân hàng, biến các nhà cửa của những người giàu có thành cư xá cho công nhân, quốc hữu hóa đất đai của đại địa chủ, hủy bỏ những khoản nợ của bọn cho vay nặng lãi, công bố tự do báo chí, ngôn luận và hội họp cho quần chúng công nhân, quyền bãi công..., tóm lại là cả một chương trình lẽ ra có khả năng tập hợp được đông đảo dân nghèo nếu như họ không bị thường xuyên lừa dối từ một năm rưỡi nay.
 
Chiều ngày 13, Công xã Quảng Châu khởi đầu đối diện cuộc khủng bố vô cùng quyết liệt. Chiến si khởi nghĩa ngã gục trước làn đạn của quân Lý Tế Thâm và Trương Phát Khuê hợp sức đàn áp. Những khẩu đại bác của quân Anh, quân Nhật và Trung Hoa bắn chặn để mở đường tiến cho các đội quân tiếp viện.
Bọn sát nhân lập ra những tòa đặc biệt để tiếp tục giết người. Tất cả những ai tàng trữ sách cấm, vũ khí và đạn dược đều bị xử bắn. Những kẻ tố giác được thả tự do. Những người bị tình nghi bị đưa vào những ‘‘trại trừng giới’’ trong 2, 3 năm, trừ phi những kẻ thuộc về những gia đình ‘‘danh giá’’. Những người An Nam, Triều Tiên, Nga, nếu xác nhận là cộng sản đều bị hành hình; những người Âu thì trao trả cho sứ quán và bị trục xuất.
 
 
Tờ Thanh Niên ngày 17 tháng chạp năm 1927 phác họa tổng kết tình hình đó như sau, trong lúc thây người vẫn còn chất đống trên các đường phố:
 
Theo gương Công xã Paris, ngày 11 tháng chạp, công nhân, nông dân và binh lính đó ở Quảng Châu đã cầm vũ khí lật đổ chính phủ quốc gia và thiết lập chế độ Sô viết. Chiến thắng to lớn đầu tiên này của giai cấp vô sản là sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử cách mạng ở Viễn Đông. Nhưng chẳng may, ba ngày sau chiến thắng, những người cộng sản phải chịu thất bại nặng nề và phải từ bỏ chính quyền. Tổn thất bên cộng sản như sau: bị giết 10.000 người, bị xử bắn 2.500 người, người Nga bị ám sát 18 người. Ngoài ra vô số phụ nữ, trẻ em và những người cách mạng nước ngoài đã vong mạng trong những ngày đẫm máu đó.
Những rắc rối nhỏ trong tổ chức Thanh Niên
 
Vào tháng 4 năm 1927, trong lúc Tưởng Giới Thạch vừa mới công bố thiết quân luật ở Thượng Hải và Lý Tế Thâm trở về Quảng Châu để săn lùng giết hại những công nhân nghiệp đoàn, thì Nguyễn ái Quốc không còn ở Quảng Châu. Ông ở Moscou trong mùa hè, trong khi Tổng bộ Thanh Niên vẫn đóng tại chỗ mà không có gì lo lắng nghiêm trọng, mặc dù họ có liên hệ mật thiết với Đảng Cộng sản Trung Hoa. Lâm Đức Thụ được thả sau một tháng bị tù, đến trú tại Hương Cảng.
 
Khi Nguyễn Đình Tú tới số 5 phố Nhân Hưng tuy không gặp được Vương và Lâm Đức Thụ nhưng lại gặp được những đồng chí mới, đó là:
 
Nguyễn Sĩ Sách và Trần Hậu Toàn, người của Tân Việt phái sang để thương lượng việc thống nhất hai đảng. Sau đó Sách gia nhập Thanh Niên, còn Toàn một mình trở về Trung Kỳ mang theo mình những đề nghị của Tổng bộ. Năm 1929, Sách bị lính ngục ám sát ở Lao Bảo.
 
Hồ Lan Sơn, một thiếu sinh quân trường Hoàng Phố, 5 năm sau, dưới tên là Phạm Kim Sơn, là bị cáo số 41 trong vụ án 122 đảng viên đảng cộng sản tại Sài Gòn.
 
Bàng Thông, sinh ở Bắc Kỳ, chiến đấu ở Nam Kỳ, là người sau này được đảng bộ phân lập ở Bắc Kỳ vào năm 1929 giao cho nhiệm vụ kết hợp với phân bộ Nam Kỳ để thành lập một đảng cộng sản.
Nguyễn Trung Nguyệt, một nữ đồng chí trẻ  ‘‘da rất trắng mặc theo lối tầu’’, đến từ phương Nam cùng với Lê Duy Diễm vào tháng 10 năm 1927; cô đã viết bài cho báo Thanh Niên trên mục Diễn đàn Phụ nữ.
 
Nguyễn Văn Cường, cũng từ phương Nam tới; sau này đã được tha trong vụ án đường Barbier, và theo báo Tranh Đấu (La Lutte) ngày 18 tháng 3 năm 1936, anh bị các đồng chí nghi ngờ là phản bạn.
 
Sinh hoạt chính trị của tổ chức Thanh Niên gần như vẫn tiếp tục hoạt động theo nếp cũ. Vào tháng chạp, có vài sự biến đột xuất xảy ra dù sao cũng làm xáo trộn đôi chút không khí yên tĩnh của tổ chức này. Đó là: 3 học sinh sĩ quan trường Hoàng Phố người Việt đảng viên Thanh Niên ghé vào số 5 phố Nhân Hưng. Rồi một vụ suýt cháy nhà tại đó (do Quốc Anh bất cẩn khi đun nước pha trà). Hai vụ ấy gây nên ba lần cảnh sát đột nhập vào trụ sở Thanh Niên. Cũng có những vụ bắt bớ lớn các đại biểu và sinh viên, như Tú, Quốc Anh, Hoàng Thanh Tuyền, Trần Nhất, Hồ Lan Sơn, Lý Phương Thuần, bị bắt trói quặt tay sau lưng, (Tú Hứa thì không bị trói vì tuổi tác) đem đi. Lê Văn Phát và Nguyễn Văn Thinh, đại biểu Nam Kỳ, cùng với Đại, một trong số đại biểu từ Xiêm sang vào tháng giêng, cũng bị bắt giam.
 
Những lần bắt giam này - lần thứ nhất tại nhà giam quận 4, hai lần sau, từ ngày 19 tháng 1 đến ngày 21 tháng 5 năm 1928, tại cơ quan Công An - cũng không đưa tới tình hình gì nghiêm trọng, và nhờ có người quen can thiệp, nên rốt cuộc mọi sự được giải quyết êm thấm.
Cuộc đại hội đã được dự kiến tổ chức ở Hương Cảng tại nhà Lâm Đức Thụ, vào ngày 25-26 tháng 5. Đại hội này mang tính chất lâm thời vì các đại biểu Bắc Kỳ vắng mặt, thảo luận đề nghị của Tân Việt về hợp nhất, rồi tán đồng sự lựa chọn của Tổng bộ: Thành lập Kỳ bộ cho Trung Kỳ năm 1928, với Lương Béo, Nguyễn Sĩ Sách, Lộc, Nghĩa, Tú, Hoàng Lùn; thông qua danh sách chỉ định người đại diện cho cơ quan tối cao ở mỗi Kỳ bộ: Bắc Kỳ là Quốc Anh; ở Trung Kỳ là Hoàng Lùn, người chuyên tổ chức đưa người sang Tàu; và ở Nam Kỳ là Lê Văn Phát.
 
Tất cả đều lên đường với nhiều nghị quyết trong tay. Các đại biểu mang mệnh lệnh của Tổng bộ Quảng Châu, viết bằng nuớc gạo (khi muốn đọc thì thấm vào nuớc có pha iodée để giao cho các Kỳ bộ. Quốc Anh về Bắc Kỳ qua đường Hải Phòng còn Tú và Phát, Thinh về Sài Gòn lẫn với hành khách người Trung Hoa trên tàu Đại Phúc Tinh.
 
Truớc khi rời Sài gòn về Trung Kỳ, Tú còn gặp lại người giác ngộ chính trị cho mình là Hà Huy Tập, và đuợc tin Thanh Niên định mời Nguyễn Thế Truyền tham gia nhưng không thành công. Chúng ta không còn tin tức chi về người sáng lập đảng Việt Nam Độc lập từ khi người ở Pháp trở về nuớc hồi đầu năm. Về tới Trung Kỳ, Lương Béo điều động Tú ra Hà Tĩnh, vì chi bộ của anh ở Quảng Trị vẫn có thể sinh hoạt vắng mặt anh, anh cần phải giành lấy ảnh huởng tại vùng căn cứ của Tân Việt. Vào tháng 7, tại Vinh, Tú báo cáo với Kỳ bộ kết quả hành trình của mình ở Trung Hoa.
 
Một năm sau đó, Tú đuợc cử làm đại biểu đi dự Đại hội Toàn quốc lần thứ nhất và cũng là lần cuối cùng của Thanh Niên. Cả ba Kỳ đều có đại biểu, và sau đại hội, đảng Thanh Niên tan vỡ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.06.2017 11:34:53 bởi Ct.Ly>
VI


 
Thanh Niên Cách mạng Đông chí Hội tan vỡ  
Đảng cộng sản Đông Dương phát sanh 
 
Vụ án mạng đường Barbier, Sài Gòn


 
Trong đêm 8 rạng ngày 9 tháng 12 năm 1928, một vụ ám sát quá cổ hủ thô bạo đã diễn ra trong giữa phân bộ Thanh Niên Cách mạng Đông chí Hội ở Nam Kỳ. Lê Văn Phát (bí danh Mỹ, Lang) bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội, theo điều lệ của đảng, vì anh ta  ‘‘ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt’’. Tội của Phát là ‘‘không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng’’. Ba người trong số các đồng chí trẻ nhất của Phát (23, 24 và 26 tuổi) phải thi hành án quyết đã được tòa án cách mạng chuẩn y. Tôn Đức Thắng chủ trì tòa án, lúc đó 40 tuổi, đứng đầu Kỳ bộ. Vì đâu, (vì tự ái, vì ghen tương?) án quyết thủ tiêu một đồng chí không tương xứng với ‘‘lỗi lầm’’, bí mật ấy vẫn âm u trong bóng tối (64).
 
Một vụ sát nhân chính thức, ba nạn nhân cùng một lúc, đáp lại vụ ám sát trên: Tòa đại hình Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1930 kết án tử hình ba người thi hành án quyết trên kia. Tòa chỉ tuyên phạt Tôn Đức Thắng (người sau này kế vị chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1969) 20 năm tù khổ sai, và Phạm Văn Đồng (về sau là thủ tướng của chính phủ Hồ Chí Minh) 10 năm tù cấm cố. Hai mươi ba người khác trong phân bộ phải chịu án tù tổng cộng 100 năm. Phân bộ Thanh Niên Nam Kỳ hoàn toàn tan vở.
 
Hai năm, năm tháng sau vụ ám sát, trong hoàn cảnh phong trào nông dân thoái trào và giữa tời kỳ khủng bố trắng, bọn cầm quyền bí mật chuẩn bị hành quyết những người bị kết án tử trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 5 năm 1931.
 
 
Những người liên can trong vụ án mạng đường Barbier: Tôn Đức Thắng - Nguyễn Trung Nguyệt - Trần Truông (chết chém) - Trần Văn Công (chết chém)
 
--&--

 
Máy chém dựng sồ sộ trước cổng Khám lớn Sài Gòn, lính cảnh sát sếp hàng dầy đặc ngăn đón các con đường, chánh sở mật thám có mặt tại đó, tay lăm lăm khẩu súng lục. Vào lúc bốn giờ sáng, ba cái đầu người cách mạng trẻ tuổi rơi xuống sau tiếng hô cuối cùng ‘‘Đả đảo đế quốc Pháp’’. Trong giờ liền theo đó trong Khám lớn, tù chính trị - kể cả tù đàn bà - nổi lên phản đối: ‘‘Đả đảo khủng bố trắng! Đả đảo đế quốc Pháp!’’, rùm lên náo động châu thành. Nước vòi rồng chữa lửa tưới ngộp những người tù phản kháng, bọn ngục tốt táo bạo đánh đập họ, cùm chân họ vào khoen sắt.
 
Sử chính thức cùng truyện ký về lãnh tụ không bao giờ nhắc lại vụ sát nhân thô bỉ. Nó có thể làm lu mờ hình ảnh của ‘‘người anh hùng Hắc Hải’’, Tôn Đức Thắng được phong danh hiệu như vậy để kỷ niệm cuộc nổi dậy tháng 4 năm 1919 trên chiến hạm Pháp mà người dân thuộc địa là Tôn Đức Thắng được đội thủy thủ Pháp chỉ định kéo lá cờ đỏ thượng lên.
 
Nếu ai muốn biết rõ hơn, thì đây:
Sáng ngày 9 tháng 12 năm 1928, mật thám phát hiện trong sân đàng sau căn phố số 5 đường Barbier, Sài Gòn, một xác người đàn ông đã bị biến dạng, mặt và tóc cháy xém, tay bị trói quặt sau lưng, họng bị cắt, ngực bị đâm hai chỗ.
Sau này người ta được biết người bị ám sát là Lê Văn Phát, đã từng là đại biểu đi dự Đại Hội lâm thời của Thanh Niên ở Hương Cảng. Sinh tại tỉnh Bến Tre, Phát làm thầy thuốc và cũng là hương lễ, một hương chức trông coi việc tế tự ở làng. Khi trở về Sài Gòn vào tháng 6 với danh nghĩa đại diện của Tổng bộ bên cạnh Kỳ bộ Nam Kỳ - Kỳ bộ từ trước đến giờ do Tôn Đức Thắng chỉ huy. Thắng là người lớn tuổi hơn hết trong nhóm. Phát bị tòa án cách mạng do Tôn Đức Thắng chủ trì, xét xử bí mật và kết án tử hình vắng mặt. Người ta kết tội Phát ‘‘lạm dụng quyền hành do chức vụ đảng giao phó để hãm hiếp một nữ đồng chí’’.
 
Dù cho có những hình phạt nghiêm khắc theo như điều lệ qui định, - mà Nguyễn Đình Tú phải nhớ kỹ khi gia nhập Thanh Niên năm 1926 - thì một hành vi không trong sáng (như uống rượu, cờ bạc, hay lui tới nhà điếm, cưới xin ngoài đảng, khước từ hoạt động chiến đấu do lãnh đạo giao phó) sẽ có thể dẫn tới bị khai trừ, chứ không phải là tử hình như kẻ phản đảng (trốn sang trại địch, tự động hành động không có chỉ thị làm cho các đồng chí mất an toàn, chậm trễ thi hành chỉ thị, làm lộ những bí mật của đảng, âm mưu phá đảng).
 
Kỳ bộ thành lập một tòa án vào đêm 29 tháng 11 gồm các ủy viên của Kỳ bộ Nam Kỳ và Tỉnh bộ Bến Tre tại nhà Bùi Văn Thêm, số 72 phố Paul Blanchy. Trong số các thẩm phán đột xuất này có ba người là Trần Trương, Đặng Văn Sâm, Bùi Văn Thêm đã từng là thợ trong xưởng Kropff, nơi mà Tôn Đức Thắng làm cặp rằng; Trần Trương và Nguyễn Trung Nguyệt là bà con họ hàng với vợ Tôn Đức Thắng. Do đó uy tín của Thắng không phải chỉ vì có tuổi. Trước tiên ba thẩm phán trong phiên tòa đó bỏ phiếu chống tử hình. Nhưng áp lực của đa số là 5 thẩm phán kia làm xiêu lòng ba người, họ tự lấn áp ‘‘tình cảm cá nhân’’ của mình đúng theo giáo lý (le catéchisme) do Quảng Châu đặt ra.
 
Trong số các đồng chí của Phát, ai sẽ là người thi hành án? Với nhiệm vụ khủng khiếp này, ba đồng chí trẻ tuổi nhất rút trúng thăm. Đó là Ngô Thiêm, bí thư Kỳ bộ, người Nghệ An; Nguyễn Văn Thinh, bí thư của Lê Văn Phát và là chủ bút tờ Công Nông Binh, sinh ở Gò Công; và Trần Trương, người Mỹ Tho. Họ còn phải đốt mặt Phát làm biến dạng xác chết theo sáng kiến của Thắng.
 
Sau đó Ngô Thiêm sang ngay Quảng Châu để báo cáo với Tổng bộ, mang theo biên bản của tòa án cách mạng. Tổng bộ phê phán bản án là ‘‘không tương xứng với lỗi làm’’ rồi tuyên bố giải tán Kỳ bộ Nam Kỳ.
 
Mười sáu ngày sau vụ ám sát, sở mật thám nhận được tin tức do nhân viên ‘‘mật vụ ở nước ngoài’’ gửi về, nói đến tờ biên bản trên. Từ tháng 2 Tôn Đức Thắng đã bị bắt, rồi trong mùa hè, hơn hai chục chiến sĩ, dù có hay không dính líu tới vụ ám sát lọt vào tay mật thám.
 
Một khi phát hiện xác chết, mật thám mở đầu tung mạng lưới bủa giăng vây bắt các tổ chức bí mật. Vì thế không phải chỉ 8 người mà là 45 người bị cáo phải đồng lược ra trước tòa đại hình Sài Gòn, người thì bị khép tội  ‘‘giết người có chủ ý trước’’, người thì bị cáo ‘‘âm mưu phá rối trị an Nhà nước’’. Các trạng sư đề nghị xử riêng hai vụ việc nhưng bị bác bỏ. Tòa chỉ nhượng bộ ở một điểm là: hai vụ việc được xem xét lần lượt, và mỗi phạm nhân sẽ chỉ bị hỏi về những tội trạng mà mình có dính líu thôi. Nhưng dù sao xử án cùng một phiên tòa hai vụ việc hoàn toàn khác nhau cũng có một cái gì đó có tính chất gán ghép xáo lộn cốt để ảnh hưởng dư luận theo chiều hướng chính quyền.
 
Một năm rưỡi sau vụ ám sát mới đem xét xử, vào ngày 15 tới 19 tháng 7 năm 1930. Bầu không khí xã hội lúc đó đang hừng hực. Phong trào nông dân sôi động ở Nam Kỳ, còn ở Bắc Kỳ, 13 cái đầu của Việt Nam Quốc dân đảng bị rụng dưới máy chém ngày 17 tháng 6 ở Yên Báy.
 
Theo tờ An Nam Hướng truyền (Écho Annamite), Tôn Đức Thắng tuyên bố như sau:
 
Ngô Thiêm đã dẫn dắt tôi vào hoạt động cách mạng. Tôi gia nhập Hội Thanh Niên Cách mạng năm 1927. Tôi là đại diện của Tổng bộ Quảng Châu ở Kỳ bộ Nam Kỳ. Những mưu toan của Lang đối với em gái chúng tôi là Thị Nhứt khiến tôi lên án kẻ phạm tội đó. Tôi không hề đứng về phía tán thành cái hình phạt quyết liệt đó. Dù sao tôi cũng vì kỷ luật buộc phải tuân theo đa số. Chính tôi đã ra lệnh cho Thinh làm biến dạng bộ mặt xác chết. 
 
Còn Phạm Văn Đồng, bị tố cáo âm mưu, thì tuyên bố rằng Đại Hội tháng 5 năm 1929 ở Hương Cảng quyết định là các đồng chí có dính líu đến việc thủ tiêu người đại diện của Tổng bộ vẫn có thể tái gia nhập đảng. Còn chính mình ông ông cũng hối tiếc vì thoạt tiên ông tán thành xử tử Phát, vì ông tưởng Phát ‘‘sắp phản đảng’’ (theo nguyên văn).
 
Từ trong văn bản biện hộ của các trạng sư Gaccobbi, Loye, Bernard, Masse, Desgrand, Ferrand, Pinaud, Tavernier và Cancellieri, chúng tôi ghi nhớ lời nhận xét của Cancellieri vì nó gợi lại lời nhận xét của Nguyễn An Ninh trước tòa án năm trước:
 
Người ta trách cứ những thanh niên nầy tham gia các hội kín. 
Thế nhưng những hội kín đó bao giờ cũng vẫn có, bởi lẽ họ chẳng bao giờ những thanh niên nầy có thể tự do tập hợp với nhau, bởi lẽ họ hiện thân những kẻ bị áp bức. Có một tình thế căng thẳng hiển hiện, nhưng người ta không tìm biện pháp chữa chạy. Cái đó đơn giản thôi, biện pháp đó là ban bố tự do, cái tự do mà chúng tôi đòi hỏi cho họ được hưởng cũng như ta đang được hưởng. Đó là vấn đề cái nồi hơi và những cái sú páp an toàn của nó. Hơi nước sôi phải thoát ra, người ta không thể ép nén nó mãi được. Nếu các ông muốn ở đây có hòa bình, trước hết hãy thực hiện công lý, không phải là cứ xây dựng những khám tù mà các ông làm dịu tình hình được. Các ông đã gieo thù hận ở đây, các ông sẽ thu nhận thù hận. 
 
Ngày 18 tháng 7 năm 1930, vào lúc 20 giờ, chủ tịch phiên tòa hạ lệnh ‘‘Giải tỏa phòng xử án, còng tay các tù nhân ngay sau khi tuyên án và dẫn chúng đi ngay, từng nhóm nhỏ.’’
 
Án quyết như sau: Tử hình 3 người là Trần Trương, Ngô Thiêm và Nguyễn Văn Thinh.
Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Đặng Văn Sâm và Bùi Văn Thêm 10 năm khổ sai. Nguyễn Trung Nguyệt 8 năm khổ sai.
Cấm cố: 23 đảng viên hoặc cảm tình đảng Thanh Niên, trong đó có Phạm Văn Đồng, tổng cộng hơn 100 năm tù. 3 đảng viên Tân Việt, trong đó có Võ Công Tôn, nguyên là hội đồng địa hạt Chợ Lớn, cùng bị bắt với Nguyễn An Ninh năm trước; Nguyễn Phương Thảo (sau này tức là Nguyễn Bình, tham gia Việt Minh năm 1945); và Trần Huy Liệu, nhà báo (chuyển theo cộng sản ở Côn Nôn (Poulo Condor), sau này là Bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh), tổng cộng 23 năm rưỡi.
 
Có 4 bị cáo được tha.
Những người bị án tù cấm cố, cũng như những người bị khổ sai, phần lớn đều bị đưa ngay ra nhà ngục Côn Đảo. Chỉ riêng nữ đồng chí Nguyễn Trung Nguyệt ngồi tù 8 năm tại Khám lớn Sài Gòn.
 
Người ta sửng sốt vì lứa tuổi trẻ trung của những người bị kết án. Trong mười người thì chín người chỉ có từ 17 đến 28 tuổi; tuy nhiên nhiều người trong số đó đã từng bị kết án tù với thời hạn ngắn. Trong số những người bị kết án chỉ có một người duy nhất làm báo chuyên nghiệp là Trần Huy Liệu, VNQDĐ, còn bao nhiều người là thư ký và giáo viên dạy trường tư, như Phạm Văn Đồng, họ tự viết các tờ báo tuyên truyền cổ động. Một số chiến sĩ làm ở bến cảng và xưởng cơ khí Sài Gòn, chúng ta hiếm thấy có thợ thủ công, chỉ nhận ra hai nhà nông, tiểu địa chủ.
 
 
Quốc tế Cộng sản trở mặt,
quá trình Thanh Niên vô sản hóa
 
Tại Đại hội lần thứ 6 Quốc tế Cộng sản (tháng 7 năm 1928) khi nói tới sự thất bại của cuộc cách mạng vô sản Trung Hoa, Boukharine cuối cùng phải công nhận sự hợp tác giai cấp với giai cấp tư sản là nguyên nhân thất bại cơ bản, ‘‘từ đó đảng ta mất độc lập, đôi lúc trở thành chướng ngại cho phong trào quần chúng, cản trở cuộc cách mạng ruộng đất và ngăn cản phong trào công nhân’’.
 
Sự thừa nhận đó chẳng may lại đi kèm theo một quan niệm lạc quan nguy hiểm về thời kỳ đang mở ra, mà lúc đó Molotov gọi là  ‘‘Thời kỳ thứ ba’’, thời kỳ thế giới tư bản điều tàn sụp đổ: (Thời kỳ thứ nhất, từ 1918 đến Cách mạng thợ thuyền Đức thất bại cuối năm 1923, đặc trưng khủng hoảng kinh tế sâu sắc của chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, và cao trào cách mạng châu Âu. Thời kỳ thứ hai là từ Đại Hội Quốc tế Cộng sản năm 1924 đến Đại Hội 1928, đặc trưng thế giới tư bản ổn định tạm thời cùng tình hình phong trào vô sản ở thế thủ).
 
Xuất phát từ cả hai quan điểm đó, Quốc tế Cộng sản thay đổi hoàn toàn sách lược đối với các xứ thuộc địa và bán thuộc địa, tuyên bố chấm dứt sự nhập khối với các đảng quốc gia, xây dựng các đảng cộng sản độc lập đối với giai cấp tư sản, thực hiện đường lối đấu tranh giai cấp, thực hiện vô sản hóa các đảng cộng sản - đại lược là theo như ý kiến Trotski bênh vực đối với cách mạng Trung Hoa trước khi người bị khai trừ khỏi đảng cộng sản Nga tháng 11 năm 1927. ‘‘Quần chúng’’  các nước thuộc địa và phong trào của họ sẽ phát triển dưới sự chỉ đạo của ‘‘giai cấp vô sản chính quốc’’, phải hiểu theo nghĩa bóng là theo chỉ đạo của bọn quan liêu Nga.
 
   ‘‘Xuống đường và tranh đấu trực tiếp cướp chính quyền’’ là những khẩu hiệu được Ban chỉ đạo Quốc tế Cộng sản đưa vào chương trình hoạt động cấp thời. Quốc tế thay đổi đường lối, thúc đẩy Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội nhanh chuyển hóa thành đảng Cộng sản. Thế nhưng nhận định sai lầm về thời kỳ đang sắp đến sẽ dẫn tới hành động phiêu lưu bi thảm trong ba Kỳ ở Việt Nam. ‘‘Thời kỳ thứ ba của những sai lầm’’,như Trotski đã gọi, thời kỳ đó khởi đầu.
 
Cho tới lúc bấy giờ Thanh Niên xây dựng tổ chức chính là trong tầng lớp nông dân nghèo và trí thức ở các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh (Bắc Kỳ), Nghệ An và Hà Tĩnh (Bắc Trung Kỳ) cho tới vùng đồng ruộng miền Tây Nam Kỳ.
 
Bây giờ phải hoạt động trong tầng lớp thợ thuyền. Ngô Gia Tự, người lãnh đạo phân bộ Bắc Kỳ tập hợp các đồng chí lại để phác ra một kế hoạch vô sản hóa thực tiễn: từ nay các chiến sĩ sẽ thâm nhập vào  ‘‘địa ngục than’’ ở Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả - nơi vô sản công nghệ tập trung đông đảo nhất trong các nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi măng Hải Phòng, các xưởng xe hỏa Trường Thi ở Trung Kỳ, cho tới tận các sở cao su ở Nam Kỳ, nơi mà một số vô sản nông nghiệp cu li nô lệ đã tự phát nổi dậy chống lại sự đối xử vô cùng tàn bạo, bằng cách ám sát những tên cai phu người An Nam cũng như người Pháp, đặc biệt là trong các sở cao su Michelin ở Phú Riềng.
 
Dĩ nhiên là phải đi tới chỗ chuyển đổi không phải là không sóng gió, Thanh Niên từ  ‘‘một đảng đoàn kết mọi người An Nam để giải phóng dân tộc’’thành một đảng giai cấp công nhân và nông dân.
 
Từ ngày 1 đến 9 tháng 5 năm 1929, Thanh Niên tổ chức Đại hội toàn quốc ở Hương Cảng, nhóm 17 đại biểu ở Trung Hoa, ở ba Kỳ Việt Nam và ở Xiêm. Các đại biểu Bắc Kỳ là Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung (Quốc Anh) và Nguyễn Tuân (Kim Tôn) đòi phải chuyển ngay Hội thành một đảng bolchevique. Tổng bộ không chấp nhận, họ xô cửa ra về rồi bị khai trừ vì  ‘‘không tuân kỷ luật’’.
 
Những ngày cuối cùng của Thanh Niên diễn ra như thế. Kết thúc công việc của Đại hội bằng việc phát hành một bản chương trình-tuyên ngôn dưới tiêu đề  ‘‘Vô sản, hãy đoàn kết lại!’’, phù hợp với nghị quyết của Đại hội 6 Quốc tế Cộng sản, thế mà vẫn chưa tự nhận là một đảng cộng sản. Cái danh hiệu này khó mà đặt ở một nước Trung Hoa phản cộng của Tưởng Giới Thạch, nơi mà Tổng bộ đã dời trụ sở từ Quảng Châu sang Ngô Châu ở Quảng Tây. Tổng bộ viết bài trong tờ Thanh Niên để biện minh việc khuớc từ danh hiệu đó, đưa ra những lý do chính trị: Trước kia chúng ta chỉ phát động một cuộc cách mạng dân tộc nhằm đoàn kết mọi lực luợng cách mạng để giải phóng cho nhân dân Việt Nam, và 4/5 số đảng viên đuợc tuyển trong tầng lớp trí thức và tiểu tư sản, họ chiếm đoạt những vị trí chỉ huy; chúng ta chua biết làm thế nào để tổ chức các chi bộ trong các xí nghiệp, các đảng viên của chúng ta đều không biết chi là  ‘‘dân chủ tập trung’’; chúng ta chua đến độ truởng thành để có thể thành lập một đảng Bolchevisme (65).
 
Đông Dương Cộng Sản Đảng ra đời
 
Từ Thanh Niên tan rã buớc chuyển tới chỗ thành lập một đảng cộng sản thống nhất ở Việt Nam sẽ trải qua nhiều giai đoạn kéo dài trong gần một năm.
 
Vào tháng 6 năm 1929, kỳ bộ phân liệt ở Bắc Kỳ tập hợp các thành bộ Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh bộ Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh tự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Quốc Anh, người Trung Kỳ, cùng với hai đảng viên phân liệt Bắc Kỳ bắt đầu chiến dịch tuyên truyền trong cả nuớc. Họ phân phát bản tuyên ngôn phê phán, các tờ báo, các tập sách tố cáo ‘‘tinh thần tiểu tư sản’’ của Thanh Niên Hội, và sau đó vài tháng, họ lập ra một Đảng Cộng sản Đông Dương.
Về phía Thanh Niên, Tổng bộ cũng bí mật thành lập một đảng đặt tên là An Nam Cộng sản Đảng để tranh giành ảnh huởng.
 
Ở Nam Kỳ, Ngô Gia Tự vào đó từ tháng 7 và kết nạp đuợc một số đảng viên, đặc biệt gặp một người hoạt động tích cực trong Thanh Niên là Đào Hưng Long. Anh nầy từ đó trở đi làm đại diện đặc biệt (đặc ủy) của Đảng Cộng sản Đông Dnơng tại miền Tây Nam Kỳ rồi sau này anh đứng về phía Tả đối lập. Như vậy ĐCSĐD có thể phát hành báo chí khắp ba kỳ: tờ Búa Liềm do ban chấp hành trung ương ở Bắc Kỳ in ấn; tờ Bolchevique ở Trung Kỳ và tờ Cờ Cộng sản ở Nam Kỳ.
 
An Nam Cộng sản Đảng cạnh tranh với ĐCSĐD cũng tuyển đảng viên ở trong nuớc và cũng tung ra các tờ báo chiến đấu riêng của họ: tờ Công Nông Binh và tờ Học Sinh, đồng thời cũng như ĐCSĐD, họ cho phát hành tờ Bolchevique.
.
Nói chung, từ Bắc chí Nam, tổ chức Thanh Niên tan rã, các phân phái đều tự xung là ‘‘cộng sản’’.
 
Những phần tử lẻ tẻ của Tân Việt cũng như của Hội kín Nguyễn An Ninh gia nhập hoặc đảng này hoặc đảng kia, trong hai tổ chức cộng sản mới thành lập.
 
Đảng Cộng sản Đông Dương đang thành lập đã kết án tử hình một đảng viên bị quy tội phản đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, trên bờ kê vắng vẻ ở Hải Phòng có một xác chết trên áo có gài một văn bản bằng chữ quốc ngữ như sau:
 
Kim Tôn, đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương, bị đế quốc Pháp bắt ngày 11 tháng 10 năm 1929 tại bến đò Tân Đệ, đã không thực hiện nhiệm vụ của một đảng viên cộng sản. Tòa án cách mạng đã kết án y về tội :
 
1. Không tuân thủ nội qui của đảng; 2.Đã thông báo cho đế quốc Pháp về tình hình và tổ chức của đảng; 3.Đã tố cáo và nhận mặt, ngày 16 tháng giêng năm 1930 trước tòa, những đồng chí đã tham gia vào phong trào cộng sản ở Nam Định. Do đó, Tòa án cách mạng kết án tử hình Kim Tôn. Bản án được thi hành ngày 2 tháng 2 năm 1930. Mục đích lời công bố này cốt để cảnh cáo những kẻ phản đảng, phản cách mạng và giai cấp vô sản Việt Nam.
 
Việt nam cộng sản đảng (66)
 
Thanh Niên, Đảng cộng sản Đông Dương cùng An Nam cộng sản Đảng đều muốn được Moscou công nhận và trợ giúp. Moscou hứa sẽ ủng hộ với điều kiện rõ ràng là các đảng phải hợp nhất trước đã. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đại hội hợp nhất họp ở Hương Cảng, do Nguyễn ái Quốc chủ trì. Ông từ Xiêm tới và vẫn đại diện Quốc tế cộng sản.
 
Ngoài Nguyễn Ái Quốc ra, còn có 7 đại biểu (3 Thanh Niên, 2 ĐCSĐD và 2 An Nam CSĐ), đồng tuyên bố thành lập Việt Nam cộng sản đảng. Về vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng tên gọi Việt Nam có sức nạng gây xúc động mạnh trong tầng lớp trí thức tiểu tư sản, Việt Nam là cơ sở của đảng quốc gia Việt Nam Quốc dân đảng đã là đối thủ giành ảnh hưởng với Thanh Niên, do đó Nguyễn ái Quốc - dù cần phải theo xu hướng chính trị nào, cũng không muốn để đảng đó một mình dùng hai tiếng Việt Nam làm lợi khí riêng cho mình. Moscou sẽ can thiệp nhằm bỏ cái tên có hơi hướng quốc gia đó vào tháng 10-1930 và chấp nhận cái tên Đảng Cộng sản Đông Dương mà phân bộ Bắc Kỳ đã chọn trước đó.
 
Luận cương chính trị của đảng hợp nhất, cũng dựa trên những quan điểm của Đại hội 6 QTCS về vấn đề thuộc địa, như ĐCSĐD đã đề ra: đặc trưng cuộc cách mạng phải tiến hành là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, do lực lượng quần chúng công nhân và nông dân đứng lên lật đổ nên đô hộ của Pháp và đập tan ‘‘ bọn phong kiến’’ (triều đình, bộ máy quan trường, đại địa chủ) nhằm tới cuộc cách mạng ruộng đất (ruộng về tay người cày). Giai đoạn này chuẩn bị cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
 
Ban chấp hành Trung ương Đảng không đặt trụ sở tại Trung Hoa nữa mà dời về Hải Phòng, sau đó đặt tại Sài Gòn vào tháng 10. Nguyễn ái Quốc không tham gia Ban chấp hành, vẫn giữ tư cách là người trung gian giữa QTCS với ĐCSĐD.
 
Đảng cộng sản xây dựng trên cơ sở cấu trúc cũ của Thanh Niên, chỉ có thay đổi tên gọi (Tổng bộ đổi thành Trung ương, Xứ ủy thay cho Kỳ bộ...). Sau khi họp nhất, đảng cộng sản ở Bắc Kỳ có các thành ủy Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh ủy Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh. Ở Trung Kỳ các tổ chức của đảng chủ yếu phát triển ở phía Bắc và miền Trung. Còn ở Nam Kỳ, Mật thám ước tính số đảng viên vào tháng 3 năm 1930 là 53 đảng viên chính thức, 47 dự bị, phân bố trong 22 chi bộ, trong đó 11 chi bộ ở Sài Gòn, 5 ở Chợ Lớn, 5 trong các tỉnh Sa Đéc, Cần Thơ, Vĩnh Long và 2 ở Mỹ Tho; các tổ chức xung quanh Đảng bao gồm 10 công hội đỏ gồm 234 công nhân vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và 4 nông hội họp khoảng 465 nông dân (97).
 
Ngày 1 tháng 5 năm 1930, ba tháng sau đại hội hợp nhất ở Hương Cảng, Đảng Cộng sản phát động phong trào nông dân có tổ chức.
Nếu như ở buổi đầu ‘‘thời kỳ thứ ba’’, đảng có đôi lúc phê phán Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập, cho rằng tư tưởng của Quốc ‘‘còn lưu tồn chủ nghĩa quốc gia’’ và ‘‘những lý luận của Quốc mang tính chất cơ hội chủ nghĩa’’(68), thế mà Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn nườm nượp tuân theo đường lối ‘‘gấp khúc’’ (en zigzag) của Staline, không hề lay chuyển. Cái ‘‘đường lối’’ đã đưa phong trào nông dân đi đến thất bại đẫm máu những năm 1930-1931.
 
Sáu năm sau, sau hiệp ước Laval-Staline, ĐCSĐD hủy bỏ đấu tranh giai cấp và đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa, rồi cùng với Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ một Mặt trận Bình dân, để cùng gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc thuộc địa Pháp. Cuối cùng, sau hiệp ước Hitler-Staline, ĐCSĐD lại chuyển biến Nam Kỳ thành lò sát sinh khổng lồ năm 1940. Đồng thời họ phát động một phong trào cuồng nhiệt và mơ hồ chống xu hướng Trotski, chẳng kém gì chủ nghĩa ngu muội dân của các phái tôn giáo cuồng nhiệt. Nối gót Staline, họ ám sát những người cách mạng đã phê phán chính trị tai hại sát nhân của họ, những người đứng về Đệ tứ Quốc tế.

 
Nguyễn Thái Học




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN THỨ HAI
NHŨNG VỤ BÙNG N
1930 – 1933
 
hinhdaunguoi
 
 
Đầu người cách mạng phô trương ở Yên Báy
 
 
 
 
VII
 
Bạo động vũ trang Yên Báy, tháng 2 -1930
 
 
 
Những tổ chức Cộng sản vừa mới hợp nhất thì Việt Nam Quốc dân đảng phát khởi một cuộc bạo động nổi dậy toàn bộ Bắc Kỳ, suốt từ Lào Cai giáp Trung Hoa tới vùng châu thổ Sông Hồng.
 
Trong đêm 9 rạng ngày 10 tháng 2, vào 1 giờ sáng, ở Yên Báy, nơi đóng quân của trung đoàn 4 Bắc Kỳ (gồm 1000 lính khố đỏ do 20 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp chỉ huy), hai nhóm đảng viên gồm tất cả 8 người xuất hiện, một nhóm trong thành, một nhóm tại trại lính đại đội 5 và 6. Những người lính tập đồng mưu đã mở đường cho họ. ‘‘Một hiệu kèn báo động nổi lên; theo nội quy, một khi có kèn báo động, thì viên đội người Pháp phụ trách kho súng phải phát ngay vũ khí và đạn dược cho lính tập. Việc đó được thực hiện ngay’’. Năm sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp bị công kích trong lúc còn đang ngủ, rồi những người phiến loạn chiếm trại lính cho tới rạng sáng, nhưng cuối cùng họ phải rút lui, bỏ lại 20 người chết và khoảng 50 người bị bắt, phần lớn bị thương (69).
 
Cũng trong đêm đó, Nguyễn Khắc Nhu, nhà trí sĩ nhiều tuổi thường gọi Xứ Nhu, cầm đầu một toán quân vũ trang đơn sơ vội vã, tấn công vào trại lính Lâm Thao và đồn lính khố xanh Hưng Hóa (Phú Thọ). Tại Lâm Thao lính gác đầu hàng quân khởi nghĩa, giao cho họ vũ khí và đạn dược. Huyện lỵ bị phá hủy và phóng hỏa. Nhưng lính khố xanh ở Hưng Hóa cố giữ đồn, quân cách mạng thất bại rút lui theo đường Sông Hồng, để lại nhiều xác chết và hai chục người bị bắt. Xứ Nhu bị thương nặng, tử tại trận.
 
 
Ngày 10 tháng hai ở Hà Nội, một đảng viên bắn ngã một tên cảnh sát trên cầu Doumer (cầu Long Biên), lập tức bị bắt. Nhiều thanh niên âm mưu khởi nghĩa đang học tại trường Mỹ thuật thực hành, ném tạc đạn vào nhà riêng của viên chánh sở mật thám, vào nhà tù, vào cơ quan cảnh sát trung ương và trại lính san đầm. Phong trào khởi nghĩa còn rung động các vùng khác trong châu thổ Sông Hồng, như Vĩnh Bảo (thuộc tỉnh Hải Dương), Phù Dực (Thái Bình), nhưng cũng không tiến đến một kết quả quyết định nào.
 
Về phía mật thám họ vẫn tiếp tục phát giác nhiều chỗ dấu vũ khí: bom, kiếm, dao găm, v.v. ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Kiến An... Mật thám cũng bắt 24 lính tập ở trại lính Lạng Sơn bị tình nghi đồng lõa âm mưu khởi nghĩa.
 
Ngày 12, toàn quyền Pasquier thiết lập một hội đồng đề hình - tòa án đặc biệt - để truy nã các tỉnh Yên Báy và Phú Thọ. Nhưng trước khi tiến hành truy nã, thì hắn đã phát động chóng vánh một cuộc đàn áp khủng khiếp bằng quân lực.
 Ngày 16 tháng hai, 5 máy bay ném bom xuống làng Cổ Am. Khoảng 50 quả bom trên máy bay thả xuống, liên thanh trên máy bay hạ thấp bắn bừa bãi trên các thửa ruộng có người, không phân biệt thường dân hay người khởi nghĩa. Ngọn lửa trả đũa thiêu trụi các mái nhà tranh, các cây ăn quả, các bụi tre, các đền chùa.
 
Sáng ngày 17, khâm sứ Bắc kỳ Robin gửi các công sứ một công văn như
sau:
 
Làng Cổ Am, thuộc tỉnh Hải Dương, nơi trú quân của nhóm nổi loạn, đã giết tri huyện Vĩnh Bảo, hôm qua đã bị phi đội Hà Nội ném bom. Nay sức cho các ông phải thông báo rộng rãi và nhấn mạnh rằng làng nào ở trong tình trạng tương tự sẽ phải chịu số phận như thế một cách tàn nhẩn (70).
 
Các đội lính cảnh vệ người bản xứ càn đi quét lại vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, bắt bớ bắn giết những kẻ tình nghi. Các xã An Diên và Tiên An bị phóng hỏa. Một tháng rưỡi sau ‘‘đội cảnh vệ bản xứ do thanh tra Moguez chỉ huy vẫn tiếp tục đàn áp dữ dội tại các huyện Kiến Thụy, Tiên Lãng, và An Lão. Họ tiêu hủy trắng trợn nhà cửa của người dấy loạn.’’ (71)
 
Các đội quân này đã càn quét như thế nào ?
 
Xã trưởng Sơn Dương, thuộc tỉnh Phú Thọ kể lại những gì diễn ra trong xã của ông như sau:
 
Chúng tôi, tất cả già trẻ, nam nữ bị lính cầm súng xua cả đến đầu làng trước hai khẩu liên thanh. Khi chúng tôi được trở về nhà chúng tôi chẳng thấy nhà cửa đâu cả, chỉ thấy trước mắt những đống than lửa đỏ với tro tàn. Trong số 69 chủ nhà bị đốt để trừng phạt, thì chỉ có 5 người đã tham gia khởi nghĩa. Chúng tôi không còn gạo để ăn, chúng tôi cũng không còn chăn để đấp mặc dù trời giá lạnh. Ngọn lửa đã thiêu hủy tất cả: không những chỉ nhà cửa mà cả thóc lúa, quần áo, đồ đạc, cho đến cả bàn thờ tổ tiên của chúng tôi cũng bị đốt ráo. Họ bắt chúng tôi phải mang 200 đồng bạc đến nộp trong thời hạn ngắn, và còn phải vác tre lên phủ để xây dựng lại những kiến trúc đã bị quân cách mạng phá hủy. Làng xóm nghèo của chúng tôi bị thiệt hại nặng nề hơn các làng Xuân Tùng, Cao Mai, Kin Ke,
Phùng Nguyên, La Hào, Võng La.
 
Kèm theo bức thư trên là bản sao giấy biên nhận của viên công sứ Pháp:
 
Đã nhận của làng Sơn Dương, thuộc phủ Lâm Thao (Phú Thọ) số tiền 200 đồng (200$) để góp vào việc chi phí sửa chữa do hành động của quân dấy loạn gây ra, trong đó có một số người ở làng này tham dự.
Phú Thọ, ngày 28 - 2 - 1930 Quan Công sứ Calasse (71).
 
Người ta nhớ lại câu nói của Paul Bert, khâm sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ trong thời hạn quá ngắn ngủi, vì ông đã chết ở Hà Nội năm 1886, ngay trong năm ông mới sang, ít lâu sau khi Huế thất thủ:
 
Khi một dân tộc, vì một lý do nào đó, đặt chân lên lãnh thổ của một dân tộc khác, thì chỉ có ba cách đối xử, đó là: tiêu diệt dân tộc bại trận, nô dịch họ một cách nhục nhã hoặc gắn bó họ cùng số phận của dân tộc mình (72).
 
Chính quyền thực dân chưa bao giờ chọn cách thứ ba.
 
Rồi đến công việc xét xử.
 Ngày 28 tháng 2, hội đồng để hình Yên Báy kết án tử hình 13 trong số 15 người bị buộc tội.
Ngày 23 tháng 3, lại xử tử 39 người trong sổ 86 người bị buộc tội. Những người còn lại kẻ bị kết án khổ sai, kẻ bị lưu đày vĩnh viễn hoặc có thời hạn. Trong đó có 44 lính khế đỏ, nhiều nông dân, tiểu thương, thợ thủ công, giáo viên, thầy thuốc.
Trước hội đồng đề hình, Nguyễn Thái Học không trả lời:
- Tôi đứng trước cường lực chứ không phải trước công lý (Je comparais devant la force, non devant la justice).
 
Thái Học và Phó Đức Chính, linh hồn cuộc khởi nghĩa,trong số bị kết án tử hình. Họ khước từ ký tên xin ân xá, vả lại những đơn này nói chung đều bị Hội đồng bảo hộ do Robin chủ trì bác bỏ.
 
Vào tháng 4, thêm vào số 52 án tử hình ở Yên Báy, tòa án Bắc Ninh do công sứ Pháp cai trị tỉnh này chủ trì, kết án tử hình (vắng mặt) 4 người nữa và công bố án khổ sai 15 người bị buộc tội.
 
Ngày 28 tháng 5, 87 người bị đưa ra hội đồng đề hình Phú Thọ: 10 người bị tử hình, 74 người khổ sai hoặc lưu đày, 2 người vào trại trừng giới.
 
Từ tháng ba, 2 người bị chặt đầu, họ bị tòa án quan lại An Nam ở Vinh xử tử. Tháng năm, 4 người bị chém ở Yên Báy; qua tháng sáu, cũng ở Yên Báy 13 người bị rơi đầu. Vào tháng mười một 5 người chết chém ở Phú Thọ. Thế thì 24 người bị chặt đầu trong số 66 người bị kết án tử. Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1930, hơn 2000 người bị hạ ngục.
Trong lúc đó ở Pháp phong trào phản đối bồng bột nổi lên. Vào tháng ba, tại mít ting ở Câu lạc bộ Faubourg, Tạ Thu Thâu lên tiếng phản đối cuộc đàn áp Yên Báy trước 600 người tham dự. Ớ các tỉnh có trường đại học, các bến cảng, trong các cuộc diễn hành mùng 1 tháng 5, cuộc đàn áp đã hiệp nhứt những người An Nam xuất dương thuộc mọi xu hướng chính trị, thị uy chung cùng một thái độ công phẫn. Hội Nhân quyền cũng tỏ ra lo ngại.
 
Ngày 22 tháng 3, Tổng thống Gaston Doumergue và vua Bảo Đại khánh thành ‘‘Ngôi nhà Sinh viên Đông Dương’’ tại khu Đại học. Trước hôm ấy cảnh sát bắt giam những tay hay gây rối như Nguyễn Văn Tạo người phái Lao Nông, Tạ Thu Thâu và Nguyễn La Chân, nguyên là thủ qũy của đảng Việt Nam Độc lập, họ thuộc Nhóm những người xuất dương Đông Dương (Groupe des Émigrés Indochinois). Mặc dầu bắt bớ vẫn có người đi biểu tình. Thế rồi Phan Văn Chánh, Lê Bá Cang, Ngô Quang Huy và một người nữa bị bắt giữ vì đã tung rải truyền đơn: ‘‘Hãy thả 13 tù tử hình ở Yên Báy! hãy thả tất cả tù chính trị’’.
Sinh viên tẩy chay phòng trọ tại Nhà Sinh viên Đông Dương, làm nhiều căn phòng rỗng vắng trong một thời gian mặc dù khu vực này là nơi ai ai cũng mơ mộng được trọ ở đó. Tiền kiến trúc nhà trọ, món quà tẩm thuốc độc này ở đâu ra? Phưởng phất hình ảnh mơ hồ của một ông Fontaine, giám đốc nhà máy rượu ở Đông Dương, ‘‘Nhà Mạnh Thường Quân thuộc địa’’, làm cho tầng lớp trẻ tuổi đó phải dằn vặt dặt dè. Hơn nữa lại thêm cuộc khủng bố rùng rợn vừa ập xuống Bắc Kỳ. Ngày khai mạc trong số 80 phòng chỉ có 7 phòng có sinh viên ở. Trong số 35 người ghi tên xin trọ, 29 người đã rút tên vì - theo những từ ngữ lưu hành trong giới sinh viên - là phải coi chừng ‘‘tình thân ái giả hiệu’’, phải chủ ý ‘‘lòng nhân ái của bọn thực dân’’, đừng để dáng lộng lẫy của ngôi Nhà Đông Dương mê hoặc mình.
 
Đảng cộng sản Pháp, qua những truyền đơn gửi tới ‘‘giới cần lao và sinh viên Đông Dương’’, khuyến khích họ cùng biểu thị với giai cấp vô sản chính quốc nhằm cứu tử 13 chiến sĩ, và động viên họ nhập vào ĐCS và trong tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động Thống nhất nhằm ‘‘đuổi tất cả bọn bóc lột ra khỏi Đông Dương’’.
 
Tại Toulouse, trong cuộc diễu hành ngày mùng 1 tháng Năm năm 1930 do Đảng Cộng sản Pháp và TLĐ Lao động Thống nhất tổ chức, sinh viên An Nam đòi thả những người bị án tử hình ở Yên Báy. Cảnh sát bắt sáu người, đặc biệt trong đó có Trần Công Vị, sinh viên Y Dược, người đã từng tuyên thệ khước từ làm công chức của thực dân, cùng với Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Dựt, hai người sau đó sang học ở Moscou. Cũng tại Toulouse ta gặp lại Phan Văn Hùm, trong Ủy ban đấu tranh của Những người xuất dương Đông Dương, phân phát truyền đơn ‘‘Người An Nam ở Toulouse chống đàn áp’’, ký tên Tạ Thu Thâu. Đồng thời anh phát những khẩu hiệu bướm kêu gọi phản đối cuộc xử án ở Bắc Ninh làm tăng số án tử hình lên tới 56:
 
Hỡi vô sản và những người bị áp bức, hãy ngăn tay sát nhân của chủ nghĩa đế quốc! Hỡi bọn sát nhân thuộc địa, hãy thả 56 người bị án tử hình ở Yên Báy và tất cả các tù chính trị! Giải phóng Đông Dương!
Nhóm người xuất dương Đông Dương ở Pháp
 
Ngày 17 tháng 5, nhóm người xuất dương Đông Dương phân phát bản Tuyên bố với chính phủ Pháp, với giai cấp vô sản Pháp và vô sản quốc tế, trong đó nhắc lại cuộc hành hình ở Vinh, nơi mà tên đao phủ phải chặt đi chặt lại tới ba lần, và cuộc trảm quyết ngày mùng 8 tháng 5 ở Yên Báy, nêu lên trường hợp 39 người bị xử tử đang chờ đến lượt mình, những người mà hồ sơ vừa mới gửi tới Pháp để xem xét. Tờ Tuyên bố nhấn mạnh tính chất vô hiệu của chính sách đàn áp:
 
Ngày nay tư tưởng cách mạng đã hướng dẫn ý thức tập thể của quần chúng bị bóc lột. Một sự đè nén bằng sức mạnh thô bạo chỉ làm tăng thêm bước tiến lan tràn và không thể chế ngự nổi của họ. Dưới sự bóc lột dữ dội của chủ nghĩa tư bản đang suy tàn, thế giới đang phân chia thành hai lực lượng cơ bản đấu tranh quyết liệt với nhau. Từ trong cuộc đối đầu vĩ đại giữa một thiểu số chiếm hữu của cải và đại đa số người làm ra của cải, sẽ dẫn tới một kết quả chắc chắn, đó là sự thắng lợi hoàn toàn của đông đảo quần chúng bị bóc lột đã tự giác ngộ.
Cầm ngục, lưu đày, tù khổ sai chung thân, tử hình, liên thanh và máy bay, không gì có thể khuất phục được chúng ta.
 
Kết thúc, bản Tuyên bố có lời mời những người lao động tới tham dự cuộc họp để phản đối tập thể những vụ chém đầu ở Yên Báy do Liên minh Cộng sản (phái Tả đối lập) (73) và nhóm người xuất dương Đông Dương tổ chức ngày thứ tư 28 tháng 5, có các đại biểu thuộc các nhóm thuộc địa khác tham gia, cuộc họp tổ chức tại nhà Cà phê La Bellevilloise, số 23 phố Boyer, Paris 20e.
 
Một bản kêu gọi thứ hai, tượ đề Những cuộc thảm sát ở Đông Dương, nhắc nhở mọi người cần kiếp phản đối khẩn cấp: ‘‘Hỡi nhân dân Paris! Hỡi công nhân Pháp! Các bạn hãy ngăn chận đừng để giết hại những người đã phải vùng dậy vì bị một chế độ đói nghèo triền miền, một tình trạng khôn cùng có tổ chức, một chế độ đẩy đến chỗ chết chóc, nó dồn đến đến bước đường cùng.’’
 
Ngày 27 tháng 6, Đảng Cộng sản Pháp và tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế tập hợp hơn 4000 người tại rạp Xiếc Mùa đông để phản đối những án quyết đẫm máu của Hội đồng đề hình Bắc Kỳ và các tòa án quan lại ở An Nam.
 
Cuộc biểu tình trước điện l’Élysée ngày 22 tháng 5 năm 1930
 
Ngày 21 tháng 5, tại Paris, một ủy ban tranh đấu gồm 17 người nhóm Lao Nông và Những người xuất dương Đông Dương, dự định ngày mai tựu hợp nhau hết sức đông đảo trước điện Élysée. Liên minh cộng sản kêu gọi các đảng viên của mình tham gia. Báo Sự thật (La Vérité) của họ, ngày 30 tháng 5 đăng tin như sau:
 
Ngày thứ năm 22 tháng 5, hồi 3 giờ chiều, một cuộc biểu tình quảng đại tập hợp hàng trăm thợ thuyền và sinh viên Đông Dương trước điện Élysée. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, các đồng chí chúng ta giương cao biểu ngữ có ghi: ‘‘Hãy thả 39 người bị án tử hình của chúng tôi!’’. Họ tung ra hàng trăm truyền đơn qua các phố, họ hăng hái hô to phản đối dưới các cửa sổ chủ tịch Cộng hòa. Giao thông bị tắc nghẽn, giữa các hàng xe hơi dừng lại, cảnh sát sửng sốt trước cuộc biểu tình rầm rộ và bất ngờ, đành chờ quân tiếp viện để can thiệp. Những người lao động tại các công trường gần đấy biểu lộ cảm tình với đoàn biểu tình. Khi nhóm cảnh sát tiếp viện gấp rút gọi đến nơi, số cảnh sát tăng lên gấp mười, chúng liền xô nhập đoàn biểu tình một cách hung bạo. Mười hai người biểu tình bị bắt đưa về bót. Ở đó bọn cảnh sát giận dữ thả sức đánh đập.
Đó là Nguyễn Văn Tạo, Đào Thành Phát, Trần Văn Chiêu, Đặng Bá Lênh, Huỳnh Văn Phương, Trần văn Đởm, Albert Susiny, Tạ Thu Thâu, Trần văn Ty, Trần văn Giàu, Lê văn Thử và Francis Gérard (Rosenthal). Một đồng chí trong số đó bị thương ở đầu máu chảy đầm đìa.
 
Ngày 25 tháng 5, một mẻ bắt bớ lần thứ hai. Trong cuộc biểu tình truyền thống tại ‘‘Bức tường Công xã’’ (Mur des Fédérés ở nghĩa địa Père-Lachaise), cảnh sát đi bắt từng người một, hễ ai khuôn mặt lộ ra gốc gác ở Đông Dương thì túm, và tiếp theo đó, chúng khám xét nơi trú ngụ nhiều người.
 
Trong số bốn chục người bị bắt, người thì bị giam tại nhà lao Santé, người thì bị nhốt ở khám La Roquette. Mười chín người bị chuyển xuống Marseille rồi bị trục xuất. Họ lên tàu về Đông Dương ngày 30 tháng 5. Trong đoàn đó có Tạ Thu Thâu và các bạn như Phan văn Chánh, Huỳnh văn Phương. Nguyễn văn Tạo, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, vẫn bị giữ tại nhà lao Santé.
 
Ngày 28, những người An Nam tổ chức bị trục xuất vắng mặt, các đồng chí người Pháp trong Liên minh Cộng sản bắt tay sấp đặt cuộc mít tinh ở Càphê La Bellevilloise.
Nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Tại nghị viện, khai cuộc tranh luận ngày 6 tháng sáu. Daladier đề nghị lập một ủy ban quốc hội soạn thảo một qui chế hướng dịu tình hình Đông Dương. Không có kết quả. Cuộc cải cách những chế định chính trị sẽ không bao giờ được vạch ra.
 
Mặc dù có những cuộc phản đối, bọn thống trị không màng đến. Mười ba cái đầu thanh niên rơi tại Yên Báy rạng sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 . Louis  Roubaud, người chứng kiến cuộc hành huyết, đã kể lại vụ sát nhân theo luật pháp này trong cuốn sách của ông: Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương (ông nghe mười ba tiếng Việt Nam! hô lên trước đọan đầu đài) có ghi lại tiếng kêu xé ruột của bà mẹ khi thấy con mình bị dẫn đi chém ‘‘Ơi chao ôi, con ơi! ».
 
hinhthihaivoNTHoc
 
Nguyễn Thái Học, người sáng lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, trước ngày bị hành hình, nhận trách nhiệm cuộc khởi nghĩa trong bức thư gửi cho các dân biểu Pháp, nhưng bức thư này không hề đến tay họ. Đây là mấy giòng căn bản:
 
 
 
Tôi đã tổ chức Đảng Quốc dân Việt Nam vào năm 1927 để hoạt động chủ đích đánh đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ và thành lập một chính phủ Cộng hòa Việt Nam thực sự dân chủ.
Tôi tự mình chịu trách nhiệm tất cả các biến cố chính trị đã xảy ra trong đất nước tôi từ ngày tháng đó và do tôi tổ chức. Tôi là thủ phạm thực sự và duy nhất, cái chết của tôi là đủ cho các ông rồi. Tôi xin các người khác được tha. Sau lời lẽ nói trên, tôi xin tuyên bố với người Pháp rằng nếu như từ đây về sau họ muốn chiếm Đông Dương một cách yên ổn, không bị bất kỳ một phong trào cách mạng nào quấy nhiễu, thì họ phải từ bỏ mọi phương pháp tàn bạo và vô nhân đạo, đối xử người Việt Nam như những người bạn, chứ không phải như những ông chủ độc ác; phải cố sức làm giảm bớt tình trạng khốn cùng về tinh thần và vật chất bằng cách khôi phục lại cho người Việt Nam những quyền lợi cá nhân cơ bản: tự do du hành, tự do học tập, tự do hội họp, tự do báo chí; không được dung túng sự những lạm công chức và những tệ lậu của họ; hãy cho người dân được học hành; hãy mở mang công thương nghiệp bản địa.
Kẻ thù của các ông, nhà cách mạngThái Học
 
Sau khi Nguyễn Thái Học bị hành quyết, người bạn đời của ông là Cô Giang (Nguyễn Thị Giang) tự treo cổ.
 
Bọn cung cấp người cho máy chém và nhà lao vẫn tiếp tục công việc của họ: Tại Hà Nội, ngày 5 tháng 8 năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp (Ký Con) Nguyễn văn Nho (em của Nguyễn Thái Học) và mười người nữa bị kết án tử hình; 125 người bị cáo bị kết án khổ sai hay lưu đày. Ký Con, Nho, Lương Ngọc Tôn và Nguyễn Quang Triêu sẽ bị chém đầu ngày 9 tháng 3 năm 1931 trước cửa nhà pha Hỏa Lò Hà Nội.
 
Ngày 17 tháng 11, 179 người bị buộc tội thuộc VNQDĐ bị đưa ra hội đồng đề hình Hải Dương: 6 người bị xử chém, 119 người bị khổ sai hoặc lưu đày và 6 (vị thành niên) bị đưa tới trại cải hối.
 
Ngày 21 tháng giêng năm 1931, hội đồng đề hình Kiến An đến lượt mình cũng kết án ‘‘âm mưu làm rối trị an Nhà nước, mưu toan giết người và chế tạo chất nổ’’: 4 người bị khổ sai chung thân, 23 người tù giam từ 2 đến 10 năm, và 140 người bị lưu đày.
 
Ở Hải Dương, lính kín đào lên 76 quả bom chôn sâu dưới đất 2 thước, trong những ngày đầu tháng 3 năm 1931, ngay trước vụ hành quyết bốn người bị kết án hồi tháng 8 năm 1930.
 
Việt Nam Quốc dân đảng, một đảng cuối cùng theo truyền thống âm mưu quân sự của Phan Bội Châu, sẽ khuất dạng mươi năm... Dư đảng chạy sang Tàu. Vũ Hồng Khanh (tên thiệt Vũ Văn Giản) cùng Nguyễn Thế Nghiệp ẩn trú Vân Nam, Trần Trung Lập nương náo Quảng Tây, Nghiêm Kế Tổ ở Quảng Đông, họ sẽ hồi phục Việt Nam Quốc dân đảng vào những năm 1940.
 
Cùng trong giai đoạn VNQDĐ tung hoành, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Một khi đảng quốc gia thất thủ, trào lưu dấy loàn tồn tại sáp nhập vào làn sóng vận động nông dân dưới cờ cộng sản.
 
HinhTDBBuom
 
Truyền đơn bươm bưứm đòi thả những người bị xử tử ở Yên Báy
 




Đăng nhập để trả lời
0
VIII
 
Đông Dương Cộng sản tả phái đối lập chống chủ nghĩa
Staline xuất hiện ở Pháp
 
Thử nghiệm đè xuất lý luân chính trị
 Ý nghĩa cuộc khởi nghĩa Yên Báy
 
Từ tháng 4 năm 1930, hai cơ quan ngôn luận của Liên minh Cộng sản ở Pháp là Đấu tranh Giai cấp (La Lutte de classes) và Sự Thật (La Vérité) dành riêng những cột báo cho Nhóm xuất dương Đồng Dương sử dụng. Huỳnh Văn Phương đăng bài ‘‘Cuộc kinh doanh xứ Đông Dương và giai cấp tư sản An Nam’’ trên tờ Đấu tranh Giai cấp, trong đó Phương hạ nhục giai cấp tư sản - đại diện là đảng Lập hiến - về ý thức cầu lợi của họ, lợi dụng phong trào cách mạng quần chúng đang lên để đòi cho được những thuận lợi cơ bản cần thiết cho sự phát triển của họ. Còn Tạ Thu Thâu, anh viết trên tờ Sự thật từ tháng 4 tới tháng 6, bài ký tên là Một người Cộng sản Đông Dương, nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Yên Báy và những triển vọng cách mạng hiện thời.
 
Tạ Thu Thâu điểm lại các phong trào chống thực dân, nhấn mạnh tính chất phản động của phong trào chống Pháp xâm nhập và đô hộ, từ buổi đầu tới năm 1900 (mưu sát, khởi nghĩa du kích và binh biến do các quan lại và sĩ phu trung thành với chế độ vua chúa cầm đầu). ‘‘Nguyên nhân chủ yếu là họ phản kháng chống lại cách thức sinh hoạt mới, kiểu sản xuất mới’’. Thâu nói từ năm 1900 trở đi, các phong trào ấy tuy có khác nhau về nội dung xã hội và về tổ chức, nhưng tất cả đều có tính chất tư sản trong các điều đòi hỏi như quyền tự do về kinh tế và độc lập.
 
Thâu cho rằng cuộc khởi nghĩa Yên Báy là ‘‘sự nghiệp của tả phái quốc gia, tập hợp những sinh viên chịu ảnh hưởng Cách mạng Trung Hoa và theo học thuyết Tôn Dật Tiên- một học thuyết tổng hợp nên dân chủ, dân tộc chủ nghĩa và có đôi chút xã hội chủ nghĩa-, họ là phái tán thành lật đổ chủ nghĩa đế quốc bằng bạo lực, ngược với phái hữu, tức là đảng lập hiến.
 
Trong khi chúng tôi tuyên bố đứng về phía 52 người (chiến sĩ VNQDĐ) bị tử hình, 50 người bị khổ sai cũng như 5 người bị lưu đày, chúng tôi vẫn dành cho mình cái quyền của người cách mạng để phê phán phong trào này. Chúng tôi xem đấy là một cuộc nổi dậy tổ chức đơn sơ, phần lớn dân chúng vẫn giữ thái độ bình lặng (nhiều nông dân vẫn sẵn sàng giúp đỡ bọn lính đi đàn áp). Đấy là một thứ quốc gia chủ nghĩa thần bí, dựa trên nền tảng lý tưởng mơ hồ, trừu tượng, làm cho ta không thấy rỏ được những quan hệ giữa các giai cấp, cùng mối liên hệ thực sự giữa giai cấp tư sản bản xứ với chủ nghĩa đế quốc Pháp. Vấn đề khẩn cấp phải trù hoạch là việc đào tạo chiến sĩ cách mạng theo chủ nghĩa Karl Marx.
 
Sau Yên Báy phải làm gì ?
Tạ Thu Thâu đáp phải đào tạo ở các xứ thuộc địa một đội tiên phong có ý thức về vấn đề xã hội, không còn bị chủ nghĩa quốc gia xúc động, một thứ «chủ nghĩa chủ quan chính trị ‘‘làm cơ sở lý luận không những cho VNQDĐ mà cả ‘‘chủ nghĩa cộng sản duy danh’’ của đảng Thanh Niên cũng sở cậy vào nó. Chủ nghĩa quốc gia chỉ đưa đến thất bại. Phải tập hợp quần chúng công nhân và nông dân, làm cho họ giác ngộ về quyền lợi chung của họ, về khả năng đoàn kết của họ, và lôi cuốn họ đấu tranh có suy nghĩ. Phái tả đối lập phải ‘‘chinh phục số quần chúng chưa nhiễm phải những luận điệu theo xu hướng Staline’’.
 
Tiếp đó Thâu phân tích xã hội Đông Dương đã tiến hóa theo con đường tư bản chủ nghĩa do thực dân xâm nhập, đại khái quan hệ các giai cấp trong xã hội Đông Dương như sau:
 
Một bên là: tầng lớp vô sản mới mẻ (hầm mỏ, các công ty tư bản lớn - tàu vét, tạo tác công trình công cộng, điện lực, xi măng, nấu rượu, vận tải - nói chung là những công nghệ mới) bị bóc lột thậm tệ, chưa có kinh nghiệm chính trị; một tầng lớp nông dân bị bóc lột, tước đoạt đất đai (bị tầng lớp đại địa chủ, bị các công ty nhượng địa lớn cùng Hội Truyền giáo). Ba phần tư dân số Đông Dương là nông dân. Bên cạnh lớp vô sản công nghiệp, một tầng lớp công nhân nông nghiệp và công nhân các đồn điền cao su còn phát triển một cách nhanh chóng ngạc nhiên. Còn một bên là giai cấp tư sản Châu Âu và Trung Hoa, chúng lôi kéo giai cấp tư sản bản địa, và đồng thời lệ thuộc một phần giai cấp tiểu tư sản bằng cách sử dụng họ trong bộ máy quân sự và hành chánh tương đối quan trọng. Giữa hai tập đoàn đó thỉ có những tầng lớp trung gian (tiểu nông, tiểu viên chức, trí thức) xao động khá đông đảo, quá trình phân hóa giai cấp còn chưa kết thúc.
 
Thế giới, mặc dù về chính trị còn bao gồm nhiều quốc gia khác nhau, đang hướng tới một tổng thể về kinh tế, cuộc cánh mạng tư sản thế giới đuợc tiến hành song song với sự phát triển bản thân chủ nghĩa tư bản. Thế nên trong thế giới cuộc cách mạng dân chủ không còn là vấn đề. Hiện nay chỉ phải thực hiện cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa. Phải nhập làm một vấn đề giành độc lập với cuộc cách mạng vô sản.
 
Vấn đề lưỡng nan độc lập hay nô lệ ngày nay đuợc đạt ra dưới một hình thức cụ thể hơn: hoặc hướng về chủ nghĩa xã hội hoặc theo chủ nghĩa quốc gia.
 
Qua bài viết này người ta đã thấy bộc lộ sự phân hướng cơ bản giữa lý luận ‘‘cách mạng tư sản - dân quyền’’ mà Đảng Cộng sản Đông Dương chấp nhận với cái lý luận gọi là  ‘‘cách mạng thường trực’’, cơ sở lập trường của tả phái Đối lập.
 
Quốc tế cộng sản ra chỉ thị định nghĩa  ‘‘ cách mạng tư sản dân quyền’’ là giai đoạn đầu của cuộc cách mạng ở Đông Dương, giai đoạn lịch sử nhằm giải phóng dân tộc, thông qua chính thể  ‘‘công nông dân quyền chuyên chính’’, sẽ hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền trong đó gồm cải cách ruộng đất, mà không động đến các phương pháp sinh sản thuộc quyền sở hữu của giới chủ tư bản. Trong chương trình năm 1932, Đảng cộng sản Đông Dương tỏ bày một cách cụ thể quan điểm của đảng như sau:
 
Tịch thu không bồi thường toàn bộ đất đai và rừng rú, toàn bộ tài sản của bọn đế quốc, bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, của các gia đình vua chúa, quan lại, hào lý. Phân chia các đất đai ấy có cho các công nhật nam nữ, cho nông dân nghèo và những trung nông không bóc lột sức lao động của người khác. Trả lại cho người cày những công điền và công thổ mà họ đã bị tước đoạt.
Đối với công nhân, ngày làm 8 giờ và cải thiện căn bản những điều kiện lao động. Bảo hiểm xã hội do giới chủ và Nhà nước chịu chi phí. Quyền tự do hoàn toàn về lập hội và hoạt động cho các nghiệp đoàn giai cấp (74).
 
Còn lý luận cách mạng thường trực, do Trotski thuyết minh năm 1905, vừa mới được diễn đạt tại năm 1929 lúc Trotski bị lưu đày ở Prinkipo:
 
Lý luận cách mạng thường trực đối với những nước lạc hậu đang phát triển theo xu hướng tư bản, và đặc biệt đối với những xứ thuộc địa và bán thuộc địa, có nghĩa là cái giải pháp chân chính và đầy đủ để giải quyết những nhiệm vụ dân chủ và giải phóng dân tộc chỉ có thể là chuyên chính vô sản (vô sản độc tài) kéo quần chúng nông dân theo cùng vô sản. Giai cấp vô sản một khi nắm chính quyền, thành một lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ, sẽ không sao tránh khỏi và rất nhanh chóng thấy mình đứng trước những nhiệm vụ buộc họ phải tiến hành những cuộc đột nhập sâu vào quyền sở hữu tư sản (nghĩa là xâm phạm tài sản của giai cấp tư bản).
 
Cuộc cách mạng dân chủ, trong quá trình phát triển của nó, sẽ chuyển trực tiếp thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và như vậy trở thành cuộc cách mạng thường trực. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể hoàn thành được trong phạm vi quốc gia. Cuộc cách mạng ấy bắt đầu trên phạm vi quốc gia, phát triển trên trường quốc tế và hoàn tất trên toàn thế giới, giữa thắng lợi quyết định của xã hội mới trên toàn quả địa cầu (75).
 
Đó là một cuộc cách mạng liên tục, do giai cấp vô sản công nghiệp và nông nghiệp lãnh đạo, dựa vào lực lượng những tầng lớp nghèo nhất trong giai cấp nông dân.
 
Cộng sản đối lập tả phái ở Đông Dương tuyên bố
 tháng 8 năm 1930
Trong khi Tạ Thu Thâu và các bạn bị trục xuất khỏi nước Pháp, Phan Văn Hùm và Hồ Hữu Tường từ Toulouse và Lyon đến Paris vào tháng 5, họ tham dự biểu tình phản đối vụ kết án tử hình Yên Báy nhưng thoát khỏi lưới cảnh sát. Trú ngụ ở Bruxelles (xứ Belgique), họ sắp đặt ra một tờ báo in polycopiée, tờ Tiền Quân, để thanh minh về vấn đề cách mạng Đông Dương trước khi nhóm ‘‘An Nam Cách mạng xuất dương’’ họp đại hội. Trong báo đó, họ triển khai những ý tưởng đồng như Tạ Thu Thâu trong tờ Sự Thật, nhấn mạnh sự nguy hiểm khi bám vào chủ nghĩa Tam dân (của Tôn Dật Tiên) theo khuynh hướng ‘‘cựu học’’ , và cũng nguy hiểm không kém khi tin tưởng như ‘‘một vài anh tân học’’ , rằng chỉ sau vài tháng học tập ở Moscou thì đã thấm nhuần những lời chỉ dạy của Karl Marx và Lénine.
Đêm 13 rạng ngày 14 tháng 7, Hùm và Tường, cùng đi với hai đồng chí Pháp Naville và Molinier, trở lại Paris không bị trở ngại gì. Họ gây dựng lại Nhóm người xuất dương cùng với La Văn Rớt (bí danh Léon) và Nguyễn Văn Nhì, từ tỉnh lên tới, Trần Văn Sĩ (Ernest) và Nguyễn Văn Lịnh (René), sau đó có thêm một số người khác như Nguyễn Văn Nam (Antony), sinh viên, và Nguyễn Văn Cử, vô tuyến hàng hải.
 
Đồng chí Rosmer mời họ tự do trình bày quan điểm của họ trên tờ Sự Thật, dầu họ không đồng ý với tất cả những thâm tín chính trị của phái Tả đối lập. Pierre Frank tổ chức cùng họ đi dạo trong các khu rừng quanh Paris: Frank hướng dẫn họ hiểu biết tình hình suy luận về cách mạng trên thế giới; họ cũng thảo luận tiếp tục tại nhà trọ Ernest, 65 phố Monsieur le Prince. Chẳng bao lâu, họ lập thành Nhóm người Đông Dương trong Liên minh cộng sản (Phái Tả đối lập Pháp).
 
Vào tháng 8, khi cuộc đàn áp đã tàn sát phong trào nông dân trong nước, họ xác định thái độ của họ qua việc phát hành tờ Tuyên bố của những người phái tả đối lập Đông Dương, một mặt tuyên bố trung thành với Quốc tế Cộng sản, mặt khác biểu đạt những phân hướng tách họ khỏi Quốc tế Cộng sản và Đảng cộng sản Đông Dương, theo đây một vài đoạn trích:
 
QTCS là tổ chức quốc tế của chúng tôi, Đảng Cộng sản là đảng của chúng tôi. QTCS là một tổ chức cách mạng duy nhất của giai cấp vô sản, dù đã bị mắc những sai lầm to lớn. Vì kỷ luật, chúng tôi tuân theo những quyết định của QTCS, đồng thời vẫn khẳng định quan điểm của chúng tôi.
Ban lãnh đạo hiện nay của QTCS (nhóm trung phái theo Staline), với chính sách giáo điều đối với các nước thuộc địa, hỗn hợp chủ nghĩa Tam dân tiểu tư sản với quan điểm theo chủ nghĩa Karl Marx về cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp vô sản, đã đưa phong trào ở các xứ thuộc địa từ sai lầm này tới sai lầm khác. Ở Trung Hoa sau chính sách nhập cục bốn giai cấp lệ thuộc Đảng cộng sản trong Quốc dân đảng, tới việc phản đối thành lập Sô viết trong cao trào cách mạng Trung Hoa, rồi đến việc tung ra khẩu hiệu thành lập Sô viết trong thời kỳ cách mạng thối triều. Rốt hết là cuộc đảo chính ở Quảng Châu. Chính sách đó làm cho cuộc cách mạng Trung Hoa bị thất bại năm 1927. Chính sách đó làm hại cho việc thành lập những đảng cộng sản ở Đông Dương. Phái tả đối lập đang phát triển cốt để xây dựng lại QTCS.
 
Ở Đông Dương,QTCS chủ trương luận thuyết làm ‘‘cách mạng tư sản dân quyền quốc gia trước đã’’ với lý do sau đây:
 
Nền kinh tế Đông Dương còn lạc hâu, công nghiệp còn ít phát triển và ít tập trung, do đó giai cấp vô sản Đông Dương còn yếu, thiếu kinh nghiệm và không có khả năng thiết lập nền chuyên chính vô sản. QTCS đã chủ trương một đường lối trung gian là lập một đảng gồm cả hai giai cấp công nhân và nông dân, bởi lẽ :
 a) 95% dân số là nông dân,
 b) tiềm năng cách mạng của giai cấp nông dân, do tình trạng bị bóc lột, cũng ngang với mức tiềm năng cách mạng của giai cấp vô sản, nếu không nói là cao hơn.
 
QTCS đã mắc phải một sai lầm rất nghiêm trọng, là phân chia chương trình cách mạng thành giai đoạn:
1. giải phóng dân tộc;
 2. giành các quyền tự do dân chủ;
3. làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.
 
Khẩu hiệu của chúng ta là lật đổ chủ nghĩa đế quốc và giành lấy các quyền tự do dân chủ bằng chuyên chính vô sản.
 
Vào lúc này, ở Đông Dương các xu hướng cách mạng khác nhau đang nhập khối thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm tỏ rỏ hệ thống tư tưởng của đảng, phải chống lại những khuynh hướng quốc gia và khủng bố chủ nghĩa trong nội bộ đảng, chống lại thái độ quan liêu và chủ nghĩa kinh nghiệm mơ hồ theo lối Staline. QTCS đã đánh giá quá cao lực lượng cách mạng xu hướng quốc gia. Bao giờ chủ nghĩa quốc gia cũng là một hệ thống tư tưởng phản động. Chủ nghĩa quốc gia rốt cuộc chỉ rèn đúc một xiềng xích mới trói buộc giai cấp công nhân (76).76
 
(Các bạn xuất dương trẻ tuổi này dường như không biết rằng lúc đó Đảng Cộng sản Đông Dương non trẻ chủ trương  ‘‘giai cấp chống giai cấp’’ chứ không phải xu hướng ‘‘quốc gia chủ nghĩa’’).
 
Molinier tự lãnh trách nhiệm chuyển giao bản tuyên bố nguyên tắc đó cho Trotski, cùng với một bài khái lược của Hồ Hữu Tường về tình hình chính trị và xã hội ở Đông Dương, trong đó Tường nhấn mạnh đặc biệt đến những điều kiện cực kỳ bí mật bất hợp pháp của phong trào cách mạng, nó làm trở ngại cho việc liên hệ và làm cho việc thông tin khó chính xác và kịp thời.
 
Bản tuyên bố trên gửi từ Paris tới đảo Prikipo, gần d’Istanbul (xứ Turquie), tới tay ông già cách mạng lưu ly, thất bại về chính trị ở Nga, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Liên Sô và QTCS, bị áp giải từ Moscou đến Alma - Ata, rồi cuối cùng bị trục xuất ra khỏi Liên Sô.
Trotski hoan nghênh ‘‘lời tuyên bố về mặt tư tưởng được rõ ràng đồng nhất’’.
Đối với việc những người thanh niên mới nhập cuộc này lên án quyết liệt chủ nghĩa quốc gia, Trotski nhận xét rằng không phải lúc nào chủ nghĩa quốc gia cũng mang tính phản động, và nếu tháp tùng chủ nghĩa quốc gia với vấn đề ruộng đất thì có thể sử dụng nó như một động lực then chốt trong cuộc giành độc lập quốc gia, động lực rất ‘‘cần thiết cho cuộc cách mạng Đông Dương’’, đồng thời cũng cần thuyết minh cho quần chúng hiểu rõ ‘‘nếu chỉ duy nhất giải phóng quốc gia thì sự giải phóng chỉ là một ảo tưởng’’.
Phải chăng Trotski đánh giá quá cao năng động lực một cuộc vận động quốc gia giữa khối nông dân nghèo chiếm 90% dân số. Vả lại họ đâu biết gì là chủ nghĩa quốc gia dân tộc, một dân tộc trong đó tầng lớp địa chủ và phú nông bóc lột sức lao động của nông dân đều là người đồng một xứ sở cũng như tầng lớp hào lý, chức dịch của một chính quyền thực dân, chính quyền ấy đè nén, áp bức họ nhưng họ ít khi thấy hình dạng. Khái niệm về quốc gia dân tộc chỉ là sản phẩm sở hữu riêng của tầng lớp trí thức, của những ông giáo làng, của những thầy đồ, những sĩ phu nho nhỏ khét mò dân túy.
 
Tổ quốc, đối với người nông dân nghèo, chính là nơi chôn cất mồ mả ông bà, cha mẹ gần gũi túp lều tranh mình đang ở, là mảnh đất đang cày dù thóc gạo từ đó không đủ nuôi sống gia đình. Còn đối với những người không mảnh đất cậm dùi, chỉ có đôi bàn tay lao động làm thuê, thì làm sao mà họ tưởng tượng được mình là đồng bào (cùng chung một bào thai) với những kẻ trực tiếp áp bức bóc lột họ? Cái ý nghĩ thường trực của họ là làm sao có được bát cơm ăn hàng ngày, nộp được món thuế thân kịp thời để khỏi bị đóng trăng giam ở nhà làng, làm sao thoát khỏi thói tham lam của bọn chủ.
 
Cuộc phát động nông dân trong phong trào 1930-1931 không cần thiết phải dống trống quốc gia dọng chuông dân tộc; đấy là một cuộc đấu tranh giai cấp chống lại địa chủ và chính quyền đế quốc.
 
Trotski ngỏ lời xin lỗi vì người kém hiểu biết về tình hình Đông Dương, bởi người phát biểu không được cụ thể cho lắm.Trotski khuyên nhóm Cộng sản tả phái nên phô bày tư tưởng cụ thể hơn để tránh ‘‘những ngộ nhận có thể xảy ra’’. Người gợi ý cho họ nên từ một bản tuyên ngôn về nguyên tắc, tức là một thứ thảo án, chuyển thành những chỉ trích xác đáng hơn, và những hướng dẫn rành mạch chỉ đạo hành động.
 
Không nên bác bỏ tất cả mọi sự hợp tác giữa các giai cấp. Trái lại, có một sự hợp tác giai cấp mà chúng ta đang tìm mọi cách để thực hiện, đó là: sự hợp tác giữa giai cấp vô sản với bộ phần nghèo nhất giữa giai cấp nông dân cùng với những người bị áp bức bóc lột nhiều nhất trong các tầng lớp dưới thấp trong giai cấp tiểu tư sản thành thị. Sự hợp tác giai cấp theo lối cách mạng đó chỉ áp dụng trong cuộc đấu tranh không thỏa hiệp chống lại các khối liên minh của các giai cấp có của và chủ nghĩa đế quốc, sự hợp tác mang tính chất tạo cho giai cấp vô sản trở thành lực lượng lãnh đạo thực sự của dân tộc.
Cần phải nói rõ hơn, các quyền tự do dân chủ gợi ra nơi đây là những tự do nào. Nói chinh phục các quyền tự do dân chủ bằng chuyên chính vô sản là một cach tỏ ý kiến không rõ ràng. Ngoài các quyền tự do tư sản (tự do tư tưởng, báo chí, hội họp, v.v.) nền chuyên chính vô sản đặt vào tay giai cấp vô sản những phương tiện và những công cụ vật chất để tự giải phóng, đặc biệt là các nhà in, các gian phòng hội họp. Ngày làm việc ngắn hơn, đó là cái duy nhất để cho người công nhân có thể tham gia thực sự vào sinh hoạt xã hội trong xứ. Đối với nông dân, cuộc cách mạng dân chủ trước hết là giải quyết vấn đề ruộng đất và giải thoát khỏi gánh nặng thuế má và binh dịch. Nhưng chúng ta không thể thiết lập được nền chuyên chính vô sản nếu chúng ta chưa trãi qua thực nghiệm mà đã khước từ dân chủ quyền (77).




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.06.2017 23:13:55 bởi Ct.Ly>
IX 
 
Phong trào Nông dân 
1930 -1931 
 
Sau cuộc khởi nghĩa Yên Báy thất bại, sau khi nhiều làng mạc ở Bắc Kỳ bị dìm trong máu lửa và các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng bị đưa lên máy chém. Trong lúc những vụ bắt bớ giam cầm, những vụ xét xử kết án lưu đày đang tiếp diễn, thì tinh thần vùng dậy cách mạng vẫn không ngưng biểu thị mãnh liệt hơn bao giờ cả, và một cuộc bùng nổ thứ nhì đã diễn ra, đó là phong trào nông dân 1930-1931.
 
Trong vòng hơn một năm, chính quyền đế quốc thực dân phải đương đầu, không còn phải với tầng lớp trí thức yêu nước bất mãn âm mưu nổi dậy, mà phải đương đầu cả một phong trào rộng lớn nảy sinh từ trong giới bị khốn khổ bần cùng thúc dục, phát khởi từ trong phần đông quần chúng dân cày nghèo, dân không mảnh đất cậm dùi, những người công nhật, những người ở đợ.
 
Đảng Cộng sản huy động họ và tổ chức những cuộc biểu tình quảng đại quần chúng lúc đầu có tính cách hòa bình, để đòi thỏa mãn những yêu sách về kinh tế cấp bách. Sau đó Đảng Cộng sản hướng họ vùng lên lật đổ chính quyền đế quốc thực dân, đoạt lấy chính quyền, thiết lập một chế độ Sôviêt công nông.
 Thời đó tầng lớp thợ thuyền và phu phen trong các xí nghiệp mới chỉ là một lực luợng vừa phôi thai và do dự, còn chính quyền thực dân thì không có một biểu hiện nào tỏ rằng nó đang lần hồi bại hoại. Đỉnh cao phong trào này là Sôviết Nghệ Tĩnh, vừa thiết lập nhanh chóng bị dìm trong bể máu.
 
Đó là một thất bại có tiếng vang lừng. Sách luợc về ‘‘thời kỳ thứ ba’’ (x.trên) của Quốc tế Cộng sản đã dẫn đến thảm trạng vô số nông dân bị tàn sát còn Đảng Cộng sản thì hoàn toàn bị phá hủy.
 
Vào năm 1929, cơn bão tháng bảy, nắng hạn, nạn châu chấu đã tàn phá cả ba kỳ. Tháng giêng năm 1930, tại Trung Kỳ, mùa lúa mới bị sương giá phá hại. Giá bán lẻ một cân gạo tăng từ 10 xu lên 17 xu. Nông dân nghèo đang mấp mé chết đói. làm sao họ trả nổi thuế thân đây, một loại thuế quá nặng đánh theo đầu người, cùng với thuế ruộng đất, thuế chợ, thuế câu cá, thuế hái củi... đã tước đoạt của người nông dân nghèo số sản phẩm mà họ phải lao động trong một hai tháng mới làm ra. Thêm vào nỗi khốn khổ của họ lại còn có thuế gián thu về rượu, thuốc lào, diêm, và nhất là thuế muối làm cho giá muối cũng đắt như gạo.
 
Nông dân hiệp nhau tuần hành, kéo đến các trung tâm hành chính để xin giảm thuế thân và xin hoãn kỳ nộp thuế. Phong trào bắt đầu, chủ yếu ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, vào ngày mùng 1 tháng Năm năm 1930, thời hạn cuối cùng phải nộp thuế thân.
 
 
Ở Bắc Kỳ
 
Có lẽ vì bị khủng bố dữ dội từ tháng hai trở đi còn tiếp tục, nên rất hiếm người cùng khổ ở đồng ruộng đáp ứng lời kêu gọi đấu tranh của Đảng Cộng sản. Trong tỉnh Thái Bình, vào ngày 1 tháng Năm chỉ có vài trăm người tuần hành đến tỉnh lỵ không vũ khí và không bạo lực. Tuy vậy họ cũng bị lính gát An Nam giải tán và bị viên công sứ bắn vài phát súng lục. Một người bị thương. Cũng thế, nhà cầm quyền không tiếp kiến dân biểu tình vào tháng chín và tháng mười ở Hải Phòng, Thiên Ái và Nam Định, nơi có truyền đơn và cờ đỏ xuất hiện và có một chiến sĩ cách mạng hô hào thợ thuyền đang trên đường đi làm, kêu gọi họ ủng hộ phong trào nông dân.
 
Ở Nam Kỳ
 
Ở vùng ngoại ô Sài Gòn, nơi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bí mật đóng trụ sở, không khí hoạt động sôi nổi từ trước ngày 1 tháng Năm.
Một cuộc động viên đấu tranh ngấm ngầm tiến hành mặc dù có những cuộc bắt bớ giam cầm hệ trọng tiếp sau vụ ám sát ở đường Barbier. Một bài hát mới lưu hành trong dân chúng theo một điệu dân ca xưa:
 
Mỗi năm đến ngày 1 tháng Năm
 Khắp cả Năm Châu, anh em lao động
 Biểu tình thị oai, nơi nơi đều tổng bãi công
 Để kỷ niệm cái ngày đấu tranh
Của dân thợ Chicago.
Ngày xưa nổi lên bắt buộc chính phủ Hoa Kỳ
 Phải thi hành luật ngày làm tám giờ,
Cùng luật bảo hộ nhân công.
Cuộc tranh đấu được thắng lợi hoàn toàn...
 
Trong các ngõ xóm ở ngoại ô Sài Gòn, ở Gia Định, ở Gò Vấp, cũng như ở ngay trong thành phố Sài Gòn phất phới nhiều băng khẩu hiệu và truyền đơn xuất hiện tại khu chợ Bến Thành, tại Công xưởng thành phố, tại Nhà Bè, trước các trạm dầu hỏa của hãng Pháp-Á (Franco – Asiatique) và Standard Oil, kêu gọi đấu tranh chẳng những đòi ngày làm tám giờ lại còn hô hào ‘‘đánh đổ đế quốc Pháp’’.
 
Vào ngày 1 tháng Năm, công nhân hưởng ứng rất kém: 250 phu và thợ nhà máy điện Chợ Quán (Chợ Lớn) tiến hành bãi công xung quanh anh cai Nguyễn Thái, đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và là người khởi xướng tổ chức bí mật Liên đoàn công hội Nam Kỳ. Ở trạm hỏa xa Dĩ An, gần Biên Hòa, các xưởng thợ vắng người. Chánh mật thám Nadaud hạ lệnh bắt những người đốc xuất làm reo.
 
Những trung tâm đầu não chế độ thuộc địa không bị xáo động, ngay cả ở Thủy binh xưởng Ba Son, nơi đã bị một cuộc bãi công lớn làm liệt bại hồi năm 1925. Ở các sở như sở Hỏa xa đường sắt cùng xưởng kỷ nghệ FACI (Forges, Ateliers & Chantiers d’Indochine) công nhân cũng không rụt rịt. Các nghiệp đoàn hoạt động cực kỳ yếu ớt trong vòng bí mật. Kinh tế khủng hoảng, nạn thất nghiệp đe dọa, gây nên tình trạng do dự trong hàng ngũ thợ thuyền. Nông thôn càng thất vọng vì không được thợ thuyền hỗ trợ chút nào.
 
Chúng ta không thể xem như thợ thuyền tranh đấu để phò trợ nông dân, hai cuộc bãi công đã kể trên cùng các cuộc bãi công khác vào tháng mười, như 150 thợ và culi hãng Đông-Á và 80 phu đồn điền Phước Hòa ngưng việc, như qua tháng chạp 150 phu đồn điền cao su Michelin ở Phú Riềng làm reo, và cả một vài cuộc bãi công không có kết quả vào năm 1931.
Tại Nam Kỳ, nông dân bắt đầu quần hiệp tuần hành từ ngày 1, 3 và 9 tháng năm, trong các tỉnh trồng lúa ở trung tâm, ở Cao Lãnh (Sa Đéc), ở Chợ Mới (Long Xuyên). Dân biểu tình xin hoãn nộp thuế thân, thứ thuế đánh vào mọi người dân bản địa từ 18 đến 60 tuổi, rồi họ tự giải tán, tin tưởng yêu cầu của mình sẽ được xem xét.
Ngày 13, tại Tân Dương (Sa Đéc), một ngàn dân làng không thỏa mãn vì bị thất hẹn, bèn bắt lý trưởng phải mời quan chủ tỉnh người Pháp là Esquivillon tới để họ trực tiếp đưa yêu sách: giảm thuế thân một đồng bạc, bỏ thuế sát sinh, trả tiền công những ngày đi sun dịch. Esquivillon đối phó bằng cách hạ lệnh bắt hàng trăm người, trong đó có anh Bảy, cựu học sinh trước kia có tham gia bãi khóa, và thầy giáo Tư, hai người dẫn đầu đoàn biểu tình.
 
Tỉnh Cần Thơ, một phong trào đưa yêu sách tiến hành: ngày 12, ba làng bị buộc phải đi đắp con đường từ Cái Vồn đến Tân Phong, khước từ không cung ứng nhân công lao dịch bắt buộc. Ngày 20, 500 dân cày tuần hành tới Ô Môn, đàn bà trẻ em đi đầu. Cuộc diễu hành mang dáng dấp chính trị: cờ đỏ xuất hiện với biểu hiện búa liềm, và những biểu ngữ đòi thả những nông dân bị bắt. Vài loạt đạn cảnh cáo, khoảng hai chục người bị bắt, đám đông giải tán.
 
Tờ báo Cờ Đỏ bí mật in bằng bản kẽm, mang tiêu đề Học lý thuyết Karl Marx mà không hành động thì cũng như không, kêu gọi nông dân nghèo gia nhập vận động và chào mừng những dân làng biểu thị tình đoàn kết với những người biểu tình đã mang thức ăn và đồ uống để khuyến khích họ. Tờ báo ca ngợi những sự kiện có khả năng đưa tới thắng lợi cuối cùng (nhưng than ôi chỉ là ảo tuởng mà thôi!).
 
Từ đây chỉ những loạt đạn từ những khẩu súng musquetons, những khẩu súng lục bắn ra là tiếng trả lời duy nhất cho những đòi hỏi của nông dân.
Ngày 28, Chợ Mới lại nổi dậy lần nữa vì thấy không có gì đáp lại yêu sách hoãn nộp thuế đề nghị từ đầu tháng. Cuộc diễu hành tiến bước được ba trăm mét. Tên cò mật thám Nadaud không ngăn cản nổi bước tiến của đoàn biểu tình, tốp lính tùy tùng nổ súng. Bốn người chết và một số bị thương. Ba người trong số bị thương chạy trốn được, nhưng hôm sau bị bọn hương chức giao nộp. Hàng chục người bị bắt.
 
Ngày 29, đoàn biểu tình kéo đến quận Ô Môn: 3.000 nông dân đòi thả những người bị bắt ngày 20. Lính lưu động giải tán họ, bắt ba chục người. Họ bị xử tại chỗ. Đó là vụ kết án ‘‘đầu tiên’’  mở đầu hàng loạt những vụ kết án những người bị bắt tại trận ‘‘những hành động phá hoại an ninh công cộng’’ , án quyết lên tột tới 5 năm tù.
 
Một truyền đơn ký tên Tổng Nông hội Nam Kỳ phân phát trong tỉnh Gia Định ca ngợi tinh thần chiến đấu của nông dân, kêu gọi ‘‘Đả đảo đế quốc Pháp, quan làng (78), địa chủ!’’ (79) Hoài niệm vong linh anh em bị tàn sát ở Vinh, ở Thái Bình (80).
 
Nổ súng, bắt bớ, không chặn được những đoàn người cùng khốn diễu hành. Họ làm rung chuyển 13 trong số 20 tỉnh ở Nam Kỳ, tương tợ năm 1916 khi chính quyền thuộc địa tiến hành tuyển mộ quân ‘‘tình nguyện’’ sang Tây đánh giặc.
 
Ngày 2 tháng sáu, ông Thanh, một cựu hương chức dẫn đầu dân biểu tình ở Vĩnh Long. Hàng trăm người bị bắt và bị kết án liền tại trận như ở Ô Môn vừa rồi.
Phong trào lan rộng ngoại ô Sài Gòn, huy động các vùng dân cư đã từng ủng hộ Nguyễn An Ninh những năm 1926 -1929, sau đó người ta mệnh danh là vùng ngoại ô đỏ thành phố Sài Gòn.
 
Trong đêm mồng 3, sáu trăm nông dân do thầy giáo Hồ Văn Long dẫn đầu biểu tình ở Bà Hom (Chợ Lớn): 1 người chết, 5 người bị thương. Viên cò mật thám Campana bắn họ bằng khẩu súng trường cỡ 22 (y xứng đáng với biệt danh tên cò 22 long. Hai chục người bị bắt giam tại nhà hội làng Bà Hom; một nhóm thứ hai tới giải thoát họ. Lính lưu động cùng san đầm đến tiếp viện bắt thêm ba chục người.
 
Ngày 4, tại Hóc Môn (Gia Định), nông dân các làng kế cận liên tiếp ba đợt kéo đến quận, đưa ra yêu sách không chỉ về giảm thuế thân và hủy bỏ ngày sưu dịch cùng các thứ thuế chợ, thuế xe giao thông, mà còn đòi bầu cử hương chức làng và đòi bỏ lối hương chức làng tự tuyển nhau, đòi thả những người bị bắt và ngưng đàn áp trả thù. Đó không phải là một tiếng hô xung trận, nhưng cơ quan mật thám ở Thủ Dầu Một và Thủ Đức vẫn đưa viện binh tới; lại thêm 5 người chết, 20 người bị thương và 30 người bị bắt.
 
Cũng ngày mồng 4 tháng sáu đó, trời vừa sụp tối, lính lưu động bắn vào đám đông vây quanh dinh chủ quận Đức Hòa (Chợ Lớn). Người ta không biết số người chết là bao nhiều đêm hôm đó. Một ông hương chức làng nói người ta để mặc cho những người biểu tình mang đi những người bị chết và bị thương.
 
Trưa ngày mồng 5, một đoàn nông dân dài hai trăm mét đi ngang Bến Lức kéo lên Chợ Lớn để trình yêu sách cho quan chủ tỉnh Renault. Nông dân thật kiên nhẫn, họ đứng đợi dưới ánh nắng chang chang. Hôm sau, họ lại đến, và khi Renault tới, họ giao đơn thỉnh nguyện tập thể rồi về luôn để tránh điều thiệt hại có thể xảy ra.
 
Ngày 11, biểu tình ở Chợ Đệm (Chợ Lớn): 300 công nhân đòi thả những người bị bắt (ruộng lúa đang mùa cày cấy) và đòi bỏ thuế đánh cá. 127 người bị bắt.
Các phiên tòa tiểu hình liên tục nhóm xử ở Sài Gòn, ở Vĩnh Long, Mỹ Tho, tuyên án tù có kẻ bị tới 5 năm.
 
Nhiều truyền đơn rải rác khắp nơi. Một lá kêu gọi:
 
Phản đối khủng bố. Hãy chiến đấu lật đổ đế quốc Pháp, địa chủ, quan làng, thành lập chính phủ công nông, tịch thu ruộng đất trong tay địa chủ An Nam và ngọai quốc chia lại dân cày nghèo!
Đảng Cộng sản Đông Dương
 
Tháng sáu năm 1930, một tháng đáng ghi nhớ:
- Sát nhân chính thức 13 lãnh tụ VNQDĐ, ngày 17 tại Yên Báy;
-  19 người bị trục xuất khỏi nước Pháp tới Sài Gòn ngày 24, trong đó có Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh... Họ sẽ gây dựng ở Đông Dương một trào lưu cộng sản phê phán, toan thức tỉnh ý thức phu phen thợ thuyền, còn chậm trễ so với tinh thần chiến đấu của nông dân.
-  Ngày 25, trên một chiếc tầu thủy dừng lại ở Vũng Tàu thấy một lá cờ đỏ kéo lên. Tàu chở 132 tù nhân bị kết án ở Yên Báy họ kéo cờ trong lúc chuyển sang qua một chiếc tàu khác để đưa ra Côn Đảo.
-  Bản công bố của viên chủ tỉnh Lalaurette phát ra tại Cần Thơ, nhắc lại đạo luật ngày 7 tháng sáu năm 1841 và điều khoản 91 bộ luật hình do sắc luật ngày 4 tháng mười năm 1927 sửa đổi:
 
Cấm bất kỳ một cuộc tụ tập nào trên đường sá. Những ai tham gia một cuộc tụ tập trên đường sá, sau khi bị cảnh cáo lần thứ hai, mà vẫn cứ tiếp tục thì sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm hoặc 5 năm tùy theo tụ tập ban ngày ban đêm, và tùy theo người tham gia có mang theo vũ khí hay không. Những kẻ chủ mưu triệu tập cuộc họp sẽ bị kết án ở mức tối đa, hoặc ở mức những tội trạng cao hơn. Tất cả những kẻ nào soạn thảo, phân phát hay dán những bài viết hoặc bài in xúi dục dân chúng làm loạn sẽ bị kết án trên 2 năm tù. Tất cả những kẻ nào cắt đường dây điện thọai và làm tắc nghẽn giao thông dưới bất kỳ hình thức nào cản trở nhà chức trách giao thông trong thời loạn thì có thể sẽ bị kết án nhiều năm khổ sai tại Côn Đảo.(81)
 
Cố ý trấn an dân chúng, thống đốc Nam Kỳ Krautheimer đưa ra những biện pháp trì hoãn: không đòi thuế thân những năm trước 1930; người An Nam không bị buộc phải nộp thuế thân tại nguyên quán; cho tới ngày 1 tháng 8 họ có thể nộp thuế của mình; những người nộp thuế trễ có thể khỏi bị phạt (5 ngày tù và phạt tiền 15 francs) nếu họ đóng đủ tiền ngay sau khi chủ tỉnh xem xét trường hợp của họ (82) ; thuế thân được giảm từ 6-7 đồng còn 5 đồng rưỡi.
 
Cuối tháng 6, sau vụ bắt bớ 11 nông dân biểu tình ở Bà Quẹo, mật thám càn quét và xét nhà lung tung làm náo động cả vùng.
 
Tháng 7- 1930, Đảng Cộng sản tuyên chiến công khai với đại biểu tư sản và địa chủ trong đảng Lập hiến. Chiều ngày chủ nhật 13, trụ sở của hai tòa báo Đuốc Nhà Nam và Diễn đàn Đông Dương (La Tribune Indochinoise) của đảng Lập hiến bị phá phách: Nguyễn Phan Long gợi ý cho thống đốc Nam Kỳ Krautheimes dùng vòi rồng phun nước và hơi cay để giải tán nông dân thay vì dùng súng đạn. Từ đó trong dân chúng gọi y là Long-hơi-cay.
 
Ngày 14, hai tỉnh Sa Đéc và Long Xuyên, nơi khởi đầu các cuộc biểu tình, sôi động trở lại: hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Đông Dương dân chúng tụ tập để phản đối việc tổ chức ngày lễ 14 tháng 7.
 
Ở Sài Gòn, ngày 19, nhân tòa kết án trong vụ ám sát đường Barbier đã làm Đảng Cộng sản mất khoảng ba chục đảng viên, và việc ba người Thanh Niên bị tử hình làm náo động dư luận.
 
Rạng sáng ngày 1 tháng 8, một lá cờ đỏ phất phới trên nóc nhà máy rượu Bình Tây. 200 thợ bãi công tại hãng dầu hỏa Pháp-Á ở Nhà Bè, trong khi ở các tỉnh Gia Định, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Trà Vinh và Sa Đéc nhiều nơi có vài trăm nông dân tụ họp, nhưng họ tự giải tán khi làng lính khởi đầu cảnh cáo.
 
Ngày 22 tháng 8, thêm hai người bị bắn chết trong cuộc biểu tình ở Cao Lãnh (Sa Đéc), qua ngày 23, ở Hóc Môn, nhiều biểu ngữ đỏ nhắc nhở vụ đế quốc Mỹ ám sát Sacco và Vanzetti ngày 23 tháng 8 năm 1927.
 
Phong trào còn lan ra các tỉnh Tân An, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre. Nông dân thị oai rải rác khắp nơi và thường về đêm, tương tợ phong trào nông dân dấy loạn. Họ đánh trống (đoạt trong nhà hội làng) kêu gọi tập hợp, tự vũ trang bằng gậy gộc, rựa, và vài khẩu súng săn.
 
Trong làng mà hào lý địa phương truy nã kẻ tình nghi để nộp cho mật thám, nông dân bắt đầu trả thù. Nhóm tòa án cách mạng, họ xử tử bọn hương chức làng cảnh sát. Vào tháng 7, họ bắn chết tên Hượt, hương trưởng làng Tân Tạo, gần Chợ Lớn. Tháng 9, đến lượt hương cả Dương và hương quản Mây, làng Hựu Thạnh; hương cả Nam ở làng Đức Hòa cũng suýt chết. Tổng cộng ba hào lý bị hành quyết.
 
Qua ngày 24 tháng 8, nông dân phá hủy các nhà hội làng, đốt sạch các giấy tờ lưu trữ, sổ thuế, đốt nhà hương chức làng cảnh sát ở Phước Vân, Hựu Thạnh, Tân Bửu, Lang Sơn (thuộc tỉnh Chợ Lớn), Xuân Thới Tây (Gia Định), Phan Thới và Châu Bình (Bến Tre). Năm 1931 tháng 3, họ còn thiêu hủy giấy tờ, sổ thuế lưu trữ ở các làng Phước Thuận, Tân Hương, An Hiệp và Châu Bình, rồi đến làng Long Hòa, cũng trong tỉnh đó vào tháng 4.
 
Nếu số người tham gia các cuộc tập hợp chỉ còn độ vài trăm, thì trái lại, những biểu hiệu của đảng cộng sản lại thấy xuất hiện nhiều hơn, cùng những cờ đỏ và truyền đơn kêu gọi ủng hộ cuộc khởi nghĩa ở Nghệ Tĩnh.
 
Ngày 19 tháng 9 năm 1930, làng lính săn người và bắt bớ ở miệc Đức Hòa và Thạnh Lợi (Tân An). Xét nhà Nguyễn An Cư, chú của Nguyễn An Ninh ở Hóc Môn rồi bắt tất cả những ai có mặt tại đó. Ban đêm, Sài Gòn tràn ngập truyền đơn in bản kẽm. Liền sau đó, ngày 21, máy in truyền đơn và báo Cờ Đỏ bị khám phá ở sở Ba Son (xưởngThủy binh), Nguyễn Hoàng, 21 tuổi, thư ký bị bắt quả tang tại phòng làm việc.
 
Tháng 10, tháng kỷ niệm Cách mạng Tháng mười, nhiều sự biến xảy ra.
 
Nhiều cuộc phát chẩn lúa ở Cà Mau và Giá Rây (Bạc Liêu), nơi cơn bão vừa phá hủy mùa màng, và cũng là nơi mà số điền chủ 7,2% trong dân số, tập trung trong tay 65% ruộng đất, bọn cầm quyền dùng biện pháp đó để làm yên lòng dân chúng.
 
Mặc dù mật thám làng lính hàng loạt bắt bớ, tra tấn lung tung, tòa án xét xử kết án không ngưng, truyền đơn vẫn rải đều, kêu gọi kỷ niệm Cách mạng Tháng mười Nga năm 1917, thông báo Sôviêt thành lập ở Nghệ Tĩnh (Bắc Trung Kỳ), thúc dục hành động quyết liệt:
 
Đả đảo đế quốc, tư bản, quan làng, địa chủ! Ũng hô phong trào tranh đấu Nghệ Tĩnh, hãy thành lập chính quyền của công nhân và nông dân! Cách mạng Đông Dương muôn năm! Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!
                         Ủy ban chấp hành lâm thời Nam Kỳ (83)
 
Trong đêm 11 rạng ngày 12 tháng 10 năm 1930, mật thám còn thâu cả một bộ đồ in sao trong một túp lều tại làng Thuận Kiều (Gia Định).
 
Chính quyền thực dân không ngăn chặn nổi nông dân ly loạn. Trong tháng đó, nhiều đồn bót mới xây dựng ở Hóc Môn (84) , Bà Điểm, Đức Hòa (Gia Định), ‘‘ mười tám thôn vườn trầu’’ một vùng nổi tiếng chống Tây từ buổi đầu - cũng như trong Đồng Tháp Mười trên sông Vàm Cỏ, đối diện Bến Lức (Tân An), ở Cao Lãnh (Sa Đéc)... Lính tập An Nam bị tình nghi, lính Cao Mên thay thế.
 
Từ 13 đến 18, 600 công nhân bãi công năm ngày tại hãng Đông-Á ở Vĩnh Hội. Một dự án luật chống đình công ‘‘ bất hợp pháp’’ (nhưng cuộc đình công nào mà chẳng bất hợp pháp ?) công bố:
 
Tất cả thợ thuyền và nhân viên người bản địa làm ở các sở tư phục vụ lợi ích công cộng, nếu đình công mà không báo trước từ hai tuần đến một tháng, sẽ bị phạt từ 6 ngày tới 6 tháng tù và phải nộp tiền phạt từ 16 đến 600 francs hoặc một trong hai hình phạt đó. Bị coi là bất hợp pháp tất cả những cuộc đình công nào có tính chất gây rối ren lâu dài cho công chúng.
Tất cả những ai tham gia hoặc xúi giục bãi công bất hợp pháp sẽ bị phạt tù từ 6 ngày đến 2 năm và phải nộp một số tiền từ 16 đến 2.000 francs (85).
 
Từ đó tới cuối năm nông dân còn biểu tình 7 lược, dân thành phố hợp 3 cuộc mít ting trong các nẻo đường và các khoảng đất hoang ở Sài Gòn (từ 15 đến 200 người tham gia, một người bị thương, nhiều người bị bắt), rải truyền đơn khắp khắp. Nhiều vụ kết án.
 
Một lần nữa, những người theo phong trào Nguyễn An Ninh lại bị bắt, trong đó có cả hương thân Ngà vừa mới được thả ra sau hai năm ngồi tù. Lý do bắt Ngà: một người bạn của Ngà đã ra điều giễu cợt, anh ta treo một tấm biển đề cấm lính cảnh sát vượt qua một ngã tư gần chợ Bà Quẹo.
Khám Lớn Sài Gòn quá đầy ói, số thặng bị nhốt chật chội trong dải nhà tù mới cất thêm ở Phú Mỹ xóm Thị Nghè.
 
Tận cuối năm 1930, lại thêm một cuộc lùng sục săn người: 300 lính lưu động, san đầm cùng hương chức làng đổ vào khu vực Đức Hòa.
 
Vào tháng giêng năm 1931, bọn thống trị thiết lập một chế độ trách nhiệm tập thể tại Cao Lãnh (Sa Đéc), buộc 2300 nông dân phải ký vào một ‘‘ bản tuyên bố tuân phục’’.
 
Những người ký tên vào chứng thư này chính thức khước từ học thuyết cách mạng mà họ bị lôi kéo vào, và xin cam đoan bằng cách ký tên hoặc in dấu tay:
 1. Tôn trọng tuyệt đối quyền tối cao của người Pháp;
 2. Không phản đối trật tự xã hội hiển hiện;
3. Đảm bảo tình trạng yên ổn công cộng trong làng xóm;
 4. Tố cáo những hoạt động lật đổ chính quyền Pháp;
 5. Không che dấu và đồng thời cam đoan giao nộp những kẻ đang bị hay sẽ bị pháp luật truy tố, dù cho kẻ đó đã là người chỉ huy trực tiếp hay là bạn cùng chiến đấu của họ.
 
Trong bài diễn văn của chủ tỉnh Lalaurettes thốt ra với họ, có đoạn:
 
Nước Pháp, đó là quan chủ tỉnh, quan tòa và lính san đầm. Nhưng nước Pháp cũng là những cái cầu hiện nay bằng bêtông thay thế cho những cái cầu bằng tre mọt ngày xưa (85)
 
Ngày 8 tháng 2 năm 1931, ngày kỷ niệm đệ nhất chu niên khởi nghĩa Yên Báy. Ở Sài Gòn, cổng sân banh tràn nghẹt người kéo nhau ra khi trận đá chấm dứt. Tiếng súng nổ. Thanh tra mật thám Legrand ngã gục khi hắn ta định bắt một diễn giả ca ngợi cuộc khởi nghĩa dân tộc. Người thiếu niên tên Hui (Lý Tử Trọng), 15 tuổi, từ Quảng Châu về, bị bắt giữ, bị xem là thủ phạm rồi bị chém đầu lúc tảng sáng ngày 20 tháng 11 trước cửa khám lớn Sài Gòn. Tù chính trị nổi lên phản đối cuộc sát nhân theo pháp luật này, họ la lên vang dậy ‘‘ đả đảo khủng bố! đả đảo đế quốc Pháp!’’ tiếng hô hét vượt khỏi tường nhà ngục náo động phố xá giữa châu thành. Vòi rồng chữa lửa phun nước nhận chìm những tiếng thét của họ, ngục tốt áp vào tung hoành đánh đập đổ máu, đóng chân họ vào cùm sắt.
 
Ngày 13 tháng giêng 1931, 80 người làm công hãng dầu lửa Standard Oil ở Nhà Bè bãi công khi một người phu ở kho dầu bị đuổi việc. Vào tháng 3, cũng tại kho dầu đó, có kẻ lén phóng hỏa, cắt dây điện tín, điện thoại. Dân thợ tước vũ khí bọn lính lưu động trong lúc chúng cản ngăn mấy người diễn thuyết, trong khi đó một tên lính bị thương, tên Thọ, sau đó hắn chết ở nhà thương.
 
Trong tuần tháng giêng, tháng 3 và tháng 4, mật thám khám phá ở Sài Gòn ba ‘‘nhà in’’  (một ở phố Đại tá Boudonnet, một ở đại lộ Kitchener và một ở phố Champagne), là những nơi in ấn báo Cờ Đỏ, Cờ Vô Sản, Nhà Quê, và cả những truyền đơn và sách báo của Đảng Cộng sản Đông Dương, hơn hai chục người bị bắt.
 
Các ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần lượt lọt vào lưới mật thám.
 Dương Hạc Đính, người sáng lập báo Cờ Đỏ và Ngô Gia Tự bị bắt ngày 31 tháng 5 năm 1930;
Lê Văn Kiệt từ Moscou về, bị bắt vào tháng giêng năm 1931,
 Bùi Công Trừng vào tháng 2.
 Ngày 18 tháng 4 đến lượt Trần Phú, tổng bí thư của đảng, cùng với 200 người khác bị tình nghi, trong một trận bố ráp lớn ở Sài Gòn. Trần Phú sau đó bị mật thám tra tấn đến chết ngày 6 tháng 9 năm 1931.
Những người bị giam khác đến tháng 5 năm 1933 mới bị xét xử.
 
Điểm lại trong bốn tờ báo hàng ngày ở Sài Gòn, ta thấy từ tháng 5 năm 1930 đến tháng 6 năm 1931 có tới 124 cuộc nông dân biểu tình. Sở mật thám ghi 24 cuộc bãi công ở Nam Kỳ. Từ ngày 9 tháng 12 năm 1929 đến ngày 30 tháng 4 năm 1931, tòa án kết án về tội phạm chính trị: 2791 nông dân, 374 công nhân kỷ nghệ, 28 giáo viên và 18 viên chức, trong số 3552 người bị truy tố (86).
 
Ở Trung Kỳ
Sôviết nông dân Nghệ Tĩnh tháng 9 năm 1931
 
Ngày 1 tháng 5 năm 1931, 1500 nông dân vùng lân cận thành phố Vinh lặng lẽ tiến về phía nhà máy diêm Bến Thủy. Đoàn người không mang phù hiệu, không vũ khí, ‘‘người ta chỉ nghe thấy ba ngàn tiếng chân trần bước trên đất’’ . Không để cho nông dân lôi kéo công nhân vào phong trào, thanh tra Petit, phụ trách đội cảnh vệ An Nam, cho ba mươi lính gác trong xưởng, không một ai được động địa. Đoàn nông dân cứ tiến bước. Petit hạ lệnh bắn. 5 người chết, 15 bị thương. Sau đó công sứ Le Fol ước lượng khoảng 15 người bị chết và cho đó là ‘‘những người cộng sản biểu tình định chiếm nhà máy diêm Bến Thủy’’.
 
Ngày 3, tại làng Hạnh Lâm (Thanh Chương), nông dân tập hợp nhằm chiếm lại những công điền công thổ bị tên Ký Viễn gian hùng thu đoạt. Tên chủ đồn điền này khoáng trương vùng đất nhượng của hắn bằng cách lấn sang cả đất làng, theo lời tổng đốc Phạm Bá Thọ ở Vinh. Những đơn khiếu nại từ trước tới lúc đó gửi đến công sứ ở Vinh nhưng không kết quả. Thanh tra Petit, ngày 5, cũng can thiệp một cách tàn bạo như ở Bến Thủy. Hắn cho bắt 9 hương chức, cho họ là kẻ trách nhiệm, đem nhốt trong chùa. Dân làng bao vây ngôi chùa phản đối. Petit hạ lệnh bắn: 16 người chết, 15 người bị thương. Cũng thằng Petit này vào tháng 10, ra lệnh đốt các làng Yên Tha và Yên Phúc (như lời khai của hắn năm 1933 trong vụ án lính lê dương). Phạm Bá Thọ sau đó bị cách chức tháng chạp vì không thi hành những lệnh quá dã man trên.
 
Vào tháng 6 và tháng 7, những cuộc biểu tình đòi hỏi lợi quyền kinh tế lan rộng, tuy không đổ máu nhưng không đạt kết quả: trong tỉnh Nghệ An, tại các huyện Thanh Chương, Nghi Lộc, Đồ Lương, họ đòi bồi thường cho những nạn nhân ngày 1 tháng 5; rồi ở Hà Tĩnh, tại Can Lộc; ở Nha Trang, tại Tân Định. Bắt đầu từ tháng 8, những cuộc biểu tình biểu lộ tính chất chính trị một cách công khai.
 
Những tỉnh đầu tiên rung chuyển mạnh mẽ nhất là những tỉnh phía Bắc Trung Kỳ, những tỉnh nghèo đói cùng cực Nghệ An và Hà Tĩnh. Đi theo con đường đàn anh đã vạch trong phong trào 1908, nông dân trong hai tỉnh tuân hành nhằm đòi giảm thuế thân, bỏ sưu dịch và canh gác luân phiên, những yêu sách muôn thủa của người bần cùng. Nhưng lần này họ được những trí thức trẻ tuổi đào tạo ở Quảng Châu và Moscou về, tổ chức và lãnh đạo. Ban chấp hành đảng bộ tỉnh của Đảng Cộng sản huy động lực lượng nông dân đứng lên cướp chính quyền.
Những cuộc tuân hành thị uy cứ bành trướng mạnh lên và biến thành một phong trào bạo động khởi nghĩa vào tháng 9 và tháng 10 năm 1931.
 
Dân biểu tình tấn công nhiều đợt vào các huyện lỵ Nam Đàn, Đồ Lương, Thanh Chương, Nghi Lộc (Nghệ An); Can Lộc, Kỳ Anh, Hương Sơn (Hà Tĩnh ), cắt các đường dây điện tín, đập tan các trụ sở cảnh sát bản địa, thả các tù nhân, phá hủy các trạm phân phối rượu; phóng hỏa các nhà ga, một số nhà thờ; giết chết những tên quan lại và hương chức mà dân căm ghét.
 
Trong bản tường trình của viên thanh tra chính trị Trung Kỳ gửi cho khâm sứ ngày 3 tháng 10 năm 1930 có đoạn:
 
Chức việc cai trị không kiểm soát nổi nhiều nơi thuộc Vinh và Hà Tĩnh. Không còn chính quyền ở đó nữa. Hai huyện Thanh Chương và Nam Đàn nằm trong tình trạng phiến loạn hoàn toàn.
Các quan huyện không bước chân ra khỏi cửa các đồn bót do lính bản địa bảo vệ họ. Quan trên triệu tập hương chức làng họ không hỏi đáp nữa. Các lý trưởng bị buộc phải ký vào tờ khai không công nhận triều đình Huế và chính phủ bảo hộ, chỉ công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương. Lính không dám đi vào các làng.
Các tòa án nhân dân bắt đầu xét xử, các nhà giàu phải đóng góp vào quỹ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Các huyện Anh Sơn, Hưng Nguyên, và Nghi Lộc 50% trong số nhân dân không tùng phục chính quyền (87).
 
Vào tháng 10, phong trào khởi nghĩa lan tới miền trung Trung Kỳ: phá huyện lỵ Đức Phổ (Quảng Trị) và Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), nơi có những cuộc tấn công ngày càng nhiều.
 
Trong những làng ở Nghệ An mà hương chức và lính làng đã bỏ chạy, những đoàn tự vệ ững hộ các tổ chức nông dân. Từ tháng 9, các tổ chức nông dân tự lập thành Sôviêt, nắm trong tay việc quản lý hành chính và tiến hành phân phối công điền công thổ trước nay bị chiếm đoạt, mà không đụng chạm đến quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ, tịch thu các kho thóc, phân phát cho những người bị đói, tổ chức cấy cày lao động tập thể, hủy bỏ các thứ thuế, buộc các chủ ruộng đất giảm địa tô, khởi đầu mở lớp dạy học chữ quốc ngữ và giáo dục chính trị. Phong trào Sôviêt lan ra các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Hương Sơn thuộc Hà Tĩnh.
 
Cuộc đàn áp khởi diễn: máy bay ném bom và bắn liên thanh vào đám đông để giải tán các cuộc tập trung; phóng hỏa các làng và giết người không cần xét xử. Đội quân lê dương chủ yếu hành binh, được lực lượng bộ binh thuộc địa và vệ binh bản địa tăng cường, tất cả đóng quân trong 112 đồn trại thiết lập trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (như ở Nam Kỳ số đông bắt đầu xây dựng từ tháng 10). Cuộc đàn áp này lập lại một cách khoáng đại hơn những cuộc ném bom và hành quân tháng 2 năm 1930 ở Cổ Am chống lại Việt Nam Quốc dân đảng, Những đội lính bổ sung An Nam ở các hương thôn cũng góp phần vào công cuộc đàn áp.
 
Một thực dân già ở Bắc Trung Kỳ viết trên báo Tiểu Bình dân (Le Petit Populaire) ngày 1 tháng 4 năm 1932:
 
Quân lê dương xông vào nhà người ta muốn lấy gì thì lấy, chúng cưỡng hiếp đàn bà con gái. Đàn ông, thanh niên bị bắt rồi bị bắn ngay không cần xét xử.
 
Một bức điện tín mật của khâm sứ, ghi số 280 RS gửi đi ngày 8 tháng 10 năm 1930:
 
Khâm sứ Trung Kỳ và Viện Cơ Mật sức cho các công sứ và các quan đầu tỉnh Trung Kỳ như sau: Phải giải tán tất cả mọi cuộc biểu tình bằng mọi cách (bằng vũ khí); mọi kỳ mục và thân hào có ảnh hưởng thực sự trong làng đều phải chịu trách nhiệm về người và tài sản trong cuộc hỗn loạn trên đất đai làng họ. Coi tất cả những người cộng sản cầm đầu cuộc nổi loạn là kẻ ngoài vòng pháp luật và cần phải lập tức loại khỏi phong trào bất kể bằng biện pháp nào, không cần điều tra trước hoặc bắt một cách hợp lệ (88).
 
Lệnh đó ban ra chỉ là thừa nhận cái tình trạng đang xảy ra trên thực địa. Ngay từ ngày 12 tháng 9 năm 1930, sáu quả bom do máy bay ném xuống đám biểu tình ở Hưng Nguyên cách Vinh 3 cây số, đã giết chết hơn 200 người biểu tình.
Một kỹ sư Pháp kể lại cho bà Andrée Viollis:
 
Gần Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), sau khi đội quân lê dương bắt đầu hoạt động, cuối tháng 12 năm 1930, người ta được báo tin cách đó vài cây số có một đoàn biểu tình không vũ trang đang đi dọc theo bờ sông. Đó là vào lúc 6 giờ sáng. Người ta liên cử một khẩu đôi liên thanh đặt tại một góc khuất đầu đường. Lúc hàng ngàn người bản địa tập trung tại ngã tư đó, người ta lia thẳng liên thanh vào đó.
Thật là khủng khiếp, những tiếng la hét của những người không có vũ khí tự vệ, đầu óc ruột gan bị bắn tung lên mắc vào bụi cây. Có khoảng ba chục người chết. Sau đó ít lâu, cũng tại khu vực đó, một tên quan bản địa đến báo tin một cuộc biểu tình sẽ diễn ra vào đêm hôm sau. Viên quan đó nói: ‘‘Lần này không nên bắn, chẳng ích gì’’. Viên công sứ trả lời: ‘‘Chớ có nài nỉ vô ích! Đó là bọn cộng sản, phải giết hết bọn chúng’’.
 
Thế là lại một cuộc ấu đả, lại có thêm những người chết. Đó là vào tháng giêng năm 1931. Tại Tung Ha, người ta báo có một cuộc biểu tình vào đêm hôm sau, trong một khu rừng thưa nào đó. Người ta cử 5 lính cùng một khẩu liên thanh. Họ núp sau bụi tre. Đến nửa đêm, khoảng 700-800 dân làng lặng lẽ tập trung lại. Đó là một đêm sáng trăng. Một vài diễn giả đứng lên, những người khác ngồi xổm xung quanh, chăm chú nghe. Bỗng hai tràng súng liên thanh bắn ra, cách 15 thước làm 130 người chết. Người ta lượm những người bị thương và người nào chữa khỏi đều bị bắt giữ. Trong những điều kiện vệ sinh của các nhà tù xây dựng vội vã để ứng phó trong mọi khu vực rối loạn, thì những kẻ bị giam trong đó cũng gần như bị tử hình (89).
 
Trong tháng đó, tri huyện Nghi Lộc cùng với lính lê đi tùy tùng bị đánh chết rồi vứt xác xuống sông. Đối phương trả thù: 30 nông dân bị giết, 200 người bị bắt.
Những người đứng lên không mất can đảm: họ hành huyết lối mươi hai kỳ hào và chức dịch bản địa. Viên đại úy Doucin tại bót Đồ Lương báo cáo ngày 20 tháng 3 năm 1931: ‘‘ Những kẻ nổi loạn vẫn tiếp tục kiểm soát trong vùng, phải có những biên pháp thật nghiêm khắc mới lập lại trật tự và an ninh’’.
 
Ở Quảng Ngãi cũng vậy, dân chúng tập hợp và tuần hành đến các huyên lỵ, nhất là ở Sơn Tịnh, Mộ Đức và ở trung tâm tỉnh, ngày càng nhiều đông đảo.
Cuộc tấn công đồn bót mở đầu ngày 7 tháng 11 năm 1930, ngày kỷ niệm cuộc Cách mạng Nga: 1500 quân khởi nghĩa tấn công thành Phủ Diễn (Nghê An) và 600 tấn công bót Can Lộc (Hà Tĩnh). Đó là các cựu học sinh trường quân chính Hoàng Phố chỉ huy hàng ngàn người chiến đấu sẵn sàng hy sinh. Ngày 8 tháng 2 năm 1931, họ nhằm tấn công bót Châu Mỹ Đông (Quảng Ngãi), ngày 14 tháng 4, các bót Lạc Thiên và Lai Thạch (Hà Tĩnh), ngày 12 tháng 5, lại bót Lạc Thiên và Hương Khê (Hà Tĩnh), ngày 25 tháng 6, đến lượt bót Đa Thọ (Nghê An).
 
Sở mật thám ghi nhận ở Trung Kỳ từ 1 tháng 5 năm 1930, tới 11 tháng 9 năm 1931 có 153 cuộc biểu tình và 8 cuộc tấn công đồn bót.
 
Một kế hoạch tấn công lọt vào tay quân nghịch ở Thuận Trung (Đồ Lương ) ngày 30 tháng 4 năm 1931 qui định như sau:
 
Ngày 1 tháng 5, các tổng Lang Điền, Đang Sơn, Đồ Lương, Văn Trang, Cát Ngạn sẽ tấn công Đồ Lương (thủ phủ và đồn bót). Các tổng Thuận Trung, Đại Đồng, Bắc Hà sẽ tấn công bót Co Om.
Ngày 30 tháng 4 vào buổi tối, tập họp tại những địa điểm đã định, họp và chuẩn bị khâu cuối cùng, xuất hành để tấn công vào lúc 6 giờ. Đúng 7 giờ tấn công vào tất cả các đồn bót.
Mọi đảng viên Đảng Cộng sản đều phải tham gia cuộc tấn công. Kẻ nào tìm cách chạy trốn sẽ bị tử hình vào hôm sau (90).
 
Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1931, tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, phần lớn những người khởi xướng phong trào rơi vào tay quân nghịch, các ban chấp hành, các chi bộ bị tan rã. Những người phụ trách thành lập Sôviêt như Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Cao Diệt, Lê Kiên đều bị bắt. Cảnh sẽ bị chặt đầu tại Hải Phòng ngày 31 tháng 7 năm 1932. Tại Quảng Ngãi, Nguyễn Nghiêm bị giao cho tòa án quan lại, bị chém đầu ngay, ngày 22 tháng 4 tại bờ sông Trà Khúc.
Cơ quan mật thám chính trị phá hủy các ban chấp hành mỏ Hòn Gai Cẩm Phả, Uông Bí, cũng như các tỉnh Nam Định, Hải Phòng (Vũ Đình Châu, Nguyễn Hữu Tạo). Một ủy viên trung ương đảng (Trần Văn Lan) và một trong những người sáng lập đảng (Trịnh Đình Cửu) lọt vào tay quân thù.
 
Dần dà phong trào tự tan rã. Quần chúng ở địa phương này không phải chỉ chịu sự đàn áp mà còn phải chịu một nạn đói nghiêm trọng: lúa tháng 5 và tháng 10 năm 1930 bị mất mùa và dân cư đành phải cầm hơi bằng khoai và kê nhập từ các tỉnh khác.
 
Chỉ riêng trong ngày 1 tháng 5 năm 1931, có gần 500 người biểu tình bị bắn chết tại Trung Kỳ, theo lời phản đối của luật sư Charles Cancellieri - thông tín viên của Hội Cứu tế Đỏ Quốc tế ở Sài Gòn - trong bài đăng trên báo Thư tín Đông Dương (La Dépêche d’Indochine) ngày 18 tháng 6 năm 1931.
 
Ngày 29 tháng 5, viên đội Perrier bị những người nổi dậy giết chết. Quân lê dương thề trả thù cho y. Cùng ngày, các viên đội Layon (ở bót Đồ Lương do đại úy  Doucin chỉ huy) và Von Bargen (ở bót Nam Đàn) giết hại dã man hàng chục người dân vô tội bị giam giữ trong bót Nam Đàn từ một tuần lễ trước đó. Hai tên lính lê dương đó mãi hai năm sau mới bị đem ra xét xử, ngày 12 tháng 6 năm 1933, ở Vinh cùng với một tòng phạm khác. Chúng được tha bổng. Phải chăng viên chưởng lý Moreau đã biến bản cáo trạng của hắn thành một bài tán tụng? Tán tụng chính quyền (‘‘Tôi xin ký cả hai tay vào án lệnh số 280’’ , Moreau tuyên bố như vậy). Tán tụng các bị cáo: y nói họ đã tuân theo lệnh của cấp trên.
 
Chính sau vụ án này, ‘‘ vụ bê bối ở Vinh’’ (91) đã làm bộc lộ những mật lệnh của khâm sứ Le Fol năm 1930, và truyền khẩu lệnh của toàn quyền Robin năm 1931. Thiếu tá Lambert công bố:
 
Chúng tôi nhận được những lệnh đầu tiên khi cuộc nổi loạn lan đến Hà Tĩnh và xa hơn vào tháng 10 năm 1930 (và sau đó nữa), những lệnh ông toàn quyền Robin truyền khẩu. ‘‘Đàn áp, tàn sát, bắt tù binh càng ít càng tốt.’’
 
Tên lính lê dương Forberg khẳng định rằng công sứ ở Vinh đã nói phải giết 5000 người nếu cần để giữ lại 500 người tốt thôi. Y nhắc lại rằng có những sự việc cũng nghiêm trọng như thế đã xảy ra trước vụ Perrier, mà cũng không hề thấy một điều tra chính thức nào cả (92).
 
Phần đông người chứng bộc lộ thái độ vô lương một cách trắng trợn. Đây xin ghi đùa, không chọn lựa, ba lời khai sau đây:
Chánh án: Ông đã cho tra tấn tù nhân.
Trung úy Lemoanne: Làm thế để cảm ứng dân chúng.
Chánh án: Các bị cáo nói rằng họ đã nhận những chỉ thị truyền khẩu.
Đại úy Doucin: Nhà tù đã đầy ắp. mà người ta không ngưng bắt bớ.
 
Mặt khác, có những chỉ thị chính xác đưa ra trong công văn mật số 280 đề ngày 8 tháng 10 năm 1930, ra lịnh phải hạ sát liền tất cả những người công sản bị bắt quả tang, hoặc người biểu tình. Tôi vẫn biết rõ lính lê dương đã lao vào những hành động đẫm máu.
 
Thế nhưng, theo ý kiến riêng của tôi, họ vẫn chưa bắn giết đủ mức cần thiết!
 
Cha Gauthier khẳng định liên minh giữa thanh gươm và nước thánh. Trước tòa, ông ta tuyên bố:
 
Cần phải có người mạnh tay đôi chút đến làm cho họ (những người nổi loạn) hiểu biết phải trái. Những người lính lê dương, tôi xin đảm bảo trước tòa rằng những người lính lê dương đó đã làm một sự nghiệp tốt đẹp, sự nghiệp yêu nước, sự nghiệp nước Pháp, và mang lại hòa bình cho xứ sở này.
 
Ta hãy trở lại năm 1930-1931, trong tình hình khởi nghĩa ở phía Bắc Trung Kỳ và cuộc khủng bố bừa bãi. Ở chính quốc, dư luận công chúng và chính phủ tỏ ra lo ngại.
 
Cuộc khủng hoảng chúng tôi đang chứng kiến rất nghiêm trọng.
Chúng tôi không sao đoán trước được sức độc tố (virus) cộng sản thâm nhập vào một giai cấp bao gồm những kẻ mù chữ và những con người năng lực tiềm tàng dường bởi thói quen chịu đựng và thường thất vọng. Các biến cố đã phát lộ cho ta thấy việc đánh thức các giới dân cư ở nông thôn này, làm họ giác ngộ, có ý thức giai cấp, là một việc quá dễ dàng, ta không khỏi ngạc nhiên. Cuộc nổi dậy của nông dân ở Nghệ Tĩnh thực sự là một cuộc đấu tranh giai cấp (93).
 
Ngày 2 tháng 6, ngày hôm sau vụ Layon và Von Bargen dã man giết người, toàn quyền Robin giao trách nhiệm cho chánh án tòa thượng thẩm Hà Nội là Henri Morché lập một ủy ban điều tra về cuộc nông dân khởi nghĩa ở Trung. Bản báo cáo của ủy ban này nêu rõ những nguyên nhân kinh tế và chính trị rồi kết luận về cần yếu cải cách.
 
Ủy ban điều tra hỏi những người cai trị ở đủ mọi cấp bậc, từ tác giả văn bản 280, Le Fol, đương nhiệm khâm sứ Trung Kỳ từ tháng giêng năm 1929, cho tới những quan lại nhỏ hơn, kể cả người bản địa, như tổng đốc, tri huyện, đến cả các công sứ Vinh và Hà Tĩnh là các ông Bottini và Bernay; rồi đến các ủy viên Hội đồng các tỉnh, các ủy viên Hội đồng Dân biểu, giám đốc Sở Địa chánh Vinh, chủ tịch Phòng thương mại và nông nghiệp Bắc Trung Kỳ, đại biểu Trung Kỳ trong Hội đồng kinh tế Tối cao, giám đốc Sở Nông nghiệp, một đốc công trong nhà máy xe lửa Trường Thi, các kỹ sư Sở Công chính, một tư vấn thành phố Vinh; cả đến những quân nhân và cảnh sát, có một số người mà chúng ta đã biết như Petit và Lambert, chúng mô tả cảnh sát nhân của chúng một cách tự nhiên; hay như đại úy Doucin nhấn mạnh về tình trạng khốn cùng. Những nhà truyền giáo không chỉ dừng lại ở chỗ nếu những điều mắt thấy tai nghe về cảnh khốn cùng mà còn nêu ra những nguyên nhân và những sai lầm của chức việc cai trị, họ nhấn mạnh: thuế thân là một điều bất công: Những người nghèo cũng phải nộp thuế như người giàu, họ phải được miễn thứ thuế đó. Đức Cha Dalaine tố cáo:
 
Người ta tăng các thứ thuế 30% năm 1929. Người ta xếp hạng ruộng đất quá mức. Để nộp được thuế, nông dân phải bán mọi thứ.
Con trâu đáng giá từ 35 đến 45 đồng, chỉ bán được 9 đến 10 đồng.
Đàn trâu bị lùa ra Bắc Kỳ trước đây một tháng. Tôi có biết một làng không theo đạo, họ phải trả tới 600 đồng tiền thuế. Cả làng chỉ gom được 340 đồng. Tri huyện gọi chánh tổng lên giao hẹn hôm sau phải mang đủ số tiền nộp là 600 nếu không sẽ bị cách chức và bị tù (94).
 
Ông Roule, thanh tra nông nghiệp ở Vinh, cũng nêu lên tình trạng thiếu trâu cày và nạn đói, đề ra một biện pháp dễ dàng có thể cứu vãn tình thế:
 
Công việc dẫn thủy nhập điền sẽ làm tăng thu nhập 50%. Lúa sẽ được cấy kịp thời, mùa gạt sẽ chắc chắn. Từ cuối tháng 4 năm 1931, người dân đã phải bán tất cả mọi thứ. Họ đã phải bán một phần ba số trâu bò của họ với giá hạ cho lái buôn ở Bắc Kỳ. Lúc trước người dân kêu ‘‘ đói lắm!’’, còn bây giờ thì ‘‘đói chết!’’(95)
 
Tù nhân cũng được chất vấn (không ai có thể nói được là cuộc điều tra chỉ tiến hành nửa vời!): một học sinh trường quốc học Huế bị đuổi, Trương Phong, ủy viên ban chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương, ba cựu giáo viên, một dân cày, một phu khuân vác, hai người đàn bà nghèo khổ bán gạo ở chợ. Trong số các tù nhân đó, 5 là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, và 2 cựu đảng viên Tân Việt, bị bắt từ 1929.
 
Trương Phong và Thái Văn Giai, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đòi hỏi người ta phải công nhận cái lý do chính đáng của cuộc nổi dậy ở một xứ mà ‘‘ trẻ con 12 tuổi phải làm việc từ sáng đến tối ở nhà máy Diêm để kiếm từ 8 đến 10 xu , còn quan lại sống bám vào dân, lại còn đàn áp dân một cách mù quáng.’’
 
Dân chúng không biết đến quan cai trị người Pháp vì họ ở quá xa.
Người dân chỉ biết những quan lại đáng căm ghét. (Để lôi kéo những kẻ khốn cùng) người ta nói với họ về hủy bỏ thuế khóa, chia ruộng cho nông dân, tăng lương cho công nhân. Quần chúng không phải là cộng sản nhưng họ bất mãn.
 
Về bần cùng và nạn đói càng ngày càng thêm nghiêm trọng trong hai năm gần vừa qua, đấy là những nguyên nhân đầu tiên gây nên loạn lạc, thế mà toàn thể người chức trách đều đồng nhất mù quáng về chính trị, họ xem đó hầu như là một thứ vận mệnh.
 
Người ta đã khá nói về những cưỡng bách kinh tế không sao chịu đựng nổi, đổ vào đầu những người cùng khốn nhất, người ta nói về thuế thân, thuế muối, thuế rượu, thuế chợ, thuế củi đốn trong rừng, người ta nêu ra những đồng lương chết đói, những sưu dịch, địa tô quá nặng, nói đến tình trạng quá sức chịu đựng của tầng lớp vô sản nông nghiệp, nạn thất nghiệp do khủng hoảng, do hầm mỏ ở Lào đóng cửa, do những công trình lớn ở Đắc Lắc và Công Tum dừng lại, buộc từng đoàn người không việc làm kéo trở về Nghệ An.
 
Phần lớn trách nhiệm về tình hình khuẩn bách đó, người ta đổ trúc trên đầu viên chức An Nam hối lộ tham nhũng. Đó là một bản miêu tả tình hình thấu đáo, nhưng phần trách nhiệm của chính quyền thực dân vẫn ẩn trong bóng tối: người ta nói về ‘‘sự nhận định sai lầm’’  (Bottini), về ‘‘ một vài lạm dụng có thể có’’ (Le Fol), về thiếu khai dẫn nước vào ruộng đất.
 
Đối với một vấn đề nghiêm trọng như về độc quyền rượu, người ta nói thêm một cách phù phiếm: ‘‘dân bản địa không ưa rượu của chúng ta’’. Còn về độc quyền muối, Le Fol nhấn mạnh về tính chất làm mất lòng dân nhưng lại thêm: ‘‘Độc quyền muối tăng thêm thu nhập nhiều cho ngân sách’’.
 
Thái độ viên quản đốc xưởng Trường Thi cũng trắng trợn không kém: y hoan nghênh ‘‘hành vi tẩy rửa’’ của tên đặc vụ mật thám Billet, hành vi đàn áp đã làm cho đường sắt trở lại yên ổn.
 
Bác sĩ Lemoine, đầu trưởng bệnh viện Vinh, ngày 22 tháng 7, thốt lời nhân đạo để nhấn mạnh việc cứu trợ khẩn cấp vì thấy nạn đói vẫn kéo dài ở Nghệ An. Ông nêu ra đồng lương khốn khổ của phu phen, những khoản thuế đã chiếm mất phần lương cần thiết để sống còn, ông gợi các bữa cháo cứu đói đang bắt đầu tổ chức, và cần phải tổ chức thêm nhiều lên (một người dân đói ngã chết ngay dưới mắt ông toàn quyền tại buổi phát chẩn cháo ở Nghi Lộc).
 
Nhiều bà mẹ không còn sữa cho con bú, hai vợ chồng bác sĩ cho họ sữa đựng vào các bình bú, họ sẽ đem bình trả lại ngày hôm sau.
 
Bộ trưởng Paul  Raynaud sang Đông Dương thị sát nhằm lúc phong trào nông dân đã chìm đắm.. Ông ta tới Sài Gòn ngày 16 tháng 10 năm 1931. Andrée Viollis đã kể lại quang cảnh đầu tiên mà Bộ trưởng phải chạm trán ở Vinh vào tháng 11:
 
Trong một khoảnh đất có hàng rào bằng gỗ có tới ba bốn ngàn con người mặc quần áo nâu rách tả tơi, tua tủa những cánh tay quờ quạng, những cánh tay khô xác, xương xẩu cầm những rổ rá đưa ra, không còn gì phân biệt tuổi tác, nam nữ, chỉ là một đám dân khốn cùng đến cửa chết. Bọn lính dáng bộ cường tráng no đủ, mặc đồng phục trắng, chững chạc điều khiển và duy trì trật tự bằng những cú dùi cui đập vào đám dân màu đất đó. Những phụ nữ người bản địa dùng đấu gỗ đong độ một kilô gạo vào mỗi rổ rá; mấy đứa con nít trần truồng nhào xuống đất để nhặt những hạt gạo vãi trong bùn bằng móng tay của chúng (96).
 
Nếu những điều ông Raynaud thấy làm ông ngập ngượng, nếu ông có thể đau lòng theo như ông tỏ với bà Viollis, ông ta cũng chẳng đưa ra biện pháp gì để tránh những cảnh bi thảm thế đó tái diễn. Ông chỉ có thốt ra những lời giận dữ đối với các tù chính trị.
 
Một trong số người tùy tùng ông khoe khoang rằng có tới 37 trung tâm phát chẩn như ở Vinh đã được tổ chức: ‘‘Chúng tôi nuôi độ 80.000 người có ghi tên, cứ năm ngày phát gạo một lần.’’ Những đợt phát gạo ở Nghệ An ngưng ngay sau khi ông bộ trưởng đi khỏi.
 
Nội bộ Đảng Cộng sản Đông Dương phân liệt
 
Chiến lược gọi là ‘‘thời kỳ thứ ba’’ của Quốc tế Cộng sản được đảng cộng sản chấp nhận đã dẫn phong trào nông dân tới thất bại đẫm máu. Ở Trung Kỳ tổn thất nặng hơn ở Bắc và Nam Kỳ: 4.000 người bị bắt từ ngày 1 tháng 8 năm 1929 tới 30 tháng 6 năm 1931 (số trong giấy ghi của mật thám tháng 7 năm 1931) và có tới 1760 ‘‘người phiến loạn bị giết’’  trong khu vực Vinh và Nghệ Tĩnh (công bố của công sứ Le Fol).
 
Bi kịch nông dân Nghệ Tĩnh đặc biệt gieo ít nhiều rối loạn trong hàng ngũ của đảng cộng sản. Ban chấp hành trung ương chỉ trích xứ ủy đã phát động một cuộc bạo động non. Vào năm 1931, những chiến sĩ cách mạng ở Nghệ An, không đồng tình với tỉnh ủy, đứng ra lập một nhóm độc lập, Vừng Hồng (97); Ở Nam Kỳ, Đào Hưng Long, lúc đó là đặc phái viên của Đảng Cộng sản Đông Dương tại miền Tây, lập một nhóm độc lập ở Cà Mau gọi là Liên minh Cộng sản đoàn, phát hành tờ báo Vầng Hồng lưu hành ở vùng Bạc Liêu, phê phán đảng cộng sản về cuộc vận động phiêu lưu ở Nghệ Tĩnh và gieo khủng bố ở miền Nam, nơi đây phong trào nông dân chuyển biến thành manh động.
 
Một nhóm cộng sản khác có thái độ chỉ trích thành lập ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định, do sáng kiến Lư Sanh Hạnh, thành ủy viên Sài Gòn. Đến tháng 8 năm 1932 Thành ủy Sài Gòn thành lập một Ban chấp hành lâm thời nhằm khôi phục đảng, ban chỉ đạo đảng bị hạ ngục từ tháng 4 năm 1931. Nhóm cộng sản này phát hành tờ Lao Động, tổ chức hoạt động trong đám thủy thủ, liên hệ với các chiến sĩ phân tán ở Bắc Kỳ, và tổ chức một số chi bộ mới, trong đó có chi bộ nhà máy rượu Bình Tây (3 người) (98).
 
 
Đào Hưng Long và Lư Sanh Hạnh sau đó chẳng bao lâu gia nhập phái Tả đối lập, thành lập ở Sài Gòn từ cuối năm 1931.
 
Khá lâu về sau, lịch sử chính thức của Hà Nội mới công nhận rằng trên toàn quốc chưa có những điều kiện chủ quan và khách quan đầy đủ, phong trào Sôviết Nghệ Tĩnh thiết lập chỉ trong khung khổ một vùng, cuối cùng phải thất bại.(99)
 




Đăng nhập để trả lời
0
X
 
Phái Cộng sản
Tả đối lập Đông Dương 1931-1933
 
Cuộc đàn áp rung chuyển toàn xứ. Khấp khấp tràn ngập trong bầu không khí khủng bố rùng rợn, chỉ tiếng ‘‘cộng sản’’ thốt ra cũng làm cho mọi người sợ hãi. Ngay từ khi đặt chân lên đất Sài Gòn vào tháng 6 năm 1930, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương và Phan Văn Chánh bị trục xuất từ Pháp, mật thám không mất dấu họ. Thoạt tiên họ tìm kế sinh nhai. Đầu năm 1931, Hồ Hữu Tường bắt liên lạc với họ ở Sài Gòn, rồi cùng nhau dự kiến bí mật lập một phân bộ Cộng sản tả đối lập quốc tế ở Đông Dương.
 
Tiếp xúc Hồ Hữu Tường từ tháng 5 năm 1931, Đào Hưng Long tán thành luận thuyết Phái tả đối lập phê phán Quốc tế Cộng sản chỉ đạo đã liên tiếp dẫn tới thất bại. Quân đội Tưởng Giới Thạch, với vũ khí do Moscou trang bị, bắn giết thợ thuyền Thượng Hải, đánh úp cuộc bạo động vũ trang tháng 4 năm 1927. Moscou không cung cấp vũ khí Đảng Cộng sản Tàu lại buộc phải phục tùng Quốc dân đảng, đảng tư sản. Công xã Quảng Châu tháng chạp năm 1927 do phái Staline quáng mù khích động cũng dìm trong máu lửa. Thảm kịch Sôviêt Nghệ Tĩnh không ngoài ảnh hưởng chỉ đạo của Moscou.
 
Đảng Cộng sản hướng nỗ lực chủ yếu về nông thôn, kém chú ý giai cấp vô sản thành thị, các trung tâm công nghệ.Tả đối lập quan niệm vô sản là giai cấp duy nhất khả năng đóng vai tiền phong trong cuộc cách mạng. Mặc dù còn non yếu, giai cấp này vẫn nắm trong tay các trung tâm đầu não hệ thống khai thác kinh tế và thống trị thuộc địa.
 
Đào Hưng Long lìa tỉnh lên Sài Gòn, hướng ‘‘làm việc’’  trong giới phu phen thợ thuyền. Anh cùng Hồ Hữu Tường bí mật phát hành tạp chí lý luận Tháng Mười (8 số từ tháng 8 năm 1931 tới tháng 3 năm 1932), và tờ báo chiến đấu cộng sản, in bằng xoa xoa.
 
Long gặp Ngô Văn Xuyết, lúc đó làm công hãng Descours et Cabaud. Xuyết âm thầm vận động cu li, tài xế, nhân viên trong hãng, thân kết thành hội ái hữu bán công khai (nói tới công hội, nghiệp đoàn, đồng như tiếng ‘‘cộng sản’’, người ta sợ).
 
Tạ Thu Thâu cũng tập hợp quanh mình những chiến sĩ cộng sản hoang mang, ly tán sau khi đảng không còn. Vào tháng 11 năm 1931, hai nhóm Tường Thâu nhập một thành Phái tả đối lập. Họ vẫn giữ tờ báo Tháng Mười làm cơ quan lý luận. Nhà xuất bản bí mật của phái, gọi Tả đối lập Tùng thư phát hành những sách dịch ra chữ quốc ngữ, truyền bá tư tưởng Karl Marx (Tuyên Ngôn Cộng Sản, ABC chủ nghĩa Cộng sản của Boukharine, Chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học, của Angels,v.v.) độ khoảng 15 tựa sách.
 
Đó là một công trình quá sức một nhóm ít người như vậy.
 
Trong cuộc hội nghị thảo luận tháng 4 năm 1932, ý kiến bất đồng xuất hiện: Nên tiến hành bảo vệ những đề cương Phái tả đối lập trong nội bộ Đảng Cộng sản, hay đứng ngoài, trong một tổ chức đối lập tách biệt? Hội nghị không quyết định ngay lúc đó, nhưng không vì thế mà kém hoạt động. Họ xuất bản tờ báo chiến đấu Vô Sản, cơ quan Đông Dương Cộng Sản, hai tháng một lần.Số đầu ra ngày 1 tháng 5 năm 1932. In ấn theo lối thủ công. Đào Hưng Long thảo ra quyển Cách tổ chức một chi bộ sản nghiệp, hướng dẫn đồng chí mới nhập môn về hoạt động thực tế.
 
Ẩn bóng tối ở Sài Gòn không bao lâu, Phái tả đối lập bị phát giác. Mật thám túm ‘‘nhà in’’  báo Vô Sản tại nhà chữa ôtô Orly, phố Frère - Louis, lục soát trong ngõ hẻm Trương Minh Ký. Ngày 6 tháng 8 năm 1932 và những ngày sau, 65 đồng chí cùng bạn cảm tình bị bắt giam. Trong đó có ba chục người ở Sài Gòn còn mấy người khác ở các tỉnh Gia Định, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Bà Rịa. Đào Hưng Long và Hồ Hữu Tường bị bắt vào tháng 10 tháng 11. Một số người khác, như Phan Hiếu Kinh, Võ Bửu Bính, Huỳnh Văn Phương được thả vì thiếu chứng cớ. Tạ Thu Thâu đến tháng giêng 1933 được ngoại hầu tra .
 
Tạ Thu Thâu bị giam ba tháng ở bót mật thám đường Catinat. Sau khi được thả, anh kể lại tình cảnh giam cầm, tường thuật những cách mật thám tra tấn các bạn, để bắt họ ‘‘đột nhiên tự thú’’ , buộc họ cáo giác những người khác. Trong tập Ba tháng ở bót mật thám Catinat (viết bằng tiếng Pháp) mà sau này, năm 1934, Thâu trao cho Gabriel Péri - dân biểu thuộc Đảng Cộng sản Pháp tại Nghị viện - người dẫn đầu phái đoàn công nhân điều tra sang Sài Gòn. Anh nêu lên trường hợp của Nguyễn Văn Hoàng, vì không chịu nổi những đòn tra tấn tự treo cổ trong xà lim. Thoát chết, Hoàng lại bị cùm trần truồng trên hai tháng. Chị Nguyễn Thị Mỹ, khi rời phòng tra tấn bọn lính kín phải khiêng chị về xà lim, rồi ngày hôm sau đưa vô nhà thương Chợ Quán. Phạm Văn Đồng chụp lưỡi dũa đâm vào cuốn họng khi mật thám lục xét nhà bắt được khẩu súng lục của anh tự chế tạo (anh bỏ mình ở Côn Đảo sau này). Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Bé, đêm khuya cứ hai tiếng một lần bị dẫn lên phòng tra. Tạ Thu Thâu viết:
 
Tôi thất thần mỗi khi các bạn tôi bị tra tấn, mỗi khi nhìn thấy họ bị dẫn đi lên thang khu ốc. Tôi tự hỏi họ chịu đựng nổi tra tấn hay không, để giữ bí mật và tránh cho các đồng chí còn ở ngoài khỏi bị bắt (100).
 
Chúng ta sẽ còn gặp Tạ Thu Thâu trong cuộc đấu tranh hợp pháp năm 1933, nhân dịp bầu cử hội đồng thành phố Sài Gòn.
 
Nhóm người Đông Dương
trong Liên minh Cộng sản (Phái tả đối lập) ở Pháp.
 
       Ở Paris, cuối năm 1930, một ít sinh viên An Nam thoát khỏi bắt bớ trong lúc tham gia biểu tình phản đối án tử hình ở Yên Báy, các sinh viên ấy tiếp xúc người thuộc Phái tả đối lập ở Pháp như Rosmer, Naville, Frank, rồi thành lập một nhóm cộng sản đối lập chính trị Quốc tế Cộng sản ở Đông Dương.
 
Họ bị đứt liên lạc với các đồng chí bị trục xuất về Sài Gòn, họ sống tách biệt xa xôi phong trào nông dân đang làm rung chuyển xứ sở, họ tự giới hạn chiến đấu trong giới đồng hương, gắng hành động hoặc độc lập, hoặc cộng tác với nhóm An Nam theo chủ nghĩa Staline, mặc dù có những luận điểm bất đồng. Đồng thời họ mở rộng quan điểm chính trị rồi sau đó bắt đầu viết những bài phê phán Đảng Cộng sản Đông Dương, dựa vào tư tưởng Phái tả đối lập trong Quốc tế Cộng sản.
 
Cuộc Triển lãm Thuộc địa 1931, một hình ảnh dối trá tình duyên thơ mộng giữa chính quốc với các thuộc địa, sấp long trọng khai mạc vào ngày 6 tháng 5 năm tại khu vườn Vincennes. Ngày 19 tháng 4, Nguyễn Văn Tạo lập một Ủy ban phản đối, bị trục xuất trước ngày khai mạc. Trần Văn Sĩ, Nguyễn Văn Lịnh và các bạn trong ủy ban đó tự mình đảm đương kế hoạch biểu tình vào ngày mở cửa.
 
‘‘ Đừng tới dự cuộc Triển lãm Thuộc địa!’’, một truyền đơn của nhóm siêu thực (surréaliste), ký tên André Breton, Benjamin Péret và các bạn của họ đơn dục lòng ủy ban phản đối, công kích ý niệm lường gạt của ‘‘Nước Pháp vĩ đại’’, và trong phần kết luận, đòi phải ‘‘rút ngay ra khỏi các thuộc địa và kết án những tướng lĩnh và viên chức chịu trách nhiệm về những cuộc tàn sát’’ở Đông Dương.
 
Vào tháng 6, nhóm cộng sản đối lập tổ chức một cuộc tuần hành tới đền Angkor Vat để phản đối vụ trục xuất người An Nam mới đây. Không những họ đòi thả tù chính trị, mà còn đòi phải rút hồi toàn quyền Pasquier, ‘‘ thủ phạm vụ đàn áp tàn nhẫn những người dấy loạn ở Đông Dương’’.
 
Sau khi phong trào nông dân ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thất bại lưu huyết, nhóm đối lập viết một bức thư dài, ‘‘ Thư gửi các đồng chí Đảng Cộng sản Đông Dương’’  đăng trên tờ Đấu tranh Giai cấp tháng 9 năm 1931, hoan nghênh ‘‘cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn để bênh vực công nhân và nông dân’’. Họ mời đảng viên ĐCSĐD tranh luận về các biến cố 1930-1931:
 
Những người bảo vệ luận thuyết ‘‘cách mạng quốc gia tư sản dân quyền’’ thường đưa ra ý kiến chống lại chúng tôi, cho rằng tình trạng kinh tế lạc hậu của xứ Đông Dương không thể tới được giai đoạn cách mạng vô sản mà không trải qua giai đoạn chín mùi của cuộc cách mạng dân tộc dân quyền. Nhưng thực ra thì tình hình các thuộc địa và bán thuộc địa không thể xem xét tách rời với tình hình toàn thế giới.
Trong thời kỳ chiến tranh đế quốc và cách mạng vô sản, cuộc cách mạng ở Đông Dương là một bộ phận nằm trong mặt trận cách mạng thế giới, mặt trận của giai cấp vô sản chống chế độ thống trị đế quốc chủ nghĩa toàn thế giới.
Lý luận xã hội chủ nghĩa trong một nước duy nhất mà phái Staline áp đặt trong Quốc tế cộng sản làm nguy hại cho chủ nghĩa quốc tế vô sản và gây tác hại đến việc củng cố những thực hiện xã hội cấp tiến đã đạt được ở Liên Sô.
 
‘‘ Đảng của chúng tôi »! Thật là một ảo tưởng đậm đà, họ mong được gia nhập ĐCSĐD để chung cùng hoạt động, mặc dầu là trái nghịch với Moscou.
 
Phái Staline An Nam ở Paris làm cho họ phải tỉnh ngộ một cách thô bạo. Trên tờ Vô sản ngày 15 tháng hai năm 1932, thay vì trả lời cho nhóm đối lập về vấn đề cơ bản, phái Staline chỉ truyền đạt cho các đồng chí của họ những lời vu khống của đẳng cấp thơ lại quan liêu Nga: Những kẻ theo chủ nghĩa Trotski là đội tiên phong tư bản phản cách mạng.
 
Chúng ta hảy trở lại tháng tám 1932.
 
Cuộc Đại hội ở Amstecdam (Hòa Lan) chống đế quốc chiến tranh do Henri Barbuss và Romain Rolland khởi xướng, diễn ra từ ngày 27 đến 30, nhóm Tả đối lập ở Paris đưa đồng chí đi tham dự.
 
Được tin nhóm Tả đối lập ở Sàigòn bị bắt bớ, họ kêu gọi biểu tình phản đối những vụ bắt giam ấy. Người ta không thể từ chối, không để cho một người dân thuộc địa lên phát biểu, vì đó Nguyễn văn Lịnh nói rằng cái gọi là ‘‘ cuộc đấu tranh chống chiến tranh’’ do tính chất trừu tượng của nó, chỉ là một cái cớ, vô hiệu quả. Trotski đã từng nói nếu người ta không đập tan cái chế độ đưa tới chiến tranh, thì chiến tranh không thể nào tránh khỏi, và cái gọi là ‘‘xây dựng xã hội chủ nghĩa trong một xứ duy nhứt’’ sẽ tạo nên tình trạng trì trệ suy vong cho giai cấp vô sản. Vô sản thuộc địa chỉ có thể đặt hy vọng của mình nơi liên hệ với giai cấp vô sản thế giới, chứ không phải nói những ủy ban hô hào chống chiến tranh.
 
Năm 1933, Trotski thay đổi quan điểm chính trị: Tả đối lập không còn mong phục hồi Đệ tam Quốc tế. Khấp khấp họ bị phái Staline khai trừ, vu khống, hành hạ bằng bạo lực. Những phần tử cách mạng phải khước từ việc tái nhập vào các đảng cộng sản chính thức, phải xem đó là không tưởng và phản động. Họ không thể chung cùng Staline trong một Quốc tế, phải dự bị thành lập Đệ tứ Quốc tế.
 
Nhóm tả phái Đông Dương, do kinh nghiệm riêng của mình, cũng triển vọng như thế, như họ đã tỏ ý trong bức thư ngày 2 tháng 10 năm 1933 gửi cho Ban Bí thư quốc tế của Phái tả đối lập ở Paris.
 
Thàng bảy năm 1933, Phan Văn Hùm, người lớn tuổi trong nhóm Tả phái Đông Dương, quyết định tiếp tục chiến đấu tại xứ nhà. Về Sài Gòn, anh liên lạc với Nguyễn An Ninh, người thầy và bạn của anh trước kia, người đã theo lời dặn của Phan Châu Trinh: Chớ có lẩn trốn ở nước ngoài mà rung chuông gõ trống, phải trở về nước mà thức tỉnh đồng bào.
 
Ở Sài Gòn, Hùm gặp lại những người Tả đối lập anh quen biết ở Paris, tất cả đồng tham gia phong trào hợp pháp của nhóm Tranh đấu. Để kiếm sống, anh đi dạy lớp ngôn ngữ và giảng văn học Việt Nam trong các trường tư.
 
 
 
 
 
XI
 
Khủng hoảng kinh tế
và đàn ấp chính trị ở Nam kỳ
1932 -1933
 
 
 
Vào năm 1932 Nam kỳ chìm ngập giữa khủng hoảng kinh tế. Dân chúng suy sụp bần cùng trong bầu không khí gắt gao đàn áp. Thuế khóa không giảm chút nào, đời sống ngày càng bấp bênh.
 
Tháng tư, 40 thợ người Tàu xưởng dệt khăn lau bị giảm 50% lương. Tháng năm, những người làm công nhật sở Trường tiền (Công chính) tự nguyện xin giảm lương 20% để không một ai bị loại.
 
Đồn điền Phú Quốc gặp khó khăn phải đóng cửa, bỏ mặc phu Bắc kỳ và cả nhân viên người Pháp. Sau nhiều tháng trời lang thang đi tìm việc làm để kiếm sống, rốt cuộc những phu người Bắc được chính quyền đưa về xứ.
 
Hồi tháng chạp, tại sở cao su Michelin ở Dầu Tiếng, lương phu đàn ông bị giảm từ 40 xu còn 30 xu, đàn bà từ 30 xu xuống 23 xu. Họ bãi công bị đàn áp đẩm máu mà không đạt kết quả gì. Chỉ còn nước chọn một trong hai đường: nhận cảnh nửa no nửa đói hoặc ra đi.
 
Hoạt động cách mạng dường như bị tắt ngấm. Mặc dầu thỉnh thoảng một vài việc xảy ra, như tháng tư ở Sàigòn có mít ting cộng sản nhóm ở ngã tư đại lộ Galliéni, đường Arras và Huỳnh Quang Tiên; trước ngày 1 tháng năm vài biểu ngữ đỏ treo nơi này nơi khác; phu xe kéo Gia Định bãi công phản đối tăng giá giấy phép kéo xe một cách hà lạm. Quái tượng cách mạng dường như ẩn mình. ‘‘Không một sự biến nào cả trong toàn cỏi Đông Dương ngày 1 tháng Năm 1932’’, Văn phòng chính trị chứng minh như thế.
 
Tuy nhiên, âm thầm trong bóng tối biết bao chập chờn toan tính tái lập đảng cộng sản ở Sài Gòn, Chợ Lớn và khắp Nam kỳ lục tỉnh. Phái tả đối lập cũng lần hồi xây dựng.
 
Mặc dù tình hình chính trị bề ngoài có vẻ yên tĩnh đàn áp vẫn không ngưng.
Ngày 21 tháng giêng 1932, tòa đại hình Sài Gòn kết án tử Huỳnh Văn Đảm, có chân trong đội tự vệ Đảng Cộng sản Đông Dương. Tòa cáo anh đã ám sát một tên diềm chỉ.
 
Ngày 20 tháng sáu, Lê Văn Thử bị kết án 7 tháng tù. Sau khi bị trục xuất khỏi xứ Pháp về xứ, anh mở quán cà phê ở Gia Định để sống. Tòa buộc tội anh toan lập một phân bộ Cứu tế đỏ, trách anh có liên lạc với Cô Sâm, ủy viên tỉnh ủy cộng sản Chợ Lớn, và đã tiếp hai cựu chiến hữu đảng Thanh Niên là Trần Tú Chinh và Lưu Đình Tú trú ngụ nhà anh. Hai người nầy mỗi người bị 9 tháng tù.
 
Cuối tháng bảy, 32 nông dân bị bắt trong cuộc biểu tình hồi tháng sáu năm 1930 tại Bà Hom, - nơi nhiều người bị tên cò Campana bắn chết - nay bị đưa ra tòa đại hình ! Sau hơn hai năm giam ở Khám Lớn, 22 người bị kêu án từ 2 đến 5 năm tù, trong đó ba người đàn bà.
 
Ngày 6 tháng 8, ruồng bố rộng, 65 chiến sĩ hoặc người cảm tình Phái tả đối lập bị hạ ngục. Lần lược theo đó, 163 đảng viên ĐCSĐD đang xây dựng lại, gồm cả nhóm phân liệt Lư Sanh Hạnh cũng lọt vào lưới mật thám.
 
Qua tháng 11, Phạm Văn Thiên, gọi Hùng, học trò củ trường trung học Mỹ Tho, cùng hai đồng chí Trịnh Văn Ó và Nguyễn Văn Cầu, thành viên tỉnh ủy Mỹ Tho, bị tòa đại hình xử tử, buộc tội giết Lê Quang Chiêu, người bị coi là phản đảng. Phiên tòa nầy cũng kêu án lưu đày khổ sai 33 tù chính trị khác.
 
Cùng trong tháng 11 năm 1932, cảnh sát Anh ở Singapour giao cho mật thám Sài Gòn người Tây tên Ducroux gọi Lefranc, thanh tra của Đệ tam Quốc tế. Theo lời chánh mật thám L.Marty (101), ngày 23 tháng 3 năm 1931, Ducroux có giao 16.000 francs cho Ngô Đức Trì và Trần Phú, ủy viên Ban chấp hành Trung ương ĐCSĐD. Mối liên lạc giữa Moscou với ĐCSĐD đứt đoạn: Nguyễn ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng ngày 6 tháng 6 năm 1931, mãi tới 1933 mới sang Nga được.
 
Các tay cách mạng chuyên nghiệp đã tốt nghiệp hoặc đương đào tạo tại trường Staline ở Moscou, như Hà Huy Tập, Dương Bạch Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn văn Dựt...sẽ thọ lãnh nhiệm vụ gây dựng lại cuộc vận động cách mạng đã tan vỡ trong xứ. Một Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương nhập Việt Nam năm 1933.
 
 
Ba vụ án cộng sản năm 1933 ở Sài Gòn
Ngày 1 tháng 5 năm 1933, Phái tả đối lập ra tòa.
 
21 chiến sĩ gồm thợ, culi, thơ ký, thầy giáo. không người nào là cách mạng chuyên môn. Trong số đó, 16 người bị kêu án vì ‘‘có chân trong một hội kín và vận động phá rối trị an’’, có người bị ghi thêm tội tàng trữ đạn dược và súng sáu tự tạo. Họ thuộc lứa tuổi 20 chứ chưa tới 30.
 
Án quyết:
- Phan Văn Chánh và Hồ Hữu Tường, hai nhà lý luận, 4 và 3 năm tù treo.
- Nguyễn Văn Thưởng, bạn thời nhỏ của Phan Văn Chánh, trước đã bị tòa đại hình Hà Nội kết án khổ sai chung thân vắng mặt, cùng Pham Văn Đông, bị cáo chế tạo súng đạn: 5 năm và 4 năm tù thêm 20 và 10 năm biệt xứ.
- Nguyễn Hữu Hòa chuyên việc in tờ Vô Sản và sách; Nguyễn Văn Bé trách nhiệm liên lạc với các đảng viên ĐCSĐD; Lê Văn Hổ; Đào Hưng Long- thuộc xu hướng tả đối lập đầu tiên trong nội bộ ĐCSĐD từ cuối 1930 - trách nhiệm tổ chức và hoạt động thực hành: 18, 15 và 12 tháng tù.
- Nguyễn Văn Minh trách nhiệm tuyên truyền; Nguyễn Văn Đại với Trần Hải Thoại, cộng sự với Đào Hưng Long trong Liên minh Cộng sản đoàn ở Cà Mau; và Phạm Văn Lụa: 10, 8 hoặc 6 tháng tù.
- Võ Thị Bằng, cũng gọi Nguyễn Thị Mỹ; Trần Văn Xuân; Nguyễn Văn Hoàng, trách nhiệm thành lập chi bộ sản nghiệp: Nguyễn Huệ Minh, bạn đời của Hồ Hữu Tường: 3 hoặc 4 tháng tù.
-  Trần Thị Mười, bạn đời của Đào Hưng Long được tha bổng.
- Nguyễn Văn Thưởng và Pham Văn Đông bị đưa ra Côn Đảo, Đông bỏ
xương ở đó.
-       Đào Hưng Long bị đày đến hầm đá Châu Đốc, bắt đập đá với tù thường phạm. Anh khuyến khích họ bãi công, liền bị nhốt vào khám hầm, cùm chân, rồi bị gửi tống trở về Khám Lớn Sài Gòn.
-        
Chị Mỹ bị tra tấn đến chết trong năm đó.
 
Tờ Thư tín Đông Dương (La Dépêche d’Indochine) gọi vụ án nầy ‘‘vụ án trotskiste’’, vụ án đầu tiên Phái tả đối lập Đông Dương.
 
Vụ án 122 đảng viên cộng sản ngày 3 tháng 5 năm 1933
 
Một trong số trạng sư binh vực bị cáo viết cho bà  AndréeViollis như vầy:
 
Ở đây có sáu vụ riêng biệt không liên quan gì với nhau mà lại đem ghép nhau lại, trái với mọi thủ tục pháp lý, để cấu thành một tốp cộng sản. Tuy nhiên cách thức nầy có cái lợi là họ nhọ được Đảng cộng sản và đặc biệt truy tố ghép đãng viên vào tội hội hiệp hung thủ bạo đồ.
 
Bên bị cáo không có người chứng. Phía nguyên cáo trừ hai người, đều là nhân viên sở mật thám.
Tòa gồm ba quan tòa Pháp và hai thẩm phán An Nam, hai ngưới nầy không biết gì ráo về hồ sơ vụ án. Họ xét xử trong vòng năm ngày, 119 người bị truy tố, trong số có 7 người đàn bà, bị cáo ‘‘hội kín, âm mưu chống an ninh Nhà nước và hội hiệp hung thủ bạo đồ (102)
 
Ba bị cáo vắng mặt: Huỳnh Văn Đảm, số 55, bị bắt ngày 4 tháng 6 năm 1930 tại Bà Hom, bị kết án tử hình sau một phiên xử vội vã ngày 21 tháng giêng năm 1932, và đã bị chém ngày 25 tháng 3 năm 1933, hơn một tháng nay: Nguyễn Văn Quý, số 64, và Phước, đã chết trong tù, giống như trường hợp hương quản Năng, xã trưởng Hiếu, Nguyễn Trung Hanh cùng Trần Phú đều bị tra tấn đến chết, như tờ Thư tín Đông Dương ngày 23 tháng 6 năm 1936 đã nhắc lại.
 
Vụ án nầy xử lẫn lộn hoạt động chính trị và nghiệp đoàn (tuyên truyền bằng truyền đơn và báo chí, bí mật thành lập công hội và nông hội, tổ chức nông dân nghèo tuần hành đòi giảm thuế, v.v.) cùng những hành động thường phạm (lấy trộm súng ống trong đồn  Ô  Ma (Camp des Mares) năm 1929, giết ba hương chức săn người và vụ tên lính lưu động chết trong cuộc ấu đả ở Nhà Bè năm 1930, vụ đánh cướp tàu xà lúp vận tải ở Mỹ Tho năm 1933, và vụ tình nghi xử tử một người cho là phản đảng, vụ nầy đã xử rồi năm 1932.
 
Ai là những người bị cáo? Những trí thức trong đó có những người từ Moscou và Quảng Châu về, mươi người trước theo Nguyễn An Ninh trong đó có hai anh lính tập, đa số người nông thôn, thầy giáo, hương chức nhỏ, dân cày, chiến sĩ vận động trong sản nghiệp, thư ký, thợ sấp chữ, thợ điện, culi,v.v.
 
Tranh tụng vô cùng chóng vánh. Trong vụ nầy cũng như trong tất cả các ‘‘vụ cộng sản’’, giao cho sở mật thám thẩm vấn (lẽ ra thẩm vấn là nhiệm vụ quan bồi thẩm, theo pháp lý, việc sái luật ấy có thể khép vào tội vi phạm chức vụ). Những người bị cáo bị giam hằng tháng, có khi đến hai ba năm như trong trường hợp nầy.
Người ta dùng những cách tra tấn hết chổ nói, tỏ ra họ rất lọc lõi kiểu tra tấn theo lối Á châu. Nhiều bị cáo khi ra trước tòa đã bị thương tật suốt đời. Một bị cáo bị gãy cánh tay vì bị tra theo lối treo người, hai tay trói ké sau lưng. Điện cũng dùng để khảo tra, không kể nhiều ngón tay bị đập nát, kim đâm xỉa dưới móng tay. Đấy chỉ là những cách thông thường. Như thế đó người ta lấy khẩu cung người bị cáo thú nhận.
Lời thú ghi xong vào biên bản, người ta dẫn bị cáo đến trước bồi thẩm để xác nhận. Người ta cũng vừa cho bị cáo biết nếu mình phản cung, thì người ta sẽ tiếp tục tra hỏi lại cho tới chết nếu cần (103).
 
Khi Phan Bội công bố trước tòa rằng anh bị tra tấn từ 6 giờ chiều tới 3 giờ khuya, chánh án  Weill vừa nhận lời vừa thản nhiên hỏi: ‘‘Có phải bị tra tấn thật hay không? Hay chỉ bị đấm đá, như cảnh sát loi vả là thói thường khắp thế giới!’’  Phan Bội nói rỏ hơn: ‘‘Trước hết họ tay đấm chân đá, rồi đánh bằng gậy, tay trói ké sau lưng, miệng tôi ộc máu. Chính bác sĩ Montel đã chăm sóc tôi nhiều lần.’’ (104)
 
Trong những lời biện hộ, chúng tôi ghi ít lời sau đây của trạng sư Cancellieri:
 
Vụ xử ngày hôm nay vượt ngoài giới hạn tòa án nầy. Những cuộc dấy loạn đã có từ hàng ngàn năm nay: lúc đầu nổi dậy dưới hình thức Thiên Chúa giáo, rồi đến những phiến loạn thời Trung Cổ, rốt hết khi tư bản chủ nghĩa thiết lập, phiến loạn nổi lên dưới hình thức hợp lý và có tổ chức.
 Những cuộc đấu tranh ấy thất bại, tiếng tâm vang vọng lan tận dân tộc hòa bình và hiền hậu nầy. Người ta đã hứa hẹn với họ nhiều điều, nhưng người ta có giữ lời hứa không?
Sáng hôm nay người ta nói đến hội kín. Phải chăng hội kín là một cần thiết trong xứ nầy? nơi mà nhóm họp trên hai mươi người thì bị cấm. Nếu người ta muốn tránh một cuộc bùng nổ thì hảy ban hành những quyền tự do. Đào tạo đảng phái, thành lập nghiệp đoàn, thì các ông sẽ nắm họ trong tay.Nhưng nếu người ta muốn trấn áp không màng hậu quả thì cuộc cách mạng sẻ nổ ra dữ dội.
 
Những người bị cáo nầy không thành lập bè đảng hung thủ bạo đồ.
Đấy là những người có lý tưởng và họ biết rằng ám sát cá nhân, cướp bốc bao giờ Đảng của họ cũng cấm.
 
Chưởng lý trưởng Walrand đòi sáu cái đầu để trả thù ba hương chức làng bị giết năm 1930, một cái đầu bù cho tên lính lưu động Thọ chết hồi tháng 3 năm 1931, và một cái đầu thứ tám hành tội kẻ hành quyết Lê Quang Chiêu.
 
Án quyết tuyên ra vào 4 giờ sáng chủ nhật ngày 7 tháng 5 năm 1933. Một án quyết không thể táo tợn hơn nữa được:
 
8 án tử hình: Huỳnh Văn Bỉnh, 53 tuổi - Nguyễn Văn Út, 52 tuổi - Nguyễn Văn Tôn, 47 tuổi - Huỳnh Văn Gọn, cũng tuổi đó - Đặng Văn Cu, 34 tuổi - Lê Quang Sung, 23 tuổi, ký giả báo Nhà Quê, bị buộc tội chủ trì tòa án cách mạng xử tử hương chức làng ở Đức Hòa - Phạm Văn Khương, 23 tuổi, làm thợ ở kho dầu Nhà Bè, can về vụ xung đột đã làm vong mạng tên lính Thọ. Người chót bị án tử là Cao Văn Lương,33 tuổi, can vụ giết Lê Quang Chiêu, vụ mà tòa đại hình Mỹ Tho đã xét xử năm 1932 và đã kêu án tử 3 người.
 
79 người bị khổ sai hoặc cấm cố có kỳ hạn, trong có một ông già 89 tuổi, tổng cộng 970 năm tù đày.
 
19 người bị khổ sai chung thân, trong đó có Dương Hạc Đính và Ngô Gia Tự, cả hai ủy viên ban chấp hành Trung ương ĐCSĐD. Ngô Gia Tự chết năm 1935, được 27 tuổi, khi vượt ngục Côn Nôn.
 
Dương Hạc Đính, năm 1931 đã bị tòa đại hình Hà Nội kêu án vắng mặt khổ sai chung thân và Ngô Đức Trì - con ông nghè Ngô Đức Kế, người bị đày ra Côn Đảo năm 1908 - vừa bị án 15 năm, hai người thất thần khai nhận hoang mang, sau đó bị đồng chí khai trừ. Báo Tranh Đấu ngày 4 tháng 10 năm 1934, nhân dịp toàn quyền Robin ký lệnh ân xá 617 tù chính trị, còn chỉ trích thái độ Dương Hạc Đính và Ngô Dức Trì đã ‘‘ giúp mật thám bắt bớ’’.
 
Chưa đầy một tuần sau khi tuyên án, ngày thứ bảy 13 tháng 5, khoảng 90 người vừa bị kết án, bị hấp tấp tống xuống tàu Armand Rousseau chở đi Côn Nôn. Cũng bữa đó, tờ Báo chí Đông Dương (La Presse Inđochinoise) đăng bài phản đối án quyết ‘‘ tàn nhẩn và không giải thích nổi’’, rồi kể ra mươi trường hợp vô lý, như hai ca dưới đây :
 
71.NGUYỄN VĂN ÚT. Đảng viên Đảng Cộng sản, tham gia tòa án cách mạng đã quyết định xử tử hai hương chức làng Hựu Thạnh. Y đi cùng thủ lĩnh là Huỳnh Văn Bỉnh, người đã ám sát hương chức Mây ……..TỬ HÌNH
 
72.HUỲNH VĂN VO. Cựu hương quản, đảng viên ĐCS, tham gia tòa án cách mạng đã quyết định xử tử hai hương chức làng Hựu Thạnh, dự nhóm phụ trách hành quyết hương quản Mây.......... THA BỔNG
 
Tờ báo còn thêm: Chúng tôi sẽ chỉ rỏ rằng ‘‘việc thẩm vấn đo mật thám tiến hành, điều đó theo các hình luật sư là vi phạm trong công vụ!’’ Bản tổng kết chính thức về đán áp theo pháp lý những năm 1930, 1931 và 1932 :
 
Số người An Nam bị kết án …..6897
-do các hội đồng đề hình………1094
-do các tòa án bản địa ở Bắc Kỳ
và Trung Kỳ ……………………..5083
-do tòa án Pháp ở Nam Kỳ …….720
 
Trong số đó có 164 án tử hình (88 vụ đã hành quyết : 38 ở Bắc Kỳ, 46 ở Trung Kỳ và 4 ở Nam Kỳ). Số còn bị giam ở Bắc Kỳ 1091, Trung Kỳ 1879; được thả có điều kiện 2810. (105)
 
Những vụ xử năm 1933 thêm bi thảm vào bản thống kê trên.
 
Ở Pháp, Ủy ban đòi ân xá và bảo vệ người Đông Dương và các dân tộc thuộc địa do Francis Jourdain đề xướng, nhóm họp cùng Marius Moutel, Andrée Viollis, Louis Roubeaud...tức thời can thiệp, không những giáp mặt với bộ thượng thơ xã hội cấp tiến mà còn khích động dư luận công chúng bằng cách tổ chức thông tin và phản đối. Các đại biểu Ủy ban thấy thái độ ông bộ trưởng sẵn sàng; ông ta nói đã điện cho Sài Gòn không được thi hành một án nào trước khi đích thân ông xem xét hồ sơ.
 
Ngày 11 tháng 5, bốn thanh niên Pháp thuộc Liên minh Cộng sản (Phái tả đối lập) toan phát lên một tiếng vang làm cho báo chí im lìm phải lên tiếng. Họ đập vỡ vách kiến và một vài đồ đạt quí báu ở nhà Tổng Hội Đông Dương, nơi đó đang trưng bày những tác phẩm nghệ thuật đông phương. Craipeau và Rosenthal trốn thoát, còn Atlan và Lastérade bị bắt. Ngày hôm sau, các báo tường thuật vụ biểu thị bất thường đó, cho rằng gốc ngọn là bản án quyết Sài Gòn, bản án ‘‘ bỉ ổi’’  theo báo Bình Dân (Le Populaire), ‘‘công bằng’’  theo báo Le Figaro. Báo Bình Dân còn phát lời của Liên minh kêu gọi vô sản Paris: ‘‘Hảy ngăn cản đế quốc chủ nghĩa Pháp hành hình những người bị kết án ở Sài Gòn sát nhân một lần mới nữa!’’.
Phan Văn Hùm cùng Nhóm người Đông Dương thuộc Liên minh lên tiếng chung cùng những ai thử thức tỉnh dư luận.
 
Ngày 16, Ủy ban đòi ân xá tập hợp 1200 người tham dự tại Hội các Nhà Bác học. Nguyễn Văn Lịnh kêu gọi giới vô sản Paris chủ nhật tới tập họp tại Bức tường Công xã để phản đối những vụ kết án chính trị tại Đông Dương.
 
Ngày 20, một phái đoàn do dân biểu Monnerville dẫn đầu đến bộ thượng thơ để ‘‘tỏ bày sự xúc động trong giới lao động trí thức và chân tay do án quyết của Sài Gòn mới đây’’.
 
Ngày 3 tháng 7, Uy ban lại triệu tập một cuộc họp tại Nhà Hội Tương tế (Mutualité). Félicien Challaye, Victor Margueritte; AndréMalraux, kỹ sư thuộc địa Raymond, Léon Werth... cũng tham dự. Một phái đoàn được cử tới gặp A. Sarraut. Ngày 5, Francis Jourdain gửi cho bộ trưởng một bản tường trình chi tiết về vụ xử án ghê tởm tại Sài Gòn. Ông nhấn mạnh tính chất cấp bách phải ‘‘nhắc nhở những người có thẩm quyền (toàn quyền Đông Dương) về khoản 444 trong bộ luật xét hỏi hình sự để làm cho họ phải ngưng thi hành án’’. Ông nói rằng Uy ban ân xá đề nghị’’ những người bị kết án do một sự lầm lẫn đáng tiếc đã đưa ra Côn Đảo sẽ được trở lại Sài Gòn chờ được xem xét lại, một việc mà người ta không được khước từ’’. Ông gợi ý cần phải xác định rõ sự phân biệt giữa việc đánh vả và việc tra tấn theo đúng nghĩa của nó, ‘‘một hành động bỉ ổi’’ . Ông nhấn mạnh tòa án không thể căn cứ vào những lời thú nhận trong lúc bị tra tấn mà xử đoán; ông tường trình những kết án có tính chất ‘‘ độc đoán gần như hoang mang’’, sau khi ông đã phân tích lối năm chục trường hợp đặc biệt.
 
Ngày 5 tháng 8, toàn quyền Pasquier đích thân viết cho bộ trưởng bộ Thuộc địa đề nghị khoan dung: ‘‘Bản thân tôi cũng cảm thấy xúc động quá chừng khi biết được cái án quyết quá khắc nghiệt’’.(106)
 
Khi những hồ sơ chuyển tới tòa thượng thẩm Paris, Ủy ban đòi ân xá ấn hành quyển Văn minh Pháp tại Đông Dương, một tiếng kêu từ đáy lòng của Marcel Martinet để phản đối ‘‘công lý’’ bất công. Trong đó nhà thi sĩ này, bạn của Trotski, phác họa bức tranh về những biến cố gần đây, cuộc khởi nghĩa đột khởi ở Yên Báy, tiếp diễn theo sau là những trận liên thanh và mưa bom bừa bãi, những bản án vội vã của các hội đồng đề hình ‘‘giống như những tòa án quân sự đặc biệt do chính phủ ở thành Versaillais đặt ra (tàn sát Paris Công xã) năm 1871 ». Ông gớm ‘‘công lý quái gở’’ trong vụ án 122 người ở Sài Gòn, cùng với, một cách tương phản, công lý cũng không kém quái gở của tòa án Hà Nội vừa mới tuyên bố tha bổng những tên lính lê dương chuyên hành hạ và sát nhân, ‘‘ những chiến tích của bọn vũ phu tăm tối’’, mà nhà truyền giáo Gauthier mệnh danh là ‘‘sự nghiệp của nước Pháp’’, chúng được bọn chỉ huy quân sự và dân sự của chúng bao che.
 
Martinet kết thúc kêu gọi Thủ tướng và bộ trưởng Bộ Thuộc địa, chất vấn: ‘‘Tiếp tục giết người có phải là hiền minh chăng? Liệu những bản án ghê tởm do tòa án tuyên bố sẽ cứ được thi hành chăng?’’.
 
Các bản án tử hình được giảm khinh.
 
Tháng 9 năm 1933: 64 đảng viên cộng sản ra tòa
Bị giam từ tháng 10 năm 1932 vì toan tái lập Đảng Cộng sản, 64 đảng viên bị truy tố trước tòa tiểu hình chứ không phải tòa đại hình. Chắc chắn hành động của Ủy ban đòi ân xá có kết quả gì đó. Rốt cuộc không người nào bị kêu án quá hai năm tù.
 
Trong số các bị cáo, có tiểu thủ công, có thợ và phu phen, ba người đàn bà kể cả thi sĩ Mai Huỳnh Hoa (con của Mai Văn Ngọc, bạn cố cựu của Nguyễn An Ninh, sau này Hoa làm bạn với Phan Văn Hùm).
 
Lư Sanh Hạnh, đảng viên phân liệt đã nói trên, bị kết án 15 tháng tù, đưa ra Vũng Tàu đẩy xe rùa chở đá sỏi cùng với tù thường phạm. Anh lôi cuốn họ bỏ làm. Bị giam hầm tối, anh tuyệt thực dài ngày để phản đối, chung qui được tống về Khám Lớn Sài Gòn. Đến năm 1933, anh lại xuất hiện trong phong trào lập Quốc tế Đệ tứ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.06.2017 22:57:13 bởi Ct.Ly>
PHẦN THỨ BA
 
CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI
1933 – 1939
 
 
XII
 
Mặt trận thống nhất La Lutte (Tranh Đấu) 
 
 
 
Phong trào bí mật đổ vỡ, làm sao tiếp tục đấu tranh? Những cựu chiến sĩ từ Pháp về như Nguyễn An Ninh, theo chủ nghĩa quốc gia, vẫn có uy tín trong dân chúng; Trịnh Hưng Ngẫu, vô chính phủ; Nguyễn Văn Tạo, cộng sản xu hướng Staline; Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, cộng sản theo tư tưởng Trotski cùng những người cảm tình như Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, đồng tâm chủ động đấu tranh hợp pháp chống chính quyền thực dân, theo lối Nguyễn An Ninh, người đàn anh của họ, khởi xướng trong báo Chuông Rè (La Cloche Fêlée) năm 1923. Nhân dịp tuyển cử Hội đồng thành phố Sài Gòn, tháng 4 năm 1933, họ tham gia để mở đường tranh đấu công khai.
 
Mặt trận thống nhất đầu tiên, tháng 4 năm 1933
Họ thấy thời cơ đã đến, thuận lợi cho họ lợi dụng cuộc vận động bầu cử để thức tỉnh thợ thuyền. Họ đưa ra một ‘‘Sổ lao động’’, chống đối các sổ tư sản, đặc biệt chống nhóm Lập hiến, nhóm nầy từ mười năm nay vẫn chiếm ưu thế trong số đại biểu người An Nam tại Hội đồng thành phố.
 
Thế thường người nào có tên trong sổ danh mục thuế thân hợp lệ thì được quyền tuyển cử. Tuy nhiên, ở Sài Gòn - Chợ Lớn chỉ có 4332 cử tri trong số dân 300.000 người. Nhân viên thư ký, thương nhân, viên chức chiếm đa số. Thợ thuyền và phu phen cho tới lúc bấy giờ không mấy quan tâm tới những cuộc bầu cử đó. Còn người ứng cử, phải đủ 25 tuổi là tối thiểu, và phải có đóng thuế môn bài ít nhất là 25 đồng.
 
Ngày 21 tháng 4, ứng cử viên sổ lao động triệu tập cuộc họp đầu tiên tại rạp hát Thành Xương, hôm ấy chật ních người. Dân Sài Gòn được nếm hương vị tự do hội họp, một thứ tự do mà họ mới chỉ được hưởng đôi chút trước kia qua những cuộc diễn thuyết của Phan Châu Trinh, ở mít ting tại đường Lanzarotte; trong cuộc tiếp đón Bùi Quang Chiêu, và đám táng Phan Châu Trinh những năm 1925-1926. Họ khởi xướng phương thức phổ thông đầu phiếu thô sơ bằng lối giơ tay lên để biểu quyết lựa chọn chủ tịch, và vị chủ tịch đó là Nguyễn An Ninh. Tạo và Thạch giới thiệu những người trong liên danh: Lê Văn Thử, vừa ở tù ra; Lê Văn Lưởng, thợ cơ khí, người đã từng đình công tại xưởng thủy binh Ba Son; Nguyễn Văn Dinh, tài xế; Trần Văn Vân, thợ may cùng hai thợ in Nguyễn Văn Số và Nguyễn Xuân Vinh.
 
Các ứng cử viên trình bày mục tiêu của họ: đòi thực hiện luật lập nghiệp đoàn công nhân, luật bãi công, đòi ngày làm 8 giờ, phổ thông đầu phiếu, và đòi thực hiện ngay những bữa cơm không mất tiền cho người thất nghiệp, lập các ấu trĩ viện...
 
Thính giả được làm quen với những từ ngữ chưa từng nghe tại diễn đàn: tư bản, vô sản, công hội, bãi công, giai cấp tranh đấu... mà cho tới bây giờ họ chỉ được đọc bí mật trong sách báo cấm.
 
Ba ngày sau, các ứng cử viên phát hành tờ báo bằng tiếng Pháp La Lutte (Tranh Đấu) (Báo chí bằng chữ quốc ngữ sau khi được phép mới xuất bản), quản lý là người Pháp: Edgar Ganofsky. Trong số 1, in 10.000 tờ, không những chỉ nêu lên cương lĩnh chính trị của sổ Lao động mà còn có bài hướng dẫn về công hội và một bài công kích chi tiết chống lại phái Lập hiến.
 
Ngày 25, nhóm Tranh Đấu chống đối nhóm tư sản tự gọi ‘‘thanh niên công nhân’’, tại rạp hát Tân Định. Họ thuyết phục được đại đa số trong 2000 người dự giơ tay bầu chủ tịch cuộc họp: chàng thanh niên Tạ Thu Thâu - mới vừa ra khỏi Khám Lớn - được chọn, thay vì ông Trần Hữu Độ, người lớn tuổi của ban tổ chức đề nghị. Ông Độ có danh tiếng từ lúc ông bị tù vì tác phẩm Hồi trống Tự do của ông.
 
Buổi chiều ngày 27, rạp hát Thành Xương tràn ngập người mặc dù có mặt bọn mật thám đứng ám; quần chúng reo hò ủng hộ Nguyễn An Ninh và những ứng cử viên sổ Lao động khi những người này công kích cái gọi là lòng yêu nước của phái Lập hiến: ‘‘Họ quan tâm đến đồng bào tổ quốc thật, nhưng đồng bào họ no, đồng bào mình đói’’, Tạo thét lên như vậy. Còn Phương rút trong túi ra vài miếng giấy cắt trong báo cầm tay, lần lựợt đập tan một cách có phương pháp những luận điểm về chủ nghĩa hợp tác với thực dân của nhóm tư sản đó. Phu phen, thợ thuyền, tiểu dân (thầy giáo có bằng tiểu học, lương tháng 20 đồng rưởi bạc, so với phu phen hơn được 5 đồng) có thể cải thiện được đời sống của họ chỉ bằng cách tập hợp thành công hội theo gương thợ thuyền Pháp.
 
Báo Tranh Đấu ra số 2, ngày 29 tháng 4, ngày trước lần bỏ thăm đầu tiên. Tờ báo tập trung kêu gọi chú ý tới những nguyên tắc và sự cần thiết vận động nghiệp đoàn. Có thể có số 3 sẽ phát hành ngày 5 tháng 5 trước lượt bỏ thăm kỳ nhì, có in lại bản Hiến chương Amien (Charte d’Amiens)(107). Sổ lao động triệu tập họp lần cuối cùng tại rạp hát Tân Định. Có cảnh sát Chapui trấn cửa ra vào, lạm quyền buộc ai tham dự phải có thẻ cử tri. Quần chúng bị ùn lại biến cuộc hội họp tuyển cử thành ra biểu tình trên đường phố do Tạo cầm đầu. Cuộc thị uy chỉ chấm dứt khi Tạo bị tống lên xe tù.
 
Ngày 7 tháng 5 năm 1933, trong khi tòa đại hình xử 122 người cộng sản tuyên án xử tử 8 người, Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch được đắc cử.
 
Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, một số thợ thuyền ra mặt và hai hội đồng ‘‘cộng sản’’ dự Hội đồng thành phố Sài Gòn. Một chiến tích kỳ lạ, coi như một thách thức đối với xã hội thực dân. Sớm muộn gì chính quyền sẽ phản ứng lại.
 
Ngày 20 tháng 5, tờ báo hàng ngày Trung Lập bị cấm.Vì hướng về giới lao động, có Ninh, Tạo, Thạch và Hùm cộng tác. Ngày 12 tháng 8, Tạo Thạch bị hủy chức hội đồng thành phố.
 
Họ vẫn còn kịp thời tham gia vào các buổi nhóm Hội đồng ngày 1, 14 và 29 tháng 6, đòi số đại biểu người An Nam bằng số người Pháp, quyền bầu cử cho đàn bà, đề nghị trợ cấp hàng tuần người thất nghiệp, mỗi năm ba tuần nghỉ có lương cho người làm mướn, lập nhà an dưỡng cho công nhân, bỏ thuế xe đạp và giảm thuế cho những người buôn bán nhỏ. Dĩ nhiên những đề bạt đó bị toàn thể Hội đồng bác bỏ, nhưng có tiếng vang trong các tầng lớp dân nghèo.
 
Tạo và Thạch chỉ được những người đắc cử trong giới thực dân và tư sản tán trợ khi hai người phản đối việc phá hủy các xóm nhà lá và khi họ đòi ân xá cho các tù chính trị.
 
Tuyển cử thắng lợi, báo Tranh Đấu ra số cuối cùng ngày 2 tháng 6, diễn giải cho thợ thuyền và dân cày những kiến nghị mà hai hội đồng đại diện họ đã đưa ra. Đồng thời phản đối việc ‘‘ám sát’’ tờ Trung Lập, đòi tự do ra báo bằng quốc ngữ. Đương nhiên là không có kết quả. Tạp chí văn học Đồng Nai do Phan Văn Hùm phụ trách, trong đó có những người như Ninh, Thâu, Tạo, Tường, Chánh... vẫn còn có thể trình bày quan điểm của mình, sẽ bị cấm từ tháng giêng năm 1934. Tờ Phụ Nữ Tân Văn nổi tiếng cũng sẽ bị cấm, tờ báo nầy có cái tên vô hại đã đem lại cho tầng lớp thanh niên một ánh sáng mới rọi vào thế gioi. Trong khi đó, một phái đoàn từ Pháp lên đường đi Thượng Hải, đã tới Sài Gòn.
 
Phong trào hòa bình Amsterdam-Pleyel
 tới Sài Gòn Tháng 8 năm 1933
Phong trào này do những nhân vật cảm tình cộng sản, những ‘‘bạn đồng đi một đường’’ cùng Moscou thành lập, họ tổ chức một cuộc đại hội ở Thượng Hải chống chiến tranh, một đề tài có màu trung lập. Thật ra, họ nhằm hướng giới cần lao đi trệch khỏi nhiệm vụ cách mạng của mình (xem chương X). Phái đoàn do đại biểu Cộng sản Pháp là Paul Vaillant Couturier dẫn đầu, cùng với Thượng nghị viện Lord Morley phái lao động Ănglê, bác sĩ Marteaux đại biểu ở Bruxelles, Poupy thuộc đảng xã hội Pháp và nhà báo Hamilton, người xứ Irlandais.
 
Các đại biểu được chính quyền thành phố chính thức đón tiếp, rồi người ta tổ chức cuộc hội họp đầu tiên phản đối chiến tranh tại nhà hàng Le Perroquet. Hội Nhân Quyền tập hợp tại đó được 700 người Pháp và Âu Châu Vaillant Couturier, người đã từng lên tiếng phản đối hùng hào bọn tư bản tài chính thuộc địa, được giới tư bản vổ tay hoan nghênh - họ hiện đang bị nhà Ngân hàng Đông Dương siết họng hay hâm he bóp cổ, cùng những viên chức bị giảm lương oán hận toàn quyền Pasquier, giới khai thác thuộc địa, chủ đồn điền, đại điền chủ, thương gia... bị cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm nghiên nghèo hoặc đe dọa phá sản.
 
Ngày 11 tháng 8, một cuộc họp thứ hai- lần này chống đàn áp và chống chế độ thực dân - tập họp người An Nam tại rạp hát Khánh Hội. Trạng sư Cancellieri cùng Dương Văn Giáo chủ trì, Nguyễn Văn Tạo phó chủ tịch, Nguyễn An Ninh phiên dịch. Một số người An Nam tham gia phong trào thành lập phân bộ Sài Gòn lâm thời.
 
Ngày 18, phái đoàn rời Sài Gòn đi Thượng Hải, để lại một ảnh hưởng mập mờ trong dân chúng. Một mớ thực dân mặc dù ngịch cộng sản, họ rất thỏa mãn khi nghe ông nghị cộng sản Vaillant Couturier công kích một trong những kẻ họ cho là khả ố nhất, chẳng ai khác hơn là toàn quyền Pasquier.
 
Qua ngày 19 tháng 9, Hội đồng quản hạt Nam kỳ yêu cầu Paris triệu hồi Pasquier về Pháp, đồng thời đề nghị hủy bỏ độc quyền phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương. Giới thực dân tột bực bất mãn nhóm tư bản tài chính ở đây khi họ biết rằng hồi cuối tháng 9 nhóm này, chúng vừa mới mua được đồn điền La Souchère ở Long Thành với giá rẻ mạc một trăm ngàn đồng, họ ước giá phải là hai triệu, chủ đồn điên ấy bị dồn đến bước đường cùng phải bán đấu giá.
 
Toàn quyền Pasquier bỏ mạng ngày 15 tháng giêng năm 1934 trong một tai nạn máy bay. Báo Thư tín Đồng Dươngngày 19 viết:
 
Ông Pasquier đã qua đời, nhưng trước khi ông rời bỏ chúng ta, ông thốt ra một lời thú nhận quan trọng trước lối 15 đại biểu của công chúng: ‘‘Bọn tài chính ở đây cũng mạnh thế lực như ở Pháp. Ông thủ tướng làm gì được đối với các nhà băng, một khi hàng tháng bộ trưởng Tài chính buộc mình đi gõ cửa các nhà băng để có tiền trả lương công chức? Mình phải xụi tay.’’
 
Một tháng sau, chính tờ báo đó lại tố cáo chính phủ thông đồng với bọn tài chính trong vụ tai tiếng về muối: Công ty tài chính Pháp quốc và Thuộc địa được phép khai khẩn ruộng muối, ký giao kèo với chính phủ để cung cấp 450.000 tấn muối với giá 4$50 một tấn, trong khi giá muối trong xứ là 2$70 một tấn.
 
Nhưng chúng ta hãy quay trở lại tháng 9 năm 1933, với các bạn của chúng ta trong nhóm Tranh Đấu.
 
Nguyễn An Ninh lại bị truy tố lần thứ ba, lần này bởi anh mở phòng tư vấn pháp luật ở Sài Gòn sinh sống. Ngày 16 tháng 9 anh tuyên bố:
 
Người ta muốn làm gì tôi? Từ lúc ra tù tôi thử làm tới năm nghề khác nhau. Tôi phải bỏ hết các nghề đó vì những lý do tương tự gần các cái lý do đã dẫn tôi đến trước tòa ngày hôm nay. Nếu như người ta ngăn cản không cho tôi kiếm sống thì tôi sẽ phải làm gì đây? Thật ngạo nghễ buồn cười mà thấy hiện nay tôi bị truy tố vì trước cửa nhà tôi có treo biển ‘‘Tư vấn pháp luật’’, thế mà năm 1923, ông thống đốc Cognacq đã mời tôi vào làm trạng sư kia mà.
Dù sao tôi cũng cần phải sống. Nhưng người ta lại ngăn cản tôi kiếm sống. Không phải với một trăm đồng bạc một tháng tôi có thể kiếm được ở văn phòng tư vấn của tôi, mà tôi làm thiệt hại các ông trạng sư. Nhưng quả thật trong thời buổi này - anh kết thúc với một nụ cười cay đắng - công việc làm ăn thật hết sức khó khăn đối với họ.(108)
 
  Anh nhớ lại trước khi bị bắt lần thứ hai, anh từng đi bán rong những sách anh viết. Anh từng thử kiếm sống bằng cách bán thứ dầu cù là tự mình chế tạo, cù là An Ninh, mà chính anh cởi xe đạp đi giao cho các điểm bán lẻ ở các tỉnh. San đầm Pháp và lính cảnh sát làm khó dễ những người bán lẻ dầu cù là của anh. Ở Sa Đéc, tên cò Bazin cấm anh qua lại trong tỉnh... Anh đã từng làm phu đánh xe thổ mộ.
 
Sau khi bị bãi chức hội đồng thành phố, Tạ Thu Thâu và các bạn tổ chức những cuộc diễn thuyết để truyền bá chủ nghĩa Karl Marx. Ngày 1 tháng 11, tại Hội Tương tế Giáo dục, Phan Văn Hùm nói về biện chứng, vượt qua những mâu thuẫn đi đến một tổng kết mới, một khái niệm có thể áp dụng được trong vận động của lịch sử. Ngày 15 Tạ Thu Thâu cũng nói tiếp về đề tài đó, một đề tài mặc dù khó khăn, nhưng trong những ngày tăm tối đó đã phấn khởi số đông thanh niên, thư ký, giáo viên, thợ thuyền... Anh nhấn mạnh tới những mâu thuẫn xã hội dẫn tới những cuộc đấu tranh giai cấp, phong trào cách mạng sẽ đưa đến một xã hội tốt đẹp hơn. Không lâu, Hội Tương tế Giáo dục bị mật thám đe dọa, không dám tiếp họ nữa. Liền theo đó tạp chí văn nghệ Đồng Nai bị cấm. Thế chỉ còn cây viết: Tạ Thu Thâu dịch cuốn Những nguyên lý triết học (Politzer, Principes de Philosophie) ra quốc ngữ còn Phan Văn Hùm thảo và xuất bản quyển Biện chứng pháp phổ thông.(La dialectique vulgarisée’’
 
1934 ở Pháp: fát xit bạo động,
Xã hội và Cộng sản hiệp nhứt
 
Chúng ta đang ở vào tháng 2 năm 1934. Hitler đã nắm chính quyền được một năm: Moscou cảm thấy bị đe dọa và đi tìm đồng minh, trước hết họ ngó về Đảng Xã hội.
 
Tại Paris, một cuộc bạo động nổ ra trong đêm 6 tháng hai, toan lật đổ chế độ Cộng hòa. Các nhóm Bảo hoàng (Camelots du Roy), Ái hữu Pháp (Solidarité Française), Thanh niên Ái quốc (Jeunesses Patriotes), Hành Động Pháp (Action Française)... tập họp tại đại lộ Chapms Élysée, thái độ hằm hằm đe dọa, rồi tỏa về phía Dinh Nghị viện, cảnh sát nạp đạn bắn tỉa: 15 người chết. Chính phủ Daladier từ chức. Báo Nhân Đạo (Humanité) ngày 7 và 8 tiếp tục tố cáo Đảng Xã hội là một trong số những kẻ chịu trách nhiệm thực sự, và cùng với phái cấp tiến, họ đã ‘‘dọn đường cho bọn phát xí’’.
 
Nhưng đảng viên xã hội cơ sở thì khuynh hướng lập mặt trận thống nhất chống nguy cơ phát xít: ngay từ ngày 7, Tổng Liên đoàn Lao động (CGT) thuộc phía Đảng Xã hội kêu gọi tổng bãi công 24 giờ ngày 12 tháng hai, rồi Tổng Liên đoàn Lao động Thống nhất) (CGTU) dưới ảnh hưởng Đảng Cộng sản cũng đồng thanh. Cuộc bãi công này sẽ được hưởng ứng đông đảo.
Ngày 8, trong cuộc mít ting do Đảng Cộng sản Pháp triệu tập tại Quảng trường Cộng hòa lập tức một số thanh niên phái xã hội tham dự. Cảnh sát tiếp tục gây tiếng vang: 8 người chết.
 
Ngày 12, đảng viên xã hội và cộng sản ở cơ sở thân thiện đệ huynh nhau trong cuộc biểu tình khổng lồ tại vườn Vincennes: hai đoàn biểu tình thuộc Cộng sản và Xã hội, đồng hô to ‘‘Mặt trận thống nhất!’’
 
Chẳng bao lâu Đảng Cộng sản Pháp bỏ từ ngữ ‘‘xã hội-phát xít’’, miệt thị Đảng Xã hội rồi bắt tay với đảng này, phù hợp với sách lược mới của Moscou. Ngày 27 tháng 7, hai đảng công nhân ký kết một ‘‘hiệp ước thống nhất hành động để bảo vệ các quyền tự do dân chủ’’.
 
Rồi sau đó không lâu, cùng đảng tư sản cấp tiến, họ sẽ thành lập một Mặt trận bình dân mạnh mẽ chống lại các đảng phái phát xít.
 
Sài Gòn, tiến tới một mặt trận thống nhất Tranh Đấu thứ hai tháng 10 năm 1934
Ngày 18 tháng 2, một ‘‘Phái đoàn công nhân điều tra’’ từ Paris tới. Một cách chính thức, phái đoàn này do Ủy ban đòi ân xá và Hội Cứu tế Đỏ quốc tế (Secours Rouge International) lập ra. Cuộc điều tra mà họ dự kiến tiến hành bao hàm một dự án mới của mặt trận thống nhất. Phái đoàn do Gabriel Péri, đại biểu của Đảng Cộng sản Pháp dẫn đầu cùng với Barthel (Cứu tế Đỏ)(SRI) và Bruneau (Công đoàn), đã rời Paris ít lâu trước cuộc bạo động nói trên. Péri tiếp xúc Nguyễn An Ninh, sẽ trở thành người đối thoại chính của anh, cùng với Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu, Lê Văn Thử, Phan Văn Chánh... là những người sẽ hướng dẫn họ trong cuộc điều tra.
 
Họ đã thấu đáo được những gì? Họ nghe thấy trong những xí nghiệp thuộc khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn không hề có gì đảm bảo lao động về mặt luật pháp, thế nên giai cấp cần lao bị phó mặc cho giới chủ người Pháp, người Tàu, cũng như người An Nam. Ngày làm việc quá nặng nề (tới 12 tiếng đồng hồ tại các nhà máy lúa gạo Chợ Lớn, nơi mà người lao động phải thay nhau làm theo ca suốt ngày đêm; 10 tới 11 tiếng tại sở xe điện Sài Gòn; 10 tiếng tại các nhà máy đường ở Hiệp Hòa); tiền phạt, hay gọi là ‘‘tiền cúp’’ thường tương đương với một ngày lao động; những lời chửi mắng và những hành động thô bạo không phải là hiếm thấy trong những xưởng nhỏ cũng như trong các đồn điền, đuổi việc và giảm lương là những điều không kêu nài được. Việc bồi thường tai nạn lao động là do giới chủ tùy ý định đoạt. Bãi công là một sự phạm tội; nghiệp đoàn và cả ngay hội ái hữu cũng bị coi là những hội kín và bị truy tố. Từ khi khủng hoảng xảy ra, nạn thất nghiệp càng nghiêm trọng (từ 1930 tới 1933, 40% những người làm công nhật bị sa thải trong 38 xí nghiệp Sài Gòn - Chợ Lớn), nhưng lao động của trẻ em lại được coi là hợp pháp! Tầng lớp phu phen và thợ thuyền không chuyên, chiếm một số lượng lớn trong nhân công Sài Gòn - Chợ Lớn, chỉ kiếm được cả nam lẫn nữ, mỗi ngày 55 xu và 43 xu. Vậy làm sao họ có thể trả được thuế thân, món thuế người nghèo cũng trả đồng như kẻ giàu? Nếu như các đại biểu phái đoàn điều tra ở lại cho đến tháng 6 thì họ sẽ được dự trên các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn những cuộc săn đuổi người không có giấy thuế thân hoặc chưa đóng thuế thân, thường thường trong thời gian hết hạn nộp giấy này, như tờ Thư tín Đông Dương ngày 18 tháng 6 mô tả:
 
Các xe cam nhông nhỏ của mật thám cứ lừ lừ chạy, trong khi hai bên vệ đường mả tà lính kín hô khách qua lại giơ thẻ thuế ra. Những ai không có thẻ hoặc thẻ không hợp lệ đều bị tống lên xe bịt thùng.
Mức thuế quá cao đối với giới phu phen và lao động nghèo, họ đành chịu nhốt một ngày và một đêm trong bót khi bị bắt, vì họ không sao kiếm nổi 6 đồng bạc để đóng thuế.
 
Trong vùng nông nghiệp quanh Sài Gòn, ở Bà Hom, Đức Hòa, Hiệp Hòa, Lộc Giang... những nơi mà trận khủng bố 1930-1931 còn làm cho con tim của từng người se thắt lại, những nơi mà biết bao kẻ ‘‘tay lấm chân bùn, cày sâu cuốc bẫm’’ đã ngã gục xuống trước làn đạn trong các cuộc biểu tình hòa bình chống lại thứ thuế thân ấy, cảnh tượng thật rõ ràng: dù là làm mướn thường trực, từng mùa hay công nhật, những công nhân nông nghiệp bao giờ cũng sống trong cảnh tột bực khốn cùng. Những người làm mướn thường xuyên (1 hoặc 2 người làm công khai thác 10 hecta) mỗi năm kiếm được khoảng 30 đồng bạc hèn mọn; nông dân làm mùa hay làm công nhật (công cấy, công gặt...) mỗi năm làm mướn từ 4 đến 5 tháng, di chuyển từ miệc ruộng này sang miệc bưng khác tìm cách cho thuê đôi cánh tay lao động của mình để đốn củi, chèo ghe, khuân vác, phu phen tạp dịch khi công việc đồng áng đã hết ...
 
Đối với tá điền, một điện tín của trạng sư Idylle, một nhà thực dân, gửi thống đốc Nam Kỳ, và một bức thư, cũng của ông Idylle, gửi chủ tỉnh Châu Đốc, đăng trong tờ Thư tín Đông Dương ngày 27 tháng 3 sẽ cho ta biết coi các vị đại biểu phái đoàn diều tra có thể nhận xét về điều gì:
 
Xin trân trọng gửi tới quý ông lời cực lực phản kháng những vụ khuấy nhiễu công việc nhà nông chủ yếu xảy ra trên đồn điền của ông  Dargelots và Idylle ở Tri Tôn (Châu Đốc), vụ các đội lính lưu động đi tuân tra bắt thuế thân ngày thứ Sáu các tá điền bị đe dọa bắt bỏ tù, ngày thứ Ba họ áp dụng quá lạm Chế độ đặc biệt đối dân bản xứ (Indigénat), chế độ vô nhân đạo, chế độ ấy đã bị giả định là hủy bỏ.
Những ai là tá điền trên những đồn điền của tôi và của ông Dargelots họ được cái may mắn là được lãnh trước thóc ăn và lúa giống mà họ chỉ có thể hoàn trả chút đỉnh thôi. Tôi phải buộc mình hủy bỏ tất cả các khoản nợ nần của họ toàn bộ và vĩnh viễn. Quả thực tôi phải nhìn nhận rằng số thóc còn lại cho họ, sau khi góp địa tô, sẽ không đủ cho họ - bởi giá lúa bị sụp -, chu cấp cho mình những nhu cầu tối cần thiết và càng không thể đóng nổi thuế thân.
 
Những cư dân trong vùng mà không được trợ giúp, không vay mượn trước được giống má và thực phẩm thì họ còn rơi vào tình trạng thảm hại hơn nữa. Tất cả bỏ ruộng đồng, họ trở thành một chòm dân hoang đàng bị lính lưu động của ngài đi tuần tra giải tán.
 
Trong thời gian ba đại biểu của phái đoàn lưu lại trong xứ, luôn luôn một lũ mật thám bám gót. Người ta ngăn cản họ điều tra ở Trung Kỳ, nơi mà tình cảnh khốn khổ trần truông trước mắt, và sau khi đi Phnom Pênh trở về, mọi cuộc hội họp điều trần của họ đều bị cấm.
 
Khi phái đoàn rời Sài Gòn ngày 18 tháng ba, Gabriel Péri đã trù bị được một dự án thỏa hiệp giữa các nhóm cách mạng theo Staline, Trotski và xu hướng quốc gia, đạng tái bản tờ báo Tranh Đấu có Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ. Nguyễn An Ninh kiên trì nhấn mạnh với Péri về sự cần thiết phải có Tạ Thu Thâu cùng các bạn của anh hợp tác, họ là những chiến sĩ đấu tranh nhiệt tâm hăng hái và có khả năng sử dụng Pháp văn, họ có thể là một thuận lợi may mắn cho tờ báo tiếng Pháp.
 
Cuộc liên minh nói trên, do một lãnh tụ quan trọng của Đảng Cộng sản theo Staline ở Pháp gây dựng lên dường như nghịch lý: ở Liên Sô, phải chăng Staline đã truy nã những phần tử khả nghi có đôi chút theo ‘‘chủ nghĩa Trotski’’ đó sao? và các đảng cộng sản trên thế giới đã chẳng theo gương Staline mà tới tấp chửi rủa cánh cộng sản tả đối lập quốc tố đó sao? Tuy thế liên minh đó cũng tồn tại được gần ba năm.
 
Dù theo Staline hay theo Trotski, những người trong liên minh cũng đều đồng ý với Nguyễn An Ninh trong cuộc đấu tranh chung chống kẻ thù trước mắt là chính quyền thực dân và đảng Lập hiến, chỉ giới hạn trong một tờ báo chuyên bênh vực thợ thuyền, phu phen và dân quê, không màng đến chủ nghĩa Staline hay chủ nghĩa Trotski, trong khi cùng nhau truyền bá tư tưởng Karl Mac, cơ sở lý luận chung. Các bài báo sẽ không ký tên dưới (không quảng cáo cá nhân, không biểu lộ những xu hướng ly tâm).
 
Báo Tranh Đấu( La Lutte) lại tái bản ngày 4 tháng 10 năm 1934.
 
Trịnh Hưng Ngẫu rời khỏi nhóm sau tờ số 3, dường như bất mãn vì anh không được phát biểu lý tưởng vô chính phủ trong tờ báo. Một người từ Moscou về là Dương Bạch Mai, và một người khác từ Côn Đảo về là Nguyễn Văn Nguyễn, theo Staline, nhập vào tăng cường nhóm vào năm 1935-1936.
 
 
 
Đợt phát hành đầu tiên của tờ Tranh Đấu mới (số 5) có mang tiêu đề Một giai cấp bị áp bức là điều kiện sống còn của mọi xã hội xây dựng trên sự đối kháng giữa các giai cấp. Chính giai cấp bị áp bức đó, bao gồm phu phen, thợ thuyền, bồi bếp, bần nông, cố nông... mà báo Tranh Đấu không ngưng lên tiếng bênh vực, bằng thông tin, bằng từng ngày tố cáo chế độ thực dân trong mọi sự bất công lớn nhỏ, hướng dẫn họ có mức độ vào cuộc đấu tranh cho một đời sống khác.
 
Thống đốc Pagès nói như thế nầy trong bản tường trình của y ngày 29 tháng 10 năm 1935:
 
Tờ báo chuyền từ tay người này sang tay người khác, được dịch ra nếu cần thiết, được bình luận trong các nhóm nhỏ. Nó đại diện cho những tập đơn thỉnh nguyện của tất cả những ai bất mãn với nhà chức trách, hoặc bị kích thích hoặc tự phát ý, toàn cả những điều thỉnh nguyện từ trước tới giờ chưa hề có. Tờ báo thể hiện sự dũng cảm của lực lượng dân chúng tự ý thức được quyền lợi của mình, dám ngỏ lời với một chính quyền đang bị bối rối trước làn sóng đấu tranh dâng cao.(109)
 
Ta hãy xem qua số 5 của tuần báo đó. Tờ báo mở đầu bằng một bài lý luận bàn về cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động đến Đông Dương từ bốn năm qua. Đối với các đề cập của giai cấp tư sản thực dân và bản xứ, để giải quyết từ hiện tượng địa phương bằng giải pháp hành chính, báo Tranh Đấu đưa ra giải pháp riêng của mình: cuộc khủng hoảng có nguồn gốc từ những mâu thuẫn đối kháng của chủ nghĩa tư bản; mở đầu là vụ phá sản phát ra năm 1928 ở New York, rồi lan tràn khấp các địa phận khác trên thế giới. Muốn tránh khỏi khủng hoảng thì phải đánh đổ chế độ kinh tế đó, ‘‘như nhà kinh tế học Karl Marx đã chứng minh’’; giải pháp có tính chất cách mạng và toàn cầu.
 
Bên cạnh bài báo khó đó, có những bài công kích chớp nhoáng, dễ đọc, tập trung quanh những chủ đề xã hội An Nam, làm cho độc giả chú ý : một bài về tiểu sử trả nủa (đủa) Bùi Quang Chiêu, một kẻ lập hiến hãnh tiến, tự nguyện phục vụ cho bọn ‘‘cá mập Rượu Fontaine và Homberg’’; một bài công kích toàn quyền Robin về những biện pháp của hắn ân xá tù gần đây, những biện pháp để làm cho ‘‘ những nhà cách mạng đích thực phải chết dần chết mòn trên nền đất ẩm ướt trong hầm giam’’; một bài về ‘‘sự giễu cợt cay đắng’’, là việc giảm thuế thân một cách tiểu mọn (một nửa đồng), theo lẽ công bằng thì phải hủy bỏ thứ thuế đó đi; về việc không có tự do nghiệp đoàn, bài báo mới đây minh họa tình trạng ấy, lấy vụ Ngô Văn Hoan, thợ bạc, cộng sản, người đã chủ trương lập nghiệp đoàn thủ công bị kêu án một năm tù.
 
Báo Tranh Đấu sẽ luôn luôn giữ cái xu hướng kép là: một chút lý luận, nhưng cũng phô bày nhiều sự kiện lấy từ trong những diễn biến trực tiếp trong đời sống thợ thuyền (bãi công, công hội, lương, tai nạn lao động,v.v.), trong cuộc sống của nông dân (tố cáo bọn địa chủ tước đoạt đất đai, những hào lý tham nhũng, phô bài những hành động thô bạo của bọn thực dân), sự độc đoán và lạm dụng của bọn cầm quyền cai trị, những đòn tra tấn của bọn mật thám, những hành vi bạo tàn của lính cảnh sát. Có những bài về đời sống trong ngục thất tù đồ, những vụ án, thái độ trơ trẽn vô liêm của quân có của, về những người lập hiến... Cứ thế đó tờ báo toan dẫn dắt người đọc đi tới chỗ tự giải phóng.
 
Để giải thích những quan điểm của Karl Marx, tờ Tranh Đấu bàn về phong trào công nhân thế kỷ 19, và cứ hàng tuần như thế minh họa bằng lịch sử đang hình thành trên thế giới. Tờ báo làm cho độc giả xúc động qua việc giới thiệu những cuốn sách như Người Mẹ của Gorki, Đông Dương kêu cứu (Indochine SOS) của Andrée Viollis, Mười ngày rung chuyển thế giới của John Reed. Tờ báo làm cho độc giả cười qua mục ‘‘Những cây đinh nhỏ’’ (Petits Clous) từ tháng 6 năm 1935 như: Tuần lễ lố bịch nực cười (La semaine du ridicule), Tính e thẹn tư sản (La pudeur bourgeoise), Lợn vạn tuế! (Vivent les cochons!), Cảnh sát cấm cười (La police défend le rire), Vô khiếm nhã, đạo đức của thực dân (Immodestie, vertu coloniale)... Tính hài hước khoáng đạt của tờ báo làm cho người ta ham đọc, những ‘‘truyện cực ngắn’’ vẫn hấp dẫn những ai buồn ngủ, và một mục ‘‘Diễn đàn độc giả’’ để mọi người tự do phát biểu ý kiến.
 
Ngày tháng dần qua, những thông tín viên tự nguyện nảy sinh khấp chỗ, họ viết bài thông tin tức lao động trong các xí nghiệp, các trường học ở Sài Gòn - Chợ Lớn, trong các đồn điền, sở cao su cùng ở tận những miền quê xa xôi. Thông qua họ, ảnh hưởng của những người hoạt động ‘‘hợp pháp’’ mở rộng thêm song song với những người hoạt động ‘‘bí mật’’.
 
Thường thường một tờ báo được truyền từ tay nọ sang tay kia, họ cùng nhau dịch, cùng nhau tìm cách hiểu được nội dung.
 
Năm 1935 tại Nam Kỳ
Đầu năm 1935 đã thấy nông dân Sóc Trăng (Cù Lao Dung) phản kháng, cầm dao mác chống lại bọn cảnh binh đến tịch thâu 8000 giạ lúa. Rồi đến dân ở rừng núi (Phnong và Mọi) tấn công các đồn lính, họ không sao trả được thuế thân vì cuộc khủng hoảng đã làm tê liệt các trại sở làm của nhà nước, nơi mà họ cố gắng một cách vô vọng để kiếm được đủ số tiền ghi trên thẻ.
 
Tháng 5 - 1935, một mẻ lưới mật thám tung ra: bốn người ‘‘ từ Moscou trở về’’, trong đó có Trần Văn Giàu, và hơn 150 đảng viên và cảm tình cộng sản (6 phụ nữ), cùng với cả Deschamps, liên lạc viên giữa Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Đông Dương, thợ cơ khí trên tàu D’ Artagnan, đều bị bắt. Hai mươi bốn người trong số đó bị tòa tiểu hình kết án từ 10 tháng đến 7 năm tù, vì mưu toan tái lập đảng cộng sản. Trong khi chờ đợi kháng án, họ bị đưa lên tàu ngày 29 tháng 7 ra Côn Đảo, một sự lạm pháp, mà chính ông biện lý Dupré đã tố cáo với thống đốc Pagès (báo La Lutte ngày 9 tháng 11 có đăng thư ấy). Tòa thượng thẩm xét án lại vào tháng 8, chỉ xác nhận hoặc gia tăng án tù.
 
Đàn áp và náo động liên miên tới cuối năm. Tại tòa thượng thẩm xử mươi nông dân cộng sản Bến Tre vào tháng 11, họ phản đối tại pháp đình tung hô ‘‘Đả đảo đế quốc!’’. Mỗi anh bị tăng thêm án tù 5 năm vì tội ‘‘phản loạn’’.
 
Ở Côn Đảo, vào tháng 8 và tháng 9, tù tuyệt thực nhiều đợt để phản đối việc ăn uống tồi tệ, lao dịch nặng nề và chống bọn ngục tốt đối xử vũ phu. Tại Khám Lớn Sài Gòn, tù chính trị cũng tuyệt thực như thế, thống đốc Pagès đành phải cho cải thiện đôi chút về chế độ nhà tù (hai gian khám giam lớn tương đối có thoáng khí và thường mở cửa, mỗi gian khám có đặt vài khạp nước, mỗi buổi sáng tù người Miên khiêng nước lên đổ đầy vào; mỗi tuần hai lần được tắm thoải mái ở hồ tắm chung đồng thời được giặt giũ ở đó; mỗi ngày được thả ra đi đứng trong sân hẹp dài theo cửa khám hai tiếng vào buổi sáng và buổi chiều; mỗi tháng một lần được phép mua đồ ăn, thuốc lá và các dụng cụ vệ sinh, có thể nhận sách vở).
 
Mấy anh phu đánh xe thổ mộ bãi công, họ bị bắt buộc phải mua giấy phép lái xe mới được lưu hành. Những khoản tiền phạt và những bó buộc khác nữa làm cho họ phải bỏ nghề, có lợi cho Công ty xe điện Pháp. Nhiều nhà nông trồng thuốc lá bị phá sản, họ bị nhà nước ra chỉ thị năm 1931 hạn chế bắt buộc nhiều đều gắt gao về việc trồng thuốc lá, nhằm thiết lập một độc quyền nhà nước, khiến nông dân trồng thuốc phải nhổ đi hàng ngàn cây thuốc lá trong các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một; tất cả những cái đó làm cho người ta bất mãn không xiết.
 
Cuộc tuyển cử Hội đồng quản hạt, tháng 3
và Hội đồng thành phố Sài Gòn tháng 5 năm 1935
 
Sau khi báo Tranh Đấu ra được hai chục số thì đến thời hạn bầu cử Hội đồng quản hạt, ngày 3 và 17 tháng 3 năm 1935, một loại hội đồng tư vấn không có quyền quyết định, nhưng đấy là một diễn đàn để các đại biểu đắc cử thuộc sổ Lao động có thể ‘‘phát biểu với toàn dân và đóng góp vào việc tổ chức cuộc đấu tranh giành chính quyền nhân dân’’. Họ sẽ đòi ân xá hết thảy tù chính trị, lập một nghị viện theo lối phổ thông đầu phiếu, tự do lập nghiệp đoàn, tăng lương, phân chia ruộng đất công cho những người làm công nhật, và liền ngay bấy giờ phân phối cho nông dân nghèo số ruộng bỏ hoang 300.000 hecta và chia số lúa thóc trữ trong các kho vựa của địa chủ đã hà lạm vơ vét, và đồng thời đòi bỏ thuế thân.
 
Nhóm Tranh Đấu giới thiệu 6 ứng cử viên, 3 người xu hướng Staline (Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn) và 3 người theo tư tưởng Trotski (Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường và Trần Văn Thạch). Bị cấm họp mít ting, họ tổ chức những cuộc họp dưới hai chục người, như vậy là hợp pháp, và phân phát hàng ngàn truyền đơn in. Không có người nào được đắc cử (đấy là một cuộc bầu cử hạn chế, phải đóng thuế đến một mức mới có quyền bỏ phiếu hoặc ứng cử, do đó trong số 4 triệu dân Nam Kỳ, chỉ có 28.000 cử tri có quyền bỏ phiếu), nhưng họ được số phiếu bầu hơn nhóm lập hiến 17%. Như vậy chương trình của họ có ảnh hưởng tích cực. ‘‘Sắc luật giết tự do’’ ngày 10 tháng 4 năm 1935 nhắc nhở ngay họ rằng ‘‘đụng chạm tới uy tín của chính quyền Pháp’’ sẽ bị đàn áp.
 
Hai tháng sau, ngày 6 và 12 tháng 5, cuộc tuyển cử Hội đồng thành phố đã khẳng định ảnh hưởng lớn mạnh của nhóm Tranh Đấu trong giới tiểu tư sản và dân đen ở châu thành: một đại biểu xu hướng Trotski, Thâu và một bạn cảm tình là Thạch, và hai đảng viên theo Staline, Tạo và Mai, được bầu làm hội đồng thực thụ, còn nhóm lập hiến thì chỉ được một hội đồng thực thụ.
 
 
Ngày 27 tháng 6 năm 1935, Tạ Thu Thâu bị kết án hai năm tù treo, về tội tham gia vào ‘‘hội kín Tả đối lập’’ những năm 1931-1932, bản án tòa thượng thẩm phúc chuẩn ngày 10 tháng 9; anh vẫn là hội đồng đang nhiệm và tờ báo Tranh Đấu càng được dân chúng hoan nghênh phổ biến thêm rộng rãi: ấn bản lên tới 1500.
 
Chính quyền thực dân khó mà chịu đựng được việc sử dụng cái diễn đàn đó để làm cách mạng: bốn đại biểu của nhóm Tranh Đấu bị bắt ngày 26 tháng chạp năm 1935, sau đợt lục soát nhà riêng của họ và trụ sở báo Tranh Đấu, lấy cớ là họ đã khuyến khích bãi công 2500 phu xe thổ mộ. Quả thực, họ được thả ‘‘sau khi xác minh căn cước’’, rồi tờ báo thực dân Thư tín Đồng Dương cũng đồng lòng với họ mà phản đối (báo ấy viết ‘‘nếu cứ cho phép người ta dẫm đạp quyền của các đại biểu nhân dân thì một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở thành nạn nhân của những sự lạm quyền đó’’). Vụ này đã gây ầm ĩ trong dư luận: việc bắt bớ đó tỏ ra bọn thống trị quá vụng về.
 
Hiệp ước Laval-Staline
Một tiếng sét trong thế giới cách mạng: ngày 2 tháng 5 năm 1935, Staline ký với Laval ‘‘hiệp ước tương hỗ Pháp-Sô’’; Staline chính thức chấp nhận cho nước Pháp phát huy lực lượng quân sự để bảo đảm an ninh. Ngày 3, báo Nhân Đạo, cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp viết: ‘‘Staline có lý’’, rồi ngay sau đó đảng cộng sản giải tán bộ máy hoạt động bí mật trong quân đội Pháp. Người ta sẽ thấy đảng cộng sản ngoan ngoãn cố gắng dập tắt mọi tinh thần chống quân sự và ra mặt ủng hộ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc tam tài. Mặc dù không sao tránh khỏi những phản kháng trong nội bộ, lần lần Đảng cộng sản Pháp đứng hẳn theo chỉ thị Staline, đến đổi họ không ngần ngại kêu gọi người An Nam, năm 1938, đứng lên bảo vệ cho ‘‘nước Pháp đang bị (Nhật Bản) đe dọa ở Đông Dương’’.
 
Tại Moscou, Quốc tế cộng sản nhóm Đại hội lần thứ 7 và cũng là lần cuối cùng (25 tháng 7 tới 20 tháng 8 năm 1935), hủy bỏ các chỉ thị năm 1928 do Đại hội trước gửi cho các phân bộ cộng sản, hủy bỏ chính sách ‘‘ thời kỳ thứ ba’’, chính sách cấp thời lật đổ chế độ tư bản toàn thế giới. Để ngăn chặn nguy cơ Hitler, Liên Sô kiên quyết dấn bước trên con đường tìm cách liên minh với chủ nghĩa đế quốc Pháp.
 
Để chống ‘‘kẻ thù chính’’, lúc này phải thành lập những Mặt trận bình dân, đó là nhiệm vụ cấp thời của các đảng cộng sản; ở Pháp không những phải liên minh với đảng xã hội cải lương mà còn đưa tay với đảng tư sản cấp tiến. Nói cách khác: loại bỏ khẩu hiệu lật đổ chủ nghĩa tư bản. Xu hướng này có tiếng vang lớn trong giới cấp tiến Pháp: Daladier, bị đe dọa bên cánh hữu, nên rất hài lòng chuẩn bị một Liên minh mới, mở rộng cho Đảng cộng sản Pháp vào, rồi từ đó cộng sản không còn tung hồ ‘‘hãy treo cổ Daladier!’’ nữa, mà họ lại kêu gọi  ‘‘Daladier lên chính quyền!’’.
 
Ngày 14 tháng 7, theo lời kêu gọi của Hội Nhân Quyền, Blum (thủ lĩnh đảng Xã hội), Thorez (Cộng sản) và Daladier (Cấp tiến) công khai tuyên thệ ‘‘đoàn kết để bảo vệ những quyền tự do dân chủ nhân dân nước Pháp đã giành được’’.
 
Từ tháng 9, người ta bắt đầu thảo luận một chương trình tuyển cử chung trong đó cấp tiến và cộng sản sẽ thanh toán mọi tinh thần cách mạng. Những lĩnh vực do đảng viên xã hội đề nghị quốc hữu hóa bị lược bỏ, chỉ giới hạn quốc hữu hóa kỷ nghệ chiến tranh. Tuần lễ làm việc 40 giờ không thấy nêu ra.
 
Đối với Đảng Cộng sản Đông Dương, một ít lâu về sau họ mới điều chỉnh con đường chính trị của mình. Ngày 1 tháng 7 năm 1935, bản Tuyên ngôn thảo cho Đại hội Macao còn viết: ‘‘Hãy phản đối khủng bố trắng trợn dã man của đế quốc Pháp ở Đông Dương. Cách mạng chống đế quốc và cách mạng ruộng đất ở Đông Dương muôn năm!’’.
 
Cuối năm 1935, khuynh hướng cách mạng phản đế và cách mạng điền địa đó vạch ra từ năm 1930, bấy giờ phải thay đổi cho phù hợp với những quyết định cải lương của Đại hội 7 Quốc Tế cộng Sản. Lần lược Đảng cộng Sản Đông Dương sẽ nối gót Đảng cộng Sản Pháp, đứng dưới bóng cờ tam sắc để phòng thủ Đông Dương.
 
Phái đối lập theo Trotski hoạt động bí mật
 
Báo Tranh Đấu im tiếng đối với hiệp ước Laval-Staline. Họ dằn lòng không phê phán chính sách hữu khuynh của Quốc tế Cộng sản. Những người xu hướng Trotski hoạt động hợp pháp làm thinh, vì đã giao ước với phái theo Staline - không chỉ trích nhau - trong mặt trận thống nhất Tranh Đấu. Sự suy thoái của QTCS, đường lối mới áp đặt cho Đảng Cộng sản Đông Dương cần phải cấp bách phê phán tận gốc. Những người theo Trotski hoạt động bí mật sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.
 
Người ta nhớ lại Lư Sanh Hạnh, phần tử phân liệt của Đảng cộng sản Đông Dương, người đã tiếp xúc với phái Tả Đối lập, bị án 15 tháng tù hồi tháng 9 năm 1933. Vừa được thả ra năm 1935, anh gặp Hồ Hữu Tường khuyến khích, Lư Sanh Hạnh cùng Ngô Văn Xuyết, một nhân viên thư ký và Trịnh Văn Lầu, sinh viên (học trò cũ của Tạ Thu Thâu) bí mật thành lập ‘‘Chánh đoàn cộng sản quốc tế chủ nghĩa-Phái tán thành Đệ tứ Quốc tế’’, cảm hứng theo cái tên do Phái tả đối lập quốc tế đặt ra từ 1933, trước tình hình ‘‘không thể chiến đấu chung dưới một mái nhà cùng Staline’’, như Trotski đã nói.
 
Tháng 10 năm 1935 tổ chức này bí mật xuất bản một tạp chí lý luận, nhan đề Cách mạng Thường trực, (chử nhà in) và một tờ báo chiến đấu (in rônêo) Tiền Đạo. Hành động thực tế đầu tiên là ủng hộ cuộc bãi công những người đánh xe thổ mộ hồi tháng chạp năm ấy.
 
Tổ chức này nhắc lại những luận điểm phê phán cũ của những người cộng sản đối lập, và nêu thêm rằng các đảng cộng sản không nên để mình biến thành một lực lượng chỉ đóng vai trò phò trợ chính sách đối ngoại của Liên Sô. Họ nói nếu chiến tranh đế quốc nổ lên, thì nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải biến đổi đế quốc chiến tranh thành nội chiến cách mạng. Giai cấp vô sản phải hành động cách mạng để bảo vệ Liên Sô.
 




Đăng nhập để trả lời
0
XIII
 
Nhóm Tranh Đấu thời kỳ
Mặt trận Bình dân Pháp
1936-1937
 
Chương trình tuyển cử chung do các phái cấp tiến, xã hội và cộng sản thảo ra được ấn hành ngày 10 tháng giêng năm 1936. Nó làm cho Phái cực hữu nổi giận. Maurras lên tiếng chửi thậm tệ hơn: ‘‘Léon Blum? một kẻ phải đem xử bắn nhưng bắn từ sau lưng, cái cặn bã của nhân loại đáng được đối xử như thế’’. Ngày 13 tháng 2, Blum bị một nhóm Bảo hoàng và bọn Cagoulards cực hữu đánh ở đại lộ Saint Germain, ông bị thương. Ngày 16, đảng viên cấp tiến, xã hội và cộng sản tập hợp đông đảo biểu tình phản đối, kéo đi từ lăng tẩm Panthéon tới quảng trường Nation.
 
Ngày 3 tháng 5 năm 1936, trong cuộc tuyển cử lập pháp ba đảng liên minh chiếm đại đa số. Đảng xã hội 147 đại biểu, cấp tiến 116, cộng sản 72 và các nhóm xã hội cộng hòa 41, tổng cộng 376 đại biểu, còn phái ‘‘quốc gia’’ chỉ có 220. Lúc ấy trong xứ gần một triệu người thất nghiệp, số thu nhập của người ở châu thành giảm độ 15% từ 1930.
 
Ngày 4 tháng 6, chính phủ đầu tiên của Mặt trận bình dân với Léon Blum làm thủ tướng đã thay thế nội các Albert Sarraut. Đảng Cộng sản Pháp từ chối tham gia. Cấp tiến và xã hội chia nhau các bộ (có hai đảng viên xã hội ở Bộ Thuộc địa và Bộ Nội vụ là Moutet và Salengro).
 
Ngay khi biết tin đảng Xã hội thắng to trong cuộc tuyển cử thợ thuyền bắt đầu sáp nhập sân khấu chính trị để bênh vực quyền lợi riêng của mình. Ngày 11 tháng 5, họ bắt đầu chiếm nhà máy chổ họ làm, qua ngày 25 phong trào đình công chiếm xưởng lan rộng khắp nơi. Đến cuối tháng có tới 100.000 công nhân chiếm nhà máy. Các dịch vụ y tế và an toàn được đảm bảo.
 
Ngày 6 tháng 6, đối mặt với một Nghị viện mà trong đó toàn thể đại biểu phái hữu rầm rộ la ó hết cỡ, thủ tướng Léon Blum tuyên bố sẽ không sử dụng cảnh sát lẫn quân đội để đàn áp thợ thuyền bãi công. Ngày chủ nhật 7, ông triệu tập cả giới chủ và đại diện Tổng Liên đoàn Lao động họp ở điện Matignon, văn phòng thủ tướng. Đến 1 giờ sáng ngày 8, giới chủ cùng nghiệp đoàn lao động ký một thỏa ước trong đó bao gồm quyền tự do nghiệp đoàn, những hợp đồng lao động tập thể, và chủ công nhận các đại biểu công nhân được bầu ra, những ngày nghỉ có trả lương và tăng mức lương từ 7 lên 15%. Ngày 11, L. Blum trình bày trước Nghị viện những dự án luật cấp bách để phê chuẩn các thỏa ước: qui ước tập thể, những ngày nghỉ trả lương, tuần làm việc 40 giờ. Một phiếu phản đối hai dự luật trên, 160 phiếu tán thành tuần lễ 40 giờ. Ba dự luật được chấp thuận.
 
Trong ngành luyện kim, xây dựng, hầm mỏ, các cuộc bãi công tiếp tục với một mầu sắc cách mạng rõ rệt. Bãi công chấm dứt vào ngày 12, sau lời tuyên bố nổi tiếng của Maurice Thorez, lĩnh tụ cộng sản : ‘‘Phải biết chấm dứt một cuộc bãi công’’.
 
Tiếng dội Mặt trận bình dân Pháp chấn động Đông Dương
‘‘Cuộc Cách mạng ở Pháp đã khởi đầu’’, Trotski tuyên bố trên báo Thợ thuyền Tranh đấu (Lutte Ouvrière) ở Paris, cơ quan của đảng Thợ thuyền quốc tế chủ nghĩa ngày 9 tháng 6 -1936. Tờ báo ra liền bị tịch thâu.
 
Ngày 11, tại Sài Gòn, nhóm huy động Chánh đoàn Cộng sản quốc tế chủ nghĩa, bí mật thành lập một năm trước đó, bị bắt. Thế nhưng trong đêm khuya, vô số truyền đơn bằng chữ quốc ngữ rải khấp thành phố kêu gọi dân chúng thành lập ủy ban hành động nhằm phát động ‘‘cuộc tổng bãi công hưởng ứng giai cấp vô sản Pháp’’:
 
Anh em thợ thuyền dân cày và binh lính Đông Dương !
Cách mạng vô sản ở Pháp đang sôi nổi dữ dội : Mấy trăm ngàn thợ đã đình công, chiếm lò máy và đang dự bị tổng đình công. Chúng ta hãy đứng lên. Trong mỗi lò máy, mỗi sản nghiệp, mỗi làng, mỗi tỉnh, anh em thợ thuyền và dân cày cử đại biểu. Thành lập ủy ban hành động khắp nơi. Liên hiệp nhau lại; Đứng lên tổng đình công hưởng ứng giai cấp vô sản Pháp!
Đả đảo đế quốc Pháp!
 
Đông Dương hoàn toàn độc lập!
Tịch thâu ruộng đất của địa chủ giao lại dân cày!
Cách mạng vô sản Pháp, Đông Dương muôn năm!
Liên ủy thợ- thuyền liên-hiệp
 Chánh đoàn Công sản quốc tế chủ nghĩa
 (phải tán thành Đệ tứ Quốc tế)(110)
 
Nhiều truyền đơn nội dung tương tự còn xuất hiện vài đêm sau nữa trong thành phố.
 
Đào Hưng Long, thợ vẽ kẻ biển, bị bắt tại nhà cùng với các bạn đang làm việc. Hồ Hữu Tường bị bắt ngày 16. Tất cả đều bị mật thám tra tấn. Các luật sư của họ đệ đơn kiện bọn tra tấn. Tờ Thư tín Đông Dương ngày 23 tháng 6 đăng đơn ấy trong bài ‘‘Vụ phòng chưởng lý truy tố Lư Sanh Hạnh và các bị cáo khác’’. Tờ Tranh Đấu ngày 24 cũng đăng theo.
 
Ngày 31 tháng 8, tòa tiểu hình kết án ‘‘tham gia vào hội kín và mưu toan phá rối trị an’’ Lư Sanh Hạnh và Ngô Văn Xuyết bị kêu án 18 tháng và 1 năm tù, giáo viên Trịnh Văn Lầu và thư ký Ngô Chỉnh Phến 8 tháng tù, thợ in Vạn Văn Ký, học sinh Phạm Văn Muồi và phu Võ Văn Dơn 6 tháng tù treo, thợ máy Văn Văn Ba tha bổng.
 
Hồ Hữu Tường và Đào Hưng Long được thả rồi vì thiếu chứng cớ.
 
Về phần Đảng Cộng sản Đông Dương, do Hà Huy Tập lãnh đạo bí mật khôi phục lại, sẽ theo gót Đảng Cộng sản Pháp. Trong chương trình Đảng Cộng sản Đông Dương không còn thấy nói đến đấu tranh giải phóng dân tộc cùng cải cách ruộng đất. Trong diễn văn không còn thấy có - trừ đôi chỗ còn nhắc nhở lại cho đến tháng 3 năm 1937 - những từ ngữ về đấu tranh giai cấp và đế quốc chủ nghĩa Pháp, thậm chí còn yêu cầu những tổ chức bí mật (như công hội, hội nông dân, đoàn thanh niên cộng sản) tự giải tán. Cũng như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương thỏa thuận với chính phủ Mặt trận bình dân, chính sách Blum-Moutet là muốn ‘‘canh tân hệ thống chế độ thuộc địa’’ chứ không phải là từ bỏ sự thống trị đế quốc chủ nghĩa ở Đông Dương.
 
Tiến tới Đông Dương Đại Hội một
‘‘Mặt trận bình dân’’ thuộc địa
 
Chương trình của Mặt trận bình dân Pháp bao gồm việc gửi một ủy ban điều tra của nghị viện để tìm hiểu nguyện vọng các dân tộc thuộc địa. Từ cuối tháng 5, ở Sài Gòn, ngay trước khi Marius Moutet lãnh chức bộ trưởng ký vào đề án ngày 1 tháng 8, phái lập hiến đã chuẩn bị một ủy ban đón tiếp gồm những nhà tư sản có danh tiếng.
 
Ngày 27 tháng 5, nhóm Tranh Đấu với Nguyễn An Ninh đối chọi phái lập hiến, đưa ra ý kiến rộng rãi hơn, dự định thành lập một Đông Dương Đại Hội để tập họp bên cạnh giới tư sản và trí thức những kẻ mà người ta luôn luôn khóa mồm không cho lên tiếng. Ngày 29 tháng 7, nhóm Tranh Đấu phát hành một lời kêu gọi, ký tên Nguyễn An Ninh, ‘‘mọi người thuộc tất cả các khuynh hướng tới triệu tập Đông Dương Đại Hội, nhằm hội thảo một tập thỉnh nguyện trình lên chính phủ mẫu quốc và nhằm thành lập một Ủy ban triệu tập Đông Dương Đại Hội’’. Các báo chí có nội dung chính trị tương tự như báo Tranh Đấu cũng tung ra những lời kêu gọi đó, như báo Lao Động (Le Travail) ở Bắc Kỳ, Nhành Lúa ở Trung Kỳ.
 
Trong một truyền đơn hướng về quảng đại quần chúng, nhóm Tranh Đấu nêu rõ hơn :
 
Trong các nhà máy, các nông trường, các thành phố, các làng mạc, các bạn hãy thành lập những ủy ban hành động gồm từ 5 đến 7 người. Nhiệm vụ của các ủy ban hành động là gì? Xác định cho quần chúng hiểu rõ những nguyện vọng của họ, lựa chọn các đại biểu của mình đi dự Đông Dương Đại Hội.
 
 
Ủy ban hành động nhóm Tranh Đấu thành lập ngày 5 tháng 8 - 1936 phát hành hai tập sách hướng dẫn khác nhau: một là Cách làm việc của một ủy ban hành động, của Đào Hưng Long, chỉ bảo nhất là thợ thuyền và nông dân phát biểu nguyện vọng giai cấp mình; còn tập kia tựa đề Cho được thực hiện Đông Dương Đại Hội, tác giả Nguyễn Văn Tạo tuyên bố tán thành việc đoàn kết dân tộc: ‘‘Những người lao động phải cùng đi chung với những nhà tư sản để đảm bảo Đông Dương Đại Hội thành công’’.
 
Phái lập hiến cũng tán đồng ý nghĩ về một cuộc Đại Hội như thế. Ngày 13 tháng 8, tại trụ sở báo Việt Nam của nhóm lập hiến, 300 người tham dự bầu ra 19 thành viên ủy ban triệu tập, chủ yếu gồm trí thức và tư sản, chỉ có hai người thuộc giới lao động (Đào Hưng Long và Nguyễn Thị Lựu). Được mở rộng vào ngày 21, ủy ban này quyết định là các đại biểu của giới cần lao không thể vượt một phần tư số người tham dự Đại Hội. Tuy nhiên ủy ban này cũng chấp nhận việc thành lập các ủy ban hành động (dưới 20 người để được hợp pháp) do nhóm Tranh Đấu đề nghị. Bảy ban phụ trách được giao trách nhiệm tập hợp các bản thỉnh nguyện. Nguyễn An Ninh cùng một số người chịu trách nhiệm về các vấn đề hành chính, nông dân và nông nghiệp; Hồ Hữu Tường về vấn đề kinh tế tài chính; Phan Văn Hùm về vấn đề y tế và cứu tế xã hội; Trần Văn Thạch về vấn đề học vấn và giáo dục; Tạ Thu Thâu, Đào Hưng Long và Trịnh Hưng Ngẫu về vấn đề lập pháp cho công nhân; Nguyễn Văn Tạo và 5 người lập hiến về vấn đề yêu sách chính trị.
 
Cuộc cổ động tuyên truyền cho Đông Dương Đại Hội phát khởi, hàng ngàn hàng ngàn truyền đơn phát rải khắp nơi. Quần chúng nhiệt tình sôi nổi dâng lên như ngọn thủy triều, và trong một trật tự đáng chú ý.
 
Tuy vậy, chính quyền thực dân đã hoảng sợ và báo động cho Paris; ngày 8 tháng 9, tổng trưởng bộ Thuộc địa Mouter ra lệnh cấm ‘‘ tập họp ở Sài Gòn một Đại hội gồm hàng ngàn người vì đó có thể sinh ra biến loạn’’.
 
Ủy ban hành động, mầm mống Sôviêt nhân dân
Ủy ban hành động đột khởi nhanh như chớp nhoáng. Ngày 30 tháng 9 năm 1936, sở Mật thám ước tính phỏng 600 ở Nam Kỳ (trong đó 285 là hợp pháp, còn bao nhiêu đều bí mật). Có khoảng 200 Ủy ban hành động chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhóm Tranh Đấu. Trong khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, họ tổ chức những Ủy ban hành động ở Công ty xe điện Pháp, nhà máy thuốc lá COFAT, nhà máy rượu Bình Tây, trạm dầu xăng Nhà Bè, đường sắt, nhà in, trong giới xe thổ mộ Tân Sơn Nhất... Phần lớn các ủy ban hành động tại các khu nội thành, đều là công trình của những người xu hướng Trotski đã bị lộ mặt: Nguyễn Văn Số và Đào Hưng Long tại Cầu Ông Lãnh, Chợ Đũi, Cầu Kho, Cầu Muối, Chợ Quán; Hồ Hữu Tường và Ganofsky tại Đakao; Nguyễn Văn Cử và Nguyễn Văn Chuyến hoạt động trong giới học sinh Sài Gòn. Ở vùng nông thôn phần nhiều Uỷ ban hành động thuộc ảnh hưởng của những người cộng sản theo Staline, riêng Cà Mau và Giá Ray (Bạc Liêu) do Trần Hải Thoại và Nguyễn Văn Đính chủ động.
 
Ngày 12 tháng 9, năm người lập hiến, trong đó có Lê Quang Liêm, kẻ tước đoạt ruộng đất nổi danh, tách ra khỏi phong trào, buộc tội nhóm Tranh Đấu là ‘‘xúi giục tầng lớp vô sản chống lại những người mà họ gọi là có của’’. Lãnh tụ đoàn chủ tịch Ủy ban triệu tập là Nguyễn Phan Long, lập hiến, không đi theo họ, cuộc cổ động triệu tập Đại Hội vẫn tiến triển mạnh hơn.
 
Ngày 15, thống đốc Nam Kỳ Rivoal cấm mọi cuộc hội họp và biểu tình trong lãnh thổ Sài Gòn - Chợ Lớn, nhưng ngày 17 ông ta cho phép Ủy ban nhóm họp để soạn thảo tập đơn thỉnh nguyện.
 
Chính quyền thực dân nêu ra những vụ rối loạn tưởng tượng để thúc giục bộ trưởng Thuộc địa ra lịnh đàn áp. Ngày 19, một điện tín của Moutet lộ rõ sự hoảng loạn : ‘‘Phải duy trì trật tự bằng mọi biện pháp, hợp thức và hợp pháp (nguyên văn), kể cả truy tố. Trật tự của nước Pháp phải chế ngự trên toàn Đông Dương cũng như ở những nơi khác’’. Những vụ đàn áp trá hình - vì các ủy ban hành động vẫn ở trong vòng hợp pháp - chống lại các ủy ban hành động ngày thêm nhiều. Giới chủ sa thải những công nhân tham gia phong trào, hương chức làng và lính cảnh sát gây phiền nhiễu họ.
 
Tại Sài Gòn, ngày 21, Trần Văn Thạch bị kết án vì đã nói chuyện tại một cuộc họp ở Tân Định. Ngày 26, 17 nông dân trong ủy ban hành động Bến Lức bị bắt (ngày 3 tháng 10, tòa phạt người tổ chứ 3 năm tù: Nguyễn Văn Tiếp - giáo viên bị sa thải, người trước kia, năm 1926, đã xin ở tù thế cho Nguyễn An Ninh ; ông già Nguyễn Văn Xuyến, nông dân 18 tháng tù, những người khác bị án treo. Trong các tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên, tên cò Bazin, mật thám nổi tiếng, không ngớt ruồng bắt trấn áp các ủy ban hành động ở nông thôn.
 
Ngày 27, đến lượt Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh vô khám; ngày 3 tháng 10, Nguyễn Văn Tạo vô theo. Những con số tù ghi trên thẻ cây đeo nơi áo có chữ MAP ( Maison d’arrêt politique = nhà giam tù chính trị) của ba người là: 3058, 3059, 3088 đã chứng tỏ là qua 5 ngày đã có tới 29 tù chính trị mới bị giam.
 
Ngày 30 tháng 9, Dương Bạch Mai đi Pháp. Nhiệm vụ của anh ta là báo động dân chúng Pháp về cuộc đàn áp ở Đông Dương, và kèo nài làm sao cho Moutet chấp nhận Đông Dương Đại Hội là hợp pháp công khai. Mai dành phần lớn thời giờ đi lại Đảng cộng sản Pháp, rốt cuộc chả đạt được điều gì.
 
Báo Tranh Đấu ngày 1 tháng 10 có tiêu đề: ‘‘Những lời tuyên bố của Marius Moutet ngày càng đi ngược với những sự kiện chính trị địa phương’’.
 
Trong Khám Lớn, ngày 26 tháng 10, Ninh, Tạo và Thâu bắt đầu tuyệt thực làm reo và viết chung một bức thư gửi Léon Blum:
 
Chúng tôi đang ngồi tù vì đã và đang đứng về phía Mặt trận bình dân. Những sự kiện do đó chúng tôi bị khiển trách một cách chính thức là: những bài báo của Ninh và Thâu trên tờ Tranh Đấu ngày 24 tháng 9 và tập sách có nhan đề ‘‘Đông Dương Đại Hội’’ của Tạo bằng chữ quốc ngữ.
 
Ba hôm sau, tờ Tranh Đấu viết:
 
Trong tù, chế độ ăn ngủ của họ chẳng khác gì đối với tù thường phạm. Cũng thùng cơm gạo lức, cũng một cái ca thiếc với đôi đũa tre. Họ ngồi xuống đất mà ăn, họ nằm xuống đất, xin lỗi! họ nằm xuống nền xi măng mà ngủ.
 
Ngày 2 tháng 11, người ta chở Tạo, Thâu, Ninh vô nhà thương Chợ Quán.
 
Ngày 3, tờ Thư tín Đông Dương đăng đọan văn bỉ ổi sau đây của quan biện lý thông tư các quan tòa vào năm 1931 :
 
Khi sở hành chính giao cho các ông một bị cáo, các ông không cần tìm hiểu xem y có phải là thủ phạm hay không và thả y ra nếu các ông không tìm thấy bằng chứng buộc tội. Bổn phận các ông là phải giữ y lại và tìm ra những chứng cớ buộc tội người bị cáo.
 
Người ta biết ‘‘tìm ra chứng cớ’’ có ý nghĩa gì, khi biện lý cuộc dựa vào sở Mật thám để tìm được những ‘‘chứng cớ’’, vì mật thám có đủ phương tiện chắc chắn để lấy được những ‘‘lời thú tội đột nhiên’’.
 
Ngày hôm sau, mồng 4, cũng tờ báo trên chủ động gửi một bức điện tín cho L. Blum, M. Moutet, và mười ba nhân vật khác trong đó có A. Viollis, L. Roubaud, G. Péri, như sau:
 
Xin lưu ý vụ bắt bớ các ủy viên hội đồng thành phố Thâu và Tạo, nhà báo Ninh, bị buộc tội âm mưu khuynh phúc chính phủ vì tổ chức Đại Hội, thu thập đơn yêu sách gửi ủy ban điều tra của nghị viện do Bộ trưởng công bố. Công chúng Nam Kỳ xúc động sâu sắc.
Cần can thiệp cấp bách.
 
Ngày 5 tháng 11, Tạo, Thâu, Ninh được ra tù.
 
Moutet cắn răng trợn mắt nhưng vẫn do dự nhiều. Vào tháng 11 ông ta can thiệp đến Bộ trưởng Hải quân, phản đối vụ sa thải bốn công nhân Thủy binh Xưởng Ba Son vì lý do chính trị, và viết cho toàn quyền Sylvestre là phải để cho tự do hội họp nhằm thảo đơn thỉnh nguyện. Nhưng năm tới đây, ông ta lại cấm các ủy ban hành động.
 
Ngày 1 tháng giêng năm 1937, cựu bộ trưởng Justin Godart, cấp tiến phái tả, đại biểu Văn phòng Lao động quốc tế, được giao nhiệm vụ điều tra, cập bến Sài Gòn. Hàng ngàn thợ thuyền và nhân viên biểu tình phấn khởi hô vang: ‘‘Tự do dân chủ! Tự do nghiệp đoàn!’’. Qua ngày 15, khi toàn quyền Brévié cập bến Sài Gòn, hàng rào cảnh sát chận đứng làn sóng người tràn vào thành phố; hàng ngàn nông dân quanh vùng cũng muốn đề đạt những nguyện vọng của mình. Trên đường đi Hà Nội, hai sứ giả trên cũng gặp những đoàn người như vây đón tiếp.
 
Theo lời kêu gọi của báo Tranh Đấu ngày 7 tháng giêng 1937, Ủy ban triệu tập hoạt động lại dưới tên khác, Ủy ban thỉnh nguyện trung ương. Các Ủy ban hành động xuất hiện lại một thời gian ngắn. Ngày 26 tháng 2, toàn quyền Brévié ra lệnh cho ‘‘những người nhóm Tranh Đấu phải ngừng mọi hoạt động chính trị nếu không sẽ bị trừng phạt’’. Từ ngày 22, cảnh sát hạ tấm biển của Ủy ban thỉnh nguyện trung ương.
 
Ủy ban hành động bị cấm, rút lui vào bóng tối rồi tiến triển dần lập thành những chi bộ cộng sản xu hướng Staline hoặc cộng sản theo Trotski. Các tổ chức bí mật này sẽ làm nòng cốt phong trào rộng lớn chưa từng thấy, làn sóng bãi công cuồn cuộn lan tràn khắp năm 1937.
 
Dự án Ủy ban điều tra các thuộc địa do nghị viện cử ra sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn tại Thượng nghị viện ngày 17 tháng 7 năm 1938, với một chính phủ mới Daladier trong đó phái hữu chiếm ưu thế. Mặt trận bình dân đã thất bại, và khẩu hiệu ‘‘bánh mì, hòa bình, tự do’’ không còn xuất hiện trong chương trình nghị sự nữa.
 
Nhưng rồi chúng ta sẽ bàn trở lại sau.
 
Hinhtrg220
Báo Chiến sĩ (Le Militant)
 
Chúng ta đã thấy những người xu hướng Trotski hoạt động hợp pháp đã buộc mình phải im tiếng về chính trị trong một mức độ nào đó, vì họ hiệp đồng lập mặt trận chung với những người theo Staline để tái bản tờ Tranh Đấu vào tháng 10 năm 1934. Chúng ta cũng thấy những người xu hướng Trotski bí mật trong Liên minh cộng sản quốc tế chủ nghĩa đã từng tự quyền phê phán như thế nào vào năm 1935, rồi sau đó toàn bộ nòng cốt của Liên minh này đã bị mật thám bắt vào tháng 6 năm 1936, trong những ngày đầu tiên của chính phủ Mặt trận bình dân.
 
Vào tháng 9 năm 1936, Hồ Hữu Tường công khai đứng ra phê bình, xuất bản tờ tuần báo xu hướng Trotski đầu tiên bằng tiếng Pháp, tờ Chiến sĩ, một tờ báo lý luận, Đoàn Văn Trương chủ nhiệm.
 
Từ ngày 1 đến 22 tháng 9 năm 1936, qua bốn số báo, tờ Chiến sĩ kêu gọi công nhân và nông dân hãy cảnh giác đối với giai cấp tư sản, đặt lại vấn đề hợp tác với phái lập hiến trong Đại Hội, thực sự là một sự hợp tác giai cấp; tờ báo đăng những bài của Trotski nói cách nào là một mặt trận thống nhất có hiệu quả; tờ báo tố cáo Mặt trận bình dân ở Pháp phản cách mạng, trong đó những người theo xã hội chủ nghĩa trở nên tù nhân của phái tư sản cấp tiến, họ không có khả năng ngăn cản cuộc đàn áp ở Đông Duơng: mười hai người dân cày cộng sản ở Đức Hòa và bảy thành viên của Liên minh cộng sản mới vừa bị kết án tại tòa tiểu hình ngày 6 và 31 tháng 8 - 1936.
Tờ báo nhắc lại tình thế nghiêm trọng lúc này trên thế giới: Ở Espagne (Tây Ban Nha) tướng phát xít (fascite) Franco nổi loạn ngày 19 tháng 7 năm 1936, chống lại Mặt trận bình dân bên ấy; chính sách ngoại giao Nga lấn ép nặng nề; ở Moscou, vụ án quái gở đầu tiên ngày 19 tháng 8, bộ máy tư pháp chính trị xử tử những người bolcheviks kỳ cựu đã cùng Lénine huy động Cách mạng tháng Mười 1917 như Xinôviep, Kamênep và 14 người khác - khép họ vào tội khủng bố theo phái Trotski - tổng biện lý Vychinski coi họ là ‘‘lũ chó dại’’ và ra lịnh bắn tức khắc sau khi tuyên án.
 
Các đồng chí xu hướng Trotski trong nhóm Tranh Đấu, ngở ngàn không thể hở môi.
 
Báo Chiến sĩ gây nên một tình trạng căng thẳng trong nhóm Tranh Đấu, cuối tháng chín đầu tháng 10, tình trạng này càng gay gắt sau khi Tạo, Thâu và Ninh bị bắt. Tờ báo bị cấm. (Nó sẽ tái bản ngày 23 tháng 3 tới 1 tháng 6 năm 1937, từ số 5 đến số 14). Để đối phó lại, Tường tập hợp những chiến sĩ hoạt động hợp pháp trong Nhóm Bolcheviks-Léniniste tán thành Đệ tứ Quốc tế, thay cho nhóm Liên minh quá vãng, và giải thích lập trường của họ trong Tạp chí nội bộ ngày 15 tháng 11 năm 1936. Ngày 1 tháng chạp, nhóm phát hành tờ nhật báo Thợ thuyền tranh đấu. Trong số 2 có bài nói với thanh niên vừa nhập ngũ:
 
Hỡi các bạn chiến binh! Chỉ vài ngày nữa các bạn sẽ đứng dưới cờ. Là dân thuộc địa nước Pháp, người ta sẽ tập các bạn biết sử dụng vũ khí. Đấy Lénine đã nói về vấn đề này: Hãy cầm lấy súng ống và hãy học cách sử dụng súng ống! Người vô sản phải học làm được cái đó, không phải để giết những người vô sản xứ khác bạn của mình, theo lịnh những kẻ thù của xã hội của chúng ta, mà để quay súng chống lại bọn tư sản trong xứ.
Chúng ta đấu tranh để đòi được quyền đọc những tờ báo của thợ thuyền và để thành lập các ủy ban binh lính. Các bạn hãy tập hợp dưới lá cờ đỏ của Đệ tứ Quốc tế tiến tới nên chuyên chính vô sản.
 
Còn về hoạt động thành lập công hội bí mật, phái Bolcheviks-Léniniste từ tháng 11 xuất bản tờ báo Liên hiệp ; dẫn tới việc tổ chức Liên ủy Thợ thuyền vào mùa xuân năm 1937.
 
Phong trào bãi công đột khởi từ đâu tháng 6 năm 1936
Như một tiếng dội hưởng ứng phong trào chiếm lĩnh nhà máy ở Pháp, lại thêm giá sinh hoạt mỗi ngày một tăng tại thuộc địa, phong trào thợ thuyền
 
 
 
(HÌNHBáo le Militant (chiến sĩ)
 
HÌNHSách báo Đệ tứ quốc tế)
 
và phu phen lại bắt đầu rung chuyển ở Đông Dương.
 
Tại miền nam Trung Kỳ, ngày 23 tháng 6, lần đầu tiên hàng trăm thợ thuyền và phu đồn điền cao su Đông Trang (cách Nha Trang 25 km) tiến hành bãi công và tuần hành tới tỉnh lỵ. Sau khi công sứ can thiệp chủ đồn điền nhượng bộ, họ trở lại làm việc.
 
Tại Nam Kỳ, vào tháng 8, phong trào lại nẩy sinh từ đồn điền trồng lúa: 400 công cấy ở Cần Giuộc (Chợ Lớn) mỗi ngày kiếm được 16 và 12 xu phản đối việc giảm lương xuống 12 và 10 xu; một địa chủ nhỏ đánh đập một vài công cấy và làm tổn thương một công cấy con gái 19 tuổi, bị hương chức làng trừng phạt, bắt làm mười ngày lao dịch.
 
Tại công trường những người thất nghiệp ở Bạc Liêu (lương công nhật là 20 xu, ban quản trị giữ lại 10 xu để nộp vào thẻ thuế thân và 2 xu cho người tuyển mộ), những người phu ngưng việc rồi kéo nhau đi tới chủ quận để khiếu nại, nhưng không được thỏa mãn điều gì cả.
 
Ngày 19 tháng 8, 320 phu đồn điền Michelin ở Dầu Tiếng yêu cầu thắng lợi, tên cai vũ phu bị đuổi, gạo ăn được tăng thêm chút ít. Ngày 27, phu đồn điền cao su Quảng Lợi (Thủ Dầu Một) biểu tình, đánh đập tên cai bởi hắn mà một anh cu li chích mủ tự tử, họ đòi đuổi tên cai đó.
 
Ngày 10 tháng 10, cũng ở Dầu Tiếng, 130 cu li chích mủ đòi đuổi một tên cai thứ hai và một tên giám thị người Âu đã đánh một người cu li đến tổn thương; bốn trong số người phản đối bị giam tại khám tối (nhà tù riêng của Michelin) trong 5 ngày. Cũng trong ngày 10 tháng 10, hàng trăm phu đồn điền Bình Trước (Biên Hòa) bãi công.
 
Tại Bến Củi (Tây Ninh), một người bỏ trốn khỏi Công ty Đồn điền Cao su Đông Dương bị bắt lại, bị đánh bằng roi rồi đưa đi làm với hai chân mang xích. Ban ngày anh chỉ được một bữa cơm, ban đêm bị giam khám tối. Sau một tuần lễ, ngày 1 tháng 11, anh tự treo cổ. Ngày 2, giới phu ngưng việc, đòi chấm dứt ngược đãi và đòi tăng lương. Có chính quyền can thiệp, họ được thỏa mãn đôi phần, còn tên giám thị sát nhân Schmitz bị kết án 3 tháng tù ngày 26 tháng 12, những án tù treo! Công bộc nào hưởng ưu đãi nấy.
 
Ngày 15 tháng 11, 400 cu li và thợ trong xưởng của Tân Mai (thuộc sở Kỹ nghệ và Lâm nghiệp Biên Hòa), quá khốn cùng họ bãi công chiếm xưởng. Đây là lần đầu tiên và rất hiếm có việc chiếm xưởng làm như thế. Ngày 18 chính quyền ra lệnh cấm mọi sự xâm chiếm như vậy, việc vi phạm quyền sở hữu tư bản thiêng liêng bị trừng phạt. Những người bãi công trở lại làm việc ngày 1 tháng chạp sau khi được tăng thêm 10 xu khốn khổ vào lương công nhật.
 
Giá gạo tăng từ 1,30 đồng lên 2,20 đồng mỗi 30 lít.
 
Vào tháng 11 và tháng chạp, thợ cưa Hóc Môn rồi thợ cưa Tân An đấu tranh đòi tăng lương; những xưởng nhỏ như xưởng mộc, lò gạch, xưởng xà phòng. cũng rục rịch làm reo.
 
Cần phải ghi chú ở đây là chính phủ Blum-Moutet đã ra một sắc luật ngày 20 tháng 6 buộc mở rộng ở Đông Dương những luật xã hội mới có điều tiết. Đứng trước một giới tư sản thực dân và tư sản địa phương không muốn cải cách, chính quyền địa phương không vội vã gì trong việc lập một dự án để thực thi sắc luật đó. Một ủy ban tư sản (không một đại biểu nào của giới thợ) được giao trách nhiệm nghiên cứu đề tài này. Ngày 1 tháng 9 đề xuất 15 ngày nghỉ được trả lương đối với người ăn lương tháng và 4 ngày đối với người ăn lương công nhật. ủy ban này tránh xa về ý tưởng về một qui ước tập thể, chỉ giới hạn ở phạm vi đòi giới chủ thực hiện một mức nào đó về giờ làm việc, ấn định mức lương tối thiểu, chấm dứt tiền phạt... Về phía toàn quyền lâm thời Sylvestre, sau hai lần bị Bộ Thuộc địa nhắc nhở, mới ra nghị định ngày 11 tháng 10,ấn định ngày làm việc 10 tiếng, bắt đầu từ 1 tháng 10, rồi 9 tiếng vào năm 1937, 8 tiếng vào năm 1938, hàng tuần người làm mướn được nghĩ một ngày, ít lắm là 24 tiếng liên tiếp. Những ngày nghỉ hàng năm có trả lương là 5 ngày vào năm 1937, 10 ngày vào năm 1938; cấm sử dụng phụ nữ và trẻ em làm ca đêm.
 
Ở các tỉnh miền Bắc vào tháng 11 năm 1936, nhiều cuộc bãi công lớn nổ ra : 20.000 thợ mỏ Cẩm Phả-Hòn Gai ngưng việc từ ngày 16 đến 28 đòi bọn cai dứt ngược đãi, đấm đá, đánh đập bằng gậy gộc, bằng roi gân bò, và đòi tăng lương từ 18 xu lên 35 xu và từ 27 lên 40 xu. Nhà máy xi măng Hải Phòng cũng đình công với những yêu sách tương tự.
 
Ở phía Nam, tại Sài Gòn ngày 4 tháng chạp, toàn bộ 1200 thợ và phu ở thủy binh xưởng Ba Son tiến hành bãi công. Họ mới vừa được tin những đại biểu của xưởng chế tạo thủy lôi, ngày 26 tháng 11, đưa đơn yêu sách và giám đốc hứa bảo đảm họ sẽ được thỏa mãn, họ sẽ không bị trừng phạt, nhưng sau đó họ bị phạt tiền và mất việc. Sáng ngày 4, những người bãi công đưa yêu sách đòi phải thu dụng trở lại những người bị đuổi, hủy bỏ các khoản phạt tiền, mức tối thiểu tiền lương công nhật là 1,20 đồng, giờ làm thêm được trả 150%, thi hành các đạo luật lao động được chấp thuận ở Pháp (tuần lễ 40 giờ, mỗi năm được nghỉ 15 ngày có trả lương, trả lương hưu trí) phải được áp dụng tại sở Ba Son, một xưởng tàu trực thuộc Bộ Hải quân. Bọn giám đốc chẳng những không trả lời mà còn đe dọa nữa.
 
Trong bức thư gửi cho bộ trưởng Moutet ngày 5, những người bãi công bày tỏ tại sao họ làm reo và họ đòi hỏi những gì, yêu cầu bộ trưởng can thiệp cho họ được thỏa mãn ‘‘những yêu sách chính đáng’’ của họ : Thật là trái nhân đạo khi giám đốc Thủy binh công xưởng trả cho thợ 0,72 đồng một ngày công, và cho phu 0,45 đồng, trong khi giá thực phẩm tăng thêm 50%. Thật là một sự lỗi thời khi mà luật lao động chỉ áp dụng cho các thư ký sở Ba Son mà không áp dụng cho thợ thuyền chúng tôi.(111)
 
Ngày 9, hai trăm công nhân Công xưởng Hải quân (Travaux Maritimes) cùng đứng lên đấu tranh với phong trào trên. Cuộc bãi công chung này ngưng lại hôm 19 tháng 12, được thành công một nửa: tăng lương từ 6 đến 10%, nhưng 9 người thợ bị đuổi vẫn không được thâu nhận lại.
 
Hàng ngàn công nhân đường sắt, thợ máy, lái tàu, trưởng toa và phu phen tại các trạm ở Sài Gòn và Dĩ An ngừng làm việc. Không một chuyến tàu nào chạy kể từ ngày 15. Ngày 18, sau khi kỹ sư trưởng Godefroy thỏa thuận ít nhiều trong 8 yêu sách, họ mới đi làm trở lại.
 
Từ ngày 7, tới phiên các lái xe điện và ô tô bãi công, số người tham gia nhanh chóng lên tới 493. Cuộc bãi công này kéo dài tới năm 1937, được anh em sở Ba Son ủng hộ (tẩy chay xe điện và ô tô khách). Các chợ làng quê quanh vùng cung cấp thực phẩm cho họ trong lúc họ không đi làm. Mặc dù Justin Godart can thiệp, cuộc bãi công kết thúc vào tháng giêng năm 1937: 485 trong số những người bãi công bị đuổi việc, sở xe điện CFTI chỉ thu nhận lại 148, lương tăng thêm vài xu.
 
Sắc lệnh Blum-Moutet ngày 30 tháng 12 năm 1936
Để ngăn chặn phong trào bãi công bùng nổ năm ấy ở Đông Dương sắc lệnh Blum-Moutet đã xác nhận và nới rộng thêm sắc lệnh Sylvestre ngày 10 tháng 10. Với 127 điều khoản, lần đầu tiên có qui chế hóa ‘‘lao động tự do’’ ở Đông Dương. Báo Tranh Đấu ngày 18 tháng 2 năm 1937 đã chào mừng sự ‘‘tiến bộ lớn lao’’ đó, dịch và in văn bản đó ra bằng chữ quốc ngữ.
 
Sắc lệnh đó cấm sử dụng trẻ em dưới 12 tuổi; hạn chế số thợ tập việc trong mọi xí nghiệp chỉ được chiếm một phần ba số thợ chính thức; tới 20 tuổi, thợ tập việc trở thành thợ nghề. Đàn bà có mang được quyền nghỉ việc không lương; phụ nữ cho con bú được trừ 20 phút buổi sáng và 20 phút buổi chiều không bị giảm lương. Các xí nghiệp nào có sử dụng thầu khoán phải trả lương cho những người làm công nhật của chủ thầu bỏ việc. Mức lương tối thiểu sẽ do các đại diện của giới chủ, đại biểu người bản xứ và thanh tra lao động quyết định.
 
Tuy thế báo Tranh Đấu phê phán chổ thiếu kém trong sắc lệnh như không chấp thuận quyền nghiệp đoàn, quyền bãi công, cũng không chấp nhận quyền của các đại biểu. Sắc lệnh chỉ áp dụng trong phạm vi các xí nghiệp công nghệ, thương mại và hầm mỏ (chứ không áp dụng cho các xưởng thủ công và đồn điền là nơi mà phu phen bị bóc lột nặng nề hơn giai cấp vô sản công nghiệp), nó chỉ áp dụng cho 3% trong số dân lao động mà thôi. Bãi công vẫn bị coi là một sự phạm luật, còn nghiệp đoàn vẫn còn bị kết án buộc tội lập hội kín. Chỉ có thanh tra lao động là có đủ tư cách đại diện cho thợ thuyền và nhân viên khi cần khiếu nại trước pháp luật chống đối giới chủ. Như vậy giới lao động vẫn bị đối xử như những người không đủ tư cách đối diện pháp luật.
 
Những qui định trên chỉ áp dụng cho công nhân công nghiệp sau khi Phòng Nông nghiệp - nghĩa là giới điền chủ thực dân hay bản địa - thỏa thuận. Điều khoản 3 cấm sử dụng ‘‘lao động cưỡng bức’’, ‘‘mọi công việc hay dịch vụ mà người bị buộc làm không sẵn lòng đáp ứng, ngoại trừ những công việc phải làm để trừ thuế khóa, hoặc về mặt quân dịch, hoặc phải làm để đền tội sau khi bị kết án’’ như khoản 2 đã định nghĩa. Điều khoản đặc biệt riêng về những việc phải làm để trừ thuế, trá hình ‘‘lao động cưỡng bức’’ thành ‘‘lao động sun dịch’’, thế đó chế độ lao động cưỡng bức vẫn được duy trì.
 
Thật quá ít ỏi, những điều mà chính phủ Mặt trận bình dân chấp thuận nhằm thỏa mãn những yêu cầu của những người bị bốc lột. Thế mà giới chủ nhân người Pháp, người An Nam và người Trung Hoa tìm cách không thi hành. Để thông báo cho những người bị bóc lột được biết những quyền lợi mới, nhóm Tranh Đấu xuất bản quyển Chế độ lao động Đông Dương, kêu gọi mọi người tổ chức đấu tranh làm cho bản pháp qui đó không trở thành vô dụng.
 
Những người thợ bị sa thải vì bãi công không mấy hy vọng sở thanh tra lao động trợ giúp. Sở mật thám tiếp tục bắt những người bãi công hăng hái nhất và các tòa án vẫn tiếp tục kết án họ ‘‘cản trở quyền tự do lao động’’.
Tại các xứ bảo hộ, sắc lệnh đó lại còn bị giảm bớt trong khi ban bố ra, lý do là phải tôn trọng ‘‘quyền của các trào vua chúa được Pháp bảo hộ’’, điều đó lại càng làm cho tình thế người làm công ăn lương càng thậm tệ hơn, nếu người ta xét tới cái chỉ dụ của vua Cao Miên thêm vào đó định phạt một năm tù mọi ngườii nào bãi công.
 
Bãi công biểu tình năm 1937
Sắc lệnh Blum-Moutet không chấm dứt được những cuộc bãi công. Trái lại phong trào vượt lên tới đỉnh cao vào tháng giêng năm 1937, với 112 cuộc bãi công của công nhân ở Miền Nam, nơi mà số bãi công không ngừng tiến triển từ tháng 9 năm 1936.
 
Hầu hết ở mọi nơi, thợ thuyền và phu phen, dưới ách bóc lột của bọn chủ không chịu tuân theo một qui chế nào, họ vùng dậy trong hoàn cảnh khốn cùng do các chiến sĩ cách mạng khuyến khích.
 
Xã hội xáo động sục sôi, theo Justin Godart nhận xét, nguyên nhân sâu sắc là quần chúng càng ngày càng thêm bần cùng khốn khổ bởi giá cả sinh hoạt lên cao, thường thường giới chủ nhân không màng đến. Giá gạo và thực phẩm như yếu tăng thêm quá cao: 85% từ tháng 10 đến tháng chạp năm 1936.(112)
 
Ngày 7 tháng giêng 1937, Justin Godart đàm đạo với phân bộ đảng xã hội SFIO Pháp ở Sài Gòn, công bố ý muốn ban hành ngay luật nghiệp đoàn. Toàn quyền Brévié chỉ thoả thuận áp dụng luật ấy cho một mình các viên chức người Âu.
 
Ngày 19 và 20 tháng giêng, đứng trước một phong trào bãi công ngày thêm bồng bột, toàn quyền Brévié triệu tập bốn nhà báo nhóm Tranh Đấu tới nhằm làm cho họ yên tâm, bày tỏ với họ những thiện ý về cải cách của ông ta.
 
Báo Tranh Đấu ngày 4 tháng giêng viết :
 
Ông Brévié muốn quần chúng hãy bình tĩnh đứng yên chờ ngài bắt tay vào việc. Chúng tôi, trái lại, chúng tôi không tin mầu nhiệm nào cả, nghĩa là không tin rằng những cải cách có lợi cho quần chúng có thể thực hiện mà không cần có quần chúng can thiệp. Điều kiện chủ yếu của những cải cách, cũng như sự giải phóng giới lao động nằm trong ý chí hành động và tinh thần quyết đoán của thợ thuyền, nông dân, của toàn thể lao động.
 
Ngày 30 tháng giêng, toàn quyền có ý làm dịu tình hình, bèn đề nghị với Bộ trưởng Thuộc địa đàn áp gắt gao những ủy ban hành động, họ là nhân tố gây men cho phong trào bãi công.
 
Những cuộc bãi công tháng giêng bắt đầu ngày mồng 2, trước nhất công nhân người Hoa tại nhà máy gạo Trang Đông Á ngưng việc, liền theo đó bạn đồng nghiệp khắp nhà máy gạo ở Chợ Lớn đều làm reo. Ngày 14, 2500 phu gạo khoanh tay (5 nhà máy lớn ngưng chạy, trong đó có nhà máy gạo Viễn Đông và Nhà máy rượu Đông Dương ở Bình Tây). Ngày 20, có tới năm chục nhà máy gạo bị tê liệt.
 
Từ ngày 4 đến ngày 20, đình công tại Công ty chế tạo Cao su Sài Gòn; ngày 6, 150 phu đình công tại xưởng Chế tạo cơ khí Richaud; ngày 11, 300 công nhân trên đội thương thuyền ở Thương cảng bỏ việc; ngày 14, đến phiên 450 công nhân nhà máy rượu Bình Tây ngừng việc; rồi từ ngày 19 đến 25, 550 công nhân của hãng thuốc lá COFAT đình công đòi những điều kiện làm việc bớt khổ sở hơn và đòi quyền nghỉ đẻ cho nữ công nhân.
 
Trong các cuộc bãi công, có tới một nửa số trường hợp bọn tài chủ đáp lại bằng cách đóng cửa nhà máy. Nhưng trong các nhà máy gạo của người Hoa, phu bãi công được tăng lương và không còn tùy tùng bọn tuyển mộ, chúng cắt xén quá đáng vào đồng lương của họ. Người ta sẽ thấy bọn chủ nhà máy không giữ lời cam kết, đôi khi sa thải người làm công hoặc đóng cửa nhà máy.
 
Ở Bắc Kỳ và cả ở Trung Kỳ, cũng có những phong trào đình công theo những yêu sách đó : vào tháng giêng và tháng 2 năm 1937, một ngàn người bãi công tại nhà máy sợi Hải Phòng, bốn ngàn người ở nhà máy sợi Nam Định, hai ngàn người ở các xưởng đóng giày Hà Nội và ngoại ô, hàng trăm người ở các xưởng thủ công, xưởng may tại Hà Nội, Hải Phòng, Huế, rồi đến các thợ làm mũ, làm rương... Luôn luôn vẫn là đòi tăng thêm vài xu vào đồng lương, nhưng cũng đòi được nghỉ hàng tuần, đòi trả lương những ngày nghỉ hợp pháp, những đều lẽ ra họ đã được quyền hưởng sau khi ban bố sắc luật lao động tháng chạp năm 1936, nhưng sắc luật đó không được thực hiện.
 
Vào tháng 2 và tháng 3, ba cuộc bãi công lớn ở Nam Kỳ có khá đông đảo người tham gia và được nhóm Tranh Đấu ủng hộ : 432 công nhân bến tàu vát gạo người An Nam và người Hoa, và những công nhân lái cần cẩu của Thương cảng, 400 thợ cưa hãng Đông Á ở Vĩnh Hội (từ 8 tháng 3 đến 16 tháng 4), 700 thợ dệt đàn bà ở Chợ Mới (Long Xuyên), họ đạt được mức tăng lương từ 5 đến 15% và một số người được hưởng ngày làm 9 giờ.
 
Phong trào lan tới các xí nghiệp nhỏ hơn, nơi dường như khó lòng áp dụng những qui chế : những người vận chuyển bánh mì ở Sài Gòn, những thợ trong các nhà dệt ở Chợ Mới trong các lò nhuộm ở khu Gò Vấp, những nhân công làm trong hãng xà phòng ở Chợ Lớn, trong các xưởng thủ công ở nông thôn, các trại cưa, lò gốm, lò đường...Một trong năm trường hợp, bọn chủ táo bạo sa thải thợ làm reo.
 
Mặc dù bãi công kém kết quả, lửa đấu tranh nung nấu tinh thần giới cần lao thoát ly nhẫn nhục, dẫy đầy hy vọng tương lai. Nhất là nhờ các ủy ban hành động mà mình học tập phát biểu ý kiến và tự tổ chức. Thường thường, khi một cuộc bãi công nổ ra thì họ đã lập một ủy ban bãi công và đã chung cùng thảo tập thỉnh nguyện. Báo Tranh Đấu ngày 11 tháng 3 năm 1937 nêu ra một ví dụ :
 
Các đại biểu công nhân ở hãng Đông Á - Pháp đến trao cho giám đốc một tập thỉnh nguyện. Yêu sách của họ không được thỏa mãn, 500 công nhân ngưng việc rời công xưởng.
Họ xếp hàng tư, đi đứng trật tự trên quãng vài trăm thước rồi mới giải tán. Sau đó các đại biểu đến thanh tra lao động trình bày cuộc đối đầu giữa chủ và thợ.
Tình hình có hơi dịu lần vào tháng 3, nhưng lại bùng nổ trở lên mạnh mẽ.
 
Cuộc bãi công lớn ở sở Ba Son (Arsenal)
 
Ngày 5 tháng 4 năm 1937, 15 công nhân nồi hơi được giao nhiệm vụ sửa chữa khẩn cấp những nồi hơi chiến hạm Savorgnan de Brazza, đứng ra đòi tăng lương 15% và đòi tăng 50% số tiền lương giờ làm thêm ban ngày, 100% cho giờ làm thêm ban đêm. 5 người bị đuổi việc.
 
Ngày hôm sau, 850 trong số 1280 công nhân ngừng làm việc và đưa yêu sách cho thanh tra lao động, đồng như những yêu sách của anh thợ nồi hơi, và đòi thêm sở phải thu nhận lại những anh em bị sa thải. Họ thành lập một ủy ban bãi công gồm 3 người theo phái Staline và 3 người theo xu hướng Trotski. Ủy ban nầy huy động bốn ủy ban thường trực trong các vùng ngoại ô Thủ Thiêm, Thị Nghè, Bà Chiểu và Phú Nhuận, mở ra một quỹ lạc quyền để trợ giúp anh em bãi công.
 
Ngày 13, thanh tra lao động triệu tập các đại biểu, nhưng việc hòa giải không đạt kết quả. Nhưng Sài Gòn lao động đang phấn khởi, các ứng viên nhóm Tranh Đấu thắng thăm trong cuộc tuyển cử hội đồng thành phố ngày 25 tháng 4, nguồn hy vọng mới tưng bừng, số tham gia bãi công lên tới 994. Ngày 10 tháng 5, cục Hải quân giải quyết cuộc đối đầu bằng cách làm thỏa mãn đôi chút : việc tăng lương sẽ được nghiên cứu cùng với thanh tra lao động; những giờ làm phụ sẽ được trả thêm từ 25% tới 50%; một món tiền bồi thường nhỏ mọn sẽ được bù cho 3 kíp thợ nồi hơi (3 x 8 giờ), 25 xu cho hai kíp làm ban ngày, 50 xu cho kíp làm ban đêm. Những thợ bị sa thải từ ngày 1 tháng 4 sẽ được thu nhận trở lại trừ những người bị coi là làm cản trở quyền tự do lao động hoặc đã đe dọa những
người thợ không bãi công. Công việc bắt đầu tiếp tục trở lại từ sáng ngày
l3 tháng 5.
 
Cuộc bãi công cầm cự được 37 ngày nhờ anh em lao động các xí nghiệp quyên tiền cứu trợ, nhờ làng xóm vùng lân cận giúp đở lương thực, phần đông anh em bãi công có bà con ở nông thôn.(113)
 
Trước khi nói tới bãi công làm bại liệt đường sắt xuyên Đông Dương, ta hãy dòm qua một trong số đồn điền cao su Michelin mà mọi người đều biết ở đó người cu li bị kềm hãm dưới một chế độ nô lệ không nẻo ra. Trước đây 7 tháng, ở Dầu Tiếng, bốn anh phu chích mủ cao su bị nhốt 5 ngày trong khám tối, nhà tù riêng của đồn điền, chỉ vì họ chống cự hai thằng giám thị bạo tàn. Ngày 23 tháng 5, 1200 phu đồn điền đó, cách Sài Gòn 80 km, đình công đòi lương công nhật 40 xu, đòi có cơm ăn nước uống đầy đủ, và nhất là đòi giám thị và cai dứt đánh đập hành hạ công nhân, ngày 24, họ tiến hành về Sài Gòn. Họ kéo nhau lên đường đúng lúc thống đốc Pagies ra lịnh chặn họ lại, hứa hẹn này nọ, rồi đưa họ lên xe cam nhông của quân cảnh vệ chở họ trở về đồn điền. Chủ sở khởi thương lượng về những đòi hỏi của họ, bước đầu là lương sẽ tăng ở mức 32 xu. Thống đốc Pagès sẽ tố cáo với Bộ Thuộc địa tình cảnh cu li sở cao su ‘‘khốn cùng nhớp nhúa’’, cùng phô bày ‘‘tâm lý mại nô lệ da vàng’’ của ban giám đốc. Bản tường trình chẳng có hiệu quả chi cả, bởi vì sau đó một tháng, ngày 24 tháng 6, khi mấy người chích mủ đòi tăng lương chết đói thì các đại biểu của họ bị bắt giam!
 
Bọn chủ vẫn dằng dưa không thi hành sắc luật lao động tháng chạp năm 1936, chúng khinh thường các đại biểu công nhân. Vì thế lao động ở Thương Cảng bãi công ngày 21 tháng 5, bọn chủ đóng cửa Thương Cảng. Cu li vác lúa ở Nhà máy gạo Viễn Đông và hai nhà máy gạo người Hoa ở Chợ Lớn ngưng làm ngày 27 và 28 tháng 5, nhân công trong tám lò đường ở Nhị Bình bỏ việc ngày 1 tháng 7. Kết quả không đáng kể.
 
Đường sắt xuyên Đông Dương liệt bại
Ngày thứ Bảy mùng 3 tháng 7 năm 1937 đình công tại các công xưởng xe lửa Trường Thi (Bắc Trung Kỳ) để đòi tăng lương 30%, tuần lễ làm việc 40 giờ, trả lương ngày chủ nhật và ngày nghỉ lễ... Công sứ ở Vinh Graffeuil can thiệp, cho bắt giam hai đại biểu công nhân. Buổi chiều, giờ tan tầm, thợ thầy kéo nhau thành đoàn tới tòa công sứ đòi thả các anh em bị nhốt. Tòa công sứ cửa đóng then gài, họ ngồi trên bãi cỏ hầu như suốt đêm.
 
Ngày 6, trong số 985 công nhân Xưởng Trường Thi khoảng một trăm người có mặt, ban giám đốc quyết định đóng cửa xưởng trong 15 ngày kể từ ngày 8. Ngày 9, hai bên bắt đầu thương lượng hòa giải. Hai đại biểu bị bắt được thả và sẽ được thu nhận lại nếu bãi công chấm dứt. Nhưng bãi công đã lan xuống miền Nam : Ngày 10, không một chuyến tàu hỏa nào chạy qua đường Vinh, Tháp Chàm, Nha Trang, Sài Gòn. Hai nhánh đường sắt đi Đà Lạt và Mỹ Tho cũng ngưng để ủng hộ phong trào. Ở trạm Dĩ An và Sài Gòn, 881 người bãi công trong số 1192 nhân viên dân thợ. Ngày 11, bãi công toàn thể ở Đà Lạt. Bốn trong sáu số đại biểu của nhà máy xe lửa Trường Thi bị bắt; Nguyễn Văn Toan, thợ lắp máy, còn được tự do, gửi điện tín cho Bộ trưởng Moutet yêu cầu thả các bạn.
 
Ngày 12, một ủy ban hòa giải họp tại Sài Gòn, gồm có thanh tra lao động, hai kỹ sư và vài đại biểu công nhân. Sáu yêu sách được chấp nhận : tăng lương 15%, đi bệnh viện miễn phí và vẫn hưởng nguyên lương, bãi bỏ việc phạt do làm hỏng đồ nghề, bãi bỏ tiền khấu trừ nhà ở, thừa nhận vai trò các đại biểu, bãi bỏ loại ‘‘nhân công bấp bênh’’. Nhưng hai bên không thỏa thuận được về vấn đề chính phủ nhìn nhận các nghiệp đoàn công nhân ở Đông Dương theo luật 1884 (114), hoàn toàn tự do về báo chí và thu nhận lại mấy anh thợ máy bị đuổi việc vì đã ngừng một chuyến xe lửa ngày 24 tháng 6. Bãi công đến ngày thứ mười, thống đốc Nam kỳ Pagès tỏ cùng toàn quyền Brévié trong một bức điện thế nầy: ‘‘Rất tiếc không có một phần tử nào trong số những người bãi công đủ tư cách để có thể thảo luận về những yêu sách của họ.’’ Giọng điệu tương đối khách quan đó phải chăng có nghĩa rằng ông ta mong muốn những đại biểu của những người bãi công được thừa nhận với một quy chế hợp pháp? Nhưng Brévié không nhượng bộ.
 
Từ ngày 15 trở đi, sở Xe lửa thu nhận hàng trăm người tuyển mộ mới, rồi cuộc bãi công bị rời rạc đi. Ngày 16, sau khi ủy ban hòa giải họp một lần nữa, các đại biểu cam kết sẽ trở lại làm việc nếu được hứa hẹn tăng lương, hàng tháng làm việc 25 ngày như các nhân viên thư ký, và các đại biểu bị bắt ở Trường Thi phải được thả. Nhưng hai công nhân Bắc Kỳ hăng hái đã bị sa thải, bãi công lại tiếp tục.
 
Ngày 5 tháng 8, toàn quyền Brévié nhất quyết từ khước việc thừa nhận các đại biểu, việc ban hành luật về nghiệp đoàn và việc thu nhận lại những người thợ bị đuổi việc trong tháng 6.
 
Đường sắt liệt bại từ mồng 3 tháng 7 khởi đầu giao thông trở lại ngày 9 tháng 8. Tranh đấu bị thất bại. Hàng trăm người bãi công mất việc. Anh em lao động Hoa Kiều ở Sài Gòn đã ủng hộ những người bãi công nay bị đưa đến trạm trung chuyển Xóm Chiếu rồi bị trục xuất trên con tàu đầu tiên nhổ neo.
 
Sự thất bại của công nhân đường sắt tiêu biểu thoái trào làn sóng bãi công năm 1937. Tại Nam Kỳ, lác đác đó đây vài cuộc tranh đấu vẫn còn nổ ra đòi tăng lương: trong tháng 8, khoảng 500 phu khuân vác thuộc các hãng người Hoa chuyên về vận tải thuế quan Sài Gòn nghỉ việc; cuộc đấu tranh của 60 thợ trong bốn trại cưa Long Xuyên được thắng lợi; cuộc đấu tranh của 500 thợ thuyền và phu trong các xưởng trại thành phố kết quả các anh em bị đuổi được vô làm trở lại lại ; tháng 10 ở Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) 150 thợ cưa ngưng việc; 300 phu làm ở các công ty Socony và Texaco ở Nhà Bè đình công. Vào tháng 11 phu bến tàu làm bại liệt cảng để phản đối việc bắt giữ hai người trong bọn họ, hai người nầy đã phản đối việc cảng thu nhận một nhóm công nhân vào làm để phá cuộc đình công.
 
Cuối 1937, Bộ trưởng Moutet ghi :
 
Tôi thừa nhận phần lớn các cuộc bãi công ở Đông Dương là chính đáng, song những người cộng sản xu hướng Trotski đã duy trì và phấn khích phong trào đó trở nên gay cấn.
 
Theo báo Tranh Đấu, từ ngày 1 tháng 8 năm 1936 tới ngày 1 tháng 2 năm 1937, ở Đông Dương nổ ra 242 cuộc bãi công thợ thuyền, 56 bãi công nông dân và công nhân nông nghiệp, 23 bãi công thương nhân và 7 bãi công nhân viên thư ký. Những cuộc bãi công này ít kết quả chỉ rõ không còn ai tin tưởng vào những ý định cải cách của chính phủ Blum- Moutet, chính phủ này được toàn quyền Brévié thay mặt ở Đông Dương, một vị toàn quyền kiên quyết không thỏa thuận cho giới công nhân Đông Dương một chút quyền tự trị nào.
 
Mặc dù vậy, với những tiếng hô ‘‘Mặt trận bình dân muôn năm!’’, những người cộng sản theo phái Staline vẫn lãnh đạo lối hai chục đoàn nông dân tuần hành biểu tình trong các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, để đòi bỏ thuế thân và phản đối việc qui chế hóa về thuốc lá. Moutet lo sợ dân chúng đồng lòng không nộp thuế bèn ban hành một sắc luật ngày 22 tháng 10 năm 1937, khẳng định trừng phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù, một khoản tiền phạt từ 1000 đến 10.000 francs.
 
Tổng quát
Như một làn sóng xung kích, ‘‘Tháng 6 năm 1936’’ giai cấp thợ thuyền chính quốc bãi công chiếm nhà máy được thắng lợi thành công, với thái độ thiện ý của người đứng đầu chính phủ là Léon Blum, người đảng xã hội, tất cả những cái đó đã làm rung chuyển đế quốc thuộc địa Pháp.
Chính phủ L. Blum lật đật thực hiện một vài biện pháp làm dịu tình hình. Tại Đông Dương, đạo luật ân xá ban hành ngày 27 tháng 8 đã thả ra khỏi ngục tù trên ngàn tù chính trị, chủ yếu là những người bị bắt những năm 1933 và 1935. Toàn quyền Robin bị cách chức ngày 9 vì hắn chống hẳn ân xá. Bộ máy thống trị thực dân vẫn nguyên vẹn, với thế lực kinh tế của nó, sở mật thám vẫn là rường cột của nó. Bọn thống trị thuộc địa trì hoãn, chúng thi hành chậm chạp đạo luật ân xá, và đồng lược bày thêm nhiều cách cưởng bách những người được ân xá, như quản thúc hoặc đôi khi vẫn lưu lại trong tù.
 
Hồi tháng 8 năm 1936, Moutet quyết định cử một phái đoàn nghị viện điều tra về những nguyện vọng dân chúng ở các thuộc địa. Tin ấy xúc động không những giới tư sản lập hiến mà đến cả giới thợ thuyền, phu phen và nông dân nghèo. Mọi người đều tưởng tượng sẽ có một phong trào phỏng vấn rộng rãi, một Đại Hội Đông Dương tập trung mọi nguyện vọng... Nhóm Tranh đấu tổ chức tập hợp cơ sở trong các nhà máy và trong các làng mạc để thảo luận về vấn đề ấy. Đó là nguyên nhân thành lập các ủy ban hành động, cấp bách bị cấm đã chuyển thành các ủy ban bãi công. Bởi dưới chính phủ Mặt trận bình dân ở Pháp, ở đây không có chi nhút nhích, đồng lương không theo kịp giá sinh hoạt cao, dân nghèo vẫn lầm than đói kém.
 
Giới thực dân phản động thúc ép, chính phủ Blum-Moutet không ban hành chi cả ở Đông Dương, trong những quyền tự do của chế độ cộng hòa gọi là quyền dân chủ, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, biểu tình. Chính phủ Mặt trận bình dân không chấp nhận quyền thợ thuyền lập nghiệp đoàn (quyền ấy ở Pháp giai cấp tư sản đã thừa nhận cho giai cấp thợ từ năm 1884) và cũng không nhìn nhận đại biểu công nhân. Chính phủ đó chỉ nặn ra được bản luật Lao động quá thô sơ ngày 30 tháng chạp năm 1936.
 
Nếu cánh hữu ở nghị viên Pháp lấn áp Léon Blum phải đưa đơn từ chức chính phủ của mình ngày 22 tháng 6 năm 1937, không phải vì ông ta đã ban bố một vài cải cách ít oi tại các thuộc địa (người kế tục Blum là Chautemps, vẫn giữ ông Moutet ở bộ Thuộc địa). Ở Đông Dương, sở mật thám vẫn không ngừng đàn áp hoành hành : Ở Nam Kỳ từ ngày 1 tháng 6 năm 1936 tới ngày 14 tháng 10 năm 1937 có tới 161 vụ án chính trị phạm hoặc bỏ tù vì ‘‘ngăn cản quyền tự do lao động’’.
 
Lần đầu tiên từ Bắc chí Nam, mấy trăm ngàn thợ, cu li đồng đứng ra bãi công, gây rúng động chề độ đế quốc thực dân toàn cỏi Đông Dương.




Đăng nhập để trả lời
0