Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Kòn Trô - Lý văn Sâm 🔒

9 trả lời, 22 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn Kòn Trô
Tác giả: Lý văn Sâm
 
 
Lý văn Sâm - một chỗ đứng riêng trên văn đàn
 
So với nhiều tác giả, Lý văn Sâm (1921-2000) là người sau rốt viết truyện đường rừng. Truyện ngắn đầu tay của ông, Kòn Trô, được sáng tác mùa hè năm 1941 và xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ Bảy số 416, ra ngày 6 tháng 6 năm 1942. Tiếp theo là một loạt các truyện ngắn như: Thần ngư động, Xác Mu-mi trên núi đá, Răng Sa Mát, Voi đội đèn, Ngăn rạch bắt sấu, Mũi Tổ. Các truyện này được Nhà xuất bản Tân Việt tập hợp, in thành tập mang tên Kòn Trô, năm 1949. Nhiều tập truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết đường rừng khác như Sương gió biên thùy, Sau dãy Trường Sơn, Chiếc vòng ngọc thạch, Mười lăm năm hận sử... đều được Lý văn Sâm viết vào những năm 1947, 1948, 1949. Cá biệt, truyện vừa Một chuyện oan cừu, Lý văn Sâm viết vào năm 1954. Như vậy, có thể nói, Lý văn Sâm viết truyện đường rừng vào giai đoạn cuối của thể tài này nhưng kỳ lạ là lúc nào cũng có độc giả (Lê văn Siêu, Văn học sử thời chống Pháp, tr.392).
Như các nhà văn viết truyện đường rừng đương thời, Lý văn Sâm từng trải qua cuộc sống miền rừng núi. Cả quê nội lẫn quê ngoại của ông trước năm 1945 đều là vùng hoang sơ. Đặc biệt, tuổi thơ Lý văn Sâm lại trải qua hầu hết thời gian ở vùng rừng rậm. Thiên nhiên hoang dã, những cánh rừng phương Nam không phải là nơi Lý văn Sâm chỉ ghé qua, hoặc tưởng tượng ra từ trong sách vở. Trái lại, như chính nhà văn kể, tâm hồn thơ dại của tôi đã thấm sâu bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối. Xa rừng, đối với ông là lăn mình theo ánh sáng để chạy theo tiếng gọi của phù hoa. Lớn lên, Lý văn Sâm về tỉnh lỵ, đi nơi này, nơi khác để học hành, rồi lại có những năm dài trở về vùng Mã Đà, Trị An, vùng thượng nguồn của tỉnh Đồng Nai làm nghề khai thác than. Khi đó, cuộc sống, con người miền sơn cước trở thành cuộc sống của chính nhà văn:
Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống nước mạch và cùng các ủ rũ hát đối đáp dưới trăng rằm. Đêm đêm, tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng.
Có thể nói, Lý văn Sâm không hề là khách lãng du khi viết truyện đường rừng. Ông sáng tác về cuộc sống của chính bản thân và những người chung quanh mình. Cho dù Thế Lữ, Lan Khai hoặc TchyA có nhiều năm tháng sống ở miền rừng núi, song khi sáng tác các ông đã trở thành người phố thị, kể lại những ký ức thuở ấu thơ. Sáng tác Lý văn Sâm không hoàn toàn như thế. Nhiều truyện đường rừng được nhà văn viết ngay giữa chốn rừng sâu, núi thẳm, bên tai là tiếng thác Trị An gầm réo, trước mặt là bóng tối của rừng cây mênh mang, trùng điệp:
Đêm nay mưa, gió đầy trời. Thác đổ gấp. Tiếng gió thổi ù ù trong các hốc đá nghe như tiếng hú.
Tôi cầm bút, run tay chép lại câu chuyện động Thần Ngư bằng tất cả tấm lòng tưởng nhớ những người đã mất
(Thần Ngư động - Tháng bảy, năm 1942).
Lý văn Sâm bắt đầu sáng tác vào những năm bốn mươi khi tình hình chính trị ở Việt Nam thật sự có nhiều rối ren, thực dân Pháp đang còn đó với đầy đủ bộ máy cai trị hà khắc thì đội quân Phù Tang đã nhảy vào nghênh ngang. Trong lòng những thanh niên mới lớn như Lý văn Sâm vẫn còn đó âm vang các cuộc khởi nghĩa hồi đầu thế kỷ, nhưng trước mặt bộn bề gian khó. Ở vùng nông thôn, miền sơn cước nơi Lý văn Sâm có nhiều năm sinh sống, bộ mặt thật của xã hội với biết bao cảnh đói nghèo khốn khổ được phơi bày khá rõ. Trong một hồi ức, nhà văn kể:
Trước hết xin tâm sự vì sao tôi chọn nghề cầm bút. Viết văn đối với tôi là để phát biểu ý kiến, bày tỏ thái độ. Tôi xuất thân từ nghề làm báo. Sau đó chuyển dần ngòi bút sang viết văn.
Như nhiều người biết, trước năm 1945 tôi là một con người bất đắc chí, một trí thức bị vây hãm bởi những tư tưởng thù địch. Là con một viên chức kiểm lâm, nhưng tôi không nối nghiệp cha làm viên chức cho Tây. Trong đầu óc tôi bắt đầu có những tư tưởng phản kháng. Tôi ghét Tây, không chấp nhận xã hội mình đang sống. Ra trường, tôi thích phiêu lưu đây đó. Ở đâu những điều ngang trái nảy sinh từ một xã hội nô lệ cũng đều đập thẳng vào óc, vào tim, vào mắt tôi. Đau quá! Nhưng không sao tránh né được. Sau những năm lang thang mệt mỏi, tôi trở về quê cũ Tỉnh Biên Hòa, con sông Đồng Nai. Núi Châu Thới, chùa Thủ Huồng, Cồn Gáo. Núi Bửu Long. Tất cả đã tiễn tôi ra đi và vui mừng khi nhìn thấy tôi trở về. Năm đó tôi 19 tuổi. Mới chừng ấy tuổi mà đã mang nỗi chán đời. Bạn bè gọi tôi là ông cụ non.
Tuy nhiên quê hương vẫn nhiều hấp dẫn, con người bị đè nén nên vẫn âm ỉ một sự vùng dậy trong lòng. Sự vật chung quanh nhen nhúm và trang bị cho tôi một triết lý mới, không thể tồn tại như một thứ thảo mộc vô tri. Sống, phải có suy nghĩ và hành động. Hồi đó tôi chưa gặp Đảng nên chẳng biết mình phải hành động cách nào cho đúng. Thôi thì... hành động một cách tự phát vậy.
Thế là tôi làm báo, tôi viết văn. Bước vô cái nghề này coi mòi hợp với năng khiếu tôi. Không gào thét căm phẫn được thì than thở, ngậm ngùi cho vơi bớt những gì đè nặng tâm tư.

(Lý văn Sâm - Truyện ngắn đầu tay của tôi, Báo Văn nghệ Đồng Nai, số 59/7.1985)
Trên báo Xuân Sóng Mới, xuất bản ờ Sài Gòn, năm 1950, Lý văn Sâm cũng từng kể về lý do sáng tác những tác phẩm đầu tay của mình:
Mãi đến lúc tôi thay ba tôi cai quản lò than Cái thác nước ở Trị An, tôi rất thiếu bạn bè. Quanh tôi chỉ có rừng và thác. Trước mặt tôi giấy bút là bạn. Tự nhiên tôi cần phải viết để quên buồn, chớ không phải để gởi đăng báo...
Từ ấy, tôi ham viết, viết chơi chớ không bị sanh kế thúc ép như bây giờ.

Dù sao đi nữa thì lý do Lý văn Sâm sáng tác truyện đường rừng cũng không giống như các nhà văn lớp đàn anh. Ông tìm cách gửi gắm khát vọng, những đòi hỏi tự chính bản thân mình vào văn chương. Khát vọng ấy là tự do, công lý, cuộc sống đầy tình nhân ái - những điều mà xã hội thời bây giờ không thể có được. Nó được ấp ủ trong tâm hồn Lý văn Sâm, trong ý nguyện của những con người phản kháng mà nhà văn từng gặp gỡ. Sau này, Lý văn Sâm kể, khi viết truyện đường rừng là lúc ông đã gặp được một vài chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước. Điều đó có ảnh hưởng đến sáng tác của ông, nhưng sự tác động ấy chưa đem đến cho Lý văn Sâm những thay đổi căn bản về thế giới quan, và cũng không thể nói ông là nhà văn cộng sản viết truyện đường rừng. Sự phản kháng đối với xã hội của Lý văn Sâm là sự phản kháng của một thanh niên giàu tính lãng mạn, khát khao tự do, công bằng. Vì thế, sáng tác Lý văn Sâm không hoàn toàn là chuyện hư cấu, tưởng tượng. Nó phản ánh tình cảnh, nguyện vọng của một lớp người và mơ giấc mơ được giải phóng, được sống cuộc đời thanh sạch hơn:
Các bạn hãy quên những phút phồn hoa đô thị và cùng với tôi đi sâu vào những chốn thâm u, cao cả cho lòng vợi bớt điều nhỏ nhen phàm tục (Lời tựa tập Kòn Trô, 11.1948).
Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật như thế, truyện đường rừng của Lý văn Sâm đã mang bộ mặt khác hẳn. Xã hội mà Lý văn Sâm khát vọng là xã hội đối lập với hơn phân nửa cuộc đời còn lại. Với nhà văn, xã hội mà nhân loại đang sống là xã hội tù hãm, mất tự do. Ở đó, không có mảnh đất cho những cuộc đời dọc ngang, lại càng không có chỗ cho công bằng, tình nghĩa. Kòn Trô (truyện ngắn Kòn Trô) vốn chẳng phải là con người của “rừng rú” nào, từ chốn thị thành, anh “xa lánh hẳn loài người” để về chốn sơn lâm, lập một “xã hội” riêng:
Bọn chúng tôi trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp, gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành. Chỉ vì một năm, gạo thua, lúa kém, chúng tôi mới phải ép lòng đón người giật của và cướp kho lương của ông đồn tại đây. Từ đó, tiếng tăm Kòn Trô nổi dậy một vùng. Nhưng chúng tôi chỉ bạo động trong một năm ấy thôi, rồi thì cải ác tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cày, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng chúng tôi lại bị bao vây nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc đời của tôi từ đó càng ngày càng nặng tội, càng ngày càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỷ sống, uống máu người không tanh...
Còn Châu Phiên (Rồng bay trên núi Gia Nhang) thì sau khi được đưa về tỉnh học và sang Pháp ở trọn ba năm mới trở về Đông Dương, đã tìm lại nơi chôn nhau cắt rún, mộ dân lập ấp, cày ruộng trồng ngô sống một cuộc đời riêng biệt. “Xã hội” nơi Châu Phiên lập ra có trường dạy học, dạy dân mua bán và - bỏ lần hết những cổ tục phiền phức. Lạ hơn, ở đó có sách dạy người Kinh nói thổ âm và dạy thổ dân chữ Việt Nam và tiếng Pháp! Những sự đánh giết nhau cứ bớt lần cho đến khi dứt hẳn.
Chắc chắn “xã hội” đó nằm trong khát vọng của nhà văn hơn là sự thật đang diễn ra. Nó càng không phải là một kiểu hoài niệm về “thiên đường đã mất”, bởi cho đến khi Lý văn Sâm viết những truyện đường rừng “xã hội” ấy vẫn chưa từng có trong lịch sử.
Nói thế không có nghĩa là hiện thực trong truyện đường rừng của Lý văn Sâm chỉ là hiện thực hư ảo, giàu chất mộng mơ. Ở một phía khác, bên ngoài thế giới khát vọng của nhà văn, là một xã hội có thật, với bao lừa lọc, thù hận, đói kém. Xã hội ấy sẽ giết chết mọi ước mơ về hạnh phúc, tự do và công bằng:
Trong một cuộc đi săn lạc mất lối về, người nữ sinh ấy tình cờ lọt vào nội địa của Kòn Trô. Nó tiếp đãi nàng rất mực tử tế và sau cùng lại đưa nàng về thác Mu Mi. Vì quá nặng lòng trìu mến, nó còn hẹn với nàng rằng nó sẽ theo và tiễn nàng một lần chót trên một đoạn đường về. Cũng bởi mạng nó đã cùn, nên mới khiến cô nữ sinh kia đem khoe chuyện ấy với hai người bạn học cùng lớp. Hai người kia lén đi báo tin cho ông đồn Châu Mạ hay...
Thế rồi, một viên quản đồn và hai mươi người lính võ trang đầy đủ, ra mai phục ở ven rừng. Đúng mười lăm giờ kém một khắc, Kòn Trô lững thững cỡi ngựa, ung dung đi vào giữa hai hàng súng. Một tiếng hô to. Hai mươi khẩu súng cùng nhả đạn, một lượt. Kòn Trô bị đạn khắp mình, máu me tuôn ướt áo
(Kòn Trô).
Kòn Trô chết có nghĩa là “xã hội” mà anh giàu công vun đắp không có cơ hội tồn tại nữa. Bởi vậy, bao năm rồi tiếng thác vẫn rền rĩ mãi không thôi như lời ai than khóc một nỗi hận dài.
Sự đen bạc của “xã hội thật” kia còn giết chết bao thứ tình cảm thiêng liêng của con người. Anh thợ săn giỏi nhất làng Thanh Sơn đã biến thành con chằn niên, linh hồn thoát khỏi thể phách, phảng phất trong cõi u minh mù mịt, bởi sau khi đi săn về thì người vợ lại đang quấn lấy tình nhân không chịu mở cửa, giải ngải cho chồng (Răng Sa Mát). Vì sự mê hoặc của bạc vàng, Tùy đã rủ Phú, một người bạn thân thiết đến nơi nguy hiểm để lừa đẩy xuống vực sâu (Sau dãy Trường Sơn). Chẳng khác nào Giới Tử Thôi, Tchô Phay đã đưa người em mù lòa trốn biệt vào rừng vì ghê sợ cái xã hội văn minh với những tình cảm bội bạc (Vợ tôi, người dân tộc thiểu số)... Thành ra, thế giới được gọi là văn minh, ánh sáng đó đối lập gay gắt với rừng sâu, núi thẳm:
Được trở về cuộc đời của một nông dân vô tội, lòng tôi bỗng dưng sắt đá với ánh sáng văn minh, lãnh đạm với cả những bạn tri kỷ “mắt xanh” nhất trần ai (...)
Tôi lại trở về với những người bạn thổ dân ở những mạn rừng sâu, xa hẳn nhân loại. Trải nhiều mưa, gió, thiên nhiên tuy có lợt màu nhưng vẫn chưa mất hồn man rợ. Tiếng thác vẫn xé ngàn và lời chim vẫn tri kỷ như những thuở nào
(Vực thẳm).
Bối cảnh truyện đường rừng luôn là bức tranh thiên nhiên muôn màu sắc. Dù sắc thái có khác nhau, song thiên nhiên trong truyện đường rừng của Thế Lữ, Lan Khai, TchyA bao giờ cũng là vùng đất chưa từng khám phá, xa lạ với đồng loại và hẳn nhiên, đầy chất ghê rợn:
Sừng sững giữa trời, bao quát đôi cây gò đất, núi ấy trông đường bệ hách dịch như đứng làm chúa tể cho cả một vùng phong cảnh hoang vu. Dân Thổ ở các làng gần đó, ngày nào cũng trông thấy ngọn núi mù mù lan tím, nhô lên trên những hàng rừng xanh chi chít um tùm...
Lại nhiều khi, sau một hồi giông tố dữ dội, mây đen biến hết, ánh nắng lại soi xuống; bấy giờ trên đỉnh núi chập chờn một tầng khói phủ dần dần bay đi. Trong đám hơi trắng mà người ta bảo là nộ khí của thần hang, có người nói rằng thường trông thấy những hình bóng kỳ dị.

(Thế Lữ, Vàng và máu)
Ấy là chưa nói về khí hậu xứ Đồng Giao, ai đã qua vùng ấy độ dăm bảy tháng, ắt phải rùng mình ghê sợ, mỗi khi nói về thủy thổ miền giáp giới Bắc, Trung kỳ. Đó là tổ sốt rét rừng, dẫu uống ký-ninh đến điếc tai cũng khó lòng tránh khỏi (...). Đêm thì lạnh buốt phải đắp chăn tới sáng, ngày lại nóng bức như giữa mùa hè. Sống trong bầu hàn thử tương xung đó, phải có xương đồng da sắt mới tránh khỏi sự ốm đau quặt quẹo. Buổi sáng, tám giờ, sương trắng như sữa, đặc như khói, còn phủ kín non sông cây cỏ; mãi đến khi mặt trời lên cao mới tan dần. Chiều tới, vào khoảng bốn năm giờ, sương đã bắt đầu rỏ xuống rồi tụ lại, chỉ chốc lát là phong cảnh bị chìm đắm trong một bức màn trắng đục, ẩm thấp, khiến người đi trong năm bước khó lòng trông thấy mặt nhau. Trong vụ quý xuân, mỗi khi có mưa râm rích, sự nặng nề ướt át càng tăng gấp bội, trời thu một màu tiêu điều xám đục, đất thì vắng lạnh đìu hiu, phong cảnh thực là thê lương ảm đạm.
(TchyA, Ai hát giữa rừng khuya)
Truyện đường rừng của Lý văn Sâm, trái lại, thiên nhiên là môi trường sống thật sự, đặc biệt luôn chan hòa ánh sáng và đầy chất hùng tráng, nghĩa hiệp:
Ánh nắng một buổi hè, tươi vàng như một màu sơn mới, chan hòa khắp cảnh lâm tuyền...
Dưới ánh bình minh lộng lẫy, hàng ngàn tấn nước từ ngọn sông cao đổ xuống vực sâu thành những tiếng động kinh hồn
(Kòn Trô).
Những mất mát, thua thiệt của người đời ở chốn thị thành sẽ được thiên nhiên bù đắp. Những nỗi đau rát, cả sự hận thù, thiên nhiên, cùng với thời gian sẽ là người bạn sẻ chia, gọt rửa:
Ngày ngày, khói vẫn lên xanh trên đầu núi cũ. Thiên nhiên vẫn nguyên vẹn như lòng kẻ chung tình. Chỉ có tôi là phụ bạc, chớ rừng núi có phụ bạc tôi bao giờ? (Thâm u và cao cả).
Thiên nhiên, vì thế, là người bạn tri kỷ của con người hơn là chốn sơn lâm mà họ phải khiếp sợ. Ở đâu lừa lọc, phụ rẫy người đời, còn thiên nhiên, luôn là kẻ chung tình, lòng không vướng bụi trần ai:
... Buổi chiều ôm một thứ ánh nắng vàng lợt ngã xuống mặt nước sông La Ngà. Nước chảy không mạnh lắm. Nước tháng Năm không đục ngầu như nước tháng Tám. Màu nước trong xanh, xanh như một thứ tấm lòng chưa gợn niềm thế tục (Một chuyện oan cừu).
Đôi lúc, nỗi đau của con người tràn vào thiên nhiên để núi rừng hát khúc ca ai oán:
Núi Bạch Hổ đứng sững trong cõi mịt mù của khói ngàn xanh xám. Một miếng mây trắng quấn qua đỉnh non xa như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia, trải bao nhiêu năm cách biệt, vẫn còn nguyên vẹn như tấm lòng không thay đổi của một người tri kỷ (Kòn Trô).
Phải chăng, đấy là thiên nhiên, nhân chứng của người đời, cả niềm hạnh phúc lẫn buồn đau? Thiên nhiên ấy làm sao có thể khiến con người run sợ một khi ở đó họ tìm lại những gì mình đã mất trong chốn gió bụi thị thành?
Nhưng đừng tưởng thiên nhiên trong truyện đường rừng Lý văn Sâm không có những huyền bí. Núi rừng phương Nam cho đến giữa thế kỷ trước vẫn chứa đựng biết bao lạ lùng, mới mẻ. Xa hơn nữa, vào thời Lý văn Sâm sáng tác, hàng trăm cánh rừng già phủ kín đất miền Đông Nam Bộ. Riêng vùng Mã Đà (Đồng Nai), nơi nhà văn có dịp sống ở đó nhiều năm, hàng thế kỷ đã lừng lẫy với tên gọi “Mã Đà sơn cước anh hùng tận”, nơi chôn vùi biết bao anh tài từng nuôi tham vọng thám hiểm “vùng đất chết”. Truyện Mười lăm năm hận sử mở ra vùng đất bí mật:
Lúc ấy đã gần đúng Ngọ.
Cả một khu Blàn-za như muốn bùng cháy lên dưới sức nóng của mặt trời mùa hạ.
Không một hơi gió thoảng. Không một bóng chim muông. Vòm trời xanh bát ngát ngập những hoa nắng rung động lập lòe gần nảy lửa.
Giờ này là giờ an nghỉ của các loài cầm thú, là giờ rong chơi của các đấng sơn thần, là giờ lang thang của các linh hồn mọi rợ ẩn trú nơi của sơn lâm huyền bí.

Truyện đường rừng của Lý văn Sâm không thiếu cảnh thiên nhiên hùng vĩ:
Khi đi gần tới chỗ giáp mối, Mã Đà giang bị đá hàng nổi chập chùng ngăn ngọn thủy triều. Sức nước đang chảy bị dội lại, liền tràn qua những gộp đá to, chuyển động vang trời đất. Và xa xa, về phía thượng lưu Sông Bé, có một hòn đá khổng lồ mọc lên khỏi mặt nước, trông giống như hình một con chim két (Thần Ngư động).
Lại có những cảnh giàu chất sử thi như trong truyện cổ hồi xa xưa của các dân tộc:
Trời làm phong vũ ngót bảy ngày tròn. Gió tung rách rừng. Mưa chan đầy nội cỏ. Lá níu lấy đá. Nhành níu lấy nhành. Chim rừng xao xác. Bọn dã thú lấm lét nhìn trời (Rồng bay trên núi Gia Nhang).
Đôi lúc, nhà văn trở thành người hát rong kể với mọi người câu chuyện truyền kỳ về lịch sử giống nòi của họ:
Đó là buổi mọi người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm tháng trôi qua... Này là núi non của muôn đời tăm tối... Này là cây cao, bóng cả của rừng núi âm u. Núi chưa có người đặt bước thám du, rừng cây chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu hủy hoại (Xác Mu Mi trên núi đá).
Thế nhưng, thiên nhiên trong sáng tác Lý văn Sâm không bao giờ là chốn thâm u mãi mãi. Bức màn bí mật ấy cứ dần hồi được vén lên. Rừng sâu, núi cả chỉ thật sự bí hiểm đối với những ai lỡ chân, lạc bước hay ở về phía xã hội của “ánh sáng thị thành” như nàng Thể Phụng trong Kòn Trô:
Nàng nhìn quanh mình, chỉ thấy rừng cây trùng điệp chìm trong bóng tối mênh mang và ngửa mặt lên cao, cũng vẫn một vòm trời chót vót tối om như địa ngục.
Đến lúc người ta thật sự sống trong “xã hội” ấy, núi rừng mang vẻ đẹp hùng tráng, hiên ngang, tựa hồ là người bạn thân thiết, là chỗ dựa tinh thần cho con người:
Lúc ấy đúng vào mùa hoa chai nở. Những cánh hoa li ti điểm trắng rừng xanh, lờ mờ như một lớp tuyết phủ. Mặt trời đỏ chói, trồi lên sau ngọn Bạch Hổ sơn; rực rỡ như một vừng hào quang tỏa quanh đầu đức Phật...
Phụng ngước nhìn trái núi. Ngọn Bạch Hổ sơn hình như cũng đang nhìn nàng
(Kòn Trô).
Lý văn Sâm đã đến với rừng theo cách riêng của mình như thế. Nhà văn không có chủ ý kích thích sự tò mò, trí tưởng tượng ở người đọc như Lan Khai, Thế Lữ hay TchyA trước đó đã làm. Cây bút truyện đường rừng phương Nam mong mỏi bạn đọc hãy quên những phút phồn hoa đô thị để cùng với mình đi sâu vào chốn thâm u, cao cả cho lòng vợi bớt những điều nhỏ nhen phàm tục.
Rõ ràng, thiên nhiên đã đóng vai hết sức quan trọng trong sáng tác truyện đường rừng của Lý văn Sâm. Với ông, ở đó có hình mẫu về một nơi chốn thanh cao, không chen lấp bụi trần, đủ sức cho những ý chí dọc ngang vẫy vùng, cho những ước mơ phóng khoáng được thể hiện. Thế nhưng, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn được thể hiện tập trung nhất ở những nhân vật mà ông đã dày công xây dựng.
Như đã nói, tất cả các tác phẩm truyện đường rừng nếu không có những nhân vật khác thường, kỳ dị thì chẳng mấy ai xem đó là truyện đường rừng nữa. Cô gái trong Người lạ của Lan Khai mang vẻ đẹp một cách dị thường: mặt dài thon; da trắng mòng mọng lại có những ván đỏ và phủ một lượt tơ như vỏ đào non; lông mày rậm, vàng như râu ngô lượn tròn trên cặp mắt sáng quắc. Lạ một điều là lòng đen mắt cô ta đỏ và trong suốt như mắt thỏ trắng. Cô ta nhìn một cách lấm lét đáng nghi: miệng cười như đốt lòng người. Nhưng đến hai hàm răng thì ghê quá...! Răng người đâu mà nhọn hoắt như răng mèo! Y phục không ra Kinh không ra Mán, chẳng phải Khách chẳng phải Nùng... Toàn thân có một mùi thơm như hắc hương... Đọc đến đây, hẳn ai cũng nghĩ rằng đó là ma! Còn cô gái Thổ trong truyện Đêm trăng của Thế Lữ có những hành tung rất bí mật, quyến rũ, trong trẻo, say đắm đấy, thoắt đã nghiến răng mà lẩm bẩm, xốc nách người chết để ngồi rũ dưới chân rồi đứng dạng hai chân ra, cái mép váy đằng trước căng thẳng bởi hai ống chân thô và trắng. Một tay nó xốc ông Ba đứng dậy, một tay nửa nâng ở ngang lưng (...) dướn mình quăng cái thây xuống... Nhân vật của TchyA bí hiểm đến nỗi không rõ ma hay người, cõi âm và cõi dương luôn hòa lẫn làm một:
Hai cái bóng ấy màu xám thẫm, xanh biếc, như màu khói đặc tụ lại. Không thấy rõ quần áo mặc ra sao, chỉ hình như cùng mặc áo chẽn mà quần thì xắn đến tận đùi. Đó là một thứ trang phục tôi tưởng tượng ra, vì trông na ná như thế: sự thực thì chỉ có hai cái bóng chập chờn như hai hình ảnh nhấp nháy trên màn chớp bóng. Ngắm kỹ quái trạng hiện ra đó, ta có thể vừa trông vừa đoán, nhận ra rằng hai bóng ma kia là hai thân thể vạm vỡ cường tráng mà cũng lanh lẹn phi thường. Chúng nó tuy không đầu, song đánh nhau chả kém gì người có mắt, lại có phần giỏi giang, sắc sảo hơn những người có mắt nhiều (Ai hát giữa rừng khuya).
Điều lạ là tác giả Thần Hổ bao giờ cũng dùng lời lẽ thuyết phục bạn đọc rằng đó là những con người có thật, những câu chuyện không bao giờ bịa đặt. Thậm chí, TchyA còn tự hào mình đã nhiều hạnh phúc hơn Bồ tiên sinh vì đã thấy ma hiện hình giữa ban ngày, trong thời đại bây giờ, lại ở một nơi không cách xa đô thành phồn nhiệt là mấy!
Khi viết truyện đường rừng hẳn Lý văn Sâm đã đọc Thế Lữ, Lan Khai, TchyA, kể cả Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh... Sau này, có lần nhà văn nhận xét Lan Khai là cây bút tiêu biểu nhất của thể tài truyện đường rừng. Tuy vậy, Lý văn Sâm đã không đi con đường mà tác giả Tiếng gọi của rừng thẳm hay Trại Bồ tùng linh đã chọn. Nhà văn tìm thấy ở những “mã thượng giang hồ” hình bóng của những con người nghĩa khí, khát khao tự do, không cam chịu bất công. Bởi vậy, về tính cách, những “mã thượng giang hồ” mà Lý văn Sâm dày công xây dựng mang khí khái Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha của những Lục Vân Tiên, Tử Trực trong truyện thơ Nguyễn Đình Chiểu. Họ không hề man rợ và ngu dốt, giết người chẳng ghê tay. Sự bí ẩn, nếu có, cũng chỉ là hình thức.
Một “tướng cướp rừng xanh” như Kòn Trô nhưng biết yêu tha thiết, đôi lúc lãng mạn như một nhà thơ:
Kòn Trô cảm giác như mình ngồi trên ngựa không vững nữa. Trời mau sáng quá, Kòn Trô không giữ được cảm động, ngùi ngùi ngâm lên như một người say rượu:
Mais je demande en vain quelques moments encore,
Le temps m’échappe et me fuit.
Je dis à cette nuit: “Sois plus lente” et l’aurore
Va dissiper la nuit...
Xin lưu ý bạn đọc, đó là đoạn thơ trong bài Le lac của thi sĩ Pháp Lamartine.
Còn đây là lai lịch của Châu Phiên (Rồng bay trên núi Gia Nhang), một người được xem chẳng những là vị cứu tinh của người Mọi mà lại là một vị thần đã mang sự thái bình lại cho thôn dân các ấp: Mỹ Trà, Thanh Sơn, Bù Lu, Bù Cháp v.v...
Tcau Fien được đưa về tỉnh ăn học và sang Pháp ở trọn ba năm mới trở về Đông Dương. Gã con trai ấy sanh đẻ giữa một vùng thiên nhiên phóng khoáng nên rất yêu thương những khung cảnh rừng núi tự do. Khi trở về nơi chôn nhau cắt rún, Châu Phiên liền mộ dân lập ấp, cày ruộng, trồng ngô sống một cuộc đời riêng biệt. Không ai thấy bóng Châu Phiên đâu nữa. Người ở thành cũng quên lần gã con trai kỳ dị ấy.
Lâu nay, không ít người cố công đi tìm nguyên mẫu, gốc gác của những Kòn Trô, Châu Phiên, Răng Sa Mát... Nhà biên kịch điện ảnh Phạm Thùy Nhân kể, có lần ông tìm đến nhà văn Lý văn Sâm để nói với ông nhận định của mình về nguồn gốc của Kòn Trô. Đọc nhiều tài liệu, đối chiếu với hoàn cảnh lúc tác giả sáng tác, Phạm Thùy Nhân quả quyết: Kòn Trô nhất định là người Châu Mạ, một dân tộc sinh sống ở vùng Đồng Nai thượng. Nhà văn Lý văn Sâm chỉ cười rồi bảo: Cậu có biết Kòn Trô thực là ai không? Tất nhiên, Phạm Thùy Nhân không thể trả lời. Lý văn Sâm “sau khi hít một hơi thuốc, chậm rãi nói: Là tôi! Tôi lấy tôi làm hình mẫu cho Kòn Trô” (Tạp chí Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, số 16/2000). Tương tự, các nhân vật chính của truyện đường rừng Sương gió biên thùy đều có bóng dáng xa gần với những con người mà tác giả từng thân thiết và ngưỡng mộ. Khi viết truyện đường rừng, Lý văn Sâm không hoàn toàn hư cấu. Đất và người phương Nam hồi ấy đã cung cấp cho nhà văn không ít những nguyên mẫu thật sự hấp dẫn. Những nguyên mẫu ấy phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn, hoặc chí ít là những gợi ý khi sáng tác người viết có dịp thể hiện ước mơ, khát vọng của mình.
Lý tưởng của những con người trong truyện đường rừng Lý văn Sâm dẫu còn rất mơ hồ nhưng trong bối cảnh chung của văn học Việt Nam trước năm 1945, đó vẫn là một tiếng nói khác lạ. Trước hết, nó xua đi ý nghĩ về một lớp người thảo khấu, lấy việc giựt dọc, cướp bóc, chém giết làm phương tiện sống và cuộc đời chìm trong bóng đêm của rừng thẳm thâm u. Kòn Trô vì muốn “gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành” nên mới tìm về nơi sơn lâm cùng cốc. Chung quanh anh là những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thế và cuộc đời gần giống nhau. Họ không cần phải cắt máu ăn thề mà họ cũng ăn ở với nhau một niềm chung thủy. Lý do thật đơn giản, bởi sự chung đụng trường niên nó gây cho họ cái dây đoàn thể bền bỉ, không ai có thể cắt đứt được. Ở đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị (...). Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cỏ cây hoang dại. Trong một “xã hội” như thế, người “dị kỳ” nhất là Kòn Trô. Dị kỳ ở chỗ, vượt lên hàng trăm thủ hạ gan dạ và đanh thép vốn là thổ dân, anh dược họ tôn xưng là “Con Trời”. Những cuộc đời què quặt khi gặp Kòn Trô bỗng bừng sáng, hạnh phúc. Mọi người không những nghe theo mà còn trung thành, thương yêu và kính trọng anh như cha. Cái chết của Kòn Trô được nhà văn miêu tả như một anh hùng thật sự:
Kòn Trô quả thật không thẹn với tên. Thật là một người anh hùng dũng mãnh. Tuy khắp người bị thương, nó cũng còn sức ngồi trở mặt ra phía đuôi ngựa, thúc chân một cái, con tuấn mã nhảy khỏi vòng vây. Con ngựa phi mức lớn. Nó ngồi trên mình con thú tinh khôn nhắm bắn ngã luôn năm người lính đồn rồi kiệt sức, rơi nhào xuống ngựa. Người ta xúm lại quanh nó. Nó nằm ngửa trên mặt lá ủ, mắt mở trừng trừng...
Vẻ dị kỳ của các nhân vật trong sáng tác Thế Lữ, Lan Khai, TchyA... thường tập trung vào những hành tung hết sức bí mật. Cho dù gan lì, không biết sợ ai, nhưng người đọc chỉ thấy đó là những kẻ bất chấp chông gai để thỏa mãn sự tò mò, đôi khi là tham vọng của mình:
Hai người cứ trông thẳng phía núi đá mà tiến lên; lúc xéo lên những lối rậm rạp bên đồi, lúc giẫm gãy những nấm rạ cụt ở ruộng lúa. Qua hết đồi này lại đến đồi khác; những bụi cây xanh mưa ấm mỗi ngày một rậm, đồng ruộng ngày một thưa; ngọn núi đá mờ mờ trong đám sương mù cũng ngày một rõ (Thế Lữ, Vàng và máu).
Vì thế, nhân vật truyện đường rừng cho đến trước Lý văn Sâm thường gieo vào lòng người đọc cảm xúc vừa thán phục, vừa kinh sợ. Trong mắt người đời, dù sao đi nữa, đó là những kẻ, hoặc tự thân đã là man rợ, hoặc bóng tối của núi rừng đã phủ lên những tia ánh sáng cuối cùng của cuộc đời họ. Ngay cả Vũ Ngọc Phan, khi phê bình Thế Lữ, đã không giấu nổi ngạc nhiên: Từ chỗ ca tụng tình yêu bát ngát, ca tụng cái đẹp tuyệt vời mà đi tới chỗ tả những cảnh khủng khiếp thì cũng hơi lạ. Người ta có thể nói: trong thi ca, Thế Lữ có những tình yêu về lý tưởng, ông muốn tìm lên Thiên đường để làm bạn với tiên; còn trong tiểu thuyết, Thế Lữ muốn xuống Âm phủ để ở gần với quỷ (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập hai, tr.705).
Truyện đường rừng của Lý văn Sâm, trái lại, nhân vật chính luôn được nhà văn nâng niu, vun đắp. Vẻ dị kỳ của họ, có chăng, chỉ là sự vượt trội lên tất cả những người chung quanh:
Châu Phiên không phải là một tên lục lâm cường đạo. Châu Phiên không phải là một người tầm thường mà bất cứ một kẻ thường nhân nào cũng có thể gần được.
Châu Phiên là một ngôi sao sáng giữa một vùng sơn lâm, quanh năm khói ám. Châu Phiên là một vị thần cứu tinh của bọn đồng chủng bịnh hoạn. Châu Phiên là một ông hoàng trẻ tuổi đã cầm ngọn đèn dẫn đạo cho đám đồng chủng nhiều mê tín. Châu Phiên đã đánh tan sự khinh bỉ của bọn người ở thành đối với thổ dân miền trên mà họ quen gọi là người Mọi: những người rừng hôi hám, đầu bù như ổ quạ, mắt toét và mình mẩy ghẻ chốc quanh năm
(Rồng bay trên núi Gia Nhang).
Họ không chỉ can trường, quả cảm, giàu nghĩa khí mà còn là những người đề cao lòng nhân hơn quyền lợi, giữ trọn vẹn chữ tín cho dù phải trả giá bằng cái chết. Cậu bé Răng Sa Mát khi biết mẹ mình vì mê nhân tình khiến chồng trở thành con chằn niên sống quẩn quanh trong rừng, đã nhờ ông Bống mỗi ngày vẽ một đạo bùa vào mình, ăn một củ ngải rừng và tự dùng dao nhọn rạch vào thịt da. Sau một tháng ròng với biết bao đau đớn, Răng Sa Mát đã một mình, nhắm phía mặt trời lặn, đi vào rừng sâu, tự nguyện hiến thân cho chằn niên ăn thịt để hoàn lại người thợ săn lừng danh năm nào. Trước khi lao từ cây cao xuống, Răng Sa Mát chỉ bật lên tiếng nói cuối cùng: Hãy trả thù cho con! Kòn Trô vì giữ đúng lời hứa sẽ tiễn người yêu trên đoạn đường nàng trở về đã sa vào chỗ chết. Ngược lại, những ai bội tín đã phải trả giá bởi nỗi ân hận không bao giờ dứt như người chồng của nàng Tchô Phay hơn mười năm qua đã mang “tâm tang” trường đời, thậm chí cái giá phải trả là cái chết thảm khốc như Giác (Vực thẳm), hay người vợ chàng thợ săn làng Thanh Sơn (Răng Sa Mát)...
Lý văn Sâm không có cuộc “lột xác” về tư tưởng sau năm 1945 như nhiều văn nghệ sĩ cùng thời. Những khát vọng về tự do, nhân nghĩa về sự công bằng trong xã hội của nhà văn đã dễ dàng bén rễ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai. Có điều, lúc này, lý tưởng đó đã trở nên sáng rõ hơn. Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Lý văn Sâm ở trong đoàn người nổi lên đi cướp chính quyền và liền sau đó đứng trong hàng ngũ của những người kháng chiến. Lý văn Sâm tiếp tục viết văn, làm báo và in các tác phẩm của mình không phải ở vùng chiến khu mà ngay trong đô thành, giữa vòng kiềm tỏa của chính quyền thực dân - tay sai. Bởi vậy, nhà văn phải chọn lựa cách thể hiện tư tưởng của mình vừa vẫn có thể tác động đến tầng lớp độc giả đô thị, hướng họ cùng chung bóng cờ, vừa tránh sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Sài Gòn. Đó quả là sự lựa chọn chẳng mấy dễ dàng gì. Và, nếu không hiểu hết điều này, người đọc sẽ không bao giờ hiểu đúng về tác phẩm Lý văn Sâm sau năm 1945.
Như đã nói, từ năm 1946-1950 là giai đoạn sáng tác sung mãn nhất của Lý văn Sâm. Những truyện đường rừng được nhà văn viết trước năm 1945 được tập hợp và in thành tập như Kòn Trô, Rồng bay trên núi Gia Nhang... Ngoài ra, ông còn viết một loạt truyện đường rừng mới như: Mười lăm năm hận sử, Sương gió biên thùy, Thù nhà nợ mức, Vằn Phay Khửn, Chiếc vòng ngọc thạch, Sau dãy Trường Sơn. Nhiều tác phẩm không hẳn là truyện đường rừng nhưng có những yếu tố của thể tài này như: Cỏ mọn hoa hèn, Ánh sáng người mù, Ngà và Thuần. Ngay ở thể loại kịch, nếu xét về phương thức phản ánh, đó là những truyện đường rừng như: Người đi không về, Nham hiểm, Một bi kịch đã hạ màn, Nửa mảnh trăng thề, Đường về xứ Phật v.v... Ở các tác phẩm này, người đọc như gặp lại những người quen cũ trong một bối cảnh mới. Nếu nói “Quan niệm con người là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác” (E. Kuprêanôva) thì truyện đường rừng sau năm 1945 của Lý văn Sâm thể hiện bước thay đổi về căn bản tư tưởng của nhà văn trước những biến thiên của thời cuộc. Trước đấy, nhà văn viết để “quên những phút phồn hoa đô thị”, khiến cho người đọc “lòng vợi bớt những điều nhỏ nhen”, còn bây giờ, “là một công dân Việt Nam nên tôi tham gia vào phong trào chống xâm lăng”, ý thức được “muốn làm văn hay phải hòa mình vào thực tế xã hội. Phải tạo cho mình và người đọc mình những quan niệm mới về nhân sinh”. Hình ảnh nhà văn trong sáng tác Lý văn Sâm bây giờ không còn là “gã giang hồ phiêu lãng” nữa mà đã là “một kẻ bộ hành lê những bước chân nặng nề bên bờ hố Bất Bình”. Có điều, đó không phải là bước thay đổi hoàn toàn khác trước mà chỉ là sự đi tiếp con đường nhà văn đang đi. Nếu như trong truyện đường rừng kiểu Kòn Trô, Rồng bay trên núi Gia Nhang, con người mang khát vọng tự do, công bằng, ao ước cuộc đời thanh sạch, giàu nghĩa tình thì truyện đường rừng mới của Lý văn Sâm lại là những con người đấu tranh cho tự do, chiến đấu để giữ lấy độc lập dân tộc. Ở họ, bây giờ, nghĩa vụ đối với Tổ quốc, sự sống còn của đất nước là trên hết. Họ là những nam thanh nữ tú vừa từ bỏ chốn thị thành, làng xóm đã rơi vào tay ngoại bang để ra đi:
Họ là những người đã từ nơi “tử địa” đi tìm “sinh lộ”. Kinh đô đã thất thủ rồi. Những thị trấn muôn trùng người, những thành quách lâu đài, tiêu biểu cho một nền kiến trúc văn minh đã lọt vào tay quân đội Phù Tang sau một đêm bạo hành (Sương gió biên thùy).
Cũng có thể, đó là những “mã thượng giang hồ” từng một thời vẫy vùng như Cả Tiễn:
Cách đây vài năm, có một cuộc khởi nghĩa trên bến đò đã khiến nhiều dân lành vì quá say mê hai chữ tự do để máu mình nhuộm đỏ lòng sông. Biết bao nhiêu nhân tài gục dưới cuộc đàn áp mạnh và chớp nhoáng như cuồng phong. Thế rồi, ngọn cờ vừa mới dựng lên giữa vùng cỏ xanh đã tan tác trên dòng máu đỏ. Tiếng kêu ai oán của một dân tộc vừa bùng lên như ngòi lửa của một hòn Hỏa diệm bỗng phải tắt ngấm vì thiếu sự ủng hộ của kẻ đồng chung sắc máu, màu da. Hỡi ôi! Ta chưa thấy cuộc chết chóc thê thảm nào bằng! (Mũi Tổ).
Nhưng khi quân Anh - Ấn đánh thẳng một đường ra Phan Thiết và thiết lập một ổ canh phòng giữa quan lộ, đặt ụ súng khống chế đường rút binh của hàng ngủ kháng chiến, nhà thiện xạ Cả Tiễn đã không ngại cưỡng lại lời nguyền của cả đời mình:
Tôi sẽ phạm vào Mũi Tổ vì tên lính da đen kia chỉ cho ta thấy đôi mắt trắng dã của gã mà thôi! Đây có lẽ là mũi tên cuối cùng, chấm dứt cái tài thiện xạ của tôi. Nhưng, tôi không ngần ngại gì mà không hy sinh cho đại cuộc. Vâng! Tôi đã dành một mũi tên cho Tổ quốc. Nay là lúc tôi dùng nó vậy!
Dù là ai đi nữa, nhưng tất thảy đều nhận thức được cái giá của tự do, công bằng, hiểu rõ nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Đối với họ, trong lúc sơn hà nguy biến, chỉ có một bổn phận, vừa thiêng liêng, cao cả, vừa hết sức máu thịt, đó là bổn phận đối với Tổ quốc! Anh Tư lục bộ (Tiếng rên trong rừng lạnh) sau khi cùng đồng đội giật sập chiếc cầu, cắt đứt con đường tiến quân của quân địch, bỗng phát hiện còn một người đàn bà ôm con nhỏ đang khóc thê thảm ở phía bên kia đã vội vàng quay lại. Oái ăm, người được cứu thoát nạn, còn chính anh Tư lục bộ lại để chân vào kẹt ván gãy, rút mãi không ra. Nhưng không để đoàn quân vì mình mà sa vào tay quân Anh - Ấn đang ráo riết truy đuổi, anh Tư lục bộ đã hối thúc mọi người ra đi. Một năm sau, khi trở lại cánh rừng già ấy, người ta thấy một nắm xương khô treo lỏng lẻo giữa hai khúc ván cầu chưa lìa nhau. Từ ấy, trong khu rừng kia luôn có tiếng rên thê thảm và người ta giải thích, đó là tiếng rên của oan hồn người lục bộ đã xả thân vì đồng bào, vì đất nước khi mới có tiếng súng trên cõi này, là tiếng kêu đau của một dân tộc.
Một khi đã nhận thức về “sứ mạng tối thiêng liêng”, nhân vật trong truyện đường rừng Lý văn Sâm thường không có sự lựa chọn nào khác. Họ hành động quyết liệt, đi đến tận cùng của bổn phận, không đắn đo, đòi hỏi với mục đích “cố đem những ngày tàn lấp bằng vực thẳm đã chôn vùi bao nắm xương vô định của những kẻ muốn yêu, thương nhau sau những năm dài đau đớn” (Vực thẳm), nếu thất bại, chỉ “gục ngã trên đường nghĩa vụ” (Đờn Chín Kha La). Trong lòng họ, nếu không đang dâng lên những “đợt sóng hờn” (Ngày ra đi) thì cũng chẳng thể nào quên được “hận nước” (Trời như muốn sáng). Còn những ai đang cầm súng, ở phía trước chỉ có một con đường:
Lưng chúng tôi cũng uốn vòng cung. Súng cầm ngang tay sửa soạn nhả lửa để trả lời cho những tiếng vi vút bên tai...
Sau lưng tôi, tiếng ve bỗng nghe hùng hồn như kèn thúc trận. Tiếng súng vun vút bên tai... Vui quá đi mất! Chúng tôi đang xé trận tuyến mà xuống núi
(Tàn một mùa ve).
Thế nhưng, truyện đường rừng mới của Lý văn Sâm không hoàn toàn là những sáng tác “minh họa” cho ý đồ tư tưởng của nhà văn hay chỉ là những câu chuyện đề cao nghĩa vụ. Mỗi câu chuyện nhà văn kể là một cuộc đời thường đẫm đầy nước mắt của những éo le, ngang trái.
Rosée (Sương gió biên thùy), cô gái Việt lai Pháp, theo gia đình chạy loạn từ thành thị về hướng biên giới. Khi đi ngang qua khu rừng rậm dọc theo sông Đồng Nai, họ rơi vào ổ phục kích của quân Nhật. Cả đoàn bị bắt, trừ Rosée được Phong, chủ trại Thanh Sơn cứu, đưa về sóc. Đây là “giang sơn” riêng của Phong lập ra để mọi người cùng chung sống, “không nhìn nhận một pháp luật nào cả khi mà nước nhà tôi còn ở trong tay kẻ khác”. Sau đó, quân Nhật tấn công, Phong và Rosée lạc nhau. Tháng Tám năm ấy, ở Việt Nam, một cuộc cách mạng bùng lên như vũ bão (...). Khắp nơi, những ổ giặc cướp đều tự giải tán trở về quy tụ dưới bóng cờ Tổ quốc. Trong một trận thư hùng ở miền Đông, “một viên chỉ huy Việt Nam bị thương và bị sanh cầm”. Người đó chẳng phải là ai khác mà chính là Phong, người chủ trại Thanh Sơn ngày nọ. Nhưng oái ăm cho chàng, trong đồn Thanh Sơn của viên trung úy Pháp, có một phụ nữ trẻ đẹp. Hôm trước, tên chủ đồn ra lệnh nhốt gã tù binh vào trại giam thì mờ sáng hôm sau đã có tin anh vượt ngục:
... Trên một lối “sạn đạo” đi vào chiến khu của Vệ quốc đoàn Việt Nam, một con ngựa phi nước lớn đưa người chiến sĩ trở về với Sương gió biên thùy.
Khi mặt trời làm một vệt sáng dài vạch đôi chân trời và quả đất, người trẻ tuổi cho ngựa đi chậm lại và giở một bức thư ra đọc.

Bức thư ấy là của Sương, cái tên không hề xa lạ đối với Phong, vì mấy năm trước anh đã đặt cho Rosée để kỷ niệm một thời Sương gió biên thùy!
Khi đề cao nghĩa vụ thiêng liêng và chiến đấu cho lý tưởng, Lý văn Sâm không đơn giản hóa nhân vật của mình. Đó là những cuộc đời có thật, phần nào đặc biệt nữa, chuyện lý tưởng đan xen với tình duyên trắc trở, nỗi hận lòng trong nỗi hận dài của cả dân tộc. Vì thế, truyện đường rừng Lý văn Sâm luôn giàu chất lãng mạn, mang đậm yếu tố sử thi. Nhiều người nhận thấy tác phẩm Lý văn Sâm vừa tân kỳ, vừa cổ kính chính là như vậy. Nhà văn miêu tả về một chuyến đi nguy hiểm của người chiến sĩ:
Anh bò lên miệng hầm, lưng anh uốn vòng cung, súng cầm ngang tay, anh đội vành trăng chếch mà đi.
Không có rượu tân khách tiễn người qua sông. Chỉ còn một ngụm nước vũng thôi, ngụm nước ấy anh nhường cho anh Ngọc đang đau bịnh rét. Anh ra đi một mình. Anh gởi túi vải lại cho tôi giữ. Trong bao vải mà anh bảo là đựng cả “cuộc đời” của mình, có những gì bí mật?
(Tàn một mùa ve).
Còn đây là cách miêu tả của nhà văn về cái chết:
Một ngọn đèn trăng đã lụn rồi! Ngọc, Hồ và Trân đang sắm cho anh một chiếc quan tài bằng vạt tre và gói thi hài anh trong lá cờ rách nát...
Nắng hè trong ráo! Ngàn ve đang họa cùng giọng thác như một khúc hùng ca dành riêng cho đoàn người xuống núi. Các loài hoa mùa hè đã nở dưới ánh mặt trời. Mà nơi đây lại một tài hoa của Đất Nước!
(Tàn một mùa ve).
Như thế vẫn chưa đủ, tác giả còn dành những ngôn từ đẹp nhất để ca ngợi cái chết vì bổn phận thiêng liêng:
Quanh anh, lá rụng như những trang sử đang xây cao một nấm mồ danh dự. Anh không còn nghe tiếng ve. Mà loài ve vẫn lên tiếng đều đều trong mênh mông nắng hạ. Không ai tắt được tiếng ve cả!
Đất Nước đang làm những mùa ve vĩnh viễn.

Nhân vật Lý văn Sâm sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, không bận lòng nỗi nhớ quên của người đời, còn nhà văn như người hát rong luôn bật lên những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh:
Tiếng đờn Chín Kha La bặt là khi nào tre hết mọc trong rừng! Nhưng tre mỗi ngày một sanh sản thêm. Dưới gầm trời này, ngàn năm sau, tiếng đờn Chín Kha La quyết không bao giờ tắt (Đờn Chín Kha La).
Trải bao mùa lá rụng, không ai qua cõi rừng hoang vắng này để nghe tiếng rên dài của người xấu số mà Phùng bảo là tượng trưng tiếng kêu của cả một dân tộc (Tiếng rên trong rừng lạnh).
Bạn đọc đừng thắc mắc vì sao một nhà văn hiện đại như Lý văn Sâm lại luôn sử dụng cả một hệ thống ngôn từ giàu tính ước lệ, nhiều khi là cổ điển. Cùng với ngôn từ, những cảm xúc lãng mạn đã đem đến giọng điệu khi mềm mại, tha thiết, lúc ngang tàng, hào sảng trong văn chương Lý văn Sâm:
Một giòng thác ào ạt giữa cõi sơn ngàn huyền bí. Người đàn ông tưởng mình đang đi trên một bãi biển, và tai chàng phảng phất nghe những tiếng sóng rất xa, rất buồn (Ngày ra đi).
Tuyết Sĩ rút dao găm, vạch ngực vợ khắc vào ngực vợ một chữ “Tuyết” và tự khắc vào ngực mình một chữ “Hận”.
Hai vợ chồng mỉm cười nhìn máu đổ ròng ròng.
Muôn ngàn năm sau, hai chữ “Tuyết Hận” vẫn còn lưu dấu trên đôi ngực ấy như chữ son khắc vào núi đá...
(Trời như muốn sáng).
Gã đàn ông trẻ tuổi ngửa mặt lên trời thở dài rồi thúc ngựa phi mau qua gió lạnh. Trước mặt gã, rừng núi hát lên trong gió sớm như muôn quân reo hò... (Sương gió biên thùy).
Xuất hiện muộn màng hơn nhiều so với các cây bút truyện đường rừng khác, nhưng có thể nói, Lý văn Sâm đã đi một ngả riêng, với thời gian dài nhất (trên mười năm). Trước năm 1945, truyện đường rừng Lý văn Sâm là khúc hát ca ngợi tự do, đòi hỏi công bằng, khát khao cuộc sống giàu tình nhân ái; sau năm 1945, là lời thúc giục đấu tranh, giữ lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, bởi không có tự do của cả một dân tộc thì cũng sẽ chẳng có tự do nào cho mỗi con người.
 
Bùi Quang Huy
📎 001
0
Thâm u và cao cả
 

Cách đây ba mươi sáu năm, có một đứa hài nhi đã cất tiếng chào đời dưới một nếp nhà tranh cũ kỹ. Hôm ấy là hôm mười bảy tháng hai dương lịch, năm 1922. Người mẹ bắt đầu thấy đau bụng từ lúc nửa đêm. Người cha chặt tre đóng vội một cái giường và toan vượt qua chồi găng để rước bà mụ già là người đã sống trong xóm rừng này rất lâu và đã “đứng đẻ” từ năm hai mươi tuổi tới năm sáu mươi tuổi.
Nhưng... đã có tiếng khóc lạnh ngắt của một đứa bé vừa lọt lòng mẹ. Thằng bé bị đẻ rớt xuống đất đầu giẹp [1] hẳn một bên. Khi cha nó ẵm nó lên giường thì có tiếng đập cửa rầm rầm. Mẹ nó đang đau, hoảng hốt nín hẳn tiếng rên.
Người đàn ông nói nhỏ vào tai vợ:
- Cướp!...
“Châu ôi [2], lại cướp! Đêm nào cũng cướp, không đánh xóm dưới thì đánh xóm trên”. Người đàn ông xách con roi trường hầm hầm xông lại phía cửa trước. Người vợ chưa kịp can chồng thì cánh cửa sau nhà đã mở tung ra. Bọn cướp ùa vào. Đi đầu là Năm Mun, người Thổ lai, tên trùm cướp đã làm mưa làm gió trong vùng này. Hắn tiến lại giường đẻ và lẹ làng nắm hai ống chân non của đứa bé mới sinh ra giở bổng lên. Thằng bé lộn đầu xuống đất không khóc chỉ chới với như một con gà bị xách ngược đầu.
- Buông roi xuống! Không, tao vật chết...
Người cha nóng ruột quá, nhưng phải riu ríu buông roi xuống đất và năn nỉ Năm Mun:
- Chỗ anh em với nhau... Anh Năm làm ăn không chừa tôi sao? Con tôi tội tình gì? Xin anh Năm để nó nằm xuống giường rồi bắt tôi làm sao tôi cũng chịu...
Năm Mun đặt thằng bé xuống giường, bên người đàn bà đang run như người lên cơn sốt.
- Bao nhiêu tiền phát xâu đưa hết đây tao. Không, tao sẽ đập bể sọ con mầy bây giờ!
- Anh Năm không thương...
Năm Mun toan “làm dữ”. Người đàn ông dịu giọng:
- Thì để tôi đưa!
Hai mươi phút sau, bọn cướp “buồm” [3] im.
Người cha thở dài, than thở với vợ:
- Thằng Năm Mun nham hiểm thật. Bình nhật nó trốn tôi như chó gặp “ông thầy” có đâu dám làm lộng như đêm nay. Nó rình mình từng giây từng phút và làm ăn ngay giữa lúc mình đẻ. Khổ quá! Bao nhiêu tiền phát xâu cho “dân làm đường” mất hết rồi. Lấy gì đền vào? Tiền của nhà nước phải chơi đâu? Ở tù rục xương!...
Người vợ nén nước mắt thở dài:
- Vì con!
Người chồng lặp lại:
- Vì con!
Thưa các bạn, đứa bé khốn nạn trong chuyện vừa kể chính là tôi vậy! Tôi lớn lên trong rừng và mãi tới năm bảy tuổi mới được đưa ra học ở trường tỉnh. Trọn bảy năm, tâm hồn thơ dại của tôi đã thấm sâu bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối.
Nhưng từ khi được đưa ra tỉnh học và lần lần xa mãi cảnh rừng xanh, núi thẳm, cái khung cảnh thiên nhiên khi xưa thật đã hoàn toàn bị xóa trong lòng tôi.
Tôi đã lăn mình theo ánh sáng, để mẹ già đếm tháng ngày qua, khóc thầm trong bóng tối. Cha tôi càng trọng tuổi, càng lặng lẽ, để mặc tôi chạy theo tiếng gọi phù hoa.
Cho đến khi tôi được tin mẹ hấp hối trên giường bệnh mới hộc tốc đáp xe lửa từ Huế về Nam thọ tang.
- Má có trối gì về con, trước khi nhắm mắt không?
Cha tôi vẫn lặng lẽ:
- Không!
Rồi ôn tồn tiếp:
- À có, mẹ mày có bảo nó chết là vì...
Tôi áy náy:
- Vì con phải không ba?
Cha tôi cảm động thở dài lặp lại:
- Vì con!...
* * * * *
Nhưng rồi tôi lại bỏ cha già và bầy em dại, chạy theo bè bạn. Cha tôi về hưu liền đem bầy em tôi “lên rừng” khuếch trương sự nghiệp.
Trong một bức thư gửi cho tôi, người đã viết:
... Con ơi! Ba không ngăn bước lãng du của con. Con cứ đi đi, cho đã thèm sông, thèm núi. Ba ở đây xây sự nghiệp cho con. Ngày nào thấy mỏi gối, hãy tìm về với ba. Mảnh rừng đã phong tiếng khóc của con ngày xưa vẫn còn chờ đó! Cũng như lòng ba đang theo bước con đi...
Nhưng mãi tới ba năm sau, tôi mới trở về quỳ bên giường bệnh của người cha hấp hối. Ba tôi càng gần sự chết càng lặng lẽ. Sau cùng, người gượng dặn tôi:
- Con hãy thay cha, nuôi em! Đừng bỏ dở sự nghiệp...
Thế rồi người nhắm mắt. Tôi làm đúng theo lời cha già trối lại, cắt đứt sự luyến ái thị thành. Gió rừng lại thì thầm kể cho tôi nghe những chuyện thiếu thời, ngọt như tiếng hát ru của một người mẹ.
Ngày ngày, khói vẫn lên xanh trên đầu núi cũ. Thiên nhiên vẫn nguyên vẹn như lòng kẻ chung tình. Chỉ có tôi là phụ bạc, chớ rừng, núi có phụ bạc tôi bao giờ?
Trong tôi, từ đó ánh sáng thị thành lu mờ dần. Lòng tôi chỉ có sao trên trời và ánh lửa cháy chập chờn trong những “bồn” thổ dân.
Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống nước mạch và cùng các ùr rũ [4] hát đối dưới trăng rằm. Đêm đêm tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng.
Các bạn hãy quên những phút phồn hoa đô thị và cùng với tôi đi sâu vào những chốn thâm u, cao cả cho lòng vợi bớt những điều nhỏ nhen phàm tục.

Tháng mười một dương lịch, năm 1948
--------------------------------
[1] Giẹp (cũ): dẹp.
[2] Pn. Bâ của Chao ôi (tiếng than vì đau đớn).
[3] Tiếng lóng: chuồn, tẩu tán.
[4] Gái tơ (LVS).
0
Kòn Trô
 
Phụng dừng ngựa lại dưới chân một trái đồi nhỏ để tìm phương hướng. Nàng nhìn quanh mình, chỉ thấy rừng cây trùng điệp chìm trong bóng tối mênh mang và ngửa mặt lên cao cũng vẫn một vòm trời chót vót tối om như địa ngục.
Phụng bắt đầu thấy bối rối mặc dù xưa nay nàng vẫn có tiếng là gan góc. Nàng bắt loa tay hú dài một tiếng: rừng sâu đem tiếng vang trả lại cho nàng. Thất vọng, Phụng thở dài lẩm bẩm một mình:
- Bây giờ biết Lành và Đại ở đâu mà tìm? Hai anh ấy cũng đến lạc lối như ta thôi. Khổ quá! Đi săn mà gặp bước này thà ở nhà còn hơn!
Xa tít trong cái huyền bí của đêm rừng, mơ hồ có tiếng thác đổ. Phụng lắng tai nghe. Nàng nói một mình:
- Phải rồi. Thác Mu Mi cách đây không xa, mình cứ nghe ngóng và nhắm hướng thác đổ mà về thì đúng.
Nàng thúc ngựa đi mau qua đám đế [1] khô. Nhiều lần nàng bị những cành cây như những cánh tay lực lưỡng chìa ra, gạt nàng suýt té xuống ngựa. Mãi đến khi gà rừng cất tiếng gáy đầu tiên, Phụng thấy mình vẫn còn lạc lõng giữa thâm khuya. Nàng mân mê đốc dao găm giắt bên sườn, tự nhủ:
- Một liều, ba bảy cũng liều! Súng, thì Lành và Đại mỗi người mang một cây. Số mạng ta đành gởi vào ngọn khí giới cỏn con này vậy!
Phụng cúi ôm cổ ngựa, nằm dài trên mình nó, mặc cho nó muốn đưa đi đâu thì đưa. Tiếng thác đã tắt từ lâu không còn nghe rõ nữa...
* * * * *
Phụng tỉnh lại, thấy mình đang nằm trên một chiếc giường tre lót nệm cỏ. Một người đàn ông khoanh tay im lặng bên giường nhìn nàng. Phụng nghe nơi trán mình ê ê liền đưa tay lên định xem xét. Người đàn ông, nãy giờ vẫn ngồi bên, ngăn tay nàng, lễ phép nói:
- Thưa bà, bà đừng cử động mạnh, máu ra nhiều... Bà để yên độ nửa giờ, ngải sẽ hàn bớt vết thương và ngăn không cho máu chảy ra nữa. Giờ, bà cứ nằm tĩnh dưỡng, đừng lo ngại gì hết!
- Nhưng, thưa ngài, - Phụng hỏi - tôi muốn biết hiện giờ tôi đang ở đâu?
Nàng vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn người đàn ông từ đầu đến chân. Gã còn trẻ lắm. Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ cười. Màu da ngâm ngâm đen, láng như đồng, tỏ rằng gã có rất nhiều sức mạnh. Gã mặc theo kiểu người đi săn: đầu đội nón vành lớn, chân đi ủng da đen. Trông gã oai nghi, hùng dũng lắm.
Gã biết Phụng đang tò mò nhìn, liền ngồi thẳng lên nhìn lại Phụng. Bốn luồng nhỡn tuyến vừa gặp nhau đã vội tránh nhau.
Nghe Phụng hỏi, gã mỉm cười, hỏi lại Phụng:
- Bà có nghe người ta nói đến tên Kòn Trô lần nào không?
Phụng ngạc nhiên, trả lời:
- Có! Tôi vừa tới đây đã nghe người ta nói ở vùng này có một tướng cướp lợi hại tên là Kòn Trô thường hay đón ô-tô du khách để đoạt tiền, hoặc bắt cóc người ta. Nhưng thưa ngài, tại sao ngài hỏi tôi câu ấy?
- Vậy thì bà hiện đang nằm trong đại trại của Kòn Trô.
Phụng đứng phắt lên, trợn mắt:
- Ngài là... Kòn Trô?
Người đàn ông cũng đứng lên theo, gật đầu:
- Vâng!
Phụng hãi hùng liếc nhìn quanh để tìm sự cầu cứu. Trước mắt nàng, Kòn Trô đứng chắn ngang như một pho tượng đá. Không kịp nghĩ ngợi, nàng nhảy tới một bước, rút dao găm đâm vào ngực Kòn Trô một nhát.
Kòn Trô né mình sang một bên, đưa hai tay ra đỡ. Phụng đang lỡ đà gần ngã sấp. Chàng nói với Phụng, giọng trách móc:
- Sao bà lại định giết tôi?
Cái tiếng nói nhẹ nhàng ấy làm dịu cơn hăng tiết của Phụng.
Nàng nói:
- Tôi không định hại ngài, nhưng mà... tôi cần phải nghĩ đến sự giải thoát, thưa ngài!
- À, ra chỉ có thế mà bà định đổi ơn làm oán. Tôi đem bà từ hố sâu lên, tìm ngải đắp vết thương cho bà tỉnh lại là sẽ đưa bà ra khỏi rừng này. Tôi có cầm bà ở đây đâu?
Phụng xem Kòn Trô không dữ tợn như người ta tưởng, nên lòng cũng bớt lo. Lại nghe chàng nói năng lịch thiệp, nàng không tin rằng con người ấy lại là một kẻ đã từng cướp của giết người.
Thấy Phụng ra chiều tư lự, Kòn Trô nói với nàng:
- Bà hãy yên lòng đừng nghĩ xa xôi gì hết. Tùy bà muốn đi lúc nào cũng được, hay bà ở đây, tôi cũng sẵn sàng tiếp đãi bà như một quý khách. Bây giờ xin mời bà ra trại ngoài dùng bữa sáng rồi tôi sẽ đưa bà đi viếng những vùng quanh đây. Trong trại tôi, có rất nhiều ngựa tốt.
Phụng nghe ruột đói như cào, liền mạnh bạo bước theo Kòn Trô ra trại ngoài.
Ánh nắng một buổi hè, vàng tươi như một màu sơn mới, chan hòa khắp cảnh lâm tuyền.
* * * * *
Hai con ngựa song song đi bước một trên triền đồi.
Phụng hỏi Kòn Trô:
- Núi này là núi gì?
- Núi Klìu-bo (cọp trắng) hay Bạch Hổ sơn cũng thế. Bà trông nó có giống hình một con cọp ngồi rình mồi không?
Phụng gật đầu, nói với Kòn Trô:
- Ta lên đồi chơi.
Hai người xuống ngựa, trèo lên đồi. Lên tới đỉnh, Phụng mệt ngất, tựa vào một thân cây. Kòn Trô lấy nón quạt mát cho Phụng.
Ve sầu kêu ra rả trên các ngọn cây cao. Tiếng chim vui ca trong nắng hạ.
Phụng chóa mắt nhìn khắp bốn phía. Hơn sáu chục cái nhà sàn giống nhau vây tròn lấy trái núi.
Kòn Trô nói với Phụng:
- Bọn thủ hạ của tôi hơn một trăm người đều sống chung với nhau trong những căn trại ấy. Họ toàn là người Châu Mạ (Tcau-ma) [2] gan dạ và đanh thép. Tôi dùng họ rất được việc mà họ rất trung thành với tôi. Tôi bảo chết, họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính trọng như cha.
Bà nghĩ còn lòng thương nào khăng khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thế và cuộc đời gần giống in nhau, không cần phải cắt máu ăn thề mà họ cũng ăn ở với nhau một niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng lâu năm nó gây cho họ tình đoàn kết bền bỉ, không ai có thể cắt đứt được. Ở đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị, nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ vì nhau. Tâm hồn họ đã hòa chung cùng cỏ cây hoang dại.
Phụng ngắt lời:
- Nhưng sao tên ngài lại là Kòn Trô?
Kòn Trô cười:
- À! Cái đó lại khác. Nguyên bản dân Tcau-ma thấy tôi khỏe và gan lì, nên gọi tôi là Kòn Trô. Kòn là con, Trô là ông trời, nghĩa là con của trời sinh ra không sợ gì hết.
Phụng mỉm cười, nhìn Kòn Trô:
- Còn tên thật của ngài?
Kòn Trô nhíu mày, thở ra:
- Bà hỏi đến tên tôi tức là bà muốn tôi nhắc lại cái quá khứ đẫm máu mà vì nó ngày nay tôi phải chịu sống lẩn lút cùng cỏ cây hoang vu, xa lánh hẳn loài người. Bao nhiêu lạc thú êm đềm của tuổi trẻ, bao nhiêu hoài bão của một trái tim thiếu tráng [3] đành chôn trong góc núi, xó rừng này.
Phụng thương hại, hỏi:
- Ngài có thể nào cho tôi nghe cái dĩ vãng kia, không?
Kòn Trô xua tay:
- Thưa bà, tôi xin bà điều ấy. Cái dĩ vãng của một tên cướp có gì là đẹp đẽ?
Hai người im lặng, nhìn xuống ruộng ngô rải rác quanh đồi. Kòn Trô chỉ một nhóm người dân tộc đang lúi húi dưới những nương khoai xanh và nói với Phụng:
- Bà coi! Bọn chúng tôi trồng khoai, cây lúa, gieo bắp, gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành. Chỉ vì một năm gạo thua, lúa kém, chúng tôi mới phải ép lòng đón người giật của và cướp kho lương của ông đồn, tại đây. Từ đó, tiếng tăm Kòn Trô nổi dậy một vùng. Nhưng chúng tôi chỉ bạo động trong một năm ấy thôi, rồi thì cải ác, tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cày, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bị bao vây nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc đời tôi, từ đó càng ngày càng nặng tội, càng ngày càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỷ sống, uống máu người không tanh...
Có tiếng mõ tre nổi dậy từ trại này qua trại khác.
Phụng hỏi Kòn Trô:
- Họ làm gì vậy?
Kòn Trô giảng:
- Bọn Mọi [4] đánh mõ gọi nhau về cho đủ mặt để ăn cơm trưa.
Phụng lại hỏi:
- Bao giờ thì Kòn Trô đưa tôi về?
- Lát nữa tôi sẽ đưa bà ra khỏi nơi này. Hiện tôi đã cho người sửa soạn thắng yên cương hai con tuấn mã sung sức nhất và đem theo đồ ăn đường. Sáng ngày mai chúng ta sẽ tới thác Mu Mi.
Có tiếng gà gáy trưa nghe buồn rời rợi [5]. Hai người lặng lẽ xuống đồi.
Kòn Trô nói với Phụng:
- Bà có thể cho biết quý danh không?
Phụng vui vẻ:
- Thể Phụng là tên tôi!
Kòn Trô lẩm bẩm:
- Thể Phụng! Thể Phụng, cái tên đẹp quá...
Rồi gã hỏi luôn Phụng:
- Chắc có lẽ ông nhà đang trông bà lắm!
Phụng cải chính:
- Tôi chưa có chồng. Tôi có hai người bạn trai đi theo tôi, nhưng hồi hôm này, chúng tôi đã lạc nhau. Bây giờ, có lẽ họ đang nóng ruột chờ tôi lắm.
Kòn Trô khen:
- Thảo nào trông bà còn trẻ quá.
- Kòn Trô, anh nên gọi tôi bằng cô hay bằng em là hơn. Chúng ta còn trẻ, không nên xưng hô khách sáo như vậy.
Kòn Trô thấy lòng mình nhẹ nhàng như mọc cánh. Đã năm năm nay mới có cơn gió mát thổi qua vườn lòng cằn cỗi của chàng.
* * * * *
Nắng đã tắt từ lâu mà trời vẫn còn oi bức. Mặt trời khuất lần sau ngọn Klìu-bo. Bóng tối bắt đầu bao trùm sự vật; đứng gần nhau không trông rõ mặt người.
Kòn Trô nắm tay Thể Phụng dẫn ra sân. Có tiếng ngựa hí lẫn trong tiếng người líu lo trò chuyện. Có tiếng sắt và thép va chạm vào nhau. Người ta đang sửa soạn cho một cuộc viễn trình [6].
Kòn Trô quát to:
- Sụt tròi! (thắp đuốc chai lên).
Tức thì tám ngọn đuốc lóe ánh sáng đỏ rực, phả khói mù nghi ngút.
Kòn Trô rót một cốc rượu, mời Phụng:
- Cô uống một chén rượu rừng cho ấm bụng.
Phụng âu yếm nhìn gã mỉm cười:
- Anh làm như thể đưa tôi ra ngoài quan ải!
Kòn Trô buồn rầu nói với Phụng:
- Có cuộc tống biệt nào mà không làm bằng nước mắt mà có cảnh rẽ chia nào mà không có ly bôi? Cô uống chén rượu này gọi là chén rượu kỷ niệm buổi chia tay này vậy!
Phụng đỡ cốc rượu, uống một hơi cạn. Mặt nàng hồng hồng, đẹp như tranh vẽ.
Kòn Trô hỏi một tên Mọi đứng gần đó:
- Dòn ạ zầ? (Mấy giờ?).
- Prao zà! (Sáu giờ!).
Kòn Trô quay qua, bảo Phụng:
- Ta lên đường!
Hai người lên ngựa. Hai tên Mọi cầm đuốc đưa đường.
Ra khỏi trại, bốn người cho ngựa phi nước lớn.
Nửa giờ sau, họ đã tới trảng tranh.
Kòn Trô nói với Phụng:
- Truông này nhiều hổ lắm. Cô đi lên trước, để tôi giữ hậu cho.
Phụng nhìn Kòn Trô, mỉm cười tỏ vẻ cảm ơn.
Dưới ánh đuốc, chàng đẹp như những tay kỵ mã thời xưa.
Hết cây đuốc này, thay cây đuốc khác, đi quá nửa đêm thì tiếng thác Mu Mi đã nghe rõ.
Phụng nói:
- Tối hôm qua tôi cũng nghe tiếng thác đổ như đêm nay mà đi hoài không tới.
- Là vì cô không thuộc lối! Nhờ vậy mới có cuộc gặp gỡ hiếm có này; một cuộc kỳ ngộ đã đem lại cho lòng tôi biết bao cảm giác êm đềm...
Phụng thấy ngượng liền buông một câu hỏi bâng quơ:
- Kòn Trô ơi! Anh không nghĩ đến ngày quay về với cuộc đời lương thiện hay sao?
Kòn Trô buồn rầu không nói. Vẻ cảm động hiện rõ lên mặt. Lời nói của ai kia như thúc giục tấm lòng ham muốn trở lại với người đời.
Phụng lại hỏi:
- Anh định sống suốt đời ở đây, sao?
Kòn Trô thấp giọng:
- Loài người họ có tha tôi đâu mà mong trở về với họ. Vả, đối với pháp luật, tôi là một tên tử tù; con đường về, không bao giờ còn mở cửa nữa rồi!
Trời sắp sáng. Chim ngàn rộn rã lên đường.
Kòn Trô cho hai người Mọi trở về, còn mình thì theo Phụng tới thác Mu Mi.
Kòn Trô chỉ một ngọn suối chảy ngang trước mặt, nói với Phụng:
- Chúng ta cho ngựa xuống lội một quãng dài rồi lên đất. Làm thế cho lạc mất dấu ngựa của chúng ta. Lỡ có ai theo dấu cũng không đáng ngại.
Phụng khen:
- Anh cẩn thận và mưu lược lắm!
Hai con ngựa lội bì bõm dài theo dòng suối nhỏ. Gặp chỗ có nhiều đá, Phụng giật mình, mấy lần sắp ngã. Kòn Trô đưa tay đỡ nàng. Hai ngựa giao kề. Phụng nằm gọn trong cánh tay Kòn Trô. Nàng bẽn lẽn nói:
- Không có anh, em té xuống ngựa rồi còn gì!
Kòn Trô mạnh bạo:
- Anh cũng ao ước sao em ngã nhiều lần như thế để anh được nâng đỡ tấm thân ngà ngọc của em. Những ngày sống của anh chỉ có nghĩa trên đoạn đường này thôi.
Phụng làm thinh. Lòng nàng hiu hiu một cảm hoài nhè nhẹ. Nàng thấy mình chỉ thương hại Kòn Trô thôi. Tuy nhiên, nàng cũng an ủi chàng:
- Mùa hè năm sau, em sẽ tìm về đây thăm anh. Một năm có là bao!
Kòn Trô nhếch một nụ cười đau đớn:
- Chừng ấy, biết anh còn sống để chờ em không? Em nên nhớ rằng lúc nào anh cũng sống trong sự nguy hiểm. Người ta đã đánh giá mạng sống của anh rồi!
Hai người im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.
Tiếng thác đổ rầm rộ tưởng chừng như chuyển động cả trời đất.
Trời sáng dần. Gà rừng gáy khắp nơi, báo hết đêm dài. Hai người giật cương ngựa leo lên bờ suối.
Kòn Trô cảm giác như mình ngồi trên ngựa không vững nữa. Trời sáng mau quá. Kòn Trô không giữ được cảm động, ngùi ngùi ngâm lên như một người say rượu:
Mais je demande en vain quelques momments encore,
Je temps m’échappe et me fuit.
Je dis à cette nuit: “Sois plus lente” et l’aurore
Va dissiper la nuit...
[7]
Rồi chàng ngửa mặt lên trời, cười sằng sặc.
Phụng cảm động khuyên chàng:
- Anh nên can đảm lên! Người anh hùng không nên để lòng mình dễ rung động như vậy.
Kòn Trô vẫn cười sằng sặc. Ra khỏi cửa rừng, Phụng mừng rỡ:
- Thác Mu Mi kia rồi!
Dưới ánh bình mình lộng lẫy, hàng ngàn tấn nước từ ngọn sông cao đổ xuống vực sâu làm thành những tiếng động kinh hồn.
Phụng ghìm cương ngựa lại bên bờ thác. Nàng nhẹ nhàng nói với người bạn chung đường:
- Đã tới lúc chúng ta phải xa nhau, hẳn rồi!
Giọng nàng thấp mãi xuống vì cảm động.
Kòn Trô mỉm cười, từ giã:
- Thôi cô về! Đã đến lúc tôi không còn theo cô được nữa. Giờ thì cô... em lên đường bình an.
Phụng cúi đầu, không nói. Kòn Trô ngậm ngùi rằng:
- Rồi đây năm, tháng sẽ đi qua. Núi sẽ mòn. Sông sẽ cạn. Không có gì tồn tại dưới sức tàn phá âm thầm nhưng mãnh liệt của thời gian. Huống chi là một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của hai người tuổi trẻ. Người ta rất dễ quên nhau...
Phụng vẫn cúi mặt, im lời. Những loạt lá trổ đổ xuống ào ào phá tan sự im lặng giữa hai người.
Bỗng Phụng ngẩng mặt lên chăm chú nhìn Kòn Trô. Thiếu niên cảm giác như trái tim mình ngừng đập. Rút một chiếc khăn tay ở túi ra, rồi hái một đóa trang rừng gói vào trong, Phụng mỉm cười nhét vào tay Kòn Trô:
- Đây! Em chỉ có cái này làm kỷ niệm. Anh hãy giữ lấy nó, đừng làm mất, em bắt thường đó!...
Kòn Trô đưa hoa lên mũi. Chiếc khăn tay thoảng một mùi hương nhè nhẹ, thơm như mái tóc của giai nhân.
Lúc ấy đúng vào mùa hoa chai nở. Những cánh hoa li ti điểm trắng rừng xanh, lờ lờ như có một lớp tuyết phủ. Mặt trời đỏ chói, chồi lên sau ngọn Bạch Hổ sơn; rực rỡ như một vùng hào quang tỏa quanh đầu đức Phật...
Phụng ngước mắt nhìn trái núi. Ngọn Bạch Hổ sơn hình như cũng đang nhìn nàng. Phụng nói:
- Suốt đường về, mắt em sẽ không rời ngọn núi tri kỷ này!
Rồi nàng nắm tay Kòn Trô, nói nhỏ:
- Thôi, em đi!
Kòn Trô giữ bàn tay Phụng trong tay mình một lúc lâu. Sau cùng chàng nói:
- Em đi, kẻo muộn!
Phụng giục ngựa quay đi để giấu sự cảm động.
Bỗng Kòn Trô, gọi với theo:
- Thể Phụng!
Phụng dừng cương. Kòn Trô gượng cười, hỏi:
- Độ mấy giờ thì Phụng lên đường, về tỉnh?
- Xế chiều nay!
Kòn Trô đưa roi ngựa lên cao khỏi đầu, vẫy vẫy giọng luyến tiếc:
- Chúng ta sẽ gặp nhau một lần chót tại cây số 90, ở đầu dốc lớn. Anh sẽ đón em ở đó, ba giờ chiều nay!
Phụng gật đầu. Con ngựa trắng chồm cổ lên cao hí dài một hồi, rồi lao mình xuống triền hố...
* * * * *
Bốn năm sau...
Có một cặp vợ chồng trẻ tuổi đến viếng thác Mu Mi đúng vào mùa trang nở. Bông trang rực rỡ nhuộm đỏ loáng rừng chạy dài theo hai bên bờ thác.
Cành chai điểm trắng những bông hoa non nhỏ li ti, trông xa như tuyết phủ.
Người vợ nắm tay chồng kéo ra bờ thác. Hai người đứng trên bờ đá cao nhìn xuống vực.
Những gộp đá khổng lồ, nằm gối lên nhau, bắt ngang con sông như một dãy trường kiều [8]. Từng khối nước nặng nề trôi băng băng từ bực cao xuống bực thấp, tung khói sóng mịt mù.
Thiếu phụ nói nhỏ vào tai chồng:
- Ghê quá, mình ơi!
Chồng chỉ rừng trang đỏ ối, âu yếm hỏi vợ:
- Em có thích những đóa hoa kia không? Trông chúng nó rực rỡ như màu áo của em!...
- Hoa gì vậy, mình?
- Trang rừng.
Thiếu phụ chau mày, lẩm nhẩm, lặp lại:
- Trang rừng! Trang rừng, những đóa hoa có sắc nhưng không hương...
Rồi như chợt nhớ ra điều gì, nàng giật mình chớp nhanh đôi mắt ướt. Lờ mờ trong dĩ vãng xa xăm, nàng mang máng sống lại cảnh “một đêm sương” của mùa hạ cũ. Hình ảnh người trẻ tuổi đã đưa nàng qua những tấm rừng dày về thác Mu Mi, bỗng hiện về trong trí nhớ. Niềm cảm xúc reo động trong quả tim non, sâu xa và thấm thía vô cùng. Có ai ngược về lối cũ của thời gian mà không thấy lòng mình bồi hồi rung động, khi dòng tư tưởng ngừng lại ở một quá khứ đầy kỷ niệm?
Thiếu phụ thì thầm:
- Kòn Trô!
Người chồng vội hỏi:
- Gì? Em mới nhắc tới hai tiếng Kòn Trô? Làm gì có Kòn Trô nữa mà sợ! Tên cướp rừng khét tiếng ấy đã bị người ta giết mất cách đây bốn năm, vào một buổi chiều mùa hạ...
Thiếu phụ nắm lấy vai chồng, thất sắc:
- Ai giết? Vì sao Kòn Trô lại bị giết?
Chồng trách vợ:
- Mình lạ quá! Cái chết của một kẻ cướp đã khiến mình quan tâm đến như thế kia, à?
Người vợ cười ngất:
- Ồ, lạ quá...
Nàng lau mấy giọt mồ hôi đọng trên trán: nơi ấy lờ mờ một vết thẹo nhỏ. Nàng quay mặt, giấu một tiếng thở dài nhè nhẹ... Nàng tươi cười dịu giọng với chồng:
- Em muốn biết người ta làm cách nào giết được Kòn Trô? Em nghe người ta nói nó giỏi võ và khỏe mạnh lắm kia, mà?
Chồng tát yêu vợ:
- Có vậy mà cũng nóng nảy! Thủng thỉnh anh kể chuyện cho mà nghe. Theo lời người ta thuật lại thì Kòn Trô chết vì một người con gái đến nghỉ hè tại đây.
Thiếu phụ biến sắc, cúi đầu.
Người chồng tiếp:
- Trong một cuộc đi săn lạc mất lối về, người nữ sinh ấy tình cờ lọt vào nội địa của Kòn Trô. Nó tiếp đãi nàng rất mực tử tế và sau cùng lại đưa nàng về thác Mu Mi. Vì quá nặng lòng trìu mến nàng, nó còn hẹn với nàng rằng nó sẽ theo và tiễn nàng một lần chót trên một đoạn đường về. Cũng bởi mạng nó đã cùn [9] nên mới khiến cô nữ sinh kia đem khoe chuyện ấy với hai người bạn học cùng lớp. Hai người kia lẻn đi báo tin cho ông đồn Châu Mạ hay...
Thiếu phụ rên lên một tiếng não nùng:
- Bây giờ... mình mới rõ.
- Mình nóng quá! Yên! Tôi nói cho mà nghe. Thế rồi, một nhân viên quản đồn và hai mươi người lính võ trang đầy đủ, ra mai phục ở ven rừng. Đúng mười lăm giờ, kém một khắc, Kòn Trô lững thững cỡi ngựa, ung dung đi vào giữa hai hàng súng. Một tiếng hô to. Hai mươi khẩu súng cùng nhả đạn, một lượt. Kòn Trô bị đạn khắp mình, máu me tuôn ướt áo.
Thiếu phụ rên rỉ:
- Trời ơi! Thế thì chết mất còn gì?
Nguòi chồng lấy làm lạ, đăm đăm nhìn vợ. Thiếu phụ gượng giữ vẻ bình tĩnh vừa cười vừa hỏi chồng:
- Nó chết chưa, mình?
Chồng tiếp:
- Kòn Trô quả thật không thẹn với tên. Thật là một người anh hùng dũng mãnh. Tuy khắp người bị thương, nó cũng còn sức ngồi trở mặt ra phía đuôi ngựa, thốc chân một cái, con tuấn mã nhảy khỏi vòng vây. Con ngựa phi nước lớn. Nó ngồi trên mình con thú tinh khôn nhắm bắn ngã luôn năm người lính đồn rồi mới kiệt sức, rơi nhào xuống ngựa. Người ta xúm lại quanh nó. Nó nằm ngửa trên mặt lá ủ, mắt mở trừng trừng. Lúc người ta sắp khiêng nó đi thì nó xin nằm nán lại vài phút. Đến khi nghe tiếng kèn xe hơi của ai vọng lên ở xa xa, nó mỉm cười mấp máy đôi môi. Nó đưa chiếc khăn tay đàn bà cho ông đồn và ra hiệu biểu đắp dùm mặt nó. Đem Kòn Trô về đến đồn thì nó chết.
Thiếu phụ nghe xong, hỏi chồng:
- Ai kể cho mình nghe rành mạch như vậy?
- Anh đọc báo. Độ ấy mình không đọc thấy cái tin ấy sao?
- Không! Lâu quá, em quên mất. Vả, em sơ ý không hay đọc những tin tức đổ máu. Em sợ lắm. Em buồn lắm. Người ta cứ tìm cách giết hại nhau mãi...
Thiếu phụ ngước mặt lên. Núi Bạch Hổ đứng sững trong cõi mịt mù của khói ngàn xanh xám. Một miếng mây trắng quấn qua đầu đỉnh non xa như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia trải bao nhiêu năm cách biệt, vẫn còn nguyên vẹn như tấm lòng không thay đổi của một người tri kỷ.
Thiếu phụ chùi mắt, nói với chồng:
- Nắng hạ gay gắt quá làm em chói mắt, khó chịu. Mình coi đây! Nước mắt em cứ ràn rụa ra mãi thế này! Chúng ta vào nhà “thủy tạ” nghỉ một lát, đi mình!
Hai người quay đi.
Sau lưng họ, tiếng thác vẫn rền rĩ mãi không thôi như lời than khóc một nỗi hận dài...

Sông Bé, mùa nắng, năm 1941??
-----------------------------------
[1] Loại sậy mọc ở các ruộng bưng.
[2] Bản Tân Việt 1946 viết: Tcau-Ma.
[3] Sic. Cách dùng từ cổ, có nghĩa là “tráng sĩ thiếu niên”. Bản của sách Ngàn sau, sông Dịch (NXB Trẻ, 1988), người tuyển chọn đã sửa thành thanh xuân. Trong nhiều tác phẩm Lý văn Sâm trước năm 1950, từ thiếu niên thường được dùng thay cho từ thanh niên. Phải chăng là cách dùng từ của thời bấy giờ?
[4] Sic. Cách gọi đồng bào các dân tộc ít người trước đây. Bản 1988 đã sửa là: Người dân tộc. Chúng tôi giữ lại cách viết ban đầu của tác giả.
[5] Bản Trẻ 1988: rười rượi.
[6] Bản Trẻ 1988: chuyến đi xa.
[7] Trong lần xuất bản đầu tiên, trên báo Tiểu thuyết thứ Bảy (năm 1942) và ở bản in năm 1949, đây là một đoạn trong bài thơ Le lac của Lamartine, viết bằng tiếng Pháp. Thế Phong dịch nghĩa: Thật vô ích quá đã thêm một vài khoảnh khắc / Thời gian thoắt đi, xa lánh tôi / Đêm nay tự nhủ: Hãy chầm chậm hơn nữa... và bình minh sẽ hiện ra.
Lần tái bản năm 1988, trong tập Ngàn sau sông Dịch, đoạn thơ trên đã được thay thế bằng câu thơ lục bát, không rõ của ai?
Đêm nay còn của đôi ta
Ngày mai ngã bảy, ngã ba đường đời

Chúng tôi giữ lại theo bản in lần đầu của tác giả, vì chi tiết này giúp bạn đọc hiểu về Kòn Trô đúng hơn.
[8] Bản Trẻ 1988: cầu dài.
[9] Bản Trẻ 1988: cùng.
0
Thần Ngư động

Dòng Sông Bé đi đến Trị An thì gặp ngọn nước Mã Đà. Hai con sông liền họp nhau thành một dãy trường giang, cuồn cuộn chạy xuôi về những trị trấn xa xôi.
Khi đi gần đến chỗ giáp mối, Mã Đà giang bị đá hàng nổi chập chồng ngăn ngọn thủy triều. Sức nước đang chảy bị dội lại, liền tràn qua những gộp đá to, chuyển động vang trời đất. Và xa xa, về phía thượng lưu Sông Bé, có một hòn đá khổng lồ mọc vượt lên khỏi mặt nước, trông giống như hình một con chim két.
Ở khoảng giữa hai con sông ấy, là một khu rừng hoang vu, cỏ cây dày mịt, tự nghìn xưa không một vết chân người...
Năm ấy, nhà nước bắt đầu vào việc khai thác khóm rừng phía tả ngạn sông Mã Đà để dựng bên cạnh cái thác nước một tòa lữ quán nguy nga, dành riêng làm chỗ thừa lương [1] cho những khách nhàn du sau này.
Một buổi chiều về cuối tháng Sáu năm ấy, trời vần vũ  mây đen, hứa cho thế gian một cơn mưa trút nước.
Có hai người viễn khách xuống ngựa trước một cái nhà thủy tạ đang cất dở. Họ hấp tấp dắt ngựa vào một căn trại bỏ trống gần đó. Nhưng vừa buộc ngựa xong thì trời lại đổ mưa xối xả.
Tà huy xuống thấp dần. Ngàn cây chìm trong khói nước lờ mờ. Nước sông Mã, sóng cồn nổi dậy.
Hai người khách đứng khoanh tay nhìn ra ngọn thác đang nổi cơn thịnh nộ.
Người thứ nhất, da mặt đen láng, thân thể vạm vỡ, cất giọng nói lớn như để át tiếng gào thét của gió mưa:
- Đêm nay đành ngủ ở đây rồi “bậu” ơi!
Người thứ hai, màu da xanh lợt, chừng như bị ngã nước. Gã nghe bạn nói, chỉ nhíu mày mà không nói gì. Thấy bạn ra chiều tư lự, người thứ nhất cười ha hả:
- Mấy năm bỏ nhà ra đi, băng rừng, vượt thác, không sao cả, huống hồ còn có một buổi chiều nay, chúng ta ra khỏi khu rừng này là sáng mai được cùng đoàn thê nhi hội họp mà anh không chịu được nữa, sao?
- Cứ gì nhớ nhà mới là buồn! Trong đời tôi hễ có những buổi chiều xám ngắt như chiều nay thì lòng tôi thắc mắc một cái buồn mênh mông vô cớ! Kìa, anh hãy trông khói sóng lạnh buồn trên mặt trường giang!...
Bỗng người khách thứ nhất vỗ vào vai bạn chỉ tay về phía dưới ngọn thác, la lớn, giọng sảng sốt:
- Trời! Kìa, Lê Tùng, anh hãy trông!
Người thứ hai đưa mắt theo ngón tay bạn:
- Nào tôi có trông thấy gì đâu?
Người khách thứ nhất giậm chân, chắc lưỡi:
- Nó biến mất rồi! Thật, anh không thấy gì sao?
- Không! Gì thế?
Người khách thứ nhất níu bạn ngồi xuống, nói:
- Ghê quá! Tôi đang nhìn lơ mơ ra sông thì tự nhiên trước tầm mắt tôi hiện ra hai ngọn đèn, lóng lánh như hai vì sao. Tôi định thần nhìn kỹ thì thấy như có một con thủy quái đang vùng vẫy trên những ngọn sóng. Hai ngọn đèn kia là cặp mắt của nó. Tôi vừa gọi anh và khi anh vừa quay lại thì nó biến mất.
- Hay mắt anh hoa?
- Không! Tôi không hoa mắt đâu! Tôi phải tìm cho thấy con thủy quái ấy một lần nữa mới được.
* * * * *
Đêm ấy, hai người khách đi hái lá buông làm võng treo lên xà nhà rồi ngủ luôn trong căn trại để giữ ngựa vì thời ấy trộm, cướp như trấu.
Không biết trong giấc ngủ của họ có những mộng quái dị gì không mà sáng sớm ngày sau, khi thức dậy người khách thứ hai phải ồ lên một tiếng kinh ngạc, hỏi bạn:
- Suốt đêm nay anh đi đâu mà quần áo ướt hết vậy? Anh không lạnh sao?
Người khách thứ nhất rùng mình, dòm khắp thân thể:
- Lạ thật! Quái lạ thật!
Rồi nhìn bạn, người ấy nói:
- Có lẽ hồi hôm tôi vào động Thần Ngư thật, anh Lê Tùng ơi!
Lê Tùng cười khẩy:
- Anh Lương Điền hôm nay lại có chuyện hoang đường ngộ quá!
- Tôi không đùa đâu, anh nghiêm trang lại, tôi kể chuyện này cho mà nghe.
Thấy vẻ mặt quả quyết của bạn, Tùng bật buồn cười:
- Ừ! Thì tôi xin nghe. Anh cứ kể chuyện anh đi!
Điền vào chuyện:
- Hồi hôm này, khi giấc ngủ vừa đến với tôi thì tôi mơ màng thấy một người thiếu nữ, mặt tròn, mắt sáng, mình mặc chiếc áo mỏng màu óng ánh như kim tuyến. Nàng hiện ra trước mặt tôi, rồi bằng một giọng nghiêm nghị, bảo tôi rằng:
- Người hãy theo ta!
Lúc ấy linh hồn tôi bị thu hút bởi đôi mắt sắc và lạnh của nàng. Tôi vùng đứng dậy, một bàn tay lạnh như đồng nắm lấy tôi dẫn đi. Da thịt tôi, lúc ấy, nổi gai như một luồng điện nước đá truyền sang. Tôi định giật tay lại thì một tiếng nói thoảng bên tai, nhẹ hơn hơi gió:
- Buông tay thì chết!
Tôi đánh liều bước đi. Nhưng lạ thay, chân tôi như không chạm đất, thân thể tôi lơ lửng như bay giữa từng không. Bị lôi kéo bởi một sức vô hình không thể cưỡng được, tôi đi nhanh vùn vụt trên những gọn sóng trắng. Mỗi lần tôi đặt chân lên một ngọn sóng nào thì ngọn sóng ấy đẩy bắn tôi lên cao. Khi tôi rơi xuống lại có ngọn sóng khác tiếp. Cứ thế, tôi bị bàn tay ma quái của người thiếu nữ kỳ dị lôi đi tuồn tuột.
Gió thổi hu hút. Mưa bay vèo vèo. Tôi ngộp hơi, vừa sắp nôn thì cái tốc lực đang bay cũng vừa giảm bớt. Tôi nhìn lên hai bên bờ. Những tấm vách đá đồ sộ, đứng sừng sững cao ngun ngút.
Tới một tảng đá lớn, người thiếu nữ buông tay tôi ra. Bằng một giọng hiền lành hơn trước, nàng nói:
- Tôi sắp đưa người vào một cõi mà phàm nhân, nếu không có duyên nghìn dặm, hồ dễ đã được tới nơi. Người đừng sợ gì cả. Lát nữa tôi gieo mình xuống nước để hóa thành con cá vảy bạc. Người cứ ngồi trên lưng tôi, can đảm và bình tĩnh là được.
Thiếu nữ nói xong liền lao mình xuống nước. Phút chốc có một con cá vảy bạc rất lớn nổi lên mặt nước. Tôi mạnh bạo lên ngồi trên mình nó. Tức thì nó lội đi vùn vụt như một con tàu rẽ sóng.
Một cái hang sâu mở rộng ra như sắp nuốt chửng tôi. Tôi rùng mình nhìn những khối nước trôi ùng ục vào hang.
Trong ấy đưa ra một luồng khí lạnh buốt xương.
Con cá vảy bạc từ từ lội vào hang. Tôi có cảm tưởng là mình đang đi xuống cõi Âm. Tôi nhắm mắt lại. Khi mắt tôi vừa mở ra thì chân tôi cũng vừa chạm đá. Những dòng thạch nhũ rơi thánh thót trên vai tôi. Ngoài cửa hang bóng tối mênh mang.
Một mình tôi đi vất vơ trong thạch động. Càng vào sâu càng thấy ấm áp dễ chịu. Ánh sáng hai bên vách đá tỏa ra, rực rỡ như muôn nghìn ánh kim cương.
Ba chữ Thần Ngư động mọc ra giữa một vùng sương khói lờ mờ. Một tiếng cồng ngân lên tiếp theo một tiếng nói hùng hồn:
- Mở cửa ra cho ta đón khách!
Phút chốc khói tan, mây tạnh để lộ ra trước mắt tôi một cái sảnh đường lộng lẫy, huy hoàng.
Trên một chiếc ngai vàng, chạm trổ rất khéo, ngự một ông già, râu tóc bạc phơ. Hai mắt sáng xanh, như hai viên ngọc. Mình ông quàng một chiếc áo rộng ngũ sắc sáng chói, trông hoa cả mắt.
Mười người con gái, người nào người ấy, từa tựa giống nhau, đứng hầu quanh chiếc ngai.
Trước cảnh lung linh, huyền ảo ấy, lòng tôi giá lạnh, tôi vội quỳ xuống.
Tiếng ông già nói, oai như tiếng sấm:
- Ta chào mừng quý khách! Sở dĩ ta cho đón quý khách đến đây là vì lúc ban chiều, quý khách có ý muốn gặp ta một lần thứ hai, vậy bây giờ hẳn quý khách bằng lòng rồi chứ?
Tôi run sợ không nói nên lời.
Lại tiếng ông già:
- Ta là thủy thần ở biển Đại Thanh, nhân đi tuần du các sông, ngòi, mới lạc lõng tới đây. Ta ở động này đã có hơn nghìn năm. Trước kia ta vốn có lời nguyện, hễ khi nào ta bị con mắt người đời dòm thấy lập tức phải trở về biển Đại Thanh. Ta vì quý khách mà phải rời bỏ cõi này. Bắt đầu từ mai, ngai vàng bỏ lạnh. Kho tàng không người trông giữ. Muốn kỷ niệm cuộc gặp gỡ hiếm có này, ta xin tặng quý khách tất cả của cải của ta. Ngày mai, quý khách cứ tìm đến đây mà khuân cái sản nghiệp súc tích từ mấy mươi thế kỷ. Thôi ta đã cạn lời. Quý khách bình an mà về. Kim Ngư thần nữ đâu? Mau mau đưa quý khách về nơi cư ngụ!
Tôi giật mình tỉnh dậy, giữa lúc gà rừng lên tiếng. Từ đó, đến sáng tôi thao thức không ngủ được. Mình mẩy ướt dầm. Không biết đó là mồ hôi hay nước mưa?
Anh Lê Tùng ơi! Chúng ta sẽ giàu to, giàu hơn hết cả thiên hạ này. Người đời sẽ sùng bái chúng ta. Muôn nhà sẽ mở cửa để đón rước chúng ta. Thế nhân ơi! Hãy mở mắt mà trông bọn ta trả thù! Ha! ha!...
Thế rồi, Điền nhất định ở lại để đi lấy kho vàng vô giá trong thạch động Thần Ngư. Tùng dùng hết lý lẽ để cản ngăn cái huyễn vọng điên rồ của bạn, nhưng cũng không chuyển nổi lòng Điền. Điền đã bị cám dỗ bởi giấc mộng kim ngân nó ăn sâu vào tâm hồn chàng thành ám ảnh.
Trong số hai người đã bỏ quê hương ra đi để theo đuổi cái chí nguyện của tuổi tráng niên, ngày nay chỉ còn lại có một người lần mò về chốn Tử Phần...
* * * * *
Tôi đã sống đúng theo câu Làm trai chí ở bốn phương. Nhưng sau khi đã ăn nhiều cơm của thiên hạ, thẹn mình không làm nên trò trống gì, tôi thôi làm khách lãng du, trở về quê ngoại sinh phương, lập nghiệp. Đất Trị An từ đó, đã giữ được chân con người mã thượng giang hồ.
Chiều chiều, tôi có thói quen, hay ra thác nước Trị An để uống rượu hoặc đánh cờ với ông già giữ cái lữ quán.
Một đêm về cuối tháng Sáu, trời mưa lớn. Tiếng gió lùa vào các hốc đá ù ù. Tôi ngồi đối ẩm với ông già trước một ngọn đèn con leo lét.
Gió nhiều quá... nhiều quá! Thác reo ầm ầm. Trong tiếng gió văng vẳng như có tiếng ai hú.
Tôi hỏi ông già:
- Hình như có tiếng hú?
Ông già lắng tai nghe. Ông nói:
- Không! Không có tiếng hú! À, mà có, hay là tiếng hú của Lương Điền?
Tôi hỏi:
- Lương Điền nào?
Câu chuyện Thần Ngư động vì câu hỏi của tôi đã được ông già kể lại rành mạch.
Vậy mà chưa thỏa tính hiếu kỳ, tôi còn đòi hỏi thêm:
- Xin bác cho biết cái kết quả cuộc đi lấy kho tàng ở động Thần Ngư của Lương Điền sau ra sao?
Ông già lặng lẽ đi lấy một tờ giấy cũ nát đưa cho tôi. Tôi kê nó vào đèn, thì thầm đọc:
Lê Tùng bạn chí thân,
Ngày bạn lên đường để về quê là ngày tôi sắp sửa đi vào động Thần Ngư. Tôi không biết cái thủy động ấy có thực hay không, nhưng theo con đường đi đã thấy trong giấc mơ kỳ khôi đêm nọ, có lẽ tôi sẽ đạt được mục đích.
Bè tre đã đóng xong rồi. Chỉ lát nữa tôi sẽ dấn thân vào bước đường nguy hiểm. Viết đến đây tôi không cầm được nước mắt. Cái lần đi này mới ghê gớm làm sao!
Một là tôi sẽ đi tới cái hão vọng kia thì giàu sang chúng ta cùng cộng hưởng. Hai là đời tôi đoản, thân này cầm bằng như gửi ngọn thủy ba. Sống chết phú mặc trời.
Tôi vừa do dự một phút, nhưng được rồi, thế nào tôi cũng phải đi một chuyến anh ạ! Tôi sẵn lòng rước lấy cái chết. Chứ không như chúng ta còn nghĩa gì? Họ hàng khinh bạc. Thế nhân ruồng rẫy. Sở dĩ ta bỏ làng mạc mà đi là cũng vì lẽ đó. Nay chúng ta mang hai bàn tay trắng trở về thì sống thế nào được với làng, nước, anh ôi!
Ngày anh trở lại đây có phải là ngày vinh quang của chúng ta không? Hay lại là ngày anh phải để rơi dòng lệ thương bi khóc người bạn xấu số?
Thư bất tận ngôn, anh hãy vì tôi mà lãnh gánh thê nhi quằn quại. Con tôi sau này có khôn lớn, anh hãy giấu đừng cho nó biết cái chết điên rồ của cha chúng.
Lau nước mắt giã từ anh.

Tôi cảm động lắm khi đọc dứt bức thư của con người đã vì cái bất đắc chí nhất thời mà đành coi rẻ mạng sống.
Ông già còn kể cho tôi nghe đoạn kết câu chuyện:
- Tôi ở quê nhà vừa lên đúng một tháng sau ngày tôi cùng Lương Điền chia tay. Người ta trao thư Lương Điền để lại cho tôi. Tôi biết ngay là bạn đã chết rồi. Giấc mộng giàu sang cũng theo bạn mà chôn vùi đáy nước. Vì thương bạn, vì bực tức thói đời cũng có, vài tháng sau tôi cũng đóng một chiếc bè định đi tìm cho thấy bạn ở chốn suối vàng. Theo con đường bạn đã vẽ ngày trước, tôi thả mảng xuống dòng nước Mã Đà. Tôi chết đi, sống lại mấy lần trên dòng thác lũ. Sau cùng, tôi đã xuôi được xuống vực nước bằng phẳng. Tôi cho mảng đi sát bờ đá cao. Quanh quẩn một hồi lâu, tôi thấy một cái hang sâu mở ra trước mặt, hủng vào vách đá. Nước ở ngoài tràn vào cuồn cuộn. Bọt trắng tung tóe lên như khói. Suýt nữa, chiếc mảng trôi tuột vào hang, nếu tôi non tay lái. Tôi đoán có lẽ bạn tôi đã liều lĩnh thả mảng vào đấy nên mới mất tăm dạng đến ngày nay...
Tôi ngắt lời ông già:
- Đấy có phải là động Thần Ngư không?
Ông già mơ màng:
- Phải Thần Ngư động hay không chỉ có một Lương Điền biết được mà thôi. Nhưng Điền đã không còn thì cái thủy động kia, đối với chúng ta, là một cái hang tối vô danh vậy.
* * * * *
Ngày nay đã có rất nhiều du khách đến viếng cái mỹ cảnh của thác Trị An. Ngựa xe tới lui tấp nập.
Đứng bên này bờ thác dòm qua bên kia, khách du nào cũng thấy vách đá dựng đứng như trường thành kiên cố. Trên là khu rừng rậm hoang vu vẫn còn giữ mãi cái vẻ bí mật của nghìn xưa.
Có mấy ai còn nhớ đến chuyện Thần Ngư động? Vì sống trên đời mà luôn luôn có những sự thay đổi mới mẻ thì ai hơi đâu đi nhớ một câu chuyện cũ ngày xưa!
Ông già ở thác Trị An vừa chết cách đây vài tháng. Đoạn tâm sự ngày xanh cũng theo ông mà xuống mồ.
Đêm nay mưa, gió đầy trời. Thác đổ gấp. Tiếng gió thổi ù ù trong các hốc đá nghe như tiếng hú.
Tôi cầm bút, run tay chép lại câu chuyện động Thần Ngư bằng tất cả tấm lòng tưởng nhớ những người đã mất.

Tháng bảy, năm 1942
------------------------------------
[1] Hóng mát.
0
Xác Mu Mi trên núi đá

Đó là buổi loài người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm, tháng trôi qua... Này là núi non của muôn đời tăm tối... này là cây cao, bóng cả của rừng núi âm u. Núi chưa có người đặt bước thám du, rừng cây chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu hủy hoại.
Vẻ thiên nhiên còn nguyên vẹn màu trinh.
Ở một chốn sơn lâm vô danh kia có một giống Mọi man di đang giết lẫn nhau để giành sự sống. Cấu xé nhau, ăn thịt lẫn nhau chán rồi.
Họ họp nhau thành những bộ lạc ở dọc hai bên bờ của một con sông lớn (Bây giờ là sông La Ngà).
Trước hãy còn những cuộc đánh giết lẻ loi, một chọi một, để giữ quyền lợi cá nhân. Bây giờ lại khác. Người ta khởi sự những trận huyết chiến đại đồng để bảo tồn sự sinh sống chung cho toàn thể dân sự của mỗi bộ lạc.
Ngày nào cũng như ngày nào, dòng sông trước mặt họ là chỗ chiến trường để họ tàn sát lẫn nhau. Thủy triều pha máu đỏ đã nuốt không biết bao nhiêu sinh mạng con người rồ dại.
Họ đánh nhau thế nào?
Tang tảng sáng, người ở bên này sông đứng trên những chiếc bè hoặc những chiếc thuyền cây bằng súc [1], khoét ruột, chèo chống ra giữa sông là nơi mà bọn người bên kia sông đang chực sẵn. Có kẻ lại lội bừa xuống nước, không nại [2] gì những nguy hiểm gian nan.
Họ xáp chiến. Họ đâm nhau, chém nhau, bắn nhau, cắn nhau, ném đá làm u đầu, xé mặt nhau, ôm nhau lăn tòm xuống nước để làm mồi cho cá sấu.
Dự chiến có đủ mặt đàn ông, đàn bà, ông già bà cả và con trẻ. Họ gào như thú dữ và hú lên như con sơn cẩu.
Gần trưa thì họ đình chiến. Hai bên lui binh. Không cần kiểm soát coi ai mất, ai còn, họ bày cuộc múa hát để khao thưởng nhau.
Họ uống rượu kỳ say gục bên những thùng đựng rượu làm bằng gỗ súc khoét lõi. Rồi họ lăn đùng ra, ngủ như chết đến sáng mai.
Tù binh bị bắt sống không có lệ trả hoặc đổi chác. Những kẻ vô phúc ấy, nếu là đàn bà thì họ dùng làm vợ; là đàn ông thì làm nô lệ để sai khiến; là con nít thì làm mồi câu sấu hoặc để nhử cọp.
Không ngày nào là không có sóng gió trên sông.
* * * * *
Trong số tù binh bị bắt về hữu ngạn con sông không tên ấy (sông La Ngà hồi ấy chưa có tên), có một người đàn bà nguyên là vợ của viên tù trưởng bộ lạc người Mọi ở phía tả ngạn.
Từ khi bị bắt, người đàn bà ấy là vợ của một kẻ khác rồi. Tuy vậy, tình thương chồng cũ vẫn không phai lợt trong lòng thiếu phụ.
Thiếu phụ bị giam trong một cái hốc đá.
Người chồng mới của thiếu phụ là một gã đàn ông lông lá đầy mình như con giả nhân.
Từ mờ sáng, gã từ giã thiếu phụ đi đánh trận. Sau khi đã dùng thừng trói chặt chân, tay nàng và không quên lật một phiến đá lớn chắn cửa hang cẩn thận.
Chiều tối thì gã đến, lật phiến đá qua một bên vào hang. Gã đem vào một ống lồ ô đầy rượu và mấy miếng thịt nướng bày ra trước mặt nàng. Gã gom lại một đống chai cục rồi xát đá lấy lửa đốt lên làm đèn. Khi ngọn lửa đã lên cao, xua đuổi bớt khí lạnh ra ngoài, gã mới mở trói cho nàng rồi mời nàng nhập tiệc.
Ăn uống xong, gã đàn ông cười lên sằng sặc, ôm người đàn bà quật ngã xuống bên cạnh đống lửa. Đó là gã sung sướng...
Ngọn lửa tàn dần để cho bóng tối chiếm phần hơn.
Khắp nơi người ta reo hò hát xướng. Gã đàn ông ngủ một mạch đến sáng.
Cái trò ấy diễn mãi, cho đến một chiều kia gã đàn ông không về nữa. Gã đã chết trong trận đánh hồi sáng. Người đàn bà hiểu như vậy, lòng nửa buồn, nửa vui.
Nàng biết rồi đây sẽ có một gã đàn ông khác đến lật phiến đá để vào hang, và nàng sẽ lại làm vợ của kẻ ấy... Nhưng không ai đến cả! Người ta quên nàng rồi. Bây giờ thì nàng phải nghĩ một cách thoát thân. Làm thế nào? Tay chân nàng bị một sợi thừng xe bằng vỏ cây trói chặt!
Nghĩ mãi rồi cũng ra kế. Thiếu phụ lết lần lại đống chai cục. Hai tay nàng cầm viên đá lửa, kẹp theo một miếng bùi nhùi, xơ cây “đủng đỉnh”. Nàng xát mạnh viên đá lửa vào vách đá sần sùi. Lửa nhấp nhoáng hai ba lượt mới bắt vào bùi nhùi. Nàng phồng má thổi mạnh lửa lên ngọn. Nàng châm lửa vào đống chai cục, lửa sèo sèo cao ngọn như một ánh hy vọng. Bậm môi, nàng đưa chỗ bị trói vào ngọn lửa đang cháy mạnh. Lấy ra, để vào hơn mười bận, sợi dây thừng mới bị lửa cắt đứt. Da thịt hai ống tay nàng phồng lên gần muốn chảy mỡ. Nàng thè lưỡi liếm chỗ đau.
Xong nàng mở trói cho hai chân.
Nàng đứng lên, làm vài ba cử chỉ sung sướng. Rồi lần lần lại bên phiến đá, nàng kê vai vào lật nó sang một bên. Kìa là không khí và gió mát! Như con chim sổ lồng, nàng chạy một mạch ra bờ sông!...
Bấy giờ trời đang hoàng hôn. Mặt trời chưa xuống thấp lắm, nhưng cảnh vật đã lờ mờ.
Thiếu phụ nhìn qua bên kia sông. Nhiều ngọn khói õng ẹo lên cao như thúc giục lòng nàng.
Có tiếng người chí chóe gần đấy. Thiếu phụ nằm rạp xuống. Ba người đàn ông đi qua trước đầu nàng. Chờ cho mấy người kia đi khỏi, thiếu phụ mới tìm cách qua sông. Nàng bơi rất giỏi, nhưng nàng không dám xuống nước. Là vì dưới dòng sông kia có rất nhiều cá sấu, thuồng luồng, và đến một giống rắn hễ cắn ai thì người ấy ngủ cho đến chết. Nàng mon men theo bờ sông đi mãi. Đến một chỗ, nàng bỗng gặp một con cá sấu khổng lồ nằm trườn mình trên bãi bùn cạn. Nàng giật mình lùi lại và suýt nữa thì kêu lên một tiếng. Nhưng vốn gan góc, nàng không sợ. Nàng đứng lại nhìn kỹ con sấu. Nàng thấy nó bị trói vào một gốc đa lớn. Nàng men lại gần. Mình sấu bị đâm, chém nhiều vết trông rất thảm thương. Ở hàm trên của nó, chỗ gần mũi, một sợi thừng rất dai, rất chắc, xiên qua giữ ở đó.
Thiếu phụ vỗ vào đầu nó. Cặp mắt nó buồn buồn tỏ ra đau đớn lắm. Thiếu phụ liền đi kiếm một mảnh đá sắc và nhọn để cắt sợi dây cứu sấu. Công việc ấy, nàng làm rất công phu. Sợi dây đứt thì trời đã nhá nhem. Cảnh vật ngả sang màu lọ. Gió lạnh xì xào trên tàn cây.
Thiếu phụ rùng mình. Nàng nói với sấu:
- Ngươi đã thong thả rồi, sao chưa đi đi?
Bỗng thoáng một cái, sấu trườn tới, lấy đuôi hất nàng xuống nước, rồi lội theo, há họng, gắp ngang mình nàng đưa lên khỏi mặt nước. Thiếu phụ kinh hãi vô cùng. Nhưng khi biết ra là sấu không có ý hại mình, nàng rất vững lòng.
Sấu lội rất mau. Phút chốc đã sang bờ bên kia. Nàng vui vẻ bước lên bờ.
Sấu phì ra một hơi dài rồi bỗng khạc ra một hòn lửa đỏ. Hòn lửa ấy rơi nằm trên bãi bùn, ánh sáng tỏa ra rực rỡ. Rồi sấu văng mình xuống nước biến đi.
Thiếu phụ đứng nhìn hòn lửa chăm chăm. Nàng lấy chân khẽ hất vào nó một cái. Hòn lửa không làm bỏng chân nàng. Nàng liền cúi xuống nhặt hòn lửa lên, ngạc nhiên trước ánh hồng của nó.
Nàng vui vẻ hú lên một hồi dài, lần lên bờ chạy đi. Tiếng con trúc gù xa xa báo trước cái đêm ghê rợn... Đêm rừng bí mật biết bao nhiêu!
Thiếu phụ nhắm hướng có đống lửa lớn, chạy lại. Mọi người đang ngồi quây quần đó giương cặp mắt thau láu [3] nhìn nàng. Họ đã nhận ra rồi. Họ nắm tay nhau nhảy tròn quanh nàng, hát nghêu ngao.
Thiếu phụ được họ báo tin chồng nàng đã chết trận hồi sáng và quân nhà đã bị một mẻ thua to. Nàng trợn mắt ngó qua bên kia sông, mắt nàng như nảy lửa.
Bên kia sông, ánh lửa chập chờn nhảy múa. Tiếng hò reo văng vẳng đưa sang. Nàng chập hai bàn tay lại đưa lên miệng làm kèn rúc một hơi dài. Ấy là nàng đau đớn.
Bao nhiêu người trong bộ lạc đều chạy lại, vây quanh nàng. Họ ngạc nhiên lắm. Họ nhìn nàng ra vẻ thán phục vô cùng. Họ coi nàng như một thiên thần bất khả xâm phạm. Đã bị bắt, nàng lại trốn thoát được và trở về đây nguyên vẹn như thế kia, không phải thiên thần là gì! Họ liền đồng lòng đặt nàng lên ngai Nữ chúa. Nàng sẽ thay quyền chồng nàng mà sai khiến. Họ sẽ vui lòng cúi đầu dưới chân nàng.
Nữ chúa trèo lên một gộp đá cao.
Tất cả thủ hạ của nàng đốt lửa lên làm sáng rực một góc rừng. Họ ca hát vang lừng để ca ngợi tài ba của Nữ chúa.
Nữ chúa đứng im như pho tượng. Gió ngoài sông lùa vào, vuốt ve mái tóc xấp xõa trên vai nàng.
Ngọn lửa lên cao, cao mãi.
Nữ chúa đưa hai bàn tay cóng rét ra hơ trước ngọn lửa. Thật là một bức tranh hùng vĩ của Sơn Lâm. Hình ảnh Nữ chúa hiện ra trong ánh lửa lấp loáng, chập chờn, trông như một bóng yêu tinh của một thời ma quái nào! Da thịt nàng láng ướt như đồng đen. Mặt nàng phát một vẻ đẹp vừa độc ác, vừa hiền từ. Mắt nàng xa xôi huyền bí.
Nữ chúa, từ khi được sấu biếu ngọc, đã thay đổi hẳn hình sắc. Nàng đã hoàn toàn không giống người thiếu phụ bị giam trong hang đá, những ngày tù ngục trước kia...
Đêm hôm ấy, Nữ chúa nằm ngủ trên gộp đá. Chung quanh nàng, thủ hạ vẫn thức canh lửa cho nàng. Nữ chúa mơ màng thấy một người kỳ dị, cao lêu nghêu, đến viếng nàng. Nữ chúa mở tiệc thết đãi. Người ấy nói với Nữ chúa rằng:
- Ta là Ngạc Ngư thần [4], làm chúa cả loài thủy tộc ở con sông này. Hồi sáng, ta sa cơ bị bọn người bên kia sông bắt được. Nếu không được nàng giải cứu thì ta đã hết kiếp rồi! Nghĩ oán giận bọn họ biết mấy! Viên ngọc mà ta hiến dâng nàng là tinh huyết của ta kết thành. Ta đã gửi một phần tinh huyết vào viên ngọc ấy. Kẻ nào giữ ngọc, sẽ luôn có phù trợ ở bên mình. Kẻ ấy sẽ khôn ngoan đúng mực, mạnh khỏe và giàu sang đời đời. Kẻ ấy ngậm ngọc vào miệng hú lên một tiếng, bao nhiêu sấu ở con sông này đều hiện lên. Tiếng hú thứ hai lại gọi được tất cả xã hội loài sấu ở những sông rạch miền xa. Tiếng hú thứ ba gom chúng nó lại; chừng ấy người có ngọc muốn sai khiến thế nào, sấu sẽ làm y như vậy.
Ngạc Ngư thần từ giã Nữ chúa biến đi.
Tinh sương hôm sau, Nữ chúa thức dậy thật sớm. Nhớ lại những điều thần đã dạy bảo trong mộng, nàng sung sướng mỉm cười một mình.
Ngàn rừng đã thức dậy. Muôn loài bắt đầu sống một ngày mới mẻ. Gió khơi nguồn cho hoa lá ngửa nghiêng đùa cợt. Chim đập cánh bay lên, chới với trong biển sa mù. Không khí ngạt ngào và mát lạnh.
Nữ chúa lần xuống gộp đá.
Bao nhiêu người vừa thấy nàng liền rập lên một tiếng mọi rợ, để chào mừng nàng.
Trên tay mọi người đã sẵn sàng khí giới. Ngoài bến sông, thuyền bè đang đợi họ.
Nữ chúa dõng dạc tuyên bố với họ:
- Hôm nay, các ngươi không cần phải ra trận! Các ngươi hãy đứng trên bờ mà xem ta giết kẻ thù không còn một mạng. Rồi các người xem! Rồi các người sẽ thấy!...
Mọi người nhảy cỡn lên, bấu nhau, ôm vật nhau, hò hét tưng bừng.
Nữ chúa mạnh bước đi ra bờ sông. Theo sau nàng là một toán binh ô hợp. Nữ chúa nhảy lên một chiếc thuyền. Hai người đàn ông lấy sào khuấy nước đưa nàng ra giữa dòng.
Bên kia sông, người ta cũng chống bè, cỡi xuồng, ùa ra đen nghịt một quãng dài.
Tiếng reo hò triền miên không dứt.
Chưa đánh nhau với ai mà kẻ này đã xô đẩy kẻ kia rơi lóp ngóp trên mặt sông.
Nữ chúa đứng chống nạnh trên thuyền mình ngó ra sông. Lửa giận phừng phừng trong huyết quản.
Đối phương còn đang ngơ ngác trước một người đàn bà độc thân, độc mã thì bỗng nghe một tiếng hú rợn mình nổi lên.
Từ dưới nước nhô lên vô số cá sấu. Lại một tiếng hú nữa. Lần này người ta nghe rõ cả tiếng thở phì phì của loài sấu đều nhắm chỗ thuyền Nữ chúa lội ùa lại.
Nữ chúa quát to:
- Bây xé tan thây những kẻ kia cho ta!
Sau lời truyền, thuyền chìm, bè rã; người ta bị sấu quất nhào xuống sông như cây ngã. Thật là một cuộc tàn sát phi phàm. Bọn giặc Mọi, đứa nào còn sống sót đều ôm đầu chạy lủi vào rừng, không dám quay đầu trông lại.
Nữ chúa vỗ tay truyền:
- Thôi, cho bây về!
Dòng nước lại phẳng như trước. Sấu nhặt thi thể bọn Mọi bại trận lôi vào những hốc rạch để làm một bữa no nê.
Nữ chúa vẫy tay một cái. Bọn thủ hạ của nàng liền chống bè, chèo thuyền qua sông. Bọn họ lấm lét nhìn nàng, cả sợ. Trước họ hùng hổ cả tiếng bao nhiêu, bây giờ họ lại im lặng bấy nhiêu. Nữ chúa sang sông giải thoát cho bọn tù binh đã bị giặc bắt giam cầm trong bây lâu.
Ngay hôm ấy, nàng mở cuộc múa hát long trọng để ca tụng Sấu thần và để kỷ niệm một chiến công oanh liệt.
* * * * *
Từ ấy, thái bình...
Người ta không còn kẻ nghịch đánh nhau nữa thì lại buồn. Bởi tâm hồn họ là những tâm hồn hiếu động. Họ không thể sống mà không chinh chiến!
Mỗi khi đưa mắt nhìn qua bên kia sông, họ chỉ thấy rừng cây u uất, lau sậy phất phơ thì lòng ngao ngán vô cùng.
Trong khi ấy, Nữ chúa đã trị dân rất khôn khéo. Nàng lập nên làng mạc, cất nhà dựng cửa, mở mang bờ cõi, đi dần xuống hướng Nam.
Nàng bày cho người Mọi cách đuổi bắt bò rừng và tập cho nó thuần lại để dùng làm gia súc.
Chẳng bao lâu...
Có một đoàn xe bò kéo, trẩy xuống hướng Nam. Xe đóng rất thô sơ, bánh đặc và nhỏ, có một cái ách để cho con bò kéo đi.
Một bọn người đi trước đẵn cây, phá rừng, làm đường để cho bọn sau đi tới.
Gập ghềnh dấu thỏ đường cheo...
Bao nhiêu sóng gió, bấy nhiều đoạn trường!

Bọn họ về đâu?
Một ngày kia họ sẽ tới một nơi xa lạ, có nước non thanh tú. Họ sẽ dừng chân lại và mở một làng mạc mới, để cho cuộc đời lữ khách của họ tạm ngừng trong ít lâu. Rồi họ lại ra đi...
* * * * *
Giữa sóc Mọi Cao Cang (Định Quán [5] đi sâu vào) có hai trái núi nhỏ, hình thể tương tự như nhau, đứng cách xa nhau chừng vài cây số đường rừng.
Người ta kể lại rằng, ngày xưa hai trái núi ấy ở khít bên nhau như hai anh em ruột.
Nhưng sau này, vì một sự xích mích, hai núi giận hờn nhau nên dang ra xa nhau như thế!
Nguyên do?...
Trên hai ngọn núi ấy, ngày xưa, ẩn hai vị sơn thần. Một ông anh và một ông em.
Một hôm, sau một cuộc tuần du về, anh gọi em qua nhà chơi. Anh thuật lại cho em nghe cuộc tàn sát của Nữ chúa trên sông đã làm cho trời sầu đất thảm, đã động đến lòng nhân đạo của ông. Ông không trách Nữ chúa bạo tàn mà ông hờn Ngạc Ngư thần, người đã cho Nữ chúa viên ngọc sấu.
Ông nói:
- Ngạc Ngư thần làm như thế rất trái với đạo trời. Tự nhiên vô cớ, Ngạc Ngư thần lại dự vào việc làm của bọn phàm tục, làm giảm giá cả giới Địa Tiên. Ta phải trừng trị hắn mới được.
Em nghe xong nói:
- Biết thế! Nhưng Ngạc Ngư thần là bạn của chúng ta thì cũng nên lượng tình tha thứ cho hắn.
Anh giận dữ:
- Ai lại dung túng cho một kẻ tàn ác như thế! Ngày mai ta sẽ mời hắn đến đây, kể tội hắn, rồi chặt đầu hắn để làm gương cho những loài linh thú sau này. Hắn đã cho Nữ chúa viên ngọc của hắn thì hắn đã thành ra một kẻ thường rồi. Tài phép không linh nghiệm nữa! Thôi! Em đừng bênh vực hắn! Cứ để cho ta xử hắn.
* * * * *
Đã ba hôm, trời nổi cơn bão tố.
Thật là một cơn gió giận, mưa hờn! Rừng cây chuyển động; thác đổ băng băng. Nước sông sùi bọt dâng cao lên, làm lụt cả những vùng lân cận.
Nước sông đỏ ngầu như pha máu, cuồn cuộn trôi đi, cơ chừng như muốn sụp đổ những gộp đá hàng ở hạ lưu.
Sấm sét vẽ những lằn điện nhì nhoằng trên khoảng trời đen ngòm. Người ta tưởng tượng rằng quả đất sẽ nổ bùng ra, tan tành từng mảnh vụn như xác pháo. Loài dã thú khiếp sợ, núp vào những hốc đá, giương mắt nhìn mưa, gió tơi bời.
Nhà cửa, làng mạc như trong cơn động đất.
Người ta đồ chừng sẽ có một cuộc thay đổi lớn lao giữa Tạo Hóa và loài người; không thì cũng một cuộc “ruộng dâu hóa bể” chi đây!
Ngày thứ tư, mưa ngớt, gió ngừng.
Trời đất sáng dần dần. Mây đen lui về bốn góc trời. Cảnh vật tiêu sơ, xa lạ như thuộc về thời khai thiên lập địa.
Người ta bỗng giật mình, kinh hãi mà hỏi nhau rằng:
- Hai trái núi kia sao bây giờ lại xa nhau thế?
(Người Mọi về sau này, quả quyết cái đêm mưa gió đầu tiên hồi ấy là đêm Sơn thần hạch tội Ngạc Ngư thần; rồi chém thần Sấu chết, mới có cơn giông tố ghê hồn liên tiếp mấy ngày sau).
Trèo lên đỉnh núi Võ Đắc, trông về hướng tây, người ta thấy, lẫn trong rừng trùng trùng, điệp điệp, hai trái núi trắng như hai viên đá cuội. Hai trái núi ấy ở xa nhau lắm, người ta nhận không rõ được hình thể.
Tò mò, hỏi chuyện, người ta sẽ được thổ dân cho biết rằng đấy là hai trái núi đá, trùi trùi không có lấy một gốc cây nhỏ làm bóng mát.
Thổ dân kể rằng:
- Ngạc Ngư thần chết rồi liền đến báo mộng với Nữ chúa kể lể sự tình. Nữ chúa hứa với Ngạc Ngư thần rằng mình sẽ nhớ ơn xưa, rửa mối thù nọ cho thần được mát lòng nơi cõi u Linh.
Nữ chúa liền quy tập toàn thể dân sự ở Võ Đắc kéo rốc về thôn Cao Cang, toan đạp bằng hai trái núi đó.
Một toán binh ô hợp len lỏi đi qua những thác ghềnh, khe, rãnh, tiến ngược dòng sông Đồng Nai, đi mãi... Họ đi theo bóng một vị Thiên Thần, một bà Chúa đã khai thác [6] cuộc đời họ, đã dẫn họ lên con đường sáng.
Ngày đi, đêm nghỉ, dầu có mệt mỏi đến đâu họ cũng không nao dạ. Họ cười, họ hát, họ gầm, họ thét. Trong lòng họ ngùn ngụt một ngọn lửa quả cảm: chỉ có tiến chứ không có lùi! Nữ chúa có đi đến mặt đất, gầm trời nào, họ cũng nguyện theo bước chân nàng tới trọn đời mãn kiếp.
Hỡi Mu Mi linh thần! [7]
Hồn thiêng phảng phất xa hay gần?
Hãy theo bước chúng dân,
Cùng nhau, cùng vượt thác băng ngàn!
Ngài vì ai thác oan?
Nhìn thấy sông xưa, luống căm hờn!
Nhớ chuyện, biếu ngọc;
Cám nghĩa thần linh.
Nhớ ngọn sông xanh.
Đấy nơi ngang dọc!...
Chỉ một nhát kiếm mầu,
Đầu ngài rụng, lòng ngài đau!
Máu nhuộm sông xưa đỏ ngầu...
Bao cơn dâu bể,
Máu đổ, xương tan!
Nhắc đến lửa bừng gan!
Nguyện rửa thù, báo ơn,
Hỡi Mu Mi linh thần!
Hãy độ bước chúng dân!
[8]
Nữ chúa cất giọng ca não nuột làm mủi lòng bọn người theo sau. Họ cũng cao tiếng hát theo, lòng buồn mang mang.
Trải bao sương gió, ngày nọ, họ đã dừng chân trước hai trái núi mà họ đã phí công tìm kiếm bấy lâu. Họ đã tới đích. Nhưng trên bước đường đi của họ, họ đã đổ nhiều máu và mồ hôi.
Nữ chúa thét to một tiếng chỉ hai trái núi trước mặt truyền:
- Các người hãy phá tan hai ngọn núi kia đi!
Họ điên cuồng vâng theo mệnh lệnh của Nữ chúa. Họ tàn phá cây cỏ; chặt nhánh, bứng rễ, giày xéo biết bao công trình vĩ đại của Trời!
Nhưng họ ngạc nhiên biết bao! Họ thất vọng nặng nề. Hai trái núi đất bỗng biến thành hai trái núi đá cứng như gang.
Nữ chúa cả giận, kéo thủ hạ trèo lên đỉnh núi lớn. Trước mặt họ bày ra một cảnh tượng thê lương. Một con sấu bị đứt lìa hai đoạn. Đầu một nơi, mình một ngả. Một dòng máu tuông ra, chảy loang xuống tận chân núi. Ngạc Ngư thần cũng hóa đá như hai ngọn núi ấy. Ngày nay, trải bao tuế nguyệt, hình con sấu đá có lu mờ đôi chút, nhưng nó cũng đủ làm bằng chứng cho những cuộc tang thương của một thời qua.
Nữ chúa buồn rầu kéo binh trở về.
Dọc đường có nhiều người bỏ mạng. Mãi đến mùa xuân năm sau, Nữ chúa mới đặt chân trên đất cũ.
* * * * *
Mãi đến bây giờ, người Mọi làng Võ Đắc vẫn còn thờ phụng cá sấu, vẫn còn khư khư ôm giữ nền tôn giáo đặc biệt của nghìn xưa truyền lại.
Họ rất ghét kẻ nào dám xâm phạm đến sấu, dám bắt sấu để lột da, hoặc lấy mật. Họ sẽ mua bằng một giá rất đắt những con sấu bị bắt sống. Họ mua sấu để phóng sinh.
Hằng năm, nước sông La Ngà theo mùa mưa gió, dâng cao lên. Những vùng lân cận đều lụt. Nước sông đỏ ngầu như máu, trôi băng ra sông Cái (sông Đồng Nai).
Gió lạnh thổi từ ngoài bể vào làm đổ những cổ thụ âm u. Mưa và sóng gào lên như những con quái vật.
Mọi người khép cửa lều lại và chất thêm củi vào lò. Họ ra đời với tiếng gió gào, sóng thét, nên đã quen đi, hầu như là không nghe thấy nữa.
Họ cời than đỏ, sưởi tay cho ấm và liếc nhìn ra biển cả, mênh mông một màu đen. Ở đó, chúng sinh của sóng nước đương giận nhau và kể lại bằng thổ âm câu chuyện truyền kỳ có ảnh hưởng đến lịch sử giống nòi của họ.
“... Đó là buổi loài người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm tháng trôi qua...”
------------------------------
[1] Cây gỗ to đã đẽo vỏ ngoài.
[2] Sic. Các bản Trẻ 1988, Đồng Nai 1992, Văn nghệ TPHCM 1997: ngại.
[3] Sic. Đúng là thao láo.
[4] Ngạc Ngư thần: Thần cá sấu (LVS).
[5] Thuộc tỉnh Đồng Nai nay.
[6] Sic. Bản Trẻ 1988: khai hóa.
[7] Thần Sấu, theo câu hát Mọi (LVS).
[8] Làm theo một điệu hát Mọi (LVS).
0
Răng Sa Mát

Con đường đất đỏ bò lên một cái nổng [1], đổ xuống bên kia triền rồi chạy hút vào rừng sâu. Vẳng đâu đây tiếng nước xoáy vào hốc đá nghe như gió bão.
Răng Sa Mát dừng chân lại trên nổng cao đưa mắt nhìn quanh. Trời bao la và rừng bao la. Xa xa vài trái núi đứng cheo leo trong một vùng khói xám. Gió đưa mây tỏa. Vài sợi khói trắng còn quyến luyến đỉnh non cao trước khi tan vào khoảng hư vô thăm thẳm.
Chụm hai bàn tay làm loa, Răng Sa Mát kê lên miệng, phồng ngực ra và cất lên một tiếng hú dài. Buổi trưa quang đãng quá. Nắng vàng chói lọi rớt xuống ngàn cây xanh nõn.
Tiếng hú lanh lảnh của Răng Sa Mát tưởng chừng như rung động được bóng núi xa và đánh thức loài muông điểu đang sống trong cái vô cùng bí mật của Sơn lâm.
Tiếng hú ấy vang âm rất lâu và nghe đến lạnh lẽo, nhái được cái tiếng của một hòn đá lớn rơi xuống lòng giếng sâu. Tiếng hú vừa tắt thì Răng Sa Mát lại thấy mình trở về với sự trơ trọi lúc ban đầu. Răng Sa Mát chỉ là một sinh vật rất nhỏ đứng giữa cái bát ngát của núi rừng, cũng như một mảnh thuyền con đang chơi vơi trên bao la sóng gió.
Cậu bé ngồi phịch xuống một phiến đá mỏng ôm đầu thở dài. Mồ hôi lã chã trên trán và đẫm ướt cả cái thân hình vạm vỡ bóng lên dưới ánh nắng trưa. Trông cậu bé như pho tượng bằng đồng đen mà một nhà điêu khắc đã vô tình bỏ quên cái “công trình nghệ thuật” của mình trên đỉnh gò cao, giữa muôn trùng cây cỏ.
Răng Sa Mát mệt lả người. Đã hai ngày rồi cậu không có hột cơm nào trong bụng. Đói, cậu chỉ ăn trái rừng và khát, cậu chỉ qua cơn bằng nước suối.
Không một con đường nào mà không có bóng Răng Sa Mát đi qua. Không một hốc đá nào mà Răng Sa Mát bỏ sót không lục soát. Nhưng cậu bé vẫn không tìm được cái con người cổ quái không ngớt tiếng kêu, khóc nỉ non trong những đêm động rừng.
Còn nhớ đêm hôm qua, mưa như xối nước. Gió đè rạp các loài thảo mộc và tưởng chừng như làm trốc được những gốc cây cổ thụ. Nằm trong một gian lều bỏ hoang bên bờ sông, Răng Sa Mát quấn mình trong chiếc chiếu rách, lắng nghe tiếng nước văng qua mấy gộp đá hàng nghe như tiếng chân đi của thiên binh vạn mã. Mưa gào, gió thét. Muôn ngàn cây cao, tàn rậm vươn mình ra mà quay cuồng, nhảy múa trong bóng tối mênh mông. Thỉnh thoảng mới có lằn chớp xanh rực lòa lên chói mắt, rồi thì đêm tối lại trở về với sự âm u.
Vẳng trong ngàn sâu, vọng lên một tiếng hú não nuột.
Răng Sa Mát ngồi phắt dậy tuột xuống đất, toan chạy ra ngoài mưa gió. Một cái chớp sáng rực bừng lên. Một tiếng sét đánh ghê hồn tiếp theo. Tiếng ầm ì kéo dài ra rất lâu nghe như tiếng muôn ngàn tấn đá, tự một đỉnh núi cao đổ ào ào xuống lòng một cái thung lũng.
Răng Sa Mát ôm đầu lên kêu một tiếng thảm thiết:
- Bạp [2].
Rồi cứ thế cậu ngất đi cho đến khi mưa tạnh.
Mưa đã ngớt, nhưng tiếng thác lại ầm ĩ thêm lên. Cậu bé vẫn còn ngồi lặng giữa đêm khuya không ngủ. Muỗi hát vo ve trong gian nhà lành. Rất nhiều con đom đóm, mang cái ánh lửa lập lòe xanh bay lững lờ trong bóng tối. Có con lại bay cả vào trong lều hoang.
Răng Sa Mát rùng mình nghĩ tới chuyện yêu tinh đêm đêm thường biến thành những cô gái đẹp, chân đi không chạm đất, tóc xõa dài xuống tận gót. Nhưng Răng Sa Mát bất chấp những trò quỷ quái ấy vì cậu có một thứ phép mầu giấu sẵn trong mình: ấy là tấm lòng thương cha cao như non và rộng như biển. Có những lúc mà chân cậu ê ẩm, gối cậu nhức nhối, tay cậu uể oải, rã rời. Ấy là những lúc cậu trèo qua một cái hố sâu, hoặc bám vào dây leo để đu mình qua một hốc đá. Những lúc ấy cậu mơ màng nhớ tới hình ảnh của người cha yêu quý hiện ra trước mắt vẫy tay ngoắt cậu. Vậy là cậu trút được hết những chán nản đang chất nặng trong lòng. Cậu hăm hở đi tới. Cậu sẽ còn đi mãi, qua đèo, qua núi, qua thác, qua gành, nếu tiếng hú của kẻ lạc loài còn vang dội một cõi núi rừng trong những chiều ướt sương và trong những đêm có cuồng phong nổi dậy.
* * * * *
Một buổi sáng, cách đây hai tháng, khi chim rừng vừa cất cánh sắp sửa lưu lạc phương xa thì tay săn giỏi nhất làng Thanh Sơn, cắp [3] cung, ná lên đường theo năm người bạn đồng nghiệp.
Người vợ của anh ta đã sửa soạn sẵn đồ ăn đường và vài món dụng cụ dành cho cuộc săn bắn. Chị dẫn đứa con nhỏ ra bìa rừng tiễn chồng.
Người đàn ông, trước khi lên đường, vò đầu con, nhỏ nhẹ từ giã:
- Bạp đi, nghe con!
Răng Sa Mát, chớp đôi mắt ướt, cầm tay mẹ hỏi:
- Cha đi về phương nào?
Người đàn ông lấy tay chỉ về phương Đông. Da trời hườm hườm đỏ như gò má một cô gái đang thì.
Thế rồi, đoàn người lên đường...
Từ ấy, cả một vùng sơn lam, chướng khí bị chuyển động. Đêm đêm người ta nghe tiếng rống sợ hãi của các loài dã thú.
Người trong “bồn” [4] trông về phía xa xanh có vài trái núi đội mây trắng đứng im lặng như những vị Tiên Ông bạc đầu, thủ thỉ bảo nhau:
- Năm nay, bồn ta đã trúng [5]. Chắc săn được nhiều cọp lắm. Đó! Đó! Rõ ràng là tiếng hộc của một con “klìu” [6] bị thương!
Cứ thế, ngày này tiếp theo ngày nọ. Răng Sa Mát đứng trên nhà sàn cao, đợi bóng cha về.
Một đêm, nó đang ngủ, bỗng nghe những tiếng đạp cửa thúc bách. Nó ngồi dậy rất tỉnh táo, rón rén bước xuống sập tre, định kiếm mồi lửa đốt đuốc chai. Tiếng đập cửa vẫn gấp và nghe đến khiếp đảm. Nó hoảng hốt, run lập cập, chạy lại phía sập chỗ mẹ nó ngủ định đánh thức mẹ nó dậy. Nó mừng quýnh, miệng lẩm bẩm:
- Bạp về! Bạp về!
Nhưng nó rất lấy làm lạ khi nó bị một bàn tay đàn ông xô ngã. Trong đêm khuya, nó nghe tiếng ho khàn khàn. Rồi có tiếng mẹ nó rầy nó:
- Sao không ngủ, làm rộn lên vậy? Ai mà kêu cửa. Chuột đó! Cha mầy chưa về đâu!
Rõ ràng, bên ngoài có tiếng đập cửa thúc bách. Răng Sa Mát chạy ra định mở cửa thì bỗng vấp phải cây cột nhà ngã ra bất tỉnh...
Khi nó nhớ lại mọi việc xảy ra hồi hôm thì trời đã sáng. Nó ôm mặt khóc hu hu. Thôi rồi! Còn chi nữa mà mong! Cha nó từ nay sẽ ra đi biền biệt và đời đời phải cam chịu đội lớp [7] dã thú sống xa hẳn xã hội loài người.
Quả như Răng Sa Mát nghĩ, tay săn giỏi nhất làng Thanh Sơn đã hóa thành giống chằn niên.
Người trong bồn có thương tiếc một kẻ có tài, cũng đành nén lòng thở dài. Mỗi khi mưa tuôn, gió cuốn, xao động rừng già, người ta nghe những tiếng hú thảm thương của người đàn ông xấu số này đã hóa thành chằn niên.
Trẻ con run sợ. Những mụ già lo ôm sát con vào lòng, vỗ đầu nó hát nho nhỏ và gọi Nhang [8] luôn miệng.
Những trai tráng gan dạ, ngồi im, nhắm hướng rồi bảo nhau:
- Trong rừng nứa!
Nhưng hôm sau cả làng rủ nhau ra rừng nứa để tìm thì chỉ đem về sự thất vọng.
Người đàn ông xấu số vẫn là con chằn niên làng Thanh Sơn.
Có một bữa, Răng Sa Mát đem chuyện cũ ra thuật lại cho ông Bống (cũng như thầy pháp của ta) nghe. Ông Bống vỗ mạnh hai tay vào với nhau đánh “đốp” một cái, đứng thẳng lên, nói với Răng Sa Mát:
- Thôi, rồi! Quả tình mẹ mầy đã hại cha mầy! Vì mẹ mầy không chịu mở cửa rước cha mầy nên mới ra cớ đổi [9]! Sao lạ vậy? Hổm nay mẹ mầy đi đâu?
- Mẹ tôi đi vào rừng lượm chai cục với chú Bướm. Bốn ngày rồi chưa về!
Ông Bống cau mày, nói với Răng Sa Mát giọng thương hại:
- Tội nghiệp cho con! Này con ạ! Mẹ con không về nữa đâu! Ít lâu nay Bống có nghe người ta xầm xì về vụ mẹ con... Nhưng thôi, nói ra tội nghiệp. Có lẽ nó theo luôn thằng Bướm! Quỷ quái cho con mẹ ấy! Nó ác thật. Con có biết không? Thôi để Bống nói cho mà rõ:
Nguyên, bọn người đi săn, đều có mang theo trong mình một củ ngải, đã “tom” thành một thứ phép mầu biến hóa phi thường.
Trước khi đi vào rừng già, mỗi người đều phải ngậm vào miệng mình củ ngải ấy. Từ ấy mà đi thì không ai ăn, uống gì cả, mà cũng không ai được nói chuyên với ai. Nếu lỡ ra có người nào quên mà hở môi nói chuyện tức thì hóa dại và điều này mới là nguy hiểm: người nào ngậm cục ngải ấy sẽ hóa ra vô hình trước đôi mắt gầm gừ của thú dữ. Người ngậm ngải có thể lại sát bên mình cọp dùng những khí giới nhọn và bén mà giết cọp. Nhưng nếu vô ý làm rớt cục ngải ra khỏi miệng, người thợ sản sẽ hoàn lại nguyên hình. Từ đó về sau, người thợ săn sẽ không bao giờ săn được con thú nào nữa cả.
Răng Sa Mát ơi! Cái đêm cha mầy về kêu cửa, nếu mẹ mầy ra đón tiếp như thường lệ, lấy chổi đập lên đầu người trở về thì bao nhiêu sức nhiệm mầu thấm trong đầu óc cha mầy sẽ biến mất.
Suốt thời kỳ ngậm ngải linh hồn người liệp hộ (thợ săn) đã tách ra khỏi thể phách mà phưởng phất [10] ở trong cõi u linh mù mịt. Đúng bảy ngày sau mảnh hồn ấy mới trở về với xác thịt nhưng chưa nhập hẳn vào người. Đợi khi nào có kẻ thân nhất dùng chổi gõ lên đầu ba lần, đánh tan cái sức huyền bí của ngải, thì linh hồn mới có chỗ đậu.
Răng Sa Mát, mầy có biết không? Cái đêm cha mầy về là cái đêm mẹ mầy chứa thằng Bướm trong nhà. Đôi tình nhân ấy nhất định dứt bỏ cha mầy để cùng nhau ân ái đến trọn đời. Cho nên... cha mầy mới mất tích trong hoang rậm. Chắc hẳn có những đêm, cha con nhớ làng, nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con. Cho nên chúng ta vẫn còn nghe tiếng hú của người. Nghĩ mà tội nghiệp!
Răng Sa Mát ôm đầu khóc nức nở:
- Tôi không dè mẹ tôi lại nhẫn tâm đến như thế! Bây giờ biết cha tôi đâu mà tìm. Trời ơi!...
Lão Bống thương hại:
- Răng Sa Mát con ơi! Cũng còn có cách cứu cha con được. Nhưng... khó lắm con à!
Răng Sa Mát hít mũi, mừng rỡ:
- Bống nói sao? Cứu cha tôi được à?
Cậu nắm tay lão Bống năn nỉ:
- Tội nghiệp con, Bống! Xin Bống làm phước cứu dùm cha con... đời đời con không dám quên ơn!
Lão Bống nghiêm giọng:
- Con phải nghe lời ta, ta mới giúp cho. Này!...
Lão Bống ôm đầu Răng Sa Mát nói vào tai cậu bé.
Răng Sa Mát đứng lên chấp tay xá lão Bống.
- Tưởng gì! Được! Con sẵn lòng hủy bỏ đời con, để cho cha con được hườn [11] lại kiếp người. Có một điều này: Sau khi cha con “đã trở về với mình”, xin Bống làm ơn nói lại với người rằng: Răng Sa Mát nó bằng lòng chết để cha nó sống. Nhưng cha nó phải giết thằng Bướm để trừ một kẻ gian ngoan quỷ quyệt và trừng trị thẳng tay mẹ nó mới được!
Lão Bống gật đầu:
- Được! Ta hứa sẽ làm như ý con muốn.
Từ đó về sau, mỗi ngày Răng Sa Mát chịu cho lão
Bống vẽ một đạo bùa vào mình và ăn một củ ngải rừng. Trong lúc vẽ bùa, lão Bống dùng dao nhọn rạch da Răng Sa Mát, máu chảy đỏ mình.
Răng Sa Mát là một đứa bé can đảm. Nó không hề kêu khóc một tiếng.
Lão Bống khen:
- Con là một đứa con chí hiếu. Không có đứa trẻ nào can đảm bằng con và không có đứa nào có cái đức hy sinh lớn lao như con hết! Ta sẽ giữ chuyện này để sau thuật lại cho con cháu ta nghe. Chắc không đứa nào dám xả thân như Răng Sa Mát đã làm. Ta thương con quá!
Răng Sa Mát sung sướng cười ra nước mắt.
* * * * *
Một tháng sau, Răng Sa Mát từ giã lão Bống nhắm phía mặt trời lặn, đi vào rừng sâu. Nó theo lời dặn của lão Bống cứ đi theo con đường đất đỏ, dẫn nó tới một trái núi lớn.
Trưa hôm ấy nó đi tới một cái nổng đất...
* * * * *
Động con Công là một cái hang đá tối om ở dưới chân núi Beo. Người Mọi gọi nó là Trồmkuangbra. Đường vào động rất khó đi vì dây mọc chằng chịt như đan võng.
Đứng xa trông như có một cụm khói bốc ra từ cửa hang.
Răng Sa Mát tới động con Công thì trời đã xế chiều. Cậu bé dòm vào cửa hang chỉ thấy một cái lỗ sâu hoắm, tối mịt, không biết phải đi bao lâu mới tới đáy.
Cậu dòm xuống mặt đất ẩm. Nhiều dấu chân nằm chồng lên nhau cho cậu bé biết rằng: Có một người rừng đã ở đây, và vẫn lấy lối này để ra vào.
Cậu nghĩ thầm: “Không biết trong bấy lâu cha ta ăn ở ra sao! Tội nghiệp quá! Cũng tại cái lòng gian hiểm của mẹ ta mà cuộc đời và thân thể cha ta mới có sự thay đổi lớn như vậy.
Lạy ơn trên phù hộ cha ta hườn lại kiếp người, cho cha ta trông thấy lại những ngày oanh liệt củ. Còn cái thân của Răng Sa Mát này dẫu có tan ra tro bụi cũng cam đành!”
Cậu vừa nghĩ tới đó bỗng nghe nổi lên một tiếng rống rất lạ tai. Vốn sẵn gan lì, Răng Sa Mát cũng thấy da thịt mình nổi gai. Cậu rùng mình, mân mê con dao nhọn hoắt giắt bên sườn, liếc mau mắt sau, trước và đứng thành thế thủ.
Tiếng rống thứ hai nghe gần hơn, giống như tiếng hai miếng đồng mỏng chạm vào nhau.
Răng Sa Mát phải bịt tai lại. Và không còn giữ được sự can đảm nữa, cậu bé phóng lại một cây “nhàu” [12] trèo rất mau lên ngọn.
Khi lên cao rồi, cậu mới đưa mắt quan sát, về phía mặt trời lặn, gần bên một vũng nước phản chiếu ánh tà huy trộn với hình cây, bóng núi rung rung trên mặt hồ, có một hình thù quái dị đang giơ cánh tay đầy lông lá lên khỏi đầu, mở hai chân ra thành hình chữ “nhân”.
Mặt trời đỏ như một hòn lửa lớn ngấm [13] mình xuống một đám mây hồng đang dâng lên cao, như mặt biển lúc triều lên.
Con người quái dị kia như luyến tiếc vừng thái dương, đưa hai tay lên trời ra vẻ như muốn giữ ánh sáng của muôn loài lại.
Nhưng quang cảnh sẫm lần. Buổi chiều ở sơn lâm mau quá. Con người quái dị chạy băng băng xuống vũng nước và cất lên một tiếng hú ảo não như một tiếng rên dài. Lần này không phải là một tiếng rống dữ tợn như Răng Sa Mát đã nghe lúc nãy.
Cậu bé lắc đầu:
- Ôi! Bạp ôi! Con không ngờ thân thể Bạp ra như thế này! Ngày nay biết cha có còn nhìn ra con là thằng Răng Sa Mát mũm mĩm của cha không? Mẹ ôi! Sao mẹ nhẫn tâm quá vậy. Nỡ nào mẹ phân rẽ tình cốt nhục của chúng con!
Răng Sa Mát nín thở khi thấy con người quái dị kia từ từ đi lại phía gốc cây để đi vào hang. Cậu ôm chặt thân cây “nhàu” chỉ sợ không khéo mình sẽ rớt xuống đất.
Bỗng nhiên “con chằn niên” đứng dừng lại, đưa hai tay lên gãi mạnh cái đầu bờm những sợi tóc dài chấm ót của mình. Cặp mắt nhiều lòng trắng hơn lòng đen của người rừng láo liên trong hai hố mắt có một quầng sáng bao quanh. Hình như người rừng “đánh hơi” và biết có một giống lạ tới viếng “cấm địa” của mình. “Người ấy” rống lên một tiếng thật lớn. Răng Sa Mát tưởng tấm màng mỏng trong lỗ nhĩ của mình đã rách. Tai cậu “điếc” đi trong hai phút.
Quả nhiên, người rừng đã thấy Răng Sa Mát. Con người quái dị ấy trong phút bỡ ngỡ, tưởng đã nhận đứa nhỏ ngồi trên nhành cây cao kia là con mình.
Nhưng, không! “Con chằn niên” đã mất hẳn trí khôn của loài người. Trong cái hình thù đầy lông lá kia chỉ có cái bản năng của một con thú, và là một con thú dữ!
Răng Sa Mát lần lưng lấy ra một củ ngải nhỏ quăng xuống trước mặt người rừng. Con chằn niên vồ lấy củ ngải và bỏ tuột vào miệng nhai ngấu nghiến. Hai hàm răng trắng xanh nghiến vào nhau nghe ken két.
Trong lúc ấy, Răng Sa Mát đọc mau những tràng kệ đã học thuộc lòng của lão Bống. Xong xuôi, cậu nhìn quanh như để thấy lại thế gian lần cuối cùng rồi buông tay lao mình xuống đất sau khi nó đọc một câu cuối cùng này:
- Bạp ơi! Hãy báo thù cho con!
“Con chằn niên” vồ lấy con mồi! Những móng tay có móng nhọn như đinh cắm sâu vào những gân máu ở cổ Răng Sa Mát.
Cậu bé thét lên một tiếng lớn, trong khi người rừng cười lên sằng sặc, há lớn miệng cắn vào cổ cậu bé.
Đã hơn năm ngày, mưa xuống mù trời. Sấm sét nhiều hơn cả bao giờ. Người ta nói rằng: Quả đất sắp tan ra từng mảnh vụn!
Lão Bống khôn ngoan hơn. Lão mừng rỡ nói với bọn trai tráng trong làng:
- Người thợ săn giỏi nhất làng ta sắp trở về với chúng ta.
Không ai tin lão cả. Lão Bống phải cắt nghĩa:
- Có gì đâu! “Con chằn niên” đã hút được máu của con mình nên lông lá rụng hết. Răng Sa Mát đã ăn đủ một trăm củ ngải rừng và đã hiến thân cho cha nó...
Bọn đàn bà ôm mặt khóc hu hu. Ai cũng thì thầm nói:
- Tội nghiệp cho Răng Sa Mát quá!
* * * * *
Cả làng Thanh Sơn huyên náo như có cuộc đại hội. Trọn ba ngày người ta bày ra các cuộc múa, hát để ăn mừng sự “tái sinh” của người anh hùng thiện xạ đã trở về với họ. Người ta múa, hát và bày ra những cuộc thi bắn để nhớ lại những thành tích oanh liệt của Răng Sa Bang cha thằng Răng Sa Mát.
Đèn đuốc sáng choang một vùng. Tiếng đờn “chìn-kha-la” nổi lên những bản hùng tráng nghe như tiếng xô xát giữa hai đội hùng binh.
Đứng trên sàn nhà cao, Răng Sa Bang, người trưởng đoàn liệp hộ khoanh tay trước ngực, lòng buồn hơn cả bao giờ. Chàng trông cho mau dứt đám hội để đi làm cái việc mà Răng Sa Mát, con chàng, trước khi xả thân trối lại.
Lão Bống đứng lên, nói nhỏ vào tai chàng:
- Thằng Bướm không dám về dự lễ đâu! Chúng nó là cặp uyên ương mới. Có lẽ chúng nó đang quấn quýt với nhau ở nhà thằng Vắn. Nghe đâu chúng vừa làm được một mẻ trộm ở sở cao su ông Xả khá lắm. Muốn gặp chúng nó, cứ qua nhà thằng Vắn...
Người trưởng đoàn liệp hộ nghiến răng ken két. Hai bàn tay nắm chặt lại, miệng lầm thầm:
- Răng Sa Mát ơi! Hồn thiêng của con phảng phất đâu đây hãy về mà coi cha phân thây [14], xẻ thịt kẻ thù đã phá tan hạnh phúc của nhà ta.
* * * * *
- Ai đó?
Bướm ngồi dậy và vớ lấy lưỡi mác của anh ta gối sẵn dưới đầu mình. Một cái bóng to lớn và mạnh mẽ đã ôm lấy Bướm và siết chặt rất mạnh. Bướm chém phầm phập vào cái bóng, nhưng chẳng ăn thua gì. Lưỡi mác bén của anh ta đã trở thành vô dụng khi chạm vào da thịt của người trưởng đoàn liệp hộ làng Thanh Sơn. Anh ta nghe xương mình kêu lên răng rắc dưới cái sức ôm ghì của đối thủ.
Bướm kêu lên một tiếng:
- Răng Sa Bang! Hãy tha tôi! Tôi đã nuôi nấng vợ người trong một năm nay.
Một tiếng cười khan nổi lên giữa đêm khuya. Hai bàn tay có những ngón nhọn và cứng bấm chặt vào cổ Bướm.
Máu đổ ra tung tóe. Răng Sa Bang há miệng ra cắn vào cổ kẻ thù như khi “con chằn niên” cắn cổ Răng Sa Mát.
Mười phút sau, người trưởng đoàn liệp hộ tìm thấy vợ mình trốn trong chuồng trâu.
Người đàn bà rung lên như bị sốt rét.
- Tôi lạy mình! Mình tha tôi! Tôi đã có mang. Giết tôi thì được rồi! Nhưng... tội nghiệp hòn máu vô tội!
Người đàn ông căm tức:
- Mầy biết hòn máu trong bụng mầy. Còn con mầy!... Hừ!...
Răng Sa Bang giơ lưỡi mác lên định hạ sát con đàn bà gian ác. Nhưng không biết nghĩ sao, chàng dừng tay lại.
- Tao tha cho mầy! Hãy sống đời mà nuôi cái hòn máu nhơ nhuốc sẽ thành hình.
Người trưởng đoàn liệp hộ buông lưỡi mác, rồi lao mình vào đêm tối.
Người đàn bà gục xuống và kêu lên:
- Mình ơi! Hãy trở lại mà giết em! Tội em đáng chết lắm!...
Hai bàn tay run rẩy của người đàn bà sờ soạng đi kiếm lưỡi mác rớt dưới sàn tre...
-----------------------------------
[1] Pn. Gò đất cao.
[2] Cha (LVS).
[3] Các bản Tân việt 1949: cấp. Lỗi chính tả do phát âm.
[4] Làng (LVS).
[5] Săn được nhiều thú (LVS).
[6] Cọp, hổ (LVS).
[7] Sic. (Pn). Bâ của đội lốt.
[8] Người Mọi thờ một vị thần linh mà họ gọi là “Nhang” (LVS).
[9] Sic. Từ cũ, ít dùng như: nỗi.
[10] Pn. Bâ của phảng phất.
[11] Bâ của hoàn.
[12] Bản Tân Việt 1949: nhào. Lỗi chính tả do phát âm? Nhiều trường hợp trong tác phẩm Lý văn Sâm trước năm 1950, âm au được viết thành ao. Ví dụ quê nhao rún, nhao rún... Khi đối chiếu với một bản thảo chép tay của Lý văn Sâm, năm 1954, chúng tôi thấy nhà văn viết nhau. Vì thế, đây có lẽ là lỗi nhà in.
[13] Sic. Chìm dần.
[14] Sic. Thường viết: phanh thây.
0
Voi đội đèn

Đây là câu chuyện của một tay săn bắn đại tài, một nhà thiện xạ đã từng hạ nhiều thớt thịt lớn và đã từng cai trị một vùng rừng rộng bao quanh ngọn núi Gia Nhang. Tất cả xã hội loài thú quanh quẩn miền ấy đều rạp đầu trước mũi súng của nhà thiện xạ như đã thuần trước ngọn roi điện của nhà thuần chế mãnh thú của một phường xiếc. Vậy oai danh gã rung chuyển cả tính tình ngang ngược của bọn dã thú trong miền ấy.
Nhưng bây giờ thì gã đã “giải nghệ” rồi. Có ai hỏi tại sao gã lại để “sét” cây súng nghề của gã, để mai một cái tài quán chúng của gã thì gã sẽ trả lời:
- Bởi tôi kém một người nên tôi thề không cầm súng nữa!
- Ai?
- Một bà già! Một bà già mắt lòa chân chậm!
- Bà ấy hẳn là một tay thiện xạ?
- Không! Bà ấy không có súng! Bà ấy không có một thước thép trong tay mà đánh đuổi được cả một đoàn voi khỏe mạnh và ngang ngỗ.
- Có phải đoàn voi thường hay ra chận đường ô-tô khách du trên con đường Sài Gòn - Đà Lạt đó không?
- Chính chúng nó đó!...
- Ồ! Ồ!...
Nhà thiện xạ sẽ tươi cười kể lại câu chuyện sau này để cho mọi người khỏi phải há miệng, trố mắt ngạc nhiên:
- Nghề làm ruộng ở những nơi này thật là gian nan. Từ độ gieo mạ cho tới khi gặt lúa, người ta phải thay phiên nhau canh giữ cho khỏi bị beo và heo rừng phá quấy. Voi ăn mạ. Heo rừng ủi gốc lúa và có khi rượt bắt với nhau làm hư cả một đám ruộng tốt tươi.
Muốn được bình an canh giữ mùa màng, nông dân dựng lên những nhà chòi cao ngất như những điếm canh thời cổ. Rồi tự mình chun vào nằm trong gác ấy, ngày này qua tháng nọ, như con tằm nằm trong kén đợi ngày hóa bướm.
Hễ bắt đầu vào mùa lúa thì các chủ ruộng hội họp nhau lại để cắt đặt phiên canh cho mỗi người. Vừa thấy bóng voi hay heo rừng ở truông ra định phá ruộng thì họ phải khua mõ tre, đập thùng thiếc, đánh chiêng, đập nia... để truyền tin cho nhau, và để dọa nạt những giống vật ngang tàng đó.
Dạo mùa lúa một năm, voi và heo rừng hành hung bạo tợn quá. Chúng không còn biết sợ ai cả. Dọa nạt, mặc! Voi cứ kéo đoàn vào ruộng ung dung ăn lúa. Lợn lòi cứ kéo đoàn vào giày xéo lúa sữa của người dân.
Bọn nông dân thất vọng rồi đâm ra sợ hãi vu vơ. Họ mời thầy cúng đến để làm lễ xua đuổi tà ma. Vì theo lời họ nói, năm ấy động rừng!
Làm gì thì làm, voi và heo rừng vẫn không lui bước.
Sau cùng, họ phải cầu viện đến tôi. Nhận lễ mời của họ rồi, tôi xách súng đi ngay. Theo tôi, một bầy chó săn hăng máu. Tôi đến nơi. Họ yêu cầu tôi làm thế nào để đuổi được đoàn voi đi thôi; tôi không được bắn giết chúng. Bởi chúng là giống thú khỏe mạnh và hay hiềm [1] thù.
Khó thay là trượng nhiệm [2] của tôi lúc bấy giờ. Làm thế nào đuổi được đoàn voi bất trị kia?
Lợn lòi, không sợ! Cho chúng đến! Tôi sẽ xua đàn chó tinh khôn đuổi chúng! Suy tính kỹ rồi tôi nhất định như thế này:
Khi đoàn voi đến, tôi sẽ tìm con voi đoàn [3], bắn cho nó điếc tai. Nó bị hoảng tất phải tháo thân và kéo cả đoàn theo. Kế ấy, nếu không thành, tôi sẽ tùy cơ ứng biến.
Thì ngay đêm đó, voi đến. Nghe chúng đi huỳnh huỵch mà tôi phát rùng mình. Cành cây gãy nghe răng rắc. Cả một khu rừng chuyển động dưới bước đi của chúng.
Tôi đứng trên chòi cao, trông xuống, một toán voi vừa ra khỏi rừng, lù lù tiến vào truông. Hình thù chúng giống những khối đá lớn biết đi. Chúng sắp vào ruộng. Tiếng mõ tre “báo động” kêu vang ồn.
Tôi tuột vội xuống chòi tranh, chạy đi chận đầu voi. Thật là một cuộc thách đố liều lĩnh. Nhưng lùi thì còn gì là oai danh của một kẻ anh tài? Phải tiến. Mua cái chết ở sa trường, người ta thích hơn là cái chết tầm thường ở xó nhà, trên phản.
Tôi và bầy chó chỉ cách đoàn voi độ hai trăm thước. Tôi cầm súng đứng trước lũ chó oai như một vị chủ tướng. Người hú. Chó sủa. Mõ tre khua...
Đoàn voi chậm bước và sau cùng đứng cả lại. Tôi nhìn kỹ con voi đoàn. Dưới trăng, trông nó thật bề bộn, thật là tráng kiện, thật là oai võ. Vừa thấy bóng tôi, nó đứng lại. Cả đoàn đều làm theo. Chúng phe phẩy đôi tai như những chiếc quạt lớn. Chúng thét lên nho nhỏ, chừng như đang hỏi ý kiến nhau. Một giây!... Hai giây!... Chúng tiến!
Tôi vừa lùi, vừa nép sang một bên. Trước sự tấn công của chúng, tôi đành nhượng bộ. Chúng là những “thiết xa” lợi hại.
Trong lúc lửa đã cháy mày, tôi không suy nghĩ gì nữa, tôi nhắm vào mang tai con voi đoàn, bắn một phát. Một tiếng rống dữ dội. Con voi đoàn hung hăng chạy vào ruộng. Nó đã bị thương, nhưng không đến nỗi chết.
Tôi dùng đạn bắn nai nên nó chỉ bị thương nhè nhẹ thôi.
Đoàn voi như cơn gió lốc, tốc vào rẫy, chúng đã biến thành một sức mạnh triệt để. Đố ai dám đón đầu chúng!
Giữa lúc ấy tiếng kêu gọi, tiếng gào, tiếng khóc vang lên! Nông dân chỉ còn cách lấy mắt để nhìn voi ăn lúa, ăn đi cả những gì gọi là lương thực của một năm cần lao.
Chúng đã đến nhà chòi thứ hai. Trên nhà chòi ấy, trấn một bà già. Bà canh lúa cho con trai bà vì đau ốm, phải nằm nhà.
Bà sẽ để chúng vào truông ấy ư? Như thế thì còn gì là mùa màng của con trai bà. Con trai bà nó hiếu đễ lắm.
Bà cầm ngọn đuốc chai, đứng trên chòi cao, nheo mắt dòm xuống.
Con voi đoàn đi trước. Nó ngông nghênh tự đắc như một thằng du côn. Bè đảng nó đông. Nó hung dữ lắm! Chúng định “xử” trước những đám ruộng ở phía ngoài.
Bà già giận lắm. Bà chu chéo [4] chửi rủa chúng, rồi không suy nghĩ lợi hại gì nữa, bà giơ cao ngọn đuốc khệnh xuống lưng coi voi đoàn. Vừa đánh, bà vừa chửi:
- Mồ cha chúng bây giờ đừng có léo hánh đến đây nữa nhé!
Bà chửi nó như chửi một đứa mất dạy. Khi bà đánh xuống, một cục chai lớn rụng ra khỏi tay đèn, bám chặt lưng con voi đoàn, không chịu rớt. Lửa cháy phừng phực. Con voi rống lên inh ỏi. Nó quày quẫy chạy hộc tốc vào rừng. Lửa trên lưng nó cháy ngùn ngụt, vui như một ngọn đèn. Cả đoàn rủ nhau chạy tán loạn. “Cây đèn chạy” đã gây thêm một tai hại lớn. Đèn chạy đến đâu lửa cháy đến đó... Lửa bắt vào lá khô; lá khô châm mồi cho cây khô. Cây khô truyền lửa cho đế rậm. Tức thì có cả một cơn hỏa hoạn gây ra kinh khủng cả một loáng rừng.
Từ đó, đoàn voi hễ động nghe tên bà già ấy là chúng đua nhau chạy trối chết. Chúng tưởng bà là con nhà trời sai xuống hóa lửa đốt chúng.
- Tên bà ấy là gì... ?
- Bà Đổng! Bà đã chết rồi. Trước kia bà ở Bàu Sao.
Để kết luận chuyện này, bạn tôi nói:
- Anh thấy không. Những kẻ khí phách chỉ biết thắng chứ không biết lùi. Lòng tự ái của họ chỉ bị chạm nhẹ thôi mà họ coi là bị một cái nhục lớn. Có khi họ để tiêu ma cả chí phấn đấu, lụn mất khí hùng kiệt của kẻ làm trai.
- Nhưng cái được của bà lão kia chỉ là một cái được tình cờ... Nhà thiện xạ không nên lấy đó làm một sự thất chí.
- Mấy ai dò được trạng thái kẻ to gan!...
---------------------------
[1] Bản 1949: hềm.
[2] Nhiệm vụ quan trọng.
[3] Voi đầu đàn.
[4] Sic. Đúng là: tru tréo. Ngôn ngữ nhân vật.
0
Ngăn rạch bắt sấu

Năm nào cũng vậy, hễ bắt đầu vào mùa mưa thì có một đoàn người Cao Miên mạo hiểm vào những miền rừng rú, bắt cá sấu. Có một bận tôi định theo họ. Nhưng vì công việc nên tôi chưa đi được.
Không theo được bọn người bắt sấu, tôi buồn lắm. Một người giúp việc tâm phúc của tôi là ông Ba, an ủi tôi:
- Thầy Hai đừng theo họ thất công [1] mà nguy hiểm tính mạng nữa. Thầy đã thích bắt sấu, tôi xin kể chuyện này cho thầy nghe.
Và dưới đây là câu chuyện của ông Ba.
* * * * *
Ở miền Nam nước Việt chỉ có hai mùa chính thức là mùa nắng và mùa mưa.
Vào khoảng tháng Tư tháng Năm, tiết trời oi bức khó chịu. Thỉnh thoảng có những trận mưa thất thường báo trước mùa mưa gió lu bù...
Ở Nam Bộ, khoảng thời gian ấy không thuộc về mùa hạ như những xứ miền Bắc đã có. Nhưng ta cứ gọi là mùa hạ cũng được - mùa hạ của miền Nam nước Việt.
Vậy vào mùa hạ của một năm đã xa rồi, có một người Đức ngăn rạch bắt sấu để báo thù vợ.
Người Đức ấy tên là Bader và có vợ là người Nam phần tên Trang.
Ông Bader đến xứ Nam phần vào năm nào không rõ, khẩn [2] một sở đất lớn ở làng Đại An (Biên Hòa) trồng cao su.
Dân làng xúm nhau rất đông đến xin việc làm, ông Bader thâu nhận tất cả.
Đó rồi một viên “chủ soái” cùng với một đám “binh lính” hiệp sức khai phá chồi hoang, trồng cao su.
Ông Bader là người thẳng tính. Ông rất vui vẻ với người nào siêng làm việc và rất nghiêm khắc với kẻ nào lười nhác. Bởi vậy, khi ông nổi giận quở trách một người nào thì những người khác run sợ lấm lét.
Trong số dân sở, vừa đàn ông lẫn đàn bà có cô Trang là chăm việc hơn hết.
Vì thế cô rất được ông chủ yêu kính. Nhiều người gọi mát cô là “bà chủ”. Cô chỉ cười. Trong thâm tâm cô chỉ nuôi một ý nghĩ là làm việc cho thật nhiều để lãnh được nhiều tiền nuôi cha già mẹ yếu, thế thôi.
Tấm lòng cao quý và cái đức tính đáng yêu của cô Trang cứ mỗi ngày một sáng thêm lên. Tấm lòng ấy và đức tính ấy đã thu phục được tình cảm của một người, ấy là ông chủ sở. Lạ thay! Ông chủ sở càng oai nghi bao nhiêu thì đối trước mặt cô càng mềm mỏng bấy nhiêu. Riêng cô Trang, một đôi khi, cô thấy lòng mình rung động trước những cử chỉ hùng hiệp và hào khí cương trực của ông chủ sở.
Ở cô Trang, ông chủ sở chỉ thấy có một trái tim thuần lương và một linh hồn nhẫn nhục.
Ở ông Bader, cô Trang chỉ thấy một tấm lòng ngạo mạn rất đáng yêu và một tinh thần kiêu dũng rất đáng kính.
Họ không còn phân biệt nhau về phương diện khác nữa.
Thế nên khi ông Bader ngỏ ý muốn hỏi cô Trang làm vợ thì cô Trang nhận lời ngay.
Cuộc hôn lễ cử hành theo tập tục cổ truyền của người phương Đông. Chàng rể phải đến nhà nhạc gia, lạy tổ tiên và rước vợ về.
Vì yêu nhau dẫu khó khăn phiền phức bao nhiêu ông Bader cũng cam chịu vậy.
Rồi thì họ chung sống những ngày “ý hiệp tâm đầu”, chung gây nền hạnh phúc, chung hưởng sự giàu sang trên bước đường sự nghiệp vẻ vang của họ.
* * * * *
Người ta nói: Những kẻ khôn ngoan thường hay chết non. Cái chết của cô chủ sở làm cho câu này thêm phần đúng lý.
Vào mùa hạ một năm, trời nồng nã bực bội hơn cả bao giờ. Trưa nào ở cái bến nước ven sông cũng có rất nhiều người tắm. Họ ngâm mình hằng giờ dưới nước mà không biết chán.
Một hôm, cô chủ sở chừng muốn hưởng cái thú ngâm mình dưới nước nên lần xuống bến nhà tắm. Cô cởi lớp ngoài rồi phóng mình xuống nước. Đã lâu lắm cô mới lại được vẫy vùng trên làn nước mát của con sông thân yêu...
Sông Đồng Nai ở quãng này có nhiều đá hàng. Đứng trên dòm xuống, người ta thấy cả một khúc sông xanh leo lẻo, quanh co giữa đôi bên đồi cao vòi vọi. Dọc theo tả ngạn là rừng cao su chen vào những xóm làng rải rác.
Về bên kia sông, dân cư nhà cửa thưa thớt. Sâu vào nữa là rừng thẳm ngút ngàn. Người ở bên này sông ít hay nghĩ đến sự qua bên kia sông để nối tình giao hảo giữa hai bến nước. Họ thủ phận sống và nhìn những xóm làng đối diện như những thế giới xa lạ nào cách biệt trùng dương, mặc dầu chỉ có một tiếng chó sủa bên này sông cũng đủ đánh thức giấc ngủ của người bên kia. Vì vậy, suốt tháng con đò chỉ phải thất công làm vài chuyến sang ngang, đưa vài người khách lạ băng triều qua lại để buôn hay bán vài món hàng vặt rẻ tiền.
Đứng dưới bến sông, quát to một tiếng, người ta sẽ nghe rừng xa đem lại tiếng vang của mình...
Ấy, cái địa thế buồn teo của một quãng sông hiểm trở, có rất nhiều loài thủy tộc quái dị...
Giữa buổi trưa mùa hạ ngày hôm ấy, dân sự hai bên bờ sông đang lúi húi làm việc, bỗng nghe một tiếng la bài hãi, dưới một bến nước. Họ ùa chạy về phía ấy. Một cảnh tượng ghê mình. Giữa sông nổi lên một cái mõm dài của một con cá sấu. Nó đang quắp một con mồi, lội xuôi giòng. Con mồi của nó là một người đàn bà, tóc xõa rũ rượi.
Tức thì có tin cô chủ bị sấu gắp, nổ bùng lên như một tiếng sét. Tiếng sét ấy làm cho ông chủ điếng hồn.
Ông nén khóc, tức tốc lấy xuồng, cùng bọn người tâm phúc đuổi theo con sấu. Ông đứng trên mũi xuồng, nhắm bắn con sấu mấy phát. Nhưng nó lặn xuống tránh khỏi cả.
Phần vì sợ con sấu lặn xuống, vợ mình sẽ bị ngộp thở, phần thì sợ bắn trúng vợ, ông chủ thôi không dám bắn nữa.
Đến một khúc sông có nhiều nhánh nhỏ, con sấu liền trốn vào cái rạch. Đây là rạch Lăng, một con rạch sâu lòng. Tre mọc dài theo hai bên bờ, nghiêng mình xuống sát mặt nước làm thành những hàng rào dày bịt, chắn cả lối ra, vào. Con sấu vào rạch thì mất tích.
Ông chủ liền kêu gọi lòng nhân của dân chúng quanh vùng.
Một cuộc ngăn rạch khổng lồ giàn bày ra trong vài giờ sau.
Người ta đóng một cái vỏ khẩu rất lớn, bịt mất cửa rạch. Rồi họ chia nhau đứng hai bên bờ ngăn đường thoát thân của một con sấu quái ác.
Thật là một công trình vĩ đại hiếm có.
Người ta bày đủ cách để nhử con sấu ấy nổi lên mặt nước, nhưng nó khôn quá chỉ ép mình nằm mãi ở một xó kín nào người ta không biết.
Ông Bader hạ lệnh thả xuống nước rất nhiều lựu đạn bắn cá, giết hại vô số loài thủy tộc vô tội. Nhưng con sấu tinh khôn kia vẫn không chết. Nó nấp ở xó nào giỏi quá.
Lòng thương vợ khiến ông chủ sở quên cả mọi sự hiểm nguy, mệt nhọc. Suốt một tháng trường, ông bỏ cả công việc nhà. Ngày, đêm, cầm một khẩu súng trường, ông men theo bờ rạch để tìm bắn cho kỳ được kẻ thù.
Dân sự trong làng hiệp cùng ông và quyến thuộc của cô Trang canh giữ cửa rạch rất nghiêm nhặt. Người ta kể lại rằng có một đêm, trời đất chuyển động. Con sấu kia đã nương cơ hội, thoát khỏi trùng vây.
Đêm ấy, bọn người canh cửa rạch đang ngồi quây quần nói chuyện bên một đống lửa lớn, bỗng thấy đằng xa đi lại một ông già lạ mặt. Ông già ấy hỏi họ làm gì mà ngồi đó. Họ liền kể chuyện cho ông già nghe... Ông lấy làm lạ, liền đi lại phía vỏ khẩu, xem xét rất kỹ lưỡng. Ông khâm phục và khen mãi cái bức rào kiên cố ấy. Bỗng ông yêu cầu họ:
- Các người có thể giở cái khẩu này lên cho già này xem được không?
Vài người trong bọn họ đáp:
- Trời tối, ông thấy gì mà đòi xem.
Ông già khẩn khoản:
- Tôi chỉ muốn biết, người ta làm cách nào mà mở và đóng nổi cái cửa nặng nề như thế này mà thôi.
Họ cười:
- Có khó gì!
Tức thì họ quay trục kéo thử một cánh vỏ khẩu lên cho ông già thấy. Cùng lúc ấy, dưới lòng rạch sâu có tiếng thở phì phì, rồi có tiếng một con vật lớn quẫy mình ra sông. Họ hô to một tiếng buông vỏ khẩu xuống. Đồng thời ông già cũng biến đi đâu mất .
Ông Bader vừa định lấy thuyền đuổi theo con sấu, thì trời nổi cơn gió lớn như muốn làm mưa to. Sóng cao, sông sâu, thuyền không thể ra sông được. Sự kiên gan trong bao nhiêu ngày rút cục đành bỏ dở vì một phút sơ ý của bọn người canh vỏ khẩu.
Ông Bader đành ngậm ngùi để tiêu tan cả một ý định bảo thù mãnh liệt.
Năm sau, cũng vào mùa hạ, ông Bader nghĩ thương vợ chết oan nên lập đàn cúng tế ngay ở bến sông. Lễ bày ra rất linh đình.
Ông Bader thân đứng chủ tế.
Thình lình người ta thấy nổi lên giữa sông, một con cá sấu rất lớn. Nó từ từ tiến vào bờ, trườn mình lên bãi. Nó nằm yên, hình như để lắng nghe tiếng tụng kinh của mấy nhà sư trên đàn cúng tế. Ông chủ sở chạy vội lên nhà lấy súng.
Con sấu vẫn nằm im đó không trốn chạy.
Ông chủ nổi cơn giận tràn lòng, nhắm vào đầu nó bắn luôn hai phát. Nó rống lên một tiếng chùi mình xuống sông.
Ông Bader liền lên thuyền dò theo giòng máu đỏ chạy dài trên mặt nước, đuổi theo.
Đến rạch Vũng Gấm, con sấu trồi lên. Nó định trốn vào rạch. Con vật bị thương nặng liền trèo lên bờ rạch. Dân làng thấy vậy đập nó chết luôn ở đấy.
Chở con sấu về sở, ông Bader thân cầm dao mổ bụng ra. Trong bụng nó, đồ nữ trang của vợ đeo ngày trước vẫn còn nguyên mà thi thể người yêu dấu đã không còn nữa.
Ông khóc sướt mướt, băm con sấu tan tành...
* * * * *
Đến bây giờ có một ông già ngoại chín mươi cứ ngày ngày ra đứng bờ sông, nhìn dòng nước chảy. Già như thế mà trời chưa bắt ông chết. Ông sống để nhìn trò đời thay đổi, để khóc một tâm sự gì đau đớn tận ngày xưa. Nhưng... hình như nước mắt lòng ông đã khô rồi. Bởi tuổi cao, lòng nguội.
Tuổi già lẩm cẩm, ông hầu quên hết mọi sự ở đời...
-----------------------------
[1] Sic.
[2] Khai phá đất hoang.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.04.2017 15:08:55 bởi casau>
Mũi Tổ

1.
Vùng đất Hố Nai vốn là một miền rừng rậm nằm cheo leo bên quan lộ nối liền những thủ phủ Trung Nam Bắc của nước Việt Nam.
Khu Sâm Lâm [1] biệt lập này có tiếng là nhiều nai và gấm [2]. Đêm đến, tiếng cọp gầm nghe như khít vách nhà. Cuộc đất hết nghiêng xuống lại trườn lên thành hình vuông treo. Dưới những trũng sâu, trên “nệm” lá tre mục, xao xác dấu chân nai. Cái tên “Hố Nai” vì đó mà có. Chiều nào, người trong xóm cũng nghe nai “chém lộn”; những cặp gạt cứng hơn gỗ chạm vào nhau nghe côm cốp như có một cuộc thao dượt của hai tay “trường côn”.
Người trong xóm đồ chừng bầy nai đang đùa giỡn bên lạch nước. Sự ức đoán của họ không mấy khi sai do nhiều năm kinh nghiệm ở rừng. Bầy nai ở vùng này dạn lắm. Người ta thuật lại rằng: Sáng nào trên con đường mòn dẫn ra quan lộ, khách lộ hành cũng gặp nai đón đường. Có nhiều con nai cái mới sinh, dẫn cả đứa con còn măng ra đón khách. Thường thì người trong xóm phải tránh giống vật này, chứ chúng không chịu tránh họ bao giờ. Chúng coi loài người như những kẻ khách lạ tới trú ngụ trong “lãnh thổ” của chúng nó vậy. Thế nên, chúng không kiêng nể ai hết.
Chẳng những có sự đón đường táo bạo mà thôi, thỉnh thoảng chúng lại rượt nhau chạy vào xóm làm sập nhiều giàn bầu, giẫm nát nhiều luống rau và bí. Người trong xóm phần đông là bọn tiều phu sống bằng lâm sản. Mùa nắng thì họ đốn củi, lượm chai, ăn ong hoặc gài bẫy gà rừng; mùa mưa thì họ thành ra những bác “ngư ông”, chẻ tre đan đó, hoặc làm đăng bắt cá. Mùa nào họ cũng trúng nên ít ai muốn bỏ chỗ ấy mà đi mặc dầu bên mình họ mọi sự hiểm nguy đang rình rập.
Mãi về sau bị nai quá phá, nhiều người đâm ra sợ hãi, giở nhà đi ở chỗ khác, thành ra nhà trong xóm thưa dần chỉ còn những người vì đã “ăn chịu” với vùng lam chướng này, liều mạng cắm rễ ở lại.
Mỗi chiều, khi sương lạnh đọng lại thành những miếng khói mỏng, giăng mắc từ ngọn cây già đến đoạn cây non, nhà nhà đóng cửa, im lặng nghe rừng thiêng lên tiếng. Một tiếng động nhỏ cũng không dám làm. Gia đình nào cũng đem nhau leo lên “giàn tre” đóng sát mái nhà, trông cho giấc ngủ lại sớm để quên một đêm dài kinh khủng.
Đêm dài kinh khủng thật!
Từng cơn gió lạnh như hơi thở của mụ chằn tinh lùa vào tàn cây rậm. Ngàn lá héo chưa kịp rụng lúc ban chiều run lên bây bẩy. Trong những hốc tối, những tấm lá buông và lá kè đập vào nhau bạch bạch như hai tiếng cánh của một loài chim “linh điểu” vô hình chỉ xuất hiện về buổi tối. Từ xa đến gần rồi từ cao xuống thấp, những tiếng chim lạ cứ rên lên từng hồi ảo não khiến những kẻ gan dạ nhất cũng thấy lòng mình xao xuyến. Lắng nghe như có tiếng người nói chuyện và bẻ cành cây khô. Trên con đường ra giếng, thấp thoáng như có một bóng người lù khù hết tới lại lui. Không biết “ông thầy” [3] tới hồi nào mà nghe đánh “chác” một cái, một con gà đã biến mất, hoặc con chó trung thành đã hóa kiếp...
Bọn người ở xóm này lẳng lặng trông cho hừng đông mau đến với họ để họ lại nhang đèn cúng vái cầu sự yên lành. Nhưng đêm đêm những trò “khiếp đảm” ấy cứ diễn ra mãi.
* * * * *
Từ khi có ông Cả Tiễn về ở xóm này, thì cục diện vùng Hố Nai đổi khác. Chỉ trong vòng nửa năm loài dã thú đã xa lần. Dân cư lần hồi đông đảo, có phần lại hơn trước.
Còn nhớ hôm ấy là một buổi chiều cuối mùa tranh non. Trời đã nhá nhem rồi mà một người khách lữ hành không biết tự phương nào tới, lại đến muộn giữa lúc mọi người sắp sửa lên sàn tre. Người khách lạ đen trui trủi như Mọi nhưng lại nói sành tiếng Nam:
- Bà con không nên tìm biết tung tích tôi làm gì vô ích; mà có muốn truy ra... cũng không phải dễ gì!
Mắt người khách ánh lên dưới ngọn lửa đang rung phần phật trong nồi chai. Người khách trông hãy còn trẻ lắm, mà râu đã lún phún khắp mép và cằm. Có lẽ người ấy già vì gian lao hơn là tuổi tác.
Sau khi thấm giọng một ngụm nước chè rừng, người khách nói như chỉ để một mình nghe:
- Cách đây vài năm, có một cuộc khởi nghĩa trên một bến đò khiến nhiều dân lành vì quá mê say hai chữ tự do mà để máu mình nhuộm đỏ dòng sông xanh. Biết bao nhiêu nhân tài gục dưới cuộc đàn áp mạnh và chớp nhoáng như cuồng phong. Thế rồi, ngọn cờ vừa mới dựng lên giữa vùng cỏ xanh đã tan tác trên dòng máu đỏ. Tiếng kêu ai oán của một dân tộc vừa bùng lên như ngòi lửa của một hòn Hỏa diệm bỗng phải tắt ngấm vì thiếu sự ủng hộ của kẻ đồng chung sắc máu, màu da! Hỡi ôi! Ta chưa thấy cuộc chết chóc thê thảm nào bằng!...
Mắt người khách nheo lại, giữa sự kinh ngạc của đám tiều phu mộc mạc. Họ ngơ ngác hết nhìn nhau lại đến nhìn nét mặt căm hờn của người khách lạ. Nhắp một miếng nước, người ấy dịu giọng:
- Phải, các người làm sao hiểu được tôi! Các người còn đang mê ngủ. Nhưng tôi ao ước chỉ trong nay, mai các người mở mắt và chúng ta sống dưới bầu trời này không phải chỉ để phụng sự cho những đòi hỏi tầm thường là cơm, áo. Chúng ta còn phải nghĩ cách nào hơn để cởi cái ách đang tròng lên cổ của một giống người yếu đuối... Hỡi ôi! Sau lần áo mỏng này, có một trái tim thanh niên đầy nhiệt huyết đang nhảy vì hơi thở của dân tộc. Các người làm sao thấy được! Ba năm nay, ta trốn tránh loài người, sống giữa hoang vu như loài muông thú. Ta rất sợ ánh đèn cám dỗ. Ta ghê tởm lòng man trá của đồng bào. Ta chỉ muốn được tự do nên ta đã sống ngoài thế tục. Hành lý của kẻ bộ hành phiêu lãng mãi đến chiều nay không còn gì! Khí giới của một kẻ chiến bại không ngoài món tri kỷ này!
Người khách vùng đứng lên, cầm ngang tay một chiếc ná mà nãy giờ đã lót trên mặt đất, để lấy chỗ ngồi. Khách đưa cùi chỏ vào cung ná, ngáng mạnh ra. Sợi dây ná giãn nhanh và mắc vào cò. Đồng thời khách rút một mũi tên nhọn giắt trên ống lồ ô, giữa bó tên khua xóc xách trên vai. Khách lẹ làng đặt tên vào “mương” ná...
Cả bọn người có mặt chiều hôm ấy chưa kịp hỏi han một lời trong khi người khách đã “xạ tiễn” bắn rụng ba con đom đóm đang bay giữa trời.
* * * * *
Từ đó tài thiện xạ của “ông Cả Tiễn” khét tiếng một vùng. Người ta cho người ấy cái danh hiệu “ông Cả Tiễn” để tỏ lòng tôn sùng của mình. Thật ra “ông Cả Tiễn” không phải là một vị lão thành và không cai trị một thôn ấp nào hết.
Ông Cả Tiễn hợp cùng bọn tiều phu xây một cái hàng rào bằng tre vây quanh xóm thành hình chữ nhật; bốn góc rào đặt bốn cái chòi canh. Đêm đêm, một đống lửa lớn bốc ánh sáng lên tận những tàn cây cổ thụ. Những trò chơi tiêu khiển diễn ra quanh ngọn lửa ồn lên như những cuộc lửa trại.
Loài linh điểu im tiếng. Bầy dã thú xa lần, lòng người ấm lại bên ngọn lửa hồng.
Đám nai tinh nghịch ngày xưa không dám bén mảng ra đường nữa. Mỗi khi ông Cả Tiễn cấp ná, ngự trên mình con ngựa kim lần ra quan lộ tiêu sầu, con bạch lộc là chúa tể đàn nai, cúi đầu khép nép bên dòng suối nhỏ.
Ông Cả Tiễn mỉm cười bằng lòng với sự đắc thắng của mình giữa vùng thảo dã tắm ánh nắng tự do. Ông ngửa mặt lên trời cười dài. Ông giương ná bắn vào một trái guồi xanh đang nằm lắc lẻo trên dây như một cái lục lạc nhỏ. Mũi tên xuyên qua đúng giữa trái guồi, mắc lại ở “bánh lái”. Một dòng mủ trắng theo mũi tên nhọn nhỏ ròng ròng xuống mặt cỏ.
Ông Cả Tiễn gò cương ngựa đứng hẳn lại. Mắt ông ngùi ngùi. Trong tâm hồn phẳng lặng như mặt nước ao tù của ông bỗng như có một ngọn gió từ xa, từ quá khứ thổi lại.
Ông nghe như có muôn ngọn sóng náo nức réo trong đầu. Dòng mủ trắng nhỏ ra tự mũi tên nhọn kia khiến ông liên tưởng tới dòng máu của bọn đồng chí của ông đã nhuộm ướt một cõi sơn hà vì chí nguyện. Trái tim ông Cả Tiễn như trái guồi kia mang một vết thương đau nhói, vết thương ấy đến nay vẫn chưa lành trong lòng kẻ chiến bại.
Cả Tiễn nghiến răng:
- Cả Tiễn ơi! Ác tà hôm nay để thấy ngày mai lại rạng khắp cõi sơn hà. Đời mình chưa tắt sao để ngọn lửa lòng dập tắt? Không! Cả Tiễn chưa già. Ba mươi tuổi... Người con trai ba mươi tuổi chưa phải là già!
Cả Tiễn giục ngựa phi mau trên con đường gập ghềnh và bò lần xuống triền nổng, quanh co như mình rắn uốn khúc. Bên tai Cả Tiễn gió rít mạnh như tiếng quân hò.

2.
Năm hai mươi bốn tuổi là năm mà lòng tôi thật đã não nề thế sự. Tôi tìm về với thiên nhiên để chữa những vết thương quá khứ.
Tôi biết và quen, rồi thân ngay với ông Cả Tiễn. Xưa nay những kẻ thanh khí thường rất dễ yêu nhau. Ông Cả Tiễn và tôi thương nhau hơn những cặp tình nhân. Yêu nhau như thế mà chúng tôi hãy còn tiếc rằng chúng tôi gặp nhau rất muộn. Chỉ trong mười lăm hôm, chúng tôi đã bộc lộ hết can trường của nhau.
Cả Tiễn đẽo cho tôi một cây ná thật tốt và chỉ vẽ nghề bắn cho tôi.
- Tôi chỉ sợ sau khi tôi mất rồi, không còn người xử nổi cây ná của tôi.
Tôi hiểu câu nói chìm nghĩa của bạn, nên tươi cười nói với Cả Tiễn:
- Anh cả đừng lo! Sau anh sẽ có em thay thế. Không những em sẽ thay anh làm một tay thiện xạ mà thôi đâu! Em sẽ thay anh thực hiện cái chí nguyện mà anh tâm niệm hằng ngày. Chắc anh phải bằng lòng lắm.
Cả Tiễn sung sướng, ngạo nghễ vuốt má tôi và nghiêm giọng:
- Chú thông minh lắm, tôi tin rằng chỉ trong vòng một năm, tài “thiện xạ” của chú sẽ không nhường tôi nữa...
Rồi gã lại hạ thấp giọng:
- Chỉ trừ mũi Tổ!
Tôi tò mò:
- Mũi Tổ là mũi... thế nào?
- Người cầm ná kiêng nhất là mũi Tổ. Không một tay thiện xạ nào dám phạm tới mũi Tổ. Đã phạm tới mũi Tổ ắt phải mang tật suốt đời...
Sợ tôi chưa hiểu, Cả Tiễn giảng tiếp:
- Thường, những khi nhắm bắn “con mồi” trước mắt, người ta cố hết sức tránh mũi tên đừng lọt vào tròng mắt con mồi ấy. Nếu ta bắn trúng con mắt thú, tức là phạm tới “mũi Tổ” rồi vậy. Không bao lâu mắt ta tự dưng mù hẳn. Thế là suốt đời mang tật...
Tôi tỏ vẻ không tin trách bạn:
- Anh cả mà cũng “dị đoan” nữa sao?
Cả Tiễn nhìn thẳng vào mặt tôi có ý không bằng lòng. Nhưng giọng nói của Cả Tiễn không tỏ ra hờn dỗi:
- Có nhiều sự “dị đoan” mà chính mình cũng phải chịu, không hiểu nổi. Tôi đã thấy một người phạm vào mũi Tổ và đã mang tật mù lòa suốt bảy năm trường. Chúng mình không nên tin dị đoan, nhưng cũng cố tránh, đừng phạm đến mũi Tổ...
Tôi im lặng. Cả Tiễn cũng im lặng. Hai quả tim chúng tôi nhảy cùng một nhịp.
Tôi tha thiết yêu cầu Cả Tiễn:
- Anh cả ơi! Sao anh lại giấu tung tích anh kỹ vậy? Anh không tin lòng em sao?
Cả Tiễn khoát tay:
- Đừng! Đừng! Tôi xin chú chớ đá động đến chuyện ấy. Tôi đã thường nói với chú rằng tôi không có gia đình và quyến thuộc. Gia đình tôi là Tổ Quốc Việt Nam của chúng ta. Thân quyến tôi là những đồng bào đau khổ. Chú chưa hiểu nữa sao?
Tháng 9 năm ấy tôi về thọ tang phụ thân tôi, rồi bị sinh kế lôi cuốn tôi trở lại với gió bụi kinh thành.
Một hôm, tôi soạn lại chồng báo cũ, thấy có đăng hình một tay lãnh tụ lợi hại đã chống lại với chính phủ bảo hộ và đang bị truy nã. Cái tên “Cả Tiễn” là một cái tên bịa của một con người đang trốn lánh pháp luật kia vậy.

3.
Tháng Tám năm Ất Dậu...
Là một công dân Việt Nam nên tôi tham gia vào phong trào chống xâm lăng. Trong một cuộc hành binh quan trọng, chúng tôi bị cắt đứt liên lạc.
Quân Anh - Ấn đánh thẳng một đường ra Phan Thiết và thiết lập một “ổ canh phòng” giữa quan lộ. Một tên lính Ấn, đứng núp sau một ụ đất chĩa súng vào rừng. Nếu muốn trừ tên Ấn da đen ấy cũng không khó gì, nhưng một tiếng súng nổ sẽ làm hỏng đại cuộc.
Người ta nghĩ ngay tới Cả Tiễn và yêu cầu nhà thiện xạ “thanh toán” giùm. Cả Tiễn lúc bấy giờ đã bước vào hàng ngũ kháng chiến. Anh ta ngắm nghía một chút rồi nhìn thẳng vào tôi, buồn rầu nói:
- Tôi sẽ phạm vào mũi Tổ vì tên lính da đen kia chỉ cho ta thấy đôi mắt trắng dã của gã mà thôi! Đây có lẽ là mũi tên cuối cùng, chấm dứt cái tài thiện xạ của tôi. Nhưng, tôi không ngần ngại gì mà không hy sinh cho đại cuộc. Vâng! Tôi đã dành một mũi tên cho Tổ Quốc. Nay là lúc tôi dùng nó vậy!...
Một phát tên của Cả Tiễn buông ra, trúng ngay vào giữa mắt tên lính Ấn...
Ngay buổi chiều hôm ấy, cả đoàn chúng tôi đều bị bắt. Tôi nghe một người bạn kể chuyện:
- Cả Tiễn bị bắt được và bị đánh mù cả đôi mắt. Tội nghiệp.
Tôi nghe xương tủy mình ớn lạnh. Tôi lẩm nhẩm một mình:
- Mũi Tổ!

4.
Một năm sau tôi được trả tự do.
Một buổi chiều mưa gió năm kia, tôi đã đứng ngóng đò ở một bãi bến xa lạ. Không có thuyển sang ngang. Chỉ có một chiếc xuồng nhỏ xuôi dòng nước chảy. Tôi kêu gọi lòng “nhân đạo” của gã lái thuyền. Gã thuận cho tôi xuôi dòng nhưng yêu cầu tôi không được chui vào trong mui, vì trong mui đang có một người đàn ông bệnh hoạn.
Nhưng đầu giờ Tuất đêm ấy, mưa xuống như trút nước. Người đàn ông nằm trong mui thuyền gọi tôi:
- Quí khách ơi! Vào trong này mà tránh mưa. Tội
quá...
Tôi chui mình vào trong. Bóng tối đen như mực.
Tôi hỏi:
- Đèn đâu?
Gã đàn ông bệnh hoạn đáp:
- Đèn đóm mà làm gì? Từ hai năm nay tôi đã mất hẳn ánh sáng...
- Ông mù?
- Mù!
Tôi chợt nhớ ra một giọng nói quen thuộc. Tôi rung giọng hỏi liều:
- Có phải ông là... Cả Tiễn không?
Im lặng. Mãi mới nghe gã đàn ông đáp nhỏ:
- Không, tôi không phải là Cả Tiễn, tôi chỉ là một kẻ đui mù, từ hai năm nay, sống lẩn lút như loài vật...
- Tôi quẹt đèn lên, nghe!
Người đàn ông nguây nguẩy:
- Đừng! Đừng!
* * * * *
Nửa đêm hôm ấy, tôi lên bộ và theo dõi ánh trăng đi về hướng Tây bắc. Lòng tôi buồn hơn cả lúc nào. Chính tôi, tôi cũng không muốn rằng người khách mù trong thuyền kia là Cả Tiễn. Vì như thế, lòng tôi cũng sẽ đau xót lắm.
Tôi muốn níu thuyền trở lại và nhất quyết quẹt đèn lên để nhìn mặt người khách kỳ quái kia. Nhưng trên sông rộng lúc bẩy giờ chỉ có bóng sao mờ...
- Cả Tiễn ơi! Có phải em mới vừa gặp anh đó không?
Chung quanh tôi, bốn bề im phăng phắc. Làng mạc như chìm trong giấc ngủ không bao giờ tỉnh lại.
--------------------------
[1] Rừng rậm (LVS).
[2] Beo, báo.
[3] Cọp (LVS).
 
HẾT
0
Kòn Trô - Lý văn Sâm
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casa luôn vui
 
📎 thankyougif




0