Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tội ác và hình phạt - Dostoievski

0 trả lời, 89 lượt xem — Trang 1 / 1
Tội ác và hình phạt
Tác giả: Dostoievski
Người dịch: Lý Quốc Sỉnh
 
 
Giới thiệu tác phẩm
 
1
TỘI ÁC VÀ HÌNH PHẠT là một trong những cuốn tiểu thuyết lừng danh nhất của văn học Tây phương, một trong số rất ít những tác phẩm thực sự vĩ đại của muôn đời.
Dostoïevski bắt đầu viết kiệt tác này năm 1865, lúc ông đã bốn mươi tư tuổi và cũng giống như Raskolnikov, nhân vật chính, ông đang mắc nợ như chúa chổm. Về cả hai phương diện tình cảm và tài chính, đây là thời kỳ đen tối nhất của đời ông, không kể thời gian bị tù đày (1849-1854) dĩ nhiên. Nhưng có lẽ cảnh nợ nần còn khó chịu hơn cả sự tù đày. Trong một lá thư gởi cho một người bạn cũ quen từ hồi ở Semipalatinsk, bá tước Wrangel, ông viết: “Đột nhiên tôi lại thấy mình cô độc; tôi sẵn sàng trở lại nhà tù từng ấy năm nếu có thể vì thế mà được sạch nợ nần và sau đó lại cảm thấy tự do. Bây giờ tôi sắp bắt đầu viết một cuốn truyện, miễn cưỡng và bắt buộc, phải viết thật nhanh...”
Cuộc phiêu lưu thứ hai của ông vào làng báo thất bại một cách cay đắng. Tạp chí Thời đại đã bị nhà chức trách đóng cửa, lấy cớ một bài báo của của N. N. Strakhov, một phê bình gia có khuynh hướng bảo thủ, cổ võ sự liên hiệp với bọn phản loạn Ba Lan. Trước đó ít lâu, ông đã phải chịu hai cái đại tang. Maria Dmitrievna, người vợ thứ nhất của ông, mất giữa tháng tư 1864, thì đầu tháng Bảy anh cả ông, Michel, cũng mất theo. Cái chết của Michel, người duy nhất trên đời thương ông, khiến Dostoïevski không những mất người điều hành công việc cho ông, mà đồng thời còn chồng chất lên thêm cho ông trách nhiệm đùm bọc gia đình anh. Khi tờ Thời đại đình bản, Dostoïevski nợ vào khoảng 30.000 rúp. Con nợ thúc bách tới tấp hàng ngày. Dostoïevski cần gấp 3.000 rúp. Nếu có 2.000 rúp, ông có thể mua lại được quyền tái bản những tác phẩm mà ông đã bán non, và do đó, dần đà, có thể thanh toán được nợ nần. Ngày 5 tháng 6-1805 ông nhận được hai giấy đòi nợ khẩn cấp, một món nợ tới 450 rúp. Ông hỏi vay nhiều nơi nhưng đều bị chối từ. Hoàn cảnh ông cùng quẫn đến nỗi ông bất đắc dĩ phải ký giấy bán cho Stellovski, một tên lái sách bất lương quyền tái bản một lần toàn thể tác phẩm ông, cộng thêm một cuốn tiểu thuyết mới phải giao vào 1-11 năm 1866. Nếu ông không giữ lời hứa, nhà xuất bản có quyền khai thác tất cả các tác phẩm của ông trong chín năm, kể cả tác phẩm mới, mà không phải trả cho ông một xu nào. Sau khi thanh toán xong một số nợ nần, ông chỉ còn lại một số tiền nhỏ (172 rúp). Ông trốn đi ngoại quốc với số tiền này, để tạm quên những thằng thúc của đời sống và những căng thẳng tinh thần. Ông hy vọng ăn thua ở sòng roulette vì ông tự tin đã khám phá ra được một cách đánh “chắc ăn” nhưng ông đã thua nhẵn túi. Cuộc sống của ông trong một khách sạn ở Wiesbaden, vì không có tiền trả tiển phòng bị chủ khách sạn, bồi phòng khinh bỉ, không cho ăn uống gì cả, ngoài nước trà, chằng khác gì cuộc sống của Raskolnikov ở nhà trọ trong phần đầu Tội Ác và Hình Phạt. Ông viết thư cầu cứu gửi các bạn ông, Herzen ở Anh và nhất là Wrangel, lúc bấy giờ đang là đặc sứ Nga ở Copenhague, Đan Mạch. Nhưng Wrangel đi công vụ và chỉ nhận được thư của ông ít lâu sau. Wrangel gửi tiền qua cho ông thanh toán tiền khách sạn và có thể trở về quê hương. Nhưng chính trong thời gian đói khát và nhục nhã đó, mỗi ngày vào lúc ba giờ, ông phải rời khách sạn để người ta khỏi thấy ông không ăn uống gì cả mà Dostoïevski bắt đầu viết tác phẩm lớn đầu tiên của đời ông, dưới ánh sáng tù mù của một mẩu nến thừa, vừa viết, “vừa tránh cử động nhiều quá để khỏi kích thích cơn đói”.
Trung tuần tháng Mười Dostoïevski trở về Nga. Ông hỏi cưới Pauline Souslova mà ông quen từ cuối năm 1861. Nhưng cũng như lần trước, nàng khước từ. Tình trạng tài chính của ông vẫn không khả quan hơn chút nào. Katkov, chủ nhiệm nguyệt san Tín Viên Nga, chỉ thuận trả ông theo từng kỳ báo đăng. Cái lối trả tiền nhỏ giọt này không giúp Dostoïevski thỏa mãn được những chủ nợ của ông. Phải giao nửa cuốn sách mới lấy thêm được tiền mà Dostoïevski thì lại đang cần tiền quá lắm, nhưng nhu cầu toàn mỹ không cho phép ông viết cẩu thả. Tuy nhiên những lo âu đó chưa phải là tất cả. Chứng động kinh của ông lại tái phát. Thế mà ông vẫn phải làm việc như điên, ngược lại lời khuyên của bác sĩ. Biết làm thế nào? Dostoïevski viết cho mục sư Ianychev ngày 5 tháng Chạp: “Thế là tôi lại phải giam mình để làm việc theo một nhịp gia tốc. Những cơn động kinh bắt đầu, hết cơn nọ đến cơn kia: bốn cơn liền trong sáu tuần lễ, và bây giờ tôi hãy còn đau. Nhưng chưa hề gì vì sau đó, tôi vẫn tiêp tục làm việc; nhưng công việc của tôi đã tiến hành theo một cách mà tôi cảm thấy cần phải làm lại, và tôi quyết định làm lại (phải làm kỹ, nếu không tôi sẽ làm hỏng tương lai tôi)”.
Những túng quẫn, lo âu, ước vọng cầu toàn và bệnh tật tiếp tục đeo đẳng hành hạ Dostoïevski. Trong một lá thư đề ngày 12 tháng Hai 1866 cho bá tước Wrangel, ông mô tả tình trạng bi đát của ông như sau: “Việc viết cuốn tiểu thuyết cực hơn khổ hình đối với tôi. Đó là một cuốn trường thiên tiểu thuyết gồm sáu phần. Vào cuối tháng Chạp tôi đã viết được nhiều lắm và đã sẵn sàng, nhưng tôi đã đốt tất cả; bây giờ tôi không ngần ngại thú nhận điều đó.
Tôi không hài lòng. Một hình thức mới, một cách xắp đặt mới đã quyến rũ tôi và tôi bắt đầu lại hết. Tôi làm việc ngày đêm tuy không tiến thêm được bao nhiêu. Theo sự tính toán của tôi, mỗi tháng tôi phải cung cấp cho tờ Tín Viên Nga 8 tờ in (128 trang). Thật kinh khủng! Nhưng tôi có thể làm được việc đó nếu tinh thần tôi được bình yên. Một cuốn tiểu thuyết là một tác phẩm của óc tưởng tượng sáng tạo và để viết nó, tinh thần của tác giá phải hoàn toàn yên ổn. Thế mà đằng này tôi luôn luôn bị những con nợ giầy vò đe dọa tống tôi vào tù. Anh có thể tưởng tượng tôi đang ở trong một hoàn cảnh như thế nào! Nhưng việc đó chỉ phá hoại ngầm tinh thần tôi và làm tôi bối rối mấy ngày và tôi lại phải ngồi xuống và viết! Đôi khi tôi thấy hoàn toàn không cách gì làm được. Nếu họ bỏ tù tôi vì nợ, chắc chắn tôi sẽ làm hỏng tất cả và không thể làm xong được nữa: lúc đó tất cả sẽ tiêu tan ra mây khói.
Thế rồi lại còn bệnh tật nữa: trước hết là chứng động kinh, dường như nó muốn lấy lại ba tháng ngừng nghỉ ở ngoại quốc; bây giờ, tôi bị bệnh trĩ hành hạ đã một tháng nay. Đây là năm thứ ba tôi bị bệnh này, hai tháng - mỗi lần, vào tháng Hai và Ba. Mười lăm ngày dòng dã tôi phải nằm dài, và trong suốt mười lăm ngày không thể cầm nổi cây viết... Tôi trở nên bứt rứt, cáu kỉnh...”
Nhưng nhờ trời chứng động kinh không vật ngã ông và những chủ nợ cũng không dại gì tống ông vào tù. Trong khoảng thời gian đó, định mệnh cho ông được hưởng ít ngày bình thản khả dĩ đủ để hồi phục lại tinh thần suy sụp của ông trước khi đẩy ông vào chịu một cực hình mới. Ông đi thăm nhà nghỉ mát của cô em gái ở miền quê gần Mạc Tư Khoa. Chính tại nơi đây ông viết phần thứ tư cuốn tiểu thuyết và được nghe bài thơ của Heine phổ nhạc mà ông cho bà Katerina Ivanovna (vợ Marmeladov) hát trước khi bà từ trần ở đoạn cuối phần thứ năm. Dostoïevski trở lại Petersburg vào tháng Chín. Bản giao kèo với Stellovski là một cái thòng lọng lúc nào cũng lơ lửng trên đầu ông. Tội Ác và Hình Phạt chưa viết xong thì thời hạn phải giao tác phẩm cho Stellovski đã gần kề. Dostoïevski hoảng hốt đến mất ăn mất ngủ: chỉ còn hơn hai tháng nữa phải làm sao viết xong một cuốn tiểu thuyết, nếu không ông sẽ mất tác quyền toàn thể tác phẩm của ông trong những chín năm. Một người bạn, Milioukov, khuyên Dostoïevski nên đọc cho một thư ký tốc ký chép. Ông không quen làm việc theo lối đó, nhưng chỉ có giải pháp ấy mới cứu vãn nổi tình thế. Một người quen giới thiệu với ông cô Anna Grigorevpna Snitkin, một thiếu nữ mười tám tuổi mà ông cưới vào tháng Hai năm sau. Ngày 4 tháng Mười Dostoïevski bắt đầu đọc cho cô Anna chép truyện Con Bạc, tác phẩm mà ông thai nghén từ ba năm trước; trong dịp ghé qua Baden-Baden. Sau khi hoàn tất Con Bạc trong vòng hơn ba tuần lễ (từ 4 tới 29 tháng Mười), ông lại viết tiếp Tội Ác và Hình Phạt và kết thúc trước cuối năm 1866.

2
Có thể nói đề tài tội ác và hình phạt đã ám ảnh Dostoïevski từ lúc bắt đầu cầm bút. Trong một truyện ngắn viết hồi tháng 4 năm 1848, truyện Một tên trộm lương thiện, Dostoïevski nhận định như sau về kẻ tội phạm (đoạn này sau đó bị chính tác giả xóa bỏ): “Gần như một thông lệ, một kẻ tội phạm không bao giờ có nhiều sức mạnh ý chí, cũng như có thể nói không phải lúc nào đầu óc hắn cùng bình thường. Đó là lý do tại sao ý tưởng xấu xa trong tâm trí hắn biến ngay thành một hành động tồi bại: Nhưng chẳng bao lâu sau khi phạm tội, sự ăn năn bắt đầu cắn rứt tâm hồn hắn nư một con rắn, và con người sẽ không chết vì tội ác hắn đã phạm mà bởi vì hẳn đã hủy hoại cái tốt đẹp nhất trong hắn và cái vẫn còn cho phép hẳn được gọi là mội con người”. Trong một truyện ngắn khác nổi tiếng hơn, Đêm Trắng, viết cùng năm, (tháng 12), Dostoïevski đưa ra nhận xét sau đây về hình phạt (đoạn này cũng bị cắt bỏ nữa): “Người ta nói rằng sự tương tự của hình phạt khơi dậy sự ăn năn đích thực trong kẻ tội phạm và đôi khi khơi lên sự sám hối trong tâm hồn chai đá nhất; người ta cho rằng chủ yếu vì sự sợ hãi”.
Ngày 23 tháng Tư năm 1849, nghĩa là sau khi viết truyện Một tên trộm lương thiện được đúng một năm, Dostoïevski bị bắt giam và sau đó bị đi tù bốn năm ớ Tây Bá Lợi Á vì giao tiếp với nhóm cách mạng Petrachevski. Chắc chắn trong thời gian bị tù đày, ông nghiền ngẫm nhiều về vấn đề tội ác và hình phạt, không phải chỉ về khía cạnh pháp lý mà còn về khía cạnh tâm lý, siêu hình, nhân bản, cho nên, trong khi còn bị đày ở Semipalatinsk, chờ phép được trở về lưu trú ở Petersburg, trong một lá thư viết cho anh (tháng 10-1859), Dostoïevski trở lại vấn đề, không ngừng ám ảnh ông: “Anh còn nhớ có lần em đã nói với anh về một cuốn tiểu thuyết mà em có ý định viết dưới hình thức một lời thú tội và sau đó em quyết định hoãn lại một thời gian vì em cảm thấy chưa đủ kinh nghiệm cho một tác phẩm như vậy không nhỉ? Bây giờ em quyết định bắt đầu ngay lập tức. Trước hết, nó sẽ là một cái gì say mê và cảm động, và thứ đến, em sắp đặt hết cả tâm hồn vào cuốn tiểu thuyết này; em nghĩ tới nó trong khi em đang nằm trên phản trong nhà tù, vào lúc tâm hồn đau khổ nhất và tự phân tích cao độ”. Ông tiên đoán: “Lời thú tội này cuối cùng sẽ xây dựng tên tuổi em như một nhà văn”.
Theo bức thư trên, Dostoïevski định viết cuốn tiểu thuyết dưới hình thức một lời tự thú, nghĩa là thuộc ngôi thứ nhất, thì quá khứ. Nhưng, như trong số ghi cho thấy việc dùng ngôi thứ nhất gặp nhiều trở ngại, trở ngại lớn nhất là giới hạn đề tài. Vì thế, ông đốt bản thảo thứ nhất như ông đã viết trong lá thư gửi Wrangel. Kế đó, sau khi đổi ngôi vị trong truyện, ông quyết định đưa thêm vào cuốn tiểu thuyết này, truyện “Những kẻ nghiện ngập” mà ông định gửi cho tờ Thư Quốc Nội nhưng bị từ chối. Thế là cuối cùng hai tác phẩm “Những kẻ nghiện ngập”, cuốn sách viết về sự say sưa và nghèo khổ kết hợp với “Lời Thú Tội của Raskolnikov”. Chủ đề cùng khổ không lối thoát gặp tội ác như một lối thoát cuối cùng. “Những kẻ đáng thương” say sưa vì tuyệt vọng, làm đĩ vì nhu cầu, đối diện con người say sưa chinh phục sức mạnh, quyền lực, tự do, dù bằng tội ác. Hai chủ đề phối hợp thành “TỘI ÁC và HÌNH PHẠT”.
Bản phác họa câu chuyện được chính tác giả tóm lược trong một bức thư gửi Katkov, giám đốc tờ Tín Viên Nga. Lúc ấy Dostoïevski đang còn ở Wiesbaden (hồi tháng Chín năm 1865), ông thuyết phục Katkov đăng truyện của ông: “Đây sẽ là một bản nghiên cứu tâm lý một tội ác. Nó sẽ là một cuốn tiểu thuyết về đời sống hiện đại và sự việc xảy ra ngay trong năm nay. Một thanh niên, cựu sinh viên đại học Petersburg, sống trong cảnh nghèo nàn vì nhẹ dạ, vì thiếu nguyên tắc, bị ám ánh bởi những ý tưởng ‘chưa tiêu hóa kỹ’, chơi vơi trong không khí. Hắn quyết định làm một việc gì đó có thể cứu hắn thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng ngay lập tức. Hắn đã quyết định giết một bà già vợ góa của một viên tư vấn hàm, làm nghề cầm đồ. Mụ đàn bà này tồi tệ, điếc, bệnh hoạn, tham lam, ăn lời cắt cổ, chỉ làm điều xấu, hút máu mủ đồng bào, hành hạ và lợi dụng ngay chính cô em út của mình. ‘Mụ không tốt lành gì cả’ - ‘Mụ sống để làm gì?’ - ‘Mụ có ích lợi gì cho ai đâu?’... Tất cả những câu hỏi đó làm điên đầu chàng thanh niên. Hẳn quyết định giết mụ, cướp tiền của mụ, để có thể giúp đỡ mẹ hắn, hiện đang sống ở tỉnh lỵ, và để cứu cô em gái hắn đang làm quản gia trong nhà một địa chủ đang tìm cách quyến rũ nàng, cũng như để hoàn thành việc học của chính hẳn ở đại học. Kế đó hắn dự định xuất ngoại, và sống phần đời còn lại như một công dân lương thiện, quả quyết, cứng rắn trong việc thi hành ‘bổn phận của con người đối với nhân loại’, và do đó, dĩ nhiên, ‘chuộc lại tội ác của mình’, nếu người ta có thể gọi là tội ác, hành động này đối với một mụ già điếc, tồi tệ, độc ác và bệnh hoạn khi chính mụ cũng không biết tại sao mình lại sống trên đời và có thể chết một cách tự nhiên một tháng sau đó. Mặc dù những tội ác tương tự thường khó thi hành vô cùng, thường vụng về để lộ đầu đuôi, tang vật v.v... và nhiều bằt ngờ, hầu như luôn luôn tố cáo những kẻ phạm tội, chàng sinh viên của chúng ta lại thi hành xong tội ác một cách nhanh chóng và êm thắm do tình cờ hoàn toàn. Gần một tháng trôi qua giữa tội ác và tai họa tối hậu. Không ai nghi ngờ hẳn mảy may và không thể có sự nghi ngờ được. Nhưng chính tại đó cả một tiến trình tâm lý của tội ác tự diễn ra. Những vấn đề hóc búa đặt ra trước kẻ sát nhân, những tình cảm đột ngột và bất ngờ giầy vò tâm hồn hắn. Chân lý thiêng liêng và luật trần gian đè nặng lên hắn và hắn bắt buộc phải đầu thú. Hắn cảm thấy bị bắt buộc, phải trở lại xã hội loài người dù trước nguy cơ chết rục trong một nhà tù ở Tây Bá Lợi Á. Tình cảm cô đơn và xa cách nhân loại mà hắn cảm thấy ngay sau khi phạm tội là một cực hình đối với hắn. Luật thiên nhiên và bản chất nhân loại đã thắng hắn. Kẻ tội phạm quyết định chấp nhận đau khổ để chuộc tội. Tuy nhiên tôi khó mà trình bầy hết tư tưởng của mình ở đây. Ngoài ra, truyện của tôi còn ám chỉ ý tưởng rằng hình phạt do luật định không làm tội nhân sợ hãi nhiều như những nhà làm luật tưởng trừ phi chính hắn, đòi hỏi hình phạt đó, trong tinh thần. Chính ...
(mất hai trang)
... diện xã hội. Vì thế, ông nhiệt liệt bài bác chủ trương giải thích vấn đề tội ác bằng môi trường xã hội. Ông tóm tắt quan niệm của chủ trương “Hoàn cảnh” như sau trong cuốn “Nhật ký của một nhà văn” viết năm 1873: “Xã hội thiếu tổ chức, người ta không thể sống trong một xã hội như thế mà không chống đối và không phạm tội ác”. - “Vì xã hội thiếu tổ chức nên không có cách gì mở một con đường sống trong đó ngoài lưỡi dao”. Đó là lý thuyết hoàn cảnh. [1] Ông phê bình lý thuyết này trong khi làm con người phụ thuộc vào tổ chức xã hội, đã tước đoạt của nó tất cả mọi nhân phẩm, mọi bó buộc đạo đức cá nhân, mọi độc lập tinh thần đưa con người tới chỗ nô lệ đê tiện nhất mà người ta có thể tưởng tượng. Như thế, theo Dostoïevski, vấn đề tội ác liên quan tới sự tự do và phẩm giá con người. Rõ rệt hơn nữa, sự ác xấu là dấu hiệu chứng tỏ có một vực sâu nội tâm nơi con người. Nội tâm con người càng sâu xa bao nhiêu thì vực sâu tội ác càng thẳm sâu bấy nhiêu và con người đó lại càng thấy mình dễ phạm tội bấy nhiêu. Không phải vô tình mà Goethe và Kierkegaard cùng phát biểu câu tương tự: “Tôi không hề nghe nói đến một tội lỗi nào mà lại không có thể phạm phải”. Chỉ có con người, có nhân cách có cá tính mới có thể tạo ra tội ác và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tới đây, chúng ta đã đi tới một định đề khủng khiếp của Dostoïevski được phát biểu bởi Berdiaeff như sau: “Nếu con người hiện hữu, nếu nhân vị con người hiện hữu trong chiều sâu, thì lúc đó sự ác xấu có một nguồn gốc nội tâm, nó không thể là kết quả của những hoàn cảnh ngẫu nhiên tạo ra bởi môi trường xã hội”. [2] Định đề đó lập tức phải được bổ túc ngay bởi hệ luận sau đây: “Nhân phẩm con người và mối liên hệ thiêng liêng có thể và phải mua chuộc lại bằng con đường khổ đau; tội ác và sự ô nhiễm có thể và phải hóa giải bằng sự sám hối và giác ngộ”.
Chúng ta trở lại nền tảng hữu thể uyên nguyên của sự ác xấu và tội ác. Chúng ta hãy đi vào chiều sâu của thực thể. Sự ác xấu, tội lỗi nằm ngay trong bản chất con người. “Kinh nghiệm theo đuổi vào trong chính nội tâm chứng minh cho con người thấy cả một hố sâu ác xấu”. [3] Ở đây ta đi vào một cõi miền u uẩn, chìm sâu trong bóng tối địa ngục. Nhưng chính ác đạo đó cũng là con đường mà con người phải theo, “con đường bi thảm, định mệnh của tự do nó, kinh nghiệm có thể làm con người trở nên phong phú và nâng nó lên một bình diện cao viễn” [4]. Vì muốn vươn tới tự do giải thoát, chúng ta phải nắm trọn được toàn diện tính của mình, tìm một nền tảng vững chắc để có thể thiết định được giàn phóng, sử dụng tất cả mọi tài nguyên mang trong mình. Chỉ cần một tâm thức biết khai phá những hầm mỏ nội tâm, đãi lọc những nguyên liệu, hóa giải những xung lực mù quáng, gồm thâu những sức mạnh mãnh liệt hướng về một lý tưởng lồng lộng. Nietzsche đẩy tới tư tưởng Dostoïevski khi viết:
“... Con người cũng như cây cối vậy.
Hễ nó càng muốn vươn lên những vùng trời cao vút và rực sáng bao nhiêu thì những gốc rễ nó càng phải đâm sâu vào lòng đất, vào những vùng tăm tối, và những chiều sâu hun hút bấy nhiêu, - vào sự ác xấu?
- Phải, vào sự ác xấu!...”
(Zarathustra đã nói như thế)
Sự ác xấu, đó chính là nguồn cội con người. Nguồn cội càng lớn, càng sâu thẳm, con người càng có khả thể vươn lên cao. Với sự loại suy cho phép, tôi xin trích tư tưởng tương tự sau đây của Heracliteus:
“Con đường đi lên và con đường đi xuống là một và đồng nhất” [5]. Đỉnh cao và vực thẳm hòa lẫn vì ngọn núi cao nhất là ngọn núi có chân bắt nguồn từ đáy đại dương chứ không phải ngọn núi đi lên từ đồng bằng.
Chúng ta vừa đề cập tới chiều sâu của sự ác xấu, bây giờ hãy nói tới chiều rộng của vấn đề.
PRESTOUPLENIE, tội ác, theo Nga ngữ, có hai nghĩa, là vượt quá và vi phạm. Vượt quá ở đây không phải chỉ là vượt quá những giới hạn cho phép, vượt quá sự tự do theo pháp định mà còn là vượt quá bản chất người, tính người, xã hội tính, tính chất hành động và vượt quá cả giới hạn cuộc đời và thế giới mà theo đó văn minh và văn hóa nhân loại được thiết định.
Những kẻ tội phạm là những kẻ “bứt rứt” với những giới hạn đó, những con người thái quá. Để soi sáng điểm này, chúng ta phải trở lại vũ trụ quan và nhân sinh quan mới mẻ của Dostoïevski.
Sau khi khám phá ra chiều sâu tâm linh, con người của Dostoïevski thấy tất cả vũ trụ sụp đổ xung quanh mình và mặt đất dưới chân nó cũng không còn vững chắc như nó tưởng nữa. Con người đi vào một chiều kích khác: đó là khu tam giác tử thần, vĩ độ 35 Nam của tinh thần. Thiên đàng không ở trên và địa ngục cũng không ở dưới. Thượng đế không ngự ở trên cao và ma quỷ cũng không ở ngoài. Tất cả đều hiện lên từ chiều sâu trong tâm thức. “Địa ngục là không thể yêu thương được nữa”, Thượng đế và ma quỷ giao chiến và “bãi chiến trường chính là tâm hốn người”. Mọi biên giới biến mất. Tất cả chỉ là một cõi hỗn mang. Thực tế thường nghiệm và những hình thức ngoại tại của đời sống trở thành lu mờ. Con người bằng xương bằng thịt chỉ là cái vỏ. Thực tại tối hậu là tâm, là định mệnh tinh thần với những liên hệ của nó với Thượng đế và ma quỷ. Con người của Dostoïevski vùng vẫy như một cơn lốc, bơ vơ xao xuyến như con người không Thượng đế của Pascal trước những không gian vô biên kinh hoàng. Một câu hỏi ghê gớm được đặt ra: Phải chăng tất cả mọi sự đều được phép?
Nhưng biết làm gì?
Giống như kẻ mắc bệnh thần kinh, kẻ tội phạm và kẻ vô thần đóng một vai trò chủ yếu trong thần luận (théodicée) Dostoïevski. Họ đứng ở biên giới cùng cực của tự do; tiến thêm một bước nữa chắc chắn phải đưa họ tới Thượng đế hay vực sâu địa ngục. Nhưng có điều chắc chắn là con người của Dostoïevski bước tới, dù lằn ranh biên giới có dẫn tới hỗn mang và hủy hoại “Con người chỉ cần một ý chí độc lập, bất chấp nó phải trả bằng một giá nào và ý chí đó đưa nó tới đâu” [6] như tinh thần dưới hầm tuyên bố.
Những kẻ dừng lại trên bề mặt đời sống, những kẻ chấp nhận và khai thác giới hạn cho phép là những kẻ đáng khinh trong tác phẩm Dostojevski mà đại biểu chắc chắn phải là Piotr Petrovitch Loujine trong “Tội Ác và Hình Phạt”, con người “thực tiễn, hoạt động, bề bộn công việc”, hội thẩm tòa Thượng thẩm, “chuyên vấn đề thủ tục tố tụng” với chủ trương: “Trong tất cả mọi sự đều có một giới hạn nguy hiểm không thể vượt qua [7], bởi vì giới hạn đó một khi đã vượt qua rồi không thể trở lui” (trang 439). Ở cực đoan bên kia, ta có cặp tội phạm Raskolnikov - Sonia, - những kẻ vượt qua. Cũng như Loujine, Raskolnikov cũng chọn em, Douaia - kẻ phân vân giữa tam biên - để nói lên tư tưởng của mình: “Nếu em tới một chỗ mà em không dám vượt qua [7], em sẽ khổ sở, mà nếu em đã vượt qua chỗ đó, có khi em lại càng khổ sở hơn” (tr. 331). Raskolnikov, vì bất nhẫn, vì kiêu mạn chàng đã thực hiện bước nhảy vọt đó bằng cách giết mụ chủ tiệm cầm đồ. Đối với chàng, vấn đề là vượt qua một nguyên tắc, giới hạn sinh tử, để thử thách sức mạnh, tự chứng tỏ mình là một kẻ phi thường chứ không phải giết một con người vô nghĩa: “Mụ già chẳng có nghĩa lý gì hết”, chàng say sưa tự nhủ từng hồi như vậy. Đó là một sự sai lầm, nhưng nhất định chuyện không phải là chuyện mụ ta. “Mụ ta chẳng qua chỉ là một sự rủi ro... Tôi muốn nhảy qua bước đó cho thật nhanh thôi [8]. Tôi không phải đã giết một người, nhưng mà là một nguyên tắc; phải nguyên tắc đó, tôi đã giết hẳn hoi rồi, nhưng tôi đã không biết cách hoàn thành bước nhảy vọt. Tôi vẫn hãy còn ở bên này bờ hào” (tr. 401-402). Tất cả nỗi đau khổ giầy vò của Raskolnikov là ở chỗ đó. Sonia cũng đã cắn răng bước qua như kẻ đồng hội đồng thuyền với nàng: “Em đã chẳng hành động y như tôi sao? Em cũng thế, em đã bước qua bước ấy, em đã bước được qua bước ấy”. [8] Nhưng thay vì giết người, người thiếu nữ nhẫn nhục dịu hiền, lòng yêu thương mênh mông như đại dương, đã hy sinh thân mình nuôi mẹ ghẻ và đàn em thơ dại, đã tự giết mình: “Em đã ra tay hạ sát, em đã mất đi một cuộc đời... thực ra là cuộc đời em, nhưng ăn thua gì? Em đáng lẽ đã có thể sống với linh hồn và thần trí em mà em lại sẽ kết thúc cuộc đời ở công trường chợ Mát...” (tr. 480).
Chúng ta hãy nói về tâm trạng kẻ tội phạm nói chung. Về điểm này, kinh nghiệm tù đày của Dostoïevski giữa những kẻ tội phạm gan góc, kinh khủng nhất nước Nga soi sáng cho chúng ta rất nhiều. Ông nhận thấy bất cứ kẻ phạm tội nào, “một khi đã vượt qua giới hạn cấm đoán, hắn thích thú với ý tưởng rằng đối với nó không có gì là thiêng liêng nữa; có thể nói rằng hắn bứt rứt muốn nhảy qua mọi luật lệ, mọi uy quyền, và hân hưởng một thứ tự do vô biên, một thứ tự do điên dại, hân hưởng sự run rẩy của kinh hoàng mà hắn không thể không cảm thấy nơi mình. Ngoài ra, hắn còn biết rằng một hình phạt khủng khiếp đang chờ đợi hắn. Những cảm giác của hẳn có thể tương tự với những cảm giác của một người, từ trên một đỉnh tháp cúi mình nhìn xuống, bị vực sâu mở ra dưới chân cuốn hút đến nỗi muốn lao đầu xuống - ra sao cũng được miễn là chấm dứt cảm giác đó cho thực nhanh”. [9] Đấy là tâm trạng của kẻ tội phạm bình thường trên bờ vực sâu hỗn mang của tâm giới, đối với những kẻ tội phạm siêu đẳng, như Raskolnikov chẳng hạn, thì trên vực thẳm hỗn mang đó, chàng đã tạo ra một vì sao nhảy múa, lung linh và đó chính là ý lực thu hút chàng chứ không phải chiều sâu. Đó là tất cả lý tưởng của chàng, lý do sống của chàng, sinh lộ của chàng, nâng chàng lên khỏi bình diện tầm thường của cuộc sống con người. Theo gương đó Nietzsche khuyên con người hãy mang vực thắm hỗn mang đó để có thể tạo ra vì sao kia:
“Ta nói cùng các ngươi: các ngươi còn phải mang trong mình cõi hỗn mang, để có thể làm nảy sinh ra một vì sao lung linh. Ta nói cùng các ngươi: các ngươi phải mang trong bản thân một cõi hỗn mang” (Zarathustra).
Vì sao trên vực thẳm hỗn mang đó có thể là ý chí Siêu nhân của Nietzsche cũng như của Raskolnikov. Có một điểm tương đồng giữa thánh nhân và những kẻ tội phạm đó là: họ đều kinh sợ làm người [10]. Kẻ tội phạm tầm thường giết người, hủy diệt nhân tính nơi mình và trở thành phi nhân, kẻ tội phạm siêu đẳng đeo đuổi lý tưởng Siêu nhân. Trong một bài báo nhan đề “Tội Ác” viết khi vừa bỏ học ở Đại học sáu tháng trước khi phạm tội, Raskolnikov, theo chính trật tự của thiên nhiên, chia nhân loại ra làm hai loại: người loại thông thường và loại phi thường. Loại thông thường là đám đông, đàn mục súc mà chức vụ độc nhất cốt ở việc sinh sản ra những sinh vật giống như chúng. Loại người kia là những con người chân thực có khiếu sáng tạo thiên bẩm cất lên những ngôn từ mới. Loại thứ nhất làm chủ hiện tại; loại thứ nhì làm chủ tương lai. Loại thứ nhất báo vệ thế giới và duy trì nhân loại; loại thứ nhì xoay chuyển vũ trụ và thăng tiến nhân loại tới cùng đích của nó. Loại thứ nhất, nghĩa là đàn mục súc, gồm những kẻ bảo thủ, khôn ngoan, sống ngoan ngoãn trong sự vâng lệnh mà họ tha thiết mong muốn. Nhưng dù họ không tha thiết mong muốn thì họ cũng vẫn bị “bó buộc phải vâng lệnh bởi vì đó là vai trò của họ trong đời sống và vai trò này không có gì là nhục nhã đối với họ cả” (tr. 381). Trái lại loại thứ hai, “mọi người đều vượt quá luật lệ; đó là những kẻ phá hoại hay, ít ra, những sinh vật luôn luôn toan tính phá hoại, tùy theo phương tiện của họ” (tr. 381). Cũng như loại thông thường là những kẻ “bắt buộc phải tuân theo luật lệ”, loại phi thường “bắt buộc phải là những kẻ tội phạm”. Raskolnikov duyệt lại lịch sử và nhận thấy rằng tất cả các nhà lập pháp và nhà chỉ đạo cho nhân loại, kể từ các vị xa xưa nhất, cho đến các Lycurgue, các Solon, các Mahomet, các Napoléon v.v... “tất cả những con người đó, cho đến những người sau cùng này, đều là những kẻ tội phạm vì, khi ban hành những luật lệ mới, họ đã vi phạm, do chính việc làm của họ, các luật lệ cũ cho đến lúc đó vốn đã được xã họi trung thành tuân theo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và bởi vì họ đã không hề lui bước trước những cuộc đổ máu (máu vô tội và nhiều khi dũng cảm đổ ra để bảo vệ luật lệ cũ) miễn rằng họ đã thấy cần phải làm thế” (tr. 380). Lịch sử đã cho thấy đại đa số những ân nhân và những nhà lãnh đạo của nhân loại đều đã làm xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Từ đó, chàng kết luận rằng “tất cả chứ không riêng các vĩ nhân, nhưng là tất cả những người nào chỉ vươn cao lên bên trên mức thông thường của nhân loại và có đủ khả năng nói lên một vài điều mới mẻ, thì đều, do ngay chính bản chất của họ, bắt buộc phải là những kẻ tội phạm, dĩ nhiên là ở mức độ hơn kém không đều. Không thế, họ sẽ khó ra khỏi vết xe thông thường. Ấy thế mà họ không thể cam tâm chịu ở trong vòng thông thường ấy, một lần nữa, là do chính bản chất họ và tôi cho rằng họ chẳng nên luẩn quẩn trong vòng ấy” (tr. 380). Sự “độc ác” này, theo Nietzsche, tìm thấy trong tất cả những người giảng dạy cái mới mẻ (dans tout professeur de nouveau) trong tất cả những người thuyết giáo những điều mới mẻ (dans tout prédicateur de choses neuves) “Cái mới mẻ, bằng mọi cách, là cái ác xấu” (Le neuf, de toute façon c’est le mal) vì đó là cái “muốn chinh phục, lật nhào những biên giới, đạp đổ những niềm kính tín cũ; chỉ có cái cũ là cái thiện!” [11] Những con người thánh thiện, ở mọi thời đại, đều là những kẻ cầy sâu cuốc bẫm để trồng những ý tường cũ kỹ, đó là những kẻ trồng trọt của mảnh đất tinh thần. Nhưng mảnh đất nào cuối cùng cũng kiệt quệ nên “luôn luôn lưỡi cầy của ác xấu phải trở lại đào xới những tầng đất trinh nguyên” [12]. Tóm lại, sự xấu ác là một điều tối cần thiết cho đời sống tinh thần nhân loại vậy.
Nguồn gốc lý tưởng siêu nhân của Dostoïevski là Hegel. Trong lá thư quan trọng gửi cho anh ngày 22 tháng 2 năm 1854, nghĩa là ngay sau khi ra khỏi nhà tù, Dostoïevski khẩn khiết lên cầu anh gửi cho mình kinh Koran, tác phẩm Phê bình Lý Trí Thuần Túy của Kant và nhất là Hegel “Đặc biệt cuốn Triết lý vì Lịch sử của Hegel”. Theo Hegel lịch sử thế giới chuyển động trên một bình diện cao hơn bình diện luân lý. Cá thể anh hùng kết tinh lịch sử thế giới - hay tinh thần thế giới, Weltgeist - là Napoleon. Nguồn ảnh hưởng khác nữa của tư tưởng siêu nhân nơi Dostoïevski là tác phẩm Père Goriot của Balzac và Le rouge et le noir của Stendhal. Nhưng lý tưởng của cả Eugène de Rastignac lẫn Julien Sorel đều vẫn là Napoléon. Và do đó, dĩ nhiên, đấy cũng là lý tưởng của Raskolnikov: “Phải, tôi muốn trở thành một Nã Phá Luân, đó là lý do tôi đã giết người đấy”, Raskolnikov thành thực thú nhận (tr. 604). Chàng quyết định phạm tội khi một hôm đặt câu hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra nếu Nã Phá Luân ở địa vị mình và “nếu để xuất đầu lộ diện ông ta đã chằng có những chiến thắng ở Toulon, ở Ai Cập, chẳng có cuộc hành quân qua dãy Alpes ở Mont Blanc nhưng thay vì những công trạng lẫy lừng ấy, một mụ già tầm thường, hoàn toàn lố bịch, một mụ góa cho vay lãi, mà ông ta phải giết, thêm nữa, để cướp tiền của mụ, ngõ hầu theo đuổi con đường sự nghiệp của ông ta, (...)? Ấy đó, nếu ông ta không còn có một đường nào khác ông ta có quyết định thực hiện việc đó không? Có khi nào ông ta từ khước không chịu làm chuyện đó vì chuyện tỏ ra ít hào hùng quá... có tính cách trọng tội quá không?” (tr. 604-605). Raskolnikov đã giầy vò rất lâu vì câu hỏi này và sau cùng chàng cảm thấy vô cùng hổ thẹn khi chợt hiểu rằng “không những ông ta không từ khước làm chuyện đó nhưng mà ngay cả ý nghĩ rằng chuyện đó không hào hùng mấy cũng không thể nào hiện lên trong óc ông ta; ông ta có lẽ cũng không tài nào hiểu được rằng người ta lại có thể do dự trước việc đó. Và chỉ cần ông ta hơi tin một chút rằng đó là con đường độc nhất của ông ta, chắc hẳn ông ta sẽ giết ngay mụ già một cách thực gọn ghẽ và chẳng có lấy mảy may áy náy nào”. “Vậy thì tôi... ấy đó, tôi chẳng có lý do gì để phải áy náy cả... và, theo gương ông ta, tôi đã giết người... Đó nguyên vẹn sự thể đã xảy ra đấy” (tr. 605). Đó là lý do khiến Raskolnikov nhúng tay vào máu. Nhưng Dostoïevski là một nhà văn thiên tài nên nhân vật của ông không thể phạm một trọng tội ghê gớm như thế chỉ do lý thuyết đơn thuần. Cần phải có những động lực thúc bách thực tế nữa, dù Raskolnikov, theo các nhà phê bình, là con người của suy tư, lý luận và do đó, hành động của chàng hội đủ lý do túc lý là đủ rồi. Nghĩa là cần phải có những điều kiện thiết yếu khác nữa khiến Raskolnikov chín mùi để trở thành một kẻ sát nhân: chàng không thể làm khác, cũng như để mụ chủ tiệm cầm đồ Ivanovna chín mùi để trở thành một nạn nhân, mời gọi lưỡi dao, chia sẻ với kẻ sát nhân trách nhiệm về cái chết của mình: nếu hắn không giết thì đã có kẻ khác thay thế làm việc đó ngay; vấn đề là sớm hay muộn mà thôi. Ý định giết mụ chủ tiệm cầm đồ của chàng sinh viên mà Raskolnikov tình cờ nghe được khi hắn tâm sự với bạn trong tiệm trà với những lý luận đanh thép tương tự với lý luân của Raskolnikov là một bằng chứng, một thúc giục. Chàng sinh viên lý luận: “bao nhiêu là năng lực trẻ trung, tươi tắn, cứ tiêu hao vì không được nâng đỡ (...) cả trăm, có khi cả ngàn cuộc đời được hướng về con đường lương thiện, cả chục gia đình được cứu khỏi nạn cùng quẫn, khỏi tội ác thối nát, chết chóc, bệnh viện vì bệnh phong tình (...) Tóm lại đổi lại một cuộc đời, hàng ngàn cuộc đời khác được cứu khỏi sự thối nát. Một cái chết đổi lấy cả trăm cuộc sống”, mà một cuộc sống kia không hơn cuộc sống của một con chấy, con rận hay một con gián, còn kém hơn thế nữa “vì mụ già đó tác hại” (tr.97). Những động lực đó là sự quẫn bách của Raskolnikov. Chàng đã mất việc, phải bỏ dở việc học ở Đại học. Bà chủ trọ của Raskolnikov trước kia tử tế với chàng vì chàng ăn học và có công ăn việc làm đàng hoàng, chàng lại sắp trở thành con rể của bà ta nữa. Nhưng từ khi cô con gái chết đi và Raskolnikov thất nghiệp không có tiền trả tiền thuê phòng thì sự việc lại khác hẳn. Bà từ chối không cho chàng ăn và hối thúc đòi phòng trọ lại. Nhưng sự cùng túng đó chưa phải là động lực chính. Cuộc gặp gỡ viên công chức già tuyệt vọng Marmeladov tìm cách vùi mình trong men rượu, cô con gái dịu hiền Sonia túng đường xẩy chân phải bán mình nuôi đàn em dại làm u ám thêm tâm trí Raskolnikov. Rồi cuộc gặp gỡ cô thiếu nữ nhà lành bị phục rượu ở công viên làm Raskolnikov sực nghĩ tới em gái: chàng nhớ lại một người nào đó đã nói mỗi năm theo thống kê có 1 phần 100 thiếu nữ con nhà lương thiện bắt buộc phải trở thành điếm và sau đó biến mất khỏi trần gian không để lại dấu vết gì. Dounetchka, cô em gái yêu quý của chàng, có thể ở trong số này chăng, nếu chàng tiếp tục ăn bám vào họ? Lá thư của mẹ già “giáng xuống chàng như một tia sét đánh” đẩy chàng tới chỗ phải ra tay hành động ngay lập tức: Dounetchka nhận lời lấy một tên luật sư đê tiện già gấp đôi tuổi nàng vì hy vọng có thể giúp anh học thành tài. Như thế có khác nào em chàng đã bán mình vì chàng? Chàng là hy vọng, là niềm kiêu hãnh, là lẽ sống của cả gia đình, chàng có những tư tưởng phục vụ nhân loại cao thượng ấy thế mà chàng đang gặp cảnh học hành dang dở vì nghèo. Chàng cầm cố chút ít tiền để ra khỏi cảnh bế tắc bi thảm này và sửa soạn cho bước đầu của mình. Raskolnikov lý luận “hơi đâu chịu thiếu thốn đủ thứ, để cho mẹ mình phải túng bẩn, cam chịu đau khổ trước sự nhục nhã của em gái mình, tất cả như thế để làm gì?” Vì lý luận như thế chàng mới quyết định lấy tiền của mụ già cho những bước đầu của mình, để học cho đến nơi đến chốn mà không phải ăn báo mẹ. Tóm lại, chàng muốn dùng một phương pháp căn bản để bắt đầu một cuộc đời mới, để trở thành độc lập... “Ấy đó... thế đấy, tất cả chỉ có thế thôi” (tr. 606). Sự phân tích của Dostoïevski - hay của Raskolnikov cũng thế - mỗi lúc một thêm vi tế, để truy tầm và chỉ định đích danh động lực phạm tội của Raskolnikov. Dostoïevski đưa ta từ sự xác nhận này tới sự phủ nhận khác, mỗi bước một tới gần thêm sự thật. “Không, - Raskolnikov tiếp tục tâm sự với Sonia một cách vô cùng chân thực - không phải thế đâu; đúng ra, phải đúng hơn hãy giả thiết rằng tôi kiêu ngạo, đố kỵ, độc ác, đê tiện và thù dai và... hãy thêm nữa: sẵn có khuynh hướng hóa điên, thôi đã bắt đầu rồi thì cũng nên nói làm một lần cho hết. Lúc nãy, tôi đã báo em rằng tôi đã phải bỏ trường đại học. Ấy đó, em muốn tôi nói thực không? Thực ra, có lẽ tôi có thể tiếp tục học. Mẹ tôi có lẽ sẽ gửi cho tôi đủ tiền ghi danh và tôi có lẽ cũng kiếm cho được đủ ăn mặc đấy. Phải, chắc chắn là tôi có thể làm được thế. Tôi, lúc trước, có chỗ dạy học, người ta đề nghị trả cho tôi năm mươi kôpếch mỗi bài. Razoumikhine vẫn học được đấy chứ! Tôi đã nổi nóng và tôi không chịu nhận. Phải nổi nóng là chữ đúng đấy. Thế là, tôi đã chúi nhủi trong xó của tôi như con nhện trong góc của nó. Em biết căn nhà bẹp của tôi, em đã có lần tới đó rồi mà... Sônia ơi, em có biết rằng tâm hồn và trí não tôi cảm thấy chết nghẹt trong các căn phòng thấp và chật hẹp không?-” (tr. 607). Hoàn cảnh bi đát đó vẫn chưa phải là động lực cốt yếu vì có thể vượt qua. Động lực cốt yếu phải tìm ngay trong chính bản thân kẻ tội phạm. Raskolnikov có thể giết người vì sự tù túng của mình, vì thất vọng với con người, vì bất nhẫn trước sự bất công, độc ác, ngu muội của loài người, nhưng chủ yếu vẫn là một cái gì nằm thâm sâu nhất trong tâm hồn chàng: sự tự khẳng định hay biểu lộ con người mình như chàng dần dần lần ra manh mối với một sự sáng suốt tàn nhẫn vốn là hiểm họa, tai ương của chàng: “Tôi vẫn chưa trình bầy sự việc đúng như chúng đã xảy ra! Em thấy không, thuở đó, tôi cứ luôn luôn tự hỏi: ‘Vì mày thấy rõ sự ngu muội của kẻ khác, tại sao mày không tìm cách tỏ ra thông minh hơn họ?’ Sau này, tôi đã hiểu, Sônia ơi, rằng muốn đợi chờ cho đến lúc mọi người đều trở nên thông minh, người ta có thể bỏ phí mất nhiều thời giờ lắm... Sau đó, tôi lại có dịp nhận chân rằng lúc đó có lẽ chẳng bao giờ tới cả, rằng loài người không thể đổi thay rằng chẳng ai có đủ quyển lực đổi thay họ cả. Gắng gỏi làm công việc ấy chỉ là hao phí thời giờ vô ích. Phải, tất cả điều đó là đúng... Đó là quy luật của loài người... Quy luật, Sônia ơi, ấy đó!... Và bây giờ, Sônia ơi, tôi biết rằng kẻ nào có được một ý chí, một tinh thần sắt đá sẽ trở thành chủ nhân ông của loài người không khó khăn gì. Ai dám có nhiều tham vọng sẽ được họ coi như nắm giữ được lẽ phải. Ai mạo phạm họ và khinh miêt họ sẽ chiếm được lòng tôn kính của họ. Kẻ đó sẽ trở thành người làm luật cho họ. Chuyện ngàn xưa vẫn đã thế rồi và ngàn sau này cũng vẫn sẽ cứ thế mãi mãi. Phải mù mới không nhận ra điều đó” (tr. 608). Raskolnikov đã sớm nhận thức được điều này và biết được rằng quyền uy chỉ được giao cho kẻ “dám cúi mình xuống để nhặt lấy nó. Tất cả là ở chỗ đó, chỉ cần dám có gan mà thôi”. Chính từ chỗ đó mà mọi sự bắt đầu. Chính từ chỗ đó chàng nảy ra một ý tưởng táo bạo mà từ trước tới nay chàng chưa hề nghĩ tới. “Chưa hề có ai cả! Tôi mới đã tưởng tượng ra, rõ ràng như ban ngày, rằng chuyện thật kỳ dị là chưa ai, trước sự phi lý của các việc, mà lại đã dám lay chuyển toàn thể công trình kiến trúc đến tận cỗi rễ để tiêu hủy hết thảy, vứt bỏ hết thảy... Ấy thế là tôi, tôi này, tôi đã muốn có gan dám và tôi đã giết... Chẳng qua tôi chỉ muốn tìm một hành vi bạo tợn thôi, Sônia ạ; tôi chỉ muốn có vậy thôi: động cơ thúc đẩy tôi hành động là thế đó” (tr. 609). Qua nhân vật Raskolnikov trong tác phẩm này cũng như nhân vật Kirilov trong Lũ Người Quỷ Ám, Ivan trong Anh Em Nhà Karamazov. Dostoïevski muốn trình bày thảm trạng của lòng “kiêu mạn ma quỷ” (orgueil satanique) vì theo truyền thống Nga, những kẻ dám đứng lên khẳng định mình như vậy là những kẻ đã dời xa Thượng đế và giao mình cho quỷ. Siêu nhân đồng nghĩa với Phán vương (Antéchrist). Trằn trọc nằm giữa bóng tối trong nhiều đêm thao thức, tranh đấu với những thách đố, Raskolnikov hiểu rõ rằng đó là ma quỷ đã đến dụ dỗ chàng. Và chàng đã phải chịu đựng biết bao cuộc chiến đấu nội tâm, những cuộc tranh biện vô bổ làm chàng kinh tởm cùng cực. Lòng kiêu ngạo đã làm chàng phát điên, đau bệnh. Và chính là để giết con người lý trí suy luận, kiêu ngạo ma quỷ ấy mà chàng đã giết người. Vì thực ra không phải chàng giết mà là ma quỷ giết và không phải chàng giết người mà là giết chính mình. Việc sát nhân trở thành tự sát vì chàng biẽt rằng từ nay chàng sẽ tự đọa đày mãi mãi. RaskolniKov thú nhận: “Tôi muốn quên đi hết thảy để bắt đầu lại cuộc đời tôi và, nhất là, Sônia ạ, để chấm dứt hẳn những cuộc độc thoại ấy... Dễ thường em tưởng rằng tôi đã đi làm chuyện ấy như một thằng rồ dại chắc? Không, tôi chỉ hành động sau khi đã đắn đo suy nghĩ và, chính cái đó mới đã gieo tai họa cho tôi-” (tr. 610). Chẳng phải ý tưởng muốn xác nhận mình có phải là một Napoléon, một siêu nhân hay không đã khiến Raskolnikov ra tay hạ sát. Chàng đâu đến nỗi ngây thơ không biết rằng ngay sự kiện chàng tự hỏi mình có quyền hay không cũng đã tự chứng minh được rằng chàng chẳng làm gì có quyền đó chỉ bởi lý do đặt nó thành vấn đề. Tự hỏi con người có phải là một thứ sâu bọ không, câu hỏi đó đã hàm chứa ý nghĩa con người không phải là sâu bộ đối với kẻ đặt câu hỏi. Con người chỉ là sâu bọ đối với kẻ nào không hề đặt ra những câu hỏi loại đó, kẻ lẳng lặng quyết liệt đi theo con đường của mình không thắc mắc gì hết. Nguyên việc Raskolnikov tự hỏi nếu ở vào địa vị Napoléon thì không hiểu ông ta có giết mụ già đó không cũng đủ cho thay rằng chàng không phải là một Napoléon rồi. Chàng đã chịu đựng đến cùng độ nỗi đau khổ gây nên bởi sự vò xé ấy và sau đó nổi lên ước muốn rứt bỏ niềm đau khổ ấy đi. Và đó là động lực chính yếu, “tôi đã muốn giết mà chẳng cần nhân danh một thứ lý thuyết vụn vặt nào, giết vì chính bản thân tôi, vì một mình tôi mà thôi” (tr. 610). Chẳng phải vì muốn giúp đỡ mẹ mà Raskolrikov giết người, cũng chẳng phải để đóng góp cho hạnh phúc nhân loại hay quyền thế và tiền bạc. Không, về điểm này Raskolnikov rất thành thực. Lúc giết người chàng chẳng hề quan tâm tới sự kiện chàng sẽ là một ân nhân của nhân loại hay sẽ là một hấp huyết quỷ vương của xã hội: nhất là không phải vì tiền mà chàng giết người. Có một vần đề cần thiết khác chẳng phải tìm ngay cho ra lời giải đáp đã thúc đẩy chàng hành động đó là vấn đề chàng phải biết và trong thời hạn sớm nhất rằng “tôi có phải là một loài sâu mọt như kẻ khác không hay tôi là một con người? Thử xem tôi có thể vượt qua trở ngại, tôi có dám cúi mình xuống để nắm lấy quyền lực ấy không? Tôi phải chăng là một sinh vật run rẩy hay tôi có quyền...?” (tr. 611). Nên khi đến nhà mụ già, chàng chỉ nghĩ chàng đang làm một cuộc thí nghiệm.
Cuộc thí nghiệm do ma quỷ dẫn dắt thúc đẩy đó đã cho Raskolnikov ngay câu trả lời: chàng không có quyền theo đường đó và chàng cũng chỉ là một thứ sâu bọ như bao kẻ khác mà chàng khinh bỉ. Chàng tỉnh ngộ nhận thấy thực ra “tôi đã tự giết tôi, giết tôi chứ không phải giết mụ, giết chính tôi này này, và tôi thề mãi mãi...” (tr. 611).
Tới đây chúng ta đi tới chủ đề thứ hai mà Dostoïevski muốn trình bày: hậu quả hữu thể học của tội ác.

4
HÌNH PHẠT. - “Tội ác đã được xếp vào loại những cuôc phản kháng chống lại trật tự xã hội. Xã hội là một tập thể trong đó mỗi cá nhân đều ký kết một hiệp ước sống chung hòa bình; kẻ tội phạm là kẻ xé bỏ hiệp ước đó [13]. Nói một cách tổng quát, tội ác trước hết là một hành động chống lại những định chế của luật lệ, phong tục tập quán hay tôn giáo con người” [14]. Do đó, hình phạt dành cho những kẻ tội phạm thuộc thẩm quyền của những định chế trên. Có kẻ tội phạm nào trước khi hành động lại không biết hình phạt nào sẽ dành cho mình một khi hắn thất bại và tội ác bị đem ra xét xử? Song song với những đóng góp lớn lao của ông vào triết lý về tội ác, Dostoïevski, qua kinh nghiệm Tây Bá Lợi Á, còn đưa ra nhiều nhận định rất đáng lưu ý về hình phạt. Theo ông, mọi hình phạt của xã hội không những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì bất cứ chế độ lao tù cừ khôi nhất nào cũng chỉ đạt tới một kết quả ảo tưởng, phỉnh gạt. Lao tù, khổ dịch không thể cảm hóa cũng như cải tạo tội nhân; những biện pháp đó chỉ trừng trị tội nhân và bảo vệ xã hội nhất thời tránh khỏi những mưu đồ nó còn có thể phạm thôi. Lao tù rút tỉa nhựa sống của cá nhân, làm nó thác loạn thần kinh trong tinh thần, làm nó yếu đuối, kinh sợ rồi trình diện nó như một mẫu hối cải, ăn năn, một xác ướp tinh thần khô héo và nửa điên loạn.” [15] nếu đấy là mục đích thì kể như những hình phạt của xã thành công, nhưng bảo rằng những biện pháp đó cải tạo được kẻ tội phạm và bảo vệ xã hội khỏi những âm mưu nguy hiểm của nó thì không: vì “lao tù, những khổ dịch nặng nề nhất chỉ làm phát triền nơi kẻ tội phạm sự căm thù, sự khao khát những ước vọng bị cấm đoán, sự vô tư lự đáng sợ?” [16]. Kẻ tội phạm nổi loạn chống lại xã hội, thù ghét xã hội sai lầm. Hình phạt mà xã hội bắt nó phải chịu chỉ tổ cho phép nó, về phần nó, tự coi như đã được xá tội, trắng nợ với xã hội. Ngược lại, từ nay, xã hội mắc lại nó một món nợ: nợ căm thù mà có dịp là nó sẽ trả, nhưng dĩ nhiên, lần này khéo léo, hợp pháp hơn vì nhà tù chẳng dạy nó điều gì khác hơn là mọi tội ác đều được phép miễn là hợp pháp và hợp hiến là gì? Tóm lại, theo Dostoïevski, hình phạt hữu hiệu duy nhất là hình phạt tuyên đọc từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài, hình phạt mà kẻ tội phạm nhận thức được do tội ác mình gây ra, hình phạt mà nó tự nguyện chấp nhận.
Đó là trường hợp hình phạt của Raskolnikov.
Điều đáng phục nơi Raskolnikov và đó cũng là điều chứng tỏ chàng là kẻ tội phạm có nét (criminel de grand style) - chữ của Nietzsche - và Dostoïevski là một nhà văn lớn là từ đầu chí cuối chàng không hề hối hận. Chàng chỉ nhịn giết một loài sâu bọ bẩn thỉu và dù mụ có tái sinh chàng cũng sẽ lại giết chết mụ nữa. Chàng đã đi tự tố cáo và dù bị đi tù với bản án 8 năm khổ sai. Nhưng hình phạt của chàng ở chỗ khác. Chàng chấp nhận hình phạt của xã hội. Nhưng lương tâm chàng yên ổn. Và đấy là tất cả vấn đề “Thà là số mệnh đưa đến cho chàng niềm hối quá, niềm hối quá đau thương nó vò xé con tim, đuổi đi giấc ngủ, một niềm hối quá mà những cơn hun đốt lòng khiến người ta ao ước một dây thòng lọng, một vũng nước sâu đen... Ôi Chàng có lẽ sẽ đón nhận niềm hối quá ấy một cách hoan hỉ” (tr. 786). Đau khổ, khóc lóc, thế vẫn còn là sống. “Nhưng chàng chẳng cảm thấy một chút hối quá nào về đại tội của chàng”. Chàng thắc mắc tự hỏi: “Chữ đại tội thực ra nghĩa là gì? Lương tâm tôi bình thản. Chắc chắn hành vi của tôi là phi pháp; tôi đã giầy xéo lên luật lệ, đã làm đổ máu kẻ khác. Đấy, vì luật lệ đã bị bước qua, thì hãy lấy đầu tôi đi và thế là xong. Hẳn là, trong trường hợp này rất nhiều ân nhân của nhân loại, đã cướp lấy quyền lực thay vì được thừa hưởng nó ngay từ lúc khởi nghiệp, lẽ ra phải đem hành hình, nhưng những bực đó đã thực hiện được mưu đồ của họ; họ đã đi đến cùng con đường của họ và sự thành công của họ biện minh cho hành vi của họ, trong khi tôi, tôi đã không biết theo đuổi con đường của tôi, điều này chứng tỏ rằng tôi không có quyền bước vào con đường ấy” (tr. 786-87).
Đó là điểu sai lầm độc nhất chàng nhìn nhận đã phạm, sai lầm ở chỗ đã yếu lòng và đã đi tự tố cáo.
Một hành động táo tợn, dù được trù tính kỹ càng, thực hiện chu đáo đến đâu cũng không tránh khỏi những bất ngờ, nếu không trong khi hành động, thì là sau đó, ngoài tất cả mọi dự liệu của tác nhân. Chính từ điểm này mà người ta bắt buộc phải tin vào những sức mạnh siêu việt an bài tất cả. “Những kẻ tin vào sự toàn năng của công việc và trí thông minh mãi mãi sẽ chỉ gặp những thất bại do những biến cố hư ảo và khôn lường gây ra”, Henry Miller nhận xét một cách đạt lý như vậy [17]. Đó là chuyện đã xảy ra cho Raskolnikov và làm nên hình phạt của chàng.
Sau khi thực hiện tội ác, tuy không ai có đủ lý do nghi ngờ, nhưng Raskolnikov đã phải trải qua những cơn ác mộng khủng khiếp. Những tình cảm dị thường nổi dậy giầy vò tâm hồn chàng mãnh liệt, không cho chàng một phút nghỉ ngơi.
Đầu tiên là một cảm giác thê lương về niềm cô đơn vô bờ bến xâm nhập lòng chàng. Chàng hiểu, hay đúng hơn cảm thấy, bằng tất cả toàn thân chàng rằng “chắc sẽ chẳng còn có thể buông thả tâm hồn mình để nói lên câu thố lộ tâm tình, cũng không thể nói câu đàm đạo thông thường” (tr. 151-152). Đau đớn hơn nữa là tình cảm đó không phải chỉ đối với bọn người đáng ghét của cảnh sát cuộc, đối với mọi người mà còn ngay cả với những người ruột thịt thân thiết nhất, với cả mẹ và em gái chàng. “Chàng có lẽ sẽ, chẳng bao giờ nữa, còn có thể chuyện trò với họ, ở bất cứ trường hợp nào trong đời” (tr. 152). Từ xưa tới nay, chàng chưa từng biết tới một cảm tưởng lạ kỳ như thế cay đắng như thế và nỗi đau đớn của chàng càng gia tăng vì chàng ý thức rõ rệt rằng “đó đúng là một cảm tưởng hơn là một tình cảm lý luận mà thấy”, một cảm tưởng kinh khủng, cảm tưởng có sức giầy vò mãnh liệt nhất mà chàng chưa từng biết qua trong đời.
Tội ác tuy chưa bị phát giác, hình phạt tuy chưa tuyên đọc, nhưng máu con người mà chàng đã làm đổ ra đã đánh dấu nung đỏ trên vầng trán khiến chàng “chằng còn chút can đảm đối diện với bất cứ ai trên thế gian mênh mông này cả” (tr. 103).
Ngoài nỗi cô đơn vô bờ bến ấy, dần dần Raskolnikov lại cảm thấy một cảm giác mới, mãnh liệt không kém nỗi cô đơn, “mỗi lúc một gia tăng uy lực đối với toàn thân chàng”. Đó là một niềm kinh tởm mênh mông “gần như sờ mó thấy được, đối với mọi vật xung quanh, một niềm thù hận dai dằng và độc ác”. Không những bị chia cách một cách đớn đau với toàn thể nhân loại, ngay cả những người thân yêu nhất mà chính chàng, Raskolnikov, giống như một con chó điên, chàng cũng muốn xa lánh tất cả mọi người. “Gặp ai, chàng cũng thấy lợm tởm, chàng tởm khuôn mặt hộ, chàng tởm dáng đi, tướng đứng của họ. Nếu thử có ai ngỏ lời trò chuyện với chàng, chàng hắn phải muốn nhổ bọt vào mặt họ hay cắn vào mặt họ” (tr. 162). Đột nhiên, đối với chàng, những người thân yêu bỗng trở thành xa lạ, những phong cảnh quen thuộc như chôn vùi trong nTr chiếc hố sâu gần như không thể nhìn thấy được dưới chân chàng. Raskolnikov cảm thấy mình như bay lên cao và sự vật tan biến dần. Chàng đã hoàn toàn tách biệt hẳn với mọi người, mọi vật. Khu vườn quên lãng đã mở ra và khép lạ sau lưng chàng. Nhưng chính chàng cũng muốn quên hết, xa lánh hết, “để được nằm im trong bóng tối như một con thủ bị thương. Chàng giận dữ xua đuổi mọi người: “Các người đi đi, tôi muốn nằm một mình, một mình, một mình!” (tr. 226). Giận dữ xua đuổi không xong, chàng phải xuống giọng năn nỉ để người ta để chàng yên: “Nhân danh lòng thương yêu Thượng đế, để cho tôi yên! Để cho tôi yên, để cho tôi yên!” (tr. 245). Từ cô đơn, cuồng nộ, xa lạ. quên lãng, Raskolnikov lại trải qua những nỗi kinh hoàng khiếp đảm. Ác mộng từ nay là giấc ngủ hàng hàng ngày của chàng. Ma quỷ hiện lên trong tâm hồn và trong viễn tượng, lúc thức cũng như lúc ngủ. Chàng muốn đi vào trong cô đơn cũng không được vì luôn luôn bị thân nhân, bằng hữu níu kéo, mà dù chàng có đi tới nơi rừng vắng cô tịch nào cũng chẳng xong vì “nơi chốn càng vắng vẻ bao nhiêu thì sự hiện diện của một ai đó thật mơ hồ lại càng thêm rõ rệt và sự sán lại gần của kẻ ấy lại làm chàng sợ hãi thì ít mà bực bội thì nhiều” (tr. 639). Trong khi đó tính chất người trong chàng phản ứng dữ dội. Dễ gì nó cho phép kẻ phủ nhận nó yên ổn. Cái xó ẩm ướt le lói ánh đèn vàng vọt ấm cúng của nó, cái mùi hôi hám quen thuộc của nó cũng hấp dẫn lắm chứ? Raskolnikov, trong toan tính vượt quá nhân tính dữ dội của chàng, lại bị thu hút ghê gớm vào quỹ đạo con người. Đã bao lần chàng không cưỡng lại được ước muốn trở lại hòa mình vào đám đông, nghe lại tiếng nói con người và nhất là nhìn vào khuôn mặt người. “Chàng bỗng nổi cơn thèm trò chuyện với mọi người” (tr. 230). Những tình cảm mâu thuẫn này khiến chàng điên lên. Tâm trí chàng trở thành hôn ám, mê loạn. Trong đầu óc chàng bây giờ chỉ còn một ý nghĩ và đó là sự cương nghị cuối cùng, duy nhất của chàng: “Rằng bao nhiêu chuyện này phải chấm dứt (...), dứt khoát một lần ngay lập tức; rằng không được như thế, chàng nhất định sẽ chẳng trở về nhà, bởi vì chàng không muốn tiếp tục sống như thế này nữa” (tr. 228). Chấm dứt như thế nào, Raskolnikov chưa biết, chàng chỉ cảm thấy có mỗi một điều, đó là mọi chuyện phải thay đổi “bằng cách này hay cách khác”, với bất cứ giá nào. Ý chí chàng gom hết tàn lực lồng lộn bùng lên lần chót. Sau đó, con tim chàng trở nên trống rỗng. Chàng không còn muốn nghĩ ngợi gì nữa. Một cảm giác lãnh đạm băng giá thay thế tất cả. Chàng hoàn toàn lãnh đạm với thân phận chàng, với những ý kiến người ta có về chàng. Chàng chỉ muốn nằm xuống. “Điều làm mình xấu hổ nhất, chàng thầm nghĩ, là công chuyện thật xuẩn ngốc quá. Nhưng mà đếch cần! Đầu óc con người sao mà chỉ nghĩ toàn chuyện u mê” (tr.250).
Raskolnikov quyết định đi đầu thú. Cho xong chuyện. Nhưng cũng giống như lần đi phạm tội trước kia, tâm trí chàng bám víu vào tất cả những sự vật gặp gỡ trên đường. Tâm trạng những tử tù trên đường đi đến pháp trường thọ hình thế nào thì lần đi thú tội này cũng vậy, chàng lần lữa muốn thố lộ với một ai đó, nhìn vào mặt con người nào đó. Chàng hạch hỏi mình: “Tại sao tôi lại đến nhà nàng (Sonia) vừa rồi? Tôi đã bảo nàng rằng tôi đến vì công chuyện. Công chuyện gì mới được chứ? Tôi chẳng có công chuyện gì hết! Để thông báo cho nàng rằng tôi đang đi nộp mình ư? Điều đó mới cần thiết làm sao chứ (...) có quả thực là tôi cần đến những cây thánh giá của nàng không? Ôi! Sao mà tôi đọa lạc đến thế! Không, điều mà tôi đã cần, đó là nước mắt của nàng, điều mà tôi đã muốn, đó là nhìn cho no con mắt khuôn mặt kinh hoàng của nàng, những dằn vặt của con tim vò xé của nàng. Và, thêm nữa, tôi đã muốn bấu víu vào một cái gì đó, để trì hoãn, để nhìn một khuôn mặt con người. Ấy thế mà đã có lúc tôi lấy làm kiêu hãnh, tự coi như được chọn cho một định mệnh cao quý! Tôi thực là đồ khốn nạn, và đê tiện, và hèn nhát!” (tr. 761-762).
Raskolnikov đâm ra hận mình. Chàng nghĩ đến sự “hèn nhát” của chàng một cách nhục nhã và khinh bỉ. Kẻ đã thù hận mình không thể không thù hận kẻ khác. Raskolnikov thù hận Sonia sau khi đưa nàng vào cơn hoạn nạn của chàng. Tại sao chàng đã đi cầu xin nước mắt của nàng? Chàng có cần gì đầu độc cuộc đời của nàng như vậy? “Ôi là hèn nhát!” chàng phẫn uất than (tr. 619).
Về phương diện hình phạt, Dostoïevski chỉ để ý tới sự kiện kẻ tội phạm “cảm thấy” bị bắt buộc phải trở lại xã hội loài người vì “Tình cảm cô đơn và xa cách nhân loại mà hắn cảm thấy ngay sau khi phạm tội là một cực hình đối với hắn” như ông viết trong bức thư gởi giám đốc tờ Tín Viên Nga. Theo tôi, phải bổ túc thêm rằng không những hắn chỉ “cảm thấy” bị bắt buộc mà thôi mà chính là hắn bị bắt buộc thực sự. Tội ác đưa kẻ tội phạm tới chỗ phải đi vào những ràng buộc nhục nhã với những con người đáng tởm nhất như thẩm sát viên, lục sự, thẩm phán, quan tòa, chú bác - anh em - họ hàng. Và không phải tình cảm cô đơn và sự xa cách nhân loại là một cực hình đối với hắn mà chính là tình yêu, sự thương hại của chúng vì những kẻ đức hạnh đó tưởng chúng có quyền và liên đới chịu trách nhiệm và thương tổn danh dự về tội ác mà chúng sợ run lên và kinh sợ như cùi hủi kia. Chúng không biết rằng “những lý do khiến người ta thận trọng tự cấm mình không phạm tội còn nhục nhã, bí hiểm hơn cả những tội ác” [18] và điều tệ hại nhất chính là những tư tưởng nhỏ bé ti tiện. “Thực ra, chẳng thà chúng ta làm điều ác còn hơn là tư tưởng một cách ti tiện nhỏ bé”. Vì “hành động xấu ác tựa như một ung nhọt: nó làm ngứa ngáy nhức buốt và vỡ tung ra, - nó lên tiếng một cách thẳng thắn trung thực.
- ‘Này, ta là một cơn bệnh’, hành động ác lên tiếng nói như thế, đấy là sự thẳng thắn chân thực của nó:
Nhưng còn tư tưởng nhỏ bé ti tiện, thì lại giống như loài nấm: nó lẻn lút ẩn mình và không muốn ở cho nào nhất định, - cho đến khi toàn thân thể bị ung thối khô héo bởi những mụt nấm nhỏ bé”.
Zarathustra đã nói như thế về những con người đức hạnh thận trọng. Đức hạnh của chúng giống như chiếc thắng xe mà chúng nghiến răng ghì lại trên đường đổ dốc hay tích tắc của chiếc đồng hồ được lên dây thiều hoặc sự kiên trì khốn nạn ngồi trong đầm lầy lau sậy và tự bảo: “Đức hạnh, chính là cứ ngồi yên trong đầm lầy lội”. Vậy mà chúng dám lên mặt tỏ lòng thương hại, thông cảm hay công phẫn về hành vi ác xấu. Thử hỏi Raskolnikov làm sao chịu đựng nổi? “Ôi những con người bản tính đê hạ! Tình yêu của chúng giống hệt như hận thù... Ôi! Tôi thù oán chúng hết thảy biết bao!” (tr.339). Ở khúc quẹo của con đường đi lên và đi xuống tình yêu giống như hận thù, tình yêu giống như một gánh nặng. “Mẹ tôi, em tôi, lúc trước tôi yêu họ biết là dường nào! Từ đâu nên nỗi để, hiện nay, tôi thù hận họ? Phải, hiện nay tôi thù hận họ, bằng một niềm thù hận thể chất. Tôi không sao chịu đựng nổi sự hiện diện của họ quanh quất bên tôi...” (tr.403). Chẳng thà tôi không có họ, ước gì tôi không có họ! Ước gì trước khi lao mình vào cuộc phiêu lưu này tôi khôn ngoan xin họ một cáo tri “khước từ” đăng trên tất cả những tờ báo phát hành rộng rãi nhất trong nước.

5
NHẬN ĐỊNH VỀ CON NGƯỜI CỦA RASKOLNIKOV - Qua tội ác và diễn tiến của hình phạt, điểm nổi bật mà ta thấy là “kẻ tội phạm tội tương ứng với tội ác của hắn” [19]. Chính Raskolnikov cũng phải thú nhận điều đó! Sau khi tự phân tích mình tỉ mỉ, chàng cay đắng tự nhủ: “Lẽ ra tôi phải biết điều đó từ trước” vì “làm thế nào tôi đã dám, trong khi tự biết, trong khi dự liệu được khả năng của tôi, làm thế nào tôi đã có thể cầm lấy rìu và làm đổ máu? Đáng lẽ tôi phải dự liệu hết thảy” (tr. 400) Raskolnikov cũng đã dự liệu tất cả đấy chứ có điều chàng quên, là những con người như Lycurge, Solon, Mahomet và không đâu xa, ngay cả Napoléon, những con người lý tưởng của chàng, là những người có bản chất khác kia; “một tay thực sự ngang Trời dọc Đất, thuộc loại người gì cũng có quyền làm, nào dội pháo vào Toulon, nào tổ chức những cuộc tàn sát tại Ba Lê, nào bỏ quên bộ đội của mình ở Ai Cập, nào hy sinh nửa triệu người trong trận chiến Nga La Tư. Một người như thế xoay xở thoát hiểm bằng một câu nói lái tại Vilna và, sau khi ông ta chết, người ta dựng tượng thờ ông. Như vậy tức là ông ta có quyền làm hết mọi điều”. (tr. 401) Nhưng những con người đó “hẳn phải được tạo thành bằng sắt đá chứ không phải bằng thịt da mềm yếu” như chàng.
Khuyết điểm lớn lao thứ hai của Raskolnikov là chàng quá coi trọng con người. Chàng quá coi trọng con người đến nỗi dù đã vượt qua được mọi giới hạn, chàng vẫn bị kẹt không vượt qua nổi sự ghê tởm, điều đương nhiên nằm trong bản ngã kẻ tội phạm và thánh nhân. “Bản ngã của ta là một cái gì cần phải bị vượt qua: bản ngã của ta chính là nỗi khinh bỉ mênh mông đối với loài người”. Đôi mắt kẻ tội phạm xanh xao nói lên như thế [20]. Nếu đọc kỹ Tội ác và Hình phạt, ta sẽ thấy có đền 101 lần sự khinh bỉ kinh tởm biểu lộ trong tình cảm Raskolnikov. Điều gây tai họa là sự kinh tởm của chàng sâu xa đến không thể chịu đựng nổi và nói lên bằng mắt chưa đủ, chàng còn muốn thốt lên bằng lời, do đó và đã khiến chàng đi tới tới một quyết định thảm khốc: tự tố cáo: “Tao sẽ đứng dậy và sẽ ném sự thực lên mặt tất cả chúng mày... và chúng mày sẽ thấy tao khinh bỉ chúng mày đến mức nào” (tr. 371). Không thể chối cãi được rằng sự kinh tởm đó là bản chất trong trắng của chàng, nhưng đó cũng chính là chỗ yếu của chàng. Raskolnikov không để ý sự kiện là có siêu nhân, anh hùng nào không cảm thấy kinh tởm đối với loài người đâu? Nhưng chịu khuất phục nó và để lộ ra như chàng thì thật là thất cách quá. Nó làm bần nhược tâm hồn và bầy ra nhiều sơ hở, thách đố nguy hiểm. Sự kinh tởm là một cái hầm chông người ta tự đào để đánh bẫy mình. Đó là con rắn tự cắn đuôi. Ta có thể gọi sự kinh tởm sâu xa và lộ liễu này của Raskolnikov là sự u mê của chàng.
Khuyết điểm thứ ba và lớn lao nhất của Raskolnikov là để mình bị cuốn hút thôi miên bởi một hành vi duy nhất. “Con người là tổng số mọi hành động của y”, định nghĩa trên của Malraux ta thấy đã quá giản lược con người rồi, đằng này Raskolnikov, hay bất cứ kẻ tội phạm nào cũng đều đều tự coi mình là tác giả của một hành vi duy nhất. Để thẩm định một người, sự công chính tối thiểu cũng buộc ta “phải tránh xét đoán giá trị một người căn cứ trên hành vi duy nhất” Napoléon đã cảnh giác chúng ta về điểm này” [21]. Vì chính con người vừa làm một hành động xấu đó lại có thể làm một hành động tốt ngay sau đó hoặc vừa làm một hành động tội lỗi nơi này lại có thể làm một hảo sự ở nơi khác, song song. Tự đồng hóa mình hay bất cứ người nào với bất cứ một hành vi duy nhất nào, dù cao cả, thánh thiện hay toàn bích đến đâu, ta cũng không thể chịu đựng nổi mình hoặc người. Vì “tư tưởng là một chuyện, hành động là một chuyện, và hình ảnh của hành động lại là một chuyện khác. Bánh xe nhân quả không lăn tròn giữa những chuyện khác nhau đó”.
“Đó là một hình ảnh đã làm xanh mét kẻ tội phạm xanh xao. Y đã đồng đẳng với hành vi của mình khi y phạm tội. Nhưng y lại không chịu đựng nổi hình ảnh đó sau khi đã phạm tội.
Y luôn luôn tự thấy mình là tác giả của một hành vi duy nhất. Ta gọi đó là sự thác loạn tinh thần, bởi vì một trường hợp ngoại lệ đã trở thành quy phạm cho thực thể y.
Con đường vạch sẵn thôi miên lôi cuốn trái banh; hành động tội ác mà kẻ tội đồ phạm phải đã lôi cuốn thôi miên cái lý trí khốn khổ của y. Ta gọi tình trạng này là ‘cơn điên sau khi hành động’.” Zrathustra đã nói như thế [22]. Trường hợp Raskolnikov sau khi phạm tội cũng hệt như vậy. Khối chì của tội lỗi đè nặng trên chàng và lại một lần nữa lý trí khốn khổ của chàng bị tê cóng và liệt bại. Nhưng để làm sụp đổ hẳn tâm trí Raskolnikov thì còn phải có những lý do sâu xa hơn nữa. Đó là sự ý thức của chàng về sự vô ích, thất bại toàn triệt của hành động mình.

6
NHẬN ĐỊNH VỀ TỘI ÁC CỦA RASKOLNIKOV - Chỉ có một ý tưởng cao viễn duy nhất, theo Dostoïevski, là tìm hiểu vấn đề tâm hồn con người có bất tử hay không. Mọi vấn đề khác đều tùy thuộc nơi đó. Chúng ta nhớ rằng Dostoïevski là một người theo chủ trương chứng ngộ đạo; ông bắt buộc con người phải trải qua một kinh nghiêm tâm linh nên thường xô đẩy những nhân vật của ông vào những hoàn cảnh ngoại lệ. Vấn đề tội ác và hình phạt, do đó, không được đặt ra với ông theo quan điểm luân lý thực tiễn đơn giản thông thường. Nếu không có vĩnh cửu, tất cả đều được phép, là một ý tưởng cốt yếu nơi ông.
“Ý tưởng về vĩnh cửu, đó chính là cuộc đời, định thức tối hậu và nguồn gốc khởi nguyên của chân lý và của sự công chính của lương tâm”. Dostoïevski quan niệm về vĩnh cửu như vậy trong cuốn Nhật ký của một nhà văn. Nhân tính, tự do và chân lý chỉ có nghĩa nếu có vĩnh cửu. Con người được phép làm mọi sự nếu nó không có một linh hồn bất tử, nghĩa là không có giá trị tuyệt đối. Trong trường hợp đó nó không thể chịu trách nhiệm về sự ác xấu. Ngược lại, nếu có vĩnh cửu thì cuộc đời và định mệnh của những sinh vật cùng mạt nhất cũng có một ý nghĩa tuyệt đối. Đời sống của họ là đời sống bất tử và định mệnh họ là định mệnh bất tử. Vì thế người ta không được phép tiêu diệt bất cứ một con người nào một cách vô tội vạ. Tội ác là sự phủ nhận, ngăn chặn bất tử tính này. Phủ nhận bất tử tính của con người tương đương với phủ nhận chính con người vậy. Kẻ sát nhân là kẻ tự sát; nó phủ nhận bất tử và vĩnh cửu tính nơi kẻ khác và chính nơi nó. Con người phải tránh xa tội ác “không phải vì sự sợ hãi có tính cách thực tiễn về hình phạt mà chỉ bởi sự kiện bản chất vĩnh cửu của chính nó điên loạn trong tội ác” [23]. Và đó chính là trường hợp Raskolnikov.
Thêm một đòn nặng giáng xuống Raskolnikov nữa là theo quan điểm đức lý Ki-tô-giáo, con người mang hình ảnh Thiên Chúa, hình ảnh này tìm thấy ngay cả trong những sinh vật thấp hèn, sa đọa nhất nên họ cũng có quyền sống, dù một đời sống chó má, khốn nạn, bỉ ổi. Theo quan điểm đức lý Phật giáo “không có gì quý hơn kiếp người” vì trong lục đạo luân hồi, hay đúng hơn lục cảnh là Địa ngục (Niraya), Súc sinh (Tiracchànayoni), Ngã quỷ (Peta-yoni), A-tu-la (Asura-yoni), Nhân (cảnh người, Manusoa) và Chư Thiên (Tàvatimsa) thì cảnh người là thuận lợi hơn cả đề đạt giới giác ngộ và giải thoát vì bốn cảnh trên là Khổ cảnh, trong đó chúng sinh triền miên vật vã trong đớn đau, u tối, không có cơ hội thức tỉnh, còn cảnh giới của Chư Thiên là Lặc cảnh, những vị Trời hữu phước sống thoải mái trong khoái lạc ít nghĩ tới chuyện giải thoát. Chỉ có con người sống trong cảnh hạnh phúc và phiền não đan bện chằng chịt vào nhau, có nước mắt và nụ cười thường trực thay thế nhau, có cái hay, cái đẹp, nhưng chỉ là tạm bợ, nửa vời “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” mới tinh cần cầu tìm giải thoát. Nên giết một người là xóa bỏ, hủy diệt những điều kiện tốt nhất, cơ hội đẹp nhất cho một chúng sinh ra khỏi vòng trôi lăn trầm luân khổ lụy. Nhưng hình phạt theo đức lý Phật giáo không thô chướng như những đức lý khác quan niệm hay luật pháp ấn định mà tế nhị và hữu lý hơn. Hình phạt được giải thích bằng nguyên lý nhân quả. Đó là một gánh nặng vô cùng mà những kẻ biết suy xét phải tránh. “Ta là kẻ gieo giống nào, sẽ gặt quả ấy” (Samyutta-Nikàya - Tạp A Hàm). Đó là giáo lý về Nghiệp báo, đươc diễn tả một cách đáng sợ như sau: “Tất cả chúng sinh đều mang theo cái Nghiệp (Kamma) của chính mình như một di sản, một vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa”. (Majjhima-Nikàya - Trung Bộ Kinh). Nghiệp quả này theo sát ta như bóng với hình, không có cách gì không có nơi nào trốn tránh khỏi: “Không phải bay lên trời cao, lặn xuống biển sâu hay chui vào hang núi mà ta có thể tìm được một nơi nào trên thế gian này giúp ta lẩn tránh quả dữ của Nghiệp xấu cả (Kinh Lời Vàng - câu 127). Có lẽ Raskolnikov cũng đã cảm nghiệm điều đó, nên sau khi chịu những hậu quả tinh thần của tội ác mình làm, chàng tuyệt vọng thở than: “Từ nay ta sẽ đọa trầm mãi mãi”. Điểm khác biệt giữa hai đức tính Ki-tô và Phật giáo là trách nhiệm của con người trong tội ác. Theo Ki-tô giáo, sự ác xấu nối kết với nhân phẩm. Cá thể, có nhân phẩm, phải chịu trách nhiệm, phải trả lời về tội ác của mình trước Thượng đế. Phật giáo không chấp nhận thuyết hữu ngã và một Thượng đế hữu ngã mà chỉ nhìn nhận nghiệp. Tất cả mọi chúng sinh đều có cái Nghiệp của mình [24] và chịu trách nhiệm về sự lên xuống của nghiệp mình mà thôi. Tuy không có cá thể, nhưng có một nghiệp lực riêng, nghĩa là một năng lực cá biệt chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Luồng nghiệp lực này chuyển lên hay chuyển xuống tùy theo tác ý trong tiền đều kiếp và hiện kiếp. Dù hữu ngã hay vô ngã, mỗi chúng sinh có một nghiệp quả, do đó phải gánh chịu mọi hành động của mình.
Vĩnh cửu hay đúng hơn sự tiếp nối miên viễn của nghiệp lực còn đặt ra một vấn đề nhức nhối đối với Raskolnikov. Vào một buổi chiều u ám nào đó, chàng nhìn ra ngoài đường, thấy cộ xe, người ngợm đi lại không dứt trên đường. Chàng chợt hoảng kinh nhận ra cái đám nhân loại đó muôn đời vẫn đi và đi hoài như vậy. Nhân loại khốn khổ, đê tiện và cũng muôn đời như thế, không ai có thể thay đổi được “Cố gắng làm việc đó chỉ là một sự phí thì giờ vô ích” như sau này Raskolnikov nhận thức. “Đó là luật con người” (tr. 608). Lý tưởng chàng hoàn toàn vô ích dưới mắt nhìn vĩnh cửu. Mọi ý tưởng siêu nhân, thăng tiến nhân loại trôi theo dòng như bọt bèo trên sóng nước Neva. Chỉ có luồng nghiệp lực của chàng trồi lên hụp xuống giữa dòng trầm luân. Nếu mỗi người đều chịu trách nhiệm về việc làm của mình, nếu mỗi người đều có nghiệp riêng của mình thì hành động của chàng vô ích xiết bao. Nó có thay đổi được gì đâu. Sự thay đổi hay cách mạng chỉ xảy ra, chỉ có kết quả tốt nếu mỗi cá nhân ý thức được dòng sinh mệnh trầm luân của mình và thoát ra. Mọi sự cải tiến trên bình diện tinh thần đến từ bên ngoài hầu như chẳng giúp được con người bao nhiêu. Vậy thì vấn đề không phải dùng bạo lực và cưỡng bách nhân loại tiến tới một bình cao hơn của đời sống mà chỉ là khiêm tốn thức tỉnh mọi người tự vượt thoát ngục tù cuộc đời. Và để bắt đầu, trong chiều hướng đó, ta phải biết kính trọng sinh mệnh, tự do và những điều kiện tối sơ của sự sống.
Đó là ý nghĩa lời nhắc nhở bí hiểm của Sidrigailov và của cả Porphyre Petrovitch với Raskolnikov: “phải có không khí, không khí, không khí trước hết, cho tất cả mọi người”. (tr. 638).

7
NHẬN ĐỊNH VỀ CUỘC NỔI LOẠN CỦA RASKOLNIKOV. - Sau “ý chí hùng dũng” tiền-Nietzsche, nỗi thống khổ không lối thoát là một chủ đề khác của Tội Ác và Hình Phạt. Raskolnikov nhận thấy, cũng như sự ác xấu gắn liến với bản chất siêu nhân, nỗi thống khổ, niềm đau đớn thường không bao giờ rời một trí thông minh cao viễn, một tâm hồn cao thượng, thẳm sâu. “Các vĩ nhân chân chính, theo tôi - lời Raskolnikov - chắc chắn phải cảm thấy một nỗi buồn ghê gớm trên mặt đất này” (tr. 387). Và cũng như tội ác ràng buộc chặt chẽ với đời sống, như nó được diễn tả một cách tuyệt vời trong tiếng thét bứt rứt bi thương nhưng đầy thách đố ngạo mạn của LaForgue:
Allez, sterile ritoarnelle!
La Vie est vraie et criminelle!

Khổ đau cũng nằm trong yếu tính cuộc đời, chính là bản chất cuộc đời. Nhưng thái độ của Raskolnikov trước hai thực tại căn bản này khác hẳn nhau. Trái với tội ác được khẳng định ngay từ đầu, Raskolnikov đã nổi loạn nhân danh sự thống khổ của con người. Chàng không thể chấp nhận được cuộc sống đau thương, vùi dập của mẹ và em, của chính chàng và mọi người xung quanh. Đặc biệt của Marmeladov và gia đình y, người công chức già tuyệt vọng, bạn tâm giao vừa gặp trong quán rượu mà cuộc sống tượng trưng cho tất cả những kẻ khốn khổ cùng “không biết quay về đâu”, làm gì, hy vọng gì.
Tuy không nói ra, nhưng bằng lời nói, bằng hành động, Raskolnikov thầm chấp nhận lý lẽ phản kháng này: “Sự thống khổ của con người thực vô biên, nhưng điều tệ hại hơn là chấp nhận sự thống khổ đó” Đấy là “sự bí ẩn của siêu nhân” như đã được phát biểu bởi Michel Carrouges trong một cuốn sách rất đáng đọc mang tên trên [25]. Sự phản kháng đó trở nên hữu lý và cấp thiết với ý nghĩ không có vĩnh cửu, người ta chỉ sống một lần. Raskolnikov lý luận chống lại những người theo xã hội chủ nghĩa kêu gọi mọi người hy sinh cuộc sống hiện tại để xây dựng “lâu đài thủy tinh”, mưu cầu hạnh phúc đại đồng mai sau: “Không, cuộc đời chỉ được cho chúng ta có một lần và tôi không muốn chờ cái ‘hạnh phúc đại đồng’ ấy; trước hết mọi điều, tôi muốn sống đã, bằng không, có lẽ không có tôi trên đời còn hơn. Ấy thế, rồi sao? Tôi chỉ đã từ chối không chịu đi qua trước mặt một người mẹ đói khát mà vẫn khư khư giữ chặt đồng rúp của tôi trong túi trong lúc chờ đợi ‘hạnh phúc đại đồng’. Như người ta thường vẫn nói, tôi đang mang một viên đá đến xây dựng lâu đài chung và như thế cũng đủ cho lương tâm tôi yên ổn rồi (...) Tôi chỉ có một thời để sống và tôi cũng muốn. Thế đó!” (402) Phải sống! Sống với bất cứ giá nào! Raskolnikov nhớ lại chàng đã đọc ở đâu đó đoạn tả có người, một giờ trước khi bị đem đi xử tử, đã nghĩ hay nói rằng nếu hắn phải sống trên một mỏm đá cao vòi vọi, trên một phiến đá chật hẹp đến nỗi chỉ đủ chỗ đặt hai bàn chân, trong khi đó xung quanh toàn là đại dương ngàn trùng, là bóng tối dầy dặc muôn thuở, là cô đơn nghìn kiếp, là bão tố bất tận, nếu hẳn phải đứng trên một thước vuông không gian nhỏ hẹp ấy trọn đời, suốt hàng nghìn năm hay suốt thời gian vĩnh cữu, thì sống như vậy còn hơn là phải chết ngay lập tức! “Chỉ cần sống và sống thôi! Sống, dầu là phải sống như thế nào chăng nữa! Trời ơi, chí lý biết mấy! Con người là một sinh vật đê tiện. Mà kẻ trách cứ con người là đê tiện lại chính là kẻ đê tiện hơn cả...” (tr. 233) Kẻ đó là chàng, Raskolnikov. Chàng không thể chấp nhận con người như con người. Chàng cũng không thể chấp nhận cuộc sống như người ta đã sống, đang sống và mãi mãi vẫn sẽ sống trong cùng cực, thảm thương. Đời sống đối với Raskolnikov bao giờ cũng chỉ là một phương tiện, để đạt tới một cứu cánh nào mà chàng cho là cao viễn, vượt thoát vòng tục lụy tầm thường, đầy dẫy khổ đau ngang trái. Chàng luôn luôn tự hỏi: “Sống mà làm gì? Vì những kế hoạch nào? Hướng cố gắng về đâu? Sống vì một ý tưởng vì một hy vọng, bay ngay cho cả một hứng khởi nhất thời, sống một cách giản dị chưa từng bao giờ làm chàng thỏa mãn cả. Lúc nào chàng cũng đòi hỏi hơn thế”. - (tr. 785.) Chính sự mãnh liệt của những cứu cánh lý tưởng này đã khiến chàng ngộ nhận mình thuộc một trong những con người được phép có quyền nhiều hơn đám nhân loại thông thường chỉ biết cúi đầu tuân phục theo lối mòn băng qua cánh đồng. Chàng khác hẳn thế; chàng vừa sống vừa ngước nhìn: chàng ghê tớm không thể nhìn cuộc đời đối mặt. Sau này, trong cảnh tù đày, khi chàng không được phép ngước lên thì chàng đành cúi xuống. “Có thể nói chàng sống mắt nhìn xuống, vì điều có thể thấy hiện ra kinh tởm và không thể chịu đựng nổi”. (tr. 788). Nhưng chàng không thể trốn tránh thực tại trước mắt mãi được, nên lâu dần “có một số đặc điểm khiến chàng phải lưu tâm và, cuối cùng, chàng đã nhận ra điều mà chàng chưa bao giờ từng ngờ là có được”. (tr. 788). Điều khiến chàng ngạc nhiên hơn hết là vực thẳm kinh hồn không thể vượt qua, “nó phân cách những người tù nhân kia với chàng”. Thành lũy ngăn cản không cho chàng vượt qua vực thẳm ấy vẫn là lòng tha thiết sống khó hiểu của họ. Sao mà tất cả bọn họ thương yêu cuộc sống đến thế, sao mà sự sống đối với họ có vẻ quý giá đến thế. “Chàng còn nhận thấy cả rằng tình cảm ấy còn mạnh mẻ nơi tù nhân hơn là nơi người tự do nữa” (tr. 787). Một số trong bọn họ đã từng kinh qua những nỗi thống khổ khủng khiếp khôn tả xiết trong cuộc sống, thế mà một tia nắng, một khu rừng râm mát, một dòng suối lạnh bạo tàn, chứ không phải suối mơ, chảy trong tận thẳm cùng một vùng hiu quạnh hoang liêu lại có giá trị nhường ấy trước mắt họ, dòng suối lạnh lẽo ấy “có thể họ đã gặp từ lâu thế mà họ vẫn còn tư tưởng tới, như tình nhân tư tưởng đến tình nhân. Họ chiêm bao thấy nó giữa hai đai cỏ xanh mướt, với một con chim đang hót trên cành cây gần đó”, (tr. 787-88). Raskolnikov cay đắng xót xa nhận thấy niềm ham sống ấy, cái tình cảm cấp thiết, khó chiến thắng ấy không phải chỉ có ở nơi những con người u mê mà chàng khinh bỉ mà còn tồn tại sâu kín trong hồn chàng khi chàng phân vân cúi mình với ý định tự hủy trên dòng nước Neva. Có lẽ lúc đó Raskolnikov đã linh cảm thấy sự lầm lẫn xấu xa và sự giả trá của những thâm tín của chàng. Nhưng chàng chưa hiểu rằng mối linh cảm ấy có thể bao hàm “mầm mống” của một quan niệm “nhân sinh mới” và báo trước sự tái sinh của chàng.

8
HUYỀN NGHĨA CỦA CHẤP NHẬN - Tất cả những vấn đề nan giải của Raskolnikov chỉ hòa tan trong chén đắng mà chàng cảm thấy “đằng nào mình cũng phải uống (...).  Chén rượu càng cay đắng bao nhiêu, như thế lại càng tốt bấy nhiêu” (tr. 668). Đó là lối thoát duy nhất của chàng. Raskolnikov tự nhủ “đã chót thì phải chét, mình hãy uống một hơi cho cạn chén” (tr.769). Hành động này không phải là một hành động tuyệt vọng thực hiện một cách vô ý thức mà trái lại, là một thái độ chấp nhận đầy ý nghĩa, mở ra cho tâm thức chàng một chân trời mới, mênh mang.
Đau khổ là một thực tại căn bản của đời sống; chính là đời sống. Đó là chân lý thiêng chân lý đầu tiên trong tứ Thánh đế mà Đức Phật rao giảng, và đó cũng chính là viễn quan Chính Thống giáo mà Dostoïevski muốn khai thị trong “Tội Ác và Hình Phạt” như ông đã ghi trong Sổ ghi sửa soạn cho tác phẩm này: “Con người không đến thế gian này để được sung sướng. Không có sự bãi công nào trong đó cả vì (...) ý thức (...) được thủ đắc bởi kinh nghiệm ‘thuận và nghịch’ mà mỗi người phải đảm nhận. Bằng đau khổ, đó là luật của cõi trần gian chúng ta: nhưng cái ý thức đột khởi này, được cảm nghiệm trong suốt cả một đời, là một niềm hân hoan lớn lao đến nỗi người ta phải trả giá nó bằng bao năm khổ đau”. Ở đây Dostoïevski trở lại chủ đề của Hồi ký viết dưới hầm: khước từ chủ nghĩa lạc quan, đề cao sự cần thiết của đau khổ “vì đau khổ là một điều vĩ đại” (tr. 770). Ý thức được điều đó nên Porphyre Pétrovitch, kẻ đối đầu của Raskolnikov nay trở thành kẻ thân thiện thành thật thương mến chàng, khuyên: “Sự đau khổ chẳng phải là một điều không tốt đâu. Vậy thì ông hãy đau khổ đi! Mikôlka (người thợ sơn vô tội đã tự ý thú nhận giết mụ chủ tiệm cầm đồ) có thể đã có lý khi muốn đau khổ hãy buông thả mình mà không lý luận nữa theo dòng đời và đừng bận tâm đến chuyện gì hết thảy; dòng nước sẽ đưa ông vào bờ và sẽ giúp ông khôi phục sự nghiệp!” (tr. 785).
Tự do đưa đến tội ác, tội ác đưa đến khổ đau và khổ đau, cuối cùng đưa đến ý thức giải thoát. “Khổ đau! Nhưng đó là suối nguồn duy nhất của ý thức!” Dostoïevski, qua Tội Ác và Hình Phạt, đã đưa đẩy nhân vật của mình trong suốt cuộc phiêu lưu đau đớn của tinh thần, không có mục đích nào khác ngoài sự phát hiện chân lý trên.
Minh triết biểu lộ bằng sự chấp nhận tuyệt đối. Chấp nhận khổ đau, chấp nhận cuộc đời. Tiến trình này được Raskolnikov lần lượt thực hiện một cách xúc động. Chàng đã quỳ xuống một lần trước một Sônia dịu hiền mà cuộc đời tượng trưng cho tất cả nỗi đau thương không dứt của kiếp người “Chẳng phải là ta đã quỳ gối trước mặt em, mà là trước tất cả niềm thống khổ của nhân loại” (tr. 470). Chàng đã quỳ xuống trước mặt nàng lần nữa, hoàn toàn ngoài ý muốn “khi một sức mạnh vô địch ấn chàng quỳ xuống chân thiếu nữ. Chàng bật khóc trong khi vòng tay ôm lấy đầu gối nàng” (tr. 793-94). Sức mạnh vô địch đó là sự mãnh liệt của chấp nhận trước lòng hy sinh, nhẫn nhục, đầy khả thể phục sinh của tình người, đã nối kết hai định mệnh đau khổ ấy lại với nhau. Cả hai người, Raskolnikov và Sonia đều gầy gò, xanh xao “nhưng trên những khuôn mặt đau thương, tàn phá ấy, đang ngời lên ánh bình minh rực rỡ” của một cuộc đời mới của một cuộc phục sinh. “Chính tình yêu đã cải tử hoàn sinh họ. Tim người này chứa đựng nguồn sống bất tuyệt cho người kia” (tr. 794). Buổi tối hôm đó, sau khi đi làm khổ dịch về, chàng cảm thấy toàn thể tù nhân, những kẻ thù cũ của chàng mà từ bấy lâu nay chàng khinh bỉ và xa cách ghê gớm, “đều nhìn chàng bằng một con mắt khác”. Bởi chính chàng, chàng cũng nhìn họ bằng một con mắt khác. Chàng ngỏ lời với họ “và mọi người đều đã trả lời chàng một cách thân hữu”. Bây giờ chàng nhớ lại điều đó, mà chẳng lấy làm kinh ngạc: “mọi sự chẳng đã thay đổi hết cả rồi ư?” (tr. 794). Phải, tất cả đều đã thay đổi cả rồi. Chàng không ngước nhìn lên mà cũng không cúi xuống: chàng nhìn thẳng cuộc đời, mặt đối mặt. Bóng tối tan, ảo tưởng dứt, cuộc đời và người đời đã hiện ra trong ánh sáng chân thực, như thị. Nhớ lại đoạn đời đã qua, bây giờ tất cả những nỗi đau lòng của quá khứ ấy nào có nghĩa gì? “Tất cả, kể cả đại tội của chàng, kể cả phúc quyết kết tội chàng và đưa chàng đi Tây Bá Lợi Á, tất cả những cái đó hiện ra với chàng như một biến cố xa vời, chẳng dính dáng gì tới chàng” (tr. 795). Chàng đã phạm trọng tội, đúng thế, nhưng chàng đã chấp nhận hình phạt, hình phạt của tinh thần, chàng đã đau khổ, chàng đã chấp nhận đau khổ và từ bỏ bản ngã nhỏ bé của chàng, và bây giờ chàng đã giải thoát. Nhưng chàng không suy nghĩ, lý luận nữa, chàng đã buông thả mình, một cách tin cậy trong lòng đời. “Chàng chỉ có thể cảm xúc. Đời sống đã thay thế cho lập luận; tinh thần chàng cũng phải tái sinh như thế” (tr. 795).
Niềm linh cảm khiến Raskolnikov trước kia phân vân khi cúi mình trên dòng sông Neva và, đáng lẽ gieo mình xuống dòng nước, chàng lại đi nộp mình, quả đã bao hàm “mầm mống của một quan niệm nhân sinh mới” và báo trước sự phục sinh của chàng. Chàng đã thấy gì trong dòng sông? Dòng sông đã dạy chàng điều gì? Phải chăng, Raskolnikov đã linh cảm thấy, như Tagore, rằng: “Đời sống ta, như một dòng sông vỗ vào bờ mình, chẳng phải để cảm thấy rằng mình bị giam hãm mà để mỗi lúc một ý thức được rằng mình có một lối thoát vô tận về phía biển cả” [26]? Biển cả ấy là gì nếu không phải sự hòa đồng, sự Chấp Nhận lớn lao, thiêng liêng? Chỉ bằng cách chấp nhận con người mới có thể đi tới cứu cánh Hóa Giải, nghĩa là chuyển hóa và giải thoát, cứu cánh tối thượng của nhân sinh. Và đó là điều Đức Phật muốn giảng dạy, khi Ngài suy tư tìm cách lôi nhân loại ra khỏi nanh vuốt của khổ đau, “Ngài phát lộ ra chân lý này: khi con người đạt được cái mục tiêu cao quý nhất của mình bằng cách hòa tự ngã cá nhân vào vạn vật, tức thì con người thoát ra khỏi những ràng buộc của khổ đau”. [26] Và chân lý đó cũng là điều Raskolnikov đã chứng nghiệm qua cuộc nổi loạn của chàng, cuộc thực nghiệm tâm linh đầy bi thảm, nhưng cũng đầy ánh sáng khải ngộ.
Chúng ta có thể thấy gì ở sự phục hồi chậm chạp của một con người, sự lần lần tiến bước của người ấy từ một thế giới này sang một thế giới khác, sự hiểu biết tiệm tiến của người ấy về một thực tại, cho đến đó vẫn hoàn toàn không được biết đến, như tác giả viết trong những dòng kết thúc? Phải chăng bông hoa linh thánh đã nở trong hồn chàng từ “một quan niệm thực hơn về đời sống”, “quan niệm phù hợp với toàn thể lãnh vực đời sống, quan tâm không những đến những gì hiện diện trước ta mà còn đến cả những gì không hiện diện trước ta mà không chừng không bao giờ có thể hiện diện trước ta trên thế gian” [26], nghĩa là quan niệm về đại ngã? Chúng ta không biết, lý do giản dị là cuộc thực nghiệm tâm linh là một kinh nghiệm thuần túy cá nhân, chỉ biết rằng khi Raskolnikov dìm đắm tự ngã nhỏ bé của chàng vào lòng đại dương đời sống, và nhờ tình yêu chàng mới nhận thức được thật ra mình còn hơn cả chính mình, mình còn là một với Toàn Thể.
Cuộc thực nghiệm tâm linh của Raskolnikov minh thị cho những chân lý then chốt, ngàn đời này của Áo nghĩa thư:
“Cái sống thật bao la” và “Tất cả đều là Toàn Thiện”.
Raskolnikov, hình phạt đã thọ lãnh, tội ác đã được giải trừ, ánh sáng từ nay sẽ ngự trị mãi trong mắt và trong hồn chàng.

9
YÊU MỆNH (AMOR FATI). - Định tắc luân lý tối thượng của tinh thần tự do. “Tội Ác và Hình Phạt” trong ý nghĩa cuối cùng, là thảm trạng của sự tự khẳng địn kiêu mạn. Như đam mê luôn luôn đụng đầu định mệnh, cá thể, trong khi vận dụng tài năng và trí thông minh y cứ trên tự ngã đều vấp phải những giới hạn sinh tử mà lối thoát duy nhất là sự tự phủ nhận hay tự hủy. Mâu thuẫn hiện ra ở cuối mọi sinh lộ. Mọi sinh cơ đau đớn đều nằm gọn trong sự phục mệnh. Vì định mệnh khắc nghiệt bủa vây mọi kẻ phản kháng với thái độ chơi khăm giễu cợt. Dẫn dụ nó đi tới và, bằng một cái tát trời giáng, đẩy nó xuống mức thấp nhất của khởi đầu. Raskolnikov chắc chắn sẽ bỏ hết mọi toan tính nếu vào buổi chiều trước ngày hành sự chàng không tình cờ gặp em gái nạn nhân của chàng, ở khu chợ Mát để nghe lóm được câu chuyện tầm thường - nhưng lại cung cấp cho chàng những yếu tố quyết định, - giữa Elisabeth và vợ chồng gã chủ tiệm chạp phô: ngày mai vào lúc bảy giờ đúng, Lisbét là em và cũng là người ở chung duy nhất với mụ già Alêna sẽ đi vắng và, vì thế, “vào đúng lúc bảy giờ chiều, mụ già sẽ còn lại có một mình ở nhà!” (tr. 92). Mọi toan tính táo bạo tưởng tiêu tan chợt trở lại với một phúc quyết định mệnh. Raskolnikov bỗng cảm thấy bằng tất cả tâm hồn chàng “rằng chàng không còn có lấy một chút quyền tự do định đoạt nào, không còn chút ý chí nào và mọi sự, bỗng nhiên, đều đã được quyết định một cách không tài nào thay đổi được nữa”, (tr. 93). Sau này, khi hồi tưởng lại thời gian trước giờ hành động từng giây từng phút và từng điểm một, luôn luôn có một điều làm chàng kinh ngạc “bằng một niềm kinh ngạc gần như mê tín”, mặc dầu xét cho kỹ, điều đó chằng có gì là kỳ dị, nhưng thực ra lại có một ảnh hưởng quyết định đối với số phận chàng. Và đây là sự kiện mãi mãi đối với chàng là một bài toán nan giải: tại sao, khi đó đang mỏi mệt rã rời, đáng lẽ chàng phải trở về nhà theo một con đường ngắn nhất, thẳng nhất chàng lại đi vòng qua công trường chợ Mát, tại sao lại có cuộc gặp gỡ cực kỳ quan trọng, cực kỳ có tính cách quyết định, đồng thời lại hoàn toàn tình cờ đến thế tại nơi chàng chẳng có lý do gì để đến cả và tại sao nó đã lại xảy ra vào đúng ngày ấy, giờ phút ấy của đời chàng, và trong những điều kiện ấy khiến cho sự gặp gỡ đó bắt buộc phải có, chỉ riêng vì một mình nó, một ảnh hưởng vô cùng trầm trọng, hết sức quyết định đối với định mệnh chàng? “Chàng gần như muốn nghĩ rằng cuộc gặp gỡ ấy đã do số mệnh an bài!” (tr. 90).
Đúng là định mệnh đã an bài trong câu chuyện của chàng, và mọi chuyện, như cô em gái nhẫn nhục Dounia, đã phát biểu khi trấn an bà mẹ đau khổ của chàng “sẽ chỉ xảy ra chuyện gì bắt buộc phải xảy ra mà thôi”. (tr. 350).
Đau khổ và thảm bại dành cho kẻ nào tin vào sự toàn năng của trí thông minh và sự hoàn hảo của công việc được thực hành chu đáo bởi một ý chí tự do. Có những quyền lực ma quái và bí mật, những sức mạnh siêu việt đã đẩy hắn đi ngược trở lại và biến những mưu định của nó trở thành hư ảo và đầy mâu thuẫn như Raskolnikov đã chứng nghiệm: kẻ muốn bứt đi xa nhất lại bị cầm chân tù túng nhất trong cơn lốc trung tâm; kẻ muốn vươn lên cao nhất lại rơi ngã xuống vực thẳm sâu nhất: luật trần gian đã ra tay. Và kẻ kiêu mạn nhất lại tự quay ra khinh bỉ mình nhất; kẻ muốn chiếm đoạt quyền lực nhất lại bị tước đoạt mọi công quyền để trở thành kẻ yếu đuối ít được bảo vệ nhất; kẻ muốn chinh phục tự do nhất lại là kẻ bị định mệnh xiết chặt nhất - định mệnh theo nghĩa Fatum khủng khiếp của Hy Lạp; kẻ muốn trở thành thần thánh tối cao lại tiêu ma nhân tính biến thành một ngã quỷ súc sinh đê hạ nhất: luật thiêng đã xuống tay.
Và ở dưới những luật lệ định mệnh ấy, chúng ta không còn thấy một con người phản kháng lắc đầụ, kiêu hãnh với lý tưởng siêu nhân mà chỉ còn một sinh vật trần truồng run rẩy cúi đầu. Nhưng khi hắn vừa gật đầu chấp nhận thì một chân trời tự do thênh thang mở ra và cuộc sống mới tự hiến dâng như một tặng phẩm. Định mệnh nở nụ nhạt nhòa và tan biến sau bông hoa Thiết yếu. Đấy chính là ý nghĩa cuối cùng của tội ác và hình phạt.
 
Nguyễn Hữu Hiệu
Vạn Hạnh, mùa Vu Lan.


---------------------------------------
[1] Journal d’un écrivain, Gallimard xuất bản, 1963, tr. 110-123 .
[2] Berdiaeff, L’Esprit de Dostoïevski, tr 97.
[3] [4] L’Esprit de Dostoïevski, tr. 97.
[5] Câu số 69 theo bản của Bywater.
[6] Le Sous-sol.
[7] Người viết cho in nghiêng - N.H.H.
[8] Người viết cho in nghiêng - N.H.H.
[9] Hồi ký về chốn Địa Ngục Trần Gian, ch. VIII. Nhiều đoạn trong Tội Ác và Hình Phạt nhắc nhở tới cảm giác này.
[10] Maurice Sachs, Derrère Cing Barreaux, Gallimard.
[11] Nietische, Le Gai Savoir, Gallimard, 1961, đoạn 4.
[12] Ibid.
[13] Cf. Nietzsche, La Volonté de Puissance II.
[14] R. P. Blackmur, Crime and Punishment: A Study of Dostoevsky’s Novel in Essays on Western Classics; St Martin’s Press New York, tr, 547.
[15] Hồi ký về chốn Địa ngục trần gian.
[16] Hồi ký về chốn Địa ngục trần gian.
[17] Sexus, The Rosy Crusifixion, book one.
[18] Paul Valéry, Tel quel, Ed. Gallimard.
[19] William Barrett, Irrational Man, Doubleday Anchor Books. N.Y, 1962, tr. 137.
[20] “Mein Ich ist etwas, das uberwunden werden soll: mein Ich ist mir die grozse Verachtung des Measchen”. Nietzsche, Also sprach Zarathustra, Vom bleichen Verbrechen.
[21] Nietzsche, Votonté de Puissance, Gallimard II, 2:49i.
[22] Bản dịch của Trần Xuân Kiêm, An Tiêm, 1971, tr. 66-67.
[23] Berdiaeff, L’Esprit de Dostoïevski, p.114.
[24] Trung A Hàm.
[25] La mystique du surhomme, Gallimard, 1948, p.15.
[26] Tagore, Sadhana.

📎 tavhp
Đăng nhập để trả lời
0