Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dịch hạch - Albert Camus 🔒

7 trả lời, 111 lượt xem — Trang 1 / 1
Dịch hạch
Tác giả: Albert Camus
Người dịch: Nguyễn Trọng Định
 
 
Lời giới thiệu
 
Albert Camus (1913 - 1960) là một trong những tên tuổi nổi bật trên văn đàn Pháp trong những thập kỷ giữa và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tác phẩm của Camus - tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, tùy bút và tiểu luận - gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi ở Pháp và nhiều nước trên thế giới.
Camus được giải thưởng Nobel về văn học năm 1957 vì sáng tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”.
Trong số những tác phẩm của ông, cuốn tiểu thuyết “Dịch Hạch” (La Peste) được đánh giá cao hơn cả. Nội dung tác phẩm là nạn dịch hạch và cuộc chiến đấu thầm lặng, cực kỳ gian khổ để dập tắt nạn dịch, cứu sống thành phố Oran trên bờ biển Algérie. Thành phố đang sống thanh bình thì bỗng những con chuột lăn ra chết ở khắp nơi. Rồi đến một người, hai người, hàng chục, hàng trăm người bị chết. Oran biến thành một địa ngục khủng khiếp, quằn quại trong nguy cơ bị diệt vong như bao thành phố trước kia ở châu Âu, châu Á, châu Phi.
Giữa cái không khí chết chóc bi thảm ấy và bất chấp hiểm họa bị lây nhiễm, bác sĩ Rieux - nhân vật chính diện và trung tâm quán xuyến toàn bộ tác phẩm - cùng đồng nghiệp và bạn bè lao vào cuộc chiến đấu để cứu vớt nhân dân thành phố. Theo ông, chỉ có cách là dấn mình vào cuộc, cầm lấy vũ khí để đấu tranh, ngăn chặn, vì... “nếu không điên thì cũng mù, không mù thì cũng hèn nhát mới cam chịu buông tay trước dịch hạch”. Thái độ ông thật rõ ràng. Ông khẳng định khi có người bệnh thì cấp bách hơn hết là chữa bệnh cho họ. “Sức lực tôi đến đâu thì tôi bảo vệ họ đến đó...”.
Và chính trong lúc vợ ông ốm đau đang đi điều dưỡng ở xa - và sau này chết mà ông không được gặp, - ông tổ chức việc cứu chữa những người bị dịch hạch và tự bản thân mình, tự hai bàn tay mình, làm phẫu thuật cho biết bao người bệnh. Để cứu sống họ, ông không tiếc công sức, hạnh phúc và cả tính mệnh.
Lời nói và việc làm của Rieux thuyết phục và thu phục nhiều người khác. Trong đó đáng lưu ý hơn cả là nhà báo Rambert và linh mục Paneloux. Rambert đến Oran với nhiệm vụ điều tra về đời sống của người Ả Rập cho một tờ báo lớn ở Paris. Thế là anh bị mắc kẹt từ khi có lệnh đóng cửa thành phố vì dịch hạch. Anh làm mọi cuộc vận động để ra khỏi thành phố, trở về với người yêu đang ngày đêm mong ngóng. Nhưng đến khi có người thu xếp để anh ra về thì anh tình nguyện ở lại và trực tiếp tham gia cứu chữa người bệnh. Trở về với người thân là niềm hạnh phúc chính đáng, nhưng anh khước từ, vì như anh nói với Rieux: “Hưởng hạnh phúc lấy một mình thì thật đáng hổ thẹn”.
Đặc biệt hơn nữa là trường hợp Paneloux. Giữa lúc dịch bệnh đang hoành hành, gieo rắc chết chóc và đau thương, thì Paneloux giảng cho con chiên phải yên lòng đón nhận lấy “sự trừng phạt” và “cơn giận” bất thần của Chúa để chóng được trở về với Chúa. Nhưng tấm gương hy sinh, tận tụy của Rieux, của Rambert và của những người khác đã cảm hóa ông, nhất là sau khi ông chứng kiến cái chết thảm thương của một đứa trẻ bị dịch hạch. Trong một buổi cầu kinh thứ hai, khi nói với các tín đồ, ông dùng đại từ xưng hô “chúng ta” thay thế cho “các con” trước kia và nắm tay lại đấm mạnh vào mặt bàn, thiết tha kêu gọi: “Hỡi những người anh em, chúng ta phải là những người ở lại!”. Bản thân ông cũng tự nguyện xung vào đội cứu chữa, cuối cùng lây bệnh và chết.
Cùng với Rieux, nổi bật trong tác phẩm là hình tượng Tarrou, một trí thức căm ghét xã hội, căm ghét bạo lực tư sản với những bản án tử hình ngàn lần đáng nguyền rủa. Là con trai một phó tổng chưởng lý, - người quyết hướng con đi theo sự nghiệp của mình - Tarrou đã bỏ nhà và từ giã cuộc sống nhung lụa của một gia đình quyền quý ra đi sau khi nghe những lời buộc tội độc ác của cha anh và chứng kiến tòa án kết tội tử hình bị cáo. Anh lưu lạc ở nhiều nước, tham gia nhiều cuộc chiến đấu. Trước nạn dịch hạch hoành hành, anh sốt sắng tự nguyện tổ chức những đội y tế, cùng với Rieux lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn với vi trùng dịch bệnh. Mục đích của anh, tâm niệm của anh là sống vì con người, cho con người. Anh cho xã hội anh đang sống là một xã hội “dựa trên sự kết án tử tình”, và chiến đấu chống lại xã hội ấy, anh “chiến đấu chống lại sự giết người”.
DỊCH HẠCH là một cuốn tiểu thuyết biểu tượng. Thông qua hình tượng nhân vật, hành vi và nhất là tâm tư cùng ngôn ngữ của họ, người đọc dễ dàng cảm nhận chiều sâu tác phẩm và ý định tác giả là phủ định chiến tranh và bạo lực, khẳng định ý chí chiến đấu chống tai họa đe dọa cuộc sống con người. Tác giả xây dựng một loạt nhân vật tích cực tuy đường đi nước bước có khác nhau nhưng cuối cùng đều tự nguyện xông vào trận tuyến chiến đấu chống dịch hạch, đem lại cuộc sống yên lành cho con người, trả lại hòa bình cho xã hội.
Trong lúc một số người cho là làm gì cũng vô ích, chỉ nên quỳ gối cầu xin Thượng đế, thì Rieux, Tarrou và bè bạn đều khẳng định là phải chiến đấu bằng cách này hay cách khác, chứ không quỳ gối: “Toàn bộ vấn đề là ra sức ngăn cản không để người ta chết và vĩnh viễn xa nhau. Muốn vậy, chỉ có một cách duy nhất là chống lại dịch hạch”.
Tinh thần cảnh giác toát ra từ tác phẩm cũng đầy ý nghĩa. Giữa tiếng nói cười hân hoan, rộn ràng của những người thoát dịch bênh, bác sĩ Rieux vẫn nghĩ đám người đang hò reo đó không biết rằng “vi trùng dịch hạch không bao giờ chết và mất hẳn. Nó có thể nằm yên hàng chục năm trong đồ đạc, áo quần, chăn chiếu...; nó kiên nhẫn đợi chờ trong các căn buồng, dưới hầm nhà, trong hòm xiểng... và một ngày nào đó, để gây tai họa và dạy cho họ bài học, dịch hạch có thể đánh thức đàn chuột của nó dậy và bắt chúng chạy đến lăn ra chết ở một đô thành nào đó đang sống trong hạnh phúc và phồn vinh”.
Tác giả mượn lời kể của bác sĩ Rieux để “tỏ rõ thiện chí” của mình “đối với các nạn nhân dịch hạch, để ghi lại ít nhất là một dấu vết của bất công và bạo lực, và nói lên cái bài học rút ra được giữa lúc gặp tai hoạ là trong loài người có nhiều điều đáng khâm phục hơn là cái đáng khinh ghét”.
Rõ ràng nhân vật trung tâm của tác phẩm - bác sĩ Rieux - tượng trưng cho những con người kháng chiến, những con người hành động. Rieux mang hơi hướng của những năm kháng chiến chống phát xít Đức mà chính Albert Camus đã tích cực tham gia. Và tác giả đã thành công trong việc xây dựng nhân vật này để thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm: chiến đấu chống tội ác, chống khủng bố, chống chết chóc vì hạnh phúc và cuộc sống hòa bình của con người.

Người dịch

📎 dh
0
Miêu tả một thứ giam cầm này bằng một thứ giam cầm khác cũng hợp lý như miêu tả một cái gì tồn tại thực sự bằng một cái gì không thể tồn tại.

Danile de Foe
 
I
 
Những sự kiện kỳ lạ, đề tài của tập ký này, xảy ra năm 194., ở Oran dư luận chung cho rằng đây là những sự kiện xảy ra không đúng chỗ, có phần bình thường. Thật vậy, thoạt nhìn thì Oran là một thành phố bình thường và cũng chỉ là một tỉnh của Pháp trên bờ biển Algérie.
Phải thừa nhận Oran là một thành phố xấu xí. Nó có vẻ yên tĩnh và phải có thời gian mới thấy được cái gì phân biệt nó với biết bao thành phố buôn bán khác ở khắp mọi nơi. Chẳng hạn làm sao khiến người ta hình dung được một thành phố vắng bóng bồ câu, cây cối, vườn tược, một thành phố không nghe thấy tiếng chim vỗ cánh hay tiếng lá cây xào xạc, tóm lại, một nơi hoàn toàn vô thưởng vô phạt? Người ta chỉ nhận thấy bốn mùa thay đổi khi nhìn lên bầu trời. Báo hiệu mùa xuân, chỉ có hương vị của không khí hay những lẵng hoa do những chú bé bán hàng mang từ ngoại ô vào; đấy là một “mùa xuân” người ta đem bán ở chợ. Mùa hè, mặt trời thiêu đốt những ngôi nhà khô khốc và phủ lên các bức tường một lớp tro xám xịt; lúc đó, người ta chỉ còn có thể sống được trong bóng râm của những cánh cửa đóng kín mít. Mùa thu, trái lại, thì ngập ngụa bùn lầy. Thời tiết chỉ dễ chịu vào mùa đông.
Có một cách tiện lợi để tìm hiểu một thành phố, là xem người ta làm ăn thế nào, yêu như thế nào và chết ra sao. Trong cái thành phố nhỏ bé của chúng tôi - phải chăng do ảnh hưởng của khí hậu? - tất cả những cái đó diễn ra đồng thời, vừa cuồng nhiệt vừa âm thầm. Nghĩa là ở đấy, người ta sầu muộn và chăm chút cho mình những thói quen. Đồng bào chúng tôi làm việc nhiều, nhưng bao giờ cũng cốt để làm giàu. Chủ yếu họ quan tâm đến buôn bán và trước hết - theo cách nói của họ - lo làm apphe. Dĩ nhiên, họ cũng ưa thích những thú vui bình thường, họ yêu phụ nữ, thích xem phim và tắm biển. Nhưng một cách rất hợp lý, họ dành những thú vui đó cho tối thứ Bảy và ngày Chủ nhật, còn những ngày khác trong tuần, thì ra sức kiếm cho thật nhiều tiền. Chiều đến, từ công sở ra về, họ tụ tập ở quán cà phê vào những giờ nhất định, đi dạo chơi bao giờ cũng vẫn ở trên một đại lộ ấy - hoặc nữa ra ngồi ở ban công. Ham thích của lớp trẻ thì dữ dội và ngắn ngủi, còn thói tật của lớp người có tuổi thì không vượt qua mấy hội chơi cầu, mấy bữa tiệc của các hội ái hữu và mấy câu lạc bộ đánh bài ăn tiền ra trò.
Chắc hẳn người ta sẽ cho rằng tình hình đó không riêng gì là của thành phố chúng tôi và xét cho cùng, người đương thời đều như vậy cả. Chắc hẳn ngày nay, không có gì tự nhiên hơn là thấy người ta lao động từ sáng đến tối, và sau đó dành hết thì giờ còn lại để chơi bài, đến quán cà phê và nói chuyện phiếm. Nhưng có những thành phố và đất nước mà ở đấy, thỉnh thoảng người ta có nghi vấn chuyện này chuyện nọ. Nói chung, cái đó không làm thay đổi cuộc sống. Nhưng dầu sao vẫn có chuyện nghi hoặc và bao giờ đó cũng là một cái lợi. Trái lại, Oran rõ ràng là một thành phố không có nghi hoặc, nghĩa là một thành phố hoàn toàn hiện đại. Vì vậy không cần thiết phải xác định ở đây người ta yêu đương như thế nào. Đàn ông và đàn bà hoặc nhanh chóng ngốn ngấu nhau trong cái gọi là hành động ái ân hoặc cùng nhau chung sống lâu dài. Giữa hai thái cực ấy, thường không có cái trung dung. Như thế cũng chẳng có gì độc đáo. Ở Oran cũng như ở nơi khác, vì thiếu thì giờ và suy nghĩ, người ta bắt buộc phải yêu đương mà không biết là mình yêu đương.
Cái độc đáo trong thành phố chúng tôi là nỗi khó nhọc của người ta khi phải chết. Vả lại, nói “khó nhọc” thì không thỏa đáng lắm, mà đúng hơn thì phải nói “khó chịu”. Đau ốm thì có bao giờ thú vị, nhưng có những thành phố và đất nước ở đó người ta nâng đỡ anh trong khi bệnh tật, ở đó có thể nói anh phó thác cho người khác. Một người bệnh bao giờ cũng cần sự dịu dàng, cũng muốn có một nơi nương tựa, ấy là điều rất tự nhiên. Nhưng ở Oran, cái khắc nghiệt của khí hậu, tầm quan trọng của những apphe phải giải quyết, cái tẻ nhạt của cảnh vật, cái thoáng qua của buổi hoàng hôn và tính chất các thú vui, tất thảy đều đòi hỏi người ta phải khỏe mạnh, ở đây, người ốm đau cảm thấy thật cô đơn. Huống hồ một người hấp hối, mắc kẹt sau hàng trăm bức tường bị đốt nóng như rang, trong lúc cũng vào giờ phút ấy, cả một dân cư, trước máy điện thoại hay trong tiệm cà phê, bàn tán về hối phiếu, về vận đơn, về chiết khấu. Chắc hẳn bạn đọc hiểu được cái khó chịu người ta cảm thấy trong khi chết, dù là cái chết hiện đại, khi nó đến như vậy ở một xứ khô cằn.
Có lẽ mấy lời giới thiệu trên đây làm cho bạn đọc có một khái niệm đầy đủ về thành phố chúng tôi. Vả lại, không nên cường điệu bất cứ cái gì hết. Cái cần nhấn mạnh, là cái vẻ vô vị của thành phố và của cuộc sống ở đây. Nhưng hễ đã có thói quen là người ta có thể sống không khó khăn gì. Khi thành phố chúng tôi khuyến khích người ta tạo lập thói quen, thì có thể nói mọi cái đều tốt đẹp. Dĩ nhiên, dưới góc độ này, cuộc sống không thật say mê. Nhưng ít nhất ở đây không có tình trạng lộn xộn. Và nhân dân chúng tôi, thẳng thắn, thân ái và hoạt bát, luôn luôn được khách du lịch mến mộ một cách đúng mực. Cái thành phố thiếu cảnh đẹp, thiếu cỏ cây và không hồn này, cuối cùng hình như trở nên êm ái và khiến người ta yên tâm. Nhưng phải công bằng mà nói thêm rằng nó được “ghép” vào một cảnh quan vô song, giữa một cao nguyên trơ trụi, bốn phía là những ngọn đồi lấp lánh ánh nắng, trước một vũng đường nét tuyệt vời. Chỉ có điều đáng tiếc là nó được xây dựng, lưng ngoảnh ra vịnh và vì vậy người ta không thể nhìn thấy biển, mà phải luôn luôn đi tìm kiếm.
Đến đây, bạn đọc dễ dàng chấp nhận rằng không gì có thể làm cho đồng bào chúng tôi chờ mong những sự kiện ngẫu nhiên xảy tới mùa xuân năm ấy. Như chúng ta sẽ rõ trong những phần sau, đó là dấu hiệu đầu tiên của một loạt biến cố nghiêm trọng mà chúng tôi muốn tường thuật ở đây. Những sự kiện ấy, người này thì cho là hết sức tự nhiên; người khác, trái lại, cho là không tin được. Nhưng dẫu sao, một ký giả không thể căn cứ vào những sự trái ngược nhau ấy. Nhiệm vụ của anh ta chỉ là nói: “Cái này đã xảy tới” khi anh ta biết quả thật cái đó đã xảy tới, biết nó có quan hệ đến cuộc sống của cả một dân tộc, và bởi lẽ ấy, có hàng nghìn nhân chứng sẽ đánh giá trong thâm tâm họ những điều anh ta nói ra trung thực đến đâu.
Vả lại, người kể chuyện ở đây, mà bao giờ bạn đọc cũng biết lúc cần thiết, không thể lợi dụng một tư cách nào trong một công việc thuộc loại này, nếu như không phải vì một sự ngẫu nhiên, anh ta lượm lặt được một số lời cung khai và nếu như không phải vì tình thế bắt buộc, anh ta phải dính líu tới tất cả những gì anh ta muốn tường thuật. Chính cái đó cho phép anh ta làm công việc của nhà sử học. Đương nhiên, một nhà sử học, dù chỉ là một tay tài tử, bao giờ cũng có tư liệu của mình: trước hết là sự chứng kiến của bản thân; sau nữa là sự chứng kiến của những người khác, vì, với nhiệm vụ của mình, anh ta phải thu lượm những lời gửi gắm của mọi nhân vật trong tập ký, và cuối cùng là những văn bản đã rơi vào tay anh ta. Ý định của anh ta là khai thác khi thấy cần thiết, và sử dụng theo ý thích của mình. Anh ta lại còn muốn... Nhưng có lẽ đã đến lúc gác lại những lời bình luận và những sự rào đón để đi thẳng vào câu chuyện. Việc phản ánh những ngày đầu tiên đòi hỏi phải ít nhiều tỉ mỉ.
Sáng ngày 16 tháng Tư, khi bước ra khỏi phòng làm việc, bác sĩ Rieux đụng phải một con chuột chết ở giữa cầu thang. Ông gạt con vật ra một bên mà không lưu ý và bước xuống dưới nhà. Nhưng ra tới ngoài đường, ông chợt nghĩ con chuột không nằm đúng chỗ và quay lại báo cho người gác cổng. Trước sự phản ứng của lão Michel, ông cảm thấy rõ hơn cái khác thường trong sự phát hiện của mình. Đối với ông, sự có mặt của con chuột chết chỉ là một hiện tượng kỳ cục, nhưng đối với ông lão gác cổng, thì lại là một sự xấu xa đáng căm giận. Ông lão một mực khăng khăng trong khu nhà này không có chuột. Rieux cam đoan là trên thang gác tầng hai có một con và có lẽ là một con chuột chết, nhưng niềm tin của lão Michel là không có chuột vẫn cứ như đinh đóng cột. Trong khu nhà không hề có chuột, vậy con chuột này phải từ ngoài mang vào. Tóm lại, đây là một trò nghịch ngợm.
Ngay tối hôm ấy, khi đứng trong hành lang khu nhà, Bernard Rieux đang lục tìm chìa khoá để lên buồng thì bỗng thấy, từ cuối hành lang tối om xuất hiện một con chuột to tướng, chân bước chập choạng và bộ lông ướt nhèm. Con vật dừng lại hình như để lấy thăng bằng, chạy về phía ông, lại dừng lại, rồi vừa quay vòng tròn vừa rít lên một tiếng nhỏ, và cuối cùng ngã vật xuống, máu trào ra từ cái mõm há hốc. Rieux ngắm con vật rồi bước lên cầu thang về nhà.
Không phải ông nghĩ tới con chuột. Dòng máu tuồn ra từ mõm nó khiến ông trở lại mối bận tâm của mình. Vợ ông, ốm từ một năm nay, ngày mai sẽ đi nghỉ ở một nhà điều dưỡng trên núi. Về đến nhà, ông thấy vợ đang nằm, theo lời khuyên của ông: như vậy để có thể chịu đựng cuộc hành trình vất vả sắp tới. Bà mỉm cười :
- Em cảm thấy rất dễ chịu.
Bà quay mặt về phía chồng, trong luồng ánh sáng của cây đèn ngủ. Đối với Rieux, khuôn mặt ở độ tuổi ba mươi ấy, mặc dù những dấu hiệu của bệnh tật, vẫn là khuôn mặt buổi thanh xuân, có lẽ vì nụ cười xóa hết thảy những cái khác.
- Gắng ngủ đi em - Ông bảo - Mười một giờ, cô hộ lý sẽ đến và anh sẽ đưa em ra chuyến tàu mười hai giờ.
Ông khẽ hôn lên một vầng trán dâm dấp mồ hôi. Ra đến cửa, ông vẫn thấy vợ mỉm cười.
Ngày hôm sau, 17 tháng Tư, lúc tám giờ, khi bác sĩ đi qua, ông lão gác cổng giữ ông lại và tố cáo là có những đứa nghịch ác đã vứt ba con chuột chết vào giữa hành lang. Chắc hẳn chúng đánh chuột với những cái bẫy lớn, vì cả ba con đều ướt đẫm máu. Ông lão đứng trên ngưỡng cửa một lát, tay xách mấy con chuột, chờ xem có nghe tiếng cười nhạo báng của thủ phạm hay không. Nhưng không có gì xảy ra cả.
- A! Mấy thằng nhóc, - Lão Michel thốt lên - thế nào tôi cũng tóm được cổ chúng.
Băn khoăn, Rieux quyết định bắt đầu đi một vòng qua các phố ngoại ô, nơi cư trú của những người bệnh nghèo nhất của mình. Ở đấy, người ta đi thu rác muộn; ô-tô của ông chạy dọc những con đường thẳng và bụi bặm, lướt cạnh những chiếc thùng đựng rác bên lề đường. Trên đường xe đi qua, ông đếm được mười hai xác chuột vứt trong những đống rau xanh bỏ đi và giẻ rách bẩn thỉu.
Người bệnh đầu tiên Rieux đến thăm đang nằm trên giường, trong một căn buồng ngoảnh ra đường, vừa là phòng ngủ vừa là phòng ăn. Một ông già Tây Ban Nha, nét mặt khắc khổ, nhăn nheo. Trước mặt ông lão, trên một tấm mền, có hai cái nồi đựng đầy đậu hạt. Lúc bác sĩ bước vào, ông lão, nửa nằm nửa ngồi, ngửa người ra phía sau để lấy lại hơi thở khò khè, mệt nhọc của một người bị suyễn lâu năm. Bà vợ mang tới một chiếc thau :
- Thưa bác sĩ, - Người bệnh nói trong lúc tiêm thuốc - chúng chạy ra ngoài, bác sĩ thấy không?
- Vâng, - Bà vợ tiếp lời - nhà bên cạnh nhặt được những ba con.
Ông già xoa xoa hai tay vào nhau :
- Chúng chạy ra, ở thùng rác nào cũng có, chắc là đói đến nơi!
Sau này, Rieux nghe cả khu phố xôn xao về chuột. Đi thăm bệnh xong, ông trở về nhà.
- Bác sĩ có một bức điện, ở trên nhà ấy. - Ông lão Michel báo với ông.
Ông hỏi lão có thấy thêm chuột nữa không.
- A! Không, - Ông lão đáp - tôi rình đấy, bác sĩ hiểu chứ? Và những đứa khốn nạn không dám nữa.
Bức điện báo tin là bà cụ thân sinh Rieux ngày mai sẽ tới. Cụ đến chăm sóc nhà cửa cho con trai, trong lúc con dâu ông đi vắng. Khi bác sĩ về đến nhà, cô hộ lý đã có mặt. Rieux thấy vợ đang đứng, áo váy cùng màu, mặt thoa tí phấn. Ông mỉm cười :
- Tốt, - Ông nói - tốt lắm.
Một lát sau, ra đến ga, ông đưa vợ vào toa có giường nằm. Bà nhìn toa tàu :
- Nhiều tiền quá đối với chúng ta, phải không anh?
- Cần phải thế. - Rieux đáp.
- Cái chuyện chuột ấy là thế nào hở anh?
- Anh không rõ. Lạ đây, nhưng rồi sẽ qua đi thôi.
Rồi ông nói nhanh với vợ là ông xin lỗi, nhẽ ra ông phải chăm sóc bà, thế mà ông đã trễ nải. Bà lắc đầu, như thể muốn bảo ông đừng nói. Nhưng ông nói thêm :
- Khi em trở về thì mọi cái sẽ yên ổn hơn. Chúng ta lại sẽ bắt đầu.
- Vâng, - Bà đáp, mắt sáng long lanh - chúng ta lại sẽ bắt đầu.
Một lát sau, bà quay lưng lại và nhìn qua cửa kính. Trên sân ga, người ta chen chúc, xô lấn nhau. Tiếng đầu máy phì phò vang đến tận tai họ. Rieux gọi vợ bằng tên riêng và khi bà quay lại, ông thấy bà đầm đìa nước mắt.
- Thôi em. - Ông nói dịu dàng.
Nụ cười nở lại, nhưng đôi môi hơi mím, trên khuôn mặt chưa ráo nước mắt. Bà thở dài hơi sâu :
- Thôi, anh về đi, mọi cái rồi sẽ tốt đẹp thôi.
Ông ôm hôn vợ, và bây giờ, đứng trên sân ga, ông chỉ thấy thấp thoáng nụ cười của bà phía sau cửa kính.
- Anh van em, - Ông bảo - em phải lo chăm sóc sức khỏe.
Nhưng bà không nghe tiếng.
Trên sân ga, gần cửa ra vào, Rieux gặp Othon, dự thẩm, tay dắt đứa con trai nhỏ. Ông hỏi có phải ông ta đi du lịch không. Othon, người cao lớn, mặc quần áo đen, vừa có vẻ thuộc giới thượng lưu như ngày trước người ta vẫn nói - nhưng lại vừa giống một người phu đám ma. Với giọng nói dịu dàng, ông ta đáp vắn tắt :
- Tôi ra đón bà Othon đi thăm gia đình trở về.
Đầu máy huýt còi.
- Đám chuột...? - Othon hỏi.
Rieux nhìn theo hướng xe lửa rồi quay trở lại phía cửa ra vào.
- Vâng, - Ông đáp - chẳng sao đâu.
Ông nhớ lại là lúc đó một người phu quét rác đi qua, xách một cái thùng đựng đầy chuột chết.
Chiều hôm ấy, vào đầu giờ khám, Rieux tiếp một người trẻ tuổi mà ông được biết là nhà báo và buổi sáng đã đến tìm ông một lần. Anh ta tên là Raymond Rambert. Người thấp, vai hở, nét mặt cương nghị, mắt sáng và thông minh, Rambert mặc quần áo thể thao và có vẻ sống phong lưu. Anh đi thẳng vào vấn đề. Một tờ báo lớn ở Paris giao cho anh điều tra về đời sống của người Ả Rập và anh muốn thu lượm tin tức về tình hình sức khỏe của họ. Rieux cho biết tình hình không lấy gì làm tốt. Nhưng trước khi nói kỹ hơn, ông muốn biết nhà báo có được phép nói sự thật không?
- Dĩ nhiên. - Rambert đáp.
- Tôi muốn nói là ông có thể thẳng tay chỉ trích không?
- Thẳng tay thì không, phải nói rõ như thế. Nhưng tôi cho rằng chỉ trích như thế sẽ không có cơ sở.
Rieux dịu dàng đáp là quả vậy, một sự chỉ trích như thế thì không có cơ sở, nhưng đặt câu hỏi như trên, ông chỉ muốn biết trong khi xác nhận sự thật, Rambert có phải dè chừng gì không.
- Tôi chỉ chấp nhận những lời xác nhận không phải dè chừng. Vì vậy tôi sẽ không dùng thông tin của mình để làm chỗ dựa cho lời xác nhận của ông đâu.
- Ông nói chẳng khác nào Saint-Just [1]. - Tay nhà báo mỉm cười đáp.
Không nâng cao giọng, Rieux bảo là ông không hay biết gì về lời lẽ Saint-Just, nhưng lời lẽ của ông là lời lẽ của một người đã chán ngán cái xã hội mình đang sống, tuy ông yêu đồng loại và quyết không chấp nhận bất công và nhượng bộ. Rambert rụt cổ nhìn ông :
- Tôi nghĩ là tôi đã hiểu ông. - Cuối cùng anh nói và đứng dậy.
Bác sĩ tiễn anh ra cửa :
- Tôi cảm ơn ông có cách nhìn nhận tình hình như vậy.
Rambert có vẻ sốt ruột :
- Vâng, - Anh đáp - tôi hiểu, xin lỗi ông là tôi đã làm phiền ông.
Bác sĩ bắt tay anh và bảo là anh có thể viết một thiên phóng sự thú vị về số chuột chết lúc này trong thành phố.
- A! - Rambert vội thốt lên - Cái đó làm tôi thích thú.
Lúc mười bảy giờ, khi ra đi thăm những người bệnh khác, bác sĩ Rieux gặp ở giữa cầu thang một người còn trẻ, mập mạp, mặt to ụ, má hóp, lông mày rậm. Thỉnh thoảng, ông có gặp anh ta ở nhà những người Tây Ban Nha làm nghề nhảy múa và ở tầng trên cùng trong khu nhà. Jean Tarrou vừa mải miết hút thuốc vừa chăm chú nhìn một con chuột giãy chết trên một bậc cầu thang, dưới chân mình. Anh ngước đôi mắt màu tro nhìn bác sĩ, vẻ điềm tĩnh và có phần chăm chú, chào ông và nói thêm là sự xuất hiện của chuột là điều kỳ lạ.
- Đúng - Rieux đáp - nhưng cuối cùng nó sẽ làm chúng ta khó chịu.
- Ở một mặt nào đó, thưa bác sĩ, và chỉ ở một mặt nào đó thôi. Chưa bao giờ chúng ta thấy như thế này, chỉ có vậy thôi. Nhưng đối với tôi, điều đó rất thú vị, vâng, thực sự thú vị.
Tarrou lấy tay hất ngược mái tóc ra sau, nhìn con chuột bây giờ đã bất động - một lần nữa, rồi mỉm cười với Rieux :
- Nhưng, thưa bác sĩ, đấy chủ yếu là công việc của ông lão gác cổng.
Đúng vào lúc đó, bác sĩ gặp ông lão đứng trước nhà, tựa lưng vào tường cạnh cửa ra vào, bộ mặt vốn ngày thường đã sung huyết, lúc này tỏ ra mệt mỏi.
- Vâng, tôi biết - Lão Michel đáp lời bác sĩ khi ông nói với lão về một phát hiện mới - Bây giờ thì nhặt được một lúc hai ba con. Nhưng ở các khu nhà khác cũng thế cả.
Ông lão tỏ vẻ chán nản và lo lắng. Bất giác lão lấy tay xoa xoa cổ. Rieux hỏi lão sức khỏe ra sao. Dĩ nhiên, lão không thể nói là không tốt. Nhưng lão cảm thấy bứt rứt khó chịu. Theo lão, cái chủ yếu là tinh thần bị xáo động. Đám chuột đã cho lão một đòn và tình hình phải tốt hơn nhiều khi chúng không còn nữa.
Nhưng sáng hôm sau, ngày 18 tháng Tư, khi đón mẹ từ ga về, Rieux thấy lão Michel, bộ mặt thiểu não hơn: từ hầm nhà lên gác xép, trên các bậc thang, có cả một chục xác chuột. Thùng rác các nhà xung quanh cũng đầy xác chuột. Bà cụ, mẹ Rieux, khi nghe tin, không tỏ vẻ ngạc nhiên :
- Đó là những điều vẫn xảy ra thôi.
Bà cụ là một phụ nữ nhỏ nhắn, tóc bạc, mắt đen láy hiền từ.
- Mẹ sung sướng được gặp con, Bernard ạ - Cụ bảo - Lũ chuột chẳng sao ngăn cản được.
Rieux đồng tình; quả là đối với cụ, cái gì cũng có vẻ dễ dàng.
Nhưng ông vẫn gọi điện cho cơ quan diệt chuột của thị xã mà ông quen tay giám đốc. Liệu ông này đã nghe người ta nói là chuột đến chết hàng đàn ở ngoài trời không? Giám đốc Mercier đã có nghe nói, và ngay trong cơ quan ông ta, không cách xa bến tàu, cũng có đến năm chục con. Nhưng ông ta nghĩ bụng không biết tình hình có nghiêm trọng không. Rieux không có ý kiến dứt khoát, song ông nghĩ phải có sự can thiệp của cơ quan diệt chuột.
- Được, - Mercier bảo - nhưng phải có lệnh. Nếu ông cho là nên làm thì tôi có thể xin lệnh.
- Cứ nên làm. - Rieux đáp.
Người đàn bà giúp việc nhà đến báo với ông là người ta nhặt được mấy trăm con chuột chết trong khu nhà máy lớn, nơi chồng chị làm việc.
Dẫu sao thì cũng đâu vào thời kỳ này, người ta bắt đầu lo sợ. Vì, quả là từ ngày 18, các nhà máy, kho tàng đầy rẫy hàng trăm xác chuột. Có những trường hợp người ta buộc phải giết chết những con hấp hối kéo dài. Nhưng từ ngoại ô vào đến trung tâm thành phố, bất kỳ chỗ nào Rieux đi qua, bất kỳ chỗ nào đồng bào chúng tôi tụ tập, chuột cũng lúc nhúc hàng đống, trong thùng rác, hay xếp hàng dài, dọc các con khe. Ngay ngày hôm đó, báo chí buổi chiều nắm lấy tình hình và đặt câu hỏi là tòa thị chính có ý định hoạt động hay không và đã dự kiến những biện pháp khẩn cấp gì để trừ khử cho dân chúng cái nạn xâm nhập kinh tởm này. Hội đồng thị chính chưa có ý định và dự kiến gì cả, mà chỉ mới bắt đầu nhóm họp để bàn bạc. Cơ quan diệt chuột nhận được lệnh nhặt xác chuột chết vào các buổi sáng, lúc bình minh. Khi nhặt xong, hai chiếc xe của cơ quan này phải chở xác chuột đến nhà máy đốt rác để thiêu hủy.
Nhưng những ngày sau đó, tình hình nghiêm trọng thêm. Số chuột nhặt được ngày một tăng. Từ ngày thứ tư, chuột bắt đầu kéo ra chết hàng đàn. Từ các xó xỉnh, công trình ngầm, hầm nhà, cống rãnh, chúng loạng choạng leo thành những đàn dài để đến lảo đảo ngoài trời, quay vòng tròn và chết bên cạnh người. Ban đêm, trong các hành lang hay trên các đường hẻm, nghe rõ tiếng kêu chít chít của chúng trong cơn hấp hối. Buổi sáng, ở các cửa ô, người ta thấy chúng lăn ra ngay bên suối, một vệt máu nhỏ trên mõm nhọn hoắt, con thì trương lên, hôi thối, con thì cứng đờ, bộ ria còn dựng đứng. Ngay trong nội thành, người ta cũng gặp chúng hàng đống, trên các bậc thang hay trong sân. Chúng cũng đến chết lẻ tẻ trong hành lang các công sở, trong sân chơi trường học và đôi khi cả trên hiên các quán cà phê. Đồng bào chúng tôi kinh hoàng khi đụng phải chúng ở những nơi đông người qua lại nhất trong thành phố. Quảng trường duyệt binh, các đại lộ, vườn hoa ngoài bãi biển từng quãng một đều có xác chuột. Sáng sớm, người ta đi nhặt hết xác, nhưng sau đó, trong ngày, xác chúng mỗi lúc một nhiều thêm. Trên vỉa hè, nhiều người đi dạo buổi tối cảm thấy dưới chân mình cái khối mềm nhũn của một xác chuột mới chết. Người ta tưởng như dưới các ngôi nhà, mặt đất tẩy hết ra ngoài cái lượng thể dịch của nó và cho nổi lên trên những cái mụn nhọt từ trước đến nay âm ỉ cào xé lòng đất. Bạn đọc thử hình dung không thôi nỗi kinh hoàng của cái thành phố nhỏ bé chúng tôi, từ trước đến nay yên tĩnh là thế mà chỉ sau vài ngày là xáo động cả lên như thể một con người khỏe mạnh máu đang đặc sánh bỗng nhiên sôi sục lên.
Tình hình tiến triển tới mức trong một buổi phát những tin tức mà họ không bảo đảm, hãng Ransdoc (cung cấp tư liệu thông tin về mọi đề tài) tuyên bố là chỉ riêng một ngày 25, người ta đã nhặt và thiêu 6.231 con chuột. Con số này nêu lên rõ ràng cái quang cảnh hàng ngày trước mắt của thành phố và làm tăng thêm không khí hoang mang. Cho đến lúc bấy giờ, người ta chỉ phàn nàn về một sự kiện hơi ghê tởm. Gần đây, cái hiện tượng không thể xác định phạm vi và tìm ra cội nguồn này có một cái gì uy hiếp người ta. Chỉ riêng ông lão bị hen suyễn người Tây Ban Nha là tiếp tục xoa xoa tay và nhắc đi nhắc lại: “Chúng ra chúng ra” với một niềm vui già nua.
Nhưng đến ngày 28 tháng tư, khi hãng Ransdoc thông báo người ta lượm được khoảng tám nghìn xác chuột thì nỗi lo sợ trong thành phố lên đến tột đỉnh. Người ta yêu cầu những biện pháp triệt để, người ta buộc tội nhà chức trách, và một số ít gia đình có nhà trên bờ biển đã nói tới việc di chuyển ra đấy. Nhưng ngày hôm sau, hãng thông tấn lại báo là hiện tượng nói trên chấm dứt một cách đột ngột và cơ quan diệt chuột chỉ nhặt được một số lượng chuột không đáng kể. Thành phố thở phào.
Thế nhưng cũng chính ngày hôm đó, lúc mười hai giờ trưa, khi đỗ xe trước nhà, bác sĩ Rieux bỗng thấy ông lão gác cổng từ phía cuối đường cất bước khó nhọc, đầu cúi thấp, tay chân dang rộng, dáng điệu như con rối. Ông lão vịn cánh tay một linh mục mà bác sĩ nhận ra ngay. Một đôi lần, ông đã gặp cha Paneloux, một giáo sĩ đạo Thiên Chúa, uyên bác và hăng hái, được mọi người trong thành phố mến yêu, kể cả những người thờ ơ với tôn giáo. Ông chờ hai người đi tới. Ông lão Michel, hai mắt long lanh và hơi thở như rít lên. Lão cảm thấy khó ở và muốn ra ngoài hít thở không khí. Nhưng nghe đau dữ dội ở cổ, ở nách và ở bẹn, lão buộc phải quay trở về và nhờ cha Paneloux dìu đi.
- Đấy là những cục u - Lão nói - Tôi phải cố gắng mới lê chân nổi.
Thò cánh tay ra ngoài cửa xe, bác sĩ sờ vào phía dưới cổ lão Michel, ở đây nổi lên một cục u như một cái mắt gỗ.
- Lão đi nằm đi, và cặp nhiệt độ; chiều nay tôi sẽ đến thăm.
Ông lão gác cổng đi rồi, Rieux hỏi cha Paneloux nghĩ thế nào về cái chuyện chuột này.
- Ồ! - Paneloux đáp - Chắc hẳn là một bệnh dịch - Và mắt ông ta nheo lại như mỉm cười phía sau đôi mắt kính tròn.
Sau bữa ăn trưa, Rieux đang đọc lại bức điện của nhà điều dưỡng báo vợ ông đã tới nơi thì bỗng nghe chuông điện thoại. Một bệnh nhân cũ, nhân viên tòa thị chính gọi điện cho ông. Anh ta tự chứng thắt động mạch chủ từ lâu, nhưng vì anh nghèo, Rieux chữa không lấy tiền.
- Vâng, - Anh ta nói - bác sĩ còn nhớ ra tôi. Nhưng hôm nay là một người bệnh khác. Mời bác sĩ tới nhanh, ở nhà người hàng xóm tôi đã xảy ra chuyện gì đó.
Anh ta nói như đứt hơi. Rieux nghĩ tới ông lão gác cổng và quyết định sẽ đến thăm luôn. Mấy phút sau, ông gõ cửa một căn phòng nhỏ trên đường Faidherbe, ở ngoại ô. Đến giữa cầu thang ẩm và hôi, ông gặp Joseph Grand đi xuống đón ông. Một người đàn ông tuổi khoảng năm mươi, râu mép màu hung, người cao và gù, vai hẹp, tay chân gầy guộc.
- Bây giờ đã khá hơn, - Anh nói khi bước tới gặp Rieux - nhưng vừa qua, tôi tưởng hắn chết mất.
Anh hỉ mũi. Lên đến tầng ba, tầng cuối cùng, Rieux thấy trên cánh cửa bên trái, dòng chữ viết bằng phấn đỏ: “Mời vào, tôi đã treo cổ”.
Hai người vào nhà. Sợi dây thòng lọng trên một chiếc ghế tựa lật ngửa, còn một cái bàn thì bị đẩy vào góc nhà. Sợi dây lủng lẳng trong khoảng không.
- Tôi gỡ hắn ra kịp thời - Grand như vừa nói vừa tìm từ, mặc dù anh dùng lời lẽ hết sức đơn giản - Đúng vào lúc tôi ra khỏi nhà và nghe tiếng động. Lúc thấy mấy chữ viết trên cửa - không biết nói với ông thế nào nhỉ? - Tôi ngờ là một trò đùa. Nhưng hắn rên rỉ một cách khác thường và thậm chí có thể nói là bi thảm. - Anh gãi gãi đầu - Tôi nghĩ rằng hắn thắt cổ như vậy chắc phải đau đớn lắm. Dĩ nhiên tôi đã đi vào.
Hai người đẩy một cánh cửa và đứng trước một căn buồng sáng sủa nhưng đồ đạc sơ sài. Một người bé nhỏ và mập nằm trên một chiếc giường sắt mạ đồng. Hắn thở dốc và nhìn họ với đôi mắt sung huyết. Bác sĩ Rieux đứng lại. Giữa hai nhịp thở, ông như nghe tiếng chuột chin chít. Nhưng trong bốn góc buồng, không hề có gì động đậy. Rieux đi lại bên giường. Hắn không bị ngã từ quá cao xuống và cũng không đột ngột, các đốt xương sống vẫn không sao. Dĩ nhiên có ngạt thở chút đỉnh. Hắn sẽ phải chụp X quang. Bác sĩ chích cho hắn một mũi dầu long não và bảo trong vài ngày mọi cái sẽ ổn.
- Cảm ơn bác sĩ. - Hắn nói, giọng khó thở.
Rieux hỏi Grand đã báo sở cảnh sát chưa. Anh đáp, vẻ bối rối.
- Không, ồ không! Tôi tưởng cái gấp nhất là...
- Dĩ nhiên - Rieux cắt lời anh ta - tôi sẽ báo vậy.
Nhưng lúc đó người bệnh cựa quậy và ngồi dậy, hắn nói hắn khỏe mạnh và không cần phải báo.
- Ông cứ yên tâm - Rieux bảo - không thành vấn đề gì cả đâu, ông hãy tin tôi, còn tôi, tôi phải khai báo.
- Ôi! - Hắn thốt lên.
Rồi ngửa người ra sau và khóc thút thít. Đập đập bộ râu mép một lúc, Grand đi lại gần hắn và bảo :
- Ông Cottard này, ông thông cảm cho. Bác sĩ phải chịu trách nhiệm đây. Nếu chẳng hạn ông lại có ý làm lại...
Nhưng Cottard vừa khóc vừa nói hắn sẽ không làm lại nữa, đây chỉ là một phút điên dại và hắn chỉ muốn người ta để hắn yên. Rieux ghi đơn thuốc.
- Thôi được - Ông bảo - Gác cái đó lại; trong vài ngày, tôi sẽ trở lại. Nhưng ông chớ làm điều dại dột nữa.
Trên cầu thang, Rieux bảo Grand là ông bắt buộc phải khai báo, nhưng sẽ yêu cầu sở cảnh sát hai ngày sau mới mở cuộc điều tra.
- Đêm nay, phải theo dõi ông ta. Ông ta có gia đình không?
- Tôi không biết gia đình hắn. Nhưng tôi có thể trông coi được.
Anh lắc đầu nói tiếp :
- Bản thân hắn, bác sĩ thấy đấy, tôi cũng không thể nói là tôi quen biết. Nhưng vẫn phải giúp đỡ lẫn nhau.
Đang đi trong hành lang, bất giác Rieux nhìn vào các ngóc ngách và hỏi Grand trong khu phố anh chuột đã biến hết chưa. Anh không hay biết gì hết. Quả là người ta có nói chuyện chuột, nhưng anh ít chú ý đến dư luận trong phố.
- Tôi có những mối quan tâm khác. - Anh nói.
Rieux chia tay anh. Ông vội về thăm ông lão gác cổng trước khi viết thư cho vợ.
Trẻ bán báo buổi chiều rao là nạn chuột đã bị chặn lại. Nhưng Rieux thấy người bệnh nửa người nhoài ra khỏi giường, một tay đặt lên bụng, một tay ôm lấy cổ, nôn thốc nôn tháo vào trong một cái thùng đựng rác một thứ nước mật lờ nhờ. Cố mãi đến hụt hơi, cuối cùng, ông lão gác cổng nằm xuống. Nhiệt độ lên tới ba chín rưỡi, hạch ở cổ và tay chân sưng tấy, hai bên mạn sườn có hai chấm đen ngày một loang rộng ra. Bây giờ ông lão kêu đau trong nội tạng.
- Nóng quá, con vật khốn nạn nó đốt tôi như lửa ấy.
Những nhớt đen trong miệng khiến lão nói lúng búng. Lão quay về phía Rieux cặp mắt lồi ướt đầm nước mắt vì cơn đau đầu. Bà vợ lo lắng nhìn bác sĩ lúc đó đứng lặng im.
- Thưa bác sĩ, - Bà ta hỏi - bệnh gì thế ạ?
- Có thể là bất cứ cái gì. Nhưng chưa có gì thật chắc cả. Từ nay đến tối, nhịn đói và uống thuốc lọc huyết. Phải cho uống nhiều vào.
Đúng vào lúc ông lão khát đến cháy họng.
Về đến nhà, Rieux gọi điện cho Richard, bạn đồng nghiệp, một trong những thầy thuốc có uy tín nhất trong thành phố.
- Không - Richard đáp - tôi không hề thấy có gì đặc biệt cả.
- Không có cơn sốt với viêm cục bộ sao?
- A! Có, có hai ca, với hạch bị sưng nóng lắm.
- Một cách bất bình thường à?
- Ồ, - Richard đáp - cái bình thường, ông biết đấy...
Tối hôm đó, ông lão gác cổng mê sảng và khi nhiệt độ lên tới bốn mươi, ông lão kêu la về chuột. Rieux cố gây một ca apxe kết tụ. Bị nhựa thông đốt nóng, ông lão rú lên: “A! Những con vật khốn nạn!”.
Những cái hạch ngày mỗi lớn thêm, sờ thấy cứng và ráp. Bà lão hốt hoảng.
- Bà hãy thức trông ông lão. - Bác sĩ bảo - Và nếu cần thì gọi tôi.
Ngày hôm sau, 30 tháng Tư, bầu trời xanh và ẩm, gió ấm bắt đầu thổi tới, mang theo mùi hoa từ các vùng ngoại ô xa nhất. Tiếng động ban mai trên đường phố hình như mạnh và vui hơn thường ngày. Trong thành phố nhỏ bé của chúng tôi - thoát khỏi nỗi lo sợ âm ỉ trong suốt tuần qua, - ngày hôm ấy là một ngày xuân mới. Bản thân Rieux yên tâm khi nhận được thư vợ, bước xuống nhà ông lão gác cổng, lòng nhẹ nhõm. Và quả thật, sáng nay, nhiệt độ ông lão tụt xuống ba tám. Người bệnh ngồi trên giường mỉm cười, nom có yếu đi.
- Tình hình có khá hơn phải không, thưa bác sĩ? - Bà lão hỏi.
- Chúng ta cứ phải chờ đã.
Nhưng đến trưa, cơn sốt đột ngột lên tới bốn mươi độ. Người bệnh liên tục mê sảng và nôn trở lại. Hạch ở cổ sờ vào thì đau và ông lão muốn tìm cách xoay đầu ra thật xa thân mình. Bà vợ ngồi dưới chân giường, hai tay đặt trên nền, khẽ sờ chân người bệnh. Bà ta nhìn Rieux.
- Bà này - Rieux bảo - phải cách ly ông lão và cố gắng tiến hành một cách điều trị đặc biệt. Tôi gọi điện cho bệnh viện và chúng ta sẽ chở ông lão đi bằng xe cứu thương.
Hai tiếng sau, trong xe, bác sĩ và bà lão cúi nhìn người bệnh. Ông lão, miệng phủ đầy những vết sùi, lẩm bẩm mấy từ rời rạc: “Đàn chuột!” Da xanh xao, môi màu sáp, mí mắt màu chì, hơi thở không đều và gấp gáp bị những cái hạch giày vò, lão cuộn tròn lại trên chiếc ghế dài như thể muốn gập nó lại bó lấy thân hình mình, hay như thể có một cái gì từ dưới lòng đất kêu gọi ông ta không ngừng. Ông lão ngạt thở dưới một sức nặng vô hình. Bà vợ ngồi khóc.
- Không còn hy vọng nữa phải không, thưa bác sĩ?
- Ông ấy mất rồi. - Rieux đáp.
Cái chết của ông lão gác cổng có thể nói là đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ đầy rẫy những dấu hiệu khiến người ta ngạc nhiên và sự mở đầu một thời kỳ khác, tương đối khó khăn hơn, trong đó nỗi kinh ngạc những buổi đầu biến dần thành nỗi kinh hoàng thực sự. Đồng bào chúng tôi chưa bao giờ nghĩ cái thành phố nhỏ bé này có thể là một nơi đặc biệt thuận lợi cho họ hàng nhà chuột đến chết dưới ánh nắng mặt trời và những người gác cổng bỏ mạng vì những bệnh tật kỳ cục. Bây giờ thì họ thấy rõ điều đó. Tóm lại, về phương diện này, họ đã nhầm lẫn và ý nghĩ của họ, cần phải xem xét lại. Giá như tình hình chỉ dừng lại ở đấy thì chắc hẳn thói quen sẽ làm người ta quên đi. Nhưng những đồng bào khác của chúng tôi, và không phải chỉ là những người gác cổng hay những kẻ nghèo khổ, đã phải nối gót ông lão Michel. Từ đó, người ta bắt đầu sợ hãi và suy tư.
Tuy nhiên, trước khi kể chi tiết những sự kiện mới này, người tường thuật thấy cần nhắc đến quan điểm của một nhân chứng khác về thời kỳ vừa được mô tả này. Jean Tarrou - mà bạn đọc đã bắt gặp ở phần đầu câu chuyện - đến Oran trước đây vài tuần lễ và ở trong một khách sạn lớn ở trung tâm thành phố. Bề ngoài, anh ta sống khá thoải mái với nguồn lợi tức của mình. Nhưng không ai biết anh từ đâu tới và tới với mục đích gì, mặc dầu dần dần anh không còn xa lạ với thành phố nữa. Người ta gặp anh ở tất cả những nơi công cộng. Từ đầu mùa xuân, người ta thường gặp anh trên bãi biển: anh thường bơi lội với một niềm vui thích rõ rệt. Nhân hậu, luôn luôn tươi cười, hình như anh là bạn của mọi thú vui bình thường, mà không trở thành nô lệ của chúng. Thực ra, thói quen duy nhất người ta tìm thấy ở anh là việc anh gặp gỡ đều đặn các nhạc công và vũ đạo người Tây Ban Nha cư trú nhiều trong thành phố.
Dẫu sao, những cuốn sổ tay của anh cũng là một thứ ký sự về thời kỳ gian khổ này. Nhưng đây là một tập ký rất đặc biệt hình như tuân theo một định kiến vô nghĩa lý. Thoạt đầu, tưởng như Tarrou coi thường mọi người mọi vật, không lấy gì làm điều hết. Tóm lại, trong lúc mọi người hoang mang, thì anh chăm chú làm một sử gia của những cái không hề có lịch sử. Dĩ nhiên người ta có thể phàn nàn cái định kiến ấy và cho đó là biểu hiện của một con tim khô cằn. Nhưng không phải vì vậy mà những cuốn sổ tay ấy không thể cung cấp cho một tập ký sự về thời kỳ này vô số những chi tiết tuy thứ yếu song vẫn có tầm quan trọng, và chính tính chất kỳ cục của chúng không cho phép chúng ta đánh giá quá sớm nhân vật hay hay này.
Jean Tarrou bắt tay vào ghi chép ngay sau khi tới Oran. Ngay từ đầu, anh tỏ ra mãn nguyện một cách kỳ lạ khi đến một thành phố tự bản thân nó xấu xí đến thế. Anh miêu tả chi tiết hai tượng sư tử bằng đồng đen trước tòa thị chính và có những nhận xét rộng lượng đối với tình hình không có cây cối, đối với những ngôi nhà thiếu duyên dáng và cách bố trí phi lý của thành phố. Tarrou cũng ghi lại những mẩu đối thoại anh nghe được trong tàu điện và trên đường phố, mà không bình luận gì thêm cả, trừ phi về sau một chút, đối với những lời trò chuyện liên quan đến một anh chàng Camps nào đó. Tarrou nghe hai người thu tiền vé tàu điện trao đổi với nhau :
- Cậu biết rõ Camps chứ? - Một người hỏi.
- Camps à? Người cao lớn, có bộ râu mép đen sì phải không?
- Đúng thế. Hắn phụ trách bẻ ghi mà.
- Đúng, đúng thế.
- Nhưng hắn chết rồi.
- A! Chết bao giờ thế?
- Sau cái chuyện chuột ấy.
- Thế à? Hắn bị cái gì thế?
- Tớ không rõ, đâu bị sốt hay sao ấy. Vả lại, hắn vốn không khỏe. Hắn bị apxe dưới nách và không chống chọi nổi.
- Nhưng hắn trông cũng như mọi người khác.
- Không, hắn yếu phổi, và lại chơi nhạc trong hội Đồng ca. Luôn luôn thổi kèn pittông, cái đó có hại lắm.
- A! khi có bệnh, thì không nên thổi kèn pittông.
Sau khi ghi lại mấy lời kể chuyện ấy, Tarrou đặt câu hỏi vì sao Camps lại vào hội Đồng ca, ngược lại quyền lợi hiển nhiên nhất của mình, và vì những lý do sâu xa nào hắn đã phó mặc cả tính mệnh cho những buổi rước lễ Thánh như vậy.
Tiếp đấy, Tarrou hình như bị cuốn hút một cách thú vị vào một cảnh tượng thường diễn ra ở cái ban công đối diện với cửa sổ phòng anh. Thật vậy, phòng anh trông ra một con đường ngang nhỏ, nơi những chú mèo đến ngủ dưới bóng những bức tường. Ngày nào cũng như ngày nào, sau bữa ăn trưa, trong lúc toàn thành phố đang mơ mơ màng màng trong cơn nóng bức, thì một ông già nhỏ nhắn xuất hiện trên ban công, phía bên kia đường. Tóc bạc và chải cẩn thận, bộ điệu nghiêm trang và người thẳng đơ trong bộ quần áo cắt theo kiểu nhà binh, ông già gọi “Meo, meo”, giọng vừa cao đạo vừa dịu dàng. Lũ mèo ngửng những cặp mắt còn ngái ngủ lên nhìn, nhưng vẫn không nhúc nhích. Ông già bèn xé nhỏ những mành giấy ném xuống đường. Thế là bị thu hút bởi những mẩu giấy rơi lả tả như những cánh bướm trắng, đàn mèo liền bước ra giữa lòng đường, ngập ngừng giơ chân về phía những mảnh giấy cuối cùng. Lúc đó, ông già nhổ mạnh và chính xác nước bọt lên đám mèo. Hễ nhổ trúng mèo, là ông ta cười vang.
Cuối cùng, Tarrou tỏ ra thực sự thú vị về tính cách buôn bán của cái thành phố mà vẻ bề ngoài, không khí náo nhiệt và ngay cả những thú vui đều như là do nhu cầu thương mại chỉ đạo. Tarrou hoan nghênh tính khác thường ấy (từ “khác thường” này do chính anh ta dùng trong sổ tay) và hơn nữa còn kết thúc một Lời ca ngợi của mình bằng thán từ “Thế chứ!” Đây là những chỗ duy nhất mà những lời ghi chép của vị du khách này, vào thời kỳ ấy, có vẻ mang dấu ấn cá nhân. Nhưng có điều là khó có thể đánh giá ý nghĩa và tính chất nghiêm túc của chúng. Chẳng hạn, sau khi kể lại là việc tìm ra một con chuột chết đã khiến cho anh chàng thủ quỹ khách sạn nhầm lẫn trong tính toán, Tarrou viết thêm, với những nét bút không rõ ràng như thường ngày: “Hỏi: làm thế nào để khỏi mất thì giờ? Trả lời: cảm nhận thời gian trong suốt chiều dài của nó. Cách thức: chờ đợi ngày này qua ngày khác trong tiền sảnh của một thầy thuốc nha khoa, trên một chiếc ghế chẳng lấy gì làm êm ái; chiều Chủ nhật, phải ngồi thúc thủ trên ban công; nghe những buổi nói chuyện bằng một ngôn ngữ mình không hiểu; chọn những cuộc hành trình dài nhất và thiếu tiện nghi nhất bằng xe lửa và dĩ nhiên là phải đứng xếp hàng lấy vé đi xem biểu diễn sân khấu và không lấy được vé v.v...” Nhưng ngay sau khi có những suy nghĩ hay lời lẽ ra ngoài đề như vậy, những đoạn ghi chép lại miêu tả tỉ mỉ tàu điện trong thành phố, miêu tả hình dạng giống như một chiếc thuyền, màu sắc mờ nhạt, tình trạng dơ bẩn quen thuộc của chúng, và kết thúc những nhận xét ấy bằng một “thật đáng chú ý” chẳng giải thích được gì hết.
Dẫu sao, sau đây là những điều ghi chép của Tarrou về chuyện đàn chuột:
“Hôm nay, ông già nhỏ người ở nhà trước mặt, bối rối. Không thấy mèo đâu nữa. Quả thật chúng đã biến mất và được kích thích bởi những con chuột chết người ta tìm thấy rất nhiều trên đường phố. Theo ý tôi, không có vấn đề mèo ăn chuột chết. Tôi nhớ là mèo của chúng tôi ghét chuột chết. Nhưng không phải vì vậy mà chúng không sục sạo trong các hầm nhà, khiến ông lão bối rối. Bây giờ ông ta chải tóc ít cẩn thận hơn, có vẻ ít tráng kiện hơn. Tôi cảm thấy ông ta lo lắng. Được một lát, ông trở vào nhà. Nhưng trước đó, ông có nhổ nước bọt một lần, vào khoảng không.
Hôm nay, trong thành phố, một chuyến tàu điện bị chặn lại vì một con chuột không biết bằng cách nào đến chết trong toa tàu. Hai ba phụ nữ rời khỏi tàu. Người ta vứt xác chuột đi. Và tàu lại tiếp tục chạy.
Ở khách sạn, người gác đêm - một người đáng tin cậy - bảo tôi là ông ta cho rằng một tai họa sẽ ập tới với tất cả lũ chuột ấy. ‘Khi chuột rời khỏi con tàu biển...’ Tôi trả lời là cái đó đúng trong trường hợp tàu biển, nhưng chưa bao giờ được kiểm nghiệm đối với các thành phố. Tuy nhiên niềm tin của ông ta không thay đổi. Tôi hỏi ông tai họa gì sẽ xảy tới. Ông không rõ vì cho rằng tai họa thì không thể dự kiến được. Nhưng giá như một vụ động đất xảy tới thì ông ta cũng không ngạc nhiên. Tôi thừa nhận điều đó có thể xảy ra và ông ta hỏi tôi nếu vậy thì tôi có lo lắng không.
Điều duy nhất làm tôi quan tâm, tôi trả lời, là làm sao có được sự yên tĩnh nội tâm”.
“Ông ta hoàn toàn hiểu tôi”.
“Ở phòng ăn khách sạn, có trọn vẹn một gia đình rất đáng chú ý. Ông bố là một người đàn ông cao gầy, mặc quần áo màu đen, sơ-mi cổ cứng. Đỉnh đầu thì hói và hai bên chùm tóc đã ngả muối tiêu. Với đôi mắt tròn xoe và nghiêm khắc, cái mũi mỏng, hai môi mím chặt, ông ta giống như một con cú mèo được nuôi dưỡng cẩn thận. Bao giờ lão cũng đến đầu tiên và đứng trước cửa khách sạn, nép ra một bên nhường chỗ cho vợ, một phụ nữ nhỏ bé như con chuột nhắt đen, rồi mới đi vào, theo sau là hai con, một trai, một gái, cả hai đều ăn mặc kệch cỡm [2]. Đi đến bàn ăn, lão chờ cho vợ ngồi xong mới ngồi, và cuối cùng mới đến lượt hai ‘cún con’ leo tót lên ghế. Lão dùng ngôi thứ hai số nhiều [3] khi nói với vợ con. Với vợ, lão tuôn ra những điều nanh nọc nhưng với lời lẽ lịch sự; còn với con, thì lão dùng những lời thật dứt khoát :
- Nicole, con tỏ ra dễ ghét hết chỗ nói!
Và con bé chỉ chực òa khóc. Lão ta lại cứ muốn như thế.
Sáng nay, câu chuyện lũ chuột kích động hết sức mạnh mẽ thằng bé. Ngồi ở bàn ăn, nó muốn nói một chút về chuyện đó :
- Philippe, đang ăn, không được nói chuyện chuột. Bố cấm từ nay không được thốt ra cái từ ấy nữa.
- Bố con nói đúng đấy. - ‘Chuột đen’ tiếp lời.
Hai ‘cún con’ chúi mũi vào đĩa xúp và ‘Cú mèo’ cảm ơn vợ bằng một cái gật đầu hầu như vô nghĩa.
Mặc dù tấm gương tốt ấy, trong thành phố, người ta bàn tán nhiều về chuyện chuột. Cả báo chí cũng nói tới. Những tờ báo địa phương, thường ngày vốn rất đa dạng, nay hoàn toàn dành cho chiến dịch phản đối tòa thị chính: ‘Liệu các quan chức ở tòa thị chính có nhận thấy cái hiểm họa mà xác chuột chết thối có thể gây ra không?’ Lão chủ khách sạn chỉ có nói tới cái đó. Và cũng vì tức giận nữa. Tìm thấy chuột trên thang máy một khách sạn có danh tiếng, cái đó, đối với lão, không sao có thể tưởng tượng nổi. Nhằm an ủi lão, tôi bảo: ‘Nhưng mọi người cũng đều trong tình trạng này cả’.
Đúng thế, lão đáp, bây giờ chúng ta cũng như mọi người thôi.
Chính lão nói với tôi về mấy ca đầu tiên của cái bệnh kỳ lạ khiến người ta bắt đầu lo lắng này. Một chị hầu phòng đã bị bệnh.
Nhưng chắc chắn là không lây, lão vội vã khẳng định.
Tôi bảo lão là tôi không lấy cái đó làm điều.
A! Tôi rõ. Ngài cũng như tôi. Ngài là người theo thuyết định mệnh.
Tôi không hề nói gì tương tự, vả lại, tôi không phải là người định mệnh chủ nghĩa. Tôi bảo lão như vậy...”
Từ đây, sổ tay của Tarrou bắt đầu nói với ít nhiều chi tiết về cái bệnh sốt lạ lùng này khiến công chúng đã phải lo lắng. Anh ta ghi là ông già nhỏ bé, cuối cùng đã tìm thấy lại đàn mèo khi lũ chuột biến mất, và kiên nhẫn điều chỉnh hướng nhổ nước bọt của mình. Anh nói thêm là có đến một chục ca sốt như thế và phần lớn là tử vong.
Cuối cùng, với tính cách tham khảo, bạn đọc có thể tái hiện chân dung bác sĩ Rieux qua ngòi bút Tarrou. Theo chỗ chúng tôi nhận thức được, bức chân dung khá chân thực:
“Trông chạc ba nhăm tuổi. Người tầm thước. Vai lực lưỡng. Mặt gần vuông chữ điền. Cặp mắt mầu sẫm và kẻ thẳng, nhưng hàm thì bạnh ra. Mũi to, nở đều. Tóc đen cắt rất cao. Miệng uốn cong với đôi môi dày và hầu như luôn luôn mím chặt. Ông ta hơi có dáng dấp một nông dân vùng Sicilia với nước da rám, mái tóc đen và quần áo bao giờ cũng mầu sẫm nhưng rất hợp với ông.
Ông ta đi nhanh. Từ vỉa hè bước xuống đường vẫn không thay đổi dáng đi, nhưng khi bước lên vỉa hè phía bên kia đường thì thường nhảy nhẹ lên. Đãng trí khi cầm lái ô-tô và thường để mũi tên chỉ đường rẽ vẫn dựng lên mặc dù xe đã quặt sang đường. Bao giờ cũng đầu trần. Có vẻ nắm vững tình hình”.
Những con số của Tarrou đều chính xác. Bác sĩ Rieux ít nhiều hiểu ý nghĩa của chúng. Sau khi cách ly xác ông lão gác cổng, ông gọi điện cho Richard để hỏi về mấy ca sốt do hạch ở bẹn gây nên.
- Tôi chẳng hiểu gì hết - Richard bảo - Hai người chết, một sau bốn mươi tám tiếng, một sau ba ngày. Trước đó, một buổi sáng, người thứ hai này có mọi dấu hiệu bề ngoài là đã khỏi bệnh.
- Ông cho tôi biết, nếu có những ca khác. - Rieux nói.
Ông gọi điện thêm cho mấy thầy thuốc khác nữa, và trong mấy ngày được biết thêm vài chục ca tương tự. Hầu như tất cả bệnh nhân đều tử vong. Ông liền yêu cầu Richard, chủ tịch tổ chức các thầy thuốc ở Oran, cách ly những bệnh nhân mới.
- Nhưng tôi chẳng làm gì được - Richard bảo - Phải có những biện pháp của quận. Vả lại, ai nói với ông là có nguy cơ truyền nhiễm?
- Không có gì nói với tôi cả, nhưng các triệu chứng rất đáng lo ngại.
Song Richard cho là “ông ta không có đủ tư cách”. Ông ta chỉ có thể báo cáo lên thành phố.
Nhưng trong lúc đó, thời tiết ngày mỗi xấu thêm. Sau khi ông lão gác cổng chết được một hôm, mây mù che kín bầu trời. Những cơn mưa ngắn xối xả đổ ập xuống thành phố; tiếp theo sau là cơn nóng bức báo hiệu giông bão. Biển cũng mất đi cái mầu xanh biếc, và dưới bầu trời âm u, nó lóe lên những ánh bạc hoặc thép sáng chói. Cái nóng bức ẩm ướt của mùa xuân khiến người ta mong ước mặt trời mùa hạ. Một không khí buồn đến tê tái bao phủ Oran, cái thành phố xây theo hình trôn ốc trên cao nguyên và chỉ hơi ngoảnh ra biển. Giữa những bức tường dài lở lói, trên những đường phố với những tủ kính bày hàng bụi bặm, trên những toa tàu điện một mầu vàng cáu bẩn, người ta cảm thấy ít nhiều bị bầu trời cầm tù. Riêng chỉ có ông lão bệnh nhân của Rieux là chiến thắng được cơn suyễn để thích thú với cái thời tiết này.
- Trời như thiêu ấy, - Lão nói - thế là tốt cho cuống phổi lắm.
Quả là trời như thiêu, nhưng không hơn không kém một cơn sốt. Cả thành phố lên cơn sốt, chí ít đó cũng là cái ấn tượng nó đeo đuổi bác sĩ Rieux, vào cái buổi sáng ông đến phố Faidherbe dự cuộc điều tra về ý đồ tự tử của Cottard. Nhưng ông cảm thấy ấn tượng ấy là phi lý. Ông cho nguyên nhân là trạng thái bực bõ, và công việc bận rộn túi bụi của mình và ông thấy phải cấp thiết chỉnh đốn lại chút ít những ý tưởng trong đầu.
Khi ông đến thì cảnh sát trưởng chưa có mặt. Grand chờ ông trên thang gác và hai người quyết định vào nhà anh ta trước và cứ để cửa mở. Người nhân viên tòa thị chính này ở hai buồng, đồ đạc sơ sài. Chỉ thấy có một giá sách bằng gỗ thông với hai ba cuốn từ điển, và một cái bảng đen trên đó còn mấy từ “lối đi đầy hoa” lau xóa dở dang. Theo Grand, Cottard đã ngủ một đêm ngon. Nhưng sáng dậy, kêu đau đầu và không có được một phản ứng nào hết. Grand có vẻ mệt mỏi và bồn chồn đi lui đi tới, mở ra, gập lại một tập hồ sơ dày đầy những trang bản thảo đặt trên mặt bàn.
Tuy nhiên anh cũng kể với bác sĩ là anh không biết rõ Cottard nhưng anh nghĩ là hắn có ít nhiều của cải. Cottard là một con người kỳ cục. Trong một thời gian dài, quan hệ giữa họ chỉ là mấy câu chào hỏi nhau trên cầu thang.
- Tôi chỉ nói chuyện với hắn có hai lần. Cách đây vài hôm, khi mang một hộp phấn về nhà, tôi làm đổ trên cầu thang. Cả những viên phấn đỏ lẫn phấn xanh. Lúc đó, Cottard bước ra cầu thang và giúp tôi nhặt phấn. Hắn hỏi tôi những viên phấn màu sắc khác nhau ấy dùng để làm gì.
Grand giải thích với hắn là anh thử học lại tiếng latinh. Tri thức của anh đã mờ nhạt hết từ sau khi rời nhà trường trung học.
- Vâng, - Anh nói với bác sĩ - người ta bảo tôi học tiếng latinh có lợi cho việc hiểu rõ hơn nghĩa của từ trong tiếng Pháp.
Anh viết các từ latinh lên bảng. Bộ phận nào của từ biến đổi theo biến cách và biến ngôi, thì anh chép bằng phấn xanh; còn bộ phận nào không bao giờ biến đổi, thì bằng phấn đỏ.
- Tôi không rõ Cottard có thật hiểu không, nhưng hắn tỏ ra chú ý và hỏi xin tôi một viên phấn đỏ. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng dẫu sao... Dĩ nhiên tôi không thể đoán được là cái đó có thể phục vụ cho dự định của hắn.
Rieux hỏi trong buổi gặp nhau lần thứ hai, hai người nói chuyện gì. Nhưng cảnh sát trưởng, có thư ký đi theo, đã tới. Trước hết, ông ta muốn nghe lời khai của Grand. Bác sĩ Rieux nhận thấy khi nói về Cottard, bao giờ Grand cũng gọi hắn là “anh chàng tuyệt vọng”. Có lúc, anh ta còn dùng ngữ đoạn “quyết định bất hạnh”. Họ thảo luận về lý do tự sát và Grand tỏ ra rất tỉ mẩn trong việc chọn từ. Cuối cùng họ thỏa thuận dùng mấy từ “nỗi buồn thầm kín”. Cảnh sát trưởng hỏi trong thái độ của Cottard có gì cho thấy cái mà hắn gọi là “quyết định” của hắn không.
- Hôm qua, hắn gõ cửa xin tôi diêm. - Grand đáp - Tôi đưa hắn bao diêm. Hắn xin lỗi và nói hàng xóm với nhau... Rồi cặn kẽ bảo tôi là hắn sẽ trả lại. Tôi bảo hắn cứ giữ lấy.
Cảnh sát trưởng hỏi Grand có thấy Cottard là người kỳ cục không.
- Điều tôi thấy kỳ cục là hắn có vẻ muốn bắt chuyện. Nhưng tôi, tôi đang bận việc.
Grand quay về phía bác sĩ và, vẻ lúng túng, nói thêm :
- Một công việc riêng.
Cảnh sát trưởng muốn gặp người bệnh. Nhưng Rieux cho là nên chuẩn bị tinh thần cho hắn đối với buổi tiếp xúc. Khi ông bước vào phòng hắn, thì hắn mặc bộ flanen màu xám, ngồi nhổm dậy trên giường và quay ra phía cửa, bộ mặt lo âu.
- Cảnh sát hả?
- Đúng. - Rieux đáp - Và ông đừng băn khoăn. Một vài thủ tục và người ta để ông yên thôi.
Nhưng Cottard đáp là cái đó chẳng để làm gì hết và hắn không ưa cảnh sát. Rieux tỏ vẻ sốt ruột.
- Tôi cũng chẳng ưa. Vấn đề là trả lời nhanh và đúng đắn những câu hỏi của họ, để không bao giờ phải lặp lại nữa.
Cottard lặng im và bác sĩ quay ra cửa. Nhưng anh chàng bé nhỏ gọi ông trở lại và nắm lấy tay ông khi ông đến bên giường :
- Không ai được đụng đến một người bệnh, một người vừa mới treo cổ, có phải thế không, bác sĩ?
Rieux nhìn hắn một lúc và cuối cùng bảo đảm với hắn là không hề có vấn đề như vậy, vả lại, ông có mặt ở đây là để bảo vệ người bệnh. Hắn có vẻ bớt lo lắng và Rieux đưa cảnh sát trưởng vào.
Người ta đọc cho Cottard nghe lời khai của Grand và hỏi hắn có thể nói rõ nguyên nhân việc hắn tự sát không. Không nhìn cảnh sát trưởng, hắn chỉ trả lời “nỗi buồn thầm kín thế là rất đúng”. Cảnh sát trưởng vội hỏi hắn có ý định làm lại nữa không. Cottard hăng lên trả lời “không” và bảo hắn chỉ muốn người ta để hắn yên.
- Tôi lưu ý ông, - Cảnh sát trưởng đáp, giọng bực bội - là hiện nay, chính ông là người không để người khác yên.
Nhưng Rieux ra hiệu và cảnh sát trưởng không nói gì thêm.
- Ông nghĩ xem, - Cảnh sát trưởng thở dài và nói khi đi ra - từ khi người ta bàn tán về cái bệnh sốt ấy, chúng ta còn những công việc khác quan trọng hơn phải lo...
Ông ta hỏi bác sĩ tình hình có nghiêm trọng không và Rieux trả lời là ông không hay biết gì hết
- Vì thời tiết đấy, chỉ có thế thôi. - Viên cẩm kết luận.
Dĩ nhiên, vì thời tiết thôi. Càng về trưa, mọi cái sờ vào càng thấy nhớp nháp và Rieux cảm thấy mỗi lần đi thăm người bệnh là một lần nỗi lo ngại của mình tăng thêm. Cũng tối hôm đó, ở ngoại thành, gần nhà ông lão bị hen suyễn, một người bỗng thấy đau nhói ở bẹn và nôn ọe trong cơn mê sảng. Những cục hạch nổi lên, lớn hơn nhiều hạch của ông lão gác cổng. Một cái bắt đầu làm mủ, và sau đó, vỡ ra như một trái cây thối rữa. Về tới nhà, Rieux gọi điện cho kho thuốc của tỉnh, sổ tay nghiệp vụ của ông vào thời điểm ấy chỉ ghi: “Trả lời không có thuốc”. Vả lại, những nơi khác cũng đã mời ông vì những ca tương tự. Hiển nhiên là phải mổ apxe. Hai nhát dao mổ chéo nhau, thế là máu mủ từ hạch tuôn ra. Người bệnh mất máu quằn quại, ở bụng và chân xuất hiện những nốt lấm chấm, một cái hạch thôi không chảy mủ nữa, rồi sưng trở lại. Thường thì người bệnh chết, mùi hôi thối xông lên nồng nặc.
Báo chí, mấy lúc xôn xao bàn tán về chuyện chuột, thế mà nay lại im hơi lặng tiếng. Như vậy là vì chuột thì chết ngoài đường phố còn người ta thì chết trong nhà. Và báo chí chỉ lo việc ngoài đường phố. Nhưng quận và thị chính bắt đầu lo lắng. Chừng nào mỗi thầy thuốc chỉ mới biết có hai ba ca thì chưa một ai nhúc nhích. Nhưng cuối cùng chỉ cần một ai đó nghĩ tới làm một phép cộng. Con số thu được thật hãi hùng. Chỉ mới vài ngày mà đã không biết bao ca tử vong và những ai quan tâm đến cái tai họa kỳ quái này đều thấy hiển nhiên đây là một bệnh dịch thực sự. Chính đó là lúc Castel, một đồng nghiệp lớn tuổi hơn Rieux nhiều, đến thăm ông.
- Này Rieux, - Castel nói - dĩ nhiên ông biết đây là cái gì rồi chứ?
- Tôi còn chờ kết quả phân tích.
- Tôi, thì tôi biết. Và tôi không cần phân tích. Tôi đã hành nghề một thời gian ở Trung Quốc, và tôi đã gặp mấy ca ở Paris, cách đây vài chục năm. Chỉ có điều là hiện nay, người ta chưa dám đặt tên cho chúng. Dư luận công chúng là thiêng liêng: đừng hốt hoảng, nhất là đừng hốt hoảng. Và như một bạn đồng nghiệp đã nói: “Không thể được, ai cũng biết là nó đã biến khỏi phương Tây”. Đúng, ai cũng biết điều đó, trừ người chết. Này ông Rieux, ông cũng biết như tôi đó là cái gì rồi.
Rieux trầm tư. Từ ô cửa sổ phòng làm việc, ông nhìn vách đá dốc khép lại ở vùng biển xa xa. Bầu trời tuy màu xanh nhưng lại tỏa ra một thứ ánh sáng mờ nhạt và càng về chiều càng thêm mờ nhạt.
- Đúng, ông Castel ạ. - Rieux nói - Khó có thể tin được. Nhưng chắc là dịch hạch thôi.
Castel đứng dậy, đi ra cửa, nói thêm :
- Ông biết người ta sẽ trả lời chúng ta thế nào chứ? “Nó đã biến khỏi các nước ôn đới từ nhiều năm nay rồi”.
- Biến khỏi, thế nghĩa là thế nào? - Rieux nhún vai đáp.
- Đúng. Và ông đừng quên là: ở cả Paris nữa, chỉ mới cách đây chưa tới hai chục năm.
- Được. Chúng ta hy vọng bây giờ không đến nỗi nghiêm trọng hơn lúc đó. Nhưng quả thật không sao có thể tin được.
Cái từ “dịch hạch” lần đầu tiên được người ta gọi tên. Đến lúc này, trong khi Bernard Rieux đang trầm ngâm sau ô cửa sổ, xin bạn đọc cho phép người kể chuyện biện hộ cho thái độ nghi hoặc và kinh ngạc của ông, vì tuy với những sắc thái khác nhau, sự phản ứng của ông cũng là sự phản ứng của số đông đồng bào chúng tôi. Quả vậy tai họa là điều thường xảy tới, nhưng người ta khó tin là tai họa khi nó đổ ập xuống đầu mình. Trên thế giới, dịch hạch cũng nhiều như chiến tranh. Thế nhưng đứng trước dịch hạch và chiến tranh, người ta vẫn luôn luôn bất ngờ. Bác sĩ Rieux cũng bất ngờ như đồng bào của chúng tôi, và vì vậy chúng tôi hiểu vì sao ông phân vân giữa lo âu và tin tưởng. Khi chiến tranh nổ ra, người ta bảo nhau: “Không lâu đâu, vì thật là quá ngu dại!” Và dĩ nhiên chiến tranh là quá ngu dại, nhưng không phải vì vậy mà chiến tranh không kéo dài. Sự ngu dại vẫn dai dẳng, người ta sẽ thấy điều đó nếu như người ta không luôn luôn nghĩ tới bản thân mình, về phương diện này, đồng bào chúng tôi cũng như thiên hạ, họ nghĩ đến bản thân họ, nói cách khác, họ là những người nhân văn chủ nghĩa: họ không tin là có tai họa. Tai họa không hợp với con người, bởi vậy người ta đinh ninh tai họa là không có thật, mà chỉ là một giấc mơ xấu và sẽ qua đi. Nhưng không phải bao giờ nó cũng qua đi, và từ giấc mơ xấu này đến giấc mơ xấu khác, chính là con người “qua đi”, và trước hết là những người nhân văn chủ nghĩa, vì họ không đề phòng. Đồng bào chúng tôi không có tội hơn những người khác, chỉ có điều là họ không còn khiêm tốn nữa, họ nghĩ rằng cái gì họ cũng có thể làm được, và như vậy là giả định rằng tai họa không thể xảy ra. Họ tiếp tục làm apphe, chuẩn bị những cuộc du lịch và có ý kiến này nọ. Như thế thì làm sao họ có thể nghĩ tới dịch hạch khi nó làm tiêu tan tương lai, ngăn trở những cuộc hành trình và những buổi tranh luận. Họ cứ tưởng mình được tự do, nhưng chừng nào còn tai họa thì không một ai có tự do.
Ngay khi thừa nhận với bạn là một nhúm người bệnh phân tán vừa mới chết vì dịch hạch mà không hề biết trước, bác sĩ Rieux vẫn cho là hiểm họa không có thực. Nhưng là thầy thuốc, người ta có khái niệm về sự đau đớn và có nhiều trí tưởng tượng hơn một chút. Nhìn qua ô cửa sổ, thành phố quê hương không thay đổi, ông cũng chỉ mới thấy phảng phất một chút đau lòng trước tương lai, cái nỗi đau lòng mà người ta thường gọi là lo âu. Ông cố tập hợp lại trong óc tất cả những gì ông biết về chứng bệnh này. Những con số bồng bềnh trong trí nhớ, ông nhớ lại là ba chục nạn dịch hạch nghiêm trọng xảy ra trong quá trình lịch sử đã giết chết một trăm triệu người. Nhưng một trăm triệu người là cái gì? Khi gây ra chiến tranh, hầu như người ta chưa rõ thế nào là một người chết. Và vì một người chết chỉ có “trọng lượng” khi người ta chứng kiến anh ta chết, nên một trăm triệu xác chết rải rác trong quá trình lịch sử chỉ là một đám khói trong trí tưởng tượng. Rieux nhớ lại vụ dịch hạch ở Constantinople. Theo Procope [4], nó đã giết hại trong một ngày mười nghìn người. Mười nghìn người tức là năm lần số khán giả của một rạp chiếu bóng lớn. Phải chăng nên tính toán theo kiểu đó? Thử tập trung khán giả lại khi họ bước ra khỏi năm rạp chiếu bóng lớn, dẫn họ tới một quảng trường của thành phố và giết chết họ từng đống để thấy rõ hơn một chút. Ít nhất lúc đó cũng có thể nhận ra những khuôn mặt quen thuộc trong cái đống người vô danh ấy. Nhưng dĩ nhiên không thể làm như thế, hơn nữa ai nhận biết được mười nghìn khuôn mặt? Vả lại, những người như Procope không biết tính đếm, ai cũng rõ điều đó. Trước đây bảy mươi năm, ở Quảng Châu, bốn nghìn con chuột bị chết vì dịch hạch trước khi tai họa đụng tới con người. Nhưng năm 1871, người ta chưa có cách tính đếm số chuột. Người ta chỉ ước lượng, trên đại thể, và nhất định có nhầm lẫn. Thế nhưng nếu một con chuột dài tới ba mươi centimét thì bốn nghìn con chuột xếp nối đuôi nhau sẽ thành...
Nhưng bác sĩ Rieux sốt ruột. Ông đâm nản lòng và cũng chẳng nên tính toán như thế làm gì. Một vài trường hợp riêng lẻ đâu tạo thành dịch tễ và chỉ cần đề phòng là đủ. Chỉ nên dừng lại ở những điều mình biết mà thôi: tình trạng sững sờ và liệt nhược, mắt đỏ, miệng thối, đầu đau với những cái hạch xoài, những cơn khát khủng khiếp, những cơn mê sảng, những nốt lấm chấm trên người, nỗi đau đớn trong nội tạng, và sau tất cả những cái đó... Sau tất cả những cái đó, một câu nói trở lại trong óc bác sĩ Rieux, một câu nói kết thúc, trong cuốn sách giáo khoa của ông, bảng liệt kê các triệu chứng: “Mạch lăn tăn và chỉ cần một động tác cỏn con là người bệnh chết”. Đúng, sau tất cả những cái đó, người bệnh như nghìn cân treo sợi tóc và ba phần tư số bệnh nhân - đây là con số chính xác - không kiên nhẫn được đành làm cái động tác hết sức nhỏ nhoi chết người ấy.
Bác sĩ Rieux vẫn nhìn qua cửa sổ. Bên kia tấm kính, là bầu trời mùa xuân mát mẻ, nhưng bên này, trong phòng vẫn vang lên cái từ: dịch hạch. Cái từ ấy không chỉ chứa đựng những điều khoa học muốn đưa vào trong đó, mà còn cả một dãy dài những hình ảnh kỳ lạ không hòa hợp với cái thành phố này, một thành phố vừa màu vàng, vừa màu xám, lúc này nhộn nhịp một cách vừa phải, rì rào hơn là ồn ã, tóm lại là sung sướng, nếu như người ta có thể vừa sung sướng vừa buồn bã. Và một bầu không khí yên tĩnh, thanh bình đến thế và cũng thờ ơ đến thế hầu như chẳng khó khăn gì mà không phủ nhận những hình ảnh tai họa thuở xưa: thành Athènes bị dịch hạch và vắng bóng chim muông, những thành phố Trung Hoa đầy rẫy những người hấp hối im lặng, những người tù khổ sai ở Marseille chất đống những xác chết đang rỉ nước xuống hố, bức tường lớn xây ở Provence [5] để ngăn cản ngọn gió dịch hạch hung hãn, Jaffa [6] với đám hành khất gớm guốc, những chiếc giường ẩm ướt và mục ruỗng thấp lè tè sát nền đất nện trong bệnh viện Constantinople [7] những người bệnh bị lôi đi bằng những chiếc móc, đoàn thầy thuốc, đeo mặt nạ trong thời kỳ nạn Dịch hạch đến, những cuộc giao hợp của người sống trong khu nghĩa địa Milan [8], những cỗ xe bò chở xác chết trong thành phố Luân Đôn kinh hoàng, và những ngày, những đêm vang động, ở mọi nơi, mọi lúc, tiếng kêu vô tận của những con người. Không, tất thảy những cái đó vẫn chưa đủ sức tiêu diệt cái cảnh thanh bình của ngày hôm ấy. Phía bên kia cửa kính, tiếng chuông một đoàn tàu điện không nhìn thấy đâu bỗng vang lên trong giây lát bác bỏ tàn bạo và đau thương. Chỉ có mặt biển, ở cuối những khu nhà bố trí như bàn cờ, là chứng tỏ tình hình đáng lo ngại và không bao giờ yên ổn trên thế gian này. Và nhìn ra vịnh, bác sĩ Rieux nghĩ tới những cái dàn thiêu mà Lucrèce [9] nói tới và do người Athènes - bị bệnh tật hành hạ - dựng lên trên bãi biển. Ban đêm người ta mang người chết tới, nhưng thiếu chỗ nên người sống dùng những bó đuốc đánh nhau để đặt vào dàn thiêu xác những người thân của mình, gây ra những cuộc huyết chiến, chứ không chịu bỏ rơi cái xác chết của họ. Chúng ta có thể hình dung những cái dàn thiêu đỏ rực trước mặt nước sẫm màu và yên tĩnh, những trận kịch chiến bằng đuốc trong đêm tối với tiếng lốp bốp của những tia lửa và những làn hơi dày đặc bị đầu độc bốc thẳng lên tận bầu trời đăm chiêu. Người ta đâm hoảng sợ...
Nhưng cái choáng ngợp ấy không đứng vững trước lý trí. Quả là cái từ “dịch hạch” đã được thốt lên, quả là chính vào giây phút này, tai họa quật ngã một hai nạn nhân. Nhưng chẳng sao, tai họa có thể phải chấm dứt. Điều cần làm là thừa nhận rõ ràng cái cần phải được thừa nhận, cuối cùng xua đuổi những bóng ma vô dụng và thi hành những biện pháp thích hợp. Sau nữa, dịch hạch sẽ chấm dứt vì nó đâu phải là sản phẩm của trí tưởng tượng hay của một sự bày đặt lệch lạc. Nếu nó chấm dứt - và rất có thể như thế - thì tất cả sẽ tốt lành. Nếu không thì người ta sẽ rõ nó là cái gì và sẽ biết có thể lúc đầu thu xếp với nó để về sau đánh bại nó hay không.
Bác sĩ Rieux mở cửa sổ. Đột nhiên vang động tiếng ồn ã trong thành phố. Từ một xưởng thợ bên cạnh nổi lên tiếng rít xoèn xoẹt của một chiếc cưa máy, Rieux quyết hành động. Niềm tin là ở hành động, ở trong công việc hàng ngày. Phần còn lại tùy thuộc vào những đường dây và những động tác vô nghĩa. Không thể dừng bước ở đấy. Cái chủ yếu, là làm tốt nghề nghiệp của mình.
Bác sĩ Rieux đang trong vòng suy tưởng ấy thì được báo là Joseph Grand tới. Là nhân viên ở tòa thị chính, và tuy công việc hết sức đa dạng, anh được sử dụng theo định kỳ ở cơ quan thống kê và hộ tịch. Do vậy anh phải làm những con số cộng về tử vong. Và vốn bản tính ân cần, anh nhận đích thân mang một bản sao kết quả ghi chép đến cho Rieux.
Rieux thấy Grand cùng bước vào với người hàng xóm của anh là Cottard. Grand huơ lên một tờ giấy :
- Thưa bác sĩ, con số đã tăng lên: mười một người chết trong bốn mươi tám tiếng.
Rieux chào Cottard và hỏi hắn thấy trong người thế nào. Grand trình bày là Cottard muốn cảm ơn bác sĩ và xin lỗi đã làm phiền ông. Nhưng Rieux nhìn tờ thống kê :
- Nào, - Ông bảo - có lẽ chúng ta phải bắt đầu gọi cái bệnh này bằng tên gọi của nó đi thôi. Đến nay, chúng ta đã giẫm chân tại chỗ mãi rồi. Nhưng mời ông cùng đi với tôi, tôi phải đến phòng thí nghiệm.
- Vâng, vâng - Grand vừa đáp vừa bước xuống cầu thang theo sau bác sĩ - Phải gọi các sự vật bằng tên gọi của chúng thôi. Nhưng tên gọi đó là gì?
- Tôi không thể nói với ông, vả lại, cái đó chẳng ích lợi gì đối với ông cả.
- Ông thấy đấy - Người nhân viên thị chính mỉm cười đáp - Việc đó không dễ dàng như thế đâu.
Họ đi về phía quảng trường Duyệt binh. Cottard vẫn im lặng. Đường phố bắt đầu đông người. Chút hoàng hôn thoáng qua ở đất nước chúng tôi đã nhường chỗ cho bóng đêm, và những vì sao đầu tiên đã mọc đằng chân trời còn rõ nét. Mấy giây đồng hồ sau, các ngọn đèn đường được thắp sáng làm bầu trời tối om lại và tiếng trò chuyện như vút cao thêm một cung bậc.
- Xin lỗi bác sĩ - Grand nói khi tới chỗ rẽ quảng trường Duyệt binh - Nhưng tôi phải đáp tàu điện. Các buổi tối của tôi là thiêng liêng. Như người ta thường nói ở xứ sở chúng tôi: “Không bao giờ nên để sang ngày mai...”
Rieux biết Grand - sinh trưởng ở Montélimar [10] - có thói quen dùng những thành ngữ của xứ sở mình và đưa thêm vào những công thức vô vị không ở đâu dùng cả như “một thời kỳ mơ mộng” hay “một ánh sáng thần tiên”.
- A! - Cottard thốt lên - Đúng thế. Không bao giờ lôi được anh ta ra khỏi nhà sau bữa ăn tối.
Rieux hỏi Grand có phải anh làm việc cho tòa thị chính không. Grand đáp là không: anh làm việc cho chính mình.
- A! - Rieux nói để cho có nói - Công việc có tiến triển không?
- Tất nhiên là có, từ bao ngày tháng tôi đã bỏ công sức vào đó. Mặc dù, ở một mặt khác, chẳng tiến bộ được bao nhiêu.
- Nhưng, tóm lại, là vấn đề gì vậy? - Bác sĩ dừng bước và hỏi.
Grand lúng búng trong miệng trong lúc sửa lại chiếc mũ tròn trên đôi tai to tướng. Và Rieux hiểu hết sức mơ hồ là có một cái gì đó thuộc phạm vi phát triển một nhân cách. Nhưng anh chàng nhân viên đã từ giã họ và đi ngược đại lộ sông Marnơ, dưới rặng cây vả, dáng đi vội vàng. Đến trước cửa phòng thí nghiệm, Cottard nói với bác sĩ là muốn gặp ông để nhờ ông khuyên giải. Tay mân mê tờ giấy thống kê trong túi, Rieux bảo hắn đến phòng khám, nhưng lại thay đổi ý kiến, nói với hắn ngày mai ông sẽ đến khu phố hắn và vào cuối buổi chiều sẽ đến thăm hắn.
Chia tay Cottard, bác sĩ thấy mình nghĩ tới Grand. Ông hình dung anh ta giữa một nạn dịch hạch, không phải nạn dịch hạch hiện nay - chắc hẳn không nghiêm trọng - mà là giữa một trong những nạn dịch hạch nghiêm trọng nhất của lịch sử. “Đây là loại người được miễn trừ trong những trường hợp ấy”. Ông nhớ có đọc ở đâu đó là dịch hạch không đụng tới những thể chất yếu đuối và chủ yếu hủy hoại những cơ thể cường tráng. Và tiếp tục suy nghĩ về Grand, ông thấy anh chàng nhân viên này có chút ít dáng dấp bí ẩn.
Thật vậy, thoạt nhìn, Joseph Grand chỉ có dáng dấp một tiểu viên chức thị chính. Người cao và gầy, anh như “bơi” giữa đám quần áo mà bao giờ anh cũng chọn thật rộng, với cái ảo tưởng như thế thì dùng được bền hơn. Răng hàm dưới hầu như con nguyên, nhưng răng hàm trên thì mất hết. Bởi vậy khi cười - nụ cười chủ yếu nâng môi trên lên - miệng anh trở thành như một cái lỗ hang tối om. Nếu thêm vào bức chân dung ấy dáng dấp của một anh chàng học sinh chủng viện, cái lối đi nép sát vào tường và lọt thỏm vào cửa, cái mùi vị hầm nhà và ám khói, tất cả cái điệu bộ vô thưởng vô phạt, thì người ta phải thừa nhận là chỉ có thể hình dung anh ta ngồi trước bàn giấy, chăm chú soát lại giá tiền những buổi tắm công cộng trong thành phố hoặc tập hợp lại cho một người biên soạn trẻ tuổi những yếu tố của một bản báo cáo về khoản lệ phí thu dọn rác bẩn trong nhà. Một người dù không có thiên kiến cũng sẽ nghĩ anh ta hình như sinh ra để làm nhiệm vụ âm thầm nhưng cần thiết của người phụ việc ở tòa thị chính, công ngày bảy mươi hai frăng ba mươi xu.
Grand kể lại là anh đã ghi như thế trên các tờ chấm công, sau cái từ “đánh giá”. Hai mươi hai năm về trước, sau khi đỗ xong bằng cử nhân và vì không có tiền để học tiếp, anh phải nhận làm công việc này, và người ta hứa sẽ nhanh chóng đưa anh vào “chính ngạch”. Anh chỉ cần trong một thời gian, tỏ rõ năng lực trong những vấn đề khó khăn đặt ra trong công việc quản lý thành phố chúng tôi. Về sau, anh không thể không với tới - người ta bảo đảm với anh như vậy - cái chân biên soạn khiến anh có thể sống thoải mái. Dĩ nhiên, không phải vì tham vọng mà Joseph Grand đã hành động - anh cam đoan điều đó với một nụ cười rầu rĩ - Nhưng anh rất thú vị viễn cảnh một cuộc sống vật chất được bảo đảm bằng những phương kế lương thiện, nó có thể giúp anh làm những công việc mình ưa thích mà không bị lương tâm cắn rứt. Sở dĩ anh nhận điều người ta đề nghị, là vì những lý do thích đáng, và có thể nói là vì lòng trung thành với một lý tưởng.
Tình trạng tạm thời này đã kéo dài biết bao năm tháng, giá cả đã tăng lên không biết bao nhiêu, nhưng tiền công của Grand vẫn ít ỏi mặc dù một vài lần tăng lương nói chung. Anh có lần phàn nàn với Rieux, nhưng không một ai lưu ý. Đây chính là nét độc đáo, hay chí ít cũng là dấu hiệu nét độc đáo của Grand. Thật vậy, nếu không đòi những cái quyền không lấy gì làm chắc chắn lắm, thì ít nhất anh cũng có thể viện những lời cam đoan người ta đã nói với anh. Nhưng trước hết, viên chủ sự tuyển dụng anh đã chết từ lâu, vả lại, anh cũng không nhớ chính xác những lời người ta hứa hẹn. Cuối cùng, và nhất, Grand không tìm được từ để diễn đạt.
Đấy là đặc điểm nổi bật nhất trong chân dung anh chàng đồng bang chúng tôi, như Rieux đã từng nhận thấy. Thật vậy, chính cái đặc điểm ấy đã ngăn cản mãi, không cho anh viết bức thư khiếu nại mà anh từng suy ngẫm, hoặc chạy vạy khi cần thiết. Theo lời anh, thì đặc biệt anh thấy mình không được phép dùng cái từ “quyền” mà anh không tin chắc, cũng như cái từ “lời hứa”, từ này bao hàm là anh đòi nợ và vì vậy có tính chất táo bạo, ít thích hợp với công việc hèn mọn anh được giao. Mặt khác, anh không chịu dùng những từ “hảo tâm”, “khẩn nguyện”, “tri âm”, mà anh cho là không phù hợp với nhân cách của mình. Cứ như thế, vì không tìm được cái từ chính xác, anh chàng đồng bang chúng tôi tiếp tục làm cái chức trách vô danh tiểu tốt của mình cho đến lúc tuổi đã khá lớn. Vả lại - và vẫn theo lời anh ta nói với bác sĩ Rieux, - dẫu sao, do thói quen, anh thấy đời sống vật chất của mình vẫn được bảo đảm, vì xét cho cùng, chỉ cần khả năng của mình có được tới đâu thì mình giới hạn nhu cầu của mình tới đó. Vì vậy anh thừa nhận sự đúng đắn của một trong những từ ưa dùng của ông thị trưởng, một nhà công nghiệp lớn trong thành phố chúng tôi. Ông ta cương quyết khẳng định rằng cuối cùng (và ông ta nhấn mạnh cái từ mang toàn bộ sức nặng của lập luận này), chưa bao giờ người ta thấy một ai chết đói cả. Thật vậy, dẫu sao, cuối cùng, cuộc sống hầu như khổ hạnh của Joseph Grand cũng giải thoát anh khỏi mọi lo toan thuộc phạm vi ấy. Anh tiếp tục tìm kiếm các từ cho mình.
Ở một mặt nào đó, có thể khẳng định cuộc sống của anh là gương mẫu. Anh thuộc lớp người - hiếm thấy trong thành phố chúng tôi cũng như ở chỗ khác - luôn luôn dám bày tỏ những tình cảm tốt đẹp của mình. Thật vậy, chút ít những điều anh tâm sự về mình chứng tỏ tấm lòng nhân hậu và những tình cảm yêu thương mà ngày nay không ai dám tỏ bày. Anh không hề hổ thẹn khi thú nhận anh yêu thương mấy đứa cháu họ và người chị gái, người thân duy nhất còn lại và cứ hai năm một lần anh về thăm trên đất Pháp. Anh thừa nhận kỷ niệm về bố mẹ anh, mất khi anh còn ấu thơ, làm anh phiền muộn. Anh không chối cãi việc anh cho là anh yêu mến hơn hết một cái chuông trong khu phố mình, cái chuông cứ khoảng năm giờ chiều là lảnh lót ngân vang. Nhưng để gợi lại những cảm xúc hết sức đơn sơ như vậy, anh phải vất vả, không biết bao nhiêu khi đi tìm một từ. Cuối cùng, nỗi vất vả ấy là mối quan tâm lớn nhất của anh. “A! Thưa bác sĩ, anh nói, tôi thiết tha muốn tập cách diễn đạt biết chừng nào”. Mỗi lần gặp Rieux là một lần anh lại nói điều đó.
Tối hôm ấy, nhìn anh bước đi, bác sĩ Rieux bỗng hiểu Grand muốn nói gì: chắc hẳn anh chàng viết một cuốn sách hay một cái gì tương tự. Điều đó làm Rieux yên tâm trên suốt đoạn đường đi tới phòng thí nghiệm. Ông hiểu cái ấn tượng ấy là ngốc nghếch nhưng không sao có thể tin là dịch hạch có thể xảy ra thực sự ở một thành phố có những viên chức khiêm tốn theo đuổi những thói quen tốt đẹp. Quả là ông không hình dung những thói quen ấy tồn tại giữa lúc dịch bệnh, và vì vậy, phán đoán rằng trên thực tiễn, dịch hạch không thể xảy ra đối với đồng bào chúng tôi.
Ngày hôm sau, do Rieux khẩn thiết yêu cầu - một yêu cầu bị coi là không thỏa đáng, - một hội đồng y tế được triệu tập ở tỉnh.
- Quả là dân chúng có lo lắng - Richard thừa nhận - Và trong những lúc chuyện phiếm, người ta cường điệu đủ mọi thứ. Ông thị trưởng bảo tôi: “Nếu các ngài muốn thì làm nhanh lên, nhưng trong im lặng”. Vả lại, rõ ràng đây là một trường hợp báo động sai lầm.
Bernard Rieux lái xe đưa Castel cùng đi lên thành phố.
- Ông có biết là tỉnh ta không có huyết thanh không? - Castel hỏi.
- Tôi biết - Rieux đáp - Tôi đã gọi điện cho kho thuốc. Tay giám đốc như từ trên mây rơi xuống. Cần phải đưa huyết thanh từ Paris về.
- Tôi hy vọng sẽ có sớm.
- Tôi đã đánh điện. - Rieux đáp.
Ông thị trưởng tỏ ra lịch sự nhưng có vẻ nôn nóng.
- Mời các ngài, chúng ta bắt đầu - Ông ta tuyên bố - Tôi có phải tóm tắt lại tình hình không?
Richard cho là không cần thiết. Các thầy thuốc đều đã nắm được tình hình. Chỉ cần đặt vấn đề phải thi hành những biện pháp gì.
- Vấn đề là tìm hiểu có phải là dịch hạch hay không. - Ông già Castel gay gắt nói.
Hai ba thầy thuốc kêu lên. Những người khác hình như ngập ngừng. Còn ngài thị trưởng thì giật nẩy người lên và bất giác quay mặt ra cửa, như để kiểm tra xem cửa có ngăn cản được cái tin gớm ghiếc này lan ra ngoài hành lang không. Richard tuyên bố là không nên hốt hoảng; đây chỉ là bệnh sốt với những biến chứng về bẹn. Chỉ có thể nói thế thôi, vì lẽ trong khoa học cũng như trong đời sống, giả thuyết bao giờ cũng nguy hiểm. Ông già Castel điềm tĩnh nhay nhay bộ ria mép vàng hoe, ngước cặp mắt trong trẻo lên nhìn Rieux. Rồi, với thái độ khoan dung, quay về phía cử tọa và tuyên bố ông biết rất rõ đây là dịch hạch, nhưng dĩ nhiên nếu chính thức thừa nhận điều đó thì bắt buộc phải thi hành những biện pháp tàn nhẫn. Ông biết là xét cho cùng, chính điều đó làm cho đồng nghiệp của ông lùi bước, và do vậy, để cho họ yên tâm, ông sẵn sàng thừa nhận đây không phải là dịch hạch. Ông tỉnh trưởng lo lắng và tuyên bố dẫu sao đó cũng không phải là một cách lập luận thỏa đáng.
- Điều quan trọng, - Castel đáp - không phải ở chỗ lập luận có thỏa đáng hay không, mà là ở chỗ nó có khiến chúng ta suy nghĩ hay không.
- Đây là bệnh sốt mang tính chất thương hàn nhưng kèm theo hạch xoài và nôn mửa. Tôi đã rạch hạch, cho tiến hành phân tích và phòng thí nghiệm cho rằng đã nhận ra trực khuẩn dịch hạch hình mập. Nhưng muốn đầy đủ thì phải nói rằng một vài sự biến đổi đặc trưng của vi khuẩn này không ăn khớp với sự miêu tả kinh điển.
Richard nhấn mạnh rằng điều đó cho phép người ta phân vân và ít nhất phải chờ kết quả thống kê của một loạt công trình phân tích bắt đầu đã mấy hôm nay.
- Khi một vi sinh vật, - Rieux nói - sau một thời gian ngắn nằm im, có thể chỉ trong ba ngày làm khối lượng lá lách tăng lên bốn lần làm cho các hạch màng ruột lớn lên bằng quả cam và đặc sánh lại như một món xúp, thì không còn có thể phân vân nữa. Các ổ nhiễm khuẩn ngày càng tăng lên. Theo tốc độ tiến triển hiện nay, nếu không ngăn chặn lại, thì không đầy hai tháng nữa, nó sẽ giết chết một nửa thành phố. Vì vậy, gọi nó là dịch hạch hay bệnh sốt rét vỡ da của lứa tuổi đang lớn, là không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là chúng ta ngăn chặn không cho nó tiêu diệt một nửa thành phố.
Richard cho là không nên quá bi quan, vả lại chưa có gì xác nhận khả năng truyền nhiễm vì thân nhân người bệnh vẫn vô sự.
- Nhưng những người khác đã chết - Rieux lưu ý cử tọa - Vả lại, truyền nhiễm dĩ nhiên không bao giờ tuyệt đối, vì nếu không thì chúng ta đã đứng trước một sự gia tăng toán học vô tận và tình trạng giảm sút dân số khủng khiếp. Vấn đề không phải là bi quan hay không mà là tiến hành những biện pháp đề phòng.
Tuy nhiên, Richard cho rằng muốn ngăn chặn căn bệnh này nếu như tự nó không chấm dứt, thì phải thi hành những biện pháp phòng bệnh nghiêm ngặt theo luật định. Muốn vậy, phải chính thức thừa nhận là dịch hạch nhưng chưa có gì có thể tin một cách tuyệt đối cả. Vì thế, cần phải tiếp tục suy nghĩ.
- Vấn đề, - Rieux nhấn mạnh - không phải là xét xem các biện pháp theo luật định có nghiêm ngặt hay không, mà xét xem chúng có cần thiết để ngăn chặn cho nửa thành phố khỏi bị chết hay không. Phần còn lại là công việc hành chính, và chính xác thể chế của chúng ta đặt ra một ngài thị trưởng để giải quyết những vấn đề đó.
- Dĩ nhiên, - Ông thị trưởng đáp - nhưng tôi cần các ngài chính thức thừa nhận đây là bệnh dịch hạch mang tính chất dịch tễ.
- Dù chúng tôi không thừa nhận đi nữa, - Rieux đáp - thì nó vẫn có nguy cơ giết chết một nửa thành phố.
Richard can thiệp vào, vẻ ít nhiều bực bội :
- Sự thực là ông bạn đồng nghiệp của chúng tôi tin là dịch hạch. Việc ông ta miêu tả hội chứng chứng minh điều đó.
Rieux đáp ông không miêu tả một hội chứng, mà miêu tả cái chính mắt ông nhìn thấy. Và cái ông nhìn thấy, là những cái hạch xoài, những vết trên cơ thể người bệnh, những cơn sốt mê sảng chỉ trong bốn mươi tám tiếng là gây tử vong. Ông Richard có thể nhận lấy trách nhiệm khẳng định rằng không cần những biện pháp phòng bệnh nghiêm ngặt, dịch hạch cũng có thể chấm dứt không?
Richard lưỡng lự và nhìn Rieux :
- Ông hãy thành thực nói cho biết suy nghĩ của ông, ông có tin chắc là dịch hạch không?
- Ông đặt không đúng vấn đề. Đây không phải là chuyện chữ nghĩa, mà là chuyện thời gian.
- Ông cho rằng dù không phải là dịch hạch chăng nữa, ông thị trưởng hỏi, thì những biện pháp phòng bệnh trong thời kỳ dịch hạch cũng vẫn phải thi hành phải không?
- Nếu nhất thiết tôi phải có ý kiến, thì quả đây là ý kiến của tôi.
Các thầy thuốc bàn bạc và cuối cùng Richard tuyên bố :
- Vậy chúng ta phải có trách nhiệm hành động như thể bệnh trạng hiện nay là dịch hạch.
Công thức đó được nhiệt liệt tán thành.
- Ý kiến ông cũng như vậy phải không, ông bạn đồng nghiệp thân mến? - Richard hỏi.
- Công thức đối với tôi không quan trọng. - Rieux đáp - Tôi chỉ xin nói là chúng ta không được hành động như thể một nửa thành phố không có nguy cơ bị chết, vì nếu vậy thì nó sẽ bị chết.
Giữa cái không khí bực bội chung, Rieux ra về. Một lát sau, trong vùng ngoại ô sực mùi chiên rán và mùi nước giải, một người đàn bà đang gào lên trong chết chóc, bẹn đẫm máu, quay mặt về phía ông.
Sau cuộc họp một hôm, bệnh sốt lại tiến triển. Báo chí cũng phải nói tới, nhưng một cách nhẹ nhàng, bóng gió. Dẫu sao, hai ngày sau, Rieux cũng nhìn thấy những bản cáo thị nhỏ trên giấy trắng mà tỉnh đã vội vàng cho dân ở những góc phố kín đáo nhất. Khó có thể từ những bản cáo thị này kết luận rằng nhà chức trách đã nhìn thẳng vào tình hình. Các biện pháp không thật nghiêm ngặt và hình như người ta chỉ muốn làm cho dư luận công chúng không hoảng sợ. Thật vậy, trong phần mở đầu, bản quyết định thông báo là ở Oran đã xuất hiện mấy ca sốt ác tính mà đến nay chưa thể nói được là có truyền nhiễm hay không. Mấy ca ấy chưa đủ những triệu chứng đặc trưng để gây lo lắng thực sự và chắc chắn là dân chúng biết giữ bình tĩnh. Tuy nhiên, và với tinh thần thận trọng mà mọi người đều có thể hiểu, ngài thị trưởng thi hành một vài biện pháp đề phòng. Nếu được hiểu và áp dụng đúng, thì những biện pháp ấy có khả năng chặn đứng mọi nguy cơ dịch tễ. Bởi vậy, ngài thị trưởng không một chút nghi ngờ là dân chúng không hết lòng tận tụy công tác với nỗ lực cá nhân của ngài.
Sau đó, bản cáo thị nêu lên những biện pháp đại cương, trong đó có việc diệt chuột một cách khoa học bằng cách phun hơi độc vào cống rãnh và kiểm tra chặt chẽ việc cung cấp nước. Cáo thị khuyên dân chúng phải hết sức giữ vệ sinh và cuối cùng yêu cầu những người trong mình có bọ chét đến trình diện ở các phòng chữa bệnh trong thành phố. Mặt khác, các gia đình bắt buộc phải khai báo những trường hợp thầy thuốc đã chẩn đoán và bằng lòng để bệnh nhân cách ly trong những phòng riêng của bệnh viện. Vả lại, những phòng này được trang bị để săn sóc người bệnh trong thời gian tối thiểu với những khả năng chữa lành bệnh tối đa. Trong mấy điều khoản bổ sung, cáo thị yêu cầu bắt buộc tẩy uế buồng bệnh và xe chở người bệnh. Cuối cùng, cáo thị chỉ căn dặn thân nhân bệnh nhân đi khám bệnh.
Bác sĩ Rieux đột ngột rời mắt khỏi tờ cáo thị và trở về phòng làm việc. Joseph Grand, đang chờ ông, lại một lần nữa giơ cánh tay lên khi thấy ông trở về.
- Có, - Rieux nói - tôi biết, con số tăng thêm.
Ngày hôm trước, một chục người bệnh đã chết trong thành phố. Bác sĩ bảo Grand là có lẽ ông sẽ gặp anh vào buổi tối vì ông sắp phải đến thăm Cottard.
- Ông làm thế là phải - Grand đáp - Ông sẽ mang điều lành đến cho hắn, vì tôi thấy hắn thay đổi.
- Thay đổi thế nào?
- Hắn trở nên lễ độ.
- Thế trước kia hắn không lễ độ sao?
Grand ngập ngừng. Anh không thể nói là Cottard vô lễ, từ ngữ ấy có lẽ không đúng. Hắn là một con người khép kín và lặng lẽ, phần nào có dáng dấp hoang dã [11]. Buồng ngủ, một quán ăn bình thường và những buổi ra ngoài khá bí mật, đấy là toàn bộ cuộc đời Cottard. Công khai thì hắn làm đại lý rượu vang và nước ngọt. Thỉnh thoảng, hắn tiếp vài ba người đàn ông - chắc hẳn là khách hàng. - Buổi tối, đôi khi hắn đi xem chiếu bóng ở rạp trước cửa nhà. Grand còn nhận xét thêm là Cottard thích xem những phim găngxtơ. Trong mọi trường hợp, anh chàng đại lý này đều sống cô độc và đa nghi.
Tất cả cái đó, theo Grand, đã thay đổi nhiều :
- Tôi không biết nói thế nào, nhưng tôi có cảm tưởng - ông biết không? - là hắn tìm cách tranh thủ mọi người, lôi kéo mọi người về phía mình. Hắn thường nói chuyện với tôi, mời tôi đi dạo chơi và không phải bao giờ tôi cũng khước từ được cả. Hơn nữa, tôi chú ý tới hắn và tóm lại, tôi đã cứu mạng hắn.
Từ sau khi định tự sát, Cottard không còn tiếp một người khách nào nữa. Trên đường phố, ở các cửa hiệu, hắn tìm cách tranh thủ tình cảm mọi người. Chưa bao giờ hắn tỏ ra dịu dàng đến thế trong khi nói với những người bán tạp hóa, chăm chú lắng nghe đến thế lời của một bà bán thuốc lá.
- Mụ bán thuốc ấy, - Grand nhận xét - là một con rắn độc thực sự. Tôi nói điều đó với Cottard, nhưng hắn đáp là tôi nhầm và mụ ta có những mặt tốt mà người ta phải biết tìm ra.
Cuối cùng, có đến hai ba lần Cottard dẫn Grand đến những khách sạn và phòng trà sang trọng trong thành phố. Quả là hắn bắt đầu lui tới những chốn đó.
- Ở đây chúng ta thoải mái, - Hắn bảo - vả lại những người ở đây đều tử tế cả.
Grand nhận thấy đám nhân viên ở đây trọng vọng anh chàng đại lý một cách đặc biệt, và anh hiểu vì sao như vậy khi thấy hắn cho họ những khoản puôbboa hậu hĩ. Cottard tỏ ra rất nhạy cảm đối với thái độ ân cần mà người ta bày tỏ để đền đáp hắn. Một hôm, anh chàng phụ trách đám bồi bàn ở khách sạn tiễn chân hắn và giúp hắn mặc áo khoác. Hắn bảo Grand :
- Hắn ta là một chàng trai tốt bụng, hắn có thể làm nhân chứng.
- Làm nhân chứng về cái gì?
Cottard ngập ngừng :
- Ồ, làm nhân chứng chứng nhận rằng tôi không phải là một người xấu.
Hơn nữa, Cottard có lúc thay đổi tính nết đột ngột. Một hôm, khi người bán tạp hóa tỏ ra ít thân tình hơn, hắn quay trở về nhà trong trạng thái phẫn nộ cực độ.
- Cái đồ bất lương ấy rồi cũng chết tiệt như những đứa khác thôi, hắn nhắc đi nhắc lại.
- Những đứa khác nào?
- Tất thảy những đứa khác.
Grand cũng lại từng chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ ở nhà mụ bán thuốc lá. Giữa một buổi chuyện trò sôi nổi, mụ này nói về một vụ bắt bớ mới đây làm xôn xao dư luận ở Alger. Vụ một nhân viên bán hàng trẻ tuổi giết chết một người Ả Rập trên bãi biển.
- Nếu tống tất cả cái đồ cặn bã ấy vào tù, - Mụ bán hàng nói - thì những người lương thiện có thể sống được.
Nhưng mụ ta phải ngừng lời trước sự dao động đột ngột của Cottard: hắn lao ra khỏi quán hàng mà không nói nửa lời xin lỗi. Grand và mụ nhà hàng, sững sờ nhìn hắn bỏ chạy.
Về sau, Grand kể lại với Rieux những sự thay đổi khác trong tính nết Cottard. Hắn luôn luôn phát biểu những quan điểm rất tự do. Cái câu hắn rất ưa thích: “Bao giờ cá lớn cũng nuốt cá bé” chứng minh rõ điều đó. Nhưng lâu nay, hắn chỉ còn mua tờ báo chính thống của Oran và người ta không thể không nghĩ rằng hắn cố tình phô trương việc đọc tờ báo đó ở những nơi công cộng. Cũng như vậy, mấy ngày sau khi khỏi bệnh, hắn nhờ Grand - trên đường đi ra bưu điện - gửi giúp hắn một cái măngđa một trăm frăng mà tháng nào hắn cũng dành cho một người chị gái ở xa. Nhưng vào lúc Grand ra đi thì Cottard bảo :
- Ông gửi giúp cho chị ấy hai trăm frăng, nó sẽ gây một sự ngạc nhiên lý thú cho chị. Chị ấy cứ nghĩ là không bao giờ tôi nghĩ tới chị. Nhưng sự thực là tôi yêu mến chị ấy lắm.
Cuối cùng hắn có lần chuyện trò một cách kỳ lạ với Grand. Anh bắt buộc phải trả lời những câu hỏi của hắn vì hắn băn khoăn về cái công việc riêng mỗi buổi tối của anh.
- Được, - Cottard nói - ông viết sách.
- Ông nói vậy cũng được, nhưng thực ra phức tạp hơn thế nhiều!
- A! - Cottard vội thốt lên - Tôi rất muốn làm như ông.
Grand tỏ vẻ ngạc nhiên và Cottard ấp úng nói rằng khi người ta là nghệ sĩ thì người ta có thể thu xếp được nhiều chuyện.
- Vì sao vậy? - Grand hỏi.
- Ồ, vì một người nghệ sĩ có nhiều quyền hơn một người khác, ai cũng biết như vậy. Người ta bỏ qua cho anh ta nhiều chuyện hơn.
- Này, - Rieux bảo Grand vào buổi sáng bắt đầu có bản cáo thị - cái chuyện chuột làm hắn cũng như nhiều người khác choáng váng, chỉ có thế thôi. Hoặc nữa hắn sợ bệnh sốt.
Grand trả lời :
- Thưa bác sĩ, tôi không tin, và nếu bác sĩ muốn hỏi ý kiến tôi...
Chiếc xe của cơ quan diệt chuột chạy phía ngoài cửa sổ, tiếng ống xả vang lên. Rieux lặng im cho tới khi Grand có thể nghe ông nói, và một cách lơ đãng hỏi ý kiến anh. Grand trịnh trọng nhìn ông :
- Hắn có điều gì phải tự trách mình hay sao ấy. - Anh nói.
Rieux nhún vai. Như viên cảnh sát trưởng đã nói, có những công việc khác cần quan tâm hơn.
Buổi chiều, Rieux nói chuyện với Castel. Huyết thanh vẫn không về.
- Vả lại, - Rieux hỏi - liệu chúng còn có ích nữa không? Con trực khuẩn thật kỳ lạ.
- Ồ, - Castel đáp - tôi không đồng ý với ông. Những con vật này bao giờ cũng có một vẻ độc đáo. Nhưng kỳ thực, cũng thế cả thôi.
- Ít ra ông cũng giả định như vậy. Nhưng mọi người cũng đều nghĩ thế.
Cái trạng thái hơi chóng mặt mỗi khi Rieux nghĩ tới dịch hạch, suốt ngày hôm đó, ông cảm thấy cứ tăng thêm. Cuối cùng, ông thừa nhận là ông sợ hãi. Hai lần ông bước vào mấy quán cà phê chật ních người. Cũng như Cottard, ông cảm thấy cần hơi ấm con người. Rieux thấy như vậy là ngốc nghếch, nhưng điều đó giúp ông nhớ lại là ông có hứa đến thăm anh chàng đại lý.
Tối hôm đó, khi ông đến, Cottard đang ngồi trước bàn trong phòng ăn. Trên bàn là một cuốn tiểu thuyết trinh thám để mở. Nhưng chiều đã muộn và chắc hẳn khó có thể đọc sách trong bóng tối hoàng hôn. Chắc hẳn, một phút trước đây, Cottard ngồi trầm tư trong cảnh tranh tối tranh sáng thì đúng hơn. Rieux hỏi hắn sức khỏe ra sao. Cottard vừa ngồi xuống ghế vừa lầm bầm là hắn mạnh khỏe và sẽ còn mạnh khỏe hơn nếu hắn có thể tin chắc rằng không có ai bận tâm về hắn. Rieux lưu ý hắn là không một ai có thể lúc nào cũng sống một mình cả.
- Ồ, không phải thế. Tôi, tôi muốn nói đến những người gây những nỗi phiền hà cho người khác.
Rieux im lặng.
- Đấy không phải là trường hợp của tôi, xin ông chú ý điều đó cho. Nhưng tôi đang đọc cuốn tiểu thuyết này. Một kẻ khốn khổ bỗng nhiên bị người ta bắt vào một buổi sáng. Trước đó, người ta bận tâm đến hắn mà hắn không hay biết gì hết. Người ta nói về hắn trong các công sở, người ta ghi tên hắn vào những tờ phiếu. Ông cho như thế là đúng sao? Ông cho là người ta có quyền làm như vậy đối với một con người sao?
- Cái đó còn tùy - Rieux đáp - Quả là ở một mặt nào đó, người ta không bao giờ có quyền. Nhưng tất cả cái đó là thứ yếu. Không nên ở im ỉm mãi trong nhà. Ông cần phải đi dạo ngoài trời.
Cottard hình như có vẻ bực bội, nói hắn chỉ làm có thế, và nếu cần, cả khu phố có thể làm chứng cho hắn. Ngay cả ngoài phạm vi khu phố, hắn cũng không thiếu bạn bè.
- Ông biết ông Rigaud, kiến trúc sư chứ? Là bạn tôi đấy.
Trong buồng, bóng tối ngày càng dày đặc. Đường phố ngoại ô mỗi lúc một náo nhiệt và ở bên ngoài, có tiếng rao lên âm vang và khoan khoái chào mừng những ngọn đèn đường bật sáng. Rieux đi ra ban công và Cottard bước theo. Cũng như mọi tối khác trong thành phố, từ tất cả các khu phố lân cận, một làn gió nhẹ mang tới những tiếng ồn ào, mùi thịt nướng, tiếng rì rầm vui vẻ và ngọt ngào của cuộc sống tự do; đường phố ngày càng nhộn nhịp, đám thanh niên ồn ã kéo cả ra đường. Ban đêm, tiếng hú của những con tàu biển vô hình, tiếng xôn xao cất lên từ biển cả và từ đám đông cuồn cuộn, cái giờ phút quen thuộc mà ngày trước Rieux ưa thích này, giờ đây đối với ông trở nên ngột ngạt vì tất cả những điều ông biết được.
- Đốt đèn lên được chứ? - Ông hỏi Cottard.
Đèn được đốt lên, anh chàng bé nhỏ này, mắt hấp háy nhìn ông :
- Thưa bác sĩ, bác sĩ cho biết là nếu tôi bị ốm thì bác sĩ có nhận tôi vào bệnh viện không?
- Sao lại không?
Cottard liền hỏi đã có trường hợp người ta bắt giữ một người đang nằm trong bệnh viện không. Rieux đáp là trường hợp đã có xảy ra, nhưng tất thảy đều tùy thuộc vào tình hình người bệnh.
- Tôi, - Cottard nói - tôi tin vào bác sĩ.
Rồi hỏi Rieux có vui lòng đưa hắn đi phố bằng ô-tô không.
Ở trung tâm thành phố, đường sá đã bớt người và cả ánh sáng cũng ít đi. Có những đám trẻ con chơi trước cả nhà. Theo yêu cầu của Cottard, Rieux dừng xe lại trước một nhóm trẻ. Chúng vừa chí chóe vừa chơi nhảy ô. Nhưng một đứa, mớ tóc đen miết sát vào đầu, đường ngôi thẳng tắp, mặt mũi lem luốc, chằm chằm nhìn Rieux với đôi mắt màu sáng và ra vẻ dọa dẫm, ông quay mặt đi. Đứng trên hè đường, Cottard bắt tay ông. Hắn nói giọng khàn khàn, lúng túng; hai ba lần, hắn nhìn ra phía sau.
- Người ta nói về dịch tễ. Có đúng thế không, thưa bác sĩ?
- Bao giờ người ta chẳng nói, đó là điều tự nhiên. - Rieux đáp.
- Bác sĩ nói đúng. Và khi có đến một chục người chết, thì mọi sự sẽ chấm dứt. Chúng ta không hề muốn cái đó.
Động cơ đã nổ. Rieux đặt tay lên cần tốc độ. Nhưng ông lại nhìn đứa trẻ: nó vẫn trân trân nhìn ông với vẻ nghiêm trang và điềm tĩnh. Và bỗng nhiên, hết sức đột ngột, nó toét miệng cười với ông.
- Chúng ta phải làm gì nào? - Ông vừa hỏi vừa mỉm cười với đứa bé.
Bỗng nhiên Cottard níu lấy cửa xe, và trước lúc bỏ chạy, kêu toáng lên, giọng đầy nước mắt và phẫn nộ :
- Động đất. Một vụ động đất thực sự!
Động đất không hề xảy ra và ngày hôm sau, Rieux chỉ phải lui tới khắp thành phố để thương lượng với các gia đình người bệnh và bàn cãi với cả chính bản thân người bệnh. Chưa bao giờ ông cảm thấy nghề nghiệp vất vả đến thế này. Từ trước đến nay, người bệnh tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ của ông, phó thác cho ông. Lần đầu tiên, ông thấy họ e dè giấu mình đằng sau bệnh tật với một thái độ ngạc nhiên, nghi kỵ. Ông chưa quen với cuộc chiến đấu như thế này. Đến mười giờ tối, sau khi dừng xe trước nhà ông già bị hen suyễn mà ông thăm cuối cùng trong ngày, bác sĩ Rieux khó nhọc lắm mới rời khỏi được ghế ngồi. Ông nán lại nhìn đường phố tối om và những vì sao mọc và lặn trên bầu trời u ám.
Ông già bị suyễn ngồi dậy trong giường. Hình như ông lão thở dễ dàng hơn và đếm những hạt đậu mà ông ta chuyển từ nồi này sang nồi nọ. Ông ta hớn hở chào đón Rieux :
- Thế nào, thưa bác sĩ, dịch tả à?
- Ông nhặt được cái tin ấy ở đâu thế?
- Trong báo, và đài phát thanh cũng nói vậy.
- Không, không phải dịch tả.
- Dầu sao, - Ông lão nói, vẻ rất kích động - cũng thật quá đáng, mấy cái đầu óc ngu ngốc ấy!
- Ông đừng tin. - Bác sĩ Rieux bảo.
Ông khám bệnh xong cho ông già và giờ đây ngồi giữa cái phòng ăn tồi tàn này. Đúng, ông sợ. Ông biết rằng ngay trong xóm ngoại ô này, sáng mai, một chục người bệnh có thể chờ ông, người cúi gập xuống những cái hạch xoài. Chỉ có hai ba trường hợp việc rạch hạch có làm bệnh thuyên giảm. Còn nữa thì đâu phải đến bệnh viện và ông biết bệnh viện là thế nào đối với người nghèo. “Tôi không muốn nhà tôi dùng làm vật thí nghiệm cho họ”, vợ một người bệnh đã nói với ông như vậy. Người bệnh đó sẽ không dùng làm vật thí nghiệm, hắn sẽ chết và chỉ có thế thôi. Những biện pháp được thi hành không đủ hiệu lực, điều đó thật rõ ràng. Còn những cái buồng “được trang bị đặc biệt”, thì ông biết lắm: hai ngôi nhà nhỏ vừa vội vã cho các bệnh nhân khác dời đi, cửa sổ bịt kín, xung quanh có hàng rào chống dịch. Nếu bản thân bệnh dịch không tự nó dừng lại, thì những biện pháp do cơ quan hành chính đặt ra không thể đánh bại nó.
Thế nhưng, buổi tối, các thông báo chính thức vẫn lạc quan. Ngày hôm sau, hãng Ransdoc thông báo là các biện pháp của tỉnh được đón nhận một cách bình tĩnh và ba chục người bệnh đã tự khai báo. Castel gọi điện cho Rieux :
- Các phòng bệnh nhân chứa được bao nhiêu giường?
- Tám mươi.
- Chắc chắn là trong thành phố có hơn ba chục người bệnh phải không?
- Còn có những người sợ không dám khai báo và cả những người khác - số này đông nhất - những người không có thì giờ.
- Những vụ chôn cất không được kiểm soát phải không?
- Không. Tôi đã gọi điện cho Richard là cần những biện pháp hoàn chỉnh, chứ không phải những lời nói, và cần dựng lên chống lại bệnh dịch một cái hàng rào thực sự, hoặc không gì hết thảy.
- Thế rồi thế nào?
- Ông ta trả lời là ông ta không có quyền. Theo tôi, tình hình sẽ nghiêm trọng thêm.
Thật vậy, chỉ trong ba ngày, hai ngôi nhà dành cho bệnh nhân đã chật ních. Richard nghe nói là người ta sẽ lấy một trường học và dự kiến một bệnh viện phụ. Richard chờ vacxin và vẫn chích hạch. Castel nghiên cứu lại các cuốn sách cũ của mình và thường dừng lại lâu ở thư viện.
- Chuột chết vì dịch hạch hay vì một bệnh gì rất giống dịch hạch - Ông kết luận - Chúng tung ra hàng chục nghìn con bọ chét và lũ bọ chét này sẽ làm bệnh lây lan theo cấp số nhân nếu chúng ta không ngăn chặn lại kịp thời.
Rieux im lặng.
Vào thời kỳ này, thời gian như ngưng đọng lại. Mặt trời hút nước ở những vũng còn lại sau những trận mưa rào cuối cùng. Những mảng trời xanh tràn ngập ánh sáng màu vàng, tiếng máy bay ầm ĩ trong nắng sớm, tất cả cảnh vật như muốn làm cho người ta yên lòng. Nhưng trong bốn ngày, bệnh dịch nhảy vọt bốn bước kinh hồn: mười sáu người chết, rồi hai mươi bốn, hai mươi tám và ba mươi hai. Ngày thứ tư, người ta thông báo việc mở bệnh viện phụ trong một ngôi trường mẫu giáo. Đồng bào chúng tôi cho đến lúc bấy giờ che giấu nỗi lo lắng sau những lời bông đùa, giờ đây, trên đường phố, tỏ ra rầu rĩ hơn, lặng lẽ hơn.
Rieux quyết định gọi điện lên thị trưởng.
- Các biện pháp chúng ta áp dụng không đủ hiệu lực. - Ông nói.
- Tôi nắm được số liệu, - Viên thị trưởng đáp - quả là những con số đáng lo ngại.
- Không phải chỉ đáng lo ngại, mà là đã rõ ràng.
- Tôi sẽ xin lệnh của Phủ toàn quyền.
Castel đến và Rieux đặt máy xuống :
- Lệnh! Và phải có cả trí tưởng tượng nữa kia.
- Còn huyết thanh?
- Trong tuần này sẽ có.
Qua vai trò trung gian của Richard, tỉnh yêu cầu Rieux viết báo cáo gửi về thủ đô Angic để xin lệnh. Rieux miêu tả về mặt lâm sàng và nêu lên những con số. Cũng ngày hôm đó, có bốn chục người chết. Ông thị trưởng nhận trách nhiệm - theo lời ông ta - ngay từ ngày hôm sau tăng cường những biện pháp cần thi hành. Biện pháp khai báo bắt buộc và cách ly bệnh nhân được duy trì. Nhà người bệnh phải đóng cửa và tẩy uế, thân nhân phải cách ly kiểm dịch, việc chôn cất người chết do thành phố tổ chức theo những điều kiện sẽ nói tới sau. Một ngày sau, máy bay chở huyết thanh tới. Vừa đủ cho những ca đang điều trị. Sẽ thiếu nếu bệnh dịch lan rộng. Trả lời bức điện của Rieux, người ta bảo kho dự trữ đã cạn và những đợt sản xuất mới đã bắt đầu.
Trong thời gian ấy, và ở tất cả các vùng ngoại ô lân cận, mùa xuân đã tới trên chợ búa. Hàng nghìn bông hồng bị tàn lụi trong giỏ của người bán hoa, dọc hè phố, và hương vị ngọt ngào của chúng phảng phất trong khắp phố phường. Bề ngoài, không thấy có gì thay đổi. Các chuyến tàu điện những giờ cao điểm thì đầy ắp, còn trống không và nhớp nhúa. Tarrou vẫn quan sát cái ông già nhỏ người, và ông già này vẫn nhổ nước bọt lên đám mèo. Tối nào Grand cũng về nhà để làm cái công việc bí mật của mình. Cottard vẫn trong vòng lẩn quẩn và ông dự thẩm Othon vẫn chăm sóc đàn gia súc. Ông già bị hen suyễn vẫn chuyền những hạt đậu và thỉnh thoảng người ta gặp nhà báo Rambert, vẻ điềm tĩnh và chăm chú. Buổi tối, vẫn cái đám đông người trên đường phố và người ta vẫn nối đuôi nhau trước các rạp chiếu bóng. Vả lại, bệnh dịch hình như đã lùi bước, và trong mấy ngày, người ta chỉ đếm được vài chục người chết. Rồi bỗng nhiên dịch tăng vụt lên. Hôm số người chết lại lên tới ba mươi, Bernard Rieux đọc bức công điện viên tỉnh trưởng vừa đưa ông xem vừa nói: Họ sợ: Bức điện ghi: “Hãy tuyên bố tình trạng dịch hạch. Đóng cửa thành phố lại”.
----------------------------------------
[1] Saint-Just (1767 - 1794), chính quyền Pháp, thành viên Ủy ban cứu quốc trong Cách mạng 1789, nổi tiếng về thái độ cố chấp, không nhân nhượng (ND). Các chú thích từ nay về sau là của người dịch.
[2] Nguyên văn: Ăn mặc như những con chó được luyện tập để làm trò.
[3] Trong sinh hoạt của người Pháp, thông thường, khi nói với vợ con và những người thân thiết, người ta dùng ngôi thứ hai số ít.
[4] Nhà sử học xứ Bidăngxơ (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) thế kỷ VI, viết về nạn dịch hạch ở thủ đô nước Thổ (542) trong cuốn Chiến tranh chống người Ba Tư.
[5] Một tỉnh ở miền Nam nước Pháp.
[6] Thành phố Palestine.
[7] Tên ngày xưa của thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ.
[8] Thành phố Italia.
[9] Tên nhà thơ La Mã trước C.N.
[10] Một vùng Đông nam nước Pháp.
[11] Nguyên văn: Dáng dấp một con lợn rừng.

0
II
 
Bắt đầu từ lúc này, có thể nói dịch hạch đụng tới tất cả mọi người. Cho tới lúc đó, tuy những sự kiện kỳ lạ ấy khiến người ta ngạc nhiên và lo lắng, mỗi đồng bào chúng tôi vẫn theo đuổi công việc của mình một cách bình thường, tùy theo khả năng mỗi người. Và chắc hẳn vẫn tiếp tục như thế. Nhưng một khi cửa thành phố đã đóng lại thì họ nhận thấy mọi người, kể cả bản thân người kể chuyện ở đây, đều cùng chung một cảnh ngộ và cần phải biết lo liệu. Chính vì vậy ngay những tuần lễ đầu tiên, một tình cảm hết sức riêng tư như nỗi niềm xa cách một người thân yêu chẳng hạn, cũng bỗng nhiên trở thành tình cảm của cả một dân tộc và cùng với nỗi sợ hãi, trở thành nỗi đau chủ yếu trong thời gian lưu đày dài dặc này.
Một trong những hậu quả nổi bật nhất của việc đóng cửa thành phố quả là tình trạng những con người rơi vào cảnh ly biệt một cách đột ngột mà không được chuẩn bị. Những bà mẹ và những đứa con, những cặp vợ chồng, những người yêu, vài ngày trước đây, cứ nghĩ là một cuộc chia tay tạm thời: họ ôm hôn nhau trên sân ga với đôi ba lời dặn dò, đinh ninh sẽ gặp lại nhau vài ngày hay vài tuần sau, với lòng tin khờ khạo của con người, và buổi ra đi của người thân hầu như chỉ làm họ xao nhãng chút đỉnh công việc thường ngày; thế mà cuộc biệt ly bỗng nhiên trở thành không phương cứu chữa: họ không còn có thể gặp lại nhau hay thư từ cho nhau nữa. Vì thành phố bị đóng cửa mấy tiếng trước khi quyết định của tỉnh được công bố và dĩ nhiên không sao có thể chiếu cố những trường hợp cá biệt. Có thể nói tác động đầu tiên của sự xâm nhập tàn bạo này của dịch bệnh là đồng bào chúng tôi phải hành động như thể họ không có tình cảm riêng tư. Ngay sau khi quyết định đóng cửa thành phố bắt đầu có hiệu lực, trong mấy tiếng liền, người ta tấp nập đến cơ quan tỉnh để thỉnh cầu: hoặc qua điện thoại hoặc trực tiếp quan chức, họ giãi bày những hoàn cảnh cũng đáng chú ý như nhau, và đồng thời cũng không thể xem xét được như nhau. Sự thực, phải nhiều ngày mới có thể thấy chúng tôi ở trong một tình thế không thỏa hiệp, và những từ như “dàn xếp”, “ân huệ”, “ngoại lệ” đều trở thành vô nghĩa.
Ngay đến chút niềm vui viết thư cũng bị từ chối. Một mặt thành phố không còn mối liên hệ với phần còn lại của đất nước, bằng những phương tiện liên lạc thông thường, mặt khác một quyết định của nhà chức trách cấm trao đổi thư từ vì sợ thư từ mang theo vi trùng dịch bệnh. Lúc đầu, một vài người được ưu đãi đến gặp lính gác ở các cửa ngõ thành phố để nhờ chuyển thư tín ra ngoài. Đấy là những ngày đầu tiên xảy ra dịch bệnh, khi những người lính gác thấy không cưỡng lại lòng trắc ẩn là điều tự nhiên. Nhưng ít lâu sau, khi cũng chính những người lính gác ấy thấy rõ tình thế nghiêm trọng thì họ không còn dám gánh lấy phần trách nhiệm mà họ không thể lường trước được sẽ nặng nề tới đâu. Lúc đầu, người ta được dùng phương tiện liên lạc bằng điện thoại liên tỉnh. Nhưng thế là các trạm công cộng và đường dây ùn tắc tới mức phải đình chỉ hẳn trong mấy ngày, rồi về sau bị hạn chế gắt gao và chỉ dành cho các trường hợp khẩn cấp như sinh, tử, cưới xin. Chỉ còn lại một nguồn duy nhất là điện tín. Những con người gắn bó với nhau bằng tâm hồn, bằng con tim và máu thịt, chỉ còn cách đi tìm những dấu hiệu của mối đồng cảm sâu xa ấy trong những chữ viết hoa của một bức điện vẻn vẹn mười từ. Và vì trên thực tế, những công thức có thể sử dụng trong một bức điện chẳng mấy chốc mà hết nên những năm tháng cùng chung sống hoặc những nỗi lòng đau xót, chỉ nhanh chóng thâu tóm lại trong việc trao đổi định kỳ những công thức có sẵn như: “Mạnh khỏe. Nhớ thương. Thân mến”.
Nhưng một số ít người vẫn khăng khăng viết thư và để giao dịch với ngoài thành phố, họ nghĩ ra hết mưu chước này đến mưu chước khác tuy cuối cùng bao giờ cũng chỉ là ảo tưởng. Và dù cho một vài phương sách tưởng tượng ra có thành công chăng nữa, chúng tôi cũng tuyệt nhiên không biết nó ra sao vì không hề có hồi âm. Thế là hết tuần này đến tuần khác, chúng tôi đành viết đi viết lại một bức thư, chép đi chép lại những lời kêu gọi tới mức những từ ngữ lúc đầu thốt ra tưởng như mang theo dòng máu con tim mình, nhưng chỉ ít lâu sau đã mất hết mọi nội dung ý nghĩa. Thế là chúng tôi ghi chép lại như những cái máy, tìm cách dùng những lời văn không hồn này đưa tin về cuộc sống gian khổ của mình. Và để kết thúc, chúng tôi thấy thà dùng mấy tiếng gọi ước lệ của điện tín còn hơn cái lối độc thoại vô ích và bướng bỉnh, cái lối “trò chuyện” vô vị với một bức tường.
Vả lại, sau vài ngày, khi đã rõ ràng là không một ai có thể ra khỏi thành phố, thì người ta nảy ra ý kiến hỏi xem những người ra đi trước khi có dịch, nay có được phép trở về không. Sau mấy ngày suy nghĩ, tỉnh trả lời về được. Nhưng nói rõ là những người trở về, bất luận thế nào, cũng không được ra khỏi thành phố một lần nữa: họ được tự do trở về, nhưng không được tự do ra đi. Tuy vậy, một vài gia đình nhẹ dạ - số này không nhiều - vẫn thiết tha gặp lại người thân hơn là cân nhắc thận trọng, và yêu cầu người thân nắm lấy cơ hội. Nhưng ngay sau đó, những người bị dịch hạch cầm tù hiểu ra mối hiểm họa đe dọa người thân nếu họ trở về nên đành chịu đựng nỗi đau ly biệt. Vào giai đoạn dịch bệnh hoành hành dữ dội nhất, chỉ có một trường hợp tình cảm con người mạnh hơn nỗi sợ hãi đối với một cái chết quằn quại. Đó không phải - như bạn đọc có thể mong đợi - là hai người yêu mà tình ái xô đẩy họ lại với nhau, bất chấp bệnh tật. Đó chỉ là trường hợp hai vợ chồng bác sĩ già Castel lấy nhau từ lâu. Mấy hôm trước khi xảy ra dịch bệnh, bà Castel đi sang một thành phố bên cạnh. Đây không phải là một gia đình nêu cao tấm gương hạnh phúc và người kể chuyện có thể nói rằng đại thể, hai vợ chồng này, đến nay không tin chắc là họ mãn nguyện về cuộc hôn phối của mình. Nhưng sự chia cắt phũ phàng và kéo dài khiến họ thấy không thể sống xa nhau, và bên cạnh cái chân lý bỗng nhiên sáng tỏ ấy, bệnh dịch hạch chẳng có gì đáng kể.
Đây là một ngoại lệ. Còn ngoài ra thì hiển nhiên là cảnh ly biệt chỉ chấm dứt khi dịch bệnh chấm dứt. Và đối với tất cả chúng tôi, nguồn tình cảm tạo nên cuộc sống của mình và mặc dù mình tưởng như đã biết rõ (tình cảm người Oran, như chúng tôi đã nói, là những tình cảm giản dị), bỗng mang một sắc thái mới. Những người chồng và những người yêu vốn hết mực tin tưởng ở người bạn đời của mình, bỗng nhiên thấy mình ghen tuông. Những anh chàng đinh ninh phù phiếm trong tình yêu, nay bỗng trở nên chung thủy. Những cậu con trai trước kia sống bên cạnh mẹ nhưng hầu như không nhìn thấy mẹ, nay bỗng hết sức lo lắng và ân hận khi trong ký ức hiện lên một nét mặt của mẹ. Sự chia ly phũ phàng triệt để, không thể đoán định tương lai sẽ ra sao, làm chúng tôi bối rối, không sao cưỡng lại cái kỷ niệm về sự có mặt còn rất gần gũi nhưng đã rất xa xăm này, kỷ niệm ấy giờ đây choán hết ngày tháng của chúng tôi. Thực ra, chúng tôi đau đến hai lần - trước hết đau nỗi đau của chính mình và sau nữa là nỗi đau mà chúng tôi tưởng tượng ra của người vắng mặt, người vợ, người yêu, đứa con.
Vả lại, trong những trường hợp khác, đồng bào chúng tôi chắc hẳn tìm thấy lối thoát trong một cuộc sống ngoại hình hơn và sôi nổi hơn. Nhưng đồng thời dịch hạch khiến họ phải ăn không ngồi rồi, quẩn quanh trong cái thành phố buồn tẻ và ngày ngày phó mình cho những trò phỉnh phờ của ký ức. Vì trong những buổi dạo chơi thơ thẩn, bao giờ bước chân cũng dun dủi đưa họ đến vẫn con đường nọ và trong một thành phố thật là bé nhỏ, thông thường đó chính là những con đường trước kia họ đã cùng đi với người thân giờ đây vắng mặt.
Thế là trước hết dịch hạch gây nên cảnh chia ly. Và người kể chuyện ở đây đinh ninh mình có thể nhân danh mọi người viết ra cái mà chính bản thân mình đã cảm thấy bởi vì anh đã cảm thấy điều đó đồng thời với nhiều đồng bào khác của mình. Đúng, chúng tôi luôn luôn cảm thấy trống trải trong lòng, khi thì một cách phi lý muốn trở về với quá khứ, khi thì ngược lại muốn thúc đẩy thời gian. Cảm giác biệt ly như những mũi tên cháy bỏng của ký ức. Nếu thảng hoặc chúng tôi có thả mình theo dòng tưởng tượng, có muốn chờ nghe tiếng chuông của người trở về hay một bước chân thân thuộc trên cầu thang; nếu vào những lúc đó chúng tôi có muốn quên đi cái thực tại là các đoàn xe lửa đã không còn nhúc nhích; nếu lúc đó chúng tôi có thu xếp để ở lại vào giờ phút mà thông thường một du khách đáp chuyến tàu nhanh buổi tối có thể đến khu phố mình đi nữa, thì dĩ nhiên những cái trò ấy cũng không thể kéo dài. Nhất định sẽ tới một lúc chúng tôi thấy rõ ràng là các chuyến xe lửa không đến. Lúc đó chúng tôi mới biết là cảnh biệt ly sẽ kéo dài và mình phải gắng sức thu xếp với thời gian. Từ ấy, chúng tôi trở lại cuộc sống giam hãm của mình, chúng tôi chỉ còn biết quá khứ, và dù cho đôi lúc có vài người tấp tểnh muốn sống với tương lai thì cũng phải nhanh chóng khước từ khi cảm thấy nhức nhối những vết thương lòng mà cuối cùng trí tưởng tượng buộc những ai tin cậy nó phải chịu đựng.
Đặc biệt là đồng bào chúng tôi đã rất nhanh chóng, ngay cả ở những nơi công cộng, từ bỏ cái thói quen - mà họ đã tạo lập cho mình - là ước lượng thời gian xa cách. Vì sao? Vì khi những người bi quan nhất định cho nó là sáu tháng chẳng hạn, khi họ đã uống cạn trước đi tất cả nỗi chua xót của những tháng ngày sắp tới, hết sức vất vả nâng ý chí lên ngang tầm sự thử thách ấy, đưa hết sức lực còn lại để khỏi quỵ trước nỗi khổ đau kéo dài qua biết bao tháng ngày đằng đẵng, thì thỉnh thoảng, một người bạn gặp gỡ tình cờ, một ý kiến được nêu lên trên báo, một thoáng ngờ vực hay một sự sáng suốt bất thần, lại khiến họ nghĩ ngợi rằng dẫu sao cũng không có lý do gì mà dịch bệnh không kéo dài hơn sáu tháng, và có thể một năm, hoặc hơn thế nữa.
Lúc đó, ý chí, dũng khí và lòng kiên nhẫn suy sụp đột ngột tới mức họ tưởng như không bao giờ còn có thể thoát khỏi cái hố sâu thăm thẳm này nữa. Vì vậy họ đành nhẫn nhục không bao giờ còn nghĩ tới lúc nào mình được giải thoát, họ không còn hướng về ngày mai và luôn luôn cúi mặt xuống - nếu có thể nói như vậy. Nhưng dĩ nhiên thái độ khôn ngoan ấy, cái lối đánh lừa nỗi đau thương và khép thế lại để từ chối cuộc chiến đấu như vậy, đã không được đền đáp xứng đáng. Thật vậy, khi trốn tránh tình trạng suy sụp mà họ không muốn có với bất kỳ giá nào, thì đồng thời họ cũng không được hưởng những phút giây - kể ra có khá nhiều - họ có thể quên dịch bệnh đi trong khi nghĩ tới viễn cảnh những buổi đoàn tụ trong tương lai. Và từ đó, treo mình lơ lửng giữa vực thẳm và đỉnh cao, họ vật vờ hơn là họ sống, phó mặc cho những tháng ngày vô định, cho những kỷ niệm cằn cỗi, những cái bóng chập chờn chỉ có được sức mạnh khi chịu cắm sâu vào mảnh đất đau thương của mình.
Cứ như thế, họ cảm thấy nỗi đau khổ sâu xa của mọi người bị giam cầm và lưu đày, nỗi đau khổ phải sống với một ký ức hoàn toàn vô tích sự. Chính cái quá khứ mà họ không ngừng nghĩ tới ấy chỉ có dư vị của luyến tiếc. Quả là giá như có thể được, thì họ muốn đưa thêm vào quá khứ ấy tất cả những gì họ ân hận đã không làm khi, trước kia, họ có thể làm được đối với người mà giờ đây họ mong ngóng. Họ muốn người vắng mặt cùng mình chia sẻ mọi hoàn cảnh, dù chỉ tương đối êm đềm, trong cuộc sống tù nhân của mình. Nhưng tình cảm của họ không thể làm họ mãn nguyện. Bực tức hiện tại, thù nghịch với quá khứ và không có tương lai, chúng tôi thật chẳng khác nào những kẻ mà công lý hoặc lòng căm ghét của loài người buộc phải sống sau chấn song sắt. Cuối cùng, cách duy nhất thoát khỏi những ngày nghỉ không thể chịu nổi ấy, là lại cho những chuyến xe lửa chạy bằng tưởng tượng và lấp những giờ trống bằng tiếng leng keng liên hồi của cái chuông ngoài cửa cứ lì lợm lặng im.
Nhưng nói đến lưu đày thì trong phần lớn các trường hợp là cảnh lưu đày tại nhà mình. Và tuy người kể chuyện ở đây chỉ chịu cảnh lưu đày như mọi người, anh ta cũng không được quên những người như nhà báo Rambert hay những người khác nữa: là những du khách bị dịch hạch bất chợt và bị giữ lại trong thành phố, họ phải xa cách vừa người thân vừa quê hương xứ sở. Bởi thế nỗi đau ly biệt tăng lên gấp bội. Trong cảnh biệt ly chung, họ là những người chịu nỗi đau nặng nề hơn cả, vì nếu cũng như đối với mọi người, thời gian gợi lên cho họ nỗi lo âu riêng của nó, thì đồng thời họ cũng lại bị trói chặt vào không gian và luôn luôn vấp phải những bức trường thành ngăn cách nơi bị nhiễm dịch họ đang trú ngụ với quê hương xa xôi của họ. Chắc hẳn họ chính là những người lang thang suốt ngày trong cái thành phố bụi bặm, thầm lặng gợi lại những buổi tối mà chỉ riêng một mình họ biết, gợi lại những buổi sáng của quê hương. Thế là họ ấp ủ nỗi nhớ quê hương bằng những tín hiệu nhỏ nhoi hay những thông điệp ngỡ ngàng: một cánh én bay, một giọt sương chiều, những tia nắng kỳ lạ thỉnh thoảng mặt trời để rớt lại trên những đường phố hoang vắng. Cái thế giới bên ngoài ấy luôn luôn có thể giải thoát người ta khỏi tất cả, nhưng họ không hề để mắt vì khăng khăng ấp ủ những ảo ảnh quá thực và ra sức đeo đuổi hình ảnh một miền đất mà ở đây, một ít ánh sáng, vài ba ngọn đồi, một gốc cây thân thương và những khuôn mặt phụ nữ tạo thành một bầu không khí không sao có thể thay thế được đối với họ.
Cuối cùng, để nói rõ hơn về những người đang yêu là những người đáng nói tới hơn cả và có lẽ người kể chuyện ở đây có điều kiện hơn để nói - họ còn bị giày vò bởi những nỗi lo âu khác, trong đó phải kể tới sự ân hận. Quả là tình thế cho phép họ xem xét tình cảm của mình với một thái độ khách quan đến cuồng nhiệt. Và trong những hoàn cảnh này, ít khi họ không thấy rành rọt sự bất lực của bản thân mình. Trước hết, họ có thể hình dung chính xác hành động và cử chỉ của người vắng mặt. Họ phàn nàn không biết được lịch thời gian của người thân; họ tự trách mình đã lơ là không hỏi cho biết và làm như thế đối với người đang yêu thì lịch thời gian của người mình yêu không phải là ngọn nguồn của mọi niềm vui. Bắt đầu từ đó, họ dễ dàng đi ngược dòng chuỗi ngày yêu đương và xem xét những mặt khiếm khuyết của nó. Lúc bình thường, tự giác hay không tự giác, tất cả chúng ta đều biết không có một tình yêu nào là tuyệt đỉnh cả, thế nhưng chúng ta lại chấp nhận, với thái độ khá bình tĩnh, tình yêu của bản thân mình là một tình yêu tầm thường. Còn kỷ niệm thì khe khắt hơn. Và một cách rất hợp lý, cái tai họa từ bên ngoài đến với chúng tôi và giáng xuống cả một thành phố, cái tai họa ấy chỉ mang đến cho chúng tôi một niềm đau thương vô lý đáng làm chúng tôi phẫn nộ. Nó còn khiến chúng tôi tự mình làm mình đau khổ và do vậy chấp nhận lấy đau khổ. Chính dịch bệnh dùng cách đó để đánh lạc hướng và làm cho tình thế thêm rối ren.
Thế là mỗi người đành phải sống ngày nào biết ngày ấy và sống một mình đối diện với Thượng đế. Cái thái độ phó mặc của mọi người, về lâu về dài có thể tôi luyện tính cách, nhưng mới đầu thì chỉ làm cho chúng trở nên phù phiếm. Đối với một vài đồng bào chúng tôi, chẳng hạn, lúc đó, họ phải chịu một thứ tình trạng nô lệ khác buộc chặt họ vào nắng vào mưa. Nhìn họ, người ta tưởng như lần đầu tiên và một cách trực tiếp, họ có cảm giác về thời tiết. Chỉ cần một tia nắng vàng là nét mặt họ trở nên rạng rỡ, còn những ngày mưa thì như trùm một tấm khăn dày lên mặt mày và tâm tư họ. Mấy tuần lễ trước, họ thoát khỏi tình trạng yếu đuối và nô dịch phi lý ấy vì không phải chỉ có mình họ đối diện với đất trời và vì, trong một chừng mực nhất định, người thân trước kia cùng sống với họ, nay có mặt trong vũ trụ của họ. Trái lại, bắt đầu từ phút giây này, rõ ràng họ đành phó mặc cho những đổi thay thất thường của trời đất, nghĩa là họ đau buồn hay hy vọng đều vô căn cứ cả.
Cuối cùng, trong nỗi cô đơn tột đỉnh ấy, không một ai có thể hy vọng sự giúp đỡ của xóm giềng và mỗi người sống một mình với mối quan tâm của riêng mình. Nếu tình cờ một ai trong chúng tôi muốn thổ lộ chút tâm tình, thì câu trả lời, bất luận như thế nào, cũng thường làm người ấy tự ái. Lúc đó, họ thấy người đối thoại và mình không cùng nói về một điều giống nhau. Thật vậy, anh ta thì bộc lộ tâm tình sau bao tháng ngày nghiền ngẫm và đau thương, và cái hình ảnh anh ta muốn khơi gợi đã được nung nấu biết bao lâu trong ngọn lửa đợi chờ và yêu thương. Trái lại, người kia thì hình dung một thứ tình cảm ước lệ, nỗi niềm đau thương “bán rong ở chợ”, một thứ sầu não nhan nhản hằng ngày. Dù nhân ái hay thù địch, câu trả lời cũng không bao giờ đúng chỗ, không sao chấp nhận nổi. Hoặc chí ít, đối với những ai không sao chịu nổi sự lặng im, trong khi những người khác không thể tìm thấy tiếng nói chân chính của con tim, thì họ đành dùng thứ ngôn ngữ thường tình [1] và nói, theo phương thức ước lệ, tiếng nói của quan hệ bình thường và của việc vặt vãnh, có thể nói là của tin tức hằng ngày. Cả ở đây nữa, những nỗi đau thương chân thực nhất cũng vẫn được diễn tả bằng những công thức trò chuyện nhàm chán. Chỉ có với giá đó những người bị dịch hạch cầm tù mới có thể tranh thủ được sự thông cảm của người gác cổng hay sự chú ý của người nghe.
Thế nhưng - và ở đây là điều quan trọng nhất dù những nỗi kinh hoàng đau xót tới đâu, dù trái tim, tuy trống rỗng, đè nặng lên cuộc sống tới đâu, vẫn có thể nói rằng trong thời kỳ đầu dịch bệnh, những người bị lưu đày này là những người được ưu đãi. Thật vậy, chính vào lúc dân chúng bắt dầu hốt hoảng thì tâm tưởng của họ hoàn toàn hướng về người thân họ mong ngóng. Trong nỗi phiền muộn chung, tính ích kỷ trong tình yêu bảo vệ họ, và nếu họ có nghĩ tới dịch hạch thì cũng chỉ ở chỗ nó có cơ làm cho cảnh ly biệt trở thành vĩnh viễn. Cứ thế, chính giữa lúc dịch bệnh hoành hành, họ có một lối giải trí bổ ích mà người ta có thể cho là sự bình tĩnh. Nỗi tuyệt vọng cứu thoát họ khỏi cơn khủng khiếp, tai họa có mặt tốt đối với họ. Dù có một người trong số họ bị tử vong vì dịch bệnh, chẳng hạn, thì hầu như bao giờ họ cũng chẳng có thể để ý tới nữa. Rút khỏi cuộc đối thoại tâm tình kéo dài với một hình bóng, thà là họ bị ném đột ngột vào sự lặng im sâu xa nhất của đất. Trước đó, họ không hề có thì giờ làm gì hết.
Trong khi đồng bào chúng tôi tìm cách thu xếp với tình cảnh lưu đày đột ngột này, thì vì dịch hạch, người ta đặt trạm gác ở các cửa ngõ thành phố và buộc các con tàu biển trên đường Oran quay trở lại. Từ đó, không một cỗ xe nào vào thành phố. Và người ta có cảm giác ô-tô chạy vòng quanh. Bến cảng cũng có một vẻ kỳ lạ đối với những người từ trên cao các đại lộ nhìn xuống. Cảnh nhộn nhịp thường ngày khiến nơi đây vốn là một trong những bến cảng quan trọng nhất trên bờ biển bỗng nhiên tàn lụi. Chỉ còn vài con tàu đang bị giữ lại kiểm dịch. Nhưng trên bến cảng, những chiếc cần trục đồ sộ bỏ không, những toa goòng lật nghiêng, những chồng thùng phuy hay bao tải trơ trọi, tất cả chứng tỏ rằng chính nền thương mại cũng chết vì dịch hạch.
Mặc dù những cảnh tượng khác thường ấy, rõ ràng đồng bào chúng tôi vẫn khó có thể hiểu tình hình gì đã xảy ra đối với họ. Họ có những tình cảm giống nhau như nỗi xa cách hay sự sợ hãi, nhưng vẫn đặt những công việc cá nhân lên hàng đầu. Chưa một ai thực sự thừa nhận dịch bệnh. Chủ yếu, số đông nhạy cảm với những gì xáo trộn thói quen hoặc đụng tới quyền lợi của họ. Họ bực tức, khó chịu, nhưng đó không phải là những tình cảm có thể đem chống chọi với dịch hạch. Phản ứng đầu tiên của họ, chẳng hạn, là đổ trách nhiệm cho bộ máy nhà nước. Câu trả lời của ông tỉnh trưởng đối với những lời chỉ trích mà báo chí phản ánh (“Phải chăng không thể nghĩ tới việc thực hiện mềm dẻo hơn những biện pháp đã đặt ra?”) là khá bất ngờ. Cho tới lúc này, báo chí cũng như hãng Ransdoc chưa được thông báo chính thức những con số thống kê dịch bệnh. Giờ đây, thị trưởng thông báo hàng ngày cho hãng này và yêu cầu đưa tin từng tuần một.
Nhưng vẫn không có sự phản ứng tức thời của công chúng. Thật vậy, cái tin ba trăm linh hai người chết về dịch hạch trong tuần thứ ba vẫn không làm người ta xao xuyến. Một mặt, có thể không phải tất cả đều chết vì dịch hạch. Và mặt khác, không một ai trong thành phố biết là lúc bình thường, mỗi tuần có bao nhiêu người chết. Thành phố có hai trăm nghìn dân. Người ta không rõ cái tỷ lệ người chết này có bình thường hay không. Thậm chí đó là loại những con số chính xác mà không bao giờ người ta quan tâm, mặc dù hiển nhiên chúng đáng được chú ý. Có thể nói công chúng không có cơ sở so sánh. Chỉ lâu dần, khi thấy số người chết ngày một tăng, dư luận mới nhận ra sự thật. Quả là tuần thứ năm có ba trăm hai mươi mốt người chết và tuần thứ sáu, ba trăm bốn mươi lăm người. Ít ra những con số tăng dần cũng khá hùng biện. Nhưng không đủ mạnh nên đồng bào chúng tôi, trong không khí lo âu, vẫn có cảm tưởng đây là một sự kiện, dĩ nhiên tai hại, nhưng dẫu sao cũng chỉ nhất thời.
Họ vẫn tiếp tục qua lại trên đường phố, ngồi trước các tiệm cà phê. Nói chung, họ không hèn nhát, họ đùa cợt nhiều hơn kêu ca và tỏ ra vẻ vui lòng chịu đựng những điều bất tiện họ đinh ninh là nhất thời. Bộ mặt bề ngoài vẫn được giữ gìn. Nhưng vào khoảng cuối tháng và hầu như trong tuần lễ cầu kinh - mà chúng tôi sẽ nói tới sau - có những sự kiện quan trọng làm biến đổi quang cảnh thành phố. Trước hết, tỉnh trưởng thi hành những biện pháp đối với tiếp tế và giao thông. Tiếp tế bị hạn chế và xăng, cấp theo định lượng. Thậm chí quy định tiết kiệm điện. Chỉ có nhu yếu phẩm mới được đưa tới Oran bằng đường bộ và đường không. Giao thông giảm dần tới mức hầu như không còn gì nữa, các cửa hiệu bán hàng xa xỉ đóng cửa ngày một ngày hai, những hiệu khác thì treo biển hết hàng trong tủ kính, trong lúc người mua đứng hàng dài trước cửa.
Bộ mặt Oran trở nên khác thường. Số lượng người đi bộ tăng lên rất nhanh và thậm chí vào những giờ thành phố ít hoạt động, nhiều người rảnh rỗi vì các cửa hiệu hay một số công sở đóng cửa, vẫn đi chật đường hay chen chúc ở các tiệm cà phê. Đến lúc này, họ chưa phải thất nghiệp mà là nghỉ việc. Thế là vào khoảng ba giờ chiều chẳng hạn, và dưới một bầu trời đẹp đẽ, Oran cho người ta cái ảo giác về một thành phố ngày hội, giao thông đình lại và cửa hiệu đóng cửa để tổ chức một buổi biểu dương công cộng, và dân chúng ùa ra đường phố tham dự các trò vui.
Dĩ nhiên, các rạp chiếu bóng lợi dụng tình trạng nghỉ ngơi chung này và thu rất bẫm. Nhưng vòng quay trong tỉnh của các bộ phim bị cắt đứt. Sau hai tuần lễ, các rạp buộc phải đổi chương trình cho nhau, và ít lâu sau, đành phải chiếu đi chiếu lại một bộ phim. Nhưng thu nhập vẫn không giảm.
Còn các tiệm cà phê, thì nhờ những kho dự trữ đồ sộ trong một thành phố mà việc buôn bán vang và rượu giữ vị trí hàng đầu, nên vẫn tiếp tục bán hàng. Nói đúng ra, người ta uống rượu nhiều. Một tiệm cà phê quảng cáo là “vang chính hiệu tiêu diệt vi sinh vật”, thế là dư luận quần chúng lại càng tin - như trước đây họ đã từng tin một cách tự nhiên - là rượu phòng ngừa được các bệnh nhiễm khuẩn. Đêm nào cũng vậy, vào khoảng hai giờ, khá nhiều kẻ say rượu bị tống ra khỏi các quán cà phê đi chật cả đường và tuôn ra những lời lẽ lạc quan.
Nhưng mọi sự đổi thay ấy, về một mặt nào đó, kỳ lạ và diễn ra nhanh chóng đến mức khó có thể xem chúng là bình thường và bền vững. Kết quả là người ta tiếp tục đặt tình cảm riêng tư lên hàng đầu.
Hai ngày sau khi thành phố đóng cửa, bác sĩ Rieux bước ra khỏi bệnh viện thì gặp Cottard. Hắn ngửng về phía ông một khuôn mặt mãn nguyện. Rieux khen hắn về cái vẻ tươi tỉnh ấy.
- Vâng, tôi rất mạnh khỏe - Anh chàng người bé nhỏ trả lời - Thưa bác sĩ, bác sĩ cho tôi biết cái bệnh dịch hạch khốn kiếp ấy bắt đầu trở nên nghiêm trọng phải không?
Rieux thừa nhận. Còn hắn thì nhận xét với một vẻ thích thú :
- Không có lý do gì bây giờ nó dừng lại. Sẽ lộn tùng phèo lên tất cả cho mà xem!
Hai người cùng đi với nhau một lát. Cottard kể là một nhà buôn tạp hóa lớn trong khu phố hắn cắt trừ thực phẩm để bán giá đắt và người ta tìm thấy đồ hộp dưới giường hắn khi đến đưa hắn đi bệnh viện. “Hắn đã chết ở viện. Dịch hạch, không thể trả giá được”. Cottard có không biết bao nhiêu là chuyện - chuyện thật hay chuyện giả - về dịch bệnh. Người ta nói, chẳng hạn, ở trung tâm thành phố, một buổi sáng, một gã đàn ông có những dấu hiệu dịch hạch, và trong cơn mê sảng vì bệnh tật, đã xông ra đường, nhảy xổ vào một người phụ nữ đầu tiên hắn gặp và vừa ôm riết bà ta vừa la ầm ĩ là hắn bị dịch hạch.
- Thế đấy! - Cottard nhận xét với một giọng dễ thương không hợp với lời khẳng định của hắn - Tất cả chúng ta đều sẽ điên hết cả thôi, chắc chắn là như vậy.
Ngay buổi chiều hôm đó, Joseph Grand cũng tâm sự với bác sĩ Rieux. Anh trông thấy bức ảnh bà Rieux trên bàn giấy và quay nhìn Rieux. Ông bảo là vợ ông đang đi chữa bệnh, không có mặt trong thành phố. “Về một mặt nào đó, Grand nói, thế là may mắn”. Rieux cho đó quả là điều may mắn và hy vọng vợ ông sẽ khỏi bệnh.
- A! - Grand thốt lên - Tôi hiểu.
Và lần đầu tiên Grand nói nhiều từ khi Rieux biết anh. Anh vẫn phải tìm từ để diễn đạt nhưng hầu như bao giờ cũng tìm được, như thể anh nghĩ ngợi từ lâu về những điều mình đang nói.
Anh kết hôn lúc còn rất trẻ với một cô gái nghèo hàng xóm. Để cưới vợ, anh phải bỏ học và kiếm việc làm. Cả Jeanne lẫn anh không bao giờ ra khỏi khu phố. Anh đến thăm người yêu, và bố mẹ Jeanne vẫn thường chế giễu cái anh chàng cầu hôn ít lời và vụng về này. Ông bố làm ngành đường sắt. Khi nghỉ ngơi, bao giờ ông cũng ngồi trầm tư trong một góc nhà, cạnh cửa sổ, nhìn cảnh tượng đường phố, hai bàn tay to sụ đặt úp trên đùi. Bà mẹ suốt ngày lo công việc gia đình và Jeanne giúp đỡ bà. Người nàng nhỏ nhắn đến nỗi hễ thấy nàng đi qua đường là Grand lại lo ngại. Lúc đó, anh thấy xe cộ qua lại tựa như những vật khổng lồ. Một hôm, trước một cửa hiệu bán quà Nôen, Jeanne, lúc đó đang trầm trồ trước tủ kính, ngả người vào anh và nói: “Đẹp quá!” Anh nắm cổ tay cô gái. Và thế là họ quyết định kết hôn.
Câu chuyện còn lại - theo Grand - rất đơn giản. Mọi người đều như thế cả: người ta lấy nhau, còn yêu nhau chút ít và làm việc. Làm việc tới mức quên cả yêu. Jeanne cũng làm việc vì người ta không giữ lời hứa trước kia của tay chủ sự với Grand. Ở đây, cần có chút óc tưởng tượng để hiểu Grand muốn nói gì. Vì mệt nhọc, anh ta đâm chán nản, ngày càng ít nói và không làm cho người vợ trẻ tin rằng cô được yêu. Một người đàn ông phải làm lụng, cảnh nghèo đói, cánh cửa tương lai bị khép lại dần; cái im ắng buổi tối quanh bàn ăn, trong bầu không khí như thế thì không còn có chỗ cho đắm say. Chắc hẳn Jeanne đau khổ. Nhưng nàng vẫn ở lại: có khi người ta đau khổ mãi mà không hay biết. Năm tháng trôi qua. Về sau nàng ra đi. Dĩ nhiên, không phải ra đi một mình. “Em đã yêu anh nhiều lắm, nhưng bây giờ em mệt mỏi... Em không sung sướng gì phải ra đi, nhưng để bắt đầu lại thì người ta không cần phải sung sướng”. Trên đại thể, nàng đã viết thư cho anh như vậy.
Đến lượt mình, Joseph Grand cũng đau khổ. Nhẽ ra anh có thể bắt đầu lại, như Rieux nói với anh. Nhưng anh đã mất lòng tin.
Chỉ có điều là anh luôn nghĩ tới nàng. Anh muốn viết thư cho nàng để thanh minh. “Nhưng khó quá. Tôi đã nghĩ tới điều đó từ lâu. Chừng nào còn yêu nhau thì chúng tôi hiểu nhau mà không cần nói ra thành lời. Nhưng không phải bao giờ người ta cũng yêu nhau. Nhẽ ra vào một lúc nào đó, tôi phải tìm được lời lẽ để giữ nàng lại, nhưng tôi đã không làm được”. Grand hỉ mũi vào một chiếc khăn kẻ vuông. Rồi chùi râu mép. Rieux nhìn anh.
- Xin bác sĩ thứ lỗi, - Anh nói - nhưng biết nói thế nào nhỉ?... Tôi tin ông. Với ông, tôi có thể nói được. Và thế là tôi xúc động.
Rõ ràng, Grand không mảy may nghĩ tới dịch hạch.
Buổi tối, Rieux đánh điện cho vợ, báo tin thành phố đã bị đóng cửa, còn mình thì mạnh khỏe. Ông căn dặn vợ chăm lo chữa bệnh và bày tỏ nỗi lòng nhớ thương của mình.
Ba tuần sau, khi thành phố đóng cửa, ở bệnh viện đi ra, Rieux gặp một người trẻ tuổi đứng chờ.
- Tôi nghĩ, - Chàng trai nói - ông nhận ra tôi.
Rieux hình như nhận ra anh, nhưng ông ngập ngừng.
- Trước khi xảy ra những sự kiện này, - Anh nói tiếp - tôi đã đến hỏi ông tình hình đời sống của người Ả Rập. Tôi là Raymond Rambert.
- A! Vâng - Rieux đáp - Bây giờ ông có một đề tài phóng sự thú vị đây.
Anh chàng tỏ vẻ cáu kỉnh, bảo không phải là cái đó và anh ta đến có việc nhờ bác sĩ giúp đỡ.
- Xin lỗi ông, - Anh nói tiếp - tôi không quen ai trong thành phố và không may tay thông tín viên tờ báo chúng tôi lại là một kẻ ngu dại.
Rieux bảo Rambert cùng đi tới một phòng chữa bệnh ở trung tâm thành phố vì ông có đôi điều cần dặn dò người ta ở đấy. Họ đi dọc những con đường nhỏ trong khu phố người da đen. Trời sắp về chiều, nhưng thành phố trước kia vào giờ này vốn rất ồn ã, nay vắng vẻ đến rất kỳ lạ. Mấy tiếng kèn clerông vang lên trong bầu trời còn vàng rực: đám nhạc binh muốn tỏ ra đang làm nghề nghiệp của mình. Trong lúc đó, bước theo những con đường dốc, giữa những dãy tường màu xanh, màu vàng nâu, màu tím của những căn nhà kiểu người Mauresques [2], Rambert bắt đầu nói, vẻ rất bồn chồn. Anh để vợ ở lại Paris. Nói đúng ra, không phải vợ, nhưng cũng thế thôi. Anh đã đánh điện cho nàng ngay sau khi thành phố đóng cửa. Lúc đầu, anh nghĩ là một sự kiện nhất thời và chỉ tìm cách liên lạc với nàng. Các bạn đồng nghiệp ở Oran bảo anh là họ không thể làm gì được, bưu điện thì không tiếp và một cô thư ký ở cơ quan tỉnh thì chế giễu anh ra mặt. Xếp hàng dài suốt hai tiếng, cuối cùng, anh mới đánh được bức điện với vẻn vẹn mấy từ: “Tốt đẹp cả. Mong sớm gặp lại”.
Nhưng sáng sớm, khi ngủ dậy, bỗng nhiên anh nảy ra ý nghĩ là dẫu sao anh cũng không biết tình hình này sẽ kéo dài tới bao giờ. Anh quyết định rời khỏi nơi đây. Với giấy giới thiệu (trong nghề làm báo, có những điều kiện thuận lợi), anh gặp được viên chánh văn phòng cơ quan tỉnh và nói với ông ta rằng anh không có quan hệ với Oran, anh không có việc gì phải ở lại, anh đến đây chỉ vì tình cờ, và cho phép anh ra đi là điều hợp lẽ, dù khi ra khỏi thành phố, anh có phải cách ly để kiểm dịch đi nữa. Viên chánh văn phòng bảo anh là ông ta hiểu rất rõ, nhưng không thể có trường hợp ngoại lệ; ông ta sẽ nghiên cứu, nhưng tóm lại, tình hình là nghiêm trọng và ông ta không quyết định được gì hết.
- Nhưng cuối cùng, - Rambert đáp - tôi không dính dáng gì tới thành phố này.
- Dĩ nhiên rồi, nhưng dẫu sao, chúng tôi hy vọng dịch bệnh sẽ không kéo dài.
Để kết thúc, ông ta tìm cách an ủi Rambert, lưu ý anh là anh có thể tìm được Oran đề tài cho một thiên phóng sự thú vị và xét cho cùng, không có sự kiện nào là không có mặt tốt của nó. Rambert nhún vai. Hai người bước tới trung tâm thành phố.
- Thưa bác sĩ, ông thấy đấy, thật là ngu ngốc. Tôi không phải sinh ra để viết phóng sự. Mà có lẽ tôi sinh ra để sống với một người đàn bà. Có phải như thế là hợp lẽ không?
Rieux đáp dẫu sao, điều đó cũng là hợp lẽ.
Trên các đại lộ ở trung tâm thành phố, không thấy đám đông thường ngày. Vài khách bộ hành vội vã trở về nhà xa. Không một ai có nụ cười trên môi. Rieux nghĩ đó là kết quả của bản tin ngày hôm ấy của hãng Ransdoc. Hai mươi bốn tiếng sau, đồng bào chúng tôi lại bắt đầu hy vọng. Nhưng ngay ngày hôm đó, những con số còn quá mới mẻ trong ký ức.
- Ấy là, - Bỗng Rambert đột ngột nói - nàng và tôi, chúng tôi mới gặp nhau ít lâu trước đây thôi và chúng tôi rất hiểu nhau.
Rieux vẫn lặng im.
- Tôi làm phiền ông quá - Rambert nói tiếp - Tôi chỉ muốn hỏi ông có thể cấp cho tôi một giấy chứng nhận là tôi không mang cái bệnh khốn kiếp ấy hay không. Tôi nghĩ cái đó có thể giúp ích cho tôi.
Rieux gật đầu. Một đứa trẻ bỗng đâm nhào vào chân ông và ông nhẹ nhàng nâng nó dậy. Hai người lại tiếp tục đi và tới quảng trường Duyệt binh. Những cành vả và cành cọ, bụi bám xám xịt im phăng phắc xung quanh tượng đài Cộng hòa bụi bặm và bẩn thỉu. Họ dừng chân dưới chân tượng. Rieux lần lượt gõ xuống mặt đất đôi giày phủ một lớp bụi trắng xóa. Ông nhìn Rambert. Chiếc mũ phớt hơi hất ra phía sau, cổ áo sơ-mi thắt cà vạt nhưng không cài khuy, mặt không cạo, anh chàng nhà báo có vẻ lầm lì, ủ rũ.
- Ông hãy tin là tôi hiểu ông, - Cuối cùng Rieux cất tiếng - nhưng lập luận của ông không thỏa đáng. Tôi không thể cấp cho ông tờ chứng nhận ấy vì thực tế, tôi không biết ông có bệnh đó hay không và vì, dù ông không có đi nữa thì tôi cũng không thể chứng nhận là từ khi ông bước ra khỏi phòng tôi cho đến khi ông bước vào cơ quan tỉnh, trong khoảnh khắc đó, ông không bị lây nhiễm. Vả lại, dù cho...
- Dù cho làm sao? - Rambert hỏi.
- Dù cho tôi có cấp cho ông tờ chứng nhận ấy đi nữa, thì nó cũng chẳng giúp được gì ông cả.
- Sao vậy?
- Vì trong thành phố có hàng nghìn người ở trong trường hợp giống như ông, thế nhưng người ta lại không thể để cho họ ra đi được.
- Nhưng nếu như bản thân họ không mang bệnh dịch hạch?
- Lý do đó không đủ. Cái chuyện này thật ngốc nghếch, tôi biết lắm, nhưng nó liên quan đến tất cả chúng tôi. Nó như thế nào thì phải chấp nhận nó như thế ấy.
- Nhưng tôi không phải là người ở đây!
- Tiếc thay! Bắt đầu từ lúc này, ông sẽ là người ở đây như mọi người.
Rambert sôi nổi lên :
- Đây là vấn đề nhân đạo, tôi cam đoan với ông như vậy. Có lẽ ông không hình dung nổi thế nào là một sự chia cắt như sự chia cắt này đối với hai con người hoàn toàn hòa hợp với nhau.
Rieux không trả lời ngay. Nhưng rồi nói là có lẽ ông hình dung nổi. Ông hết lòng mong muốn Rambert gặp lại vợ, mong muốn tất cả những người yêu đều được đoàn tụ, nhưng có những nghị định và đạo luật, có bệnh dịch hạch, và nhiệm vụ của ông là làm theo đúng bổn phận.
- Không, - Rambert chua chát nói - ông không thể hiểu. Ông nói tiếng nói của lý trí, ông mơ hồ mất rồi.
Bác sĩ Rieux ngước mắt lên tượng đài Cộng hòa và nói ông không rõ mình có nói tiếng nói của lý trí hay không, nhưng ông nói tiếng nói của sự thật hiển nhiên, và hai cái đó không nhất thiết phải là một. Anh chàng nhà báo nắn lại cà vạt :
- Thế nghĩa là tôi phải lo liệu lấy bằng cách khác? Nhưng, - Anh nói tiếp, thái độ thách thức - tôi sẽ rời khỏi thành phố.
Rieux đáp ông vẫn hiểu anh, nhưng việc đó không liên quan tới mình.
- Có, cái đó liên quan tới ông - Rambert nói, giọng thay đổi đột ngột - Tôi đến nhờ ông vì người ta bảo tôi rằng ông giữ phần quan trọng trong những quyết định vừa qua. Và tôi nghĩ, ít nhất cũng đối với một trường hợp, ông có thể cởi nới cái mà ông đã góp phần trói buộc trước đây. Nhưng cái đó chẳng quan hệ gì tới ông. Ông chẳng nghĩ đến ai hết. Ông chẳng quan tâm tới những người bị xa cách.
Rieux thừa nhận là ở một mặt nào đó, điều ấy đúng sự thật, ông không quan tâm đến.
- A! Tôi biết - Rambert nói tiếp - Ông muốn nói tới công việc chung. Nhưng lợi ích chung là do hạnh phúc của mỗi người tạo thành.
- Này ông, - Rieux đáp - như người vừa mới ra khỏi một cơn lãng ý, có cái đó và có cái khác nữa. Không nên phán xét. Và ông bực tức thế là sai đấy. Nếu ông thoát ra khỏi tình thế này thì tôi sẽ hết sức sung sướng. Chỉ có điều là có những cái mà nhiệm vụ không cho phép tôi.
Rambert sốt ruột lắc đầu.
- Vâng, tôi bực bõ là có lỗi. Và thế là đã làm mất khá nhiều thì giờ của ông.
Rieux bảo anh lo liệu được thế nào thì cho ông biết và đừng để bụng giận ông. Chắc chắn có một mặt nào đó hai người có thể gặp nhau. Bỗng nhiên Rambert ra vẻ băn khoăn :
- Tôi tin như vậy, - Anh nói sau một lúc im lặng - vâng, tôi tin, mặc dù tôi không muốn tin và mặc dù tất cả những điều ông vừa nói với tôi.
Anh ngập ngừng :
- Nhưng tôi không thể tán thành ông.
Anh kéo thấp chiếc mũ phớt xuống trán và vội vã bước đi. Rieux thấy anh đi vào khách sạn Jean Tarrou ở trong đó.
Một lát sau, ông lắc đầu. Anh nhà báo có lý vì nóng lòng mong ngóng hạnh phúc. Nhưng anh ta có lý không khi anh lên án ông? “Ông mơ hồ mất rồi!”. Có quả là mơ hồ không, những ngày ông sống trong bệnh viện, nơi dịch hạch tiến triển nhanh chóng, mỗi tuần trung bình giết chết năm trăm mạng người? Đúng, trong tai họa, có một phần mơ hồ và hư ảo. Nhưng khi tình trạng mơ hồ bắt đầu giết chết người ta thì phải thực sự quan tâm tới nó. Và Rieux chỉ biết đó không phải là việc dễ dàng nhất. Không phải dễ dàng gì, chẳng hạn, việc điều khiển cái bệnh viện phụ (đến nay thì đã có tới ba cái) mà ông phụ trách. Ông bố trí trong khu nhà một buồng tiếp khách ngoảnh mặt ra phòng khám. Mặt đất được đào thành một cái hồ nước đã được khử trùng bằng crêdin, và ở giữa hồ xếp gạch lên như một hòn đảo nhỏ. Người bệnh được chở đến “đảo”, nhanh chóng cởi bỏ quần áo xuống nước. Sau khi được rửa ráy, lau khô mình và mặc vào chiếc sơ-mi thô ráp của bệnh viện, người bệnh được Rieux khám và sau đó khiêng vào buồng. Người ta đã phải dùng sân chơi có mái che của một trường học với năm trăm giường mà hầu hết đã có người nằm. Sau buổi tiếp khách ban sáng mà ông đích thân phụ trách, tiêm xong vacxin và rạch hạch xoài cho người bệnh, Rieux kiểm tra các con số thống kê, rồi tiếp tục khám bệnh buổi chiều. Đến tối thì đi thăm bệnh nhân tại nhà và khuya mới ra về. Đêm trước, khi trao cho ông bức điện của bà Rieux, mẹ ông bảo là hai tay ông run.
- Vâng, - Ông đáp - nhưng cứ kiên trì thì con sẽ bớt bị kích động đi thôi.
Rieux là người lực lưỡng và dẻo dai. Thực tế, ông chưa mệt. Nhưng ông không sao chịu nổi những buổi khám bệnh tại nhà nữa. Chẩn đoán bệnh sốt dịch tễ, có nghĩa là phải đưa nhanh người bệnh đi cách ly. Thế là quả thật bắt đầu tình trạng mơ hồ và khó khăn, vì gia đình người bệnh biết chỉ gặp lại người thân sau khi người này chết hoặc khỏi bệnh. “Xin bác sĩ rủ lòng thương!”, bà Loret, mẹ chị hầu phòng trong khách sạn Tarrou ở, đã thốt lên như vậy. Thế nghĩa là thế nào? Dĩ nhiên ông xót thương. Nhưng lòng thương xót chẳng làm cho một ai tiến lên cả. Phải gọi điện thoại thôi. Ngay sau đó, tiếng còi xe cứu thương vang lên. Lúc đầu, hàng xóm mở cửa sổ ra xem. Về sau, họ vội vã đóng cửa lại. Thế là bắt đầu những cuộc đấu tranh, những giọt nước mắt, những lời thuyết phục, tóm lại là một sự mơ hồ. Trong những căn buồng hừng hực cơn sốt và nỗi lo sợ, diễn ra những cảnh tượng như điên như dại. Nhưng người bệnh vẫn phải chở đi. Và Rieux có thể ra về.
Những lần đầu, ông chỉ gọi điện rồi vội đến với những người bệnh khác, không chờ xe cứu thương tới. Nhưng thế là gia đình người bệnh đóng cửa lại, thà mặt đối mặt với dịch hạch còn hơn là một sự chia ly mà giờ đây họ đã biết kết cục sẽ ra sao. Những tiếng kêu la, những lời truyền lệnh, sự can thiệp của cảnh sát, rồi về sau của lực lượng vũ trang, và người ta tấn công người bệnh. Trong những tuần đầu, Rieux buộc phải ở lại cho đến khi xe cứu thương tới. Về sau, khi cùng với mỗi người thầy thuốc đi kiểm tra tình hình bệnh tật, có thêm một viên thanh tra cảnh sát kiên quyết, thì Rieux có điều kiện lần lượt đi thăm bệnh nhân. Nhưng trong những thời kỳ đầu thì tối nào cũng, diễn ra giống như tối hôm ông đến nhà bà Loret, trong một căn phòng nhỏ trang trí những chiếc quạt xinh xắn và những cánh hoa giả. Bà ta đón ông, một nụ cười như mếu trên môi.
- Tôi hy vọng không phải là bệnh sốt mà ai ai cũng nói tới.
Còn ông, lật tấm đra và sơ-mi lên, lặng lẽ nhìn những nốt đỏ trên bụng, trên đùi bệnh nhân và những cái hạch sưng tấy. Người mẹ nhìn con gái và hốt hoảng kêu la, không sao tự chủ nổi. Tối nào, những người mẹ cũng hét lên như vậy, vẻ mơ hồ, khi nhìn bụng con với tất cả những dấu hiệu chết chóc; tối nào, những cánh tay cũng níu lấy tay Rieux, và bắt đầu tuôn ra những lời nói vô ích, những điều hứa hẹn và những giọt nước mắt; tối nào, tiếng còi xe cứu thương cũng gây nên những cơn khủng hoảng vô bổ như mọi nỗi đau đớn. Và nhiều buổi tối đi thăm bệnh - buổi nào cũng giống buổi nào - Rieux không thể hy vọng gì khác hơn một chuỗi dài những cảnh tương tự, lặp đi lặp lại một cách vô tận. Đúng, dịch hạch, cũng như trạng thái mơ hồ, thật là đơn điệu. Có lẽ chỉ có một cái thay đổi, và cái đó, chính là bản thân Rieux. Tối hôm ấy ông cảm thấy như vậy khi ngồi dưới chân tượng đài Cộng hòa và chỉ có ý thức về sự thờ ơ khó chịu bắt đầu dâng lên trong lòng, mắt đăm đăm nhìn vào cánh cửa khách sạn vừa hút Rambert vào trong đó.
Sau những tuần lễ kiệt sức, sau những buổi hoàng hôn nhìn thành phố đổ ra và quẩn quanh ngoài đường, Rieux hiểu ông không cần phải chống lại lòng xót thương nữa. Lòng xót thương làm người ta mệt mỏi khi nó trở nên vô ích. Và trong những ngày nặng nề này ông chỉ có cảm giác nhẹ nhõm khi nhận thấy con tim mình dần dần khép kín lại. Ông biết nhiệm vụ của mình nhờ đó sẽ thuận lợi hơn. Vì thế ông lấy làm hoan hỉ. Khi mẹ ông, gặp ông lúc hai giờ sáng, hết sức buồn bã về cái ánh mắt trống rỗng của ông trong lúc ngước nhìn cụ, thì chính là cụ phàn nàn về sự lắng dịu duy nhất lúc đó ông đón nhận được. Nhưng làm sao Rambert có thể cảm nhận cái đó được? Đối với anh ta, tất cả những gì đối lập với hạnh phúc của mình đều là “mơ hồ”. Và thực ra, Rieux hiểu rằng ở một mặt nào đó, anh nhà báo này có lý. Nhưng ông cũng hiểu rằng sự mơ hồ có khi mạnh hơn cả hạnh phúc, và lúc đó, và chỉ lúc đó không thôi, phải tính đến nó. Đó là điều phải xảy ra với Rambert, và bác sĩ Rieux biết được chi tiết tình hình ấy qua những lời tâm tình về sau anh bộc lộ với ông. Bằng cách đó, ông có thể theo dõi, và trên một bình diện mới, cuộc đấu tranh âm thầm giữa hạnh phúc của mỗi con người với những sự mơ hồ về dịch hạch, cuộc đấu tranh này là toàn bộ sức sống của thành phố chúng tôi trong suốt thời kỳ dài này.
Nhưng trong lúc người này cho là mơ hồ thì người khác lại cho là sự thật. Quả là sau một tháng, dịch bệnh trầm trọng thêm một cách rõ rệt và cha Paneloux, người giáo sĩ dòng Tên đã dìu ông lão Michel lúc lão bắt đầu lâm bệnh, đọc một bài thuyết giáo sôi nổi. Cha Paneloux đã từng nổi tiếng trong sự cộng tác thường xuyên với tờ tập san của Hội địa lý Oran, nơi uy tín của ông được đề cao vì các công trình phục nguyên văn bia. Nhưng ông tranh thủ được một cử tọa rộng lớn hơn cử tọa của một chuyên gia, bằng một loạt buổi nói về chủ nghĩa cá nhân hiện đại. Ông nhiệt liệt bênh vực một thứ Cơ Đốc giáo nghiêm ngặt, xa lạ vừa với lối tự do tư tưởng hiện đại vừa với chính sách ngu dân những thế kỷ trước. Ông không ngần ngại nói với cử tọa những sự thật đau lòng. Ông nổi tiếng vì thế.
Vào cuối tháng này, các giáo phẩm trong thành phố quyết định chống lại dịch hạch với những phương tiện riêng của mình, bằng cách tổ chức một tuần lễ cầu kinh công cộng. Kết thúc tuần lễ này sẽ là một buổi lễ misa trọng thể tổ chức với sự bảo hộ của thánh Roch [3], vị thánh bị bệnh dịch hạch. Họ mời cha Paneloux thuyết giáo. Đã mười lăm ngày nay, ông ta rứt ra khỏi công việc nghiên cứu về thánh Augustin [4] và Giáo hội châu Phi, những công việc tạo cho ông một vị trí đặc biệt trong dòng Thánh của mình. Bản tính sôi nổi và say mê, ông kiên quyết nhận nhiệm vụ được giao. Trong thành phố, người ta đã bàn tán về buổi thuyết giáo những mấy ngày trước và nó đánh dấu, theo cách riêng của mình, một thời điểm quan trọng trong lịch sử thời kỳ này.
Tuần lễ cầu kinh được đông đảo quần chúng hưởng ứng. Thông thường nhân dân Oran không phải là những người đặc biệt mộ đạo. Chẳng hạn, sáng Chủ nhật, những buổi tắm biển cạnh tranh ra trò với lễ misa. Cũng không phải là một sự cải giáo đột ngột khiến họ sáng mắt vì Chúa. Nhưng một mặt, thành phố bị đóng cửa và hải cảng bị cấm, không còn có thể tắm biển; mặt khác, họ ở trong một trạng thái tinh thần đặc biệt: tuy trong thâm tâm không chấp nhận những sự kiện kỳ lạ đổ ập xuống đầu mình, họ vẫn cảm thấy rõ rệt có một cái gì đó đã thay đổi. Nhưng nhiều người vẫn hy vọng dịch bệnh sẽ dừng lại và họ cùng gia đình họ sẽ được miễn trừ. Bởi vậy họ chưa cảm thấy bị ràng buộc gì hết. Đối với họ, dịch hạch chỉ là một vị khách khó chịu: một ngày kia, nó sẽ phải ra đi như trước kia nó đã từng đến. Kinh hoàng nhưng không tuyệt vọng, họ chưa thấy đến lúc dịch hạch trở nên chính bản thân hình thái cuộc sống của mình, và cũng chưa đến lúc họ lãng quên cuộc sống mà họ đã có thể sống cho đến ngày có dịch bệnh. Tóm lại, họ ở trong cảnh đợi chờ. Về mặt tôn giáo cũng như về nhiều vấn đề khác, dịch hạch gây cho họ một trạng thái tâm lý đặc biệt, xa lạ vừa với sự thờ ơ vừa với lòng say đắm, cái trạng thái rất có thể xác định bằng từ “khách quan”. Chẳng hạn, phần lớn những người hưởng ứng tuần lễ cầu kinh, chắc hẳn đồng tình với một tín đồ khi người đó nói với Rieux: “Dẫu sao, cái đó cũng không thể làm hại”. Tarrou ghi trong sổ tay là trong trường hợp như thế này thì người Trung Hoa sẽ nổi trống lên trước thần dịch hạch. Anh nhận xét thêm là tuyệt đối không sao có thể biết được tiếng trống, thực sự có hiệu lực hơn phương pháp phòng bệnh hay không. Theo anh, muốn giải quyết vấn đề thì phải có đủ thông tin về thần dịch hạch và vì người ta không biết gì về điểm này nên mọi ý kiến đều vô bổ.
Dẫu sao, trong suốt tuần lễ, tín đồ cũng đến chật ních nhà thờ thành phố. Những ngày đầu, nhiều người còn đứng ngoài vườn cọ và thạch lựu trước cổng để nghe làn sóng cầu nguyện lan ra tận ngoài đường. Dần dà, người này theo gương người khác, họ bước vào nhà thờ và góp tiếng nói nhỏ nhẹ vào bản thánh ca. Ngày Chủ nhật, người ta ùn vào giáo đường, tràn ra tận ngoài sân vào những bậc tam cấp ngoài cùng. Từ tối hôm trước, bầu trời đen nghịt, và giờ đây mưa trút xối xả. Những người đứng ngoài đã trương dù ra. Mùi hương và mùi quần áo phảng phất trong nhà thờ khi cha Paneloux bước lên giảng đài.
Ông ta người tầm thước, nhưng béo mập. Khi ông dựa vào mép bàn, hai bàn tay to tướng nắm chặt thớ gỗ, thì người ta chỉ còn thấy một khối dày và đen, trên đó nổi lên đôi má đỏ ửng dưới cặp kính kim loại. Giọng ông nói to, say sưa, lan xa, và khi ông tấn công cử tọa bằng một câu nói sôi nổi và rành rọt: “Các con đang trong cảnh hoạn nạn, các con đáng phải chịu cảnh đó”, thì tiếng rì rầm nổi lên từ trong giáo đường ra tận ngoài sân.
Một cách lôgích thì những lời nói tiếp theo sau hình như không ăn khớp với lời kêu gọi lâm ly ấy. Chỉ có phần sau của bài nói mới làm cho đồng bào chúng tôi hiểu rằng, bằng một thủ pháp hùng biện khéo léo, cha Paneloux đã đưa ra ngay một lúc, như người ta giáng một đòn, chủ đề bài thuyết giáo. Quả là ngay sau câu đó, ông ta viện dẫn văn bản Lời kêu gọi thiên di [5] về thời kỳ dịch hạch ở Ai Cập và nói: “Lần đầu tiên tai họa này xuất hiện trong lịch sử, là để giáng vào những kẻ thù của Thượng đế. Vua Ai Cập chống lại ý chí của Đấng tối cao và dịch hạch đã buộc ông ta phải quỳ gối. Từ buổi sơ khai của lịch sử, tai họa của Thượng đế buộc những kẻ kiêu ngạo và mù quáng phải quỳ mọp dưới chân Người. Các con hãy ngẫm nghĩ và quỳ xuống”.
Ngoài trời, mưa mỗi lúc một nặng hạt. Những hạt mưa tí tách trên cửa kính làm thêm sâu thẳm bầu không khí im lặng như tờ, và câu nói của cha Paneloux vang lên với một âm sắc có sức mạnh khiến cho vài người nghe, sau một giây ngập ngừng, chuồi từ trên ghế tựa xuống ghế quỳ cầu kinh. Những người khác thấy cần noi gương họ và dần dà, toàn thể cử tọa quỳ xuống, trong giáo đường chỉ còn nghe tiếng cọt kẹt của mấy chiếc ghế. Paneloux vươn thẳng người lên, hít thở một hơi sâu và giọng rành rọt hơn, nói tiếp: “Sở dĩ ngày nay dịch hạch đụng tới các con là vì đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ. Những người chính trực thì không có gì phải sợ, nhưng những kẻ độc ác thì có lý do để run rẩy. Trong cái kho thóc mênh mông của vũ trụ, chiếc néo đập lúa khốc liệt sẽ đập hạt lúa - con người cho tới khi rơm rạ tách ra khỏi hạt. Rơm rạ sẽ nhiều hơn hạt, kẻ bị gọi nhiều hơn người được lựa chọn, và Chúa không muốn có tai họa ấy. Đã quá lâu rồi, thế gian này thỏa hiệp với điều ác; đã quá lâu rồi, nó dựa vào lòng từ bi của Đấng tối cao. Chỉ cần biết hối hận là đủ, mọi cái đều sẽ được phép. Và đối với lòng hối hận, mỗi người đều thấy có đủ sức mạnh. Lúc thời cơ đến, chắc chắn người ta sẽ cảm thấy nó. Từ đây tới đó, điều dễ dàng nhất là cứ phó mặc, lòng từ bi của Thượng đế sẽ lo phần còn lại. Thế đấy! Tình hình này không thể kéo dài. Thượng đế đã đằng đẵng cúi bộ mặt xót thương xuống những con người thành phố này, nhưng chờ đợi mãi và thất vọng trong niềm hy vọng vĩnh hằng của mình, Người vừa quay mặt đi. Không có ánh sáng của Thượng đế, giờ đây, chúng ta sẽ chìm đắm lâu dài trong cảnh tối tăm của dịch hạch!”.
Trong phòng, có ai đó cựa quậy, như một con ngựa chồn chân. Nghỉ một lát, cha Paneloux hạ giọng nói tiếp: “Lịch sử các Thánh [6] ghi lại là đời vua Humbert, ở vùng Lombardie, nước Ý bị một bệnh dịch hạch tàn phá dữ dội tới mức người sống chỉ vừa đủ để chôn người chết, và bệnh dịch hoành hành chủ yếu ở Rôma và Pavie [7]. Một thiên thần hiển hiện, ra lệnh cho một hung thần vác giáo đến đập cửa các nhà; đập bao nhiêu nhát vào nhà nào thì nhà ấy có bấy nhiêu người chết đi ra”.
Paneloux giơ hai cánh tay cũn cỡn về phía sân nhà thờ, như thể chỉ một vật gì phía sau cái màn mưa đang chuyển động. “Hỡi các con, ông ta lớn tiếng nói, ngày nay, thần chết cũng đang săn đuổi trên các đường phố chúng ta. Các con nhìn xem vị thần dịch hạch kia, đẹp tựa Ma vương và óng ánh như bản thân cái ác, ngất nghểu trên mái nhà, tay phải cầm cây giáo đỏ ngang đầu, tay trái chỉ ngôi nhà. Có thể, ngay tức thì, ngón tay của thần chỉ về phía cửa và cây giáo vang lên trên ván cửa; cũng ngay tức thì, dịch hạch xông vào nhà, ngồi trong phòng chờ các con trở về. Nó ngồi đây, kiên nhẫn và chăm chú, vững chãi như chính sự an bài của vũ trụ. Bàn tay nó chìa ra, không một thế lực trần gian nào và - các con phải nắm chắc điều này - cũng không một trí tuệ nào của loài người giúp các con tránh thoát nó. Và bị đập trên mảnh sân đau thương đẫm máu, các con sẽ bị quẳng cùng với rơm rạ”.
Đến đây cha Paneloux miêu tả một cách rộng lớn hơn hình ảnh chiếc néo đập lúa. Ông ta gợi lên một khúc gỗ khổng lồ quay cuồng phía trên thành phố, nện xuống một cách bất kỳ rồi cất cao lên, đẫm máu: máu và đau thương của loài người được tung ra “cho những sự gieo vãi chuẩn bị cho những mùa gặt chân lý”.
Nói xong một thôi dài, cha Paneloux dừng lại, tóc rũ xuống trán, người run rẩy khiến cả giảng đài cũng rung lên, rồi nói tiếp, giọng trầm hơn nhưng với thái độ lên án: “Đúng, đã đến lúc phải suy nghĩ. Các con tưởng là chỉ cần đến với Chúa ngày Chủ nhật là đủ, không còn gì ràng buộc nữa. Các con cho vài buổi quỳ xuống cầu kinh là đủ chuộc lại đối với Người sự vô tâm tội lỗi của mình. Nhưng Chúa không hững hờ. Những mối quan hệ cách quãng ấy không đủ đối với tình thương cháy bỏng của Người. Người muốn gặp các con lâu hơn, đó là cách yêu thương và nói đúng ra là cách yêu thương duy nhất của Người đối với các con. Vì vậy, không thể chờ đợi các con lâu hơn nữa. Người đã cho tai họa giáng xuống cũng như nó đã giáng xuống tất cả các thành phố tội lỗi như Caïn [8] và các con trai hắn, như những người sống trước nạn Hồng thủy, những người ở Sodome và Gomorrhe [9], như Pharaon và Job [10], và tất cả những kẻ quái ác đã từng hiểu. Và cũng như họ đã làm, các con có một cách nhìn mới đối với người và vật từ khi thành phố này đóng cửa lại xung quanh các con và tai họa. Bây giờ và cuối cùng, các con hiểu là cha phải nói tới cái chủ yếu”.
Một ngọn gió ẩm ướt lùa vào giáo đường và những ngọn lửa nến uốn cong lại, kêu tí tách. Mùi sáp nồng nặc, những tiếng ho, tiếng hắt hơi đến tận chỗ cha Paneloux. Trở lại bản thuyết giáo với một sự tinh tế được nhiệt liệt ca ngợi, ông tiếp tục nói, giọng điềm tĩnh: “Quả là nhiều người trong số các con - cha biết - nghĩ bụng không biết cha muốn đi tới đâu. Cha muốn đưa các con tới chân lý và tập cho các con biết hoan hỉ mặc dù tất cả những điều cha vừa nói. Những lời khuyên nhủ và một bàn tay thân ái không còn là những phương tiện thúc đẩy các con đi tới cái thiện. Ngày nay, chân lý là một mệnh lệnh. Và chính cây giáo đỏ chỉ cho các con và thúc đẩy các con đi tới con đường hạnh phúc. Hỡi các con, cuối cùng chính ở đây thể hiện lòng từ bi của Chúa: người đưa vào mọi vật cái thiện và cái ác, sự giận dữ và lòng xót thương, dịch hạch và hạnh phúc. Cái tai họa làm các con đau đớn, chính nó nâng các con lên và chỉ đường cho các con.
Cách đây rất lâu, những người Cơ Đốc giáo Abyssinie [11] cho dịch hạch là một phương tiện hữu hiệu, có nguồn gốc thần thánh để đạt tới cái vĩnh hằng. Những người không mắc bệnh cuộn tròn lại trong những tấm đra của người bệnh để được chết một cách chắc chắn. Dĩ nhiên niềm cuồng nhiệt ấy đối với hạnh phúc là không đáng ngợi khen. Nó đánh dấu một sự vội vã đáng tiếc, rất gần gũi lòng kiêu ngạo. Không nên vội vã hơn Chúa và khi muốn thúc đẩy trật tự bất di bất dịch đã được vĩnh viễn an bài, thì chỉ dẫn tới tà giáo mà thôi. Nhưng ít nhất tấm gương ấy cũng có bài học của nó. Đối với đầu óc sáng suốt hơn của chúng ta, nó chỉ nêu cao giá trị cái ánh sáng vĩnh hằng diệu kỳ ẩn tàng ở dưới đáy mọi nỗi khổ đau. Ánh sáng ấy soi rọi những con đường chạng vạng dẫn tới siêu thoát. Nó biểu thị ý chí của Chúa quyết biến đổi, không một chút lầm lạc, cái xấu thành cái tốt. Cho đến cả ngày nay, trải qua con đường chết chóc, kinh hoàng và kêu la, nó vẫn dìu dắt chúng ta tới cái im lặng bản chất và tới nguyên lý mọi cuộc sống. Đấy là niềm an ủi mênh mông cha muốn mang lại cho các con để từ nơi đây các con không chỉ mang theo về những lời nói trừng phạt, mà cả những lời lẽ làm các con yên lòng”.
Cử tọa có cảm giác Paneloux kết thúc. Bên ngoài, mưa đã tạnh. Một bầu trời lẫn nước và ánh nắng trút xuống một ánh sáng tươi mát hơn. Từ đường phố cất lên tiếng người nói, tiếng xe cộ qua lại, toàn bộ ngôn ngữ của một thành phố thức giấc. Thính giả kín đáo thu vén áo quần trong tiếng ồn ã trầm đục. Nhưng cha Paneloux tiếp lời và nói rằng sau khi chỉ ra nguồn gốc thần thánh của dịch hạch và tính chất trừng phạt của tai họa này, ông không còn gì để nói nữa và để kết luận, ông không viện đến tài hùng biện, vì nó sẽ không đúng chỗ khi đụng tới một vấn đề bi thảm đến thế. Ông cho là tất cả đã sáng rõ đối với mọi người. Ông chỉ nhắc lại là trong thời kỳ nạn dịch hạch lớn ở Marseille, nhà viết ký Mathieu Marais phàn nàn là bị nhấn chìm trong địa ngục, sống không cứu trợ, không hy vọng. Than ơi! Mathieu Marais là một kẻ mù quáng! Trái lại, ngày nay hơn bao giờ hết, cha Paneloux cảm thấy sự cứu trợ của Chúa và niềm hy vọng Cơ Đốc giáo đối với mọi người. Trái với mọi niềm ước mong, ông ta hy vọng đồng bào chúng tôi chỉ đệ lên thượng giới những lời lẽ thấm đượm tinh thần Cơ Đốc giáo và chan chứa lòng yêu thương, mặc dù nỗi kinh hoàng trong những ngày tháng này, và tiếng kêu la của những người hấp hối. Chúa sẽ làm phần còn lại.
Buổi thuyết giáo có tác động đến đồng bào chúng tôi hay không, khó có thể nói. Viên dự thẩm Othon tuyên bố với bác sĩ Rieux ông ta thấy bản thuyết trình của cha Paneloux là “tuyệt đối không thể bài bác”. Nhưng không phải ai cũng có ý kiến quyết đoán như vậy. Chỉ có điều là buổi thuyết giáo khiến cho một số ít người - trước kia đã thấy mơ hồ - nay nhận thức rõ hơn là vì một tội lỗi không biết rõ, họ phải chịu một sự giam cầm không sao tưởng tượng nổi. Và người này thì tiếp tục cuộc sống nhỏ nhoi của mình và thích ứng với cảnh giam cầm, trong lúc, ngược lại, những người khác chỉ một mực nghĩ tới việc thoát khỏi ngục tù này.
Lúc đầu, người ta chấp nhận việc cắt đứt quan hệ với bên ngoài cũng như có thể chấp nhận bất kỳ nỗi phiền muộn nhất thời nào chỉ xáo trộn một vài thói quen của họ. Nhưng bỗng nhiên nhận thức ra một thứ giam cầm, và dưới bầu trời mùa hạ bắt đầu oi ả, họ lờ mờ cảm thấy sự giam cầm ấy đe dọa cả cuộc đời mình và tối đến, chút nghị lực họ tìm thấy lại với cái không khí mát mẻ, đôi khi đẩy họ tới những hành vi tuyệt vọng.
Trước hết, và dù có phải do kết quả của một sự trùng hợp hay không, chính từ Chủ nhật này, trong thành phố bắt đầu xuất hiện một nỗi sợ hãi khá phổ biến và sâu sắc, khiến người ta có thể ngờ rằng đồng bào chúng tôi thực sự bắt đầu có ý thức về cảnh ngộ của mình, về mặt này, bầu không khí chúng tôi sống trong thành phố có ít nhiều thay đổi. Nhưng thực ra, là sự đổi thay trong thời tiết hay trong lòng, vấn đề là ở chỗ đó.
Ít ngày sau buổi thuyết giáo, trên đường đi ra ngoại ô trong lúc đang bàn luận với Grand về sự kiện ấy, Rieux đụng phải trong đêm tối một người đàn ông núng na núng nính trước mặt mà không bước lên được. Cùng lúc đó, đèn thành phố - mà người ta ngày càng thắp muộn đi - bỗng bật sáng. Cây đèn phía sau lưng họ soi rõ người đàn ông, mắt nhắm tít lại, cười không thành tiếng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên bộ mặt nhợt nhạt như căng ra vì một niềm hớn hở âm thầm. Họ đi qua.
- Một thằng điên. - Grand nói.
Nắm cánh tay anh kéo đi, Rieux cảm thấy Grand run lên vì bực tức.
- Chẳng bao lâu nữa, trong thành phố ta, chỉ còn những người điên. - Rieux đáp.
Mệt mỏi, ông cảm thấy cổ họng khô khốc.
- Chúng ta hãy uống tí chút.
Trong tiệm cà phê nhỏ họ bước vào, chỉ có ánh sáng một ngọn đèn đặt trên quầy hàng, người ta thấp giọng chuyện trò tuy không có lý do gì rõ rệt, trong bầu không khí nặng nề, đỏ quạch. Trước quầy hàng, Rieux ngạc nhiên khi thấy Grand gọi và uống cạn một ly rượu mà anh thừa nhận rất nặng. Rồi anh muốn đi ra. Ngoài trời, Rieux cảm thấy như đêm tối đầy rẫy tiếng rên rỉ. Đâu đó trong bầu trời tối om, trên những ngọn đèn đường, một tiếng rít trầm đục làm ông nhớ lại cái néo đập lúa đang khuấy lên liên tục làn gió nóng.
- May quá, may quá. - Grand thốt lên.
Rieux nghĩ bụng không biết ai muốn nói gì.
- May quá, - Anh ta nói tiếp - tôi có công việc để làm.
- Đúng, - Rieux bảo - đó là một điều bổ ích.
Và quyết không để tai tới tiếng rít, ông hỏi Grand có bằng lòng với công việc đó không.
- Vâng, tôi nghĩ mình đi đúng đường.
- Ông làm công việc đó lâu không?
Grand như thể hăng lên, trong giọng nói có mùi rượu.
- Tôi không rõ. Nhưng thưa bác sĩ, vấn đề không phải ở đó, không, không phải ở đó.
Trong bóng đêm, Rieux đoán Grand cựa quậy hai cánh tay. Hình như anh đang chuẩn bị một cái gì đó đến đột ngột, và trơn tru.
- Bác sĩ thấy không, tôi muốn hôm bản thảo đến tay nhà xuất bản, người ta sẽ đứng dậy sau khi đọc xong và nói với các cộng tác viên: “Thưa các ngài, các ngài đành bái phục thôi!”
Rieux ngạc nhiên trước lời tuyên bố đột ngột đó. Ông có cảm giác người bạn đồng hành làm cử chỉ bỏ mũ ra, giơ bàn tay lên đầu và đưa ngang cánh tay ra. Trên bầu trời, tiếng rít kỳ lạ như vang lên mạnh mẽ hơn.
- Vâng, - Grand nói tiếp - cái đó phải hoàn hảo.
Tuy ít am hiểu tập quán văn học, Rieux vẫn có cảm tưởng là tình hình không thể diễn ra đơn giản như vậy và những người làm công tác xuất bản, chẳng hạn, khi ở cơ quan, chắc hẳn không đội mũ. Nhưng thực ra, người ta chẳng biết thế nào và Rieux muốn lặng im. Dù không muốn, ông vẫn lắng nghe những tiếng rì rầm bí ẩn của dịch hạch. Họ đi đến gần khu phố Grand ở. Khu phố nơi ở trên cao, một làn gió nhẹ thổi tới hơi mát và đồng thời át hết những tiếng ồn ã của phố phường. Grand vẫn tiếp tục nói và Rieux không hiểu hết những điều anh muốn nói. Ông chỉ biết là cái tác phẩm anh nói đã có nhiều trang, nhưng tác giả trăn trở hết sức đau đớn để làm cho nó hoàn mỹ. “Những buổi tối, những tuần lễ trọn vẹn để nghiền ngẫm một từ, và có khi chỉ một liên từ”. Đến đây, Grand dừng lại và nắm lấy một chiếc khuy áo ngoài của Rieux. Các từ phát ra một cách vấp váp từ cái miệng thiếu răng của anh.
- Xin bác sĩ thứ lỗi - Anh ta lúng túng - Tôi không biết tối nay tôi làm sao ấy.
Rieux vỗ nhẹ vai anh và bảo ông muốn giúp anh, câu chuyện của anh làm ông rất thú vị. Grand hơi có vẻ yên tâm, và về đến trước cửa, ngập ngừng một lát, rồi mời ông lên nhà. Rieux nhận lời.
Trong phòng ăn, Grand mời ông ngồi xuống trước một mặt bàn để đầy những trang giấy chữ viết li ti, nhiều chỗ dập xóa.
- Vâng, cái này đây - Grand nói với bác sĩ lúc đó ánh mắt như muốn hỏi anh - Nhưng bác sĩ có uống chút gì không? Tôi có ít vang.
Rieux từ chối. Ông nhìn những tờ giấy.
- Bác sĩ đừng xem. - Grand nói tiếp - Đây là câu mở đầu của tôi. Nó làm tôi đến vất vả, vất vả lắm Grand cũng ngắm nghía tất cả những tờ giấy ấy và bàn tay anh như thể bị thu hút không thể cưỡng lại được bởi một tờ mà anh giơ soi lên bóng điện không có tán. Tờ giấy rung lên trong tay anh. Rieux thấy trán anh ta dâm dấp mồ hôi.
- Anh ngồi xuống, - Ông bảo - và đọc cho tôi nghe đi.
Grand nhìn ông, mỉm một nụ cười biết ơn.
- Vâng, - Anh đáp - tôi cảm thấy muốn đọc.
Anh chờ một lát, mắt vẫn đăm đăm nhìn tờ giấy, rồi ngồi xuống. Cùng lúc đó, Rieux nghe thấy tiếng rào rào mơ hồ trong thành phố như đáp lại tiếng rít của chiếc néo đập lúa. Đúng vào lúc này, ông cảm nhận hết sức nhạy bén về cái thành phố trải rộng ra dưới chân mình, về cái thế giới khép kín nó tạo thành và về những tiếng hú kinh hoàng nó bóp nghẹt trong đêm tối. Giọng Grand cất lên, trầm đục: “Vào một buổi sáng tháng năm đẹp trời, một nàng kỵ sĩ kiều diễm ngồi trên lưng một con ngựa hồng tuyệt đẹp, lướt trên những lối đi đầy hoa trong rừng Boulogne”. Bầu không khí im ắng lại trở lại, và cùng với nó, tiếng rì rầm mơ hồ của cái thành phố đau thương. Grand đặt tờ giấy xuống và tiếp tục nhìn ngắm nó. Một lát sau, anh ngước mắt lên :
- Ông thấy thế nào?
Rieux đáp là nghe xong đoạn đầu, ông muốn biết những đoạn tiếp theo sau. Nhưng Grand sôi nổi đáp như thế là không phải là một quan điểm hay. Anh lấy lòng bàn tay dập dập các trang giấy.
- Đây mới chỉ là sơ thảo. Khi tôi có thể miêu tả một cách hoàn mỹ bức tranh tôi đã có trong trí tưởng tượng, khi câu văn của tôi có được cái nhịp điệu của chính buổi dạo chơi nước kiệu: một - hai - ba, một - hai - ba ấy, thì phần còn lại sẽ dễ dàng hơn, và nhất là ngay từ đầu sẽ gây được cái ảo ảnh sao cho người ta phải nói: “Bái phục!”.
Nhưng muốn được như vậy thì còn nhiều công việc phải làm. Anh không bao giờ chịu giao cho nhà xuất bản cái câu văn còn để nguyên như trên. Vì tuy có khi anh thấy hài lòng, anh vẫn cho là nó chưa hoàn toàn sát với hiện thực, và trong một chừng mực nhất định, nó vẫn có một cái gì đó dễ dãi khiến nó tuy không thật giống song vẫn phảng phất một sự sao chép. Ít ra đó cũng là điều anh muốn thổ lộ. Nhưng bỗng nghe có tiếng chân chạy ngoài cửa sổ. Rieux đứng dậy :
- Bác sĩ sẽ thấy tôi dùng cái đó làm gì - Grand nói và quay về phía cửa sổ, nói thêm: “khi mọi cái sẽ xong”.
Nhưng lại có tiếng chân chạy rậm rịch, Rieux đã xuống cầu thang và hai người đàn ông đi qua trước mặt ông khi ông ra đến ngoài đường. Rõ ràng họ đi về phía cửa ngõ thành phố. Quả là một số ít đồng bào chúng tôi, phát cuồng vì oi bức và vì dịch bệnh, đã không cưỡng lại được hành vi bạo lực và tìm cách đánh lừa sự cảnh giác của những người canh giữ, mong thoát ra khỏi thành phố.
Cũng như Rambert, một số người khác tìm cách thoát khỏi bầu không khí kinh hoàng bắt đầu manh nha, nhưng họ kiên trì và khéo léo, nếu không nói là thành công hơn. Lúc đầu, Rambert làm những cuộc vận động chính thức. Theo lời anh, bao giờ anh cũng cho rằng thái độ cứng đầu cứng cổ cuối cùng sẽ chiến thắng hết thảy và về một phương diện nào đó, nghề nghiệp buộc anh phải tháo vát. Anh đến gặp nhiều quan chức và nhân vật mà thông thường thẩm quyền được mọi người thừa nhận. Nhưng trong vấn đề này, thẩm quyền ấy chẳng dùng được vào đâu cả. Thông thường đó là những con người có những ý kiến chính xác, mạch lạc về tất cả những gì đụng tới ngân hàng, hoặc xuất khẩu, hoặc các loại cam quít, hoặc nữa là việc buôn bán rượu vang; họ có những tri thức không thể bàn cãi về các vấn đề tố tụng hay bảo hiểm, không kể những bằng cấp nghiêm chỉnh và một thiện chí hiển nhiên. Và thậm chí, cái nổi bật hơn cả ở tất cả những người đó, chính là thiện chí. Nhưng về vấn đề dịch hạch, thì hầu như họ chẳng biết tí gì.
Thế nhưng mỗi khi có cơ hội là Rambert biện hộ cho hoàn cảnh của mình trước mặt mỗi người. Chủ yếu, anh luôn luôn lập luận là anh xa lạ đối với thành phố này, và vì vậy, trường hợp của anh phải được xem xét một cách đặc biệt. Nói chung, những người đối thoại với anh chàng nhà báo sẵn sàng chấp nhận điểm này. Nhưng họ thường chỉ cho anh thấy đó cũng là trường hợp của một số người khác, bởi thế trường hợp của anh không đến nỗi đặc biệt như anh tưởng. Khi Rambert đáp là như thế cũng không hề làm thay đổi cái căn bản trong lập luận của anh thì người ta bảo cái đó có làm thay đổi những điều khúc mắc về hành chính vốn đối lập với mọi biện pháp biện đãi vì có thể gây ra cái mà người ta gọi, với một thái độ hết sức ghê tởm, là tiền lệ. Nói chuyện với Rieux, Rambert xếp những kẻ lý sự kiểu ấy vào loại hình thức chủ nghĩa. Bên cạnh đó là những người “khéo nói”: họ cam đoan với anh là tình hình hiện tại tuyệt nhiên không thể kéo dài, và không tiếc những lời khuyên bảo “tử tế” khi anh đến yêu cầu họ có những quyết định; họ an ủi Rambert và quả quyết đây chỉ là một nỗi phiền muộn nhất thời. Có những kẻ “quan trọng” bảo khách ghi lại tóm tắt hoàn cảnh và hứa sẽ xem xét, giải quyết. Những kẻ vô tích sự thì đề xuất những tấm vé cư trú hay địa chỉ những quán trọ rẻ tiền. Những người có đầu óc trật tự thì bảo khách điền vào một tấm phiếu và sau đó xếp vào hồ sơ. Những người bận rộn thì giơ tay lên trời. Những kẻ cho là mình bị quấy nhiễu thì ngoảnh mặt đi. Cuối cùng những người theo lối truyền thống - số này đông hơn cả - thì chỉ cho Rambert một cơ quan khác hay một lối chạy vạy khác.
Anh chàng nhà báo chạy đi chạy lại đến mệt lử và có một ý niệm chính xác thế nào là tòa thị chính hay một cơ quan hành chính cấp tỉnh vì phải ngồi chờ mãi trên một chiếc băng bọc vải giả da trước những tấm áp phích lớn mời mua công trái - loại được miễn thuế - hay ghi tên vào quân đội thuộc địa; vì phải bước vào các công sở, nơi người ta dễ đoán biết các bộ mặt cũng như đoán biết mấy cái ngăn có ván lật để cất giấy má hay mấy cái giá để hồ sơ. Cái lợi - như Rambert chua chát nói với Rieux - là tất cả cái đó làm anh không còn biết tình hình thực sự ra thế nào nữa. Thực tế anh không rõ dịch hạch tiến triển ra sao. Đó là chưa kể ngày tháng vì vậy trôi qua nhanh hơn và trong tình hình chung toàn thành phố, có thể nói mỗi ngày qua đi là con người dịch lại gần hơn thời điểm chấm dứt thử thách, nếu người đó không bị chết. Rieux phải thừa nhận điểm này đúng, nhưng đó là một chân lý có phần quá khái quát.
Đã có một lúc Rambert hy vọng. Anh nhận được của thành phố một tờ phiếu thông tin để trống, yêu cầu anh điền vào một cách chính xác. Tờ phiếu phải ghi rõ hình tích, hoàn cảnh gia đình, các nguồn thu nhập trước kia và hiện nay, và cái mà người ta gọi là curriculum vitae [12] của anh. Anh có cảm giác đây là một cuộc điều tra nhằm thống kê trường hợp những người có thể được gửi trả về nơi thường trú của họ. Một vài tin tức mập mờ thu thập được ở một cơ quan khẳng định cảm giác ấy. Nhưng sau một vài lần chạy vạy, anh ta tìm ra cơ quan gửi phiếu và người ta bảo anh những thông tin ấy được thu thập để “phòng trường hợp”.
- Phòng trường hợp gì? - Rambert hỏi.
Người ta bèn nói rõ với anh là đề phòng trường hợp anh bị dịch hạch và bị giết: người ta có thể một mặt, báo cho gia đình anh, và mặt khác, xét xem nên để ngân sách thành phố đài thọ viện phí hay để về sau gia đình anh hoàn trả lại. Rõ ràng, cái đó chứng tỏ anh không hoàn bị cách xa người con gái đang chờ mong anh, vì xã hội quan tâm đến họ. Nhưng đó không phải là một niềm an ủi. Điều đáng lưu tâm hơn, và vì vậy Rambert lưu ý, là cái cách mà một cơ quan, giữa lúc tai họa hết sức ngặt nghèo vẫn có thể tiếp tục công việc và có những sáng kiến thuộc một thời kỳ khác, vì lý do duy nhất là cơ quan ấy được đặt ra vì công việc đó - sáng kiến trên, thông thường họ không cho cấp trên biết.
Giai đoạn tiếp theo đối với Rambert là giai đoạn vừa dễ dàng nhất vừa khó khăn nhất. Một giai đoạn trì trệ. Anh đã đến gặp mọi cơ quan, làm mọi cuộc vận động, trước mắt, mọi lối thoát về phía ấy đều bị bịt kín. Thế là anh lang thang hết tiệm cà phê này đến tiệm cà phê khác. Buổi sáng, anh ngồi ở một mái hiên, trước một cốc bia hâm ấm, đọc báo với hy vọng tìm thấy một vài dấu hiệu cho biết dịch bệnh sắp chấm dứt, nhìn mặt khách qua đường, chán ngán quay đi khi thấy vẻ ảo não của họ. Và sau khi đọc đi đọc lại đến hàng trăm lần tấm bảng các cửa hiệu phía trước mặt, tờ quảng cáo cho những thứ rượu mạnh khai vị hiện nay không còn có bán nữa, anh đứng dậy ra đi, hoàn toàn không chủ đích, trên những đường phố vàng hoe. Anh lang thang một mình như thế, hết quán cà phê này lại đến tiệm ăn khác cho đến chiều tối. Rieux gặp anh vào một buổi tối như vậy, trước cửa một tiệm cà phê mà anh ngập ngừng không muốn vào. Nhưng rồi quyết định và vào ngồi tận cuối phòng. Theo lệnh trên, trong các tiệm cà phê, người ta bật đèn hết sức muộn. Bóng hoàng hôn tràn vào căn phòng như một thứ nước xám xịt; ánh nắng chiều tà màu hồng phản chiếu trên các tấm kính và mặt bàn cẩm thạch sáng lên yếu ớt trong bóng đêm bắt đầu buông xuống. Giữa căn phòng hoang vắng, Rambert giống như một cái bóng hiu quạnh và Rieux nghĩ đó là giờ phút anh ta thả mình trong suy tư. Nhưng đó hình như cũng là giờ phút suy tư của mọi người bị dịch hạch cầm tù trong thành phố: ai nấy đều cảm thấy phải làm một cái gì để sớm tự giải thoát mình. Rieux quay mặt đi.
Rambert cũng bỏ nhiều thì giờ ở nhà ga. Sân ga bị Cấm không được vào. Nhưng các phòng chờ đi từ phía ngoài vào vẫn mở cửa và thỉnh thoảng, trong những ngày nóng bức, những người hành khất đến đây tìm một chút bóng râm mát. Rambert đọc tấm bảng ghi giờ tàu chạy những ngày trước, những tấm biển ghi cấm nhổ nước bọt và quy tắc cảnh sát trên tàu. Anh đến ngồi trong một góc. Phòng chờ tối om. Một chiếc lò gang đã mấy tháng không được đốt lửa nằm giữa những vệt nước ngoằn ngoèo theo hình con số 8 trên nền nhà. Trên tường, mấy tờ áp phích quảng cáo cho cuộc sống hạnh phúc và tự do ở Bandol [13] hay ở Cannes [14]. Rambert đụng phải ở đây cái thứ tự do ghê tởm người ta tìm thấy ở chỗ tận cùng của sự khốn quẫn. Lúc đó, những hình ảnh sâu nặng nhất trong lòng anh, chí ít các theo lời anh nói với Rieux là hình ảnh Paris. Một bức tranh vẽ những tấm đá cổ kính và những dòng sông, những cánh chim bồ câu ở Palais-Royal [15], nhà ga ở phía bắc, những khu phố vắng ở điện Panthéon [16] và một vài nơi chốn khác trong cái thành phố mà trước đây anh biết là mình yêu đến thế, tất cả cái đó đeo đuổi Rambert và không để cho anh làm một cái gì cụ thể cả. Rieux hiểu là những hình ảnh ấy và những hình ảnh về mối tình của anh chỉ là một. Và đến hôm Rambert nói với ông là anh thích thức giấc lúc bốn giờ sáng và nghĩ về thành phố quê hương thì, từ chiều sâu kinh nghiệm bản thân, Rieux dễ dàng hiểu ra rằng chính lúc đó anh nghĩ hình ảnh người con gái xa cách. Đó quả là lúc anh có thể “nắm” được nàng. Thông thường, lúc bốn giờ sáng, người ta không làm gì cả và chỉ ngủ, dù đêm ấy có bị phụ bạc đi nữa. Đúng, người ta ngủ vào giờ ấy, và cái đó làm người ta yên lòng vì nỗi mong muốn rạo rực của một trái tim thao thức là mãi mãi chiếm hữu người mình yêu, hoặc khi xa cách, có thể nhấn chìm người yêu trong một giấc ngủ không mộng mị chỉ được chấm dứt vào một ngày tái hợp.
Ít lâu sau buổi thuyết giáo ở nhà thờ, trời bắt đầu nóng. Đã vào cuối tháng Sáu. Một ngày sau cơn mưa muộn màng hôm thuyết giáo ngày Chủ nhật ấy, mùa hè xuất hiện đột ngột trong bầu trời và trên các mái nhà. Một cơn gió nóng ào ạt thổi suốt một ngày, làm khô khốc các bức tường. Ngày nào cũng có mặt trời. Suốt ngày, thành phố ngập trong ánh nắng và oi bức, ngoài những đường phố có cổng tò vò và các căn phòng, hình như không một nơi nào trong thành phố là không nắng chói chang. Mặt trời đuổi theo đồng bào chúng tôi trên mọi nẻo đường. Và hễ họ đứng lại là nó tấn công. Những ngày nắng đầu tiên này trùng hợp với tình hình người chết tăng vọt - lên tới gần bảy trăm mỗi tuần - nên một bầu khi khí bi thảm bao trùm thành phố. Ở ngoại ô, giữa những con đường bằng phẳng và những ngôi nhà có mặt hiên, tình hình hoạt động giảm sút và, trong cái khu phố người ta luôn luôn sống ngoài hiên ấy, bây giờ thì cửa đóng then cài, không hiểu là người ta đề phòng dịch hạch hay tránh nắng. Những tiếng rên rỉ thoát ra từ một vài nhà. Trước kia, khi thấy vậy, thường có mấy kẻ tò mò đứng ngoài đường, lắng nghe. Nhưng sau tình trạng nguy ngập kéo dài, hình như trái tim mỗi người rắn lại và ai nấy đi lại hay sinh sống bên cạnh những lời than thở, như thể đó vẫn là thứ ngôn ngữ tự nhiên của con người.
Những cuộc huyên náo ở các cửa ô, trong đó cảnh binh phải dùng đến vũ khí, gây nên một mối lo ngại sâu sắc. Chắc chắn có người bị thương, nhưng trong thành phố người ta nói đến người chết: do nắng nóng và hoảng sợ, mọi thứ đều bị cường điệu. Dẫu sao thì nỗi bất bình quả là thứ không ngừng tăng lên, và nhà chức trách lo sợ tình hình có thể trở nên tồi tệ nhất nên đã dự kiến một cách nghiêm ngặt những biện pháp cần thi hành nếu dân chúng, trong cơn tai họa, có thể nổi loạn. Báo chí đăng những quyết định nhắc lại cấm ra khỏi thành phố và dọa bỏ tù những kẻ vi phạm. Những đoàn tuần tra, đi lại trong thành phố. Trên những đường phố vắng vẻ và nóng bức, người ta thường nghe tiếng vó ngựa gõ trên mặt đường và sau đó thấy binh lính cưỡi ngựa đi qua giữa những dãy cửa sổ đóng im ỉm. Đoàn tuần tra đi qua thì một nỗi im ắng ngờ vực nặng nề lại chụp lên cái thành phố bị uy hiếp. Thỉnh thoảng lại vang lên tiếng súng của những đội đặc biệt phụ trách, theo một lệnh mới, giết chết chó và mèo vì chúng có thể mang theo bọ chét truyền bệnh. Những tiếng nổ đanh ấy góp phần đặt thành phố trong một bầu không khí báo động.
Vả lại, trong nóng bức và im ắng, mọi cái đều trở nên quan trọng hơn đối với trái tim hãi hùng của đồng bào chúng tôi. Lần đầu tiên, mọi người nhạy cảm đối với sắc trời và mùi đất báo hiệu một vụ thay đổi. Mỗi người kinh hoàng hiểu rằng trời nóng bức giúp cho dịch hạch phát triển, và đồng thời mỗi người nhận thấy mùa hè đã đến. Tiếng chim sa yến trong bầu trời chiều trên thành phố trở nên yếu ớt hơn. Nó không còn tương xứng với những buổi hoàng hôn tháng sáu đẩy lùi chân trời ở xứ sở chúng tôi. Hoa mang tới chợ không còn hé nụ nữa, chúng đã nở tung, và sau buổi chợ sáng, cánh hoa vương vãi trên vỉa hè bụi bặm. Rõ ràng màu xuân đã tàn, nó đã vung phí sức lực trong hàng ngàn bông hoa nở khắp nơi trong vùng và giờ đây nó sắp lịm đi, từ từ bị nghiền nát dưới sức nặng của cả dịch hạch và nóng bức. Đối với mỗi đồng bào chúng tôi, bầu trời mùa hạ và những con đường nhợt nhạt đi vì bụi bặm và ưu phiền, cũng mang ý nghĩa uy hiếp chẳng khác hàng trăm cái chết mỗi ngày đè nặng thành phố. Ánh nắng mặt trời dai dẳng, những giờ phút thích hợp với giấc ngủ và nghỉ hè, không còn mời mọc người ta những cuộc hoan lạc với dòng nước và xác thịt nữa. Trái lại, chúng ta trở nên vô vị trong cái thành phố im lìm và kín mít này. Chúng không còn cái ánh sáng lấp lánh của những thời kỳ hạnh phúc. Mặt trời dịch hạch dập tắt mọi sắc màu và xua đuổi mọi niềm vui.
Đấy là một trong những sự đảo lộn lớn nhất dịch bệnh gây ra. Thường ngày, tất cả đồng bào chúng tôi hoan hỉ đón chờ mùa hạ. Thành phố hướng ra biển và thanh niên tràn ra các bãi tắm. Trái lại, mùa hè năm ấy, biển bị cấm và cơ thể con người không được quyền hưởng những thú vui ấy nữa. Biết làm gì trong những điều kiện như vậy? Tarrou vẫn là người miêu tả chân thực nhất cuộc sống chúng tôi lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, anh theo dõi tiến triển của bệnh dịch nói chung ghi lại rõ ràng rằng đài phát thanh đã ghi nhận một bước ngoặt của dịch bệnh khi không còn đưa tin hàng trăm người chết mỗi tuần nữa, mà là chín mươi hai, một trăm linh bảy và một trăm hai mươi mỗi ngày. “Báo chí và nhà chức trách tưởng như đánh lừa được dịch hạch. Họ nghĩ là họ đã rút được bớt điểm của nó đi vì một trăm ba mươi là một con số không lớn bằng chín trăm mười”. Tarrou cũng gợi lại những mặt bi thảm hay ly kỳ của dịch bệnh, trong một khu phố vắng, cửa chớp đóng kín mít, bỗng một thiếu phụ mở cửa sổ phía trên đầu anh và kêu to lên hai tiếng trước khi đóng sập cửa lại trong bóng tối dày đặc của căn phòng. Nhưng anh cũng ghi thêm là những viên ngậm bạc hà đã biến hết ở các hiệu thuốc vì nhiều người ngậm để đề phòng bệnh lây lan.
Anh cũng tiếp tục quan sát những nhân vật ưa thích của mình. Anh cho biết là cái ông già nhỏ người hay nhổ nước bọt lên lũ mèo cũng sống trong bi kịch. Quả là một buổi sáng, những phát đạn đã nổ, và như Tarrou ghi lại mấy phát đạn chì đã giết chết phần lớn mèo và khủng bố những con còn lại: chúng rời bỏ đường phố. Cũng ngày hôm đó, vào giờ phút quen thuộc, ông già bước ra ban công, tỏ vẻ ngạc nhiên, cúi xuống, quan sát hai bên đầu phố và nhẫn nhục chờ đợi. Tay gõ khẽ vào hàng rào sắt trên ban công. Ông lão chờ thêm một lúc, xé vụn ra ít giấy, bước vào nhà rồi lại trở ra, và một lúc sau đột ngột biến mất, giận dữ đóng sập cửa lại. Những ngày sau, vẫn tiếp diễn cái cảnh ấy, nhưng nét mặt ông lão tỏ ra buồn bã và hoang mang hơn. Sau một tuần lễ. Tarrou chờ mãi ông lão xuất hiện như thường ngày nhưng cánh cửa sổ vẫn đóng im ỉm với một nỗi buồn rất dễ hiểu.
“Trong thời kỳ dịch hạch, cấm nhổ nước bọt lên mèo”, đó là kết luận trong sổ tay Tarrou.
Mặt khác, buổi tối, khi trở về nhà, anh biết thế nào cũng sẽ gặp trong hành lang bộ mặt âu sầu của người gác đêm đi ngang dọc trong khu nhà. Ông ta không ngớt nhắc đi nhắc lại với mọi người là ông đã dự kiến tình hình xảy ra. Khi Tarrou thừa nhận đã từng nghe lão dự kiến một tai họa, nhưng nhắc lại là lão nói về một vụ động đất kia, thì ông già canh đêm đáp: “A! Giá như là một trận động đất! Một cơn rung chuyển ra trò rồi không còn ai nhắc tới nữa... người ta tính đếm người chết, người sống, và thế là xong. Nhưng còn cái bệnh khốn kiếp này! Ngay những người không mắc bệnh cũng canh cánh trong lòng”.
Tay chủ khách sạn cũng không kém phần phiền muộn. Lúc đầu, khách du lịch phải ở lại khách sạn vì thành phố bị đóng cửa. Nhưng dần dà, bệnh dịch kéo dài, nhiều người thích đến ở nhà bè bạn. Và các phòng khách sạn trước kia chật ních vì những lý do gì thì nay cũng vì những lý do ấy chúng trở nên vắng tanh; không có du khách mới đến thành phố nữa. Tarrou là một trong những vị khách hiếm hoi ở lại và tay chủ khách sạn không bỏ lỡ một cơ hội nào lưu ý anh là nếu không vì muốn làm vui lòng những vị khách cuối cùng của mình thì ông ta đã đóng cửa tiệm từ lâu rồi. Lão thường bảo Tarrou ước lượng xem dịch bệnh còn kéo dài bao lâu: “Người ta bảo, - Tarrou đáp - trời lạnh trở ngại cho loại bệnh tật này”. Lão chủ hoảng hốt lên: “Nhưng thưa ông, ở đây, trời không bao giờ lạnh thực sự. Dẫu sao, cũng còn kéo nhiều tháng nữa”. Vả lại, lão cũng tin là còn lâu khách du lịch mới trở lại thành phố. Đợt dịch hạch làm phá sản ngành du lịch.
Ở khách sạn, sau một thời gian ngắn vắng mặt, lại thấy xuất hiện Othon, “con người - cú mèo”, nhưng theo sau chỉ có hai con “cún” kệch cỡm. Hỏi ra mới biết vợ ông ta phải săn sóc và chôn cất bà mẹ và hiện nay đang phải cách ly kiểm dịch.
- Tôi không thích thế - Lão chủ khách sạn bảo Tarrou - Kiểm dịch hay không, thì bà ta cũng đáng nghi ngại, và do vậy cả mấy cha con ông ta cũng thế.
Tarrou lưu ý lão là theo quan niệm ấy thì mọi người đều đáng nghi ngại. Nhưng lão vẫn khăng khăng và có những quan điểm thật dứt khoát :
- Thưa ông không, cả ông lẫn tôi đều không đáng nghi ngại. Còn bọn họ thì có.
Nhưng Othon không vì thế mà thay đổi, và lần này, dịch hạch chỉ uổng công vô ích. Ông ta vẫn bước vào phòng ăn với điệu bộ ngày nọ, ngồi vào bàn trước rồi hai đứa con mới được ngồi sau và vẫn nói với chúng những lời lẽ lịch sự nhưng ghét bỏ. Chỉ có riêng thằng nhỏ là dáng dấp có thay đổi. Mặc đồ đen như con chị, ngồi thu lu lại, nó giống như cái bóng thu nhỏ của cha nó. Ông lão gác đêm, vốn không ưa Othon, nói với Tarrou :
- A! Thằng cha ấy, hắn sẽ mặc nguyên quần áo mà toi mạng thôi. Cứ thế, chẳng cần tắm rửa gì hết. Hắn sẽ đi thẳng tuột một mạch.
Tarrou cũng thuật lại buổi thuyết giáo của Paneloux, nhưng với những lời bình luận sau đây: “Tôi hiểu cái mối nhiệt tình dễ thương ấy. Khi tai họa bắt đầu và khi nó kết thúc, bao giờ người ta cũng tỏ ra ít nhiều hùng biện. Trong trường hợp thứ nhất, thói quen chưa mất và trong trường hợp thứ hai, thói quen đã được hồi phục. Giữa lúc tai họa, người ta mới làm quen với chân lý, nghĩa là im lặng. Chúng ta hẵng chờ xem”.
Cuối cùng, Tarrou kể lại anh có một buổi nói chuyện dài với bác sĩ Rieux, nhưng chỉ nói là buổi nói chuyện rất kết quả, nhân đấy nhắc tới đôi mắt màu hạt dẻ nhạt của bà cụ Rieux khẳng định một cách kỳ cục là một ánh mắt nhân hậu đến thế bao giờ cũng có sức mạnh hơn dịch hạch, và sau cùng dành những đoạn khá dài viết về ông lão bị hen suyễn, bệnh nhân của Rieux.
Sau buổi nói chuyện, Tarrou theo Rieux đến thăm ông lão. Lão đón tiếp anh với những tiếng cười khẩy, hai tay xoa xoa vào nhau. Lão ngồi trên giường, lưng tựa vào gối, phía dưới có hai nồi đậu hạt: “A! Lại thêm một vị nữa - Lão thốt lên khi thấy Tarrou - Thật là ngược đời, thầy thuốc lại nhiều hơn bệnh nhân. Vì người ta vội đi đời cả hả? Cha xứ nói có lý, người ta bị dịch hạch như thế là đáng đời lắm”. Hôm sau, Tarrou lại đến thăm lão, không báo trước.
Nếu tin vào sổ tay của anh, thì ông lão bị suyễn này vốn làm nghề bán tạp hóa, đến lúc tuổi năm nhăm tự cho là mình đã làm việc đủ rồi. Lão nằm nghỉ và từ đó không dậy nữa tuy bệnh suyễn của lão vẫn dung hòa được với tư thế đứng. Với một khoản lợi tức nhỏ, lão sống thoải mái đến tuổi bảy nhăm. Lão không sao chịu được sự có mặt một chiếc đồng hồ và trên thực tế, nhà lão không có lấy một chiếc. “Một chiếc đồng hồ, lão nói, thì vừa đắt tiền vừa ngu ngốc”. Lão ước lượng thời gian và nhất là giờ các bữa ăn - mối quan tâm duy nhất của lão - bằng hai cái nồi mà đựng đậu khi lão ngủ dậy. Lão bỏ từng hạt đậu vào nồi thứ hai, động tác bao giờ cũng chăm chút và đều đặn như nhau. Cứ thế lão lấy nồi đậu làm đơn vị thời gian đế sắp xếp công việc trong ngày. “Cứ hết mười lăm nồi, lão bảo, thì đến bữa ăn. Thật là đơn giản”.
Vả lại, theo lời bà vợ, thì từ lúc còn rất trẻ, lão đã bộc lộ những dấu hiệu thiên hướng của mình. Công việc, bạn bè, cà phê, âm nhạc, phụ nữ, những buổi dạo chơi, không có gì khiến lão quan tâm. Lão chưa bao giờ ra khỏi thành phố, trừ một hôm, việc nhà buộc lão phải đi Alger. Chỉ đi được một ga, lão đã phải xuống vì không sao tiếp tục cuộc hành trình được. Lão quay trở về bằng chuyến tàu đầu tiên.
Khi Tarrou tỏ vẻ ngạc nhiên về cuộc sống khép kín của lão, thì lão hầu như muốn giảng giải rằng theo tôn giáo, nửa đầu cuộc đời một con người thì đi lên, còn nửa thứ hai thì đi xuống, rằng trong nửa đi xuống ấy, ngày tháng của con người không còn thuộc về mình nữa, bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể bị tước đoạt, vì vậy người đó không thể làm gì được và chính vì vậy tốt nhất là không nên làm gì hết. Vả lại, sự trái ngược ấy không làm lão sợ hãi: ít lâu sau, lão nói với Tarrou là chắc chắn không có Chúa, vì nếu ngược lại, thì các cha xứ sẽ trở thành vô ích. Nhưng theo những luồng suy nghĩ tiếp theo sau của lão, Tarrou hiểu rằng cái triết lý ấy gắn chặt với tâm trạng đối với những cuộc quyên tiền thường xuyên của xứ đạo. Tuy nhiên, muốn hoàn chỉnh chân dung ông lão thì phải thêm là lão muốn sống thật lâu, một nỗi mong muốn sâu xa nhiều lần lão thổ lộ với Tarrou.
“Phải chăng là một ông thánh?”. Tarrou nghĩ bụng. Và anh trả lời: “Phải, nếu thánh đức là một tập hợp thói quen”.
Nhưng đồng thời Tarrou miêu tả khá tỉ mỉ một ngày trôi qua trong cái thành phố bị dịch hạch này và cung cấp một khái niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống của đồng bào chúng tôi trong mùa hè năm ấy: “Không một ai cười ngoài bọn say rượu, anh viết, và bọn này thì cười quá nhiều”. Rồi anh bắt đầu miêu tả:
“Sáng sớm, những làn gió nhẹ thổi trên thành phố còn vắng vẻ. Vào giờ này - nằm giữa cái chết trong đêm tối và những cơn hấp hối giữa ban ngày, - hình như dịch hạch ngừng nỗ lực một lát và lấy lại hơi sức. Mọi cửa hiệu đều đóng cửa. Nhưng đó đây có treo biển ‘Đóng cửa vì dịch hạch’: người ta biết lát nữa chúng sẽ không mở cửa cùng với những cửa hiệu khác. Mấy chú bán báo còn ngái ngủ không rao tin; ngồi tựa lưng vào các góc phố và như những kẻ mộng du, họ ‘bày hàng’ ra dưới mấy ngọn đèn đường. Lát nữa, bị những chuyến tàu điện đầu tiên đánh thức, họ sẽ tản đi trong khắp thành phố, dang rộng tay cầm những tờ báo trên đó nổi bật cái từ ‘Dịch hạch’. ‘Liệu có một mùa thu dịch hạch không?’ Giáo sư B. trả lời: ‘Không’. ‘Một trăm hai mươi bốn người chết, đây là con số tổng kết ngày thứ chín mươi của từ bị dịch hạch’.
Mặc dù cuộc khủng hoảng giấy ngày càng gay gắt, buộc một số xuất bản phẩm định kỳ phải giảm bớt số trang, người ta vẫn lập một tờ báo khác: Tờ tin tức Dịch bệnh, với nhiệm vụ ‘thông báo hết sức khách quan cho đồng bào chúng ta, những bước tiến hay bước lùi của dịch bệnh; cung cấp cho bà con những bằng chứng đáng tin cậy nhất về tương lai bệnh dịch; giúp đỡ mọi người, quen thuộc hay xa lạ, sẵn sàng chống lại tai họa; nâng đỡ tinh thần dân chúng, truyền đạt chỉ thị của nhà chức trách, và nói tóm lại, tập hợp mọi người có thiện chí để chống lại có hiệu quả cái tai họa đang tấn công chúng ta’. Thực ra, chẳng bao lâu, tờ báo chỉ đăng những mục rao hàng các sản phẩm mới, ‘hết sức công hiệu’ để đề phòng dịch hạch.
Vào khoảng sáu giờ sáng, tất cả những số báo này bắt đầu được bán cho những đám người xếp hàng dài trước các cửa hiệu hơn một tiếng khi mở cửa, rồi trên những chuyến tàu điện chật ních người từ ngoại ô vào. Tàu điện trở thành phương tiện giao thông duy nhất và chúng chạy ì à ì ạch, người chen chúc trên các bậc lên xuống và lan can tàu đến muốn gãy tung ra. Nhưng điều kỳ lạ là mọi người hết sức cố gắng quay lưng lại với nhau để tránh lây lan. Đến các điểm đỗ, đàn ông, đàn bà ùa xuống, vội vã tránh xa nhau và tách riêng ra. Thường xuyên xảy ra những cuộc huyên náo mà nguyên nhân duy nhất là sự bực bõ - nay đã trở thành ‘kinh niên’.
Sau mấy chuyến tàu điện đầu tiên, thành phố dần dần thức giấc, những quán rượu đầu tiên mở cửa, trên quầy hàng treo biển: ‘Hết cà phê’, ‘Mời khách tự mang đường đến’ v.v... Rồi đến lượt các cửa hiệu tạp hóa, phố xá trở nên tấp nập. Trời mỗi lúc một sáng và nắng làm cho bầu trời tháng bảy đổ sang màu chì. Đấy là lúc những kẻ vô công rồi nghề lang thang trên các đại lộ. Số đông hình như ra sức trừ khử dịch hạch bằng cách phơi bày sự xa xỉ của họ. Ngày nào cũng vậy, vào khoảng mười một giờ, người ta thấy nhởn nhơ trên những đường phố chính đám nam nữ thanh niên muốn trưng diện: trong cơn tai họa, niềm say mê cuộc sống của họ càng thêm dữ dội, Dịch bệnh lan rộng thì ‘đạo lý’ cũng phát triển. Chúng ta sẽ bắt gặp những cuộc chơi bời phóng dật kiểu thành phố Milan bên cạnh những nấm mồ.
Buổi trưa, chỉ trong nháy mắt là các quán ăn chật ních. Ngoài cửa, những người không có chỗ, tụ tập lại rất nhanh thành từng nhóm nhỏ. Vì quá nắng nóng, bầu trời bắt đầu mất dần ánh sáng. Dưới bóng râm những tấm mành to tướng, khách đến ăn đứng bên lề đường chói chang ánh mặt trời, chờ đến lượt mình. Người ta ùa đến các quán ăn vì chúng giải quyết gọn vấn đề tiếp tế.
Nhưng chúng không mảy may giảm bớt nỗi lo sợ bị truyền nhiễm. Khách ăn để nhiều thì giờ kiên nhẫn lau chùi bát đĩa. Trước đấy ít lâu, một vài khách sạn treo biển: ‘Ở đây, bát đĩa đã được nhúng nước sôi’. Nhưng dần dà, họ chẳng cần quảng cáo gì nữa vì khách bắt buộc phải tới. Vả lại, khách sẵn sàng tiêu pha. Những thứ rượu ngon hay cho là ngon, những món phụ thêm đắt tiền nhất, đây là bước mở đầu một cuộc chạy đua thỏa sức. Hình như một cảnh tượng kinh hoàng đã xảy ra trong một quán ăn, vì một ông khách cảm thấy trong người khó chịu bỗng nhiên tái xanh tái nhợt, đứng dậy loạng choạng bỏ chạy ra ngoài.
Vào khoảng hai giờ, thành phố vắng dần và đó là lúc im ắng, bụi bặm, mặt trời và dịch hạch gặp gỡ nhau ngoài đường. Dọc những ngôi nhà đồ sộ, màu xám xịt, ánh nắng vẫn không ngừng tuôn xuống. Chấm dứt những ngày giờ đằng đẵng cầm tù người ta, là những buổi tối hừng hực ập xuống một thành phố đông đúc và ồn ã. Trong những ngày nắng nóng đầu tiên, người ta không hiểu vì sao buổi tối ngày càng vắng vẻ. Nhưng giờ đây, luồng không khí mát mẻ đầu tiên khiến người ta, nếu chưa có gì để hy vọng thì cũng bớt căng thẳng. Mọi người đổ ra đường phố, nói năng đến cuồng nhiệt, cãi cọ nhau hay thèm khát lẫn nhau và dưới bầu trời tháng bảy đỏ rực, thành phố đầy những đôi trai gái và tiếng ồn ã, trôi giạt về một khoảng đêm hổn hển. Tối nào cũng vậy, trên các đại lộ, một ông già có linh cảm, đội mũ phớt và thắt cà vạt, đi qua đám đông và nói đi nói lại: ‘Chúa là vĩ đại, hãy đến với Người’; nhưng chỉ uổng công vô ích: mọi người đều đổ xô về một cái gì đó mà họ biết lờ mờ hoặc họ cho là cấp bách hơn Chúa. Lúc đầu, khi họ cho dịch hạch cũng là một thứ bệnh như những bệnh tật khác, thì tôn giáo nằm ở đúng vị trí của nó. Nhưng thì thấy tình hình nghiêm trọng, thì họ nhớ tới khoái lạc. Trong cảnh hoàng hôn hừng hực và bụi bặm, toàn bộ nỗi kinh hoàng hiển hiện trên các khuôn mặt lúc ban ngày biến thành một thứ kích động thô bạo, một thứ tự do vụng dại khiến cả một cư dân như lên cơn sốt.
Và cả tôi nữa, tôi cũng như họ. Nhưng sao! Cái chết không là gì hết đối với những người như tôi. Nó là một sự kiện thừa nhận cái đúng đắn của họ”.
Tarrou xin gặp Rieux buổi gặp gỡ anh nói tới trong sổ tay. Tối hôm đó, trong lúc chờ anh, Rieux nhìn mẹ điềm tĩnh ngồi trên ghế, trong một góc phòng ăn, thường ngày cụ ngồi đấy khi không bận công việc nhà. Hai tay chắp lại trên đầu gối, cụ ngồi chờ. Rieux cũng không biết chắc là có phải cụ chờ anh không. Nhưng có một cái gì biến đổi trên nét mặt bà cụ khi ông xuất hiện. Nét mặt vốn lầm lì, dấu ấn của một cuộc đời cần mẫn, bỗng hoạt bát lên. Nhưng rồi cụ lại vẫn ngồi im. Tối hôm đó, qua ô cửa sổ, cụ nhìn ra ngoài đường phố vắng vẻ. Ánh sáng đèn đường đã giảm đi hai phần ba. Từng quãng xa một, một bóng đèn tù mù rọi một chút ánh sáng vào bóng đêm thành phố.
- Không biết người ta có giảm ánh sáng đèn đường trong suốt thời kỳ dịch bệnh không nhỉ? - Bà cụ hỏi.
- Có thể, mẹ ạ!
- Miễn sao đừng kéo dài đến tận mùa đông. Vì nếu thế thì buồn lắm.
- Vâng. - Rieux đáp.
Ông thấy ánh mắt mẹ nhìn lên trán mình. Ông biết vì lo âu và làm việc quá sức trong những ngày qua nên mặt ông hóp lại.
- Tình hình hôm nay không ổn phải không? - Bà cụ hỏi.
- Ồ! Cũng như thường ngày thôi mẹ ạ.
Cũng như thường ngày! Có nghĩa là thứ huyết thanh mới gửi từ Paris về có vẻ ít hiệu quả hơn lần đầu và con số thống kê cứ tăng dần. Người ta vẫn chỉ có thể tiêm chủng huyết thanh phòng bệnh cho những gia đình đã mắc bệnh được thôi.
Muốn sử dụng rộng rãi thì phải có những số lượng khổng lồ. Phần lớn hạch xoài không chịu vỡ mủ như thể đã đến thời kỳ cứng lại, và chúng hành hạ người bệnh. Từ tối hôm trước, trong thành phố xảy ra hai ca mắc bệnh dưới một dạng mới: dạng dịch hạch phổi. Một cuộc họp được tổ chức ngay ngày hôm đó. Ông thị trưởng thì hoang mang, các thầy thuốc thì kiệt sức. Theo yêu cầu của họ, cuộc họp quyết định những biện pháp mới để đề phòng bệnh lây lan theo đường miệng. Cũng như thường ngày, người ta vẫn không rõ tình hình rồi sẽ ra sao.
Rieux nhìn mẹ. Đôi mắt đẹp màu nâu sẫm của bà cụ làm ông nhớ lại những năm tháng được yêu chiều.
- Mẹ có sợ không mẹ?
- Ở tuổi mẹ, người ta chẳng sợ bao nhiêu nữa.
- Ngày thì dài mà con thì không bao giờ được ở bên mẹ.
- Mẹ có phải chờ con cũng chẳng sao nếu mẹ biết thế nào con cũng về. Và khi con chưa về thì mẹ nghĩ tới công việc con làm. Con có tin gì mới không?
- Vâng có, mọi sự đều tốt lành theo bức điện con vừa nhận được. Nhưng con biết là cô ta nói thế cho con yên lòng.
Có tiếng chuông gọi cửa. Rieux mỉm cười với mẹ và đi ra mở. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, trên cầu thang. Tarrou có vẻ như một chú gấu khổng lồ, quấn áo màu xám. Rieux mời khách ngồi vào trước bàn làm việc, còn mình thì đứng sau chiếc ghế bành. Ngăn cách giữa hai người chỉ có cây đèn thắp sáng trên mặt bàn.
Không hề rào đón, Tarrou lên tiếng :
- Tôi biết là tôi có thể nói thẳng với ông.
Rieux im lặng tán thành.
- Chỉ mười lăm ngày hay một tháng sau là ông sẽ không còn làm được gì có ích ở đây nữa. Ông sẽ không với kịp tình hình.
- Đúng thế. - Rieux đáp.
- Tổ chức y tế hiện nay dở. Các ông thiếu người và thiếu cả thời gian.
Một lần nữa Rieux lại thừa nhận là đúng như thế.
- Tôi được biết là tỉnh dự kiến một thứ cơ quan dân sự để buộc những người lành mạnh tham gia công việc cứu trợ chung.
- Ông nắm chắc tình hình đấy. Nhưng người ta đã bất bình lắm rồi và ông thị trưởng không thể không lưỡng lự.
- Vì sao không yêu cầu những người tự nguyện?
- Người ta đã làm, nhưng kết quả ít ỏi lắm.
- Vì người ta đã làm theo con đường Nhà nước và không mấy tin tưởng. Cái họ thiếu là trí tưởng tượng. Họ không bao giờ ở ngang tầm tai họa. Và những liều thuốc họ nghĩ ra chỉ đủ để chữa bệnh sổ mũi. Nếu cứ để họ làm thì họ sẽ chết và chúng ta sẽ cùng chết theo với họ.
- Có thể - Rieux đáp - Tôi phải nói là tuy thế, họ vẫn nghĩ tới việc huy động người tù để làm những công việc nặng nhọc.
- Làm công việc đó, phải là những người tự do thì hơn.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng xét cho cùng vì sao?
- Tôi kinh tởm những vụ án tử hình.
Rieux nhìn Tarrou.
- Thế thì sao? - Ông hỏi.
- Thì tôi có một chương trình thành lập những tổ chức y tế tự nguyện. Ông cho phép tôi phụ trách công việc đó và chúng ta hãy gác lại một bên tổ chức Nhà nước. Vả lại, tổ chức Nhà nước đã quá bận rộn. Tôi có bạn bè hầu như ở khắp nơi và họ sẽ là những hạt nhân đầu tiên. Và dĩ nhiên tôi sẽ tham gia.
- Dĩ nhiên, - Rieux đáp - ông cho là tôi vui vẻ nhận lời. Chúng tôi cần được giúp đỡ, nhất là trong cái nghề này. Tôi sẽ làm cho trên tỉnh chấp nhận. Vả lại, họ không có cách nào khác. Nhưng...
Rieux đăm chiêu :
- Nhưng công việc đó có thể làm chết người, ông biết đấy. Và dẫu sao, tôi cũng phải nói trước với ông điều đó. Ông đã suy nghĩ thật kỹ chưa?
Tarrou ngước cặp mắt màu tro nhìn ông.
- Bác sĩ nghĩ thế nào về bài thuyết giáo của Paneloux?
Câu hỏi được đặt ra một cách tự nhiên và Rieux cũng trả lời một cách tự nhiên :
- Tôi đã sống qua nhiều trong các bệnh viện nên không ưa cái quan niệm trừng phạt tập thể. Nhưng ông biết đấy, đôi khi, những người Cơ Đốc giáo, nói như thế tuy không thực sự nghĩ như thế bao giờ. Họ tốt hơn là họ biểu thị ra ngoài.
- Nhưng ông cũng nghĩ như Paneloux là dịch hạch có mặt từ thiện của nó, là nó làm cho người ta mở mắt ra, nó buộc người ta phải suy nghĩ!
Bác sĩ Rieux lắc đầu, vẻ sốt ruột :
- Dịch hạch cũng như mọi bệnh tật trên đời này thôi. Nhưng cái gì đúng với mọi tai họa thì cũng đúng với dịch hạch. Dịch hạch có thể giúp cho vài bốn người lớn lên. Nhưng dịch hạch gieo rắc khổ ải và đau thương nên nếu không điên thì cũng mù, không mù thì cũng hèn nhát mới cam chịu bó tay trước dịch hạch.
Rieux chỉ hơi cao giọng một tí. Nhưng Tarrou giơ tay ra hiệu như để làm ông trấn tĩnh. Ông mỉm cười :
- Đúng - Rieux nói và nhún vai - Nhưng ông chưa trả lời tôi. Ông đã suy nghĩ chưa?
Tarrou hơi lấy lại tư thế trong ghế bành và nhô đầu ra ngoài ánh sáng.
- Bác sĩ có tin ở Thượng đế không?
Câu hỏi lại vẫn được đặt ra một cách tự nhiên. Nhưng lần này, Rieux ngập ngừng.
- Không, nhưng như thế có nghĩa là thế nào? Tôi ở trong đêm tối và tôi cố gắng nhìn cho sáng tỏ. Đã từ lâu tôi không còn thấy cái đó độc đáo nữa.
- Phải chăng cái đó ngăn cách ông với Paneloux?
- Tôi không nghĩ như vậy. Paneloux là một nhà nghiên cứu. Ông ta chưa thấy người ta chết nhiều và vì vậy ông ta nói nhân danh một chân lý. Nhưng bất kỳ một linh mục nào ở nông thôn khi cai quản giáo dân và nghe hơi thở của một người hấp hối cũng đều suy nghĩ như tôi. Ông ta sẽ cho chăm sóc nỗi đau khổ trước khi tìm cách chứng minh mặt ưu việt của nó.
Rieux đứng dậy, khuôn mặt khuất trong bóng tối. Ông nói tiếp :
- Chúng ta gác cái đó lại vì ông không muốn trả lời.
Tarrou ngồi yên trong ghế bành mỉm cười :
- Tôi có thể trả lời bằng một câu hỏi được không?
Đến lượt Rieux mỉm cười :
- Thì ra ông thích những điều bí ẩn. Thôi được, ông cứ hỏi.
- Thế này, - Tarrou nói - vì sao bản thân ông, ông tận tụy đến thế trong khi ông không tin vào Thượng đế? Có thể câu trả lời của ông sẽ giúp bản thân tôi trả lời.
Vẫn đứng trong bóng đêm, Rieux đáp là ông đã trả lời rồi, là nếu ông tin vào một Thượng đế toàn năng thì ông đã không còn chạy chữa cho người ta nữa, và dành công việc đó cho Chúa. Nhưng không một ai, không, ngay cả Paneloux là người tin rằng mình tin đi nữa, trên đời này, không một ai tin vào một Thượng đế kiểu đó, vì lẽ không một ai phó mặc mình hoàn toàn và chí ít, về mặt này, Rieux tin là mình ở trên con đường chân lý trong lúc đấu tranh chống lại thế giới như nó đang tồn tại hiện nay.
- A! - Tarrou thốt lên - Ông quan niệm nghề nghiệp của ông như thế đấy?
- Gần như thế. - Rieux vừa đáp vừa đứng ra ngoài vùng sáng.
Tarrou khẽ huýt sáo. Ngước nhìn anh, ông nói tiếp :
- Vâng, chắc ông nghĩ bụng là muốn thế cần phải có lòng kiêu hãnh. Nhưng tôi chỉ có chút lòng kiêu hãnh cần thiết, xin ông cứ tin như vậy. Tôi không rõ cái gì chờ đợi tôi và cái gì sẽ xảy ra sau tất cả tình hình này. Chỉ biết lúc này có người bệnh và cần chữa bệnh cho họ. Sau đó, họ sẽ suy nghĩ và tôi cũng vậy. Nhưng cấp bách hơn hết là chữa bệnh cho họ. Sức lực tôi đến đâu thì tôi bảo vệ họ đến đó, thế thôi.
- Bảo vệ chống lại ai?
Rieux quay về phía cửa sổ. Ông hình dung mặt biển xa xa kết tụ phía chân trời và trở nên sẫm màu hơn. Ông cảm thấy mệt mỏi và muốn chống lại cái ý muốn đột ngột và phi lý là cởi mở hơn một chút nữa với con người có vẻ kỳ cục nhưng ông cảm thấy thân ái này.
- Tôi không biết gì hết, ông Tarrou ạ, tôi cam đoan với ông là tôi không biết gì hết. Khi tôi bước chân vào nghề, có thể nói là tôi đã bước vào một cách mơ hồ, vì tôi cần đến nó, vì nó là một nghề nghiệp như những nghề nghiệp khác, một trong những nghề nghiệp ước mong của tuổi trẻ. Có lẽ cũng vì đó là một việc đặc biệt khó khăn cho con một người thợ như tôi. Rồi lại phải nhìn người ta chết. Ông có biết là có những người không chịu chấp nhận cái chết không? Ông đã bao giờ nghe một thiếu phụ la hét: “Không bao giờ!” vào lúc chết chưa? Tôi thì đã nghe. Và lúc ấy, tôi nhận ra rằng mình không thể làm quen với cái đó được. Lúc ấy, tôi còn trẻ và hình như tôi kinh tởm đối với bản thân cái trật tự trên đời này. Về sau, tôi trở nên khiêm tốn hơn. Nhưng tôi vẫn không sao quen được việc nhìn người ta chết. Tôi không hề biết gì hơn nữa. Nhưng dẫu sao...
Rieux ngừng lại và ngồi xuống. Ông cảm thấy khô miệng.
- Dẫu sao thế nào? - Tarrou nhẹ nhàng hỏi.
- Dẫu sao... - Rieux nói tiếp, rồi lại ngập ngừng, đăm đăm nhìn Tarrou - đó là điều một người như ông có thể hiểu, phải không nào? Nhưng vì trật tự trên cõi đời này là do cái chết quy định cho nên có lẽ tốt hơn cho Chúa là không nên tin ở Chúa mà cần đem hết sức mình đấu tranh chống lại cái chết, và không ngước mắt lên trời nơi Chúa một mực lặng im.
- Vâng, - Tarrou tán thành - tôi có thể hiểu. Nhưng thắng lợi của ông bao giờ cũng chỉ tạm thời, có thể thôi.
Rieux có vẻ âu sầu :
- Bao giờ cũng thế, tôi biết. Nhưng không phải vì vậy mà thôi không đấu tranh.
- Vâng, không phải vì vậy mà thôi không đấu tranh. Như thế là tôi hình dung được cái bệnh dịch hạch này đối với ông là thế nào.
- Đúng - Rieux nói - Một thất bại không bao giờ chấm dứt.
Tarrou đăm đăm nhìn bác sĩ một lát, rồi đứng dậy và nặng nề đi ra phía cửa. Và Rieux đi theo. Khi ông theo kịp thì Tarrou lúc đó hình như đang nhìn xuống dưới chân, nói với ông :
- Ai dạy cho ông tất cả cái đó, thưa bác sĩ?
Rieux trả lời ngay lập tức :
- Sự cùng khổ.
Rieux mở cửa buồng giấy, và khi bước vào hành lang, nói với Tarrou là ông cũng xuống thang gác để đi thăm một người bệnh ở ngoại ô. Tarrou đề nghị cùng đi và bác sĩ đồng ý. Đi hết hành lang, hai người gặp bà cụ mẹ Rieux và bác sĩ giới thiệu Tarrou với cụ :
- Bạn con.
- Ồ! - Cụ Rieux đáp - Tôi rất sung sướng được biết ông.
Khi cụ đi khỏi, Tarrou còn quay lại nhìn. Trên cầu thang, Rieux bật điện nhưng không được. Thang gác vẫn tối om. Rieux nghĩ bụng không biết có phải do một biện pháp tiết kiệm mới nữa không. Nhưng không sao biết được. Đã ít lâu nay, trong các gia đình và trong thành phố, mọi thứ đều trục trặc. Phải chăng chỉ vì những người gác cổng, và cả đồng bào chúng tôi nữa nói chung, không còn ai quan tâm đến gì nữa hết? Nhưng bác sĩ Rieux không có thì giờ suy nghĩ nhiều hơn vì tiếng nói của Tarrou đã cất lên phía sau lưng :
- Tôi xin nói thêm một lời, thưa bác sĩ, dù ông có cho là lố bịch: tôi thấy ông hoàn toàn có lý.
Rieux nhún vai đối với riêng mình, trong đêm tối.
- Quả thật là tôi không hiểu gì hết. Nhưng ông, thì ông hiểu thế nào?
- Ồ! - Tarrou điềm tĩnh trả lời - Tôi không có gì nhiều phải học cả.
Bác sĩ Rieux đứng lại và sau lưng ông, Tarrou trượt chân trên một bậc cầu thang. Nắm vai bác sĩ, anh chựng lại được.
- Ông có nghĩ là ông hiểu hết mọi cái trên đời không? - Rieux hỏi.
Trong bóng đêm, Tarrou điềm tĩnh trả lời :
- Có.
Ra đến đường phố, họ biết đêm đã khuya, có lẽ đã mười một giờ. Thành phố im ắng, chỉ có tiếng lá cây xào xạc. Rất xa, vang lên tiếng còi xe cứu thương. Họ bước lên ô-tô và Rieux nổ máy.
- Mai, mời ông đến bệnh viện tiêm phòng - Rieux báo - Nhưng để kết thúc và trước khi nói chuyện tiêm chủng, ông phải yên trí là mình chỉ có một phần ba khả năng thoát khỏi bệnh.
- Thưa bác sĩ, sự ước lượng ấy chẳng có ý nghĩa gì, chắc ông cũng rõ như tôi. Trước đây một trăm năm, một đợt dịch hạch giết sạch dân một thành phố Ba Tư, và đúng là chỉ trừ lại người tắm rửa cho người chết mà ông ta thì không một ngày nào nghỉ việc.
- Ông ta đã giành được cái khả năng thứ ba, chỉ có thế thôi - Rieux đáp, giọng bỗng nhiên trầm lại - Nhưng quả là chúng ta còn phải học tất thảy mọi cái về vấn đề này.
Hai người ra đến vùng ngoại ô. Đèn xa chiếu sáng những con đường vắng vẻ. Họ dừng xe. Đứng trước ô-tô, Rieux hỏi Tarrou có muốn vào không và anh nhận lời. Một tia sáng trên bầu trời soi rõ nét mặt họ. Rieux bỗng mỉm cười thân ái :
- Ông Tarrou này, cái gì xui khiến ông quan tâm tới những cái đó?
- Tôi không rõ. Có lẽ là đạo lý của tôi.
- Đạo lý nào?
- Sự thông cảm.
Tarrou quay về phía ngôi nhà và mãi đến lúc hai người bước vào nhà ông lão bị hen suyễn, Rieux mới nhìn thấy mặt anh.
Ngay ngày hôm sau, Tarrou bắt tay vào việc và tập hợp một kíp đầu tiên, sau đó có nhiều kíp khác tiếp theo.
Người kể chuyện không có ý định cường điệu tầm quan trọng của những tổ chức y tế này. Quả là vào địa vị anh ta, chắc hẳn ngày nay, nhiều đồng bào chúng tôi không cưỡng lại được ý muốn quá đề cao vai trò của chúng. Nhưng người kể chuyện nghĩ rằng nếu quá coi trọng những nghĩa cử ấy thì cuối cùng sẽ gián tiếp và mạnh mẽ ca ngợi cái ác. Vì sẽ làm cho người ta có quan niệm là những nghĩa cử ấy sở dĩ có giá trị lớn như vậy, chẳng qua là vì hiếm thấy, còn độc ác và thờ ơ là những động cơ thường gặp hơn nhiều trong hành vi con người. Người kể chuyện không đồng tình với quan điểm đó. Cái ác trên đời này hầu như bao giờ cũng bắt nguồn từ sự dốt nát, và thiện chí cũng có thể gây tổn thất như tà tâm nếu không được soi đường. Người đời, thường tốt hơn là xấu và thực ra, vấn đề không phải là ở đây. Nhưng ít nhiều người đời là dốt nát và chính cái đó là cái mà người ta gọi là nết tốt hay tính xấu, và tính xấu tồi tệ nhất là của những kẻ dốt nát nhưng lại cho là mình biết hết thảy và lúc đó tự cho phép mình chém giết. Tâm hồn đứa giết người là một tâm hồn mù quáng, và sẽ không có lòng tốt chân chính và tình yêu cao đẹp nếu không có toàn bộ sáng suốt cần thiết.
Vì vậy những tổ chức y tế như Tarrou mà thành lập được, phải được đánh giá với một thái độ thỏa mãn khách quan. Và cũng vì vậy người kể chuyện không ca ngợi quá nồng nhiệt ý chí và lòng dũng cảm mà chỉ cho là chúng có một tầm quan trọng vừa phải. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục làm sử gia của những trái tim tan nát và khó thỏa mãn mà dịch hạch đã tạo cho tất cả đồng bào chúng tôi.
Quả là không nên đánh giá quá cao công lao của những người tận tụy với các tổ chức y tế: họ biết rằng chỉ còn có công việc ấy để làm và giả sử không làm thì mới không sao tưởng tượng nổi. Các tổ chức này giúp đồng bào chúng tôi hiểu sâu hơn dịch bệnh và thuyết phục họ phải làm cái phải làm để chống lại dịch bệnh một khi nó đã đến. Vì chống dịch hạch trở thành nghĩa vụ của một vài người như thế đó nên nó xuất hiện thực sự như nó đã từng xuất hiện, nghĩa là nó trở thành công việc của mọi người.
Thế là tốt. Nhưng người ta không ngớt khen một nhà giáo khi ông dạy hai với hai là bốn. Có lẽ đúng hơn là người ta ca ngợi ông đã chọn cái nghề đẹp đẽ ấy. Vậy phải nói rằng Tarrou và những người khác đáng khen ở chỗ là tìm cách chứng minh hai với hai là bốn, chứ không phải ngược lại: nhưng cũng lại phải nói rằng thiện chí đó cũng là thiện chí chung của các nhà giáo, của tất cả những ai có tấm lòng như tấm lòng người thầy giáo. Số lượng những con người hành động như vậy vì danh dự con người lớn hơn người ta tưởng, và ít nhất đó cũng là niềm tin của người kể chuyện. Vả lại, người kể chuyện ở đây nhận ra rất nhanh là người ta sẽ phản bác mình và cho rằng những con người nói trên là những kẻ liều mạng. Nhưng lịch sử bao giờ cũng có lúc người dám nói hai với hai là bốn sẽ bị tội chết. Người thầy giáo biết rõ điều đó. Và vấn đề không phải là tìm xem sự tưởng lệ hay trừng phạt nào chờ đợi lối lý giải ấy. Vấn đề là tìm xem hai với hai có là bốn hay không, về phần những đồng bào chúng tôi dám “liều mạng”, thì họ phải quyết định là họ có ở trong vòng dịch hạch hay không và có phải chống lại nó hay không.
Nhiều nhà đạo đức học mới xuất hiện trong thành phố đâm nản chí, cho rằng chẳng có thể làm được gì cả và chỉ nên quỳ gối. Và Tarrou, và Rieux và bè bạn họ có thể trả lời thế này hay thế nọ, nhưng kết luận thì bao giờ cũng là điều họ đã biết: phải chiến đấu bằng cách này hay bằng cách khác, chứ không chịu quỳ gối. Toàn bộ vấn đề là ra sức hạn chế số người phải chịu cảnh sinh ly tử biệt. Muốn vậy, chỉ có một cách duy nhất là chống lại dịch hạch. Chân lý đó không có gì đáng ngạc nhiên, nó chỉ là điều hợp lý.
Vì vậy, điều rất tự nhiên là ông già Castel đưa hết niềm tin và nghị lực vào việc pha chế huyết thanh tại chỗ, với những nguyên liệu tự tìm kiếm lấy. Thứ huyết thanh sản xuất với việc nuôi cấy bản thân con vi sinh vật đang làm ô nhiễm thành phố, ông và Rieux hy vọng có hiệu lực trực tiếp hơn thứ huyết thanh từ ngoài đưa tới, vì con vi sinh vật này có khác chút đỉnh con vi khuẩn dịch hạch đã từng được xác định một cách kinh điển. Castel hy vọng sẽ chế được khá nhanh đợt huyết thanh đầu tiên.
Cũng vì vậy, điều rất tự nhiên nữa là vốn không hề có dáng dấp anh hùng gì cả, giờ đây, Grand phụ trách ban thư ký các tổ chức y tế. Một số kíp do Tarrou thành lập mà công việc phòng bệnh trong những khu phố quá đông dân. Họ tổ chức làm vệ sinh, xem xét các hầm nhà, kho lúa trước đây chưa được tẩy uế. Một số kíp khác giúp việc các thầy thuốc trong việc khám bệnh tại nhà, bảo đảm việc chuyên chở người bệnh và thậm chí, về sau, tự tay lái xe chở người bệnh và người chết khi thiếu nhân viên chuyên môn. Tất cả công việc đó đòi hỏi phải có ghi chép và thống kê, và Grand đã nhận làm.
Về phương diện này và còn hơn cả Rieux hay Tarrou, người kể chuyện ở đây cho rằng Grand là người đại diện thực sự cho tấm lòng dũng cảm thầm lặng thúc đẩy hoạt động của các tổ chức y tế. Anh nhận lời không chút lưỡng lự, với cái thiện chí vốn thuộc bản chất anh. Chỉ có điều là anh chỉ muốn xin giúp những việc nhỏ thôi. Đối với những việc khác, thì tuổi anh đã quá lớn. Buổi tối, anh có thể làm việc từ mười tám đến hai mươi giờ. Và anh ngạc nhiên nói khi thấy Rieux nồng nhiệt cảm ơn mình: “Công việc này đâu phải là khó khăn nhất. Có dịch hạch thì phải chống lại dịch hạch, điều đó thật rõ ràng. A! Giá như mọi cái cũng đơn giản như vậy!”. Rồi anh nhắc lại câu văn viết về nàng kỵ sĩ. Thỉnh thoảng, khi làm xong công việc lập phiếu. Rieux trò chuyện với Grand. Cuối cũng, cả Tarrou cũng tham gia vào câu chuyện và Grand ngày càng hào hứng tâm sự với hai người bạn. Hai người cũng thích thú theo dõi công việc cần mẫn của Grand giữa lúc dịch hạch hoành hành. Cuối cùng, cả hai người cũng cảm thấy bớt căng thẳng.
“Nàng kỵ sĩ thế nào rồi?”, Tarrou thường hỏi anh như vậy. Và bao giờ Grand cũng một mực: “Nàng đi nước kiệu, đi nước kiệu”, một nụ cười gắng gượng trên môi. Một buổi tối, Grand tuyên bố dứt khoát bỏ tính từ “kiều diễm” khi nói về nàng kỵ sĩ và từ nay sẽ dùng “mảnh mai”. “Như thế sẽ cụ thể hơn”, anh nói thêm. Lần khác, anh đọc cho hai vị thính giả của mình câu văn mở đầu được chữa lại như sau: “Vào một buổi sáng tháng năm đẹp trời, một nàng kỵ sĩ mảnh mai ngồi trên lưng một con ngựa hồng uy nghi lướt trên những lối đi đầy hoa trong rừng Boulogne”.
- Có phải như thế người ta nhìn thấy nàng rõ hơn không? - Grand hỏi.
Sau đó, anh rất băn khoăn về tính từ “uy nghi”. Theo anh, từ đó chẳng nói lên được gì cả và anh đi tìm cái từ nào có thể “chụp ảnh” ngay tức khắc con ngựa cái rực rỡ trong tưởng tượng của anh. “Béo tốt” thì không ổn, vì nó cụ thể nhưng hơi thông tục. “Lấp lánh” đã hấp dẫn anh một lúc nhưng âm điệu lại không ổn. Một buổi tối, anh hoan hỉ tuyên bố đã tìm được: “Một con ngựa hồng màu đen”. Theo anh, màu đen miêu tả kín đáo sự thanh nhã.
- Không được. - Rieux bảo.
- Vì sao?
- “Hồng” không chỉ giống ngựa, mà chỉ màu sắc.
- Màu gì?
- Màu gì đi nữa thì cũng không phải là màu đen.
Grand tỏ vẻ rất xúc động :
- Cảm ơn, may sao có các ông. Nhưng các ông thấy khó biết chừng nào!
- Dùng từ “lộng lẫy” thì ông thấy sao? - Tarrou hỏi.
Grand nhìn anh và nghĩ ngợi :
- Đúng, đúng!
Và dần dần trở lại tươi cười.
Trước đó ít lâu, anh thú nhận là từ “nở hoa” làm anh bối rối. Vì chỉ mới biết có hai thành phố Oran và Montélimar nên thỉnh thoảng anh lại hỏi hai người bạn hoa nở như thế nào trên các lối đi trong rừng Boulogne. Thực ra Rieux và Tarrou chưa bao giờ có cảm xúc đó, nhưng niềm tin sắt đá của Grand làm họ xao xuyến. Anh chàng kinh ngạc trước vẻ nghi hoặc của họ. “Chỉ có các nghệ sĩ mới biết cách nhìn”. Nhưng một lần, bác sĩ Rieux thấy anh hết sức xúc động. Anh đã thay thế “nở hoa” bằng “đầy hoa”. Anh xoa xoa hai tay: “Cuối cùng, người ta nhìn thấy chúng, ngửi thấy chúng. Các ngài “bái phục” đi thôi!” Anh long trọng đọc câu văn: “Vào một buổi sáng tháng năm đẹp trời, một nàng kỵ sĩ mảnh mai ngồi trên lưng một con ngựa hồng lộng lẫy, lướt trên những lối đi đầy hoa trong rừng Boulogne” Nhưng đọc to lên, ba từ chỉ sự sở thuộc [17] cuối câu vang lên một cách khó chịu và Grand hơi ấp úng. Anh buồn bã ngồi xuống. Rồi xin phép bác sĩ Rieux đi ra. Anh cần phải suy nghĩ chút đỉnh.
Vào thời kỳ này - nhưng mãi về sau Rieux và Tarrou mới biết - ở cơ quan, Grand tỏ những dấu hiệu lơ đãng mà người ta cho là đáng tiếc vào lúc, với một biên chế giảm bớt, tòa thị chính phải đối phó với những công việc hết sức nặng nề. Tình hình đó ảnh hưởng tới cơ quan và viên trưởng phòng nghiêm khắc trách cứ anh, bảo là anh được trả lương để làm một công việc mà chính anh lại không làm trọn. “Hình như, - Ông ta nói - ông tham gia tự nguyện vào các tổ chức y tế, ngoài công việc của ông. Cái đó không liên quan đến tôi. Nhưng cái liên quan đến tôi, là công việc của ông. Và cách tốt nhất để ông tỏ ra hữu ích trong những hoàn cảnh khủng khiếp này, là làm tốt công việc của mình. Nếu không, thì mọi cái khác chẳng để làm gì hết”.
- Ông ta nói có lý. - Grand nói với Rieux.
- Đúng, ông ta nói có lý. - Bác sĩ Rieux tán thành.
- Nhưng tôi đãng trí và tôi không biết làm thế nào để kết thúc câu văn của mình.
Grand đã nghĩ tới việc bỏ bớt “Boulogne” vì cho rằng ai cũng hiểu cả thôi. Nhưng như thế thì câu văn lại có vẻ gắn vào “hoa” cái, thực ra, gắn vào “lối đi” [18]. Anh cũng đã nghĩ tới khả năng viết: “Những lối đi trong rừng đầy hoa”. Nhưng đặt “rừng” giữa một danh từ và một hình dung từ mà nó tách ra một cách võ đoán [19], anh cảm thấy như có một cái gai đâm trong da thịt. Quả là nhiều tối, anh còn có vẻ mệt mỏi hơn cả Rieux.
Đúng, anh mệt mỏi vì công việc tìm tòi chữ nghĩa này thu hút hết tâm lực anh, nhưng không phải vì vậy mà anh không tiếp tục làm những phép tính và công việc thống kê cần thiết cho các tổ chức y tế. Tối nào cũng vậy, anh kiên nhẫn lý giải các tờ phiếu, vẽ thêm các đồ thị, biểu diễn và chậm rãi cố gắng trình bày các bảng thống kê sao cho thật chính xác. Nhiều khi anh đến gặp Rieux trong bệnh viện, xin một chiếc bàn trong văn phòng hay trạm y tế. Anh ngồi đấy với đống giấy tờ, hoàn toàn giống như anh ngồi ở tòa thị chính, và trong bầu không khí trở nên đông đặc vì các chất tẩy uế và cả vì bệnh tật, anh vẫy vẫy mấy tờ giấy cho mực chóng khô. Lúc đó, anh thực lòng cố gắng không nghĩ tới “nàng kỵ sĩ” của mình và chỉ ra sức làm việc cần làm thôi.
Đúng, nếu quả loài người thiết tha đặt cho mình những tấm gương và những hình mẫu mà họ gọi là những anh hùng, và nếu nhất thiết trong câu chuyện này phải có một người anh hùng, thì người kể chuyện đề nghị chọn người anh hùng tầm thường và mờ nhạt trên đây. Người kể chuyện thấy anh có chút lòng nhân hậu và một lý tưởng thoạt nhìn có vẻ kỳ cục. Như thế thì sẽ trả lại cho chân lý những gì thuộc về chân lý, trả lại cho phép cộng hai với hai cái tổng số bốn của nó và trả lại cho chủ nghĩa anh hùng cái vị trí thứ yếu vốn là của nó: nó phải ở ngay sau, chứ không bao giờ đứng trước những đòi hỏi hào hiệp của hạnh phúc. Và như thế cũng mang lại cho tập ký này tính cách của nó, của một chuyện kể dệt bằng những tình cảm tốt đẹp, tôi muốn nói là những tình cảm không xấu xa một cách lộ liễu và cũng không bồng bột theo lối đóng kịch một cách lố bịch.
Ít ra đó cũng là quan niệm của bác sĩ Rieux khi ông đọc trong báo hay trên đài những lời kêu gọi và khích lệ của thế giới bên ngoài tới thành phố bị dịch hạch. Đồng thời với những thứ cứu trợ gửi tới bằng đường không và đường bộ, tối nào cũng vậy, trên các làn sóng hay các báo chí, cái thành phố từ nay cô đơn này nhận được vô số những lời bình luận xót thương hay ca ngợi. Và mỗi lần như vậy, cái giọng kiểu anh hùng ca hay diễn văn phát phần thưởng lại làm Rieux sốt ruột. Dĩ nhiên, ông biết đó không phải là một mối quan tâm giả dối. Nhưng mối quan tâm ấy chỉ có thể được biểu lộ bằng một ngôn ngữ ước lệ mà người ta dùng để thể hiện những gì gắn bó họ với nhân loại. Thứ ngôn ngữ đó không thể đem áp dụng vào những cố gắng nhỏ nhoi hằng ngày của Grand chẳng hạn, không thể trình bày Grand có ý nghĩa như thế nào ở ngay giữa nạn dịch hạch.
Đôi khi, vào lúc nửa đêm, trong cảnh im lặng như tờ của thành phố hoang vắng, vào lúc đi lại giường để ngủ một giấc ngủ quá ngắn ngủi, Rieux bấm nút mở đài. Và từ những góc biển chân trời, cách xa hàng ngàn kilômét, những giọng nói xa lạ và thân ái vụng về tìm cách nói lên tinh thần đoàn kết và quả là nói lên được, nhưng đồng thời cũng chứng tỏ sự bất lực khủng khiếp của mọi con người trong việc chia sẻ một nỗi đau thương mà mình không thể nhìn thấy: “Oran! Oran!” Lời kêu gọi vượt qua biển cả, nhưng vô ích; Rieux chăm chú hết sức mình lắng nghe, nhưng cũng vô ích; chẳng mấy chốc lời kêu gọi mỗi lúc thêm hùng biện và càng làm nổi bật cái hố ngăn cách khiến cho Grand và diễn giả bên kia trở thành hai kẻ xa lạ. “Oran! đúng, Oran! Nhưng không, bác sĩ Rieux nghĩ ngợi, yêu nhau hoặc cùng chết với nhau, không có phương kế nào khác. Họ ở cách quá xa”.
Trong lúc tai họa tập trung hết sức lực đổ ập xuống thành phố và chiếm đoạt nó vĩnh viễn, thì điều còn phải kể lại trước khi nói tới điểm đỉnh của dịch hạch, chính là những cố gắng tuyệt vọng và đơn điệu của những người cuối cùng, như Rambert, để giành lại hạnh phúc và tước đoạt của dịch hạch cái phần của chính bản thân họ mà họ bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm. Đấy là cái cách họ khước từ sự chinh phục đang uy hiếp mình và tuy sự khước từ này, rõ ràng là không có hiệu quả bằng sự chinh phục kia, người kể chuyện ở đây vẫn cho là nó có đầy đủ ý nghĩa: dù có phù phiếm và mâu thuẫn đi nữa, nó vẫn biện hộ cho cái phần kiêu hãnh ở mỗi con người chúng ta.
Rambert phấn đấu không cho dịch hạch bao vây mình. Biết không thể ra khỏi thành phố bằng con đường hợp pháp, anh quyết định, như anh đã từng nói với Rieux, sử dụng những phương tiện khác. Anh bắt đầu bằng những chú bồi bàn trong khách sạn. Một chú bồi bàn thì luôn luôn biết hết mọi việc. Nhưng những người đầu tiên anh hỏi, thường nghe tin những hình phạt rất nặng đối với loại hành vi này. Thậm chí, có một trường hợp, anh bị coi là một kẻ khiêu khích. Muốn công việc tiến triển chút ít, thì phải gặp Cottard ở nhà Rieux. Hôm đó, Rieux và anh vẫn còn nói về những cuộc chạy vạy vô bổ của anh trong các cơ quan Nhà nước. Mấy ngày sau, Cottard gặp Rambert trên đường và chào hỏi anh với cái vẻ tròn trĩnh giờ đây hắn đưa vào trong mọi mối quan hệ :
- Vẫn không được gì hết à? - Hắn hỏi.
- Vẫn không, không gì hết.
- Đừng trông mong gì ở các công sở. Chúng không phải sinh ra để thông cảm đâu.
- Đúng thế. Nhưng tôi tìm kiếm cái khác. Khó lắm cơ!
- A! - Cottard thốt lên - Tôi hiểu.
Hắn có biết một đường dây, và trước vẻ ngạc nhiên của Rambert, hắn giải thích rằng đã từ lâu, hắn la cà khắp các tiệm cà phê ở Oran, rằng hắn có bạn bè và hắn được biết là có một tổ chức lo liệu loại công việc này. Sự thật là Cottard, mà từ nay chi tiêu vượt quá thu nhập, đã dính líu vào hoạt động buôn lậu những sản phẩm định lượng bị hạn chế. Hắn bán lại thuốc lá và rượu tồi mà giá cả tăng không ngừng và hiện đang làm giàu cho hắn.
- Ông có biết chắc chắn không? - Rambert hỏi.
- Có, bởi vì người ta đề xuất với tôi.
- Và ông đã không lợi dụng?
- Ông đừng ngờ vực, - Cottard nói, vẻ thật thà - tôi không lợi dụng bởi vì tôi, tôi không muốn đi. Tôi có lý do riêng của mình.
Im lặng một lát, hắn nói thêm :
- Ông không hỏi tôi vì những lý do gì à?
- Tôi nghĩ cái đó không dính dáng với tôi. - Rambert đáp.
- Quả là một mặt nào đó, cái đó không dính dáng tới ông. Nhưng ở một mặt khác... Cuối cùng, điều hiển nhiên duy nhất, là ở đây tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều từ khi thành phố bị dịch hạch.
Rambert lắng nghe rồi hỏi :
- Làm thế nào để gặp được tổ chức ấy?
- A! - Cottard đáp - Không dễ đâu. Ông hãy đi cùng tôi.
Bốn giờ chiều. Bầu trời u ám. Thành phố hầm hập. Mọi cửa hiệu đều rũ mành. Đường phố vắng tanh, Cottard và Rambert đi theo những con đường có cổng tò vò và im lặng cặm cụi cất bước. Vào giờ này, không thấy dịch hạch đâu cả. Bầu không khí im ắng này, sự vắng lặng của màu sắc và hoạt động này, đều có thể do mùa hè hoặc do tai họa gây nên. Người ta không biết không khí mang nặng những sự uy hiếp hay mang nặng bụi bặm và nóng bức. Phải quan sát và suy nghĩ mới nhìn ra dịch hạch. Vì nó chỉ bộc lộ ra qua những dấu hiệu tiêu cực. Cottard, tương hợp với dịch hạch, lưu ý Rambert chẳng hạn về hiện tượng không thấy các đàn chó nhẽ ra phải nằm thở hồng hộc trong các hành lang để kiếm một chút mát mẻ thực ra không sao có thể kiếm được.
Họ đi dọc đại lộ Cây Cọ, vượt qua quảng trường Duyệt binh và đi về phía khu phố Hải quân. Bên trái, một quán cà phê quét vôi xanh nằm ẩn dưới một bức mành treo tréo bằng vải thô màu vàng. Cottard và Rambert vừa bước vào vừa lau trán. Họ ngồi xuống những chiếc ghế gấp dùng đặt ngoài vườn, trước những cái bàn tôn sơn xanh. Trong tiệm vắng tanh. Ruồi vo ve trong không khí. Trong một chiếc lồng sơn vàng đặt trên quầy hàng khập khiễng, một chú vẹt trụi hết lông, nằm rũ rượi trên sào. Trên tường treo những bức tranh cũ kỹ, cáu bẩn, giăng dày mạng nhện, miêu tả những trận đánh. Trên các mặt bàn bằng tôn, và ngay cả trước mặt Rambert, những đống phân gà khô quánh lại, anh không hiểu nguyên nhân vì sao cho tới khi, từ một góc nhà tối om, một chú gà trống lộng lẫy làm ầm ĩ lên một lúc rồi chân sáo nhảy ra.
Trời lúc ấy như càng thêm oi ả. Cottard cởi áo ngoài và dập dập lên mặt bàn. Một anh chàng bé nhỏ, trong chiếc tạp dề xanh lụng thụng, từ cuối phòng bước ra, từ xa cúi chào Cottard, đi tới, lấy chân gạt mạnh chú gà trống và, giữa tiếng đàn gà cục cục, hỏi khách dùng món gì. Cottard bảo lấy vang trắng và hỏi thăm về một anh chàng Garcia. Theo lời gã lùn, đã mấy ngày nay, không thấy Garcia đến tiệm.
- Anh có nghĩ là tối nay hắn tới không?
- Ồ! - Anh kia đáp - Tôi đâu biết công việc ông ta. Nhưng ông thì ông biết giờ giấc ông ta kia mà.
- Đúng, nhưng chẳng có gì quan trọng đâu. Tôi chỉ muốn giới thiệu một người bạn với hắn thôi mà.
Anh chàng hầu bàn chùi hai tay ướt vào mặt trước tạp dề.
- A! Thì ra Ngài cũng làm apphe!
- Phải. - Cottard đáp.
Anh chàng kia hít hít,
- Vậy mời ông tối nay trở lại. Tôi sẽ cho thằng bé đi gọi.
Ra về, Rambert hỏi Cottard apphe gì.
- Dĩ nhiên là buôn lậu. Họ đưa hàng ra ngoài cửa ở thành phố, bán với giá đắt.
- Thế à - Rambert nói - Họ có những tổ chức đồng lõa à?
- Đúng thế.
Buổi tối, tấm mành được vén lên, con vẹt khẹc khẹc trong lồng và những gã đàn ông, áo sơ-mi xắn tay, ngồi quanh những chiếc bàn tôn. Một gã, mũ rơm hất ra sau gáy, áo sơ-mi trắng không cài để hở một bộ ngực màu sẫm như đất cháy nắng, đứng dậy. Cottard bước vào. Một khuôn mặt cân đối và da màu nâu, mắt đen và nhỏ, răng trắng, hai ba chiếc nhẫn đeo ở ngón tay. Hắn trạc ba mươi.
- Xin chào, - Hắn nói - chúng ta ra quầy uống đi.
Họ lặng lẽ uống ba chầu rượu.
- Chúng ta đi dạo chứ? - Garcia hỏi.
Họ đi về phía bến cảng và Garcia hỏi hai người có việc gì cần đến hắn. Cottard bảo là hắn giới thiệu Rambert không phải vì apphe, mà chỉ vì cái hắn gọi là “một chuyến ra ngoài”, Garcia vừa bước thẳng về phía trước vừa hút thuốc. Hắn đặt những câu hỏi, dùng “Anh ta” khi nói về Rambert trong lúc làm như không thấy sự có mặt của anh.
- Để làm gì? - Hắn hỏi.
- Anh ta có vợ ở Pháp.
- A!
Và một lát sau :
- Anh ta làm nghề gì?
- Nhà báo.
- Đây là một nghề nói rất nhiều.
Rambert không nói gì.
- Chỗ bạn bè cả. - Cottard lên tiếng.
Họ im lặng bước đi và ra tới bến cảng. Những tấm sắt lớn ngăn không cho vào. Nhưng họ đi về phía một quán rượu, nơi có bán cá trích rán, thơm lừng.
- Dẫu sao, - Garcia kết luận - cái đó không liên quan đến tôi, mà đến Raoul. Tôi phải đi tìm hắn. Và không phải dễ.
- A! - Cottard sôi nổi hỏi - Hắn có việc gì phải trốn tránh à?
Garcia không đáp. Gần tới quán rượu, hắn đứng lại và lần đầu tiên quay nhìn Rambert.
- Ngày kia, lúc mười một giờ, ở góc trạm kiểm soát hải quan, phía đầu thành phố?
Hắn làm ra bộ muốn ra đi, nhưng lại quay về phía hai người.
- Phải có phí tổn đấy. - Hắn bảo.
Hắn nói hờ hững như nêu một lời nhận xét.
- Dĩ nhiên. - Rambert đồng tình đáp.
Một lát sau, anh chàng nhà báo cảm ơn Cottard :
- Ồ! Không - Hắn vui vẻ đáp - Tôi lấy làm thích thú được giúp ông. Vả lại, ông là nhà báo, có ngày ông sẽ trả ơn tôi.
Hai ngày sau, Rambert và Cottard đi dọc những đường phố lớn không có bóng râm dẫn về phía đầu thành phố. Một phần trạm hải quan đã biến thành bệnh xá, và trước tấm cửa lớn, người ta đứng chờ đợi, hy vọng một cuộc thăm viếng không sao có thể cho phép được, hoặc tìm kiếm những tin tức chỉ sau một lúc đã trở thành lạc hậu. Dẫu sao, nhờ có sự tập hợp ấy, người ta có điều kiện đi đi lại lại, và cũng nhờ đó mà cách quy định cuộc gặp gỡ giữa Garcia và Rambert chẳng có gì khác thường cả.
- Thật kỳ lạ, - Cottard nói - cái thái độ khăng khăng đòi đi khỏi thành phố. Cuối cùng, tình hình xảy ra thật là thú vị.
- Đối với tôi thì không. - Rambert đáp.
- Ồ! Dĩ nhiên, phải liều một cái gì đấy. Nhưng xét cho cùng, trước khi xảy ra dịch hạch, người ta cũng liều không kém khi đi qua một ngã tư thật sự tấp nập.
Đúng vào lúc đó, ô-tô của Rieux đỗ lại ở ngang tầm họ. Tarrou cầm lái và Rieux như nửa thức nửa ngủ. Ông tỉnh dậy để làm công việc giới thiệu.
- Chúng tôi biết nhau. - Tarrou nói - Chúng tôi cùng ở một khách sạn.
Anh mời Rambert lên xe về thành phố.
- Không, chúng tôi có buổi hẹn gặp ở đây.
Rieux nhìn Rambert :
- Vâng. - Rambert nói.
- A! Bác sĩ biết rồi chăng? - Cottard ngạc nhiên hỏi.
- Ông dự thẩm đến kìa. - Tarrou vừa nói vừa nhìn Cottard.
Anh chàng này biến sắc mặt. Quả là Othon đi từ phía trên đường xuống và tiến về phía họ, bước chân mạnh mẽ nhưng đều đặn. Ông bỏ mũ ra khi đi qua nhóm người.
- Chào ngài thẩm phán! - Tarrou cất tiếng.
Ông ta chào đáp lễ những người ngồi trên ô-tô, rồi nhìn Cottard và Rambert đứng ở phía sau, nghiêm trang gật đầu, Tarrou giới thiệu anh chàng thực lợi và nhà báo. Viên dự thẩm nhìn trời trong giây lát và thở dài bảo thật là một thời kỳ buồn bã.
- Thưa ông Tarrou, người ta bảo ông là ông lo việc thi hành những biện pháp phòng bệnh. Tôi hết sức hoan nghênh ông. Thưa bác sĩ, ông có nghĩ là bệnh sẽ lan rộng không?
Rieux đáp nên hy vọng là không và viên thẩm phán nhắc lại phải luôn luôn hy vọng, vì ý định của Thượng đế thì không sao hiểu thấu được. Tarrou hỏi tình hình có khiến ông ta phải làm việc gấp bội không.
- Trái lại, những vụ việc mà chúng tôi gọi là thuộc phạm vi thường phạm giảm bớt. Tôi chỉ còn phải thẩm vấn những trường hợp vi phạm nghiêm trọng những điều khoản mới. Chưa bao giờ người ta tôn trọng những đạo luật ngày trước như hiện nay.
- Chắc hẳn vì chúng tốt hơn những điều khoản sau này. - Tarrou nói.
Viên thẩm phán thôi không còn vẻ mơ màng ngước mắt đăm đăm nhìn trời nữa. Và quan sát Tarrou với một thái độ lạnh nhạt.
- Cái đó có nghĩa lý gì? - Ông ta bảo - Cái quan trọng không phải là luật, mà là việc xét xử. Chúng ta chẳng làm gì được.
- Thằng cha đó, - Cottard nói sau khi viên thẩm phán đi rồi - chính là kẻ thù số một.
Xe nổ máy.
Một lúc sau, Rambert và Cottard thấy Garcia đi tới. Hắn tiến về phía họ. Không làm hiệu gì và thay cho lời chào, chỉ nói: “Phải chờ”.
Xung quanh, đám đông, trong đó phụ nữ nhiều hơn cả, chờ đợi im phăng phắc. Hầu hết đám phụ nữ ấy đều mang theo những cái giỏ với niềm hy vọng hão huyền là trao cho người nhà bị bệnh và với ý nghĩ còn rồ dại hơn là người bệnh có thể ăn các thức ăn của họ mang tới. Những người lính gác mang vũ khí đứng canh cửa và chốc chốc một tiếng kêu kỳ cục vượt qua khoảnh sân giữa trạm hải quan và cánh cổng. Những khuôn mặt lo âu trong đám đông vội quay về phía bệnh xá.
Ba người đang nhìn cảnh tượng ấy thì phía sau lưng, một tiếng “chào” rành rọt và trầm trầm cất lên, khiến họ quay lại. Mặc dù trời nóng, Raoul ăn bận rất chỉnh tề. Cao lớn và cường tráng, hắn mặc áo cài chéo màu sẫm và đội mũ phớt vành bắt ngược lên. Da mặt xanh xao. Mắt nâu và hai môi sít lại. Raoul nói nhanh và rành rọt :
- Chúng ta đi về phía thành phố, - Hắn bảo Garcia - cậu có thể để mặc bọn tớ.
Garcia châm thuốc hút và để họ ra đi. Họ bước nhanh, theo bước chân của Raoul đi giữa hai người.
- Garcia đã nói với tôi - Hắn bảo - Có thể được đấy. Nhưng dù thế nào, cũng mất mười nghìn quan.
Rambert đáp là anh chấp nhận.
- Các anh đến ăn trưa ngày mai với tôi, ở khách sạn Tây Ban Nha, đường phố Hải Quân.
Rambert thỏa thuận và Raoul bắt tay anh, lần đầu tiên nở nụ cười trên môi. Raoul đi rồi, Cottard xin lỗi vì ngày mai hắn không rỗi, vả lại Rambert không còn cần đến hắn nữa.
Hôm sau, khi anh chàng nhà báo bước vào khách sạn Tây Ban Nha, mọi người đều quay lại nhìn. Cái hầm tối tăm ấy ở thấp hơn nền một con đường nhỏ bụi bặm và bị mặt trời hun nóng, chỉ có những khách đàn ông, phần lớn là người gốc Tây Ban Nha. Nhưng khi Raoul ngồi ở một bàn phía cuối, ra hiệu cho Rambert và Rambert đi về phía hắn, thì sự tò mò biến mất ngay trên các khuôn mặt, và người ta quay trở lại ăn uống. Cùng ngồi ở bàn là một gã to cao nhưng gầy, râu ria tua tủa, hai vai lực lưỡng, mặt dài như ngựa, tóc lưa thưa. Cánh tay áo sơ-mi của hắn xắn cao, để lộ hai cánh tay dài ngoằng, gầy guộc, phủ đầy lông đen kịt. Hắn gật đầu ba lần khi Raoul giới thiệu Rambert. Raoul không gọi tên hắn mà chỉ dùng “anh bạn chúng tôi”.
- Anh bạn chúng tôi bảo là có khả năng giúp ông. Anh ấy sẽ...
Raoul ngừng lời vì cô gái hầu bàn đến để nghe Rambert đặt hàng.
- Anh ấy sẽ giới thiệu ông với hai người bạn chúng tôi, và hai người này sẽ cho ông biết những người canh gác tận tâm với chúng tôi. Nhưng không phải thế là xong. Những người canh gác này, tự bản thân họ phải chọn thời cơ thuận lợi. Cách đơn giản nhất là ông sẽ nghỉ lại một vài đêm tại nhà một trong hai người đó - người này ở gần cửa ô - Nhưng trước đấy, anh bạn chúng tôi đây phải tổ chức cho ông những cuộc tiếp xúc cần thiết. Khi mọi việc được thu xếp xong, thì ông sẽ thanh toán các khoản phí tổn với anh ấy.
Một lần nữa, “anh bạn” lại gật cái đầu ngựa trong lúc không ngớt trộn món xà lách cà chua và ớt mà hắn xơi ngấu nghiến. Rồi hắn nói với một giọng Tây Ban Nha lơ lớ. Hắn đề nghị gặp Rambert hai ngày sau, lúc tám giờ sáng, dưới cửa lớn nhà thờ.
- Còn hai ngày nữa kia à? - Rambert lên tiếng.
- Đó là vì không phải là chuyện dễ - Raoul đáp - Phải tìm gặp lại mấy gã.
Một lần nữa, gã mặt ngựa gật đầu còn Rambert thì đồng tình nhưng chẳng hào hứng gì. Sau đó, cả ba người lúng túng, không biết còn chuyện gì để nói nữa. Nhưng mọi cái trở nên hết sức dễ dàng khi Rambert biết gã kia là một cầu thủ bóng đá. Bản thân anh cũng ham mê môn thể thao này. Thế là họ nói chuyện về giải vô địch Pháp, về tài năng các đội nhà nghề của Anh và về chiến thuật v.v... Cuối bữa ăn, gã mặt ngựa trở nên hết sức sôi nổi và “cậu tớ” với Rambert, thuyết phục anh là trong một đội bóng, không có vị trí nào đẹp hơn vị trí trung vệ. “Cậu biết không, hắn nói, trung vệ là người phân bố trận đấu, đó chính là bóng đá”. Rambert tán thành, tuy bao giờ anh cũng giữ chân trung phong. Câu chuyện chỉ dừng lại khi đài phát thanh, sau lúc lặp đi lặp lại khẽ khàng những khúc nhạc trữ tình, báo tin là ngày hôm trước, dịch hạch làm chết một trăm ba mươi bảy người. Cử tọa không một ai phản ứng. Gã mặt ngựa nhún vai và đứng dậy. Raoul và Rambert cũng đứng dậy theo.
Lúc từ giã, anh chàng trung vệ siết chặt tay Rambert :
- Tớ tên là Gonzalès. - Hắn nói.
Hai ngày sau là hai ngày dài vô tận, đối với Rambert. Anh đến nhà Rieux và kể lại mọi chi tiết. Rồi theo bác sĩ đi thăm người bệnh. Anh chia tay với ông trước cửa nhà một bệnh nhân nghi là bị dịch hạch. Trong hành lang, nghe có tiếng chân chạy và tiếng nói: người ta báo cho gia đình biết thầy thuốc đến.
- Tôi hy vọng là Tarrou sẽ đến. - Rieux khẽ nói.
Ông có vẻ mệt mỏi.
- Dịch bệnh tiến triển nhanh quá, phải không ông? - Rambert hỏi.
Rieux đáp lại không phải như vậy và thậm chí đường biểu diễn các con số thống kê đi lên chậm hơn trước. Nhưng phương tiện chống dịch hạch không có nhiều.
- Chúng tôi thiếu dụng cụ - Ông nói - Trong tất cả các đội quân thế giới, người ta thường thay thế tình trạng thiếu hụt dụng cụ bằng con người. Nhưng người, chúng tôi cũng thiếu.
- Đã có các thầy thuốc và nhân viên y tế ở ngoài vào kia mà.
- Vâng - Rieux đáp - Mười thầy thuốc và một trăm nhân viên. Bề ngoài nhìn thì thế là nhiều. Nhưng đối với tình hình bệnh hiện nay thì chỉ vừa đủ. Nếu dịch bệnh lan rộng thì sẽ thiếu.
Rieux lắng tai nghe những tiếng động trong nhà, rồi mỉm cười nói với Rambert :
- Đúng, ông phải lo cho xong sớm đi.
Một thoáng buồn trên nét mặt Rambert :
- Ông biết đấy, tôi ra đi không phải vì cái đó.
Rieux đáp là ông biết, nhưng Rambert vẫn nói tiếp :
- Tôi tin tôi không phải là đứa hèn nhát, ít nhất là trong phần lớn cuộc đời tôi. Tôi đã có dịp thử thách. Nhưng có những ý nghĩ tôi không sao chịu nổi.
Rieux nhìn thẳng vào anh :
- Ông sẽ gặp lại cô ấy.
- Có thể, nhưng tôi không chịu được cái ý nghĩ là tình hình này kéo dài và trong lúc đó, cô ta sẽ già đi. Ở tuổi ba mươi, người ta bắt đầu già và phải lợi dụng hết tất thảy. Tôi không rõ là ông có thể hiểu hết hay không.
Rieux khẽ khàng đáp là ông nghĩ rằng ông hiểu. Bỗng Tarrou đi tới, vẻ rất sôi nổi.
- Tôi vừa mới yêu cầu Paneloux cùng tham gia với chúng ta.
- Vậy thế nào? - Rieux hỏi.
- Ông ta suy nghĩ và trả lời đồng ý.
- Tôi hài lòng - Rieux bảo - Tôi hài lòng thấy ông ta tốt hơn bài thuyết giáo của ông.
- Mọi người đều như thế cả - Tarrou tiếp lời - Chỉ có điều là phải tạo cơ hội cho họ.
Anh mỉm cười và nháy mắt về phía Rieux :
- Công việc của tôi, trong cuộc đời, là tạo cơ hội.
- Tôi xin lỗi, - Rambert lên tiếng - nhưng tôi phải đi.
Ngày thứ năm, đúng hẹn, anh đến dưới cổng lớn nhà thờ, lúc tám giờ kém năm. Không khí còn mát mẻ. Trên bầu trời, vần vũ những đám mây trắng và tròn mà lát nữa, nắng lên sẽ làm tiêu tan ngay trong một lúc. Một mùi ẩm ướt còn phảng phất trên các bãi cỏ tuy đã bị hun khô. Mặt trời, phía sau những ngôi nhà phía đông, chỉ đốt nóng cái mũ trên bức tường Jeanne d’Arc hoàn toàn mạ vàng, dựng trên quảng trường. Đồng hồ điểm tám tiếng. Rambert đi lại mấy bước dưới cái cổng vắng người. Từ trong nhà thờ nghe thoang thoảng có tiếng cầu kinh và mùi rượu cất dưới hầm cùng mùi hương trầm. Bỗng tiếng hát ngừng lại đột ngột. Hàng chục bóng đen nhỏ nhoi ra khỏi nhà thờ và lúp xúp đi về phía thành phố. Rambert bắt đầu sốt ruột. Những bóng đen khác bước lên những bậc tam cấp cao và đi về phía cổng. Anh châm thuốc, nhưng lại nghĩ là có lẽ không nên hút ở chốn này.
Tám giờ mười lăm, đàn oocgơ trong nhà thờ bắt đầu cất lên nhè nhẹ. Rambert bước vào dưới vòm tò vò tối om. Một lúc sau, anh nhìn thấy giữa giáo đường những bóng đen vừa đi qua trước mặt. Tất cả đều tụ tập lại trong một góc, trước một thứ bàn thờ tạm thời trên đặt một bức tượng thánh Roch vừa mới vội vã làm xong ở một xưởng điêu khắc trong thành phố. Quỳ gối, những bóng đen ấy như lại càng thêm co rúm lại, tan biến đi giữa bầu không khí xám xịt, giống như những mảng bóng tối đông đặc lại, rải rác đó đây và cũng chẳng rõ nét rõ hình hơn mấy so với màn sương tù mù chúng nhấp nhô trong đó. Phía trên, mấy cây đàn oocgơ không ngừng biến tấu.
Khi Rambert bước ra thì Gonzalès đang bước xuống bậc tam cấp và đi về phía thành phố.
- Tớ tưởng là cậu đã bỏ đi rồi - Hắn nói với anh chàng nhà báo - Như thế là chuyện bình thường.
Hắn thanh minh là hắn chờ bạn theo lời hò hẹn gặp, ở gần đây thôi, lúc tám giờ kém mười. Nhưng hắn chờ mãi hai mươi phút vẫn không thấy.
- Chắc là có một sự trục trặc. Trong công việc chúng tớ, làm không phải bao giờ cũng dễ chịu.
Hắn hẹn một buổi gặp khác, ngày hôm sau, cũng vào tám giờ, trước đài tử sĩ. Rambert thở dài, hất mũ phớt ra sau gáy.
- Chẳng sao đâu - Gonzalès vừa cười vừa kết luận - Cậu cứ nghĩ một chút tới những pha phối hợp, những đợt xuống bóng và chuyền bóng trước khi ghi một bàn thắng.
- Dĩ nhiên - Rambert đáp - Nhưng trận đấu chỉ kéo dài một tiếng rưỡi thôi.
Chỉ có đài tử sĩ Oran là nằm ở nơi có thể nhìn thấy biển, tựa một nơi dạo chơi chạy dọc, trên một quãng ngắn, theo những vách đá thẳng đứng trên bến cảng. Ngày hôm sau, Rambert người đầu tiên đến chỗ hẹn, chăm chú đọc danh sách những người hy sinh ở chiến trường. Mấy phút sau, hai gã đàn ông đến gần, thờ ơ nhìn anh, rồi đến đứng chống tay vào lan can trên con đường và như dồn hết tâm trí vào việc nhìn ngắm cảnh bến cảng hoang vắng. Cả hai tầm vóc như nhau, cả hai cùng mặc quần xanh nước biển và áo tricô hải quân ngắn tay. Rambert đi xa ra chút ít, rồi ngồi xuống một chiếc ghế dài, chậm rãi nhìn theo họ. Chắc hẳn họ không ngoài tuổi hai mươi. Vào lúc đó, Gonzalès tiến về phía anh và xin lỗi :
- Bạn chúng ta kia. - Hắn nói và đưa anh đến gặp hai chàng trai mà hắn giới thiệu tên là Marcel và Louis. Nhìn chính diện, hai người rất giống nhau và Rambert đoán là hai anh em.
- Đấy, - Gonzalès lại nói - bây giờ các bạn đã quen nhau. Phải thu xếp cho xong công việc đi thôi.
Marcel hay Louis, không rõ người nào, bảo là còn hai ngày nữa sẽ đến phiên họ gác trong suốt một tuần và phải chọn ngày thuận lợi nhất. Họ có cả thảy bốn người gác cửa phía tây, trong đó hai người kia là binh sĩ chuyên nghiệp. Không nên đặt vấn đề để họ tham gia vào công việc. Không có gì bảo đảm về phía họ, vả lại họ tham gia thì phải thêm chi phí. Nhưng có thể có vài tối nào đó, hai anh bạn đồng nghiệp ấy bỏ đi một lúc đến buồng sau một tiệm rượu mà họ biết rõ. Marcel hay Louis không biết người nào, bàn với Rambert đến ở nhà họ, gần cửa ô và chờ người đến tìm. Lúc đó, việc ra đi sẽ hết sức dễ dàng. Nhưng phải khẩn trương vì mới đây, có tin sẽ đặt ở mỗi cửa ô hai trạm gác.
Rambert nhận lời. Anh mời họ mấy điếu thuốc còn lại. Một trong hai người từ đầu chưa nói gì, lúc đó lên tiếng hỏi Gonzalès vấn đề phí tổn đã giải quyết chưa và họ có thể nhận tiền ứng trước không.
- Không, - Gonzalès đáp - không cần thiết, chỗ bạn bè cả mà. Lúc ra đi sẽ thanh toán.
Họ hẹn nhau một buổi gặp khác, Gonzalès đề nghị hai ngày sau sẽ gặp lại tại bữa ăn tối ở khách sạn Tây Ban Nha. Từ khách sạn, sẽ về đến nhà Marcel và Louis.
- Đêm đầu tiên, - Hắn bảo Rambert - tớ sẽ cùng đến với cậu.
Ngày hôm sau, trong lúc đi về buồng, Rambert gặp Tarrou trên cầu thang khách sạn.
- Tôi đến gặp Rieux đây, - Tarrou nói với anh - ông có cùng đến không?
- Tôi không bao giờ dám chắc là tôi không làm phiền ông ta. - Rambert đáp sau một thoáng lưỡng lự.
- Tôi không nghĩ như vậy, ông ấy nói nhiều về ông với tôi.
Anh chàng nhà báo suy nghĩ :
- Ông này, - Anh ta nói - nếu sau bữa ăn tối, các ông có rảnh một lát, dù có khuya, thì mời cả hai ông cùng đến quầy rượu khách sạn.
- Cái đó còn tùy thuộc vào ông ta và vào dịch bệnh. - Tarrou đáp.
Nhưng lúc mười một giờ đêm, Rieux và Tarrou bước vào cái quầy rượu nhỏ hẹp. Khoảng ba chục người đang chen chúc nhau và nói rất to. Từ bầu không khí im ắng của cái thành phố bị dịch hạch bước tới, hai người mới đến dừng lại, có phần choáng váng. Họ hiểu sự náo động ấy khi thấy người ta vẫn còn bán rượu. Rambert ngồi ở cuối quầy và từ trên ghế đẩu trên cao, ra hiệu cho họ. Hai người đến bên cạnh anh và Tarrou điềm tĩnh đẩy lùi một anh láng giềng ồn ào.
- Các ông không sợ rượu chứ?
- Không, - Tarrou đáp - ngược lại.
Rieux hít hít mùi thuốc đắng trong ly rượu. Khó có thể chuyện trò trong cảnh ồn ã này và hình như Rambert chỉ lo uống. Rieux chưa thể đoán là anh ta có say hay không, ở một trong hai chiếc bàn chiếm hết phần còn lại của căn buồng chật hẹp, một viên sĩ quan hải quân, mỗi bên khoác tay một thiếu phụ, kể lại với một anh chàng mập ú, mặt sung huyết, một nạn dịch sốt chấy rận ở Caire: “Người ta lập trại, ông ta nói, cho người bản xứ, với những cái lều cho người bệnh, và tứ phía, một hàng rào lính canh, bọn này bắn vào thân nhân người bệnh khi họ tìm cách lén lút mang đến những liều thuốc cổ truyền. Thật tàn nhẫn, nhưng cũng thật đúng đắn”, ở chiếc bàn thứ hai, câu chuyện của mấy chàng trai ăn mặc lịch sự, không sao hiểu được và bị chìm đi trong điệu nhạc bài Saint James Infirmary [20] tuôn ra từ một chiếc loa tăng âm treo trên cao.
- Ông có mãn nguyện không? - Rieux cất cao giọng hỏi.
- Gần đến nơi - Rambert đáp - Có lẽ trong tuần này.
- Tiếc quá! - Tarrou thốt lên.
- Sao vậy?
Tarrou nhìn Rieux.
- Ồ! - Rieux bảo - Tarrou nói vậy vì nghĩ rằng ở đây ông có thể có ích cho chúng tôi. Nhưng tôi, tôi hiểu rất rõ nguyện vọng ra đi của ông.
Tarrou mời một chầu rượu nữa. Rambert tụt xuống khỏi ghế và lần đầu tiên nhìn anh chính diện :
- Tôi có thể có ích cho các ông trong việc gì?
- Vâng, - Tarrou chậm rãi đáp trong lúc với tay cầm ly rượu - vâng, trong các tổ chức y tế của chúng tôi.
Rambert lấy lại cái vẻ suy tư bướng bỉnh vốn quen thuộc của anh và ngồi lại lên ghế đẩu.
- Ông không thấy các tổ chức y tế ấy có ích sao? - Tarrou hỏi sau khi uống cạn ly rượu và đăm đăm nhìn Rambert.
- Rất có ích. - Anh chàng nhà báo trả lời, rồi cầm ly uống.
Rieux nhận thấy tay anh ta run run. Ông nghĩ là chắc chắn, đúng, chắc chắn, anh ta say bí tỉ rồi.
Ngày hôm sau, khi lần thứ hai bước vào quán ăn Tây Ban Nha. Rambert đi giữa một đám mấy gã đàn ông đã mang ghế ra đặt trước cửa và thưởng thức một buổi chiều rực rỡ khi không khí oi ả mới bắt đầu dịu bớt. Họ hút thuốc mùi hăng hắc. Phía trong, quán ăn hầu như hoang vắng. Rambert đến ngồi ở chiếc bàn cuối phòng, nơi anh đã gặp Gonzalès lần đầu. Anh bảo cô gái hầu bàn là anh chờ bạn. Đã mười chín giờ ba mươi. Dần dà, mấy gã đàn ông trở vào phòng ăn và ngồi vào bàn. Người ta bắt đầu bày bàn và căn buồng thấp lè tè ồn ã tiếng bát đĩa và tiếng trò chuyện râm ran. Đến hai mươi giờ, Rambert vẫn chờ. Đèn bật sáng. Lại có những khách mới đến ngồi vào bàn anh. Anh gọi bữa ăn tối. Hai mươi giờ ba mươi phút, anh ăn xong vẫn không thấy Gonzalès và hai anh chàng thanh niên đâu cả. Anh hút thuốc hết điếu này sang điếu khác. Buồng ăn vắng dần. Ngoài trời, đêm xuống rất nhanh. Một làn gió ấm từ biển thổi vào nâng nhẹ các tấm riđô ở cửa lên. Hai mươi mốt giờ. Rambert thấy buồng ăn không còn một ai và cô gái hầu bàn nhìn anh, vẻ kinh ngạc. Anh trả tiền và bước ra. Trước mặt quán ăn, một tiệm cà phê còn mở cửa. Rambert ngồi trước quầy hàng và quan sát cửa vào quán ăn. Hai mươi mốt giờ ba mươi. Anh trở về khách sạn, không có cách nào tìm gặp được Gonzalès vì không có địa chỉ, lòng bối rối khi nghĩ đến việc phải làm mọi cái từ đầu.
Chính vào lúc đó, khi trong đêm tối chỉ có những chiếc xe cứu thương lướt qua, anh nhận thấy, như anh sẽ thổ lộ với bác sĩ Rieux, là trong suốt thời kỳ này, có thể nói anh đã lãng quên vợ để hoàn toàn dấn mình vào việc tìm kiếm một lối thoát qua những bức tường ngăn cách giữa hai người. Nhưng cũng chính vào lúc đó, khi mọi con đường đã bị bịt kín, anh lại thấy hình ảnh nàng rạo rực trong tim và đột nhiên đau đớn nhức nhối, anh vội vã chạy về khách sạn mong trốn thoát vết thương lòng khốc liệt, tuy anh vẫn phải mang nó theo trong người và nó đốt cháy hai bên thái dương anh.
Tuy vậy, ngày hôm sau, mới sáng tinh mơ, anh đã đến gặp Rieux hỏi xem làm thế nào để tìm Cottard :
- Tất cả những việc tôi vẫn tiếp tục phải làm, - Anh nói - là lại lần theo đường dây.
- Tối mai, mời ông đến. - Rieux bảo - Tarrou yêu cầu tôi mời Cottard, tôi không hiểu vì sao. Ông ta sẽ đến lúc mười giờ. Mời ông có mặt lúc mười rưỡi.
Hôm sau, khi Cottard đến nhà bác sĩ, thì Tarrou và Rieux đang nói về một ca khỏi bệnh bất ngờ trong cơ quan Rieux.
- Một trên mười. Người bệnh gặp may. - Tarrou nói.
- A! - Cottard lên tiếng - Đâu có phải dịch hạch.
Họ cam đoan với hắn là dịch hạch.
- Không thể là dịch hạch khi người bệnh được chữa khỏi. Dịch hạch không tha một ai hết, các ông hẳn cùng biết như tôi.
- Nói chung thì không - Rieux đáp - Nhưng nếu kiên trì thì có khi có thể có những sự bất ngờ.
Cottard cười :
- Có thấy có đâu. Các ông đã nghe những con số tối nay rồi chứ?
Nhìn anh chàng thực lợi với một thái độ khoan dung, Tarrou đáp là anh biết những con số, là tình hình hiện nay nghiêm trọng nhưng điều đó chứng minh cái gì? Nó chứng minh rằng cần có những biện pháp đặc biệt hơn nữa.
- Ồ! Những biện pháp ấy, các ông đã thi hành cả rồi kia mà.
- Đúng, nhưng mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về những biện pháp ấy.
Cottard nhìn Tarrou, không hiểu anh muốn nói gì. Anh bèn bảo là có quá nhiều người ngồi không, là dịch bệnh là công việc của mọi người và mỗi người phải làm nghĩa vụ của mình. Các tổ chức y tế mở cửa đón tất cả mọi người.
- Đấy là một quan niệm, - Cottard đáp - nhưng chẳng có lợi ích gì hết. Dịch hạch có sức mạnh ghê gớm.
- Chúng ta sẽ rõ, - Tarrou kiên nhẫn nói - khi chúng ta đã cố tìm hết mọi cách.
Trong lúc đó, Rieux ngồi ở bàn chép lại các tờ phiếu, Tarrou vẫn nhìn anh chàng thực lợi cựa quậy trên ghế.
- Vì sao ông không đến với chúng tôi, ông Cottard?
Hắn liền đứng dậy, vẻ tự ái, tay cầm chiếc mũ tròn :
- Không phải nghề nghiệp của tôi!
Rồi, với một giọng khoác lác :
- Vả chăng tôi, tôi thấy mình vẫn yên ổn trong khi có dịch hạch, và tôi không thấy vì sao tôi lại phải dính vào cái việc ngăn chặn nó lại.
Tarrou vỗ vỗ trán như thể được một chân lý đột ngột soi sáng :
- A! Đúng rồi, tôi quên, không có thế thì ông đã bị bắt rồi.
Cottard giật nảy người lên và bíu chặt lấy ghế như sắp bị ngã. Rieux ngừng viết và nhìn hắn với vẻ nghiêm túc và chăm chú.
- Ai bảo ông thế? - Hắn kêu lên.
Tarrou tỏ vẻ ngạc nhiên và đáp :
- Chính ông. Hoặc chí ít, bác sĩ và tôi, chúng tôi hiểu như vậy.
Và thấy Cottard bỗng nhiên như lên một cơn điên dại quá sức chịu đựng của hắn và lầm bầm những lời lẽ không đâu vào đâu. Tarrou nói thêm :
- Ông đừng bực bõ. Không phải bác sĩ hay tôi là người tố cáo ông đâu. Chuyện của ông không dính dáng gì tới chúng tôi. Vả lại, chúng tôi chẳng bao giờ ưa cảnh sát cả. Thôi, ông hãy ngồi xuống.
Ngập ngừng một lát, anh chàng thực lợi nhìn chiếc ghế và ngồi xuống. Một lúc sau, hắn thở dài.
- Đấy là một chuyện cũ, - Hắn thừa nhận - mà họ bới móc trở lại. Tôi nghĩ là nó đã được bỏ qua. Nhưng có một ai đó đã nhắc lại. Họ cho gọi tôi tới và bảo tôi sẵn sàng làm theo mệnh lệnh của họ cho đến khi kết thúc cuộc điều tra. Tôi hiểu là cuối cùng họ sẽ tóm cổ tôi.
- Nghiêm trọng à? - Tarrou hỏi.
- Cái đó còn tùy theo cách ông hiểu. Nhưng dẫu sao thì cũng không phải là một vụ giết người.
- Phạt tù hay khổ sai?
Cottard tỏ ra rất rầu rĩ :
- Phạt tù, nếu tôi gặp may...
Nhưng một lúc sau, hắn nói tiếp, vẻ hung hăng :
- Một sự lầm lẫn thôi. Ai lại chẳng lầm lẫn. Và tôi không sao chịu nổi cái ý nghĩ lại bị bắt đi vì cái đó, bị xa cách nhà cửa, phải rời bỏ thói quen, cách biệt tất cả những người quen thuộc.
- A! Chính vì thế mà ông đã đặt ra cái chuyện thắt cổ? - Tarrou hỏi.
- Đúng, một sự dại dột, quả là như thế.
Lần đầu tiên, Rieux cất tiếng và bảo Cottard là ông hiểu nỗi lo lắng của hắn, nhưng có thể mọi thứ sẽ được thu xếp ổn thỏa.
- Ồ! lúc này, tôi biết là tôi chẳng có gì phải sợ hết.
- Tôi thấy rồi, - Tarrou nói - ông sẽ chẳng tham gia các tổ chức của chúng tôi đâu.
Xoay xoay chiếc mũ trong tay, Cottard ngước lên Tarrou một ánh mắt ngập ngừng :
- Không nên giận tôi.
- Chắc chắn là không. Nhưng ít nhất, - Tarrou vừa mỉm cười vừa nói - ông cũng đừng tìm cách cố tình gieo rắc vi trùng đấy.
Cottard thanh minh là hắn không muốn có dịch hạch, là dịch hạch tự nhiên mà đến và không phải lỗi của hắn nếu lúc này dịch hạch khiến cho công việc của hắn được thu xếp ổn thỏa. Và khi Rambert bước tới ngoài cửa, thì Cottard nói thêm, giọng hết sức quả quyết :
- Vả lại, tôi nghĩ rằng các ông chẳng đi tới đâu cả.
Rambert được biết là Cottard không rõ địa chỉ của Gonzalès, nhưng anh vẫn có thể trở lại tiệm cà phê. Họ hẹn gặp nhau ngày mai. Và khi Rieux tỏ ý muốn được biết tình hình, Rambert mời ông cùng với Tarrou đến buồng anh cuối tuần vào bất kỳ giờ nào buổi tối.
Sáng hôm sau, Cottard và Rambert đến tiệm cà phê và để lại giấy hẹn Garcia tối hôm đó, hoặc ngày hôm sau nếu hắn bận. Tối đến, họ chờ hắn, nhưng không gặp. Hôm sau, Garcia tới. Hắn im lặng nghe Rambert kể lại tình hình. Hắn không nắm được sự thể, nhưng có biết là người ta đã đóng cửa từng khu phố trọn vẹn để tiến hành kiểm tra tại chỗ trong hai mươi bốn tiếng. Có thể Gonzalès và hai gã thanh niên không vượt qua được trạm kiểm soát. Nhưng hắn chỉ có thể một lần nữa tổ chức cho họ gặp lại Raoul. Dĩ nhiên, không thể trước hai ngày.
- Tôi thấy, - Rambert nói - phải làm lại từ đầu.
Hai ngày sau, ở một góc phố, Raoul khẳng định giả thuyết của Garcia: những khu phố phía cuối thành phố đều bị cấm cửa. Phải gặp lại Gonzalès. Hai ngày sau nữa, Rambert ăn tối với tay cầu thủ bóng đá.
- Thật là ngốc - Hắn nói - Nhẽ ra phải thỏa thuận về cách gặp lại nhau.
Rambert cũng nghĩ như vậy.
- Sáng mai, chúng ta sẽ đến nhà hai thằng nhỏ, chúng ta sẽ cố gắng thu xếp cho xong.
Ngày hôm sau, hai thằng nhỏ không có nhà.
Gonzalès viết giấy để lại, hẹn gặp họ mười hai giờ trưa hôm sau, tại quảng trường trường trung học. Và Rambert trở về khách sạn. Nét mặt anh làm Tarrou ngạc nhiên khi gặp anh buổi chiều hôm đó.
- Không ổn phải không? - Tarrou hỏi anh.
- Vì phải cố gắng làm lại từ đầu. - Rambert đáp.
Và lại mời Tarrou lần nữa :
- Mời các ông tới tối nay.
Buổi tối, khi Rieux và Tarrou bước vào phòng Rambert thì anh ta đang nằm dài. Anh đứng dậy, rót đầy rượu vào cốc đã chuẩn bị sẵn. Tay cầm ly rượu, Rieux hỏi anh đã tìm đúng đường chưa. Anh chàng nhà báo đáp là anh phải làm lại một vòng hoàn chỉnh, phải trở lại điểm xuất phát ban đầu, và nay mai sẽ có buổi hẹn gặp cuối cùng. Anh ta uống và nói thêm :
- Dĩ nhiên, họ sẽ không tới.
- Không nên làm thành một nguyên tắc. - Tarrou bảo.
- Ông chưa hiểu. - Rambert đáp và nhún vai.
- Cái gì vậy?
- Dịch hạch.
- A! - Rieux thốt lên.
- Không, ông không hiểu rằng vấn đề là phải bắt đầu lại.
Rambert bước đến một góc buồng và mở nắp một chiếc máy hát nhỏ.
- Đĩa hát gì thế? - Tarrou hỏi - Tôi biết rồi đấy.
Rambert đáp là bài hát Saint James Infirmary.
Đĩa hát vừa quay được một nửa thì bỗng nghe hai tiếng súng vang lên từ xa.
- Chắc bắn chó hay bắn theo người bỏ trốn. - Tarrou lên tiếng.
Một lát sau, đĩa hát quay hết vòng và tiếng còi một chiếc xe cứu thương nổi lên, lớn dần, nghe rõ phía ngoài cửa sổ khách sạn, bé đi rồi tắt hẳn.
- Bài hát ấy thật ảo não - Rambert nói - Thế mà đến hôm nay, tôi đã nghe tới lần thứ mười.
- Ông thích nó đến thế kia à?
- Không, nhưng tôi chỉ có cái đĩa ấy thôi.
Và một lát sau :
- Tôi xin nói là phải bắt đầu trở lại.
Anh hỏi Rieux tình hình các tổ chức y tế hoạt động ra sao. Có năm kíp làm việc. Họ hy vọng tổ chức những kíp khác. Anh chàng nhà báo ngồi xuống giường và như chăm chú về mấy cái móng tay của mình. Rieux ngắm cái bóng ngắn và lực lưỡng của anh thu lu lại trên mép giường. Bỗng nhiên ông cảm thấy Rambert nhìn mình.
- Bác sĩ biết đấy, - Anh nói - tôi nghĩ nhiều tới tổ chức của các ông. Sở dĩ tôi không tham gia cùng các ông, là vì tôi có những lý do riêng. Ngoài ra, tôi nghĩ là tôi có thể làm hết sức mình, tôi đã tham gia chiến tranh ở Tây Ban Nha.
- Ở phía nào? - Tarrou hỏi.
- Phía những người bại trận. Nhưng từ đó, tôi có suy nghĩ chút đỉnh.
- Suy nghĩ về cái gì? - Tarrou lại hỏi.
- Về lòng dũng cảm. Giờ đây, tôi hiểu là con người có thể có những hành động cao cả. Nhưng nếu ai đó không thể có một tình cảm lớn, thì tôi không lưu tâm tới anh ta.
- Tôi có cảm tưởng là con người có thể làm tất cả mọi cái. - Tarrou nói.
- Không, con người không thể đau khổ hay sung sướng mãi. Vì vậy không thể làm nên trò trống gì cả.
Anh nhìn hai người, rồi hỏi tiếp :
- Thế nào, ông Tarrou, ông có thể chết vì một tình yêu được không?
- Tôi không rõ, nhưng bây giờ thì có lẽ không.
- Thế đấy. Và ông có thể chết vì một ý tưởng, điều đó rõ như ban ngày. Còn tôi, tôi chán lắm rồi những người chết vì một ý tưởng. Tôi không tin chủ nghĩa anh hùng, tôi biết cái đó là dễ và tôi hiểu là nó làm chết người. Cái mà tôi quan tâm, là ở chỗ người ta được sống và người ta được chết vì cái người ta yêu.
Rieux chăm chú lắng nghe anh chàng nhà báo. Vẫn không ngớt nhìn anh, ông khẽ khàng nói :
- Con người không phải là một ý tưởng, ông Rambert ạ.
Anh chàng nhà báo nhảy từ trên giường xuống, nét mặt bừng bừng một ngọn lửa say mê :
- Con người là một ý tưởng, một ý tưởng ngắn ngủi, từ khi nó quay lưng lại tình yêu. Và đúng là chúng ta không còn có thể yêu. Chúng ta hãy nhẫn nhục, thưa bác sĩ. Chúng ta hãy chờ tới lúc có thể yêu và nếu quả thật không thể được, thì chúng ta hãy chờ sự giải thoát chung mà không chơi cái trò anh hùng. Tôi, tôi không đi xa hơn.
Rieux đứng dậy, vẻ mệt mỏi đột ngột.
- Ông có lý, ông Rambert ạ, hoàn toàn có lý, và tôi không muốn, vì bất cứ cái gì trên đời này, khuyên ông không làm cái điều ông sắp làm, cái điều tôi cho là đúng và tốt. Nhưng tôi vẫn phải nói với ông là không có vấn đề anh hùng trong tất cả cái này. Mà là vấn đề trung thực. Ý tưởng này có thể làm người ta buồn cười đấy, nhưng cách duy nhất để chống lại dịch hạch, là lòng trung thực.
- Lòng trung thực là cái gì? - Rambert hỏi, vẻ bỗng nhiên trở nên nghiêm túc.
- Tôi không rõ nói chung nó là cái gì. Nhưng trong trường hợp của tôi, tôi biết lòng trung thực là ở chỗ làm nghề nghiệp của mình.
- A! - Rambert giận dữ nói - Tôi không biết nghề của tôi là nghề gì. Phải chăng tôi đã lầm lẫn trong lúc chọn tình yêu?
Rieux ngoảnh mặt về phía anh, cao giọng nói :
- Không, ông không lầm lẫn.
Rambert nhìn hai người, vẻ suy tư.
- Hai ông, tôi nghĩ là hai ông không có gì phải mất trong tất cả cái đó. Như thế, dễ đứng về phía tốt hơn.
Rieux uống cạn ly rượu.
- Thôi ta đi, - Ông nói - chúng tôi có việc.
Ông bước ra cửa.
Tarrou bước theo ông, nhưng ra tới cửa, lại hình như thay đổi ý kiến, quay lại phía anh chàng nhà báo và nói :
- Ông có biết là bà vợ Rieux đang ở một nhà dưỡng bệnh cách đây mấy trăm cây số không?
Rambert phác một cử chỉ ngạc nhiên nhưng Tarrou đã đi ra.
Hôm sau, mới sáng sớm, Rambert đã gọi điện cho bác sĩ Rieux :
- Ông có nhận tôi làm việc với ông cho tới khi tôi tìm được cách ra khỏi thành phố không?
Đầu dây bên kia, im lặng một lát, và sau đó :
- Có, ông Rambert ạ. Cảm ơn ông.
-------------------------------------------------------
[1] Nguyên văn: Ngôn ngữ chợ búa.
[2] Người Bắc Phi.
[3] Roch (1295 - 1327) là một người Pháp được Giáo hội phong thánh. Theo truyền thuyết, ông tận tụy chăm sóc những nạn nhân dịch hạch, bản thân bị lây nhiễm và nằm ở một nơi xa vắng nhưng được một con chó phát hiện và người chủ con vật cứu sống.
[4] Augustin (354 - 430), nhà thần học, triết học và đạo đức học, người tu sĩ nổi tiếng nhất của Giáo hội Cơ Đốc giáo.
[5] Văn bản trong tập hai kinh Cựu Ước, nhà vua và nhân dân Ai Cập chống lại Thượng đế nên bị giáng bệnh dịch hạch.
[6] La légende dores sưu tập về cuộc đời các vị thánh, được biên soạn vào thế kỷ XIII.
[7] Thủ đô và thành phố Italia.
[8] Con cả của Adam và Eva (thủy tổ loài người) đã giết chết em.
[9] Hai thành phố cổ ở Palestine bị lửa trời đốt cháy (theo Kinh Thánh).
[10] Pharaon: tên gọi các vua Ai Cập cổ đại. Job: một nhân vật trong Kinh Thánh bị Chúa trời đày đọa vẫn hôn bàn tay Chúa.
[11] Tên gọi ngày trước của nước Ethiopia.
[12] Lý lịch (tiếng La Tinh).
[13] Những nơi tắm biển ở Pháp trên bờ Địa Trung Hải.
[14] Những nơi tắm biển ở Pháp trên bờ Địa Trung Hải.
[15] Cung điện nổi tiếng ở Paris.
[16] Điện thờ danh nhân ở Pháp.
[17] Trong nguyên văn, có ba từ chỉ sự sở thuộc de, du, de (... pleines de jleurs du bois de Boullogne) mà tiếng Việt chỉ cần và chỉ có thể dịch là... đầy hoa trong rừng Boulogne.
[18] Do đặc điểm cấu trúc ngữ pháp khác nhau giữa câu tiếng Pháp và câu tiếng Việt, nên ở đây không thể thể hiện từng chi tiết một ý của tác giả. Theo cấu trúc Pháp, “những lối đi đầy hoa trong rừng Boulogne” (les allées pleines de fleurs du Bois de Boulogne) chỉ rõ lối đi là của rừng Boulogne; còn nếu viết “những lối đi đầy hoa trong rừng” (les allees pleines de Aeurs du Bois) thì người đọc có thể hiểu là hoa của rừng. Tóm lại, tác giả câu văn muốn nói là lối đi của rừng, chứ không phải là hoa của rừng.
[19] Tức là đặt “Rừng” (Bois) giữa danh từ “lối đi” (allées) và hình dung từ “đầy” (pleines) (Les allées/ du Bois/ pleines de fleurs), trong lúc chính là “lối đi đầy hoa”.
[20] Bài hát Bệnh viện thánh James của người Anh.

0
III
 
Cứ như thế, suốt cả tuần, những người bị dịch hạch cầm tù cố sức vùng vẫy. Và thậm chí một số, như Rambert, còn có ý nghĩ - như chúng ta đã thấy - là họ vẫn hành động như những con người tự do, là họ vẫn còn có thể lựa chọn. Nhưng thực tế, lúc này, vào giữa tháng tám, có thể nói dịch hạch đã bao trùm hết thảy. Không còn những số phận riêng lẻ, mà chỉ là cảnh ngộ chung, đó là dịch hạch và những tình cảm mọi người cùng chia xẻ. Cái lớn nhất là sự chia ly và cảnh lưu đày, với tất cả những nỗi sợ hãi và sự nổi loạn chúng kéo theo. Vì vậy, vào thời kỳ cao điểm này của nóng bức và bệnh tật, người kể chuyện nghĩ là đã đến lúc cần miêu tả tình cảm chung và kể lại làm ví dụ những hành vi hung bạo của người sống, việc chôn cất người chết và nỗi khổ đau của những cặp tình nhân bị chia ly.
Vào giữa năm ấy, gió nổi lên và thổi ròng rã mấy ngày liền vào cái thành phố dịch hạch đang hoành hành. Người dân Oran đặc biệt kinh hãi những cơn gió vì chúng không gặp một trở lực thiên nhiên nào trên cao nguyên này, và do vậy chúng ùa vào các đường phố hết sức hung hãn. Sau bao ngày tháng không có lấy một giọt mưa đem lại cho không khí một chút mát mẻ, thành phố bị bao phủ trong một lớp vỏ bọc xám xịt, tơi vụn ra dưới cơn gió. Gió tung lên những lớp bụi bặm và giấy má quẩn dưới chân những người dạo chơi ngày càng trở nên ít ỏi. Họ hối hả trên đường phố, cúi gập người lại, lấy mùi soa hay bàn tay che miệng. Buổi tối, ở những nơi người ta tụ tập và ra sức kéo dài những chuỗi ngày mà ngày nào cũng có thể là ngày cuối cùng, từng nhóm nhỏ vội vã trở về nhà hay vào quán cà phê. Vào thời kỳ này, hoàng hôn ập xuống rất nhanh, và trong mấy ngày liền, hễ trời chạng vạng là đường phố vắng tanh và chỉ có tiếng gió liên miên rên rỉ. Từ mặt biển nổi sóng và vẫn bị che khuất, bốc lên mùi tảo và mùi muối. Hoang vắng, trắng xóa những bụi, chất chứa đầy mùi vị của biển cả và vang động tiếng gió gào rú, thành phố bấy giờ than vãn như một hòn đảo đau thương.
Cho tới lúc này, ở vùng ngoại ô đông dân và ít tiện nghi, dịch hạch đã giết hại nhiều người hơn so với ở trung tâm thành phố. Nhưng đột nhiên hình như nó dịch lại gần hơn và đến ngự trị cả trong những khu phố kinh doanh. Dân chúng đổ tội cho gió đã mang mầm dịch bệnh tới. “Gió làm cho rối tinh lên”, tay chủ khách sạn lên tiếng.
Nhưng dẫu sao các khu phố nội thành cũng biết là đã đến lượt mình, khi tiếng còi xe cứu thương, trong đêm tối, ngay bên cạnh và ngày một nhiều hơn, vang lên ngoài cửa sổ như tiếng kêu ảm đạm và không thiên vị của dịch hạch.
Ngay trong nội thành, người ta cũng đã nghĩ tới việc cách ly một vài khu phố bị nhiễm bệnh nặng và chỉ cho phép ra khỏi đây những người có công cụ cần thiết. Dân chúng không thể không cho biện pháp này là một sự xúc phạm cố tình chống lại họ và, dù thế nào, bằng lối tương phản, họ cũng cho dân những khu phố khác là những người tự do. Ngược lại, những người này, trong những lúc khó khăn, tự an ủi mình bằng cách nghĩ ra rằng có những người khác còn ít tự do hơn mình. “Bao giờ chẳng có kẻ bị tù hãm hơn ta”, câu nói đó lúc bấy giờ thâu tóm lại niềm hy vọng duy nhất của mọi người.
Cũng đâu vào quãng này, các đám cháy cũng tăng lên, nhất là trong những khu phố ăn chơi ở cửa ngõ phía tây thành phố. Theo các nguồn tin, những người bị cách ly kiểm dịch, điên dại khi trở về vì chết chóc và đau thương, đã tự tay đốt cháy nhà mình với ảo tưởng là tiêu diệt được dịch bệnh. Những hành động thường xảy ra ấy đặt từng khu phố trọn vẹn trong mối hiểm họa thường trực vì gió rất mạnh; và chống lại chúng thật khó khăn. Nhà chức trách giải thích là những biện pháp tẩy uế nhà cửa đủ để loại trừ nguy cơ truyền nhiễm. Nhưng dân chúng vẫn không tin nên tỉnh phải quyết định những hình phạt rất nặng đối với những kẻ đốt nhà vô tội này. Và chắc hẳn cái làm cho những kẻ khốn khổ ấy lùi bước, không phải là ý nghĩ về nhà tù, mà chính vì mọi người đinh ninh một án tù giam cũng có nghĩa là một án tử hình vì số người chết trong nhà giam thành phố thật khủng khiếp. Dĩ nhiên, ý nghĩ ấy không phải không có cơ sở. Vì những lý do hiển nhiên, dịch hạch ráo riết tấn công những ai sống thành nhóm, thành đoàn: binh lính, nhà tu hành, phạm nhân. Dù một số phạm nhân đã được cách ly, nhà tù vẫn là một cộng đồng, và chứng minh rõ điều ấy, là trong nhà giam thành phố chúng tôi, lính gác cũng như người tù đều không thoát khỏi dịch bệnh. Xét về mặt ưu việt của bệnh dịch, tất cả mọi người, từ viên giám mục đến người tù tồi tệ nhất, đều có thể chết, và có lẽ lần đầu tiên, trong nhà tù có một sự công bằng tuyệt đối.
Nhà chức trách nghĩ ra cách thưởng huân chương cho những người gác ngục bị chết trong lúc thừa hành nhiệm vụ: họ muốn đưa vào sự “san bằng” trên đây một thứ tôn ti trật tự, nhưng chỉ uổng công vô ích. Vì tình trạng giới nghiêm được ban bố và vì, dưới một góc độ nhất định, có thể xem những người canh ngục là những kẻ bị động viên, nên người ta truy tặng họ huân chương chiến công. Nhưng nếu như phạm nhân không hề phản kháng, thì trái lại, giới quân sự không hoan nghênh và nêu lên một cách đúng đắn rằng giải quyết như vậy có thể làm nảy sinh trong đầu óc công chúng một sự lẫn lộn đáng tiếc. Người ta tán thành ý kiến của họ và nghĩ rằng đơn giản nhất là thưởng huy chương dịch tễ cho những người canh ngục bị chết. Nhưng đối với những người đầu tiên thì đã nhỡ rồi, không thể nghĩ tới chuyện thu hồi huân chương của họ, và giới quân sự tiếp tục giữ quan điểm của mình. Mặt khác, về cái “huy chương dịch tễ”, thì nó có cái bất tiện là không có tác dụng tinh thần như của huân chương chiến công, vì trong thời kỳ dịch tễ, được một huy chương loại đó là chuyện tầm thường. Thế là ai nấy đều bất bình.
Hơn nữa, cơ quan trại giam không thể hành động như các tổ chức tôn giáo, và lại càng không thể như các tổ chức quân sự. Thật vậy, các tu sĩ trong hai tu viện duy nhất của thành phố đã được phân tán và tạm thời cư trú trong mấy gia đình mộ đạo. Cũng như vậy, mỗi khi có thể được, từng nhóm binh sĩ được tách ra khỏi trại lính và đóng quản trong các trường học hay những ngôi nhà công cộng. Như thế dịch bệnh bề ngoài đã buộc dân chúng phải sống trong sự “đoàn kết” của những kẻ bị bao vây, nhưng đồng thời lại tiêu diệt những sự liên kết truyền thống và trả cá nhân trở về với nỗi cô đơn của họ. Cả một không khí hoang mang!
Bạn đọc có thể hình dung là tất cả những hoàn cảnh ấy, cộng với gió trời, cũng “đốt cháy” một số đầu óc. Ban đêm, các cửa ô lại bị tấn công liên tiếp, nhưng lần này bởi những nhóm người có vũ trang. Có tiếng súng nổ, người bị thương và vài ba người trốn thoát. Các trạm gác được tăng cường và những mưu đồ ấy chấm dứt khá nhanh chóng. Nhưng chúng cũng đủ thổi bùng lên một luồng gió cách mạng dẫn tới một vài cảnh bạo lực. Người ta cướp phá những ngôi nhà bị hỏa hoạn hay bị đóng cửa vì lý do phòng bệnh. Thực ra, khó có thể đoán định những hành động ấy được sắp đặt sẵn. Trong phần lớn trường hợp, một cơ hội đột ngột nào đó đưa những con người, cho tới lúc bấy giờ đáng trọng vọng, đến những hành vi đáng chê trách nhưng lại được người ta bắt chước ngay tức khắc. Có những kẻ mất trí nhảy bổ vào một ngôi nhà lửa đang cháy rừng rực, ngay trước mặt chủ nhà lúc đó đang ngây dại ra vì đau đớn. Trước thái độ sững sờ của ông ta, nhiều người đứng xem vội theo gương mấy kẻ mất trí, và trên đường phố, tối om, dưới ngọn lửa đám cháy, người ta thấy chạy trốn về mọi phía những cái bóng dị dạng đi vì những ngọn lửa đang tàn dần hay vì những đồ vật chúng mang trên vai. Chính những vụ cháy này buộc nhà chức trách coi tình trạng dịch hạch chẳng khác tình trạng giới nghiêm và thi hành những luật lệ thích ứng. Hai tên trộm bị bắn chết, nhưng khó có thể tin cái đó gây ấn tượng đối với những kẻ khác, vì giữa bao nhiêu chết chóc, hai vụ hành quyết ấy hầu như chẳng ai để ý: chỉ là một giọt nước trong biển cả. Và thực ra những cảnh tương tự diễn lại khá thường xuyên nhưng nhà chức trách không tỏ ra muốn can thiệp. Biện pháp duy nhất hình như tác động đến mọi người là lệnh tắt đèn. Từ mười một giờ tối, đắm chìm trong bóng đêm thăm thẳm, thành phố im lặng như tờ.
Dưới ánh trăng, trải dài những bức tường trắng nhờ nhờ và những đường phố thẳng tắp, không có lấy một mảng đen của một thân cây, một tiếng chân bước của người dạo chơi hay một tiếng chó sủa. Cả một đô thành rộng lớn im lìm chỉ còn là một tập hợp những khối lập phương nặng nề, bất động, và giữa những khối đó, những bức tượng trầm mặc của các bậc ân nhân bị lãng quên hay các vĩ nhân mãi mãi lặng im trong lớp đồng thau, ngồi một mình trong đêm tối, với khuôn mặt tạc bằng đá hay kim loại, gợi nhớ hình ảnh bị hủy hoại của cái xưa kia vốn là con người. Những thần tượng xấu xí ấy ngự trị dưới một bầu trời u ám, ở những ngã tư đường phố không có sinh khí, như những con thú vô tri vô giác tượng trưng khá rõ nét cho cái giới bất động mà chúng ta đã đi vào, hay chí ít cho cái trật tự tối hậu của nó, trật tự một khu mộ mà ở đó dịch hạch, đá và đêm tối, cuối cùng có thể dập tắt mọi tiếng nói.
Nhưng mọi người đều như mù quáng [1], và những sự thật cũng như những huyền thoại người ta kể về những vụ mai táng không sao có thể làm yên lòng đồng bào chúng tôi. Người kể chuyện xin lỗi vì phải nói đến mai táng. Anh ta biết bạn đọc sẽ trách mình, nhưng quả là trong suốt thời kỳ ấy, có nhiều cuộc mai táng và bằng cách nào đó, người ta đã buộc anh ta cũng như những người khác phải quan tâm đến chúng. Dẫu sao thì cũng không phải anh ta thích thú những thứ nghi lễ này; trái lại, anh ta thích ở chúng với những người sống, chẳng hạn, thích những buổi tắm biển. Nhưng cuối cùng tắm biển bị bãi bỏ và suốt ngày, đám người sống nơm nớp phải nhường chỗ cho đám người chết. Đấy là sự thật rành rành. Dĩ nhiên, người ta có thể luôn luôn tìm cách không nhìn nhận sự thật hiển nhiên ấy, bịt mắt lại và khước từ nó, nhưng nó có một sức mạnh khủng khiếp và cuối cùng bao giờ cũng chiến thắng hết thảy. Liệu có khước từ được không, chẳng hạn, công việc mai táng khi những người anh yêu thương cần được mai táng?
Thế đấy, ban đầu, cái đặc trưng các nghi lễ của chúng tôi là sự chóng vánh! Mọi thủ tục đều được giản đơn hóa và nói chung nghi thức tang lễ bị cắt bỏ. Người bệnh thì chết xa nhà, và người thân không còn được phép thức đêm túc trực bên cạnh thi hài người chết theo phong tục nữa: người chết buổi tối thì nằm qua đêm một mình, còn người chết ban ngày thì được đưa đi chôn cất ngay không chậm trễ. Dĩ nhiên gia đình được thông báo nhưng thông thường không sao đến được vì đang bị cách ly kiểm dịch nếu trước kia có sống bên cạnh người bệnh. Trong trường hợp gia đình không sống với người quá cố, thì họ đến vào giờ chỉ định, nghĩa là giờ đi ra nghĩa trang sau khi xác đã được tắm rửa và đặt vào áo quan.
Giả sử thủ tục này được áp dụng ở bệnh viện phụ đặt trong một khu trường và do Rieux phụ trách. Trường có một lối ra ở phía sau khu nhà chính. Các cỗ quan tài đặt trong một gian nhà kho rộng ngoảnh ra hành lang. Trong hành lang là một cỗ đã đóng nắp. Gia đình người bệnh đến. Ngay lập tức, người ta chuyển qua cái công việc quan trọng nhất là yêu cầu chủ gia đình ký giấy tờ. Sau đó, đưa xác lên một chiếc xe có thể là xe tải thực sự hay xe cứu thương lớn được sửa sang lại. Thân nhân lên tăcxi - vào thời kỳ này tăcxi còn được phép chạy và đoàn xe mở hết tốc lực tiến về nghĩa địa qua những con đường ngoại vi thành phố. Đến cửa ô, cảnh binh chặn xe lại, đóng dấu vào giấy thông hành chính thức (nếu không thì không thể có cái mà đồng bào chúng tôi gọi là “nơi yên nghỉ cuối cùng”), sau đó, đoàn xe đến đỗ cạnh một khu đất vuông vắn, nơi nhiều cái hố đang chờ được san lấp. Một vị linh mục đón nhận xác chết vì ở nhà thờ, lễ tang đã bị bãi bỏ. Người ta đưa quan tài xuống xe giữa tiếng cầu kinh, cột dây vào và lối đi: nó trượt trên mặt đất, đập vào đáy huyệt; vị linh mục đung đưa cây ngù rảy nước thánh và hòn đất đầu tiên nảy lên trên nắp quan tài. Xe cứu thương trở về trước chút ít để rửa sát trùng và trong lúc những xẻng đất vẫn tới tấp lấp hố thì thân nhân đã vội vã bước vào tăcxi. Mười lăm phút sau, họ về đến nhà.
Thế là mọi cái diễn ra, thực sự với tốc độ tối đa và hiểm họa tối thiểu. Và dĩ nhiên, chí ít cũng trong những buổi đầu, tình cảm tự nhiên của các gia đình bị thương tổn. Nhưng trong thời kỳ dịch hạch, đấy là những suy tính không sao lưu tâm được: mọi cái đều bị hy sinh cho tính hiệu quả. Hơn nữa nếu lúc đầu, điều đó có ảnh hưởng đến tinh thần dân chúng - ai mà chẳng muốn người thân được chôn cất đúng nghi thức? - thì may sao, sau đó ít lâu, khi tiếp tế trở nên khó khăn, dân chúng lại lo đến những cái trước mắt hơn. Bị thu hút vào những buổi xếp hàng, những cuộc chạy vạy, những thủ tục phải làm nếu muốn có cái ăn, người ta đâu còn thì giờ nghĩ ngợi về cách người khác chết xung quanh mình và về cách một ngày nào đó mình sẽ chết. Thế là, những cái khó khăn vật chất nhẽ ra phải là một điều tai hại thì về sau lại trở thành điều hay. Và mọi thứ chắc hẳn sẽ hết sức tốt đẹp nếu như dịch bệnh đã không lan rộng, như ta đã thấy.
Quan tài ngày một khan hiếm, vải liệm và cả chỗ chôn ngoài nghĩa trang cũng thiếu. Phải suy tính. Cách đơn giản nhất, và bao giờ cũng vì những lý do “hiệu quả”, là gộp các buổi lễ tang lại và, khi cần thiết, cho xe chạy thêm chuyến. Chẳng hạn, đối với khu vực phụ trách của Rieux, bệnh viện lúc đó có năm chiếc quan tài. Một khi cả năm chiếc đã có xác người, thì xe cứu thương chở đi. Đến nghĩa trang, xác chết màu chì được đưa ra khỏi áo quan, đặt lên những chiếc băng và nằm chờ trong một cái lán được dựng lên với mục đích ấy. Quan tài được tưới một thứ dung dịch sát trùng, đưa trở về bệnh viện, và cứ như thế lặp đi lặp lại tùy mức độ cần thiết. Tổ chức như vậy được coi là rất tốt và ngài thị trưởng tỏ ra hài lòng. Thậm chí ông ta còn bảo Rieux là xét cho cùng như thế tốt hơn những chiếc xe bò chở xác chết do người da đen đánh đi, như trong các tập ký về những vụ dịch hạch ngày xưa.
- Đúng - Rieux đáp - cũng là chôn cất cả thôi, nhưng chúng ta, thì chúng ta lập phiếu. Sự tiến bộ thật không sao chối cãi được.
Mặc dù những thành công đó của cơ quan Nhà nước, giờ đây, vì các thủ tục làm người ta khó chịu nên cơ quan tỉnh buộc không để cho thân nhân người chết tham dự lễ tang nữa. Người ta chỉ cho phép họ đến ngoài cổng nghĩa trang, và cũng không phải là cho phép chính thức. Vì về nghi thức cuối cùng, tình hình có thay đổi chút ít. Ở cuối nghĩa trang, trong một khoảng trống phủ đầy cây nhũ hương, người ta đào hai cái hố rộng mênh mông. Hố cho đàn ông và hố cho đàn bà. Về phương diện này, cơ quan Nhà nước còn tôn trọng tục lệ và mãi về sau, do tình thế bắt buộc, sự tế nhị cuối cùng ấy mới không còn nữa, và người ta chôn lẫn lộn, chồng lên nhau, cả đàn ông lẫn đàn bà, không kể gì đến hợp lễ hay không hợp lễ. May sao tình trạng hỗn loạn ấy chỉ xảy ra trong những thời kỳ tai họa cuối cùng. Còn trong giai đoạn chúng ta đang nói đây, vẫn còn sự phân biệt các huyện, các tỉnh quan tâm nhiều đến điều đó. Dưới đáy mỗi huyệt, một lớp dày vôi sống bốc khói và sôi sùng sục. Trên mép huyệt, lại thêm một đống vôi sống sủi tăm lên ngoài trời. Sau khi xe cứu thương trở về, người ta khiêng từng dãy băng ca đến, cho chuồi xuống đáy huyệt, hầu như sát bên nhau, những cái xác trần truồng và hơi co quắp, lấp lại bằng vôi sống, rồi bằng đất, nhưng chỉ đến một chừng mực nhất định vì còn phải dành chỗ cho những “vị khách” khác. Hôm sau, thân nhân được mời ký vào sổ, cái đó đánh dấu sự khác biệt còn tồn tại giữa con người và, chẳng hạn, loài chó: dẫu sao, vẫn còn có thể kiểm tra con người được.
Để làm những công việc này, cần phải có người, và lúc nào cũng sắp thiếu người đến nơi. Nhiều y tá và người đào huyệt, lúc đầu là nhân viên chính thức, về sau là những người tạm tuyển, đã chết vì dịch hạch. Dù có phòng ngừa đến mấy, cũng có một ngày bị lây nhiễm. Nhưng nghĩ cho kỹ, điều kỳ lạ nhất là không bao giờ thiếu người để làm cái nghề này, trong suốt thời kỳ dịch bệnh. Giai đoạn khủng hoảng xảy ra ít lâu trước khi dịch hạch lên tới đỉnh cao và lúc đó, nỗi lo âu của bác sĩ Rieux trở thành sự thật. Nhân lực không đủ về mặt cán bộ cũng như đối với cái mà ông gọi là những công việc nặng nhọc. Nhưng từ khi dịch hạch xâm chiếm thực sự toàn bộ thành phố thì chính sự phát triển vô độ của nó lại kéo theo những hệ quả thật tiện lợi vì nó phá hoại toàn bộ đời sống kinh tế và do vậy tạo nên một đội quân thất nghiệp rất lớn. Thông thường không thể tuyển số người này vào khung cán bộ, nhưng những công việc tầm thường thì nhờ đó mà giải quyết được dễ dàng. Quả là bắt đầu từ lúc này, người ta luôn luôn thấy nghèo đói mạnh hơn khiếp hãi, nhất là khi công việc được trả tùy theo mức độ rủi ro. Cơ quan y tế có cả một danh sách những người xin việc, và hễ có một chỗ khuyết, là báo cho những người đứng đầu danh sách, những người này bao giờ cũng đến, trừ phi lúc đó, bản thân họ đang đi nghỉ. Chính nhờ vậy, ngài tỉnh trưởng trước đây đắn đo mãi trong việc sử dụng phạm nhân tù có thời hạn hay chung thân vào loại công việc này, cuối cùng, không phải dùng đến phương sách cực đoan ấy. Ý kiến ông ta là chừng nào còn đội quân thất nghiệp thì vẫn có thể chờ đợi.
Cứ thế cho đến cuối tháng tám, đồng bào chúng tôi, nhờ vậy, được đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng, dù không hợp nghi thức chăng nữa thì ít ra cũng một cách có trật tự, đủ cho lương tâm của nhà chức trách được yên ổn vì nghĩ rằng mình đã làm tròn nghĩa vụ. Nhưng phải vượt lên thời gian chút đỉnh kể lại những sự kiện xảy ra sau này để phản ánh những biện pháp cuối cùng đã phải sử dụng. Thật vậy, ở cái nấc dịch bệnh từ tháng tám trở đi, số người chết vượt quá nhiều khả năng của khu nghĩa địa nhỏ bé của thành phố. Người ta đã đập phá đi mấy bức tường, mở rộng ra cho người chết một lối thoát về những khu đất lân cận, nhưng vẫn chưa đủ, cần phải nhanh chóng tìm cách khác. Trước hết, người ta quyết định chôn cất ban đêm, thế là ngay một lúc, đỡ được một số nghi thức. Có thể chất lên xe cứu thương ngày càng nhiều người chết. Và ở vùng ngoại thành, sau khi có lệnh tắt đèn, một vài người bất chấp luật lệ vẫn đi dạo trong đêm tối (hoặc những người phải có mặt ở đây vì nghề nghiệp) thỉnh thoảng gặp những đoàn xe cứu thương sơn trắng mở hết tốc lực, tiếng còi cất lên buồn bã trên đường phố hoang vắng. Người ta vội vã quăng xác chết xuống hố. Xác còn đung đưa thì những xẻng vôi đầy đã đổ ập vào mặt và đất đá vùi lại một cách âm thầm, trong những cái hố đào ngày một thêm sâu.
Tuy vậy, ít lâu sau lại phải đi tìm chỗ khác và mở rộng nghĩa trang ra hơn nữa. Một quyết định của tỉnh trưng dụng những khu đất trước đây được nhượng vĩnh viễn làm nghĩa địa, và tất cả hài cốt còn lại được đưa tới lò thiêu. Ít lâu sau thì phải đưa cả xác người chết dịch đi thiêu. Nhưng như thế thì phải dùng lại cái lò thiêu cũ nằm ở phía đông thành phố, ngoài cửa ô. Tốp lính gác phải chuyển đi xa hơn, và nhiệm vụ nhà chức trách dễ dàng đi nhiều khi một nhân viên thị chính đề xuất việc sử dụng những toa xe điện trước kia chạy ven bờ biển và nay bỏ không. Người ta sắp xếp phía trong các toa, bỏ ghế ngồi đi, và con đường tàu chạy tới lò thiêu trở thành đường đầu mối.
Và trong suốt thời kỳ cuối mùa hè, cũng như trong những ngày mưa mùa thu, giữa đêm khuya, dọc con đường này, những đoàn tàu điện kỳ cục không chở hành khách, chạy qua, lắc la lắc lư trên bờ biển. Cuối cùng, dân chúng biết cái đó là thế nào. Và mặc dù có những toán quân tuần tiễu canh giữ, người ta vẫn thường lẻn được vào các hốc đá nằm trên bờ biển và ném hoa vào các toa tàu chạy qua. Thế là đoàn tàu gập ghềnh chạy trong đêm hè, chở hoa và xác chết.
Những ngày đầu, vào sáng sớm, một làn hơi dày đặc và tanh tưởi phảng phất trên các khu phố phía đông. Các thầy thuốc cho là những thứ hơi bốc lên ấy, tuy có khó chịu, song không hề gây hại. Nhưng dân chúng dọa sẽ dời đi ngay, đinh ninh dịch hạch sẽ từ trên bầu trời đổ ập xuống đầu họ. Nhà chức trách buộc phải cho chuyển hướng làn khói bằng một hệ thống đường ống phức tạp, và dân chúng lại yên tâm. Chỉ những ngày gió lớn, khi nghe từ phía đông đưa tới một thứ mùi loáng thoáng thì họ mới sực nhớ là mình được đặt trong một “trật tự mới”, và mỗi tối, ngọn lửa dịch hạch lại ngốn ngấu đồ cống người ta nộp cho nó.
Đây là những hậu quả tột cùng của dịch bệnh. May sao về sau nó không tiến triển thêm, vì người ta có thể cho là tất cả đều trở nên bất cập: tài trí của các cơ quan, các biện pháp của tỉnh và ngay cả khả năng thu nhận của lò thiêu. Rieux biết là lúc đó, người ta đã dự kiến những giải pháp tuyệt vọng, như ném xác xuống biển, và ông dễ dàng hình dung xác trương lên dày đặc trên mặt nước xanh rờn. Ông cũng biết là nếu các con số thống kê cứ tiếp tục tăng lên, thì không một tổ chức nào, dù là hoàn hảo tới đâu, có thể cưỡng lại dịch bệnh; là người ta sẽ chồng chất lên nhau mà chết, sẽ thối ruỗng trên đường phố mặc dù mọi biện pháp của tỉnh, là ở những nơi công cộng, thành phố sẽ chứng kiến cảnh người chết bíu chặt lấy người sống, vừa với một mối hận thù chính đáng vừa với một niềm hy vọng ngu ngốc.
Dẫu sao, chính vì đinh ninh hay sợ hãi như vậy mà đồng bào chúng tôi không dứt bỏ được cái ấn tượng về tình cảnh lưu đày và biệt ly của họ. Về phương diện này, người kể chuyện hoàn toàn biết rằng ở đây điều hết sức đáng tiếc là không phản ánh được một cái gì thật sự ly kỳ, chẳng hạn một vị anh hùng có tác dụng khích lệ hay một hành vi oanh liệt, giống như người ta thường thấy trong truyện cổ tích. Như vậy là vì không có gì ly kỳ hơn một tai họa, và do chính bản thân chúng kéo dài, những nỗi bất hạnh lớn cũng trở nên đơn điệu. Trong ký ức những người trong cuộc, những ngày dịch bệnh khủng khiếp không trôi qua như những ngọn lửa huy hoàng và tàn bạo, mà đúng hơn như sự giẫm đạp vô tận, nghiến nát tất cả trên đường đi của nó.
Không, dịch hạch tuyệt nhiên không có gì dính dáng tới những hình ảnh kỳ vĩ, phấn chấn đã từng ám ảnh bác sĩ Rieux vào thời kỳ đầu. Trước hết, nó hoạt động tốt, giống như một guồng máy thận trọng, hoàn hảo. Vì vậy xin phép mở ngoặc nói thêm là để khỏi phản lại bất kỳ cái gì hết và nhất là tự phản lại mình, người kể chuyện đã hướng về khách quan. Anh ta không muốn dùng nghệ thuật hư cấu gì hết, trừ phần liên quan tới những yêu cầu cơ bản của một tập ký ít nhiều nhất quán. Và chính bản thân tính khách quan bảo anh ta, giờ đây, phải nói rõ là nếu nỗi đau lớn ở thời kỳ này - nỗi đau chung nhất và cũng sâu lắng nhất - là cảnh biệt ly, nếu phải trung thực miêu tả nó một lần nữa vào giai đoạn dịch hạch này, thì không phải vì vậy mà bản thân nỗi đau ấy không còn thống thiết.
Đồng bào chúng tôi, ít ra là những người đã phải chịu đau khổ nhiều nhất vì cảnh biệt ly này, đã quen với tình cảnh ấy chưa? Khẳng định điều đó là không hoàn toàn đúng. Sẽ chính xác hơn nếu nói rằng về tinh thần cũng như về thể xác, họ phải chịu “gầy mòn” đi. Lúc dịch hạch mới bắt đầu, họ nhớ lại mồn một và luyến tiếc người thân nay đã xa cách. Nhưng nếu hình dung được rõ nét nụ cười và khuôn mặt thân yêu, nhớ lại ngày nào - mà về sau họ mới nhận ra - đã từng làm cho người thân sung sướng thì, trái lại, họ khó tưởng tượng người thân có thể làm gì vào chính giờ phút nhớ nhung này và ở những nơi biết bao cách trở. Tóm lại, lúc đó, ký ức thì họ có, nhưng trí tưởng tượng thì không đầy đủ. Đến giai đoạn hai của dịch hạch thì ký ức cũng mất nốt. Không phải họ đã quên khuôn mặt người thân nhưng chung quy cũng thế, khuôn mặt ấy không còn “thịt da” nữa, họ không còn nhận thấy nó trong nội tâm mình nữa. Và nếu trong những tuần đầu, họ có chiều hướng phàn nàn là chỉ còn được tiếp xúc với những hình bóng trong chuyện yêu đương của mình, thì về sau, họ lại nhận ra là những hình bóng ấy còn bị róc bớt thịt da hơn nữa vì bị mất đi cho đến tận cùng những sắc màu nhỏ nhoi nhất mà ký ức còn giữ lại cho họ. Đằng đẵng những tháng ngày ly biệt ấy, họ không còn hình dung bầu không khí thân mật xưa kia vốn là của họ, cũng không hình dung nổi đã sống như thế nào bên cạnh họ một con người mà bất kỳ lúc nào họ cũng có thể đặt bàn tay mình lên trên người đó.
Về phương diện này, họ đã bước vào chính sự an bài của dịch hạch, một sự an bài càng tầm thường thì càng có hiệu quả. Không một ai trong chúng tôi còn những tình cảm lớn nữa. Ai cũng chỉ còn những tình cảm đơn điệu. “Đã đến lúc cái đó chấm dứt đi thôi”, đồng bào chúng tôi nói như vậy, vì trong những lúc tai họa, mong cho những nỗi đau chung chấm dứt là chuyện bình thường, và vì trên thực tế, họ mong sao cho chúng chấm dứt. Nhưng tất cả cái đó được nói ra, không còn với niềm say sưa hay nỗi chua xót của buổi đầu, mà chỉ với vài ba lý lẽ nghèo nàn chúng tôi còn thấy sáng tỏ. Thay thế cho niềm say sưa dữ dội những tuần đầu, là một tâm trạng chán nản mà người ta có thể lầm tưởng là sự nhẫn nhục, nhưng dẫu sao cũng chỉ là một thứ thỏa thuận tạm thời.
Đồng bào chúng tôi đành tuân theo lẽ thường, họ đã thích ứng với hoàn cảnh - như người ta thường nói - vì không có cách nào làm khác. Dĩ nhiên, họ vẫn còn giữ thái độ của người gặp bất hạnh và đau thương, nhưng không còn cảm thấy nhức nhối. Hơn nữa, theo bác sĩ Rieux, chẳng hạn, chính cái đó là điều bất hạnh, và thói quen tuyệt vọng còn tồi tệ hơn cả bản thân nỗi tuyệt vọng. Trước kia, những người bị xa cách không thật sự khổ sở, vì trong nỗi đau thương của họ, có một sự linh cảm mà nay vừa mới bị dập tắt. Giờ đây, người ta thấy họ ở các góc phố, trong tiệm cà phê hay ở nhà bạn bè, lặng lẽ và lơ đãng, ánh mắt âu sầu tới mức vì họ mà cả thành phố giống như một cái phòng chờ. Những người có nghề nghiệp thi hành nghề với chính dáng dấp của dịch hạch, tỉ mẩn và không ồn ào. Ai nấy đều khiêm tốn. Lần đầu tiên, những người bị xa cách không còn ghê sợ khi phải nói về người vắng mặt, khi phải sử dụng ngôn ngữ của mọi người, phải xem xét tình cảnh chia cắt của họ dưới cùng một góc độ với những con số thống kê dịch bệnh. Nếu như cho tới lúc bấy giờ, họ một mực tách nỗi đau của mình ra khỏi nỗi bất hạnh chung, thì giờ đây, họ chấp nhận sự hòa đồng. Không ký ức và không hy vọng, họ đặt mình vào hiện tại. Thực ra, mọi cái đối với họ đều trở thành hiện tại. Dịch hạch tước đoạt của mọi người - phải nói rõ như vậy - quyền lực của tình yêu và thậm chí của cả tình bạn. Vì tình yêu đòi hỏi chút ít tương lai, mà chúng tôi thì chỉ còn những khoảnh khắc.
Dĩ nhiên, trong tất cả cái đó, không có gì tuyệt đối cả. Vì nếu quả thực tất cả những người bị xa cách đều đi đến tình trạng ấy, thì cũng phải công bằng mà nói thêm rằng không phải tất cả đều tới đó cùng một lúc, vả lại, một khi đã quen với cái thái độ mới ấy thì những tia chớp, những phút hồi tưởng, những thoáng sáng suốt đột xuất mang trở lại cho những người bền gan một sự nhạy cảm trẻ trung hơn và đau đớn hơn. Lúc đó, cần những khoảnh khắc lãng quên để ấp ủ một kế hoạch xem như dịch hạch đã chấm dứt. Họ phải cảm nhận, một cách bất thần và do một thiên sủng nào đó, sự cắn rứt của một nỗi ghen tuông viển vông. Những người khác cũng tìm thấy những sự hồi sinh đột ngột, thoát khỏi trạng thái mê mệt trong một số ngày trong tuần, dĩ nhiên là ngày Chủ nhật và chiều thứ bảy vì những ngày đó được dành cho một vài nghi thức, trong thời gian người thân vắng mặt. Hoặc nữa, khi vào cuối ngày, một nỗi u sầu xâm chiếm lòng họ thì họ được tiên báo - tuy không phải bao giờ cũng thành sự thật - là ký ức sẽ được hồi phục. Cái giờ buổi tối đó, đối với các tín đồ là giờ tự vấn lương tâm, nhưng là giờ phút gian khổ đối với người bị giam cầm hay bị lưu đày, vì họ chỉ có “tự vấn” cái hư vô. Vào giờ đó, họ như treo lơ lửng trong chốc lát, rồi quay trở lại trạng thái bạc nhược, họ khép mình lại trong dịch bệnh.
Chúng ta đã hiểu là những lúc đó, họ khước từ những gì riêng tư nhất của mình. Trong thời kỳ đầu của dịch hạch, họ chú ý tới vô số những việc nhỏ nhặt rất quan trọng đối với họ nhưng hoàn toàn vô nghĩa đối với người khác, và họ lấy cái đó làm kinh nghiệm cho đời sống riêng của mình. Trái lại, giờ đây, họ chỉ quan tâm tới những gì liên quan đến người khác, họ chỉ còn có những khái niệm chung và thậm chí đối với họ, tình yêu của mình cũng mang dáng dấp hết sức trừu tượng. Họ phó mặc cho dịch hạch tới mức đôi khi họ chỉ còn hy vọng ở “giấc ngủ” của nó, và bất thần nghĩ ngợi: “Cứ nổi hạch lên và đi tong cho rồi!”. Nhưng thực ra họ đã ngủ rồi, và suốt cả thời gian ấy chỉ là một giấc ngủ triền miên. Thành phố đầy rẫy những người ngủ tỉnh táo, những người chỉ thực sự thoát khỏi số phận của mình vào một đôi lúc hiếm hoi khi, trong đêm tối, vết thương thầm kín của họ rõ ràng đã kín miệng bỗng nhiên lại bung ra. Và choàng thức giấc, họ chịu đựng vết thương ấy, thái độ lơ đãng, hai môi mím chặt giận dữ, thoáng đau lại nỗi đau bỗng nhiên roi rói, và cùng lúc, tìm thấy lại khuôn mặt sững sờ của người yêu. Sáng dậy, họ trở lại với tai họa, nghĩa là với thói quen cố hữu.
Nhưng, bạn đọc sẽ hỏi, những người bị xa cách ấy có vẻ gì? Ồ, đơn giản thôi, họ chẳng có vẻ gì hết. Hoặc, nếu bạn đọc muốn, họ có vẻ như mọi người, một vẻ hoàn toàn chung. Họ chia sẻ thái độ điềm nhiên và những sự dao động thơ ngây của thành phố. Họ mất đi vẻ bề ngoài của trí phán xét nhưng lại có thêm vẻ bề ngoài của sự bình tĩnh. Chẳng hạn, những người thông minh nhất làm ra vẻ tìm kiếm, cũng như mọi người, trên báo chí hay qua những buổi phát thanh, những lý do để tin là dịch hạch sẽ nhanh chóng chấm dứt, và thực sự hình dung những hy vọng hão huyền, hoặc cảm nhận những nỗi sợ hãi vô duyên cớ khi đọc những nhận xét có phần hú họa của một tay nhà báo nào đó nêu lên trong lúc ngáp lên ngáp xuống vì chán nản. Ngoài ra, họ uống bia, hay chăm sóc người bệnh, nghỉ ngơi hay bận rộn, phân loại các tờ phiếu hay cho quay các đĩa hát, và không còn cách nào khác, để phân biệt người này với người kia. Nói cách khác, họ không còn lựa chọn gì nữa. Dịch hạch đã làm tiêu tan những phán đoán có giá trị. Và điều đó thật rõ ràng: không ai còn quan tâm đến chất lượng áo quần hay thực phẩm phải mua sắm nữa. Mọi thứ, người ta đều nhận gộp cả mớ.
Để kết thúc, có thể nói những người bị xa cách không còn cái đặc quyền kỳ cục bảo vệ họ buổi đầu nữa. Họ đã mất đi tính ích kỷ trong tình yêu và cả cái lợi rút ra được từ đó. Ít nhất giờ đây, tình thế đã rõ ràng, tai họa liên quan tới mọi người. Giữa những tiếng nổ vang lên ở các cửa ô thành phố, tiếng con dấu cộp vào giấy phân định cuộc sống và cái chết, giữa những đám cháy và các tờ phiếu, giữa nỗi kinh hoàng và các thủ tục, tất cả chúng tôi cũng đều làm mồi cho một cái chết nhục nhã nhưng được ghi vào sổ sách, trong những làn khói khủng khiếp và tiếng còi bình thản của xe cứu thương; cùng ăn một thứ bánh của kẻ bị lưu đày; cùng chờ đợi mà không hay biết một cuộc họp mặt và một cảnh thanh bình làm xao xuyến lòng người. Dĩ nhiên tình yêu của chúng tôi vẫn còn đấy nhưng có điều là nó trở nên vô dụng, trơ trơ và nặng trĩu trong lòng, vô tích sự chẳng khác một tội phạm hay một sự kết án. Nó chỉ còn là một sự kiên nhẫn không tương lai và một sự đợi chờ không ngày tháng. Và về mặt này, thái độ một số đồng bào chúng tôi khiến người ta liên tưởng tới những dòng người nối đuôi dài trong khắp thành phố, trước các cửa hàng thực phẩm. Cũng một thái độ nhẫn nhục và chịu đựng ấy, vừa vô tận vừa không một chút ảo tưởng. Nhưng đối với một cảnh chia ly thì phải nâng tình cảm ấy lên hàng nghìn lần vì đây là một nỗi thèm khát có thể ngấu nghiến tất cả.
Dẫu sao, muốn có một ý niệm chính xác về trạng thái tâm lý của những con người chịu cảnh chia ly trong thành phố chúng tôi, thì phải, một lần nữa, gợi lại những buổi chiều vô tận, chói chang và bụi bặm, đổ ập xuống một thành phố không cây cối, trong lúc đàn ông và đàn bà tuôn ra khắp các ngả đường. Vì thật kỳ lạ, trong lúc vắng tiếng xe cộ và máy móc vốn là tiếng nói thường tình của các thành phố, thì văng vẳng lên tận những mảnh sân thượng còn ánh nắng mặt trời, lại chỉ có tiếng chân bước và tiếng người nói âm thầm tạo nên một thứ âm thanh mênh mang, tiếng hàng nghìn chiếc đế giày trượt lên đau đớn theo nhịp rít của chiếc néo [2] trong một bầu trời nặng trĩu, và cuối cùng là tiếng giẫm chân uất ức, vô tận dần dà chiếm hết không gian phố phường và hết chiều này sang chiều khác, nói lên trung thực nhất và ảo não nhất thái độ nhẫn nhục mù quáng thay thế cho tình yêu trong lòng chúng tôi lúc bấy giờ.
--------------------------------------
[1] Nguyên văn: Đêm tối cũng ở trong mọi trái tim.
[2] Tiếng Pháp: fleau, nghĩa bóng là tai họa.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.07.2016 19:28:26 bởi casau>
IV
 
Trong tháng Chín và tháng Mười, dịch hạch làm cho thành phố như cuộn mình lại. Nếu nói tới những tiếng giẫm chân, thì hàng trăm nghìn con người vẫn tiếp tục giẫm chân, hết tuần này qua tuần khác. Sương mù, nắng và mưa kế tiếp nhau trên bầu trời. Từng đàn sáo sậu và họa mi, từ phương nam tới, lặng lẽ bay tít trên cao nhưng lượn quanh thành phố, như thể chiếc néo đập lúa của Paneloux - cái mảnh gỗ kỳ cục vừa quay tròn vừa rít lên trên các mái nhà - xua đuổi chúng. Vào đầu tháng mười, những trận mưa rào dội sạch các ngả đường. Và trong suốt thời kỳ này, không có gì xảy ra quan trọng hơn là cái tiếng giẫm chân khổng lồ ấy.
Rieux và bè bạn nhận thấy mình mệt mỏi không biết chừng nào. Thực tế, những người trong các tổ chức y tế không sao có thể tiêu hóa nỗi mệt nhọc ấy nữa. Bác sĩ Rieux nhận ra điều đó khi ông quan sát thấy ở bè bạn và ở chính bản thân mình một thái độ thờ ơ kỳ lạ ngày một tiến triển. Chẳng hạn, có những con người cho tới nay, sốt sắng biết bao nhiêu đối với những tin tức dính dáng đến dịch hạch như bây giờ không còn thiết tha gì nữa hết. Rambert, tạm thời phụ trách một cơ sở cách ly kiểm dịch, đặt trước đây ít lâu trong khách sạn, biết rất rõ con số những người anh theo dõi. Anh nắm được những chi tiết nhỏ nhặt nhất của hệ thống do anh tổ chức để phân tán tức khắc những người đột nhiên có những dấu hiệu dịch bệnh. Anh nhớ như in những người bị cách ly kiểm dịch. Nhưng anh không thể nói được con số tử vong hàng tuần vì dịch hạch, thực sự anh không biết dịch bệnh tăng hay giảm. Riêng anh, dẫu sao, anh vẫn giữ hy vọng nay mai sẽ có dịp ra khỏi thành phố.
Những người khác thì túi bụi công việc ngày đêm, không còn đọc báo, nghe đài nữa. Và nếu được thông báo một kết quả, thì họ làm ra vẻ quan tâm, nhưng thực tế, họ tiếp nhận nó với thái độ hững hờ của các chiến binh trong những cuộc đại chiến, kiệt sức vì công việc, chỉ lo làm sao không sai sót trong bổn phận hằng ngày, chứ không hy vọng gì nữa, dù là một chiến trận quyết định hay ngày đình chiến.
Tiếp tục làm những con tính do dịch hạch buộc phải làm, chắc chắn Grand không thể nêu lên những kết quả tổng quát. Trái ngược với Tarrou, Rambert và Rieux là những người chịu đựng được vất vả, sức khỏe anh không bao giờ tốt cả. Thế mà ngoài công việc phụ tá ở tòa thị chính và công việc thư ký ở cơ quan Rieux, anh còn làm việc riêng của mình ban đêm. Anh luôn luôn ở trong trạng thái kiệt sức, nhưng được động viên bởi vài ba ý nghĩ cố định, như sau khi dịch hạch chấm dứt, đi nghỉ hoàn toàn ít ra cũng một tuần lễ, và lúc đó, làm thật tích cực công việc hiện anh đang làm dở dang khiến người ta phải “bái phục”. Anh cũng có những cảm xúc đột ngột, và những lúc đó, anh sẵn sàng nói với Rieux về Jeanne, băn khoăn không biết nàng đang ở đâu vào lúc này, và nếu đọc báo, nàng có nghĩ tới mình hay không. Một hôm, Rieux bất giác nói với anh về vợ ông, với một giọng tẻ ngắt, điều trước đây ông chưa hề làm. Không tin những bức điện bao giờ cũng trấn an của vợ, ông quyết định đánh điện cho bác sĩ trưởng nhà dưỡng bệnh. Ông được báo tình trạng bà Rieux trầm trọng thêm và người ta sẽ làm mọi cái để không cho bệnh tiến triển. Giữ kín mãi tin đó, giờ đây, ông không giải thích nổi vì sao, nếu không phải vì mệt nhọc, ông lại đem tâm sự với Grand. Sau khi nói về Jeanne, anh chàng nhân viên thị chính hỏi ông về bà Rieux và ông đã trả lời “Ông biết đấy, - Grand nói - bây giờ, bệnh đó rất dễ chữa”. Rieux tán thành và chỉ nói là ông bắt đầu cảm thấy cảnh xa cách đã kéo quá dài và nhẽ ra ông có thể giúp vợ chiến thắng bệnh tật trong lúc hiện nay, bà ấy chắc cảm thấy mình hoàn toàn cô đơn. Rồi ông lặng im, chỉ trả lời qua quít những câu hỏi của Grand.
Những người khác cũng trong cùng một tình trạng. Tarrou chống đỡ tốt hơn, nhưng những điều ghi chép trong sổ tay cho thấy sự tìm tòi của anh không còn đa dạng như trước, tuy vẫn giữ nguyên chiều sâu. Rõ ràng trong suốt thời kỳ này, anh chỉ còn chú ý tới Cottard. Buổi tối, ở nhà Rieux mà anh đến ở từ khi khách sạn biến thành nhà cách ly kiểm dịch, hầu như anh không còn lắng nghe bác sĩ hay Grand báo tin kết quả nữa. Anh vội lái câu chuyện về những chi tiết nhỏ nhặt thường khiến anh quan tâm trong đời sống ở Oran.
Castel đến báo cho bác sĩ Rieux biết huyết thanh đã sẵn sàng, và hai người quyết định làm cuộc thử nghiệm đầu tiên trên người thằng bé con trai mà ông Othon vừa đưa tới bệnh viện và Rieux cho là một ca tuyệt vọng. Đang nói lại với Castel những con số thống kê cuối cùng, Rieux bỗng nhận thấy người đối thoại của mình đã ngủ say sưa ngay trong ghế bành. Và Rieux cảm thấy cổ họng thắt lại trước khuôn mặt Castel vốn như mãi mãi trẻ trung vì vẻ dịu hiền và châm biếm nhưng nay bỗng nhiên bơ phờ, để lộ sự tàn tạ và già nua, một dải nước bọt giữa đôi môi hé mở.
Rieux đoán biết mình mệt mỏi qua những biểu hiện mềm yếu như thế. Khả năng nhạy cảm của ông không còn nữa. Vốn yếu ớt, nay lại khô cứng và cằn cỗi đi, nó dần dần tiêu tan và phó mặc ông cho những cảm xúc ông không còn tự chủ nổi. Cách tự vệ duy nhất của ông là ẩn náu vào sự cứng rắn ấy và thắt chặt thêm nút dây đã hình thành trong ông. Ông biết rất rõ đây là một cách tốt để tiếp tục công việc. Ngoài ra, ông không có nhiều ảo tưởng, và những ảo tưởng ông còn giữ được, thì sự mệt mỏi cũng làm tiêu tan nốt. Vì ông biết là trong một thời kỳ mà ông không rõ bao giờ kết thúc, mình không còn vai trò chữa bệnh nữa, mà chỉ còn nhiệm vụ chẩn đoán. Phát hiện, xem xét, miêu tả, ghi nhận rồi kết luận, nhiệm vụ của ông chỉ có thế. Có những người vợ nắm cổ tay ông và gào lên: “Bác sĩ ơi! Cứu sống lấy anh ấy!”. Nhưng ông đến không phải để cứu sống, mà là để ra lệnh cách ly. Có khi căm hờn hiện trên các khuôn mặt, nhưng để làm gì? “Ông không có trái tim!”, một hôm, người ta bảo ông như thế. Có chứ, ông có một trái tim. Nó giúp ông chịu đựng mỗi ngày hai mươi tiếng đồng hồ chứng kiến cái chết của những con người sinh ra để sống. Nó giúp ông ngày nào cũng làm đi làm lại chừng ấy công việc. Từ nay, ông chỉ có đủ trái tim cho việc đó. Làm sao trái tim ấy lại có thể đủ để đem lại cuộc sống?
Không, suốt ngày, ông không phân phát những sự cứu trợ, mà là những tin tức. Dĩ nhiên, cái đó không thể gọi là một nghề nghiệp của con người.
Nhưng chung quy, trong cái đám người bị khủng bố và chết chóc này, người ta đã dành cho ai cơ hội làm cái nghề con người của mình? May sao ông thấy trong người mệt mỏi. Giá Rieux còn sung sức hơn, thì mùi xác chết lan tràn khắp nơi có thể khiến ông đa sầu đa cảm. Sự vật tồn tại như thế nào thì người ta cảm nhận chúng như thế ấy, nghĩa là một cách công bằng, một sự công bằng gớm ghiếc và vô nghĩa. Và những người khác, những người bị dịch bệnh, cũng cảm thấy rõ điều đó. Trước khi có dịch hạch, người ta đón tiếp Rieux như một vị cứu tinh. Với ba viên thuốc và một mũi tiêm, mọi việc sẽ đâu vào đó, và người ta dắt tay ông đưa đi dọc hàng lang. Thật thú vị nhưng cũng thật nguy hiểm. Trái lại, giờ đây, ông đến cùng với binh lính và phải dùng báng súng đập cửa thì gia đình người bệnh mới chịu mở. Họ những muốn kéo ông và kéo cả loài người cùng chết với họ. A! quả là con người không thể cần đến con người, quả là ông cũng trần trụi như những kẻ khốn khổ này và, cũng như họ, đáng được thương xót, nỗi thương xót ngày một dâng lên trong lòng mỗi khi ông chia tay họ.
Những ý nghĩ ấy, ít ra cũng trong những tuần lễ đằng đẵng này, lẫn lộn trong đầu óc Rieux với những ý nghĩ về tình cảnh chia ly của bản thân mình. Và đó cũng là những ý nghĩ ông đọc thấy phảng phất trên nét mặt bè bạn. Dần dà, trong cuộc chiến đấu chống mối tai họa này, những người đứng vững trên trận tuyến đều kiệt sức và đâm ra hờ hững đối với những sự kiện bên ngoài và đối với cảm xúc của người khác. Nhưng nguy hại hơn cả là cái lối cẩu thả, buông trôi của mọi người vì kiệt sức. Người ta muốn tránh mọi cử chỉ không thật cần thiết, người ta thấy chúng bao giờ cũng vượt quá sức mình. Họ ngày càng lơ là những quy tắc vệ sinh do chính mình đặt ra, bỏ qua một vài sự tẩy uế họ phải thực hiện đối với bản thân mình, và đôi khi chạy đến với người bị dịch hạch đường phổi mà không hề được dự phòng chống lây nhiễm. Đến phút cuối cùng mới được báo phải có mặt ở những nơi bị nhiễm dịch, họ thấy không còn đủ sức trở về nhỏ thuốc phòng bệnh. Hiểm họa thực sự là ở đó, vì chính bản thân cuộc chiến đấu chống dịch hạch khiến họ là những người dễ bị dịch hạch quật ngã hơn hết. Tóm lại, họ đánh cược với sự may rủi, và may rủi thì không thuộc về ai hết.
Thế nhưng trong thành phố lại có kẻ không tỏ ra mệt mỏi, chán nản và vẫn là hình ảnh sống động của sự thỏa mãn. Kẻ đó là Cottard. Hắn tiếp tục tự tách riêng mình ra trong lúc vẫn duy trì quan hệ với những người khác. Nhưng hễ công việc của Tarrou cho phép là hắn tìm gặp anh, phần vì anh biết rõ hoàn cảnh của hắn, phần vì bao giờ anh cũng thân tình đón tiếp hắn. Quả là một điều kỳ diệu không hề suy suyển. Và dù bận rộn đến mấy, Tarrou trước sau vẫn khoan hòa và chu đáo. Thậm chí một vài tối có mệt đến rã rời đi nữa thì ngày hôm sau, anh lại vẫn vươn lên với một nghị lực mới. “Với Tarrou thì có thể chuyện trò được, vì anh ta là một con người. Bao giờ anh cũng hiểu người ta”, đó là lời Cottard thổ lộ với Rambert.
Vì vậy, vào thời kỳ này, những điều ghi chép của Tarrou dần dần tập trung vào nhân vật Cottard. Anh cố vẽ lên bức tranh những sự phản ứng và những luồng suy nghĩ của Cottard, theo lời hắn tâm tình với anh hay theo cách lý giải của anh. Dưới đề mục “Quan hệ giữa Cottard và dịch hạch”, bức tranh này chiếm mấy trang sổ tay của Tarrou và ở đây người kể chuyện thấy cần nói qua vài nét. Nhận định tổng quát của Tarrou về anh chàng sống với chú ít lợi tức này thâu tóm trong lời xét đoán sau: “Đấy là một nhân vật đang lớn lên”. Vả lại, rõ ràng hắn đang lớn lên trong vẻ vui tươi. Hắn không bất bình với các diễn biến tình hình. Đôi khi, trước mặt Tarrou, hắn thổ lộ chiều sâu tâm tưởng của mình với những nhận xét kiểu: “Dĩ nhiên, tình hình không tốt hơn. Nhưng ít ra, ai cũng bị dính vào cuộc cả”.
“Dĩ nhiên, Tarrou viết thêm, hắn cũng bị uy hiếp như những người khác, nhưng đúng ra hắn bị uy hiếp cùng với những người khác. Vả lại, hắn không thật sự nghĩ - tôi chắc như vậy - là hắn có thể bị dịch hạch. Hắn có vẻ sống với cái ý nghĩ - không đến nỗi ngu ngốc - là không một người đang làm mồi cho một bệnh nặng hay một nỗi lo âu sâu sắc, thì người đó cùng một lúc được miễn trừ mọi bệnh tật hay nỗi lo âu khác. Ông có chú ý, hắn bảo tôi, là người ta không thể cùng một lúc mắc nhiều bệnh được không? Giả sử ông bị một bệnh nặng hay một bệnh không thể chữa khỏi một ca căngxe nghiêm trọng hay lao chẳng hạn, thì ông sẽ không bao giờ bị dịch hạch hay sốt chấy rận, dứt khoát là như vậy. Vả lại, còn xa hơn thế nữa kia, bởi vì chưa bao giờ ông thấy một người bị căngxe chết về tai nạn ô-tô” Dù đúng, dù sai, ý nghĩ đó cũng làm cho Cottard vui vẻ. Điều duy nhất hắn không muốn, là phải cách biệt người khác. Hắn muốn thà bị bao vây cùng với tất cả mọi người còn hơn là bị cầm tù một mình. Khi có dịch hạch, thì không còn vấn đề điều tra bí mật, hồ sơ, phiếu theo dõi, thẩm vấn kín và bắt giam ngay tức thì. Nói đúng ra, không còn có cảnh sát, không còn những tội phạm cũ hay mới, không còn những kẻ phạm pháp, chỉ còn những người bị kết án đang chờ lệnh ân xá hết sức độc đoán, và trong những người đó, có cả bản thân bọn cảnh sát nữa. “Thế đấy, và vẫn theo cách lý giải của Tarrou, Cottard có cơ sở để nhìn những dấu hiệu kinh hoàng và bối rối của đồng bào chúng tôi với cái vẻ thỏa mãn rộng lượng và thông cảm mà chúng ta có thể diễn tả bằng câu: ‘Các anh cứ nói đi, tôi biết cái đó trước các anh cơ’.
Tôi bảo hắn cách duy nhất để khỏi bị tách biệt khỏi người khác, xét cho cùng, là có một lương tâm trong sạch, nhưng hắn không nghe, hắn nhìn tôi một cách dữ tợn và nói: ‘Nếu thế thì không bao giờ ai ở với ai cả’. Rồi lại nói tiếp: ‘Thế đấy, tôi xin nói với ông như vậy. Cách duy nhất để làm người ta sát cánh bên nhau, là lại đem dịch hạch đến cho họ. Ông hãy nhìn xung quanh xem’. Và thực ra, tôi hiểu lắm hắn muốn nói gì, hiểu lắm cuộc sống hôm nay đối với hắn hạnh phúc biết chừng nào. Làm sao hắn lại không nhận biết lúc đó những sự phản ứng vốn là của bản thân hắn; sự cố gắng của mỗi người để có tất cả mọi người với mình; sự ân cần trong khi chỉ dẫn cho một người khách lạc đường lúc này và nỗi bực bội đối với người đó những lần khác; thái độ vội vã của những kẻ đổ xô tới những khách sạn sang trọng, lòng mãn nguyện của họ được đến và được lưu lại ở đấy; sự chen chúc lộn xộn của những kẻ hằng ngày nối đuôi nhau trước các rạp chiếu bóng, ùa vào đông nghịt trong mọi rạp hát và cả các tiệm nhảy, tràn ra như một triều nước vỡ bờ ở mọi nơi công cộng; sự trốn tránh mọi tiếp xúc, nỗi thèm khát thịt da con người đẩy người này tới người khác, cùi tay này tới cùi tay nọ, và giới này tới giới kia? Cottard biết tất cả cái đó trước họ, đó là điều hiển nhiên. Trừ phụ nữ, bởi vì với đầu óc hắn... Và tôi nghĩ là khi hắn soạn sửa đến với một cô gái, thì hắn lại khước từ, để khỏi có một cách ứng xử không hay, sau này có thể làm hại hắn.
Tóm lại, hắn thành công với dịch hạch. Dịch hạch làm cho hắn từ kẻ cô đơn và không muốn cô đơn, trở thành một kẻ đồng lõa. Vĩ rõ ràng hắn là một kẻ đồng lõa và là một kẻ đồng lõa khoái trá. Hắn đồng lõa với mọi thứ hắn nhìn thấy: những sự mê tín, những nỗi sợ hãi không chính đáng, những cơn hờn giận của những tâm hồn khủng hoảng; thói tật của những con người muốn hết sức ít nói tới dịch hạch nhưng lại luôn luôn nói tới; thái độ hoảng hốt và da mặt tái xanh tái nhợt của họ mỗi lúc hơi có chút đau đầu từ khi họ biết dịch hạch bắt đầu bằng những cơn đau đầu; cuối cùng là tính tình dễ bị kích động, nhạy cảm, bấp bênh, sẵn sàng cho những sự lãng quên là một điều xúc phạm và mất một chiếc khuy quần lót cũng lấy làm phiền muộn”.
Tarrou thường đi dạo buổi tối với Cottard. Về sau, anh kể lại trong sổ tay là họ đã hòa lẫn vào trong đám đông âm thầm những buổi hoàng hôn hay những đêm tối như thế nào, vai kề vai, ngụp lặn trong một cái khối trắng lẫn đen, thỉnh thoảng một bóng đèn lại rọi một vài điểm sáng hiếm hoi, và đi theo dòng người đến những chốn khoái lạc nồng nàn giúp người ta chống lại cái lạnh lẽo của dịch hạch. Cái mà vài tháng trước đây, Cottard tìm kiếm ở những nơi công cộng, trong xa hoa và cuộc sống phóng dật, cái mà hắn luôn luôn mơ ước nhưng không được thỏa mãn, nghĩa là sự hưởng lạc cuồng nhiệt, cái đó, giờ đây, cả một dân tộc lăn mình vào. Trong lúc giá cả mọi thứ lên vùn vụt, thì người ta thả sức tiêu phí tiền bạc, và trong lúc số đông thiếu thốn những cái thiết yếu, thì người ta tha hồ tung tẩy những cái thừa thãi. Người ta thấy tăng lên mọi hoạt động của cảnh nhàn rỗi mà thực ra, chỉ là cảnh thất nghiệp. Thỉnh thoảng, từng lúc lâu, Tarrou và Cottard theo dõi một cặp trai gái, trước kia thì chăm chút che giấu mối quan hệ của mình nhưng nay thì sát cạnh bên nhau, ngang nhiên đi qua thành phố, không ngó ngàng gì đến đám đông xung quanh, với lối lơ đễnh ít nhiều cố hữu và trong niềm đam mê lớn. Cottard xúc động: “A! Những kẻ phóng túng!” hắn thốt lên. Và hắn nói to, phấn chấn giữa không khí cuồng nhiệt chung, giữa những món puôcboa vương giả rủng rỉnh xung quanh họ và những mưu toan người ta bày đặt ra trước mắt họ.
Tuy nhiên, Tarrou cho là thái độ của Cottard không mấy ác ý. Câu nói “Tôi biết cái đó trước họ” của hắn bộc lộ bất hạnh nhiều hơn thắng lợi. “Tôi nghĩ, Tarrou viết, hắn bắt đầu yêu mến những con người bị cầm tù giữa bầu trời và mấy bức tường thành phố. Nếu có thể được, hắn sẵn sàng giải thích với họ, chẳng hạn, là tình hình không tới mức khủng khiếp đến thế. Hắn bảo tôi: “Ông nghe họ nói chứ, sau dịch hạch, tôi sẽ làm cái này, sau dịch hạch, tôi sẽ làm cái kia... Họ tự đầu độc cuộc sống của mình trong lúc đáng lẽ họ phải ngồi im. Và thậm chí họ cũng không thấy được lợi thế của họ nữa. Tôi, thì tôi có thể nói: sau khi bị bắt, tôi sẽ làm cái này, được không? Bị bắt bớ là một sự khởi đầu, không phải là một sự kết thúc. Còn dịch hạch... Ông có muốn nghe ý kiến của tôi không? Họ khổ sở vì họ không chịu phó mặc. Còn tôi, tôi hiểu điều tôi nói”.
“Quả là hắn hiểu điều hắn nói, Tarrou viết thêm. Hắn đánh giá đúng mâu thuẫn của dân chúng Oran: họ cảm thấy sâu xa cái nhu cầu sưởi ấm dịch họ lại gần nhau, nhưng đồng thời họ lại không hề thả mình theo nhu cầu ấy vì cái lòng nghi kỵ tách họ ra khỏi nhau. Người ta biết quá rõ là người ta không thể tin cậy người bên cạnh, là người này có thể mang dịch hạch đến cho mình mà mình không hay và lợi dụng sự buông thả của mình để làm mình bị lây nhiễm. Khi đã trải qua như Cottard những ngày thấy mọi người mình muốn kết thân đều có thể là những tên chỉ điểm, thì người ta có thể thấu hiểu nỗi lòng ấy. Chúng ta rất thông cảm viết những người luôn luôn vương vấn cái ý nghĩ là dịch hạch có thể, ngày một ngày hai, đến vỗ vai mình và có lẽ nó đang sắp sửa làm như thế, đúng vào lúc người ta đang hồ hởi được sống bình yên vô sự. Cottard ra sức tìm cách sống khoan khoái trong khi dịch bệnh khủng bố. Nhưng vì hắn cảm nhận tất cả cái đó trước mọi người nên tôi nghĩ hắn không thể cùng họ hoạt động thấy được nỗi lòng ngờ vực trên đây làm họ đau đớn biết chừng nào. Tóm lại, cùng với chúng tôi - những người chưa chết, vì dịch hạch, hắn cảm thấy rõ rệt cuộc sống và tự do của hắn lúc nào cũng sắp bị tiêu tan. Nhưng vì bản thân hắn sống trong kinh hoàng, nên hắn cho rằng những người khác đến lượt họ cũng trải qua nỗi kinh hoàng ấy là điều bình thường. Nói chính xác hơn, lúc đó, nỗi kinh hoàng đối với hắn sẽ dễ chịu đựng hơn là nếu phải nếm trải một mình. Chính đó là chỗ hắn sai lầm và khiến hắn khó hiểu hơn những người khác. Nhưng dẫu sao, cũng chính chỗ đó hắn đáng được người ta tìm hiểu hơn những người khác”.
Cuối cùng, những trang sổ tay của Tarrou kết thúc bằng một câu chuyện minh họa cho cái nhận thức kỳ cục cùng một lúc của cả Cottard lẫn những người bị dịch hạch. Câu chuyện hầu như làm sống lại bầu không khí gay go của thời kỳ này và vì vậy người kể chuyện ở đây dành cho nó một vị trí quan trọng.
Tarrou và Cottard đến nhà hát ôpêra thành phố, nơi đang diễn vở Orphée và Eurydice [1]. Cottard mời Tarrou đi xem. Đây là một đoàn đến biểu diễn ở thành phố vào mùa xuân năm có dịch hạch. Bị dịch bệnh giữ lại, đoàn bắt buộc, sau khi thỏa thuận với nhà hát ôpêra của thành phố, diễn lại vở kịch mỗi tuần một lần. Thế là, đã mấy tháng nay, mỗi tối thứ sáu, nhà hát thành phố lại vang lên những lời than vãn thiết tha của Orphée và những lời kêu cứu tuyệt vọng của Eurydice. Tuy nhiên, vở diễn vẫn được công chúng hâm mộ và thu lợi lớn. Chọn những dãy ghế đắt tiền nhất, Cottard và Tarrou ngồi ở phía trước sân khấu chật ních những người trang nhã nhất trong số đồng bào chúng tôi. Ai cũng lo vào để kiếm chỗ. Trong luồng ánh sáng chói chang trước khi kéo màn, và trong lúc các nhạc công nhẹ nhàng hòa tấu, thì những cái bóng người nổi lên rõ nét, chuyển từ hàng ghế này sang hàng ghế khác, nghiêng mình một cách duyên dáng. Trong tiếng lao xao của những câu chuyện thanh tao, người ta lấy lại niềm tin mà chỉ trước đây vài tiếng, trên những ngả đường tối tăm trong thành phố, họ thấy thiếu trong lòng. Áo quần đã xua đuổi dịch hạch.
Trong suốt màn đầu, Orphée than vãn một cách dễ dàng, vài ba thiếu phụ duyên dáng bình luận về nỗi bất hạnh của chàng, và tiếng nhạc cất lên ca ngợi mối tình. Cử tọa hưởng ứng nồng nhiệt nhưng kín đáo. Hầu như người ta không chú ý là Orphée đưa vào trong giọng hát của mình trong màn hai những sự rung động không có trong kịch bản, và với một giọng hơi quá bi tráng, xin các Ma vương động lòng trắc ẩn trước những giọt nước mắt của mình. Những khán giả am hiểu nhất thì cho một vài cử chỉ giần giật của chàng là do tác dụng cách điệu hóa, hỗ trợ cho cách diễn tấu của người hát.
Phải chờ đến bài hát đôi của Orphée và Eurydice trong màn ba (lúc này Orphée mất người yêu) tiếng rì rầm ngạc nhiên mới lan khắp cử tọa. Và như thể chỉ còn chờ cử chỉ này của khán giả, hay nói chắc chắn hơn, như thể vì tiếng rì rầm từ đám khán giả ngồi trên cùng khẳng định với điều mà y cảm nhận, anh chàng diễn viên chọn lúc này để bước ra lan can một cách lố bịch, tay chân dang ra trong bộ quần áo kiểu cổ, và để ngã lăn kềnh giữa những bài mục ca vốn bao giờ cũng không hợp thời nhưng lần đầu tiên khán giả thấy không hợp thời, và là không hợp thời một cách khủng khiếp. Vì cùng lúc đó, dàn nhạc lặng im, khán giả những hàng đầu đứng dậy và từ từ ra khỏi nhà hát, lúc đầu lặng lẽ như ra khỏi nhà thờ sau buổi lễ, hay buồng người chết sau khi thăm viếng, đàn bà thì thu vén xống váy và cúi đầu, đàn ông thì nắm cùi tay dìu các bà để tránh đụng phải hàng ghế phụ. Nhưng dần dà, người ta trở nên vội vã, tiếng rì rầm trở thành tiếng kêu than, và đám đông ùa ra, chen lấn ở cửa, cuối cùng thì xô đẩy nhau và la hét. Cottard và Tarrou vừa rời khỏi hàng ghế, chứng kiến một hình ảnh vốn là hình ảnh cuộc sống của họ lúc bấy giờ: dịch hạch trên sân khấu, dưới dạng một tay hề “trật khớp” và, trong nhà hát, phơi bày ra cả một sự xa hoa - nay trở nên vô ích - với những chiếc quạt bỏ quên và những dải đăng ten vương vãi trên màu đỏ ghế phô tơi.
Trong những ngày đầu tháng chín, Rambert làm việc ra trò bên cạnh Rieux. Anh chỉ có xin nghỉ một ngày, hôm phải gặp Gonzalès và hai gã thanh niên trước trường trung học nam.
Hôm đó, giữa lúc trưa, Gonzalès và anh chàng nhà báo thấy hai gã tươi cười bước tới. Họ bảo lần trước không gặp may, nhưng đành phải chịu. Dẫu sao, hiện nay không phải phiên gác của họ. Phải kiên nhẫn chờ tới tuần sau. Lúc ấy lại sẽ bắt đầu. Rambert bảo đúng là phải “bắt đầu”. Gonzalès hẹn gặp lại thứ hai tuần sau. Nhưng lần này, Rambert sẽ đến ở nhà Marcel và Louis. “Tớ và cậu, hai đứa mình sẽ hẹn gặp nhau. Nếu tớ không có mặt thì cậu sẽ đi thẳng đến nhà họ. Họ sẽ nói cho cậu rõ cậu ở đâu”. Nhưng Marcel hay Louis không rõ người nào, bảo cách đơn giản nhất là đưa “anh bạn” tới ngay. Nếu anh ta không khó tính, thì có đủ cái ăn cho cả bốn người. Và như thế anh ta sẽ rõ tình hình. Gonzalès cho đó là một ý kiến rất hay, và cả bốn người đi về phía cảng.
Marcel và Louis ở cuối khu phố Hải quân, gần những cửa ô mở ra con đường dọc bờ biển. Một ngôi nhà nhỏ kiểu Tây Ban Nha, tường dày, cánh cửa gió bằng gỗ sơn, có những phòng không có đồ đạc và râm mát. Ở nhà đã có bà mẹ hai chàng trai, một bà cụ Tây Ban Nha tươi cười, mặt đầy vết nhăn, lo chuyện cơm nước. Gonzalès ngạc nhiên vì thành phố đã bắt đầu thiếu gạo. “Chúng ta sẽ thu xếp ở cửa ô”, Marcel lên tiếng. Rambert ăn uống, và Gonzalès bảo anh là một người bạn thực sự, trong lúc anh chàng nhà báo thì loay hoay không biết mình sẽ sống cái tuần lễ này ra sao.
Thực ra, anh phải chờ đến hai tuần, vì các phiên gác kéo dài tới mười lăm ngày, để giảm bớt số kíp phải huy động. Và, trong mười lăm ngày ấy, Rambert làm việc không tiếc sức mình, có thể nói là nhắm mắt nhắm mũi mà làm liên tục từ sáng, đến tối. Mãi đến khuya, anh mới ngủ một giấc ngủ nặng nề. Chuyển đột ngột từ nhàn rỗi sang công việc nặng nhọc này, dần dà, anh hầu như không còn ước mơ và sức lực. Anh ít nói tới việc nay mai anh bỏ trốn. Duy chỉ có một sự kiện quan trọng; sau một tuần làm việc, anh thổ lộ với bác sĩ Rieux là lần đầu tiên, trong đêm trước anh say rượu. Ra khỏi quầy rượu, anh có cảm giác bẹn sưng lên và hai cánh tay cử động khó khăn xung quanh nách. Anh nghĩ là dịch hạch. Và phản ứng duy nhất của anh lúc đó - anh đồng ý với Rieux rằng như thế là không hợp lẽ - là chạy lên phía đầu thành phố và từ đó, từ một chỗ không nhìn thấy biển nhưng nhìn thấy một bầu trời bao la, anh thét to với vợ, qua những bức tường thành phố. Trở về nhà và không thấy một dấu hiệu bị lây nhiễm nào trên người, anh có phần xấu hổ vì cơn khủng hoảng đột ngột, Rieux đáp ông rất hiểu vì sao anh có thể hành động như vậy: “Dẫu sao, ông nói, vẫn có thể là ông muốn như thế”.
- Ông Othon sáng nay có nói về ông với tôi, Rieux đột ngột nói thêm, vào lúc Rambert chia tay. Ông ta hỏi tôi có biết ông không: “Ông hãy khuyên ông ta, Othon bảo tôi, đừng nên lui tới những giới buôn lậu. Ông ta làm người ta lưu ý đấy”.
- Thế nghĩa là thế nào?
- Thế nghĩa là ông nên khẩn trương lên.
- Cảm ơn, Rambert vừa nói vừa bắt tay bác sĩ.
Trên ngưỡng cửa, anh đột ngột quay lại. Rieux nhận thấy lần đầu tiên từ khi có dịch hạch, anh mỉm cười.
- Vì sao ông không ngăn cản tôi ra đi? Ông có thể ngăn cản kia mà.
Rieux lắc đầu với cái cử chỉ quen thuộc và bảo đấy là công việc của Rambert, là Rambert đã chọn lấy hạnh phúc và ông, Rieux, ông không thấy có lý lẽ gì để chống lại cả. Ông thấy mình không thể cho cái gì là tốt, cái gì là xấu trong công việc này.
- Trong những điều kiện như vậy, sao ông lại bảo tôi khẩn trương lên?
Đến lượt Rieux mỉm cười :
- Vì có lẽ, tôi, tôi cũng muốn làm một cái gì đó cho hạnh phúc.
Ngày hôm sau, hai người không trao đổi gì thêm và cặm cụi làm việc. Một tuần lễ sau, Rambert đến ở hẳn trong ngôi nhà nhỏ kiểu Tây ban Nha. Người ta đặt cho anh một cái giường trong phòng khách. Vì hai chàng trai không về ăn, và vì họ bảo anh hết sức hạn chế việc đi ra ngoài, nên anh thường sống một mình, hoặc chỉ chuyện vãn với bà già. Bà cụ, người gầy nhưng hoạt bát, quần áo màu đen, da mặt nhăn nheo màu nâu, mái tóc bạc phơ sạch bóng. Bản tính trầm ngâm, cụ chỉ nheo mắt lại cười khi nhìn Rambert.
Có những lúc, cụ hỏi anh không sợ mang dịch hạch về cho vợ hay sao. Anh nghĩ có thể có nguy cơ đó, nhưng dẫu sao, nguy cơ đó rất nhỏ nhoi, còn nếu ở lại trong thành phố thì họ có nguy cơ mãi mãi xa cách nhau.
- Cô ta có dễ thương không? - Bà cụ mỉm cười hỏi.
- Rất dễ thương ạ.
- Đẹp chứ?
- Cháu cho là như vậy.
- A! - Cụ bảo - Thì ra vì thế.
Rambert nghĩ ngợi. Dĩ nhiên là vì thế, nhưng không thể chỉ vì thế mà thôi.
- Ông không tin Chúa trời à? - Bà cụ vốn sáng nào cũng đi nhà thờ hỏi.
Rambert công nhận là không và bà cụ lại nói là vì thế.
- Ông phải về gặp cô ta thôi, ông nói có lý đấy. Nếu không thì ông còn lại cái gì nữa?
Ngoài ra, Rambert chỉ còn biết quanh quẩn giữa mấy bức tường trần trụi và nham nhở, vuốt ve mấy cái hình rẻ quạt trên tường hay đem những dải len viền khăn bàn. Buổi tối, hai chàng trai về nhà. Họ chỉ nói là chưa có thời cơ. Sau bữa ăn tối, Marcel chơi ghi ta và họ cùng nhau uống rượu hồi. Rambert ra vẻ suy tư.
Thứ Tư tuần ấy, Marcel về nhà và bảo: “Tối mai, vào lúc nửa đêm. Ông hãy chuẩn bị sẵn sàng. Hai người cùng gác với họ, thì một bị dịch hạch, một đang trong thời kỳ phải theo dõi vì thường ở cùng phòng với người kia. Như thế, trong vài ba ngày, chỉ có Marcel và Louis gác không thôi. Đêm nay, họ sẽ thu xếp những chi tiết cuối cùng. Mai chắc hẳn sẽ xong”. Rambert cảm ơn. “Ông hài lòng chứ?” bà cụ hỏi. Anh trả lời là có, nhưng đầu óc lại nghĩ tới cái gì khác.
Ngày hôm sau, trời u ám, nóng ẩm và ngột ngạt. Tin tức về dịch hạch đều xấu. Nhưng bà cụ người Tây Ban Nha vẫn bình tĩnh. “Có tội lỗi ở trên đời này. Vậy là điều tất nhiên thôi!” Rambert cũng cởi trần như Marcel và Louis. Nhưng mồ hôi vẫn ròng ròng trên vai, trên ngực. Giữa cảnh tranh tối tranh sáng trong nhà cửa đóng kín mít, họ tựa như những bức tượng bán thân màu nâu bóng loáng. Rambert đi lui đi tới, không nói nửa lời. Bỗng nhiên, lúc bốn giờ chiều, anh mặc quần áo ra đi.
- Cẩn thận - Marcel lên tiếng - Đúng nửa đêm mới khởi hành được. Đâu vào đấy cả rồi.
Rambert đến nhà bác sĩ Rieux. Bà cụ Rieux bảo anh là bác sĩ đang ở bệnh viện thành phố trên. Trước trạm gác, đám đông quanh quẩn mãi. “Đi đi!” một viên đội xếp, mắt lồi, bảo bà con. Người ta đi, nhưng vẫn đi vòng tròn. “Chẳng có việc gì phải chờ đợi cả”, viên đội, áo bắt đầu ướt đẫm mồ hôi, nói tiếp. Đám đông cũng nghĩ như vậy nhưng vẫn ở lại, mặc dù trời nắng như thiêu như đốt. Rambert xuất trình giấy thông hành và viên đội xếp chỉ buồng giấy của Tarrou cho anh. Cửa buồng mở ra sân. Anh gặp cha Paneloux từ trong buồng bước ra.
Trong một căn phòng nhỏ trắng nhờ nhờ, phảng phất mùi thuốc và mùi đra ẩm ướt, Tarrou ngồi sau một chiếc bàn gỗ đen, tay sơ-mi xắn cao, cầm mù soa lau mồ hôi ở chỗ vừa lấy máu trên cánh tay.
- Ông vẫn còn đây? - Anh hỏi.
- Vâng, tôi muốn nói chuyện với Rieux.
- Bác sĩ ở trong buồng. Nhưng nếu thu xếp được mà không phiền đến ông ấy thì hay hơn.
- Sao vậy?
- Ông ấy làm việc quá sức. Tôi cố tránh bớt việc cho ông.
Rambert nhìn Tarrou. Tarrou gầy rộc người. Mệt mỏi làm cho đôi mắt và nét mặt bơ phờ. Đôi vai lực lưỡng nay xo lại. Có tiếng gõ cửa, và một người y tá, đeo mặt nạ trắng, bước vào, y đặt lên bàn Tarrou một chồng phiếu và, với giọng bị ngạt lại sau lớp vải, nói cụt lủn: “Sáu”, rồi đi ra. Tarrou nhìn anh chàng nhà báo và chỉ những tờ phiếu giở ra theo hình rẻ quạt.
- Những tờ phiếu đẹp, hả? Ờ, không, phiếu ghi những người chết đêm qua đấy.
Trán anh hõm xuống. Anh gập tập phiếu lại.
- Chúng tôi chỉ còn lại có công việc kế toán.
Tarrou đứng dậy, dựa vào mép bàn.
- Ông đã sắp đi chưa?
- Tối nay, lúc nửa đêm.
Tarrou bảo là cái đó làm anh vui lòng và dặn dò Rambert phải giữ mình.
- Ông nói thành thật đấy chứ?
Tarrou nhún vai :
- Ở cái tuổi tôi, người ta bắt buộc phải thành thật. Nói dối thì quá mệt.
- Ông Tarrou này, anh chàng nhà báo bảo, tôi muốn gặp bác sĩ. Ông thứ lỗi cho.
- Tôi biết. Ông ấy “người” hơn tôi. Ông vào đi.
- Không phải thế, Rambert đáp một cách khó khăn, và dừng lại.
Tarrou nhìn anh, và bỗng nở một nụ cười.
Họ đi theo một hành lang nhỏ, tường quét vôi màu xanh nhạt, phảng phất ánh sáng của những chiếc bể nuôi cá. Đèn trước hai lớp cửa kính với những cái bóng chập chờn kỳ cục ở phía sau. Tarrou đưa Rambert vào một căn phòng rất nhỏ, bưng ván kín mít. Anh mở một tấm, lấy từ một cái hộp tiệt khuẩn hai chiếc mặt nạ bằng gạc hút nước, đưa một chiếc cho Rambert, bảo anh đeo vào. Anh chàng nhà báo hỏi có ích lợi gì không và Tarrou đáp là không, nhưng như thế để gây lòng tin cho người khác.
Họ đẩy tấm cửa kính. Một phòng rộng thênh thang, cửa sổ đóng kín mít, tuy giữa mùa hè. Phía trên tường, những cái máy làm thay đổi không khí kêu vo vo, và những cái quạt uốn cong của máy khuấy bầu không khí đông đặc và hừng hực, trên hai dãy giường xám xịt. Từ khắp mọi phía, cất lên những tiếng rên rỉ trầm đục hoặc the thé tạo nên một chuỗi than vãn đơn điệu. Những người đàn ông, mặc quần áo trắng, chậm rãi đi lại, dưới luồng ánh sáng dữ dội từ những ô cửa sổ cao có song sắt, hắt xuống. Rambert thấy trong người khó chịu trong cái nóng khủng khiếp của căn phòng và hầu như không còn nhận ra Rieux đang cúi xuống một bóng người rên rỉ. Bác sĩ đang rạch bẹn cho người bệnh hai chân dạng ra, hai cô y tá giữ ở hai bên giường. Ngẩng lên, ông bỏ dụng cụ vào một chiếc khay trên tay một người phụ việc và đứng im lặng một lát, nhìn người bệnh đang được băng bó.
- Có gì mới không? - Ông hỏi Tarrou khi anh bước tới.
- Paneloux nhận thay Rambert ở nhà cách ly kiểm dịch. Ông ta đã làm việc nhiều. Còn phải tập hợp kíp thứ ba theo dõi bệnh nhân trong lúc vắng Rambert.
Rieux gật đầu.
- Castel đã chế xong những liều huyết thanh đầu tiên. Ông ta đề nghị dùng thí nghiệm. - Tarrou nói tiếp.
- A! - Rieux đáp - Tốt lắm.
- Cuối cùng, hiện Rambert có mặt ở đây.
Rieux quay lại. Phía trên mặt nạ, mắt ông nheo lại khi nhìn thấy anh chàng nhà báo.
- Ông làm gì ở đây? - Rieux hỏi - Ông phải ở chỗ khác chứ!
Tarrou nói là Rambert sẽ đi trong đêm nay, lúc mười hai giờ, và Rambert nói thêm: “Về nguyên tắc thì như thế”.
Mỗi lần họ nói, là chiếc mặt nạ bằng gạc lại phập phồng và thấm ướt ở chỗ miệng. Vì thế câu chuyên có phần huyền ảo, tựa cuộc đối thoại của những bức tượng.
- Tôi muốn nói chuyện với ông. - Rambert cất tiếng.
- Chúng ta sẽ cùng đi ra ngoài, nếu ông vui lòng. Ông chờ tôi trong phòng Tarrou.
Một lát sau, Rambert và Rieux ngồi phía sau ô-tô của bác sĩ. Tarrou cầm lái.
- Hết xăng đến nơi rồi - Tarrou nói khi nổ máy - Mai, chúng ta sẽ đi bộ.
- Thưa bác sĩ, - Rambert nói - tôi sẽ không đi và tôi muốn ở lại với ông.
Tarrou không nói nửa lời. Anh tiếp tục lái. Rieux thì hình như không sao thoát ra khỏi cơn mệt mỏi.
- Thế còn cô ấy? - Ông hỏi, giọng trầm xuống.
Rambert đáp anh đã tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục tin điều anh tin trước đây, nhưng nếu ra đi thì anh thấy hổ thẹn. Anh thấy như thế thì không xứng đáng với tình yêu của mình đối với người con gái hiện đang xa vắng. Rieux ngồi thẳng dậy, và bảo, giọng chắc nịch, rằng làm thế là ngu ngốc và khi người ta chọn hạnh phúc thì không có gì phải hổ thẹn.
- Vâng, - Rambert đáp - nhưng hưởng hạnh phúc lấy một mình thì cũng có thể hổ thẹn.
Im lặng cho tới lúc đó và không quay đầu lại, Tarrou bèn nói là nếu Rambert muốn chia sẻ nỗi bất hạnh với những con người ở đây, thì anh sẽ không bao giờ có thì giờ dành cho hạnh phúc nữa. Rambert cần lựa chọn.
- Không phải thế. - Rambert đáp - Tôi luôn nghĩ rằng tôi xa lạ với thành phố này và không dính dáng gì tới các ông. Nhưng giờ đây, khi đã thấy những điều trước mắt, thì tôi biết tôi là người ở đây, dù tôi muốn hay không. Công việc này liên quan đến tất cả chúng ta.
Không một ai đáp lại và Rambert tỏ vẻ sốt ruột.
- Vả lại, các ông hiểu rõ điều đó. Nếu không thì các ông làm gì trong cái bệnh viện này? Và các ông, các ông có chọn lựa, các ông có khước từ hạnh phúc không?
Cả Tarrou lẫn Rieux vẫn không ai đáp lại. Không khí im lặng kéo dài cho tới khi về gần tới nhà bác sĩ. Một lần nữa, Rambert nhắc lại câu hỏi và lần này, cất cao giọng hơn. Một mình Rieux quay lại phía anh. Ông ngồi thẳng dậy một cách khó khăn.
- Ông Rambert, xin lỗi ông, nhưng tôi không biết trả lời ông thế nào. Ông cứ ở lại với chúng tôi vì ông muốn vậy.
Ô-tô quặt bánh, Rieux phải dừng lời. Rồi nhìn thẳng về phía trước, ông nói tiếp :
- Trên đời này, không có gì đáng cho người ta xa lánh cái mà người ta yêu mến. Thế nhưng, chính tôi, tôi cũng xa lánh nó mà không hiểu vì sao.
Ông ngã người xuống đệm xe.
- Đó là một sự thật, thế thôi, ông nói tiếp, dáng mệt mỏi. Chúng ta hãy ghi nhận lấy và rút ra những hệ quả.
- Những hệ quả nào? - Rambert hỏi.
- A! - Rieux đáp - Người ta không thể vừa chữa bệnh vừa biết được. Vậy chúng ta hãy hết sức nhanh chóng chữa bệnh. Đó là cái khẩn thiết nhất.
Nửa đêm, Tarrou và Rieux hướng dẫn cho Rambert sơ đồ khu phố anh phụ trách theo dõi. Tarrou nhìn đồng hồ. Ngẩng đầu lên, anh gặp ánh mắt Rambert.
- Ông đã báo cho cô ấy chưa?
Anh chàng nhà báo quay mặt đi và nói một cách khó khăn :
- Tôi đã gửi cho nàng mấy chữ trước khi đến gặp các ông.
Huyết thanh của Castel đã đem dùng thử vào những ngày cuối tháng mười. Trên thực tiễn, nó là niềm hy vọng cuối cùng của Rieux. Nếu lại thất bại một lần nữa, thì ông tin chắc thành phố sẽ hoàn toàn phó mặc cho dịch hạch: dịch bệnh có thể hoành hành trong nhiều tháng nữa, cũng có thể tự nó ngừng lại không một lý do nào cả.
Ngay trước hôm Castel đến gặp Rieux một ngày, con trai Othon bị ốm và cả nhà phải cách ly kiểm dịch. Bà vợ trở về nhà trước một ít nên lại phải sống một mình lần thứ hai. Tôn trọng những quy tắc đã đề ra, viên dự thẩm cho mời bác sĩ Rieux khi vừa nhận thấy trên người đứa bé những dấu hiệu của bệnh. Khi Rieux tới, cả hai vợ chồng Othon đều đứng đầu giường. Con bé gái thì đã đưa đi cách ly. Thằng bé đang trong thời kỳ suy sụp và để cho khám không một tiếng kêu la. Ngẩng đầu lên, bác sĩ bắt gặp ánh mắt Othon, và phía sau ông ta, khuôn mặt tái nhợt của bà vợ: bà ta cho một chiếc mù soa vào miệng và hai mắt trừng trừng theo dõi cử chỉ của bác sĩ.
- Cái đó, phải không? - Viên dự thẩm hỏi, giọng lạnh lùng.
- Phải. - Rieux đáp và một lần nữa nhìn đứa trẻ.
Cặp mắt bà Othon mở to nhưng bà vẫn lặng im. Othon cũng lặng im, nhưng rồi tiếp giọng nói :
- Thưa Rieux, chúng ta phải làm đúng theo quy định.
Rieux tránh không nhìn bà vợ miệng vẫn ngậm chiếc mùa hoa.
- Công việc nhanh thôi, - Ông nói ngập ngừng - nếu tôi có thể gọi điện.
Othon bảo để ông ta tiễn chân Rieux. Nhưng Rieux quay về phía bà vợ :
- Tôi thật khổ tâm. Bà chuẩn bị ít quần áo cho cháu. Bà biết là thế nào rồi.
Bà Othon ra vẻ sững sờ. Bà nhìn xuống đất :
- Vâng, - Bà ta gật đầu đáp - tôi chuẩn bị cho cháu ngay bây giờ.
Trước khi chia tay, Rieux hỏi họ có cần gì không. Bà vợ vẫn lặng im nhìn chồng. Còn Othon thì ngoảnh mặt đi.
- Không - Ông ta đáp và nuốt nước bọt - Nhưng ông cứu lấy cháu.
Việc cách ly kiểm dịch lúc đầu chỉ là một thủ tục đơn giản như về sau được Rieux và Rambert tổ chức hết sức chặt chẽ. Đặc biệt là họ yêu cầu người trong cùng một gia đình bao giờ cũng phải cách ly nhau. Khi một người bị nhiễm bệnh nhưng không biết, thì không nên tạo cơ hội cho bệnh lây lan. Rieux giải thích cho viên dự thẩm, và ông ta cho thế là tốt. Tuy thế, hai vợ chồng nhìn nhau với một ánh mắt khiến bác sĩ thấy sự xa cách đó làm họ bối rối đến chừng nào. Bà Othon và đứa bé gái có thể đến ở trong khách sạn dùng làm nhà cách ly kiểm dịch do Rambert phụ trách. Nhưng đối với ông dự thẩm thì không còn chỗ nào khác ngoài trại cách ly mà tỉnh đang tổ chức, trên sân vận động thành phố, với những chiếc lều bạt mượn của sở công chính. Rieux xin lỗi, nhưng Othon báo chỉ có một luật lệ cho mọi người, và tuân theo luật lệ là đúng.
Còn thằng bé thì được chở đến bệnh viện phụ, trong một lớp học cũ có kê mười chiếc giường. Sau khoảng hai mươi tiếng, Rieux cho là một ca tuyệt vọng. Cơ thể nhỏ bé của nó để cho nhiễm khuẩn tàn phá, không hề có phản ứng chống trả. Những cục hạch xoài nhỏ, đau đớn, vừa mới nổi lên, làm cho các khớp tay chân khẳng khiu của nó không cử động nổi. Nó bị dịch bệnh đánh bại ngay từ đầu. Vì vậy Rieux định thí nghiệm trên mình nó thứ huyết thanh của Castel. Ngay tối hôm đó, sau bữa ăn, họ tiêm chủng kéo dài cho thằng bé, mà không hề có phản ứng. Sáng tinh mơ hôm sau, mọi người đến cạnh nó để xem kết quả cuộc thử nghiệm có tính chất quyết định này.
Thằng bé, thôi không còn mê sảng, quằn quại trên giường. Từ bốn giờ sáng, Rieux, Castel và Tarrou đứng bên cạnh, theo sát tình hình tiến triển hay dừng lại của cơn bệnh. Đứng phía đầu giường, thân hình nặng nề của Tarrou như còng xuống. Rieux đứng phía chân giường, và Castel ngồi bên cạnh đọc một tác phẩm cũ, vẻ bề ngoài hết sức điềm tĩnh. Dần dà, trời sáng rõ trong căn phòng học ngày trước và những người khác cũng tới. Trước hết là Paneloux, đứng phía bên kia giường, đối diện với Tarrou, lựng dựa vào tường. Nét mặt lộ vẻ đau đớn, và nỗi mệt mỏi những ngày ông ta liều cả thân mình thế này đào thành những vết nhăn trên vầng trán sung huyết. Rồi đến lượt Joseph Grand. Đồng hồ đã bảy giờ và anh xin lỗi vì phải hối hả đến hụt hơi. Anh chỉ ở lại một lúc có lẽ tình hình đã có phần rõ rồi. Không nói không rằng, Rieux chỉ vào đứa bé mắt nhắm tịt trên khuôn mặt biến dạng, hai hàm răng nghiến chặt, cơ thể bất động, đầu quay hết bên này sang bên kia, trên chiếc gối không có bọc. Cuối cùng, khi trời sáng rõ, đủ để nhìn thấy trên tấm bảng đen vẫn nằm nguyên ở cuối phòng, dấu vết còn sót lại của những công thức phương trình thì Rambert tới. Anh ngồi tựa lưng vào chân chiếc giường bên cạnh và lấy bao thuốc ra. Nhưng thoáng nhìn thấy đứa bé, anh lại bỏ thuốc vào túi.
Castel vẫn ngồi, ngước mắt kính lên nhìn Rieux :
- Ông có tin tức gì về ông bố thằng bé không?
- Không, - Rieux đáp - ông ta ở trại cách ly.
Ông nắm chặt thành giường thằng bé. Nó rên rỉ. Ông không rời mắt khỏi nó. Nó bỗng co cứng lại và nghiến chặt răng, bụng thắt lại chút ít, từ từ dang rộng hai tay, hai chân ra. Từ cái thân hình bé nhỏ, trần trụi dưới chiếc mền lính, xông lên mùi len và mùi mồ hôi chua chua. Dần dà, đứa bé duỗi người ra, khép tay chân lại vào giữa giường và vẫn nhắm mắt và im lìm, nó có vẻ thở nhanh hơn. Tarrou ngoảnh mặt đi và Rieux bắt gặp ánh mắt anh.
Họ đã từng chứng kiến cái chết của trẻ em, vì đã mấy tháng nay, dịch bệnh không hề chọn lựa, nhưng chưa bao giờ, họ theo dõi nỗi đau đớn của chúng từng phút một như từ sáng đến nay. Và, dĩ nhiên, nỗi đau đớn những đứa trẻ thơ ngây này phải chịu, thực sự như thế nào thì bao giờ họ cũng thấy nó như thế ấy, nghĩa là như một sự phẫn nộ. Nhưng ít ra cho tới lúc này, họ chỉ phẫn nộ một cách trừu tượng - nếu có thể nói như thế - bởi lẽ chưa bao giờ họ nhìn thẳng, lâu đến thế, cơn hấp hối của một đứa trẻ thơ dại.
Đứa bé, như thể bị cắn xé ở dạ dày, gập mình lại một lần nữa và rên rỉ một cách yếu ớt. Nó co quắp lại như thế trong mấy giây đồng hồ mà ai nấy đều thấy dài đằng đẵng, người nó giật bắn lên vì những cơn rùng mình bần bật, như thể cái hình hài mảnh dẻ gập khúc lại dưới cơn cuồng phong của dịch hạch và gãy răng rắc dưới những cơn sốt dồn dập. Cơn giông bão qua đi, nó thư giãn ra một chút, cơn sốt như rút đi và bỏ mặc nó, hổn hển, trên một lớp cát ẩm ướt và bị đầu độc trong đó trạng thái nghỉ ngơi đã chẳng khác nào cái chết. Khi cơn sốt như một lớp sóng nóng bỏng tấn công nó lần thứ ba và nâng người nó lên chút đỉnh, thì thằng bé co quắp lại, rúc vào góc giường vì kinh sợ ngọn lửa đang đốt cháy nó, rồi lắc la lắc lư cái đầu như điên như dại và vứt tung tấm mền đi. Những giọt nước mắt to tướng tuôn ra từ dưới hai mí mắt đỏ rực chảy trên khuôn mặt xám xịt, và cuối cơn, thằng bé, kiệt sức, co rúm hai cẳng chân xương xẩu và hai cánh tay thịt đã biến mất hết, sau bốn mươi tám tiếng, nằm trên giường rối tung, trong tư thế kỳ quái của kẻ bị đóng đinh trên giá chữ thập.
Tarrou cúi xuống, lấy bàn tay phục phịch lau khuôn mặt nhỏ bé đẫm nước mắt và mồ hôi của thằng bé. Castel gập sách lại một lúc và nhìn nó. Ông bắt đầu nói, nhưng phải ho một hơi mới nói được hết câu vì bỗng lạc giọng đi :
- Không có hiện tượng giảm bệnh buổi sáng phải không ông Rieux?
Rieux bảo là không, nhưng thằng bé đã chống chọi lại quá mức bình thường. Paneloux, mệt mỏi dựa vào tường bỗng cất tiếng trầm trầm :
- Nếu có chết, ắt nó phải đau khổ lâu hơn.
Rieux đột ngột quay lại phía ông ta và mở miệng định nói, nhưng lại thôi, cố gắng kìm mình một cách trông thấy và quay trở lại nhìn đứa bé.
Ánh sáng trải rộng trong căn buồng. Trên năm chiếc giường khác, những hình người động đậy và rên rỉ, nhưng một cách kín đáo như thể họ đã bàn bạc cùng nhau. Người duy nhất kêu la, ở tận cuối buồng đằng kia, từng quãng đều đặn một, cất lên những lời than vãn yếu ớt như thể vì kinh ngạc hơn là vì đau đớn. Hình như ngay cả đối với người bệnh, đây không phải là nỗi kinh hoàng buổi đầu. Giờ đây, người ta như thỏa thuận với nhau trong cách chấp nhận bệnh tật. Riêng chỉ có thằng bé là ra sức giãy giụa. Rieux chốc chốc lại bắt mạch cho nó, tuy không cần thiết, và đúng hơn là để thoát khỏi tình trạng bất động bất lực của mình. Hai mí mắt khép lại, ông cảm thấy mạch thằng bé như hòa lẫn vào sự chuyển động của chính dòng máu ông. Ông hòa mình làm một với thằng bé đau thương và tìm cách nâng đỡ nó với toàn bộ sức lực còn nguyên vẹn của mình. Nhưng sau một phút hòa nhập, nhịp đập trái tim ông và trái tim thằng bé thời không còn một điệu nữa, đứa bé thoát ra khỏi ông, và cố gắng của ông rơi tõm vào chỗ hư không. Ông bỏ cái cổ tay mỏng manh ra và quay về chỗ mình.
Trên các bức tường quét vôi, ánh sáng chuyển từ màu hồng sang màu vàng. Phía sau cửa chính, bắt đầu một buổi sáng oi bức rần rật. Người ta chỉ loáng thoáng nghe Grand nói khi ra đi là anh sẽ trở lại. Ai nấy chờ đợi. Thằng bé, mắt vẫn nhắm tịt, như có phần dịu đi. Hai bàn tay giờ đây như những móng vuốt, cào cấu hai bên mép giường rồi lần ngược lên, gãi gãi cái mền chỗ gần đầu gối, và đột nhiên, thằng bé gập chân, khép hai đùi lại bên bụng và nằm im lặng. Lần đầu tiên, nó mở mắt và nhìn Rieux đứng trước mặt. Trên khuôn mặt gầy choắt lại, đờ đẫn, xám xịt như đất sét, miệng nó hé mở, liên tục phát ra một thứ tiếng hầu như không còn ăn khớp gì với nhịp thở và làm cho căn phòng bỗng nhiên âm vang một chuỗi những lời phản kháng đơn điệu, rời rạc, ít mang tính người tới mức như thể được thốt ra từ tất thảy mọi con người cùng một lúc. Rieux nghiến chặt răng và Tarrou ngoảnh mặt đi. Rambert bước lại gần giường, bên cạnh Castel lúc đó đã gập sách lại trên đầu gối. Paneloux nhìn cái miệng trẻ thơ, hoen ố vì bệnh tật, chứa đầy cái tiếng kêu của mọi lứa tuổi ấy. Ông quì xuống đất và không ai ngạc nhiên khi nghe ông, giọng nói có phần nghẹn ngào nhưng rành rọt, thốt lên: “Cầu xin Chúa cứu thoát thằng bé”, trong lúc tiếng rên rỉ âm thầm của nó vẫn không ngớt.
Thằng bé vẫn tiếp tục kêu la, và xung quanh nó, các bệnh nhân cũng náo động cả lên. Người bệnh từ nãy bỗng không ngớt than vãn ở phía cuối đàng kia buồng, nay càng than vãn nhiều hơn, tạo thành một tiếng kêu la thật sự, trong lúc những người bệnh khác rên rỉ ngày một thêm dữ dội. Tiếng nức nở tràn ngập gian phòng như một làn sóng, át cả tiếng cầu kinh của Paneloux. Tay bíu chặt thanh giường, nhắm mắt lại, Rieux mệt mỏi, chán chường đến rã rời.
Mở mắt ra, ông thấy Tarrou đứng bên cạnh.
- Tôi phải đi đây - Rieux nói - Tôi không thể chịu nổi nữa.
Nhưng bỗng nhiên, các bệnh nhân khác đều lặng im. Lúc đó, ông mới biết tiếng kêu của thằng bé yếu đi, yếu đi mãi và vừa ngừng lại. Xung quanh ông, những lời than vãn lại nổi lên, nhưng trầm đục, và tựa tiếng vang vọng xa xăm của cuộc chiến đấu vừa mới kết thúc. Vì quả nó đã kết thúc. Castel chuyển sang phía bên kia giường và bảo thế là hết. Miệng há to, nhưng câm lặng, thằng bé nằm giữa đống chăn đệm ngổn ngang, co quắp lại, những giọt nước mắt còn vương trên mặt.
Paneloux đi lại cạnh giường và làm dấu ban phước. Rồi vén áo, đi ra bằng cửa chính.
- Có nên bắt đầu lại tất cả không? - Tarrou hỏi Castel.
Ông bác sĩ già lắc đầu.
- Có lẽ - Ông nói, một nụ cười nhăn nhúm trên môi - Dẫu sao, nó cũng đã chống trả mãi.
Nhưng Rieux ra khỏi buồng, bước đi lập cập và với một vẻ khiến cho khi vượt qua Paneloux, ông này nắm cánh tay ông giữ lại.
- Này, ông bác sĩ. - Paneloux bảo ông.
Rieux quay lại vẻ bực bõ và nói với một thái độ dữ dội.
- A! Ít ra, thằng bé cũng vô tội, cha biết chứ! Rồi quay người, vượt lên trước Paneloux, ông đi qua cửa, bước về phía cuối sân trường. Ông ngồi xuống một chiếc ghế băng, giữa những thân cây nhỏ bụi bặm, và lau mồ hôi chảy vào mắt. Ông vẫn muốn la hét để nới cái sợi dây thòng lọng ác nghiệt đang bóp nghẹt tim mình. Nắng từ từ hắt xuống giữa những cành vả. Bầu trời màu xanh buổi sáng nhanh chóng bị bao phủ bởi một lớp viền nhờ khiến không khí càng thêm ngột ngạt. Rieux ngồi phịch xuống ghế. Ông nhìn cây cối, bầu trời, từ từ lấy lại hơi thở, quên bớt mệt mỏi.
- Sao ông nói với tôi với cái giọng giận dữ như vậy? - Một tiếng nói cất lên sau lưng ông - Đối với tôi cũng vậy, cảnh tượng ấy không sao chịu nổi.
Rieux quay lại phía sau Paneloux :
- Đúng thế! Xin cha thứ lỗi. Nhưng mệt mỏi làm người ta điên dại. Có nhiều lúc trong cái thành phố này, tôi chỉ còn cảm thấy như trong lòng nổi loạn.
- Tôi hiểu - Paneloux thầm thì - Cái đó thật đáng giận vì nó vượt quá sức chúng ta. Nhưng phải chăng chúng ta cần sự yêu mến cái mà chúng ta không hiểu nổi.
Rieux đứng vụt dậy. Ông nhìn Paneloux với tất cả sức lực và tình cảm của mình, rồi lắc đầu :
- Không, thưa cha. Tôi có một quan niệm khác về tình yêu thương. Và cho đến chết, tôi vẫn không sao yêu mến được cái thế giới trong đó những đứa trẻ bị hành hạ.
Một thoáng bối rối trên nét mặt Paneloux.
- A! Ông bác sĩ này, - Ông nói, giọng buồn bã - tôi vừa hiểu cái mà người ta gọi là ân sủng.
Nhưng một lần nữa, Rieux lại ngồi phịch xuống ghế. Mệt mỏi trở lại đến rã rời, ông đáp, dịu dàng hơn :
- Đó là cái tôi không có, tôi biết rõ như thế. Nhưng tôi không muốn tranh luận với cha. Vượt lên trên những lời báng bổ lẫn những lời cầu nguyện, chúng ta cùng nhau làm việc vì một cái gì đó nó liên kết chúng ta lại. Chỉ có cái đó là quan trọng.
Paneloux ngồi xuống cạnh Rieux. Ông có vẻ xúc động :
- Vâng, đúng thế, ông, ông cũng làm việc vì hạnh phúc con người.
Rieux cố mỉm cười.
- Hạnh phúc con người, cái từ đó quá lớn đối với tôi. Tôi không dám đi xa đến thế. Cái tôi lưu tâm là sức khỏe con người, trước hết là sức khỏe con người.
Paneloux ngập ngừng :
- Ông bác sĩ này.
Nhưng rồi ngừng lại. Trên trán ông, mồ hôi cũng đã ròng ròng. Ông thì thầm: “Tạm biệt”, và cặp mắt ông long lanh khi đứng dậy. Ông sắp bước đi thì đang suy tư, Rieux cũng đứng dậy và bước đến bên ông :
- Một lần nữa, xin cha thứ lỗi. Tôi sẽ không bao giờ để cơn giận bùng lên như thế nữa.
Paneloux chìa tay buồn bã nói :
- Thế nhưng tôi chưa thuyết phục được ông!
- Chẳng sao - Rieux đáp - Cái tôi căm thù, là chết chóc và tội ác, cha biết rõ đấy. Và dù cha muốn hay không, thì chết chóc và tội ác ấy, chúng ta vẫn cùng nhau chịu đựng và chống trả.
Rieux giữ bàn tay Paneloux lại trong tay mình :
- Cha thấy không, - Ông nói và tránh không nhìn Paneloux - bây giờ ngay đến Chúa cũng không chia rẽ được chúng ta.
Từ ngày tham gia các tổ chức y tế, Paneloux chưa hề rời khỏi các bệnh viện và những nơi có dịch hạch. Giữa những người cứu trợ, ông tự đặt mình vào vị trí mà ông nghĩ phải là của ông, nghĩa là vào vị trí hàng đầu. Ông đã chứng kiến những cảnh chết chóc. Và tuy về nguyên lý, ông được huyết thanh bảo vệ, nhưng không phải ông không bao giờ băn khoăn về bản thân cái chết của mình. Bề ngoài, ông luôn luôn giữ thái độ bình tĩnh. Nhưng từ hôm nhìn, khá lâu, một đứa trẻ chết, ông hình như thay đổi. Trên nét mặt ông, sự căng thẳng ngày một hiện lên rõ rệt. Và đến hôm ông vừa cười vừa nói với Rieux là ông đang dự thảo một tiểu luận ngắn về vấn đề: “Một linh mục có thể, hỏi ý kiến một thầy thuốc không?” thì Rieux có cảm giác đây là một vấn đề thật sự nghiêm trang. Khi Rieux ngỏ ý muốn được biết công trình ấy, thì Paneloux đáp là ông phải thuyết giáo trong một buổi lễ cầu kinh của nam giới và trong dịp ấy, ông sẽ trình bày ít ra cũng một vài quan điểm của mình :
- Tôi muốn ông đến dự, bác sĩ ạ, vấn đề sẽ làm ông thích thú đấy.
Cha Paneloux trình bày bản thuyết giáo thứ hai của mình vào một ngày gió to. Nói đúng ra, các hàng ghế cử tọa thưa thớt hơn lần trước. Ấy là vì quang cảnh này không còn sức hấp dẫn của cái mới đối với đồng bào chúng tôi. Trong hoàn cảnh khó khăn của thành phố, bản thân từ “cái mới” đã mất hết ý nghĩa. Vả lại, khi chưa hoàn toàn xao nhãng bổn phận tôn giáo hoặc chưa đến nỗi làm cho bổn phận ấy và đời tư hết sức vô đạo của mình chỉ là một, thì người ta thường thay thế những tập quán thường ngày bằng những hành vi mê tín không hợp lý. Họ sẵn sàng đeo những chiếc ảnh tượng hộ mệnh hay bùa ngài thánh Roch nhiều hơn là đi nhà thờ.
Có thể kể làm ví dụ việc đồng bào chúng tôi sử dụng quá đáng những lời tiên tri. Vào mùa xuân, họ trông chờ ngày đêm dịch bệnh chấm dứt, và không ai nghĩ tới việc hỏi người khác những chi tiết chính xác về thời hạn dịch hạch, vì ai nấy đều đinh ninh nó không có thời hạn. Nhưng ngày tháng trôi qua, người ta bắt đầu lo sợ tai họa thực sự sẽ không chấm dứt, và đồng thời lại hy vọng dịch bệnh sẽ kết thúc. Thế là người ta chuyền tay nhau những lời tiên tri phát ra từ các pháp sư hay các thánh của Giáo hội Cơ Đốc giáo. Nhiều nhà in trong thành phố thấy ngay món lợi có thể khai thác từ sự sùng bái này và phát hành rất rộng rãi các văn bản được in ra. Thấy công chúng vẫn một mực khao khát, họ cho tìm tòi trong các thư viện thành phố và lưu hành rộng rãi mọi chứng cứ mà truyền thuyết có thể cung cấp. Khi sử sách đã khô cạn những lời tiên tri, thì người ta đặt hàng cho các nhà báo là những người tỏ ra chẳng thua kém gì, ít ra cũng về phương diện này, những bậc đàn anh trong những thế kỷ trước.
Thậm chí một lời tiên tri được đăng tải dần trên mặt báo và được người ta đọc say sưa chẳng kém những truyện tình trước kia, khi chưa xảy ra dịch bệnh. Những lời này thì dựa trên những con tính kỳ cục trong đó có các yếu tố như con số nghìn của năm, số người chết và số tháng đã qua trong thời kỳ dịch hạch. Những lời khác thì lập những bảng so sánh với các nạn dịch hạch lớn trong lịch sử, rút ra những điểm giống nhau (mà họ gọi là hằng số) và, bằng những cách tính toán cũng không kém phần kỳ cục, cho rằng có thể từ đó rút ra những bài học đối với sự thử thách hiện nay. Nhưng những lời tiên đoán được công chúng hâm mộ nhất, dứt khoát là những lời dự báo, bằng một ngôn ngữ thần bí, hàng loạt sự kiện và sự kiện nào cũng có thể liên quan tới thành phố và do tính phức tạp của chúng, nên lý giải thế nào cũng được. Thế là sách sấm ngữ của Nostradamus [2] và của nữ thánh Odile [3] được mở ra hằng ngày, và bao giờ cũng có kết quả. Và cái còn lại chung cho tất cả các lời tiên tri là cuối cùng chúng đều làm cho người ta yên lòng. Duy chỉ riêng dịch hạch thì không.
Thế là đối với đồng bào chúng tôi, mê tín thay thế tôn giáo, và vì vậy, hôm Paneloux thuyết giáo, thính giả chỉ ngồi hết ba phần tư nhà thờ. Tối hôm đó, khi Rieux tới, thì gió luồn qua các cánh cửa tự động, tha hồ tung hoành giữa những đám cử tọa. Ông ngồi và nhìn thấy cha Paneloux bước lên giảng đài trong một ngôi nhà thờ im lìm, lạnh lẽo, giữa một cử tọa hoàn toàn chỉ gồm đàn ông. Cha Paneloux nói, giọng dịu dàng và cân nhắc hơn buổi trước và nhiều lần, thính giả thấy ông ngập ngừng trong lúc nói. Điều kỳ lạ hơn, là ông không còn nói “các con”, mà là “chúng ta”.
Nhưng giọng nói ông mỗi lúc một thêm vững vàng. Ông bắt đầu nhắc lại là, từ nhiều tháng nay, dịch hạch đã đến với chúng tôi, là giờ đây, chúng tôi biết nó rõ hơn vì đã từng thấy nó bao nhiêu lần “ngồi” vào bàn ăn chúng tôi hay các đầu giường người thân của mình, thấy nó đi bên cạnh hay chờ mình đến ở chỗ làm việc, vì vậy, giờ đây, có lẽ chúng tôi có thể đón nhận tốt hơn điều mà nó không ngừng nói đi nói lại với mình, nhưng trong cơn thảng thốt đầu tiên, có thể chúng tôi chưa nghe được rõ. Điều mà trước đây, cũng ở chỗ này, cha Paneloux đã từng thuyết giáo, đến nay vẫn đúng - hoặc ít ra ông cũng tin như vậy. Nhưng cũng có thể - như điều đó từng xảy ra đối với mọi người, và ông uất ức đập vào ngực - ông đã nghĩ và nói ra điều đó trong khi thiếu tình thương. Tuy nhiên, điều vẫn đúng là bao giờ, trong mọi việc, cũng có cái cần ghi nhớ. Thử thách đau đớn nhất vẫn là “cái lộc” cho người tín đồ đạo Cơ Đốc. Và cái mà trong trường hợp này, người tín đồ ấy phải tìm kiếm, chính là cái lộc của mình, nó ra làm sao, và làm thế nào để tìm thấy nó.
Vào lúc này, xung quanh Rieux, mọi người tìm cách ngồi thật khoan khoái, ngả người ra sau lưng ghế. Một cánh cửa có đệm đập khẽ, có ai đó giữ nó lại. Và Rieux, lãng ý đi vì chút tiếng động ấy, chỉ loáng thoáng nghe Paneloux tiếp tục thuyết giáo. Đại thể ông ta nói là không nên tìm cách lý giải cho mình cảnh tượng dịch hạch, mà nên cố gắng rút ra bài học có thể rút ra được. Rieux láng máng hiểu ra rằng theo cha Paneloux, thì không có gì cần giải thích cả. Ông tập trung chú ý khi Paneloux nhấn mạnh là đối với Chúa, có những điều có thể và những điều không thể giải thích được. Dĩ nhiên, có điều thiện và điều ác, và nói chung, người ta dễ dàng giải thích cái gì ngăn cách giữa thiện và ác. Nhưng cái khó bắt đầu từ bên trong cái ác. Chẳng hạn, có cái ác rõ ràng cần thiết và cái ác rõ ràng vô ích. Có don Juan [4] bị đày xuống Địa ngục và có cái chết của một đứa trẻ. Vì nếu kẻ phóng đãng đáng bị sét đánh, thì trái lại, không thể hiểu được vì sao một đứa trẻ lại phải chịu đau đớn. Và thực ra, trên trái đất, không có gì quan trọng hơn nỗi đau đớn của một đứa trẻ, sự kinh tởm mà nỗi đau có kéo theo nó, và những lý do biện giải cho nó. Còn nữa trong cuộc sống, thì Thượng đế tạo ra cho người ta mọi thuận lợi, và cho đến đây, tôn giáo chẳng có công trạng gì hết. Trái lại, ở đây, Thượng đế dồn chúng tôi đến tận chân tường. Chúng tôi ở dưới những bức tường thành của dịch hạch và phải tìm cái “lộc” của mình trong cái bóng giết người của chúng. Cha Paneloux cũng không nhận ra cho riêng mình những lợi thế có thể dễ dàng giành được và cho phép vượt qua tường. Ông có thể dễ dàng nói rằng những diễm phúc vĩnh hằng đang chờ đón đứa trẻ có thể bù đắp nỗi đau đớn của nó, nhưng, thực ra, ông chẳng hay biết gì về cái đó cả. Thật vậy, ai có thể khẳng định một niềm vui vĩnh cửu có thể bù đắp một lát nỗi khổ đau của con người? Chắc hẳn không phải là một tín đồ đạo Cơ Đốc, vì Chúa đã từng chịu đau đớn trong thịt da và trong tâm hồn. Không, cha Paneloux vẫn ở dưới chân tường, trung thành với sự phanh thây mà cái giá chữ thập là biểu tượng, mặt đối mặt với nỗi đau đớn của một đứa trẻ. Và ông không hề run sợ mà nói với thính giả hôm đó: “Hỡi những người anh em, thời cơ đã đến. Phải tin hết thảy hay phủ nhận hết thảy. Và ai đây trong số các anh em, dám phủ nhận hết thảy?”.
Rieux vừa thoáng nghĩ Paneloux sẽ đề cập tới chuyện dị giáo thì cha đã nói tiếp, một cách mạnh mẽ để khẳng định rằng mệnh lệnh ấy, yêu cầu thuần tuý, là cái “Lộc” của người tín đồ đạo Cơ Đốc. Đó cũng là đạo lý của họ. Paneloux biết rằng cái thái quá trong đạo lý ông sắp nói tới sẽ làm nhiều người khó chịu vì họ đã quen với một đạo lý khoan dung hơn và kinh điển hơn. Nhưng tôn giáo thời kỳ dịch hạch không thể là thứ tôn giáo thường ngày và, nếu Chúa có thể chấp nhận, thậm chí mong muốn, linh hồn nghỉ ngơi và hoan hỉ trong những thời kỳ hạnh phúc, thì, trái lại. Người muốn nó thái quá trong những sự thái quá của bất hạnh. Ngày nay, Chúa ưu ái đặt loài người trong nỗi bất hạnh lớn lao tới mức họ buộc phải tìm kiếm và đảm nhiệm cái đạo lý lớn lao nhất là đạo lý “Tất cả hay không gì hết”.
Trong thế kỷ trước, một tác giả ngoại đạo cho rằng ông ta đã vén được bức màn bí ẩn của Giáo hội khi khẳng định rằng không có Luyện ngục. Ông ta muốn hàm ý là không có biện pháp nửa vời, chỉ có Thiên đường và Địa ngục và người ta chỉ có thể hoặc được cứu vớt hoặc bị đọa đày tùy theo sự lựa chọn của mình. Theo Paneloux, đó là một thứ tà giáo: nó chỉ có thể nảy sinh trong một tâm hồn phóng đãng. Vì quả là có một chốn Luyện ngục. Nhưng dĩ nhiên có những thời kỳ không thể đặt quá nhiều hy vọng vào chốn Luyện ngục ấy, có những thời kỳ không thể nói tới chuyện có những tội nhẹ. Mọi tội lỗi đều có thể làm chết người và mọi thái độ thờ ơ đều mang tội. Hoặc là tất cả, hoặc không là gì cả.
Paneloux ngừng lại, và Rieux nghe rõ hơn, qua các cánh cửa, tiếng rên rỉ của luồng gió hình như đang mạnh thêm lên ở ngoài trời. Cùng lúc đó, cha Paneloux cho rằng cái đạo lý chấp nhận tất thảy ông vừa nói, không nên hiểu theo nghĩa hẹp thường ngày, rằng đây không phải là sự nhẫn nhục tầm thường, cũng không phải một sự hạ mình khó khăn. Đây là một sự sỉ nhục, nhưng là một sự sỉ nhục mà người bị sỉ nhục chấp nhận. Dĩ nhiên, nỗi đau đớn của một đứa trẻ là một sự sỉ nhục đối với khối óc và con tim. Nhưng chính vì vậy phải chịu nỗi đau khổ ấy, - chính vì vậy - đến đây Paneloux khẳng định với cử tọa rằng điều ông sắp nói không phải là điều dễ nói - chính vì vậy, phải mong ước nỗi đau đớn ấy bởi lẽ Thượng đế mong muốn nó. Chỉ có như thế người tín đồ đạo Cơ Đốc mới không né tránh gì hết và, khi mọi lối thoát đã bị bịt kín, sẽ đi vào chỗ tận cùng của sự lựa chọn cốt yếu, sẽ chọn con đường tin hết thảy để khỏi rơi vào ngõ cụt phủ nhận tất thảy. Vào lúc đó, trong các nhà thờ, sau khi biết hạch xoài là con đường tự nhiên để cơ thể tẩy ra ngoài những vi khuẩn nó bị nhiễm, những người đàn bà trung hậu đều nói: “Cầu mong Chúa ban cho nó những cái hạch xoài”. Cũng như những người đàn bà ấy, người tín đồ đạo Cơ Đốc biết phó mặc mình cho ý chí của Chúa, dù ý chí đó, không sao hiểu được. Không thể nói: “Cái đó, tôi không hiểu; nhưng cái này thì không thể chấp nhận”. Phải nhảy vào cái trung tâm cái không thể chấp nhận được đặt ra cho chúng ta ấy, chính là để làm công việc lựa chọn của mình. Nỗi đau đớn của trẻ em là miếng bánh cay đắng của chúng ta, nhưng không có thứ bánh ấy, thì tâm hồn chúng ta sẽ chết vì cái đói tinh thần.
Đến đây, bắt đầu nổi lên tiếng ồn ã vốn thường xuất hiện mỗi khi cha Paneloux ngừng lời. Nhưng bất giác nhà truyền giáo tiếp tục nói, giọng mạnh mẽ hơn, và như thể muốn hỏi vào địa vị các thính giả thì nên có thái độ ra sao. Chắc hẳn người ta sẽ thốt lên cái từ “định mệnh” khủng khiếp. Nhưng ông sẽ không lùi bước trước cái từ ấy nếu ông được phép ghép thêm vào đó tính từ “tích cực”. Dĩ nhiên, và một lần nữa, không nên bắt chước các tín đồ Cơ Đốc giáo Abyssinie mà ông đã nói tới. Thậm chí, không nên nghĩ tới việc bắt chước những người bị dịch hạch ở Ba Tư không họ cho đàn chó dữ đuổi theo những người Cơ Đốc giáo trong các tổ chức y tế, và lớn tiếng cầu Chúa bắt những kẻ dị giáo đó phải chịu dịch bệnh vì chúng muốn chống lại tai họa do Chúa ban phát. Nhưng ngược lại, cũng không nên bắt chước các tu sĩ ở Caire: trong những đợt dịch hạch thế kỷ trước, trong lúc ban thánh thể, họ lấy những cái cặp gắp bánh thánh để tránh tiếp xúc với những cái miệng ướt át và nóng bỏng có thể có mầm mống dịch bệnh. Những người bị dịch hạch ở Ba Tư và các tu sĩ ở Caire đều phạm tội. Vì, đối với những người thứ nhất, nỗi đau đớn của trẻ em không có nghĩa lý gì, và ngược lại đối với những người thứ hai, thì lòng sợ hãi - rất người - đối với đau đớn đã lấn át tất cả. Trong cả hai trường hợp, người ta đã tránh né vấn đề. Họ đều bỏ ngoài tai tiếng nói của Chúa. Nhưng Paneloux muốn nhắc tới những tấm gương khác. Theo lời người kể lại vụ dịch hạch lớn ở Marseille, thì trong số tám mươi mốt nhà tổ chức hành ở tu viện Marseille, chỉ có bốn người sống sót sau dịch bệnh. Và trong số bốn người ấy, thì ba bỏ trốn. Những người viết ký chỉ nói có vậy và theo chức năng nghề nghiệp không bình luận gì thêm. Nhưng đọc những dòng nhật ký này, Paneloux tập trung toàn bộ tư tưởng vào người ở lại, mặc dù bảy mươi bảy xác chết, và nhất là mặc dù tấm gương của ba người kia. Và nắm tay đập mạnh mép bàn, cha Paneloux thét to: “Hỡi những người anh em, chúng ta phải là người ở lại”.
Vấn đề không phải là chối từ những sự phòng ngừa và trật tự sáng suốt của xã hội trong cảnh tai họa mất trật tự. Không nên nghe theo những nhà đạo đức học bảo người ta phải quỳ gối và từ bỏ hết tất thảy. Chỉ cần bắt đầu bước lên phía trước, trong tăm tối, hơi mò mẫm chút ít, và cố làm điều thiện. Còn nữa thì phải tiếp tục tin vào Chúa, ngay đối với cả cái chết của đứa trẻ em, và không tìm kiếm sự cầu viện cá nhân.
Đến đây, cha Paneloux gợi lại hình ảnh cao đẹp của giám mục Belzunce trong vụ dịch hạch ở Marseille. Ông nhắc lại rằng, vào cuối thời kỳ dịch bệnh, sau khi làm tất cả những việc phải làm, và nghĩ không còn cách cứu chữa nào nữa, giám mục đã bịt kín cửa lại và ở trong nhà với ít cái ăn, rằng dân chúng - mà giám mục vốn là thần tượng - do một sự biến động tình cảm như thường thấy trong những nỗi đau đớn quá lớn, căm giận ông, đem xác chết vứt đầy xung quanh nhà để làm ông bị lây nhiễm và thậm chí còn quẳng xác qua tường để làm cho ông chết chắc chắn hơn. Thế là đức giám mục, trong một phút yếu đuối cuối cùng, những tưởng tách mình ra khỏi cái thế giới chết chóc, thế nhưng những xác chết lại rơi từ trên trời xuống đầu ông. Còn chúng ta nữa, chúng ta phải đinh ninh là không có ốc đảo nào cả trong dịch hạch. Không, không có cái trung dung. Phải chấp nhận điều sỉ nhục vì phải lựa chọn chết hay yêu Thượng đế. Và ai dám chọn con đường căm ghét Thượng đế?
“Hỡi các anh em, cuối cùng Paneloux nói và định kết luận, tình thương yêu Chúa là một tình thương yêu khó khăn. Nó đòi hỏi sự hy sinh hoàn toàn bản thân mình và thái độ coi thường con người mình. Nhưng chỉ có Thượng đế là có thể xóa bỏ nỗi đau và cái chết của trẻ em, dẫu sao, chỉ có Thượng đế là có thể làm cho cái chết trở nên cần thiết, bởi lẽ người ta không thể hiểu nổi mà chỉ có thể ước mong cái chết. Đấy là bài học gian khổ tôi muốn cùng chia sẻ với anh em. Đấy là niềm tin, đau đớn đối với con người, quyết định đối với Thượng đế, mà chúng ta phải tiếp cận.
Trước hình ảnh khủng khiếp này, mọi người đều phải bình đẳng. Ở đỉnh cao chót vót ấy, tất cả đều hòa đồng và bình đẳng, chân lý sẽ toát ra từ sự bất công bề ngoài. Chính vì thế trong nhiều nhà thờ ở miền nam nước Pháp, trong mấy thế kỷ nay và dưới những viên gạch lát chôn cầu kinh, đã yên nghỉ những người chết vì dịch hạch và các vị linh mục đứng nói phía trên mộ họ. Tinh thần mà các vị truyền bá toát ra từ các lớp tro mà trẻ em có góp phần trong đó”.
Khi Rieux bước ra, một luồng gió dữ dội ùa qua cánh cửa hé mở, đập thẳng vào mặt các tín đồ. Gió đưa vào trong nhà thờ một mùi nước mưa, một hương vị vỉa hè ướt át khiến họ có thể đoán được quanh cảnh thành phố trước khi họ ra khỏi nơi đây. Phía trước Rieux, một linh mục già và một trợ tế trẻ vừa bước ra cửa, vất vả lắm mới giữ được mũ. Nhưng không phải vì vậy mà linh mục già không bình luận bài thuyết giáo. Ông ca ngợi tài hùng biện của cha Paneloux, nhưng lo lắng đối với những tư tưởng táo bạo được trình bày. Ông cho rằng bài thuyết giáo chứa đựng nhiều lo âu hơn là sức mạnh, và vào cái tuổi Paneloux, một linh mục không có quyền được lo âu. Đầu cúi thấp để che gió, người trợ tế trẻ tuổi nói một cách chắn chắn rằng anh ta lui tới nhiều ở chỗ cha Paneloux nên biết được sự tiến triển về tư tưởng của ông, và bản tiểu luận của ông còn táo bạo hơn nhiều và chắc hẳn sẽ không được phép in ra.
- Thế tư tưởng của ông ta thế nào? - Vị linh mục già hỏi.
Họ đã ra tới sân trước và gió gào hú vây quanh họ, át hết tiếng người trợ tế trẻ. Đến khi nói được, anh ta chỉ nói :
- Nếu một linh mục hỏi ý kiến một thầy thuốc, thì ắt hẳn sẽ có mâu thuẫn.
Khi Rieux về kể lại những lời của Paneloux, thì Tarrou bảo là anh có biết một linh mục mất lòng tin khi nhìn thấy, trong chiến tranh, khuôn mặt một thanh niên chết trận.
- Paneloux nói có lý - Tarrou bảo - Khi trẻ thơ bị chết thì một tín đồ đạo Cơ Đốc phải mất lòng tin hay phải chấp nhận cái chết. Paneloux không muốn mất lòng tin, ông ta sẽ đi tới cùng. Đó là điều ông muốn nói.
Liệu nhận xét này của Tarrou có cho phép soi sáng chút ít những sự kiện không may xảy ra về sau và trong đó những người xung quanh hình như không thể hiểu nổi thái độ của Paneloux không? Chúng ta sẽ xét đoán.
Mấy ngày sau buổi thuyết giáo, Paneloux lo thay đổi chỗ ở. Đây là thời kỳ dịch bệnh tiến triển, khiến người ta liên tiếp đổi chỗ ở trong thành phố. Và cũng như Tarrou phải rời khách sạn đến ở nhà Rieux, cha Paneloux cũng phải bỏ lại căn nhà dòng thánh dành cho ông để đến ở nhà một bà cụ già, người thường đi nhà thờ và không bị nhiễm dịch. Trong lúc dọn nhà, Paneloux cảm thấy mỗi lúc một thêm mệt mỏi và lo âu. Và chính vì thế ông làm mất lòng tôn kính của bà cụ chủ nhà đối với mình. Khi bà cụ nhiệt liệt ca ngợi giá trị của những lời tiên tri của nữ thánh Odile, cha Paneloux tỏ một thoáng sốt ruột, chắc hẳn vì mệt mỏi. Về sau, ông hết sức cố gắng để bà cụ ít ra cũng giữ thái độ trung lập khoan hòa nhưng không sao đạt được. Ông đã gây ấn tượng xấu. Và tối nào cũng vậy, trước khi trở về căn buồng căng đầy những tấm riđô móc tay, ông cũng nhìn thấy bà cụ ngồi trong ghế xalông quay lưng lại và nghe hai tiếng “Chào cha” lạnh nhạt luôn luôn ám ảnh ông. Vào một buổi tối như thế, khi đi ngủ, đầu kêu ong ong, ông cảm thấy ở cổ tay và thái dương một cơn sốt dữ dội ủ đã từ mấy ngày nay.
Tình hình về sau xảy ra như thế nào, người ta chỉ được biết qua những lời kể lại của bà cụ chủ nhà. Buổi sáng, cụ dậy sớm, theo thói quen. Một lúc sau, ngạc nhiên không thấy cha Paneloux ra khỏi phòng, cụ quyết định gõ cửa, sau mấy phút ngập ngừng. Bà cụ thấy ông còn nằm, sau một đêm mất ngủ. Ông tức thở và có vẻ sung huyết hơn thường ngày. Theo đúng lời cụ nói, cụ lễ phép đề nghị cho mời thầy thuốc, nhưng Paneloux từ chối với một thái độ quyết liệt mà cụ cho là đáng tiếc.
Cụ chỉ còn biết rút lui. Một lát sau, cha Paneloux bấm chuông gọi. Ông xin lỗi về cử chỉ bực tức lúc nãy và nói với cụ rằng không thể có vấn đề dịch hạch, rằng ông không có triệu chứng nào của dịch hạch và đây chỉ là cơn mệt mỏi nhất thời. Bà cụ kiêu hãnh đáp rằng cụ không lo cho sự an toàn của bản thân cụ, nó nằm ở trong tay Chúa, nhưng cụ chỉ nghĩ đến sức khỏe của cha mà cụ cho là cụ có phần trách nhiệm. Nhưng vì Paneloux không nói thêm gì hết nên cụ chủ nhà, chắc hẳn vì muốn làm tròn bổn phận của mình, lại đề nghị cho mời thầy thuốc. Một lần nữa, cha Paneloux lại từ chối, nhưng bằng cách đưa thêm những lời giảng giải mà bà cụ thấy rất mơ hồ. Cụ chỉ nghĩ là mình đã hiểu và đây chính là điều mà cụ thấy là không thể nào hiểu nổi - việc Paneloux không cho mời thầy thuốc vì nó không phù hợp với các nguyên tắc của ông. Cụ kết luận là cơn sốt làm cho ý nghĩ của ông lộn xộn và cụ chỉ đưa nước thuốc sắc cho ông uống.
Lo làm thật đầy đủ những nghĩa vụ mà tình thế tạo ra cho mình, bà cụ đều đặn, cứ hai tiếng một, vào thăm người bệnh. Điều làm cụ ngạc nhiên hơn cả là thái độ bồn chồn xao động liên tục suốt ngày hôm đó của cha Paneloux. Ông quăng ra đi rồi lại kéo về, tay luôn luôn đưa lên vầng trán dâm dấp, và thường gượng dậy như để cố gắng một cơn ho bị bóp nghẹt, khàn khàn và ướt át, giống như muốn giật tung một cái gì, như muốn moi ra mà không được những cục bỏng từ sâu trong cổ họng làm ông ngạt thở. Sau những cơn bệnh biến ấy, ông ngã vật ra sau, với tất cả những dấu hiệu của một tình trạng kiệt sức. Cuối cùng, ông lại gượng dậy nửa nằm nửa ngồi và, trong chốc lát, đăm đăm nhìn ra trước mặt một cách còn dữ dội hơn cả những cơn rẫy rụa lúc trước. Nhưng bà cụ vẫn còn ngập ngừng trong việc đi mời thầy thuốc và cưỡng lại ý muốn người bệnh. Có thể chỉ là một cơn sốt, dù nó có vẻ mãnh liệt đến thế.
Thế nhưng buổi chiều, bà cụ thử hỏi lại Paneloux và chỉ nhận được những câu trả lời mơ hồ. Cụ nhắc lại đề nghị. Nhưng ông vùng dậy và với giọng tuy ngạt thở, nói rành rọt rằng ông không muốn có thầy thuốc. Bà cụ quyết định chờ tới sáng mai và, nếu lúc đó, bệnh không giảm thì cụ sẽ gọi điện theo số điện thoại mà hãng Ransdoc ngày nào cũng nhắc đến hàng chục lần trên đài phát thanh. Luôn luôn lo lắng bổn phận của mình, bà cụ đinh ninh đêm nay sẽ thức trông coi người bệnh. Nhưng tối hôm ấy, sau khi đưa nước thuốc vừa mới sắc cho ông, cụ muốn nằm nghỉ một lát và ngủ quên đi, sáng sớm hôm sau mới tỉnh giấc. Cụ vội chạy vào buồng.
Cha Paneloux nằm dài trên giường, im lìm. Tiếp theo cơn sung huyết cao độ hôm qua, là một hiện tượng xám ngắt càng rõ hơn trên dáng dấp khuôn mặt vẫn còn đầy đặn. Ông đăm đăm nhìn cây đèn chùm con con làm bằng những viên ngọc trai ngũ sắc treo đầu giường. Khi bà cụ bước vào, ông quay đầu lại. Theo lời cụ, lúc đó, ông có vẻ như đã bị hành hạ giày vò suốt đêm và không còn một chút sức lực nào để phản ứng. Cụ hỏi ông tình hình sức khỏe ra sao.
Với một giọng mà bà cụ nhận thấy âm sắc dửng dưng đến kỳ lạ, ông đáp ông không được khỏe, nhưng không phải mời thầy thuốc mà chỉ cần đưa ông đến bệnh viện để mọi sự được làm đúng theo quy tắc. Hốt hoảng, bà cụ vội chạy lại máy điện thoại.
Đến trưa thì Rieux tới. Nghe bà cụ chủ nhà kể lại, ông chỉ nói là Paneloux làm đúng và có lẽ đã quá chậm. Paneloux tiếp ông cũng với một thái độ dửng dưng. Rieux khám cho ông và ngạc nhiên không tìm thấy một triệu chứng chủ yếu nào của dịch hạch - hạch xoài hay màng phổi cả ngoài hiện tượng phổi bị ứ căng và ngạt thở. Dẫu sao, mạch cũng rất yếu và tình trạng chung rất đáng báo động, chỉ còn ít hy vọng.
- Cha không có một triệu chứng chủ yếu nào của dịch hạch cả - Ông nói với Paneloux - Nhưng thực ra, vẫn đáng nghi ngờ và cha vẫn phải cách ly.
Cha Paneloux mỉm cười một cách kỳ lạ, như thế vì phép lịch sự, nhưng im lặng. Rieux bước ra để gọi điện rồi quay trở lại.
- Tôi ở lại với cha. - Ông dịu dàng nói.
Paneloux có vẻ tỉnh táo trở lại và quay về phía Rieux cặp mắt trong đó hình như lại sống dậy một thứ nhiệt tình. Rồi ông phát âm một cách khó khăn, nên không thể biết là khi nói, ông có buồn hay không :
- Cảm ơn ông. Nhưng người tu hành không có bạn. Họ đã đặt tất cả ở Thượng đế.
Ông xin cái giá chữ thập treo trên đầu giường và, khi có trong tay, ông quay đi để nhìn.
Ở bệnh viện, Paneloux không hề hé răng. Ông phó mặc cho mọi sự săn sóc, điều trị, tựa một vật vô tri vô giác, nhưng tay vẫn nắm chặt cái giá chữ thập. Tuy thế, ca của ông vẫn nhập nhằng. Trong óc Rieux vẫn bán tín bán nghi. Là dịch hạch nhưng lại không phải là dịch hạch. Vả lại, đã ít lâu nay, hình như nó thích thú đánh lạc hướng những sự chẩn đoán. Nhưng trong trường hợp Paneloux, tình hình về sau chứng minh rằng sự ngờ vực đó là không quan trọng.
Cơn sốt tăng lên. Tiếng ho mỗi lúc một khàn thêm và hành hạ người bệnh suốt cả ngày. Cuối cùng, buổi tối, Paneloux khạc ra cái cục làm ông ngạt thở. Nó đỏ hỏn. Giữa lúc cơn sốt lên cao, Paneloux ánh mắt vẫn lạnh lùng và sáng hôm sau, khi thấy ông đã chết, nửa người thõng ra ngoài giường, ánh mắt không thể hiện gì hết. Trên tấm phiếu bệnh của ông, có ghi: “Ca không rõ ràng”.
Lễ Các Thánh [5] năm ấy không như các năm khác. Dĩ nhiên, thời tiết có thuận. Nó thay đổi đột ngột và bỗng nhiên những ngày nắng muộn mằn nhường chỗ cho những ngày dịu mát. Cũng như những năm khác, giờ đây, gió lạnh thổi liên hồi kỳ trận. Những đám mây lớn ùn từ chân trời này sang chân trời khác, phủ bóng lên những ngôi nhà và sau khi mây bay qua, ánh sáng lạnh lẽo vàng rực của bầu trời tháng mười một lại ập xuống. Những chiếc áo mưa đầu tiên đã xuất hiện. Nhưng người ta nhận thấy nhiều, rất nhiều những tấm vải tráng cao su óng ánh. Quả là báo chí kể lại rằng, hai trăm năm trước đây, trong những vụ dịch hạch lớn ở phía nam, các thầy thuốc mang vải tráng dầu để phòng bệnh. Các cửa hiệu lợi dụng cơ hội để bán ra một lô quần áo không còn hợp thời trang, nhưng nay ai nấy đều hy vọng chúng có khả năng miễn dịch.
Tuy nhiên, tất cả những dấu hiệu thời tiết ấy vẫn không thể làm người ta quên là các nghĩa trang, chẳng có ai thăm viếng. Những năm trước, các toa xe điện đều ngát mùi hoa cúc, và hàng đoàn phụ nữ đến những nơi người thân an nghỉ để dâng hoa lên mộ. Đấy là ngày người ta tìm cách bù đắp lại cho người quá cố nỗi cô đơn và sự quên lãng kéo dài qua bao tháng ngày đằng đẵng. Những năm ấy, không ai buồn nghĩ tới người chết. Đúng ra người ta đã nghĩ tới quá nhiều. Vấn đề không còn là đến lại với họ với một ít luyến tiếc và nhiều sầu não. Họ không còn là những người cô đơn mà mỗi năm một lần, người ta đến để bày tỏ nỗi lòng nữa. Họ là những kẻ xa lạ mà người ta muốn lãng quên, Lễ tưởng niệm Người chết, năm ấy, có thể nói bị “lờ đi” là vì như vậy. Theo Cottard, - mà Tarrou cho là lời lẽ ngày càng thêm châm biếm - thì ngày nào cũng là ngày Lễ tưởng niệm Người chết.
Và thực sự, ngọn lửa, dịch hạch rừng rực lên ngày một thêm hào hứng trong lò thiêu xác. Quả là ngày này sang ngày khác, số người chết không tăng thêm. Nhưng hình như dịch hạch đã “an vị” ở cực điểm của nó và, đối với các nạn nhân, nó tỏ rõ cái đều đặn và chính xác của một viên chức mẫn cán. Về nguyên lý, và theo ý kiến của các nhân vật có thẩm quyền, thì đấy là một dấu hiệu tốt lành. Bác sĩ Richard, chẳng hạn, cho đồ thị theo dõi sự tiến triển của dịch hạch, lúc đầu liên tục đi lên, rồi sau giữ nguyên mặt bằng một thời gian dài, là đang làm cho người ta yên tâm. “Một đồ thị tốt, một đồ thị tuyệt vời”, ông ta bảo. Ông cho rằng dịch bệnh đã đạt tới cái mà ông gọi là “mặt bằng” đồ thị.
Từ nay thì bệnh chỉ có thuyên giảm thôi. Theo ông, đây là nhờ loại huyết thanh mới của Castel: quả là nó vừa đem lại vài kết quả bất ngờ. Ông già Castel không phản đối nhưng cho rằng trên thực tế, không thể dự đoán gì được, vì lịch sử các dịch bệnh có những bước nhảy bất ngờ. Đã từ lâu, tỉnh muốn làm yên lòng công chúng nhưng vì dịch bệnh nên chưa làm được, nay muốn họp các thầy thuốc để nghe họ báo cáo. Đúng lúc đó, thì bác sĩ Richard chết vì dịch hạch, ngay trên mặt bằng của dịch bệnh. Sự việc thật bất ngờ nhưng cũng chẳng chứng minh gì hết. Thế là các nhà chức trách trở lại bi quan một cách vô căn cứ cũng như trước đây đã từng lạc quan vô căn cứ. Về phía mình, Castel chỉ lo pha chế huyết thanh hết sức cẩn thận. Dẫu sao, cũng chỉ còn một nơi công cộng chưa bị biến thành bệnh viện hay nhà cách ly là trụ sở tỉnh vì cần giữ lại một nơi để hội họp. Nhưng nói chung, và vì dịch bệnh vào thời kỳ này tương đối ổn định tổ chức do Rieux đề xuất vẫn đứng vững. Đội ngũ thầy thuốc và những người giúp việc đã cố gắng đến kiệt sức và không sao có thể hình dung những nỗ lực lớn hơn. Họ chỉ phải tiếp tục một cách đều đặn cái công việc siêu phàm ấy - nếu có thể nói như vậy - Dạng dịch hạch màng phổi trước đây đã xuất hiện, nay lan tràn trong khắp thành phố, tựa như có ngọn gió thổi bùng lên những đám cháy trong lồng ngực. Bị nôn ra máu, người bệnh chết nhanh hơn nhiều. Với dạng mới này của dịch bệnh, nguy cơ lây lan nhiều hơn. Thực ra, ý kiến các chuyên gia luôn luôn mâu thuẫn nhau. Nhưng để được an toàn hơn nhân viên y tế tiếp tục đeo mặt nạ bằng gạc đã sát trùng. Dẫu sao, thoạt nhìn, người ta cho là dịch bệnh có khả năng lan rộng. Nhưng vì bớt được những ca dạng hạch xoài nên cán cân lại thăng bằng.
Nhưng do tiếp tế ngày càng khó khăn nên người ta có những mặt lo lắng khác. Nạn đầu cơ góp phần vào trong đó, và người ta bán với giá không sao tưởng tượng nổi những nhu yếu phẩm lúc đó khan hiếm trên thị trường. Các gia đình nghèo lâm vào tình thế rất vất vả, trong lúc các gia đình giàu có hầu như không thiếu một thứ gì. Nhẽ ra với hiệu lực của hoạt động không thiên vị của nó, dịch hạch phải tăng cường sự bình đẳng giữa các đồng bào chúng tôi, nhưng trái lại, do tác động tự nhiên của những lề thói ích kỷ, nó lại làm cho ý thức về sự bất công càng thêm gay gắt trong lòng người. Dĩ nhiên, còn lại sự bình đẳng tuyệt đối trước cái chết, nhưng không ai muốn có thứ bình đẳng đó. Bị đói, người nghèo càng luyến tiếc nhớ tới những thành phố và vùng nông thôn lân cận, nơi cuộc sống được tự do và bánh mì không đắt đỏ. Vì không được tiếp tế đầy đủ, họ đâm ra phải suy nghĩ kể cũng hơi vô lý là nhẽ ra người ta phải để cho họ ra đi. Tới mức có tin đồn đại rằng thỉnh thoảng trên tường, người ta đọc thấy, hoặc có khi, trên đường ông tỉnh trưởng đi qua người ta nghe vang lên, khẩu hiệu: “Bánh mì hoặc không khí”. Cái công thức hài hước ấy là hiệu lệnh cho một vài cuộc biểu tình bị nhanh chóng dập tắt, nhưng ai cũng thấy rõ tính chất nghiêm trọng của tình hình.
Dĩ nhiên, báo chí tuân theo mệnh lệnh nhận được là phải lạc quan với bất kỳ giá nào. Đọc báo, người ta thấy đặc điểm của tình hình là “tấm gương bình tĩnh và dũng cảm đáng xúc động” của dân chúng. Nhưng trong một thành phố hoàn toàn khép kín, trong đó không thể bưng bít được gì hết, không một ai bị đánh lừa về “tấm gương” của cả cộng đồng. Và muốn có một khái niệm chính xác về sự “bình tĩnh và dũng cảm” báo chí nêu lên, chỉ cần bước vào một nơi kiểm dịch hay một trại cách ly do cơ quan Nhà nước tổ chức. Có thể là người kể chuyện ở đây, bị gọi đến chỗ khác, không được biết những nơi đó. Cho nên chỉ xin viện dẫn lời thuật lại của Tarrou.
Thật vậy, trong sổ tay. Tarrou kể lại một buổi anh cùng Rambert đến thăm trại cách ly trên sân vận động thành phố. Sân vận động nằm sát cửa ô, một phía ngoảnh ra đường xe điện, một phía ra những khu đất hoang chạy dài tận chân đồi nơi thành phố được xây dựng. Bao quanh sân là những bức tường cao bằng ximăng và chỉ cần đặt người gác ở bốn cửa ra vào là bệnh nhân không sao bỏ trốn được. Và tường cũng ngăn cản không cho người phía ngoài, do tò mò, quấy nhiễu những người khốn khổ bị cách ly kiểm dịch. Trái lại, những người này, suốt ngày, nghe, tuy không nhìn thấy, những chuyến xe điện chạy qua, và khi nghe tiếng ồn ào náo nhiệt trên xe, đoán được giờ đến sở hay giờ tan sở của viên chức. Họ thấy cuộc sống, mà họ bị loại trừ ra khỏi, vẫn tiếp diễn chỉ cách mình có vài mét, và những bức tường xi-măng chia cắt hai thế giới còn xa lạ với nhau hơn là những thế giới trên hai hành tinh khác nhau.
Tarrou và Rambert đến sân vận động vào một buổi chiều Chủ nhật. Cùng đi với họ có Gonzalès, anh chàng chơi bóng đá, mà Rambert đã tìm gặp lại và cuối cùng anh ta nhận lời luân phiên canh gác sân vận động. Rambert phải giới thiệu anh ta với quản lý trại. Lúc họ gặp nhau, Gonzalès bảo Tarrou và Rambert là trước khi có dịch hạch, đúng vào giờ này, anh ta ăn mặc để ra sân thi đấu. Nhưng bây giờ, sân vận động đã bị trưng dụng không còn thi đấu được nữa, Gonzalès cảm thấy và có vẻ hoàn toàn thất nghiệp. Đấy là một trong những lý do anh nhận canh gác, với điều kiện chỉ vào những ngày cuối tuần không thôi. Trời ít mây và, ngước mắt lên, Gonzalès với thái độ tiếc rẻ, cho rằng thời tiết không mưa cũng không nắng này là lý tưởng cho một trận đấu. Anh cố gợi lại mùi dầu xoa trong nhà thay quần áo, những khu khán đài chật ních người như chỉ muốn sụp đổ, những chiếc mayô sặc sỡ trên sân bãi với thảm cỏ màu hung, những quả chanh lúc nghỉ giải lao hay chai limônat tê tê như châm vào những cái cổ họng khô khốc hàng ngàn chiếc kim mát lạnh. Tarrou ghi thêm là trên suốt chặng đường, anh chàng vận động viên luôn luôn giơ chân đá những viên sỏi trên những con đường sụt lún ở ngoại thành. Anh ta cố đá trúng vào miệng cống và mỗi lần đá trúng, là thốt lên “một, không”. Hút hết điếu thuốc, anh ta nhả mẩu thuốc còn lại xuống lơ lửng trước mặt và giơ chân đá tung lên. Gần tới sân vận động, quả bóng của trẻ nhỏ đang chơi rơi vào chỗ họ và Gonzalès vội đá trả lại chúng một cách chính xác.
Cuối cùng họ bước vào sân vận động. Khán đài chật ních. Nhưng sân bãi thì phủ kín hàng mấy trăm chiếc lều bạt màu đỏ, trong đó, người ta nhìn thấy từ xa chăn nệm và ba-lô. Khán đài được giữ lại để những người bị nhốt có thể tránh mưa, nắng. Mặt trời lặn, họ mới phải trở về lều. Phía dưới khán đài, là những vòi nước tắm lắp sẵn và những phòng thay quần áo ngày trước của các vận động viên nay biến thành văn phòng hay bệnh xá. Phần lớn những người bị nhốt đang ở trong các khán đài. Những người khác đi dạo trên các đường biên. Một vài người ngồi xổm trước cửa lều và bâng quơ nhìn mọi vật. Trên khán đài, nhiều người đã nằm sóng soài và có vẻ chờ đợi.
- Ban ngày họ làm gì? - Tarrou hỏi Rambert.
- Không làm gì hết.
Thật vậy, hầu hết mọi người đều hai cánh tay đu đưa và hai bàn tay không. Cái đám người mênh mông này im lặng như tờ đến kỳ lạ.
- Những ngày đầu, ở đây, nói không sao nghe được. - Rambert cất tiếng - Nhưng càng ngày, họ càng ít nói đi.
Theo những lời ghi chép của Tarrou, thì anh hiểu họ, và lúc đầu, anh thấy họ ngồi túm tụm lại trong lều chỉ biết cào gãi hay nghe tiếng ruồi vo ve, và hễ có ai chịu nghe, là họ thốt lên nỗi giận dữ hay lo sợ trong lòng. Nhưng từ khi trại chật cứng người là người, thì ngày càng ít đi những cái tai sẵn sàng nghe. Vì vậy họ chỉ còn im lặng và nghi ngờ. Quả là có một thứ nghi ngờ từ trên bầu trời xám xịt tuy vẫn có ánh sáng, trút xuống cái trại đỏ rực này.
Đúng, mọi người ở đây đều có vẻ nghi ngờ. Vì bị ngăn cách với những người khác, nên họ nghi ngờ không phải không có duyên cớ và họ lộ bộ mặt của những người đang tìm kiếm những lý do của mình và sợ hãi. Tarrou thấy ai nấy đều có ánh mắt trống rỗng, đều có vẻ đau khổ vì nỗi cách biệt mênh mông với tất cả những gì tạo nên cuộc sống của họ. Và vì không phải bao giờ cũng có thể nghĩ đến cái chết, nên họ không nghĩ tới gì hết. Họ đang nghỉ hè, nhưng cái tồi tệ hơn hết, Tarrou viết tiếp, là họ là những kẻ bị bỏ quên và họ biết điều đó. Những người quen biết họ đã quên họ vì người ta nghĩ tới cái khác và đó là điều rất dễ hiểu. Còn những người yêu thương họ thì cũng quên họ vì đã kiệt cả sức lực trong những việc chạy vạy và những lo toan để đưa họ ra khỏi trại. Mãi lo nghĩ tới việc ra trại ấy, người ta không còn nghĩ đến những người cần đưa ra nữa. Âu cũng là việc thường tình. Và cuối cùng, người ta nhận thấy không ai có thể thực sự nghĩ tới ai, dù là trong cơn hoạn nạn tồi tệ nhất. Vì thực sự nghĩ tới một ai đó, là phải nghĩ tới từng phút một, không vì bất cứ một việc gì mà lãng quên, dù là công việc nội trợ, là con ruồi bay qua, là những bữa ăn, là một sự ngứa ngáy. Nhưng bao giờ chẳng có ruồi bay qua và ngứa ngáy. Vì vậy, cuộc sống thật là khó sống. Và những người ở trong trại biết rõ như vậy”.
Khi gặp họ, người quản lý trại báo là có một ông Othon nào đó muốn gặp. Y đưa Gonzalès vào buồng giấy, rồi dẫn họ tới một góc khán đài: đang ngồi riêng một mình, Othon đứng dậy tiếp họ. Ông ta vẫn quần áo như trước và vẫn mang cổ cứng. Nhưng Tarrou nhận thấy tóc hai bên thái dương ông ta bờm xờm và một chiếc dây giày xổ tung. Viên thẩm phán có vẻ mệt mỏi, và không hề nhìn người đối thoại. Ông nói là rất mừng được gặp họ và nhờ chuyển lời cảm ơn bác sĩ Rieux về những việc bác sĩ đã làm.
Mấy người kia im lặng.
Một lát sau, Othon nói: Tôi hy vọng rằng Philippe đã không quá đau đớn
Lần đầu tiên, Tarrou nghe ông ta gọi tên con và anh hiểu có cái gì đó đã thay đổi. Mặt trời xuống thấp về phía chân trời, và giữa hai dải mây, các tia nắng dọi ngang vào khán đài, nhuộm vàng cả ba khuôn mặt.
- Không, - Tarrou đáp - không, quả là cháu không đau đớn.
Khi chia tay, Othon vẫn nhìn về phía mặt trời.
Tarrou và Rambert đến tạm biệt Gonzalès lúc đó đang nghiên cứu bảng cắt phiên canh gác. Anh chàng cầu thủ mỉm cười bắt tay họ:
Ít ra tôi cũng đã thấy lại buồng thay áo quần, vẫn như cũ thôi.
Một lát sau, viên quản lý tiễn chân Tarrou và Rambert. Bỗng có tiếng rào rào trên khán đài. Loa phóng thanh trước đây dùng để thông báo kết quả các trận đấu hay giới thiệu các đội bóng, thì nay tuyên bố bằng một giọng mũi rằng những người trong trại phải trở về lều để nhận phần ăn buổi tối. Chậm rãi, người ta lê bước rời khỏi khán đài, trở về lều trại. Sau khi mọi người yên vị, hai chiếc xe điện nhỏ, như vẫn thường thấy trong các nhà ga, chạy qua giữa các lều chở những chiếc nồi to tướng. Người ta chìa cánh tay, hai cái muôi vục vào hai chiếc nồi rồi lại bỏ ra để cho vào trong hai cái cà mèn. Cỗ xe chuyển động đi sang lều thứ hai.
- Khoa học đấy. - Tarrou bảo tay quản lý.
- Vâng, - Hắn đáp, vẻ thỏa mãn, và bắt tay họ - thế là khoa học.
Trời chạng vạng tối, bầu trời bớt mây. Một luồng ánh sáng dịu mát tỏa xuống trại. Trong cảnh chiều êm ả, từ khắp mọi phía nổi lên tiếng thìa, tiếng đĩa. Từng đàn dơi bay liệng trên lều trại và đột ngột biến mất. Phía ngoài các bức tường, một chuyến xe điện rít lên ở chỗ bẻ ghi đổi đường.
- Tội nghiệp ông dự thẩm - Tarrou thì thầm khi ông bước qua cổng trại - Phải làm một cái gì cho ông ta. Nhưng biết giúp đỡ một vị quan tòa như thế nào?
Trong thành phố, còn nhiều trại khác, nhưng vì cẩn trọng và thiếu thông tin trực tiếp nên người kể chuyện ở đây không thể nói gì nhiều hơn. Nhưng điều anh ta có thể nói, là sự tồn tại của những trại này, mùi con người từ trại thoát ra, tiếng oang oang của loa phóng thanh trong cảnh hoàng hôn, cái bí ẩn của các bức tường và nỗi niềm sợ hãi đối với những nơi đày đọa này, tất cả đè nặng lên tinh thần đồng bào chúng tôi và tăng thêm sự hoang mang, khó chịu của mọi người. Những sự rắc rối và xung đột với cơ quan Nhà nước tăng thêm.
Cuối tháng mười một, trời buổi sáng lạnh buốt. Những trận mưa xối xả rửa sạch hè phố, quét hết mây trên bầu trời, và đường phố bóng loáng. Sáng sáng, mặt trời yếu ớt tỏa xuống thành phố một thứ ánh sáng lấp lánh, giá lạnh. Trái lại, về chiều, không khí trở lại ấp áp. Đó là lúc Tarrou chọn để đến tâm tình đôi chút với bác sĩ Rieux.
Một hôm, lúc mười giờ, sau một ngày dài, mệt mỏi, Tarrou đi theo Rieux trong buổi đến thăm ông già bị hen suyễn vào buổi tối. Bầu trời dịu dàng tỏa sáng trên mái nhà trong cái khu phố cũ kỹ. Một làn gió nhẹ thoáng qua các ngã tư tối tăm. Đang từ những con đường vắng lặng tới đây, hai người bỗng rơi vào những câu chuyện huyên thuyên của ông lão. Ông bảo họ là có những người (trong trại cách ly) không đồng tình, là cái món ăn có bơ không bao giờ được thay đổi, là “đi đêm ắt có ngày gặp ma” và chắc chắn - đến đây lão vừa nói, vừa hai tay xoa vào nhau - sẽ có tình trạng lộn xộn, gây gổ. Trong lúc được bác sĩ chăm sóc, ông lão vẫn không ngớt bình luận các sự kiện.
Họ nghe có tiếng chân bước trên đầu. Bà lão trước vẻ chú ý của Tarrou, giải thích rằng có những bà hàng xóm trên sân thượng. Đồng thời, họ được biết đứng trên đó, có một tầm nhìn bao quát, và các dãy sân thượng thường có một phía liền nhau nên phụ nữ trong khu phố có thể đến thăm viếng nhau mà không cần ra khỏi nhà.
- Vâng, - Ông lão bảo - mời các ông lên. Không khí trên đó tốt lành.
Họ lên và thấy sân thượng vắng vẻ, chỉ có ba chiếc ghế tựa. Về một phía, xa tít tắp, ta nhìn thấy những mảnh sân thượng chạy dài và cuối cùng dựa vào một cái khối tối om và lởm chởm sỏi đá mà họ nhận ra là ngọn đồi thứ nhất. Phía kia, trên một vài đường phố và bến cảng bị che khuất, là chân trời, nơi trời và biển trộn lẫn vào nhau trong tiếng phập phồng mơ hồ. Bên kia các vách đá xa xa, một luồng sáng mà họ không thấy nguồn phát, xuất hiện một cách đều đặn: ngọn đèn pha trên eo biển, từ mùa xuân, tiếp tục chiếu sáng cho những con tàu quay mũi đi về những bến cảng khác. Trên bầu trời, gió quét hết mây, trở nên lóng lánh, những vì sao trong trẻo lấp lánh và luồng sáng xa xa của ngọn đèn pha, chốc chốc, dọi vào một màu tro thoáng qua. Một làn gió nhẹ mang đến mùi hương liệu và mùi đá sỏi. Cảnh vật im lặng như tờ.
- Ngồi đây thật thú vị. - Rieux ngồi xuống và cất tiếng - Như thể dịch hạch không bao giờ mon men tới.
Tarrou quay lưng lại phía ông và nhìn ra biển.
- Vâng, - Anh nói một lát sau - thú vị thật.
Anh đến ngồi cạnh Rieux và đăm đăm nhìn ông. Ba lần, luồng ánh sáng xuất hiện trên bầu trời. Từ dưới đường phố, vẳng lên tiếng bát đĩa loảng xoảng. Dưới nhà, có tiếng kẹt cửa.
- Rieux này, - Tarrou nói, giọng hết sức tự nhiên - anh chưa bao giờ tìm hiểu tôi là người thế nào cả. Anh có lòng mến tôi không?
- Có, - Bác sĩ Rieux đáp - tôi mến anh. Nhưng cho tới nay, chúng ta không có thì giờ.
- Tốt, điều đó làm tôi yên tâm, anh có muốn giờ này là giờ của tình thân mến không?
Rieux chỉ mỉm cười thay cho câu trả lời :
- Vậy thì, thế này...
“Rieux này, để cho gọn, tôi xin nói là từ lâu, tôi đã từng đau khổ vì dịch hạch trước khi biết thành phố này và nạn dịch này. Tôi muốn nói là tôi cũng như mọi người thôi. Nhưng có người không biết đến tình trạng và hoặc thấy thoải mái nữa kia, cũng có người thì biết và muốn thoát ra khỏi. Riêng tôi, bao giờ tôi cũng muốn thoát ra.
Lúc còn trẻ, tôi sống với ý niệm về sự ngây thơ của mình, nghĩa là không hề có ý niệm gì hết. Tôi không thuộc loại người hay băn khoăn, tôi bắt đầu cuộc đời một cách hợp lẽ. Tôi thành công trong mọi việc, tôi sống thoải mái trong sự hòa hợp, nhất là với phụ nữ, và nếu tôi có một vài nỗi lo âu thì cũng chỉ thoáng qua. Một hôm, tôi bắt đầu suy nghĩ. Giờ đây...
Tôi phải nói với anh là trước kia tôi không nghèo như anh. Cha tôi làm phó chưởng lý ở tòa thượng thẩm, một địa vị đấy chứ. Thế nhưng ông không tỏ dáng vẻ gì chưởng lý cả, vì vốn bản chất nhân hậu. Mẹ tôi sống đơn giản và kín đáo, lúc nào tôi cũng yêu mến mẹ tôi, nhưng tôi không muốn nói về bà. Bố tôi quan tâm tới tôi với lòng yêu thương và tôi còn nghĩ là ông tìm cách hiểu tôi. Ông có những chuyện yêu đương ở bên ngoài, bây giờ thì tôi tin chắc điều đó, và tôi cũng không hề vì vậy mà bực tức. Ông xử sự trong mọi việc đó đúng như ông phải xử sự, không làm phiền một ai hết. Để nói gọn, bố tôi không phải là người thật độc đáo, và bây giờ ông không còn nữa, tôi nhận thấy tuy ông không sống như một vị thánh, nhưng cũng không phải là một kẻ xấu. Ông giữ mức trung dung, chỉ có thế, và là kiểu người được người ta mến yêu một cách đúng mực khiến ông vẫn giữ nguyên phong cách sống của mình.
Tuy vậy ông có một đặc điểm: cuốn sách chỉ nam đồ sộ về hoạt động của đường sắt là sách gối đầu giường của ông. Không phải vì ông thích đi du lịch, trừ vào dịp nghỉ hè, ông đến vùng Bretagne, nơi ông có một trang trại nhỏ. Nhưng ông có thể nói ngay với anh một cách chính xác giờ đi và đến của chuyến xe lửa Paris - Berlin, những sự phối hợp giờ tàu chạy để đi từ Lyon đến Varsovie, số kimômét chính xác giữa hai thủ đô tùy theo anh lựa chọn. Liệu anh có thể nói người ta đi từ Briançon đến Chamonix [6] như thế nào không?
Ngay một tay trưởng ga cũng phải bối rối. Bố tôi thì không. Tối nào, ông cũng lo tìm cách làm giàu thêm hiểu biết của mình về điểm này, và ông lấy thế làm tự hào. Điều đó làm tôi rất thú vị, và tôi thường đặt ra câu hỏi để sau đó hoan hỉ kiểm tra qua cuốn sách chỉ nam về đường sắt những câu trả lời của ông và thừa nhận ông không hề nhầm lẫn. Những trò nho nhỏ ấy gắn bó bố con chúng tôi lại với nhau rất nhiều, vì tôi trở thành một thính giả mà thiện chí được ông đánh giá cao. Còn tôi thì tôi thấy tính ưu việt của ông về đường sắt cũng có giá trị như mọi tính ưu việt khác.
Nhưng thôi, tôi đã không tự kìm chế được mình và có nguy cơ quá đề cao con người trung hậu này. Vì, cuối cùng, bố tôi chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định của tôi. Nhiều lắm thì cũng chỉ tạo cho tôi một cơ hội. Quả vậy, lúc tôi mười bảy tuổi, ông bảo tôi đi nghe ông nói. Đây là một vụ án quan trọng, ở tòa đại hình, và chắc hẳn ông cụ nghĩ rằng ông sẽ xuất hiện trong diện mạo ưu tú nhất của mình. Tôi cũng cho là ông cụ trông mong vào cái nghi thức này nó có nhiều khả năng đánh vào trí tưởng tượng của tuổi trẻ để thúc đẩy tôi đi vào sự nghiệp mà bản thân ông đã lựa chọn. Tôi nhận lời, để làm vui lòng bố tôi và cũng vì tôi muốn tò mò nhìn ông, nghe ông nói trong một vai trò khác với vai trò ông vẫn đóng ở nhà. Tôi không hề nghĩ gì hơn. Bao giờ tôi cũng cho rằng tình hình xảy ra trong một tòa án cũng tự nhiên và tất yếu như một buổi duyệt binh ngày 14 tháng bảy [7] hay một buổi lễ phát phần thưởng. Tôi có một ý niệm rất trừu tượng về cái đó, và nó không hề làm tôi bối rối.
Nhưng tôi chỉ giữ lại của ngày hôm đó có một hình ảnh, hình ảnh người phạm tội. Quả là tôi tin y phạm tội, còn phạm tội gì thì không quan trọng. Nhưng con người bé nhỏ, tóc màu hung lơ thơ, trạc tuổi ba mươi ấy, tỏ vẻ muốn thừa nhận tất cả, kinh hoàng thành thực về việc mình đã làm và việc người ta sắp làm đối với mình, nên chỉ mấy phút sau, tôi chỉ còn đăm đăm nhìn vào y. Y có vẻ như một con chim cú hoảng sợ trước một luồng ánh sáng quá chói lọi. Nút cà vạt không thắt đúng chỗ vào giữa cổ áo. Y gặm gặm móng tay, nhưng chỉ trên bàn tay phải không thôi. Tóm lại, tôi xin khỏi nhấn mạnh, chắc anh hiểu đó là một con người đang sống giữa trần gian.
Nhưng tôi, tôi bỗng đột ngột nhận ra điều đó, trong lúc cho đến nay, tôi chỉ nghĩ tới y thông qua cái loại người mà người ta đặt cho một cách dễ dàng cái tên gọi ‘bị cáo’. Tôi không thể nói là lúc đó, tôi quên bố tôi, nhưng có một cái gì như thắt ruột gan tôi lại, không cho tôi chú ý tới cái gì khác ngoài kẻ bị cáo. Hầu như tôi không nghe thấy gì hết, tôi có cảm giác người ta muốn giết chết con người đang sống này, và một bản năng dữ dội như một lớp sóng đưa tôi tới bên cạnh y với một thái độ khăng khăng mù quáng. Tôi chỉ thực sự tỉnh táo trở lại khi bố tôi đọc bản luận tội.
Thay hình đổi dạng vì chiếc áo đỏ, không hiền lành và cũng không có vẻ yêu thương, mồm bố tôi phun ra những câu tràng giang đại hải, như thể phun ra những con rắn độc. Và tôi hiểu là ông yêu cầu, nhân danh xã hội, xử tử hình bị cáo, và thậm chí yêu cầu cắt cổ y. Đúng là ông chỉ nói: ‘Cái đầu ấy phải rơi’. Nhưng, xét cho cùng, chẳng khác nhau là mấy. Và quả là như thế, vì ông đã ‘được’ cái đầu của bị cáo. Chỉ có điều là không phải ông làm cái công việc đó. Còn tôi, người theo dõi vụ án cho đến khi kết thúc, một cách tuyệt đối, với kẻ khốn khổ ấy, tôi có một tình cảm mật thiết và vô cùng sâu xa mà cha tôi không hề có bao giờ. Theo thủ tục, ông phải dự cái mà người ta gọi một cách lịch sự là ‘những phút cuối cùng’, nhưng đúng ra phải nói đó là hành vi giết người nhơ nhớp nhất.
Từ ngày đó, tôi chỉ có thể nhìn cuốn sách chỉ nam về đường sắt một cách tởm lợm. Từ ngày đó, tôi kinh hãi theo dõi pháp luật, theo dõi những vụ xử tử hình, những vụ hành quyết, và choáng váng, tôi nhận thấy rằng bố tôi nhiều lần dự việc giết người và chính những ngày đó, ông dậy rất sớm. Đúng, trong những trường hợp ấy, ông để đồng hồ báo thức. Tôi không dám nói gì với mẹ tôi, nhưng tôi quan sát bà kỹ hơn và tôi hiểu giữa cha tôi và mẹ tôi không còn có gì nữa và mẹ tôi sống một cuộc sống thoát tục. Cái đó giúp tôi hiểu không có gì để tha thứ cho bà cả, vì suốt cuộc đời cho tới khi lấy chồng, mẹ tôi vẫn nghèo khổ và nghèo khổ đã tập cho bà thói quen nhẫn nhục.
Chắc hẳn anh chờ tôi nói là tôi ra đi ngay. Không, tôi đã ở lại trong nhiều tháng, đến gần một năm. Nhưng tôi nhức nhối trong tim. Một buổi tối, bố tôi hỏi chiếc đồng hồ báo thức vì ông phải dậy sớm. Cả đêm hôm ấy, tôi không ngủ. Hôm sau, khi ông trở về nhà thì tôi đã ra đi. Tôi xin nói ngay là cha tôi cho tìm tôi, là tôi trở về gặp ông, và không giảng giải gì hết, tôi điềm tĩnh nói với ông là tôi sẽ tự sát nếu ông bắt tôi trở về. Cuối cùng ông chấp nhận vì bản tính ông vốn dịu hiền, giảng giải cho tôi về sự ngu ngốc khi muốn sống để ăn chơi cho thỏa thích (ông hiểu lý do xử sự của tôi là như vậy và tôi không hề cải chính), căn dặn tôi đủ điều, và cố kìm những giọt nước mắt chân thành muốn trào ra. Về sau, nhưng là sau một thời gian khá dài, tôi thường trở về đều đặn thăm mẹ tôi và tôi gặp bố tôi. Tôi tin rằng đối với ông, những quan hệ như vậy là đủ rồi. Tôi không thù oán ông, tôi chỉ hơi buồn trong lòng.
Khi ông mất, tôi đưa mẹ tôi về ở với tôi và chắc hẳn bà vẫn ở với tôi nếu bà còn sống.
Tôi đã nhấn mạnh nhiều phần mở đầu này vì quả là nó mở đầu cho mọi chuyện. Bây giờ tôi kể nhanh hơn. Tôi nếm mùi đói khổ lúc mười tám tuổi, sau khi ra khỏi cảnh sung túc. Tôi làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Tôi thành công khá dễ dàng. Nhưng cái làm tôi lưu tâm, là việc kết án tử hình. Tôi muốn làm sáng tỏ vấn đề người tội phạm đã bị xử. Vì vậy tôi làm chính trị, như người ta thường nói. Tôi không muốn làm một kẻ mang mầm mống dịch hạch, chỉ có thế thôi. Tôi nghĩ cái xã hội tôi đang sống là xã hội dựa trên sự kết án tử hình, và bằng cách chống lại xã hội ấy, tôi chống lại sự giết người. Tôi nghĩ như vậy, những người khác bảo tôi như vậy, và, tóm lại, cái đó chủ yếu là đúng. Vì vậy tôi đến ở với những người tôi hằng yêu mến và không tôi ngớt yêu mến. Tôi ở với họ lâu và không có nước nào ở châu Âu mà tôi không cùng chia sẻ những cuộc đấu tranh. Xin cho qua.
Dĩ nhiên, tôi cũng biết rằng, cả chúng ta nữa, có lúc nào đó, chúng ta cũng tuyên án tử hình. Nhưng người ta bảo tôi một vài cái chết ấy là cần thiết để đi tới một thế giới trong đó người ta không giết chết một ai nữa. Điều đó đúng một cách nào đó, nhưng dẫu sao, có lẽ tôi cũng không thể tin chắc vào loại chân lý ấy. Có điều chắc chắn, là tôi ngập ngừng. Nhưng tôi nghĩ tới người tội phạm, và có thể vẫn ngập ngừng như thế. Cho tới ngày tôi chứng kiến một vụ hành quyết (ở Hunggari), và cơn choáng váng đã từng xâm chiếm đứa trẻ là tôi ngày trước, đến lúc ấy, đã làm mờ cặp mắt người lớn của tôi.
Anh chưa bao giờ nhìn thấy người ta bắn một con người phải không? Chắc hẳn là không, và thường người đến dự phải có giấy mời và được lựa chọn từ trước. Kết quả là anh chỉ dừng lại ở tranh ảnh và sách vở. Một giải vải bịt mắt, một cây cọc, và mấy người lính xa xa. Không, không phải thế! Anh có biết là trái lại, phân đội súng trường chỉ đứng cách người bắn có một mét rưỡi không? Anh có biết là giá người này bước lên hai bước thì ngực đụng phải những khẩu súng kia không? Anh có biết là cách một quãng ngắn như vậy, những tay súng tập trung phát đạn vào vùng tim người bị bắn và cả bọn chúng, với những viên đạn to tướng, chúng khoét rộng một cái lỗ bỏ được cả nắm tay vào trong đó không? Không, anh không biết những điều ấy vì đó là những chi tiết người ta không nói tới. Giấc ngủ của con người thiêng liêng hơn cuộc sống đối với những người mang mầm mống dịch hạch. Không được ngăn cản giấc ngủ của những con người trung hậu. Phải là bất nhã mới hành động như vậy còn nhã nhặn thì không, ai cũng hiểu điều đó. Dư vị của sự bất nhã ấy vẫn đọng lại trong miệng tôi, tôi không sao dứt bỏ được.
Lúc đó, tôi hiểu rằng ít ra, trong những năm tháng dằng dặc ấy tôi vẫn là một kẻ mang mầm mống dịch hạch tuy một mực đinh ninh là chính mình chống lại dịch hạch. Tôi biết mình đã gián tiếp đồng tình với cái chết của hàng nghìn con người, thậm chí đã gây nên chết chóc vì công nhận là tốt những hành vi và nguyên tắc tất yếu đem lại cái chết. Những người khác thì không bối rối vì cái đó, hay chí ít không bao giờ bộc phát nói ra. Còn tôi, tôi thấy cổ họng bị nghẹn lại. Tôi cùng sống với họ, nhưng tôi vẫn một mình, cô đơn. Khi tôi nói lên nỗi lòng băn khoăn của mình, họ bảo tôi phải nghĩ tới cái “trong cuộc” và họ đưa ra những lý lẽ thường rất hùng hồn để buộc tôi phải nuốt cái tôi không sao nuốt nổi. Nhưng tôi đáp lại là trong những trường hợp ấy, những kẻ quyền quý, những vị mặc áo đỏ và mang mầm mống dịch hạch cũng có những lý lẽ tuyệt vời? và trong khi chấp nhận những lý lẽ không thể chối cãi và những nhu cầu của những con người bé nhỏ mang dịch bệnh, tôi cũng không thể bác bỏ lý lẽ của những kẻ quyền cao chức trọng. Họ lưu ý tôi rằng muốn biện hộ cho những kẻ mặc áo đỏ thì cách tốt nhất là để cho họ cái quyền độc tôn kết án. Nhưng lúc đó, tôi nghĩ bụng nếu đã nhượng bộ một lần thì không có lý do gì để dừng lại nữa. Tôi thấy hình như lịch sử đã biện hộ cho tôi: ngày nay, người ta đua nhau chém giết. Tất cả bọn họ đều điên cuồng chém giết, và họ không sao làm khác.
Dẫu sao, cái tôi băn khoăn cũng không phải là lý lẽ, mà chính là câu chuyện người tội phạm bị án tử hình, cái câu chuyện bẩn thỉu trong đó những cái mồm bẩn thỉu nhiễm dịch hạch tuyên bố với một người đang bị xiềng xích là anh ta sẽ chết, và quả thật đã làm mọi việc cho anh ta chết, sau biết bao đêm hấp hối, hai mắt trân trân, chờ đợi cái chết. Cái tôi băn khoăn là cái lỗ thủng trong lồng ngực. Tôi tự bảo mình, trong lúc chờ đợi, và ít ra cũng cho riêng mình, là tôi sẽ không bao giờ biện hộ, dù chỉ một lần, anh nghe không, cho cảnh chém giết kinh tởm ấy. Vâng, tôi đã chọn sự mù quáng khăng khăng ấy trong lúc chờ tìm xem một cách sáng rõ hơn.
Từ ấy, tôi vẫn không thay đổi. Từ lâu, tôi hổ thẹn, hổ thẹn đến chết đi được, vì đã từng làm một đứa giết người, dù là từ xa, dù là với thiện chí. Cùng với thời gian, tôi chỉ nhận thấy rằng ngày nay, ngay cả những kẻ tốt hơn những người khác cũng không tự ngăn cản được mình chém giết hay ngăn cản kẻ khác giết, vì đấy là lôgich cuộc sống của họ và vì trên đời này không thể làm một cử chỉ nào mà lại không có nguy cơ gây nên cái chết. Vâng, tôi tiếp tục thấy hổ thẹn - tôi hiểu điều đó - là tất cả chúng ta đều ở trong tình trạng dịch hạch và tôi không còn được yên ổn nữa. Ngày nay, tôi vẫn còn tìm kiếm sự yên ổn ấy bằng cách cố gắng tìm hiểu mọi người và cố gắng không làm kẻ tử thù đối với một ai hết. Tôi chỉ biết mình phải làm điều cần làm để không còn là một người mang mầm mống dịch hạch nữa, và chỉ có như thế mới có thể làm chúng ta hy vọng sự yên ổn, hoặc nếu không được yên ổn nữa, thì cũng một cái chết tử tế. Chính có như thế mới có thể an ủi con người, và nếu không cứu thoát được họ, thì chí ít cũng mang lại cho họ ít tai họa nhất, thậm chí có khi còn có thể đưa tới cho họ một chút điều tốt lành. Và chính vì vậy, tôi quyết định khước từ tất cả những gì, dù xa hay gần, dù vì lý do này hay lý do khác, làm người ta chết hay biện hộ cho việc làm người ta chết.
Và cũng còn chính vì vậy, nạn dịch bệnh này chẳng dạy tôi được bài học gì hết, nếu không phải là bài học phải đứng bên cạnh các anh chống lại nó. Tôi biết đích xác (vâng, anh Rieux ạ, tôi biết hết về đời, anh đã thấy rõ đấy) là mỗi người đều mang mầm mống dịch hạch trong mình, bởi vì không một ai, vâng, không một ai trên đời này được miễn trừ cả. Và tôi biết là phải không ngớt tự kiểm soát mình để khỏi, trong một phút lơ là nào đó, thở vào mặt người bên cạnh, làm anh ta bị lây nhiễm.
Cái tự nhiên, là con vi trùng. Còn nữa, sức khỏe, sự toàn vẹn, cái tinh khiết, nếu anh muốn, đó là tác dụng của ý chí, và là của một ý chí không bao giờ biết nghỉ ngơi. Con người chính trực, con người hầu như không làm một ai bị lây nhiễm, đó là con người ít lơ đãng hơn ai hết. Và phải có ý chí và sức tập trung để không bao giờ lơ đãng cả! Vâng, anh Rieux ạ, làm một kẻ mang mầm mống dịch hạch, thì thật là ngán. Nhưng không muốn làm một người như thế, còn ngán hơn. Chính vì vậy ngày nay ai nấy đều tỏ ra chán ngán, ngày nay, ai nấy đều tự thấy mình ít nhiều có mang mầm mống dịch hạch. Nhưng cũng chính vì vậy một đôi người, vì muốn không còn mang dịch bệnh nữa nên chán ngán đến cực điểm, và chỉ có cái chết mới giải thoát được họ.
Từ nay tới đó, tôi biết là tôi chẳng còn giá trị gì nữa đối với bản thân cái thế giới này, và bắt đầu từ khi tôi từ chối việc giết chóc, tôi đã tự khép mình vào một cảnh lưu đày vĩnh viễn. Làm lịch sử sẽ là những người khác. Tôi cũng biết là rõ ràng tôi không thể phán xét những người khác đó. Có một tư cách tôi không có để làm một kẻ giết người có lý trí. Vì vậy đó không phải là một ưu thế. Nhưng giờ đây, tôi chấp nhận mình là mình, tôi đã học được bài học khiêm tốn. Tôi chỉ nói là trên trái đất này có những tai họa và những nạn nhân, và cần phải hết sức mình chối từ không ‘đánh bạn’ với tai họa. Có lẽ anh thấy như thế là có phần giản đơn, và tôi không rõ cái đó có giản đơn hay không, nhưng tôi biết cái đó là đúng. Tôi đã từng nghe biết bao lý lẽ suýt làm tôi điên đầu, và đã từng làm cho những cái đầu khác điên lên tới mức họ chấp nhận việc giết người, và vì vậy tôi đã hiểu rằng tất cả tai họa của con người đều bắt nguồn ở chỗ họ không có một hành vi ngôn ngữ cho rõ ràng. Thế là tôi quyết định nói năng và hành động cho rõ ràng, để bước theo con đường đúng. Bởi vậy, tôi nói là có tai họa và nạn nhân, và chỉ có thế thôi. Nếu khi nói như vậy, bản thân tôi cũng trở thành tai họa, thì ít ra, tôi cũng không phải là kẻ muốn như vậy. Tôi cố sức làm một kẻ giết người vô tội. Anh thấy thế không phải là một tham vọng lớn chứ.
Dĩ nhiên, cần có một loại người thứ ba, loại những người thầy thuốc chân chính, nhưng thực tế, người ta không thấy có nhiều và đó là điều khó khăn. Vì vậy tôi quyết định đứng về phía các nạn nhân, trong mọi trường hợp, để hạn chế bớt thiệt hại. Đứng trong hàng ngũ họ, chí ít tôi cũng tìm hiểu được người ta làm thế nào để đạt tới loại thứ ba, nghĩa là tìm thấy sự yên ổn”.
Kết thúc lời tâm sự, Tarrou đung đưa cặp đùi và lấy chân gõ nhẹ lên sàn sân thượng. Im lặng một lát, bác sĩ Rieux hơi nhướn mình lên và hỏi Tarrou có suy nghĩ gì về con đường anh phải đi để tìm thấy sự yên ổn không.
- Có, sự đồng cảm.
Xa xa, vang lên hai tiếng còi xe cứu thương. Những lời than vãn, lúc nãy mơ hồ, nay tập trung vào cuối thành phố, gần ngọn đồi sỏi đá. Đồng thời, nghe một cái gì giống như một tiếng nổ. Rồi im ắng, Rieux thấy đèn pha biển nhấp nháy hai lần. Làn gió mát thổi mạnh lên, và cùng một lúc, một luồng gió từ ngoài biển mang vào hương vị muối. Bây giờ thì nghe rõ hơi thở trầm đục của những làn sóng xô vào vách đá.
- Tóm lại, - Tarrou nói một cách giản dị - điều tôi quan tâm, là xem người ta trở thành một vị thánh như thế nào.
- Nhưng anh không tin vào Thượng đế kia mà.
- Đúng thế. Có thể trở thành thánh mà không cần Thượng đế không, đấy là vấn đề cụ thể duy nhất mà ngày nay tôi muốn biết.
Bỗng nhiên, một luồng ánh sáng dữ dội phát ra từ phía những tiếng kêu lúc nãy, và ngược chiều gió, một tiếng ồn ã âm thầm lan tới tận hai người. Luồng sáng tắt đi ngay và đằng xa, dọc các sân thượng, chỉ còn lại một chút ánh màu đo đỏ. Trong một lúc ngừng gió, nghe rõ rệt tiếng người kêu la, rồi tiếng súng nổ và tiếng ồn ã của đám đông. Tarrou đứng dậy, lắng tai. Không còn nghe thấy gì nữa.
- Lại đánh nhau ngoài cửa ô.
- Bây giờ thì hết rồi. - Rieux đáp.
Tarrou thì thầm là không bao giờ hết và vẫn còn những nạn nhân, bởi vì đã an bài như thế.
- Có lẽ, - Bác sĩ Rieux đáp - nhưng anh biết không, tôi cảm thấy mình gắn bó với những người thất bại hơn là với các vị thánh. Tôi nghĩ mình không có hứng thú đối với chủ nghĩa anh hùng và tính cách thần thánh. Cái tôi quan tâm, là làm con người.
- Đúng, chúng ta cùng đi tìm một đích như nhau, nhưng tôi ít tham vọng hơn.
Rieux nghĩ là Tarrou bông đùa và nhìn anh. Nhưng trong ánh sáng lờ mờ từ bầu trời rọi xuống, ông thấy một khuôn mặt buồn bã và nghiêm trang. Gió lại nổi lên và Rieux cảm thấy làn gió ấm mơn man da thịt mình. Tarrou phấn chấn lên và nói :
- Anh có biết chúng ta phải làm gì cho tình bạn không?
- Tùy ý anh. - Rieux đáp.
- Chúng ta cùng nhau tắm biển một cái. Dù đối với một vị thánh tương lai thì đó cũng là một thú vui chính đáng.
Rieux mỉm cười.
- Với giấy thông hành trong người, chúng ta có thể ra tận bờ đập. Xét cho cùng, chỉ sống với dịch hạch, thì thật là quá ngốc. Dĩ nhiên, đã là con người thì phải chiến đấu vì những nạn nhân. Nhưng nếu con người thôi không còn yêu thương gì nữa hết, thì anh ta chiến đấu để làm gì?
- Đúng, - Rieux bảo - chúng ta đi tắm nào.
Một lúc sau, ô-tô đỗ lại gần hàng rào sắt của cảng. Trăng đã mọc. Một bầu trời đục màu sữa phát ra khắp nơi những cái bóng nhợt nhạt. Sau lưng họ là thành phố, và một làn gió nóng và bệnh hoạn đẩy họ đi về phía bờ biển. Họ đưa giấy tờ cho một người gác và y xem xét một lúc lâu. Họ đi qua cửa sắt và qua những mặt bằng để đầy thùng tôno, trong không khí nực mùi rượu và mùi cá, họ bước về phía đập. Trước khi tới nơi, mùi iôt và mùi tảo báo cho họ sự có mặt của biển cả. Biển cả rì rào.
Biển vỗ nhẹ vào dưới những tảng đá lớn của con đập, và khi họ bước chân trên đập, mặt biển hiện ra, dày như nhung, uyển chuyển và mượt mà như một con thú. Họ ngồi trên những tảng đá quay ra khơi. Nước biển từ từ xuống. Hơi thở lặng lẽ của biển làm nảy sinh rồi lại biến đi những gợn sóng óng ánh như dầu trên mặt nước. Trước mặt họ, bóng đêm trải ra vô tận. Ngón tay khẽ sờ vào những tảng đá lỗ chỗ trên mặt, Rieux cảm thấy lòng tràn ngập một niềm hạnh phúc kỳ lạ. Quay về phía Tarrou, ông đoán trên nét mặt điềm tĩnh và trang nghiêm của bạn biểu hiện một niềm hạnh phúc như vậy, niềm hạnh phúc không bỏ quên gì hết, kể cả tội ác giết người.
Hai người cởi bỏ quần áo, Rieux lặn sâu xuống nước. Nước lúc đầu lạnh, về sau ấm dần khi ông ngồi lên mặt. Bơi được mấy sải tay, ông biết biển, tối hôm đó, ấm áp, cái ấm áp của những mặt biển mùa thu không chúng lấy lại của đất liền sức nóng chất chứa trong nhiều tháng liền. Ông bơi một cách điều hòa. Hai chân ông đập nước để lại phía sau một lớp bọt trắng xóa, nước chảy dọc hai cánh tay, áp sát vào cẳng chân. Một tiếng vỗ mạnh trên mặt nước, ông biết Tarrou cũng đã lặn xuống. Rieux nằm ngửa trên mặt nước, không cử động, mặt ngoảnh lên bầu trời đầy trăng sao. Ông thở từng hơi dài. Rồi ông nghe mỗi lúc một thêm rõ, tiếng đập nước, trong trẻo một cách kỳ lạ trong đêm tối tĩnh mịch. Tarrou bơi lại gần và Rieux nghe anh thở. Ông quay lại, vươn lên ngang hàng với bạn và hai người cùng bơi theo một nhịp. Tarrou bơi khỏe hơn và ông phải cố bơi nhanh cho kịp. Trong mấy phút, họ cùng bơi theo một nhịp độ và sức lực như nhau, và chỉ có hai người với nhau, cách biệt mọi người, thoát khỏi thành phố và dịch bệnh. Rieux dừng lại đầu tiên và hai người chậm rãi bơi trở về, trừ một lúc họ gặp một dòng nước lạnh giá. Không nói nửa lời, cả hai vội trườn nhanh, kích thích bởi sự bất thần này của biển cả.
Mặc quần áo vào, họ trở về, không nói không rằng. Nhưng họ cùng một tâm trạng, và kỷ niệm về cái đêm ấy thật êm đềm. Khi từ xa họ nhìn thấy trạm lính gác dịch hạch. Rieux biết rằng cũng như ông, Tarrou chắc hẳn nghĩ bụng là dịch bệnh vừa bỏ quên họ, rằng thế là tốt, và giờ đây lại phải bắt đầu.
Đúng, phải bắt đầu lại, và dịch hạch không quên một ai quá lâu cả. Trong tháng Chạp, nó hừng hực trong lồng ngực đồng bào chúng ta, nó đốt sáng rực lò thiêu, nó đưa vào trại những bóng người hai bàn tay không, nó không ngừng tiến bước, dáng dấp kiên nhẫn và giần giật. Nhà chức trách trông cậy vào những ngày giá rét để ngăn chặn sự tiến bước ấy, thế nhưng nó vẫn vượt qua những buổi đầu khắc nghiệt của mùa đông, không một phút ngừng nghỉ, vẫn phải tiếp tục chờ đợi. Nhưng người ta không còn chờ đợi nữa vì đã chờ đợi mãi rồi, và toàn thành phố sống không tương lai.
Còn đối với bác sĩ Rieux, thì cái thoáng yên bình và bầu bạn ông được hưởng đã chấm dứt. Một bệnh viện được mở thêm và Rieux chỉ còn mặt đối mặt với người bệnh. Tuy nhiên, ông nhận thấy là vào giai đoạn dịch tễ này, trong lúc dịch hạch ngày mỗi chuyển sang dạng màng phổi nhiều hơn, thì có thể nói người bệnh lại có vẻ hỗ trợ thầy thuốc. Không còn phó mặc cho trạng thái kiệt sức hay những cơn điên dại như buổi đầu, giờ đây, họ tỏ ra có một ý niệm đúng đắn hơn về quyền lợi của mình và tự bản thân họ đòi hỏi những gì mà họ cho là thuận lợi nhất. Họ luôn luôn đòi uống và ai nấy đều muốn được sưởi ấm. Tuy vẫn vất vả như trước, bác sĩ Rieux, trong những lúc này, cảm thấy bớt cô đơn.
Cuối tháng Chạp, Rieux nhận được của ông dự thẩm Othon - lúc đó còn ở trong trại - một bức thư nói rõ là thời kỳ cách ly kiểm dịch của ông đã hết hạn, là cơ quan hành chính không tìm ra ngày ông vào trại và chắc chắn người ta sẽ còn giữ ông lại ở đây vì nhầm lẫn. Vợ ông, ra trại trước đây ít lâu, đã khiếu nại lên tỉnh nhưng ở đó người ta tiếp bà không ra sao và bảo là họ không bao giờ nhầm lẫn hết. Rieux nhờ Rambert can thiệp và, mấy ngày sau, thấy Othon tới gặp. Quả là có một sự nhầm lẫn, và Rieux có phần phẫn nộ. Nhưng Othon, người có gầy đi, giơ một bàn tay yếu ớt lên và cân nhắc từng từ, nói rằng ai cũng có thể nhầm lẫn. Bác sĩ Rieux thì chỉ nghĩ là có một cái gì đó đã thay đổi.
- Thưa ông dự thẩm, ông sẽ làm gì? - Rieux hỏi - Chắc các hồ sơ vụ án đang chờ ông.
- Ồ không - Othon đáp - Tôi muốn đi nghỉ.
- Thật vậy, ông cần nghỉ ngơi.
- Không phải thế, tôi muốn trở lại trại thôi.
Rieux kinh ngạc.
- Nhưng ông ra trại kia mà!
- Tôi làm người ta hiểu sai. Người ta bảo tôi là trong trại có những viên chức tình nguyện.
Ông dự thẩm khẽ đảo cặp mắt tròn xoe và lấy tay miết mái tóc...
- Ông hiểu không, như thế tôi sẽ có việc. Vả lại, - nói thế này thì có phần thế nào ấy - như thế, tôi sẽ cảm thấy bớt xa thằng bé nhà tôi.
Rieux nhìn ông ta. Trong cặp mắt nghiêm khắc và vô tình ấy, sao lại có thể bỗng nhiên xuất hiện một ánh dịu dàng đến thế. Nhưng chúng trở nên mờ đục hơn, không còn trong trẻo nữa.
- Dĩ nhiên, - Rieux bảo - tôi sẽ lo việc đó, vì ông đã muốn như vậy.
Quả thật, ông bác sĩ đã thu xếp và cuộc sống của cái thành phố bị dịch hạch này tiếp tục cho tới ngày lễ Nôen. Đâu đâu, Tarrou cũng giữ một thái độ bình tĩnh làm người ta yên lòng. Rambert thì nói riêng với Rieux là nhờ hai chàng trai gác cửa ô, anh đã lập được một hệ thống thư từ bí mật với vợ. Thỉnh thoảng, anh nhận được một bức thư. Anh bảo Rieux lợi dụng hệ thống của anh và ông nhận lời. Đã nhiều tháng nay, lần đầu tiên, ông viết, nhưng hết sức khó khăn. Ông đã quên đi cả ngôn ngữ thư tín. Bức thư được gửi đi. Nhưng vẫn chưa có hồi âm. Về phía Cottard thì hắn làm ăn phát đạt và những vụ đầu cơ nhỏ làm hắn giàu lên. Còn đối với Grand, thì thời kỳ những ngày lễ này chẳng có gì thú vị.
Lễ Nôen năm ấy, đúng ra là ngày lễ Địa ngục hơn là ngày lễ Phúc âm. Những cửa hiệu trống rỗng và không có ánh sáng, những tấm sôcôla rởm hay những chiếc hộp không trong tủ hàng, những chuyến xe điện chật ních người với những bộ mặt thiểu não, không có gì giống như những ngày lễ Nôen trước kia. Trong ngày lễ mà ngày trước mọi người, giàu cũng như nghèo, gặp gỡ nhau, thì nay chỉ còn chỗ cho một vài trò chơi riêng rẽ và nhục nhã của những kẻ được ưu đãi với cái giá đắt như vàng, ở tận cuối buồng sau cáu bẩn của các cửa hiệu. Nhà thờ ầm ĩ tiếng than vãn nhiều hơn lời cầu phúc. Trong cái thành phố buồn bã và giá lạnh, một vài đứa trẻ chạy nhảy, chưa biết cái điều đang uy hiếp chúng. Nhưng không một ai dám nói với chúng về ông già Nôen mang đầy quà ngày trước, cũ kỹ như nỗi vất vả của loài người, nhưng mới mẻ như niềm hy vọng non trẻ. Trong trái tim mọi người, chỉ còn chỗ cho một chút hy vọng rất cũ kỹ và rất buồn tẻ, đó chính là bản thân chút hy vọng ngăn cản không cho con người phó mặc cho cái chết và thực ra chỉ là cái thái độ khăng khăng muốn sống.
Ngày hôm trước, Grand không đến chỗ hẹn gặp. Lo lắng, sáng tinh mơ hôm sau, Rieux đến nhà anh, nhưng không gặp. Ai nấy lo lắng. Khoảng mười một giờ, Rambert đến bệnh viện báo cho bác sĩ Rieux là trông thấy Grand đằng xa, lang thang trên đường phố, mặt thất sắc. Rồi sau đó mất hút, Rieux và Tarrou đánh ô-tô đi tìm.
Vào giữa trưa, trời lạnh buốt, khi bước ra khỏi ô-tô, Rieux thấy Grand ở đằng xa, mặt áp sát vào tủ kính nhà hàng, bày đầy những đồ chơi bằng gỗ thô kệch. Nước mắt chảy ròng ròng trên khuôn mặt người viên chức lớn tuổi. Những giọt nước mắt làm Rieux xao xuyến vì ông hiểu chúng và ông cũng cảm thấy trong cổ họng mình. Ông cũng nhớ lại buổi kết hôn giữa anh chàng tội nghiệp, trước một cửa hiệu bày hàng Nôen, và Jeanne ngã mình về phía anh để thầm thì là cô ưng thuận. Từ chiều sâu thẳm của những năm tháng xa xăm ấy, ở ngay giữa niềm si mê ấy, tiếng nói tươi mát của Jeanne trở lại với Grand, đó là điều chắc chắn. Rieux biết vào giây phút này, con người đã luống tuổi đang khóc lóc ấy nghĩ tới cái gì, và cái đó, chính ông cũng nghĩ tới như anh ta. Ông biết là cái thế giới không có tình yêu này chẳng khác một thế giới chết và bao giờ cũng sẽ đến một lúc người ta chán ngấy nhà tù, lao động và lòng dũng cảm để đòi hỏi khuôn mặt một con người và trái tim ngây ngất yêu thương.
Grand nhìn thấy ông trong gương. Nước mắt vẫn lã chã, anh quay lại và đứng tựa vào tủ kích, nhìn ông bước tới.
- A! Bác sĩ, a! Bác sĩ. - Anh thốt lên.
Không nói được thành lời, Rieux gật đầu, tỏ ý đồng tình. Nỗi sầu muộn của Grand cũng là của cả ông nữa và cái làm tim ông nhói lên vào lúc này là cơn giận ghê gớm của con người trước nỗi khổ đau mà mọi con người phải chia sẻ...
- Được, Grand ạ. - Ông nói.
- Tôi muốn có thì giờ viết cho cô ấy một bức thư. Để cho cô biết, và để cô được hạnh phúc, khỏi phải ân hận...
Với một chút thô bạo, Rieux đẩy Grand bước về phía trước. Hầu như anh cứ để mình được kéo đi, miệng lẩm bẩm :
- Kéo dài như thế đã quá lâu rồi. Tôi muốn cứ phó mặc, bắt buộc phải như thế. A! Thưa bác sĩ, tôi có vẻ bình tĩnh như thế này. Nhưng muốn được bình thường không thôi, tôi luôn luôn phải cố gắng hết mình. Và giờ đây, lại càng hơn thế nữa.
Anh ngừng lời, tay chân run lật bật, cặp mắt như điên dại. Rieux cầm tay anh. Tay nóng ran.
- Phải về thôi.
Nhưng Grand rút tay ra và chạy mấy bước, rồi đứng lại, dang rộng hai cánh tay và lắc lư từ trước ra sau. Anh quay tròn và ngã vật xuống trên vỉa hè giá lạnh, trên khuôn mặt nhớp nhúa, nước mắt vẫn đầm đìa. Khách đi đường trông thấy từ xa, đứng sững lại, không dám bước thêm. Rieux phải bế anh lên tay.
Bây giờ, trên giường bệnh, Grand ngạt thở: phổi bị xâm nhiễm. Rieux suy nghĩ. Anh không có gia đình. Cần gì phải chở anh đi? Chỉ riêng ông và Tarrou sẽ săn sóc anh...
Grand vẫn nằm, đầu lún sâu xuống gối, da xanh mướt, mắt lờ đờ. Anh đăm đăm nhìn ngọn lửa leo lét Tarrou đốt lên trong lò sưởi với những mẩu gỗ thùng. “Không ổn”, anh thốt lên. Và từ đáy phổi bốc lửa phát ra một tiếng lép bép kỳ cục theo sau mỗi lời anh nói. Rieux bảo anh nằm im và ông sẽ trở lại. Một nụ cười khác thường nở trên môi người bệnh và cùng với nụ cười, khuôn mặt biểu lộ một tình cảm yêu thương. Anh cố gắng nháy mắt. “Nếu tôi thoát khỏi và người ta “bái phục”, bác sĩ nhỉ!”. Nhưng ngay sau đó, anh rơi vào trạng thái mê man, kiệt sức.
Mấy tiếng sau, Rieux và Tarrou thấy người bệnh, nửa nằm nửa ngồi trên giường, và Rieux hoảng hốt nhìn thấy bệnh tiến triển rõ rệt trên khuôn mặt. Nhưng Grand tỏ vẻ tỉnh táo hơn, và ngay lập tức, với một giọng nói trầm xuống đến kỳ lạ, yêu cầu đưa lại cho anh cuốn sổ chép tay anh để trong ngăn kéo. Tarrou trao cho anh. Áp sát tập giấy vào người, anh không nhìn mà đưa lại cho Rieux và ra hiệu mời ông đọc. Một tập viết tay khoảng năm chục trang. Rieux lật các trang giấy và hiểu rằng tất cả chỉ có mỗi một câu văn chép đi chép lại, sửa chữa, thêm, bớt. Trên suốt các trang giấy, lặp đi lặp lại, đối chiếu với nhau, sắp xếp theo cách này rồi lại cách khác, là những từ ngữ: tháng năm, cô gái cưỡi ngựa, những lối đi trong rừng Boulogne. Cũng cả những lời giải thích, đôi khi dài vô tận, và những khảo dị. Nhưng ở phần dưới trang cuối cùng, một bàn tay chăm chút viết có mấy từ, nét mực còn tươi roi rói: “Jeanne rất mực yêu quý của anh, hôm nay là Noên...”. Phía trên, được viết rất cẩn thận câu văn sau khi được chữa lại lần cuối cùng. “Ông đọc đi”, Grand bảo. Và Rieux đọc:
“Vào một buổi sáng tháng năm đẹp trời, một nàng kỵ sĩ mảnh mai, cưỡi trên một con ngựa rực rỡ màu hồng, đi trên những lối đi trong rừng Boulogne, giữa những đoá hoa...”
- Có phải thế không? - Grand hỏi với giọng của người đang lên cơn sốt.
Rieux không ngước lên nhìn anh.
- A! - Grand lại vừa cựa quậy vừa nói - Tôi biết rồi. “Đẹp, đẹp”, cái từ đó không đúng.
Rieux cầm lấy bàn tay anh đặt trên mền.
- Cứ để đấy, bác sĩ, tôi sẽ không có thì giờ...
Ngực anh phập phồng một cách khó nhọc và anh kêu lên đột ngột :
- Đốt đi!
Rieux lưỡng lự, nhưng Grand nhắc lại mệnh lệnh của mình với một giọng khủng khiếp và một nỗi đau đớn tới mức ông vội vứt những tờ giấy vào ngọn lửa lúc đó đã gần tàn. Căn buồng bỗng sáng bừng lên với một sức ấm ngắn ngủi. Khi bác sĩ trở lại gần người bệnh, thì anh ta quay lưng ra và mặt gần như áp sát vào tường. Tarrou nhìn qua cửa sổ, như thể thờ ơ với quang cảnh này. Sau khi tiêm huyết thanh, Rieux nói với bạn là Grand sẽ không qua khỏi đêm nay, và Tarrou xin ở lại. Bác sĩ chấp thuận.
Suốt đêm, cái ý nghĩ Grand sẽ chết ám ảnh Rieux. Nhưng sáng hôm sau, ông thấy anh ngồi trên giường, chuyện trò với Tarrou. Cơn sốt đã biến mất. Chỉ còn lại những dấu hiệu của tình trạng suy nhược chung.
- A! Thưa bác sĩ, - Grand lên tiếng - tôi đã sai lầm.
Nhưng tôi sẽ bắt đầu trở lại. Tôi nhớ hết tất thảy, ông sẽ thấy.
- Chúng ta phải chờ xem. - Rieux nói riêng với Tarrou.
Nhưng cho tới trưa, vẫn không có gì thay đổi. Buổi tối, có thể xem như Grand đã được cứu thoát. Rieux không sao hiểu nổi sự hồi sinh này.
Nhưng cũng hầu như vào thời kỳ ấy, người ta đưa đến chỗ Rieux một nữ bệnh nhân mà ông cho là ở trong tình trạng tuyệt vọng và được cách ly ngay khi tới bệnh viện. Cô gái hoàn toàn bị mê sảng và có tất cả những triệu chứng của dịch hạch màng phổi. Nhưng sáng hôm sau, cơn sốt hạ xuống. Một lần nữa, cũng như trong trường hợp Grand, ông cho đây là sự thuyên giảm về ban sáng mà kinh nghiệm đã dạy cho ông là một dấu hiệu xấu. Nhưng đến trưa, cơn sốt vẫn không tăng. Buổi tối, chỉ tăng có vài phần mười, và sáng hôm sau, biến hẳn. Cô gái, tuy còn yếu, đã thở được dễ dàng trên giường bệnh. Rieux bảo Tarrou là cô ta thoát khỏi bệnh, trái với mọi quy luật. Nhưng trong tuần bốn trường hợp tương tự diễn ra trong khu vực Rieux phụ trách.
Cuối tuần ấy, ông lão bị hen suyễn tiếp bước Rieux và Tarrou với tất cả dấu hiệu của một tình trạng xao động mạnh :
- Lại thế rồi, - Ông lão nói - chúng lại ra.
- Ai!
- Ồ! Chuột mà!
Từ tháng Tư, không tìm thấy một con chuột chết nào hết.
- Có phải dịch bệnh lại bắt đầu trở lại không? - Tarrou hỏi Rieux.
Ông lão xoa xoa hai bàn tay vào nhau :
- Phải nhìn thấy chúng chạy! Thật thú vị.
Lão nhìn thấy hai con chuột sống vào nhà, qua cánh cửa mở ra đường. Hàng xóm cũng nói với lão là ở nhà họ, chuột cũng đã xuất hiện trở lại. Trên mấy cái xà nhà, người ta lại nghe tiếng rậm rịch đã bị lãng quên đi mấy tháng nay. Rieux chờ ngày công bố những con số thống kê tổng quát vào đầu mỗi tuần. Chúng cho thấy dịch bệnh đã giảm bớt.
------------------------------------------
[1] Theo huyền thoại, Orphée là một nhạc sĩ thiên tài thời cổ Hy Lạp. Eurydice, vợ chưa cưới của chàng, bị rắn cắn chết ngay hôm kết hôn. Orphée xuống địa ngục và vì say mê tiếng hát của chàng, các thần ở đây trả lại người yêu cho Orphée với điều kiện chàng không ngoái cổ nhìn lại phía sau trước khi ra khỏi ngục đàng. Orphée vi phạm lời cấm, nên bị thần [font="verdana"][size="3"][color="#000099"]Zeus dùng lưỡi tầm sét đánh chết.
[2] Nostradamus (thế kỷ 16) là một thầy thuốc và nhà thiên văn học Pháp nổi tiếng, có để lại một tập sấm tiên đoán tương lai, tập Centuries.
[3] Nữ thánh người Pháp, chủ nhân một tổ chức viện nổi tiếng (thế kỷ 7 - 8) trong vùng núi Vôxgiơ, miền đông nước Pháp, và được xem là có tài tiên tri.
[4] Một nhân vật truyền thuyết Tây Ban Nha, kiểu Sở Khanh.
[5] Lễ vào ngày 1 tháng 11 hằng năm của Giáo hội.
[6] Hai thành phố nhỏ ở Pháp.
[7] Ngày Quốc khánh Pháp.
[/color][/size][/font]
0
V
 
Tuy sự rút lui đột ngột của dịch bệnh vượt quá hy vọng, đồng bào chúng tôi vẫn không vội vã vui mừng. Những tháng vừa qua nung nấu thêm nguyện vọng thoát khỏi tai họa, nhưng lại cũng là một bài học chung: ai nấy trở nên thận trọng hơn và không còn nghĩ là dịch bệnh chấm dứt ngày một ngày hai. Tuy vậy sự kiện mới mẻ ấy, không ai không nói tới, và trong đáy lòng mọi người đều rộn lên một niềm hy vọng lớn lao thầm kín. Mọi cái khác đều là thứ yếu. Những nạn nhân mới của dịch hạch chẳng có bao nhiêu trọng lượng bên cạnh cái sự kiện kỳ lạ là các con số thống kê đều tụt xuống. Từ đây, tuy còn làm ra vẻ thờ ơ, đồng bào chúng tôi đã sẵn sàng nói tới việc tổ chức lại cuộc sống sau khi dịch bệnh chấm dứt: rõ ràng mọi người đều ấp ủ hy vọng được sống bình yên, không tật bệnh.
Đâu phải ngay một lúc có thể tìm lại những tiện nghi của cuộc sống ngày trước, và phá bao giờ lại chẳng dễ hơn xây lại, mọi người đều thống nhất nghĩ như vậy. Có chăng thì cũng chỉ cải thiện được chút ít khâu tiếp tế. Và được như thế thì sẽ thoát khỏi mối lo nghĩ cấp thiết hàng đầu. Nhưng thực tế, cùng với những nhận định vô thưởng vô phạt ấy, một niềm hy vọng cuồng dại dâng lên đột ngột và dữ dội tới mức chính đồng bào chúng tôi có khi nhận thức ra sự cuồng dại của mình, và lúc đó, vội vã khẳng định rằng dù thế nào đi nữa thì cũng không phải ngày mai đã thoát nạn.
Và, quả thật, ngày mai, dịch hạch chưa chấm dứt, nhưng bề ngoài, nó yếu đi nhanh hơn so với niềm hy vọng hợp lý của mọi người. Trong những ngày đầu tháng giêng, cái rét dai dẳng một cách khác thường và như thể kết tinh lại trên thành phố. Thế nhưng bầu trời chưa bao giờ lại xanh biếc đến thế. Suốt mấy ngày liền ánh sáng rực rỡ và giá lạnh tràn ngập phố phường. Trong bầu không khí được lọc sạch ấy, suốt ba tuần lễ và một cách liên tục, dịch hạch như thể đã kiệt sức trong những xác chết ngày một ít dần. Chỉ một khoảng thời gian ngắn, nó mất đi hầu hết toàn bộ sức lực nó đã phải để hàng mấy tháng để tích tụ. Nhìn thấy nó bỏ lại những con mồi đã đến tận miệng, như Grand hay cô gái - bệnh nhân của Rieux, trở nên trầm trọng ở vài khu phố này trong hai ba ngày nhưng lại biến hoàn toàn khỏi những khu phố khác, làm chết nhiều người người ngày thứ hai nhưng đến ngày thứ tư, lại để các nạn nhân hầu như thoát hết; nhìn thấy nó thở đến hết hơi hay vội vã lập cập như vậy, người ta có thể nghĩ nó đã tự tan rã vì bực tức và mệt mỏi, nó đã mất đi - đồng thời với sức chế ngự của bản thân mình - cái hiệu lực nghiêm mật và tuyệt đối vốn là sức mạnh của nó. Đột nhiên huyết thanh của Castel thành công liên tiếp, hoàn toàn khác với trước kia. Mỗi một biện pháp của các thầy thuốc, trước kia không mang lại một kết quả nào, nay bỗng nhiên hiệu nghiệm một cách chắc chắn. Hình như dịch hạch, đến lượt nó, bị săn đuổi, và sự yếu đuối đột ngột của nó tạo nên sức mạnh của những vũ khí cùn nhụt người ta dùng chống lại nó cho tới lúc bấy giờ. Thỉnh thoảng dịch bệnh lại lên gân, mù quáng chồm lên và quắp đi ba bốn người bệnh mà người ta hy vọng chữa khỏi. Họ là những người bất hạnh trong dịch hạch, những người bị nó giết hại giữa lúc tràn trề hy vọng. Đó là trường hợp Othon mà người ta phải đưa ra khỏi trại kiểm dịch, và thật vậy, khi nói về Othon, Tarrou bảo ông ta không gặp may, tuy người ta không hiểu anh nói về cái chết hay về cuộc đời của viên dự thẩm.
Nói chung, dịch bệnh “lui binh” trên toàn tuyến và thông báo của tỉnh tuy lúc đầu chỉ làm nảy sinh một chút hy vọng thầm kín nhưng cuối cùng khẳng định là thắng lợi rõ rệt và dịch bệnh đã từ bỏ các vị trí của nó. Thực ra khó có thể quyết định có phải thắng lợi hay không. Nhưng ai cũng thừa nhận dịch hạch đã ra đi giống như trước kia nó đã tới. Chiến lược chống lại nó không thay đổi, nhưng hôm qua thì vô hiệu mà hôm nay thì rõ ràng có kết quả. Người ta chỉ có cảm tưởng là dịch bệnh tự bản thân nó đã kiệt sức hoặc có lẽ đã rút lui sau khi đạt tất cả các mục tiêu. Có thể nói là vai trò của nó đã kết thúc.
Tuy vậy vẫn có thể nói chẳng có gì thay đổi trong thành phố. Luôn luôn im ắng ban ngày, nhưng tối đến, đường phố lại đông nghịt người, và vẫn những con người ấy, trong đó chỉ nổi bật lên những chiếc áo khoác và khăn quàng. Rạp chiếu bóng và tiệm cà phê vẫn làm ăn như cũ. Nhưng nhìn kỹ hơn thì các bộ mặt đã bớt căng thẳng và thỉnh thoảng có nụ cười. Và lúc ấy mới nhận ra rằng cho tới nay, không hề một ai mỉm cười trên đường phố. Thực tế, trong tấm màn mờ đục bao phủ phố phường mấy tháng ròng rã, một chỗ đã bắt đầu rách và, mỗi sáng thứ hai, qua tin tức đài phát thanh, ai nấy cũng nhận thấy chỗ rách lớn dần lên và cuối cùng bầu không khí trở lại trong lành. Đây chỉ mới là một niềm an ủi âm thầm chưa dám bộc bạch. Nhưng nếu trước kia, khi nghe tin một chuyến xe lửa khởi hành, một con tàu thủy cập bến, hay xe ô-tô sắp được phép chạy lại, người ta không thể không ít nhiều ngờ vực, thì trái lại, vào giữa tháng giêng, giá người ta có báo tin những sự kiện như vậy thì chẳng một ai sửng sốt. Dĩ nhiên như thể chẳng có gì ghê gớm. Nhưng thực tế, một chút sắc thái ấy biểu thị những bước tiến lớn lao của đồng bào chúng tôi trên con đường hy vọng. Và cũng có thể nói rằng từ khi dân chúng có thể khấp khởi chờ mong, dù chỉ chút ít thôi, thì thời ngự trị thực sự của dịch hạch đã chấm dứt.
Nhưng không phải vì vậy mà trong suốt tháng giêng, đồng bào chúng tôi không phản ứng một cách trái ngược nhau. Nói đúng ra, họ lần lượt trải qua những cơn hưng phấn và thất vọng. Chẳng hạn, người ta ghi nhận những mưu toan trốn thoát mới, chính giữa lúc những con số thống kê đáng phấn khởi nhất. Tình hình ấy làm kinh ngạc các nhà chức trách và cả bản thân các trạm gác vì phần lớn những vụ trốn đều thành công. Nhưng thực ra, những người bỏ trốn vào những lúc đó, tuân theo những tình cảm tự nhiên, ở người này, dịch hạch đã cắm sâu một tâm trạng hoài nghi sâu sắc mà họ không thể không dứt bỏ. Họ không còn hy vọng nữa. Ngay sau khi dịch bệnh chấm dứt, họ vẫn tiếp tục sống theo chuẩn mực của nó. Họ lạc hậu với tình hình. Trái lại, ở người khác, phần lớn là những người cho tới lúc bấy giờ sống cách biệt với người thân, thì sau thời gian dài tù hãm và ngã lòng, ngọn gió hy vọng thổi bùng lên một cơn sốt và một trạng thái nóng nảy khiến họ hoàn toàn không còn một chút tự chủ. Một nỗi kinh hoàng xâm chiếm họ khi họ nghĩ rằng đã gần tới đích thế này mà họ có thể chết, có thể không được gặp lại người thân, và những nỗi đau đớn kéo dài không được trả giá. Đằng đẵng bao ngày tháng, họ đã âm thầm bền chí đợi chờ, mặc cho giam hãm và lưu đày. Nhưng nay niềm hy vọng đầu tiên đủ để phá hủy cái mà trước kia sợ hãi và thất vọng không thể đụng tới. Họ vội vàng xông tới như điên như dại để vượt lên trước dịch hạch, vì không thể theo nhịp bước của nó cho tới phút cuối cùng.
Và cũng trong thời kỳ này, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu lạc quan. Giá cả, chẳng hạn, hạ xuống trông thấy. Theo quan điểm kinh tế học thuần túy, thì không sao giải thích nổi sự biến động này. Những điều kiện khó khăn vẫn không thay đổi, các thủ tục cách ly kiểm dịch vẫn được duy trì ở các cửa ô, và việc tiếp tế chưa hề có dấu hiệu được cải thiện. Như thế là người ta đứng trước một hiện tượng thuần túy tâm lý, như thể sự rút lui của dịch bệnh tác động đến khắp mọi nơi. Đồng thời, hy vọng đến với những người trước kia sống tập thể nhưng vì dịch bệnh đã phải xa cách nhau. Hai tu viện trong thành phố được tái lập và cuộc sống chung lại bắt đầu. Tình hình cũng như vậy đối với binh sĩ được tập hợp trở lại trong các trại lính bỏ không: họ trở về với cuộc sống bình thường trong doanh trại. Những sự kiện nhỏ ấy là những dấu hiệu lớn.
Dân chúng sống trong sự náo động ầm ĩ cho tới ngày 25 tháng Giêng. Tuần lễ ấy, các con số thống kê xuống thấp tới mức sau khi hỏi ý kiến của hội đồng y tế, tỉnh thông báo là dịch bệnh có thể xem như đã bị loại trừ. Thông báo quả có nói thêm là theo một tinh thần cẩn trọng mà chắc hẳn dân chúng tán thành, các cửa ra vào thành phố sẽ còn bị đóng hai tuần nữa và các biện pháp phòng bệnh được duy trì trong một tháng. Trong thời kỳ này, hễ có một chút dấu hiệu tai họa có thể trở lại, thì “nguyên trạng phải được duy trì và các biện pháp áp dụng trở lại như xưa”. Tuy thế, mọi người đều xem những lời nói thêm ấy như là một điều khoản thường tình của mọi văn bản loại này và, tối 25 tháng giêng cả thành phố nhộn nhịp lên trong niềm vui. Để hòa vào niềm hân hoan chung, thị trưởng ra lệnh hồi phục ánh sáng bình thường. Thế là trên những đường phố sáng rực, dưới một bầu trời lạnh buốt và trong vắt, đồng bào chúng tôi đổ ra thành từng nhóm ồn ã và vui cười.
Dĩ nhiên, trong nhiều nhà, cửa vẫn kín mít và có những gia đình sống lặng im trong buổi tối hôm đó, trong khi những gia đình khác không ngớt hò reo. Tuy nhiên, đối với nhiều người đang chịu cảnh tang tóc này niềm an ủi cũng thật sâu lắng, hoặc vì không còn canh cánh nỗi lo sợ những người thân khác bị cướp đi, hoặc vì không còn phấp phỏng về sự an toàn của chính bản thân mình.
Nhưng không chối cãi gì nữa, còn xa lạ hơn cả với niềm vui chung là những gia đình, và đúng lúc đó, còn một người thân đang phải đối phó với dịch bệnh trong bệnh viện, và những gia đình, ở khu cách ly kiểm dịch hay ở nhà, đang chờ mong tai họa chấm dứt hẳn đối với gia đình mình như nó đã chấm dứt đối với các gia đình khác. Dĩ nhiên nó cũng hy vọng nhưng chỉ mới là một niềm hy vọng ấp ủ: họ đâu dám uống cạn ly khi chưa có quyền thực sự? Và chới với giữa khắc khoải và mừng vui, sự chờ mong ấy, buổi thức đêm âm thầm ấy đối với họ lại càng bội phần đau đớn trong nỗi vui mừng chung.
Nhưng những ngoại lệ này không hề làm giảm niềm vui của những người khác. Dĩ nhiên dịch hạch chưa chấm dứt và phải chờ nó chấm dứt. Nhưng trong mọi đầu óc, người ta đã hình dung, sớm đi những mấy tuần những đoàn xe lửa vừa kéo còi vừa chạy trên những con đường dài vô tận, và những con tàu rạch sóng trên những mặt biển sáng ngời. Rồi đây, đầu óc người ta có thể tỉnh táo hơn và những sự ngờ vực lại có thể nảy sinh. Nhưng lúc này, toàn thành phố chuyển động, rời bỏ những chốn âm u, lạnh lẽo và im lìm đã từng trói chặt chân nó, để cuối cùng cất bước với những người còn sống sót. Tối hôm đó, Tarrou và Rieux, Rambert và những người khác nữa bước đi giữa đám đông và dũng cảm thấy như bước chân mình bị hẫng. Rời khỏi các đại lộ đã một lúc lâu, Tarrou và Rieux vẫn nghe niềm vui ấy đuổi theo họ, kể cả lúc, trên những con đường nhỏ vắng vẻ, họ đi dọc những ô cửa sổ đóng kín mít. Và chính vì mệt mỏi, họ không thể tách được nỗi đau âm ỉ còn kéo dài sau những cánh cửa sổ khỏi niềm vui đang tràn ngập những phố phường lân cận. Nay mai, trong những ngày thành phố thoát khỏi dịch bệnh, chắc hẳn có cả tiếng cười lẫn nước mắt.
Vào lúc tiếng ồn ã vang lên mạnh hơn và vui vẻ hơn, Tarrou đứng dừng lại. Trên lòng đường tối om, một cái bóng chạy lẹ làng. Một chú mèo, chú mèo đầu tiên người ta bắt gặp từ đầu mùa xuân. Nó đứng im một lát giữa lòng đường, ngập ngừng, liếm chân, bỏ vội chân lên tai bên phải, rồi lặng lẽ chạy đi và biến vào đêm tối. Tarrou mỉm cười. Chắc hẳn ông già thích đùa và nhổ nước bọt lên mèo cũng sẽ hài lòng.
Nhưng vào lúc dịch hạch hình như bỏ đi để trở về nơi sào huyệt xa lạ mà từ đó nó đã chui ra một cách lặng lẽ thì trong thành phố, ít nhất cũng có một kẻ hoang mang vì sự ra đi đó. Kẻ ấy, theo sổ tay của Tarrou, chính là Cottard.
Thực ra, những cuốn sổ tay của anh trở nên khá kỳ cục từ những con số thống kê bắt đầu giảm xuống. Phải chăng vì mệt mỏi? Nhưng chữ viết thì trở nên khó đọc và tác giả luôn luôn nhảy từ đề tài này sang đề tài khác. Hơn nữa, và là lần đầu tiên, những cuốn ghi chép này thiếu tính khách quan và nhường chỗ cho những nhận xét cá nhân. Chẳng hạn, giữa những đoạn khá dài liên quan đến trường hợp Cottard, có mấy câu viết về ông già nhổ nước bọt xuống đàn mèo nọ. Theo lời Tarrou, dịch hạch không hề làm cho anh bớt kính trọng nhân vật này, người vẫn làm anh lưu tâm sau dịch hạch cũng như anh hằng lưu tâm trước kia, và chẳng may, anh không còn có thể lưu tâm nữa, mặc dù hảo ý của anh không dính dáng gì tới. Anh đã tìm cách gặp ông lão. Mấy ngày sau cái buổi tối 25 tháng giêng ấy, anh đứng nấp vào góc một phố nhỏ. Đàn mèo vẫn ở đấy, sưởi ấm giữa những vũng nắng, trung thành với buổi hẹn hò của chúng. Nhưng vào cái giờ quen thuộc, cánh cửa vẫn đóng im ỉm. Những ngày sau, Tarrou không bao giờ thấy mở nữa. Anh kết luận một cách kỳ cục là ông già nổi giận hay đã chết, và nếu ông nổi giận, chắc hẳn vì ông nghĩ mình có lý và dịch hạch có lỗi, nhưng nếu ông chết, thì câu hỏi đặt ra đối với anh cũng như đối với ông lão bị hen suyễn, là ông có phải là một vị thánh không. Tarrou không nghĩ như thế nhưng lại cho rằng ông già có những “dấu hiệu” của một ông thánh. “Phải chăng, anh ghi trong sổ tay, người ta chỉ có thể xấp xỉ trở thành thần thánh mà thôi? Nếu thế thì đành bằng lòng với thế nào xatăng, nhưng là một tinh thần xatăng khiêm nhường và nhân ái”.
Luôn luôn xen lẫn với những lời nhận xét về Cottard, trong sổ ghi chép của Tarrou, là nhiều ý kiến, thường tản mạn, khi thì nói về Grand - giờ đây đã khỏi bệnh và lại bắt tay vào công việc như chẳng hề có gì xảy ra - lúc lại nhắc tới bà cụ Rieux. Một vài buổi chuyện vãn giữa bà cụ và Tarrou trong thời gian anh ở chung nhà với mẹ con bác sĩ, thái độ, nụ cười, những nhận xét của bà cụ về dịch hạch, đều được ghi lại tỉ mỉ. Tarrou đặc biệt nhấn mạnh đến thái độ kín đáo của cụ Rieux, cái cách cụ diễn tả mọi việc bằng những câu đơn giản, niềm thích thú đặc biệt của cụ đối với một ô cửa sổ ngoảnh ra đường yên tĩnh và tối tối, cụ ngồi sau đó, người hơi ưỡn thẳng, hai bàn tay không động đậy và cặp mắt chăm chú cho tới khi bóng hoàng hôn bao phủ căn buồng, biến cụ thành một bóng đen trong ánh sáng nhờ nhờ mỗi lúc một thêm đậm và cuối cùng nuốt chửng cái bóng bất động ấy. Anh cũng nói kỹ về cử chỉ khẽ khàng của bà cụ khi cụ đi từ phòng này sang phòng khác; về lòng nhân hậu của cụ tuy không lúc nào biểu lộ ra cụ thể trước mặt anh nhưng anh thấy bừng sáng trong mọi lời nói và việc làm của cụ; cuối cùng, theo nhận xét của anh, về việc cụ biết hết thảy mà không bao giờ phải suy nghĩ, và im lặng như một cái bóng, cụ vẫn có thể ở ngang tầm của bất luận chân lý nào, dù là chân lý về dịch hạch chăng nữa. Vả lại, đến đây, chữ viết của Tarrou bắt đầu yếu đi một cách khác thường. Những dòng tiếp theo rất khó đọc, và như thể để chứng minh một lần nữa sự mềm yếu ấy, những từ cuối cùng trong sổ tay là những từ đầu tiên mang tính cách riêng tư: “Mẹ tôi cũng như vậy, tôi quý ở mẹ tôi cùng cách sống kín đáo, và tôi luôn luôn muốn gặp lại bà. Đã tám năm nay, tôi không thể nói mẹ tôi đã mất. Bà chỉ náu mình hơn thường ngày chút đỉnh và, khi tôi quay lại, bà đã không còn đấy nữa”.
Nhưng chúng ta phải quay lại Cottard thôi. Từ khi các con số thống kê giảm xuống, hắn nhiều lần đến gặp Rieux với nhiều cớ khác nhau. Nhưng thực ra, lần nào hắn cũng hỏi ông những chẩn đoán về sự tiến triển của dịch bệnh. “Liệu ông có cho là nó có thể chấm dứt như thế, đột ngột, không báo trước gì cả không?”, về điểm này, hắn bi quan hay ít ra hắn cũng tuyên bố như vậy. Nhưng những câu hỏi hắn đặt đi đặt lại hình như tỏ ra niềm tin của hắn ít vững chắc hơn. Đến nửa tháng giêng, Rieux trả lời một cách khá lạc quan. Và lần nào cũng vậy, đáng lẽ những câu trả lời đó làm Cottard hoan hỉ, thì trái lại, hắn có những thái độ phải, thay đổi tùy theo từng ngày, nhưng đi từ chỗ bực tức đến rầu rĩ. Về sau, bác sĩ Rieux phải nói với hắn là tuy những con số thống kê là những lời tiên báo khả quan, nhưng chưa nên vội reo thắng trận thì hơn.
- Nói khác đi, - Cottard nhận xét - chúng ta không biết gì hết, bất kỳ lúc nào nó cũng có thể chấm dứt nhanh hơn.
Tình trạng chưa thể quyết đoán ấy, mà ai nấy đều lo lắng, làm yên lòng Cottard một cách trông thấy, và trước mặt Tarrou, trong khi chuyện vãn với các nhà buôn trong khu phố, hắn tìm cách lan truyền ý kiến của Rieux, quả là hắn làm việc đó không khó khăn. Vì tiếp theo không khí cuồng nhiệt đối với những thắng lợi đầu tiên, nhiều người trở lại nghi ngờ, mối nghi ngờ dai dẳng sau trạng thái phấn chấn do lời tuyên bố của tỉnh gây nên. Cottard yên tâm trước bầu không khí lo âu này. Nhưng cũng như những lần khác, hắn lại thất vọng: “Đúng, hắn nói với Tarrou, cuối cùng người ta sẽ mở cửa thôi. Và ông sẽ thấy, họ sẽ bỏ rơi tôi cho mà xem!”.
Cho tới ngày 25 tháng Giêng, mọi người đều nhận thấy tính tình hắn không ổn định. Suốt mấy ngày liền, sau khi tìm mọi cách làm thân với khu phố và bè bạn, hắn trở lại công kích họ thẳng thừng. Ít ra cũng về bề ngoài, hắn rút lui khỏi mọi quan hệ xã hội và, ngày một ngày hai, sẽ sống cô độc. Người ta không còn thấy hắn ở quán ăn, ở rạp hát, và cả ở những tiệm cà phê hắn ưa thích. Thế nhưng hắn không có vẻ tìm thấy lại cuộc sống mực thước và âm thầm của mình trước khi có dịch bệnh. Hắn hoàn toàn sống ẩn dật trong căn buồng và đặt một quán ăn bên cạnh hàng ngày mang bữa ăn lên. Chỉ có buổi tối, hắn đi ra một cách lén lút, mua những thứ cần thiết, bước ra khỏi cửa hiệu và lao vội vào những đường phố hoang vắng. Nếu lúc đó Tarrou có gặp thì hắn cũng chỉ trả lời cụt lủn, qua quýt. Thế rồi, đột ngột, người ta lại thấy hắn thích giao thiệp, nói thao thao về dịch hạch, nài nỉ mỗi người cho ý kiến và mỗi tối lại thoải mái hòa mình và dòng người ngoài đường phố.
Hôm có thông báo của tỉnh, Cottard không hề xuất hiện. Hai ngày sau, Tarrou gặp hắn lang thang ngoài đường. Cottard yêu cầu anh cùng đi với hắn ra ngoài ngoại thành. Mệt lả sau một ngày làm việc, Tarrou lưỡng lự. Nhưng hắn nài nỉ. Hắn tỏ ra rất bồn chồn, giơ tay múa chân loạn xạ, nói nhanh và to. Hắn hỏi Tarrou thông cáo của tỉnh có chấm dứt thực sự dịch bệnh hay không. Dĩ nhiên, Tarrou cho rằng một bản thông cáo hành chính, tự thân nó, không đủ để ngăn chặn một tai họa, nhưng có thể nghĩ một cách có lý rằng dịch bệnh sẽ chấm dứt, trừ trường hợp bất ngờ.
- Đúng, Cottard, trừ bất ngờ. Và bao giờ cũng có bất ngờ.
Tarrou lưu ý hắn là có thể nói tỉnh đã dự kiến cái bất ngờ khi quy định một thời hạn hai tuần trước ngày mở lại cửa thành phố.
- Tỉnh đã làm đúng, - Cottard đáp, vẻ mặt vẫn âu sầu và bồn chồn - bởi vì theo cách tình hình diễn biến, thì có thể thông báo của tỉnh cũng chẳng đi đến đâu.
Tarrou cho là có thể như thế, nhưng dẫu sao vẫn nên hy vọng nay mai thành phố sẽ mở cửa và cuộc sống sẽ trở lại bình thường.
- Cứ cho là như thế, - Cottard bảo anh - cho là như thế đi, nhưng ông gọi “trở lại cuộc sống bình thường” là thế nào?
- Là những bộ phim mới ở rạp. - Tarrou mỉm cười đáp.
Nhưng Cottard không cười. Hắn muốn biết người ta có thể nghĩ là dịch hạch không hề làm thay đổi gì trong thành phố và mọi cái lại bắt đầu như trước, nghĩa là như thể không hề có gì xảy ra hay không? Tarrou cho rằng dịch hạch có thể làm thay đổi và cũng có thể không làm thay đổi thành phố, rằng dĩ nhiên, nguyện vọng tha thiết nhất của đồng bào chúng tôi - trước đây cũng như sau này - là hành động như thể không hề có gì thay đổi và do vậy, một mặt, sẽ không có gì thay đổi hết, nhưng mặt khác, không thể quên hết thảy, dù với nghị lực cần thiết, và dịch hạch có thể để lại dấu vết, chí ít cũng trong lòng người. Cottard tuyên bố không úp mở là hắn không quan tâm đến tấm lòng, và thậm chí tấm lòng là mối lo nghĩ sau cùng của hắn. Cái hắn quan tâm, là tìm xem bản thân tổ chức có thay đổi hay không, là mọi cơ quan có hoạt động như trước hay không chẳng hạn. Và Tarrou phải thừa nhận anh không hề hay biết gì về những cái đó cả. Theo anh, phải giả định là tất cả các cơ quan ấy, bị thiệt hại trong thời kỳ dịch bệnh, chắc sẽ gặp ít nhiều khó khăn để hoạt động trở lại. Cũng có thể nghĩ rằng rất nhiều vấn đề mới sẽ được đặt ra và đòi hỏi phải tổ chức lại, ít ra, cũng là những cơ quan cũ.
- A! Quả có thể là như thế, - Cottard nói - mọi người đều phải bắt đầu lại tất cả.
Hai người đi gần tới nhà Cottard. Hắn hoạt bát lên, cố làm ra vẻ lạc quan. Hắn hình dung thành phố bắt đầu sống trở lại, xóa sạch quá khứ để xuất phát lại từ con số không.
- Được - Tarrou bảo - Cuối cùng, có lẽ mọi việc cũng sẽ ổn thỏa cả với ông nữa. Bằng cách nào đó, một cuộc sống mới sắp bắt đầu.
Họ đi tới trước cửa và chia tay nhau.
- Ông nói có lý - Cottard tiếp lời, vẻ mặt tỏ ra mỗi lúc một thêm bồn chồn - Xuất phát trở lại từ con số không, thế là tốt lắm.
Nhưng từ bóng tối trong hành lang, hai người đàn ông xuất hiện. Tarrou chỉ vừa kịp nghe hẳn hỏi hai “chú chích” kia muốn gì. Thật vậy, hai “chú chích”, với vẻ những viên chức ăn mặc như trong ngày lễ, hỏi Cottard có phải hắn đúng là Cottard không. Hắn vừa thốt lên một tiếng kêu đục vừa quay mình lao vào bóng đêm trong khi hai người kia và cả Tarrou nữa chưa kịp làm một cử chỉ nhỏ. Qua phút sửng sốt, Tarrou hỏi hai người kia có ý định gì. Tỏ vẻ dè dặt và lễ độ, họ đáp là có vấn đề nắm tình hình và điềm tĩnh đi về hướng Cottard bỏ chạy lúc nãy.
Về nhà, Tarrou ghi lại cảnh tượng ấy và ngay lập tức nói về sự mệt mỏi của mình (chữ anh viết chứng minh khá rõ điều đó). Anh viết thêm là anh còn nhiều việc phải làm, nhưng đó không phải là một lý do để không sẵn sàng, và nghĩ bụng không biết quả thật mình đã sẵn sàng chưa. Để kết thúc - và đến đây kết thúc những điều Tarrou ghi chép - anh trả lời là bao giờ, ngày cũng như đêm, cũng có lúc một con người tỏ ra hèn nhát và anh chỉ có sợ cái lúc ấy.
Hai ngày sau, trước khi mở cửa thành phố mấy hôm Rieux trở về nhà vào buổi trưa, băn khoăn không biết có nhận được bức điện mình chờ mong không. Tuy công việc hàng ngày vẫn nặng nhọc tới kiệt sức chẳng khác giữa thời kỳ dịch bệnh trầm trọng nhất, lòng đợi chờ ngày giải thoát vĩnh viễn đã đánh tan mọi nỗi vất vả trong người ông. Giờ đây, ông hy vọng và hoan hỉ. Không phải bao giờ cũng có thể căng ý chí của mình ra và luôn luôn tỏ ra cứng rắn; thật là hạnh phúc khi cuối cùng, trong niềm vui chứa chan, có thể cởi nới bớt sức lực trước đây tập trung cho cuộc chiến đấu. Nếu bức điện ông mong chờ cũng mang đến tin vui thì Rieux lại có thể một lần nữa bắt đầu. Và ông tán thành là mọi người sẽ lại bắt đầu.
Ông đi qua trước nhà người gác cổng. Người gác mới, mặt áp sát vào tấm kính, mỉm cười với ông. Bước lên thang gác, ông bỗng thấy mặt mình xanh nhợt đi vì bao nỗi mệt mỏi và thiếu thốn.
Đúng, ông sẽ bắt đầu trở lại khi kết thúc tình trạng mơ hồ và với một chút may mắn... Nhưng khi mở cửa thì mẹ ông ra bảo là Tarrou không khỏe. Sáng nay, anh ngủ dậy nhưng không sao ra khỏi phòng và vừa phải nằm lại. Bà cụ tỏ vẻ lo âu.
- Có thể không có gì nghiêm trọng. - Rieux nói.
Tarrou nằm sóng sượt, đầu nặng nề đặt lõm xuống gối, bộ ngực lực lưỡng in rõ nét dưới lớp mền. Anh bị sốt và đau đầu. Anh bảo Rieux đây là những triệu chứng chưa rõ ràng nhưng cũng có thể là triệu chứng dịch hạch.
- Không, chưa có gì rõ ràng cả. - Rieux đáp, sau khi xem bệnh.
Nhưng Tarrou khát cháy họng. Trong hành lang, bác sĩ Rieux nói với mẹ có thể là bước đầu của dịch hạch.
- Ồ! - Cụ đáp - Không thể được, bây giờ thì không thể được.
Và ngay sau đó :
- Giữ anh ấy lại, Bernard ạ.
Rieux suy nghĩ :
- Con không có quyền, thưa mẹ. Nhưng cửa thành phố sắp mở. Con nghĩ đó là cái quyền đầu tiên con sẽ hưởng về phần con, nếu mẹ không ở đây.
- Bernard, - Cụ bảo - con hãy giữ cả mẹ lẫn anh ấy. Chỉ biết rõ là mẹ lại vừa mới tiêm chủng.
Rieux đáp là Tarrou cũng đã tiêm chủng nhưng có thể vì quá mệt mỏi, anh bỏ qua mũi cuối cùng và lãng quên một vài sự đề phòng.
Rieux bước vào phòng làm việc. Khi ông trở lại, Tarrou thấy ông cầm mấy ống huyết thanh to tướng.
- A! Thế đấy. - Anh nói.
- Không, nhưng vẫn phải đề phòng.
Không trả lời, Tarrou chìa cánh tay và chịu mũi tiêm kéo dài vô tận mà bản thân anh đã từng tiêm cho những người bệnh khác.
- Để tối nay, chúng ta sẽ xem ra sao. - Rieux bảo, và nhìn thẳng vào mặt Tarrou.
- Thế còn việc cách ly, Rieux?
- Không hề có gì chắc chắn là anh bị dịch hạch cả.
Tarrou mỉm cười một cách khó nhọc :
- Lần đầu tiên, tôi thấy tiêm huyết thanh mà lại không đồng thời ra lệnh cách ly.
Rieux quay mặt :
- Mẹ tôi và tôi, chúng tôi sẽ săn sóc anh. Ở đây, anh sẽ dễ chịu hơn.
Tarrou im lặng và Rieux, trong khi thu xếp các ống thuốc, chờ anh nói để quay đầu lại. Cuối cùng, ông bước đến bên giường. Người bệnh nhìn ông. Nét mặt anh mệt mỏi, nhưng cặp mắt màu xám thì bình tĩnh. Rieux mỉm cười với anh.
- Anh gắng ngủ đi. Lát nữa tôi sẽ quay lại.
Ra đến cửa, ông nghe tiếng Tarrou gọi. Ông trở lại bên giường.
- Rieux, - Cuối cùng anh nói, vẻ ngập ngừng - anh phải nói hết với tôi, tôi cần như thế.
- Tôi xin hứa với anh.
Tarrou cố gắng mỉm một nụ cười trên khuôn mặt đồ sộ nhưng nhăn nhúm.
- Cảm ơn. Tôi không muốn chết và tôi chiến đấu. Nhưng nếu không còn hy vọng gì nữa thì tôi muốn chết một cách tử tế.
Rieux cúi xuống, nắm vai anh :
- Không. Muốn trở thành một vị thánh thì phải sống. Anh phải chiến đấu.
Ngày hôm ấy, cơn rét căn cắt có giảm đi chút đỉnh, nhưng để đến chiều, nhường chỗ cho những trận mưa rào và mưa đá dữ dội. Chạng vạng tối, bầu trời quang đãng đi một ít và cơn rét càng buốt da buốt thịt. Buổi tối, Rieux trở về nhà. Không kịp cởi áo choàng, ông bước vào phòng bạn. Mẹ ông ngồi đan. Tarrou như vẫn nằm yên một chỗ, nhưng đôi môi trắng bợt đi vì cơn sốt chứng tỏ anh đang ra sức chống chọi.
- Thế nào? - Rieux hỏi.
Tarrou hơi nhích đôi vai lực lưỡng ra khỏi mép giường.
- Thế là, - Anh đáp - tôi đã thua cuộc.
Rieux cúi xuống gần anh. Hạch nổi lên dưới làn da cháy bỏng, lồng ngực anh vang dội lên những tiếng phì phò như thổi bễ. Thật kỳ lạ, Tarrou có triệu chứng của cả hai dạng dịch hạch. Rieux ngẩng dậy và nói huyết thanh chưa có đủ thì giờ phát huy hết tác dụng. Tarrou định nói nhưng cơn sốt làm anh nghẹt thở.
Sau bữa ăn tối, Rieux và bà cụ đến ngồi cạnh giường bệnh. Cuộc chiến đấu của Tarrou bắt đầu và Rieux biết chiến trận ác liệt này với thần dịch hạch sẽ kéo dài đến tận sáng hôm sau. Vũ khí tốt nhất của Tarrou không phải là đôi vai rắn chắc và bộ ngực lực lưỡng của anh, mà chính là dòng máu Rieux vừa cho rỉ ra dưới mũi kim tiêm, và trong dòng máu ấy, là một cái gì còn thầm kín hơn cả tâm hồn con người và không một khoa học nào có thể nắm được. Và ông chỉ còn ngồi nhìn bạn mình chiến đấu. Nhưng điều ông sắp làm, những apxe cần kết tụ, những liều thuốc bổ cần tiêm, tất cả những cái đó, nhiều tháng thất bại liên tiếp đã dạy cho ông biết đánh giá hiệu quả của chúng. Thực ra nhiệm vụ duy nhất của ông là tạo cơ hội cho cái ngẫu nhiên vốn thường chỉ xuất hiện khi được kích thích. Và cái ngẫu nhiên phải xuất hiện. Rieux đứng trước một bộ mặt dịch hạch khiến ông bối rối. Một lần nữa, nó ra sức đánh lạc hướng những chiến lược chống lại nó, nó xuất hiện ở những nơi người ta không chờ đợi nhưng lại biến khỏi những nơi tưởng chừng nó đã yên vị. Một lần nữa, nó chăm chú làm người ta kinh ngạc.
Tarrou chiến đấu trong im lặng. Suốt đêm anh không hề giãy giụa khi cơn bệnh tấn công nhưng anh chống trả với tất cả sức lực và sự im lặng của mình. Anh cũng không hề hé môi: đó là cái cách anh thú nhận giờ đây mình không được một phút lơ là. Rieux chỉ theo dõi các giai đoạn cuộc chiến đấu qua cặp mắt của bạn, lần lượt mở ra hay khép lại, mí mắt sát vào hay cách xa nhãn cấu, ánh mắt đăm đăm nhìn một đồ vật hay quay về phía hai mẹ con ông. Mỗi lần Rieux gặp ánh mắt ấy, là Tarrou lai hết sức gắng gượng mỉm cười.
Có lúc, nghe tiếng chân bước vội ngoài đường. Hình như là những bước chân chạy trốn trước một tiếng gầm rít từ xa nhưng mỗi lần một tiến lại gần và cuối cùng đổ nước xuống tràn ngập đường phố: mưa lại xối xả, và ngay sau đó có lần cả mưa đá rơi lốp bốp trên vỉa hè. Mấy bức mành lớn rung rinh trước cửa sổ. Trong bóng tối của căn phòng, Rieux có một lát lơ đãng vì tiếng mưa, nay lại ngắm nhìn Tarrou dưới ánh sáng cây đèn đầu giường. Bà cụ ngồi đan, chốc chốc lại ngẩng đầu chăm chú theo dõi người bệnh, Rieux đã làm mọi việc cần phải làm. Sau cơn mưa, trong phòng lại càng im ắng, chỉ có tiếng xáo động âm thầm của một cuộc chiến tranh vô hình. Da mặt nhăn nheo lại vì thức đêm, ông tưởng như nghe thấy, ở giới hạn tận cùng của im lặng, tiếng rít khẽ khàng và đều đặn đã từng theo bước chân ông trong thời kỳ dịch bệnh. Ông ra hiệu cho mẹ, mời cụ đi nghỉ. Cụ lắc đầu từ chối, mắt sáng lên, rồi xem xét kỹ lưỡng, ở đầu mũi kim, một cái mắt đan mà cụ không thật an tâm. Rieux đứng dậy cho người bệnh uống nước rồi lại ngồi xuống ghế. Tranh thời trời tạnh, khách đi đường bước vội trên hè phố. Bước chân họ nghe nhỏ và xa dần. Lần đầu tiên, Rieux thừa nhận đêm nay tấp nập người đi chơi muộn, và vắng tiếng còi xe cứu thương, giống như những đêm xưa kia. Một đêm giải thoát khỏi dịch hạch. Và hình như bị gió lạnh, ánh sáng và đám đông xua đuổi, dịch bệnh thoát khỏi những nơi tối tăm, sâu kín của thành phố để đến ẩn náu trong căn phòng ấm áp này và tấn công đợt cuối cùng cái cơ thể bất động của Tarrou. Cây néo đập lúa không còn nghiền bầu trời thành phố nữa. Nhưng nó khẽ rít lên trong bầu không khí nặng nề của căn phòng này. Chính tiếng rít đó, Rieux đã nghe suốt mấy tiếng liền. Phải chờ cho ở đây, tiếng rít cũng ngừng lại, ở đây, dịch hạch cũng phải tuyên bố thất trận.
Trước lúc hừng đông một ít, Rieux cúi về phía bà cụ :
- Mẹ phải đi nghỉ để thay con lúc tám giờ. Mẹ nhớ nhỏ thuốc trước khi ngủ.
Cụ Rieux đứng dậy, xếp đồ đan lại và bước đến bên giường bệnh. Mắt Tarrou đã khép lại được một lúc. Mồ hôi làm tóc anh xoắn lại trên vầng trán rắn rỏi. Cụ thở dài và người bệnh khẽ mở mắt. Anh thấy khuôn mặt hiền từ cúi về phía mình, và mặc dù nhịp đập thất thường của cơn sốt, anh vẫn gắng gượng mỉm cười. Nhưng đôi mắt lại khép lại ngay. Còn lại một mình, Rieux đến ngồi xuống chiếc ghế bành mẹ ông vừa rời khỏi. Đường phố im ắng và bây giờ tất cả hoàn toàn yên lặng. Trong phòng bắt đầu cảm thấy hơi lạnh buổi sáng.
Bác sĩ Rieux thiếp đi, nhưng chiếc xe ngựa đầu tiên lúc hừng đông đánh thức ông dậy. Ông rùng mình và, nhìn Tarrou, ông hiểu là vừa có một phút dịch bệnh ngừng tấn công và người bệnh cũng thiếp đi. Tiếng bánh xe ngựa bằng gỗ và bằng sắt xa dần. Ngoài cửa sổ, vẫn tối trời. Khi bác sĩ bước lại cạnh giường, Tarrou nhìn ông với cặp mắt còn đờ đẫn, như thể chưa ra khỏi giấc ngủ.
- Anh có ngủ được phải không? - Rieux hỏi.
- Phải.
- Anh thở có dễ hơn không?
- Chút ít. Như thế có nghĩa gì không?
Rieux im lặng, nhưng một lát sau nói :
- Không, Tarrou ạ, cái đó không nói lên được gì hết. Anh cũng biết như tôi hiện tượng giảm bệnh buổi sáng.
Tarrou tán thành.
- Cảm ơn - Anh nói - Anh cứ cho tôi biết đúng sự thật.
Rieux ngồi xuống phía cuối giường. Ông cảm thấy sát cạnh mình đôi chân người bệnh, dài và cứng đờ như tay chân một pháp tượng. Tarrou thở mạnh hơn.
- Lại sốt trở lại phải không, Rieux? - Anh hỏi, giọng ngạt thở.
- Đúng, nhưng đến trưa thì chúng ta sẽ tỏ.
Tarrou nhắm mắt, như muốn tập trung sức lực. Nét mặt lộ rõ mệt mỏi. Anh chờ cơn sốt: đâu đó, trong tận ruột gan anh, hình như nó đã cựa quậy. Ánh mắt anh giờ đây mờ đi. Nó chỉ sáng lên khi thấy Rieux cúi xuống bên cạnh.
- Anh uống đi. - Rieux bảo anh.
Tarrou uống xong, ngã đầu xuống gối.
- Nó kéo dài nhỉ. - Anh nói.
Rieux nắm cánh tay anh, nhưng Tarrou, ngoảnh mặt đi và không còn phản ứng nữa. Và bỗng nhiên, cơn sốt dồn lên trán anh dữ dội như nước lụt. Khi Tarrou ngoảnh lại nhìn, bác sĩ Rieux, nét mặt căng thẳng, động viên anh. Tarrou lại cố gắng mỉm cười nhưng nụ cười không sao vượt qua hai xương hàm sít chặt và đôi môi mà một dòng bọt trắng trắng hàn trám lại. Tuy vậy trên khuôn mặt đờ đẫn, đôi mắt vẫn bừng lên ánh sáng của lòng dũng cảm.
Đến bảy giờ, bà cụ Rieux bước vào phòng. Rieux vào buồng làm việc và gọi điện đến bệnh viện nhờ cử người thay thế mình. Ông cũng quyết định hoãn các buổi khám bệnh, ngã lưng một lát lên chiếc đi văng trong buồng làm việc, nhưng hầu như ngay lập tức lại đứng dậy và trở vào phòng người bệnh. Tarrou nằm đầu quay về phía bà cụ. Anh nhìn cái bóng người nhỏ nhắn ngồi thu mình lại bên cạnh mình, trên ghế tựa, hai tay chắp lại trên đùi. Và anh nhìn cụ đau đáu khiến cụ phải đặt một ngón tay lên môi và đứng dậy tắt ngọn đèn đầu giường. Nhưng ánh sáng ban ngày đã nhanh chóng xuyên qua các bức riđô, và một lát sau, khi mặt người bệnh thoát ra khỏi bóng tối, cụ Rieux thấy anh vẫn nhìn cụ. Cụ cúi xuống, sửa lại gối, và khi ngẩng dậy, khẽ đặt tay lên mái tóc Tarrou ướt đẫm và xoắn lại. Cụ nghe một giọng nói trầm đục như từ xa vọng tới cảm ơn cụ và bảo rằng bây giờ thì mọi cái đã ổn. Cụ ngồi xuống ghế, Tarrou khép mắt lại và trên khuôn mặt mệt mỏi hình như vẫn phảng phất một nụ cười, tuy miệng không sao mở được.
Đến trưa, cơn sốt lên đến tột đỉnh. Một cơn ho như từ trong nội tạng đến lay động cơ thể và người bệnh bắt đầu nôn ra máu. Hạch thôi không sưng nhưng vẫn cứng đờ như những chiếc đai ốc vặn chặt vào chỗ hõm giữa các khớp. Rieux biết không sao chích được. Trong những khoảng khắc giữa cơn sốt và cơn ho, Tarrou thỉnh thoảng vẫn nhìn Rieux và bà cụ. Nhưng chẳng bao lâu, mắt anh mở ít dần đi và luồng ánh sáng đến rọi vào khuôn mặt tàn tạ của anh cũng yếu dần. Cơn giông - dịch bệnh làm cơ thể anh run bần bật và co quắp lại, những tia chớp ngày một ít và Tarrou dần dần trôi dạt vào chỗ tận cùng của cơn bão táp. Trước mặt Rieux, chỉ còn cái hình hài từ nay bất động, không còn dấu vết nụ cười. Cái hình hài, vốn gần gũi ông biết bao nhiêu, giờ đây bị những ngọn giáo đâm nát, bị một nỗi đau siêu phàm đốt cháy, bị những ngọn gió căm hờn trong bầu trời vặn cho co quắp, cái hình hài đó bị nhấn chìm trong dòng nước dịch hạch trước mắt ông mà ông không làm được gì hết để chống lại sự chìm đắm này. Một lần nữa, ông phải đứng trên bờ, hai tay không và trái tim thắt lại, không vũ khí và cũng không cứu viện để chống lại thảm họa. Và cuối cùng mắt mờ đi vì những giọt lệ bất lực, Rieux không nhìn thấy Tarrou đột ngột quay vào tường, và tắt thở trong một tiếng rên rỉ yếu ớt như thể đâu đó, trong người anh, một sợi dây cốt tử bỗng đứt tung.
Đêm tiếp theo không phải là một đêm chiến đấu mà là một đêm vắng lặng. Trong căn buồng âm thầm, tách biệt, phía trên xác người chết đã thay quần áo mới, Rieux cảm thấy phảng phất bầu không khí yên tĩnh đến kỳ lạ vốn nhiều đêm trước kia đã từng phảng phất ở những mảnh sân thượng phía trên giường người bệnh, sau khi các cánh cửa bị tấn công. Vào thời kỳ ấy, ông đã nghĩ tới cái im ắng dâng lên từ những chiếc giường ông để bệnh nhân chết trên đó. Đâu đâu cũng là phút tạm nghỉ ấy, cái khoảnh khắc trang trọng ấy, cái không khí lắng dịu ấy theo sau cuộc chiến đấu: đây là cái im ắng của cảnh thất trận. Nhưng bầu không khí im lặng giờ đây bao phủ xung quanh bạn ông thì nó đông đặc, nó quyện chặt vào cái im lặng của các ngả đường và của thành phố được giải thoát khỏi dịch hạch, tới mức Rieux cảm thấy rõ rệt lần này là sự thất trận vĩnh viễn, sự thất trận kết thúc chiến tranh và làm cho cả bản thân hòa bình trở thành một nỗi đau không sao cứu chữa nổi. Bác sĩ Rieux không biết cuối cùng Tarrou có tìm thấy hòa bình hay không, nhưng ít ra cũng lúc này, ông nghĩ là sẽ không bao giờ còn hòa bình nữa cho bản thân mình, cũng như không còn đình chiến đối với người mẹ mất con hay đối với người phải chôn cất bạn mình.
Bên ngoài, cũng vẫn là một đêm rét buốt, những vì sao giá lạnh trong một bầu trời trong sáng và giá lạnh. Trong căn buồng tranh tối tranh sáng, người ta cảm thấy cái lạnh đè nặng lên các tấm kính cửa sổ, cảm thấy hơi thở phập phồng, nhợt nhạt của một đêm Bắc cực. Bà cụ Rieux ngồi cạnh giường, trong tư thế quen thuộc, cây đèn đầu giường soi sáng nửa mặt bên phải. Giữa căn buồng, cách xa ngọn đèn, Rieux ngồi chờ trong phôtơi. Ông chợt nghĩ đến vợ, nhưng mỗi lần như vậy, ông lại gạt ý nghĩ đó đi.
Bắt đầu đêm tối, bước chân những người đi qua vang lên mồn một trong đêm tối lạnh lẽo.
- Con lo đủ mọi thứ rồi chứ? - Bà cụ Rieux hỏi.
- Vâng, con gọi điện rồi.
Hai mẹ con lại thức qua một đêm vắng lặng.
Chốc chốc bà cụ Rieux nhìn con. Khi bắt gặp ánh mắt mẹ, Rieux mỉm cười. Những tiếng động ban đêm quen thuộc nối tiếp nhau trên đường phố. Tuy chưa được phép, không ít xe cộ đã hoạt động trở lại. Chúng nhanh chóng hút hết nước trên lòng đường, biến đi rồi trở lại. Tiếng người, tiếng gọi nhau, lại im ắng, rồi bước chân một con ngựa, tiếng hai toa xe điện rít lên trên một quãng đường vòng, những tiếng rì rầm mơ hồ, rồi lại hơi thở của đêm khuya.
- Berna?
- Dạ!
- Con không mệt à?
- Không mẹ ạ.
Rieux biết lúc này mẹ ông nghĩ gì và ông thương mẹ. Nhưng ông cũng biết rằng yêu thương một con người không phải là một việc to tát, hay ít ra cũng biết rằng một tình thương không bao giờ có đủ sức mạnh để tìm ra cách biểu hiện riêng của nó. Chẳng hạn, mẹ ông và ông sẽ mãi mãi yêu thương nhau trong im lặng. Và đến lượt mẹ ông - hay ông - sẽ chết, nhưng trong suốt cuộc đời, họ không thể đi xa hơn trong việc bộc lộ tình cảm. Cũng như vậy, ông sống bên cạnh Tarrou và tối nay, anh đã mất, nhưng tình bạn của họ chưa có đủ thì giờ để được chia sẻ thực sự. Tarrou đã “thua cuộc”, như anh nói. Còn ông, Rieux, ông đã được cái gì? Cái ông được, chỉ là biết và giữ lại kỷ niệm về dịch hạch, biết và giữ lại kỷ niệm về tình yêu ấy. Tất cả những gì con người có thể “được” trong ván bài dịch hạch và cuộc đời, là tri thức và ký ức. Phải chăng Tarrou gọi chính cái đó là thắng cuộc. Một lần nữa, một chiếc ô-tô chạy qua và bà cụ Rieux khẽ cựa mình trên ghế. Rieux mỉm cười với mẹ. Cụ bảo cụ không mệt, và ngay sau đó, lại nói :
- Rồi con phải lên nghỉ trên núi, chỗ nhà an dưỡng ấy.
- Dĩ nhiên, mẹ ạ.
Đúng, ông sẽ lên nghỉ trên ấy. Sao lại không? Đó cũng còn là một cơ hội để nhớ lại. Nhưng nếu như thế là “được cuộc” thì phũ phàng biết bao khi chỉ sống với những cái mình biết và những cái mình nhớ lại, mà thiếu đi cái mình ước mong. Chắc hẳn Tarrou đã sống như vậy và đã nhận ra cái vô vị của một cuộc sống không có ảo mộng. Không thể có hòa bình nếu không có ước vọng, và Tarrou, người không cho phép con người lên án bất kỳ ai, tuy biết rằng không ai có thể tự ngăn cấm mình lên án cả và thậm chí nạn nhân đôi khi có thể trở thành đao phủ, chính Tarrou đã sống trong sự giằng xé và mâu thuẫn, anh chưa bao giờ biết ước vọng. Phải chăng vì vậy mà anh muốn có thánh đức và tìm kiếm hòa bình trong việc phục vụ con người? Thực ra, Rieux không hay biết gì hết và cái đó không mấy quan trọng. Những hình ảnh duy nhất của Tarrou mà ông giữ lại là hình ảnh con người nắm chặt tay lái ô-tô hay hình ảnh một cơ thể mập mạp giờ đây sóng soài, bất động. Một sức ấm của cuộc sống và một hình ảnh của cái chết, tri thức là thế đó.
Chắc hẳn vì vậy mà sáng hôm sau, bác sĩ Rieux tỏ ra bình tĩnh khi nhận được tin vợ ông qua đời. Lúc đó, ông đang ngồi trong phòng làm việc. Mẹ ông bước vào như chạy đưa cho ông một bức điện, rồi quay ra để cho người mang điện tới tiền puốcboa. Khi cụ trở lại, thì Rieux tay cầm bức điện đã mở ra. Cụ nhìn con, nhưng Rieux, qua ô cửa sổ, vẫn đăm đăm nhìn cảnh ban mai rực rỡ trên bến cảng.
- Bernard! - Cụ Rieux cất tiếng.
Rieux nhìn mẹ, với vẻ lơ đãng.
- Bức điện gì thế con? - Cụ hỏi.
- Chuyện ấy đây mẹ ạ! - Rieux thừa nhận - Cách đây đã tám hôm.
Bà cụ Rieux quay mặt ra cửa sổ. Rieux im lặng. Rồi ông bảo mẹ đừng khóc. Ông nói là ông đã dự kiến từ trước, nhưng dù sao cũng khó khăn. Ông biết nỗi đau của mình không phải là một nỗi đau đột ngột. Đã từ mấy tháng và từ hai ngày nay, vẫn một nỗi đau ấy cứ đeo đuổi.
Cuối cùng, cửa thành phố được mở, vào một buổi bình minh tháng Hai đẹp trời, trong niềm hoan hỉ của dân chúng, báo chí, đài phát thanh và cả trong lời văn bản thông cáo của tỉnh. Vì vậy người kể chuyện chỉ còn công việc đưa tin về những giờ phút hân hoan sau khi cửa mở, tuy bản thân anh ta không thuộc số người tự do tham dự hoàn toàn đầy đủ những giờ phút ấy.
Nhiều cuộc vui chơi lớn được tổ chức cả ngày lẫn đêm. Xe lửa cũng bắt đầu nhả khói ngoài sân ga trong lúc, từ những vùng biển xa xăm tới, tàu bè đã hướng mũi về phía cảng chúng tôi, ghi nhận, theo cách của chúng, rằng ngày hôm nay là ngày hội tụ trọng đại đối với tất cả những ai than vãn vì cảnh chia ly.
Cái ý thức về sự biệt ly đã từng ấp ủ biết bao trong lòng đồng bào chúng tôi, giờ đây, bạn đọc dễ dàng hình dung nó chuyển biến ra sao. Các toa xe lửa, khi vào thành phố ban ngày cũng đông nghịt người, chẳng kém khi đi ra. Ai cũng dành chỗ cho mình ngày hôm đó, trong suốt hai tuần lễ “án treo”, vì phấp phỏng đến phút cuối cùng, quyết định của tỉnh có thể bị hủy bỏ. Và một số hành khách khi đến gần thành phố vẫn không hết lo sợ hoàn toàn, vì nếu nói chung họ biết số phận của người thân thì, trái lại, họ không hay biết gì hết về những người khác và về bản thân thành phố mà họ hình dung một bộ mặt đáng sợ. Nhưng điều này chỉ đúng đối với những ai không nung nấu tình cảm trong suốt khoảng thời gian ấy.
Thật vậy, những người say mê chỉ có khăng khăng một ý nghĩ nhất định. Đối với họ, chỉ có một cái thay đổi: trong những ngày tháng xa cách đằng đẵng, họ mong ngóng thời gian trôi thật nhanh và cho đến khi đã nhìn thấy thành phố, vẫn thiết tha muốn thời gian hối hả; thế nhưng tàu vừa bắt đầu hãm bánh trước khi đỗ, thì họ lại mong thời gian trôi chậm và ngưng đọng lại. Cái cảm giác vừa mơ hồ vừa sắc nhọn trong lòng họ về những tháng ngày mất mát đối với tình yêu, khiến họ mơ màng mong muốn một sự bù đắp sao cho thời khắc vui mừng trôi qua chậm hơn hai lần thời khắc chờ đợi. Và những người chờ đón họ trong một căn phòng hay trên sân ga cũng trong một tâm trạng bàng hoàng và thấp thỏm như vậy. Chẳng hạn như Rambert mà người yêu, được báo trước hai tuần, đã làm mọi việc cần thiết để đến với anh. Anh phấp phỏng chờ mong đem đối chứng tình yêu - đã trở thành một cái gì trừu tượng trong những tháng dịch bệnh - với con người bằng xương bằng thịt, nó là cái giá đỡ của mối tình ấy.
Anh những muốn, như lúc dịch bệnh mới bắt đầu, thoát ngay khỏi thành phố và chạy ào đến gặp người yêu. Nhưng anh biết nay thì không được rồi. Anh đã thay đổi; dịch hạch đã đưa vào trong anh một thứ lơ đãng mà anh ra sức tìm cách phủ nhận nhưng không sao thoát ra khỏi: nó dai dẳng trong lòng anh một cách âm thầm đáng sợ. Ở một mặt nào đó, anh có cảm giác dịch bệnh chấm dứt quá đột ngột khiến anh luống cuống. Hạnh phúc vùn vụt ập tới và tình hình xảy đến nhanh hơn lòng chờ mong. Rambert hiểu rằng tất cả sẽ được trả lại cho mình ngay cùng một lúc và niềm vui đến cháy bỏng thật khó tận hưởng.
Vả lại, ít nhiều tự giác, mọi người cũng đều một tâm trạng như Rambert, và người kể chuyện phải nói về tất cả mọi người. Trên sân ga, nơi họ bắt đầu trở lại cuộc sống riêng, họ vẫn cảm thấy mình ở trong cộng đồng trong khi cùng nhau trao đổi những ánh mắt và những nụ cười. Nhưng vừa nhìn thấy làn khói xe lửa là cái cảm giác lưu đày bỗng nhiên tan biến, và niềm vui trào dâng, hỗn độn, choáng váng. Tàu dừng bánh. Chỉ trong giây phút, trên sân ga, non phần lớn đã diễn ra những cuộc chia tay ngày trước, cảnh ly biệt đột ngột chấm dứt. Người ta ôm choàng lấy những cơ thể mà người ta không còn nhớ rõ nét rõ hình nữa, cử chỉ vừa vồ vập, hối hả nhưng cũng vừa thận trọng, dè xẻn. Rambert chưa kịp nhìn cái bóng người chạy về phía mình thì nàng đã ngã vào lòng anh. Và dang rộng hai tay ôm choàng lấy nàng, siết chặt vào ngực mình cái đầu mà anh chỉ nhìn thấy mái tóc quen thuộc, anh không ngăn nổi những giọt nước mắt mà anh không rõ là vì niềm hạnh phúc hiện tại hay vì một nỗi đau kìm nén quá lâu, nhưng ít ra cũng biết chắc những giọt lệ ấy ngăn không cho anh kiểm tra xem cái khuôn mặt đang ngã trên vai mình có phải là khuôn mặt anh hằng biết bao ao ước, hay trái lại là của một người đàn bà xa lạ. Sau này, anh sẽ biết nỗi lòng ngờ vực của mình có xác thực hay không. Còn lúc này, anh muốn làm như tất cả những người xung quanh: họ có vẻ tin rằng dịch hạch có thể đến và có thể ra đi, nhưng lòng con người thì không vì vậy mà thay đổi.
Sát bên nhau, mọi người trở về nhà, không nhìn thấy gì khác trên đời. Với vẻ mặt chiến thắng dịch bệnh, họ quên hết mọi nỗi đau, quên cả những người đồng hành bất hạnh vì không thấy ai ra đón nên đành trở về, nơm nớp lo sợ mối ngờ vực trong lòng sau bao ngày xa vắng sẽ trở thành sự thật. Đối với những người nỗi đau còn roi rói này cũng như đối với những người đang xót xa nhớ lại hình bóng người thân đã mất thì tình hình khác hẳn và nỗi đau ly biệt lên tới cực điểm. Đối với họ, những người mẹ, những người chồng, người vợ, người yêu, những người không còn bao giờ chia sẻ niềm vui với người thân giờ đây đang lạc loài trong một cái hố vô danh hay tan biến trong một đống tro tàn, thì dịch hạch vẫn tồn tại.
Nhưng ai nghĩ tới những cảnh cô đơn ấy? Trưa đến, mặt trời chiến thắng những luồng gió lạnh thổi ào ạt từ sáng sớm, liên tiếp đổ xuống thành phố những luồng ánh sáng bất động. Thời gian như chững lại. Trên các đỉnh đồi, đại bác các chiến lũy gầm vang không ngớt trong một bầu trời im ắng. Cả thành phố đổ ra đường ăn mừng cái giờ phút bị dồn nén này, khi thời điểm đau thương kết thúc nhưng thời điểm lãng quên chưa bắt đầu.
Khắp nơi, người ta nhảy múa. Ngày một ngày hai, lưu lượng giao thông tăng lên dữ dội và ô-tô, ngày một nhiều hơn, đi lại khó khăn trên những đường phố chật ních. Chuông thành phố gióng giả đổ hồi suốt buổi chiều, vang rền cả một bầu trời màu xanh với ánh sáng vàng rực. Trong nhà thờ, người ta cầu kinh tạ ơn Chúa. Nhưng đồng thời, những nơi vui chơi đông nghịt người thì không còn chen chân nổi và các quán cà phê, không nghĩ tới tương lai, đem dốc hết những chai rượu cuối cùng. Trước quầy rượu, chen chúc những người cùng trong một trạng thái kích động như nhau, và những cặp trai gái siết chặt lấy nhau, không e dè những lời dị nghị. Ai nấy đều la hét, cười vang. Nguồn sinh lực dành dụm trong những ngày tháng mà tâm hồn mỗi người chỉ le lói như ngọn đèn đêm, hôm ấy, người ta đem ra xả láng như trong ngày sống sót của họ. Ngày mai, bản thân cuộc sống bắt đầu, với mọi sự cẩn trọng. Còn lúc này, những con người nguồn gốc rất khác nhau cùng nhau chen vai thích cánh, và coi nhau như anh em. Cái bình đẳng mà sự hiện diện của tử thần, thực tế, không thực hiện được, thì nay được thiết lập bởi niềm vui giải thoát, chí ít cũng trong mấy tiếng đồng hồ.
Những niềm vui ào ạt dung tục ấy không nói được hết tất cả và, vào cuối buổi chiều hôm đó, bên cạnh Rambert, những người đổ ra đường thường che giấu, dưới vẻ điềm tĩnh bề ngoài, những niềm hạnh phúc cao nhã hơn. Nhiều cặp trai gái và nhiều gia đình, nhìn bề ngoài thì chỉ là những người dạo chơi thanh bình. Thực ra, số đông làm những cuộc hành hương thành kính ở những nơi họ đã từng chịu đau thương. Họ muốn chỉ cho người mới về những dấu hiệu lộ liễu hay âm thầm của dịch hạch, những di tích lịch sử của nó. Có trường hợp người ta chỉ đóng vai trò người đưa đường, người đã từng thấy nhiều điều, đã từng sống những ngày dịch bệnh; người ta nói tới hiểm họa chứ không nhắc đến khiếp hãi. Đó là những thú vui vô hại. Nhưng cũng có trường hợp những cuộc hành trình sôi động hơn: thả mình trong nỗi kinh hoàng êm đềm của quá khứ, một người yêu có khi nói với người yêu: “Ở chốn này, vào những ngày ấy, anh thèm khát em, nhưng em không có mặt”. Những người say mê dục vọng này, lúc đó, có thể bình tâm lại; với những tiếng thầm thì, những lời tán tỉnh, họ tách mình ra khỏi cảnh náo động xung quanh. Còn hơn cả những dàn nhạc ở ngã tư đường phố, chính họ là người báo hiệu sự giải thoát thực sự. Giữa cảnh ồn ã, những cặp trai gái, sát cánh bên nhau và hà tiện lời nói, khẳng định dịch hạch và kinh hoàng đã chấm dứt, với tất cả chiến thắng và nỗi bất công của hạnh phúc. Điềm tĩnh, họ phủ nhận một sự thật hiển nhiên: họ cho rằng chúng tôi chưa bao giờ biết tới cái thế giới điên loạn trong đó giết chết một con người cũng là chuyện thường tình như giết chết những con ruồi; cũng chưa bao giờ biết tới cảnh man rợ hiển nhiên ấy, cơn mê sảng được tính toán ấy, cảnh giam hãm vốn mang theo nó một thứ tự do kinh khủng đối với tất cả những gì không phải là hiện tại. Theo họ thì chúng tôi chưa hề biết tới cái mùi xác chết vốn làm sững sờ tất cả những ai nó không giết hại. Cuối cùng họ cho rằng chúng tôi không phải là những con người bàng hoàng mà hàng ngày một bộ phận bị chất đống trong miệng lò thiêu, tan ra thành những luồng khói béo nhẫy, còn một bộ phận thì xủng xoảng những sợi dây xích bất lực và khiếp hãi chờ đến lượt mình.
Dẫu sao, đó cũng là tình hình đập vào mắt bác sĩ Rieux khi lững thững một mình, ông đi ra ngoại ô, vào cuối một buổi chiều, giữa tiếng chuông, tiếng đại bác, tiếng nhạc và những tiếng kêu inh tai. Ông vẫn tiếp tục hành nghề vì người bệnh thì không có ngày nghỉ. Trong luồng ánh sáng đẹp đẽ, mịn như tơ, bốc lên mùi vị thịt nướng và rượu hồi quen thuộc. Xung quanh ông, những khuôn mặt hớn hở ngẩng lên nhìn bầu trời. Đàn ông và đàn bà níu lấy nhau, mặt bừng bừng, với tất cả sự kích động và tiếng gào thét của dục vọng. Đúng, dịch hạch và kinh hoàng đã chấm dứt, và quả những cánh tay quấn quýt lấy nhau nói rằng dịch bệnh đã gây nên cảnh lưu đày và ly biệt, theo nghĩa sâu xa của những từ này.
Lần đầu tiên, Rieux có thể đặt một cái tên cho cái vẻ giống nhau mà ông nhìn thấy, trong nhiều tháng liền, trên tất cả các khuôn mặt của những người đi đường. Giờ đây, ông chỉ cần nhìn ra xung quanh. Đến cuối thời kỳ dịch hạch, cùng với đau khổ và thiếu thốn, cuối cùng, mọi người đã mặc lại y phục của vai trò mà họ từng đóng từ lâu, vai trò của những kẻ di cư mà trước kia qua bộ mặt và giờ đây qua áo quần, ai cũng hiểu họ sống xa người thân và tổ quốc. Từ khi vì dịch hạch phải đóng cửa thành phố, họ chỉ còn sống trong cách biệt, tách ra khỏi cái hơi ấm con người vốn làm người ta quên hết thảy. Trong mọi ngóc ngách của thành phố, ở những mức độ khác nhau, đàn ông và đàn bà đều khao khát một cuộc đoàn tụ khác nhau về tính chất đối với mỗi người nhưng giống nhau đối với mọi người ở chỗ nó không sao thực hiện được. Số đông thiết tha hướng về người vắng mặt, về sức ấm một cơ thể, về sự vỗ về hay về thói quen. Một số ít thì đau khổ - tuy nhiều khi không biết mình đau khổ - vì không còn tình thân của những người khác, thậm chí không còn có thể thư từ hoặc đi lại thăm viếng họ. Những người khác nữa - số này ít hơn cả - có lẽ như Tarrou, thì muốn gặp gỡ một cái gì đó không sao xác định được, nhưng đối với họ, cái đó là niềm hạnh phúc duy nhất có thể cầu mong. Và vì không có một tên gọi khác, đôi khi, họ gọi nó là sự thư thái.
Rieux vẫn cất bước. Ông càng đi thì phố xá càng tấp nập, tiếng ồn ã càng dữ dội và ông có cảm giác vùng ngoại ô ông muốn đi tới cũng càng lùi xa hơn. Dần dà, ông hòa vào cái dòng người náo động ấy và mỗi lúc một thêm hiểu rõ tiếng kêu của họ, tiếng kêu không nhiều thì ít cũng là tiếng kêu của riêng ông. Đúng, mọi người đều đã cùng nhau đau khổ, trong thịt da cũng như trong tâm hồn, một nỗi đau của một sự trống khuyết gian khổ, một nỗi lưu đày không phương cứu chữa, một niềm khao khát không bao giờ được thỏa mãn. Giữa đám xác chết chồng chất, giữa tiếng còi xe cứu thương, giữa những lời cảnh cáo của cái mà chúng ta phải gọi đích danh là số phận, giữa sự giày xéo dai dẳng của nỗi kinh hãi và sự vùng dậy khủng khiếp của con tim họ, giữa tất cả cái đó, một tiếng rì rầm mênh mông không ngớt lan rộng và báo động cho những con người kinh hoàng kia, bảo họ phải tìm cho thấy tổ quốc thực sự của mình. Đối với tất thảy những người ấy, tổ quốc thực sự nằm ở bên kia những bức tường của cái thành phố bị bóp nghẹt này. Nó nằm trong những lùm cây hương ngát trên đồi núi, nó nằm ngoài biển cả, ở những đất nước tự do và trong sức nặng của tình yêu. Và họ muốn trở về với tổ quốc, với hạnh phúc, chán ngấy mọi cái khác.
Còn cảnh lưu đày và khát vọng đoàn tụ có ý nghĩa gì, Rieux không hề hay biết, vẫn cất bước trong cảnh chen vai thích cánh và nghe gọi đến tên mình, dần dà, ông đi tới những con đường thưa thớt hơn và nghĩ bụng những cái đó có ý nghĩa hay không là không quan trọng, mà quan trọng là ước vọng của con người được đáp ứng ra sao.
Từ nay, ông biết nó được đáp ứng như thế nào và ông càng biết rõ hơn khi đặt chân lên những con đường hoang vắng ở ngoại thành. Những người bằng lòng với số phận nhỏ nhoi của mình chỉ muốn trở về ngôi nhà đã từng ấp ủ tình yêu của họ và có khi họ được đền đáp. Dĩ nhiên, một vài người trong số đó vẫn tiếp tục lang thang, cô đơn ngoài phố vì người thân mà họ chờ mong không còn nữa. Vẫn còn may mắn là những ai không phải nếm cảnh hai lần ly biệt như một số ít người trước kia thất vọng trong tình trường và sau đó, suốt bao năm tháng, mù quáng theo đuổi một mối tình gian truân để cuối cùng chỉ đi tới một sự gắn bó giữa những cặp trai gái yêu nhau nhưng lại thù ghét nhau. Cũng như bản thân Rieux, những người nói trên nhẹ dạ trông chờ vào thời gian: họ đã bị chia ly vĩnh viễn. Nhưng những người khác, như Rambert mà Rieux vừa mới chia tay sáng nay trong lúc nói với anh: “Can đảm lên, lúc này chính là lúc phải xử sự đúng”, thì đã gặp lại không một chút ngập ngừng người xa vắng mà họ những tưởng không còn nữa. Họ sẽ hưởng hạnh phúc, ít ra cũng trong một thời gian. Giờ đây, họ hiểu ra rằng nếu có một điều người ta luôn luôn mong ước và đôi khi đạt tới được, thì điều đó chính là tình thương của con người.
Trái lại, đối với tất cả những ai muốn vượt lên trên con người để thổ lộ với một cái gì đó mà chính bản thân họ cũng không hình dung nổi, thì không hề có câu giải đáp. Tarrou hình như đã tìm thấy sự thư thái gian khổ mà anh đã nói tới, nhưng anh chỉ tìm thấy trong cái chết, vào lúc nó chẳng giúp ích được gì cho anh nữa. Trái lại, nếu những người khác - mà Rieux nhìn thấy ngồi trước cửa nhà họ, trong ánh chiều tà, ra sức ghì chặt lấy nhau và nhìn nhau mê mẩn đã đạt được điều họ mong ước, là vì họ chỉ yêu cầu điều duy nhất phụ thuộc vào chính họ. Và khi quay về đường phố Grand và Rambert ở, Rieux nghĩ bụng nếu ít ra cũng thỉnh thoảng, niềm vui đến bù đắp cho những ai mãn nguyện với con người và với tình yêu tội nghiệp và dữ dội của con người, thì đó là điều công bằng.
Tập ký này sắp kết thúc. Đã đến lúc bác sĩ Rieux thú nhận ông là tác giả. Nhưng trước khi thuật lại những sự kiện cuối cùng, tác giả muốn ít nhất cũng biện minh cho sự can thiệp của mình và lý giải việc mình thiết tha giữ thái độ của một nhân chứng khách quan. Trong suốt thời kỳ dịch hạch, nghề nghiệp cho phép ông gặp phần lớn đồng bào chúng tôi và thu nhập ý nghĩ, tình cảm của họ. Vì vậy, ông có đủ tư cách để thuật lại những điều mắt thấy, tai nghe. Nhưng ông muốn làm điều đó với tất cả sự dè dặt cần thiết. Nói chung, với thái độ thận trọng, ông chỉ tường thuật những điều mắt thấy tai nghe, không gán cho bạn bè trong thời dịch bệnh những ý nghĩa mà thực ra họ không nhất thiết phải có; ông chỉ sử dụng những văn bản tình cờ hay chẳng may rơi vào tay mình.
Phải ra làm chứng trong một vụ tội phạm, ông có thái độ ít nhiều dè dặt, xứng đáng với một nhân chứng có thiện chí. Nhưng đồng thời theo quy luật của một con tim nhân hậu, ông dứt khoát đứng về phía nạn nhân và muốn đến với con người, với đồng bào mình, nhưng chỉ trong những nỗi niềm chung là tình yêu, khổ đau và ly biệt. Chính vì vậy không có một nỗi đau nào của đồng bào mà ông không chia sẻ, không có một cảnh huống nào mà ông không xem như là cảnh huống của chính bản thân mình.
Để làm một nhân chứng trung thực, ông phải thuật lại chủ yếu những hành vi, tư liệu và dư luận. Còn những gì mà cá nhân ông phải nói, nỗi chờ mong và những cơn thử thách của mình thì ông lại không nói. Thảng hoặc ông có nói đến, là cũng chỉ để hiểu đồng bào ông hoặc làm cho họ hiểu và để mang lại một hình dạng càng cụ thể càng tốt cho cái mà thông thường họ chỉ cảm thấy một cách mơ hồ. Thực ra, sự cố gắng đó về lý trí, ông chẳng phải trả giá gì hết. Khi muốn đưa thẳng nỗi niềm tâm tư của mình vào trong hàng nghìn tiếng nói của những người bị dịch hạch, thì một ý nghĩ ngăn ông lại, ý nghĩ đó không có một nỗi đau của ông mà lại đồng thời không phải là nỗi đau nào của những người khác, và trong một thế giới mà nỗi đau thường hết sức cô đơn, thì như thế là một cái lợi. Dứt khoát, ông phải nói vì tất cả mọi người.
Nhưng ít ra cũng có một đồng bào chúng tôi mà bác sĩ Rieux không thể nói thay cho người đó. Đó là kẻ mà một hôm Tarrou đã nói về hắn với Rieux như sau: “Tội ác thực sự duy nhất của hắn, là hắn tán thành trong thâm tâm những gì làm chết trẻ em và người lớn. Còn nữa, tôi biết cả, những cái đó tôi buộc phải tha thứ cho hắn”. Tập ký này kết thúc để nói về hắn là đúng, hắn, một kẻ có một trái tim ngu ngốc, nghĩa là cô độc.
Ra khỏi những con đường lớn ồn ã trong ngày hội, đúng vào lúc quành vào đường phố Grand và Cottard ở, bác sĩ Rieux bị cả một hàng rào cảnh sát ngăn lại. Ông không ngờ tới. Những tiếng rì rầm xa xăm của ngày hội càng làm cho khu phố này vắng lặng; ông thấy nó vắng người cũng như vắng tiếng. Ông xuất trình giấy tờ.
- Không được, thưa Rieux - Một cảnh binh lên tiếng - Một thằng điên bắn súng vào đám đông. Nhưng mời ông dừng chân, ông có thể có ích đây.
Vào lúc đó, ông thấy Grand đi tới. Grand cũng không hay biết gì hết. Người ta không cho anh đi qua và bảo anh là có phát súng bắn ra từ ngôi nhà anh. Thật vậy, từ xa, người ta nhìn thấy trước mặt ngôi nhà, một màu vàng hoe dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời chiều tà không còn sức nóng. Trước mặt nhà là một khoảng trống lớn chạy dài tới vỉa hè đối diện. Chính giữa lòng đường, người ta nhìn thấy rõ một cái mũ và một mảnh vải bẩn. Rieux và Grand nhìn thấy tận đàng xa, phía bên kia đường, một hàng rào cảnh binh khác song song với hàng rào cảnh binh đã ngăn giữ họ lại, và ở phía sau, mấy người dân trong khu phố đi qua đi lại một cách vội vã. Nhìn kỹ, họ lại thấy cảnh sát tay lăm lăm súng sáu, nấp sau cửa những ngôi nhà đối diện với nhà Grand và Cottard ở. Tất cả cửa sổ ngôi nhà đều đóng kín. Nhưng ở tầng ba, một cánh cửa sổ hé mở. Đường phố im lìm. Chỉ nghe một vài tiếng nhạc vọng lại từ trung tâm thành phố.
Bỗng, từ một ngôi nhà đối diện, hai phát súng sáu nổ vang và những mảnh gỗ tung lên từ cánh cửa sổ hé mở bị bắn trúng. Rồi lại im lặng. Từ xa, và sau không khí náo nhiệt trong ngày, Rieux cảm thấy như có một cái gì huyền ảo.
Cánh cửa sổ nhà Cottard đây, bỗng Grand cất tiếng, vẻ rất bồn chồn. Nhưng Cottard đã biến mất rồi kia mà.
- Sao lại bắn thế? - Rieux hỏi một cảnh binh.
- Chúng tôi đang đánh lừa hắn. Chúng tôi chờ xe ca với dụng cụ cần thiết, vì hắn bắn vào những người tìm cách vào bằng cửa lớn. Có một nhân viên chúng tôi trúng đạn.
- Vì sao hắn bắn?
- Chúng tôi không rõ. Bà con đang vui chơi ngoài đường phố. Nghe tiếng súng sáu đầu tiên, họ không hiểu. Đến tiếng thứ hai, thì có người kêu la, một người bị thương và mọi người bỏ trốn. Một thằng điên, chứ sao?
Trong cảnh im ắng trở lại, thời giờ như kéo dài lê thê. Bỗng từ bên kia đường, họ thấy xổ ra một con chó, con chó đầu tiên Rieux trông thấy từ bao lâu nay, một giống chó Tây Ban Nha mà chắc hẳn chủ nhà phải giấu đi cho tới nay. Con chó chạy dọc tường. Đến gần cửa, nó ngập ngừng, ngồi bệt xuống và nằm ngửa ra để bắt bọ chét. Cảnh sát huýt mấy tiếng còi liền, gọi nó. Nó ngửng đầu, rồi quyết định chậm rãi đi qua lòng đường đến hít hít chiếc mũ. Cùng lúc đó, một phát súng sáu nổ từ gác hai và con chó lật ngửa lên như một chiếc bánh kẹo, giãy giụa bốn chân dữ dội và cuối cùng ngã nghiêng ra co giật từng cơn dài. Đáp lại, năm sáu phát súng từ những cánh cửa đối diện bắn nát ô cửa sổ. Lại im lặng. Mặt trời ngã dần và bóng bắt đầu dịch tới cửa sổ Cottard. Tiếng phanh khẽ rít trên đường phố, phía sau Rieux.
- Họ đã đến đây. - Một cảnh binh lên tiếng.
Cảnh sát đến sau lưng hai người, mang theo dây thừng, thang và hai cái gói hình thon bọc vải quét sơn. Họ đi vào con đường quành qua khóm nhà đối diện với nhà Grand. Một lát sau, người ta đoán, đúng hơn là nhìn thấy một sự náo động ở những cánh cửa các ngôi nhà này. Mọi người chờ đợi. Con chó không giãy giụa nữa, đầm mình trong một cái vũng thâm xì.
Đột nhiên, từ cửa sổ những ngôi nhà cảnh sát chiếm giữ, vang lên một tràng tiểu liên. Dọc theo đường đạn, cánh cửa sổ mà họ vẫn nhằm bắn, lần này tan tành hoàn toàn và để lộ ra một khoảng đen từ chỗ đứng của mình. Rieux và Grand không phân biệt được gì hết. Hết băng đạn thứ nhất, một khẩu tiểu liên thứ hai nổ vang từ một góc khác, ở một ngôi nhà xa hơn. Đạn chắc hẳn chui vào trong ô cửa sổ vì một viên làm tung lên một mảnh gạch. Đúng giữa lúc ấy, ba nhân viên cảnh sát chạy qua lòng đường và mất hút vào cửa ra vào. Hầu như ngay lập tức, ba nhân viên khác cũng xông vào và thôi không còn tiếng súng tiểu liên. Người ta vẫn chờ đợi. Hai tiếng nổ xa xa vang lên trong ngôi nhà. Tiếng ồn ã mỗi lúc một thêm rõ và người ta thấy từ trong nhà được bê ra, đúng hơn là lôi ra, một người đàn ông bé nhỏ, tay áo sơ-mi xắn lên: hắn không ngớt kêu la. Như có phép lạ, mọi cánh cửa sổ dọc hai bên đường đang đóng kín mít bỗng mở toang, và bao nhiêu người bước ra khỏi nhà, chen chúc phía sau hai hàng rào cảnh binh. Cuối cùng, người ta thấy gã đàn ông bé nhỏ đứng giữa lòng đường, hai cánh tay bị bẻ quặt ra sau. Hắn kêu lên. Một cảnh binh bước lại gần, nắm tay dùng hết sức bình sinh nện cho hắn hai quả, một cách chắc nịch, như để hết tâm lực vào cú đấm của mình.
- A! Cottard - Grand nói nhỏ - Hắn phát điên.
Cottard ngã quỵ. Người cảnh binh lại dùng chân đá mạnh vào cái đống sóng soài trên mặt đất. Rồi một đám đông lộn xộn chuyển động và đi về phía Rieux và Grand.
- Mời bà con đi đi! - Người lính cảnh sát ra lệnh.
Rieux quay mặt đi khi đám người đi qua trước ông.
Ông cùng với Grand bước đi trong ánh hoàng hôn dần tắt. Những con đường xa vắng lại ồn ã tiếng đám đông trong cơn hoan hỉ như thể sự kiện trên đây đánh thức cái khu phố im lìm này tỉnh dậy. Đến dưới tường nhà, Grand chia tay bác sĩ Rieux. Anh sắp đi làm việc. Nhưng lúc bước lên thang gác, anh nói với ông ta là anh đã viết cho Jeanne và bây giờ anh hài lòng. Rồi anh bảo là anh đã viết lại câu văn dạo trước: “Tôi đã bỏ, anh nói, tất cả các tính từ”.
Và với một nụ cười tinh nghịch, anh cất mũ với một kiểu chào trịnh trọng. Nhưng Rieux nghĩ tới Cottard, và cái tiếng inh ích của những nắm tay nện vào mặt hắn theo đuổi ông trên đường đi tới nhà ông lão bị hen suyễn. Phải chăng nghĩ tới một kẻ phạm tội, thì trong lòng còn nặng nề hơn là nghĩ tới một người chết?
Khi Rieux tới nhà người bệnh thì bóng đêm đã bao phủ bầu trời. Từ buồng ông lão, có thể nghe tiếng rì rầm xa xa của cuộc sống tự do, và lão vẫn tiếp tục chuyển đậu từ nơi này qua nơi khác, nét mặt không hề thay đổi.
- Họ vui chơi là có lý, - Lão nói - phải cần đến tất cả để tạo nên một thế giới. Thưa bác sĩ, ông bạn đồng nghiệp của ông thế nào rồi?
Những tiếng nổ vang đến tận tai họ, nhưng là những tiếng nổ hòa bình: tiếng trẻ em đốt pháo.
Ông ta mất rồi, bác sĩ vừa đáp vừa áp tai nghe lồng ngực phì phò của người bệnh.
- A! - Ông lão thốt lên có phần sững sờ.
- Mất vì dịch hạch. - Rieux nói thêm.
- Vâng, - Lão đáp sau một lát im lặng - những người tốt nhất đều bỏ đi. Cuộc sống là thế. Nhưng đó là một người biết những điều mình muốn.
- Sao ông lại nói vậy? - Bác sĩ hỏi trong khi cất ống nghe.
- Không vì sao cả. Ông ấy không bao giờ nói để không nói gì cả. Cuối cùng, tôi thích ông ấy. Nhưng như thế đấy. Những người khác thì nói: “Dịch hạch đấy, người ta bị dịch hạch”. Chỉ một chút là họ đã xin được thưởng bội tinh: Nhưng dịch hạch, cái đó có nghĩa là thế nào? Là cuộc sống và chỉ có thế thôi.
- Ông nhớ xông hơi một cách đều đặn đấy.
- Ô! Xin bác sĩ đừng lo. Tôi còn sống lâu và tôi sẽ xem họ chết hết. Tôi, tôi biết sống.
Đằng xa, những tiếng reo hò vui mừng đáp lại lời ông lão. Rieux đứng lại giữa phòng.
- Tôi muốn lên sân thượng có phiền ông không?
- Ồ không! Ông muốn nhìn thấy họ từ trên cao ấy phải không? Xin mời ông tự nhiên. Nhưng bao giờ họ cũng vẫn là họ thôi.
Rieux đi về phía cầu thang.
- Bác sĩ này, có phải họ sắp dựng đài kỷ niệm những người bị chết vì dịch hạch phải không?
- Báo chí có nói. Một tấm bia hay một tấm biển.
- Tôi chắc như vậy. Và sẽ có diễn từ.
Ông lão cười, tiếng cười sằng sặc.
- Từ đây tôi sẽ nghe họ nói: “Những người chết của chúng ta...”, và họ sẽ đi đánh chén.
Rieux bước lên cầu thang. Bầu trời mênh mông, lạnh giá lấp lánh trên các ngôi nhà, và gần mấy ngọn đồi, các vì sao rắn lại như đá cuội. Đêm nay không khác mấy cái đêm trước đây Tarrou và ông đến ngồi chỗ sân thượng này để quên đi bệnh dịch hạch. Đêm nay, dưới chân các vách đá, biển ồn ã hơn. Không khí im lìm và nhẹ tênh tách ra khỏi những luồng hơi mặn mà gió thu ấm áp thổi tới. Tiếng rì rầm của thành phố vẫn vang đến tận chân sân thượng, như tiếng sóng vỗ. Nhưng đêm nay là một đêm giải thoát, chứ không phải một đêm nổi dậy. Xa xa, một vùng ửng đỏ cho biết vị trí các đại lộ và các quảng trường thắp sáng. Trong đêm tối giờ đây được giải phóng, dục vọng không còn bị ngăn trở và chính tiếng gầm vang của nó vọng tới tận Rieux.
Từ bến cảng tối om, bắn lên những tràng pháo hoa đầu liên hoan công cộng. Thành phố đón chào chúng bằng những tiếng reo hò âm vang kéo dài. Cottard, Tarrou, những người - đàn ông và đàn bà - mà Rieux đã từng yêu thương, nay không còn nữa. Tất cả, người chết cũng như người phạm tội, đều bị lãng quên. Ông lão bị hen suyễn nói có lý, con người bao giờ cũng vẫn thế. Nhưng đây là sức mạnh về cái vô tội của họ, và chính ở điểm này, vượt lên mọi đau thương, Rieux cảm thấy mình giống họ. Giữa những tiếng reo hò ngày càng thêm mạnh và kéo dài, vang vọng đến tận dưới chân sân thượng, cùng với những chùm pháo hoa sặc sỡ mỗi lúc một tung thêm nhiều lên bầu trời, bác sĩ Rieux quyết định viết câu chuyện này. Ông không muốn là kẻ thờ ơ, im lặng. Ông muốn tỏ rõ thiện cảm của mình đối với những người bị dịch hạch, muốn ít nhất cũng ghi lại dấu vết của bất công và bạo lực họ đã phải chịu đựng; và nói lên cái bài học rút ra được giữa lúc gặp tai họa là trong con người, có nhiều điều đáng khâm phục hơn là đáng khinh ghét.
Nhưng ông cũng biết tập ký này không thể là tiếng nói của chiến thắng cuối cùng. Nó chỉ có thể xác nhận những việc đã phải làm và dĩ nhiên mọi người vẫn phải tiếp tục làm - mặc dù những nỗi đau riêng tư - để chống lại khủng bố và vũ khí không biết mệt mỏi của nó: không thể làm những bậc thánh và không cam chịu tai ương, người ta gắng sức làm thầy thuốc.
Thật vậy, nghe những tiếng reo mừng vang lên từ thành phố, Rieux sực nhớ là niềm hoan hỉ ấy luôn luôn bị uy hiếp. Vì điều mà đám người đang hò reo trên đường phố không biết, thì ông biết và người ta có thể đọc trong sách báo: vi trùng dịch hạch không bao giờ chết và mất hẳn. Nó có thể nằm yên hàng chục năm trong đồ đạc, quần áo, nó kiên nhẫn đợi chờ trong các căn buồng, dưới hầm nhà, trong hòm xiểng, trong khăn mù xoa và các đống giấy má... và một ngày nào đó, để gây tai họa cho con người và dạy họ bài học, dịch hạch có thể đánh thức đàn chuột của nó dậy và bắt chúng chạy đến lăn ra chết ở một đô thành nào đó đang sống trong hạnh phúc và phồn vinh.
 
HẾT
0
Dịch hạch (La Peste) bản tiếng Pháp
 
Il est aussi raisonnable de représenter une espèce d’emprisonnement par une autre que de représenter n’importe quelle chose qui existe réellement par quelque chose qui n’existe pas.
DANIEL DE FOE.

Les curieux événements qui font le sujet de cette chronique se sont produits en 194., à Oran. De l’avis général, ils n’y étaient pas à leur place, sortant un peu de l’ordinaire. À première vue, Oran est, en effet, une ville ordinaire et rien de plus qu’une préfecture française de la côte algérienne.
La cité elle-même, on doit l’avouer, est laide. D’aspect tranquille, il faut quelque temps pour apercevoir ce qui la rend différente de tant d’autres villes commerçantes, sous toutes les latitudes. Comment faire imaginer, par exemple, une ville sans pigeons, sans arbres et sans jardins, où l’on ne rencontre ni battements d’ailes ni froissements de feuilles, un lieu neutre pour tout dire? Le changement des saisons ne s’y lit que dans le ciel. Le printemps s’annonce seulement par la qualité de l’air ou par les corbeilles de fleurs que des petits vendeurs ramènent des banlieues ; c’est un printemps qu’on vend sur les marchés. Pendant l’été, le soleil incendie les maisons trop sèches et couvre les murs d’une cendre grise ; on ne peut plus vivre alors que dans l’ombre des volets clos. En automne, c’est, au contraire, un déluge de boue. Les beaux jours viennent seulement en hiver.
Une manière commode de faire la connaissance d’une ville est de chercher comment on y travaille, comment on y aime et comment on y meurt. Dans notre petite ville, est-ce l’effet du climat, tout cela se fait ensemble, du même air frénétique et absent. C’est-à-dire qu’on s’y ennuie et qu’on s’y applique à prendre des habitudes. Nos concitoyens travaillent beaucoup, mais toujours pour s’enrichir. Ils s’intéressent surtout au commerce et ils s’occupent d’abord, selon leur expression, de faire des affaires. Naturellement ils ont du goût aussi pour les joies simples, ils aiment les femmes, le cinéma et les bains de mer. Mais, très raisonnablement, ils réservent ces plaisirs pour le samedi soir et le dimanche, essayant, les autres jours de la semaine, de gagner beaucoup d’argent. Le soir, lorsqu’ils quittent leurs bureaux, ils se réunissent à heure fixe dans les cafés, ils se promènent sur le même boulevard ou bien ils se mettent à leurs balcons. Les désirs des plus jeunes sont violents et brefs, tandis que les vices des plus âgés ne dépassent pas les associations de boulomanes, les banquets des amicales et les cercles où l’on joue gros jeu sur le hasard des cartes.
On dira sans doute que cela n’est pas particulier à notre ville et qu’en somme tous nos contemporains sont ainsi. Sans doute, rien n’est plus naturel, aujourd’hui, que de voir des gens travailler du matin au soir et choisir ensuite de perdre aux cartes, au café, et en bavardages, le temps qui leur reste pour vivre. Mais il est des villes et des pays où les gens ont, de temps en temps, le soupçon d’autre chose. En général, cela ne change pas leur vie. Seulement, il y a eu le soupçon et c’est toujours cela de gagné. Oran, au contraire, est apparemment une ville sans soupçons, c’est-à-dire une ville tout à fait moderne. Il n’est pas nécessaire, en conséquence, de préciser la façon dont on s’aime chez nous. Les hommes et les femmes, ou bien se dévorent rapidement dans ce qu’on appelle l’acte d’amour, ou bien s’engagent dans une longue habitude à deux. Entre ces extrêmes, il n’y a pas souvent de milieu. Cela non plus n’est pas original. À Oran comme ailleurs, faute de temps et de réflexion, on est bien obligé de s’aimer sans le savoir.
Ce qui est plus original dans notre ville est la difficulté qu’on peut y trouver à mourir. Difficulté, d’ailleurs, n’est pas le bon mot et il serait plus juste de parler d’inconfort. Ce n’est jamais agréable d’être malade, mais il y a des villes et des pays qui vous soutiennent dans la maladie, où l’on peut, en quelque sorte, se laisser aller. Un malade a besoin de douceur, il aime à s’appuyer sur quelque chose, c’est bien naturel. Mais à Oran, les excès du climat, l’importance des affaires qu’on y traite, l’insignifiance du décor, la rapidité du crépuscule et la qualité des plaisirs, tout demande la bonne santé. Un malade s’y trouve bien seul. Qu’on pense alors à celui qui va mourir, pris au piège derrière des centaines de murs crépitants de chaleur, pendant qu’à la même minute, toute une population, au téléphone ou dans les cafés, parle de traites, de connaissements et d’escompte. On comprendra ce qu’il peut y avoir d’inconfortable dans la mort, même moderne, lorsqu’elle survient ainsi dans un lieu sec.
Ces quelques indications donnent peut-être une idée suffisante de notre cité. Au demeurant, on ne doit rien exagérer. Ce qu’il fallait souligner, c’est l’aspect banal de la ville et de la vie. Mais on passe ses journées sans difficultés aussitôt qu’on a des habitudes. Du moment que notre ville favorise justement les habitudes, on peut dire que tout est pour le mieux. Sous cet angle, sans doute, la vie n’est pas très passionnante. Du moins, on ne connaît pas chez nous le désordre. Et notre population franche, sympathique et active, a toujours provoqué chez le voyageur une estime raisonnable. Cette cité sans pittoresque, sans végétation et sans âme finit par sembler reposante, on s’y endort enfin. Mais il est juste d’ajouter qu’elle s’est greffée sur un paysage sans égal, au milieu d’un plateau nu, entouré de collines lumineuses, devant une baie au dessin parfait. On peut seulement regretter qu’elle se soit construite en tournant le dos à cette baie et que, partant, il soit impossible d’apercevoir la mer qu’il faut toujours aller chercher.
Arrivé là, on admettra sans peine que rien ne pouvait faire espérer à nos concitoyens les incidents qui se produisirent au printemps de cette année-là et qui furent, nous le comprîmes ensuite, comme les premiers signes de la série des graves événements dont on s’est proposé de faire ici la chronique. Ces faits paraîtront bien naturels à certains et, à d’autres, invraisemblables au contraire. Mais, après tout, un chroniqueur ne peut tenir compte de ces contradictions. Sa tâche est seulement de dire: “Ceci est arrivé”, lorsqu’il sait que ceci est, en effet, arrivé, que ceci a intéressé la vie de tout un peuple, et qu’il y a donc des milliers de témoins qui estimeront dans leur cœur la vérité de ce qu’il dit.
Du reste, le narrateur, qu’on connaîtra toujours à temps, n’aurait guère de titre à faire valoir dans une entreprise de ce genre si le hasard ne l’avait mis à même de recueillir un certain nombre de dépositions et si la force des choses ne l’avait mêlé à tout ce qu’il prétend relater. C’est ce qui l’autorise à faire œuvre d’historien. Bien entendu, un historien, même s’il est un amateur, a toujours des documents. Le narrateur de cette histoire a donc les siens: son témoignage d’abord, celui des autres ensuite, puisque, par son rôle, il fut amené à recueillir les confidences de tous les personnages de cette chronique, et, en dernier lieu, les textes qui finirent par tomber entre ses mains. Il se propose d’y puiser quand il le jugera bon et de les utiliser comme il lui plaira. Il se propose encore... Mais il est peut-être temps de laisser les commentaires et les précautions de langage pour en venir au récit lui-même. La relation des premières journées demande quelque minutie.
Le matin du 16 avril, le docteur Bernard Rieux sortit de son cabinet et buta sur un rat mort, au milieu du palier. Sur le moment, il écarta la bête sans y prendre garde et descendit l’escalier. Mais, arrivé dans la rue, la pensée lui vint que ce rat n’était pas à sa place et il retourna sur ses pas pour avertir le concierge. Devant la réaction du vieux M. Michel, il sentit mieux ce que sa découverte avait d’insolite. La présence de ce rat mort lui avait paru seulement bizarre tandis que, pour le concierge, elle constituait un scandale. La position de ce dernier était d’ailleurs catégorique: il n’y avait pas de rats dans la maison. Le docteur eut beau l’assurer qu’il y en avait un sur le palier du premier étage, et probablement mort, la conviction de M. Michel restait entière. Il n’y avait pas de rats dans la maison, il fallait donc qu’on eût apporté celui-ci du dehors. Bref, il s’agissait d’une farce.
Le soir même, Bernard Rieux, debout dans le couloir de l’immeuble, cherchait ses clefs avant de monter chez lui, lorsqu’il vit surgir, du fond obscur du corridor, un gros rat à la démarche incertaine et au pelage mouillé. La bête s’arrêta, sembla chercher un équilibre, prit sa course vers le docteur, s’arrêta encore, tourna sur elle-même avec un petit cri et tomba enfin en rejetant du sang par les babines entrouvertes. Le docteur la contempla un moment et remonta chez lui.
Ce n’était pas au rat qu’il pensait. Ce sang rejeté le ramenait à sa préoccupation. Sa femme, malade depuis un an, devait partir le lendemain pour une station de montagne. Il la trouva couchée dans leur chambre, comme il lui avait demandé de le faire. Ainsi se préparait-elle à la fatigue du déplacement. Elle souriait.
- Je me sens très bien, disait-elle.
Le docteur regardait le visage tourné vers lui dans la lumière de la lampe de chevet. Pour Rieux, à trente ans et malgré les marques de la maladie, ce visage était toujours celui de la jeunesse, à cause peut-être de ce sourire qui emportait tout le reste.
- Dors si tu peux, dit-il. La garde viendra à onze heures et je vous mènerai au train de midi.
Il embrassa un front légèrement moite. Le sourire l’accompagna jusqu’à la porte.
Le lendemain 17 avril, à huit heures, le concierge arrêta le docteur au passage et accusa des mauvais plaisants d’avoir déposé trois rats morts au milieu du couloir. On avait dû les prendre avec de gros pièges, car ils étaient pleins de sang. Le concierge était resté quelque temps sur le pas de la porte, tenant les rats par les pattes, et attendant que les coupables voulussent bien se trahir par quelque sarcasme. Mais rien n’était venu.
- Ah! ceux-là, disait M. Michel, je finirai par les avoir.
Intrigué, Rieux décida de commencer sa tournée par les quartiers extérieurs où habitaient les plus pauvres de ses clients. La collecte des ordures s’y faisait beaucoup plus tard et l’auto qui roulait le long des voies droites et poussiéreuses de ce quartier frôlait les boîtes de détritus, laissées au bord du trottoir.
Dans une rue qu’il longeait ainsi, le docteur compta une douzaine de rats jetés sur les débris de légumes et les chiffons sales.
Il trouva son premier malade au lit, dans une pièce donnant sur la rue et qui servait à la fois de chambre à coucher et de salle à manger. C’était un vieil Espagnol au visage dur et raviné. Il avait devant lui, sur la couverture, deux marmites remplies de pois. Au moment où le docteur entrait, le malade, à demi dressé dans son lit, se renversait en arrière pour tenter de retrouver son souffle caillouteux de vieil asthmatique. Sa femme apporta une cuvette.
- Hein, docteur, dit-il pendant la piqûre, ils sortent, vous avez vu?
- Oui, dit la femme, le voisin en a ramassé trois.
Le vieux se frottait les mains.
- Ils sortent, on en voit dans toutes les poubelles, c’est la faim!
Rieux n’eut pas de peine à constater ensuite que tout le quartier parlait des rats. Ses visites terminées, il revint chez lui.
- Il y a un télégramme pour vous là-haut, dit M. Michel.
Le docteur lui demanda s’il avait vu de nouveaux rats.
- Ah! non, dit le concierge, je fais le guet, vous comprenez. Et ces cochons-là n’osent pas.
Le télégramme avertissait Rieux de l’arrivée de sa mère pour le lendemain. Elle venait s’occuper de la maison de son fils, en l’absence de la malade. Quand le docteur entra chez lui, la garde était déjà là. Rieux vit sa femme debout, en tailleur, avec les couleurs du fard. Il lui sourit :
- C’est bien, dit-il, très bien.
Un moment après, à la gare, il l’installait dans le wagon-lit. Elle regardait le compartiment.
- C’est trop cher pour nous, n’est-ce pas?
- Il le faut, dit Rieux.
- Qu’est-ce que c’est que cette histoire de rats?
- Je ne sais pas. C’est bizarre, mais cela passera.
Puis il lui dit très vite qu’il lui demandait pardon, il aurait dû veiller sur elle et il l’avait beaucoup négligée. Elle secouait la tête, comme pour lui signifier de se taire. Mais il ajouta :
- Tout ira mieux quand tu reviendras. Nous recommencerons.
- Oui, dit-elle, les yeux brillants, nous recommencerons.
Un moment après, elle lui tournait le dos et regardait à travers la vitre. Sur le quai, les gens se pressaient et se heurtaient. Le chuintement de la locomotive arrivait jusqu’à eux. Il appela sa femme par son prénom et, quand elle se retourna, il vit que son visage était couvert de larmes.
- Non, dit-il doucement.
Sous les larmes, le sourire revint, un peu crispé. Elle respira profondément :
- Va-t’en, tout ira bien.
Il la serra contre lui, et sur le quai maintenant, de l’autre côté de la vitre, il ne voyait plus que son sourire.
- Je t’en prie, dit-il, veille sur toi.
Mais elle ne pouvait pas l’entendre.
Près de la sortie, sur le quai de la gare, Rieux heurta M. Othon, le juge d’instruction, qui tenait son petit garçon par la main. Le docteur lui demanda s’il partait en voyage. M. Othon, long et noir, et qui ressemblait moitié à ce qu’on appelait autrefois un homme du monde, moitié à un croque-mort, répondit d’une voix aimable, mais brève :
- J’attends Mme Othon qui est allée présenter ses respects à ma famille.
La locomotive siffla.
- Les rats..., dit le juge.
Rieux eut un mouvement dans la direction du train, mais se retourna vers la sortie.
- Oui, dit-il, ce n’est rien.
Tout ce qu’il retint de ce moment fut le passage d’un homme d’équipe qui portait sous le bras une caisse pleine de rats morts.
L’après-midi du même jour, au début de sa consultation, Rieux reçut un jeune homme dont on lui dit qu’il était journaliste et qu’il était déjà venu le matin. Il s’appelait Raymond Rambert. Court de taille, les épaules épaisses, le visage décidé, les yeux clairs et intelligents, Rambert portait des habits de coupe sportive et semblait à l’aise dans la vie. Il alla droit au but. Il enquêtait pour un grand journal de Paris sur les conditions de vie des Arabes et voulait des renseignements sur leur état sanitaire. Rieux lui dit que cet état n’était pas bon. Mais il voulait savoir, avant d’aller plus loin, si le journaliste pouvait dire la vérité.
- Certes, dit l’autre.
- Je veux dire: pouvez-vous porter condamnation totale?
- Totale, non, il faut bien le dire. Mais je suppose que cette condamnation serait sans fondement.
Doucement, Rieux dit qu’en effet une pareille condamnation serait sans fondement, mais qu’en posant cette question, il cherchait seulement à savoir si le témoignage de Rambert pouvait ou non être sans réserves.
- Je n’admets que les témoignages sans réserves. Je ne soutiendrai donc pas le vôtre de mes renseignements.
- C’est le langage de Saint-Just, dit le journaliste en souriant.
Rieux dit sans élever le ton qu’il n’en savait rien, mais que c’était le langage d’un homme lassé du monde où il vivait, ayant pourtant le goût de ses semblables et décidé à refuser, pour sa part, l’injustice et les concessions. Rambert, le cou dans les épaules, regardait le docteur.
- Je crois que je vous comprends, dit-il enfin en se levant.
Le docteur l’accompagnait vers la porte :
- Je vous remercie de prendre les choses ainsi.
Rambert parut impatienté :
- Oui, dit-il, je comprends, pardonnez-moi ce dérangement.
Le docteur lui serra la main et lui dit qu’il y aurait un curieux reportage à faire sur la quantité de rats morts qu’on trouvait dans la ville en ce moment.
- Ah! s’exclama Rambert, cela m’intéresse.
À dix-sept heures, comme il sortait pour de nouvelles visites, le docteur croisa dans l’escalier un homme encore jeune, à la silhouette lourde, au visage massif et creusé, barré d’épais sourcils. Il l’avait rencontré, quelquefois, chez les danseurs espagnols qui habitaient le dernier étage de son immeuble. Jean Tarrou fumait une cigarette avec application en contemplant les dernières convulsions d’un rat qui crevait sur une marche, à ses pieds. Il leva sur le docteur le regard calme et un peu appuyé de ses yeux gris, lui dit bonjour et ajouta que cette apparition des rats était une curieuse chose.
- Oui, dit Rieux, mais qui finit par être agaçante.
- Dans un sens, docteur, dans un sens seulement. Nous n’avons jamais rien vu de semblable, voilà tout. Mais je trouve cela intéressant, oui, positivement intéressant.
Tarrou passa la main sur ses cheveux pour les rejeter en arrière, regarda de nouveau le rat, maintenant immobile, puis sourit à Rieux :
- Mais, en somme, docteur, c’est surtout l’affaire du concierge.
Justement, le docteur trouva le concierge devant la maison, adossé au mur près de l’entrée, une expression de lassitude sur son visage d’ordinaire congestionné.
- Oui, je sais, dit le vieux Michel à Rieux qui lui signalait la nouvelle découverte. C’est par deux ou trois qu’on les trouve maintenant. Mais c’est la même chose dans les autres maisons.
Il paraissait abattu et soucieux. Il se frottait le cou d’un geste machinal. Rieux lui demanda comment il se portait. Le concierge ne pouvait pas dire, bien entendu, que ça n’allait pas. Seulement, il ne se sentait pas dans son assiette. À son avis, c’était le moral qui travaillait. Ces rats lui avaient donné un coup et tout irait beaucoup mieux quand ils auraient disparu.
Mais le lendemain matin, 18 avril, le docteur qui ramenait sa mère de la gare trouva M. Michel avec une mine encore plus creusée: de la cave au grenier, une dizaine de rats jonchaient les escaliers. Les poubelles des maisons voisines en étaient pleines. La mère du docteur apprit la nouvelle sans s’étonner.
- Ce sont des choses qui arrivent.
C’était une petite femme aux cheveux argentés, aux yeux noirs et doux.
- Je suis heureuse de te revoir, Bernard, disait-elle. Les rats ne peuvent rien contre ça.
Lui approuvait ; c’était vrai qu’avec elle tout paraissait toujours facile.
Rieux téléphona cependant au service communal de dératisation, dont il connaissait le directeur. Celui-ci avait-il entendu parler de ces rats qui venaient en grand nombre mourir à l’air libre? Mercier, le directeur, en avait entendu parler et, dans son service même, installé non loin des quais, on en avait découvert une cinquantaine. Il se demandait cependant si c’était sérieux. Rieux ne pouvait pas en décider, mais il pensait que le service de dératisation devait intervenir.
- Oui, dit Mercier, avec un ordre. Si tu crois que ça vaut vraiment la peine, je peux essayer d’obtenir un ordre.
- Ça en vaut toujours la peine, dit Rieux.
Sa femme de ménage venait de lui apprendre qu’on avait collecté plusieurs centaines de rats morts dans la grande usine où travaillait son mari.
C’est à peu près à cette époque en tout cas que nos concitoyens commencèrent à s’inquiéter. Car, à partir du 18, les usines et les entrepôts dégorgèrent, en effet, des centaines de cadavres de rats. Dans quelques cas, on fut obligé d’achever les bêtes, dont l’agonie était trop longue. Mais, depuis les quartiers extérieurs jusqu’au centre de la ville, partout où le docteur Rieux venait à passer, partout où nos concitoyens se rassemblaient, les rats attendaient en tas, dans les poubelles, ou en longues files, dans les ruisseaux. La presse du soir s’empara de l’affaire, dès ce jour-là, et demanda si la municipalité, oui ou non, se proposait d’agir et quelles mesures d’urgence elle avait envisagées pour garantir ses administrés de cette invasion répugnante. La municipalité ne s’était rien proposé et n’avait rien envisagé du tout mais commença par se réunir en conseil pour délibérer. L’ordre fut donné au service de dératisation de collecter les rats morts, tous les matins, à l’aube. La collecte finie, deux voitures du service devaient porter les bêtes à l’usine d’incinération des ordures, afin de les brûler.
Mais dans les jours qui suivirent, la situation s’aggrava. Le nombre des rongeurs ramassés allait croissant et la récolte était tous les matins plus abondante. Dès le quatrième jour, les rats commencèrent à sortir pour mourir en groupes. Des réduits, des sous-sols, des caves, des égouts, ils montaient en longues files titubantes pour venir vaciller à la lumière, tourner sur eux-mêmes et mourir près des humains. La nuit, dans les couloirs ou les ruelles, on entendait distinctement leurs petits cris d’agonie. Le matin, dans les faubourgs, on les trouvait étalés à même le ruisseau, une petite fleur de sang sur le museau pointu, les uns gonflés et putrides, les autres raidis et les moustaches encore dressées. Dans la ville même, on les rencontrait par petits tas, sur les paliers ou dans les cours. Ils venaient aussi mourir isolément dans les halls administratifs, dans les préaux d’école, à la terrasse des cafés, quelquefois. Nos concitoyens stupéfaits les découvraient aux endroits les plus fréquentés de la ville. La place d’Armes, les boulevards, la promenade du Front-de-Mer, de loin en loin, étaient souillés. Nettoyée à l’aube de ses bêtes mortes, la ville les retrouvait peu à peu, de plus en plus nombreuses, pendant la journée. Sur les trottoirs, il arrivait aussi à plus d’un promeneur nocturne de sentir sous son pied la masse élastique d’un cadavre encore frais. On eût dit que la terre même où étaient plantées nos maisons se purgeait de son chargement d’humeurs, qu’elle laissait monter à la surface des furoncles et des sanies qui, jusqu’ici, la travaillaient intérieurement. Qu’on envisage seulement la stupéfaction de notre petite ville, si tranquille jusque-là, et bouleversée en quelques jours, comme un homme bien portant dont le sang épais se mettrait tout d’un coup en révolution!
Les choses allèrent si loin que l’agence Ransdoc (renseignements, documentation, tous les renseignements sur n’importe quel sujet) annonça, dans son émission radiopho-nique d’informations gratuites, six mille deux cent trente et un rats collectés et brûlés dans la seule journée du 25. Ce chiffre, qui donnait un sens clair au spectacle quotidien que la ville avait sous les yeux, accrut le désarroi. Jusqu’alors, on s’était seulement plaint d’un accident un peu répugnant. On s’apercevait maintenant que ce phénomène dont on ne pouvait encore ni préciser l’ampleur ni déceler l’origine avait quelque chose de menaçant. Seul le vieil Espagnol asthmatique continuait de se frotter les mains et répétait: “Ils sortent, ils sortent”, avec une joie sénile.
Le 28 avril, cependant, Ransdoc annonçait une collecte de huit mille rats environ et l’anxiété était à son comble dans la ville. On demandait des mesures radicales, on accusait les autorités, et certains qui avaient des maisons au bord de la mer parlaient déjà de s’y retirer. Mais, le lendemain, l’agence annonça que le phénomène avait cessé brutalement et que le service de dératisation n’avait collecté qu’une quantité négligeable de rats morts. La ville respira.
C’est pourtant le même jour, à midi, que le docteur Rieux, arrêtant sa voiture devant son immeuble, aperçut au bout de la rue le concierge qui avançait péniblement, la tête penchée, bras et jambes écartés, dans une attitude de pantin. Le vieil homme tenait le bras d’un prêtre que le docteur reconnut. C’était le père Paneloux, un jésuite érudit et militant qu’il avait rencontré quelquefois et qui était très estimé dans notre ville, même parmi ceux qui sont indifférents en matière de religion. Il les attendit. Le vieux Michel avait les yeux brillants et la respiration sifflante. Il ne s’était pas senti très bien et avait voulu prendre l’air. Mais des douleurs vives au cou, aux aisselles et aux aines l’avaient forcé à revenir et à demander l’aide du père Paneloux.
- Ce sont des grosseurs, dit-il. J’ai dû faire un effort.
Le bras hors de la portière, le docteur promena son doigt à la base du cou que Michel lui tendait ; une sorte de nœud de bois s’y était formé.
- Couchez-vous, prenez votre température, je viendrai vous voir cet après-midi.
Le concierge parti, Rieux demanda au père Paneloux ce qu’il pensait de cette histoire de rats :
- Oh! dit le père, ce doit être une épidémie, et ses yeux sourirent derrière les lunettes rondes.
Après le déjeuner, Rieux relisait le télégramme de la maison de santé qui lui annonçait l’arrivée de sa femme, quand le téléphone se fit entendre. C’était un de ses anciens clients, employé de mairie, qui l’appelait. Il avait longtemps souffert d’un rétrécissement de l’aorte, et, comme il était pauvre, Rieux l’avait soigné gratuitement.
- Oui, disait-il, vous vous souvenez de moi. Mais il s’agit d’un autre. Venez vite, il est arrivé quelque chose chez mon voisin.
Sa voix s’essoufflait. Rieux pensa au concierge et décida qu’il le verrait ensuite. Quelques minutes plus tard, il franchissait la porte d’une maison basse de la rue Faidherbe, dans un quartier extérieur. Au milieu de l’escalier frais et puant, il rencontra Joseph Grand, l’employé, qui descendait à sa rencontre. C’était un homme d’une cinquantaine d’années, à la moustache jaune, long et voûté, les épaules étroites et les membres maigres.
- Cela va mieux, dit-il en arrivant vers Rieux, mais j’ai cru qu’il y passait.
Il se mouchait. Au deuxième et dernier étage, sur la porte de gauche, Rieux lut, tracé à la craie rouge: “Entrez, je suis pendu”.
Ils entrèrent. La corde pendait de la suspension au-dessus d’une chaise renversée, la table poussée dans un coin. Mais elle pendait dans le vide.
- Je l’ai décroché à temps, disait Grand qui semblait toujours chercher ses mots, bien qu’il parlât le langage le plus simple. Je sortais, justement, et j’ai entendu du bruit. Quand j’ai vu l’inscription, comment vous expliquer, j’ai cru à une farce. Mais il a poussé un gémissement drôle, et même sinistre, on peut le dire.
Il se grattait la tête :
- À mon avis, l’opération doit être douloureuse. Naturellement, je suis entré.
Ils avaient poussé une porte et se trouvaient sur le seuil d’une chambre claire, mais meublée pauvrement. Un petit homme rond était couché sur le lit de cuivre. Il respirait fortement et les regardait avec des yeux congestionnés. Le docteur s’arrêta. Dans les intervalles de la respiration, il lui semblait entendre des petits cris de rats. Mais rien ne bougeait dans les coins. Rieux alla vers le lit. L’homme n’était pas tombé d’assez haut, ni trop brusquement, les vertèbres avaient tenu. Bien entendu, un peu d’asphyxie. Il faudrait avoir une radiographie. Le docteur fit une piqûre d’huile camphrée et dit que tout s’arrangerait en quelques jours.
- Merci, docteur, dit l’homme d’une voix étouffée.
Rieux demanda à Grand s’il avait prévenu le commissariat et l’employé prit un air déconfit :
- Non, dit-il, oh! non. J’ai pensé que le plus pressé...
- Bien sûr, coupa Rieux, je le ferai donc.
Mais, à ce moment, le malade s’agita et se dressa dans le lit en protestant qu’il allait bien et que ce n’était pas la peine.
- Calmez-vous, dit Rieux. Ce n’est pas une affaire, croyez-moi, et il faut que je fasse ma déclaration.
- Oh! fit l’autre.
Et il se rejeta en arrière pour pleurer à petits coups. Grand, qui tripotait sa moustache depuis un moment, s’approcha de lui.
- Allons, monsieur Cottard, dit-il. Essayez de comprendre. On peut dire que le docteur est responsable. Si, par exemple, il vous prenait l’envie de recommencer...
Mais Cottard dit, au milieu de ses larmes, qu’il ne recommencerait pas, que c’était seulement un moment d’affolement et qu’il désirait seulement qu’on lui laissât la paix. Rieux rédigeait une ordonnance.
- C’est entendu, dit-il. Laissons cela, je reviendrai dans deux ou trois jours. Mais ne faites pas de bêtises.
Sur le palier, il dit à Grand qu’il était obligé de faire sa déclaration, mais qu’il demanderait au commissaire de ne faire son enquête que deux jours après.
- Il faut le surveiller cette nuit. A-t-il de la famille?
- Je ne la connais pas. Mais je peux veiller moi-même.
Il hochait la tête.
- Lui non plus, remarquez-le, je ne peux pas dire que je le connaisse. Mais il faut bien s’entraider.
Dans les couloirs de la maison, Rieux regarda machinalement vers les recoins et demanda à Grand si les rats avaient totalement disparu de son quartier. L’employé n’en savait rien. On lui avait parlé en effet de cette histoire, mais il ne prêtait pas beaucoup d’attention aux bruits du quartier.
- J’ai d’autres soucis, dit-il.
Rieux lui serrait déjà la main. Il était pressé de voir le concierge avant d’écrire à sa femme.
Les crieurs des journaux du soir annonçaient que l’invasion des rats était stoppée. Mais Rieux trouva son malade à demi versé hors du lit, une main sur le ventre et l’autre autour du cou, vomissant avec de grands arrachements une bile rosâtre dans un bidon d’ordures. Après de longs efforts, hors d’haleine, le concierge se recoucha. La température était à trente-neuf cinq, les ganglions du cou et les membres avaient gonflé, deux taches noirâtres s’élargissaient à son flanc. Il se plaignait maintenant d’une douleur intérieure.
- Ça brûle, disait-il, ce cochon-là me brûle.
Sa bouche fuligineuse lui faisait mâcher les mots et il tournait vers le docteur des yeux globuleux où le mal de tête mettait des larmes. Sa femme regardait avec anxiété Rieux qui demeurait muet.
- Docteur, disait-elle, qu’est-ce que c’est?
- Ça peut être n’importe quoi. Mais il n’y a encore rien de sûr. Jusqu’à ce soir, diète et dépuratif. Qu’il boive beaucoup.
Justement, le concierge était dévoré par la soif.
Rentré chez lui, Rieux téléphonait à son confrère Richard, un des médecins les plus importants de la ville.
- Non, disait Richard, je n’ai rien vu d’extraordinaire.
- Pas de fièvre avec inflammations locales?
- Ah! si, pourtant, deux cas avec des ganglions très enflammés.
- Anormalement?
- Heu, dit Richard, le normal, vous savez...
Le soir, dans tous les cas, le concierge délirait et, à quarante degrés, se plaignait des rats. Rieux tenta un abcès de fixation. Sous la brûlure de la térébenthine, le concierge hurla: “Ah! les cochons!”
Les ganglions avaient encore grossi, durs et ligneux au toucher. La femme du concierge s’affolait :
- Veillez, lui dit le docteur, et appelez-moi s’il y a lieu.
Le lendemain, 30 avril, une brise déjà tiède soufflait dans un ciel bleu et humide. Elle apportait une odeur de fleurs qui venait des banlieues les plus lointaines. Les bruits du matin dans les rues semblaient plus vifs, plus joyeux qu’à l’ordinaire. Dans toute notre petite ville, débarrassée de la sourde appréhension où elle avait vécu pendant la semaine, ce jour-là était celui du renouveau. Rieux lui-même, rassuré par une lettre de sa femme, descendit chez le concierge avec légèreté. Et en effet, au matin, la fièvre était tombée à trente-huit degrés. Affaibli, le malade souriait dans son lit.
- Cela va mieux, n’est-ce pas, docteur? dit sa femme.
- Attendons encore.
Mais à midi, la fièvre était montée d’un seul coup à quarante degrés, le malade délirait sans arrêt et les vomissements avaient repris. Les ganglions du cou étaient douloureux au toucher et le concierge semblait vouloir tenir sa tête le plus possible éloignée du corps. Sa femme était assise au pied du lit, les mains sur la couverture, tenant doucement les pieds du malade. Elle regardait Rieux.
- Écoutez, dit celui-ci, il faut l’isoler et tenter un traitement d’exception. Je téléphone à l’hôpital et nous le transporterons en ambulance.
Deux heures après, dans l’ambulance, le docteur et la femme se penchaient sur le malade. De sa bouche tapissée de fongosités, des bribes de mots sortaient: “Les rats!” disait-il. Verdâtre, les lèvres cireuses, les paupières plombées, le souffle saccadé et court, écartelé par les ganglions, tassé au fond de sa couchette comme s’il eût voulu la refermer sur lui ou comme si quelque chose, venu du fond de la terre, l’appelait sans répit, le concierge étouffait sous une pesée invisible. La femme pleurait.
- N’y a-t-il donc plus d’espoir, docteur?
- Il est mort, dit Rieux.
La mort du concierge, il est possible de le dire, marqua la fin de cette période remplie de signes déconcertants et le début d’une autre, relativement plus difficile, où la surprise des premiers temps se transforma peu à peu en panique. Nos concitoyens, ils s’en rendaient compte désormais, n’avaient jamais pensé que notre petite ville pût être un lieu particulièrement désigné pour que les rats y meurent au soleil et que les concierges y périssent de maladies bizarres. De ce point de vue, ils se trouvaient en somme dans l’erreur et leurs idées étaient à réviser. Si tout s’était arrêté là, les habitudes sans doute l’eussent emporté. Mais d’autres parmi nos concitoyens, et qui n’étaient pas toujours concierges ni pauvres, durent suivre la route sur laquelle M. Michel s’était engagé le premier. C’est à partir de ce moment que la peur, et la réflexion avec elle, commencèrent.
Cependant, avant d’entrer dans le détail de ces nouveaux événements, le narrateur croit utile de donner sur la période qui vient d’être décrite l’opinion d’un autre témoin. Jean Tarrou, qu’on a déjà rencontré au début de ce récit, s’était fixé à Oran quelques semaines plus tôt et habitait, depuis ce temps, un grand hôtel du centre. Apparemment, il semblait assez aisé pour vivre de ses revenus. Mais, bien que la ville se fût peu à peu habituée à lui, personne ne pouvait dire d’où il venait, ni pourquoi il était là. On le rencontrait dans tous les endroits publics. Dès le début du printemps, on l’avait beaucoup vu sur les plages, nageant souvent et avec un plaisir manifeste. Bonhomme, toujours souriant, il semblait être l’ami de tous les plaisirs normaux sans en être l’esclave. En fait, la seule habitude qu’on lui connût était la fréquentation assidue des danseurs et des musiciens espagnols, assez nombreux dans notre ville.
Ses carnets, en tout cas, constituent eux aussi une sorte de chronique de cette période difficile. Mais il s’agit d’une chronique très particulière qui semble obéir à un parti pris d’insignifiance. À première vue, on pourrait croire que Tarrou s’est ingénié à considérer les choses et les êtres par le gros bout de la lorgnette. Dans le désarroi général, il s’appliquait, en somme, à se faire l’historien de ce qui n’a pas d’histoire. On peut déplorer sans doute ce parti pris et y soupçonner la sécheresse du cœur. Mais il n’en reste pas moins que ces carnets peuvent fournir, pour une chronique de cette période, une foule de détails secondaires qui ont cependant leur importance et dont la bizarrerie même empêchera qu’on juge trop vite cet intéressant personnage.
Les premières notes prises par Jean Tarrou datent de son arrivée à Oran. Elles montrent, dès le début, une curieuse satisfaction de se trouver dans une ville aussi laide par elle-même. On y trouve la description détaillée des deux lions de bronze qui ornent la mairie, des considérations bienveillantes sur l’absence d’arbres, les maisons disgracieuses et le plan absurde de la ville. Tarrou y mêle encore des dialogues entendus dans les tramways et dans les rues, sans y ajouter de commentaires, sauf, un peu plus tard, pour l’une de ces conversations, concernant un nommé Camps. Tarrou avait assisté à l’entretien de deux receveurs de tramways :
- Tu as bien connu Camps, disait l’un.
- Camps? Un grand avec une moustache noire?
- C’est ça. Il était à l’aiguillage.
- Oui, bien sûr.
- Eh bien, il est mort.
- Ah! et quand donc?
- Après l’histoire des rats.
- Tiens! Et qu’est-ce qu’il a eu?
- Je ne sais pas, la fièvre. Et puis, il n’était pas fort. Il a eu des abcès sous le bras. Il n’a pas résisté.
- Il avait pourtant l’air comme tout le monde.
- Non, il avait la poitrine faible et il faisait de la musique à l’Orphéon. Toujours souffler dans un piston, ça use.
- Ah! termina le deuxième, quand on est malade, il ne faut pas souffler dans un piston.
Après ces quelques indications, Tarrou se demandait pourquoi Camps était entré à l’Orphéon contre son intérêt le plus évident et quelles étaient les raisons profondes qui l’avaient conduit à risquer sa vie pour des défilés dominicaux.
Tarrou semblait ensuite avoir été favorablement impressionné par une scène qui se déroulait souvent au balcon qui faisait face à sa fenêtre. Sa chambre donnait en effet sur une petite rue transversale où des chats dormaient à l’ombre des murs. Mais tous les jours, après déjeuner, aux heures où la ville tout entière somnolait dans la chaleur, un petit vieux apparaissait sur un balcon, de l’autre côté de la rue. Les cheveux blancs et bien peignés, droit et sévère dans ses vêtements de coupe militaire, il appelait les chats d’un “Minet, minet”, à la fois distant et doux. Les chats levaient leurs yeux pâles de sommeil, sans encore se déranger. L’autre déchirait des petits bouts de papier au-dessus de la rue et les bêtes, attirées par cette pluie de papillons blancs, avançaient au milieu de la chaussée, tendant une patte hésitante vers les derniers morceaux de papier. Le petit vieux crachait alors sur les chats avec force et précision. Si l’un des crachats atteignait son but, il riait.
Enfin, Tarrou paraissait avoir été définitivement séduit par le caractère commercial de la ville dont l’apparence, l’animation et même les plaisirs semblaient commandés par les nécessités du négoce. Cette singularité (c’est le terme employé par les carnets) recevait l’approbation de Tarrou et l’une de ses remarques élogieuses se terminait même par l’exclamation: “Enfin!” Ce sont les seuls endroits où les notes du voyageur, à cette date, semblent prendre un caractère personnel. Il est difficile simplement d’en apprécier la signification et le sérieux. C’est ainsi qu’après avoir relaté que la découverte d’un rat mort avait poussé le caissier de l’hôtel à commettre une erreur dans sa note, Tarrou avait ajouté, d’une écriture moins nette que d’habitude: “Question: comment faire pour ne pas perdre son temps? Réponse: l’éprouver dans toute sa longueur. Moyens: passer des journées dans l’antichambre d’un dentiste, sur une chaise inconfortable ; vivre à son balcon le dimanche après-midi ; écouter des conférences dans une langue qu’on ne comprend pas, choisir les itinéraires de chemin de fer les plus longs et les moins commodes et voyager debout naturellement ; faire la queue aux guichets des spectacles et ne pas prendre sa place, etc”. Mais tout de suite après ces écarts de langage ou de pensée, les carnets entament une description détaillée des tramways de notre ville, de leur forme de nacelle, leur couleur indécise, leur saleté habituelle, et terminent ces considérations par un “c’est remarquable” qui n’explique rien.
Voici en tout cas les indications données par Tarrou sur l’histoire des rats:
“Aujourd’hui, le petit vieux d’en face est décontenancé. Il n’y a plus de chats. Ils ont en effet disparu, excités par les rats morts que l’on découvre en grand nombre dans les rues. À mon avis, il n’est pas question que les chats mangent les rats morts. Je me souviens que les miens détestaient ça. Il n’empêche qu’ils doivent courir dans les caves et que le petit vieux est décontenancé. Il est moins bien peigné, moins vigoureux. On le sent inquiet. Au bout d’un moment, il est rentré. Mais il avait craché, une fois, dans le vide.
“Dans la ville, on a arrêté un tram aujourd’hui parce qu’on y avait découvert un rat mort, parvenu là on ne sait comment. Deux ou trois femmes sont descendues. On a jeté le rat. Le tram est reparti.
“À l’hôtel, le veilleur de nuit, qui est un homme digne de foi, m’a dit qu’il s’attendait à un malheur avec tous ces rats. “Quand les rats quittent le navire”. Je lui ai répondu que c’était vrai dans le cas des bateaux, mais qu’on ne l’avait jamais vérifié pour les villes. Cependant, sa conviction est faite. Je lui ai demandé quel malheur, selon lui, on pouvait attendre. Il ne savait pas, le malheur étant impossible à prévoir. Mais il n’aurait pas été étonné qu’un tremblement de terre fît l’affaire. J’ai reconnu que c’était possible et il m’a demandé si ça ne m’inquiétait pas.
“- La seule chose qui m’intéresse, lui ai-je dit, c’est de trouver la paix intérieure.
“Il m’a parfaitement compris.
“Au restaurant de l’hôtel, il y a toute une famille bien intéressante. Le père est un grand homme maigre, habillé de noir, avec un col dur. Il a le milieu du crâne chauve et deux touffes de cheveux gris, à droite et à gauche. Des petits yeux ronds et durs, un nez mince, une bouche horizontale, lui donnent l’air d’une chouette bien élevée. Il arrive toujours le premier à la porte du restaurant, s’efface, laisse passer sa femme, menue comme une souris noire, et entre alors avec, sur les talons, un petit garçon et une petite fille habillés comme des chiens savants. Arrivé à sa table, il attend que sa femme ait pris place, s’assied, et les deux caniches peuvent enfin se percher sur leurs chaises. Il dit “vous” à sa femme et à ses enfants, débite des méchancetés polies à la première et des paroles définitives aux héritiers:
“- Nicole, vous vous montrez souverainement antipathique!
“Et la petite fille est prête à pleurer. C’est ce qu’il faut.
“Ce matin, le petit garçon était tout excité par l’histoire des rats. Il a voulu dire un mot à table:
“- On ne parle pas de rats à table, Philippe. Je vous interdis à l’avenir de prononcer ce mot.
“- Votre père a raison, a dit la souris noire.
“Les deux caniches ont piqué le nez dans leur pâtée et la chouette a remercié d’un signe de tête qui n’en disait pas long.
“Malgré ce bel exemple, on parle beaucoup en ville de cette histoire de rats. Le journal s’en est mêlé. La chronique locale, qui d’habitude est très variée, est maintenant occupée tout entière par une campagne contre la municipalité: “Nos édiles se sont-ils avisés du danger que pouvaient présenter les cadavres putréfiés de ces rongeurs?” Le directeur de l’hôtel ne peut plus parler d’autre chose. Mais c’est aussi qu’il est vexé. Découvrir des rats dans l’ascenseur d’un hôtel honorable lui paraît inconcevable. Pour le consoler, je lui ai dit: “Mais tout le monde en est là”.
“- Justement, m’a-t-il répondu, nous sommes maintenant comme tout le monde.
“C’est lui qui m’a parlé des premiers cas de cette fièvre surprenante dont on commence à s’inquiéter. Une de ses femmes de chambre en est atteinte.
“- Mais sûrement, ce n’est pas contagieux, a-t-il précisé avec empressement.
“Je lui ai dit que cela m’était égal.
“- Ah! Je vois. Monsieur est comme moi, Monsieur est fataliste.
“Je n’avais rien avancé de semblable et d’ailleurs je ne suis pas fataliste. Je le lui ai dit...”
C’est à partir de ce moment que les carnets de Tarrou commencent à parler avec un peu de détails de cette fièvre inconnue dont on s’inquiétait déjà dans le public. En notant que le petit vieux avait retrouvé enfin ses chats avec la disparition des rats, et rectifiait patiemment ses tirs, Tarrou ajoutait qu’on pouvait déjà citer une dizaine de cas de cette fièvre, dont la plupart avaient été mortels.
À titre documentaire, on peut enfin reproduire le portrait du docteur Rieux par Tarrou. Autant que le narrateur puisse juger, il est assez fidèle:
“Paraît trente-cinq ans. Taille moyenne. Les épaules fortes. Visage presque rectangulaire. Les yeux sombres et droits, mais les mâchoires saillantes. Le nez fort est régulier. Cheveux noirs coupés très court. La bouche est arquée avec des lèvres pleines et presque toujours serrées. Il a un peu l’air d’un paysan sicilien avec sa peau cuite, son poil noir et ses vêtements de teintes toujours foncées, mais qui lui vont bien.
“Il marche vite. Il descend les trottoirs sans changer son allure, mais deux fois sur trois remonte sur le trottoir opposé en faisant un léger saut. Il est distrait au volant de son auto et laisse souvent ses flèches de direction levées, même après qu’il a effectué son tournant. Toujours nu-tête. L’air renseigné”.
Les chiffres de Tarrou étaient exacts. Le docteur Rieux en savait quelque chose. Le corps du concierge isolé, il avait téléphoné à Richard pour le questionner sur ces fièvres inguinales.
- Je n’y comprends rien, avait dit Richard. Deux morts, l’un en quarante-huit heures, l’autre en trois jours. J’avais laissé le dernier avec toutes les apparences de la convalescence, un matin.
- Prévenez-moi, si vous avez d’autres cas, dit Rieux.
Il appela encore quelques médecins. L’enquête ainsi menée lui donna une vingtaine de cas semblables en quelques jours. Presque tous avaient été mortels. Il demanda alors à Richard, président de l’ordre des médecins d’Oran, l’isolement des nouveaux malades.
- Mais je n’y puis rien, dit Richard. Il faudrait des mesures préfectorales. D’ailleurs, qui vous dit qu’il y a risque de contagion?
- Rien ne me le dit, mais les symptômes sont inquiétants.
Richard, cependant, estimait qu’“il n’avait pas qualité”. Tout ce qu’il pouvait faire était d’en parler au préfet.
Mais, pendant qu’on parlait, le temps se gâtait. Au lendemain de la mort du concierge, de grandes brumes couvrirent le ciel. Des pluies diluviennes et brèves s’abattirent sur la ville ; une chaleur orageuse suivait ces brusques ondées. La mer elle-même avait perdu son bleu profond et, sous le ciel brumeux, elle prenait des éclats d’argent ou de fer, douloureux pour la vue. La chaleur humide de ce printemps faisait souhaiter les ardeurs de l’été. Dans la ville, bâtie en escargot sur son plateau, à peine ouverte vers la mer, une torpeur morne régnait. Au milieu de ses longs murs crépis, parmi les rues aux vitrines poudreuses, dans les tramways d’un jaune sale, on se sentait un peu prisonnier du ciel. Seul, le vieux malade de Rieux triomphait de son asthme pour se réjouir de ce temps.
- Ça cuit, disait-il, c’est bon pour les bronches.
Ça cuisait en effet, mais ni plus ni moins qu’une fièvre. Toute la ville avait la fièvre, c’était du moins l’impression qui poursuivait le docteur Rieux, le matin où il se rendait rue Faidherbe, afin d’assister à l’enquête sur la tentative de suicide de Cottard. Mais cette impression lui paraissait déraisonnable. Il l’attribuait à l’énervement et aux préoccupations dont il était assailli et il admit qu’il était urgent de mettre un peu d’ordre dans ses idées.
Quand il arriva, le commissaire n’était pas encore là. Grand attendait sur le palier et ils décidèrent d’entrer d’abord chez lui en laissant la porte ouverte. L’employé de mairie habitait deux pièces, meublées très sommairement. On remarquait seulement un rayon de bois blanc garni de deux ou trois dictionnaires, et un tableau noir sur lequel on pouvait lire encore, à demi effacés, les mots “allées fleuries”. Selon Grand, Cottard avait passé une bonne nuit. Mais il s’était réveillé, le matin, souffrant de la tête et incapable d’aucune réaction. Grand paraissait fatigué et nerveux, se promenant de long en large, ouvrant et refermant sur la table un gros dossier rempli de feuilles manuscrites.
Il raconta cependant au docteur qu’il connaissait mal Cot-tard, mais qu’il lui supposait un petit avoir. Cottard était un homme bizarre. Longtemps, leurs relations s’étaient bornées à quelques saluts dans l’escalier.
- Je n’ai eu que deux conversations avec lui. Il y a quelques jours, j’ai renversé sur le palier une boîte de craies que je ramenais chez moi. Il y avait des craies rouges et des craies bleues. À ce moment, Cottard est sorti sur le palier et m’a aidé à les ramasser. Il m’a demandé à quoi servaient ces craies de différentes couleurs.
Grand lui avait alors expliqué qu’il essayait de refaire un peu de latin. Depuis le lycée, ses connaissances s’étaient estompées.
- Oui, dit-il au docteur, on m’a assuré que c’était utile pour mieux connaître le sens des mots français.
Il écrivait donc des mots latins sur son tableau. Il recopiait à la craie bleue la partie des mots qui changeait suivant les déclinaisons et les conjugaisons, et, à la craie rouge, celle qui ne changeait jamais.
- Je ne sais pas si Cottard a bien compris, mais il a paru intéressé et m’a demandé une craie rouge. J’ai été un peu surpris mais après tout. Je ne pouvais pas deviner, bien sûr, que cela servirait son projet.
Rieux demanda quel était le sujet de la deuxième conversation. Mais, accompagné de son secrétaire, le commissaire arrivait qui voulait d’abord entendre les déclarations de Grand. Le docteur remarqua que Grand, parlant de Cottard, l’appelait toujours “le désespéré”. Il employa même à un moment l’expression “résolution fatale”. Ils discutèrent sur le motif du suicide et Grand se montra tatillon sur le choix des termes. On s’arrêta enfin sur les mots “chagrins intimes”. Le commissaire demanda si rien dans l’attitude de Cottard ne laissait prévoir ce qu’il appelait “sa détermination”.
- Il a frappé hier à ma porte, dit Grand, pour me demander des allumettes. Je lui ai donné ma boîte. Il s’est excusé en me disant qu’entre voisins... Puis il m’a assuré qu’il me rendrait ma boîte. Je lui ai dit de la garder.
Le commissaire demanda à l’employé si Cottard ne lui avait pas paru bizarre.
- Ce qui m’a paru bizarre, c’est qu’il avait l’air de vouloir engager conversation. Mais moi j’étais en train de travailler.
Grand se tourna vers Rieux et ajouta, d’un air embarrassé :
- Un travail personnel.
Le commissaire voulait voir cependant le malade. Mais Rieux pensait qu’il valait mieux préparer d’abord Cottard à cette visite. Quand il entra dans la chambre, ce dernier, vêtu seulement d’une flanelle grisâtre, était dressé dans son lit et tourné vers la porte avec une expression d’anxiété.
- C’est la police, hein?
- Oui, dit Rieux, et ne vous agitez pas. Deux ou trois formalités et vous aurez la paix.
Mais Cottard répondit que cela ne servait à rien et qu’il n’aimait pas la police. Rieux marqua de l’impatience.
- Je ne l’adore pas non plus. Il s’agit de répondre vite et correctement à leurs questions, pour en finir une bonne fois.
Cottard se tut et le docteur retourna vers la porte. Mais le petit homme l’appelait déjà et lui prit les mains quand il fut près du lit :
- On ne peut pas toucher à un malade, à un homme qui s’est pendu, n’est-ce pas, docteur?
Rieux le considéra un moment et l’assura enfin qu’il n’avait jamais été question de rien de ce genre et qu’aussi bien, il était là pour protéger son malade. Celui-ci parut se détendre et Rieux fit entrer le commissaire.
On lut à Cottard le témoignage de Grand et on lui demanda s’il pouvait préciser les motifs de son acte. Il répondit seulement et sans regarder le commissaire que “chagrins intimes, c’était très bien”. Le commissaire le pressa de dire s’il avait envie de recommencer. Cottard, s’animant, répondit que non et qu’il désirait seulement qu’on lui laissât la paix.
- Je vous ferai remarquer, dit le commissaire sur un ton irrité, que, pour le moment, c’est vous qui troublez celle des autres.
Mais sur un signe de Rieux, on en resta là.
- Vous pensez, soupira le commissaire en sortant, nous avons d’autres chats à fouetter, depuis qu’on parle de cette fièvre...
Il demanda au docteur si la chose était sérieuse et Rieux dit qu’il n’en savait rien.
- C’est le temps, voilà tout, conclut le commissaire.
C’était le temps, sans doute. Tout poissait aux mains à mesure que la journée avançait et Rieux sentait son appréhension croître à chaque visite. Le soir de ce même jour, dans le faubourg, un voisin du vieux malade se pressait sur les aines et vomissait au milieu du délire. Les ganglions étaient bien plus gros que ceux du concierge. L’un d’eux commençait à suppurer et, bientôt, il s’ouvrit comme un mauvais fruit. Rentré chez lui, Rieux téléphona au dépôt de produits pharmaceutiques du département. Ses notes professionnelles mentionnent seulement à cette date: “Réponse négative”. Et, déjà, on l’appelait ailleurs pour des cas semblables. Il fallait ouvrir les abcès, c’était évident. Deux coups de bistouri en croix et les ganglions déversaient une purée mêlée de sang. Les malades saignaient, écarte-lés. Mais des taches apparaissaient au ventre et aux jambes, un ganglion cessait de suppurer, puis se regonflait. La plupart du temps, le malade mourait, dans une odeur épouvantable.
La presse, si bavarde dans l’affaire des rats, ne parlait plus de rien. C’est que les rats meurent dans la rue et les hommes dans leur chambre. Et les journaux ne s’occupent que de la rue. Mais la préfecture et la municipalité commençaient à s’interroger. Aussi longtemps que chaque médecin n’avait pas eu connaissance de plus de deux ou trois cas, personne n’avait pensé à bouger. Mais, en somme, il suffit que quelqu’un songeât à faire l’addition. L’addition était consternante. En quelques jours à peine, les cas mortels se multiplièrent et il devint évident pour ceux qui se préoccupaient de ce mal curieux qu’il s’agissait d’une véritable épidémie. C’est le moment que choisit Castel, un confrère de Rieux, beaucoup plus âgé que lui, pour venir le voir.
- Naturellement, lui dit-il, vous savez ce que c’est, Rieux?
- J’attends le résultat des analyses.
- Moi, je le sais. Et je n’ai pas besoin d’analyses. J’ai fait une partie de ma carrière en Chine, et j’ai vu quelques cas à Paris, il y a une vingtaine d’années. Seulement, on n’a pas osé leur donner un nom, sur le moment. L’opinion publique, c’est sacré: pas d’affolement, surtout pas d’affolement. Et puis comme disait un confrère: “C’est impossible, tout le monde sait qu’elle a disparu de l’Occident”. Oui, tout le monde le savait, sauf les morts. Allons, Rieux, vous savez aussi bien que moi ce que c’est.
Rieux réfléchissait. Par la fenêtre de son bureau, il regardait l’épaule de la falaise pierreuse qui se refermait au loin sur la baie. Le ciel, quoique bleu, avait un éclat terne qui s’adoucissait à mesure que l’après-midi s’avançait.
- Oui, Castel, dit-il, c’est à peine croyable. Mais il semble bien que ce soit la peste.
Castel se leva et se dirigea vers la porte.
- Vous savez ce qu’on nous répondra, dit le vieux docteur: “Elle a disparu des pays tempérés depuis des années”.
- Qu’est-ce que ça veut dire, disparaître? répondit Rieux en haussant les épaules.
- Oui. Et n’oubliez pas: à Paris encore, il y a presque vingt
ans.
- Bon. Espérons que ce ne sera pas plus grave aujourd’hui qu’alors. Mais c’est vraiment incroyable.
Le mot de “peste” venait d’être prononcé pour la première fois. À ce point du récit qui laisse Bernard Rieux derrière sa fenêtre, on permettra au narrateur de justifier l’incertitude et la surprise du docteur, puisque, avec des nuances, sa réaction fut celle de la plupart de nos concitoyens. Les fléaux, en effet, sont une chose commune, mais on croit difficilement aux fléaux lorsqu’ils vous tombent sur la tête. Il y a eu dans le monde autant de pestes que de guerres. Et pourtant pestes et guerres trouvent les gens toujours aussi dépourvus. Le docteur Rieux était dépourvu, comme l’étaient nos concitoyens, et c’est ainsi qu’il faut comprendre ses hésitations. C’est ainsi qu’il faut comprendre aussi qu’il fut partagé entre l’inquiétude et la confiance. Quand une guerre éclate, les gens disent: “Ça ne durera pas, c’est trop bête”. Et sans doute une guerre est certainement trop bête, mais cela ne l’empêche pas de durer. La bêtise insiste toujours, on s’en apercevrait si l’on ne pensait pas toujours à soi. Nos concitoyens à cet égard étaient comme tout le monde, ils pensaient à eux-mêmes, autrement dit ils étaient humanistes: ils ne croyaient pas aux fléaux. Le fléau n’est pas à la mesure de l’homme, on se dit donc que le fléau est irréel, c’est un mauvais rêve qui va passer. Mais il ne passe pas toujours et, de mauvais rêve en mauvais rêve, ce sont les hommes qui passent, et les humanistes en premier lieu, parce qu’ils n’ont pas pris leurs précautions. Nos concitoyens n’étaient pas plus coupables que d’autres, ils oubliaient d’être modestes, voilà tout, et ils pensaient que tout était encore possible pour eux, ce qui supposait que les fléaux étaient impossibles. Ils continuaient de faire des affaires, ils préparaient des voyages et ils avaient des opinions. Comment auraient-ils pensé à la peste qui supprime l’avenir, les déplacements et les discussions? Ils se croyaient libres et personne ne sera jamais libre tant qu’il y aura des fléaux.
Même lorsque le docteur Rieux eut reconnu devant son ami qu’une poignée de malades dispersés venaient, sans avertissement, de mourir de la peste, le danger demeurait irréel pour lui. Simplement, quand on est médecin, on s’est fait une idée de la douleur et on a un peu plus d’imagination. En regardant par la fenêtre sa ville qui n’avait pas changé, c’est à peine si le docteur sentait naître en lui ce léger écœurement devant l’avenir qu’on appelle inquiétude. Il essayait de rassembler dans son esprit ce qu’il savait de cette maladie. Des chiffres flottaient dans sa mémoire et il se disait que la trentaine de grandes pestes que l’histoire a connues avait fait près de cent millions de morts. Mais qu’est-ce que cent millions de morts? Quand on a fait la guerre, c’est à peine si on sait déjà ce qu’est un mort. Et puisqu’un homme mort n’a de poids que si on l’a vu mort, cent millions de cadavres semés à travers l’histoire ne sont qu’une fumée dans l’imagination. Le docteur se souvenait de la peste de Constantinople qui, selon Procope, avait fait dix mille victimes en un jour. Dix mille morts font cinq fois le public d’un grand cinéma. Voilà ce qu’il faudrait faire. On rassemble les gens à la sortie de cinq cinémas, on les conduit sur une place de la ville et on les fait mourir en tas pour y voir un peu clair. Au moins, on pourrait mettre alors des visages connus sur cet entassement anonyme. Mais, naturellement, c’est impossible à réaliser, et puis qui connaît dix mille visages? D’ailleurs, des gens comme Procope ne savaient pas compter, la chose est connue. À Canton, il y avait soixante-dix ans, quarante mille rats étaient morts de la peste avant que le fléau s’intéressât aux habitants. Mais, en 1871, on n’avait pas le moyen de compter les rats. On faisait son calcul approximativement, en gros, avec des chances évidentes d’erreur. Pourtant, si un rat a trente centimètres de long, quarante mille rats mis bout à bout feraient.
Mais le docteur s’impatientait. Il se laissait aller et il ne le fallait pas. Quelques cas ne font pas une épidémie et il suffit de prendre des précautions. Il fallait s’en tenir à ce qu’on savait, la stupeur et la prostration, les yeux rouges, la bouche sale, les maux de tête, les bubons, la soif terrible, le délire, les taches sur le corps, l’écartèlement intérieur, et au bout de tout cela. Au bout de tout cela, une phrase revenait au docteur Rieux, une phrase qui terminait justement dans son manuel l’énumération des symptômes: “Le pouls devient filiforme et la mort survient à l’occasion d’un mouvement insignifiant”. Oui, au bout de tout cela, on était pendu à un fil et les trois quarts des gens, c’était le chiffre exact, étaient assez impatients pour faire ce mouvement imperceptible qui les précipitait.
Le docteur regardait toujours par la fenêtre. D’un côté de la vitre, le ciel frais du printemps, et de l’autre côté le mot qui résonnait encore dans la pièce: la peste. Le mot ne contenait pas seulement ce que la science voulait bien y mettre, mais une longue suite d’images extraordinaires qui ne s’accordaient pas avec cette ville jaune et grise, modérément animée à cette heure, bourdonnante plutôt que bruyante, heureuse en somme, s’il est possible qu’on puisse être à la fois heureux et morne. Et une tranquillité si pacifique et si indifférente niait presque sans effort les vieilles images du fléau, Athènes empestée et désertée par les oiseaux, les villes chinoises remplies d’agonisants silencieux, les bagnards de Marseille empilant dans des trous les corps dégoulinants, la construction en Provence du grand mur qui devait arrêter le vent furieux de la peste, Jaffa et ses hideux mendiants, les lits humides et pourris collés à la terre battue de l’hôpital de Constantinople, les malades tirés avec des crochets, le carnaval des médecins masqués pendant la Peste noire, les accouplements des vivants dans les cimetières de Milan, les charrettes de morts dans Londres épouvanté, et les nuits et les jours remplis, partout et toujours, du cri interminable des hommes. Non, tout cela n’était pas encore assez fort pour tuer la paix de cette journée. De l’autre côté de la vitre, le timbre d’un tramway invisible résonnait tout d’un coup et réfutait en une seconde la cruauté et la douleur. Seule la mer, au bout du damier terne des maisons, témoignait de ce qu’il y a d’inquiétant et de jamais reposé dans le monde. Et le docteur Rieux, qui regardait le golfe, pensait à ces bûchers dont parle Lucrèce et que les Athéniens frappés par la maladie élevaient devant la mer. On y portait les morts durant la nuit, mais la place manquait et les vivants se battaient à coups de torches pour y placer ceux qui leur avaient été chers, soutenant des luttes sanglantes plutôt que d’abandonner leurs cadavres. On pouvait imaginer les bûchers rougeoyants devant l’eau tranquille et sombre, les combats de torches dans la nuit crépitante d’étincelles et d’épaisses vapeurs empoisonnées montant vers le ciel attentif. On pouvait craindre.
Mais ce vertige ne tenait pas devant la raison. Il est vrai que le mot de “peste” avait été prononcé, il est vrai qu’à la minute même le fléau secouait et jetait à terre une ou deux victimes. Mais quoi, cela pouvait s’arrêter. Ce qu’il fallait faire, c’était reconnaître clairement ce qui devait être reconnu, chasser enfin les ombres inutiles et prendre les mesures qui convenaient. Ensuite, la peste s’arrêterait parce que la peste ne s’imaginait pas ou s’imaginait faussement. Si elle s’arrêtait, et c’était le plus probable, tout irait bien. Dans le cas contraire, on saurait ce qu’elle était et s’il n’y avait pas moyen de s’en arranger d’abord pour la vaincre ensuite.
Le docteur ouvrit la fenêtre et le bruit de la ville s’enfla d’un coup. D’un atelier voisin montait le sifflement bref et répété d’une scie mécanique. Rieux se secoua. Là était la certitude, dans le travail de tous les jours. Le reste tenait à des fils et à des mouvements insignifiants, on ne pouvait s’y arrêter. L’essentiel était de bien faire son métier.
Le docteur Rieux en était là de ses réflexions quand on lui annonça Joseph Grand. Employé à la mairie, et bien que ses occupations y fussent très diverses, on l’utilisait périodiquement au service des statistiques, à l’état civil. Il était amené ainsi à faire les additions des décès. Et, de naturel obligeant, il avait consenti à apporter lui-même chez Rieux une copie de ses résultats.
Le docteur vit entrer Grand avec son voisin Cottard. L’employé brandissait une feuille de papier.
- Les chiffres montent, docteur, annonça-t-il: onze morts en quarante-huit heures.
Rieux salua Cottard et lui demanda comment il se sentait. Grand expliqua que Cottard avait tenu à remercier le docteur et à s’excuser des ennuis qu’il lui avait causés. Mais Rieux regardait la feuille de statistiques :
- Allons, dit Rieux, il faut peut-être se décider à appeler cette maladie par son nom. Jusqu’à présent, nous avons piétiné. Mais venez avec moi, je dois aller au laboratoire.
- Oui, oui, disait Grand en descendant les escaliers derrière le docteur. Il faut appeler les choses par leur nom. Mais quel est ce nom?
- Je ne puis vous le dire, et d’ailleurs cela ne vous serait pas utile.
- Vous voyez, sourit l’employé. Ce n’est pas si facile.
Ils se dirigèrent vers la place d’Armes. Cottard se taisait toujours. Les rues commençaient à se charger de monde. Le crépuscule fugitif de notre pays reculait déjà devant la nuit et les premières étoiles apparaissaient dans l’horizon encore net. Quelques secondes plus tard, les lampes au-dessus des rues obscurcirent tout le ciel en s’allumant et le bruit des conversations parut monter d’un ton.
- Pardonnez-moi, dit Grand au coin de la place d’Armes. Mais il faut que je prenne mon tramway. Mes soirées sont sacrées. Comme on dit dans mon pays: “Il ne faut jamais remettre au lendemain”.
Rieux avait déjà noté cette manie qu’avait Grand, né à Montélimar, d’invoquer les locutions de son pays et d’ajouter ensuite des formules banales qui n’étaient de nulle part comme “un temps de rêve” ou “un éclairage féerique”.
- Ah! dit Cottard, c’est vrai. On ne peut pas le tirer de chez lui après le dîner.
Rieux demanda à Grand s’il travaillait pour la mairie. Grand répondit que non, il travaillait pour lui.
- Ah! dit Rieux pour dire quelque chose, et ça avance?
- Depuis des années que j’y travaille, forcément. Quoique dans un autre sens, il n’y ait pas beaucoup de progrès.
- Mais, en somme, de quoi s’agit-il? dit le docteur en s’arrêtant.
Grand bredouilla en assurant son chapeau rond sur ses grandes oreilles. Et Rieux comprit très vaguement qu’il s’agissait de quelque chose sur l’essor d’une personnalité. Mais l’employé les quittait déjà et il remontait le boulevard de la Marne, sous les ficus, d’un petit pas pressé. Au seuil du laboratoire, Cottard dit au docteur qu’il voudrait bien le voir pour lui demander conseil. Rieux, qui tripotait dans ses poches la feuille de statistiques, l’invita à venir à sa consultation, puis, se ravisant, lui dit qu’il allait dans son quartier le lendemain et qu’il passerait le voir en fin d’après-midi.
En quittant Cottard, le docteur s’aperçut qu’il pensait à Grand. Il l’imaginait au milieu d’une peste, et non pas de celle-ci qui sans doute ne serait pas sérieuse, mais d’une des grandes pestes de l’histoire. “C’est le genre d’homme qui est épargné dans ces cas-là”. Il se souvenait d’avoir lu que la peste épargnait les constitutions faibles et détruisait surtout les complexions vigoureuses. Et continuant d’y penser, le docteur trouvait à l’employé un air de petit mystère.
À première vue, en effet, Joseph Grand n’était rien de plus que le petit employé de mairie dont il avait l’allure. Long et maigre, il flottait au milieu de vêtements qu’il choisissait toujours trop grands, dans l’illusion qu’ils lui feraient plus d’usage. S’il gardait encore la plupart de ses dents sur les gencives inférieures, il avait perdu en revanche celles de la mâchoire supérieure. Son sourire, qui relevait surtout la lèvre du haut, lui donnait ainsi une bouche d’ombre. Si l’on ajoute à ce portrait une démarche de séminariste, l’art de raser les murs et de se glisser dans les portes, un parfum de cave et de fumée, toutes les mines de l’insignifiance, on reconnaîtra que l’on ne pouvait pas l’imaginer ailleurs que devant un bureau, appliqué à réviser les tarifs des bains-douches de la ville ou à réunir pour un jeune rédacteur les éléments d’un rapport concernant la nouvelle taxe sur l’enlèvement des ordures ménagères. Même pour un esprit non prévenu, il semblait avoir été mis au monde pour exercer les fonctions discrètes mais indispensables d’auxiliaire municipal temporaire à soixante-deux francs trente par jour.
C’était en effet la mention qu’il disait faire figurer sur les feuilles d’emploi, à la suite du mot “qualification”. Lorsque vingt-deux ans auparavant, à la sortie d’une licence que, faute d’argent, il ne pouvait dépasser, il avait accepté cet emploi, on lui avait fait espérer, disait-il, une “titularisation” rapide. Il s’agissait seulement de donner pendant quelque temps les preuves de sa compétence dans les questions délicates que posait l’administration de notre cité. Par la suite, il ne pouvait manquer, on l’en avait assuré, d’arriver à un poste de rédacteur qui lui permettrait de vivre largement. Certes, ce n’était pas l’ambition qui faisait agir Joseph Grand, il s’en portait garant avec un sourire mélancolique. Mais la perspective d’une vie matérielle assurée par des moyens honnêtes, et, partant, la possibilité de se livrer sans remords à ses occupations favorites lui souriait beaucoup. S’il avait accepté l’offre qui lui était faite, ce fut pour des raisons honorables et, si l’on peut dire, par fidélité à un idéal.
Il y avait de longues années que cet état de choses provisoire durait, la vie avait augmenté dans des proportions démesurées, et le salaire de Grand, malgré quelques augmentations générales, était encore dérisoire. Il s’en était plaint à Rieux, mais personne ne paraissait s’en aviser. C’est ici que se place l’originalité de Grand, ou du moins l’un de ses signes. Il eût pu, en effet, faire valoir, sinon des droits dont il n’était pas sûr, du moins les assurances qu’on lui avait données. Mais, d’abord, le chef de bureau qui l’avait engagé était mort depuis longtemps et l’employé, au demeurant, ne se souvenait pas des termes exacts de la promesse qui lui avait été faite. Enfin, et surtout, Joseph Grand ne trouvait pas ses mots.
C’est cette particularité qui peignait le mieux notre concitoyen, comme Rieux put le remarquer. C’est elle en effet qui l’empêchait toujours d’écrire la lettre de réclamation qu’il méditait, ou de faire la démarche que les circonstances exigeaient. À l’en croire, il se sentait particulièrement empêché d’employer le mot “droit” sur lequel il n’était pas ferme, ni celui de “promesses” qui aurait impliqué qu’il réclamait son dû et aurait par conséquent revêtu un caractère de hardiesse, peu compatible avec la modestie des fonctions qu’il occupait. D’un autre côté, il se refusait à utiliser les termes de “bienveillance”, “solliciter”, “gratitude”, dont il estimait qu’ils ne se conciliaient pas avec sa dignité personnelle. C’est ainsi que, faute de trouver le mot juste, notre concitoyen continua d’exercer ses obscures fonctions jusqu’à un âge assez avancé. Au reste, et toujours selon ce qu’il disait au docteur Rieux, il s’aperçut à l’usage que sa vie matérielle était assurée, de toute façon, puisqu’il lui suffisait, après tout, d’adapter ses besoins à ses ressources. Il reconnut ainsi la justesse d’un des mots favoris du maire, gros industriel de notre ville, lequel affirmait avec force que finalement (et il insistait sur ce mot qui portait tout le poids du raisonnement), finalement donc, on n’avait jamais vu personne mourir de faim. Dans tous les cas, la vie quasi ascétique que menait Joseph Grand l’avait finalement, en effet, délivré de tout souci de cet ordre. Il continuait de chercher ses mots.
Dans un certain sens, on peut bien dire que sa vie était exemplaire. Il était de ces hommes, rares dans notre ville comme ailleurs, qui ont toujours le courage de leurs bons sentiments. Le peu qu’il confiait de lui témoignait en effet de bontés et d’attachements qu’on n’ose pas avouer de nos jours. Il ne rougissait pas de convenir qu’il aimait ses neveux et sa sœur, seule parente qu’il eût gardée et qu’il allait, tous les deux ans, visiter en France. Il reconnaissait que le souvenir de ses parents, morts alors qu’il était encore jeune, lui donnait du chagrin. Il ne refusait pas d’admettre qu’il aimait par-dessus tout une certaine cloche de son quartier qui résonnait doucement vers cinq heures du soir. Mais, pour évoquer des émotions si simples cependant, le moindre mot lui coûtait mille peines. Finalement, cette difficulté avait fait son plus grand souci. “Ah! docteur, disait-il, je voudrais bien apprendre à m’exprimer”. Il en parlait à Rieux chaque fois qu’il le rencontrait.
Le docteur, ce soir-là, regardant partir l’employé, comprenait tout d’un coup ce que Grand avait voulu dire: il écrivait sans doute un livre ou quelque chose d’approchant. Jusque dans le laboratoire où il se rendit enfin, cela rassurait Rieux. Il savait que cette impression était stupide, mais il n’arrivait pas à croire que la peste pût s’installer vraiment dans une ville où l’on pouvait trouver des fonctionnaires modestes qui cultivaient d’honorables manies. Exactement, il n’imaginait pas la place de ces manies au milieu de la peste et il jugeait donc que, pratiquement, la peste était sans avenir parmi nos concitoyens.
Le lendemain, grâce à une insistance jugée déplacée, Rieux obtenait la convocation à la préfecture d’une commission sanitaire.
- Il est vrai que la population s’inquiète, avait reconnu Richard. Et puis les bavardages exagèrent tout. Le préfet m’a dit: “Faisons vite si vous voulez, mais en silence”. Il est d’ailleurs persuadé qu’il s’agit d’une fausse alerte.
Bernard Rieux prit Castel dans sa voiture pour gagner la préfecture.
- Savez-vous, lui dit ce dernier, que le département n’a pas de sérum?
- Je sais. J’ai téléphoné au dépôt. Le directeur est tombé des nues. Il faut faire venir ça de Paris.
- J’espère que ce ne sera pas long.
- J’ai déjà télégraphié, répondit Rieux.
Le préfet était aimable, mais nerveux.
- Commençons, messieurs, disait-il. Dois-je résumer la situation?
Richard pensait que c’était inutile. Les médecins connaissaient la situation. La question était seulement de savoir quelles mesures il convenait de prendre.
- La question, dit brutalement le vieux Castel, est de savoir s’il s’agit de la peste ou non.
Deux ou trois médecins s’exclamèrent. Les autres semblaient hésiter. Quant au préfet, il sursauta et se retourna machinalement vers la porte, comme pour vérifier qu’elle avait bien empêché cette énormité de se répandre dans les couloirs. Richard déclara qu’à son avis, il ne fallait pas céder à l’affolement: il s’agissait d’une fièvre à complications inguinales, c’était tout ce qu’on pouvait dire, les hypothèses, en science comme dans la vie, étant toujours dangereuses. Le vieux Castel, qui mâchonnait tranquillement sa moustache jaunie, leva des yeux clairs sur Rieux. Puis il tourna un regard bienveillant vers l’assistance et fit remarquer qu’il savait très bien que c’était la peste, mais que, bien entendu, le reconnaître officiellement obligerait à prendre des mesures impitoyables. Il savait que c’était, au fond, ce qui faisait reculer ses confrères et, partant, il voulait bien admettre pour leur tranquillité que ce ne fût pas la peste. Le préfet s’agita et déclara que, dans tous les cas, ce n’était pas une bonne façon de raisonner.
- L’important, dit Castel, n’est pas que cette façon de raisonner soit bonne, mais qu’elle fasse réfléchir.
Comme Rieux se taisait, on lui demanda son avis :
- Il s’agit d’une fièvre à caractère typhoïde, mais accompagnée de bubons et de vomissements. J’ai pratiqué l’incision des bubons. J’ai pu ainsi provoquer des analyses où le laboratoire croit reconnaître le bacille trapu de la peste. Pour être complet, il faut dire cependant que certaines modifications spécifiques du microbe ne coïncident pas avec la description classique.
Richard souligna que cela autorisait les hésitations et qu’il faudrait attendre au moins le résultat statistique de la série d’analyses, commencée depuis quelques jours.
- Quand un microbe, dit Rieux, après un court silence, est capable en trois jours de temps de quadrupler le volume de la rate, de donner aux ganglions mésentériques le volume d’une orange et la consistance de la bouillie, il n’autorise justement pas d’hésitations. Les foyers d’infection sont en extension croissante. À l’allure où la maladie se répand, si elle n’est pas stoppée, elle risque de tuer la moitié de la ville avant deux mois. Par conséquent, il importe peu que vous l’appeliez peste ou fièvre de croissance. Il importe seulement que vous l’empêchiez de tuer la moitié de la ville.
Richard trouvait qu’il ne fallait rien pousser au noir et que la contagion d’ailleurs n’était pas prouvée puisque les parents de ses malades étaient encore indemnes.
- Mais d’autres sont morts, fit remarquer Rieux. Et, bien entendu, la contagion n’est jamais absolue, sans quoi on obtiendrait une croissance mathématique infinie et un dépeuplement foudroyant. Il ne s’agit pas de rien pousser au noir. Il s’agit de prendre des précautions.
Richard, cependant, pensait résumer la situation en rappelant que pour arrêter cette maladie, si elle ne s’arrêtait pas d’elle-même, il fallait appliquer les graves mesures de prophylaxie prévues par la loi ; que, pour ce faire, il fallait reconnaître officiellement qu’il s’agissait de la peste ; que la certitude n’était pas absolue à cet égard et qu’en conséquence, cela demandait réflexion.
- La question, insista Rieux, n’est pas de savoir si les mesures prévues par la loi sont graves mais si elles sont nécessaires pour empêcher la moitié de la ville d’être tuée. Le reste est affaire d’administration et, justement, nos institutions ont prévu un préfet pour régler ces questions.
- Sans doute, dit le préfet, mais j’ai besoin que vous reconnaissiez officiellement qu’il s’agit d’une épidémie de peste.
- Si nous ne le reconnaissons pas, dit Rieux, elle risque quand même de tuer la moitié de la ville.
Richard intervint avec quelque nervosité.
- La vérité est que notre confrère croit à la peste. Sa description du syndrome le prouve.
Rieux répondit qu’il n’avait pas décrit un syndrome, il avait décrit ce qu’il avait vu. Et ce qu’il avait vu c’étaient des bubons, des taches, des fièvres délirantes, fatales en quarante-huit heures. Est-ce que M. Richard pouvait prendre la responsabilité d’affirmer que l’épidémie s’arrêterait sans mesures de prophylaxie rigoureuses?
Richard hésita et regarda Rieux :
- Sincèrement, dites-moi votre pensée, avez-vous la certitude qu’il s’agit de la peste?
- Vous posez mal le problème. Ce n’est pas une question de vocabulaire, c’est une question de temps.
- Votre pensée, dit le préfet, serait que, même s’il ne s’agissait pas de la peste, les mesures prophylactiques indiquées en temps de peste devraient cependant être appliquées.
- S’il faut absolument que j’aie une pensée, c’est en effet celle-ci.
Les médecins se consultèrent et Richard finit par dire :
- Il faut donc que nous prenions la responsabilité d’agir comme si la maladie était une peste.
La formule fut chaleureusement approuvée :
- C’est aussi votre avis, mon cher confrère? demanda Richard.
- La formule m’est indifférente, dit Rieux. Disons seulement que nous ne devons pas agir comme si la moitié de la ville ne risquait pas d’être tuée, car alors elle le serait.
Au milieu de l’agacement général, Rieux partit. Quelques moments après, dans le faubourg qui sentait la friture et l’urine, une femme qui hurlait à la mort, les aines ensanglantées, se tournait vers lui.
Le lendemain de la conférence, la fièvre fit encore un petit bond. Elle passa même dans les journaux, mais sous une forme bénigne, puisqu’ils se contentèrent d’y faire quelques allusions. Le surlendemain, en tout cas, Rieux pouvait lire de petites affiches blanches que la préfecture avait fait rapidement coller dans les coins les plus discrets de la ville. Il était difficile de tirer de cette affiche la preuve que les autorités regardaient la situation en face. Les mesures n’étaient pas draconiennes et l’on semblait avoir beaucoup sacrifié au désir de ne pas inquiéter l’opinion publique. L’exorde de l’arrêté annonçait, en effet, que quelques cas d’une fièvre pernicieuse, dont on ne pouvait encore dire si elle était contagieuse, avaient fait leur apparition dans la commune d’Oran. Ces cas n’étaient pas assez caractérisés pour être réellement inquiétants et il n’y avait pas de doute que la population saurait garder son sang-froid. Néanmoins, et dans un esprit de prudence qui pouvait être compris par tout le monde, le préfet prenait quelques mesures préventives. Comprises et appliquées comme elles devaient l’être, ces mesures étaient de nature à arrêter net toute menace d’épidémie. En conséquence, le préfet ne doutait pas un instant que ses administrés n’apportassent la plus dévouée des collaborations à son effort personnel.
L’affiche annonçait ensuite des mesures d’ensemble, parmi lesquelles une dératisation scientifique par injection de gaz toxiques dans les égouts et une surveillance étroite de l’alimentation en eau. Elle recommandait aux habitants la plus extrême propreté et invitait enfin les porteurs de puces à se présenter dans les dispensaires municipaux. D’autre part les familles devaient obligatoirement déclarer les cas diagnostiqués par le médecin et consentir à l’isolement de leurs malades dans les salles spéciales de l’hôpital. Ces salles étaient d’ailleurs équipées pour soigner les malades dans le minimum de temps et avec le maximum de chances de guérison. Quelques articles supplémentaires soumettaient à la désinfection obligatoire la chambre du malade et le véhicule de transport. Pour le reste, on se bornait à recommander aux proches de se soumettre à une surveillance sanitaire.
Le docteur Rieux se détourna brusquement de l’affiche et reprit le chemin de son cabinet. Joseph Grand, qui l’attendait, leva de nouveau les bras en l’apercevant.
- Oui, dit Rieux, je sais, les chiffres montent.
La veille, une dizaine de malades avaient succombé dans la ville. Le docteur dit à Grand qu’il le verrait peut-être le soir, puisqu’il allait rendre visite à Cottard.
- Vous avez raison, dit Grand. Vous lui ferez du bien, car je le trouve changé.
- Et comment cela?
- Il est devenu poli.
- Ne l’était-il pas auparavant?
Grand hésita. Il ne pouvait dire que Cottard fût impoli, l’expression n’aurait pas été juste. C’était un homme renfermé et silencieux qui avait un peu l’allure du sanglier. Sa chambre, un restaurant modeste et des sorties assez mystérieuses, c’était toute la vie de Cottard. Officiellement, il était représentant en vins et liqueurs. De loin en loin, il recevait la visite de deux ou trois hommes qui devaient être ses clients. Le soir, quelquefois, il allait au cinéma qui se trouvait en face de la maison. L’employé avait même remarqué que Cottard semblait voir de préférence les films de gangsters. En toutes occasions, le représentant demeurait solitaire et méfiant.
Tout cela, selon Grand, avait bien changé :
- Je ne sais pas comment dire, mais j’ai l’impression, voyez-vous, qu’il cherche à se concilier les gens, qu’il veut mettre tout le monde avec lui. Il me parle souvent, il m’offre de sortir avec lui et je ne sais pas toujours refuser. Au reste, il m’intéresse, et, en somme, je lui ai sauvé la vie.
Depuis sa tentative de suicide, Cottard n’avait plus reçu aucune visite. Dans les rues, chez les fournisseurs, il cherchait toutes les sympathies. On n’avait jamais mis tant de douceur à parler aux épiciers, tant d’intérêt à écouter une marchande de tabacs.
- Cette marchande de tabacs, remarquait Grand, est une vraie vipère. Je l’ai dit à Cottard, mais il m’a répondu que je me trompais et qu’elle avait de bons côtés qu’il fallait savoir trouver.
Deux ou trois fois enfin, Cottard avait emmené Grand dans les restaurants et les cafés luxueux de la ville. Il s’était mis à les fréquenter en effet.
- On y est bien, disait-il, et puis on est en bonne compagnie.
Grand avait remarqué les attentions spéciales du personnel pour le représentant et il en comprit la raison en observant les pourboires excessifs que celui-ci laissait. Cottard paraissait très sensible aux amabilités dont on le payait de retour. Un jour que le maître d’hôtel l’avait reconduit et aidé à endosser son pardessus, Cottard avait dit à Grand :
- C’est un bon garçon, il peut témoigner.
- Témoigner de quoi?
Cottard avait hésité.
- Eh bien, que je ne suis pas un mauvais homme.
Du reste, il avait des sautes d’humeur. Un jour où l’épicier s’était montré moins aimable, il était revenu chez lui dans un état de fureur démesurée :
- Il passe avec les autres, cette crapule, répétait-il.
- Quels autres?
- Tous les autres.
Grand avait même assisté à une scène curieuse chez la marchande de tabacs. Au milieu d’une conversation animée, celle-ci avait parlé d’une arrestation récente qui avait fait du bruit à Alger. Il s’agissait d’un jeune employé de commerce qui avait tué un Arabe sur une plage.
- Si l’on mettait toute cette racaille en prison, avait dit la marchande, les honnêtes gens pourraient respirer.
Mais elle avait dû s’interrompre devant l’agitation subite de Cottard qui s’était jeté hors de la boutique, sans un mot d’excuse. Grand et la marchande, les bras ballants, l’avaient regardé fuir.
Par la suite, Grand devait signaler à Rieux d’autres changements dans le caractère de Cottard. Ce dernier avait toujours été d’opinions très libérales. Sa phrase favorite: “Les gros mangent toujours les petits” le prouvait bien. Mais depuis quelque temps, il n’achetait plus que le journal bien pensant d’Oran et on ne pouvait même se défendre de croire qu’il mettait une certaine ostentation à le lire dans des endroits publics. De même, quelques jours après s’être levé, il avait prié Grand, qui allait à la poste, de bien vouloir expédier un mandat de cent francs qu’il envoyait tous les mois à une sœur éloignée. Mais au moment où Grand partait :
- Envoyez-lui deux cents francs, demanda Cottard, ce sera une bonne surprise pour elle. Elle croit que je ne pense jamais à elle. Mais la vérité est que je l’aime beaucoup.
Enfin il avait eu avec Grand une curieuse conversation. Celui-ci avait été obligé de répondre aux questions de Cottard intrigué par le petit travail auquel Grand se livrait chaque soir.
- Bon, avait dit Cottard, vous faites un livre.
- Si vous voulez, mais c’est plus compliqué que cela!
- Ah! s’était écrié Cottard, je voudrais bien faire comme vous.
Grand avait paru surpris et Cottard avait balbutié qu’être un artiste devait arranger bien des choses.
- Pourquoi? avait demandé Grand.
- Eh bien, parce qu’un artiste a plus de droits qu’un autre, tout le monde sait ça. On lui passe plus de choses.
- Allons, dit Rieux à Grand, le matin des affiches, l’histoire des rats lui a tourné la tête comme à beaucoup d’autres, voilà tout. Ou encore il a peur de la fièvre.
Grand répondit :
- Je ne crois pas, docteur, et si vous voulez mon avis.
La voiture de dératisation passa sous leur fenêtre dans un grand bruit d’échappement. Rieux se tut jusqu’à ce qu’il fût possible de se faire entendre et demanda distraitement l’avis de l’employé. L’autre le regardait avec gravité :
- C’est un homme, dit-il, qui a quelque chose à se reprocher.
Le docteur haussa les épaules. Comme disait le commissaire, il y avait d’autres chats à fouetter.
Dans l’après-midi, Rieux eut une conférence avec Castel. Les sérums n’arrivaient pas.
- Du reste, demandait Rieux, seraient-ils utiles? Ce bacille est bizarre.
- Oh! dit Castel, je ne suis pas de votre avis. Ces animaux ont toujours un air d’originalité. Mais, dans le fond, c’est la même chose.
- Vous le supposez du moins. En fait, nous ne savons rien de tout cela.
- Évidemment, je le suppose. Mais tout le monde en est là.
Pendant toute la journée, le docteur sentit croître le petit vertige qui le prenait chaque fois qu’il pensait à la peste. Finalement, il reconnut qu’il avait peur. Il entra deux fois dans des cafés pleins de monde. Lui aussi, comme Cottard, sentait un besoin de chaleur humaine. Rieux trouvait cela stupide, mais cela l’aida à se souvenir qu’il avait promis une visite au représentant.
Le soir, le docteur trouva Cottard devant la table de sa salle à manger. Quand il entra, il y avait sur la table un roman policier étalé. Mais la soirée était déjà avancée et, certainement, il devait être difficile de lire dans l’obscurité naissante. Cottard devait plutôt, une minute auparavant, se tenir assis et réfléchir dans la pénombre. Rieux lui demanda comment il allait. Cot-tard, en s’asseyant, bougonna qu’il allait bien et qu’il irait encore mieux s’il pouvait être sûr que personne ne s’occupât de lui. Rieux fit observer qu’on ne pouvait pas toujours être seul.
- Oh! ce n’est pas cela. Moi, je parle des gens qui s’occupent de vous apporter des ennuis.
Rieux se taisait.
- Ce n’est pas mon cas, remarquez-le bien. Mais je lisais ce roman. Voilà un malheureux qu’on arrête un matin, tout d’un coup. On s’occupait de lui et il n’en savait rien. On parlait de lui dans les bureaux, on inscrivait son nom sur des fiches. Vous trouvez que c’est juste? Vous trouvez qu’on a le droit de faire ça à un homme?
- Cela dépend, dit Rieux. Dans un sens, on n’a jamais le droit, en effet. Mais tout cela est secondaire. Il ne faut pas rester trop longtemps enfermé. Il faut que vous sortiez.
Cottard sembla s’énerver, dit qu’il ne faisait que cela, et que, s’il le fallait, tout le quartier pourrait témoigner pour lui. Hors du quartier même, il ne manquait pas de relations.
- Vous connaissez M. Rigaud, l’architecte? Il est de mes amis.
L’ombre s’épaississait dans la pièce. La rue du faubourg s’animait et une exclamation sourde et soulagée salua, au-dehors, l’instant où les lampes s’allumèrent. Rieux alla au balcon et Cottard l’y suivit. De tous les quartiers alentour, comme chaque soir dans notre ville, une légère brise charriait des murmures, des odeurs de viande grillée, le bourdonnement joyeux et odorant de la liberté qui gonflait peu à peu la rue, envahie par une jeunesse bruyante. La nuit, les grands cris des bateaux invisibles, la rumeur qui montait de la mer et de la foule qui s’écoulait, cette heure que Rieux connaissait bien et aimait autrefois lui paraissait aujourd’hui oppressante à cause de tout ce qu’il savait.
- Pouvons-nous allumer? dit-il à Cottard.
La lumière une fois revenue, le petit homme le regarda avec des yeux clignotants :
- Dites-moi, docteur, si je tombais malade, est-ce que vous me prendriez dans votre service à l’hôpital?
- Pourquoi pas?
Cottard demanda alors s’il était arrivé qu’on arrêtât quelqu’un qui se trouvait dans une clinique ou dans un hôpital. Rieux répondit que cela s’était vu, mais que tout dépendait de l’état du malade.
- Moi, dit Cottard, j’ai confiance en vous.
Puis il demanda au docteur s’il voulait bien le mener en ville dans son auto.
Au centre de la ville, les rues étaient déjà moins peuplées et les lumières plus rares. Des enfants jouaient encore devant les portes. Quand Cottard le demanda, le docteur arrêta sa voiture devant un groupe de ces enfants. Ils jouaient à la marelle en poussant des cris. Mais l’un d’eux, aux cheveux noirs collés, la raie parfaite et la figure sale, fixait Rieux de ses yeux clairs et intimidants. Le docteur détourna son regard. Cottard, debout sur le trottoir, lui serrait la main. Le représentant parlait d’une voix rauque et difficile. Deux ou trois fois, il regarda derrière lui.
- Les gens parlent d’épidémie. Est-ce que c’est vrai, docteur?
- Les gens parlent toujours, c’est naturel, dit Rieux.
- Vous avez raison. Et puis quand nous aurons une dizaine de morts, ce sera le bout du monde. Ce n’est pas cela qu’il nous faudrait.
Le moteur ronflait déjà. Rieux avait la main sur son levier de vitesse. Mais il regardait à nouveau l’enfant qui n’avait pas cessé de le dévisager avec son air grave et tranquille. Et soudain, sans transition, l’enfant lui sourit de toutes ses dents.
- Qu’est-ce donc qu’il nous faudrait? demanda le docteur en souriant à l’enfant.
Cottard agrippa soudain la portière et, avant de s’enfuir, cria d’une voix pleine de larmes et de fureur :
- Un tremblement de terre. Un vrai!
Il n’y eut pas de tremblement de terre et la journée du lendemain se passa seulement, pour Rieux, en longues courses aux quatre coins de la ville, en pourparlers avec les familles de malades et en discussions avec les malades eux-mêmes. Jamais Rieux n’avait trouvé son métier aussi lourd. Jusque-là, les malades lui facilitaient la tâche, ils se donnaient à lui. Pour la première fois, le docteur les sentait réticents, réfugiés au fond de leur maladie avec une sorte d’étonnement méfiant. C’était une lutte à laquelle il n’était pas encore habitué. Et vers dix heures du soir, sa voiture arrêtée devant la maison du vieil asthmatique qu’il visitait en dernier lieu, Rieux avait de la peine à s’arracher à son siège. Il s’attardait à regarder la rue sombre et les étoiles qui apparaissaient et disparaissaient dans le ciel noir.
Le vieil asthmatique était dressé dans son lit. Il semblait respirer mieux et comptait les pois chiches qu’il faisait passer d’une des marmites dans l’autre. Il accueillit le docteur avec une mine réjouie.
- Alors, docteur, c’est le choléra?
- Où avez-vous pris ça?
- Dans le journal, et la radio l’a dit aussi.
- Non, ce n’est pas le choléra.
- En tout cas, dit le vieux très surexcité, ils y vont fort, hein, les grosses têtes!
- N’en croyez rien, dit le docteur.
Il avait examiné le vieux et maintenant il était assis au milieu de cette salle à manger misérable. Oui, il avait peur. Il savait que dans le faubourg même une dizaine de malades l’attendraient, le lendemain matin, courbés sur leurs bubons.
Dans deux ou trois cas seulement, l’incision des bubons avait amené un mieux. Mais, pour la plupart, ce serait l’hôpital et il savait ce que l’hôpital voulait dire pour les pauvres. “Je ne veux pas qu’il serve à leurs expériences”, lui avait dit la femme d’un des malades. Il ne servirait pas leurs expériences, il mourrait et c’était tout. Les mesures arrêtées étaient insuffisantes, cela était bien clair. Quant aux salles “spécialement équipées”, il les connaissait: deux pavillons hâtivement déménagés de leurs autres malades, leurs fenêtres calfeutrées, entourés d’un cordon sanitaire. Si l’épidémie ne s’arrêtait pas d’elle-même, elle ne serait pas vaincue par les mesures que l’administration avait imaginées.
Cependant, le soir, les communiqués officiels restaient optimistes. Le lendemain, l’agence Ransdoc annonçait que les mesures préfectorales avaient été accueillies avec sérénité et que, déjà, une trentaine de malades s’étaient déclarés. Castel avait téléphoné à Rieux :
- Combien de lits offrent les pavillons?
- Quatre-vingts.
- Il y a certainement plus de trente malades dans la ville?
- Il y a ceux qui ont peur et les autres, les plus nombreux, ceux qui n’ont pas eu le temps.
- Les enterrements ne sont pas surveillés?
- Non. J’ai téléphoné à Richard qu’il fallait des mesures complètes, non des phrases, et qu’il fallait élever contre l’épidémie une vraie barrière ou rien du tout.
- Et alors?
- Il m’a répondu qu’il n’avait pas pouvoir. À mon avis, ça va monter.
En trois jours, en effet, les deux pavillons furent remplis. Richard croyait savoir qu’on allait désaffecter une école et prévoir un hôpital auxiliaire. Rieux attendait les vaccins et ouvrait les bubons. Castel retournait à ses vieux livres et faisait de longues stations à la bibliothèque.
- Les rats sont morts de la peste ou de quelque chose qui lui ressemble beaucoup, concluait-il. Ils ont mis dans la circulation des dizaines de milliers de puces qui transmettront l’infection suivant une proportion géométrique, si on ne l’arrête pas à temps.
Rieux se taisait.
À cette époque le temps parut se fixer. Le soleil pompait les flaques des dernières averses. De beaux ciels bleus débordant d’une lumière jaune, des ronronnements d’avions dans la chaleur naissante, tout dans la saison invitait à la sérénité. En quatre jours, cependant, la fièvre fit quatre bonds surprenants: seize morts, vingt-quatre, vingt-huit et trente-deux. Le quatrième jour, on annonça l’ouverture de l’hôpital auxiliaire dans une école maternelle. Nos concitoyens qui, jusque-là, avaient continué de masquer leur inquiétude sous des plaisanteries, semblaient dans les rues plus abattus et plus silencieux.
Rieux décida de téléphoner au préfet :
- Les mesures sont insuffisantes.
- J’ai les chiffres, dit le préfet, ils sont en effet inquiétants.
- Ils sont plus qu’inquiétants, ils sont clairs.
- Je vais demander des ordres au Gouvernement général.
Rieux raccrocha devant Castel :
- Des ordres! Et il faudrait de l’imagination.
- Et les sérums?
- Ils arriveront dans la semaine.
La préfecture, par l’intermédiaire de Richard, demanda à Rieux un rapport destiné à être envoyé dans la capitale de la colonie pour solliciter des ordres. Rieux y mit une description clinique et des chiffres. Le même jour, on compta une quarantaine de morts. Le préfet prit sur lui, comme il disait, d’aggraver dès le lendemain les mesures prescrites. La déclaration obligatoire et l’isolement furent maintenus. Les maisons des malades devaient être fermées et désinfectées, les proches soumis à une quarantaine de sécurité, les enterrements organisés par la ville dans les conditions qu’on verra. Un jour après, les sérums arrivaient par avion. Ils pouvaient suffire aux cas en traitement. Ils étaient insuffisants si l’épidémie devait s’étendre. On répondit au télégramme de Rieux que le stock de sécurité était épuisé et que de nouvelles fabrications étaient commencées.
Pendant ce temps, et de toutes les banlieues environnantes, le printemps arrivait sur les marchés. Des milliers de roses se fanaient dans les corbeilles des marchands, au long des trottoirs, et leur odeur sucrée flottait dans toute la ville. Apparemment, rien n’était changé. Les tramways étaient toujours pleins aux heures de pointe, vides et sales dans la journée. Tarrou observait le petit vieux et le petit vieux crachait sur les chats. Grand rentrait tous les soirs chez lui pour son mystérieux travail. Cottard tournait en rond et M. Othon, le juge d’instruction, conduisait toujours sa ménagerie. Le vieil asthmatique transvasait ses pois et l’on rencontrait parfois le journaliste Rambert, l’air tranquille et intéressé. Le soir, la même foule emplissait les rues et les queues s’allongeaient devant les cinémas. D’ailleurs, l’épidémie sembla reculer et, pendant quelques jours, on compta une dizaine de morts seulement. Puis, tout d’un coup, elle remonta en flèche. Le jour où le chiffre des morts atteignit de nouveau la trentaine, Bernard Rieux regardait la dépêche officielle que le préfet lui avait tendue en disant: “Ils ont eu peur”. La dépêche portait: “Déclarez l’état de peste. Fermez la ville”.
À partir de ce moment, il est possible de dire que la peste fut notre affaire à tous. Jusque-là, malgré la surprise et l’inquiétude que leur avaient apportées ces événements singuliers, chacun de nos concitoyens avait poursuivi ses occupations, comme il l’avait pu, à sa place ordinaire. Et sans doute, cela devait continuer. Mais une fois les portes fermées, ils s’aperçurent qu’ils étaient tous, et le narrateur lui-même, pris dans le même sac et qu’il fallait s’en arranger. C’est ainsi, par exemple, qu’un sentiment aussi individuel que celui de la séparation d’avec un être aimé devint soudain, dès les premières semaines, celui de tout un peuple, et, avec la peur, la souffrance principale de ce long temps d’exil.
Une des conséquences les plus remarquables de la fermeture des portes fut, en effet, la soudaine séparation où furent placés des êtres qui n’y étaient pas préparés. Des mères et des enfants, des époux, des amants qui avaient cru procéder quelques jours auparavant à une séparation temporaire, qui s’étaient embrassés sur le quai de notre gare avec deux ou trois recommandations, certains de se revoir quelques jours ou quelques semaines plus tard, enfoncés dans la stupide confiance humaine, à peine distraits par ce départ de leurs préoccupations habituelles, se virent d’un seul coup éloignés sans recours, empêchés de se rejoindre ou de communiquer. Car la fermeture s’était faite quelques heures avant que l’arrêt préfectoral fût publié et, naturellement, il était impossible de prendre en considération les cas particuliers. On peut dire que cette invasion bru-tale de la maladie eut pour premier effet d’obliger nos concitoyens à agir comme s’ils n’avaient pas de sentiments individuels. Dans les premières heures de la journée où l’arrêté entra en vigueur, la préfecture fut assaillie par une foule de demandeurs qui, au téléphone ou auprès des fonctionnaires, exposaient des situations également intéressantes et, en même temps, également impossibles à examiner. À la vérité, il fallut plusieurs jours pour que nous nous rendissions compte que nous nous trouvions dans une situation sans compromis, et que les mots “transiger”, “faveur”, “exception” n’avaient plus de sens.
Même la légère satisfaction d’écrire nous fut refusée. D’une part, en effet, la ville n’était plus reliée au reste du pays par les moyens de communication habituels, et, d’autre part, un nouvel arrêté interdit l’échange de toute correspondance, pour éviter que les lettres pussent devenir les véhicules de l’infection. Au début, quelques privilégiés purent s’aboucher, aux portes de la ville, avec des sentinelles des postes de garde, qui consentirent à faire passer des messages à l’extérieur. Encore était-ce dans les premiers jours de l’épidémie, à un moment où les gardes trouvaient naturel de céder à des mouvements de compassion. Mais, au bout de quelque temps, lorsque les mêmes gardes furent bien persuadés de la gravité de la situation, ils se refusèrent à prendre des responsabilités dont ils ne pouvaient prévoir l’étendue. Les communications téléphoniques interurbaines, autorisées au début, provoquèrent de tels encombrements aux cabines publiques et sur les lignes, qu’elles furent totalement suspendues pendant quelques jours, puis sévèrement limitées à ce qu’on appelait les cas urgents, comme la mort, la naissance et le mariage. Les télégrammes restèrent alors notre seule ressource. Des êtres que liaient l’intelligence, le cœur et la chair, en furent réduits à chercher les signes de cette communion ancienne dans les majuscules d’une dépêche de dix mots. Et comme, en fait, les formules qu’on peut utiliser dans un télégramme sont vite épuisées, de longues vies communes ou des passions douloureuses se résumèrent rapidement dans un échange périodique de formules toutes faites comme: “Vais bien. Pense à toi. Tendresse”.
Certains d’entre nous, cependant, s’obstinaient à écrire et imaginaient sans trêve, pour correspondre avec l’extérieur, des combinaisons qui finissaient toujours par s’avérer illusoires. Quand même quelques-uns des moyens que nous avions imaginés réussissaient, nous n’en savions rien, ne recevant pas de réponse. Pendant des semaines, nous fûmes réduits alors à recommencer sans cesse la même lettre, à recopier les mêmes appels, si bien qu’au bout d’un certain temps, les mots qui d’abord étaient sortis tout saignants de notre cœur se vidaient de leur sens. Nous les recopiions alors machinalement, essayant de donner au moyen de ces phrases mortes des signes de notre vie difficile. Et pour finir, à ce monologue stérile et entêté, à cette conversation aride avec un mur, l’appel conventionnel du télégramme nous paraissait préférable.
Au bout de quelques jours d’ailleurs, quand il devint évident que personne ne parviendrait à sortir de notre ville, on eut l’idée de demander si le retour de ceux qui étaient partis avant l’épidémie pouvait être autorisé. Après quelques jours de réflexion, la préfecture répondit par l’affirmative. Mais elle précisa que les rapatriés ne pourraient, en aucun cas, ressortir de la ville et que, s’ils étaient libres de venir, ils ne le seraient pas de repartir. Là encore, quelques familles, d’ailleurs rares, prirent la situation à la légère, et faisant passer avant toute prudence le désir où elles étaient de revoir leurs parents, invitèrent ces derniers à profiter de l’occasion. Mais, très rapidement, ceux qui étaient prisonniers de la peste comprirent le danger auquel ils exposaient leurs proches et se résignèrent à souffrir cette séparation. Au plus grave de la maladie, on ne vit qu’un cas où les sentiments humains furent plus forts que la peur d’une mort torturée. Ce ne fut pas, comme on pouvait s’y attendre, deux amants que l’amour jetait l’un vers l’autre, par-dessus la souffrance. Il s’agissait seulement du vieux docteur Castel et de sa femme, mariés depuis de nombreuses années. Mme Castel, quelques jours avant l’épidémie, s’était rendue dans une ville voisine. Ce n’était même pas un de ces ménages qui offrent au monde l’exemple d’un bonheur exemplaire et le narrateur est en mesure de dire que, selon toute probabilité, ces époux, jusqu’ici, n’étaient pas certains d’être satisfaits de leur union. Mais cette séparation brutale et prolongée les avait mis à même de s’assurer qu’ils ne pouvaient vivre éloignés l’un de l’autre, et qu’auprès de cette vérité soudain mise au jour, la peste était peu de chose.
Il s’agissait d’une exception. Dans la majorité des cas, la séparation, c’était évident, ne devait cesser qu’avec l’épidémie. Et pour nous tous, le sentiment qui faisait notre vie et que, pourtant, nous croyions bien connaître (les Oranais, on l’a déjà dit, ont des passions simples), prenait un visage nouveau. Des maris et des amants qui avaient la plus grande confiance dans leur compagne se découvraient jaloux. Des hommes qui se croyaient légers en amour retrouvaient une constance. Des fils, qui avaient vécu près de leur mère en la regardant à peine, mettaient toute leur inquiétude et leur regret dans un pli de son visage qui hantait leur souvenir. Cette séparation brutale, sans bavures, sans avenir prévisible, nous laissait décontenancés, incapables de réagir contre le souvenir de cette présence, encore si proche et déjà si lointaine, qui occupait maintenant nos journées. En fait, nous souffrions deux fois - de notre souffrance d’abord et de celle ensuite que nous imaginions aux absents, fils, épouse ou amante.
En d’autres circonstances, d’ailleurs, nos concitoyens auraient trouvé une issue dans une vie plus extérieure et plus active. Mais, en même temps, la peste les laissait oisifs, réduits à tourner en rond dans leur ville morne et livrés, jour après jour, aux jeux décevants du souvenir. Car, dans leurs promenades sans but, ils étaient amenés à passer toujours par les mêmes chemins, et, la plupart du temps, dans une si petite ville, ces chemins étaient précisément ceux qu’à une autre époque ils avaient parcourus avec l’absent.
Ainsi, la première chose que la peste apporta à nos concitoyens fut l’exil. Et le narrateur est persuadé qu’il peut écrire ici, au nom de tous, ce que lui-même a éprouvé alors, puisqu’il l’a éprouvé en même temps que beaucoup de nos concitoyens. Oui, c’était bien le sentiment de l’exil que ce creux que nous portions constamment en nous, cette émotion précise, le désir déraisonnable de revenir en arrière ou au contraire de presser la marche du temps, ces flèches brûlantes de la mémoire. Si, quelquefois, nous nous laissions aller à l’imagination et nous plaisions à attendre le coup de sonnette du retour ou un pas familier dans l’escalier, si, à ces moments-là, nous consentions à oublier que les trains étaient immobilisés, si nous nous arrangions alors pour rester chez nous à l’heure où, normalement, un voyageur amené par l’express du soir pouvait être rendu dans notre quartier, bien entendu, ces jeux ne pouvaient durer. Il venait toujours un moment où nous nous apercevions clairement que les trains n’arrivaient pas. Nous savions alors que notre séparation était destinée à durer et que nous devions essayer de nous arranger avec le temps. Dès lors, nous réintégrions en somme notre condition de prisonniers, nous étions réduits à notre passé, et si même quelques-uns d’entre nous avaient la tentation de vivre dans l’avenir, ils y renonçaient rapidement, autant du moins qu’il leur était possible, en éprouvant les blessures que finalement l’imagination inflige à ceux qui lui font confiance.
En particulier, tous nos concitoyens se privèrent très vite, même en public, de l’habitude qu’ils avaient pu prendre de supputer la durée de leur séparation. Pourquoi? C’est que lorsque les plus pessimistes l’avaient fixée par exemple à six mois, lorsqu’ils avaient épuisé d’avance toute l’amertume de ces mois à venir, hissé à grand-peine leur courage au niveau de cette épreuve, tendu leurs dernières forces pour demeurer sans faiblir à la hauteur de cette souffrance étirée sur une si longue suite de jours, alors, parfois, un ami de rencontre, un avis donné par un journal, un soupçon fugitif ou une brusque clairvoyance, leur donnait l’idée qu’après tout, il n’y avait pas de raison pour que la maladie ne durât pas plus de six mois, et peut-être un an, ou plus encore.
À ce moment, l’effondrement de leur courage, de leur volonté et de leur patience était si brusque qu’il leur semblait qu’ils ne pourraient plus jamais remonter de ce trou. Ils s’astreignaient par conséquent à ne penser jamais au terme de leur délivrance, à ne plus se tourner vers l’avenir et à toujours garder, pour ainsi dire, les yeux baissés. Mais, naturellement, cette prudence, cette façon de ruser avec la douleur, de fermer leur garde pour refuser le combat étaient mal récompensées. En même temps qu’ils évitaient cet effondrement dont ils ne voulaient à aucun prix, ils se privaient en effet de ces moments, en somme assez fréquents, où ils pouvaient oublier la peste dans les images de leur réunion à venir. Et par là, échoués à mi-distance de ces abîmes et de ces sommets, ils flottaient plutôt qu’ils ne vivaient, abandonnés à des jours sans direction et à des souvenirs stériles, ombres errantes qui n’auraient pu prendre force qu’en acceptant de s’enraciner dans la terre de leur douleur.
Ils éprouvaient ainsi la souffrance profonde de tous les prisonniers et de tous les exilés, qui est de vivre avec une mémoire qui ne sert à rien. Ce passé même auquel ils réfléchissaient sans cesse n’avait que le goût du regret. Ils auraient voulu, en effet, pouvoir lui ajouter tout ce qu’ils déploraient de n’avoir pas fait quand ils pouvaient encore le faire avec celui ou celle qu’ils attendaient - de même qu’à toutes les circonstances, même relativement heureuses, de leur vie de prisonniers, ils mêlaient l’absent, et ce qu’ils étaient alors ne pouvait les satisfaire. Impatients de leur présent, ennemis de leur passé et privés d’avenir, nous ressemblions bien ainsi à ceux que la justice ou la haine humaines font vivre derrière des barreaux. Pour finir, le seul moyen d’échapper à ces vacances insupportables était de faire marcher à nouveau les trains par l’imagination et de remplir les heures avec les carillons répétés d’une sonnette pourtant obstinément silencieuse.
Mais si c’était l’exil, dans la majorité des cas c’était l’exil chez soi. Et quoique le narrateur n’ait connu que l’exil de tout le monde, il ne doit pas oublier ceux, comme le journaliste Rambert ou d’autres, pour qui, au contraire, les peines de la séparation s’amplifièrent du fait que, voyageurs surpris par la peste et retenus dans la ville, ils se trouvaient éloignés à la fois de l’être qu’ils ne pouvaient rejoindre et du pays qui était le leur. Dans l’exil général, ils étaient les plus exilés, car si le temps suscitait chez eux, comme chez tous, l’angoisse qui lui est propre, ils étaient attachés aussi à l’espace et se heurtaient sans cesse aux murs qui séparaient leur refuge empesté de leur patrie perdue. C’étaient eux sans doute qu’on voyait errer à toute heure du jour dans la ville poussiéreuse, appelant en silence des soirs qu’ils étaient seuls à connaître, et les matins de leur pays. Ils nourrissaient alors leur mal de signes impondérables et de messages déconcertants comme un vol d’hirondelles, une rosée de couchant, ou ces rayons bizarres que le soleil abandonne parfois dans les rues désertes. Ce monde extérieur qui peut toujours sauver de tout, ils fermaient les yeux sur lui, entêtés qu’ils étaient à caresser leurs chimères trop réelles et à poursuivre de toutes leurs forces les images d’une terre où une certaine lumière, deux ou trois collines, l’arbre favori et des visages de femmes composaient un climat pour eux irremplaçable.
Pour parler enfin plus expressément des amants, qui sont les plus intéressants et dont le narrateur est peut-être mieux placé pour parler, ils se trouvaient tourmentés encore par d’autres angoisses au nombre desquelles il faut signaler le remords. Cette situation, en effet, leur permettait de considérer leur sentiment avec une sorte de fiévreuse objectivité. Et il était rare que, dans ces occasions, leurs propres défaillances ne leur apparussent pas clairement. Ils en trouvaient la première occasion dans la difficulté qu’ils avaient à imaginer précisément les faits et gestes de l’absent. Ils déploraient alors l’ignorance où ils étaient de son emploi du temps ; ils s’accusaient de la légèreté avec laquelle ils avaient négligé de s’en informer et feint de croire que, pour un être qui aime, l’emploi du temps de l’aimé n’est pas la source de toutes les joies. Il leur était facile, à partir de ce moment, de remonter dans leur amour et d’en examiner les imperfections. En temps ordinaire, nous savions tous, consciemment ou non, qu’il n’est pas d’amour qui ne puisse se surpasser, et nous acceptions pourtant, avec plus ou moins de tranquillité, que le nôtre demeurât médiocre. Mais le souvenir est plus exigeant. Et, de façon très conséquente, ce malheur qui nous venait de l’extérieur, et qui frappait toute une ville, ne nous apportait pas seulement une souffrance injuste dont nous aurions pu nous indigner. Il nous provoquait aussi à nous faire souffrir nous-mêmes et nous faisait ainsi consentir à la douleur. C’était là une des façons qu’avait la maladie de détourner l’attention et de brouiller les cartes.
Ainsi, chacun dut accepter de vivre au jour le jour, et seul en face du ciel. Cet abandon général qui pouvait à la longue tremper les caractères commençait pourtant par les rendre futiles. Pour certains de nos concitoyens, par exemple, ils étaient alors soumis à un autre esclavage qui les mettait au service du soleil et de la pluie. Il semblait, à les voir, qu’ils recevaient pour la première fois, et directement, l’impression du temps qu’il faisait. Ils avaient la mine réjouie sur la simple visite d’une lumière dorée, tandis que les jours de pluie mettaient un voile épais sur leurs visages et leurs pensées. Ils échappaient, quelques semaines plus tôt, à cette faiblesse et à cet asservissement déraisonnable parce qu’ils n’étaient pas seuls en face du monde et que, dans une certaine mesure, l’être qui vivait avec eux se plaçait devant leur univers. À partir de cet instant, au contraire, ils furent apparemment livrés aux caprices du ciel, c’est-à-dire qu’ils souffrirent et espérèrent sans raison.
Dans ces extrémités de la solitude, enfin, personne ne pouvait espérer l’aide du voisin et chacun restait seul avec sa préoccupation. Si l’un d’entre nous, par hasard, essayait de se confier ou de dire quelque chose de son sentiment, la réponse qu’il recevait, quelle qu’elle fût, le blessait la plupart du temps. Il s’apercevait alors que son interlocuteur et lui ne parlaient pas de la même chose. Lui, en effet, s’exprimait du fond de longues journées de rumination et de souffrances et l’image qu’il voulait communiquer avait cuit longtemps au feu de l’attente et de la passion. L’autre, au contraire, imaginait une émotion conventionnelle, la douleur qu’on vend sur les marchés, une mélancolie de série. Bienveillante ou hostile, la réponse tombait toujours à faux, il fallait y renoncer. Ou du moins, pour ceux à qui le silence était insupportable, et puisque les autres ne pouvaient trouver le vrai langage du cœur, ils se résignaient à adopter la langue des marchés et à parler, eux aussi, sur le mode conventionnel, celui de la simple relation et du fait divers, de la chronique quotidienne en quelque sorte. Là encore, les douleurs les plus vraies prirent l’habitude de se traduire dans les formules banales de la conversation. C’est à ce prix seulement que les prisonniers de la peste pouvaient obtenir la compassion de leur concierge ou l’intérêt de leurs auditeurs.
Cependant, et c’est le plus important, si douloureuses que fussent ces angoisses, si lourd à porter que fût ce cœur pourtant vide, on peut bien dire que ces exilés, dans la première période de la peste, furent des privilégiés. Au moment même, en effet, où la population commençait à s’affoler, leur pensée était tout entière tournée vers l’être qu’ils attendaient. Dans la détresse générale, l’égoïsme de l’amour les préservait, et, s’ils pensaient à la peste, ce n’était jamais que dans la mesure où elle donnait à leur séparation des risques d’être éternelle. Ils apportaient ainsi au cœur même de l’épidémie une distraction salutaire qu’on était tenté de prendre pour du sang-froid. Leur désespoir les sauvait de la panique, leur malheur avait du bon. Par exemple, s’il arrivait que l’un d’eux fût emporté par la maladie, c’était presque toujours sans qu’il pût y prendre garde. Tiré de cette longue conversation intérieure qu’il soutenait avec une ombre, il était alors jeté sans transition au plus épais silence de la terre. Il n’avait eu le temps de rien.
Pendant que nos concitoyens essayaient de s’arranger avec ce soudain exil, la peste mettait des gardes aux portes et détournait les navires qui faisaient route vers Oran. Depuis la fermeture, pas un véhicule n’était entré dans la ville. À partir de ce jour-là, on eut l’impression que les automobiles se mettaient à tourner en rond. Le port présentait aussi un aspect singulier, pour ceux qui le regardaient du haut des boulevards. L’animation habituelle qui en faisait l’un des premiers ports de la côte s’était brusquement éteinte. Quelques navires maintenus en quarantaine s’y voyaient encore. Mais, sur les quais, de grandes grues désarmées, les wagonnets renversés sur le flanc, des piles solitaires de fûts ou de sacs, témoignaient que le commerce, lui aussi, était mort de la peste.
Malgré ces spectacles inaccoutumés, nos concitoyens avaient apparemment du mal à comprendre ce qui leur arrivait. Il y avait les sentiments communs comme la séparation ou la peur, mais on continuait aussi de mettre au premier plan les préoccupations personnelles. Personne n’avait encore accepté réellement la maladie. La plupart étaient surtout sensibles à ce qui dérangeait leurs habitudes ou atteignait leurs intérêts. Ils en étaient agacés ou irrités et ce ne sont pas là des sentiments qu’on puisse opposer à la peste. Leur première réaction, par exemple, fut d’incriminer l’administration. La réponse du préfet en présence des critiques dont la presse se faisait l’écho (“Ne pourrait-on envisager un assouplissement des mesures envisagées?”) fut assez imprévue. Jusqu’ici, ni les journaux ni l’agence Ransdoc n’avaient reçu communication officielle des statistiques de la maladie. Le préfet les communiqua, jour après jour, à l’agence, en la priant d’en faire une annonce hebdomadaire.
Là encore, cependant, la réaction du public ne fut pas immédiate. En effet, l’annonce que la troisième semaine de peste avait compté trois cent deux morts ne parlait pas à l’imagination. D’une part, tous peut-être n’étaient pas morts de la peste. Et, d’autre part, personne en ville ne savait combien, en temps ordinaire, il mourait de gens par semaine. La ville avait deux cent mille habitants. On ignorait si cette proportion de décès était normale. C’est même le genre de précisions dont on ne se préoccupe jamais, malgré l’intérêt évident qu’elles présentent. Le public manquait, en quelque sorte, de points de comparaison. Ce n’est qu’à la longue, en constatant l’augmentation des décès, que l’opinion prit conscience de la vérité. La cinquième semaine donna en effet trois cent vingt et un morts et la sixième, trois cent quarante-cinq. Les augmentations, du moins, étaient éloquentes. Mais elles n’étaient pas assez fortes pour que nos concitoyens ne gardassent, au milieu de leur inquiétude, l’impression qu’il s’agissait d’un accident sans doute fâcheux, mais après tout temporaire.
Ils continuaient ainsi de circuler dans les rues et de s’attabler à la terrasse des cafés. Dans l’ensemble, ils n’étaient pas lâches, échangeaient plus de plaisanteries que de lamentations et faisaient mine d’accepter avec bonne humeur des inconvénients évidemment passagers. Les apparences étaient sauvées. Vers la fin du mois cependant, et à peu près pendant la semaine de prières dont il sera question plus loin, des transformations plus graves modifièrent l’aspect de notre ville. Tout d’abord, le préfet prit des mesures concernant la circulation des véhicules et le ravitaillement. Le ravitaillement fut limité et l’essence rationnée. On prescrivit même des économies d’électricité. Seuls, les produits indispensables parvinrent par la route et par l’air, à Oran. C’est ainsi qu’on vit la circulation diminuer progressivement jusqu’à devenir à peu près nulle, des magasins de luxe fermer du jour au lendemain, d’autres garnir leurs vitrines de pancartes négatives, pendant que des files d’acheteurs stationnaient devant leurs portes.
Oran prit ainsi un aspect singulier. Le nombre des piétons devint plus considérable et même, aux heures creuses, beaucoup de gens réduits à l’inaction par la fermeture des magasins ou de certains bureaux emplissaient les rues et les cafés. Pour le moment, ils n’étaient pas encore en chômage, mais en congé. Oran donnait alors, vers trois heures de l’après-midi par exemple, et sous un beau ciel, l’impression trompeuse d’une cité en fête dont on eût arrêté la circulation et fermé les magasins pour permettre le déroulement d’une manifestation publique, et dont les habitants eussent envahi les rues pour participer aux réjouissances.
Naturellement, les cinémas profitaient de ce congé général et faisaient de grosses affaires. Mais les circuits que les films accomplissaient dans le département étaient interrompus. Au bout de deux semaines, les établissements furent obligés d’échanger leurs programmes, et, après quelque temps, les cinémas finirent par projeter toujours le même film. Leurs recettes cependant ne diminuaient pas.
Les cafés enfin, grâce aux stocks considérables accumulés dans une ville où le commerce des vins et des alcools tient la première place, purent également alimenter leurs clients. À vrai dire, on buvait beaucoup. Un café ayant affiché que “le vin probe tue le microbe”, l’idée déjà naturelle au public que l’alcool préservait des maladies infectieuses se fortifia dans l’opinion. Toutes les nuits, vers deux heures, un nombre assez considérable d’ivrognes expulsés des cafés emplissaient les rues et s’y répandaient en propos optimistes.
Mais tous ces changements, dans un sens, étaient si extraordinaires et s’étaient accomplis si rapidement qu’il n’était pas facile de les considérer comme normaux et durables. Le résultat est que nous continuions à mettre au premier plan nos sentiments personnels.
En sortant de l’hôpital, deux jours après la fermeture des portes, le docteur Rieux rencontra Cottard qui leva vers lui le visage même de la satisfaction. Rieux le félicita de sa mine.
- Oui, ça va tout à fait bien, dit le petit homme. Dites-moi, docteur, cette sacrée peste, hein! ça commence à devenir sérieux.
Le docteur le reconnut. Et l’autre constata avec une sorte d’enjouement :
- Il n’y a pas de raison qu’elle s’arrête maintenant. Tout va être sens dessus dessous.
Ils marchèrent un moment ensemble. Cottard racontait qu’un gros épicier de son quartier avait stocké des produits alimentaires pour les vendre au prix fort et qu’on avait découvert des boîtes de conserve sous son lit, quand on était venu le chercher pour l’emmener à l’hôpital. “Il y est mort. La peste, ça ne paie pas”. Cottard était ainsi plein d’histoires, vraies ou fausses, sur l’épidémie. On disait, par exemple, que dans le centre, un matin, un homme présentant les signes de la peste, et dans le délire de la maladie, s’était précipité au-dehors, jeté sur la première femme rencontrée et l’avait étreinte en criant qu’il avait la peste.
- Bon! remarquait Cottard, sur un ton aimable qui n’allait pas avec son affirmation, nous allons tous devenir fous, c’est sûr.
De même, l’après-midi du même jour, Joseph Grand avait fini par faire des confidences personnelles au docteur Rieux. Il avait aperçu la photographie de Mme Rieux sur le bureau et avait regardé le docteur. Rieux répondit que sa femme se soignait hors de la ville. “Dans un sens, avait dit Grand, c’est une chance”. Le docteur répondit que c’était une chance sans doute et qu’il fallait espérer seulement que sa femme guérît.
- Ah! fit Grand, je comprends.
Et pour la première fois depuis que Rieux le connaissait, il se mit à parler d’abondance. Bien qu’il cherchât encore ses mots, il réussissait presque toujours à les trouver comme si, depuis longtemps, il avait pensé à ce qu’il était en train de dire.
Il s’était marié fort jeune avec une jeune fille pauvre de son voisinage. C’était même pour se marier qu’il avait interrompu ses études et pris un emploi. Ni Jeanne ni lui ne sortaient jamais de leur quartier. Il allait la voir chez elle, et les parents de Jeanne riaient un peu de ce prétendant silencieux et maladroit. Le père était cheminot. Quand il était de repos, on le voyait toujours assis dans un coin, près de la fenêtre, pensif, regardant le mouvement de la rue, ses mains énormes à plat sur les cuisses. La mère était toujours au ménage, Jeanne l’aidait. Elle était si menue que Grand ne pouvait la voir traverser une rue sans être angoissé. Les véhicules lui paraissaient alors démesurés. Un jour, devant une boutique de Noël, Jeanne, qui regardait la vitrine avec émerveillement, s’était renversée vers lui en disant: “Que c’est beau!” Il lui avait serré le poignet. C’est ainsi que le mariage avait été décidé.
Le reste de l’histoire, selon Grand, était très simple. Il en est ainsi pour tout le monde: on se marie, on aime encore un peu, on travaille. On travaille tant qu’on en oublie d’aimer. Jeanne aussi travaillait, puisque les promesses du chef de bureau n’avaient pas été tenues. Ici, il fallait un peu d’imagination pour comprendre ce que voulait dire Grand. La fatigue aidant, il s’était laissé aller, il s’était tu de plus en plus et il n’avait pas soutenu sa jeune femme dans l’idée qu’elle était aimée. Un homme qui travaille, la pauvreté, l’avenir lentement fermé, le silence des soirs autour de la table, il n’y a pas de place pour la passion dans un tel univers. Probablement, Jeanne avait souffert. Elle était restée cependant: il arrive qu’on souffre longtemps sans le savoir. Les années avaient passé. Plus tard, elle était partie. Bien entendu, elle n’était pas partie seule. “Je t’ai bien aimé, mais maintenant je suis fatiguée. Je ne suis pas heureuse de partir, mais on n’a pas besoin d’être heureux pour recommencer”. C’est, en gros, ce qu’elle lui avait écrit.
Joseph Grand à son tour avait souffert. Il aurait pu recommencer, comme le lui fit remarquer Rieux. Mais voilà, il n’avait pas la foi.
Simplement, il pensait toujours à elle. Ce qu’il aurait voulu, c’est lui écrire une lettre pour se justifier. “Mais c’est difficile, disait-il. Il y a longtemps que j’y pense. Tant que nous nous sommes aimés, nous nous sommes compris sans paroles. Mais on ne s’aime pas toujours. À un moment donné, j’aurais dû trouver les mots qui l’auraient retenue, mais je n’ai pas pu”. Grand se mouchait dans une sorte de serviette à carreaux. Puis il s’essuyait les moustaches. Rieux le regardait.
- Excusez-moi, docteur, dit le vieux, mais, comment dire?... J’ai confiance en vous. Avec vous, je peux parler. Alors, ça me donne de l’émotion.
Visiblement, Grand était à mille lieues de la peste.
Le soir, Rieux télégraphiait à sa femme que la ville était fermée, qu’il allait bien, qu’elle devait continuer de veiller sur elle-même et qu’il pensait à elle.
Trois semaines après la fermeture des portes, Rieux trouva, à la sortie de l’hôpital, un jeune homme qui l’attendait.
- Je suppose, lui dit ce dernier, que vous me reconnaissez.
Rieux croyait le connaître, mais il hésitait.
- Je suis venu avant ces événements, dit l’autre, vous demander des renseignements sur les conditions de vie des Arabes. Je m’appelle Raymond Rambert.
- Ah! oui, dit Rieux. Eh bien, vous avez maintenant un beau sujet de reportage.
L’autre paraissait nerveux. Il dit que ce n’était pas cela et qu’il venait demander une aide au docteur Rieux.
- Je m’en excuse, ajouta-t-il, mais je ne connais personne dans cette ville et le correspondant de mon journal a le malheur d’être imbécile.
Rieux lui proposa de marcher jusqu’à un dispensaire du centre, car il avait quelques ordres à donner. Ils descendirent les ruelles du quartier nègre. Le soir approchait, mais la ville, si bruyante autrefois à cette heure-là, paraissait curieusement solitaire. Quelques sonneries de clairon dans le ciel encore doré témoignaient seulement que les militaires se donnaient l’air de faire leur métier. Pendant ce temps, le long des rues abruptes, entre les murs bleus, ocre et violets des maisons mauresques, Rambert parlait, très agité. Il avait laissé sa femme à Paris. À vrai dire, ce n’était pas sa femme, mais c’était la même chose. Il lui avait télégraphié dès la fermeture de la ville. Il avait d’abord pensé qu’il s’agissait d’un événement provisoire et il avait seulement cherché à correspondre avec elle. Ses confrères d’Oran lui avaient dit qu’ils ne pouvaient rien, la poste l’avait renvoyé, une secrétaire de la préfecture lui avait ri au nez. Il avait fini, après une attente de deux heures dans une file, par faire accepter un télégramme où il avait inscrit: “Tout va bien. À bientôt”.
Mais le matin, en se levant, l’idée lui était venue brusquement qu’après tout, il ne savait pas combien de temps cela pouvait durer. Il avait décidé de partir. Comme il était recommandé (dans son métier, on a des facilités), il avait pu toucher le directeur du cabinet préfectoral et lui avait dit qu’il n’avait pas de rapport avec Oran, que ce n’était pas son affaire d’y rester, qu’il se trouvait là par accident et qu’il était juste qu’on lui permît de s’en aller, même si, une fois dehors, on devait lui faire subir une quarantaine. Le directeur lui avait dit qu’il comprenait très bien, mais qu’on ne pouvait pas faire d’exception, qu’il allait voir, mais qu’en somme la situation était grave et que l’on ne pouvait rien décider.
- Mais enfin, avait dit Rambert, je suis étranger à cette
ville.
- Sans doute, mais après tout, espérons que l’épidémie ne durera pas.
Pour finir, il avait essayé de consoler Rambert en lui faisant remarquer qu’il pouvait trouver à Oran la matière d’un reportage intéressant et qu’il n’était pas d’événement, tout bien considéré, qui n’eût son bon côté. Rambert haussait les épaules. On arrivait au centre de la ville :
- C’est stupide, docteur, vous comprenez. Je n’ai pas été mis au monde pour faire des reportages. Mais peut-être ai-je été mis au monde pour vivre avec une femme. Cela n’est-il pas dans l’ordre?
Rieux dit qu’en tout cas cela paraissait raisonnable.
Sur les boulevards du centre, ce n’était pas la foule ordinaire. Quelques passants se hâtaient vers des demeures lointaines. Aucun ne souriait. Rieux pensa que c’était le résultat de l’annonce Ransdoc qui se faisait ce jour-là. Au bout de vingt-quatre heures, nos concitoyens recommençaient à espérer. Mais le jour même, les chiffres étaient encore trop frais dans les mémoires.
- C’est que, dit Rambert sans crier gare, elle et moi nous sommes rencontrés depuis peu et nous nous entendons bien.
Rieux ne disait rien.
- Mais je vous ennuie, reprit Rambert. Je voulais simplement vous demander si vous ne pouvez pas me faire un certificat où il serait affirmé que je n’ai pas cette sacrée maladie. Je crois que cela pourrait me servir.
Rieux approuva de la tête, il reçut un petit garçon qui se jetait dans ses jambes et le remit doucement sur ses pieds. Ils repartirent et arrivèrent sur la place d’Armes. Les branches des ficus et des palmiers pendaient, immobiles, grises de poussière, autour d’une statue de la République, poudreuse et sale. Ils s’arrêtèrent sous le monument. Rieux frappa contre le sol, l’un après l’autre, ses pieds couverts d’un enduit blanchâtre. Il regarda Rambert. Le feutre un peu en arrière, le col de chemise déboutonné sous la cravate, mal rasé, le journaliste avait un air buté et boudeur.
- Soyez sûr que je vous comprends, dit enfin Rieux, mais votre raisonnement n’est pas bon. Je ne peux pas vous faire ce certificat parce qu’en fait, j’ignore si vous avez ou non cette maladie et parce que, même dans ce cas, je ne puis pas certifier qu’entre la seconde où vous sortirez de mon bureau et celle où vous entrerez à la préfecture, vous ne serez pas infecté. Et puis même.
- Et puis même? dit Rambert.
- Et puis, même si je vous donnais ce certificat, il ne vous servirait de rien.
- Pourquoi?
- Parce qu’il y a dans cette ville des milliers d’hommes dans votre cas et qu’on ne peut cependant pas les laisser sortir.
- Mais s’ils n’ont pas la peste eux-mêmes?
- Ce n’est pas une raison suffisante. Cette histoire est stupide, je sais bien, mais elle nous concerne tous. Il faut la prendre comme elle est.
- Mais je ne suis pas d’ici!
- À partir de maintenant, hélas! vous serez d’ici comme tout le monde.
L’autre s’animait :
- C’est une question d’humanité, je vous le jure. Peut-être ne vous rendez-vous pas compte de ce que signifie une séparation comme celle-ci pour deux personnes qui s’entendent bien.
Rieux ne répondit pas tout de suite. Puis il dit qu’il croyait qu’il s’en rendait compte. De toutes ses forces, il désirait que Rambert retrouvât sa femme et que tous ceux qui s’aimaient fussent réunis, mais il y avait des arrêtés et des lois, il y avait la peste, son rôle à lui était de faire ce qu’il fallait.
- Non, dit Rambert avec amertume, vous ne pouvez pas comprendre. Vous parlez le langage de la raison, vous êtes dans l’abstraction.
Le docteur leva les yeux sur la République et dit qu’il ne savait pas s’il parlait le langage de la raison, mais il parlait le langage de l’évidence et ce n’était pas forcément la même chose. Le journaliste rajustait sa cravate :
- Alors, cela signifie qu’il faut que je me débrouille autrement? Mais, reprit-il avec une sorte de défi, je quitterai cette ville.
Le docteur dit qu’il le comprenait encore, mais que cela ne le regardait pas.
- Si, cela vous regarde, fit Rambert avec un éclat soudain. Je suis venu vers vous parce qu’on m’a dit que vous aviez eu une grande part dans les décisions prises. J’ai pensé alors que, pour un cas au moins, vous pourriez défaire ce que vous aviez contribué à faire. Mais cela vous est égal. Vous n’avez pensé à personne. Vous n’avez pas tenu compte de ceux qui étaient séparés.
Rieux reconnut que, dans un sens, cela était vrai, il n’avait pas voulu en tenir compte.
- Ah! je vois, fit Rambert, vous allez parler de service public. Mais le bien public est fait du bonheur de chacun.
- Allons, dit le docteur qui semblait sortir d’une distraction, il y a cela et il y a autre chose. Il ne faut pas juger. Mais vous avez tort de vous fâcher. Si vous pouvez vous tirer de cette affaire, j’en serai profondément heureux. Simplement, il y a des choses que ma fonction m’interdit.
L’autre secoua la tête avec impatience.
- Oui, j’ai tort de me fâcher. Et je vous ai pris assez de temps comme cela.
Rieux lui demanda de le tenir au courant de ses démarches et de ne pas lui garder rancune. Il y avait sûrement un plan sur lequel ils pouvaient se rencontrer. Rambert parut soudain perplexe :
- Je le crois, dit-il, après un silence, oui, je le crois malgré moi et malgré tout ce que vous m’avez dit.
Il hésita :
- Mais je ne puis pas vous approuver.
Il baissa son feutre sur le front et partit d’un pas rapide. Rieux le vit entrer dans l’hôtel où habitait Jean Tarrou.
Après un moment, le docteur secoua la tête. Le journaliste avait raison dans son impatience de bonheur. Mais avait-il raison quand il l’accusait? “Vous vivez dans l’abstraction”. Était-ce vraiment l’abstraction que ces journées passées dans son hôpital où la peste mettait les bouchées doubles, portant à cinq cents le nombre moyen des victimes par semaine? Oui, il y avait dans le malheur une part d’abstraction et d’irréalité. Mais quand l’abstraction se met à vous tuer, il faut bien s’occuper de l’abstraction. Et Rieux savait seulement que ce n’était pas le plus facile. Ce n’était pas facile, par exemple, de diriger cet hôpital auxiliaire (il y en avait maintenant trois) dont il était chargé. Il avait fait aménager dans une pièce, donnant sur la salle de consultations, une chambre de réception. Le sol creusé formait un lac d’eau crésylée au centre duquel se trouvait un îlot de briques. Le malade était transporté sur son île, déshabillé rapidement et ses vêtements tombaient dans l’eau. Lavé, séché, recouvert de la chemise rugueuse de l’hôpital, il passait aux mains de Rieux, puis on le transportait dans l’une des salles. On avait été obligé d’utiliser les préaux d’une école qui contenait maintenant, et en tout, cinq cents lits dont la presque totalité était occupée. Après la réception du matin qu’il dirigeait lui-même, les malades vaccinés, les bubons incisés, Rieux vérifiait encore les statistiques, et retournait à ses consultations de l’après-midi. Dans la soirée enfin, il faisait ses visites et rentrait tard dans la nuit. La nuit précédente, sa mère avait remarqué, en lui tendant un télégramme de Mme Rieux jeune, que les mains du docteur tremblaient.
- Oui, disait-il, mais en persévérant, je serai moins nerveux.
Il était vigoureux et résistant. En fait, il n’était pas encore fatigué. Mais ses visites, par exemple, lui devenaient insupportables. Diagnostiquer la fièvre épidémique revenait à faire enlever rapidement le malade. Alors commençaient l’abstraction et la difficulté en effet, car la famille du malade savait qu’elle ne verrait plus ce dernier que guéri ou mort “Pitié, docteur!” disait Mme Loret, la mère de la femme de chambre qui travaillait à l’hôtel de Tarrou. Que signifiait cela? Bien entendu, il avait pitié. Mais cela ne faisait avancer personne. Il fallait téléphoner. Bientôt le timbre de l’ambulance résonnait. Les voisins, au début, ouvraient leurs fenêtres et regardaient. Plus tard, ils les fermaient avec précipitation. Alors commençaient les luttes, les larmes, la persuasion, l’abstraction en somme. Dans ces appartements surchauffés par la fièvre et l’angoisse, des scènes de folie se déroulaient. Mais le malade était emmené. Rieux pouvait partir.
Les premières fois, il s’était borné à téléphoner et à courir vers d’autres malades, sans attendre l’ambulance. Mais les parents avaient alors fermé leur porte, préférant le tête-à-tête avec la peste à une séparation dont ils connaissaient maintenant l’issue. Cris, injonctions, interventions de la police, et, plus tard, de la force armée, le malade était pris d’assaut. Pendant les premières semaines, Rieux avait été obligé de rester jusqu’à l’arrivée de l’ambulance. Ensuite, quand chaque médecin fut accompagné dans ses tournées par un inspecteur volontaire, Rieux put courir d’un malade à l’autre. Mais dans les commencements, tous les soirs furent comme ce soir où, entré chez Mme Loret, dans un petit appartement décoré d’éventails et de fleurs artificielles, il fut reçu par la mère qui lui dit avec un sourire mal dessiné :
- J’espère bien que ce n’est pas la fièvre dont tout le monde parle.
Et lui, relevant drap et chemise, contemplait en silence les taches rouges sur le ventre et les cuisses, l’enflure des ganglions. La mère regardait entre les jambes de sa fille et criait, sans pouvoir se dominer. Tous les soirs des mères hurlaient ainsi, avec un air abstrait, devant des ventres offerts avec tous leurs signes mortels, tous les soirs des bras s’agrippaient à ceux de Rieux, des paroles inutiles, des promesses et des pleurs se précipitaient, tous les soirs des timbres d’ambulance déclenchaient des crises aussi vaines que toute douleur. Et au bout de cette longue suite de soirs toujours semblables, Rieux ne pouvait espérer rien d’autre qu’une longue suite de scènes pareilles, indéfiniment renouvelées. Oui, la peste, comme l’abstraction, était monotone. Une seule chose peut-être changeait et c’était Rieux lui-même. Il le sentait ce soir-là, au pied du monument à la République, conscient seulement de la difficile indifférence qui commençait à l’emplir, regardant toujours la porte d’hôtel où Rambert avait disparu.
Au bout de ces semaines harassantes, après tous ces crépuscules où la ville se déversait dans les rues pour y tourner en rond, Rieux comprenait qu’il n’avait plus à se défendre contre la pitié. On se fatigue de la pitié quand la pitié est inutile. Et dans la sensation de ce cœur fermé lentement sur lui-même, le docteur trouvait le seul soulagement de ces journées écrasantes. Il savait que sa tâche en serait facilitée. C’est pourquoi il s’en réjouissait. Lorsque sa mère, le recevant à deux heures du matin, s’affligeait du regard vide qu’il posait sur elle, elle déplorait précisément le seul adoucissement que Rieux pût alors recevoir. Pour lutter contre l’abstraction, il faut un peu lui ressembler. Mais comment cela pouvait-il être sensible à Rambert? L’abstraction pour Rambert était tout ce qui s’opposait à son bonheur. Et à la vérité, Rieux savait que le journaliste avait raison, dans un certain sens. Mais il savait aussi qu’il arrive que l’abstraction se montre plus forte que le bonheur et qu’il faut alors, et seulement, en tenir compte. C’est ce qui devait arriver à Rambert et le docteur put l’apprendre dans le détail par des confidences que Rambert lui fit ultérieurement. Il put ainsi suivre, et sur un nouveau plan, cette espèce de lutte morne entre le bonheur de chaque homme et les abstractions de la peste, qui constitua toute la vie de notre cité pendant cette longue période.
Mais là où les uns voyaient l’abstraction, d’autres voyaient la vérité. La fin du premier mois de peste fut assombrie en effet par une recrudescence marquée de l’épidémie et un prêche véhément du père Paneloux, le jésuite qui avait assisté le vieux Michel au début de sa maladie. Le père Paneloux s’était déjà distingué par des collaborations fréquentes au bulletin de la Société géographique d’Oran, où ses reconstitutions épigraphiques faisaient autorité. Mais il avait gagné une audience plus étendue que celle d’un spécialiste en faisant une série de conférences sur l’individualisme moderne. Il s’y était fait le défenseur chaleureux d’un christianisme exigeant, également éloigné du libertinage moderne et de l’obscurantisme des siècles passés. À cette occasion, il n’avait pas marchandé de dures vérités à son auditoire. De là, sa réputation.
Or, vers la fin de ce mois, les autorités ecclésiastiques de notre ville décidèrent de lutter contre la peste par leurs propres moyens, en organisant une semaine de prières collectives. Ces manifestations de la piété publique devaient se terminer le dimanche par une messe solennelle placée sous l’invocation de saint Roch, le saint pestiféré. À cette occasion, on avait demandé au père Paneloux de prendre la parole. Depuis une quinzaine de jours, celui-ci s’était arraché à ses travaux sur saint Augustin et l’Église africaine qui lui avaient conquis une place à part dans son ordre. D’une nature fougueuse et passionnée, il avait accepté avec résolution la mission dont on le chargeait. Longtemps avant ce prêche, on en parlait déjà en ville et il marqua, à sa manière, une date importante dans l’histoire de cette période.
La semaine fut suivie par un nombreux public. Ce n’est pas qu’en temps ordinaire les habitants d’Oran soient particulièrement pieux. Le dimanche matin, par exemple, les bains de mer font une concurrence sérieuse à la messe. Ce n’était pas non plus qu’une subite conversion les eût illuminés. Mais, d’une part, la ville fermée et le port interdit, les bains n’étaient plus possibles, et, d’autre part, ils se trouvaient dans un état d’esprit bien particulier où, sans avoir admis au fond d’eux-mêmes les événements surprenants qui les frappaient, ils sentaient bien, évidemment, que quelque chose était changé. Beaucoup cependant espéraient toujours que l’épidémie allait s’arrêter et qu’ils seraient épargnés avec leur famille. En conséquence, ils ne se sentaient encore obligés à rien. La peste n’était pour eux qu’une visiteuse désagréable qui devait partir un jour puisqu’elle était venue. Effrayés, mais non désespérés, le moment n’était pas encore arrivé où la peste leur apparaîtrait comme la forme même de leur vie et où ils oublieraient l’existence que, jusqu’à elle, ils avaient pu mener. En somme, ils étaient dans l’attente. À l’égard de la religion, comme de beaucoup d’autres problèmes, la peste leur avait donné une tournure d’esprit singulière, aussi éloignée de l’indifférence que de la passion et qu’on pouvait assez bien définir par le mot “objectivité”. La plupart de ceux qui suivirent la semaine de prières auraient fait leur, par exemple, le propos qu’un des fidèles devait tenir devant le docteur Rieux: “De toute façon, ça ne peut pas faire de mal”. Tarrou lui-même, après avoir noté dans ses carnets que les Chinois, en pareil cas, vont jouer du tambourin devant le génie de la peste, remarquait qu’il était absolument impossible de savoir si, en réalité, le tambourin se montrait plus efficace que les mesures prophylactiques. Il ajoutait seulement que, pour trancher la question, il eût fallu être renseigné sur l’existence d’un génie de la peste et que notre ignorance sur ce point stérilisait toutes les opinions qu’on pouvait avoir.
La cathédrale de notre ville, en tout cas, fut à peu près remplie par les fidèles pendant toute la semaine. Les premiers jours, beaucoup d’habitants restaient encore dans les jardins de palmiers et de grenadiers qui s’étendent devant le porche, pour écouter la marée d’invocations et de prières qui refluaient jusque dans les rues. Peu à peu, l’exemple aidant, les mêmes auditeurs se décidèrent à entrer et à mêler une voix timide aux répons de l’assistance. Et le dimanche, un peuple considérable envahit la nef, débordant jusque sur le parvis et les derniers escaliers. Depuis la veille, le ciel s’était assombri, la pluie tombait à verse. Ceux qui se tenaient dehors avaient ouvert leurs parapluies. Une odeur d’encens et d’étoffes mouillées flottait dans la cathédrale quand le père Paneloux monta en chaire.
Il était de taille moyenne, mais trapu. Quand il s’appuya sur le rebord de la chaire, serrant le bois entre ses grosses mains, on ne vit de lui qu’une forme épaisse et noire surmontée des deux taches de ses joues, rubicondes sous les lunettes d’acier. Il avait une voix forte, passionnée, qui portait loin, et lorsqu’il attaqua l’assistance d’une seule phrase véhémente et martelée: “Mes frères, vous êtes dans le malheur, mes frères, vous l’avez mérité”, un remous parcourut l’assistance jusqu’au parvis.
Logiquement, ce qui suivit ne semblait pas se raccorder à cet exorde pathétique. Ce fut la suite du discours qui fit seulement comprendre à nos concitoyens que, par un procédé oratoire habile, le père avait donné en une seule fois, comme on assène un coup, le thème de son prêche entier. Paneloux, tout de suite après cette phrase, en effet, cita le texte de l’Exode relatif à la peste en Égypte et dit: “La première fois que ce fléau apparaît dans l’histoire, c’est pour frapper les ennemis de Dieu. Pharaon s’oppose aux desseins éternels et la peste le fait alors tomber à genoux. Depuis le début de toute l’histoire, le fléau de Dieu met à ses pieds les orgueilleux et les aveugles. Méditez cela et tombez à genoux”.
La pluie redoublait au-dehors et cette dernière phrase, prononcée au milieu d’un silence absolu, rendu plus profond encore par le crépitement de l’averse sur les vitraux, retentit avec un tel accent que quelques auditeurs, après une seconde d’hésitation, se laissèrent glisser de leur chaise sur le prie-Dieu. D’autres crurent qu’il fallait suivre leur exemple si bien que, de proche en proche, sans un autre bruit que le craquement de quelques chaises, tout l’auditoire se trouva bientôt à genoux. Paneloux se redressa alors, respira profondément et reprit sur un ton de plus en plus accentué: “Si, aujourd’hui, la peste vous regarde, c’est que le moment de réfléchir est venu. Les justes ne peuvent craindre cela, mais les méchants ont raison de trembler. Dans l’immense grange de l’univers, le fléau implacable battra le blé humain jusqu’à ce que la paille soit séparée du grain. Il y aura plus de paille que de grain, plus d’appelés que d’élus, et ce malheur n’a pas été voulu par Dieu. Trop longtemps, ce monde a composé avec le mal, trop longtemps, il s’est reposé sur la miséricorde divine. Il suffisait du repentir, tout était permis. Et pour le repentir, chacun se sentait fort. Le moment venu, on l’éprouverait assurément. D’ici là, le plus facile était de se laisser aller, la miséricorde divine ferait le reste. Eh bien, cela ne pouvait durer. Dieu qui, pendant si longtemps, a penché sur les hommes de cette ville son visage de pitié, lassé d’attendre, déçu dans son éternel espoir, vient de détourner son regard. Privés de la lumière de Dieu, nous voici pour longtemps dans les ténèbres de la peste!”
Dans la salle quelqu’un s’ébroua, comme un cheval impatient. Après une courte pause, le père reprit, sur un ton plus bas: “On lit dans la Légende dorée qu’au temps du roi Humbert, en Lombardie, l’Italie fut ravagée d’une peste si violente qu’à peine les vivants suffisaient-ils à enterrer les morts et cette peste sévissait surtout à Rome et à Pavie. Et un bon ange apparut visiblement, qui donnait des ordres au mauvais ange qui portait un épieu de chasse et il lui ordonnait de frapper les maisons ; et autant de fois qu’une maison recevait de coups, autant y avait-il de morts qui en sortaient”.
Paneloux tendit ici ses deux bras courts dans la direction du parvis, comme s’il montrait quelque chose derrière le rideau mouvant de la pluie: “Mes frères, dit-il avec force, c’est la même chasse mortelle qui court aujourd’hui dans nos rues. Voyez-le, cet ange de la peste, beau comme Lucifer et brillant comme le mal lui-même, dressé au-dessus de vos toits, la main droite portant l’épieu rouge à hauteur de sa tête, la main gauche désignant l’une de vos maisons. À l’instant, peut-être, son doigt se tend vers votre porte, l’épieu résonne sur le bois ; à l’instant encore, la peste entre chez vous, s’assied dans votre chambre et attend votre retour. Elle est là, patiente et attentive, assurée comme l’ordre même du monde. Cette main qu’elle vous tendra, nulle puissance terrestre et pas même, sachez-le bien, la vaine science humaine, ne peut faire que vous l’évitiez. Et battus sur l’aire sanglante de la douleur, vous serez rejetés avec la paille”.
Ici, le père reprit avec plus d’ampleur encore l’image pathétique du fléau. Il évoqua l’immense pièce de bois tournoyant au-dessus de la ville, frappant au hasard et se relevant ensanglantée, éparpillant enfin le sang et la douleur humaine “pour des semailles qui prépareraient les moissons de la vérité”.
Au bout de sa longue période, le père Paneloux s’arrêta, les cheveux sur le front, le corps agité d’un tremblement que ses mains communiquaient à la chaire et reprit, plus sourdement, mais sur un ton accusateur: “Oui, l’heure est venue de réfléchir. Vous avez cru qu’il vous suffirait de visiter Dieu le dimanche pour être libres de vos journées. Vous avez pensé que quelques génuflexions le paieraient bien assez de votre insouciance criminelle. Mais Dieu n’est pas tiède. Ces rapports espacés ne suffisaient pas à sa dévorante tendresse. Il voulait vous voir plus longtemps, c’est sa manière de vous aimer et, à vrai dire, c’est la seule manière d’aimer. Voilà pourquoi, fatigué d’attendre votre venue, il a laissé le fléau vous visiter comme il a visité toutes les villes du péché depuis que les hommes ont une histoire. Vous savez maintenant ce qu’est le péché, comme l’ont su Caïn et ses fils, ceux d’avant le déluge, ceux de Sodome et de Gomorrhe, Pharaon et Job et aussi tous les maudits. Et comme tous ceux-là l’ont fait, c’est un regard neuf que vous portez sur les êtres et sur les choses, depuis le jour où cette ville a refermé ses murs autour de vous et du fléau. Vous savez maintenant, et enfin, qu’il faut venir à l’essentiel”.
Un vent humide s’engouffrait à présent sous la nef et les flammes des cierges se courbèrent en grésillant. Une odeur épaisse de cire, des toux, un éternuement montèrent vers le père Paneloux qui, revenant sur son exposé avec une subtilité qui fut très appréciée, reprit d’une voix calme: “Beaucoup d’entre vous, je le sais, se demandent justement où je veux en venir. Je veux vous faire venir à la vérité et vous apprendre à vous réjouir, malgré tout ce que j’ai dit. Le temps n’est plus où des conseils, une main fraternelle étaient les moyens de vous pousser vers le bien. Aujourd’hui, la vérité est un ordre. Et le chemin du salut, c’est un épieu rouge qui vous le montre et vous y pousse. C’est ici, mes frères, que se manifeste enfin la miséricorde divine qui a mis en toute chose le bien et le mal, la colère et la pitié, la peste et le salut. Ce fléau même qui vous meurtrit, il vous élève et vous montre la voie.
“Il y a bien longtemps, les chrétiens d’Abyssinie voyaient dans la peste un moyen efficace, d’origine divine, de gagner l’éternité. Ceux qui n’étaient pas atteints s’enroulaient dans les draps des pestiférés afin de mourir certainement. Sans doute cette fureur de salut n’est-elle pas recommandable. Elle marque une précipitation regrettable, bien proche de l’orgueil. Il ne faut pas être plus pressé que Dieu et tout ce qui prétend accélérer l’ordre immuable, qu’il a établi une fois pour toutes, conduit à l’hérésie. Mais, du moins, cet exemple comporte sa leçon. À nos esprits plus clairvoyants, il fait valoir seulement cette lueur exquise d’éternité qui gît au fond de toute souffrance. Elle éclaire, cette lueur, les chemins crépusculaires qui mènent vers la délivrance. Elle manifeste la volonté divine qui, sans défaillance, transforme le mal en bien. Aujourd’hui encore, à travers ce cheminement de mort, d’angoisses et de clameurs, elle nous guide vers le silence essentiel et vers le principe de toute vie. Voilà, mes frères, l’immense consolation que je voulais vous apporter pour que ce ne soient pas seulement des paroles qui châtient que vous emportiez d’ici, mais aussi un verbe qui apaise”.
On sentait que Paneloux avait fini. Au-dehors, la pluie avait cessé. Un ciel mêlé d’eau et de soleil déversait sur la place une lumière plus jeune. De la rue montaient des bruits de voix, des glissements de véhicules, tout le langage d’une ville qui s’éveille. Les auditeurs réunissaient discrètement leurs affaires dans un remue-ménage assourdi. Le père reprit cependant la parole et dit qu’après avoir montré l’Origine divine de la peste et le caractère punitif de ce fléau, il en avait terminé et qu’il ne ferait pas appel pour sa conclusion à une éloquence qui serait déplacée, touchant une matière si tragique. Il lui semblait que tout devait être clair à tous. Il rappela seulement qu’à l’occasion de la grande peste de Marseille, le chroniqueur Mathieu Marais s’était plaint d’être plongé dans l’enfer, à vivre ainsi sans secours et sans espérance. Eh bien! Mathieu Marais était aveugle! Jamais plus qu’aujourd’hui, au contraire, le père Paneloux n’avait senti le secours divin et l’espérance chrétienne qui étaient offerts à tous. Il espérait contre tout espoir que, malgré l’horreur de ces journées et les cris des agonisants, nos concitoyens adresseraient au ciel la seule parole qui fût chrétienne et qui était d’amour. Dieu ferait le reste.
Ce prêche eut-il de l’effet sur nos concitoyens, il est difficile de le dire. M. Othon, le juge d’instruction, déclara au docteur Rieux qu’il avait trouvé l’exposé du père Paneloux “absolument irréfutable”. Mais tout le monde n’avait pas d’opinion aussi catégorique. Simplement, le prêche rendit plus sensible à certains l’idée, vague jusque-là, qu’ils étaient condamnés, pour un crime inconnu, à un emprisonnement inimaginable. Et alors que les uns continuaient leur petite vie et s’adaptaient à la claustration, pour d’autres, au contraire, leur seule idée fut dès lors de s’évader de cette prison.
Les gens avaient d’abord accepté d’être coupés de l’extérieur comme ils auraient accepté n’importe quel ennui temporaire qui ne dérangerait que quelques-unes de leurs habitudes. Mais, soudain conscients d’une sorte de séquestration, sous le couvercle du ciel où l’été commençait de grésiller, ils sentaient confusément que cette réclusion menaçait toute leur vie et, le soir venu, l’énergie qu’ils retrouvaient avec la fraîcheur les jetait parfois à des actes désespérés.
Tout d’abord, et que ce soit ou non par l’effet d’une coïncidence, c’est à partir de ce dimanche qu’il y eut dans notre ville une sorte de peur assez générale et assez profonde pour qu’on pût soupçonner que nos concitoyens commençaient vraiment à prendre conscience de leur situation. De ce point de vue, le climat où nous vivions dans notre ville fut un peu modifié. Mais, en vérité, le changement était-il dans le climat ou dans les cœurs, voilà la question.
Peu de jours après le prêche, Rieux qui commentait cet événement avec Grand, en se dirigeant vers les faubourgs, heurta dans la nuit un homme qui se dandinait devant eux, sans essayer d’avancer. À ce même moment, les lampadaires de notre ville, qu’on allumait de plus en plus tard, resplendirent brusquement. La haute lampe placée derrière les promeneurs éclaira subitement l’homme qui riait sans bruit, les yeux fermés. Sur son visage blanchâtre, distendu par une hilarité muette, la sueur coulait à grosses gouttes. Ils passèrent.
- C’est un fou, dit Grand.
Rieux, qui venait de lui prendre le bras pour l’entraîner, sentit que l’employé tremblait d’énervement.
- Il n’y aura bientôt plus que des fous dans nos murs, fit Rieux.
La fatigue aidant, il se sentait la gorge sèche.
- Buvons quelque chose.
Dans le petit café où ils entrèrent, et qui était éclairé par une seule lampe au-dessus du comptoir, les gens parlaient à voix basse, sans raison apparente, dans l’air épais et rougeâtre. Au comptoir, Grand, à la surprise du docteur, commanda un alcool qu’il but d’un trait et dont il déclara qu’il était fort. Puis il voulut sortir. Au-dehors, il semblait à Rieux que la nuit était pleine de gémissements. Quelque part dans le ciel noir, au-dessus des lampadaires, un sifflement sourd lui rappela l’invisible fléau qui brassait inlassablement l’air chaud.
- Heureusement, heureusement, disait Grand.
Rieux se demandait ce qu’il voulait dire.
- Heureusement, disait l’autre, j’ai mon travail.
- Oui, dit Rieux, c’est un avantage.
Et, décidé à ne pas écouter le sifflement, il demanda à Grand s’il était content de ce travail.
- Eh bien, je crois que je suis dans la bonne voie.
- Vous en avez encore pour longtemps?
Grand parut s’animer, la chaleur de l’alcool passa dans sa
voix.
- Je ne sais pas. Mais la question n’est pas là, docteur, ce n’est pas la question, non.
Dans l’obscurité, Rieux devinait qu’il agitait ses bras. Il semblait préparer quelque chose qui vint brusquement, avec volubilité :
- Ce que je veux, voyez-vous, docteur, c’est que le jour où le manuscrit arrivera chez l’éditeur, celui-ci se lève après l’avoir lu et dise à ses collaborateurs: “Messieurs, chapeau bas!”
Cette brusque déclaration surprit Rieux. Il lui sembla que son compagnon faisait le geste de se découvrir, portant la main à sa tête, et ramenant son bras à l’horizontale. Là-haut, le bizarre sifflement semblait reprendre avec plus de force.
- Oui, disait Grand, il faut que ce soit parfait.
Quoique peu averti des usages de la littérature, Rieux avait cependant l’impression que les choses ne devaient pas se passer aussi simplement et que, par exemple, les éditeurs, dans leurs bureaux, devaient être nu-tête. Mais, en fait, on ne savait jamais, et Rieux préféra se taire. Malgré lui, il prêtait l’oreille aux rumeurs mystérieuses de la peste. On approchait du quartier de Grand et comme il était un peu surélevé, une légère brise les rafraîchissait qui nettoyait en même temps la ville de tous ses bruits. Grand continuait cependant de parler et Rieux ne saisissait pas tout ce que disait le bonhomme. Il comprit seulement que l’œuvre en question avait déjà beaucoup de pages, mais que la peine que son auteur prenait pour l’amener à la perfection lui était très douloureuse. “Des soirées, des semaines entières sur un mot. et quelquefois une simple conjonction”. Ici, Grand s’arrêta et prit le docteur par un bouton de son manteau. Les mots sortaient en trébuchant de sa bouche mal garnie.
- Comprenez bien, docteur. À la rigueur, c’est assez facile de choisir entre mais et et. C’est déjà plus difficile d’opter entre et et puis. La difficulté grandit avec puis et ensuite. Mais assurément, ce qu’il y a de plus difficile, c’est de savoir s’il faut mettre et ou s’il ne faut pas.
- Oui, dit Rieux, je comprends.
Et il se remit en route. L’autre parut confus, vint à nouveau à sa hauteur.
- Excusez-moi, bredouilla-t-il. Je ne sais pas ce que j’ai ce
soir!
Rieux lui frappa doucement sur l’épaule et lui dit qu’il désirait l’aider et que son histoire l’intéressait beaucoup. Grand parut un peu rasséréné et, arrivé devant la maison, après avoir hésité, offrit au docteur de monter un moment. Rieux accepta.
Dans la salle à manger, Grand l’invita à s’asseoir devant une table pleine de papiers couverts de ratures sur une écriture microscopique.
- Oui, c’est ça, dit Grand au docteur qui l’interrogeait du regard. Mais voulez-vous boire quelque chose? J’ai un peu de vin.
Rieux refusa. Il regardait les feuilles de papier.
- Ne regardez pas, dit Grand. C’est ma première phrase. Elle me donne du mal, beaucoup de mal.
Lui aussi contemplait toutes ces feuilles et sa main parut invinciblement attirée par l’une d’elles qu’il éleva en transparence devant l’ampoule électrique sans abat-jour. La feuille tremblait dans sa main. Rieux remarqua que le front de l’employé était moite.
- Asseyez-vous, dit-il, et lisez-la-moi.
L’autre le regarda et sourit avec une sorte de gratitude.
- Oui, dit-il je crois que j’en ai envie.
Il attendit un peu, regardant toujours la feuille, puis s’assit. Rieux écoutait en même temps une sorte de bourdonnement confus qui, dans la ville, semblait répondre aux sifflements du fléau. Il avait, à ce moment précis, une perception extraordinairement aiguë de cette ville qui s’étendait à ses pieds, du monde clos qu’elle formait et des terribles hurlements qu’elle étouffait dans la nuit. La voix de Grand s’éleva sourdement: “Par une belle matinée du mois de mai, une élégante amazone parcourait, sur une superbe jument alezane, les allées fleuries du Bois de Boulogne”. Le silence revint et, avec lui, l’indistincte rumeur de la ville en souffrance. Grand avait posé la feuille et continuait à la contempler. Au bout d’un moment, il releva les yeux :
- Qu’en pensez-vous?
Rieux répondit que ce début le rendait curieux de connaître la suite. Mais l’autre dit avec animation que ce point de vue n’était pas le bon. Il frappa ses papiers du plat de la main.
- Ce n’est là qu’une approximation. Quand je serai arrivé à rendre parfaitement le tableau que j’ai dans l’imagination, quand ma phrase aura l’allure même de cette promenade au trot, une-deux-trois, une-deux-trois, alors le reste sera plus facile et surtout l’illusion sera telle, dès le début, qu’il sera possible de dire: “Chapeau bas!”
Mais, pour cela, il avait encore du pain sur la planche. Il ne consentirait jamais à livrer cette phrase telle quelle à un imprimeur. Car, malgré le contentement qu’elle lui donnait parfois, il se rendait compte qu’elle ne collait pas tout à fait encore à la réalité et que, dans une certaine mesure, elle gardait une facilité de ton qui l’apparentait de loin, mais qui l’apparentait tout de même, à un cliché. C’était, du moins, le sens de ce qu’il disait quand on entendit des hommes courir sous les fenêtres. Rieux se leva.
- Vous verrez ce que j’en ferai, disait Grand, et, tourné vers la fenêtre, il ajouta: “Quand tout cela sera fini”.
Mais les bruits de pas précipités reprenaient. Rieux descendait déjà et deux hommes passèrent devant lui quand il fut dans la rue. Apparemment, ils allaient vers les portes de la ville. Certains de nos concitoyens en effet, perdant la tête entre la chaleur et la peste, s’étaient déjà laissés aller à la violence et avaient essayé de tromper la vigilance des barrages pour fuir hors de la ville.
D’autres, comme Rambert, essayaient aussi de fuir cette atmosphère de panique naissante, mais avec plus d’obstination et d’adresse, sinon plus de succès. Rambert avait d’abord continué ses démarches officielles. Selon ce qu’il disait, il avait toujours pensé que l’obstination finit par triompher de tout et, d’un certain point de vue, c’était son métier d’être débrouillard. Il avait donc visité une grande quantité de fonctionnaires et de gens dont on ne discutait pas ordinairement la compétence. Mais, en l’espèce, cette compétence ne leur servait à rien. C’étaient, la plupart du temps, des hommes qui avaient des idées précises et bien classées sur tout ce qui concerne la banque, ou l’exportation, ou les agrumes, ou encore le commerce des vins ; qui possédaient d’indiscutables connaissances dans des problèmes de contentieux ou d’assurances, sans compter des diplômes solides et une bonne volonté évidente. Et même, ce qu’il y avait de plus frappant chez tous, c’était la bonne volonté. Mais en matière de peste, leurs connaissances étaient à peu près nulles.
Devant chacun d’eux cependant, et chaque fois que cela avait été possible, Rambert avait plaidé sa cause. Le fond de son argumentation consistait toujours à dire qu’il était étranger à notre ville et que, par conséquent, son cas devait être spécialement examiné. En général, les interlocuteurs du journaliste admettaient volontiers ce point. Mais ils lui représentaient ordinairement que c’était aussi le cas d’un certain nombre de gens et que, par conséquent, son affaire n’était pas aussi particulière qu’il l’imaginait. À quoi Rambert pouvait répondre que cela ne changeait rien au fond de son argumentation, on lui répondait que cela changeait quelque chose aux difficultés administratives qui s’opposaient à toute mesure de faveur risquant de créer ce que l’on appelait, avec une expression de grande répugnance, un précédent. Selon la classification que Rambert proposa au docteur Rieux, ce genre de raisonneurs constituait la catégorie des formalistes. À côté d’eux, on pouvait encore trouver les bien-parlants, qui assuraient le demandeur que rien de tout cela ne pouvait durer et qui, prodigues de bons conseils quand on leur demandait des décisions, consolaient Rambert en décidant qu’il s’agissait seulement d’un ennui momentané. Il y avait aussi les importants, qui priaient leur visiteur de laisser une note résumant son cas et qui l’informaient qu’ils statueraient sur ce cas ; les futiles, qui lui proposaient des bons de logement ou des adresses de pensions économiques ; les méthodiques, qui faisaient remplir une fiche et la classaient ensuite ; les débordés, qui levaient les bras, et les importunés, qui détournaient les yeux ; il y avait enfin les traditionnels, de beaucoup les plus nombreux, qui indiquaient à Rambert un autre bureau ou une nouvelle démarche à faire.
Le journaliste s’était ainsi épuisé en visites et il avait pris une idée juste de ce que pouvait être une mairie ou une préfecture, à force d’attendre sur une banquette de moleskine devant de grandes affiches invitant à souscrire à des bons du Trésor, exempts d’impôts, ou à s’engager dans l’armée coloniale, à force d’entrer dans des bureaux où les visages se laissaient aussi facilement prévoir que le classeur à tirettes et les étagères de dossiers. L’avantage, comme le disait Rambert à Rieux, avec une nuance d’amertume, c’est que tout cela lui masquait la véritable situation. Les progrès de la peste lui échappaient pratiquement. Sans compter que les jours passaient ainsi plus vite et, dans la situation où se trouvait la ville entière, on pouvait dire que chaque jour passé rapprochait chaque homme, à condition qu’il ne mourût pas, de la fin de ses épreuves. Rieux dut reconnaître que ce point était vrai, mais qu’il s’agissait cependant d’une vérité un peu trop générale.
À un moment donné, Rambert conçut de l’espoir. Il avait reçu de la préfecture un bulletin de renseignements, en blanc, qu’on le priait de remplir exactement. Le bulletin s’inquiétait de son identité, sa situation de famille, ses ressources, anciennes et actuelles, et de ce qu’on appelait son curriculum vitae. Il eut l’impression qu’il s’agissait d’une enquête destinée à recenser les cas des personnes susceptibles d’être renvoyées dans leur résidence habituelle. Quelques renseignements confus, recueillis dans un bureau, confirmèrent cette impression. Mais, après quelques démarches précises, il parvint à retrouver le service qui avait envoyé le bulletin et on lui dit alors que ces renseignements avaient été recueillis “pour le cas”.
- Pour le cas de quoi? demanda Rambert.
On lui précisa alors que c’était au cas où il tomberait malade de la peste et en mourrait, afin de pouvoir, d’une part, prévenir sa famille et, d’autre part, savoir s’il fallait imputer les frais d’hôpital au budget de la ville ou si l’on pouvait en attendre le remboursement de ses proches. Évidemment, cela prouvait qu’il n’était pas tout à fait séparé de celle qui l’attendait, la société s’occupant d’eux. Mais cela n’était pas une consolation. Ce qui était plus remarquable, et Rambert le remarqua en conséquence, c’était la manière dont, au plus fort d’une catastrophe, un bureau pouvait continuer son service et prendre des initiatives d’un autre temps, souvent à l’insu des plus hautes autorités, pour la seule raison qu’il était fait pour ce service.
La période qui suivit fut pour Rambert à la fois la plus facile et la plus difficile. C’était une période d’engourdissement. Il avait vu tous les bureaux, fait toutes les démarches, les issues de ce côté-là étaient pour le moment bouchées. Il errait alors de café en café. Il s’asseyait, le matin, à une terrasse, devant un verre de bière tiède, lisait un journal avec l’espoir d’y trouver quelques signes d’une fin prochaine de la maladie, regardait au visage les passants de la rue, se détournait avec dégoût de leur expression de tristesse et après avoir lu, pour la centième fois, les enseignes des magasins qui lui faisaient face, la publicité des grands apéritifs que déjà on ne servait plus, il se levait et marchait au hasard dans les rues jaunes de la ville. De promenades solitaires en cafés et de cafés en restaurants, il atteignait ainsi le soir. Rieux l’aperçut, un soir précisément, à la porte d’un café où le journaliste hésitait à entrer. Il sembla se décider et alla s’asseoir au fond de la salle. C’était cette heure où dans les cafés, par ordre supérieur, on retardait alors le plus possible le moment de donner la lumière. Le crépuscule envahissait la salle comme une eau grise, le rose du ciel couchant se reflétait dans les vitres, et les marbres des tables reluisaient faiblement dans l’obscurité commençante. Au milieu de la salle déserte, Rambert semblait une ombre perdue et Rieux pensa que c’était l’heure de son abandon. Mais c’était aussi le moment où tous les prisonniers de cette ville sentaient le leur et il fallait faire quelque chose pour hâter leur délivrance. Rieux se détourna.
Rambert passait aussi de longs moments dans la gare. L’accès des quais était interdit. Mais les salles d’attente qu’on atteignait de l’extérieur restaient ouvertes et, quelquefois, des mendiants s’y installaient aux jours de chaleur parce qu’elles étaient ombreuses et fraîches. Rambert venait y lire d’anciens horaires, les pancartes interdisant de cracher et le règlement de la police des trains. Puis, il s’asseyait dans un coin. La salle était sombre. Un vieux poêle de fonte refroidissait depuis des mois, au milieu des décalques en huit de vieux arrosages. Au mur, quelques affiches plaidaient pour une vie heureuse et libre à Bandol ou à Cannes. Rambert touchait ici cette sorte d’affreuse liberté qu’on trouve au fond du dénuement. Les images qui lui étaient le plus difficiles à porter alors, du moins selon ce qu’il en disait à Rieux, étaient celles de Paris. Un paysage de vieilles pierres et d’eaux, les pigeons du Palais-Royal, la gare du Nord, les quartiers déserts du Panthéon, et quelques autres lieux d’une ville qu’il ne savait pas avoir tant aimée poursuivaient alors Rambert et l’empêchaient de rien faire de précis. Rieux pensait seulement qu’il identifiait ces images à celles de son amour. Et, le jour où Rambert lui dit qu’il aimait se réveiller à quatre heures du matin et penser à sa ville, le docteur n’eut pas de peine à traduire du fond de sa propre expérience qu’il aimait imaginer alors la femme qu’il avait laissée. C’était l’heure, en effet, où il pouvait se saisir d’elle. À quatre heures du matin, on ne fait rien en général et l’on dort, même si la nuit a été une nuit de trahison. Oui, on dort à cette heure-là, et cela est rassurant puisque le grand désir d’un cœur inquiet est de posséder interminablement l’être qu’il aime ou de pouvoir plonger cet être, quand le temps de l’absence est venu, dans un sommeil sans rêves qui ne puisse prendre fin qu’au jour de la réunion.
Peu après le prêche, les chaleurs commencèrent. On arrivait à la fin du mois de juin. Au lendemain des pluies tardives qui avaient marqué le dimanche du prêche, l’été éclata d’un seul coup dans le ciel et au-dessus des maisons. Un grand vent brûlant se leva d’abord qui souffla pendant un jour et qui dessécha les murs. Le soleil se fixa. Des flots ininterrompus de chaleur et de lumière inondèrent la ville à longueur de journée. En dehors des rues à arcades et des appartements, il semblait qu’il n’était pas un point de la ville qui ne fût placé dans la réverbération la plus aveuglante. Le soleil poursuivait nos concitoyens dans tous les coins de rue et, s’ils s’arrêtaient, il les frappait alors. Comme ces premières chaleurs coïncidèrent avec un accroissement en flèche du nombre des victimes, qui se chiffra à près de sept cents par semaine, une sorte d’abattement s’empara de la ville. Parmi les faubourgs, entre les rues plates et les maisons à terrasses, l’animation décrut et, dans ce quartier où les gens vivaient toujours sur leur seuil, toutes les portes étaient fermées et les persiennes closes, sans qu’on pût savoir si c’était de la peste ou du soleil qu’on entendait ainsi se protéger. De quelques maisons, pourtant, sortaient des gémissements. Auparavant, quand cela arrivait, on voyait souvent des curieux qui se tenaient dans la rue, aux écoutes. Mais, après ces longues alertes, il semblait que le cœur de chacun se fût endurci et tous marchaient ou vivaient à côté des plaintes comme si elles avaient été le langage naturel des hommes.
Les bagarres aux portes, pendant lesquelles les gendarmes avaient dû faire usage de leurs armes, créèrent une sourde agitation. Il y avait eu sûrement des blessés, mais on parlait de morts en ville où tout s’exagérait par l’effet de la chaleur et de la peur. Il est vrai, en tout cas, que le mécontentement ne cessait de grandir, que nos autorités avaient craint le pire et envisagé sérieusement les mesures à prendre dans le cas où cette population, maintenue sous le fléau, se serait portée à la révolte. Les journaux publièrent des décrets qui renouvelaient l’interdiction de sortir et menaçaient de peines de prison les contrevenants. Des patrouilles parcoururent la ville. Souvent, dans les rues désertes et surchauffées, on voyait avancer, annoncés d’abord par le bruit des sabots sur les pavés, des gardes à cheval qui passaient entre des rangées de fenêtres closes. La patrouille disparue, un lourd silence méfiant retombait sur la ville menacée. De loin en loin, claquaient les coups de feu des équipes spéciales chargées, par une récente ordonnance, de tuer les chiens et les chats qui auraient pu communiquer des puces. Ces détonations sèches contribuaient à mettre dans la ville une atmosphère d’alerte.
Dans la chaleur et le silence, et pour le cœur épouvanté de nos concitoyens, tout prenait d’ailleurs une importance plus grande. Les couleurs du ciel et les odeurs de la terre qui font le passage des saisons étaient, pour la première fois, sensibles à tous. Chacun comprenait avec effroi que les chaleurs aideraient l’épidémie, et, dans le même temps, chacun voyait que l’été s’installait. Le cri des martinets dans le ciel du soir devenait plus grêle au-dessus de la ville. Il n’était plus à la mesure de ces crépuscules de juin qui reculent l’horizon dans notre pays. Les fleurs sur les marchés n’arrivaient plus en boutons, elles éclataient déjà et, après la vente du matin, leurs pétales jonchaient les trottoirs poussiéreux. On voyait clairement que le printemps s’était exténué, qu’il s’était prodigué dans des milliers de fleurs éclatant partout à la ronde et qu’il allait maintenant s’assoupir, s’écraser lentement sous la double pesée de la peste et de la chaleur. Pour tous nos concitoyens, ce ciel d’été, ces rues qui pâlissaient sous les teintes de la poussière et de l’ennui, avaient le même sens menaçant que la centaine de morts dont la ville s’alourdissait chaque jour. Le soleil incessant, ces heures au goût de sommeil et de vacances, n’invitaient plus comme auparavant aux fêtes de l’eau et de la chair. Elles sonnaient creux au contraire dans la ville close et silencieuse. Elles avaient perdu l’éclat cuivré des saisons heureuses. Le soleil de la peste éteignait toutes les couleurs et faisait fuir toute joie.
C’était là une des grandes révolutions de la maladie. Tous nos concitoyens accueillaient ordinairement l’été avec allégresse. La ville s’ouvrait alors vers la mer et déversait sa jeunesse sur les plages. Cet été-là, au contraire, la mer proche était interdite et le corps n’avait plus droit à ses joies. Que faire dans ces conditions? C’est encore Tarrou qui donne l’image la plus fidèle de notre vie d’alors. Il suivait, bien entendu, les progrès de la peste en général, notant justement qu’un tournant de l’épidémie avait été marqué par la radio lorsqu’elle n’annonça plus des centaines de décès par semaine, mais quatre-vingt-douze, cent sept et cent vingt morts par jour. “Les journaux et les autorités jouent au plus fin avec la peste. Ils s’imaginent qu’ils lui enlèvent des points parce que cent trente est un moins gros chiffre que neuf cent dix”. Il évoquait aussi les aspects pathétiques ou spectaculaires de l’épidémie, comme cette femme qui, dans un quartier désert, aux persiennes closes, avait brusquement ouvert une fenêtre, au-dessus de lui, et poussé deux grands cris avant de rabattre les volets sur l’ombre épaisse de la chambre. Mais il notait par ailleurs que les pastilles de menthe avaient disparu des pharmacies parce que beaucoup de gens en suçaient pour se prémunir contre une contagion éventuelle.
Il continuait aussi d’observer ses personnages favoris. On apprenait que le petit vieux aux chats vivait, lui aussi, dans la tragédie. Un matin, en effet, des coups de feu avaient claqué et, comme l’écrivait Tarrou, quelques crachats de plomb avaient tué la plupart des chats et terrorisé les autres, qui avaient quitté la rue. Le même jour, le petit vieux était sorti sur le balcon, à l’heure habituelle, avait marqué une certaine surprise, s’était penché, avait scruté les extrémités de la rue et s’était résigné à attendre. Sa main frappait à petits coups la grille du balcon. Il avait attendu encore, émietté un peu de papier, était rentré, sorti de nouveau, puis, au bout d’un certain temps, il avait disparu brusquement, fermant derrière lui avec colère ses portes-fenêtres. Les jours suivants, la même scène se renouvela, mais on pouvait lire sur les traits du petit vieux une tristesse et un désarroi de plus en plus manifestes. Au bout d’une semaine, Tar-rou attendit en vain l’apparition quotidienne et les fenêtres restèrent obstinément fermées sur un chagrin bien compréhensible. “En temps de peste, défense de cracher sur les chats”, telle était la conclusion des carnets.
D’un autre côté, quand Tarrou rentrait le soir, il était toujours sûr de rencontrer dans le hall la figure sombre du veilleur de nuit qui se promenait de long en large. Ce dernier ne cessait de rappeler à tout venant qu’il avait prévu ce qui arrivait. À Tar-rou, qui reconnaissait lui avoir entendu prédire un malheur, mais qui lui rappelait son idée de tremblement de terre, le vieux gardien répondait: “Ah! si c’était un tremblement de terre! Une bonne secousse et on n’en parle plus. On compte les morts, les vivants, et le tour est joué. Mais cette cochonnerie de maladie! Même ceux qui ne l’ont pas la portent dans leur cœur”.
Le directeur n’était pas moins accablé. Au début, les voyageurs, empêchés de quitter la ville, avaient été maintenus à l’hôtel par la fermeture de la cité. Mais peu à peu, l’épidémie se prolongeant, beaucoup avaient préféré se loger chez des amis. Et les mêmes raisons qui avaient rempli toutes les chambres de l’hôtel les gardaient vides depuis lors, puisqu’il n’arrivait plus de nouveaux voyageurs dans notre ville. Tarrou restait un des rares locataires et le directeur ne manquait jamais une occasion de lui faire remarquer que, sans son désir d’être agréable à ses derniers clients, il aurait fermé son établissement depuis longtemps. Il demandait souvent à Tarrou d’évaluer la durée probable de l’épidémie: “On dit, remarquait Tarrou, que les froids contrarient ces sortes de maladies”. Le directeur s’affolait: “Mais il ne fait jamais réellement froid ici, monsieur. De toute façon, cela nous ferait encore plusieurs mois”. Il était sûr d’ailleurs que les voyageurs se détourneraient longtemps encore de la ville. Cette peste était la ruine du tourisme.
Au restaurant, après une courte absence, on vit réapparaître M. Othon, l’homme-chouette, mais suivi seulement des deux chiens savants. Renseignements pris, la femme avait soigné et enterré sa propre mère et poursuivait en ce moment sa quarantaine.
- Je n’aime pas ça, dit le directeur à Tarrou. Quarantaine ou pas, elle est suspecte, et eux aussi par conséquent.
Tarrou lui faisait remarquer que, de ce point de vue, tout le monde était suspect. Mais l’autre était catégorique et avait sur la question des vues bien tranchées :
- Non, monsieur, ni vous ni moi ne sommes suspects. Eux le sont.
Mais M. Othon ne changeait pas pour si peu et, cette fois, la peste en était pour ses frais. Il entrait de la même façon dans la salle de restaurant, s’asseyait avant ses enfants et leur tenait toujours des propos distingués et hostiles. Seul, le petit garçon avait changé d’aspect. Vêtu de noir comme sa sœur, un peu plus tassé sur lui-même, il semblait la petite ombre de son père. Le veilleur de nuit, qui n’aimait pas M. Othon, avait dit à Tarrou :
- Ah! celui-là, il crèvera tout habillé. Comme ça, pas besoin de toilette. Il s’en ira tout droit.
Le prêche de Paneloux était aussi rapporté, mais avec le commentaire suivant: “Je comprends cette sympathique ardeur. Au commencement des fléaux et lorsqu’ils sont terminés, on fait toujours un peu de rhétorique. Dans le premier cas, l’habitude n’est pas encore perdue et, dans le second, elle est déjà revenue. C’est au moment du malheur qu’on s’habitue à la vérité, c’est-à-dire au silence. Attendons”.
Tarrou notait enfin qu’il avait eu une longue conversation avec le docteur Rieux dont il rappelait seulement qu’elle avait eu de bons résultats, signalait à ce propos la couleur marron clair des yeux de Mme Rieux mère, affirmait bizarrement à son propos qu’un regard où se lisait tant de bonté serait toujours plus fort que la peste, et consacrait enfin d’assez longs passages au vieil asthmatique soigné par Rieux.
Il était allé le voir, avec le docteur, après leur entrevue. Le vieux avait accueilli Tarrou par des ricanements et des frottements de mains. Il était au lit, adossé à son oreiller, au-dessus de ses deux marmites de pois: “Ah! encore un autre, avait-il dit en voyant Tarrou. C’est le monde à l’envers, plus de médecins que de malades. C’est que ça va vite, hein? Le curé a raison, c’est bien mérité”. Le lendemain, Tarrou était revenu sans avertissement.
Si l’on en croit ses carnets, le vieil asthmatique, mercier de son état, avait jugé à cinquante ans qu’il en avait assez fait. Il s’était couché et ne s’était plus relevé depuis. Son asthme se conciliait pourtant avec la station debout. Une petite rente l’avait mené jusqu’aux soixante-quinze ans qu’il portait allègrement. Il ne pouvait souffrir la vue d’une montre et, en fait, il n’y en avait pas une seule dans toute sa maison. “Une montre, disait-il, c’est cher et c’est bête”. Il évaluait le temps, et surtout l’heure des repas qui était la seule qui lui importât, avec ses deux marmites dont l’une était pleine de pois à son réveil. Il remplissait l’autre, pois par pois, du même mouvement appliqué et régulier. Il trouvait ainsi ses repères dans une journée mesurée à la marmite. “Toutes les quinze marmites, disait-il, il me faut mon casse-croûte. C’est tout simple”.
À en croire sa femme, d’ailleurs, il avait donné très jeune des signes de sa vocation. Rien, en effet, ne l’avait jamais intéressé, ni son travail, ni les amis, ni le café, ni la musique, ni les femmes, ni les promenades. Il n’était jamais sorti de sa ville, sauf un jour où, obligé de se rendre à Alger pour des affaires de famille, il s’était arrêté à la gare la plus proche d’Oran, incapable de pousser plus loin l’aventure. Il était revenu chez lui par le premier train.
À Tarrou qui avait eu l’air de s’étonner de la vie cloîtrée qu’il menait, il avait à peu près expliqué que selon la religion, la première moitié de la vie d’un homme était une ascension et l’autre moitié une descente, que dans la descente les journées de l’homme ne lui appartenaient plus, qu’on pouvait les lui enlever à n’importe quel moment, qu’il ne pouvait donc rien en faire et que le mieux justement était de n’en rien faire. La contradiction, d’ailleurs, ne l’effrayait pas, car il avait dit peu après à Tarrou que sûrement Dieu n’existait pas, puisque, dans le cas contraire, les curés seraient inutiles. Mais, à quelques réflexions qui suivirent, Tarrou comprit que cette philosophie tenait étroitement à l’humeur que lui donnaient les quêtes fréquentes de sa paroisse. Mais ce qui achevait le portrait du vieillard est un souhait qui semble profond et qu’il fit à plusieurs reprises devant son interlocuteur: il espérait mourir très vieux.
“Est-ce un saint?” se demandait Tarrou. Et il répondait: “Oui, si la sainteté est un ensemble d’habitudes”.
Mais, en même temps, Tarrou entreprenait la description assez minutieuse d’une journée dans la ville empestée et donnait ainsi une idée juste des occupations et de la vie de nos concitoyens pendant cet été: “Personne ne rit que les ivrognes, disait Tarrou, et ceux-là rient trop”. Puis il entamait sa description:
“Au petit matin, des souffles légers parcourent la ville encore déserte. À cette heure, qui est entre les morts de la nuit et les agonies de la journée, il semble que la peste suspende un instant son effort et reprenne son souffle. Toutes les boutiques sont fermées. Mais sur quelques-unes, l’écrit eau “Fermé pour cause de peste” atteste qu’elles n’ouvriront pas tout à l’heure avec les autres. Des vendeurs de journaux encore endormis ne crient pas les nouvelles, mais, adossés au coin des rues, offrent leur marchandise aux réverbères dans un geste de somnambules. Tout à l’heure, réveillés par les premiers tramways, ils se répandront dans toute la ville, tendant à bout de bras les feuilles où éclate le mot “Peste ”. “Y aura-t-il un automne de peste? Le professeur B... répond: Non”. “Cent vingt-quatre morts, tel est le bilan de la quatre-vingt-quatorzième journée de peste”.
“Malgré la crise du papier qui devient de plus en plus aiguë et qui a forcé certains périodiques à diminuer le nombre de leurs pages, il s’était créé un autre journal: le Courrier de l’Épidémie, qui se donne pour tâche d’“informer nos concitoyens, dans un souci de scrupuleuse objectivité, des progrès ou des reculs de la maladie ; de leur fournir les témoignages les plus autorisés sur l’avenir de l’épidémie ; de prêter l’appui de ses colonnes à tous ceux, connus ou inconnus, qui sont disposés à lutter contre le fléau ; de soutenir le moral de la population, de transmettre les directives des autorités et, en un mot, de grouper toutes les bonnes volontés pour lutter efficacement contre le mal qui nous frappe”. En réalité, ce journal s’est borné très rapidement à publier des annonces de nouveaux produits, infaillibles pour prévenir la peste.
“Vers six heures du matin, tous ces journaux commencent à se vendre dans les queues qui s’installent aux portes des magasins, plus d’une heure avant leur ouverture, puis dans les tramways qui arrivent, bondés, des faubourgs. Les tramways sont devenus le seul moyen de transport et ils avancent à grandpeine, leurs marchepieds et leurs rambardes chargés à craquer. Chose curieuse, cependant, tous les occupants, dans la mesure du possible, se tournent le dos pour éviter une contagion mutuelle. Aux arrêts, le tramway déverse une cargaison d’hommes et de femmes, pressés de s’éloigner et de se trouver seuls. Fréquemment éclatent des scènes dues à la seule mauvaise humeur, qui devient chronique.
“Après le passage des premiers tramways, la ville s’éveille peu à peu, les premières brasseries ouvrent leur porte sur des comptoirs chargés de pancartes: “Plus de café”, “Apportez votre sucre”, etc. Puis les boutiques s’ouvrent, les rues s’animent. En même temps, la lumière monte et la chaleur plombe peu à peu le ciel de juillet. C’est l’heure où ceux qui ne font rien se risquent sur les boulevards. La plupart semblent avoir pris à tâche de conjurer la peste par l’étalage de leur luxe. Il y a tous les jours vers onze heures, sur les artères principales, une parade de jeunes hommes et de jeunes femmes où l’on peut éprouver cette passion de vivre qui croît au sein des grands malheurs. Si l’épidémie s’étend, la morale s’élargira aussi. Nous reverrons les saturnales milanaises au bord des tombes.
“À midi, les restaurants se remplissent en un clin d’œil. Très vite, de petits groupes qui n’ont pu trouver de place se forment à leur porte. Le ciel commence à perdre sa lumière par excès de chaleur. À l’ombre des grands stores, les candidats à la nourriture attendent leur tour, au bord de la rue craquante de soleil. Si les restaurants sont envahis, c’est qu’ils simplifient pour beaucoup le problème du ravitaillement. Mais ils laissent intacte l’angoisse de la contagion. Les convives perdent de longues minutes à essuyer patiemment leurs couverts. Il n’y a pas longtemps, certains restaurants affichaient: “Ici, le couvert est ébouillanté”. Mais peu à peu, ils ont renoncé à toute publicité puisque les clients étaient forcés de venir. Le client, d’ailleurs, dépense volontiers. Les vins fins ou supposés tels, les suppléments les plus chers, c’est le commencement d’une course effrénée. Il paraît aussi que des scènes de panique ont éclaté dans un restaurant parce qu’un client pris de malaise avait pâli, s’était levé, avait chancelé et gagné très vite la sortie.
“Vers deux heures, la ville se vide peu à peu et c’est le moment où le silence, la poussière, le soleil et la peste se rencontrent dans la rue. Tout le long des grandes maisons grises la chaleur coule sans arrêt. Ce sont de longues heures prisonnières qui finissent dans des soirs enflammés croulant sur la ville populeuse et jacassante. Pendant les premiers jours de la chaleur, de loin en loin, et sans qu’on sache pourquoi, les soirs étaient désertés. Mais à présent, la première fraîcheur amène une détente, sinon un espoir. Tous descendent alors dans les rues, s’étourdissent à parler, se querellent ou se convoitent et sous le ciel rouge de juillet la ville, chargée de couples et de clameurs, dérive vers la nuit haletante. En vain, tous les soirs sur les boulevards, un vieillard inspiré, portant feutre et lavallière, traverse la foule en répétant sans arrêt: “Dieu est grand, venez à lui”, tous se précipitent au contraire vers quelque chose qu’ils connaissent mal ou qui leur paraît plus urgent que Dieu. Au début, quand ils croyaient que c’était une maladie comme les autres, la religion était à sa place. Mais quand ils ont vu que c’était sérieux, ils se sont souvenus de la jouissance. Toute l’angoisse qui se peint dans la journée sur les visages se résout alors, dans le crépuscule ardent et poussiéreux, en une sorte d’excitation hagarde, une liberté maladroite qui enfièvre tout un peuple.
“Et moi aussi, je suis comme eux. Mais quoi! la mort n’est rien pour les hommes comme moi. C’est un événement qui leur donne raison”.
C’est Tarrou qui avait demandé à Rieux l’entrevue dont il parle dans ses carnets. Le soir où Rieux l’attendait, le docteur regardait justement sa mère, sagement assise dans un coin de la salle à manger, sur une chaise. Elle passait ses journées là quand les soins du ménage ne l’occupaient plus. Les mains réunies sur les genoux, elle attendait. Rieux n’était même pas sûr que ce fût lui qu’elle attendît. Mais, cependant, quelque chose changeait dans le visage de sa mère lorsqu’il apparaissait. Tout ce qu’une vie laborieuse y avait mis de mutisme semblait s’animer alors. Puis, elle retombait dans le silence. Ce soir-là, elle regardait par la fenêtre, dans la rue maintenant déserte. L’éclairage de nuit avait été diminué des deux tiers. Et, de loin en loin, une lampe très faible mettait quelques reflets dans les ombres de la ville.
- Est-ce qu’on va garder l’éclairage réduit pendant toute la peste? dit Mme Rieux.
- Probablement.
- Pourvu que ça ne dure pas jusqu’à l’hiver. Ce serait triste, alors.
- Oui, dit Rieux.
Il vit le regard de sa mère se poser sur son front. Il savait que l’inquiétude et le surmenage des dernières journées avaient creusé son visage.
- Ça n’a pas marché, aujourd’hui? dit Mme Rieux.
- Oh! comme d’habitude.
Comme d’habitude! C’est-à-dire que le nouveau sérum envoyé par Paris avait l’air d’être moins efficace que le premier et les statistiques montaient. On n’avait toujours pas la possibilité d’inoculer les sérums préventifs ailleurs que dans les familles déjà atteintes. Il eût fallu des quantités industrielles pour en généraliser l’emploi. La plupart des bubons se refusaient à percer, comme si la saison de leur durcissement était venue, et ils torturaient les malades. Depuis la veille, il y avait dans la ville deux cas d’une nouvelle forme de l’épidémie. La peste devenait alors pulmonaire. Le jour même, au cours d’une réunion, les médecins harassés, devant un préfet désorienté, avaient demandé et obtenu de nouvelles mesures pour éviter la contagion qui se faisait de bouche à bouche, dans la peste pulmonaire. Comme d’habitude, on ne savait toujours rien.
Il regarda sa mère. Le beau regard marron fit remonter en lui des années de tendresse.
- Est-ce que tu as peur, mère?
- À mon âge, on ne craint plus grand-chose.
- Les journées sont bien longues et je ne suis plus jamais
là.
- Cela m’est égal de t’attendre si je sais que tu dois venir. Et quand tu n’es pas là, je pense à ce que tu fais. As-tu des nouvelles?
- Oui, tout va bien, si j’en crois le dernier télégramme. Mais je sais qu’elle dit cela pour me tranquilliser.
La sonnette de la porte retentit. Le docteur sourit à sa mère et alla ouvrir. Dans la pénombre du palier, Tarrou avait l’air d’un grand ours vêtu de gris. Rieux fit asseoir le visiteur devant son bureau. Lui-même restait debout derrière son fauteuil. Ils étaient séparés par la seule lampe allumée de la pièce, sur le bureau.
- Je sais, dit Tarrou sans préambule, que je puis parler tout droit avec vous.
Rieux approuva en silence.
- Dans quinze jours ou un mois, vous ne serez d’aucune utilité ici, vous êtes dépassé par les événements.
- C’est vrai, dit Rieux.
- L’organisation du service sanitaire est mauvaise. Vous manquez d’hommes et de temps.
Rieux reconnut encore que c’était la vérité.
- J’ai appris que la préfecture envisage une sorte de service civil pour obliger les hommes valides à participer au sauvetage général.
- Vous êtes bien renseigné. Mais le mécontentement est déjà grand et le préfet hésite.
- Pourquoi ne pas demander des volontaires?
- On l’a fait, mais les résultats ont été maigres.
- On l’a fait par la voie officielle, un peu sans y croire. Ce qui leur manque, c’est l’imagination. Ils ne sont jamais à l’échelle des fléaux. Et les remèdes qu’ils imaginent sont à peine à la hauteur d’un rhume de cerveau. Si nous les laissons faire, ils périront et nous avec eux.
- C’est probable, dit Rieux. Je dois dire qu’ils ont cependant pensé aussi aux prisonniers, pour ce que j’appellerai les gros travaux.
- J’aimerais mieux que ce fût des hommes libres.
- Moi aussi. Mais pourquoi, en somme?
- J’ai horreur des condamnations à mort.
Rieux regarda Tarrou :
- Alors? dit-il.
- Alors, j’ai un plan d’organisation pour des formations sanitaires volontaires. Autorisez-moi à m’en occuper et laissons l’administration de côté. Du reste, elle est débordée. J’ai des amis un peu partout et ils feront le premier noyau. Et naturellement, j’y participerai.
- Bien entendu, dit Rieux, vous vous doutez que j’accepte avec joie. On a besoin d’être aidé, surtout dans ce métier. Je me charge de faire accepter l’idée à la préfecture. Du reste, ils n’ont pas le choix. Mais.
Rieux réfléchit.
- Mais ce travail peut être mortel, vous le savez bien. Et dans tous les cas, il faut que je vous en avertisse. Avez-vous bien réfléchi?
Tarrou le regardait de ses yeux gris.
- Que pensez-vous du prêche de Paneloux, docteur?
La question était posée naturellement et Rieux y répondit naturellement.
- J’ai trop vécu dans les hôpitaux pour aimer l’idée de punition collective. Mais, vous savez, les chrétiens parlent quelquefois ainsi, sans le penser jamais réellement. Ils sont meilleurs qu’ils ne paraissent.
- Vous pensez pourtant, comme Paneloux, que la peste a sa bienfaisance, qu’elle ouvre les yeux, qu’elle force à penser!
Le docteur secoua la tête avec impatience.
- Comme toutes les maladies de ce monde. Mais ce qui est vrai des maux de ce monde est vrai aussi de la peste. Cela peut servir à grandir quelques-uns. Cependant, quand on voit la misère et la douleur qu’elle apporte, il faut être fou, aveugle ou lâche pour se résigner à la peste.
Rieux avait à peine élevé le ton. Mais Tarrou fit un geste de la main comme pour le calmer. Il souriait.
- Oui, dit Rieux en haussant les épaules. Mais vous ne m’avez pas répondu. Avez-vous réfléchi?
Tarrou se carra un peu dans son fauteuil et avança la tête dans la lumière.
- Croyez-vous en Dieu, docteur?
La question était encore posée naturellement. Mais cette fois, Rieux hésita.
- Non, mais qu’est-ce que cela veut dire? Je suis dans la nuit, et j’essaie d’y voir clair. Il y a longtemps que j’ai cessé de trouver ça original.
- N’est-ce pas ce qui vous sépare de Paneloux?
- Je ne crois pas. Paneloux est un homme d’études. Il n’a pas vu assez mourir et c’est pourquoi il parle au nom d’une vérité. Mais le moindre prêtre de campagne qui administre ses paroissiens et qui a entendu la respiration d’un mourant pense comme moi. Il soignerait la misère avant de vouloir en démontrer l’excellence.
Rieux se leva, son visage était maintenant dans l’ombre.
- Laissons cela, dit-il, puisque vous ne voulez pas répondre.
Tarrou sourit sans bouger de son fauteuil.
- Puis-je répondre par une question?
À son tour le docteur sourit :
- Vous aimez le mystère, dit-il. Allons-y.
- Voilà, dit Tarrou. Pourquoi vous-même montrez-vous tant de dévouement puisque vous ne croyez pas en Dieu? Votre réponse m’aidera peut-être à répondre moi-même.
Sans sortir de l’ombre, le docteur dit qu’il avait déjà répondu, que s’il croyait en un Dieu tout-puissant, il cesserait de guérir les hommes, lui laissant alors ce soin. Mais que personne au monde, non, pas même Paneloux qui croyait y croire, ne croyait en un Dieu de cette sorte, puisque personne ne s’abandonnait totalement et qu’en cela du moins, lui, Rieux, croyait être sur le chemin de la vérité, en luttant contre la création telle qu’elle était.
- Ah! dit Tarrou, c’est donc l’idée que vous vous faites de votre métier?
- À peu près, répondit le docteur en revenant dans la lumière.
Tarrou siffla doucement et le docteur le regarda.
- Oui, dit-il, vous vous dites qu’il y faut de l’orgueil. Mais je n’ai que l’orgueil qu’il faut, croyez-moi. Je ne sais pas ce qui m’attend ni ce qui viendra après tout ceci. Pour le moment il y a des malades et il faut les guérir. Ensuite, ils réfléchiront et moi aussi. Mais le plus pressé est de les guérir. Je les défends comme je peux, voilà tout.
- Contre qui?
Rieux se tourna vers la fenêtre. Il devinait au loin la mer à une condensation plus obscure de l’horizon. Il éprouvait seulement sa fatigue et luttait en même temps contre un désir soudain et déraisonnable de se livrer un peu plus à cet homme singulier, mais qu’il sentait fraternel.
- Je n’en sais rien, Tarrou, je vous jure que je n’en sais rien. Quand je suis entré dans ce métier, je l’ai fait abstraitement, en quelque sorte, parce que j’en avais besoin, parce que c’était une situation comme les autres, une de celles que les jeunes gens se proposent. Peut-être aussi parce que c’était particulièrement difficile pour un fils d’ouvrier comme moi. Et puis il a fallu voir mourir. Savez-vous qu’il y a des gens qui refusent de mourir? Avez-vous jamais entendu une femme crier: “Jamais!” au moment de mourir? Moi, oui. Et je me suis aperçu alors que je ne pouvais pas m’y habituer. J’étais jeune et mon dégoût croyait s’adresser à l’ordre même du monde. Depuis, je suis devenu plus modeste. Simplement, je ne suis toujours pas habitué à voir mourir. Je ne sais rien de plus. Mais après tout...
Rieux se tut et se rassit. Il se sentait la bouche sèche.
- Après tout? dit doucement Tarrou.
- Après tout., reprit le docteur, et il hésita encore, regardant Tarrou avec attention, c’est une chose qu’un homme comme vous peut comprendre, n’est-ce pas, mais puisque l’ordre du monde est réglé par la mort, peut-être vaut-il mieux pour Dieu qu’on ne croie pas en lui et qu’on lutte de toutes ses forces contre la mort, sans lever les yeux vers ce ciel où il se tait.
- Oui, approuva Tarrou, je peux comprendre. Mais vos victoires seront toujours provisoires, voilà tout.
Rieux parut s’assombrir.
- Toujours, je le sais. Ce n’est pas une raison pour cesser de lutter.
- Non, ce n’est pas une raison. Mais j’imagine alors ce que doit être cette peste pour vous.
- Oui, dit Rieux. Une interminable défaite.
Tarrou fixa un moment le docteur, puis il se leva et marcha lourdement vers la porte. Et Rieux le suivit. Il le rejoignait déjà quand Tarrou qui semblait regarder à ses pieds lui dit :
- Qui vous a appris tout cela, docteur?
La réponse vint immédiatement :
- La misère.
Rieux ouvrit la porte de son bureau et, dans le couloir, dit à Tarrou qu’il descendait aussi, allant voir un de ses malades dans les faubourgs. Tarrou lui proposa de l’accompagner et le docteur accepta. Au bout du couloir, ils rencontrèrent Mme Rieux à qui le docteur présenta Tarrou.
- Un ami, dit-il.
- Oh! fit Mme Rieux, je suis très contente de vous connaître.
Quand elle partit, Tarrou se retourna encore sur elle. Sur le palier, le docteur essaya en vain de faire fonctionner la minuterie. Les escaliers restaient plongés dans la nuit. Le docteur se demandait si c’était l’effet d’une nouvelle mesure d’économie. Mais on ne pouvait pas savoir. Depuis quelque temps déjà, dans les maisons et dans la ville, tout se détraquait. C’était peut-être simplement que les concierges, et nos concitoyens en général, ne prenaient plus soin de rien. Mais le docteur n’eut pas le temps de s’interroger plus avant, car la voix de Tarrou résonnait derrière lui :
- Encore un mot, docteur, même s’il vous paraît ridicule: vous avez tout à fait raison.
Rieux haussa les épaules pour lui-même, dans le noir.
- Je n’en sais rien, vraiment. Mais vous, qu’en savez-vous?
- Oh! dit l’autre sans s’émouvoir, j’ai peu de choses à apprendre.
Le docteur s’arrêta et le pied de Tarrou, derrière lui, glissa sur une marche. Tarrou se rattrapa en prenant l’épaule de Rieux.
- Croyez-vous tout connaître de la vie? demanda celui-ci.
La réponse vint dans le noir, portée par la même voix tranquille :
- Oui.
Quand ils débouchèrent dans la rue, ils comprirent qu’il était assez tard, onze heures peut-être. La ville était muette, peuplée seulement de frôlements. Très loin, le timbre d’une ambulance résonna. Ils montèrent dans la voiture et Rieux mit le moteur en marche.
- Il faudra, dit-il, que vous veniez demain à l’hôpital pour le vaccin préventif. Mais, pour en finir et avant d’entrer dans cette histoire, dites-vous que vous avez une chance sur trois d’en sortir.
- Ces évaluations n’ont pas de sens, docteur, vous le savez comme moi. Il y a cent ans, une épidémie de peste a tué tous les habitants d’une ville de Perse, sauf précisément le laveur des morts qui n’avait jamais cessé d’exercer son métier.
- Il a gardé sa troisième chance, voilà tout, dit Rieux d’une voix soudain plus sourde. Mais il est vrai que nous avons encore tout à apprendre à ce sujet.
Ils entraient maintenant dans les faubourgs. Les phares illuminaient les rues désertes. Ils s’arrêtèrent. Devant l’auto, Rieux demanda à Tarrou s’il voulait entrer et l’autre dit que oui. Un reflet du ciel éclairait leurs visages. Rieux eut soudain un rire d’amitié :
- Allons, Tarrou, dit-il, qu’est-ce qui vous pousse à vous occuper de cela?
- Je ne sais pas. Ma morale peut-être.
- Et laquelle?
- La compréhension.
Tarrou se tourna vers la maison et Rieux ne vit plus son visage jusqu’au moment où ils furent chez le vieil asthmatique.
Dès le lendemain, Tarrou se mit au travail et réunit une première équipe qui devait être suivie de beaucoup d’autres.
L’intention du narrateur n’est cependant pas de donner à ces formations sanitaires plus d’importance qu’elles n’en eurent. À sa place, il est vrai que beaucoup de nos concitoyens céderaient aujourd’hui à la tentation d’en exagérer le rôle. Mais le narrateur est plutôt tenté de croire qu’en donnant trop d’importance aux belles actions, on rend finalement un hommage indirect et puissant au mal. Car on laisse supposer alors que ces belles actions n’ont tant de prix que parce qu’elles sont rares et que la méchanceté et l’indifférence sont des moteurs bien plus fréquents dans les actions des hommes. C’est là une idée que le narrateur ne partage pas. Le mal qui est dans le monde vient presque toujours de l’ignorance, et la bonne volonté peut faire autant de dégâts que la méchanceté, si elle n’est pas éclairée. Les hommes sont plutôt bons que mauvais, et en vérité ce n’est pas la question. Mais ils ignorent plus ou moins, et c’est ce qu’on appelle vertu ou vice, le vice le plus désespérant étant celui de l’ignorance qui croit tout savoir et qui s’autorise alors à tuer. L’âme du meurtrier est aveugle et il n’y a pas de vraie bonté ni de bel amour sans toute la clairvoyance possible.
C’est pourquoi nos formations sanitaires qui se réalisèrent grâce à Tarrou doivent être jugées avec une satisfaction objective. C’est pourquoi le narrateur ne se fera pas le chantre trop éloquent de la volonté et d’un héroïsme auquel il n’attache qu’une importance raisonnable. Mais il continuera d’être l’historien des cœurs déchirés et exigeants que la peste fit alors à tous nos concitoyens.
Ceux qui se dévouèrent aux formations sanitaires n’eurent pas si grand mérite à le faire, en effet, car ils savaient que c’était la seule chose à faire et c’est de ne pas s’y décider qui alors eût été incroyable. Ces formations aidèrent nos concitoyens à entrer plus avant dans la peste et les persuadèrent en partie que, puisque la maladie était là, il fallait faire ce qu’il fallait pour lutter contre elle. Parce que la peste devenait ainsi le devoir de quelques-uns, elle apparut réellement pour ce qu’elle était, c’est-à-dire l’affaire de tous.
Cela est bien. Mais on ne félicite pas un instituteur d’enseigner que deux et deux font quatre. On le félicitera peut-être d’avoir choisi ce beau métier. Disons donc qu’il était louable que Tarrou et d’autres eussent choisi de démontrer que deux et deux faisaient quatre plutôt que le contraire, mais disons aussi que cette bonne volonté leur était commune avec l’instituteur, avec tous ceux qui ont le même cœur que l’instituteur et qui, pour l’honneur de l’homme, sont plus nombreux qu’on ne pense, c’est du moins la conviction du narrateur. Celui-ci aperçoit très bien d’ailleurs l’objection qu’on pourrait lui faire et qui est que ces hommes risquaient leur vie. Mais il vient toujours une heure dans l’histoire où celui qui ose dire que deux et deux font quatre est puni de mort. L’instituteur le sait bien. Et la question n’est pas de savoir quelle est la récompense ou la punition qui attend ce raisonnement. La question est de savoir si deux et deux, oui ou non, font quatre. Pour ceux de nos concitoyens qui risquaient alors leur vie, ils avaient à décider si, oui ou non, ils étaient dans la peste et si, oui ou non, il fallait lutter contre elle.
Beaucoup de nouveaux moralistes dans notre ville allaient alors, disant que rien ne servait à rien et qu’il fallait se mettre à genoux. Et Tarrou, et Rieux, et leurs amis pouvaient répondre ceci ou cela, mais la conclusion était toujours ce qu’ils savaient: il fallait lutter de telle ou telle façon et ne pas se mettre à genoux. Toute la question était d’empêcher le plus d’hommes possible de mourir et de connaître la séparation définitive. Il n’y avait pour cela qu’un seul moyen qui était de combattre la peste. Cette vérité n’était pas admirable, elle n’était que conséquente.
C’est pourquoi il était naturel que le vieux Castel mît toute sa confiance et son énergie à fabriquer des sérums sur place, avec du matériel de fortune. Rieux et lui espéraient qu’un sérum fabriqué avec les cultures du microbe même qui infestait la ville aurait une efficacité plus directe que les sérums venus de l’extérieur, puisque le microbe différait légèrement du bacille de la peste tel qu’il était classiquement défini. Castel espérait avoir son premier sérum assez rapidement.
C’est pourquoi encore il était naturel que Grand, qui n’avait rien d’un héros, assurât maintenant une sorte de secrétariat des formations sanitaires. Une partie des équipes formées par Tar-rou se consacrait en effet à un travail d’assistance préventive dans les quartiers surpeuplés. On essayait d’y introduire l’hygiène nécessaire, on faisait le compte des greniers et des caves que la désinfection n’avait pas visités. Une autre partie des équipes secondait les médecins dans les visites à domicile, assurait le transport des pestiférés, et même, par la suite, en l’absence de personnel spécialisé, conduisit les voitures des malades et des morts. Tout ceci exigeait un travail d’enregistrement et de statistiques que Grand avait accepté de faire.
De ce point de vue, et plus que Rieux ou Tarrou, le narrateur estime que Grand était le représentant réel de cette vertu tranquille qui animait les formations sanitaires. Il avait dit oui sans hésitation, avec la bonne volonté qui était la sienne. Il avait seulement demandé à se rendre utile dans de petits travaux. Il était trop vieux pour le reste. De dix-huit heures à vingt heures, il pouvait donner son temps. Et comme Rieux le remerciait avec chaleur, il s’en étonnait: “Ce n’est pas le plus difficile. Il y a la peste, il faut se défendre, c’est clair. Ah! si tout était aussi simple!” Et il revenait à sa phrase. Quelquefois, le soir, quand le travail des fiches était terminé, Rieux parlait avec Grand. Ils avaient fini par mêler Tarrou à leur conversation et Grand se confiait avec un plaisir de plus en plus évident à ses deux compagnons. Ces derniers suivaient avec intérêt le travail patient que Grand continuait au milieu de la peste. Eux aussi, finalement, y trouvaient une sorte de détente.
“Comment va l’amazone?” demandait souvent Tarrou. Et Grand répondait invariablement: “Elle trotte, elle trotte”, avec un sourire difficile. Un soir, Grand dit qu’il avait définitivement abandonné l’adjectif “élégante” pour son amazone et qu’il la qualifiait désormais de “svelte”. “C’est plus concret”, avait-il ajouté. Une autre fois, il lut à ses deux auditeurs la première phrase ainsi modifiée: “Par une belle matinée de mai, une svelte amazone, montée sur une superbe jument alezane, parcourait les allées fleuries du Bois de Boulogne”.
- N’est-ce pas, dit Grand, on la voit mieux et j’ai préféré: “Par une matinée de mai”, parce que “mois de mai” allongeait un peu le trot.
Il se montra ensuite fort préoccupé par l’adjectif “superbe”. Cela ne parlait pas, selon lui, et il cherchait le terme qui photographierait d’un seul coup la fastueuse jument qu’il imaginait. “Grasse” n’allait pas, c’était concret, mais un peu péjoratif. “Reluisante” l’avait tenté un moment, mais le rythme ne s’y prêtait pas. Un soir, il annonça triomphalement qu’il avait trouvé: “Une noire jument alezane”. Le noir indiquait discrètement l’élégance, toujours selon lui.
- Ce n’est pas possible, dit Rieux.
- Et pourquoi?
- Alezane n’indique pas la race, mais la couleur.
- Quelle couleur?
- Eh bien, une couleur qui n’est pas le noir, en tout cas!
Grand parut très affecté.
- Merci, disait-il, vous êtes là, heureusement. Mais vous voyez comme c’est difficile.
- Que penseriez-vous de “somptueuse”? dit Tarrou.
Grand le regarda. Il réfléchissait :
- Oui, dit-il, oui!
Et un sourire lui venait peu à peu.
À quelque temps de là, il avoua que le mot “fleuries” l’embarrassait. Comme il n’avait jamais connu qu’Oran et Mon-télimar, il demandait quelquefois à ses amis des indications sur la façon dont les allées du Bois étaient fleuries. À proprement parler, elles n’avaient jamais donné l’impression de l’être à Rieux ou à Tarrou, mais la conviction de l’employé les ébranlait. Il s’étonnait de leur incertitude. “Il n’y a que les artistes qui sachent regarder”. Mais le docteur le trouva une fois dans une grande excitation. Il avait remplacé “fleuries” par “pleines de fleurs”. Il se frottait les mains. “Enfin on les voit, on les sent. Chapeau bas, messieurs!” Il lut triomphalement la phrase: “Par une belle matinée de mai, une svelte amazone montée sur une somptueuse jument alezane parcourait les allées pleines de fleurs du Bois de Boulogne”. Mais, lus à haute voix, les trois génitifs qui terminaient la phrase résonnèrent fâcheusement et Grand bégaya un peu. Il s’assit, l’air accablé. Puis il demanda au docteur la permission de partir. Il avait besoin de réfléchir un peu.
C’est à cette époque, on l’apprit par la suite, qu’il donna au bureau des signes de distraction qui furent jugés regrettables à un moment où la mairie devait faire face, avec un personnel diminué, à des obligations écrasantes. Son service en souffrit et le chef de bureau le lui reprocha sévèrement en lui rappelant qu’il était payé pour accomplir un travail que, précisément, il n’accomplissait pas. “Il paraît, avait dit le chef de bureau, que vous faites du service volontaire dans les formations sanitaires, en dehors de votre travail. Ça ne me regarde pas. Mais ce qui me regarde, c’est votre travail. Et la première façon de vous rendre utile dans ces terribles circonstances, c’est de bien faire votre travail. Ou sinon, le reste ne sert à rien”.
- Il a raison, dit Grand à Rieux.
- Oui, il a raison, approuva le docteur.
- Mais je suis distrait et je ne sais pas comment sortir de la fin de ma phrase.
Il avait pensé à supprimer “de Boulogne”, estimant que tout le monde comprendrait. Mais alors la phrase avait l’air de rattacher à “fleurs” ce qui, en fait, se reliait à “allées”. Il avait envisagé aussi la possibilité d’écrire: “Les allées du Bois pleines de fleurs”. Mais la situation de “Bois” entre un substantif et un qualificatif qu’il séparait arbitrairement lui était une épine dans la chair. Certains soirs, il est bien vrai qu’il avait l’air encore plus fatigué que Rieux.
Oui, il était fatigué par cette recherche qui l’absorbait tout entier, mais il n’en continuait pas moins à faire les additions et les statistiques dont avaient besoin les formations sanitaires. Patiemment, tous les soirs, il mettait des fiches au clair, il les accompagnait de courbes et il s’évertuait lentement à présenter des états aussi précis que possible. Assez souvent, il allait rejoindre Rieux dans l’un des hôpitaux et lui demandait une table dans quelque bureau ou infirmerie. Il s’y installait avec ses papiers, exactement comme il s’installait à sa table de la mairie, et dans l’air épaissi par les désinfectants et par la maladie elle-même, il agitait ses feuilles pour en faire sécher l’encre. Il essayait honnêtement alors de ne plus penser à son amazone et de faire seulement ce qu’il fallait.
Oui, s’il est vrai que les hommes tiennent à se proposer des exemples et des modèles qu’ils appellent héros, et s’il faut absolument qu’il y en ait un dans cette histoire, le narrateur propose justement ce héros insignifiant et effacé qui n’avait pour lui qu’un peu de bonté au cœur et un idéal apparemment ridicule. Cela donnera à la vérité ce qui lui revient, à l’addition de deux et deux son total de quatre, et à l’héroïsme la place secondaire qui doit être la sienne, juste après, et jamais avant, l’exigence généreuse du bonheur. Cela donnera aussi à cette chronique son caractère, qui doit être celui d’une relation faite avec de bons sentiments, c’est-à-dire des sentiments qui ne sont ni ostensiblement mauvais ni exaltants à la vilaine façon d’un spectacle.
C’était du moins l’opinion du docteur Rieux lorsqu’il lisait dans les journaux ou écoutait à la radio les appels et les encouragements que le monde extérieur faisait parvenir à la ville empestée. En même temps que les secours envoyés par air et par route, tous les soirs, sur les ondes ou dans la presse, des commentaires apitoyés ou admiratifs s’abattaient sur la cité désormais solitaire. Et chaque fois le ton d’épopée ou de discours de prix impatientait le docteur. Certes, il savait que cette sollicitude n’était pas feinte. Mais elle ne pouvait s’exprimer que dans le langage conventionnel par lequel les hommes essaient d’exprimer ce qui les lie à l’humanité. Et ce langage ne pouvait s’appliquer aux petits efforts quotidiens de Grand, par exemple, ne pouvant rendre compte de ce que signifiait Grand au milieu de la peste.
À minuit, quelquefois, dans le grand silence de la ville alors désertée, au moment de regagner son lit pour un sommeil trop court, le docteur tournait le bouton de son poste. Et des confins du monde, à travers des milliers de kilomètres, des voix inconnues et fraternelles s’essayaient maladroitement à dire leur solidarité et la disaient, en effet, mais démontraient en même temps la terrible impuissance où se trouve tout homme de partager vraiment une douleur qu’il ne peut pas voir: “Oran! Oran!” En vain, l’appel traversait les mers, en vain Rieux se tenait en alerte, bientôt l’éloquence montait et accusait mieux encore la séparation essentielle qui faisait deux étrangers de Grand et de l’orateur. “Oran! oui, Oran! Mais non, pensait le docteur, aimer ou mourir ensemble, il n’y a pas d’autre ressource. Ils sont trop loin”.
Et justement ce qui reste à retracer avant d’en arriver au sommet de la peste, pendant que le fléau réunissait toutes ses forces pour les jeter sur la ville et s’en emparer définitivement, ce sont les longs efforts désespérés et monotones que les derniers individus, comme Rambert, faisaient pour retrouver leur bonheur et ôter à la peste cette part d’eux-mêmes qu’ils défendaient contre toute atteinte. C’était là leur manière de refuser l’asservissement qui les menaçait, et bien que ce refus-là, apparemment, ne fût pas aussi efficace que l’autre, l’avis du narrateur est qu’il avait bien son sens et qu’il témoignait aussi, dans sa vanité et ses contradictions mêmes, pour ce qu’il y avait alors de fier en chacun de nous.
Rambert luttait pour empêcher que la peste le recouvrît. Ayant acquis la preuve qu’il ne pouvait sortir de la ville par les moyens légaux, il était décidé, avait-il dit à Rieux, à user des autres. Le journaliste commença par les garçons de café. Un garçon de café est toujours au courant de tout. Mais les premiers qu’il interrogea étaient surtout au courant des pénalités très graves qui sanctionnaient ce genre d’entreprises. Dans un cas, il fut même pris pour un provocateur. Il lui fallut rencontrer Cottard chez Rieux pour avancer un peu. Ce jour-là, Rieux et lui avaient parlé encore des démarches vaines que le journaliste avait faites dans les administrations. Quelques jours après, Cot-tard rencontra Rambert dans la rue, et l’accueillit avec la rondeur qu’il mettait à présent dans tous ses rapports :
- Toujours rien? avait-il dit.
- Non, rien.
- On ne peut pas compter sur les bureaux. Ils ne sont pas faits pour comprendre.
- C’est vrai. Mais je cherche autre chose. C’est difficile.
- Ah! dit Cottard, je vois.
Lui connaissait une filière et à Rambert, qui s’en étonnait, il expliqua que, depuis longtemps, il fréquentait tous les cafés d’Oran, qu’il y avait des amis et qu’il était renseigné sur l’existence d’une organisation qui s’occupait de ce genre d’opérations. La vérité était que Cottard, dont les dépenses dépassaient désormais les revenus, s’était mêlé à des affaires de contrebande sur les produits rationnés. Il revendait ainsi des cigarettes et du mauvais alcool dont les prix montaient sans cesse et qui étaient en train de lui rapporter une petite fortune.
- En êtes-vous bien sûr? demanda Rambert.
- Oui, puisqu’on me l’a proposé.
- Et vous n’en avez pas profité?
- Ne soyez pas méfiant, dit Cottard d’un air bonhomme, je n’en ai pas profité parce que je n’ai pas, moi, envie de partir. J’ai mes raisons.
Il ajouta après un silence :
- Vous ne me demandez pas quelles sont mes raisons?
- Je suppose, dit Rambert, que cela ne me regarde pas.
- Dans un sens, cela ne vous regarde pas, en effet. Mais dans un autre. Enfin, la seule chose évidente, c’est que je me sens bien mieux ici depuis que nous avons la peste avec nous.
L’autre écouta son discours :
- Comment joindre cette organisation?
- Ah! dit Cottard, ce n’est pas facile, venez avec moi.
Il était quatre heures de l’après-midi. Sous un ciel lourd, la ville cuisait lentement. Tous les magasins avaient leur store baissé. Les chaussées étaient désertes. Cottard et Rambert prirent des rues à arcades et marchèrent longtemps sans parler. C’était une de ces heures où la peste se faisait invisible. Ce silence, cette mort des couleurs et des mouvements, pouvaient être aussi bien ceux de l’été que ceux du fléau. On ne savait si l’air était lourd de menaces ou de poussières et de brûlure. Il fallait observer et réfléchir pour rejoindre la peste. Car elle ne se trahissait que par des signes négatifs. Cottard, qui avait des affinités avec elle, fit remarquer par exemple à Rambert l’absence des chiens qui, normalement, eussent dû être sur le flanc, haletants, au seuil des couloirs, à la recherche d’une fraîcheur impossible.
Ils prirent le boulevard des Palmiers, traversèrent la place d’Armes et descendirent vers le quartier de la Marine. À gauche, un café peint en vert s’abritait sous un store oblique de grosse toile jaune. En entrant, Cottard et Rambert essuyèrent leur front. Ils prirent place sur des chaises pliantes de jardin, devant des tables de tôle verte. La salle était absolument déserte. Des mouches grésillaient dans l’air. Dans une cage jaune posée sur le comptoir bancal, un perroquet, toutes plumes retombées, était affaissé sur son perchoir. De vieux tableaux, représentant des scènes militaires, pendaient au mur, couverts de crasse et de toiles d’araignée en épais filaments. Sur toutes les tables de tôle, et devant Rambert lui-même, séchaient des fientes de poule dont il s’expliquait mal l’origine jusqu’à ce que d’un coin obscur, après un peu de remue-ménage, un magnifique coq sortît en sautillant.
La chaleur, à ce moment, sembla monter encore. Cottard enleva sa veste et frappa sur la tôle. Un petit homme, perdu dans un long tablier bleu, sortit du fond, salua Cottard du plus loin qu’il le vit, avança en écartant le coq d’un vigoureux coup de pied et demanda, au milieu des gloussements du volatile, ce qu’il fallait servir à ces messieurs. Cottard voulait du vin blanc et s’enquit d’un certain Garcia. Selon le nabot, il y avait déjà quelques jours qu’on ne l’avait vu dans le café.
- Pensez-vous qu’il viendra ce soir?
- Eh! dit l’autre, je ne suis pas dans sa chemise. Mais vous connaissez son heure?
- Oui, mais ce n’est pas très important. J’ai seulement un ami à lui présenter.
Le garçon essuyait ses mains moites contre le devant de son tablier.
- Ah! Monsieur s’occupe aussi d’affaires?
- Oui, dit Cottard. Le nabot renifla :
- Alors, revenez ce soir. Je vais lui envoyer le gosse.
En sortant, Rambert demanda de quelles affaires il s’agissait.
- De contrebande, naturellement. Ils font passer des marchandises aux portes de la ville. Ils vendent au prix fort.
- Bon, dit Rambert. Ils ont des complicités?
- Justement.
Le soir, le store était relevé, le perroquet jabotait dans sa cage et les tables de tôle étaient entourées d’hommes en bras de chemise. L’un d’eux, le chapeau de paille en arrière, une chemise blanche ouverte sur une poitrine couleur de terre brûlée, se leva à l’entrée de Cottard. Un visage régulier et tanné, l’œil noir et petit, les dents blanches, deux ou trois bagues aux doigts, il paraissait trente ans environ.
- Salut, dit-il, on boit au comptoir.
Ils prirent trois tournées en silence.
- Si on sortait? dit alors Garcia.
Ils descendirent vers le port et Garcia demanda ce qu’on lui voulait. Cottard lui dit que ce n’était pas exactement pour des affaires qu’il voulait lui présenter Rambert, mais seulement pour ce qu’il appela “une sortie”. Garcia marchait droit devant lui en fumant. Il posa des questions, disant “Il” en parlant de Rambert, sans paraître s’apercevoir de sa présence.
- Pour quoi faire? disait-il.
- Il a sa femme en France.
- Ah!
Et après un temps :
- Qu’est-ce qu’il a comme métier?
- Journaliste.
- C’est un métier où on parle beaucoup.
Rambert se taisait.
- C’est un ami, dit Cottard.
Ils avancèrent en silence. Ils étaient arrivés aux quais, dont l’accès était interdit par de grandes grilles. Mais ils se dirigèrent vers une petite buvette où l’on vendait des sardines frites, dont l’odeur venait jusqu’à eux.
- De toute façon, conclut Garcia, ce n’est pas moi que ça concerne, mais Raoul. Et il faut que je le retrouve. Ça ne sera pas facile.
- Ah! demanda Cottard avec animation, il se cache?
Garcia ne répondit pas. Près de la buvette, il s’arrêta et se tourna vers Rambert pour la première fois.
- Après-demain, à onze heures, au coin de la caserne des douanes, en haut de la ville.
Il fit mine de partir, mais se retourna vers les deux hommes.
- Il y aura des frais, dit-il.
C’était une constatation.
- Bien sûr, approuva Rambert.
Un peu après, le journaliste remercia Cottard :
- Oh! non, dit l’autre avec jovialité. Ça me fait plaisir de vous rendre service. Et puis, vous êtes journaliste, vous me revaudrez ça un jour ou l’autre.
Le surlendemain, Rambert et Cottard gravissaient les grandes rues sans ombrage qui mènent vers le haut de notre ville. Une partie de la caserne des douanes avait été transformée en infirmerie et, devant la grande porte, des gens stationnaient, venus dans l’espoir d’une visite qui ne pouvait pas être autorisée ou à la recherche de renseignements qui, d’une heure à l’autre, seraient périmés. En tout cas, ce rassemblement permettait beaucoup d’allées et venues et on pouvait supposer que cette considération n’était pas étrangère à la façon dont le rendezvous de Garcia et de Rambert avait été fixé.
- C’est curieux, dit Cottard, cette obstination à partir. En somme, ce qui se passe est bien intéressant.
- Pas pour moi, répondit Rambert.
- Oh! bien sûr, on risque quelque chose. Mais, après tout, on risquait autant, avant la peste, à traverser un carrefour très fréquenté.
À ce moment, l’auto de Rieux s’arrêta à leur hauteur. Tar-rou conduisait et Rieux semblait dormir à moitié. Il se réveilla pour faire les présentations.
- Nous nous connaissons, dit Tarrou, nous habitons le même hôtel.
Il offrit à Rambert de le conduire en ville.
- Non, nous avons rendez-vous ici.
Rieux regarda Rambert :
- Oui, fit celui-ci.
- Ah! s’étonnait Cottard, le docteur est au courant?
- Voilà le juge d’instruction, avertit Tarrou en regardant Cottard.
Celui-ci changea de figure. M. Othon descendait en effet la rue et s’avançait vers eux d’un pas vigoureux, mais mesuré. Il ôta son chapeau en passant devant le petit groupe.
- Bonjour, monsieur le juge! dit Tarrou.
Le juge rendit le bonjour aux occupants de l’auto, et, regardant Cottard et Rambert qui étaient restés en arrière, les salua gravement de la tête. Tarrou présenta le rentier et le journaliste. Le juge regarda le ciel pendant une seconde et soupira, disant que c’était une époque bien triste.
- On me dit, monsieur Tarrou, que vous vous occupez de l’application des mesures prophylactiques. Je ne saurais trop vous approuver. Pensez-vous, docteur, que la maladie s’étendra?
Rieux dit qu’il fallait espérer que non et le juge répéta qu’il fallait toujours espérer, les desseins de la Providence sont impénétrables. Tarrou lui demanda si les événements lui avaient apporté un surcroît de travail.
- Au contraire, les affaires que nous appelons de droit commun diminuent. Je n’ai plus à instruire que des manquements graves aux nouvelles dispositions. On n’a jamais autant respecté les anciennes lois.
- C’est, dit Tarrou, qu’en comparaison elles semblent bonnes, forcément.
Le juge quitta l’air rêveur qu’il avait pris, le regard comme suspendu au ciel. Et il examina Tarrou d’un air froid.
- Qu’est-ce que cela fait? dit-il. Ce n’est pas la loi qui compte, c’est la condamnation. Nous n’y pouvons rien.
- Celui-là, dit Cottard quand le juge fut parti, c’est l’ennemi numéro un.
La voiture démarra.
Un peu plus tard, Rambert et Cottard virent arriver Garcia. Il avança vers eux sans leur faire de signe et dit en guise de bonjour: “Il faut attendre”.
Autour d’eux, la foule, où dominaient les femmes, attendait dans un silence total. Presque toutes portaient des paniers dont elles avaient le vain espoir qu’elles pourraient les faire passer à leurs parents malades et l’idée encore plus folle que ceux-ci pourraient utiliser leurs provisions. La porte était gardée par des factionnaires en armes et, de temps en temps, un cri bizarre traversait la cour qui séparait la caserne de la porte. Dans l’assistance, des visages inquiets se tournaient alors vers l’infirmerie.
Les trois hommes regardaient ce spectacle lorsque dans leur dos un “bonjour” net et grave les fit se retourner. Malgré la chaleur, Raoul était habillé très correctement. Grand et fort, il portait un costume croisé de couleur sombre et un feutre à bords retournés. Son visage était assez pâle. Les yeux bruns et la bouche serrée, Raoul parlait de façon rapide et précise :
- Descendons vers la ville, dit-il. Garcia, tu peux nous laisser.
Garcia alluma une cigarette et les laissa s’éloigner. Ils marchèrent rapidement, accordant leur allure à celle de Raoul qui s’était placé au milieu d’eux.
- Garcia m’a expliqué, dit-il. Cela peut se faire. De toute façon, ça vous coûtera dix mille francs.
Rambert répondit qu’il acceptait.
- Déjeunez avec moi, demain, au restaurant espagnol de la Marine.
Rambert dit que c’était entendu et Raoul lui serra la main, souriant pour la première fois. Après son départ, Cottard s’excusa. Il n’était pas libre le lendemain et d’ailleurs Rambert n’avait plus besoin de lui.
Lorsque, le lendemain, le journaliste entra dans le restaurant espagnol, toutes les têtes se tournèrent sur son passage. Cette cave ombreuse, située en contrebas d’une petite rue jaune et desséchée par le soleil, n’était fréquentée que par des hommes, de type espagnol pour la plupart. Mais dès que Raoul, installé à une table du fond, eut fait un signe au journaliste et que Rambert se fut dirigé vers lui, la curiosité disparut des visages qui revinrent à leurs assiettes. Raoul avait à sa table un grand type maigre et mal rasé, aux épaules démesurément larges, la figure chevaline et les cheveux clairsemés. Ses longs bras minces, couverts de poils noirs, sortaient d’une chemise aux manches retroussées. Il hocha la tête trois fois lorsque
Rambert lui fut présenté. Son nom n’avait pas été prononcé et Raoul ne parlait de lui qu’en disant “notre ami”.
- Notre ami croit avoir la possibilité de vous aider. Il va vous.
Raoul s’arrêta parce que la serveuse intervenait pour la commande de Rambert.
- Il va vous mettre en rapport avec deux de nos amis qui vous feront connaître des gardes qui nous sont acquis. Tout ne sera pas fini alors. Il faut que les gardes jugent eux-mêmes du moment propice. Le plus simple serait que vous logiez pendant quelques nuits chez l’un d’eux, qui habite près des portes. Mais auparavant, notre ami doit vous donner des contacts nécessaires. Quand tout sera arrangé, c’est à lui que vous réglerez les frais.
L’ami hocha encore une fois sa tête de cheval sans cesser de broyer la salade de tomates et de poivrons qu’il ingurgitait. Puis il parla avec un léger accent espagnol. Il proposait à Rambert de prendre rendez-vous pour le surlendemain, à huit heures du matin, sous le porche de la cathédrale.
- Encore deux jours, remarqua Rambert.
- C’est que ce n’est pas facile, dit Raoul. Il faut retrouver les gens.
Le cheval encensa une fois de plus et Rambert approuva sans passion. Le reste du déjeuner se passa à rechercher un sujet de conversation. Mais tout devint très facile lorsque Rambert découvrit que le cheval était joueur de football. Lui-même avait beaucoup pratiqué ce sport. On parla donc du championnat de France, de la valeur des équipes professionnelles anglaises et de la tactique en W. À la fin du déjeuner, le cheval s’était tout à fait animé et il tutoyait Rambert pour le persuader qu’il n’y avait pas de plus belle place dans une équipe que celle de demi-centre. “Tu comprends, disait-il, le demi-centre, c’est celui qui distribue le jeu. Et distribuer le jeu, c’est ça le football”. Rambert était de cet avis, quoiqu’il eût toujours joué avant-centre. La discussion fut seulement interrompue par un poste de radio qui, après avoir seriné en sourdine des mélodies sentimentales, annonça que, la veille, la peste avait fait cent trente-sept victimes. Personne ne réagit dans l’assistance. L’homme à tête de cheval haussa les épaules et se leva. Raoul et Rambert l’imitèrent.
En partant, le demi-centre serra la main de Rambert avec énergie :
- Je m’appelle Gonzalès, dit-il.
Ces deux jours parurent interminables à Rambert. Il se rendit chez Rieux et lui raconta ses démarches dans le détail. Puis il accompagna le docteur dans une de ses visites. Il lui dit au revoir à la porte de la maison où l’attendait un malade suspect. Dans le couloir, un bruit de courses et de voix: on avertissait la famille de l’arrivée du docteur.
- J’espère que Tarrou ne tardera pas, murmura Rieux. Il avait l’air fatigué.
- L’épidémie va trop vite? demanda Rambert.
Rieux dit que ce n’était pas cela et que même la courbe des statistiques montait moins vite. Simplement, les moyens de lutter contre la peste n’étaient pas assez nombreux.
- Nous manquons de matériel, dit-il. Dans toutes les armées du monde, on remplace généralement le manque de matériel par des hommes. Mais nous manquons d’hommes aussi.
- Il est venu des médecins de l’extérieur et du personnel sanitaire.
- Oui, dit Rieux. Dix médecins et une centaine d’hommes. C’est beaucoup, apparemment. C’est à peine assez pour l’état présent de la maladie. Ce sera insuffisant si l’épidémie s’étend.
Rieux prêta l’oreille aux bruits de l’intérieur, puis sourit à Rambert.
- Oui, dit-il, vous devriez vous dépêcher de réussir.
Une ombre passa sur le visage de Rambert :
- Vous savez, dit-il d’une voix sourde, ce n’est pas cela qui me fait partir.
Rieux répondit qu’il le savait, mais Rambert continuait :
- Je crois que je ne suis pas lâche, du moins la plupart du temps. J’ai eu l’occasion de l’éprouver. Seulement, il y a des idées que je ne peux pas supporter.
Le docteur le regarda en face.
- Vous la retrouverez, dit-il.
- Peut-être, mais je ne peux pas supporter l’idée que cela va durer et qu’elle vieillira pendant tout ce temps. À trente ans, on commence à vieillir et il faut profiter de tout. Je ne sais pas si vous pouvez comprendre.
Rieux murmurait qu’il croyait comprendre, lorsque Tarrou arriva, très animé.
- Je viens de demander à Paneloux de se joindre à nous.
- Eh bien? demanda le docteur.
- Il a réfléchi et il a dit oui.
- J’en suis content, dit le docteur. Je suis content de le savoir meilleur que son prêche.
- Tout le monde est comme ça, dit Tarrou. Il faut seulement leur donner l’occasion.
Il sourit et cligna de l’œil vers Rieux.
- C’est mon affaire à moi, dans la vie, de fournir des occasions.
- Pardonnez-moi, dit Rambert, mais il faut que je parte.
Le jeudi du rendez-vous, Rambert se rendit sous le porche de la cathédrale, cinq minutes avant huit heures. L’air était encore assez frais. Dans le ciel progressaient de petits nuages blancs et ronds que, tout à l’heure, la montée de la chaleur avalerait d’un coup. Une vague odeur d’humidité montait encore des pelouses, pourtant desséchées. Le soleil, derrière les maisons de l’Est, réchauffait seulement le casque de la Jeanne d’Arc entièrement dorée qui garnit la place. Une horloge sonna les huit coups. Rambert fit quelques pas sous le porche désert. De vagues psalmodies lui parvenaient de l’intérieur avec de vieux parfums de cave et d’encens. Soudain, les chants se turent. Une dizaine de petites formes noires sortirent de l’église et se mirent à trottiner vers la ville. Rambert commença à s’impatienter. D’autres formes noires faisaient l’ascension des grands escaliers et se dirigeaient vers le porche. Il alluma une cigarette, puis s’avisa que le lieu peut-être ne l’y autorisait pas.
À huit heures quinze, les orgues de la cathédrale commencèrent à jouer en sourdine. Rambert entra sous la voûte obscure. Au bout d’un moment, il put apercevoir, dans la nef, les ombres noires qui étaient passées devant lui. Elles étaient toutes réunies dans un coin, devant une sorte d’autel improvisé où l’on venait d’installer un saint Roch, hâtivement exécuté dans un des ateliers de notre ville. Agenouillées, elles semblaient s’être recroquevillées encore, perdues dans la grisaille comme des morceaux d’ombre coagulée, à peine plus épaisses, çà et là, que la brume dans laquelle elles flottaient. Au-dessus d’elles les orgues faisaient des variations sans fin.
Lorsque Rambert sortit, Gonzalès descendait déjà l’escalier et se dirigeait vers la ville.
- Je croyais que tu étais parti, dit-il au journaliste. C’était normal.
Il expliqua qu’il avait attendu ses amis à un autre rendezvous qu’il leur avait donné, non loin de là, à huit heures moins dix. Mais il les avait attendus vingt minutes, en vain.
- Il y a un empêchement, c’est sûr. On n’est pas toujours à l’aise dans le travail que nous faisons.
Il proposait un autre rendez-vous, le lendemain, à la même heure, devant le monument aux morts. Rambert soupira et rejeta son feutre en arrière.
- Ce n’est rien, conclut Gonzalès en riant. Pense un peu à toutes les combinaisons, les descentes et les passes qu’il faut faire avant de marquer un but.
- Bien sûr, dit encore Rambert. Mais la partie ne dure qu’une heure et demie.
Le monument aux morts d’Oran se trouve sur le seul endroit d’où l’on peut apercevoir la mer, une sorte de promenade longeant, sur une assez courte distance, les falaises qui dominent le port. Le lendemain, Rambert, premier au rendez-vous, lisait avec attention la liste des morts au champ d’honneur. Quelques minutes après, deux hommes s’approchèrent, le regardèrent avec indifférence, puis allèrent s’accouder au parapet de la promenade et parurent tout à fait absorbés par la contemplation des quais vides et déserts. Ils étaient tous les deux de la même taille, vêtus tous les deux d’un pantalon bleu et d’un tricot marine à manches courtes. Le journaliste s’éloigna un peu, puis s’assit sur un banc et put les regarder à loisir. Il s’aperçut alors qu’ils n’avaient sans doute pas plus de vingt ans. À ce moment, il vit Gonzalès qui marchait vers lui en s’excusant.
- Voilà nos amis, dit-il, et il l’amena vers les deux jeunes gens qu’il présenta sous les noms de Marcel et de Louis. De face, ils se ressemblaient beaucoup et Rambert estima qu’ils étaient frères.
- Voilà, dit Gonzalès. Maintenant la connaissance est faite. Il faudra arranger l’affaire elle-même.
Marcel ou Louis dit alors que leur tour de garde commençait dans deux jours, durait une semaine et qu’il faudrait repérer le jour le plus commode. Ils étaient quatre à garder la porte ouest et les deux autres étaient des militaires de carrière. Il n’était pas question de les mettre dans l’affaire. Ils n’étaient pas sûrs et, d’ailleurs, cela augmenterait les frais. Mais il arrivait, certains soirs, que les deux collègues allassent passer une partie de la nuit dans l’arrière-salle d’un bar qu’ils connaissaient. Marcel ou Louis proposait ainsi à Rambert de venir s’installer chez eux, à proximité des portes, et d’attendre qu’on vînt le chercher. Le passage alors serait tout à fait facile. Mais il fallait se dépêcher parce qu’on parlait, depuis peu, d’installer des doubles postes à l’extérieur de la ville.
Rambert approuva et offrit quelques-unes de ses dernières cigarettes. Celui des deux qui n’avait pas encore parlé demanda alors à Gonzalès si la question des frais était réglée et si l’on pouvait recevoir des avances.
- Non, dit Gonzalès, ce n’est pas la peine, c’est un copain. Les frais seront réglés au départ.
On convint d’un nouveau rendez-vous. Gonzalès proposa un dîner au restaurant espagnol, le surlendemain. De là, on pourrait se rendre à la maison des gardes.
- Pour la première nuit, dit-il à Rambert, je te tiendrai compagnie.
Le lendemain, Rambert, remontant dans sa chambre, croisa Tarrou dans l’escalier de l’hôtel.
- Je vais rejoindre Rieux, lui dit ce dernier, voulez-vous venir?
- Je ne suis jamais sûr de ne pas le déranger, dit Rambert après une hésitation.
- Je ne crois pas, il m’a beaucoup parlé de vous.
Le journaliste réfléchissait :
- Écoutez, dit-il. Si vous avez un moment après dîner, même tard, venez au bar de l’hôtel tous les deux.
- Ça dépend de lui et de la peste, dit Tarrou.
À onze heures du soir, pourtant, Rieux et Tarrou entrèrent dans le bar, petit et étroit. Une trentaine de personnes s’y coudoyaient et parlaient à très haute voix. Venus du silence de la ville empestée, les deux arrivants s’arrêtèrent, un peu étourdis. Ils comprirent cette agitation en voyant qu’on servait encore des alcools. Rambert était à une extrémité du comptoir et leur faisait signe du haut de son tabouret. Ils l’entourèrent, Tarrou repoussant avec tranquillité un voisin bruyant.
- L’alcool ne vous effraie pas?
- Non, dit Tarrou, au contraire.
Rieux renifla l’odeur d’herbes amères de son verre. Il était difficile de parler dans ce tumulte, mais Rambert semblait surtout occupé à boire. Le docteur ne pouvait pas juger encore s’il était ivre. À l’une des deux tables qui occupaient le reste du local étroit où ils se tenaient, un officier de marine, une femme à chaque bras, racontait à un gros interlocuteur congestionné une épidémie de typhus au Caire: “Des camps, disait-il, on avait fait des camps pour les indigènes, avec des tentes pour les malades et, tout autour, un cordon de sentinelles qui tiraient sur la famille quand elle essayait d’apporter en fraude des remèdes de bonne femme. C’était dur, mais c’était juste”. À l’autre table, occupée par des jeunes gens élégants, la conversation était incompréhensible et se perdait dans les mesures de Saint James Infirmary, que déversait un pick-up haut perché.
- Êtes-vous content? dit Rieux en élevant la voix.
- Ça s’approche, dit Rambert. Peut-être dans la semaine.
- Dommage, cria Tarrou.
- Pourquoi?
Tarrou regarda Rieux.
- Oh! dit celui-ci, Tarrou dit cela parce qu’il pense que vous auriez pu nous être utile ici. Mais moi, je comprends trop bien votre désir de partir.
Tarrou offrit une autre tournée. Rambert descendit de son tabouret et le regarda en face pour la première fois :
- En quoi vous serais-je utile?
- Eh bien, dit Tarrou, en tendant la main vers son verre sans se presser, dans nos formations sanitaires.
Rambert reprit cet air de réflexion butée qui lui était habituel et remonta sur son tabouret.
- Ces formations ne vous paraissent-elles pas utiles? dit Tarrou qui venait de boire et regardait Rambert attentivement.
- Très utiles, dit le journaliste, et il but.
Rieux remarqua que sa main tremblait. Il pensa que décidément, oui, il était tout à fait ivre.
Le lendemain, lorsque Rambert entra pour la deuxième fois dans le restaurant espagnol, il passa au milieu d’un petit groupe d’hommes qui avaient sorti des chaises devant l’entrée et goûtaient un soir vert et or où la chaleur commençait seulement de s’affaisser. Ils fumaient un tabac à l’odeur âcre. À l’intérieur, le restaurant était presque désert. Rambert alla s’asseoir à la table du fond où il avait rencontré Gonzalès, la première fois. Il dit à la serveuse qu’il attendrait. Il était dix-neuf heures trente. Peu à peu, les hommes rentrèrent dans la salle à manger et s’installèrent. On commença à les servir et la voûte surbaissée s’emplit de bruits de couverts et de conversations sourdes. À vingt heures, Rambert attendait toujours. On donna de la lumière. De nouveaux clients s’installèrent à sa table. Il commanda son dîner. À vingt heures trente, il avait terminé sans avoir vu Gonzalès, ni les deux jeunes gens. Il fuma des cigarettes. La salle se vidait lentement. Au-dehors, la nuit tombait très rapidement. Un souffle tiède qui venait de la mer soulevait doucement les rideaux des portes-fenêtres. Quand il fut vingt et une heures, Rambert s’aperçut que la salle était vide et que la serveuse le regardait avec étonnement. Il paya et sortit. Face au restaurant, un café était ouvert. Rambert s’installa au comptoir et surveilla l’entrée du restaurant. À vingt et une heures trente, il se dirigea vers son hôtel, cherchant en vain comment rejoindre Gonzalès dont il n’avait pas l’adresse, le cœur désemparé à l’idée de toutes les démarches qu’il faudrait reprendre.
C’est à ce moment, dans la nuit traversée d’ambulances fugitives, qu’il s’aperçut, comme il devait le dire au docteur Rieux, que pendant tout ce temps il avait en quelque sorte oublié sa femme, pour s’appliquer tout entier à la recherche d’une ouverture dans les murs qui le séparaient d’elle. Mais c’est à ce moment aussi que, toutes les voies une fois de plus bouchées, il la retrouva de nouveau au centre de son désir, et avec un si soudain éclatement de douleur qu’il se mit à courir vers son hôtel, pour fuir cette atroce brûlure qu’il emportait pourtant avec lui et qui lui mangeait les tempes.
Très tôt, le lendemain, il vint voir cependant Rieux, pour lui demander comment trouver Cottard :
- Tout ce qui me reste à faire, dit-il, c’est de suivre à nouveau la filière.
- Venez demain soir, dit Rieux, Tarrou m’a demandé d’inviter Cottard, je ne sais pourquoi. Il doit venir à dix heures. Arrivez à dix heures et demie.
Lorsque Cottard arriva chez le docteur, le lendemain, Tar-rou et Rieux parlaient d’une guérison inattendue qui avait eu lieu dans le service de ce dernier.
- Un sur dix. Il a eu de la chance, disait Tarrou.
- Ah! bon, dit Cottard, ce n’était pas la peste.
On l’assura qu’il s’agissait bien de cette maladie.
- Ce n’est pas possible puisqu’il est guéri. Vous le savez aussi bien que moi, la peste ne pardonne pas.
- En général, non, dit Rieux. Mais avec un peu d’entêtement, on a des surprises.
Cottard riait.
- Il n’y paraît pas. Vous avez entendu les chiffres ce soir?
Tarrou, qui regardait le rentier avec bienveillance, dit qu’il connaissait les chiffres, que la situation était grave, mais qu’est-ce que cela prouvait? Cela prouvait qu’il fallait des mesures encore plus exceptionnelles.
- Eh! Vous les avez déjà prises.
- Oui, mais il faut que chacun les prenne pour son compte.
Cottard regardait Tarrou sans comprendre. Celui-ci dit que trop d’hommes restaient inactifs, que l’épidémie était l’affaire de chacun et que chacun devait faire son devoir. Les formations volontaires étaient ouvertes à tous.
- C’est une idée, dit Cottard, mais ça ne servira à rien. La peste est trop forte.
- Nous le saurons, dit Tarrou sur le ton de la patience, quand nous aurons tout essayé.
Pendant ce temps, Rieux à son bureau recopiait des fiches. Tarrou regardait toujours le rentier qui s’agitait sur sa chaise.
- Pourquoi ne viendriez-vous pas avec nous, monsieur Cot-tard?
L’autre se leva d’un air offensé, prit son chapeau rond à la main :
- Ce n’est pas mon métier.
Puis, sur un ton de bravade :
- D’ailleurs, je m’y trouve bien, moi, dans la peste, et je ne vois pas pourquoi je me mêlerais de la faire cesser.
Tarrou se frappa le front, comme illuminé par une vérité soudaine :
- Ah! c’est vrai, j’oubliais, vous seriez arrêté sans cela.
Cottard eut un haut-le-corps et se saisit de la chaise comme s’il allait tomber. Rieux avait cessé d’écrire et le regardait d’un air sérieux et intéressé.
- Qui vous l’a dit? cria le rentier. Tarrou parut surpris et
dit :
- Mais vous. Ou du moins, c’est ce que le docteur et moi avons cru comprendre.
Et comme Cottard, envahi tout à coup d’une rage trop forte pour lui, bredouillait des paroles incompréhensibles :
- Ne vous énervez pas, ajouta Tarrou. Ce n’est pas le docteur ni moi qui vous dénoncerons. Votre histoire ne nous regarde pas. Et puis, la police, nous n’avons jamais aimé ça. Allons, asseyez-vous.
Le rentier regarda sa chaise et s’assit, après une hésitation. Au bout d’un moment, il soupira.
- C’est une vieille histoire, reconnut-il, qu’ils ont ressortie. Je croyais que c’était oublié. Mais il y en a un qui a parlé. Ils m’ont fait appeler et m’ont dit de me tenir à leur disposition jusqu’à la fin de l’enquête. J’ai compris qu’ils finiraient par m’arrêter.
- C’est grave? demanda Tarrou.
- Ça dépend de ce que vous voulez dire. Ce n’est pas un meurtre en tout cas.
- Prison ou travaux forcés?
Cottard paraissait très abattu.
- Prison, si j’ai de la chance.
Mais après un moment, il reprit avec véhémence :
- C’est une erreur. Tout le monde fait des erreurs. Et je ne peux pas supporter l’idée d’être enlevé pour ça, d’être séparé de ma maison, de mes habitudes, de tous ceux que je connais.
- Ah! demanda Tarrou, c’est pour ça que vous avez inventé de vous pendre?
- Oui, une bêtise, bien sûr.
Rieux parla pour la première fois et dit à Cottard qu’il comprenait son inquiétude, mais que tout s’arrangerait peut-être.
- Oh! pour le moment, je sais que je n’ai rien à craindre.
- Je vois, dit Tarrou, vous n’entrerez pas dans nos formations.
L’autre, qui tournait son chapeau entre ses mains, leva vers Tarrou un regard incertain :
- Il ne faut pas m’en vouloir.
- Sûrement pas. Mais essayez au moins, dit Tarrou en souriant, de ne pas propager volontairement le microbe.
Cottard protesta qu’il n’avait pas voulu la peste, qu’elle était arrivée comme ça et que ce n’était pas sa faute si elle arrangeait ses affaires pour le moment. Et quand Rambert arriva à la porte, le rentier ajoutait, avec beaucoup d’énergie dans la voix :
- Du reste, mon idée est que vous n’arriverez à rien.
Rambert apprit que Cottard ignorait l’adresse de Gonzalès mais qu’on pouvait toujours retourner au petit café. On prit rendez-vous pour le lendemain. Et comme Rieux manifesta le désir d’être renseigné, Rambert l’invita avec Tarrou pour la fin de la semaine à n’importe quelle heure de la nuit, dans sa chambre.
Au matin, Cottard et Rambert allèrent au petit café et laissèrent à Garcia un rendez-vous pour le soir, ou le lendemain en cas d’empêchement. Le soir, ils l’attendirent en vain. Le lendemain, Garcia était là. Il écouta en silence l’histoire de Rambert. Il n’était pas au courant, mais il savait qu’on avait consigné des quartiers entiers pendant vingt-quatre heures afin de procéder à des vérifications domiciliaires. Il était possible que Gonzalès et les deux jeunes gens n’eussent pu franchir les barrages. Mais tout ce qu’il pouvait faire était de les mettre en rapport à nouveau avec Raoul. Naturellement, ce ne serait pas avant le surlendemain.
- Je vois, dit Rambert, il faut tout recommencer.
Le surlendemain, au coin d’une rue, Raoul confirma l’hypothèse de Garcia ; les bas quartiers avaient été consignés. Il fallait reprendre contact avec Gonzalès. Deux jours après, Rambert déjeunait avec le joueur de football.
- C’est idiot, disait celui-ci. On aurait dû convenir d’un moyen de se retrouver.
C’était aussi l’avis de Rambert.
- Demain matin, nous irons chez les petits, on tâchera de tout arranger.
Le lendemain, les petits n’étaient pas chez eux. On leur laissa un rendez-vous pour le lendemain midi, place du Lycée. Et Rambert rentra chez lui avec une expression qui frappa Tar-rou, lorsqu’il le rencontra dans l’après-midi.
- Ça ne va pas? lui demanda Tarrou.
- C’est à force de recommencer, dit Rambert. Et il renouvela son invitation :
- Venez ce soir.
Le soir, quand les deux hommes pénétrèrent dans la chambre de Rambert, celui-ci était étendu. Il se leva, emplit des verres qu’il avait préparés. Rieux, prenant le sien, lui demanda si c’était en bonne voie. Le journaliste dit qu’il avait fait à nouveau un tour complet, qu’il était arrivé au même point et qu’il aurait bientôt son dernier rendez-vous. Il but et ajouta :
- Naturellement, ils ne viendront pas.
- Il ne faut pas en faire un principe, dit Tarrou.
- Vous n’avez pas encore compris, répondit Rambert, en haussant les épaules.
- Quoi donc?
- La peste.
- Ah! fit Rieux.
- Non, vous n’avez pas compris que ça consiste à recommencer.
Rambert alla dans un coin de sa chambre et ouvrit un petit phonographe.
- Quel est ce disque? demanda Tarrou. Je le connais.
Rambert répondit que c’était Saint James Infirmary. Au milieu du disque, on entendit deux coups de feu claquer au loin.
- Un chien ou une évasion, dit Tarrou.
Un moment après, le disque s’acheva et l’appel d’une ambulance se précisa, grandit, passa sous les fenêtres de la chambre d’hôtel, diminua, puis s’éteignit enfin.
- Ce disque n’est pas drôle, dit Rambert. Et puis cela fait bien dix fois que je l’entends aujourd’hui.
- Vous l’aimez tant que cela?
- Non, mais je n’ai que celui-là.
Et après un moment :
- Je vous dis que ça consiste à recommencer.
Il demanda à Rieux comment marchaient les formations. Il y avait cinq équipes au travail. On espérait en former d’autres. Le journaliste s’était assis sur son lit et paraissait préoccupé par ses ongles. Rieux examinait sa silhouette courte et puissante, ramassée sur le bord du lit. Il s’aperçut tout d’un coup que Rambert le regardait.
- Vous savez, docteur, dit-il, j’ai beaucoup pensé à votre organisation. Si je ne suis pas avec vous, c’est que j’ai mes raisons. Pour le reste, je crois que je saurais encore payer de ma personne, j’ai fait la guerre d’Espagne.
- De quel côté? demanda Tarrou.
- Du côté des vaincus. Mais depuis, j’ai un peu réfléchi.
- À quoi? fit Tarrou.
- Au courage. Maintenant je sais que l’homme est capable de grandes actions. Mais s’il n’est pas capable d’un grand sentiment, il ne m’intéresse pas.
- On a l’impression qu’il est capable de tout, dit Tarrou.
- Mais non, il est incapable de souffrir ou d’être heureux longtemps. Il n’est donc capable de rien qui vaille.
Il les regardait, et puis :
- Voyons, Tarrou, êtes-vous capable de mourir pour un amour?
- Je ne sais pas, mais il me semble que non, maintenant.
- Voilà. Et vous êtes capable de mourir pour une idée, c’est visible à l’œil nu. Eh bien, moi, j’en ai assez des gens qui meurent pour une idée. Je ne crois pas à l’héroïsme, je sais que c’est facile et j’ai appris que c’était meurtrier. Ce qui m’intéresse, c’est qu’on vive et qu’on meure de ce qu’on aime.
Rieux avait écouté le journaliste avec attention. Sans cesser de le regarder, il dit avec douceur :
- L’homme n’est pas une idée, Rambert.
L’autre sautait de son lit, le visage enflammé de passion.
- C’est une idée, et une idée courte, à partir du moment où il se détourne de l’amour. Et justement, nous ne sommes plus capables d’amour. Résignons-nous, docteur. Attendons de le devenir et si vraiment ce n’est pas possible, attendons la délivrance générale sans jouer au héros. Moi, je ne vais pas plus loin.
Rieux se leva, avec un air de soudaine lassitude.
- Vous avez raison, Rambert, tout à fait raison, et pour rien au monde je ne voudrais vous détourner de ce que vous allez faire, qui me paraît juste et bon. Mais il faut cependant que je vous le dise: il ne s’agit pas d’héroïsme dans tout cela. Il s’agit d’honnêteté. C’est une idée qui peut faire rire, mais la seule façon de lutter contre la peste, c’est l’honnêteté.
- Qu’est-ce que l’honnêteté? dit Rambert, d’un air soudain sérieux.
- Je ne sais pas ce qu’elle est en général. Mais dans mon cas, je sais qu’elle consiste à faire mon métier.
- Ah! dit Rambert, avec rage, je ne sais pas quel est mon métier. Peut-être en effet suis-je dans mon tort en choisissant l’amour.
Rieux lui fit face :
- Non, dit-il avec force, vous n’êtes pas dans votre tort.
Rambert les regardait pensivement.
- Vous deux, je suppose que vous n’avez rien à perdre dans tout cela. C’est plus facile d’être du bon côté.
Rieux vida son verre.
- Allons, dit-il, nous avons à faire.
Il sortit.
Tarrou le suivit, mais parut se raviser au moment de sortir, se retourna vers le journaliste et lui dit :
- Savez-vous que la femme de Rieux se trouve dans une maison de santé à quelques centaines de kilomètres d’ici?
Rambert eut un geste de surprise, mais Tarrou était déjà parti.
À la première heure, le lendemain, Rambert téléphonait au docteur :
- Accepteriez-vous que je travaille avec vous jusqu’à ce que j’aie trouvé le moyen de quitter la ville?
Il y eut un silence au bout du fil, et puis :
- Oui, Rambert. Je vous remercie.
Ainsi, à longueur de semaine, les prisonniers de la peste se débattirent comme ils le purent. Et quelques-uns d’entre eux, comme Rambert, arrivaient même à imaginer, on le voit, qu’ils agissaient encore en hommes libres, qu’ils pouvaient encore choisir. Mais, en fait, on pouvait dire à ce moment, au milieu du mois d’août, que la peste avait tout recouvert. Il n’y avait plus alors de destins individuels, mais une histoire collective qui était la peste et des sentiments partagés par tous. Le plus grand était la séparation et l’exil, avec ce que cela comportait de peur et de révolte. Voilà pourquoi le narrateur croit qu’il convient, à ce sommet de la chaleur et de la maladie, de décrire la situation générale et, à titre d’exemple, les violences de nos concitoyens vivants, les enterrements des défunts et la souffrance des amants séparés.
C’est au milieu de cette année-là que le vent se leva et souffla pendant plusieurs jours sur la cité empestée. Le vent est particulièrement redouté des habitants d’Oran parce qu’il ne rencontre aucun obstacle naturel sur le plateau où elle est construite et qu’il s’engouffre ainsi dans les rues avec toute sa violence. Après ces longs mois où pas une goutte d’eau n’avait rafraîchi la ville, elle s’était couverte d’un enduit gris qui s’écailla sous le souffle du vent. Ce dernier soulevait ainsi des vagues de poussière et de papiers qui battaient les jambes des promeneurs devenus plus rares. On les voyait se hâter par les rues, courbés en avant, un mouchoir ou la main sur la bouche. Le soir, au lieu des rassemblements où l’on tentait de prolonger le plus possible ces jours dont chacun pouvait être le dernier, on rencontrait de petits groupes de gens pressés de rentrer chez eux ou dans des cafés, si bien que pendant quelques jours, au crépuscule qui arrivait bien plus vite à cette époque, les rues étaient désertes et le vent seul y poussait des plaintes continues. De la mer soulevée et toujours invisible montait une odeur d’algues et de sel. Cette ville déserte, blanchie de poussière, saturée d’odeurs marines, toute sonore des cris du vent, gémissait alors comme une île malheureuse.
Jusqu’ici la peste avait fait beaucoup plus de victimes dans les quartiers extérieurs, plus peuplés et moins confortables, que dans le centre de la ville. Mais elle sembla tout d’un coup se rapprocher et s’installer aussi dans les quartiers d’affaires. Les habitants accusaient le vent de transporter les germes d’infection. “Il brouille les cartes”, disait le directeur de l’hôtel. Mais quoi qu’il en fût, les quartiers du centre savaient que leur tour était venu en entendant vibrer tout près d’eux, dans la nuit, et de plus en plus fréquemment, le timbre des ambulances qui faisait résonner sous leurs fenêtres l’appel morne et sans passion de la peste.
À l’intérieur même de la ville, on eut l’idée d’isoler certains quartiers particulièrement éprouvés et de n’autoriser à en sortir que les hommes dont les services étaient indispensables. Ceux qui y vivaient jusque-là ne purent s’empêcher de considérer cette mesure comme une brimade spécialement dirigée contre eux, et dans tous les cas, ils pensaient par contraste aux habitants des autres quartiers comme à des hommes libres. Ces derniers, en revanche, dans leurs moments difficiles, trouvaient une consolation à imaginer que d’autres étaient encore moins libres qu’eux. “Il y a toujours plus prisonnier que moi” était la phrase qui résumait alors le seul espoir possible.
À peu près à cette époque, il y eut aussi une recrudescence d’incendies, surtout dans les quartiers de plaisance, aux portes ouest de la ville. Renseignements pris, il s’agissait de personnes revenues de quarantaine et qui, affolées par le deuil et le malheur, mettaient le feu à leur maison dans l’illusion qu’elles y faisaient mourir la peste. On eut beaucoup de mal à combattre ces entreprises dont la fréquence soumettait des quartiers entiers à un perpétuel danger en raison du vent violent. Après avoir démontré en vain que la désinfection des maisons opérée par les autorités suffisait à exclure tout risque de contamination, il fallut édicter des peines très sévères contre ces incendiaires innocents. Et sans doute, ce n’était pas l’idée de la prison qui fit alors reculer ces malheureux, mais la certitude commune à tous les habitants qu’une peine de prison équivalait à une peine de mort par suite de l’excessive mortalité qu’on relevait dans la geôle municipale. Bien entendu, cette croyance n’était pas sans fondement. Pour des raisons évidentes, il semblait que la peste s’acharnât particulièrement sur tous ceux qui avaient pris l’habitude de vivre en groupes, soldats, religieux ou prisonniers. Malgré l’isolement de certains détenus, une prison est une communauté, et ce qui le prouve bien, c’est que dans notre prison municipale les gardiens, autant que les prisonniers, payaient leur tribut à la maladie. Du point de vue supérieur de la peste, tout le monde, depuis le directeur jusqu’au dernier détenu, était condamné et, pour la première fois peut-être, il régnait dans la prison une justice absolue.
C’est en vain que les autorités essayèrent d’introduire de la hiérarchie dans ce nivellement, en concevant l’idée de décorer les gardiens de prison morts dans l’exercice de leurs fonctions. Comme l’état de siège était décrété et que, sous un certain angle, on pouvait considérer que les gardiens de prison étaient des mobilisés, on leur donna la médaille militaire à titre posthume. Mais si les détenus ne laissèrent entendre aucune protestation, les milieux militaires ne prirent pas bien la chose et firent remarquer à juste titre qu’une confusion regrettable pouvait s’établir dans l’esprit du public. On fit droit à leur demande et on pensa que le plus simple était d’attribuer aux gardiens qui mourraient la médaille de l’épidémie. Mais pour les premiers, le mal était fait, on ne pouvait songer à leur retirer leur décoration, et les milieux militaires continuèrent à maintenir leur point de vue. D’autre part, en ce qui concerne la médaille des épidémies, elle avait l’inconvénient de ne pas produire l’effet moral qu’on avait obtenu par l’attribution d’une décoration militaire, puisqu’en temps d’épidémie il était banal d’obtenir une décoration de ce genre. Tout le monde fut mécontent.
De plus, l’administration pénitentiaire ne put opérer comme les autorités religieuses et, dans une moindre mesure, militaires. Les moines des deux seuls couvents de la ville avaient été, en effet, dispersés et logés provisoirement dans des familles pieuses. De même, chaque fois que cela fut possible, des petites compagnies avaient été détachées des casernes et mises en garnison dans des écoles ou des immeubles publics. Ainsi la maladie qui, apparemment, avait forcé les habitants à une solidarité d’assiégés, brisait en même temps les associations traditionnelles et renvoyait les individus à leur solitude. Cela faisait du désarroi.
On peut penser que toutes ces circonstances, ajoutées au vent, portèrent aussi l’incendie dans certains esprits. Les portes de la ville furent attaquées de nouveau pendant la nuit, et à plusieurs reprises, mais cette fois par de petits groupes armés. Il y eut des échanges de coups de feu, des blessés et quelques évasions. Les postes de garde furent renforcés et ces tentatives cessèrent assez rapidement. Elles suffirent, cependant, pour faire lever dans la ville un souffle de révolution qui provoqua quelques scènes de violence. Des maisons, incendiées ou fermées pour des raisons sanitaires, furent pillées. À vrai dire, il est difficile de supposer que ces actes aient été prémédités. La plupart du temps, une occasion subite amenait des gens, jusque-là honorables, à des actions répréhensibles qui furent imitées sur-le-champ. Il se trouva ainsi des forcenés pour se précipiter dans une maison encore en flammes, en présence du propriétaire lui-même, hébété par la douleur. Devant son indifférence, l’exemple des premiers fut suivi par beaucoup de spectateurs et, dans cette rue obscure, à la lueur de l’incendie, on vit s’enfuir de toutes parts des ombres déformées par les flammes mourantes et par les objets ou les meubles qu’elles portaient sur les épaules. Ce furent ces incidents qui forcèrent les autorités à assimiler l’état de peste à l’état de siège et à appliquer les lois qui en découlent. On fusilla deux voleurs, mais il est douteux que cela fît impression sur les autres, car au milieu de tant de morts, ces deux exécutions passèrent inaperçues: c’était une goutte d’eau dans la mer. Et, à la vérité, des scènes semblables se renouvelèrent assez souvent sans que les autorités fissent mine d’intervenir. La seule mesure qui sembla impressionner tous les habitants fut l’institution du couvre-feu. À partir de onze heures, plongée dans la nuit complète, la ville était de pierre.
Sous les ciels de lune, elle alignait ses murs blanchâtres et ses rues rectilignes, jamais tachées par la masse noire d’un arbre, jamais troublées par le pas d’un promeneur ni le cri d’un chien. La grande cité silencieuse n’était plus alors qu’un assemblage de cubes massifs et inertes, entre lesquels les effigies taciturnes de bienfaiteurs oubliés ou d’anciens grands hommes étouffés à jamais dans le bronze s’essayaient seules, avec leurs faux visages de pierre ou de fer, à évoquer une image dégradée de ce qui avait été l’homme. Ces idoles médiocres trônaient sous un ciel épais, dans les carrefours sans vie, brutes insensibles qui figuraient assez bien le règne immobile où nous étions entrés ou du moins son ordre ultime, celui d’une nécropole où la peste, la pierre et la nuit auraient fait taire enfin toute voix.
Mais la nuit était aussi dans tous les cœurs et les vérités comme les légendes qu’on rapportait au sujet des enterrements n’étaient pas faites pour rassurer nos concitoyens. Car il faut bien parler des enterrements et le narrateur s’en excuse. Il sent bien le reproche qu’on pourrait lui faire à cet égard, mais sa seule justification est qu’il y eut des enterrements pendant toute cette époque et que d’une certaine manière, on l’a obligé, comme on a obligé tous ses concitoyens, à se préoccuper des enterrements. Ce n’est pas, en tout cas, qu’il ait du goût pour ces sortes de cérémonies, préférant au contraire la société des vivants et, pour donner un exemple, les bains de mer. Mais, en somme, les bains de mer avaient été supprimés et la société des vivants craignait à longueur de journée d’être obligée de céder le pas à la société des morts. C’était là l’évidence. Bien entendu, on pouvait toujours s’efforcer de ne pas la voir, se boucher les yeux et la refuser, mais l’évidence a une force terrible qui finit toujours par tout emporter. Le moyen, par exemple, de refuser les enterrements, le jour où ceux que vous aimez ont besoin des enterrements?
Eh bien, ce qui caractérisait au début nos cérémonies c’était la rapidité! Toutes les formalités avaient été simplifiées et d’une manière générale la pompe funéraire avait été supprimée. Les malades mouraient loin de leur famille et on avait interdit les veillées rituelles, si bien que celui qui était mort dans la soirée passait sa nuit tout seul et celui qui mourait dans la journée était enterré sans-délai. On avisait la famille, bien entendu, mais, dans la plupart des cas, celle-ci ne pouvait pas se déplacer, étant en quarantaine si elle avait vécu auprès du malade. Dans le cas où la famille n’habitait pas avec le défunt, elle se présentait à l’heure indiquée qui était celle du départ pour le cimetière, le corps ayant été lavé et mis en bière.
Supposons que cette formalité ait eu lieu à l’hôpital auxiliaire dont s’occupait le docteur Rieux. L’école avait une sortie placée derrière le bâtiment principal. Un grand débarras donnant sur le couloir contenait des cercueils. Dans le couloir même, la famille trouvait un seul cercueil déjà fermé. Aussitôt, on passait au plus important, c’est-à-dire qu’on faisait signer des papiers au chef de famille. On chargeait ensuite le corps dans une voiture automobile qui était soit un vrai fourgon, soit une grande ambulance transformée. Les parents montaient dans un des taxis encore autorisés et, à toute vitesse, les voitures gagnaient le cimetière par des rues extérieures. À la porte, des gendarmes arrêtaient le convoi, donnaient un coup de tampon sur le laissez-passer officiel, sans lequel il était impossible d’avoir ce que nos concitoyens appellent une dernière demeure, s’effaçaient, et les voitures allaient se placer près d’un carré où de nombreuses fosses attendaient d’être comblées. Un prêtre accueillait le corps, car les services funèbres avaient été supprimés à l’église. On sortait la bière sous les prières, on la cordait, elle était traînée, elle glissait, butait contre le fond, le prêtre agitait son goupillon et déjà la première terre rebondissait sur le couvercle. L’ambulance était partie un peu avant pour se soumettre à un arrosage désinfectant et, pendant que les pelletées de glaise résonnaient de plus en plus sourdement, la famille s’engouffrait dans le taxi. Un quart d’heure après, elle avait retrouvé son domicile.
Ainsi, tout se passait vraiment avec le maximum de rapidité et le minimum de risques. Et sans doute, au début du moins, il est évident que le sentiment naturel des familles s’en trouvait froissé. Mais, en temps de peste, ce sont là des considérations dont il n’est pas possible de tenir compte: on avait tout sacrifié à l’efficacité. Du reste, si, au début, le moral de la population avait souffert de ces pratiques, car le désir d’être enterré décemment est plus répandu qu’on ne le croit, un peu plus tard, par bonheur, le problème du ravitaillement devint délicat et l’intérêt des habitants fut dérivé vers des préoccupations plus immédiates. Absorbés par les queues à faire, les démarches à accomplir et les formalités à remplir s’ils voulaient manger, les gens n’eurent pas le temps de songer à la façon dont on mourait autour d’eux et dont ils mourraient un jour. Ainsi, ces difficultés matérielles qui devaient être un mal se révélèrent un bienfait par la suite. Et tout aurait été pour le mieux, si l’épidémie ne s’était pas étendue, comme on l’a déjà vu.
Car les cercueils se firent alors plus rares, la toile manqua pour les linceuls et la place au cimetière. Il fallut aviser. Le plus simple, et toujours pour des raisons d’efficacité, parut de grouper les cérémonies et, lorsque la chose était nécessaire, de multiplier les voyages entre l’hôpital et le cimetière. Ainsi, en ce qui concerne le service de Rieux, l’hôpital disposait à ce moment de cinq cercueils. Une fois pleins, l’ambulance les chargeait. Au cimetière, les boîtes étaient vidées, les corps couleur de fer étaient chargés sur les brancards et attendaient dans un hangar, aménagé à cet effet. Les bières étaient arrosées d’une solution antiseptique, ramenées à l’hôpital, et l’opération recommençait autant de fois qu’il était nécessaire. L’organisation était donc très bonne et le préfet s’en montra satisfait. Il dit même à Rieux que cela valait mieux en fin de compte que les charrettes de morts conduites par des nègres, telles qu’on les retrouvait dans les chroniques des anciennes pestes.
- Oui, dit Rieux, c’est le même enterrement, mais nous, nous faisons des fiches. Le progrès est incontestable.
Malgré ces succès de l’administration, le caractère désagréable que revêtaient maintenant les formalités obligea la préfecture à écarter les parents de la cérémonie. On tolérait seulement qu’ils vinssent à la porte du cimetière et, encore, cela n’était pas officiel. Car, en ce qui concerne la dernière cérémonie, les choses avaient un peu changé. À l’extrémité du cimetière, dans un espace nu couvert de lentisques, on avait creusé deux immenses fosses. Il y avait la fosse des hommes et celle des femmes. De ce point de vue, l’administration respectait les convenances et ce n’est que bien plus tard que, par la force des choses, cette dernière pudeur disparut et qu’on enterra pêle-mêle, les uns sur les autres, hommes et femmes, sans souci de la décence. Heureusement, cette confusion ultime marqua seulement les derniers moments du fléau. Dans la période qui nous occupe, la séparation des fosses existait et la préfecture y tenait beaucoup. Au fond de chacune d’elles, une grosse épaisseur de chaux vive fumait et bouillonnait. Sur les bords du trou, un monticule de la même chaux laissait ses bulles éclater à l’air libre. Quand les voyages de l’ambulance étaient terminés, on amenait les brancards en cortège, on laissait glisser au fond, à peu près les uns à côté des autres, les corps dénudés et légèrement tordus et, à ce moment, on les recouvrait de chaux vive, puis de terre, mais jusqu’à une certaine hauteur seulement, afin de ménager la place des hôtes à venir. Le lendemain, les parents étaient invités à signer sur un registre, ce qui marquait la différence qu’il peut y avoir entre les hommes et, par exemple, les chiens: le contrôle était toujours possible.
Pour toutes ces opérations, il fallait du personnel et l’on était toujours à la veille d’en manquer. Beaucoup de ces infirmiers et de ces fossoyeurs d’abord officiels, puis improvisés, moururent de la peste. Quelque précaution que l’on prît, la contagion se faisait un jour. Mais à y bien réfléchir, le plus étonnant fut qu’on ne manqua jamais d’hommes pour faire ce métier, pendant tout le temps de l’épidémie. La période critique se plaça peu avant que la peste eût atteint son sommet et les inquiétudes du docteur Rieux étaient alors fondées. Ni pour les cadres ni pour ce qu’il appelait les gros travaux, la main-d’œuvre n’était suffisante. Mais, à partir du moment où la peste se fut réellement emparée de toute la ville, alors son excès même entraîna des conséquences bien commodes, car elle désorganisa toute la vie économique et suscita ainsi un nombre considérable de chômeurs. Dans la plupart des cas, ils ne fournissaient pas de recrutement pour les cadres, - mais quant aux basses œuvres, elles s’en trouvèrent facilitées. À partir de ce moment, en effet, on vit toujours la misère se montrer plus forte que la peur, d’autant que le travail était payé en proportion des risques. Les services sanitaires purent disposer d’une liste de solliciteurs et, dès qu’une vacance venait de se produire, on avisait les premiers de la liste qui, sauf si dans l’intervalle ils étaient entrés eux aussi en vacances, ne manquaient pas de se présenter. C’est ainsi que le préfet qui avait longtemps hésité à utiliser les condamnés, à temps ou à vie, pour ce genre de travail, put éviter d’en arriver à cette extrémité. Aussi longtemps qu’il y aurait des chômeurs, il était d’avis qu’on pouvait attendre.
Tant bien que mal, et jusqu’à la fin du mois d’août, nos concitoyens purent donc être conduits à leur dernière demeure sinon décemment, du moins dans un ordre suffisant pour que l’administration gardât la conscience qu’elle accomplissait son devoir. Mais il faut anticiper un peu sur la suite des événements pour rapporter les derniers procédés auxquels il fallut recourir. Sur le palier où la peste se maintint en effet à partir du mois d’août, l’accumulation des victimes surpassa de beaucoup les possibilités que pouvait offrir notre petit cimetière. On eut beau abattre des pans de mur, ouvrir aux morts une échappée sur les terrains environnants, il fallut bien vite trouver autre chose. On se décida d’abord à enterrer la nuit, ce qui, du coup, dispensa de prendre certains égards. On put entasser les corps de plus en plus nombreux dans les ambulances. Et les quelques promeneurs attardés qui, contre toute règle, se trouvaient encore dans les quartiers extérieurs après le couvre-feu (ou ceux que leur métier y amenait) rencontraient parfois de longues ambulances blanches qui filaient à toute allure, faisant résonner de leur timbre sans éclat les rues creuses de la nuit. Hâtivement, les corps étaient jetés dans les fosses. Ils n’avaient pas fini de basculer que les pelletées de chaux s’écrasaient sur leurs visages et la terre les recouvrait de façon anonyme, dans des trous que l’on creusait de plus en plus profonds.
Un peu plus tard cependant, on fut obligé de chercher ailleurs et de prendre encore du large. Un arrêté préfectoral expropria les occupants des concessions à perpétuité et l’on achemina vers le four crématoire tous les restes exhumés. Il fallut bientôt conduire les morts de la peste eux-mêmes à la crémation. Mais on dut utiliser alors l’ancien four d’incinération qui se trouvait à l’est de la ville, à l’extérieur des portes. On reporta plus loin le piquet de garde et un employé de la mairie facilita beaucoup la tâche des autorités en conseillant d’utiliser les tramways qui, autrefois, desservaient la corniche maritime, et qui se trouvaient sans emploi. À cet effet, on aménagea l’intérieur des baladeuses et des motrices en enlevant les sièges, et on détourna la voie à hauteur du four, qui devint ainsi une tête de ligne.
Et pendant toute la fin de l’été, comme au milieu des pluies de l’automne, on put voir le long de la corniche, au cœur de chaque nuit, passer d’étranges convois de tramways sans voyageurs, brinquebalant au-dessus de la mer. Les habitants avaient fini par savoir ce qu’il en était. Et malgré les patrouilles qui interdisaient l’accès de la corniche, des groupes parvenaient à se glisser bien souvent dans les rochers qui surplombent les vagues et à lancer des fleurs dans les baladeuses, au passage des tramways. On entendait alors les véhicules cahoter encore dans la nuit d’été, avec leur chargement de fleurs et de morts.
Vers le matin, en tout cas, les premiers jours, une vapeur épaisse et nauséabonde planait sur les quartiers orientaux de la ville. De l’avis de tous les médecins, ces exhalaisons, quoique désagréables, ne pouvaient nuire à personne. Mais les habitants de ces quartiers menacèrent aussitôt de les déserter, persuadés que la peste s’abattait ainsi sur eux du haut du ciel, si bien qu’on fut obligé de détourner les fumées par un système de canalisations compliquées et les habitants se calmèrent. Les jours de grand vent seulement, une vague odeur venue de l’est leur rappelait qu’ils étaient installés dans un nouvel ordre, et que les flammes de la peste dévoraient leur tribut chaque soir.
Ce furent là les conséquences extrêmes de l’épidémie. Mais il est heureux qu’elle ne se soit point accrue par la suite, car on peut penser que l’ingéniosité de nos bureaux, les dispositions de la préfecture et même la capacité d’absorption du four eussent peut-être été dépassées. Rieux savait qu’on avait prévu alors des solutions désespérées, comme le rejet des cadavres à la mer, et il imaginait aisément leur écume monstrueuse sur l’eau bleue. Il savait aussi que si les statistiques continuaient à monter, aucune organisation, si excellente fût-elle, n’y résisterait, que les hommes viendraient mourir dans l’entassement, pourrir dans la rue, malgré la préfecture, et que la ville verrait, sur les places publiques, les mourants s’accrocher aux vivants avec un mélange de haine légitime et de stupide espérance.
C’était ce genre d’évidence ou d’appréhensions, en tout cas, qui entretenait chez nos concitoyens le sentiment de leur exil et de leur séparation. À cet égard, le narrateur sait parfaitement combien il est regrettable de ne pouvoir rien rapporter ici qui soit vraiment spectaculaire, comme par exemple quelque héros réconfortant ou quelque action éclatante, pareils à ceux qu’on trouve dans les vieux récits.
C’est que rien n’est moins spectaculaire qu’un fléau et, par leur durée même, les grands malheurs sont monotones. Dans le souvenir de ceux qui les ont vécues, les journées terribles de la peste n’apparaissaient pas comme de grandes flammes somptueuses et cruelles, mais plutôt comme un interminable piétinement qui écrasait tout sur son passage.
Non, la peste n’avait rien à voir avec les grandes images exaltantes qui avaient poursuivi le docteur Rieux au début de l’épidémie. Elle était d’abord une administration prudente et impeccable, au bon fonctionnement. C’est ainsi, soit dit entre parenthèses, que pour ne rien trahir et surtout pour ne pas se trahir lui-même, le narrateur a tendu à l’objectivité. Il n’a presque rien voulu modifier par les effets de l’art, sauf en ce qui concerne les besoins élémentaires d’une relation à peu près cohérente. Et c’est l’objectivité elle-même qui lui commande de dire maintenant que si la grande souffrance de cette époque, la plus générale comme la plus profonde, était la séparation, s’il est indispensable en conscience d’en donner une nouvelle description à ce stade de la peste, il n’en est pas moins vrai que cette souffrance elle-même perdait alors de son pathétique.
Nos concitoyens, ceux du moins qui avaient le plus souffert de cette séparation, s’habituaient-ils à la situation? Il ne serait pas tout à fait juste de l’affirmer. Il serait plus exact de dire qu’au moral comme au physique, ils souffraient de décharne-ment. Au début de la peste ils se souvenaient très bien de l’être qu’ils avaient perdu et ils le regrettaient. Mais s’ils se souvenaient nettement du visage aimé, de son rire, de tel jour dont ils reconnaissaient après coup qu’il avait été heureux, ils imaginaient difficilement ce que l’autre pouvait faire à l’heure même où ils l’évoquaient et dans des lieux désormais si lointains. En somme, à ce moment-là, ils avaient de la mémoire, mais une imagination insuffisante. Au deuxième stade de la peste, ils perdirent aussi la mémoire. Non qu’ils eussent oublié ce visage, mais, ce qui revient au même, il avait perdu sa chair, ils ne l’apercevaient plus à l’intérieur d’eux-mêmes. Et alors qu’ils avaient tendance à se plaindre, les premières semaines, de n’avoir plus affaire qu’à des ombres dans les choses de leur amour, ils s’aperçurent par la suite que ces ombres pouvaient encore devenir plus décharnées, en perdant jusqu’aux infimes couleurs que leur gardait le souvenir. Tout au bout de ce long temps de séparation, ils n’imaginaient plus cette intimité qui avait été la leur, ni comment avait pu vivre près d’eux un être sur lequel, à tout moment, ils pouvaient poser la main.
De ce point de vue, ils étaient entrés dans l’ordre même de la peste, d’autant plus efficace qu’il était plus médiocre. Personne, chez nous, n’avait plus de grands sentiments. Mais tout le monde éprouvait des sentiments monotones. “Il est temps que cela finisse”, disaient nos concitoyens, parce qu’en période de fléau, il est normal de souhaiter la fin des souffrances collectives, et parce qu’en fait, ils souhaitaient que cela finît. Mais tout cela se disait sans la flamme ou l’aigre sentiment du début, et seulement avec les quelques raisons qui nous restaient encore claires, et qui étaient pauvres. Au grand élan farouche des premières semaines avait succédé un abattement qu’on aurait eu tort de prendre pour de la résignation, mais qui n’en était pas moins une sorte de consentement provisoire.
Nos concitoyens s’étaient mis au pas, ils s’étaient adaptés, comme on dit, parce qu’il n’y avait pas moyen de faire autrement. Ils avaient encore, naturellement, l’attitude du malheur et de la souffrance, mais ils n’en ressentaient plus la pointe. Du reste, le docteur Rieux, par exemple, considérait que c’était cela le malheur, justement, et que l’habitude du désespoir est pire que le désespoir lui-même. Auparavant, les séparés n’étaient pas réellement malheureux, il y avait dans leur souffrance une illumination qui venait de s’éteindre. À présent, on les voyait au coin des rues, dans les cafés ou chez leurs amis, placides et distraits, et l’œil si ennuyé que, grâce à eux, toute la ville ressemblait à une salle d’attente. Pour ceux qui avaient un métier, ils le faisaient à l’allure même de la peste, méticuleusement et sans éclat. Tout le monde était modeste. Pour la première fois, les séparés n’avaient pas de répugnance à parler de l’absent, à prendre le langage de tous, à examiner leur séparation sous le même angle que les statistiques de l’épidémie. Alors que, jusque-là, ils avaient soustrait farouchement leur souffrance au malheur collectif, ils acceptaient maintenant la confusion. Sans mémoire et sans espoir, ils s’installaient dans le présent. À la vérité, tout leur devenait présent. Il faut bien le dire, la peste avait enlevé à tous le pouvoir de l’amour et même de l’amitié. Car l’amour demande un peu d’avenir, et il n’y avait plus pour nous que des instants.
Bien entendu, rien de tout cela n’était absolu. Car s’il est vrai que tous les séparés en vinrent à cet état, il est juste d’ajouter qu’ils n’y arrivèrent pas tous en même temps et qu’aussi bien, une fois installés dans cette nouvelle attitude, des éclairs, des retours de brusques lucidités ramenaient les patients à une sensibilité plus jeune et plus douloureuse. Il y fallait ces moments de distraction où ils formaient quelque projet qui impliquait que la peste eût cessé. Il fallait qu’ils ressentissent inopinément, et par l’effet de quelque grâce, la morsure d’une jalousie sans objet. D’autres trouvaient aussi des renaissances soudaines, sortaient de leur torpeur certains jours de la semaine, le dimanche naturellement et le samedi après-midi, parce que ces jours-là étaient consacrés à certains rites, du temps de l’absent. Ou bien encore, une certaine mélancolie qui les prenait à la fin des journées leur donnait l’avertissement, pas toujours confirmé d’ailleurs, que la mémoire allait leur revenir. Cette heure du soir, qui pour les croyants est celle de l’examen de conscience, cette heure est dure pour le prisonnier ou l’exilé qui n’ont à examiner que du vide. Elle les tenait suspendus un moment, puis ils retournaient à l’atonie, ils s’enfermaient dans la peste.
On a déjà compris que cela consistait à renoncer à ce qu’ils avaient de plus personnel. Alors que dans les premiers temps de la peste, ils étaient frappés par la somme de petites choses qui comptaient beaucoup pour eux, sans avoir aucune existence pour les autres, et ils faisaient ainsi l’expérience de la vie professionnelle, maintenant, au contraire, ils ne s’intéressaient qu’à ce qui intéressait les autres, ils n’avaient plus que des idées générales et leur amour même avait pris pour eux la figure la plus abstraite. Ils étaient à ce point abandonnés à la peste qu’il leur arrivait parfois de n’espérer plus qu’en son sommeil et de se surprendre à penser: “Les bubons, et qu’on en finisse!” Mais ils dormaient déjà en vérité, et tout ce temps ne fut qu’un long sommeil. La ville était peuplée de dormeurs éveillés qui n’échappaient réellement à leur sort que ces rares fois où, dans la nuit, leur blessure apparemment fermée se rouvrait brusquement. Et réveillés en sursaut, ils en tâtaient alors, avec une sorte de distraction, les lèvres irritées, retrouvant en un éclair leur souffrance, soudain rajeunie, et, avec elle, le visage bouleversé de leur amour. Au matin, ils revenaient au fléau, c’est-à-dire à la routine.
Mais de quoi, dira-t-on, ces séparés avaient-ils l’air? Eh bien, cela est simple, ils n’avaient l’air de rien. Ou, si on préfère, ils avaient l’air de tout le monde, un air tout à fait général. Ils partageaient la placidité et les agitations puériles de la cité. Ils perdaient les apparences du sens critique, tout en gagnant les apparences du sang-froid. On pouvait voir, par exemple, les plus intelligents d’entre eux faire mine de chercher comme tout le monde dans les journaux, ou bien dans les émissions radiopho-niques, des raisons de croire à une fin rapide de la peste, et concevoir apparemment des espoirs chimériques, ou éprouver des craintes sans fondement, à la lecture de considérations qu’un journaliste avait écrites un peu au hasard, en bâillant d’ennui. Pour le reste, ils buvaient leur bière ou soignaient leurs malades, paressaient ou s’épuisaient, classaient des fiches ou faisaient tourner des disques sans se distinguer autrement les uns des autres. Autrement dit, ils ne choisissaient plus rien. La peste avait supprimé les jugements de valeur. Et cela se voyait à la façon dont personne ne s’occupait plus de la qualité des vêtements ou des aliments qu’on achetait. On acceptait tout en bloc.
On peut dire pour finir que les séparés n’avaient plus ce curieux privilège qui les préservait au début. Ils avaient perdu l’égoïsme de l’amour, et le bénéfice qu’ils en tiraient. Du moins, maintenant, la situation était claire, le fléau concernait tout le monde. Nous tous au milieu des détonations qui claquaient aux portes de la ville, des coups de tampon qui scandaient notre vie ou nos décès, au milieu des incendies et des fiches, de la terreur et des formalités, promis à une mort ignominieuse, mais enregistrée, parmi les fumées épouvantables et les timbres tranquilles des ambulances, nous nous nourrissions du même pain d’exil, attendant sans le savoir la même réunion et la même paix bouleversantes. Notre amour sans doute était toujours là, mais, simplement, il était inutilisable, lourd à porter, inerte en nous, stérile comme le crime ou la condamnation. Il n’était plus qu’une patience sans avenir et une attente butée. Et de ce point de vue, l’attitude de certains de nos concitoyens faisait penser à ces longues queues aux quatre coins de la ville, devant les boutiques d’alimentation. C’était la même résignation et la même longanimité, à la fois illimitée et sans illusions. Il faudrait seulement élever ce sentiment à une échelle mille fois plus grande en ce qui concerne la séparation, car il s’agissait alors d’une autre faim et qui pouvait tout dévorer.
Dans tous les cas, à supposer qu’on veuille avoir une idée juste de l’état d’esprit où se trouvaient les séparés de notre ville, il faudrait de nouveau évoquer ces éternels soirs dorés et poussiéreux, qui tombaient sur la cité sans arbres, pendant qu’hommes et femmes se déversaient dans toutes les rues. Car, étrangement, ce qui montait alors vers les terrasses encore ensoleillées, en l’absence des bruits de véhicules et de machines qui font d’ordinaire tout le langage des villes, ce n’était qu’une énorme rumeur de pas et de voix sourdes, le douloureux glissement de milliers de semelles rythmé par le sifflement du fléau dans le ciel alourdi, un piétinement interminable et étouffant enfin, qui remplissait peu à peu toute la ville et qui, soir après soir, donnait sa voix la plus fidèle et la plus morne à l’obstination aveugle qui, dans nos cœurs, remplaçait alors l’amour.
Pendant les mois de septembre et d’octobre, la peste garda la ville repliée sous elle. Puisqu’il s’agissait de piétinements, plusieurs centaines de milliers d’hommes piétinèrent encore, pendant des semaines qui n’en finissaient pas. La brume, la chaleur et la pluie se succédèrent dans le ciel. Des bandes silencieuses d’étourneaux et de grives, venant du sud, passèrent très haut, mais contournèrent la ville, comme si le fléau de Paneloux, l’étrange pièce de bois qui tournait en sifflant au-dessus des maisons, les tenait à l’écart. Au début d’octobre, de grandes averses balayèrent les rues. Et pendant tout ce temps, rien de plus important ne se produisit que ce piétinement énorme.
Rieux et ses amis découvrirent alors à quel point ils étaient fatigués. En fait, les hommes des formations sanitaires n’arrivaient plus à digérer cette fatigue. Le docteur Rieux s’en apercevait en observant sur ses amis et sur lui-même les progrès d’une curieuse indifférence. Par exemple, ces hommes qui, jusqu’ici, avaient montré un si vif intérêt pour toutes les nouvelles qui concernaient la peste ne s’en préoccupaient plus du tout. Rambert, qu’on avait chargé provisoirement de diriger une des maisons de quarantaine, installée depuis peu dans son hôtel, connaissait parfaitement le nombre de ceux qu’il avait en observation. Il était au courant des moindres détails du système d’évacuation immédiate qu’il avait organisé pour ceux qui montraient subitement des signes de la maladie. La statistique des effets du sérum sur les quarantaines était gravée dans sa mémoire. Mais il était incapable de dire le chiffre hebdomadaire des victimes de la peste, il ignorait réellement si elle était en avance ou en recul. Et lui, malgré tout, gardait l’espoir d’une évasion prochaine.
Quant aux autres, absorbés dans leur travail jour et nuit, ils ne lisaient les journaux ni n’entendaient la radio. Et si on leur annonçait un résultat, ils faisaient mine de s’y intéresser, mais ils l’accueillaient en fait avec cette indifférence distraite qu’on imagine aux combattants des grandes guerres, épuisés de travaux, appliqués seulement à ne pas défaillir dans leur devoir quotidien et n’espérant plus ni l’opération décisive, ni le jour de l’armistice.
Grand, qui continuait à effectuer les calculs nécessités par la peste, eût certainement été incapable d’en indiquer les résultats généraux. Au contraire de Tarrou, de Rambert et de Rieux, visiblement durs à la fatigue, sa santé n’avait jamais été bonne. Or, il cumulait ses fonctions d’auxiliaire à la mairie, son secrétariat chez Rieux et ses travaux nocturnes. On pouvait le voir ainsi dans un continuel état d’épuisement, soutenu par deux ou trois idées fixes, comme celle de s’offrir des vacances complètes après la peste, pendant une semaine au moins, et de travailler alors de façon positive, “chapeau bas”, à ce qu’il avait en train. Il était sujet aussi à de brusques attendrissements et, dans ces occasions, il parlait volontiers de Jeanne à Rieux, se demandait où elle pouvait être au moment même, et si, lisant les journaux, elle pensait à lui. C’est avec lui que Rieux se surprit un jour à parler de sa propre femme sur le ton le plus banal, ce qu’il n’avait jamais fait jusque-là. Incertain du crédit qu’il fallait attacher aux télégrammes toujours rassurants de sa femme, il s’était décidé à câbler au médecin-chef de l’établissement où elle se soignait. En retour, il avait reçu l’annonce d’une aggravation dans l’état de la malade et l’assurance que tout serait fait pour enrayer les progrès du mal. Il avait gardé pour lui la nouvelle et il ne s’expliquait pas, sinon par la fatigue, comment il avait pu la confier à Grand. L’employé, après lui avoir parlé de Jeanne, l’avait questionné sur sa femme et Rieux avait répondu. “Vous savez, avait dit Grand, ça se guérit très bien maintenant”. Et Rieux avait acquiescé, disant simplement que la séparation commençait à être longue et que lui aurait peut-être aidé sa femme à triompher de sa maladie, alors qu’aujourd’hui, elle devait se sentir tout à fait seule. Puis il s’était tu et n’avait plus répondu qu’évasivement aux questions de Grand.
Les autres étaient dans le même état. Tarrou résistait mieux, mais ses carnets montrent que si sa curiosité n’avait pas diminué de profondeur, elle avait perdu de sa diversité. Pendant toute cette période, en effet, il ne s’intéressait apparemment qu’à Cottard. Le soir, chez Rieux, où il avait fini par s’installer depuis que l’hôtel avait été transformé en maison de quarantaine, c’est à peine s’il écoutait Grand ou le docteur énoncer les résultats. Il ramenait tout de suite la conversation sur les petits détails de la vie oranaise qui l’occupaient généralement.
Quant à Castel, le jour où il vint annoncer au docteur que le sérum était prêt, et après qu’ils eurent décidé de faire le premier essai sur le petit garçon de M. Othon qu’on venait d’amener à l’hôpital et dont le cas semblait désespéré à Rieux, celui-ci communiquait à son vieil ami les dernières statistiques, quand il s’aperçut que son interlocuteur s’était endormi profondément au creux de son fauteuil. Et devant ce visage où, d’habitude, un air de douceur et d’ironie mettait une perpétuelle jeunesse et qui, soudain abandonné, un filet de salive rejoignant les lèvres entrouvertes, laissait voir son usure et sa vieillesse, Rieux sentit sa gorge se serrer.
C’est à de telles faiblesses que Rieux pouvait juger de sa fatigue. Sa sensibilité lui échappait. Nouée la plupart du temps, durcie et desséchée, elle crevait de loin en loin et l’abandonnait à des émotions dont il n’avait plus la maîtrise. Sa seule défense était de se réfugier dans ce durcissement et de resserrer le nœud qui s’était formé en lui. Il savait bien que c’était la bonne manière de continuer. Pour le reste, il n’avait pas beaucoup d’illusions et sa fatigue lui ôtait celles qu’il conservait encore. Car il savait que, pour une période dont il n’apercevait pas le terme, son rôle n’était plus de guérir. Son rôle était de diagnostiquer. Découvrir, voir, décrire, enregistrer, puis condamner, c’était sa tâche. Des épouses lui prenaient le poignet et hurlaient: “Docteur, donnez-lui la vie!” Mais il n’était pas là pour donner la vie, il était là pour ordonner l’isolement. À quoi servait la haine qu’il lisait alors sur les visages? “Vous n’avez pas de cœur”, lui avait-on dit un jour. Mais si, il en avait un. Il lui servait à supporter les vingt heures par jour où il voyait mourir des hommes qui étaient faits pour vivre. Il lui servait à recommencer tous les jours. Désormais, il avait juste assez de cœur pour ça. Comment ce cœur aurait-il suffi à donner la vie?
Non, ce n’étaient pas des secours qu’il distribuait à longueur de journée, mais des renseignements. Cela ne pouvait pas s’appeler un métier d’homme, bien entendu. Mais, après tout, à qui donc, parmi cette foule terrorisée et décimée, avait-on laissé le loisir d’exercer son métier d’homme? C’était encore heureux qu’il y eût la fatigue. Si Rieux avait été plus frais, cette odeur de mort partout répandue eût pu le rendre sentimental. Mais quand on n’a dormi que quatre heures, on n’est pas sentimental. On voit les choses comme elles sont, c’est-à-dire qu’on les voit selon la justice, la hideuse et dérisoire justice. Et les autres, les condamnés, le sentaient bien eux aussi. Avant la peste, on le recevait comme un sauveur. Il allait tout arranger avec trois pilules et une seringue, et on lui serrait le bras en le conduisant le long des couloirs. C’était flatteur, mais dangereux. Maintenant, au contraire, il se présentait avec des soldats, et il fallait des coups de crosse pour que la famille se décidât à ouvrir. Ils auraient voulu l’entraîner et entraîner l’humanité entière avec eux dans la mort. Ah! il était bien vrai que les hommes ne pouvaient pas se passer des hommes, qu’il était aussi démuni que ces malheureux et qu’il méritait ce même tremblement de pitié qu’il laissait grandir en lui lorsqu’il les avait quittés.
C’était du moins, pendant ces interminables semaines, les pensées que le docteur Rieux agitait avec celles qui concernaient son état de séparé. Et c’était aussi celles dont il lisait les reflets sur le visage de ses amis. Mais le plus dangereux effet de l’épuisement qui gagnait, peu à peu, tous ceux qui continuaient cette lutte contre le fléau n’était pas dans cette indifférence aux événements extérieurs et aux émotions des autres, mais dans la négligence où ils se laissaient aller. Car ils avaient tendance alors à éviter tous les gestes qui n’étaient pas absolument indispensables et qui leur paraissaient toujours au-dessus de leurs forces. C’est ainsi que ces hommes en vinrent à négliger de plus en plus souvent les règles d’hygiène qu’ils avaient codifiées, à oublier quelques-unes des nombreuses désinfections qu’ils devaient pratiquer sur eux-mêmes, à courir quelquefois, sans être prémunis contre la contagion, auprès des malades atteints de peste pulmonaire, parce que, prévenus au dernier moment qu’il fallait se rendre dans les maisons infectées, il leur avait paru d’avance épuisant de retourner dans quelque local pour se faire les instillations nécessaires. Là était le vrai danger, car c’était la lutte elle-même contre la peste qui les rendait alors le plus vulnérables à la peste, ils pariaient en somme sur le hasard et le hasard n’est à personne.
Il y avait pourtant dans la ville un homme qui ne paraissait ni épuisé, ni découragé, et qui restait l’image vivante de la satisfaction. C’était Cottard. Il continuait à se tenir à l’écart, tout en maintenant ses rapports avec les autres. Mais il avait choisi de voir Tarrou aussi souvent que le travail de celui-ci le permettait, d’une part, parce que Tarrou était bien renseigné sur son cas et, d’autre part, parce qu’il savait accueillir le petit rentier avec une cordialité inaltérable. C’était un miracle perpétuel, mais Tarrou, malgré le labeur qu’il fournissait, restait toujours bienveillant et attentif. Même lorsque la fatigue l’écrasait certains soirs, il retrouvait le lendemain une nouvelle énergie. “Avec celui-là, avait dit Cottard à Rambert, on peut causer, parce que c’est un homme. On est toujours compris”.
C’est pourquoi les notes de Tarrou, à cette époque, convergent peu à peu sur le personnage de Cottard. Tarrou a essayé de donner un tableau des réactions et des réflexions de Cottard, telles qu’elles lui étaient confiées par ce dernier ou telles qu’il les interprétait. Sous la rubrique “Rapports de Cottard et de la peste”, ce tableau occupe quelques pages du carnet et le narrateur croit utile d’en donner ici un aperçu. L’opinion générale de Tarrou sur le petit rentier se résumait dans ce jugement: “C’est un personnage qui grandit”. Apparemment du reste, il grandissait dans la bonne humeur. Il n’était pas mécontent de la tournure que prenaient les événements. Il exprimait quelquefois le fond de sa pensée, devant Tarrou, par des remarques de ce genre: “Bien sûr, ça ne va pas mieux. Mais du moins, tout le monde est dans le bain”.
“Bien entendu, ajoutait Tarrou, il est menacé comme les autres, mais justement, il l’est avec les autres. Et ensuite, il ne pense pas sérieusement, j’en suis sûr, qu’il puisse être atteint par la peste. Il a l’air de vivre sur cette idée, pas si bête d’ailleurs, qu’un homme en proie à une grande maladie, ou à une angoisse profonde, est dispensé du même coup de toutes les autres maladies ou angoisses. “Avez-vous remarqué, m’a-t-il dit, qu’on ne peut pas cumuler les maladies? Supposez que vous ayez une maladie grave ou incurable, un cancer sérieux ou une bonne tuberculose, vous n’attraperez jamais la peste ou le typhus, c’est impossible. Du reste, ça va encore plus loin, parce que vous n’avez jamais vu un cancéreux mourir d’un accident d’automobile”. Vraie ou fausse, cette idée met Cottard en bonne humeur. La seule chose qu’il ne veuille pas, c’est être séparé des autres. Il préfère être assiégé avec tous que prisonnier tout seul. Avec la peste, plus question d’enquêtes secrètes, de dossiers, de fiches, d’instructions mystérieuses et d’arrestation imminente. À proprement parler, il n’y a plus de police, plus de crimes anciens ou nouveaux, plus de coupables, il n’y a que des condamnés qui attendent la plus arbitraire des grâces, et, parmi eux, les policiers eux-mêmes”. Ainsi Cottard, et toujours selon l’interprétation de Tarrou, était fondé à considérer les symptômes d’angoisse et de désarroi que présentaient nos concitoyens avec cette satisfaction indulgente et compréhensive qui pouvait s’exprimer par un: “Parlez toujours, je l’ai eue avant vous”.
“J’ai eu beau lui dire que la seule façon de ne pas être séparé des autres, c’était après tout d’avoir une bonne conscience, il m’a regardé méchamment et il m’a dit: “Alors, à ce compte, personne n’est jamais avec personne”. Et puis: “Vous pouvez y aller, c’est moi qui vous le dis. La seule façon de mettre les gens ensemble, c’est encore de leur envoyer la peste. Regardez donc autour de vous”. Et en vérité, je comprends bien ce qu’il veut dire et combien la vie d’aujourd’hui doit lui paraître confortable. Comment ne reconnaîtrait-il pas au passage les réactions qui ont été les siennes ; la tentative que chacun fait d’avoir tout le monde avec soi ; l’obligeance qu’on déploie pour renseigner parfois un passant égaré et la mauvaise humeur qu’on lui témoigne d’autres fois ; la précipitation des gens vers les restaurants de luxe, leur satisfaction de s’y trouver et de s’y attarder ; l’affluence désordonnée qui fait queue, chaque jour, au cinéma, qui remplit toutes les salles de spectacle et les dancings eux-mêmes, qui se répand comme une marée déchaînée dans tous les lieux publics ; le recul devant tout contact, l’appétit de chaleur humaine qui pousse cependant les hommes les uns vers les autres, les coudes vers les coudes et les sexes vers les sexes? Cottard a connu tout cela avant eux, c’est évident. Sauf les femmes, parce qu’avec sa tête... Et je suppose que lorsqu’il s’est senti près d’aller chez les filles, il s’y est refusé, pour ne pas se donner un mauvais genre qui, par la suite, eût pu le desservir.
“En somme, la peste lui réussit. D’un homme solitaire et qui ne voulait pas l’être, elle fait un complice. Car visiblement c’est un complice et un complice qui se délecte. Il est complice de tout ce qu’il voit, des superstitions, des frayeurs illégitimes, des susceptibilités de ces âmes en alerte ; de leur manie de vouloir parler le moins possible de la peste et de ne pas cesser cependant d’en parler ; de leur affolement et de leurs pâleurs au moindre mal de tête depuis qu’ils savent que la maladie commence par des céphalées ; et de leur sensibilité irritée, susceptible, instable enfin, qui transforme en offense des oublis et qui s’afflige de la perte d’un bouton de culotte”.
Il arrivait souvent à Tarrou de sortir le soir avec Cottard. Il racontait ensuite, dans ses carnets, comment ils plongeaient dans la foule sombre des crépuscules ou des nuits, épaule contre épaule, s’immergeant dans une masse blanche et noire où, de loin en loin, une lampe mettait de rares éclats, et accompagnant le troupeau humain vers les plaisirs chaleureux qui le défendaient contre le froid de la peste. Ce que Cottard, quelques mois auparavant, cherchait dans les lieux publics, le luxe et la vie ample, ce dont il rêvait sans pouvoir se satisfaire, c’est-à-dire la jouissance effrénée, un peuple entier s’y portait maintenant. Alors que le prix de toutes choses montait irrésistiblement, on n’avait jamais tant gaspillé d’argent, et quand le nécessaire manquait à la plupart, on n’avait jamais mieux dissipé le superflu. On voyait se multiplier tous les jeux d’une oisiveté qui n’était pourtant que du chômage. Tarrou et Cottard suivaient parfois, pendant de longues minutes, un de ces couples qui, auparavant, s’appliquaient à cacher ce qui les liait et qui, à présent, serrés l’un contre l’autre, marchaient obstinément à travers la ville, sans voir la foule qui les entourait, avec la distraction un peu fixe des grandes passions. Cottard s’attendrissait: “Ah! les gaillards!” disait-il. Et il parlait haut, s’épanouissait au milieu de la fièvre collective, des pourboires royaux qui sonnaient autour d’eux et des intrigues qui se nouaient devant leurs yeux.
Cependant, Tarrou estimait qu’il entrait peu de méchanceté dans l’attitude de Cottard. Son “J’ai connu ça avant eux” marquait plus de malheur que de triomphe. “Je crois, disait Tarrou, qu’il commence à aimer ces hommes emprisonnés entre le ciel et les murs de leur ville. Par exemple, il leur expliquerait volontiers, s’il le pouvait, que ce n’est pas si terrible que ça: “Vous les entendez, m’a-t-il affirmé: après la peste je ferai ceci, après la peste je ferai cela. Ils s’empoisonnent l’existence au lieu de rester tranquilles. Et ils ne se rendent même pas compte de leurs avantages. Est-ce que je pouvais dire, moi: après mon arrestation, je ferai ceci? L’arrestation est un commencement, ce n’est pas une fin. Tandis que la peste. Vous voulez mon avis? Ils sont malheureux parce qu’ils ne se laissent pas aller. Et je sais ce que je dis”.
“Il sait en effet ce qu’il dit, ajoutait Tarrou. Il juge à leur vrai prix les contradictions des habitants d’Oran qui, dans le même temps où ils ressentent profondément le besoin de chaleur qui les rapproche, ne peuvent s’y abandonner cependant à cause de la méfiance qui les éloigne les uns des autres. On sait trop bien qu’on ne peut pas avoir confiance en son voisin, qu’il est capable de vous donner la peste à votre insu et de profiter de votre abandon pour vous infecter. Quand on a passé son temps, comme Cottard, à voir des indicateurs possibles dans tous ceux de qui, pourtant, on recherchait la compagnie, on peut comprendre ce sentiment. On compatit très bien avec des gens qui vivent dans l’idée que la peste peut, du jour au lendemain, leur mettre la main sur l’épaule et qu’elle se prépare peut-être à le faire, au moment où l’on se réjouit d’être encore sain et sauf. Autant que cela est possible, il est à l’aise dans la terreur. Mais parce qu’il a ressenti tout cela avant eux, je crois qu’il ne peut pas éprouver tout à fait avec eux la cruauté de cette incertitude. En somme, avec nous, nous qui ne sommes pas encore morts de la peste, il sent bien que sa liberté et sa vie sont tous les jours à la veille d’être détruites. Mais puisque lui-même a vécu dans la terreur, il trouve normal que les autres la connaissent à leur tour. Plus exactement, la terreur lui paraît alors moins lourde à porter que s’il y était tout seul. C’est en cela qu’il a tort et qu’il est plus difficile à comprendre que d’autres. Mais, après tout, c’est en cela qu’il mérite plus que d’autres qu’on essaie de le comprendre”.
Enfin, les pages de Tarrou se terminent sur un récit qui illustre cette conscience singulière qui venait en même temps à Cottard et aux pestiférés. Ce récit restitue à peu près l’atmosphère difficile de cette époque et c’est pourquoi le narrateur y attache de l’importance.
Ils étaient allés à l’Opéra municipal où l’on jouait Orphée et Eurydice. Cottard avait invité Tarrou. Il s’agissait d’une troupe qui était venue, au printemps de la peste, donner des représentations dans notre ville. Bloquée par la maladie, cette troupe s’était vue contrainte, après accord avec notre Opéra, de rejouer son spectacle, une fois par semaine. Ainsi, depuis des mois, chaque vendredi, notre théâtre municipal retentissait des plaintes mélodieuses d’Orphée et des appels impuissants d’Eurydice. Cependant, ce spectacle continuait de connaître la faveur du public et faisait toujours de grosses recettes. Installés aux places les plus chères, Cottard et Tarrou dominaient un parterre gonflé à craquer par les plus élégants de nos concitoyens. Ceux qui arrivaient s’appliquaient visiblement à ne pas manquer leur entrée. Sous la lumière éblouissante de l’avant-rideau, pendant que les musiciens accordaient discrètement leurs instruments, les silhouettes se détachaient avec précision, passaient d’un rang à l’autre, s’inclinaient avec grâce. Dans le léger brouhaha d’une conversation de bon ton, les hommes reprenaient l’assurance qui leur manquait quelques heures auparavant, parmi les rues noires de la ville. L’habit chassait la peste.
Pendant tout le premier acte, Orphée se plaignit avec facilité, quelques femmes en tuniques commentèrent avec grâce son malheur, et l’amour fut chanté en ariettes. La salle réagit avec une chaleur discrète. C’est à peine si on remarqua qu’Orphée introduisait, dans son air du deuxième acte, des tremblements qui n’y figuraient pas, et demandait avec un léger excès de pathétique, au maître des Enfers, de se laisser toucher par ses pleurs. Certains gestes saccadés qui lui échappèrent apparurent aux plus avisés comme un effet de stylisation qui ajoutait encore à l’interprétation du chanteur.
Il fallut le grand duo d’Orphée et d’Eurydice au troisième acte (c’était le moment où Eurydice échappait à son amant) pour qu’une certaine surprise courût dans la salle. Et comme si le chanteur n’avait attendu que ce mouvement du public, ou, plus certainement encore, comme si la rumeur venue du parterre l’avait confirmé dans ce qu’il ressentait, il choisit ce moment pour avancer vers la rampe d’une façon grotesque, bras et jambes écartés dans son costume à l’antique, et pour s’écrouler au milieu des bergeries du décor qui n’avaient jamais cessé d’être anachroniques mais qui, aux yeux des spectateurs, le devinrent pour la première fois, et de terrible façon. Car, dans le même temps, l’orchestre se tut, les gens du parterre se levèrent et commencèrent lentement à évacuer la salle, d’abord en silence comme on sort d’une église, le service fini, ou d’une chambre mortuaire après une visite, les femmes rassemblant leurs jupes et sortant tête baissée, les hommes guidant leurs compagnes par le coude et leur évitant le heurt des strapontins. Mais, peu à peu, le mouvement se précipita, le chuchotement devint exclamation et la foule afflua vers les sorties et s’y pressa, pour finir par s’y bousculer en criant. Cottard et Tarrou, qui s’étaient seulement levés, restaient seuls en face d’une des images de ce qui était leur vie d’alors: la peste sur la scène sous l’aspect d’un histrion désarticulé et, dans la salle, tout un luxe devenu inutile sous la forme d’éventails oubliés et de dentelles traînant sur le rouge des fauteuils.
Rambert, pendant les premiers jours du mois de septembre, avait sérieusement travaillé aux côtés de Rieux. Il avait simplement demandé une journée de congé le jour où il devait rencontrer Gonzalès et les deux jeunes gens devant le lycée de garçons.
Ce jour-là, à midi, Gonzalès et le journaliste virent arriver les deux petits qui riaient. Ils dirent qu’on n’avait pas eu de chance l’autre fois, mais qu’il fallait s’y attendre. En tout cas, ce n’était plus leur semaine de garde. Il fallait patienter jusqu’à la semaine prochaine. On recommencerait alors. Rambert dit que c’était bien le mot. Gonzalès proposa donc un rendez-vous pour le lundi suivant. Mais cette fois-ci, on installerait Rambert chez Marcel et Louis. “Nous prendrons un rendez-vous, toi et moi. Si je n’y suis pas, tu iras directement chez eux. On va t’expliquer où ils habitent”. Mais Marcel, ou Louis, dit à ce moment que le plus simple était de conduire tout de suite le camarade. S’il n’était pas difficile, il y avait à manger pour eux quatre. Et de cette façon, il se rendrait compte. Gonzalès dit que c’était une très bonne idée et ils descendirent vers le port.
Marcel et Louis habitaient à l’extrémité du quartier de la Marine, près des portes qui ouvraient sur la corniche. C’était une petite maison espagnole, épaisse de murs, aux contrevents de bois peint, aux pièces nues et ombreuses. Il y avait du riz que servit la mère des jeunes gens, une vieille Espagnole souriante et pleine de rides. Gonzalès s’étonna, car le riz manquait déjà en ville. “On s’arrange aux portes”, dit Marcel. Rambert mangeait et buvait, et Gonzalès dit que c’était un vrai copain, pendant que le journaliste pensait seulement à la semaine qu’il devait passer.
En fait, il eut deux semaines à attendre, car les tours de garde furent portés à quinze jours, pour réduire le nombre des équipes. Et, pendant ces quinze jours, Rambert travailla sans s’épargner, de façon ininterrompue, les yeux fermés en quelque sorte, depuis l’aube jusqu’à la nuit. Tard dans la nuit, il se couchait et dormait d’un sommeil épais. Le passage brusque de l’oisiveté à ce labeur épuisant le laissait à peu près sans rêves et sans forces. Il parlait peu de son évasion prochaine. Un seul fait notable: au bout d’une semaine, il confia au docteur que pour la première fois, la nuit précédente, il s’était enivré. Sorti du bar, il eut tout à coup l’impression que ses aines grossissaient et que ses bras se mouvaient difficilement autour de l’aisselle. Il pensa que c’était la peste. Et la seule réaction qu’il put avoir alors et dont il convint avec Rieux qu’elle n’était pas raisonnable, fut de courir vers le haut de la ville, et là, d’une petite place, d’où l’on ne découvrait toujours pas la mer, mais d’où l’on voyait un peu plus de ciel, il appela sa femme avec un grand cri, par-dessus les murs de la ville. Rentré chez lui et ne découvrant sur son corps aucun signe d’infection, il n’avait pas été très fier de cette crise soudaine. Rieux dit qu’il comprenait très bien qu’on puisse agir ainsi: “En tout cas, dit-il, il peut arriver qu’on en ait envie”.
- M. Othon m’a parlé de vous ce matin, ajouta soudain Rieux, au moment où Rambert le quittait. Il m’a demandé si je vous connaissais: “Conseillez-lui donc, m’a-t-il dit, de ne pas fréquenter les milieux de contrebande. Il s’y fait remarquer”.
- Qu’est-ce que cela veut dire?
- Cela veut dire qu’il faut vous dépêcher.
- Merci, dit Rambert, en serrant la main du docteur.
Sur la porte, il se retourna tout d’un coup. Rieux remarqua que, pour la première fois depuis le début de la peste, il souriait.
- Pourquoi donc ne m’empêchez-vous pas de partir? Vous en avez les moyens.
Rieux secoua la tête avec son mouvement habituel, et dit que c’était l’affaire de Rambert, que ce dernier avait choisi le bonheur et que lui, Rieux, n’avait pas d’arguments à lui opposer. Il se sentait incapable de juger de ce qui était bien ou de ce qui était mal en cette affaire.
- Pourquoi me dire de faire vite, dans ces conditions?
Rieux sourit à son tour.
- C’est peut-être que j’ai envie, moi aussi, de faire quelque chose pour le bonheur.
Le lendemain, ils ne parlèrent plus de rien, mais travaillèrent ensemble. La semaine suivante, Rambert était enfin installé dans la petite maison espagnole. On lui avait fait un lit dans la pièce commune. Comme les jeunes gens ne rentraient pas pour le repas, et comme on l’avait prié de sortir le moins possible, il y vivait seul, la plupart du temps, ou faisait la conversation avec la vieille mère. Elle était sèche et active, habillée de noir, le visage brun et ridé, sous des cheveux blancs très propres. Silencieuse, elle souriait seulement de tous ses yeux quand elle regardait Rambert.
D’autres fois, elle lui demandait s’il ne craignait pas d’apporter la peste à sa femme. Lui pensait que c’était une chance à courir, mais qu’en somme elle était minime, tandis qu’en restant dans la ville, ils risquaient d’être séparés pour toujours.
- Elle est gentille? disait la vieille en souriant.
- Très gentille.
- Jolie?
- Je crois.
- Ah! disait-elle, c’est pour cela.
Rambert réfléchissait. C’était sans doute pour cela, mais il était impossible que ce fût seulement pour cela.
- Vous ne croyez pas au bon Dieu? disait la vieille qui allait à la messe tous les matins.
Rambert reconnut que non et la vieille dit encore que c’était pour cela.
- Il faut la rejoindre, vous avez raison. Sinon, qu’est-ce qui vous resterait?
Le reste du temps, Rambert tournait en rond autour des murs nus et crépis, caressant les éventails cloués aux parois, ou bien comptait les boules de laine qui frangeaient le tapis de table. Le soir, les jeunes gens rentraient. Ils ne parlaient pas beaucoup, sinon pour dire que ce n’était pas encore le moment. Après le dîner, Marcel jouait de la guitare et ils buvaient une liqueur anisée. Rambert avait l’air de réfléchir.
Le mercredi, Marcel rentra en disant: “C’est pour demain soir, à minuit. Tiens-toi prêt”. Des deux hommes qui tenaient le poste avec eux, l’un était atteint de la peste et l’autre, qui partageait ordinairement la chambre du premier, était en observation. Ainsi, pendant deux ou trois jours, Marcel et Louis seraient seuls. Au cours de la nuit, ils allaient arranger les derniers détails. Le lendemain, ce serait possible. Rambert remercia. “Vous êtes content?” demanda la vieille. Il dit que oui, mais il pensait à autre chose.
Le lendemain, sous un ciel lourd, la chaleur était humide et étouffante. Les nouvelles de la peste étaient mauvaises. La vieille Espagnole gardait cependant sa sérénité. “Il y a du péché dans le monde, disait-elle. Alors, forcément!” Comme Marcel et Louis, Rambert était torse nu. Mais quoi qu’il fît, la sueur lui coulait entre les épaules et sur la poitrine. Dans la demi-pénombre de la maison aux volets clos, cela leur faisait des torses bruns et vernis. Rambert tournait en rond sans parler. Brusquement, à quatre heures de l’après-midi, il s’habilla et annonça qu’il sortait.
- Attention, dit Marcel, c’est pour minuit. Tout est en place.
Rambert se rendit chez le docteur. La mère de Rieux dit à Rambert qu’il le trouverait à l’hôpital de la haute ville. Devant le poste de garde, la même foule tournait toujours sur elle-même. “Circulez!” disait un sergent aux yeux globuleux. Les autres circulaient, mais en rond. “Il n’y a rien à attendre”, disait le sergent dont la sueur perçait la veste. C’était aussi l’avis des autres, mais ils restaient quand même, malgré la chaleur meurtrière. Rambert montra son laissez-passer au sergent qui lui indiqua le bureau de Tarrou. La porte en donnait sur la cour. Il croisa le père Paneloux, qui sortait du bureau.
Dans une sale petite pièce blanche qui sentait la pharmacie et le drap humide, Tarrou, assis derrière un bureau de bois noir, les manches de chemise retroussées, tamponnait avec un mouchoir la sueur qui coulait dans la saignée de son bras.
- Encore là? dit-il.
- Oui, je voudrais parler à Rieux.
- Il est dans la salle. Mais si cela peut s’arranger sans lui, il vaudrait mieux.
- Pourquoi?
- Il est surmené. Je lui évite ce que je peux.
Rambert regardait Tarrou. Celui-ci avait maigri. La fatigue lui brouillait les yeux et les traits. Ses fortes épaules étaient ramassées en boule. On frappa à la porte, et un infirmier entra, masqué de blanc. Il déposa sur le bureau de Tarrou un paquet de fiches et, d’une voix que le linge étouffait, dit seulement: “Six”, puis sortit. Tarrou regarda le journaliste et lui montra les fiches qu’il déploya en éventail.
- De belles fiches, hein? Eh bien, non, ce sont des morts de la nuit.
Son front s’était creusé. Il replia le paquet de fiches.
- La seule chose qui nous reste, c’est la comptabilité. Tar-rou se leva, prenant appui sur la table.
- Allez-vous bientôt partir?
- Ce soir, à minuit.
Tarrou dit que cela lui faisait plaisir et que Rambert devait veiller sur lui.
- Dites-vous cela sincèrement?
Tarrou haussa les épaules :
- À mon âge, on est forcément sincère. Mentir est trop fatigant.
- Tarrou, dit le journaliste, je voudrais voir le docteur. Excusez-moi.
- Je sais. Il est plus humain que moi. Allons-y.
- Ce n’est pas cela, dit Rambert avec difficulté. Et il s’arrêta.
Tarrou le regarda et, tout d’un coup, lui sourit.
Ils suivirent un petit couloir dont les murs étaient peints en vert clair et où flottait une lumière d’aquarium. Juste avant d’arriver à une double porte vitrée, derrière laquelle on voyait un curieux mouvement d’ombres, Tarrou fit entrer Rambert dans une très petite salle, entièrement tapissée de placards. Il ouvrit l’un d’eux, tira d’un stérilisateur deux masques de gaze hydrophile, en tendit un à Rambert et l’invita à s’en couvrir. Le journaliste demanda si cela servait à quelque chose et Tarrou répondit que non, mais que cela donnait confiance aux autres.
Ils poussèrent la porte vitrée. C’était une immense salle, aux fenêtres hermétiquement closes, malgré la saison. Dans le haut des murs ronronnaient des appareils qui renouvelaient l’air, et leurs hélices courbes brassaient l’air crémeux et surchauffé, au-dessus de deux rangées de lits gris. De tous les côtés, montaient des gémissements sourds ou aigus qui ne faisaient qu’une plainte monotone. Des hommes, habillés de blanc, se déplaçaient avec lenteur, dans la lumière cruelle que déversaient les hautes baies garnies de barreaux. Rambert se sentit mal à l’aise dans la terrible chaleur de cette salle et il eut de la peine à reconnaître Rieux, penché au-dessus d’une forme gémissante. Le docteur incisait les aines du malade que deux infirmières, de chaque côté du lit, tenaient écartelé. Quand il se releva, il laissa tomber ses instruments dans le plateau qu’un aide lui tendait et resta un moment immobile, à regarder l’homme qu’on était en train de panser.
- Quoi de nouveau? dit-il à Tarrou qui s’approchait.
- Paneloux accepte de remplacer Rambert à la maison de quarantaine. Il a déjà beaucoup fait. Il restera la troisième équipe de prospection à regrouper sans Rambert.
Rieux approuva de la tête.
- Castel a achevé ses premières préparations. Il propose un essai.
- Ah! dit Rieux, cela est bien.
- Enfin, il y a ici Rambert.
Rieux se retourna. Par-dessus le masque, ses yeux se plissèrent en apercevant le journaliste.
- Que faites-vous ici? dit-il. Vous devriez être ailleurs.
Tarrou dit que c’était pour ce soir à minuit et Rambert ajouta: “En principe”.
Chaque fois que l’un d’eux parlait, le masque de gaze se gonflait et s’humidifiait à l’endroit de la bouche. Cela faisait une conversation un peu irréelle, comme un dialogue de statues.
- Je voudrais vous parler, dit Rambert.
- Nous sortirons ensemble, si vous le voulez bien. Attendez-moi dans le bureau de Tarrou.
Un moment après, Rambert et Rieux s’installaient à l’arrière de la voiture du docteur. Tarrou conduisait.
- Plus d’essence, dit celui-ci en démarrant. Demain, nous irons à pied.
- Docteur, dit Rambert, je ne pars pas et je veux rester avec vous.
Tarrou ne broncha pas. Il continuait de conduire. Rieux semblait incapable d’émerger de sa fatigue.
- Et elle? dit-il d’une voix sourde.
Rambert dit qu’il avait encore réfléchi, qu’il continuait à croire ce qu’il croyait, mais que s’il partait, il aurait honte. Cela le gênerait pour aimer celle qu’il avait laissée. Mais Rieux se redressa et dit d’une voix ferme que cela était stupide et qu’il n’y avait pas de honte à préférer le bonheur.
- Oui, dit Rambert, mais il peut y avoir de la honte à être heureux tout seul.
Tarrou, qui s’était tu jusque-là, sans tourner la tête vers eux, fit remarquer que si Rambert voulait partager le malheur des hommes, il n’aurait plus jamais de temps pour le bonheur. Il fallait choisir.
- Ce n’est pas cela, dit Rambert. J’ai toujours pensé que j’étais étranger à cette ville et que je n’avais rien à faire avec vous. Mais maintenant que j’ai vu ce que j’ai vu, je sais que je suis d’ici, que je le veuille ou non. Cette histoire nous concerne tous.
Personne ne répondit et Rambert parut s’impatienter.
- Vous le savez bien d’ailleurs! Ou sinon que feriez-vous dans cet hôpital? Avez-vous donc choisi, vous, et renoncé au bonheur?
Ni Tarrou ni Rieux ne répondirent encore. Le silence dura longtemps, jusqu’à ce qu’on approchât de la maison du docteur. Et Rambert, de nouveau, posa sa dernière question, avec plus de force encore. Et, seul, Rieux se tourna vers lui. Il se souleva avec effort :
- Pardonnez-moi, Rambert, dit-il, mais je ne le sais pas. Restez avec nous puisque vous le désirez.
Une embardée de l’auto le fit taire. Puis il reprit en regardant devant lui :
- Rien au monde ne vaut qu’on se détourne de ce qu’on aime. Et pourtant je m’en détourne, moi aussi, sans que je puisse savoir pourquoi.
Il se laissa retomber sur son coussin.
- C’est un fait, voilà tout, dit-il avec lassitude. Enregistrons-le et tirons-en les conséquences.
- Quelles conséquences? demanda Rambert.
- Ah! dit Rieux, on ne peut pas en même temps guérir et savoir. Alors guérissons le plus vite possible. C’est le plus pressé.
À minuit, Tarrou et Rieux faisaient à Rambert le plan du quartier qu’il était chargé de prospecter, quand Tarrou regarda sa montre. Relevant la tête, il rencontra le regard de Rambert.
- Avez-vous prévenu? Le journaliste détourna les yeux :
- J’avais envoyé un mot, dit-il avec effort, avant d’aller vous voir.
Ce fut dans les derniers jours d’octobre que le sérum de Castel fut essayé. Pratiquement, il était le dernier espoir de Rieux. Dans le cas d’un nouvel échec, le docteur était persuadé que la ville serait livrée aux caprices de la maladie, soit que l’épidémie prolongeât ses effets pendant de longs mois encore, soit qu’elle décidât de s’arrêter sans raison.
La veille même du jour où Castel vint visiter Rieux, le fils de M. Othon était tombé malade et toute la famille avait dû gagner la quarantaine. La mère, qui en était sortie peu auparavant, se vit donc isolée pour la seconde fois. Respectueux des consignes données, le juge avait fait appeler le docteur Rieux, dès qu’il reconnut, sur le corps de l’enfant, les signes de la maladie. Quand Rieux arriva, le père et la mère étaient debout au pied du lit. La petite fille avait été éloignée. L’enfant était dans la période d’abattement et se laissa examiner sans se plaindre. Quand le docteur releva la tête, il rencontra le regard du juge et, derrière lui, le visage pâle de la mère qui avait mis un mouchoir sur sa bouche et suivait les gestes du docteur avec des yeux élargis.
- C’est cela, n’est-ce pas? dit le juge d’une voix froide.
- Oui, répondit Rieux, en regardant de nouveau l’enfant.
Les yeux de la mère s’agrandirent, mais elle ne parlait toujours pas. Le juge se taisait aussi, puis il dit, sur un ton plus bas :
- Eh bien, docteur, nous devons faire ce qui est prescrit.
Rieux évitait de regarder la mère qui tenait toujours son mouchoir sur la bouche.
- Ce sera vite fait, dit-il en hésitant, si je puis téléphoner.
M. Othon dit qu’il allait le conduire. Mais le docteur se retourna vers la femme :
- Je suis désolé. Vous devriez préparer quelques affaires. Vous savez ce que c’est.
Mme Othon parut interdite. Elle regardait à terre.
- Oui, dit-elle en hochant la tête, c’est ce que je vais faire.
Avant de les quitter, Rieux ne put s’empêcher de leur demander s’ils n’avaient besoin de rien. La femme le regardait toujours en silence. Mais le juge détourna cette fois les yeux.
- Non, dit-il, puis il avala sa salive, mais sauvez mon enfant.
La quarantaine, qui au début n’était qu’une simple formalité, avait été organisée par Rieux et Rambert, de façon très stricte. En particulier, ils avaient exigé que les membres d’une même famille fussent toujours isolés les uns des autres. Si l’un des membres de la famille avait été infecté sans le savoir, il ne fallait pas multiplier les chances de la maladie. Rieux expliqua ces raisons au juge qui les trouva bonnes. Cependant, sa femme et lui se regardèrent de telle façon que le docteur sentit à quel point cette séparation les laissait désemparés. Mme Othon et sa petite fille purent être logées dans l’hôtel de quarantaine dirigé par Rambert. Mais pour le juge d’instruction, il n’y avait plus de place, sinon dans le camp d’isolement que la préfecture était en train d’organiser, sur le stade municipal, à l’aide de tentes prêtées par le service de voirie. Rieux s’en excusa, mais M. Othon dit qu’il n’y avait qu’une règle pour tous et qu’il était juste d’obéir.
Quant à l’enfant, il fut transporté à l’hôpital auxiliaire, dans une ancienne salle de classe où dix lits avaient été installés. Au bout d’une vingtaine d’heures, Rieux jugea son cas désespéré. Le petit corps se laissait dévorer par l’infection, sans une réaction. De tout petits bubons, douloureux, mais à peine formés, bloquaient les articulations de ses membres grêles. Il était vaincu d’avance. C’est pourquoi Rieux eut l’idée d’essayer sur lui le sérum de Castel. Le soir même, après le dîner, ils pratiquèrent la longue inoculation, sans obtenir une seule réaction de l’enfant. À l’aube, le lendemain, tous se rendirent auprès du petit garçon pour juger de cette expérience décisive.
L’enfant, sorti de sa torpeur, se tournait convulsivement dans les draps. Le docteur, Castel et Tarrou, depuis quatre heures du matin, se tenaient près de lui, suivant pas à pas les progrès ou les haltes de la maladie. À la tête du lit, le corps massif de Tarrou était un peu voûté. Au pied du lit, assis près de Rieux debout, Castel lisait, avec toutes les apparences de la tranquillité, un vieil ouvrage. Peu à peu, à mesure que le jour s’élargissait dans l’ancienne salle d’école, les autres arrivaient. Paneloux d’abord, qui se plaça de l’autre côté du lit, par rapport à Tarrou, et adossé au mur. Une expression douloureuse se lisait sur son visage, et la fatigue de tous ces jours où il avait payé de sa personne avait tracé des rides sur son front congestionné. À son tour, Joseph Grand arriva. Il était sept heures et l’employé s’excusa d’être essoufflé. Il n’allait rester qu’un moment, peut-être savait-on déjà quelque chose de précis. Sans mot dire, Rieux lui montra l’enfant qui, les yeux fermés dans une face décomposée, les dents serrées à la limite de ses forces, le corps immobile, tournait et retournait sa tête de droite à gauche, sur le traversin sans drap. Lorsqu’il fit assez jour, enfin, pour qu’au fond de la salle, sur le tableau noir demeuré en place, on pût distinguer les traces d’anciennes formules d’équation, Rambert arriva. Il s’adossa au pied du lit voisin et sortit un paquet de cigarettes. Mais après un regard à l’enfant, il remit le paquet dans sa poche.
Castel, toujours assis, regardait Rieux par-dessus ses lunettes :
- Avez-vous des nouvelles du père?
- Non, dit Rieux, il est au camp d’isolement.
Le docteur serrait avec force la barre du lit où gémissait l’enfant. Il ne quittait pas des yeux le petit malade qui se raidit brusquement et, les dents de nouveau serrées, se creusa un peu au niveau de la taille, écartant lentement les bras et les jambes. Du petit corps, nu sous la couverture militaire, montait une odeur de laine et d’aigre sueur. L’enfant se détendit peu à peu, ramena bras et jambes vers le centre du lit et, toujours aveugle et muet, parut respirer plus vite. Rieux rencontra le regard de Tarrou qui détourna les yeux.
Ils avaient déjà vu mourir des enfants puisque la terreur, depuis des mois, ne choisissait pas, mais ils n’avaient jamais encore suivi leurs souffrances minute après minute, comme ils le faisaient depuis le matin. Et, bien entendu, la douleur infligée à ces innocents n’avait jamais cessé de leur paraître ce qu’elle était en vérité, c’est-à-dire un scandale. Mais jusque-là du moins, ils se scandalisaient abstraitement, en quelque sorte, parce qu’ils n’avaient jamais regardé en face, si longuement, l’agonie d’un innocent.
Justement l’enfant, comme mordu à l’estomac, se pliait à nouveau, avec un gémissement grêle. Il resta creusé ainsi pendant de longues secondes, secoué de frissons et de tremblements convulsifs, comme si sa frêle carcasse pliait sous le vent furieux de la peste et craquait sous les souffles répétés de la fièvre. La bourrasque passée, il se détendit un peu, la fièvre sembla se retirer et l’abandonner, haletant, sur une grève humide et empoisonnée où le repos ressemblait déjà à la mort. Quand le flot brûlant l’atteignit à nouveau pour la troisième fois et le souleva un peu, l’enfant se recroquevilla, recula au fond du lit dans l’épouvante de la flamme qui le brûlait et agita follement la tête, en rejetant sa couverture. De grosses larmes, jaillissant sous les paupières enflammées, se mirent à couler sur son visage plombé, et, au bout de la crise, épuisé, crispant ses jambes osseuses et ses bras dont la chair avait fondu en quarante-huit heures, l’enfant prit dans le lit dévasté une pose de crucifié grotesque.
Tarrou se pencha et, de sa lourde main, essuya le petit visage trempé de larmes et de sueur. Depuis un moment, Castel avait fermé son livre et regardait le malade. Il commença une phrase, mais fut obligé de tousser pour pouvoir la terminer, parce que sa voix détonnait brusquement :
- Il n’y a pas eu de rémission matinale, n’est-ce pas, Rieux?
Rieux dit que non, mais que l’enfant résistait depuis plus longtemps qu’il n’était normal. Paneloux, qui semblait un peu affaissé contre le mur, dit alors sourdement :
- S’il doit mourir, il aura souffert plus longtemps.
Rieux se retourna brusquement vers lui et ouvrit la bouche pour parler, mais il se tut, fit un effort visible pour se dominer et ramena son regard sur l’enfant.
La lumière s’enflait dans la salle. Sur les cinq autres lits, des formes remuaient et gémissaient, mais avec une discrétion qui semblait concertée. Le seul qui criât, à l’autre bout de la salle, poussait à intervalles réguliers de petites exclamations qui paraissaient traduire plus d’étonnement que de douleur. Il semblait que, même pour les malades, ce ne fût pas l’effroi du début. Il y avait, maintenant, une sorte de consentement dans leur manière de prendre la maladie. Seul, l’enfant se débattait de toutes ses forces. Rieux qui, de temps en temps, lui prenait le pouls, sans nécessité d’ailleurs et plutôt pour sortir de l’immobilité impuissante où il était, sentait, en fermant les yeux, cette agitation se mêler au tumulte de son propre sang. Il se confondait alors avec l’enfant supplicié et tentait de le soutenir de toute sa force encore intacte. Mais une minute réunies, les pulsations de leurs deux cœurs se désaccordaient, l’enfant lui échappait, et son effort sombrait dans le vide. Il lâchait alors le mince poignet et retournait à sa place.
Le long des murs peints à la chaux, la lumière passait du rose au jaune. Derrière la vitre, une matinée de chaleur commençait à crépiter. C’est à peine si on entendit Grand partir en disant qu’il reviendrait. Tous attendaient. L’enfant, les yeux toujours fermés, semblait se calmer un peu. Les mains, devenues comme des griffes, labouraient doucement les flancs du lit. Elles remontèrent, grattèrent la couverture près des genoux, et, soudain, l’enfant plia ses jambes, ramena ses cuisses près du ventre et s’immobilisa. Il ouvrit alors les yeux pour la première fois et regarda Rieux qui se trouvait devant lui. Au creux de son visage maintenant figé dans une argile grise, la bouche s’ouvrit et, presque aussitôt, il en sortit un seul cri continu, que la respiration nuançait à peine, et qui emplit soudain la salle d’une protestation monotone, discorde, et si peu humaine qu’elle semblait venir de tous les hommes à la fois. Rieux serrait les dents et Tarrou se détourna. Rambert s’approcha du lit près de Castel qui ferma le livre, resté ouvert sur ses genoux. Paneloux regarda cette bouche enfantine, souillée par la maladie, pleine de ce cri de tous les âges. Et il se laissa glisser à genoux et tout le monde trouva naturel de l’entendre dire d’une voix un peu étouffée, mais distincte derrière la plainte anonyme qui n’arrêtait pas: “Mon Dieu, sauvez cet enfant”.
Mais l’enfant continuait de crier et, tout autour de lui, les malades s’agitèrent. Celui dont les exclamations n’avaient pas cessé, à l’autre bout de la pièce, précipita le rythme de sa plainte jusqu’à en faire, lui aussi, un vrai cri, pendant que les autres gémissaient de plus en plus fort. Une marée de sanglots déferla dans la salle, couvrant la prière de Paneloux, et Rieux, accroché à sa barre de lit, ferma les yeux, ivre de fatigue et de dégoût.
Quand il les rouvrit, il trouva Tarrou près de lui.
- Il faut que je m’en aille, dit Rieux. Je ne peux plus les supporter.
Mais brusquement, les autres malades se turent. Le docteur reconnut alors que le cri de l’enfant avait faibli, qu’il faiblissait encore et qu’il venait de s’arrêter. Autour de lui, les plaintes reprenaient, mais sourdement, et comme un écho lointain de cette lutte qui venait de s’achever. Car elle s’était achevée. Castel était passé de l’autre côté du lit et dit que c’était fini. La bouche ouverte, mais muette, l’enfant reposait au creux des couvertures en désordre, rapetissé tout d’un coup, avec des restes de larmes sur son visage.
Paneloux s’approcha du lit et fit les gestes de la bénédiction. Puis il ramassa ses robes et sortit par l’allée centrale.
- Faudra-t-il tout recommencer? demanda Tarrou à Castel.
Le vieux docteur secouait la tête.
- Peut-être, dit-il avec un sourire crispé. Après tout, il a longtemps résisté.
Mais Rieux quittait déjà la salle, d’un pas si précipité, et avec un tel air que, lorsqu’il dépassa Paneloux, celui-ci tendit le bras pour le retenir.
- Allons, docteur, lui dit-il.
Dans le même mouvement emporté, Rieux se retourna et lui jeta avec violence :
- Ah! celui-là, au moins, était innocent, vous le savez bien!
Puis il se détourna et, franchissant les portes de la salle avant Paneloux, il gagna le fond de la cour d’école. Il s’assit sur un banc, entre les petits arbres poudreux, et essuya la sueur qui lui coulait déjà dans les yeux. Il avait envie de crier encore pour dénouer enfin le nœud violent qui lui broyait le cœur. La chaleur tombait lentement entre les branches des ficus. Le ciel bleu du matin se couvrait rapidement d’une taie blanchâtre qui rendait l’air plus étouffant. Rieux se laissa aller sur son banc. Il regardait les branches, le ciel, retrouvant lentement sa respiration, ravalant peu à peu sa fatigue.
- Pourquoi m’avoir parlé avec cette colère? dit une voix derrière lui. Pour moi aussi, ce spectacle était insupportable.
Rieux se retourna vers Paneloux :
- C’est vrai, dit-il. Pardonnez-moi. Mais la fatigue est une folie. Et il y a des heures dans cette ville où je ne sens plus que ma révolte.
- Je comprends, murmura Paneloux. Cela est révoltant parce que cela passe notre mesure. Mais peut-être devons-nous aimer ce que nous ne pouvons pas comprendre.
Rieux se redressa d’un seul coup. Il regardait Paneloux, avec toute la force et la passion dont il était capable, et secouait la tête.
- Non, mon père, dit-il. Je me fais une autre idée de l’amour. Et je refuserai jusqu’à la mort d’aimer cette création où des enfants sont torturés.
Sur le visage de Paneloux, une ombre bouleversée passa.
- Ah! docteur, fit-il avec tristesse, je viens de comprendre ce qu’on appelle la grâce.
Mais Rieux s’était laissé aller de nouveau sur son banc. Du fond de sa fatigue revenue, il répondit avec plus de douceur :
- C’est ce que je n’ai pas, je le sais. Mais je ne veux pas discuter cela avec vous. Nous travaillons ensemble pour quelque chose qui nous réunit au-delà des blasphèmes et des prières. Cela seul est important.
Paneloux s’assit près de Rieux. Il avait l’air ému.
- Oui, dit-il, oui, vous aussi vous travaillez pour le salut de l’homme.
Rieux essayait de sourire.
- Le salut de l’homme est un trop grand mot pour moi. Je ne vais pas si loin. C’est sa santé qui m’intéresse, sa santé d’abord.
Paneloux hésita.
- Docteur, dit-il.
Mais il s’arrêta. Sur son front aussi la sueur commençait à ruisseler. Il murmura: “Au revoir” et ses yeux brillaient quand il se leva. Il allait partir quand Rieux qui réfléchissait, se leva aussi et fit un pas vers lui.
- Pardonnez-moi encore, dit-il. Cet éclat ne se renouvellera
plus.
Paneloux tendit sa main et dit avec tristesse :
- Et pourtant je ne vous ai pas convaincu!
- Qu’est-ce que cela fait? dit Rieux. Ce que je hais, c’est la mort et le mal, vous le savez bien. Et que vous le vouliez ou non, nous sommes ensemble pour les souffrir et les combattre.
Rieux retenait la main de Paneloux.
- Vous voyez, dit-il en évitant de le regarder, Dieu lui-même ne peut maintenant nous séparer.
Depuis qu’il était entré dans les formations sanitaires, Pa-neloux n’avait pas quitté les hôpitaux et les lieux où se rencontrait la peste. Il s’était placé, parmi les sauveteurs, au rang qui lui paraissait devoir être le sien, c’est-à-dire le premier. Les spectacles de la mort ne lui avaient pas manqué. Et bien qu’en principe il fût protégé par le sérum, le souci de sa propre mort non plus ne lui était pas étranger. Apparemment, il avait toujours gardé son calme. Mais à partir de ce jour où il avait longtemps regardé un enfant mourir, il parut changé. Une tension croissante se lisait sur son visage. Et le jour où il dit à Rieux, en souriant, qu’il préparait en ce moment un court traité sur le sujet: “Un prêtre peut-il consulter un médecin?”, le docteur eut l’impression qu’il s’agissait de quelque chose de plus sérieux que ne semblait le dire Paneloux. Comme le docteur exprimait le désir de prendre connaissance de ce travail, Paneloux lui annonça qu’il devait faire un prêche à la messe des hommes, et qu’à cette occasion il exposerait quelques-uns, au moins, de ses points de vue :
- Je voudrais que vous veniez, docteur, le sujet vous intéressera.
Le père prononça son second prêche par un jour de grand vent. À vrai dire, les rangs de l’assistance étaient plus clairsemés que lors du premier prêche. C’est que ce genre de spectacle n’avait plus l’attrait de la nouveauté pour nos concitoyens. Dans les circonstances difficiles que la ville traversait, le mot même de “nouveauté” avait perdu son sens. D’ailleurs, la plupart des gens, quand ils n’avaient pas entièrement déserté leurs devoirs religieux, ou quand ils ne les faisaient pas coïncider avec une vie personnelle profondément immorale, avaient remplacé les pratiques ordinaires par des superstitions peu raisonnables. Ils portaient plus volontiers des médailles protectrices ou des amulettes de saint Roch qu’ils n’allaient à la messe.
On peut en donner comme exemple l’usage immodéré que nos concitoyens faisaient des prophéties. Au printemps, en effet, on avait attendu, d’un moment à l’autre, la fin de la maladie, et personne ne s’avisait de demander à autrui des précisions sur la durée de l’épidémie, puisque tout le monde se persuadait qu’elle n’en aurait pas. Mais à mesure que les jours passaient, on se mit à craindre que ce malheur n’eût véritablement pas de fin et, du même coup, la cessation de l’épidémie devint l’objet de toutes les espérances. On se passait ainsi, de la main à la main, diverses prophéties dues à des mages ou à des saints de l’Église catholique. Des imprimeurs de la ville virent très vite le parti qu’ils pouvaient tirer de cet engouement et diffusèrent à de nombreux exemplaires les textes qui circulaient. S’apercevant que la curiosité du public était insatiable, ils firent entreprendre des recherches, dans les bibliothèques municipales, sur tous les témoignages de ce genre que la petite histoire pouvait fournir et ils les répandirent dans la ville. Lorsque l’histoire elle-même fut à court de prophéties, on en commanda à des journalistes qui, sur ce point au moins, se montrèrent aussi compétents que leurs modèles des siècles passés.
Certaines de ces prophéties paraissaient même en feuilleton dans les journaux et n’étaient pas lues avec moins d’avidité que les histoires sentimentales qu’on pouvait y trouver, au temps de la santé. Quelques-unes de ces prévisions s’appuyaient sur des calculs bizarres où intervenaient le millésime de l’année, le nombre des morts et le compte des mois déjà passés sous le régime de la peste. D’autres établissaient des comparaisons avec les grandes pestes de l’histoire, en dégageaient les similitudes (que les prophéties appelaient constantes) et, au moyen de calculs non moins bizarres, prétendaient en tirer des enseignements relatifs à l’épreuve présente. Mais les plus appréciées du public étaient sans conteste celles qui, dans un langage apocalyptique, annonçaient des séries d’événements dont chacun pouvait être celui qui éprouvait la ville et dont la complexité permettait toutes les interprétations. Nostradamus et sainte Odile furent ainsi consultés quotidiennement, et toujours avec fruit. Ce qui d’ailleurs restait commun à toutes les prophéties est qu’elles étaient finalement rassurantes. Seule, la peste ne l’était pas.
Ces superstitions tenaient donc lieu de religion à nos concitoyens et c’est pourquoi le prêche de Paneloux eut lieu dans une église qui n’était pleine qu’aux trois quarts. Le soir du prêche, lorsque Rieux arriva, le vent, qui s’infiltrait en filets d’air par les portes battantes de l’entrée, circulait librement parmi les auditeurs. Et c’est dans une église froide et silencieuse, au milieu d’une assistance exclusivement composée d’hommes, qu’il prit place et qu’il vit le père monter en chaire. Ce dernier parla d’un ton plus doux et plus réfléchi que la première fois et, à plusieurs reprises, les assistants remarquèrent une certaine hésitation dans son débit. Chose curieuse encore, il ne disait plus “vous”, mais “nous”.
Cependant, sa voix s’affermit peu à peu. Il commença par rappeler que, depuis de longs mois, la peste était parmi nous et que maintenant que nous la connaissions mieux pour l’avoir vue tant de fois s’asseoir à notre table ou au chevet de ceux que nous aimions, marcher près de nous et attendre notre venue aux lieux de travail, maintenant donc, nous pourrions peut-être mieux recevoir ce qu’elle nous disait sans relâche et que, dans la première surprise, il était possible que nous n’eussions pas bien écouté. Ce que le père Paneloux avait déjà prêché au même endroit restait vrai - ou du moins c’était sa conviction. Mais, peut-être encore, comme il nous arrivait à tous, et il s’en frappait la poitrine, l’avait-il pensé et dit sans charité. Ce qui restait vrai, cependant, était qu’en toute chose, toujours, il y avait à retenir. L’épreuve la plus cruelle était encore bénéfice pour le chrétien. Et, justement, ce que le chrétien en l’espèce devait chercher, c’était son bénéfice, et de quoi le bénéfice était fait, et comment on pouvait le trouver.
À ce moment, autour de Rieux, les gens parurent se carrer entre les accoudoirs de leur banc et s’installer aussi confortablement qu’ils le pouvaient. Une des portes capitonnées de l’entrée battit doucement. Quelqu’un se dérangea pour la maintenir. Et Rieux, distrait par cette agitation, entendit à peine Pa-neloux qui reprenait son prêche. Il disait à peu près qu’il ne fallait pas essayer de s’expliquer le spectacle de la peste, mais tenter d’apprendre ce qu’on pouvait en apprendre. Rieux comprit confusément que, selon le père, il n’y avait rien à expliquer. Son intérêt se fixa quand Paneloux dit fortement qu’il y avait des choses qu’on pouvait expliquer au regard de Dieu et d’autres qu’on ne pouvait pas. Il y avait certes le bien et le mal, et, généralement, on s’expliquait aisément ce qui les séparait. Mais à l’intérieur du mal, la difficulté commençait. Il y avait par exemple le mal apparemment nécessaire et le mal apparemment inutile. Il y avait don Juan plongé aux Enfers et la mort d’un enfant. Car s’il est juste que le libertin soit foudroyé, on ne comprend pas la souffrance de l’enfant. Et, en vérité, il n’y avait rien sur la terre de plus important que la souffrance d’un enfant et l’horreur que cette souffrance traîne avec elle et les raisons qu’il faut lui trouver. Dans le reste de la vie, Dieu nous facilitait tout et, jusque-là, la religion était sans mérites. Ici, au contraire, il nous mettait au pied du mur. Nous étions ainsi sous les murailles de la peste et c’est à leur ombre mortelle qu’il nous fallait trouver notre bénéfice. Le père Paneloux refusait même de se donner des avantages faciles qui lui permissent d’escalader le mur. Il lui aurait été aisé de dire que l’éternité des délices qui attendaient l’enfant pouvait compenser sa souffrance, mais, en vérité, il n’en savait rien. Qui pouvait affirmer en effet que l’éternité d’une joie pouvait compenser un instant de la douleur humaine? Ce ne serait pas un chrétien, assurément, dont le Maître a connu la douleur dans ses membres et dans son âme. Non, le père resterait au pied du mur, fidèle à cet écartèlement dont la croix est le symbole, face à face avec la souffrance d’un enfant. Et il dirait sans crainte à ceux qui l’écoutaient ce jour-là: “Mes frères, l’instant est venu. Il faut tout croire ou tout nier. Et qui donc, parmi vous, oserait tout nier?”
Rieux eut à peine le temps de penser que le père côtoyait l’hérésie que l’autre reprenait déjà, avec force, pour affirmer que cette injonction, cette pure exigence, était le bénéfice du chrétien. C’était aussi sa vertu. Le père savait que ce qu’il y avait d’excessif dans la vertu dont il allait parler choquerait beaucoup d’esprits, habitués à une morale plus indulgente et plus classique. Mais la religion du temps de peste ne pouvait être la religion de tous les jours et si Dieu pouvait admettre, et même désirer, que l’âme se repose et se réjouisse dans les temps de bonheur, il la voulait excessive dans les excès du malheur. Dieu faisait aujourd’hui à ses créatures la faveur de les mettre dans un malheur tel qu’il leur fallait retrouver et assumer la plus grande vertu qui est celle du Tout ou Rien.
Un auteur profane, dans le dernier siècle, avait prétendu révéler le secret de l’Église en affirmant qu’il n’y avait pas de Purgatoire. Il sous-entendait par là qu’il n’y avait pas de demi-mesures, qu’il n’y avait que le Paradis et l’Enfer et qu’on ne pouvait être que sauvé ou damné, selon ce qu’on avait choisi. C’était, à en croire Paneloux, une hérésie comme il n’en pouvait naître qu’au sein d’une âme libertine. Car il y avait un Purgatoire. Mais il était sans doute des époques où ce Purgatoire ne devait pas être trop espéré, il était des époques où l’on ne pouvait parler de péché véniel. Tout péché était mortel et toute indifférence criminelle. C’était tout ou ce n’était rien.
Paneloux s’arrêta, et Rieux entendit mieux à ce moment, sous les portes, les plaintes du vent qui semblait redoubler au-dehors. Le père disait au même instant que la vertu d’acceptation totale dont il parlait ne pouvait être comprise au sens restreint qu’on lui donnait d’ordinaire, qu’il ne s’agissait pas de la banale résignation, ni même de la difficile humilité. Il s’agissait d’humiliation, mais d’une humiliation où l’humilié était consentant. Certes, la souffrance d’un enfant était humiliante pour l’esprit et le cœur. Mais c’est pourquoi il fallait y entrer. Mais c’est pourquoi, et Paneloux assura son auditoire que ce qu’il allait dire n’était pas facile à dire, il fallait la vouloir parce que Dieu la voulait. Ainsi seulement le chrétien n’épargnerait rien et, toutes issues fermées, irait au fond du choix essentiel. Il choisirait de tout croire pour ne pas être réduit à tout nier. Et comme les braves femmes qui, dans les églises en ce moment, ayant appris que les bubons qui se formaient étaient la voie naturelle par où le corps rejetait son infection, disaient: “Mon Dieu, donnez-lui des bubons”, le chrétien saurait s’abandonner à la volonté divine, même incompréhensible. On ne pouvait dire: “Cela je le comprends ; mais ceci est inacceptable”, il fallait sauter au cœur de cet inacceptable qui nous était offert, justement pour que nous fissions notre choix. La souffrance des enfants était notre pain amer, mais sans ce pain, notre âme périrait de sa faim spirituelle.
Ici le remue-ménage assourdi qui accompagnait généralement les pauses du père Paneloux commençait à se faire entendre quand, inopinément, le prédicateur reprit avec force en faisant mine de demander à la place de ses auditeurs quelle était, en somme, la conduite à tenir. Il s’en doutait bien, on allait prononcer le mot effrayant de fatalisme. Eh bien, il ne reculerait pas devant le terme si on lui permettait seulement d’y joindre l’adjectif “actif”. Certes, et encore une fois, il ne fallait pas imiter les chrétiens d’Abyssinie dont il avait parlé. Il ne fallait même pas penser à rejoindre ces pestiférés perses qui lançaient leurs hardes sur les piquets sanitaires chrétiens en invoquant le ciel à haute voix pour le prier de donner la peste à ces infidèles qui voulaient combattre le mal envoyé par Dieu. Mais à l’inverse, il ne fallait pas imiter non plus les moines du Caire qui, dans les épidémies du siècle passé, donnaient la communion en prenant l’hostie avec des pincettes pour éviter le contact de ces bouches humides et chaudes où l’infection pouvait dormir. Les pestiférés perses et les moines péchaient également. Car, pour les premiers, la souffrance d’un enfant ne comptait pas et, pour les seconds, au contraire, la crainte bien humaine de la douleur avait tout envahi. Dans les deux cas, le problème était escamoté. Tous restaient sourds à la voix de Dieu. Mais il était d’autres exemples que Paneloux voulait rappeler. Si on en croyait le chroniqueur de la grande peste de Marseille, sur les quatre-vingt-un religieux du couvent de la Mercy, quatre seulement survécurent à la fièvre. Et sur ces quatre, trois s’enfuirent. Ainsi parlaient les chroniqueurs et ce n’était pas leur métier d’en dire plus. Mais en lisant ceci, toute la pensée du père Paneloux allait à celui qui était resté seul, malgré soixante-dix-sept cadavres, et malgré surtout l’exemple de ses trois frères. Et le père, frappant du poing sur le rebord de la chaire, s’écria: “Mes frères, il faut être celui qui reste!”
Il ne s’agissait pas de refuser les précautions, l’ordre intelligent qu’une société introduisait dans le désordre d’un fléau. Il ne fallait pas écouter ces moralistes qui disaient qu’il fallait se mettre à genoux et tout abandonner. Il fallait seulement commencer de marcher en avant, dans la ténèbre, un peu à l’aveuglette, et essayer de faire du bien. Mais pour le reste, il fallait demeurer, et accepter de s’en remettre à Dieu, même pour la mort des enfants, et sans chercher de recours personnel.
Ici, le père Paneloux évoqua la haute figure de l’évêque Belzunce pendant la peste de Marseille. Il rappela que, vers la fin de l’épidémie, l’évêque ayant fait tout ce qu’il devait faire, croyant qu’il n’était plus de remède, s’enferma avec des vivres dans sa maison qu’il fit murer ; que les habitants dont il était l’idole, par un retour de sentiment tel qu’on en trouve dans l’excès des douleurs, se fâchèrent contre lui, entourèrent sa maison de cadavres pour l’infecter et jetèrent même des corps pardessus les murs, pour le faire périr plus sûrement. Ainsi l’évêque, dans une dernière faiblesse, avait cru s’isoler dans le monde de la mort et les morts lui tombaient du ciel sur la tête. Ainsi encore de nous, qui devions nous persuader qu’il n’est pas d’île dans la peste. Non, il n’y avait pas de milieu. Il fallait admettre le scandale parce qu’il nous fallait choisir de haïr Dieu ou de l’aimer. Et qui oserait choisir la haine de Dieu?
“Mes frères, dit enfin Paneloux en annonçant qu’il concluait, l’amour de Dieu est un amour difficile. Il suppose l’abandon total de soi-même et le dédain de sa personne. Mais lui seul peut effacer la souffrance et la mort des enfants, lui seul en tout cas la rendre nécessaire, parce qu’il est impossible de la comprendre et qu’on ne peut que la vouloir. Voilà la difficile leçon que je voulais partager avec vous. Voilà la foi, cruelle aux yeux des hommes, décisive aux yeux de Dieu, dont il faut se rapprocher. À cette image terrible, il faut que nous nous égalions. Sur ce sommet, tout se confondra et s’égalisera, la vérité jaillira de l’apparente injustice. C’est ainsi que, dans beaucoup d’églises du Midi de la France, des pestiférés dorment depuis des siècles sous les dalles du chœur, et des prêtres parlent au-dessus de leurs tombeaux, et l’esprit qu’ils propagent jaillit de cette cendre où des enfants ont pourtant mis leur part”.
Quand Rieux sortit, un vent violent s’engouffra par la porte entrouverte et assaillit en pleine face les fidèles. Il apportait dans l’église une odeur de pluie, un parfum de trottoir mouillé qui leur laissait deviner l’aspect de la ville avant qu’ils fussent sortis. Devant le docteur Rieux, un vieux prêtre et un jeune diacre qui sortaient à ce moment eurent du mal à retenir leur coiffure. Le plus âgé ne cessa pas pour autant de commenter le prêche. Il rendait hommage à l’éloquence de Paneloux, mais il s’inquiétait des hardiesses de pensée que le père avait montrées. Il estimait que ce prêche montrait plus d’inquiétude que de force, et, à l’âge de Paneloux, un prêtre n’avait pas le droit d’être inquiet. Le jeune diacre, la tête baissée pour se protéger du vent, assura qu’il fréquentait beaucoup le père, qu’il était au courant de son évolution et que son traité serait beaucoup plus hardi encore et n’aurait sans doute pas l’imprimatur.
 
- Quelle est donc son idée? dit le vieux prêtre.
Ils étaient arrivés sur le parvis et le vent les entourait en hurlant, coupant la parole au plus jeune. Quand il put parler, il dit seulement :
- Si un prêtre consulte un médecin, il y a contradiction.
À Rieux qui lui rapportait les paroles de Paneloux, Tarrou dit qu’il connaissait un prêtre qui avait perdu la foi pendant la guerre en découvrant un visage de jeune homme aux yeux crevés.
- Paneloux a raison, dit Tarrou. Quand l’innocence a les yeux crevés, un chrétien doit perdre la foi ou accepter d’avoir les yeux crevés. Paneloux ne veut pas perdre la foi, il ira jusqu’au bout. C’est ce qu’il a voulu dire.
Cette observation de Tarrou permet-elle d’éclairer un peu les événements malheureux qui suivirent et où la conduite de Paneloux parut incompréhensible à ceux qui l’entourèrent? On en jugera.
Quelques jours après le prêche, Paneloux, en effet, s’occupa de déménager. C’était le moment où l’évolution de la maladie provoquait des déménagements constants dans la ville. Et, de même que Tarrou avait dû quitter son hôtel pour loger chez Rieux, de même le père dut laisser l’appartement où son ordre l’avait placé, pour venir loger chez une vieille personne, habituée des églises et encore indemne de la peste. Pendant le déménagement, le père avait senti croître sa fatigue et son angoisse. Et c’est ainsi qu’il perdit l’estime de sa logeuse. Car celle-ci lui ayant chaleureusement vanté les mérites de la prophétie de sainte Odile, le prêtre lui avait marqué une très légère impatience, due sans doute à sa lassitude. Quelque effort qu’il fît ensuite pour obtenir de la vieille dame au moins une bienveillante neutralité, il n’y parvint pas. Il avait fait mauvaise impression. Et, tous les soirs, avant de regagner sa chambre remplie par des flots de dentelles au crochet, il devait contempler le dos de son hôtesse, assise dans son salon, en même temps qu’il emportait le souvenir du “Bonsoir, mon père” qu’elle lui adressait sèchement et sans se retourner. C’est par un soir pareil qu’au moment de se coucher, la tête battante, il sentit se libérer à ses poignets et à ses tempes les flots déchaînés d’une fièvre qui couvait depuis plusieurs jours.
Ce qui suivit ne fut ensuite connu que par les récits de son hôtesse. Le matin elle s’était levée tôt, suivant son habitude. Au bout d’un certain temps, étonnée de ne pas voir le père sortir de sa chambre, elle s’était décidée, avec beaucoup d’hésitations, à frapper à sa porte. Elle l’avait trouvé encore couché, après une nuit d’insomnie. Il souffrait d’oppression et paraissait plus congestionné que d’habitude. Selon ses propres termes, elle lui avait proposé avec courtoisie de faire appeler un médecin, mais sa proposition avait été rejetée avec une violence qu’elle considérait comme regrettable. Elle n’avait pu que se retirer. Un peu plus tard, le père avait sonné et l’avait fait demander. Il s’était excusé de son mouvement d’humeur et lui avait déclaré qu’il ne pouvait être question de peste, qu’il n’en présentait aucun des symptômes et qu’il s’agissait d’une fatigue passagère. La vieille dame lui avait répondu avec dignité que sa proposition n’était pas née d’une inquiétude de cet ordre, qu’elle n’avait pas en vue sa propre sécurité qui était aux mains de Dieu, mais qu’elle avait seulement pensé à la santé du père dont elle s’estimait en partie responsable. Mais comme il n’ajoutait rien, son hôtesse, désireuse, à l’en croire, de faire tout son devoir, lui avait encore proposé de faire appeler son médecin. Le père, de nouveau, avait refusé, mais en ajoutant des explications que la vieille dame avait jugées très confuses. Elle croyait seulement avoir compris, et cela justement lui paraissait incompréhensible, que le père refusait cette consultation parce qu’elle n’était pas en accord avec ses principes. Elle en avait conclu que la fièvre troublait les idées de son locataire, et elle s’était bornée à lui apporter de la tisane.
Toujours décidée à remplir très exactement les obligations que la situation lui créait, elle avait régulièrement visité le malade toutes les deux heures. Ce qui l’avait frappée le plus était l’agitation incessante dans laquelle le père avait passé la journée. Il rejetait ses draps et les ramenait vers lui, passant sans cesse sa main sur son front moite, et se redressant souvent pour essayer de tousser d’une toux étranglée, rauque et humide, semblable à un arrachement. Il semblait alors dans l’impossibilité d’extirper du fond de sa gorge des tampons d’ouate qui l’eussent étouffé. Au bout de ces crises, il se laissait tomber en arrière, avec tous les signes de l’épuisement. Pour finir, il se redressait encore à demi et, pendant un court moment, regardait devant lui, avec une fixité plus véhémente que toute l’agitation précédente. Mais la vieille dame hésitait encore à appeler un médecin et à contrarier son malade. Ce pouvait être un simple accès de fièvre, si spectaculaire qu’il parût.
Dans l’après-midi, cependant, elle essaya de parler au prêtre et ne reçut en réponse que quelques paroles confuses. Elle renouvela sa proposition. Mais, alors, le père se releva et, étouffant à demi, il lui répondit distinctement qu’il ne voulait pas de médecin. À ce moment, l’hôtesse décida qu’elle attendrait jusqu’au lendemain matin et que, si l’état du père n’était pas amélioré, elle téléphonerait au numéro que l’agence Rans-doc répétait une dizaine de fois tous les jours à la radio. Toujours attentive à ses devoirs, elle pensait visiter son locataire pendant la nuit et veiller sur lui. Mais le soir, après lui avoir donné de la tisane fraîche, elle voulut s’étendre un peu et ne se réveilla que le lendemain au petit jour. Elle courut à la chambre.
Le père était étendu, sans un mouvement. À l’extrême congestion de la veille avait succédé une sorte de lividité d’autant plus sensible que les formes du visage étaient encore pleines. Le père fixait le petit lustre de perles multicolores qui pendait au-dessus du lit. À l’entrée de la vieille dame, il tourna la tête vers elle. Selon les dires de son hôtesse, il semblait à ce moment avoir été battu pendant toute la nuit et avoir perdu toute force pour réagir. Elle lui demanda comment il allait. Et d’une voix dont elle nota le son étrangement indifférent, il dit qu’il allait mal, qu’il n’avait pas besoin de médecin et qu’il suffirait qu’on le transportât à l’hôpital pour que tout fût dans les règles. Épouvantée, la vieille dame courut au téléphone.
Rieux arriva à midi. Au récit de l’hôtesse, il répondit seulement que Paneloux avait raison et que ce devait être trop tard. Le père l’accueillit avec le même air indifférent. Rieux l’examina et fut surpris de ne découvrir aucun des symptômes principaux de la peste bubonique ou pulmonaire, sinon l’engorgement et l’oppression des poumons. De toute façon, le pouls était si bas et l’état général si alarmant qu’il y avait peu d’espoir :
- Vous n’avez aucun des symptômes principaux de la maladie, dit-il à Paneloux. Mais, en réalité, il y a doute, et je dois vous isoler.
Le père sourit bizarrement, comme avec politesse, mais se tut. Rieux sortit pour téléphoner et revint. Il regardait le père.
- Je resterai près de vous, lui dit-il doucement.
L’autre parut se ranimer et tourna vers le docteur des yeux où une sorte de chaleur semblait revenir. Puis il articula difficilement, de manière qu’il était impossible de savoir s’il le disait avec tristesse ou non :
- Merci, dit-il. Mais les religieux n’ont pas d’amis. Ils ont tout placé en Dieu.
Il demanda le crucifix qui était placé à la tête du lit et, quand il l’eut, se détourna pour le regarder.
À l’hôpital, Paneloux ne desserra pas les dents. Il s’abandonna comme une chose à tous les traitements qu’on lui imposa, mais il ne lâcha plus le crucifix. Cependant, le cas du prêtre continuait d’être ambigu. Le doute persistait dans l’esprit de Rieux. C’était la peste et ce n’était pas elle. Depuis quelque temps d’ailleurs, elle semblait prendre plaisir à dérouter les diagnostics. Mais dans le cas de Paneloux, la suite devait montrer que cette incertitude était sans importance.
La fièvre monta. La toux se fit de plus en plus rauque et tortura le malade toute la journée. Le soir enfin, le père expectora cette ouate qui l’étouffait. Elle était rouge. Au milieu du tumulte de la fièvre, Paneloux gardait son regard indifférent et quand, le lendemain matin, on le trouva mort, à demi versé hors du lit, son regard n’exprimait rien. On inscrivit sur sa fiche: “Cas douteux”.
La Toussaint de cette année-là ne fut pas ce qu’elle était d’ordinaire. Certes, le temps était de circonstance. Il avait brusquement changé et les chaleurs tardives avaient tout d’un coup fait place aux fraîcheurs. Comme les autres années, un vent froid soufflait maintenant de façon continue. De gros nuages couraient d’un horizon à l’autre, couvraient d’ombre les maisons sur lesquelles retombait, après leur passage, la lumière froide et dorée du ciel de novembre. Les premiers imperméables avaient fait leur apparition. Mais on remarquait un nombre surprenant d’étoffes caoutchoutées et brillantes. Les journaux en effet avaient rapporté que, deux cents ans auparavant, pendant les grandes pestes du Midi, les médecins revêtaient des étoffes huilées pour leur propre préservation. Les magasins en avaient profité pour écouler un stock de vêtements démodés grâce auxquels chacun espérait une immunité.
Mais tous ces signes de saison ne pouvaient faire oublier que les cimetières étaient désertés. Les autres années, les tramways étaient pleins de l’odeur fade des chrysanthèmes et des théories de femmes se rendaient aux lieux où leurs proches se trouvaient enterrés, afin de fleurir leurs tombes. C’était le jour où l’on essayait de compenser auprès du défunt l’isolement et l’oubli où il avait été tenu pendant de longs mois. Mais cette an-née-là, personne ne voulait plus penser aux morts. On y pensait déjà trop, précisément. Et il ne s’agissait plus de revenir à eux avec un peu de regret et beaucoup de mélancolie. Ils n’étaient plus les délaissés auprès desquels on vient se justifier un jour par an. Ils étaient les intrus qu’on veut oublier. Voilà pourquoi la Fête des Morts, cette année-là, fut en quelque sorte escamotée. Selon Cottard, à qui Tarrou reconnaissait un langage de plus en plus ironique, c’était tous les jours la Fête des Morts.
Et réellement, les feux de joie de la peste brûlaient avec une allégresse toujours plus grande dans le four crématoire. D’un jour à l’autre, le nombre de morts, il est vrai, n’augmentait pas. Mais il semblait que la peste se fût confortablement installée dans son paroxysme et qu’elle apportât à ses meurtres quotidiens la précision et la régularité d’un bon fonctionnaire. En principe, et de l’avis des personnalités compétentes, c’était un bon signe. Le graphique des progrès de la peste, avec sa montée incessante, puis le long plateau qui lui succédait, paraissait tout à fait réconfortant au docteur Richard, par exemple. “C’est un bon, c’est un excellent graphique”, disait-il. Il estimait que la maladie avait atteint ce qu’il appelait un palier. Désormais, elle ne pourrait que décroître. Il en attribuait le mérite au nouveau sérum de Castel qui venait de connaître, en effet, quelques succès inattendus. Le vieux Castel n’y contredisait pas, mais estimait qu’en fait, on ne pouvait rien prévoir, l’histoire des épidémies comportant des rebondissements imprévus. La préfecture qui, depuis longtemps, désirait apporter un apaisement à l’esprit public, et à qui la peste n’en donnait pas les moyens, se proposait de réunir les médecins pour leur demander un rapport à ce sujet, lorsque le docteur Richard fut enlevé par la peste, lui aussi, et précisément sur le palier de la maladie.
L’administration, devant cet exemple, impressionnant sans doute, mais qui, après tout, ne prouvait rien, retourna au pessimisme avec autant d’inconséquence qu’elle avait d’abord accueilli l’optimisme. Castel, lui, se bornait à préparer son sérum aussi soigneusement qu’il le pouvait. Il n’y avait plus, en tout cas, un seul lieu public qui ne fût transformé en hôpital ou en lazaret, et si l’on respectait encore la préfecture, c’est qu’il fallait bien garder un endroit où se réunir. Mais, en général, et du fait de la stabilité relative de la peste à cette époque, l’organisation prévue par Rieux ne fut nullement dépassée. Les médecins et les aides, qui fournissaient un effort épuisant, n’étaient pas obligés d’imaginer des efforts plus grands encore. Ils devaient seulement continuer avec régularité, si l’on peut dire, ce travail surhumain. Les formes pulmonaires de l’infection qui s’étaient déjà manifestées se multipliaient maintenant aux quatre coins de la ville, comme si le vent allumait et activait des incendies dans les poitrines. Au milieu de vomissements de sang, les malades étaient enlevés beaucoup plus rapidement. La contagiosité risquait maintenant d’être plus grande, avec cette nouvelle forme de l’épidémie. Au vrai, les avis des spécialistes avaient toujours été contradictoires sur ce point. Pour plus de sûreté cependant, le personnel sanitaire continuait de respirer sous des masques de gaze désinfectée. À première vue, en tout cas, la maladie aurait dû s’étendre. Mais, comme les cas de peste bubonique diminuaient, la balance était en équilibre.
On pouvait cependant avoir d’autres sujets d’inquiétude par suite des difficultés du ravitaillement qui croissaient avec le temps. La spéculation s’en était mêlée et on offrait à des prix fabuleux des denrées de première nécessité qui manquaient sur le marché ordinaire. Les familles pauvres se trouvaient ainsi dans une situation très pénible, tandis que les familles riches ne manquaient à peu près de rien. Alors que la peste, par l’impartialité efficace qu’elle apportait dans son ministère, aurait dû renforcer l’égalité chez nos concitoyens, par le jeu normal des égoïsmes, au contraire, elle rendait plus aigu dans le cœur des hommes le sentiment de l’injustice. Il restait, bien entendu, l’égalité irréprochable de la mort, mais de celle-là, personne ne voulait. Les pauvres qui souffraient ainsi de la faim pensaient, avec plus de nostalgie encore, aux villes et aux campagnes voisines, où la vie était libre et où le pain n’était pas cher. Puisqu’on ne pouvait les nourrir suffisamment, ils avaient le sentiment, d’ailleurs peu raisonnable, qu’on aurait dû leur permettre de partir. Si bien qu’un mot d’ordre avait fini par courir qu’on lisait, parfois, sur les murs, ou qui était crié, d’autres fois, sur le passage du préfet: “Du pain ou de l’air”. Cette formule ironique donnait le signal de certaines manifestations vite réprimées, mais dont le caractère de gravité n’échappait à personne.
Les journaux, naturellement, obéissaient à la consigne d’optimisme à tout prix qu’ils avaient reçue. À les lire, ce qui caractérisait la situation, c’était “l’exemple émouvant de calme et de sang-froid” que donnait la population. Mais dans une ville refermée sur elle-même, où rien ne pouvait demeurer secret, personne ne se trompait sur “l’exemple” donné par la communauté. Et pour avoir une juste idée du calme et du sang-froid dont il était question, il suffisait d’entrer dans un lieu de quarantaine ou dans un des camps d’isolement qui avaient été organisés par l’administration. Il se trouve que le narrateur, appelé ailleurs, ne les a pas connus. Et c’est pourquoi il ne peut citer ici que le témoignage de Tarrou.
Tarrou rapporte, en effet, dans ses carnets, le récit d’une visite qu’il fit avec Rambert au camp installé sur le stade municipal. Le stade est situé presque aux portes de la ville, et donne d’un côté sur la rue où passent les tramways, de l’autre sur des terrains vagues qui s’étendent jusqu’au bord du plateau où la ville est construite. Il est entouré ordinairement de hauts murs de ciment et il avait suffi de placer des sentinelles aux quatre portes d’entrée pour rendre l’évasion difficile. De même, les murs empêchaient les gens de l’extérieur d’importuner de leur curiosité les malheureux qui étaient placés en quarantaine. En revanche, ceux-ci, à longueur de journée, entendaient, sans les voir, les tramways qui passaient, et devinaient, à la rumeur plus grande que ces derniers traînaient avec eux, les heures de rentrée et de sortie des bureaux. Ils savaient ainsi que la vie dont ils étaient exclus continuait à quelques mètres d’eux, et que les murs de ciment séparaient deux univers plus étrangers l’un à l’autre que s’ils avaient été dans des planètes différentes.
C’est un dimanche après-midi que Tarrou et Rambert choisirent pour se diriger vers le stade. Ils étaient accompagnés de Gonzalès, le joueur de football, que Rambert avait retrouvé et qui avait fini par accepter de diriger par roulement la surveillance du stade. Rambert devait le présenter à l’administrateur du camp. Gonzalès avait dit aux deux hommes, au moment où ils s’étaient retrouvés, que c’était l’heure où, avant la peste, il se mettait en tenue pour commencer son match. Maintenant que les stades étaient réquisitionnés ce n’était plus possible et Gonzalès se sentait, et avait l’air, tout à fait désœuvré. C’était une des raisons pour lesquelles il avait accepté cette surveillance, à condition qu’il n’eût à l’exercer que pendant les fins de semaine. Le ciel était à moitié couvert et Gonzalès, le nez levé, remarqua avec regret que ce temps, ni pluvieux ni chaud, était le plus favorable à une bonne partie. Il évoquait comme il pouvait l’odeur d’embrocation dans les vestiaires, les tribunes croulantes, les maillots de couleur vive sur le terrain fauve, les citrons de la mi-temps ou la limonade qui pique les gorges desséchées de mille aiguilles rafraîchissantes. Tarrou note d’ailleurs que, pendant tout le trajet, à travers les rues défoncées du faubourg, le joueur ne cessait de donner des coups de pied dans les cailloux qu’il rencontrait. Il essayait de les envoyer droit dans les bouches d’égout, et quand il réussissait, “un à zéro”, disait-il. Quand il avait fini sa cigarette, il crachait son mégot devant lui et tentait, à la volée, de le rattraper du pied. Près du stade, des enfants qui jouaient envoyèrent une balle vers le groupe qui passait et Gon-zalès se dérangea pour la leur retourner avec précision.
Ils entrèrent enfin dans le stade. Les tribunes étaient pleines de monde. Mais le terrain était couvert par plusieurs centaines de tentes rouges, à l’intérieur desquelles on apercevait, de loin, des literies et des ballots. On avait gardé les tribunes pour que les internés pussent s’abriter par les temps de chaleur ou de pluie. Simplement, ils devaient réintégrer les tentes au coucher du soleil. Sous les tribunes, se trouvaient les douches qu’on avait aménagées et les anciens vestiaires de joueurs qu’on avait transformés en bureaux et en infirmeries. La plupart des internés garnissaient les tribunes. D’autres erraient sur les touches. Quelques-uns étaient accroupis à l’entrée de leur tente et promenaient sur toutes choses un regard vague. Dans les tribunes, beaucoup étaient affalés et semblaient attendre.
- Que font-ils dans la journée? demanda Tarrou à Rambert.
- Rien.
Presque tous, en effet, avaient les bras ballants et les mains vides. Cette immense assemblée d’hommes était curieusement silencieuse.
- Les premiers jours, on ne s’entendait pas, ici, dit Rambert. Mais à mesure que les jours passaient, ils ont parlé de moins en moins.
Si l’on en croit ses notes, Tarrou les comprenait, et il les voyait au début, entassés dans leurs tentes, occupés à écouter les mouches ou à se gratter, hurlant leur colère ou leur peur quand ils trouvaient une oreille complaisante. Mais à partir du moment où le camp avait été surpeuplé, il y avait eu de moins en moins d’oreilles complaisantes. Il ne restait donc plus qu’à se taire et à se méfier. Il y avait en effet une sorte de méfiance qui tombait du ciel gris, et pourtant lumineux, sur le camp rouge.
Oui, ils avaient tous l’air de la méfiance. Puisqu’on les avait séparés des autres, ce n’était pas sans raison, et ils montraient le visage de ceux qui cherchent leurs raisons, et qui craignent. Chacun de ceux que Tarrou regardait avait l’œil inoccupé, tous avaient l’air de souffrir d’une séparation très générale d’avec ce qui faisait leur vie. Et comme ils ne pouvaient pas toujours penser à la mort, ils ne pensaient à rien. Ils étaient en vacances. “Mais le pire, écrivait Tarrou, est qu’ils soient des oubliés et qu’ils le sachent. Ceux qui les connaissaient les ont oubliés parce qu’ils pensent à autre chose et c’est bien compréhensible. Quant à ceux qui les aiment, ils les ont oubliés aussi parce qu’ils doivent s’épuiser en démarches et en projets pour les faire sortir. À force de penser à cette sortie, ils ne pensent plus à ceux qu’il s’agit de faire sortir. Cela aussi est normal.
Et à la fin de tout, on s’aperçoit que personne n’est capable réellement de penser à personne, fût-ce dans le pire des malheurs. Car penser réellement à quelqu’un, c’est y penser minute après minute, sans être distrait par rien, ni les soins du ménage, ni la mouche qui vole, ni les repas, ni une démangeaison. Mais il y a toujours des mouches et des démangeaisons. C’est pourquoi la vie est difficile à vivre. Et ceux-ci le savent bien”.
L’administrateur, qui revenait vers eux, leur dit qu’un M. Othon demandait à les voir. Il conduisit Gonzalès dans son bureau, puis les mena vers un coin des tribunes d’où M. Othon, qui s’était assis à l’écart, se leva pour les recevoir. Il était toujours habillé de la même façon et portait le même col dur. Tar-rou remarqua seulement que ses touffes, sur les tempes, étaient beaucoup plus hérissées et qu’un de ses lacets était dénoué. Le juge avait l’air fatigué, et, pas une seule fois, il ne regarda ses interlocuteurs en face. Il dit qu’il était heureux de les voir et qu’il les chargeait de remercier le docteur Rieux pour ce qu’il avait fait.
Les autres se turent.
- J’espère, dit le juge après un certain temps, que Philippe n’aura pas trop souffert.
C’était la première fois que Tarrou lui entendait prononcer le nom de son fils et il comprit que quelque chose était changé. Le soleil baissait à l’horizon et, entre deux nuages, ses rayons entraient latéralement dans les tribunes, dorant leurs trois visages.
- Non, dit Tarrou, non, il n’a vraiment pas souffert.
Quand ils se retirèrent, le juge continuait de regarder du côté d’où venait le soleil.
Ils allèrent dire au revoir à Gonzalès, qui étudiait un tableau de surveillance par roulement. Le joueur rit en leur serrant les mains.
- J’ai retrouvé au moins les vestiaires, disait-il, c’est toujours ça.
Peu après, l’administrateur reconduisait Tarrou et Rambert, quand un énorme grésillement se fit entendre dans les tribunes. Puis les haut-parleurs qui, dans des temps meilleurs, servaient à annoncer le résultat des matches ou à présenter les équipes, déclarèrent en nasillant que les internés devaient regagner leurs tentes pour que le repas du soir pût être distribué. Lentement, les hommes quittèrent les tribunes et se rendirent dans les tentes en traînant le pas. Quand ils furent tous installés, deux petites voitures électriques, comme on en voit dans les gares, passèrent entre les tentes, transportant de grosses marmites. Les hommes tendaient leurs bras, deux louches plongeaient dans deux marmites et en sortaient pour atterrir dans deux gamelles. La voiture se remettait en marche. On recommençait à la tente suivante.
- C’est scientifique, dit Tarrou à l’administrateur.
- Oui, dit celui-ci avec satisfaction, en leur serrant la main, c’est scientifique.
Le crépuscule était là, et le ciel s’était découvert. Une lumière douce et fraîche baignait le camp. Dans la paix du soir, des bruits de cuillers et d’assiettes montèrent de toutes parts. Des chauves-souris voletèrent au-dessus des tentes et disparurent subitement. Un tramway criait sur un aiguillage, de l’autre côté des murs.
- Pauvre juge, murmura Tarrou en franchissant les portes. Il faudrait faire quelque chose pour lui. Mais comment aider un juge?
Il y avait ainsi, dans la ville, plusieurs autres camps dont le narrateur, par scrupule et par manque d’information directe, ne peut dire plus. Mais ce qu’il peut dire, c’est que l’existence de ces camps, l’odeur d’hommes qui en venait, les énormes voix des haut-parleurs dans le crépuscule, le mystère des murs et la crainte de ces lieux réprouvés, pesaient lourdement sur le moral de nos concitoyens et ajoutaient encore au désarroi et au malaise de tous. Les incidents et les conflits avec l’administration se multiplièrent.
À la fin de novembre, cependant, les matins devinrent très froids. Des pluies de déluge lavèrent le pavé à grande eau, nettoyèrent le ciel et le laissèrent pur de nuages au-dessus des rues luisantes. Un soleil sans force répandit tous les matins, sur la ville, une lumière étincelante et glacée. Vers le soir, au contraire, l’air devenait tiède à nouveau. Ce fut le moment que choisit Tarrou pour se découvrir un peu auprès du docteur Rieux.
Un jour, vers dix heures, après une longue et épuisante journée, Tarrou accompagna Rieux, qui allait faire au vieil asthmatique sa visite du soir. Le ciel luisait doucement au-dessus des maisons du vieux quartier. Un léger vent soufflait sans bruit à travers les carrefours obscurs. Venus des rues calmes, les deux hommes tombèrent sur le bavardage du vieux. Celui-ci leur apprit qu’il y en avait qui n’étaient pas d’accord, que l’assiette au beurre était toujours pour les mêmes, que tant va la cruche à l’eau qu’à la fin elle se casse et que, probablement, et là il se frotta les mains, il y aurait du grabuge. Le docteur le soigna sans qu’il cessât de commenter les événements.
Ils entendaient marcher au-dessus d’eux. La vieille femme, remarquant l’air intéressé de Tarrou, leur expliqua que des voisines se tenaient sur la terrasse. Ils apprirent en même temps qu’on avait une belle vue, de là-haut, et que les terrasses des maisons se rejoignant souvent par un côté, il était possible aux femmes du quartier de se rendre visite sans sortir de chez elles.
- Oui, dit le vieux, montez donc. Là-haut, c’est le bon air.
Ils trouvèrent la terrasse vide, et garnie de trois chaises. D’un côté, aussi loin que la vue pouvait s’étendre, on n’apercevait que des terrasses qui finissaient par s’adosser à une masse obscure et pierreuse où ils reconnurent la première colline. De l’autre côté, par-dessus quelques rues et le port invisible, le regard plongeait sur un horizon où le ciel et la mer se mêlaient dans une palpitation indistincte. Au-delà de ce qu’ils savaient être les falaises, une lueur dont ils n’apercevaient pas la source reparaissait régulièrement: le phare de la passe, depuis le printemps, continuait à tourner pour des navires qui se détournaient vers d’autres ports. Dans le ciel balayé et lustré par le vent, des étoiles pures brillaient et la lueur lointaine du phare y mêlait, de moment en moment, une cendre passagère. La brise apportait des odeurs d’épices et de pierre. Le silence était absolu.
- Il fait bon, dit Rieux, en s’asseyant. C’est comme si la peste n’était jamais montée là.
Tarrou lui tournait le dos et regardait la mer.
- Oui, dit-il après un moment, il fait bon.
Il vint s’asseoir auprès du docteur et le regarda attentivement. Trois fois, la lueur reparut dans le ciel. Un bruit de vaisselle choquée monta jusqu’à eux des profondeurs de la rue. Une porte claqua dans la maison.
- Rieux, dit Tarrou sur un ton très naturel, vous n’avez jamais cherché à savoir qui j’étais? Avez-vous de l’amitié pour moi?
- Oui, répondit le docteur, j’ai de l’amitié pour vous. Mais jusqu’ici le temps nous a manqué.
- Bon, cela me rassure. Voulez-vous que cette heure soit celle de l’amitié?
Pour toute réponse, Rieux lui sourit.
- Eh bien, voilà.
Quelques rues plus loin, une auto sembla glisser longuement sur le pavé mouillé. Elle s’éloigna et, après elle, des exclamations confuses, venues de loin, rompirent encore le silence. Puis il retomba sur les deux hommes avec tout son poids de ciel et d’étoiles. Tarrou s’était levé pour se percher sur le parapet de la terrasse, face à Rieux, toujours tassé au creux de sa chaise. On ne voyait de lui qu’une forme massive, découpée dans le ciel. Il parla longtemps et voici à peu près son discours reconstitué :
- Disons pour simplifier, Rieux, que je souffrais déjà de la peste bien avant de connaître cette ville et cette épidémie. C’est assez dire que je suis comme tout le monde. Mais il y a des gens qui ne le savent pas, ou qui se trouvent bien dans cet état et des gens qui le savent et qui voudraient en sortir. Moi, j’ai toujours voulu en sortir.
“Quand j’étais jeune, je vivais avec l’idée de mon innocence, c’est-à-dire avec pas d’idée du tout. Je n’ai pas le genre tourmenté, j’ai débuté comme il convenait. Tout me réussissait, j’étais à l’aise dans l’intelligence, au mieux avec les femmes, et si j’avais quelques inquiétudes, elles passaient comme elles étaient venues. Un jour, j’ai commencé à réfléchir. Maintenant.
“Il faut vous dire que je n’étais pas pauvre comme vous. Mon père était avocat général, ce qui est une situation. Pourtant, il n’en portait pas l’air, étant de naturel bonhomme. Ma mère était simple et effacée, je n’ai jamais cessé de l’aimer, mais je préfère ne pas en parler. Lui s’occupait de moi avec affection et je crois même qu’il essayait de me comprendre. Il avait des aventures au-dehors, j’en suis sûr maintenant, et, aussi bien, je suis loin de m’en indigner. Il se conduisait en tout cela comme il fallait attendre qu’il se conduisît, sans choquer personne. Pour parler bref, il n’était pas très original et, aujourd’hui qu’il est mort, je me rends compte que s’il n’a pas vécu comme un saint, il n’a pas été non plus un mauvais homme. Il tenait le milieu, voilà tout, et c’est le type d’homme pour lequel on se sent une affection raisonnable, celle qui fait qu’on continue.
“Il avait cependant une particularité: le grand indicateur Chaix était son livre de chevet. Ce n’était pas qu’il voyageât, sauf aux vacances, pour aller en Bretagne où il avait une petite propriété. Mais il était à même de vous dire exactement les heures de départ et d’arrivée du Paris-Berlin, les combinaisons d’horaires qu’il fallait faire pour aller de Lyon à Varsovie, le kilométrage exact entre les capitales de votre choix. Êtes-vous capable de dire comment on va de Briançon à Chamonix? Même un chef de gare s’y perdrait. Mon père ne s’y perdait pas. Il s’exerçait à peu près tous les soirs à enrichir ses connaissances sur ce point, et il en était plutôt fier. Cela m’amusait beaucoup, et je le questionnais souvent, ravi de vérifier ses réponses dans le Chaix et de reconnaître qu’il ne s’était pas trompé. Ces petits exercices nous ont beaucoup liés l’un à l’autre, car je lui fournissais un auditoire dont il appréciait la bonne volonté. Quant à moi, je trouvais que cette supériorité qui avait trait aux chemins de fer en valait bien une autre.
“Mais je me laisse aller et je risque de donner trop d’importance à cet honnête homme. Car, pour finir, il n’a eu qu’une influence indirecte sur ma détermination. Tout au plus m’a-t-il fourni une occasion. Quand j’ai eu dix-sept ans, en effet, mon père m’a invité à aller l’écouter. Il s’agissait d’une affaire importante, en cour d’assises, et, certainement, il avait pensé qu’il apparaîtrait sous son meilleur jour. Je crois aussi qu’il comptait sur cette cérémonie, propre à frapper les jeunes imaginations, pour me pousser à entrer dans la carrière que lui-même avait choisie. J’avais accepté, parce que cela faisait plaisir à mon père et parce que, aussi bien, j’étais curieux de le voir et de l’entendre dans un autre rôle que celui qu’il jouait parmi nous. Je ne pensais à rien de plus. Ce qui se passait dans un tribunal m’avait toujours paru aussi naturel et inévitable qu’une revue de 14 juillet ou une distribution de prix. J’en avais une idée fort abstraite et qui ne me gênait pas.
“Je n’ai pourtant gardé de cette journée qu’une seule image, celle du coupable. Je crois qu’il était coupable en effet, il importe peu de quoi. Mais ce petit homme au poil roux et pauvre, d’une trentaine d’années, paraissait si décidé à tout reconnaître, si sincèrement effrayé par ce qu’il avait fait et ce qu’on allait lui faire, qu’au bout de quelques minutes je n’eus plus d’yeux que pour lui. Il avait l’air d’un hibou effarouché par une lumière trop vive. Le nœud de sa cravate ne s’ajustait pas exactement à l’angle du col. Il se rongeait les ongles d’une seule main, la droite... Bref, je n’insiste pas, vous avez compris qu’il était vivant.
“Mais moi, je m’en apercevais brusquement, alors que, jusqu’ici, je n’avais pensé à lui qu’à travers la catégorie commode d’“inculpé”. Je ne puis dire que j’oubliais alors mon père, mais quelque chose me serrait le ventre qui m’enlevait toute autre attention que celle que je portais au prévenu. Je n’écoutais presque rien, je sentais qu’on voulait tuer cet homme vivant et un instinct formidable comme une vague me portait à ses côtés avec une sorte d’aveuglement entêté. Je ne me réveillai vraiment qu’avec le réquisitoire de mon père.
“Transformé par sa robe rouge, ni bonhomme ni affectueux, sa bouche grouillait de phrases immenses, qui, sans arrêt, en sortaient comme des serpents. Et je compris qu’il demandait la mort de cet homme au nom de la société et qu’il demandait même qu’on lui coupât le cou. Il disait seulement, il est vrai: “Cette tête doit tomber”. Mais, à la fin, la différence n’était pas grande. Et cela revint au même, en effet, puisqu’il obtint cette tête. Simplement, ce n’est pas lui qui fit alors le travail. Et moi qui suivis l’affaire ensuite jusqu’à sa conclusion, exclusivement, j’eus avec ce malheureux une intimité bien plus vertigineuse que ne l’eut jamais mon père. Celui-ci devait pourtant, selon la coutume, assister à ce qu’on appelait poliment les derniers moments et qu’il faut bien nommer le plus abject des assassinats.
“À partir de ce jour, je ne pus regarder l’indicateur Chaix qu’avec un dégoût abominable. À partir de ce jour, je m’intéressai avec horreur à la justice, aux condamnations à mort, aux exécutions et je constatai avec un vertige que mon père avait dû assister plusieurs fois à l’assassinat et que c’était les jours où, justement, il se levait très tôt. Oui, il remontait son réveil dans ces cas-là. Je n’osai pas en parler à ma mère, mais je l’observai mieux alors et je compris qu’il n’y avait plus rien entre eux et qu’elle menait une vie de renoncement. Cela m’aida à lui pardonner, comme je disais alors. Plus tard, je sus qu’il n’y avait rien à lui pardonner, parce qu’elle avait été pauvre toute sa vie jusqu’à son mariage et que la pauvreté lui avait appris la résignation.
“Vous attendez sans doute que je vous dise que je suis parti aussitôt. Non, je suis resté plusieurs mois, presque une année. Mais j’avais le cœur malade. Un soir, mon père demanda son réveil parce qu’il devait se lever tôt. Je ne dormis pas de la nuit. Le lendemain, quand il revint, j’étais parti. Disons tout de suite que mon père me fit rechercher, que j’allai le voir, que sans rien expliquer, je lui dis calmement que je me tuerais s’il me forçait à revenir. Il finit par accepter, car il était de naturel plutôt doux, me fit un discours sur la stupidité qu’il y avait à vouloir vivre sa vie (c’est ainsi qu’il s’expliquait mon geste et je ne le dissuadai point), mille recommandations, et réprima les larmes sincères qui lui venaient. Par la suite, assez longtemps après cependant, je revins régulièrement voir ma mère et je le rencontrai alors. Ces rapports lui suffirent, je crois. Pour moi, je n’avais pas d’animosité contre lui, seulement un peu de tristesse au cœur. Quand il mourut, je pris ma mère avec moi et elle y serait encore si elle n’était pas morte à son tour.
“J’ai longuement insisté sur ce début parce qu’il fut en effet au début de tout. J’irai plus vite maintenant. J’ai connu la pauvreté à dix-huit ans, au sortir de l’aisance. J’ai fait mille métiers pour gagner ma vie. Ça ne m’a pas trop mal réussi. Mais ce qui m’intéressait, c’était la condamnation à mort. Je voulais régler un compte avec le hibou roux. En conséquence, j’ai fait de la politique comme on dit. Je ne voulais pas être un pestiféré, voilà tout. J’ai cru que la société où je vivais était celle qui reposait sur la condamnation à mort et qu’en la combattant, je combattrais l’assassinat. Je l’ai cru, d’autres me l’ont dit et, pour finir, c’était vrai en grande partie. Je me suis donc mis avec les autres que j’aimais et que je n’ai pas cessé d’aimer. J’y suis resté longtemps et il n’est pas de pays en Europe dont je n’aie partagé les luttes. Passons.
“Bien entendu, je savais que, nous aussi, nous prononcions, à l’occasion, des condamnations. Mais on me disait que ces quelques morts étaient nécessaires pour amener un monde où l’on ne tuerait plus personne. C’était vrai d’une certaine manière et, après tout, peut-être ne suis-je pas capable de me maintenir dans ce genre de vérités. Ce qu’il y a de sûr, c’est que j’hésitais. Mais je pensais au hibou et cela pouvait continuer. Jusqu’au jour où j’ai vu une exécution (c’était en Hongrie) et le même vertige qui avait saisi l’enfant que j’étais a obscurci mes yeux d’homme.
“Vous n’avez jamais vu fusiller un homme? Non, bien sûr, cela se fait généralement sur invitation et le public est choisi d’avance. Le résultat est que vous en êtes resté aux estampes et aux livres. Un bandeau, un poteau, et au loin quelques soldats. Eh bien, non! Savez-vous que le peloton des fusilleurs se place au contraire à un mètre cinquante du condamné? Savez-vous que si le condamné faisait deux pas en avant, il heurterait les fusils avec sa poitrine? Savez-vous qu’à cette courte distance, les fusilleurs concentrent leur tir sur la région du cœur et qu’à eux tous, avec leurs grosses balles, ils y font un trou où l’on pourrait mettre le poing? Non, vous ne le savez pas parce que ce sont là des détails dont on ne parle pas. Le sommeil des hommes est plus sacré que la vie pour les pestiférés. On ne doit pas empêcher les braves gens de dormir. Il y faudrait du mauvais goût, et le goût consiste à ne pas insister, tout le monde sait ça. Mais moi, je n’ai pas bien dormi depuis ce temps-là. Le mauvais goût m’est resté dans la bouche et je n’ai pas cessé d’insister, c’est-à-dire d’y penser.
“J’ai compris alors que moi, du moins, je n’avais pas cessé d’être un pestiféré pendant toutes ces longues années où pourtant, de toute mon âme, je croyais lutter justement contre la peste. J’ai appris que j’avais indirectement souscrit à la mort de milliers d’hommes, que j’avais même provoqué cette mort en trouvant bons les actions et les principes qui l’avaient fatalement entraînée. Les autres ne semblaient pas gênés par cela ou du moins ils n’en parlaient jamais spontanément. Moi, j’avais la gorge nouée. J’étais avec eux et j’étais pourtant seul. Quand il m’arrivait d’exprimer mes scrupules, ils me disaient qu’il fallait réfléchir à ce qui était en jeu et ils me donnaient des raisons souvent impressionnantes, pour me faire avaler ce que je n’arrivais pas à déglutir. Mais je répondais que les grands pestiférés, ceux qui mettent des robes rouges, ont aussi d’excellentes raisons dans ces cas-là, et que si j’admettais les raisons de force majeure et les nécessités invoquées par les petits pestiférés, je ne pourrais pas rejeter celles des grands. Ils me faisaient remarquer que la bonne manière de donner raison aux robes rouges était de leur laisser l’exclusivité de la condamnation. Mais je me disais alors que, si l’on cédait une fois, il n’y avait pas de raison de s’arrêter. Il me semble que l’histoire m’a donné raison, aujourd’hui c’est à qui tuera le plus. Ils sont tous dans la fureur du meurtre, et ils ne peuvent pas faire autrement.
“Mon affaire à moi, en tout cas, ce n’était pas le raisonnement. C’était le hibou roux, cette sale aventure où de sales bouches empestées annonçaient à un homme dans les chaînes qu’il allait mourir et réglaient toutes choses pour qu’il meure, en effet, après des nuits et des nuits d’agonie pendant lesquelles il attendait d’être assassiné les yeux ouverts. Mon affaire, c’était le trou dans la poitrine. Et je me disais qu’en attendant, et pour ma part au moins, je refuserais de jamais donner une seule raison, une seule, vous entendez, à cette dégoûtante boucherie. Oui, j’ai choisi cet aveuglement obstiné en attendant d’y voir plus clair.
“Depuis, je n’ai pas changé. Cela fait longtemps que j’ai honte, honte à mourir d’avoir été, fût-ce de loin, fût-ce dans la bonne volonté, un meurtrier à mon tour. Avec le temps, j’ai simplement aperçu que même ceux qui étaient meilleurs que d’autres ne pouvaient s’empêcher aujourd’hui de tuer ou de laisser tuer parce que c’était dans la logique où ils vivaient et que nous ne pouvions pas faire un geste en ce monde sans risquer de faire mourir. Oui, j’ai continué d’avoir honte, j’ai appris cela, que nous étions tous dans la peste, et j’ai perdu la paix. Je la cherche encore aujourd’hui, essayant de les comprendre tous et de n’être l’ennemi mortel de personne. Je sais seulement qu’il faut faire ce qu’il faut pour ne plus être un pestiféré et que c’est là ce qui peut, seul, nous faire espérer la paix, ou une bonne mort à son défaut. C’est cela qui peut soulager les hommes et, sinon les sauver, du moins leur faire le moins de mal possible et même parfois un peu de bien. Et c’est pourquoi j’ai décidé de refuser tout ce qui, de près ou de loin, pour de bonnes ou de mauvaises raisons, fait mourir ou justifie qu’on fasse mourir.
“C’est pourquoi encore cette épidémie ne m’apprend rien, sinon qu’il faut la combattre à vos côtés. Je sais de science certaine (oui, Rieux, je sais tout de la vie, vous le voyez bien) que chacun la porte en soi, la peste, parce que personne, non, personne au monde n’en est indemne. Et qu’il faut se surveiller sans arrêt pour ne pas être amené, dans une minute de distraction, à respirer dans la figure d’un autre et à lui coller l’infection. Ce qui est naturel, c’est le microbe. Le reste, la santé, l’intégrité, la pureté, si vous voulez, c’est un effet de la volonté et d’une volonté qui ne doit jamais s’arrêter. L’honnête homme, celui qui n’infecte presque personne, c’est celui qui a le moins de distraction possible. Et il en faut de la volonté et de la tension pour ne jamais être distrait! Oui, Rieux, c’est bien fatigant d’être un pestiféré. Mais c’est encore plus fatigant de ne pas vouloir l’être. C’est pour cela que tout le monde se montre fatigué, puisque tout le monde, aujourd’hui, se trouve un peu pestiféré. Mais c’est pour cela que quelques-uns, qui veulent cesser de l’être, connaissent une extrémité de fatigue dont rien ne les délivrera plus que la mort.
“D’ici là, je sais que je ne vaux plus rien pour ce monde lui-même et qu’à partir du moment où j’ai renoncé à tuer, je me suis condamné à un exil définitif. Ce sont les autres qui feront l’histoire. Je sais aussi que je ne puis apparemment juger ces autres. Il y a une qualité qui me manque pour faire un meurtrier raisonnable. Ce n’est donc pas une supériorité. Mais maintenant, je consens à être ce que je suis, j’ai appris la modestie. Je dis seulement qu’il y a sur cette terre des fléaux et des victimes et qu’il faut, autant qu’il est possible, refuser d’être avec le fléau. Cela vous paraîtra peut-être un peu simple, et je ne sais si cela est simple, mais je sais que cela est vrai. J’ai entendu tant de raisonnements qui ont failli me tourner la tête, et qui ont tourné suffisamment d’autres têtes pour les faire consentir à l’assassinat, que j’ai compris que tout le malheur des hommes venait de ce qu’ils ne tenaient pas un langage clair. J’ai pris le parti alors de parler et d’agir clairement, pour me mettre sur le bon chemin. Par conséquent, je dis qu’il y a les fléaux et les victimes, et rien de plus. Si, disant cela, je deviens fléau moi-même, du moins, je n’y suis pas consentant. J’essaie d’être un meurtrier innocent. Vous voyez que ce n’est pas une grande ambition.
“Il faudrait, bien sûr, qu’il y eût une troisième catégorie, celle des vrais médecins, mais c’est un fait qu’on n’en rencontre pas beaucoup et que ce doit être difficile. C’est pourquoi j’ai décidé de me mettre du côté des victimes, en toute occasion, pour limiter les dégâts. Au milieu d’elles, je peux du moins chercher comment on arrive à la troisième catégorie, c’est-à-dire à la paix”.
En terminant, Tarrou balançait sa jambe et frappait doucement du pied contre la terrasse. Après un silence, le docteur se souleva un peu et demanda si Tarrou avait une idée du chemin qu’il fallait prendre pour arriver à la paix.
- Oui, la sympathie.
Deux timbres d’ambulance résonnèrent dans le lointain. Les exclamations, tout à l’heure confuses, se rassemblèrent aux confins de la ville, près de la colline pierreuse. On entendit en même temps quelque chose qui ressemblait à une détonation. Puis le silence revint. Rieux compta deux clignements de phare. La brise sembla prendre plus de force, et du même coup, un souffle venu de la mer apporta une odeur de sel. On entendait maintenant de façon distincte la sourde respiration des vagues contre la falaise.
- En somme, dit Tarrou avec simplicité, ce qui m’intéresse, c’est de savoir comment on devient un saint.
- Mais vous ne croyez pas en Dieu.
- Justement. Peut-on être un saint sans Dieu, c’est le seul problème concret que je connaisse aujourd’hui.
Brusquement, une grande lueur jaillit du côté d’où étaient venus les cris et, remontant le fleuve du vent, une clameur obscure parvint jusqu’aux deux hommes. La lueur s’assombrit aussitôt et loin, au bord des terrasses, il ne resta qu’un rougeoiement. Dans une panne de vent, on entendit distinctement des cris d’hommes, puis le bruit d’une décharge et la clameur d’une foule. Tarrou s’était levé et écoutait. On n’entendait plus rien.
- On s’est encore battu aux portes.
- C’est fini maintenant, dit Rieux.
Tarrou murmura que ce n’était jamais fini et qu’il y aurait encore des victimes, parce que c’était dans l’ordre.
- Peut-être, répondit le docteur, mais vous savez, je me sens plus de solidarité avec les vaincus qu’avec les saints. Je n’ai pas de goût, je crois, pour l’héroïsme et la sainteté. Ce qui m’intéresse, c’est d’être un homme.
- Oui, nous cherchons la même chose, mais je suis moins ambitieux.
Rieux pensa que Tarrou plaisantait et il le regarda. Mais dans la vague lueur qui venait du ciel, il vit un visage triste et sérieux. Le vent se levait à nouveau et Rieux sentit qu’il était tiède sur sa peau. Tarrou se secoua :
- Savez-vous, dit-il, ce que nous devrions faire pour l’amitié?
- Ce que vous voulez, dit Rieux.
- Prendre un bain de mer. Même pour un futur saint c’est un plaisir digne.
Rieux souriait.
- Avec nos laissez-passer, nous pouvons aller sur la jetée. À la fin, c’est trop bête de ne vivre que dans la peste. Bien entendu, un homme doit se battre pour les victimes. Mais s’il cesse de rien aimer par ailleurs, à quoi sert qu’il se batte?
- Oui, dit Rieux, allons-y.
Un moment après, l’auto s’arrêtait près des grilles du port. La lune s’était levée. Un ciel laiteux projetait partout des ombres pâles. Derrière eux s’étageait la ville et il en venait un souffle chaud et malade qui les poussait vers la mer. Ils montrèrent leurs papiers à un garde qui les examina assez longuement. Ils passèrent et à travers les terre-pleins couverts de tonneaux, parmi les senteurs de vin et de poisson, ils prirent la direction de la jetée. Peu avant d’y arriver, l’odeur de l’iode et des algues leur annonça la mer. Puis ils l’entendirent.
Elle sifflait doucement au pied des grands blocs de la jetée et, comme ils les gravissaient, elle leur apparut, épaisse comme du velours, souple et lisse comme une bête. Ils s’installèrent sur les rochers tournés vers le large. Les eaux se gonflaient et redescendaient lentement. Cette respiration calme de la mer faisait naître et disparaître des reflets huileux à la surface des eaux. Devant eux, la nuit était sans limites. Rieux, qui sentait sous ses doigts le visage grêlé des rochers, était plein d’un étrange bonheur. Tourné vers Tarrou, il devina, sur le visage calme et grave de son ami, ce même bonheur qui n’oubliait rien, pas même l’assassinat.
Ils se déshabillèrent. Rieux plongea le premier. Froides d’abord, les eaux lui parurent tièdes quand il remonta. Au bout de quelques brasses, il savait que la mer, ce soir-là, était tiède, de la tiédeur des mers d’automne qui reprennent à la terre la chaleur emmagasinée pendant de longs mois. Il nageait régulièrement. Le battement de ses pieds laissait derrière lui un bouillonnement d’écume, l’eau fuyait le long de ses bras pour se coller à ses jambes. Un lourd clapotement lui apprit que Tarrou avait plongé. Rieux se mit sur le dos et se tint immobile, face au ciel renversé, plein de lune et d’étoiles. Il respira longuement. Puis il perçut de plus en plus distinctement un bruit d’eau battue, étrangement clair dans le silence et la solitude de la nuit. Tarrou se rapprochait, on entendit bientôt sa respiration. Rieux se retourna, se mit au niveau de son ami, et nagea dans le même rythme. Tarrou avançait avec plus de puissance que lui et il dut précipiter son allure. Pendant quelques minutes, ils avancèrent avec la même cadence et la même vigueur, solitaires, loin du monde, libérés enfin de la ville et de la peste. Rieux s’arrêta le premier et ils revinrent lentement, sauf à un moment où ils entrèrent dans un courant glacé. Sans rien dire, ils précipitèrent tous deux leur mouvement, fouettés par cette surprise de la mer.
Habillés de nouveau, ils repartirent sans avoir prononcé un mot. Mais ils avaient le même cœur et le souvenir de cette nuit leur était doux. Quand ils aperçurent de loin la sentinelle de la peste, Rieux savait que Tarrou se disait, comme lui, que la maladie venait de les oublier, que cela était bien, et qu’il fallait maintenant recommencer.
Oui, il fallait recommencer et la peste n’oubliait personne trop longtemps. Pendant le mois de décembre, elle flamba dans les poitrines de nos concitoyens, elle illumina le four, elle peupla les camps d’ombres aux mains vides, elle ne cessa enfin d’avancer de son allure patiente et saccadée. Les autorités avaient compté sur les jours froids pour stopper cette avance, et pourtant elle passait à travers les premières rigueurs de la saison sans désemparer. Il fallait encore attendre. Mais on n’attend plus à force d’attendre, et notre ville entière vivait sans avenir.
Quant au docteur, le fugitif instant de paix et d’amitié qui lui avait été donné n’eut pas de lendemain. On avait ouvert encore un hôpital et Rieux n’avait plus de tête-à-tête qu’avec les malades. Il remarqua cependant qu’à ce stade de l’épidémie, alors que la peste prenait, de plus en plus, la forme pulmonaire, les malades semblaient en quelque sorte aider le médecin. Au lieu de s’abandonner à la prostration ou aux folies du début, ils paraissaient se faire une idée plus juste de leurs intérêts et ils réclamaient d’eux-mêmes ce qui pouvait leur être le plus favorable. Ils demandaient sans cesse à boire, et tous voulaient de la chaleur. Quoique la fatigue fût la même pour le docteur, il se sentait cependant moins seul, dans ces occasions.
Vers la fin de décembre, Rieux reçut de M. Othon, le juge d’instruction, qui se trouvait encore dans son camp, une lettre disant que son temps de quarantaine était passé, que l’administration ne retrouvait pas la date de son entrée et qu’assurément, on le maintenait encore au camp d’internement par erreur. Sa femme, sortie depuis quelque temps, avait protesté à la préfecture, où elle avait été mal reçue et où on lui avait dit qu’il n’y avait jamais d’erreur. Rieux fit intervenir Rambert et, quelques jours après, vit arriver M. Othon. Il y avait eu en effet une erreur et Rieux s’en indigna un peu. Mais M. Othon, qui avait maigri, leva une main molle et dit, pesant ses mots, que tout le monde pouvait se tromper. Le docteur pensa seulement qu’il y avait quelque chose de changé.
- Qu’allez-vous faire, monsieur le juge? Vos dossiers vous attendent, dit Rieux.
- Eh bien, non, dit le juge. Je voudrais prendre un congé.
- En effet, il faut vous reposer.
- Ce n’est pas cela, je voudrais retourner au camp.
Rieux s’étonna :
- Mais vous en sortez!
- Je me suis mal fait comprendre. On m’a dit qu’il y avait des volontaires de l’administration, dans ce camp.
Le juge roulait un peu ses yeux ronds et essayait d’aplatir une de ses touffes.
- Vous comprenez, j’aurais une occupation. Et puis, c’est stupide à dire, je me sentirais moins séparé de mon petit garçon.
Rieux le regardait. Il n’était pas possible que dans ces yeux durs et plats une douceur s’installât soudain. Mais ils étaient devenus plus brumeux, ils avaient perdu leur pureté de métal.
- Bien sûr, dit Rieux, je vais m’en occuper, puisque vous le désirez.
Le docteur s’en occupa, en effet, et la vie de la cité empestée reprit son train, jusqu’à la Noël. Tarrou continuait de promener partout sa tranquillité efficace. Rambert confiait au docteur qu’il avait établi, grâce aux deux petits gardes, un système de correspondance clandestine avec sa femme. Il recevait une lettre de loin en loin. Il offrit à Rieux de le faire profiter de son système et celui-ci accepta. Il écrivit, pour la première fois depuis de longs mois, mais avec les plus grandes difficultés. Il y avait un langage qu’il avait perdu. La lettre partit. La réponse tardait à venir. De son côté, Cottard prospérait et ses petites spéculations l’enrichissaient. Quant à Grand, la période des fêtes ne devait pas lui réussir.
Le Noël de cette année-là fut plutôt la fête de l’Enfer que celle de l’Évangile. Les boutiques vides et privées de lumières, les chocolats factices ou les boîtes vides dans les vitrines, les tramways chargés de figures sombres, rien ne rappelait les Noëls passés. Dans cette fête où tout le monde, riche ou pauvre, se rejoignait jadis, il n’y avait plus de place que pour les quelques réjouissances solitaires et honteuses que des privilégiés se procuraient à prix d’or, au fond d’une arrière-boutique crasseuse. Les églises étaient emplies de plaintes plutôt que d’actions de grâces. Dans la ville morne et gelée, quelques enfants couraient, encore ignorants de ce qui les menaçait. Mais personne n’osait leur annoncer le dieu d’autrefois, chargé d’offrandes, vieux comme la peine humaine, mais nouveau comme le jeune espoir. Il n’y avait plus de place dans le cœur de tous que pour un très vieil et très morne espoir, celui-là même qui empêche les hommes de se laisser aller à la mort et qui n’est qu’une simple obstination à vivre.
La veille, Grand avait manqué son rendez-vous. Rieux, inquiet, était passé chez lui de grand matin sans le trouver. Tout le monde avait été alerté. Vers onze heures, Rambert vint à l’hôpital avertir le docteur qu’il avait aperçu Grand de loin, errant dans les rues, la figure décomposée. Puis il l’avait perdu de vue. Le docteur et Tarrou partirent en voiture à sa recherche.
À midi, heure glacée, Rieux, sorti de la voiture, regardait de loin Grand, presque collé contre une vitrine, pleine de jouets grossièrement sculptés dans le bois. Sur le visage du vieux fonctionnaire, des larmes coulaient sans interruption. Et ces larmes bouleversèrent Rieux parce qu’il les comprenait et qu’il les sentait aussi au creux de sa gorge. Il se souvenait lui aussi des fiançailles du malheureux, devant une boutique de Noël, et de Jeanne renversée vers lui pour dire qu’elle était contente. Du fond d’années lointaines, au cœur même de cette folie, la voix fraîche de Jeanne revenait vers Grand, cela était sûr. Rieux savait ce que pensait à cette minute le vieil homme qui pleurait, et il le pensait comme lui, que ce monde sans amour était comme un monde mort et qu’il vient toujours une heure où on se lasse des prisons, du travail et du courage pour réclamer le visage d’un être et le cœur émerveillé de la tendresse.
Mais l’autre l’aperçut dans la glace. Sans cesser de pleurer, il se retourna et s’adossa à la vitrine pour le regarder venir.
- Ah! docteur, ah! docteur, faisait-il.
Rieux hochait la tête pour l’approuver, incapable de parler. Cette détresse était la sienne et ce qui lui tordait le cœur à ce moment était l’immense colère qui vient à l’homme devant la douleur que tous les hommes partagent.
- Oui, Grand, dit-il.
- Je voudrais avoir le temps de lui écrire une lettre. Pour qu’elle sache... et pour qu’elle puisse être heureuse sans remords...
Avec une sorte de violence, Rieux fit avancer Grand. L’autre continuait, se laissant presque traîner, balbutiant des bouts de phrase.
- Il y a trop longtemps que ça dure. On a envie de se laisser aller, c’est forcé. Ah! docteur! J’ai l’air tranquille, comme ça. Mais il m’a toujours fallu un énorme effort pour être seulement normal. Alors maintenant, c’est encore trop.
Il s’arrêta, tremblant de tous ses membres et les yeux fous. Rieux lui prit la main. Elle brûlait.
- Il faut rentrer.
Mais Grand lui échappa et courut quelques pas, puis il s’arrêta, écarta les bras et se mit à osciller d’avant en arrière. Il tourna sur lui-même et tomba sur le trottoir glacé, le visage sali par des larmes qui continuaient de couler. Les passants regardaient de loin, arrêtés brusquement, n’osant plus avancer. Il fallut que Rieux prît le vieil homme dans ses bras.
Dans son lit maintenant, Grand étouffait: les poumons étaient pris. Rieux réfléchissait. L’employé n’avait pas de famille. À quoi bon le transporter? Il serait seul, avec Tarrou, à le soigner.
Grand était enfoncé au creux de son oreiller, la peau verdie et l’œil éteint. Il regardait fixement un maigre feu que Tarrou allumait dans la cheminée avec les débris d’une caisse. “Ça va mal”, disait-il. Et du fond de ses poumons en flammes sortait un bizarre crépitement qui accompagnait tout ce qu’il disait. Rieux lui recommanda de se taire et dit qu’il allait revenir. Un bizarre sourire vint au malade et, avec lui, une sorte de tendresse lui monta au visage. Il cligna de l’œil avec effort. “Si j’en sors, chapeau bas, docteur!” Mais tout de suite après, il tomba dans la prostration.
Quelques heures après, Rieux et Tarrou retrouvèrent le malade, à demi dressé dans son lit, et Rieux fut effrayé de lire sur son visage les progrès du mal qui le brûlait. Mais il semblait plus lucide et, tout de suite, d’une voix étrangement creuse, il les pria de lui apporter le manuscrit qu’il avait mis dans un tiroir. Tarrou lui donna les feuilles qu’il serra contre lui, sans les regarder, pour les tendre ensuite au docteur, l’invitant du geste à les lire. C’était un court manuscrit d’une cinquantaine de pages. Le docteur le feuilleta et comprit que toutes ces feuilles ne portaient que la même phrase indéfiniment recopiée, remaniée, enrichie ou appauvrie. Sans arrêt, le mois de mai, l’amazone et les allées du Bois se confrontaient et se disposaient de façons diverses. L’ouvrage comportait aussi des explications, parfois démesurément longues, et des variantes. Mais à la fin de la dernière page, une main appliquée avait seulement écrit, d’une encre fraîche: “Ma bien chère Jeanne, c’est aujourd’hui Noël...” Au-dessus, soigneusement calligraphiée, figurait la dernière version de la phrase. “Lisez”, disait Grand. Et Rieux lut.
“Par une belle matinée de mai, une svelte amazone, montée sur une somptueuse jument alezane, parcourait, au milieu des fleurs, les allées du Bois”.
- Est-ce cela? dit le vieux d’une voix de fièvre.
Rieux ne leva pas les yeux sur lui.
- Ah! dit l’autre en s’agitant, je sais bien. Belle, belle ce n’est pas le mot juste.
Rieux lui prit la main sur la couverture.
- Laissez, docteur. Je n’aurai pas le temps.
Sa poitrine se soulevait avec peine et il cria tout d’un coup :
- Brûlez-le!
Le docteur hésita, mais Grand répéta son ordre avec un accent si terrible et une telle souffrance dans la voix, que Rieux jeta les feuilles dans le feu presque éteint. La pièce s’illumina rapidement et une chaleur brève la réchauffa. Quand le docteur revint vers le malade, celui-ci avait le dos tourné et sa face touchait presque au mur. Tarrou regardait par la fenêtre, comme étranger à la scène. Après avoir injecté le sérum, Rieux dit à son ami que Grand ne passerait pas la nuit, et Tarrou se proposa pour rester. Le docteur accepta.
Toute la nuit, l’idée que Grand allait mourir le poursuivit. Mais le lendemain matin, Rieux trouva Grand assis sur son lit, parlant avec Tarrou. La fièvre avait disparu. Il ne restait que les signes d’un épuisement général.
- Ah! docteur, disait l’employé, j’ai eu tort. Mais je recommencerai. Je me souviens de tout, vous verrez.
- Attendons, dit Rieux à Tarrou.
Mais à midi, rien n’était changé. Le soir, Grand pouvait être considéré comme sauvé. Rieux ne comprenait rien à cette résurrection.
À peu près à la même époque pourtant, on amena à Rieux une malade dont il jugea l’état désespéré et qu’il fit isoler dès son arrivée à l’hôpital. La jeune fille était en plein délire et présentait tous les symptômes de la peste pulmonaire. Mais, le lendemain matin, la fièvre avait baissé. Le docteur crut reconnaître encore, comme dans le cas de Grand, la rémission matinale que l’expérience l’habituait à considérer comme un mauvais signe. À midi, cependant, la fièvre n’était pas remontée. Le soir, elle augmenta de quelques dixièmes seulement et, le lendemain matin, elle avait disparu. La jeune fille, quoique faible, respirait librement dans son lit. Rieux dit à Tarrou qu’elle était sauvée contre toutes les règles. Mais dans la semaine, quatre cas semblables se présentèrent dans le service du docteur.
À la fin de la même semaine, le vieil asthmatique accueillit le docteur et Tarrou avec tous les signes d’une grande agitation.
- Ça y est, disait-il, ils sortent encore.
- Qui?
- Eh bien! les rats!
Depuis le mois d’avril, aucun rat mort n’avait été découvert.
- Est-ce que ça va recommencer? dit Tarrou à Rieux.
Le vieux se frottait les mains.
- Il faut les voir courir! C’est un plaisir.
Il avait vu deux rats vivants entrer chez lui, par la porte de la rue. Des voisins lui avaient rapporté que, chez eux aussi, les bêtes avaient fait leur réapparition. Dans certaines charpentes, on entendait de nouveau le remue-ménage oublié depuis des
mois. Rieux attendit la publication des statistiques générales qui avaient lieu au début de chaque semaine. Elles révélaient un recul de la maladie.
Quoique cette brusque retraite de la maladie fût inespérée, nos concitoyens ne se hâtèrent pas de se réjouir. Les mois qui venaient de passer, tout en augmentant leur désir de libération, leur avaient appris la prudence et les avaient habitués à compter de moins en moins sur une fin prochaine de l’épidémie. Cependant, ce fait nouveau était sur toutes les bouches, et, au fond des cœurs, s’agitait un grand espoir inavoué. Tout le reste passait au second plan. Les nouvelles victimes de la peste pesaient bien peu auprès de ce fait exorbitant: les statistiques avaient baissé. Un des signes que l’ère de la santé, sans être ouvertement espérée, était cependant attendue en secret, c’est que nos concitoyens parlèrent volontiers dès ce moment, quoique avec les airs de l’indifférence, de la façon dont la vie se réorganiserait après la peste.
Tout le monde était d’accord pour penser que les commodités de la vie passée ne se retrouveraient pas d’un coup et qu’il était plus facile de détruire que de reconstruire. On estimait simplement que le ravitaillement lui-même pourrait être un peu amélioré, et que, de cette façon, on serait débarrassé du souci le plus pressant. Mais, en fait, sous ces remarques anodines, un espoir insensé se débridait du même coup et à tel point que nos concitoyens en prenaient parfois conscience et affirmaient alors, avec précipitation, qu’en tout état de cause, la délivrance n’était pas pour le lendemain.
Et, en effet, la peste ne s’arrêta pas le lendemain, mais, en apparence, elle s’affaiblissait plus vite qu’on n’eût pu raisonnablement l’espérer. Pendant les premiers jours de janvier, le froid s’installa avec une persistance inusitée et sembla cristalliser au-dessus de la ville. Et pourtant, jamais le ciel n’avait été si bleu. Pendant des jours entiers, sa splendeur immuable et glacée inonda notre ville d’une lumière ininterrompue. Dans cet air purifié, la peste, en trois semaines et par des chutes successives, parut s’épuiser dans les cadavres de moins en moins nombreux qu’elle alignait. Elle perdit, en un court espace de temps, la presque totalité des forces qu’elle avait mis des mois à accumuler. À la voir manquer des proies toutes désignées, comme Grand ou la jeune fille de Rieux, s’exacerber dans certains quartiers durant deux ou trois jours alors qu’elle disparaissait totalement de certains autres, multiplier les victimes le lundi et, le mercredi, les laisser échapper presque toutes, à la voir ainsi s’essouffler ou se précipiter, on eût dit qu’elle se désorganisait par énervement et lassitude, qu’elle perdait, en même temps que son empire sur elle-même, l’efficacité mathématique et souveraine qui avait été sa force. Le sérum de Castel connaissait, tout d’un coup, des séries de réussites qui lui avaient été refusées jusque-là. Chacune des mesures prises par les médecins et qui, auparavant, ne donnaient aucun résultat, paraissait soudain porter à coup sûr. Il semblait que la peste à son tour fût traquée et que sa faiblesse soudaine fît la force des armées émoussées qu’on lui avait, jusqu’alors, opposées. De temps en temps seulement, la maladie se raidissait et, dans une sorte d’aveugle sursaut, emportait trois ou quatre malades dont on espérait la guérison. Ils étaient les malchanceux de la peste, ceux qu’elle tuait en plein espoir. Ce fut le cas du juge Othon qu’on dut évacuer du camp de quarantaine, et Tarrou dit de lui en effet qu’il n’avait pas eu de chance, sans qu’on pût savoir cependant s’il pensait à la mort ou à la vie du juge.
Mais dans l’ensemble, l’infection reculait sur toute la ligne et les communiqués de la préfecture, qui avaient d’abord fait naître une timide et secrète espérance, finirent par confirmer, dans l’esprit du public, la conviction que la victoire était acquise et que la maladie abandonnait ses positions. À la vérité, il était difficile de décider qu’il s’agissait d’une victoire. On était obligé seulement de constater que la maladie semblait partir comme elle était venue. La stratégie qu’on lui opposait n’avait pas changé, inefficace hier et, aujourd’hui, apparemment heureuse. On avait seulement l’impression que la maladie s’était épuisée elle-même ou peut-être qu’elle se retirait après avoir atteint tous ses objectifs. En quelque sorte, son rôle était fini.
On eût dit néanmoins que rien n’était changé en ville. Toujours silencieuses dans la journée, les rues étaient envahies, le soir, par la même foule où dominaient seulement les pardessus et les écharpes. Les cinémas et les cafés faisaient les mêmes affaires. Mais, à regarder de plus près, on pouvait remarquer que les visages étaient plus détendus et qu’ils souriaient parfois. Et c’était alors l’occasion de constater que, jusqu’ici, personne ne souriait dans les rues. En réalité, dans le voile opaque qui, depuis des mois, entourait la ville, une déchirure venait de se faire et, tous les lundis, chacun pouvait constater, par les nouvelles de la radio, que la déchirure s’agrandissait et qu’enfin il allait être permis de respirer. C’était encore un soulagement tout négatif et qui ne prenait pas d’expression franche. Mais alors qu’auparavant on n’eût pas appris sans quelque incrédulité qu’un train était parti ou un bateau arrivé, ou encore que les autos allaient de nouveau être autorisées à circuler, l’annonce de ces événements à la mi-janvier n’eût provoqué au contraire aucune surprise. C’était peu sans doute. Mais cette nuance légère traduisait, en fait, les énormes progrès accomplis par nos concitoyens dans la voie de l’espérance. On peut dire d’ailleurs qu’à partir du moment où le plus infime espoir devint possible pour la population, le règne effectif de la peste fut terminé.
Il n’en reste pas moins que, pendant tout le mois de janvier, nos concitoyens réagirent de façon contradictoire. Exactement, ils passèrent par des alternances d’excitation et de dépression. C’est ainsi qu’on eut à enregistrer de nouvelles tentatives d’évasion, au moment même où les statistiques étaient les plus favorables. Cela surprit beaucoup les autorités, et les postes de garde eux-mêmes, puisque la plupart des évasions réussirent. Mais, en réalité, les gens qui s’évadaient à ces moments-là obéissaient à des sentiments naturels. Chez les uns, la peste avait enraciné un scepticisme profond dont ils ne pouvaient pas se débarrasser. L’espoir n’avait plus de prise sur eux. Alors même que le temps de la peste était révolu, ils continuaient à vivre selon ses normes. Ils étaient en retard sur les événements. Chez les autres, au contraire, et ils se recrutaient spécialement chez ceux qui avaient vécu jusque-là séparés des êtres qu’ils aimaient, après ce long temps de claustration et d’abattement, le vent d’espoir qui se levait avait allumé une fièvre et une impatience qui leur enlevaient toute maîtrise d’eux-mêmes. Une sorte de panique les prenait à la pensée qu’ils pouvaient, si près du but, mourir peut-être, qu’ils ne reverraient pas l’être qu’ils chérissaient et que ces longues souffrances ne leur seraient pas payées. Alors que pendant des mois, avec une obscure ténacité, malgré la prison et l’exil, ils avaient persévéré dans l’attente, la première espérance suffit à détruire ce que la peur et le désespoir n’avaient pu entamer. Ils se précipitèrent comme des fous pour devancer la peste, incapables de suivre son allure jusqu’au dernier moment.
Dans le même temps, d’ailleurs, des signes spontanés d’optimisme se manifestèrent. C’est ainsi qu’on enregistra une baisse sensible des prix. Du point de vue de l’économie pure, ce mouvement ne s’expliquait pas. Les difficultés restaient les mêmes, les formalités de quarantaine avaient été maintenues aux portes, et le ravitaillement était loin d’être amélioré. On assistait donc à un phénomène purement moral, comme si le recul de la peste se répercutait partout. En même temps, l’optimisme gagnait ceux qui vivaient auparavant en groupes et que la maladie avait obligés à la séparation. Les deux couvents de la ville commencèrent à se reconstituer et la vie commune put reprendre. Il en fut de même pour les militaires, qu’on rassembla de nouveau dans les casernes restées libres: ils reprirent une vie normale de garnison. Ces petits faits étaient de grands signes.
La population vécut dans cette agitation secrète jusqu’au 25 janvier. Cette semaine-là, les statistiques tombèrent si bas qu’après consultation de la commission médicale, la préfecture annonça que l’épidémie pouvait être considérée comme enrayée. Le communiqué ajoutait, il est vrai, que, dans un esprit de prudence qui ne pouvait manquer d’être approuvé par la population, les portes de la ville resteraient fermées pendant deux semaines encore et les mesures prophylactiques maintenues pendant un mois. Durant cette période, au moindre signe que le péril pouvait reprendre, “le statu quo devait être maintenu et les mesures reconduites au-delà”. Tout le monde, cependant, fut d’accord pour considérer ces additions comme des clauses de style et, le soir du 25 janvier, une joyeuse agitation emplit la ville. Pour s’associer à l’allégresse générale, le préfet donna l’ordre de restituer l’éclairage du temps de la santé. Dans les rues illuminées, sous un ciel froid et pur, nos concitoyens se déversèrent alors en groupes bruyants et rieurs.
Certes, dans beaucoup de maisons, les volets restèrent clos et des familles passèrent en silence cette veillée que d’autres remplissaient de cris. Cependant, pour beaucoup de ces êtres endeuillés, le soulagement aussi était profond, soit que la peur de voir d’autres parents emportés fût enfin calmée, soit que le sentiment de leur conservation personnelle ne fût plus en alerte. Mais les familles qui devaient rester le plus étrangères à la joie générale furent, sans contredit, celles qui, à ce moment même, avaient un malade aux prises avec la peste dans un hôpital et qui, dans les maisons de quarantaine ou chez elles, attendaient que le fléau en eût vraiment fini avec elles, comme il en avait fini avec les autres. Celles-là concevaient certes de l’espoir, mais elles en faisaient une provision qu’elles tenaient en réserve, et dans laquelle elles se défendaient de puiser avant d’en avoir vraiment le droit. Et cette attente, cette veillée silencieuse, à mi-distance de l’agonie et de la joie, leur paraissait plus cruelle encore, au milieu de la jubilation générale.
Mais ces exceptions n’enlevaient rien à la satisfaction des autres. Sans doute, la peste n’était pas encore finie et elle devait le prouver. Pourtant, dans tous les esprits déjà, avec des semaines d’avance, les trains partaient en sifflant sur des voies sans fin et les navires sillonnaient des mers lumineuses. Le lendemain, les esprits seraient plus calmes et les doutes renaîtraient. Mais pour le moment, la ville entière s’ébranlait, quittait ces lieux clos, sombres et immobiles, où elle avait jeté ses racines de pierre, et se mettait enfin en marche avec son chargement de survivants. Ce soir-là, Tarrou et Rieux, Rambert et les autres marchaient au milieu de la foule et sentaient eux aussi le sol manquer sous leurs pas. Longtemps après avoir quitté les boulevards, Tarrou et Rieux entendaient encore cette joie les poursuivre, à l’heure même où dans des ruelles désertes, ils longeaient des fenêtres aux volets clos. Et à cause même de leur fatigue, ils ne pouvaient séparer cette souffrance, qui se prolongeait derrière les volets, de la joie qui emplissait les rues un peu plus loin. La délivrance qui approchait avait un visage mêlé de rires et de larmes.
À un moment où la rumeur se fit plus forte et plus joyeuse, Tarrou s’arrêta. Sur le pavé sombre, une forme courait légèrement. C’était un chat, le premier qu’on eût revu depuis le printemps. Il s’immobilisa un moment au milieu de la chaussée, hésita, lécha sa patte, la passa rapidement sur son oreille droite, reprit sa course silencieuse et disparut dans la nuit. Tarrou sourit. Le petit vieux aussi serait content.
Mais au moment où la peste semblait s’éloigner pour regagner la tanière inconnue d’où elle était sortie en silence, il y avait au moins quelqu’un dans la ville que ce départ jetait dans la consternation, et c’était Cottard, si l’on en croit les carnets de Tarrou.
À vrai dire, ces carnets deviennent assez bizarres à partir du moment où les statistiques commencent à baisser. Est-ce la fatigue, mais l’écriture en devient difficilement lisible et l’on passe trop souvent d’un sujet à l’autre. De plus, et pour la première fois, ces carnets manquent à l’objectivité et font place à des considérations personnelles. On trouve ainsi, au milieu d’assez longs passages concernant le cas de Cottard, un petit rapport sur le vieux aux chats. À en croire Tarrou, la peste n’avait jamais rien enlevé à sa considération pour ce personnage qui l’intéressait après l’épidémie, comme il l’avait intéressé avant et comme, malheureusement, il ne pourrait plus l’intéresser, quoique sa propre bienveillance, à lui, Tarrou, ne fût pas en cause. Car il avait cherché à le revoir. Quelques jours après cette soirée du 25 janvier, il s’était posté au coin de la petite rue. Les chats étaient là, se réchauffant dans les flaques de soleil, fidèles au rendez-vous. Mais à l’heure habituelle, les volets restèrent obstinément fermés. Au cours des jours suivants, Tarrou ne les vit plus jamais ouverts. Il en avait conclu curieusement que le petit vieux était vexé ou mort, que s’il était vexé, c’est qu’il pensait avoir raison et que la peste lui avait fait tort, mais que s’il était mort, il fallait se demander à son propos, comme pour le vieil asthmatique, s’il avait été un saint. Tarrou ne le pensait pas, mais estimait qu’il y avait dans le cas du vieillard une “indication”. “Peut-être, observaient les carnets, ne peut-on aboutir qu’à des approximations de sainteté. Dans ce cas, il faudrait se contenter d’un satanisme modeste et charitable”.
Toujours entremêlées avec les observations concernant Cottard, on trouve aussi dans les carnets de nombreuses remarques, souvent dispersées, dont les unes concernent Grand, maintenant convalescent et qui s’était remis au travail comme si rien n’était arrivé, et dont les autres évoquent la mère du docteur Rieux. Les quelques conversations que la cohabitation autorisait entre celle-ci et Tarrou, des attitudes de la vieille femme, son sourire, ses observations sur la peste, sont notées scrupuleusement. Tarrou insistait surtout sur l’effacement de Mme Rieux ; sur la façon qu’elle avait de tout exprimer en phrases simples ; sur le goût particulier qu’elle montrait pour une certaine fenêtre, donnant sur la rue calme, et derrière laquelle elle s’asseyait le soir, un peu droite, les mains tranquilles et le regard attentif jusqu’à ce que le crépuscule eût envahi la pièce, faisant d’elle une ombre noire dans la lumière grise qui fonçait peu à peu et dissolvait alors la silhouette immobile ; sur la légèreté avec laquelle elle se déplaçait d’une pièce à l’autre ; sur la bonté dont elle n’avait jamais donné de preuves précises devant Tarrou, mais dont il reconnaissait la lueur dans tout ce qu’elle faisait ou disait ; sur le fait enfin que, selon lui, elle connaissait tout sans jamais réfléchir, et qu’avec tant de silence et d’ombre, elle pouvait rester à la hauteur de n’importe quelle lumière, fût-ce celle de la peste. Ici du reste, l’écriture de Tarrou donnait des signes bizarres de fléchissement. Les lignes qui suivaient étaient difficilement lisibles et, comme pour donner une nouvelle preuve de ce fléchissement, les derniers mots étaient les premiers qui fussent personnels: “Ma mère était ainsi, j’aimais en elle le même effacement et c’est elle que j’ai toujours voulu rejoindre. Il y a huit ans, je ne peux pas dire qu’elle soit morte. Elle s’est seulement effacée un peu plus que d’habitude et, quand je me suis retourné, elle n’était plus là”.
Mais il faut en venir à Cottard. Depuis que les statistiques étaient en baisse, celui-ci avait fait plusieurs visites à Rieux, en invoquant divers prétextes. Mais en réalité, chaque fois, il demandait à Rieux des pronostics sur la marche de l’épidémie. “Croyez-vous qu’elle puisse cesser comme ça, d’un coup, sans prévenir?” Il était sceptique sur ce point ou, du moins, il le déclarait. Mais les questions renouvelées qu’il posait semblaient indiquer une conviction moins ferme. À la mi-janvier, Rieux avait répondu de façon assez optimiste. Et chaque fois, ces réponses, au lieu de réjouir Cottard, en avaient tiré des réactions, variables selon les jours, mais qui allaient de la mauvaise humeur à l’abattement. Par la suite, le docteur avait été amené à lui dire que, malgré les indications favorables données par les statistiques, il valait mieux ne pas encore crier victoire.
- Autrement dit, avait observé Cottard, on ne sait rien, ça peut reprendre d’un jour à l’autre?
- Oui, comme il est possible aussi que le mouvement de guérison s’accélère.
Cette incertitude, inquiétante pour tout le monde, avait visiblement soulagé Cottard, et devant Tarrou, il avait engagé avec les commerçants de son quartier des conversations où il essayait de propager l’opinion de Rieux. Il n’avait pas de peine à le faire, il est vrai. Car après la fièvre des premières victoires, dans beaucoup d’esprits un doute était revenu qui devait survivre à l’excitation causée par la déclaration préfectorale. Cot-tard se rassurait au spectacle de cette inquiétude. Comme d’autres fois aussi, il se décourageait. “Oui, disait-il à Tarrou, on finira par ouvrir les portes. Et vous verrez, ils me laisseront tous tomber!”
Jusqu’au 25 janvier, tout le monde remarqua l’instabilité de son caractère. Pendant des jours entiers, après avoir si longtemps cherché à se concilier son quartier et ses relations, il rompait en visière avec eux. En apparence, au moins, il se retirait alors du monde et, du jour au lendemain, se mettait à vivre dans la sauvagerie. On ne le voyait plus au restaurant, ni au théâtre, ni dans les cafés qu’il aimait. Et cependant, il ne semblait pas retrouver la vie mesurée et obscure qu’il menait avant l’épidémie. Il vivait complètement retiré dans son appartement et faisait monter ses repas d’un restaurant voisin. Le soir seulement, il faisait des sorties furtives, achetant ce dont il avait besoin, sortant des magasins pour se jeter dans des rues solitaires. Si Tarrou le rencontrait alors, il ne pouvait tirer de lui que des monosyllabes. Puis, sans transition, on le retrouvait sociable, parlant de la peste avec abondance, sollicitant l’opinion de chacun et replongeant chaque soir avec complaisance dans le flot de la foule.
Le jour de la déclaration préfectorale, Cottard disparut complètement de la circulation. Deux jours après, Tarrou le rencontra, errant dans les rues. Cottard lui demanda de le raccompagner jusqu’au faubourg. Tarrou qui se sentait particulièrement fatigué de sa journée, hésita. Mais l’autre insista. Il paraissait très agité, gesticulant de façon désordonnée, parlant vite et haut. Il demanda à son compagnon s’il pensait que, réellement, la déclaration préfectorale mettait un terme à la peste. Bien entendu, Tarrou estimait qu’une déclaration administrative ne suffisait pas en elle-même à arrêter un fléau, mais on pouvait raisonnablement penser que l’épidémie, sauf imprévu, allait cesser.
- Oui, dit Cottard, sauf imprévu. Et il y a toujours l’imprévu.
Tarrou lui fit remarquer que, d’ailleurs, la préfecture avait prévu en quelque sorte l’imprévu, par l’institution d’un délai de deux semaines avant l’ouverture des portes.
- Et elle a bien fait, dit Cottard, toujours sombre et agité, parce que de la façon dont vont les choses, elle pourrait bien avoir parlé pour rien.
Tarrou estimait la chose possible, mais il pensait qu’il valait mieux cependant envisager la prochaine ouverture des portes et le retour à une vie normale.
- Admettons, lui dit Cottard, admettons, mais qu’appelez-vous le retour à une vie normale?
- De nouveaux films au cinéma, dit Tarrou en souriant.
Mais Cottard ne souriait pas. Il voulait savoir si l’on pouvait penser que la peste ne changerait rien dans la ville et que tout recommencerait comme auparavant, c’est-à-dire comme si rien ne s’était passé. Tarrou pensait que la peste changerait et ne changerait pas la ville, que, bien entendu, le plus fort désir de nos concitoyens était et serait de faire comme si rien n’était changé et que, partant, rien dans un sens ne serait changé, mais que, dans un autre sens, on ne peut pas tout oublier, même avec la volonté nécessaire, et la peste laisserait des traces, au moins dans les cœurs. Le petit rentier déclara tout net qu’il ne s’intéressait pas au cœur et que même le cœur était le dernier de ses soucis. Ce qui l’intéressait, c’était de savoir si l’organisation elle-même ne serait pas transformée, si, par exemple, tous les services fonctionneraient comme par le passé. Et Tarrou dut admettre qu’il n’en savait rien. Selon lui, il fallait supposer que tous ces services, perturbés pendant l’épidémie, auraient un peu de mal à démarrer de nouveau. On pourrait croire aussi que des quantités de nouveaux problèmes se poseraient qui rendraient nécessaire, au moins, une réorganisation des anciens services.
- Ah! dit Cottard, c’est possible, en effet, tout le monde devra tout recommencer.
Les deux promeneurs étaient arrivés près de la maison de Cottard. Celui-ci s’était animé, s’efforçait à l’optimisme. Il imaginait la ville se reprenant à vivre de nouveau, effaçant son passé pour repartir à zéro.
- Bon, dit Tarrou. Après tout, les choses s’arrangeront peut-être pour vous aussi. D’une certaine manière, c’est une vie nouvelle qui va commencer.
Ils étaient devant la porte et se serraient la main.
- Vous avez raison, disait Cottard, de plus en plus agité, repartir à zéro, ce serait une bonne chose.
Mais, de l’ombre du couloir, deux hommes avaient surgi. Tarrou eut à peine le temps d’entendre son compagnon demander ce que pouvaient bien vouloir ces oiseaux-là. Les oiseaux, qui avaient un air de fonctionnaires endimanchés, demandaient en effet à Cottard s’il s’appelait bien Cottard et celui-ci, poussant une sorte d’exclamation sourde, tournait sur lui-même et fonçait déjà dans la nuit sans que les autres, ni Tarrou, eussent le temps d’esquisser un geste. La surprise passée Tarrou demanda aux deux hommes ce qu’ils voulaient. Ils prirent un air réservé et poli pour dire qu’il s’agissait de renseignements et partirent, posément, dans la direction qu’avait prise Cottard.
Rentré chez lui, Tarrou rapportait cette scène et aussitôt (l’écriture le prouvait assez) notait sa fatigue. Il ajoutait qu’il avait encore beaucoup à faire, mais que ce n’était pas une raison pour ne pas se tenir prêt, et se demandait si, justement il était prêt. Il répondait pour finir, et c’est ici que les carnets de Tarrou se terminent, qu’il y avait toujours une heure de la journée et de la nuit où un homme était lâche et qu’il n’avait peur que de cette heure-là.
Le surlendemain, quelques jours avant l’ouverture des portes, le docteur Rieux rentrait chez lui à midi, se demandant s’il allait trouver le télégramme qu’il attendait. Quoique ses journées fussent alors aussi épuisantes qu’au plus fort de la peste, l’attente de la libération définitive avait dissipé toute fatigue chez lui. Il espérait maintenant, et il s’en réjouissait. On ne peut pas toujours tendre sa volonté et toujours se raidir, et c’est un bonheur que de délier enfin, dans l’effusion, cette gerbe de forces tressées pour la lutte. Si le télégramme attendu était, lui aussi, favorable, Rieux pourrait recommencer. Et il était d’avis que tout le monde recommençât.
Il passait devant la loge. Le nouveau concierge, collé contre le carreau, lui souriait. Remontant l’escalier, Rieux revoyait son visage, blêmi par les fatigues et les privations.
Oui, il recommencerait quand l’abstraction serait finie, et avec un peu de chance. Mais il ouvrait sa porte au même moment et sa mère vint à sa rencontre lui annoncer que M. Tarrou n’allait pas bien. Il s’était levé le matin, mais n’avait pu sortir et venait de se recoucher. Mme Rieux était inquiète.
- Ce n’est peut-être rien de grave, dit son fils.
Tarrou était étendu de tout son long, sa lourde tête creusait le traversin, la poitrine forte se dessinait sous l’épaisseur des couvertures. Il avait de la fièvre, sa tête le faisait souffrir. Il dit à Rieux qu’il s’agissait de symptômes vagues qui pouvaient être aussi bien ceux de la peste.
- Non, rien de précis encore, dit Rieux après l’avoir examiné.
Mais Tarrou était dévoré par la soif. Dans le couloir, le docteur dit à sa mère que ce pouvait être le commencement de la peste.
- Oh! dit-elle, ce n’est pas possible, pas maintenant!
Et tout de suite après :
- Gardons-le, Bernard.
Rieux réfléchissait :
- Je n’en ai pas le droit, dit-il. Mais les portes vont s’ouvrir. Je crois bien que c’est le premier droit que je prendrais pour moi, si tu n’étais pas là.
- Bernard, dit-elle, garde-nous tous les deux. Tu sais bien que je viens d’être de nouveau vaccinée.
Le docteur dit que Tarrou aussi l’était mais que, peut-être, par fatigue, il avait dû laisser passer la dernière injection de sérum et oublier quelques précautions.
Rieux allait déjà dans son cabinet. Quand il revint dans la chambre, Tarrou vit qu’il tenait les énormes ampoules de sérum.
- Ah! c’est cela, dit-il.
- Non, mais c’est une précaution.
Tarrou tendit son bras pour toute réponse et il subit l’interminable injection qu’il avait lui-même pratiquée sur d’autres malades.
- Nous verrons ce soir, dit Rieux, et il regarda Tarrou en
face.
- Et l’isolement, Rieux?
- Il n’est pas du tout sûr que vous ayez la peste.
Tarrou sourit avec effort.
- C’est la première fois que je vois injecter un sérum sans ordonner en même temps l’isolement.
Rieux se détourna :
- Ma mère et moi, nous vous soignerons. Vous serez mieux
ici.
Tarrou se tut et le docteur, qui rangeait les ampoules, attendit qu’il parlât pour se retourner. À la fin, il se dirigea vers le lit. Le malade le regardait. Son visage était fatigué, mais ses yeux gris étaient calmes. Rieux lui sourit.
- Dormez si vous le pouvez. Je reviendrai tout à l’heure.
Arrivé à la porte, il entendit la voix de Tarrou qui l’appelait. Il retourna vers lui.
Mais Tarrou semblait se débattre contre l’expression même de ce qu’il avait à dire :
- Rieux, articula-t-il enfin, il faudra tout me dire, j’en ai besoin.
- Je vous le promets.
L’autre tordit un peu son visage massif dans un sourire.
- Merci. Je n’ai pas envie de mourir et je lutterai. Mais si la partie est perdue, je veux faire une bonne fin.
Rieux se baissa et lui serra l’épaule.
- Non, dit-il. Pour devenir un saint, il faut vivre. Luttez.
Dans la journée, le froid qui avait été vif diminua un peu, mais pour faire place, l’après-midi, à de violentes averses de pluie et de grêle. Au crépuscule, le ciel se découvrit un peu et le froid se fit plus pénétrant. Rieux revint chez lui dans la soirée. Sans quitter son pardessus, il entra dans la chambre de son ami. Sa mère tricotait. Tarrou semblait n’avoir pas bougé de place, mais ses lèvres, blanchies par la fièvre, disaient la lutte qu’il était en train de soutenir.
- Alors? dit le docteur.
Tarrou haussa un peu, hors du lit, ses épaules épaisses.
- Alors, dit-il, je perds la partie.
Le docteur se pencha sur lui. Des ganglions s’étaient noués sous la peau brûlante, sa poitrine semblait retentir de tous les bruits d’une forge souterraine. Tarrou présentait curieusement les deux séries de symptômes. Rieux dit en se relevant que le sérum n’avait pas encore eu le temps de donner tout son effet. Mais un flot de fièvre qui vint rouler dans sa gorge noya les quelques mots que Tarrou essaya de prononcer.
Après dîner, Rieux et sa mère vinrent s’installer près du malade. La nuit commençait pour lui dans la lutte et Rieux savait que ce dur combat avec l’ange de la peste devait durer jusqu’à l’aube. Les épaules solides et la large poitrine de Tarrou n’étaient pas ses meilleures armes, mais plutôt ce sang que Rieux avait fait jaillir tout à l’heure sous son aiguille, et, dans ce sang, ce qui était plus intérieur que l’âme et qu’aucune science ne pouvait mettre à jour. Et lui devait seulement regarder lutter son ami. Ce qu’il allait faire, les abcès qu’il devait favoriser, les toniques qu’il fallait inoculer, plusieurs mois d’échecs répétés lui avaient appris à en apprécier l’efficacité. Sa seule tâche, en vérité, était de donner des occasions à ce hasard qui trop souvent ne se dérange que provoqué. Et il fallait que le hasard se dérangeât. Car Rieux se trouvait devant un visage de la peste qui le déconcertait. Une fois de plus, elle s’appliquait à dérouter les stratégies dressées contre elle, elle apparaissait aux lieux où on ne l’attendait pas pour disparaître de ceux où elle semblait déjà installée. Une fois de plus, elle s’appliquait à étonner.
Tarrou luttait, immobile. Pas une seule fois, au cours de la nuit, il n’opposa l’agitation aux assauts du mal, combattant seulement de toute son épaisseur et de tout son silence. Mais pas une seule fois, non plus, il ne parla, avouant ainsi, à sa manière, que la distraction ne lui était plus possible. Rieux suivait seulement les phases du combat aux yeux de son ami, tour à tour ouverts ou fermés, les paupières plus serrées contre le globe de l’œil ou, au contraire, distendues, le regard fixé sur un objet ou ramené sur le docteur et sa mère. Chaque fois que le docteur rencontrait ce regard, Tarrou souriait, dans un grand effort.
À un moment, on entendit des pas précipités dans la rue. Ils semblaient s’enfuir devant un grondement lointain qui se rapprocha peu à peu et finit par remplir la rue de son ruissellement: la pluie reprenait, bientôt mêlée d’une grêle qui claquait sur les trottoirs. Les grandes tentures ondulèrent devant les fenêtres. Dans l’ombre de la pièce, Rieux, un instant distrait par la pluie, contemplait à nouveau Tarrou, éclairé par une lampe de chevet. Sa mère tricotait, levant de temps en temps la tête pour regarder attentivement le malade. Le docteur avait fait maintenant tout ce qu’il y avait à faire. Après la pluie, le silence s’épaissit dans la chambre, pleine seulement du tumulte muet d’une guerre invisible. Crispé par l’insomnie, le docteur imaginait entendre, aux limites du silence, le sifflement doux et régulier qui l’avait accompagné pendant toute l’épidémie. Il fit un signe à sa mère pour l’engager à se coucher. Elle refusa de la tête, et ses yeux s’éclairèrent, puis elle examina soigneusement, au bout de ses aiguilles, une maille dont elle n’était pas sûre. Rieux se leva pour faire boire le malade, et revint s’asseoir.
Des passants, profitant de l’accalmie, marchaient rapidement sur le trottoir. Leurs pas décroissaient et s’éloignaient. Le docteur, pour la première fois, reconnut que cette nuit, pleine de promeneurs tardifs et privée des timbres d’ambulances, était semblable à celles d’autrefois. C’était une nuit délivrée de la peste. Et il semblait que la maladie chassée par le froid, les lumières et la foule, se fût échappée des profondeurs obscures de la ville et réfugiée dans cette chambre chaude pour donner son ultime assaut au corps inerte de Tarrou. Le fléau ne brassait plus le ciel de la ville. Mais il sifflait doucement dans l’air lourd de la chambre. C’était lui que Rieux entendait depuis des heures. Il fallait attendre que là aussi il s’arrêtât, que là aussi la peste se déclarât vaincue.
Peu avant l’aube, Rieux se pencha vers sa mère :
- Tu devrais te coucher pour pouvoir me relayer à huit heures. Fais des instillations avant de te coucher.
Mme Rieux se leva, rangea son tricot et s’avança vers le lit. Tarrou, depuis quelque temps déjà, tenait ses yeux fermés. La sueur bouclait ses cheveux sur le front dur. Mme Rieux soupira et le malade ouvrit les yeux. Il vit le visage doux penché vers lui et, sous les ondes mobiles de la fièvre, le sourire tenace reparut encore. Mais les yeux se fermèrent aussitôt. Resté seul, Rieux s’installa dans le fauteuil que venait de quitter sa mère. La rue était muette et le silence maintenant complet. Le froid du matin commençait à se faire sentir dans la pièce.
Le docteur s’assoupit, mais la première voiture de l’aube le tira de sa somnolence. Il frissonna et, regardant Tarrou, il comprit qu’une pause avait eu lieu et que le malade dormait aussi. Les roues de bois et de fer de la voiture à cheval roulaient encore dans l’éloignement. À la fenêtre, le jour était encore noir. Quand le docteur avança vers le lit, Tarrou le regardait de ses yeux sans expression, comme s’il se trouvait encore du côté du sommeil.
- Vous avez dormi, n’est-ce pas? demanda Rieux.
- Oui.
- Respirez-vous mieux?
- Un peu. Cela veut-il dire quelque chose?
Rieux se tut et, au bout d’un moment :
- Non, Tarrou, cela ne veut rien dire. Vous connaissez comme moi la rémission matinale.
Tarrou approuva.
- Merci, dit-il. Répondez-moi toujours exactement.
Rieux s’était assis au pied du lit. Il sentait près de lui les jambes du malade, longues et dures comme des membres de gisant. Tarrou respirait plus fortement.
- La fièvre va reprendre, n’est-ce pas, Rieux, dit-il d’une voix essoufflée.
- Oui, mais à midi, nous serons fixés.
Tarrou ferma les yeux, semblant recueillir ses forces. Une expression de lassitude se lisait sur ses traits. Il attendait la montée de la fièvre qui remuait déjà, quelque part, au fond de lui. Quand il ouvrit les yeux, son regard était terni. Il ne s’éclaircit qu’en apercevant Rieux penché près de lui.
- Buvez, disait celui-ci.
L’autre but et laissa retomber sa tête.
- C’est long, dit-il.
Rieux lui prit le bras, mais Tarrou, le regard détourné, ne réagissait plus. Et soudain, la fièvre reflua visiblement jusqu’à son front comme si elle avait crevé quelque digue intérieure. Quand le regard de Tarrou revint vers le docteur, celui-ci l’encourageait de son visage tendu. Le sourire que Tarrou essaya encore de former ne put passer au-delà des maxillaires serrés et des lèvres cimentées par une écume blanchâtre. Mais, dans la face durcie, les yeux brillèrent encore de tout l’éclat du courage.
À sept heures, Mme Rieux entra dans la pièce. Le docteur regagna son bureau pour téléphoner à l’hôpital et pourvoir à son remplacement. Il décida aussi de remettre ses consultations, s’étendit un moment sur le divan de son cabinet, mais se leva presque aussitôt et revint dans la chambre. Tarrou avait la tête tournée vers Mme Rieux. Il regardait la petite ombre tassée près de lui, sur une chaise, les mains jointes sur les cuisses. Et il la contemplait avec tant d’intensité que Mme Rieux mit un doigt sur ses lèvres et se leva pour éteindre la lampe de chevet. Mais derrière les rideaux, le jour filtrait rapidement et, peu après, quand les traits du malade émergèrent de l’obscurité, Mme Rieux put voir qu’il la regardait toujours. Elle se pencha vers lui, redressa son traversin, et, en se relevant, posa un instant sa main sur les cheveux mouillés et tordus. Elle entendit alors une voix assourdie, venue de loin, lui dire merci et que maintenant tout était bien. Quand elle fut assise à nouveau, Tarrou avait fermé les yeux et son visage épuisé, malgré la bouche scellée, semblait sourire à nouveau.
À midi, la fièvre était à son sommet. Une sorte de toux viscérale secouait le corps du malade qui commença seulement à cracher du sang. Les ganglions avaient cessé d’enfler. Ils étaient toujours là, durs comme des écrous, vissés dans le creux des articulations, et Rieux jugea impossible de les ouvrir. Dans les intervalles de la fièvre et de la toux, Tarrou de loin en loin regardait encore ses amis. Mais, bientôt, ses yeux s’ouvrirent de moins en moins souvent, et la lumière qui venait alors éclairer sa face dévastée se fit plus pâle à chaque fois. L’orage qui secouait ce corps de soubresauts convulsifs l’illuminait d’éclairs de plus en plus rares et Tarrou dérivait lentement au fond de cette tempête. Rieux n’avait plus devant lui qu’un masque désormais inerte, où le sourire avait disparu. Cette forme humaine qui lui avait été si proche, percée maintenant de coups d’épieu, brûlée par un mal surhumain, tordue par tous les vents haineux du ciel, s’immergeait à ses yeux dans les eaux de la peste et il ne pouvait rien contre ce naufrage. Il devait rester sur le rivage, les mains vides et le cœur tordu, sans armes et sans recours, une fois de plus, contre ce désastre. Et à la fin, ce furent bien les larmes de l’impuissance qui empêchèrent Rieux de voir Tarrou se tourner brusquement contre le mur, et expirer dans une plainte creuse, comme si, quelque part en lui, une corde essentielle s’était rompue.
La nuit qui suivit ne fut pas celle de la lutte, mais celle du silence. Dans cette chambre retranchée du monde, au-dessus de ce corps mort maintenant habillé, Rieux sentit planer le calme surprenant qui, bien des nuits auparavant, sur les terrasses au-dessus de la peste, avait suivi l’attaque des portes. Déjà, à cette époque, il avait pensé à ce silence qui s’élevait des lits où il avait laissé mourir des hommes. C’était partout la même pause, le même intervalle solennel, toujours le même apaisement qui suivait les combats, c’était le silence de la défaite. Mais pour celui qui enveloppait maintenant son ami, il était si compact, il s’accordait si étroitement au silence des rues et de la ville libérée de la peste, que Rieux sentait bien qu’il s’agissait cette fois de la défaite définitive, celle qui termine les guerres et fait de la paix elle-même une souffrance sans guérison. Le docteur ne savait pas si, pour finir, Tarrou avait retrouvé la paix, mais, dans ce moment tout au moins, il croyait savoir qu’il n’y aurait jamais plus de paix possible pour lui-même, pas plus qu’il n’y a d’armistice pour la mère amputée de son fils ou pour l’homme qui ensevelit son ami.
Au-dehors, c’était la même nuit froide, des étoiles gelées dans un ciel clair et glacé. Dans la chambre à demi obscure, on sentait le froid qui pesait aux vitres, la grande respiration blême d’une nuit polaire. Près du lit, Mme Rieux se tenait assise, dans son attitude familière, le côté droit éclairé par la lampe de chevet. Au centre de la pièce, loin de la lumière, Rieux attendait dans son fauteuil. La pensée de sa femme lui venait, mais il la rejetait chaque fois.
Au début de la nuit, les talons des passants avaient sonné clair dans la nuit froide.
- Tu t’es occupé de tout? avait dit Mme Rieux.
- Oui, j’ai téléphoné.
Ils avaient alors repris leur veillée silencieuse. Mme Rieux regardait de temps en temps son fils. Quand il surprenait un de ces regards, il lui souriait. Les bruits familiers de la nuit s’étaient succédé dans la rue. Quoique l’autorisation ne fût pas encore accordée, bien des voitures circulaient à nouveau. Elles suçaient rapidement le pavé, disparaissaient et reparaissaient ensuite. Des voix, des appels, le silence revenu, le pas d’un cheval, deux tramways grinçant dans une courbe, des rumeurs imprécises, et à nouveau la respiration de la nuit.
- Bernard?
- Oui.
- Tu n’es pas fatigué?
- Non.
Il savait ce que sa mère pensait et qu’elle l’aimait, en ce moment. Mais il savait aussi que ce n’est pas grand-chose que d’aimer un être ou du moins qu’un amour n’est jamais assez fort pour trouver sa propre expression. Ainsi, sa mère et lui s’aimeraient toujours dans le silence. Et elle mourrait à son tour
- ou lui - sans que, pendant toute leur vie, ils pussent aller plus loin dans l’aveu de leur tendresse. De la même façon, il avait vécu à côté de Tarrou et celui-ci était mort, ce soir, sans que leur amitié ait eu le temps d’être vraiment vécue. Tarrou avait perdu la partie, comme il disait. Mais lui, Rieux, qu’avait-il gagné? Il avait seulement gagné d’avoir connu la peste et de s’en souvenir, d’avoir connu l’amitié et de s’en souvenir, de connaître la tendresse et de devoir un jour s’en souvenir. Tout ce que l’homme pouvait gagner au jeu de la peste et de la vie, c’était la connaissance et la mémoire. Peut-être était-ce cela que Tarrou appelait gagner la partie!
De nouveau, une auto passa et Mme Rieux remua un peu sur sa chaise. Rieux lui sourit. Elle lui dit qu’elle n’était pas fatiguée et tout de suite après :
- Il faudra que tu ailles te reposer en montagne, là-bas.
- Bien sûr, maman.
Oui, il se reposerait là-bas. Pourquoi pas? Ce serait aussi un prétexte à mémoire. Mais si c’était cela, gagner la partie, qu’il devait être dur de vivre seulement avec ce qu’on sait et ce dont on se souvient, et privé de ce qu’on espère. C’était ainsi sans doute qu’avait vécu Tarrou et il était conscient de ce qu’il y a de stérile dans une vie sans illusions. Il n’y a pas de paix sans espérance, et Tarrou qui refusait aux hommes le droit de condamner quiconque, qui savait pourtant que personne ne peut s’empêcher de condamner et que même les victimes se trouvaient être parfois des bourreaux, Tarrou avait vécu dans le déchirement et la contradiction, il n’avait jamais connu l’espérance. Était-ce pour cela qu’il avait voulu la sainteté et cherché la paix dans le service des hommes? À la vérité, Rieux n’en savait rien et cela importait peu. Les seules images de Tar-rou qu’il garderait seraient celles d’un homme qui prenait le volant de son auto à pleines mains pour le conduire ou celles de ce corps épais, étendu maintenant sans mouvement. Une chaleur de vie et une image de mort, c’était cela la connaissance.
Voilà pourquoi, sans doute, le docteur Rieux, au matin, reçut avec calme la nouvelle de la mort de sa femme. Il était dans son bureau. Sa mère était venue presque en courant lui apporter un télégramme, puis elle était sortie pour donner un pourboire au porteur. Quand elle revint, son fils tenait à la main le télégramme ouvert. Elle le regarda, mais il contemplait obstinément, par la fenêtre, un matin magnifique qui se levait sur le port.
- Bernard, dit Mme Rieux.
Le docteur l’examina d’un air distrait.
- Le télégramme? demanda-t-elle.
- C’est cela, reconnut le docteur. Il y a huit jours.
Mme Rieux détourna la tête vers la fenêtre. Le docteur se taisait. Puis il dit à sa mère de ne pas pleurer, qu’il s’y attendait, mais que c’était quand même difficile. Simplement, il savait, disant cela, que sa souffrance était sans surprise. Depuis des mois et depuis deux jours, c’était la même douleur qui continuait.
Les portes de la ville s’ouvrirent enfin, à l’aube d’une belle matinée de février, saluées par le peuple, les journaux, la radio et les communiqués de la préfecture. Il reste donc au narrateur à se faire le chroniqueur des heures de joie qui suivirent cette ouverture des portes, bien que lui-même fût de ceux qui n’avaient pas la liberté de s’y mêler tout entiers.
De grandes réjouissances étaient organisées pour la journée et pour la nuit. En même temps, les trains commencèrent à fumer en gare pendant que, venus de mers lointaines, des navires mettaient déjà le cap sur notre port, marquant à leur manière que ce jour était, pour tous ceux qui gémissaient d’être séparés, celui de la grande réunion.
On imaginera facilement ici ce que put devenir le sentiment de la séparation qui avait habité tant de nos concitoyens. Les trains qui, pendant la journée, entrèrent dans notre ville n’étaient pas moins chargés que ceux qui en sortirent. Chacun avait retenu sa place pour ce jour-là, au cours des deux semaines de sursis, tremblant qu’au dernier moment la décision préfectorale fût annulée. Certains des voyageurs qui approchaient de la ville n’étaient d’ailleurs pas tout à fait débarrassés de leur appréhension, car s’ils connaissaient en général le sort de ceux qui les touchaient de près, ils ignoraient tout des autres et de la ville elle-même, à laquelle ils prêtaient un visage redoutable. Mais ceci n’était vrai que pour ceux que la passion n’avait pas brûlés pendant tout cet espace de temps.
Les passionnés, en effet, étaient livrés à leur idée fixe. Une seule chose avait changé pour eux: ce temps que, pendant les mois de leur exil, ils auraient voulu pousser pour qu’il se pressât, qu’ils s’acharnaient à précipiter encore, alors qu’ils se trouvaient déjà en vue de notre ville, ils souhaitèrent le ralentir au contraire et le tenir suspendu, dès que le train commença de freiner avant l’arrêt. Le sentiment, à la fois vague et aigu en eux, de tous ces mois de vie perdus pour leur amour, leur faisait confusément exiger une sorte de compensation par laquelle le temps de la joie aurait coulé deux fois moins vite que celui de l’attente. Et ceux qui les attendaient dans une chambre ou sur le quai, comme Rambert, dont la femme, prévenue depuis des semaines, avait fait ce qu’il fallait pour arriver, étaient dans la même impatience et le même désarroi. Car cet amour ou cette tendresse que les mois de peste avaient réduits à l’abstraction, Rambert attendait, dans un tremblement, de les confronter avec l’être de chair qui en avait été le support.
Il aurait souhaité redevenir celui qui, au début de l’épidémie, voulait courir d’un seul élan hors de la ville et s’élancer à la rencontre de celle qu’il aimait. Mais il savait que cela n’était plus possible. Il avait changé, la peste avait mis en lui une distraction que, de toutes ses forces, il essayait de nier, et qui, cependant, continuait en lui comme une sourde angoisse. Dans un sens, il avait le sentiment que la peste avait fini trop brutalement, il n’avait pas sa présence d’esprit. Le bonheur arrivait à toute allure, l’événement allait plus vite que l’attente. Rambert comprenait que tout lui serait rendu d’un coup et que la joie est une brûlure qui ne se savoure pas.
Tous, du reste, plus ou moins consciemment, étaient comme lui et c’est de tous qu’il faut parler. Sur ce quai de gare où ils recommençaient leur vie personnelle, ils sentaient encore leur communauté en échangeant entre eux des coups d’œil et des sourires. Mais leur sentiment d’exil, dès qu’ils virent la fumée du train, s’éteignit brusquement sous l’averse d’une joie confuse et étourdissante. Quand le train s’arrêta, des séparations interminables, qui avaient souvent commencé sur ce même quai de gare, y prirent fin, en une seconde, au moment où des bras se refermèrent avec une avarice exultante sur des corps dont ils avaient oublié la forme vivante. Rambert, lui, n’eut pas le temps de regarder cette forme courant vers lui, que déjà, elle s’abattait contre sa poitrine. Et la tenant à pleins bras, serrant contre lui une tête dont il ne voyait que les cheveux familiers, il laissa couler ses larmes sans savoir si elles venaient de son bonheur présent ou d’une douleur trop longtemps réprimée, assuré du moins qu’elles l’empêcheraient de vérifier si ce visage enfoui au creux de son épaule était celui dont il avait tant rêvé ou au contraire celui d’une étrangère. Il saurait plus tard si son soupçon était vrai. Pour le moment, il voulait faire comme tous ceux qui avaient l’air de croire, autour de lui, que la peste peut venir et repartir sans que le cœur des hommes en soit changé.
Serrés les uns contre les autres, tous rentrèrent alors chez eux, aveugles au reste du monde, triomphant en apparence de la peste, oublieux de toute misère et de ceux qui, venus aussi par le même train, n’avaient trouvé personne et se disposaient à recevoir chez eux la confirmation des craintes qu’un long silence avait déjà fait naître dans leur cœur. Pour ces derniers, qui n’avaient maintenant pour compagnie que leur douleur toute fraîche, pour d’autres qui se vouaient, à ce moment, au souvenir d’un être disparu, il en allait tout autrement et le sentiment de la séparation avait atteint son sommet. Pour ceux-là, mères, époux, amants qui avaient perdu toute joie avec l’être maintenant égaré dans une fosse anonyme ou fondu dans un tas de cendre, c’était toujours la peste.
Mais qui pensait à ces solitudes? À midi, le soleil, triomphant des souffles froids qui luttaient dans l’air depuis le matin, déversait sur la ville les flots ininterrompus d’une lumière immobile. Le jour était en arrêt. Les canons des forts, au sommet des collines, tonnèrent sans interruption dans le ciel fixe. Toute la ville se jeta dehors pour fêter cette minute oppressée où le temps des souffrances prenait fin et où le temps de l’oubli n’avait pas encore commencé.
On dansait sur toutes les places. Du jour au lendemain, la circulation avait considérablement augmenté et les automobiles, devenues plus nombreuses, circulaient difficilement dans les rues envahies. Les cloches de la ville sonnèrent à la volée, pendant tout l’après-midi. Elles remplissaient de leurs vibrations un ciel bleu et doré. Dans les églises, en effet, des actions de grâces étaient récitées. Mais, en même temps, les lieux de réjouissance étaient pleins à craquer et les cafés, sans se soucier de l’avenir, distribuaient leurs derniers alcools. Devant leurs comptoirs, se pressait une foule de gens pareillement excités et, parmi eux, de nombreux couples enlacés qui ne craignaient pas de se donner en spectacle. Tous criaient ou riaient. La provision de vie qu’ils avaient faite pendant ces mois où chacun avait mis son âme en veilleuse, ils la dépensaient ce jour-là qui était comme le jour de leur survie. Le lendemain, commencerait la vie elle-même, avec ses précautions. Pour le moment, des gens d’origines très différentes se coudoyaient et fraternisaient. L’égalité que la présence de la mort n’avait pas réalisée en fait, la joie de la délivrance l’établissait, au moins pour quelques heures.
Mais cette banale exubérance ne disait pas tout et ceux qui remplissaient les rues à la fin de l’après-midi, aux côtés de Rambert, déguisaient souvent, sous une attitude placide, des bonheurs plus délicats. Bien des couples et bien des familles, en effet, n’avaient pas d’autre apparence que celle de promeneurs pacifiques. En réalité, la plupart effectuaient des pèlerinages délicats aux lieux où ils avaient souffert. Il s’agissait de montrer aux nouveaux venus les signes éclatants ou cachés de la peste, les vestiges de son histoire. Dans quelques cas, on se contentait de jouer au guide, à celui qui a vu beaucoup de choses, au contemporain de la peste, et on parlait du danger sans évoquer la peur. Ces plaisirs étaient inoffensifs. Mais dans d’autres cas, il s’agissait d’itinéraires plus frémissants où un amant, abandonné à la douce angoisse du souvenir, pouvait dire à sa compagne: “En ce lieu, à cette époque, je t’ai désirée et tu n’étais pas là”. Ces touristes de la passion pouvaient alors se reconnaître: ils formaient des îlots de chuchotements et de confidences au milieu du tumulte où ils cheminaient. Mieux que les orchestres aux carrefours, c’étaient eux qui annonçaient la vraie délivrance. Car ces couples ravis, étroitement ajustés et avares de paroles, affirmaient au milieu du tumulte, avec tout le triomphe et l’injustice du bonheur, que la peste était finie et que la terreur avait fait son temps. Ils niaient tranquillement, contre toute évidence, que nous ayons jamais connu ce monde insensé où le meurtre d’un homme était aussi quotidien que celui des mouches, cette sauvagerie bien définie, ce délire calculé, cet emprisonnement qui apportait avec lui une affreuse liberté à l’égard de tout ce qui n’était pas le présent, cette odeur de mort qui stupéfiait tous ceux qu’elle ne tuait pas, ils niaient enfin que nous ayons été ce peuple abasourdi dont tous les jours une partie, entassée dans la gueule d’un four, s’évaporait en fumées grasses, pendant que l’autre, chargée des chaînes de l’impuissance et de la peur, attendait son tour.
C’était là, en tout cas, ce qui éclatait aux yeux du docteur Rieux qui, cherchant à gagner les faubourgs, cheminait seul, à la fin de l’après-midi, au milieu des cloches, du canon, des musiques et des cris assourdissants. Son métier continuait, il n’y a pas de congé pour les malades. Dans la belle lumière fine qui descendait sur la ville, s’élevaient les anciennes odeurs de viande grillée et d’alcool anisé. Autour de lui des faces hilares se renversaient contre le ciel. Des hommes et des femmes s’agrippaient les uns aux autres, le visage enflammé, avec tout l’énervement et le cri du désir. Oui, la peste était finie, avec la terreur, et ces bras qui se nouaient disaient en effet qu’elle avait été exil et séparation, au sens profond du terme.
Pour la première fois, Rieux pouvait donner un nom à cet air de famille qu’il avait lu, pendant des mois, sur tous les visages des passants. Il lui suffisait maintenant de regarder autour de lui. Arrivés à la fin de la peste, avec la misère et les privations, tous ces hommes avaient fini par prendre le costume du rôle qu’ils jouaient déjà depuis longtemps, celui d’émigrants dont le visage d’abord, les habits maintenant, disaient l’absence et la patrie lointaine. À partir du moment où la peste avait fermé les portes de la ville, ils n’avaient plus vécu que dans la séparation, ils avaient été retranchés de cette chaleur humaine qui fait tout oublier. À des degrés divers, dans tous les coins de la ville, ces hommes et ces femmes avaient aspiré à une réunion qui n’était pas, pour tous, de la même nature, mais qui, pour tous, était également impossible. La plupart avaient crié de toutes leurs forces vers un absent, la chaleur d’un corps, la tendresse ou l’habitude. Quelques-uns, souvent sans le savoir, souffraient d’être placés hors de l’amitié des hommes, de n’être plus à même de les rejoindre par les moyens ordinaires de l’amitié qui sont les lettres, les trains et les bateaux. D’autres, plus rares, comme Tarrou peut-être, avaient désiré la réunion avec quelque chose qu’ils ne pouvaient pas définir, mais qui leur paraissait le seul bien désirable. Et faute d’un autre nom, ils l’appelaient quelquefois la paix.
Rieux marchait toujours. À mesure qu’il avançait, la foule grossissait autour de lui, le vacarme s’enflait et il lui semblait que les faubourgs qu’il voulait atteindre reculaient d’autant. Peu à peu, il se fondait dans ce grand corps hurlant dont il comprenait de mieux en mieux le cri qui, pour une part au moins, était son cri. Oui, tous avaient souffert ensemble, autant dans leur chair que dans leur âme, d’une vacance difficile, d’un exil sans remède et d’une soif jamais contentée. Parmi ces amoncellements de morts, les timbres des ambulances, les avertissements de ce qu’il est convenu d’appeler le destin, le piétinement obstiné de la peur et la terrible révolte de leur cœur, une grande rumeur n’avait cessé de courir et d’alerter ces êtres épouvantés, leur disant qu’il fallait retrouver leur vraie patrie. Pour eux tous, la vraie patrie se trouvait au-delà des murs de cette ville étouffée. Elle était dans ces broussailles odorantes sur les collines, dans la mer, les pays libres et le poids de l’amour. Et c’était vers elle, c’était vers le bonheur, qu’ils voulaient revenir, se détournant du reste avec dégoût.
Quant au sens que pouvaient avoir cet exil et ce désir de réunion, Rieux n’en savait rien. Marchant toujours, pressé de toutes parts, interpellé, il arrivait peu à peu dans des rues moins encombrées et pensait qu’il n’est pas important que ces choses aient un sens ou non, mais qu’il faut voir seulement ce qui est répondu à l’espoir des hommes.
Lui savait désormais ce qui était répondu et il l’apercevait mieux dans les premières rues des faubourgs, presque désertes. Ceux qui, s’en tenant au peu qu’ils étaient, avaient désiré seulement retourner dans la maison de leur amour, étaient quelquefois récompensés. Certes, quelques-uns d’entre eux continuaient de marcher dans la ville, solitaires, privés de l’être qu’ils attendaient. Heureux encore ceux qui n’avaient pas été deux fois séparés comme certains qui, avant l’épidémie, n’avaient pu construire, du premier coup, leur amour, et qui avaient aveuglément poursuivi, pendant des années, le difficile accord qui finit par sceller l’un à l’autre des amants ennemis. Ceux-là avaient eu, comme Rieux lui-même, la légèreté de compter sur le temps: ils étaient séparés pour jamais. Mais d’autres, comme Rambert, que le docteur avait quitté le matin même en lui disant: “Courage, c’est maintenant qu’il faut avoir raison”, avaient retrouvé sans hésiter l’absent qu’ils avaient cru perdu. Pour quelque temps au moins, ils seraient heureux. Ils savaient maintenant que s’il est une chose qu’on puisse désirer toujours et obtenir quelquefois, c’est la tendresse humaine.
Pour tous ceux, au contraire, qui s’étaient adressés pardessus l’homme à quelque chose qu’ils n’imaginaient même pas, il n’y avait pas eu de réponse. Tarrou avait semblé rejoindre cette paix difficile dont il avait parlé, mais il ne l’avait trouvée que dans la mort, à l’heure où elle ne pouvait lui servir de rien. Si d’autres, au contraire, que Rieux apercevait sur les seuils des maisons, dans la lumière déclinante, enlacés de toutes leurs forces et se regardant avec emportement, avaient obtenu ce qu’ils voulaient, c’est qu’ils avaient demandé la seule chose qui dépendît d’eux. Et Rieux, au moment de tourner dans la rue de Grand et de Cottard, pensait qu’il était juste que, de temps en temps au moins, la joie vînt récompenser ceux qui se suffisent de l’homme et de son pauvre et terrible amour.
Cette chronique touche à sa fin. Il est temps que le docteur Bernard Rieux avoue qu’il en est l’auteur. Mais avant d’en retracer les derniers événements, il voudrait au moins justifier son intervention et faire comprendre qu’il ait tenu à prendre le ton du témoin objectif. Pendant toute la durée de la peste, son métier l’a mis à même de voir la plupart de ses concitoyens, et de recueillir leur sentiment. Il était donc bien placé pour rapporter ce qu’il avait vu et entendu. Mais il a voulu le faire avec la retenue désirable. D’une façon générale, il s’est appliqué à ne pas rapporter plus de choses qu’il n’en a pu voir, à ne pas prêter à ses compagnons de peste des pensées qu’en somme ils n’étaient pas forcés de former, et à utiliser seulement les textes que le hasard ou le malheur lui avaient mis entre les mains.
Étant appelé à témoigner, à l’occasion d’une sorte de crime, il a gardé une certaine réserve, comme il convient à un témoin de bonne volonté. Mais en même temps, selon la loi d’un cœur honnête, il a pris délibérément le parti de la victime et a voulu rejoindre les hommes, ses concitoyens, dans les seules certitudes qu’ils aient en commun, et qui sont l’amour, la souffrance et l’exil. C’est ainsi qu’il n’est pas une des angoisses de ses concitoyens qu’il n’ait partagée, aucune situation qui n’ait été aussi la sienne.
Pour être un témoin fidèle, il devait rapporter surtout les actes, les documents et les rumeurs. Mais ce que, personnellement, il avait à dire, son attente, ses épreuves, il devait les taire. S’il s’en est servi, c’est seulement pour comprendre ou faire comprendre ses concitoyens et pour donner une forme, aussi précise que possible, à ce que, la plupart du temps, ils ressentaient confusément. À vrai dire, cet effort de raison ne lui a guère coûté. Quand il se trouvait tenté de mêler directement sa confidence aux mille voix des pestiférés, il était arrêté par la pensée qu’il n’y avait pas une de ses souffrances qui ne fût en même temps celle des autres et que dans un monde où la douleur est si souvent solitaire, cela était un avantage. Décidément, il devait parler pour tous.
Mais il est un de nos concitoyens au moins pour lequel le docteur Rieux ne pouvait parler. Il s’agit, en effet, de celui dont Tarrou avait dit un jour à Rieux: “Son seul vrai crime, c’est d’avoir approuvé dans son cœur ce qui faisait mourir des enfants et des hommes. Le reste, je le comprends, mais ceci, je suis obligé de le lui pardonner”. Il est juste que cette chronique se termine sur lui qui avait un cœur ignorant, c’est-à-dire solitaire.
Quand il fut sorti des grandes rues bruyantes de la fête et au moment de tourner dans la rue de Grand et de Cottard, le docteur Rieux, en effet, fut arrêté par un barrage d’agents. Il ne s’y attendait pas. Les rumeurs lointaines de la fête faisaient paraître le quartier silencieux et il l’imaginait aussi désert que muet. Il sortit sa carte.
- Impossible, docteur, dit l’agent. Il y a un fou qui tire sur la foule. Mais restez là, vous pourrez être utile.
À ce moment, Rieux vit Grand qui venait vers lui. Grand ne savait rien non plus. On l’empêchait de passer et il avait appris que des coups de feu partaient de sa maison. De loin, on voyait en effet la façade, dorée par la dernière lumière d’un soleil sans chaleur. Autour d’elle se découpait un grand espace vide qui allait jusqu’au trottoir d’en face. Au milieu de la chaussée, on apercevait distinctement un chapeau et un bout d’étoffe sale. Rieux et Grand pouvaient voir très loin, de l’autre côté de la rue, un cordon d’agents, parallèle à celui qui les empêchait d’avancer, et derrière lequel quelques habitants du quartier passaient et repassaient rapidement. En regardant bien, ils aperçurent aussi des agents, le revolver au poing, tapis dans les portes des immeubles qui faisaient face à la maison. Tous les volets de celle-ci étaient fermés. Au second cependant, un des volets semblait à demi décroché. Le silence était complet dans la rue. On entendait seulement des bribes de musique qui arrivaient du centre de la ville.
À un moment, d’un des immeubles en face de la maison, deux coups de revolver claquèrent et des éclats sautèrent du volet démantibulé. Puis, ce fut de nouveau le silence. De loin, et après le tumulte de la journée, cela paraissait un peu irréel à Rieux.
- C’est la fenêtre de Cottard, dit tout d’un coup Grand très agité. Mais Cottard a pourtant disparu.
- Pourquoi tire-t-on? demanda Rieux à l’agent.
- On est en train de l’amuser. On attend un car avec le matériel nécessaire, parce qu’il tire sur ceux qui essaient d’entrer par la porte de l’immeuble. Il y a eu un agent d’atteint.
- Pourquoi a-t-il tiré?
- On ne sait pas. Les gens s’amusaient dans la rue. Au premier coup de revolver, ils n’ont pas compris. Au deuxième, il y a eu des cris, un blessé, et tout le monde s’est enfui. Un fou, quoi!
Dans le silence revenu, les minutes paraissaient se traîner. Soudain, de l’autre côté de la rue, ils virent déboucher un chien, le premier que Rieux voyait depuis longtemps, un épagneul sale que ses maîtres avaient dû cacher jusque-là, et qui trottait le long des murs. Arrivé près de la porte, il hésita, s’assit sur son arrière-train et se renversa pour dévorer ses puces. Plusieurs coups de sifflet venus des agents l’appelèrent. Il dressa la tête, puis se décida à traverser lentement la chaussée pour aller flairer le chapeau. Au même moment, un coup de revolver partit du second et le chien se retourna comme une crêpe, agitant violemment ses pattes pour se renverser enfin sur le flanc, secoué par de longs soubresauts. En réponse, cinq ou six détonations, venues des portes en face, émiettèrent encore le volet. Le silence retomba. Le soleil avait tourné un peu et l’ombre commençait à approcher de la fenêtre de Cottard. Des freins gémirent doucement dans la rue derrière le docteur.
- Les voilà, dit l’agent.
Des policiers débouchèrent dans leur dos, portant des cordes, une échelle et deux paquets oblongs enveloppés de toile huilée. Ils s’engagèrent dans une rue qui contournait le pâté de maisons, à l’opposé de l’immeuble de Grand. Un moment après, on devina plutôt qu’on ne vit une certaine agitation dans les portes de ces maisons. Puis on attendit. Le chien ne bougeait plus, mais il baignait à présent dans une flaque sombre.
Tout d’un coup, parti des fenêtres des maisons occupées par les agents, un tir de mitraillette se déclencha. Tout au long du tir, le volet qu’on visait encore s’effeuilla littéralement et laissa découverte une surface noire où Rieux et Grand, de leur place, ne pouvaient rien distinguer. Quand le tir s’arrêta, une deuxième mitraillette crépita d’un autre angle, une maison plus loin. Les balles entraient sans doute dans le carré de la fenêtre, puisque l’une d’elles fit sauter un éclat de brique. À la même seconde, trois agents traversèrent en courant la chaussée et s’engouffrèrent dans la porte d’entrée. Presque aussitôt, trois autres s’y précipitèrent et le tir de la mitraillette cessa. On attendit encore. Deux détonations lointaines retentirent dans l’immeuble. Puis une rumeur s’enfla et on vit sortir de la maison, porté plutôt que traîné, un petit homme en bras de chemise qui criait sans discontinuer. Comme par miracle, tous les volets clos de la rue s’ouvrirent et les fenêtres se garnirent de curieux, tandis qu’une foule de gens sortait des maisons et se pressait derrière les barrages. Un moment, on vit le petit homme au milieu de la chaussée, les pieds enfin au sol, les bras tenus en arrière par les agents. Il criait. Un agent s’approcha de lui et le frappa deux fois, de toute la force de ses poings, posément, avec une sorte d’application.
- C’est Cottard, balbutiait Grand. Il est devenu fou.
Cottard était tombé. On vit encore l’agent lancer son pied à toute volée dans le tas qui gisait à terre. Puis un groupe confus s’agita et se dirigea vers le docteur et son vieil ami.
- Circulez! dit l’agent.
Rieux détourna les yeux quand le groupe passa devant lui.
Grand et le docteur partirent dans le crépuscule finissant. Comme si l’événement avait secoué la torpeur où s’endormait le quartier, des rues écartées s’emplissaient à nouveau du bourdonnement d’une foule en liesse. Au pied de la maison, Grand dit au revoir au docteur. Il allait travailler. Mais au moment de monter, il lui dit qu’il avait écrit à Jeanne et que, maintenant, il était content. Et puis, il avait recommencé sa phrase: “J’ai supprimé, dit-il, tous les adjectifs”.
Et avec un sourire malin, il enleva son chapeau dans un salut cérémonieux. Mais Rieux pensait à Cottard et le bruit sourd des poings qui écrasaient le visage de ce dernier le poursuivait pendant qu’il se dirigeait vers la maison du vieil asthmatique. Peut-être était-il plus dur de penser à un homme coupable qu’à un homme mort.
Quand Rieux arriva chez son vieux malade, la nuit avait déjà dévoré tout le ciel. De la chambre, on pouvait entendre la rumeur lointaine de la liberté, et le vieux continuait, d’une humeur égale, à transvaser ses pois.
- Ils ont raison de s’amuser, disait-il, il faut de tout pour faire un monde. Et votre collègue, docteur, qu’est-ce qu’il devient?
Des détonations arrivaient jusqu’à eux, mais elles étaient pacifiques: des enfants faisaient partir leurs pétards.
- Il est mort, dit le docteur, en auscultant la poitrine ronflante.
- Ah! fit le vieux, un peu interdit.
- De la peste, ajouta Rieux.
- Oui, reconnut le vieux après un moment, les meilleurs s’en vont. C’est la vie. Mais c’était un homme qui savait ce qu’il voulait.
- Pourquoi dites-vous cela? dit le docteur qui rangeait son stéthoscope.
- Pour rien. Il ne parlait pas pour ne rien dire. Enfin, moi, il me plaisait. Mais c’est comme ça. Les autres disent: “C’est la peste, on a eu la peste”. Pour un peu, ils demanderaient à être décorés. Mais qu’est-ce que ça veut dire, la peste? C’est la vie, et voilà tout.
- Faites vos fumigations régulièrement.
- Oh! ne craignez rien. J’en ai encore pour longtemps et je les verrai tous mourir. Je sais vivre, moi.
Des hurlements de joie lui répondirent au loin. Le docteur s’arrêta au milieu de la chambre.
- Cela vous ennuierait-il que j’aille sur la terrasse?
- Oh non! Vous voulez les voir de là-haut, hein? À votre aise. Mais ils sont bien toujours les mêmes.
Rieux se dirigea vers l’escalier.
- Dites, docteur, c’est vrai qu’ils vont construire un monument aux morts de la peste?
- Le journal le dit. Une stèle ou une plaque.
- J’en étais sûr. Et il y aura des discours.
Le vieux riait d’un rire étranglé.
- Je les entends d’ici: “Nos morts”., et ils iront casser la croûte.
Rieux montait déjà l’escalier. Le grand ciel froid scintillait au-dessus des maisons et, près des collines, les étoiles durcissaient comme des silex. Cette nuit n’était pas si différente de celle où Tarrou et lui étaient venus sur cette terrasse pour oublier la peste. La mer était plus bruyante qu’alors, au pied des falaises. L’air était immobile et léger, délesté des souffles salés qu’apportait le vent tiède de l’automne. La rumeur de la ville, cependant, battait toujours le pied des terrasses avec un bruit de vagues. Mais cette nuit était celle de la délivrance, et non de la révolte. Au loin, un noir rougeoiement indiquait l’emplacement des boulevards et des places illuminés. Dans la nuit maintenant libérée, le désir devenait sans entraves et c’était son grondement qui parvenait jusqu’à Rieux.
Du port obscur montèrent les premières fusées des réjouissances officielles. La ville les salua par une longue et sourde exclamation. Cottard, Tarrou, ceux et celle que Rieux avait aimés et perdus, tous, morts ou coupables, étaient oubliés. Le vieux avait raison, les hommes étaient toujours les mêmes. Mais c’était leur force et leur innocence et c’est ici que, par-dessus toute douleur, Rieux sentait qu’il les rejoignait. Au milieu des cris qui redoublaient de force et de durée, qui se répercutaient longuement jusqu’au pied de la terrasse, à mesure que les gerbes multicolores s’élevaient plus nombreuses dans le ciel, le docteur Rieux décida alors de rédiger le récit qui s’achève ici, pour ne pas être de ceux qui se taisent, pour témoigner en faveur de ces pestiférés, pour laisser du moins un souvenir de l’injustice et de la violence qui leur avaient été faites, et pour dire simplement ce qu’on apprend au milieu des fléaux, qu’il y a dans les hommes plus de choses à admirer que de choses à mépriser.
Mais il savait cependant que cette chronique ne pouvait pas être celle de la victoire définitive. Elle ne pouvait être que le témoignage de ce qu’il avait fallu accomplir et que, sans doute, devraient accomplir encore, contre la terreur et son arme inlassable, malgré leurs déchirements personnels, tous les hommes qui, ne pouvant être des saints et refusant d’admettre les fléaux, s’efforcent cependant d’être des médecins.
Écoutant, en effet, les cris d’allégresse qui montaient de la ville, Rieux se souvenait que cette allégresse était toujours menacée. Car il savait ce que cette foule en joie ignorait, et qu’on peut lire dans les livres, que le bacille de la peste ne meurt ni ne disparaît jamais, qu’il peut rester pendant des dizaines d’années endormi dans les meubles et le linge, qu’il attend patiemment dans les chambres, les caves, les malles, les mouchoirs et les paperasses, et que, peut-être, le jour viendrait où, pour le malheur et l’enseignement des hommes, la peste réveillerait ses rats et les enverrait mourir dans une cité heureuse.



0
Dịch hạch - Albert Camus
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn vui
 
📎 Thank-you1




0