<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.06.2016 01:30:03 bởi casau>
Lời tác giả
Tiểu thuyết Giăng thề tôi viết năm 1942, ở Thủ Dầu Một bên sông Sài Gòn vùng đồn điền cao su Dầu Tiếng, khi trên phố chợ khi ở xưởng than Bến Ray.
Tình cờ làm sao mà câu chuyện trong tiểu thuyết này ủ ấp sáng tạo ở quê Nghĩa Đô tôi lại viết ra bên rừng bờ sông Sài Gòn xa xôi.
Thế mà cũng thành một nếp suốt đời tôi trong sáng tác. Nhiều khi sửa soạn viết một cái gì, tôi thường đi nhiều nơi.
Tôi đã viết tiểu thuyết Đảo hoang chuyện Mai An Tiêm và quả dưa hấu, những chương đầu viết ở Phai Vệ thị xã Lạng Sơn. Hang Phai Vệ là quang cảnh nhà An Tiêm bị giam trong hang đá trước khi bị nhà vua đầy đi đảo xa. Tôi lại đã viết đoạn cuối tiếu thuyết Đảo hoang này ở bãi biển nghỉ mát Yalta bên bờ Hắc Hải. Cái núi Gấu và sự tích núi Gấu ở biển Yalta với bóng con gấu yêu thương mà vợ chồng con cái Mai An Tiêm đã giã từ để trở về đất liền, sau bao nhiêu năm bị lưu đầy.
Cũng như gần đây năm 1996, tập hồi ký Chiều chiều của tôi được viết ở Đà Lạt.
Cả đời cầm bút, cũng thành cái thói riêng làm việc như thế. Còn nhớ khi ngoài hai mươi tuổi, tôi vừa in truyện Con dế mèn (về sau viết tiếp và đặt tên là Dế mèn phiêu lưu ký), ông Vũ Đình Long chủ nhà xuất bản Tân Dân đã hợp đồng với tôi viết truyện ngắn cho tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, truyện cho sách Truyền Bá của thiếu nhi, và tiểu thuyết cho sách Phổ Thông. Tôi đi đâu thì ông gửi tiền nhuận bút qua đường bưu điện.
Vì thế, tôi đã đến được Sài Gòn rồi đi Thủ Dầu Một. Tôi có anh bạn cùng làng đi làm phu cao su đồn điền Michelin ở Dầu Tiếng.
Nhưng đến Dầu Tiếng thì bạn đã đi nơi khác. Anh theo người ta đi làm thợ dệt ở Kampot bên Kampuchia.
Bà con miền Nam đối với người qua lại, dẫu tôi là một “thầy Huế” từ ngoài Bắc vào cũng thật xởi lởi, vồn vã. Chẳng quen biết mà rồi cũng trở nên thân tình. Thế là tôi lại viết tiểu thuyết Giăng thề - một câu chuyện về làng xóm quê tôi.
Bao nhiêu năm sau, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, tôi có dịp trở lại Dầu Tiếng. Tôi ở nhà khách cơ quan nông trường cũng trên sông Sài Gòn. Xa xa, núi Bà Đen bên kia rừng vẫn xanh đen. Nước sông vẫn trong veo, trông thấy từng con cá bơi nhởn nhơ. Tiếng còi nhà máy vẫn rít lanh lảnh trong đêm khuya. Những người thân thiết ngày xưa thì chẳng còn ai.
Đầu chợ, những tấm bia ghi tên những người trong thị trấn, những chiến sĩ dân quân đã hy sinh từ đầu kháng chiến chống Pháp.
* * *
Tôi trở lại Hà Nội, đưa in tiểu thuyết Giăng thề cho nhà xuất bản Tân Dân.
Bây giờ bên châu Âu, nước Pháp đã thua trận, chính phú Pê Tanh đầu hàng phát xít Đức. Ở thuộc địa thực dân Pháp bóc lột và đàn áp khốc liệt nhân dân ba nước Đông Dương. Chế độ kiểm duyệt của thực dân được đặt ra khắt khe. Chúng gạch bỏ từng đoạn sách, không cho in cả tác phẩm.
Như tiểu thuyết Đêm múa của tôi miêu tả một làng bị chết dịch rồi lại chết cháy cả xóm. Thế là kiểm duyệt bỏ. Nói đến đất nước, dân tộc, chính trị là phạm pháp.
Tiểu thuyết Giăng thề cũng bị kiểm duyệt xóa từng đoạn từng chương như vậy.
Tiểu thuyết Giáng thề in lần đầu ở Hà Nội năm 1943. Cho tới bây giờ, đã qua nhiều thời kỳ, nhiều nhà xuất bản ở Hà Nội và ở Sài Gòn đã in lại nhiều lần.
Cũng vì thời gian đã quá lâu và nhiều khó khăn khách quan, tác phẩm in ra có nhiều sai sót.
Xin đính chính:
- Ngay lần in đầu, nhà xuất bản Tân Dân đã in lẫn chương cuối lên giữa sách. Do vậy, đương mạch truyện lại có dòng lưu bút kết thúc: Dầu Tiếng (Bến Ray)... Rồi hầu hết các nhà xuất bản, nhất là ở Sài Gòn và Thành phố Hồ Chí Minh về sau đã in nhầm theo như thế.
- Tên tác phẩm, khi đầu là GIĂNG THỀ ( không phải là TRĂNG THỀ). Tác giả viết theo tiếng địa phương.
- Lần in này, in theo bản đầu tiên và đã chữa lại các lỗi trên. Riêng một chương (chương VI) bị kiểm duyệt thời thuộc Pháp xóa bỏ (chỉ chú thích tóm tắt trong truyện vì không còn bản thảo).
Hà Nội tháng năm 2005
TÔ HOÀI
&&&
Trăng thề còn đó trơ trơ
Truyện Kiều
Chương I
Những vòng bánh quay lọc cọc, rồi đứng lại. Hai chiếc xe sắt đỗ chổng đuôi lên và đổ xuống ba người khách. Họ đi về phía dãy phố có lấp ló ánh đèn sáng. Trời tối mịt. Vào tới ánh đèn mới nhận được mặt ba người. Người đi đầu là giáo Hoạnh, tiếp đến giáo Kền và giáo Câu, hai ông này dắt tay nhau. Ba nhà giáo đi hát ả đào.
Ở trong một nhà đầu dãy nhà hát, các chị em trông thấy, chạy xỏ ra, nhao nhao :
- Chào các quan ạ.
- Các quan vào hát giúp nhà em.
- Ơ kìa anh giáo Hoạnh. Lâu lắm mất mặt mất mũi.
Hoạnh đi vào, như hướng dẫn cho hai bạn. Ra lối ta đây tay thành thạo nhất. Chị em bâu lại, tíu tít. Một chị khêu cái đèn ba dây cho tỏ thêm. Một chị ra khép cửa, dưới nhà bắt đầu lịch kịch đun nước. Ngọn đèn treo giữa nhà, soi sáng ra chung quanh tỏ tường.
Nhà hát là một nếp nhà ngói ba gian, rất xưa, trước sân có hai chậu si và một cái bể bầu dục đựng quả núi giả. Trong nhà, hai bên cột giữa, móc đôi câu đối gỗ mộc, chữ bôi nhòe sơn đen. Tường bên phải, treo một dãy tám cái tranh Tàu vẽ truyện Chinh Tây, cảnh Tiết Đinh Sơn bắn hổ trắng vô tình giết bố, cảnh Phàn Lê Huê cả phá Mê hồn trận.. Bên trái, có một bức tranh thực to, vẽ ông Tô Vũ chăn dê râu dài chấm đất, mặc quần áo rườm rà cầm chiếc gậy đầu hươu có tua xanh đỏ, đứng dưới gốc cây hoa mai, giữa mấy con dê lụ khụ. Rải rác ở góc tường trên đầu cột, có dán những cái ảnh tàu chiến, ảnh ông tây bà đầm cắt ở các nhật trình ra. Giữa gian nhà trước bên cải tủ chè, kê một bộ tràng kỷ và một chiếc án thư. Hai gian bên, hai chiếc giường ghép vào. Một chiếc hòm phản có bốn chân cao lênh khênh, đứng sát tường, phía trong cùng.
Ba quan viên nhà giáo ngồi hai bên tràng kỷ. Ông giáo Kên ngắm đôi câu đối, giáo Câu ngó cụ Tô Vũ chăn dê, ông Hoạnh tán khướu với một ả. Vừa hay nhà này có ba cô đào rượu. Một cô, cô Muỗi thì vẫn là chỗ quen biết tri kỷ của giáo Hoạnh. Còn cô Huệ và cô Tình, lúc này Hoạnh ta hóm hỉnh chia :
- Tôi giới thiệu em Huệ với anh Câu đấy. Còn chị Tình ra quạt cho anh Kền tôi đi chứ. Chị làm thế nào cho anh tôi cười túm một cái, thì tối nay có thưởng đấy.
Cô Tình đấm vào lưng Hoạnh :
- Phải gió cái nhà anh lỡm lày, thấy mặt nà thấy tán nhảm!
Rồi ả cầm quạt sang phe phảy quạt cho Kên. Kên im vấn một điệu ngắm câu đối. Hoạnh cười hô hố. Còn giáo Câu, Câu lé mắt nhìn cái cô Huệ mà Hoạnh vừa gắp cho anh. Cô Huệ cũng đứng dịch lại gần Câu, cười nụ.
Dưới nhà, nước trắng đã sôi. Ấm, tách lấy ở trong tủ chè ra. Cô Huệ pha một tuần chè Tầu. Khách đương nhắm nháp thì chú kép vác đàn bước vào. Rồi cô Muỗi, cô đào hát - là con của chủ nhà - ở nhà dưới đi lên. Người ra mở nhà hát cũng có nghĩa như mở một ngôi hàng tấm. Chủ nhà này là một ông, có ngón đàn và nghề hát gia truyền. Nhà ông, ông ở gian nhà lá đằng góc vườn dưới. Hát thì con ông hát lấy, chị phải mướn ba cô đào rượu. Hai người con gái lớn của ông đã lấy chồng, trước kia ở nhà, các cô cũng đều là đào hát. Bây giờ còn có cô gái út là cô Muỗi. Cô Muỗi mặc áo the thâm, vấn khăn nhiễu tây, mình cô gày, mảnh như chiếc que đóm...
Cô Muỗi và chú kép đàn ngồi phản bên. Trống chầu đặt trên ghế tràng kỷ. Cô Huệ mời: “Các anh nghe hát”. Hoạnh bảo Kền: “Anh thưởng trống trước đi”. Rồi anh xoay cái roi chầu và cái trống về phía Kền. Kền ung dung cầm roi chầu. Nhà giáo Kền, lúc này nom rõ thực đạo mạo. Anh che vạt áo the dài ngồi vắt chân chữ ngũ, lưng hơi khom khom. Một bàn tay bịt nhẹ miệng trống. Một tay rún rẩy nâng roi chầu, gõ “độp độp”. Mỗi một tiếng “độp” nảy, người anh hơi xiêu về đằng trước theo nhịp. Đó là cái điệu riêng của anh, khi gõ trống. Đào hát đến câu nào mà anh cho là nhất, anh điểm trống đổ hồi khen rụt cả cổ lại. Mắt anh chăm chăm, nhìn thẳng, nghiêm như lúc giảng bài học trò. Anh xưa nay vốn là tay chơi đứng đắn, lịch sự. Cô đầu Tình đứng sau lưng, quạt lệ từng phẩy chậm chạp. Tên cô là Tình mà nom chẳng tình chút nào. Con mắt hiếng, hai con ngươi liếc nhau. Đôi môi cong tớn, cộm lại như hai mép lá cải bắp.
Chú kép dạo đàn “tửng tưng từng tưng” rồi gò vào bài, khi cô Muỗi bắt đầu gieo phách. Miệng chú kép méo, tròn, chúm, dài, cổ chú ngoẹo, lắc và cả cái mặt cũng lung lay theo với bàn tay nắn phím. Chú kép xử cây nhật cao như cái đòn gánh: “Tửng từng tưng... Tứng tửng... Phinh phính phinh...”.
Giai nhân nan tái đắc... ư... Trót yêu hoa... nên dan díu với tình. Mái tây hiên nguyệt dãi chênh chênh... Rầu rĩ mấy xuân về oanh nhớ ớ... ớ...
Cô Muỗi ngồi hát, chân xếp bằng tròn, tà áo khép kín hai đầu gối. Đôi tay cô mềm mại gõ phách theo nhịp đàn và câu hát. Tiếng cô e é chua như giấm. Mỗi khi đến một giọng cao, cô vươn cái cổ ngắn nổi cộm chiếc gân đũa, khó nhọc như khạc từng tiếng ra một. Nếu không có hai bàn tay dịu dàng uốn éo với lá phách, và cái tiếng hát nỉ non, nom cô thiểu não như người bệnh rét đương lên cơn. Tiếng nhật, tiếng hát, điểm tiếng phách lách cách và tiếng trống chầu nhịp bộp bộp. Nghe vui, giáo Câu cũng lạ tai.
Giáo Hoạnh và cô đầu Muỗi đã dẫn nhau ra đằng sân sau tối om. Họ ra ngoài ấy tri kỷ khô với nhau. Hai anh chị đã bắt nhân tình nhau từ lâu. Hoạnh cũng là tay cừ mới chớp được cô Muỗi. Vì nàng kháu khỉnh nhất nhà này.
Câu ngồi yên, lắng hai tai. Nếu không thế, anh cũng chẳng biết làm gì. Về đường chơi, vốn anh kém. Cũng muốn tán tầm phơ với cô Huệ ít câu, nhưng anh ngại, không biết dọn chuyện thế nào cho được tình tứ. Bởi vậy, anh cứ ngồi thực thẳng người và ngó trộm cô Huệ tí chút. Trông cô ta được mẻ người phốp pháp. Mặt tròn như đồng tiền, cô bận áo lụa nhuộm thiên thanh, quần lụa trắng. Chỉ ngán nỗi, cô nói tiếng ồ ồ như người trĩ mũi.
Tiếng cô Muỗi hát:
... Nước sông Tương một dải nông chờ
Cho kẻ đấy, người đây mong mỏi.
Bứt rứt nhẽ, trăm đường nghìn nỗi
Chữ chung tình biết nói cùng ai
Quản chi ư ư... gắn bó một hai...
Phình phinh... phính...
Khổ hát xong. Kép buông đàn. Cô Muỗi ra uống nước. Giáo Hoạnh ở ngoài sân vào, tay cắp cánh tay với Muỗi, âu yếm như đôi vợ chồng. Hoạnh móc bím, lấy một đồng bạc đưa cho đào Tình :
- Bảo nó đi mua hai chai bia. Lấy cái đằng cổ vàng ấy. Một bao thuốc lá “ba tốt” nữa nhé.
Tình ra ngõ. Một chốc vào thưa :
- Người ta hết bia, còn có nước “ô-răng-rát”, các anh xơi vậy.
- Cũng được. Cho ba chai.
Mọi người uống nước cam và hút thuốc lá. Chuyện nở như ngô rang. Nhưng riêng Hoạnh nói nhiều. Thỉnh thoảng giáo Kền gật gù chêm một câu, ngang như cua bò. Còn Câu chỉ cười. Các chị em ngồi quây lại, tiếp những đoạn khôi hài vụn. Không khí vui vẻ và đầm ấm. Câu đã thấy bạo hơn lúc mới vào. Anh ngồi xích lại gần Huệ, Huệ đánh diêm, châm thuốc lá cho Câu hút. Hoạnh trông thấy, cười phá lên :
- Á ơ kìa, chóng thân nhau nhỉ? Nom đẹp đôi lắm. Anh tôi hiền lành, chiều vợ lắm đấy, khi nào cho ông mối miếng trầu đấy?
Huệ cười tít mắt :
- Dơ cái nhà anh. Hãy báo lấy vợ chồng anh ấy.
Giáo Câu chỉ mủm mỉm. Hai tai nóng bừng. Tàn cuộc uống, khổ hát khác lại bắt đầu. Vẫn cô Muỗi hát. Cô Huệ mời Câu thưởng trống. Câu lắc. Hoạnh cướp lấy dùi, nói: “Xui chồng đập trống! Có hư hại đổ cho người ta nhé!”. Rồi anh ngồi vào tràng kỷ, đánh trống. Người ta bảo rằng đập trống như Hoạnh mới là kiểu của kẻ ăn chơi. Anh cầm chiếc dùi ẻo lả, khẽ gõ lướt trên mặt trống, vẻ mặt anh tươi tỉnh. Đôi mắt lẳng lơ đã đưa nhìn cô đào hát, khiến cô này thinh thoảng lại mủm mĩm, hát quay mặt ra đằng khác.
Hồng, Hồng, Tuyết, Tuyết... Mới ngày nào còn chẳng biết cái chi chi ư... ư...
Lại hát. Câu lại ngồi yên như phỗng. Bên góc ghế, giáo Kền cũng ngồi ngây, một tay chống cằm, chăm chú nghe. Câu cũng làm ra vẻ để ý, nhưng thực anh chả thích hát hổng chút nào. Hát như mèo cái gào đực, không rõ ràng câu kệ gì. Nhìn cái này, nhìn cái kia mãi, chán. Câu đi lững thững ra đứng ngoài cửa.
Đây là phố xép, như lối một phố phủ hẻo lảnh. Con đường ruột phố rải đá, chia đôi dãy nhà khấp khểnh, cái chìa ra, cái thụt vào. Giờ này, thường thường mọi nhà trong phố đã đóng cửa. Đường sá tối thui. Cách mỗi quãng dài, mới gặp một vạt ánh sáng hắt ra, đấy là cánh cửa một lò khâu, hay là một hiệu cao lâu có phở xào. Đầu phố, đứng chết rũ, dúm vào nhau, mấy chiếc xe sắt chổng đuôi lên không có đèn.
Sau lưng Câu, tiếng guốc lẹp kẹp. Quay lại, Câu thấy Huệ đương đi ra. Anh đứng yên, khoanh tay, vờ không để ý, nhìn lên đầu phố, Huệ cười, nói ỏn ẻn :
- Đứng đây buồn chết. Vào nhà đi anh.
- Trong nhà hơi bức.
- Em quạt hầu anh nhé?
Câu cười mỉm, không nói gì. Huệ hỏi :
- Chắc anh mới đi cùng với anh Hoạnh lần này?
- Ba anh em chúng tôi là bạn với nhau...
- Là em nói anh mới lên đây lần đầu với anh Hoạnh cơ!
- Ừ, mới lên lần này. Anh Hoạnh lên luôn hử?
- Luôn đấy. Anh cũng dạy học à?
- Ừ
- Trường nào thế?
- Trường Hạ Nha.
- À, trường làng Nha. Làng Nha ấy có anh cả Cang, có anh phó Nghiên, rồi anh Ba gì ấy này...
- Quen hả?
- Các anh ấy lên hát nhà em thường liền. Hôm nào đi chợ, em phải xuống làng Nha chơi mới được. Trường anh ở chỗ nào?
- Ngay đầu làng.
- Em quên mất, tên anh là gì nhỉ?
- Câu.
- Còn anh kia.
- Anh Kền. Anh ấy dạy trường Yên Thượng.
- Tên là Kên? Buồn cười nhỉ? Hút thuốc lá, anh?
Câu xua tay :
- Tôi kiếu. Hút cay xè cả lưỡi. Hôm nay hút nhiều thuốc lá quá. Chúng tôi mới ăn cỗ khao ông Chánh Rụy bên Phú Gia, rồi lên đây.
- Ờ, phải rồi. Nhà chị Xuân đằng kia hôm nay sang hát đám ông Chánh Rụy.
- Đây có mấy nhà hát?
- Có năm nhà cả thảy.
- Ờ, có tiếng tom tom đằng kia. Sao nghe xa xa như nhà hát ở trong làng?
- Không phải! Các nhà người ta ở tận trong giữa xóm, chứ không ngoài phố như nhà em.
- Trống nhà này nghe “bộp bộp” như chặt thịt!
- Trống nhà gạch mái ngói, không ròn được. Vào uống nước, anh?
- Cứ vào trước đi.
Huệ vào một lát, Câu mới đủng đỉnh vào. Hoạnh hỏi :
- Ông bà làm gì nhau ở ngoài ấy mà lâu thế?
Câu cười thật thà :
- Làm gì đâu!
Cô Muỗi lại hát một khổ hát mới. Hoạnh và Kền chuyền nhau thưởng trống. Câu thỉnh thoảng lại chuyện dấm dẳn nhát gừng với Huệ, qua chén nước. Đào Tình vẫn chịu khó ngồi kè bên quạt cho Kên. Chị em, nhất là cô Muỗi, nhấm nháy, có ý chế cái điệu đứng đắn “hủ lậu” của Kền. Thì cô Tình lại bênh. Cô nói ngọng đặc giọng “tiểu thuyết”. Đầu mỗi câu, bao giờ cũng phải: “Lói” xin “nỗi” các chị chứ, ở cái thời buổi “lày”... “Em cam đoan nấy danh dự mà lói rằng...”.
Họ léo nhéo bên tai. Kên vẫn ngồi im. Anh chỉ ngồi nghe hát.
Cuộc vui kéo dài quá mười hai giờ đêm. Cô Muỗi xin phép nghỉ hát, và mời các quan viên ngủ lại. Nhưng Kên đứng lên, nói thực to :
- Ai ngủ thì ngủ. Tôi về.
Câu về hùa :
- Tôi cũng về.
Hoạnh tiếp :
- Thì anh em cùng về cả.
Cô Muỗi nài :
- Các anh ở lại cho vui. Mọi khi các anh vẫn ở lại mà?
Hoạnh nói :
- Mọi khi là tối thứ Bảy. Ngủ lại đây bây giờ, mai về không kịp buổi dạy. Để khi khác, thiếu gì lúc.
Rồi Hoạnh móc bím, lấy tiền chi chầu hát. Chầu hát mất vừa hai đồng, cả tiền đàn cúa chú kép. Đưa hai tờ giấy bạc cho cô đào Muỗi, anh còn cố ý tóm tay cô ả một cái.
Ba anh em, khăn đóng áo chùng, chít khăn đội mũ tề chỉnh, ra về. Mấy chị em ríu rít tiễn ra tận ngõ. Cô Muỗi bận áo tấc bịt tà, đi bíu lấy vai Hoạnh. Tay đôi dìu nhau lại ở bóng tối, góc đằng kia. Kền bắt tay Tình và Huệ. Chàng giáo Câu cũng muốn bắt tay như Kền. Nhưng ngại. Nhưng rồi Câu cũng tóm tay Huệ, nói :
- “Ô rơ voa” nhé! [1]
- “Ô rờ voa”!
Chú thích :
1. Tiếng Pháp nghĩa là: Xin chào tạm biệt!
