Trang 220 đến hết
“Thật là, hoàn toàn vô ích khi con hy vọng tìm lại được ở trong xứ sở con, một sự kiện có thể xoa dịu những mối ưu tư lo lắng, lòng ao ước hăng say ấy, đã dõi theo con ở khắp các nơi chốn. Công trình khảo sát địa cầu không đem đến cho con một chút lợi ích nào, trong khi, con lại không có được một tâm tình hiền hòa của lớp người vô học.
“Chị con, với một thái độ dị kỳ, dường như đã chỉ thích làm gia tăng thêm nỗi sầu muộn của con. Chị đã rời khỏi Paris vài ngày trước khi con về tới. Con viết thư hẹn sẽ tìm gặp chị. Chị vội vã trả lời con, với mục đích làm cho con chuyển đổi ý định, lấy cớ rằng, chị không chắc đã lưu lại ở nơi mà chị đã được gọi tới, vì những công việc riêng tư của chị. Thật là một phản ứng buồn nản, mà con không hề nghĩ tới, về mối tình thân hữu - Gần nhau thì lạnh nhạt, xa mặt thì cách lòng. Tình thân hữu không thể chống kháng nổi với những điều bất hạnh, mà còn làm suy giảm cả sự may mắn, hanh thông!
“Thế là, ngay khi ở trong đất nước của mình, con đã cảm nhận thấy mình bị lẻ loi cô đôc hơn cả lúc còn ở nơi xứ lạ quê người. Con chỉ muốn được lao mình vào một thế giới, mà ở đó, không có một ai thèm nói với con một lời nào, và không có một ai thèm nghe con nói một tiếng nào, trong một vài giây phút. Tâm hồn con, một tâm hồn chưa từng bị dục vọng làm hư hỏng; đã phải kiếm tìm một đối tượng, hầu có thể trói buộc mình vào đó. Nhưng con đã nhận thấy rằng, mình cho ra thì nhiều, và tiếp nhận lại chẳng được bao nhiêu. Không những đã chẳng có một ngôn ngữ xây dựng nào, mà còn chẳng có một tâm tình thâm trọng nào lưu ý đòi hỏi ở con. Con chỉ còn biết tiêu phí hết mọi thời giờ để thu hẹp đời sống của con lại, và cũng để đặt đời sống của mình ngang hàng với tầm mức của xã hội. Ở khắp nơi, con đã đối xử với mọi người theo một thái độ cuồng ngông nhưng chính con, con lại hổ thẹn với vai trò con đang thủ diễn, dần dần con chán ngấy mọi sự vật và mọi lớp người, con đã lui về ẩn trú tại một vùng ngoại ô, để được sống một nếp sống không ai biết tới mình.
“Thoạt đầu, con cảm thấy vui thỏa với nếp sống tối tăm và tự lập. Vì nhớ tình trạng xa lạ, con đã hòa mình vào với đám đông: khu vực cô tịch bát ngát của loài người!
“Con thường ngồi ở trong một ngôi giáo đường thưa thớt người lui tới, để kinh qua những giờ phút đắm mình suy tưởng. Con đã nhìn thấy những người đàn bà nghèo khổ, đến bái lạy ở trước bàn thờ đức chí tôn, hoặc những kẻ có tội đến quỳ gồi ở nơi phòng xưng tội. Không một ai khi ra khỏi các nơi chốn ấy mà lại không có một bộ mặt bình ổn thanh tịnh, và dường như, những tiếng ồn ào âm ỉ mà người ta đã nghe thấy, từ bên ngoài, giống như những lượn sóng của đam mê và của nghịch cảnh ở nơi trần thế đã kéo về để ngưng đọng lại ở dưới chân ngôi điện đài thờ phụng Thiên Chúa. Thượng đế người đã nhận thấy những giọt lệ bí ẩn của con tuôn đổ, trong lúc con ngồi ở trong khu vực ẩn trú linh thiêng này, chắc người cũng đã biết rằng, con đã từng quỳ ở dưới chân người biết bao nhiêu lần, để khấn nài người, hãy cởi bỏ giúp con các gánh nặng tồn sinh, hoặc hãy thay đổi giúp con cái-người-xưa-cũ ở trong con! Than ôi, có ai đã không cảm thấy, một đôi lần nhu cầu được tái sinh, nhu cầu được cái lão hoàn đồng theo với những làn nước của giòng thác, nhu cầu được tôi luyện lại tâm hồn ở trong giòng đời hay không nhỉ? Và có ai, một đôi lần, đã không cảm nhận thấy gánh nặng của sự đồi trụy ở bản thân và tình trạng bất khả thực hiện những công trình vĩ đại cao quý, và công minh, hay không nhỉ?
Khi chiều tới, trên đường trở về nơi ẩn lánh, con đã dừng chân đứng lại ở các cây cầu, để ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn. Vừng dương, trong lúc nổi bật lên ơ giữa đám hơi nước của thành phố, đã nhẹ nhàng lay động ở trong một làn chất lỏng vàng ối, nom chẳng khác chi một quả lắc đồng hồ của hằng bao thế kỷ. Cuối cùng, con đã lui bước về với bóng đêm, băng ngang qua một mê cung đường phố tịch mịch. Ngắm nhìn những làn ánh sáng từ nơi cư trú của loài người hát tỏa ra, con đã liên tưởng tới những cảnh trạng đau thương và vui thỏa, mà lớp lớp ánh đèn kia đang soi chiếu. Và, con nghĩ rằng dưới vạn ngàn mái ngói của các vùng cư trú, con đã không có lấy một người bạn nào. Giữa cơn suy tưởng của con, giờ khắc vẫn lạnh lùng đập một cách chừng mực, ở trong những vòng tháp của ngôi nhà thờ chính tòa, xây theo kiểu Gô Tích. Nhịp đập ấy đã được nhắc đi nhắc lại ở khắp các khoảng cách từ ngôi nhà thờ này sang ngôi nhà thờ kia, bằng nhiều loại âm điệu khác biệt nhau. Hỡi ôi, mỗi giờ khắc lại có thêm một ngôi mộ được khai mở ra ở trong xã hội và mỗi giờ khắc đã làm tuôn đổ ra biết bao nhiêu giòng lệ.
“Nếp sống, thoạt đầu, đã đem lại cho con tình tự mê say, thoải mái, chẳng bao lâu, đã khiến cho con không thể chịu đựng nổi nữa. Con mệt mỏi vì phải nhại đi nhại lại những cảnh trạng và những suy tư giống y hệt nhau. Con đã đặt vấn đề dò tìm con tim của con, bằng cách tự hỏi xem con muốn gì. Nhưng con không thể hiểu nổi, thình lình, con bỗng tin tưởng rằng, rừng cây có thể sẽ đem lại cho con tình tự khoan khoái. Thế là, bất chợt, con có ý định phải đầy ải mình vào một khu vực đồng nội, để khởi sự hoàn tất một công việc cực nhọc, mà con đã từng bị ngấu nghiến ở trong đó hẳng bao nhiêu thế kỷ qua.
“Con hăng say ôm chặt lấy dự định đó, dự định mà con đã đặt hết chú tâm vào. Con hối há lên đường để tự chôn vùi mình ở trong một căn lều gianh, giống y như hồi xưa lúc con đã lên đường đi vòng quanh thế giới vậy.
“Con bị thiên hạ cáo buộc là đã có những sở thích bất thường, không thể thụ hưởng lâu dài một loại ảo vọng tương tự, do đó, con đã trở thành con mồi của giòng tưởng tượng, lúc nào cũng hối hả tiến vội tới điểm tột cùng của những niềm vui thỏa, dường như, giòng tưởng tượng đó đã bị ép nén, bởi những hạn kỳ của nó: Hỡi ôi, con đã chỉ kiếm tìm một điều tốt lành vô danh vô tướng, mà bản năng của con hằng săn đuổi. Phải chăng, đó là lỗi của con, cho nên, con đã tìm thấy các chung điểm mốc hạn ở khắp mọi nơi, cho nên, nơi ngưng nghỉ của người khác đã chẳng có một giá trị nào đối với con cả. Trong khi, con cảm thấy ưa thích loại tình cảm đồng điệu của đời sống, và nếu như, con vẫn còn tin tưởng mãnh liệt về hạnh phúc, thì có lẽ đó chỉ là, một sự kiếm tìm theo thói quen của con mà thôi!
“Tình tự cô đơn tuyệt đối, cảnh trí của thiên nhiên, đã lao ném con vào trong tình trạng, hầu như, không thể diễn tả nổi. Không cha mẹ, không bạn bè, có thể nói được rằng, con đã bị bơ vơ một mình ở trên cõi dương thế này, và đang mò mẫm tìm kiếm “tình yêu”, đồng thời, đã bị sức sống quá độ đè trĩu lên đôi vai. Thỉnh thoảng, con đã đỏ mặt bất thần vả cảm thấy như đã có những giòng phún thạch đặc quánh luôn chảy ở trong tim. Thỉnh thoảng, con thốt ra những tiếng kêu vô cớ, và, ngay trong lúc đêm khuya, con đã bị rối động bởi những giấc mộng mị và những cơn trằn trọc. Hố thẳm sinh tồn ở nơi con đã không thể đong đầy nổi, có lẽ là vì, con đã thiếu thốn một vài sự vật gì đó: Con đi xuống lũng thấp, con trèo lên đỉnh non cao, và đã tận dụng lòng thèm khát, để thét gào đòi hỏi cái thể tài lý tưởng của ngọn lửa trong tương lai. Con ôm giữ thể tài đó, ở giữa những cơn gió. Con ngỡ rằng mình đã nghe thấy tiếng nói của thể tài đó ở trong những cơn rên xiết của giòng sông, nhưng, tất cả đều chỉ là bóng ma ảo tưởng, ngay cả các vì tinh tú của trời cao, ngay cả những nguyên tắc về đời sống của vũ trụ.
“Song le, tình trạng bình ổn và rối động, thiếu thốn và đầy ắp, phải chăng chính là một vài lạc thú: Một hôm, con đã ngồi tẩn mẩn, bứt từng chiếc lá từ một cành dương liễu, ở bên cạnh giòng suối và đã gắn chặt suy tư theo từng chiếc lá đang bị giòng nước cuốn trôi. Có thể bảo rằng, một vì quân vương, trong thời gian đang e ngại bị mất chiếc vương miện, do một cuộc cách mạng bất thần xảy ra, cũng không có được những tình tự sầu buồn quá mãnh liệt giống như trường hợp của con vào những lúc mà những mảnh tàn tích của cành dương liễu đang gặp phải những đe dọa hiểm nghèo. Ôi, yếu đuối thay những kẻ đã quá vãng! Ôi, ấu trĩ thay cho những con tim chẳng bao giờ già dặn nổi! Vậy thì, tình tự ngây thơ phải ở vào mức độ nào, lý lẽ đồ sộ lớn lao mới có thể hạ giảm xuống được! Và, thêm nữa, phải chăng, đã có một số người thích ràng buộc phần số của họ vào những sự vật còn kém giá trị, hơn cả những chiếc lá dương liễu của con?
“Nhưng làm sao để biểu lộ được, những chuỗi cảm xúc thoáng qua, mà con đã nghiệm thấy ở trong những chuyến du hành của con? Các âm thanh tạo nên tình tự say đắm trong khoảng trống vắng của con tim đơn độc, giống như tiếng thầm thì của gió và của nước, mà người ta đã nghe thấy, ở trong một tình trạng tĩnh lặng tại các vùng hoang tịch: Người ta có thể thụ hưởng tình trạng đó, nhưng người ta không thể phác họa lại nổi.
“Mùa thu, đã đến với con vào giữa tình trạng tiến thoái lưỡng nan ấy: Con mê say bước vô lớp tháng ngày của bão tố. Có lúc, con đã muốn trở thành một chiến sĩ lang bạc kỳ hồ ở trong những cơn gió, những đám mây, và những bóng ma. Có lúc, con đã thèm khát được sống đời sống của lớp mục tử mà con đã nhìn thấy họ hơ tay trên đống lửa đơn giản của đám cây gai, tại một góc rừng. Con lắng nghe tiếng hát u sầu của họ, tiếng hát khiến cho con gợi nhớ được rằng, ở khắp các xứ sở, tiếng hát tự nhiên của con người luôn luôn buồn bã, ngay cả khi họ muốn biểu dương nỗi niềm hạnh phúc của họ. Con tim của chúng ta là một khí cụ bất toàn, một chiếc đàn thụ cầm thiếu dây, và một chiếc đàn thụ cầm mà chúng ta đã gắng sức tạo ra các âm thanh vui thỏa trên những cung bậc chỉ dành cho những tiếng kêu than.
“Ban ngày, con lạc lõng giữa đám thạch thảo bát ngát, ở tận cùng của các khu rừng cây. Nơi không thiếu những sự kiện để con mơ mộng! Một chiếc lá khô đang bị cơn gió đẩy đưa ở trước mặt con, một mái tranh nghèo với làn khói lam vươn mình khỏi đám cây lá, lớp rêu trên thân cây sồi run rẩy bởi cơn gió bấc, một viên đá tảng đơn chiếc, hẻo lánh, một hồ nước tịch mịch, thâm u, nơi cỏ lác héo úa, tàn tạ đang thám thì! Tiếng chuông cô quạnh nổi lên ở mãi phía lũng xa, đã thường lôi cuốn tầm nhìn của con, con thường dõi mắt trông theo những bầy chim di hành, băng ngay qua đỉnh đầu con. Con mường tượng tới các bờ bến mới lạ, những vùng khí hậu ở chốn xa xăm, nơi bầy chim trời sẽ bay tới. Một bản năng thầm kín đã làm cho con quay cuồng, sầu khổ. Con cảm thấy mình chỉ là một lữ khách, không hơn không kém, nhưng, một giọng nói từ phía trời cao, dường như, đã bảo với con rằng: “Này người kia, cuộc di hành của đời người đâu đã tới, ngươi hãy đón đợi cơn gió tử thần nổi dậy, để mà mở cánh tung bay về nơi phương trời xa lạ, nơi con tim cửa ngươi đang ngóng đợi, trông chờ”.
“Hỡi trận giông bão đang được đợi mong kia ơi, mi hãy mau mau cuốn thổi để mang theo tên René này tới miền sống mới! Phải nói rằng, ta đang rảo bước, với bộ mặt đỏ lửa, với tiếng gió hú gào trên mái tóc, không màng tới mưa đổ, sương rơi, sấu bi, vui sướng và đã đang đắm đuối bởi tình tự tinh quái của con tim.
“Đêm về, khi những đợt gió bấc kéo tới, lay chuyển căn lều của con, khi những cơn mưa như thác lũ rót đổ ào ào trên mái nhà của con đang cư ngụ, lúc mà, qua song cửa sổ, con đã nhìn thầy vầng trăng đang xé nát lớp lớp mây trời, nhìn chẳng khác chi một con tầu nhợt nhạt đang cầy sới những làn sóng cả, sức sống đã dâng tràn rào rạt, bội tăng lên ở trong người con, dường như, con đã dư thừa năng lực để tạo tác hằng hà thế giới. Ôi, giả như con có thể san sẻ với một người khác sức chuyên chở mà con đã cảm nhận được! Ôi Thượng đế! Nếu như Ngài đã cung dưỡng cho con một người đàn bà theo đúng với sở ước của con: Nếu với địa vị của một người cha đầu tiên của chúng con, Ngài đã đem đến cho con một nàng Eve rút tia ra từ thân xác con... Hỡi Thượng đế tuyệt mỹ ơi! Con sẽ quỳ gối ở trước mặt Ngài, để Ngài ôm ấp con trong vòng tay Ngài, và con sẽ khấn nài mãi mãi, để được dâng lên Ngài những ngày cuối cùng của đời con.
“Hỡi ơi! Con là một kẻ cô độc, cô độc ở trên thế gian này! Một tình tự uế oải thầm kín đang xâm chiếm khắp thể xác con. Tình tự nhờm tởm đời sống mà con đã thụ nhận được từ thuở ấu thời, đang kéo tới với một nguồn lực đạo mới mẻ. Giờ đây, trái tim của con đã không còn đủ sức cung dưỡng các món ăn cho suy tư của con nữa, và con chỉ còn nhận thấy được một tình cảm chán chường buồn nản; ngập tràn ở trong cuộc sinh tồn của con.
“Hỡi thầy tư tế của miền thượng giới cao cả, Ngài hãy lắng nghe lời van cầu của con, hãy tha thứ cho một kẻ khốn khổ, kẻ mà trời cao, hầu như, đã dành cho hắn những lý lẽ riêng tư. Con là một kẻ sùng mộ, nhưng con đã lý luận như một tên bội nghịch phản đạo, lòng con luôn kính yêu Thượng đế, nhưng tâm não con lại phủ nhận Ngài. Hạnh kiểm của con, lời diễn từ của con, xúc cảm của con, suy tư của con, chỉ là những mâu thuẫn, những ngu xuẩn, những dối trá. Nhưng, nếu như con người đã thông hiểu rõ điều mình ước muốn, thì họ có luôn luôn tin tưởng chắc nịch được những điều gì họ đã nghĩ ra, hay không?
“Cùng một lúc, tất cả đã vượt thoát khỏi tầm tay của con, tình thân hữu, cõi thế gian, nơi ẩn trú. Con đã từng xét nghiệm về mọi sự kiện, nhưng tất cả chỉ là sự tàn hại, ác độc. Bị xã hội đẩy đi, bị Avuene bỏ rơi, không những thế con còn bị thiếu vắng cả đến sự cô độc, thì, con còn có gì nữa đây? Sự cô độc chính là mảnh ván cuối cùng, mà con hy vọng vào để cứu rỗi cuộc đời của con, thế mà, giờ đây, con có cảm tưởng rằng, nó cũng đang bị chìm lún xuống vùng vực thẳm nốt!
“Nhận thấy rằng, mình phải gạt bỏ hết mọi gánh nặng của cuộc sống, con cương quyèt đặt tất cả các lý lẽ vào những hành động thật phi lý. Không có gì thúc bách, nên con không định rõ ngày mình sẽ lên đường, hầu có thể say sưa tận hưởng những giây phút tận cùng của cuộc sống, và có thể gom góp được tất cả mọi nguồn sức mạnh, bắt chước theo một nhân vật cổ xưa [1], nhằm tìm hiểu về trạng thái thoát xác của con.
“Đúng lúc ấy, con ngỡ rằng mình cần phải thu xếp những vấn đề liên hệ về tài sản của con, bởi vậy, con đã bắt buộc phải viết thư cho chị Amélie. Mọi phiền hà về việc chị lãng quên con, hình như, đã vượt ra khỏi vùng suy tư của con,
[1] Tác giả muốn đề cập tới nhân vật Canus Julius, theo bài khảo luận của triết gia Sénèque, nhan đề là “De tranquillitate Amini”
và chắc chắn là, con đã phó mặc cả những nỗi đau thương đang dần dần xuyên thẳng vào tim óc của con. Song le, con tin rằng, mình đã trộn lẫn một vài tư tưởng thầm kín vào lá thư, cho nên, chị con; người từng quen thuộc với nếp suy tư của con đã đoán ngay được không mấy khó. Chị hoảng sợ vì những giọng điệu đối nghịch ở trong bức thư của con, và những câu tra tấn về các công việc, mà xưa nay con chưa hề bao giờ lý đến. Vì thế, đáng lẽ trả lời con, chị đã bất thần đến tân nơi gặp lại con.
“Phải chăng vì cảm nhận thấy mình đang chìm ngập ở trong một trạng thái đau thương, chua xót. Phải chăng vì những chuyên chở ở trong con, cho nên vừa gặp chị Amélie, một người độc nhất mà con ưa thích ở trên cõi trần hoàn này, một người mà con đã hội tụ tất cả cảm tình, kèm với những kỷ niệm của thời thơ ấu vào đó. Con đã tiếp đón chị trong một trạng thái cực kỳ hân hoan. Hay có lẽ, đã từ lâu con không tìm thấy được một người nào biết lắng nghe con nói, một người mà ở trước mặt họ, con có thể bộc lộ hết tâm hồn của con ra!
“Chị Amélie lao mình vào trong vòng tay của con, và bảo con rằng: “Cậu bạc ác lắm, cậu định chết, bỏ mặc chị sống một mình! Cậu nghi ngờ cả tấm lòng của chị; Cậu đừng vội giải thích, cậu cũng đừng xin lỗi, chị hiểu hết, chị biết hết, biết như chị đã sống ở kế cận bên cậu bấy lâu nay vậy. Phải chăng chị, người đã bị cậu dối gạt, chính là người đã nhìn thấy những xúc kích đầu tiên của đời cậu? Đây cũng là những đặc tính khốn khổ của cậu, những khinh khi, nhàm tởm của cậu, những nỗi bất công của cậu. Hãy thề đi, trong khi chị đang ôm cậu sát vào con tim của chị, hãy thề đi, thề rằng, đây là lần cuối cùng mà cậu đã trao phó cậu cho ý nghĩ cuồng điên của cậu, hãy tuyên thệ là đừng bao giờ xâm phạm tới chuỗi ngày sống của cậu, hãy thề đi”.
“Nói một thôi một hồi xong, Amélie ngừng lại nhìn con với vẻ âu yếm, từ ái, rồi hôn tới tấp lên trán con, chị hầu như đã là một bà mẹ, chị chính là một sự vật thật êm ái, nhu hòa. Hỡi ơi! Con tim của con đã rộng mở, với tất cả niềm vui thỏa giống như một đứa trẻ, con chỉ cầu mong được an ủi, dỗ dành, thế là con đã nhường bước vì tấm lòng bao la của chị Amélie. Chị đòi con một lời thề nguyện trang nghiêm, trịnh trọng. Con đã thi hành lệnh đó ngay lập tức, không một chút ngập ngừng, và cũng không nghi ngờ gì rằng, kể từ đó về sau, con sẽ có thể bị khốn khổ.
Trải qua hơn một tháng trường, chúng con đã tập thành được thói quen chung sống bên nhau. Mỗi buổi sáng, thay vì, chỉ thấy có một mình con, con đã nghe thấy tiếng nói của chị con, con đã cảm nhận được những cơn rùng mình vì vui sướng và hạnh phúc. Chị Amélie thì thụ cảm được một vài hiện tượng thánh linh của thiên nhiên, tinh thần của chị cũng tràn ngập đường nét ngây thơ như thể xác của chị, tính tình của chị thật nhu hòa, hiền dịu, dường như, chị chính là chất vị ngọt ngào pha thêm một đôi chút mộng mơ. Người ta cho rằng, tấm lòng của chị, suy tư của chị và tiếng nói của chị giống như một khúc hòa tấu nhịp nhàng, chị đã giữ được tính tình e thẹn, rụt rè của nữ tính, cộng thêm với tình tự yêu thương, cùng sự tinh khiết và êm ái của chư vị thiên thần.
“Thời gian mà con phải đền tội bất nhất của con đã tới. Giữa cơn cuồng nhiệt của con, con đã mơ ước chuốc vào mình một sự bất hạnh, để ít ra cũng có một sự kiện đích thật có thể tạo nên được mối đau thương cho con: Con hoảng sợ khấn ước rằng, trong cơn thịnh nộ, Thượng đế đã chuẩn nhận sự kiện đó một cách quá tả!
“Hỡi các người bạn thân mến của con ơi, con phải trình bầy thế nào với các người đây! Các người hãy nhìn những giòng lệ đang tuôn đổ ra từ đôi mắt của con. Giá như, con có thể... không để cho một ai moi móc được những điều thầm kín của con, như mấy ngày trước đây... Nhưng hiện tại, thì đã chấm dứt rồi!
“Các vị lão giả ơi, tuy thế, câu truyện này cũng sẽ không bao giờ bị chôn vùi ở trong vùng hoang tịch này đâu: Mặc dù, quý vị đã biết là, câu truyện chỉ được kể lại ở dưới gốc cây thuộc vùng hoang dã!
“Mùa đông đã hết, đúng vào lúc ấy, con nhận thấy chị Amélie đã không còn ở vào tình trạng ngơi nghỉ, sức khỏe của chị khởi sự sút giảm lần lần vì con. Thân xác chị gầy guộc, mắt chị trũng sâu, dáng đi của chị uể oải, tiếng nói của chị rối động, bất bình thường. Một hôm, con ngạc nhiên thấy chị vừa khóc vừa quỳ ở trước một cây thập tự giá. Thế gian, tình tự cô đơn, những lúc vắng bóng con, những khi có mặt con, đêm tối, ngày dài, tất cả đều làm cho chị hoảng hốt. Những tiếng thở dài vô duyên cớ đã được thốt ra từ đôi môi của chị. Có lúc chị chịu đựng nổi những chuyến du hành khá xa, không hề biết mệt mỏi. Có lúc, chị cảm thấy khó khăn trong mọi vấn đề, chị bày công việc ra làm, để rồi bỏ dở lưng chừng, chị mở một cuốn sách ra đọc, để rồi chẳng buồn đọc, chị khởi đi được mấy câu đầu để rồi bỏ rơi những câu cuối, bất thần mắt chị đổ lệ chan chứa, và, chị đã rút vào một nơi ẩn trú kín đáo để khấn nguyện.
“Con đã luống công vô ích trong việc kiếm tìm sự bí ẩn của chị. Khi con ôm chị vào vòng tay, và han hỏi chị về sự bí ẩn đó, chị chỉ biết mỉm cười, vì cũng như con, chị đâu có hiểu nổi điều mà chị đã bị ám ảnh.
“Ba tháng trôi qua, với thực trạng mỗi ngày một tệ hại hơn. Có lẽ, do sự liên lạc thư từ thầm kín của chị, đã khiến cho chị phải đổ lệ, chị đã tỏ ra rất bình thản, hoặc, thật là xúc động, tùy theo những lá thư mà chị nhận được. Thế rồi, một buổi sáng, con đã nhận thấy sự vắng mặt của chị, khi giờ ăn sáng đã trôi qua khá lâu. Con vội vả trèo lên căn phòng của chị, con gõ cửa, nhưng không nghe thấy một tiếng hồi đáp, con mở tung cửa ra, bên trong không có một bóng người. Con chỉ còn nhận thấy một bó giấy ở trên mặt lò sưởi. Con chộp lấy, mở phanh ra, và đọc ngấu nghiến bức thư này, bức thư mà con đã gìn giữ cho tới nay, để có thể tước bỏ những cử chỉ vui vẻ, trong suốt nếp sống ở tương lai.
René,
“Em thân mến của chị, có trời chứng giám cho chị, là chị đã sẵn sàng cung ứng cho em cả ngàn cuộc đời của chị, để tránh cho em khỏi bị sa đọa vào những phút giây khổ đau, chốc lát. Nhưng, bất hạnh thay chị đã không thể dành đời chị cho hạnh phúc của riêng em. Em hãy tha thứ hành động bỏ đi khỏi nhà em, môt cách lén lút, như một tên tội phạm, của chị, chỉ vì chị biết rằng, không thể trì kháng nổi với những lời khẩn nài của em, trong khi, chị phải đi... Thượng đế hãy thương xót dùm cho con!
“René ơi, em biết rõ là, chị đã hướng về một cuộc đời sùng mộ. Trong lúc này, giờ đã điểm, chị phải tuân theo lệnh gọi của trời cao. Tại sao, chị đã chậm trễ như vậy! Thượng đế đã trừng trị chị... Em hãy tha thứ cho chị, trong lúc chị đang bị dày vò những nỗi đau thưo8ng, khi phải xa rời em.
“Em thân mến của chị, giờ đây, chị cảm nhận thấy cần phải được nương náu vào những nơi dưỡng viện ấy, ngược lại, chị đã nhìn thấy em cao trọng hơn. Có những kẻ bất hạnh đã phân cách chúng ta khỏi cuộc sống của nhân loại: nếu không như vậy, thì, hỏi rằng, lớp người khốn khổ ấy sẽ ra sao?... Chị đã bị phân tán, bối rối bởi chính em, em ạ, lý do, em đã không tìm thấy được nơi ngơi nghỉ ở trong phạm vị ẩn trú của tôn giáo: Thế gian này không dâng hiến bất cứ một vật gì cho ta cả, nếu như ta không xứng đáng.
“Chị không đề cập tới lời thề của em: Chị biết là, em luôn trung thành với những lời em nói. Em đã tuyên thệ rằng, em sẽ sống vì chị. Thật không còn gì khốn khổ cho bằng tình trạng suy tư liên tục về vấn đề xa lánh cuộc đời? Em hãy tin rằng, chị mới là một người rất khó sống được ở trên đời này.
“Em thân mến của chị ơi, em hãy mau ra thoát khỏi tình trạng đơn côi, một tình trạng không đem lại cho em một điều gì tốt đẹp cả, hãy kiếm tìm một việc làm để sốc vác, gánh gồng. Chị biết rằng, em sẽ mỉm cười chua chát về những điều cần thiết, mà những con dân của nước Pháp đang ôm vác. Nhưng em chớ có khinh thường những kinh nghiệm và những khôn ngoan của cha chúng ta. Thà rằng, hãy giống với những con người bình thường, một đôi chút, để giúp ta bớt khổ, vẫn hơn, em thân mến của chị ạ!
“Có thể rằng em sẽ tìm thấy được nguồn an ủi nỗi chán chường, buồn nản của em trong hôn nhân. Môt người vợ, môt đám con thơ, sẽ làm cho em bận bịu suốt ngày. Tại sao, một người đàn bà lại sẽ không đem cho em tình tự sung sướng, hạnh phúc được nhỉ? Với tâm hồn nồng nhiệt của em, với thiên tài tuyệt mỹ của em, với vẻ dạng quý phái và mê đắm của em, với cái nhìn kiêu kỳ và hiền dịu của em, tất cả mọi sự kiện ấy sẽ tạo cho em một niềm tin về tình yêu và sự trung thành của người phối ngẫu. A, với tình trạng ngọt ngào, vui vẻ của em, mà lại không lôi kéo được nàng vào trong vòng tay của em, và ép sát được nàng vào con tim của em sao! Nhất định, tất cả những ánh mắt của nàng, tất cả những suy tư của nàng, sẽ ràng buộc lấy em, giúp em tránh khỏi được những cơn đau thương khổ ải! Nàng sẽ dâng cho em tất cả tình yêu, tất cả mọi hổn nhiên, ngây dại và tin rằng em đã tìm thấy được một cô em gái vừa ý.
“Chị sẽ tới tu viện... Tu viện này được xây dựng ở trên bờ biển, rất thích hợp với hoàn cảnh của tâm hồn chị. Đêm đêm, nằm ở trong căn phòng của chị, chị đã nghe thấy những tiếng thầm thì của sóng, vỗ đập lên các bờ tường của tu viện. Chị sẽ mơ tưởng tới những cuộc du hành với em, ở giữa rừng cây, khi mà, chúng ta đã ngỡ rằng, chúng ta đang nghe thấy những tiếng động của biển cả, ở trên các đỉnh ngọn thông cao. Hỡi người bạn đường thân quý, trong thời thơ ấu của ta ơi, phải chăng ta sẽ không còn gặp lại bạn nữa? Hơn bạn một vài tuổi, ta đã từng đong đưa chiếc nôi của bạn, chúng ta cũng thường chung ngủ bên nhau. A, giá như, chúng ta sẽ cùng được nằm chung với nhau trong một nấm mộ, vào một ngày nào đó nhỉ! Nhưng không đâu: Ta sẽ phải nằm một mình, ở dưới tấm đá hoa cương lạnh lẽo tại nơi thánh đường này, nơi ngơi nghỉ của các thiếu nữ không hề được yêu thương.
“Chị không hiểu rằng em có đọc nổi những giòng chữ hoen ố bởi những giọt nước mắt của chị hay không. Sau cùng, hỡi người bạn của ta ơi, sớm muộn gì, chúng ta cũng phải chia biệt nhau? Vậy bạn có cần ta cung dưỡng cho bạn, về những bất định của cuộc đời và một đôi chút trị giá về đời sống, hay không? Bạn hãy nhớ tới trường hợp của người trai trẻ tên M... Người đã bị đắm tầu tại Isle-de-France. Khi mà bạn nhận được lá thơ cuối cùng của anh ta, một vài tháng sau khi anh ta chết, lúc mà di hài của anh ta không còn tồn tại ở trên thế gian này nữa, thì chúng ta mới bắt đầu để tang ở Âu châu, trong khi anh ta đã được chôn cất ở mãi tận Phi châu. Phải chăng, con người đã vùi lấp kỷ niệm một cách thật nhanh chóng. Một phần lớn bạn bè của anh ta đã không thể biết được cái chết của anh ta, một vài kẻ khác lại đến an ủi, chia buồn với họ. Như vậy, thì thế nào là thân thiêt, thế nào là không thân thiết, hả René, kỷ niệm về chị có thể bị vùi dập nhanh chóng ở trong tâm hồn em hay không, nhỉ! Ôi em thân mến của chị, nếu như chị có tách rời em trong thời gian này, cũng chỉ là vì chị không muốn cách biệt với em ở trong miền vĩnh cửu vậy.
Amélie,
T.B. “Chị đính kèm theo đây bản khế ước chuyển nhượng tài sản của chị cho em, mong rằng vì dấu tích của tình bằng hữu, em chớ có từ chối”.
“Sét đánh ở ngay dưới chân con, cũng không gây được niềm hãi hùng so với lá thư đó. Không biết chị Amélie đã giấu diếm con một bí ẩn gì? Không biết ai đã vừa ép buộc chị phải chấp nhận gia nhập vào đời sống tôn giáo? Vì đâu chị đã không ràng buộc với cuộc sinh tồn của con, mà đã bất thần bỏ rơi con? Ôi, tại sao chị đã tới để lật ngược mọi dự tính của con? Hành vi thương xót đã nhắc nhở chị trở về với con, nhưng lập tức sự mệt mỏi vì phần vụ nặng nề, đã khiến cho chị phải hấp tấp rời bỏ một kẻ khốn khổ, bất hạnh, kẻ chỉ còn tin cậy vào có mỗi một mình chị, ở trên thế gian này. Người ta thường nghĩ rằng, phải làm tất cả những gì có thể làm được, khi mà người ta muốn ngăn giữ một kẻ tìm chết! Đó cũng chính là những bực bội của con. Trở về với bản thân lúc đó, con đã lẩm bẩm nói:
“Bạc bẽo thay, chị Amélie, nếu chị ở vào hoàn cảnh của em, nếu, cũng như em, chị đã từng bị mất hút trong sự trống vắng của những ngày dài, thì chị sẽ không buông bỏ được em của chị đâu.
“Trong khi đọc lại bức thư, con cảm thấy ở trong đó đã không chứa chất một sự kiện gì quá buồn thương và quá dịu nhẹ, nhưng mà nó đã làm cho trái tim con rã rời, tan nát. Bất thần, một ý kiến thoáng hiện đến với con đã làm cho con có được một chút hy vọng: Con ngỡ là chị Amélie đã mê say một người đàn ông nào đó, nhưng mà chị không dám thú nhận. Tình trạng khả nghi ấy đã được con giải thích, bằng vào, nỗi niềm ưu uất của chị, những thư từ liên lạc bí mật của chị, và giọng điệu say sưa đã thoát ra từ trong bức thư. Con lập tức viết cho chị, yêu cầu chị hãy cởi mở con tim của chị ra cho con thấy.
“Chị đã hồi đáp ngay tức khắc, nhưng chị đã không đả động gì tới những bí mật của chị: Chị chỉ cho con hay rằng, chị đã bắt buột phải giữ gìn những cấm đoán của thời kỳ sơ tu, rằng chị đã bày tỏ xong những lời ước nguyện của chị rồi.
“Con đã phẫn nộ về sự lì lợm của chị Amélie, về sự bí mật qua những lời lẽ của chị, và về tình tự kém tin tưởng của chị đối với tình thân hữu của con.
“Sau một thời gian ngập ngừng vì định kiến mà con đã vương mang, con quyết định tới B... để hành sử nốt khả năng cuối cùng của con đối với chị con. Mảnh đất mà con đã được dưỡng nuôi trong lớp tuổi thơ ấu, nằm ngay ở trên đường con đi qua. Khi con nhận thấy những khu rừng, nơi con từng rong ruổi, trong thời kỳ sung sướng nhất của cuộc đời con, con đã không cầm giữ nổi những giòng nước mắt, và cũng không cất lên được một tiếng giã biệt cuối cùng với chúng.
“Anh trưởng của con đã bán phần gia sản do cha mẹ con di nhượng cho anh, nhưng người chủ mới không cư ngụ tại nơi này. Con đã tới lâu đài, sau khi vượt qua một thông lộ dài đầy tùng bách. Con đã đi bộ băng ngang qua những chiếc sân hoang vẳng, con đã dừng lại, để ngắm nghía những cánh cửa sổ nửa khép nửa hở, hoặc, nửa tàn tạ đổ vỡ, đám cỏ gai bắt rễ ở chân tường, những chiếc lá chất đầy trên ngưỡng cửa ra vào, bực thềm hoang vắng, noi mà con thường thấy cha con xuất hiện với mấy người nô bộc trung tín. Giờ đây các bậc tam cấp đã phủ kín bởi rêu xanh. Những cây đinh hương vàng hoe vươn lên ở giữa những khe đá tảng rã rời, lủng liểng. Một người gác dan bất thần mở cửa, xuất hiện ở trước mặt con. Con ngập ngừng tại ngưỡng cửa, người ấy liền la lớn lên: “Ê!... chắc câu cũng tới thăm viếng, giống như cô thiếu nữ xa lạ đã đến đây, vài ngày trước, phải không? Cô ta đã bị chết giấc, lúc bước vô bên trong, khiến tôi đã phải vác cô ra xe”. Lời nói của ông đã làm cho con nhận được ra ngay, cái cô thiếu nữ xa lạ ấy, thì ra, chị, cũng như con, đã đặt chân tới nơi chốn chứa chất đầy nước mắt và đầy kỷ niệm này!
“Con đã phải che kín đôi mắt của con bằng chiếc khăn tay, một lát, rồi mới bước chân vào dưới mái ấm của tổ tiên con. Con đã đi khắp các gian phòng đầy âm hưởng, nơi mà người ta chỉ có nghe thấy một mình tiếng bước chân của con. Tất cả các căn phòng chỉ được rọi chiếu bởi những làn ánh sáng lờ mờ, xuyên ngang qua những chiếc chấn song cửa đóng kín mít: con đã viếng thăm căn phòng của mẹ con, nơi mẹ đã chết ngay khi con mới được sinh ra đời; căn phòng của cha con thường lui vào ẩn trú; căn phòng mà con đã từng nằm ngủ ở trong nôi; cuối cùng, là căn phòng nơi mà tình thân hữu đã nhận chịu những ước nguyện tiên khởi của con, trong lúc, con nằm trong lòng chị con. Tất cả các căn phòng đều bỏ trống, màng nhện chăng phủ đầy những chiếc giường nằm không được dùng tới nữa. Con vội vã kéo dài bước chân trốn chạy khỏi nơi chôn này, không dám quay đầu nhìn lại. Ôi, những giờ phút mà anh em, chị em nhỏ bé thơ dại sống quây quần ở dưới đôi cánh của cha mẹ già yếu, mới thật quả là êm đềm, nhưng cũng thật quả là nhanh chóng, biết bao! Cuộc sống gia đình của loài người chỉ đáng có một ngày, để rồi những làn hơi thở của Thượng đế sẽ làm tan biến đi giống như một làn khói. Thật là khó khăn để cho người con tìm biết được người cha, người cha tìm biết được người con, em tìm hiểu được chị, chị tìm hiểu được anh! Cây sồi đã gây mầm mống ở quanh mình nó: Con cái của loài người đã không làm như vậy!
“Ngay khi tới B... [1], con đã đi thẳng đến tu viện. Con yêu cầu được nói chuyện với chị con. Người ta cho biết là chị không tiếp kiến một ai cả. Con liền viết cho chị: Chị trả lời rằng, vì sắp đến giờ
[1] Theo lời ghi chú B... có thể là BREST.
dâng hiến lên Thượng đế, cho nên chị không được phép phát biểu ý kiến với bất cứ người nào. Và, nếu như, con yêu thương chị, thì, con nên tránh đừng làm cho chị phải gánh chịu về nỗi thương đau của con. Chị tiếp: “Trường hợp nếu em tới đây với mục đích hiện diện trước bàn thờ trong ngày chị xưng tội, thì, hãy thay thế cho địa vị của cha, một phần vụ độc nhất sẽ làm cho em xứng đáng với tấm lòng can đảm của em, một phần vụ duy nhất thích hợp với tình thân hữu của em và với sự ngơi nghỉ của chị”.
“Tình tự lạnh lùng khép kín ấy, đối nghịch với sự nồng nhiệt của tình thân hữu ở nơi con, nó đã lao ném con vào một cơn giận dữ sôi nổi. Có lúc, con đã gần như có ý định quay trở về, có lúc, con lại muốn ở lại, với mục đích duy nhất là phá đám buổi lễ. Quỷ dữ đã súi dục con nghĩ cả tới việc tự tử bằng dao găm ở ngay trong nhà thờ, hầu dùng hơi thở cuối cùng của con, với cầu ước lôi kéo chị ra khỏi buổi lễ. Vị nữ tu viện trưởng đã báo cho con biết trước rằng, người ta đã sữa soạn sẵn một chiếc ghế dài dành cho con, ở trong chính điện và bà đã mời con tới tham dự buổi lễ, sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau.
“Mặt trời vừa ló dạng, con đã nghe thấy những tiếng chuông đầu tiên... Khoảng mười giờ, con đi về phía tu viện, trong tình trạng một kẻ hấp hối. Thật không còn gì có thế bi thảm hơn trường hợp phải chứng kiến một cảnh trạng giống như vậy. Thật không còn gì đau khổ cho bằng trường hợp phải tiếp tục sống, sau khi đã chứng kiến cảnh trạng đó.
“Một đám đông đã kéo tới, đứng đầy nghẹt ở bên trong nhà thờ. Người ta dẫn con tới chiếc ghế dài, đặt tại chính điện. Con vội vàng quỳ xuống; hầu như, đã không hiểu rằng mình hiện đang ở đâu, mà cũng không hiểu vì sao con đã quyết định như vậy. Vị linh mục chủ lễ đã chờ sẵn ở trước bàn thờ, bất thình lình, chiếc cửa sắt bí mật được mở ra, Amélie tiến tới, chị được trang điểm theo đường lối phù hoa tục lụy. Chị thật đẹp, vẻ mặt chị có vài đường nét vô cùng tinh khiết, chị phát họa ra một cử chỉ ngạc nhiên và ngưỡng mộ. Thất bại trước thắng lợi đau thương của người thiếu nữ thánh thiện, bị quật ngã bởi sự vĩ đại của một tôn giáo, tất cả dự tính mạnh bạo của con đã bị tắt ngấm, sức lực của con đã từ bỏ thân xác con, con có cảm tưởng rằng mình bị gắn chặt vào một bàn tay của Thượng đế chí tôn, nên thay vì phạm thượng và hăm dọa, con cảm thấy lòng con dâng lên một niềm kính ngưỡng sùng mộ và những tiếng rên rỉ khiêm nhường tự hạ.
“Chị Amélie đứng ở bên dưới một chiếc tán. Buổi lễ bắt đầu trong ánh sáng của những ngọn nến ở giữa những bông hoa và những làn hương thơm, nhằm giúp cho người chịu lễ dễ chịu, thoải mái. Trong lúc đọc kinh tiến lễ, vị linh mục đã cởi mở bỏ bớt trang phục ra, chỉ còn giữ lại một chiếc áo dài bằng loại vải gai. Đứng ở trên giảng đàn, tuyên đọc một diễn từ đơn giản và xúc cảm, phác họa về hạnh phúc của người trinh nữ, đã tự hiến dâng mình cho Chúa, khi ông đọc tới câu: “Nàng đã hiện ra như trầm hương tiêu mòn trong lứa đỏ”, thì một bầu không khí tĩnh lặng và những làn hương thơm từ phía trời cao, đã tỏa lan tới đám thính giả. Người ta có cảm tưởng như đang được ẩn trú dưới đôi cánh của một con chim câu thần bí, và người ta đã ngỡ rằng họ đã nhìn thấy chư vị thiên thần giáng hạ xuống khu bàn thờ, rồi lại bay về phía trời cao với những làn hương và những chiếc vương niệm.
“Vị linh mục chấm dứt bài diễn từ, ông bận trang phục lại như cũ, tiếp tục cuộc lễ. Amélie, được hai nữ tín đồ nâng đỡ, đã quỳ xuống chiếc bậc tam cấp cuối cùng của bàn thờ. Người ta lập tức, tìm tới chỗ con để mời con hành sử phần vụ của người thân quyến. Dõi theo tiếng bước chân lảo đảo của con tại nơi chính điện, chị Amélie như sắp ngất xỉu. Người ta đưa con tới, đứng ở bên cạnh vị linh mục, để trình những chiếc kéo lên cho người thấy. Giữa thời gian này, con cảm thấy những chuyển vận nổi lên ở trong con, cơn hung bạo của con đã nổ bùng ra, đúng vào lúc chị Amélie đang nhắc nhở tới sự can đảm của con và ném cho con những cái nhìn đầy vẻ trách móc, đầy vẻ đau khổ, khiến cho con đã phải gục ngã. Tôn giáo đã thắng cuộc. Chị con lợi dụng cơn bối rối của con, hăng hái đưa chiếc đầu tới. Bộ tóc lộng lẫy của chị rơi lả tả từng mảnh xuống, theo mỗi đợt sắt linh thiêng. Một chiếc áo dài bằng lượt đã thay thế cho loại trang phục của thời đại, nhưng vẫn không làm cho chị kém phần thu hút. Nỗi buồn chán của chị đã được mảnh vải băng trên trán che khuất, chiếc khăn voan mỏng mảnh kỳ bí, kèm với chiếc mái đầu trần trụi, là những biếu hiệu làm bội tăng thêm tấm lòng trinh khiết và sùng mộ của chị. Chưa bao giờ chị đẹp hơn thẽ. Cặp mắt ăn năn sám hối như còn lưu luyến đôi chút bụi trần, nhưng linh hồn của chị thì đã bay bổng lên mãi tận trời cao.
“Trong giờ phút này, chị Amélie vẫn chưa có quyền trình bày những điều nguyện ước của chị, và để dứt khoát được tục lụy hồng trần, tục lệ đã buộc chị phải kinh qua cuộc sống tại vùng phần mộ. Chị nằm trên một tấm đá hoa cương, và người ta đã phủ kín lên người chị một tấm vải liệm. Bốn ngọn nến làm dấu ở bốn góc. Vị linh mục, với chiếc khăn choàng ở cổ, với cuốn thánh kinh ở tay, khởi sự làm lễ tang chế, các trinh nữ nối tiếp theo tiếng của linh mục. Ôi hoan hỉ thay là tôn giáo! Vĩ đại thay là tôn giáo! Nhưng, cũng dữ dội thay là tôn giáo! Người ta đã bắt con phải quỳ gối xuống ở bên cạnh vị trí sầu thảm và trang trọng đó. Bất thình lình, một tiếng thầm thì mơ hồ phát ra từ phía dưới tấm vải tang chế. Con cúi gục xuồng và những lời lẽ khủng khiẽp (chỉ có một mình con nghe thấy) đập thẳng vào tay con: “Thượng đế hãy thương xót chúng con, xin Ngài hãy giúp con đừng bao giờ trỗi dậy khỏi chiếc giường tang tóc này, xin Ngài hãy đong đầy những điều tốt đẹp cho em trai con, đứa em trai đã không chịu chia sẻ tình trạng mê say đắm đuối của con!”
“Từ trong quan tài đã vượt thoát ra những lời lẽ đó, những lời lẽ khủng khiếp đích thực, đã khiến cho con tỉnh hắn lại, lý trí của con điên khùng lên, con reo mình xuồng phía tấm vải liệm, ôm chặt lấy chị con vào trong vòng tay, kêu lớn lên: “Hỡi người phối ngẫu trinh trắng của đức Chúa Jésus Christ, xin người hãy nhận ở nơi đây, những ôm ấp cuối cùng của một đứa em, trước cái chết âm thầm, và trước chiều sâu của vĩnh cửu, đã chia cách hai chị em ta!”
“Cử chỉ đó, tiếng kêu đó, những giòng lệ đó, đã làm buổi lễ bị rối loạn: Vị linh mục đã ngưng lời cầu nguyện, các nữ tín đồ đóng ngay cửa sắt lại, đám đông vội vã di động về phía bàn thờ, người ta mang con đi, trong tình trạng bất tỉnh. Mặc dù, con không thuận ý với người đã nhắc nhở con tiếp nối những ngày dài! Nhưng, ngay khi con mở mắt tỉnh lại, thì con đã được biết rằng, buổi lễ đã hoàn tất, và chị con đã bị rơi vào một cơn sốt mãnh liệt. Chị khẩn nài con đừng tìm gặp chị nữa. Hỡi ôi, đời sống của con mới nghèo nàn lắm sao! Một người chị đã e ngại phải nói chuyện với một đứa em, và em đã hãi sợ khi phải nghe tiếng nói, của hắn với chị hắn! Con đã rời khỏi tu viện, giống như đã rời khỏi một khu vực hành tội, nơi mà những ngọn lửa đỏ đã chuẩn bị cho chúng con bước vào một đời sống thiên đàng, nơi mà người ta mất hết tất cả, chẳng khác chi, ở những miền địa ngục, ngoại trừ, hy vọng.
“Người ta có thể tìm thấy những sức mạnh ở trong một linh hồn đang phải chống kháng với nỗi bất hạnh cá nhân, nhưng, khi đã trở thành duyên cớ vô tình của nỗi bất hạnh, do người khác đưa tới, điều đó hoàn toàn không thể chịu đựng nổi. Đã sáng tỏ về những cơn buồn bực của chị con, con hình dung ngay được những nỗi khổ đau của chị. Thế là, chị đã giải tỏa cho con tất cả những điều thắc mắc cần thiẽt để con có thể hiểu nổi: sự hòa trộn giữa niềm vui và nỗi buồn, mà chị Amélie đã thể hiện ra vào thời gian con lên đường du hành, những chuẩn bị mà chị đã cố tình tránh né vào lúc con mới quay về, đó cũng chính là thời gian mà tình tự yếu đuối đã ngăn cản chị bước vào đời sống tu viện, chắc hẳn chị đã tự cho rằng, rồi chị sẽ vượt thoát được tình trạng đó! Những dự định ẩn trú, sự miễn trừ của người sơ tu, sự xếp đặt về của cải của chị dành cho con; chỉ là sản phẩm hiện thực của những lá thư liên lạc bí mật, đã từng làm cho con bị lầm lẫn.
“Hỡi những người bạn thân thiết của con ơi, con chỉ còn biết khóc than cho những việc đã xảy ra, khóc than cho tình trạng xấu số không hề tưởng tượng nổi! Những đam mê của con từ lâu chưa xác định được, đột nhiên, hối hả kéo tới bằng một tốc độ hung hãn của con mồi tiên khởi. Con đã tìm ra được một thỏa mãn bất ngờ, trong tình tự sung mãn của nỗi buồn khổ, và, qua một chuyển vận vui thỏa bí ẩn, con đã nhận thấy rằng, sự đau khổ không phải là một căn bệnh đã làm cho người ta kiệt quệ như là tình tự vui thỏa.
“Con muốn từ giã trần thế trước khi có lệnh triệu của đấng toàn năng, đó là một trọng tội vĩ đại: Thượng đế đã gởi chị Amélie tới, để vừa cứu rỗi con, vừa trừng trị con. Cũng như, tất cả những ý niệm phạm tội và tất cả những hành động đắm đuổi, sau đó, đã dẫn dắt chị con tới những lộn xộn và những bất hạnh. Amélie đã van cầu con phải sống, còn con thì lại khuyên lơn chị đừng làm trầm trọng thêm những nỗi thương đau của chị. Có điều (thật là lạ) con đã không muốn chết kể từ lúc con bị tình tự thống khổ dày vò thực sự. Tình tự sầu não của con đã trở thành một mối bận tâm, đầy ăm ắp trong suốt những giờ phút sinh tồn của con: Gia dĩ, trái tim con vốn đã bị nhào nặn bởi nỗi chán chường và khốn khổ bẩm sinh rồi!
“Con đã bất thần quyết định sẽ rời bỏ Âu châu để sang Mỹ châu.
“Vào thời gian này, tại hải cảng B... người ta lại đang trang bị một chuyến hải hành sang Louisiane, con liền sắp xếp với một trong số những vị thuyền trưởng, rồi vừa báo tin cho chị Amélie biết, vừa chuẩn bị lên đường.
“Chị con giờ đây đã đặt chân tới ngưỡng cửa tử vong. Nhưng, Thượng đế, người đã an bài cho chị huy hiệu đầu tiên của những người trinh nữ, lại chưa muốn gọi chị về với Ngài một cách mau lẹ, sự thử thách của Ngài ở thế gian thường được kéo dài. Đặt chân vào một nghề nghiệp nặng nhọc, lần thứ hai, người nữ anh thư, đã còng lưng dưới cây thập tự giá, can đảm tiến bước về hướng những khổ đau, luôn nhìn thẳng vào giây phút chiến thắng của cuộc đấu, vào những nỗi thống khổ vượt mực, và vào những phút vinh quang tuyệt mức.
“Vì bận bịu với việc bán bớt một số ít tài vât, sau khi, con đã nhượng lại một phần lớn gia sản của con cho anh con, vì cuộc chuẩn bị của đoàn tầu phải kéo dài khá lâu, vì những trận gió bất thuận lợi, con đã bị giữ lại trong vùng hải cảng một thời gian dài. Mỗi buổi sáng, con đã tới báo tin cho chị Améiie biết, và lần nào cũng vậy, con đã ra về với những tình ý kính ngưỡng và đầy mắt lệ.
“Con đã lang thang cất bước ở quanh khu vực tu viện, xây cất ở ven biển. Qua một khung cửa sổ có chấn song sắt, nhỏ bé, mở về hướng một bờ cát hoang vắng, con thường nhìn thấy một nữ tu sĩ, ngồi im lìm, trong dáng điệu suy tư. Nàng mơ màng ngắm nhìn cảnh trí của đại dương, nơi ẩn hiện một vài chiếc hải thuyền, trực chỉ về phía địa cầu. Nhiều lần, dưới ánh trăng khuya, cũng qua khung cửa đó, con đã nhìn thấy chính người nữ tu ấy, đang chiêm ngưỡng biển cả, lấp lánh dưới ánh sáng của vùng nguyệt, nàng còn lắng tai nghe ngóng những tiếng động của đợt đợt sóng cả đang rầu rĩ bể vỡ trên những bờ cát tịch liêu.
“Con còn ngỡ rằng mình đã nghe thấy những tiếng chuông, trong đêm, đang réo gọi các vị nữ tu sĩ thức giấc và cầu nguyện. Trong lúc tiếng chuông chậm rãi gióng lên thánh thót, và, trong lúc đó các nữ tu sĩ lặng lẽ tiến bước về phía bàn thờ đấng toàn năng, con đã chạy tới tu viện: nơi, chân tường mà thôi, để lắng nghe những tiếng cuối cùng của thánh ca, trong trạng thái xuất thần nhập hóa, những tiếng ca đang hòa trộn vào với những tiếng sóng ở dưới những vòm vọng của điện thờ.
“Con không hiểu vì sao tất cả những sự kiện ấy, đã nuôi dưỡng những nỗi khổ nhọc của con, và ngược lại, còn làm cùn nhụt được những kích thích nữa. Những giòng lệ của con đã bớt phần chua chát, khi con trải rắc chúng xuống những vùng đá tảng và ở giữa những trận gió. Nỗi sầu muộn của con cũng vậy, nó đã nhờ vào một trạng thái dị thường, đem lại cho nó một vài loại phương dược: Người ta đã thụ hưởng những gì không phải là của chung, ngay cả khi đó chính là sư vật bất hạnh. Con đã gần như hy vọng rằng, về phần chị con, chị cũng sẽ trở nên bớt khổ.
“Qua bức thư của chị con, mà con nhận được trước khi con lên đường, đã xác nhận ý niệm đó. Chị Amélie dịu dàng phàn nàn về nỗi khổ đau của con, và chị đoan chắc với con rằng, thời gian sẽ làm giảm nhẹ nỗi khổ đau của chị. “Chị không thất vọng về tình tự hạnh phúc của chị”, chị viết cho con như vậy. Ngay cả sự quá lạm của buổi lễ giờ đây buổi lễ đã hoàn tất, cũng đã đem lại cho chị một vài sự bình ổn. Tình tự đơn giản của các bạn đồng tu, những ước nguyện trong trắng của họ, sự điều hòa về đời sống của họ, tất cả đã xông hương cho ngày tháng hiện hữu của chị. Khi chị nghe thấy tiếng bão gầm thét và tiếng vỗ đập của những cánh chim biển ở bên ngoài khung cửa sổ, thì chị, một con bồ câu đáng thương của trời cao, chị chỉ nghĩ tới hạnh phúc mà chị đã tìm thấy ở trong vùng trú ẩn đang kình chống với cơn giông gió. Chính tại nơi đây, thần núi, có đỉnh ngọn vươn cao, nơi mà người ta đã nghe thấy những tiếng cuối cùng của trái đất và những tiếng hòa âm tiên khởi của trời xanh, chính tại nơi đây, tôn giáo đã làm cho một tâm hồn dễ xúc kích dần dần nguôi lại: Với những tình tự thương yêu mãnh liệt, tôn giáo đã thay thế một loại trinh khiết nóng bỏng, loại trinh khiết pha trộn được cả tình tự ham thích và tấm lòng trinh liệt. Nó có thể làm khô cạn mọi tiếng than van, nó có thể chuyển hóa một ngọn lửa tàn thành một ngọn lứa bằt khá hủy diệt, no đã hòa hợp một cách thật tinh khiết tinh tự bình ổn, mộc mạc với những biến động, những nhục cảm của một con tim đang tìm chốn ngơi nghỉ và một cuộc sống đang tìm nơi ẩn trú”.
“Con không hiểu vì sao Thượng đế đã dành giữ con lại, và dường như Ngài đã muốn loan báo cho con rằng, những trận bão sẽ luôn luôn theo sát bước chân con. Lệnh lên đường của đoàn hải thuyền đã được thông báo, tải cả các hải thuyền đã sẵn sàng nhổ neo vào lúc mặt trời lặn. Con đã sắp xếp để có thể lưu lại một đêm cuối cùng ở trên mặt đất liền, hầu viết thư từ biệt chị Atnélie. Khoảng nửa đêm, trong lúc con đang chuẩn bị những vật liệu cần thiết và đang thấm ướt những tờ thư bằng giòng lệ đổ thì tiếng giông bão kéo tới, đập mạnh vào tai con. Con lắng nghe. Giữa tiếng bão tố, con đã phân biệt được những tiếng súng đại bác báo nguy, hòa trộn với tiếng chuông gọi hồn tại nơi tu viện. Con chạy như bay về phía bờ biển, vắng lặng, nơi mà người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng sóng thét gào. Con ngồi xuống một viên đá tảng, một bên là những làn sóng lóng lánh trắng ngời, một bên là bức tường đen sạm của tu viện, mập mờ ẩn hiện lên nền trời. Một ánh lửa nhỏ bé hiển hiện qua lớp chấn song cửa sổ. Ôi, phải chăng chính là chị, chị Amélie của em, chị đang quỳ ở trước cây thập tự giá, để khấn nguyện Thượng đế cứu vớt cho đứa em bất hạnh của chị vượt thoát khỏi trận bão! Cơn giông bão ở trên mặt sóng, tình tự bình ổn ở nơi vùng ẩn trú, những xác người dầm bập trên những tảng đá ngầm, đã không làm nao núng được chị. Sự vô tận ở bên ngoài bức tường của căn phòng, những chiếc đèn hiệu lay động trên các hải thuyền, chiếc đèn pha bất động tại nơi tu viện, những phần số bấp bênh của giới thủy thủ, sự nhận biết của người trinh nữ trong một ngày duy nhất, của tất cả những ngày tháng sinh tồn ở tương lai. Về khía cạnh khác, một linh hồn như linh hồn của chị. Ôi chị Amélie hỡi, lòng chị đã nổi lên một cơn giông tố, chẳng khác chi, cơn giông tố ở nơi đại dương, chị đã rơi vào một tình trạng đắm đuối hiểm nghèo hơn cả cảnh trạng mà những người thủy thủ đã phải chịu đựng trong một vụ đẳm tầu. Tất cả các cảnh trí đó vẫn còn ghi khắc sâu đậm ở trong vùng trí tưởng của con. Hỡi vầng thái dương tại nơi khung trời mới mẻ này, hãy làm chứng cho cơn đổ lệ của con, hỡi những tiếng vang vọng của các vùng bờ biển tại Mỹ châu này, hãy nhắc nhở lại những cơn nức nở của tên René. Buổi sáng, sau cái đêm kinh khủng ấy, con đã đứng tì tay trên lan can thuyền, để ngắm nhìn, một lần chót, mảnh đất quê hương! Con đã chiêm ngưỡng thật lâu những trận lay động cuối cùng của những hàng cây nằm trên bờ biển của tổ quốc, và những đỉnh nóc của tu viện dần dần khuất lấp xuống phía duới chân mây”.
* * * * *
Khi René chấm dứt câu chuyện về cuộc đời của anh, anh liền rút một bức thơ, từ nơi lồng ngực ra, trao cho cha Souel, rồi ném mình vào trong vòng tay của Chactas, nghẹn ngào nức nở, để nhường thời gian cho nhà truyền giáo đọc hết bức thơ, do anh đã đưa cho ông.
Đó là bức thơ của nữ tu viện... Bà nhắc nhở tới những giờ phút cuối cùng của dì Amélie, bị chết do lòng nhiệt thành và từ ái của dì, trong thời gian chăm sóc các đồng bào mắc bệnh thời khí. Tất cả cộng đồng đã không thể khuyên ngăn được dì và họ chỉ đành coi dì Amélie như một vì thiên thần. Nữ tu viện trưởng viết thêm rằng, kể từ ba mươi năm đứng đầu cai quản tu viện, bà chưa từng thấy một nữ tu sĩ nào trầm tư và hiền dịu như dì Amélie, và cũng không có một ai lại sẵn lòng từ bỏ những nỗi ưu phiền của trần thế giống như dì cả.
Chactas ôm chặt René vào trong vòng tay, ông vừa khóc, vừa nói với người con nuôi: “Con của ta ơi, ta ước mong có được cha Aubry ở nơi đây, ta không rõ là nhờ vào tình tự bình hòa nào mà ông ta đã không xa lạ gì với những cơn giông bão, ông sẽ rút tỉa từ đáy lòng của ông ra, để giúp cho con bình ổn lại. Đó chính là vầng trăng giữa đêm giông tố: Những đám mây lang bạt đã không thể lôi cuốn trăng theo cuộc trốn chạy của chúng, trong sáng bất biến, trăng vẫn lặng lẽ tiến bước ở bên trên những đám mây. Hỡi ơi, riêng ta, thì ta đã dẫn dắt những cơn biến động theo ta rồi!”
Cho tới giờ phút này, cha Souel vẫn giữ y nguyên vẻ trang nghiêm, chăm chú lắng nghe câu chuyện của René, không nói một lời, ông kìm giữ lòng từ ái ở trong tâm khảm, bên ngoài thì tỏ vẻ lạnh lùng cứng cỏi. Thế rồi, sự xúc kích của vị kỳ lão đã lôi cuốn ông ra khỏi tình trạng lặng thinh:
“Không, trong câu chuyện thương tâm mà anh vừa kể, không có gì xứng đáng cả. Ông nói với người em trai của Amélie. Ta chỉ nhận thấy ở trong đó, một chàng trai trẻ bướng bỉnh bởi ảo vọng hão huyền, với hắn tất cả đều không vừa lòng xứng ý, và hắn đã loại trừ tất cả những gánh nặng xã hội, để giao hòa vào những cơn mộng mị vô tích sự. Nhưng thưa ngài, làm gì có được một người cao cả, bởi chưng, ta đã nhìn thế gian qua một ngày ghê tớm, khả ố.
Ta chỉ ghét loài người, ghét cuộc sống, bởi cái nhìn xa vời lầm lỗi của ta. Hãy rán nới tầm nhìn của anh ra một chút, là lập tức anh sẽ minh chứng được ngay rằng, tất cả những mối thương đau mà anh đã từng đắm đuối vào, đều chỉ là hư ảo. Thật là mắc cỡ nếu như đã không thể nghĩ tới nỗi bất hạnh đích thật ở trong đời sống của anh, mà không bị đỏ mặt lên! Tất cả sự trong sạch, tất cả nền tảng đạo hạnh, tất cả mọi tôn giáo, tất cả những vòng hào quang của một đấng thánh, đều không thể dung thứ nổi ý kiến độc nhất về những nỗi chán chường của anh. Chị anh đã đền tội của chị ta. Nhưng theo tôi, tôi e rằng, với nền tảng công chính đáng sợ, thì một lời thú tội phát xuất từ đáy mộ phần, tuy không làm rối loạn được anh, nhưng sẽ vận vào chị ta. Anh đã làm gì một mình, tại xó rừng cây, nơi mà anh định chấm dứt cuộc đời của anh, trong tình trạng lơ là với bổn phận của anh? Những nhân vật thánh thiện mà anh đã nói với tôi, đều đã chôn vùi ở trong vùng hoang tịch? Họ đã tới nơi đây, với những giòng lệ của họ, và họ đã sử dụng những chuỗi ngày tại nơi này, để dập tắt những dục vọng của họ, nhưng với anh thì thời gian mà anh đã phí phạm đi, có thể sẽ chỉ nhóm lại những cơn dục vọng ở trong anh. Hỡi người trai trẻ tự cao tự đại, người đã tưởng là loài người có thể đủ sức chịu đựng nổi với bản thân của mình! Tình tự đơn côi rất tai hại cho những kẻ không nhìn nhận Thượng đế, tình trạng đó sẽ gia tăng thêm sức mạnh cho tinh thần, nhưng cùng lúc, nó sẽ tước đoạt tất cả mọi chủ đích để hành sử. Ai đã nhận lãnh sức mạnh đều phải hiến mình cho công việc của đồng loại. Nếu bỏ phí sức mạnh đó một cách vô ích, thì trước hết, họ sẽ bị trừng phạt bởi một nỗi khốn khó bí ẩn, và sớm muộn gì trời cao cũng sẽ gửi tới cho họ một hình phạt khủng khiếp”.
Bị rối động bởi những lời lẽ đó, René rời khỏi lồng ngực của Chactas với vẻ bẽn lẽn xấu hổ. Vị kỳ lão mỉm cười, cái cười từ cửa miệng, không dính dấp tới đôi mắt, đã hiện lên một vài nét dị kỳ, và thánh thiện, “Con của ta ơi, vị kỳ lão, người yêu của Atala nói, ông ấy sỉ vả chúng ta hơi nặng, ông ấy đã sửa chữa lỗi lầm cho cả hai người một già, một trẻ, ông ấy đã có lý. Đúng vậy, con cần phải từ bỏ cuộc sống dị thường đó đi, vì hạnh phúc chỉ có được trong những đường hướng cộng đồng, chung đụng. Ngày nào mà giòng trường giang Meschacebé, hãy còn ở gần nơi nguồn cội, thì nó chỉ là một giòng suối trong lành. Nó cần đòi hỏi tuyết ở trên đỉnh núi cao, nước ở trong những giòng thác lũ, mưa ở giữa cơn giông bão, và nó vượt qua đôi bờ duyên dáng của nó. Thế rồi, thoạt đầu, giòng nước kiêu hãnh vang reo trước sức mạnh của nó, nhưng khi nó nhìn thấy những vùng hoang dã, mà nó băng ngang, mà nó bị mất hút trong sự cô đơn tịch mịch, mà những giòng nước của nó luôn rối động, thì nó mới thầm tiếc giòng nước khiêm nhường mà thiên nhiên đã đào sới cho nó, những bầy chim, những đóa hoa, những cây cối, và những giòng suối, lớp bạn đồng hành bình dị xa xưa, đã nằm bên giòng nước êm ả của nó”.
Chactas ngừng nói, và người ta đã nghe thấy tiếng của bầy hồng hạc, nấp mình ở trong bụi lau sậy, bên bờ giòng sông Meschacebé, báo hiệu một trận bão sẽ kéo tới vào lúc giữa trưa. Ba người bạn lên đường trở về vùng lều trại của họ: René lặng lẽ đi ở giữa, vị linh mục đang nguyện cầu Thượng đế, và vị kỳ lão mù lầm lũi dò từng bước đương. Người ta nói rằng, do sự nài ép của hai vị lão giả, René đã quay về sinh sống với vợ anh, nhưng anh vẫn không tìm thấy hạnh phúc. Anh đã bị chết trong một cuộc tàn sát bộ tộc Natches, thuộc vùng Louisiane, do người Pháp chủ động, sau cái chết của Chactas và của cha Souel, một thời gian. Người ta vẫn thường chỉ vào một tảng đá nơi mà anh tới ngồi vào những lúc chiều tà.
- HẾT -
★
★
★
★
★
0