Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Z.28 MÈO XIÊM CỌP THÁI -NGƯỜI THỨ TÁM -đả tự : trandatrau 🔒

3 trả lời, 34 lượt xem — Trang 1 / 1
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau2016
 
    -Như mọi lần, tác giả trân trọng nhắc lại là mặc dầu dựa vào thực tế địa lý và lịch sử và nhân vật mà cuốn truyện MÈO XIÊM CỌP THÁI chứa đựng chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, và do đó mọi sự gần gặn hoặc trùng hợp, nếu có, với sự việc xảy ra ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên, ngoài ý muốn và trách nhiệm của người viết.
NGƯỜI THỨ TÁM.
 
I
Tử tội Văn Bình
 
Đó là buổi sáng thứ sáu.
Và là thứ sáu 13.
Đối với người thường thì thứ sáu 13 là ngày xấu nhất trong tháng, ngày mà vận rủi và tai họa dễ  xảy ra nhiều nhất. Và đối với phạm nhân lãnh án tử hình, thứ sáu 13 là ngày lên máy chém, kê đầu trên thớt bên thùng mạt cưa, chờ con dao hình tam giác phập xuống, hoặc đút cổ vào thòng lọng, hoặc ngồi lên ghế sắt đợi luồng điện ba ngàn vôn đốt cháy da thịt, hoặc ngửi hơi ngạt xi a nuya trong phòng kín bọc thép, hoặc ra bãi trống, dựa lưng vào tường, tay bị trói vào cọc, mắt bịt kín bằng vải đen, trước tiểu đội hành quyết quỳ sẵn trên cỏ ướt sửa soạn nhả đạn …
Tử tội đang chờ thần Chết buổi sáng thứ sáu 13 ấy trong nhà giam chật hẹp, bẩn thỉu, tối tăm là Văn Bình, đại tá Tống Văn Bình, tức điệp viên xuất quỷ nhập thần Z.28 của sở Mật vụ Việt Nam.
Văn Bình ngồi bó gối trên nền xi măng sù sì, ngước mắt nhìn những tia sáng sữa loãng đầu tiên của rạng đông xuyên qua 6 chấn song sắt vào phòng. Dưới ánh bình minh lờ mờ, Văn Bình nhận thấy ra vẻ mặt mất thần của các bạn đồng tù.
Họ gồm 5 người. Cộng với chàng là 6. Hôm nay là ngày thứ sáu trong tuần. Chàng bị bắn đúng 6 giờ tối. Quả con số 6 báo hiệu những chuyện ghê sợ…
Như thường lệ, Văn Bình vẫn giữ bình tĩnh. Linh hồn và thể xác dày dạn phong sương của chàng điệp viên hào hoa đã quá quen thuộc với những đe dọa rồn rập của Tử Thần. Bên cạnh chàng, 5 tử tội Mã lai đang lâm râm cầu kinh. Họ biết lát nữa bị dẫn ra pháp trường. Cũng như chàng, họ bị quân đội Nam dương bắt về tội do thám. Thật ra, họ vô tội. Họ vắn số chẳng qua bị mắc kẹt trong cuộc tranh chấp đất đai kịch liệt giữa Nam dương và Mã lai. Nếu đáng tội và là tội chết thì chỉ có Văn Bình. Chỉ có Văn Bình là đáng bị trói vào cọc. Vì chỉ có Văn Bình mới là nhân viên gián điệp chính cống.
Phiên tòa được nhóm dưới ngọn hải đăng hoang phế, lẻ loi, trên đảo Datoek, một trong hàng trăm hòn đảo bồng bềnh trên biển Nam hải thuộc quyền kiểm soát của cộng hòa Nam dương. Chánh thẩm là một đại úy, mặt lầm lì như tảng đá tên là Sulim.
Sulim chỉ huy đồn binh trên đảo Datoek, gần Sarawak, khu vực tranh chấp dữ dội giữa Nam dương và Mã lai Á. Là quân nhân chuyên nghiệp triệt để tôn trọng lệnh trên, Sulim cho rằng người Mã lai không có lý do để tới đảo Datoek, trừ phi với mục đích  do thám.
Một cơn bão biển kinh hoàng làm con tàu nhỏ của Văn Bình dạt vào bờ. Chàng dẫn 5 thủy thủ lên núi tìm kiếm lương thực và tiếp cứu thì bị bắt. Đại úy Sulim cầm đầu cuộc đuổi bắt. Sulim lại cầm đầu cuộc thẩm vấn. Và cũng chính Sulim điều khiển phiên tòa đặc biệt. Cho nên, trước khi ra vành móng ngựa, Văn Bình đã biết bị án tử hình.
Buổi xử diễn ra chớp nhoáng và cẩu thả. Sulim yêu cầu 5 thủy thủ Mã lai khai hết sự thật để được nhẹ tội. Họ đã khai hết nhưng viên đại úy chánh thẩm lại khăng khăng là họ ngoan cố. Đối với Văn Bình thì mọi việc còn giản dị hơn nữa. Họ không cần hỏi rõ tên chàng. Họ cũng không cần truy nguyên chàng là ai. Sulim chỉ hỏi một câu tiếng Anh ngắn ngủi :
-Anh lẻn lên đảo để do thám phải không ?
Văn Bình lắc đầu ;
-Không.
Sulim đập bàn quát tháo :
-Anh nói láo.
Một phút sau, Sulim dịu xuống. Hắn nhìn qua một vòng các bị cáo, không quan tâm tới 5 thủy thủ đầm đìa nước mắt, rồi lạnh lùng tuyên án :
-Tội gián điệp. Tội tử hình.
Một thủy thủ uất ức thét lớn :
-Oan cho tôi lắm … Chúng tôi chỉ là công dân lương thiện. Allah sẽ trừng trị những kẻ gian dối.
Allah là đấng Tối cao của đạo Hồi. Nghe nhắc đến quyền uy thiêng liêng, đại úy Sulim trên bàn xử nhảy xuống đất, quên rằng mình là quan tòa, túm lấy viên thủy thủ Mã lai phạm thượng, xô ngã vào hàng ghế bị cáo, giọng giận dữ :
-A, mày dám rủa tòa án ! Cảnh bị, lôi nó ra sân, đánh cho một  trận.
Bọn cảnh bị mặt mũi đen sì ùa tới, sửa soạn thi hành mệnh lệnh. Tên thủy thủ  co rúm người  trên đất, nước da xanh mét vì sợ hãi. Văn Bình  tiến lên một bước, dùng tiếng Anh nói với Sulim :
-Ông không có quyền xử tử chúng tôi mặc dầu chúng tôi vô tội. Vì hiện nay, ông có súng trong tay. Nhưng ông không có quyền va chạm danh dự của chúng tôi.
Đại úy Sulim cười gằn :
-Té ra anh muốn đóng vai trò hiệp sĩ ...Trước anh, hàng chục người đã bị tôi tra tấn và giết bỏ cũng vì bướng bỉnh. Nếu anh  có tinh thần mã thượng thì hãy ra ngoài kia chịu đòn thay cho đồng chí của anh. Còn nếu anh tiếp tục hỗn xược, tôi sẽ ra lệnh hành quyết anh tức khắc.
Văn Bình cũng cười gằn theo :
-Tôi cũng là quân nhân như anh. Quân nhân ở khắp nơi đều có truyền thống thượng võ. Tôi biết là anh không dám hành quyết tôi tức khắc vì lẽ anh phải đợi sự đồng ý của Jakarta. Trước sau tôi cũng chết, nên tôi không còn sợ nữa. Tôi sẽ hạ thủ nhân viên của anh ngay tại đây nếu anh tiếp tục đối xử tàn nhẫn với bạn bè tôi.
Đại úy Sulim lặng người một giây :
-Nghĩa là anh đã thú nhận làm công tác gián điệp ?
Văn Bình ưỡn ngực :
-Phải, tôi là gián điệp.
Nhờ sự can thiệp liều mạng của Văn Bình, viên thủy thủ Mã lai thoát khỏi trận đòn thừa sống thiếu chết. Nhưng nhóm tử tù lại bị Sulim báo thù bằng cách nhốt trong xà lim bê tông nhỏ bé, chỉ đủ giam một, hai phạm nhân. Về ăn thiếu thốn đã đành, cả đến nước uống cũng bị hạn chế. Mỗi ngày, tử tù chỉ được ăn một vắt cơm đầy trấu và sạn, chiêu với ngụm nước hôi tanh nồng nặc. Đêm trước, đại úy Sulim vào nhà  giam, mang theo cái gáo dừa đựng đầy cà phê và gói thuốc lá. Hắn vỗ vai Văn Bình giọng đắc thắng :
-Báo tin cho các anh biết, đúng 6 giờ sáng mai, các anh sẽ bị hành quyết.
Nhóm tử tù ngồi yên, không van xin cũng không phản đối. Họ dư biết van xin hay phản đối đều vô ích. Họ chết là vì Allah nhận thấy họ không cần sống trên dương thế này  nữa. Họ tiếp nhận cái chết trong tinh thần nhẫn nhục ngoan đạo.
Họ thức trắng đêm để cầu nguyện.
Văn Bình cũng thức trắng đêm. Song không phải để cầu nguyện mặc dầu chàng tin tưởng sắt đá vào sự hiện hữu của Thượng đế. Chàng thức trắng đêm vì những chuyện vừa qua luôn luôn ám ảnh tâm trí, không cho phép chàng chợp mắt.
…………………………………………………………………………………......
Chung quy cũng do bệnh si tình mà ra. Đi tới đâu, chàng đều đèo bòng tới đó, và trong chuyến lênh đênh trên biển Nam hải này, chàng đã tạt qua thủ đô Phi luật tân để thăm Rôsita và mới nàng xuống miền nam săn cá dưới nước (1).
 
(1) chuyện diễm tình giữa điệp viên Việt Nam Z.28 và nữ điệp viên Phi Rôsita đã được tường thuật trong Tử chiến Ngoài khơi ( 2 cuốn, trọn bộ ) do Tân Quang, 52 Lê văn Duyệt, Chợ Đủi, Sàigòn, tổng phát hành.
 
Ông Hoàng cho chàng nghỉ xả hơi một tuần nên chàng dan díu với Rôsita cũng là chuyện thông thường, không đáng trách. Nếu có, thì chỉ trách chàng si tình quá độ, si tình đến nỗi không muốn rời nàng nữa. Có lẽ vì Rôsita đẹp hơn xưa rất nhiều. Hồi hai người gặp nhau tại Manila, Rôsita đã nổi tiếng đẹp, sắc đẹp kỳ lạ làm thế giới sang trọng ăn chơi cũng như xã hội điệp báo Phi ngửa nghiêng. Sau này lấy chồng, nàng còn đẹp gấp hai, gấp ba hồi xuân nữ. Chồng nàng là triệu phú, chủ nhân một công ty hàng không phản lực, một công ty sản xuất nước ngọt, một công ty chế tạo đồ hộp, và một công ty nông lâm nghiệp …
Nhà triệu phú góa vợ bị đảo điên vì sóng mắt siêu phàm của mỹ nhân trong một dạ tiệc từ thiện. Đêm ấy, Rôsita là nhân vật được chú ý tới nhất, vì nàng nhận lời hôn mạnh thường quân nào trả giá cao nhất để mua cái cúp bằng vàng, lấy tiền cấp dưỡng cho một trung tâm nuôi trẻ mồ côi.
Cái cúp bằng vàng chỉ đáng 50 pêsô, nhưng vì có nụ hôn của Rôsita nên cuộc đấu giá kéo dài từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng còn dai dẳng. Từ đầu chí cuối, nhà triệu phú làm thinh, không nhìn lên sân khấu, cũng như không tham dự cuộc ganh đua tài chính mà chỉ chúi mũi vào đĩa cánh gà chiên bơ và chai sâm banh thượng hạng.
Kém 5 phút đầy 2 giờ sáng, giá chiếc cúp đã lên tới một chục ngàn pêsô (2).
 
(2) đại để 1 đôla Mỹ tương đương với 2 pêsô Phi luật tân, khi bộ truyện này được khởi soạn. Hiện nay ( 10 – 1968 ), 1 đôla Mỹ ăn 4,07 pêsô trên thị trường chợ đen, và 3,90 pêsô theo hối suất chính thức.
 
Trong cuộc chỉ còn lại hai tay đua giàu sụ. Đối phương vừa trả 10.000 thì người thứ nhì đứng dậy nói lớn :
-20.000 pêsô.
Nghĩa là hơn kém hai triệu đồng Việt Nam. Trong suốt bốn giờ đồng hồ đấu giá, giới mạnh thường quân chỉ nâng giá từ 500 đến 1.000 là tối đa, và đây là lần đầu tới 10.000 pêsô.
Thái độ bốc đồng này làm cử tọa nghẹt thở. Với giá 20.000, phần thắng chắc chắn lọt vào tay một chủ nhân ông đồn điền cà phê. Theo thủ tục, nhân viên phụ trách đấu giá long trọng nhắc  lại ba lần giá tiền 20.000 pêsô.
-Kính thưa quý vị, ông chủ đồ điền cà phê đã trả 20.000. Tôi xin nhắc lại lần thứ ba và là lần cuối cùng, nếu không có vị nào trả thêm thì …
Nhà triệu phú góa vợ bất thần cắt lời :
-Thong thả… Bây giờ tôi xin tham dự.
Quan khách trong buổi dạ tiệc trọng thể kinh ngạc đến toát bồ hôi lạnh. Thì ra nhà triệu phú chờ đến màn chót mới tung đòn phép. Mọi người ngưng thở, quay về cái bàn tròn kê gần ban nhạc. Giả vờ nghễnh ngãng, nhà triệu phú gần ngũ tuần, thân hình sung sức, hỏi lại :
-Giá cuối cùng là bao nhiêu ?
-Thưa, 20.000 pêsô.
-Thế à, tôi không ngờ …
Người trả 20.000 pêsô nhìn nhà triệu phú bằng cặp mắt tóe lửa thách thức :
-Ông không ngờ chiếc cúp vàng này được mua tới 20.000 pêsô phải không ? Ông quên rằng đây là một vinh dự. Một vinh dự vô giá.
Nhà triệu phú cười nhạt :
-Vâng, vì đây là một vinh dự vô giá nên tôi sửng sốt. Sửng sốt và phẫn nộ.
-Phẫn nộ vì tôi trả giá quá cao ?
-Không, ông lầm rồi. Tôi phẫn nộ vì ông trả giá quá ít, không xứng đáng với vật bán đấu giá.
Không khí trong phòng căng thẳng tột độ. Cuộc bán đấu giá trở thành cuộc đấu pêsô giữa hai ông giàu sụ si tình.
-Vậy ông trả thêm đi, tôi xin hầu tiếp.
-Xin ông tha lỗi. Sợ chạm tự ái của ông nên tôi không dám trả thêm. Đề nghị ông tự ý tăng vài ba giá nữa.
-Hừ, ông thủ đoạn. Bán đấu giá từ thiện không phải như mua hàng ngoài thương trường. Tôi trả thêm để ông bỏ rơi tôi ấy à !
-Ông  sợ thì tôi  không dám ép. Ông trả 20.000 pêsô phải không ?
-Phải. Ông đã hỏi một lần rồi. Xin ông nhớ kỹ : 20.000 không phải 2.000 pêsô.
-Vậy tôi cứ đinh ninh là 200.000.
-200.000 pêsô, trời ơi ! Ông đã bắt đầu điên.
-Không, tôi vẫn tỉnh. Có lẽ còn tỉnh hơn ông nữa. Ông không theo kịp đâu, ông nên  nhường vinh dự ấy cho tôi.
-Ông trả bao nhiêu ?
-Gấp 10 số tiền ông vừa trả.
-Nghĩa là 100.000 pêsô.
-Không, 200.000. Ông đầu hàng chưa ?
Một tiếng ối vẳng lên, rồi phịch một khối thịt lăn chiêng xuống đất, cốc chén vỡ loảng xoảng. Ông chủ đồn điền cà phê bị bất tỉnh trước sự tấn công tài chánh của nhà triệu phú mạnh thường quân.
Rôsita thân hành ôm hôn và trao cúp cho nhà triệu phú đổi lấy tấm ngân phiếu 200.000 pêsô. Nàng nhận lời ăn tối trên du thuyền của nhà triệu phú. Và một tháng sau, nàng nhận luôn lời làm vợ.
Việc nàng lấy chồng sẽ chìm vào quên lãng nếu nàng không gửi khẩn điện cho Văn Bình. Nội dung nồng cháy như sau :
« Anh Văn Bình yêu dấu,
« Một nhà triệu phú Phi 48 tuổi, góa vợ, muốn kết hôn với em. Y tặng em 4 triệu pêsô làm của hồi môn, chưa kể nữ trang. Xin anh cho em biết ý kiến ngay. Em chờ anh đã lâu. Em sẵn sàng chờ thêm nữa. Nếu anh muốn, em sẽ chờ anh suốt đời. Hôn anh triệu lần.
“Rôsita của anh.”
Phúc điện từ Sàigòn được chuyển tới tay Rôsita  trong vòng 12 giờ đồng hồ :
“Kính gởi cô Rôsita,
“Trân trọng báo cô biết là Văn Bình đã có con trai đầu lòng đặt tên là Văn Hoàng. Và người đàn bà bằng xương bằng thịt đã sinh ra Văn Hoàng là tôi, Quỳnh Loan.
“Tôi thành thật yêu cầu cô buông tha Văn Bình cho mẹ con tôi được nhờ. Chúc cô bước lên xe hoa với 4 triệu pêsô. Và xin trả triệu triệu cái hôn lại cho cô vì thưa cô, cô là người láo khoét. Tính trung bình cô hôn mỗi phút được một cái (người đàn bà hôn thật tình phải mất từ 3 đến 10 phút ) thì hôn cả ngày cả đêm 24 tiếng mới được 39.400 cái. Muốn hôn đủ triệu triệu cái như cô hứa thì mất khoảng 10 triệu ngày. Cuộc đời 100 năm, chỉ có 36.000 ngày, cô nhớ chưa ?
Mẹ của Văn Hoàng.
Quỳnh Loan.”
Chán nản, Rôsita về nhà chồng. Nửa năm sau, nhân một chuyến đi Hoa lục về, và nhân một lời ghen tuông của Quỳnh Loan, Văn Bình mới phăng ra tự sự. Nguyên Hương đã mượn tay Quỳnh Loan để chơi chàng một vố để đời. Chàng ngậm thinh, không dám hó hé, song mặt khác đã nhờ bạn bên Phi luật tân tìm kiếm. Chàng viết thư cho Rôsita, hỏi thăm sức khỏe. Nàng trả lời đúng 24 trang giấy, chữ chi chít, và ướt nhèm nước mắt.
Chàng đinh ninh là nàng an hưởng hạnh phúc trên đống pêsô chất cao thành núi của chồng. Nhưng khi đọc xong lá thư của nàng, chàng bàng hoàng giây lâu. Đại để Rôsita nói là nàng vẫn yêu chàng bằng mối tình vô vọng, và trước khi nhận lời làm vợ nhà triệu phú nàng đã tâm sự là trót yêu chàng thắm thiết, đến chết cũng không quên. Nhà triệu phú im lặng một lát rồi nói :
-Nếu em yêu người khác thì anh sẽ dành em lại bằng được, hoặc bằng tiền bạc, bằng võ lực, bằng tình cảm ... Nhưng người ấy lại là đại tá Văn Bình nên anh chịu thua. Anh không ghen đâu. Dầu sao, anh cũng gần 50, tình yêu của kẻ ngũ tuần khác hẳn tình yêu bồng bột của thanh niên 20, 30. Anh chỉ mong em đừng có hành động nào quá đáng ...
-Thế nào là hoạt động quá đáng ?
-Là yêu đương công khai khiến mọi người biết anh là người chồng bị vợ cắm sừng. Anh không ngăn cấm em gặp Văn Bình, nhưng khi ấy em nên báo anh biết để anh xuất ngoại hoặc em lấy du thuyền rong chơi một vài tuần lễ trên biển Nam hải. Nói thật là hơn, em không giấu nổi anh đâu vì anh có dưới quyền hàng chục nhà trinh thám tư có thể theo dõi em và bạn bè em từng giây, từng phút kín đáo ...
-Em cảm thấy tàn nhẫn quá !
-Không đâu. Nhờ em nói thật, anh sẽ biết rõ em còn yêu Văn Bình đến mực độ nào để anh liệu lý chiều chuộng em, chinh phục em.
Thái độ mã thượng của người chồng triệu phú làm Rôsita kính phục. Nàng đinh ninh quên được Văn Bình để hưởng hạnh phúc bên cạnh người chồng ngũ tuần khôn ngoan và lịch sự. Song nàng chỉ quên một thời gian ngắn rồi nhớ lại da diết hơn bao giờ hết.
Văn Bình qua Phi luật tân. Hai người đáp máy bay xuống miền nam dự một cuộc thi săn cá dưới biển. Sau một tuần gần gụi thần tiên, chàng phải từ biệt Rôsita lên đường công tác. Theo lệnh, chàng phải dùng đường biển, tiến sâu về phía tây nam.
Lẽ ra, chàng phải giữ kín. Không hiểu sao chàng lại tỉ tê cho Rôsita biết. Và nàng nằng nặc đòi đi theo. Nàng đánh điện về Manila xin phép chồng. Nhà triệu phú đã đi Nam Mỹ từ nhiều ngày trước. Rôsita lấy du thuyền của gia đình, đổi tên, sơn lại để tiếp tục trên biển cả cuộc lãng du trăng mật với điệp viên Z.28.
Thủy thủ đoàn gồm toàn người Mã lai, thân tín của nàng, và quen từng tấc đất trên biển Nam hải. Du thuyền Thiên Thần ra khơi được một ngày, một đêm thì gặp bão. Đó là một trận bão lớn làm hàng trăm thuyền bè bị đắm. Du thuyền Thiên Thần nương theo miền duyên hải Sarawak, với hy vọng cập bến gần nhất để sửa chữa những hư hại, và tiếp tế nước ngọt, lương thực. Cơn bão dữ dằn đã phá vỡ phòng kho, cuốn hơn một tấn đồ hộp xuống biển.
Tàu đến gần Brunei, thủ đô Sarawak, thì trời quang mây tạnh trở lại. Văn Bình bèn ra lệnh cho thủy thủ xả hết tốc lực phóng ra khơi. Nhưng thần giông tố đã cố tình đánh lừa chàng. Một trận bão thứ hai xảy ra, hung hãn hơn trận bão thứ nhất nhiều lần. Và du thuyền Thiên Thần bị dạt vào hải đảo tiền đồn Datoek để bị bắt và lên án tử hình.
Khi ấy mới 3 giờ chiều. Sau nhiều ngày lênh đênh, Văn Bình mừng rú khi thấy giải đất xanh rì trước mặt. Rừng dừa cao vút đeo trái xum xuê làm chàng quên bẵng cơn khát dày vò. Chàng yêu cầu thuyền trưởng lái thẳng vào bờ thì hắn gạt đi :
-Theo chỗ tôi biết, đây vẫn nằm trong phần đất Nam dương. Anh em thủy thủ là người Mã lai, tôi sợ gặp chuyện không hay... Người Nam dương đa nghi và hiếu sát, thấy người Mã lai nào bén mảng tới đất họ, họ đều cho là gián điệp, và đem ra hành hình .
Văn Bình tỏ vẻ lo lắng :
-Vậy chúng ta phải làm sao đây ? Trên tàu, có hai người bị thương nặng, bắt buộc phải ghé đất liền để điều trị. Thức ăn, nước uống đã hết nhẵn. Thêm vào đó là sức khỏe của ... bà chủ.
Thuyền trưởng -một người Phi gốc Mã lai trạc 45, nét mặt gân guốc, sáng sủa và quả cảm- suy nghĩ một phút rồi thở dài :
-Nếu tôi tính đúng thì hòn đảo trước mặt là Datoek do quân đội Nam dương trấn đóng. Chúng ta đi lùi thì sẽ về Sarawak thuộc Mã lai, nhưng ác hại là động cơ đã hỏng, du thuyền không thể  chạy ngược chiều gió và chiều nước. Chạy thẳng về phía tây thì Mã lai còn xa lắc xa lơ. Natoena là đảo gần nhất thuộc Mã lai lại còn quá xa đối với chúng ta. Nhưng nếu ghé bờ tôi lại sợ ...
-Bị quân đội Nam dương bắt ?
-Vâng. Họ đã bắt nhiều người Mã lai chài lưới trong những trường hợp bão biển tương tự.
-Chúng ta sẽ khai cho họ biết đây là du thuyền bị lạc vì bão. Và tôi tin là họ thông cảm.
-Thưa ông, tôi không tin. Tôi có lý do để không tin như ông vì một người em họ của tôi bị bắt và trốn thoát cách đây ba tháng kể lại là đại úy Sulim cai quản đảo Datoek này mắc bệnh đa nghi tối đa và giết người như ngóe.
-Lạ thật, họ muốn bắt ai, giết ai cũng được ư ? Còn pháp luật Nam dương ? Còn công pháp quốc tế ?
-Pháp luật Nam dương cũng như pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới chỉ là pháp luật của kẻ có súng, và là súng tốt. Còn công pháp quốc tế thì hầu như trên vùng biển cực nam này ít ai còn nhớ. Sulim được toàn quyền bắt người. Hắn chỉ cần điện về trung ương xin chỉ thị lấy lệ rồi tự do mang tù ra pháp trường.
-Nếu thế thì chúng ta cố ráng lên, Natoena.
-Khó lắm. Sở dĩ tôi nhắc đến Sulim là để thỉnh cầu ông thận trọng. Bắt buộc chúng ta phải ghé Datoek. Nhưng để phòng bị, chỉ một toán nhỏ lên bờ còn mọi người phải ở lại trên tàu, và tàu phải ở bên ngoài hải phận quốc tế kẻo bị Sulim nổi nóng bắn trọng pháo.
-Anh nói đúng. Bây giờ, anh chọn cho tôi 5 thủy thủ còn khỏe mạnh. À, nên chọn những người xung phong.
-Không được. Ông không quen phong thổ nên lên bộ bất tiện. Vả lại bà chủ lại mệt, ông nên ở lại ... Tôi sinh sống trên biển Nam hải hơn 25 năm nay, am tường địa hình và thổ âm ... Xin ông giao phó  việc này  cho tôi.
Văn Bình lắc đầu :
-Tôi không quen điều khiển tàu.
Thuyền trưởng cũng lắc đầu :
-Nhân viên của tôi sẽ giúp đỡ ông.
-Tôi là người ra lệnh, ông phải nghe tôi.
-Ông tha lỗi cho. Tôi rất kính mến ông, song tôi chỉ nhận lệnh của bà chủ. Bà chủ không muốn ông lên bộ sợ nguy hiểm đến tính mạng.
Thái độ của thuyền trưởng rất đáng khen. Vì trung thành với chủ, hắn đòi được nhận lãnh nguy hiểm. Song Văn Bình không thể nhường lại cho thuyền trưởng, nhất là sau khi tự ái bị va chạm. Chàng đành phải giải quyền bằng phương pháp mạnh.
Chàng bèn hỏi thuyền trưởng :
-Anh chơi dao giỏi nhất miền nam phải không ?
Thuyền trưởng tái mặt :
-Thưa, tôi không dám đấu với ông.
-Nói ra thì anh bảo là khoe khoang, nhưng sự thật là anh chưa xứng đấu với tôi. Tài ba của anh chỉ chịu đựng nửa hiệp là mất khí giới. Vì vậy, tôi chấp anh ba thế. Anh đâm tôi ba nhát trước, rồi chúng ta sẽ giao đấu thật sự.
Thuyền trưởng từng được coi là vô địch đánh dao ở quần đảo Mindanao. Chính vì hâm mộ và tin cậy nghệ thuật đánh dao của hắn mà nhà triệu phú tung tiền ra mua chuộc, đưa về phục vụ dưới trướng. Trong đời vào sinh ra tử trên biển, hắn đã hợp tác với mọi phe, phe hải tặc ngang nhiên cướp tàu ngoài khơi, hoặc phe chính quyền, điềm chỉ cho lực lượng an ninh phục kích hải tặc, và hắn chưa hề bị ai khinh nhờn về kiếm thuật. Tuy nhiên, nhớ tới lời dặn của nhà triệu phú, hắn không dám hó hé.
Các thủy thủ nghe tiếng ồn lục tục vây quanh hai người. Thuyền trưởng đứng im, mặt đỏ gay.
Văn Bình ném hai con dao trên cái thùng gỗ, giọng ôn tồn :
-Anh đã sống trên mặt nước tất hiểu luật giang hồ. Kẻ giang hồ thà chết chứ không để bị người lạ khinh nhờn, nghĩa là anh phải giao đấu với tôi. Nhưng giao đấu xong, kẻ thua phải có tinh thần thượng võ, nghĩa là nếu anh thua tôi, anh phải ở lại.
Thuyền trưởng tủm tỉm cười :
-Ông đã dạy, tôi cũng xin vâng. Nhân tiện có anh em tụ họp đông đủ, tôi xin xác nhận là tự ông bắt tôi phải hỗn xược. Tôi sẽ cố gắng đâm trượt vào áo để lấy điểm thôi.
Rôsita đã có mặt trên boong không biết từ bao giờ. Những ngày bão biển khổ cực và thiếu thốn đã làm thân hình nàng tiều tụy. Nàng gày ốm trông thấy. Nhưng càng gày ốm nàng càng đẹp thêm. Sắc đẹp mảnh mai song rắn chắn của nàng như có phép tiên làm ánh hoàng hôn rực sáng, và tiếng động của đại dương ngưng bặt trong khoảnh khắc.
Nàng vội xen vào đám đông, ra lệnh cho thuyền trưởng :
-Không được. Yêu cầu anh trở vào cabin.
Nếu nàng chỉ nói vắn tắt có thế thì thuyền trưởng đã tuân theo răm rắp. Trên thực tế, nghe nàng nói hắn đã đặt con dao sáng loáng xuống, nhún vai như muốn phân bua rằng “bà chủ đã ra lệnh thì tôi xin cáo lui “. Nhưng nàng đã vô tình nói thêm :
-Anh nên thôi là hơn. Ông khách là tay kiếm thuật lừng lẫy, chắc chắn anh thua.
Sự chân thật của Rôsita đã đổ dầu vào ngọn lửa sắp tắt. Thuyền trưởng quay lại, xá Rôsita rồi nói :
-Thưa bà, lần đầu tiên tôi phải trái lệnh bà.
Hắn co chân nhảy lùi hai bộ, xuống tấn nghiêm trang, tay vòng lại cung kính chào  Văn Bình :
-Mời ông.
Văn Bình nhếch mép :
-Anh ra đòn trước.
-Tôi không dám.
Văn Bình bèn tiến lên, hươi dao vào mặt thuyền trưởng, nhưng nửa chừng lại thu về, để phóng đòn thứ hai. Chàng đánh nhanh đến nỗi khi thuyền trưởng sửa soạn tránh đỡ thì chàng đã hồi dao. Phút biểu diễn bay bướm đầu tiên này đã chứng tỏ với thuyền trưởng tài nghệ đấu dao thượng thặng của Văn Bình vì nếu chàng nặng đòn, hắn đã lãnh ba nhát dao vào hiểm huyệt và đã táng mạng ngay từ nhát thứ nhất.
Bị trêu  ngươi, thuyền trưởng gầm lên như cọp dữ rồi xấn tới, múa dao thành vòng tròn. Thế công của hắn khá bén nhọn, song thế thủ lại méo lệch, điều tối kỵ của giới kiếm thuật cao siêu. Muốn khuất phục hắn, chàng chỉ lừa hắn phóng đòn rồi nhằm kẽ hở mà tung dao sang đâm trọng thương. Nhưng Văn Bình lại giao đấu với tư cách bậc thầy truyền nghề lại cho môn đệ. Ba lần chàng chỉ đâm dứ rồi thu dao. Ba lần thuyền trưởng đâm chàng, cả 3 lần chàng không thèm đưa dao đỡ, mà chỉ đợi mũi dao gần bén da mới nghiêng người tránh.
Bọn thủy thủ đứng vây tròn đều ngây người như bị thôi miên. Riêng Rôsita chỉ mỉm miệng cười một mình. Nàng đã có nhiều dịp chứng kiến tài võ tuyệt luân của Văn Bình. Nàng yêu chàng phần nào cũng vì mến phục quyền pháp khác thường của chàng, luôn luôn nhẹ nhàng, ung dung, khoảng khoát, đánh nhau đến chết mà vẫn gây ra ấn tượng là cuộc đấu biểu diễn, đánh đỡ những miếng đòn nặng hàng trăm kí mà vẫn khiến người ngoài tưởng là nhẹ như lông hồng. Nghệ thuật của Văn Bình trội hơn nhiều võ sư quốc tế ở điểm hư hư  thật thật, cương nhu phối hợp thắm thiết như vợ chồng mới cưới quấn quít lấy nhau, lúc phóng đòn nhu thì ngỡ là cương, khi cương thì tưởng là nhu, biến hóa vô cùng tận ... Tình yêu của chàng cũng biến hoá vô cùng tận như võ nghệ. Mỗi lúc chàng yêu một kiểu khác, trong tình trườngVăn Bình luôn luôn mới mẻ, có lẽ còn mới mẻ hơn cặp tân nhân trong đêm động phòng hoa chúc nữa.
Đã đến lúc Văn Bình xử dụng những thế dao tuyệt kỹ để bắt thuyền trưởng thần phục. Đối phương ập tới, Văn Bình hét lớn một tiếng, phi thân cao quá đầu người, rồi ném lưỡi dao qua lan can tàu xuống biển. Chân chàng chưa chấm nền tàu thì thuyền trưởng đã quét dao vào họng chàng. Lưỡi dao gần đến nơi mà Văn Bình còn đứng nguyên vị nên ai cũng đinh ninh chàng không kịp né. Một thủy thủ la lớn :
-Chết rồi !
Rôsita nhìn cuộc đấu không chớp mắt, vẻ mặt vẫn tươi tỉnh vì nàng biết trước Văn Bình sẽ trổ tài Ninjutsu. Thật vậy, lưỡi dao chặt ngang cổ Văn Bình nhanh  như dao máy nhưng không gây tiếng phập ngon lành khi xuyên qua da thịt và xương sụn mà lại kêu coong khô khan như thể chém lầm vào đá cứng. Thì ra Văn Bình đã vận chân khí lên cổ để chịu đựng lưỡi dao của thuyền trưởng. Khi ấy cổ chàng rắn ngang bê tông. Lưỡi dao chém mạnh vào bị dội ra, thuyền trưởng mất đà, loạng choạng suýt ngã. Tuy vậy hắn chưa chịu đầu hàng. Hắn lảo đảo đứng dậy, chém nhát kế tiếp vào hông trái chàng. Văn Bình phản ứng nhanh đến nỗi mọi người tưởng chàng có thuật tàng hình. Chàng đang ở trước mặt thuyền trưởng bỗng lọt ra sau lưng hắn, khiến hắn chém lộn vào khoảng không. Hắn chém thêm thì Văn Bình lại biến ra phía trước. Cứ như thế tấn tuồng mèo vờn chuột kéo dài trong mấy phút.
Văn Bình thét lên tiếng nữa, bước lên một bộ. Lưỡi dao vèo tới, chàng hất cánh tay ra kẹp vào nách. Cán dao và bàn tay thuyền trưởng bị bóp bẹp trong nách Văn Bình. Keng một tiếng, con dao rớt xuống nền tàu.
Tiếp đến tiếng kêu la của thuyền trưởng :
-Gẫy tay tôi mất, ông ơi !
Văn Bình cười :
-Bóp thêm nữa nhé ?
Hắn giẩy nẫy :
-Xin ông buông tôi ra ... Tôi  sợ tài ông rồi. Thú thật từ mấy chục năm nay, tôi chưa hề gặp ai đáng sợ như ông.
Văn Bình buông hắn ra. Sức mạnh thân thể chàng biến thành luồng gió xô thuyền trưởng ngã bắn vào lan can tàu. Hắn nằm mọp trên đống lưới cá bằng ni lông, một lát mới lồm cồm bò dậy. Văn Bình định bắt tay hắn song hắn đã quỳ mọp trước mặt chàng rồi vái một cách cung kính :
-Từ phút này, tôi xin tôn ông làm thầy. Ông dạy gì tôi cũng xin nghe.
Chàng đỡ hắn dậy :
-Ồ, trong đời giang hồ gặp kẻ sắc nước hơn mình là chuyện thường. Nếu có thời giờ, tôi sẽ bảo ban thêm cho anh. Anh là võ sĩ giỏi song chưa học cách giao đấu với những người am tường Ninjutsu, Thần ảo công và hư quyền …
Văn Bình thắng cuộc nên được lên bộ với 5 thủy thủ Mã lai. Mục đích của chàng là cố trèo lên đỉnh núi ven biển để đốt khói làm hiệu cấp cứu, hoặc nếu có hoàn cảnh thuận tiện, liên lạc với thổ dân. Sau khi tới bờ, việc đầu tiên của chàng là sai thủy thủ hái dừa uống cho đỡ khát.
Vì trái dừa ngọt lật, Văn Bình bị bắt, trở tay không kịp. Chàng đang vắt vẻo trên thân dừa cao thì một loạt tiếng nổ vang lên. Đại úy Sulim từ sau núi hiện ra với toán cận vệ võ trang tận răng và hai xe díp trí súng trung liên.
Giá có súng trong tay Văn Bình cũng phải quy hàng, huống hồ chàng chỉ mang theo con dao để chặt … dừa.
……………………………………………………………………………………..
Keng … keng … keng …
Đó là một buổi sáng thứ sáu.
Và là thứ sáu 13.
Gói thuốc lá của đại úy Sulim đã hết nhẵn từ lâu. Văn Bình đành loay hoay vấn thuốc rê với lá chuối non. Ngoài rừng dừa san sát, đảo Datoek còn có chuối, đủ loại chuối, mùi thơm sực nức, át cả mùi tanh của biển. Thuốc lá trồng trên đảo, được cắt thái vội vàng, không ủ đúng phương pháp, nên xông lên khét lẹt. Văn Bình cảm thấy cuống họng khô đắng song vẫn không rời được điếu thuốc méo mó và mỏng lét. Mùi thuốc -dầu là thuốc lá giả tạo - dường như phương thuốc kích thích chàng gia tăng trí tuệ và sức lực.
Chàng buột miệng :
-Thứ sáu 13 ... Ừ, mình chết quái thế nào được ?
Cũng như tổng thống Mỹ Hoa thịnh đốn (3), Văn Bình chuyên gặp hên ngày thứ sáu trong tuần. Chàng oe oe chào đời tại Bắc Việt 6 giờ sáng ngày thứ sáu. Chàng xuất dương, dấn thân vào cuộc sống hồ hải khắp ngũ đại châu một ngày thứ sáu. Chàng gia nhập tổ chức điệp báo của ông Hoàng cũng trong ngày thứ sáu. Và cũng trong ngày thứ sáu, Văn Hoàng, con trai đầu lòng của chàng với Quỳn Loan, được sinh hạ ...
 
(3) trong những ngày thứ sáu : tổng thống George Washington đã chào đời, được bổ nhiệm trung tá, tư lệnh quân đội Virginia, đắc cử Tổng tư lệnh, thiết lập lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, thắng trận Princeton, thắng trận Yorktown, đắc cử Chủ tịch Quốc hội Lập hiến, thành lập bộ Chiến tranh và bộ Quốc phòng, đặt thủ đô Liên bang, đặt viên đán đầu tiên xây Bạch cung, kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống cuối cùng, nhận nhiệm kỳ thứ hai là Tổng tư lệnh.
 
Con số 13 đối với chàng không có gì là gở. Vả lại, quốc ấn của Hoa kỳ gồm toàn số 13 mà Hoa kỳ vẫn mỗi ngày một hùng mạnh (4).
 
(4) trên đại quốc ấn Hoa kỳ, người ta thấy 13 ngôi sao, 13 đường sọc dọc, 13 mũi tên trong gót con ó, 13 đám mây, 13 chữ trong khẩu hiệu, 13 lá nguyệt quế (laurier), 13 cái lông ở cánh trái chim, 13 cái lông ở cánh phải, 13 cái lông ở đuôi, và 13 trái dâu trên cành ...
 
Thứ sáu 13 là ngày thường được chọn để hành quyết tử tội, còn về phần Văn Bình thì đó lại là ngày diễm tuyệt vì chàng đã thật sự biết mùi đời một ngày thứ sáu. Hồi ấy, Văn Bình mới 18 tuổi. Tuy vậy chàng đã có bề cao và bề ngang đồ sộ, với đầy đủ ma lực quyến rũ phụ nữ. Chàng đang lang thang trên hè phố thì đụng nàng. Trông bề ngoài, đố ai dám bảo người đẹp đã có chồng, và lớn hơn cậu thanh niên khôi ngô kia một đống tuổi. Nếu mọi đàn bà đều lầm thì Văn Bình lầm cũng không phải điều lạ. Đang ưỡn ẹo, nàng đứng phắt lại ngắm chàng, còn say mê hơn đứa trẻ ngắm món quà thứ nhất trong đời mà cha mẹ vừa mua cho trong dịp lễ Giáng sinh. Rồi nàng vội vã rượt theo. Đến ngã ba, nàng bắt kịp và vượt qua, đon đả :
-Chào anh, anh đi đâu đấy ? Lâu lắm em mới được gặp lại anh. Thế nào, anh ở đâu? Anh làm nghề gì ?
Nàng tuôn ra một tá câu hỏi, Văn Bình nghe không kịp và dĩ nhiên là không cách nào trả lời kịp. Vì chàng há miệng toan nói thì nàng đã tấn công tới tấp :
-Anh về nhà em chơi đi ?
Văn Bình không phải là phỗng đá hoặc thằng ngu nên giai nhân vừa buông lời mời là chàng nhận lời liền. Kết quả là chàng lưu lại đêm ấy với thần Vệ nữ. Nàng là hoa khôi tỉnh nhỏ được một trung tá mật thám Pháp khám phá ra, đưa qua kinh đô ánh sáng Ba lê biến chế lại khiến nàng trẻ hoài không già.
Ông chồng vắng nhà một thời gian dài nên Văn Bình tự do bù khú. Nhưng chỉ mấy ngày sau, nàng đâm chán. Nàng than thở :
-Em là người đàn bà lạ lắm. Không thích cái gì được quá một tuần. Đời anh còn dài, anh sẽ thu thập thêm nhiều kinh nghiệm. Em vốn có duyên với ngày thứ sáu 13 nên ngày thứ sáu 13 nào em cũng ngồi ở công viên từ chiều đến tối mịt đợi anh. Nếu còn yêu em, anh nhớ đến với em.
Chàng quay lại với giai nhân một thứ sáu 13 nữa, rồi vì công việc đòi hỏi chàng đi biệt. Và kỷ niệm đầu tiên xoắn sâu vào da thịt ấy còn mãi mãi trong trí nhớ. Vì vậy, trên đảo Datoek, gần tới giờ hành quyết, Văn Bình vẫn không lo sợ.
Chàng tin là vận hên sẽ cứu chàng sống.
Chợt có tiếng chân người rầm rập. Và tiếng khóa cửa rỏn rẻn. Binh sĩ của đại úy Sulim đã tới. Những tia sáng ban ngày bắt đầu tràn ngập xà lim. Văn Bình nhìn đảo qua 5 khuôn mặt hốc hác, tái mét.
Cửa mở.
Sulim đứng sừng sững trên ngưỡng cửa, vẻ mặt huênh hoang tự đắc. Bộ quân phục của hắn được ủi thẳng nếp hơn thường lệ. Bao da đeo súng cũng được đánh xi bóng loáng hơn thường lệ. Giọng nói của hắn cũng kêu sang sảng hơn thường lệ.
Hắn buông ra một câu cụt lủn :
-Giờ hành quyết đã tới.
Câu nói của đại úy Sulim như băng tuyết ào ào đổ xuống gian phòng chật hẹp, làm mạch máu tử tù đông cứng. Văn Bình nhìn những thủy thủ Mã lai co rúm người trong góc xà lim. Thật ra, nghe Sulim báo tin hành quyết, Văn Bình cũng hơi run run. Dầu sao chàng vẫn là con người với đầy đủ cảm xúc hỉ, nộ, ai, lạc. Chàng trội hơn đa số con người ở chỗ chế ngự được cảm xúc. Chàng run run trong vòng một vài giây đồng hồ rồi vẻ mặt trở lại phớt lạnh, và ngạo nghễ. Chàng cúi xuống tiếp tục quấn thuốc lá bằng lá chuối non. Đại úy Sulim cáu tiết, giật điếu thuốc nhão nhoẹt, vất ra cửa :
-Gần chết rồi, không được hút thuốc.
Văn Bình nhổ bãi nước bọt, giọng khinh bỉ :
-Các anh là người mọi rợ … Trên khắp thế giới, tử tội bao giờ cũng được trọng đãi trước giờ hành quyết.
Sulim đỏ mặt :
-Chúng tôi không thể trọng đãi bọn gián điệp ngoại quốc.
Rồi quát thuộc viên :
-Mang họ ra sân.
Một viên thiếu úy tiến đến :
-Thưa đại úy, theo thông lệ, tử tù lớn tuổi nhất bị hành quyết trước.
Hắn quay về phía các thủy thủ Mã lai, chọn người gày gò, lún phún râu bạc, dõng dạc nói :
-Đứng lên.
Tử tội tuân ra lệnh nhưng người máy. Sự sợ hãi quá độ đã làm thân xác hắn chai sạn. Hắn trở thành bình tĩnh tuyệt đối. Theo lệnh viên thiếu úy, hắn từ từ bước ra ngoài. Văn Bình đoán chắc hắn sẽ đứng lại một phút, giã từ bè bạn lần cuối. Song hắn đi thẳng, không ngoái cổ lại. Bất giác Văn Bình nhớ đến lời nói sau cùng của các liệt sĩ bị đoạn đầu ở Yên bái dưới thời Pháp thuộc. Cũng như của lãnh tụ Nguyễn thái Học trước khi rời nhà pha Hỏa lò :
-Chào các bạn, tôi đi trước đây.
Các liệt sĩ Yên bái không thành công, song đã “thành nhân”. Hôm nay, Văn Bình chẳng những không thành công, lại không thành nhân nữa. Chàng sẽ chết trong sự tăm tối vô danh. Không ai biết chàng chết. Đồng nghiệp ở Sở chờ lâu không thấy chàng trở về sẽ kết luận là chàng đã chết. Nhưng ông Hoàng, sở Mật vụ -và nhất là chính phủ - sẽ không nói nửa lời về hoạt động của chàng. Vì điệp viên Z.28, đại tá Văn Bình, chỉ là sản phẩm của tiểu thuyết, quân đội cũng như Nội các chính phủ không bao giờ và không thể nhìn nhận là sự thật ... May ra vài ba chục năm sau, người ta mới nhắc đến tên chàng. Khi ấy, chàng đã tan ra thành bụi đất...
Không khí trong lành ban mai đột nhiên chuyển động mạnh mẽ. Đoàng ... đoàng... một loạt súng nổ liên tiếp. rồi sau hết là một tiếng nổ đơn độc, rời rạc. Bốn phát súng trường và phát súng thi ân vào màng tang...
Từ lúc người thủy thủ Mã lai vô tội bị lôi ra khỏi xà lim đến khi phát súng thứ nhất nổ ròn, Văn Bình đếm đúng 5 phút. Nghĩa là Sulim phải mất khoảng nửa giờ để bắn 6 tử tội, trong số có Văn Bình. Nếu có phép lạ nào hiện ra để cứu chàng khỏi chết, phép lạ này phải tới đúng lúc, trong khoảng nửa giờ ấy ... Bằng không, Văn Bình sẽ trở về với đất ...
Các tử tội trong xà lim vẫn không nhốn nháo. Họ chỉ đua nhau cầu kinh to hơn.
Tiếng chân người lại rầm rập.
Tiếng khóa lại rỏn rẻn.
Căn cứ theo tuổi tác, Văn Bình là người kế tiếp. Người kế tiếp ra pháp trường. Kế tiếp xuống địa ngục.
Cửa mở.
Thần Chết gọi tên Văn Bình.
 
 
24.09.2016
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau2016
 
 
II
Trên giòng Chao Phya
 
Trời đã sáng rõ.
Kẻ đến lãnh Văn Bình đi hành quyết là gã trung sĩ da đen sì, bắp thịt rắn như đúc bê tông. Chàng đã quen mặt hắn. Có lẽ ngoài đại úy Sulim, chàng nhớ hắn nhiều nhất khi xuống suối vàng. Vì hắn đã lưu lại trong lòng chàng một kỷ niệm thú vị. Đêm ấy, Sulim đập bàn ghế quát tháo trong khi hỏi cung  Văn Bình. Chàng vẫn tỉnh khô. Sulim bèn ra lệnh cho gã trung sĩ da đen kia :
-Chắc nó buồn ngủ. Đánh thật mạnh cho nó mở mắt ra.
Gã trung sĩ nghiến răng, chém bàn tay vào cổ Văn Bình. Rõ ràng đối phương đã dùng đòn hiểm song gã trung sĩ không biết Văn Bình có cái cổ cứng như thép nguội. Sulim ngoảnh đi chỗ khác -dường như đang mải ngắm thân hình tròn trịa của người đàn bà nào đó nổi bóng trên cửa sổ căn nhà đối diện- nên không nhìn thấy nét mặt đau đớn vô biên của gã trung sĩ sốt sắng. Gã đánh vào cổ Văn Bình mà tay gã lại kêu rào rạo, khớp xương bị gẫy. Tuy vậy, gã nín thinh không thốt nửa lời. Lòng tự ái của con nhà võ không cho phép gã hé răng trước mặt Sulim. Nhưng sau khi Sulim ra ngoài, giao Văn Bình cho gã thẩm vấn, gã tiến đến trước mặt chàng, ve vẩy bàn tay bị thương, giọng thiết tha :
-Anh giúp tôi với … Võ anh rất giỏi mà tôi không biết.
Văn Bình dùng thuật hồi sinh Kuatsu nắn bóp cho gã. Trong chớp mắt, bàn tay gã trở lại lành lặn như cũ. Gã phục xuống nền nhà lạy chàng, lí nhí cám ơn rồi gã chẳng hỏi cung gì nữa. Trước khi chia tay, gã biếu Văn Bình một gói thuốc lá. Rồi gã biến dạng.
Sáng nay, bỗng dưng gã trung sĩ đen sì lại xuất hiện. Thấy chàng, gã đứng lại, giọng rầu rầu :
-Phiền ông đứng dậy, theo tôi ra ngoài.
Văn Bình hỏi :
-Anh đem tôi đi bắn ?
-Vâng. Đại úy Sulim cắt cử tôi bắn phát thi ân. Lẽ ra, bổn phận của tôi không phải là giải tù, nhưng vì tôi có tình với anh. Mối tình của con nhà võ …
-Anh có cách nào cứu tôi không ?
-Nếu tôi là sĩ quan chỉ huy, tôi đã nhắm mắt cho anh bỏ trốn ra biển, nhưng tôi chỉ là trung sĩ quèn. Xuống suối vàng, anh đừng oán tôi nhé … Tôi phải thi hành nhiệm vụ mặc dầu tôi không tin là anh có tội. Tôi sẽ dặn tiểu đội bắn thật trúng, và riêng tôi, tôi sẽ bắn phát thi ân ngay lập tức.
Mặt trời buổi sáng từ hướng đông chiếu tới làm Văn Bình chói mắt. Hướng đông là quê hương của Rôsita. Hướng đông cũng là nơi du thuyền Thiên Thần buông neo chở chàng, chờ mãi mà chàng không quay lại. Giờ này Rôsita và toàn thể thủy thủ ở đâu, và đang làm gì ?
Chỉ còn vài ba phút đồng hồ nữa, Văn Bình phải quyết định dứt khoát. Chàng có thể quật ngã gã trung sĩ trong chớp mắt tuy chàng bị còng tay và xiềng chân kiên cố. Nhưng bên cạnh gã trung sĩ còn cả tiểu đội võ trang đến tận răng nữa. Chàng không có hy vọng chạy trốn vì chàng mới ra đến nửa sân thì hàng chục khẩu tiểu liên đã nhả đạn đồng loạt. Dẫu chàng thoát được đến bức tường thì cũng còn nhiều vọng gác và nhất là hai ổ đại liên.
Nghĩa là là lát nữa đây, chàng phải chết.
Giữa sân rộng là cột cờ cao lêu nghêu. Lá cờ Nam dương hai sọc đỏ và trắng nằm ngang kêu phần phật trước gió. Tuy trời nắng, gió vẫn thổi dữ. Bức tường gạch quét vôi xám sừng sững cách Văn Bình hai trăm thước ngăn chận tầm mắt thèm khát phóng khoáng. Sau tường là rừng rậm và biển cả.
Gã trung sĩ đi trước, Văn Bình đi giữa, hai bên có 4 binh lính kèm sát. Toàn thể bước theo nhịp quân hành, hùng dũng và trịnh trọng, tạo ra cảm tưởng đây là một pha trong cuộc duyệt binh chứ không phải là hành quyết tử tội.
Cả bọn qua kỳ đài, rẽ sang trái rồi đứng lại sau tiếng hô “nghiêm” sang sảng của gã trung sĩ. Một cây cọc gỗ được trồng sâu trên mặt đất. Trên cọc còn lòng thòng hai sợi giây thừng ướt máu tươi. Máu tươi cũng bắn tung tóe xuống mặt sân. Bức tường phía sau mang đầy vết đạn lỗ chỗ, có những vết bằng quả cam. Bên trái, Văn Bình thấy một xác người nằm còng queo, vuông vải dù trắng che phủ từ đầu xuống chân. Đó là thi thể của người thủy thủ Mã lai già vừa bị hành hình.
Tuy tử tội vừa gục ngã, ruồi nhặng đã bay vo ve chung quanh. Trên đầu, Văn Bình nghe rõ tiếng quạ kêu quang quác. Có lẽ chúng vừa đánh hơi thấy bữa tiệc thịt người thịnh soạn đang được sửa soạn bên dưới.
Đại úy Sulim thản nhiên nhìn Văn Bình và toán lính hành quyết. Trên khuôn mặt sạm nắng của hắn, Văn Bình đọc thấy vẻ kiêu căng xen lẫn thỏa mãn. Nếu được tự do, chàng đã nhảy tới tặng hắn cái tát nổ đom đóm mắt. Dường như hắn lấy làm khoái trá khi được chứng kiến cái cảnh tử tù do hắn bắt giam, xử án, lần lượt trở thành đống xác chết máu me nhầy nhụa …
Cả bọn quay về phía đại úy Sulim. Gã trung sĩ đứng nghiêm, giơ tay chào rồi nói với Sulim bằng thổ ngữ. Chắc gã đang xin chỉ thị của thượng cấp. Sulim lạnh lùng chào trả rồi từ từ rút trong túi ra một tờ giấy trắng đánh máy. Hắn đằng hắng một tiếng rồi dõng dạc đọc, vừa đọc vừa ngẩng đầu nhìn Văn Bình. Văn Bình nghe lõm bõm là tòa án quân sự họp tại đảo Datoek kết tội chàng làm gián điệp cho Mã lai, và án tử hình được được chính phủ trung ương chuẩn y. Sulim đọc xong, gấp tư miếng giấy, bỏ lại vào túi. Gã trung sĩ da đen tiến tới, mở khóa còng và xiềng cho Văn Bình, đoạn dẫn lại cây cọc.
Không hiểu sao thời gian khi ấy lại trôi nhanh lạ lùng. Khoảng cách từ chỗ chàng đứng đến cây cọc hành quyết không hiểu sao lại ngắn rụt lại như thể được phép thần thông thu ngắn, khiến chàng càng bước nhanh tới sự chết. Nhiều phen, thần Chết đã lởn vởn bên chàng. Nhưng chưa lần nào chàng cảm thấy thần Chết đến quá gần gũi như lần này. Vì sau khi bị bịt mắt, trói cứng vào cọc, toán lính nâng súng lên ngang mày, gã trung sĩ hô lệnh thì không pháp thuật nào trên dương thế có thể đưa chàng trở lại kiếp người.
Văn Bình quay lại đối diện với toán hành quyết. Gương mặt điềm đạm cố hữu của chàng vẫn bình tĩnh hơn bao giờ hết. Mọi việc sớm muộn sẽ đến hồi chung cuộc. Sau nhiều năm vùng vẫy, giờ đây đến lúc chàng gục ngã. Bốn người lính đã quỳ xuống. Gã trung sĩ đi vòng ra sau lưng Văn Bình sửa soạn bịt mắt và trói chàng vào cọc. Tuy đứng xa, đại úy Sulim vẫn không bỏ sót chi tiết nào của cuộc xử bắn. Văn Bình thấy rõ nụ cười sung sướng trên miệng hắn.
Chàng nghe tiếng thì thầm của gã trung sĩ :
-Chào anh nhé !
Rồi tiếng hô chắc nịch :
-Sửa soạn !
Nhưng trùm lên tiếng nói bên tai của gã trung sĩ và tiếng hô dõng dạc, Văn Bình vừa nghe một tiếng kêu lớn từ  phía sau  vẳng tới :
-Văn Bình, nằm xuống !
Bốn khẩu súng cùng khạc lửa ra một lượt song Văn Bình đã phản ứng trước đó một phần vi phân giây đồng hồ. Chàng vận nội công, phối hợp với Ninjutsu, giật đứt giây trói và bổ nhào xuống đất. Cả bốn viên đạn đều bắn vào cọc, cách mặt đất thước rưỡi. Nếu chàng còn đứng nguyên vị, ngực chàng đã vỡ nát. Thân chàng vừa chạm đất thì băng vải đen cũng được chàng gỡ tung khỏi mắt. Súng máy nổ liên hồi như pháo Tết. Chàng thấy bốn người lính trước mặt bị đốn ngã như sung rụng. Đại úy Sulim đã kịp thời nằm rạp xuống để tránh loạt đạn đầu tiên. Hiện hắn đang giơ súng lục nhằm Văn Bình bóp cò song một loạt đạn đã cắm chặt hắn xuống đất. Hắn ngã sóng soài chết ngay, tay còn nắm chặt khẩu súng đầy đạn vô ích.
Thoát chết, Văn Bình nhổm dậy. Chàng quên bẵng gã trung sĩ hảo tâm đang chờ bên cọc để bắn phát súng cuối cùng. Do phản ứng tự nhiên của người quân nhân chuyên nghiệp, gã đã cuộn tròn người để tránh đạn. Gã có thiện cảm với Văn Bình nhưng khi cần lựa chọn tối hậu, gã đã dứt khoát về phe đại úy Sulim. Văn Bình chỉ cách gã trung sĩ một xải tay. Chàng đứng chưa vững thi gã đã nhoài tới, ôm ghì chân chàng, vận toàn lực để giật ngã. Gã biết tài nghệ siêu quần của Văn Bình nên không dám nương tay. Bị tấn công đột ngột, Văn Bình ngã khuỵu. Song trong chớp mắt, chàng đã nhìn thấy đối phương. Chàng lộn người lên thật lẹ làng, và bổ vào đầu gã trung sĩ. Lưỡi dao mà gã trung sĩ vừa rút ra khỏi thắt lưng, đâm thẳng vào mặt Văn Bình đã bị gạt bắn sang bên. Yếu tố bất thần không còn nữa, gã trung sĩ không hy vọng cầm cự được thêm. Văn Bình đã giáng atêmi giữa yết hầu đối phương. Gã trung sĩ kêu ằng ặc được một tiếng rồi nằm thẳng đơ.
Tiếng nói quen thuộc lại vẳng tới. Giờ đây Văn Bình đã biết. Đó là tiếng nói thân mật của Rôsita, núp trên cành cây cao, lá mọc xum xuê phía sau bức tường. Thì ra Rôsita đã tìm cách cứu chàng. Thần may mắn đã cứu chàng vì nếu Rôsita can thiệp chậm một phút nữa là chàng đã thành người thiên cổ.
Chàng nhìn lên bức tường để nhận định địa thế. Bề cao hơn 4 thước, phía trên lại có một lớp kẽm gai cuộn tròn, cao gần 1 thước nữa. Vị chi là 5 thước. Văn Bình thấy một thủy thủ Mã lai hiện ra giữa đống cành lá rậm rì. Hắn cầm trong tay một cuộn giây thừng ni lông. Nhanh nhẹn, hắn quăng một đầu giây xuống sân cho Văn Bình, kèm theo lời dặn :
-Mau lên, bọn chúng sắp tới đông lắm.
Văn Bình nhảy lên, định bám lấy sợi giây nhưng chàng chỉ táp vào khoảng không vì đạn tiểu liên nổ ròn, gã thủy thủ bị thương ngã lộn từ đỉnh cây xuống đất. Ổ súng ở vọng gác bên trái đã bắt đầu tham chiến. Xa xa, về hướng nhà giam cũng có tiếng súng nổ chát chúa. Có lẽ nhân viên của Rôsita đã lọt vào khu nhà giam, hạ sát lính gác để giải thoát bốn tử tội Mã lai còn lại.
Tacata … Tacata …
Khẩu đại liên quét một vòng tròn trên sân rộng. Nếu xạ thủ được tự do nhả đạn, đoàn tiếp cứu sẽ phải bỏ thây ngoài hàng rào.
Đoàng ... Đoàng ...
Hai phát súng nổ liên tiếp. Liền khi đó, khẩu đại liên câm họng. Bắn nhanh và chính xác như vậy chắc phải là Rôsita. Mừng rỡ, Văn Bình chạy vụt tới chân tường nhưng chàng lại phải nằm xuống lần nữa vì từ cuối sân một tên lính vừa nhắm chàng bắn ria. Tài bắn của hắn cũng không đến nỗi kém vì nếu chàng không thay đổi vị trí liên tục thì đã ăn đạn.
Nhờ núp sau mô đất cao, Văn Bình có thể an toàn trong vài ba phút. Liếc chung quanh, chàng nhận thấy nhiều đống gạch cát ngổn ngang. Có lẽ đại úy Sulim đang xây công sự phòng thủ. Mắt chàng tóe tia sáng hân hoan vì chàng vừa khám phá ra nhiều thanh sắt tròn nằm lẫn lộn trong đống cát. Loại sắt này được dùng để đúc bê tông. Đối với chàng, nó có thể biến thành cây sào tiện lợi giúp chàng vượt qua bức tường ác độc. Văn Bình vốn không có biệt tài nhảy cao nhưng chàng lại luyện tập nhảy sào đúng phương pháp. Muốn nhảy qua bức tường, chàng phải có sào tre, hoặc sào ni lông, hoặc sào thủy tinh ép vừa cứng vừa mềm, chứ không thể xử dụng cây sắt thẳng đơ. Nhưng chàng không có thời giờ suy hơn tính thiệt nữa.
Chàng ép mình sát đất, bò lại đống cát, từ từ rút một cây sắt. Khẩu tiểu liên vẫn gầm thét bên tai chàng. Vụ một cái, chàng đứng thẳng lên, ôm cây sào chạy thật nhanh để lấy trớn. Rồi chàng nhún người, vận dụng nghệ thuật Ninjutsu cho thân thể nhẹ bỗng và vọt lên cao. Hai chân chàng vướng vào kẽm gai song nhờ trớn còn mạnh, chàng tuột được sang bên kia bức tường.
Hú vía ...
Một loạt đạn bắn theo hàng ngang nhưng không trúng người chàng. Chàng kêu to:
-Rôsita !
 Rôsita từ trên cây nhảy xuống. Nàng mặc đồ chẽn đen, trông gọn ghẽ và hùng dũng như nữ hiệp sĩ cứu khổn phò nguy trong tiểu thuyết kiếm thuật Trung hoa.
Rôsita nắm tay chàng :
-Chạy đi anh.
Khi ấy, Văn Bình mới biết là đã phá kỷ lục nhảy sào thế vận 1963 (1) với một dụng cụ thô sơ. Chàng không hiểu sức mạnh nào đã giúp chàng khắc phục được những khó khăn lớn lao khó khăn như vậy. Chàng mỉm cười nhìn Rôsita. Vì nàng ... vì nàng mà Văn Bình vô tình trở thành vô địch nhảy sào.
 
(1) năm 1963, John Thomas Pennel (Hoa kỳ) đã nhảy được 5m20. Văn Bình phải là võ sĩ cừ khôi mới đạt được thành tích vượt tường 5m này, vì muốn nhảy cao như vậy phải chạy 40m để lấy trớn và phải có sào tốt bằng thủy tinh ép hoặc bằng nhôm đặc biệt. Tưởng nên biết rằng võ sĩ nhảy sào không bị gãy xương khi đáp xuống vì có một lớp vỏ bó ni lông khá dày, được trải trên một khoảnh vuông mỗi cạnh 5m, trong khi ấy Văn Bình nhảy từ 5m cao xuống đất cứng. Đó là nhờ công phu Ninjutsu và Thần ảo công.
 
Rôsita ra hiệu cho toán thủy thủ chạy thật nhanh trên con đường mòn ngoằn ngèo, gập ghềnh và đầy gai góc. Bốn tử tù Mã lai được cứu thoát cũng nhập bọn sau khi Văn Bình vào rừng được hai, ba phút. Rôsita bảo Văn Bình :
-Trong đồn còn gần 50 binh lính nữa, nhưng em cho là không đáng sợ vì sĩ quan chỉ huy đã bị giết. Tuy nhiên, chúng mình rời đảo Datoek này càng sớm càng tốt vì bọn sống sót có thể điện về thủ đô Jakarta, họ cho phi cơ săn đuổi thì nguy lắm.
Văn Bình hỏi :
-Du thuyền đậu ở đâu ?
Rôsita đáp :
-Cách đồn binh độ nửa giờ xuyên rừng.
Mưa đổ xuống ào ào, không báo trước. Rôsita nép vào người Văn Bình, miệng rú lên một tiếng nho nhỏ. Chàng vội ôm chặt lấy nàng, nhưng không phải để đặt vào môi nàng một cái hôn đắm đuối như thường lệ, mặc dầu từ lúc trốn khỏi pháp trường đến giờ, chàng chưa tình tự thân mật với nàng. Thật ra, Văn Bình cũng muốn hôn Rôsita cho bõ nhớ nhung, thèm muốn, nhưng cảm hứng nồng cháy của chàng đã nguội ngay vì nàng thét to :
-Anh ơi, em sợ lắm !
Đang bước  rảo, Văn Bình  dừng lại. Trên lối đi lầy lội chỉ còn hai người. Toán thủy thủ đi trước độ trăm thước. Cuối con đường xuyên rừng về hướng tây là bờ biển. Tuy trời còn mưa, Văn Bình vẫn nghe được âm thanh rì rầm của biển, âm thanh chứa đầy lạ lùng mà chàng say mê từ thuở hoa niên ...
Văn Bình vội hỏi :
-Em sợ gì ?
Chàng rút ngay khẩu súng lục ra cầm tay, sửa soạn nhả đạn. Nàng đang ưu tư bỗng phá lên cười :
-Anh lấy súng ra làm gì ?
Văn Bình ngạc nhiên :
-Vì nghe em kêu cứu, anh tưởng ... họ đã rượt tới nơi.
-Vâng, em kêu cứu, nhưng không phải vì binh lính Nam dương đuổi kịp. Trời mưa thế này họ không dám vào rừng đâu. Vả lại, họ như rắn mất đầu, chẳng làm gì được nên chuyện. Em kêu cứu vì ... thôi, em hết sợ rồi.
-Lạ quá, em không phải là người yếu bóng vía, nhiều lần đối phương dí súng vào lưng mà em không sợ. Anh hỏi lý do thì em trả lời đã hết sợ. Em sợ gì, cứ nói cho cho anh biết.
-Anh sẽ cười em.
-Trời ơi, cứ dài dòng mất thời giờ quá.
-Anh đừng cười em nhé, anh hứa đi. Anh long trọng cam kết là không cười em, em mới nói.
-Ừ, thì hứa.
-Em sợ con vắt.
-Vắt đỉa ấy à ?
-Vâng.
Văn Bình phá lên cười. Bất cứ ai đi rừng đều biết con vắt, một giống đỉa nhỏ, sinh sản hàng vạn, hàng triệu con. Hễ trời mưa là từ trên cây rụng xuống, từ dưới đất trồi lên. Hễ gặp người đi qua là chúng ùa ra, bám chặt lấy hút máu không nhả. Kẻ đi rừng dùng con dao bén cạo một lượt như cạo râu, hoặc đốt cháy từng con. Nhiều con bị chém đứt đôi hoặc lửa thiêu sèo sèo mà vẫn bám cứng da thịt để hút máu.
Văn Bình không lạ gì Rôsita. Nàng là nữ điệp viên xuất sắc của Phản gián Phi luật tân trước ngày lên xe hoa về nhà chồng. Bình sinh, nàng không biết sợ. Võ nghệ cừ khôi, mưu chước tuyệt vời, nàng đã chinh phục được cảm tình đặc biệt của Văn Bình. Nàng không sợ súng đạn, nàng không sợ chết vậy mà nàng sợ con vắt nhỏ lăn tăn. Đàn bà là như thế đó…
Rôsita vùng vằng :
-Anh cười em … Té ra anh thất hứa !
Văn Bình vội kéo nàng vào lòng :
-Xin lỗi em.
Cả hai người cùng cười. Dưới cơn mưa lác đác, Văn Bình ghì chặt thân thể căng cứng, tràn trề căng cứng, tràn trề sinh lực của nàng, nhìn nàng mắt trong mắt, tay trong tay giây lâu, để sửa soạn cảm xúc mê ly rồi mới từ từ cúi xuống dính môi chàng vào môi nàng. Dường như môi Văn Bình có chất keo đặc biệt, đã sát vào thì lâu lắm mới chịu rời ra. Một số chuyên viên điện ảnh nhận định rằng Văn Bình có sức hôn mãnh liệt hơn cả tài tử màn bạc đẹp trai số một Rudolph Valentino (2) nữa.
 
(2) hồi sinh thời, tài tử Mỹ Rudolph Valentino đã khét tiếng về nghệ thuật hôn lâu, hôn mạnh, và gây nhiều hoan lạc, khoái cảm cho nữ diễn viên màn ảnh. Có lần Rudolph làm mạnh đến nỗi một nữ diễn viên bị gãy ngay ... hai cái xương sườn. Từ khi Rudolph mệnh một, hầu hết vụ hôn trên màn ảnh đều giả tạo. Với tài nghệ vượt Rudolph Valentino, Văn Bình quả là đàn ông nguy hiểm, các bà các cô nên ... tránh
xa.
 
Rôsita khoác tay Văn Bình lội nước bì bõm, tiến ra bờ biển. Nàng mang ủng da, cao quá đầu gối nên không bị vắt bám vào. Trong khi ấy, tay chân Văn Bình đều đầy vắt, nhưng chúng chỉ nhảy lên rồi té xuống cả chùm như trái chín rụng. Rôsita reo lên :
-Ô kìa, em chưa thấy ai như anh !
Văn Bình giải thích :
-Muốn đuổi vắt không khó, chỉ cần vận công cho da thịt nóng bỏng, giống vắt kỵ nóng, nhất là nhiệt lượng thân thể. Vắt ở đây còn là vắt nhỏ và hiền, ở rừng rậm Đông Dương, nó còn to hơn và dữ hơn nhiều. Em thử rờ cánh tay anh thì biết.
Rôsita đụng làn da của Văn Bình rồi rụt lại :
-Kỳ khôi ghê ! Da anh có  điện.
Văn Bình tủm tỉm cười :
-Đó là do vận công mà có. Phép vận công cổ truyền của  võ Tàu và Nhật, đặc điểm của nó là rút nhân điện trên óc truyền ra ngoài bì phu, ai chạm vào là bị giật, như chạm vào điện nhà vậy.
-Tại sao hồi nãy em không bị giật ?
-Hồi nãy, em làm gì ?
-Đùa mãi. Hồi nãy, anh hôn em.
-À, anh quên. Để anh giảng theo khoa học cho em hiểu. Em đã theo lớp huấn luyện điệp báo chắc còn nhớ những nguyên tắc căn bản về việc chống lại tra tấn bằng điện. Bị quay điện, muốn khỏi bị giật thì phải ngăn cách dòng điện bằng một vật dẫn điện, như ngậm cái cúc áo hoặc một dúm thuốc lá trong miệng. Hồi nãy hôn em, anh cũng đang vận công để chống bọn vắt, song em không bị giật vì lẽ anh là dương điện, còn em là âm điện.
-Nói xạo !
-Sự thật là như thế. Anh  học được điều này trong bộ Thần ảo công do một hòa thượng già người Thái, thuộc giòng vua chúa, truyền lại cho anh trong những ngày thí phát quy y tại một ngôi chùa cổ ở gần thị trấn Vạn tượng (4).
 
(4) xin đọc « Vạn tượng khói lửa » để theo dõi hoạt động của Z.28 ở Lào. Còn về bộ sách Thần ảo công thì đọc « Tia sáng giết người » ( 2 cuốn trọn bộ ), cũng của Người Thứ Tám, Tân Quang, 54 Lê văn Duyệt, tổng phát hành.
 
-Vận công lên, toàn thân anh đều có điện nhưng điện này sẽ hoá giải tức khắc nếu chạm da thịt đàn bà, nhất đàn bà mình yêu. Đó là một bí mật ghê gớm, bí mật mà anh phải giữ riêng trong lòng, sống để dạ, chết đem đi, không được tiết lộ cho bất cứ ai.
-Nhưng anh vừa tiết lộ với em !
-Nghĩa là anh giúp em nắm được yếu điểm của anh. Sở dĩ anh có vũ dũng đặc biệt là do Thần ảo công. Nếu địch tìm cách phá được Thần ảo công thì anh trở thành võ sĩ thông thường, dễ bị đánh bại. Muốn phá Thần ảo công thì phải dùng nữ võ sĩ để đấu với anh, hoặc …
-Thôi, anh đừng dậy thêm nữa vì biết đâu một ngày kia, em sẽ giết anh.
-Em giết anh lúc nào mà chẳng được.
-Bây giờ thì không, nhưng anh coi chừng … em đã bỏ chồng để theo anh, nếu em bắt được anh theo người khác thì em sẽ không tha.
-Lại ghen !
 -Đàn bà không ghen thì không còn là đàn bà nữa.
-Nhưng nếu đàn ông không hào hoa mã thượng thì không còn là đàn ông nữa.
-Hào hoa mã thượng không có nghĩa là bạ ai cũng yêu, bạ ai cũng hứa hẹn đủ điều. Em chẳng lạ gì tính hảo ngọt bất trị của anh. Vì vậy, em đã bằng lòng cho anh được tự do, nhưng chỉ tự do đến mực độ nào đó mà thôi …
-Hẳn em đã rõ anh đã có con. Con anh là Văn Hoàng.
-Em biết rồi. Cô Quỳnh Loan đã gửi điện mắng nhiếc em. Song anh chỉ có con mà chưa có vợ.
Hai người đã ra đến bờ biển.
Trời vẫn sám xịt. Mặt trời duyên dáng đã biến đâu mất. Nước biển không trong xanh mà đục ngầu, từa tựa như nước sông Hồng những ngày nước lũ đầy gỗ mục, lá chết, và phù sa màu nâu bẩn thỉu. Dọc bờ biển, bãi cát chạy dài tưởng như không bao giờ hết, với rừng dừa, rừng kè lùn màu xanh xẫm.
Du thuyền Thiên Thần nằm khuất sau một mỏm đá lớn, chạy từ bờ ra xa, rồi vòng lại theo hình cánh cung, tạo ra một cái hồ tròn, tứ bề là vách đá. Bên trên, du thuyền được ngụy trang bằng cành lá um tùm. Thủy thủ đoàn đang hối hả vứt cành lá ngụy trang xuống biển. Mưa rừng đã tạnh hẳn. Bốn tử tù Mã lai chờ Văn Bình trên boong. Thấy chàng, họ ùa tới ôm chầm lấy chàng. Thuyền trưởng cung kính chào Văn Bình, và biếu chàng con dao Mã lai hắn đang giắt nơi lưng :
-Thưa ông, con dao quắm này là của gia bảo, tôi dùng nó từ ngày còn xưng hùng trên mặt biển ở Mindanao. Ông là người đầu tiên trong đời mà tôi khâm phục về võ nghệ. Dao này được chế bằng thép riêng, nấu ở lò đúc thép bên Tàu, trong tỉnh Sơn tây, tỉnh nổi tiếng về thép làm kiếm. Lưỡi nó mỏng và mềm, có thể bẻ cong được, nhưng khi lâm trận nó lại cứng kinh khủng, chém sắt cũng đứt. Đặc biệt khi khua lên nó phát ra tiếng vi vu như tiếng gió biển.
Văn Bình vỗ vai thuyền trưởng :
-Trân trọng cám ơn. Tôi xin luôn luôn đeo nó bên mình làm bùa hộ mệnh.
Du thuyền từ từ rời mỏm đá, len qua cái eo nhỏ ra khơi. Tiếng động cơ diesel êm ru, không hổ danh là du thuyền tối tân nhất Phi luật tân.
Văn Bình nằm dài trên ghế da êm ái trong ca bin. Ngồi bên, Rôsita trịnh trọng khui huýt ky rót vào ly. Đột nhiên Văn Bình nhỏm dậy, hỏi :
-Anh sơ ý quá, quên bẵng. Tại sao em biết anh bị kẹt trong đồn binh mà đến cứu ?
Rôsita đưa ly rượu trong vắt tận tay chàng, rồi nhoẻn miệng cười tươi :
-Tối hôm ấy, chờ mãi không thấy anh về, em vội cho người lên bộ tìm kiếm. Thủy thủ đi suốt ngày, và trở về tàu tay không. Rạng đông, em đích thân chỉ huy một toán thủy thủ gan dạ và giỏi võ nghệ, trèo qua núi và băng rừng đến phía sau hải đảo thì gặp đồn binh. Đảo Datoek nhỏ xíu nhưng vì lạ đường nên em mất một ngày mới tới được đồn binh của đại úy Sulim. Đoán phỏng là anh bị bắt, em không dám ra mặt, mà chỉ mai phục bên ngoài. Trên đảo không có dân cư, chỉ có binh lính nên đợi thêm một đêm nữa mới thấy một hạ sĩ một mình đi qua chỗ núp. Em ra lệnh chặn bắt lại thì hắn khai là anh đã bị đưa ra tòa xử và bị tuyên án tử hình. Để bảo vệ bí mật, em phải giết hắn. Trong rừng rậm Nam dương có rất nhiều cọp beo và rắn rết nguy hiểm, kẻ đi một mình mất mạng là thường, nên đại úy Sulim không sai người tìm kiếm. Suốt mấy ngày đêm liên tiếp, em chỉ ở cách trại giam 300 thước, dùng viễn kính quan sát bên trong.
Chiều qua, em thấy binh lính chôn cọc ngoài sân, quang cảnh đồn binh có vẻ rộn rịp, em đoán là anh sắp bị đem bắn. Em muốn đột kích vào đồn song vì thiếu súng lớn, lại không triệt hạ được hai khẩu đại liên trên vòng rào nên băn khoăn mãi chưa nghĩ ra kế. Quá nửa đêm, hai tên lính dại dột ra khỏi đồn, em lừa bắt sống, và chúng đã khai rõ chi tiết về vụ hành hình. Em chia nhóm thủy thủ thành hai toán, toán đánh bọc hậu nhà giam sau khi nổ súng và toán xung kích qua cổng, vào sân trại. Một thủy thủ trèo lên ngọn cây cao nhất từ sáng tinh sương chờ khi nào Sulim giải tù ra thì nhất tề ra hiệu tấn công. Chẳng may hắn bị rắn bay (5) cắn chết ngay trên cây.
 
(5) danh từ khoa học gọi giống rắn bay này là chrysopefea ornata. Nó sinh sống trong rừng rậm đảo Java (  Nam dương ) và Mã lai Á. Các nhà sinh vật nhiều lần mang rắn bay về xứ lạnh để nuôi song lần nào nó cũng chết. Giống rắn này mình dẹp, chuyên sống trên cây và cuộn tròn lại. Nó băng mình từ cây này sang cây khác chứ không bò xuống đất rồi trèo lên. Khi di chuyển, nó tung người dài ra, dài như giải lụa. Nọc độc nó rất nguy hiểm, hễ nó cắn ai là chết. Rất nhiều người Nam dương và Mã lai đi rừng đã mất mạng vì bị rắn bay cắn.
 
Khi nghe loạt súng đầu tiên, em hoảng hốt chạy tới gọi thì biết hắn đã cứng đơ như khúc gỗ. Em phải thân chinh trèo lên cây xả súng bắn vào. Chậm độ một vài phút nữa là em đã mất anh.
-Anh hiện nợ em cái ơn cứu tử.
-Lại khách sáo nữa ! Nếu không cứu được anh thì chắc chắn giờ này em đã nằm dưới biển. Nói vậy để anh biết rõ mối tình của em đối với anh.
Văn Bình hôn thật lâu vào đôi môi mở hé của nàng. Nàng buông chàng ra, tát vào má, giọng đe dọa :
-Anh nhớ đấy ! Đừng tưởng anh lăng nhăng với  người  khác mà em không biết. Em sẽ đi sát bên anh.
Văn Bình cười :
-Em đánh anh đau quá !
-Mũi dao của em đâm vào da thịt anh còn đau hơn nhiều.
Văn Bình vội đứng dậy vì có tiếng gõ cửa rồi cửa ca bin hé mở. Thuyền trưởng hiện ra với mảnh giấy tờ trong tay. Hắn nói với Rôsita :
-Thưa bà, tôi vừa nhận được phúc điện.
Thuyền trưởng trao tấm giấy đánh máy cho Rôsita rồi bước ra ngoài, khép cửa lại. Hắn vừa gửi bức điện cách đây một giờ. Bức điện này là của Văn Bình. Thuyền trưởng không hiểu được nội dung vì nó được viết bằng mật mã đặc biệt. Hắn cũng không biết bức điện được gửi cho ai. Duy Văn Bình và Rôsita là biết bức mật điện được gửi cho phân cuộc CIA tại Tân gia ba. Nội dung như sau :
“Của Z.28
Yêu cầu chuyển ngay cho Ủy ban Phối hợp tại Sàigòn.
Nội dung : du thuyền Thiên Thần bị bão, giạt vào bờ biển Nam dương nên công tác thiếu sự liên tục. Xin điện cho biết hiện Bồng Lai ở đâu.”
Và đây là bản phúc điện :
“Của Ủy ban Phối hợp
Gửi thẳng cho Z.28.
Bồng Lai vừa cặp bến Tân gia ba để lấy xăng nhớt. Yêu cầu tiếp tục bám sát trong khuôn khổ kế hoạch Trường Huệ.
Chúc may mắn.”
Ủy ban Phối hợp là một ủy ban gồm đại diện tình báo Nam Việt và CIA được thành lập để soạn thảo và tiến hành những kế hoạch tình báo liên quan đến hai quốc gia Việt-Mỹ.
Còn Bồng Lai, và kế hoạch Trường Huệ ?
......................................................................................................................................................................................................................................................................
Hai tuần trước; Văn Bình xô cửa vào văn phòng ông tổng giám đốc tại bin đinh mang tên Công ty Điện tử trên đại lộ Nguyễn Huệ gần bờ sông Sàigòn. Ngoài đường trời nóng đến nỗi Văn Bình ngạt thở. Giàu kinh nghiệm, chàng không dám mặc ni lông, vậy mà cái sơ mi bằng lụa dệt tay Ý đại lợi chuyên hút khí nóng, trị giá năm ngàn bạc, của chàng vẫn dính cứng da thịt vì bồ hôi tuôn ra như tắm.
Không khí lạnh buốt trong phòng ông Hoàng làm Văn Bình bàng hoàng. Ông tổng giám đốc không phải là người mê máy lạnh. Sở dĩ phòng ông được gắn máy lạnh là để đảm bảo an toàn, khỏi phải trổ cửa sổ, mặt khác để mọi cuộc trò chuyện kín đáo. Vì luống tuổi, không chịu được khí hậu quá lạnh nên ông Hoàng đã sai gắn một bộ phận đặc biệt trong phòng, kèm theo cái hàn thử biểu. Bộ phận này tự động điều chỉnh cho khí hậu không bao giờ lạnh dưới 20 độ.
Vậy mà hôm ấy hàn thử biểu lại chỉ đúng 6 độ. Vâng, đúng 6 độ nghĩa là lạnh hơn tiết đại hàn ngoài Bắc những mùa đông cực lạnh.
Văn Bình dụi mắt nhìn hàn thử biểu lần nữa. Mắt chàng còn tốt nguyên, chưa phải đeo kiếng, nhìn xa rõ như hải đăng. Ở gần thì ban đêm xâu chỉ vào lỗ kim nhỏ xíu cũng như ban ngày ngoài nắng. Đúng, chàng không quáng gà. Đúng là hàn thử biểu đã tuột xuống 6 độ.
Và ông Hoàng cũng không mặc com lê cũ kỹ, bạc màu và sờn chỉ như thường lệ. Trái lại, ông choàng áo bờ lu trắng tinh như y sĩ, và đang đứng ở góc trước cái bàn nhỏ trên đặt một dãy chậu sứ tráng men  xanh trồng hoa huệ.
Văn Bình vào đã lâu mà ông Hoàng không để ý. Chàng đằng hắng đến lần thứ ba ông Hoàng  mới quay lại. Ông xoa tay và nói :
-À, anh !
Văn Bình  ngồi  xuống  ghế  bọc da đỏ êm ái, vẻ mặt  ngạc nhiên vi không  thấy  trên bàn chai huýt ky chưa khui, cái ly pha lê chùi rửa sạch sẽ và bịch thuốc  Salem ông để dành riêng cho chàng. Chắc phải có chuyện tối quan trọng ông  Hoàng mới quên bẵng cái điều mà từ nhiều năm nay ông luôn luôn nhớ. Tuy vậy, nếu có chuyện tối quan trọng ông cần chàng tới bàn bạc thì tại sao ông lại bâng khuâng trước mấy bông huệ vô tri ?
Ông Hoàng chỉ bông huệ ở đầu bàn, lớn nhất và đẹp nhất ;
- Anh biết hoa gì không ?
Đứa trẻ lên 6, mới cắp sách vào lớp bét tiểu học cũng không thể không biết đó là huệ. Ngày rằm và ngày mồng một, nó phải thấy mẹ nó cắm huệ lên bàn thờ Phật. Tín đồ công giáo cũng dâng huệ trên bàn thờ Chúa. Vậy mà ông tổng giám đốc lại mang câu hỏi ấu trĩ con nít ra hỏi Văn Bình. Bực mình, chàng định xỏ ông một vố. Chàng bèn giả vờ quan tâm, tiến lại gần cái bàn nhỏ, đứng ngắm hồi lâu rồi ngẩng đầu lên, ra dáng thất hy vọng thành thật :
-Thưa ông, tôi chưa hề thấy giống hoa này bao giờ.
Ông Hoàng phá lên cười :
-Đáng khen lắm. Đáng khen lắm. Tôi đã hỏi nhiều người, ai cũng cho là hoa huệ, học thức uyên bác như Triệu Dung mà cũng một mực khăng khăng là hoa huệ. Duy có anh là nói không biết. Thật vậy, biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe ...
Ông Hoàng trịnh trọng bưng một chậu hoa lên bàn buya rô bên đống hồ sơ bìa đỏ, đề chữ “Tối mật –an ninh quốc ngoại “ rồi mân mê cánh huệ với dáng điệu đam mê. Văn Bình sững người nhìn ông tổng giám đốc. Người ta bảo là ông già, bà cả thường lẩn thẩn, nhiều khi điên tàng hoặc phát biểu ngây ngô. Ông Hoàng không còn trẻ nữa, không khéo thần kinh bị công việc quá nặng nề làm lệch lạc rồi cũng nên. Phải là kẻ mất trí khôn mới dám nói chậu hoa trước mặt không phải là hoa huệ. Chàng đinh ninh lỡm được ông Hoàng, ngờ đâu lại được khen là nói thật.
Vẻ mặt nghiêm trang, ông Hoàng mở cuốn sách dầy ở góc bàn ra coi. Nhìn thấy trang nào cũng  in các loại  cây. Văn Bình biết đó là cuốn thảo mộc bách khoa. Trong quá khứ, nhiều lần ông Hoàng đã cải trang làm trại chủ trồng hoa. Để đóng đúng vai trò, ông đã dành nhiều thời giờ nghiền ngẫm bộ sách thảo mộc bách khoa này.
Giở được mấy trang, ông Hoàng đẩy cuốc sách về phía Văn Bình :
-Giống hoa này là Amaryllis, trông như hoa huệ mà không phải hoa huệ. Nó quý hơn cả kim khí quý và đá quý nữa kia.
Văn Bình hỏi :
-Thưa, chắc nó có tác dụng cải lão hoàn đồng hoặc hồi sinh bệnh nhân hấp hối ?
-Không, không phải như vậy. Nó quý ở chổ nở hoa quanh năm, mùa nào cũng nở hoa, và nở hoa hàng chục năm liên tiếp. Trên thế giới, người ta đã tìm thấy một giống Amaryllis trổ hoa luôn trong 40 năm liền (6).
 
(6) hiện bà Elfreda Wulff, ngụ tại Omaha ( Hoa kỳ ), trồng được thứ Amaryllis này. Cây hoa của bà trổ bông trong 40 năm và vẫn tiếp tục trổ bông. Trông nó như hoa huệ của ta, duy khác ở điểm hoa nó thường chĩa xuống chứ ít khi đâm lên. Nó có mùi thơm rất quyến rũ.
 
Sau những phút bần thần, Văn Bình lặng người đi khi nghe ông Hoàng nói. 40 năm trổ bông liên tiếp ... Lần đầu chàng mới được biết tới loại hoa kỳ dị như vậy.
Thì ông tổng giám đốc đã nói tiếp :
-Ông Sì mít vừa gởi bằng máy bay sang cho tôi 4 chậu. Tôi đang tìm cách trồng nó ở nước nhà. Bao nhiêu chuyên viên thảo mộc cố gắng gây giống mà đều thất bại. Nhưng tôi đã khám phá ra bí quyết. Đó là trồng nó trong lồng kính, với sức lạnh không quá 6 độ bách phân.
Chợt nhớ ra, ông Hoàng vội lấy cặp kiếng trắng dày cộm đeo vào mắt :
-À, tôi vừa thăm cháu. Lớn lên, nó càng giống anh như tạc. Tại sao anh chưa tới thăm cháu ?
Chết rồi, ông Hoàng lại xía vào đời tư  của chàng. Chàng nhớ con, muốn đến ôm nó vào lòng nhưng lại sợ gặp Quỳnh Loan, sợ phải nghe nàng giảng luân lý hàng giờ. Vì vậy, chàng tìm cách đình hoãn và lẩn tránh. Chàng bèn đáp nước đôi:
-Vâng, tôi sẽ đến.
Ông Hoàng cắt điếu xì gà Havan rồi nói :
-Từ nãy đến giờ tôi đã làm mất của anh hơn nửa giờ đồng hồ quý báu, anh đừng giận lão già lẩm cẩm này nhé. Sở dĩ tôi nhắc đến cháu là vì nó liên quan phần nào đến giống hoa Amaryllis, và hoa Amaryllis lại liên quan phần nào đến công tác tôi sắp giao cho anh hôm nay. Thật vậy, cháu Văn Hoàng đã gián tiếp giúp tôi tìm ra phương pháp trồng Amaryllis. Chắc anh không lạ gì cái thú nằm trong phòng gắn máy lạnh của nó. Tuy còn nhỏ xíu, nó đã dư nội hỏa để ở trần trong một khí hậu mà người lớn phải mặc đồ lót len, ba đờ suy lông thú và uống rượu mạnh mới khỏi bị sưng phổi. Nội hỏa của nó là do di truyền, anh giỏi nội công nên con anh trở thành mình đồng, da sắt. Vì vậy, phòng ngủ của nó ít khi lạnh trên 13, 14 độ. Mấy chậu hoa do ông Sì mít biếu lần lượt khô héo. Tình cờ, tôi tới thăm cháu, mang chậu hoa đi theo, và ở gần một giờ chơi đùa với nó. Khi ra về, tôi nhận thấy nụ hoa tươi tốt trở lại.
Văn Bình nói đùa :
-Tôi đề nghị ông đặt tên ở nhà cho nó là Amaryllis.
Một lần nữa, Văn Bình lại “lỡ tàu“. Chàng nói kiểu nghịch ngợm nhưng ông tổng giám đốc vẫn cho là đóng góp ý kiến nghiêm chỉnh :
-Cũng gần như thế. Để ghi nhớ dịp may hãn hữu này, tôi đặt công tác sắp tới do anh có nhiệm vụ tiến hành là công tác Amaryllis, dịch tiếng Việt là Trường Huệ, trường là dài, nghĩa là “hoa huệ sống lâu “. Một lý do khác khiến tôi gắn bó với chữ Amaryllis là vì Dixon rất đam mê loại hoa này.
-Thưa, Dixon là ai ?
-Là nhân vật chính trong tấn tuồng đang diễn. Y trạc ngũ tuần, không vợ con chính thức, nhưng khá nhiều bạn gái và con rơi. Mã ngoài của y được phụ nữ ưa thích. Người Mỹ nổi tiếng là cao to, y lại cao to hơn đa số người Mỹ khác. Y hội đủ điều kiện vật chất để thành công trên tình trường, ngoài bộ vó khôi ngô, y lại có ngôn ngữ lịch thiệp, lưu loát, ngọt ngào.
-Dĩ nhiên là có nhiều tiền ?
-Chữ nhiều sợ chưa đúng lắm. Người ta chưa ước lượng được sản nghiệp riêng của y là bao nhiêu nhưng ít ra cũng từ chục triệu đô la trở lên. Đó mới là tiền mặt do y  cất giữ trong nhà hoặc trong ngân hàng. Nếu cộng thêm của chìm, và các kho chứa võ khí của y rải rác trên khắp thế giới thi tiền bạc không biết cơ man nào mà kể.
-Y là trùm gián điệp địch ?
-Không. Nếu Dixon là trùm gián điệp GRU, Smerch, hoặc Tình báo Sở thì công việc của ta sẽ dễ hơn nhiều. Ta chỉ cần thu thập bằng cớ cụ thể rồi lôi y ra tòa lãnh án. Hoặc giản dị hơn, ta sẽ hạ sát và quăng xác y xuống biển. Đằng này y lại là công dân lương thiện, ít ra là lương thiện ngoài mặt. Người ta biết y dính líu vào nhiều vụ động trời, nhưng vì thiếu bằng cớ nên đành bó tay. Dầu khui được bằng cớ hiển nhiên, cũng vị tất bỏ tù được y vì nhờ thế lực của đồng đô la y thuê cả một sư đoàn luật sư, y còn có cả trăm đàn em sẵn sàng nhận tội thay y, và khi cần y lại mua chuộc được quan tòa nữa. Luật pháp Mỹ khá tự do, bắt người đã khó, nhốt người còn khó gấp chục lần. Do đó Dixon vẫn tiếp tục nhởn nhơ phá hoại hòa bình thế giới.
-Phá hoại hòa bình thế giới, nghĩa là y buôn võ khí lậu ?
-Phải. Dixon là lái buôn võ khí quan trọng vào bậc nhất hoàn vũ. Y nhập cuộc từ sau thế chiến thứ hai, thoạt đầu mua lại một lô võ khí hỏng cho chữa lại đem bán, rồi đến mua võ khí thặng dư, hay lỗi thời cung cấp cho các nước nhỏ. Y điều khiển một công ty khổng lồ mang tên là Công ty Võ khí Thế giới, trụ sở chính đặt tại Nữu ước, với 12 phân cuộc ở mọi thủ đô lớn trên thế giới. Kho chứa của y cũng rất nhiều, phần đông đều tọa lạc bên ngoài lãnh thổ Hoa kỳ. Chính vì vậy mà cơ quan an ninh Hoa kỳ phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Nhưng bây giờ thì họ không thể làm thinh được nữa.
-Chắc Dixon bán súng đạn cho phiến quân cộng sản ở Nam Việt ?
-Ồ, đó là chỉ là một tội trạng quá nhẹ. Tội trạng nặng nhất của y là bán lậu hỏa tiễn.
-Hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử ?
-Phải.
-Kể cũng hơi lạ vì hỏa tiễn nguyên tử không phải là vật dễ chế tạo, mua ở đâu cũng có.
-Đây là hỏa tiễn cỡ nhỏ, tầm bắn từ 10 đến 30 cây số, thuộc loại hỏa tiễn chiến thuật, do Hoa kỳ và Nga sô sản xuất trong nhưng năm đầu tiên của kỹ nghệ chế tạo võ khí hạt nhân. Những võ khí hạt nhân tối tân và xa tầm lần lượt được chế tạo, Nga Mỹ phải cất giữ võ khí cũ vào kho. Không hiểu sao Dixon lại vớ được những hỏa tiễn loại này.
-Do Nga sô bí mật cung cấp …
-Cũng có thể Dixon ăn cắp trong các kho chứa của Hoa kỳ ở trong xứ và hải ngoại. Như anh đã biết khối Minh ước Bắc Đại tây dương và khối Minh ước Liên phòng Đông Nam Á đều có kho chứa riêng. Theo tin tức chính xác, Dixon đang chở một số hỏa tiễn nguyên tử trên một chiếc tàu lởn vởn ngoài khơi Đông Nam Á, hiện sắp ghé Phi luật tân.
-Ông muốn tôi chặn bắt tàu của Dixon lại ?
-Tốt nhất là theo dõi y xem y đổ bộ võ khí lên quốc gia nào, rồi khi đó hãy ra tay. Chuyến đi này, Dixon giả dạng là du lịch. Thủy thủ đoàn gồm toàn bọn anh chị quốc tế, trung thành tuyệt đối với Dixon.
-Thưa, đã có lần nào CIA cho người đột nhập lên tàu của Dixon chưa ?
-Có. Một vài lần. Họ đều thất bại vì không nhân viên nào trở về.
-Bị giết ?
-Không biết.
-Tại sao họ không yêu cầu công an liên bang FBI xin trát tòa để khám xét ?
-Rất khó vì Dixon giao du toàn với những nhân vật cao cấp. Họ là tay tổ trong đảng cầm quyền. Do đó, CIA phải nhờ đến ta.
-Có chắc là Dixon chở hỏa tiễn trên tàu không, thưa ông ?
-Chắc, vì CIA gài được một thủy thủ trên tàu. Mật báo viên này sắp cung cấp đầy đủ chi tiết thì mất tích. Thành ra mọi việc phải quay lại con số dê rô. Cho dẫu CIA nắm được chi tiết cũng chẳng làm được gì vì tàu của Dixon luôn luôn ở trên hải phận quốc tế.
-Ông vừa nói là y sắp ghé Phi luật tân !
-Lệ thường, y vào bờ bằng  ca nô. Như tôi  đã  cắt nghĩa ở trên, Dixon  khôn như ranh, ăn vụng chùi mép rất giỏi. Y chỉ mắc một sở đoản : đàn bà. Hiện y đang mê một thiếu phụ da trắng tuyệt đẹp, tên là Akita. Nàng cùng  đi sang Viễn đông với y.
-Hừ, ông cấm tôi chơi bời mà lại muốn tôi tán tỉnh nhân tình của Dixon. Thôi, tôi không dám.
-Vào địa vị anh, tôi sẽ không từ chối. Ủy ban Phối hợp đã nhóm họp nhiều kỳ, ông Sí mít đặc biệt nhắc đến tên anh. Đây là vấn đề uy tín của Sở. Lại là vấn đề an ninh của nước nhà nữa. Vì nếu Dixon bán hỏa tiễn cho cộng quân hoạt động trên bán đảo Đông dương thì cán cân quyền lực sẽ thay đổi trong khoảnh khắc... Tôi đã chuẩn bị giấy tờ cho anh qua Mani. Anh chờ sẵn ở đó, khi Dixon rời bến thì thuê tàu rượt theo.
-Tàu của ai ?
-Tùy anh lo liệu. Phân cuộc CIA ở Mani đã neo trong vịnh một khoái đĩnh chữa lại thành du thuyền, với thủy thủ đoàn người Nam Mỹ. Anh sẽ liên lạc với họ để thảo luận thể thức. Và anh có toàn quyền định đoạt.
Văn Bình đã xử dụng quyền này bằng cách mượn du thuyền của Rôsita. Và chàng bám sát tàu Bồng Lai của Dixon. Cho đến khi trận bão xảy ra. Du thuyền Thiên Thần dạt vào đảo Datoek.
.....................................................................................................................................................................................................................................................................
Tờ mờ sáng hôm sau, Văn Bình nhận được bức điện mới của Ủy ban Phối hợp :
“Của Ủy ban Phối hợp
gởi thẳng cho Z.28.
Bồng Lai vừa rời Tân gia ba. Yêu cầu chạy thẳng tới Kota Bharu.”
Kota Bharu là một thương cảng nhỏ hơn của Tân gia ba và ở phía bắc Tân gia ba gần 500 cây số. Du thuyền Thiên Thần ghé vào bờ, đổ nhiên liệu.
Đêm ấy, một bức điện khác được gởi tới :
“của Ủy ban Phối hợp
gởi thẳng cho Z.28.
Bồng Lai đang tiến tới Vọng các. “
Vọng các với giòng sông Chao Phya chứa đầy kỷ niệm là một trong nhiều nơi trên trái đất mà Văn Bình không khi nào quên được. Chàng vui mừng như đứa trẻ được mẹ về chợ cho quà.
Sáu ngày sau, du thuyền Thiên Thần vượt thêm một ngàn cây số đường biển để tới thủ đô Thái lan huyền bí.
 
 
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau.2016
 
III
Bồng lai tiên cảnh
 
Trong những tập sách nhỏ tặng cho du khách, Thái Lan thường được mô tả là « xứ sở của Nụ cười ». Văn Bình nhớ đất Thái Lan hơn ai hết vì lần nào đến nơi chàng cũng tìm thấy những nụ cười mỹ nhân. Nói chung, phụ nữ Thái không đẹp, song một khi đã đẹp thì đẹp lạ lùng. Phụ nữ Thái lại không quá khó khăn đối với nam giới, có lẽ vì chịu ảnh hưởng của địa hình và phong thổ.
Thật vậy, thủ đô Vọng các nằm trên bờ sông Chao Phya ngày đêm tấp nập người qua lại nên lòng phụ nữ bản xứ cũng lênh láng tình yêu như giòng nước chảy hoài không bao giờ ngừng. Những ai đã hò hẹn với mỹ nhân Thái tất phải nhìn nhận rằng họ không có đường cong đồ sộ, song thân hình nhỏ nhắn của họ lại chắc nịch và ngọt ngào, cũng chắc nịch và ngọt ngào như trái soài và trái sầu riêng địa phương. Soài Thái không lớn bằng soài nơi khác ở Đông Nam Á nhưng lại thơm ngon dị thường. Còn sầu riêng thì tròn trịa, ăn vào đủ vị ngọt, béo, bùi, mùi hương độc đáo phảng phất cả ngày chưa hết.
Du thuyền Thiên Thần từ từ ngược giòng sông Chao Phya. Chiều sắp buông xuống. Rôsita dựa lan can, tóc bay lòa xòa trước gió, nhìn về phía thành phố. Vọng các gồm hơn triệu rưỡi dân, được chia làm hai khu : khu cổ xưa với những đường phố chật hẹp, đông đúc, và khu tân tạo với những đại lộ rộng rãi, và bin đinh kiến trúc theo lối tây phương. Vượt lên trên những mái nhà nhấp nhô như dợn sóng là nóc chùa, hàng trăm, hàng ngàn nóc chùa hình tròn nhọn hoắt. Ánh nắng chiều quét một lớp sơn vàng lên cảnh phố phường tấp nập và mái chùa trang nghiêm, tạo cho du khách một niềm lâng lâng vô tả. Dọc sông Chao Phya, hàng chục sông đào tóe ra. Những sông này cắt ngang, xẻ dọc thành phố thành nhiều hình kỷ hà ngộ nghĩnh. Thuyền bè chạy hàng đoàn chở đầy mễ cốc và trái cây. Những con đò nhỏ dừng lại dọc đường, ghé vào dãy nhà cất bên sông, rồi lại từ từ trôi. Một bầy thiếu nữ xõa tóc, da ngăm ngăm, ngụp nước đến ngực trồi lên vẫy các thủy thủ trên du thuyền Thiên Thần, vừa cười như nắc nẻ.
Rôsita reo lên một tiếng nhỏ khi Văn Bình từ ca bin bên dưới trèo lên boong. Nghệ thuật cải trang đã biến chàng thành con người khác. Tóc chàng rẽ giữa ngay ngắn chứ không rẽ lệch bay bướm và phồng cao như thường lệ khiến khuôn mặt dài tưởng như ngắn lại. Cặp mắt sáng quắc được thu bớt hào quang, tròng mắt màu xanh biến sang màu nâu nhờ một loại kiếng riêng, nhỏ bằng đầu ngón tay, bỏ gọn trong mắt như kiếng công-tắc của người cận hoặc viễn thị.
Văn Bình xuống đò để vào thành phố. Một con đò nhỏ trượt theo Văn Bình, sàn đò gần mấp mé mặt nước, bên trên là một cô gái tóc dài bóp kèn inh ỏi. Cô gái líu lo nói với chàng. Chàng chỉ hiểu lõm bõm là nàng mời chàng mua « kao neo », xôi nếp ăn với gà quay. Bên phải Văn Bình, một con đò nhỏ khác cũng vừa tới, lắc chuông leng keng. Đó là đò bán cà rem.
Đặc điểm của Vọng các là chợ họp trên sông. Những đêm trăng thanh gió mát, sông Chao Phya cũng rộn rịp như sông Hương, khách có thể ngủ đò, nghe hát tìm hoa, và ăn uống trên mặt nước, chỉ khác một điều là gió sông Hương dịu dàng hơn, giòng sông Hương trong trẻo hơn, và người đẹp sông Hương có làn da sáng sủa hơn.
Lên bờ, Văn Bình kêu tắc xi đến lữ quán Rama. Trong quá khứ, mỗi lần đến Vọng các chàng đều lấy phòng tại Erawan, khách sạn quan trọng bậc nhất, mặc dầu hơn xưa và chỉ cao 5 tầng vì khách sạn này tọa lạc ở trung tâm Thái Hotel, khách sạn tối tân, hoàn toàn điều hòa khí hậu, ở gần sứ quán Nam Việt. Nhưng chưa bao giờ chàng ghé Rama. Tòa nhà đồ sộ 10 tầng đứng sừng sững ở góc đại lộ Silom và Surisak của khách sạn Rama là một kho kỷ niệm đầm ấm và cay đắng đối với con bướm đào hoa Z.28. Trước đây, chàng không ghé Rama, tuy đó là lữ quán thượng lưu vào bậc nhất nhì thành phố, mới được hoàn thành năm 1961, là vì lý do tình cảm. Đến đâu, Văn Bình cũng lưu lại dấu tích xác thịt đến đó, riêng tại Rama dấu tích này đã hằn sâu đến nỗi nhiều năm đã qua rồi mà chàng vẫn không quên.
Năm ấy, lữ quán Rama vừa được khánh thành, Văn Bình đi lang thang trên đường Silom, một đại lộ dài lê thê nằm dọc theo một khlong nhỏ từ sông Chao Phya đến Khlong Hualamphong, phố xá vắng tanh vì đã quá nửa đêm thì gặp một người đàn bà Thái. Chàng đang say mê với khói thuốc Salem thì nghe tiếng gọi sau lưng. Chàng dừng lại thấy một thiếu phụ trạc 24, 25 phục sức theo kiểu Tây phương, xiêm áo gồm một mảnh, khuôn mặt khá đoan trang, nếu không kể cái miệng khác thường với đôi môi dày, hơi cong và những nếp răn quyến rũ ở mép. Nàng nói với chàng bằng tiếng Thái. Chàng lắc đầu không hiểu thì nàng tuôn ra một tràng tiếng Anh. Cách nói trơn tru của nàng chứng tỏ nàng có học lực trung học, nếu không là đại học. Phụ nữ Thái thường rụt rè như phụ nữ Á đông khác, rất ít khi gạ gẫm đàn ông, ngoại trừ phụ nữ đã đầu quân vào lực lượng lầu xanh. Vậy mà nàng bắt đầu bằng một câu làm Văn Bình bật ngửa :
-Tôi đi chơi với anh được không ?
Dưới ánh đèn đường, Văn Bình giương đôi mắt sáng quắc nhìn nàng. Không, nàng không phải là gái điếm. Gái điếm không thể nào có cái dáng điệu quý phái ấy. Và nhất là cái mùi thơm da thịt đặc biệt ấy. Chàng đoán nàng bị chồng phụ bạc nên bỏ đi hoang một đêm cho bõ hờn. Chàng bèn hỏi :
-Đi đâu ?
Nàng nhún vai :
-Đi đâu cũng được. Xuống âm phủ thì càng tốt.
Nàng tiến đến bên chàng, ôm tay chàng và ngả đầu vào vai chàng. Miệng nàng sặc mùi rượu. Có lẽ cơn say đã làm nàng mất lương tri. Chàng bèn đề nghị :
-Cô ở đâu để tôi đưa về ?
Nàng trợn mắt :
-Tôi ở dưới âm phủ.
-Cô điên rồi, cô cần vào bệnh viện một thời gian. Tôi là người có giáo dục, tôi không thể lợi dụng lúc tinh thần cô bấn loạn để nài ép xác thịt.
Nàng cười khanh khách :
-Nài ép hả ? Ai mà nài ép được tôi ? Hồi tôi đi học, cậu sinh viên nào lớ rớ đến người tôi là bị đo ván tức khắc. Anh biết không, tôi là võ sĩ nhu đạo đai đen đệ nhất đẳng, đàn ông đối với tôi chỉ là muỗi tép, tôi mời anh đấy. Anh là đồ ngu, hàng trăm hàng ngàn người ở xứ Thái thèm tôi đến rệu nước miếng, tôi chỉ giơ một ngón tay là họ sẵn sàng nhảy vào đống lửa để mong ôm tôi một giây đồng hồ … trong khi đó anh lại hờ hững, lạnh lùng.
-Vì cô đang say rượu. Người say thường không kiểm soát được phản ứng của mình. Cô đi với tôi đêm nay, sáng mai tỉnh rượu cô sẽ hối hận.
-Ồ, tôi không thể nào hối hận được nữa.
-Tại sao ?
-Vì đêm nay, tôi ân ái với anh, sáng mai trở về nhà, tôi sẽ uống thuốc độc.
-Trời ơi, tôi sắp trở thành kẻ sát nhân.
-Nếu anh đuổi tôi, tôi sẽ cặp kè với người khác. Tôi đã rắp tâm đòi ngủ với người đàn ông thứ nhất tôi gặp trên đường Silom sau khi tôi đậu xe. Và tôi gặp anh. Tôi sẵn sàng ngủ với bất cứ ai, dầu là què cụt, câm điếc, già trẻ … Trời đã run rủi cho tôi gặp một thanh niên đẹp trai, lịch sự và khỏe mạnh.
-Cô say lắm rồi. Xe hơi của cô đậu ở đâu để tôi đưa cô về ?
-Tôi không về. Khóa công tắc tôi đã vứt xuống cống rãnh trên đường Surisak.
-Không sao. Tôi có thể cho máy chạy không cần chìa khóa công tắc.
-Cám ơn anh. Nhưng anh định đưa tôi về đâu ?
-Về nhà cô.
-Tôi không có nhà.
-Vậy đêm qua, cô ngủ ở đâu ?
-Ngủ nhờ.
-Mấy đêm trước ?
-Ngủ với chồng.
-Ồ, cô có chồng thì dễ dàng quá ! Tôi sẽ lái xe đưa cô về với chồng cô. Tôi tin chắc là chồng cô đang chờ cô đỏ mắt, tưởng như có thể chết được.
-Anh nói đúng.
-Ông ấy hiện chờ cô ở đâu ?
-Ngoài nghĩa trang.
-Trời ơi, chồng cô đã chết rồi ư ?
-Chết rồi, chết thật rồi.
-Tôi thành thật xin lỗi cô.
-Chồng tôi chết trên đại lộ Silom, xế cửa khách sạn Rama cách đây hai hôm. Tôi yêu chàng nên không thiết sống nữa.
-Cô yêu chồng, tại sao không thủ tiết với chồng mà lại dại dột hiến thân cho thiên hạ ?
-Tôi cũng không hiểu tại sao nữa. Tôi cảm thấy nhớ con đường Silom, nhớ khách sạn Rama một cách ghê gớm. Cách đây 2 năm, tôi gặp chàng một buổi tối trăng non le lói cũng như đêm nay trên đường Silom. Chúng tôi yêu nhau sau tiếng sét ái tình cực mạnh. Chàng rủ tôi vào khách sạn Rama. Đến khi làm lễ thành hôn, chàng cũng kéo tôi vào khách sạn Rama.
-Cô có con không ?
-Có. Con trai. Nó mới được 8 tháng.
-Vậy cô phải về với nó.
-Nó bị bên nội bắt rồi. Tôi phải sống một mình buồn quá nên nảy ý định đi hoang. Bây giờ anh đưa tôi vào Rama đi.
-Không được.
-Nếu anh từ chối, tôi cũng ngủ với người khác. Tôi sẽ bắt bồ với thằng trùm du đãng ở đầu đường.
Văn Bình thở dài, đau đớn. Nàng đã du chàng vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Lang thang nơi đất khách quê người, bắt được bò lạc là điều hãn hữu, không ai có thể bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Nhưng Văn Bình lại là người đàn ông tự trọng. Chàng không muốn lợi dụng cơn sầu muộn của nàng để thỏa mãn dục vọng, nhưng chàng cũng không thể thẳng tay cự tuyệt vì như nàng hăm dọa, nếu chàng từ chối, nàng sẽ ngủ với bất cứ người đàn ông nàng gặp trên đại lộ Silom.
Sau một hồi suy nghĩ, Văn Bình phải đưa nàng vào đại lữ quán Rama. Vào phòng, chưa kịp đóng cửa, nàng đã cởi bỏ áo ngoài. Nàng có tấm thân cân đối ăn nhịp với khuôn mặt đều đặn, gợi cảm, và đôi chân thon dài, đặc điểm hiếm có trong giới phụ nữ Thái lan. Chàng bắt đầu có thiện cảm với nàng, song lương tâm chính trực thúc giục chàng có thái độ nghiêm chỉnh. Chàng bèn hoãn binh :
-Cô uống rượu nhé ?
Nàng cởi hết khuy áo, để lộ cái nịt ngực bằng lụa Thái lan sặc sỡ. Nàng đẹp thật ! Nếu được bầu bạn một đêm với nàng, Văn Bình sẽ hoàn toàn vừa ý. Nàng ném áo ngoài xuống đất, dẫm chân lên trên, giọng khinh bạc :
-Rượu hả ? Em vốn mê rượu. Hồi chồng còn sống, chàng vẫn thi đua uống rượu với em, và lần nào chàng cũng thua đậm.
-Cô uống bao nhiêu thì say ?
-Ồ, muốn say thì say. Nếu không thích say thì uống cả vò cũng chẳng đi tới đâu.
Nghe nàng nói, Văn Bình bán tín bán nghi. Trên trái đất, số tài tử Lưu linh có tài chế ngự được men rượu không lấy gì làm đông đảo. Chàng thuộc vào hạng người uống rượu như hũ chìm, và sau nhiều năm luân lạc, chàng chưa gặp kẻ đồng bệnh tương liên. Chàng có cảm tưởng là nàng mất trí nói bừa. Song đến khi bồi mang rượu lên, chàng mới thấy nàng nói đúng. Về tửu lượng, nàng suýt soát chàng. Mỗi lần uống, nàng làm cả ly đầy ắp, và chỉ nốc một hơi. Trong loáng mắt, nàng khiệng luôn một chai Vat 69, và sửa soạn khui chai mới. Càng uống, nàng càng tỉnh ra, miệng cười của nàng càng tăng vẻ quyến rũ. Trong thâm tâm, Văn Bình muốn nàng uống rượu để say mèm, và nhân khi nàng mê man chàng sẽ lục ví tìm căn cước rồi đưa nàng về với gia đình, nhưng kế hoạch ấy của chàng hoàn toàn bị thất bại, Văn Bình đành phải áp dụng kế hoạch khác.
Đến nửa đêm, nàng đã uống tới chai huýt ky thứ tư. Từ bao năm nay, chàng chưa bao giờ gặp một người đàn bà nào thanh toán đến chai thứ ba. Chai thứ tư đã là một kỷ lục thế vận … Nếu tiếp tục uống, nàng dư sức thù tiếp chàng đến sáng. Uống rượu vào, nàng càng cảm thấy toàn thân nóng ran, và không cần giữ gìn và cũng có lẽ để khiêu khích chàng nữa, nàng từ từ cởi bỏ quần áo. Đến chai thứ năm thì nàng đã ném xuống đất mảnh vải cuối cùng bằng ni lông hồng. Trên mình nàng chẳng còn gì cả ngoại trừ những đường cong thiên nhiên. Bình thường, Văn Bình phải ôm ghì nàng, bồng lên nệm mút, nhưng đêm ấy Văn Bình lại rụt rè, sợ sệt, y như cậu thiếu niên vừa bước vào đời.
Sau khi hoàn toàn khỏa thân, nàng đứng dậy múa nhảy trong phòng rồi nói :
-Em đẹp không anh ?
Chàng ừ hử :
-Đẹp.
-Ừ, chồng em cũng khen em đẹp như vậy. Nhưng chàng lại quá dở, đến chai thứ ba đã sùi bọt mép, nằm lăn ra, ngáy như sấm. Anh khá đấy, anh đã theo em đến chai thứ tư, nhưng trông mã anh, em đoán là chỉ đến chai thứ năm là anh chổng kềnh thẳng cẳng …
Đúng ra, chai thứ năm chứ chai thứ mười cũng chỉ là cỏ rác đối với chàng. Song chàng không thể kéo dài tấn kịch cuồng loạn này thêm phút nào nữa cho nên chàng nhận lời vào lữ quán Rama, và nhận lời uống rượu với nàng với hy vọng mượn thần Lưu linh quật ngã. Trái lại, nàng không ngã …
Chàng bắt gặp nàng bỏ một viên thuốc vào rượu. Chàng căn vặn thì nàng thở dài :
-Thuốc trợ lực. Em không muốn ngủ nên phải uống strychnine trộn với nitroglycérine.
Nghe nói, Văn Bình tái mặt. Hai hóa chất này trộn với nhau sẽ làm tim đập chậm lại, sức lực gia tăng. Một số lực sĩ thế vận đã dùng nó. Nhiều thanh niên nam nữ cũng dùng nó trong … phòng the. Tuy nhiên, sự lạm dụng cũng như lạm dụng éphédrine, bensédrine và novococaine thường làm phương hại đến bộ máy thần kinh. Chàng bèn giằng lấy ly rượu, đổ xuống đất. Cô gái òa lên khóc như đứa trẻ. Chàng kéo nàng vào lòng nhưng không phải vuốt ve và ân ái như nàng chờ đợi mà để điểm atémi vào một huyệt đạo gần vú. Chàng rút ngón tay ra thì nàng bắt đầu mê man.
Nàng ngủ luôn đến sáng. Văn Bình ngồi bên, chong đèn uống rượu một mình. Khi tỉnh dậy, nàng hoàn toàn đổi khác. Cơn động cỡn hồi khuya đã tan biến, nàng trở lại cô gái chính chuyên, yêu đứa con trai duy nhất, và yêu người chồng vừa chết. Thấy chàng ngồi bên giường, nàng khóc nức nở. Nàng thuật lại là chồng nàng thiệt mạng trong một cuộc thanh toán ái tình. Chàng chết vì yêu cô gái giữ két của lữ quán Rama. Cô gái này được tên trùm du đãng trong khu Silom-Surisak coi là của riêng. Chồng nàng bị đâm loạn xạ gần hai chục mũi dao vào mặt, ngực và bụng, tắt thở trên giường ở bệnh viện sau khi xin vợ tha lỗi. Sở dĩ gã chồng yêu đương vụng trộm vì là người vợ sợ chửa đẻ không cho hắn ăn nằm. Nàng giữ gìn thân thể cân đối, và không muốn thêm con nên chồng nàng thành người thiên cổ. Vì vậy, nàng hối hận. Nàng định ân ái liều lĩnh một đêm rồi quyên sinh. May thay nàng gặp Văn Bình.
Chàng đưa nàng về nhà. Nàng sống với con trong một căn gác nên thơ, nhiều xuống giòng sông Chao Phya. Nàng mời chàng ở lại đêm song chàng từ chối. Nàng thở dài nói :
-Đêm qua là em điên cuồng. Nhưng đêm nay em hoàn toàn sáng suốt. Em mời anh ở lại vì em yêu anh. Yêu anh thật sự. Anh ở lại với em đi, rồi sáng mai anh lên đường.
Văn Bình vẫn lắc đầu. Nàng hỏi tên chàng thì chàng tiếp tục lắc đầu. Nàng bèn hôn nhẹ vào môi chàng :
-Tên em là Si Thoeng. Em sẽ không bao giờ tái giá nữa. Chừng nào qua Vọng các, anh đến thăm em nhé. Em sẽ tiếp tục chờ anh, dầu là cả tháng, cả năm, dầu là chờ đến răng long đầu bạc.
Văn Bình cười và bỏ đi. Trong đời, chàng đã nghe nhiều người đẹp long trọng thề thốt chờ đợi cả tháng, cả năm, cho đến răng long đầu bạc nhưng chỉ một thời gian sau là vội vã ôm cầm sang thuyền khác. Nàng yêu chàng. Chẳng qua vì chồng chết, tâm thần bấn loạn, cõi lòng trống trải cần vỗ về, mơn trớn. Chàng không ngờ sự thật lại xảy ra khác hẳn. Lần này chàng ghé Rama vì từ nơi đò cập bến tới khách sạn chỉ có một quãng đường ngắn. Chàng ở Rama để tiện liên lạc với du thuyền Thiên Thần, và nhất là để dòm chừng du thuyền Bồng Lai đang buông neo gần đấy. Chàng cũng muốn đến Rama để sống lại kỷ niệm ngày xưa. Chàng không ngờ định mạng trớ trêu đã xui khiến Si Thoeng, cô gái chết chồng đa sầu, đa cảm, lại là phụ tá quản lý khách sạn Rama.
Sau khi làm thủ tục lấy phòng, Văn Bình sắp cầm chìa khóa thì nhân viên tiếp tân hỏi :
-Thưa bác sĩ, còn hành lý ?
Văn Bình mạo tên một bác sĩ y khoa Nam dương vừa đáp phi cơ từ Tân gia ba đến trường bay Donmuong. Chàng bèn lắc đầu :
-Hành lý của tôi bị thất lạc, tìm chưa thấy. May mà tôi còn giữ được cái túi nhỏ này.
Văn Bình giơ cho hắn thấy cái túi vải của công ty hàng không quốc tế Phong lan Hoàng gia Thái ( Royal Orchid Service ). Mục đích của chàng là cắt đứt mọi câu hỏi tò mò kế tiếp. Chàng không ngờ hắn là công dân Thái giàu tự ái quốc gia, nghe du khách phàn nàn mất đồ thì tỏ vẻ bực bội :
-Vậy thì bậy thật ! Ông đến bằng phi cơ Phong lan phải không ? Từ trước đến nay, hãng hàng không Thái chưa bao giờ làm lạc hoặc mất hành lý của quý khách. Vụ này không thể tha thứ được. Chúng tôi sẽ liên lạc ngay với ông giám đốc yêu cầu giải quyết cấp tốc vì thưa ông, chúng tôi …
Văn Bình hoảng hồn :
-Không sao, họ đã cam kết là đồ tôi không mất, chỉ thất lạc thôi.
Nhân viên tiếp tân vẫn khăng khăng :
-Thất lạc cũng không được … Ông là người độ lượng sẵn sàng bỏ qua mọi sự lỡ lầm nhưng người Thái chúng tôi phải bảo vệ và phát triển uy tín quốc gia. Nay ông bị thất lạc một cái va li, đến mai nhân viên hàng không lại cẩu thả để mất một kiện hàng hóa đắt tiền thì sao ? Xin ông để mặc tôi. Tôi với ông giám đốc là chỗ thân tình …
Văn Bình xua tay :
-Ông nên im lặng thì hơn. Tôi không thích gây chuyện.
-Thưa ông, đó là một cách cải tiến lề lối làm việc, đâu phải là gây chuyện.
Văn Bình nhăn mặt, tiến ra thang máy.
Và chàng gặp cô gái một đêm ngày xưa, có cái tên hiền dịu là Si Thoeng.
Thấy chàng, nàng kêu lớn :
-Anh.
Văn Bình dừng lại, quay sang bên và nhận ra nàng. Đào được mỏ vàng, sắp sửa thành tỉ phú chàng cũng chỉ mừng đến thế là cùng. Nhưng chàng chỉ mừng xẹt qua như làn chớp đêm mưa. Chớp xẹt qua, trời tối om, cơn mưa lại trút xuống tầm tã … Sự hiện diện của Si Thoeng làm chàng lo ngại. Chắc chắn nàng sẽ dính cứng lấy chàng. Thật là gay go vì chàng còn Rôsita một bên, mà Rôsita thì cũng là quán quân về ghen. Hai giai nhân ghen nhau tất thủ đô Vọng các phải tóe lửa.
Si Thoeng liến thoắng :
-Em vừa nghĩ đến anh thì gặp anh liền. Gớm, lâu quá, 4 năm rồi anh nhỉ ? Anh lấy phòng phải không ?
Nàng hỏi luôn một thôi, chàng đáp không xuể, đành cười. Nàng nói tiếp :
-Bây giờ em làm ở đây. Phụ tá quản lý, oai chưa ? Bây giờ để em đưa anh lên phòng.
Cầm chìa khóa phòng của Văn Bình, nàng nhăn mặt :
-Anh ở phòng này sao được ?
Chàng định nói “được lắm” nhưng nàng đã nhanh nhẩu gọi nhân viên tiếp tân lại :
-Ông khách này là bạn của tôi. Trên lầu nhì còn nhiều phòng đôi sang trọng, chọn cho ông khách cái tốt nhất. Tiền nong bao nhiêu để tôi thanh toán.
Nhân viên tiếp tân đáp :
-Thưa bà, bác sĩ đã trả trước một tuần rồi. Tôi không lấy, nói là theo thông lệ, khi nào quý khách trả phòng mới thanh toán nhưng bác sĩ nhất định không chịu.
Si Thoeng lẩm bẩm :
-Bác sĩ ... bác sĩ ?
Nhân viên tiếp tân giải thích :
-Vâng, ông bạn của bà là bác sĩ.
Chẳng nói chẳng rằng, Si Thoeng bấm nút cho cửa thang máy khép lại. Lên đến lầu hai, nàng mới đủng đỉnh nói :
-Anh làm nghề thầy thuốc từ khi nào ?
Văn Bình toát bồ hôi :
-Nhân viên của em nghe lầm.
-Hừ, hắn có thể nghe lầm nhưng anh không thể ký lầm được. Em vừa coi sổ vãng lai thì thấy anh ký tên là bác sĩ y khoa, công dân Nam dương.
-Phải.
-Đừng chống  chế nữa. Tại sao anh lấy tên giả và nghề nghiệp giả ?
-Khổ quá !
-Bốn năm trước , anh tâm sự với  em là Văn Bình, đại tá Văn Bình, anh còn nhớ không ?
Văn Bình lạnh toát châu thân. Bốn năm trước, trong phút dại gái, chàng cho nàng biết tên thật. Chàng cũng tưởng là cá nước chim trời, kẻ Thái người Việt, không còn hy vọng tái ngộ nữa. Ngờ đâu (Văn Bình vẫn không ngờ một cách ngu xuẩn như vậy ) quả đất lại nhỏ bé khiến cho chàng gặp lại nàng và nàng còn nhớ rõ danh tính và nghề nghiệp của chàng.
Vào phòng, chàng ngồi phịch xuống ghế, giọng trách móc :
-Anh còn nhớ, nhớ lắm ... Tuy nhiên, anh phải giấu tên thật vì một lý do mà em đã đoán biết. Em làm ở đây lâu chưa ?
Nàng đờ người một phút rồi đáp :
-Lâu rồi. Sau đêm gặp anh, em trở lại yêu đời như cũ. Rồi em lấy chồng. Chồng em có nhiều cổ phần trong công ty khách sạn Rama.
-Gái có chồng như gông đeo cổ, chúng mình nên xa nhau là hơn.
-Ồ, anh định trốn em ư ? Em lấy chồng nhưng không lập hôn thú, nghĩa là hiện giờ vẫn tự do như hồi ở một mình, chồng em còn có vợ cả, và hàng tá vợ bé khác nữa. Anh ở đây với em.
-Chuyến này công việc của anh quá bộn bề.
-Em sẽ giúp anh một tay. À, anh  vẫn sống độc thân như xưa chứ ?
Chàng định đáp “có gia đình rồi “ song trước luồng mắt soi mói như đâm thấu tâm can của nàng chàng đành thú thật :
-Chưa lập gia đình nhưng cũng chưa hẳn là độc thân.
Nàng cười ý nhị :
-Không sao. Em quen với kiếp chồng chung rồi.
Hai người dựa vào thành cửa sổ, nhìn xuống sóng nước chảy đục lờ. Trên đường Silom, một chiếc xe hơi Hoa kỳ vừa đậu trước khách sạn, bồi túa ra mở cửa. Từ trên xe bước xuống một cặp vợ chồng Mỹ. Người đàn ông trạc bốn mươi, cao lớn, khôi ngô, cường tráng. Hắn mặc bộ com lê mỡ gà bằng lụa dệt tay Thái lan, ở mép túi áo lòi ra một bông hoa thật nhỏ, trông như hoa huệ. Văn Bình bàng hoàng trong giây phút. Bông hoa này là hoa Amaryllis, loại huệ trổ hoa hàng chục năm tục gọi là “trường huệ”. Và gã đàn ông bô trai kia giống hệt với bức hình chàng đã xem trong văn phòng ông tổng giám đốc. Hắn là Dixon, tỉ phú kiêm trùm buôn lậu súng đạn quốc tế. Thiếu phụ đi bên hắn mặc toàn màu hồng. Nàng có một vẻ đẹp lạ lùng. Không cần nhìn lâu, Văn Bình cũng biết thiếu phụ là Akita. Lời nói của ông Hoàng vụt trở lại bên tai Văn Bình.
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Ông Hoàng cắt đầu điếu xì gà Havan, chậm rãi châm lửa rồi nói với điệp viên Z.28:
-Trong quá khứ, anh từng đối phó với nhiều kẻ thù nguy hiểm, tuy nhiên theo tôi Dixon có thể được coi là nguy hiểm nhất. Hắn có một mình mà cơ quan an ninh Hoa kỳ phải thất điên bát đảo. Hắn rất đa mưu, trước khi bắt tay vào việc thường nghiên cứu kỹ lưỡng, và không hề phạm khuyết điểm. Về võ nghệ, Dixon không đến nỗi xoàng. Hắn là một tay cừ khôi về môn vật Hy La (1), hàng trăm võ sĩ đã bị hắn quật ngã như chơi. Sở dĩ hắn có sức khỏe khác thường là nhờ tập rượt những môn thể thao nguy hiểm như trèo núi, trượt tuyết, đua xe hơi.
 
(1) đô vật Hy La (  lutte gréco – romaine ) do một võ sư Pháp, Exbrayat, đặt ra vào giữa thế kỷ 19, dựa vào các môn vật Ai cập, Hy lạp, Thổ nhĩ kỳ. Môn vật Hy La được ghi thi đấu trong thế vận hội, và cũng chia thành nhiều loại nặng nhẹ như quyền Anh.
 
-Thưa, ông vừa nói là Dixon rất say mê nữ sắc ?
-Phải, hắn có cái tật mê gái lạ lùng. Chúng ta hy vọng đánh bại Dixon keo này bằng cách khai thác sở đoản hảo ngọt. Đàn bà đối với hắn cũng cần thiết như cơm nước, không có thì chết. Sáng, trưa, chiều -chứ chưa nói đêm nữa - bất cứ lúc nào Dixon cũng phải có đàn bà một bên.
-Chắc hắn có cả tam cung lục viện ?
-Không. Hắn chỉ mê một người đàn bà nào đó trong một thời gian ngắn mà thôi. Khi yêu thì hắn không xa được một phút nhưng đến khi chán ngấy thì hắn vứt bỏ như lưỡi dao cạo cũ.
-Hắn yêu Akita đã lâu chưa, thưa ông ?
-Dường như được chẵn 1 năm.
-Trước kia, hắn yêu mỗi người đàn bà trung bình được bao lâu ?
-Độ 2, 3 tháng là cùng.
-Dixon gắn bó cả năm trường với Akita nên tôi đoán chắc nàng phải đẹp lắm.
-Dĩ nhiên. Tôi chưa bao giờ được gặp Akita bằng xương bằng thịt, nhưng căn cứ vào hình chụp, và báo cáo, tôi nhận thấy nàng thuộc vào đẳng cấp siêu mỹ nhân. Nàng sẽ giúp anh được nhiều nếu anh biết khai thác. Tuy nhiên, việc lợi dụng này là con dao hai lưỡi, sơ ý nó có thể làm anh đứt tay chảy máu. Vì vậy, anh cần gia tăng thận trọng để khỏi bị Akita lôi kéo …
Nghe ông tổng giám đốc giảng luân lý, điệp viên Z.28 bắt chân chữ ngũ, phì phèo thuốc lá Salem, mỉm miệng cười mà không đáp. Ông Hoàng có quyền không tin, nhưng chàng, chàng đoan quyết là không thể nào sa ngã. Hôm nay, đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ xuống đường Silom, Văn Bình mới nhận thấy ông Hoàng là nhà tiên tri lỗi lạc vì Akita thuộc loại người có nhan sắc hớp hồn đàn ông như hồ ly tinh trong truyện Liêu trai.
Đứng sau chàng, Si Thoeng hích cùi tay vào lưng chàng, giọng dấm dẳn :
-Mê hả ?
Chàng giật mình :
-Mê ai ?
Nàng cười :
-Tượng đá cũng phải mê người đàn bà mới xuống xe Hoa kỳ, huống hồ là anh. Anh đừng sợ, em không ghen đâu, vả lại em chưa có quyền để ghen. Nàng đẹp lắm, phải không ?
Văn Bình đành gật đầu :
-Phải.
-Nhưng nàng là trái cấm, rớ vào thì mất mạng. Hiện nàng là của gia bảo của một tỉ phú. Người đàn ông mặc com lê màu mỡ gà đang đưa tay cho nàng nắm lấy, anh thấy không ?
-Thấy. Mỹ nhân là bông hoa trong vườn bách thảo, cấm thiên hạ nhìn ngắm sao được ?
-Dĩ nhiên. Trên thực tế lại có kẻ dám bẻ trộm hoa nữa kìa. Nhưng đó là đối với người khác, còn đối với nhà triệu phú Dixon thì xin anh chớ ti toe.
-Giàu có không hẳn là lý do cấm thiên hạ chiêm ngưỡng sắc đẹp của vợ mình.
-Theo em, đó lại là lý do chính. Hắn có nhiều tiền, ai lơ mơ chạm đến người yêu của hắn là bị gãy răng bể mặt ngay. Anh biết không, ngày cũng như đêm 4 vệ sĩ võ giỏi, bắn giỏi luôn luôn theo sát nàng như bóng với hình.
-Nàng là Akita ?
-Phải. Anh ráng nhớ tên để viết thơ tỏ tình. Báo tin trước để anh mừng : nàng là nhân tình, chưa phải vợ chính thức của Dixon. Nhưng anh Văn Bình ơi, em khuyên anh nên giữ gìn tấm thân ngàn vàng của anh. Năm ngoái, một chàng võ sĩ vô địch dám tán tỉnh cô gái xấu hơn Akita nhiều, đã bị Dixon cho húp cháo gần 3 tháng trong bệnh viện.
-Năm ngoái, Dixon cũng tới Vọng các ?
-Hắn tới đây mỗi năm. Dường như mỗi năm, hắn mỗi du lịch qua Viễn đông. Tuy nhiên, mỗi năm hắn mỗi thay đổi người đẹp.
-Lạ nhỉ ? Rama không phải là đệ nhất khách sạn, tại sao Dixon lại tới ? Erawan, hoặc Oriental còn sang hơn nhiều.
-Thoạt đầu, em cũng băn khoăn như anh. Sau này em mới tìm ra nguyên nhân. Thứ nhất vì Dixon là người có phần hùn nhiều nhất trong công ty Rama. Thứ hai vì hắn thích mua hạt soàn để tặng người đẹp. Xế cửa lữ quán có tiệm kim hoàn Rama nên hắn chỉ cần đi mấy bước là có thể mua sắm dễ dàng. Thứ ba vì du thuyền của hắn đậu gần đây. Anh mà thấy du thuyền Bồng lai thì sẽ lé mắt vì kinh ngạc. Nó không thua du thuyền bậc nhất thế giới của nhà tỉ phú Onassi là bao.
-Em đã lên thăm chưa ?
-Nếu chưa thì em nói làm gì ? Bên trong, tiện nghi nào cũng có đầy đủ, có cả máy lọc nước biển thành nước ngọt, máy biến tia sáng mặt trời thành hơi đốt, bàn ghế thì đóng bằng một lại gỗ thơm khác thường của rừng Nam Mỹ.
-Dixon làm nghề gì ?
-Chả biết. Nghe người ta nói là hắn buôn súng. Tay tổ buôn súng.
-Tay tổ buôn súng đến Thái lan mà nhà chức trách để yên được ư ?
-Cái đó, xin anh hỏi họ, em không muốn dính tới. Vả lại, Thái là quốc gia trung lập, sứ quán sô viết treo cờ đỏ búa liềm rực rỡ trong khi tàu bay Mỹ cất cánh từ các căn cứ Thái để tham chiến ở Việt Nam thì một Dixon, chứ mười Dixon buôn võ khí đến đây nữa cũng là chuyện thường. Nếu không tin, anh hãy đi vòng ra sau đường Silom, song song với lữ quán Rama là đường Sathorn, anh sẽ thấy cờ cộng sản Nga đề huề với cờ của các sứ quán Á căn đình, Diến điện, Đan mạch, Ấn độ, Phần lan, Do thái, Ý đại lợi, Ai lao, Mã lai, Thụy điển, Tân tây lan ...
-Em nhớ ghê !
-Chuyện ! Ngày nào em cũng bách bộ dọc đường Sathorn nên không nhớ sao được.
-Nhà em ở đâu ?
-Cuối đường Sathorn.
-Em ở với …
-Không … hắn có nhà sang hơn, và hắn bị vợ cả giữ riệt nên thỉnh thoảng mới đến. Nói cho đúng, em cũng muốn hắn ít đến. Em yêu tiền rừng bạc biển của hắn hơn là yêu hắn. Hoàn cảnh biến đổi con người mà …
Si Thoeng thở dài, 1 giọt lệ lăn trên gò má :
-Anh còn nhớ đêm ấy nữa không ? Riêng em, suốt đời em vẫn nhớ. Sáng sớm, em mời anh về căn gác của em nhìn xuống sông Chao Phya. Em giữ anh ở lại, anh cứ nằng nặc ra đi.
-À, hồi đó cháu trai mới được 8 tháng, anh không được gặp nó, nhưng nhìn hình ảnh thì giống em như đúc. Chắc bây giờ nó nghịch lắm ?
Nghe chàng nó, nàng òa khóc và ôm chầm lấy chàng. Văn Bình se lòng, đau đớn. Chàng biết là nói hớ. Có lẽ định mạnh dữ dằn đã bắt nàng sống xa con. Hồi đó, nàng tâm sự là đứa con của nàng ở với bên nội. nhưng hiện thời …
Qua nước mắt, Si Thoeng tỉ tê :
-Anh ơi …, anh ơi …, con em chết rồi ! 
Văn Bình ghì chặt lấy nàng, giọng an ủi :
-Nó mang bạo bệnh phải không ? Tội nghiệp. thôi, chẳng qua con người ai cũng có số.
-Nếu con em chết bệnh thì em cũng đành chịu. Đằng này, nó lại không chết bệnh. Người ta giết nó …
-Giết nó … giết 1 hài nhi 8 tháng ! Ai giết ?
-Thằng trùm du đãng khu Silom. Tự tay hắn đâm chồng em nát bấy thân thể, và cũng tự tay hắn ném con em xuống sông Chao Phya.
-Tại sao ?
-Hắn thề giết cả nhà em, nhưng chưa giết em vì để em đau khổ. Hắn nói rằng em mất chồng, mất con còn khổ hơn là bị giết. Nhưng hắn lầm. Em lấy chồng, dầu chỉ lấy lẽ, và chồng em chưa xứng với em 1 li. Em mầy mò vào trong lữ quán Rama nơi con nhân tình của thằng trùm du đãng giữ két khi trước. Để báo thù. Để rình rập cơ hội báo thù.
-Tại sao em không trình báo với nhà chức trách ?
-Vô ích, anh ạ. Thứ nhất, không có bằng cớ. Chồng em nằm chết trên lề đường từ đêm đến gần sáng, cảnh sát mới biết. Con em đang nô đùa trước nhà thì 1 chiếc xe hơi đen ập tới, mang đi biệt tích. Không ai nhớ rõ số xe. Một tuần sau thì xác cháu nổi lềnh bềnh trên sông.
-Có thể nào hung thủ là người khác chăng ?
-Không thể được. Vì lần nào tên trùm du đãng cũng sai đàn em đến tận nhà báo tin cho em. Hắn còn gặp mặt em nữa. Em đã nhờ luật sư đưa nội vụ ra tòa, nhưng luật sư khuyên em nên bỏ qua, nếu không sẽ bị phạt về tội cáo gian.
-Nhân tình của tên trùm du đãng còn làm việc tại lữ quán nữa không ?
-Em vừa đuổi tuần trước.
-Nghĩa là em cố tình khiêu khích hắn ?
-Phải. Khiêu khích để hắn giết em. Chết là hết chuyện. Em sẽ rảnh nợ. Nhưng hắn khôn lắm. Hắn chưa giết em vội. Hắn bắn tin là đang cho người tìm kiếm mẹ em.
-Để giết ?
-Vâng, để giết. Hắn giết người như ngóe. Có nhìn thấy người chết, ngửi mùi máu tanh tưởi, hắn mới uống rượu và ăn cơm được. Em đã đề phòng trước, nhờ người đưa mẹ em lên miền đông bắc. Tuy nhiên, em có cảm tưởng là sớm muộn hắn cũng sẽ khám phá ra nơi mẹ em ẩn náu. Và hắn sẽ xuống tay tàn nhẫn. Vì vậy, em phải xuống tay trước. Em sẽ giết hắn …
-Em yếu đuối, lại thân cô, thế cô …
-Gần năm nay, em đã học đánh dao, bắn súng. Em hy vọng giết được hắn. Vì hắn vốn khinh thường em, cho em là hạng đàn bà chân yếu, tay mềm, giết con ruồi cũng không xong.
Văn Bình lặng thinh giây lâu. Dưới đường, Dixon và Akita đã cùng đám cận vệ đi khuất vào lề. có lẽ cả bọn đang ở trong thang máy. Ruột gan Văn Bình rối bời. Chàng đang kẹt vụ “Trường Huệ” thì bị kéo vào vụ báo thù. Si Thoeng không nhờ chàng song chàng không thể khoanh tay nhìn nàng gục ngã. Vì chắc chắn là nàng mất mạng trong cuộc đấu dao hoặc đấu súng với tên trùm du đãng.
Chàng quay lại nhìn Si Thoeng. Nàng cũng đang nhìn chàng, trìu mến và van lơn. Nàng kiễng chân hôn vào môi Văn Bình rồi tiếp tục khóc. Chàng vuốt ve bờ vai tròn trịa của nàng:
-Bao giờ em gặp hắn ?
-Đêm nay.
-Tại đâu ?
-Em hẹn hắn đến khách sạn.
-Hắn dám đến không ?
-Ồ, tuần nào hắn cũng đến ăn. Hắn thuê phòng thường trực. Ăn uống cũng biên bông.
-Rồi quỵt ?
-Không. Hắn trả tiền đàng hoàng. Hắn thưởng tiền cho bồi còn hậu hĩ hơn khách thượng lưu nữa. Trông bề ngoài, hắn chững chạc, không có 1 chút nào là du đãng. Nhưng mọi người trong khu vực đều biết hắn. Lữ quán, rạp hát, tiệm ăn, cửa hàng, … đều phải nộp thuế cho hắn hàng tuần, hoặc hàng tháng. Thuế của hắn gọi là thuế bảo an, nặng gấp chục lần thuế chỗ hoặc thuế môn bài. Ai cũng phải cắn răng đóng đủ, không dám hó hé vì hó hé thì cửa tiệm sẽ ăn lựu đạn, hoặc vợ con mất cái tai … Thôi thì đủ thủ đoạn, đủ cực hình.
-Công an không có tai, có mắt ư ?
-Em đã nói hồi nãy rồi, muốn bỏ tù hắn phải có chứng cớ, mà từ xưa đến nay chưa ai tìm ra chứng cớ. Dường như 1, 2 lần gì đó, có người gan dạ trưng bằng cớ nhưng đến ngày ra tòa thì lại bị tai nạn xe hơi hoặc chết đuối. Rốt cuộc ai cũng phải ngậm miệng.
-Bây giờ em có thể nói lớn được rồi. Anh sẽ giúp em.
Si Thoeng lùi lại, rồi quỳ xuống, lạy xì xụp :
-Thưa anh, anh là ân nhân của em. Đối với người tình thì em cư xử bằng ân ái mặn nồng. Nhưng đối với ân nhân, em phải quỳ lạy cho đúng truyền thống dân Thái.
Văn Bình đỡ nàng lên, mắng yêu :
-Em làm anh ngượng quá ! 
Nàng nghiêm mặt :
-Xin anh tha lỗi. Em phải tôn trọng đạo lý theo lời cha mẹ răn dạy. Vì ngày xưa, cha em là đại quan trong triều.
Qua cửa sổ, Văn Bình nhìn thấy nền trời da cam óng ánh. Hoàng hôn trên đất Thái dường như đến chậm hơn, so với các quốc gia khác ở Đông nam Á, quang cảnh lại sáng rực 1 màu vàng huy hoàng. Có lẽ do hàng trăm, hàng ngàn tháp chùa nhọn hoắt, rướn lên cao, thu nhặt ánh nắng mặt trời để đến khi trời sắp tối thì tỏa ánh sáng chói lòa. Chàng nhìn đồng hồ tay :
-Anh đi 1 lát.
Thiếu phụ đáp :
-Em sẽ đợi anh. À, anh lấy xe em mà đi cho tiện. Em có cái Mazda 800 đậu gần tiệm kim hoàn.
Chàng hôn phớt lên tóc nàng rồi mở cửa phòng ra thang máy. Chàng rờ túi, hơi bực mình vì gói Salem đã lép kẹp. Đời người thường éo le và xỏ xiên như thế. Khi không thích khói thuốc thì gói Salem nằm ép ở đáy túi, bị nhàu nát. Đến khi thèm hút thì 1 mẩu nhỏ cũng không có. Thang máy mở ra, Văn Bình sửa soạn bước vào nhưng bỗng khựng người vì từ thang máy bước ra 1 bóng dáng quen thuộc, cao lêu nghêu. Bóng dáng quen thuộc này chính là “chàng sếu vườn” Lê Diệp, cận vệ thân tín của ông Hoàng, và cũng là bạn nối khố của Văn Bình.
Thấy chàng, Lê Diệp chỉ nháy con mắt chứ không chào hỏi vồn vã mặc dù ở trên đất xứ người. Chắc chàng sợ lộ, vì trong thang máy còn có 2, 3 người lạ nữa. Văn Bình đang ngần ngừ thì Lê Diệp vòng ra cầu thang xi măng. Văn Bình lẳng lặng theo bạn. Lê Diệp bước đi 1 quãng. Gió chiều từ dưới sông Chao Phya thổi lên mát rợi làm Văn Bình khỏe khoắn.
Lê Diệp trèo lên taxi đậu cách lữ quán gần 100 nước, và để cửa mở. Văn Bình ngồi bên. Hai người không nói với nhau nửa lời. Lê Diệp chăm chú nhìn kiếng chiếu hậu. Taxi chạy bên trái đường, len lỏi giữa 1 rừng xe đạp, xe gắn máy Nhật, xe “xảm lồ” 3 bánh, xe hơi chở khách sơn vàng bóp kèn inh ỏi, và đủ loại xe nhà, xe chở hàng, cam nhông nghênh ngang giữa lộ. Tai nạn có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào vì ai cũng phóng nhanh, và khinh thường luật lệ lưu thông. Tuy nhiên, Văn Bình nhận thấy tình hình cũng chưa đến nỗi nghẹt thở như ở Sàigòn, 1 thủ đô mà xe hơi đông hơn kiến cỏ, song xe gắn máy hippy mới thật sự là vua.
Tài xế đậu lại ở công viên Phramane, gần đại hoàng cung. Dưới ánh chiều, mái tròn đỏ ối của cung vương miện (1), và tháp chuông vao vòi vọi của chùa thiêng Wat Phra Keo, tục gọi là chùa Phật Ngọc Bích (2) vươn lên uy nghi lộng lẫy. Mỗi lần đến Vọng các, Văn Bình đều ra công viên Phramane để coi đua diều. Diều Thái hoàn toàn khác với diều Việt. Vả lại, trên thế giới không còn có những cuộc đua diều như ở Thái. Vì đua diều là môn thể thao quốc gia, phải là người Thái mới biết làm diều đúng cách, và biết thưởng thức cái thú đua diều độc đáo (3).
 
(1) Dusit Throne Hall.
(2) Temple of the Emerald Buddha.
(3) bạn có dự cuộc đua diều thì mới cảm thấy cái rí rỏm của người Thái, cũng rí rỏm như môn thể thao “gối tình” của Nhật (đã được tả trong Gián điệp Hoa Quỳnh, đã xuất bản ).
 
Diều cũng có nam và nữ. Diều nam gọi là Chula, mang hình ngôi sao. Thuở xưa, diều nam cao hơn 3 thước, nhưng hiện nay (có lẽ vì chế độ nam nữ bình quyền bành trướng ) bề cao chỉ đến 2 thước là cùng. Diều nữ gọi là Pakuao. Đúng với luật thiên nhiên, diều nữ chỉ lớn bằng nửa diều nam, hình vuông, các góc đối diện được dãn dài ra, và đặc biệt là có cái đuôi dài lê thê, dài gấp 7 lần rưỡi bề cao.
Cuộc đua diều tượng trưng cho cuộc đua tình muôn thuở giữa giống đực và giống cái. Từ cổ chí kim, hàng trăm vĩ nhân và danh tướng bị khổ lụy vì quá gần gũi đàn bà, để đàn bà xen vào đời. Đấu diều cũng vậy. Diều nam xớ rớ để diều nữ tới sát là bị diều nữ húc rách rơi xuống đất. Đàn bà ngồi chiếu trên, đàn ông ngồi chiếu dưới, thì trong gia đình cũng như ngoài xã hội ( tác giả thành thật xin lỗi các bà, các cô ) chắc chắn mọi việc sẽ hư hỏng. Trong cuộc giao đấu, nếu chú diều đực khờ khạo để nàng diều cái bay lượn trên đầu thì chắc chắn chú sẽ thảm hại, vì giây nhuyễn tiên của nàng sẽ quấn chặt lấy người chú, và chú sẽ thua. Trên không rộng rãi, rực rỡ ánh vàng sắp tắt, nhiều diều-nàng và diều-chàng đang vờn nhau, thách đố nhau, sửa soạn giao hoan hoặc loại bỏ nhau trước hàng chục ngàn cặp mắt say sưa của người người Thái tụ tập ở công viên.
Lê Diệp xuống xe, kéo Văn Bình lại gần hàng rào sơn trắng, ngăn khu vực thả diều.
Văn Bình hỏi bạn :
-Anh đến đây bao giờ ?
Lê Diệp đáp :
-Hôm qua. Sợ không kịp, tôi phải đáp phi cơ quân sự. Ủy ban Phối hợp muốn chúng ta hoạt động 1 mình, chứ không huy động nhân viên CIA địa phương.
-Sợ lộ ?
-Phải, vì sợ lộ. Dixon giao du rất rộng, đồng tiền của hắn đã mua chuộc được nhiều người có địa vị. Ngay cả trong CIA, trú xứ Vọng các, hắn cũng gài được mật báo viên.
-Tại sao anh biết tôi lấy phòng ở Rama ?
-Du thuyền Bồng lai đến trước anh nửa ngày. Tôi đoán anh phải neo tàu gần du thuyền Bồng lai để tiện theo dõi nên thuê 1 căn phòng ở lầu 5 gần đấy, quan sát sông Chao Phya bằng ống nhòm. Tôi thấy tàu của anh cặp bến, và anh dùng đò lên thành phố, và tôi theo anh đến khách sạn. Tuy nhiên, sợ anh bị theo, và tôi cũng bị theo nên sau khi đến Rama, tôi xuống xe, đi bộ ngược chiều 1 lát rồi mới trở lại.
-Hiện anh ở đâu ?
-Tại tư thất ông đại sứ. Ngoài mặt, tôi là 1 nhà báo từ Sàigòn sang, thu thập tin tức và tài liệu để viết phóng sự điều tra về hoạt động của kiều bào ở đông bắc nên sự hiện diện của tôi không bị ai để ý.
Bỗng dưng Lê Diệp thở dài nhè nhẹ :
-Cẩn thận như vậy rồi cũng vô ích mà thôi.
Văn Bình trố mắt :
-Sao ? Anh nói sao ?
Lê Diệp nhìn lên cao, không đáp. Nhìn theo bạn, Văn Bình cảm thấy đau nhói nơi tim. Trước mặt 2 người, 1 con diều-nữ ẻo lả đang lừa bắt con diều-nam khổng lồ. Bên dưới, công chúng hò reo khích lệ, như thể diều giấy vô tri nghe được tiếng người. Trong nháy mắt, diều-nam bị kẹt cứng và thất trận. Tiếng hò reo lớn vụt lên rồi lắng xuống. Văn Bình bàng hoàng như vừa thoát khỏi cơn mơ rùng rợn. Chàng chợt hiểu thái độ im lặng cố ý của Lê Diệp. Hồi chàng lên đường, chàng hỏi ông Hoàng về vấn đề cộng sự viên thì ông đáp chàng phải hoạt động 1 mình. Đùng 1 cái, ông Hoàng gửi chàng sếu vườn tới với những câu nói úp mở, không giấu được sự lo lắng. Chàng bèn nắm tay Lê Diệp, giọng cương quyết :
-Ông tổng giám đốc cử anh sang Vọng các để lật ngược tình thế vì tôi bị lộ rồi phải không ?
Lê Diệp vẫn không đáp. Con diều-nam đã hoàn toàn thảm bại. Và con diều-nam thứ nhì đang lượn tròn ở đàng xa dưới ngọn gió nồm nam mát rợi cũng sắp sửa bị rơi vào cạm bẫy giai nhân. Đàn bà … chung quy cũng vì đàn bà cả. Văn Bình thường gặp khó khăn vì đàn bà. Không lẽ chuyến này chàng bại lộ vì Rôsita, cựu nữ điệp viên Phi luật tân quyền biến, giỏi giang, và thận trọng ? Chàng bèn hỏi bạn :
-Tôi bị lộ vì cùng đi với Rôsita ?
Chàng hỏi như vậy là để Lê Diệp trả lời. Thật ra trong thâm tâm chàng không hề cho rằng vì Rôsita mà chàng bị đối phương nhận diện. Nhưng Lê Diệp lại gật đầu, và đáp chậm rãi :
-Phải. Anh bị lộ vì nàng.
Văn Bình đắng họng như vừa nuốt mật gấu. Chàng phải nắm chặt bàn tay để khỏi run. Lê Diệp từ từ nói tiếp :
-Vì chồng Rôsita hiện có mặt ở đây. Hắn là cánh tay phải của trùm buôn súng Dixon.
Văn Bình bàng hoàng, toàn thân lạnh ngắt. Chết rồi, chuyến vượt biển theo du thuyền Bồng lai không phải là cuộc hành trình hạnh phúc, mà là chuyến đi về cõi … bồng lai tiên cảnh. Lê Diệp lên tiếng để phá tan bầu không khí khẩn trương :
-Thôi, chúng mình về đi.
Văn Bình lắc đầu, giọng ngao ngán :
-Ông Hoàng lừa tôi.
Lê Diệp tỏ vẻ sửng sốt :
-Ông Hoàng lừa anh ở điểm nào ?
-Lừa tôi … chờ cho tôi nhúng tràm mới nói rằng chồng của Rôsita là yếu nhân của địch.
-Hừ, anh đừng nghi oan cho ông già. Tôi có thể bảm đảm với anh rằng ông già chẳng biết gì hết. Đến khi biết rõ, ông già thừ người ra, ngồi chết lặng mấy phút trong ghế bành, rồi bấm chuông gọi tôi. May sao khi ấy tôi đang ở phòng ngoài với Nguyên Hương. Ông già tin anh, đinh ninh là anh chỉ du hí qua quýt như mọi lần, chứ không thể ngờ được anh kéo luôn Rôsita cùng đi.
-Nàng thuộc thành phần tin cậy.
-Điều đó, tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Nhưng khốn nỗi anh lại mượn du thuyền của chồng nàng.
-Vì nàng cho biết là hắn đi Mỹ. Có thể nào nàng …
-Anh tự mâu thuẫn rồi. Vừa nói rằng Rôsita là thành phần tin cậy, anh lại nghi ngờ nàng ngay. Không, nàng không thể can dự vào vụ này. Tôi cho rằng đây chỉ là kết quả của sự tình cờ, 1 sự tình cờ kinh khủng.
-Tình cờ mà ông Hoàng khám phá ra ?
-Phải, hoàn toàn vì tình cờ. Du thuyền Bồng lai cập bến ở Tân gia ba, Dixon dẫn 1 số người lên bộ ăn uống phè phỡn như thường lệ. Đặc phái viên CIA lén chụp được nhiều bức hình gởi bằng vô tuyến cho Ủy ban Phối hợp. Và Ủy ban phăng ra chồng của Rôsita ở trong đám bạn bè yến tiệc của Dixon trên du thuyền Bồng lai.
-Vậy thì nguy rồi. Du thuyền Thiên Thần chỉ bỏ neo cách tàu Bồng lai 1 quãng. Sớm muộn, Rôsita sẽ bị chồng bắt gặp.
Văn Bình đứng bật dậy. Lê Diệp hỏi :
-Anh về tàu phải không ?
Văn Bình gật đầu, giọng buồn bã :
-Không khéo chậm mất.
Trời đã bắt đầu tối. Những con diều cuối cùng đã biến mất trên không phận công viên hoàng cung Phramane. Giác quan thứ sáu như hồi chuông báo động réo vang trong óc Văn Bình. Chàng lẩm bẩm “chậm mất, chậm mất”.
Mà có lẽ chậm thật !
Vì trong khi ấy, bão tố đang diễn ra trên du thuyền Thiên Thần buông neo dọc sông Chao Phya.
 
 
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau.2016
 
 
IV
Đêm dài nhất ở Vọng các
 
Ngồi trước cabin, Rôsita bâng khuâng ngắm suối tóc dài đen mượt xõa xuống dưới ngực, tủm tỉm cười 1 mình. Nàng tự biết mình đẹp. Thời gian trôi qua vẫn không làm nàng già đi, trái lại, từ ngày lấy chồng nàng bỗng trẻ lại, nhan sắc kiều diễm của nàng trở thành trái chín mọng nước, lủng lẳng trên cây 1 ngày nóng bức, làm mọi người đàn ông đi qua phải rệu nước miếng. Tuy ngày nào cũng tắm nắng trên boong tàu, da thịt nàng vẫn trắng muốt. Có lẽ vì nàng lai Tây ban nha. Gái lai thường đẹp. Lai Tây ban nha lại đẹp hơn lai giống khác. Vì người Tây ban nha có làn da trắng, sống mũi cao, cặp mắt đa tình nhất trời tây rất hợp với bờ vai tròn, đôi chân dài, và tâm hồn luôn luôn mơ mộng của người Phi luật tân.
Trước khi mặc áo, Rôsita cởi ra, ngắm trong gương lần nữa. Nàng vẫn có thói quen ngắm gương như vậy trước khi mở cửa phòng ra ngoài. Thói quen này, nàng có từ thời con gái, thời nàng còn là điều dưỡng viên tại bệnh viện Trung ương Mani, và là nữ điệp viên đắc lực của Sở Phản gián. Cũng như hồi còn con gái, trong người nàng thích mặc bikini màu trắng. Nàng nhớ buổi đầu tiên gặp Văn Bình, nàng cũng ngồi ngắm gương, kiêu hãnh trước sắc đẹp cân đối trời cho, và nàng cũng mặc bikini màu trắng. Buổi đầu tiên, xiết chặt chàng vào cơ thể nàng, mạch máu và các đường gân nàng đều chạy rần rật. Nhưng rồi chàng lại chạy theo người đàn bà khác. Luz (1).
 
(1) muốn hiểu cuộc gặp gỡ nồng nàn đầu tiên giữa Rôsita và Văn Bình tại Mani, xin đọc « Tử chiến ngoài khơi » ( 2 cuốn ) đã xuất bản tháng 12 – 1967.
 
Nàng đinh ninh quên được chàng, ngờ đâu nàng thấy càng xa càng nhớ.
Để rồi định mạng lại run rủi cho 2 người tái ngộ.
Rôsita vuôn vai đứng dậy. Nàng mặc áo dài trắng, may theo kiểu Phi, vai vuông, viền đăng ten. Cái áo này là 1 kỳ công của kỹ nghệ thời trang Phi, vì gấu nó thật cao như mini-jupe, và cổ áo được khoét sâu gần như ngực không mặc áo. Nhờ gấu áo thật cao, nàng đã có thể triển lãm được cặp giò thuôn thuôn, không chút mỡ thừa, không 1 vết tàn nhang hoặc thẹo nhỏ. Cổ chữ V rộng kinh khủng trên áo đã giúp nàng biểu diễn bộ ngực núi lửa, bộ ngực có thể đốt cháy rừng rậm băng tuyết Tây bá lợi á.
Rôsita nhìn đồng hồ tay.
Nàng dặn Văn Bình trở về du thuyền trước khi tối để đưa nàng lên thành phố. Nàng biết chàng có nhiều công việc, và là công việc tối mật, tối hệ, liên quan đến vận mạng hàng triệu người, song chàng vẫn dành thời giờ giải trí. Đêm thứ nhất này ở Vọng các, chàng đã dành riêng cho nàng. Đúng hơn, cho thần Tình ái. Chàng sẽ đưa nàng vào các hộp đêm, 2 người sẽ ăn món Mễ tây cơ tại Nipa Hut, tiệm ăn Mễ tây cơ ngon tuyệt trần, và độc đáo nhất trong khu Bangkapi : hai người sẽ ôm nhau nhảy dưới ánh đèn mờ như ánh trăng của khiêu vũ trường ngàn một đêm lẻ Alađin ở đường Patpong. Gần sáng, nàng mới chịu về khách sạn. Nàng sẽ ngủ luôn 1 giấc dài đến trưa mai. Rồi nàng sẽ sửa soạn, tận hưởng đêm thần tiên thứ hai trên đất Thái. Vì cả đêm thứ hai cũng được Văn Bình hứa dành riêng cho nàng. Và chàng sẽ  đưa nàng tới tiệm ăn nổi Kinaree Nava, tiệm ăn nổi duy nhất của thủ đô Vọng các, trong công viên Lumpini. Thực đơn Tàu và Thái ở đó, theo lời Văn Bình, sẽ không làm nàng chán. Nàng không thể chán vì sàn nhảy ở đó được trình bày rất đẹp. Nàng lại được thưởng thức âm nhạc kích động của 1 dàn nhạc nổi tiếng Phi luật tân … dàn nhạc quê hương.
Rôsita lại nhìn đồng hồ rồi lẩm bẩm :
-Quái lạ ! Tối rồi mà anh ấy vẫn chưa về ! 
Nàng bấm chuông gọi thuyền trưởng. Đúng 1 phút sau, thuyền trưởng đã tới cửa cabin. Dường như đoán được ý nghĩ của nữ chủ nhân, thuyền tưởng nói ngay :
-Thưa bà, tôi đã cho mở đèn sáng để ông Văn Bình nhận ra tàu dễ dàng. Vả lại, trời đang còn sáng. Độ nửa giờ nữa mới tối.
Rôsita hỏi, giọng lo lắng :
-Có thể lạc đường được không, ông Davak ?
Thuyền trưởng Davak mỉm cười :
-Thưa bà, người quê mùa chưa đến đất Thái lần nào như tôi cũng khó thể lạc đường, huống hồ ông Văn Bình. Tôi nghe nói ông Văn Bình ghé Vọng các lần này là lần thứ mấy chục. Ông ấy quen Vọng các còn hơn bà quen Mani nữa.
-Không hiểu sao tôi nóng ruột lắm, ông à ! 
-Thưa bà, phụ nữ bao giờ cũng vậy. Trong khi chờ ai, phụ nữ vẫn nóng ruột.
-Không phải thế. Tôi có … giác quan thứ sáu khá chính xác. Tôi linh tính là Văn Bình gặp chuyện nguy hiểm. Tôi sợ lắm. Dầu ông là nhân viên của chồng tôi, ông vẫn …
-Thưa bà, tôi đã nhận ông Văn Bình làm ân nhân và thầy võ. Dân giang hồ chúng tôi rất trọng tình sư đệ. Tôi có bổn phận phải giúp đỡ bà dẫu rằng mai kia về quê hương, tôi chắc chắn sẽ mất việc. Nếu bà muốn, tôi xin lên bờ để tìm ông.
Mắt Rôsita vụt sáng :
-Phải đấy, ông lấy canô đi tìm thử coi.
Thuyền trưởng cúi chào rồi lên boong. Còn lại 1 mình trong cabin trống trải, Rôsita ngồi phịch xuống cút sét, mân mê vạt áo dài trắng, cái áo dài nàng mặc cho chàng chiêm ngưỡng, cái áo dài mà chàng khen đẹp, tôn cao đường cong cân đối của nàng. Nàng nhớ chàng lạ lùng. Nhớ chàng quay quất tưởng như có thể chết được. Rồi như đứa trẻ nhớ mẹ, nàng ôm mặt khóc sùi sụt. Khóc được 1 lát, sực nghĩ ra nàng đứng dậy, mắt ráo hoảnh, miệng mím lại trong sự tức giận :
-Thôi phải rồi … Văn Bình không về vì còn bận thăm viếng người yêu cũ. Hừ, đi tới đâu, con bướm cũng la cà hút nhị. Mình không thể tha thứ được. Văn Bình … Văn Bình … anh là người đàn ông phụ bạc. Em phải giết chết người đàn bà dám yêu Văn Bình của em.
Rồi nàng thét lớn :
-Văn Bình, trời ơi !  Em yêu anh đứt ruột, anh biết không ?
Một tiếng nói cụt lủn, vẳng lên sau lưng :
-Biết.
Rôsita hoảng hồn quay lại. Tuy đang xúc cảm tột độ, nàng vẫn còn đủ trí sáng suốt để biết rằng người lạ không phải là Văn Bình. Người đàn ông vừa cất 1 tiếng cộc lốc, cũng không phải là kẻ xa lạ đối với nàng. Nàng đã nghe giọng nói ngọt ngào mà cương quyết, dịu dàng mà dấm dẳn đặc biệt này hằng ngày, hồi nàng còn sống trong lầu son gác tía ở Mani, trong sự nuông chiều độc nhất vô nhị của người chồng ngũ tuần tỉ phú và hào hoa phong nhã. Giọng nói ấy là của chồng nàng. Người chồng đại doanh gia mà Rôsita đinh ninh là đang tối mắt tối mũi về công chuyện làm ăn tại Tây bán cầu. Nàng buột miệng :
-Anh Pelam ! Trời ơi ! 
Pelam là tên chồng nàng. Đúng ra phải gọi là Pelambangkitô, 1 cái tên dài giằng dặc, như những con số dê rô phía sau tấm séc mà người đàn ông gần 50 tuổi ấy đã ký tặng nàng làm của hồi môn. Pelam, phải, người đứng trước mặt nàng, trên ngưỡng cửa cabin du thuyền Thiên thần, đang neo trên giòng sông Chao Phya của đất Thái xa xôi đích thị là Pelam.
Vẻ mã thượng thường ngày của Pelam biến đâu mất. Khuôn mặt bầu bĩnh của hắn toát ra sự lạnh lùng ghê gớm, sự lạnh lùng có thể biến ngoại vật thành tảng băng. Chạm phải nhỡn tuyến của chồng, Rôsita run rẩy. Nàng run không phải vì sợ. Dầu là phụ nữ, nàng ít khi biết sợ. Nàng run mà không hiểu tại sao lại run. Trời chiều trên sông Chao Phya chưa tan hết hơi nắng ban trưa, gió biển mát rợi từ phía nam thổi tới chỉ làm giảm được phần nào sức nóng oi ả. Vậy mà Rôsita lại có cảm giác là du thuyền Thiên thần đang đi ở Bắc cực.
Pelam từ từ bước lại phía vợ, hôn nhẹ lên trán. Hắn thường hôn nhẹ lên trán mỗi buổi sáng nàng tỉnh giấc, hoặc mỗi buổi chiều nàng về phòng riêng. Năm khi mười họa, hắn mới hôn môi nàng. Tuy vậy, mỗi khi hắn ôm nàng vào lòng, thân thể hắn đã tỏa ra những luồng điện nồng cháy chỉ ở thanh niên 25 tuổi mới có. Cái hôn trên trán hôm nay cũng lạnh ngắt. Rôsita rùng mình. Pelam dìu nàng xuống cút sét :
-Em mệt ư ?
Rôsita không đáp mà chỉ trân trân nhìn chồng. Xưa nay, hắn không bao giờ có thái độ kỳ quặc như thế. Nàng định hỏi chồng « Pelam, tại sao anh nói với em là anh qua Nam Mỹ mà lại có mặt ở Vọng các ? Pelam, tại sao anh lại biết em neo thuyền ở đây mà đến gặp ? Pelam, tại sao anh lại nhìn em bằng cặp mắt quái gở ? Pelam, … ? Pelam, … ? ». Song nàng chẳng nói gì hết.
Pelam lẳng lặng ngồi xuống 1 bên. Như thường lệ, hắn hút xì gà Havan, xì gà của hắn thuộc loại đặc biệt, hút thơm kinh khủng, song nàng không ưa. Nàng bảo mùi xì gà làm hôi miệng. Hắn muốn vào phòng, hoặc muốn gặp nàng thì phải đánh răng, xúc miệng cẩn thận, và ném điếu xì gà ngoài cửa. Hắn mê xì gà không kém mê đàn bà tuyệt sắc, nhưng đã sẵn sàng tuân theo đòi hỏi của nàng. Vậy mà hôm nay Pelam vẫn nghênh ngang rón điếu xì gà lớn bằng thỏi xúc xích trong tay. Và dường nhưng để trêu ngươi, hắn còn nâng xì gà lên môi, trịnh trọng rít 1 hơi dài, thở khói khắp cabin như ống khói xe hỏa. Hút xong, hắn đặt bàn tay lên vai nàng, giọng êm ái ( 1 sự êm ái đầy chết chóc ) :
-Người yêu của mình chưa về ư ?
Rõ ràng là Pelam châm ngòi tấn công. Nhưng Rôsita đã lấy lại bình tĩnh. Có lẽ là vì Pelam dại dột, nhắc đến tên Văn Bình. Nàng yêu chàng, yêu chàng say sưa, yêu chàng hơn cả yêu chính bản thân nàng nữa nên lời nói của Pelam không làm nàng nao núng. Trái lại, nàng lại tăng thêm vẻ lì lợm. Nàng ngước nhìn chồng, giọng ráo hoảnh :
-Trước khi lên đường, em đã gọi điện thoại về xin phép anh, nhưng anh đi vắng.
-Phải, khi ấy tôi đi vắng.
-Vả lại, trước ngày về làm vợ anh, em đã giao điều kiện. Anh cũng đã thỏa thuận.
-Phải, mình đã tâm tình với anh là không bỏ được Văn Bình. Và anh nói là anh không cấm đoán em, miễn hồ em kín đáo. Muốn hẹn hò với người yêu, em nên xuống du thuyền, đi khỏi Mani.
-Vâng, em đã nghe lời anh. Em đã đi khỏi Mani. Tại sao anh lại giận em ?
Pelam phá lên cười. Tiếng cười rùng rợn như tiếng cười của lão phù thủy vừa trị ếm được con ma độc địa. Rôsita tỏ vẻ khó chịu :
-Tại sao anh cười ?
Pelam khoát tay :
-Anh cười vì thấy em ngu quá. Em quá ngu. Trên đời, không có thằng đàn ông nào lại nhắm mắt cho vợ đi ngủ với người khác, dẫu thằng đàn ông này đã gần 50 như anh, không còn đủ bản lãnh và sức lực để thỏa mãn đòi hỏi của cô vợ trẻ sung mãn và tham lam …
-Em rất ghét đàn ông nói tục.
-Dĩ nhiên, vì lòng em, tay chân em, da thịt em đang đầy ngập hơi hướng của thằng đàn ông khỏe mạnh, đẹp trai, và tài giỏi.
-Anh không có quyền nói xấu kẻ vắng mặt.
-Có quyền. Có quyền tuyệt đối, em biết không ? Vì trên giấy tờ anh được luật pháp công nhận : anh là chồng em.
Rôsita sẵng giọng :
-Nội đêm nay, em sẽ đánh điện cho luật sư, đưa đơn xin ra tòa ly dị.
Pelam vẫn cười, tiếng cười mỗi lúc 1 thêm rùng rợn :
-Ly dị hả ? Em muốn làm gì, tha hồ. Nhưng phút này đây, lát nữa đây, và đêm nay, ngày mai, em vẫn còn là vợ anh.
-Tôi sẽ từ giã tàu này ngay bây giờ.
-Dễ quá nhỉ ?
-Anh không được quyền vũ phu với đàn bà.
-Được quyền …, được quyền … khi nào cô cũng danh từ rỗng tuếch ấy. Tôi nhắc lại lần nữa : tôi có quyền. Bằng chứng là lát nữa tôi sẽ giết thằng nhân tình thô bỉ của cô.
Rôsita vụt đứng dậy như bị ong châm vào thịt :
-Anh nói thật hay nói đùa ?
Pelam gật gù :
-Đàn ông ngũ tuần ít khi nói đùa.
Rôsita giọng cương quyết :
-Vậy từ phút này đây, tôi và anh không còn liên hệ tình cảm gì với nhau nữa. Chào anh, tôi đi đây.
Nàng bước nhanh ra cửa cabin, song Pelam đã bước theo, nắm áo nàng, giật lại. Trong cơn níu kéo hoảng hốt, cái áo bằng ni lông mà nàng may với giá 1.000 pêsô, bị rách toạc. Giận dữ, nàng xô chồng ra. Nhưng Pelam đã khóa tay nàng, đẩy ngã xuống cút sét. Bản năng người nữ điệp viên thành thạo quyền thuật thức dậy trong lòng Rôsita. Không kịp suy nghĩ Pelam là chồng nàng, Rôsita dùng 1 thế phản đòn tuyệt kỹ của nhu đạo để quật Pelam ngã theo. Bị vợ đánh trả, Pelam không tỏ vẻ ngạc nhiên. Người ngạc nhiên là Rôsita vì khi bước về nhà chồng, nàng đinh ninh Pelam chỉ là tỉ phú, quanh năm ngụp lặn trong tiền bạc, không hề biết đến võ nghệ. Nàng không ngờ hắn lại tránh đỡ và phản công nhanh như tên bắn, và bay bướm như 1 võ sĩ dày công luyện tập.
Rôsita tưởng hắn trượt chân té xuống. Nàng không ngờ hắn vẫn đứng vững như bàn thạch, còn nàng thì nằm sóng soài trên nền tàu. Tuy bị đau ê ẩm, nàng vẫn lóp ngóp bò dậy, giọng đứt quãng :
-Té ra … anh giỏi võ !   
Hắn rít hơi xì gà, cử chỉ khinh bạc :
-Phải, mãi đến bây giờ cô mới biết ư ? Thật tội nghiệp cô, vì cô chỉ biết 1 phần đời của người chồng hờ. Những chuyện xảy ra từ trước đến nay giữa cô và tôi chỉ là giả tạo, thằng Pelam không phải là chủ hãng kinh doanh chân chỉ hạt bột, mà là 1 tay giang hồ … Đúng hơn, 1 ông trùm buôn đồ quốc cấm. Từ trước đến nay, tôi ngậm miệng, mặc cô tha hồ tung hoành, vì cô chưa đụng chạm tới quyền lợi của tôi. Nhưng giờ đây, tôi phải xuống tay hành động. Tôi không tha thứ cô được nữa, vì cô toa rập với thằng chó săn Văn Bình để phá hoại công cuộc làm ăn của tôi.
-Ông không được hỗn.
-Hừ, mặt nạ của cả cô lẫn tôi đều rớt xuống rồi. Cô là con điếm, còn tôi là đứa ăn cướp. Người tám lạng, kẻ nửa cân. Mạng của cô chỉ là trò đùa đối với tôi. Khi cần, tôi chỉ phất tay áo là cô sẽ chết bẹp như con ruồi dưới gót giày vậy. Cô phải nói thật thì mới còn hy vọng sống : Văn Bình đã biết những gì về tôi, và về Dixon ?
Rôsita đưa bàn tay lên dụi mắt. Nàng nghe rõ từng tiếng một của Pelam song vẫn tưởng là lầm. Pelam vừa nhắc đến Dixon, người mà Văn Bình rượt theo từ nhiều ngày trên mặt biển. Chồng nàng dính líu đến hoạt động của Dixon ư ?
Nàng hỏi lại :
-Anh muốn tôi nói thật, nhưng nói thật về chuyện gì ?
Pelam nghiến răng :
-Về chuyến đi hiện tại của đại tá Văn Bình. Tôi là bạn của Dixon. Chắc chắn người yêu của cô đã nói cho cô biết Dixon là ai.
Rôsita im lặng. Thì ra Văn Bình bị lụy vì nàng. Nếu nàng không nằng nặc đòi Văn Bình mang nàng theo kỳ được thì đâu đến nỗi. Pelam đã lợi dụng nàng mà nàng không biết. Pelam lại nói :
-Tôi không thể chờ lâu hơn nữa. Yêu cầu cô thuật lại đầy đủ và thẳng thắn. Dầu sao cô cũng là người đẹp lừng lẫy ở Phi luật tân. Tôi vốn nhẹ tay với đàn bà, cô đừng buộc tôi phải trở thành vũ phu.
-Anh đánh tôi ?
-Nếu cô ngoan cố thì miễn cưỡng tôi phải dùng võ lực.
-Nghĩa là giữa anh và tôi, tình vợ chồng đã hết ? Chúng ta đã biến thành kẻ thù.
-Trời ơi, cô cũng nhắc đến tình vợ chồng nữa ư ? Từ ngày cô là vợ tôi đến giờ, cô đã yêu tôi khi nào đâu. Chẳng qua cô ham số tiền hồi môn khổng lồ. Cô nhận lời làm vợ tôi, nhưng lòng cô, thân thể cô lại hoàn toàn thuộc về người khác. Phải, cô nói đúng, tình vợ chồng giữa tôi và cô đã hết. Bắt đầu hết từ hôm nay …
Rôsita thở dài :
-Văn Bình chỉ cho tôi biết phần nào về Dixon. Không phải Văn Bình giấu tôi, nếu tôi hỏi, chắc chắn chàng sẽ nói. Song tôi không hỏi.
Pelam nghiến răng :
-Cô nói dối.
-Anh dùng lời lẽ nặng làm gì ? Hẳn anh còn nhớ tôi là nữ nhân viên Sở Phản gián Phi luật tân hồi nọ. Tôi đã quen với sự dọa nạt. Về vụ Dixon, thú thật với anh là tôi không biết. Nhưng nếu tôi biết rõ, tôi cũng không nói vì tôi chẳng dại gì cho kẻ thù biết đầy đủ chi tiết để đề phòng.
Pelam tiến lên, vung bàn tay xù xì ra, giọng dữ tợn :
-Tôi cho cô suy nghĩ 3 phút. Đúng 3 phút, không được thêm 1 giây đồng hồ nào. Sau 3 phút, cô phải trả lời, bằng không …
-Anh giở trò du côn ra bây giờ đi, còn đợi gì nữa. Vả lại, tình vợ chồng đã hết, chúng ta có thể thù tiếp nhau bằng quyền thuật được rồi.
Nàng bước tréo sang bên để thủ thế.
Pelam « á » 1 tiếng ra vẻ khinh miệt, rồi đập bàn tay xòe rộng xuống đầu nàng. Hồi còn phục vụ trong ngành điệp báo, Rôsita đã thành thạo về cận chiến. Từ ngày gặp Văn Bình, nàng học thêm được nhiều thế võ lợi hại. Vì vậy, nàng không tỏ ra sợ sệt hoặc hoảng hốt trước phép đánh karatê đặc biệt của Pelam. Có lẽ hắn cũng biết nàng giỏi võ nên ngay từ phút lâm trận đầu tiên, hắn đã dùng độc thủ. Nhanh như cắt, nàng luồn qua nách hắn để tránh đòn, đồng thời nàng phát đòn, đánh trả vào gáy Pelam. Tuy đã lớn tuổi, Pelam vẫn không mất sự dẻo dai, mềm mại và mạnh mẽ của tuổi thanh niên. Nàng lẻn ra sau lưng hắn theo bí thuật Ninjitsu do Văn Bình truyền dạy. Hắn cũng tài giỏi không kém trong 1 thế quay người 1 vòng, tay và chân hắn cùng phóng ra 1 lượt. Rôsita vội vàng né tránh, nhưng sự lẹ làng của nàng còn thua sự lẹ làng của võ sĩ giang hồ, dầy dạn kinh nghiệm trận mạc như Pelam. Nàng trúng đòn vào bả vai, loạng choạng 1 giây rồi ngã chúi xuống sàn tàu.
Pelam cúi xuống, quật 2 cánh tay của nàng ra sau lưng rồi lấy dây dù trói lại. Hai chân nàng cũng bị trói còng queo. Hắn đứng nhìn nàng bằng vẻ mặt khoan khoái. Nàng nhổ nước miếng để biểu lộ sự ghê tởm. Pelam cười khanh khách :
-Cô định khinh tôi ư ?  Muộn rồi, cô ạ. Vả lại, tôi không cần. Tôi yêu cô thật đấy, nhưng vì an ninh bản thân, vì an ninh chung của tổ chức bắt buộc tôi phải xử tệ với cô. Cô đừng giận nhé ! Và nếu tôi có phải ném cô xuống sông Chao Phya cho cá ăn thịt thì chẳng qua cũng vì hoàn cảnh đòi hỏi.
Rôsita cúi gằm mặt. Nàng không thèm nhìn hắn nữa. Hắn cạn tàu ráo máng như vậy mà hay, vì nàng vẫn mong bị hắn ruồng rẫy để có thể tự do dành cuộc sống của nàng cho Văn Bình. Sự kết hôn với Pelam là 1 lầm lẫn tai hại. Nàng lấy hắn vì kính phục cử chỉ hào hoa của hắn. Nàng không ngờ đó chỉ là màn kịch. Nàng đinh ninh sản nghiệp khổng lồ của chồng sẽ giúp nàng mau quên được dĩ vãng. Đến khi bước lên xe hoa, nàng mới biết rằng cho tới tuổi già nàng vẫn không quên được dĩ vãng. Cho tới ngày thở hơi cuối cùng, nàng vẫn không quên được Văn Bình.
Pelam nhìn nàng 1 cách thản nhiên mặc dù nàng bị trói gô trên sàn tàu, giây ni lông cứa sâu vào da thịt. Tóc nàng xõa ra làm nổi bật gương mặt trái soan, có đôi mắt đen láy và cặp môi hình trái tim, không cần tô son cũng đỏ. Trong khi giằng kéo với Pelam, Rôsita đã bị rách gần hết cái áo trắng viền đăng ten. Nàng diện cái áo hợp thời trang tây phương này là để chờ Văn Bình. Giờ đây nó đã đứt tung, phần trên tuột xuống để lộ đồ lót mỏng dính và làn da trắng muốt phía sau.
Trước khi ra ngoài, Pelam đứng sững 1 phút. Hắn vừa nhìn thấy bộ ngực tròn trịa và ngon lành của nàng. Tuy là chồng nàng, chưa bao giờ hắn được ngắm nghía nàng tự do và thỏa thích cơ thể trắng trẻo ngồn ngộn của nàng. Nàng thường nói là sợ ánh đèn. Nàng thường viện cớ xấu hổ để đòi hắn tắt đèn, dẫu 1 ngọn đèn đêm 5 nến lù mù để ở đầu giường nàng cũng không ưa. Khi ấy hắn tưởng nàng sợ ánh đèn thật sự. Giờ đây, hắn mới hiểu được bề sâu thầm kín của nàng.
Pelam vội ngoảnh đi chỗ khác. Chần chừ thêm 1 vài giây nữa, hắn sẽ phải mềm lòng. Trong thâm tâm hắn vẫn yêu nàng. Dường như nàng nghe được tiếng đập rộn ràng của trái tim hắn, trái tim nổi tiếng là cứng rắn như kim khí, song nhiều khi cũng mềm nhũn như bông gòn. Nàng ngửng phắt đầu lên, vươn bộ ngực căng tròn ngồn ngộn ra. Mắt nàng, miệng nàng là hiện thân của sự thách thức và lôi cuốn. Pelam luống cuống, cái quẹt máy đã cháy lửa gần kề điếu xì gà mà hắn lại vụng về để tắt. Hắn định châm lửa lần nữa. Và lần này lửa cũng tắt trước khi lửa bén vào đầu điếu xì gà.
Pelam nhăn mặt ném điếu thuốc xuống đất. Giọng hắn rít lên ghê rợn :
-Hừ, cô Rôsita, cô định quyến rũ tôi !
 
***
*****
Vốn bình tĩnh mà từ nãy đến giờ, từ khi rời công viên Phramane để về tàu Thiên thần, bỏ neo trên sông Chao Phya, Văn Bình lại lầm bầm luôn miệng. Nói gì, chàng cũng không biết. Tự nhiên, chàng nói 1 mình. Cách 1 vài phút, chàng lại phóng tầm mắt về phía nam thành phố, mặt lo lắng :
-Không khéo chậm mất ! 
Taxi Vọng các chạy len lỏi trên đường phố đông nghẹt liều mạng không kém taxi Đông kinh, vậy mà Văn Bình vẫn thấy tài xế quá thận trọng. Chàng nện gót giày xuống sàn xe :
-Mau lên. Mau lên.
Tài xế quay lại :
-Ông cần gì ạ ?
Chàng quát :
-Mau lên.
-Thưa, thế này là quá lắm rồi. Ngày thường, không bao giờ tôi dám chạy ẩu như vậy. Giờ này là giờ kẹt xe.
Không hiểu sao, Văn Bình lại buông ra 1 lời phê bình kém khôn ngoan :
-Anh lái xe dở ẹc.
Tài xế, 1 người Thái trung niên, da bánh mật, lông mày sâu róm, gân cổ nổi cuồn cuộn như cây đũa, bắp thịt căng phồng sau cái áo thun bằng hàng băn lông màu đen, hơi nhăn mặt khi nghe Văn Bình chê bai. Người Thái vốn nóng tính như lửa, nên hắn đáp lễ liền, không suy nghĩ, cũng như không chút nể nang :
-Ông đừng nói xạo. Tôi là 1 trong những tài xế lái giỏi nhất Vọng các. Ông muốn nhanh hơn thì tìm xe khác.
Biết mình lỡ lời, chàng bèn đấu dịu :
-Tôi nói chơi đấy. Anh giận tôi làm gì ?
Chàng đinh ninh gã tài xế sẽ dịu giọng trước vẻ mặt làm lành của chàng, song hắn lại làm già hơn trước :
-Thằng này không thích nói đùa.
Hắn thắng gấp, bố thắng kêu ken két. Chiếc taxi lạng sang phải rồi lạng sang trái trước khi chịu đứng lại. Phía sau, hàng chục tiếng chửi rủa vang lên, tiếp theo tiếng thắng ren rét dài bất tận. Quả hắn là tay lái xe  ẩu có hạng. Hắn vào lề mà không thèm mở đèn hiệu, không thèm giơ tay. Lẽ ra Văn Bình không nên chỉ trích hắn. Chàng vội cười ruồi :
-Ơ kìa, tại sao anh đậu lại ?
Hắn rút cái khăn lông vắt trên ghế ra lau trán :
-Mời ông xuống.
-Dầu sao tôi cũng đi được nửa đường rồi. Tôi lại đang có việc gấp. Lại còn vấn đề tiền xe …
-Không sao, tôi biếu ông.
Văn Bình bắt đầu nổi xung. Ngữ này chỉ nghe tiếng gió của cú atémi cũng đủ bất tỉnh, chứ đừng nói thật sự ăn đòn nữa. Song võ thuật của chàng được dành cho đại sự, không thể lúc nào cũng đem ra phô trương, nhất là để thỏa mãn sở thích cá nhân. Chàng bèn xuống nước :
-Thôi, tôi xin lỗi anh.
Trong đời, ít khi hoặc không bao giờ Văn Bình chịu xin lỗi mặc dù chàng là con người phục thiện. Nhưng lần này chàng đành phải bấm bụng xin lỗi người tài xế taxi Thái. Chàng lầm tưởng lời xin lỗi sẽ làm hắn nguôi giận. Trái lại, hắn lại hầm hầm nét mặt và văng tục ầm ỹ. Chàng quắc mắt ra lệnh :
-Im ngay. Im ngay đi. Nếu không, đừng trách.
Hắn rú lên cười sằng sặc :
-Im đi … im ngay đi. Anh chắc mẩm ăn gỏi được tôi, phải không ? Còn lâu. Thằng này đã lưu lạc cả chục năm trong cõi giang hồ rồi mới quay về Vọng các làm nghề lái xe cho thiên hạ. Tử tế thì tử tế lại, còn như …
-Thì tôi vẫn luôn luôn tử tế với anh. Lúc lên xe, anh đòi bao nhiêu, tôi bằng lòng trả bấy nhiêu. Hơn thế nữa, tôi lại bằng lòng trả gấp 3, với điều kiện anh chạy nhanh hơn thường lệ. Anh lại đòi trả hết tiền bồi thường nếu xe bị đụng, tôi cũng bằng lòng ngay, không bàn cãi, hoặc kỳ kèo. Theo anh, như thế nào mới là tử tế ?
-Tử tế nghĩa là anh phải bước khỏi xe tôi.
Biết nán lại không được, Văn Bình đành mở cửa xe. Đã chậm thì chậm luôn thể. Song chàng mới rờ quả nắm cửa thì gã tài xế thét lớn :
-Ai cho phép anh mở ?
Gã tài xế điên chăng ? Nếu không điên, hắn phải là kẻ ăn sương chuyên nghiệp đội lốt tài xế. Loại người này không phải không có ở 1 thành phố đầy kẻ tứ chiếng giang hồ như Vọng các. Văn Bình đã xuống nước cùng cực, không thể xuống nước thêm nữa. Nghĩ vậy, chàng cứ tiếp tục mở cửa. Hắn cản tay chàng lại :
-Ô hay, anh định quịt tiền xe hả ?
Thật rầy rà ! Văn Bình đến đất Thái, đất có nhiều chùa chiền và sư sãi, đất của đạo Phật từ bi hỉ xả, nên chỉ muốn dĩ hòa vi quý, không ngờ lại phải biểu diễn quyền cước. Tuy nhiên, chàng cố dằn lòng bằng giọng nói ngọt ngào :
-Anh đòi bao nhiêu, tôi sẽ trả đủ.
Hắn phì bọt mép, hơi men nồng nặc :
-Tùy anh, anh muốn trả bao nhiêu cũng được.
Mới đầu, Văn Bình tưởng hắn say rượu, nhưng khi quan sát tròng mắt và gan bàn tay, chàng biết hắn đang tỉnh. Có lẽ hắn cũng là bợm rượu như chàng. Dân uống rượu như hũ chìm trên thế giới không lấy gì làm đông nên Văn Bình càng có thêm lý do để nhân nhượng tột bực. Nhưng gã tài xế không muốn nhân nhượng, mà chỉ muốn khiêu khích. Văn Bình rút bóp phơi, chìa ra tờ bạc trăm. Một trăm bath, vị chi 5 đôla Mỹ. Không ai trả 1 cuốc xe ngắn tới một trăm. Chàng tin chắc gã tài xế sẽ toét miệng cười khoái trá khi thấy tờ bạc mới toanh, kêu loạt soạt trong tay chàng. Một lần nữa, chàng lại lầm. Không những hắn không cười, hắn còn dề môi :
-Một trăm hả ?
Văn Bình gật đầu :
-Một trăm chưa đủ ư ?
-Tùy anh đấy. Một trăm cũng được. Nhưng nếu tôi là anh thì tôi sẽ không quá kẹo như vậy.
-Hừ, tôi đã trả gấp 4, gấp 5 giá tiền phải trả.
-Danh dự con người không thể nào đo bằng tiền. Anh trả gấp 100 lần cũng còn thiếu. Lẽ ra tôi tước hết đồng hồ vàng, bút máy vàng trên người anh, và lấy luôn giấy tờ căn cước quăng xuống sông Chao Phya cho bõ ghét. May cho anh, hôm nay tôi còn chút nhân đạo trong máu nên tôi chỉ đòi bồi thường tượng trưng.
-Theo anh, tượng trưng là bao nhiêu ?
-Là cả cái bóp phơi của anh.
Bóp phơi của Văn Bình đựng trên 2.000 đôla. Hai ngàn chứ nhiều hơn nữa chàng cũng không tiếc, song chàng không thể nhân nhượng đến mức bị 1 tên du đãng miệt thị. Chàng phải cho hắn 1 bài học để lần sau hắn không dám xớ rớ, chấn lột du khách nữa. Chàng bèn lặng lẽ đút cái ví vào túi quần sau. Gã tài xế nhoài người tóm lấy cánh tay chàng. Chàng giật nhẹ tay hắn làm hắn ngã dúi xuống băng xe. Hắn nhỏm dậy với lưỡi dao nhọn hoắt trong tay. Nhưng mũi dao chưa kịp đâm tới thì Văn Bình đã chặn bắt, và bẻ cặp ngón tay cái của hắn nghe rắc 1 tiếng khô khan. Gã tài xế thét lên, mặt tái mét. Văn Bình bồi thêm cái tát trời giáng vào má. Lần này, hắn vập mặt vào táp lô xe hơi rồi nằm lịm luôn.
Chàng kéo hắn dậy, dựa hắn ngồi ngay ngắn vào ghế, rồi ấn đề ma rơ cho xe chạy. Khi Văn Bình đậu xe, tắt máy, nạn nhân mới tỉnh. Hắn nhìn Văn Bình bằng cặp mắt hiền khô, tưởng như trong cuộc đời hắn chưa khi nào biết nói nặng. Chàng vỗ nhẹ vai hắn rồi bước xuống xe.
Trời đã tối mịt.
Con đò quen thuộc đưa chàng xuôi giòng sông Chao Phya đến chỗ du thuyền Thiên Thần buông neo. Càng tới gần tàu, Văn Bình càng cảm thấy nhột nhạt bao tử. Giác quan thứ 6 đang ngầm báo chàng biết là tai nạn sắp xảy ra. Tuy nhiên, như chiếc xe hỏng thắng ở lưng chừng giốc, Văn Bình không thể ngừng lại được nữa. Mối tình nồng thắm với Rôsita giục chàng nhắm mặt tiến tới, bất chấp nguy hiểm. Quang cảnh du thuyền vẫn phẳng lặng, không thay đổi, y như hồi chiều. Đèn trên boong sáng quắc, thủy thủ tì tay vào lan can nhìn chung quanh, dáng điệu nhàn nhã. Văn Bình cười thầm :
-Mình chỉ hay báo động hoảng ! 
Gã thủy thủ đứng gác bên cầu thang gật đầu chào chàng. Chàng vẫy bàn tay chào trả rồi chạy như bay xuống cabin. Chàng hẹn về sớm. Như thế này là đã muộn. Có lẽ vì muộn vì chàng không giữ lời hứa nên Rôsita hờn mát, rút vào cabin nằm 1 mình. Chàng sửa soạn nụ cười thật tươi để tạ lỗi. Xưa nay, chưa người đàn bà nào cưỡng lại được nụ cười xí xóa xin bớt giận làm lành tuyệt diệu của chàng.
Lối đi vào cabin vắng tanh. Thủy thủ đã lên bộ. Số còn lại đang hóng mát trên boong. Hồi nãy, trước khi rời tàu, chàng hỏi viên thuyền trưởng thì được biết là y ở lại để điều khiển việc canh phòng. Tuy nhiên, nếu Văn Bình chịu khó tìm tòi 1 lát thì sẽ khám phá ra dấu vết khả nghi, và chàng sẽ giữ cẩn thận hơn nữa chứ không ngây thơ đút đầu vào cạm bẫy của Pelam, chồng hờ của Rôsita, tỉ phú Phi luật tân, bạn cùng chí hướng với trùm buôn lậu quốc tế Dixon.
Cửa cabin hé mở. Văn Bình hấp tấp đẩy vào, miệng kêu liên tục :
-Rôsita ! 
Không nghe nàng lên tiếng, chàng càng gọi lớn hơn, giọng tha thiết :
-Rôsita, anh đây mà !  Em đâu rồi ? Anh làm gì đâu mà em giận ? Mặc quần áo xong chưa ? Trên bộ vui như tết, Rôsita ạ !  Em trốn ở đâu kỹ thế ?
Trong cabin chỉ có 1 ngọn đèn lờ mờ.
Nhưng dầu ánh sáng lờ mờ, Văn Bình cũng nhận ra Rôsita bằng xương bằng thịt đang nằm còng queo trên nền tàu, chân bị trói gô, miệng nhét đầy giẻ. Thấy người yêu, Rôsita cố gắng quẫy mình song thân thể đau rừ nên nàng đành nằm ép 1 chỗ. Nàng rán kêu cũng không được. Pelam là tay thiện nghệ, chỉ cần 1 cái mù soa nhỏ tọng vào cuống họng cũng đủ bắt nàng im tiếng.
Nàng ngước nhìn Văn Bình, nước mắt chảy ròng ròng. Giây phút ấy, nàng cảm thấy yêu chàng đứt ruột. Nàng bỗng hối hận đã nhận lời làm vợ Pelam sau khi thất vọng với Văn Bình, và quáng mắt trước sản nghiệp kếch sù của tên gian hùng đội lốt tỉ phú lương thiện. Gian phòng trống rỗng làm Văn Bình chột dạ. Chàng đảo mắt nhìn tứ phía lần nữa, tay chân duỗi sẵn, để gặp biến cố có thể đáp ứng được ngay. Sau cùng, chàng mới nhìn thấy Rôsita. Chàng buột miệng :
-Em ! 
Chàng nhảy 3 bước lại chỗ nàng bị trói. Việc đầu tiên của chàng là lôi đống giẻ ra khỏi miệng nàng, và hỏi :
-Tại sao hả em ?
Rôsita không đáp mà chỉ chăm chú nhìn qua vai Văn Bình. Biết kẻ thù đang núp phía sau, chàng ngã lăn về bên trái, cuộn tròn 1 vòng rồi đứng dậy. Nhưng chàng đã tỏ ra khôn ngoan quá chậm trễ. Pelam đã bố trí chặt chẽ với 2 khẩu tiểu liên đen ngòm, họng chĩa về phía Văn Bình. Hai tên thủy thủ lạ mặt từ góc cabin tiến ra, ngoắt nòng súng, nói :
-Yêu cầu anh đứng dậy.
Chàng không có hy vọng cỏn con để đoạt súng. Loại tiểu liên Tiệp khắc này bắn rất nhạy, chàng chưa kịp đối phó thì 1 tràng đạn đã có thể bắn chàng nát bấy thân thể. Vả lại, đang còn khẩu súng thứ ba của Pelam. Văn Bình mới gặp Pelam trong ảnh. Bức ảnh bán thân to tướng, bệ vệ, treo giữa phòng khách trong tòa biệt thự ngàn một đêm lẻ của y tại trung tâm thành phố Mani. Khung ảnh toàn bằng vàng khối. Kiếng ảnh được chế tạo tại Saint Gobin trong suốt, mỏng dính nhưng súng bắn không vỡ. Chàng không thể bỏ qua được bức ảnh vì nó lớn gần bằng cái chiếu. Đôi mắt nghiêm nghị của Pelam từ trên tường nhìn xuống, chứng kiến những xen ôm hôn nồng nàn của Văn Bình và Rôsita. Lúc đó chàng nhăn mặt chỉ tay lên tường thì Rôsita cười rộ, bấm cái nút dưới bàn xa lông. Một bức riềm trắng từ từ chạy ra, che kín bức hình. Trong ảnh, Pelam có vẻ già, và hiền. Ở ngoài, bằng xương bằng thịt, những nét già và hiền ấy đã biến đâu mất. Pelam trước mặt chàng còn trẻ tuy tóc đã nhuộm muối tiêu. Mắt y, miệng y  toát ra sự dữ tợn và tàn nhẫn.
Văn Bình thốt lên :
-Ông Pelam ! 
Pelam nghiêng đầu :
-Vâng, Pelam là tôi. Anh chồng bị vợ cắm sừng lên đầu là tôi. Hân hạnh được biết ông. Nếu không có gì phiền phức, xin ông cho biết quý danh. Dầu ở trường hợp nào, tôi cũng vẫn giữ truyền thống hiếu khách. Người Phi chúng tôi hiếu khách với kẻ thù không đội trời chung.
Đứng trước đối phương, Văn Bình thản nhiên như không. Ngay cả khi súng chĩa vào ngực, sửa soạn nổ vang, chàng cũng phớt tỉnh vì chàng cho rằng con người có số, nếu đến số chết thì nằm trên giường cũng chết. Giới điệp báo quốc tế đã biết rõ đức tính có 1 không 2 của Văn Bình. Nhưng đêm nay, chàng lại mất bình tĩnh như kẻ mới bước chân vào nghề. Chàng nhìn từ Pelam qua Rôsita, mặt trắng bệch, tay chân luống cuống.
Sự thật là chàng mất bình tĩnh không phải vì sợ. Mà vì 1 cảm tưởng khác. Đây là lần đầu tiên chàng yêu 1 thiếu phụ có chồng, và bị chồng bắt quả tang. Vẫn biết nàng không yêu chồng, nhưng trên phương diện chính thức nàng là gái có chồng đàng hoàng. Tội ngoại tình là 1 trong những tội nặng về luân lý. Yêu Rôsita, Văn Bình chỉ nghĩ đến yêu chứ không nghĩa đến những hậu quả có thể xảy ra. Chàng không nghĩ rằng Rôsita ngày nay không phải là Rôsita hồi còn là nhân viên Sở Phản gián. Nếu khi ấy hạ độc thủ, Văn Bình sẽ nhắm mắt chịu đòn. Chàng quan niệm rằng người chồng bị cắm sừng có quyền trừng phạt. Văn Bình sẵn sàng chịu tội thay cho Rôsita. Vì thế trước câu hỏi đột ngột của Pelam, chàng đứng sững. Rôsita ngồi dậy, nắm áo Văn Bình :
-Đừng dấu nữa, vô ích anh ạ. Pelam đã biết hết.
Văn Bình quay lại :
-Biết hết sự giao du giữa anh và em ư ?
Rôsita đáp :
-Đó là chuyện dĩ nhiên. Pelam còn biết nhiều hơn thế nữa. Còn biết anh theo đuổi Dixon. Pelam đến đây vì chuyện ấy.
Đang bấn loạn tinh thần, Văn Bình vụt trở lại lì lợm nhờ câu nói của Rôsita. Nếu chồng nàng liên quan đến Dixon thì hoàn cảnh đã đổi khác. Vụ cắm sừng chỉ là phụ cuộc. Hồi nãy ở công viên Phramane, Lê Diệp đã tiết lộ là Pelam thân với Dixon, song Văn Bình không tin. Chàng cố hy vọng đó chỉ là tưởng tượng. Vì chàng không muốn Rôsita gặp sự thật quá đỗi phũ phàng.
Pelam gật gù :
-Người yêu của anh nói đúng. Tôi chờ anh trên tàu này không phải chỉ vì ghen tuông, mặc dù tôi có quyền ghen. Sự hiện diện của tôi còn có mục đích quan trọng hơn thế nữa.
Văn Bình hỏi :
-Anh muốn biết rõ tại sao tôi theo dõi Dixon trên Thái bình dương ư ?
-Phải.
-Anh đưa tôi gặp Dixon. Khi ấy tôi sẽ nói.
-Không được. Anh phải nói ngay ở đây.
-Tôi không chấp thuận.
-Rồi anh sẽ phải chấp thuận.
-Còn lâu.
-Chẳng lâu đâu. Tôi chỉ cần 2 phút. Sau 2 phút, anh sẽ thay đổi thái độ.
-Vậy anh hãy bắt đầu đi. Theo ý tôi, 2 phút hơi ít. Hút 1 hơi thuốc lá cũng đã mất 2 phút. Tôi xin đề nghị 2 giờ.
-Anh đừng riễu cợt nữa. Vì tôi e rằng lát nữa đây anh sẽ phải dở cười, dở mếu. Tôi nói là chỉ cần 2 phút tra tấn vì cô nhân tình của anh chỉ chịu được 2 phút tra tấn là giỏi nhất.
Nghe Pelam nói, Văn Bình lạnh người. Pelam đã cạn tình với vợ. Y không ngần ngại giết vợ để đạt mục đích. Y lại thấu rõ nỗi lòng yêu đương của Văn Bình đối với Rôsita. Y biết chàng có thể hy sinh mọi thứ, kể cả cuộc sống của chàng, để cứu nàng khỏi chết. Tuy nhiên, chàng vẫn phản đối lấy lệ :
-Dầu sao nàng cũng là vợ anh, từng sống chung với anh 1 thời gian. Con sâu, con kiến cũng không giết vợ. Anh là con người mà nỡ mang vợ ra tra tấn được ư ?
-Ha, ha … Nghe giọng nói đạo đức của anh, tôi tưởng tôi là con chiên ngoan đạo, còn anh là linh mục trên tòa giảng. Nàng là vợ tôi thật đấy, nhưng đó chỉ là bông hoa giấy được bày trong tủ kính. Mỗi khi nàng ôm tôi, nàng ngủ với tôi, nàng đã biến thành người đàn bà bằng ni lông, 1 búp bê tình dục, không có trái tim để phát ra luồng máu nóng đầy cuồng vọng, không có thần kinh hệ để ra lệnh cho các đường gân thớ thịt rung động. Thành ra tôi có vợ mà cũng như chưa có vợ. Riêng chuyện này cũng đủ cho tôi muốn hành hạ nàng. Huống hồ nàng lại hú hí thân mật với người khác. Tôi sẽ tra tấn nàng 1 cách khoan khoái và thỏa mãn, vì đây là cơ hội cho tôi trả thù. Không còn sự sung sướng nào bằng được trả thù với sự chứng kiến của thằng đàn ông mà nàng yêu.
-Nghĩa là anh đã quyết định chắc chắn ?
-Dĩ nhiên. Tôi trì hoãn là để chờ đợi thái độ của anh. Nếu anh còn thương nàng, tôi sẽ ra lệnh cho thuộc viên ngừng tay. Tôi không tra tấn bằng quay điện, bằng roi chì bọc cao su như các sở gián điệp vẫn làm. Tôi có 1 kỹ thuật tra tấn đặc biệt. Thân thể ngàn vàng của nàng sẽ dần dà mất đi từng mảng, từng khúc thịt. Người ta gọi hình thức tra tấn này là xử lăng trì. Nàng sẽ bị xẻo thịt từng miếng cho đến khi chết. Kinh nghiệm cho biết phải 1, 2 ngày người bị lăng trì mới chết được. Vì sau khi cắt 1 miếng thịt, tôi sẽ nghỉ ngơi 1 lát, có thể là vài giờ đồng hồ, lấy bông băng và thuốc cầm máu rịt lại vết thương, tiêm sinh tố K cho máu đông lại. Cứ như thế cuộc tra tấn được tiếp tục. Tiếp tục cho đến khi nàng đầu hàng. Đầu hàng vì không chịu nổi đau đớn. Chắc anh đã biết rằng đầu hàng trước thì thân thể còn được nguyên vẹn. Đến lúc mất tai, mất mũi rồi mới đầu hàng thì thật uổng. Nàng rất đẹp, phải không anh ? Phải không, đại tá Văn Bình thân mến ?
-Phải. Anh không xứng đáng là đấng trượng phu vì thủ đoạn báo thù nhỏ nhen đối với người đàn bà không yêu anh.
-Văn Bình ơi, anh không chọc tức tôi được đâu. Thằng Pelam này khôn lắm. Anh nói đi, tôi bắt đầu sốt ruột rồi. Tại sao CIA lại ra lệnh cho anh bám sát du thuyền Bồng lai của Dixon ?
-Hừ, … không lẽ tôi lặn lội đi theo để ngắm cái cột buồm hoặc chân vịt của con tàu. Tất nhiên, tôi phải có mục đích rõ rệt. Nhưng tôi chẳng dại gì đánh đổi bí mật quan trọng này lấy 1 lời hứa xuông, chắc chắn là anh sẽ không tôn trọng.
-Nếu anh đòi bảo đảm, tôi xin chiều anh ngay.
Y ngoảnh sang bên, dặn 1 thuộc viên cầm tiểu liên :
-Đưa bà lên boong, gọi đò cho bà lên phố. Khi đò chạy rồi, mày xuống đây trình cho tao biết.
Rôsita rềnh rang chưa chưa chịu ra ngoài :
-Em không muốn vì em mà anh bị hỏng việc. Anh cứ giữ vững lập trường. Pelam  không dám tùng xẻo em đâu. Em biết. Vì y còn yêu em tha thiết, y không dám mó đến da thịt em, chứ đừng nói là cầm dao lóc từng miếng nữa.
Pelam chép miệng :
-Cô nói có lẽ đúng. Nhưng chỉ đúng với quá khứ. Tuy vẫn yêu cô, tôi không thể để ái tình trùm lấy bổn phận. Thú thật là trong thâm tâm tôi cầu mong cho Văn Bình chịu khai mọi việc để tôi có đủ lý do chính đáng để trả tự do cho cô. Thôi, cô lên bờ. Từ phút này trở đi, 2 ta sẽ trở thành người xa lạ. Đáng tiếc là hoàn cảnh éo le đã làm  ta xa nhau. Trong những ngày sống chung bên nhau, nếu có điều gì sơ xuất, xin cô tha lỗi cho tôi.
Giọng nói của tên trùm buôn lậu đội lốt doanh gia tỉ phú không còn dấm dẳn, chát chúa như trước nữa. Y nói với vẻ tiếc nuối và buồn bã thật sự. Rôsita chỉ Văn Bình rồi hỏi chồng cũ :
-Chừng nào anh tha ?
Pelam lắc đầu :
-Nếu tôi nói dối, tôi sẽ hứa đại là lát nữa sẽ trả tự do cho Văn Bình. Nhưng cô ơi, hiện giờ tôi rất thành thật. Thành thật hơn bao giờ hết, cô ạ. Thành thật vì đêm nay 2 ta phải vĩnh biệt. Cô chưa hề yêu tôi, nhưng ít ra đã có cảm tình nồng hậu với tôi. Tôi phải thành thật để đền đáp lại cảm tình nồng hậu ấy. Văn Bình chỉ có thể được trả tự do sau khi công việc của tôi được hoàn tất.
Rôsita nín lặng nhìn 2 người đàn ông đối diện nhau. Vẻ thù nghịch trên mặt họ đã tan biến mặc dù họ có thể ăn tươi, nuốt sống nhau ngay khi nàng rời cabin du thuyền. Nàng ngẫm nghĩ 1 phút rồi bước tới bên Pelam, hôn phớt lên trán y. Pelam đứng yên cho nàng hôn. Nhìn cặp mắt đờ đẫn của y, Văn Bình biết y còn yêu nàng tha thiết. Giá chàng không xía vào đời tư của 2 người thì Pelam chưa mất vợ.
Hôn chồng xong, Rôsita lùi lại hôn người yêu. Cũng như khi hôn Pelam, nàng giữ đúng sự âu yếm chừng mực, đồng đều, không bên nào khinh, cũng không bên nào trọng. Trước khi kiễng chân lên để hôn trán Văn Bình, nàng liếc chàng và nháy 1 bên mắt. Sợ chàng chưa hiểu, nàng còn nháy thêm lần nữa. Thật ra Văn Bình đã hiểu. Chàng phăng ra ý định của nàng khi nàng sửa soạn hôn trán chồng cũ. Ngày nọ, trong hàng ngũ Phản gián, nàng đã lừng danh nhờ quyền biến. Pelam là người đa mưu vậy mà Rôsita vẫn qua mặt.
Văn Bình dùng đuôi mắt để quan sát địa thế. Pelam, kẻ chủ chốt mà chàng phải chế ngự ngay trong giây đồng hồ đầu tiên, đang đứng đối diện chàng, gần như bị Rôsita che khuất. Hai bên chàng, trong khoảng cách 3 thước, là 2 tên thuộc viên trung thành của Pelam. Tuy chúng vẫn hườm súng, thái độ của chúng không còn khẩn trương như trước nữa. Văn Bình liếc thấy ngón tay của chúng đã rút ra khỏi cò. Nghĩa là chàng có thể đảo lộn tình hình trong chớp mắt. Nếu chàng xử sự thần tốc, chàng có hy vọng đánh ngã cả 3. Chàng sẽ kéo Rôsita chạy lên boong và 2 người sẽ nhảy ùm xuống sông Chao Phya. Trời tối, dầu đèn trên boong sáng quắc, họ cũng khó tìm ra. Ban ngày, dưới ánh nắng soi mói, nước sông đã nhuộm màu nâu, màu đất phù sa. Ban đêm, màu nâu sẫm lại thành màu mực tàu.
Nghĩ đoạn, chàng thực hành.
Bất thần, chàng xô Rôsita ngã chúi tới trước. Nàng loạng choạng rơi vào lòng Pelam. Hai chân của Văn Bình được phóng ra đồng loạt. Cước pháp của chàng đã đạt tới trình độ tinh vi nên 2 nạn nhân tránh không kịp, phương chi những ngọn cước đã được tung quá nhanh như thể tứ chi chàng là các bộ phận người máy điều khiển, nhanh đến nỗi khi khẩu súng bị rớt xuống sàn tàu, bắp tay và 1 bên hông bị tê dại, nạn nhân mới biết bị tấn công. Phải là cao thủ mới phóng được một lúc 2 ngọn cước sang tả và hữu. Vì như vậy, 2 chân sẽ xoạc ra, toàn thân phải nhảy vút lên thinh không. Điểm tuyệt vời của Văn Bình là khi hạ mình xuống thì đầu chàng bổ về phía trước, 2 bàn tay đã xòe rộng, chặt vào đầu Pelam.
Pelam bị Rôsita che mắt nên hơi luống cuống. Tuy nhiên, hắn vẫn tránh được độc thủ của Văn Bình. Y lạng người sang bên rồi lăn tròn trên mặt đất. Bản tâm của Văn Bình là đánh y trọng thương ngay trong thế mở đầu. Y không bị hề hấn gì nên Văn Bình hơi chột dạ. Pelam phải là võ sĩ có nhiều công phu tập luyện. Chàng phải áp dụng những miếng đòn lợi hại mới mong triệt hạ được y chóng vánh.
Nhưng chàng không thể lưu lại trên du thuyền Thiên thần được nữa. Nhân viên của Pelam đều được võ trang súng lớn. Chúng lại đông đảo. Chàng thì mãnh hổ nan địch quần hồ, lại vướng Rôsita. Vì vậy chàng không tiếp tục tấn công Pelam mà chỉ nghĩ đến thoát thân. Cửa cabin được khóa chặt. Không thấy chìa khóa. Văn Bình đành xử dụng đôi vai rắn chắc như bê tông. Tuy chàng không kịp lùi lại phía sau, hít 1 hơi dài để lấy trớn như thường lệ, chàng vẫn húc tung được cánh cửa sắt kiên cố. Biết trước ý định của chàng nên Rôsita đã chờ sẵn. Cánh cửa vừa bật ra, nàng đã phi thân nhảy ra ngoài. Nhờ được tập dượt võ nghệ, nàng nhảy khá cao, và đáp xuống nhẹ như lướt 1 bước tăng gô trên sàn gỗ vũ trường. Ngay trước mặt nàng là cầu thang bằng nhôm dẫn lên boong du thuyền. Rôsita đặt chân lên bậc thứ nhất thì 2 thủy thủ không biết núp ở đâu hùng hục chạy tới. Giá chúng được võ trang tiểu liên, khi ấy Văn Bình cũng không thể khoanh tay đầu hàng ngoan ngoãn, huống hồ chúng chỉ tấn công bằng 2 tay không. Chàng trườn tới, dùng 1 thế nhu đạo diễm tuyệt ghé vai nâng bổng tên thủy thủ thứ nhất lên, quay tròn 1 vòng trước khi ném cây thịt nặng nề vào giữa mặt tên thứ hai đang hăm hở lao vào vòng chiến. Cây thịt nặng gần 1 tạ mà Văn Bình đỡ lên gọn ghẽ, nhẹ nhàng như thể đối phương là con nhái bén. Nhưng đến khi chàng ném cây thịt xuống thì 1 tạ thịt biến thành 10 tạ thịt do công phu luyện công của chàng biến nhẹ thành nặng, biến mềm thành cứng. Kỹ thuật này chàng học được trong những ngày róc tóc đi tu tại ngôi chùa cổ gần Thát luông, Vạn tượng sau chuyến công tác bi thảm tại Hồng kông (1). Từ ngày nắm được bí quyết của Thần ảo công, phối hợp với Ninjitsu, Văn Bình dường như trở thành võ sĩ vô địch.
Vì là võ sĩ vô địch, sau hàng trăm trận đụng độ, chưa hề gặp đối thủ đồng cân đồng lạng, hoặc nếu thua thì chỉ thua sát nút, điệp viên Z.28 bắt đầu kém vui. Chàng nhận thấy địch quá tồi tệ nên mắc phải bệnh khinh thường, 1 tâm bệnh nhiều khi có lợi, mà cũng nhiều khi có hại, khả dĩ xô chàng vào cõi chết 1 cách khờ dại và oan uổng.
 
(1) xin đọc Bí mật Hồng kông và Tia sáng giết người, đã xuất bản.
 
Hơn 1 lần, ông Hoàng đã bảo chàng :
-Võ nghệ của anh mỗi ngày 1 tinh vi, anh lại siêng năng bồi bổ, và thu thập kinh nghiệm thực tế nên chẳng bao lâu nữa anh sẽ đạt mức siêu quần bạt tụy. Đó là 1 điều mừng lớn cho Sở, và cả cho tôi nữa. Nhưng ngược lại, đó cũng là 1 điều lo sợ lớn.
Nghe ông tổng giám đốc nhắc đến chữ « sợ », chàng liền tỏ vẻ sửng sốt :
-Giỏi võ mà ông lại lo sợ thay cho tôi ư ?
Ông Hoàng gật đầu, và đáp, giọng hơi buồn :
-Thật vậy, nếu anh chưa học xong bộ Thần ảo công, anh đã là võ sĩ nhất nhì ở Đông nam Á rồi. Thêm bộ Thần ảo công, anh đã tiến 1 quãng đường dài, người khác phải mất cả chục năm cũng không theo kịp. Anh trở thành 1 võ sĩ không đối thủ. Phàm làm võ sĩ bao giờ cũng thắng, không bao giờ thua, dễ bị chết hơn là võ sĩ vừa thắng vừa thua. Vì có thua mới chịu tìm hiểu khuyết điểm của mình mà sửa chữa. Vì có thua mới thận trọng mỗi khi thượng đài với địch. Thượng đài ngoài đời để tranh giải vô địch võ thuật, người ta thường vờn nhau 1 hồi cho dãn gân dãn cốt, và để lôi cuốn khán giả vì khán giả sẽ la ó nếu 2 võ sĩ mới bắt đầu giao đấu, chưa xong hiệp thứ nhất thì 1 đã lăn chiêng trên đài.
Thượng đài trong nghề điệp báo xung kích hoàn toàn khác với thượng đài ngoài đời. Vì ở đây, thời gian tính là yếu tố quan trọng bậc nhất. Cuộc giao đấu cần được rút ngắn đến mức tối đa. Lệ thường chỉ đánh 1 đòn là đối phương phải hôn mê bất tỉnh, hoặc tử thương. Võ sĩ quá giỏi như anh, tin chắc giỏi hơn kẻ thù, muốn ra tay lúc nào cũng được nên thường sơ hở, đôi khi lại cố tình sơ hở để dụ địch đánh thế hiểm cho đỡ buồn. Chẳng may gặp kẻ địch tấn công nhanh hơn là mất mạng.
Văn Bình cười rộ :
-Ồ, tưởng gì, nếu chỉ có thế thì xin ông yên tâm. Tôi hứa với ông là không khi nào khinh địch.
Ông tổng giám đốc lặng thinh, mặt cúi xuống đống hồ sơ. Văn Bình tưởng ông chịu thua, nhưng nếu chàng đến gần, chàng sẽ nhìn thấy mắt ông hơi đỏ. Không hiểu sao từ ngày Văn Bình tu xuất, ông lại lo lắng, lo lắng nhiều đến nỗi ông già thêm 10 tuổi, trên đầu ông không còn sợi tóc nào màu xám tro nữa. Văn Bình cho là ông già quá yêu chàng nên sinh ra lẩm cẩm. Chàng đem chuyện bàn với Triệu Dung, đinh ninh được bạn về hùa. Không ngờ Triệu Dung lại nghiêm mặt :
-Đúng, ông cụ đã lo lắng rất đúng. Anh cần gia tăng thận trọng hơn trước. Dạo này tôi nhận thấy anh khinh địch quá đáng. Khinh địch làm tôi lắm lúc sợ đứng tim.
Văn Bình cười rộ rồi bỏ đi. Chàng cho rằng các nhân viên cao cấp của Sở đều ăn phải đũa của ông tổng giám đốc khật khùng. Chàng không thể ngờ được sự thật đã xảy ra đúng như ông tổng giám đốc khật khùng dự liệu.
Và hôm ấy chàng suýt mất mạng.
Suýt mất mạng trong 1 cuộc giao đấu tại phòng tập của Sở dưới hầm công ty Điện tử, đại lộ Nguyễn Huệ. Một phái đoàn Đại Hàn gồm các huấn luyện viên cận vệ của Sở Tình báo ghé thăm để trao đổi kinh nghiệm võ thuật với các võ sĩ điệp viên dưới quyền điều khiển của ông Hoàng. Nhiều cuộc biểu diễn và đấu giao hữu được tổ chức, và Văn Bình được mời dự, nhân dịp từ hải ngoại về.
Tại cuộc biểu diễn cuối cùng trước ngày về nước, viên trưởng đoàn huấn luyện Đại hàn đã làm cử tọa mê say về những thế karatê chém gỗ, gạch và ngói dễ dàng như dao đâm vào bơ. Kể ra Sàigòn không thiếu gì võ sĩ karatê cừ khôi có thể chặt vật cứng bằng sống bàn tay, song viên trưởng đoàn huấn luyện đã chém nát 1 lúc 2 chồng ngói dày, 1 gang tay gạch men, và 1 phiến gỗ lim kiên cố, 1 thành tích mà ít người đạt nổi.
Ngoại trừ Văn Bình.
Chàng lạnh lùng nhìn ra sân khi người thông dịch nói lại bằng tiếng Việt rằng những đòn karatê của viên trưởng đoàn được coi là độc nhất vô nhị, từ nhiều năm nay không ai dám đưa người ra cho ông ta đấm thử. Vì đấm nhẹ nhất cũng làm lục phủ ngũ tạng nát bấy. Chàng từ từ quay lại :
-Tôi sẵn sàng đứng ra cho ông trưởng đoàn tập rượt.
Võ thuật của viên trưởng đoàn chưa thuộc hạng đồng cân đồng lạng với Văn Bình. Chẳng qua ông ta chỉ thạo 1 môn chém gỗ, chặt ngói. Nếu chàng dùng Thần ảo công ngay trong phút giao đấu đầu tiên, không coi thường đối phương 1 cách quá đáng thì cuộc tranh tài đã được kết thúc nhanh chóng và êm ả. Chàng chỉ dùng nội công thông thường của quyền Thiếu lâm để chịu đòn. Chàng không ngờ được đối phương là võ sĩ đặc biệt chuyên về khí quyền, bộ môn lạ lùng của 1 phái võ hùng cứ trong nhiều thế kỷ ở Hoa Bắc, sau vì nội loạn đã lưu lạc sang Cao ly. Đặc điểm của quyền này là đánh vào khí đạo. Trên thân thể con người, ngoài hệ thống tuần hoàn ở khắp nơi, còn có các đường giây thần kinh, và sau hết là đường khí đạo. Hệ thống khí đạo gồm nhiều huyệt khác nhau, bị đánh trúng huyệt vào những giờ giấc định sẵn nạn nhân có thể gục chết ngay tại chỗ tuy ngoài da không có thương tích. Hoặc nạn nhân bị điên. Nhiều võ sĩ thượng đài, chưa đấu xong 1 hiệp đã ngã lăn xuống sàn, cơ thể mềm nhũn, võ công hoàn toàn bị tiêu diệt chỉ vì 1 đòn nhẹ vào đan điền. Không phải Văn Bình không biết điều ấy. Đối với chàng thì khí quyền là món ăn hàng ngày, chẳng có gì đáng làm sửng sốt. Vì bản thân chàng cũng là 1 tinh hoa về khí quyền. Song chàng lại không biết là viên trưởng đoàn huấn luyện Đại Hàn sợ không thắng được chàng nên đã thi thố độc thủ với miếng đòn sơ kiến. May là đêm hôm trước chàng về phòng ngủ sớm hơn thường lệ. Vì giấc ngủ được điều hòa và đầy đủ nên sức lực chàng rồi rào, thần khí chàng vẫn sáng suốt.
Đường quyền vừa phóng ra, Văn Bình đánh hơi lập tức thấy nguy hiểm. Chàng liền vội vã né tránh. Tuy vậy, chàng cũng bị tối tăm mặt mũi rồi lảo đảo như người say rượu sau miếng atémi đánh vào đan điền. Nếu chàng không phăng ra kịp thời thì võ công của chàng đã tiêu tan, chàng phải tập rượt 3, 4 năm nữa mới mong hồi phục. Vì khí quyền và phép vận công kị nhau như nước với lửa. Võ sĩ đang vận nội công biến da thịt thành sắt, mà bị đòn khí quyền thì da thịt bỗng mềm xèo ra như bún, nội công bị hóa giải như đám cháy bị vòi nước dập tắt.
Viên trưởng đoàn bước lên 1 bộ để phóng đòn thứ nhì, đinh ninh sẽ triệt hạ được chàng điệp viên bách chiến bách thắng. Nhưng Văn Bình đã kịp thời tỉnh ngộ, và xử dụng Thần ảo công để đối phó. Khí quyền của đối phương trở thành vô ích, cũng vô ích như múc nước sông đổ xuống biển. Viên tưởng đoàn vận dụng hết sức lực mà Văn Bình vẫn trơ như đá, vững như đồng. Đến phát atémi thứ ba thì chàng hút luôn bàn tay của đối phương vào bụng rồi thở phì ra. Viên trưởng đoàn bị bắn lộn vào tường, ngã lăn chiêng, gẫy 2 xương sườn, và 3 cái răng.
Dầu sao buổi giao đấu này cũng là bài học để đời đối với Văn Bình vì sau đó chàng phải vào bệnh xá của Sở điều trị đúng 1 tuần. Rồi chàng phải xin phép ông Hoàng lên cao nguyên nghỉ ngơi trong 2 tháng. Nghỉ ngơi ở đây không có nghĩa là cặp kè những cô gái có cặp chân dài và bộ ngực cứng nhọn khiêu khích. Trong quá khứ, Văn Bình thường nghỉ ngơi như vậy nên ông Hoàng hạn chế thời gian đi phép. Nhưng lần ấy, ông Hoàng lại thúc giục chàng và cũng không buồn cử người theo dõi chàng từng giờ, từng phút như trước. Vì hơn ai hết, ông tổng giám đốc biết chàng cần lánh xa đô thành bụi bặm, ồn ào, lánh xa nữ sắc để luyện lại võ công đã bị tổn thương trong cuộc giao đấu với viên trưởng đoàn huấn luyện Đại Hàn.
Lời căn dặn của ông Hoàng, và nhất là hình ảnh của cuộc so tài luôn luôn sôi đọng trong lòng Văn Bình. Nhiều khi chàng cũng quên, quên vô tình hoặc quên cố ý. Hôm nay, trên du thuyền Thiên thần, vì sự sống của chàng, đặc biệt là sự sống ngàn vàng của giai nhân Rôsita, chàng đã dùng ngay Thần ảo công để đánh gục 2 tên thủy thủ le te chạy tới. Cả 2 đều nằm mọp trên sàn tàu, máu me lênh láng. Văn Bình dìu Rôsita lên cầu thang.
Trên boong tàu sơn trắng, mạ kền bóng loáng, bọn thuộc hạ của Pelam đang chờ sẵn. Những thủy thủ Mã lai và Phi có thiện cảm với chàng đều bị bắt nhốt từ trước nên Văn Bình chỉ gặp toàn mặt lạ. Nói cho đúng thì cả bọn thủy thủ ùa tới cũng không có hy vọng chế ngự được chàng vì trông cách thủ thế và tấn công của chúng chàng biết chúng chỉ là hạng xoàng, ti toe vài ba miếng võ đủ đe dọa đàn bà và con nít. Cho dẫu chúng là tay chơi chuyên nghiệp, chàng cũng coi như cỏ rác. Chàng chỉ cần tóm 1 đứa, nâng lên làm mộc là trong khoảnh khắc quét gọn được toàn bọn. Tuy nhiên, chàng lại vướng Rôsita 1 bên. Nàng cũng giỏi võ nghệ, nhưng khốn nỗi trong khi luống cuống trèo cầu thang lên boong, nàng bị té ngã, trẹo mắt cá chân. Gãy chân tuy đau nhưng còn đỡ khổ hơn sái mắt cá vì nàng đi đứng không nổi, bắt buộc phải ngồi xuống. Nàng nghiến răng chịu đau, 2 tay dùng làm nạng để bò lết trên boong.
Bọn thủy thủ chia làm 2 toán, toán vây kín chàng, toán chạy tới bắt giữ Rôsita. Chàng hét lên tiếng « kiai », cả bọn bị dạt ra như đứng trước ngọn cuồng phong. Có đứa ngã lăn xuống sàn tàu bất tỉnh. Văn Bình cúi xuống, xốc Rôsita lên vai, phi thân chạy ra mạn tàu. Một tên thủy thủ dại dột nắm áo chàng bị chàng giẫy 1 cái lộn 2 vòng xuống tầng dưới, gẫy xương sống. Tên thứ hai mới bén mảng tới gần Rôsita đã ăn 1 cái đá trời giáng vào bụng, nhăn nhó ngồi bệt xuống. Khi ấy Pelam đã ló đầu lên khỏi cầu thang. Khẩu súng lăm lăm trong tay.
Văn Bình ôm Rôsita nhào xuống giòng sông Chao Phya. Đèn trên boong đã tắt. Có lẽ nhân viên của Pelam không muốn để đèn sáng, sợ công an tuần tiễu trên bờ nhìn thấy. Đoàng … đoàng … Pelam bắn 2 phát liên tiếp. Nhưng viên đạn không trúng mục phiêu mặc dù hắn là thợ săn nổi tiếng. Văn Bình đã ôm Rôsita lao xuống giòng nước đen ngòm. Bọn thủy thủ đua nhau nhảy theo. Văn Bình ngoi lên, hét vào tai Rôsita :
-Đừng sợ. Em cứ ôm chặt lấy anh.
Nếu không có Rôsita, chàng đã lặn luôn 1 mạch vào bờ. Về tài lặn dưới nước, chàng ăn đứt nhiều người. Đua về tài bơi, chàng cũng khó thua. Nhưng chàng lại không dám ngụp xuống sợ Rôsita ngạt thở. Vết thương ở mắt cá chân làm đường gân chân nàng co rúm. Nàng phải là người có thừa can đảm mới không hé miệng rên la. Bất đắc dĩ chàng phải ngoi lên, bơi 1 tay, còn 1 tay ôm ngang eo Rôsita. Dường như chàng ôm nàng quá chặt nên nàng cựa quậy, chàng phải buông ra cho nàng níu lấy vai chàng.
Hai ngọn đèn pha từ mạn tàu bắt đầu chiếu xuống sông. Loại đèn 3 ngàn nến này có thể khám phá ra 1 con cá nhỏ đang bơi lượn dưới nước ban đêm. Chàng thấy người đứng lố nhố, vây quanh Pelam, giờ đây vừa đổi khẩu tiểu liên lấy khẩu súng bắn mũi lao bằng hơi ép, thường dùng trong các cuộc săn cá dưới biển. Bắn trúng, mũi lao sẽ xuyên qua người. Tiếng động của mũi lao từ nòng súng vọt ra lại được thu nhỏ tới mức tối đa, người lạ ở chung quanh khó thể nghe được. Pelam đã tỏ ra thận trọng. Nhưng y thận trọng không cần thiết vì du thuyền Thiên thần buông neo tại khúc sông vắng, ở xa trung tâm dân cư và tàu buôn. Giá y bắn súng đại liên nữa cũng chẳng ai nghe tiếng, và nếu nghe tiếng thì cũng chẳng ai để ý. Văn Bình nhoài người để ra khỏi vùng sáng của 2 ngọn đèn pha luân phiên nhau quét trên mặt sông phẳng lặng. Đột nhiên có tiếng kêu lớn :
-Thấy rồi. Nó đây rồi.
Văn Bình vội hụp xuống, và kéo Rôsita theo. Nàng đã mệt nhoài, chắc chắn sẽ sặc nước, nhưng nếu chàng trù trừ, Pelam sẽ tặng ngay 1 mũi lao hơi ép. Hai lùm đèn pha cùng chập vào nhau. Khúc sông sáng rực như ban ngày. Tiếng Pelam oang oang :
-Đâu ? Có thấy nó đâu ?
Văn Bình trồi lên và đụng phải 1 gã thủy thủ. Hắn cũng vừa nhận ra chàng nên lập tức quay người lại, miệng kêu cứu. Văn Bình tống mạnh vào miệng hắn, Tiếng kêu cứu của hắn bị mắc nghẽn, đồng thời chàng giáng atémi vào giữa mắt. Bị đánh 2 đòn hiểm cùng một lúc, gã thủy thủ bất hạnh nằm ngửa tênh hênh dưới ánh đèn vừa chiếu tới, rồi từ từ chìm xuống nước. Văn Bình đã hạ được tên thủy thủ đầu tiên trên sông. Song cả chục tên khác đang nườm nượp bơi về phía chàng. Du thuyền Thiên thần mỗi lúc 1 xa. Văn Bình tiếp tục bơi thật nhanh hầu dụ đối phương xuống quãng tối, ở xa tàu, để chàng dễ bề hành động. Và tốt nhất là chàng có thể bơi vào bờ. Trên cạn, sức chàng có thể quật ngã toàn bọn, dầu chúng mang theo khí giới đầy đủ. Bỗng nhiên, 1 bên vai chàng nhẹ hẳn. Hốt hoảng, chàng quay lại. Rôsita đã buông tay, chơi vơi trên giòng nước chảy xiết. Nàng bị mệt mỏi đến độ không còn gân cốt để bám lấy chàng nữa. Chàng nắm áo nàng giật về phía chàng. Rôsita đã biến thành khối thịt vô tri giác. Chàng điểm nhẹ vào mê huyệt gần màng tang cho nàng tỉnh dậy, miệng gọi rối rít :
-Em, em, Rôsita ?
Nàng vẫn không đáp lại. Hồi nãy, trong khi lặn sâu xuống nước, nàng đã uống nhiều nước mà chàng không để ý. Nếu tình trạng này kéo dài mấy phút nữa, nàng sẽ ngạt thở mà chết. Chàng bèn bơi bằng 2 chân, dùng 2 cánh tay nâng nàng lên khỏi mặt nước, đồng thời bóp huyệt gần đốt xương cụt. Phàm người bị thắt cổ lè lưỡi tím ngắt, hoặc chết đuối bụng trương phình nước, phép điểm huyệt tinh vi này có thể làm hồi sinh. Thân thể nàng còn nóng hổi, Văn Bình lại là kỳ tài về khoa hồi sinh nên chỉ sau 1 tích tắc đồng hồ nàng đã sống lại. Chàng lại gọi :
-Rôsita, em đã tỉnh hoàn toàn chưa ?
Nàng lúng búng ho rồi thều thào :
-Rồi, em mệt quá.
Chàng luồn bàn tay dưới nách nàng, giữ cho đầu nàng ở trên mặt nước :
-Em ráng lên chút nữa. Sắp đến bờ rồi.
Nàng lại ho :
-Không thoát được đâu. Pelam lừa anh xuôi giòng nước rồi dùng ca nô rượt theo. Trên ca nô có súng bắn hơi ép rất lợi hại.
Văn Bình sợ lạnh người. Nếu nàng nói đúng, chàng khó có hy vọng thoát khỏi vòng vây, trừ phi bỏ nàng lại. Mà bỏ nàng là điều chàng không thể chấp nhận, phần vì nhiệm vụ, phần vì tình yêu tha thiết. Không bỏ nàng lại để trốn 1 mình thì chàng phải chết. Nhưng thà chết … chứ chàng không thể mang tiếng ích kỷ và đê hèn.
Tiếng Rôsita lại cất lên :
-Văn Bình ơi, anh trốn đi.
Chàng lắc đầu :
-Không được.
-Lạy anh, anh nên nghe em. Pelam không dám giết em đâu. Vì hắn còn yêu em. Hắn chỉ giữ em thôi. Nhưng nếu anh bị bắt, hắn sẽ không tha.
Văn Bình không có thời giờ đôi co với Rôsita nữa. Một cơn gió mạnh từ xa thổi tới làm mặt nước cuộn sóng, nhồi nàng chìm nghỉm. Chàng vội kéo nàng lên rồi xải tay bơi thật nhanh vào bờ, khi ấy chỉ còn cách 30, 40 thước. Họa vô đơn chí, chàng đang loay hoay với những đợt sóng mỗi lúc một mạnh khiến Rôsita đã mệt lại mệt thêm thì ca nô của Pelam chạy tới đã mở đèn sáng rực giòng sông. Tiếng động cơ rầm rầm xé tan màn im lặng. Trong chớp mắt, ca nô đã đến gần. Văn Bình nghe rõ tiếng của Pelam :
-Thong thả … không cần bắn. Hắn không chạy đâu thoát. Cứ lại gần nữa, gần thêm nữa. Chiếu đèn pha vào mặt cho hắn chóa mắt.
Phút này, Văn Bình mới nghiệm thấy Rôsita nói đúng. Gã gian hùng tỉ phú đang còn nặng lòng vì nàng. Y phải đích thân điều khiển cuộc rượt bắt vì sợ đàn em làm nàng bị thương. Tuy nhiên, còn nước còn tát, Văn Bình không phải hạng người đầu hàng dễ dàng. Chàng co chân đạp mạnh để thoát khỏi lùm sáng đèn pha soi mói của ca nô. Nhưng Rôsita đeo cứng lấy chàng như tảng đá khiến chàng quay tròn như chong chóng. Chàng bèn cắp Rôsita vào nách, liều mạng ngụp xuống. Chàng tin tưởng vào tài kuatsu của mình có thể hồi sinh nàng sau khi tới bờ. Nhưng chàng không ngờ rằng khi ấy nàng lại nghĩ khác. Nàng mệt tưởng như sắp đứt hơi thở, trái tim nàng muốn ngừng đập song thần trí nàng vẫn tỉnh, có lẽ còn sáng suốt hơn ngày thường nữa. Nàng cảm thấy yêu Văn Bình lạ lùng, và có thể chết được vì chàng. Thật ra, nàng sẵn sàng chết cho chàng sống. Pelam sẽ băm vằm Văn Bình ra hàng trăm mảnh. Y thù chàng vì công việc thì ít, mà vì ghen tuông thì nhiều. Hồi còn ở Mani, y đã biết nàng có tình riêng với Văn Bình. Y nói 1 cách cao thượng là không cấm đoán nàng yêu. Giờ đây nàng biết là y hờn mát. Khi nói như vậy, y hơi nhăn mặt, luồng mắt sáng lên pha máu đỏ, cánh mũi run run. Y đã rắp tâm thanh toán Văn Bình từ lâu mà nàng vẫn khờ khạo cả tin vào tinh thần mã thượng của gã chồng hờ.
Ánh đèn ca nô múa nhảy trên mặt sông gợn sóng. Rôsita vừa có 1 quyết định dứt khoát. Nàng sẽ buông tay ra khỏi tay Văn Bình, và mặc cho chìm xuống đáy sông. Nếu trời còn tựa thì bọn đàn em của Pelam sẽ vớt nàng kịp thời, và trong khi ấy Văn Bình có hy vọng thoát hiểm. Cũng có thể nàng bị nước cuốn đi, và nàng sẽ mất mạng. Trước sau gì cũng 1 lần chết, nàng nghĩ vậy rồi đột ngột buông tay ra. Khối nặng đè trên vai Văn Bình đã tan biến. Văn Bình hiểu ngay nguyên nhân nhưng chàng không tài nào ngăn cản nàng được nữa. Quên cả nguy hiểm gần kề với chiếc ca nô chiếu đèn pha sáng lòa đang rẽ sóng phăng phăng chạy tới, chàng kêu thất thanh :
-Rôsita ! 
Nàng đã ở ngoài tầm tay của chàng. Ánh đèn rực rỡ làm chàng quáng mắt. Chàng nghe tiếng của Pelam :
-Quăng câu liêm xuống móc hắn lên.
Hoảng hồn, chàng  quẫy mình lặn xuống. Một loạt móc sắt được phóng xuống, chỉ cách chàng trong gang tấc. Khi chàng trồi lên thì đã ở phía đuôi ca nô. Bọn thuộc hạ của Pelam đều tập trung đằng mũi nên không nhìn thấy chàng. Chàng lại nghe Pelam gắt :
-Tìm được hắn chưa ? Tụi bay đúng là đồ ăn hại. Hàng chục cặp mắt, súng ống trong tay mà để hắn chạy thoát.
Bên trái, 1 tiếng reo mừng rỡ cất lên :
-May quá, thấy rồi !  
« Thấy » ở đây là thấy Rôsita. Nàng đang vùng vẫy giữa giòng nước chảy xiết, sắp sửa bị xoáy xuống đáy sông thì 2 tên thủy thủ thiện nghệ đã bơi kịp tới, choàng ngay cái phao lên người nàng rồi dìu về ca nô. Chân vịt ca nô quay mạnh kêu ầm ầm, suýt nữa nghiến đứt bàn tay của Văn Bình. Chàng bám lấy mạn thuyền máy, lặng lẽ theo dõi những việc xảy ra trên boong. Tiếng Pelam :
-Có bị nguy không ?
Tiếng người đáp :
-Thưa ông, không. Bà đang còn thở. Chỉ bị uống 1 bụng nước mà thôi. Hai, ba phút nữa là tỉnh. Bây giờ xin phép ông cho khiêng bà xuống cabin ấm hơn. Trên này gió lộng quá.
Lại tiếng Pelam :
-Bọn bay cố gắng lên, tao sẽ có thưởng. Khi nào bà tỉnh dậy thì kêu tao ngay, nghe chưa !  
Ca nô quay vòng tròn trên sông. Pelam dán mắt vào ống viễn kính, giọng bực bội :
-Quái, có lẽ hắn là ma ! Vừa thấy đó mà hắn đã lỉnh đâu mất ?
Văn Bình mỉm cười 1 mình. Chàng đang ở dưới chân y mà y không biết. Nhưng nụ cười kiêu hãnh vội tắt trên môi điệp viên Z.28 vì Pelam « à » 1 tiếng rồi nói tiếp :
-Thôi, tao biết rồi. Hắn chỉ quanh quẩn đâu đây thôi. Tắt máy đi.
Văn Bình đã đọc thấu tư tưởng của trùm gian hùng Pelam. Sau khi ca nô tắt máy, y sẽ sai nhân viên giỏi thủy chiến nhảy xuống nước tìm kiếm. Lần này, chắc chắn chúng sẽ phăng ra chàng. Chàng phải rời xa khu vực hoạt động của ca nô trước khi Pelam trở tay. Giờ đây chàng đã có thể ra đi 1 mình vì Rôsita đã được an toàn. Nghĩ đoạn, Văn Bình nhịn thở cho toàn thân từ từ chìm xuống. Cứ thế chàng lặn ngược giòng về phía thành phố. Cách thuyền máy 1 quãng khá xa, chàng mới xuất đầu lộ diện. Ngoại ô Vọng các đã bị bóng đêm che kín. Du thuyền Thiên Thần nằm ngoan ngoãn trong ánh đèn mờ mờ. Xa xa là chiếc ca nô vô tích sự.
Văn Bình lóp ngóp trèo lên bờ, quần áo ướt sũng nước. Chàng phải tìm nơi an toàn, kiếm quần áo khô để thay, và nhất là uống ly 1 huýt ky cho ấm bụng. Chàng khựng người, sực nhớ đến cái hẹn định mệnh với cô gái Thái. Chậc 1 tiếng nhỏ, chàng rẽ vào bóng cây dày đặc. Đêm nay, chàng sẽ không được ngủ. Vì đêm nay nhiều chuyện quan trọng sẽ xảy ra.
Vì đêm nay là đêm dài nhất của đại tá điệp báo Văn Bình Z.28 tại Vọng các.
 
 
 
 
 
 
 
0
Xin lỗi quý đọc giả, trandatrau tui không đưa lên Chương chót,-Chương 8- được hôm nay ( trở ngại kỹ thuật ? )
Xin hẹn ngày mai.
Thành thật xin lỗi.  24.11.2016
 
 
0
MÈO XIÊM CỌP THÁI  Z.28 -NGƯỜI THỨ TÁM
 
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn và chúc trandatrau luôn vui
 
📎 Mercicoc




0
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau.2016
 
 
V
Án mạng dây chuyền
 
Tuy trời đã khuya, Văn Bình không gặp mấy khó khăn trong việc gọi taxi. Vọng các là 1 trong nhiều thành phố thích sống ban đêm hơn sống ban ngày. Hộp đêm đến 2 giờ hoặc khuya hơn mới đóng cửa, nên nhiều tài xế thường chờ hoàng hôn xuống để bắt đầu rước khách. Bộ quần áo mỏng ướt sũng nước dán chặt vào da thịt khiến Văn Bình ớn lạnh. Hai năm trước, trên đường từ Lo Wu, sát biên giới Hoa lục về Hồng kông, chàng cũng té xuống nước (1), nhưng chưa dầm nước hàng giờ như lần này.
 
(1) cuộc phiêu lưu  lạ lùng này của điệp viên Z.28 được tường thuật trong tác phẩm Vệ nữ Đa tình, đã được xuất bản, 1 cuốn trọn bộ.
 
Tài xế taxi Thái vốn tò mò nên chàng không thể nghênh ngang mở cửa xe trèo lên, và dõng dạc ra lệnh lái về khách sạn Rama. Vì vậy, khi taxi đậu lại, chàng bước nhanh tới gần. Luật lưu thông Thái chạy bên trái nên vô lăng ở bên phải, chứ không ở bên trái như xe hơi ở Sàigòn. Chàng nhảy ngay lên băng trước, ngồi sát tài xế. Gã thanh niên Thái chưa kịp mở miệng, cũng như chưa kịp quan sát dung mạo của khách thì Văn Bình đã thọc 1 atémi vào huyệt siong-siang. Huyệt siong-siang ở trên vú trái 2 phân tây, gần nách, là 1 huyệt mê dễ đánh trúng, nhất là đánh bằng 3 ngón tay cụm vào nhau, ngón cái quặp vào lòng bàn tay theo thế nhu đạo shihon-nukitê. Theo bí quyền Thiếu lâm, huyệt này được nối thẳng với thần kinh hệ, tùy cách đánh nhẹ hay nặng, nạn nhân sẽ bị bất tỉnh hoặc tử thương. Đòn atémi của Văn Bình được phóng ra nhẹ nhàng như thể cù nách đối phương, nhưng chàng chưa rút ngón tay ra thì gã tài xế đã gục đầu vào vô lăng không kịp kêu cứu hoặc rên đau. Lát nữa, khi về thành phố, chàng chỉ cần chạm vào huyệt giải ở sau lưng là nạn nhân sẽ tỉnh lại, toàn thân êm ái chứ không mỏi mệt và buồn nôn như khi bị điểm vào huyệt mê khác. Chàng xô ngã hắn xuống ghế, lột sơ mi của hắn mặc vào người sau khi lau khô. Động cơ xe hơi vẫn nổ, chàng gài số cho chạy từ từ. Đến quãng đường tối vắng tanh, chàng ném sơ mi ướt của chàng xuống bờ sông, đoạn xả ga phóng 1 mạch.
Thoạt đầu, chàng định về lữ quán Rama. Nhưng về đến đại lộ Silom chàng lại quẹo vào đường Sathom. Chàng có linh tính là Si Thoeng, cô gái Thái có mối thù phải trả bằng máu, đang đợi chàng trong căn gác xinh xắn và kín đáo gần con sông đào Klong Hualampong. Nàng nóng ruột ghê gớm, lẩm bẩm tên chàng luôn miệng, bằng chứng là chàng hắt hơi hàng chục cái liên tiếp. Nếu chàng không hẹn với Si Thoeng, mỗi khi về phía nam thành phố, chàng cũng vẫn qua đường Sathom. Vì con đường này đã mang lại cho chàng khá nhiều kỷ niệm sôi sục và êm ái với hộp đêm Naturist tọa lạc gần sở Thông tin Hoa Kỳ. Chàng thường đến Naturist để thưởng thức thực đơn tây phương và tàu ngon tuyệt diệu. Nhưng món ăn thần khẩu ở đó cũng chưa ngon bằng giọng ca ru hồn của những cô gái thật đẹp, và nhất là thân hình cân đối chắc nịch của vũ nữ thoát y. Cô gái mà chàng gặp đêm hôm ấy bên sàn nhảy khác hẳn nhiều cô gái mà chàng đã gặp trong cuộc đời hồ hải. Nàng là 1 trong số ít vũ công nổi tiếng về môn múa trống, môn múa cổ truyền của người Thái. Nàng sinh trưởng ở Chiengmai thuộc miền bắc. Chiengmai lừng danh về những cây gỗ tếch to lớn, uy nghi nhưng du khách ngoại quốc thích đến Chiengmai không phải để vào rừng ngắm gỗ. Mà để ngắm đàn bà. Vì đàn bà Chiengmai đẹp nhất xứ Thái. Da họ tương đối trắng hơn đàn bà Thái ở miền nam. Không hiểu sao thân thể họ lại gọn gàng hơn, và đi đứng uyển chuyển hơn. Có lẽ vì thế Chiengmai là nơi sản xuất nhiều vũ công, và là nơi dân chúng thích nhảy múa nhất.
Thái lan là xứ nóng nên môn vũ không rồn rập, cuồng loạn như ở tây phương. Môn vũ Thái lan luôn luôn chầm chậm, dịu dàng, gần như lười biếng. Nhưng lười biếng 1 cách nên thơ và đáng yêu. Cũng lười biếng như nàng công chúa trong đêm hợp cẩn với người yêu, rềnh ràng hàng giờ mới cởi được mấy cái nhẫn và vòng đeo tay, và đến khi nàng đặt tay lên khuy áo thì trời đã sáng quắc. Sự lười biếng này đã làm cô gái chàng gặp đêm ấy thêm phần hấp dẫn.
Tục truyền Thái ở gần đường xích đạo nên khi nhảy múa, trai gái kiêng người đụng người nhau, sợ  … nóng đổ bồ hôi. Ai cũng biết rằng trời nóng bất lợi cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ có bồ hôi dầu. Truyền thống « nam nữ thụ thụ bất thân » này giúp cho phụ nữ Thái che giấu được mùi bồ hôi nồng nặc. Tuy nhiên, nhiều người ngoại quốc cho rằng dân tộc Thái tỏ ra khôn ngoan nhất đời trong việc mượn cớ trời nóng để biện minh. Vì xét kỹ, trai gái không chạm nhau còn gay cấn hơn là trai gái chạm nhau trong môn vũ tây phương. Cách nhau trong gang tấc mà không được kéo vào lòng, tình yêu người Thái vì vậy đã trở nên mãnh liệt thèm muốn hơn. Cũng mãnh liệt thèm muốn như nàng vũ công Chiengmai đối với điệp viên hào hoa Văn Bình.
Nàng khác hẳn nhiều cô gái chàng đã gặp trong cuộc đời hồ hải.
Muốn biết được sự khác biệt lạ lùng ấy, quý vị đọc giả lương thiện ( lương thiện chứ không loạn tặc như Văn Bình ) của Người Thứ Tám phải dời gót ngọc qua Xiêm la, rồi đáp tàu lên Chiengmai bắt bồ với những cô gái đa tình ở gần rừng gỗ tếch quí giá. Gỗ tếch hoặc gỗ ma lật là loại gỗ nhẹ -bé hột tiêu mà lị- nhưng rắn kinh khủng, và không bao giờ bị mục. Do đó người ta dùng gỗ tếch để đóng thuyền bè. Con gái Chiengmai cũng như gỗ tếch, có cặp giò và bộ ngực rắn kinh khủng. Họ đã yêu ai thì tình họ cũng như gỗ tếch « không bao giờ bị mục ».
Người đẹp Chiengmai của Văn Bình lại khác mọi người đẹp Chiengmai chàng đã gặp trong cuộc đời hồ hải.
Vì nàng có 2 quả tim.
Phải, nàng có 2 quả tim theo nghĩa đen, chứ không phải theo nghĩa bóng. Tạo hóa nặn ra con người, chỉ cho 1 quả tim, không có không tim hoặc nhiều hơn con số 1 đã định thì phải chết. Vậy mà nàng có đến 2 quả tim cùng đập hăng say trong lồng ngực. Nàng vẫn sống. Nàng khiêu vũ vẫn không bao giờ biết mệt. Nàng yêu vẫn không biết mỏi, yêu đêm này sang đêm khác, yêu tuần này sang tháng nọ (2).
 
(2) cuối thế kỷ 19 cũng có 1 người đàn ông có 2 quả tim, tên là Giuseppe De Mai, sinh trưởng tại Naples, Ý đại lợi. Hàn lâm viện Y khoa Luân đôn ký khế ước năm 1894 với đương sự, thỏa thuận trả 15.000 đôla, để được giải phẫu sau khi đương sự  từ trần.
 
Nàng mới 17 tuổi. Tuổi 17 là tuổi con gái thần tiên. Tuổi thơ ngây khờ khạo và háo hức trên tình trường, nhưng đối với nàng lại hoàn toàn không đúng. Vì tuổi đời của nàng mới 17, nhưng tuổi kinh nghiệm lại già hơn đàn bà tứ tuần. Nàng mới 17 mà có ít nhất 5 đời chồng. Thử hỏi có người đàn bà Á đông nào 40 tuổi mà 5 đời chồng chưa ? Chắc là không. Hoặc có rất ít. Nhưng đây là 5 đời chính thức của nàng, còn nếu làm bảng tổng kê sống chung thì phải trên 10 mạng. Nàng bước vào đời năm 14 tuổi. Như vậy kể cũng quá trẻ mặc dù Á đông vốn là quê hương của sự tảo hôn. Người ta thuật lại là nàng tuổi 14 mà cao lớn, nảy nở không thua thiếu nữ dậy thì. Từ năm lên 14 về nhà chồng đến năm 17 tuổi, nàng mất liên tiếp 5 ông chồng. Đó cũng là 1 kỷ lục. Vì trong 3 năm, đố ai ly dị được 5 đời chồng ? Huống hồ nàng lại chết luôn 5 đấng lang quân trong 3 năm. Bảo rằng người đẹp Chiengmai dễ lạt lòng thì oan. Nàng là đàn bà có tình yêu chung thủy như gỗ tếch, gỗ ma lật. Cũng oan nếu bảo rằng nàng thèm của lạ nên đầu độc cho chồng chết để dễ bề lên xe hoa lần nữa. Nàng lại có thiên tài về gia chánh, nấu ăn ngon, chiều chồng nổi tiếng, thùy mị cũng nổi tiếng, và được xóm giềng ca tụng.
Vậy nguyên nhân nào đã giết hàng loạt 5 người đàn ông chung chăn chung gối với nàng ? Không ai trả lời được. Chỉ biết rằng người chồng thứ nhất là vũ công ở Chiengmai. Nàng về nhà chồng đúng 1 tuần sau tiếng sét ái tình. Đúng 3 tháng sau đêm động phòng hoa chúc, người chồng vũ công trút hơi thở cuối cùng. Y sĩ nói là chết vì phí sức. Thoạt tiên người ta đổ tội cho nàng. Nàng khỏe như gỗ tếch, anh chồng thì mảnh khảnh như cây liễu mà ham hố tình dục, không tiết chế thì nhất định phải táng mạng. Nhưng sau đó lời kết án nghiêm khắc của dư luận không đứng vững vì 2 vợ chồng son chỉ ngủ với nhau được mỗi 1 đêm : đêm động phòng hoa chúc. Sáng hôm sau, người chồng cảm thấy đầu váng mắt hoa nên trở về nhà cha mẹ. Và đến trưa thì hắn bán thân bất toại. Hắn được chở vào bệnh viện, ở đó được 3 tháng thì chết. 14 tuổi, mới làm vợ được 12 giờ ngắn ngủi, người đẹp Chiengmai đã trở thành góa bụa ! Tạo hóa thật tàn nhẫn ! Buồn chán, nàng bỏ quê cha đất tổ xuống Vọng các kiếm ăn. Nhờ nghề ruột của nàng -nghề múa- nàng sinh sống 1 cách dễ dàng. Nhiều người rắp danh bắn sẻ song nàng 1 mực thủ tiết. Vả lại, mộ chồng chưa xanh cỏ. Luân lý Thái không cho phép đàn bà góa bước đi bước nữa quá vội vàng như vậy.
Nàng chờ 1 năm. Rồi nhận lời nâng khăn sửa túi cho 1 võ sĩ Thái. Nghề võ cũng như nghề múa được coi là đặc thù của người Thái. Võ Thái có những nét riêng biệt, xử dụng cả tay lẫn chân, và cú đá của võ sĩ Thái rất nguy hiểm. Dĩ nhiên muốn trở thành võ sĩ -nhất là võ sĩ có hạng, đã đoạt nhiều giải như đức lang quân thứ hai của nàng- phải dầy công tập luyện trong nhiều năm. Trên thực tế, chồng nàng là 1 khối thịt đồ sộ trên 80 kilô, nội công đã cừ khôi, gồng ngải lại cừ khôi không kém. Thế mà trong trận thượng đài với giai nhân, khối thịt đồ sộ quyền pháp lỗi lạc này phải đầu hàng vô điều kiện. Chồng trước phải vào nhà thương thì chồng sau cũng vào nhà thương. Nếu khác, thì chỉ khác về thời gian. Chàng nghệ sĩ chịu được 1 đêm duy nhất thì chàng võ sĩ kéo dài được mùa trăng mật tới 1 tuần. Một tuần nghĩa là 7 ngày không phải là ít.
Ba đời chồng sau, và nhiều vụ chung chạ không chính thức khác đã chứng tỏ là không vị anh hùng nào điều binh khiển tướng thắng lợi được quá 7 ngày. 7 ngày cầm cự với người đẹp Chiengmai đã là 1 kỷ lục « thế vận » đáng được ghi vào sử sách.
Thành tích lẫy lừng của người đẹp lan khắp nơi khiến nàng bị du vào cảnh phòng không lạnh lẽo. Trong thời gian đầu, vương tôn công tử lũ lượt tìm đến động đào, nhưng kẻ vào bệnh viện người ra nghĩa trang mỗi ngày 1 nhiều nên thiên hạ bắt đầu sợ. Không ai dám thuê nàng múa nhảy nữa. Không ai dám tò tí với nàng nữa.
Thất nghiệp, nàng sống trong 1 căn gác hẹp gần sân vận động Rajadamnoen, nơi người chồng thứ nhì và thứ năm của nàng thượng đài mỗi chiều thứ năm và chủ nhật hồi 5 giờ. Nàng không con nên đời góa bụa lại buồn thêm. Nhưng nhờ 1 số bạn trai có cảm tình ( chỉ dám có cảm tình xuông chứ không dám chấm mút chi ) nàng cũng đủ sống.
Nàng đang ngồi 1 mình trước ly rượu mạnh trong hộp đêm Naturist thì gặp Văn Bình. Thói đời trai tài gái sắc gặp nhau rồi yêu nhau là thường. Nàng cũng đáng được yêu vì dung mạo và thân hình vẫn hây hây như hoa hồng trong sương sớm. Đúng ra nàng không dám yêu Văn Bình khi thấy chàng đẹp trai hơn cả những người đẹp trai nhất ở Thái. Nàng chỉ lẳng lặng nhìn chàng, cặp mắt buồn vời vợi.
Và như mọi lần, Văn Bình khai pháo trước.
Chàng đưa nàng về lữ quán. Đêm ấy, nàng tìm đủ cách từ chối ngủ với chàng, nhưng chàng 1 mực ép vào cuộc mây mưa hoan lạc. Đáng lẽ chàng phải đáp chuyến phi cơ sớm nhất để về Sàigòn theo lệnh triệu hồi khẩn cấp của ông tổng giám đốc, chàng đánh điện xin khất 1 ngày. Hết 1 ngày, chàng vẫn chưa ra khỏi khách sạn. Chàng xin khất ngày nữa, rồi cứ hẹn lần lữa đúng 1 tuần.
Hôm chàng ra sân bay, 2 chân chàng dường như bị bại liệt. Nếu Lê Diệp không đích thân sang tận Vọng các đón chàng thì có lẽ chàng còn rềnh rang thêm vài 3 tuần nữa.Và khi ấy chàng phải chết là cái chắc.
Không sử gia tình ái nào ghi chép thành tích đặc biệt của nàng, nếu có thì Văn Bình phải là người duy nhất còn sống sót mặc dù đã vượt kỷ lục 1 tuần lễ tình ái liền tù tì. Nhưng về đến Sàigòn, chàng phải vào bệnh xá của Sở chích thuốc bổ gần nửa tháng. Chàng đem sự việc ở Vọng các thuật lại cho y sĩ thì được biết rằng chàng thoát chết là do được tập luyện Thần áo công và Ninjutsu, 2 bộ môn võ công làm thân thể bền bỉ, không bao giờ biết mệt. Dầu sao thì sau cuộc phiêu lưu độc nhất vô nhị này, Văn Bình cũng gày mất 12 kilô, và nội lực bị suy giảm trầm trọng. Suốt mấy tháng trường, chàng phải mặc áo len buổi tối mặc dù trời Sàigòn nóng như thiêu đốt. Lúc nào chàng cũng ớn lạnh vì sức nóng của chàng đã bị thu hớp ở Vọng các.
Một năm sau, nhân dịp dừng chân tại Thái, chàng héo lánh đến hộp đêm Naturist với hy vọng tái ngộ người đẹp sát thủ. Song giai nhân đã đi đâu mất. Có người nói là nàng đã chết. Thất vọng vì trên đời không thể tìm ra hạnh phúc, nàng đã uống thuốc độc quyên sinh. Hồi xưa, qua đường Sathorn, chàng nhớ người đẹp Chiengmai. Đêm nay qua đường Sathorn, chàng nhớ đến Si Thoeng, cô gái Thái có sắc đẹp quyến rũ. Bỗng chàng run tay, xe hơi suýt đâm vào gốc cây ở lề đường. Si Thoeng cũng sinh trưởng ở Chiengmai …
Chàng lái xe vào lề, mở táp lô lên, rồi lật mi mắt gã tài xế để quan sát. Lát nữa, hắn sẽ tỉnh dậy. Chàng lục bóp phơi, định lấy tiền nhưng xấp bạc đôla đã bị ướt sũng. Có lẽ chập tối gã tài xế ra ngõ gặp gái. Vì nếu nước sông không thấm vào cái ví da cá sấu chàng đã biếu hắn tờ bạc 50 đôla. Một ngàn bath là món tiền khá hậu hĩ, đủ làm hắn ngậm miệng dầu hắn bị chàng đánh bất tỉnh, và chàng đã ngang nhiên mượn xe hắn trong gần nửa giờ đồng hồ.
Gió mát dưới rạch Hualampong thổi rần rật. Da thịt Văn Bình đã hoàn toàn khô ráo. Giờ này mà vào hộp đêm Naturist thì tuyệt. Buổi sáng đọc báo chàng được biết 1 đoàn vũ nữ thoát y thượng thặng Pháp-Đức bắt đầu trình diễn. Thoát y Đức phá kỷ lục về táo bạo, còn thoát y vũ Pháp thì toàn là người đẹp. Đêm nay phải lang thang ngoài đường thật tiếc của ! 
Căn gác của cô gái tên Si Thoeng ở khuất trong hẻm. Dĩ nhiên là hẻm tối. Hẻm nhà nàng tối đến nỗi giá ai núp dưới mái hiên, đưa chân ngáng chàng sẽ té ngã mà không hiểu tại sao. Dân trong hẻm ở mọi nơi trên thế giới đều giống nhau như đúc cùng khuôn : đó là không thích thắp nhiều đèn, dường như sợ ánh sáng điện khí sẽ làm giảm bớt phong cảnh « nên thơ và kín đáo ». Nhà trong hẻm đông đúc ở Vọng các không khác Chợ lớn là bao. Mọi người đều sống riêng, không ai để ý đến ai mặc dù không ai ghét ai. Đôi khi gặp nhau, người ta chỉ cười mỉm 1 cái để tỏ tình xóm giềng quen biết, hoặc giả vờ cúi xuống châm thuốc lá, buộc lại giây giày để khỏi phải chào nhau. Có lẽ đây là hẻm các gia đình trung lưu nên Văn Bình không thấy hàng rong bày bán nghênh ngang, hoặc con nít tụm 5 tụm 3 cười đùa tục tĩu hoặc 1 vài cô gái son phấn lòe loẹt và bôi nước hoa rẻ tiền, thậm thụt trong bóng tối lờ mờ đợi khách.
Si Thoeng ở giữa hẻm. Văn Bình phải trèo lên cầu thang gỗ bên trái sau khi vượt qua bàn bán thuốc lá của 1 đứa bé gái độ 10 tuổi. Chắc nó bị ế nên thấy chàng nó đã chào mời oang oang :
-Thuốc lá Mỹ, ông mua 1 gói nhé ?
Văn Bình xua tay, và nhảy lên cầu thang. Đèn ở lối đi chỉ có 1 ngọn. Si Thoeng ở lầu 3, trong căn gác nhìn xuống sông đào. Lầu 3 tương đối có nhiều người rủng rẻng tiền nong nên đèn được sáng hơn và có nhiều ngọn hơn. Văn Bình quẹo tay phải. Hành lang bên ngoài phòng nàng chìm trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chàng giơ tay định gọi cửa nhưng bỗng dừng lại. Vì bên trong có tiếng động. Kèm theo giọng nói đàn ông …
Văn Bình không thể trù trừ được nữa : Si Thoeng đang bị nguy. Nếu chàng đến chậm, có thể suốt đời chàng bị lương tâm cắn rứt. Chàng lùi lại lấy trớn, sửa soạn húc vài vào cánh cửa. Nhưng kỳ lạ thay, cánh cửa trước mặt đã mở ra. Mở ra nhè nhẹ. Thoạt tiên là mở từ từ. Rồi mở rộng hẳn. Văn Bình đứng thẳng người nhìn vào bên trong. Chàng đã giữ vững bình tĩnh, nét mặt không hề đổi khác.
Trong phòng có 3 người. Si Thoeng, cô gái nóng ruột báo thù, bị trói quặt cánh gà bằng giây ni lông, đang ngồi ủ rũ trong ghế xa lông. Nghe tiếng động, nàng ngẩng đầu lên, gương mặt xinh đẹp ướt nhèm nước mắt. Tuy nhiên, nàng chỉ nín lặng mà không rên la, hoặc kêu cứu gì hết. Một gã người Thái mặc sơ mi trần bằng băng lông trắng, làm nổi bật làn da ngăm ngăm, rắn rỏi, dựa tay vào tủ rượu, miệng phì phèo xì gà. Trông mặt hắn, ai cũng biết là du đãng. Cặp kiếng mát của hắn lớn không kém cặp kiếng mát của người đua xe hơi. Ban đêm thiên hạ phải thắp đèn vì trời tối thì hắn lại đeo kiếng đen để giảm bớt ánh sáng. Và kiếng đen của hắn không phải loại kiếng đen thông thường, mà là đen tuyền, đứng bên cũng không nhìn thấy mắt. Tuy nhiên, Văn Bình không để ý nhiều đến hắn. Vì hắn chỉ là thuộc hạ.
Tên chỉ huy ngồi trong ghế bọc da, bắt chân chữ ngũ, dáng điệu nhàn nhã hào hoa không khác người thượng lưu. Có lẽ hắn có cốt cách thượng lưu hơn nhiều người thượng lưu khác nữa. Vọng các nóng như trong lò nướng bánh mì mà hắn diện com lê. Đặc biệt là com lê trắng bằng lụa nhân tạo. Sơ mi cũng bằng lụa. Cà vạt cũng bằng lụa. Chỉ có dân chơi lắm tiền nhiều bạc mới dám dùng đồ lụa. Thái lan là xứ sản xuất lụa tốt. Nhưng trừ lụa làm cà vạt, và lụa may y phục cho phụ nữ, lụa dày để may com lê đàn ông rất đắt tiền. Hắn không đeo kiếng đen ngông nghênh như thuộc hạ. Trên bàn tay hắn cũng không có nhẫn trạm đầu hổ to lớn hoặc đồng hồ vàng khối kênh kiệu. Hắn chỉ đeo đồng hồ Oméga mạ kền trắng, giây da đen. Tóc hắn được ép sát, mấy lọn tóc quăn nhẹ trên đỉnh đầu tạo cho hắn 1 vẻ đài các khả ái. Mắt hắn, mũi hắn, miệng hắn đều đài các và khả ái như nhau. Cặp mắt to, sáng, luôn luôn nhìn thẳng. Cái mũi cao như mũi người tây phương. Cái miệng hơi rộng, nhưng răng lại trắng và đều, môi lại không mỏng cũng không dày, loại môi dày tình cảm mà đàn bà mê nhất. Hắn đang hút thuốc. Hút thuốc điếu Dunhill đựng trong bao màu hồng, loại thuốc Anh quốc ngon nhất nhì thế giới. Mùi thuốc thơm dịu quyện vào không khí của gian phòng hẹp, bày biện hợp nhãn với đồ gỗ nhập cảng sang trọng. Hắn từ tốn gạt tàn thuốc Dunhill, ngửa lưng về phía sau để biểu lộ sự khoan khoái ( không biết hắn khoan khoái vì thuốc lá được tẩm á phiện, hay vì được đón tiếp khách lạ ) rồi nói :
-Chào anh. Mời anh ngồi xuống, góp chuyện cho vui.
Văn Bình kéo ghế xa lông ngồi đối diện với gã mặc com lê, cử chỉ phớt tỉnh, tuy nhiên mắt chàng không rời mắt hắn. Chàng ngoảnh về phía Si Thoeng :
-Ông bạn vàng của em đây, phải không ?
Nàng gật đầu :
-Vâng. Em đang đợi anh ở khách sạn thì hắn đến và bắt em về nhà.
Gã mặc com lê nhún vai :
-Lời nói của cô không đúng sự thật. Chúng tôi không hề bắt cô. Chính cô tự ý theo tôi.
Văn Bình quay sang đối thoại tay đôi với gã com lê :
-Hẳn anh đã biết tôi là bạn của Si Thoeng. Nàng nhờ tôi nói chuyện thẳng với anh để giải quyết 1 vụ lòng vòng từ bao nhiêu năm nay. Nàng là đàn bà chân yếu tay mềm, chồng chết, con chết, sinh sống chật vật, lại mang thân làm thê thiếp cho 1 ông nhà giàu. Lẽ ra, anh nên để nàng yên.
Hắn đáp :
-Thì tôi có sách nhiễu gì đâu  chẳng qua nàng muốn báo thù nên tôi miễn cưỡng phải thù tiếp.
-Anh giết chồng nàng, phải không ?
-Ồ, đó là chuyện tầm thường. Thằng khốn khiếp ấy dám vuốt râu hùm nên chết đáng đời.
-Thế nào là vuốt râu hùm ?
-Hắn mèo chuột với tình nhân của tôi. Xưa nay, đứa nào xớ rớ đến tôi đều mất mạng.
-Đứa con 8 tháng của nàng có xớ rớ đến anh không ?
-A, anh định hài tội tôi ? Lần đầu tiên trong đám giang hồ có kẻ to gan lớn mật dám hài tội 1 đàn anh khét tiếng là Sroek.
-Quý danh của anh là Sroek ?
-Vâng. Bất cứ dân anh chị nào ở Vọng các đều phải khiếp vía khi nghe nhắc đến tên Sroek. Dân anh chị từ ngoại quốc tới cũng phải tôn trọng Sroek là bậc thày.
-Trừ tôi.
-Chính vì tôi muốn giáp mặt anh để coi cục mật và lá gan của anh lớn đến cỡ nào, nên tôi mới chịu mất thời giờ ở đây gần hai giờ đồng hồ. Sroek là tay chơi đàng hoàng, chứ không lúi xùi như bọn cắc ké ở Mani hay Hồng kông đâu. Người năm bảy đấng, đâu phải ai cũng như ai, phải không anh ? Sroek rất trọng tôn ti trật tự, kẻ giỏi hơn thì làm lễ tôn sư, kẻ kém tài thì liệt vào hạng thuộc hạ. Sroek lại thích võ nghệ từ 1 năm nay tung hoành trên đất Xiêm la chật hẹp này chưa tìm ra đối thủ nên buồn như trấu cắn. Nghe nói anh rất giỏi võ nên Sroek muốn so tài với anh vài ba hiệp cho vui.
-Té ra anh cũng nghe oai danh của tôi. Vậy anh còn đợi gì mà chưa rập đầu, quỳ xuống để nhận tôi làm thầy.
-Đáng tiếc là tôi mới nghe Si Thoeng tán tụng anh lần đầu nên chưa tin lắm. Vả lại, cô ta yêu anh tất phải vẽ thêm rồng rắn cho đẹp. Sroek này sẵn sàng làm học trò của anh. Anh ra đòn trước đi.
-Nghề võ có hàng trăm, hàng ngàn đòn khác nhau. Anh muốn tôi dùng đòn nào ? Biểu diễn bằng chân, bằng đầu, bằng vai hay bằng bộ phận nào khác ? Đòn nào tôi cũng bái lãnh. Tuy nhiên, tôi là bậc thầy không lẽ đánh trước. Vì vậy tôi xin nhường anh 3 thế.
-Ha … ha… lâu lắm tôi mới được dịp nghe những lời nói xách mé như vậy. Anh định nhường tôi 3 thế ư ? Không nên. Vì chỉ đòn đầu tiên, anh đã bị tan xác. Giới võ lâm Thái lan thường so tài với nhau 1 cách quý phái hơn thế nhiều. Đó là biểu diễn, chứ không giao đấu. Chẳng hạn biểu diễn thái cực đạo. Tôi chặt gãy phiến gỗ 2 phân, anh phải chặt gỗ 3 phân, 4 phân. Không theo kịp được, coi là thua hẳn. Anh sẽ là thày tôi, tôi sẽ ngoan ngoãn vâng lệnh anh nếu anh hạ tôi 3 keo liên tiếp. Nếu anh không phản đối thể thức so tài thì chúng ta có thể bắt đầu.
-Sẵn sàng.
-Mời anh.
Văn Bình nhún vai :
-Xin nhường vinh dự ấy cho anh.
Trùm du đãng Sroek cười ha hả :
-Khá đấy, tôi xin có lời khen ngợi. Chúng ta bắt đầu bằng môn bẻ sắt.
Sroek vỗ tay kêu tên đàn em mặc áo băng lông trắng, đeo kiếng đen đứng bên :
-Mang đồ nghề ra cho tao.
Cái mà Sroek gọi là « đồ nghề » là cái va li cỡ trung bình, màu đỏ máu, hiệu Samsonite, 1 trong những hiệu va li thông dụng nhất trên thế giới, chế tạo bằng giấy ép không thấm nước, và bền dai không kém da thuộc. Cái va li nặng chĩu được để sẵn ở góc phòng. Tên đàn em khệ nệ xách lại giữa nhà, đặt ngửa xuống, và lúi húi mở. Hắn từ từ lấy ra 1 cây sắt tròn, dài gần 1 thước. Loại sắt này thường được dùng để làm chấn song cửa sổ. Bẻ cong được nó không phải dễ. Si Thoeng nhìn Văn Bình bằng cặp mắt đầy lo ngại. Chàng đọc thấy tình yêu tràn trề trong luồng nhỡn tuyến run rẩy của nàng. Chàng đáp lại bằng nụ cười bình thản, sự bình thản cố hữu khét tiếng của điệp viên Z.28 lúc thì lạnh ngắt như tảng băng, khi thì ấm áp như máy sưởi Calor mùa rét.
Sroek giơ thanh sắt lên như phân bua, rồi nói :
-Đây là keo thứ nhất. Tôi sẽ biểu diễn trước, rồi anh bắt chước.
Nói đoạn hắn đứng dậy, khoan thai cởi áo vét tông. Tên đàn em cung kính đỡ lấy cái áo lụa sang trọng, mang treo lên mắc. Sroek mở khuy măng sét, xắn tay áo lên để lộ cánh tay lớn, khỏe. Hắn đặt thanh sắt lên lòng bàn tay, nâng lên hất xuống mấy lần như để ước lượng sức nặng đoạn ngửa cổ hít 1 hơi dài, thật dài. Trong khi hắn thở, Văn Bình nghe tiếng răng rắc, giống như tiếng kêu của các khớp xương được tẩm quất đúng phương pháp. Đối với võ sĩ chuyên về nội công thì tiếng kêu răng rắc này không phải là chuyện sửng sốt. Đó là khí lực được vận chuyển từ mọi nơi trong cơ thể lên 2 cánh tay nên phát ra âm thanh khô khan. Trông cách hít thở và thế đứng xoạc chân của Sroek, Văn Bình biết hắn giỏi về môn gồng, môn võ bí truyền, thịnh hành trên đất Thái. Khi nổi gồng, da thịt trở thành cứng rắn như bọc thép, đao chém vào bị dội lại, đôi khi mẻ lưỡi. Những thanh sắt lớn phải cho vào máy mới bẻ nổi, nhưng người có gồng có thể bẻ gập như bẻ gập cành tre non.
Sroek ưỡn ngực ra, cúi đầu xuống thở phì phì rồi thét lên tiếng, 2 cánh tay đang giang ra được chập lại vào nhau. Thanh sắt thẳng băng bị kéo 2 đầu trở nên cong veo như cái móng lừa khổng lồ. Sroek đưa thanh sắt cho tên đàn em rồi ngồi xuống xa lông, mặt đỏ gay, bồ hôi lấm tấm trên trán. Xét về võ thuật, trùm du đãng Sroek là 1 đối thủ có hạng. Với phép gồng này, hắn có thể đấm nát óc những võ sĩ hạng nặng. Tuy nhiên, hắn chỉ có hạng với người khác, chứ chưa thể có hạng với Văn Bình. Bó gập thanh sắt như vậy chỉ là trò đùa của chàng mỗi khi trà dư, tửu hậu. Trong quá khứ, hồi Sở Mật vụ còn đóng trong tòa nhà rêu phong cổ xưa gần phi trường Tân sơn nhất, Văn Bình đã nghịch ngợm bẻ gập 1 lúc 18 chấn song sắt của 3 cửa sổ trong phòng nữ bí thư Nguyên Hương. Nàng nhăn mặt bắt đền, chàng bèn vận công bẻ thẳng lại như cũ cả 18 chấn song sắt, cỡ sắt 16 khá lớn. Nghĩa là chàng vận công cả thảy 36 lần trong vòng 10 phút đồng hồ. Chàng phí sức nhiều như vậy mà sắc mặt chàng vẫn bình thường. Không 1 giọt bồ hôi nào toát ra trên trán. Y sĩ riêng của Sở cho biết là tim Văn Bình đập theo nhịp rất chậm cũng chậm như tim của Fausto Coppi, nhà vô địch thế giới về đua xe đạp. Mệt lắm, tim chàng mới đập 60, 70 cái trong 1 phút. Nghĩa là khi mệt lắm, tim chàng mới đập bằng số nhịp đập của người bình thường.
Chờ cho bớt mệt, Sroek mới lên tiếng :
-Tôi đã biểu diễn, giờ đến lượt anh.
Thấy Văn Bình ngần ngừ, hắn nói tiếp :
-À, tôi quên chưa nói rõ thêm. Dĩ nhiên, nếu anh thua, anh phải thờ tôi làm thày. Võ sĩ Thái rất khoan dung đối với môn đệ, vì vậy tôi sẽ không hành hạ anh, cũng như sẽ không giết anh. Mà chỉ cho anh 1 bài học nho nhỏ. Đàn em của tôi sẽ khắc tràm lên cổ tay anh để anh nhớ trọn đời. Lẽ ra người thua phải bị thích chữ trên mặt. Nhưng tôi không nỡ phá hoại bộ mặt đẹp trai của anh.
-Nghe anh nói, tôi có cảm tưởng là anh nắm chắc 100 phần trăm sẽ thắng.
-Dĩ nhiên. Không những thắng, tôi còn đè bẹp anh nữa. Anh nhớ rõ chưa ? Khắc tràm xong, đàn em của tôi sẽ điệu anh lên phi cơ, cho anh cút khỏi đất Thái. Tôi sẵn lòng tặng anh 1 vé máy bay. À, còn điều kiện này nữa : người đẹp của anh sẽ được tôi thu dụng làm nô tỳ, chuyên nghề cắt móng tay và rửa chân cho tôi.
Si Thoeng xen vào :
-Sroek, anh không được hỗn !  
Trùm du đãng Sroek cười ngất :
-Thế giới ngày nay là thế giới của sức mạnh. Khỏe thì làm bá chủ, yếu thì làm nô tỳ. Đó là chuyện rất thường. Cô về hầu hạ tôi là còn may mắn. Nếu không có lòng nhân đạo, tôi còn tống cô vào nhà chứa hạ lưu nữa.
Si Thoeng rít lên :
-Anh đừng hòng làm nhục tôi. Nều bị cưỡng bức, tôi sẽ liều sống mái với anh. Thà chết, tôi không chịu hàng.
-Ha, ha. Cô nàng chung thủy ghê !  Vậy anh bạn còn đợi gì mà chưa ra tay nghĩa hiệp bẻ cong thanh sắt để giải thoát cho người đẹp   
Văn Bình khoan thai cầm lấy cây sắt 16 cong veo. Thấy chàng để nguyên áo ngoài, trùm du đãng Sroek vội nói :
-Anh nên cởi áo thì hơn. Kẻo lát nữa, anh lại đổ tội cho cuộc giao đấu thiếu công bằng.
Văn Bình cười nhạt :
-Thanh sắt này quá nhỏ, không cần cởi áo, tôi vẫn bẻ cong được dễ dàng. Nếu anh muốn tôi bắt chước anh cởi áo thì phải lấy cây sắt lớn gấp 3, gấp 4 lần như thế.
Sroek trợn tròn mắt :
-Đừng nói xạo ! 
Văn Bình giơ thanh sắt cho hắn nhìn rồi phân vua :
-Hồi nãy, trước khi bẻ thanh sắt, anh phải hít không khí vào rồi thở ra. Về phần tôi, động tác này vô ích.
-Láo khoét !  Nếu không hít vào thở ra thì vận nội công thế quái nào được ?
Văn Bình mỉm cười, không đáp. Trùm du đãng Sroek chưa đạt được tới mức nội công siêu đẳng nên không hiểu được rằng những bậc thầy về môn khí công vận khí có thể biến da thịt thành tường đồng vách sắt trong chớp mắt.
Thay vì mỗi tay nắm 1 đầu thanh sắt rồi phồng má trợn mang như tên trùm du đãng Thái, Văn Bình lại đặt thanh sắt bị bẻ cong hình chữ U xuống bàn, 1 bàn tay chặn lại 1 cách lơ đãng như trò đùa, còn tay kia nhẹ nhàng kéo thanh sắt thẳng ro. Nếu trùm du đãng Sroek thở hồng hộc, mặt đỏ bừng, gân tay rã rời, phải ngồi nhắm mắt lại điều dưỡng chân khí mới phục hồi sức lực thì ngược lại, Văn Bình vẫn thản nhiên bẻ thanh sắt từ cong ra thẳng, rồi từ thẳng ra cong mà như người bẻ ống nước bằng ni lông dẻo. Lúc bẻ cong, chàng không vặn thành chữ U, mà xoắn lại thành con số 8. Xong xuôi, chàng ném thanh sắt xuống đất kêu coong 1 tiếng.
Si Thoeng vỗ tay hân hoan :
-Giỏi quá ! Giỏi quá ! 
Trùm du đãng Sroek chết lặng người trong giây phút. Sự việc vừa xảy ra vượt khỏi tầm tiên liệu của hắn nên hắn bàng hoàng như mê ngủ. Hắn lấy bàn tay dụi mắt để nhìn lại cho kỹ. Văn Bình vẫn đứng thẳng trước mắt hắn, điệu bộ ung dung, nhàn nhã. Thanh sắt 16, dài 1 thước, biến thành con số 8 cân đối đang nằm chỏng gọng trên sàn phòng như trêu ngươi hắn. Rồi như sợ Văn Bình làm trò quỷ thuật, Sroek cầm cây sắt lên rờ nắn, quan sát kỹ lưỡng. Mặt hắn đang đỏ bừng bỗng chuyển sang xanh tái rồi xạm hẳn. Tuy nhiên, hắn không thốt nửa lời. Hắn biết đối phương là 1 võ sư phi thường. Nội công của hắn còn thua xa người lạ 1 trời, 1 vực. Song Sroek không phải là người chịu đầu hàng dễ dàng. Trong đời lang bạt, hắn đã trải qua nhiều thử thách cam go, lần nào cũng chạm mặt Tử thần, và lần nào cũng cả thắng nhờ được tính lì lợm cố hữu. Bạn bè đã gọi Sroek là Nakorn Pathom vì hắn có nếp sống gan lì đặc biệt. Nakorn Pathom là cổ thành của Thái lan, cách Vọng các 55 cây số, nơi tọa lạc ngôi chùa lớn nhất, cao nhất và xưa nhất, ít ra là đã 55 thế kỷ. Qua ngần ấy năm tháng mà ngôi chùa cổ hùng vĩ vẫn tồn tại. Sroek vẫn tồn tại sau nhiều phen hút chết.
Tự ái bùng cháy trong lòng trùm du đãng. Sroek ngẩng mặt lên, thách thức :
-Về môn bẻ sắt, anh đã hơn tôi. Nhưng đó mới là hiệp thứ nhất, còn 2 hiệp nữa. Tôi không tin anh thắng nổi.
Văn Bình rút thuốc lá ra hút :
-Vậy anh tiếp tục đi. Kẻo tôi đói cồn cào ruột gan. Từ trưa đến giờ, tôi chưa được miếng nào vào bụng.
Gã đàn em của Sroek chõ vào :
-Đợi lát nữa xuống âm phủ ăn với Diêm vương không được sao ?
Sroek quát :
-Chuyện người lớn, mày không được nói leo.
Văn Bình bắt đầu có thiện cảm của trùm du đãng Sroek. Tuy là kẻ uống máu người không sợ tanh, hắn vẫn còn cái phong độ ngang tàng của giới võ lâm chính thống.
Gã đàn em lải nhải :
-Thưa anh, em chịu hết nổi. Nó hỗn với anh quá !
Sroek gạt tay xuống bàn làm cái đĩa đựng tàn thuốc lá bằng xứ bay vào tường, vỡ tan tành :
-Mày chịu hết nổi thì còn la cà ở đây làm gì nữa ?  Đi đi, cút đi cho tao rảnh mắt.
-Thưa anh, …
-Câm cái miệng lại, và bước khỏi căn phòng này ngay. Tao không muốn ngó mặt mày thêm phút nào nữa. Xéo ngay, kẻo tao hạ độc thủ thì hối không kịp.
Gã đàn em sửng sốt, và sợ hãi ôm đầu lủi thủi ra ngoài, đóng cửa đánh sầm. Tiếng đóng cửa vang lên như tiếng chuông cảnh tỉnh, lôi Sroek về thực tại. Dường như trong thâm tâm hắn cảm thấy đuổi đàn em trong lúc này là xuẩn động. Hắn có thể gọi lại, song lại nín thinh. Hắn không muốn để đối phương khinh miệt. Dầu sao hắn vẫn là Sroek, tay anh chị khét tiếng trên các võ đài Vọng các từ nhiều năm nay.
Sroek ngoảnh lại phía Văn Bình, giọng dõng dạc :
-Giờ đây chúng ta bắt đầu biểu diễn nội công ở bàn chân. Yêu cầu anh nhìn kỹ.
Sroek cởi đôi giày cá sấu mũi nhọn, vứt 1 bên. Hắn lột luôn đôi tất trắng sang trọng, để lộ bàn chân ngăm ngăm đen, sần sùi, và đầy vết thẹo. Hắn lấy trong va li ra 1 chồng đĩa sành lớn. Loại đĩa đất sét nung già này rất cứng, người thường chỉ có thể đạp vỡ từng cái 1 là cùng. Văn Bình đếm chồng đĩa gồm 10 cái. Chắc trùm du đãng Sroek sẽ dùng bàn chân để đập vỡ 10 cái đĩa sành này. Về võ công, như vậy kể là giỏi. Nhưng đối với Văn Bình, thì trò dùng karatê để đánh vỡ gạch, gỗ chỉ để giải trí mỗi lúc trà dư tửu hậu. Sroek sửa soạn nín thở thì Văn Bình khoát tay :
-Thong thả.
Sroek nhăn mặt :
-Anh muốn gì ?
-Muốn anh ngừng cuộc đấu ở đây.
-Biết mà … Đánh vỡ nổi 10 cái đĩa sành cứng như sắt này không phải là dễ. Chẳng thế mà nhà triệu phú Dixon đã phải trả hàng vạn bath để được tôi đảm bảo an ninh mỗi khi ghé Vọng các.
Văn Bình giật mình :
-Anh là cận vệ của Dixon ?
Sroek nhún vai :
-Đúng ra tôi chẳng là cận vệ của ai hết. Tôi chỉ là cận vệ của tiền. Dixon có nhiều tiền, lại biết trọng nghĩa khinh tài nên thu dụng được tôi.
Nghe hắn nói, Văn Bình mừng thầm. Chàng có hy vọng mượn hắn để lót đường tiến tới Dixon. Muốn vậy, chàng phải trổ tài bình sinh, làm hắn chóa mắt kính phục. Tuy nhiên, sợ hắn nghi ngờ, chàng vội trở lại đề tài đấu võ. Chàng hỏi Sroek :
-Thế nào ? Anh chịu ngừng cuộc đấu chưa ?
Sroek khoanh tay, ưỡn ngực, bộ điệu kiêu căng :
-Ừ, nếu anh quy hàng thì tôi ngừng cuộc đấu.
Văn Bình cười ha hả :
-Không phải đâu. Tôi yêu cầu anh ngừng cuộc đấu vì thấy môn đánh vỡ đĩa sành này quá trẻ con.
Trùm du đãng Sroek nghiêm giọng :
-Phiền anh đợi tôi biểu diễn xong xuôi rồi hãy phê bình là trò chơi trẻ con hay công việc người lớn. Đây này, anh mở mắt ra thật lớn mà nhìn …
Sroek giơ gót chân phải lên rồi đạp xuống chồng đĩa. Một tiếng « rộp » vang lên. Cả 10 cái đĩa sành cứng rắn đều vỡ làm đôi. Đặc biệt là đường vỡ ở ngay chính giữa, và thẳng băng như thể bị cắt bằng cưa máy. Võ sĩ thái cực đạo thông thường không thể đạt được kết quả như vậy. Mỗi khi họ hạ bàn chân xuống thì vật bị đánh phải bể nát. Chồng đĩa sành bị tiện làm đôi, hiện tượng này chứng tỏ trùm du đãng Sroek đã điều khiển được khí lực trong người, cũng như tài xế điều khiển xe hơi có thể chạy nhanh, chạy chậm theo tốc độ chọn trước, hoặc lái sang phải, sang trái tùy theo ý muốn. Nhưng cũng như bẻ sắt, Sroek chỉ trội hơn nhiều võ sĩ Thái, chứ chưa phải là đối thủ cân xứng của Văn Bình. Trong khi Sroek đứng nhìn chàng bằng cặp mắt tự phụ, chàng lẳng lặng lấy chồng đĩa thứ hai trong va li ra. Thay vì lấy 10 đĩa, chàng lấy tới 15 đĩa còn lại, xếp thành 1 chồng cao giữa phòng. Sroek vội can :
-Đừng vội hợm mình, anh bạn ơi !  Nhiều võ sĩ nổi tiếng đã thử qua rồi, và không ai qua được cái thứ 8. Tôi không buộc anh tiện đôi cả 10 cái đĩa như tôi, mà chỉ mong anh vận công đánh vỡ nát tất cả. Vì, như anh đã biết, tiện cái đĩa sành làm đôi là môn võ thuật đòi hỏi nhiều công phu tập luyện. Nhờ trời, tôi được sống 7 năm liên tục trên 1 ngọn núi ở miền bắc Diến điện với bộ lạc Shan nên học được phép vận công đặc biệt này.
Văn Bình đáp :
-May quá, nhờ trời tôi cũng được sống ở xứ Karen như anh và học được phép vận công của bộ lạc Bắc Diến. Vì thế, ít ra tôi cũng biết dùng khí lực để tiện đôi 10 cái đĩa sành như anh.
Đối với Văn Bình thì Diến điện không phải là vùng đất xa lạ. Trong đại chiến thứ hai, chàng đã hoạt động với các đội thám báo của OSS trong rừng già miền bắc Diến điện và Hoa Nam. Trước ngày Nhật bản đầu hàng vô điều kiện, chàng đã phục vụ tình báo đồng minh ngay tại thủ đô Ngưỡng quang, trước họng súng và lưỡi lê của phản gián Phù tang. Gần đây, chàng lại có nhiều dịp tới Diến điện (1). Khi nhà cầm quyền sở tại áp dụng biện pháp bế quan tỏa cảng, không cho người ngoại quốc nhập nội, Văn Bình đã ung dung đáp phi cơ xuống Ngưỡng quang bằng thông hành giả của các quốc gia trung lập. Hoặc tiện nhất là vượt qua biên giới, chẳng cần xin phép ai hết.
 
(1) xin đọc Hồn ma Diến điện, đã xuất bản.
 
Sau nhiều chuyến thăm viếng, chàng đã quen th
uộc với đời sống Diến điện. Thậm chí chàng còn có nhiều người yêu ở đó nữa. Chàng đã học được tinh túy của võ thuật Diến điện. Tuy nhiên, chàng không thiết tha mấy tới phép vận công vì theo chàng, về môn này, Trung hoa và Nhật bản trội hơn nhiều.
Giới võ lâm ở Diến điện thường truyền khẩu về 1 môn rượu thuốc của các bộ lạc miền bắc, có tác dụng biến da thịt thành tường đồng vách sắt. Dường như đó là 1 loại rễ cây gần giống như cây si, mọc ven bờ sông Irrawaddy. Về thân cây, hình lá thì cây này hao hao như cây si. Chỉ khác 1 điều là nó chỉ cao khoảng 1, 2 thước chứ không cao hơn. Và rễ nó không tỏa ra, bám chặt lấy đất hoặc vật chung quanh, mà chỉ gồm rễ cái đâm thẳng xuống, với 5, 7 rễ phụ tua tủa và ngắn ngủn. Người ta phải đốn cây, đào lấy hết rễ rồi mang về hong trên nóc bếp. Bị chặt rễ thì cây chết. Loại cây này lại không sinh sôi nảy nở nên dần dà, theo thời gian, bộ lạc Karen bị tiêu diệt hết. Ngày nay, năm thì mười họa, người ta mới tìm thấy 1 cây bên bờ sông Irrawaddy.
Muốn ngâm rượu, phải đào đủ 36 cây. Phơi trên bếp lửa cũng phải đúng 36 ngày đêm. Coi chừng, không được hong nhiều lửa, rễ cháy là hết dược tính, mà ít lửa thì thuốc kém hiệu nghiệm. Phơi không đủ 36 ngày, hoặc phơi quá 36 ngày thì rễ cây cũng bị hư hỏng. Sau đó phải mang bó rễ cây ra ngoài trời, thường là trên đỉnh đồi, hứng sương trong 36 đêm. Mặt trời tắt, sương chiều buông xuống thì mang rễ cây ra, mặt trời sắp lên thì mang rễ cây vào. Hễ bị ánh sáng mặt trời chiếu vào là hỏng. Vì vậy, người ta phải làm 1 cái chòi lá trên đỉnh đồi cao, ăn ở luôn tại chỗ trong hơn tháng dòng dã. Hết hơn tháng thì rễ cây mới sửa soạn xong, đem về ngâm trong rượu nếp cẩm tinh khiết. Ngâm đúng 36 ngày đêm thì rượu có thể uống được.
Người uống phải dùng đủ 36 chén, và uống vào lúc không có mặt trời. Mỗi ngày uống đúng 1 chén. Trong thời gian uống rượu thuốc, phải tuân theo 1 số cấm điều như không được ăn nằm với đàn bà, không được ăn thịt cá ( nghĩa là chỉ được phép ăn chay ), và đặc biệt không được tắm rửa ( thật là kỳ cục … ). Người nào phá giới thì không những rượu thuốc mất linh ứng, mà da thịt còn bị ghẻ lở, mủ máu, nước vàng đầy thân thể nữa. Phá giới nhiều lần có thể nguy hại đến tính mạng.
Dân nghề võ ở bắc Diến điện thường kể lại truyện 1 thanh niên ngang bướng, luôn luôn hoài nghi thần linh, hoài nghi phép lạ của toa rượu thuốc biến da thịt thành tường đồng vách sắt. Sở dĩ hắn mang bệnh hoài nghi 1 phần vì hồi nhỏ hắn bị bồ côi sống hoang đàng đã quen, phần khác vì lớn lên, hắn gia nhập đội du kích quân cộng sản. Cán bộ du kích dạy cho hắn những điều nhập tâm của chủ nghĩa Mác, coi thần linh là mê tín dị đoan. Tuy hoài nghi, hắn lại muốn da thịt được cứng rắn. Cho nên hắn mầy mò tìm rượu thuốc để uống. Nhưng hắn lại ngang nhiên phá giới như ngủ với đàn bà, ăn mặn, và nhảy xuống sông tắm mát. Mỗi khi phá giới, hắn đều báo cho mọi người biết để cười vui. Sợ hắn chết, nhiều người trong xã đã cầu xin cho hắn, song hắn lại làm tàng hơn nữa. 36 ngày đêm trôi qua, võ công không linh ứng, da thịt hắn vẫn bèo nhèo như cũ. Nhưng hắn vẫn khỏe mạnh như thường. Hắn lại oang oang với mọi người rằng toa rượu thuốc chỉ là 1 đòn ngu dân của bọn đế quốc. Không ngờ 1 tuần sau, 1 cái nhọt bọc lớn bằng trái ổi, mọc ngay trên cằm, che lấp miệng. Hắn không ăn được, không uống được. Nguy hơn nữa, là hắn không nói được. Khi ấy hắn mới biết là rễ cây có phép lạ. Suốt ngày đêm, hắn nhắm mắt tụng niệm. Nhưng 36 ngày sau ( phải, đúng 36 ngày ), cái nhọt căng chín, vỡ toang ra, mủ máu chảy xối xả, và hắn từ từ lịm đi. Từ ngày lên nhọt đến ngày từ giã cõi đời, hắn không thốt được lời nào.
Cái chết kinh khủng của gã thanh niên nhạo báng thần linh đã dấy lên 1 phong trào vào rừng tìm rễ cây thuốc. Phong trào này hấp dẫn như phong trào di dân về  miền viễn tây tìm vàng ở Hoa kỳ ngày nọ. Tuy nhiên, chỉ diễn ra 1 cách lặng lẽ, và kín đáo. Không ai bảo ai nhưng ai cũng biết. Ai cũng giả vờ không biết, nhưng ai cũng lén lút cho người nhà đi vào rừng, dọc giòng sông Irrawaddy để tìm cây ngải. Nhiều người đã đào được rễ cây. Song hầu hết là rễ cây si. Vì cây ngải không khác cây si là bao, dọc sông Irrawaddy lại toàn si là si, nên phân biệt được ngải và si không phải là dễ. Cũng có người tìm được cả ngải và si để chế thuốc, nhưng trong 36 cây chỉ lộn 1 rễ si cũng hỏng cả toa thuốc. Nên rốt cuộc không ai ngâm rượu thuốc được thành công. Giả sử có ai thành công, họ cũng kín miệng, không dám khoe khoang sợ thiên hạ đến trộm.
Rồi cứ thế môn ngâm rượu thuốc bị chìm vào quên lãng. Một số ít người miền bắc uống được rượu thuốc chân chính đã trở thành võ sĩ nội công vô địch, dao chém không đứt. Trải từ đời nọ sang đời kia, các danh sư này truyền lại cho con cháu 1 cơ thể cứng như sắt, và cách tập luyện, tẩm bổ để giữ cho võ công được kiện toàn. Trong thời gian sống gần bộ lạc Karen, Văn Bình đã tham dự nhiều cuộc tìm ngải, song đều thất bại. Tuy vậy, chàng đã có dịp tiếp xúc và trao đổi kinh nghiệm võ công với 1 số tù trưởng lớn tuổi được may mắn uống rượu thuốc có mình đồng da sắt. Chàng mang võ công của bộ lạc Karen ra lòe, trùm du đãng Sroek đang dương dương tự đắc vội khựng người. Giọng hắn lạc hẳn :
-Tôi không tin. Từ trăm năm nay, cây ngải dùng để ngâm rượu thuốc đã biến mất. Môn vận công này trở thành của gia bảo, cha truyền con nối cho 1 vài chục người mà thôi. Văn Bình cầm 1 cái đĩa sành lên tay mân mê, giọng ôn tồn :
-Anh không tin nhưng rồi sẽ tin. Đây này, tôi sẽ xử dụng cả 15 cái đĩa. Song tôi không đạp gót chân vỡ luôn cả chồng. Vì như vậy mới là trình độ sơ đẳng.
-Nghĩa là theo anh, còn trình độ trung đẳng và cao đẳng nữa ?
-Phải. Xếp gạch, đá, gỗ rồi vận công đánh vỡ nát, như vậy là sơ đẳng. Lên tới trình độ trung đẳng thì khi đánh xuống chồng đĩa, 1 nửa bên trên sẽ còn nguyên, không xây xát, cũng không nứt rạn, nhưng nửa bên dưới sẽ vỡ làm đôi, theo 1 đường thẳng băng chính giữa. Võ sĩ cao đẳng còn có nghệ thuật đặc biệt hơn, ấy là khi phóng tay hoặc chân xuống chồng 15 cái đĩa sành, muốn giữ cái nào nguyên vẹn, muốn đánh cái nào vỡ đôi, tùy ý. Quyền thật Trung hoa cổ xưa gọi nghệ thuật đặc biệt này là « cách sơn đả ngưu ».
-Điều anh nói chỉ có thể có trong tiểu thuyết kiếm hiệp hoang đường.
-Nhưng nếu là sự thật thì anh tính sao ?
-Như tôi đã cam kết, tôi tình nguyện làm môn đệ suốt đời cho anh. Anh bảo gì, tôi cũng làm. Giá bắt tôi nhảy vào lửa, tôi cũng không chối từ. Lời hứa của con nhà võ còn nghiêm chỉnh hơn chữ ký của 1 quốc gia trên hiệp ước nữa.
-Cám ơn anh. Bây giờ anh muốn tôi xử dụng võ công trung đẳng hay cao đẳng ? À mà thôi, để tôi biểu diễn cho anh mục kích thú vị hơn. Anh nhìn nhé ! Tôi sẽ dận gót chân xuống chồng đĩa, 5 cái bên trên sẽ còn nguyên, còn 10 cái bên dưới sẽ vỡ làm đôi.
Trước cặp mắt bán tín, bán nghi của trùm du đãng Sroek, Văn Bình co chân lên và giáng 1 phát atémi. Một tiếng « rộp » khô khan nổi lên. Sroek vội chạy đến, ôm cả chồng đĩa đặt lên bàn, giở từng cái 1 ra coi. Văn Bình nói không sai : phát atémi kỳ lạ của chàng chỉ tác động từ cái đĩa thứ 6. Từ trước đến nay, trùm du đãng Sroek chưa từng được chứng kiến 1 cuộc biểu diễn võ công kỳ lạ như vậy. Kỳ lạ hơn nữa là 5 cái đĩa bên trên vẫn ngay ngắn, không trệch khỏi vị trí 1 li.
Như người bị thu hồn, Sroek đứng ngó Văn Bình trân trân. Văn Bình mỉm cười, hỏi hắn :
-Bây giờ anh chịu thua chưa ?
Sroek ngậm miệng không đáp, bàn tay từ từ luồn vào trong áo. Một tiếng quát nổi lên :
-Cẩn thận !  Hắn rút súng.
Đó là tiếng quát của Si Thoeng. Văn Bình vội nhoài người trên nền nhà. Chàng không nghe tiếng nói của Sroek, cũng như tiếng súng nổ. Mà chỉ nghe tiếng « phụp » của lưỡi dao đâm sâu vào da thịt rồi tiếng kêu « ối ». Khối thịt rắn chắc của trùm du đãng Sroek ngã vật xuống, máu phun tung tóe. Hắn chỉ giãy được 1 cái rồi tắt thở. Mũi dao cắm ngập sau gáy.
Người phóng dao hạ sát trùm du đãng Sroek là Si Thoeng, cô gái Thái mang trong lòng mối thù bất cộng đái thiên. Nàng đã tự cởi trói không biết từ bao giờ. Trong tay nàng còn lưỡi dao thứ hai sẵn sàng phóng đi. Nàng nhìn Sroek nằm chết dưới đất, vẻ mặt thản nhiên. Từ lâu, nàng chờ đợi cái giây phút phục hận kinh hoàng như thần tiên ấy. Văn Bình uốn mình đứng dậy, lật mí mắt Sroek ra xem, rồi thở dài :
-Chết rồi !
Si Thoeng quăng con dao xuống  bàn. Văn Bình  nắm tay nàng, giọng sửng sốt pha lẫn bực bội :
-Tại sao em giết hắn ?
Nàng gỡ tay chàng ra :
-Anh là người bạc tình. Em sợ hắn rút súng nên phải tấn công trước.
-Đâu phải hắn rút súng ? Hắn vẫn có tật bỏ tay vào túi mới khi xúc động mạnh. Từ nãy đến giờ, anh thấy hắn bỏ tay vào túi 3, 4 lần. Không lẽ em quen hắn từ lâu mà còn lầm lẫn
-Thú thật với anh, em không biết. Em chỉ nghĩ đến anh. Nếu anh bị mệnh hệ nào thì em sống cũng như chết. Vì vậy em rút dao ra, phóng không kịp cân nhắc.
Rồi nàng hạ thấp giọng :
-Cho dẫu em biết hắn không lấy súng, em cũng không thể tha hắn. Xin anh thông cảm cho hoàn cảnh của em. Em thề rửa thù cho chồng và cho con từ lâu. Em thề giết hắn bằng bất cứ phương tiện nào. Và em đã toại nguyện.
Văn Bình nín lặng, cõi lòng tê tái. Kế hoạch lợi dụng Sroek của chàng đã tan thành mây khói. Chung quy cũng vì đàn bà. Thấy chàng nhăn mặt ra vẻ khổ não, nàng òa lên khóc :
-Em tưởng anh tận tình giúp em rửa thù, không ngờ anh quý mạng sống 1 tên trùm sát nhân hơn mạng sống của hàng chục người đã bị hắn giết. Nếu vậy, em xin đền mạng. Anh hãy giết em đi. Anh dùng con dao này đâm vào tim em để hồn Sroek được mát mẻ nơi chín suối.
Nói đoạn, nàng vồ lấy con dao trên bàn, quay ngược mũi vào ngực. Song nàng chưa kịp tự vẫn thì Văn Bình đã phóng kịp bàn chân vào cán dao. Lưỡi dao rớt đánh keng. Chàng kéo nàng vào lòng, vỗ về :
-Em đừng hiểu lầm anh. Sở dĩ anh không vui vì anh định dùng hắn làm hướng đạo.
Nàng ngước mắt hỏi :
-Anh đi đâu ? Vọng các cũng như Thái lan là xứ sở của em, em quen như trong nhà vậy. Em có thể dẫn anh đến bất cứ chỗ nào.
-Nhưng có 1 chỗ em không dẫn anh đến được : du thuyền Bồng lai của nhà tỉ phú Dixon.
Đang khóc, nàng bỗng nhoẻn miệng cười :
-Tưởng gì, chứ chỉ có vậy thì dễ quá. Anh quên em là phụ tá quản lý khách sạn Rama rồi sao ? Anh sẽ xuống du thuyền ngay đêm nay với em.
-Bằng cách nào ?
-Lữ quán Rama cung cấp thực phẩm cho nhân viên của Dixon trên du thuyền. Lát nữa, bồi bếp sẽ mang thức ăn điểm tâm tới. Em sẽ lãnh mang thay. Và anh sẽ đi với em. Anh bằng lòng chưa ?
Không đợi chàng trả lời ưng thuận hay phản đối, Si Thoeng ôm cứng lấy chàng. Nàng ôm mạnh đến nỗi chàng là võ sĩ có hạng, da thịt rắn như sắt mà cũng suýt ngộp thở. Chàng cúi xuống sửa soạn hôn nàng. Bỗng nàng xô chàng ra. Cửa phòng vừa mở, gã đàn em của Sroek ló đầu vào. Nhanh như điện, Si Thoeng túm lấy cổ áo hắn, lôi vào sềnh sệch. Nạn nhân vùng vằng, định gỡ ra song Si Thoeng đã quạt trái bàn tay vào mặt hắn. Hắn ngã rụp vào chân tường. Và như con hổ đói, nàng chồm tới. Lưỡi dao nhọn hoắt rời khỏi tay nàng thọt vào cổ họng nạn nhân, máu tuôn ra ồng ộc. Văn Bình mục kích tấn kịch từ đầu đến cuối. Tuy nhiên, khác với lần trước, chàng không ngạc nhiên. Trùm Sroek đã chết thì đàn em của hắn cũng bị chết là chuyện bắt buộc phải xảy ra. Nếu nàng không xuống tay thì chàng cũng phải xử dụng atémi để bảo vệ bí mật. Chàng chỉ kinh ngạc phần nào khi thấy Si Thoeng giết người 1 cách bình tĩnh, bình tĩnh gần như lì lợm, không khác 1 kẻ sát nhân chuyên nghiệp. Trông cách phóng dao và tiếp đòn của nàng, Văn Bình cũng không ngăn được sửng sốt. Dầu nàng tập luyện ráo riết để phục thù, nàng vẫn không thể tiến bộ nhanh đến thế. Chàng có cảm tưởng Si Thoeng đã học võ từ nhiều năm trước, và nàng là võ sĩ có hạng. Nhưng chàng không nêu thắc mắc đòi nàng giải đáp. Chàng đứng yên, chờ nàng giết gã đàn em của Sroek xong, quay lại và ôm ghì bờ vai rộng của chàng. Nàng rù rì :
-Em tắt đèn nhé, anh chịu không ?
Chàng cười :
-Ừ, muốn tắt thì tắt. Nhưng em tắt đèn để làm gì
-Anh rõ lôi thôi. Không lẽ em tắt đèn trong phòng để tiết kiệm hơi điện.
Thật ra Văn Bình không muốn đèn tắt trong lúc này. Chàng đâu phải gỗ đá, nhất là trong cảnh lâm ly. Si Thoeng cũng không phải là người đàn bà thiếu đường cong hấp dẫn. Trong trường hợp khác, chính chàng sẽ lên tiếng yêu cầu tắt đèn. Song lần này chàng phải tự chế. Tâm thần chàng đang nghĩ đến sông Chao Phya, đến con tàu chứa đầy bí mật của Dixon, đến Rôsita không biết còn sống hay chết, đến những võ khí có đầu đạn nguyên tử không biết khi nào sẽ nổ reo rắc Thần Chết trên trái đất. Chàng đang nghĩ đến kế hoạch đột nhập du thuyền Bồng lai nội đêm nay. Ái tình với Si Thoeng chỉ là phụ.
Trừ phi …
Dường như Si Thoeng đã đọc thấu tư tưởng thắc mắc của chàng nên trước khi tắt đèn, nàng nhắc nhở :
-Gần sáng, nhân viên khách sạn Rama mới phải mang đồ điểm tâm đến tàu. Chúng mình còn chán thời giờ.
Nhìn đồng hồ tay, nàng nói :
-Bây giờ mới hơn 1 giờ sáng.
Văn Bình hỏi :
-Mấy giờ chúng mình mới xuống tàu được ?
-Thường lệ là 5 giờ sáng. Nhưng hôm nay em sẽ đến sớm hơn. Vì sợ anh không có đủ thời giờ lục lọi trên tàu. Dạo này, 6 giờ là bắt đầu sáng rồi.
-Không sao. Anh chỉ cần 15 phút.
-Ồ, nếu là 15 phút thì tha hồ. Lát nữa, chúng mình chợp mắt 1 chút, sau 4 giờ dậy cũng kịp.
Đèn tắt, căn phòng tối om.
Si Thoeng rúc vào người Văn Bình. Bỗng nàng đề nghị :
-Hay thôi, thời giờ gấp rút quá, chúng mình đừng chợp mắt nữa.
-Anh buồn ngủ lắm rồi.
-Em cũng buồn ngủ không kém. Chính vì buồn ngủ nên anh và em phải thức. Vì nếu nằm xuống thì ngủ quay lơ đến sáng. Bây giờ em hỏi anh : anh muốn thức để ra bờ sông hay là ngủ luôn 1 giấc ?
-Dĩ nhiên là muốn thức !  
-Nhưng làm cách nào để thức được hả anh ? Riêng em thì chịu. Đó, em sắp ngủ rồi đó. Anh phải giữ cho em luôn luôn tỉnh táo.
-Em dạy anh đi.
-Khỉ khô, đàn ông dạy đàn bà, chứ đàn bà không đời nào dạy đàn ông. Em ra tối hậu thư cho anh, nếu anh kiếm cớ trì hoãn, bắt buộc em …
-Thôi, em chẳng cần ra tối hậu thư nữa. Em nhích lại gần đây, anh sẽ bắt đầu dạy bí quyết.
Si Thoeng khúc khích cười.
Trong cảnh đêm khuya thanh vắng, dường như Văn Bình nghe được 1 âm thanh lạ, át hẳn tiếng cười dâm dật của cô gái Thái tràn trề nhựa sống.
Đó là tiếng nước chảy dưới sông Chao Phya.
 
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau.2016
 
 
VI
Trước giờ hừng sáng
 
Ca nô lướt nhanh trên làn nước mượt như nhung.
Si Thoeng ngồi bên, chốc chốc lại nhìn Văn Bình bằng cặp mắt âu yếm. Mọi việc đã xảy ra đúng với dự tính. Văn Bình đang lái ca nô chở bữa ăn điểm tâm của khách sạn Rama đến du thuyền Bồng lai buông neo trên sông Chao Phya ở phía nam ngoại ô thành phố Vọng các.
Hồi khuya, chàng tìm ra phương pháp hữu hiệu giữ cho người đẹp khỏi ríu mắt. Kể ra, chẳng riêng gì Văn Bình, bất cứ đàn ông nào trên thế gian này, hễ ở 1 mình với giống cái trong phòng kín đều áp dụng phương pháp cổ điển có từ đời ông Adam và bà Eva ấy. Nhưng Văn Bình -nhờ tài ba thiên phú, và nhờ kinh nghiệm thu thập được sau nhiều năm hồ hải- đã biến phương pháp cổ điển mà ai cũng biết này thành 1 bộ môn khoa học siêu đẳng. 4 năm trước, Si Thoeng đã gặp chàng nên có dịp thí nghiệm. Càng già càng dẻo, càng dai, Văn Bình của 4 năm trước đã tạo kỷ lục, Văn Bình ngày nay lại phá kỷ lục cũ. Giá nàng uống cả ống thuốc ngủ cực mạnh, giấc ngủ cũng bị đẩy lui. Huống hồ nàng lại thích thức trắng đêm.
Trời mưa lâm râm lúc 3 giờ sáng. Trước khi chịu bật đèn, Si Thoeng hôn tới tấp lên mặt chàng như sợ ánh sáng làm chàng tan biến vào đêm tối. Nàng khoác tay chàng xuống đường. Hai người chui vào chiếc Mazda 800 nhỏ xíu đậu bên vỉa hè. Nàng bảo chàng lái về lữ quán Rama. Đến nơi, nàng vào 1 mình, còn chàng ngồi lại trong xe, giết thời giờ bằng gói thuốc lá Salem mới bóc. Hơn nửa giờ sau, chiếc xe bít bùng giao thực phẩm của khách sạn chạy tới, và đậu 1 bên. Trên xe, ngoài Si Thoeng ra còn tài xế, 1 người Thái trung niên đeo kiếng trắng, nét mặt hiền lành và lầm lì. Hắn chỉ lí nhí 2 tiếng « chào ông » khi Si Thoeng giới thiệu. Hắn là nhân viên thân tín của nàng.
Hai người trèo lên phía sau xe, ngồi giữa đống hộp cạt tông đựng thức ăn nguội. Tài xế lái về phía nam. Đến nơi buộc ca nô, hắn lễ mễ bưng đồ đoàn xuống. Dọc đường hắn không nói nửa lời. Si Thoeng bảo chàng :
-Anh yên tâm. Hắn là người quen cũ của chồng em. Bản tính ít nói, và không quan tâm đến công việc của thiên hạ. Chính em đưa hắn vào làm trong khách sạn. Hắn đã giúp em trả thù nhiều lần, song lần nào cũng thất bại.
Ca nô lướt nhanh trên làn nước mượt như nhung.
Văn Bình vừa qua 1 ngôi chùa, mái tròn nhọn hoắt. Hồi tối, có 1 khóa lễ lớn ngoài sân chùa, nhìn xuống sông. Giờ đây, thiện nam tín nữ đã về nhà ngủ, ngôi chùa chìm trong ánh sáng đèn hương lập lòe, song Văn Bình lại có cảm tưởng là đám đông đang dập dìu trước mắt. Trên bờ sông, dưới ngọn gió hoàng hôn mát rợi, chỉ thấy người là người cười vui, trò chuyện như bắp rang. Dưới sông những con thuyền tí hon bằng tre dán giấy mã, thắp nến rực rỡ đang quay cuồng, múa nhảy như đom đóm khổng lồ. Tiếng tụng kinh, tiếng chuông mõ, tiếng nhạc bát âm xen lẫn nhau từ máy khuếch âm phát ra, xé toang bầu không khí, thổi ào xuống sông như làm cho nước sôi lên.
Cách đây không lâu, ngược giòng Chao Phya 1 buổi tối, Văn Bình đã dừng lại trước chùa. Chàng cùng đi với 1 cô thư ký khả ái của tòa đại sứ. Nàng dẫn chàng vào đám đông xô bồ, ầm ỹ, chen vai thích cánh với những người bán hàng rong, rao ơi ới, nào kem cây, nước ngọt, nào trầu cau, thuốc lá, nào thịt gà nướng, phá lấu và thịt bò viên, … Ở góc chùa, lũ trẻ con bâu quanh 1 đôi trai gái phục sức kỳ dị, gã đàn ông châm lửa vào đuốc cháy đỏ ối, đưa cho ả con gái thọc vào miệng nuốt ừng ực. Bó lửa tắt ngúm, công chúng khen ngợi hò reo như vỡ chợ. Ngay bên là 1 kẻ lên đồng, ngoáy đầu ngoáy mông lia lịa. Xế cổng chùa 2 thiếu niên đứng hầu 1 thiếu phụ lớn tuổi hoa chân, múa tay đâm những cây kim bạc dài lê thê qua lưỡi, qua má và qua mi mắt. Tuy làm việc đã lâu trong sứ quán, cô thư ký Việt vẫn chưa quen với đời sống địa phương. Nên nàng đã run lẩy bẩy khi thấy mụ đàn bà xiên lềnh, gương mặt phớt tỉnh, hầu như thách thức. Cái lềnh nhọn hoắt từ má phải xuyên qua má trái, nàng rú lên 1 tiếng ngắn. Và đeo cứng lấy Văn Bình. Đúng là trời cho vì hôm ấy chàng không đòi hỏi ( chàng vốn có thói quen không làm phiền các sứ quán Việt Nam ở hải ngoại ) mà được thưởng công. Và là thưởng công quá hậu hĩ. Nàng ôm chàng, và không phản đối khi chàng kéo mặt nàng lên hôn say đắm và kéo dài. Đêm nay, ngồi trong cabin đò máy rẽ sóng băng băng, Văn Bình nhận thấy Si Thoeng có cái miệng giống hệt cô thư ký ngoan ngoãn năm xưa của tòa đại sứ. Khác với tiêu chuẩn thông thường, miệng nàng lại to. Phép tướng đông phương cho rằng « đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà ». Theo quan niệm thẩm mỹ đông phương, đàn bà miệng rộng không thể là đàn bà đẹp. Song Si Thoeng lại đẹp, tuy miệng nàng khá rộng. Vì nàng rộng miệng nên khi nàng nói, nhất là khi nàng cười, hàm răng mới có dịp phô bày với đàn ông, 1 hàm răng đều đặn, trắng ngà, bóng láng. Cũng do miệng rộng nên môi nàng phải dày hơn mức bình thường. Các y sĩ tâm lý học ngày nay đều nhìn nhận là đàn bà môi dày có khả năng thèm muốn tình dục, hưởng thụ và ân ái mạnh mẽ gấp nhiều lần đàn bà môi mỏng. Tương truyền rằng những giai nhân nổi tiếng trong lịch sử tình ái Trung quốc cổ xưa đều miệng rộng, môi dày như nàng Văn Khương, nàng  Hạ Cơ đời nhà Tề.
Văn Bình liếc nhìn Si Thoeng.
Miệng rộng và môi dày quyến rũ thật ! Cõi lòng rào rạt, Văn Bình muốn ngừng thuyền máy, tắt đèn cabin lần nữa. Si Thoeng cũng ngước nhìn trả. Nàng mặc áo pull bằng len mỏng, hở nách, chật hơn 1 số nên bộ ngực căng ra được phô diễn 1 cách ấm ức. Thấy chàng cứ nhìn mình chằm chằm, nàng đập bàn tay vào mông chàng, kèm theo giọng cười ròn rã :
-Anh nhìn gì thế ?
Văn Bình tống thêm ga xăng :
-Nhìn em vì em đẹp quá ! 
Nàng hừ 1 tiếng rồi lắc đầu :
-Anh nên để dành lời khen này cho Akita đi.
-Akita ?
-Thôi anh, anh đừng giả vờ nữa. Akita là nhân tình của tỉ phú Dixon. Đến khi gặp nàng, anh sẽ quên hết. Nhiệm vụ quan trọng của anh cũng quên, huống hồ là mụ đàn bà nạ giòng như em.
-Thái độ của em thật kỳ cục. Em đã báo thù được cho chồng, cho con lẽ ra em phải vui vẻ, không dè em lại còn buồn rầu hơn trước.
-Anh ơi, kỳ cục là bản tính của nữ giới. Ngày nào hết kỳ cục, đàn bà sẽ biến thành đàn ông. Anh là đàn ông nên không thể hiểu được tâm trạng đàn bà.
-Thì đàn bà cũng là con người do tạo hóa sinh ra với xương thịt và khối óc khác nào đàn ông ?
-Nhưng lòng đàn bà lại sâu không đáy, anh ạ. Trước khi giết Sroek, em chỉ cầu mong phục hận. Em đinh ninh cái chết của hắn sẽ làm em vô cùng sung sướng. Em đã sắp sẵn chương trình du ngoạn với anh tới bờ biển phía nam. Nhưng giờ đây, em mới biết là lầm. Giá đêm nay em đừng hẹn với Sroek, mà em cũng đừng giết hắn …
-Tại sao hả em ?
-Vì từ nay, em sẽ mất anh. Giúp em báo thù xong, anh sẽ đi nơi khác. Anh sẽ gặp Akita, gặp những người đàn bà khác đẹp hơn em, quyến rũ hơn em. Rồi anh sẽ bỏ em …
-Em buồn cười ghê. Chúng mình cũng chưa từng hứa hẹn với nhau gì cả. Hơn ai hết, em đã biết sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh phải trở về Sàigòn.
-Vâng, em nhớ ra rồi. Anh đừng nhắc lại nữa, đau lòng em lắm.
Văn Bình nín thinh. Cặp mắt bâng khuâng nhìn khoảng không đen tối trước ánh đèn pha sáng rực ở mũi ca nô.
Du thuyền Bồng lai đã hiện ra sừng sững trước mặt. Si Thoeng ra hiệu cho Văn Bình chạy chậm lại, và lái qua bên hông trái du thuyền. Tỉ phú Dixon là người biết xài tiền đúng chỗ, đúng như Si Thoeng nói. Du thuyền Bồng lai quả không thẹn với danh hiệu Bồng lai. Thân tàu sơn trắng, tương phản 1 cách khả ái với mặt nước đen ngòm. Boong tàu không thắp đèn sáng. Văn Bình chỉ thấy 1 giây đèn treo từ mũi xuống đuôi tàu, lủng lẳng hàng trăm bóng đèn ngũ sắc nhỏ xíu, cốt để trang điểm cho dung mạo của du thuyền hơn là để xua đuổi màn đêm. Văn Bình mừng thầm vì nếu đèn thắp sáng, chàng sẽ khó thể lẻn lên boong.
Ca nô cặp sát vào cầu thang bóng loáng. Gã tài xế lên trước, bưng các hộp cạt tông đựng thức ăn. Hắn còn phải lên xuống nhiều chuyến như vậy nữa. Ngồi trong cabin, Văn Bình nghe rõ tiếng chào hỏi giữa Si Thoeng và thủy thủ đoàn. Đèn trong ca nô cũng đã tắt, chàng có thể thản nhiên ra ngoài, không sợ bị nhân viên du thuyền nhìn thấy. Vả lại, chàng nhìn đảo 1 vòng : boong tàu vắng ngắt, giờ này mọi người còn ngủ. 3 giờ sáng mà. Chỉ có dăm ba người thức.
Chàng mặc bộ y phục không thấm nước vào mình, vuôn vai cho dãn gân cốt rồi từ từ bỏ chân xuống sông. Chàng vốn ưa tắm đêm, hồi nhỏ chàng thường nhảy ùm xuống sông ở gần nhà để hụp lặn. Chàng bơi giỏi như rái cá. Nhờ quen bơi đêm, chàng không cảm thấy lạnh, dầu là hơi lạnh mùa đông, đầy mưa phùn và gió bấc miền bắc. Vậy mà đêm nay chàng lại cảm thấy lành lạnh. Lành lạnh tuy Vọng các đang ở mùa nóng. Giả sử trời lạnh như tháng chạp ở Bắc Việt, chàng vẫn khỏe ru vì cái áo ni lông đặc biệt của thợ lặn đã ngăn chặn thời tiết bên ngoài. Chàng rùng mình 1 cái nhẹ trước khi chìm sâu xuống nước. Có lẽ chàng lạnh vì nhớ đến Rôsita. Giờ này có lẽ nàng đang bó gối trong 1 gian phòng nhỏ của du thuyền. Chàng hy vọng nàng bị giam trên tàu du thuyền. Trong chớp mắt, chàng đã ngoi đầu lên, bám lấy sườn tàu. Chàng trèo lên boong dễ dàng vì chung quanh không có người gác. Vọng gác ở mũi tàu cũng không có ai. Chàng nhảy qua lan can, nhoài người trên nền boong, quan sát tứ phía. Nếu bị đối phương khám phá ra trong lúc này thì hỏng bét. Bên tay phải, Si Thoeng đang tiếp tục trò chuyện vui như tết với bọn thủy thủ. Văn Bình nghe cách xưng hô của nàng, đoán biết là trong số có viên thuyền trưởng.
Si Thoeng nói trong tiếng cười :
-Cà phê nóng hổi, và thơm ngon lắm. Các ông cứ uống đi. Tôi đích thân chọn cà phê thượng hạng đem rang và pha cho các ông uống đó.
Nhiều tràng cười khoan khoái đáp lại, rồi có tiếng nói :
-Ha, ha. Cà phê đặc biệt, uống vào đỏ da thắm thịt, cụ già hóa thành con trai. Uống mau lên kẻo hết, anh em ơi !  
Văn Bình núp trong bóng tối vì dãy đèn ngũ sắc chỉ chiếu sáng mạn tàu bên kia. Vả lại, loại đèn trang trí này cũng chẳng chiếu sáng được bao nhiêu, nhất là boong tàu lại rộng thênh thang, bầu trời gần rạng đông màu vẫn đen kịt như phết bằng mực tàu.
Chàng đã nghiên cứu họa đồ của du thuyền nên bước nhanh xuống khoang dưới, không cần suy nghĩ. Phòng máy ở phía trước, tiếp theo là phòng chứa nhiên liệu và nước ngọt, còn phòng ăn và phòng ngủ của thủy thủ đoàn ở đuôi tàu. Khúc giữa là kho chứa hàng nếu quả thật du thuyền Bồng lai chở lén võ khí nguyên tử cỡ nhỏ. Đúng như chàng tiên liệu, hành lang tầng dưới không có ai. Có lẽ đám người uống cà phê trên boong là những thủy thủ duy nhất còn thức. Toàn thể đều đã ngủ say sau cuộc dạ vũ. Đôi giày đế cờ rếp của Văn Bình trượt nhẹ trên sàn tàu láng bóng tưởng như có thể soi gương được. Chàng rón bước êm ru, người đứng gần cũng không nghe được tiếng động. Đến 1 cánh cửa sắt lớn, chàng dừng lại. Trên đầu chàng, leo lét 1 ngọn đèn nhỏ. Trong nháy mắt, chàng đã mở được cửa, và lẻn vào trong.
Phòng kho tối om.
Theo thói quen, ngay sau khi bước vào, chàng đóng cửa và ngồi thụp xuống, vận nhỡn tuyến quan sát tứ phía. Cặp mắt bắt đầu quen với bóng tối của chàng nhận ra nhiều dãy thùng cạt tông xếp chồng lên nhau thành hàng ngay ngắn. Nghe ngóng 1 chút, biết chắc là trong phòng kho chỉ có 1 mình chàng, Văn Bình bèn rút đèn bấm giắt ở túi áo trên lia xuống đất thành hình cánh cung. Dưới tia sáng xanh, chàng nhẩm đọc những giòng chữ Anh văn ghi trên mặt cạt tông. Đống hộp cạt tông này chứa toàn thực phẩm. Sợ nhãn bên ngoài có tính cách giả dối, chàng bưng 1 hộp xuống, mở nắp, chiếu đèn bấm lục soát. Đây là hộp nước ngọt.
Chàng mở thùng khác. Cũng là thùng đồ ăn.
Chàng đi vòng khắp nhà kho, lần lượt mở nhiều hộp cạt tông. Song chàng không tìm thấy hộp nào đựng dụng cụ điện tử. Võ khí nguyên tử được tháo rời có thể đựng gọn trong hộp nhỏ. Tuy nhiên, căn cứ vào sức nặng của mấy chục hộp nâng trên tay, chàng kết luận là phòng kho chỉ chứa thực phẩm.
Vậy Dixon cất giấu võ khí nguyên tử ở đâu ?
Hỏa tiễn nguyên tử không phải là cái máy chữ hoặc máy may, muốn vứt ở đâu cũng được. Nếu có, hắn bắt buộc phải cất giấu trong phòng kho khóa chặt ngày đêm sau cửa thép không thấm nước này. Văn Bình tần ngần 1 phút trước khi bước ra. Bên ngoài vẫn vắng tanh.
Chàng đóng cửa lại cẩn thận, rồi men theo hành lang về phía cuối tàu. Đến phòng ngủ chung của thủy thủ, thấy cửa mở hé, chàng bèn đứng lại, nép vào vách sắt, nghe ngóng. Sau vách, mọi vật đều im lặng. Chàng đánh bạo thò đầu qua khe cửa.
Và chàng giật mình đánh thót.
Trong nhà ngủ không có ai hết.
Chàng thừ người nhìn những cút sét còn ngay ngắn, chứng tỏ đêm nay không có người nằm. Chàng mở cửa tủ đựng mền mùng và quần áo : bên trong hoàn toàn trống rỗng. Như vậy nghĩa là thủy thủ đã rời khỏi du thuyền Bồng lai. Tuy nhiên, họ rời khỏi du thuyền Bồng lai để đi đâu ? Chàng có cảm tưởng bị chơi 1 vố đau điếng. Trong khi chàng còn rềnh rang trên tàu Bồng lai, Dixon đang ung dung bốc rỡ võ khí nguyên tử rồi cũng nên.
Hoảng hồn, chàng trèo vội lên boong. Dãy đèn ngũ sắc vẫn hấp háy như người ngái ngủ. Chàng tuột theo sườn tàu xuống nước, ngụp sâu xuống rồi trồi lên, bám lấy thành ca nô. Si Thoeng đang ngồi đợi chàng sau  vô lăng. Ca nô rú máy nhè nhẹ rồi rẽ nước trở về trung tâm thành phố. Xa xa, phương trời phía đông bắt đầu lóe sáng.
Si Thoeng dựa vào vai Văn Bình :
-Công việc của anh xong chưa ?
Chàng lơ đãng nhìn mặt nước đen ngòm :
-Chưa.
-Bây giờ anh về khách sạn nhé ?
-Ừ.
Chiếc xe hơi bít bùng chở hàng vẫn đậu nguyên ở chỗ cũ. Tài xế mở đề ma rơ không nói nửa lời. Về đến gần đường Silom, Văn Bình mới hỏi Si Thoeng :
-Anh vào bằng cửa trước tiện không ?
Nàng khoát tay :
-Chẳng sao cả. Anh là khách trọ kia mà. Du khách ghé thăm Vọng các thường đi chơi đến gần sáng mới về phòng. Vả lại, giờ này dưới nhà chỉ có 1 người gác cửa. Em là phụ tá quản lý, anh đi với em không ai dám nghi ngờ đâu.
Tài xế bỗng mở miệng :
-Theo tôi thì không nên vào bằng cửa trước.
Si Thoeng có vẻ bất bình :
-Tại sao ?
Tài xế chậm rãi đáp :
-Vì bọn vệ sĩ của ông Dixon đứng đầy nhà dưới suốt ngày đêm. Chẳng qua họ sợ bà Akita bị bắt cóc đòi chuộc tiền. Tôi tin là họ đang chờ ông trong khách sạn.
Si Thoeng trố mắt nhìn gã tài xế thân thuộc :
-Ai nói mà bác biết ?
Tài xế sửa lại gọng kiếng trắng trễ xuống mũi :
-Hồi nãy tôi bắt gặp 2 tên thủy thủ trò chuyện với nhau. Một tên phàn nàn là buồn ngủ ríu cả mắt mà thuyền trưởng vẫn bắt thức, thì tên kia đáp là thà buồn ngủ ở trên tàu còn hơn đi. Tên thứ nhất hỏi « đi đâu », tên thứ hai bèn cười rộ và nói « hừ, óc máy đặc sệt như đất sét, ông chủ mới dặn mà mày đã quên, đi về phía nam vịnh Xiêm la, chứ còn đi đâu nữa, hả thằng nhãi ranh ».
Gã tài xế bớt dần ga xăng. Văn Bình hỏi hắn :
-Ông vừa nói bọn họ đợi tôi trong khách sạn. Tuy vậy, ông lại nhắc đến chuyện khác.
Gã tài xế « à » 1 tiếng như để xin lỗi, rồi nói 1 hơi :
-Phải, phải. Tôi vốn có tính râu ông nọ cắm cằm bà kia như vậy đó. Một thằng nhiếc mắng bạn là nhãi ranh, thằng kia liền phản đối « đúng, tao là nhãi ranh mà ông chủ ra lệnh cho tao ở trên tàu để đề phòng hắn tới ». Hắn văng tục rồi nói tiếp « nếu không có nhãi ranh như tao thì bọn mày sẽ bị hắn ăn gỏi ». Tên nọ cười khà khà « trừ khi hắn là 3 đầu 6 tay mới lọt được vào du thuyền, mày hiểu chưa ? Ông chủ sợ hắn bén mảng đến khách sạn nên cho bọn vệ sĩ cừ khôi túc trực đêm nay ở đó ». Câu chuyện giữa 2 tên thủy thủ bị ngưng vì thuyền trưởng đi tới. Vả lại, cũng đã đến giờ ra về.
Si Thoeng đập vai gã tài xế :
-Cám ơn bác nhé ! 
Gã tài xế cho cần số vào tử điểm, thắng xe lại nhìn quanh quất 1 hồi, rồi nói với Văn Bình :
-Tôi là bạn thâm niên của gia đình bà Si Thoeng. Ông cần gì, tôi xin giúp. Vào địa vị ông, tôi sẽ không quay lại lữ quán Rama nữa. Nhưng nếu ông có công việc hệ trọng phải quay lại để hoạt động thì đó là quyền ở ông, tôi không dám lạm bàn. Tuy nhiên, 1 lần nữa, tôi xin đề nghị ông nên đi vào bằng cửa hông.
Văn Bình tỏ dấu ngạc nhiên :
-Hai bên đều là tường thì làm gì có cửa hông ?
Tài xế đáp :
-Cạnh lữ quán Rama có 1 văn phòng công ty xuất nhập cảng. Nhân viên chỉ làm việc ban ngày, từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Sau giờ này, trụ sở được khóa bên ngoài và bên trong không có người gác. Ông nên đi xuyên qua văn phòng, trèo lên lầu rồi nhảy sang cầu thang trôn ốc cấp cứu của khách sạn. Năm ngoái, 1 ông khách mang nhân tình đến ở chung phòng bị bà vợ cả rình bắt được, song thừa phát lại khệnh khạng chưa lên phòng kịp để làm biên bản thì cô gái cắm sừng đã nhanh chân thót vào cầu thang bê tông trôn ốc, vọt sang sân thượng văn phòng xuất nhập cảng, và biến mất.
Văn Bình mở cửa xe. Si Thoeng nắm tay chàng :
-Anh đi tìm Dixon, phải không ?
Chàng gật đầu. Nàng nói tiếp :
-Dixon rất giỏi võ, anh nên coi chừng. Bên người hắn lúc nào cũng có vệ sĩ. Tuy nhiên, em không sợ anh thua Dixon. Mà chỉ sợ anh thua người yêu của hắn thôi.
-Akita giỏi võ hơn Dixon sao ?
-Hừ, anh lại giả bộ ngu si rồi. Cô nhân tình của Dixon không biết miếng võ nào, song lại đủ tài đánh ngã anh.
Văn Bình tát nhẹ vào má nàng :
-Thắng anh khó lắm, em ơi ! 
Chàng nhảy nhẹ xuống nệm cỏ. Tài xế lái xe ra giữa đường. Văn Bình theo đúng lời dặn của gã tài xế, đến 1 hàng hiên lớn thì dừng lại. Giờ này chàng không lo ngại mấy vì địch khó thể bám phía sau. Trên đại lộ vắng tanh, chỉ có 1 mình Văn Bình. Văn phòng xuất nhập cảng là 1 tòa nhà thấp, xây tường kín mít vì gắn máy điều hòa khí hậu, ra vào bằng 1 cửa kiếng duy nhất. Chàng bấm đèn pin, quan sát ổ khóa. Chàng mỉm cười đắc ý vì ổ khóa này không thuộc loại khóa đặc biệt. Chỉ 1 phút đồng hồ sau, chàng đã mở được cửa, lẻn vào trong văn phòng. Một mùi thơm hăng hắc xông vào mũi chàng. Khứu giác của chàng rất nhạy cảm nên chàng biết đó là mùi thuốc tô móng tay. Nghĩa là hãng xuất nhập cảng có nữ thư ký, và là nữ thư ký khá đẹp, chuyên làm đỏm trong giờ làm việc. Bất giác chàng nhớ đến Nguyên Hương. Giờ này chắc nàng ngủ dậy. Trong thời gian gần đây, công việc quá bề bộn nên nàng phải ngủ đêm luôn tại văn phòng. Lệ thường, nàng ngồi trước máy chữ điện tử IBM đến nửa đêm, và chỉ chợp mắt 3, 4 tiếng đồng hồ. Trời chưa hừng sáng thì nàng đã phải trở lại bàn giấy vì ông tổng giám đốc ngủ sau nàng và tỉnh dậy trước nàng. Ban chuyên môn của Sở đã chế tạo riêng cho nàng 1 cái giường sắt, đúng kích thước chiều dài của nàng. Giường được gắn giấu trong tủ đựng hồ sơ, bấm nút điện ở bàn thì cánh cửa tủ dạt sang bên, cái giường từ từ nằm ngả xuống. Trên giường có tiện nghi đầy đủ, nào nệm hơi, mền hơi, tất cả đều bằng ni lông dày màu xanh mát mắt, và được thổi phồng bằng hơi tự động. Loại giường nệm này được chế tạo theo công thức mới (1), hiện được ưa chuộng ở tây phương.
 
(1) hiện nay kỹ nghệ chế tạo đồ bằng lát tích bơm hơi, như bàn ghế, giường, và cả nhà nữa, được phát triển ở Âu châu. Riêng ở Pháp có nhóm Quentin, AJS, ETAI (trong số có cả kỹ sư Việt Nam). Một cái ghế phô tơi chỉ độ 180 quan Pháp. Khi dùng thì thổi cho phồng, không dùng thì tháo đầu van cho hơi ra. Hoa kỳ, Nhật, Anh và Ý cũng thịnh hành đồ bơm hơi. Khi nào thì thời trang này được du nhập vào Việt Nam đây ? (NTT).
 
Cái giường bơm hơi của Nguyên Hương còn tiến xa hơn các dụng cụ ni lông tây phương 1 bực. Đó là nó có thể ấm lạnh theo mùa, và theo ý thích. Trời nóng, chỉ bấm cái nút nhỏ là hơi lạnh tỏa ra. Nằm trên giường có cảm giác như được quạt mát. Còn trời lạnh thì giường nệm sẽ biến thành máy sưởi êm ấm.
Một trong những việc đầu tiên của Nguyên Hương khi trở dậy buổi sáng là mang bộ đồ nghề trang điểm ra. Bắt đầu là gọt rũa, tô móng tay. Nàng sửa soạn sắc đẹp 1 cách trịnh trọng, không khác nhà tu hành ngồi đọc kinh trước bàn thờ. Mỗi khi đến thăm nàng buổi sáng, chàng đều ngửi thấy mùi sơn móng tay hăng hắc. Trong lúc đói bụng, mùi thơm khó chịu này có thể làm chàng lợm giọng. Song chàng không dám phàn nàn với Nguyên Hương vì nàng sẽ dẩu mỏ mà nói :
-Phải, em biết mà. Mùi sơn móng tay của em làm anh buồn mửa, mặc dù là thứ thuốc tốt nhất, em đặt mua bên Mỹ. Mùi sơn móng tay của người khác thơm tho lắm, phải không anh ?
Giá chàng nín lặng không đáp, nàng sẽ tấn công tiếp :
-Phải, em biết mà. Bất cứ cái gì của em cũng làm anh buồn mửa. Cả mối tình của em cũng làm anh buồn mửa.
Hôm nay, Văn Bình mửa thật sự. Bây giờ chàng mới nghiệm thấy các nhà triết học đã nói đúng về đàn bà muôn thuở. Có lẽ giới sản xuất sơn móng tay quốc tế đã cố tình pha mùi thơm lợm giọng để cảnh cáo đàn ông, để bảo cho bọn đực rựa biết rằng sắc đẹp là … thế đấy : thơm vẫn thơm, nhưng có thể làm nôn oẹ. Ấy là chưa kể đến 1 số công dụng khác của móng tay giai nhân, chẳng hạn cấu xé đàn ông, …
Văn Bình xô cửa hành lang.
Mùi sơn móng tay không còn nữa nhưng chàng lại ngửi 1 mùi khác. Mùi cà phê pha buổi sáng. Chàng không ưa điểm tâm bằng cà phê, song chàng vẫn khoái ngồi 1 mình trước cái phin lọc cà phê đặt trên ly thủy tinh trắng trong, bâng khuâng ngắm những giọt nước màu nâu sẫm từ từ thánh thót rơi xuống kêu lanh tanh, trong khi hương thơm cà phê rang vừa chín tỏa rộng khắp phòng, quyện vào không khí nhẹ nhõm rạng đông, thâm nhập lục phủ ngũ tạng. Ngửi mùi cà phê, Văn Bình biết là nhà bếp của khách sạn Rama ở sát vách. Văn phòng xuất nhập cảng có 1 cái sân nhỏ ở cuối hành lang. Chàng rún mình bám lấy máng xối trèo lên mái nhà dễ dàng.
Ngay cạnh mái nhà là 1 cánh cửa sắt xếp. Văn Bình dùng sợi thép cứng nhỏ để mở khóa. Cũng may cầu thang cấp cứu chỉ dành riêng cho công nhân mỗi khi bắt điện hoặc sửa chữa ban ngày nên không có đèn sáng. Ánh sáng nê ông từ bên dưới chiếu hắt lên.
Văn Bình đang ở lầu nhất. Tầng trên được dành riêng cho gia đình tỉ phú Dixon. Theo lời Si Thoeng thuật lại thì Dixon mắc 1 chứng bệnh kỳ lạ : bệnh ở sát mặt đất. Mỗi khi lưu lại khách sạn, hắn đều thuê phòng ở lầu nhất hoặc lầu nhì, chứ không bao giờ ở lầu ba. Dixon và bọn vệ sĩ không dùng thang máy nên cầu thang xi măng được chặn lại. Một vệ sĩ ngồi chềnh ềnh dưới nhà, cấm người lạ đặt chân lên. Một tên khác ngồi gác ở lầu nhì.
Văn Bình trèo cầu thang xi măng lên lầu nhì. Chàng bước rón rén, cốt không cho tên gác nghe thấy. Tên gác trạc 25 tuổi, dường như là người Tàu, vai dầy, ngực nở, mặt bị thịt. May thay hắn đang quay lưng về phía Văn Bình. Mùi thơm tỏa ngát. Văn Bình suýt buột miệng. Vì hắn cũng hút thuốc lá Salem thơm mùi bạc hà như chàng. Tuy không nói ra, chàng vẫn có thiện cảm giang hồ đối với những đệ tử của khói bạc hà. Vạn bất đắc dĩ chàng mới ra tay quật ngã đối phương đang rít hơi thuốc Salem khoái khẩu. « Trời đánh còn tránh bữa ăn », Văn Bình coi việc hút thuốc -nhất là hút thuốc Salem- cũng trịnh trọng như ăn. Bản chất chàng lại cao thượng, không bao giờ đánh sau lưng nên chàng đành đứng lại. Chàng chỉ tấn công nếu tên gác ngoảnh mặt về phía chàng … Cái tác phong cao thượng ấy thường bị ông tổng giám đốc lôi ra làm đề tài kiểm thảo. Là điệp viên già dặn trong nghề, Văn Bình đã hiểu sự tai hại nhiều khi không thể tha thứ được của thái độ « quân tử tàu ». Vậy mà lần nào cũng vậy, chàng vẫn quân tử tàu với địch.
Trong cuộc đời hành động, chàng đã hút chết cả chục lần vì đa mang truyền thống quân tử tàu. Tuy nhiên, lần hút chết đáng nhớ nhất lại làm chàng hãnh diện nhất. Vì lần  ấy, chàng đã chiếm được trái tim người đẹp. Nàng là Mộng Kiều, 1 trong những người bạn lòng gần gũi chàng nhất. Sau chuyến gặp gỡ ấy, nàng quyết dâng hiến trọn đời tâm hồn và thể xác cho điệp viên hào hoa Z.28 mặc dầu nàng biết chàng không thể lấy nàng làm vợ hoặc ít ra sống chung với nàng với tư cách vợ chồng không hôn thú.
Hồi ấy, Mộng Kiều là đóa hoa dạ lạc thơm nhất của Cảng thơm. Tuy danh tiếng vang dậy như cồn, đóa hoa xuân sắc vẫn chưa có chủ. Ong bướm dập dìu quanh năm suốt tháng nhưng nàng không để ý vì lòng nàng còn hằn sâu vết thương gia đình tan nát. Cha nàng chết sớm vì kinh doanh lỗ lã. Mẹ nàng bỏ con gái đi lấy chồng khác vì ngày xưa bà là ca kỹ. Lớn lên, Mộng Kiều cũng sống nghề ca kỹ, nhưng quyết không noi gương xấu của mẹ. Nàng quyết đóng chặt cửa lòng, quyết chẳng yêu ai, và nếu yêu ai thì quyết chung thủy. Vì vậy Mộng Kiều vẫn phòng không lẻ bóng khi gặp Văn Bình trên tình đảo Hồng kông. Chàng lọt vào mắt xanh của người đẹp ngay đêm hạnh ngộ đầu tiên.
Nhưng điều này làm nhiều người bất bình. Họ bất bình rất chính đáng vì có những vương tôn công tử tung ra hàng ngàn, hàng vạn đôla để mua chuộc cảm tình của nàng sau nhiều tháng mà nàng vẫn dửng dưng trong khi 1 kẻ cha căng chú kiết từ phương xa tới lại hớt tay trên chỉ sau 1 đêm ngắn ngủi tại vũ trường. Bọn thất tình bèn thuê võ sĩ triệt hạ Văn Bình. Đấu võ để giành người đẹp vốn là chuyện cơm bữa đối với Văn Bình nên chàng không e ngại. Vũ trường sửa soạn đóng cửa, chàng đón nàng ra về thì biến cố xảy ra. Biến cố này xảy ra 1 cách êm lặng nhưng chứa đầy chết chóc. Một gã mặc dạ phục màu trắng, thắt nơ đen sang trọng đợi chàng ngay trước cửa với bức thư khổ lớn, đánh máy trên giấy trắng tinh. Nội dung như sau :
« Tiên sinh nhã giám,
Chúng tôi xin biếu tiên sinh 1 cái vé phi cơ để rời Hồng kông ngày mai. Tiên sinh chỉ có thể lưu lại nếu đêm nay hạ được đại diện của chúng tôi trên võ đài.
Mộng Kiều sẽ là trọng tài quyết định. Tiên sinh hỏi nàng và sẽ biết chúng tôi là những người tôn trọng lời cam kết. »
Bức thư không có chữ ký. Chàng đưa cho nàng đọc, và nàng tái mặt. Giọng nàng đượm vẻ van lơn :
-Thôi, anh nên rời Hồng kông đi.
Văn Bình mỉm cười, xé lá thư ra làm 8 mảnh, ném xuống đất. Mộng Kiều run lẩy bẩy :
-Đừng anh, anh không chống lại được đâu. Họ vừa thuê được 1 nhóm Sơn đông mãi võ mạnh lắm.
-Họ là ai ?
-Anh không quen họ đâu. Họ là những tay ăn chơi giàu bạc triệu ở đây. Ai cũng biết tiếng và khiếp vía. Ai đụng đến họ cũng bị điêu đứng.
-Họ mê em ?
-Vâng, làm nghề ca kỹ như em thì được đàn ông mê là việc rất thường.
-Nhưng ít khi anh thấy 1 ca kỹ được các nhà tỉ phú mê như điếu đổ mà lại từ chối.
-Em không giống các ca kỹ khác.
-Anh cũng vậy, anh cũng không giống bọn đàn ông nhát như thỏ đế khác.
-Tránh voi chẳng xấu mặt nào, anh đấu với 1 võ sĩ trong bọn Sơn đông cũng vị tất thắng nổi, huống hồ cả bọn ! Thôi, anh đi đi. Nếu trời còn cho em sống sót, thế nào em cũng tìm gặp lại anh.
-Anh hỏi em câu này nhé : tại sao họ có quyền thế lớn lao như vậy mà em không sợ ?
-Em là đứa con gái không khi nào biết sợ.
-Thì anh là thằng con trai cũng không khi nào biết sợ.
Mộng Kiều thở dài không nói thêm nữa. Gã mặc dạ phục trắng cúi đầu, giọng cung kính :
-Kính mời tiên sinh lên xe.
Văn Bình khoan thai trèn lên xe Rolls Royce rộng thênh thang. Không khí được điều hòa mát rợi. Tài xế đội cát kết trắng, vận đồng phục trắng. Dọc đường, Mộng Kiều ngồi im, mắt bâng khuâng nhìn vào khoảng không. Khi đến nơi, nàng dúi vào tay chàng khẩu súng lục nhỏ, kèm theo lời dặn thân thương :
-Anh yêu, giữ kỹ cái này đi.
Văn Bình thản nhiên bỏ khẩu súng vào túi. Bọn tình địch gồm 3 đại thương gia người tàu. Họ tiếp chàng theo luật giang hồ nghĩa là vô cùng lễ độ, mặc dầu lát nữa họ sẽ giết chàng. Họ cử 1 võ sĩ Sơn đông ra đấu với chàng song chàng lắc đầu từ chối, đòi được đấu với cả nhóm mãi võ. Họ phá lên cười, cho chàng là người điên. Chàng trả lời bằng cách tóm lấy đầu tên võ sĩ đầu tiên đứng gần chàng nhất, và ném vào tường. Cả bọn ùa vào tấn công chàng. Chàng không cho tên nào đánh chàng được 1 cái. Hễ bén mảng đến tầm tay chàng là bị ngọn thần cước của chàng đá ngã chổng kềnh. Chàng chỉ xử dụng 1 chân, còn 2 tay thì chắp sau lưng, nhàn nhã như đùa bỡn với con nít. Tuy vậy, chỉ trong loáng mắt cả bọn Sơn đông mãi võ vai u thịt bắp từng được coi là vô địch đã bị Văn Bình quất sụm, bò lê bò càng trên nền nhà.
Sau khi cả bọn Sơn đông bị đại bại, Văn Bình khoác tay Mộng Kiều trở ra ngoài.
Và chàng suýt mất mạng.
Số là 1 tên vệ sĩ giả vờ quay lưng để rút súng, Văn Bình có thể dùng khẩu súng của Mộng Kiều cất trong túi, song lại đối phó bằng tay. Vì chàng không muốn bị người đẹp chê cười. Đúng ra với tay không, chàng vẫn có thể đoạt súng của địch. Nhưng vì tự ái hão, chàng lại chờ địch nhắm bắn mới phản ứng. Văn Bình phản ứng chậm hơn dự tính 1 phần trăm tích tắc đồng hồ. Viên đạn vèo qua màng tang làm xạt 1 mảng tóc. Địch chưa kịp bắn phát thứ hai thì chàng đã phi thân lên không trung, đá văng khẩu súng và khi gần rớt xuống đất lại nhảy lên lần nữa, dùng gót chân hạ đo ván tên võ sĩ cầm đầu đang hầm hè đứng dậy.
Cuộc biểu diễn võ nghệ tuyệt luân của điệp viên Z.28 đã làm 3 đại thương gia tàu bàng hoàng. Họ xếp hàng chữ nhất trước mặt chàng, và vái dài chịu thua. Và chàng đoạt được Mộng Kiều.
Chàng về Sàigòn 1 mình. Một thời gian sau, nàng bỏ Hồng kông về Sàigòn lập nghiệp. Mỗi khi về Sàigòn, chàng thường đến ở với nàng.
Hôm nay trên lầu nhì của lữ quán Rama, Văn Bình cũng rụt rè khi thấy tên gác quay lưng lại. Nhờ tập luyện Thần ảo công, chàng đặt chân lên bậc thang xi măng không gây ra tiếng động, dầu là tiếng động rất nhỏ. Tên gác vẫn say sưa với điếu Salem mới hút 1 phần ba. Đột nhiên hắn ném điếu thuốc xuống sàn gác, miệng càu nhàu. Và hắn nhìn thấy Văn Bình. Dường như hắn được lệnh chờ chàng, và tấn công không cần báo trước nên vừa thấy chàng, hắn liền rút phăng khẩu súng trái khế đeo ở thắt lưng ra bắn. Phát súng nổ bộp 1 tiếng như tiếng giày da dẫm lên trái cây phơi khô. Một luồng khói xanh tỏa ra. May thay, Văn Bình ngã người vào tường nên luồng khói không trúng mặt. Chàng hoảng hồn vì biết nó là đạn thuốc mê.
Có lẽ đó là đạn BZ(2).
 
(2) muốn hiểu tác dụng của súng và đạn BZ bắn thuốc mê, xin đọc Z.28 Hồn ma Diến Điện đã xuất bản.
 
Chàng vội phi thân vượt qua 5 bậc thang cuối cùng còn lại. Chân chưa chạm đất, chàng lại vọt lên để tránh viên đạn thứ hai. Tên gác luống cuống lùi lại 1 bộ, sửa soạn bắn tiếp. Nhưng hắn chưa phải là xạ thủ nhiều kinh nghiệm trận mạc cũng như kỹ thuật tác xạ nên đã biến thành cái mikioara cho Văn Bình tập đá. Chàng phóng ngọn cước chân trái, tên gác lãnh đòn vào giữa ngực, lộn ngược vào lan can cầu thang. Chàng lôi hắn dậy, kéo sềnh sệch vào gian phòng đối diện cửa mở hé.
Ngay khi ấy 1 tên gác thứ hai lớn như con bò mộng từ trong phòng chạy vụt ra. Trên tay hắn cũng lăm lăm khẩu súng BZ nòng dài ngoằng, đầu gắn ống hãm thanh do Tiệp khắc chế tạo, 1 trong các ống hãm thanh tối tân nhất thế giới. Song Văn Bình đã buông tên gác thứ nhất, hoành tay gạt khẩu súng đang chĩa vào người chàng. Chàng đoạt khí giới 1 cách dễ dàng. Khẩu súng bị đổi chủ trong nháy mắt. Chàng phản công nhanh đến nỗi đối phương không kịp lảy cò bắn viên đạn phủ đầu nữa. Tuy nhiên, Văn Bình phải mất 2 phút đồng hồ mới triệt hạ được hắn, vì nếu kém về tác xạ, hắn lại giỏi về quyền thật. Hai phút đồng hồ khi ấy đối với Văn Bình dài giằng dặc như thể 2 giờ đồng hồ. Chàng phải thanh toán thật mau vì sợ Dixon còn nhiều tên gác khác, sẵn sàng can thiệp. Văn Bình vận dụng các thế võ hiểm độc nhất để quật hắn ngã. Hắn xòe tay đánh atémi với hy vọng hạ chàng. Chắc hắn là thuộc viên cừ khôi của Dixon, có nhiệm vụ ở hậu tập khi tên gác ở trên cầu thang bị thất trận mới ra mặt.
Nhưng Dixon đã tính sai bản lãnh của điệp viên Z.28. Chàng đã đánh ngã các võ sư lợi hại nhất của Smerch, Quốc tế Tình báo Sở, không lẽ lép vế trước bọn thuộc viên vô danh tiểu tốt của gã trùm buôn súng lậu. Một cú đá sấm sét quật tên gác nằm sóng soài trên đất. Khối thịt nặng trên 1 tạ của hắn kêu ình 1 tiếng lớn, làm vỡ 1 mảng gạch men và đẩy toang cửa phòng đối diện. Con heo sung sức bị thọc huyết cũng không kêu lớn như hắn với hàng loạt tiếng « trời đất ơi, cha mẹ ơi » liên tiếp. Văn Bình tiến lên, dẫm chân vào mặt hắn. Hắn câm miệng, nằm thẳng đơ, tay và chân duỗi ra thành hình chữ thập.
Văn Bình nhận thấy mình quá tàn nhẫn. Tuy nhiên, sự day dứt chỉ thoảng qua trong lòng chàng. Trong hoàn cảnh nguy biến, chàng không có quyền đối xử bằng tình nhân đạo như khi biểu diễn võ thuật trong xa lông.
Phòng của Dixon và Akita gồm 4 phòng nhỏ ăn thông với nhau. Ra vào chỉ có 1 cửa duy nhất. Người lạ bén mảng tới sẽ như cá vào trong rọ. Tuy là tay tỉ phú, Dixon lại trang hoàng 1 cách giản dị, đồ gỗ toàn bằng gỗ song uốn theo kiểu Phi luật tân, đệm và ghế đều 1 màu xám nhũn nhặn. Trong phòng khách không có đồ đạc đáng giá, ngoại trừ bức tranh treo trên tường quét vôi trắng toát. Nhìn qua, Văn Bình giật mình. Vì đó là bức « đầu thiếu nữ » vẽ cái đầu của 1 thiếu nữ đeo bông tai ngọc trai ( được mệnh danh là La Joconde Bắc Âu ) của danh họa Hòa lan Johannes Vermeer (1632 – 1675). Tính theo thời giá, bức tranh này phải tới 1 triệu rưỡi đôla Mỹ.
Văn Bình đi khắp 4 căn phòng. Chàng ra ngoài hành lang, lục lọi các phòng khác. Tất cả đều vắng lặng. Dixon và Akita đã biến mất như làn khói. Họ đi đâu ? Văn Bình phải tìm ra giải đáp. Nội 1 việc bức họa « đầu thiếu nữ » được để lại đủ chứng tỏ Dixon có quá nhiều tiền, nhiều đến nỗi 1, 2 triệu đôla chỉ là vô nghĩa. Thoạt đầu, Văn Bình nảy ra ý định kê ghế, trèo lên gỡ bức họa. Chàng vốn ghét ăn trộm, nhưng Sở đang thiếu tiền, bức tranh này có thể mang về 1 món tiền lớn, ông Hoàng tha hồ xử dụng cho mục đích chung. Nhưng sau 1 phút suy nghĩ, chàng nhún vai bước vào buồng tắm.
Một vật quen thuộc đập vào mắt chàng. Chàng khựng người 1 phút.
Vật này là 1 cái hộp nhỏ cạt tông màu trắng hung, in chữ Merinax màu xanh bên ngoài. Người ít ngủ, tim đập mạnh, thường cảm xúc vô cớ hay dùng Merinax vì nó tác dụng an thần. Trong những năm gần đây, tiến bộ cơ khí vượt bực đã làm thần kinh nhân loại luôn luôn căng thẳng. Số đàn ông và đàn bà, nhất là đàn bà tìm sự phẳng lặng tâm hồn trong thuốc an thần mỗi ngày 1 đông. Hàng năm, Âu Mỹ tiêu thụ đến chục tấn thuốc an thần. Vì vậy, hộp thuốc an thần do hãng dược phẩm Labaz của Pháp bào chế được đặt trong tủ thuốc buồng tắm của nhà tỉ phú Dixon không phải là chuyện đáng kinh ngạc. Giới tỉ phú vốn là giới dùng nhiều thuốc an thần hơn cất cứ giới nào khác.
Tuy vậy, Văn Bình lại kinh ngạc.
Vì hộp thuốc Merinax tầm thường này có nhiều mối liên hệ tình cảm sâu xa với chàng. Cách đây không lâu, chàng đã thấy nó tại Đài loan. Tâm trí bần thần, chàng lẩm bẩm :
-Hay là …
Chàng không kịp nói dứt câu thì im bặt. Vì có tiếng động nhẹ ở cửa buồng tắm. Linh tính nghề nghiệp báo hiệu nguy hiểm ghê gớm đã tới. Chàng không quay lại –vì biết quay lại sẽ làm mất của chàng vài giây đồng hồ quý báu- mà lại nhoài người sang bên trái. Chàng đụng vào cửa kính buồng tắm kêu rầm 1 tiếng. Nhưng chàng vẫn nghe được tiếng « phựt » sau lưng. Viên đạn nhắm vào người chàng là 1 hòn bi nhỏ xíu, nhỏ bằng 1 phần tư hòn bi thủy tinh nhiều màu mà trẻ con thường chơi. Nó được sơn màu trắng, và được chế tạo bằng 1 loại thép riêng. Nó khác bi của trẻ con ở chỗ nó có cái đuôi xòe ra 4 cánh giống như đuôi hỏa tiễn, còn đầu nó thì thun lại, biến hòn bi thành chiếc tên bé tí hình bầu dục.
Nghe âm thanh và sức xuyên phá của hòn bi thép vào tường, Văn Bình biết nó là 1 thứ đạn mới do Đông Đức chế tạo. Trước đây, phản gián Smerch sô viết đã chế tạo đạn bi cho nhân viên chìm xử dụng để ám sát đối phương, song đạn bi này chưa được hoàn toàn chính xác. Bắn trong vòng 2, 3 thước, nó dễ trúng mục đích. Nhưng bắn xa hơn, đạn thường lạc khỏi mục tiêu. Mặt khác, nó lại xuyên phá rất yếu. Tình báo Đông Đức gắn thêm vào đuôi hòn bi 4 cánh hỏa tiễn khiến tầm bắn được nới xa hơn, sức xuyên phá lại mạnh hơn. Tuy nhỏ xíu, nó có thể giết chết con voi khổng lồ bằng 1 phát vào tim hoặc vào óc.
Khẩu súng bắn đạn bi lại rất giản dị. Gồm nhiều bộ phận tháo rời dễ dàng. Điệp viên muốn giấu súng ở đâu cũng được. Thường thường nó được giấu trong ống tẩu. Trông ống tẩu ngất ngưởng trên miệng, ai cũng đinh ninh là tẩu Dunhill, loại tốt nhất thế giới, vì điệp viên có thể nhồi thuốc vào nồi píp, châm lửa và thở khói đàng hoàng. Nhưng khi động dụng, điệp viên chỉ cần tháo ống tẩu ra làm 3 khúc, vặn vít lại với nhau là biến thành khẩu súng. Bỏ viên đạn bi vào miệng súng, bấm nút là viên đạn bi bắn vọt ra, bách phát bách trúng. Khi bắn ra, nó gây ra tiếng « phựt » khô khan, như mũi tên được bắn đi bằng ná.
Bắn đạn bi sau lưng, không thông báo trước cũng như không xuất đầu lộ diện, rõ ràng là đối phương chỉ nghĩ đến triệt hạ chàng, triệt hạ bằng mọi phương pháp. May thay, chàng đã tránh né được viên đạn thứ nhất. Địch phải bỏ hòn bi thứ hai vào nòng mới bắn tiếp được. Nên tích tắc đồng hồ trọng đại ấy đã được chàng khai thác triệt để. Chàng đâm nhào ra phía ngưỡng cửa.
Kẻ cầm súng lục bắn đạn bi là 1 thanh niên trạc 30, râu quai nón xồm xoàm, da ngăm ngăm, có lẽ người Thái. Bị phản công thần tốc và đột ngột, hắn lãnh đủ cú húc vào ngực. Cái đầu cứng như bê tông cốt sắt của điệp viên Z.28 húc hắn ngã lộn vào khung cửa buống tắm trước khi nhào xuống. Văn Bình lôi hắn dậy. Hắn toan vung quyền đánh trả thì chàng đã dùng ngón tay trỏ điểm vào huyệt tê gần nách. Cánh tay hắn đang cử động nhanh nhẹn bỗng thành nặng chình chịch như đeo tạ trăm cân. Hắn thở dài, ngã phịch xuống, đầu cụng vào khung cửa kêu cốp.
Văn Bình điểm vào huyệt đỉnh đầu đối phương. Hắn kêu đau oai oái :
-Đau quá, đau quá, trời ơi !   
Chàng cười nhạt, hỏi :
-Muốn hết đau không ?
Hắn rên rỉ :
-Muốn. Thưa ông, tôi chỉ là tay sai.
-Ông chủ của mày đi đâu ?
-Ông chủ nào ?
-Dixon. Hừ, mày định kéo dài thời giờ để đồng bọn đến cứu, phải không ?
-Tôi đâu dám. Thưa ông, để tôi nói. Ông chủ đã xuống tàu cách đây 2 giờ, dặn chúng tôi ở lại đợi ông.
-Biết rồi. Dixon xuống tàu đi đâu ?
-Sawan.
-Sawan là ở đâu ?
-Là ở …
Nói được nửa chừng, hắn bỗng ngậm miệng. Dường như hắn định cung khai thành thật để đổi lấy mạng sống nhưng 1 mãnh lực vô hình song ghê gớm đã hiện ra, chặn họng hắn lại. Dixon không có mặt trong khách sạn mà vẫn như lẩn quẩn quanh đây.
Văn Bình thúc giục :
-Còn rềnh rang gì nữa, Sawan là ở đâu ?
Vừa nói, chàng vừa chĩa ngón tay, từ từ dí vào chỗ trũng ở bả vai đối phương. Chàng tưởng hắn phải nói, nói để khỏi bị điểm huyệt. Từng bị điểm huyệt và từng quan sát phản ứng của người điểm huyệt, Văn Bình đã biết rằng điểm huyệt là 1 trong những môn tra tấn tinh vi và đắc lực nhất. Công an Gestapo của Đức quốc xã đã phát minh 1 số kỹ thuật tra tấn tàn bạo trong thế chiến thứ hai, nhắc lại ai ai cũng rùng mình rợn tóc gáy. Nhưng so với kỹ thuật của KGB sô viết thì mới là 1 vực, 1 trời. Mật vụ sô viết đã biến tra tấn thành 1 bộ môn khoa học, có phòng thí nghiệm tối tân, có trường sở huấn luyện và cấp bằng tốt nghiệp từ sơ đẳng đến cao đẳng. Tuy nhiên, khoa học tra tấn của mật vụ sô viết còn thua phép tra tấn bằng điểm huyệt. Những kẻ lì lợm nhất cũng trở thành ngoan ngoãn nhất dưới công dụng của atémi đánh vào huyệt đau.
Tên râu quai nón há hốc miệng khi thấy ngón tay vuông vức của Văn Bình chạm nhẹ vào xương đòn gánh. Sự sợ hãi ghê gớm đọc rõ trên mặt hắn. Nhưng hắn chỉ mở mắt nhìn chàng 1 cách khổ sở rồi  nhắm lại. Chàng nhắc lại câu hỏi, kèm theo lời hăm dọa :
-Mày không nói, bắt buộc tao phải tiếp tục điểm huyệt … Đừng trách tao tàn nhẫn, nghe chưa ?
Chàng ấn ngón tay xuống da thịt. Trong thâm tâm, chàng không muốn hạ độc thủ. Bị điểm vào huyệt vai, nạn nhân sẽ khó tránh khỏi tê bại. Sau này được bình phục, nạn nhân sẽ mắc chứng nhức đầu và phong thấp kinh niên. Ban đêm đầu nhức như búa bổ. Mỗi khi trở trời thì tay chân rời rã như bị đánh dập nát.
Chàng chỉ điểm huyệt giả vờ để gây áp lực của đối phương. Nhưng tên râu quai nón đã đánh ván bài thục mạng. Thừa cơ chàng nhân nhượng, hắn vùng dậy, 10 ngón tay đâm tua tủa vào giữa mặt chàng. Thế võ này rất tầm thường, quyền Việt, quyền Tàu, quyền Nhật đều có. Võ sinh nào cũng biết, nhưng nó rất lợi hại. Biết cách đánh, nó có thể gây trọng thương hoặc làm táng mạng dễ dàng. Têm râu quai nón đã tốn nhiều công phu tập luyện, song võ thuật của hắn chỉ là con số dê rô đối với điệp viên Z.28. Chàng lách sang bên, hươi tay chặn đòn. Hắn chạm vào người chàng, ngã vập về phía sau. Hắn lồm cồm bò dậy, cung quyền đánh tưới. Miễn cưỡng, Văn Bình phải kết thúc cuộc đấu bằng 1 đòn hiểm vào bụng. Nạn nhân khuỵu xuống, song trước khi chịu nằm mọp trên đất, còn tìm cách bám lấy Văn Bình. Chàng đá mũi giày vào đùi hắn, giọng vỗ về :
-Sawan là đâu ? Mày nói đi, tao sẽ gọi điện thoại cho nhân viên quản lý khiêng mày xuống, rịt thuốc.
Tên râu quai nón quay mặt vào thường. Văn Bình dỗ dành lần nữa :
-Hay mày cần tiền ? Bao nhiêu cũng có, nói đi.
Hắn nhổ bẹt bãi nước bọt rồi đáp :
-Vô ích, đừng thuyết giảng như ông thày tu nữa. Thằng này không nghe đâu. Muốn giết thì giết.
Văn Bình cúi xuống :
-Đành vậy, tôi ráng cứu anh mà không chịu đáp ứng. Tôi cho anh 1 phút nữa để cân nhắc hơn thiệt.
Têm râu quai nón nín lặng, vẻ mặt bình thản, đường như bắt đầu suy nghĩ. Rồi hắn mở mắt ra, giọng ngọt ngào :
-Anh giữ lời hứa nhé !   
Văn Bình mỉm cười :
-Có thế chứ ! Tôi không phải hạng người nói trước quên sau đâu. Chắc ông chủ anh đã cho anh biết tôi là đại tá Văn Bình.
-Biết. Tôi bằng lòng nói với điều kiện …
Hắn ngưng nói lần nữa, lưỡi lè ra liếm mép, có lẽ khát nước và mệt mỏi.
Văn Bình nhìn quanh phòng :
-Để tôi lấy nước cho anh uống.
Chàng mở tủ lạnh lấy hộp nước ngọt Seven Up, khui ra, mang lại, rồi cúi xuống nâng đầu cho tên râu quai nón uống. Hắn ghé  môi vào hộp nước ngọt bốc hơi lạnh, mắt nhìn Văn Bình tỏ dấu cám ơn. Văn Bình không thể ngờ được cái nhìn thân thiết ấy chỉ là cái nhìn của đao phủ thủ, trước phút hành quyết ước định xem nên chém mã tấu vào nơi nào trên cổ để đầu tử tội rơi ra tức khắc. Và nếu chàng không phải là võ sĩ thượng thặng, thu thập nhiều kinh nghiệm quốc tế thì đã bị giết chết tươi.
Bị giết chết bằng lưỡi dao nhọn giấu trong tay áo.
Loại ám khí này đã được phát minh từ lâu, từ thời thượng cổ bên Trung hoa. Giới võ lâm giấu dao nhọn ở cánh tay, giả vờ bỏ chạy rồi quay lại vẫy tay áo rộng, tung dao hạ thủ đối phương. Tuy nhiên, phải chờ đến đại chiến thứ hai làng điệp báo tây phương mới biết xử dụng. Một số điệp viên Đức quốc xã cũng như đồng minh giấu súng trong tay áo vét tông. Khi động dụng chỉ cần bóp chặt bàn tay là khẩu súng tuột xuống, sẵn sàng để nhả đạn, thường là đạn ghém hoặc đạn thuốc độc.
Lưỡi dao nhọn nằm trong tay áo tên mang râu quai nón cuộc loại phi đao, nghĩa là chỉ gồm 1 hoặc 2 lưỡi dao nhỏ xíu, mũi nhọn như mũi dùi, cắt khía trái khế như lưỡi lê, được chế tạo bằng thép đặc biệt, có thể đâm xuyên cánh cửa gỗ lim dầy như qua bơ : cách xa 5 thước có thể xuyên thủng 20 phân gỗ cứng. Lừa Văn Bình ghé mặt lại gần, tên râu quai nón vung bàn tay phải cho lưỡi dao phóng ra.
Nếu là người khác thì chắc chắn Văn Bình đã lãnh đủ mũi dao tử thương vào cuống họng. Vì theo sự đo lường của các nhà khoa học, con người bình thường phản ứng trước nguy hiểm trong vòng 80 phần trăm giây đồng hồ. Số thời gian này không đủ để né tránh mũi dao được phóng đi bằng động cơ giấu trong tay áo. Đối với võ sĩ dày công tập luyện, số thời gian 80 phần trăm giây đồng hồ được rút xuống còn phân nửa, nghĩa là là 40 phần trăm giây đồng hồ. Tuy vậy, cũng vẫn né tránh không kịp. Vì lưỡi dao được bắn bằng lò so lại nhanh hơn. Văn Bình thuộc vào đẳng cấp võ sĩ đặc biệt, thần kinh hệ hòa hợp vẹn toàn với thớ thịt, đường gân như máy điện tử nên thời gian phản ứng tuột xuống mức kỷ lục 20 phần trăm giây đồng hồ. Muốn đạt được kỷ lục này, việc tập luyện kiên nhẫn cũng chưa đủ. Cần phải am tường tinh hoa của các môn quyền thần tốc trên thế giới nữa.
Trong nhiều năm luân lạc, Văn Bình đã học được mọi thứ quyền pháp. Ngoài những quyền được biết tiếng như quyền Tàu, quyền Anh, quyền savate của Pháp, quyền sambo của Nga la tư, chàng còn học quyền Ba tây (3), quyền quần đảo Canaries (4), và quyền Ái nhĩ lan (5) nữa. Riêng về quyền thuật Á đông, chàng đã đi sâu vào mọi trường phái, nhất là ở Trung quốc và Nhật bản. Nước Nhật có nhiều môn quyền khác nhau, cả đến người Nhật cũng chưa biết hết, chứ chưa nói học hết. Văn Bình lại đã nghiên cứu gần 20 môn võ của xứ Phù tang Tam đảo (6). Và đặc biệt là môn võ tai-sabaki, tức là môn né đòn của nhu đạo. Kỹ thật né đòn của chàng đã lên tới trình độ cao siêu nhờ chàng phối hợp tai-sabaki với Ninjutsu và Thần ảo công (7).
 
(3) quyền Ba tây hay capoeira.
(4) quyền quần đảo Canaries là Las Luchas canarias.
(5) quyền Ái nhĩ lan là Glima.
(6) các môn võ của xứ Nhật cổ xưa được gọi chung là bu-jitsu hoặc bushi-awaza (quyền thật). Có chừng 20 môn phái, như jiu-jitsu, ken-jitsu, iai-jitsu, djite, bo-jitsu, torinawa, tachi-oyogi, tanto-jitsu, shuri-ken-jitsu, tessen-jitsu, kyu-jitsu, joba-jitsu, nin-jitsu, karaté, aiki-jitsu, jo-jitsu, tambo-jitsu, …
Đánh cận chiến thì có jiu-jitsu, karaté, aiki-jitsu, yawara, …
Đánh dao thì có tanto-jitsu, phóng dao : shuri-ken-jitsu, đánh thương : djita, yari, …, đánh kiếm : ken-jitsu, …
(7) theo Kyuzo Mifune, danh sư nhu đạo hiện hữu của Nhật thì kỹ thuật Tai-sabaki là giai đoạn nhập môn nhu đạo và cũng là giao đoạn hoàn thiện võ thuật để biến võ sĩ nhu đạo thành vô địch.
 
Vì vậy, lưỡi dao vừa ra khỏi cánh tay áo tên mang râu quai nón thì Văn Bình đã nghiêng mặt sang bên phải để tránh. Và chàng không thể tiếp tục nhân nhượng với đối phương thêm nữa. Bàn tay phải của chàng giáng xuống như cái búa chẻ củi. Nạn nhân hự 1 tiếng rồi tắt thở.
Văn Bình ra trước gương buồng tắm, rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, chải lại mớ tóc rối bù, rồi khoan thai mở cửa ra hành lang. Vừa đi, chàng vừa lẩm bẩm :
-Sawan ! Sawan ! 
 
Tủ sách Z.28
 Người Thứ Tám
MÈO XIÊM CỌP THÁI
 
 
đảtự : trandatrau.2016
 
 
VII
Hẹn về phương Nam
 
Sawan là 1 trong nhiều bến tàu nhỏ bé, không có tầm quan trọng hàng hải ở phía nam Thái lan. Lãnh thổ Thái lan có thể được ví với bao tử của loài nhai lại, bên trên phình ra thành 2 cái túi, 1 túi chĩa về phía Diến điện, 1 túi giáp giới Lào-Miên. Còn bên dưới thóp lại, chạy dài như vệt chỉ suốt mấy trăm cây số giữa 2 vịnh Xiêm la và vịnh Băng gan trước khi dính vào Mã lai Á ở phía nam.
Từ thủ đô Vọng các xuống phía nam toàn núi là núi, toàn rừng là rừng, và toàn biển là biển. Hai bên là biển, giữa thì núi và rừng. Trục lộ giao thông đường như không có, ngoại trừ đường xe lửa, hoặc đường biển, hoặc đường hàng không. Sawan tọa lạc bên bìa rừng, cách Surat Thani, là 1 hải cảng bậc trung khoảng 150 cây số về hướng bắc. Muốn từ thủ đô xuống Sawan, phải qua 1 số thị trấn như Rat Buri, Pran Buri, và mỏm đất Kra.
Si Thoeng giải thích về vị trí Sawan cho Văn Bình nghe trên 1 bản đồ Thái khá rộng. Nàng hơi nhăn mặt khi nghe Văn Bình nhắc đến bến tàu Sawan :
-Thú thật với anh, em đã nhiều lần đi về miền nam, nhưng ít khi ghé Sawan vì đó chỉ là 1 bến tàu không đáng kể, được dùng để vận chuyển quặng mỏ. Chắc anh cũng biết miền nam có nhiều mỏ kẽm. Một phần quan trọng của kỹ nghệ khai khoáng ở miền nam hiện nằm trong tay người Tàu. Mà người Tàu thì anh chẳng lạ gì. Họ không quan tâm đến chính trị. Hơn nữa, 1 số Hoa kiều lại nghiêng về ảnh hưởng Bắc kinh. Em đề nghị không nên đi Sawan thì hơn.
Văn Bình nhìn nàng, vẻ kinh ngạc :
-Tại sao ?
Nàng gấp bản đồ, cất vào xắc da :
-Vì Sawan ở trong 1 vùng được coi là kém an ninh nhất ở Thái. Tàn quân du kích cộng sản Mã lai bị đánh bật lên phía bắc đang lẩn quẩn trong núi. Mỗi khu mỏ kẽm lại là 1 giang sơn riêng. Nếu Dixon đi Sawan, hắn đã đề phòng chu đáo. Tìm hắn trong lúc này khác nào mò kim đáy biển. Anh không biết hắn ở đâu, song hắn lại có thể biết được đường đi nước bước của anh. Em sợ nhân viên của hắn sẽ phục sẵn dọc đường để ám hại anh.
Văn Bình lắc đầu :
-Vì công việc, anh không sợ chết. Anh phải lên đường ngay.
Si Thoeng thở dài :
-Anh không nói đi Sawan làm gì, nhưng em đoán biết là việc vô cùng quan trọng. Lộ trình qua đèo, xuyên núi rất nhiêu khê. Người Thái chính cống cũng có thể lạc đường, huống hồ là anh. Em khuyên anh không nên đi, song nếu anh cương quyết thì em phải nghe theo.
-Đại để anh muốn gặp Dixon càng sớm càng tốt. Hắn đã xuống du thuyền Bồng lai xuôi về Sawan. Anh hy vọng đến nơi bằng đường bộ trước hắn vài ba giờ đồng hồ. Công tác của anh rất nguy hiểm, anh không thể cho em đi theo.
-Thì anh sẽ lạc đường ! Một khi đã vào rừng thì hàng tuần chưa ra nổi. Em sẽ người hướng đạo đắc lực và trung thành của anh.
-Không. Anh chỉ đi 1 mình.
-Anh nên nghe em. Em van anh, có em 1 bên anh sẽ ít gặp khó khăn hơn. Một số bộ lạc thiểu số còn sống bán khai trong rừng rậm miền nam. Tình trạng ngôn ngữ bất đồng sẽ làm anh thiệt hại nặng nề. Vả lại, …
-Cám ơn em. Trong vòng 3 ngày nữa anh sẽ trở lại. Lần này anh sẽ lưu lại Vọng các với em thật lâu.
-Đó là chuyện sau. Bây giờ nhắc đến chuyện về miền nam mà thôi. Em biết 1 lối tắt xuyên rừng. Đi với em, anh có nhiều hy vọng đến trước.
Văn Bình cười tủm tỉm :
-Anh có cảm tưởng em là võ sĩ Sơn đông quảng cáo thuốc dán gần khách sạn Rama.
Mặt Si Thoeng nghiêm lại :
-Em nói thật đấy. Đứng trước Thần Chết mà anh còn đùa được ư !
Văn Bình thẫn thờ rút thuốc Salem ra hút. Sau khi thở 1 hơi khói dày, chàng mới chậm rãi hỏi :
-Anh nhất định không cho em đi theo. Em còn định theo anh nữa không ?
Nàng nhìn thẳng vào mắt chàng :
-Anh là ân nhân của em. Riêng điều này đã đủ cho em xả thân, phương chi anh lại là người yêu của em nữa. Dĩ nhiên anh sẽ trả lời rằng chúng ta là người khác chủng tộc, khác hoàn cảnh. Tình yêu của chúng ta chỉ có thể là tình yêu giang hồ, biết ngày nay, không biết ngày mai. Nhưng anh không yêu em, em vẫn cứ yêu anh. Anh đuổi em, em vẫn 1 mực theo anh vì thưa anh, em không thể dửng dưng trước những biến cố ghê gớm đang chờ anh dọc đường từ đây xuống Sawan.
Văn Bình nâng cằm nàng lên. Nàng hé môi, ngửa cổ đợi chàng hôn. Chàng ôm chặt nàng vào lòng. Tuy nhiên, trong khi nàng say sưa vì nụ hôn cháy bỏng, Văn Bình đã ấn đầu ngón tay vào mê huyệt gần đốt xương sống thứ 8 của nàng.
Huyệt này, theo võ Trung hoa, được gọi là tình miên huyệt. Bị điểm trúng huyệt, nạn nhân sẽ mê man, nửa mê nửa tỉnh, hoàn toàn tách khỏi ngoại cảnh, lâng lâng như kẻ được ân ái với thần Vệ nữ, còn lâng lâng hơn cả hít 1 gờram bạch phiến, thứ nguyên chất. Khoảng 700 năm trước tây lịch, thời gian mà võ thuật mới được khai sinh ở Nhật bản, lúc đó có 1 phái võ Trung hoa thế thiên hành đạo dọc rặng núi Côn lôn ở miền tây bắc nước Tàu. Gần chân núi trong tỉnh Thanh hải, có 1 cái hồ ngày nay là hồ Ô lĩnh, 1 số võ sĩ nổi tiếng của môn phái này lập am cỏ bên bờ hồ đêm ngày luyện công, và phát minh ra 1 phép điểm huyệt kỳ lạ, mệnh danh là miên huyệt pháp. Miên huyệt pháp chỉ chú trọng đến những huyệt trên cơ thể con người làm tiêu tan đau đớn, và tạo ra cảm giác sung sướng xuất thần. Điểm vào huyệt thì người bị chặt tay chân cũng không biết đau. Tùy theo điểm huyệt nhẹ hay mạnh, nạn nhân sẽ hôn mê trong sung sướng hoặc sung sướng đến độ đứt mạch máu mà chết, hoặc tứ chi bất động biến thành tảng đá vô tri giác.
Những cuộc nội chiến dằng dai đẫm máu đã làm chi phái miên huyệt mất dần võ sư để rồi mấy thế kỷ sau Thiên chúa giáng sinh thì miên huyệt pháp bị thất truyền. Không rõ lý do nào miên huyệt pháp lại được du nhập vào nước Nhật vào giữa thế kỷ thứ 17. Hồi ấy, 1 nhà sư Trung hoa, pháp danh Cheng young Ping đến kinh đô Nhật thời đó gọi là E đô, chứ chưa gọi là Đông kinh, tu trong chùa Kokushoji để truyền bá Hán tự và đạo Phật, đồng thời dạy võ thuật. Có lẽ tàn tích của chi pháp Ô lĩnh đã qua Nhật cùng 1 lúc với các tu sĩ như Cheng young Ping. Tuy vậy, miên huyệt pháp chỉ được truyền dạy cho 1 số ít võ sư Nhật. Văn Bình được học là do tình cờ. Phần khác cũng bởi chàng có biệt khiếu về học võ, học đâu nhớ đấy, học 1 biết 10. Lệ thường, khóa sinh ở học hiệu Kodokan –thánh địa của nhu đạo Nhật bản- phải mất 2, hoặc 3 năm là ít mới đoạt được đai đen đệ nhất đẳng. Nếu không có tài võ thiên phú thì 5, 7 năm cũng vị tất tốt nghiệp. Vậy mà Văn Bình chỉ mất vỏn vẹn 1 năm.
Từ nhập môn đến đai đen đệ nhất gồm 6 bậc. Từ bậc 6 đến bậc 1 : 3 bậc đầu thì thắt đai trắng, còn 3 bậc sau thì thắt đai nâu (8).
 
(8) 6 bậc này, theo thứ tự thì từ thấp đến cao, nghĩa là từ bậc 6 lên đến bậc 1 (tiếng nhật gọi « bậc » là « kyu » ), là rokkyu, gokyu, shikyu, jonkyu, sankyu, nikyu. Tại Âu châu, thể thức thắt lưng được thay đổi như sau : trắng, vàng, cam, lục, xanh, và nâu, cũng tính từ cấp 6 lên cấp 1.
 
Từ đai đen cấp 1 trở đi –có tất cả 12 cấp trên nguyên tắc. Tổ sư nhu đạo là Jikoro Kano được truy thăng cấp 12, cấp cao nhất, sau ngày từ trần. Từ đai đen đệ nhất đến đai đen đệ lục thì thắt đai đen. Đệ thất thì thắt đai đen hoặc đỏ-trắng. Từ đệ bát lên đệ thập nhất thì thắt đai đỏ. Và đệ thập nhị đẳng thì dùng đai trắng, nghĩa là cùng màu với giây lưng nhập môn, duy khác là lớn gấp đôi.
Ban giảng huấn trường nhu đạo gồm toàn đai đỏ - trắng tỏ ra ngạc nhiên trước những tiến bộ khác thường của võ sinh Văn Bình. Từ đai đen đệ nhất lên đệ nhị, tối thiểu phải mất 6 tháng, và từ đệ nhị lên đệ tam, tối thiểu 1 năm. Song Văn Bình chỉ cần phân nửa thời gian bắt buộc để mang giây lưng đệ tam (9).
 
(9) từ đệ tam lên đệ tứ đẳng, thời gian tối thiểu là 1 năm. Đệ tứ lên đệ ngũ : 2 năm. Đệ ngũ lên đệ lục : 5 năm. Nghĩa là tối thiểu phải mất 12 năm tập luyện ráo riết mới lên được đệ lục đẳng (đó là chưa nói đến điều kiện phải là võ sĩ tuyệt luân, đánh đâu thắng đấy, nếu không thời gian 12 năm sẽ vọt lên … 33 năm ). Số võ sĩ đệ thập đẳng rất ít, độ vài ba vị còn sống trong số gần nửa triệu đai đen ở Nhật.
Nếu chàng có điều kiện lưu lại Nhật 1 thời gian nữa, chàng có thể thắt lưng đỏ - trắng. Công việc đòi hỏi chàng tiếp tục lên đường. Sau đó, chàng quay lại xứ Phù tang Tam đảo, và trong cuộc khảo thí chớp nhoáng đã được thăng đai đen đệ tứ đẳng.
Hồi học ở Kodokan, Văn Bình được 1 giáo sư để ý. Ông ta trạc 60, nhưng mọi người nói là tuổi thật trên 90. Nhờ tập luyện nhu đạo, và đạt tới trình độ thượng thừa ông đã trẻ đi 30 tuổi. Ông mang thắt lưng đệ thập đẳng, đai đỏ. Mỗi khi Văn Bình tập luyện, ông thường đến coi. Và nhiều lần ông chỉ đứng nhìn mà không nói. Không khen ngợi, cũng không chê bai. Thậm chí cũng không mỉm cười nữa.
Mãi sau Văn Bình mới hiểu. Thì ra ông già muốn thu nạp chàng làm môn đệ. Ông ta theo dõi như vậy trong gần 1 tháng. Một ngày kia, ông nói với Văn Bình :
-Ta nhận thấy cháu đánh atémi lợi hại hơn võ sĩ đệ tứ đẳng rất nhiều tuy cháu mới thăng đệ tam. Tuy nhiên, cháu chưa nắm vững được vị trí các huyệt. Hoặc chỉ mới học được 1 số huyệt thông thường. Sau khi quan sát cháu, ta nhận thấy cháu là võ sĩ có nhiều triển vọng vô địch nên quyết định truyền lại 1 vài phép mọn cho cháu.
Văn Bình theo ông già về ngoại ô thành phố Đông kinh. Chàng lưu lại 2 tuần lễ để học miên huyệt pháp. Kỹ thuật điểm huyệt độc nhất vô nhị này từ núi Côn lôn bên Trung hoa được du nhập vào đất Phù tang, rồi được Nhật hóa, gần như biến thành 1 bộ môn của nhu đạo.
Từ nhiều năm nay, ít khi Văn Bình xử dụng miên huyệt pháp. Nhưng lần này ở Vọng các … Ngón tay của Văn Bình vừa ấn xuống thì Si Thoeng mềm hẳn thân thể. Nàng nhẹ nhàng khuỵu xuống. Nhờ được ông già đệ thập đẳng nhu đạo chỉ bảo cặn kẽ, Văn Bình có thể tính trước được thời gian ngủ mê. Nàng sẽ ngủ thiếp đi 6 giờ đồng hồ, nghĩa là đến trưa nàng mới tỉnh dậy. Khi ấy Văn Bình đã đi xa. Nàng sẽ không mệt mỏi, đắng miệng, nhức đầu, hoa mặt, rã rời tứ chi như cảm giác sau khi tỉnh dậy của những nạn nhân bị đánh atémi. Vì đây là loại atémi gây ra khoái lạc. Nàng sẽ tỉnh lại trong sự phấn chấn. Nàng sẽ yêu đời như xưa.
Và nàng sẽ quên được chàng.
Văn Bình bế nàng đặt ngay ngắn lên giường, rủ mền đắp đến cổ. Trong giấc ngủ, nàng hơi hé miệng, dường nhưng mỉm cười, làm nũng đợi chàng hôn. Chàng hôn thoảng vào cặp môi khả ái, đoạn tắt đèn, khóa trái cửa, vứt chìa khóa qua cửa sổ vào phòng –căn phòng riêng của Si Thoeng trên đường Sathorn- rồi ra đường.
Lê Diệp chờ chàng trong xe díp. Đúng hơn đây là xe díp được chế tạo theo kiểu Amphicar, có thể chạy trên bộ và lội dưới nước. Thấy bạn, Lê Diệp giơ tay vẫy. Văn Bình trèo lên, ngồi cạnh Lê Diệp. Chiếc díp phóng nhanh về phía sông đào Klong Hualam Pong.
Lê Diệp nói :
-Ngay sau khi anh gọi điện thoại, tôi đã liên quan khẩn cấp với Sàigòn để xin chỉ thị. Ông Hoàng đáp là chúng ta không nên yêu cầu tình báo địa phương yểm trợ. Nghĩa là kế hoạch sắp sẵn từ trước vẫn được giữ lại, không thay đổi, mặc dầu Dixon đã đi Sawan.
Văn Bình hỏi :
-Ông Hoàng chấp thuận cho tôi đi Sawan không ?
-Chấp thuận. Về câu hỏi liên quan đến cô gái mang tên Si Thoeng, ông Hoàng chưa tìm được chi tiết nào khả dĩ giúp anh, nên cho phép anh tùy nghi định đoạt.
-Còn về Akita ?
-Gấp quá nên chưa thể trả lời. Tuy nhiên, ông Hoàng nói là nếu đúng như anh tiên đoán và linh tính thì sự việc sẽ xảy ra theo chiều hướng khác, và triển vọng thành công sẽ gia tăng.
-Tôi cũng nghĩ như vậy. Còn anh, anh cùng đi với tôi hay phải ở lại ?
-Ở lại. Vì tôi phải làm gạch nối giữa anh và Sàigòn. Trong xe, tôi đã để sẵn điện đài cho anh. Khi cần, anh hãy liên lạc với tôi. Mặt khác, vì đường về miền nam gồm toàn rừng núi hiểm trở nên tôi đã xoay cho anh chiếc xe díp đặc biệt này của hãng Amphicar. Trên bộ, tốc độ của nó là 120 cây số, hoặc nhiều hơn nữa. Dưới nước, nó có thể chạy được 15 cây số-giờ (10).
 
(10) xe Amphicar do công ty Deutsche Wagon und Mas-Chinen GmbH, Bá linh chế tạo. Kiểu 770 gắn động cơ 1.147 phân khối, ra đời năm 1961. Các sở giáp điệp mua  về chế biến lại để dùng vào những công tác trèo đèo, xuyên rừng, lội suối, thay thế cho phi cơ trực thăng.
 
-Xe « cầm nhầm », phải không ?
-Không. Chuyến này tôi cố làm ăn lương thiện. Để theo dõi tình hình kiều bào ở các tỉnh đông bắc bị cộng sản trà trộn, Sở đã mở 1 hãng chuyên chở ở đây. Đường bộ, đường thủy đủ cả. Tôi mò đến văn phòng lão giám đốc trình giấy tờ của ông Hoàng để mượn xe. Hắn dẫn tôi khắp nơi, giới thiệu đủ kiểu xe cho tôi lựa chọn. Thấy cái Amphicar này thích hợp với đường sá miền nam, nên tôi đòi lấy. Hắn tự tay coi lại máy móc, bơm mỡ và dầu nhớt.
-Anh đánh thức hắn giữa giấc ngủ ?
-Dĩ nhiên. Hắn có tổ ấm ngay cạnh văn phòng. Hắn đang độc thân như anh vậy.
-Hừ, anh không độc thân sao ?
-Nhưng lại khác anh. Tôi độc thân là độc thân, chứ không mỗi đêm mỗi ngủ với đàn bà lạ như anh. Lão tổng giám đốc hãng chuyên chở đang tò tí te với cô thư ký thì tôi lò dò tới.
-Anh chuyên môn phá đám những giây phút mê ly của người khác. Cô thư ký đẹp không ?
-Biết trước anh hỏi câu này, tôi đã quan sát thật tường tận. Nàng là người Thái song nước da không đến nỗi ngăm ngăm. Khó tính như anh cũng phải bằng lòng. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng là hắn ghen kinh khủng.
Chiếc Amphicar đã ra đến ngoại ô Vọng các. Lê Diệp bớt ga xăng rồi lái vào lề :
-Hết giờ nói chuyện phiếm rồi. Tôi quay lại đây.
Văn Bình hỏi bạn :
-Anh về bằng gì ?
Lê Diệp nhún vai :
-Trời gần sáng. Chỉ độ 30 phút nữa là xe cộ tấp nập. Vả lại, tôi cũng muốn bách bộ 1 lúc cho mát. Mấy hôm trước ở Sàigòn, tôi bị ông Hoàng quần suốt ngày đêm, có khi liền tù tì 24 trên 24. Thậm chí không có cả 15 phút để nhai miếng xăng uých nữa.
-Việc gì  bận thế ?
-Ôi dào, thôi thì đủ việc. Nguyên Hương bị cúm, nằm liệt giường, trăm công ngàn việc đều trút lên đầu tôi.
-Còn Triệu Dung ?
-Ông ấy sang Đông kinh nghỉ phép. Văn phòng vắng ngắt như chùa bà Đanh. Cô Quỳnh Loan thì phải huấn luyện cấp tốc cho 1 đám con gái mới đầu đơn gia nhập Sở.
-Ông cụ vẫn bình thường chứ ?
-Vẫn. có lẽ còn khỏe hơn trước nữa kia.
-Này, …
Văn Bình gọi giật Lê Diệp. Chàng định hỏi bạn về sức khỏe Văn Hoàng, đứa con trai kháu khỉnh và nghịch ngợm của chàng với Quỳnh Loan, nữ quái đa tình của Sở Mật Vụ. Song chàng lại lặng thinh. Dầu sao thì Văn Hoàng cũng đã ra đời, chàng đã có con, và có trách nhiệm đối với nó. Đành rằng nó được Sở nuôi nấng, nhưng còn có những nhu cầu mà đạo binh y sĩ và điều dưỡng lỗi lạc với Sở không thể cung cấp nổi : nhu cầu tinh thần, nhu cầu của tình phụ tử, … Đã lâu lắm Văn Bình chúi mũi vào công tác hiểm nghèo, hoặc hưởng thụ hoan lạc, nên không về thăm con. Đột nhiên, ruột gan chàng nóng như lửa đốt. Chàng muốn mọc cánh bay ngay về quê hương, bồng bé Văn Hoàng vào lòng. Lê Diệp đọc được ý nghĩ thầm kín và lắt léo của bạn. Chàng nói giọng chậm rãi :
-Anh muốn hỏi thăm tin tức của cháu nhỏ, phải không ? Anh yên tâm, nó đã biết lựa đồ chơi. Nó đã đốt của ông tổng giám đốc không biết bao nhiêu giấy bạc nữa.
-Chữ « đốt » của anh mang nghĩa đen hay nghĩa bóng ?
-Cả hai.
-Nghĩa là nó khoái đốt giấy bạc làm đuốc như công tử Bạc liêu ngày nọ ?
-Cũng gần như thế. Ông cụ xếp 1 hàng giấy bạc trước mặt nó. Nó nhìn 1 phút rồi chọn tờ 500. Mỗi khi ông cụ lại thăm, nó khóc ré lên, đòi bế. Được bế rồi, nó đòi quẹt lửa cho nó ngắm nghía, và đốt vài ba tờ bạc 500.
-Trời đất ơi !
-Nghĩa là là cháu Văn Hoàng cũng ngỗ nghịch không kém bố Văn Bình của nó. Ông tổng giám đốc kể lại là hồi anh còn nhỏ xíu, anh bóp bẹp mỗi  ngày hàng thúng cam quít khiến song thân anh muốn điên cái đầu. Thú thật tôi không ngờ anh lại thích bóp bẹp cam quít như ông Hoài văn hầu Trần quốc Toản xưa kia …
Văn Bình cười nụ :
-Ông Hoàng nhớ dai ghê !  Phải, hồi còn bé, tôi chỉ khoái chơi cam thôi. Nhưng tôi không giống ông Trần quốc Toản vì khi bóp bẹp trái cam, ông ta còn thiếu niên. Vả lại, ông tức giận vì quốc sự nên có cử chỉ này. Còn tôi, vì bàn tay tôi ngứa ngáy suốt ngày, để yên 1 lát là không sao chịu được. Chung quy cũng do mẹ tôi có 1 vườn cam và quít ngọt kinh khủng. Cam thì Xã đoài, Bố hạ, thứ nào cũng trồng hơn 100 cây. Còn quít thì cũng đủ loại quít giấy, quít đào, hàng năm cứ đến mùa là ngày nào cũng hái vào 5, 7 thúng lớn.
Năm ấy tôi mới  lên 2, hoặc lên 3 gì đó. Dường như tôi làm nũng nên mẹ tôi ấn cho tôi 1 rổ quít để tung chơi cho đỡ buồn. Không ngờ vớ được rổ quít tôi liền lấy từng trái, đặt lên đất và dẫm nát. Mẹ tôi vốn nuông con nên không nói gì cả. Vả lại, nói cũng vô ích vì tôi còn quá nhỏ. Mẹ tôi đem chuyện bàn với cha tôi, cha tôi cười và đáp hôm sau đừng đưa quít nữa, mà là đưa cam. Con nít lên 2 tuổi mà dẫm bẹp được trái quít đã là 1 hiện tượng lạ lùng, và cha tôi nghĩ rằng tôi không thể nào tạo ra hiện tượng lạ lùng hơn nữa với trái cam lớn gấp đôi. Vậy anh biết tôi xử sự ra sao không
-Anh lại dẫm bẹp rổ cam ! 
-Đâu có dễ dàng như anh tưởng. Anh đừng quên tôi chỉ là đứa trẻ còn bú sữa, cất tiếng còn bập bẹ, tay chân bé tí còn yếu hơn xương gà, 2 bàn tay vẫn chưa ôm được quả cam chứ nói là bóp bẹp nó nữa.
-Vậy anh làm cách nào ?
-Cha tôi thâm trầm lắm. Ông dặn mẹ tôi đưa cam Xã đoài cho tôi chơi. Cam Xã đoài là cam chanh, ruột cứng, vỏ lại dày, không như cam Bố hạ, hoặc quít vỏ mỏng. Bản tâm của ông là ngăn ngừa tôi hư hỏng. Nhưng tôi nghĩ ra 1 cách : ngồi chận lên trên. Thoạt đầu trái cam hất tôi ngã, nhưng lâu dần nó bị đè bẹp. Ngày thứ nhất, tôi phá 1 trái. Ngày thứ hai, cũng vậy. Dần dà, tôi bóp bằng tay, mỗi lúc bóp 1 chút. Năm lên 3 tuổi, tôi đã khét tiếng trong vùng là tiểu vương bóp cam.
-Thảo nào ! Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Hồi nhỏ, anh phá hết vườn cam của 2 cụ thì giờ đây con anh lại đốt hết giấy bạc của anh. Tuy vậy, anh cũng nên hãnh diện đi : thằng Văn Hoàng không giống con nít cùng lứa, nó chỉ thích chơi võ khí. Ông tổng giám đốc mua cho nó 1 nhà đồ chơi, toàn là súng lục, súng trường, dao, kiếm.
Lê Diệp co chân nhảy xuống vệ cỏ. Chàng sếu vườn muốn kết thúc câu chuyện tâm tình. Hơn ai hết, chàng đã biết Văn Bình là con người giàu tình cảm. Nhiều lần đa mang mỹ nhân, điệp viên Z.28 đã làm hỏng công việc khi đã tới đích. Lần này nhớ đến đứa con trai đầu lòng, có thể điệp viên Z.28 sẽ bị Dixon đánh bại dễ dàng.
Trong chớp mắt, chàng sếu vườn Lê Diệp đã khuất vào bóng tối lúc trời sắp rạng đông.
Văn Bình thở dài, tống hết ga xăng phóng về phía nam.
***
*****
*******
Từ Vọng các đến Phet Buri, con đường dài trên dưới 100 cây số. Chiếc Amphicar phóng hết tốc lực mặc dầu đường trải đá có nhiều ổ gà. Loại xe này thường thích hợp với địa hình hiểm trở. Văn Bình vượt qua Phet Buri thì mặt trời đã đỏ rực ở phương đông. Qua Phet Buri, lộ tình bắt đầu khó khăn. Con đường về phía nam đang làm dở dang, nhiều đoạn còn gồ ghề, xiên xẹo. Văn Bình phải giảm tốc độ xuống 40 cây số 1 giờ.
Bên phải là rặng núi chạy dài, đỉnh cao ngất tưởng như thấu tới mây xanh. Hơn ai hết, Văn Bình đã biết bề cao của rặng trường sơn chỉ là loạn ảnh. Dưới ánh mặt trời buổi sáng ở xứ nóng, núi non thường có vẻ cao hơn, biển có vẻ rộng hơn. Bên trái chàng là biển. Văn Bình vốn thích lái xe dọc bờ biển. Cảnh trời nước bao la 1 bên xa lộ tạo ra cảm giác lâng lâng thoải mái nên các kỹ sư kiều lộ tây phương tìm mọi cách để xẻ đường song song với biển. Mỗi khi có dịp qua Âu Mỹ và có thời giờ rỗi rãi, chàng không quên thót lên xe –dĩ nhiên phải là xe đua ngốn đường trên 200 cây số giờ- phóng như bay trên xa lộ tráng nhựa bê tông dọc bờ biển để tận hưởng làn gió mằn mặn khỏe khoắn mùa hạ thì mát rợi, mùa đông thì ấm áp.
Ở trong nước, có lần chàng bốc đồng lên sân bay Tân sơn nhất, năn nỉ với mấy ông bạn trong không đoàn để xin 1 chỗ ngồi trên phi cơ ra miền Trung để được lái xe … nhìn biển. Phi cơ thương mãi thường có hành khách đầy đủ, và cất cánh theo giờ giấc nhất định nên Văn Bình chỉ có thể trèo lên phi cơ quân sự. Anh em thân ít khi bỏ rơi chàng mình trên sân bay. Vả lại, điệp viên Văn Bình là người nổi tiếng, ai cũng mong được hân hạnh quen chàng. Hơn nữa, chàng là đại tá hiện dịch. Trong quân đội, leo được lên đến cấp 3 bông mai bạc không phải là dễ. Người ta hỏi chàng đòi ra Trung cấp tốc để làm gì thì chàng giơ 2 cánh tay lên trời :
-Để làm gì hả ? Để chạy xe dọc bờ biển cho đỡ nhớ.
Ai cũng tưởng chàng nói đùa để giữ bí mật công tác. Bí mật là nhiệm vụ hàng đầu của nghề điệp báo. Bởi vậy, khi nghe chàng đáp, mọi người chỉ nhún vai, cười mỉm và không phê bình gì cả.
Cho đến 1 buổi tối trăng sáng đầy trời.
Đêm trăng rằm vẫn là đêm của tuổi trẻ yêu đương. Nằm khoèo ở Sàigòn buồn thối ruột, Văn Bình bèn thót lên chuyến phi cơ cất cánh sớm nhất để ra Đà nẵng. Đến nơi thì quá nửa đêm. Không có xe xì gà, chàng mượn tạm chiếc DS-21. Với loại xe chạy nhanh này, chàng tha hồ ngao du trên đường đèo Đà nẵng - Huế. Nhưng tới khi rồ máy xe, chàng mới nhớ ra là ban đêm đường đèo bị phong tỏa. Chàng xin rã bọt mép mà nhân viên hữu trách vẫn không chấp nhận. Sáng sớm hôm sau chàng mới được lên đường. Như kẻ đói cả tháng, chàng dừng xe ở đoạn đèo Hải vân cao nhất, hiểm trở nhất, ngồi trên mỏm đá thẫn thờ ngắm biển, quên cả giờ về. Tưởng chàng bị phục kích, nhân viên của Sở ở Đà nẵng tức tốc đi tìm, và bắt gặp chàng ngồi 1 mình giữa cảnh mênh mông trên trời dưới nước.
Sau chuyến ngắm biển kỳ dị ấy, Văn Bình bị mọi người cho là điên. Bạn bè nói là do hoạt động hiểm nghèo làm thần kinh chàng căng thẳng nên chàng sinh ra chứng bệnh dở hơi. Trên thế giới, trong cơ quan CIA của Hoa kỳ, cũng như GRU của Nga sô, đã có hàng chục, hàng trăm nhân viên mắc bệnh dở hơi như Văn Bình. Theo 1 bản thống kê hữu quyền, tỉ lệ mắc bệnh dở hơi trong CIA lên tới  15 phần trăm. Bản thống kê này thuật lại tính bốc đồng của 1 số điệp viên hành động, đang đêm, hàn thử biểu để bên ngoài hạ xuống dưới không độ thì tung mền ngồi dậy, vớ xì líp ra hồ bơi, hoặc lái xe vào rừng chơi, hoặc ra ga xe hỏa, chờ 1 chuyến tàu không biết mấy giờ sẽ đến, và không biết đi đâu nữa. Lại có những người lúc trời nóng như thiêu như đốt thì hối hả lôi đồ len, đồ nỉ dày cộm ra trưng diện, hoặc đang ăn lại bỏ muỗng xuống bàn … để đi ngủ.
Bệnh dở hơi của Văn Bình được báo cáo lên ông tổng giám đốc. Trước khi hồ sơ được trình xét, Văn Bình phải vào bệnh xá của Sở để khám bệnh. Cuộc chẩn bệnh này rất quan trọng, có thể định đoạt tương lai của chàng. Tùy theo kết luận của y sỉ đoàn, chàng sẽ được tiếp tục hoạt động hoặc bị đưa về văn phòng, về hưu non, hoặc ít nhất là ngồi chơi xơi nước cho đến khi mắt mờ, chân chậm. Sau 2 tuần lễ khám nghiệm, Văn Bình được y sĩ đoàn coi là vô bệnh.
Nhưng ngày hôm ấy, chàng lại mắc bệnh dở hơi. Chàng gọi điện thoại cho nhà nhập cảng rượu mạnh danh tiếng nhất thủ đô, bảo mang lại ngay phòng của Mộng Kiều tất cả những két sâm banh Mum còn để trong kho. Công nhân của hãng nhập cảng hì hục chở nguyên 1 xe sâm banh đến và khuân lên lầu. Mộng Kiều tưởng chàng mua sâm banh để mở 1 cuộc tiếp tân nên không để ý. Nàng vào Chợ Lớn mua đồ nhậu cho Văn Bình, dặn chàng ở nhà đợi.
Khi nàng về thì hỡi ôi.
Hỡi ôi, hàng chục két sâm banh đắt tiền kinh khủng đã thi nhau đổ vào bồn tắm. Nàng về giữa lúc điệp viên Z.28 đang say sưa ngồi trên ghế mở nút chai sâm banh kêu « bụp » 1 tiếng êm tai rồi đổ hết vào bồn tắm. Hỏi ra thì mới biết chàng nhớ âm thanh nổ bụp, bụp khả ái của nút chai sâm banh mỗi khi khui rượu.
Chỉ vì mối tình tương tư lạ lùng ấy mà Văn Bình xài trong nửa giờ hết 200.000 đồng.
Ông tổng giám đốc chỉ hơi nhăn mặt khi tờ báo cáo về bệnh dở hơi khui sâm banh mà không uống được đặt trên bàn giấy sáng hôm sau. Triệu Dung và Nguyên Hương đề nghị 1 cuộc khám bệnh lại, với lời trình như sau :
« Chúng tôi đồng ý rằng cho rằng điệp viên Z.28 đã mắc bệnh bấn loạn thần kinh, do hoạt động hiểm nghèo gây ra. Nếu để như vậy mà không tìm phương điều trị thích ứng thì y có thể thành điên nặng. Vì cảm tình cá nhân với y, và cũng vì y là điệp viên tài ba đã gánh vác nhiều công tác nguy hiểm, nặng nề nhất của Sở từ nhiều năm nay, đáng được thưởng công, chúng tôi trân trọng thỉnh cầu ông tổng giám đốc cho khám bệnh lại với 1 thành phần y sĩ khác. Hiện có 1 đoàn y sĩ thần kinh của cơ quan không gian Hoa kỳ NASA đang tổ chức khám bệnh tại căn cứ Clark, Phi luật tân. Vậy đề nghị đưa Văn Bình qua Clark. »
Ông Hoàng bút phê vào tờ báo cáo như sau :
« Theo tôi, chỉ khi nào đại tá Văn Bình mất chứng bệnh dở hơi này thì vấn đề khám bệnh, và chữa bệnh mới cần được đặt ra.
Bệnh dở hơi là do thần kinh hệ thiếu quân bình mà ra. Tôi nhận thấy Văn Bình chỉ dở hơi khi y được nghỉ phép, có quá nhiều thời giờ nhàn hạ, hoặc khi y phải đương đầu với 1 đối phương tầm thường về mưu lược, và về võ thuật, nhất là về võ thuật. Y dở hơi chẳng có gì đáng ngại. Y dở hơi vì chưa gặp được đối thủ cân xứng đó thôi. Y dở hơi vì tay chân ngứa ngáy, không được xông xáo đó thôi.
Phương pháp ngừa bệnh dở hơi, theo tôi, là tiếp tục cắt cử đại tá Văn Bình vào những công tác nguy hiểm.
Hồ sơ về bệnh dở hơi trên đây được xếp lại, kể từ ngày hôm nay. Tôi khẩn khoản yêu cầu văn phòng đừng nhắc lại nữa. »
Hồ sơ được xếp xó theo lệnh đặc biệt của ông tổng giám đốc. Kể ra, ông Hoàng nói đúng. Ông quả có con mắt tinh đời, nhìn thấu ruột gan tri kỷ của Z.28. Chàng dở hơi vì không chịu nổi nếp sống bằng phẳng, rỗi rãi. Chàng bệnh dở hơi vì những kẻ mang danh là đại võ sĩ chỉ đấu với chàng được vài ba hiệp là bị đánh lăn chiêng.
Hôm nay, phóng chiếc Amphicar trên con đường ngoằn ngoèo sát bờ biển miền nam Thái lan, Văn Bình sực nhớ bệnh dở hơi bất trị của mình, và phá lên cười. Đồng quê Thái lan cũng không khác đồng quê Việt Nam là bao. Hai bên đường, Văn Bình cũng thấy ruộng lúa, thấy những con sông nông giang nhỏ xíu và hệ thống dẫn thủy nhập điền vào ruộng, giống như ở trung châu sông Cửu long hoặc ở trung châu sông Hồng. Nhà cửa cũng tồi tàn, xiêu vẹo, tường trát bùn, mái lợp rơm rạ. Nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ có 1 số nhà sàn, như ở thượng du nước nhà.
Chiếc Amphicar vượt qua những đống rạ lớn sừng sững giữa cánh đồng trống vừa gặt hái. Một cái xe bò ì ạch từ dưới ruộng trèo lên mặt lộ do con trâu sừng cong veo, da đen sạm kéo, mũi thở phì phì vì nhọc mệt. Nông gia ngồi trên xe bỏm bẻm nhai trầu.
Từ Phet Buri tới Surat Tham, đường dài gần 400 cây số. Đi từ Phet Buri đến Sawan chỉ có 200 đến 250 cây số là cùng. Tuy nhiên, 100 cây số trên con đường gập ghềnh, chỗ lên, chỗ xuống, chỗ có, chỗ không này bằng 1.000 cây số trên xa lộ tối tân mà chàng đã có dịp lái xe ở phía bắc Thái lan. Vả lại, muốn đi thì phải có đường xá liên tục, chứ không thể là những lối mòn rời rạc, ngoắt ngoéo như lộ trình Sawan.
Mặt trời mỗi lúc 1 lên cao.
Bồ hôi chảy đầm đìa người Văn Bình. Khi ấy, chàng mới cảm thấy khờ khạo. Chiếc Amphicar tiêu thụ 100 cây số bao nhiêu lít xăng ? Thùng xăng của nó còn bao nhiêu ? Chàng quên hỏi Lê Diệp những điều tầm thường mà lại vô cùng quan trọng. Hết xăng, chàng chỉ còn nước ăn vạ dọc đường vì chàng không tin là có trạm xăng.
Chàng lẩm bầm :
-Giá mình cho nàng đi theo …
Nàng là Si Thoeng, cô gái Xiêm đa tình. Giờ này, chắc nàng còn đang thiêm thiếp giấc nồng tại Vọng các dưới áp lực của đòn miên huyệt. Dầu sao nàng cũng là người Thái, nàng có thể hỏi thăm dọc đường. Nàng lại biết con đường xuyên rừng ngắn nhất tới Sawan. Vậy mà chàng lại bỏ rơi nàng. Tại sao ? Chính chàng cũng không biết nữa. Việc chàng điểm huyệt cho nàng bất tỉnh đã diễn ra 1 cách tự nhiên, thần trí chàng không kịp suy nghĩ.
Khi nắng bắt đầu chiếu xiên vào trong xe, Văn Bình đến Pran Buri, 1 thị trấn nhỏ dọc bờ biển, cách Phet Buri gần 100 cây số. Nghĩa là chàng đã vượt được gần nửa đường. Chỉ còn 100, 150 cây số là tới đích. Song đó lại là đoạn đường khó đi nhất. Vì trên thực tế, hệ thống đường bộ chỉ đến Pran Buri là hết. Muốn đi sâu xuống cực nam, phải  dùng xe hỏa. Nhưng xe hỏa ở đâu ?
Từ  Pran Buri trở đi, toàn là đồng cỏ pha sình. Cảnh vật chung quanh nhuộm màu tiêu điều, vắng lặng. Văn Bình gài số 1 cho chiếc Amphicar bò từ từ trên con đường nhỏ trơn trượt giữa 2 cánh đồng sình lầy trải rộng đến tận chân trời xa tắp. Vừa lái xe, chàng vừa thầm khấn cho thùng xăng còn đủ. Và nhất là cho động cơ chiếc Amphicar không bị trục trặc. Cũng may không tai nạn đáng tiếc nào xảy ra. Hết cánh đồng sình lầy là rừng. Rừng già trùng trùng điệp điệp. Rừng già chắn ngang sừng sững như cấm loài người bén mảng tới  gần chân núi Bilauk-taung chạy dọc bên phía tây từ bắc xuống nam.
Văn Bình reo lên 1 tiếng nhỏ.
Phía trước, chàng  thấy ánh thép lấp lánh dưới nắng trưa nung đốt. Đó là đường xe hỏa. Cách bìa rừng 1 quãng ngắn, chàng đậu xe lại. Theo kinh nghiệm, đường  xe hỏa thường chạy  qua những vùng có dân cư. Chàng không hy vọng gặp làng mạc trù mật, nhưng ít ra cũng có thể gặp tiều phu vào rừng đốn củi. Chàng sẽ ăn 1 vài miếng cho khỏi xót bụng. Rồi sẽ tùy liệu đáp tàu xuống Sawan. Mong ước của Văn Bình đã thành sự thật. Chàng nghe tiếng lộp cộp mỗi lúc 1 rõ dần. Rồi 1 chiếc xe bò chở gỗ do 3 con trâu to lớn kéo từ trong rừng ra. Trên xe có 2 người đàn ông cởi trần, làn da ngăm ngăm, đầu quấn khăn rằn ri che nắng.
Vốn liếng Thái ngữ của chàng không đến nỗi nghèo nàn nên chàng bắt chuyện dễ dàng ngay khi xe bò đến gần chiếc Amphicar :
-Chào 2 ông.
Vừa chào, chàng vừa quan sát tướng mạo 2 người Thái. Chàng hơi ngại ngùng vì gương mặt họ không có vẻ lương thiện. Mắt họ đều xếch ngược, lưỡng quyền cao, lộ cục xương nhọn, yết hầu cũng nhô ra, miệng nhỏ mím chặt, ngón tay cong queo và sần sùi, vết thẹo đầy ngực và lưng, cánh tay đều xâm tràm gớm ghiếc. Tuy nhiên, chàng không để lộ sự lo lắng ra nét mặt. Có lẽ vì phong thổ, người Thái ở thôn dã thường có tướng mạo hung hăng, nhưng thật ra họ hiếu khách đáo để. Vả lại, dầu chàng ngại ngùng cũng đã muộn. Chàng đã chào họ. Trên con đường mòn vắng vẻ, ngoài chàng ra chỉ có họ.
Một lý do khác đã giúp chàng bình tĩnh như không có việc gì xảy ra : đó là sự tự tín. Nếu họ trở mặt, họ cũng không hy vọng triệt hạ được chàng. Hai người, chứ đến 20 người như họ chỉ là mồi ngon cho chàng ăn gỏi.
Người cất tiếng chào lại « không dám, chào ông » trạc 40, lớn hơn người ngồi bên ít nhất 10 tuổi. Hắn kéo giây thừng cho đàn trâu dừng lại, rồi hỏi :
-Ông muốn hỏi gì ?
Văn Bình đáp :
-Tôi lái xe đi Sawan, đến đây thì hết đường, thành ra lạc vào rừng. Phiền 2 ông chỉ đường cho tôi.
Gã trẻ cười hồn nhiên :
-Đi Sawan hả ? Còn xa lắm. Vả lại, đi bằng xe hơi không được.
-Vậy đi bằng phương tiện gì ?
-Bằng tàu hỏa, hoặc bằng ghe thuyền. Nếu ông muốn, chúng tôi sẽ giúp.
Văn Bình liếm mép. Gã tiều phu già nhìn thấy và hỏi :
-Ông khát nước không ?
Chàng gật đầu.
Hai người tiều phu ngồi xích sang bên. Gã trẻ vẫy tay ra hiệu cho chàng lên :
-Nhà chúng tôi ở gần đây, đi hết quãng đường này, quẹo sang trái là đến. Xe hơi chỉ có thể đi lên miền bắc được thôi. Chờ thuyền lớn đi qua, tôi sẽ nhờ họ chở cả xe luôn thể.
Không đợi hắn mời lần thứ hai, Văn Bình trèo lên xe bò. Chiếc xe gỗ cũ kỹ, sọc sạch, lăn bánh lọc cọc trên đường mòn đất sét đỏ, bị nắng rút khô như đá. Gã tiều phu già mời chàng ăn trầu, chàng lắc đầu từ chối.
Hai bên đường mòn chật chội chỉ vừa xe bò đi lọt là những cây gỗ tếch thẳng tắp, thân tròn lẳn, 1 người lớn ôm mới xuể. Như gã tiều phu trẻ nói, xe chạy được hơn 100 thước thì đến đoạn đường rẽ. Khi xe bắt đầu rẽ, Văn Bình nhìn thấy 1 giãy nhà sàn khật khưỡng gần chân núi đá đen sì. Nơi đây, suốt ngày không có nắng vì sau lưng là núi, bên trên là bóng râm xum xuê của nhiều cây đa khổng lồ xòe rộng như viên đình tròn trịa của tòa nhà quốc hội Mỹ.
Gã tiều phu trẻ thét lớn cho đàn trâu đứng khựng lại. Hắn nhảy xuống trước, rồi ra dấu cho Văn Bình. Chàng lẳng lặng theo hắn lên nhà sàn, trong khi gã tiều phu già đánh xe vào hốc đá, tháo giây buộc cho trâu nghỉ.
Nhà sàn trống trơn, không có gì hết. Trừ ở góc 1 cái rương gỗ, cáu bồ hôi và mạng nhện ngang dọc. Những ô mạng nhện đen trắng nhằng nhịt khắp nơi chứng tỏ căn nhà không có người ở từ lâu. Văn Bình toan hỏi thì gã tiều phu già đã từ bên dưới khệnh khạng đi lên, tay cầm chai rượu. Hắn hỏi chàng :
-Ông dùng được rượu nếp không ?
Ngoài huýt ky ra, Văn Bình không ưa rượu nào khác. Nhưng khi cần, chàng vẫn uống được mọi thứ. Riêng rượu nếp của dân Thượng có duyên thầm với chàng. Rượu nếp của người Thái miền nam đã nổi tiếng thơm ngon. Nhân tiện chàng cũng thưởng thức vài ba chén cho thần khẩu khỏi kêu ca. Chàng bèn gật đầu ưng thuận.
Gã trẻ lấy trong rương ra bộ đồ uống bằng gỗ tiện. Chắc là gỗ mít lâu năm, vách chén đã lên nước bóng nhẫy. Văn Bình bắt chước 2 người tiều phu ngồi xếp bằng tròn trên sàn, tươi cười đỡ lấy chén rượu. Mùi thơm nếp cẩm bay ra ngạt mũi.
Từ đêm đến giờ chưa ghé thăm thần Lưu linh nên mùi rượu thơm quyến rũ này làm chàng rệu nước miếng. Gã tiều phu già gật gù :
-Ngon lắm, ông dùng thử sẽ biết. Nhưng say lắm đấy, ông không nên uống nhiều. Tôi dặn trẻ sửa soạn món nhậu. Bây giờ ta chỉ nhắm tạm 1 chén, đợi chúng nó nướng gà chín rồi nhắm 1 thể cho vui. Ông đừng ngại, ngày nào chúng tôi cũng uống rượu với gà nướng. Gạo nếp ở đây rất rẻ, gà cũng rẻ mạt. Dân tộc chúng tôi thích đãi khách. Nào mời ông …
Văn Bình đặt đầu lưỡi vào chén rượu. Chàng cảm thấy cay cay. Chàng liền ngửa cổ nốc cạn 1 hơi. Gã tiều phu già mở rộng mắt, kinh ngạc :
-Ái chà, ông đừng uống như vậy. Rượu này được ngâm rễ cây thuốc nên làm ruột gan cồn cào. Ông khoan uống, đợi gà nướng nhé !  À, đã có gà rồi đấy. Nào, mời ông …
Gã trẻ đặt trước mặt Văn Bình con gà mỡ vàng rộm, vừa nướng chín, còn bốc khói nghi ngút. Ngoài thói xấu hoa nguyệt, điệp viên Z.28 còn có thói xấu ẩm thực. Giá được vò rượu thượng hạng và mâm đồ nhậu thịnh soạn thì bom khinh khí nổ trên đầu chàng cũng phớt tỉnh như không.
Theo tính thận trọng thông thường, Văn Bình phải đặt câu hỏi về truyền thống đãi khách quá nồng hậu của 2 gã tiều phu mặt mày dữ tợn. Nhưng mùi rượu cẩm quá thơm tho, mùi gà nướng than quá ngon béo nên chàng quên bẵng nguyên tắc đề phòng sơ đẳng. Mà quên là phải vì con gà nướng của tiều phu miền nam xứ Thái thật ngon ! 
Văn Bình vốn thích món gà. Mỗi lần nhảy dù xuống Hòa bình, hoặc thượng du Thanh hóa, chàng đều mầy mò kỳ được 1 con gà đặc biệt, nướng theo phương pháp đặc biệt của bộ lạc Mường. Mỗi lần ghé Hồng kông hoặc Đài bắc, chàng đều thưởng thức món gà bọc bùn nướng than, tục gọi là « gà cái bang, gà hành khất » (beggar’s chicken). Không món gà nào trên thế giới mà Văn Bình không nếm qua. Kỳ khu như gà giò ở hải cảng Hăm bua, Đức quốc, được nuôi bằng chất bột riêng trộn sữa, và được mổ làm thịt khi mới lớn bằng chim bồ câu, chàng cũng tìm đến tận nơi để nhậu nhẹt. Gà ở Viễn đông thường được nấu với mộc nhĩ, miến, ớt xanh và 1 số gia vị quen thuộc khác. Nhưng ở xứ Tây ban nha, nổi tiếng hoàn vũ về những trận đấu bò rừng, gà lại được rán với củ nghệ. Gà trên đất Pháp từng làm khách nhậu quốc tế mê say, như gà trên bờ sông Loire, khi cắt tiết được hãm với dấm chua, và nấu với rượu vang đỏ. Gà trống ở miền trung bộ Pháp bỏ lò với hành, nấm, và rượu cỏ nhát. Gà nhồi thịt, nhét vào cái bong bóng heo ở miền nam Pháp.
Người Hung gia lợi cũng thích ăn gà, nhưng lại thích nấu gà với ớt, 1 loại ớt vừa ngọt vừa cay (3).
 
(3) ớt Hung gia lợi được gọi là paprika, gồm 7 loại khác nhau. Ớt Hung gia lợi có chất đường nên người ta không bao giờ bỏ nó trong mỡ nóng, vì đường sẽ lên mùi khét.
 
Dân Ý đại lợi lại khoái gà tẩm bột trứng đem chiên. Người Ba lan cũng có món gà nhồi thịt, song cách nấu lại độc đáo : mổ gà, moi hết ruột xong phải ngâm gà trong thau nước lạnh 2 giờ đồng hồ, rồi xát muối cả trong lẫn ngoài trước khi nhồi thịt, và đút lò. Gà ở Nga sô cũng nấu với củ nghệ, dưa leo, hoặc đem hầm với hành, cần, cà rốt, dưa leo, bí … món mà hồi sinh thời, nhà độc tài đỏ Sít ta lin mê nhất.
Lạ lùng hơn ( và dĩ nhiên không kém phần khoái khẩu ) là món gà trên các hòn đảo chơ vơ ở trung bộ Mỹ châu, như gà nấu nước dừa, củ nghệ, cà ri. Gà chiên Mễ tây cơ nhồi ruột bánh trộn sữa, bột cacao và nước trà tưới lên trên. Gà cà ri ở Ấn độ và Pa kít tăng cũng không làm Văn Bình chán ngấy mặc dầu được nấu lẫn lộn với gạo và nước dừa.
Món gà Nam dương còn lạ lùng hơn nữa vì gia vị lại là quế, và sữa. Gia vị thông dụng ở Nam Phi cho món gà là mật ong, gà đút lò tẩm mật, hương hoa hồng và củ gừng không đến nỗi dở ẹc. Gà ở Phi châu da đen cũng khá hấp dẫn, như cho đậu phụng giã nhỏ tẩm vào gà, đem rán bơ, hoặc gà nấu với chuối. Đừng tưởng Úc châu ở gần Nam băng dương không biết nấu thịt gà. Văn Bình đã lầm như vậy 1 lần. Nhưng sau khi được nếm thử, chàng đã tỉnh ngộ. Gà Úc châu hầm chung với nước trà, hoặc gà  giò ngâm cách đêm trong nước dứa ép và rượu vang trắng, đem rô ti vàng rộm rồi ăn với các khoanh dứa và  chuối chín.
Văn Bình nghe nói đến gà nướng của người Thái sinh sống trong rừng. Tiếng đồn quả không ngoa vì con gà được đặt trên cái đĩa gỗ lớn được quay trên lửa than, không chỗ nào còn trắng lốm đốm hoặc đen sạm. Da gà màu vàng óng ánh, căng lên song nước ngọt của thịt vẫn không chảy ra các kẽ nứt. Gà này mà nhắm rượu thì tuyệt !
Văn Bình  thoáng nghe ai nói nho nhỏ bên tai :
-Mời ông.
Gã tiều phu già vừa nói vừa nhìn Văn Bình bằng cặp mắt khó hiểu. Song Văn Bình đã bắt đầu hiểu. Những tiếng động thoang thoáng đã tan biến, chàng chẳng còn nghe gì được nữa. Chàng mở rộng cặp mắt thường ngày sáng quắc, ban đêm nhìn thấy cây kim nhỏ xíu rớt trên đất, nhưng nay 2 mí mắt dính lại vào nhau, dường như bị dán chặt bằng keo nhựa. Chàng cảm thấy bàn chân bị tê. Rồi đầu gối, 2 mông cũng bị tê.
Chàng thu sức lực vào cánh tay, sửa soạn vung đòn vào mặt gã tiều phu già đối diện. Song sức lực của chàng đã cuồn cuộn rút ra khỏi cơ thể như nước sông chảy ra biển. Cánh tay bách chiến bách thắng của điệp viên Z.28 trở thành khúc gỗ bất động. Tuy nhiên, chàng vẫn còn tỉnh. Trước khi ngất đi, chàng lại tỉnh táo hơn bao giờ hết. Tai chàng lại nghe thấy tiếng động. Mắt chàng lại nhìn thấy con gà vàng ngậy, và 2 gã tiều phu Thái nhởn nhơ đứng chống nạnh. Tên già nói :
-Mê rồi. Mày sửa soạn xong chưa ?
Tên trẻ đáp :
-Xong từ nãy. Nhưng coi chừng, hắn giả vờ thì khốn.
-Ha, ha … trước khi đem dùng, ông chủ đã sai pha thuốc mê này vào nước cho voi uống. Chú bạch tượng nặng cả ngàn cân thịt ở vườn bách thú chỉ uống 1 ngụm đã lăn kềnh ra, phải chích thuốc mới tỉnh. Phương chi tao lại ngâm với rượu. Hắn chưa mê, nhưng tứ chi đã bại liệt.
Rồi điểm ngón tay vào trán Văn Bình, gã tiều phu già dằn từng tiếng :
-Không chết đâu, chỉ nằm ngủ 1 vài ngày thôi. Lần sau, chớ tham ăn, nhất là ăn gà nướng nữa nhé ! 
Cả 2 đều phá lên cười. Văn Bình từ từ ngã xuống.
Chàng nằm nghiêng, cánh tay trái trườn ra, nên gối đầu vào đồng hồ tay. Nếu chàng vẫn còn tỉnh như trước đó 1 phút, chàng đã thấy kim đồng hồ chỉ đúng 1 giờ.
1 giờ trưa.
***
*****
*******
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, anh hùng thường lụy vì giai nhân. Hễ vướng vào đàn bà đẹp là tài ba cái thế cũng thất bại, nếu không mất mạng. Điệp viên Z.28 cũng không thoát khỏi định luật khắt khe ấy, nhưng không hiểu sao sau nhiều lần đối mặt với tử thần, nhiều lần bị u mê ám chướng vì đàn bà chàng vẫn còn sống.
Hôm nay, cũng vì đàn bà mà Văn Bình thoát chết.
Trong khi chàng rong ruổi về phía nam thì Si Thoeng tỉnh dậy trong căn gác cô đơn. Nhìn chung quanh, không thấy ai, nàng nhớ lại mọi việc vừa xảy ra. Nàng hốt hoảng khoác áo lạnh vào người, rồi mở cửa chạy nhanh xuống đường. Trời nắng ráo, đường về phía nam không bị lầy lội, nàng có hy vọng đuổi kịp chàng. Chiếc Mazda nhỏ xíu của nàng phóng khá nhanh, lại thích hợp với đường đất gập ghềnh và ngoằn ngoèo. Tốc độ tối đa của chiếc Mazda 800 là 115 cây số giờ. Muốn đạt tốc độ tối đa, đường xá phải tốt. Vậy mà nàng vẫn phóng xấp xỉ 120. Tốc độ 120 cây số trên đường đi Phet Buri và Pran Buri cũng như 200 cây số trên xa lộ xi măng. Đàn ông khỏe mạnh, trái tim cứng như thép, gân cốt cường tráng mà chỉ lái đến 150 cây số giờ là trống ngực đã đập loạn xạ như bụng đói chạy đua trên giốc Hy mã lạp sơn. Nhưng càng phóng nhanh, Si Thoeng lại càng sáng suốt. Lộ trình càng nguy hiểm, tay lái của nàng càng vững chắc.
Xế trưa, nàng tới cánh rừng gỗ tếch rộng mênh mông, nơi Văn Bình bị bắt. Cũng như Văn Bình, nàng lái xe vào con đường mòn duy nhất, bên đường rầy xe hỏa. Song nàng không ngần ngại như chàng vì đây không phải lần đầu nàng qua khu rừng gỗ tếch gần Pran Buri. Cảnh vật không hề đổi khác : vẫn con đường nhỏ bé, chật hẹp, chỉ vừa xoẳn cho xe cam nhông ì ạch chạy qua. Mặt đường kêu coong coong dưới bánh xe như thể đất sét được nung chín. Hai bên đường vẫn những cây gỗ tếch thẳng ro, thân vỏ xù xì, cành lá xanh um. Nàng giật mình khi thấy 1 chiếc xe hơi hình thù cổ quái đậu trên bìa đường, gần khúc rẽ.
Đó là chiếc Amphicar của Văn Bình.
Nàng đậu lại, để nguyên cho máy vẫn nổ, nhảy xuống. Chưa cần trèo lên xe Amphicar, nàng đã biết chủ nhân là Văn Bình nhờ 1 mùi thơm quen thuộc còn thoang thoảng trong không khí bất động của rừng gỗ tếch. Mùi thơm quen thuộc của thuốc lá Salem, thứ thuốc lá tri kỷ của điệp viên Z.28.
Nàng nhặt được nửa điếu Salem, đã tắt gần tàn gần bàn đạp ga xăng. Văn Bình thường có thói quen vứt tàn thuốc khắp nơi, cả những chỗ không nên vứt bừa bãi. Một trong những thói quen khác cần sửa chữa của chàng là hút được vài ba hơi rồi quăng luôn. Điếu Salem tắt ngúm từ lâu mà cô gái xứ Thái còn ngửi được mùi vị bạc hà kể cũng lạ. Dường như nàng ngửi được mùi thơm này không phải bằng mũi, mà bằng tiềm thức. Đúng ra, đó không hẳn là mùi thơm của  thuốc lá Salem. Mà là 1 mùi bạc hà nhè nhẹ, quyện lẫn mùi mồ hôi, mùi tóc, mùi da thịt của người đàn ông đã lưu lại nhiều dấu vết sâu đậm trong tâm hồn và thể xác nàng.
Nàng nắm chặt mẩu thuốc lá trong lòng bàn tay, ruột gan chợt nóng như lửa đốt. Nàng biết chàng đã bị bắt. Ai bắt ? Tại sao họ biết chàng lái xe về miền nam mà phục kích ở đây, ở đoạn đường độc đạo dễ sa bẫy nhất ? Văn Bình bị bắt như thế nào ? Chàng không phải là võ sĩ tầm thường để có thể giơ tay đầu hàng dễ dàng. Tất chàng đã chiến đấu kịch liệt. Nếu vậy tính mạng của chàng có thể đã bị đe dọa nghiêm trọng. Chàng còn sống hay chết ?
Nàng đang suy nghĩ thì tiếng còi xe lửa rúc lên.
Nàng chợt nhớ đến « nhà ga » ở cuối đường mòn. Đoàn tàu xuống miền nam thường ghé lại khu rừng hẻo lánh này để lấy nước và củi. Trong khi thế giới tân tiến dùng đầu xe hỏa chạy điện, hoặc dầu cặn, hoặc than đá thì miền nam Thái lan vẫn quyến luyến lò đốt củi trên tàu lửa. Hai năm trước, nàng đã lái xe que rừng gỗ tếch. Xe hơi bị lột « biên » phải nằm đường, nên nàng đi bộ đến nhà ga để về thị trấn gần nhất. Nàng còn nhớ rõ lều tranh lụp xụp, xiêu vẹo bên hồ nước bê tông kếch xù, và những đống củi được cắt, chẻ ngay ngắn, xếp thành hàng dài dọc theo con đường sắt bốc khói dưới ánh nắng nhiệt đới.
Đó là « nhà ga ».
Đúng hơn là trạm nghỉ của xe hỏa để lấy nước và củi đốt. Tiếng còi vừa hết. Quang cảnh rừng trưa âm u lại chìm vào im lặng. Tàu đã đậu lại và tắt máy.
Si Thoeng lái xe đến chỗ quẹo. Một bên là khu nhà sàn. Bên kia là con đường đến « nhà ga ». Cũng như phần lớn các quốc gia chậm tiến ở Đông nam Á, thiết lộ ở miền nam Thái lan chỉ có những con tàu già cằn khú đế, có lẽ được ra lò từ đầu thế chiến thứ nhất. Đây là tàu hàng, không phải tàu chở khách, gồm gần 20 toa trước kia sơn màu xanh xám, nay đã tróc sơn để lộ mặt rỉ sét, cong queo, lồi lõm, bẩn thỉu. Toa nào cũng mở cửa thông thống, bên trong chất đầy đồ, nào thùng gỗ, thùng cạt tông, nào quang gánh, thậm chí có toa lộ thiên chở nghễu nghện 1 con thuyền nhỏ, mũi hếch lên theo kiểu thuyền rồng, kiểu thuyền truyền thống của xứ Thái.
Si Thoeng lái luồng chiếc Mazda vào giữa 2 cây tếch, cách « nhà ga » độ 100 thước, rồi từ từ tiến tới. Từ lúc rời Vọng các đến giờ, nàng chưa hề uống ly nước hoặc ăn miếng cơm nào. Tuy vậy, nàng vẫn không cảm thấy khát, thấy đói. Vì nàng còn bận nghĩ đến Văn Bình. Thấy chiếc Amphicar trống rỗng, nàng có linh tính là chàng gặp nạn, và chàng quanh quẩn đây đây. Dường như định mạng đã xui khiến cho nàng đến giải thoát cho chàng.
Tiếng máy tàu bắt đầu kêu xình xịch.
Rồi tiếng còi tàu xé toang bầu không khí nóng bỏng của buổi xế trưa dưới chân núi đá, cạnh rừng gỗ tếch. Xe hỏa sắp sửa chuyển bánh.
Chợt nàng nhìn thấy … Cái nàng nhìn thấy đã làm máu trong huyết quản sôi sục vì trời nắng, vì lo ngại của nàng đông đặc lại.
*****
*******
1 giờ trưa.
Văn Bình thở dốc ra rồi nằm lịm. Gã tiều phu già cúi xuống, lật mí mắt chàng ra, quan sát giây lâu rồi nói, giọng hân hoan :
-Hắn uống cả ly rượu, sớm ra đến trưa mai mới có hy vọng thức dậy. Chúng mình tha hồ rềnh rang.
Gã trẻ hỏi :
-Mình đi ngay chứ ?
Gã già lườm nguýt :
-Hừ, máy điếc đặc rồi ư ? Tàu đã ghé rồi. Trong vòng 15 phút nữa, nó chạy. Mày phải nhanh lên mới kịp.
Gã già sang nhà bên lấy về 1 cái bồ bằng tre đan, dài gần 2 thước, cao nửa thước. Mở nắp ra, bên trong đã được lót rơm và cỏ khô. Văn Bình nằm bất động trên nền nhà. Gã tiều phu trẻ định bế chàng lên song phải nhăn mặt, bỏ xuống :
-Khiếp, thằng cha nặng kinh khủng !    
Gã già xé miếng đùi gà béo ngậy, đưa lên miệng vừa nhai ngồm ngoàm vừa nói :
-Nào, mày khiêng chân, tao khiêng đầu.
Trong loáng mắt, Văn Bình đã được bỏ gọn vào trong bồ tre. Gã trẻ phủ cỏ khô đầy mặt chàng. Gã già vội nói :
-Khéo đấy, mày để chừa lỗ mũi cho hắn thở. Về đến Sawan mà hắn tắt thở thì mày rừ đòn.
-Người ta  biết thì sao ?
-Cả chuyến tàu này chỉ có chúng ta là hành khách. Vả lại, đứa nào mắc bệnh tò mò thì đã có xếp lo liệu. Mày đặt cái bồ lên vai ngay đi cho rồi, còn khệnh khạng gì nữa ?
-Để đàn em nhá xong cái lườn gà nạc này đã.
-Thì mày bỏ luôn vào túi, dọc đường tha hồ mà gậm, đồng thời mang theo chai rượu nữa. Ấy, coi chừng, uống lầm chai rượu pha thuốc mê thì chết bỏ đời. Xong cả chưa ?
-Xong rồi.
-Một … hai … ba …, nào khiêng lên vai.
Cái giỏ hình chữ nhật lắc lư trên vai 2 người tiều phu giả hiệu. Xuống vườn, họ đặt vào xe bò. Bồ hôi nhễ nhại, gã trẻ rút mù soa ra lau trán. Hắn vừa lau được 1 phần bỗng trải rộng chiếc khăn tay màu hồng tươi trước mắt ngắm nghía. Gã già hỏi :
-Mù soa của hắn, phải không ?
Gã trẻ cười ồ ồ :
-Phải. Hắn có cái khăn đa tình thật. Thơm mùi nước hoa đàn bà. Chả mấy khi được lau bồ hôi bằng mù soa tẩm nước hoa thượng hảo hạng, chắc đàn anh cũng đánh cho 2 chữ đại xá.
-Đến chết mày cũng không chừa cái thói tham vặt ấy. Với tiền thưởng, mày mua cả ngàn cái mù soa như vậy cũng có.
-Ồ, đàn anh lầm to. Mù soa này bằng lụa tơ tầm, chứ không phải bằng ni lông. Lụa tầm được dệt bằng tay, mỗi cái ở Vọng các hơn 100 bath, lại ướp nước hoa thơm phức. Đàn anh ngửi mà xem, đang mệt mỏi áp cái mù soa thơm vào mũi, đột nhiên khỏe dội lên, và tỉnh dậy như thuốc tiên.
-Tao ngửi rồi mà vẫn mệt ứ hơi.
-Thế hả ? Ối chao ôi ! 
-Bị rắn cắn, hay chuột rút bắp chân ?
-Không phải. Đàn anh ơi, nặng quá, cho em nghỉ khỏe 1 lát, xương vai sắp sửa gãy rồi.
-Cái khăn tay hồng được tẩm thuốc tiên kia mà.
-Đàn anh đừng cười em nữa. Gớm, em không ngờ hắn nặng đến thế !  Tuần trước, em khiêng con cọp nặng hơn 2 tạ mà cũng chưa mệt bở hơi tai bằng hôm nay. Đàn anh ơi !
-Gì nữa ?
-Em có cảm giác hắn biến thành đá.
-Hừ, đừng nói bậy.
Thật ra, gã tiều phu trẻ không nói bậy. Xương quai xanh của hắn trễ xuống như muốn gãy. Chẳng phải vì hắn yếu đuối, mà chính vì khi mê man Văn Bình đã vận dụng Thần ảo công để chống lại sức công phá của thuốc mê, nên xương thịt chàng đột nhiên rắn lại như kim khí. Hiện tượng này ít khi xảy ra trong võ thuật nên nhiều người không tin, và cho là hoang tưởng. Nhưng sự thật là như vậy. Sự thật là Văn Bình trở nên nặng hơn thường lệ mặc dầu thông thường chàng vẫn nặng trên 70 kilô. Người khiêng cảm thấy nặng vì chân khí trong cơ thể chàng được tập trung vào đan điền nhưng không được phát ra nên kéo cơ thể sát xuống mặt đất, như thể 1 vật bay trong không gian lơ lửng bị sức hút cực mạnh của quả địa cầu. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học võ thuật cố gắng giải thích hiện tượng biến nhẹ thành nặng song chưa ai đưa ra được lý luận nào thỏa đáng. Người ta chỉ có thể nhận định là hiện tượng thay đổi trọng lượng chỉ xảy ra đối với 1 số võ sĩ có tài nghệ thượng thừa.
Gã tiều phu trẻ đặt cái bồ xuống đất, rồi đứng xoạc chân, miệng thở hồng hộc. Hắn cầm cái mù soa hồng phe phẩy 1 lát trước khi lấy buộc vào đầu để che nắng.
Gã già thúc giục :
-Chịu khó 1 chút nữa, tàu sắp chạy rồi.
Gã trẻ thở phù phù :
-Đàn anh yên tâm. Em đã dặn thằng xếp ga. Hắn phải ra lệnh cho tài xế đợi mình.
-Tao cố yên tâm, mà vẫn sốt ruột. Nhanh lên mày, tao có linh tính là công việc bị trục trặc.
-Ồ, đàn anh cũng tin dị đoan nữa ư ?
Hai người đã khiêng Văn Bình đến sát đường rầy. Gã tiều phu già hò lên 1 tiếng lấy  trớn, rồi cả 2 tung cái bồ bằng tre đan nặng chình chịch lên sàn toa tàu lộ thiên.
Khi ấy, Si Thoeng vừa từ con đường mòn tiến tới.
Và nàng nhìn thấy cái khăn tay màu hồng thắt tréo trên đầu gã tiều phu trẻ.
Nàng đứng lặng người, toàn thân lạnh ngắt như biến thành tảng băng. Cái mù soa hồng này không xa lạ với nàng. Nó là của nàng. Tự tay nàng thêu chữ đỏ ở góc. Nàng đích thân đến xưởng dệt đặt mua 1 mét vuông, mang về cắt ra làm khăn tay. Sự thật đã hiện ra rõ rệt trong trí phán đoán của nàng. Chiếc Amphicar nằm trơ trọi trên đường mòn, chìa khóa còn cắm ở công tắc, những mẩu thuốc lá Salem, chiếc khăn tay đầy kỷ niệm vắt vẻo ngang trán gã đàn ông ngăm ngăm, diện mạo không lương thiện, và cái bồ dài trông như áo quan bằng tre đan khá nặng, đều liên hệ với nhau. Nàng biết Văn Bình đã bị bắt, và chàng đang nằm trong bồ. Nhưng làm cách nào cứu được chàng ?
Tàu hỏa đã từ từ chạy, âm thanh chuyển động 1 vùng. Si Thoeng nhanh chân nhảy lên 1 toa lộ thiên, chở đầy hộp cạt tông. Nàng ngồi sau đống hộp, quan sát đối phương ở toa sau 1 cách an toàn. Nàng thấy họ mà họ không thấy nàng.
Người đàn ông già dựa lưng vào cái bồ, ngất ngư hút thuốc lá, loại thuốc lá sâu kèn, quấn trong lá chuối non phơi khô, thông dụng ở miền quê Thái lan. Còn tên tiều phu trẻ vẫn tiếp tục gặm xương gà, miệng nhồm nhoàm, chốc chốc lại chiêu ngụm rượu, và phê bình :
-Rượu ngon ghê !  
Con tàu chồng chềnh như thuyền say sóng. Ly rượu vừa rót đổ luôn vào mũi, tên trẻ giãy đành đạch như đỉa phải vôi :
-Ôi chu cha ! 
Gã tiều phu gạt cái ly từ trên tay tên trẻ văng luôn xuống bờ đê đường sắt, giọng bực bội :
-Mày chỉ nghĩ đến nhậu nhẹt tối ngày.
Tên trẻ văng tục, rồi nói :
-Lần nào đàn anh cũng cấm em uống rượu. Công việc xong rồi, đàn anh còn bịt miệng em làm gì nữa, tội nghiệp.
Gã tiều phu già nghiêm giọng :
-Chưa xong đâu. Tao sợ có chuyện.
-Chuyện gì ?
-Hồi nãy, lúc tàu chạy qua đường mòn, tao thấy 1 cái xe hơi. Mày hiểu không ? Xe hơi đậu ở gần khúc quẹo. Tao sợ là đồng bọn của hắn đang đổ đi tìm.
-Ồ, nếu vậy mình phải gặp họ.
-Tao thoáng thấy 1 mụ đàn bà.
-Mụ đàn bà ? Đàn anh thấy ở đâu ?
-Ở nhà ga.
-Tại sao đàn anh không nói cho em biết ?
-Thoạt tiên, tao tưởng là con nhân tình của thằng xếp ga. Mày đã nghe thằng xếp chơi bời 1 cây. Hắn có con mèo còn trẻ măng, và xinh như mộng. Nhưng tàu chạy được 1 lát, tao mới biết là lầm.
-Lầm ?
-Vì mụ đàn bà này trẻ hơn. Mắt lại không đeo kiếng cận thị.
-Nghĩa là …
-Nghĩa là chúng mình phải tìm cho ra. Mụ đàn bà chắc đang ẩn núp trên tàu.
Cách đối phương 1 quãng, Si Thoeng không nghe được tiếng họ bàn bạc. Giá họ nói lớn hơn, âm thanh này cũng bị tiếng xình xịch inh tai nhức óc trùm lấy. Song nàng đã đoán biết được nội dung, bằng cách đọc trên môi và quan sát nét mặt nghiêm trọng của họ.
Tàu từ từ đậu lại.
Nàng nhìn ra 2 bên đường. Chung quanh vẫn rừng là rừng. Phía sau rừng là núi. Khi tiếng ồn ào của xe hỏa vừa ngưng thì tiếng ồn của thú dữ, chim muông và cây lá lại nổi lên, vang dội trên núi đá.
Trời đã ngả chiều.
Gã tiều phu già nhảy xuống đất, rồi quay lại dặn vói tên trẻ đang ngồi xổm trên sàn toa tàu :
-Mày chờ 1 lát, nghe không ? Tàu còn dừng lại đây non nửa giờ. Mở mắt ra cho rộng, kẻo hắn tung nắp ngồi dậy thì bỏ mạng.
Tên trẻ cười hô hố :
-Đàn anh cứ dọa em thôi. Hắn còn ngủ say. Gói thuốc giải mê em đang cất kỹ trong túi. Trừ phi hắn uống nửa gói thì mới hy vọng thức tỉnh. Nhưng em không cho hắn uống đâu. Đàn anh đừng lo.
Gã tiều phu già trề môi :
-Ừ, tao cũng rán tin mày lần nữa. Mày là thỏ đế, ai giơ nắm tay lên dọa là sợ muốn chết. Tao quả quyết là nếu ai dí súng vào ngực, dầu mày biết mười mươi là súng không có đạn, mày vẫn đầu hàng vô điều kiện như thường.
-Đàn anh đừng khinh em. Phen này em không đầu hàng nhục nhã nữa đâu.
Gã tiều phu già đi men theo đường rầy lên đầu tàu. Tài xế và nhân viên phòng máy đã xuống bờ đê uống nước ngọt với nhau. Viên xa trưởng mỉm cười chào gã tiều phu già, rồi 2 người kéo nhau đi từng toa 1 khám xét.
Tất cả những việc xảy ra đều không lọt ra ngoài cặp mắt và vành tai của cô gái Thái. Nàng chờ cho gã tiều phu già đi khuất mới từ từ đứng lên. Nàng đi vòng ra phía sau. Tên trẻ đang ngồi quay lưng lại. Tuy đã tập luyện võ thuật, nàng vẫn run tay. Nàng run bần bật như người bị cảm hàn. Nàng đứng lại, thở hít không khí vào buồng phổi để lấy lại bình tĩnh, đoạn tiến lên 1 bước. Nàng rút súng ra, quát 1 tiếng nhỏ :
-Ngồi yên, không được kêu.
Gã tiều phu già nói đúng. Mới nghe tiếng quát phủ đầu, tên trẻ đã rụng rời tay chân. Miệng há ra định kêu nhưng lưỡi líu lại, chỉ lí nhí được tiếng « dạ » nhỏ bé và ngắn ngủn.
Si Thoeng hươi mũi súng về phía cái bồ :
-Mở nắp ra.
Bàn tay lóng cóng của gã tiều phu trẻ chạm phải mặt bồ 1 cách vụng về. Si Thoeng lại quát :
-Nhanh lên !   
Nàng sợ gã tiều phu già quay lại thì hỏng chuyện. Ngoài ra trên chuyến tàu đang còn đồng lõa khác nữa. Dầu sao nàng cũng là phụ nữ chân yếu, tay mềm khó thể đương đầu với bọn đàn ông khỏe mạnh, giàu kinh nghiệm chiến trận. Vì vậy, nàng phải hành động gấp rút. Nàng bắt tên trẻ nằm xấp xuống sàn toa, rồi rút dao chặt đứt những sợi mây giàng quanh miệng bồ. Trong bồ toàn là cỏ khô và rơm. Chỉ chừa 1 khoảng nhỏ ở góc cho Văn Bình khỏi ngộp thở. Hơi thở của chàng vẫn điều hòa chứng tỏ chàng vẫn còn sống. Nàng đập bá súng lục vào vai tên trẻ :
-Đánh thức người nằm trong bồ dậy.
Tên trẻ run lẩy bẩy :
-Đánh thức không được, vì hắn bị phục thuốc mê.
Nàng giáng thêm phát nữa làm xương quai xanh của hắn kêu răng rắc như muốn gãy lìa :
-Vậy thuốc giải mê đâu, đưa đây.
Tên trẻ ngoan ngoãn cho tay vào túi áo. Tuy nhiên, hắn phải mất hơn 1 phút đồng hồ mới tìm thấy gói thuốc bột. Si Thoeng dốc gói thuốc bột màu nâu sẫm vào ly gỗ, hòa với rượu, ra lệnh cho tên trẻ đổ vào miệng Văn Bình. Trống ngực nàng đập thình thịch. Nàng lo ngại gã tiều phu già trở lại trước khi Văn Bình tỉnh giấc. Mối lo ngại của nàng đã thành sự thật. Tiếng nói bô bô của gã già vọng tới :
-Mày ơi, hắn trốn rồi, phải không ?
Tên già nói đùa với bạn, và sau câu nói hắn phá lên cười hềnh hệch. Tên trẻ ngó Si Thoeng trân trân, không dám cất tiếng. Nhanh như cắt, nàng đập bá súng vào đỉnh đầu hắn. Hắn lạng người sang bên, cố tránh đòn song sự hoảng hốt đã làm gân cốt hắn cứng lại, và phản ứng tự vệ bị trì chậm, nên hắn lãnh bá súng vào sau ót. Như tượng gỗ vô tri giác bị xô ngã, hắn vập đầu vào cái thùng cạt tông kê bên. Nàng bồi thêm đòn thứ hai vào màng tang. Gã tiều phu trẻ thở hắt ra rồi nằm thẳng cẳng. Liền khi ấy, gã già kêu lớn ở sau lưng :
-Mày đâu rồi ? Ai đứng đó ?
Hắn vừa thấy Si Thoeng. Và nàng cũng vừa nhìn thấy hắn. Hai người chỉ cách nhau bằng tầm súng. Nàng có lợi thế là đã cầm sẵn súng trong tay. Dầu là chuyên gia rút súng, hắn vẫn không thể đối phó kịp thời. Hắn hét lên :
-Đứng yên.
Khi ấy, ngón tay nàng đã đặt lên cò. Đoàng 1 tiếng khô khan, viên đạn đầu chì vèo ra khỏi nòng. Nàng bắn không đến nỗi dở, nhưng chẳng hiểu sao phát thứ nhất này lại trật ra ngoài. Đó là điều bất hạnh vì 2 gã đàn ông trước mặt đã phản công cùng 1 lúc. Tên tiều phu già chộp lấy khẩu súng trên tay nàng. Nàng ngã người, co chân đạp vào ngực đối phương. Hắn té lăn cù xuống đường rầy xe lửa, lông lốc như bao gạo. Hắn chỉ có mã võ sĩ nhưng khi lâm trận thì yếu như sên. Cú đá của Si Thoeng đã làm hắn lộn lạo ruột gan và nổ đom đóm mắt.
Tuy nhiên, Si Thoeng vẫn không nắm được phần thắng vì tên trưởng xa đã tỏ ra lợi hại hơn nhiều. Chờ cho tên tiều phu già thảm bại, hắn mới hươi quyền lao vào vòng chiến. Trong chớp mắt, khẩu súng đã bị đánh rơi vào gầm tàu hỏa. Nàng ôm 1 cái thùng gỗ vuông ném giữa mặt hắn. Hắn cười nhạt, gạt cái thùng bắn ra ngoài rồi nhảy lên toa, đối diện với nàng. Nàng vung bàn tay định đánh vào huyệt giữa 2 lông mày, ngay trên sống mũi. Nàng đã học kỹ nhiều thế tấn công nguy hiểm, có thể giết chết đối phương trong khoảnh khắc. Nhưng nàng không thể biết rằng xa trưởng là cao thủ về quyền thuật. Đối với hắn, đòn điểm huyệt của nàng chỉ là trò đùa, trò gãi ngứa, không hơn không kém. Hắn tóm được cườm tay nàng, giật nhẹ 1 cái. Nàng mất thăng bằng, ngã nhào vào người hắn. Hắn chỉ cần hạ khuỷu tay bên trái xuống. Nếu trúng đòn, nàng sẽ bị trọng thương. Và chắc chắn nàng trúng đòn vì tên xa tưởng múa quyền nhanh nhẹn như con vượn truyền cây trên cành.
Nhưng may thay nàng có cứu tinh. Đó là Văn Bình.
Chàng đã tỉnh dậy sau khi uống thuốc giải mê. Chàng chỉ bàng hoàng 1 giây đồng hồ rồi ngồi lên, cỏ khô rơi tung tóe, những sợi giây trói chân chàng đua nhau đứt tung vì chàng vận nội công, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Văn Bình bèn tung mình ra khỏi cái bồ tre, xỉa ngón tay vào hông tên xa trưởng. Ngón tay chàng cứng và nhọn như dùi thép làm đối phương đau nhói. Hắn kêu « hự » 1 tiếng rồi té nhào vào đống hộp cạt tông. Văn Bình lôi hắn dậy, điểm vào mặt hắn và nói :
-Chịu thua chưa ?
Hắn nhìn chàng bằng cặp mắt căm hờn, nhưng rót cuộc đành gật đầu. Chàng bèn ra lệnh :
-Bây giờ, anh cho tàu chạy. Chạy luôn 1 mạch đến Sawan, không được dừng lại dọc đường.
Hắn há miệng phản đối :
-Tàu này đi Sawan sao được ?
Văn Bình giơ tay định tặng hắn 1 đòn atémi, nhưng Si Thoeng đã can thiệp kịp thời bằng cách án ngữ giữa 2 người, và líu la líu lô nói 1 tràng dài tiếng Thái với tên xa tưởng. Nàng nói nhanh nên chàng chỉ hiểu lõm bõm. Rồi Si Thoeng quay về phía Văn Bình, giải thích :
-Hắn nói thật đấy, anh đừng đánh hắn tội nghiệp. Tàu này không chạy thẳng đến Sawan. Nhưng anh yên tâm, em sẽ đưa anh đến tận Sawan.
Nàng lại liến thoắng 1 hồi với tên xa tưởng. Hắn đứng thẳng người, gật đầu lia lịa tỏ dấu đồng ý. Tuân lệnh nàng, hắn kéo 2 tên tiều phu đang nằm mọp trên đất ra 1 bãi cao, dùng giây ni lông trói gô lại. Tên trẻ rên rỉ luôn miệng song nằm im thin thít, còn tên già thì vùng vẫy khi bị trói. Hắn rít lớn, giọng chua như dấm thanh :
-Hừ, mày là đồ phản bội ! 
Tên xa trưởng thở dài :
-Mày tha lỗi cho tao. Dầu sao tao cũng chỉ là thằng làm công, người ta thuê tiền thì làm. Tao làm không nên, tất không dám lãnh tiền. Nếu biết khó khăn thế này, tao đã từ chối. Như mày biết, tao chẳng dại gì mang lụy vào thân. Xương thịt tao bị đau rừ, hắn giỏi võ ghê gớm, vậy mà mày nói hắn là đồ bỏ.
Rồi lẩm bẩm :
-Đồ bỏ ! Hừm, đồ bỏ !
Si Thoeng cười nói với Văn Bình :
-Bây giờ anh là chủ tàu. Mời anh ra lệnh cho tàu chạy.
Nàng nhìn chàng bằng cặp mắt long lanh. Chàng cảm thấy hối hận tràn trề. Nếu nàng không đến kịp, giờ này chàng còn nằm bất động trong bồ cỏ.
Và chàng sẽ chết. Chết sầu, chết thảm ở nơi đất khách quê người.
Tên trưởng xa ngoan ngoãn dẫn Văn Bình tới đầu máy, giới thiệu với tài xế, rồi lên toa kế bên. Toa tàu trống rỗng, hắn ngồi bó gối trong góc, hút thuốc lá 1 mình trong khi động cơ nổ xình xịch, bánh xe chuyển động rầm rầm. Văn Bình hỏi Si Thoeng :
-Chừng nào mình đến nơi ?
-Trước khi trời tối.
-Bọn họ là thuộc viên của Dixon, phải không ?
-Em không biết.
-Hỏi gã xa tưởng xem
-Theo em, không nên hỏi làm gì, vô ích. Bọn họ chỉ là côn đồ chuyên nghề đâm thuê chém mướn. Dixon chỉ sai họ mai phục ở bìa rừng để bắt anh, và họ cũng chỉ biết có thế. Điều làm em băn khoăn là tại sao Dixon lại biết anh đi Sawan. Và là đi Sawan bằng đường bộ.
Văn Bình bâng khuâng nhìn qua cửa toa xuống khu rừng rậm rạp bên đường :
-Hừ, anh  sẽ đích thân hỏi Dixon.
Tên xa trưởng gục đầu vào đầu gối, ngủ gà ngủ gât. Dọc đường, hắn lắc lư theo con tàu, song không hề ngẩng mặt lên, cũng như không hề thốt nửa lời. Có lẽ trong đời hắn đã quen với cảnh thế cờ lật ngược nên chấp nhận sự thất bại 1 cách thản nhiên, còn thản nhiên hơn cả cuộc tranh tài thể thao nữa.
Trời nhá nhem thì tàu đậu lại.
Như có chuông điện tử reo vang trong óc, tên xa trưởng mở choàng mắt dậy, ấn cái mũ cát kết xuống đầu, rồi đứng dậy :
-Đến nơi rồi. Ông đã xuống chưa ?
Văn Bình đưa mặt nhìn Si Thoeng. Nàng vỗ vai tên xa trưởng, giọng ôn tồn :
-Tôi biết người ta thuê tiền anh. Nhưng thôi, chuyện đã qua, không nên nhắc nữa. Tôi chỉ yêu cầu anh 1 điều, đó là sau khi chúng tôi xuống tàu thì anh phải lộn về ngay.
Tên xa trưởng trố mắt :
-Khổ quá, tôi còn phải chở hàng.
Si Thoeng nghiêm giọng :
-Nếu vậy bắt buộc tôi phải xử tệ với anh. Nhẹ thì trói anh lại, còn nặng thì đánh anh  trận rồi ném anh xuống vực. Nghe nói quãng này có nhiều vực sâu, rớt xuống là mất mạng. Vậy anh còn muốn chở hàng về nữa thôi ?
Tên xa trưởng thở dài :
-Thì thôi.
Si Thoeng dặn thêm :
-Thế nào chúng tôi cũng còn gặp anh lại. Có thể đêm nay, hoặc ngày mai, hoặc trong tương lai. Trong trường hợp anh trái lời tôi dặn thì đừng trách. Chúng tôi rất hiền hậu song cũng rất tàn ác. Anh đã nghe nói hình phạt mà dân bộ lạc dọc biên giới Thái – Mã lai dành cho bọn người tiền hậu bất nhất chưa ?
-Chưa.
-Vậy anh cần biết. Kẻ nào không giữ lời hứa thường bị moi gan, móc mắt. Gan thì cho chim kền kền ăn, còn mắt thì vứt xuống sông cho cá rỉa, đời đời con cháu sẽ trở nên ngu độn, hèn hạ.
Trước khi bước xuống, Văn Bình không quên bấm nhẹ vào cánh tay tên xếp ga. Chàng đã cẩn thận bấm nhẹ, và bấm vào bắp thịt có ít đường giây thần kinh nhất mà nạn nhân cũng đau buốt đến óc. Hắn kêu ai ái :
-Tôi biết rồi. Tôi biết rồi. Xin ông buông tha tôi ra. Tôi xin tuân theo lời ông.
Nơi xe hỏa đậu lại là 1 bãi đất rộng ở trên cao. Bên phải là núi, rặng núi sừng sững, án ngữ dọc biên giới phía tây của Thái lan. Còn bên trái là rừng. Phía sau rừng là biển. Văn Bình phải vượt qua rừng mới đến được Sawan trên bờ biển.
Si Thoeng men theo con đường mòn ngoằn ngoèo khuất sau những bụi cây rậm rạp. Chẳng bao lâu đoàn tàu dài đen sì đã bị màn cây dày đặc che lấp.
Văn Bình hỏi Si Thoeng :
-Chừng nào mình đến nơi ?
Nàng nhoẻn miệng cười :
-Từ nãy đến giờ anh đã hỏi như vậy 3 lần rồi. Bề sâu của khu rừng chỉ độ vài ba chục cây số, nhưng hẳn anh đã biết là trong rừng thì 1 cây số nhiều khi trở thành chục cây số, tùy theo quen hay không quen đường. Anh nóng lòng đến Sawan để gặp họ, phải không ?
Vô tình Văn Bình gật đầu. Mắt nàng bỗng đỏ hoe :
-Em biết mà … Nhưng thôi, em đã hứa giúp thì xin giúp đến cùng.
Ngẫm nghĩ 1 giây, nàng tiếp :
-Vả lại, anh là ân nhân của em, em có bổn phận phải đền đáp.
Văn Bình điếng người. Chàng quên bẵng Si Thoeng là đàn bà. Đàn bà từ cổ chí kim, từ đông sang tây đều mắc chứng bệnh bất diệt : ghen. Đàn bà đa tình thường ghen hơn đàn bà khô khan. Đàn bà đẹp đa tình lại còn ghen gấp bội.
Chết rồi. Chàng đinh ninh Si Thoeng nhắc đến Dixon chứ không ngờ chữ « họ » mà nàng dùng chỉ để ám chỉ những người đàn bà đẹp liên quan đến chuyến công tác của chàng trên đất Thái, đất Thái lạ lùng với loại mèo xinh xắn tục gọi là mèo Xiêm, với loại cọp dữ kinh khủng, thường được nhắc nhở là cọp Thái :
Mèo Xiêm cọp Thái.
Chàng đang lúng túng chưa tìm ra lối thoát thì nàng đã nói tiếp, nước mắt chảy quanh :
-Chẳng qua số em không may. Em không có diễm phúc được sống vui vầy với anh, dầu chỉ là vài 3 đêm.
Chàng vội bịt miệng nàng :
-Khổ quá, anh nghĩ khác chứ không như em tưởng đâu.
Nàng không nói gì nữa. Mắt nàng cũng trở nên khô ráo, khuôn mặt nàng đanh lại. Có lẽ nàng nhớ lại hoàn cảnh khác thường của 2 người. Nàng là cô gái Thái chết chồng và tái giá, không còn là bông hoa đầy xuân sắc nữa. Và chàng là khách du trọn đời bồng bềnh không được phép dừng chân vĩnh viễn trên bến yêu đương.
Hoàng hôn đã trùm kín khu rừng. Bóng đen từ trên không gian bao la tỏa xuống và từ dưới lòng đất âm u đùn lên. Tiếng ve sầu trỗi lên, đều đều, buồn bã, tưởng như không bao giờ dứt. Đặc điểm của miền rừng núi Đông nam Á là tiếng ve sầu. Tuy nhiên, chưa nơi nào mà ve sầu lại kêu dai dẳng và rầu rĩ bằng trên vương quốc Thái lan, nhất là ở miền rừng núi nam bộ, gần bờ biển nước xoáy. Văn Bình có cảm giác như trước mặt, sau lưng, 2 bên tả hữu, trên đầu dưới chân, ở đâu cũng có tiếng ve sầu. Những con ve sầu than van bằng giọng ra rả khiến những kẻ xa nhà buồn thối ruột.
Đột nhiên tiếng ve sầu ngừng bặt.
Ngừng bặt như thể khu rừng có ma. Ngừng bặt như thể vừa dứt 1 bản nhạc, nhạc trưởng sửa soạn cho tấu bản khác. Khoảng ngưng ngắn ngủi này đè nặng xuống những đỉnh cây cao vút, làm chim chóc đang hót và vượn khỉ đang kêu chít chít trong đám lá xào xạc, xum xuê phải nín thở.
Si Thoeng vẫn lùi lũi dẫn đường.
Tuy trời tối, nàng vẫn bước nhanh nhẹn không hề vấp ngã. Phần vì nàng thuộc đường, nhưng phần khác cũng nhờ đom đóm lập lòe. Hàng ngàn, hàng vạn con đom đóm không biết từ đâu bay tới, đậu rải rác 2 bên đường mòn, trên lùm bụi, dưới túp cỏ, tạo ra những luồng sáng lân tinh nhảy múa.
Sau gần 2 giờ đồng hồ đi bộ, 2 người bắt đầu trèo dốc. Thoạt đầu là dốc bằng đất sét, rồi đến sườn núi đá. Nàng bảo Văn Bình :
-Anh ráng đi 1 quãng nữa. Sắp đến rồi.
Chàng suýt bật cười. Si Thoeng coi chàng như gã thư sinh, quanh năm ru rú trong văn phòng đầy hồ sơ, chưa hề làm quen với cuộc sống lộ thiên. Trên thực tế, chàng có thể leo trèo cả tháng trường mà không mệt. Rừng núi là 1 phần tâm huyết của chàng. Chàng lớn lên trong rừng núi, bầu bạn với rừng núi. Rừng núi đối với chàng không phải là vũ trụ xa lạ mà là tri kỷ. Nàng lại hỏi :
-Anh đã đói chưa
Dĩ nhiên là Văn Bình đã đói meo. Không những đói, chàng còn khát nữa. Chàng bèn nhún vai :
-Thú thật với em là anh cảm thấy đói bụng từ trưa. Nhưng trong rừng rậm thì tìm đâu ra thức ăn ?
Nàng cười :
-Anh thử ngửi xem.
Một mùi thơm lạ lùng tràn ngập mũi chàng. Cách đó 1 phút, chàng không ngửi thấy gì vì đứng ngược chiều gió. Từ lâu, mùi thơm này đã làm chàng say mê. Chàng nhớ nó không kém gì nhớ rượu huýt ky hoặc thuốc lá Salem nữa. Đó là mùi sầu riêng, trái cây đặc biệt của Nam Việt. Tuy sinh trưởng ở miền Bắc, Văn Bình lại thích trái sầu riêng của miền Nam, còn thích hơn cả đồng bào miền Nam chính cống. Đối với chàng, sầu riêng không những chỉ là 1 thứ trái cây ngon miệng, gồm đủ vị ngon ngọt, chua, bùi, béo, thơm, mặn, mà còn là biểu tượng của sự toàn mỹ của tạo hóa. Trên thế gian, ít có màu vàng của vỏ sầu riêng vừa chín, màu vàng của múi bên trong lại còn quyến rũ hơn nữa, nó láng bóng và căng phồng như cơ thể cô gái đôi mươi.
Cuộc đời con người ra sao thì trái sầu riêng như thế. Nó gồm 1 vỏ dày cộm, gai nhọn, chắc, đâm tua tủa, ai đụng vào là đứt tay chảy máu. Bổ nó ra thì thấy múi to, mòng mọng. Song múi không thơm dịu dàng, thơm hấp dẫn như chuối cau, hoặc mọi thứ trái cây khác. Những ai mới ngửi mùi sầu riêng lần đầu sẽ phải bịt mũi vì nó khăm khẳm, nó làm mọi người nhức đầu buồn nôn. Rất nhiều người sợ trái sầu riêng, hễ thấy nó là lảng đi nơi khác, chứ đừng nói là ăn nữa. Nhưng hễ đã chịu bỏ từng múi sầu riêng vào miệng, hễ đã thưởng thức hương vị lạ lùng của nó thì từ đó ai cũng chịu là ngon tuyệt, bất hủ, say mê. Cuộc đời thường chứa đầy khó khăn, buồn chán là vì con người không chịu khám phá thêm nữa. Cũng như trái sầu riêng, người ta không mạo hiểm bổ ra mà ăn nếu chỉ ngửi thấy mùi « hôi thối ».
Ăn sầu riêng là 1 nghệ thật độc đáo, và trịnh trọng. Nghệ thật này không quá mộc mạc như bóc vỏ chuối, gọt trái thơm, bổ trái lê, rồi đưa vào miệng nhai nhồm nhoàm.
Người ta phải khoan thai bỏ từng múi trên lưỡi, rồi ngậm miệng lại.
Ngậm miệng chứ không nhai.
Ngậm miệng cho nước miếng từ từ trào ra, thấm dần vào múi sầu riêng, làm cho múi tan dần, tan dần. Ăn sầu riêng bằng cách ném vào giữa  hàm răng, nhá vội vàng, rồi nuốt ừng ực chẳng khác gì trong đêm hợp cẩn với người vợ trẻ mong manh như tơ sương mà trời mới tối, cửa mới đóng, khách khứa còn trò truyện như bắp rang ở phòng ngoài, trong này chú rể đã vội hùng hục nài hoa, ép liễu. Ăn trái sầu riêng phải chầm chậm, và ung dung như các cụ ngày xưa uống rượu với đồ nhắm dưới trăng. Ăn trái sầu riêng phải từ tốn, và dè dặt như thái độ của người chồng khôn ngoan trong đêm động phòng hoa chúc, tiến từng bước 1 vào động hoa đào. Không hối hả. Cũng không vùi dập.
Trái sầu riêng không những có nhiều mùi vị mà còn có nhiều màu sắc nữa. Trái của nó là sự hỗn hợp của các màu xanh lục, nhưng lại óng ánh như giát bạc, còn mặt dưới lại là màu nâu ngả màu đỏ hung. Văn Bình đã thưởng thức trái sầu riêng của nhiều quốc gia ở Đông nam Á, và nhận thấy sầu riêng Thái lan ngon nhất. Mỗi mùa sầu riêng khi được diễm phúc nghỉ xả hơi ở nước nhà, chàng đều không quên đáp máy bay, lái xe hơi, hoặc đi ghe xuồng, xe ngựa đến tận vườn ở bên giòng sông Cửu long để nếm những trái sầu riêng thơm bùi như người nếm rượu vang ở Pháp. Kể ra, sầu riêng Việt đã được liệt vào hàng thơm ngon, nhưng nói chung còn thua sầu riêng của miền rừng rậm Cao miên, và dĩ nhiên là chưa phải đối thủ của sầu riêng nam bộ xứ Thái. Sầu riêng Việt dường như lớn hơn, song mã ngoài không được cân đối. Thái là xứ có những nóc chùa hình tròn nên vóc dáng sầu riêng cũng tròn đều. Sầu riêng Việt cũng đủ các vị bùi, béo quen thuộc nhưng múi không được se bằng sầu riêng Thái, nếu ướt thì ướt quá, mà khô thì khô quá, chứ không vừa khô vừa ướt, ngoài thì mịn phẳng, không bẩn tay, ăn vào thì mọng nước. Không hiểu sao, mỗi khi đặt múi sầu riêng Thái vào lưỡi, Văn Bình lại liên tưởng đến cô gái tròn đều, da thịt bên ngoài có vẻ khô khan, nhưng sinh lực ái ân lại rồi rào, cuồn cuộn như giòng Cửu long, chảy qua rừng núi cả ngàn cây số mà không hề mệt mỏi.
Chàng liên tưởng đến đàn bà có lẽ cũng vì cây sầu riêng phát xuất từ những huyền thoại mỹ nhân. Tục truyền cây sầu riêng ra đời từ trước Phật lịch, từ ngày xửa ngày xưa, từ ngày văn minh Mã lai còn thịnh hành ở vùng biển Nam hải, và Ấn độ dương, và 1 phần lớn Đông nam Á còn là biển khơi, hoặc những hòn đảo rải rác gần đường xích đạo. Thuở ấy, con người đã biết dệt vải may quần áo, trai gái đã biết yêu nhau, xã hội đã biết tôn ti trật tự, trên có tiểu vương, dưới có thần dân, trăm họ sinh sống trong cảnh trên thuận dưới hòa ( chứ không cãi nhau, đánh nhau chí chóe như trong thế kỷ 20 đau khổ này ), tình yêu lan tràn khắp chốn. Vị tiểu vương cai trị 1 vùng đất rộng lớn, và phì nhiêu gần vịnh Xiêm la bấy giờ có 1 hoàng nam mặt mũi cực kỳ khôi ngô, tuấn tú, tên là A lư.
Vua cha đã trọng tuổi mà chỉ có 1 con trai độc nhất nên ngài rất chú trọng đến việc lựa chọn bạn trăm năm cho con để nối dõi ngai vàng. Phần vì muốn chiếm hưởng 1 giang sơn bát ngát và giàu mạnh, phần khác vì hoàng tử rất đẹp trai, lại rất tài giỏi nên giai nhân tứ xứ đều đua nhau làm quen và quyến rũ hoàng tử với hy vọng được nâng khăn sửa túi, được làm hoàng hậu sau này. Chàng định kết hôn với công chúa 1 vương quốc kế cận, vì nàng đẹp như Hằng Nga giáng thế, tính tình lại dịu hiền, nàng lại là con gái duy nhất. Cuộc gá nghĩa trăm năm này sẽ mở rộng gấp đôi vùng đất của hoàng tử. Hôn lễ trọng thể được dự định cử hành vào mùa thu, vào tháng trăng tròn nhất trong năm. Nhưng vào giờ chót, hoàng tử bỗng thay đổi ý kiến.
Hoàng tử đẹp trai A lư thay đổi ý kiến hôn nhân sau 1 cuộc săn thú trong rừng cấm ngoài kinh đô. A lư là nhà thiện xạ hữu danh nên vua cha dành sẵn 1 cánh rừng riêng gần hoàng cung cho chàng săn bắn. Quân lính chỉ canh gác bên ngoài, hoàng tử và cận vệ cưỡi ngựa vào trong rừng, và nghỉ chân trong 1 ngôi nhà thủy tọa xây cất trên bờ suối. Đêm ấy, trời đầy trăng sáng. A lư trằn trọc mãi không ngủ được, bèn trở dậy dạo chơi bên bờ suối. Chợt nghe tiếng sột soạt, A lư rón rén bước tới.
Và thấy 1 cô gái đang mặc xiêm y.
Nàng vừa tắm xong, ánh trăng lóng lánh trên da thịt trắng nõn nà. Nàng xây lại nên hoàng tử chỉ thấy 1 mảng lưng. Tuy nhiên, căn cứ vào dáng điệu uyển chuyển của nàng, hoàng tử đoán nàng là người cô gái tuyệt đẹp. Hoàng tử vấp rễ cây suýt ngã, gây ra tiếng động nên cô gái ngoảnh mặt lại. Thấy người đàn ông nhìn trộm là hoàng tử, nàng rú lên sợ hãi, và bưng lấy mặt. Hoàng tử lại gần, giọng an ủi :
-Ta đây mà. Ta là hoàng tử A lư. Nàng là ai ? Nàng đừng sợ, ta không hại nàng đâu.
Cô gái buông bàn tay che mặt ra, và hoàng tử A lư nhận ra nàng là U sa, nô tỳ chuyên dọn chuồng ngựa. Mỗi lần gây can qua với lân quốc, vua cha thường bắt đàn bà con gái quốc gia chiến bại về làm nô tỳ. Đàn bà đẹp thì xung vào làm thê thiếp trong nội cung hoặc cho quan quân. Đàn bà kém nhan sắc thì làm tôi tớ.
U sa được cử trông nom chuồng ngựa vì nàng giỏi nghề nuôi ngựa, lại siêng năng. Tuy nhiên, nàng về làm nô tỳ đã lâu mà không được ai để ý vì nàng quá xấu. Mặt nàng luôn luôn bám đầy đất bẩn, hơi thở nàng lại hôi hám lạ lùng, ở xa hàng chục bước cũng ngửi thấy, và hễ đã ngửi thấy là ai cũng lộn mửa. Hoàng tử A lư rất mê ngựa nên U sa được tháp tùng trong mọi chuyến săn. Ngựa do U sa nuôi bao giờ cũng khỏe mạnh, chạy lại nhanh. Riêng con bạch mã được hoàng tử cưỡi, tịch thu được trong 1 cuộc tấn công vương quốc kế cận, lại chạy nhanh như gió. Vì U sa quá xấu xí nên các quan cấm nàng lại gần hoàng tử. Nhưng khốn nỗi con tuấn mã không chịu cho ai chăm sóc ăn uống, tắm rửa ngoài U sa ra. Nếu không có U sa thì nó nhất định bỏ ăn, bỏ uống. Rốt cuộc, hoàng tử đi đâu, U sa cũng được đi theo.
U sa phục xuống đất, van lạy :
-Trăm ngàn lậy hoàng tử. Thiếp không dè hoàng tử lại ra suối chơi ban đêm. Tội thiếp thật đánh chết.
Hoàng tử mỉm cười :
-Lỗi tại ta, chứ đâu phải lỗi tại nàng. Vì nàng ra suối tắm trước, ta ra sau. Ta lại phạm tội núp sau bụi cây nhìn trộm nàng tắm. Này, ta hỏi thật, nàng đừng dối ta nhé !
-Thiếp đâu dám hỗn xược như vậy. Xin hoàng tử cứ hỏi.
-Tại sao nàng giấu ta ?
-Tâu hoàng tử, tiện thiếp dám giấu gì đâu.
-Có. Thoáng trông lưng nàng, ta biết nàng có làn da trắng đẹp như tuyết. Vậy mà tay chân nàng, mặt nàng lại đen đủi, gớm ghiếc. Nghĩa là phần da để lộ ra ngoài thì nàng lấy thuốc bôi đen. Ta thấy nàng lưng ong, ngực nở, eo nhỏ xíu, cổ cao tròn, nàng phải là mỹ nhân, chứ không phải nô tỳ giữ ngựa xấu xí và bẩn thỉu. Ta nói đúng hay sai ?
-Hoàng tử nói đúng.
-Vì nguyên nhân nào nàng lại hóa trang cho xấu xí như vậy ?
U sa thở dài, ngồi yên bên bờ suối. Ánh trăng chiếu lung linh trên bờ vai tròn trịa và trắng nõn của nàng. Nàng chưa kịp cài áo nên bờ vai hiện ra lồ lộ, tương phản với làn da đen sì và mặt sần sùi, trông phát lộn mửa. Sự thật đã quá rõ ràng, nàng không thể nào nói dối được nữa. Hoàng tử ngồi xuống cạnh nàng, giọng vỗ về ;
-Ta biết nàng có 1 tâm sự u uẩn nên phải hủy hoại tuổi xuân. Nàng hãy nói ta nghe, để xem ta có giúp được nàng chăng.
U sa lại thở dài :
-Thú thật với hoàng tử, tiện thiếp là cô gái của vua Bồ Đan. Vua cha của hoàng tử đem quân làm cỏ quê hương thiếp cách đây 5 năm. Thiếp chỉ còn cha, vì mẹ mất từ ngày thiếp còn ẵm ngửa. Cha thiếp bị thiệt mạng, và thiếp bị bắt đưa về quý quốc làm nô tỳ. Sợ chữ trinh bị hoen ố, thiếp bèn bôi mặt cho đen, và làm kẻ chăn ngựa. May thay không ai để ý đến tiện thiếp. Đêm nay, trời nóng nực, thiếp lén ra suối tắm rửa thì bị hoàng tử bắt gặp. Tiện thiếp đã kể hết sự thật. Nước của thiếp và nước của hoàng tử thù nhau không đội trời chung. Kinh thành nước Bồ Đan đã bị san thành bình địa. Hàng vạn con dân bị thám sát. Vua cha của hoàng tử lại ra nghiêm lệnh hễ gặp bất cứ phụ nữ của nước Bồ Đan là đem ra pháp trường xử trảm. Tiện thiếp cũng chẳng thiết sống nữa, hoàng tử hãy kêu cấm vệ đến bắt thiếp đem chém.
Hoàng tử A lư cầm bàn tay công chúa U sa, giọng cảm động cực độ :
-Ta không tán thành việc cha ta mang quân sang đánh nước bồ đan. Ta vốn ghét việc chém giết, phương chi nàng lại là trang quốc sắc thiên hương. Nàng U sa ơi, không hiểu sao đêm nay, ngồi bên nàng, ta lại cảm thấy cõi lòng xao xuyến, dường như ta với nàng quen nhau từ kiếp trước rồi chăng ?
Hoàng tử A lư kéo U sa lại gần mình. U sa gỡ tay ra, cúi đầu lạy hoàng tử, rồi nói :
-Thiếp đã hiểu lòng hoàng tử. Thiếp là con gái đồng trinh, từ nhỏ đến lớn chưa hề biết đàn ông. Thiếp nguyền hiến thân cho người thiếp kính yêu. Thiếp đã thầm yêu trộm nhớ hoàng tử từ ngày thiếp chăn ngựa trong hoàng cung. Đêm nay, thiếp xin dâng trọn vẹn cho hoàng tử. Phiền chàng đợi em 1 lát.
U sa nhảy xuống suối.
Khi bước lên, nàng đã hoàn toàn đổi khác. Mặt nàng trắng phau phau, mày ngài, mắt phượng, miệng chúm chím hình trái tim, hàm răng đều đặn. Trần truồng, U sa đứng dưới trăng cho hoàng tử chiêm ngưỡng những đường cong căng phồng nhựa sống trên thân mình. A lư đã gặp nhiều mỹ nhân, song U sa là mỹ nhân bậc nhất. Hoàng tử A lư dìu nàng bên tảng đá lớn, bằng phẳng để ân ái. Nhan sắc của nàng, vẻ dịu dàng của nàng đã đủ mê hoặc hoàng tử A lư, huống hồ nàng còn 1 mãnh lực bí mật khác nữa : mãnh lực ân ái dai dẳng, triền miên. Lần đầu tiên, A lư gặp kẻ ý hiệp tâm đầu về ân ái. Đêm càng về khuya, nàng càng khỏe, đến khi hoàng tử mệt nhoài, thở hổn hển thì nàng lại khỏe dội ra, tưởng như được uống thang thuốc đại bổ. Hoàng tử yêu cầu nàng giải thích thì nàng đáp :
-Mẹ em là người Nêpan, ở triền núi Hy mã Lạp sơn, nên có sức khỏe phi thường. Sức khỏe này được truyền lại cho em. Hồi nhỏ, em sống trên núi, từ sáng đến tối chỉ chạy nhảy, leo trèo nên đôi chân có ống xương và đường gân cứng như thép, em khỏe hơn chàng là chuyện tất nhiên.
Quá nửa đêm, hoàng tử ngủ thiếp trên cánh tay người đẹp, bên giòng suối chảy rì rầm dưới ánh trăng rằm lênh láng. Hơi lạnh rừng rậm gần sáng làm hoàng tử tỉnh dậy. Nhìn quanh thì không thấyU sa đâu nữa. Chỉ có 1 bức thư ngắn để trên phiến đá. Bức thư như sau :
« Năm năm trước, em đã thề độc trước thi thể của cha em là sẽ sang tận hoàng cung nước chàng, giết vua cha của chàng để báo thù. 5 năm nay, em kiên nhẫn chờ đợi. Em mài sẵn con dao thật bén, và cất trong người. Cơ hội tốt đẹp này đã đến với em. Em giả vờ ra suối tắm để quyến rũ chàng, trao thân cho chàng, rồi lựa dịp hạ sát chàng. Nhưng chàng ơi, em giả vờ không được. Em đã thật sự ăn nằm với chàng. Em đã quên tất cả khi ôm ấp chàng. Em không thể nào giết người đàn ông em yêu. Vì vậy, em phải chết. Em chết thì mới giải được lời thề với cha em ngày nọ.
A lư chàng ơi, lưỡi dao mà em định đâm chàng, em sẽ đâm vào tim em. Chàng hãy đích thân chôn cất em, đừng cho ai biết. Em tin cậy ở chàng.
Dưới suối vàng, em sẽ phù hộ cho chàng.
Công chúa U sa.
Bạn lòng muôn đời của hoàng tử A lư. »
U sa nằm ngửa, lưỡi dao cắm sâu vào tim, cách nơi A lư ngủ thiếp 1 quãng ngắn. Nàng đã chết cứng không biết từ bao giờ. Hoàng tử A lư vật mình than khóc, đến sáng mới đào hố chôn nàng như lời nàng trăn trối. Trở về cung, A lư quyết định từ hôn với công chúa nước bạn mặc dầu vua cha và triều đình ép buộc, phản đối kịch liệt. Không những thế, A lư còn bỏ cung vàng, điện ngọc, 1 mình 1 ngựa vào rừng, đến bên suối cũ lập am để tu niệm. Con tuấn mã nhớ nữ chủ U sa bỏ ăn, bỏ ngủ 1 thời gian rồi chết. Trên huyệt U sa sau này mọc 1 thứ cây lạ. Cây này đâm bông kết trái, trái nó đầy gai nhọn bên ngoài, bổ ra có múi vàng béo ngậy, ngửi thì hôi thối nhưng ăn thì ngon. Thật là ngon.
Đời sau gọi là sầu riêng.
Trái sầu riêng cũng giống U sa. Vỏ ngoài hôi hám, song bên trong là tiên nữ.
Huyền thoại sầu riêng này đã được Si Thoeng kể cho Văn Bình nghe. Tình cờ, câu chuyện cũ lại sống dậy trong trí óc chàng. Trước mặt chàng là 1 khu rừng toàn sầu riêng, cây nào cũng cao to, cành lá rườm rà. Nghe Si Thoeng hỏi, Văn Bình hít hà :
-Ô, sầu riêng !  Chúng mình ở lại ăn nhé !
Nàng gật đầu.
Trăng đã lên ở chân trời, chiếu sáng khu rừng sầu riêng. Si Thoeng hái sầu riêng, đặt trên 1 phiến đá lớn. Đột nhiên, Văn Bình cảm thấy nao nao. Ngày xưa, hoàng tử A lư cũng tình tự với cô gái giữ ngựa U sa của nước Bồ Đan trên phiến đá gần bờ suối. Dường như đọc được tư tưởng của chàng, vẻ mặt nàng đang tươi vui bỗng sa sầm. Nàng chỉ tay về hướng đông :
-Đi hết ngọn đồi này là Sawan.
Nàng nói đúng. Nửa giờ sau, hơi thở còn thơm lừng mùi sầu riêng. Văn Bình trèo lên đỉnh nhìn xuống. Bên kia là biển. Tuy ban đêm và đứng xa, Văn Bình vẫn nhìn thấy 1 con tàu buông neo gần bờ.
Đó là du thuyền Bồng lai.
Con tàu đã chở chàng và Rôsita lênh đênh từ Phi luật tân qua Nam dương, Mã lai đến vịnh Xiêm la, ngược giòng sông Chao Phya lên xứ Thái huyền bí.
 
 
0