Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Cái Trống Thiếc - Günter Grass 🔒

49 trả lời, 4.733 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.07.2016 14:48:15 bởi Ct.Ly>
Mục lục
 
 
QUYỂN I
 
-        CÁI VÁY ỤP 20 - hoàn tất
-        DƯỚI GẦM BÈ 38- hoàn tất
-        BƯỚM VÀ ĐÈN 60 - hoàn tất
-        CUỐN ALBUM ẢNH 79 - hoàn tất
-        TAN TÀNH Ô CỬA KÍNH 100 - hoàn tất
-        THỜI GIAN BIỂU 119  - hoàn tất
-        CA KHÚC – TRÁI PHÁ TẦM XA 158 hoàn tất
-        KHÁN DÀI 179  hoàn tât
-        NHỮNG MẶT CỬA HÀNG 205  hoàn tất  Đánh máy: galazyrulz
-        CÓ GÌ LÀ LẠ  hoàn tât  Đánh máy: galazyrulz
-        THỰC ĐƠN NGÀY THỨ SÁU THÁNH    hoàn tất
-        THUÔN THUÔN ĐẰNG CHÂN 266 hoàn tât
-        CÁI LƯNG CỦA HERBERT TRUCZINSKI 281  hoàn tất
-          NIOBE  hoàn tât
-        LÒNG TIN, HY VỌNG, TÌNH YÊU 328  hoàn tất
-         
QUYỂN II
 
-        ĐỒ ĐỒNG NÁT  344 Đánh máy: tducchau
-        SỞ BƯU CHÍNH BA LAN 367   Đánh máy: galazyrulz
-        NGỘI NHÀ BẰNG QUÂN BÀI 389 hoàn tất 
-        ÔNG ẤY NẰM Ở SASPE 404  Đã nhận CtLy
-        MARIA 423 
-        BỘT SỦI 442 Đánh máy: tducchau
-        NHỮNG THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT 461
-        ĐEM NỖI CÔ ĐƠN ĐẶT DƯỚI CHÂN BÀ GREFF 478
-        BẢY MƯƠI LĂM KÍ 501 Đánh máy: tducchau
-        ĐOÀN VĂN CÔNG TIỀN TIẾN BEBRA 522 Đã gửi galazyrulz
-        THỊ SÁT BÊ – TÔNG,HAY MAN RỢ, HUYỀN BÍ,CHÁN NGẮT 541
-        KẾ TỤC CHÚA KIRIXITÔ 569
-        BĂNG QUÉT BỤI  593
-        TRÒ CHƠI NỘ - EN  610
-        ĐƯỜNG CỦA KIẾN 629
-        NÊN HAY KHÔNG NÊN 651
-        THUỐC TẨY UẾ 671
-        TĂNG TRƯỞNG TRONG TOA HÀNG 689
 
QUYỂN III
 
-        ĐÁ LỬA VÀ BIA MỘ   708
-        FORTUNA BẮC 735
-        CON NHÍM 777
-        TRONG TỦ ÁO 798
-        KLEPP 815
-        TRÊN TẤM THẢM XƠ DỪA 833
-        HẦM HÀNH 851
-        TRÊN PHÒNG TUYẾN ĐẠI TÂY DƯƠNG 878
-        NGÓN TAY ĐEO NHẪN 904
-        CHUYẾN XE ĐIÊN CUỐI CÙNG
 HAY THỜ CÚNG MỘT CÁI BÌNH 922
-        BA MƯƠI 947 fin 966
-         
 
 
----- & ------
 
Günter Grass
Cái Trống Thiếc
Dịch giả:Dương Tường


DƯƠNG TƯỜNG dịch từ bản tiếng Anh của RALPH MANHEIM có tham khảo bẳng tiếng Pháp của JEAN AMSSLER

Nguyên tác tiếng Pháp: Le Tambour
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
 
Đầu đề nguyên tác:
Die Btechtrommet của Günter Grass Copyright© Copyright steidl Verlag, Gottingen 1993
Người dịch chân thành cảm ơn Inter Nationales e.v và Đại sứ quán Đức tại Việt Nam đã góp phần tài trợ cho bản dịch này.
 
 
Günter Grass
Glockengieperstrape 21
23552 Lübeck
 Telefon: 0451-794800
 
 
Lubeck, den 10.05.2002
 
Liebe Duong Tuong,
Es hat mich sehr gefreut, als ich erfuhr, dap man nicht nur den Plan hat, meinen ersten weit uber deutsehe Grenzen hinaus bekannten Roman, die “Blechtrommel”, auch in Vietnam in libersetzter Fassung aufzulegen, sondern dap dieses Projekt nun schon fast abgeschlossen ist.
Ich bin neugierig, wie mein Buch Ihren Mitburgern gefallen wird - in europaischer Nachbarschaft, nicht nur im deutschsprachigen Raum, findet es inzwischen in dritter Generation junge Leser und es ist auch fur mich als Autor faszinierend, wie ahnlich und wie verschieden diese Lekture verstanden wird. Vielleicht mogen Sle mir bei Gelegenheit schreiben, welches Echo unsere gemeinsame Arbeit in Vietnam findet? Sie kennen sicher “Katz und Maus”, die “Hundejahre” und nun auch “Im Krebsgang”, die der “Blechtrommel” inhaltllch verwandt Sind - wer weip, wann ich Ihnen zum Erscheinen einer neuen Ubersetzung alles Gute wunschen darf?
Freundliche Griipe
Günter Grass Ihr
 
 
 
Günter Grass
GlockengieBerstraBe 21
23552 Lübeck
Telefon: 0451-794800
 
 
Lübeck, 10.05.2002
Dương Tường thân mến,
Tôi rất mừng khi nghe tin “Cái trống thiếc.”, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi mà nhiều nơi ngoài nước Đức đã biết đến, nằm trong kế hoạch dịch và xuất bản tại Việt Nam, và không những thế dự định ấy hiện đã sắp hoàn thành.
Tôi tò mò muốn biết sách của mình được đồng bào nước ông đón nhận ra sao - tới nay, sau ba thế hệ, nó vẫn đến được với những độc giả trẻ tại các nước láng giềng châu Âu, không chỉ giới hạn trong khu vực Đức ngữ, và cách đọc mọi nơi giống nhau hay khác nhau ra sao cũng làm tác giả, là tôi, hết sức thích thú. Khi nào có dịp mong ông viết thư cho tôi biết, công sức của cả hai chúng ta có hồi âm gì không. Chắc ông đã đọc “Mèo và chuột”, “Những nắm chó” và mới đây là “Đi như cua”, nội dung đều gần với “Cái trống thiếc” - bao giờ có thêm một bản dịch nữa cho tôi được chúc ông vạn sự may mắn nhỉ?
Thân chào
Günter Grass
 
 
 
Cái trống thiếc trong nền văn học hiện đại Đức 
 
“Ngày nay, chúng ta thường hay nghe nói rằng tầm quan trọng của văn học đã giảm sút, rằng nó chỉ còn là trò mua vui hoặc một thú tiêu khiển của một tầng lớp elite (tinh hoa) hạn hẹp. Nhưng, tựa như một triết gia thời cổ Hy Lạp, khi muốn báo bỏ lý thuyết của trường phải Elea[1] cho rằng chuyển động là bất khả, chỉ cần đi đi lại lại trước nơi hội họp của các triết gia trường phái Elea, riêng sự hiện diện của Günter Grass cũng đủ khiến chúng ta hiểu ra rằng không dễ gì đẩy văn học ra ngoài rìa,” Tiến sĩ Horace Engdahl, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển, Thư ký Uy ban Nobel, mở đầu diễn văn khai mạc lễ trao giải Nobel văn học 1999 như vậy.
Việc tặng giải Nobel văn học cho Günter Grass tuy hơi muộn - chí ít là theo tôi - nhưng lại mang một ý nghĩa đặc biệt bởi nó rơi vào năm bắc cầu giữa hai thế kỷ 20 và 21, đúng bốn thập kỷ sau khi Cái trống thiếc ra đời, làm chao đảo văn đàn châu Âu và thế giới.
Đến nay, 43 năm đã trôi qua kể từ khi tiếng trống ngỗ ngược của Oskar Matzerath đánh thức nền văn học Đức khỏi cơn mụ mị hậu chiến. Nhiều nhà phê bình đã có lý khi đánh giá sự xuất hiện của Cái trống thiếc như một lần khai sinh thứ hai cho nền tiểu thuyết Đức của thế kỷ 20. Thât vậy, kể từ Gia đình Buddenbrook (1901) của Thomas Mann, chưa có cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả nào gây chấn động đến thế. Và chấn động này - bao gồm cả cơn sốc làm dấy lên những la ó phẩn nộ của các vị đạo đức nghiêm cẩn - càng mang nặng ý nghĩa khai mở trong cơn khủng hoảng tinh thần và hoàn cảnh rệu rã, suy sụp nhiều bề ở một nước Đức thất trận chưa thực sự hoà giải với các nước láng giềng. Vào những năm 1950, văn học hậu chiến Đức, bại liệt vì chủ nghĩa quốc xã, đã bế tắc do mặc cảm tội lỗi lại càng bị ức chế bởi lời cảnh báo của nhà triết học hàng đầu Theodor Adorno, người luôn tự vấn mình: Phải tư duy thế nào sau Auschwitz? ‘‘Viết một bài thơ sau Auschwitz là hành động man rợ và vì vậy, ngày nay, làm thơ đã trở nên bất khả,” Adorno tuyên bố. Có nghĩa là không thể viết, nói chung. Nhưng thế hệ của Heinrich Böll, của Günter Grass vẫn viết. Và khi viết, họ nhớ “đinh ninh trong đầu, như Adorno trong cuốn Minima Moralia: Suy nghĩ từ cuộc sống bị huỷ hoại (1951) của ông, rằng Auschwitz đã gây ra một kẽ nứt, một quãng trống không gì bù lấp nổi trong lịch sử của văn minh [2]. ” Chỉ có như vậy, Günter Grass và thế hệ của ông mới vượt nổi ức chế. Và riêng phần mình, ông đã tìm ra một bí quyết: cách duy nhất để có thể viết sau Auschwitz, dù là viết thơ hay văn xuôi, là trở thành ký ức và không để cho quả khứ chấm dứt.
Chính trên tinh thần đó, lời tuyên dương của hội đồng Nobel đã khẳng định: “Nhưng ngụ ngôn đen giỡn cợt của ông (Günter Grass) thể hiện gương mặt bị lãng quên của lịch sử. ”
Ngụ ngôn? Phải, vì hầu hết các tiểu thuyết của Günter Grass đều là những ngụ ngôn hiện đại. Và đen, hiểu theo nghĩa u-mua đen (humour noir) cười ra nước mắt. Vâng,
 như tôi thấy, Günter Grass là một nhà ngụ ngôn quái kiệt của thế kỷ 20. Trước khi bàn tiếp, xin lược qua vài nét ‘‘lý lịch trích ngang” của ông. Günter Grass sinh năm 1927 ở Danzig, nay là Gdansk thuộc Ba Lan. Trước khi chuyển sang viết văn, ông học hội hoạ - điêu khắc ở trường đại học mỹ thuật. Là thành viên của Nhóm 47 (Grüppe 47) do Hans Werner Richter và A. Andersch sáng lập ở Munich năm 1947 và giải tán năm 1977, với khuynh hướng dân chủ, đấu tranh khắc phục những hậu quả do chiến tranh phát - xít để lại, ông phát ngôn cho một thế hệ bị bầm giập ê chề đến mất phẩm giá bởi chủ nghĩa quốc xã.
 

G.Grass sanh 16/10/1927 mất ngày 13/04/1915
 
Günter Grass biết rất rõ những chấn thương tinh thần cùng những di hại bệnh ly - xã hội, không tiệt nọc với sự cáo chung của chủ nghĩa quốc xã. Ta có thể thấy những hội chứng đó (mà ông bắt mạch được ở những người cùng thời) hiện lên qua từng chương đoạn của cái trống thiếc, qua những cuộc phiêu lưu của gã lùn dị dạng Oskar Matzerath, kẻ ngay từ buổi sinh nhật lần thứ ba đã dứt khoát khước từ thế giới người lớn bằng cánh quyết định; ‘‘ thôi không lớn’’ về thể hình nữa. Như một nhân chứng ngỗ ngược của những sự kiện diễn ra ở Danzig từ 1924 đến 1960, nhìn thế sự từ tầm cao chín mươi tư xăng-ti-mét, nghĩa là từ gần sát mặt đất, lia con -mắt- dao -mỗ dọc theo triền lịch sử như một tấm gương làm méo hình, Oskar, dưới bề ngoài của một đứa bé mãi mãi lên ba, nhưng với sự già dặn trí tuệ của người trưởng thành, làm nẩy ra từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí hiểm, một - nhân loại bất túc với thân phận ê chề vùi lấp dưới những đổ nát của lịch sử.
Trong tác phẩm, có nhiều phát triển lưỡng phân. Ngay ở Günter Grass, cũng có một vùng Đức và một vùng Ba Lan, một ngày hôm qua và một ngày hôm nay. Người kể chuyện, cũng là nhân vật chinh Oskar, đan xen hai tầng nhân cách, lúc thì ‘‘tôi” (nhân xưng ngôi thứ nhất), khi lại “nó”, “gã”, “hắn” (nhân xưng ngôi thứ ba). Oskar - nhân vật phản – nhân - vật, nếu có thể nói vậy. Oskar với giọng hát diệt-thuỷ-tinh đối khi được dùng làm phương tiện cám dỗ thiên hạ vào vòng tội lỗi, với tiếng trống quậy phá nhiều phen làm xáo đảo những cuộc mít-tinh, biểu tình quốc xã, Oskar như một Sinbad hiện đại với nghìn lẻ một cuộc phiêu lưu kỳ dị (Oskar ngày đầu tiên và duy nhất đến trường, Oskar dưới khán đài, Oskar Kẻ Cám Dỗ, Oskar thủ lĩnh băng cướp, Oskar nhạc công jazz, Oskar thợ khắc chữ bia mộ, Oskar đánh cắp một chuyến xe điện, Oskar thờ cúng một ngón tay đàn bà...), Oskar, nhân vật phản nhân vật đó, là một gã hung thần. Ngay từ đầu, Oskar đã chọn phe Xa-tăng, níu giữ Xa-tăng lại trong mình như một bản ngã thứ hai: với tất cả các nghi thức trọng thể của nhà thờ, cha Wienke luôn mồm niệm chú (Vade retro Satanas) vẫn không đuổi được Xa-tăng khỏi đứa bé được mang đến bàn thờ Chúa chịu lễ rửa tội. Gia đình, tình yêu, cái chết, tôn giáo...tất thảy đều là đối tương báng bổ, vòi nọc châm chích giễu cợt của gã quỷ lùn không từ cái gì, không tha ai, kể cả người mẹ  ‘‘tội nghiệp” mà gã chí yêu vì bà thường xuyên mua trống cho gã, hai người cha “giả định” - Alfred Matzerath và Jan Bronski - mà gã đều phản đối đưa đến cái chết. Phản bội, lật lọng là ứng xử thường thấy ở Oskar khi đến bước đường cùng cần phải tháo thân: với Roswitha trong cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh, với các “chiến hữu” trong Băng Quét Bụi khi bị bắt và khi ra toà. Chỉ có một vài gương mặt hiếm hoi được gã nhắc đến với ít nhiều tình cảm trìu mến: ông ngoại gã, kẻ tội đồ phóng hoả bị truy nã Joseph Ko]jaiczek (đã chết dưới gầm bè hay hiện là nhà triệu phú Joe Colchie ở tiểu bang Buffalo, Mỹ?); người Do Thái.Sigismund Markus, chủ hiệu đồ chơi, nguồn cung cấp trống cho gã; anh chàng Herbert Truczinski với cái lưng đầy sẹo; và nhất là người đàn bà trên cánh đồng khoai tây Kashubes, bà ngoại Anna Koljaiczek của gã. Oskar, trong những khoảnh khắc suy sụp, thường tìm an ủi nguôi ngoai ở ba nơi: dưới gầm bàn, trong tủ áo và đặc biệt là túp lều bốn tầng váy khăn khẳn mùi bơ của bà ngoại Anna, chốn nương náu thân thương mà suốt đời, gã không ngơi khao khát.
 
Bên cạnh Oskar, tác phẩm còn có một nhân vật trung tâm thứ hai, có lẽ nên đặt từ tố nhân trong ngoặc kép vì đây không phải là một con người cụ thể, mà là một thành phố: Danzig. Một bên là Oskar, một bản thể bày đặt, bên kia là Danzig, một thành phố đã mất, một thành phố bao lần bị giành đi giật lại giữa các nước láng giềng hùng cường trong suốt lịch sử của  nó. Danzig, đến cái tên cũng không còn ! Nếu Dostoievski vẽ cả bản đồ Saint Petersbourg cổ, thì về phần mình, Grass dành nhiều trang mô tả thành phố chôn nhau cắt rốn của mình, gợi lại hình ảnh những thành phố, công viên, trường học, triền sông, bãi biển, nghĩa trang, những công trình kiến trúc cổ, đền đài, dinh thự, nhưng Langfuhr, Labesweg, Tháp Công Lý, Nhà Thờ Thánh Tâm, kể cả những chuyến tầu điện đi ra ngoại ô và từ ngoại ô vào thành phố. Để rồi, cuối cùng, hoả táng nó như thể dựng một đài tưởng niệm tượng trưng: “...Phố Câu Liêm, phố Dài, Phố Rộng, Phố Thợ Dệt Lớn, Phố Thợ Dệt Nhỏ bốc lửa. Phố Tobias, Phố Chó Ngao, Hào Phố Cỏ, Hào Ngoại Ô, Luỹ và Cầu Dài chảy tất. Cửa sếu làm bằng gỗ cháy mới ngon làm sao. Ở Phố Quần Cộc. lửa đã đặt may cho mình một loạt quần óng ảnh. Nhà Thờ Nữ Thánh Mary cháy cả trong lấn ngoài, nhìn qua những cửa sổ như ánh sáng ngày hội. (...) Ở Cối Xay Lớn, người ta xay bột đỏ rực. Phố Hàng Thịt sực mùi thịt quay cháy. Nhà Hát Thành Phố công diễn vở kịch một hồi nhưng hai nghĩa nhan đề ‘Giấc mơ của kẻ phóng hoả”. (...) Tu viện dòng thánh Francisco hoan hỉ bùng lên nhân danh thánh Francisco, người vốn yêu lửa và hát ngợi lửa. Phố Đức Bà cháy vì cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con cùng một lúc. Khỏi phải nói Chợ Gỗ, Chợ Than vả Chợ Cỏ Khô đã tan thành khói. Phố Bánh Mì, lò và bánh chia lửa với nhau. Phố Bình Sữa, sữa tràn ra ngoài. Chỉ riêng toà nhà của hãng bảo hiểm cháy, thuần tuý vì lý do tượng trưng, là không chịu bốc cháy... ” Những dòng không mảy may bị lụy, nhưng qua đó ta vẫn thấy rõ Danzig là nỗi đau của Günter Grass. Như vẻ đẹp của phố cổ Hà Nội dần dà chỉ còn lưu lại trong tranh của Bùi Xuân Phái, Danzig giờ chỉ còn sống trong tác phẩm của Grass. Ước nguyện ‘‘trở thành ký ức và không để cho quá khứ chấm dứt” đã thôi thúc ông viết cả một Saga ba bộ về Danzig mà Cái Trống Thiếc là phần đầu - hai phần sau là Mèo và Chuột (1961) và Những Năm Chó (1963). Và có lẽ nỗi đau mất quê hương ấy cũng là nguyên do khiến Grass luôn bị ám ảnh bởi mô típ trốn chạy và truy đuổi: mở đầu và kết thúc Cái Trống Thiếc đều là một cuộc đào tẩu và lùng bắt. Nét chủ đề ấy còn trở lại cả trong cuốn sách mới nhất của ông nhan đề Im Krebssgang (Đi Như Cua).
 
Cái Trống Thiếc, vào thời điểm nó ra đời, còn là một cú sốc thi pháp. Tác giả chở “những ngụ ngôn đen” của mình trên một bút pháp vừa hoạt bát phóng túng vừa đắp ắp liên tưởng, cuồn cuộn những sóng chữ nghịch nhỉ, chói màu, xứng đáng với Rabelais. Một cách táo bạo đầy hiệu quả, nhà giả kim Grass đã hoà trộn các cấp độ ngôn ngữ - từ phong cách Kinh Thành đến các ăn nói bình dân đầy biệt ngữ tục tĩu, các yếu tố ba - rốc, huyền hoặc, xuất biểu, siêu thực, xoay quanh những hình ảnh “cao áp” (nếu có thể nói vậy) với dung lượng kịch tính và tượng trưng cực đại (đám lươn lúc nhúc trong đầu một con ngựa chết, những tầng váy của bà ngoại Anna...). Và đằng sau cái giỡn cợt, bao giờ cũng là một chân lý cay dắng, về phương diện này chương Hầm Hành là một mẫu mực đầy liên tưởng xã hội - triết học. Khách đến cái tiệm đặc biệt này là những người có những tâm sự đau buồn nhưng lại mất khả năng khóc, nên phải nhờ cậy hơi cay của hành để trút vội nỗl lòng qua nước mắt. ”Không, không phải hễ tim đầy tràn thì tất yếu mắt phải lã chã giọt châu, một số người không bao gờ nhỏ được một giọt nước mắt, nhất là ở thế kỷ của chúng ta, cái thế kỷ mà bất luận mọi đau buồn và thống khổ, chắc chắn sẽ bị hậu thế coi là thế kỷ ít nước mắt nhất [3]’’. "Đó hình như cũng là một trong những suy tư chủ đạo được ông phát triển trong cuốn Thế Kỷ Của Tôi xuất bản cách đây vài năm.
 
Mùa thu này, Günter Grass kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của mình. Bài diễn từ nhận giải thưởng văn học Nobel 1999 của ông có đầu đề là: Còn Tiếp. Cuốn sách mới của ông đang một lần nữa làm xôn xao dư luận, chứng tỏ ông vẫn đang rất sung sức. Xin chúc nhà văn dồi dào sức khoẻ và nhiệt hứng sáng tạo để giữ trọn lời hứa “Còn Tiếp ” của mình.
 
Dương Tường
 
 
Chú thích:
[1 Trường phái triết học cổ Hy Lạp do Parmenides sáng lập. Nghiên cứu về thế giới hiện tượng, có thể coi là tiền thân của hiện tượng học
[2] Diễntừ nhận giải Nobel của Günter Grass.
[3] Do tôi gạch dưới [D.T)
📎 chuKyCTT




0
Tặng Anna Grass
 
 
Quyển I
 
CÁI VÁY ỤP
 
Ờ phải: tôi đang nội trú ở một bệnh viện tâm thần. Tay y tá để mắt theo dõi tôi; có một lỗ nhòm ở cánh cửa và mắt của tay y tá lại màu nâu không thể điện quang được tôi bởi vì mắt tôi màu xanh lơ.
Vậy thì người canh giữ tôi không thể là kẻ thù của tôi. Tôi đã thấy mên mến anh ta. Khi tay gián điệp rình sau cánh cửa ấy bước vào phòng tôi, tôi thường kể cho anh ta nghe vài mẩu đời tôi để anh ta hiểu tôi bất chấp cái lỗ nhòm. Anh chàng tốt bụng có vẻ khoái những chuyện tôi kể, vì tôi vừa cho anh ta nuốt chửng một chuyện khá hoang đường thì anh đã khoe ngay một kiểu nút dây do anh mới sáng tác để tự giới thiệu mình. Anh ta có phải là một nghệ sĩ hay không, cái đó còn phải xem đã. Tuy nhiên, các tác phẩm của anh ta, nếu đem triển lãm, chắc sẽ được báo chi hoan nghênh: thậm chí, có thể còn có một số người mua là đằng khác. Anh ta thắt nút những sợi dây tạp nhạp được gom nhặt và gỡ rối sau các buổi người nhà vào thăm bệnh nhân; anh ta bện chúng thành những vật còi cọc phức tạp, giâm vào thạch cao, để cho chúng cứng lại và lấy những kim đan cắm chúng lên những cái đế gỗ nhỏ.
Anh ta luôn ve vuốt ý nghĩ tô màu cho những tác phẩm của mình. Tôi ráng khuyên anh đừng có làm thế; tôi nêu cái giường kim loại láng trắng của tôi làm vĩ dụ so sánh và đề nghị anh thử tưởng tượng cái giường đó bị đem sơn lại lòe loẹt. Khiếp đảm, anh ta giơ hai bàn tay y tá của mình lên chắp vào nhau trên đầu, cố bắt bộ mắt đơ đơ của minh biểu lộ tất cả các vẻ kinh hãi rồi từ bỗ dự định tô màu nọ.
    Thế là cái giường kim loại của tôi thành một vế so sánh. Đối với tôi, nó còn hơn thế nữa: cái giường của tôi, đó là mục tiêu, rốt cuộc, đã đạt, là niềm an ủi của tôi, và đó có thể là tôn giáo của tôi nếu như ban quản trị bệnh viện chấp nhận cho sửa đổi đôi chỗ: tôi muốn nâng cao chấn song sắt lên đê trốn mọi tiếp xúc.
    Mỗi tuần một lần, ngày thăm bệnh nhân quấy rối cõi yên tĩnh trong đó tôi sống đằng sau những chấn song kim loại màu trắng. Vào ngày đó, kéo tới những người muốn cứu vớt tôi, những người tìm tiêu khiển trong việc yêu thương tôi, những người cần đến tôi để tự trân trọng, tự tôn vinh, tự biết mình. Sao mà họ mù quáng, bồn chồn, quê kệch! Họ lấy những móng tay như gọng kìm cào cào hàng song sắt láng trắng ở giường tôi, lấy bút bi hoặc bút chì vẽ nguệch ngoạc lên lớp vẹc-ni những hình người dài ngoằng khiếm nhã. Tay trạng sư biện hộ cho tôi vừa tới đã chụp chiếc mũ nilông lên cọc giường tôi và chào hỏi oang oang tưởng đến làm sập cả phòng bệnh. Chừng nào y còn ở lại trong phòng - lạ gì cái thói bẻm mép của dân thày cãi - hành vi bạo lực của y còn làm tôi mất thăng bằng và thư thái.
Sau khi đặt quà cáp lên chiếc bàn một chân phủ tấm vải sơn màu trắng kê dưới bức tranh thuốc nước vẽ cỏ chân ngỗng và kể lể chi tiết những kế hoạch cứu chữa mà họ đang hoặc sắp sửa thực thi, nhằm nhồi vào đầu tôi, đối tượng của những xoay sở không biết mệt của họ, ý thức về mức độ tận tâm của họ, những con người này lại thấy tràn trề yêu đời và từ giã tôi. Lúc đó, tay y tá của tôi mới đến; anh ta làm thông thoáng phòng rồi gom nhặt các sợi dây buộc những gói quà. Nhiều khi, thông phòng xong, anh còn có thì giờ vừa ngồi bên giường tôi gỡ dây vừa toả ra mênh mông im lặng đến nỗi cuối cùng, tôi gọi im lặng là Bruno và Bruno là im lặng.
Bruno Miinsterberg - thôi không đùa nữa: đó là tên người y tá của tôi - mua cho tôi năm trăm tờ giấy viết. Nếu số dự trữ này không đủ, Bruno, vốn độc thân, không vợ không con, quê ở Sauerland, sẵn sàng đến cái xưởng giấy nhỏ một lần nữa (ở đây bán cả đồ chơi) kiếm cho tôi những gì cần thiết để hoàn thành bài tập hồi ký của mình, tôi hy vọng thế. Tôi ắt chẳng bao giờ có thể yêu cầu những người đến thăm tôi giúp cho việc ấy, không thể nhờ cha trạng sư chẳng hạn, hoặc Klepp cũng không được. Lòng yêu mến ân cần, lo lắng, chắc chắn sẽ ngăn các bạn tôi mang một vật nguy hiểm như giấy trinh bạch vào đây để phó mặc cho sự bài tiết ngôn từ của trí não tôi.
Khỉ tôi bảo Bruno :“Này! Bruno, anh có vui lòng mua giúp tôi năm trăm tờ giấy còn trinh không?” thì anh ta ngước nhìn trần nhà và chĩa ngón tay trỏ lên đó mà rằng : ‘‘Giấy trắng như thế kia ấy à, ông Oskar?”
 
Tôi thích cái từ “còn trinh” ấy và tôi bảo Bruno đến cửa hàng cũng cứ nói thế. Khi anh ta trở về vào cuối buổi chiều với xấp giấy, tôi thấy là anh ta đang có những khúc mắc trong lòng. Mấy lần, anh nhìn thật lâu lên trần nhà, nơi anh kiếm tìm mọi cảm hứng của mình, rồi lát sau bật ra: “Ông đã dặn tôi nói cái từ cần nói. Lúc tôi hỏi mua giấy trinh nguyên, cô bán hàng đỏ rừ mặt trước khi mang hàng ra cho tôi.”
 
   Nỗi sợ phải lao vào một cuộc trò chuyện kéo dài về đề tài các cô gái bán hạng ở xưởng giấy khiến tội đâm tiếc là đã dùng cụm từ giấy còn trinh: bởi thế tôi im lặng và chờ cho Bruno rời khỏi phòng; bấy giờ tôi mới mở cái gói bọc năm trăm tờ giấy ra.
    Một lát sau, không lâu lắm, tôi thử nhấc xấp giấy khá cứng và nâng nó lên. Tôi đếm lấy mười tờ và cất số còn lại vào tủ nhỏ cạnh giường; tôi lấy chiếc bút máy trong ngăn kéo, cạnh quyển album ảnh: bút đầy mực. Tôi có đủ mực dự trữ và tôi bắt đầu.
 
Như thế nào đây? Người ta có thể bắt đầu từ đoạn giữa rồi, bằng một cung cách táo bạo, làm rối beng đoạn đầu và đoạn cuối. Người ta có thể chọn loại hình mô-đéc, xóa nhòa các thời kỳ và các khoảng cách rồi sau đó tuyên bố hoặc để cho tuyên bố là rốt cuộc, người ta đã giải quyết được vấn đề không gian - thời giam Người ta cũng có thể tuyên bố ngay từ đầu rằng ngày nay, viết tiểu thuyết là điều bất khả, rồi, cách nào đó chính bản thân mình cũng không biết (nếu có thể nói thế), đẻ luôn ra một pho tiểu thuyết dày cộp để ra cái điều ta đây là tiểu thuyết gia cuối cùng còn tồn tại. Tôi cùng nghe nói là muốn tốt và hợp cách thì tiên chưng hãy nêu lên thành định đề: không còn có nhân vật chính của tiểu thuyết nữa vì không còn có những kẻ cá nhân chủ nghĩa, vì cá tính đã mất tiêu, vì con người là cô đơn, mà giờ mọi người đều cô đơn y hệt nhau, bị tước mất nỗi cô đơn cá thể và hợp thành một khối đoàn kết vô danh không có nhân vật chính. Chung quy, điều đó đâu phải là bất khả. Nhưng về phần chúng tôi - tôi đây, Oskar, và anh chàng y tá Bruno của tôi - tôi muốn khắng định thẳng thừng: cả hai chúng tôi đều là nhân vật chính, những nhân vật chính khác hắn, anh ta đằng sau lỗ nhòm, tôi đằng trước; và khi anh ta mở cửa là thôi rồi: bất chấp tình bạn giữa chúng tôi và nỗi cô đơn của mỗi chúng tôi, cái còn lại chỉ là một khối vô danh không có nhân vật chính...
Tôi sẽ bắt đầu từ thời điểm khá lâu trước khi có tôi; bởi vì chẳng ai nên mô tả đời mình mà không chừa thời gian trước cuộc tồn sinh của chính mình để tưởng niệm nửa số ông bà nội ngoại. Hỡi các vị đang sống một cuộc sống rốỉ rắm cách xa cái bệnh viện tâm thần này, tất cả các vị, bạn bè và khách thăm hằng tuần, vốn không ngờ đến chuyện tôi tích trữ giấy, tôi xin giới thiệu với quý vị bà ngoại của Oskar.     
 
Vào một buổi chiều tà tháng mười, bà ngoại tôi Anna Bronski đang ngồi xệp dưới đất trong mớ váy lòe xòe bên một ruộng khoai tây. Nếu đó là buổi sáng, ắt ta đã có thể thấy bà lấy cào vun những lá khoai thành từng đống nhỏ xinh bằng những động tác khéo biết chừng nào. Buổi trưa, bà đã ăn một lát bánh mì ướp mỡ lợn quết nước mật rồi cuốc xới nốt mảnh ruộng. Bây giờ đây bà đang ngồi xệp dưới đất trong mớ giữa hai cái thúng đã gần đầy. Trước những đế ủng đựng ngược hai mũi xáp gần nhau của bà, phập phù một ngọn lửa hen xuyễn đốt bằng lá khoai, tỏa trên mặt đất thoai thoải một làn khói bẹt ngập ngừng. Dạo ấy vào năm 1899. Bà tôi đang ở giữa xứ sở người Kashubes [1] gần Bissau, nhưng đúng ra là về bên phía nhà máy gạch. Bà ngồi bệt dưới đất, cách Ramkau không xa, đằng sau Viereck, mặt hướng con lộ Brenntau, giữa Dirschau và Karthaus, quay lưng lại cánh rừng Goldking sầm tối, và với một nhành cây phỉ đã cháy thành than ở chỗ đầu nhọn, bà vùi những củ khoai tây xuống lớp tro nóng.
Sở dĩ tôi vừa đặc biệt nhắc đến cái váy của bà tôi, sở dĩ tôi đã nói khá rành rõ: “Bà ngồi xệp dưới đất trong mớ váy’’ - sở dĩ tôi đặt tên chương này là “Cái váy ụp”, đó là vì tôi biết rõ mình mang nợ cái món trang phục ấy những gì. Bà tôi không chỉ mặc một, mà những bốn cái váy chồng lên nhau. Không phải bà mặc một chiếc váy dài và ba chiếc váy ngắn; bà mặc bốn cái váy dài như nhau, cái nọ đ cái kia; bà mặc váy theo một hệ thống riêng, mỗi ngày lại đổi trật tự chồng váy. Cái hôm qua mặc ngoài cùng, hôm nay cho vào trong, dưới một lớp, cái thứ hai thành cái thứ ba. Cái thứ ba hôm trước giờ ôm sát người. Cái váy bữa qua tiếp xúc với da thịt bà tôi giờ phô ra họa tiết, nghĩa là chẳng có họa tiết gì: những chiếc vảy của bà ngoại Anna Bronski đều thuần một sắc thái khoai tây như nhau. Hắn là cái sắc thái này hợp với màu da bà.
Ngoài cái sắc độ ấy, những cái váy của bà tôi còn khác thường ở tầm rộng quá mức của khổ vải. Chúng khum tròn thành hình chuông, phồng lên và kêu phần phật khi gió thổi, xẹp xuống khi tắt gió và cả bốn cái xòe ra phía trước bà khi bà đi xuôi gió. Muốn ngồi xuống, bà phải thu gọn chúng quanh mình.
Ngoài bốn cái vảy thường xuyên phồng lên hoặc rũ xuống, quấn quanh hay dựng đứng, cứng sững và trống rỗng, bà tôi còn có một cái váy thứ năm bên cạnh giường nằm. Cái này chẳng có gì khác với bốn cái kia, cũng màu khoai tây. Hơn nữa, cái váy thứ năm không phải là bất di bất dịch. Giống như các chị em của nó - bởi vì váy vốn là giống cái mà - nó cũng phải phục vụ theo chế độ luân phiên, có mặt trong số bốn cái váy được mặc vào người và cũng như chúng, cứ đến phiên (nghĩa là năm tuần một lần vào ngày thứ sáu) lại phải đem giặt trong chậu, sáng thứ bảy đem phơi trên dây trước cửa sổ nhà bếp và khi nào khô, đem là trên tấm ván là.
Cứ sau một ngày thứ bảy bù đầu với công việc nội trợ - nào bếp núc, nào giặt giũ, là ủi - sau khi vắt sữa con bò cái và cho nó ăn, bà ngoại tôi ngâm mình từ đầu đến chân vào bồn tắm, bỏ lại một chút bản thân vào trong nước và bọt xà-phòng, sau đó bước ra ngồi lên mép giường, mình quấn tấm vải hoa, lúc ấy, trên sàn trước mặt bà đã xếp sẵn bốn chiếc váy vừa mặc và chiếc váy sạch. Bà đưa ngón tay trỏ bên phải ấn lên mí mắt dưới bên phải, không hỏi ý kiến bất kỳ ai, kể cả ông anh trai Vincent; vì thế, bà quyết định khá nhanh. Đứng trên đôi chân trần, bà lấy ngón chân gạt sang bên cái có màu khoai tây bợt nhất trong số bốn cái váy. Bây giờ, cái váy sạch bèn được thế vào chỗ vừa bỏ trống.
Sáng chủ nhật, bà đi lễ nhà thờ ở Ramkau và khai trương trật tự mới trong chồng váy để tỏ lòng tôn kính Chúa Jêxu - ý niệm của bà về Chúa Jêxu rất rõ ràng. Bà tôi mặc cái váy mới giặt như thế nào? Đây không chỉ là một phụ nữ sạch sẽ mà còn là một phụ nữ hơi phù phiếm, cho nên bà trưng cái váy tươm tất nhất ra ngoài, đặc biệt vào những ngày nắng đẹp.
Vậy mà cái buổi chiều bà tôi ngồi bệt dưới đất đằng sau đống lửa lá khoai ấy lại nhằm đúng một ngày thứ hai. Cái váy mặc bên ngoài hôm chủ nhật, sang ngày thứ hai, xích lại gần người bà thêm một lớp; trong khi đó cái váy hôm trước còn ấm hơi da thịt bà, giờ chít ngang hông, rủ xuống buồn bã bên ngoài những cái khác. Bà vừa huýt sáo bâng quơ vừa lấy cành phỉ cời tro moi ra củ khoai tây đầu tiên vừa chín tới. Bà đẩy củ khoai ra xa đống lửa cho gió làm nguội đi. Rồi dùng một que nhọn xiên củ khoai đen xì, vỏ xém giòn, nứt toác đưa lên gần miệng, đôi môi khô nẻ lúc này không huýt sáo nữa mà ráng thổi cho sạch tro và đất bám trên vỏ khoai.
Bà ngoại tôi cứ nhắm mắt mà thổi. Khi cho rằng thổi vậy là đủ, bà bèn mở một mắt ra, rồi cả mắt kia nữa; những chiếc răng cửa thưa nhưng cực đẹp vừa cắn lại nhả ra liền; củ khoai bồn bột quá nóng, bốc hơi trong hốc miệng đang há ra của bà; bên trên hai lỗ mũi phập phồng nhả khói cùng khí lạnh tháng mười, đôi mắt bà trợn tròn nhìn vượt qua cánh đồng về phía chân trời bị ngắt từng đoạn bởi những cột điện báo, trong đám này cao vọt lên ống khói nhà máy gạch.
Có một cái gì đang chuyển động giữa những cột điện báo. Bà tôi ngậm miệng, bặm môi lại, nheo mắt và bắt đầu nhấm nháp củ khoai. Có cái gì đó chuyển động giữa những cột điện báo; cái gì đó nhảy chồm chồm. Ba người đang chạy giữa những cột điện báo, cả ba đều hướng về phía ống khói nhà máy gạch, rồi họ lượn một đường vòng và một trong số đó chạy theo chiều ngược lại, tốc độ mỗi lúc một tăng. Anh ta vượt qua xưởng gạch. Vóc người anh ta thấp và bè bè; hai người kia thì cao, mảnh. Rồi sau xưởng gạch, họ lại chạy giữa những cột điện báo; nhưng tay thấp và bè bè chạy ngoắt ngoéo và có vẻ vội vã hơn hai tay cao, mảnh; và hai tay này lại quay trở lui về tận chỗ nhà máy gạch vì tay kia đã lại phóng đi như mũi tên khi hai tay nọ chỉ còn cách có hai mét; và tất cả lại xuất phát, rồi đùng một cái chẳng còn ai, thôi chả chơi nữa, tay thấp bé nhảy phốc một cái từ trên ống khói, biến mất đằng sau chân trời.
Họ dừng ở đó. Đây là lúc nghỉ giải lao. Hoặc là họ thay phục trang, hoặc là họ lại nặn gạch lấy tiền công.
Lợi dụng lúc nghỉ giải lao, bà tôi định xiên một củ khoai thứ hai nhưng trượt mất vì đúng lúc đó cái gã thấp bè bè lại nhô lên từ chân trời. Anh ta không hề thay đổi trang phục. Anh ta bước qua chân trời như thể bước qua một hàng rào, tựa hồ anh ta dần bỏ rơi những kẻ đuổi bắt mình giữa đám gạch hoặc trên quốc lộ Brennlau. Vậy mà anh ta vẫn có vẻ hối hả như trước, muốn đi nhanh hơn cả các cột điện báo. Anh ta bước những bước dài, đi xuyên qua cánh đồng; bùn bắn lên từ những đế giày, anh ta ra sức bứt mình khỏi lớp đất dính và mặc đầu bước rõ dài, anh ta vẫn chậm rề rề trên lớp đất dính. Đôi lúc tưởng như phần dưới của anh ta bị dán chặt xuống, thế rồi anh ta lại lơ lửng trên không một thoáng vừa đủ để lau mồ hôi trán trước khi lại cắm chân xuống cánh đồng mới cày ải bên cạnh năm sào khoai tây.
Và anh ta đã tới chỗ con đường trũng. Cái bóng thấp và bè bè của anh ta vừa khuất vào con đường trũng thì những cái bóng cao và mảnh của hai cha kia lại xuất hiện ở chân trời, có lẽ trong lúc vừa rồi, họ đã tranh thủ thăm xưởng gạch. Cao và mảnh chứ không gày, chân đi ủng, họ sải bước trên lớp đất dính hăm hở đến nỗi bà tôi một lần nữa lại xiên trượt củ khoai tây: bởi lẽ đâu phải ngày nào ta cũng có dịp thấy ba người lớn hắn hoi, tuy vóc dáng có khác nhau, nhảy lò cò quanh những cột điện báo, đe dọa quật đổ ống khói nhà máy gạch, rồi, người đi đầu thấp, bè bè cách hai người kia cao, mảnh một quãng, cả ba hì hụi như nhau, kéo theo đế ủng một lớp bùn mỗi lúc một dày thêm, cùng xuyên qua cánh đồng vừa được Vincent cày ải hôm kia, để rồi khuất vào con đường trũng.
Vậy là không còn nhìn thấy ai nữa và bà tôi lại có thể xiên được một củ khoai tây. Bà thổi nhanh cho sạch đất và tro, rồi bỏ tọt cả củ vào trong mồm và nghĩ bụng (ví bằng bà có nghĩ gì) chắc đó là người xưởng gạch. Và bèn nhai tới nhai lui, đảo cả hàm, vừa lúc một người nhô ra khỏi con đường trũng. Một cái nhìn dữ dằn vượt qua bộ ria của anh ta; nhảy phốc hai bước, anh ta đã ở cạnh đống lửa. Cùng một lúc, anh ta ở cả đằng trước, đằng sau và hai bên đống lửa. Anh ta chửi thề. Rõ ràng là anh ta sợ, không biết đi đâu, không thể quay lui vì hai cha kia, cao và mảnh, đang rượt theo trong con dường trũng. Anh ta đập tay vào hai đầu gối, đôi mắt như sắp bật ra khỏi đầu: mồ hôi ròng ròng trên trán. Và hổn hển[sub]r[/sub] bộ ria mép rung rung, anh ta đánh liều bò bốn chân đến tận trước đế giày của bà tôi. Anh ta lại sát cạnh và nhìn bà tôi như thể anh ta là một con vật nhỏ. Bà thở dài: không thể tiếp tục nhai khoai tây được nữa. Bà thu chân về; bà thôi không nghĩ đến gạch, đến xưởng gạch, đến những thợ làm gạch nữa, mà vén cái váy, à quên xin cải chính, nhất loạt vén cả bốn cái váy lên độ cao vừa đủ cho anh chàng thấp-bè-bè ấy (dứt khoát không phải là người xưởng gạch rồi) chui cả người vào. Giờ thì chẳng thấy anh ta đâu nửa, kể cả bộ ria mép, anh ta không còn cái vẻ của một con thú bị săn đuổi nữa, không phải người vùng Ramkau hay Viereck gì hết.
Anh ta đã biến mất dưới cái váy cùng với nỗi sợ của mình và thôi không đập tay lên hai đầu gối nữa, không thấp cũng chẳng bè bè nữa, tuy nhiên vẫn chiếm một chỗ cho riêng mình. Anh ta quên cả hổn hển, quên cả run và quên cả đập tay lên hai đầu gối. Và tất cả bỗng im lìm như trong ngày đầu tiên của cuộc Sáng Thế hay ngày Tận Thế, một làn gió mơn man ngọn lửa lá khoai, những cột điện báo lặng lẽ tự điểm danh, ống khói xưởng gạch đứng sững trong tư thế nghiêm. Còn bà tôi thì đưa tay vuốt chiếc váy trên cùng cho phang phiu. Bà hầu như không cảm thấy người đàn ông qua bốn lần váy của mình; cái váy thứ ba thậm chí không hề biết là có một điều gì mới mẻ và khác thường đang xảy đến với làn da dưới lớp váy thứ tư. Phải, thật là khác thường, nhưng vì cái váy ngoài cùng đã được vuốt thẳng thớm còn cái thứ hai và thứ ba thì chẳng biết mô tê gì, nên bà bèn moi từ đống tro ra hai ba củ khoai tây, lấy bốn củ sống trong cái rổ đặt dưới khuỷu tay trái vùi vào tro nóng và dùng que cời cời cho khói bốc lên cuồn cuộn - thử hỏi bà còn biết làm gì khác nữa.
Những cái váy của bà tôi vừa mới được soạn lại cho tươm tất, làn khói sền sệt của ngọn lửa lá khoai, bị những động tác vung chân, đập tay và đảo tro làm chệch hướng, vừa mới nương theo gió chỉnh lại đường bay về phía đông-nam, thì đùng một cái, hai tay cao-mảnh nhô ra khỏi con đường trũng. Họ đuổi theo gã thấp-bè-bè lúc này đang ở dưới bốn lớp váy, và có thể thấy là hai tay cao-mảnh này, vì lý do nghề nghiệp, mang đồng phục cảnh sát.
Lao đi như hai mũi tên, họ suýt nừa vượt quá chỗ bà tôi. Một cha thậm chí đã nhảy qua đống lửa. Nhưng, chợt nhớ ra là mình mang ủng, họ bèn dùng ủng làm phanh hãm. Mình vận đồng phục, chân đi ủng, họ bơi trong khói, rồi vừa ho sặc sụa vừa tiến lại gần, đồng phục của họ kéo theo chút khói và họ vẫn tiếp tục ho khi nói với bà tôi; họ muốn biết bà có trông thấy tên Koljaiczek không, bởi chăng bà tất phải trông thấy hắn vì bà ngồi ngay cạnh con đường trũng mà hắn, cái tên Koljaiczek ấy, thì chạy trốn theo con đường trũng.
Bà tôi chẳng thấy tên Koljaiczek nào cả bởi vì bà không biết ai tên là thế. Hắn có làm ở xưởng gạch không, bà hỏi lại, vì bà chỉ biết cánh thợ làm gạch thôi. Nhưng hai tay đồng phục mô tả tên Koljaiczek như một kẻ không liên quan gì với gạch ngói cả, mà có dáng người thấp bè bè. Bà tôi chợt nhớ là có trông thấy một gã như thế chạy theo hướng này - củ khoai tây bốc khói đầu que xiên chỉ về phía Bissau và cứ theo như củ khoai tây thì Bissau ắt
hẳn ở khoảng giữa hai cột điện báo thứ sáu và thứ bảy tính từ xưởng gạch đổ về bên phải. Còn như cái gã trốn chạy ấy có phải là Koljaiczek không thì bà chẳng biết vì bà còn đang loay hoay với cái đống lửa mịt mù cháy chẳng ra cháy dưới chân, đầu óc đâu mà để ý đến những kẻ chạy qua hay dừng lại trong đám khói, vả lại, bà chẳng bao giờ bận tâm đến những người bà không quen biết; và bà chỉ quen những người ở Bissau, Ramkau, Vlerick và xưởng gạch thôi - chừng nấy là đủ với bà.
Nói vậy rồi, bà khẽ thở dài, vừa đủ để khiến bọn đồng phục hỏi tại sao bà thở dài. Bà hất hàm về phía ngọn lửa, ý nói bà thở dài vì nó cháy tồi và phần nào cũng vì các người dừng lại trong đám khói nữa; rồi bằng những chiếc răng cửa thưa, bà cắn đôi củ khoai tây, bắt đầu nhai lấy nhai để, mắt trợn ngược lên.
Bọn cảnh sát không rút ra được thông tin gì từ cái nhìn trân trân lơ đãng của bà tôi. Họ phân vân không biết có nên tìm Bissau đằng sau những cột điện báo hay không. Để tỏ vẻ ta đây, họ thục vài nhát lê vào mấy đống lá khoai không chịu bén lửa bên cạnh. Bất chợt nẩy ra sáng kiến, họ đồng loạt lật nhào hai thúng đầy khoai tây mà bà tôi đang tì khuỷu tay lên; và phải một lúc lâu sau họ mới hiểu ra tại sao chỉ có những củ khoai tây lăn ra trước mũi ủng của họ chứ không phải là một tên Koljaiczek. Nghi nghi hoặc hoặc, họ đi quanh đống khoai tây, làm như thể Koljaiczek có thể trong nháy mắt đã chui vào trong đó; họ nhằm cẩn thận xọc lưỡi lê vào đó, nhưng chẳng thấy ai kêu vì bị đâm trúng. Sự nghi ngờ của họ không bỏ qua một bụi cây còi cọc, một lỗ chuột nhắt nào, rà soát một loạt hang chuột chũi rồi quay lại chia vào bà tôi đang ngồi xệp như mọc rễ dưới đất, miệng thở dài, mí mắt cụp xuống chỉ để lộ lòng trắng con ngươi và lẩm nhẩm đọc tên tất cả các thánh bằng tiếng Kashubes với một giọng lu loa than vãn vì nồi lửa không chịu bốc và hai thúng khoai tây thì đổ tung tóe.
Bọn đồng phục ở rán lại nửa tiếng đồng hồ, lúc thì đứng cách xa đống lửa, lúc lại sán đến gẩn. Họ nhằm ống khói xưởng gạch, tính chuyện chiếm Bissau, rồi quyết định hoãn cuộc tiến công lại và xòe những bàn tay tím tái trên ngọn lửa cho đến khi bà tôi, vẫn không ngừng thở dài, cho mỗi gã một củ khoai tây nướng cắm trên đầu que xiên. Nhưng mặc đầu mồm đang bận nhai, họ vẫn còn rảnh đầu để chợt nhớ ra là mình đang vận đồng phục và thế là hấp! họ chạy một mạch đến đầu kia cánh đồng cách khoảng một tầm ném đá, xộc tới bụi kim tước bên rìa con đường trũng khiến một chú thỏ rừng chạy té ra, song có điều tên chú không phải là KoỊjaiczek. Họ trở lại bên đống lửa và những củ khoai bột ấm nóng mùi than hồng và bắt tay vào công việc hòa bình là xếp trả vào thúng những củ khoai tây mà vừa nãy, cúc cung tận tụy với nhiệm, vụ, họ đã đổ tung tóe ra đất.
Mãi đến khi buổi chiều ép từ bầu trời ra được một cơn mưa nhỏ chênh chếch và một hoàng hôn đen như mực, họ mới hối hả, nhưng có phần miễn cưỡng, rời đi thám sát một cột mốc đằng xa đang chìm dần trong bóng tối. Hoàn thành nốt nhiệm vụ này là đủ, họ lại duỗi chân duỗi cẳng một chút và hơ những bàn tay ban phước lên đống lửa đang bị mưa làm lụi dần trong khói mù. Ho sặc sụa một thôi nữa trong khói xanh, ứa một giọt nước mắt nữa trong khói vàng, họ cất bước về phía Bissau, vừa ho vừa khóc. Nếu tên Koljaiczek không còn ở đây thì ắt là hắn đang ở Bissau. Đối với một cảnh sát thì bao giờ cũng chỉ có hai khả năng mà thôi.
Đám khói mãi không tan bao quanh bà tôi như một cái váy thứ năm rộng mênh mông, thành thử cả bà tôi cùng những tên thánh bằng thổ ngữ Kashubes và bốn cái váy bà đang mặc cũng ở dưới váy như Koljaiczek.
Khi bọn đồng phục chỉ còn là những cái chấm lắc lư chìm dần trong chiều tà giữa những cột điện báo, bà tôi mới từ từ đứng dậy một cách khó nhọc, như thể bà đã mọc rễ và giờ đây gắng nhổ mình lên khiến đất vụn và rác rơi lả tả quanh người.
Koljaiczek cảm thấy lành lạnh khi bị phơi ra đột ngột dưới làn mưa. Anh vội cài lại khuy quần mà nỗi lo sợ cùng nhu cầu tìm kiếm một chỗ nương náu đã khiến anh cởi ra dưới những lớp váy. Những ngón tay anh làm việc nhanh thoăn thoắt vì anh sợ của quý của mình mau chóng trở nên buốt giá trong tiết thu đầy đe dọa.
Bà tôi tìm thấy dưới tro bốn củ khoai tây nóng sốt nữa, Bà cho Koljaiczek ba, còn một dành cho mình. Trước khi đưa lên miệng cắn, bà còn hỏi lại một lần nữa anh ta có phải là người xưởng gạch không mặc dầu bà biết rõ rằng Koljaiczek có thể từ bất cứ nơi nào đến, nhưng không phải dân làm gạch. Không cần đợi trả lời, bà giao cho anh ta cái thúng nhẹ hơn, còn mình thì còng lưng dưới cái kia, nặng hơn. Bà còn rảnh một tay để cầm cái cào và cái cuốc; rồi, với thúng khoai tây, cào và cuốc, bà giong buồm-bốn-váy xuôi về phía mỏ đá Bissau.
Không phải đích thị Bissau mà hơi chếch về mạn Ramkau. Vậy là họ bỏ lại xưởng gạch bên tay trái và đi về phía khu rừng đen với Goldkrug ở giữa và Brennlau phía sau. Ngay trước khu rừng, trong một dải đất trũng, là mỏ đá Bissau. Joseph Koljaiczek, vẫn thấp bè bè, theo bà tôi đến đó, không cách chi rời khỏi những cái váy của bà nữa.
 
 
Chú thích :
1 - Dân tộc Tây Xlavờ đã Đức hoá sống ớ vùng Tây Phố cũ và Đông Bắc Pomerania, cho đến năm 1945, khoảng 150.000 người vẫn nói liếng Kashuhcs như tiếng mẹ đẻ.  Tiếng Kashubes thành mội thổ ngữ trung gian giao tiếp giữa người Ba Lan và người Tây Pomerania: (Tất cả các chú thích trong cuốn sách này đều của người dịch)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.05.2016 21:43:14 bởi Ct.Ly>
DƯỚI GẦM BÈ
 
Nằm dài như tôi đây trên chiếc giường kim lọai vô trùng của bệnh viện tâm thần, dưới con mắt theo dõi của Bruno qua cái lỗ nhòm, mà tả lại những cuộn khói lê thê của một ngọn lửa lá khoai ở vùng Kashubes cùng với những vệt rơi nghiêng của cơn mưa tháng mười, quả là không đơn giản tí nào. Nếu không có cái trống nhắc mọi tình tiết phụ cần thiết cho việc kê lại câu chuyện này trên giấy trắng mực đen - nó là bộ nhớ hoàn hảo khi ta biết khéo léo vận dụng - và nếu không được viện cho phép gõ trống ba-bốn giờ mỗi ngày, tôi ắt thành một gã cha căng chú kiết không có gì để kể về ông bà nội ngoại.
Vậy cái trống của tôi kể rằng: vào cái buổi chiều tháng mười năm một ngàn tám trăm chín chín ấy, trong khi bên Nam Phi ông chú Kruger đang chải cặp lông mày chổi sể, thì tại đây, ở quãng giữa Dirschau và Karthaus, gần xưởng gạch Bissau, dưới một cơn mưa chênh chếch và bốn lớp váy đồng màu, giữa khói mù, lo âu nơm nớp cùng những tiếng thở dài đệm theo lời nguyện cầu bằng thổ ngữ Kashubes, bất chấp những câu hỏi ngu xuẩn của hai cha cảnh sát mắt cay sè vì khói, người đàn ông thấp bè bè tên là Joseph Koljaiczek đã khởi cuộc sinh thành nên mẹ Agnès của tôi.
Ngay đêm hôm ấy, bà tôi Anna Bronski thay đổi họ. Với sự cộng tác của một linh mục rất phóng khóang trong hành lễ, bà trở thành Anna Koljaiczek và đi theo Joseph; không phải sang Ai Cập, mà là đến cái thị xã bên bờ sông Mottlau, tại đó Joseph kiếm được một chân đi bè và tạm thời yên thân về phía cảnh sát.
Tôi khoan chưa nói tên cái thị xã ở cửa sông Mottlau ấy chỉ cốt làm tăng thêm sự hồi hộp, mặc dầu đáng ra phải làm thế ngay vì đó chính là nơi sinh của mẹ tôi. Vào cuối tháng sáu năm một chín không không - bấy giờ vừa có sắc lệnh tăng gấp đôi chỉ tiêu đóng tàu biển, loại thiết giáp hạm - mẹ tôi ra đời dưới chòm sao Nhân Sư chiếu mệnh. Tự tin, lãng mạn, kiêu kỳ và phù phiếm. Ngôi nhà đầu đời, còn gọi là domus vitae, ở độ hoàng đạo vào giờ sinh: sao Song Ngư, bản tính dễ bị ảnh hưởng. Chòm Mặt Trời đối lập với sao Hải Vương, ngôi nhà thứ bảy hay domus matrimonii uxoris, đem lại sự hỗn độn. Sao Kim đối lập với sao Thổ, gọi là hành tinh chua, như ai náy đều biết, gây các bệnh gan và lá lách, nổi trội ở Nam Dương và chấm dứt ở Nhân Sư, được sao Hải vương cho lươn, thích cà dược, hành và bia, làm chua rượu, sống cùng với sao Kim ngôi nhà thứ tám tức ngôi nhà chết: dự báo chết bất đắc kỳ tử, còn như việc thụ thai trên cánh đồng khoai tây thì hứa hẹn một hạnh phúc đầy bất trắc dưới sự che chở của sao Thủy trong nhà của bà con họ hàng.
Đến đây, phải nhường chỗ cho lời phản đối của mẹ tôi: không bao giờ mẹ chịu nhận là mình được hoài thai ngoài cánh đồng khoai tây. Đành rằng ông già cũng có thử tòm tem thật - điều này thì mẹ thừa nhận; nhưng tư thế của cả hai đều không đủ thuận lợi để Koljaiczek có thể làm Anna Bronski thụ thai.
“Chắc là vào ban đêm trong khi chạy trốn, hoặc trong thùng xe của bác Vincent hoặc thậm chí mãi về sau, khi đã được cánh chở bè ở Troyl cho tá túc.”
Đó là những lời mẹ tôi thường nói để xác định bước khởi đầu cuộc sinh tồn của mình, và bà tôi, người thừa biết đầu đuôi xuôi ngược ra sao, thì cử kiên nhẫn gật đến sái cổ mà rằng: “Hẳn thế, con ạ, chắc là ở trong thùng xe hay có khi ở Troyl cũng nên, chứ đâu phải ngoài cánh đồng: bữa ấy mưa gió thấy mồ.”
 
Vincent là anh trai bà tôi. Sau khi vợ mất sớm, ông làm cuộc hành hương đến Czestochowa, ở đó Đức Mẹ Matka Boska Czestochowa [1] đã ra lệnh cho ông phải xem Người là hoàng hậu tương lai của Ba Lan. Từ đó, ông luôn vùi đầu vào những quyển sách kỳ quái, phát hiện ở từng câu trong đó sự xác nhận những mục tiêu chinh trị của Mẹ Chúa Trời và để mặc em gái trông coi trang trại cùng mấy mẫu đất. Jan, con trai ông, bấy giờ mới bốn tuổi, là một đứa bé ốm yếu, lúc nào cũng chực khóc; Jan chăn ngỗng, tích cóp ảnh màu và, ôi chao, quả là điềm báo trước! mới nứt mắt đã sưu tầm tem thư.
 
Bà tôi đưa Koljaiczek cùng những thúng khoai tây về cái trang trại một lòng một dạ với Đức Mẹ Nữ Hòang Ba Lan ấy. Sau khi biết chuyện gì đã xẩy ra, ông Vincent liền chạy đến Ramkau kèo nèo cha xứ kỳ đến khi ông này đành phải đến làm lễ cưới cho Joseph và Anna. Vị linh mục ngái ngủ vừa mới ngáp ngắn ngáp dài ban phước xong và quay cái lưng giáo chức của mình ra về cùng với một lườn thịt lợn sấy hậu hĩ, là Vincent lập tức đóng ngựa vào chiếc xe hòm, xếp đôi vợ chồng mới lên chiếc ổ rơm lót bao tải, đặt thằng cu Jan run cầm cập và rấm rứt khóc bên cạnh mình trên ghế lái và ra hiệu lệnh cho ngựa thẳng tiến vào đêm tối: chuyến đi tân hôn đang hồi khẩn trương.
 
Khi xe tới cảng bốc gỗ của thị xã, đêm đã tàn nhưng trời vẫn còn tối. Những người bạn, cũng dân chở bè như Koljaiczek, đón cặp uyên ương trên đường trốn chạy. Vincent đánh xe lộn lại và cho ngựa đi về hướng Bissau: một chị bò cái, một ả dê, một mụ nái sề với lũ lợn con, tám con ngỗng và chú chó canh đang chờ thức ăn, chưa kể cu Jan đang hâm hấp sốt cần một cái giường nằm.
Joseph Koljaiczek lặn biệt ba tuần, đủ để nuôi một bộ tóc mới có đường rẽ ngôi; ông cạo nhẵn ria xoay giấy tờ căn cước mới sạch trơn không vết bợn và kiếm được một chân đi bè dưới cái tên Joseph Wranka. Nhưng tại sao Koljaiczek lại phải lấy giấy tờ căn cước của gã đi bè Wranka đã bị đánh ngã nhào khỏi bè trong một cuộc ẩu đả và chết đuối ở sông Bug vào quãng trên Modlin một tí mà nhà chức trách không hề hay biết? Bởi lẽ sau một thời gian bỏ nghề đi bè, ông đã làm việc ở một xưởng cưa ở gần Schwetz, tại đó ông đã có chuyện xung đột với chủ xưởng. Đó là vì một cái hàng rào mà bàn tay khiêu khích của Koljaiczek đã sơn thành hai màu đỏ trắng [2] . Chắc là để chứng tỏ ta đây không phải tay vừa. Lão chủ xưởng cưa nhổ hai cái cọc rào, một đỏ một trắng, nện lên cái lưng nòi Kashubes của Koljaiczek những đòn trời giáng kỳ cho đến lúc hai cái cọc rào mang màu ái quốc đó nát vụn thành một đống đo đỏ trăng trắng. Chừng đó đủ khiến Koljaiczek uất máu đến nỗi ngay đêm hôm sau, hẳn là một đêm trời đầy sao, ông đã hòa lửa đỏ vào màu trắng của xưởng cưa mới toanh vừa quét vôi để tôn vinh một nước Ba Lan bị chia cắt song chính vì lẽ đó lạl càng thống nhất hơn bao giờ hết.
 
Thế là Koljaiczek trở thành kẻ phạm tội phóng hỏa, mà không phải chỉ một lần, bởi lẽ những ngày sau đó, trên khắp miền Tây nước Phổ, các xí nghiệp cưa cũng như bãi gỗ, đều làm mồi cho ngọn lửa hai màu hừng hực tình cảm dân tộc. Như tất cả mọi lần liên quan đến tương lai đất nước Ba Lan, Đức Mẹ Maria Đồng Trinh đều can dự vào các vụ hoả hoạn này và có những nhân chứng mục thị - những người này có lẽ chưa phải đã chết hết - tuyên bố là đã thấy Mẹ Đức Chúa Trời đội vương miện Ba Lan trên những mái nhà đang sập đổ của nhiều xưởng cưa. Nghe nói dân chúng, vốn cứ thấy cháy to là kéo đến, đã cất giọng hát bài ca ngợi Bogarodzica Mẹ Chúa Trời. Phải thừa nhận rằng những đám cháy của Koljaiczek là chuyện thiêng liêng: ở đó, người ta thường phát thệ.
Và trong khi Koljaiczek bị truy lùng ráo riết dưới tội danh đốt nhà thì gã chở bè Joseph Wranka tứ cố vô thân, hiền lành, vô vị, không tiền án tiền sự, không mấy ai biết đến cũng chẳng ai truy lùng, vẫn chia mớ thuốc lá nhai của mình thành những khẩu phần hàng ngày, cho đến một hôm, ngã tòm xuống sông Bug, để lại trong túi áo va-rơi ba khẩu phần thuốc lá cùng với giấy tờ tuỳ thân. Và vì gã Wranka chết đuối không nói được nữa mà cũng chẳng ai hỏi han lôi thôi gì về gã, nên Koljaiczek, vốn cùng khổ người và cùng kiểu đầu tròn xoay, bèn luồn mình vào chiếc áo va-rơi, rồi vào giấy tờ căn cước lý-lịch- không-tiền án-tiền-sự của gã, bỏ thói quen hút tẩu chuyển sang nhai thuốc, tập nhiễm những đặc tính riêng nhất, thậm chí cả những lỗi phát âm, của Wranka. Trong những năm sau đó, trong vai một tay bè chịu thương chịu khó, tần tiện, hơi cà lăm, ông đã chở hàng rừng gỗ xuôi các dòng sông Niemen, Bobr, Bug và Vistula. Cũng cần nói thêm rằng Wranka đã từng leo được lên chức cai trong đội khinh kỵ binh của Thái tử, dưới quyền chỉ huy của Mackensen, vì Wranka chưa làm nghĩa vụ quân sự còn Koljaiczek, lớn hơn bốn tuổi, đã phục vụ trong pháo binh tại Thorn với một thành tích kém cỏi.
Những tên dữ dằn nhất trong đám đạo tặc, giết người, đốt nhà, ngay cả khi đang theo đuổi công việc bất lương của chúng, vẫn rình ngóng cơ hội kiếm được một nghề tử tế hơn. Một số tên đã gặp may trong cố gắng tìm kiếm ấy. Trong cái lốt của Wranka, Koljaiczek trở thành người chồng hiền đức, chừa hẳn cái tật phóng hỏa, chừa tiệt nọc đến độ chỉ nhìn thấy một que diêm, ông đã run lên. Những bao diêm vô tội bỏ vương trên bàn nhà bếp không tránh khỏi những cơn bạo lực của ông, ấy vậy mà đáng lý ông phải là người phát minh ra diêm mới đúng. Nhưng ông quăng cái vật cám dỗ ấy qua cửa sổ. Bà ngoại tôi phải khó khăn lắm mới chuẩn bị được bữa ăn nóng sốt đúng giờ giấc. Nhiều đêm, gia đình phải ngồi trong bóng tối vì không có gì để thắp đèn.
Tuy nhiên Wranka này đâu phải là một bạo chúa. Ngày chủ nhật, ông đưa Anna Wranka của mình đi chầu lễ nhà thờ ở phố dưới và cho phép bà đi dạo trong bốn chiếc váy như trên cánh đồng khoai tây xưa, với tư cách là vợ chính thức của ông. Mùa đông, khi các dòng sông đóng băng, và cánh chở bè không có việc làm, ông ngoan ngoãn ở lại Troyl. Nơi đây, chỉ có cánh chở bè, phu bến cảng và thợ đóng tàu trú ngụ. Ông trông coi đứa con gái nhỏ Agnès, cô bé có vẻ như thiên về ‘gien’ bố: lúc nào cũng trốn lủi, không dưới gầm giường thì trong tủ quần áo, hoặc khi nhà có khách thì ngồi thu lu dưới gầm bàn chơi với những con búp-bê nhồi cám.
Cô bé Agnès chỉ thích lẩn trốn và tìm thấy trong sự náu mình ấy một cảm giác an toàn như khi Joseph núp dưới bốn lớp váy của Anna, tuy nhiên với một niềm thích thú khác. Kẻ phóng hoả Koljaiczek đủ từng trải để hiểu nhu cầu được che chở của con gái minh. Cho nên khi làm một chuồng thỏ ngoài cái gọi là ban-công của căn hộ một gian rưỡi, ông đã ghép thêm vào đó một cái túp vừa kích cỡ Agnès. Thuở bé, mẹ tôi ‘định cư’ luôn tại đó cùng với những con búp-bê và lớn lên trong đó. Về sau, khi đã đi học, nghe nói mẹ tôi đã vứt bỏ chúng và tỏ ra sớm có ý thức về cái đẹp mong manh bằng thú chơi mới: những viên thuỷ tinh và lông chim nhuộm màu.
 
Bởi lẽ tôi đang nóng lòng muốn nói về cuộc tồn sinh của chính mình, nên xin được phép cho con bè gia tộc Wranka yên ả lướt nhanh tới năm 1913, khi mà con tàu Columbus được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Schichau; đó là thời điểm mà cảnh sát, vốn nhớ dai, chẳng quên bất cứ cái gì, tìm lại được dấu vết của tên Wranka giả mạo.
Sự cố bắt đầu vào tháng 8/1913, khi Koljaiczek, như thường lệ hàng năm vào dịp cuối hè, áp tải một bè gỗ lớn từ Kiev theo các sông Priper, Bug, Modlin xuôi về đến sông Vistula. Mười hai tay chở bè xuất phát trên tàu kéo Radaune phục vụ xưởng cưa, từ Westlich Neufhar theo nhánh cụt của sông Vistula tới tận Einlage, sau đó ngược sông Vistula, qua Käsemark, Letzkau, Czettkau, Dirschau; tối đến, họ dừng lại nghĩ ở Thorn. Tại đây, tay chủ mới của xưởng cưa xuống tàu để giám sát việc mua gỗ ở Kiev. Bốn giờ sáng, khi tàu Radaune thả neo, mọi người mới biết ông ta đang ở trên tàu. KoỊjaiczek lần đầu tiên trông thấy ông ta vào lúc ăn sáng trong khoang bếp. Tất cả ngồi thành vòng tròn, người nhai kẻ nhấp từng ngụm nhỏ cà-phê. Koljaiczek nhận ngay ra ông ta. Con người to ngang, hói trán ấy sai đi lấy vốtka rót vào những tách cà-phê đã cạn. Trong khi một số người vẫn nhai và ở đầu đằng kia, người ta vẫn tiếp tục rót vốtka, ông ta tự giới thiệu: “Tôi xin thông báo để các anh em biết tôi là chủ mới của xưởng cưa; tên tôi la Dückerhoff; tôi không muốn có chuyện rắc rối lôi thôi.”
Theo yêu cầu của ông ta, các tay chở bè, theo thứ tự ngồi quanh, lần lượt xưng tên và nốc cạn tách rượu của mình, khiến cục hầu lên lên xuống xuống. Koljaiczek uống cạn rồi nói: “Wranka” đồng thời nhìn thẳng vào mắt Dückerhoff. Ông ta gật đầu như với những người trước, nhắc lại cái tên Wranka như đã nhắc lại tên những tay bè khác. Nhưng Koljaiczek cảm thấy có một âm sắc đặc biệt trong cách Dückerhoff đọc tên gã chở bè chết đuối, không phải là nhấn giọng nhưng có phần tư lự.
 
Máy không ngưng chạy xinh xịch, con tàu Radaune khéo léo tránh những doi cát với sự giúp đỡ của những hoa tiêu liên tục thay thế nhau, không mệt mỏi đè lên lớp sóng ngầu đục phù sa. Bên trái, bên phải, đằng sau những con đê, vẫn là miền đất ấy: nơi bằng phẳng, nơi nhấp nhô thung đồi, nhìn chung mùa màng đã gặt xong. Những hàng rào, những đường mòn, một khoảng trũng mọc đầy đậu chổi, lác đác đây đó vài nông trại biệt lập; một cảnh quan thích hợp cho những đợt xung phong của kỵ binh, cho một sư đoàn kỵ binh đánh thuê vòng bên trái vu hồi xọc vào, những khinh kỵ binh phốc ngựa qua hàng rào, phù hợp với  ước mơ của những sĩ quan kỵ binh trẻ, với trận mạc trong quá khứ và trong tương lai, với bức tranh lịch sử anh hùng: những tên Tartar rạp mình trên bờm ngựa, những long kỵ trên chiến mã chồm lên, những hiệp sĩ Teuton gục ngã, vị tế sư trong chiếc áo lễ đẫm máu, không một vết xước trên tấm giáp che ngực, trừ một gã bị quận công Mazowsze hạ sát. Và những con ngựa đẹp hơn ngựa xiếc, cổ đeo đầy nhạc, những đường gân được vẽ rất tĩ mỉ, những lỗ mũi nở rộng, màu đỗ son, phun ra từng cụm mây nhỏ xuyên thủng bởi những ngọn giáo phất phơ cờ hiệu, gươm đao rạch trời và hoàng hôn, và ở nền đằng sau - bức tranh nào mà chả có nền - bám chắc trên đường chân trời là một làng nhỏ với những ống khói bình yên tỏa khói giữa hai chân sau của con ngựa ô, với những ngôi nhà lụp xụp mái rạ tường rêu; và trong những càn nhà tranh đó, những chiếc chiến xa nhỏ xinh mơ đến một ngày sẽ tới khi cả chúng cũng có thể xông ra góp mặt vào bức tranh, đằng sau những con đê của sông Vistula, như bày ngựa con tung tăng giữa đoàn siêu kỵ.
 
Qua khỏi Wloclawek, Dückerhoff dí ngón tay trỏ vào áo va-rơi của KoỊjaiczek:
“Nói nghe nào, Wranka, có phải trước đây cậu đã từng làm việc ở xưởng cưa Schwetz? Vào cái năm xưởng bị cháy ấy?”
Koljaiczek nặng nề lắc đầu như thể cổ ông bằng gỗ, đồng thời nhuốm được vào cái nhìn của mình một vẻ rầu rĩ và mệt mỏi đến nỗi Dückethoff không nỡ gặng hỏi thêm nữa.
 
Đến Modlin, nơi sông Bug đổ vào sông Vistula, tàu Radaune rẽ vào sông Bug và Koljaiczek cúi mình trên lan can tàu nhổ xuống nước ba lần như cánh chở bè thời đó vẫn thường làm theo thông lệ. Dückerhoff đứng bên với một điếu xì-gà và hỏi xin lửa. Chữ ‘lửa’ và chữ ‘diêm’ đi liền theo làm Koljaiczek sởn da gà.
 “Này! đằng ấy không việc gì phải đỏ mặt lên như thế khi tớ hỏi xin lửa. Đằng ấy là con gái hay sao vậy?”
Mãi đến khi đi khỏi Modlin một quãng khá xa, Koljaiczek mới hết đỏ mặt, hiển nhiên ông đỏ mặt không phải vì hổ thẹn mà đó là hồi quang muộn mằn của những xưởng cưa mà ông đã phóng hoả.
 
Vậy là, ngược sông Bug, giữa Modlin và Kiev, qua kênh đào nối sông Bug với sông Pripet cho đến sông Dniepr, chẳng có lời lẽ gì đặc biệt bõ kể lại trong cuộc đối thoại Koljaiczek-Dückerhoff. Dĩ nhiên, theo lẽ thường, có thể đã xảy ra lục đục bất hoà giữa cánh chở bè với nhau, giữa cánh chở bè với đám thợ đốt lò trên tàu, giữa người cầm lái, đám thợ đốt lò và thuyền trưởng, giữa thuyền trưởng và các hoa tiêu thay đổi soành sạch. Tôi có thể dễ dàng mường tượng những cuộc cãi lộn giữa những tay chở bè người Kashubes và gã lái tàu quê quán ở Stettin, thậm chí cả bước sơ khởi của một dấy loạn: hội họp ở khoang sau, bốc thăm, trao đổi mật hiệu, mài dao kiếm. Nhưng thôi, xin đủ những thứ đó. Không có gây rối chính trị, không có ấu đả giữa người Đức và người Ba Lan cũng chẳng có nổi loạn xuất phát từ những bất bình xã hội. Tàu Radaune ngày ngày vẫn ngoan ngoãn ăn than. Có một lần - hình như vừa qua khỏi Plock - nó mắc phải một doi cát, nhưng rồi tự gỡ ra được. Một cuộc tranh cãi ngắn nhưng gay gắt giữa thuyền trưởng Barbusch và tay hoa tiêu người Ukraina, có thế thôi - chẳng có gì khác được ghi trong nhật ký hàng hải.
 
Nhưng nếu như tôi có khả năng và điều kiện để xây dựng một cuốn nhật ký ghi lại những suy nghĩ và tình cảm thầm kín của Koljaiczek hoặc của Dückerhoff thì chắc hẳn sẽ có vô khối diễn biến ly kỳ: ngờ ngợ, cơ sở xác thực cho sự nghi ngờ, bán tín bán nghi và, gần như đồng thời, tạm dẹp mối hoài nghi, lưỡng lự rồi lại tiếp tục ngờ vực. cả hai cùng e ngại nhau. Dückerhoff thậm chí còn sợ hơn là Koljaiczek vì đây đã là nước Nga. Dückerhoff rất có thể té nhào từ mạn tàu xuống sông như Wranka trước đây; cũng có thể - những bãi khai thác gỗ ở Kiev rộng mênh mông, anh dễ dàng bị lạc đồng thời mất luôn vị thiên thần hộ mệnh của mình giữa những trận đồ bát quái này - cũng có thể bất thình lình một đống gỗ thỏi đổ ụp xuống đầu y. Hoặc giả y có thể được cứu mạng. Mà người cứu lại chính là Koljaiczek! Koljaiczek có thể vớt ông chủ mới của xưởng cưa bị thần hộ mệnh bỏ rơi từ dưới sông Pripet hay sông Bug, hoặc vào giây phút chót, có thể kéo giật Dückerhoff lại, vừa vặn tránh khỏi đống gỗ thỏi để ập xuống. Thật đẹp đẽ nếu lúc này tôi có thể thuật lại cái cảnh Dückerhoff suýt chết đuối hoặc thiếu nước nát nhừ người, thở không ra hơi, một thoáng bóng của tử thần còn vương trong ánh mắt, thì thầm vào tai ngươi đội tên Wranka: “Cảm ơn Koljaiczek, cảm ơn!” rồi sau một quãng ngừng bắt buộc:
“Thế là hai ta dứt nợ với nhau...Cho qua nhé!”
Và với một nụ cười bối rối đượm vẻ thân ái thô kệch, họ nhìn thẳng vào tròng mắt nhau, mi chớp vội như để giấu một giọt lệ, trước khi sượng sùng xiết chặt bàn tay chai sạn của nhau.
 
Chúng ta đã từng thấy cảnh này diễn xuất tuyệt hảo, quay tuyệt hảo trong nhiều phim: cuộc hoà giải giữa hai ngươi anh em thù địch, từ nay trở thành chiến hữu suốt đời, chia sẻ ngọt bùi cay đắng qua mọi gian lao nguy hiểm.
 
Nhưng Koljaiczek không kiếm được cơ hội nào để dìm chết Dückerhoff, cũng chẳng có dịp kéo giật y khỏi lưỡi hái của thần chết thể hiện dưới dạng thác gỗ đổ ầm ầm. Dückerhoff, một mực lo toan cho lợi ích của xưởng, chỉ mải mốt mua gỗ ở Kiev, giám sát việc đóng số gỗ ấy thành chín bè và, theo cổ lệ, phát thưởng cho đám thợ bè bằng tiền Nga để chi dùng trên đường về rồi đáp xe lửa đi xuyên Warsaw, Modlin, Deutsch - Eylau, Marienburg và Dirschau trở về cơ sở của mình; đó là một xí nghiệp cưa ở cảng gỗ nằm giữa các bãi đóng tàu Klawitter và Schichau.
 
Trước khi theo đám thợ bè từ Kiev xuyên qua kênh đào xuôi các dòng sông và cuối cùng, tới sông Vistula sau nhiều tuần làm việc vất vả, tôi cần phải ngẫm lại xem Dückerhoff có chắc là đã nhận ra tên phóng hoả Koljaiczek trong cái lốt của Wranka hay không. Tôi đố rằng chừng nào còn ở trên tàu kéo cung với anh chàng Wranka hiền lành, chăm chỉ, được mọi người yêu mến tuy hơi đần, tay chủ xưởng rất muốn tin rằng người bạn đồng hành ấy không phải là kẻ liều mạng Koljaiczek. Hy vọng ấy chỉ từ bỏ y khi đã đàng hoàng yên vị trên  xe lửa. Và khi xe lửa về tới đích, tức là nhà ga trung tâm Danzig, Dückerhoff đã đi đến quyết định. Y thuê một cái xe chở riêng hành lý về nhà rồi tay không, thoăn thoắt đi tới đồn cảnh sát gần đấy bên bờ sông Wiehenwall, phốc qua các bậc thềm của cửa chính và, sau một lúc bồn chồn tìm kiếm, vào trúng cái văn phòng cần vào để trình một báo cáo ngắn nêu toàn sự việc. Y không đích thị tố cáo Koljaiczek - Wranka, mà chỉ yêu cầu làm sáng tỏ vụ này và cảnh sát hứa sẽ truy cứu.
 
Trong nhiều tuần sau đó, trong khi đám gỗ cùng những lều sậy và thợ bè trên đó tiếp tục xuôi dòng, y còn đến nhiều văn phòng, viết kín nhiều trang giấy nữa. Trước hết, có hồ sơ quân dịch của binh nhì Joseph Koljaiczek thuộc trung đoàn pháo binh dã chiến X. miền Tây Phổ. Gã lính trơn này đã hai lần bị giam ba ngày ở bót cảnh sát vì đã hô những khẩu hiệu vô chính phủ bằng tiếng Đức pha tiếng Ba Lan trong cơn say. Những vết nhơ đó không hề thấy trong lý lịch của hạ sĩ Wranka phục vụ trong trung đoàn khinh kỵ cận vệ 2 đóng tại Langfuhr. Anh chàng Wranka đã từng chói sáng vinh quang: là liên lạc viên tiểu đoàn trong những cuộc tập trận lớn, anh ta đã gây ấn tượng tốt với Thái tử; vốn luôn luôn có sẵn tiền trong túi, ngài bèn thưởng cho Wranka một đồng thaler [3]. Đồng thaler này không được ghi trong hồ sơ quân dịch của hạ sĩ Wranka, mà do chính bà ngoại Anna của tôi rền rĩ nêu ra khi bà bị hỏi cung cùng với ông anh Vincent.
 
Và đó không phải là lý lẽ duy nhất bà đưa ra để phản bác lời cáo giác vô căn cứ tội phóng hoả. Bà còn trình ra nhiều giấy tờ xác minh rằng ngay từ năm 1904, Joseph Wranka đã xung vào đội cứu hoả tình nguyện ở Danzig - Niederstadt, rằng trong những ngày đông tháng giá, khi cánh thợ bè nghỉ dài, ông đã tham gia dập tắt nhiều đám cháy lớn nhỏ. Lại có cả một giấy chứng chỉ xác nhận rằng hồi xảy ra vụ cháy lớn ở ga xe lửa Troyl vào năm 1909, anh lính cứu hoả Wranka, chỉ nghe theo lòng can đảm của mình, không những đã dập tắt được lửa mà còn cứu thoát hai thợ cơ khí tập sự.
Đại uý cứu hoả Hecht, được mời đến làm chứng, cũng phát biểu theo tinh thần đó. Và ông ta rút ra kết luận sau đây, được ghi lại trong biên bản: “Làm sao anh ta, người đã anh dũng chiến thắng lửa, lại có thể là kẻ phóng hoẳ cho được? Chao, tôi vẫn còn thấy hình ảnh anh ta đứng trên chiếc thang cứu hoả khi nhà thờ Heubude đang cháy đùng đùng! Từ tro và lửa bước ra như Phượng Hoàng tái sinh, anh ta không những đã dập tắt lửa mà còn xoa dịu vết bỏng của thế gian, làm nguôi cơn khát của Thượng Đế! Tình thật, tôi xin nói với các vị: kẻ nào bôi nhọ thanh danh của người mang chiếc mũ cứu hoả, cái kẻ được ưu tiên nhường đường ở các ngã tư, cái kẻ được các hãng bảo hiểm trân trọng. Cái kẻ luôn luôn có trong túi một dúm tro hoặc để làm bùa, hoặc vì lý do nghề nghiệp, cái kẻ định tố cáo con Phượng Hoàng rực rỡ kia phạm tội đốt nhà, tôl xin nói thẳng, kẻ đó đáng bị buộc một hòn đá vào cổ quang xuống... ”
Đại uý Hecht, như các bạn hẳn đã nhận thấy, là một cha xứ, một nhà hùng biện; mỗi chủ nhật, ông lên giảng đài nhà thờ giáo xứ St. Barbara ở Langgarten và trong suốt thời gian điều tra vụ Koljaiczek - Wranka, ông không ngừng oanh tạc các tin đồ của mình bằng những ngụ ngôn về người lính cứu hoả nhà trời và con quỷ đốt đền của địa ngục.
Nhưng vì đám thanh tra của đội cảnh sát hình sự không đến St. Barbara nghe giảng đạo và vì đối với họ, cái từ Phượng Hoàng có vẻ như một sự khi quân hơn là một minh oan cho Wranka, nên người ta coi những hoạt động của Wranka trong đội cứu hoả tình nguyện như một căn cứ phụ để buộc tội.
 
Người ta thu thập chứng cứ từ các xưởng cưa, từ nơi sinh của cả hai người: Wranka ra đời ở Tuchel còn Koljaiczek thì chôn nhau cắt rốn tại Thorn. Đem khớp những lời khai của những thợ bè lớn tuổi và bà con xa của hai người, thì trật ra những mâu thuẫn nhỏ. Già néo đứt dây. Khi tiến trình điều tra đến đoạn này thì con bè lớn bắt đầu vào lãnh thổ Đức; từ Thorn trở đi, nó bị bí mật giám sát và các thủy thủ lên bờ đều bị theo dõi.
 
Mãi sau khi đi qua Dirschau, ông ngoại tôi mới nhận thấy mình “có đuôi”. Ông vẫn chờ đợi thế. Tuồng như một trạng thái mụ mẫm sâu xa mấp mé chứng suy nhược thần kinh đã ngăn ông “cắt đuôi” ở quãng gần Letzkau hoặc Käsemark; ở cái vùng ông thuộc như lòng bàn tay này, với sự đồng loã của một vài tay thợ bè tận tình, ông thừa sức làm được điều đó. Từ Einlage trở đi, khi những bè gỗ va đập nhau từ từ trôi vào sông Vistula - Chết, một tàu đánh cá với đoàn thủy thủ đông quá mức cần thiết liền áp sát theo, cố gắng một cách lộ liễu để tỏ ra không lộ liễu. Ngay sau khi qua Plehnendorf, hai chiếc xuồng máy của cảnh sát cảng vụt lao ra từ đám sậy ven bờ và bắt đầu rẽ sóng tới lui trên làn nước càng gần đến cảng càng lợ của sông Vistula - Chết. Vòng vây cảnh sát vận đồng phục xanh lơ bắt đầu từ bên kia cây cầu dẫn tới Heubude và dăng khắp các bãi gỗ trông sang Klawitter, các xưởng đóng tàu nhỏ, cảng gỗ trải dài đến tận sông Mottlau, các cầu bến của các xưởng cưa, kể cả cầu tàu của công ty ông nơi gia đình đang chờ ông; khắp nơi đều thấy những bộ đồng phục xanh lơ; khắp nơi trừ Schichau, nơi đang tưng bừng cờ xí: hình như ngưòi ta chuẩn bị hạ thủy một con tàu. Những đám đông náo nức, cả những con hải âu cũng náo nức. Lễ chào mừng ai vậy? Chào mừng ông ngoại tôi?
 
Ông ngoại tôi trông thấy cảng gỗ đầy những bộ đồng phục xanh. Những chiếc xuồng máy xiết hẹp thêm những vòng lượn đồng tâm và hắt những con sóng qua mặt bè. Ông hiểu tại sao người ta lại tổ chức những cảnh tốn kém này. Bấy giờ - và chỉ đến bấy giờ - nhịp tim xưa của kẻ phóng hoả trong ông mới bắt đầu đập trở lại. Ông khạc gã Wranka nhu mi ra, trút cái lốt cứu hoả tình nguyện, nôn phứt đi cái tật nói lắp và bỏ chạy, chạy miết trên các bè gỗ, trên những bề mặt rộng bập bênh, chân trần trốn chạy trên một thứ sàn gồ ghề, từ thoi gỗ này sang thoi gỗ khác, nhằm hướng Schichau, nơi phất phới cờ xí, nơi đang tưng bừng lễ hạ thủy với những diễn văn hoa mỹ, nơi không có ai hô bắt Wranka hay Koljaiczek. Chỉ còn mấy bước nữa, chỉ còn mấy thoi gỗ nữa thôi. Schichau kia rồi, ở đó người ta đang tuyên bố đại loại như: Ta đặt tên ngươi là TĐV [4] Colombus, chạy tuyến châu Mỹ, hơn bốn mươi ngàn tấn, ba mươi ngàn mã lực, phòng ăn hạng nhất và hạng hai, Tàu của Đức Vua, nhà bếp bên mạn tàu, phòng tập thể dục lát đá hoa, thư viện, tuyến châu Mỹ, Tàu của Đức Vua, thiết bị thăng bằng hiện đại, cầu dạo mát, Heil dir im Siegerkranz [5], cờ hiệu của cảng căn cứ. Hoàng tử Heinrich đứng cầm lái. Ông ngoại Koljaiczek tôi chạy chân trần hầu như không chạm các thoi gỗ, chạy về phía ban nhạc kèn đang tấu vang lừng, một đất nước có những hoàng tử như thế, từ bè này sang bè kia, dân chúng tung hô: Heil dir im Siegerkranz và tất cả các còi của các xưởng đóng tàu và các tàu đậu ở cảng, tàu kéo và du thuyền đều rúc, Colombus, châu Mỹ, Tự Do, và hai chiếc xuồng máy vẫn rượt theo ông, vui như điên, từ bè này sang bè kia những cỗ bè của Đức Vua, và chặn, đường rút của ông, tiếc thay, không còn vui chơi được nữa rồi, ông đứng một mình trên bè gỗ, và ông đã nhìn thấy châu Mỹ, nhưng những chiếc xuồng máy lại chắn ngang. Không còn cách nào khác ngoài việc lao xuống nước và thế là người ta thấy ông ngoại tôi bơi về phía một bè gỗ đang trôi vào dòng sông Mottlau. Những chiếc xuồng máy buộc ông phải nhào xuống và lặn dưới nước và đoàn bè gỗ lướt trôi bên trên ông và cứ thế lướt đi không ngừng, bất tận, bè này sinh ra bè kia, bè của bè của người, tiếp nối vĩnh viễn đời đời chẳng cùng, bè .
Những chiếc xuồng máy tắt “ga”. Những con mắt ráo riết rà khắp mặt sông. Nhưng Koljaiczek đã biến mất tăm, rời xa ban nhạc kèn, rời xa còi xưởng còi tàu chuông tàu, rời xa tàu của Đức Vua, bài diễn văn khánh thành của hoàng tử Heinrich và những con hải âu ngơ ngác, lời tung hô Heil dir im Siegerkranz và xà phòng đen của Đức Vua dùng để chà cho trơn đường của tàu Đức Vua, rời xa châu Mỹ và tàu Coumbus, rời xa đám cảnh sát truy đuổi và xin đủ đoàn bè gỗ trôi hoài trôi huỷ vô cùng tận.
Chẳng ai tìm thấy xác ông ngoại tôi. Mặc dầu tin chắc rằng ông đã chết chìm dưới các bè gỗ, ý thức tôn trọng toàn bộ sự thật vẫn buộc tôi phải trình thuật một số diễn giải khác cho rằng ông đã thoát hiểm một cách kỳ diệu.
 
Chẳng hạn, một số người nói rằng trong khi kẹt dưới đoàn bè, ông đã tìm ra một khoảng trống giữa những thoi gỗ, vừa đủ rộng để ông có thể thò hai lỗ mũi lên khỏi mặt nước, song phần trên lại đủ hẹp để che mắt bọn cảnh sát vẫn tiếp tục lùng sục từng chiếc bè cùng những lều sậy trên đó cho đến tối mịt. Rồi nhờ bóng đêm che chở - họ kể tiếp - ông tự phó mặc cho dòng nước cuốn đi cho đến lúc, kiệt lực nhưng còn sót chút may mắn, ông dạt vào khu vực xưởng đóng tàu Schichau ở bờ bên kia sông Mottlau; ở đó, ông tìm được một chỗ trú trong kho chứa sắt vụn; về sau, có lẽ nhờ sự giúp đỡ của mấy thủy thủ Hy Lạp, ông lọt được lên một trong những con tàu chở dâu nhớp nhúa đã từng chứa chấp nhiều kẻ trốn chạy.
 
Theo một diễn giải khác: KoỊjaiczek là tay bơi cự phách lại có buồng phổi đặc biệt, nên chẳng những đã luồn vô tư dưới lớp bè mà còn lặn ngầm qua cả chiều ngang sông Mottlau tới bãi của xưởng đóng tàu Schichau, ở đó ông lẳng lặng trà trộn vào đám đông phấn khích dự hội, hoà chung tiếng hô vang Heil dir in Siegerkranz, cùng hoan hô bài diễn văn của hoàng tử Heinrich. Rồi, lễ hạ thủy kết thúc thắng lợi, quần áo đã gần khô, Koljaiczek cùng với mọi người rời đám hội. Ngay tối hôm đó - đến đây, lại trùng hợp với dị bản thứ nhất - ông bí mật chuồn lên được con tàu chở dầu Hy Lạp nổi tiếng về thành tích bất hảo đó.
 
Để cho trọn vẹn, xin kể thêm một câu chuyện hoang đường thứ ba nữa: ông ngoại tôi, như một khúc củi rều, cứ thế trôi tuột ra biển, được mấy người dân chài vùng Bohrsack vớt lên rồi giao cho một tay đánh cá khơi người Thụy Điển ở ngoài vùng ba hải lý quy định. Sau đó, như thể do một phép mầu, ông bình phục và tới được Malmo, vân vân và vân vân.
 
Tất cả những cái đó chỉ là tào lao, là chuyện gẫu của đám dân chài. Tôi cũng chẳng mảy may tin những lời khai của các nhân chứng gọi là mục thị - loại này có thể gặp ở khắp các hải cảng trên thế giới, họ xưng xưng nói là đã thấy ông ngoại tôi ở Buffalo (Mỹ) ít lâu sau Thế chiến thứ nhất dưới cái tên Joe Colchic, nhà kinh doanh nhập khẩu gỗ từ Canada, có cổ phần trong nhiều nhà máy diêm, người sáng lập ra nhiều công ty bảo hiểm hoả hoạn. Một triệu phú sống cô độc trong một nhà chọc trời, ngự sau một cái bàn giấy kếch xù, mười ngón tay đầy nhẫn kim cương rực màu lửa, huấn luyện cho gã vệ sĩ vận đồng phục lính cứu hoả đi đều bước một - hai một - hai, hát bằng tiếng Ba Lan và được mệnh danh là Cận vệ của Phượng Hoàng - họ mô tả ông ngoại tôi như vậy.

Chú thích:
  [1] Tương truyền tấm hình Đức Mẹ Đồng Trinh trong một nhà thờ tu viện ở Czestochowa là do chính Thánh Luke vẽ và đã phát huy phép màu giải được một cuộc bao vây của quân Thụy Điển trong thế kỷ 17. Nơi đây trở thành một trong những đền đài miếu mạo nổi tiếng nhất ở Ba Lan, hiện nay hằng năm vẫn thu hút hàng đoàn người hành hương.
[2] Màu cờ Ba Lan.
[3] Tiền Đức bằng bạc.
[4] Tàu của Đức Vua
 [5] Xin chào Người dưới vòng nguyệt quế chiến thắng
 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.05.2016 21:49:52 bởi Ct.Ly>
BƯỚM VÀ ĐÈN
 
 
Một con người từ bỏ tất cả, băng qua đại dương, tới Mỹ và trở nên giàu có. Thôi được, về ông ngoại tôi như thế là tạm đủ, bất kể ta gọi ông là Goljaczek (theo tiếng Ba Lan), Koljaiczek (theo tiếng Kashubes) hay Colchic (theo tiếng Mỹ).
Với một cái trống thiếc tầm thường bán đầy ở quầy đồ chơi các cửa hàng bách hoá tống hợp, thật chẳng dễ gì mô tả cho sinh động những đoàn bè gỗ trôi đầy sông đến tận chân trời. Tuy nhiên, tôi đã dùng tiếng trống gợi lên được hình ảnh khu cảng gỗ với hàng mớ củi rều lềnh bềnh trong vịnh hoặc mắc vào những đám sậy, tái tạo được những bến hạ thủy của các xưởng đóng tàu Schichau và Klawitter, kho chứa sắt vụn của nhà máy toa xe, bãi thải cùi dừa khô thối hoắc của nhà máy macgarin, tất cả các ngóc ngách của cái cù lao bến cảng này mà tôi thuộc như lòng bàn tay.
Ông chết rồi, ông không hề trả lời, không tỏ ra quan tâm chút nào đến các cuộc hạ thủy những con tàu nhà vua, đến sự suy sụp của một con tàu bắt đầu ngay từ lúc hạ thủy và đôi khi kéo dài suốt hai, ba chục năm, cụ thể là trường hợp của TĐV Columbus có dạo được gọi là niềm kiêu hãnh của hạm đội; dĩ nhiên, người ta đưa nó vào chạy tuyến châu Mỹ và về sau nó bị đánh chìm hoặc tự đánh chìm bằng cách đục thủng đáy, trừ phi có thể nó đã được đưa lên đà để cải biến, thay tên hoặc thải bỏ. Cũng có thể con tàu Columbus ấy, bắt chước ông ngoại tôi, chỉ nhào xuống nước và đến tận hôm nay cả cái khối bốn mươi tấn ấy với phòng ăn, phòng tập thể dục lát đá hoa, bể bơi và các phòng mát xa vẫn còn vật vờ đâu đó tận sáu ngàn mét dưới đáy vụng Philppin hay Emden; ta có thể kiểm tra điều này trong sách “Weyer” hay trong các lịch hàng hải. Tôi cho rằng con tàu Columbus - thứ nhất hoặc thứ hai - đã tự đánh chìm bởi lẽ vị thuyền trưởng không còn mặt mũi nào tiếp tục sống sau một vết nhơ nào đó trên màu hạm kỳ.
Tôi đã đọc cho Bruno nghe đoạn kể về đoàn bè rồi yêu cầu y hãy thật khách quan trả lời câu hỏi của tôi.
“Một cái chết đẹp!” Bruno kêu lên phấn khích và ngay lập tức, với những đoạn dây xoắn nút, y bắt tay vào thể hiện hình tượng ông ngoại tôi chết chìm thành một sáng tác mới. Tôi đành bằng lòng với câu trả lời của y và từ bỏ những dự định ngông cuồng tìm đường sang châu Mỹ hòng kiếm chác chút của thừa tự.
 
Hai bạn tôi, Klepp và Vittlar, đến thăm tôi. Klepp mang đến một đĩa nhạc jazz: King Oliver cả hai mặt. Vittlar, với những cử chỉ điệu đàng, biếu tôi một quả tim bằng sôcôla tết một dải nơ hồng. Họ làm trò hề đủ kiểu, nhái lại nhiều cảnh trong vụ án của tôi và để làm vừa lòng họ, tôi làm bộ vui vẻ như những lần thăm hỏi khác, thậm chí còn cười tán thưởng những câu đùa ngớ ngẩn nhất. Trước khi Klepp kịp mở đầu bài thuyết trình tất yếu của hắn về quan hệ giữa nhạc jazz và chủ nghĩa Mác, tôi tranh thủ kể câu chuyện của tôi về người đàn ông bị kẹt dưới một đoàn bè gỗ dài bất tận, không thoát ra nổi; chuyện xảy ra vào năm 1913, không lâu trước khi cuộc chiến bắt đầu và không ai tìm thấy xác ông ta đâu cả.
 
Đáp lại những câu hỏi mà tôi đặt ra một cách thoải mái tự nhiên với giọng ngán ngẩm ra mặt, Klepp xoay cái bộ mặt phụng phịu trên cái cổ núng nính mỡ, cởi khuy áo rồi lại cài vào, làm ra cách đang bơi như thể chính hắn đang ở dưới bè vậy. Cuối cùng, hắn lắc đầu thoái thác và viện lẽ mới đầu giờ chiều, còn quá sớm để trả lời câu hỏi của tôi.
Vittlar thì ngồi cứng đơ, trong khi bắt chéo chân vẫn thận trọng không để nhàu những nếp “li” của chiếc quần kẻ sọc nhỏ, phô cái vẻ cao ngạo kỳ lạ chỉ có thể thấy ở những thiên thần nhà trời. “Tớ ở trên bè. Tớ thấy ở trên bè là tốt. Phiền một nỗi bị muỗi đốt. Tớ ở dưới gầm bè. Cũng tốt. Chẳng có con muỗi nào đốt tớ. Thật dễ chịu. Tớ nghĩ tớ có thể sống thoải mái dưới gầm bè miễn là không muốn ở trên bè để bị muỗi đốt.”
Vittlar dừng lại một lát để gây hiệu quả, nhìn kỹ tôi từ đầu đến chân rồi, nhướn cặp lông mày vốn đã khá cao như mỗi lần hắn muốn ra bộ giống một con cú mèo và nhấn giọng theo cách rất tuồng: “Tớ đồ rằng người chết đuối dưới gầm bè, nếu không phải là ông ngoại cậu, thì cũng là ông chú cậu. cảm thấy có nghĩa vụ đối với cậu trong tư cách là ông chú và, hơn thế nữa, là ông ngoại, ổng thà chết còn hơn vì không gì khổ hơn cho cậu là có một vị ông ngoại còn sống. Do vậy cậu không những là kẻ giết ông chú cậu mà còn là kẻ giết ông ngoại cậu. Tuy nhiên, như mọi đấng ông ngoại chân chính, ổng muốn phạt cậu một tí, ổng không cho cậu niềm thoả mãn được hãnh diện chỉ vào một cái xác trương phềnh nước mà rằng:
‘‘Hãy nhìn ông ngoại tôi chết đây này. Đó là một vị anh hùng! ông đã lao mình xuống nước khi bọn chúng truy đuổi ông. Ông ngoại cậu đã giấu biệt xác của mình đi không cho ai thấy. Tại sao? Để cho hậu thế và thằng cháu ngoại của mình còn phải băn khoăn bận tâm về ổng dài dài.”
Rồi vụt đổi giọng, ra bộ ranh mãnh, hắn hơi ngả người về phía trước, vỗ về: “Châu Mỹ! Vui lên đi, Oskar! Cậu có một mục đích, một sứ mệnh trong đời. Cậu sẽ được trắng án, được thả. Và cậu sẽ đi đâu nếu không phải là châu Mỹ, nơi mà người ta có thể tìm thấy lại mọi thứ, kể cả một người ông bị mất tích! ”
Câu trả lời của Vittlar, tuy đầy ý giễu cợt, thậm chí xúc phạm, vẫn cho tôi cảm giác xác thực hơn là cái kiểu dấm dẳn của Klepp bạn tôi, cứ lập lờ giữa sống và chết chẳng chút phân định rạch ròi, và hơn cả câu trả lời của gã y tá Bruno nữa; gã này thấy cái chết của ông ngoại tôi là đẹp chỉ vì một lý do duy nhất: ít bữa sau khi ông tôi mất, con tàu
Columbus được hạ thủy. Cầu Chúa ban phước cho cái châu Mỹ của Vittlar, nơi bảo tồn những người ông, mục đích và lý tưởng mà tôi có thể vịn vào để vươn dậy nếu một ngày nào đó, chán châu Âu, tôi định quẳng cả trống lẫn bút: “Tiếp tục viết đi, Oskar, hãy làm thế vì ông ngoại Koljaiczek của cậu, vị tỷ phú chán sống, nhà buôn gỗ ở Buffalo, ở Mỹ, người chơi nghịch diêm trong toà nhà chọc trời của mình! ”
Khi, cuối cùng, Klepp và Vittlar chào và ra về, Bruno bèn thông gió triệt để cho căn phòng nhằm xua hết cái mùi khó ngửi của các bạn tôi. Rồi tôi lại vớ lấy trống, nhưng tôi không kể về những thỏi gỗ bè giấu tử thi nữa; tôi gióng lên cái tiết tấu nhanh, hoạt mà mọi người phải nhất nhất hoà nhịp theo trong một thời gian dài từ sau tháng Tám năm 1914 ấy. Điều đó khiến tôi chỉ có thể nói qua loa về quãng đời, cho tới cái giờ tôi lọt lòng, của cái nhóm nhỏ dăm ba người chịu tang mà ông tôi để lại bên châu Âu.
 
Khi Koljaiczek mất tích dưới đoàn bè. Bà ngoại tôi cùng con gái là Agnès, ông Vincent Bronski cùng con trai là Jan bấy giờ mới bảy tuổi, đang đứng trên bến bãi xưởng cưa, giữa đám họ hàng bà con cánh thợ bè, lo lắng theo dõi. Đứng né một chút bên cạnh là Gregor, ông anh trai của Joseph, người được gọi lên tỉnh để thẩm vấn. Ông Gregor này bao giờ cũng sắp sẵn vẫn một câu bất di bất dịch để trả lời cảnh sát:
 “Tôi chả biết gì mấy về em trai tôi. Thực tình, tôi chỉ biết tên nó là Joseph. Lần cuối cùng tôi gặp nó, có lẽ nó chỉ mới mười hoặc mười hai tuổi là cùng. Nó thường đánh giày cho tôi và đi mua bia mồi khi mẹ tôi và tôi muốn uống bia.”
 
Mặc dù nhờ đó người ta có thể xác định được rằng cụ cố bà tôi vốn thích uống bia, câu trả lời của Gregor vẫn chẳng giúp gì cho cảnh sát. Song sự hiện hữu của ông anh trưởng Koljaiczek lại là một hỗ trợ lớn cho bà ngoại tôi. Ông Gregor đã sống đa phần cuộc đời ở Stettin, Berlin, rồi cuối cùng ở Schneidemỹhl, lưu trú tại Danzig, kiếm được việc làm ở nhà máy thuốc súng và sau một năm, khi mọi rắc rối, như cuộc hôn nhân của bà tôi với người mạo danh Wranka, đã được làm sáng tỏ, ông bèn cưới bà; bà vẫn thiết tha với dòng họ Koljaiczek và ắt sẽ không lấy ông Gregor, hoặc chỉ ít cũng không sớm thế, nếu ông không phải là một người mang họ Koljaiczek.
Nhờ làm việc ở nhà máy thuốc súng mà Gregor không phải đi lính trong thời bình cũng như thời chiến sau này. Ba người vẫn ở trong cái căn hộ một gian rưỡi đã từng bao năm là chỗ nương náu của kẻ phạm tội phóng hỏa. Nhưng rồi hóa ra không phải mọi người mang họ Koljaiczek đều nhất thiết phải giống nhau, vì sau một năm chung sống, bà tôi buộc phải thuê một cửa hàng dưới tầng hầm một chung cư ở Troyl và kiếm thêm đồng rau đồng cháo bằng cách bán tạp phẩm, từ kim găm đến cải bắp, vì Gregor, tiếng rằng kiếm hàng đống tiền ở nhà máy thuốc súng, nhưng được bao nhiêu đều uống sạch trơn, không mang về nhà đến cả khoản tối thiểu cần thiết cho sinh hoạt gia đình. Khác với ông ngoại Joseph của tôi thi thoảng mới làm một tợp rượu mạnh, Gregor là một tay Lưu Linh thực sự, có lẽ bởi “gien” cụ cố bà tôi. Ông uống không phải vì buồn, cũng chẳng phải vì vui. Ngay cả khi ông có vẻ hoan hỉ - một điều hiếm thấy vì ông vốn mắc chứng sầu bi - ông cũng không uống vì vui. Ông uống vì ông là một người triệt để, thích đi đến cùng kiệt sự vật, với be rượu cũng như với mọi thứ khác. Bình sinh, chưa ai từng thấy Gregor Koljaiczek tha cho một giọt rượu nào còn nằm ở đáy cốc.
 
Mẹ tôi, hồi đó là một cô gái bầu bĩnh mười lăm tuổi, ngoài công việc nội trợ trong nhà, còn đỡ đần bà tôi ở cửa hàng - dán tem phiếu vào sổ cái, phục vụ khách hàng vào những ngày thứ bảy và viết những bức thư vụng về nhưng giàu tưởng tượng độc đáo để thúc các khách nợ thanh toán. Tiếc rằng tôi không còn giữ được bức nào trong số đó. Sẽ tuyệt vời biết bao nếu tôi có thể trích dẫn ra đây một vài lời kêu than đau đớn đẩy chất nhi nữ từ những bức thư đó của mẹ tôi - xin nhớ mẹ tôi hầu như mồ côi vì ông Gregor còn xa mới đạt tới tư cách hoàn hảo của một ông bố dượng. Quả thật, bà tôi và mẹ tôi phải hết sức vất vả mới giấu được cái “két” - gọi thế cho sang, chứ thực ra chỉ là hai cái đĩa sắt tây úp vào nhau trong đó chỉ có mấy đồng bạc còn chủ yếu là tiền đồng - khỏi con mắt cú vọ thèm khát và rầu rầu, rất Koljaiczek, của lão thợ làm thuốc súng. Chỉ đến năm 1917, khi Gregor Koljaiczek chết vì bệnh sốt rét, phần lãi của cửa hàng mới tăng lên chút đỉnh, nhưng cũng chả được bao nhiêu: thử hỏi, vào cái năm 17 ấy thì còn có gì mà bán với chác?
Căn phòng nhỏ - trống vắng từ khi ông thợ làm thuốc súng chết, vì mẹ tôi, vốn sợ ma, nhất định không chịu ở đó - về sau được xếp cho anh họ mẹ tôi là Jan Bronski hồi đó vừa hai mươi tuổi; sau khi tốt nghiệp trường trung học ở Karthaus và qua một thời gian tập sự ở trạm bưu diện huyện, Jan rời Bissau và cha để di lập nghiệp với tư cách là viên chức Sở bưu chính Danzig-I. Ngoài chiếc va-li, Jan mang theo một bộ sưu tập tem đồ sộ góp nhặt từ hồi bé thơ. Quý vị thấy đó, sự gắn bó của ông với bưu chính vượt xa mối quan tâm nghề nghiệp; thực vậy, ông có một thứ tình cảm ân cần riêng tư đối với ngành hành chính này. Chàng thanh niên lẻo khoẻo với dáng đi lòng khòng này, bù lại, có một khuôn mặt trái xoan xinh đẹp, có lẽ hơi quá dịu dàng và đôi mắt đủ xanh để khiến mẹ tôi - bấy giờ đã mười bảy - phải lòng. Đã ba lần Jan ra trước hội đồng tuyển quân, nhưng lần nào cũng bị trả về vì gầy yếu đến thảm hại. Điều này nói lên quá rõ thể chất của Jan Bronski bởi hồi đó mọi kẻ thuộc giống đực còn tàm tạm đứng thẳng được đều bị dồn xuống tàu chở đến Verdun để chuyển tư thế từ thẳng đứng sang nằm ngang vĩnh viễn.
 
Chuyện huê tình của họ hẳn đã bắt đầu khi hai mái đầu trẻ kề bên nhau cùng xem những cuốn album tem, cùng ngắm nghía đường răng cưa và hình soi của những chiếc tem quý. Trong thực tế, nó bùng nổ khi Jan bị gọi tuyển lính lần thứ tư. Mẹ tôi, có việc lên tỉnh, đã theo ông đến tận quân khu và đứng chờ bên ngoài chòi gác của một tay dân quân. Hai người đã nhất trí với nhau rằng lần này Jan phải đăng lính bằng mọi giá để được đưa sang Pháp, ở đó không khí nổi tiếng là chứa nhiều thành phần sắt và chì có thễ sẽ chữa lành hai lá phổi ọp ẹp của Jan. Có lẽ mẹ tôi đã đếm đi đếm lại số khuy trên bộ đồng phục của tay dân quân và mỗi lần kết quả một khác. Tôi có thể dễ dàng hình dung hàng khuy của mọi bộ quân phục đều được sắp xếp sao cho khi đếm đến chiếc cuối cùng bao giờ cũng là Verdun, là Hartmannsweilerkopt, hoặc một dòng sông nhỏ nào đó, sông Somme hay sông Marne .
Khi, sau ngót một tiếng đồng hồ, gã thanh niên tuyển lính bốn lần không đắt, ra khỏi cổng quân khu, lao xuống các bậc thềm và ôm chầm lấy cổ mẹ tôi mà thì thầm cái câu rất êm tai hồi đó: “Đằng trước đằng sau đều không đạt. Trả về. Cho hoãn một năm!” thì lần đầu tiên mẹ tôi ghì chặt Jan Bronsski trong vòng tay và tôi không chắc có bao giờ họ hạnh phúc hơn thế trong vòng tay nhau.
Tôi không biết những chi tiết của mối tình thời chiến ấy. Jan bán một phần bộ sưu tập tem để thỏa mãn những yêu cầu của mẹ tôi, người vốn rất nhạy cảm với tất cả những gì hợp thời trang, đẹp và đắt tiền; nghe nói ông có một cuốn nhật ký mà tiếc thay, lại thất lạc mất. Xem ra bà ngoại tôi đã dung thứ cho mối quan hệ của đôi trẻ - rõ ràng vượt xa ranh giới tình cảm họ hàng - vì Jan Bronski vẫn trú tại căn hộ chật hẹp ở Troyl cho đến một thời gian ngắn sau chiến tranh. Chàng chỉ ra đi khi sự hiện hữu của một me xừ Matzerath trở nên hiển nhiên, không thể chối cãi. Mẹ tôi hẳn đã quen me  xừ này vào mùa hè năm 1918, khi bà làm y tá phụ ở bệnh viện Silberhammer gần Oliva. Alfred Matzareth, quê ở vùng Rhine, nằm viện với một viên đạn xuyên qua đùi, chẳng bao lâu, do tính tình vui nhộn vốn là bản chất của người vùng Rhine, đã trở thành đối tượng ưu ái của các nữ y tá. Mới nhúc nhắc được tí chút, ông đã lò cò ngoài hành lang, vịn tay một cô y tá nào đó, giúp việc Agnès mẹ tôi trong bếp vì chiếc mũ nữ y tá xinh xinh sao mà hợp với khuôn mặt tròn trĩnh của mẹ và vì ông vốn là người mê nấu bếp, có thể chế biến tình cảm thành xúp.
Khi vết thương lành, Alfred ở lại Danzig và kiếm ngay được chân đại diện cho một hãng văn phòng phẩm lớn ở Rhine vì ông đã làm việc ở đó từ hồi trước chiến tranh. Chiến tranh đến hồi tàn. Người ta nặn ra những hoà ước bôi bác chỉ để có cớ gây thêm những cuộc chiến tranh mới: vùng lãnh thổ quanh cửa sông Vistula - được phân giới đại khái bằng một đường chạy từ Vogelsang trên sông Nehrung dọc sông Nogar đến Pieckel, xuôi theo sông Vistula đến Czankau, cắt thẳng góc tới tận Schönfliess, vòng quanh khu rừng Saskoschin đến Hồ Ottomin, bỏ Mattern, Ramkau và vùng Bissau của mẹ tôi lại một bên và quay về Biển Baltic ở điểm KleirpKatz - được tuyên bố là một Bang tự do dưới sự kiểm soát của Hội Quốc Liên. Ngay trong địa phận bang này, Ba Lan được một cảng miễn thuế: cảng Westerplatte gồm cả kho đạn dược, sở hỏa xa và một nhà bưu điện riêng trên Quảng trường Hevelins.
Trong khi tem bưu chính của Bang tự do loè loẹt những màu vàng, đỏ của huy hiệu phường buôn thì những người Ba Lan dán trên bì thư của mình những cảnh minh họa truyền sử về Casimir [1] và Bathory [2] thuần một màu tím thê lương.
Jan Bronski theo Ba Lan nên chuyển sang làm ở Sở Bưu Chính Ba Lan. Hành động này xem ra có vẻ hồn nhiên song nhiều người lại cho đó là một phản ứng với sự không chung thủy của mẹ tôi. Năm 1920, khi Marszalek Pilsudski đánh bại Hồng quân trước cửa ngõ Vacxava, cái phép thần kỳ mà ông Vincent Bronski cho là do Đức Mẹ Mary Đồng Trinh, còn các chuyên gia quân sự thì gán cho tướng Sikorski hoặc tướng Weygand, phải, vào cái năm rất đậm nét Ba Lan ấy, mẹ tôi đính hôn với Matzerath, công dân của Đế chế Đức. Tôi đồ rằng cuộc đính hôn này chẳng làm bà ngoại tôi thích thú gì hơn bác Jan. Để lại cho con gái cái cửa hàng dưới tầng hầm ở Troyl mà bà đã gây dựng nên phát đạt, bà rút về Bissau ở với ông anh Vincent, và trên lãnh thổ Ba Lan, lại sắn váy quai cồng quản lý cái nông trại với những cánh đồng củ cải và khoai tây như thời kỳ tiền-Koljaiczek. Để cho ông anh đầy lòng biết ơn mặc sức trò chuyện với Đức Mẹ Đồng Trinh - Hoàng Hậu Ba Lan, bà trở lại ngồi bệt dưới đất trong bốn chiếc váy trước đống lửa mồi bằng vỏ khoai tây khô mà hấp háy mắt nhìn về phía chân trời vẫn ngắt từng đoạn bởi những cột điện báo.

Mãi đến khi Jan tìm được và cưới nàng Hedwige của mình, một cô gái Kashubes sống ở thành phố nhưng vẫn có ruộng đất ở Ramkau, quan hệ giữa ông và mẹ tôi mới được cải thiện. Tình cờ gặp nhau trong một tối khiêu vũ ở tiệm cà phê Woyke, mẹ tôi giới thiệu Jan với Matzerath. Hai me-xừ rất khác nhau này, song lại đồng điệu về tình cảm đối với mẹ tôi, đâm ra thích nhau, mặc dầu Matzerath vẫn thẳng thừng nhận xét bằng cái giọng đặc sệt vùng Rhineland rằng việc Jan chuyển qua sở Bưu chính Ba Lan là rồ dại
Jan nhảy với mẹ tôi, Matzerath nhảy với nàng Hedwige cao lớn, to xương có cái nhìn không thể hiểu nổi của một con bò cái khiến người ta tưởng như cô nàng có mang thường trực.

Năm 1921, vào thời kỳ lạm phát, khi mà người ta có thể dán giấy phủ tường một căn phòng ngủ với chi phí bằng giá một bao diêm, nghĩa là bằng không, Matzerath cưới mẹ tôi. Jan là một người làm chứng, còn người kia là một nhà buôn tên là Mühlen. về Mühlen, tôi không biết gì nhiều để kể với các bạn. Sở dĩ phải nhắc đến ông ta, chỉ là vì vào đúng thời kỳ đồng mark củng cố được đưa vào cuộc, mẹ tôi và Matzerath đã mua lại của ông ta một cửa hiệu tạp hoá xập xệ, xơ xác vì bán chịu, ở khu ngoại ô Langfuhrr. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ tích luỹ được kinh nghiệm hồi giúp việc dưới tầng hầm ở Troyl, biết cách ứng xử khéo léo với mọi loại khách hàng quen mua chịu, lại có khiếu bẩm sinh về buôn bán cộng thêm tài đối đáp linh hoạt, mẹ tôi đã vực được cái cửa hiệu sắp chết chìm phất lên đến độ Matzareth có thể từ bỏ chức vụ đại diện ngành giấy vốn chẳng phát đạt gì để giúp việc trong cửa hiệu.
Hai người bổ sung cho nhau thật tuyệt. Sự thao lược của mẹ tôi từ sau quầy hàng tương xứng với tài giao dịch của ông chồng trong giới chào hàng và bán buôn. Một điều nữa khiến cuộc hôn phối của họ càng thêm hoàn hảo: niềm đam mê của Matzerath đối với nghệ thuật nấu ăn bao gồm cả việc rửa bát đĩa - một may mắn lớn cho mẹ tôi vốn chẳng thú gì công việc bếp núc.
 
Căn hộ kề liền cửa hiệu đành rằng cũng chật chội và thiết kế vụng, nhưng so với điều kiện ăn ở ở Troyl (mà tôi chỉ được nghe kể lại) thì có thể xem như vào bậc trung lưu, đủ khiến cho mẹ tôi cảm thấy thỏai mái, chí ít là trong những năm đầu của đời sống vợ chồng.
 
Ngoài cái hành lang dài, hơi xệch xẹo, thường xuyên chất đống những hòm xà-phòng mảnh, còn có một gian bếp rộng cũng ngổn ngang các loại hàng như đồ hộp, bột mì, hạt lúa mạch. Trung tâm của căn hộ dưới tầng trệt là phòng khách có hai cửa sổ nhìn ra phố và một mảnh vườn nhỏ đằng trước, mùa hè được điểm tô bằng những vỏ ốc biển Baltic. Giấy dán tường đậm một màu đỏ vang, còn chiếc xôfa thì bọc bằng vải màu tía. Một cái bàn có tấm nối thêm, tròn góc, bốn chiếc ghế tựa bọc da đen và một cái bàn tròn nhỏ cho người hút thuốc không ngừng bị chuyển chỗ, đứng dạng chân trên một tấm thảm xanh lơ. Một chiếc đồng hồ đen và vàng treo giữa hai cửa sổ. Sát cạnh chiếc xôfa màu tía là chiếc piano đen, thoạt đầu thuê sau rồi mua trả góp, với chiếc ghế xoay đặt trên một tấm da thú lông dài màu trắng đã ngả vàng. Đối diện với chiếc piano là tủ buyp-phê đen với cửa kính trượt nẹp đen có trang trí hình trứng; phần dưới, đựng bát đĩa và khăn bàn, có cửa chạm trổ đầy hình quả trái, bốn chân là những móng vuốt đen xì. Trên mặt tủ, giữa chiếc cốc pha:lê đựng hoa quả giả và chiếc bình xanh được giải xổ số, là một khoảng trống mà sau này, tài buôn bán của mẹ tôi đã kịp lấp đầy bằng một máy thu thanh vô tuyến màu nâu nhạt.

Phòng ngủ rực sắc vàng và nhìn ra sân của khu chung cư bốn tầng. Quý vị có tin tôi hay không thì tùy, nhưng cái vòm của chiếc giường phu thê đích thị là màu da trời và dưới ánh sáng xanh lơ đó, một tấm hình nàng Madeleine đỏ da thắm thịt nằm trong hang đá, ăn năn sám hối, phóng một tiếng thở dài lên mép trên bên phải của bức tranh và xoắn hai tay vào nhau, đôi bàn tay nhiều ngón đến nỗi người ta cứ phải đếm đi đếm lại vì ngỡ đâu như không phải chỉ có mười. Phía trước giường phu thê là tủ lớn láng trắng có hai cửa gương, bên trái, một
bàn phấn nhỏ, bên phải, một tủ com-mốt mặt cẩm thạch; thiết bị ánh sáng gắn vào hai nhánh đồng treo thõng từ trần xuống, không che chụp bằng xa tanh như ở phòng khách mà bằng hai bán cầu sứ màu hồng nhạt từ đó chòi ra hai bóng đèn lung linh.
 
Hôm nay tôi đã khua trống suốt cả buổi sáng, hỏi nó xem những bóng điện trong phòng ngủ nhà tôi là bốn mươi hay sáu mươi oát. Đây không phải lần đầu tiên tôi đặt ra cho bản thân, cũng như cho cái trống của mình, cái câu hỏi cực kỳ quan trọng này đối với tôi. Đôi khi tôi phải mất hàng mấy tiếng đồng hồ mới quay về được với những chiếc bóng đèn ấy. Bởi vì tôi phải thoát ra khỏi cả một rừng bóng đèn bằng cách nện trống thật rền không khoa tay múa dùi và phải quên đi hàng ngàn nguồn sáng mà tôi đã nhóm, lên hay tắt đi, mới quay về được với những ánh quang của phòng ngủ nhà chúng tôi ở Labesweg.
 
Mẹ tôi sinh tôi ngay tại nhà. Khi bắt đầu đau đẻ, mẹ tôi còn ở cửa hàng, đang đóng đường vào những bao một “pao” và nửa “pao”. Đã quá muộn để đưa mẹ vào bệnh viện, đành phải gọi một bà đỡ lớn tuổi sắp thôi hành nghề, ở phố Hertastrasse gần đấy. Trong phòng ngủ, bà ta giúp cho mẹ con tôi tách rời khỏi nhau.
 
Vậy đó, ánh sáng đầu tiên đón tôi ra đời là hai ngọn đèn điện sáu mươi oát. Chính vì thế mà bao giờ tôi cũng thấy cái câu trong Kinh Thánh: “Cầu cho ánh sáng bừng lên, và thế là ánh sáng bừng lên” là khẩu hiệu quảng cáo đạt nhất của hãng bóng đèn Osram. Mọi sự trôi chảy, mẹ tròn con vuông, ngoại trừ điều tất yếu là vỡ đáy chậu. Tôi thoát ra khỏi tư thế lộn ngược, vốn được cả thai nhi lẫn các bà mẹ và bà đỡ ưa chuộng, để chui đầu ra trước, chẳng mấy khó khăn.
Xin nói ngay lập tức: tôi thuộc loại trẻ sơ sinh rất thính tai, với độ phát triển tâm lý hoàn chỉnh từ lúc lọt lòng, sau đó chỉ cần bổ khuyết thêm chút đỉnh. Tỉnh bơ, tôi rình ngóng những lời cha mẹ buột nói ra dưới hai bóng điện. Tai tôi cảnh giác cao độ. Đôi tai nhỏ xíu, gầy và bẹt ấy (mặc dầu vậy vẫn xinh xẻo) đã chộp được những phát biểu mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với tôi bởi lẽ đó là nhưng ấn tượng đầu tiên của tôi. Và những gì tai nghe được, óc bèn phân tích đánh giá tức thì. Sau khi suy ngẫm về những điều nghe lỏm được, tôi quyết dịnh một số điều cần làm và một sộ điều tuyệt đối không nên làm.
“Một đứa con trai. Lớn lên, nó sẽ thay chúng ta trông nom. cửa hàng,” xừ Matzerath, tưởng mình là cha tôi, nói vậy. “Chí ít chúng ta cũng biết vì sao mình đã làm lụng đến mòn vẹt mười đầu ngón tay.”
Mẹ tôi thì lo chuyện tã lót cho tôi hơn là nghĩ đến cửa hàng. “À, tôi đã biết trước là con trai mặc dù đôi khi tôi vẫn nói là thị mẹt.”
Như vậy, từ rất sớm tôi đã làm quen với cái lôgic của đàn bà. Câu tiếp theo tôi nghe được là: “Khi nào bé Oskar lên ba, bé sẽ được một cái trống thiếc để chơi.”
Trong khi cân nhắc và so sánh những lời hứa ấy của phụ mẫu, tôi quan sát và lắng nghe một con bướm đêm bay lạc vào trong phòng. Tầm cỡ trung bình và đầy lông, nó ve vãn hai cái bóng điện sáu mươi oát và hắt những cái bóng lớn gấp bội đôi cánh dang rộng của nó, trùm lên căn phòng cùng mọi thứ bày biện trong đó một chuyển động rung rinh. Tuy nhiên điều khiến tôi quan tâm nhất không phải là trò chơi chập chờn sáng-tối, mà là tiếng rì rầm đối thoại giữa bướm và đèn: bướm ta liến thoắng như thể đang hối hả bộc bạch hết những điều mình hay biết, như thể không còn thời gian nào khác để tận hưởng những nguồn sáng này, như thể đây là lời tâm sự cuối cùng của bướm với đèn vậy. Và như thể sau sự xá tội do bóng đèn ban cho, sẽ chẳng còn dịp nào để mắc tội lỗi hoặc phạm điều rồ dại.
Ngày nay, Oskar ắt chỉ nói đơn giản là chú bướm đêm chơi trống. Tôi đã từng nghe thỏ, cáo và sóc đánh trống. Loài cóc [3] có thể dóng trống gọi mưa. Người ta nói chim gõ kiến nện trống để xua bọn sâu bọ ra khỏi chỗ trú của chúng. Còn người thì gõ thanh la, chũm choẹ và trống cái. Người ta tả súng bắn như trống dồn hoặc những hồi trống ‘tùng-bi li” trên pháp trường. Người ta đánh trống tan trường, đánh trống tập hợp quân sĩ, đánh trống tiễn đưa người ra đi vĩnh viễn. Có những chú bé đánh trống và những tay trống đội trưởng quân nhạc. Có những  nhạc sĩ viết concerto cho bộ dây và bộ gõ. Ấy là chưa kể những cố gắng tự thể hiện của Oskar trên trống. Nhưng tất cả những cái đó chẳng thấm tháp gì so với cuộc truy hoan trống mà chú bướm đêm đã diễn tấu trên hai chiếc bóng điện sáu mươi oát tầm thường nhân dịp tôi ra đời. Có những người da đen ở châu Phi chính cống hoặc những người đen khác ở châu Mỹ song chưa quên gốc Phi, với cái năng khiếu nổi tiếng của họ về tiết tấu, có thể bắt chước loài bướm đêm Phi châu (to hơn, đẹp hơn bướm đêm Đông Âu là cái chắc) chơi trống một cách say mê cuồng nhiệt mà vẫn quy củ chặt chẽ về nhịp phách; tôi thì chỉ có thể dựa vào tiêu chuẩn Đông Âu của minh mà ca ngợi chú bướm đêm màu phấn nâu, tầm cỡ trung bình xuất hiện vào giờ tôi sinh - đó chính là sư phụ của Oskar vậy.
 
Đó là vào những ngày đầu tháng chín. Mặt trời đang ở cung Xử Nữ. Một cơn dông cuối hè cuốn theo hòm xiểng, đồ đạc đang xuyên đêm tiến lại gần Sao Thủy khiến tôi có thói hay chỉ trích, sao Thiên Vương cho đầu óc tưởng tượng, sao Kim khiến tôi tin vào sự tiện nghi và sao Hỏa thì cho tôi niềm tin vào tham vọng của mình. Cung Thiên Xứng, thăng lên trong phổ hoàng đạo đầu đời nơi chân trời đằng đông, khiến tôi nhạy cảm và thích phóng đại. Sao Hải Vương nhập vào phổ hoàng đạo thứ mười, tức giữa đời, cột tôi vào một thái độ trung dung giữa niềm tin vào những điều kỳ diệu và sự vỡ mộng. Chính sao Thổ, đối lập với sao Mộc trong phổ hoàng đạo thứ ba, khiến cho nguồn gốc của tôi thành khả nghi. Nhưng ai đã phái chú bướm đêm tới và, giữa lúc một cơn dông cuối hè đang la lối như một ông hiệu trưởng trường trung học, cho phép chú gieo trong tôi niềm đam mê đối với cái trống thiếc mà mẹ đã hứa sẽ cho tôi?
Trong khi bề ngoài, tôi la khóc và vào vai một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn, trong bụng tôi đã quyết định chối bỏ mọi dự định của cha tôi, nghĩa là tất cả những gì liên quan đến cửa hàng, mà sẽ ưu tiên xem xét kế hoạch của mẹ tôi vào đúng lúc, cụ thể là vào dịp sinh nhật lần thứ ba của tôi,
Ngoài tất cả những toan tính ấy về tương lai của mình, tôi mau chóng nhận ra rằng mẹ tôi và xừ Matzerath này không đủ thông minh để hiểu và tôn trọng những quyết định, chống đối hay đồng tình, của tôi. Cô đơn, không người tri âm, Oskar nằm dưới hai bóng đèn điện và mường tượng là sự tình cứ tiếp diễn như thế này trong sáu, bảy mươi năm cho đến lúc, kết cục, một cú chập mạch làm tắt ngóm mọi nguồn sáng; thế là tôi mất hết hứng khởi ngay cả trước khi cuộc sống dưới hai bóng điện bắt đầu. Chỉ có viễn cảnh về cái trống mới ngăn được tôi khỏi bộc lộ mạnh mẽ hơn niềm khao khát muốn lộn trở về bào thai.
Vả lại, bà đỡ đã cắt cuống nhau, chẳng làm gì được nữa.
 
Chú thích :
[1] Vương hiệu của nhiều triều vua Ba Lan, trong đó vị đầu tiên là Casimir ! (1015 - 1058) được mệnh danh la “Người Phục Hưng”, trị vì từ 1040 đến 1058.
[2] Dòng họ quý tộc Hunggary khởi đầu từ thế kỷ XIII, trong đó có thể kể Istvan Bathory (1533 - 1586) từng làm vua ở Ba Lan.
[3]  Trong nguyên bản là ếch, chúng tôi đổi thành cóc cho hợp với nép nghi và tín niệm của người Việt: cóc nghiến răng là trời sắp đổ mưa.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.05.2016 22:20:59 bởi Ct.Ly>
CUỐN ALBUM ẢNH
 
Tôi còn giữ được một kho báu. Suốt những năm xấu gồm toàn ngày chiếu theo lịch, tôi đã giữ gìn, cất giấu nó những lúc không giở ra xem; trong cuộc hành trình trên toa chở hàng, tôi ghì nó vào ngực và khi tôi ngủ, Oskar ngủ trên kho báu của mình: cuốn album ảnh này.
Không có cái nghĩa trang gia đình này mà nhờ đó mọi sự trở nên phân minh, rõ ràng như ban ngày, liệu tôi có thể làm gì được? Album có một trăm hai mươi trang. Trên mỗi trang, từ bốn đến sáu, hoặc đôi khi chỉ hai, tấm hình được dán cẩn thận, cái trên cái dưới hoặc cạnh nhau, phân bố đều đặn, chỗ đối xứng chỗ không, nhưng bao giờ cũng vuông thành đứng cạnh. Sách đóng bìa da, càng lâu ngày càng rõ mùi da thuộc. Đôi khi, trải mưa nắng phong sương, cuốn album của tôi bị xuống cấp, ảnh bong ra, nom thiểu não đến nỗi tôi phải vội vàng dán chúng trở lại vị trí quen thuộc.
Thử hỏi có cuốn tiểu thuyết nào hoặc giả có gì khác trên thế gian này có được cái quy mô hùng tráng như một album ảnh? Lạy Cha chúng ta trên trời - đấng amatơ không mệt mỏi chụp chúng ta từ trên cao mỗi sáng chủ nhật dưới một ánh sáng ít nhiều thuận lợi và dán chúng ta vào cuốn albumn của Ngài - cầu sao Ngài dắt tôi vững vàng đi qua cuốn album này, đừng để tôi nán lại quá lâu ở những chỗ tôi ưa thích và ngăn cái sở thích của Oskar đối với những gì vòng vèo, ngoắt ngoéo, bởi tôi thường quá ham liên hệ từ ảnh đến người thật.
Hãy thử ngó qua xem: đồng phục đủ mọi loại, thời trang và kiểu tóc thay đổi, mẹ béo ra, bác Jan bệu ra, một số người tôi không biết nhưng tôi có thể đoán được. Chà, ai chụp tấm này đấy nhỉ? nghệ thuật quả đang xuống cấp. Phải, dần dần ảnh nghệ thuật năm 1900 đổ đốn thành thứ ảnh thực dụng ngày nay. Hãy thử so tấm hình giàu chất tượng đài của Koljaiczek ông ngoại tôi với bức ảnh căn cước của Klepp bạn tôi mà coi. Chỉ cần đặt hai cái cạnh nhau, tấm ảnh ông tôi in màu nâu và tấm ảnh căn cước bóng loáng như đang kêu xin một cái dấu triện, cũng đủ thấy công cuộc tiến bộ đã đưa ta đến đâu trong lĩnh vực nhiếp ảnh. Ấy vậy mà cái ảnh cấp tập đó lại đòi hỏi cả một lô xí xộ phương tiện hiện đại! Thực ra, về điểm này, tôi phải tự trách mình nhiều hơn là đổ lỗi cho Klepp bởi vì, với tư cách là chủ nhân cuốn album, lẽ ra tôi phải giữ vững một số tiêu chuẩn nhất định chứ. Tôi biết, nếu quả có một ngày chúng ta phải nếm mùi địa ngục, một trong những tội hình ác độc nhất sẽ là nhốt vong hồn trần truồng vào một căn phòng với những tấm ảnh đóng khung thuở sinh thời của hắn. Nào, mau mau sang sề thật mùi mẫn vào: Ôi con người giữa những tấm ảnh chụp chớp nhoáng, những tấm ảnh căn cước! Ôi con người dưới ánh đèn “flash”, Ôi con người đứng thẳng bên tháp nghiêng Pisa, Ôi con người photomaton phải vểnh cái tai phải lên nếu muốn xứng đáng được một tấm ảnh căn cước! Và... mà thôi, tắt giọng mùi mẫn được rồi. Có thể cái địa ngục này còn khả dĩ chịu được bởi vì những tấm hình tồi tệ nhất mới chỉ là trong mơ chứ chưa được chụp, hoặc giả nếu chụp rồi thì cũng chưa được rửa ra ảnh.
Những tấm ảnh này của Klepp và tôi được chụp và rửa vào những ngày đầu bọn tôi ở phố Jỹlicher- strasse, khi chúng tôi kết bạn với nhau nhân một buổi cùng ăn spaghetti. Dạo ấy, tôi đang ấp ủ mộng ngao du sơn thuỷ. Có nghĩa là tôi đang buồn chán đến nỗi tôi quyết định phải làm một chuyến du lịch và muốn vậy, phải xin hộ chiếu. Nhưng vì tôi chưa đủ tiền để chi phí cho một chuyến du lịch đàng hoàng bao gồm Roma, Napoli, hay chí ít là Paris, nên tôi lại lấy làm mừng vì sự thiếu hụt tài chính đó, vì còn gì bi đát hơn là lên đường trong tình trạng hầu bao lép kẹp? Nhưng tiền đi xem phim thì đủ. Thế nên vào thời kỳ đó, Klepp và tôi đến mọi rạp xi-nê có chiếu những phim Viễn Tây hoang dại phù hợp với khẩu vị của Klepp, hoặc những phim đúng yêu cầu của tôi trong đó Maria Schell sắm vai cô nữ y tá lã chã nước mắt và Borsche (vai bác sĩ phẫu thuật) sau mỗi ca mổ khó khăn lại đứng bên cửa sổ mở rộng chơi những bản xônat của Beethoven, bộc lộ rõ một ý thức trách nhiệm cao.
Chúng tôi rất bất mãn vì các buổi chiếu chỉ kéo dài có hai giờ. Có nhiều chương trình phim bọn tôi muốn xem hai lần. Lắm khi, cuối buổi chúng tôi đứng lên, định ra mua vé xem tiếp. Nhưng vừa ra khỏi phòng, trông thấy đám người xếp hàng chờ trước cửa bán vé, chúng tôi lại đâm nản. cả việc phải giáp mặt lần thứ hai với cô bán vé lẫn những cái nhìn trâng tráo của những người lạ hoặc chĩa vào mặt chúng tôi đều làm chúng tôi phát ngượng, hết muốn đứng vào cuối hàng.
Kết quả là hầu như sau mỗi buổi xem phim, bọn tôi đều đến một hiệu ảnh gần Quảng trường Graf- Adolf để chụp ảnh căn cước. Tại đây người ta đã biết chúng tôi, người ta chào đón chúng tôi bằng một nụ cười: chúng tôi là khách hàng vì vậy chúng tôi được tiếp đãi lịch sự. Phòng chụp vừa rảnh là một cô gái đưa chúng tôi vào liền - về cô gái này, tôi chỉ nhớ một điều là cô ta rất dễ ưa. Cô ta khéo léo chỉnh tư thế đầu chúng tôi cho đúng góc độ, đầu tiên là tôi rồi đến Klepp, và bảo chúng tôi nhìn cố định vào một điểm. Lát sau, một loé chớp cùng lúc với một tiếng chuông báo hiệu là hình chúng tôi đã được ghi trên phim sáu lần liền.
Khoé miệng còn cứng đơ vì lấy dáng, chúng tôi được cô gái mời ngồi thoải mái vào hai chiếc ghế bành mây; với thái độ nhuần nhã (ăn mặc cũng nhã), cô đề nghị chúng tôi chịu khó chờ năm phút. Chúng tôi vui vẻ chờ. Bởi vì giờ đây chúng tôi đã có cái để chờ đợi - tấm ảnh căn cước của chúng tôi - và chúng tôi đang tò mò muốn xem nó ra sao. Đúng bảy phút sau, cô gái vẫn nhuần nhã nhưng không có gì đặc sắc đưa cho chúng tôi hai chiếc phong bì và chúng tôi trả tiền.
Chao, cái ánh đắc thắng trong cặp mắt hơi lồi của Klepp! Vừa nhận hai chiếc phong bì ảnh, chúng tôi tức thị có ngay lý do để đến quầy bia gần nhất bởi lẽ có ai mà lại thích ngắm ảnh hộ chiếu của mình ở giữa đường giữa chợ tấp nập, ồn ào, bụi bặm, làm cản trở giao thông. Cũng như chúng tôi luôn trung thành với hiệu ảnh nọ, bao giờ chúng tôi cũng chỉ đến quán bia ở đường Friedrichstrasse. Sau khi gọi bia, dồi xúc xích với hành và bánh mì đen, tranh thủ lúc các món nhậu chưa dọn ra, chúng tôi rải những tấm ảnh còn hơi ẩm lên mặt chiếc bàn tròn nhỏ và trong khi thưởng thức bia với dồi xúc xích vừa được mang đến, chúng tôi trầm ngâm ngắm vẻ mặt căng thẳng của chính mình.
Bao giờ chúng tôi cũng mang theo những tấm hình chụp vào dịp xem phim lần trước. Như vậy, chúng tôi có cái để so sánh và một khi đã có cái để so sánh thì lại có cớ để gọi thêm một chầu bia thứ hai, thứ ba, thứ tư cho thêm phần rôm rả, hay, theo cách nói ở vùng Rhine, để tạo ambiance (không khí).
Tôi không định nói là một người buồn vô cớ có thể giải buồn bằng tấm ảnh căn cước của chính mình; bởi vì nỗi buồn chân chính bao giờ cũng vô cớ; một nỗi buồn như thế, chí ít là nỗi buồn của bọn tôi, không thể truy tìm nguyên nhân cụ thể được và với tính chất vu vơ hồ như vô lối của nó, nỗi buồn này của chúng tôi đã lên tới một cường độ mãnh liệt không chịu nhường bước bất cứ cái gì. Nếu có cách gì bầu bạn được với nỗi sầu của chúng tôi, thì đó là thông qua những tấm ảnh, bởi vì trong những hình chụp chớp nhoáng hàng loạt ấy, chúng tôi tìm thấy một hình ảnh của chính mình dẫu không thật rõ ràng nhưng - đây mới là điều chủ yếu - thụ đông và trung lập. Điều đó khiến chúng tôi có thể tự do xử lý với chính mình; chúng tôi có thể uống bia, ngấu nghiến đả dồi xúc xích, vui chơi tung tẩy. Chúng tôi bẻ cong, gập đôi những tấm ảnh, rồi cắt vụn ra bằng chiếc kéo nhỏ mang theo cốt để làm việc ấy. Chúng tôi chồng chắp ảnh cũ ảnh mới vào nhau, biến mình thành độc nhỡn hoặc ba mắt, đặt mũi vào chỗ tai, cho cái tai phải vểnh ra thay miệng đảm nhiệm chức năng nói hoặc im lặng, kết hợp trán với cằm làm một. Và không phải đứa nào dùng ảnh đứa nấy để dựng những tác phẩm lắp ráp đó: Klepp mượn nhiều nét của tôi và ngược lại. Như vậy, chúng tôi đã tạo ra đựơc những sinh linh mới mẻ và -- chúng tôi hy vọng thế - hạnh phúc hơn. Thi thoảng chúng tôi cũng cho đi một tấm.
Chúng tôi - đây chỉ nói riêng Klepp và tôi, chứ không nhằm các nhân vật tổng hợp được tạo nên bằng cách ghép ảnh - đâm có thói quen tặng ảnh bác bồi bàn mà chúng tôi gọi là Rudi mỗi khi gặp bác ta và điều này xảy ra ít nhất mỗi tuần một lần. Rudi, một tay có mười hai con chính thức và ít nhất là tám con “gửi” thiên hạ, thông cảm nỗi sầu muộn của chúng tôi, bác ta có tới hàng tá ảnh chân dung nhìn nghiêng của chúng tôi và ảnh chính điện thì còn nhiều hơn thế; tuy nhiên, lần nào mắt bác ta cũng ánh lên vẻ thiện cảm kèm theo lời cảm ơn mỗi khi, sau hồi lâu bàn cãi và chọn lựa cẩn thận, chúng tôi đưa cho bác tấm ảnh.
Oskar không bao giờ tặng ảnh cho cô phục vụ ở quầy hoặc cô gái tóc đỏ bê khay thuốc lá; cho phụ nữ ảnh chả phải là một ý hay hớm gì, bởi lẽ ai mà biết được họ sẽ dùng nó vào việc gì. Nhưng gã Klepp béo tròn, hồn nhiên, có thể là mồi ngon cho phái đẹp, tính nó lại cởi mở đến khờ dại, chỉ cần có mặt phụ nữ là xổ hết gan ruột ra, chắc hắn đã giấu tôi đem cho cô ả thuốc lá một tấm ảnh; bằng chứng là hắn đã đính hôn rồi sau đó cưới cô ả chỉ vì hắn muốn lấy lại tấm ảnh đó.
Tôi đã đi trước và dành quá nhiều lời cho những trang cuối của cuốn album. Những tấm ảnh chụp chớp nhoáng ấy không đáng được như thế; tuy nhiên, nếu lấy làm một vế để so sánh thì chúng có thể cho quý vị thấy là tấm ảnh chân dung ông ngoại Koljaiczek của tôi ở trang đầu, cho đến bây giờ, vẫn còn gây một ấn tượng nghệ thuật trác tuyệt, hùng vĩ như thế nào đối với tôi.
Thấp và to ngang, ông đứng đó, đằng sau một cái bàn cà-phê đầy nét chạm trổ. Tiếc thay, ông lại không chụp hình dưới dạng kẻ phóng hoả, mà với danh tính là me-xừ Wranka lính cứu hỏa tình nguyện. Nhưng bộ đồng phục cứu hỏa vừa khít với tấm huy hiệu cứu trợ và chiếc mũ sắt cứu hỏa đem lại cho cái bàn dáng vẻ của một ban thờ, những cái đó hồ như có thể thay thế bộ ria của kẻ phóng hỏa. Cái nhìn của ông mới nghiêm trang làm sao, chất chứa đau buồn của những năm đau buồn. Cái nhìn kiêu hãnh bất chấp mọi bi kịch ấy dường như đã thành phố cập trong những năm của Đế chế Đức; ta gặp lại nó trên gương mặt của người thợ làm thuốc súng Gregor Koljaiczek lúc nào cũng say khướt nhưng trong ảnh thì lại có vẻ như chưa uống gì. Tấm ảnh ông Vincent Bronski chụp ở Czestochowa tay cầm một cây bạch lạp thờ nom đượm màu huyền bí. Một tấm chân dung thời trẻ của bác Jan Bronski ốm yếu là một kỷ lục của nhiếp ảnh buổi sơ khai về thể hiện vẻ âu sầu ngượng nghịu.
Phụ nữ thời ấy quả có vụng hơn trong việc tìm ra sắc diện phù hợp với tính cách của mình. Ngay cả bà ngoại tôi vốn là người đầy cá tính - về điểm này, quý vị hãy tin tôi - trong những tấm hình chụp không lâu trước Thế Chiến I, cũng màu mè làm duyên, dán lên môi một nụ cười ngẩn ngơ không mảy may gợi nhớ đến bốn cái váy lớn đùm bọc chở che của bà.
Trong những năm chiến tranh, họ vẫn tiếp tục cười nụ với tay phó nháy trong khi hắn ngó ngoáy nhún nhảy dưới tấm vải đen. Về thời kỳ này, tôi còn giữ một tấm khổ bưu ảnh “đúp”, bồi các-tông, chụp hai mươi ba nữ y tá của quân y viện Silberhammer, trong đó có mẹ tôi, rụt rè xúm quanh một ông bác sĩ quân y bệ vệ. Các nữ y tá này phần nào có vẻ thoải mái hơn trong một tấm ảnh về một cuộc vũ hội hoá trang dành cho các thương binh sắp khỏi. Mẹ tôi đánh bạo nháy mắt, dẩu môi, dáng vẻ ấy như muốn nói rằng, dù mẹ có mang cánh thiên thần và tết kim tuyến trên tóc, thì thiên thần cũng chẳng vì thế mà mất đi giới tính. Trong ảnh, Matzerath quỳ dưới chân mẹ trong một bộ trang phục mà ông hẳn rất lấy làm sung sướng nếu được mặc thường xuyên ngày này qua ngày khác: ông đội một cái mũ đầu bếp, tay vung một cái muôi. Nhưng khi vận bộ quân phục gắn tấm huân chương Thập Tự sắt hạng nhì thì ông cũng dõi về phía xa một cái nhìn bi tráng có dụng ý hắn hoi và trong mọi tấm ảnh, ông đều trội hơn cánh phụ nữ.
Sau chiến tranh, các gương mặt thay đổi. Đàn ông nom ra vẻ đã “về vườn”; giờ đến lượt cánh phụ nữ vươn lên hợp thời thế, đến lượt họ có lý do để phô một cái nhìn trang nghiêm; ngay cả khi mỉm cười, họ cũng không cố che giấu đi một thoáng buồn bởi họ đang tập đau buồn. U sầu đang là vẻ thích hợp với phụ nữ của thập kỷ 20. Bất kể ngồi, đứng hay nửa nằm nửa ngồi, với những lọn tóc đen loăn xoăn bên thái dương, cách nào họ cũng gợi lên được hình ảnh kết hợp hài hoà giữa Đức Mẹ và kỹ nữ.
Tấm ảnh mẹ tôi năm hai mươi ba tuổi - chắc là chụp ít ngày trước khi mang thai - cho thấy một thiếu phụ với khuôn mặt tròn bình thản nghiêng nghiêng trên một cái cổ đầy đặn, rắn chắc. Nhưng dù nghiêng đầu hay không, bao giờ người xem ảnh cũng thấy như mẹ tôi đang nhìn thẳng vào mắt mình. Mẩy da chắc thịt, cái nét nhục dục ấy bị làm nhoà bớt bởi nụ cười rầu rĩ thời thượng và đôi mắt nhiều phần xám hơn là xanh; đôi mắt ấy nhìn vào tâm hồn những người cùng thời - và cả tâm hồn bản thân mình nữa-như thể đó là những vật thể rắn đại loại như cái tách uống trà hay chiếc bót thuốc lá. Nói cái nhìn trong đôi mắt mẹ tôi có hồn, theo tôi, vẫn chưa lột tả được hết.
 
Chẳng hay ho gì hơn nhưng dễ diễn giải hơn và, do đó, mang nhiều thông tin hơn, là những tấm ảnh tập thể của thời đó. Áo cưới hồi ký hiệp ước Rapallo mới đẹp làm sao, mới “ra” chất hôn lễ làm sao! Trong tấm ảnh cưới, Matzerath còn đeo cả một cái cổ cồn cứng. Nom ông oách ra dáng, trang nhã, gần như trí thức. Chân phải đưa ra đằng trước, trông hơi giống một tài tử điện ảnh thời bấy giờ, hình như là Harry Liedicke thì phải. Dạo ấy, người ta mặc váy ngắn. Áo cưới của mẹ tôi, trắng tinh và xếp rất nhiều nếp, chỉ xuống tới dưới đầu gối một tí, để lộ hai bắp chân thon thả và đôi bàn chân khiêu vũ xinh xẻo trong đôi giày trắng có khoá cài. Một số ảnh khác chụp cả họ nhà gái. Giữa đám người ăn mặc và lấy dáng như dân thành thị, bà ngoại Anna của tôi và ông anh Vincent được ân sủng của Chúa, bao giờ cũng nổi bật lên với cái cứng nhắc tỉnh lẻ và cái vẻ ngượng nghịu đáng tin cậy. Gốc gác từ cùng một cánh đồng khoai tây như cha đẻ, như bà cô ruột Anna và như cô em họ Agnès, Jan Bronski khéo giấu chất quê mùa Kashubes của mình đằng sau vẻ sang trọng hội hè của một nhân viên bưu chính Ba Lan. Nhỏ bé và mảnh khảnh giữa những người vạm vỡ choán phần lớn không gian, nhưng với cái nhìn khác thường và - nét mặt đều dặn, đẹp như con gái, ông trở thành trung tâm của mọi tấm ảnh. Ngay cả khi ông đứng hay ngồi ở rìa.
 
Từ nãy đến giờ, tôi cứ ngắm hoài một tấm ảnh chung, chụp sau lễ cưới ít bữa.Tôi đã phải lấy trống và dùi ra gõ để cố gợi lại trong tâm tưởng hình ảnh cái bộ ba chỉ thấy lờ mờ trên mảnh giấy cứng hình chữ nhật màu nâu đã phai .
Tấm ảnh hẳn đã được chụp trong căn hộ của gia đình Bronski ở phố Magdeburger, không xa Khu học xá sinh viên Ba Lan, vì ta thấy ở nền sau một mảnh ban-công đầy nắng với những chùm lá đậu leo phủ kín tới một nửa (kiểu ban-công này chỉ có ở các khu chung cư của người Ba Lan). Mẹ tôi ngồi, Matzerath và Jan Bronski đứng. Nhưng mẹ tôi ngồi như thế nào và hai người kia đứng như thế nào? Có lúc tôi đã ngớ ngẩn định vẽ đồ thị chòm sao Tam Hùng này - vì mẹ tôi có đầy dủ phẩm chất của một người đàn ông - bằng một chiếc thước kẻ, một chiếc thước góc và một chiếc com-pa mà Bruno đã ra ngoài phố mua giúp tôi. Bắt đầu từ góc giữa cổ và vai, tôi kẻ một hình tam giác; tôi phóng những hình chiếu, suy đoán ra những nét tương tự, vẽ những đường cung gặp nhau rõ rành bên ngoài hình tam giác - có nghĩa là trong đám lá đậu leo - và tạo nên một điểm, bởi vì tôi cần một điểm thuận lợi, một điểm xuất phát, một điểm tiếp xúc, một điểm nhìn.
 
Tất cả những gì tôi đạt được với cái trò kỷ hà siêu hình ấy là một loạt lỗ nhỏ xíu nhưng đến là khó chịu do mũi nhọn của chiếc com-pa tạo ra trên tấm ảnh quý. Tôi không khỏi tự hỏi: có cái gì đặc biệt nơi tấm ảnh này? Cái gi đã thúc bách tõi tìm kiếm - và thực tế, đã tìm thấy - những quy chiếu toán học và vũ trụ (đến là vô lý!) trong đó? Ba người: một người đàn bà ngồi, hai người đàn ông đứng. Mẹ tôi tóc đen lượn sóng, Matzerath tóc vàng rơm loăn xoăn, Jan tóc màu hạt dẻ chải bẹt từ trán ngược về phía sau. Cả ba cùng mĩm cười, Matzerath ngoác miệng rộng hơn Jan Bronski; và hai ông đều toe toét hơn mẹ tôi nhiều vì nụ cười của họ để lộ cả hàm răng trên trắng bóng trong khi mẹ tôi chỉ hơi nhếch mép mà mắt chẳng hề cười chút nào. Matzerath tì tay trái lên vai phải mẹ tôi; Jan thì chỉ dựa hờ tay phải vào lưng ghế. Mẹ tôi nhìn thẳng vào ống kính, hai đầu gối hơi nghiêng về bên phải, trên lồng bàn tay đặt một quyển sách mà nhiều năm trước đây, tôi tưởng là một trong những cuốn album tem của Jan, sau đó đoán là một số báo thời trang và gần đây lại cho là một bộ sưu tập ảnh những ngôi sao màn bạc lấy từ các bao thuốc lá. Tay mẹ tôi, lúc bấm máy, có vẻ như sắp sửa giở từng trang của cuốn album, cả ba đều có vẻ vui sướng như thể đang chúc mừng nhau về khả năng miền dịch đối với những bất ngờ thuộc loại chỉ xảy ra nếu một thành viên trong Tam Hùng bắt đầu hoặc đã có những bí mật riêng tư giấu kín trong lòng. Trong mối liên kết tay ba này, họ chẳng mấy cần đến một người thứ tư, cụ thể là vợ Jan - Hedwig Bronski hồi con gái mang họ cha là Lemke - thời gian này đang mang thai đứa bé sau này có tên Stephen; hoặc nếu có cần thì chỉ để nhờ chĩa máy vào họ nhằm làm vĩnh tồn niềm hạnh phúc tay ba của họ, chí ít là trên tấm ảnh.
Tôi đã bóc mấy tấm hình chữ nhật khác từ cuốn album đem đặt cạnh tấm này. Những tấm hình chụp mẹ tôi hoặc với Matzerath, hoặc với Jan Bronski. Không tấm nào phản ảnh cái giải pháp tối hậu, bất di bất dịch kia rõ ràng như tấm hình ở ban công. Đây một tấm chụp riêng mẹ tôi với Jan - tấm này thoảng mùi bi kịch, mùi hám tiền, mùi phấn khích đến độ phè phỡn, một sự phè phỡn vì phấn khích. Mazerath và mẹ tôi: tấm này có cái không khí ngày nghỉ cuối tuần tại nhà của đôi vợ chồng, có tiếng sườn rán xèo xèo, đôi lời cằn nhằn trước bữa ăn tối, ngáp vài cái sau khi ăn tối, nói đùa dăm câu trước khi đi ngủ, bàn cãi tí chút về tờ khai thuế cho có bối cảnh trí tuệ của hôn nhân. Tuy vậy, tôi vẫn thích cái buồn tẻ được ghi lại trên ảnh ấy hơn tấm hình chớp nhoáng “mô-ve-gu” của những năm sau trong đó người ta thấy mẹ tôi ngồi trên lòng Jan ở trong Rừng Oliva gần Freudental; vì tấm ảnh cuối này với tính chất tục tĩu của nó - bàn tay của Jan biến mất dưới váy mẹ tôi - chỉ nói lên nỗi đam mê cuồng dại của cặp uyên ương bất hạnh này, chìm đắm trong ngoại tình ngay từ ngày đầu cuộc hôn nhân của mẹ tôi; Mazerath, tôi đoán thế, chính là người chụp ảnh bị lừa. Ở đây chẳng còn chút gi của cái trong sáng nơi tấm hình ban-công, của cái tế nhị, thận trọng nơi những cử chỉ nhỏ nhẹ dường như chỉ có thể có khi cả hai người đàn ông cùng có mặt, đứng đằng sau hay bên cạnh mẹ tôi, hoặc cùng nằm dưới chân mẹ như trong tấm ảnh bãi tắm Heubude; xem ảnh kèm đây.
 
Còn một tấm ảnh nữa chụp ba nhân vật chính của giai đoạn đầu đời tôi hợp thành một hình tam giác. Tuy không tập trung bằng cảnh ban công kia, nhưng tấm này cũng toả ra cái vẻ hoà bình căng thẳng như vậy, thứ hoà bình chỉ có thể ký kết giữa ba người. Bạn có thể chán phè những tình huống tay ba trong kịch, song nghĩ cho cùng, khi chỉ còn trơ hai người trên sân khấu, thử hỏi họ có thể làm gì ngoài việc đối đáp chí chết hoặc thầm ước có một người thứ ba? Trong tấm ảnh của tôi, ba người cùng có mặt. Họ đang chơi xì - kạt. Có nghĩa, họ đang cầm bài xoè ra đều tăm tắp như cái quạt, nhưng thay vì nhìn vào những con chủ bài của mình để tính nước thì họ lại dõi mắt vào ống kính. Bàn tay Jan đặt bẹt cạnh một mớ tiền lẻ, riêng ngón trỏ hơi giơ lên. Matzerath thì dũi dũi móng tay vào khăn bàn trong khi mẹ tôi chơi một trò nhỏ mà tôi thấy là khá đạt: mẹ rút một quân bài phô ra trước ống kính nhưng không để các đối thủ thấy. Thật dễ dàng xiết bao, chỉ bằng một động tác đơn giản - giơ môt quân Q “cơ” - là gợi lên được một biểu tượng không quá trắng trợn: ai mà chẳng sẵn sàng “xin chết” vì Nữ hoàng của trái tim?
 
Như mọi người đều biết, xì-kạt là kiểu bài chỉ chơi tay ba, nó không chỉ là một trò chơi tiện nhất cho mẹ tôi và hai chàng phò mã, đó là chốn nương náu của họ, nơi bao giờ họ cũng rút lui về mỗi khi cuộc đời đe dọa đẩy họ, cách này hay cách khác, vào những trò chơi tay đôi ngu xuẩn như bêzi hay sáu - sáu.
 
Về ba con người đã cho tôi ra đời, chừng nấy xem như là đủ. Trước khi kể về bản thân tôi, xin nói đôi điều về Gretchen Scheffler, bạn gái mẹ tôi, và ông chồng Alexander Scheffler chủ hiệu bánh mì. Chồng thì hói, vợ lúc nào cũng toe toét cười phô hai hàm răng ngựa, có đến một nửa bịt vàng. Chồng thấp tè, ngồi trên ghế mà chân không chạm tới thảm trải nhà, vợ bao giờ cũng mặc những chiếc áo dài tự đan lấy với những họa tiết cực kỳ rắm rối. Trong những ảnh chụp sau này, ta thấy đôi vợ chồng Scheffler ngả ngốn trong những chiếc ghế nằm đặt trên boong tàu hoặc đứng cạnh những chiếc xuồng cứu hộ của tàu Wilhelm Gustloff thuộc tổ chức “Sức Mạnh thông qua Niềm Vui” [1] hoặc trên boong dạo của tàu Tannenberg (Tuyến hàng hải Đông Phổ). Năm này sang năm khác, họ đi đây đi đó và mang những đồ xú-vơ-nia (2) từ Pillau, Na Uy, quần đảo Azores hoặc Italia an toàn về tới ngôi nhà của họ ở Kleinhammer-Weg, nơi chàng nướng bánh mì, nàng thêu áo gối. Khi nào ngừng nói, Alexander lại thè lưỡi liếm môi trên liên tục, một thói quen mà Greff, chủ hiệu rau quả, một người bạn của Matzerath ở bên kia đường, cho là tục tĩu và “mô-ve-gu” [3].
Mặc dầu đã có vợ, Greff vẫn ra dáng đoàn trưởng hướng đạo sinh hơn là một đức ông chồng. Trên một tấm ảnh, ta thấy giả to ngang, khoẻ mạnh và nghiêm nghị trong đồng phục với quần soọc,
mũ hướng đạo sinh và dây biểu chương đoàn trưởng. Đứng bên cạnh giả là một thiếu niên tóc vàng rơm, mắt khí quá to, trạc mười ba tuổi, cũng vận đồng phục tương tự. Tay Greff âu yếm quàng qua vai cậu thiếu niên. Tôi không biết cậu ta, nhưng sau này tôi có dịp làm quen và hiểu Greff qua cô vợ Lina.
 
Tôi ngợp trong đống ảnh chụp chớp nhoáng của đám khách du lịch theo chương trình “Sức khoẻ thông qua Niềm vui” và những biểu hiện của thói gợi dục thiếu niên hướng đạo sinh. Xin được bỏ qua vài trang để nhảy cóc tới tấm ảnh chân dung đầu tiên của tôi.
 
Tôi là một đứa bé xinh trai. Tấm ảnh được chụp vào dịp lễ Hạ trần, năm 1925. Lúc ấy tôi được tám tháng, kém Stephan Bronski hai tháng; một tấm ảnh Stephan cùng khổ ở trang sau toát ra một vẻ tầm thường khôn xiết tả. Tấm hình của tôi làm theo kiểu bưu ảnh có mép viền lượn sóng, mặt sau có kẻ dòng để ghi địa chỉ. Chắc là được in với số lượng lớn cho gia đình họ hàng tùy nghi sử dụng. Trong khung chữ nhật lớn, khuôn ảnh chính có hình quả trứng cực kỳ đối xứng. Trần truồng, tượng trưng cho lòng đỏ trứng, tôi nằm xấp trên một tấm da lông thú trắng có lẽ là quà tặng của một chú gấu Bắc cực tốt bụng cho một nhiếp ảnh gia Đồng Âu chuyên chụp trẻ sơ sinh. Cũng như với biết bao ảnh thời kỳ ấy, người ta đã chọn cho tấm ảnh đầu đời của tôi một màu nâu nồng ấm không lẫn được mà tôi cho là “có tính người”, tương phản với cái lạnh lùng phi nhân tính của những tấm ảnh đen trắng ngày nay. Một vòm lá mờ ảo, có lẽ là “phông” giả, tạo thành một nền sẫm chỉ loáng thoáng điểm vài ba chấm sáng Trong khi cái thân hình nhẵn nhụi, hồng hào của tôi nằm bẹp với vẻ tự mãn trên tấm lông thú, tận hưởng sự tiện nghi bắc cực ấy, thì cái đầu trọc lốc như hòn bi - da cố nghểnh lên dõi đôi mắt long lanh nhìn đối lại ai đó đang ngắm sự trần truồng của tôi.
Quý vị có thể nói: một tấm ảnh trẻ sơ sinh bình thường như mọi tấm ảnh trẻ sơ sinh khác. Xin hãy thử nhìn kỹ đôi bàn tay mà xem. Quý vị sẽ phải thừa nhận rằng tấm chân dung đầu tiên của tôi khác hẳn tất thảy những kiểu ảnh chỉ có tác dụng ghi lại những mẩu đời xinh xẻo mà quý vị có thể thấy trong các album gia đình ở khắp nơi trên thế giới. Quý vị thấy hai bàn tay tôi nắm chặt. Quý vị không thấy nhưng ngón tay nhỏ xinh mũm mĩm đùa nghịch với những túm lông như bất giác tuân theo một thôi thúc mơ hồ của bản năng thai nhi. Những nắm tay nhỏ xíu của tôi lơ lửng ngang tầm đầu tôi, với vẻ rất tập trung, sẵn sàng nện xuống. Nện xuống cái gì? Cái trống chứ còn cái gì nữa!
Ta chưa thấy nó trên tấm ảnh, cái trống mà, dưới những bóng điện bữa tôi lọt lòng, người ta đã hứa sẽ cho tôi vào dịp sinh nhật lần thứ ba, nhưng đối với bất kỳ người nào có kinh nghiệm ghép ảnh, việc đưa thêm vào một chiếc trống đồ chơi với cỡ tương ứng, là chuyện đơn giản xiết bao. Chẳng cần phải thay đổi tư thế của tôi, mà chỉ bỏ béng cái bộ da thú ngớ ngẩn mà tôi chẳng thèm mảy may để ý tới, là xong. Đó là một chi tiết lạc lõng trong cái bố cục lẽ ra rất hài hòa ấy nhằm chào mừng cái tuổi tinh nhanh, sáng suốt khi mà những chiếc răng sữa đầu tiên sắp sửa nhú ra.
 
ít lâu sau, người ta thôi đặt tôi nằm trên những tấm da gấu Bắc cực. Có lẽ tôi đã được một năm rưỡi khi người ta đẩy tôi trong một chiếc xe nôi bánh cao đi ngang qua một hàng rào gỗ phủ một lớp tuyết, và điều đó khiến tôi tin rằng tấm ảnh đã được chụp vào tháng giêng năm 1926. Ngắm kỹ hồi lâu, hình dáng thô của cái hàng rào cùng mùi hắc ín phả ra từ đó khiến tôi nghĩ tới khu ngoại ô Hochstriess với những trại lính rộng lớn trước kia đã từng là nơi đồn trú của khinh kỵ binh Mackensen và vào thời tôi, là trụ sở cảnh sát Bang tự do. Nhưng vì không nhớ ra ai đã từng ở khu ấy, nên tôi chỉ có thể kết luận là tấm ảnh đã được chụp vào một ngày mà song thân tôi đến đấy thăm một vài người nào đó mà sau này chúng tôi không bao giờ, hoặc rất ít khi, gặp lại.
 
Đứng hai bên chiếc xe nôi, cả mẹ tôi và Matzerath đều không mặc áo choàng ấm, mặc dù bấy giờ là tiết đông hàn. Mẹ vận một chiếc “blu” Nga có những họa tiết thêu hợp với cảnh trí đến nỗi người ta có thể tưởng tượng đây là gia đình Sa hoàng đang chụp hình ở nơi thắm cùng rét mướt nhất của nước Nga, Rasputin đang cầm máy ảnh, còn tôi là hoàng nhi, trong khi đằng sau hàng rào gỗ kia, bọn cách mạng đang tự chế lấy bom và âm mưu lật đổ gia đình hoàng tộc chuyên chế của chúng tôi. Nhưng ảo tưởng đó tan biến ngay trước cái vẻ bề ngoài chỉnh chu, rất Đông Âu của Matzerath, nó báo trước (như ta sẽ thấy) một tiền đồ chủ tiệm. Chúng tôi đang ở khu ngoại ô Hochstriess yên tĩnh, cha mẹ tôi chỉ ra khỏi ngôi nhà của chủ nhân một lát thôi, là phải mang áo choàng, chỉ một thoáng đủ để nhờ vị chủ nhân chụp nhanh hộ một tấm hình cùng với bé Oskar có cái nhìn rất chi là láu cá, rồi sau đó, khoan khoái thưởng thức cà phê, bánh ngọt, kem đánh tơi trong phòng ấm.
Còn có cả một tá ảnh chụp Oskar hồi một tuổi, hai tuổi và hai tuổi rưỡi, cái nằm, cái ngồi, cái bò toài, cái chạy lon ton. Những tấm này không tồi, song tựu chung, đó chỉ là tiền đề dẫn đến tấm ảnh chân dung cả người nhân dịp sinh nhật lần thứ ba của tôi.
Đến đận này thì tôi có nó rồi. Phải, tôi đã có cái trống của tôi. Nó lủng lắng ngay trước bụng tôi, mới toanh, viền răng cưa sơn đỏ và trắng. Tôi cầm hai chiếc dùi bắt chéo trên mặt trống, vẻ cương quyết một cách trịnh trọng. Tôi mặc một chiếc áo chui đầu kẻ xọc, chân đi giày da bóng loáng. Tóc tôi dựng ngược như cái bàn chải sẳn sàng hành động và cặp mắt xanh của tôi ánh lên ý chí của một lãnh chúa quyết ra tay mà không cần tới thủ hạ. Chính trong tấm hình này, tôi đã đi đến một quyết định mà tôi thấy chẳng có lý do gì để thay đổi. Chính vào thời điểm đó tôi đã tuyên bố, đã quyết định, đã nhất quyết không bao giờ làm chính trị trong bất kỳ hoàn cảnh nào, càng không thèm làm anh lái buôn tạp phẩm, mà chỉ dừng lại đây thôi, mãi mãi vẫn nguyên xi như thế này - và tôi đã thực hiện đúng như thế; trong bao năm, tôi không chỉ giữ nguyên tầm vóc này mà cả bộ trang phục này nữa.
 
Những người nhỏ con và những người to con, Tí Hon và Khổng Lồ, David và Goliath, Ngón Tay Cái và Gargantua, tôi vẫn mãi là đứa trẻ lên ba, là chú bé Ti Hon, là người xứ Lilliput, là thằng lùn quyết không chịu lớn nữa. Tôi làm thế để khỏi phải học vấn đáp đại và tiểu giáo lý và để khi đến tuổi trưởng thành, cao trên một mét bảy, khỏi phải đối phó với người đàn ông vẫn tự gọi mình là cha của Oskar mỗi khi soi gương cạo mặt, ông sẽ ép tôi đi vào con đường kinh doanh tạp phẩm, lĩnh vực mà Matzerath hy vọng sẽ trở thành thế giới của tôi khi tôi hai mươi mốt tuổi. Để tránh cái máy thu ngân, tôi bám riết lấy cái trống của tôi và từ lần sinh nhật thứ ba trở đi, không chịu lớn thêm lên một đốt tay nào nữa. Tôi giữ nguyên là thằng bé lên ba sớm khôn ngoan, lọt thỏm giữa đám người lớn cao vòi vọi, song lại đứng trên mọi người lớn, không chịu so bóng mình với bóng họ, hoàn chỉnh cả bề trong lẫn bề ngoài trong khi bọn họ, cho đến lúc kề miệng lỗ, vẫn băn khoăn hoài về chuyện “phát triển”; tự mình ngộ ra những gì mà bọn họ phải kinh qua bao khó khăn, thậm chí đau khổ, mới hiểu thấu và chẳng cần phải thay đổi cỡ giày cũng như cỡ quần năm này sang năm khác để chứng tỏ có một cái gì đang lớn.
Tuy nhiên - ở đây, Oskar phải thừa nhận một sự phát triển nào đó - có một cái gì đang lớn lên thật (và không phải lúc nào cũng theo chiều hướng có lợi cho tôi), cuối cùng vươn tới những tầm vóc Cứu thế; nhưng vào thời buổi ấy có người lớn nào thèm để tai lắng nghe Oskar, thằng bé đánh trống mãi mãi ba tuổi?

 
Chú thích : 
 [1] Kraftdurch Frende: một tổ chức của bọn Quốc xã Đức phụ trách các hoạt động giải trí trong khuôn khổ kỷ luật cho giai cấp công nhân: sân khấu, thể thao, du lịch...Hồi đó không một đoàn thế xã hội nào được phép hoạt động ở  Đúc mà không chịt sự kiểm soát của tổ chức toàn quyền này.
[2] xú-vơ-nia = souvenir  = kỷ niệm
[3]mô-ve-gu =Mauvaive goût = thói, tật xấu hay có một hương vị xấu




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.05.2016 23:02:31 bởi Ct.Ly>
TAN TÀNH Ô CỬA KÍNH
 
Tôi vừa mới mô tả một tấm ảnh Oskar lấy cả người cùng với trống và dùi trống, và đồng thời tiết lộ những gì mà trong khi được chụp hình tại bữa tiệc sinh nhật, bên cạnh chiếc bánh gatô có cắm ba ngọn nến, Oskar đã dứt khoát quyết định sau ba năm nghiền ngẫm thật chín. Nhưng giờ đây, cuốn album đang nằm im bên cạnh tôi và tôi phải nói về một số sự kiện chẳng liên quan gì với nó. Những sự kiện này không giải thích tại sao tôi cứ tiếp tục ba tuổi mãi, nhưng đó là những điều đã xảy ra thật và, hơn thế nữa, lại do chính tôi gây ra.
 
Ngay từ đầu tôi đã thấy rõ và tự bảo: đám người lớn sẽ không hiểu mày đâu. Nếu mày thôi lớn một cách rõ rệt, họ sẽ bảo là mày chậm phát triển; họ sẽ mang tiền theo, lôi mày tới hàng tá bác sĩ và, nếu không phải tìm cách điều trị, thì cũng là một lời giải thích, cho khiếm tật của mày. Do vậy, để giới hạn các cuộc khám bệnh trong phạm vi có thể chịu đựng được, tôi cảm thấy mình buộc phải cung cấp một nguyên cớ khả dĩ nghe lọt tai để cắt nghĩa tại sao tôi thôi lớn, trước khi một ôhg bác sĩ nào đó kịp đưa ra lời giải thích của mình.
 
Một ngày nắng đẹp tháng Chín, sinh nhật lần thứ ba của tôi. Một không khí mơ mộng cuối hè; ngay cả Gretchen Scheffler cũng giảm âm lượng tiếng cười của mình. Mẹ tôi dạo trên dương cầm vài giai điệu trong vở Nam tước Digan. Jan đứng đằng sau, tay chạm nhẹ lên vai mẹ, làm bộ như đang lắng nghe nhạc. Trong bếp, Matzerath đã bắt tay vào làm bữa tối. Bà ngoại Anna cùng với Hedwig và Alexander kéo nhau đến ngồi với Greff vì tay chủ hiệu ở rau quả này biết nhiều chuyện, những chuyện về hướng đạo sinh đầy lòng dũng cảm và trung thành; và ở cuối phòng, chiếc đồng hồ chuông không bỏ qua một khắc nào của cái ngày tháng Chín như dệt bằng lụa mỏng này. Và vì tất cả bọn họ đều bận bịu chẳng kém gì cái đồng hồ chuông, tôi bèn rời nước Hunggari của ông Nam tước Digan, tạm biệt các hướng đạo sinh của Greff (họ đang thám hiểm dãy núi Vosges), bỏ qua căn bếp của Matzerath ở đó nấm Kashubes và trứng đánh với dạ dày bò đang xèo xèo trên chảo, theo hành lang ra cửa hàng, vừa đi vừa dạo khẽ trên trống một nét ngẫu hứng. Này đây tôi đã đứng ở quầy trong cửa hàng, bỏ lại xa đằng sau lưng tất cả: dương cầm, nấm và núi Vosges. Tôi nhận thấy cánh cửa xập dẫn xuống hầm kho vẫn để mở; chắc là Matzerath lúc xuống lấy một hộp mứt quả để tráng miệng, đã quên không đóng lại.
Phải mất một lúc tôi mới hiểu ra cái cửa xập ấy xui tôi làm gì. Không phải là tự sát, nhất định rồi. Như thế thì quá đơn giản. Tuy nhiên, phương án kia thì khó và đau đấy, nó đòi hỏi phải hy sinh và ngay từ buổi ấy, điều này đã làm tôi đổ mồ hôi trán như mỗi lần sau này khi người ta đòi hỏi tôi phải hy sinh. Quan trọng hơn cả là làm sao cho cái trống của tôi không bị hư hại gì; vậy phải mang nó thật cẩn thận xuống mười sáu bậc cầu thang mòn vẹt rồi đặt vào giữa những bao bột, tạo nên lý do tại sao nó vẫn nguyên vẹn. Rồi trở lên tới bậc thứ tám, không, thứ bảy, không, kể ra bậc thứ năm cũng được. Nhưng từ độ cao này thì không thể dung hòa hai kết quả: an toàn và vết thương hợp lý được. Thế là lại ngược lên đến bậc thứ mười - không, cao quá - cuối cùng, từ bậc thứ chín, tôi nhào đầu xuống, kéo theo cả một cái giá đầy những chai xirô phúc bồn tử và ngã sóng xoài trên sàn xi-măng của căn hầm kho.
 
Ngay trước khi bất tỉnh, tôi còn kịp nhận thấy thành công mỹ mãn của cuộc thử nghiệm: những chai xirô phúc bồn tử (quả framboise & raspberry) mà tôi cố tình kéo theo trong cú ngã va nhau loảng xoảng, đủ ầm ĩ để rứt Matzerath ra khỏi bếp, mẹ tôi ra khỏi dương cầm và số khách còn lại của bữa tiệc sinh nhật ra khỏi dãy núi Vosges và tất cả ùa ra cửa hàng, tới chỗ cánh cửa xập mở toang và lao xuống các bậc thang.
Trước khi họ tới, tôi còn kịp hít một hơi xirô phúc bồn tử, quan sát thấy đầu mình đang chảy máu và tự hỏi (trong khi bọn họ đang xuống cầu thang) cái mùi dìu dịu và buồn ngủ kia là từ đâu, từ máu của Oskar hay từ những trái phúc bồn tử ? Dù thế nào đi nữa, tôi cũng hài lòng vì mọi sự đã thông đồng bén giọt và nhờ sự lo xa của tôi, cái trống không hề sứt mẻ tí nào.
 
Tôi đồ rằng Greff đã bế tôi lên khỏi hầm. Mãi đến lúc vào phòng khách rồi, Oskar mới ngoi ra khỏi cái đám mây tạo nên bởi hai thành tố - một nửa là xirô và nửa kia là dòng máu trẻ của nó. Thầy thuốc chưa đến, mẹ tôi tru tréo và vung tay đánh tới tấp vào mặt Matzerath bằng cả lòng và mu bàn tay, gọi ông là đồ sát nhân trong khi ông cố trấn an mẹ,
Vậy là bằng mỗi một cú ngã đành rằng cũng khá mạnh nhưng được tính toán kỹ từ trước, không những tôi đã cung cấp cho những người lớn lời giải thích quan trọng (được các thầy thuốc xác nhận năm lần bây lượt) cho việc tôi thôi lớn, mà ngoài ra, còn biến ông Matzerath hồn hậu, vô hại thành một ông Matzerath phạm tội (thực tình tôi đâu có dụng ý làm thế), ông đã quên không đóng cánh cửa xập. Mẹ tôi đổ hết tội lên đầu ông và trong nhiều năm sau, thi thoảng ông vẫn phải hứng chịu những lời trách mắng không thương tiếc của mẹ tôi.
 
Cú ngã làm tôi phải nằm nhà thương bốn tuần lễ và sau đó, ngoại trừ những buổi khám bệnh hàng tuần tại nhà bác sĩ Hollatz , tôi được tương đối yên thân về phía ngành y. Ngay từ ngày đầu tiên trong vai trò người đánh trống, tôi đã phát thành công một tín hiệu cho thế giới; “ca” của tôi đã được làm sáng tỏ ngay cả trước khi những người lớn kịp nghĩ đến bản chất thật sự của tình trạng mà chính tôi đã gây ra. Từ nay về sau, cách giải thích chính thức sẽ là: vào dịp sinh nhật lần thứ ba, bé Oskar của chúng tôi bị ngã xuống cầu thang hầm kho, xương cốt tuy nguyên vẹn, nhưng không lớn được nữa.
Và tôi bắt đầu chơi trống. Nhà chúng tôi có bốn tầng. Từ tầng trệt đến tầng áp mái, tôi cứ lên lên xuống xuống, vừa đi vừa đánh trống. Từ Labesweg, tôi ra Quảng trường Max-Halbe, đến Neuschottland, đường Anton-Mưller, phố Nữ 'thánh Marie, công viên Kleinhammer, nhà máy bia cổ phần, hồ Aktien, bãi cỏ xanh Frobel, trường Pestalozzi, Chợ Mới, rồi quay trở về Labeweg. Cái trống của tôi chịu đựng tốt sự căng thẳng ấy, nhưng những người lớn quanh tôi thì không, họ luôn luôn muốn cắt đứt nhịp trống của tôi, ngáng trở nó; nhưng tạo hoá đã phù trợ cho tôi.
Cái khả năng sử dụng trống để thiết lập một khoảng cách cần thiết giữa tôi và những người lớn đã phát triển nơi tôi ít lâu sau cú ngã, gần như đồng thời với sự xuất hiện của một chất giọng khiến tôi có thể hát và ngân rung ở một cao độ ghê gớm, có nghĩa tôi có thể hát - thét chói tai đến nỗi không ai dám tước đi cái trống làm đinh tai họ, bỡi vì hễ nó bị giật khỏi tay tôi là tôi thét liền và khi tôi thét là nhiều thứ đồ quý giá vỡ tan tành. Tôi có cái khiếu hủy hoại thủy tinh bằng tiếng hát. Tôi thét vỡ bình hoa. Tôi hát nổ ô kính cửa sổ cho gió lùa mặc sức. Như một đóa kim cương tinh khiết - và bởi thế càng khắc nghiệt - giọng tôi bổ toác các tủ kính và, không hề mất đi chất hồn nhiên ngây thơ, xâm nhập vào tận bên trong phá phách bộ ly uống rượu thanh mảnh, hài hòa, phủ một lớp bụi mỏng - quà tặng của một người thân.
Chẳng bao lâu, những năng khiếu của tôi trở nên
khét tiếng khắp phố, từ đường Brösener đến khu cư xá cạnh sân bay. Hễ bọn trẻ con hàng xóm trông thấy tôi - những trò chơi của chúng như “Một, hai, ba, cá trích ngâm giấm” hay “Đâu rồi, mụ phù thủy đen như hắc ín?”... chẳng hấp dẫn tôi chút nào - là cả dàn đồng ca mặt mày nhem nhuốc của chúng lại cất tiếng nheo nhéo:
 
Tan tành ô cửa kính 
 Uống bia tươi với đường 
 Cô Hai Mít má phính 
 Thổi kèn dưới hàng dương 
 
Một bài vè ngớ ngẩn, vô nghĩa. Tôi chẳng lấy gì làm phiền, mà còn lấy luôn cái tiết tấu đơn giản nhưng không phải là không có duyên ấy hòa nhập vào điệu trống suốt từ đầu đến cuối, này bia tươi, này cô Hai Mít. Cứ thế khua vang trống, tôi diễu hành dọc phố và mặc dù tôi không phải là chàng Thổi Sáo dụ chuột thành Hameln, bọn trẻ vẫn lũ lượt đi theo tôi.
Ngay cả đến giờ, mỗi khi Bruno cọ cửa kính phòng tôi chẳng hạn, tôi vẫn dành một khoảnh khắc để dạo lại trên trống tiết tấu của bài vè đó.
Đáng bực hơn cái trò trêu chọc mang tính trữ tình ấy của bọn trẻ con và rầy rà hơn, nhất là đối với cha mẹ tôi, là cái thực tế tốn kém này: trong cả khu phố tôi, bất kỳ ô kính của sổ nào bị bọn du côn lớn hoặc nhỏ đập vỡ, người ta cũng nhất nhất đổ diệt cho tôi và giọng của tôi. Thoạt đầu mẹ tôi ngay thẳng và sòng phẳng đền những ô kính vỡ mà phần lớn là do súng cao-su, rồi cuối cùng mẹ hiểu ra vấn đề và, lấy vẻ mặt lạnh lùng trong giao dịch doanh thương, mẹ yêu cầu - ai đòi bồi thường phải đưa ra bằng chứng cụ thể. Và quả thật tôi bị kết tội oan. Vào thời kỳ ấy, không gì sai lầm hơn là gán cho tôi cái thói con nít mê đập phá, cái tật vô cớ thù ghét thủy tinh và đồ thủy tinh. Chỉ có những đứa trẻ chơi đùa mới phá hoại vì tinh nghịch. Tôi đây không bao giờ chơi cả. Tôi làm việc trên cái trống của tôi, còn về giọng tôi, những khả năng kỳ diệu của nó chỉ nhằm thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chí ít là vào thời kỳ đầu. Chỉ đến khi quyền được đánh trống của tôi bị đe dọa, tôi mới dùng thanh đới của mình làm vũ khí. Nếu cũng bằng âm độ ấy và kỹ thuật ấy, tôi có thể xé nát những khăn bàn gớm ghiếc thêu rối tinh rối mù của Gretchen Scheffler hoặc xóa bỏ lớp vẹc-ni sẫm trên chiếc dương cầm, thì chắc tôi đã vui vẻ để yên cho các đồ thủy tinh. Nhưng giọng tôi hoàn toàn vô hiệu đối với khăn bàn và vẹc-ni. Tôi không tài nào xóa được những họa tiết trên giấy phủ tường bằng những tiếng thét, cũng không thể, bằng cách xát mạnh hai âm hú kéo dài theo cách tổ tiên ta ở thời kỳ đồ đá xát hai mảnh đá vào nhau, tạo nên nhiệt lượng đủ là xoè tia lửa cần thiết để đốt những tấm rèm nỏ như bùi nhùi, ám khói thuốc lá ở hai cửa sổ phòng khách nhà chúng tôi cháy bùng lên thành những hoa văn trang trí. Tôi chưa bao giờ hát đến gẫy chân một chiếc ghế nào có Matzerath hay Alexanderr Scheffler đang ngồi bên trên. Tôi những muốn tự vệ bằng những phương cách vô hại hơn, đỡ huyền hoặc hơn, song tôi không có vũ khí nào khác; chỉ có thủy tinh chịu khuất phục uy lực của tôi và do đó phải trả giá.
 
Cuộc trình diễn thành công đầu tiên của tôi trong lĩnh vực này xẩy ra ít lâu sau bữa sinh nhật lần thứ ba của tôi. Tôi sở hữu cái trống đã được bốn tuần và đã cật lực dùng nó đến tơi tả. Tang trống sơn đỏ và trắng theo vạch răng cưa vản còn nối hai mặt trống với nhau, nhưng cái lỗ ở mặt trên đã lồ lộ; vì tôi không đụng đến mặt kia nên mỗi ngày nó một rộng thêm, tướp ra mọi phía thành những cạnh răng cưa lởm chởm. Những mảnh thiếc vụn, do dùi trống gõ bong ra, rơi vào bên trong và cứ mỗi nhát dùi nện xuống, lại ấm ức va nhau kêu loẻng xoẻng. Những vẩy men trắng, không kham nổi nỗi truân chuyên của đời trống, rơi lả tả xuống thảm trải phòng khách và sàn gỗ nâu đỏ của phòng ngủ.
Mọi người sợ tôi bị những cạnh sắc của lỗ thủng trên mặt trống làm đứt tay. Đặc biệt Matzerath, ông trở nên quan tâm quá đáng đến việc bảo đảm an toàn, lúc nào cũng nhắc tôi phải cẩn thận. Vì mỗi khi đánh trống, những cổ tay vung mạnh của tôi bao giờ cũng gần kề những cạnh sắc ấy, nên tôi phải công nhận rằng nỗi lo ngại của Matzerath không phải là vô căn cứ tuy có phần hơi thái quá. Dĩ nhiên họ có thể chặn trước mọi nguy hiểm bằng cách cho tôi một cái trống mới, nhưng đó không phải là ý định của họ, họ chỉ muốn tước đi của tôi cái trống cũ thân thương đã từng ngã cùng tôi, đi bệnh viện cùng tôi và trở về nhà cùng tôi, cái trống đã theo tôi lên gác xuống gác, diễu hành trên hè phố, qua các trò “Một, hai, ba, cá trích ngâm giấm” và “Đâu rồi mụ phù thủy” và “Cô Hạt Mít” - phải, họ muốn cướp nó đi mà chẳng đền bù gì cho tôi. Họ định mua chuộc tôi bằng một thỏi sô-cô-la ngu xuẩn. Mẹ tôi dẩu môi chìa nó cho tôi. Chính Matzerath, với vẻ mặt làm ra nghiêm nghị, là người giơ tay nắm lấy cái trống tiều tụy của tôi. Tôi lấy hết sức níu lại. Ông kéo mạnh. Sức tôi, vốn chỉ đủ để đánh trống, bắt đầu núng thế. Lần lượt từng lưỡi lửa trên tang trống từ từ tuột khỏi tay tôi. Đến lúc này Oskar, vốn xưa nay được xem là đứa bé lặng lẽ, hầu như quá ngoan là đằng khác, mới bật lên tiếng thét công phá đầu tiên của mình: miếng thủy tinh tròn nhẵn bóng che cho cái mặt màu mật ong của chiếc đồng hồ treo khỏi bụi và xác ruồi, bỗng nổ tung, mảnh rơi lả tả xuống sàn gỗ (vì thảm không đủ để trải tới tận dưới chân đồng hồ), nơi công cuộc phá hoại được hoàn tất. Tuy nhiên, phần bên trong của đồ vật cơ khí quý giá này không hề bị hư hại; cái quả lắc vẫn bình thản tiếp tục hành trình của mình và hai chiếc kim cũng vậy. Bộ chuông ngân mọi khi rất nhạy cảm, chỉ một chấn động nhỏ - chẳng hạn một chiếc xe tải chở bia chạy qua - cũng đủ khiến nó ré lên như con mụ bị thần kinh, thế mà nó không mảy may phản ứng với tiếng thét của tôi, chỉ có thủy tinh là vỡ, vỡ tan tành, vỡ triệt để.
 
“Vỡ đồng hồ rồi!” Matzerath kêu lên và buông cái trống ra. Chỉ thoáng nhìn, tôi đã xác định được là
đích thị cái đồng hồ thì không sao, chỉ có mặt kính là đi tong. Nhưng đối với Matzerath cũng như với mẹ tôi và Jan Bronski (theo thường lệ vẫn đến chơi mỗi chiều chủ nhật) thì tổn thất có vẻ nghiêm trọng hơn nhiều. Mặt tái mét, họ lấm lét nhìn nhau, nhớn nhác, và vươn tay tới vật rắn gần nhất có thể bấu víu vào được - cái bếp lò, cây dương cầm, tủ buýp- phê ... Họ đứng ngây ra, không dám động đậy. Jan Bronski mấp máy cặp môi khô, mắt đầy vẻ van lơn. Đến tận bây giờ, tôi vẫn tin rằng bác đang khấn thầm trong bụng một lời nguyện đại loại như: "Ôi con chiên của Chúa, Người cất bỏ những tội lỗi của thế gian này, miserere nobis" [1]. Ba lần như thế rồi tiếp theo là: "Lạy Chúa, con không xứng đáng được đón Người dưới mái nhà này, chỉ xin Người nói một lời..."
Dĩ nhiên là Chúa chẳng nói gì. Vả lại, đồng hồ không đi đứt mà chỉ vỡ mặt kính thôi. Tuy nhiên, có một cái gì thật kỳ khu và con nít trong tình cảm của đám người lớn đối với những cái đồng hồ của họ (về mặt này, tôi không bao giờ là con nít cả). Tôi sẵn sàng đồng ý rằng đồng hồ có thể là vật đáng kể nhất mà người lớn đã tạo ra. Người lớn vốn nuôi chí sáng tạo và đôi khi, với tham vọng, tính cần cù và tí chút may mắn, họ thực sự trở thành sáng tạo, nhưng bởi là người lớn, nên vừa mới tạo ra được một phát minh vĩ đại, họ đã tức thì biến mình thành nô lệ của nó.
 
Nói cho cùng, đồng hồ là cái gì mới được chứ? Không có người lớn thì nó chẳng là cái gì sất. Người lớn lên dây cho nó, chỉnh giờ nhanh lên hay chậm lại, mang nó đến ông thợ đồng hồ để kiểm tra, lau dầu và nếu cần thì sửa chữa. Cũng như trong các trường hợp chim cu ngừng hót quá sớm, lọ muối trên bàn ăn bị đổ, sáng sớm đã nhìn thấy nhện, gặp mèo đen đến từ bên tay trái, hoặc bức chân dung sơn dầu của ông bác treo trên tường bỗng rơi xuống vì chiếc đinh bị long, người lớn thường nhìn thấy trong gương và đằng sau một chiếc đồng hồ nhiều điều hơn là nó có thể bảo hiệu.
 
Mẹ tôi tiếng là bồng bột song lại có cái đầu khá tỉnh và chính cái tính phù phiếm ấy thường khiến mẹ đi đến những diễn giải lạc quan về các tín hiệu hoặc điềm báo, cuối cùng mẹ tìm ra lời để cứu vãn tình thế.
"Mảnh vỡ là điềm may!" mẹ nói lớn, bật ngón tay đánh tách rồi đi lấy xẻng và chổi hốt lấy may mắn đó.
 Nếu hiểu theo lời mẹ thì tôi đã mang đến cho cha mẹ, họ hàng bạn bè và cả nhiều người hoàn toàn xa lạ khá nhiều may mắn bằng cách hát hoặc hét vỡ tan những đồ thủy tinh thuộc về, hoặc đang được sử dụng bởi, những người toan cướp đi cái trống của tôi, nào ô kính cửa sổ, nào bát pha lê đựng đầy hoa quả giả, nào những cốc bia đầy, những chai bia rồng hoặc những cái lọ nhỏ chứa hương mùa xuân mà người phàm tục gọi là nước hoa, tóm lại, bất cứ sản phẩm nào của nghệ thuật làm thủy tinh.
 
Để hạn chế thiệt hại (bởi tôi xưa nay vẫn là người yêu đồ thủy tinh mỹ nghệ), khi đêm đến, người ta định cất cái trống đi, không để tôi mang theo vào giường ngủ, tôi tập trung vào công phá một hoặc hai - ba bóng trong chùm đèn bốn bóng ở phòng khách của chúng tôi. Trong bữa sinh nhật lần thứ tư của tôi vào đầu tháng 9 năm 1928, tôi giáng một chưởng vào cả đám đông tụ tập đông đủ- cha mẹ tôi, vợ chồng bác Bronski, bà ngoại Koljaiczek, vợ chồng nhà Scheffler và vợ chồng nhà Greff, những người đã tặng tôi - mọi thứ quà họ có thể nghĩ ra, nào lính chì, nào thuyền buồm, nào xe cứu hoả nhưng không có cái trống nào, những người muốn tôi phí thì giờ với đám lính chì, với cái xe cứu hoả ngu xuẩn, những người mưu toan tước đoạt của tôi cái trống cũ tả tơi nhưng thân tín, muốn cướp nó khỏi tay tôi, thay vào đó cái thuyền buồm vô dụng, trang bị lại không chuẩn - phải, tôi đã giáng một chưởng vào cả cái đám người chỉ nhằm một mục đích duy nhất là lờ tôi đi, không thèm đếm xỉa đến những ước muốn của tôi, ném họ vào bóng đêm tiền sử bằng một tiếng thét lia một vòng đập tan cả bốn chiếc bóng của chùm đèn.
 
Ôi, người lớn, người lớn! Sau những tiếng la khiếp hãi đầu tiên, sau những lời gần như tuyệt vọng cầu xin ánh sáng trở lại, họ quen dần với bóng tối và khi bà ngoại Koljaiczek của tôi, người duy nhất cùng với cu tí Stephan không kiếm chác được gì nhờ bóng tối, ra ngoài cửa hàng kiếm nến (Stephan khóc nhè vẫn bám riết váy bà) và mang ánh sáng trở lại, thì đám còn lại đã say la đà và cặp với nhau theo dạng thức râu ông nọ cắm cằm bà kia.
 
Như có thể dự đoản, mẹ tôi, coóc-xê xộc xệch, đang ngồi trên lòng bác Jan Bronski. Thật phát ớn khi nhìn thấy lão chủ hiệu bánh mì chân ngắn tũn, Alexander Scheffler, gần như lút giữa những lớp thịt ngồn ngộn của Greff nương nương. Matzerath thì đang mút những chiếc răng ngựa bịt vàng của Gretchen Scheffler. Chỉ có Hedwig Bronski là ngồi một mình chắp tay trên đầu gối, cặp mắt bò cái đầy vẻ thành kính trong ánh nến, bên cạnh nhưng không quá kề sát Greff – Rau - Quả, tay này tuy không uống gì mà vẫn hát với một giọng buồn man mác và đắm đuối. Quay về phía Hedwig Bronski, giả làm hiệu mời nàng hòa giọng song ca với mình và cả hai cùng hát một bài ca ngợi một huynh trưởng hướng đạo sinh tên là Riibezahl chết rồi mà hồn vần lẩn quất trên những ngọn núi Bohemia.
 
Người ta đã bỏ quên tôi. Dưới gầm bàn, Oskar ngồi với cái trống xác xơ, cố chắt nốt dăm ba nhịp thoi thóp cuối cùng. Điệu trống yếu ớt nhưng đều đặn của tôi xem ra lại rất phù hợp với trạng thái phiêu diêu ngây ngất của những người đang nằm, ngồi ngả ngốn khắp phòng. Bởi lẽ, như một lớp vẹc- ni, tiếng trống của tôi phủ lên mọi tiếng hôn hít, mút mát cuồng khấu.
Tôi vẫn ở dưới gầm bàn khi bà ngoại bước vào với cây nến như một thiên thần phẩn nộ, nhìn cái cảnh Sodom và Gomorrah [2] trong ánh nến, giận sôi lên đến nỗi những cây nến cầm trong tay run lên, gọi cả đám là lũ lợn bẩn thỉu và chấm dứt cả cảnh huê tình lẫn cuộc du ngoạn trên núi của Riibenzahl bằng cách cắm chặt nến lên đĩa, lấy bộ bài xì-cạt trong tủ buyp-phê ra ném lên bàn, đồng thời không quên dỗ cu tí Stephan vẫn khóc nhèo nhẽo. Lát sau, Matzerath lắp những bóng mới vào đui cũ của chùm đèn, ghế được kê lại, bia lại mở bôm bốp; trên đầu tôi, bắt đầu một hội xì-cạt tính mỗi điểm ăn một phần mười fennich. Ngay từ đầu, mẹ tôi đã đề nghị nâng tiền cược lên một phần tư fennich, nhưng bác Jan cho là quá mạo hiểm và cuộc chơi tiếp tục ở mức cò con đó.
 
Tôi cảm thấy dễ chịu dưới gầm bàn, trong sự che chở của tấm khăn bàn. Khẽ dạo trên mặt trống, tôi hòa nhịp với những tiếng động trên đầu, theo dõi những diễn biến của cuộc chơi và đúng một giờ sau, thông báo: Jan Bronski đã thua. Bác lên bài rất tốt mà vẫn thua. Chẳng có gì là lạ: bác đâu có để tâm vào bài. Đầu óc bác còn mải nghĩ đến những điều hoàn toàn khác với bộ hoa vuông trên tay. Ngay từ đầu, trong khi vẫn nói chuyện với bà cổ uột, cố thuyết phục bà rằng cuộc truy hoan nho nhỏ trong bóng tối ban nãy chẳng có gì là ghê gớm cả, bác đã tụt một bàn chân đi tất ra khỏi giày, đưa qua đầu tôi, tìm (và tìm thấy) đầu gối mẹ tôi. Thế là mẹ tôi liền xích lại gần bàn hơn và Jan bỏ qua một lá bài Matzerath vừa đánh ra, dùng ngón chân nâng gấu váy mẹ lên để luồn cả bàn chân (trong chiếc tất mới thay sáng nay) vào khoa khoắng giữa hai đùi mẹ. Tôi phải bái phục mẹ tôi: bất chấp sự khiêu khích bằng len ấy dưới gầm bàn, mẹ vẫn đi được những nước bài táo bạo bên trên tấm khăn bàn hồ cứng đồng thời liến thoắng trò chuyện rất hồn nhiên và thắng cuộc trong khi bác Jan, càng lúc càng xấn xổ hơn dưới gầm bàn, thua liền mấy ván ngon ơ mà ngay đến Oskar cũng có thể thắng với độ chuẩn xác trong cơn mộng du.
Lát sau, cu tí Stephan tội nghiệp nhập bọn với tôi dưới gầm bàn và, rất đỗi hoang mang không hiểu cái ống quần của cha nó đang làm gì dưới váy mẹ tôi, nó nhanh chóng quay ra ngủ.
Trời đang quang đãng bỗng chuyển sang vẩn mây. Chiều có vài cơn mưa rào nhẹ. Ngay hôm sau, Jan Bronski tới, lấy lại cái thuyền buồm thổ tả bác đã tặng tôi để đem đổi lấy một cái trống ở cửa hàng đồ chơi của lão Sigismond Markas. Chiều muộn, bác quay về, hơi ướt mưa, với một cái trống mới toanh thuộc cái kiểu dáng đã trở nên rất quen thuộc với tôi - những ngọn lửa đỏ trên nền trắng - và chìa ra cho tôi đồng thời thu hồi cái trống cũ tả tơi của tôi giờ chỉ còn giữ lại vài mảng sơn tróc lở. Và trong khi Jan lấy đi cái cũ và tôi nhận cái mới, cả bác ấy lẫn mẹ và Matzerath đều dán mắt vào Oskar; ôi chao, tôi suýt bật cười, dễ thường họ tưởng tôi một mực níu giữ truyền thống, tuân thủ nguyên tắc sao?
Không thốt ra tiếng thét mà tất cả chờ đợi, cũng chẳng cất tiếng hát " diệt thủy tinh", tôi từ bỏ cái thánh tích và cúc cung cả hai tay phụng sự linh vật  mới. Sau hai tiếng chăm chú luyện tay trống tôi đã nắm được kỷ năng sử dụng.
Nhưng không phải tất cả những người lớn quanh tôi đều tỏ ra thông cảm như Jan Bronski. Ít lâu sau lần sinh nhật thứ năm của tôi vào năm 1929 - hồi đó, người ta đang xôn xao bàn tán về một vụ vỡ nợ nhà băng ở New York và tôi tự hỏi không biết ông ngoại Koljaiczek của tôi với công cuộc kinh doanh gỗ ở vùng Buffalo xa xôi có liên đới chịu tổn thất không, lo sợ trước thực tế rành rành là tôi không lớn nữa, mẹ tôi dắt tay tôi đưa đến văn phòng ông bác sĩ Hollatz ở Brỹnsshofer-Weg và từ đó bắt đầu thành - nếp khám bệnh thường kỳ vào thứ tư hằng tuần. Những cuộc khám bệnh của ông ta kéo dài đến phát cáu song tôi đành chịu đựng vì ngay ở cái tuổi ấu thơ ấy, tôi đã rất thích cái áo dài trắng của Xơ Inge phụ việc cho bác sĩ Hollatz, nó nhắc tôi nhớ đến những tấm ảnh thời chiến của mẹ tôi hồi làm nữ y tá. Nhờ tập trung cao độ vào nghiên cứu kiểu xếp nếp trên bộ đồng phục của Xơ mà tôi có thể bỏ qua hàng tràng lời dặn dò tuôn ra từ miệng ông, lúc thì nghiêm nghị hách dịch, khi lại ra dáng một ông bác đến là khó chịu.
 
Đôi mắt kính phản chiếu những thiết bị trong phòng - vô thiên lủng là crôm, kền, men mịn; những giá, ngăn, tủ kính chất đầy chai lọ có dán nhãn rõ ràng, ngâm rắn, cóc, kỳ nhông và phôi người, lợn và khỉ - Hollatz, cứ mỗi lần khám xong, lại đăm chiêu lắc đầu, lật giở những trang bệnh án, hỏi lại mẹ về cú ngã của tôi và trấn an mẹ khi mẹ bắt đầu nguyền rủa Matzerath phải chịu tội đời đời vì đã để ngỏ cánh cửa xuống hầm.
 
Sau nhiều tháng như vậy, một ngày thứ tư, có lẽ để tự thuyết phục mình và đồng thời thuyết phục luôn cả Xơ Inge rằng phương pháp điều trị của mình đã mang lại kết quả, bác sĩ Hollatz thử giật lấy cái trống của tôi, đáp lại tôi đã phá hủy phần lớn bộ sưu tập rắn, cóc và phôi các loại của ông ta.
 
Đây là lần đầu tiên Oskar thử nghiệm sức công phá của giọng mình đối với cả một loạt chai lọ thủy tinh đựng đầy và gắn nút cẩn thận. Thành công quả có một không hai và gây choáng cho tất cả những người có mặt, kể cả mẹ vốn đã biết quá rõ mối quan hệ riêng tư của tôi đối với đồ thủy tinh. Ngay từ tiếng thét đầu tiên còn kiềm chế, dè dặt, tôi đã phá toang cái tủ kính trong đó Hollatz lưu giữ những của lạ gớm chết của ông ta và làm văng một ô kính gần như vuông xuống sàn nhà lót vải nhựa, ỗ đó nó tan thành muôn mảnh mà vẫn giữ nguyên hình cũ. Rồi thả phóng cho lực thét, chẳng cần dè giữ gì nữa, tôi nhằm đám chai lọ, đập hết chai này sang lọ kia.
Chai lọ nổ bôm bốp như pháo. Chất cồn xanh xanh, đã hơi đông lại phần nào, chảy ra bắn tung tóe, cuốn theo cái mớ nhợt nhạt với những cặp mắt rầu rĩ được ngâm tẩm trong đó, trút xuống sàn vải nhựa và tỏa đầy phòng một mùi nồng nặc đậm đặc đến mức tưởng như có thể sờ thấy được khiến mẹ buồn nôn và Xơ Inge phải vội vàng mở toang các cửa sổ.
 
Bác sĩ Hollatz đã khéo xoay sở biến tổn thất đó thành thắng lợi. Mấy tuần sau hành động bạo lực của tôi, ông cho đăng trên tạp chí Thế giới Y học một bài về tôi, “Oskar M., đứa bé có giọng diệt thủy tinh”. Nghe nói cái lý thuyết mà ông đốc-tờ Hollatz đã bôi ra được kín hai mươi trang tạp chí đã thu hút được sự chú ý của giới y học ở cả Đức lẫn các nước ngoài và dẫn đến một loạt bài của các chuyên gia, người tán thành kẻ phản đối. Ông ta gửi biếu mẹ mấy bản của số báo có đăng bài đó và việc mẹ lấy thế làm tự hào khiến tôi suy nghĩ. Mẹ đọc đi đọc lại không biết chán một số đoạn cho vợ chồng Greff, vợ chồng Scheffler nghe, cho anh Jan của mẹ nghe và đều đặn sau mỗi bữa ăn tối, cho Matzerath nghe. Cả những khách hàng cũng phải nghe mẹ đọc và họ rất thán phục cái cách sáng tạo kỳ lạ của mẹ trong việc phát âm những từ kỹ thuật, về phần tôi, tôi hoàn toàn dửng dưng với việc thấy tên mình lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí.. Tính hoài nghi đã thính nhậy trong tôi khiến tôi nhìn rõ thực chất cái tác phẩm nhỏ của bác sĩ Hollatz là gì : một bản thuyết trình dài hơi, không phải là không khéo nhưng không trúng vấn đề, của một tay thầy thuốc đang nhắm nhe một học vị giáo sư.
 
Hôm nay đây, nằm trong bệnh viện tâm thần này, không còn đủ âm lực để hát vỡ một cái cốc đánh răng, để cho các tay bác sĩ cùng một giuộc với Hollatz ra ra vào vào, tiến hành trên cơ thể hắn các xét nghiệm gọi là Rorschach, xét nghiệm liên hợp và đủ mọi thứ xét nghiệm mà người ta có thể tưởng tượng ra hòng tìm được một cái tên thật kêu cho cái căn bệnh đã khiến người ta phải tống hắn vào viện, Oskar thích nghĩ về thời sơ sử của giọng mình. Vào những ngày đầu tiên ấy, nó chỉ đập vở thủy tinh khi cần thiết mà thôi, song đã làm là làm thật triệt để, còn sau này, khi nghệ thuật của hắn đến giai đoạn cực thịnh rồi suy đồi, hắn vận dụng nó ngay cả khi không bị hoàn cảnh bên ngoài bắt buộc. Không cưỡng nổi thói kiểu cách của một thời kỳ sau này, hắn bắt đầu ra giọng đơn thuần để vui chơi, nói cách nào đó, trở thành một tín đồ của nghệ thuật vị nghệ thuật. Hắn dùng thủy tinh như một phương tiện để tự biểu hiện và già đi trong quá trình đó.
 
 
Chú thích:
 
[1] miserere nobis" [ Pitié de nous = xin thương xót chúng con)
[2] Hai thành phố cổ đại điển hình và  đồi trụy, bị Thượng Đế phóng lưu huỳnh và lửa hủy diệt (Kinh Thánh,Sáng thế kỷ. Ch 19)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.05.2016 16:32:47 bởi Ct.Ly>
THỜI GIAN BIỂU
 
Nhiều khi Klepp bỏ ra hàng mấy giờ liền để lập thời gian biểu. Việc hắn vừa làm thế vừa nhồm nhoàm nhai dồi tiết và hạt đậu lăng hâm lại, xác nhận cái lý thuyết đơn giản của tôi: bọn mơ mộng đều tham ăn tục uống. Và việc hắn tích cực lấp kín từng giờ khắc lại xác nhận một luận đề khác của tôi, cụ thể là: chỉ có những thằng đại lãn số dách mới có thể đẻ ra những phát minh tiết kiệm lao động.
Năm nay nữa, Klepp lại bỏ ra hơn hai tuần để lên lịch hoạt động của mình. Hôm qua, hắn đến thăm tôi. Hắn làm ra vẻ bí bi mật mật hồi lâu, rồi móc từ túi ngực ra một tờ giấy gấp kỹ càng, đưa cho tôi. Rõ ràng là hắn rất hài lòng với mình: lại một kế hoạch tiết kiệm lao động nữa.
Tôi đọc lướt bản viết tay của hắn, chẳng có gì mới mẻ cho lắm: mười giờ điểm tâm; suy tưởng cho đến giờ ăn trưa; ăn xong, ngủ trưa (một tiếng); rồi uống cà-phê ngay tại giường nếu có thể; nằm trên giường thổi sáo (một tiếng); đứng dậy; vừa đi quanh phòng vừa thổi kèn túi (một tiếng); tiếp tục chơi kèn túi ngoài sân (nửa tiếng). Kế đó là một khoảng thời gian hai tiếng đồng hồ phân bố đan xen cách nhật: hôm nay uống bia nhắm dồi tiết thì hôm sau xem xi-nê; trong cả hai trường hợp - trước khi xem phim hoặc trong lúc nhậu bia - kín đáo tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Đức hoạt động bất hợp pháp (không quá nửa tiếng, chớ nên thái quá). Mỗi tuần ba buổi tối chơi nhạc nhảy ở tiệm Kỳ Lân; ngày thứ bảy, bia và tuyên truyền lui đến tối, buổi chiều dành cho tắm và mát-xa ở Grỹnstrasse, sau đó là bốn mươi lăm phút vệ sinh với gái ở "U 9", rồi cùng với nàng và một cô bạn của nàng uống cà-phê, ăn bánh ngọt ở Schwab; cạo mặt và nếu cần cắt tóc trước khi tiệm đóng cửa; khẩn trương làm một "pô" ảnh photomaton; rồi bia, tuyên truyền Đảng và thư giãn.
Tôi tỏ vẻ thán phục cái thời gian biểu cẩn thận, khít khao của Klepp, xin hắn một bản và hỏi hắn làm gì khi, thi thoảng, xuất hiện những khoảng trống.
Dĩ nhiên, kể vậy cốt để dẫn đến trải nghiệm, đầu tiên của Oskar với thời gian biểu.
Chuyện bắt đầu một cách vô hại ở vườn trẻ của Cô Kauer. Sáng sáng, Hedwig Bronski đến đưa tôi cùng Stephan đến chỗ Cô Kauer ở đường Posadowski-Weg; tại đó, cùng với năm, sáu đứa nhóc khác - bao giờ cũng có mấy đứa ốm - chúng tôi phải chơi cho đến khi phát ớn đến tận cổ. May sao, cái trống của tôi được coi như một thứ đồ chơi, tôi không bao giờ buộc phải chơi xây cất bằng những miếng gỗ và chỉ khi nào cần một kỵ sĩ đánh trống đội mũ giấy, tôi mới phải cưỡi lên một con ngựa bập bênh mà thôi. Ngón trống của tôi nhằm vào cái áo lụa dài màu đen với vô vàn khuy cài của Cô Kauer.
Mỗi ngày mấy bận, tôi diễn trống cởi hết khuy áo của cô, mở phanh ra rồi lại cài lại đâu vào đó. Người Cô gày đét, toàn những nếp nhăn, dám chắc là tôi không mảy may tơ tưởng đên thân thể Cô khi làm vậy.
Những cuộc đi dạo buổi chiều dọc những đại lộ giữa hai hàng cây hạt dẻ qua tượng đài Gutenberg, vượt gò Erbsberg tới tận rừng Jeschkentaler, thật tẻ nhạt mà dễ chịu, ngẩn ngơ mà trong sáng thiên thần đến nỗi ngay cả bây giờ, tôi vẫn ao ước lại được nắm bàn tay khô như giấy của Cô Kauer cùng đám bạn lau nhau dạo chơi như trong tranh truyện.
 
Thoạt tiên, cả bọn chúng tôi - khoảng sáu đến tám hay mười hai đứa - phải được thắng như thắng ngựa vào xe. "Càng xe" là một dải băng bằng len màu xanh nhạt. Mỗi bên buộc sáu dây cương bằng len có gắn lục lạc, đủ chỗ cho tổng cộng mười hai đứa. Cô Kauer cầm mớ dây cương và bọn tôi lon ton đi trước, leng keng leng keng, nhong nhong ếp ếp, ríu ra ríu rít, tôi uể oải dạo trống qua những dãy phố ngoại ô mùa thu. Thỉnh thoảng, Cô Kauer bắt giọng: Jêxu, vì Người chúng con sống, Jêxu, vì Người chúng con chết hoặc Sao Biển, ta chào ngươi. Chúng tồi hát vang bầu trời tháng Mười: Ôi, mẹ Mary, xin cứu giúp con và M-ẹ-ẹ-ẹ dịu hiền của Chúa, khiến những người qua đường rất xúc động. Khi chúng tôi đến những phố chính, xe cộ phải dừng lại nhường đường chúng tôi. Tàu điện, ô-tô, xe ngựa tất cả đứng im trong khi chúng tôi rước Ngôi Sao Biển qua đại lộ. Có tiếng sột soạt như vò giấy khi Cô Kauer vẫy tay cảm ơn viên cảnh sát đã điều khiển giao thông cho chúng tôi qua.
"Chúa Jêxu sẽ ban thưởng cho bạn", Cô hứa trong tiếng sột soạt của chiếc áo lụa.
Tình thật, tôi rất tiếc khi, vào mùa xuân năm lên sáu, Oskar phải cùng với (và bởi tại) Stephan từ biệt Cô Kauer và mớ khuy áo của Cô. Duyên do là vì chính trị: ở đâu có chính trị, ở đó có bạo lực. Chúng tôi vừa tới gò Erbsberg. Cô Kauer tháo dải- len thắng đái, cành lá lấp lánh và mạch sống mới xao động trong cây. Cô Kauer ngồi lên một bệ chỉ đường đầy rêu, ghi những nơi có thể đi bộ tới trong vòng một tiếng, một tiếng rưỡi hoặc ha tiếng. Như một thiếu nữ rạo rực những tình cảm khôn tả khi xuân về, Cô cất tiếng hát là-la-lá -la, đầu lắc lư từng chặp như một con gà mái tây, trong khi tiếp tục đan một dải thắng đái mới màu đỏ như lửa. Thật không may, tôi chẳng bao giờ được dịp mang nó vì đúng lúc đó, những tiếng la hét vang lên từ bụi rậm. Cô Kauer cuống quít đứng dậy, và chạy bổ vào lùm cây trên đôi chân sếu vườn, kéo theo sau cuộn len đỏ. Tôi chạy theo Cô và cuộn len, và cái mà tôi nhìn thấy sau đó còn đỏ hơn màu len: máu từ mũi Stephan chảy lênh láng và một thằng cu tên là Lothar, tóc xoăn, thái dương nổi gân xanh, đang dận đầu gối lên ngực thằng bé ốm yếu, thắng cánh nện xuống mũi nó.
"Pô-lắc1!" nó rít lên giữa những cú đấm. "Đồ Pô- lắc!".
 
Năm phút sau, khi cô Kauer lại quây bọn tôi trong dải thắng đái màu xanh nhạt - riêng tôi được đi bên ngoài để quấn lại cuộn len - Cô lầm rầm một bài kinh thường được đọc giữa lễ Tấn phong và lễ Thánh thể: "Cúi đầu hổ thẹn, lòng đầy đau đớn và ăn năn..."
Chúng tôi xuống khỏi gò Erbsberg và dừng lại trước tượng Gutenberg. Chĩa một ngón tay dài ngoằng về phía Stephan vẫn đang sụt sùi, ấp một chiếc mù-soa trên mũi, Cô dịu dàng nhận xét: "Nếu nó là một thằng bé Ba Lan, thì đó đâu phải lỗi tại nó".
Theo lời khuyên của Cô Kauer, Stephan được đưa ra khỏi vườn trẻ. Mặc dầu Oskar không phải là người Ba Lan và cũng chẳng ái mộ gì Stephan, nhưng nó tuyên bố nếu Stephan không được đi vườn trẻ nữa thì nó cũng chả thiết. Thế rồi lễ Phục sinh đến và người ta quyết định thử cho chúng tôi đến trường xem sao. Bác sĩ Hollatz ngầm nghĩ đằng sau cặp kính gọng sừng, thấy là điều đó vô hại và nói to ý kiến đó lên: "Cái đó quyết không thể gây hại gì cho bé Oskar cả".
Jan Bronski đã tính cho Stephan đến trường công Ba Lan sau lễ Phục sinh, ai can cũng không chịu nghe. Năm lần bảy lượt, bác vạch rõ với mẹ tôi và Matzerath rằng bác là một viên chức Ba Lan, làm việc tốt ở Sở Bưu Chính Ba Lan và được đãi ngộ xứng đáng. Chung cục, bác là người Ba Lan và Hedwig cũng sẽ mang quốc tịch Ba Lan ngay sau khi giấy tờ thủ tục xong xuôi, vả lại, một đứa bé sáng dạ như Stephan có thể học tiếng Đức ở nhà. Còn Oskar - bao giờ bác Jan cũng khẽ thở dài mỗi khi nói "Oskar" - nó cũng sáu tuổi như Stephan; đành rằng nó nói chưa được sõi lắm, nhìn chung, nó có chậm phát triển so với tuổi, còn về tầm vóc của nó... dào, nói mãi rồi, nhưng dù thế nào đi nữa cũng cứ nên thử, nói cho cùng, giáo dục là cưỡng bách - miễn là ban giám hiệu nhà trường không phản đối.
 
Ban giám hiệu nhà trường tỏ ý ngần ngại và yêu cầu có giấy chứng nhận của bác sĩ. Hollatz nói rằng tôi là một đứa trẻ khoẻ mạnh tuy về hình thể chỉ bằng đứa lên ba - ông ta phải thừa nhận thế - và tôi nói chưa được tốt lắm, nhưng ngoài ra, trí khôn của tôi không kém một đứa 5- 6 tuổi bình thường, ông cũng nói điều gì đó về tuyến giáp trạng của tôi.
Tôi phải qua đủ mọi kiểu khám và xét nghiệm . Nhưng tôi đã quen với cái trò đó và tôi đón nhận nó một cách dửng dưng, thậm chí hòa nhã, nhất là khi không có ai định tước cái trống của tôi: người ta vẫn kinh hoàng nhớ đến cuộc hủy diệt bộ sưu tập cóc, rắn và phôi của Hollatz.
Chỉ khi ở nhà, vào buổi sáng hôm đầu tiên đến trường, tôi mới ở thế buộc phải sử dụng đến chất kim cương của giọng mình: Matzerath, cực chẳng đã, yêu cầu tôi để cái trống ở nhà, không được mang nó qua cổng trường Pestalozzi.
Cuối cùng, khi ông dùng đến vũ lực, toan đoạt lấy cái không thuộc về ông, chiếm hữu một thứ nhạc cụ mà ông không biết chơi, hơn nữa lại chẳng có chút tình cảm gì với nó, tôi bèn đập tan một cái lọ cổ, thấy bảo là đồ " gin". Khi cái lọ cổ " gin" nằm trên thảm dưới hình thức những mảnh vỡ " gin", Matzerath, vốn rất quý nó, giơ tay toan đánh tôi. Nhưng đúng lúc ấy, mẹ tôi chồm lên và bác Jan, vừa ghé qua cùng Stephan với chiếc Sừng Phồn Thịnh truyền thống [2], cũng xông vào can.
"Alfred, tôi xin, tôi xin!" bác nói theo cái cách bình tĩnh, ngọt như mía lùi của bác và Matzerath, khuất phục trước ánh mắt xanh của bác Jan và xám của mẹ tôi, đành hạ tay xuống đút vào túi quần.
Trường Pestalozzi là một toà nhà hộp mới ba tầng, gạch đỏ, mái bằng, trang trí bằng bích họa theo lối cạo sáng trên nền tường sẫm, do Hội đồng quản trị khu ngoại ô xây dựng dưới áp lực ráo riết của Đảng Xã hội Dân chủ hồi đó còn hoạt động rất mạnh. Tôi cũng hơi thích cái nhà hộp này, trừ cái mùi của nó và những hình lực sĩ thiếu niên trong các bích hoạ.
Trên vạt sỏi ngoài cổng trường, có mấy cái cây quắt queo một cách trái tự nhiên đến nỗi người ta sửng sốt khi thấy chúng bắt đầu xanh lá; chúng được chống đỡ bằng những cọc sắt nom như gậy phép của đức giám mục. Từ khắp phía, đổ về những bà mẹ, tay ôm Sừng Phồn Thịnh, tay lôi sềnh sệch những thằng bé - thằng khóc mếu, thằng ngoan ngoãn mẫu mực- theo sau. Chưa bao giờ Oskar thấy nhiều bà mẹ cùng hướng về một điểm như thế, cứ như là họ đang trên đường đến một cái chợ ở đó họ có thể chọn mua đứa con đầu lòng hoặc thứ hai của mình vậy.
 
Từ cửa vào, tôi đã thoáng ngửi thấy cái mùi được mô tả biết bao lần của trường học, cái mùi thân mật hơn mọi thứ nước hoa trên đời. Ở sảnh ngoài, có bốn, năm bể tròn lớn bằng granít được gắn trên nền gạch lát, không theo hàng lối trật tự nào. Từ dưới đáy, nước từ nhiều nguồn khác nhau đồng loạt phun lên. Nhìn bọn trẻ vây quanh bể nước, trong đó có những thằng trạc tuổi tôi, tôi lại nhớ đến con lợn nái của bác Vincent ở Bissau, nó thỉnh thoảng vẫn nằm nghiêng một bên mạn sườn cho lũ con khát sữa hùng hổ tấn công vào bầu vú.
Lũ trẻ cúi mình trên thành bể với những tia nước dựng đứng, rũ tóc xuống, há mồm cho nước phọt vào. Tôi không dám chắc là chúng chỉ đùa nghịch hay uống thật. Thi thoảng, hai thằng đứng dậy gần như đồng thời, phồng má rồi, với một tiếng ọc ọc nghe ghê người, nhổ vào mặt nhau ngụm nước bể âm ấm chắc chắn là có lẫn nước bọt và vụn bánh mì, Lúc bước chân vào sảnh ngoài, tôi đã vô tư liếc mắt qua khe cửa để ngỏ của phòng tập thể dục ở bên cạnh, trông thấy con ngựa da, những sào và dây tập leo, cái xà đơn khủng khiếp luôn luôn đói thèm một vòng lộn. Tất cả những cái đó khiến tôi khát ghê gớm và cũng như lũ nhóc kia, tôi những muốn tợp một ngụm nước cho đã. Nhưng thật khó mà hỏi xin mẹ bế Oskar-tí-hon lên ngang tầm một trong những tia nước kia. Ngay cả nếu tôi có đứng lên cái trống cũng không vươn tới được. Nhưng khi nhảy vội tới ngó qua thành bể, tôi nhận thấy những mẩu thừa bánh mì bèo nhèo chặn luồng chảy của nước và đáy bể đầy một chất cặn nhầy độc hại, thì cái cơn khát liền tiêu tan: tôi đã tích luỹ nó trong tưởng tượng nhưng với một cường độ thể xác trong khi lang thang qua cái sa mạc các thiết bị phòng tập thể dục.
 
Mẹ dẫn tôi lên những cầu thang đồ sộ xây cho người khổng lồ, qua những hành lang âm vang tới một phòng có treo phía trên cửa một cái biển đề 1- A. Trong phòng đầy những thằng bé trạc tuổi tôi. Các bà mẹ chúng túm tụm sát mé tường đối diện cửa kính vào lớp, tay ghì chặt những chiếc Sừng Phồn Thịnh nhiều màu phủ một lớp giấy lụa vốn đã thành truyền thống trong ngày đầu tiên đến trường. Những cái Sừng Phồn Thịnh cao vượt đầu tôi. Mẹ tôi cùng mang một cái.
Khi mẹ dẫn tôi vào phòng, đám dân đen cười ồ lên và đám mẹ dân đen cũng cười theo. Một thằng béo phục phịch định đánh trống của tôi. Không muốn giở đến võ đập thủy tinh, tôi buộc phải đá nó mấy cú vào ống đồng, làm nó ngã đập cái đầu chải mượt vào một cái bàn học sinh. Vì tội đó, tôi bị mẹ bợp tai mấy cái. Thằng quỷ con gào lên. Tôi thì không. Tôi chỉ gào khi có ai định tước cái trống của tôi. Xấu hổ vì màn trình diễn đó trước đám đông, mẹ đẩy tôi ngồi vào cái bàn học sinh đầu tiên ở dãy cạnh cửa sổ. Dĩ nhiên là cái bàn đó quá cao. Nhưng ở đằng sau, bàn còn cao hơn và bọn dân đen mặt đầy tàn nhang còn thô kệch hơn.
Tôi đành vậy và bình tĩnh ngồi vì chẳng có lý do gì để mất bình tĩnh. Mẹ tôi, hình như còn rất bối rối, tìm cách lẩn vào giữa các bà mẹ khác. Trước mặt những người cùng hội cùng thuyền, có lẽ mẹ cảm thấy hổ thẹn về cái gọi là trạng thái chậm phát triển của tôi. Các bà này cứ làm như thể lũ ngựa con của họ (theo ý tôi thì chúng lớn quá nhanh) là một cái gì đáng lấy làm hãnh diện lắm vậy.
Tôi không thể nhìn cánh đồng cỏ Fröbel qua cửa sổ vì, cũng giống như cái bàn học sinh nọ, thành cửa sổ không vừa tầm tôi chút nào. Chán quá. Nếu không tôi đã có thể phóng mắt ra cánh đồng cỏ, ở đó, theo như tôi biết, các hướng đạo sinh, dưới sự dắt dẫn của Greff-Rau-Quả, đang dựng lều, chơi bài lăngxcơnê và làm việc thiện, đúng với tư cách hướng đạo sinh. Chẳng phải là tôi thích gì cái cách họ ngợi ca thái quá cảnh sống lều trại. Điều hấp dẫn tôi là quan sát Greff cũn cỡn trong chiếc quần soọc. Giả mê cái đám thiếu niên mặt trắng bệch, mắt to, mảnh mai ấy đến nỗi không ngần ngại mặc bộ đồng phục của Baden-Powell, người cha của hướng đạo sinh.
Bị cái thứ kiến trúc dở hơi ấy che khuất cảnh tượng ngoạn mục mong muốn, tôi đành ngước mắt lên trời và lát sau, thấy lòng dịu lại. Những đám mây không ngớt hình thành và trôi về phía tây nam, như thể cái hướng này có một lực hấp dẫn đặc biệt đối với mây vậy. Tôi kẹp chặt cái trống giữa hai đầu gối và cạnh bàn mặc dầu nó chẳng bao giờ thoáng nghĩ đến chuyện lang bạt xuống mạn tây nam làm gì. Đầu Oskar dựa vào lưng chiếc ghế đóng liền bàn. Đằng sau tôi, cái đám được gọi là đồng môn của tôi gầm gừ, rống lên, cười, khóc và náo loạn. Chúng vo giấy ném tôi, nhưng tôi không buồn ngoảnh lại; tôi thấy những đám mây êm ả trôi về hướng đã định còn đáng nhìn hơn là cái lũ ngu độn nhăn nhó, động kinh nọ.
 
Lớp 1-A im bặt khi một người bước vào tự giới thiệu mình là Cô Spollenhauer. Tôi thì không cần phải im bặt vì tôi vốn đã im sẵn, chờ đợi sự việc xẩy đến trong một trạng thái gần như trầm ngâm hoàn toàn. Nói thật tình, Oskar hầu như không hề nghĩ đến những gì có thể sẽ xẩy đến với nó bởi lẽ nó đâu có cần giải trí. Vậy ta hãy nói rằng nó không chờ đợi mà chỉ ngồi ở bàn học của mình, khoan khoái biết rằng cái trống đang ở đúng chỗ thuộc về nó và mải mê ngắm những đám mây trôi sau những ô kính cửa sổ vừa được lau chùi bóng loáng vào dịp lễ Phục sinh.
 
Cô Spollenhauer mặc một bộ đồ nhiều góc cạnh khiến Cô có cái dáng vẻ khô khốc của đàn ông. Cảm giác ấy càng được tô đậm thêm bởi cái cổ áo chật cứng bó quanh yết hầu, làm hằn những nếp nhăn sâu nơi cổ. Vừa bước chân vào lớp trong đôi giày bẹt, Cô đã cảm thấy cần tỏ ra chan hòa và hỏi: "Nào, các con thân yêu, ta có thể hát một bài được không?"
Một tiếng gầm đáp lại và hẳn Cô hiểu đó là sự biểu đồng tình bởi vì Cô lập tức bắt đầu bằng một giọng kiểu cách thể thé: ây là tháng Năm vui vẻ" mặc dầu bấy giờ mới là giữa tháng tư. Việc Cô Spollenhauer chưa chi đã báo sang tháng năm đủ khiến cho địa ngục bùng nổ. Không cần đợi hiệu lệnh bắt đầu, không cần thuộc lời, bất chấp nhịp điệu bài hát, đám dân đen đằng sau tôi bắt đầu gào rú, làm long cả vữa trát tường.
 
Bất kể màu da vàng bệch, những búp tóc loi xoi và cái cà-vạt đàn ông lấp ló sau cổ áo Cô, tôi vẫn thấy thương hại Cô Spollenhauer. Rứt ra khỏi những đám mây - hiển nhiên là hôm nay chúng không phải đến trường - tôi đứng bật dậy, rút cặp dùi trống ra khỏi dây đeo quần, và mạnh mẽ, dõng dạc dóng trống theo nhịp của bài hát. Nhưng đám dân đen không thèm nghe cũng chẳng đếm xỉa gì đến những cố gắng của tôi. Chỉ có Cô Spollenhauer gật đầu động viên tôi, mỉm cười về phía các bà mẹ đứng thành hàng nép vào tường, nháy mắt riêng với mẹ tôi. Xem đó là một hiệu lệnh tiến tới, tôi tiếp tục gõ trống, thoạt đầu còn nhẹ nhàng đơn giản, rồi trổ hết nghệ thuật, phô diễn mọi tiết tấu phức tạp nhất. Đám dân đen đằng sau tôi từ lâu đã ngừng tiếng gào rú man rợ. Tôi vừa bắt đầu tưởng tượng ra rằng cái trống đang dạy dỗ, giáo dục bọn đồng môn của tôi, biến chúng thành học trò của tôi, thì Cô Spollenhauer tiến lại gần bàn tôi. Cô quan sát đôi tay tôi và cặp dùi trống hồi lâu, thậm chí không có vẻ gì là khiếm nhã cả; với một nụ cười lơ đãng như thể quên cả mình đang ở đâu, Cô vỗ tay hòa theo nhịp trống của tôi. Trong một lúc, Cô trở thành một cô gái luống tuổi không đến nỗi khó coi, quên phắt chức trách chuyên môn sư phạm của mình và giàu tính người, có nghĩa giống như trẻ thơ, tò mò, phức tạp và vô luân.
Tuy nhiên, khi Cô không bắt được vào nhịp với tôi, Cô lại rơi trở về cái vai trò thường ngày, nghiêm chỉnh ngay ngắn một cách đần độn, và, tệ hơn nữa, với đồng lương rẻ mạt; Cô lấy lại tư thế như các nhà giáo thỉnh thoảng vẫn phải cố làm vậy và nói: "Chắc hẳn con là bé Oskar. Chúng ta đã nghe nói nhiều về con. Con đánh trống mới hay làm sao! Có phải không các con? Oskar của chúng ta là một tay trống cự phách, đúng không nào?".
Bọn trẻ con gào rú, các bà mẹ tụm lại gần nhau hơn nữa, Cô Spollenhauer lấy lại chủ động: "Nhưng bây giờ ta hãy để cái trống vào tủ đã; chắc nó mệt rồi và muốn ngủ. Rồi khi nào học xong, con sẽ lấy lại."
Trước cả khi xổ ra hết những lời đạo đức giả tầm phào ấy, Cô đã xoè những móng tay nhà giáo được cắt rất sát toan nắm lấy cái trống của tôi - mà lạy Chúa, nó đâu có mệt và buồn ngủ! Tôi giữ vững, ghì chặt tang trống hai màu trắng - đỏ giữa hai ống tay áo nịt. Thoạt đầu, tôi nhìn chằm chằm vào Cô nhưng rồi thấy Cô vẫn giống cái mô hình một giáo học trường công, tôi bèn nhìn xuyên suốt qua Cô. Bên trong Cô Spollenhauer, tôi tìm thấy đủ chất liệu lý thú cho ba chương đồi bại, song vì cái trống của tôi đang lâm nguy nên tôi đành rứt ra khỏi đời sống nội tâm của Cô và, dõi cặp mắt xoi mói vào khoảng giữa hai xương bả vai của Cô, tôi phát hiện ra trên làn da nhẵn mịn một cái bớt to bằng đồng xu với một túm lông dài mọc kín.
Tôi không biết đích xác là do Cô cảm thấy mũi khoan của tia nhìn hay vì giọng tôi đã gại vào mắt kính bên phải của Cô như một lời cảnh cáo nhẹ nhàng: dù sao đi nữa, Cô cũng ngừng cuộc thị uy đã khiến các khớp ngón của Cô căng ra đến trắng trợt. Có vẻ như Cô không chịu nổi cú gại trên mục kính, nó làm Cô sởn gai ốc. Cô rùng mình buông cái trống của tôi ra và, ném một cái nhìn trách móc về phía mẹ tôi lúc này chỉ muốn chui xuống đất, Cô tuyên bố: "Mày là một thằng bé Oskar độc ác, con ạ." Rồi, để cái trống không hề buồn ngủ lại cho tôi, Cô quay đằng sau và rảo bước trên đôi giày gót bẹt tới bàn mình, lấy trong cặp ra một cặp kính khác, chắc là kính đọc, giựt phắt khỏi sống mũi cặp kính đã bị giọng tôi gại lên như kiểu người ta lấy móng tay cào trên cửa kính, với một cái nhăn mặt như hàm ý rằng tôi đã làm uế tạp mục kính của Cô, đeo cặp kia lên, rướn thẳng người khiến các đốt xương kêu răng rắc và một lần nữa thò tay vào cặp, tuyên bố: "Bây giờ, ta sẽ đọc thời gian biểu cho các con nghe!"
 
Lần này, Cô lôi từ trong cặp ra một tệp phiếu. Giữ lại một cái cho mình, Cô phân phối số còn lại cho các bà mẹ trong đó có mẹ tôi và truyền đạt tỉ mỉ cho lớp học đã lại nhộn nhạo: "Thứ hai: tôn giáo, tập viết, số học, trò chơi; Thứ ba: số học, thư
pháp, học hát, cách trí; Thứ tư: số học, viết tập, vẽ, vẽ; Thứ năm : địa dư, số học, tập viết, tôn giáo; Thứ sáu: số học, trò chơi, thư pháp; Thứ bảy: số học, hát, trò chơi, trò chơi".
 
Cái sản phẩm trang trọng này của một hội đồng sư phạm, được tuyên đọc bằng một giọng nghiêm nghị không bỏ sót một chữ nào, vang lên như một định mệnh không bề xoay chuyển. Nhưng rồi nhớ lại những điều đã học ở Trường Sư phạm, Cô Spollenhauer bỗng dịu dàng và ngọt xớt: "Và bây giờ, các con thân yêu," Cô bốc lên trong niềm hoan hỉ đầy tinh thần tiến bộ, "Tất cả chúng ta hãy đồng thanh nhắc lại. Nào: Thứ hai?"
Cả lũ gào "Thứ hai."
"Tôn giáo?" Và bọn vô đạo được rửa tội rống lên " tôn giáo". Riêng tôi thì kìm giọng, chỉ nhấn các âm tiết trên trống.
Đằng sau tôi, dưới sự kích động của Cô Spollenhauer, bọn tà giáo lại gầm lên: " Tập viết!" Tùng-tùng, trống tôi rền vang. "S - ố h - ọ - c!" Thêm hai nhát nữa.
Trước mặt tôi: Cô Spollenhauer lải nhà lải nhải, đằng sau tôi: đám dân đen gào rú. Ngậm bồ hòn làm ngọt, tôi gõ các âm tiết với mức độ vừa phải và mọi sự cứ tiếp tục như thế cho đến khi Cô Spollenhauer, chẳng biết bị con quỷ nào chọc bậy, nhảy dựng lên, rõ ràng là nổi đoá, nhưng không phải với bọn Tácta đằng sau tôi; không, chính tôi là kẻ đã khiến đôi má Cô đỏ bừng giận dữ; cái trống nhỏ tội nghiệp của Oskar đã thành vật chướng ngại của Cô, thành duyên cớ tranh chấp khiến Cô hận tôi.
"Oskar, nghe ta này: Thứ năm, địa dư?" Bỏ qua hai chữ Thứ năm, tôi gõ hai tiếng "địa dư", hai tiếng " số học" và hai tiếng " tập viết"; với từ " tôn giáo", tôi không gõ hai nhát đơn mà, theo nguyên lý thần học sùng kính, khấn hai tiếng kẹp ba (tượng trưng Chúa Ba Ngôi).
Nhưng tai Cô Spollenhauer đâu có phân biệt được những tinh tế ấy. Đối với Cô, mọi điệu trống đều tởm lợm như nhau. Một lần nữa Cô xoè mười móng tay cắt ngắn và một lần nữa chúng định túm lấy cái trống của tôi.
Nhưng trước cả khi Cô chạm tay vào nó, tôi đã phóng tiếng thét diệt thủy tinh, phá tan những ô kính trên cùng của ba cái cửa sổ to quá khổ của lớp học. Tiếng thét thứ hai xóa sổ hàng ô kính ở giữa. Không còn bị chắn lối, không khí êm dịu của mùa xuân tràn vào lớp. Với tiếng thét thứ ba, tôi tiêu diệt nốt những ô kính dưới cùng, song tôi phải thừa nhận rằng cú đó là thừa, đơn thuần do rửng mỡ, có thể nói vậy, vì mụ Spollenhauer đã thu móng vuốt về ngay từ lúc những ô kính trên cùng và ở giữa hy sinh. Thay vì công phá những ô kính cuối cùng còn lại, đơn thuần vì thói chơi hiểm, đáng ngờ về phương diện nghệ thuật, lẽ ra Oskar nên hành động khôn ngoan hơn, để mắt đến mụ Sollenhauer đang rút lui vô trật tự.
Có trời biết mụ kiếm đâu ra cái roi ấy. Dù sao chăng nữa, nó đột nhiên xuất hiện nơi tay mụ, rung
lên trong không khí lớp học lúc này đã trộn lẫn với không khí mùa xuân. Mụ khoa roi vun vút trong không khí hỗn hợp ấy, ướm thử độ mềm dẻo của nó, kích cho nó thèm khát được làm trầy da toác thịt, thèm khát tiếng gió rít veo veo, thèm khát tiếng rèm loạt xoạt mà một cây roi vung lên có thể gợi nên. Và đây, nó quật xuống bàn tôi mạnh đến nỗi một tia tim tím phọt lên từ lọ mực của tôi. Rồi khi tôi không chịu chìa tay ra hứng đòn, mụ bèn quật vào cái trống. Mụ đánh cái trống thân yêu của tôi! Mụ, cái mụ Spollenhauer ấy dám đánh bảo vật của tôi! Vì cớ gì mà mụ đánh? Ừ, cứ cho là mụ ngứa tay muốn đánh một cái gì, nhưng sao lại nhằm cái trống của tôi? Thế còn cái bọn nhà quê đằng sau tôi thì sao? Có nhất thiết phải là cái trống của tôi không? Thử hỏi mụ - một kẻ không biết gì, hoàn toàn không biết tí gì về nghệ thuật chơi trống - mụ có quyền gì mà tấn công và đánh đập cái trống của tôi? Cái ánh long lanh trong mắt mụ là gì vậy? Một con thú sẵn sàng tấn công? Nó xổng ra từ vườn thú nào, nó đang thèm khát gì, nó tìm kiếm con mồi nào? Cũng một con thú loại ấy chiếm lĩnh Oskar; không biết từ đáy vực nào, nó dâng lên, xuyên qua đế giày, qua gan bàn chân, lên nữa và lên nữa, tiếp quản thanh đới và thúc ép Oskar bật lên một tiếng gầm đủ mạnh để "phi kính hoá" cả một cái nhà thờ Gôtích lung linh ánh khúc xạ của hàng trăm cửa sổ.
Nói cách khác, tôi dồn lực vào một tiếng kêu kép, đập tan thành bụi cả hai mắt kính của mụ Spollenhauer. Cặp mày của mụ hơi chảy máu, mắt hấp háy qua hai trồng kính rỗng không, mụ rờ rẫm lùi lại và cuối cùng, bắt đầu thút thít một cách thảm hại, mất hết tự chủ, chẳng xứng với một nhà giáo dục chút nào, trong khi bọn dân đen đằng sau tôi chìm vào một im lặng khiếp đảm, có đứa răng đánh đàn cầm cập, một số đứa khác chui xuống gầm bàn. Mấy thằng lỉnh từ bàn này sang bàn khác về phía các bà mẹ. Các bà này, khi nhận thức được mức độ tổn hại, nhìn quanh tìm thủ phạm và như sắp sửa nhảy bổ đến xé xác mẹ tôi ra làm nhiều mảnh. Hẳn họ đã làm thế nếu tôi không ôm trống lao tới để yểm trợ mẹ.
 
Vượt qua Cô Sollenhauer mù dở, tôi rẽ đường tới bên mẹ đang bị đám Nữ thần tóc rắn uy hiếp, nắm tay mẹ kéo ra khỏi lớp 1-A lúc này đầy gió lùa. Những hành lang đầy âm vang, những cầu thang đá cho trẻ con nòi khổng lồ. Cùi bánh mì trong những bể phun nước bằng granít. Trong phòng tập thể dục mở cửa, những đứa trẻ run sợ dưới xà đơn. Mẹ vẫn còn cầm tấm phiếu ghi thời gian biểu. Ra khỏi cổng trường Pestalozzi, tôi giật lấy nó từ tay mẹ và bỏ vào mồm nhai đến nát bét.
 
Có bác thợ ảnh đứng giữa hai cột cổng trường chờ các học sinh mới cùng mẹ chúng. Oskar đồng ý để bác bố trí một kiểu chụp nó cùng cái Sừng Phồn Thịnh vẫn nguyên vẹn qua cả vụ lộn xộn. Mặt trời ló ra, các lớp học lao xao trên đầu. Bác thợ ảnh xếp Oskar đứng trước một tấm bảng đen làm phông, trên đó viết: Ngày đầu tiên đi học của tôi.
 
Chú thích ;
[1] Tiếng miệt thị chỉ người Ba Lan.
[2] Theo lục lệ. các ông bố bà mẹ, ngày đầu tiên đưa con đến trường, đều mang theo một lúi giấy hình phêu với nhiều màu sắc trang trí tượng trưng cho sự phồn thịnh sung túc để cầu chúc điều tốt lành cho con.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.05.2016 21:09:45 bởi Ct.Ly>
RASPUTIN VÀ VẦN CHỮ CÁI
 
Tôi vừa mới kể cho Klepp bạn tôi và Bruno người coi sóc tôi (cả hai chỉ nghe bằng nửa tai) về trải nghiệm đầu tiên của Oskar với một thời khóa biểu học sinh. Trên tấm bảng đen mà người thợ ảnh dùng làm phông nền truyền thống cho những bức ảnh khổ bưu thiếp chụp những thằng nhỏ sáu tuổi mang cặp sách và Sừng Phồn Thịnh (tôi nói) có ghi dòng chữ: Ngày đầu tiên đi học của tôi.
 
Dĩ nhiên, chỉ có những bà mẹ đọc được dòng chữ này, họ đứng đằng sau anh thợ ảnh, còn náo nức hơn cả lũ con của họ. Bọn trẻ đứng trước tấm bảng đen, giỏi lắm cũng phải một năm sau mới đọc vỡ được những - chữ ấy, hoặc vào dịp lễ Phục sinh khi nhà trường mở lớp 1 mới, hoặc ngay trên tấm ảnh cũ của chúng. Lúc đó, và chỉ đến lúc đó, chúng mới đọc được rằng những bức ảnh đáng yêu ấy đã được chụp vào ngày đầu tiên chúng đến trường.
Lời chứng đó cho một chặng mới trong đời được ghi bằng kiểu chữ Sütterlin [1] bò suốt chiều ngang tấm bảng đen với những góc cạnh tua tủa. Tuy nhiên, những nét vòng thì lại quá mềm, quá tròn trặn. Thực ra thì kiêu chữ Siitterlin này được chỉ dẫn đặc biệt để dùng cho những phát ngôn hàm súc ngắn gọn, gây ấn tượng, như khẩu hiệu, biểu ngữ chẳng hạn. Và còn có một số tài liệu mà thú thật tôi chưa bao giờ thấy, nhưng tôi hình dung là chỉ có thể viết bằng kiểu chữ Sütterlin: tôi nghĩ đến những giấy chứng nhận tiêm chủng, bằng thể thao và án tử hình viết tay. Ngay từ dạo ấy, tôi đã có thể nhận dạng kiểu chữ Sütterlin tuy tôi không đọc được nó: với lỗ mũi tôi, nét vòng kép ở chữ N viết theo kiểu Sütterlin mở đầu dòng ghi trên bảng đen, có cái mùi hiểm độc của dây gai, nhắc đến giá treo cổ. Ngay cả như thế, tôi vẫn muốn đọc được cụ thể từng chữ, chứ không phải chỉ đoán láng máng thôi. Xin đừng có ai nghĩ rằng sở dĩ tôi nổi trống với khí thế cách mạng và đập kính bạo liệt như thế trong buổi đầu gặp gở với Cô Spollenhauer, là do tôi đã thông thạo vần chữ cái. Ồ, không đâu, tôi quá biết rằng cái trực giác của tôi về kiểu chữ Sütterlin là chưa đủ, rằng tôi thiếu cả đến những điều sơ đẵng nhất của kiến thức học đường. Chỉ có điều không may là phương pháp trau dồi kiến thức của Cô Spollenhauer không hấp dẩn đối với Oskar thôi.
 
Do đó, khi rời trường Pestalozzi, tôi tuyệt nhiên không hề quyết định rằng ngày đầu tiên đi học của tôi cũng là ngày cuối cùng, rằng tôi đã chán ngấy sách, bút cùng những cung cách của các thày, cô giáo. Tuyệt đối không có thể. Ngay cả khi anh thợ ảnh đang ghi lại hình tôi đễ lưu truyền hậu thế, tôi đã nghĩ thầm trong bụng: Đấy, mày đang đứng trước một tấm bảng đen, dưới một dòng chữ chắc là đầy ý nghĩa và có thể báo trước nhiều điều. Mày có thể dựa vào các mẫu tự mà đoán định dòng chữ ấy và gợi lên những liên tưởng như biệt giam, tạm giam, quản chế và đem treo cổ cả bọn nó lên cùng- một-giá, nhưng mày đâu có đọc được chữ nào. Vậy mà, mặc dù sự dốt đặc của mày khiến mây mù phủ kín bầu trời, mày vẫn quyết tâm không bao giờ đặt chân trở lại ngôi trường có thời gian biểu này nữa. Ôi, Oskar, mày sẽ học vỡ lòng vần chữ cái lớn, nhỏ của mày ở đâu bây giờ?
Thực ra, đối với tôi một vần chữ cái nhỏ cũng là nhiều rồi, nhưng căn cứ vào cái thực tế rành rành không thể chối cãi là sự tồn tại của những kẻ to xác tự xưng mình là người lớn, tôi suy ra rằng đã có vần chữ cái nhỏ, ắt phải có vần chữ cái lớn. Vả chăng, người ta cứ ra rả chứng minh sự tồn tại của một vần chữ cái lớn và một vần chữ cái nhỏ bằng sách giáo lý lớn và sách giáo lý nhỏ, bảng cửu chương lớn và bảng cửu chương nhỏ, và trong những cuộc đi thăm chính thức của các chính khách, tuỳ theo số lượng các vị quyền chức và các nhà ngoại giao có mặt, mà người ta nói đến nghi lễ lớn hay nhỏ.
Mấy tháng tiếp theo, cả Matzerath lẫn mẹ đều không tỏ ra băn khoăn gì về chuyện học hành của tôi. Họ đã thử cho tôi đến trường và về phần họ, cuộc thử nghiệm duy nhất ấy - khá nhục nhã đối với mẹ - là quá đủ rồi. Họ ứng xử hệt như anh Jan Bronski, mỗi khi cúi nhìn tôi lại thở dài và đào bới những chuyện cũ như sự kiện bữa sinh nhật lần thứ ba của tôi. "Cái cửa sập! Tại anh không đóng nó lại, đúng không nào? Anh ở trong bếp và trước đó anh đã xuống hầm, đúng không nào? Anh mang lên một hộp mứt quả để tráng miệng, đúng không nào? Anh đã để ngỏ cửa hầm, đúng không nào?"
Tất cả những điều mẹ buộc tội Matzerath đều đúng, tuy nhiên, như các bạn biết đấy, lại không đúng chút nào. Nhưng ông vẫn cam nhận và thậm chí có khi còn khóc vì tâm hồn ông thi thoảng cũng khá nhạy cảm. Vào những lúc ấy, mẹ và Jan Bronski lại phải dỗ ông, và họ gọi tôi, Oskar đây, là cây thập tự mà họ phải vác, một định mệnh phũ phàng và chắc là không thể đổi thay, một thử thách mà họ không biết vì sao họ phải đương đầu.
Hiển nhiên là không thể trông chờ sự giúp đỡ nào từ phía những người vác thập tự đang chịu thử thách nặng nề và nạn nhân của số phận ấy. Ngay cả anh gái Hedwig, người vẫn thường đưa tôi đến Công viên Steffens chơi nghịch cát với bé gái Marga hai tuổi của anh, cũng không thể làm gia sư cho tôi. Anh ấy tốt tính thật đấy nhưng đần độn như một ngày dài. Cũng không thể trông cậy vào Xơ Inge của anh sĩ Hollatz được, Xơ không tốt tính cũng chẳng đần độn, nhưng Xơ không chỉ có phận sự mở cửa mà thật sự là người phụ tá không thể thiếu của ông anh sĩ và do đó, làm sao có thì giờ dành cho tôi được.
Một ngày mấy bận, tôi lên lên xuống xuống cầu thang của ngôi nhà chung cư bốn tầng - có tới hơn trăm bậc - đến mỗi chiều nghĩ đều dạo trống thỉnh
vấn. Tôi ngửi thấy bữa trưa của mười chín hộ thuê nhà có những món gì, nhưng tôi không gõ cửa nhà nào cả: tôi hiểu rằng người thày tương lai của tôi không thể là ông già Heylandt hay anh thợ sửa đồng hồ Laubschad, càng không thể là bà béo Kater hay Mamăng Truczinski mặc dầu tôi rất mến Mamăng.
Ở tầng sát mái có Meyn, nhạc công thổi trompette ( một loại kèn). Meyn nuôi bốn con mèo và lúc nào cũng say khướt. Anh chơi nhạc nhảy ở tiệm Zingler và những đêm Nô-en, anh cùng năm người khác cũng say như anh vừa lội tuyết vừa chơi những bài thánh ca Giáng sinh chống lại giá rét. Một hôm, tôi bắt gặp anh trên tầng áp mái: anh mặc quần đen, áo sơ-mi trắng dạ hội, nằm ngửa, hai chân trần vần vò một chai rượu gừng đã cạn và trong tư thế ấy, chơi trompette hay tuyệt vời. Miệng vẫn ngậm chiếc kèn, anh chỉ khẽ đảo mắt liếc về phía tôi và tin cẩn cho tôi vinh dự làm người đệm trống. Đối với anh, chiếc kèn cũng có giá trị như cái trống đối với tôi. Cuộc song tấu của chúng tôi khiến bốn con mèo của anh phải chuồn lên mái và làm rung cả mấy cái ống máng.
Chơi xong, chúng tôi đặt nhạc cụ xuống và tôi rút từ trong áo nịt ra một số báo Neues Nachrichten cũ, vuốt thẳng ra, ngồi bệt xuống cạnh nghệ sĩ Trompét Meyn, chìa cái bài tập đọc ấy ra xin anh dạy cho kỳ thuộc vần chữ cái cả lớn lẫn nhỏ.
Nhưng Meyn vừa buông kèn đã lăn ra ngủ tít thò lò. Đầu óc anh chỉ công nhận có ba nơi trao gửi:
chai rượu gừng, chiếc kèn trompét và giấc ngủ. Quả thật là trong một thời gian dài sau đó - chính xác là cho đến khi anh gia nhập ban nhạc của đoàn kỵ binh SA và tạm thời bỏ rượu - chúng tôi đã thường xuyên song tấu với nhau mà không cần tập trước, rất ngẫu hứng, trong căn gác xép, phục vụ một cử toạ gồm những ống khói, mái ngói, bồ câu và mèo, nhưng chưa bao giờ anh dạy cho tôi điều gì với tư cách là thày giáo.
Tôi cũng đã thử cơ may với Greff-Rau-Quả. Không mang theo trống (vì Greff không thích nó), tôi sang thăm giả nhiều lần trong cái cửa hàng bên kia đường. Tiền đề cho việc học tập toàn diện, đến nơi đến chốn, dường như đã đầy đủ: khắp chỗ trong căn hộ hai phòng, cả trong cửa hàng, dưới và đằng sau quày, cho đến hầm khoai tây tương đối khô ráo, la liệt những sách là sánh, truyện phiêu lưu mạo hiểm, sách hát, Der Cherubinische Wandersmann (Kẻ lãng tử thiên thần), các tác phẩm của Walter Flex, Đời giản dị, DaphnisChloé của Wiechert, sách chuyên khảo về nghệ thuật, hàng chồng báo thể thao và những hoạ báo đầy ảnh những thiếu niên gần như khỏa thân, phần lớn (không hiểu vì lẽ gì) đang đuổi theo một trái bóng giữa những cồn cát, phô những bắp thịt bóng nhãy dầu.
Ngay từ hồi đó, Greff đã gặp rắc rối trong việc buôn bán. Các thanh tra của Phòng Cân Đo không hài lòng lắm về những quả cân của giả. Người ta nói đến chuyện gian lận. Greff phải nộp phạt và mua những quả cân mới. Đầu óc giả đang nặng trĩu lo lắng phiền muộn; chỉ còn niềm vui duy nhất là sách báo, những cuộc họp mặt hướng đạo sinh và những cuộc du ngoạn cuối tuần.
 
Giả đang hí hoáy trên những tấm nhãn ghi giá hàng nên hầu như không để ý thấy tôi vào. Lợi dụng lúc giả đang bận, tôi nhặt ba, bốn miếng các tông trắng vớ một cây bút chì đỏ và, nhằm thu hút sự chú ý của giả, làm ra vẻ hết sức miệt mài chép lại những tấm nhãn kia bằng mẫu tự Sütterlin theo kiểu riêng của tôi.
Nhưng rõ ràng là Oskar quá bé đối với giả, không có nước da trắng và cặp mắt tròn to hợp sở thích của giả. Tôi buông cây chì đỏ, chọn ra một cuốn sách đầy ảnh bán khỏa thân rất hấp dẫn đối với Greff và giả vờ xem rất chăm chú, xoay nghiêng hình các thiếu niên uốn mình hoặc duỗi dài để giả có thể nhìn thấy.
Nhưng khi không có khách hàng nào hỏi mua củ cải đỏ hoặc bắp cải, thì ông chủ tiệm rau quả chỉ để mắt tới những tấm nhãn ghi giá. Tôi cố làm cho giả quan tâm đến sự có mặt của Oskar mù chữ bằng cách đóng sập mạnh bìa cứng hoặc giở nhanh các trang cho kêu soàn soạt.
Nói cho nhanh: Greff không hiểu tôi. Khi có hướng đạo sinh trong cửa hàng - vào buổi chiều, bao giờ cũng có hai, ba cậu đội phó quanh giả - Greff chẳng mảy may để ý đến Oskar. Và khi Greff có một mình, giả có thể cáu tiết nhảy chồm lên, ra lệnh: "Oskar, cháu có để yên cuốn sách đó không nào. Dù sao, cháu cũng không thể hiểu đầu cua tai
nheo nó ra sao. Cháu còn quá nhỏ, lại quá đần. Cháu sẽ lảm hỏng sách mất thôi. Cuốn sách này giá hơn sáu florin đấy. Nếu cháu muốn chơi thì kia, vô khối bắp cải và khoai tây đấy."
Giả lấy lại cuốn sách đồi bại từ tay tôi và lật giở từng trang, mặt ráo hoảnh, bỏ lại tôi giữa đám khoai tây cùng mấy đại diện của gia đinh bắp cải - cải trắng, cải đỏ, cải xoăn, cải Bruychxen - trong nỗi cô đơn tội nghiệp vì tôi không mang trống theo.
Còn có cô vợ Greff nữa và sau lần bị ông chồng cự tuyệt, tôi thường tìm đến phòng ngủ của họ. Hồi ấy, Lina Greff đau bệnh nằm lì trên giường hàng tuần liền, hôi rình mùi áo ngủ mục rữa, đôi bàn tay vẫn năng hoạt động nhưng chẳng bao giờ sờ đến một cuốn sách khã dĩ dạy cho tôi được điều gì.
Trong những tuần lễ tiếp theo, Oskar không phải không cảm thấy một chút gì tựa như thèm muốn khi nhìn bọn trẻ cùng lứa tuổi với những cặp sách đeo lủng liểng miếng xốp hoặc giẻ lau bảng. Tuy nhiên, nó nhớ là chưa bao giờ có những ý nghĩ đại loại như: mày làm mày chịu, Oskar ạ, lẽ ra mày phải làm bộ vui vẻ với lề thói nhà trường, lẽ ra mày không nên gây thù chuốc oán với mụ Spollenhauer. Những thằng nhà quê kia đang vượt lên trước mày. Chúng nó đã thuộc làu vần chữ cái lớn hay chí ít cũng thông thạo vần chữ cái nhỏ trong khi mày thậm chí chưa biết cầm tờ báo Neues Nachrichten thế nào cho đúng chiều.
Một chút gì tựa như thèm muốn, tôi vừa mới nói vậy, có thế thôi, không hơn. Chỉ cần thử mùi tí ti là đủ khiến tôi ớn trường học mãi mãi.
 Đã bao giờ quý vị thử ngửi những miếng xốp xơ xác, giặt dối dá cột vào những tấm bảng đá học trò tróc lở, những miếng xốp không hiểu bằng cách nào mà lưu cữu được hết thảy mọi mùi của các giờ tập viết, số học, mùi mồ hôi của những thỏi viết bằng đá đen, những thỏi viết thấm nước bọt, rít kèn kẹt, nguệch ngoạc, ngập ngừng? Thỉnh thoảng, khi bọn trẻ trên đường đi học về để cặp xuống đất để chơi bóng đá, tôi thường cúi xuống những miếng xốp lau bảng bốc hơi dưới nắng và chợt nghĩ : nếu quỷ Xatăng có thật, hẳn nách nó cũng có mùi khăn khẳn như thế.
 
Dứt khoát là nhà trường với những bảng đá đen và xốp lau bảng như vậy chẳng khiến tôi khao khát chút nào. Nhưng mặt khác, sẽ là thái quá nếu nói rằng Gretchen Scheffler, người ít lâu sau đảm nhiệm việc giáo dục Oskar, là sự đáp ứng thoả đáng cho những ước mơ của nó.
Mọi thứ trong nhà vợ chồng Scheffler phía sau cửa hiệu bánh mì ở đường Kleinhammer-Weg đều khiến tôi ghê răng. Những tấm trải giường mang tính trang trí, những cái gối thêu gia huy, những con búp-bê Kathe Kruse rình rập ở các góc đi-văng, những con thú bằng vải lăn lóc khắp nơi, những đồ sứ cần phải nhẹ tay, những đồ lưu niệm từ các chuyến viễn du bày la liệt, những đồ thêu, đan, móc, bện, ren... đang làm dở. Một nơi mùi mẫn hết chỗ nói, điệu đàng, nhỏ hẹp đến ngạt thở, mùa đông thì sưởi ấm quá mức cần thiết, mùa hè thì ngộ độc vì hoa. Tôi thấy chỉ có một cách giải thích duy nhất: Gretchen không có con. Ôi, giá cô có một đứa bé để đan áo cho nó, ôi, cô sẽ sung sướng biết bao nếu có được một bé em xinh xĩnh xình xinh để cô có thể yêu đến kiệt cùng, để quấn tã cho nó bằng những đồ do cô đan, móc, phủ lên nó nào đăng-ten, nào ruy-băng, nào những nụ hôn bằng mũi đan chéo.
Đó là nơi tôi đến học vần chữ cái lớn và nhỏ. Tôi cố gắng hết sức mình để tránh làm vỡ các đồ sứ và đồ lưu niệm. Tôi để cái giọng diệt thủy tinh của tôi ở nhà và mím miệng nhẫn nhịn khi Gretchen phát biểu rằng tôi đánh trống thế là đủ rồi và, với một nụ cười phô hai hàm răng ngựa bịt vàng, cất cái trống khỏi đầu gối tôi, đặt vào giữa đám gấu nhồi bông.
Tôi đánh bạn với hai con búp-bê Kathe Kruse, ghì chúng vào lòng, vuốt ve hàng lông mi che cập mắt lúc nào cũng tỏ vẻ kinh ngạc của chúng, như thể trong cơn si mê cuồng dại. Mục đích của tôi khi phô bày tình yêu (có vẻ rất chân thành chính vì nó hoàn toàn, giả dối) với hai con búp-bê như vậy, là nhằm đan một cái lưới quanh trái tim đan - hai mũi lên hai mũi xuống - của Gretchen.
Kế sách của tôi không đến nỗi dở. Chỉ sau hai lần đến thăm là Gretchen cởi mở trái tim mình, có nghĩa cô tháo nó như tháo một chiếc tất, vạch cho tôi thấy cả một sợi dài nối đi nối lại nhiều chỗ. Cô mở tất cả các tủ và hòm lớn, hòm nhỏ và bày ra các thứ linh tinh, quần áo trẻ sơ sinh, yếm đãi đủ cho một đợt sinh năm, ướm vào người tôi, bắt tôi mặc thử rồi lại cởi ra.
Đoạn cô khoe tôi những huy chương thiện xạ mà Scheffler giành được ở Câu lạc bộ Cựu chiến binh cùng những tấm ảnh đi kèm (một số giống hệt ảnh ở nhà tôi). Thế rồi cô lại quay trở về với mớ quần áo trẻ con và cuối cùng, trong khi tìm một vật be bé xinh xinh - họa có trời biết là cái gì - cô moi ra mấy cuốn sách. Đó chính là điều Oskar nhắm nhe. Nó hết lòng trông chờ cô tìm thấy sách dưới đống tã; nó đã nghe cô nói chuyện về sách với mẹ nó; nó được biết, trong thời gian đính hôn và cả sau khi lấy chồng sớm (họ cưới gần như đồng thời), hai người vẫn háo hức trao đổi sách với nhau và chăm chỉ mượn sách ở thư viện bên cạnh Cung Điện ảnh, hy vọng mở rộng chân trời và tô điểm hào quang cho hai cuộc hôn nhân tiểu chủ - tạp hóa và bánh mì - của họ
 
Gretchen chẳng có gì nhiều nhặn để dạy tôi. Giống như mẹ tôi đã bỏ đọc sách vì Jan Bronski, cô cũng thôi không đọc nữa mà dành hết thời gian vào đan lát, hiển nhiên là cô đã đem những cuốn sách đẹp của câu lạc bộ sách (mà cả hai đã là thành viên trong nhiều năm) cho những người còn đọc vì họ không bận đan cũng chẳng có chàng Jan Bronski nào.
Sách dù dở cũng vẫn là sách và thiêng liêng. Những gì tôi tìm thấy ở đó chỉ có thể gọi là sách linh tinh, chắc hắn phần lớn đến từ tủ sách của Theo anh trai cô, người thủy thủ đã hy sinh trên con tàu Dogger-Bank. Bảy hay tám cuốn trong bộ Biên niên ký hàng hải đầy những tàu đã đắm từ lâu, Các cấp bậc trong Hải quân hoàng gia, Paul Beneke, Anh hùng hải quân - những thứ này khó có thể là món ăn tinh thần mà trái tim Gretchen thèm khát. Tôi dám chắc rằng cuốn Lịch sử thành phố Danzig của Erich Keyer và cuốn Một cuộc đấu tranh vì Rôma (kể về một người tên là Felix Dahn chiến đấu với sự trợ giúp của Totila và Teja, Belisarius và Narses) sở dĩ đến mức cũ nát, sờn gáy long bìa như thế này là do bàn tay người anh thủy thủ. Theo tôi, thuộc sở hữu riêng của Gretchen chỉ có một cuốn sách kế toán của Gustav Freytag về Bên có và bên nợ, một cuốn của Goethe Những ái lực chọn lọc  [2] và một cuốn dày cộp đầy tranh minh họa mang đầu đề Rasputin [3] và đàn bà.
Sau hồi lâu phân vân - phạm vi lựa chọn quá hạn hẹp nên không thể quyết địn nhanh chóng được - tôi nhặt đại lên, trước tiên là quyển Rasputin sau đó là quyển Goethe. Tôi cũng chẳng ý thức được là mình chọn cái gì, mà chỉ nghe theo cái tiếng nói bên trong quen thuộc.
Sự hòa hợp đầy mâu thuẫn giữa hai thứ ấy sau đó đã có ảnh hưởng quyết định đến đời tôi, chí ít là cuộc đời mà tôi muốn sống riêng rẽ khỏi cái trống của mình. Cho đến tận hôm nay - khi mà Oskar, với lòng ham học, đã dần dà cày hết tủ sách của bệnh viện tâm thần - tôi vẫn coi khinh Schiller cùng đồng bọn mười lăm phút, chỉ chao đảo giữa Rasputin và Goethe, giữa pháp sư và học giả của Thế kỷ ánh sáng, giữa con người với tâm địa đen tối chuyên bỏ bùa cho đàn bà và bậc thi bá sáng láng thích để đàn bà bỏ bùa cho mình. Nếu có thời kỳ tôi nghiêng về Rasputin hơn và sợ tính không khoan nhượng của Goethe, thì đó là do một chút nghi ngờ đại loại như thế này: Nếu mày, Oskar, sống và chơi trống vào thời Goethe, hẳn ông ta sẽ nghi là mày phản tự nhiên và lên án mày là hiện thân của phản tự nhiên; còn về cái bản chất tự nhiên quý giá của ông - mà, về cơ bản, mày vẫn luôn ngưỡng mộ và cố noi theo mặc dầu đôi khi nó trương ra những bộ điệu hết sức phản tự nhiên - ông nuôi dưỡng nó bằng bánh mật ong và nếu ông có để mắt đến mày, đồ quỷ con tội nghiệp, thì chỉ là để nện lên đầu mày mấy nện bằng cuốn Faust hoặc một cuốn bự trong bộ Lý thuyết về màu sắc của ông mà thôi.
 
Nhưng thôi ta hãy trở lại với Rasputin. Với sự trợ giúp của Gretchen Scheffler, ông đã dạy tôi cả vần chữ cái lớn lẫn vần chữ cái nhỏ, dạy tôi biết ân cần với đàn bà và an ủi tôi những khi Goethe xúc phạm tôi.
Cùng một lúc vừa học đọc vừa làm bộ ngu dốt, thật chẳng dễ gì. Thậm chí còn khó hơn cả đóng vai một thằng bé đái dầm như tôi đã từng làm trong nhiều năm. Bởi vì nói cho cùng, việc đái dầm mỗi buổi sáng chỉ đem lại bằng chứng thuần tuý vật chất về một khuyết tật mà thực ra tôi không cần đến. Còn như giả đò ngu dốt có nghĩa là che giấu sự tiến bộ nhanh chóng của mình, là tiến hành một cuộc đấu tranh thường xuyên với niềm tự hào trí tuệ mới chớm. Tôi có thể ngầm nhún vai cho qua chuyện người lớn coi tôi là đứa " dấm đài", nhưng nếu năm này qua năm khác vẫn là một thằng đần dưới mắt họ, điều đó là một xúc phạm đối với Oskar cũng như với người dạy dỗ nó.
Lúc tôi thu hồi được mớ sách dưới đống tã lót, Gretchen mừng rỡ reo lên, cô đã linh cảm thấy thiên chức của mình là nhà giáo. Tôi đã gỡ rối được cho người đàn bà vô sinh tội nghiệp này thoát ra khỏi đống len và làm cho cô hầu như hạnh phúc. Thực ra, cô muốn tôi chọn cuốn Bên có và bên nợ làm sách tập đọc hơn, nhưng tôi một mực không rời Rasputin, đòi hỏi Rasputin khi cô đưa ra một cuốn sách vỡ lòng phổ thông vào buổi học thứ hai của chúng tôi và cuối cùng quyết định lên tiếng khi thấy cô cứ tiếp tục lôi ra những truyện cổ tích như Chú Lùn Mũi dài hay Tôm Bé tí hon. " Rasputin!" tôi kêu lên, hoặc có khi: "Rasusin!" Thi thoảng, Oskar chơi bài ngu tới số: " Rasu, Rasu!" Mục đích ‘là để cô Gretchen hiểu thật rõ rành tôi thích tập đọc cái gì, đồng thời vẫn không biết gì về thiên tài văn học bắt đầu thức dậy nơi tôi.
Tôi học đều đặn và mau chóng, không phải cố gắng gì nhiều lắm. Một năm sau, tôi có cảm giác như mình đang sống ở St. Peterburg; trong những phòng riêng của Sa hoàng, chúa tể của mọi nước Nga, phòng trẻ của hoàng tử Nga thường xuyên đau yếu, giữa những giáo hoàng và những kẻ âm mưu, mục thị chứng kiến những cuộc truy hoan của Rasputin. Câu chuyện hấp dẫn tôi và tôi sớm nhận ra đây là một gương mặt trung tâm. Điều đó thật hiển nhiên bằng vào những tranh khắc đương đại rải rác từ đầu đến cuối sách, minh hoạ Rasputin râu rậm, mắt đen như than giữa những nàng tươi trẻ không mặc gì ngoài đôi tất đen. Cái chết của ông gây sốc mạnh đối với tôi: người ta đầu độc ông bằng bánh ga-tô tẩm thuốc độc và rượu pha thuốc độc; rồi khi ông đòi thêm bánh gatô, họ bèn rút súng lục bắn ông và khi đạn chì trong ngực khiến ông thèm khiêu vũ, họ trói ông lại, thả xuống sông Neva qua một cái lỗ khoét giữa lớp băng. Tất cả những hành động đó đều do đám sĩ quan nam giới làm. Các bà các cô ở thành St. Peterburg ắt chẳng đời nào cho lão Rasputin thân yêu của mình ăn bánh ga-tô tẩm thuốc độc, mặc dầu họ sẵn sàng cho lão bất kỳ cái gì khác mà lão muốn. Cánh phụ nữ đặt lòng tin vào Rasputin, còn cánh sĩ quan thì phải loại bỏ ông nếu họ muốn lấy lại lòng tự tin ở bản thân,
Có gì là lạ nếu không phải chỉ mình tôi khoái chuyện sống và chết của vị pháp sư-lực sĩ? Dần dà, Gretchen nhen nhóm lại cái thú đọc sách. Đôi khi, giữa lúc cao giọng đọc, cô bỗng như xụp đổ hoàn toàn; chỉ một từ "truy hoan" cũng đủ làm cô run lên và cô thốt ra hai tiếng đó trong một hơi thở hổn hển; khi cô nói " truy hoan", cô thực sự sẵn sàng vào cuộc truy hoan mặc dù chắc chắn cô chỉ có một ý niệm rất lơ mơ về chuyện đó.
 
Chuyện xoay ra một hướng sàm tục khi mẹ tôi theo tôi đến phố Kleinhammerweg dự buổi học của chúng tôi trong căn phòng phía trên cửa hiệu bánh mì. Đôi khi, buổi tập đọc biến thành một cuộc truy hoan và cái đó trở nên một mục đích tự thân, bài học của bé Oskar bị quên phắt. Cứ đến câu thứ ba là hai bà lại song tấu cười ngặt nghẽo, cười đến khô cả môi. Dưới ma lực của Rasputin, hai bà mỗi lúc một sáp lại gần nhau hơn; họ bắt đầu ngọ nguậy trên nệm đi - văng và áp đùi vào nhau. Cuối cùng, tiếng cười chuyển thành tiếng rên. Mười hai trang sách Rasputin vào quãng giữa chiều đã đưa đến những kết quả họ không mấy ngờ tới , nhưng lại rất vui vẻ chấp nhận. Dù sao đi nữa, chắc Rasputin cũng không phản đối; trái lại, có thể tin rằng ông sẵn sàng phát không những phước lộc như vậy đời đời.
Chung cuộc, khi cả hai bà vừa "lạy Chúa, lạy Chúa" vừa ngồi lại cho ngay ngắn và bối rối sửa lại tóc tai, mẹ tôi tỏ ra hơi áy náy: "Cậu chắc là bé Oskar không hiểu gì chứ?". " Đừng có rgớ ngẩn," Gretchen trấn an mẹ, cậu không tưởng nổi là mình đã vất vả như thế nào với nó mà nó học không vào.
Thành thật mà nói, nó sẽ không bao giờ biết đọc đâu.’’
Để chứng minh sự ngu dốt thâm căn cố đế của tôi, cô nói thêm: "Cậu thử tưởng tượng xem, Agnès, nó đã xé nhiều trang ở quyển Rasputin rồi vo lại, thế là mất tăm. Đôi lúc mình cảm thấy muốn bỏ cuộc. Nhưng khi thấy nó xiết bao hạnh phúc với cuốn sách, mình cứ để cho nó xé, nó phá. Mình đã dặn Alex đến Nô-en kiếm cho bọn mình một quyển Rasputin mới."
 
Như quý vị hẳn đã đoán ra, rất từ từ, trong vòng ba, bốn năm - Gretchen vẫn tiếp tục dạy tôi suốt thời gian ấy và cả ít lâu sau nữa - tôi đã lấy đi được hơn nửa số trang của cuốn Rasputin. Tôi xé từng tờ rất cẩn thận trong khi làm ra vẻ phá hoại bừa bãi, vo nhỏ lại. và giấu vào trong áo chui dầu. Rồi khi về nhà, trong cái góc dành riêng để chơi trống, tôi vuốt thẳng lại, xếp thành một chồng và bí mật đọc một mình, không có sự hiện diện của bất kỳ người phụ nữ nào. Tôi cũng làm thế với cuốn Goethe mà cứ bốn buổi một, tôi lại lớn tiếng đòi Gretchen đọc " Goethe". Tôi không muốn chỉ tập trung vào một mình Rasputin vì chẳng mấy chốc tôi đã sớm nhận ra điều này: trên thế gian này, mỗi Rasputin đều có một Goethe của mình, mỗi Rasputin đều kéo theo sau mình một Goethe hoặc nếu quý vị muốn, mỗi Goethe đều kéo theo sau - hoặc thậm chi tạo ra một Rasputin để sau này có thể lên án hắn.
Với cuốn sách không đóng của mình, Oskar rút về căn gác xép ở tầng áp mái hoặc nấp sau những khung xe đạp trong hăng-ga của ông già Heiland, đảo trộn những tờ rời của Rasputin và Những ái lực chọn lọc như đảo bài tây, tạo thành một cuốn sách mới. Nó ngồi đọc cuốn sách đặc biệt đó và mỉm cười ngỡ ngàng nhìn theo nàng Ottilie khoác tay Rasputin, yểu điệu dạo gót qua những khu vườn ở miền Trung nước Đức trong khi Goethe ngồi cạnh một tiểu thư quý tộc, nàng Olga phóng đãng, phóng xe trượt tuyết qua St. Peterburg mùa đông, từ cuộc truy hoan này sang cuộc truy hoan khác.
Nhưng thôi, ta hãy trở về với căn phòng học của tôi ở đường Kheinhammer-Weg. Mặc dù tôi có vẻ như chẳng tiến bộ chút nào, Gretchen vẫn thích thú như cô thiếu nữ khi ở bên tôi. Nhờ có tôi (tuy nhiên, phần nào cũng do bàn tay lông lá vô hình của vị pháp sư Nga), cô tươi trẻ phây phây ra, thậm chí còn truyền cái sinh lực mới tìm thấy sang cả những chậu cây cảnh và xương rồng nữa. Giá trong những năm ấy, thi thoảng Scheffler- thấy nên cất tay khỏi mớ bột bánh mì để nhào thứ bột khác ấm hơi người! Cô Gretchen ắt sẽ sung sướng để cho ông nhào và vần vò mình, đánh với lòng trắng trứng và cho vào lò. Biết đâu chả ra lò được một cái gì. Chưa chừng cuối cùng lại tòi ra một đứa bé cũng nên. Thật đáng tiếc. Lẽ ra cô phải được hưởng niềm vui đó.
Vậy là sau khi say sưa đọc Rasputin, cô ngồi đó, đôi mắt bốc lửa và tóc hơi bù rối; hàm răng ngựa bịt vàng đụng đậy nhưng chẳng có gì nhai và cô thở dài lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, rồi trở nên tư lự. Vì mẹ tôi đã có anh Jan của mình nên không cách nào giúp được cô, phần tiếp theo của công cuộc giáo dục tôi ắt đã có thể kết thúc bi thảm nếu Gretchen không có một trái tim hồ hởi lạc quan.
Có khi cô chạy tọt vào bếp rồi trở lại với cái cối xay cà-phê. Ghì nó như ghì một người tình, cô vừa xay vừa hát với một vẻ say mê rười rượi, "Mắt huyền" hay "Sarafan đỏ", và mẹ tôi cũng hát theo. Đem cặp Mắt huyền vào bếp, cô cho nước vào đun; rồi khi nước sắp sôi trên bếp ga, cô chạy xuống cửa hàng bánh mì và, bất chấp sự phản đối của Scheffler, vơ một lô bánh ngọt mang trở lên, bày lên bàn nào tách đĩa, nào cốc ăn kem, nào âu đựng đường, nào dĩa ăn bánh và rắc hoa păngxê vào những kẽ bàn. Cô rót cà-phê, vừa hát nho nhỏ vài điệu trong nhạc kịch Hoàng tử Nga, vừa mời bánh. "Một chàng thủy thủ đứng trên bờ sông Volga", bánh vòng Francfort rắc mảnh hạnh đào, "Trên ấy có nhiều thiên thần không?" bánh hoa đường trên mặt phủ kem đánh tơi, "dịu dàng biết mấy, dịu dàng biết mấy", và trong khi họ nhai, câu chuyện lại lộn về Rasputin, nhưng bây giờ họ giữ một khoảng cách cần thiết và một khi đã chén bánh đầy tễ, họ thậm chí có thể hoàn toàn chân thành lên án sự thối nát sâu thăm thẳm của đời sống cung đình dưới thời Sa hoàng.
 
Những năm ấy tôi ăn quá quá nhiều bánh ga-tô. Như quý vị có thể thấy trong những tấm ảnh, tôi không cao thêm chút nào mà chỉ béo phục phịch thôi. Sau những giờ học thừa mứa chất ngọt ở phố Kleinhammer-Weg, tôi thường lẻn vào cửa hiệu nhà chúng tôi và chờ cơ hội. Hễ thấy Matzerath vừa quay đi một cái là tôi lập tức buộc dây vào một miếng bánh mì, nhúng vào thùng cá trích muối cho đến khi ngấm đẫm nước mắm mới kéo lên. Quý vị không thể tưởng tượng được đó là liều thuốc gây nôn tuyệt vời đến thế nào đối với một kẻ đã ăn quá nhiều bánh ngọt. Nhiều khi, với hy vọng gày bớt đi, Oskar nôn vào cầu tiêu nhà mình một lượng ga-tô nhà Scheffler đáng giá tới một florin Danzig. Vào thời bấy giờ, cần nấy là ói tiền.
Tôi còn trả công dạy dỗ của Gretchen theo một cách khác nữa. Vốn mê đan, móc, khâu, may quần áo trẻ con, cô dùng luôn tôi làm manơcanh tiệm may. Tôi phải mặc thử những cái yếm dãi be bé, những cái mũ be bé, những cái quần be bé và những cái áo măng-tô be bé có hoặc không đính mũ, đủ mọi kiểu, mọi màu , mọi loại vải.
Tôi không biết mẹ tôi hay cô Gretchen, nhân dịp sinh nhật lần thứ tám của tôi, đã biến tôi thành một tiểu Sa hoàng đáng đem xử bắn. Hồi ấy, lòng sùng bái của họ đối với Rasputin đã tới đỉnh.Trên một tấm ảnh chụp hôm ấy, tôi đứng bên cạnh chiếc bánh sinh nhật với tám cây nến không chảy cắm xung quanh; tôi mặc một chiếc áo blu thêu kiểu Nga với một chiếc mũ Cozăc đội lệch trên đầu, hai băng đạn bắt chéo trước ngực, quần trắng ống thụng và ủng ngắn cổ.
Cũng may là cái trống của tôi cũng được phép có mặt trong ảnh. Một điều may mắn nữa là Gretchen- có lẽ theo yêu cầu của tôi - đã may cho tôi một bộ đồ mà nhờ kiểu cắt trang nhã và đầy ái lực chọn lọc của thế kỷ 19, vẫn gợi lên được tinh thần của Goethe trong cuốn album của tôi, do đó chứng thực sự hiện hữu của hai tâm hồn trong lồng ngực tôi và khiến tôi, chỉ với một cái trống duy nhất, mà có thể cùng một lúc ở cả hai nơi: St Peterburg và Weimar, đi tới vương quốc của các Bà Mẹ đồng thời vẫn tiến hành các cuộc truy hoan với các nương nương.

 
Chú thích :
  [1] Kiểu chữ viết chuẩn của Đức do Ludwig Sütterlin phát triển và được dạy ớ các trường học từ 1915 dôn 1945
 
[2] Một trong những tiểu thuyết tiêu biểu của đại văn hào Đức Johann Wolgang Goethe (1749 - 1832) được thai nghén và viết trong khoảng thời gian từ 1807 đến 1809. Đầu đề Die Walilverwaiuhschaffren (Những ái lực chon lọc) là một thuật ngữ vật lý có gốc La-tinh "attractio electiva duplex" mượn từ Từ điếu Vật lý cùaF.S.T. Gehler, và chỉ một hiện tượng hóa học đặc biệt trong đó hai yếu tố kết hợp, dưới tác động của hai yếu tố khác có những đặc tính nhất định, rời nhau ra để hợp với những  yếu tố kia. Cuối cùng hình thành hai cập mới. Trong tác phẩm của Goethe, cập thứ nhất là đôi vợ chồng Charlolte-Edouard và cập đến sau "sinh chuyện" là Ouille Đại Úy. Cuốn sách kết thúc bằng cái chết của Ouille và ít lâu sau của Edouard.
 [3] GriIgo Elimovich Rasputin (1871 ?- 1910), pháp sư Nga được triều đình sủng ái. Mặc dù ít học, ông nổi tiếng trong các tầns lớp nông dân như là một thánh nhân. Thời kỳ 1908 - 9. Có ảnh hưởng lớn đối với Sa hoàng và hoàng hậu. Can thiệp sâu vào chuyện triều chính, nhất là về chính sách giáo hội. Nổi tiếng về "thành tích" với phụ nữ và truy lạc. Bị một nhóm quý tộc ám sát ngàv 31/12/1910.
 
 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2016 11:58:51 bởi Ct.Ly>
CA KHÚC -TRÁI PHÁ TAM XA
 
Nữ bác sĩ Hornstetter - người, hầu như ngày nào cũng ghé thăm tôi một lúc vừa đủ để hút hết một điếu thuốc lá, người có nhiệm vụ chữa bệnh cho tôi nhưng lại được tôi điều trị vì sau mỗi lần thăm bệnh, bà ra về đỡ căng thẳng hơn lúc đến, người thuộc loại ít giao tiếp và chỉ thân với điếu thuốc lá của mình - cứ một mực cho rằng tuổi thơ của tôi bị biệt lập, tôi quá ít chơi với những đứa trẻ khác.
 
Ờ, về những đứa trẻ khác thì có thể bà nói đúng. Đúng là tôi quá bận bịu với những bài học của Gretchen Scheffler, quá bị giằng xé giữa Goethe và Rasputin, đến nỗi dù có muốn đến mấy cũng không kiếm đâu ra thì giờ để chơi nhảy vòng tròn hoặc trốn tìm. Nhưng bất cứ khi nào tôi bắt chước một ông học giả nào đó bất chợt quay lưng lại với sách, tuyên bố đó là tha ma của ngôn ngữ, và tìm về với đời thường thì tôi lại chạm trán với bọn quỷ con ăn thịt người ở cùng khu nhà và sau một thoáng ngắn tiếp xúc với chúng, tôi cảm thấy rất sung sướng được quay về an toàn với bài tập đọc của mình.
Oskar có thể rời căn hộ của cha mẹ bằng hai lối: hoặc qua cửa hàng rồi ra phố Labesweg, hoặc qua cửa trước đến chân cầu thang. Từ đây, nó có thể, hoặc ra thẳng ngoài phố, hoặc leo bốn tầng gác đến căn phòng áp mái, nơi tay nhạc công Meyn đang thổi Trompét, hoặc nữa, lựa chọn cuối cùng là ra sân. Đường phố lát đá cuội. Sân rải cát nện là nơi cho thỏ sinh sản và cho mọi người làm vệ sinh thảm. Ngoài những cuộc song tấu năm thì mười hoạ với Meyn say khướt, căn phòng áp mái còn cho tầm nhìn bao quát cảnh vật xung quanh và đem đến cái ảo giác thú vị về tự do mà những kẻ leo tháp đều tìm kiếm, nó khiến những người sống trên tầng áp mái trở nên mơ mộng.
Đối với Oskar, sân chứa đầy nguy hiểm, còn tầng áp mái thì an toàn cho đến khi Axel Mischke cùng đồng bọn trục nó ra khỏi đó. Sân có chiều rộng bằng cả khu nhà, nhưng chỉ sâu bảy bước, phía sau có một hàng rào gỗ quét hắc ín, trên phủ dây thép gai , ngăn cách với các sân khác. Từ tầng áp mái, có thể nhìn rất rõ cái mê cung bên trong khối nhà giới định bởi bốn phố: Labesweg phía sau, Herta và Louise hai bên, và Nữ thánh Marie cách một quãng ở đằng trước. Trong cái hình chữ nhật lớn bao gồm nhiều khoảng sân xệch xẹo ấy, còn có một xưởng sản xuất kẹo chống ho và mấy xưởng sửa chữa vặt. Đây đó trong các sân, hiện rõ những cây lớn cây nhỏ đánh dấu nhịp mùa đi. Các sân, bất kể rộng hẹp và hình dạng khác nhau, đều có thỏ và dụng cụ để đập thảm. Thỏ thì ngày nào cũng có mặt và hoạt động, nhưng còn thảm thì theo nội quy của khu chung cư, chỉ được làm vệ sinh vào những ngày thứ ba và thứ sáu. Vào những ngày này, mới thấy rõ quy mô thực sự của khối nhà. Từ trên tầng áp mái, Oskar nhìn và nghe thấy rõ mồn một: hơn trăm tấm thảm các loại- thảm lớn trải phòng, thảm dài trải hành lang, thảm nhỏ trải chân giường, được xát bằng dưa bắp cải, rồi chải, đập thật kỹ cho đến khi hiện lên thật rỗ các họa tiết. Một trăm mụ nội trợ, cánh tay để trần tròn trĩnh, tóc chít gọn trong một nút khăn, khuân từ các nhà ra hàng núi thảm, quang đám tội đồ ấy lên những giá nhục hình, vớ lấy những chày đập và không gian bỗng tràn ngập những tiếng dập dồn như sấm.
Oskar chúa ghét cái khúc nhạc ngợi ca sự sạch sẽ ấy. Nó đấu tranh với tiếng ồn đó bằng cái trống của mình; tuy nhiên, ngay cả trên tầng áp mái cách xa nguồn sấm, nó vẫn chịu thua. Một trăm mụ đàn bà đập thảm có thể công phá cả bầu trời và xén cụt cánh những con én trẻ; chỉ với dăm bảy cú đập, họ đã làm đổ nhận ngôi đền nhỏ mà cái trống của Oskar đã dựng lên trong không khí tháng tư.
Những ngày không làm vệ sinh thảm, bọn trẻ con trong khu chung cư tập thể dục trên những giá gỗ dùng để đập thảm. Họa hoằn lắm tôi mới ra sân. Nơi duy nhất tôi cảm thấy tương đối an toàn là cái hăng-ga của già Heilandt. Ông già này chỉ cho mình tôi được vào cái kho ngổn ngang những ốc vít, ròng rọc, máy khâu gãy, xe đạp thiếu bộ phận này nọ, và những hộp xì-gà đựng đầy những chiếc đinh cong queo hoặc đã uốn thẳng lại. Đó là một trong những bận bịu chính của già: khi nào không nhổ đinh khỏi những cái hòm cũ thì già lại lọ mọ bên chiếc đe, cặm cụi uốn thẳng mớ đinh đã thu hồi ngày hôm trước. Ngoài việc thu hồi đinh, già còn là người giúp việc dọn nhà khi cần, làm thịt thỏ vào dịp lễ và nhổ bã thuốc lá nhai khắp nơi trong sân, trên cầu thang và trên tầng áp mái.
 
Một hôm, khi bọn trẻ con, theo cách của trẻ con, nấu xúp cách hăng-ga của già Heilandt không xa, Nuchi Eyke yêu cầu già nhổ vào nồi xúp ba lần. Già chấp thuận, mỗi lần lại hắng giọng một tiếng, rồi biến vào trong hăng-ga tiếp tục gõ búa uốn thẳng lại những chiếc đinh quằn. Axel Mischke cho thêm gạch nghiền nhỏ vào xúp. Oskar đứng ngoài cuộc, nhưng tò mò theo dõi. Axel Mischke và Harry Schlager đã lấy chăn, mền và quần áo cũ dựng một cái lều để ngăn người lớn khỏi nhòm ngó vào món xúp của chúng. Khi món xúp gạch bắt đầu sôi, Honschen Kollin bèn dốc túi, góp vào hai con ếch sống vừa bắt được ở Hồ Aktien. Susi Kater, đứa con gái duy nhất ở trong lều, bĩu môi vì thất vọng, cay đắng khi hai con ếch biến mất tăm trong nồi xúp một cách thảm hại, thậm chí không cố làm một cú nhảy cuối cùng xem như tiếng hót thiên nga. Bất chấp sự có mặt của Susi, Nuchi Eyke mở khuy quần, tè vào bữa tiệc nhất món. Axel, Harry và Honschen Kollin cũng làm theo. Cũn- Cỡn định chứng tỏ với các anh lớn mười tuổi là nó cũng làm được, nhưng không đạt. Mọi con mắt đổ dồn về Susi và Axel đưa cho nó một cái chậu men màu xanh da trời. Oskar đã định đi nhưng nán chờ đến lúc Susi (chắc chẳng mặc gì dưới váy) ngồi xổm lên cái chậu, đầu gối khép chặt, đôi mắt vô hồn nhìn vào khoảng không, và cuối cùng nheo mũi lại khi một tiếng tong tong khe khẽ nơi đáy chậu báo hiệu là Susi đã đóng góp phần mình vào bữa xúp.
 
Đến đây thì tôi bỏ chạy. Đáng ra tôi không nên chạy; đáng ra tôi nên bình tĩnh đi cho đàng hoàng. Mắt chúng còn để cả vào cái chậu kia, nhưng vì tôi chạy nên chúng mới nhìn theo. Tôi nghe thấy tiếng Susi: " Nó chạy đi làm gì nhỉ, chắc là nó đi chỉ điểm bọn ta". Cái đó giáng mạnh vào lưng tôi và tôi vẫn còn cảm thấy nó xuyên qua người khi tôi leo hết bốn cầu thang tới căn áp mái và dừng lại để lấy hơi.
Hồi ấy, tôi bảy tuổi rưỡi. Susi có thể là chín tuổi. Cũn-Cỡn thì chỉ lên tám; Axel, Nuchi, Honschen và Harry khoảng mười hoặc mười một. Còn có Maria Truczinski nữa. Nó lớn tuổi hơn tôi một chút, nhưng nó không bao giờ ra sân chơi; nó chơi với búp-bê ở trong nhà bếp của Mamăng Truczinski hoặc với cô chị lớn Guste phụ việc ở vườn trẻ Tin Lành.
 
Có gì là lạ nếu cho đến nay tôi vẫn không chịu nổi cái tiếng đàn bà đái vào bô ở trong phòng ngủ? Ngồi trên tầng áp mái, Oskar xoa dịu vỗ về tai mình bằng cách đánh trống. Nó vừa mới bắt đầu cảm thấy rằng tiếng xúp sôi ùng ục đã lùi xa đằng sau lưng, thì cả bọn chúng, tất cả những đứa đã góp phần mình vào nồi xúp, đột nhiên xuất hiện, đứa chân đất, đứa đi dép lê. Nuchi bê cái nồi. Chúng quây thành một vòng tròn quanh Oskar, Cũn-Cỡn đến sau cùng. Chúng hích nhau, thì thào qua kẽ răng: “Làm tới đi!" Sau cùng, Axel túm lấy Oskar từ phía sau và khoá cánh khuỷu nó. Susi cười, lưỡi hơi thè lè giữa hai hàm răng đều đặn ươn ướt, và nói tại sao lại không nhỉ, tại sao lại không nên. Nó cầm lấy chiếc cùi - dìa nhỏ từ tay Nuchi, chùi vào đít quần rồi nhúng vào nồi xúp đang bốc hơi. Như một bà nội trợ đảm, nó chậm rãi quấy, thử xem xúp có sánh không, múc một cùi-dìa đầy, thổi cho nguội và cuối cùng tọng nó vào mồm Oskar, phải, nó ấn cả cái cùi-dìa vào mồm tôi. Suốt cần ấy năm, tôi chưa bao giờ ăn một cái gì như thế, cái vị của nó còn lưu cữu mãi trong cổ họng tôi.
 
Mãi đến khi những người bạn cực kỳ quan tâm đến chế độ ăn uống của tôi rời khỏi tầng áp mái vì Nuchi nôn vào nồi xúp, tôi mới bò tới góc sân phơi quần áo ở đó lúc bấy giờ chỉ phất phơ vài tấm drap ( khăn trải giường), và mửa ra mấy cùi-dìa xúp đo đỏ trong đó, lạ thay! chẳng thấy chút vết tích nào của ếch cả. Tôi trèo lên một cái tủ kê ngay bên dưới cửa sổ mái để mở. Miệng vẫn lạo xạo chút bụi gạch, tôi nhìn ra mấy cái sân đằng xa và cảm thấy một thôi thúc muốn hành động. Nhìn về phía những cửa sổ xa xa của những ngôi nhà phố Nữ thánh Marie, tôi thét và hát nhằm chính hướng ấy. Tôi không thấy được kết quả gì; tuy nhiên, tôi hoàn toàn tin vào khả năng công phá tầm xa bằng giọng hát đến nỗi từ đó, khoảng sân này và tất cả các sân khác trở nên quá nhỏ đối với tôi. Khát thèm khoảng cách, không gian, toàn cảnh bao quát, tôi quyết định lợi dụng mọi dịp rời khỏi khu ngoại ô Labesweg, hoặc một mình hoặc cùng với mẹ, để thoát khỏi những săn đuổi của bọn nấu xúp trong mảnh sân đã trở nên quá nhỏ hẹp.
 
Thứ năm nào mẹ tôi cũng vào thành phố để mua sắm. Thông thường, mẹ vẫn cho tôi đi cùng. Bao giờ mẹ cũng đem tôi theo khi cần mua một cái trống mới ở cửa hàng Sigismund Markus trong ngõ Binh Công Xưởng gần Chợ Than. Thời kỳ này - từ bảy tuổi đến năm lên mười - cứ hai tuần tôi chơi nát một trống. Từ mười đến mười bốn tuổi, không đầy một tuần, tàn một đời trống. Sau này, tôi trở nên khó lường hơn: tôi có thể chỉ trong một ngày biến một cái trống mới thành đồ đồng nát, nhưng cũng có giai đoạn, trong một trạng thái tinh thần cân bằng, tôi có thể chơi liền ba, bốn tháng một cách từ tốn, tự chủ nhưng không kém phần mạnh mẽ mà trống vẫn hầu như nguyên vẹn, trừ một vài vết nứt trên lớp sơn.
 
Nhưng ta hãy quay lại những ngày mà, theo chu kỳ, tôi thoát ra khỏi sân nhà chúng tôi với những cuộc đập thảm, những tên nấu xúp của nó, nhờ mẹ tôi cứ hai tuần một lần đưa tôi đến cửa hàng Sigismund Markus, ở đó tôi được phép chọn một cái trống mới. Đôi khi, cái trống cũ của tôi vẫn còn tương đối tốt, nhưng mẹ vẫn cho tôi đi theo. Tôi rất khoái những buổi chiều đó trong khu phố cổ rực rỡ sắc màu, ở đó bao giờ cũng có một vẻ gì tựa như bảo tàng và luôn luôn vang ngân những hồi chuông từ nhà thờ này hay nhà thờ nọ.
Những chuyến đi của chúng tôi thường đơn điệu một cách thú vị. Bao giờ cũng có mấy thứ phải mua ở các cửa hiệu Leiser, Sterfeld hay Machwitz; sau đó chúng tôi đến chỗ Markus. Từ lâu, Markus đã có thói quen ngợi khen tâng bốc mẹ tôi lên đến mây xanh. Hiển nhiên là bác ta mê mẹ, nhưng theo như tôi biết thì bác chưa bao giờ đi quá cử chỉ xiết chặt bàn tay "đáng giá vàng cân" (theo lời mô tả nồng nàn của bác) và lặng lẽ áp môi lên đó trong một nụ hôn thành kính - trừ cái lần bác quỳ gối tỏ tình mà lát nữa tôi sẽ kể tới.
 
Ngoài cái thân hình đầy đặn, chắc khoẻ, mẹ còn thừa hưởng ở bà ngoại Koljaiczek thói phù phiếm dễ thương hòa hợp với tính hồn hậu, tốt bụng, thế nên mẹ chịu đựng được thái độ xoắn xuýt săn đón của Markus. Hắn là trong chừng mực nào đó, mẹ cũng xiêu lòng trước những đôi tất dài bằng lụa - thuộc loại hàng không đủ quy chuẩn nhưng phẩm chất rất tốt - mà bác bán cho mẹ với giá rẻ đến mức có thể nói đó thực chất là quà tặng. Đó là chưa kể những cái trống mà, cứ đều đặn hai tuần một lần, bác đưa qua mặt quày cho tôi với những giá không đáng kể.
 
Đều đặn cứ đúng bốn rưỡi, mẹ lại nhờ Sigismund trông tôi một lúc, vì trời đã về chiều mà mẹ còn có mấy việc quan trọng phải làm cho xong. Miệng tủm tĩm một nụ cười kỳ lạ, Markus nghiêng đầu và với lời lẽ hoa mỹ, hứa sẽ gìn giữ tôi, Oskar, như con ngươi của mắt mình để mẹ yên tâm giải quyết những việc quan trọng nọ. Thoáng giễu cợt nhẹ nhàng trong giọng bác không làm mẹ tổn thương, nhưng đôi khi cũng khiến mẹ đỏ mặt, ngờ ngợ rằng Markus biết thực chất đó là việc gì.
Về phần mình, tôi biết tỏng những việc mà mẹ bảo là quan trọng và nhiệt tình thực hiện đến thế.
 
Một thời gian, mẹ cho tôi đi theo đến một nhà trọ rẻ tiền trong Ngõ Thợ mộc, ở đó mẹ để tôi lại với mụ chủ rồi biến lên gác đúng ba khắc đồng hồ. Không một lời, mụ chủ (chuyên uống cà-phê pha rượu) đặt trước mặt tôi một cốc xô-đa vị tởm lợm và tôi ngồi đó đợi cho đến lúc mẹ trở lại, bộ dạng hồ như không có gì thay đổi. Mẹ chào tạm biệt mụ chủ, mụ không buồn ngẩng đầu lên khỏi cốc cà-phê pha rượu - và nắm tay tôi dắt đi. Mẹ chẳng bao giờ ngờ rằng nhiệt độ nơi bàn tay mẹ khiến tôi nảy sinh những ý nghĩ này nọ. Bàn tay tôi nằm gọn trong bàn tay mẹ nóng rực, chúng tôi đi đến tiệm cà-phê Weitzke ở phố Thợ len. Mẹ gọi môka, Oskar gọi kem chanh và chúng tôi ngồi đợi (không lâu) cho đến khi bác Jan Bronski "tình cờ" đi qua; bác đến nhập bọn với chúng tôi và một cốc môka thứ hai được đặt lên mặt bàn đá hoa mát rượi.
Họ nói trước mặt tôi mà như thể không có tôi ở đó và câu chuyện của họ khớp với những gì tôi đã biết từ lâu: hầu như thứ năm nào mẹ và bác Jan cũng gặp nhau bốn mươi lăm phút ở một phòng trọ trong ngõ Thợ mộc do bác Jan thuê và trả tiền. Hẳn là chính bác Jan không muốn mẹ đem tôi đến ngõ Thợ mộc rồi đến tiệm cà-phê Weitzkei. Đôi khi bác rất e thẹn, e thẹn hơn cả mẹ nữa kia; mẹ thì thấy chẳng việc gì phải ngăn không cho tôi chứng kiến đoạn vĩ thanh khép lại giờ khắc ái ân của họ vì mẹ luôn luôn - ngay cả sau đó nữa - tin chắc đó là quyền chính đáng của mình.
Vậy là theo yêu cầu của bác Jan, hầu như chiều thứ năm nào tôi cũng ở lại với Sigismund Markus từ bốn rưỡi cho đến gần sáu giờ. Tôi được phép xem suốt lượt, thậm chí còn đánh thử, bộ trống của bác - thử hỏi Oskar có thể cùng một lúc chơi mấy cái trống ở đâu khác ngoài nơi này? Trong khi chờ đợi, tôi có thể ngắm gương mặt buồn thiu của Markus. Tôi không rõ những ý nghĩ của bác từ đâu đến, nhưng chúng đi đâu thì tôi biết chắc: chúng đang lượn lờ trong ngõ Thợ mộc, khẽ cào trên những cửa phòng đánh số, hay ngồi thu lu như chàng Lazare [1] tội nghiệp dưới gầm bàn mặt đá ở tiệm cà-phê Weitzke. Chờ đợi cái gì? Những mảnh vụn chăng?
Mẹ và bác Jan chả để lại chút mảnh vụn dư thừa nào. Tuyệt không. Họ tắc lẻm hết sạch. Cơn háu ăn của họ không lúc nào vơi đi, nó cắn cả đuôi của chính mình. Họ quá mải mốt nên cùng lắm, họ chỉ coi những ý nghi của Markus dưới gầm bàn như những vuốt ve không đúng lúc của một luồng gió lùa mà thôi.
 
Vào một trong những buổi chiều ấy - hẳn là vào tháng chín gì đó vì mẹ rời cửa hàng của Markus trong bộ đồ mùa thu màu gỉ sắt - tôi thấy Markus chìm đắm trong suy nghĩ đằng sau quầy. Không
biết cái gì đã thôi thúc tôi vớ lấy cái trống mới mua và đi vào cái ngõ Binh Công Xưởng mát rượi và mờ tối như một đường hầm. Hai bên ngõ san sát những tủ kính lộng lẫy, nào đồ kim hoàn, nào sách, nào món ăn đặc sản. Nhưng dù có hấp dẫn đến mấy, những thứ đó cũng nằm ngoài tầm của tôi. Chúng không giữ được chân tôi và tôi tiếp tục đi hết ngõ, ra Chợ Than. Giữa vầng sáng bùi bụi, tôi đứng đối diện với Binh Công Xưởng. Mặt tiền màu xám ba- zan của Xưởng lỗ chỗ những vết đạn thần công từ nhiều cuộc bao vây khác nhau, ghi lại lịch sử của thành Danzig cho khách vãng lai chiêm ngưỡng. Những quả đạn thần công ấy chả có gì là lý thú đối với tôi, vì tôi biết rằng chúng không tự nguyện gắn mình vào tường, rằng ở thành Danzig có một người thợ xây làm công ăn lương của cả Sở Xây dựng lẫn Sở Bảo tồn Đền đài di tích, hai sở này có nhiệm vụ gắn những quả đạn của các thế kỷ trước lên mặt tiền các nhà thờ và tòa thị chính, đặc biệt lên tường mặt trước và mặt sau của Binh Công Xưởng.
Tôi quyết định đi tới Nhà Hát thành phố; tôi có thể nhìn thấy cái cổng có mái và hàng cột dẫn vào Nhà Hát, chỉ cách Binh Công Xưởng một cái ngõ tối. Đúng như tôi chờ đợi, Nhà Hát đóng cửa – phòng bán vé cho đêm diễn chỉ mở từ bảy giờ. Tính sẵn đường rút, tôi vừa dạo trống vừa phân vân rẽ sang ngả trái. Thế rồi Oskar chợt thấy mình đang ở giữa toà Tháp Công Lý và cổng phố Langgasse. Tôi không dám qua Cổng vào phố Langgasse rồi rẽ trái đến phố Thợ len, vì hẳn là mẹ và bác Jan Bronski đang ngồi đó; và ví dù họ có chưa tới đó thì chắc họ cũng vừa kết thúc cái công việc quan trọng ở ngõ Thợ mộc và đang trên đường đến giải nồng với ly môka bên cái bàn mặt đá.
Tôi không nhớ là tôi đã làm thế nào để đi qua Chợ Than, luồn lách giữa những chuyến xe điện leng keng hối hả lao qua lao lại dưới vòm cổng, rít ken két khi ngoặt đường "cua" hướng tới Chợ Than, Chợ Gỗ và nhà ga trung tâm. Có lẽ một người lớn, một cảnh sát thì phải, đã nắm tay tôi, dắt qua trùng trùng hiểm nguy của dòng xe cộ qua lại.
 
Tôi đứng trước ngọn Tháp Công Lý, tường gạch vút lên trời. Chỉ là do ngẫu nhiên, trong một thoáng buồn chán, mà tôi đem nhét cặp dùi trống vào giữa phần xây và nẹp sắt của cánh cửa. Tôi ngước mắt dọc theo mép tường nhưng thật khó mà nhìn được suốt mặt tiền vì lũ chim bồ câu không ngừng bay ra từ những hốc tường và cửa sổ để dừng một thoáng ngắn, vừa độ nghỉ của một con chim câu, trên những đầu ống máng hoặc lầu canh trước khi lao xuống, buộc tôi phải đưa mắt nhìn theo.
Hoạt động bay tới bay lui của lũ chim câu làm tôi bực mình. Không cách nào nhìn thấu đỉnh điểm của bức tường vươn lên bầu trời nên tôi đành thu luồng mắt về và, để xua tan nỗi bực dọc, tôi bắt đầu kiên quyết dùng cặp dùi trống làm đòn bẩy. Cánh cửa nhượng bộ. Không cần phải mở thật rộng, Oskar đã lách được vào bên trong tháp, leo lên cầu thang xoáy trôn ốc, luôn luôn đưa chân phải lên trước rồi kéo chân trái theo sau. Nó lên tới những gian ngục đầu tiên và tiếp tục leo nữa, qua phòng nhục hình với những dụng cụ tra tấn được lưu giữ cẩn thận và mang nhãn chỉ dẫn rõ ràng. Đến đây, nó bắt đầu đưa chân trái lên trước rồi kéo chân phải theo sau. Lên cao hơn chút nữa, nó ghé mắt nhìn qua một cửa sổ chấn song, ước lượng độ cao, xem xét bề dày của tường xây và xùy đuổi mấy con bồ câu. Đến khúc quành sau, nó lại gặp vẫn những con bồ câu ấy. Nó bèn trở lại cách bước chân phải trước và sau một lần đảo chân nữa, lên tới đĩnh tháp. Mặc dầu hai chân đã nằng nặng, nó vẫn cảm thấy có thể tiếp tục leo mãi, leo mãi được. Nhưng cầu thang đã bỏ cuộc trước.Trong một loé chớp, Oskar chợt hiểu ra sự phi lý và vô ích của việc xây dựng những ngọn tháp.
Tôi không biết Tháp Công Lý trước kia (và cả hiện nay nữa, vì sau chiến tranh nó vẫn đứng vững) cao bao nhiêu. Tôi cũng không muốn hỏi Bruno, tay y tá trông nom tôi, kiếm hộ một cuốn sách nghiên cứu về các công trình Gô-tích xây bằng gạch ở Đông Đức. Tôi đoán chừng, từ chân đến đỉnh, nó hẳn phải cao tới bốn mươi lăm mét.
Tôi buộc phải dừng lại - vì cái cầu thang thiếu dũng khí của lòng tin- trên một hành lang bao quanh đỉnh tháp. Tôi ngồi xuống, đút chân vào giữa những gióng lan can và cúi mình về phía trước. Cánh tay phải ghì chặt một gióng lan can, tôi ghé mắt qua đó nhìn xuống Chợ Than, trong khi tay trái nắm chắc cái trống để yên trí rằng nó vẫn an toàn sau khi đã cùng tôi làm trọn cuộc leo tháp này.
 
Tôi không muốn làm quý vị phát chán với việc mô tả toàn cảnh Danzig - thành phố cổ kính với hàng trăm tháp và gác chuông mà người ta nói là còn dạt dào hơi thở của thời Trung cổ - cái đó quý vị có thể thấy trên hàng tá bưu ảnh in rất đẹp. Tôi cũng sẽ không phí thì giờ nói về những con bồ câu mặc dầu nhiều người vẫn coi đó là chất liệu văn học. Đối với tôi, bồ câu chả là cái quái gì, thậm chí còn kém cả hải âu về ngôi thứ. Cái con "chim bồ câu hòa bình" của các người chỉ có giá trị như một nghịch lý. Tôi thà gửi gắm một thông điệp hòa bình vào một con diều hâu hay thậm chí một con kền kền còn hơn là giao cho một con bồ câu bởi nó đích thị là giống vật hay gây gổ nhất dưới bầu trời của Thượng Đế. Nói gọn một câu cho nhanh: có nhiều chim bồ câu trên Tháp Công Lý. Nhưng có ngọn tháp tự trọng nào mà không có bồ câu?
Dù sao đi nữa, cũng không phải lũ bồ câu níu mắt tôi, mà là một cái gì khác: Nhà Hát thành phố mà tôi thấy đóng cửa khi tôi từ Binh Công Xưởng đi đến đây. Cái toà nhà hộp với mái vòm ấy nom rất giống một cái cối xay cà-phê phóng to lên một cách quái gở theo phong cách tân cổ điển. Ngôi đền Thi Ca này chỉ thiếu một cái tay quay để nghiền từ từ mọi thứ trong đó- đào kép và khán giả, kẻ chạy cờ và người nhắc vở, phông màn và đạo cụ, Goethe và Schiller - thành bột li ti như cám. Toà nhà này làm tôi phát phiền, nhất là những cửa sổ có cột hai bên trong sảnh, lấp lánh những tia nắng xế của chiều tà càng lúc càng pha thêm sắc đỏ.
Trên ngọn tháp này, ba mươi mét cao hơn Chợ Than với những xe điện cùng đám công chức tan sở lũ lượt về nhà, chót vót bên trên cửa hiệu của Markus và tiệm cà-phê Weitzke với hai cốc môka.
 
trên cái bàn mặt đá hoa, tít bên trên mẹ và bác Jan Bronski, bên trên tất cả các sân, tất cả những cái đinh quằn và được uốn thẳng lại, tất cả lũ trẻ con nấu xúp - trên ngọn tháp này, tôi, kẻ cho đến nay chỉ la thét khi có đầy đủ lý do chính đáng, giờ trở thành một. kẻ la thét vô cớ. Cho đến ngày tôi nảy ra ý nghĩ leo lên đỉnh Tháp Công Lý, tôi đã phóng những nốt công phá lên kính, thuỷ tinh, bóng đèn, chai bia, nhưng chỉ trong trường hợp có người muốn tước đoạt cái trống của tôi; giờ đây, trên đỉnh tháp, tôi cất tiếng thét mặc dầu cái trống của tôi không hề bị đe dọa, kê cả từ xa.
Chẳng ai định cướp đi cái trống của Oskar, tuy nhiên nó vẫn thét. Không có con chim câu nào làm rớt phân lên trống của nó. Gần bên tôi'có gĩ đồng trên những lá đồng, nhưng không hề có kính. Vậy mà Oskar vẫn thét. Mắt những con bồ câu long lanh một ánh đo đỏ, nhưng không có con nào nhìn nó bằng một con mắt thuỷ tinh; thế mà nó vẫn thét. Nó nhằm cái gì mà thét? Đối tượng nào ở đằng xa? Phải chăng nó muốn áp dụng phương pháp khoa học vào cái .thi nghiệm nó đã làm văng mạng trên tầng áp mái sau khi nếm mùi xúp bột gạch? Oskar nghĩ đến thứ thuỷ tinh nào? Oskar muốn thí nghiệm với loại thuỷ tinh nào, bởi mục tiêu phải là thuỷ tinh mới được?
Chính những ô kính cửa sổ lấp lánh ánh nắng chiều của Nhà Hát thành phố, cái cối xay cà-phê kịch nghệ ấy, đã thu hút những âm sắc hiện đại chủ nghĩa gần như kiểu cách mà tôi đã thử nghiệm lần đầu trên tầng áp mái nhà chúng tôi. Sau mấy phút thét nhiều tiếng ở độ cao khác nhau không gây hiệu quả gì, tôi chợt phát ra được một tiếng hầu như vô thanh và một lát sau, Oskar đỏ bừng mặt tự hào và vui sướng nhận thấy hai ô kính giữa cửa sổ cuối sảnh đã thôi không phản chiếu ánh tà dương nữa, để lại hai hình chữ nhật đen ngòm chắc chẳng bao lâu sẽ phải nhờ đến tay người thợ lắp kính.
Tuy nhiên, còn phải kiểm tra kết quả cho chắc ăn. Như một họa sĩ hiện đại, sau bao năm mầy mò, cuối cùng, tìm ra bút pháp mong muốn, bắt tay vào hoàn thiện nó và bộc lộ hết độ chín của tài năng bằng cách liên tục cho ra hàng chục tác phẩm theo phong cách mới, tất cả đều táo bạo và đẹp như nhau, tôi cũng lao vào thao diễn.
Trong vòng không đầy mười lăm phút đồng hồ, tôi giải tán kính của tất cả các cửa sổ trong sảnh và một số cửa lớn. Một đám đông tụ tập bên ngoài Nhà Hát, nhìn từ đây, họ có vẻ rất khích động. Nhưng ngay cả những trò ngu xuẩn nhất cũng thu hút đám đông. Những kẻ ngưỡng mộ nghệ thuật của tôi chả gây ấn tượng gì đặc biệt đối với tôi. Cùng lắm họ chỉ khiến Oskar rèn nghệ thuật của mình vào kỷ luật, cố gắng đạt tới thuần khiết hơn về hình thức. Tôi đang sắp sửa phanh phui lõi cốt của sự vật bằng một thử nghiệm táo bạo hơn nữa, cụ thể là phóng một tiếng kêu đặc biệt qua hành lang thông thống, qua lỗ khoá một buồng hạng lô, lọt vào bên trong nhà hát còn tối om, một tiếng kêu nhằm đánh vào lòng kiêu hãnh của tất cả những người thuê bao rạp: cỗ đèn chùm với toàn bộ những đồ trang kim bóng loáng, nhiều mặt phản chiếu và khúc xạ ánh sáng của nó, phải, tôi đang sắp sửa làm thế thì chợt nhìn thấy một đốm vải màu nâu gỉ sét trong đám đông bên ngoài Nhà Hát: mẹ tôi trên đường từ tiệm cà-phê Weitzke trở về, mẹ đã uống suất môka của mình và đã chia tay với bác Jan Bronski.
 
Ngay cả như thế, cũng vẫn phải thừa nhận rằng Oskar đã phóng một tiếng nhằm vào cỗ đèn chùm của Nhà Hát. Nhưng hình như không đạt mục đích vì ngày hôm sau báo chí chỉ nói đến những cửa sổ và cửa ra vào bị vỡ toang hết kính vì những lý do bí hiểm không ai hay. Trong mấy tuần liền, các nhà cung ứng lý thuyết khoa học và nửa khoa học xổ ra những chuyện nhăng cuội quái đản chiếm nhiều cột trên trang cuối các báo hằng ngày. Tờ Neueste Nachrichten nói đến những tia vũ trụ. Các nhân viên đài quan sát địa phương - hẳn nhiên là những người thạo tin nhất - thì bảo do những vết trên mặt trời.
 
Còn tôi thì lao xuống cầu thang trôn ốc thật nhanh, mở hết tốc độ có thể của đôi chân ngắn, và, thở không ra hơi, nhập vào đám đông bên ngoài Nhà Hát. Không thấy bộ đồ mùa thu màu nâu gỉ sắt của mẹ tôi đâu cả, chắc là mẹ đã ở cửa hàng của Markus, đang kể về sự huỷ hoại do giọng tôi gây nên. Và Markus, vốn coi cái giọng kim cương cùng cái gọi là tình trạng chậm phát triển của tôi là chuyện đương nhiên, hẳn đang lắc đầu lè lưỡi và xoa hai bàn tay vàng bệch vào nhau.
Vừa bước chân vào cửa hiệu, cái cảnh bày ra trước mắt khiến tôi quên phắt mọi thành công của mình với tư cách là ca sĩ. Sigismund Markus đang quỳ dưới chân mẹ, và tất cả những con vật bằng bông, gấu, khỉ, chó, búp bê nhắm mắt mở mắt, xe cứu hoả, ngựa bập bênh và cả những anh rối đứng canh cửa cũng như thể sắp quỳ xuống cùng bác. Bác cầm hai tay mẹ trong đôi bàn tay loăn xoăn những túm lông hung hung trên mu của bác, và bác khóc.
Nom mẹ cũng rất trịnh trọng vì mẹ dành sự chú ý thích đáng cho tình thế này. "Không, Markus," mẹ nói, "em xin đấy, Markus. Đừng làm thế ở đây, ngay trong cửa hàng."
Nhưng Markus cứ tiếp tục mãi không thôi. Có vẻ như bác hơi đẩy lên quá mức, nhưng cái âm sắc cầu khẩn van xin trong giọng bác thì tôi không bao giờ quên được: "Đừng làm thế nữa với Bronski, hắn làm cho Sở Bưu Chính Ba Lan. Hắn về phe Ba Lan, thế là không tốt. Đừng có đặt cược vào bọn Ba Lan, nếu cần chọn bên nào thì hãy ủng hộ người Đức, vì thế họ đang lên, sớm muộn họ cũng sẽ thắng. Và giả sử như họ thắng mà Matzerath phu nhân vẫn cặp với Bronski? Nếu em muốn Matzerath thì tốt, em vốn đã có anh ta. Hoặc giả hãy cho tôi một ân huệ là chọn Markus này, hắn vừa mới được ban thánh thể mà. Chúng mình sẽ đi Luân Đôn, ở đó tôi có nhiều bạn bè và vô khối cổ phiếu, nếu em quyết định đi cùng tôi, hoặc nếu em không muốn đi với Markus cũng được, bởi vì em khinh tôi, vậy thì cứ khinh tôi đi. Nhưng tôi quỳ hai gối xin em đừng có cặp với Bronski nữa, hắn thật điên khùng nên mới khư khư bám lấy cái sở Bưu chính Ba Lan trong khi bọn Ba Lan đang sắp bị người Đức quét sạch."
 
Đúng vào lúc mẹ tôi, rối trí trước bao khả năng va bao điều bất khả, sắp sửa oà lên khóc, thì Markus trông thấy tôi ở cửa ra vào và hùng hồn chỉ cả năm ngón tay về phía tôi: "Tôi xin em, Agnès. Chúng ta sẽ mang nó theo đến Luân Đôn. Nó sẽ sống như một hoàng tử nhỏ,"
Mẹ quay về phía tôi và thoáng nở một nụ cười. Có thể mẹ nghĩ đến những cửa sổ mất kính ở sảnh Nhà Hát hoặc có thể ý nghĩ về thành Luân Đôn làm mẹ phấn khích. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy mẹ lắc đầu và nhẹ nhàng nói như từ chối một lời mời nhảy: "Cảm ơn Markus, nhưng không thể được. Thật sự không thể được ... vì Bronski."
 
Cái tên ông bác tôi như một tín hiệu nhắc vở khiến Markus đứng bật dạy và cúi gập người làm đôi. "Tôi xin lỗi," bác ta nói. "Từ đầu đến giờ, tôi vẫn nghĩ thế. Không thể được là vì anh ta."
Lúc chúng tôi rời cửa hàng thì chưa đến giờ đóng cửa, nhưng Markus cứ khoá lại từ bên ngoài và đưa chúng tôi đến bến xe điện. Nhiều khách qua đường và một số cảnh sát vẫn còn đứng bên ngoài Nhà Hát. Nhưng tôi chả sợ tí nào, tôi đã quên hẳn chiến tích của mình. Markus cúi xuống sát tôi và thì thầm, với chính mình thì đúng hơn là với tôi: "Cái thằng bé Oskar! Nó đánh mấy tiếng trống mà điên đảo cả Nhà Hát."
Bác khoát tay trấn an mẹ tôi khỏi băn khoăn vì đống thuỷ tinh vỡ. Rồi xe điện tới và khi chúng tôi bước lên toa đầu, bác thốt ra điều khẩn cầu cuối cùng bằng một giọng rất khẽ để người khác khỏi nghe thấy: "Thôi nếu đã vậy, thì xin hãy nghe tôi: hãy ở lại bên Matzerath vốn đã là của em và đừng có cặp với cái gã Ba Lan ấy nữa."
 
Bây giờ đây, nằm hoặc ngồi trên cái giường bệnh viện này, nhưng dù ở tư thế nào cũng không ngừng gõ trống, khi Oskar thăm lại ngõ Binh Công Xưởng và Tháp Công Lý với những dòng chữ nguệch ngoạc trên tường các gian ngục tối cùng các dụng cụ tra tấn được tra dầu cẩn thận, khi một lần nữa hắn nhìn xuống ba cái cửa sổ bên ngoài sảnh của Nhà Hát thành phố rồi sau đó lại quay về ngõ Binh Công Xưởng và cửa hàng của Sigismund Markus, tìm kiếm những chi tiết của một ngày tháng chín, hắn không thể không tìm đất nước Ba Lan luôn thể. Tìm bằng cách nào? Bằng đôi dùi trống. Hắn cũng tìm đất nước Ba Lan cả bằng tâm hồn nữa chứ? Hắn tìm bằng mọi cơ quan của bản thể hắn, nhưng tâm hồn không phải là một cơ quan.
Tôi tìm đất nước của những người Ba Lan bị mất vào tay những người Đức, chí ít cũng vào thời điểm này. Ngày nay, những người Đức đã bắt đầu tìm cách chiếm lại Ba Lan bằng tín dụng, bằng máy ảnh Leica và la bàn, bằng radar va đũa thần, bằng các phái đoàn và các hội sinh viên vận lể phục. Một số mang Chopin trong trái tim mình, một số khác lại mang những tư tưởng phục thù. Lên án bốn lần đầu phân chia đất Ba Lan, họ lại đang ráo riết âm mưu một cuộc chia cắt thứ năm. Trong khi chờ đợi, họ đáp chuyến bay Air France sang Vacxava để đặt vòng hoa tưởng niệm ở chỗ xưa kia là trại Ghetto với vẻ ăn năn hối hận thích đáng. Rồi một ngày tới, họ sẽ tìm lại Ba Lan bằng tên lửa và rốc-két. Tôi, tôi tìm Ba Lan trên cái trống của tôi. Và đây là lời trống của tôi: Ba Lan mất nhưng không phải là mãi mãi, tất cả đã mất nhưng không phải mất mãi mãi, Ba Lan không vĩnh viễn mất.
 
 
Chú thích:
[1] Anh trai của Marie và Marthe, được Chúa Jêxu hồi sinh từ cõi chết (Kinh Thánh. Sách Phúc âm theo Thánh Jean,, chương 11 - 12)
[2] Đại ý lời Quốc ca Ba I.an Jeszcze Folska Nie Zginela)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.08.2016 15:27:07 bởi Ct.Ly>
KHÁN ĐÀI

Chính trong khi hát vỡ hết kính cửa sổ trong sảnh Nhà Hát thành phố, tôi đã tìm kiếm và tìm thấy cuộc tiếp xúc đầu tiên của mình với nghệ thuật sân khấu. Mặc dù bị phân tán bởi sự săn đón của Markus, mẹ tôi hẳn đã nhận thấy mối liên hệ trực tiếp giữa tôi với nhà hát, bởi vì khi mùa Giáng sinh đến, mẹ đã mua bốn vé xem hát: cho chính mẹ, cho Stephan và Marga Bronski và cho Oskar, và ngày chủ nhật cuối cùng của mùa Vọng, mẹ đưa chúng tôi đi xem một vở mừng Giáng sinh, cỗ đèn chùm bên trên dàn nhạc phô hết vẻ huy hoàng và tôi lấy làm mừng là tiếng hát của tôi đã không đập tan nó.
 
Ngay từ thời kỳ đó, đã có quá nhiều trẻ con. Ở những dãy ghế hạng ban- công, trẻ con đông hơn các bà mẹ, còn ở khoang cạnh dàn nhạc, hạng cao cấp dành cho những người giàu có vốn cẩn trọng hơn trong việc sinh sản, tỷ lệ ấy gần như cân bằng. Tại sao trẻ con lại không thể ngồi yên nhỉ? Ngồi giữa tôi và cu Stephan tương đối chỉnh chu, Marga tụt khỏi ghế, mặt ghế trống tự động bật lên, nó định trèo trở lại nhưng thấy đánh đu ở lan can thú hơn, loay hoay thế nào bị kẹp giữa mặt ghế gập và lưng ghế, bắt đầu la ầm lên tuy chỉ một thoáng và không to hơn lũ tiểu yêu xung quanh vì mẹ tôi đã khôn ngoan nhét đầy kẹo vào cái mồm đang ngoác ra của nó. Miệng mút kẹo và mệt nhoài vì đánh vật với cái ghế, buổi biểu diễn vừa bắt đầu được một lúc thì Marga quay ra ngủ, nhưng cứ hết một hồi lại phải đánh thức nó dậy để vỗ tay, điều mà nó làm hết sức nhiệt tình.
Hiển nhiên, vở diễn, Tôm Tí Hon, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với tôi và chinh phục tôi ngay từ đầu. Đạo diễn rất thông minh: không thấy Tôm Tí Hon đâu cả, chỉ thấy tiếng chú nói và thấy những người lớn chạy như đèn cù đuổi theo chú. Chú vô hình nhưng rất năng nổ. Này đây, chú ngồi trong tai ngựa, để cha bán cho hai y du thủ du thực được khá tiền. Chú hiên ngang đi dạo trên vành mũ của một trong hai y đó. Sau đó, chú chui vào một hang chuột rồi vào một vỏ ốc sên. Chú nhập bọn với một băng cướp, mai phục với chúng, rơi vào một đống rơm, bị một con bò nuốt cùng với một ngoạm rơm vào dạ dày. Nhưng con bò bị giết vì can tội nói bằng giọng Tôm Tí Hon. Tuy nhiên, dạ dày bò, trong đó có Tôm, bị vứt ra một đống rác và bị một con sói nuốt chửng. Tôm khéo léo dụ sói đến cướp nhà kho của cha chú và đúng lúc sói bắt đầu dở trò thì chú la rầm lên. Đoạn kết thì giống như trong truyện cổ tích: cha Tôm giết chết con sói ác, mẹ lấy kéo rạch bụng sói và Tôm Tí Hon nhảy ra, có nghĩa là khán giả nghe thấy tiếng chú reo lên: "Ôi, cha ơi, con đã ở trong một hang chuột, trong dạ dày một chị bò cái, trong bụng một con sói và bây giờ thì con sẽ ở lại nhà với cha!"
 
Đoạn kết làm tôi cảm động và khi tôi ngước nhìn mẹ, tôi thấy mẹ lấy mù-soa che mũi; giống như tôi, mẹ đã nhập thân vào hành động trên sân khấu. Mẹ là người dễ xúc động và trong mấy tuần sau, nhất là phần còn lại của mùa Giáng sinh, mẹ luôn ghì chặt tôi vào lòng, hôn hít và - lúc thì với giọng cười cợt, khi thì với vẻ ưu tư - gọi tôi là Tôm Tí Hon. Hoặc: Tôm Tí Hon bé xíu của mẹ. Hoặc: Tôm Tí Hon tội nghiệp, tội nghiệp của mẹ.
Mãi đến mùa hè 1933, tôi mới có dịp trở lại nhà hát. Câu chuyện đâm dở do một sự hiểu lầm về phía tôi, nhưng nó để lại một kỷ niệm sâu sắc trong tôi. Trong tai tôi đến giờ, vẫn còn vang lên những đợt sóng âm thanh dập dồn như sấm. Không, tôi không nói quá đâu, toàn bộ câu chuyện xảy ra ở Nhà Hát Opêra trong-rừng ở Zoppot, nơi mà mùa hè năm nào, thiên nhiên cũng có dịp hòa đồng với suối nhạc Wagner dưới trời đêm.
 
Thực ra, chỉ có mình mẹ là thích Ôpêra (Opéra)[1]. Matzerath thì thậm chí Ôpêret (Operette)[2] cũng không thưởng thức nổi. Jan theo đuôi mẹ, cũng rất mê các aria, tuy nhiên, trái với cái bề ngoài ra dáng nhạc sĩ, bác hoàn toàn điếc nhạc. Nhưng bác quen anh em nhà Formella, vốn trước là bạn đồng môn ở trường trung học Karthaus, hiện ở Zoppot và trông nom các đèn pha chiếu sáng con đường ven hồ và đài phun nước bên ngoài nhà Casino, đồng thời phụ trách luôn việc tạo hiệu quả ánh sáng cho Nhà Hát Opéra-trong- rừng.
Đường đến Zoppot chạy qua Oliva. Một buổi sáng
trong Công viên Lâu đài, cá vàng và thiên nga, mẹ và bác Jan Bronski trong Động Thì Thầm trứ danh. Sau đó, lại cá vàng và thiên nga nữa, rỗ ràng là ăn cánh với một tay phó nháy.Trong khi chụp ảnh, Matzerath kiệu tôi lên vai, tôi đặt cái trống lên đầu ông, sau này dán vào album hễ giở ra xem lại phì cười. Thế rồi tạm biệt cá vàng, tạm biệt thiên nga, tạm biệt Động Thì Thầm. Không phải chỉ trong Công viên Lâu đài mới là chủ nhật, mà cả ở bên ngoài cổng, trên chuyến xe điện đi về Glettkau, cả trong nhà Casino của Glettkau, nơi chúng tôi ăn trưa trong khi biển Baltic, như kẻ vô công rỗi nghề chẳng có việc gì làm, cứ mời chào mọi người xuống tắm; đâu đâu cũng là chủ nhật. Khi chúng tôi theo con đường dạo mát dọc bãi biển tới gần Zoppot, chủ nhật ra đón chúng tôi và Matzerath phải trả tiền vào cửa cho cả bọn.
Chúng tôi tắm ở Bãi Nam vì nghe nói đỡ đông hơn trên Bãi Bắc. Đàn ông thay đồ trong những phòng nam giới. Mẹ đưa tôi vào một phòng thay đồ nữ, ở đó mẹ (vốn đã bắt đầu sồ sề) lồng khối thịt của mình vào một bộ đồ tắm màu vàng rơm. Tôi thì phải ở truồng. Để tránh hàng nghìn con mắt trên bãi tắm, tôi lấy cái trống che của quý và sau đó nằm sấp trên cát. Nước biển Baltic mời gọi nhưng tôi không muốn xuống tắm mà ưng bắt chước con đà điểu giấu chim vào trong cát. Cả Matzerath và Jan Bronski nom đều lố bịch đến mức bi hài với cái bụng bắt đầu phệ, đến nỗi tôi thấy nhẹ cả người khi chiều đến, chúng tôi trở về phòng tắm, thoa dầu lên những chỗ rám nắng và mặc lại những bộ đồ chủ nhật của mình.
Cà-phê và bánh ngọt ở tiệm " Sao Biển". Mẹ muốn gọi một phần thứ ba ở cái bánh năm tầng. Matzeratn phản đối, Jan thì vừa đồng ý vừa phản đối. Mẹ gọi phần bánh của mình, cho Matzerath cắn một miếng, bón cho Jan một thìa và sau khi bồi dưỡng cho hai chàng, tọng nốt chỗ bánh kem bơ ngọt lừ còn lại vào dạ dày, từng thìa một.
 
Ôi bánh kem bơ thần thánh, ôi buổi chiều chủ nhật từ quang đến hơi vẩn mây [3], li ti những hạt đường kính! Nhưng nhà quý tộc Ba Lan đeo kính râm màu xanh lơ ngồi trước những ly nước ngọt mà họ không hề đụng tới. Các bà các cô mân mê những móng tay nhuộm tím và gió biển phả đến chúng tôi mùi băng phiến của những áo choàng lông thú mà họ thuê trọn mùa. Matzerath cho việc thuê áo như vậy là vớ vẩn. Mẹ cũng muốn thuê một cái, dù chỉ cho một buổi chiều. Jan thì quả quyết rằng giới quý tộc Ba Lan thật đáng ngán quá xá: mặc dầu nợ nần ngày càng chồng chất, họ đã thôi không nói tiếng Pháp mà chuyển sang trò chuyện bằng thứ tiếng Ba Lan thông tục nhất.
 
Chúng tôi không thể ngồi mãi ở tiệm "Sao Biển" mà ngắm những cặp kính râm màu xanh và những móng tay màu tím của giới quý tộc Ba Lan. Với cái bụng ních đầy bánh ngọt, mẹ cần vận động. Chúng tôi quay lại Công viên Casino, ở đó tôi phải cưỡi một con lừa và làm mẫu cho một "pô" ảnh nữa. Cá vàng và thiên nga - thiên nhiên còn nghĩ được ra cái gì khác nữa! - rồi lại cá vàng và thiên nga, phải chăng để cho nước ngọt còn có chỗ đắc dụng?
Giữa những cây thủy tùng được cắt tĩa (chúng không rì rào như người ta thường mô tả), chúng tôi gặp anh em nhà Formella, phụ trách ánh sáng của khu vực Casino và Nhà Hát Opéra-trong-rừng. Thoạt tiên, Formella-em tuôn ra những chuyện cười đã gặp trong quá trình hoạt động chuyên nghiệp thiết kế ánh sáng. Formella-anh đã thuộc lòng tất cả những chuyện đó, nhưng vi tình anh em, vẫn luôn cười đúng chỗ, phô ra bốn cái răng vàng (hơn người em một cái). Chúng tôi đến quán của Springer làm tí rượu gừng, tuy mẹ thích uống Kurfurst hơn. Rồi, vẫn không ngừng mở kho chuyện cười vô tận, Formella-em hào phóng mời chúng tôi ăn tối ở tiệm Papagei. Tại đây, chúng tôi gặp Tuschel, người sở hữu một nửa vùng Zoppot, một phần Nhà Hát Opéra-trong-rừng và năm rạp chiếu bóng, đồng thời là sếp của anh em Formella. ông rất hân hạnh được làm quen với chúng tôi cũng như chúng tôi rất hân hạnh được làm quen với ông. Tuschel không ngừng xoay xoay một chiếc nhẫn ở ngón tay, nhưng nó không phải là nhẫn ước hoặc nhẫn thần vì chẳng thấy có gì xảy ra, trừ việc Tuschel cũng xoay ra kể chuyện tiếu lâm, vẫn những chuyện chúng tôi đã nghe từ miệng Formella chỉ khác cái là rắc rối hơn vì ông ta ít răng vàng hơn. Mặc dầu thế, cả bàn đều cười rộ vì lẽ chính Tuschel kể chứ không phải ai khác. Chỉ có mình tôi là vẫn nghiêm trang, cố làm ông ta cụt hứng bằng nét mặt vô cảm của mình, ôi, những nhịp cười ran ran (tuy là giả tạo), như những ô kính kiểu đít chai ở vách ngăn che chỗ chúng tôi ngồi ăn, chúng mới khéo gây cảm giác sung mãn làm sao! Tuschel cảm kích ra mặt, kể thêm vài chuyện vui nữa, gọi Goldwasser, thứ rượu mạnh đặc sản của Danzig, rồi lâng lâng trong hơi rượu và tiếng cười, đột nhiên xoay nhẫn theo chiều ngược lại. Lần này thì có chuyện xảy ra thật. Tuschel mời tất cả chúng tôi đến Nhà Hát Opéra- trong-rừng; tiếc rằng ông không cùng dự được, ông có cuộc hẹn, đại loại như thế, nhưng ông xin chúng tôi vui lòng nhận chỗ, chỗ dành riêng, ghế đệm bọc da hạng lô, cháu bé có thể ngủ trong đó nếu cháu mệt; và với một chiếc bút chì máy bằng bạc, ông viết mấy chữ theo tự dạng Tuschel trên một tấm danh thiếp Tuschel; cái này sẽ mở tất cả các cửa - và quả đúng như thế.
 
Những gì xảy ra tiếp theo có thể kể gọn trong vài câu: một buổi tối mùa hè ngào ngạt hương thơm, Nhà Hát Opéra-trong-rừng bán hết vé, đầy người nước ngoài. Trước cả khi mở màn, muỗi đã kéo đến. Và chỉ tới khi con muỗi cuối cùng - nó bao giờ cũng đến muộn một chút, ra cái điều lịch sự mà - báo hiệu sự có mặt của mình bằng một tiếng vo ve khát máu, cuộc biểu diễn mới thực sự bắt đầu. Đó là vở Người Hà Lan Bay. Một con tàu, nom có vẻ trộm vặt hơn là cướp biển, trôi vào từ khu rừng đã cho Nhà Hát Opéra-trong-rừng cái tên của nó. Các thuỷ thủ bắt đầu hát với cây rừng. Tôi ngủ thiếp đi trên ghế nệm bọc da của Tuschel và khi tôi thức dậy, các thuỷ thủ vẫn hát, hay có thể đó là những thuỷ thủ khác: "Hoa tiêu, hãy canh chừng… " nhưng Oskar lại quay ra ngủ một lần nữa, trong lúc thiu thiu còn sung sướng nhận thấy mẹ để hết tâm trí vào Người Hà Lan, cùng lướt trên sóng cả, ngực phập phồng xúc động theo, đúng tinh thần Wagner chân chính. Mẹ không nhận thấy Matzerath và anh Jan của mẹ đã lấy tay che mặt và đang xẻ những khúc gỗ các cỡ khác nhau và cả tôi nữa cũng đang tiếp tục truồi qua kẽ ngón tay Wagner. Rồi bỗng nhiên Oskar tỉnh ngủ hẳn vì có một người đàn bà đứng một mình giữa rừng, la thét. Nàng có mái tóc vàng và nàng la thét bởi vì một ngọn đèn chiếu (chắc là do Formella điều khiển) làm nàng lóa mắt. " Không!" nàng kêu. "Khốn khổ thân tôi!!" và: "Ai làm tôi đau đớn thế này?" Nhưng Formella, người đang làm nàng đau đớn, vẫn không chịu xoay đèn chiếu sang hướng khác. Tiếng kêu của người đàn bà cô đơn - về sau, mẹ gọi nàng là một ca sĩ độc tấu - nhỏ dần thành một tiếng thổn thức nghẹn ngào, để rồi lại cất lên trong một chuỗi nốt cao vút tựa những tia óng ánh bạc vọt lên từ một đài phun nước, khiến lá cây cũng phải sớm tàn úa nhưng lại chẳng làm gì được luồng đèn chiếu của Formella. Một giọng xuất sắc nhưng vô tác dụng. Đã đến lúc Oskar phải can thiệp, định vị cái nguồn sáng ác độc kia và, tiêu diệt nó chỉ bằng một tiếng kêu tầm xa duy nhất, thậm chi còn trầm hơn cả tiếng vo ve dai dẳng của đàn muỗi.
 
Thực tình tôi đâu có định gây ra một cú chập mạch, tóe lửa, tắt điện tối om và một vụ cháy rừng tuy được dập tắt nhanh chóng nhưng đã gây kinh hoàng như thế. Tôi chẳng được lợi gì: chẳng những tôi bị lạc cả mẹ lẫn hai đấng trượng phu giật mình tỉnh giấc trong cơn hỗn loạn, mà còn mất luôn cả cái trống nữa.
Cuộc gặp gỡ lần thứ ba này của tôi với sân khấu đã khiến mẹ tôi nẩy ra ý nghĩ cho tôi vào rạp xiếc (sau tôi hôm ở Nhà Hát Opéra-trong rừng, mẹ đã bắt đầu "thuần hoá" được Wagner qua những bản cải biên dễ trên dương cầm). Điều này được thực thì vào mùa xuân năm 1934.
 
Oskar không có ý định làm nhàm tai quý vị bằng những chuyện về các tài tử đu bay lao vút trong không trung như những vệt ánh bạc, về những con hổ dữ tợn hoặc về sự khéo léo khôn tả của những chú hải cẩu. Không có ai lộn cổ từ trên vòm rạp. Không có nhà dạy thú nào bị cắn đứt bộ phận cơ thể nào. Và lũ hải cẩu chỉ làm đúng những gì chúng được dạy: tung hứng vớì bóng và được thưởng cá trích tươi mà chúng đớp ngay trên không. Tôi mắc nợ rạp xiếc nhiều giờ hạnh phúc và một sự kiện tối hệ trọng trong đời tôi là cuộc gặp gỡ với Bebra, nghệ sĩ hề nhạc chơi bản Jimmy the Tiger trên những cái chai và chỉ huy một nhóm người tí hon.
Chúng tôi gặp nhau ở khu chuồng thú. Mẹ và hai chàng kỵ sĩ của mẹ đang để cho lũ khỉ chơi trò khỉ với họ. Hedwig Bronski - trời đi vắng, bữa ấy lại nhập bọn - đang chỉ cho hai đứa con xem đàn ngựa con. Sau khi một con sư tử ngáp với tôi, một con cú thách tôi đọ mắt với nó và tôi đã chớp mắt trước. Oskar tiu nghỉu lỉnh đi, tai nóng bừng, lòng tự ái bị tổn thương sâu sắc; nó lủi vào giữa hai cái nhà lăn, cái vàng cái trắng: ở đây, ngoài mấy chị dê lùn buộc ở cọc, chẳng có con vật nào khác.
Ông mặc quần có dải đeo, đi dép lê, tay xách một xô nước. Mắt chúng tôi giao nhau khi ông đi qua và ngay lập tức, chúng tôi nhận ra nhau, ông đặt xô nước xuống, nghiêng cái đầu to sang một bên và tiến về phía tôi. Tôi đoán ông phải cao hơn tôi đến mười phân.
"Chà, nhìn thử coi!" Có một nốt thèm muốn trong cái giọng the thé của ông. " Ngày nay, bọn trẻ lên ba đã dám quyết định thôi lớn ". Thấy tôi không trả lời, ông nói tiếp: "Tên ta là Bebra, hâu duệ trực hệ của Hoàng tử Eugene. Cha của người là vua LouisXIV, chứ không phải là một là người vùng Savoie như người ta nói sằng." Tôi vẫn im, nhưng ông bất cần, cứ liến láu: "Đến kỳ sinh nhật thứ mười, ta mới quyết định thôi lớn. Muộn còn hơn không."
Thấy ông thành thật như thế, tôi cũng tự giới thiệu, song không ba hoa gì về tộc phả của mình. Tôi chỉ là Oskar, thế thôi.
"Tốt, Oskar thân mến, chú mày chắc phải mười bốn, mười lăm rồi. Có khi mười sáu cũng nên. Sao, mới chín tuổi rưỡi thôi ư? Chú nói thật đấy chứ?"
Đến lượt tôi đoán tuổi của ông. Tôi cố tình đoán thật thấp.
"Anh bạn trẻ thật khéo nịnh. Ba mươi lăm là chuyện ngày xưa. Tháng tám này, ta sẽ mừng sinh nhật lần thứ năm mươi ba. Ta vào cỡ tuổi ông nội chú đấy."
Oskar khen những miếng nhào lộn kiểu hề xiếc của ông, ca ngợi tài năng âm nhạc của ông. Điều đó khơi dậy tham vọng trong tôi và tôi bèn biểu diễn một ngón nhỏ của riêng mình. Ba bóng đèn là mục tiêu đầu tiên. "Bravo, bravissimo [4]!" Me-xừ Bebra reo lên, và muốn nhận Oskar vào gánh xiếc ngay tắp lự.
Cả cho đến nay, thỉnh thoảng tôi vẫn còn tiếc là mình đã từ chối. Tôi thoái thác nói: "ông Bebra, ông biết đấy, em thích làm khán giả hơn. Em bí mật luyện ngón nghề của mình, tránh xa mọi tiếng vỗ tay hoan hô. Nhưng em thích vỗ tay hoan hô những tiết mục của ông." Me-xừ Bebrra giơ một ngón tay trỏ nhăn nheo lên, răn bảo tôi: "Oskar thân mến ạ, hãy tin lời một người đồng nghiệp từng trải. Loại chúng ta không có chỗ trong đám khán giả đâu. Chúng ta phải biểu diễn, chúng ta phải điều khiển cuộc chơi. Nếu không, những kẻ khác sẽ điều khiển chúng ta. Và lúc đó, họ sẽ không nhẹ tay đâu."
Mắt ông trở nên già như những ngọn đồi và tiếng thì thầm của ông như trườn vào trong tai tôi: "Đấy, họ đang đến đấy. Họ sẽ tiếp thu cánh đồng cỏ nơi chúng ta dựng rạp. Họ sẽ tổ chức những cuộc rước đuốc. Họ sẽ dựng những khán đài, đứng đầy trên đó và từ trên những khán đài đó, họ sẽ rao giảng thảm họa của chúng ta. Hãy cẩn thận, bạn trẻ ạ. Hãy giữ sao để luôn luôn ngồi trên khán đài, chứ đừng bao giờ đứng trước khán đài."
Nghe thấy có ai gọi tên tôi, Me-xừ Bebrra nhấc cái xô lên: "Họ đang tìm chú mày đấy, bạn trẻ ạ. Chúng mình sẽ gặp lại nhau thôi. Chúng mình quá nhỏ bé nên chẳng thể lạc nhau đâu. Bebra này luôn luôn nói: những người nhỏ bé như chúng mình bao giờ cũng có thể kiếm được một chỗ ngay cả trên những khán đài đông đúc nhất. Phải, Bebra hậu duệ trực hệ của Hoàng tử Eugene nói thế đấy!"
Miệng gọi Oskar, mẹ bước ra từ sau một cái nhà lăn vừa kịp để nhìn thấy Me-xừ Bebra hôn lên trán tôi. Rồi xách xô nước lên, ngúng nguẩy đôi vai, ông đi về phía nhà lăn của mình.
" Các người thử tưởng tượng xem," mẹ giận dử nói với Matzerath và vợ chồng Bronski, " Nó đi đánh đu với bọn lùn. Và một thằng quỷ lùn lại hôn lên trán nó. Hy vọng là điều đó không có ý nghĩa gì."
Với tôi thì cái hôn trên trán ấy mang rất nhiều ý nghĩa. Những biến cố chính trị xảy ra trong những năm sau đó xác nhận những lời tiên tri của ông: thời kỳ của những cuộc rước đuốc và diễu 'hành qua khán đài đã bắt đầu.
Tôi nghe theo lời dặn dò của Me-xừ Bebra, còn mẹ tôi cũng phần nào làm theo lời cảnh báo mà Sigismund Markus đã nói với mẹ ở ngõ Binh Công Xưởng và ngày thứ năm nào cũng tiếp tục nhắc lại. Mặc dầu mẹ không đi Luân Đôn với Markus - mà có đi thì tôi cũng không phản đối - mẹ đã ở lại với Matzerath và chỉ gặp Bronski có mức độ thôi , nghĩa là ở phố Thợ mộc do Jan chi và trong những chầu xì-cạt tại nhà ngày càng tốn kém hơn cho Jan vì bao giờ bác cũng thua. Theo lời khuyên của Markus, mẹ đã đặt cược vào Matzerath tuy không tăng mức lên gấp đôi và năm 1934, Matzerath đã vào Đảng. Nhưng tuy gia nhập các lực lượng trật tự tương đối sớm, ông vẫn không bao giờ leo cao hơn cái chức đội trưởng. Cũng giống như mọi sự kiện bất thường khác, lần đề bạt này là một dịp để làm một chầu xì-cạt trong gia đình. Chính bữa đó, khi nhắc lại những nhận xét mà bấy lâu ông vẫn cảnh báo Jan Bronski về chuyện bác ấy làm việc ở sở Bưu Chính Ba Lan, Matzerath lần đầu tiên đã lên giọng nghiêm nghị pha lần chút lo lắng.
Ngoài chuyện đó ra thì chẳng có thay đổi gì lớn. Bên trên chiếc dương cầm, bức chân dung Beethoven, tặng phẩm của Greff, bị cất khỏi cái đinh và thay vào đó, cũng treo vào cái đinh ấy, là một tay Hitler mặt mũi cũng u ám như thế. Matzerath, vốn chẳng thích loại nhạc trang nghiêm, muốn tống khứ hẳn tay nhạc sĩ điếc ấy đi. Nhưng mẹ tôi yêu những bản xô-nát (sonathe) chậm rãi của Beethoven, mẹ đã tập hai, ba bản trong số đó trên cây dương cầm nhà chúng tôi với nhịp độ còn chậm hơn cả chỉ định, nên mẹ khăng khăng một mực là nếu Beethoven không ngự bên trên đi-văng thì cũng phải trên tủ buýp-phê. Thế là bắt đầu cuộc đối đầu ảm đạm nhất trong mọi cuộc đối đầu: Hitler và bậc thiên tài, mặt đối mặt mắt chọi mắt. Đôi bên chẳng bên nào thích thú với tình thế này.
Từng bước một, Matzerath tích cóp nên bộ đồng phục đảng viên của mình. Nếu tôi nhớ không nhầm thì bắt đầu là cái mũ mà cả vào lúc đẹp trời, ông cũng thích đội thật nghiêm chỉnh, với "quai gió" thít dưới cằm đàng hoàng. Một thời gian, kèm theo mũ, ông mặc sơ-mi trắng, cà-vạt đen hoặc blu-dông da với băng tay đen. Rồi ông mua chiếc sơ-mi nâu đầu tiên và chỉ một tuần sau đó, ông lại muốn mua quần cưỡi ngựa màu rêu và đôi ủng cao. Mẹ phản đối việc mua sắm đó và phải mất mấy tuần nữa, bộ- đồng phục mới hoàn tất.
Mỗi tuần đều có nhiều dịp để diện đồng phục, nhưng Matzerath thấy chỉ cần dự các cuộc biểu tình ngày chủ nhật trên Đồng cỏ tháng Năm cạnh Cung Thể thao là đủ. Nhưng trong những dịp này, ông rất nguyên tắc, không khoan nhượng, ngay cả lúc thời tiết xấu nhất cũng dứt khoát không chịu mang ô khi mặc đồng phục. "Nhiệm vụ là nhiệm vụ, schnaps là schnaps", ông nói. Câu đó thành cơm bữa, chúng tôi nghe đến nhàm tai. Mỗi sáng chủ nhật, sau khi chuẩn bị đồ ăn cho bữa chiều, ông ra khỏi nhà. Điều này đặt tôi vào một tình thế lúng túng vì Jan Bronski nhanh chóng nắm lấy tình thế chính trị mới và, với tư cách là thương dân chính hiệu, lại năng đến thăm mẹ tội nghiệp của tôi bị bỏ mặc trong khi Matzerath đi diễn tập và điều hành.
Liệu tôi có thể làm gì khác ngoài việc lánh đi? Tôi không muốn quấy rầy hoặc nhòm trộm hai người trên đi-văng. Ngay sau khi ông bố vận đồng phục của tôi vừa đi khuất và trước lúc ông thường dân, mà hồi đó tôi đã coi là bố đễ, kịp đến, tôi lắng lặng ra khỏi nhà và vừa dạo trống vừa đi về phía Đồng cỏ tháng Năm.
 
Quý vị sẽ hỏi tôi: tại sao lại nhất thiết phải là Đồng cỏ tháng Năm? Xin hãy tin tôi: ngày chủ nhật, chẳng có trò vè gì ngoài cảng, đi dạo trong rừng thì tôi không khoái lắm và hồi đó, nội thất Nhà thờ Thánh Tâm chưa hấp dẫn tôi. Kể ra cũng còn có đám hướng đạo sinh của Greff, nhưng thú thật là dù quý vị có gọi tôi là tên cảm tình Đảng, tôi vẫn thích những hoạt động ở Đồng cỏ tháng Năm hơn cái món khiêu dâm ức chế của các cuộc họp bạn hướng đạo sinh.
Bao giờ cũng có một bài diễn văn, hoặc của Greiser [5] hoặc của Löbsack, trưởng ban đào tạo của quận. Greiser không bao giờ gây ấn tượng mạnh đối với tôi. Y quá ôn hòa và sau này bị thay thế ở cưong vị gauleiter (quận trưởng) bởi một tay người xứ Bavaria cứng rắn hơn tên là Forster [6] Nếu không vì cái lưng gù của Löbsack thì tay người Bavaria kia khó lòng ngoi lên được ở cái hải cảng miền Bắc này của chúng tôi. Công nhận giá trị của Löbsack, coi cái bướu của y như một dấu hiệu của trí thông minh sắc sảo, Đảng cử y làm trưởng ban đào tạo của quận. Y rành, công việc của mình. Trong khi Forster chỉ biết hô "Trở lại Reich"[7] bằng cái giọng Bavaria trọ trẹ, thì Löbsack để tâm đi sâu vào chi tiết. Y nói thạo mọi thổ ngữ của Danzig, kể những chuyện vui về Bollerman và Wullsutzki [8] và biết cách trò chuyện với cánh công nhân bốc dỡ hàng ở cảng Schichau, dân vô sản ở Ohra, đảm trung lưu ở Emmaufl SohidlitZ Bürgerwiesen và Praust. Thật thú vị khi nghe con người nhỏ bé này (bộ đồng phục nâu làm cái bướu của y càng thêm nổi bật) đối dáp với những lời chất vạn yếu ớt của những đảng viên Xã hội hoặc sự hùng hổ của mấy cha Cộng sản say bia.
Löbsack có chất dí dỏm. Chất dí dỏm ấy, y chắt ra từ cái bướu mà y gọi bằng đúng tên của nó; dân chúng bao giờ cũng khoái cái đó. Tôi thà mất cái bướu chứ không đành lòng nhìn Cánh tả lên nắm chính quyền, y khẳng định. Rõ ràng y chẳng dễ gì để mất cái bướu của mình, nó đã cố định ở đó. Vậy là cái bướu thắng và tổ chức của y cũng thắng theo - từ đó có thể rút ra kết luận: một cái bướu là cơ sở lý tưởng cho một ý tưởng.
Khi Greiser, Löbsack hoặc sau này Forster nói, họ đều đứng trên khán đài mà nói. Đó là cái thứ khán đài mà ông Bebra nhỏ con đã ca ngợi. Do vậy, từ lâu tôi đã coi Löbsack, y - gù - đầy tài năng diễn thuyết trên khán đài, như một sứ giả của Bebra, người mặc đồng phục nâu đứng trên khán đài chiến đấu vì sự nghiệp của Bebra và cũng là sự nghiệp của tôi.
 
Khán đài là cái gì? Bất kể nó được xây dựng cho ai, một cái khán đài phải có sự đối xứng. Và cái khán đài ở Đồng cỏ tháng Năm của chúng tôi rành là đối xứng. Từ đằng sau ra đằng trước, sáu chữ thập ngoặc xếp cạnh nhau, rồi một dãy cờ phướn, rồi đến một hàng ngang lính SS vận quân phục đen, quai mũ nghiêm chỉnh nịt dưới cằm, rồi hai hàng SA tay nắm chặt khoá thắt lưng trong khi hát hoặc trong khi diễn giả nói, rồi mấy hàng ghế cho các đồng chí Đảng mặc đồng phục ngồi; đằng sau bục diễn giả, lại các đồng chí Đảng, các lãnh tụ các hội phụ nữ với vẻ mặt h-i-ề-n m-ẫ-u, các đại diện của Thượng viên, các khách từ Reich, và chánh cẩm hoặc đạl diện của ông ta.
Phía trước của khán đài được làm trẻ lại bởi Đoàn Thanh niên Hitler hay chính xác hơn, bởi các đội kèn đồng của Đội Thiếu niên Hitler và Đoàn Thanh niên Hitler địa phương. Trong một số cuộc biểu tình, một dàn đồng ca hỗn hợp, cũng được bố tri rất đối xứng, hô những khẩu hiệu hoặc hát những bài ca ngợi gió đông "tốt hơn mọi ngọn gió khác để làm tung bay cờ" (xem lời ca).

Bebra, người đã hôn trán tôi, cũng từng nói: " Oskar, đừng bao giờ làm khán giả đứng trước khán đài. Chỗ của những người như chúng ta là ở trên khán đài."
 
Thông thường, tôi có thể kiếm được một chỗ trong đám các bà thủ lĩnh các hội phụ nữ. Khốn thay, trong các cuộc mít-tinh, các bà không bao giờ ngơi tay vuốt ve tôi vì mục đích tuyên truyền. Tôi không thể len vào giữa đám kèn trống dưới chân khán đài vì chính cái trống của tôi bị các nhạc công nhà binh từ chối. Tôi cũng đã thử tìm cách tiếp xúc với trưởng ban đào tạo Löbsack, nhưng thất bại. Thật đáng buồn, tôi đã nhìn nhầm người.. Y chẳng phải là sứ giả của Bebra như tôi đã kỳ vọng và mặc dầu mang trên lưng cái bướu đầy hứa hẹn, y hoàn toàn không hiểu nổi tầm cỡ thực sự của tôi.
 
Một ngày chủ nhật, tôi lên khán đài, đến trước mặt y (y đang đứng bên bục diễn giả), giơ tay chào theo kiểu của Đảng, ngước nhìn thắng vào mặt y một lúc, rồi nháy mắt thì thầm: "Bebra là lãnh tụ của chúng ta!" Nhưng chẳng hề có một sự khải thị nào cả. Không, y cũng vỗ vỗ tôi y hệt các bà của các hội phụ nữ Quốc Xã và cuối cùng sai người đưa Oskar xuống khỏi khán đài, vì đã đến giờ y phải đọc đít-cua. Tôi được giao cho hai đại diện của Liên đoàn Thiếu nữ Đức, các mụ này suốt buổi mít-tinh cứ hỏi về cha mẹ tôi hoài.
 
Bởi vậy chả có gì lạ là vào mùa hè năm 1934, tôi bắt đầu vỡ mộng về Đảng - mà hoàn toàn không phải vì cuộc đảo chính Roehm. Càng ngắm cái khán đài từ phía trước, tôi càng nghi ngờ tính đối xứng của nó mà cái bướu của Löbsack không đủ để giảm thiểu. Dĩ nhiên, sự chỉ trích của Oskar trước hết nhằm vào đám nhạc công đánh trống thổi kèn. Và trong một cuộc "biểu tình vào một ngày chủ nhật oi ả tháng 8 năm 1935, tôi đã đọ sức với ban kèn đồng ngồi dưới chân khán đài.
 
Matzerath ra khỏi nhà lúc chín giờ. Tôi đã giúp ông đánh bóng đôi ghệt da màu nâu để ông kịp xuất phát đúng giờ. Mới sáng ra mà trời đã nóng không chịu nổi va ngay cả trước lúc ông ra ngoài nắng, chiếc áo sơ-mi đảng viên của ông đã có những vệt mồ hôi sầm sẫm loang dần ở dưới nách. Đúng chín rưỡi, Jan Bronski đến trong bộ đồ mùa hè, mỏng và sáng màu, chân đi giày màu xám nhạt rất nhã, có đột nhiều lỗ, đầu đội mũ rơm. Jan chơi với tôi một lúc, nhưng ngay cả trong khi chơi, mắt bác vẫn không rời mẹ (mẹ đã gội đầu từ đêm qua). Tôi mau chóng nhận ra rằng sự có mặt của mình khiến hai người khó nói chuyện: có một cái gì cứng đơ trong tư thế của mẹ và một vẻ lúng ta lúng túng trong cử chỉ của Jan. Rành là bác cảm thấy gò bó trong chiếc quần mùa hè của mình. Vậy nên tôi tìm đường lỉnh, theo dấu chân của Matzerath, mặc dầu tôi không lấy ông làm mẫu mực. Tôi thận trọng tránh những phố có đông người vận đồng phục đang trên đường đến Đồng cỏ tháng Năm và lần đầu tiên, tiếp cận bãi tập từ phía sân quần vợt bên cạnh Cung Thể thao. Nhờ đi đường vòng như thế, tôi có dịp nhìn bao quát được phía sau khán đài.
 
Quý vị đã bao giờ thấy một khán đài từ đằng sau chưa? Tôi xin mạo muội gợi ý: tất cả mọi người, nam cũng như nữ, đều nên làm quen với hậu cảnh của một khán đài trước khi được tập hợp để đứng ở đằng trước nó. Tất cả những ai đã từng nhìn kỷ một cái khán đài từ phía sau, sẽ tự khắc miễn dịch với mọi trò phù thuỷ được tiến hành dưới bất kỳ hình thức nào trên các khán đài. Điều này cũng áp dụng với hậu cảnh ban thờ của các giáo đường, nhưng đó lại là chuyện khác sẽ bàn sau.
Oskar, vốn sẵn thiên hướng thích đi sâu triệt để, không chỉ bằng lòng với việc nhìn thấy cái xấu xí trần trụi của giàn giáo. Nhớ lời của ông thày Bebra, nó đi về phía khán đài. Công trình này vốn được xây dựng nhằm phô mặt trước cho thiên hạ chiêm ngưỡng, nhưng lần này, nó tiếp cận mặt sau thô kệch của nó. Ghì chặt cái trống bất ly thân, nó lách mình giữa những cây cột thẳng đứng, va đầu vào một cái xà ngang chòi ra, bị một cái đầu đinh làm xước đầu gối. Nó nghe thấy tiếng ủng của các đồng chí Đảng cồm cộp trên đầu và lát sau, tiếng giày nhẹ nhàng hơn của đại diện các hội phụ nữ. Cuối cùng, nó tới chỗ mà cái nóng tháng tám lên đến độ ngột ngạt nhất. Dưới chân khán đài, về phía trong, nó tìm được một góc kín, từ đó, khuất sau một tấm gỗ dán, nó có thể tha hồ thưởng thức phần âm thanh hay ho của cuộc tập hợp chính trị mà không bị những cờ xí và đồng phục làm vướng mắt.

Và như vậy tôi ngồi thu lu bên dưới bục diễn giả. Bên trái, bên phải và trên đầu tôi là những tay trống trễ của Đội Thiếu niên và những tay trống lớn hơn của Đoàn Thanh niên Hitler, hấp him mắt - tôi chắc thế - dưới ánh nắng chói loà. Và rồi đến đám quần chúng. Tôi ngửi  thấy họ qua những kẽ giữa những ván gỗ. Họ đứng đó, chen vai thích cánh trong những bộ đồ chủ nhật. Họ đi xe điện hoặc cuốc bộ đến, một số mang theo cả vợ chưa cưới xem như một bữa chiêu đãi, tất cả những người đó đều muốn có mặt vào lúc người ta đang làm lịch sử, cho dù có phải mất cả buổi sáng.
 
Không, Oskar tự nhủ, không thể để họ đến uổng công. Nó ghé mắt vào một lỗ hổng ở ván gỗ và thấy một đám nhộn nhạo đang từ Đại lộ Hindenburg tiến lại gần. Họ đang đến! Những hiệu lệnh vang lên trên đầu nó, tay nhạc trưởng vung gậy chỉ huy, các nhạc công đưa những chiếc kèn bóng loáng lên môi và chỉnh lại mỏ kèn. Rồi ban quân nhạc trẻ bắt đầu pòm pem pí pem nghe phát gớm. « Tội nghiệp Brandt chiến sĩ SA, tội nghiệp Quex đoàn viên Thanh niên Hitler [8], các người đã chết vô ích," Oskar chua xót nghĩ thầm.
 
Như để xác nhận khúc ai điếu của Oskar tưởng niệm những tử sĩ của phong trào, một hồi ca rùng cà rùng dồn dập trên mặt trống da bê trộn vào lổn nhổn với tiếng t’rompet. Phóng mắt nhìn theo lối đi xuyên qua đám đông dẫn tới khán đài, tôi lờ mờ thấy những bộ đồng phục từ đằng xa đang tiến lại. "Hỡi dân chúng", Oskar cất tiếng, "hỡi dân chúng của ta! Giờ thì hãy nghe ta đây!".
 
Trống tôi đã ở tư thế sẵn sàng. Với phong thái uyển chuyển thiên thần, tôi vung dùi dạo một tiết tấu van-xơ (valse) vui vẻ đầy chất nghệ thuật, gợi lên hình ảnh thành Vienna và sông Danube, càng lúc càng vang to hơn cho đến khi trống cái 1 và trống cái 2 của ban nhạc thiếu niên bị hút vào điệu van-xơ của tôi và cả các trống định âm của bọn lớn hơn cũng bắt vào khúc dạo đầu của tôi với trình độ kỹ thuật không đồng đều. Dĩ nhiên, đây đó vẫn có những đứa ngoan cố, hơn nữa, lại điếc đặc, cứ tiếp tục bùm- bum, bùm-bum, trong khi tôi đang lái chúng vào tiết tấu ba phách mà người bình dân rất yêu thích. Oskar đã sắp sửa bỏ cuộc thì bọn t’rompet chợt bừng tỉnh và, ôi Danube, sông Danube, tiếng sáo vút lên sao mà xanh rười rượi! Chỉ có hai tên cầm đầu đội kèn và đội trống là không chịu tuân phục điệu van-xơ nữ chúa và tiếp tục hô những lệnh dở hơi của chúng. Nhưng tôi đã phế truất chúng, âm nhạc lúc này là của tôi. Đám bình dân tỏ ra đầy lòng biết ơn. Những nhịp cười rộ lên ở ngay gần khán đài, đây đó, tôi nghe thấy tiếng hát, và, ôi Danube đẹp xanh, và trên khắp quảng trường cho đến tận Đại lộ Hindeunburg, xanh rười rượi, và Công viên Steffens, xanh rười rượi, tiết tấu của tôi nhảy nhót, được chiếc micrô trên đầu phóng lên cực đại. Và khi, tay vần say sưa đánh trống, tôi ghé mắt vào cái lỗ ván nhìn ra khoảng trống, tôi thấy là dân chúng khoái khúc nhạc van-xơ của tôi, họ đang tung tăng nhảy nhót như có cái gì giậm giựt trong bắp chân; đã có chín cặp - và kìa! một cặp nữa - vào cuộc khiêu vũ, quyện vào nhau bởi điệu van-xơ nữ chúa. Lạ thay, chỉ có Löbsack là bất bình với nhịp ba của tôi; y xuất hiện, theo sau là một lô một xốc quan chức Đảng vận đồng phục nâu, Forster, Greiser, Rauschning và một số khác, lối đi của họ đến khán đài bị đám đông làm nghẽn. Löbsack đứng đó tức sôi lên. Y đã quen được nghênh đón đến khán đài trong tiếng nhạc hành khúc ngang bằng sổ ngay. Những âm thanh phù phiếm này làm lung lay niềm tin của y vào dân chúng. Qua lỗ ván, tôi quan sát nỗi đau của y. Một -luồng gió thổi qua cái lỗ. Mặc dầu có nguy cơ bị đau mắt mất thôi, tôi đâm ra thương hại y và chuyển sang một điệu Charleston [10]:Jimmy the Tiger. Tôi bắt vào cái nhịp mà Hề Bebra đã gõ trên những chai nước khoáng rỗng, nhưng bọn nhạc công thiếu niên phía trước khán đài không biết điệu charleston. Chúng thuộc một thế hệ khác, làm sao chúng biết được điệu charleston và Jimmy the Tiger? Cái mà chúng đang thì thùm trên trống - ôi Bebra, bạn thân yêu của tôi! - không phải là Jimmy the Tiger, đó đích thị là bát nháo và đội kèn thì đang thổi khúc Sodom và Gomorrah. Mặc kệ, đội sáo nghĩ vậy. Thằng trùm đội kèn chửi thề vung tứ linh. Ấy thế nhưng bọn nhạc công trống-kèn-sáo đã chơi hết mình , đem lại niềm vui cho trái tim Jimmy trong cái nóng ngột ngạc của tháng tám hùm beo này, và cuối cùng hàng ngàn đồng chí đồng bào thân mến chen chúc quanh khán đài cũng hiểu ra đó là chú hổ Jimmy kêu gọi dân chúng tham gia vào điệu nhảy charleston.

Tất cả những ai lúc nãy chưa nhảy, vội vàng giành lấy những bạn nữ cuối cùng còn có thể giành được. Riêng Löbsack phải nhảy với cái bướu của mình vì xung quanh y, chẳng còn một đại biểu nào của phái đẹp và các thủ lĩnh phụ nữ khả dĩ giúp được y thì lại ở tít xa, trên những chiếc ghế gỗ cứng của khán đài. Mặc dầu vậy, theo lời khuyên của cái bướu, y vẫn nhảy, cố gỡ thể diện cho cái khúc nhạc Jimmy gớm ghiếc và cứu những gì còn có thể cứu được.
 
Nhưng tình thế đã đến nước không thể cứu vãn được nữa. Các đồng chí đồng bào vừa nhảy vừa rời khỏi Đồng cỏ Tháng Năm và chẳng mấy chốc, nơi đây đã vắng teo. Các đồng chí đồng bào đã cùng chú hổ Jimmy biến vào những khoảng đất rộng của Công viên Steffens gần đấy. Tại đó, họ tìm thấy rừng sâu mà Jimmy đã hứa hẹn; tại đó, hổ đi lại trên những bàn chân có móng vuốt bằng nhung, một cánh rừng thế phẩm cho các con trai con gái của dân tộc Đức mới vài phút trước đây còn chen chúc quanh khán đài. Bay biến rồi luật pháp và trật tự. Những phần tử có đầu óc văn hoá hơn thì rút về Đại lộ Hindenburg, ở đó cây cối được trồng lần đầu tiên vào thế kỷ XVIII, ở đó vẫn những cây ấy bị chặt hạ vào năm 1807 khi thành phố bị quân của Napoléon bao vây rồi một loạt cây mới lại được trồng vào năm 1810 để chào mừng Napoléon. Trên mảnh đất lịch sử ấy, đám người khiêu vũ vẫn còn có thể lợi dụng phần nhạc của tôi vì không ai tắt micro ở phía trên tôi. Tiếng trống tôi vang xa đến tận Cửa Oliva. Chung cuộc, các chàng trai ưu tú ở dưới chân khán đài, với sự giúp sức của chú hổ xổng chuồng của Jimmy, đã xua được tất thẩy khỏi Đồng cỏ Tháng Năm trừ những bông cúc.
Ngay cả khi tôi để cái trống của mình hưởng những phút nghỉ ngơi xứng đáng, những tay trống thiếu niên vẫn cứ tiếp tục. Phải một lúc sau nữa, ảnh hưởng âm nhạc của tôi mới nhạt dần.
 
Oskar không thể rời chỗ ẩn náu ngay lập tức: các nhân viên SA và SS bỏ cả hơn tiếng đồng hồ hết đá vào các ván gỗ lại chọc khuấy các kẽ hở, làm thủng lỗ chỗ những bộ đồng phục nâu và đen. Hình như họ đang tìm một cái gì bên dưới khán đài, có lẽ một tên Xã hội hoặc một toán Cộng sản phá hoại. Tôi sẽ không kể những thủ thuật và thao tác lẩn tránh của tôi. Chỉ cần nói rằng họ không tìm thấy Oskar vì họ đâu phải là đối thủ của nó.
 
Cuối cùng, tĩnh lặng ngự trị trong cái mê cung bằng gỗ này của tôi; chỗ này ước chừng rộng bằng cái bụng con cá voi trong đó Jonah [11] đã ngồi ba ngày trời với chiếc áo tông đồ bê bết mỡ cá voi trên lưng. Nhưng Oskar đâu phải là thánh tông đồ, nó đã bắt đầu thấy đói. Chẳng có Thượng Đế để phán bảo: "Hãy đứng dậy và đi đến Nineveh, truyền đạo cho tnành phố lớn đó". Cả đối với tôi nữa, Thượng Đế cũng chẳng cảm thấy cần phải làm cho một quả bầu mọc lên để rồi sau đó lại cho một con sâu đục ruỗng nó. Tôi chẳng hơi đâu mà khóc thương quả bầu Kinh Thánh hay thành Nineveh cho dù nó có mang tên Danzig đi nữa. Tôi nhét cái trống rất chi là phi - Kinh Thánh vào dưới áo chui đầu và tập trung vào những vấn đề rắc rối của tôi. Thận trọng né tránh những xà dầm trên đầu và những cái đinh chồi lên, tôi tự lực lần mò ra khỏi những khúc ruột của một cái khán đài dành cho những cuộc mít - tinh và biểu tình các loại, song ngẫu nhiên lại có kích thước của một con cá voi nuốt thánh tông đồ vào bụng.
 
Ai rỗi hơi để ý đến một thằng nhóc ba tuổi miệng huýt sáo đi men Đồng cỏ Tháng Năm hướng về phía Cung Thể Thao? Đằng sau sân quần vợt, bọn đồng diễn với tôi ở chân khán đài đang vừa đeo trống, kèn, sáo vừa nhảy lò cò. Bị phạt rồi, tôi nhận xét khi thấy chúng nhảy lóc cóc theo nhịp còi của thằng trùm. Tách hắn khỏi bộ sậu xúm xụm lại của y, Löbsack đang đi tới đi lui, một mình với cái bướu của mình. Quay đằng sau trên gót ủng mỗi lần tới đầu mút, y dần dần tróc hết rễ dám cỏ và hoa cúc trên đường đi.
 
Bữa trưa đã dọn lên bàn khi Oskar về tới nhà. Có hămbơgơ với khoai tây luộc, bắp cải đỏ và bánh pútđinh - sôcôla với kem vani làm món tráng miệng. Matzerath chẳng nói chẳng rằng. Mẹ thì nghĩ tận đâu đâu. Buổi chiều, có một cuộc cãi vã trong gia đình về chủ đề ghen tuông và sở Bưu Chính Ba Lan. Tối đến, một cơn dông giải nồng, rồi mưa rào đột ngột với khúc độc tấu trông tuyệt vời bằng mưa đá làm bè đệm. Cái trống đã mệt nhoài của Oskar lúc này có thể nghỉ ngơi và lắng nghe.

 
 
Chú thích :
[1] Ôpêra (Opéra): là loại nhạc kịch cổ điển. Opéra là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, cũng là một dạng của kịch mà những hành động diễn xuất của nhân vật hầu hết được truyền đạt toàn bộ qua âm nhạc và giọng hát. Opéra bắt đầu xuất hiện và biết đến nhiều vào tầm khoảng những năm 1600. Nhìn chung nó có sự liên kết với âm nhạc cổ điển của phương Tây. 
[2] ÔPêrét (Opérette) : Operetta tiếng Pháp: [opérette]; Tiếng Đức: [operette]; tiếng Tây Ban Nha: [opereta] là một dạng Opéra nhẹ với những đoạn thoại nói, và những ca khúc , nhảy múa  cùng được dựng trong một bản nhạc kịch cổ điển.
 [3] “Quang đến vấn mây” là cụm từ thông dụng thường thấy trong các bản tin thời tiết
  [4] Hoan hô, giỏi, cực giỏi!
[5]Arthur Gireiser: Chủ tịch Thượng viện Danzig từ năm 1934, ký hiệp ước với Nazi (Quốc xã) hóa một hiệp ước bình thường hoá quan hệ Ba Lan Dzansing. Sau thế chiến II, bị xét xử là tội phạm chiến tranh và kết án tử hình.
 [6] Albert Forsier: Quận trưởng thu lĩnh Nazi của Danzig từ 1936. Ngày 1/9/1939. tuyên bố những điều khỏan của Hiệp ước Tự do là vô giá trị và tuyên bố sáp nhập Danzig vào nước Đức Quốc Xã với chính y là người cai quản duy nhất.
 [7] Nước Đức Quốc Xã
 [8] Bllerman và Wullsutzki: hai nhân vật trong những truyện cười dân gian phổ hiến ở Danzig, biến trưng cho hai thành phần Đức (Bollerman) và Ba Lan (Wullsutzki).
[9]  Brandt và Quex: hai nhân vật chính trong các truvện và phim tuyên truyền của Đức Quốc Xã, được tô vẽ như những điển hình lý tưởng cúa tổ chức Thanh niên Hitler và SA, hy sinh cho sự nghiệp Nazi.
 [10] Mội điệu nhảy thịnh hành vào những năm 1920.
 [11] Một tông đồ người Hêbrơ không tuân lệnh Chúa phái đi Nineveh, trái lại đáp tàu đi Tarshish, giữa đường gặp bão và bị các thủy thủ vứt xuống biển, rồi bị một con cá voi nuốt vào bụng, lưu lại trong đó ba ngày (Theo sách Jonah, Cựu Ước).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.08.2016 22:01:00 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: galazyrulz

NHỮNG MẶT CỬA HÀNG
 

 
NHỮNG MẶT CỬA HÀNG
 
 
Trong nhiều năm, chính xác ra là cho đến tháng 11 năm 1938, tôi và cái trống của tôi đã bỏ ối thời gian nấp dưới các khán đài, quan sát những cuộc biểu tình thành công hoặc không mấy thành công, phá vỡ một số cuộc mít-tinh, làm cho nhiều diễn giả điên đầu, biến những bài hát ngợi và hành khúc thành các điệu van-xơ và fốc-xt’rốt.

Giờ đây tôi là một bệnh nhân trong một bệnh viện tâm thần và tất cả những cái đó đã trở thành lịch sử, thành chuyện cũ rích, đồ đồng nát, mặc dầu vẫn còn được bàn luận đến luôn. Tôi đã có đủ độ lùi cần thiết để đánh giá đúng đắn hoạt động đánh trống của mình dưới các khán đài. Tôi không bao giờ có ý tự xem mình như một người kháng chiến: có đáng kể gì nếu như tiếng trống của tôi đã phá vỡ sáu, bảy cuộc mít-ting và làm loạn nhịp bước của dăm ba đoàn người diễn hành? Cái từ “kháng chiến” ấy đã trở nên rất thời thượng. Người ta nói nào là “tinh thần kháng chiến”, nào là “giới kháng chiến”. Thậm chí người ta còn bán đến “kháng chiến hướng nội” hoặc “di cư tinh thần” nữa. Ấy là chưa kể những con người can đảm và không khoan nhượng tự gọi mình là Chiến sĩ Kháng chiến bởi lẽ họ đã chịu phạt vì đã không che kín đèn phòng ngủ khi có báo động không kích trong thời kỳ chiến tranh.
Ta hãy ngó nhìn một lần nữa bên dưới những khán đài của Oskar. Có phải Oskar đã đánh trống vì nhân dân không? Phải chăng, theo lời khuyên của ông thầy Bebra, nó đã giành quyền chủ động và kích thích dân chúng nhảy trước khán đài? Phải chăng nó đã làm rối trí Löbsack, người trưởng ban đào tạo sắc sảo và đầy bản lĩnh? Có phải chính nó, vào một ngày chủ nhật (với bữa ăn nhất món) tháng 8 năm 1936 và nhiều lần sau đó, đã phá vỡ những cuộc tập hợp của Đảng áo nâu bằng một cái trống tuy sơn đỏ và trắng nhưng không phải là Ba Lan?
Vâng, tôi đã làm tất cả những điều đó. Nhưng có phải vì thế mà tôi, cái thằng đang nằm trong nhà thương điên này, là một Chiến sĩ Kháng chiến không? Tôi phải trả lời: không, và tôi hy vọng cả quý vị nữa, những người không bị nhốt trong bệnh viện tâm thần, cũng đừng nhìn tôi như một cái gì khác hơn là một gã lập dị, gã này, vì những lý do riêng tư, hơn thế nữa, mang tính chất mỹ học, đồng thời cũng bởi tâm niệm lời dạy của ông thầy Bebra, đã khước từ kiểu cắt may và màu sắc của các bộ đồng phục, tiết tấu và âm điệu của loại nhạc thường được chơi ở các khán đài, do đó đã tấu lên tí ti phản kháng trên cái trống vốn chỉ là một thứ đồ chơi trẻ con.
Vào thời kỳ ấy, với một cái trống đồ chơi cà khổ, bạn có thể khiến những người trên và trước một khán đài nghe mình và phải nói rằng tôi đã hoàn thiện cái ngón này như đã hoàn thiện giọng ca tầm xa diệt-thuỷ-tinh. Bởi vì tôi không chỉ dùng tiếng trống tấn công các cuộc biểu tình sắc nâu. Oskar còn nấp cả dưới các khán đài của bọn Đỏ và bọn Đen, của bọn Hướng đạo sinh và bọn Áo Xanh, của tổ chức Nhân Chứng của Jehovah và băng Râu Đỏ, của Những Người Ăn Chay và Phong trào Thanh niên Ba Lan vì Tầng Ozone Sạch. Tha hồ cho họ muốn hát gì, đánh trống khua chiêng điệu gì, hô hào rao giảng gì, trống tôi vẫn át giọng tất.
Phải, công cuộc của tôi là hủy hoại. Và những gì cái trống của tôi không thắng nổi thì giọng tôi diệt nốt. Cho nên, cùng với những cuộc tấn công ban ngày vào sự đối xứng của các khán đài, tôi bắt đầu hoạt động cả ban đêm: mùa đông 1936-37, tôi sắm vai kẻ cám dỗ.
Chính bà ngoại Koljaiczek đã cho tôi những chỉ dẫn đầu tiên về nghệ thuật cám dỗ đồng bào tôi. Mùa đông khắc nghiệt năm ấy, bà tôi mở một quầy bán trong khu chợ mỗi tuần họp một lần ở Langfuhr; bà ngồi đó trong bốn chiếc váy, rao mời bằng một giọng ảo não: “Trứng tươi mới, bơ vàng óng, ngỗng choai choai không béo không gầy.” Phiên chợ vào ngày thứ ba, bà đáp chuyến tàu chợ trên đường ray hẹp từ Viereck; ít phút trước khi đến Langfuhr, bà thay đôi dép đi trên tàu bằng một đôi guốc thô xấu xí, xách hai cái làn đi về phía quầy hàng trong phố Bahnhof-strasse. Phía trên quầy có treo tấm biển: Anna Koljaiczek, Bissau. Dạo ấy, trứng mới rẻ làm sao! Một gulden được những hai tá rưỡi và bơ Kashubes còn rẻ hơn cả margarin. Bà tôi ngồi giữa hai mụ hàng cá, mụ này rao: “Cá thu!” mụ kia mời: “Mua cá bơn tươi đi!” Cái rét làm cho bơ rắn như đá, giữ cho trứng tươi lâu, biến vẩy cá thành lưỡi dao cạo và tạo việc làm cho một người đàn ông độc nhỡn tên là Schweirdtfeger: bác ta hơ nóng gạch trên ngọn lửa than, gói vào giấy báo rồi cho các bà bán hàng ở chợ thuê.
Cứ đúng đầu mỗi giờ, Schweirdtfeger lại đẩy một viên gạch nóng vào dưới bốn cái váy của bà tôi. Bác ta dùng một cái xẻng bẹt bằng sắt đẩy cái gói bốc hơi dưới những gấu váy chỉ hơi vén lên một tí, trút nó khỏi xẻng và thu hồi hòn gạch của giờ trước lúc này đã gần lạnh.
Sao mà tôi thèm được như những viên gạch gói trong giấy báo ấy, những cái kho chứa và ban phát hơi ấm ấy! Cho đến bây giờ, tôi vẫn ước ao được là một viên gạch nung nóng, luôn luôn được thay thế bằng chính mình, nằm dưới những cái váy của bà tôi. Quý vị sẽ hỏi: Oskar tìm kiếm cái gì dưới những cái váy của bà ngoại nó? Nó muốn bắt chước ông ngoại Koljaiczek của nó và giở trò luông tuồng với bà lão chăng? Hay nó tìm sự quên lãng, một mái ấm, một cõi Niết Bàn tối hậu?
Oskar xin trả lời: tôi tìm châu Phi dưới những cái váy hoặc có lẽ là Napoli, nơi mà – như quý vị đều biết – ai cũng muốn được thấy trước khi chết. Đó là đường phân thuỷ, tụ điểm của mọi dòng nước; nơi đây, những ngọn gió đặc biệt thường xuyên thổi, hoặc chẳng có ngọn gió nào hết; nơi đây, khô và ấm mà lại có tiếng mưa xào xạc; nơi đây, những con tàu cập bến hoặc nhổ neo ra khơi; nơi đây, Oskar ngồi bên Chúa Trời, cha chúng ta, vốn yêu sự ấm áp; nơi đây, quỷ Xatăng lau cái ống nhòm của hắn và các thiên thần chơi trò bịt mắt bắt dê; dưới những cái váy của bà tôi, bao giờ cũng là mùa hè, ngay cả vào thời điểm phải thắp nến trên cây Nô-en hoặc đi lùng những quả trứng cho ngày lễ Phục sinh, ngay cả vào dịp Lễ các Thánh. Không ở đâu tôi có thể thuận hoà với quyển lịch hơn là dưới những chiếc váy của bà ngoại tôi.
Nhưng bà hiếm khi cho tôi nương náu dưới cái lều của bà, và ở ngoài chợ thì lại càng tuyệt đối không. Tôi ngồi bên cạnh bà trên một cái hòm, nhận một chút gì như là hơi ấm từ cánh tay bà và nhìn những viên gạch đến rồi đi. Chính ở đây tôi đã học những thuật cám dỗ người của bà tôi. Đồ nghề của bà là cái túi tiền cũ của ông Vincent Bronski buộc vào một sợi dây. Bà vứt nó lên mặt tuyết đã rắn lại trên vỉa hè. Không ai ngoài bà tôi và tôi có thể nhìn thấy sợi dây lẫn với cát xám do xe và người qua lại rắc lên mặt tuyết trơn.
Các bà nội trợ đi đi lại lại. Mặc dầu hàng của bà tôi giá rất rẻ, họ vẫn không muốn mua; họ thích được cho không, hoặc nếu có thể, thêm thắt chút ít. Với tâm thế ấy, một bà nào đó có thể cúi xuống định nhặt cái hầu bao của ông Vincent, những ngón tay bà ta đã chạm vào nó. Bấy giờ bà tôi mới giật lưỡi câu, kéo cái con cá ăn mặc đẹp đẽ nhưng hơi bối rối về phía quầy mình: “Thế nào, bà thân mến, bà ưng thứ gì: một chút bơ giàu kem vàng óng hay mớ trứng tươi, một gulden hai tá rưỡi?”
Đó là cách bà Anna Koljaiczek bán hàng. Tôi học được ở đó ma thuật của cám dỗ, không phải cái kiểu cám dỗ đã kéo bọn con trai mười bốn tuổi ở chung cư chúng tôi xuống hầm nhà chơi trò thầy thuốc-bệnh nhân với con Susi Kater đâu. Cái đó không mảy may cám dỗ tôi. Tôi tránh nó như tránh hủi từ sau cái lần bọn tiểu yêu Axel Mischke và Nuchi Eyke, trong vai người hiến xêrum, và Susi, trong vai bác sĩ, bắt tôi, bệnh nhân, phải nuốt những thứ thuốc tuy không đầy sạn cát như món xúp gạch nhưng để lại một dư vị như cá thối rữa. Cám dỗ của tôi là phi vật thể và giữ khoảng cách  với nạn nhân của nó.
Khá lâu sau khi đêm xuống, một hoặc hai giờ trước lúc các cửa hiệu đóng cửa, tôi trốn mẹ tôi và Matzerath lỉnh ra phố trong đêm đông. Đứng dưới một vòm cửa khuất gió, tôi phóng mắt qua con phố im lặng, hầu như vắng tanh nhìn sang những mặt cửa hàng bày những món ăn đặc sản, quần áo giày dép, đồng hồ, nữ trang, các thứ hàng vừa hấp dẫn vừa dễ mang. Tất cả các mặt cửa hàng đều không sáng đèn. Quả thật, tôi ưng nhằm những cửa hàng tôi tối nằm ngoài quầng sáng của những ngọn đèn đường, vì ánh sáng thu hút mọi người, kể cả những kẻ bình thường nhất, trong khi chỉ những người xuất sắc mới thích nấn ná trong khoảng tranh tối tranh sáng.
Tôi không quan tâm đến loại người la cà ngó nghiêng vào các tủ kính sáng choang, chú ý xem nhãn ghi giá hàng hơn chính bản thân hàng, hoặc những kẻ đứng soi mình vào mặt kính cửa hàng để xem mũ đội có ngay ngắn không. Loại người tôi rình ngóng trong những đêm rét khô, những đêm mà không trung đầy những bông tuyết lớn lặng lẽ, hoặc dưới vầng trăng mùa đông như sáp ong, là những người dừng chân nhìn vào các tủ kính cửa hàng như thể đáp lại một lời kêu gọi; mắt họ không láo liên vô mục đích mà nhanh chóng cố định ngay trên một vật duy nhất.
Tôi là người đi săn, họ là con mồi của tôi. Công việc của tôi đòi hỏi phải kiên nhẫn, lạnh lùng và con mắt tinh tường chuẩn xác. Có đủ những điều kiện ấy rồi, đến lượt giọng tôi ra chiêu hạ thủ con mồi, không đau đớn cũng chẳng chút đổ máu.. Bằng cách dụ dỗ. Dụ dỗ kiểu gì?
Dụ dỗ ăn cắp. Bằng tiếng kêu vô thanh nhất của mình, tôi cắt một đường tròn trên mặt kính cửa hàng ngang tầm với ngăn bên dưới, gần món hàng yêu thích. Rồi bằng một nhấn giọng cuối cùng, tôi hích nhẹ cho khoanh kính tròn vừa cắt rơi vào phía bên trong tủ bày hàng với một tiếng lanh tanh nhanh chóng tắt lịm, tuy nhiên đó không phải là tiếng thuỷ tinh vỡ. Oskar đứng ở quá xa không nghe thấy cái âm thanh đó. Nhưng người thiếu phụ mặc chiếc măng-tô nâu đã sờn và quàng khăn lông thỏ thì nghe thấy và đồng thời trông thấy cái lỗ tròn; nàng giật thót người làm chiếc khăn choàng lông thỏ rung rung và sắp sửa định bước đi qua lớp tuyết nhưng rồi lại đứng sững, có lẽ vì tuyết đang rơi dày hơn và mọi sự đều được phép khi tuyết đang rơi miễn là tuyết rơi dày. Tuy nhiên, nàng vẫn nhìn quanh, hoài nghi những bông tuyết, như thể đằng sau những bông tuyết, không phải chỉ là những bông tuyết khác mà còn có một cái gì khác nữa. Và nàng vẫn còn nhìn quanh khi rút bàn tay phải ra khỏi chiếc bao tay cũng bằng lông thỏ. Thế rồi nàng thôi không nhìn quanh nữa và thò tay qua cái lỗ tròn, gạt khoanh kính vừa rớt trên đối tượng thèm muốn, và lần lượt rút từng chiếc một của đôi giày da lộn màu đen qua cái lỗ mà không làm xước gót hoặc cứa tay vào cạnh thuỷ tinh sắc. Một cái bên trái, một cái bên phải, đôi giày biến vào trong túi áo măng-tô của nàng. Trong một thoáng vừa đủ cho năm bông tuyết rơi, Oskar trông thấy gương mặt xinh đẹp nhưng không có cá tính; có lẽ - nó chợt nghĩ – đây là một người mẫu của đại thương xá Sternfeld. Rồi nàng lẫn vào màn tuyết rơi, thoáng hiện trở lại một lần nữa trong quầng sáng vàng vàng của ngọn đèn đường tiếp theo và cuối cùng, dù là người mẫu tự do hay cô dâu mới, nàng cũng biến mất hẳn.
Công việc hoàn thành – và xin hãy tin tôi: rình núp chờ đợi mà không được đánh trống rồi dùng giọng khoét gọn một miếng tròn xoay trên mặt kính băng giá, là một công việc khó khăn gian khổ - tôi cũng lên đường về nhà, không có chiến lợi phẩm, nhưng với một ngọn lửa nóng rực và một ớn lạnh trong tim.
Thuật dụ dỗ của tôi không phải bao giờ cũng thành công rõ rệt như vậy. Một trong những tham vọng của tôi là biến một cặp tình nhân (hay vợ chồng) thành một cặp kẻ trộm. Hoặc cả hai đều không muốn, hoặc khi chàng đã thò tay thì nàng liền giật lại; hoặc giả nàng là người cả gan dám làm, trong khi chàng quỳ xuống van nài, kết quả là nàng nghe theo nhưng từ đó coi khinh chàng mãi mãi. Có lần tôi dụ dỗ một cặp tình nhân trẻ, trong tuyết rơi, nom họ lại càng trẻ măng. Lần này là một cửa hàng nước hoa. Chàng đóng vai người hùng và lấy một lọ nước hoa Cologne. Nàng khóc thút thít và nói nàng không muốn. Nhưng chàng muốn nàng phải thơm tho và cứ làm theo ý mình. Nhưng khi đến cột đèn gần nhất, cô gái trẻ kiễng chân lên hôn chàng – cử chỉ của cô trắng trợn như thể định trêu ngươi tôi – cho đến khi anh chàng đành quay lại đặt lọ nước hoa về chỗ cũ.
Tôi cũng đã nếm trải nhiều kinh nghiệm tương tự với những ông già mà bước chân thoăn thoắt của họ trong đêm lạnh hứa hẹn với tôi một cái gì, song kết quả lại không như tôi chờ đợi. Họ dừng lại thèm thuồng trước một cửa hàng bán xì-gà, trong khi ý nghĩ lại đang lang bang tận La Havana, Brazil, hay quần đảo Brissago. Nhưng khi giọng tôi hoàn thành lát cắt quen thuộc và một lỗ tròn hiện ra ngay trước một hộp “Black Wisdom” thì một con dao nhíp bỗng gập đánh tách trong tim họ. Thế là họ quay đằng sau, chống gậy sang đường và rảo bước qua trước vòm cửa nơi tôi đứng mà không hề nhìn thấy tôi, tạo cho Oskar một cơ hội để cười vẻ mặt nhớn nhác của họ, phải, nom họ như vừa bị quỷ dữ nát cho một trận run bắn người vậy. Nhưng có một thoáng lo lắng trong nụ cười của tôi vì các ông già tội nghiệp ấy – phần lớn các ông nghiện xì-gà thâm căn cố đế đều rất già – rõ ràng đã đổ mồ hôi lạnh và điều đó dễ khiến các ông đột quỵ vì cảm hàn, nhất là trong điều kiện thời tiết thay đổi.
Phần lớn các cửa hàng trong khu ngoại ô này của chúng tôi đều đã mua bảo hiểm chống trộm cắp và mùa đông năm ấy, các công ty bảo hiểm phải trả những khoản bồi thường lớn. Tuy tôi không bao giờ tạo điều kiện cho những vụ cướp bóc quy mô lớn và cố ý khoanh những lỗ thật nhỏ chỉ đủ lọt một hay hai vật ra khỏi tủ bày hàng, nhưng những vụ trộm được báo cáo nhiều đến nỗi cảnh sát hầu như không lúc nào được nghỉ ngơi, vậy mà vẫn bị báo chí chỉ trích kịch liệt. Từ tháng 11/1936 đến tháng 3/1937 khi Đại tá Koc thành lập một Chính phủ Mặt trận Dân tộc ở Vacxava, sáu mươi tư vụ trộm hụt và hai mươi tám vụ trộm thành công đã được thống kê. Dĩ nhiên, đa số những bà già, con sen, thầy cô giáo về hưu nọ đâu có năng khiếu ăn trộm và thường thường, cảnh sát có thể thu hồi lại vật mất cắp ngay ngày hôm sau; hoặc giả tay đạo chích nghiệp dư, sau khi được món đồ bấy lâu ao ước, lại bị nó hành cho mất ngủ cả đêm, và sáng ra không nghĩ được điều gì đáng làm hơn là đến gặp cảnh sát mà rằng: “Ừm, tôi xin lỗi. Điều này sẽ không bao giờ tái diễn. Bỗng dưng hiện ra một cái lỗ ở mặt kính và khi tôi mới hoàn hồn được nửa phần thì đã thấy mình ở cách đó ba khối nhà và bàng hoàng phát hiện ra một đôi găng da bê đẹp tuyệt trần, chắc là đắc tiền lắm, nằm gọn trong túi ao ba-đờ-xuy của mình.”
Bởi chừng cảnh sát không tin rằng trên đời lại có phép lạ, nên cả những kẻ bị bắt với tang vật lẫn những người tự nguyện đến thú tội đều bị phạt giam từ bốn đến tám tuần.
Thi thoảng tôi cũng bị giam trong nhà vì đương nhiên mẹ ngờ rằng cái giọng diệt-thuỷ-tinh của tôi có liên quan đến đợt phạm tội này, tuy mẹ rất thận trọng, không thừa nhận với bản thân, càng không nói gì với cảnh sát.
Đôi khi, Matzerath lên mặt tuân thủ pháp luật, nghiêm nghị tra hỏi tôi. Tôi không chịu trả lời, lẩn tránh một cách ranh ma đằng sau cái lá chắn tạo nên bởi cái trống và trạng thái chậm phát triển của đứa trẻ mãi mãi ở tuổi lên ba. Sau những cuộc hỏi cung như vậy, bao giờ mẹ cũng kêu lên: “Chỉ tại cái lão lùn đã hôn lên trán nó. Xưa nay Oskar có bao giờ thế đâu. Ngay lúc trông thấy thế, tôi đã biết là sẽ có chuyện mà”.
Tôi phải thừa nhận là Bebra có một ảnh hưởng lâu dài đối với tôi. Ngay cả những đợt phạt giam tại gia cũng không ngăn nổi tôi “trốn trại” khoảng một tiếng gì đó, bất cứ lúc nào có thể; thời gian có đủ cho tôi cất giọng khoét cái lỗ tròn khét tiếng trên mặt kính một cửa hàng và biến một thanh niên đầy triển vọng, ngẫu nhiên bị những hàng bày cám dỗ, trở thành chủ nhân của một chiếc cà-vạt màu vang đỏ bằng lụa tinh chất.
Nếu quý vị hỏi tôi: phải chăng cái ác đã sai khiến Oskar gia tăng thêm sự cám dỗ vốn đã rất mạnh của một tủ kính cửa hàng bóng loáng, bằng cách mở một lỗ có thể thò tay qua? thì tôi phải trả lời: Vâng, đó là cái ác. Dù chỉ là do tôi nấp trong bóng tối của những cửa vào: hẳn ai cũng biết cửa vào nhà là nơi trú ngụ ưa thích của cái ác. Mặt khác – đây không phải nhằm giảm nhẹ tính chất hiểm độc của những hành động đó bởi giờ đây tôi chẳng còn cơ hội hoặc ham thích cám dỗ ai – tôi buộc phải nói với bản thân cũng như với Bruno tay y tá trông nom tôi: Oskar, mày không chỉ thoả mãn những ước muốn nhỏ bé và trung bình của những kẻ lặng lẽ đi trong mưa tuyết, những con người, nam và nữ, yêu thích một vật nào đó trong mơ ước; không, mày còn giúp họ thấu hiểu bản thân mình nữa. Nhiều phu nhân ăn vận sang trọng, nhiều ông già lịch sự phong nhã, nhiều bà độc thân lớn tuổi nhờ sùng đạo mà giữ mình được trẻ lâu, ắt sẽ không bao giờ biết được tên trộm ẩn trong tâm mình nếu như mày không cất giọng để dụ dỗ họ ăn cắp; đó là chưa kể là giọng mày đã làm thay đổi cách nhìn của những công dân chính trực trước đó vẫn coi tên vụng về nhất trong bọn ăn trộm vặt như một tội phạm nguy hiểm.
Tôi đã rình ông ta nhiều tối liền. Đã ba lần ông không chịu nhượng bộ, nhưng đến lần thứ tư thì trở thành tên trộm mà cảnh sát không bao giờ truy lùng ra. Ông là ai? Tiến sĩ Erwin Scholtis, vị Công tố uỷ viên đáng sợ của Toà Đại hình. Nghe nói ông đã trở thành một luật gia hiền hoà, khoan dung, gần như nhân đạo trong việc quyết án, chính bởi vì ông đã hiến tế cho tôi, á thần của giới đạo chích, bằng cách ăn trộm một cái chổi cạo râu bằng lông lửng chính cống.
Một đêm tháng 1/1937, tôi đứng hồi lâu run rẩy bên kia đường trông sang một hiệu kim hoàn được coi là một trong những cửa hàng vàng bạc đá quý lớn nhất của tỉnh mặc dầu nó nằm khuất ở cái phố ngoại ô yên tĩnh với hai hàng cây thích này. Cái tủ kính bày những đồ trang sức và đồng hồ thu hút một số con mồi mà tôi ắt sẽ bắn gục không chút do dự nếu như họ đang ngó vào những tủ bày hàng khác như tất lụa, mũ nhung hoặc rượu mùi.
Đó là do tác động của đồ kim hoàn. Anh bỗng trở nên kỹ tính, chậm phản ứng, chỉnh nhịp của mình theo những chuỗi hạt bất tận. Tôi không đo thời gian bằng phút nữa mà bằng năm-ngọc-trai, xuất phát từ nguyên lý là chuỗi hạt trai sống lâu hươn cổ người đeo nó, cổ tay rồi sẽ nhăn nheo nhưng vòng ngọc thì không, và những lăng mộ cổ vẫn còn đầy nhẫn trong khi những ngón tay đã tiêu từ lâu. Tóm lại, trong đám dòm-tủ-kính, tôi xét thấy người này thì quá kênh kiệu còn kẻ kia lại quá tầm thường không đáng đeo đồ châu ngọc.
Tủ kính mặt ngoài cửa hiệu kim hoàn của Bansemer không bày quá nhiều đồ. Mấy cái đồng hồ chọn lọc, đồ Thuỵ Sĩ hảo hạng, một bộ nhẫn cưới trên nền nhung xanh da trời và ở chính giữa là sáu-bảy mặt hàng thượng thặng. Một con rắn cuộn ba khúc làm bằng vàng nhiều màu, cái đầu chạm tinh vi với hai viên xa-phia làm mắt, được tôn giá trị và rực rỡ thêm bởi một viên hoàng ngọc và hai hột xoàn. Bình thường, tôi vốn không thích nhung đen, nhưng cái miếng nhung đen trên đó Bansemer đặt con rắn thì thật là hợp, cũng như miếng nhung xám toát ra một sự tĩnh lặng khêu gợi dưới những đồ bạc chạm trổ hết sức hài hoà. Một chiếc nhẫn gắn hạt ngọc đẹp đến mức có thể dám chắc nó sẽ làm lu mờ bất cứ bàn tay đẹp nào đeo nó và ngày càng đẹp hơn cho tới khi nó đạt đến độ bất tử vốn là đặc quyền của châu ngọc. Những chuỗi hạt không ai đeo vào mà không bị trừng trị vì mọi cái cổ mang chúng đều sẽ lộ rõ nét thô kệch. Và cuối cùng, trên một nệm nhung vàng nhạt được tạo hình đơn giản như một cái cổ, là một bộ dây chuyền cực nhẹ. Kết cấu tinh vi mà như đùa giỡn, một mạng tơ tưởng chừng chỗ nào cũng có thể đứt. Con nhện nào có thể thả tơ vàng để bặt bảy viên hồng ngọc, sáu nhỏ một lớn, trong mạng lưới này? Và con nhện ấy đâu, nó mai phục cái gì? Chắc chắn không phải để bắt thêm những viên hồng ngọc, mà nhằm một người nào đó thì đúng hơn; một người bị hút mắt vào những viên hồng ngọc sa lưới nằm đó như những giọt máu đóng khuôn – nói cách khác: tôi nên cho ai bộ dây chuyền ấy cho phù hợp với kế hoạch của tôi và của con nhện nhả tơ vàng?
Đêm mười tám tháng giêng năm 1937, một đêm mưa tuyết tỏa ra cái mùi như dự báo tuyết còn tiếp tục rơi, một đêm thuộc loại dành cho ai muốn đổ thừa cho tuyết phải chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì có thể xảy ra, tôi trông thấy, trên lớp tuyết đã rắn lại xào xạo dưới chân người, Jan Bronski đang đi sang đường cách vị trí quan sát của tôi không xa; tôi thấy bác đi qua hiệu kim hoàn không hề ngước nhìn lên, rồi bỗng nhiên ngập ngừng, đúng hơn, dừng sững lại như tuân theo một hiệu lệnh. Bác quay lại hay bị cưỡng bức quay lại – và kia, Jan Bronski đang đứng trước cái tủ bày hàng giữa lặng lẽ đám cây thích tuyết phủ trắng xoá.
Ông bác Bronsski đẹp trai, quá đẹp trai, bao giờ cũng hơi ốm yếu, phục tùng trong công việc và tham lam trong tình yêu, một con người đần độn đắm đuối vì sắc đẹp, Jan Bronski, người sống bởi da thịt mẹ tôi, người mà cho đến nay tôi vẫn nửa tin nửa ngờ là đã sinh tôi nhân danh Matzerath- đó, bác đang đứng trong chiếc pa-đờ-xuy trang nhã có lẽ do một tay kéo Vacxava cắt may và trở thành một pho tượng chân dung của chính mình, một biểu tượng hoá đó. Giống như Perceval [2] bác cũng đứng trong tuyết, chỉ khác cái là Perceval tập trung chú ý vào những giọt máu trên tuyết, còn Jan thì lại dán mắt vào những viên hồng ngọc của bộ dây chuyền vàng.
Lẽ ra tôi đã có thể lên tiếng hoặc gõ trống khuyến cáo bác đi khỏi. Cái trống ở kề bên tôi. Tôi có thể cảm thấy nó dưới áo măng-tô. Tôi chỉ việc cởi một cái khuy áo là nó sẽ lộ ra trong đêm giá lạnh. Tôi chỉ việc thò tay vào túi áo măng-tô là đôi dùi sẽ sẵn sàng hàng động. Chàng săn Hubert [3]ghìm mũi tên của mình lại khi con hươu vô thường hiện ra trong tầm ngắm. Saul trở thành thánh Paul 4]. Attitla [5] quay lui khi Giáo hoàng Leo[6] giơ ngón tay có đeo nhẫn lên. Nhưng tôi đã bắn mũi tên của tôi đi, tôi không cải giáo, tôi không quay lại, tôi, Oskar, vẫn là thợ săn quyết hạ con mồi, tôi không cởi khuy áo măng-tô cho cái trống phơi mình ra trong đêm giá lạnh, tôi không bắt chéo đôi dùi trên mặt trống trắng toát một màu trắng đông hàn, tôi không biến cái đêm tháng giêng này thành một đêm đánh trống, mà chỉ lặng lẽ cất tiếng kêu vô thanh, kêu như kiểu một ngôi sao kêu (có lẽ thế) hoặc một con cá dưới biển sâu có thể kêu. Tôi phóng tiếng kêu trước tiên vào đêm giá rét cho tuyết mới, cuối cùng có thể rơi, rồi phóng vào mặt kính, kính đậm đặc, kính quý, kính rẻ tiền, kính trong suốt, kính ngăn cách, kính giữa hai thế giới, lớp kính huyền bí, trinh bạch ngăn Jan Brosnki với bộ dây chuyền vàng hồng ngọc, khoét một lỗ vừa đúng cỡ chiếc găng của Jan mà tôi biết rất rõ. Tôi đẩy cho khoanh cắt rơi vào trong như một cái cửa xạp, như cửa thiên đường hay cửa địa ngục: và Jan không nao núng, bác rút bàn tay đeo găng da sang trọng ra khỏi túi pa-đờ-xuy, đưa về phía thiên đường; từ thiên đường (hay địa ngục), bàn tay ấy lấy về một bộ dây chuyền với những viên hồng ngọc có thể làm hài lòng tất cả các thiên thần trên đời, kể cả những thiên thần sa ngã. Bàn tay nắm đầy hồng ngọc và vàng quay trở về trong túi và bác vẫn đứng đó cạnh tủ kính há miệng mặc dầu nán lại đó là rất nguy hiểm, mặc dầu chẳng còn những viên hồng ngọc nhỏ máu để nhắc bác, hoặc Perceval, hướng mắt về đâu.
Ôi Cha và Con và Thánh Thần! Đã đến lúc giải tán thánh thần, chớ để điều gì xảy đến với Jan, người cha. Oskar, đứa con, cởi khuy áo măng-tô, nhanh chóng nắm lấy dùi và thúc trống lên tiếng gọi: Cha!cha! cho đến khi Jan Broski quay lại và chậm rãi, quá sức chậm rãi đi sang đường và tìm thấy Oskar, ở lối cửa vào.
Thật tuyệt vời: đúng lúc Jan – vẫn còn đờ đẫn trong cơn mê dại nhưng đã sắp giải cơn – quay lại nhìn tôi thì tuyết bắt đầu rơi. Bác giơ một tay ra đón tôi, không phải bàn tay đeo găng đã sờ vào những viên hồng ngọc, và dẫn tôi về nhà, lặng thinh nhưng không hề bối rối. Ở nhà, mẹ đang lo cho tôi và Matzerath, với vẻ nghiêm khắc thường ngày, đang doạ trình cảnh sát tuy không thật bụng định thế. Jan không giải thích gì cả; bác không ở lại lâu và cũng chẳng muốn chơi bài xì-cạt, mặc dầu Matzerath đã đặt bia lên bàn mời bác. Khi ra về, bác vuốt ve Oskar và Oskar hoang mang không hiểu là bác xin nó giữ chuyện hay chỉ là biểu hiện tình thân.

Mấy ngày sau, Bronski tặng mẹ tôi bộ dây chuyền. Chắc chắn là mẹ thừa biết nó ở đâu ra nên mẹ chỉ đem ra đeo khi Matzerath vắng nhà. Mẹ đeo nó cho riêng mình mẹ hoặc vì bác Jan Bronski và có thể vì tôi nữa.
Ít lâu sau chiến tranh, tôi đem nó ra chợ đen ở Düssendorf đổi lấy mười hai tút Lucky Strikes và một cái cặp da.
 
Chú thích:
 
 [1] Hiệp sĩ dưới triều vua Arthur, người đi tìm Chén Thánh (do Chúa Jêxu dùng trong bữa ăn tối cuối cùng với các thánh tông đồ và sau đó được dùng để hứng máu Chúa).
[2] Giám mục vùng Maestricht và Liège. Theo truyền thuyết, Hubert được cải giáo trong một chuyến đi săn khi trông thấy một con hươu mang trên sừng một cây thánh giá sáng rực. Do đó, thành thánh bảo hộ người đi săn.
[3] Giám mục vùng Maestricht và Liège. Theo truyền thuyết, Hubert được cải giáo trong một chuyến đi săn khi trông thấy một con hươu mang trên sừng một cây thánh giá sáng rực. Do đó, thành thánh bảo hộ người đi săn.
 [4]Attila (406?-453) vua Hung-nô trị vì từ 433(?) đến 453, được mệnh danh là “Mối hoạ của thượng đế” vì những cuộc chinh phục và tàn phá khắp châu Âu.
 [5] Năm 452, Giáo hoàng Leo I đã thuyết phục được Attila thôi không đánh chiếm Roma.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2016 10:14:05 bởi Ct.Ly>
trang 244
 
Thực Đơn Ngày Thứ Sáu Thánh
 
Lập lờ hai mặt là cụm từ thích hợp để diễn tả những tình cảm của tôi giữa ngày Thứ Hai Khổ Hình và ngày Thứ Sáu Thánh. Một mặt, tôi hận chú bé Jêxu tượng thạch cao đã không chịu đánh trống; mặt khác, tôi lại hài lòng vì đã giữ được độc quyền sở hữu cái trống. Nếu như, một mặt, giọng tôi đã xịt ngòi trong đợt tấn công những cửa sổ nhà thờ, thì mặt khác, những ô kính nhiều màu còn nguyên vẹn ấy đã bảo toàn được chút lòng tin Thiên Chúa giáo còn sót lại nơi Oskar để tiếp tục làm nguồn câm hứng cho nhiều báng bổ hung tợn sau này của nó.
 
Và còn điều này làm đậm thêm nghịch lý đó: một mặt, trên đường từ Nhà thờ Thánh Tâm về nhà, tôi đã hát vỡ tan một cửa sổ áp mái chỉ cốt để thấy là mình, vẫn còn khả năng đặc biệt ấy, nhưng mặt khác, từ đó trở đi, thành công của tôi trong lĩnh vực phàm tục lại khiến tôi đau đớn nhận chân ra sự bất lực của mình trên địa hạt linh thiêng. Hai mặt, tôi đã nói thế. Vết cắt chia dai dẳng, tôi không bao giờ hàn nổi và cho đến bây giờ vẫn hoác ra trong tôi, mặc dầu bây giờ tôi đâm lạc lõng ở cả chốn linh thiêng lần nơi phàm tục, đành loạng quạng bên rìa, trong một nhà thương điên.
 
Mẹ tôi bồi thường những thiệt hại gây cho ban thờ bên trái. Công việc làm ăn buôn bán trong dịp  lễ Phục sinh khá phát đạt mặc dù Matzerath, vốn theo đạo Tin Lành, một mực đòi phải đóng cửa hàng ngày Thứ Sáu Thánh. Mẹ tôi, bình thường, bao giờ cũng làm theo ý mình, riêng những dịp Thứ Sáu Thánh thì nhượng bộ, thuận tình đóng cửa, nhưng bù lại, vì những lý do Thiên Chúa giáo, đòi quyền được đóng cửa hàng vào ngày lễ Thánh Thể, thay những đồ hàng trang trí tủ kính bằng một hình Nữ Thánh Đồng Trinh có bóng điện thắp sáng và tham gia đám rước ở Oliva.
Chúng tôi có một tấm biển bằng các-tông với dòng chữ "Đóng cửa mừng ngày Thứ Sáu Thánh” trên một mặt và "Đóng cửa mừng Lễ Thánh Thể" [1] mặt kia. Vào ngày Thứ Sáu Thánh liền sau cái ngày Thứ Hai Khổ Hình lỡ cả trống lẫn giọng ấy, Matzerath treo mặt có dòng chữ "Đóng cửa mừng ngày Thứ Sáu Thánh" ra ngoài, và ngay sau khi ăn điểm tâm, chúng tôi đáp tàu điện đi Brösen. Để tiếp tục duy trì mạch từ ngữ tôi đã dùng: quang cảnh ở Labesweig cũng hai mặt. Những người Tin Lành đi lễ nhà thờ còn những tín đồ Thiên Chúa giáo thì lau rửa tủ kính, mặt hàng, cửa sổ bóng loáng và đem ra sân sau tất cả những gi từa tựa như một cái thảm mà đập thật mạnh thật vang đến mức tưởng chừng hàng ngàn Đấng Cứu Thế đang cùng một lúc bị đóng đanh trên hàng ngàn cây Thánh Giá.
 
Tuy nhiên, Gia Đình Thánh chúng tôi - gồm mẹ tôi, Matzerath, Jan Bronski và Oskar - bỏ lại sau lưng cuộc đập thảm mùa Khổ Hình, đáp chuyến xe điện số 9 xuôi đường Brösener-Weig qua sân bay, bãi tập cũ và bãi tập mới, dừng ở một đường tránh gần nghĩa trang Saspe chờ chuyến xe ngược chiều, tuyến
 
Neufahrwasser-Brösen, đi qua. Nhân lúc chờ đợi, mẹ thốt lên những suy nghĩ buồn thảm, tuy bằng lời lẽ nhẹ nhàng. Xinh xắn, lãng mạn và quyến rũ thay cái nghĩa trang nhỏ hoang phế này với những bia mộ xiêu vẹo, đầy rêu dưới những cây thông khẳng khiu, mẹ nói.
"Tôi những muốn sau này sẽ nằm ở đây nếu như nghĩa trang này còn hoạt động", mẹ mơ màng thổ lộ. Nhưng Matzerath, chê đất ở đây quá nhiều cát, lại đầy cây ké gai và yến mạch dại. Jan Bronski thì cho là tiếng ồn của sân bay và những khúc ngoặt bẻ ghi gần đấy của xe điện có thể phá rối sự yên tĩnh của cái nơi lẽ ra rất thanh bình này.
Chuyến xe Neufahrwasser-Brosen vòng qua chúng tôi, người lái rung chuông hai lần và xe chúng tôi đi tiếp, bỏ lại sau lưng Saspe và khu nghĩa trang, hướng tới Brösen, bãi biển này, vào cuối tháng tư năm ấy, nom thật cám cảnh: các quầy giải khát bịt kín bằng ván gỗ, sòng Casino đóng chặt, lối đi dạo ven biển dọn hết cờ quạt, những dãy dài nhà tắm trống không. Trên bảng khí tượng, vẫn còn thấy những dòng ghi bằng phấn từ năm ngoái: không khí: 65; nước: 60; gió: đông bắc: dự báo: từ quang đến có mây.
 
Thoạt đầu, bọn tôi định đi bộ đến Glettkau, nhưng rồi, chẳng ai bảo ai, tất cả cùng hướng theo chiều ngược lại để ra đập chắn sóng. Biển Baltic mênh mông và lười nhác liếm vào bờ cát. Suốt cho tới tận cửa hải cảng, từ cây hải đăng trắng đến ngọn đèn tín hiệu trên đập chắn sóng, không thấy một bóng người. Một trận mưa hôm trước đã in lên cát mẫu hình đều tăm tắp của nó, giờ chúng tôi lấy vết chân mình xóa đi, xem như một trò chơi thú vị. Mẹ và tôi cởi cả giày cả tất. Matzerath nhặt những miếng gạch tròn nhẵn bằng cở đồng gulden, say sưa ném thia lia trên mặt nước xanh, coi bộ đầy ham hố. Jan Bronski vụng hơn trong trò chơi này; tranh thủ giữa những củ ném, ra sức kiếm hổ phách; quả nhiên bác đã tìm được mấy mảnh và một cục to bằng hột anh đào mà bác dành tặng mẹ. Mẹ thì cứ luôn luôn ngoái nhìn lại như thể phải lòng những dấu chân của chính mình. Mặt trời chiếu nhẹ nhàng cẩn trọng. Trời mát, trong và bình lặng;  có thể nhận ra ở phía chân trời một dải là bán đảo Hela và vài ba vệt khói tan dần; thỉnh thoảng, những tầng trên của một con tàu buôn nhấp nhô trên đường chân trời.
 
Người trước kẻ sau lác đác, chúng tôi tới những khối granít đầu tiên của đập chắn sóng. Hai mẹ con tôi xỏ tất đi giày lại. Mẹ giúp tôi thắt dây giày trong khi Matzerath và Jan nhảy từ phiến đá này sang phiến đá khác, tiến về phía biển. Những đám rong biển mọc lỏm chỏm từ những khe dưới chân đập. Oskar những muốn chải chúng, nhưng bị mẹ cầm tay lôi đi theo hai người đàn ông đang đùa nghịch như những đứa học trò nhỏ. Mỗi bước, cái trống lại va vào đầu gối tôi; ngay cả ở đây, tôi cũng không chịu rời nó.
 
Mẹ mặc một cái áo măng - tô mùa xuân màu xanh nhạt với lớp vỏ ngoài màu dâu tây. Những khối đá granít gây khó khăn cho đôi giày cao gót của mẹ. Như mọi chủ nhật và ngày lễ, tôi mặc cái va-rơi lính. thuỷ  có khuy vàng mỏ neo. Dải băng trên chiếc mũ lính thuỷ của tôi là từ túi đồ lưu niệm của Gretchen Scheffler, ghi mác "S.M.S. Seydlitz", hễ có gió là bay phất phới. Matzerath cởi phanh cúc áo bành-tô nâu. Jan, vốn bao giờ cũng là hiện thân của thời trang, mặc một chiếc áo choàng "unxtơ" cổ nhung óng ánh.
 
Chúng tối lóc cóc đi đến tận tháp đèn tín hiệu ở đầu đập chắn sóng. Ngồi dưới chân tháp là một ông già mặc áo may chần, đầu đội cát-két công nhân bốc dỡ bến cảng. Bên cạnh ông là một bao tải dùng để đựng khoai tây trong đó có một cái gì không ngừng cựa quậy, ông già - chắc là người Brösen hay Neufahrwasser gì đó - cầm một đâu dây phơi quần áo; đầu kia, rong biển bám đầy, chìm trong nước sông Mottlau - làn nước lợ chưa hoà vào biển cả vỗ bì bõm vào chân đập đá.
Tất cả chúng tôi đều tò mò muốn biết ông già đội cát-két "cửu vạn" đang câu gì với một cái dây phơi quần áo bình thường và rõ ràng là không có phao. Mẹ tôi hỏi ông bằng một giọng trêu chọc thân ái, gọi ông là "chú".Chú cười nhe những chân răng ố thuốc lá; không giải thích gì, ông nhổ toẹt một quệt dài bã thuốc lầy nhầy xuống đám bùn nước lõng bõng giữa những tảng granít bê bết hắc ín và dầu ma-dút dưới chân đập. Mớ bã thuốc lềnh bềnh mãi cho đến khi một con hải âu liệng xuống, khéo léo tránh những tảng granít, đớp lấy rồi bay đi, kéo theo sau mấy con khác kêu quàng quạc.
 
Chúng tôi đã định đi vì ngoài này rét căm căm, có chút nắng cũng chẳng lại mấy nả, thì đúng lúc đó, ông già đội cát-két "cửu vạn" bắt đầu tay nọ nối tay kia kéo sợi dây vào. Mẹ vẫn muốn đi khỏi, nhưng không cách nào đẩy được Matzerath nhúc nhích; ngay cả Jan, thường ngày vẫn nhất nhất chiều theo mọi ý muốn của mẹ, lần này cũng không ủng hộ lập trường của mẹ. Oskar thì bất cần, đi hay nán lại cũng vậy thôi. Nhưng chừng nào mọi người còn nán lại thì nó cứ quan sát đã. Trong khi ông già "cửu vạn" vẫn đều đặn tay nọ nối tay kia vừa kéo vừa gạt bỏ rong biển, thu sợi dây về giữa hai chân mình, tôi nhận thấy con tàu buôn cách đây khoảng nửa giờ chỉ lấp ló phần thượng tầng bên trên đường chân trời, lúc này đã đổi hướng đi: ngập sâu trong nước, nó đang quay mũi đi vào cảng. Chắc là một tàu Thụy Điển chở quặng sắt nên mới ngập sâu thế, Oskar đoán.
 
Tôi quay mắt khỏi con tàu Thụy Điển khi lão " cửu vạn " đứng dậy. " Nào thì ta thử ngó xem nó là cái gì. " Lão nói những lời này với Matzerath và Matzerath chẳng hiểu mô tê gì, cứ gật đầu bừa. "Ta thử ngó tí coi," lão "cửu vạn" nhắc đi nhắc lại luôn miệng trong khi tiếp tục kéo dây vào, lúc này càng ráng sức mạnh mẽ hơn. Lão hì hụi trên những phiến đá đi xuống phía đầu dây đằng kia và vươn cả hai cánh tay vào vũng nước ngầu bọt giữa hai khối granít, chụp lấy một cái gì đó - mẹ tôi quay mặt đi nhưng không kịp - lão chụp lấy một cái gì, đổi tay, vừa kéo vừa bê, quát mọi người xê ra nhường lối, rồi quẳng vào giữa chỗ chúng tôi một cái gì nặng trịch ròng ròng nước, một tảng gì to dùng sống động: đó là một cái đầu ngựa, một cái đầu ngựa thật còn tươi, đầu một con ngựa đen với một cái bờm đen, mà chắc là mới hôm qua hay hôm kia, nó còn hí, bởi vì cái đầu chưa rữa, chưa bốc mùi hoặc nếu có bốc mùi thì chỉ là mùi nước sông Mottlau thôi; nhưng mọi thứ trên đập chắn sóng đều có mùi như vậy.
 
Ông già đội mũ công nhân bốc dở - lúc này nó đã tụt ra sau gáy - đứng chạng chân trên đống thịt ngựa, từ đó những con lươn xanh nhạt lao ra như điên. Lão quây cuồng vất vả để bắt chúng vì giống lươn trườn rất nhanh và khéo, nhất là trên đá nhẵn và ướt. Cùng lúc ấy, bọn hải âu cũng đã quang quác trên đầu. Chúng lao xuống, từng tốp ba bốn con xúm lại tấn công một con lươn cỡ nhỏ hoặc vừa, không chịu để bị xua đi vì đập chắn sóng là lĩnh vực của chúng. Tuy nhiên, lão "cửu vạn", vung tay đập thẳng cánh giữa đám hải âu, cũng nhét được khoảng hai tá lươn nhỏ vào cái bao tải mà Matzerath, muốn tỏ ra đắc lực, đã banh sẵn miệng ra cho lão. Quá bận bịu, Matzerath không trông thấy mẹ tái mét mặt và phải vịn tay rồi ngả đầu lên vai và cái cổ áo nhung của Jan.
Nhưng khi mớ lươn nhỏ và nhỡ đã bỏ gọn trong bao tải, lão "cửu vạn" (trong khi làm việc, chiếc mũ đã rơi khỏi đầu lão) bắt đầu túm những con to hơn màu đen sậm tiếp tục bò ra từ cái đầu ngựa. Đến lúc này, mẹ tôi phải ngồi xuống, bác Jan cố tìm cách để khiến mẹ quay đầu đi nhưng mẹ không chịu; me tiếp tục giương cặp mắt bò cái trừng trừng nhìn thẳng vào cuộc giải phẫu tử thi lúc nhúc mà lão " cửu vạn" đang tiến hành.
"Nhìn xem" lão thở hổn hển, nói nhát gừng. "Thử ngó coi." Bằng chiếc ủng cao-su, lão bành miệng con ngựa ra và nhét một cái gậy gộc vào giữa hai hàm khiến những cái răng to tướng vàng khè như đang cười. Rồi khi lão "cửu vạn" - đến bây giờ tôi mới thấy đầu lão hói như một quả trứng- ấn cả hai tay vào họng con ngựa và lôi ra hai con lươn cùng một lúc, cả hai đều to và dài bằng cả cánh tay người, thì miệng mẹ tôi cũng há hốc; mẹ ói ra toàn bộ bữa điểm tâm - lòng trắng trứng lổn nhổn, lòng đỏ tướp ra thành những sợi dài lẫn với những miếng bánh mì đẫm cà-phê sữa, ộc ra trên lớp đá xây đập. Sau đó mẹ nôn khan nhưng chẳng còn gì để tháo ra nữa vì đó là tất cả những gì mẹ đã ăn trong bữa sáng, bởi lẽ mẹ đã quá chuẩn trọng lượng và muốn xuống cân bằng mọi giá. Mẹ thử đủ các chế độ ăn uống mà không theo triệt để một chế độ nào. Mẹ ăn giấu. Mẹ chỉ chuyên cần với những buổi tập thể dục ngày thứ ba ở Hội Phụ Nữ;, về điểm này, mẹ vững như đá tảng bất chấp Jan và thậm chí cả Matzerath cười giễu khi mẹ khoác cái túi đồ thể  thao ra nhập bọn với những mụ già kệch cỡm đi tập trong bộ xa- tanh bóng màu xanh và tuy nhiên vần chẳng gầy đi tí nào.
 
Cả lần này nữa, mẹ cũng không nôn ra được quá nửa pao và dù có cố oẹ đến mấy cũng chỉ giảm trọng lượng được chừng đấy mà thôi. Chẳng có gì ngoài chút dãi xanh lầy nhầy, thế mà đám hải âu vẫn xà đến. Chúng đã chực sẵn khi mẹ bắt đầu nôn, chúng lượn thấp dần, lướt xuống êm ru; không hề băn khoăn vì nỗi sợ phát phì, chúng chí chóe trên bữa điểm tâm của mẹ, không cách chi xua đi được - vả lại còn ai khác nghĩ đến chuyện xua đuổi chúng khi mà Jan Bronski sợ hải âu đến nỗi phải đưa cả hai tay lên che cặp mắt đẹp màu xanh lơ.
 
Chúng cũng chẳng buồn để ý đến Oskar, kể cả khi nó đưa trống vào cuộc đấu với chúng, kể cả khi nó nện dùi trống một thôi dài trên lớp vẹc-ni trắng nhằm-đánh bạt màu trắng của chúng. Ngón trống của nó hóa ra vô hiệu và chỉ làm cho lũ hải âu trắng hơn bao giờ hết. Còn Matzerath thì chẳng mảy may quan tâm đến mẹ. Ông cười ha hả, nhái theo lão "cửu vạn"; ăn to nói lớn, thần kinh vững như thép, đó là tính cách của ông. Lão "cửu vạn" đã sắp xong. Đến màn kết, khi lão kéo một con lươn gộc từ tai con ngựa ra, kèm theo một mớ lầy nhầy trắng trào ra từ óc, thì chính Matzerath cũng mặt xanh mày xám nhưng vẫn tiếp tục ra vẻ ta đây. Ông mua của lão "cửu vạn" hai con lươn bự và hai con nhỡ với giá rẻ mạt mà vẫn còn kèo nèo đòi bớt nữa.
 
Lòng tôi tràn đầy mến phục đối với bác Jan. Nom bác như sắp khóc, tuy nhiên bác vẫn đỡ mẹ tôi  đứng dậy, quàng một tay qua sau lưng dìu mẹ đi, tay kia đưa ra đằng trước để giữ thăng bằng. Nhìn mẹ lò cò trên đôi giày cao gót nhảy từ phiến đá này sang phiến đá kia, thật là tức cười. Cứ mỗi bước, đầu gối mẹ lại khụyu xuống, ấy thế mà mẹ cũng vào được đến bờ mà không hề bị trẹo chân.
 
Oskar nán lại với Matzerath và lão "cửu vạn" lúc này đã đội chiếc cát-két trở lại. Lão bắt đầu giải thích tại sao cái bao tải lại đầy muối thô: đó là để lươn giãy giụa quằn quại trong muối cho đến chết và để hút hết chất nhầy khỏi da và ruột chúng. Vì khi bỏ lươn vào muối, chúng không thể không giãy giụa và chúng cứ giãy giụa như thế cho đến chết, để lại chất nhầy trong muối. Muốn chế món lươn hun khói thì trước hết phải làm thế. Đó là điều mà cảnh sát và Hội Bảo vệ súc vật cấm ngặt, nhưng chẳng ăn thua gì … Làm sao mà khử được chất nhầy của lươn nếu không làm thế? Sau đó, những con lươn chết được chà xát thật cẩn thận bằng than bùn khô rồi treo trong một cái thùng đặt trên bếp lửa đốt bằng gỗ dẻ gai để hun khói.
 
Matzerath cho rằng cho bọn lươn giãy giụa trong muối là hợp lẽ công bằng bởi chúng chả rúc vào tận trong đầu con ngựa đó sao? Và vào cả xác người nữa, lão "cửu vạn "chêm vào. Người ta bảo giống lươn này đặc biệt béo sau trận thuỷ chiến Skagerack. Và mấy hôm trước đây, một tay bác sĩ ở bệnh viện kể với lão về một phụ nữ có chồng tìm khoái lạc với một con lươn sống. Nhưng con lươn bám chặt trong đó không chịu nhả, thành thử phải đưa mụ ta vào bệnh viện, và nghe nói sau đó, mụ bị tuyệt đường sinh nở.
 
Vậy là lão "cửu vạn" thắt cái bao tải với mớ lươn giầm muối lại và gọn gàng xốc lên vai. Lão quấn cái dây phơi quần áo quanh cổ và hì hụi đi về phía Neufahrwasser trong khi con tàu buôn vào cảng. Con tàu có trọng tải độ mười tám tấn, không phải là tàu Thuỵ Điển mà là tàu Phần Lan, và chở gỗ chứ không phải quặng sắt. Lão "cửu vạn" mang bao tải hình như có bạn bè trên tàu vì lão đang vẫy về phía đó, miệng la lớn một điều gì đó. Trên con tàu Phần Lan, một số người cũng vẫy lại và la một điều gì đó. Nhưng tôi không không hiểu tại sao cả Matzerath cũng vẫy và la "Ơ hầy, tàu vào kìa" hoặc một điều vớ vẩn tương tự. Là người vùng Rhine, ông có biết chi về tàu bè và chẳng hề quen ai là người Phần Lan cả. Cơ mà cung cách của ông vốn thế: bao giờ ông cũng vẫy khi những người khác vẫy, la hét và vỗ tay khi những người khác la hét, cười và vỗ tay. Điều đó giải thích tại sao ông vào Đảng tương đối sớm, khi mà điều đó chưa thật cần thiết, chưa mang lại lợi lộc gì mà chỉ làm ông tiêu phí những buổi sáng chủ nhật.
 
Oskar chậm rãi đi theo Matzerath, lão già người Neufahrwasser và con tàu Phần Lan quá tải. Thỉnh thoảng tôi ngoái nhìn lại vì lão "cửu vạn" đã để lại cái đầu ngựa ở chân tháp đèn tín hiệu. Nhưng không còn nhìn thấy nó nữa vì lũ hải âu đã che kín mất rồi… Chỉ còn là một mảng trắng lấp lánh trên mặt biển xanh, một đám mây mới được gột sạch có thể bay lên không trung bất cứ lúc nào, cất tiếng kêu trùm lên cái đầu ngựa không còn hí nữa.
Khi thấy chán ngấy, tôi vùng chạy khỏi lũ hải âu và Matzerath, vừa chạy vừa nắm tay đấm lên mặt trống, vượt lên lão " cửu vạn" lúc này đang hút một cái tẩu cán ngắn, và đuổi kịp mẹ tôi và bác Jan ở chỗ bắt đầu đập chắn sóng. Bác Jan vẫn đỡ mẹ như ban nãy, nhưng giờ một tay bác đã biến mất dưới cổ áo măng-tô của mẹ. Matzerath không thể nhìn thấy thế cũng như không thể thấy mẹ đang thọc một tay vào túi quần Jan: ông còn ở mãi tít đằng sau chúng tôi, mải gói bốn con lươn bị lão "cửu vạn" lấy đá nện chết ngất vào một tờ giấy báo tìm thấy giữa khe đá nơi chân đập.
 
Khi Matzerath đuổi kịp chúng tôi, ông ve vẩy cái bọc lươn của mình và khoe: "Lão ta đòi một gulden rưỡi, nhưng tôi trả một chẵn, thế là xong."
Nom mẹ đã khá hơn và lúc này lại có thể thấy cả hai tay mẹ. "Đừng có hòng tôi ăn món lươn của anh, mẹ nói. "Từ nay đến chết, tôi sẽ không bao giờ đụng đến cá nữa, nhất là lươn thì lại càng không."
Matzerath cười ha hả: "Đừng làm to chuyện thế, mèo con. Trước nay, em vẫn biết người ta bắt lươn như thế nào, thế mà em vẫn ăn lươn đấy thôi. Kể cả lươn tươi. Để rồi xem nương nương sẽ thấy thế nào khi tên tiện bộc của nàng pha chế chúng với tất cả các thứ gia vị, rau thơm, hành tỏi tiêu ớt cùng chút nộm đi kèm".
Jan Bronski - lúc này đã kịp thời rút tay ra khỏi cổ áo măng-tô của mẹ, không nói gì. Suốt dọc đường đến Brösen, tôi đánh trống liên tục để họ khỏi quay
trở lại chuyện lươn nữa. Tới bến xe điện và cả khi đã lên xe, tôi vẫn tiếp tục đánh để ngăn ba người lớn trò chuyện. Mấy con lươn nằm tương đối yên. Đến đoạn đường tránh ở Saspe, không phải dừng vì chuyến xe ngược đã ở đó. Quá sân bay một quãng, Matzerath, bất chấp tiếng trống của tôi, bắt đầu kêu đói. Mẹ không phản ứng gì, chỉ lơ đãng nhìn vượt qua và xuyên qua chúng tôi cho đến khi bác Jan mời mẹ một điếu Regatta. Trong khi bác đánh lửa cho mẹ và mẹ đặt đầu vàng của điếu thuốc lên môi, mẹ mỉm cười với Matzerath vì mẹ biết ông không thích mẹ hút thuốc ở nơi công cộng.
 
Đến quảng trường Max-Halbe, chúng tôi xuống và dù sao mặc lòng, mẹ vẫn khoác tay Matzerath chứ không khoác tay bác Jan như tôi chờ đợi. Jan đi cạnh tôi và hút nốt điếu thuốc của mẹ.
 
Trong khu Labesweig, các bà nội trợ theo đạo Thiên Chúa vẫn tiếp tục đập thảm. Trong khi Matzerath mở cửa căn hộ của chúng tôi, bà Kater, ở tầng tư cạnh phòng nghệ sĩ trompet Meyn, vượt qua chúng tôi lên cầu thang. Một cái thảm nâu cuộn tròn vắt trên vai, bà ta giơ hai cánh tay to tướng hồng hào lên đỡ, phô những túm lông nách màu râu ngô xoắn lại và dính bết mồ hôi. Hai đầu thảm võng xuống đằng trước và đằng sau bà. Bà có thể vác một gã dàn ông say rượu trên vai như thế, nhưng chồng bà không còn sống nữa. Khi cái khối mỡ ấy đi qua chúng tôi trong cái áo thụng đen bóng mặc trong nhà, mùi nồng nặc từ bà ta xộc vào mũi tôi - nước tiểu, dưa muối và đất đèn trộn với nhau - chắc bà ta đang thấy tháng.
 
Lát sau, tiếng đập thảm thình thịch từ dưới sân vọng lên. Nó rượt theo tôi khắp các phòng, nó truy đuổi tôi riết đến nỗi, rốt cuộc tôi phải trốn vào tủ quần áo trong phòng ngủ, ở đó, các áo măng-tô, pa- đờ- xuy mùa đông mới đủ sức dìm đi cái âm lượng gớm ghiếc của tiếng ồn tiền-Phục sinh.
 
Nhưng không phải chỉ có bà Kater cùng tiếng đập thảm khiến tôi phải lánh nạn vào tủ quần áo. Mấy người lớn - mẹ tôi, bác Jan và Matzerath - chưa cởi áo ngoài ra, đã bắt đầu bàn cãi về thực đơn ngày Thứ Sáu Thánh. Nhưng họ vẫn không ngã ngũ được về món lươn. Như thường lệ, mỗi khi cãi vã về chuyện gì, họ đều nhớ đến tôi và cú ngã trứ danh của tôi từ cầu thang hầm kho.
 Đó là do lỗi của anh, tại anh tất cả, bây giờ tôi sẽ làm món xúp lươn.
-         Đừng có yểu điệu thục nữ thế,
-         Anh muốn làm cái gì thì làm miễn là không phải lươn, có bao nhiêu đồ hộp ở dưới hầm, mang ít nấm lên nhưng nhớ đóng kỹ cái cửa sập đừng để chuyện ấy hoặc điều gì tương tự xảy ra một lần nữa.
-        Tôi đã nghe đến phát ngán cái đĩa hát cũ ấy rồi, chúng ta sẽ có món lươn, dứt khoát thế, nấu với sữa, mù-tạc, mùi tây và khoai tây luộc, điểm chút lá nguyệt quế và hạt đinh hương.
-        Đừng, Alfred, tôi xin chú, nếu cô ấy không muốn thì đừng làm lươn nữa,
-        Anh đừng có nhúng mũi vào, tôi mua lươn để vứt đi à, tôi sẽ moi hết ruột rửa thật sạch, không, không, Rồi xem khi dọn lên bàn, ai sẽ ăn và ai sẽ không ăn...
 
Matzerath đóng sập cửa phòng khách và biến vào bếp. Chúng tôi nghe thấy ông cố ý khua nồi xoong kêu loảng xoảng, ông giết lươn bằng hai nhát dao bắt chéo hình chữ thập đằng sau cổ và mẹ tôi, vốn quá giàu tưởng tượng, phải ngồi xuống đi-văng và bác Jan cũng lập tức ngồi theo. Một lát sau, họ đã nắm tay nhau, thì thầm trò chuyện bằng tiếng Kashubes. Lúc ấy, tôi chưa chui vào tủ quần áo. Trong khi ba người lớn phân khoảnh định vị như vậy trong căn hộ thì tôi vẫn ở trong phòng khách. Có một cái ghế trẻ con cạnh bếp lò bằng gạch men. Tôi ngồi đó, hai chân đu đưa, trong khi Jan nhìn tôi chằm chằm. Tôi biết mình đang cản trở họ mặc dầu họ không thể làm gì quá vì Matzerath đang ở ngay phòng bên, mối đe doạ vô hình nhưng hiển nhiên với những con lươn ngắc ngoải mà ông vung lên như một ngọn roi. Và như vậy họ trao tay nhau, nắm bóp và co kéo hai mươi ngón tay, bẻ khục tay cho nhau. Đối với tôi, đó là giọt nước làm tràn cốc. Mụ Kater kia và tiếng đập thảm tra tấn còn chưa đủ sao? Nó chả đã xuyên qua mội bức tường, mỗi lúc một gần lại, tuy không tăng âm lượng, đó sao?
 
Oskar tụt xuống khỏi ghế, ngồi trên sàn cạnh cái bếp lò một lúc, tránh bỏ đi một cách quá lộ liễu rồi, dốc hết tâm trí vào cái trống, lẻn qua ngưỡng cửa và sang phòng ngủ.
 
Tôi để hé cửa phòng ngủ và hài lòng nhận thấy là không có ai gọi tôi lại. Tôi phân vân một lúc không biết nên trốn xuống gầm gìừơng hay chui vào tủ quần áo. Tôi ưng tủ quần áo hơn vì nếu chui gầm giường sẽ bẩn bộ đồ lính thủy xanh lơ hào nhoáng.
Tôi vừa đủ cao để với tới chiếc chìa khóa tủ; tôi vặn một vòng, mở cánh cửa gương và lấy dùi trống gạt những móc treo quần áo rét sang bên. Muốn với tới và chuyển dịch những cái áo pa-đờ-xuy nặng nề, tôi phải đứng lên cái trống. Cuối cùng, tôi đã dẹp được một khoảng trống ngay giữa tủ quần áo tuy không rộng lắm nhưng cũng đủ để Oskar trèo vào ngồi thu lu trong đó. Tôi còn khắc phục kéo được hai cánh cửa gương vào và lấy một chiếc khăn san tìm thấy dưới đáy tủ chặn lại chỉ để hở một khe bằng ngón tay cho thoáng khí và khi cần, có thể nhìn ra ngoài. Tôi đặt cái trống lên đầu gối, nhưng không đánh dù là rất khẽ, mà chỉ ngồi yên hoàn toàn thụ động đắm mình trong làn hơi ấm toả ra từ đám quần áo mùa đông.
 
Thật tuyệt vời làm sao lại có cái tủ ở đây với những đồ len dạ dày dặn quây kín khiến tôi có thể tập trung tư tưởng hầu như hoàn toàn để buộc những ý nghĩ thành một bó đem tặng cho một nàng công chúa trong mơ đủ thông minh để nhận món quà của tôi với một niềm thich thú vừa trang nghiêm vừa kín đáo.
 
Như thường lệ, mỗi khi tôi tập trung và lợi dụng những năng khiếu huyền bí của mình, tôi thường đưa mình trở về văn phòng của bác sĩ Hollatz ở Brunshöfer - weg và nhấm nháp cái phần duy nhất thú vị của những buổi khám bệnh thường kỳ ngày thứ tư. Tôi không quan tâm đến ông bác sĩ với cung cách khám bệnh ngày càng trở nên tỉ mẩn mà chủ yếu là nghĩ đến Xơ Inge, phụ tá của ông. Chỉ có Xơ  là được đặc quyền cởi quần áo và mặc lại quần áo cho tôi; chỉ có Xơ là được phép cân và lấy số đo và làm các xét nghiệm cho tôi; tóm lại, chính Xơ Inge là người thực hiện tất cả những thí nghiệm trên cơ thể tôi mà bác sĩ Hollatz chỉ định. Mỗi lần làm xong, Xơ Inge lại thông báo, không khỏi pha chút châm biếm, là thí nghiệm thất bại, điều mà Hollatz biến báo thành "thành công từng phần". Tôi ít khi nhìn vào mặt Xơ Inge. Mắt tôi và trái tim người đánh trống đôi khi hồi hộp của tôi gắn trên màu trắng hồ cứng sạch bong của bộ đồng phục nữ y tá, trên cái kết cấu không trọng lượng mà Xơ mang trên đầu như một cái mũ mềm, trên cái trâm giản dị điểm một chữ Thập đỏ. Xơ có một thân thể dưới lớp vải không nhỉ? Quan sát những nếp li bao giờ cũng mới trên đồng phục của Xơ, thật là dễ chịu Ị Bộ mặt già đi đều đều và đôi bàn tay xương xương mặc dầu được chăm chút cẩn thận khiến ta thấy Xơ Inge dù sao cũng vẫn là đàn bà. Đành rằng Xơ không cường vượng chất đàn bà như cái mùi phả ra từ mẹ tôi khi Jan, hoặc thậm chí Matzerath, giải y mẹ trước mặt tôi. Người Xơ toàn mùi xà phòng và thuốc gây buồn ngủ. Biết bao lần tôi đã ngủ thiếp đi khi Xơ bắt mạch cho cái thân hình bé nhỏ mà người ta cho là mắc bệnh của tôi: một giấc ngủ nhẹ nhàng sinh ra từ những nếp "li" của vải trắng, một giấc ngủ bọc trong axit carbônníc, một giấc ngủ không mộng mị gì hết trừ một điều là đôi khi cái trâm của Xơ tự dưng phình ra thành một cái gì có mà trời biết: một biển cờ xí, ánh hoàng hôn trên dãy núi Alpes, một cánh đồng hoa thuốc phiện sẵn sàng nổi loạn chống lại ai hoặc cái gì có mà trời biết; chống lại những người da đỏ, những trái anh đào, những cú đổ máu cam, những cái mào gà trống, những hồng huyết cầu, cho đến khi một màu đỏ choán hết tầm mắt tôi làm nền cho một đam mê mà, dạo ấy cũng như bây giờ, đều là hiển nhiên song không thể gọi tên, vì cái từ "đỏ" cỏn con chả nói lên được gì, đổ máu cam cũng vô nghĩa, và vải cờ thì sẽ phai màu, và nếu mặc dầu vậy, tôi vẫn nói “đỏ” thì đỏ bác bỏ tôi và lộn lần áo trong ra ngoài thành đen. Đen là Phù thủy, đen làm tôi sợ đến xanh mặt, xanh lam và xanh lơ, xanh lơ là xanh đích thực nhưng tôi không tin nó, còn quý vị thì sao? Xanh lam tượng trưng cho hy vọng, xanh lam là cỗ quan tài nơi tôi gặm cỏ, xanh lam che phủ tôi, từ xanh đến tái, rồi trắng trợt, trắng làm hoen vàng và vàng nhuộm tôi xanh lơ, xanh lơ tôi lờ xanh lam, xanh lam nở thành đỏ và đỏ là cái trâm của Xơ Inge; Xơ mang một chữ thập đỏ, nói cho chính xác, Xơ mang nó trên cổ áo của bộ đồng phục nữ y tá; nhưng hiếm khi, trong tủ quần áo cũng như ở bất cứ nơi nào khác, tôi có thể chú tâm lâu vào cái biểu tượng đơn sắc nhất ấy trong các biểu tượng.
 
Một tiếng huyên náo kinh khủng từ phòng khách ào tới đập vào cửa tủ, đánh thức tôi khỏi giấc ngủ chập chờn hướng về Xơ Inge vừa mới bắt đầu. Tỉnh táo nhưng miệng khô đắng, tôi ngồi ôm cái trống trên đầu gối giữa đám áo rét các cỡ và các kiểu may khác nhau, hít cái mùi đồng phục Đảng của Matzerath, cảm thấy sự hiện diện của gươm, thắt lưng da và dây đeo sủng bao trùm đến nỗi không cách chi trở lại với những nếp "li" của đồng phục nữ y tá nữa: fla-nen và len rủ xuống bên cạnh tôi; trên đầu tôi là những mốt mũ thời thượng trong bốn năm qua; dưới chân tôi là giày lớn giày nhỏ, ghệt đánh xi, gót giày có hoặc không đóng đinh đầu to. Một chùm tia sáng yếu ớt lọt vào gợi lên toàn bộ cảnh đó và Oskar lấy làm tiếc đã để hở một khe giữa hai cánh cửa gương.
 
Những người ở trong phòng khách kia có cái gì hiến cho tôi? Dễ thường Matzerath đã bắt chợt đôi tình nhân trên đi-văng, nhưng điều đó rất khó có thể xảy ra vì Jan luôn luôn thận trọng giữ một cái lề an toàn, như khi chơi bài xi-cạt. Có lẽ - tôi đoán, và quả nhiên sự việc xảy ra như thế thật - Matzerath, sau khi giết lươn, moi lòng ruột, rửa sạch, nấu nướng, thêm gia vị: hành, tỏi, ớt, rau thơm... và nếm thử thành phẩm, đã mang liễn xúp lươn với khoai tây luộc đặt lên bàn phòng khách và, khi hai người kia không hề tỏ ý muốn ngồi vào bàn, bèn dấn thêm một bước là ca ngợi món đặc sản của mình, liệt kê tất cả các thành phần và ê a kể công thức nấu như tụng kinh. Thế là mẹ bắt đầu hét. Mẹ hét bằng tiếng Kashubes. Matzerath không hiểu cũng như không thể chịu nổi thứ thổ ngữ này, nhưng ông vẫn buộc phải nghe và thừa biết mẹ đang nhằm nói gì. Xét cho cùng, mẹ có thể la hét về cái gì khác ngoài chuyện lươn, từ đó dẫn đến cú ngã của tôi từ cầu thang xuống hầm - kết cục tất yếu của bất cứ cái gi khiến mẹ tôi bắt đầu la hét. Matzerath cãi lại. Họ đều thuộc vai của mình, Jan xen vào can. Không có bác ấy, ắt không có chuyện. Hồi II: c’rách một cái, nắp đàn dương cầm được lật lên; không bè, thuộc lòng, cả ba, đồng thời nhưng không đồng thanh, gào lên khúc "Hợp xướng người đi săn "trong vở Freischutz: "Có cái gì trên đời giống như..." Và giữa tiếng om xòm đó, nắp đàn dương cầm sập xuống đánh rầm, cái ghế ngồi đàn đổ đánh rầm rồi mẹ chạy vào phòng ngủ. Soi thoáng một cái vào gương tủ áo, - tôi nhìn thấy tất cả qua khe hở - mẹ gieo mình, xuống chiếc giường cưới bên dưới cái tán xanh lơ, và khóc, và vặn xoắn hai bàn tay vào nhau với số ngón ngang ngửa với số ngón của nàng Madeleine sám hối trong tấm phiên bản màu đóng khung vàng treo ở phía đầu pháo đài hôn nhân này.
Hồi lâu, tôi chỉ nghe thấy tiếng mẹ dấm dứt khóc, tiếng giường cọt kẹt nhè nhẹ và tiếng rì rầm khe khẽ từ phía phòng khách. Jan đang xoa dịu Matzerath. Rồi Matzerath nhờ Jan vào dỗ mẹ tôi. Tiếng rì rầm bặt dần, Jan vào phòng ngủ. Hồi III: Bác đứng cạnh giường, hết nhìn mẹ lại nhìn nàng Madeleine sám hối, rón rén ngồi xuống mép giường, đưa tay vuốt ve lưng và mông mẹ - chả là mẹ đang nằm sấp mà - nói với mẹ những lời êm ái vỗ về bằng tiếng Kashubes - và cuối cùng, khi lời nói tỏ ra vô tác dụng, luồn tay vào dưới váy cho đến khi mẹ thôi thút thít và bác thì có thể rời mắt khỏi nàng Madeleine – nghìn – ngón - tay. Đó là một cảnh bõ xem lắm. Nhiệm vụ hoàn thành, Jan đứng lên, lấy mu soa lau đầu ngón tay và cuối cùng, cất cao giọng nói với mẹ, lần này thì không dùng tiếng Kashubes, và nhấn từng chữ cho Matzerath ở trong bếp hay trong phòng khách cũng nghe thấy: "Nào, lại đây, Agnès. Ta hãy quên toàn bộ chuyện này đi. Alfred đã vứt hết lươn vào cầu tiêu từ lâu rồi. Giờ chúng ta sẽ chơi một chầu xì-cạt thật xôm, mỗi điểm một phần tư pfennig nếu cô muốn và sau khi cho qua mọi sự, Alfred sẽ làm cho chúng ta món nấm với trứng đánh lộn và khoai tây rán. ".
Đáp lại, mẹ tôi chẳng nói gì, chỉ đứng dậy, vuốt phẳng lại tấm khăn trải giương màu vàng, soi gương sửa lại tóc cho gọn gàng và theo sau bác Jan ra khỏi phòng ngủ. Tôi rời mắt khỏi khe cửa tủ và lát sau, đã nghe thấy họ trang bài.
 
Đoán chắc rằng cuộc bài xì-cạt gia đình này sẽ còn kéo dài đến tận đêm khuya, với một quãng dừng ngắn để ăn nấm với trứng đánh lộn lòng trắng lòng đỏ và khoai tây rán, tôi không chú ý theo dõi các ván bài mà cố quay trở lại với Xơ Inge và bộ đồng phục trắng gây buồn ngủ của Xơ. Nhưng tôi không tìm về được với niềm sung sướng ở văn phòng bác sĩ Hollatz. Không những xanh lam, xanh lơ, vàng và đen cứ dai dẳng chen lẫn vào màu đỏ của cái trâm chữ Thập Đỏ, mà cả những sự kiện sáng nay cũng tiếp tục quyện lẫn vào: cứ khi nào cánh cửa dẫn đến phòng khám và Xơ Inge mở ra, thì không phải chỉ hình ảnh tinh khiết và nhẹ lâng của chiếc áo nữ y tá hiện ra trước mắt tôi, mà cả lão "cửu vạn" ở chân tháp đèn tín hiệu trên đập chắn sóng Neufahrwasser thò tay lôi những con lươn từ cái đầu ngựa ròng ròng nước, và những gì phô chút màu trắng để tôi có thể gắn với Xơ Inge chỉ là những cánh hải âu tạm thời che lấp cái đầu ngựa cùng đám lươn trong đó, cho đến khi vết thương lại hoác ra nhưng không ứa máu đỏ mà đen như con ngựa đen, và biển xanh rờn trong khi con tàu Phần Lan chở gỗ góp chút màu gỉ vào bức tranh và những con hải âu - xin miễn nói với tôi về bồ câu - sà xuống như một đám mây bao quanh vật tế thần, đầu cánh quyện vào nhau và ném con lươn vào Xơ Inge, Xơ bắt lấy nó, chào mừng nó rồi biến thành một con hải âu, một con hải âu chứ không phải bồ câu, nhưng dù sao cũng là Chúa Thánh Thần mang hình dáng một con hải âu sà xuống như một đám mây trên đống thịt để mừng lễ Hạ Trần.
 
Tôi đành bỏ cuộc và rời khỏi tủ quần áo. Tức tối đẩy cánh cửa tủ bước ra, tồi thấy mình vẫn nguyên vẹn không thay đổi trong gương. Dù sao tôi cũng rất mừng là bà Kater đã thôi đập thảm. Ngày Thứ Sáu Thánh đã kết thúc đối với Oskar, nhưng phải sau lễ Phục sinh, Khổ Hình của nó mới bắt đầu.
 
 
Chú thích :
1- Vào ngày thứ Năm sau ngày chủ nhật Lễ Ba NGôi.
 





0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2016 10:23:04 bởi Ct.Ly>
THUÔN THUÔN ĐẰNG CHÂN
 
 
Và cả Khổ Hình của mẹ tôi nữa. Ngày chủ nhật Phục Sinh, chúng tôi cùng vợ chồng Bronski về Bissau thăm bà ngoại và ông bác Vincent. Sau đó, bắt đầu những đau khổ của mẹ - những nỗi đau mà tiết xuân tươi thắm cũng không xoa dịu nổi.
 
Không phải là Matzerath đã ép mẹ ăn cá trở lại. Hoàn toàn do tự nguyện và bởi một ý chí thần bí nào đó nhập vào, đúng hai tuần sau lễ Phục sinh, mẹ bắt đầu nhồi nhét cá xả láng bất cần giữ eo gì nữa, đến nỗi Matzerath phải kêu lên: "Lạy Chúa, đừng có ăn nhiều cá đến thế, như thể ai bắt ép mình vậy!"
Mẹ lót dạ bằng cá xạc-đin hộp trong bữa điểm tâm, rồi hai giờ sau, nếu trong cửa hàng không có khách lại vục vào cái hòm gỗ dán đựng cá trích cơm Bohnsack, đến bữa trưa, mẹ đòi cá bơn rán hoặc cá thu nấu xốt mù-tạc và tà tà chiều, lại nhăm nhăm cái chìa mở đồ hộp: lươn nấu đông, thịt cá trích cuốn, cá trích hun khói, và nếu Matzerath từ chối không rán hoặc luộc thêm cá cho bữa tối, mẹ chẳng phí hơi cãi vã mà lặng lẽ rời bàn ăn ra ngoài cửa hàng và trở lại với một khoanh lươn hun khói. Thế là chúng tôi ăn mất ngon bởi vì mẹ cứ lấy dao vét đến hạt mỡ cuối cùng bám vào da lươn cả bên trong lẫn bên ngoài, và nói chung, bây giờ mẹ thuần ăn cá bằng dao. Suốt ngày, chốc chốc mẹ lại nôn. Lo lắng và bất lực, Matzerath hỏi: "Mình nghén hay sao vậy?"
" Đừng có nói vớ vẩn," nếu có đáp lời thì mẹ chỉ nói vậy. Một ngày chủ nhật, khi món lươn xanh, xốt kem khoai tây được dọn ra, bà ngoại Koljalczek đập lòng bàn tay xuống bàn và lớn tiếng: "Nào, nói xem, Agnès, có chuyện gì vậy? Nói cho chúng ta nghe nào. Tại sao con cứ ăn cá khi mà nó không hợp với con mà con không chịu nói tại sao và cứ hành động như đứa mất trí thế?" Mẹ chỉ lắc đầu, gạt mấy củ khoai tây sang bên, vớt một con lươn đẫm nước xốt lên và bắt đầu ăn với một quyết tâm không nao núng. Jan Bronski không nói gì. Một lần tôi bắt chợt thấy hai người trên đi-văng, họ cầm tay nhau như mọi khi và quần áo họ xộc xệch - cái đó cũng bình thường thôi nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên là mắt Jan có ngấn lệ và mẹ đang đờ đẫn vô cảm bỗng chuyển sang cuồng nhiệt: mẹ bật dậy, vớ lấy tôi, nhấc bổng tôi lên và ghì chặt tôi, đủ cho tôi thấy cả một vực thắm trống rỗng không gì có thể lấp nổi trừ một khối lượng khổng lồ cá luộc, cá rán, cá hun khói và cá hộp.
 
Mấy hôm sau, tôi thấy mẹ ở trong bếp, lần này không chỉ ngấu nghiên món cá xạc-đin hộp chết tiệt, mà còn đổ dầu từ những hộp cá mẹ để dành vào một cái xoong nhỏ. Mẹ hâm chỗ dầu ấy trên bếp ga rồi uống kỳ hết. Đứng ở cửa bếp, tôi bàng hoàng đến rơi cả trống.
Ngay tối hôm đó, mẹ được đưa vào Bệnh viện thành phố. Matzerath khóc lóc rền rĩ trong khi chờ xe cấp cứu. " Tại sao mình không muốn đứa bé ấy? Nó là của ai thì có quan trọng gì? Hay là vẫn vì cái đầu ngựa chết tiệt đó? Giá như chúng ta đừng bao giờ ra chốn ấy! Mình không thể quên được chuyện đó sao, Agnès? Tôi đâu có chủ tâm làm thế."
 
Xe cấp cứu đến, người ta khiêng mẹ ra. Trẻ con người lớn xúm lại trên vỉa hè. Người ta chở mẹ đi. Hóa ra mẹ chẳng thể quên con đập chắn sóng cũng như cái đầu ngựa, mẹ đã mang theo ký ức về con ngựa - bất kể nó tên là Hans hay Fritz. Mọi bộ phận của cơ thể mẹ đều giữ lại ký ức đau xót về cuộc đi chơi ngày Thứ Sáu Thánh ấy, và vì sợ nó lại tái diễn, các cơ quan lục phủ ngũ tạng đều quyết làm cho mẹ phải chết và mẹ hoàn toàn nhất trí với chúng.
 
Bác sĩ Hollatz đoán mẹ mắc chứng vàng da và ngộ độc cá. Tại bệnh viện, người ta phát hiện ra mẹ đã có mang ba tháng và cho mẹ nằm một phòng riêng. Trong bốn ngày, những ai trong chúng tôi được phép vào thăm đều thấy mặt mẹ võ vàng vì đau đớn và nôn mửa; đôi lúc mẹ mỉm cười với tôi qua cơn buồn nôn.
 
Mặc dù mẹ cố hết sức làm vui những người đến thăm, cũng như giờ đây tôi ráng làm ra vẻ hài lòng khi có người vào thăm, mẹ vẫn không thể ngăn nổi những cơn buồn nôn theo chu kỳ đến xâm chiếm cái cơ thể đang từ từ rạc đi của mẹ mặc dù nó chẳng còn gì để hư hao nữa ngoại trừ, chung cuộc, vào ngày thứ tư của cuộc hấp hối cực nhọc này, chút hơi tàn mà mỗi chúng ta đều phải trút ra để được nhận giấy chứng tử.
 
Tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm khi trong người mẹ chẳng còn gì để gây những cơn buồn nôn đã huỷ hoại sắc đẹp của mẹ. Một khi được lau rửa và đặt nằm đó trong chiếc áo liệm, mẹ lại phô ra vẻ mặt tròn trĩnh quen thuộc và tinh ranh một cách hồn nhiên. Nữ y tá trưởng khép mắt cho mẹ vì Matzerath và Jan đều khóc nhòa cả mắt.
Tôi không thể khóc vì những người khác, đám đàn ông và bà ngoại, Hedwig Bronski và thằng cu Stephan mười bốn tuổi, tất cả đều khóc ..., vả lại, cái chết của mẹ không hề làm tôi bị bất ngờ. Oskar vốn thường xuyên theo mẹ lên phố các chiều thứ năm và đến Nhà thờ Thánh Tâm các ngày thứ bảy, nó cảm thấy như từ nhiều năm, mẹ đã tìm cách để phá vỡ cái tam giác này sao cho Matzerath (mà có lẽ mẹ ghét) phải gánh mọi trách nhiệm còn Jan Bronski, Jan của mẹ, thì có thể tiếp tục công việc ở sở Bưu Chính Ba Lan mà tự an ủi rằng: nàng đã chết vì ta, nàng không muốn ngáng trở ta, nàng đã hy sinh bẳn thân mình.
 
Với tất cả sự tính toán lạnh lùng, hai người - mẹ tôi và Jan - khi cần, có thể tìm ra một cái giường ân ái không bị quấy rầy, nhưng mặt khác, họ lại tỏ ra rất có năng khiếu thơ mộng: chẳng cần giàu trí tưởng tượng gì lắm cũng có thể xem họ như một cặp Romeo - Juliet hoặc như chàng hoàng tử và nàng công chúa trong truyện cổ tích không đến được với nhau vì dòng sông quá sâu.
Trong khi mẹ tôi, đã được kịp thời làm phép rửa tội tối chung, nằm ngoan ngoãn chịu lời cầu nguyện của linh mục, lạnh ngắt và hoàn toàn vô cảm đối với mọi sự, tôi cố thể rảnh rang quan sát các nữ y tá mà hầu hết đều theọ đạo Tin Lành. Họ chắp tay khác với người theo đạo Thiên Chúa, có thể nói là tự chủ hơn, họ đọc kinh Cha chúng ta với nhiều chữ đi chệch khỏi bản gốc của đạo Thiên Chúa và không làm dấu thánh giá giống như bà ngoại Koljaiczek, vợ chồng bác Jan và chính tôi. Ông bố Matzerath của tôi - thi thoảng tôi cũng gọi ông như vậy mặc dù tư cách cha đẻ của ông chỉ thuần túy là gã đình - cầu nguyện không giống những tín đồ Tin Lành khác; thay vì chắp hai tay trước ngực, ông để các ngón chạy cuồng loạn từ đạo giáo này sang đạo giáo khác ở đâu đó gần hạ bộ và hiển nhiên là ông thấy ngượng khi có ai nhìn ông cầu nguyện. Bà ngoại tôi quỳ bên giừơng lâm chung cạnh ông anh Vincent, bà cầu nguyện to và cuồng nhiệt bằng tiếng Kashubes, trong khi ông Vincent chỉ mấp máy môi, có lẽ bằng tiếng Ba Lan, nhưng đôi mắt thì mở to như đang linh nghiệm vậy. Tôi những muốn nổi trống. Xét cho cùng, tôi phải cảm ơn mẹ về tất cả những cái trống sơn màu đỏ - trắng này. Để làm đối trọng với những điều ước của Matzerath, khi tôi nằm trong nôi mẹ đã hứa cho tôi một cái trống thiếc; và sau này, đôi khi vẻ đẹp của mẹ, hồi mẹ còn thanh mảnh, không cần phải tập thể dục để giữ eo, đã là chủ đề và mô-típ biến tấu của tôi trên trống. Cuối cùng tôi không thể tự kiềm chế được nữa và bên giường lâm chung của mẹ, tôi tái tạo một lần nữa trên cái trống của tôi hình ảnh lý tưởng của vẻ đẹp mẹ tôi với cặp mắt xám. Nữ y tá trưởng lập tức phản đối và tôi rất ngạc nhiên khi thấy chính Matzerath là người ủng hộ tôi và khẽ khàng xoa dịu bà ta: "Hãy để mặc nó, Xơ ạ. Hai mẹ con nó thương yêu nhau lắm".
 
Mẹ có thể rất vui tươi, mà cũng có thể rất ưu tư, lo phiền. Mẹ có thể mau quên, tuy nhiên mẹ lại có trí nhớ tốt. Mẹ có thể đuổi tôi ra khỏi buổng tắm, song lại sẵn sàng tắm chung với tôi. Khi tôi hất vỡ cửa kính, mẹ đã sẵn sàng mát-tít để gắn. Đôi khi mẹ lỗi bước mặc dầu còn nhiều chỗ an toàn để đặt chân. Đôi khi mẹ như không còn biết đến tôi, song mẹ lại định thần lại: ngay cả khi mẹ khép lòng lại, mẹ vẫn là một cuốn sách mở đối với tôi ... Mẹ sợ gió lùa, song lại luôn luôn gây giông tố. Mẹ sống nợ và không thích đóng thuế. Tôi là mặt trái của đồng - tiền-mẹ. Khi mẹ chơi con bài tim, bao giờ mẹ cũng thắng. Khi mẹ chết, những ngọn lửa trên tang trống của tôi nhạt đi một ít, nhưng màu sơn trắng càng trắng hơn bao giờ hết và sáng lóa đến nỗi đôi khi Oskar phải nhắm mắt lại.
 
Người ta không chôn mẹ tôi ở Saspe như đôi khi mẹ đã tỏ ý muốn thế, mà ở cái nghĩa trang nhỏ yên bình tại Brenntau. Yên nghỉ ở đó đã có cha dượng của mẹ, người thợ thuốc súng Gregor Koljaiczek, mất năm 1917 vì bệnh cúm. Đám tang khá đông, đó là điều tự nhiên vì mẹ vốn là một thương nhân được mến mộ; ngoài các khách hàng thường xuyên, còn có các đại diện và nhân viên của các nhà bán buôn, thậm chí một số người cạnh tranh cũng có mặt như người của cửa hàng cao cấp Weinreich và bà Probst ở cửa hàng thực phẩm phố Hertastrasse. Nhà thờ của nghĩa trang Brenntau không đủ chứa tất cả mọi người. Sực nức mùi hoa và mùi quần áo đen ướp băng phiến. Trong cỗ áo quan để ngỏ, mặt mẹ tôi vàng bệch và tiều tuy. Suốt cuộc tang lễ dài dằng dặc, tôi không sao dẹp nổi cái cảm giác rằng đầu mẹ có thể  bật dậy bất cứ lúc nào, rằng mẹ lại sắp ói thêm một chút nữa, rằng còn cố một cái gì trong bụng mẹ cần được trút ra: không phải chỉ là cái thai ba tháng (nó cũng như tôi không biết phải cảm ơn người cha nào về sự tồn tại của mình); không, tôi nghĩ, không phải chỉ nó muốn ra và, giống như Oskar, cũng đòi một cái trống, mà còn cả cá nữa, nhưng không phải xạc-đin cũng không phải thờn bơn, không, tôi nghĩ đến một khúc lươn, mấy thớ thịt lươn trắng xanh, lươn từ trận thủy chiến Skagerrak, lươn từ đập chắn sóng Neufahrwasser, lươn cho ngày Thứ Sáu Thánh, lươn từ cái đầu ngựa, thậm chí có thể là từ người cha Joseph Koljaiczek của mẹ đã chết đuối dưới gầm bè, làm mồi cho lươn, lươn của lươn của ngươi, bởi ngươi vốn là lươn, nay lại trở về lươn...
 
Nhưng mẹ tôi không ói. Mẹ kìm lại, không nôn nốt chỗ lươn ấy ra: rõ ràng mẹ cố ý mang nó theo xuống mồ bởi cuối cùng, nó có thể mang lại bình an.
Khi người ta nhấc cái nắp quan tài lên, sắp sửa đậy lên gương mặt vừa chán ngán vừa kiên quyết của mẹ, bà ngoại Anna Koljaiczek bèn chặn lại. Đạp lên những vòng hoa đặt quanh áo quan, bà gieo mình xuống ôm chầm lấy con gái và xé toạc tấm khăn liệm đắt tiền và rền rĩ khóc than bằng tiếng Kashubes.
 
Nhiều người, sau đó, nói là bà đã nguyền rủa ông bố hờ Matzerath của tôi, gọi ông là kẻ giết hại con gái bà. Người ta còn bảo là bà cũng nói vể cú ngã của tôi ở cầu thang hầm kho nữa. Bà tiếp nối câu chuyện của mẹ và không bao giờ cho phép Matzerath được quên cái gọi là trách nhiệm của ông về cái gọi là tai nạn của tôi. Bà không ngừng nhắc đi nhắc lại những lời kết tội đó, mặc dầu Matzerath, bất chấp mọi suy tính chính trị và gần như miễn cưỡng, vẫn tỏ ra hết sức tôn kính bà và suốt những năm chiến tranh vẫn cung đốn cho bà nào đường, nào cà-phê, nào mật ong tổng hợp, nào dầu hoả.
 
Greff – Rau Quả và Jan Bronski (bác khóc the thé như đàn bà) đỡ bà ngoại tôi rời khỏi quan tài để dám phu nhà đòn đậy nắp lại và, cuối cùng, có thể mang cái bộ mặt muôn thuở của những người hộ tang khi họ nhấc áo quan lên vai.
 
Ở cái nghĩa trang Brenntau nửa thành thị nửa nông thôn, với con đường trồng cây du du chạy giữa hai vạt cánh đồng, với ngôi nhà thờ nhỏ nom như bộ đồ chơi cho vườn trẻ, với cái giếng và bày chim nhỏ linh hoạt, Matzerath dẫn đầu đám tang và tôi theo sau. Chính khi đó là lần đầu tiên tôi thấy khoái cái hình quan tài. Từ đó trở đi, tôi đã có nhiều dịp nhìn ngắm thứ gỗ sẫm màu dùng vào việc hậu sự. Quan tài của mẹ tôi màu đen. Nó hẹp dần về đằng chân một cách hài hòa tuyệt vời. Trên đời này, còn có hình dạng nào khác phù hợp đến thế với sự cân đối của cơ thể người?
Giá như giường cũng hẹp lại như thế ở đằng chân! Giá như mọi chỗ nằm thường ngày cũng như đột xuất của chúng ta đều có thể thon lại chính xác như thế ở đằng chân! Bởi vì tha hồ cho chúng ta giỗ mọi điệu bộ, cái kích cở phô phang của đầu, vai và thân chúng ta rồi cũng thon lại ở dưới chân và toàn bộ thân thể phải dựa trên cái đế nhỏ hẹp đó
 
Matzerath đi ngay sau áo quan … Ông cầm chiếc mũ cao thành ở tay và mặc dầu đang đau buồn và đi chậm rãi, vẫn cố giữ sao cho đầu gối thắng đuỗn. Bao giờ tôi cũng thấy ái ngại cho ông khi nhìn ông từ đằng sau: cái chỏm đầu gồ lên và hai mạch máu phập phồng thòi ra từ cổ áo lên mãi tận đường ngôi.
 
Tại sao lại là Mamăng Truczinski dắt tay tôi chứ không phải Gretchen Scheffler hay Hedwig Bronski? Bà cụ ở tầng hai khu chung cư của chúng tôi và hình như không có tên cái vì tôi thấy mọi người đều chỉ gọi bà là Mamăng Truczinski.
 
Đi trước quan tài là Đức cha Wiehnke cùng một bõ nhà thờ mang hương. Mắt tôi lướt từ gáy Matzerath sang những cái cổ hằn những nếp nhăn của những người khiêng quan tài. Tôi phải đấu tranh để dẹp đi một khát khao cuồng khấu: Oskar muốn trèo lên cỗ áo quan. Nó muốn ngồi đó mà đánh trống. Nhưng không phải đánh trên cái trống thiếc mà cái chính là nó muốn dùng dùi trống gõ lên nắp áo quan. Nó muốn cưỡi thật cao, lắc lư theo nhịp đi uể oải của những người khiêng đòn. Nó muốn đánh trống vì những người đưạ, tang đang nhắc lại những lời cầu nguyện theo Cha Wiehnke. Và khi hạ huyệt, nó muốn đứng vững trên nắp áo quan. Trong khi cử hành các nghi thức - thuyết giáo, đổ chuông, vẩy bình xông hương và nước thánh, nó muốn đánh bài La -tinh của nó trên ván gỗ trong khi người ta hạ nó xuống huyệt cùng với quan tài. Nó muốn đi xuống huyệt cùng với mẹ và cái thai chưa lọt lòng. Và nó muốn ở lại đó trong khi những người còn sống ném những nắm đất xuống, không, Oskar không muốn trở lên nữa, nó muốn ngồi trên phần dưới thon nhỏ của áo quan, ngồi - đó mà đánh trống nếu có thể, đánh dưới mặt đất, đánh đến khi đôi dùi rữa nát rụng khỏi tay nó, đánh cho đến khi mẹ vì nó và nó vì mẹ đều cùng rữa nát ra, trao gửi thịt da cho đất và những cư dân của đất; bằng chính những đốt xương của mình, Oskar những muốn đánh tiếp cho cái thai nếu có thể và được phép.
 
Không có ai ngồi trên áo quan cả. Trần trụi trơ khấc, nó đu đưa dưới hàng liễu rủ và du du của nghĩa trang Brenntau. Giữa những dãy mồ, đàn gà đốm của ông bõ nhà thờ lách chách mổ tìm sâu, gặt những gì chúng chẳng hề gieo. Rồi qua hàng cây phong. Tay tôi trong tay Mamăng Truczinski. Trước tôi là Matzerath, ngay sau tôi là bà ngoại với Greff và Jan dìu hai bên; rồi ông bác Vincent Bronski dựa trên cánh tay Hedwig, rồi Marga và Stephan nắm tay nhau, rồi vợ chồng nhà Scheffler. Theo sau là bác thợ chữa đồng hồ Laubschad, già Heilandt, nghệ sĩ  t’rompet Meyn không mang theo kèn và tương đối tỉnh táo.
 
Mãi đến khi xong xuôi và bắt đầu sang đoạn phân ưu, tôi mới nhận thấy Sigismund Markus. Vận đồ đen, vẻ bối rối, bác hòa vào đám người muốn đến nắm tay Matzerath, tôi, bà ngoại tôi, vợ chồng Bronski và thầm thì đôi điều. Thoạt đầu, tôi không hiểu Alexander Scheffler muốn gì Markus. Họ chẳng quen biết nhau mấy, dễ thường trước đó họ chưa từng nói chuyện với nhau bao giờ cũng nên. Thế rồi Meyn về hùa với Scheffler. Họ đứng cạnh một hàng rào cao ngang thắt lưng làm bằng cái thứ gỗ xanh xanh mau phai màu và có vị đắng nghét khi ta miết nó giữa những ngón tay. Bà Kater và đứa con gái Susi (nó lớn quá nhanh và đang lấy mù soa che miệng cười) ngỏ lời chia buồn với Matzerath đồng thời đưa tay xoa đầu tôi - làm sao họ không kìm được cái cử chỉ ấy nhỉ? Tiếng cãi vã đằng sau hàng rào to dần nhưng còn chưa rõ lời. Meyn t’rompét dí ngón tay trỏ vào ve áo com-lê đen của Markus mà đẩy, rồi túm một bên cánh tay Sigismund trong khi Scheffler nắm lấy bên kia. Cả hai đều rất thận trọng không để Markus, đang phải đi giật lùi, vấp phải những rìa mộ; cho nên họ đẩy bác đến tận con đường chính và chỉ cho bác lối cổng nghĩa trang. Markus có vẻ như cảm ơn hộ đã mách bảo và bắt đầu đi ra; bác đội cái mũ lụa lên đầu, không ngoảnh lại nhìn Meyn và tay chủ hiệu bánh mì, mặc dù họ vẫn nhìn theo bác.
 
Cả Matzerrath lẫn Mamăng Truczinski đều không trông thấy tôi lảng xa khỏi họ và đám người phân ưu. Làm như mót đi giải, Oskar lỉnh ra sau, qua chỗ người phu đào huyệt cùng gã phụ việc. Rồi, giẫm bừa lên bụi trường xuân, nó chạy tới hàng cây du du, đuổi kịp Sigismund Markus trước khi bác ra khỏi nghiã trang.
"Phải bé Oskar đấy không?" Markus ngạc nhiên nói. "Nói nghe xem, họ đang làm gì Markus đây? Xưa nay Markus này có làm gì họ đâu mà họ nỡ đối với Markus như vậy?"
 
Tôi không biết Markus đã làm gì. Tôi nắm lấy tay bác, bàn tay nhâm nhấp ướt mồ hôi, và dẫn bác qua cánh cổng bằng sắt uốn và ở đó, hai chúng tôi, người cung cấp trống cho tôi và tôi, người đánh trống, có thể là người đánh trống của bác, bắt gặp Leo Schugger, một kẻ cũng tin là có thiên đường như chúng tôi.
 
Markus biết Leo, mọi người trong thành phố đều biết Leo. Tôi có nghe nói về gã, tôi biết là vào một ngày nắng đẹp, hồi gã còn ở chủng viện, tất thảy - thế giới, các phép bí tích, tôn giáo, trời và đất, sống và chết - đã xáo trộn trong đầu gã đến mức là sau đó, thế giới, qua cái nhìn điên dại của gã, cứ mãi mãi là rạng rỡ và hoàn hảo.
Công việc của Leo Schugger là xuất hiện sau các cuộc lễ tang - không có ai qua đời mà gã không biết - vận một bộ đồ đen bóng rộng thùng thình, đeo găng trắng, đợi những người đi đưa đám. Cả Markus và tôi đều biết rằng việc gã đứng đó ngay trước cổng nghĩa trang Brenntau, găng trắng xăm xắn, mắt xanh ươn ướt và miệng nhớt dãi ròng ròng, chờ đám tang trở ra, là đúng với chức năng nghề nghiệp của gã.
 
Đó là một ngày giữa tháng Năm, nắng ráo, sáng trong. Cây cối và hàng rào đầy chim. Đàn gà mái cục tác tượng trưng cho vĩnh cửu bằng và thông qua những lứa trứng của chúng. Tiếng vo ve trong không trung. Lớp sơn mới màu xanh không vẩn bụi. Một chiếc mũ cao thành cũ cầm nơi tay trái mang găng, Leo Schugger di chuyển nhẹ nhàng như khiêu vũ bởi nét duyên trời cho, bước tới bên Markus và tôi, chìa năm ngón tay mang găng mốc ra. Đứng ngả người như để cưỡng lại sức gió, mặc dầu không hề có gió, gã nói một chặp, bắn cả nước bọt, trong khi Markus, mới đầu còn ngập ngừng, rồi kiên quyết đặt bàn tay trần của mình vào chiếc găng biết cử động. ‘‘Trời đẹp quá nhỉ! Giờ cô ấy đã đến cái nơi mà mọi thứ đều rẻ như bèo. Anh có trông thấy Đức Chúa Trời không? Habemus ad Dominum. Người, vừa qua đây, Người đang vội lắm. Amen."
 
Chúng tôi nói " amen". Markus nhất trí là trời đẹp và thậm chí còn nói là có trông thấy Chúa Trời.
 
Đằng sau, tiếng lao xao của những người đưa đám tiến lại gần. Markus buông tay khỏi chiếc găng của Leo, còn đủ thì giờ để " boa" cho gã một ít, nhìn tôi một cái nhìn kiểu Markus rồi chạy vội về phía cái taxi đang đợi bác ở bên ngoài phòng bưu điện Brenntau.
 
Tôi còn đang nhìn theo đám bụi bao bọc cuộc chạy trốn của Markus thì Mamăng Truczinski nắm lấy tay tôi. Họ đi thành từng đoàn và từng nhóm nhỏ. Leo Schugger phân ưu với tất cả mọi người, nhấn mạnh vào tiết trời đẹp, hỏi mọi người có thấy Đức Chúa Trời không và như thường lệ nhận được những khoản "boa" lớn nhỏ khác nhau. Matzerath và Jan trả công những người khiêng cữu, người đào huyệt, ông bõ nhà thờ và Cha Wiehnke; với một tiếng thở dài bối rối, Cha để cho Leo Schugger hôn tay mình rồi bằng bàn tay được hôn đó, vẩy nước phép theo đám tang đang từ từ giải tán.
Trong khi đó, chúng tôi - bà ngoại, ông anh Vincent của bà, vợ chồng con cái nhà Bronski, Greff không đi cùng vợ, Gretchen Scheffler - ngồi lên hai cỗ xe ngựa. Chúng tôi đi qua Goldkrug theo đường rừng và qua biên giới Ba Lan gần đấy để về Mỏ đá Bissau dự bữa cỗ tang buổi tối.
Nông trại của ông Vincent Bronski nằm trong một con thung. Phía trước có rặng bạch dương, thấy bảo là để tránh sét. Cánh cửa kho lúa được tháo khỏi bản lề, đặt trên những niễng gỗ và trải khăn bàn lên. Một số người hàng xóm cũng đến. Phải mất một lúc cỗ bàn mới soạn xong. Chúng tôi ngồi ăn ở lối cửa kho lúa. Gretchen Scheffler bế tôi trên lòng. Thoạt tiên là món béo, rồi món ngọt, rồi lại đến món béo nữa; rượu khoai tây, bia, ngỗng quay, lợn sữa quay, bánh ngọt với xúc xích, bí xào chua ngọt, bánh put-đinh với kem chua, về chiều, gió hây hẩy, tiếng chuột chạy, tiếng bọn trẻ nhà Bronski rậm rịch cùng lũ nhóc hàng xóm chiếm lĩnh sân kho.
Cùng với những ngọn đèn dầu, cỗ bài xì-cạt xuất hiện trên bàn. Rượu khoai tây vẫn để nguyên tại chỗ. Có cả rượu trứng nhà làm cho thêm phần rôm rả. Greff không uống rượu, chỉ hát. Những người Kashubes cũng hát. Matzerath ra bài đầu tiên, Jan thứ hai và tay đốc công xưởng gạch thứ ba. Mãi đến lúc bấy giờ tôi mới ngỡ ngàng nhận thấy là thiếu vắng mẹ tội nghiệp của tôi. Họ chơi đến đêm nhưng không ai thắng được bằng một bộ "cơ". Sau khi Jan hỏng ăn một bộ "cơ" thiếu con 4, tôi nghe thấy bác nói nhỏ với Matzerath: "Vào tay Agnès nhất định ăn chặt bộ này".
Rồi tôi tụt khỏi đùi Gretchen Scheffler, ra ngoài với bà ngoại và ông bác Vincent. Họ ngồi trên một cái càng xe ngựa, ông Vincent đang rì rầm điều gì với các vì sao bằng tiếng Ba Lan. Bà ngoại không còn nước mắt để khóc nữa, nhưng bà để cho tôi chui vào dưới váy bà.
Giờ đây có ai cho tôi chui vào dưới váy? Ai cho tôi náu khỏi ánh sáng ban ngày và ánh đèn? Ai ban cho tôi cái mùi bơ mềm hơi khăn khẳn mà bà tôi thường trữ cho tôi dưới váy để tôi ăn cho lên cân?
 
Tôi ngủ thiếp đi dưới bốn lần váy của bà, gần kề nguồn sinh thành ra mẹ tội nghiệp của tôi và cũng lặng yên như mẹ, tuy không đến nỗi bí hơi như mẹ trong cái hòm thuôn thuôn đằng chân của mẹ.
 
 
Trang 280




0
CÁI LƯNG CỦA
HERBERT TRUCZINSKI
 
Người ta nói không gì thay thế được một người mẹ. Không lâu sau đám tang, tôi bắt đầu cảm thấy nỗi thiếu vắng mẹ tôi. Không còn những chiều thứ năm đến thăm cửa hàng Sigismund Markus, không ai dẫn tôi đến với bộ đồng phục trắng của Xơ Inge, và nhất là những ngày thứ bảy càng khiến tôi đau đớn nhận ra rằng mẹ đã chết: mẹ không đi xưng tội nữa.
Thôi rồi khu phố, thôi rồi văn phòng bác sĩ Hollatz và thôi rồi Nhà thờ Thánh Tâm. Tôi mất hết hứng thú với các cuộc biểu tình. Và làm sao tôi có thể nhử khách qua đường tới những tủ kính cửa hàng khi mà ngay cả cái ngón nghề cám dỗ cũng trở nên nhạt nhẽo không còn hấp dẫn Oskar nữa? Không còn mẹ để đưa tôi đi xem kịch ở Nhà hát Stadt vào dịp lễ Giáụg Sinh hoặc đi đến rạp xiếc Krone hay Busch. Siêng năng nhưng mặt ủ mày chau, tôi quay về dùi mài kinh sử, lầm lũi đi qua các phố ngoại ô thẳng tắp đến đường Kleinhammer- weg, thăm Gretchen Scheffler; ở đây, cô Gretchen kể cho tôi nghe về những cuộc hành trình đến miền đất của mặt trời lúc nửa đêm do "Sức Mạnh thông qua Niềm Vui" tổ chức, trong khi tôi liều mạng so sánh Goethe với Rasputin, hoặc giả khi tôi chán ngấy cái sự luân phiên bất tận hết tăm tối lại huy hoàng mà xoay sang nghiên cứu lịch sử. Những cuốn chuẩn mực của tôi, Một cuộc chiến đấu vì Roma, Lịch sử thành Danzig của Keyser và Lịch Hàng hải của Köhler, đem lại cho tôi một thứ bán kiến thức bách khoa. Cho đến hôm nay, tôi vẫn có thể cung cấp cho quý vị những con số chính xác về việc xây dựng, hạ thủy, hoàn thiện, trang bị hỏa lực và quân số của tất cả các tàu đã tham gia trận Skagerrak, đã bị chìm hay hư hại trong dịp ấy.
 
Tôi đã gần mười bốn tuổi, tôi yêu thích sự cô đơn và rất hay đi dạo. Cái trống luôn theo tôi nhưng tôi tiết kiệm, ít dùng đến, vì sau khi mẹ mất, việc cung cấp trống thiếc một cách đều đặn cũng trở thành vấn đề.
 
Bữa ấy là vào mùa thu 1937 hay mùa xuân 1938 nhỉ? Chỉ nhớ là tôi đang đi dọc Đại lộ Hindenburg về phía thành phố, không xa tiệm cà- phê Bốn Mùa. Lá đang rụng hay chồi non đang hé, dù sao đi nữa cũng có một cái gì đang diễn ra trong thiên nhiên lúc đó - lúc tôi gặp người bạn và thầy Bebra của tôi, hậu duệ trực hệ của Hoàng tử Eugène vậy là cháu của vua Louis XVI.
 
Đã ba, bốn năm nay chúng tôi không gặp nhau, tuy nhiên còn cách nhau khoảng hai mươi bước, chúng tôi đã nhận ra nhau, ông không đi một mình mà khoác tay một người đẹp phương Nam thấp hơn Bebra độ hai phân rưỡi và cao hơn tôi chừng ba ngón tay mà ông giới thiệu với tôi là Roswitha Raguna, người mộng du nổi tiếng nhất nước Italia.
 
Bebra mời tôi vào tiệm Bốn Mùa uống với họ một tách cà-phê. Chúng tôi ngồi trong phòng có bể cá cảnh và mấy mụ già rỗi mồm xì xầm: "Nhìn bọn lùn kìa, Lisbeth, thấy không? Chắc chúng ở đoàn xiếc của Krone. Chúng mình phải đi xem mới được".
Bebra mỉm cười với tôi, phô cả ngàn nếp nhăn li ti hầu như không nhìn thấy được.
Gã bồi bàn mang cà-phê đến cho chúng tôi cao lêu đêu. Trong khi Signora [1]  Roswitha gọi thêm một miếng bánh ngọt, gã đứng cạnh đó như một cái tháp mặc đồ đen.
Bebra ngắm tôi: "Chàng Diệt Thủy-Tinh của chúng ta coi bộ không vui. Có gì trục trặc vậy, chú mình? Tại thủy tinh ngoan cố hay giọng đã yếu đi?"    
Trẻ và bồng bột như tôi đây, Oskar muốn lập tức chứng tỏ là nghệ thuật của mình vẫn đang ở đỉnh cao phong độ. Tôi nhìn quanh tìm mục tiêu và đã tập trung vào mặt kính lớn phía trước của bể cá với những con cả cảnh cùng những loài cây mọc dưới nước. Nhưng tôi chưa kịp cất tiếng thì Bebra đã nói: "Không, không, anh bạn. Bọn ta tin chú. Chúng ta đừng có phá hoại gì, đừng gây lũ lụt, đừng làm cá chết, được không?"
Tôi ngượng ngùng xin lỗi, đặc biệt với Signora Roswitha lúc này đã rút ra một cái quạt nhỏ xíu và đang quạt lấy quạt để.
" Mẹ em đã chết," tôi nói để giải thích. " Đáng lẽ bà ấy không nên làm thế. Em không thể tha thứ cho bà ấy. Người ta thường nói: người mẹ thấy tất cả, người mẹ tha thứ tất cả. Đó là cái khẩu hiệu tào lao dành cho Ngày Bà Mẹ thôi. Đối với bà ấy, em bao giờ cũng chỉ là một thằng lùn. Nếu có thể thì ắt bà đã trừ bỏ quách thằng lùn đi cho rồi. Nhưng bà không thể trừ bỏ được em, bởi vì trẻ con, kể cả những thằng lùn, đều được khai trên giấy tờ, không thể xóa toẹt đi một cách đơn giản được. Hơn nữa, em lại là thằng lùn của bà ấy nên trừ bỏ em cũng tức như hủy hoại một phần của bản thân bà. Hoặc là ta, hoặc là thằng lùn, bà tự nhủ, và cuối cùng bà tự kết liễu mình; bà bắt đầu ăn toàn cá, chỉ cá thôi ngoài ra không gì hết, thậm chí cá tươi cũng không, bà đuổi tất cả những người tình và giờ đây, khi bà yên nghỉ ở Brenntau, mọi người đều nói, những người tình và cả những khách hàng đều nói: "Thằng lùn đã đánh trống đưa nàng xuống mồ. Vì Oskar, nàng đã không muốn sống nữa, nó đã giết nàng".
 
Tôi đã phóng đại lên khá nhiều. Tôi muốn gây ấn tượng với Signora Roswitha. Đa số, nhất là bác Jan, đều cho là tại Matzerath mà mẹ tôi chết. Bebra nhìn thấu tâm can tôi.
“Chú hơi quá lời đấy, bạn trẻ ạ. Chỉ vì ghen mà chú đâm giận người mẹ quá cố của chú. Chú cảm thấy nhục vì chính những người tình chán ngắt kia, chứ không phải chú, đã đẩy bà đến chỗ chết. Chú thật hão và độc ác - như một thiên tài tất phải thế". [1]
Rồi với một tiếng thở dài và một cái liếc về phía Signora Roswitha:  ‘‘Đối với những người bé nhỏ như chúng ta, sống trót lọt được, không phải là chuyện dễ. Giữ được nhân bản mà không phải lớn lên về kích thước bề ngoài, thật là một nhiệm vụ phức tạp, một cái nghề gay go!’’
Roswitha Raguna, nàng mộng du của thành Napoli có làn da vừa nhẵn mịn vừa nhăn nheo mà tôi đoán chừng mười tám cái xuân xanh nhưng chỉ thoáng sau, đã chiêm ngưỡng như một bà lão chín mươi, Signora Roswitha vuốt vuốt bộ com-lê trang nhã may kiểu Ăng-lê của Me-xừ Bebra, chiếu cặp mắt Địa Trung Hải màu đen anh đào về phía tôi và nói bằng một giọng mịt mùng, hứa hẹn kết trái, một giọng làm tôi xúc động và biến tôi thành đá:" Carissimo Oskarnello! Tôi rất thông cảm nỗi đau buồn của bạn. Andiano, hãy đi với chúng tôi: Milano, Parigi, Toledo, Guatemala!"
Tim tôi chao đi. Tôi nắm lấy bàn tay thiếu nữ trăm tuổi của nàng Raguna. Biển Địa Trung vỗ dào dạt bờ tôi, những cây ô-liu rì rào bên tai tôi: "Roswitha muốn thay thế mẹ. Roswitha sẽ thông cảm. Roswitha, người mộng vĩ đại, nhìn thấu tâm can mọi người, hiểu tâm tư thầm kín nhất của mọi người, trừ của bản thân mình, mamma mia … chỉ trừ bản thân mình, Dio !’’
Kỳ lạ thay, nàng Raguna vừa mới bắt đầu dò đọc những ý nghĩ của tôi, X-quang tâm hồn tôi bằng tia nhìn mộng du của nàng, thì đột nhiên rụt tay lại. Phải chăng trái tim háo hức mười bốn tuổi của tôi đã làm nàng khiếp hãi? Phải chăng nàng vừa chớm cảm thấy rằng với tôi Roswitha, dù thiếu nữ hay lão bà, vẫn có nghĩa là Roswitha? Nàng thì thầm bằng tiếng Napoli, run lên, làm dấu thánh giá liên tục như thể phát hiện thấy trong tôi vô số điều ghê sợ và lặng lẽ lấy quạt che mặt.
Bối rối, tôi yêu cầu giải thích, đề nghị Me-xừ Bebra nói một điều gì. Nhưng ngay cả Bebra, mặc dù là con cháu trực hệ của Hoàng tử Eugène, cũng hoang mang, ông bắt đầu lắp bắp và cuối cùng, tôi nghe vỡ ra như thế này: "Thiên tài của chú mày, bạn trẻ ạ, cái khía cạnh thần thánh nhưng chắc chắn cũng là ma quỷ trong thiên tài của chú mày, đã làm Roswitha của ta bàng hoàng và cả ta nữa cũng phải thừa nhận rằng ở chú mày có một cái gì quá mức, một cái gì bùng nổ xa lạ đối với ta, tuy chưa đến nỗi là hoàn toàn không hiểu được. Nhưng, bất luận tính cách của chú mày như thế nào," Bebra trấn tĩnh lại, "hãy cứ đi với chúng ta, hãy gia nhập đoàn ảo thuật của Bebra. Với một chút cố gắng tự khép mình vào kỷ luật, chú mày sẽ có thể kiếm được một công chúng, ngay cả trong điều kiện chính trị hiện tại".
Tôi hiểu ra ngay. Bản thân Bebra, người đã khuyên tôi bao giờ cũng cố ở trên khán đài và đừng bao giờ ở trước nó, đã bị đẩy xuống hàng "bộ binh "quèn mặc dầu bác vẫn ở trong giới xiếc. Và quả thật, ông không hề thất vọng khi tôi lễ phép tỏ ý tiếc là không thể nhận lời mời của ông được. Signora Roswitha thở phào nhẹ nhõm đằng sau cái quạt và lại phô đôi mắt Địa Trung Hải với tôi một lần nữa.
 
Chúng tôi tiếp tục chuyện gẫu một lúc nữa. Tôi nói gã bồi bàn mang cho chúng tôi một cái cốc không và ra "giọng" mở một hình trái tim trên thành cốc. Bên dưới nhát cắt, giọng tôi khắc thêm dòng chữ với những nét hoa lá trang trí: "Oskar tặng Roswitha". Tôi trao cho nàng cái cốc và nàng rất hài lòng. Bebra trả tiền, để lại một món "boa" hậu hĩ và chúng tôi đứng dậy.
 
Họ tiễn tôi đến tận Cung Thể Thao. Tôi chỉ một chiếc dùi trống về phía cái khán đài trần trụi ở đầu đằng kia Đồng cỏ Tháng Năm và - bây giờ thì tôi nhớ ra rồi: đó là vào tháng Hai 1938 - kể cho sư phụ Bebra của tôi nghe về sự nghiệp đánh trống dưới gầm các khán đài của tôi.
Bebra nở một nụ cười bối rối, mặt Raguna tỏ ra nghiêm nghị. Khi nàng đứng tách ra mấy bước, Bebra, thay lời tạm biệt, nói nhỏ vào tai tôi: "Ta đã thất bại, bạn trẻ ạ. Làm sao ta còn có thể là sư phụ của chú được nữa? Chính trị, chính trị thật là chán ngắt!"
Rồi ông hôn lên trán tôi như hồi cách đây mấy năm khi tôi gặp ông giữa đám xe lăn. Nàng Roswitha giơ bàn tay như bằng sứ và tôi cúi mình trên đó rất trang nhã, gần như quá lịch lãm đối với cái tuổi mười bốn của tôi.
"Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau, con trai ạ," Me - xừ Bebra nói. "Dù thời thế thế nào, những người như chúng ta cũng không mất nhau."
" Hãy tha thứ cho các bậc cha chú của mình", Signora thuyết giảng. "Hãy làm quen với cuộc sống của chính mình để trái tim mình tìm thấy sự bằng an và Xatăng thì bối rối."
Tôi có cảm giác như Signora đang làm lễ rửa tội cho tôi lần thứ hai, và cũng lại phí công vô ích. Vade retro Sa tanas [3]- nhưng Xatăng không cút. Tôi rầu rầu nhìn theo và, lòng trống rỗng, giơ tay vẫy khi họ chui vào một cái taxi rồi biến mất hẳn trong đó - vì loại xe Ford được thiết kế cho người lớn nên chiếc taxi chở các bạn tôi đi nom như không có người, như đang chạy vòng vòng kiếm khách vậy.
 
Tôi cố nài Matzerath đưa tôi đi xem đoàn xiếc Krone biểu diễn nhưng không sao lay chuyển nơi ông; ông chìm đắm hoàn toàn trong nỗi đau nhớ tiếc mẹ tội nghiệp của tôi mà chưa bao giờ ông chiếm hữu hoàn toàn. Nhưng có ai hoàn toàn chiếm hữu được mẹ? Ngay cả Jan Bronski cũng không; nếu có thì chỉ là tôi thôi bởi vì chính Oskar là người đau khổ nhất vì mất mẹ, sự thiếu vắng ấy đã đảo lộn đời sống hàng ngày của nó, thậm chí đe dọa chính lý do tồn tại của nó. Mẹ đã bỏ rơi tôi. Chẳng thể chờ đợi gì ở các bậc cha chú của tôi. Thày Bebra của tôi đã tìm được thày mình ở nơi ngài Bộ trưởng Tuyên Truyền Goebbels. Gretchen Scheffler thì dốc hết tâm lực vào công việc Cứu tế Mùa Đông. Làm sao không ai đói, không ai rét. Tôi chỉ còn biết quay về với cái trống của mình thôi, tôi tấu nỗi cô đơn của mình trên mặt trống xưa trắng tinh, giờ đã mỏng đi vì dùng nhiều. Tối đến, Matzerath và tôi ngồi đối diện nhau, ông lần giở cuốn sách nấu ăn của ông, còn tôi than thở trên cái trống của tôi. Đôi khi ông úp mặt vào cuốn sách nấu ăn mà khóc. Jan Bronski ngày càng ít đến chơi hơn. Vì tình hình chính trị, cả hai người đều nghĩ cứ nên thận trọng thì hơn, làm sao biết được gió sẽ thổi chiều nào. Những chầu xì-cạt thưa hẳn đi; mỗi hội chơi đều bắt đầu vào tối khuya dưới ánh đèn treo trong phòng khách và tránh mọi bàn cãi chính trị. Bà ngoại Anna của tôi dường như đã quên đường từ Bissau đến nhà chúng tôi ở phố Labesweg. Bà giận Matzerath và có lẽ cả tôi nữa vì có lần tôi nghe thấy bà nói: " Agnès của tôi chết vì nó hết chịu nổi tiếng trống."
Mặc dù cảm thấy có phần trách nhiệm về cái chết của mẹ. tôi vẫn một mực bám riết lấy cái trống bị miệt thị của mình với một nghị lực tuyệt vọng. Nó không chết như một người mẹ có thể chết: tôi có thể mua một cái mới, hoặc nhờ già Heilandt hay bác thợ đồng hồ Laubschad chữa hộ, nó hiểu tôi, nó luôn luôn mang đến cho tôi câu trả lời đúng, nó khăng khít với tôi như tôi khăng khít với nó.
 
Vào thời kỳ ấy, căn hộ đã trở nên quá nhỏ đối với tôi, phố phường trở nên quá dài hoặc quá ngắn đối với cái tuổi mười bốn của tôi. Ban ngày, chẳng có cơ hội để chơi trò cám dỗ trước các tủ kính cửa hàng, còn ban đêm thì sự cám dỗ mình để đi cám dỗ người khác lại chưa cấp thiết đến độ khiến tôi phải đi rình trong bóng tối các cửa vào. Tôi chỉ còn nước lên lên xuống xuống bốn tầng gác khu nhà chung cư của chúng tôi theo nhịp trống; tôi đếm được một trăm mười sáu bậc, đến mỗi chiếu nghỉ lại dừng lại để ngửi những mùi thoát ra khỏi năm cửa chính của mỗi tầng, bởi lẽ, giống như tôi, các mùi cũng cảm thấy gò bó trong những căn hộ hai phòng.
Thoạt đầu thỉnh thoảng tôi cũng gặp may với Meyn - t’rompét. Tôi thấy anh ta nằm say mèm giữa đám khăn trải giường phơi la liệt trên tầng áp mái. Và đôi khi trong tình trạng ấy, anh thổi cây kèn của mình với một nhạc cảm kỳ diệu đến độ khiến trống tôi tràn đầy hoan lạc thật sự. Tháng năm 1938, anh thôi uống rượu gừng và gặp ai cũng nói: "Tôi đang bắt đầu một cuộc đời mới". Anh trở thành một thành viên của ban nhạc Kỵ đoàn SA. Đi ủng, mặc quần cụt ống đũng da và hoàn toàn tỉnh táo, anh lên xuống cầu thang thoăn thoắt năm bậc một. Anh vẫn nuôi bốn con mèo trong đó có con được đặt tên là Bismarck  [4]  vì như mọi người đoán chừng, thi thoảng rượu gừng cũng chiếm thế thượng phong khiến anh khao khát âm nhạc.
Tôi ít khi gõ cửa bác thợ đồng hồ Laubschad, một con người trầm lặng giữa hàng trăm cái đồng hồ. Việc đó có vẻ như là một sự lãng phí thời gian trên quy mô quá lớn, nên mỗi tháng tôi chỉ có thể làm không quá một lần.
 
Già Heilandt vẫn còn cái lán xưởng ở trong sân. Già vẫn uốn thắng lại những cái đinh quằn. Quanh đây vẫn nhiều thỏ và con cháu dòng giống của chúng như ngày xưa. Nhưng bọn trẻ con thì đã thay đổi. Bây giờ chúng mặc đồng phục, thắt cà-vạt đen và thôi không nấu xúp bột gạch nữa. Chúng đã cao lớn gấp đôi tôi và tôi hầu như không biết tên chúng. Đó là thế hệ mới; thế hệ tôi đã thôi không đến trường và đang học nghề. Nuchi Eyke là một thợ hớt tóc tập sự. Axel Mischke chuẩn bị để trở thành một thợ hàn ở xưởng đóng tàu Schichau. Susi đang học việc bán hàng ở thương xá tổng hợp Sternfeld và đã có bồ. Làm sao mọi sự có thể thay đổi nhanh thế trong vòng có ba bốn năm! Cái giá đập thảm vẫn còn đó và nội quy chung cư vẫn cho phép đập thảm vào các ngày thứ ba và thứ sáu, nhưng bây giờ họa hoằn mới thấy tiếng đập mà nghe ra có phần bối rối: từ khi Hitler lên cầm quyền thì máy hút bụi cũng lên ngôi; các giá đập thảm bị bỏ mặc cho lũ chim sẻ tha hồ đậu.
Tôi chỉ còn có khu cầu thang và tầng áp mái. Dưới mái ngói, tôi miệt mài đọc. Trong cầu thang, khi nào cảm thấy cần có người bầu bạn, tôi lại gõ cánh cửa thứ nhất bên trái của tầng hai và Mamăng Truczinski bao giờ cũng sẵn sàng mở. Từ khi Mamăng nắm tay tôi ở nghĩa trang Brenntau và dắt tôi đến bên huyệt mẹ tôi, bao giờ Mamăng cũng mở khi Oskar lấy dùi trống gõ vào cánh cửa.
" Đừng có gõ to thế, Oskar. Herbert còn đang ngủ, đêm qua nó lại bị một phen khốn đốn, người ta phải lấy xe cấp cứu đưa nó về nhà đấy". Bà kéo tôi vào nhà, rót cà-phê hạt muồng trộn sữa và cho tôi một miếng đường nâu ở đầu một sợi dây để nhúng vào cà-phê mà mút. Tôi uống cà-phê, mút đường và để cho trống nghĩ.
 
Mamăng Truczinski có cái đầu tròn nhỏ với mái tóc màu xám tro mỏng và thưa đến nỗi thấy cả da đầu hồng hồng nhẳn bóng. Những sợi tóc lưa thưa chụm lại về phía sau gáy thành một búi; cái búi ấy được giữ chặt bằng những kim đan và chỉ suýt soát bằng một viên bi da, nhưng có thể nhìn thấy từ mọi phía, bất kể bà xoay người theo tư thế nào. Sáng sáng, Mamăng Truczinski thoa cặp má tròn trĩnh (khi bà cười, nom chúng như được dán lên mặt) bằng thứ giấy lấy từ những gói rau diếp quăn, vừa đỏ lại vừa thôi màu. Thần thái bà tựa như một con chuột nhắt. Bốn con của bà tên là: Herbert, Guste, Fritz và Maria.
 
Maria bằng tuổi tôi. Nó vừa học xong tiểu học và hiện ở với gia đình một viên chức tại Schidlitz, học làm công việc nội trợ. Fritz làm ở một xưởng toa xe lửa, ít khi thấy ở nhà. Anh ta có hai, ba cô bồ thay phiên nhau tiếp anh trên giường của mình và thường đi nhảy với anh ở tiệm "Trường đua ngựa" ở Ohra. Anh ta nuôi thỏ trong sân, giống "Vienna xanh", nhưng người chăm nom chúng là Mamăng Truczinski, vì anh còn bận chăm nom các cô bồ. Guste, một tâm hồn trầm lặng khoảng ba mươi tuổi, là nữ tiếp viên của khách sạn Eden gần ga trung tâm. Chưa chồng, chị ở trên tầng thượng toà nhà chọc trời Eden cùng với các nhân viên khách sạn. Không kể Fritz thi thoảng về ngủ lại nhà, chỉ còn có Herbert, người con trai cả, ở nhà với mẹ. Herbert làm bồi bàn ở ngoại ô cảng Neufahawasser. Đã đến lúc phải nói về anh. Bởi lẽ trong một thời gian hạnh phúc ngắn ngủi sau khi mẹ tội nghiệp của tôi qua đời Herbert Truczinski đã là mục đích của đời tôi; cho đến nay, tôi vẫn gọi anh là thân hữu của tôi.
 
Herbert làm việc cho Starbusch, chủ tiệm bar "Thụy Điển" đối diện Nhà thờ của các thủy thủ Tin Lành. Khách hàng, như ta có thể đoán qua cái tên tiệm, phần lớn là người Xcăngđinavia. Nhưng cũng có nhiều người Nga, Ba Lan từ cảng tự do cùng đám công nhân bốc dỡ từ Holin và thủy thủ của các tàu chiến Đức ghé thăm cảng. Làm bồi bàn ở cái nơi tứ chiếng quốc tế này không phải là không nguy hiểm. Chỉ có kinh nghiệm tích lũy được ở "Trường đua ngựa" - cái tiệm nhảy hạng ba ở Ohra nơi Herbert đã làm việc trước khi đến Neufahrwasser - mới khiến anh có thể chế ngự được cái tháp Babe [5] ở bar  ‘‘Thụy Điển’’ với thứ thổ ngữ Hạ Đức ngoại ô của anh pha trộn với dăm ba câu tiếng Ăng-lê và Ba Lan. Ngay cả như thế, mỗi tháng anh cũng phải một, hai lần về nhà bằng xe cấp cứu, ngoài ý muốn của anh nhưng được cái là miễn phí.
Sau đó, Herbert phải nằm xấp trên giường mà thở rốc mấy ngày vì anh nặng ngót nghét một tạ. Những hôm ấy, Mamăng Truczinski luôn mồm ca cẩm trong khi luôn chân luôn tay chăm sóc anh. Mỗi lần thay băng xong, bà lại rút một chiếc kim đan ở búi tóc ra gõ gõ lên mặt kính một tấm ảnh có sửa thêm treo đối diện với giường Herbert. Đó là ảnh một người đàn ông để ria, mắt nhìn đăm đăm, rất giống một vài người để ria ở những trang đầu cuốn album ảnh của tôi.
Tuy nhiên, cái ông mà Mamăng Truczinski lấy kim đan chỉ vào không phải là thành viên của gia đình tôi, đó là cha của Herbert, Guste, Fritz và Maria.
“Rồi một ngày kia, anh cũng sẽ kết thúc giống như bố anh thôi”, bà cằn nhằn anh chàng Herbert đang rên rẩm. Nhưng bà không bao giờ nói rõ ràng là người đàn ông trong bức ảnh lồng khung sơn mài đen kia đã chết như thế nào, đã đi tìm và gặp cái kết thúc của mình ở đâu.
"Lần này thì xẩy ra chuyện gì?" bên trên đôi cánh tay khoanh trước ngực, bộ mặt chuột nhắt với mái tóc tro xám hỏi.
"Như mọi khi. Bọn Thụy Điển và Na Uy." Cái giường cót két khi Herbert chuyển thế nằm.
"Như mọi khi, như mọi khi. Đừng có nói với tôi rằng vẫn là những thằng ấy. Lần trước là những gã ở tàu tập huấn, tên nó là gì hả, nói nghe nào, à phải rồi, tàu Schlageter. Đúng là thế rồi mà anh thì định bịp tôi là bọn Thụy Điển với Na Uy.
Tai Herbert - tôi không nhìn thấy mặt anh - đỏ đến tận vành. "Cái bọn Đức chết tiệt bao giờ cũng sủa ăng ắng và hùng hùng hổ hổ."
"Mặc kệ họ. Việc gì đến anh? Những lần họ được phép rời tàu vào thành phố, tôi thấy họ cũng đàng hoàng đấy chứ. Anh lại lên lớp họ về Lênin hay thuyết giáo về Nội chiến Tây Ban Nha chứ gì?"
Herbert không trả lời nữa và Mamăng Truczinski lệt xệt đôi dép quay vào bếp với món càphê hạt muồng của bà…
Lưng Herbert vừa khỏi một cái là anh cho tôi xem ngay. Anh ngồi trên chiếc ghế bếp, đai đeo quần buông thõng trên đùi, và cởi chiếc sơ-mi len một cách chậm rãi như thể bị những ý nghĩ nghiêm trọng ngáng trở.
Lưng anh tròn, luôn luôn chuyển động. Những bắp thịt cứ cuồn cuộn, cuồn cuộn. Một phong cảnh hồng hồng lấm tấm những vết tàn nhang. Hai bên cột sống lút trong mỡ, rậm rì một lớp lông bù xù chạy từ xương bả vai xuống đến tận bên dưới cái quần đùi len mà cả trong mùa hè, Herbert cũng vẫn mặc. Từ cổ xuống đến cạp quần đùi, lưng Herbert đầy những sẹo dày xen giữa đám lông, lấn cả những vết tàn nhang. Những cái sẹo nhiều màu, từ xanh đen đến lam nhờ nhờ, kết thành nếp, rất ngứa khi thay đổi thời tiết. Tôi được phép sờ những cái sẹo ấy.
 
Cái thằng tôi đang nằm đây, ngó ra ngoài cửa sổ, cái thằng tôi đã nhiều tháng nay cứ phải nhìn hoài những nhà phụ của cái bệnh viện tâm thần này và, qua chúng, khu rừng Oberrath đằng sau, thử hỏi tôi đã được sờ những gì nhạy cảm hơn, rắn hơn, xúc động hơn những cái sẹo trên lưng Herbert Truczinski? Vào cùng loại này, tôi có thể xếp: bộ phận kín của một số đàn bà và con gái, cái dương vật của chính tôi đây, cái vòi ô-doa bằng thạch cao của Jêxu hài đồng và cái ngón tay đeo nhẫn mà khoảng hai năm trước đây, con chó ấy đã tìm thấy ở một cánh đồng lúa mạch đen và mang về cho tôi, mà mới năm ngoái, tôi còn được phép giữ, dành rằng phải bỏ vào một bình bô-can để tôi không đụng được tới, nhưng vẫn rõ nét và trọn vẹn đến nỗi tới giờ, tôi vẫn có thể cảm thấy và đếm từng đốt của nó với sự trợ giúp của cặp dùi trống. Bất cứ lúc nào tôi muốn nhớ lại cái lưng của Herbert Truczinski, tôi lại ngồi trước cái ngón tay được bảo quản trong bô- can mà đánh trống, nhờ cái trống giúp cho trí nhớ. Khi nào tôi thèm dựng lại hình ảnh thân thể một người đàn bà - điều này không xảy ra thường xuyên lắm - Oskar, vì chưa tin chắc vào cảm nhận của mình về cái bộ phận giống thẹo ở đàn bà, cứ tái tạo lại những vết sẹo của Herbert Truczinski là xong. Nhưng tôi cũng có thể nói ngược lại: tiếp xúc đầu tiên của tôi với những vết sẹo trên cái lưng rộng của bạn tôi, ngay từ bấy giờ, đã hứa hẹn rằng tôi sẽ được biết và tạm thời chiếm hữu những khoảnh khắc làm cứng ngắn ngủi vốn là đặc trưng của người đàn bà sẵn sàng ân ái. Cũng giống như vậy, những biểu tượng trên lưng Herbert đã sớm hứa hẹn tới cái ngón tay đeo nhẫn và trước cả khi những sẹo của Herbert hứa, thì chính đôi dùi trống của tôi, từ bữa sinh nhật lần thứ ba của tôi đã hứa sẽ mang đến nào sẹo, nào cơ quan sinh dục và cuối cùng là ngón tay đeo nhẫn. Nhưng tôi phải trở lại xa hơn nữa, khi tôi còn là một cái bào thai, trước cả khi Oskar được gọi là Oskar, cái nhau của tôi, khi tôi ngồi chơi với nó, đã lần lượt hứa với tôi nào dùi trống, nào sẹo của Herbert, nào những cái miệng núi lửa thi thoảng bùng nổ của đàn bà - trẻ và không còn trẻ lắm - và cuối cùng, cái ngón tay đeo nhẫn; đồng thời, trong một phát triển song song khởi đầu với cái vòi ô-doa của Chúa Jêxu hài đồng, nó cũng hứa với tôi về cái của quý của chính tôi mà tôi bao giờ cũng mang theo, bất di bất dịch - cái tượng đài đỏng đảnh cho sự bất túc và những khả năng hạn chế của tôi.
 
Hôm nay, tôi trở lại với cặp dùi trống của tôi, Còn về những cái sẹo, những bộ phận mềm nõn, cái vũ khí chẳng mấy khi ngóng đầu lên kiêu hãnh của tôi, giờ đây tôi chỉ còn nhớ đến chúng một cái gián tiếp qua cái trống của tôi. Tôi sẽ phải đến tuổi tam thập nhi lập trước khi có thể mừng lại sinh nhật lần thứ ba của mình. Hẳn quý vị đã đoán ra: mục tiêu của Oskar là quay trở về đầu nguồn; đó là mục đích duy nhất đằng sau toàn bộ cố gắng đại ngôn này và lý do duy nhất khiến tôi phải dài dòng về những cái sẹo của Herbert Truczinski.
 
Trước khi tôi tiếp tục mô tả và diễn giải về cái lưng của bạn tôi, có lẽ cũng cần nêu một nhận xét mào đầu: trừ một vết cắn nơi ống đồng do một ả điếm ở Ohra gây nên, phía trước thân thể cường tráng của anh không hề có tí ti sẹo nào hết, một tấm bia tuyệt vời mà người ta chỉ có thể đánh trúng từ đằng sau. Chỉ có lưng anh là mang dấu tích những nhát dao găm Phần Lan và Ba Lan, những vết dao xỉa của bọn "cửu vạn" ở đảo kho Speicherinsel và dao thủy thủ của bọn học viên sĩ quan ở các tàu huấn luyện.
Khi Herbert ăn trưa xong - mỗi tuần ba lần, có món bánh khoai tây mà không ai có thể làm vừa mỏng, vừa giòn lại không mỡ như Mamăng Truczinski - khi Herbert gạt cái đĩa ăn sang bên, tôi liền đưa cho anh tờ Neueste Nachrichten (Tin giờ chót). Anh hạ đai đeo quần xuống, cởi sơ mi và trong khi anh đọc báo, tôi tra hỏi cái lưng của anh. Trong những cuộc tra hỏi ấy, Mamăng Truczinski thường nán lại bên bàn với chúng tôi: bà tháo len từ những chiếc tất cũ, đóng góp những nhận xét đồng tình hay - phản đối và thể nào cũng xen vào một đôi câu về cái chết khủng khiếp - cứ cho là thế - của người đàn ông trong tấm ảnh có sửa thêm được lồng kính treo trên tường đối diện với giường ngủ của Herbert.
 
Bắt đầu cuộc thẩm vấn, tôi dí ngón tay vào một trong những cái sẹo. Hoặc giả đôi khi tôi lấy một chiếc dùi trống đi vào.
“Ấn lại đi. chú bé. Anh chưa nhận ra cái nào. Có vẻ như nó đang ngủ."
Và tôi ấn lại, mạnh hơn một chút.
"À, cái ấy! Đó là một gã người Ukraina. Gã gây lộn với một cha người Gdingen. Thoạt đầu, họ ngồi cùng bàn thân thiết như anh em ruột. Thế rồi gã người Gdingen nói: Ruxki (người Nga). Gã Ukraina phật ý; muốn nói gì gã cũng được nhưng đừng có gọi gã là Ruxki. Gã đã chở gỗ xuôi sông Vistula và nhiều sông khác trước đó và gã có một xấp tiền nhét trong ủng. Gã đã tiêu nửa số tiền trong ủng để đãi những chầu rượu ở quán Starbusch thế mà cái cha người Gdingen kia lại gọi gã là Ruxki. Và anh phải can hai gã ra, theo cái cách nhẹ nhàng và nhã nhặn của anh. Mà Herbert này thì bưng bê đầy cả hai tay. Thế rồi gã Ukraina gọi anh là đồ Pôlắc  [6] vét đĩa và cái cha Pôlắc làm việc trên tầu nạo vét bùn thì chửi anh câu gì nghe như là Nazi ấy. Hừm, chú bé, em lạ gì Herbert Truczinski này; một phút sau, thằng cha mặt mày xanh xao làm ở tàu nạo vét, hình như là thợ đốt lò, đã nằm gập đôi người cạnh phòng để áo ngoài. Anh đang sắp sửa dạy cho gã Ukraina biết sự khác nhau giữa một gã Pôlắc vét đĩa và một công dân thành Danzig là thế nào, thi gã đã xơi anh từ đằng sau - và duyên do cái sẹo là thế."
Khi Herbert nói "và duyên do cái sẹo là thế", bao giờ anh cũng nhấn mạnh lời của mình bằng cách lật giở các báo và ực một hớp cà phê hạt muồng. Và tôi lại được phép ấn cái sẹo tiếp theo, có khi một lần, có khi hai.
"À, cái này! Cái này chẳng có gì ghê gớm lắm. Đó là hồi cách đây hai năm khi hạm đội phóng ngư lôi từ Pillau đến bỏ neo ở đây. Lạy Chúa, chúng nghênh ngang, ra vẻ ta đây sang trọng, làm các em chip hôi mê như điên. Đến bây giờ anh vẫn không biết thằng cha Schwienel ấy làm thế nào mà vào được Hải quân. Hắn là người Dresden, hãy ráng mà hiểu, chú bé Oskar của anh, người Dresden. Nhưng mà chú không hiểu đâu, chú không thể biết là khi một thủy thủ có gốc gác từ Dresden, điều đó nghĩa là thế nào đâu."
Những ý nghĩ của Herbert cứ lẩn quẩn mãi với cái thành phố tươi đẹp bên bờ sông Elbe - quá dai dắng đối với ý thích của tôi. Để kéo những suy nghĩ đó trở lại Neuefahrwasser, tôi lại ấn vào cái sẹo mà anh cho là chẳng có gì ghê gớm lắm.
"Phải, như anh đã nói. Hắn là lính truyền tin hạng hai trên một tàu phóng ngư lôi. Ăn to nói lớn. Hắn định vây vo với một tay người Xcôtlen thuộc loại trầm tĩnh, tàu của tay này đang đậu ở ụ tàu khô để sửa chữa. Bắt đầu ba hoa về Chamberlain [7], về ô, về những thứ đại loại như thế. Anh khuyên hắn, rất bình tĩnh theo phong cách của anh, nên dẹp cái thứ chuyện tào lao ấy lại, nhất là vì tay Xcôtlen nọ chẳng hiểu cái cóc khô gì mà chỉ lấy ngón tay chấm rượu schnaps vẽ lên mặt bàn. Vậy nên anh bảo hắn để cho tay kia yên, cậu đâu có ở nhà mình, anh nói, cậu là khách của Hội Quốc Liên mà. Đến đây, gã Fritz – phóng ngư - lôi bèn gọi anh là  ‘‘tên Đức giẻ rách", mà lại nói bằng thổ ngữ Xăcxông nữa cơ chứ. Lập tức, anh thoi cho hắn vài cú, làm hắn im mồm. Nửa giờ sau, anh đang cúi nhặt một đồng tiền bị lăn xuồng gầm bàn và không trông thấy gì bởi dưới gầm bàn tối om, thì tên Xắcxông rút dao ra, xỉa cho anh một nhát."
Herbert cười khanh khách, lật giở những trang báo Neueste Nachrchten và nói thêm: "Và thế là thành sẹo", đẩy tờ báo sang cho Mamăng Truczinski đang làu bàu, rồi vịn mép bàn chuẩn bị đứng dậy. Rất nhanh, trước khi Herbert kịp ra ngoài - nhìn mặt, tôi cũng biết anh định đi đâu - tôi ấn một cái sẹo đen đen tim tím rộng bằng cả chiều dài một cây bài xì-cạt, trên đó còn thấy cả vết chỉ khâu.
"Herbert phải đi đây, bé con ạ. Anh sẽ kể bé nghe sau." Nhưng tôi lại ấn tiếp và bắt đầu làm mình làm mẩy như đứa lên ba; miếng ấy bao giờ cũng trúng.
"Thôi được. Cốt cho chú yên. Nhưng anh sẽ kể tóm tắt thôi." Herbert lại ngồi xuống. "Đó là vào mùa Giáng Sinh năm 1930. Chẳng có việc gì làm ở cảng cả. Đám công nhân bốc dỡ nhênh nhang ở các góc phố, đánh cuộc xem ai nhổ xa nhất. Sau lễ chầu nửa đêm - bọn anh vừa pha rượu Punch xong - bọn Thụy Điển và Phần Lan từ Nhà thờ dành cho thủy thủ ở bên kia đường đổ ra. Anh thấy họ có vẻ không giầu thiện ý lắm. Anh đang đứng ở cửa, nhìn những gương mặt sùng đạo kia mà tự hỏi tại sạo bọn họ lại vân vê những chiếc khuy có hình mỏ neo như thế. Và đây chuyện đã nổ ra: dao thì dài mà đêm thì ngắn, Ồ phải, Phần Lan và Thụy Điển bao giờ cũng hầm hè nhau. Có trời biết tại sao Herbert Truczinski cứ phải dây với những nhân vật ấy. Chắc ở hắn ta có một cái ốc bị long, bởi vì cứ khi nào có chuyện là y như rằng Herbert phải can dự vào. Thế, đó là lúc anh chọn để ra ngoài, ông già Starbusch trông thấy anh và nói lớn: " Herbert, cẩn thận đấy!" Nhưng Herbert có nhiệm vụ phải làm: anh phải cứu mục sư, tội nghiệp chàng trai bé nhỏ mới tốt nghiệp chủng viện ấy, anh ta vừa từ Malmö tới và đây là lễ Giáng Sinh đầu tiên anh ta làm lễ với cánh Phần Lan và Thụy Điển trong cùng một nhà thờ. Cho nên ý định của anh là xòe cánh ra che chở cho anh ta về đến nhà không trầy da xước thịt. Anh vừa đặt tay lên áo ngoài của mục sư thì bỗng cảm thấy một cái gì lạnh buốt ở lưng và anh tự nhủ Chúc Mừng Năm Mới, mặc dù mới chỉ là Nô-en thôi. Khi tỉnh lại, anh thấy mình đang nằm trên quầy bar và dòng máu đỏ tươi của anh đang chảy vào những cốc bia miễn phí và Starbusch đang ở đó với túi thuốc Chữ Thập Đỏ của ông, cố buộc tạm cho anh một cái gọi là băng cấp cứu."
"Cái gi," Mamăng Truczzinski vừa nói vừa giận dữ rút cái kim đan khỏi búi tó, "cái gì khiến anh bỗng dưng quan tâm đến một ông mục sư khi mà từ bé đến lớn, anh không bao giờ đặt chân vào một ngôi nhà thờ?"
Herber phẩy tay bác bỏ sự bất bình của bà và, kéo theo sau sơ mi và đai đeo quần, anh đi ra cầu tiêu. Anh có vẻ bực mình, điều đó biểu hiện ở cả dáng đi lẫn giọng nói khi anh buông sõng: "Và thế là thành sẹo". Anh bước đi như thể muốn dứt khoát bứt khỏi cái nhà thờ nọ cùng những cuộc so dao gắn với nó, như thể cầu tiêu là nơi mà ở đó người ta có thể là, trở thành hoặc vẫn còn là một nhà tự do tư tưởng vậy.
Vài tuần sau, tôi thấy Herbert lầm lì, không bụng dạ nào để tôi phỏng vấn những cái sẹo của anh. Anh có vẻ chán nản, nhưng lưng anh không băng như thường lệ. Thực tế, tôi thấy anh nằm trên cái đi - văng phòng khách, chứ không dưỡng thương trên giường của mình; tuy nhiên, anh có vẻ bị thương nặng. Tôi nghe thấy anh thở dài, kêu cầu đồng thời nguyền rủa Chúa Trời, Marx và Engels. Thỉnh thoảng, anh vung nắm đấm lên không rồi lại để nó rơi xuống ngực mình; lát sau, nắm đấm kia cũng vào cuộc và anh tự đấm ngực mình như một tín đồ Thiên Chúa giáo kêu mea culpa, mea maxima culpa [8].
Herbert đã đánh chết một thuyền trưởng người Latvia. Toà án đã xử anh trắng án - anh đã hành
động ở thế tự vệ chính đáng, như vẫn thường xẩy ra trong nghề của anh. Nhưng mặc dù được trắng án, gã Latvia kia vẫn là một người Latvia chết và đè nặng lên tâm trí anh như cả một tấn gạch, tuy rằng tay thuyền trưởng, theo người ta nói, là một gã nhỏ bé gày gò, lại có bệnh dạ dày nữa.
Herbert không trở lại làm việc nữa. Anh đã báo trước cho chủ. Satarbusch, sếp của anh, đã đến thăm anh mấy lần. Ông ngồi cạnh chỗ anh nằm hoặc ngồi với Mamăng Truczinski ở bàn bếp. Ông rút trong cặp ra một chai Gin Stobbe cho Herbert và cho Mamăng Truczinski nửa pao cà-phê xanh từ cảng miễn thuế. Bao giờ ông cũng cố thuyết phục Herbert trở lại làm việc hoặc cố thuyết phục Mamăng Truczinski thuyết phục con trai bà. Nhưng Herbert rất kiên quyết - anh không muốn làm bồi bàn nữa, nhất là làm bồi bàn ở Neufahrwasser đối diện với Nhà thờ cho thủy thủ. Thực tế, anh hoàn toàn không muốn làm bồi bàn, vì làm bồi bàn có nghĩa là bị xỉa dao vào người và bị xỉa dao vào người có nghĩa là một ngày kia, buộc phải đánh chết một gã thuyền trưởng người Latvia để chỉ vì anh muốn giữ khoảng cách với gã để ngăn một con dao Latvia khỏi cộng thêm một cái sẹo Latvia vào những sẹo Phần Lan, Thụy Điển, Ba Lan, Danzig và Đức nhằng nhịt ngang dọc trên lưng Herbert Truczinski.
"Tôi thà đi làm thuế quan còn hơn là tiếp tục làm bồi bàn ở Neufahrwasser". Herbert nói. Nhưng anh cũng không đi làm thuế quan.
 
 
 
 
Chú thích :
   [1] Tiếng ItaIia: bà,  phu nhân.
  [2] Chổ này bản tiếng Pháp của Jean Amster dịch ngược hẳn lại: ..."như một thiên tài không được phép thế". Chúng tôi cho rằng dịch như bản liếng Anh đúng với khẩu khí của Bebra hơn.
[3) Tiếng La tinh: Cút đi, Xatăng
  [4] Olio Lduard Leopold Bismarck-Schon hausen (1815 - 1898). hoàng thân chính khách Đức. Thủ tướng Đại Đức quốc và tể tướng Phổ từ năm 1871
[5] Theo Kinh Thánh, khi đến vùng đất Shinar. các con trai Noe đã quyết định xây tháp Babel với đỉnh vươn tới tận trời. Để trừng phạt sự  ngông cuồng đó. Thượng lộ đã xóa trộn các ngôn ngữ làm cho không ai hiểu ai nữa (Sáng Thế Ký. Ch.XI)
 [6] Tiếng miệt thị của người Ba
  [7] Arthur Neville Chamberlain (1869-1940): Lãnh tụ Đảng Bảo Thủ Anh. Thủ tướng Anh từ tháng 5/1937. Tuyên chiến với Đức ngày 3/9/1939 sau khi quân đội phát-xít Hiller đánh chiếm Ba Lan. Từ chức Thủ tướng ngày 10/5/1940 sau khi thất bại trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm.
[8] Tiếng La tinh:tôi có tội, tôi có tội lớn nhất.
 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.08.2016 15:36:29 bởi Ct.Ly>
Trang 223
CÓ GÌ LÀ LẠ
Bây giờ, nằm đây, trong cái bệnh viện tâm thần này, tôi thường tiếc cái năng lực ngày xưa khi tôi có thể phóng giọng mình qua đêm đông làm tan chảy băng giá kết thành hoa trên ô cửa sổ, khoét những lỗ trên tủ kính cửa hàng, vẽ đường cho kẻ cắp. Tôi sẽ khoái biết bao nếu có thể, chẳng hạn, giải tán mặt kính của cái lỗ nhòm ở cửa phòng tôi để Bruno người canh giữ tôi có thể quan sát tôi trực tiếp hơn.
Tôi đã đau khổ biết bao về việc bị mất đi năng lực ấy trong cái năm trước khi tôi phải nhập viện! Thi thoảng, tôi thử phóng một tiếng kêu vào khu ngoại ô Düssendorf khốn khổ, nơi tôi sống. Khi thấy chẳng ăn thua gì, bất chấp mọi cố gắng, tôi, kẻ xưa nay vốn ghê tởm bạo lực, những muốn nhặt một hòn đá mà ném vào cửa sổ một nhà bếp nào đó. Tôi rất thèm ra oai một cú, nhất là để cho Vittlar, chuyên gia bày tủ hàng, biết tay. Đã quá nửa đêm khi tôi trông thấy hắn đằng sau tủ kính của một cửa hàng thời trang đàn ông hoặc có lẽ một cửa hàng nước hoa. Mặc dầu rèm cửa che khuất từ thắt lưng trở lên, tôi vẫn nhận ra hắn ở như đôi tất xanh xanh đỏ đỏ. Và mặc dầu hắn là (hay có thể là) môn đồ của tôi, tôi vẫn hết lòng khao khát có dịp hát cho tan tành tủ hàng của hắn, bởi lẽ dạo ấy và cả đến bây giờ, tôi vẫn không biết nên gọi hắn là ông thánh Jean hay tên phản Chúa Judas.
Vittlar thuộc dòng quý tộc, tên cái hắn là Gottfried. Sau cú ra giọng thất bại nhục nhã, tôi khẽ gõ lên mặt kính vẫn nguyên vẹn để khiến hắn chú ý đến tôi và hắn bước ra phố mấy phút để chuyện gẫu với tôi, tự chê bai những ngón trang trí của mình, và lúc đó, tôi đành gọi hắn là Gottfried vì lẽ giọng tôi không thể thực hiện được cái phép màu khiến tôi có đủ tư cách để gọi hắn là Jean hay Judas.
Cái thành tích ở cửa hiệu kim hoàn đã biến Jan Bronski thành một tên trộm và mẹ tôi thành kẻ oa trữ một bộ dây chuyền hồng ngọc, đã tạm thời kết thúc đợt luyện giọng của tôi trước các tủ kính bày những hàng hấp dẫn. Mẹ tôi trở nên ngoan đạo. Tại sao? Hẳn là việc dan díu với Jan Bronski, bộ dây chuyền lấy trộm, nỗi đau khổ ngọt ngào của đời một người đàn bà ngoại tình đã khiến mẹ thèm khát các phép bi tích tôn giáo. Tội lỗi trở thành thông lệ mới dễ dàng làm sao! Ôi, những ngày thứ năm ấy: hẹn hò trên phố, gửi bé Oskar ở chỗ Markus, “tập luyện” hăng say một thôi đến thoả mãn ở phố Thợ mộc, môka và bánh ngọt ở tiệm cà-phê Weitzke, quay lại đón thằng bé cùng với dăm ba lời tán tụng của Markus kèm theo một gói chỉ tơ bán với giá gần như là cho không và lại lên chuyến xe điện số 5. Miệng tủm tỉm mà đầu óc nghĩ tận đâu đâu, mẹ tôi vui thích với quãng đường từ Cửa Oliva qua Đại lộ Hinderburg, hồ như không để ý thấy Đồng cỏ Tháng Năm nơi Matzerath diễn tập các buổi sáng chủ nhật. Mẹ thấy ghê cả răng khi đến đoạn đường vòng qua Cung Thể thao – sao mà cái toà nhà hộp này có thể xấu xí đến thế ngay sau khi người ta vừa trải qua những giây phút đẹp đẽ! – một khúc cua nữa rồi kìa, đằng sau hàng cây bụi bặm là trường Conradinum với những học sinh đội mũ đỏ - thật tuyệt vời nếu như bé Oskar khi mười hai tuổi rưỡI cũng đội một cái mũ đỏ với một chữ “C” vàng óng, vào năm thứ nhất trung học, bắt đầu nghiền tiếng La-tinh, ra dáng một học sinh chính quy của trường Conradinum, một học sinh chuyên cần tuy có lẽ hơi vênh váo một chút.
Qua cầu chui, khi xe điện tiếp tục tiến về phía Reichskolonie và trường Helene Lange, những suy nghĩ của Matzerath phu nhân về trường Conradinum và về những cơ hội vô vọng của Oskar con trai bè tiêu tan dần. Một vòng cua nữa về phía tay trái, qua Nhà thờ Christ với các gác chuông hình củ hàng, rồi đến Quảng trường Max-Halbe, chúng tôi xuống ngay trước cửa hiệu tạp hoá Kaiser. Sau khi liếc nhìn vào tủ kính của kẻ cạnh tranh, chúng tôi rẽ vào phố Labesweig, đoạn đường vác thánh giá của mẹ. Lòng ngổn ngang trăm mối: tâm trạng bực bội chớm nở, đứa con dị dạng, lương tâm cắn rứt, sự nôn nóng muốn bắt đầu làm lại tất cả, giằng xé giữa thòm thèm và chán ngấy, giữa ác cảm và quý mến hồn hậu đối với Matzerath – mẹ tôi mệt mỏi lê bước dọc con phố Labesweig cùng với tôi và cái trống của tôi và gói chỉ tơ rẻ đến mức như là quà tặng, đi về phía cửa hàng, về phía những bó lúa mạch, dầu hoả bên cạnh thùng cá trích, nho khô, nho tươi, hạnh đào và các loại gia vị, về phía những là bột bánh Bác sĩ Oetker, rau-mùi-tây-rửa-trắng, xúp Maggi và canh Knorr, dấm Kühne, cà-phê Haag, mứt ngũ quả, về phía hai dải giấy bẫy ruồi phết mật ong, kêu vo vo ở hai âm độ khác nhau, phất phơ trên quầy hàng và về mùa hè, cứ hai ngày phải thay một lần, trong khi mẹ tôi mang tâm hồn cũng phết mật ong suốt cả năm, hè cũng như đông, không ngừng cuốn hút hàng đàn tội lỗi vo ve ở các cung bậc cao, thấp, để rồi thứ bảy nào cũng đến Nhà thờ Thánh Tâm xưng tội với Đức cha Giám mục Wiehnke.
Cũng như các chiều thứ năm mẹ đem tôi lên phố tuồng như để chia sẻ gánh nặng tội lỗi với mình, các ngày thứ bảy mẹ dẫn tôi đi trên những phiến đá chính giáo qua cửa nhà thờ, sau khi đã nhét cái trống của tôi dưới cái ao chui đầu hoặc áo măng-tô; bởi vì nếu không để tôi mang trống theo thì đừng hòng bắt tôi làm gì: tôi sẽ không nhúc nhích, không chạm tay vào trán, ngực và hai vai để làm dấu thánh giá, tôi sẽ không uốn đầu gối như là để xỏ giày và sẽ không ngồi yên ngoan ngoãn trên cái ghế gỗ nhẵn bóng để cho mấy giọt nước phép khô dần trên sống mũi.
Tôi vẫn còn nhớ ngôi nhà thờ này từ buổi lễ rửa tội cho tôi: đã có tí tranh cãi về cái tên tục[1] người ta đặt cho tôi, nhưng cha mẹ tôi nhất quyết chọn Oskar và Jan, với tư cách là cha đỡ đầu, cũng tán đồng. Thế rồi Cha Wiehnke thổi vào mặt tôi ba lần – thấy bảo là để đuổi quỷ Xatăng ra khỏi tôi. Người ta làm dấu thánh giá, áp bàn tay, rắc muối và thực hiện nhiều biện pháp khác chống Xatăng. Đến miếu đường rửa tội, cả đoàn lại dừng. Tôi đứng yên trong khi người ta đọc kinh Credo và Cha chúng ta cho tôi. Sau đó, Cha Wiehnke thấy cần phải nói thêm một lần nữa: Vade retro Satanas (Cút đi, Xatăng) và chạm tay vào mũi, vào tai tôi, những tưởng làm như thế tức là khai mở các giác quan cho thằng bé Oskar, trong khi nó đã biết tỏng mọi sự ngay từ đầu. Rồi Cha muốn nghe tôi lớn tiếng trả lời một lần cuối và Cha hỏi: “Con có khước từ Xatăng không? Và mọi việc làm của nó? Và mọi vẻ lộng lẫy bề ngoài của nó?”.
Trước khi tôi kịp lắc đầu – bởi lẽ tôi không hề có ý định khước từ - bác Jan đã thay tôi nói ba lần: “Con xin khước từ”
Mặc dù tôi không nói gì để cắt đứt quan hệ với Xatăng, Cha Wiehnke vẫn xức dầu thánh lên ngực và giữa hai bả vai cho tôi. Bên bồn nước thánh, lại kinh Credo một lần nữa, rồi cuối cùng, người ta nhúng tôi vào nước ba lần, xức dầu thánh lên da đầu tôi, quấn tôi vào một chiếc áo dài trắng để lấy vết, ban cho bác Jan cây bạch lạp phòng những ngày tăm tối, Jan bế tôi ra bên ngoài nhà thờ nơi chiếc taxi đang đợi trong thời tiết từ quang đến có mây và tôi hỏi tên Xatăng trong tôi: “Mọi sự ổn cả chứ?”
Xatăng nhảy tâng tâng và thì thào: “Cậu thấy các cửa kính nhà thờ ấy chứ? toàn bằng thuỷ tinh hết, toàn thuỷ tinh!”
Nhà thờ Thánh Tâm được xây dựn vào những năm đầu của Đế chế Đức, do đó, về phong cách, có thể coi là Tân-Gôtích. Vì phần xây gạch nhanh chóng đen xỉn lại và lớp đồng bọc cái tháp nhọn trên nóc cũng mau chuyển sang màu gỉ đồng truyền thống, nên chỉ những con mắt sành sỏi mới nhận ra sự khác biệt giữa nhà thờ xây kiểu Gôtích trung cổ với nhà thờ kiểu Gôtích hiện đại. Xưng tội thì ở nhà thờ kiểu cổ hay kiểu mới đều theo cùng một cách. Cũng y như Đức Cha Giám mục Wiehnke, hàng trăm Đức Cha Giám mục khác sau giờ làm việc ngày thứ bảy, hàng trăm cha xứ khác ngồi vào phòng nghe xưng tội, áp một cái tai giáo chức đầy lông vào tấm lưới đen bóng để các tín đồ ra sức rót vào đó những chuỗi hạt-tội-lỗi sặc sỡ, lần lượt hết hạt này đến hạt khác.
Trong khi mẹ tôi, qua kênh nghe của Đức Cha Wielnke, thưa trình những gì mình đã làm và bỏ qua không làm, những tư tưởng, lời nói và hành động của mình lên cấp tối cao của Giáo hội là quyền lực duy nhất mang lại sự cứu rỗi, thì tôi, vốn chẳng có gì để xưng tội, tụt khỏi cái ghế gỗ quá nhẵn nhụi đối với sở thích của tôi và đứng chờ trên sàn đá lát.
Tôi phải thừa nhận rằng sàn đá của các nhà thờ Thiên chúa giáo, cái mùi của một nhà thờ Thiên chúa giáo, trên thực tế, tất cả những gì thuộc về đạo Thiên chúa cho đến nay, vẫn làm tôi mê đắm như cách các cô gái tóc đỏ làm tôi mê đắm tuy tôi vẫn muốn thay đổi màu tóc của họ; rằng Thiên Chúa giáo luôn luôn đem lại cho tôi nguồn hứng khởi muốn báng bổ, điều đó chứng tỏ hoàn toàn rằng tôi đã được rửa tội thành một tín đồ Thiên Chúa giáo, tuy phù phiếm, nhưng dứt khoát, không cách chỉ huy bỏ được. Nhiều khi, giữa lúc đang làm những việc hết sức thông tục, chẳng hạn như đánh răng hay thậm chí đang đi ngoài, tôi bỗng bắt chợt thấy mình lẩm bẩm luận về lễ Mi-xa đại loại như sau: Trong Thánh Lễ Mi-xa, việc Chúa Jêxu đổ máu được lặp lại, Người lại đổ máu để chuộc tội lỗi của chúng sinh. Chén máu của Chúa Jêxu, khi nào máu Chúa đổ, rượu vang liền thay đổi, trở thành máu Chúa đích thực, ngắm nhìn máu tối linh của Người, tâm hồn ta được rẩy máu của Jêxu, dòng máu quý, được gột rửa trong máu, máy chảy trong lễ ban thánh thể, nhục thể vấy máu; tiếng của máu Chúa Jêxu vang khắp các bầu trời, máu Chúa Jêxu toả một mùi thơm trước mặt Thượng Đế.
Quý vị phải công nhận rằng tôi vẫn giữ được một giọng tương đối thiên-chúa-giáo. Trước kia, tôi không bao giờ chờ tàu điện mà không đồng thời nghĩ đến Đức Mẹ Marie Đồng Trinh. Tôi gọi Người bằng rất nhiều tên đầy ơn phước, Trinh Nữ của các trinh nữ, Mẹ Nhân Từ Khoan Dung, Người đầy thiên ân trong các người nữ, Người xứng đáng với mọi sự kính yêu, Người đã mang thai Chúa, Mẹ dịu hiền, Mẹ Trinh bạch, Nữ Đồng Trinh quang vinh, hãy cho con tận hưởng sự ngọt ngào của cái tên Jêxu mà Người đã nâng niu trong dạ, bởi tên ấy là công bình và xứng đáng, chính trực và cứu rỗi, Nữ Hoàng của Thiên giới, nhiều lần ơn phước...
Đôi khi, nhất là vào những ngày thứ bảy khi mẹ đưa tôi đến Nhà thờ Thánh Tâm, cái từ “ơn phước” ấy như một liều thuốc độc ngọt ngào ngấm vào tim tôi đến nỗi tôi thầm cảm ơn Xatăng không những vẫn sống sót sau lễ rửa tội của tôi mà còn cho tôi phương thuốc giải độc khiến tôi có thể vừa đi trên nền đá lát của Nhà thờ Thánh Tâm vừa báng bổ như một tín đồ Thiên Chúa giáo mà vẫn đứng thẳng.
Jêxu, mà nhà thờ này lấy tim Người làm tên gọi, chỉ hiển hiện trong các phép bi tích và trên các tấm hình nhiều màu sắc về con đường vác thánh giá; ngoài ra còn có ba pho tượng màu thể hiện Người ở những tư thế khác nhau.
Một pho bằng thạch cao sơn. Người đứng trên một cái bệ vàng óng, tóc dài, vận một chiếc áo dài xanh, chân đi dép. Người phanh ngực áo và, bất chấp mọi quy luật tự nhiên, phô ra ở chính giữa ngực mình một trái tim màu đỏ cà chua với vòng hào quang bao quanh, cách điệu, ròng ròng máu, để nhà thờ có thể lấy tên của bộ phận này.
Lần đầu tiên xem xét vị Jêxu có trái tim cởi mở này, tôi không khỏi bối rối nhận thấy một sự giống nhau giữa Đấng Cứu Thế và người cha đỡ đầu, bác và có thể là cha đẻ của tôi, Jan Bronski. Cũng đôi mắt xanh mơ màng đầy vẻ tự tin hồn nhiên ấy. Cũng cái miệng-nụ-hồng-mới-nở chúm chím lúc nào cũng như muốn hôn ấy. Cái nỗi đau rất đàn ông làm hằn nét đôi mày! Đôi má đầy đặn đỏ hồng hồng đòi được trừng phạt! Cả hai đều có cái bộ mặt mà đàn ông chỉ muốn đấm vào mũi, nhưng nữ giới thì lại ao ước được mơn trớn vuốt ve. Và đây nữa, đôi bàn tay như tay đàn bà được chăm chút cẩn thận, mệt mỏi, dị ứng với lao động, phô những vết xây xát như những kiệt tác của một thợ kim hoàn cung đình. Cái đôi mắt Bronski được vẽ lên mặt chúa Jêxu, đôi mắt chứa chất sự ngộ nhận của kẻ làm cha, khiến tôi bối rối sâu sắc. Chẳng phải mắt tôi cũng có cái nhìn xanh biếc chỉ có thể gây phấn khích mà không có khả năng thuyết phục đó sao?
Oskar rời khỏi trái tim ứa máu để tiến vào gian giữa, lướt nhanh từ chặng đầu của con đường Thánh Giá khi Chúa Jêxu vác Thánh Giá lên vai, đến chặng bảy nơi Người gục ngã lần thứ hai rồi đi tiếp tới ban thờ chính nơi treo pho tượng Jêxu thứ hai. Chúa Jêxu này nhắm mắt – có lẽ vì mệt hoặc để tập trung tư tưởng hơn. Chà, những bắp thịt mới oách làm sao! ứng cử viên vô địch mười môn phối hợp này khiến tôi quên phắt Bronski-Thánh-Tâm. Mỗi lần mẹ xưng tội với Đức Cha Wiehnke là một lần tôi đứng thành kính ngắm vị lực sĩ trên ban thờ chính. Quý vị có thể tin rằng tôi đã cầu nguyện: Hỡi lực sĩ rất quý mến, tôi nói với chàng, lực sĩ của các lực sĩ, vô địch thế giới về môn treo trên Thánh Giá bằng đinh đúng quy chuẩn. Không một lần co giật hoặc rùng mình! Ngọn đèn thường trực còn rùng mình chứ chàng thì tuyệt đối nghiêm và đạt điểm tối đa có thể. Đồng hồ bấm giờ tích tắc tích tắc. Thời gian của chàng được tính bằng điện toán. Trong kho đồ thờ, những ngón tay không sạch sẽ lắm của ông bõ nhà thờ đang đánh bóng chiếc huy chương vàng. Nhưng Jêxu thì không phải để giật giải. Lòng sùng tín đến với tôi. Tôi quỳ xuống hết mình, làm dấu thánh giá trên cái trống của tôi và cố gắng liên kết những từ như “ơn phước” hay “bảy chăng khổ hình” với Jesse Owens[2] và Rudolf Harbig[3] và Thế Vận Hội Olympic năm ngoái ở Berlin; nhưng không phải bao giờ tôi cũng thành công vì tôi phải công nhận rằng Jêxu đã không chơi sòng phẳng fair play với hai tay kẻ trộm. Buộc phải loại chàng, tôi ngoảnh sang bên trái, lại nuôi những hy vọng mới: tôi trông thấy pho tượng thứ ba của chàng lực sĩ nhà trời ở phía trong của nhà thờ.
“Ta hãy nhìn kỹ ba lần rồi hãy cầu nguyện”, tôi lắp bắp. Đặt chân lên những phiến đá lát theo môtíp bàn cờ vua, tôi đi về phía ban thờ bên trái. Cứ mỗi bước, tôi lại tự bảo: Chúa đang nhìn theo mày đấy, các thánh đang nhìn theo mày, thánh Pierre bị đóng đinh trên thánh giá lộn đầu xuống, thanh André bị đóng đinh vào một cây thập tự nghiêng – do đó mà có thành ngữ “thập tự THánh André. Có thập tự Hy Lạp và thập tự La-tinh còn gọi là thập tự Khổ Hình. Người ta in hình những thập tự kép, thập tự chống, thập tự chia độ trên vải, bưu ảnh và trong sách. Tôi đã thấy những chữ thập chân to, chữ thập mỏ neo, chữ thập ba múi khắc thành hình nổi đan chéo nhau. Chữ thập Moline mỹ miều, chữ thập Malta lắm kẻ ao ước, chữ thập ngoặc bị cấm trong khi chữ thập de Gaulle, thập tự Lorraine, được gọi là thập tự Thánh Antoine trong những trận hải chiến. Cũng chữ thập Thánh Antoine ấy được đeo cùng với một sợi dây chuyền, chữ thập kẻ trộm xấu xí, thập tự Giáo hoàng ba tầng đường bệ, và thập tự Nga còn gọi là thập tự Lazare[link=file:///E:/All/C%C3%A1i%20tr%E1%BB%91ng%20thi%E1%BA%BFc.docx#_ftn4][4][/link]. Ngoài ra còn có Chữ Thập Đỏ và Chữ Thập Xanh chống nghiện rượu. Hoàng thập tự là thuốc độc, Thập tự chinh xương máu tơi bời, thập cẩm là tạp pí lù, thập thành đĩ thập thành... Và như thế, tôi trở lui, để Thánh giá lại phía sau, quay lưng lại với chàng lực sĩ bị đóng đinh câu rút và tiến đến chỗ Chúa Jêxu hài đồng đang ngả mình trên đùi trái của Đức Mẹ Marie Đồng Trinh.
Oskar đứng cạnh ban thờ bên trái ở lối đi bên trái gian giữa. Đức Mẹ Marie có cái sắc diện hẳn là giống hệt cái vẻ ỉu xìu của mẹ nó hồi còn là cô gái bán hàng mười bảy tuổi ở Troyl những khi không có tiền đi xem xi-nê đành ngắm gỡ những tấm áp-phích có hình Assta Nielsen mê mải như bị hút hồn.
  Một số dạng thập lự. xem hình kèm theo:

1. Thập tự La-tinh hay Thánh Giá Khổ hình
2. Thập tự Hy Lạp
3. Thập tự Nga (còn gọi là Thập tự Lazare)
4. Thập tự Thánh Pierre
5. Thập tự Thánh André
6. Thập tự Lorraine hay Thập tự Thánh Antoine
7. Thập tự Ai Cập
8. Thập tự Giáo Hoàng
9. Thập tự mỏ neo
10. Thập tự cỏ ba lá
 
Người không để tâm đến Jêxu mà đang nhìn chú bé kia bên đầu gối phải của mình. Để tránh hiểu lầm, tôi xin gọi ngay là Jean-Baptiste. Cả hai đều vào cỡ tôi. Chính xác ra, Jêxu có lẽ cao hơn độ hai phân gì đó mặc dầu theo kinh sách thì Chúa hài đồng còn ít tháng hơn Jean-Baptiste. Nhà điêu khắc thích đùa đã thể hiện đấng Cứu Thế thành một đứa bé lên ba trần truồng hồng hào. Còn Jean – vì sau này phải ra sa mạc – thì mang một tấm da sống màu sô-cô-la lờm xờm phủ kín nửa ngực, bụng và cái vòi tưới nước.
Lẽ ra Oskar nên ở lại bên ban thờ chính hoặc quanh quẩn gần phòng xưng tội còn hơn là đánh đu với hai thằng bé có cái nhìn già trước tuổi giống nó một cách dễ sợ ấy. Dĩ nhiên, mắt chúng xanh lờ và tóc chúng màu hạt dẻ. Nếu ông thợ cắt tóc-điêu khắc gia húi cua cho hai thằng bé Oskar của ông và cắt béng những búp tóc loăn xoăn ngở ngẩn kia đi thì giống hoàn toàn không lệch một ly.
Tôi sẽ không dài dòng về chú bé Baptiste đang chĩa ngón trỏ của tay trái về phía Jêxu như thể đang đếm xem ai được chơi trước: “một, hai, ba, bốn...” Bỏ qua cái trò chơi trẻ con ấy, tôi nhìn kỹ Jêxu và nhận ra hình ảnh của chính mình. Đây có thể là anh em sinh đôi của tôi: kích thước bằng nhau, chim cũng hệt như nhau hồi ấy chỉ làm độc một chức năng vòi tưới. Chúa hài đồng nhìn thế giới bằng cặp mắt xanh cô-ban của tôi (cũng là của Bronski) và – đây là điều làm tôi cáu nhất – bắt chước đúng những cử chỉ của tôi.
Bản sao của tôi giơ cả hai cánh tay lên, hai bàn tay nắm lại theo cái cách gợi ý người ta nhét vào đó một cái gì, như cặp dùi trống của tôi chẳng hạn. Nếu nhà điêu khắc làm thế và thêm một cái trống thạch cao đỏ-trắng trên cặp đùi nhỏ hồng hồng kia, thì đích thị là bản thân Oskar ngồi trên đầu gối Đức Mẹ Đồng Trinh, đánh trống tập hợp giáo đoàn. Trên đời này có những cái – dù thiêng liêng đến đâu chăng nữa – cũng không nên để y nguyên như thật.
Ba bậc trải thảm dẫn đến Mẹ Đồng Trinh trong trang phục màu bạc và xanh lam, đến tấm da sống lờm xờm màu sô-cô-la của Jean-Baptiste, đến Chúa Jêxu hài đồng màu giăm-bông luộc. Phía trước là một ban thờ với những cây nến thiếu máu và những bó hoa đủ mọi giá. Cả ba – Mẹ Đồng Trinh màu xanh lam, Jean màu sô-cô-la và Jêxu màu hồng đều có vòng hào quang to bằng cái đĩa ăn gắn ở sau đầu – những cái đĩa đắt tiền dát vàng lá.
Nếu không có những bậc trước ban thờ, chắc chẳng bao giờ tôi trèo lên làm gì. Dạo ấy các bậc lên xuống, quả đấm cửa, mặt kính cửa hàng có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với Oskar và mặc dầu bây giờ nó không cần cái gì ngoài cái giường bệnh viện, nó vẫn chưa hẳn dửng dưng trước những thứ đó. Nó thả mình cho lực hấp dẫn ấy từ bậc này đến bậc khác, vẫn đứng trên tấm thảm ấy. Nó sáp lại đủ gần ba nhân vật để gõ gõ khớp ngón lên đó theo cách vừa sàm sỡ vừa kính trọng. Nó có thể lấy móng tay cạo cạo để lộ thạch cao dưới lớp sơn. Những nếp ở tấm áo choàng của Đức Mẹ Đồng Trinh kéo dài vòng vèo xuống tận những ngón chân đặt trên lớp mây. Khuôn ống chân lấp ló của Đức Mẹ cho thấy rằng nhà điêu khắc đã đắp da thịt trước rồi mới trùm xiêm y lên sau. Khi Oskar sờ cái vòi tưới (đán g lẽ đã phải cắt bao quy đầu song lại chưa) của Chúa hài đồng, vuốt ve nó và kín đáo ấn ấn như định vẩy, no bỗng thấy cợn lên một cảm giác mới lạ vừa khoái vừa bối rối nơi cái vòi tưới của chính nó; thế là nó để cho của quý của Jêxu được yên với hy vọng cũng được đáp lại như vậy.
Dù đã cắt bao quy đầu hay chưa, tôi cũng cứ để mọi sự nguyên như thế, lôi cái trống ra khỏi áo chui đầu, nhấc nó khỏi cổ mình và thận trọng quàng vào cổ Jêxu, không để chạm vào làm sứt mẻ vầng hào quang. Do tầm vóc thấp bé, muốn làm thế tôi cũng phải vất vả một chút. Tôi phải trèo lên pho tượng và đứng trên lớp mây thay cho đế tượng.
Chuyện này không xẩy ra vào tháng giêng năm 1936 trong lần đầu Oskar đến nhà thờ sau lễ rửa tội mà là vào Tuần lễ Thánh cùng năm. Suốt mùa đông, mẹ nó đã phải cật lực mới xưng hết tội dan díu với Jan Bronski. Do đó, Oskar có bao nhiêu ngày thứ bảy để nghĩ cho chín, duyệt lại kế hoạch, tước xén, điều chỉnh, xem xét từ mọi góc độ và cuối cùng, gạt bỏ tất cả những phương án trước để thực thi một phương án mới một cách trực tiếp và đơn giản nhất, với sự trợ giúp của những chặng đường vác Thánh Giá, vào ngày thứ hai của Tuần lễ Thánh.
Vì mẹ tôi cảm thấy cần phải xưng tội trước khi lễ Phục sinh đến thời điểm cao trào nhộn nhịp nhất, nên vào buổi chiều ngày Thứ hai Khổ Hình, mẹ dắt tôi đi dọc theo phố Labesweg đến Chợ Mới, Elsentrasse, xuôi phố Nữ thánh Marie qua cửa hàng thịt của Wohlgemuth, rẽ trái đến Công viên Kleinhammer, qua cái cầu chui lúc nào cũng rỉ ra nhỏ giọt một thứ nước vàng vàng gớm chết, vượt qua bờ dốc đường xe lửa tới Nhà thờ Thánh Tâm.
Chúng tôi đến muộn. Chỉ còn hai bà già và một thanh niên mặt mày nhớn nhác đợi bên ngoài phòng xưng tội. Trong khi mẹ tôi xem xét lại lương tâm – ngón tay cái thấm nước bọt lần giở lại cuốn sách kinh như thể đang soát sổ cái tìm những số liệu cần thiết cho tờ khai man thuế - tôi nhót khỏi chiếc ghế băng và cố tránh luồng mắt của Trái Tim Nhỏ Máu và Lực Sĩ trên Thánh Giá, tôi tiến về ban thờ bên trái.
Mặc dầu phải làm cấp tập, tôi vẫn không bỏ qua bài Nhập lễ. Ba bước: Introibo ad altare Dei[5]. Chúa mang niềm vui đến cho tuổi trẻ. Kéo dài câu Kyrie, tôi nhấc cái trống khỏi cổ và trèo lên bệ mây, không dây dưa với cái vòi tưới nữa, dứt khoát không. Ngay trước câu Gloria, tôi đã quàng cái trống lên vai Jêxu, thận trọng không làm hư hại vòng hào quang. Bước khỏi bệ mây – xá tội, khoan dung và tha thứ - nhưng trước hết phải ấn đôi dùi trống, và một, hai, ba bậc đi xuống, tôi ngước mắt nhìn lên trời, còn tí ti thảm nữa, rồi cuối cùng nền đá lát và một cái ghế cầu kinh cho Oskar và nó quỳ hai gối lên chiếc nệm nhỏ, hai bàn tay đánh trống chắp trước mặt – Gloria in Excelsis Deo – và hiếng mắt qua đôi bàn tay chắp lại theo dõi Chúa Jêxu cùng cái trống, chờ đợi phép lạ xảy ra: liệu Jêxu có đánh trống không hay là không biết đánh hay không được phép đánh? Nếu không đánh thì không phải là Jêxu đích thực, trong trường hợp đó, Oskar này mới là Jêxu thật.
Một khi đã muốn thấy phép lạ thì phải biết chờ đợi. Thì tôi đợi! Chí ít lúc đầu tôi cũng đã kiên nhẫn chờ đợi, mặc dầu mức độ kiên nhẫn có lẽ còn chưa đủ, bởi vì tôi càng nhắc đi nhắc lại câu nguyện “Lạy Chúa, mọi con mắt đang chờ Người” (thay “lỗ tai” bằng “con mắt”), thì càng thấy thất vọng trong khi quỳ trên chiếc ghế cầu kinh. Quả là Oskar đã tạo cho Chúa mọi cơ hội, nhắm mắt lại trên cơ sở giả định rằng Chúa hài đồng Jêxu, sợ những động tác đầu tiên của mình có thể vụng về, sẽ khởi động thoải mái hơn khi biết không có ai nhìn; nhưng rồi cuối cùng, sau Tín điều thứ ba, sau Đức Chúa Cha, Người Tác Tạo nên Trời và Đất và muôn vật hữu hình và vô hình, và Đức Chúa Con duy nhất được sinh ra, được Người sinh ra chứ không phải tạo ra, Con đích thực của Cha đích thực, cùng với Người là một, thông qua Người, vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, đã xuống trần, mang lốt người trần, biến thành người trần, đã chịu đau đớn, bị chôn xuống đất, sống lại, lên trời, ngồi bên tay Đức Chúa Cha, cùng những người chết, bất tận, tôi tin ở, cùng với Đức Chúa Cha, nói bằng, tin ở Giáo hội duy nhất Thánh, Thiên Chúa giáo và...
Phải, đạo Thiên Chúa chỉ còn sót lại trong lỗ mũi tôi mà thôi. Lòng tin của tôi gần như bị gột rửa  sạch rồi. Nhưng điều tôi quan tâm không phải là cái mùi. Tôi muốn một cái gì khác cơ. Tôi muốn nghe cái trống của tôi, tôi muốn Jêxu chơi một điệu trống nào đó cho tôi nghe, tôi muốn một phép lạ nho nhỏ, khiêm tốn thôi. Tôi đâu có đòi hỏi nổi sấm để khiến cha xứ Rasczeia phải hộc tốc chạy tới và Cha Wiehnke phải ì ạch lê khối mỡ của mình đến chứng kiến phép lạ; tôi đâu có yêu cầu một phép lạ lớn lao đến mức phải gưi biên bản đến Toà Giám mục ở Oliva, buộc Đức Giám mục phải trình tiếp lên Vatican. Không, tôi đâu có tham vọng lớn thế. Oskar đâu có muốn được phong thánh. Nó chỉ muốn một phép lạ nhỏ, riêng tư, một cái gì nó có thể nghe thấy và trông thấy, cốt vạch rõ một lần dứt khoát cho nó thấy là nên đánh trống để ủng hộ hay chống đối; nó chỉ muốn có một tín hiệu bảo cho nó biết trong cặp song sinh có đôi mắt xanh, giống nhau như tạc này, đứa nào, trong tương lai, đáng được gọi là Jêxu hơn.
Tôi ngồi và chờ đợi. Tôi cũng bắt đầu lo lắng. Mẹ chắc đang ở trong phòng xưng tội, bây giờ dễ thường đã qua điều răn thứ sáu rồi. Cái ông lão thường vẫn tập tễnh quanh các nhà thờ, lúc này đang tập tễnh qua ban thờ chính, rồi qua ban thờ bên trái, cúi chào Đức Mẹ Đồng Trinh và hai chú nhỏ. Có thể lão trông thấy cái trống nhưng không hiểu. Lão lẹp xẹp đi tiếp và tiếp tục già đi.
Thời gian qua đi và Jêxu vẫn không chịu đánh trống. Tôi nghe thấy những tiếng nói từ phía ban đồng ca. Mong rằng đừng ai chơi đại phong cầm bây giờ, tôi lo lắng nghĩ thầm. Nếu họ diễn tập chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, thì tiếng đại phong cầm sẽ át mất những tiếng trống ngập ngừng, yếu ớt đầu tiên.
Nhưng không ai đụng đến đại phong cầm. Mà Jêxu cũng chẳng đánh trống. Phép lạ không xảy ra. Tôi đứng dạy khỏi nệm quỳ, khớp gối kêu răng rắc. Chán ngán và buồn bực, tôi bước trên tấm thảm, kéo lết chân lên từng bậc một, bỏ qua mọi câu kinh đã thuộc, trèo lên đám mây thạch cao, xới lộn mấy bông hoa giá trung bình. Lúc này, tôi chỉ muốn lấy lại cái trống của mình từ thằng nhóc cởi truồng đần độn kia thôi.
Tôi xin nói thẳng và sẽ còn tiếp tục nhắc lại: thật là sai lầm khi cố công cố sức dạy nó điều gì. Không hiểu làm sao mà tôi lại nẩy ra cái ý ấy. Dù sao mặc lòng, tôi thu về đôi dùi, nhưng để lại cái trống. Thoạt đầu còn nhẹ nhàng, nhưng rồi cái nôn nóng của một ông thày nôn nóng, tôi bày cho chú bé Jêxu rởm thấy phải làm như thế nào. Cuối cùng, lại đặt dùi vào tay nó, tôi cho nó cơ hội phô bày những gì nó đã học được ở Oskar.
Trước khi tôi kịp giựt cả trống lẫn dùi khỏi tên ngoan cố nhất trong các thứ học trò bất chấp vòng hào quang của nó, thì Cha Wiehnke đã ở đằng sau tôi – tiếng trống của tôi đã vang khắp chiều dài chiều rộng của nhà thờ - cha xứ Rasczeia đã ở đằng sau tôi, mẹ đã ở đằng sau tôi, ông lão già đã ở đằng sau tôi. Cha xứ kéo tôi xuống, Cha Wiehnke bợp tai tôi, mẹ nhìn tôi mà khóc, Cha Wienke xì xầm mắng tôi, Cha xứ quỳ một gối rồi nhổm lên lấy cặp dùi khỏi tay Jêxu, lại quỳ một gối với cặp dùi rồi lại nhổm lên vươn tới cái trống, gỡ cái trống ra khỏi Chúa hài đồng Jêxu, làm nứt vòng hào quang, va phải cái vòi tưới bé xíu, làm bể một miếng mây, lật đật xuống các bậc và lại quỳ một gối một lần nữa. Cha không chịu trả lại trống cho tôi, điều đó làm tôi càng cáu hơn trước, buộc tôi phải đá Cha Wiehnke và làm mẹ tôi xấu hổ: tôi đấm đá, cắn xé, cào cấu cả Cha Wiehnke lẫn Cha xứ, cả ông già lẫn mẹ tôi và cuối cùng vùng ra khỏi tay họ. Thế là tôi chạy đến trước ban thờ hcisnh, cảm thấy Xatăng đang nhảy nhót trong tôi và thì thào hệt như hôm làm lễ rửa tội cho tôi: “Oskar, nhìn quanh mà xem. Cửa sổ khắp nơi. Toàn thuỷ tinh, toàn thuỷ tinh hết.”
Và vượt qua chỗ tay Lực sĩ trên Thánh Giá vẫn bình thản không co giật một thớ thịt nào, tôi cất tiếng hát hướng vào ba cửa sổ cao của phòng ngách hình vòng cung, có hình mười hai vị thánh tông đồ trên nền đỏ, vàng và xanh. Nhưng tôi không nhằm thánh Marc nay thánh Matthew, mà nhằm con chim bồ câu đứng lộn ngược bên trên họ, đang mừng lễ Hạ trần: tôi nhằm Đức Chúa Thánh Thần. Thanh đới của tôi rung lên, chất kim cương của giọng tôi tấn công con chim. Không ăn thua. Phải chăng lỗi tại tôi? Hay là do sự can thiệp của tay Lực sĩ không ai thắng nổi? Phải chăng đó là phép lạ chẳng ai hiểu nổi? Họ trông thấy tôi run lên và lặng lẽ phóng âm lực của mình về phía phòng ngách hình vòng cung và tất cả, trừ mẹ tôi, đều tưởng tôi đang cầu nguyện, trong khi tôi chỉ muốn đập vỡ cửa kính. Nhưng Oskar đã thất bại, thời vận của nó chưa đến. Tôi ngồi phịch xuống nền đá lát và khóc cay đắng vì Jêxu đã thất bại, Oskar đã thất bại, vì cả Wiehnke lẫn Rasczeia đều hiểu lầm tôi và đang tuôn ra những điều vớ vẩn về chuyện sám hối. Chỉ có mẹ là đủ thông minh để hiểu những giọt nước mắt của tôi, mặc dầu mẹ không khỏi mừng thầm vì đã không có ô kính nào bị vỡ.
Rồi mẹ bế tôi lên, nhận lại trống và dùi từ tay Cha xứ và hứa với Cha Wiehnke sẽ bồi thường thiệt hại, kế đó, được Cha làm dấu xá tội, muộn một chút, vì tôi đã làm ngắt quãng buổi xưng tội. Cả Oskar cũng được ban phước chút đỉnh mặc dầu tôi cũng chả thiết lắm.
Trong khi được mẹ bế ra khỏi Nhà thờ Thánh Tâm, tôi tính trên đầu ngón tay: hôm nay là thứ hai, mai thứ ba rồi đến thứ tư, thứ năm Thánh, thứ sáu Thánh, thôi bỏ: nhân vật này thậm chí không biết đánh trống, thậm chí không cho mình đập vỡ vài mảnh kính cho hả, hắn giống mình nhưng lại là rởm. Hắn sẽ đi xuống mồ trong khi mình vẫn tiếp tục đánh trống và đánh trống, nhưng sẽ không bao giờ ao ước được trải nghiệm một phép lạ nữa.
 
 
 

[1]Khác với tên thánh.
[2] Lực sĩ Mỹ da đen huyền thoại của mọi thời đại. Tại Thế Vận Hội 1936 ở Berlin (Đức) mà một số người gọi là “Thế vận hội của Hitler”, Jesse Owens đã làm sụp đổ tham vọng của bọn Quốc xã Đức muốn chứng tỏ với thế giới sự “ưu việt” của nòi giống “Aryen”, khi ông một mình, trong một ngày, đoạt 4 huy chương vàng trong các môn chạy 100m, 200m, chạy tiếp sức 100m X 4 (trong đó ông là thành viên quyết định thắng lợi) và nhảy xa, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử Olympic trước đó.
[3]Lực sĩ người Đức, quán quân thế giới về các môn chạy 400m, 800m và 1000m từ 1939 đến 1941. Riêng kỷ lục về môn chạy 800m của Rudolf Harbig tồn tại suốt 16 năm không bị phá.
[4] Một số dạng thập tự, xem hình kèm theo.
[5] Tiếng La-tinh: Bước vào trước ban thờ Chúa.


0
NIOBE
 
Năm 1938, thuế hải quan tăng lên và biên giới giữa Ba Lan và thành phố tự do Danzig tạm thời bị đóng cửa. Bà ngoại tôi không thể đáp chuyến tàu trên đường ray hẹp bề ngang để đến chợ Langfuhr hàng tuần và phải đóng quầy hàng ở đó. Nói cách nào đó, bà phải ngồi trên đống trứng của mình mà chẳng hề muốn ấp. Ngoài cảng, cá trích bốc mùi tanh lên đến tận trời, hàng họ chất đống và các nhà chính khách họp mặt, đi đến thỏa thuận. Trong khi đó, anh bạn Herbert của tôi, thất nghiệp, nằm trên đi-văng, bất bình với bản thân, và nghiền ngẫm những rắc rối của mình.
 
Tuy nhiên, làm cho thuế quan thì có lương và có cái ăn. Có đồng phục xanh để mặc và có một đường biên giới đáng để giữ gìn. Herbert không đi làm cho sở thuế quan, cũng không muốn làm bồi bàn nữa, anh chỉ muốn nằm trên đi văng mà ngẫm sự đời.
Nhưng đã là đàn ông thì phải làm việc. Và không chỉ riêng Mamăng Truczinski nghĩ vậy. Mặc dầu bà bỏ ngoài tai lời khẩn cầu của Starbusch xin bà thuyết phục Herbert trở lại hầu bàn ở Neufahrwasser, bà vẫn nhất quyết đẩy anh ra khỏi cái đi-văng ấy. Bản thân anh cũng mau chóng chán ngấy cái căn hộ hal phòng, những suy ngẫm của anh trở nên hoàn toàn hời hợt, rồi một hôm, anh bắt đầu soi dõi mục Tuyên Người Giúp Việc trên tờ Neueste Nachrichten và thậm chí, cực chẳng đã, trên cả tờ Vorposten (Linh Gác) của bọn Quốc Xã nữa.
Tôi những muốn giúp anh. Lẽ nào một người như Herbert lại phải kiếm một công việc khác với nghề nghiệp thích hợp của mình ở khu ngoại ô cảng này? Lẽ nào anh lại bị đẩy đến nước phải đi bốc vác, làm việc vặt, chôn cá chết? Tôi không thể hình dung Herbert đứng trên những bến sông Mottlau nhổ vào lũ hải âu, trở nên nghiện ngập suốt ngày nhai thuốc lá. Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ là Herbert và tôi có thể canh ty với nhau: mỗi tuần một lần, tập trung tinh lực làm việc hai giờ là chúng tôi có thể làm nên chuyện. Với cái giọng vẫn còn hiệu quả kim cương, với sự tinh khôn được mài sắc qua kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực này, Oskar có thể khoét những tủ kính bày hàng với những đồ đáng giá, đồng thời đứng canh gác trong khi Herbert nhanh tay làm gọn. Chúng tôi không cần mỏ hàn, không cần chìa khóa vạn năng, không cần túi dồ nghề. Chúng tôi không cần quả đấm sắt hay súng. Xã hội đen và liên doanh của chúng tôi là hai thế giới không cần tiếp xúc với nhau. Và Mercure, ông thần của kẻ trộm và doanh thương, sẽ phù hộ cho chúng tôi bởi vì tôi đây, sao Trinh Nữ chiếu mệnh, tôi nắm con dấu của ông mà thi thoảng tôi vẫn đóng lên những vật cứng.
 
Sẽ là không hợp tình hợp lý nếu bỏ qua đoạn này.
 
Tôi sẽ kể vắn tắt thôi, nhưng xin đừng coi đây là lời thú tội. Trong thời gian Herbert thất nghiệp, hai chúng tôi đã tiến hành hai vụ trộm hạng trung ở những cửa hàng thực phẩm đặc sản và một vụ lớn ngon lành ở một cửa hàng lông thú: ba khăn choàng lông cáo xanh, một bộ da hải cẩu, một bao tay lông cừu Ba Tư, và một cái măng-tô da ngựa con rất xinh tuy không đắt giá ghê gớm lắm mà mẹ tội nghiệp của tôi, nếu còn sống, chắc chắn sẽ thích mặc.
Điều làm chúng tôi bỏ nghề kẻ trộm không phải là cái mặc cảm phạm tội không đúng chỗ (tuy đôi lúc nó cũng làm chúng tôi không yên), mà là do việc tiêu thụ đồ ăn cắp ngày càng khó khăn. Để "tẩy" hàng cho được giá, Herbert phải quay về Neufahrwasser vì đó là nơi có thể gặp những mối tốt nhất. Nhưng từ khi nơi này tất yếu nhắc anh nhớ đến tay thuyền trưởng người Latvia đau dạ dày, anh cố "tẩy" hàng ở mọi chỗ khác, dọc phố Schichau, ở nhà máy Hakel, ở kim Biirgerwiesen, tóm lại ở mọi chỗ trừ Neufahrwasser, nơi các mặt hàng lông thú dễ bán như tôm tươi. Quá trình "tẩy’’ hàng chậm đến nỗi cuối cùng, mớ thực phẩm đặc sản phải ở lại hẳn trong bếp của Mamăng Truczinski và thậm chí anh đã cho, hoặc định cho, bà chiếc bao tay lông cừu Ba Tư.
Khi Mamăng Truczinski trông thấy cái bao tay, thì không còn là chuyện đùa nữa. Bà đã lặng lẽ nhận những thức ăn, có lẽ cùng chia sẻ cái tín niệm dân gian cho rằng ăn cắp đồ ăn là chính đáng.
 
Nhưng cái bao tay kia có nghĩa là xa xỉ và xa xỉ có nghĩa là phù phiếm và phù phiếm có nghĩa là vào tù. Đó là những ý nghĩ đơn giản và lành mạnh của Mamăng Truczinski; bà nheo cặp mắt chuột nhắt, rút một chiếc kim đan ra khỏi búi tó và vừa vung chiếc kim đan vừa nói: "Rồi anh sẽ kết thúc như cha anh thôi, đồng thời đưa cho Herbert của tờ Neuste Nachichten hoặc tờ Vorposten, ý nói:" Bây giờ thì đi kiếm lấy một việc làm đi, là tôi nói một việc làm tử tế cơ, nếu không đừng hòng tôi nấu cho mà ăn nữa."
 
Herbert nằm thêm một tuần nữa suy ngẫm trên cái đi-văng của mình; anh đâm cực kỳ khó tính, tôi không sao gạ được anh cho hỏi chuyện đám sẹo hoặc rủ anh đến thăm những tủ kính cửa hàng đầy hứa hẹn. Tôi tỏ ra rất thông cảm. Tôi để anh nhấm nháp nỗi đau khổ của mình đến tận cặn và dành phần lớn thời gian đến với bác thợ đồng hồ Laubschad và những cái đồng hồ ngốn thời gian của bác. Thậm chí tôi còn thử vận may với bác nhạc công Meyn, nhưng bác đã cai rượu và dành hoàn toàn cây t’rompet của mình cho những điệu nhạc ưa chuộng của Kỵ Đoàn SA; bác ăn mặc chỉnh tề, đi lại nhanh nhẹn, trong khi bốn con mèo của bác, tàn tích của một thời say sưa tối ngày nhưng đầy nhạc hứng tuyệt vời, bị bỏ đói khốn khổ, sống như chó. Mặt khác, đêm khuya về nhà, tôi hay thấy Matzerath ngồi, mắt đờ đẫn, trước một dẫy ly schnaps - sinh thời mẹ tôi, ông chỉ uống khi có bầu có bạn. Ông thường lần giở cuốn album ảnh, cố gắng (như tôi bây giờ) làm sống lại hình ảnh mẹ tôi trong những khuôn chữ nhật nhỏ rửa không được tốt lắm; đến nửa đêm, ông khóc đến độ bi ai rôì bắt đầu huênh hoang với Hitler hoặc với Beethoven, cả hai vẫn được treo đó, gườm gườm nhìn vào mắt nhau; ông dùng cách xưng hô thân mật, anh anh tôi tôi, và dường như nhận được câu trả lời từ người nhạc sĩ thiên tài - nên nhớ ông ta điếc - trong khi vị Führer bài rượu thì lặng thinh bởi vì Matzerath, một nhóm trưởng quèn, đâu có xứng đáng với Thiên Cơ.
Một ngày thứ ba - sở dĩ tôi nhớ chính xác thế là nhờ cái trống của tôi - Herbert, rút cục, đã có quyết định dứt khoát. Anh đóng bộ vào, có nghĩa nhờ Mamăng Truczinski lấy cà-phê nguội chải cái quần ống loe màu xanh, xỏ đôi giày thể thao, ấn mình vào chiếc va-rơi khuy mỏ neo, choàng chiếc khăn lụa trắng (mua từ cảng miễn thuế hải quan) được rẩy nước thơm Cologne (cũng từng nằm mãi trên đống rác miễn thuế hải quan của cảng tự do) và thế là anh đứng đó sẵn sàng đi, cứng đơ và vuông vức dưới chiếc mũ lưỡi trai màu xanh,
"Con thử đi xem có kiếm được việc gì làm không," Herbert nói, kéo lệch cái mũ lưỡi trai, tạo ra một vẻ hơi ngổ ngáo. Mamăng Truczinski buông tờ báo xuống bàn.
 
Ngày hôm sau, Herbert kiếm được một chỗ làm và một bộ đồng phục. Không phải màu xanh hải quan mà là xám đậm: anh trở thành một người gác ở Bảo tàng Hải quân.
Giống như tất cả những gì đáng được bảo tồn ở cái thành phố cũng hoàn toàn xứng đáng được bảo tồn này, những vật báu của Bảo tàng Hải quân chiếm cả một toà nhà quý tộc, vốn cũng từng là bảo tàng và còn giữ lại một cổng đá có mái che và một mặt tiền có nhiều hình trang trí rất phóng túng. Bên trong, với rất nhiều đồ gỗ sồi chạm trổ và những cầu thang xoáy trôn ốc, dành cho những hồ sơ được lập danh mục rất cẩn thận về lịch sử của cái thành phố cảng xưa nay vẫn tự hào về khả năng làm giàu và giữ được giàu thiên ức vạn tải giữa những láng giềng hùng mạnh nhưng phần lớn là nghèo. Chao, những đặc quyền mua được từ tay các hiệp sĩ Nhật Nhĩ Man hoặc từ tay các quốc vương Ba Lan và được ghi chép công phu trong những tài liệu biên soạn công phu! Những tranh khắc màu thể hiện biết bao cuộc vây hãm mà cái pháo đài ở cửa sông Vistula đã phải gánh chịu! Đây, Stanislaw Lesczczinski, chạy trốn tên phản vua, tới trú giữa những bức tường của thành phố. Bức sơn dầu mô tả chính xác ông ta khiếp đảm như thế nào. Tổng giám mục Potocki và đại sứ Pháp de Monti cũng sợ mất vía vì quân Nga do tướng Lascy chỉ huy đang bao vây thành phố. Tất cả những cảnh này đều được chú giải cụ thể và người ta có thể đọc tên của các tàu Pháp dưới lá cờ hình hoa huệ tây. Một chú thích với mũi tên cho ta biết vua Stanislaw Lesczczinsski đã chạy trốn tới Lorraine trên tàu này, khi thành phố đầu hàng vào ngày 3 tháng tám. Nhưng phần lớn các hiện vật trưng bày là các chiến lợi phẩm trong những cuộc chiến tranh thắng lợi bởi cái lẽ đơn giản là những cuộc chiến tranh thất bại thì hiếm khi hoặc không bao giờ cung cấp chiến lợi phẩm cho các bảo tàng.
 
Niềm kiêu hãnh của bộ sưu tập là thớt tượng gỗ gắn ở mũi một con thuyền buồm lớn vùng Florence. Con thuyền này, tuy cảng gốc là Bruges, nhưng lại thuộc về Portinarl và Tani, hai thương gia người Florence. Tháng 4 năm 1473, hai thuyền trưởng và cướp biển của thành phố Danzig là Paul Beneke và Martin Bardewick, trong khi tuần tiễu ngoài hải phận Zilơn cách cảng Sluys không xa, đã chiếm được con thuyền buồm này. Thuyền trưởng, các sĩ quan và đoàn thủy thủ khá đông, tất cả đều bị giết bằng gươm, còn thuyền và hàng được đưa về Danzig. Một bức bình phong vẽ cảnh "Phán Xét Cuối Cùng" của hoạ sĩ Memling [1] và một bồn đựng nước thánh bằng vàng - cả hai đều do Tani đặt làm để hiến một nhà thờ ở Florence - đã được đem về trang trí cho Nhà thờ Đức Mẹ Maria. Ngày nay, theo tôi được biết, bức "Phán xét Cuối Cùng" dành cho sự thưởng ngoạn của những con mắt Thiên Chúa giáo ở Ba Lan. Không ai biết cái hình gắn ở mũi con thuyền kia, sau chiến tranh, xô dạt nơi nao. Nhưng vào thời tôi, nó nằm ở Bảo tàng Hải quân này.
Một hình đàn bà bằng gỗ màu xanh, nở nang, khoả thân, cánh tay giơ lên và hai bàn tay trễ nải chắp vào nhau phô rõ từng ngón, mắt sâu màu hổ phách phóng tia nhìn bên trên bộ ngực quả quyết vươn ra phía trước. Người đàn bà nơi mũi thuyền này là một kẻ mang tai hoạ. Thương gia Portinari đã đặt một nghệ nhân nổi tiếng chuyên khắc hình trang trí mũi thuyền tạo nên nàng theo mẫu một cô gái Florence được ông ta bao. Cái hình tượng xanh mướt vừa được gắn vào chỗ của. Nó dưới rầm néo buồm thì cô gái đã bị đưa ra xử về tội hành nghề ma thuật, theo tục lệ thời ấy. Bị tra hỏi trước khi lên dàn thiêu, cô đã tố cáo người lái buôn bảo trợ mình cùng tay nghệ nhân điêu khắc đã lấy các số đo của cô rất thiện nghệ. Nghe nói Portinari đã treo cổ tự tử vì sợ bị hỏa thiêu. Còn nhà điêu khắc thì bị chặt cả đôi bàn tay tài hoa để cho y không bao giờ còn có thể biến những mụ phù thủy thành hình tượng gắn trên mũi thuyền. Trong khi các phiên toà còn đang diễn ra ở Bruges, gây chấn động lớn vì Portinari là một đại phú, thì con thuyền mang cái hình tượng kia rơi vào bàn tay hải tặc của Paul Beneke. Tani, thương gia thứ hai, gục dưới lưỡi rìu của bọn cướp biển. Paul Beneke là nạn nhân tiếp theo: mấy năm sau, do thất sủng trước sự phán xét của giới quý tộc ở thành phố quê hương, hắn bị dìm chết trong sân của Tháp Công Lý. Sau cái chết của Beneke, những con thuyền được gắn cái thớt tượng kia ở đằng mũi thường bốc cháy trước cả khi ra khỏi cảng và ngọn lửa lan cả sang các tàu thuyền khác. Mọi thứ đều cháy trừ cái hình trang trí mũi thuyền, nó có khả năng chịu lửa và, nhờ những đường cong tuyệt mỹ, luôn luôn tìm được những kẻ ái mộ trong số các chủ tàu, thuyền. Nhưng hễ người đàn bà này vừa vào vị trí của mình trên một con tàu là y như rằng nổ ra nội loạn và các thủy thủ, vốn xưa nay ôn hòa, xoay ra chém giết lẫn nhau. Cuộc chinh phạt Đan Mạch không thành công của hạm đội Danzig dưới sự chỉ huy của vị tướng tài Eberhard Ferber vào năm 1522 đã dần tới sự thất sủng của Ferber và cuộc khởi nghĩa đẫm máu trong thành phố. Đành rằng các sách lịch sử có nói đến những cuộc xung đột tôn giáo - năm 1523, một mục sư Tin Lành tên là Hegge dẫn đầu một đám đông tấn công đập phá bẩy nhà thờ xứ - nhưng chúng tôi cứ thích đổ trách nhiệm cho cái hình trang trí mũi thuyền về tai họa kia mà di hại còn kéo dài nhiều năm sau: ai nấy đều biết Nàng Xanh làm đẹp cho mũi tàu của Ferber.
 
Năm mươi năm sau, khi Stefan Batory hoài công bao vây thàhh phố, Kaspar Jeschke, cha trưởng tu viện Ohra, đã lên án người đàn bà tội lỗi đó trong những bài thuyết pháp xám hối. Vua Ba Lan, được thành phố Danzig này dâng nàng như một tặng phẩm, đã mang nàng theo khắp các nơi hạ trại và đã nghe theo những lời khuyên xấu xa của nàng. Người đàn bà gỗ ấy đã làm hại những chiến dịch Thụy Điển chống thành phố này đến mức nào và dính dáng đến đâu với vụ bắt giam lâu dài Tiến sĩ Aegidius strauch, một người sùng đạo đã âm mưu cùng bọn Thụy Điển và cũng đòi phải đốt người đàn bà xanh khi mà nàng đã lọt trở vào trong thành, những điều đó chúng tôi không biết. Có một lời đồn đại khá mập mờ rằng một thi sĩ tên là Opitz [2], chạy trốn từ Silesia, được phép cư trú tại thành phố mấy năm, nhưng đã chết sớm vì đã tìm thấy cái hình khắc độc hại đó trên một gác xép và định làm thơ ca ngợi nàng.
 
Mãi đến cuối thế kỷ 18, vào thời kỳ Ba Lan bị chia cắt, mới có những biện pháp hữu hiệu chống lại nàng. Người Phổ, sau khi dùng vũ lực chiếm thành phố, đã ra một chiếu chỉ của vua Phổ cấm ngặt cái " hình gỗ Niobe". Lần đầu tiên nàng được chỉ đích danh trong một tài liệu chính thức và đồng thời được chuyển đến, hay đúng hơn, bị giam vào Tháp Công Lý, nơi mà Paul Beneke đã bị dìm chết trong sân và từ đó tôi đã thử lần đầu tiên hiệu quả tầm xa của giọng mình. Có lẽ khiếp sợ trước những sản phẩm tinh vi của trí tưởng tượng con người mà tôi đã có dịp kể qua (nàng bị giam ở phòng tra tấn), nàng đã im để không giở giói gì suốt cả thế kỷ 19.
Năm 1925, khi tôi trèo lên đỉnh Tháp Công Lý và ra giọng công phá những cửa sổ Nhà hát thành phố, thì ơn Chúa, Niobe - tên dân gian là "Con Miu Xanh" - đã được mang đi khỏi phòng tra tấn từ lâu rồi. Nếu không thì ai mà biết được liệu cuộc tấn công của tôi vào tòa kiến trúc tân-cổ điển kia có thể thành công hay không?
Chắc Giám đốc Bảo tàng phải là một gã ngu dốt từ nơi khác đến nhập cư vào thành phố nên mới đi rước lấy nàng Niobe hiểm độc đang được khống chế trong phòng tra tấn và, ít lâu sau khi lập quy chế Thành phố Tự do, đem nàng về đặt trong cái Bảo tàng Hải quân tân lập này… Chẳng bao lâu sau, ông ta chết vì nhiễm độc máu: vị quan chức quá hăng hái này đã tự chuốc lấy hiểm họa khi đóng một cái biển chỉ dẫn rằng cô gái trưng bày bên trên là một hình trang trí mũi tàu có tên là Niobe. Người kế tục ông, một con người thận trọng biết rõ lịch sử của thành phố, muốn thải Niobe; ý của ông ta là đem cô gái nguy hiểm bằng gỗ ấy tặng cho thành phố Lubeck. Và chỉ nhờ nhân dân Lübeck từ chối mà cái thành phố nhỏ bên bờ sông Trave đã tồn tại qua các cuộc không kích gần như nguyên vẹn, nếu không kể những ngôi nhà thờ bằng gạch bị phá.
 
Và như thế, Niobe hay "Con Miu Xanh" ở lại Bảo tàng Hải quân và trong khoảng thời gian mười bốn năm, đã gây ra sự lìa đời của ba vị giám đốc - trong đó không có ông thận trọng, ông này đã xin chuyển đi nơi khác -, sự viên tịch của một giáo sĩ già đứng dưới chân nàng, cái chết bạo liệt của một sinh viên trường cơ khí và hai học sinh vừa tốt nghiệp trường trung học Thánh Pierre và sự ra đi mãi mãi của bốn nhân viên bảo tàng tận tuy, trong đó ba người đã có gia đình. Tất cả, khi họ được tìm thấy, đều có bộ mặt biến dạng, kể cả chàng sinh viên cơ khí, và trong ngực có những vật nhọn thuộc loại chỉ có thể thấy ở những bảo tàng hải quân: dao găm thủy thủ, lao móc săn cá voi, mũi xiên được chạm tinh vi của Bờ Biển Ngà, kim khâu buồm; chỉ có cậu học sinh cuối cùng là buộc phải " tự túc", thoạt tiên dùng con dao nhíp của mình rồi đến cái com-pa học sinh, bởi vì trước đó không lâu, tất cả các vật nhọn trong bảo tàng đều được cột chặt vào dây xích hoặc cất trong tủ kính.
 
Mặc dầu trong tất cả những trường hợp trên, cảnh sát cũng như nhân viên điều tra tử nạn đều nói đến " tự tử bi thảm", trong thành phố vẫn lan truyền một tin đồn, được phản ánh cả trên mặt báo, rằng:  "Con Miu Xanh đã tự tay làm chuyện đó". Người ta thực sự ngờ Niobe đã cho mấy ông mấy cậu nọ xuống âm phủ. Dư luận không ngớt bàn cãi. Các báo dành nhiều cột đặc biệt cho ý kiến bạn đọc về "vụ Niobe".Chính quyền thành phố cho đó là thói mê tín dị đoan lỗi thời và nói rằng họ không hề có ý định hành động hấp tấp trước khi có bằng chứng dứt khoát là điều hung ác siêu phàm đã thực sự xảy ra.
Như vậy bức tượng xanh vẫn tiếp tục là hiện vật hàng đầu của Bảo tàng Hải quân vì Bảo tàng Quận ở Oliva, Bảo tàng thành phố ở đường Fleischergasse cũng như ban quản trị khách sạn Artus đều từ chối không nhận con điên ấy.
Bảo tàng đang thiếu người gác. Và không phải chỉ riêng họ là không muốn dây với trinh nữ bằng gỗ ấy. Các khách vào xem Bảo tàng cũng tránh gian trưng bày cô gái có cặp mắt hổ phách. Trong một thời gian dài, đằng sau những cửa sổ kiểu Phục Hưng cung cấp ánh sáng ngang cần thiết cho bức tượng xanh, là im lặng tuyệt đối. Bụi chồng chất từng lớp. Các chị em lao công làm vệ sinh thôi không đến nữa Còn các phó nháy, trước kia hăm hăm hở hở không tài nào dẹp nổi, thì một tay đã chết ít lâu sau khi chụp Niobe; đành rằng đó là một cái chết tự nhiên thôi, các đồng nghiệp của anh ta đã khớp các sự việc lại và họ thôi không cung cấp ảnh chụp cái hình trang trí mũi thuyền giết người ấy cho báo chí ở Thành phố Tự do, ở Ba Lan, Đức và cả ở Pháp nữa, và thậm chí còn đi đến chỗ loại bỏ Niobe ra khỏi hồ sơ của họ. Từ đó trở đi, họ chỉ dồn mọi cố gắng vào việc chụp hình các cuộc đến và ra đi của các tổng thống, thủ tướng và các vị vua lưu vong, vào các triển lãm gà vịt, các Đại hội toàn quốc của Đảng, các cuộc đua ô-tô và lũ lụt mùa xuân.
 
Tình hình là như thế khi Herbert Truczinski, sau khi đoạn tuyệt với nghề bồi bàn đồng thời nhất quyết không đi làm hải quan, mặc vào người bộ đồng phục màu xám da chuột của nhân viên bảo tàng và ngồi vào cái ghế da cạnh cửa cái gian phòng được đặt cho cái tên dân đã là "khuê phòng của Miu".
Ngay hôm đầu tiên Herbert nhận việc, tôi theo anh đến bến xe điện ở Quảng trường Max-Halbe. Tôi lo cho anh.
"Về nhà đi, Oskar. Anh không thể đưa em đi theo được." Nhưng tôi cứ đứng đó với cái trống cùng cặp dùi, lì đến nỗi cuối cùng, Herbert phải nhượng bộ: "Thôi được, nhưng chỉ đi đến cổng Cao rồi phải quay về nhá. Ngoan nào." Đến cổng Cao, tôi không chịu đáp tàu số 5 bởi nó sẽ đưa tôi về nhà. Herbert lại phải nhượng bộ, cho tôi theo đến tận phố Đức Chúa Thánh Thần. Trên bậc thềm Bảo tàng, một lần nữa anh lại toan bỏ tôi lại. Rồi với một tiếng thở dài, anh đành mua một vé vào cửa cho trẻ con. Thật ra tôi đã mười bốn tuổi và lẽ ra phải trả cả tiền nhưng khi người ta không biết thì nào có mất gì !
Chúng tôi có một ngày yên tĩnh, dễ chịu. Không có khách đến xem, không có thanh tra. Thỉnh thoảng tôi dạo trống một lát; thỉnh thoảng Herbert lại ngủ độ một tiếng. Niobe phóng tia nhìn hổ phách vào thế giới và chĩa cặp vú nhằm một mục tiêu không phải là chúng tôi. Chúng tôi không để ý đến nàng. "Cô ta không phải ‘‘ týp’’ của anh," Herbert nói, vẻ miệt thị. "Nhìn coi, những lớp mỡ kia. Nhìn coi, cô ả đã hai cằm rồi kìa."
Anh nghiêng nghiêng đầu và trở nên mơ màng: "Xem kìa, mông gì mà như cái tủ quần áo. ‘Gu’ của Herbert này thiên về những em xinh xắn, thanh mảnh cơ."
Tôi lắng nghe Herbert mô tả ‘týp’ của anh và nhìn hai bàn tay to như cái xẻng của anh mô phỏng những đường cong của một mẫu người nhỏ bé, yêu kiều thuộc phái đẹp mà trong nhiều năm, thực tế là cho đến tận bây giờ và thậm chí dưới lớp nguy trang của một bộ đồng phục nữ y tá, vẫn còn là lý tưởng của tôi về đàn bà.
 
Đến ngày thứ ba sống và làm việc ở Bảo tàng, chúng tôi mạo hiểm di chuyển khỏi cái ghế bên cạnh gian phòng. Lấy cớ làm vệ sinh - mà quả là phòng cũng không đẹp mắt thật - chúng tôi đi tới đi lui, phủi bụi, quét mạng nhện trên mặt gỗ sồi, dần dà tiến đến chỗ bức tượng gỗ màu xanh đổ bóng dưới ánh mặt trời. Sẽ là không chính xác nếu nói rằng chúng tôi hoàn toàn dửng dưng với Niobe. Nét đẹp của nàng tuy nặng nề nhưng đâu có xồ xề và nàng thăng thắn phô nó ra không chút rụt rè. Nhưng chúng tôi không nhìn nàng với con mắt thèm muốn. Đúng hơn, chúng tôi nhìn nàng theo cách của những kẻ sành điệu, sắc sảo xem xét đánh giá mọi chi tiết. Herbert và tôi là hai nhà thẩm mỹ say cái đẹp một cách tĩnh táo, cái đẹp trùn tượng. Chúng tôi giơ ngón cái đo ướm các kích thước cân đối nữ. Đùi Niobe hơi ngắn; ngoài cái đó, chúng tôi thấy các số đo chiều dài của nàng đáp ứng đúng với lý tương cổ điển; tuy nhiên, về chiều ngang: hông, vai và ngực thì phải xét theo tiêu chuẩn Hà Lan chứ không theo tiêu chuẩn Hy Lạp.
Herbert nghiêng nghiêng ngón tay cái: "Ả này mà lên giường thì khác nào con ngựa cái, Herbert không kham nổi. Herbert đã đấu vật chán chê ở Ohra và Fahrwasser rồi, chả cần đến nữ đô vật nữa." Herbert có khẩu vị tinh tế. " Ờ, nếu là một em xinh xẻo nắm gọn trong lòng tay được, liễu yếu đào tơ đến độ phải gượng nhẹ để khỏi làm em gẫy đôi thì Herbert không phản đối".
 
Kể ra, nếu đi vào chuyện thực tế thì chúng ta ắt chả phải chê gì cả Niobe lẫn cái thân hình đô vật của nàng. Herbert thừa biết là mức độ hăng hái hay thụ động mà anh thích hay không thích ở phụ nữ khỏa thân hay bán khỏa thân, không chỉ hạn chế ở ‘týp’ thanh mảnh mà loại trừ ‘týp’ mũm mĩm hay mập mạp; có những cô gái mảnh dẻ không thể nằm yên lấy một phút và những phụ nữ to bằng cánh phản mà phẳng lặng như mặt nước ao tù. Chúng tôi đã cố tình đơn giản hóa, thu gọn toàn bộ vấn đề vào hai vế và nhục mạ Niobe trên nguyên tắc. Chúng tôi đã thô bạo với nàng một cách khó bề tha thứ. Herbert bế tôi lên để tôi có thể lấy dùi trống gõ vào vú nàng, làm bốc ra những đám mạt cưa phi lý từ những lỗ mọt của nàng (nàng đã được phun thuốc, làm sao có mọt?). Trong khi tôi gõ, chúng tôi nhìn vào đôi mắt hổ phách của nàng. Không động đậy, không nhảy, cũng chẳng thấy giọt nước mắt nào... Mắt nàng không hề nheo lại, toé ánh căm thù hoặc hăm dọa. Hai viên hổ phách nhẵn bóng, vàng vàng (chứ không đo đỏ), phản chiếu toàn bộ gian phòng với mọi thứ trong đó, tuy bị biến dạng bởi mặt cầu lồi. Hổ phách là lừa bịp, ai lạ gì! Chúng tôi cũng biết sự gian trá của cái sản phẩm nhựa cây được phong là châu báu này. Tuy nhiên, ngoan cố phân loại tất cả những gì là nữ thành hai vế: hăng hái và thụ động theo cái cách máy móc của đàn ông chúng tôi, bọn tôi lý giải sự vô cảm rành rành của Niobe theo một cách có lợi cho bọn tôi. Chúng tôi cảm thấy an toàn. Với một tiếng cười độc ác, Herbert ấn ấn móng tay vào bánh chè của nàng, mỗi nhát đều làm đầu gối tôi đau mà nàng không hề nhướn một sợi lông mi. Ngay dưới mắt nàng, chúng tôi chơi đủ các trò nhí nhố. Herbert mặc cái áo khoác ngoài của một đô đốc hải quân Anh, đội cái mũ đồng bộ của ông ta, tay cầm chiếc ống nhòm. Với một cái áo gi-lê đỏ và một bộ tóc giả, tôi cải trang thành tiểu đồng của vị đô đốc. Chúng tôi diễn lại trận Trafalgar, ném bom Copenhagen, đánh tan hạm đội của Napoléon ở Aboukir, vòng hết mũi đất này đến mũi đất khác, lấy những tư thế lịch sử rồi đương đại. Tất cả những trò đó ngay dưới mắt Niobe, hình trang trí đầu mũi tàu được gọt đẽo theo những kích thước của một nữ phù thủy Hà Lan. Chúng tôi tin rằng dù có thấy chúng tôi làm thế, nàng cũng dửng dưng.
Giờ đây tôi biết rằng tất cả mọi thứ đều quan sát, rằng không có gì là khuất mắt và rằng ngay cả giấy phủ tường cũng nhớ dai hơn chúng ta. Không phải Chúa ở trên trời là nhìn thấy tất cả. Một cái ghế bếp, một cái mắc áo, một cái gạt tàn thuốc gần đầy hoặc tượng chân dung bằng gỗ của một người đàn bà tên là Niobe, đều có thể là nhân chứng không quên cho mọi hành động của chúng ta.
 
Chúng tôi cùng đến làm việc ở Bảo tàng Hải quân được hai tuần hay nửa tháng gi đó. Herbert tặng tôi một cái trống và hai lần đem lương tuần (gồm cả trợ cấp nguy hiểm) về nhà cho Mamăng Truczinski. Một ngày thứ ba - Bảo tàng đóng cửa ngày thứ hai nhân viên thu ngân đã từ chối bán vé trẻ con và dứt khoát không cho tôi vào. Herbert hỏi tại sao. Cộc cằn nhưng không phải thiếu thiện ý, bác thu ngân cho chúng tôi biết có một ông bố đưa đơn khiếu nại, đề nghị từ nay không cho trẻ con vào bảo tàng nữa. Bác ta không phản đối nếu tôi ở dưới này chờ bên cạnh cửa bán vé; bác bận công việc, lại goá vợ nữa nên không trông tôi được, nhưng dù thế nào đi nữa, bác cũng không muốn để cho tôi vào " khuê phòng của Miu", vì tôi vô trách nhiệm.
 
Herbert đã sắp sửa chịu phép, nhưng tôi lại thúc anh, khích anh, Một mặt, anh đồng ý là bác thu ngân có lý, mặt khác, anh nói tôi là lá bùa mang lại may mắn cho anh, là thiên thần bảo hộ của anh, sự ngây thơ trẻ con của tôi che chở cho anh. Tóm lại, Herbert gần như kết bạn với bác thu ngân và thuyết phục được bác để cho tôi vào Bảo tàng Hải quân " một lần cuối" - câu này là của bác thu ngân.
Một lần nữa, anh bạn to lớn của tôi lại dắt tay tôi leo cái cầu thang xoáy trôn ốc trang trí cầu kỳ, mới lau dầu, lên tầng hai, nơi Niobe ở. Buổi sáng đã yên tĩnh, buổi chiều còn yên tĩnh hơn. Herbert ngồi lim dim mắt trên chiếc ghế da với những đầu đinh vàng. Tôi ngồi dưới chân anh. Cái trống của tôi im lìm. Chúng tôi hấp háy mắt nhìn đám tàu thuyền các loại: thuyền buồm lớn, nhỏ, thuyền buồm dọc, thuyền một cột buồm, thuyền năm cột buồm, tàu hộ tống nhỏ, sà-lúp, tàu chạy dọc bờ biển, tàu hải quân, tất cả treo trên panô gỗ sồi, đợi khi thuận gió để lên đường. Chúng tôi tập hợp hạm đội trên sa bàn, cùng nó đợi gió hây hẩy lên, chúng tôi sợ cái yên tĩnh bao trùm trong " khuê phòng’’. Chúng tôi làm tất cả những cái đó để tránh phải nhìn và sợ Niobe. Chúng tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả để được nghe thấy tiếng mọt nghiến, chứng rằng bên trong thớt gỗ xanh này đang bị ăn mòn và đục ruỗng một cách chậm chạp nhưng chắc chắn, rằng Niobe có thể chết! Nhưng chả nghe thấy con mọt nào cả. Người ta đã rây thuốc chống mọt cho cái thân thể gỗ này, làm cho nó thành bất tử. Chúng tôi chỉ còn bấu víu vào cái hạm đội sa bàn, cái hy vọng điên rồ vào một ngọn gió thuận. Chúng tôi bày trò chơi do sợ Niobe, chúng tôi làm hết sức mình để lờ nàng đi, quên nàng đi và lẽ ra chúng tôi đã có thể đạt được mục tiêu nếu như ánh nắng chiều không đột nhiên rọi thắng vào con mắt hổ phách bên trái của nàng, làm nó rực cháy.
Tuy nhiên, sự bốc lửa ấy lẽ ra không làm chúng tôi ngạc nhiên. Chúng tôi không lạ gì những chiều nắng trên tầng hai của Bảo tàng Hải quân, chúng tôi thừa biết mấy giờ đã hoặc sắp điểm khi ánh hắng lọt vào dưới gờ cửa và thắp sáng những con tàu. Những ngôi nhà thờ xung quanh cũng góp phần phân đoạn theo thời khắc tiến trình của ánh nắng trong đó bụi xoáy lộn, gửi những hồi chuông lịch sử của chúng đến bạn bầu với những sưu tập lịch sử của chúng tôi.Có gì là lạ khi ánh nắng cũng mang tính chất lịch sử, trở thành một mục trong bộ sưu tập của Bảo tàng và chúng tôi bắt đầu ngờ là nó đã âm mưu với đôi mắt hổ phách của Niobe.
 
Nhưng buổi chiều hôm ấy, chúng tôi không có hứng chơi hoặc làm những trò khiêu khích dấm dớ, con mắt rực lửa của Niobe càng khiến chúng tôi ngạc nhiên gấp bội. Ngao ngán, chúng tôi chờ nốt nửa tiếng nữa: Bảo tàng đóng cửa vào năm giờ đúng.
 
Hôm sau, Herbert đi làm một mình. Tôi theo anh đến Bảo tàng, nhưng tôi không thích chờ bên cạnh cửa bán vé, mà tìm một chỗ ở bên kia đường. Tôi ngồi cùng cái trống trên một quả cầu bằng granít đằng sau có một cái đuôi dài cho người lớn làm tay vịn. Khỏi cần phải nói là bên kia cầu thang cũng có một quả cầu tương tự với một cái đuôi bằng gang tương tự. Thỉnh thoảng tôi mới đánh trống, nhưng đã đánh thì đánh to dữ dội, để phản kháng những người qua đường, phần lớn là nữ, cứ thích dừng lại nói chuyện với tôi, hỏi tên tôi và đưa bàn tay nhơm nhớp mồ hôi vuốt mái tóc ngắn nhưng đẹp và hơi lượn sóng của tôi. Buổi sáng qua đi. Đầu phố Đức Chúa Thánh Thần, con gà mái bằng gạch đỏ đen của Nhà thờ Nữ Thánh Marie với cái tháp nhọn màu xanh lục đang ấp trứng dưới các gác chuông to xụ. Những con bồ câu đẩy nhau ra khỏi những hốc trên tường tháp và đậu xuống cách tôi không xa. Chúng líu lô líu lường nói những chuyện nhăng nhít gì với nhau; chúng hoàn toàn không biết con gà mái còn ấp bao lâu nữa, hoặc cái gì sẽ nở ra từ đó, hoặc liệu cái cuộc ấp kéo dài bao thế kỷ này có phải chính là một mục đích tự thân hay không.
Đến trưa, Herbert ra. Từ cái cạp lồng mà Mamăng Truczinski lèn chặt đến nỗi không đóng lại được, anh moi ra một ổ xăng-wuých với một khúc dồi tiết bằng ngón tay và đưa cho tôi. Tôi cảm thấy miệng không muốn ăn. Herbert gật đầu như cái máy động viên tôi. Cuối cùng tôi ăn, còn Herbert thì không ăn mà chỉ hút thuốc. Trước khi quay về Bảo tàng, anh đến một tiệm bar ở phố Brothönken (tôi cũng đi theo) làm mấy ly rượu gừng. Tôi nhìn cái cục hầu của anh khi anh cạn ly. Tôi không thích cái cách anh nốc rượu. Khá lâu sau khi anh đã lên cái cầu thang xoáy trôn ốc, khá lâu sau khi tôi đã trở về chỗ quả cầu granít, Oskar vẫn còn thấy cục hầu của Herbert bạn nó lên lên xuống xuống.
 
Ánh chiều trườn qua cái mặt tiền đa sắc nhạt thếch của Bảo tàng. Nó nhảy từ gờ này sang gờ kia, cười lên các nữ thần và sừng phồn thịnh, nuốt chửng những thiên thần mũm mĩm đang với tay ngắt hoa, xông vào giữa một cuộc các-na-val ở nông thôn, chơi bịt mắt bắt dê, trèo lên một cái đu kết hoa hồng, đem lại vẻ tôn quy cho một nhóm trưởng giả mặc quần ống thụng đang bàn chuyện làm ăn, chiếu vào một con hươu đang bị đàn chó đuổi riết, và cuối cùng, lên tới cửa sổ tầng hai, ở đó mặt trời được phép, trong một thoáng ngắn ngủi mà cũng là vĩnh viễn, chiếu sáng một con mắt hổ phách.
 
Tôi từ từ tụt khỏi quả cầu granít. Cái trống của tôi va mạnh vào nó, Mấy mảng sơn tróc ra, rơi xuống lấm tấm trắng đỏ trên bậc thềm đá.
Có thể tôi đã xướng một điều gì, có thể tôi đã lẩm nhẩm một lời cầu nguyện hay một danh sách: một lát sau, xe cấp cứu xịch đến trước cửa Bảo tàng. Người qua đường xúm quanh cửa vào. Oskar lẻn được vào trong cùng với tổ cấp cứu. Tôi tìm được lối lên cầu thang nhanh hơn họ; mặc dầu sau những sự cố trước đây, lẽ ra họ đã phải thuộc đường đi lối lại trong toà nhà.
Tôi phải cố hết sức mới nhịn được cười khi trông thấy Herbert. Anh đang lủng lẳng phía trước Niobe, anh đã định nhảy với nàng. Đầu anh phủ lên đầu nàng. Hai cánh tay anh quấn lấy hai cánh tay nàng giơ cao và chắp vào nhau. Anh cởi trần đến thắt lưng. Chiếc sơ-mi của anh, sau đó được tìm thấy, gấp gọn ghẽ trên chiếc ghế da ở cạnh cửa. Lưng anh phô hết cả bộ sưu tập sẹo. Tôi đọc, đếm các hình. Không thiếu cái nào cả. Nhưng cũng không thấy phác họa một hình mới nào.
Tổ cấp cứu chạy tới ngay sau tôi, phải khó khăn lắm mới gỡ được Herbert ra khỏi Niobe. Trong cơn cuồng dục, anh đã giựt một cái rìu thủy thủ hai lưỡi khỏi dây xích an toàn; một lưỡi, anh chém vào Niobe còn lưỡi kia, trong đà tấn công điên dại, cắm ngược trở lại vào chính anh. Thành thử, ở phần trên, sự liên kết thật là hoàn hảo, nhưng bên dưới thì, than ôi, anh không kiếm được chỗ để cắm neo và từ dải khuy quần để mở, dương vật của anh thòi ra, còn cứng ngắc và bối rối.
Khi người ta phủ lên Herbert tấm mền có dòng chữ " Sở Cấp Cứu Thành Phố’’, Oskar, như mỗi lần hứng chịu một mất mát, lại quay về với cái trống của mình. Nó vẫn còn dùng nắm tay để đánh trống khi những người gác Bảo tàng dắt nó ra khỏi " Khuê phòng của Miu", xuống cầu thang và cuối cùng, ấn nó vào một xe cảnh sát đưa nó về nhà.
 
Ngay cả đến bây giờ, trong cái nhà thương điên này, khi nhớ lại cái vụ mưu toan ân ái giữa xác thật với gỗ, Oskar vẫn buộc phải đánh trống bằng hai nắm đấm để một lần nữa khảo sát cái lưng sần sùi, nhiều màu của Herbert, cái mê cung nhằng nhịt sẹo vừa rắn đanh vừa nhạy cảm, những vết sẹo dự báo và tiên tri, những vết sẹo rắn hơn, nhạy cảm hơn mọi thứ. Như một người mù, Oskar đọc những dòng chữ nổi trên cái lưng ấy.
 
Mãi đến đoạn này, khi họ gỡ được Herbert ra khỏi bức tượng vô cảm, thì Bruno, gã y tá coi giữ tôi, mới xuất hiện với cái đầu quả lê chán ốm của gã. Gã khéo léo cất tay tôi khỏi cái trống, treo trống lên cột trái phía cuối cái giường sắt của tôi và vuốt phẳng lại mền cho tôi.
"Chà, ông Matzerath " gã dịu dàng trách tôi, "nếu ông cứ tiếp tục đánh trống to thế, người ta sẽ nghe thấy ông đánh quá to. Ông có muốn nghĩ một chút hoặc đánh khẽ đi một tí không?
 
Phải, Bruno, tôi sẽ thử đọc cho cái trống của tôi một chương tĩnh lặng hơn mặc dầu đề tài của chương này đòi hỏi một  dàn nhạc gồm những kẻ khát khao, cuồng khấu.
 
 
Chú thích:
 [1] Hans Memling (1430 ?-1495), họa sĩ xứ Flandres trường phái Flamăng (Plamand), chuyên vẽ tranh tôn giáo. Tác phẩm chính: tranh bộ ba Đám cưới Nữ thánh Catherine, Phán xét cuối cùng, Thánh Christophe, Thomas Portinari  và vợ và nhiều chân dung Đức Mẹ Maria.
  [2] Martin Opitz, nhà thơ và kịch tác giả Đức, sinh 1597 ở Bunzlau, chết 1639 ở Danzig. Có vai trò quan trọng trong sự phát  triển sân khấu Đức trong thế kỷ 17.
 




0
LÒNG TIN, HY VỌNG, TÌNH YÊU
 
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn; anh chơi kèn t’rompet (trompette) tuyệt vời không lời nào tả xiết. Anh sống trên tầng năm một khu chung cư, ngay sát mái; anh nuôi bốn con mèo, một con tên là Bismarck và anh uống rượu gừng từ sáng đến đêm. Cứ thế, cho đến khi tai họa làm anh tĩnh rượu.
Ngay cả đến giờ, Oskar vẫn không thích tin vào điềm báo. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng hồi ấy, có khá nhiều điềm báo tai họa. Tai họa, đi những đôi ủng ngày càng lớn hơn, đang đến gần bằng những bước ngày càng dài hơn. Chính vào thời kỳ đó, anh bạn Herbert của tôi đã chết vì một vết thương nơi ngực do một người đàn bà bằng gỗ gây nên. Người đàn bà không chết. Nàng được đưa xuống niêm phong dưới hầm của Bảo tàng, nói là để phục chế lại, dù thế nào cũng cần được bảo tồn. Nhưng người ta không thể nhốt tai họa trong một căn hầm. Nó thoát theo đường cống, tràn vào các ống dẫn ga và xâm nhập mọi hộ gia đình cùng với khí ga. Và không ai, khi đặt nồi xúp trên ngọn lửa xanh, lại ngờ rằng tai họa đang nấu sôi bữa ăn tối của mình.
Khi Herbert được an táng tại nghĩa trang Langfuhr, một lần nữa tôi lại gặp Leo Schugger mà tôi đã làm quen ở Brenntau. Miệng xớt dãi, anh ta chìa đôi găng trắng mốc thếch ngỏ lời phân ưu những lời rối rắm xáo trộn cả vui lẫn buồn - với tất cả những ai có mặt trong đám tang: Mamăng Truczinski, Guste, Fritz và Maria Truczinski, bà Kater to béo, già Heilandt, người giúp Mamăng Truczinski làm thịt những con thỏ của Fritz vào những ngày lễ, ông bố hờ Matzerath của tôi, người đã bao hẳn một nửa chi phí cho tang lễ (thi thoảng ông cũng biết tỏ ra hào phóng như vậy), thậm chí với cả Jan Bronski vốn chỉ quen Herbert sơ sơ và đến dự chỉ cốt gặp lại Matzerath và có lẽ cả tôi nữa trên mảnh đất trung lập của một nghĩa trang.
Khi đôi găng của Leo Schugger chấp chới về phía Meyn t’rompet trong trang phục nửa SA nửa dân sự, thì cũng là lúc diễn ra một điềm báo tai họa khác.
Đột nhiên hoảng hốt, đôi găng trắng của Leo bay lên, kéo anh ta về phía mộ. Người ta nghe thấy anh ta thét lên và những lời chữ tơi tả vương vãi trong không khí nghĩa trang chẳng có gi liên quan với chuyện phân ưu cả.
Không ai tách ra khỏi Meyn t’rompét, người được Leo nhận ra và chú ý đặc biệt. Vậy mà anh trơ khấc giữa đám người đưa tang. Anh bối rối mân mê cây kèn t’rompet mà anh chủ tâm mang theo và đã chơi tuyệt vời trên mộ Herbert. Tuyệt vời bởi vì Meyn đã làm cái điều mà lâu nay anh không làm, anh đã trở lại với chai rượu gừng của anh, bởi vì anh cùng tuổi với Herbert và cái chết của Herbert, trong khi làm tôi và cái trống của tôi im tiếng, đã khiến anh xúc động sâu sắc.
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn, anh chơi t’rompet tuyệt vời không lời nào tả xiết. Anh sống trên tầng năm một khu chung cư, ngay sát mái; anh nuôi bốn con mèo, một con tên là Bismarck và anh uống rượu gừng từ sáng đến đêm, cho đến cuối 1936 hay đầu 1937 gì đó, anh gia nhập Kỵ đoàn SA. Chơi t’rompét trong dàn nhạc, anh ít phạm lỗi hơn trước nhiều, nhưng tiếng kèn của anh chẳng còn tuyệt vời đến mức không lời nào tả xiết nữa, bởi vì, khi anh xỏ vào cái quần cưỡi ngựa với cái đũng bằng da, anh bỏ chai rượu gừng và từ đó, tiếng kèn của anh tỉnh táo và to, có thế thôi, không hơn.
 
Khi binh nhì SA Meyn mất người bạn cố tri Herbert Truczinski, người đã cùng anh, trong những năm 20, tham gia một nhóm thanh niên cánh tả, khi bạn anh đến lúc phải nằm trong lòng đất, Meyn vớ lấy chiếc kèn và chai rượu gừng của mình. Bởi anh muốn chơi tuyệt vời chứ không tỉnh táo; những ngày trong ban nhạc kỵ binh dù sao cũng chưa hủy được cái tai âm nhạc của anh. Tới nghĩa trang, anh tợp nốt ngụm rượu cuối cùng và trong khi chơi, anh vẫn giữ nguyên chiếc măng tô dân sự bên ngoài bộ đồng phục SA, mặc dù anh đã định chơi trong đồng phục nâu, nhưng, dĩ nhiên, không đội mũ.
 
Xưa có một nhân viên SA, trong khi chơi t’rompet tuyệt vời đến mức không lời nào tả xiết trước mộ bạn, vẫn để nguyên chiếc măng tô dân sự trùm ra ngoài bộ đồng phục Kỵ binh SA . Khi Leo Schugger, một nhân vật có mặt ở mọi nghĩa trang, tiến đến để ngỏ lời chia buồn, ai nấy đều nhận phần phân ưu của anh ta. Chỉ riêng gã SA là không được cái đặc quyền nắm bàn tay đi găng trắng của Leo bởi vì Leo nhận ra gã SA, thét lên một tiếng sợ hãi và rụt về cả găng lẫn lời phân ưu. Gã SA về nhà với chiếc kèn lạnh và không một lời phân ưu.Trong căn phòng áp mái của chung cư chúng tôi, gã tìm thấy bốn con mèo của mình.
 
Xưa có một gã SA tên là Meyn. Để lưu dấu cái thời gã uống rượu gừng tối ngày và chơi tTompét tuyệt vời không lời nào tả xiết, Meyn vẫn nuôi bốn con mèo, trong đó một con tên là Bismark. Một hôm, trở về từ đám ma người bạn cố tri Herbert Truczinski, tỉnh rượu và buồn bã vì có kẻ đã không chịu ngỏ lời phân ưu với mình, gã SA thấy mình hoàn toàn cô đơn với bốn con mèo. Lũ mèo cọ mình vào đôi ủng kỵ binh của gã và Meyn cho chúng một lô đầu cá trích gói trong giấy báo. Thế là chúng buông tha cho đôi ủng. Ngày hôm đó , căn phòng nồng nặc mùi mèo hơn mọi khi, mùi của bốn con mèo, tất cả đều đực, một con tên là Bismarck mình đen chân trắng. Nhưng Meyn không còn rượu ở trong nhà, vì thế mùi mèo lại càng không chịu nổi. Kể ra gã có thể mua chút rượu ở cửa hàng chúng tôi nếu gã không ở tít tầng năm, ngay sát mái. Nhưng hơn cả nỗi ngại phải lên xuống cầu thang, gã còn sợ cả hảng xóm nữa: trước mặt họ, gã đã nhiều lần lớn tiếng thề rằng không bao giờ một giọt rượu gừng còn lọt qua đôi môi nhạc sĩ của gã nữa, rằng gã đã bước vào một cuộc đời mới triệt để không chè chén say sưa, rằng từ nay trở đi, phương châm của gã là trật tự quy củ và có mục đích, đoạn tuyệt vời những cơn say sưa của một thời tuổi trẻ bừa bãi và vô mục đích.
 
Xưa có một người tên là Meyn. Một hôm, khi anh ta thấy mình hoàn toàn cô đơn trong căn phòng áp mái với bốn con mèo đực, một con tên là Bismarck, anh thấy mùi mèo trở nên đặc biệt ghê tỗm, vì sáng hôm ấy anh đã gặp chuyện khó chịu và cũng vì anh không còn rượu gừng trong phòng. Khi cơn khát rượu và nỗi bực mình và cùng với chúng, mùi mèo đã lên đến một độ nào đó, thì Meyn, một nhạc công chuyên nghiệp, một thành viên của Kỵ đoàn SA, vớ lấy cái que cời lửa dựa vào cái bếp lò lạnh ngắt và quật túi bụi vào lũ mèo cho đến lúc có thể đoán chắc rằng cả lũ, kể cả con tên là Bismarck, đã chết đứ đừ, mặc dầu mùi mèo trong phòng vẫn không hề bớt nồng nặc đi tí nào
 
Xưa có một bác thợ đồng hồ tên là Laubschad sống ở tầng hai khu chung cư của chúng tôi trong một căn hộ hai phòng có cửa sổ nhìn xuống sân. Bác thợ đồng hồ Laubschad không có vợ, có chân trong Tổ chức Cứu tế Quốc-Xã và Hội Bảo vệ Súc vật. Bác là một người nhân hậu thích giúp đỡ tất cả những con người mệt mỏi, súc vật ốm cũng như những cái đồng hồ hỏng. Một buổi chiều, bác thợ đồng hồ đang ngồi tư lự bên cửa sổ, ngầm nghĩ về đám tang người hàng xóm mà bác đã dự sáng hôm đó, thi bỗng trông thấy Meyn, gã nhạc sĩ ở tầng năm cùng nhà, xách một cái bao tải đầy đến nửa, hình như ướt ở dưới đáy và nhỏ giọt tong tỏng. Meyn vào trong sân và ấn cái bao tải vào một thùng rác. Nhưng vì thùng rác đã đầy tới ba phần tư nên gã nhạc sĩ khó mà đậy nắp lại.
 
Xưa có bốn con mèo đực, một con tên là Bismarck. Những con mèo đực này thuộc về một nhạc sĩ tên là Meyn. Vì những con mèo đực không bị thiến này phát ra một mùi hừng hực không dẹp nổi, gã nhạc sĩ đã đập chết chúng bằng một cái que cời lửa vào một hôm mà vì những lý do đặc biệt, gã thấy cái mùi đó đặc biệt tởm lợm, nhét xác chúng vào một cái bao tải đựng khoai tây, mang cái bao xuống bốn tầng cầu thang và rất nóng lòng thẩy mau cái bọc vào thùng rác cạnh cái giá đập thảm; chất vải bao tải thấm nước và do đó, thấm máu nên chưa xuống hết nửa cầu thang máu đã bắt đầu nhỏ giọt. Nhưng vì thùng rác đã gần đầy, gã nhạc sĩ phải lèn rác và cái bọc xuống để có thể đóng nắp được. Gã vừa rời khỏi sân đi ra phố vì gã không muốn quay về phòng, cái căn phòng mặc dầu không còn mèo nhưng vẫn sực mùi mèo - thì khối rác bị lèn bắt đầu phình ra, đẩy cái bọc và cả nắp thùng lên.
 
Xưa có một nhạc sĩ, anh ta giết bốn con mèo của mình, vùi chúng vào một thùng rác, ra khỏi nhà và đến chơi nhà bạn.
 
Xưa có một bác thợ đồng hồ ngồi trầm tư bên cửa sổ, trông thấy gã nhạc sĩ Meyn nhét một cái bao khoai tây ních gần đầy vào thùng rác rồi nhanh chóng rời khỏi sân. Vài phút sau khi Meyn đi khỏi, bác thấy nắp thùng rác bắt đầu ngẩng lên và tiếp tục từ từ ngẩng lên.
 
Xưa có bốn con mèo đực, vì chúng nồng nặc một mùi đặc biệt vào một ngày đặc biệt nào đấy, chúng đã bị đánh chết, nhét vào một cái bao tải đựng khoai tây và vùi vào một thùng rác. Nhưng lũ mèo, trong đó có một con tên là Bismarck, chưa chết hẳn; như người ta nói, chúng có những bẩy vía. Chúng ngọ nguậy trong bao tải, làm chuyển động nắp thùng rác và đặt ra cho bác thợ đồng hồ Laubschad vẫn đang ngồi trầm tư bên cửa sổ câu hỏi như sau: có gì trong cái bao tải mà Meyn đã ném vào thùng rác?
 
Xưa có một bác thợ chữa đồng hồ không thể dửng dưng nhìn một cái gì ngọ nguậy trong một thùng rác. Bác bèn ra khỏi căn hộ trên tầng hai, xuống sân, nhấc cái nắp thùng rác, mở cái bao tải, mang bốn con mèo đực bị đánh tơi tả nhưng vẫn còn sống về nhà mình và chạy chữa cho chúng. Nhưng đêm sau chúng vẫn chết dưới những ngón tay thành thạo chữa đồng hồ của bác. Điều đó khiến bác không còn cách nào khác ngoài việc trình lên Hội Bảo vệ Súc vật mà bác là một thành viên và báo cho tổ chức đảng của địa phương về một trường hợp đối xử tàn bạo với súc vật có thể làm hại đến thanh danh của đảng…
 
Xưa có một gã SA đã giết bốn con mèo bằng một cái que cời lửa. Nhưng vì lũ mèo chưa chết hẳn nên chuyện bị lộ và một người thợ đồng hồ đã tố cáo gã. Vụ này được đưa ra xử và gã SA đã phải nộp phạt. Nhưng câu chuyện cũng được bàn luận trong nội bộ SA, kết quả là gã SA kia bị khai trừ vì hành vi không xứng đáng. Ngay cả sự dũng cảm nổi bật của gã vào cái đêm 8 tháng 11, sau này gọi là Đêm Pha Lê, khi gã góp phần đốt cháy ngôi đền Do Thái giáo ở đường Thánh Michel, ngay cả hoạt động đáng khen của gã ngày hôm sau khi một số cửa hàng (được chỉ định trước) phải đóng cửa vì lợi ích quốc gia, cũng không ngăn nổi việc khai trừ gã khỏi Kỵ đoàn SA. Vì sự tàn bạo vô nhân đạo đối với súc vật, gã bị gạch tên khỏi danh sách hội viên. Phải một năm sau, gã mới được kết nạp vào đội cảnh vệ mà về sau được sáp nhập vào Waffen SS.
 
Xưa có một người chủ hiệu tạp hóa, một hôm vào tháng 11, đóng cửa hàng vì trên phố đang có chuyện; dắt tay đứa con trai Oskar, ông đáp chuyến xe điện số 5 đi đến cổng Langasse vì ở đó cũng như ở Zoppot và Langfuhr, ngôi đền Do Thái giáo đang cháy. Ngôi đền đã gần như cháy trụi và lính cứu hỏa đang cố giữ sao cho ngọn lửa khỏi lan sang các nhà khác. Bên ngoài ngôi đền tan hoang, những đám người vận đồng phục hoặc dân sự đang chất những đồ thờ, sách vở và những tấm vải kỳ lạ thành đống. Gò đang cháy và người chủ hiệu tạp hỏa thừa cơ sưởi ấm cả tay lẫn tình cảm bằng ngọn lửa công cộng. Nhưng Oskar con trai ông, thấy cha mình đang bận bịu và bừng bừng như thế, liền lẻn đi và hối hả chạy về phía Ngõ Binh Công Xưởng vì nó lo cho đám trống thiếc sơn hai màu trắng đỏ của mình.
 
Xưa có một người chủ hiệu đồ chơi tên là Sigismund Markus. Trong số các mặt hàng, có những cái trống thiếc sơn đỏ và trắng. Chú bé Oskar nói trên là khách hàng chính của những cái trống đó, vì chú là người đánh trống chuyên nghiệp và chú không thể cũng như không muốn sống thiếu trống. Vì lý do đó, Oskar vội vã rời khỏi ngôi đền Do Thái giáo đang cháy, chạy đến Ngõ Binh Gông Xưởng bởi vì người giữ những cái trống của nó ở đấy; nhưng nó thấy ông ta trong một tình trạng khiến mãi mãi từ nay về sau ông không còn có thể bán trống trên đời này.
Bọn chúng - chính đám lính cứu hỏa mà tôi, Oskar, tưởng mình đã trốn khỏi - đã đến chỗ Markus trước tôi; nhúng một cái bút lông vào sơn, chúng đã viết bằng mẫu tự Sütterlin bốn chữ: "Đồ lợn Do Thái" chạy chéo suốt mặt kính cửa hàng của bác; rồi, có lẽ ghê tởm dòng chữ viết tay của chính mình, chúng đã lấy gót ủng đập vỡ tan mặt kính thành thử cái từ định tính chúng gán cho Markus chỉ có thể đoán ra được mà thôi… Coi khinh cửa chính, chúng vào trong nhà bằng tủ kính vừa đập vỡ và ở đó, chủng chơi với đám đồ chơi theo cách đặc biệt của chúng.
Tôi bắt gặp chúng vẫn đang chơi khi tôi bước vào cửa hiệu cũng qua lối tủ kính. Một số đã kéo quần xuống và trút những thỏi xúc xích nâu trong đó còn thấy lổn nhổn những hạt đậu mới tiêu một nửa lên những chiếc thuyền buồm, những chú khỉ kéo vĩ cầm, lên cả những cái trống của tôi nữa. Tất cả bọn chúng trông giống như Meyn t’rompét, chúng mặc đồng phục SA như Meyn, nhưng Meyn không có ở đó; cũng như những tên ở đó thì không
Một tên đã rút đao găm ra. Hắn đang mổ bụng những con búp bê và hắn có vẻ thất vọng mỗi lần thấy chẳng có gì ngoài mạt cưa phòi ra.
Tôi lo cho những cái trống của tôi. Chúng không thích những cái trống của tôi. Cái trống hiện tôi đang dùng ắt không thể chịu nổi cơn điên loạn của chúng; nó đành chỉ cúi đầu và im tiếng. Nhưng Markus đã thoát khỏi cơn điên khùng của chúng. Khi chúng đến thăm bác trong văn phòng riêng, chúng không gõ mà xô vỡ toang cửa, mặc dầu cửa không hề khóa.
Người bán đồ chơi ngồi sau bàn giấy của bác. Như thường lệ, bác xỏ những ống tay bảo vệ bên ngoài cái áo màu "ghi" sẫm thường ngày. Những vẩy gầu vương trên vai áo chứng tỏ đầu tóc bác mắc chứng tật gì đó. Một tên SA, với mấy con rối trên các ngón tay, thọc cái đầu gỗ của bà nội gã Kasperl vào người Markus, nhưng bác đã ở bên kia mọi cảm quan: không ai có thể đả thương hoặc làm nhục bác được nữa. Trước mặt bác, trên bàn là một cốc nước đã cạn; chắc là tiếng đập vỡ tủ kính đã làm bác khát.
 
Xưa có một thằng bé đánh trống, tên nó là Oskar. Khi chúng mang người bán đồ chơi của nó đi và phá phách cửa hàng, nó ngờ rằng thời kỳ gian khó sắp đến với những tay trống tí hon như nó. Cho nên khi rời cửa hàng, nó chọn ra trong đống đổ nát một cái trống còn nguyên vẹn và hai cái chưa đến nỗi hư hại lắm, quàng qua cổ và đi khỏi Ngõ Binh Công Xương tới Chợ Than để tìm ông bố lúc này chắc cũng đang tìm nó. Bên ngoài là một buổi sáng tháng mười một. Cạnh Nhà hát thành phố, gần bến xe điện, mấy bà sùng đạo và mấy cô gái xấu lạ xấu lùng đang phân phát truyền đơn tôn giáo, quyên tiền và giơ cao giữa hai cái cọc một tấm biểu ngữ mang dòng chữ trích tù chương mười ba của Thánh Thư thứ nhất gửi người xứ Corinthia: "Lòng tin... Hy vọng... Tình yêu". Oskar đọc và chơi với mấy từ đó như một tài tử xiếc diễn trò tung hứng với chai lọ: tin lành, cả tin, hi hữu, Mũi Hảo (Hy) Vọng, yêu tinh, yêu quái... Cậu có tin là mai có mưa không? Cả một dân tộc cả tin ở ông già Nô-en. Nhưng ông già Nô -en chính là nhân viên của sở cung cấp khí "ga". Tôi tin rằng niềm tin của tôi có mùi hồ đào và hạnh đào. Nhưng nó lại có mùi "ga". Người ta nói sắp đến ngày chủ nhật, thứ nhất của mùa Vọng. Và ngày chủ nhật thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư đều được mở như người ta mở vòi "ga" để tạo ra một mùi hồ đào và hạnh đào đáng tin cậy để cho tất cả những ai thích đập hột hồ đào hay hạnh đào đều có thể thỏai mái và tin tưởng.
Người đang đến! Người đang đến! Ai đang đến? Chúa Jêxu hài đồng, Đấng Cứu Thế? Hay là lão nhân viên sở cung cấp "ga" trên trời với cái đồng hồ "ga" không ngừng tích-tắc tích-tắc cắp nách? Và lão nói: Ta là đấng cứu thế trên đời này, không có ta, các ngưòi không thể nấu nướng gì được. Và lão không đòi hỏi quá đáng, lão cho những giá đặc biệt, mở những vòi "ga" vừa mới đánh bóng cho Đức Chúa Thánh Thần tuôn ra để ta có thể nấu chín bồ câu hay chim ngói. Và chia ra hồ đào và hạnh dào cho ta đập hột và chúng cũng tuôn ra cả khí "ga" lẫn thánh thần. Thành thử, trong không khí xanh xanh đậm đặc, chẳng khó gì để khiến những người cả tin nhìn những nhân viên khí " ga" thành những ông già Nô-en và Chúa Jêxu hài đồng đủ các kích cỡ và các giá khác nhau. Họ tin ở sở cung cấp khí "ga", vị cứu tinh duy nhất, biểu tượng của Định mệnh với những cái đồng hồ "ga" lên lên xuống xuống của nó, người tổ chức một mùa Vọng với giá hạ, khiến nhiều người tin rằng lễ Giáng Sinh sẽ tới, nhưng những người duy nhất sống sót qua những ngày lễ vất vả này là những người hết sạch hồ đào và hạnh đào - mặc dầu ai nấy đều tin rằng có ê hề cho tất cả mọi người.
Nhưng sau khi lòng tin ở ông già Nô-en hóa ra là lòng tin ở gã nhân viên khí đốt, người ta bèn thử, bất chấp thứ tự đã định trong Thánh Thư, xoay sang tình yêu. Ta yêu mình - họ nói - ôi, ta yêu mình. Phải chăng mình cũng yêu ta? Mình có yêu ta không, nói đi, mình có thực sự yêu ta không? Ta cũng yêu bản thân ta nữa. Và xuất phát từ tình yêu, họ gọi nhau là củ cải, họ yêu củ cải, họ cắn vào nhau, xuất phát từ tình yêu thuần túy, một củ cải cắn đứt cái củ cải của kẻ khác. Và họ kể cho nhau nghe những chuyện tình tuyệt vời trên thiên giới và cả những chuyện tình trần thế nữa, giữa những củ cải, và ngay trước lúc cắn, họ thì thầm vào tai nhau, thì thầm với tất cả cái tươi tắn, sắc bén, đói thèm: củ cải ơi, nói đi, mình có yêu ta không? Ta cũng yêu bản thân ta nữa.
 
Nhưng sau khi họ đã cắn đứt củ cải của nhau vì tình yêu, và lòng tin ở nhân viên khí đốt đã được tuyên bố là quốc đạo, thì chỉ còn - sau lòng tin và tình yêu chen ngang tranh chỗ - phải, chỉ còn con voi trắng thứ ba trong Thánh Thư gửi người Corinthia: hy vọng. Và ngay cả trong khi họ vẫn còn củ cải, hồ đào và hạnh đào để nhấm nháp, họ đã bắt đầu hy vọng rằng chẳng bao lâu nữa sẽ hạ màn để họ có thể lại bắt đầu hoặc tiếp tục hy vọng sau hoặc thậm chí ngay trong màn cuối rằng cái kết thúc này sẽ sớm chấm dứt. Kết thúc cái gì.? Họ cũng chưa biết. Họ chỉ hy vọng sẽ sớm kết thúc, kết thúc vào ngày mai, nhưng không phải hôm nay; bởi vì họ biết làm gì nếu cái kết thúc đến đột ngọt như thế? Rồi khl cái kết thúc đến, họ lặng lẽ biến nó thành một sự bắt đầu tràn trề hy vọng; bởi vì ở nước chúng ta, mọi kết thúc đều là bắt đầu và trong mọi kết thúc, kể cả cái kết thúc tối hậu, bao giờ cũng có hy vọng. Nên có câu viết rằng: Chừng nào con người còn hy vọng, nó sẽ luôn luôn lại bắt đầu hy vọng đi đến những kết thúc tràn trề hy vọng
Còn tôi thì không biết. Chẳng hạn, tôi không biết ngày nay, kẻ nào giấu mặt đằng sau bộ râu của ông già Nô-en, hoặc có những gì trong cái tay nải của ông; tôi không biết người ta đóng và làm nghẹt vòi "ga" như thế nào; bởi vì mùa Vọng, thời gian để cầu mong một đấng Cứu chuộc, lại chảy trôi hoặc vẫn còn chảy trôi, tôi cũng không biết. Một điều khác tôi cũng không biết, là: liệu tôi có thể tin rằng họ đánh bóng những cái vòi "ga" mà họ gọi là gà trống với tình cảm yêu thương như để cho chúng gáy, sáng nào, chiều nào, tôi đâu có biết. Và tôi cũng chẳng biết thời gian trong ngày có quan trọng hay không, bởi tình yêu đâu cần biết thời gian trong ngày và hy vọng là bất tận và lòng tin thì không biết đến biên giới, chỉ có biết và không biết là lệ thuộc vào thời gian và biên giới và thường kết thúc trước thời hạn, không râu, không tay nải, không hạnh đào, thành thử một lần nữa tôi lại phải nói: tôi không biết, Ồ, chẳng hạn tôi không biết người ta nhồi dồi bằng gì, ruột con gì nhồi thì hợp và nhồi bằng gì, mặc dầu giá công nhồi mỗi lần được ghi rõ ràng, mà tôi cũng không biết họ tính những gì vào giá, tôi không biết họ tìm những cái tên cho các thứ nhân dồi ở những từ điển nào. Tôi không biết người ta lấy gì để nhồi từ điển hoặc món dồi - thịt con gì, ngôn ngữ gì, tôi không biết - chữ thì cốt để truyền đạt, cánh hàng thịt thì chẳng nói, tôi thái ra nhiều khoanh, anh mở sách, tôi đọc những gì tôi thấy khoái, nhưng anh có biết mình thích gì không? Những khoanh dồi, và những trích dẫn từ sách và dồi - và chúng ta sẽ không bao giờ biết được những ai bị bịt miệng, buộc phải im lặng để dồi có thể được nhồi, sách có thể lên tiếng khi được nhồi đầy chữ in, tôi đâu có biết, nhưng tôi phỏng đoán: chắc vẫn là những tay hàng thịt ấy nhồi cả từ điển lẫn dồi bằng chữ và thịt làm xúc xích, làm gì có Paul, tên giả là Saul và giả là một gã Saul, và chính Saul kể  với nhân dân Corinthia về một món dồi vô giá gọi là lòng tin, hy vọng và tình yêu, mà giả quảng cáo là rất dễ tiêu hoá và cho đến nay, dưới những lốt dạng không ngừng thay đổi song thực chất vẫn là Saul, giả vẫn tiếp tục khuyến mại ngon lành cho nhân loại.
 
Còn tôi đây, chúng đã cướp đi của tôi người bán đồ chơi, chúng muốn loại tất cả đồ chơi khỏi thế giới này.
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn, anh chơi t’rompet tuyệt vời không lời nào tả xiết.
Xưa có một người bán đồ chơi tên là Markus và ông bạn những cái trống thiếc sơn hai màu trắng, đỏ.
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn, anh có bốn con mèo, một con tên là Bismarck.
Xưa có một thằng bé đánh trống, tên nó là Oskar, nó cần người bán đồ chơi.
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn và anh đã đánh chết bốn con mèo của mình bằng một cái que cời lửa.
Xưa có một người thợ đồng hồ, và ông là thành viên của Hội Bảo vệ Súc vật.
Xưa có một thằng bé đánh trống và chúng đã mang người bán đồ chơi của nó đi.
Xưa có người bán đồ chơi tên là Markus, và ông đã mang tất cả đồ chơi trên thế giới này theo ông ra khỏi thế giới này.
Xưa có một nhạc sĩ tên là Meyn, và nếu anh không chết thì anh vẫn còn sống và một lần nữa lại chơi t’rompet tuyệt vời không lời nào tả xiết..




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.07.2016 23:29:10 bởi Ct.Ly>
NGÔI NHÀ BẰNG QUÂN BÀI 
 
Mặc dầu mỗi lúc một mất thêm máu, bác gác cổng cứ nặng dần lên. Victor Weluhn giúp chúng tôi khiêng bác ta. Victor cận thị rất nặng, nhưng dạo ấy anh hãy còn kính và có thể leo các bậc thang đá mà không vấp. Công việc của Victor là giao tiền gửi bằng thu chuyển ngân, một điều trái khoáy đối với một người cận thị như thế. Bây giờ, mỗi khi nhắc đến tên anh, tôi đều gọi anh là Victor tội nghiệp. Cũng như mẹ tôi thành mẹ tội nghiệp vì cuộc đi chơi gia đình ở đập chắn sóng ngoài cảng, Victor, nhân viên chuyển ngân của bưu điện, trở thành Victor tội nghiệp vì bị mất kính, tất nhiên cũng vì những lý do khác nữa.
 
"Cậu có lần nào gặp lại Victor tội nghiệp không?" tôi thường hỏi Vittlar vào những ngày thăm bệnh nhân. Nhưng từ sau cái chuyến xe điện từ Flingern đi Gerresheim - tôi sẽ kể chuyện này sau - Victor Weluhn đã mất tăm đối với chúng tôi. Chỉ còn hy vọng rằng chính những kẻ khủng bố cũng không tìm ra anh; rằng anh đã tìm lại được cặp kính của mình hoặc một cặp khác vừa mắt; rằng, nếu không phải là yêu cầu quá đáng, anh lại làm công việc giao trả tiền, nếu không phải cho sở Bưu Chính Ba Lan - điều này là bất khả - thì là cho sở Bưu Chính Cộng Hòa Liên Bang và rằng, cận thị nhưng có kính đeo, anh lại đi phát hạnh phúc dưới hình thức những tờ giấy bạc nhiều màu và tiền đồng leng keng.
"Thật khủng khiếp," Jan vừa nói vừa thở hổn hển, ông đang khiêng Kobyella bên mé tay trái.
"Và có Chúa biết là kết cục sẽ ra sao, nếu người Anh và người Pháp không tới," Victor nói, anh khiêng phía bên kia.
"Ồ, họ sẽ tới thôi. Mới hôm qua, Rydt-Smigly [1] vừa nói trên đài: ‘‘Chúng ta có lời đoan ước của họ’’, ông ta nói. ‘‘Nếu xảy ra chiến tranh, cả nước Pháp sẽ đứng dậy như một người.’’ Jan phải khó khăn mới giữ được giọng tự tin cho đến hết câu: một mặt, nhìn thấy máu của chính mình trên mu bàn tay, ông không nghi ngờ gì về hiệp ước tương hỗ Pháp - Ba Lan, mặt khác, nó lại khiến ông sợ mình mất hết máu trước khi cả nước Pháp đứng dậy như một người và, trung thành với lời cam đoan, tấn công chiếm chiến lũy Siegfried.
"Chắc là bây giờ họ đã lên đường rồi. Và ngay phút này, hạm đội Anh hắn đang cày biển Baltic”. Victor Weluhn thích những cụm từ mạnh và kêu. Anh dừng lại trên cầu thang, tay phải mắc khiêng bác gác cổng bị thương, còn tay trái rảnh vung cao chào những người cứu viện bằng cả năm ngón: " Hãy tới đây, các bạn Ăng-lê kiêu dũng!"
Trong khi hai người vừa từ tốn và thành khẩn cân nhắc các mối quan hệ giữa Ba Lan và các đồng minh phương Tây, vừa vận chuyển Kobyella đến trạm cấp cứu, Oskar lần giở trong óc những trang sách của Gretchen Scheffler, tìm những đoạn phù hợp. Cuốn Lịch sử thành phố Danzig của Keyser: "Trong cuộc chiến tranh 1870 giữa Đức và Pháp, chiều ngày 21 tháng 8 năm 1870, bốn tàu chiến Pháp vào Vịnh Danzig, tuần tiễu trong vụng và đã chia các nòng pháo vào cảng và thành phố. Tuy nhiên, đêm hôm sau, tàu hộ tống Nymph do thuyền trưởng Weickhmann chỉ huy, đã buộc đội tàu kia phải rút."
 
Một lát trước khi tới buồng kho chứa thư chưa chuyển ở tầng hai, đã hình thành trong tôi cái ý kiến (sau này được xác nhận là đúng) rằng trong cái giờ phút tuyệt vọng này đối với sở Bưu Chính Ba Lan cũng như đối với toàn Ba Lan, Hạm đội Anh đang trú ngon lành ở một vịnh hẹp nào đó ở phía Bắc Xcốtlen, còn Đại quân của Pháp thì đang ăn trưa và tin rằng, với việc phái mấy đội tuần tiễu- trinh sát đến vùng lân - cận chiến lũy Maginot, họ đã thực thi hiệp ước tương hỗ Pháp  -Ba Lan và hoàn thành nghĩa vụ đối với Ba Lan.
 
Ra khỏi buồng kho và trạm cấp cứu, chúng tôi gặp Tiến sĩ Michon; ông vẫn đội cái mũ sắt và ở túi ngực ông, vẫn thò ra cái mù-soa; ông đang nói chuyện với một tay Konrad, sĩ quan liên lạc do Vacxava phái đến. Với nỗi sợ chợt biến hóa muôn hình vạn dạng, Jan cố trình bày rằng mình bị thương nặng. Victor Weluhn không bị thương và có thể là một tay súng tàm tạm chừng nào anh chưa mất kính, nên được điều xuống sảnh chính. Jan và tôi được phép ở lại căn phòng không cửa sổ chỉ cỏ ánh nến chiếu sáng vì nhà máy điện thành phố đã tuyên bố, và thực hiện lời tuyên bố, không cung cấp điện cho Sở Bưu Chính Ba Lan.
 
Đúng ra, Tiến sĩ Michon không mắc lừa về những vết thương của Jan, nhưng mặt khác, ông chả mấy tin vào tài năng quân sự của ông bác tôi. Tạm thời chuyển ngạch viên thư ký bưu vụ thành nhân viên y tế, ông giao cho Jan nhiệm vụ chăm sóc thương binh và đồng thời - đến đây ông sếp bưu điện và chỉ huy trưởng hạ cố xoa đầu tôi một cái thật nhanh và, theo cảm giác của tôi, có phần tuyệt vọng - để mắt đến thằng bé tội nghiệp đừng để nó dính vào trận chiến.
 
Khẩu pháo không giật đã chiến lại bắn trúng sảnh chính ở tầng dưới. Chúng tôi nháo nhác cả lên. Tiến sĩ Michon với chiếc mũ sắt, Konrad, viên sĩ quan liên lạc từ Vacxava và Weluhn bổ nhào xuống vị trí chiến đấu. Còn lại Jan và tôi cùng với bảy, tám thương binh trong một gian phòng kín mít trong đó tiếng chiến trận bặt hẳn đi. Những ngọn nến chỉ hơi lắt lay khi quả đạn trúng đích. Im lặng ngự trị, bất chấp, hay có lẽ chính vì, những tiếng rên xung quanh chúng tôi. Một cách lóng ngóng, Jan quấn vội những mảnh vải xé từ drap giường quanh đùi Kobyella rồi quay sang săn sóc những vết thương của mình. Nhưng má và mu bàn tay ông đã ngừng chảy máu. Những chỗ rách da đang mím miệng, nhưng hắn vẫn còn đau và cái đau nuôi dưỡng cho cái sợ không có chỗ để xì ra trong căn phòng thấp trần ngột ngạt này. ông bèn cuống cuồng lục tất cả các túi và tìm thấy cỗ bài còn nguyên vẹn. Thế là từ bấy giờ cho đến lúc vỡ trận, chúng tôi chơi xì-cạt.
Ba mươi hai quân bài - trang, cúp, chia, đánh, ăn, bỏ, đủ các nước. Vì tất cả các giỏ thư đều đã có thưong binh nằm ở trên, chúng tôi đặt Kobyella ngồi dựa vào một cái giỏ. Nhưng vì bác cứ ngả nghiêng đe dọa ngã đổng kềnh bất cứ lúc nào, chúng tôi bèn cột bác ngay ngắn lại bằng đai đeo quần của một thương binh khác. Chúng tôi dựng bác ngồi thật thẳng, chúng tôi cấm bác không được đánh rơi bài, vì chúng tôi cần một người thứ ba mới đủ chân. Những tay đang nằm trên giỏ thư hầu như không phân biệt nổi đen với đỏ, họ chẳng còn muốn chơi xì-cạt nữa. Thực ra, Kobyella cũng vậy, bác chỉ muốn nằm thôi. Mặc cho mọi sự xuôi theo dòng, lúc này Kobyella chỉ muốn có thế. Với đôi tay lần đầu tiên trong đời được nhàn rỗi, bác chỉ muốn nhìn qua đôi mí mắt không lông mi khép hờ xem công cuộc hủy hoại này hoàn tất như thế nào. Nhưng chúng tôi không chịu nổi cái thái độ định mệnh chủ nghĩa ấy. Chúng tôi cột chặt bác lại và bắt bác làm chân thứ ba trong khi Oskar chơi chân thứ hai - và chẳng ai mảy may ngạc nhiên là Bé Tí Hon lại biết chơi xì-cạt.
Khi tôi cất giọng để lần đầu tiên nói ngôn từ người lớn và xướng nước: "Mười tám" thì Jan quả có như người chợt tỉnh, ngước mắt khỏi bài mình ném về phía tôi một cái nhìn xanh không tưởng tượng nổi và gật đầu. "Hai mươi?" tôi nâng mức. Và Jan không chút lưỡng lự: "Theo". Và tôi: "Hăm hai? Hăm ba? Hăm tư?" Không, Jan không theo nổi. "Cho qua." Còn Kobyella? Mặc dầu được đai đeo quần néo giữ, bác lại gục xuống lần nữa. Nhưng chúng tôi dựng bác dậy và chờ cho đến khi tiếng một quả đạn bắn vào một điểm cách xa phòng đánh bài của chúng tôi tắt hẳn. Rồi trong im lặng bục nổ, tiếng Jan thì thào: "Hăm tư, Kobyella. Bác không nghe thằng bé vừa đánh à?"
 
Ai mà biết được bác gác cổng ngoi lên từ vực thẳm nào. Tôi có cảm giác như bác phải dùng đòn bẩy để kích mí mắt lên. Cuối cùng, cái nhìn ướt đẫm của bác lướt trên mười quân bài do Jan kín đáo đặt vào tay bác mà không nhìn trộm.
"Cho qua" Kobyella nói, hay đúng hơn, chúng tôi đọc được câu nói đó trên môi bác, đôi môi khô kiệt không còn hơi để nói.
Ván sau, Kobyella được, nhưng bác lại gục xuống. Bác không đòi tiền thắng cuộc và cả đến quả đạn chống tăng đầu tiên trúng vào cầu thang cũng không còn nghĩa lý gì với bác gác cổng tội nghiệp mặc dầu đó là cái cầu thang của bác, cái cầu thang mà bác đã không ngừng lau chùi và đánh bóng hàng bao năm nay.
Cái sợ lại xâm chiếm Jan khi cánh cửa vào buồng thư của chúng tôi kêu răng rắc và những ngọn nến không còn biết rạp theo hướng nào nữa. Thế rồi cầu thang lại tương đối yên tĩnh và quả đạn chống tăng tiếp theo trúng vào mặt tiền, tức là khá xa. Nhưng ngay cả như thế, Jan Bronski vẫn hoảng loạn khi trang bài và chia nhầm hai lần nhưng tôi bỏ qua. Chừng nào còn vang rộn tiếng súng thi Jan không nghe thấy gì khác nữa và đôi khi ngồi ngây ra bất động, giỏng tai về phía bên ngoài trong khi chúng tôi sốt ruột chờ ông đánh tiếp nước bài. Tuy nhiên, trong khi Jan càng lúc càng trở nên lơ đễnh, thì Kobyella lại chơi khá tập trung mặc dầu thi thoảng vấn phải thúc vào sườn để ngăn bác khỏi gục xuống. Bác chơi không đến nỗi tồi như thể trạng của bác lúc này. Bác hoàn toàn không quan tâm đến chuyện được, thua. Bác chơi để có cái mà tập trung chú ý vào. Khi chúng tôi tính điểm, bác ngồi rũ ra trên chiếc đai đeo quần mượn, nếu không có những co giật dễ sợ của trái hầu thò lên thụt xuống thì dễ tưởng là chết rồi.
 
Cuộc chơi bài này cũng là một thử thách căng thẳng đối với cả Oskar nữa. Không phảỉ là những tiếng động liên quan đến cuộc bao vây và phòng thủ Sở Bưu Chính Ba Lan làm nó đặc biệt khó chịu. Đối với tôi, cái phần gay go là lần đầu tiên, tôi đã trút bỏ mọi lốt giả trang, tuy chỉ là tạm thời, tôi nghĩ thế. Cho đến lúc bấy giờ, tôi mới chỉ phô bộ mặt thật không tô vẽ của mình với sư phụ Bebra và nàng mộng du Roswitha mà thôi. Và bây giờ tôi tự bộc lộ, không những trước ông bác và có thể là bố, mà cả trước một người gác cổng tàn tật (đành rằng cả hai đều khó có thể là nhân chứng sau này), như là một thiếu niên mười lăm tuổi - xin xem khai sinh - biết chơi xì-cạt rất liều mà không phải là thấp, ý chí thì có thừa, song thể lực và tầm vóc tí hon lại không kham nổi, mới chơi được khoảng một tiếng, chân tay, đầu óc tôi đã đau ghê gớm.
Oskar cảm thấy muốn bỏ cuộc; đối với nó, lỉnh đi trong khoảng giữa những phát nổ vẫn kế tiếp nhau làm rung chuyển tòa nhà, không phải là khó nếu một tình cảm chưa từng thấy tựa như ý thức trách nhiệm không ra lệnh cho nó phải giữ vững và chống lại cái sợ nắm bắt ông bố khả thể của tôi bằng phương pháp duy nhất hiệu nghiệm: chơi xì-cạt.
Và như thế chúng tôi chơi và không chịu để cho Kobyella chết. Bác dứt khoát không có thì giờ để làm điều đó vì tôi cố hết sức làm sao cho các quân bài luôn luôn quay vòng. Khi một quả đạn nổ ở cầu thang, làm mấy cây nến đổ nhao và tắt ngấm, chính tôi là người đã nhanh trí làm cái điều hiển nhiên phải làm - móc túi Jan lấy ra một que diêm và cả những điếu thuốc lá đầu vàng của ông luôn thể; chính tôi đã khôi phục lại ánh sáng cho thế giới, châm cho Jan một điếu Regatta trấn an, xuyên thủng đêm tối bằng những ngọn lửa kế tiếp nhau trước khi Kobyella kịp lợi dụng bóng đêm để ra đi.
 
Oskar cắm hai cây nến lên cái trống mới, để mấy điếu thuốc lá ở trong tầm tay mình. Nó không muốn cho bản thân nó, nhưng để thỉnh thỏang đưa cho Jan một điếu và đặt một điếu khác giữa cặp môi rệu rệch của Kobyella. Như vậy, mọi sự dễ chịu hơn, thuốc lá xoa dịu và an ủi, tuy nó không thể ngăn Jan Bronski thua hết ván này đến ván khác. Jan đổ mồ hôi và thè đầu lưỡi liếm môi trên như ông bao giờ cũng làm thế khi dồn hết tâm trí vào cuộc chơi. Ông nhập đồng say sưa hào hứng đến nỗi có lúc đã gọi tôi là Alfred hay Matzerath và bắt đầu tưởng Kobyella là mẹ tội nghiệp của tôi. Khi ở ngoài hành lang, có người kêu: "Konrad bị rồi!", ông quay sang nhìn tôi, vẻ trách móc: "Lạy Chúa, Alfred, làm ơn tắt hộ cái đài một tí. Không còn nghĩ được gì nữa hết."
Jan bực mình thật sự khi người ta mở toang và kéo xác Konrad vào.
"Đóng cửa vào, kẻo gió lùa!" ông phản đối. Quả là có gió lùa thật. Những ngọn nến lập loè hoảng loạn và chỉ trấn tĩnh lại khi những người kia quăng Konrad vào một góc rồi đi ra và đóng cửa lại sau lưng mình. Chúng tôi họp thành một bộ ba kỳ quái. Ánh nến hắt từ dưới lên khiến chúng tôi có vẻ như những phù thủy đầy pháp thuật. Mắt Kobyella long sòng sọc lạ thường và trong vai phải bác có cái gì như muốn chòi ra, run rẩy và giãy giụa như điên. Cuối cùng nó ngừng lại, nhưng Kobyella thì đổ sấp mặt về phía trước, kéo theo cả cái giỏ thư mà bác bị cột vào, cùng với người chết bị tước đai đeo quần nằm bên trên. Jan thu hết sức đẩy ngược lên, dựng Kobyella và giỏ thư trở lại như cũ, và Kobyella lại một lần nữa bị ngăn, không thoát nổi chúng tôi.
Bây giờ thì Jan gọi tôi là Agnès trong khi Kobyella trở thành Matzerath, tình địch của ông. Trở thành mẹ tội nghiệp của tôi trong mắt ông chứ không còn là Matzerath, tôi bằng lòng hơn nhiều, tôi chẳng muốn bị tưởng nhầm là Matzerath một tí nào. Jan sốt ruột chờ Matzerath ra bài mà kỳ thực đó là một lão gác cổng tàn tật tên là Kobyella; mất thì giờ quá, Jan bèn vật quân át cơ xuống và hoàn toàn không muốn cũng như không thể hiểu, thật tình ông không bao giờ hiểu đầy đủ, xưa nay ông vẫn chỉ là một gã mắt xanh, sực mùi nước thơm Cologne, và không đủ sức hiểu một số điều, và giờ đây ông dứt khoát không thể hiểu được tại sao Kobyella lại đột ngột buông tất cả bài mình xuống, ra sức kéo cái giỏ quần áo đựng đầy thư với một người chết nằm trên chốc, cho đến khi tất cả đổ ụp xuống, mới đầu là người chết, rồi đến một chồng thư và cuối cùng là toàn bộ cái giỏ đan rất khéo, tuôn tới chúng tôi một đạt sóng thư, như thể chúng tôi là những người nhận, như thể việc của chúng tôi bây giờ là gạt những quân bài sang một bên và bắt đầu đọc những lá thư gửi cho chúng tôi hoặc thu thập tem làm sưu tập. Nhưng Jan không muốn đọc, cũng chẳng muốn sưu tâm tem, ông đã sưu tầm bao nhiêu từ hồi còn nhỏ, ông muốn chơi cờ, ông muốn chơi nốt quắn bài lớn của mình, ông muốn được, Jan này muốn thắng, ông dựng Kobyella dậy, đặt cái giỏ lại ngay ngắn trên bánh xe, nhưng vẫn để người chết nằm đấy và cũng không xếp lại thư vào trong giỏ. Bất cứ ai cũng có thể thấy là cái giỏ quá nhẹ, thế mà Jan tỏ ra hết sức ngạc nhiên khi Kobyella, ngật ngưỡng với cái giỏ nhẹ tênh, không thể ngồi cho thăng bằng được mà cứ chúi xuống mỗi lúc một thấp hơn. Cuối cùng, Jan quát vào mặt bác: "Tôi xin anh đừng có phá đám. Nốt ván này thôi, rồi chúng ta ai về nhà nấy. Alfred, anh có nghe tôi không đấy?"
 
Oskar mệt mỏi đứng dậy, cố nén cơn đau nhức mỗi lúc một tăng nơi chân tay và đầu, đặt hai bàn tay mảnh dẻ của thằng bé đánh trống lên vai Jan Bronski và gắng gượng nói, nhỏ nhẹ nhưng đầy uy quyền như ra lệnh: "Để bác ấy yên, cha ạ. Bác ấy không chơi được nữa. Bác ấy chết rồi. Nếu cha thích thì chúng mình chơi sáu mươi sáu vậy."
Jan, mà tôi vừa gọi bằng cha, buông cái vỏ thế phù du của bác gác cổng, hướng về tôi một cái nhìn tràn trề xanh và khóc khôngkhôngkhôngkhông... Tôi vỗ vỗ ông, nhưng ông vẫn khôngkhông. Tôi hôn ông một cách đầy ý nghĩa, nhưng ông vẫn không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài ván bài bị cắt ngang giữa lúc sắp thắng của mình.
"Lẽ ra anh đã thắng, Agnès ạ. Chắc như đinh đóng cột," ông than thở như vậy với mẹ tội nghiệp của tôi trong lốt của tôi, và tôi - con trai ông - đành lòng phải vào vai, phải, ông có lý, tôi nói, tôi thề là lẽ ra ông đã thắng, rằng xét cho cùng kỳ lý thì thực tế ông đã thắng, rằng ông phải tin những gì Agnès của ông đang nói với ông. Nhưng Jan không tin; ông không tin cả tôi lẫn mẹ tôi. Mới đầu, ông khóc to và nghe rõ lời, rồi nhỏ dần thành một thứ thút thít đơn điệu không thành tiếng; rồi ông bắt đầu thu hồi các quân bài xì-cạt từ dưới trái núi Kobyella đang lạnh dần; một số quân moi từ giữa hai chân bác và dưới đống thư. Jan tìm được kỳ đủ ba mươi hai quân bài mới thôi! Ông làm vệ sinh cho từng quân một, lau sạch máu dính nhơm nhớp trên bài. Xong xuôi, ông trang bài, chuẩn bị chia. Đến lúc đó, cái trán đẹp dáng, tuy hơi quá nhẵn, hơi quá bí hiểm, của ông mới chịu thừa nhận rằng trên đời này không còn chân thứ ba để chơi xì-cạt.
 
Buồng kho thư chưa chuyển trở nên rất yên tĩnh. Bên ngoài cũng dành một phút im lặng kéo dài để mặc niệm chân-xi-cạt-thứ-ba cuối cùng trên đời. Tuy nhiên, Oskar cảm thấy như cửa phòng đang từ từ mở. Ngoái nhìn qua vai, chờ đợi một sự hiện hình siêu phàm nào đó, nó trông thấy bộ mặt mù loà trống trơn lạ lùng của Victor Weluhn. "Jan, tôi mất kính rồi. Anh còn đấy không? Tốt nhất là mình chạy đi thôi. Quân Pháp không đến hoặc nếu họ có đến thì cũng đã quá muộn. Đi với tôi đi, Jan. Dắt tôi với, tôi mất kính rồi."
Có thể Victor tưởng mình đã vào nhầm phòng vì khi không thấy ai trả lời và không có cánh tay nào chìa ra dắt mình, anh bèn rút lui bộ mặt mất kính và đóng cửa lại. Tôi còn nghe thấy mấy bước đầu tiên của Victor khi anh dò dẫm xuyên qua đám sương mù tìm đường tẩu thoát.
 
Có trời biết điều gì ngộ nghĩnh loé lên trong cái đầu nhỏ bé của Jan khiến ông phì cười, mới đầu còn khe khẽ và có phần ảo não, rồi vang to vui vẻ, rung cái lưỡi nhỏ hồng hồng tươi tắn như cái quả lắc chuông. Ông tung bộ bài lên không rồi bắt lấy và cuối cùng, khi một tĩnh lặng ngày Chúa trùm lên căn phòng với những con người im lặng và những lá thư im lặng, bắt đầu, bằng những động tác thận trọng, cân nhắc và gần như nín thở, xây một ngôi nhà cực kỳ mỏng mảnh bằng quân bài. Hai quân: Bảy pích và Đầm nhép được dùng làm nền. Xoè bên trên là quân Vua ca-rô. Chín cơ và Át pích với Tám nhép úp lên trên hợp thành nền thứ hai bên cạnh. Sau đó, ông lấy con Hai nối những con Mười và con Bồi dựng đứng, dùng những con Đầm và Át làm xà ngang, để bộ phận này đỡ bộ phận kia. Rồi ông quyết định xây thêm một tầng thứ ba trên tầng hai và làm việc đó với đôi bàn tay mê hồn mà mẹ tôi chắc đã biết quá rõ trong những động tác khác. Và khi ông dựa con Đầm cơ vào con Vua có trái tim đỏ chói thì toà nhà không đổ, không, nó đứng nhẹ lâng lâng, thở dịu dàng, khe khẽ trong cái căn buồng mà ở đó những người chết không thở nữa và người còn sống thì nín thở. Ngôi nhà bằng quân bài này cho phép chúng tôi khoanh tay ngồi thư thái lại; nó khiến cho Oskar hoài-nghi, vốn biết những quy tắc tĩnh học chi phối việc xây nhà quân bài, có thể quên đi làn khói khét lẹt cùng mùi thối rữa luồn qua khe cửa thành từng vệt cuồn cuộn, tạo cảm giác như thể căn buồng nhỏ với ngôi nhà quân bài này ở ngay cạnh vách sát vách với địa ngục vậy.
 
Chúng đã đem súng phun lửa tới; không dám tiến hành một cuộc tấn công trực diện, chúng quyết định hun khói cho những người cố thủ cuối cùng phải chui ra … Thành công của thủ đoạn này dồn Tiến sĩ Michon đến chỗ phải quyết định đầu hàng. Bỏ cái mũ sắt, ông cầm một tấm drap giường vẫy rối rít và khi cảm thấy chưa đủ, ông rút nốt chiếc mù-soa lụa, vẫy kèm bằng tay kia.
Khoảng ba mươi người xém lửa khói, gần như mù, cánh tay giơ lên, bàn tay chắp sau gáy, rời khỏi toà nhà qua cửa bên trái và xếp hàng cạnh tường sân chờ lực lượng cảnh vệ đang từ từ tới. Sau này, người ta kể rằng trong khoảng thời gan ngắn khi đám cảnh vệ chưa tới, ba, bốn người đã trốn thoát: qua nhà để xe của Sở bưu chính và nhà để xe của đồn cảnh sát kề bên, họ đến được một ngôi nhà đã sơ tán, do đó trống không, ở phố Rähm; tại đây, họ kiếm được quần áo kèm theo cả huy hiệu Đảng nữa. Tắm rửa xong, thay đồ, họ biến mất tăm vào thinh không, từng người một. Vẫn theo lời kể đó, một trong những kẻ trốn chạy đã đến một cửa hàng kính ở
Alstädtischer Graben, thử và mua một cặp kính mới, kính cũ của anh ta đã mất trong khi chiến đấu bảo vệ nhà bưu điện. Với cặp kính mới, Victor Weluhn - vì đó chính là anh ta - theo người ta kể, dám đến tận Chợ Gỗ làm một vại bia, rồi một vại nữa, vì súng phun lửa đã làm anh khát cháy cổ. Rồi, nhờ cặp kính mới xua đi phần nào đám sưong mù trước mắt, tuy không bằng cặp kính cũ, Victor bắt đầu cuộc chạy trốn mà vì sự quyết liệt dai dẳng của những kẻ săn đuổi, đến hôm nay vẫn còn tiếp tục.
Những người khác - tôi muốn nói đến khoảng ba mươi người không quyết định chạy trốn - đang đứng cạnh bức tường đối diện với cửa bên khi Jan dựa quân Đầm cơ vào quân Vua cơ và sung sướng ngây ngất buông tay ra.
Tôi phải nói thêm gì nữa? Họ tìm thấy chúng tôi. Họ mở toang cửa, quát: ‘‘Rauss [2]" khuấy động
không khí và ngôi nhà quân bài đổ xụp. Họ không ưa loại kiến trúc này. Chất liệu của họ là bê-tông. Họ xây dựng cho vĩnh cửu. Họ chả để ý gì đến vẻ mặt bất bình và cay đắng của thư ký bưu vụ Jan Bronski. Họ không thấy là Jan, trước khi đi ra, đã với tay vào chồng quân bài và nhặt lên cái gì đó. Họ cũng không thấy là tôi, Oskar, đã rứt mấy mẩu nến. khỏi cái trống mới sở hữu, nhặt lấy trống mà bỏ lại nến lúc này không còn cần thiết vì có rất nhiều đèn pin xói vào mắt chúng tôi. Thậm chí họ cũng không nhận thấy rằng những đèn pin của họ đã làm chúng tôi lóa mắt khó tìm thấy cửa ra. Từ đằng sau những chiếc đèn pin và những cây súng trường, họ hô: " Rauss!" và họ vẫn còn hô " Rauss!" khi Jan và tôi đã ra tới hành lang. Những tiếng " Rauss" ấy nhằm vào những Kobyella, Konrad từ Vacxava đến, Bôbek và Wischnewski nhỏ bé khi còn sống làm việc ở quầy điện báo. Bọn tấn công đã hoảng sợ vì tinh thần ngoan cường không chịu khuất phục của những người này.Tôi cười lớn mỗi khi bọn cảnh vệ hô "Rauss" và sau một hồi, thấy mình đang làm trò cười, họ ngừng hô và nói: "À!" Rồi họ dẫn chúng tôi ra chỗ ba mươi người đang đứng khát khô cổ, tay giơ lên và chắp sau gáy ở trong sàn cho người ta quay phim thời sự.
 
Máy quay đặt trên một chiếc ô-tô. Khi chúng tôi bị giải qua cửa bên, các phó nhòm quay nó về phía chúng tôi để quay cái đoạn phim ngắn mà sau đó được chiếu ở tất cả các rạp xi-nê.
 
Người ta tách tôi ra khỏi đám ba mươi người đứng cạnh tường. Đến đây, Oskar nhớ ra mình là một thằng lùn, nó nhớ ra rằng một đứa trẻ lên ba có thể được miễn mọi trách nhiệm. Nó lại cảm thấy đau ở đầu và chân tay; nó quỵ xuống đất cùng với cái trống, bắt đầu giẫy giụa và cuối cùng lên một cơn động kinh nửa thật nửa giả vờ, nhưng ngay cả trong khi lên cơn nó vẫn giữ chặt lấy cái trống. Họ bế nó lên một chiếc xe của SS địa phương. Khi chiếc xe phóng đi, đưa nó về Bệnh viện thành phố, Oscar trông thấy Jan, Jan tội nghiệp, đang gửi vào khoảng không một nụ cười ngu dại và hạnh phúc. Một tay giơ lên mấy quân bài xi-cạt và với tay kia cầm quân Đầm cơ (tôi nghĩ thế), ông vẫy chào vĩnh biệt Oskar, con trai của ông.
 
 
 
Chú thích :
[1] Exlward Rydt-Simgly (1886-1941), thống chế Ba Lan Ba, chỉ huy Lữ đoàn lê dương Ba Lan trong Đại chiến thế giới I (1914 -18)
[2] Tiếng Đức: Đi ra!




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2016 10:12:46 bởi Ct.Ly>
ÔNG ẤY NẰM Ở SASPE 
 
Tôi vừa đọc lại đoạn cuối. Tôi không hài lòng lắm, nhưng ngòi bút của Oskar là thế - ngắn gọn và khúc triết; như đa phần những báo cáo ngắn gọn và khúc triết, nó đã làm được điều này: phóng đại và đánh lạc hướng, nếu không phải là nói dối.
 
Để bám chắc lấy sự thật, tôi sẽ tìm cách khắc phục ngòi bút của Oskar và đính chính vài điểm: thứ nhất, ván cuối cùng mà Jan chẳng may bị tước mất cơ hội hạ bài và ù, không phải là một bộ đồng hoa không chủ bài mà là một bộ ca-rô thiếu hai; thứ hai, Oskar, khi rời buồng kho thư, không chỉ mang theo cái trống mới, mà còn nhặt luôn cả cái cũ rách nát đã rời ra khỏi giỏ quần áo cùng với thư từ và người chết mất đai đeo quần. Ngoài ra, còn có một chỗ bỏ sốt cần phải điền thêm vào: Jan và tôi vừa ra khỏi buồng kho thư chưa chuyển, theo lệnh của bọn cảnh vệ với những tiếng hô "Rauss", những súng ống, đèn pin của họ, là Oskar liền xán đến hai tay cảnh vệ nom có dáng ông chú hiền hậu hòng tìm sự che chở, giả vờ khóc lóc thảm thiết và chỉ vào Jan cha mình với những cử chỉ tố cáo, biến con người tội nghiệp thành một tên ác ôn đã kéo một đứa bé vô tội đến s ở Bưu Chính Ba Lan để làm bia đỡ đạn đúng với tính cách vô nhân dạo điển hình Ba Lan.
Oskar tính làm thế sẽ có lợi cho cả hai cái trống và sự chờ đợi của nó đã tỏ ra không phải là hão huyền: hai tay cảnh vệ đá đít Jan và lấy báng súng đánh ông, nhưng để lại cho tôi cả hai cái trống. Một trong hai tay cảnh vệ này, một người đứng tuổi với những nếp nhăn lo nghĩ của một ông bố gia đình chạy từ cánh mũi xuống mép, vuốt má tôi, trong khi tay kia, một gã tóc vàng rơm lúc nào cũng cười híp cả mắt, thì bế tôi lên, khiến Oskar thấy bối rối và ơn ớn.
 
Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy xấu hổ khi thỉnh thoảng nghĩ đến cách ứng xử ghê tởm của mình, nhưng tôi tự an ủi bằng ý nghĩ rằng Jan không nhận thấy gì hết, ông còn đang để hết tâm trí vào những quân bài của ông và cứ thế cho đến giờ phút cuối, rằng không gì còn có thể kéo ông ra khỏi tâm thái đó, kể cả những cơn hứng tức cười nhất hay quỷ quyệt nhất của bọn cảnh vệ. Jan đã sang tận cái vương quốc vĩnh cửu của những ngôi nhà và lâu đài bằng quân bài ở Tây Ban Nha, nơi đó con người tin ở hạnh phúc, trong khi bọn cảnh vệ và tôi - vì lúc đó Oskar kể như mình đang ở trong hàng ngũ cảnh vệ - đứng giữa những bức tường gạch, trong những hành lang đá, dưới những trần nhà với những gờ xtuých-cô xoắn xuýt với những tường và vách ngăn nhằng nhịt đến nỗi có thể một ngày kia điều tệ hại nhất sẽ xẩy ra khi mà, do một sự cố nào đó, toàn bộ cái sự chắp vá mà ta gọi là kiến trúc này sẽ bong ra, rơi rụng lả tả.
Dĩ nhiên, nhận thức muộn màng này không thể biện minh cho tôi, nhất là khi người ta nhớ lại rằng tôi không bao giờ nhìn một công trình đang xây dựng mà không hình dung đến lúc nó bị phá hủy và rằng tôi luôn luôn coi những ngôi nhà bằng quân bài là chỗ ở duy nhất xứng đáng với nhân loại. Và ngoài ra, còn một nhân tố khép tội nữa. Buổi chiều hôm ấy tôi cảm thấy tuyệt đối chắc chắn rằng Jan Bronski không phải chỉ là bác hoặc bố khả-thể, mà là bố thật của tôi. Điều đó đặt ông lên trên Matzerath, một lần cho mãi mãi, vì Matzerath thì hoặc là cha tôi, hoặc chả là gì cả.
Ngày 1 tháng 9 năm 1939 - tôi chắc quý vị, vào cái buổi chiều bất hạnh ấy, cũng đã nhận ra Jan Bronski, người xây nhà-quân-bài đầy ơn phước, là cha tôi - đánh dấu sự mô đầu gánh nặng tội lỗi thứ hai của tôi.
Ngay cả khi tôi cảm thấy ái ngại nhất cho bản thân mình, tôi cũng không thể phủ nhận điều này: chính cái trống của tôi, không, chính tôi, Oskar tên đánh trống, đã tống khứ, đầu tiên là mẹ tội nghiệp của tôi, rồi đến Jan Bronski, bác và cha tôi, xuống mồ.
Nhưng vào những ngày mà một cảm giác phạm tội không sao xua đi được khiến tôi nằm bẹp đầu trên chiếc gối của cái giường bệnh viện, tôi thường hay, như mọi người khác, chiếu cố đến sự dốt nát của mình - cái sự dốt nát đã trở thành mốt vào thời kỳ ấy và ngay cả bây giờ, một số công dân của chúng ta vẫn trưng trổ như một kiểu mũ ngồ ngộ.
 
Oskar, thằng dốt xảo trá, nạn nhân của sự man rợ Ba Lan, được đưa đến Bệnh viện thành phố vì sốt do động kinh. Matzerath được thông báo. Đêm qua, ông đã trình việc tôi biến mất, mặc dù quyền sở hữu của ông đối với tôi chưa bao giờ được chứng minh.
 
Còn về ba mươi người đứng giơ tay lên và chắp sau gáy, trong đó có Jan, thì sau khi được quay phim thời sự, họ bị giải đi, đầu tiên đến ngôi trường Victoria đã sơ tán, sau đến Trại giam Schiesstange. Cuối cùng, họ được giao cho lớp cát xốp thấm nước đằng sau bức tường của cái nghĩa trang cũ hoang phế ở Saspe.
 
Làm sao Oskar biết được những thông tin này? Do Leo Schugger kể. Bởi vì dĩ nhiên, chẳng có thông báo chính thức nào cho chúng tôi biết là ba mươi người ấy bị bắn dưới chân bức tường nào và vùi dưới bãi cát nào.
 
Hedwig Bronski thoạt đầu nhận được một giấy báo phải dọn khỏi căn hộ ở Ringstrasse để nhường chỗ cho gia đình một sĩ quan không quân cao cấp.Trong khi đóng gói đồ đạc với sự giúp đỡ của Stephan và chuẩn bị về Ramkau - nơi bác sở hữu một ngôi nhà cùng mấy mẫu rừng và đất canh tác- bác nhận được tờ thông báo chính thức biến bác thành quả phụ. Bác nhìn vào nó bằng đôi mắt vốn chỉ phản chiếu chứ chưa thấm sâu những khổ đau trên đời và phải rất từ từ, với sự giúp đỡ của đứa con trai Stephan, bác mới thấm được ý nghía của nó.
Đây là nội dung tờ thông báo:
 
Toà án quân sự, nhóm Eberhardt st. 1 41/39
 Zoppot 6 -10 - 1939
Bà Hedwig Bronski,
Xin báo để bà biết: Bronski, đã bị kết án tử hình vì hoạt động quân sự chống đối.
ZELEWSKI
(Thanh Tra Tòa án Quân Sự)
 
Quý vị thấy đó, không một chữ nào về Saspe. Vì sự quan tâm đối với gia đình những người chết, nhà chức trách muốn tránh cho họ khỏi è cổ dưới những khoảng chỉ cần thiết cho một nấm mồ tập thể lớn đến thế, tốn hoa đến thế; đồng thời, để đỡ phải lo bảo trì và có thể cả cải táng sau này, họ cho san phẳng mặt đất pha cát và thu dọn tất cả các đầu đạn, trừ một - bao giờ chả có chuyện bỏ sót - vì vỏ đạn là thứ không đúng chỗ ở một nghĩa trang, dù là một nghĩa trang bỏ hoang.
 
Nhưng cái vỏ đạn duy nhất, mà bao giờ người ta cũng bỏ sót, mà chúng tôi quan tâm, lại do Leo Schugger tìm thấy; không một cuộc chôn cất nào, dù kín đáo nhất, là bí mật đối với anh ta. Anh biết tôi từ đám tang mẹ tội nghiệp của tôi, rồi sau đó, đám tang anh bạn Herbert Truczinski lưng đầy sẹo của tôi. Chắc chắn anh biết nơi chôn Sigismund Markus, mặc dầu tôi không bao giờ hỏi anh. Và anh rất khoái, gần như sướng ngây ngất khi có dịp đưa cho tôi cái vỏ đạn đầy chứng tích tố cáo vào cuối tháng 11, ngay sau khi tôi ra viện.
 
Nhưng trước khi dẫn quý vị theo chân Leo Schugger đến nghĩa trang Saspe với cái vỏ đạn đã hơi ốc-xy hóa có lẽ đã mang cái đầu chì dành cho Jan, tôi phải xin quý vị cho phép so sánh hai cái giường bệnh viện, cái tôi đã nằm ở phòng nhi Bệnh viện thành phố Danzig và cái tôi đang nằm bây giờ. cả hai cùng bằng kim loại, cả hai cùng sơn trắng, thế nhưng có một điểm khác nhau. Cái giường ở phòng nhì ngắn hơn nhưng lại cao hơn nếu lấy thước đo những chấn song. Mặc dù cảm tình của tôi ngả về cái lồng ngắn hơn nhưng cao hơn của năm 1939, tôi lại thấy bình tâm thư thái hơn trong cái giường tạm bợ hiện giờ, nó được thiết kế cho người lớn, và tôi đã hiểu ra rằng không nên đòi hỏi quá mức. Mấy tháng trước, tôi đã kiến nghị đòi một cái giường cao hơn mặc dầu tôi hoàn toàn bằng lòng về chất kim loại và màu sơn trắng. Nhưng bây giờ, dù ban giám đốc có đồng ý hay bác bỏ, tôi cũng chả cần.
Hôm nay, chẳng hạn, tôi hầu như không có gì chống đỡ trước những khách đến thăm, còn như dạo ấy, vào những ngày thăm bệnh nhân ở phòng nhi, một hàng rào cao ngăn tôi khỏi Vị Khách Thăm Matzerath, khỏi các Vị Khách Thăm Greff (ông và bà) và các Vị Khách Thăm Scheffler (ông và bà). Và vào những ngày cuối đợt nằm viện của tôi, những chấn song giường tôi chia cái trái múi bốm lớp váy di-động mang tên bà ngoại Anna Koljaiczek của tôi thành từng ngăn thở phì phò đầy lo âu. Bà đến, thở dài, giơ đôi bàn tay to với hàng nghìn nếp nhăn, phô lòng bàn tay hồng hồng, nứt nẻ, rồi buông phịch xuống, cả bàn tay lẫn lòng bàn tay, ngao ngán, tuyệt vọng đập chan chát vào đùi, dữ dội đến nỗi tận hôm nay tôi vẫn còn nghe văng vẳng tiếng đó, mặc dầu tôi chỉ có thể mô phỏng nó tàm tạm trên trống.
 
Ngày đầu tiên đến thăm, bà đưa theo ông anh Vincent Bronski. ông Vincent cứ nắm chặt lấy chấn song giường tôi mà nói (hay hát?) tràng giang đại hải về Đức Mẹ Maria Đồng Trinh Nữ Hoàng Ba Lan bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng sắc như dao. Oskar lấy làm mừng khi thấy có một nữ y tá ở gần đó. Bởi vì hai vị đó đang kết tội tôi: họ chĩa đôi mắt trong xanh của dòng họ Bronski vào tôi, quên hẳn rằng tôi đang phải nếm trải cơn sốt động kinh, hậu quả của cuộc chơi xì-cạt kéo dài ở sở Bưu Chính Ba Lan, chờ đợi tôi an ủi họ bằng một lời ân cần, kể lại những giờ phút cuối của Jan chia sẻ giữa nỗi sợ và cuộc bài. Họ muốn nghe từ miệng tôi một lời thú tội, giải oan cho Jan, cứ như là tôi có quyền năng rửa tội cho ông, cứ như là lời chứng của tôi có trọng lượng lắm!
Ừ, giả sử như tôi gửi một tờ khai đến Toà án quân sự của Nhóm Eberhardt thì tôi nói gì trong đó nào? Tôi, Oskar Matzerath, xin thú nhận và khai rằng tối hôm 31 tháng 8, tôi đã đứng bên ngoài nhà Jan Bronski chờ ông về nhà và, lấy cớ là cái trống của tôi cần sửa chữa, đã dụ dỗ ông quay lại Sở Bưu Chính Ba Lan, nơi ông đã rời bỏ không muốn bảo vệ.
 
Oskar đã không làm thế; nó chẳng làm gì để minh oan cho ông bố khả - thể của nó. Cứ mỗi lần quyết định nói, định kể cho hai ông bà già nghe những gì đã xảy ra, nó lại lên cơn co giật khiến nữ y tá trưởng phải đề nghị rút ngắn thời gian thăm; riêng bà ngoại Anna và ông nội giả định Vincent của nó thì bị cấm vào thăm.
 
Hai ông bà già từ Bissau đến, mang cho tôi táo, rời phòng nhi với cái dáng đi rón rén, bỡ ngỡ của người nhà quê ra tỉnh. Và cứ mỗi bước bốn cái váy của bà tôi và bộ com-lê hộp màu đen phảng phất mùi phân bò của ông anh bà lùi xa thêm, cái gánh nặng tội lỗi của tôi, cái gánh nặng tội lỗi mênh mông của tôi lại tăng lên.
Biết bao điều xẩy ra cùng một lúc. Trong khi Matzerath, vợ chồng Greff, vợ chồng Scheffler xúm quanh giường tôi với hoa quả và bánh ngọt, trong khi bà ngoại tôi và ông Vincent từ Bissau đến theo đường Goldkrug và Brenntau vì đường xe lửa từ Karthaus đến Langfuhr chưa thông, trong khi các nữ y tá vận đồ trắng vô trùng líu lo bàn tán chuyện bệnh viện và thay thế các thiên thần trong phòng nhi, thì Ba Lan chưa mất, sắp mất và cuối cùng, sau mười tám ngày chiến dịch trứ danh ấy, Ba Lan đã mất tuy rằng không bao lâu sau, lại hoá ra là Ba Lan vẫn chưa mất; cũng như hiện nay, mặc dầu có những hội ái quốc Silesia và Đông Phổ, Ba Lan vẫn chưa mất.
Ôi đoàn ky binh điên rồ! Hái những quả dâu xanh trên lưng ngựa. Với những ngọn giáo mang cờ hiệu trắng-đỏ. Những kỵ đoàn trầm uất, những kỵ đoàn truyền thống. Những đợt công kích như trong truyện tranh. Băng qua những cánh đồng trước Lodz và Kutno. Đến Motlin thay thế pháo đài. Chao, dáng ngựa phi oai hùng biết mấy! Bao giờ cũng đợi đến hoàng hôn rực đỏ. Cả tiền cảnh lẫn hậu cảnh đều phải hoàn hảo trước khi kỵ binh tấn công bởi lẽ chiến trận phải đẹp như tranh và cái chết là mẫu cho họa sĩ, tư thế hiên ngang giữa đà phi, rồi ngã xuống, gặm dây tầm xuân, những bụi đậu kim răng rắc, gây ngứa, không ngứa ngáy thì làm sao khiến được kỵ binh chồm lên phi nước đại. Đây đám kỵ binh đánh thuê, họ lại ngứa rồi, họ quặt ngựa giữa những đụn cỏ khô - lại một bức tranh đẹp - họ xúm quanh một người, tên ông ta ở Tây Ban Nha là Don Quixote, những ở đây ông là Pan Kichot, một người Ba Lan chính gốc, thuần huyết, một nhà quý tộc mặt buồn, ông đã dạy các kỵ binh đánh thuê hôn tay các nàng từ trên lưng ngựa, chao, họ sẽ hôn tay thần chết với dáng tự tin biết bao, cứ như thể thần chết là một công nương vậy; nhưng trước hết, họ tập hợp lại, với mặt trời hoàng hôn đằng sau lưng - vì màu sắc và tình ca là lực lượng dự trữ của họ - và trước mặt là xe tăng Đức, những ngựa giống từ những trại ngựa Krupp von Bohlen và Halbach1, khắp thế giới không có giống ngựa nào quý hơn. Nhưng Pan Kichot, người hiệp sĩ lập dị phải lồng cái chết, người hiệp sĩ tài năng, quá tài năng, nửa Tây Ban Nha, nửa Ba Lan, hạ cây giáo với lá cờ hiệu đỏ - trắng trên đầu và kêu gọi quân mình hôn tay người đẹp. Đàn cò quang quác kêu trắng-đỏ trên những nóc nhà, và mặt trời hoàng hôn nhổ những hạt anh đào khi ông kêu lớn với đoàn kỵ binh của mình: "Hỡi các bạn, những người Ba Lan cao quý trên lưng ngựa, kia không phải là những chiến xa thép, mà chỉ là những cái cối xay gió hoặc một đàn cừu, tôi mời các bạn hãy hôn tay người đẹp."
Và thế là các kỵ đội xông tới kẻ thù bằng thép xám, bổ sung thêm cho ánh hoàng hôn một sắc đỏ tươi.
Oskar hy vọng được miễn thứ về những hiệu quả thơ của đoạn này. Kể ra hắn có thể cho những con số thương vong của Đoàn Kỵ Binh Ba Lan, kỷ niệm cái gọi là Chiến dịch Ba Lan bằng những thống kê khô khan nhưng hùng hồn thì tốt hơn. Hoặc giả một giải pháp khác: cứ để nguyên bài thơ nhưng thêm vào một ghi chú cuối trang.
Cho đến ngày 20 tháng 9, nằm trong bệnh viện, tôi có thể nghe thấy tiếng gầm của đại bác từ những cao điểm của các khu rừng Jeschkental và Oliva. Thế rồi ổ đề kháng cuối cùng trên bán đảo Hela cũng đầu hàng. Thành phố Tự do Danzig ăn mừng việc phong cách Gôtích gạch của mình trở về trong lòng Đại Đế Chế Đức và hân hoan nhìn vào đôi mắt xanh (có một điểm chung với đôi mắt xanh của Jan Bronski là sức chinh phục phụ nữ) của Adolf Hitler, Fiihrer và thủ tướng, khi ngài đứng trong chiếc Mercedes đen phân phát những cái chào vuông góc cho dân chúng.
 
Khoảng giữa tháng 10, Oskar ra viện. Lòng tôi nặng trĩu khi phải chia tay với các nữ y tá. Khi một trong số họ  tên nàng là Berni hay Erni gì đó - phải, khi Xơ Erni hay Berni đưa cho tôi hai cái trống, cái rách tươm đã khiến tôi phạm tội và cái nguyên lành mà tôi đã chiếm được trong trận đánh ở Sở Bưu Chính Ba Lan, tôi mới sực nhận ra rằng đã nhiều tuần, tôi không hề nghĩ đến những cái trống của mình, rằng trên đời cũng còn cái gì khác ngoài trống, cụ thể là : nữ y tá.
 
Tay trong tay Matzerath, tôi rời Bệnh viện thành phố, vẫn còn chệnh choạng trên đôi chân mãi mãi ba tuổi, với hai cái trống và điều tự ý thức mới mẻ, hướng về căn hộ ở phố Labesweg để đối mặt VỚI những ngày thường tẻ nhạt và những ngày chủ nhật còn tẻ nhạt hơn của năm đầu chiến tranh.
Một ngày thứ ba cuối tháng 1 ]., tôi được phép ra ngoài lần đầu tiên sau nhiều tuần dưỡng bệnh. Đang rầu rĩ đánh trống qua các phố, chẳng mấy để ý đến cơn mưa lạnh, đến góc đường Brosener gặp Quảng trường Max- Halbe, Oskar bỗng chạm trán một người và đó không ai khác ngoài Leo Schugger, gã cựu chủng sinh.
Chúng tôi đứng một lúc, bối rối mỉm cười với nhau và mãi đến khi Leo rút từ túi áo vét-tông ra một đôi găng da dê và kéo lớp màng trắng ngà ấy trượt trên những ngón tay và lòng bàn tay anh, tôi mới nhận chân ra là tôi đã gặp ai và cuộc gặp gỡ này sẽ mang lại gì cho tôi. Oskar bỗng thấy sợ.
 
Trong một lúc, chúng tôi nhìn những cửa sổ của hiệu Kaiser, dõi theo mấy chuyến xe điện của các tuyến số 5 và số 9; chúng tôi xuyên qua Quảng trường Max-Halbe, đi vòng những ngôi nhà đồng dạng trên phố Brösener-Weg, lượn nhiều vòng quanh một cột dán quảng cáo, xem kỹ một tờ thông báo thời gian và phương thức đổi đồng gulden Danzig sang đồng reichmark, cạo cạo một tờ quảng cáo bột xà-phòng Persil và thấy một chút đỏ dưới lớp xanh và trắng, nhưng bỏ lửng thế thôi. Chúng tôi vừa bắt đầu quay lại Quảng trường Max-Halbe thì đột nhiên Leo Schugger dùng cả hai tay đẩy Oskar vào một lối cửa vào, luồn những ngón tay trái đeo găng dưới vạt áo vét tông, thục vào túi quần, lựa lọc những thứ trong đó, tìm thấy cái gì đó, soát kỷ một lúc, rồi hài lòng với cái đã tìm thấy, rút bàn tay nắm lại ra khỏi túi, để những vạt áo rơi về chỗ, ngay ngắn. Chậm rãi, anh đưa nắm tay đeo găng về phía trước, dấn thêm và dấn thêm nữa, đẩy Oskar vào sát tường lối vào; cánh tay anh vươn dài, dài nữa nhưng bức tường không lùi. Cánh tay đó, tôi bắt đầu nghĩ là nó sắp bật ra khỏi ở xương vai, chọc thủng ngực tôi, xuyên qua nó, xuyên nữa, qua giữa hai xương bả vai, tới bức tường của lối cửa vào ẩm mốc. Tôi đã bắt đầu sợ rằng Oskar sẽ không bao giờ thấy cái mà Leo nắm trong tay, rằng điều tối đa nó biết được ở bức tường này chỉ là bản nội quy, nó cũng chẳng khác nội quy khu chung cư của nó ở Labesweg lắm. Thế rồi miếng da có năm ngón mở ra.
 
Áp chặt vào một chiếc khuy mỏ neo trên áo lính thủy của tôi, chiếc găng của Leo mở ra nhanh đến nỗi tôi nghe thấy cả tiếng khớp ngón kêu khục. Và đây, nằm trên lớp da cứng bóng bảo vệ lòng tay Leo, là chiếc vỏ đạn.
 
Khi Leo nắm tay lại một lần nữa, tôi đã sẵn sàng theo anh. Cái mẩu kim loại đó đã tác động trực tiếp đến tôi. Chúng tôi đi cạnh nhau xuôi đường Brỏsener-Weg, lần này không la cà trước những mặt kính cửa hàng, cũng chẳng nán lại với những cột dán quảng cáo nữa. Chúng tôi đi qua Magdeburger, bỏ lại sau lưng hai toà nhà hộp cao tầng ở cuối đường Brỏsener mà ban đêm lập loè trên đỉnh những ngọn đèn cảnh báo máy bay cất cánh hay hạ cánh, men theo hàng rào sân bay một lúc rồi rẽ ra con đường nhựa khô hơn và đi theo đường rầy của tuyến xe điện số 5 về hướng Brösen.
 
Chúng tôi không nói gì nhưng Leo vẫn nắm cái vỏ đạn trong bàn tay đi găng. Trời ẩm ướt và rét tệ hại, nhưng khi tôi ngập ngừng định về thì anh mở nắm tay, tung lên tung xuống mẩu kim loại trong lòng tay, nhử tôi đi tiếp, một trăm bước, rồi một trăm bước nữa, và thậm chí giở đến cả âm nhạc khi, gần đến khu dành riêng của thành phố, tôi quyết định quay lại thật sự. Anh xoay gót, cầm cái vỏ đạn quay miệng lên trên, áp cái lỗ tựa như đầu một cây sáo dọc vào cái môi dưới thưỡi ra, nhỏ dãi của mình và phát ra một âm lúc the thé, lúc tịt như bị sương mù dìm đi, hòa vào tiếng rào rào mỗi lúc một tăng của cơn mưa. Oskar rùng mình. Không phải chỉ khúc nhạc vỏ đạn làm nó rùng mình; thời tiết khốn nạn, dường như được tạo ra cho hoàn cảnh này, cũng góp phần không nhỏ vào đó, khiến tôi hầu như không cần phải giấu là mình đang run nữa.
Cái gì đã lôi kéo tôi đến Brösen? Dĩ nhiên là Leo, kẻ thổi sáo dụ chuột, thổi sáo bằng cái vỏ đạn của anh ta. Nhưng còn có một cái gì khác nữa. Từ vụng tàu và từ Neufahrwasser khuất sau màn sương mù, tiếng còi của những con tàu chạy hơi nước và tiếng hú đói của một tàu phóng ngư lôi đang vào hay rời cảng, vọng tới chúng tôi qua Schottland, Schellmủhl và Reichskolonie. Tóm lại, đối với Leo, được sự trợ giúp của còi tàu trong - sương mù cộng thêm tiếng sáo vỏ đạn, thì việc lôi kéo một thằng Oskar rét cóng theo mình là trò trẻ.
 
Gần đến chỗ hàng rào dây thép ngoặt về  phía Pelonken và ngăn chia sân bay với thao trường mới, Leo Schugger dừng lại và đứng một lúc, nghiêng nghé cái đầu, dãi nhỏ xuống cái vỏ đạn, ngắm cái thân hình bé nhỏ run rẩy của tôi. Anh mút cái vỏ đạn, giữ nó trên môi dưới rồi, tuân theo một cơn nổi hứng đột ngột, vung tay loạn xạ, cởi bỏ cái áo ngoài nặng trịch có vạt sau dài ngoằng và thoảng mùi đất ẩm, vứt nó lên đầu lên vai tôi.
 
Chúng tôi lại lên đường. Tôi không biết Oskar có bớt lạnh đi tí nào không. Thỉnh thoảng, Leo nhảy năm bước về phía trước rồi dừng lại; đứng đó trong chiếc sơ-mi nhàu nát nhưng trắng khủng khiếp, nom anh ta như vừa bước thắng từ một hầm ngục Trung cổ ra -  có khi là từ Tháp Công Lý cũng nên - để minh họa cho một bài thuyết trình về Trang phục của người điên vậy. Hễ khi nào Leo quay mắt nhìn Oskar lặc lè dưới cái áo ngoài vạt dài là anh ta lại phá lên cười, hai cánh đập đập như con quạ. Thực vậy, tôi hẳn nom giống như một con chim quái dị, một con quạ kiểu gì đó, nhất là với hai cái vạt sau kéo lê trên đường cái nhựa như một cái chổi lớn, để lạí một vệt rộng hùng vĩ khiến Oskar tràn đầy tự hào mỗi khi ngoái lại nhìn; cái vệt đó dự báo một số phận bi thảm còn ngủ trong tôi, nếu không muốn nói là nó tượng trưng cho cái số phận chưa thành hiện thực ấy.
 
Ngay từ lúc rời khỏi Quảng trường Max-Halbe, tôi đã ngờ ngợ rằng Leo không hề có ý định đưa tôi đến Brösen hay Neufahrwasser. Ngay từ đầu, cái đích đến của chúng tôi đã rành rành: nghĩa trang Saspe mà gần đó, người ta đã xây dựng một khu bắn tập hiện đại cho cảnh sát An ninh.
 
Từ tháng chín đến tháng tư, các tuyến xe điện phục vụ các trung tâm nghỉ mát bên bãi biển chỉ chạy ba mươi lăm phút một chuyến. Khi chúng tôi rời khu ngoại ô Langfuhr, một chiếc xe điện không kéo theo toa từ phía Brösen tiến lại và vượt qua chúng tôi. Một lát sau, chiếc xe đã chờ ở điểm tránh Magdeburger tới đằng sau chúng tôi và lại vượt qua. Mãi khi chúng tôi sắp tới nghĩa trang, mà gần đó có một điểm tránh tàu thứ hai, thì một chuyến khác mới leng keng đằng sau chúng tôi và lát sau, chuyến xe mà từ nãy chúng tôi đã trông thấy chờ trong lớp sương mù phía trước, băng tới và vượt qua chúng tôi theo chiều ngược lại..
 
Gương mặt bẹt và quàu quạu của người lái tàu vẫn còn đậm nét trong trí Oskar khi Leo Schugger đưa nó rẽ khỏi đường cái nhựa, bước trên một lớp cát tơi không khác mấy với những cồn cát ở bãi biển. Nghĩa trang hình vuông có tường bao quanh. Chúng tôi vào từ bên phía nam qua một cửa nhỏ với những vệt gỉ ngoằn ngoèo như hình trang trí và chỉ khóa hờ làm vì. Phần lớn các bia mộ đều bằng granít đen Thụy Điển, đẽo thô ở mặt sau và hai cạnh và mài nhẵn ở mặt trước. Một số tấm nghiêng ngả dễ sợ, một số khác đã đổ hẳn. Đáng tiếc là Leo không để tôi có thì giờ nhìn kỹ chúng. Cây cối lơ thơ, tất cả chỉ có năm, sáu gốc thông còi sứt sẹo. Sinh thời mẹ tôi đã mến mộ cái bãi tha ma đổ nát này; như mẹ thường nói khi đi xe điện qua, đây là nơi yên nghĩ cuối cùng ưa thích của mẹ. Nhưng bây giờ, mẹ lại nằm ở Brenntau.Tại đó đất mầu mỡ hơn,  du du và cây thích mọc đầy.
Qua một cái cửa mở đã mất chấn song ở tường phía bắc, Leo dẫn tôi ra ngoài nghĩa trang trước khi tôi kịp hòa đồng ý nghĩ của mình với chất lãng mạn tiêu điều nơi đây. Ngay đằng sau tường là một vạt đất cát phang. Giữa đám sương mù, những rặng thông lùn, đậu chổi và tầm xuân chạy dài về phía bờ biển. Ngoái nhìn lại về phía nghĩa trang, tôi nhận thấy ngay là một mảng của bức tường phía bắc mới được quét vôi trắng toát.
 
Leo chợt hoạt động hẳn lên bên cạnh cái mảng tường có vẻ mới ấy, trắng khốn trắng khổ như cái áo sơ-mi nhàu nát của anh. Anh sải những bước rất dài, vừa đi vừa cao giọng đếm, hình như bằng tiếng La-tinh, Oskar nghĩ thế. Bất kể bài kinh ấy là gì, Leo đọc nó theo cách đã từng học ở chủng viện. Anh đánh dấu một điểm ở cách tường độ gần mười mét và cũng đặt một miếng gỗ ở cách không xa mảng tường quét vôi trắng (tôi chắc chỗ này đã được sửa). Anh làm tất cả những cái đó bằng tay trái vì tay phải mắc cầm cái vỏ đạn. Cuối cùng, sau khi tìm kiếm đo đạc rất lâu, anh cúi xuống gần cái miếng gỗ và đặt ở đó cái ống kim loại rỗng, hơi thuôn ở đầu đằng trước, đã từng mang một lõi chì cho đến khi một ngón tay đáng nguyền rủa bóp một cái vừa đủ mạnh để làm bật cái lõi chì ra cho nó lao đi gieo chết chóc trong khi kiếm tìm nơi ở khác.
 
Chúng tôi cứ đứng sững đó. Dãi từ miệng Leo Schugger nhỏ xuống ròng ròng. Văn xoắn đôi găng trong tay, anh đọc kinh đối đáp bằng tiếng La-tinh một hồi, rồi dừng lại vì không có ai ở đây thuộc những lời đáp. Thỉnh thoảng anh quay lại và ném một cái nhìn hờn dỗi, sốt ruột, qua bức tường về phía đường cái lớn, nhất là khi những chuyến xe điện, thường là vắng ngắt, dừng ở chỗ quành, tránh nhau, rung chuông khi lướt qua nhau theo những chiều đối nghịch. Leo hẳn đang đợi những người đưa tang. Nhưng không có ai đến, bằng xe hơi cũng như đi bộ, để anh chia ra một chiếc găng phân ưu.
 
Một lần, mấy cái máy bay rít trên đầu chúng tôi, chuẩn bị hạ cánh. Chúng tôi không ngẩng lên nhìn, chúng tôi chịu đựng tiếng gầm gào mà không buồn ngó nghiêng để biết chắc đó là ba chiếc máy bay loại Ju-52 với đèn nhấp nháy ở đầu cánh đang chuẩn bị hạ cánh.
 
Một lát sau khi tiếng động cơ tắt - im lặng cũng nhức nhối như màu trắng bức tường trước mặt - Leo Schugger thò tay vào bên trong áo sơ mi, lôi ra một vật gì. Lát sau, anh đứng bên cạnh tôi. Giựt cái áo qua khỏi vai Oskar, anh lao về phía bờ biển, và trước khi đi vào đám thông lùn, đậu chổi và tầm xuân, buông rơi một cái gì đó với một cử chi có tính toán nhằm gợi ý là tôi phải tìm cho ra.
 
Chỉ đến khi Leo đã khuất dạng hẳn - một hồi, anh vẫn di động ở phía trước như một bóng ma cho đến khi những đám sương mù trắng nhờ nhờ như sữa là là mặt đất nuốt chửng lấy anh - chỉ đến khi chỉ còn độc trọi mình tôi với cơn mưa, tôi mới với tay nhặt cái vật đang nằm trên cát: đó là một quân bài xì cạt, quân Bẩy pích.
 
Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ ở nghĩa trang Saspe ấy, Oskar gặp bà ngoại Anna Koljaiczek trong phiên chợ hằng tuần ở Langfuhr. Giờ đây, khi không còn biên giới ở Bissau, bà lại có thể mang trứng, bơ, bắp cải và táo vụ đông của mình đến chợ. Thiên hạ mua nhiều, họ bắt đầu tích trữ vì sắp sửa hạn định khẩu phần lương thực đến nơi rồi. Cùng lúc Oskar trông thấy bà nó ngồi sau mớ hàng, nó cảm thấy quân bài xì-cạt trực tiếp trên làn da trần của nó, dưới các lớp áo măng-tô, pu lô vơ và nỉ lót. Thoạt đầu, trên đường từ Saspe về Quảng trường Max-Halbe, sau khi một người lái xe điện mời tôi đi không mất tiền, tôi đã định xé quân bảy pích ấy đi. Nhưng rồi Oskar đã không xé. Nó đem cho bà ngoại. Bà hồ như phát hoảng lên đằng sau mớ củ cải khi trông thấy nó. Có lẽ bà thoáng nghĩ rằng sự hiện diện của Oskar có thể là điềm chẳng lành. Nhưng rồi bà ra hiệu cho thằng bé lên ba khuất nửa người sau mấy sọt cá, tiến lại. Oskar cứ nhẩn nha tí đã ; đầu tiên, nó ngắm nghía một con cá thu sông dài đến gần một mét nằm trên đám mạt cưa ướt, rồi lại xem mấy con cua bò nghều ngoào trong một cái rổ; cuối cùng, bắt chước kiểu cua bò, sáp lại quầy của bà nó, xoay cái lưng áo lính thủy đi trước và chỉ quay lại phô bộ khuy mỏ neo vàng với bà, khi nó xô vào một trong những cái niễng kê dưới phản hàng của bà, làm cho táo lăn lông lốc.
 
Schwerdtfeger tới với những viên gạch hơ nóng bọc trong giấy báo, đẩy chúng vào dưới váy bà tôi, dùng cào thu hồi những viên đã nguội như ông vẫn làm từ xưa đến nay, theo trí nhớ của tôi; ông vạch một dấu lên tấm bảng đeo ở cổ và đi tiếp sang quầy sau trong khi bà ngoại chìa cho tôi một quả táo bóng lộn.
 
Oskar có gì để biếu bà khi bà cho nó một quả táo? Nó tặng bà, trước hết, quân bài xì-cạt và sau đó là cái vỏ đạn mà nó cũng không bỏ lại ở nghĩa trang Saspe. Trong một lúc, bà Anna Koljaiczek trân trân nhìn hai vật quá khác biệt ấy không hiểu gì. Thế rồi Oskar bèn ghé miệng vào cái tai già toàn sụn dưới chiếc khăn trùm đầu và, chẳng giữ gìn gì nữa, bụng nghĩ tới cái tai nhỏ hồng hồng nây nây thịt của Jan, tôi tiết lộ: " Ông ấy nằm ở Saspe", Oskar thì thào và chạy đi, xô đổ một rổ bắp cải.
 
 
Chú thích :
[1] Xem chú thíchtrang 380)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.07.2016 16:51:00 bởi Ct.Ly>
Quyển III
 
ĐÁ LỬA VÀ BIA M

 
Béo, vui tánh, luôn buồn ngủ. Guste Truczinski, khi trở thành Guste Köster, chả cần phải thay đổi gì, nhất là vì sự kết hợp của chị với Köster lại quá đỗi ngắn ngủi: họ đính hôn được hai tuần thì anh phải xuống tàu biển lên Mặt trận Bắc cực; khi anh về nghỉ phép, họ làm lễ cưới và qua với nhau mấy đêm, phần lớn là dưới hầm tránh máy bay. Mặc dầu không có tin tức gì về Köster từ sau khi quân đoàn Courland đầu hàng, mỗi khi có ai hỏi về chồng mình, Guste đều chỉ ngón cái về phía bếp mà trả lời chắc như đinh đóng cột: "À, anh ấy bị bắt làm tù binh ở bên Nga. Khi anh ấy trở về, nơi đây sẽ có không ít thay đổi."
 
Những thay đổi mà chị ám chỉ, có liên quan đến Maria và nhất là bé Kurt. Được xuất viện, tôi chào tạm biệt các nữ y tá và hẹn khi có dịp sẽ tới thăm. Rồi tôi đáp xe điện đến Bilk, nơi hai chị em và Kurt con trai tôi đang ở. Ngôi nhà chung cư dừng lại ở tầng tư; phần còn lại, bao gồm mái, đã bị lửa thiêu. Bước vào căn hộ tầng ba, tôi thấy Maria và con trai tôi đang bận rộn với những hoạt động chợ đen. Kurt, giờ đã sáu tuổi, đang tính toán trên đầu ngón tay. Ngay cả trong chợ đen, Maria vẫn trung thành với Matzerath của mình. Nàng buôn bán mật ong tổng hợp. Nàng đong mật ong từ những thùng không dán nhãn và cân hàng trên cái cân trong bếp. Tôi chưa kịp làm quen với căn hộ chật cứng, nàng đã xếp tôi vào việc đóng gói.
Kurt ngồi sau "quầy’’ của nó - một cái hòm xà phòng. Nó nhìn về phía ông bố khỏi bệnh trở về, nhưng đôi mắt xám lạnh băng lại như tập trung vào một cái gì quan trọng bên kia tôi. Trước mặt nó, là một tờ giấy trên đó nó đang cộng những dãy số tưởng tượng. Chỉ trong đúng sáu tuần học trong những gian lớp quá đông và không đủ ấm, nó đã có cái vẻ của một người tự lập rất bận rộn.
 
Guste Köster đang uống cà phê - cà-phê thứ thiệt, như Oskar nhận thấy khi chị đưa mời tôi một tách. Trong khi tôi đóng gói mật ong, chị quan sát cái bướu của tôi với vẻ tò mò kèm theo một cái nhìn thương hại về phía cô em gái. Chị phải khó khăn lắm mới ngồi yên, không vuốt ve cái bướu của tôi, vì như tất cả phụ nữ, chị tin rằng sờ, vỗ hoặc vuốt ve một cái bướu sẽ đem lại may mắn. Đối với Guste, may mắn có nghĩa là sự trở về của Köster và anh ấy sẽ thay đổi tất cả. Thay vì, chị dằn lòng vỗ vỗ tách cà-phê và trút một tiếng thở dài kèm theo bài kinh mà trong nhiều tháng sau, tôi còn phải nghe mỗi ngày mấy lần: "Khi nào Köster về, tất cả sẽ thay đổi trong nháy mắt. Chú có thể tin chắc thế!"
 
Guste phản đối chợ đen nhưng không chống việc uống cà-phê thứ thiệt đổi được bằng mật ong tổng hợp. Khi có khách hàng đến, chị rời phòng khách, lạch bạch đi vào bếp ở đó chị cố tình khua xoong chảo ra ý phản đối.
 
Khách hàng không thiếu. Vào lúc chín giờ, ngay sau bữa điểm tâm, chuông cửa bắt đầu réo: ngắn - dài - ngắn. Cứ mười giờ tối là Guste ngắt chuông điện, bất chấp sự phản đối thường xuyên của Kurt, bởi việc học hành lấn quá nhiều sang thời gian kinh doanh của nó.
"Có mật ong tổng hợp không?" khách hỏi.
Maria khẽ gật đầu và hỏi lại: "Một phần tư hay nửa pao? " Nhưng cũng có người không cần mật ong. Họ nói: "Đá lửa?" Thế là Kurt - nó học đan xen hôm buổi sáng, hôm buổi chiều - ra khỏi những dãy số, luồn tay dưới chiếc áo "pul" tìm một cái túi vải và ném cái giọng thách thức trẻ con của nó vào phòng khách: "Ba hay bốn? hay lấy cả năm viên đi. Kẻo nó lên đến hai bốn bây giờ. Tuần trước, có mười tám, mà sáng nay cháu phải lấy hai mươi đấy. Nếu bác đến hai tiếng trước, ngay sau lúc tan học thì cháu cỏ thể để cho bác hai mốt."
Trong một phạm vi dài sáu khối nhà và rộng bốn khối, Kurt là người buôn bán đá lửa duy nhất. Nó có "nguồn cung cấp" riêng mà nó không tiết lộ cho ai biết mặc dù nó không ngừng nhắc đến cái "nguồn" đó. Ban đêm, trước khi đi ngủ, thay vì đọc kinh, nó nói: "Tôi có một nguồn cung cấp."
 
Với tư cách là cha, tôi đòi quyền được biết "nguồn" của con trai mình. Nó thậm chí không buồn làm ra vẻ bí mật khi nói: "Tôi có một nguồn cung cấp." Nếu giọng nó có biểu hiện một cái gì, thì đó là tự hào và tự tin. "Con kiếm đâu ra những viên đá ấy?" tôi sẵng giọng. " Nói ngay cho ta 'biết!"
 
Cái điệp khúc của Maria dạo ấy, mỗi khi tôi gặng hỏi về cái "nguồn", là: "Để cho thằng bé yên nào. Trước hết đó không phải việc của anh; thứ hai, nếu ai có trách nhiệm hỏi, thì đó là tôi; thứ ba, đừng có làm như thể anh là cha đẻ của nó. Mấy tháng trước, thậm chí anh còn không mở miệng được nữa là."
 
Khi tôi tỏ ra quá đỉa, một mực đòi truy cho ra "nguồn" của Kurt, Maria bèn đập tay xuống thùng mật ong và phẫn nộ đến tận khuỵu, nàng làm một thôi một hồi vào mặt cả tôi lẫn Guste đôi khi cũng về hùa với Oskar: "Đẹp mặt các người nhỉ! Định phá việc làm ăn của thằng bé đấy hẳn. Hừ, cắn cả vào bàn tay cho mình ăn! Nghĩ đến tí chút ca-lô-ri Oskar được trợ cấp ốm, đớp hai ngày hết xoan mà thấy buồn nôn! Không, thực ra là buồn cười chứ!"
Oskar không thể phủ nhận điều đó: dạo ấy, tôi ăn như thuồng luồng và chính nhờ có Kurt và " nguồn" của nó mang lại nhiều lời hơn mật ong, mà Oskar hồi phục được sức khoẻ sau chế độ ăn còm cõi ở bệnh viện.
Oskar đành im miệng, xấu hổ. Với món tiền tiêu vặt mà bé Kurt hào phóng chi cho, hắn thường ra khỏi căn hộ ở Bilk càng nhiều càng tốt để tránh phải đối mặt với nỗi nhục của mình.
Ngày nay, có nhiều kẻ giàu xụ phê phán phép màu kinh tế, [1] họ thường lên giọng hoài cổ - và càng ít nhớ về tinh hình ngày xưa bao nhiêu, họ lại càng tỏ ra hoài cổ bấy nhiêu - mà than: "Ôi, những ngày tốt đẹp trước khi có cuộc cải cách tiền tệ! Mọi người sống hay biết bao! Bụng lép kẹp vẫn xếp hàng chờ mua vé xem hát. Và những cuộc liên hoan bất chợt ngẫu hứng với mấy chiếc bánh quy mặn và một chai rượu khoai tây, mới tuyệt làm sao! Còn vui gấp mấy những pạc-ti linh đình, la liệt ca-vi-a (một loại trứng cá mặn giá rất đắc) và sâm- banh bây giờ."
Đó là cái mà quý vị có thể gọi là chủ nghĩa lãng mạn của những thời cơ bị mất. Tôi có thể hòa giọng cùng than với họ nếu tôi muốn, bởn vì vào những ngày mà "nguồn" của Kurt tuôn trào, tôi bỗng trở nên ham học và tích lũy được một số kiến thức văn hoá hầu như miễn phí. Tôi theo những lớp học ban đêm, trở thành khách thường xuyên của British Center còn gọi là " Die Brücke (cây cầu)", tranh luận với cả những người đạo Thiên Chúa lẫn Tin Lành về trách nhiệm tập thể và chia sẻ cảm giác phạm tội của tất cả những ai tự nhủ mình: "Hãy làm phần việc oủa mình bây giờ đi; rồi khi tình hình bắt đầu khả quan hơn thì ta đã dứt điểm rồi và lương tâm ta sẽ yên ổn."
Dù sao đi nữa, chính nhờ những lớp học đêm mà tôi đã gom nhặt được chút học vấn hiện có. Tôi phải thú nhận ngay rằng nó chưa đi đến đâu mà những lỗ hổng thì thật là vĩ đại. Tôi bắt đầu đọc nghiến ngấu; giờ đây lớn rồi, tôi không còn thỏa mãn với một thế giới quá ư đơn giản hoá chia đều giữa Goethe và Rasputin, hoặc với những thông tin có thể lựa ra từ những số tạp chí Lịch Hàng Hải của Kohler từ 1904 đến 1916. Tôi không còn nhớ tôi đã đọc những gì. Tôi đọc trong cầu tiêu. Tôi đọc trong khi xếp hàng mua vé xem hát, giữa những cô gái để tóc bím kiểu rô-cô-cô cũng đang đọc. Tôi đọc trong khi Kurt bán những viên đá lửa của nó và trong khi bản thân tôi đang đóng gói mật ong tổng hợp. Và khi cắt điện, tôi đọc dưới ánh sáng của những ngọn nến cũng từ "nguồn" của Kurt mà ra.
 
Tôi lấy làm xấu hổ mà thưa rằng những gì tôi đọc dạo ấy không hề tồn đọng trong tôi, nó vào mắt này, ra mắt kia. Tôi chỉ giữ lại được một số cách đảo câu, vài ba câu cách ngôn, thế thôi. Còn nhà hát? Một số tên diễn viên: Hoppe, Peter Esser, Flickenschildt và cải cách phát âm chữ r rất đặc biệt của nàng. Tôi nhớ một vài sinh viên kịch nghệ ở những nhà hát thể nghiệm tìm cách cải tiến lối phát âm chữ r của Flickenschildt. Tôi nhớ Gründgens trong vai Tasso, ông có mặc đồ đen, nhưng bỏ vòng nguyệt quế do Goethe chỉ định, viện cớ là lá nguyệt quế làm hỏng tóc ông. Và vẫn Gründgens cũng vận đồ đen trong vai Hamlet. Và Flickenschildt quả quyết rằng Hamlet béo. Cái sọ của Yorick gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi vì từ đó mà Gründgén rút ra những nhận xét kỳ diệu. Họ diễn Draussen vor der Tür [2] trong những rạp hát không có hệ thống sưởi trước những cử tọa như bị bắt mất hồn; đối với tôi, Beckmann trong vai người đàn ông mang mục kính vỡ chính là Köster, chồng của Guste, người sẽ thay đổi tất cả khi trở về và sẽ vĩnh viễn làm cạn "nguồn" của Kurt con trai tôi.

Giờ đây, khi tất cả đã ở sau lưng, tôi biết rằng một cuộc nhậu sau chiến tranh chỉ là một cuộc nhậu và do đó, kèm theo một cảm giác ngất ngây khó chịu; một triệu chứng của cái ngất ngây đó là những việc làm tốt hay xấu mà mới ngày hôm qua còn tươi nguyên và sống động, nay đã thành lịch sử. Giờ đây, một lần nữa, tôi lại có thể đánh giá những gì Gretchen Scheffler đã dạy tôi giữa những vật lưu niệm du lịch và những đồ đan, móc của bà: không quá nhiều Rasputin, Goethe vừa phải thôi, Lịch sử thành phố Danzig của Keyser, trang bị vũ khí của một chiến thuyền nằm sâu dưới đáy biển từ bao lâu nay, tốc độ (tính bằng hải lý) của tất cả các ngư lôi hạm Nhật Bản đã tham gia trận Tsushima, chưa kể Belisarius và Narses, Totila và Teja như được thể hiện trong cuộc đấu tranh vì thành Roma của Felix Dahn.
 
Mùa xuân năm 1947, tôi bỏ lớp học ban đêm, British Center, ông mục sư Niemöller và từ hàng ban-công thứ hai, tạm biệt Gründgens vẫn đóng Hamlet trong chương trình.
 
Chưa đầy hai năm trôi qua kể từ khi bên huyệt Matzerath, tôi quyết định lớn, thế mà tôi đã hết thú đời sống người lớn. Tôi mơ về cái kích thước ba tuổi đã mất của mình. Tôi lại muốn cao chín mươi tư xăng-ti-mét một lần nữa, thấp hơn bạn và thày Bebra của tôi, thấp hơn Roswitha yêu quý đã ra đi. Oskar nhớ cái trống của mình. Tôi làm những cuộc đi dạo dài, thường là kết thúc ở trước Bệnh viện thành phố. Bất kể thế nào, mỗi tháng tôi cũng phải đến Giáo sư Irdell một lần, ông coi Oskar là một "ca" lý thú. Với những khoảng cách đều đặn, Oskar đến thăm các nữ y tá hắn đã quen trong thời gian điều trị, và ngay cả những lúc họ không có thì giờ dành cho hắn, những bộ đồng phục trắng hối hả của họ, tượng trưng cho sự bình phục hay cái chết, cũng đem lại cho hắn một cảm giác gần như là hạnh phúc.

 
 
 
Chú thích :
 [1] Chỉ cuộc cái cách tiền tệ ở Tây Đức năm 1948. Việc đưa đồng Deutsche mark thay thế đồng Reichmark đã có một ảnh hướng tâm lý rất tối đối với các nhà kinh doanh Đức và được coi là một bước ngoạt trong công cuộc tái thiết và phát triển kinh tế sau chiến tranh ở Tây Đức.
[2] Trước cửa. Một  vở kịch của Wolgangborchesi mô tả tình cảnh cùng quẫn tuyệt vọng của các tù binh chiến tranh trở về sau Thế chiến II




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.07.2016 12:32:36 bởi tducchau>
[...]
 
 
THỊ SÁT BÊ–TÔNG, HAY MAN RỢ, HUYỀN BÍ, CHÁN NGẮT
 
 
Trong ba tuần, đêm nào chúng tôi cũng biểu diễn trong những hầm pháo đáng kính của Metz, từ lâu vốn là một thành phố đồn trú và đã từng một thời là tiền đồn La Mã. Chúng tôi tiếp tục vẫn chương trình ấy trong hai tuần ở Nancy. Châlons-trên-sông-Marne đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt một tuần. Dăm ba câu tiếng Pháp đã bắt đầu líu ríu trên môi Oskar. Tại Reims, chúng tôi có dịp chiêm ngưỡng tác hại của Thế Chiến I. Bầy thú bằng đá của ngôi nhà thờ nổi tiếng thế giới, buồn nôn vì nhân loại, không ngừng khạc nước trên nền đá lát xung quanh, có nghĩa là ở Reims mưa suốt ngày, kể cả ban đêm. Ngược lại, chặng tiếp theo, chúng tôi gặp ở Paris một tháng chín dịu êm và lộng lảy. Suốt buổi sinh nhật lần thứ mười tám của tôi, tôi khoác tay Roswitha dạo trên các bến tàu. Mặc dầu đã biết Paris qua các bưu ảnh của thượng sĩ Fritz Truczinski, tôi không hề thất vọng. Khi Roswitha và tôi - nàng cao chín mươi tám phân, hơn tôi gần năm phân - lần đầu tiên đứng dưới chân Tháp Eiffel ngước nhìn lên, chúng tôi - lại cũng lần đầu tiên - giác ngộ ra tầm lớn lao và sự độc đáo của mình. Đến đâu chúng tôi cũng hôn nhau, nhưng cái đó là chuyện bình thường ở Paris.
 
Tuyệt diệu thay những giờ khắc kề cận với Nghệ thuật và Lịch sử! Vẫn khoác tay Roswitha, tôi đi thăm Dôme des Ivalides [1], lòng nghĩ tới vị hoàng đế vĩ đại và cảm thấy rất gần gũi với ông vì mặc dù vĩ đại, ông không hề cao lớn. Nhớ lại khi đứng trước mộ Frederick Đại Đế (cả ông này nữa cũng chả phải là hộ pháp), Napoléon đã nói: "Nếu ông còn sống thì chúng ta ắt đã chẳng đứng đây được", tôi âu yếm thì thầm vào tai Roswitha: "Nếu gã người Corse [2] còn sống thì chúng tạ ắt đã chẳng đến đây được mà hôn nhau dưới những cây cầu, trên những bến tàu, sur le trottoir de Paris [3]".
 
Với sự cộng tác của mấy nhóm khác, chúng tôi dựng những chương trình đồ sộ ở Salle Pleyel và Nhà hát Sarah Bernharrdt. Oskar nhanh chóng làm quen với phong cách sân khấu của thành phố lớn này, hoàn thiện bảng tiết mục của mình, tự điều chỉnh để thích ứng với thị hiếu khắt khe của quân chiếm đóng Paris. Tôi không phung phí âm lực tuyệt xảo của mình vào những chai bia Đức tầm thường nữa; tại đây, thành phố ánh sáng, tôi đập tan những chiếc bình mỹ lệ vô giá, những chiếc bát đựng hoa quả bằng thuỷ tinh thổi mỏng tang lấy từ những lâu đài Pháp. Tiết mục của tôi đi theo tuyến lịch sử, bắt đầu bằng những đồ thuỷ tinh thời Louis XIV và, cũng giống như bản thân lịch sử, tiếp tục với đồ thuỷ tinh thời Louis XV. Với nhiệt tình cách mạng, tôi tấn công những cốc tách của ông vua Louis XVI bất hạnh cùng bà vợ không đầu Marie Antoinette của ông. Cuối cùng, sau khi láng cháng qua Louis Philippe, tôi chuyển trận địa sang những sản phẩm tân kỳ của ngành thuỷ tinh Đệ Tam Cộng Hoà.
 
Dĩ nhiên, ý nghĩa lịch sử hàm chứa trong sự trình diễn của tôi nằm ngoài tầm nhận thức của đám công chúng mặc đồng phục màu xám dã chiến ngồi ở sau khoang dàn nhạc và bao lơn; họ hoan hô những mảnh vỡ tôi gây ra như những mảnh vỡ thông thường; nhưng thi thoảng cũng có những sĩ quan tham mưu hoặc ký giả của Reich thưởng thức được ý thức lịch sử sắc bén của tôi. Một nhân vật có vẻ học giả mặc quân phục ca ngợi nghệ thuật của tôi sau một gala trình diễn phục vụ Kommandantur (Bộ tư lệnh). Oskar đặc biệt tri ân tay phóng viên của một tờ báo Đức quan trọng, chuyên gia về các vấn đề Pháp, đã kín đáo lưu ý tôi đến mấy lỗi nhỏ, nếu không muốn gọi là thiếu nhất quán về phong cách, trong chương trình của tôi.
 
Chúng tôi qua cả mùa đông ở Paris. Họ xếp chúng tôi ở những khách sạn hạng nhất và tôi sẽ không chối cãi rằng suốt mùa đông, Roswitha đã cùng tôi tìm hiểu chất lượng tuyệt hảo của các loại giường Pháp. Oskar có hạnh phúc ỏ Paris không? Gã có quên những người thân - Marla, Matzerath, Gretchen và Alexander - ở bên nhà không? Oskar có quên thằng con trai Kurt và bà ngoại Anna KoỊjaiczek không?
 
Tôi không quên họ, nhưng tôi cũng chẳng cảm thấy nhớ ai thật sự. Tôi không gửi tấm bưu ảnh quân đội nào về nhà, biệt vô âm tín; ngược lại, tôi cho họ cơ hội sống trọn một năm không có mặt tôi. Từ lúc ra đi, tôi đã quyết tâm trở lại, do vậy tôi vẫn muốn biết họ xoay sở ra sao trong khi tôi vắng nhà. Trên đường phố hoặc trong các buổi biểu diễn, đôi khi tôi rà soát những khuôn mặt lính để tìm những nét quen thuộc. Có thể, Oskar suy đoán, Fritz Truczinski hay Axel Mischke đã được chuyển từ Mặt trận phía Đông về đây cũng nên, và một vài lần, gã ngỡ đã nhận ra người anh ruột điển trai của Maria giữa một đám bộ binh, nhưng không phải: cái màu xám đã chiến dễ làm người ta nhầm lẫn.
 
Chỉ có Tháp Eiffel là làm tôi nhớ nhà. Xin đừng tưởng rằng tôi trèo lên đỉnh và viễn cảnh trải ra trước mắt khiến tôi mơ về cố quốc. Oskar đã lên Tháp Eiffel trong ý nghĩ và trên bưu ảnh thường xuyên đến nỗi một cuộc leo tháp thực sự chỉ có thể làm gã thất vọng mà thôi. Đối với tôi, những lúc đứng hay ngồi ở chân Tháp Eiffel, không có Roswitha ở bên, một mình dưới những dầm thép vút lên của công trình xây dựng tiền phong, thì cái vòm lớn tựa hồ khép kín mặc dù khắp bốn xung quanh là những khoảng không ấy, trở thành cái vòm chở che của bà ngoại tôi: ngồi dưới Tháp Eiffel là ngồi dưới bốn tầng váy của bà, Champ de Mars (Đồng Tháng Ba) biến thành một cánh đồng khoai tây Kashubes, những giọt mưa tháng mười Paris chênh chếch rơi hoài bất tận giữa Bissau và Ramkau, và vào những ngày như thế, cả thành phố Paris, thậm chí cả dưới đường xe điện ngầm, đều khăn khẳn mùi bơ. Tôi đâm trầm lặng và đăm chiêu. Những lúc ấy, Roswitha tôn trọng nỗi buồn của tôi và tỏ ra chăm chút rất ân cần; nàng vốn là một tâm hồn nhạy cảm.
 
Tháng tư năm 1944 - thông cáo từ khắp các mặt trận cho biết các tuyến của quân ta rút ngắn lại một cách mỹ mãn - chúng tôi phải thu xếp hành trang rời Paris để đi diễn lưu động dọc Phòng tuyến Đại Tây Dương. Chặng dừng chân đầu tiên của chúng tôi là Le Havre. Tôi cảm thấy Bebra trở nên lầm lì và lơ đãng. Mặc dầu trong những buổi biểu diễn, ông vẫn tỏ ra đầy bản lĩnh và làm cho khán giả cười thoải mái, nhưng hễ màn cuối vừa buông xuống là gương mặt Narses trăm tuổi của ông lại như biến thành đá. Thoạt đầu, tôi tưởng là ông ghen hoặc tệ hơn thế, đã đầu hàng trước sức thanh xuân của tôi. Những lời thì thầm của Roswitha khiến tôi vỡ nhẽ; nàng không biết đích xác chuyện gì đang diễn ra nhưng nàng đã để ý thấy là sau mỗi cuộc biểu diễn, Bebra thường đóng kín cửa gặp một số sĩ quan. Xem vẻ như ông thày tôi đã dứt ra khỏi cuộc di trú nội tâm và, kích thích bởi dòng máu của ông tổ Hoàng tử Eugene, đang dự định làm một hành động trực tiếp nào đó. Những kế hoạch của ông đã cuốn ông đi xa biệt chúng tôi, đã khiến ông đắm trong những bận tâm rộng lớn đến nỗi việc Oskar dan díu với bồ cũ Roswitha của ông chỉ gợi lên môt nụ cười mệt mỏi trên khuôn mặt đầy nếp nhăn. Một hôm ở Trouville - người ta xếp chúng tôi ở khách sạn Kursaal - ông bắt gặp chúng tôi quấn chặt lấy nhau trên tấm thảm phòng hoá trang chung cho cả ba. Chúng tôi đã toan rời nhau ra thì ông xua tay ra ý không cần phải thế và nói với tấm gương hóa trang của mình: "Cứ vui vẻ đi, các con, ghì nhau đi, hôn nhau đi, ngày mai chúng ta sẽ thị sát bê-tông và ngày kia, sẽ chỉ có bê-tông ở giữa môi các con thôi. Hãy tận hưởng những nụ hôn khi còn có thể."
 
Đó là vào tháng 6/1944. Khi ấy, chúng tôi đã tua khắp Phòng tuyến Đại Tây Dương, từ Vịnh Biscay đến Hà Lan, nhưng phần lớn thời gian, chúng tôi ở trong nội địa, nên ít được thấy những công sự phòng thủ trứ danh. Mãi khi tới Trouville, chúng tôi mới biểu diễn trực tiếp ngoài bờ biển. Tại đây, chúng tôi được mời tham quan Phòng tuyến Đại Tây Dương. Bebra nhận lời. Sau buổi biểu diễn cuối cùng ở Trouville, người ta cho xe đưa chúng tôi đến làng Bavent gần Caen, cách những cồn cát ven biển khoảng bốn cây số. Chủng tôi được xếp ở nhà những nông dân. Đồng cỏ, hàng rào, vườn táo. Đây chính là nơi chưng cất loại rượu táo gọi là calvados. Chúng tôi uống calvados rồi đi ngủ. Không khí trong lành lọt vào qua cửa sổ, và một cái ao đầy ếch ộp oạp cho tới sáng. Có mấy con là những tay trống cừ. Tôi nghe chúng trong giấc ngủ và tôi tự nhủ: "Oskar, mày phải về nhà thôi, con trai Kurt của mày sắp ba tuổi rồi, mày phải cho nó cái trống mày đã hứa." Bị dằn vặt như vậy, Oskar, người cha đau khổ, thức giấc từng giờ, đưa tay mò mẫm trong bóng tối để biết chắc rằng Roswitha vẫn đó, hít cái mùi của nàng; Roswitha thoang thảng mùi quế, mùi đinh hương giã nhỏ và mùi hạt hồi; cái mùi gia vị tiền-Giáng sinh đó vẫn lưu lại ở nàng cả trong mùa hè.
 
Buổi sáng, một chiếc xe tải bọc thép đến trại. Chúng tôi đứng ở cổng, chuyện gẫu trong gió biển; sáng sớm, trời lạnh bọn tôi đều hơi run rẩy. Chúng tôi lên xe: Bebra, Roswitha, Felix và Kitty, Oskar và một trung uý tên là Herzog đưa chúng tôi đến khẩu đội của anh ta ở phía tây Cabourg.
 
Nói rằng miền Normandie xanh rờn là không đếm xỉa đến những con bò lốm đốm nâu-trắng đang nhai lại trên những cánh đồng mờ mờ, ướt sương dọc theo hai bên xa lộ thắng tắp. Chúng chào đón chiếc xe bọc thép của bọn tôi một cách dửng dưng đến nỗi, giá như không được sơn ngụy trang từ trước, thì lớp vỏ thép ắt phải đỏ mặt vì xấu hổ. Những hàng dương, những bờ rào, những cây leo, những khách sạn bãi biển đầu tiên, đồ sộ mà trống rỗng, với những cánh cửa sổ lách cách trước gió. Chúng tôi rẽ vào con đường di dạo ven biển, xuống xe và hì hụi đi theo viên trung uý (tay này biểu lộ với đại uý Bebra một vẻ kính trọng chiếu cố tuy đúng quy cách nhà binh) qua những cồn cát, ngược một con gió đầy cát và bụi sóng.
 
Đây không phải là biển Baltic xanh mướt, dịu dàng, thổn thức như một cô gái ủy mị, chờ đón tôi. Đây là Đại Tây Dương đang tiếp tục cuộc thao diễn vĩnh hằng của nó - tiến công lúc triều lên và rút lui khi triều xuống.
 
Và đây, bê-tông ở ngay gần kề. Chúng tôi có thể ngắm nó, thậm chí vuốt ve nó thoả thích; nó trơ trơ, không động đậy. "Nghiêm!" ai đó ở trong khối bê-tông hô. Và người đó, cao như cái sào, nhảy ra từ cái công sự phòng thủ có hình dáng một con rùa bèn bẹt, nằm giữa những cồn cát, được đặt tên là "Dora-7", đang chĩa những lỗ châu mai, những khe ngắm và những nòng súng máy về phía thuỷ triều lên xuống. Đó là trung sĩ Lankes đến báo cáo trung uý Herzog và đại uý Bebra.
 
LANKES (chào): Dora 7, một trung sĩ và bốn binh nhì. Tình hình không có gì đặc biệt.
HERZOG: Cảm ơn. Nghỉ, trung sĩ Lankes. Ngài có nghe thấy không, đại uý Bebra? Không có gì đặc biệt. Cứ thế đã hàng năm rồi.
BEBRA: Vẫn có thuỷ triều lên lên xuống xuống đấy thôi. Sự đóng góp của thiên nhiên mà.
HERZOG: Đó chính là cái làm người của chúng ta bận rộn. Chính vì thế mà chúng ta đi xây dựng hết công sự này đến công sự khác đến nỗi cái nọ nằm trong phạm vi hoả lực của cái kia. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ phải phá đi một số để có chỗ xây bê-tông mới.
BEBRA (gõ gõ lên bê-tông, các thành viên trong đoàn làm theo): Và ông tin tưởng ở bê-tông?
HERZOG: Tin tưởng không phải là từ chinh xác. Chúng ta không còn tin tưởng nhiều vào bất cứ điều gì nữa. Anh thấy thế nào, Lankes?
LANKES: Đúng, thưa ngài. Không còn niềm tin nữa.
BEBRA: Nhưng họ vẫn trộn, vẫn đổ.
HERZOG: Nói riêng với nhau, thưa đại uý, chúng ta đang thu được những kinh nghiệm quý báu. Trước khi đến đây, tôi chưa bao giờ xây dựng cái gì. Khi chiến tranh bắt đầu, tôi còn đang đi học. Giờ đây, tôi đã học được một đôi điều về xi-măng và tôi hy vọng có thể đem áp dụng sau chiến tranh, cả nước Đức rồi đây sẽ phải xây dựng lại. Hãy nhìn kỹ chỗ bê-tông này (Bebra và đoàn của ông dí mũi vào đó). Các vị thấy gì nào? Vỏ sò, vỏ ốc, vỏ hà. Chúng ta có tất cả những gì chúng ta cần ngay trước cửa nhà. Chỉ cần nhặt lấy và nhào trộn. Đá, vỏ sò, vỏ hến, vỏ hà, cát, xi-măng... Tôi có thể kể thêm gì nữa, thưa đại uý, ngài là một nghệ sĩ, ngài thừa biết thế nào đấy. Lankes, hãy nói cho đại uý hay chúng ta trộn những gì vào xi-măng.
LANKES: Vâng thưa ngài, tôi sẽ trình ngài đại uý. Chó con, thưa ngài. Trong mỗi công sự của chúng tôi, có một con chó con. Chôn dưới móng.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Một con chó con?
LANKES: Chẳng bao lâu, sẽ không còn chú chó con nào trong khắp vùng từ Caen đến Le Havrẹ.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Không còn chó con nữa!
LANKES: Bọn tôi làm việc rất năng nổ.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Năng nổ!
LANKES: Chẳng bao lâu, chúng tôi sẽ phải dùng đến mèo con.
CẢ ĐOÀN- CỦA BEBRA: meeooo!
LAKTKES: Nhưng mèo không tốt bằng chó. Chính vì thế mà chúng tôi hy vọng sắp có chiến sự ở nơi đây.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBBA: Cuộc trình diễn lớn! (Họ vỗ tay).
LANKES: Bọn tôi diễn tập đủ rồi. Và nếu bọn tôi hết chó con...
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Ôi!
LANKES: ... chúng tôi sẽ phải ngừng xây dựng. Mèo là điềm gở.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Meeooo! Meeooo! 
LANKES: Nếu ngài đại uý muốn tôi giải thích ngắn gọn tại sao chúng tôi bỏ chó con...
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: chó con!
LANKES: Cá nhân tôi cho đó là chuyện tào lao...
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Thật xấu hổ!
LANKES: Nhưng lính của tôi ở đây phần lớn là dân quê. Và ở nông thôn, khi xây nhà ở hoặc kho lúa hoặc nhà thờ làng, người ta có tục lệ là bỏ một cái gì còn sống vào móng... và...
HERZOG: Thôi đủ rồi, Lankes. Nghỉ. Như ngài vừa nghe đó, trên Phòng tuyến Đại Tây Dương này, chúng tôi đâm mê tín dị đoan mất rồi. Cũng giống như trong giới sân khấu cảc vị, người ta kiêng huýt gió trước đêm công diễn, hoặc phải nhổ nước miếng qua vai trước khi mở màn...
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Phì-phì-phì! (Nhổ qua vai nhau).
HERZOG: Nhưng thôi không nói đùa, cũng phải để quân ta vui vẻ một chút chứ. Gần đây, họ bắt đầu trang trí các cửa hầm phòng thủ bằng những hoa văn bê-tông ngẫu hứng hoặc những môzaic-vỏ-sò-vỏ- ốc, và cấp trên đã bỏ qua. Lính ta thích có việc để bận bịu mà. Những cái dùi xoắn bằng bê-tông làm sĩ quan chỉ huy của chúng tôi khó chịu nhưng tôi nói với ông. Thưa ngài, dùi xoắn xiên vào bê-tông còn hơn là vào đầu. Người Đức chúng ta không giỏi ngồi nhàn tản. Đó là một thực tế.
BEBRA: Và cả chúng tôi nữa, chúng tôi cũng góp phần giải trí cho quân ta trên Phòng tuyến Đại Tây Dương.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Đoàn văn công tiền tuyến của Bebra hát phục vụ các bạn, diễn phục vụ các bạn, nâng cao tinh thần các bạn vì thắng lợi cuối cùng!
HERZOG: Vâng, quan điểm của các vị là đúng. Nhưng chỉ văn công thì không đủ. Phần lớn thời gian, chúng tôi chỉ biết trông cậy vào bản thân và chúng tôi phải xoay sở hết sức mình. Tôi nói có đúng không, Lankes?
LANKES: Đúng, thưa ngài. Chúng tôi xoay sở hết sức mình.
HERZOG: Ngài thấy đấy. Và nếu ngài bỏ quá cho, thì bây giờ tôi phải chạy qua chỗ Dora-4 và Dora-5. Xin cứ thư thả, hãy xem kỹ công sự bê-tông của chúng tôi. Nó cũng đáng xem đấy. Lankes sẽ chỉ dẫn cho các vị tất cả.
LANKES: Vâng, tất cả, thưa ngài.
(Herzog và Bebra chào nhau theo kiểu nhà binh. Herzog ra phía tay phải. Roswitha, Oskar, Fritz và Kitty, từ nãy vẫn đứng đẳng sau Bebra, giờ bước lên. Oskar mang trống, Roswitha xách một giỏ thức ăn. Felix và Kitty leo lên mái bê-tông của lô-cốt và bắt đầu tập nhào lộn. Oskar và Roswitha chơi với những cái xô và xẻng, chơi yô-yô, tỏ rõ là đang yêu nhau và trêu chọc Felix và Kitty)
BEBEA (mệt mỏi, sau khi xem xét lô-cốt từ khắp phía): Này, trung sĩ Lankes, hồi còn là dân thường, anh bạn làm gì?
LANKES: Vẽ sơn, thưa ngài, nhưng đã từ lâu rồi.
BEBBA: Có nghĩa là sơn nhà cửa?
LANKES: Sơn nhà cửa cũng có, nhưng chủ yếu là vẽ tranh.
BEBBA: Chà chà! Anh muốn nói là anh đua tài với Rembrandt vĩ đại hoặc có thể là Velasquez?
LANKES: Đại khái là ở quãng giữa hai người đó.
BEBRA: Chu cha! Vậy thì tại sao anh lại đi nhào trộn và đổ bê-tông, và canh giữ bê-tông? Chỗ của anh là ở Cục Tuyên Truyền mới phải. Chao, chúng ta đang cần những họa sĩ chiến tranh.
LANKES: Đó không phải khuynh hướng của tồi. Tranh của tôi quá chênh so vói "gu" bây giờ. Nhưng nếu ngài đại úy có một diếu thuốc lá...
(BEBRA đưa cho anh ta một điếu thuốc lá)
BEBRA: Quá chênh? Ý anh muốn nói là hiện đại?
LANKES: Ngài hiểu hiện đại là thế nào? Dù sao đi nữa, trước khi người ta đưa bê-tông lên ngôi, thì chênh đã từng một thời là hiện đại.
BEBRA: Ra thế!
LANKES: Vâng.
BEBRA: Tôi chắc anh trát màu khá dày. Anh dùng bay?
LANKES: Vâng, cách đó tôi cũng có làm. Tôi ấn cả ngón tay cái vào, cứ như tự động ấy, tôi cho cả đinh và khuy vào, và trước năm 1933, có dạo tôi đã gắn dây thép gai lên thần sa. Có nhiều hài báo khen. Hiện những cái đó thuộc một bộ sưu tập tư nhân ở Thụy Sĩ. Tay này làm xà-phòng.
BEBRA: Ôi, cuộc chiến tranh này! Cuộc chiến tranh gớm ghiếc này! Và bây giờ anh bạn đi đổ bê- tông! Bán rẻ thiên tài của mình để xây công sự! Đành rằng ở thời mình, Leonardo và Michelangelo cũng làm như vậy: thiết kế máy quân sự và công sự khi không có ai đặt vẽ hình Đức Mẹ.
LANKES: Ngài thấy đấy! Bao giờ cũng có một cái gì trái khoáy. Mọi nghệ sĩ đích thực đều phải tự thể hiện mình. Nếu ngài hạ cố nhìn những trang trí bên trên cửa vào lô-cốt, đó là do tôi làm.
BEBRA (sau khi xem xét kỹ): Kỳ diệu! Hình thức mới phong phú làm sao! Sức biểu hiện mạnh mẽ làm sao!
LANKES: Tôi gọi đó là hình thể cấu trúc.
BEBRA: Thế sáng tác của bạn, bức tranh, hay đúng hơn, bức phù điêu này, có tên không?
LANKES: Tôi vừa nói với ngài: Hình Thể, hay nếu ngài thích, Hình Thể Chênh. Đó là một phong cách
mới. Trước đây chưa ai làm thế.
BEBRA: Ngay cả thế, bạn vẫn phải đặt cho nó một cái tên để tránh ngộ nhận. Nói cho cùng, đó là tác phẩm của bạn mà.
LAJNKES: Để làm gì ạ? Tên thì ăn nhằm gì? Trừ phi để đưa vào vựng tập khi mình triển lãm.
BEBRA: Lankes, bạn đang điệu bộ đấy. Hãy xem tôi như một người yêu nghệ thuật chứ không phải là một đại uý. Làm điếu thuốc? (LANKES nhận điếu thuốc) Vậy bạn nghĩ thế nào?
LANKES: À, vâng, nếu ngài nói cách ấy. Tôi hình dung như thế này: khi chiến tranh chấm dứt - cách này hay cách khác, một ngày kia nó cũng sẽ chấm dứt - vâng, khi chiến tranh chấm dứt, những lô-cốt này sẽ vẫn còn đây. Những thứ này vốn bền lâu. Và lúc đó sẽ đến thời của tôi... Các thế kỷ... (Anh ta vứt điếu thuốc) Ngài còn thuốc lá không ạ? Cảm ơn, đại uý... các thế kỷ nối nhau trượt trên chúng như không và những lô-cốt này vẫn sừng sững như những Kim Tự Tháp. Rồi một ngày đẹp trời, một tay khảo cổ nào đó sẽ đến đây và tự bảo: giữa Thế chiến I và Thế chiến VII, có cả một khoảng trống nghệ thuật lớn, trống huơ trống hoác! Toàn bê-tông xám xì; đây đó, bên trên một cái cửa lô-cốt, mấy cái hoa văn ngoằn ngoèo, vụng về, "a-ma-tơ", theo kiểu dân gian. Tất cả chỉ có thế. Thế rồi anh ta bỗng phát hiện thấy Dora-5, 6, 7 và trông thấy những Hình Thể Cấu Trúc Chênh của tôi, và anh ta tự nhủ: Kìa, nhìn cái này xem, rất rất lý thú, có thể nói thần diệu, đe dọa mà lại đầy chất trí tuệ sâu sắc. Ở những tác phẩm này, một thiên tài - có lẽ là thiên tài duy nhất của thế kỷ XX - đã tự thể hiện mình một cách rành rọt, kiên quyết và cho mọi thời. Không biết - nhà khảo cổ học của chúng ta tự hỏi - không biết tác phẩm này có tên không nhả? Một chữ ký để ta biết bậc thày đó là ai? Vâng, thưa ngài, nếu ngài nhìn kỹ và nghiêng nghiêng đầu đi một tí, ngài sẽ thấy giữa những Hình Thể Chênh này...
BEBRA: Kính của tôi. Đỡ tôi lên cao chút nữa, Lankes.
LANKES: Vâng, dòng ghi đây này: Herbert Lankes, anno một chín bốn bốn. Tựa đề: man rợ, huyền bí, chán ngắt.
BEBRA: Bạn đã đặt đúng tên cho thế kỷ của chúng ta.
LANKES: Ngài thấy đấy!
BEBRA: Có lẽ, năm trăm năm hay một nghìn năm nữa, khi phục chế lại tác phẩm của bạn, người ta sẽ tìm thấy một ít xương chó con trong bê-tông.
LANKES: Cái đó sẽ chỉ tăng thêm sức mạnh cho đầu đề của tôi.
BEBRA (xúc động): Ôi thời thế, chúng ta là cái gì, bạn thân mến, nếu tác phẩm của chúng ta không... nhưng hãy nhìn Felix và Kitty, các nghệ sĩ nhào lộn của tôi, kìa. Họ đang biểu diễn trên bê-tông.
(Đã một lúc, hai cặp Oskar-Roswitha và Felix- Kitty cứ truyền qua truyền lại một mảnh giấy và luân phiên như viết trên đó)
KITTY (lơ lớ giọng Xăcxông): Thày Bebra, nhìn coi bọn em làm được gì trên bê-tông này (Cô đi bằng hai tay).
FELIX: Trước nay, chưa có ai nhảy lộn nhào trên bê-tông cả (Anh ta lảm cú nhảy lộn nhào hai chiều, cả đằng trước lẫn đằng sau).
KITTY: Chúng ta cần có một sân khấu như thế này.
FELIX: Có điều là quả gió đối với anh.
KITTY: Nhưng không nóng và hôi xì như ở trong rạp chiếu bóng (xoắn người thành một búi).
FELIX: Và chúng tôi vừa làm một bài thơ trên đó.
KITTY: Chúng tôi? Đâu phải. Oskarnello và Roswitha làm đấy chứ.
FELIX: Nhưng chúng mình có giúp đỡ khi họ bí một vần.
KITTY: Còn thiếu có mỗi một chữ là xong.
 FELIX: Oskar muốn biết những cái cọc cắm vào cát gọi là gì.
KITTY: Vì chữ đó cần cho bài thơ.
FELIX: Một từ rất quan trọng không thể bỏ qua được.
KITTY: Chắc ông trung sĩ có thể cho chúng tôi biết những cái cọc đó gọi là gì?
FELIX: Có khi ông ấy không được phép nói vì sợ lọt vào tai kẻ địch.
KITTY: Chúng tôi xin hứa sẽ không nói cho ai biết.
FELIX: Đó là vì nghệ thuật.
KITTY: Oskarnello đã loay hoay rất vất vả.
FELIX: Anh ta viết chữ mới đẹp làm sao. Theo mẫu tự Sütterlin.
KITTY: Không biết anh ta học ở đâu ra.
FELIX: Ổ, Oskar là người có học. Anh ta biết đủ mọi thứ, trừ tên gọi của những cái cọc ấy.
LANKES: Tôi sẽ nói cho các bạn biết nếu ngài đại uý không phản đối.
BEBRA: Nhưng có thể đó là tuyệt mật.
FELIX: Nhưng Oskar cần phải biết.
KITTY: Nếu không thi hỏng cả bài thơ.
ROSWITHA: Và tất cả chúng tôi rất tò mò muốn biết.
BEBBA: Anh bạn có thể nói cho chúng tôi hay. Đây là mệnh lệnh.
LANKES: Vậy thì được. Chúng tôi cắm những cọc ấy để phòng thủ chống chiến xa và tàu đổ bộ. Nom chúng giống như măng tây, phải không nào? Vì vậy chúng tôi gọi là măng tây Rommel.
FELIX: Măng tây...
KITTY: Rommel. Có vần không, Oskarnello?
OSKAR: Vần đấy! (Gã viết chữ đó. lên mảnh giấy, đưa bài thơ cho Kitty đang đứng trên nóc lô-cốt. Cô xoắn mình thêm vòng nữa và đọc những dòng dưới đây như một em bé học sinh)
KITTY: TRÊN PHÒNG TUYẾN ĐẠI TÂY DƯƠNG
Trùng trùng súng ống, ngụy trang
"Măng tây Rommel” dăng hàng
Mà mơ giường êm nệm ấm
Cá bơn, gà ninh nhồi nấm
Sống giữa bê-tông, thép gai
Vẫn mơ về chốn lâu đài.
 
Tay chôn mìn trong hố xí
Lòng mơ lầu son gác tía
Hoa đăng rực rỡ bốn bề
Sơn hào hải vị ê hề
Sống giữa bê-tông, thép gai
Vẫn mơ về chốn lâu đài.
 
Bao thây sẽ phơi ngập đồng
Bao mẹ già tan nát lòng
Tử thần uy nghi giáp trụ
Cắm thêm chiếc lông trên mũ
Lòng vần ước mơ dài dài
Đời vương giả chốn lâu đài.
(Mọi người vỗ tay, kể cả Lankes)
LANKES: Nước triều đang xuống.
ROSWITHA: Đến giờ điểm tâm rồi. (Vung cái giỏ lớn trang trí bằng ruy-băng và hoa giấy)
KITTY : À phải, một cuộc pích-ních ngoài trời.
FELIX: Thiên nhiên làm ta đói bụng và ăn ngon miệng.
ROSWITHA: Ôi, ăn uống, cái hành động thiêng liêng sẽ đoàn kết các quốc gia chừng nào con người còn ăn điểm tâm!
BEBRA: Ta hãy tiệc tùng trên bê-tông. Hãy đặt những nghi thức của con người trên những nền tảng
vững chắc. (Tất cả, trừ Lankes, trèo lên nóc lô-cốt. Roswitha trải một tấm khăn bàn vải hoa rực rỡ. Từ cải giỏ sâu hun hút như không có đáy. nàng lôi ra những gối nhỏ có ngù và diềm. Người ta giương một chiếc dù màu hồng và xanh nhạt, mở một cái máy hát có loa, phân phát dĩa, thìa, dao, cốc trứng và khăn ăn).
FELIX: Tôi muốn một ít pa-tê gan.
KITTY: Anh đã thử cái món ca-vi-a chúng ta cứu được từ Stalingrad chưa?
OSKAR: Roswitha, cưng không nên phết bơ Đan Mạch dày thế.
BEBRA: Cậu lo giữ eo cho cô ấy như thế là phải.
ROSWITHA: Nhưng nếu em thích cái gì, tức là nó tốt cho em. Ôi! nghĩ đến những cái bánh và kem đánh tơi đám không quân đãi chúng ta ở Copenhagen mà thèm!
BEBRA: Sô-cô-la Hà Lan trong phích vẫn còn nóng và ngon lắm.
KITTY: Tôi rất mê bánh quy giòn Mỹ.
ROSWITHA: Nhưng phải phết chút mứt gừng Nam Phi lên trên mới thật là ngon.
OSKAR: Vừa vừa thôi, Roswitha, tôi xin mình đấy.
ROSWITHA: Còn anh thì sao? Nhìn những miếng thịt bò Anh tổ bố anh đang gắp kìa.
BEBRA: Còn bạn thì sao, trung sĩ thân mến? Tôi có thể mời bạn một lát bánh nho mỏng với mứt mận chăng?
LANKES: Tôi đang làm nhiệm vụ, thưa ngài.
ROSWITHA: Anh ta cần được lệnh chính thức.
KITTY: Phải đấy, thày hãy ra lệnh cho anh ta đi.
BEBEA: Được. Lệnh cho trung sĩ Lankes hãy nhận một lát bánh nho với mứt mận Pháp, một quả trứng Đan Mạch luộc mềm, chút ca-vi-a Xô-viết và một cốc sô-cô-la Hà Lan thứ thiệt.
LANKES: Xin tuân lệnh, ngài đại uý. (Nhập bọn với những người kia trên nóc lô-cốt).
BEBBA: Còn cái gối nào khác cho trung sĩ không nhỉ?
OSKAR: Xin nhường trung sĩ gối của tôi. Tôi sẽ ngồi trên cái trống của mình.
ROSWITHA: Đừng để nhiễm lạnh đấy, cưng. Bê-tông là chúa nguy hiểm mà cưng thì lại không quen.
KITTY: Hay để trung sĩ lấy gối tôi cũng được. Tôi sẽ xoắn nút mình một chút, như thế càng dễ tiêu.
FELIX: Nhưng đừng có ra khỏi khăn bàn kẻo lại ói mật ong ra bê-tông đấy. Chúng ta không được làm hỏng hệ thống phòng thủ (Tất cả cười rộ).
BEBRA: Ôi, không khí biển làm ta sảng khoái!
ROSWITHA: Sảng khoái!
BEBRA: Lồng ngực nở ra.
ROSWITHA: Nở ra!
BEBRA: Trái tim trút bỏ lớp vỏ cứng.
ROSWITHA: Vỏ cứng!
BEBRA: Tâm hồn như tái sinh.
ROSWITHA: Tái sinh!
BEBRA: Tầm mắt bay bổng.
ROSWITHA: Bay bổng!
BEBRA: Bay trên biển, biển mênh mông vô tận... Này, trung sĩ, tôi thấy có gì đó ở mé dưới bãi biển, năm cái bóng.
KITTY: Em cũng nhìn thấy. Với năm cái ô.
FELIX: Sáu.
KITTY: Năm! Một, hai, ba, bốn, năm!
LANKES: Đó là những nữ tu sĩ ở nhà dòng Lisieux. Họ phải di tản cùng với trường mẫu giáo của họ.
KITTY: Tôi chẳng thấy đứa trẻ nào cả. Chỉ thấy năm cái ô.
LANKES: Họ để bọn trẻ lại Bavent. Thỉnh thoảng, khi triều xuống, họ đến đây bắt cua, sò mắc kẹt trong đám măng tây Rommel.
KITTY: Tội nghiệp!
ROSWITHA: Ta có nên biếu họ ít thịt bò ướp và bánh quy?
OSKAR: Hôm nay là thứ sáu, các nữ tu sĩ không được phép ăn thịt bò. Tôi đề nghị biếu họ bánh nho với mứt mận.
KITTY: Họ đang chạy kìa. Trông họ giường ô chạy như thuyền buồm lướt sóng.
LANKES: Bao giờ họ cũng làm thế sau khi bắt cua, sò xong. Rồi họ bắt đầu chơi. Đặc biệt là Agneta, vừa bắt đầu cuộc đời tu hành, còn như con nít chăng biết xuôi ngược ra sao. Liệu ngài còn điếu thuốc nào không ạ? Cảm ơn ngài đại uý. Còn cái bà ở đằng sau, bà to béo không chạy ấy, đó là Xơ Scholastica, Mẹ nhất. Bà ta không thích họ chơi trên bãi biển, cho thế là trái với quy tắc dòng tu.
(Những nữ tu cầm ô chạy ở hậu cảnh. Roswitha đặt đĩa ’Xe trượt tuyết ở St Petersburg’ lên máy hát. Các nữ tu vừa nhảy múa vừa hú).
AGNETA: Hú-ú-ú, Xơ Scholastica!
SCHOLASTICA: Xơ Agneta!
AGNETA: Hú-ú-ú, Xơ Scholastica!
SCHOLASTICA: Quay lại di, bé con! Xơ Agneta!
AGNETA: Con không thể. Con bị cuốn đi.
SCHOLASTICA: Vậy thì hãy cầu nguyện đi. Cầu xin một sự cải giáo.
AGNETA: Đau đớn?
SCHOLASTICA: Khoan dung.
AGNETA: Vui vẻ?
SCHOLASTICA: Thì cứ cầu nguyện đi đã, Xơ Agneta!
AGNETA: Con vẫn cầu nguyện hoài đấy chứ. Vậy mà vẫn cứ bị cuốn đi.
SCHOLASTICA (giọng bà xa dần vả nhỏ đi): Agneta, Xơ Agrieta!
(Các nữ tu sĩ biến mất, nhưng thi thoảng vẫn thấy những cái ô của họ thấp thoáng ở hậu cảnh. Đĩa hát chấm dứt. Chuông điện thoại réo bên cạnh cửa lô-cốt. Lankes nhảy xuống, nhấc ống nghe; những người khác tiếp tục ăn)
ROSWITHA: Điện thoại, đi đâu cũng thấy điện thoại. Gĩưa biển và trời, cũng không thoát điện thoại.
LANKES: Dora-7 đây. Trung sĩ Lankes.
HERZOG (từ bên phải thong thả đi ra, tay cầm một máy điện thoại, kéo theo sợỉ dây đằng sau.
Chốc chốc lại dừng và nói vào mảy) Cậu có ngủ không đấy, Lankes? Có cái gì chuyển động ở phía trước Dora-7, tôi dám chắc thế.
LANKES: Đó là các nữ tu sĩ, thưa trung uý.
HERZOG: Nữ tu sĩ làm gì ở đằng ấy? Ngộ nhỡ dó không phải là nữ tu sĩ thì sao?
LANKES: Nhưng đúng là những nữ tu sĩ thật mà. Tôi thấy rõ như ban ngày.
HERZOG: Cậu chưa bao giờ nghe nói đến cải trang ư? Chưa bao giờ nghe nói đến đội quân thứ năm hay sao? Người Anh đã dùng mẹo này hàng thế kỷ rồi. Họ đến với cuốn Kinh Thánh trên tay và khi ta chưa hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra sao thì đã bùm!
LANKES: Họ bắt cua, thưa trung uý. ..
HERZOG: Quét sạch bãi biển ngay, rõ chưa?
LANKES: Vâng, thưa ngài, nhưng họ chỉ bắt cua thôi mà.
HERZOG: Lankes, vào vị trí đằng sau súng máy!
LANKES: Nhưng giả sử họ chỉ đi mò cua vì nước triều đang xuống và bọn trẻ ở trường mẫu giáo đang...
HERZOG: Đây là một mệnh lệnh chính thức, trung sĩ Lankes.
LANKES: Vâng, thưa trung uý. (Lankes biến vào trong hầm, Herzog ra từ phía tay phải với chiếc máy điện thoại)
OSKAR: Roswitha, bịt tai lại, sắp nổ súng như trong phim thời sự đấy.
KITTY: Eo ơi, kinh khủng! Em phải xoắn mình chặt hơn nữa mới dược.
BEBRA: Chính ta cũng hồ như tin rằng chúng ta sắp nghe thấy tiếng đì đòm.
FELIX: Ta hãy mở máy hát tiếp đi. Như thế sẽ đỡ phần nào. (Mở máy hát.
Ban nhạc The Platters hát bài "The Great Pretender". Tiếng súng máy tằng-tằng-tằng điểm xuyến bản nhạc lê thê buồn bã. Roswitha bịt tai. Felix chổng hai chân lên trời. Ở hậu cảnh, năm nữ tu sĩ cùng những chiếc ô tung lên trời. Chiếc đĩa hát vấp rãnh, lặp đi lặp lại một câu. Felix trở lại tư thế đứng bình thường. Kitty thôi không xoắn mình. Roswitha bắt đầu dọn dẹp, thu các thứ vảo giỏ. Oskar và Bebra giúp nàng. Họ rời nóc lô-cốt. Lankes hiện ra ở cửa hầm).
LANKES: Ngài đại úy có còn điếu thuốc nào không?
BEBRA (Cả đoàn sợ hãi nép vào nhau đằng sau ông): Anh bạn hút nhiều quá đấy, trung sĩ.
Cả ĐOÀN CỦA BEBRA: Anh ta hút nhiều quá.
LANKES: Đó là tại bê-tông thưa ngài.
BEBBA: Thế giả sử một mai không còn bê-tông nữa?
CÃ ĐOÀN CỦA BEBRA: Không còn bê-tông nữa.
LANKES: Bê-tông là bất tử thưa ngài. Chỉ có chúng ta và những điếu thuốc lá của chúng ta...
BEBBA: Ta biết, ta biết, chúng ta tan biến như một làn khói.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA (Từ từ đi vào): Như một làn khói!
BEBRA: Nhưng một ngàn năm nữa, người ta vẫn còn đến xem bê-tông.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Một ngàn năm nữa!
BEBRA: Người ta sẽ tìm thấy xương chó con.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Xương chó con.
BEBRA: Và những Hình Thể Chênh của anh bạn trên bê-tông.
CẢ ĐOÀN CỦA BEBRA: Man rợ, huyền bí, chán ngắt!
(Còn lại một mình Lankes đứng hút thuốc)
 
Mặc dù Oskar hầu như không hé răng suốt trong bữa điểm tâm trên bê-tông ấy, nhưng chỉ riêng việc những lời này được nói ra đúng vào ngày hôm trước cuộc đổ bộ đã buộc tôi phải ghi lại đầy đủ. Giả dĩ, chúng ta chưa giã từ trung sĩ Lankes, bậc thày của nghệ thuật "bê-tông"; chúng ta sẽ còn gặp lại anh ta ở đoạn kể về thời kỳ hậu chiến và cao trào của tiện nghi tư sản.
 
Chiếc xe tải bọc thép vẫn chờ chúng tôi trên lối đi dạo dọc biển. Trung uý Herzog sải những bước dài quay lại chỗ cấp dưới của mình và hổn hển xin lỗi Bebra về "sự cố nho nhỏ" vừa xảy ra; tuy nhiên, y nói thêm rằng bãi biển là khu vực cấm dân thường và nhấn mạnh: "Khu vực cấm là khu vực cấm". Y đỡ các nữ khách lên xe, dặn dò tài xế và chúng tôi trở về Bavent. Chúng tôi phải khẩn trương, không còn thì giờ ăn trưa, vì hai giờ chiều, chúng tôi có buổi diễn ở cái lâu đài nhỏ mỹ lệ vùng Normandie náu giữa những hàng dương ở bìa làng.
 
Chúng tôi chỉ có không đây nửa tiếng đồng hồ để thử ánh sáng. Sau đó, Oskar dóng một hồi trống hùng tráng mở màn. Chúng tôi biêu diễn cho một cử tọa gồm toàn lính. Chúng tôi cường điệu, không ngớt khuấy lên những nhịp cười sảng khoái. Tôi phóng giọng hát vào một cái bô đái bằng thuỷ tinh trong đựng một cặp xúc xích với mù-tạc. Bebra, nhem nhuốc dầu sơn trắng, tuôn những giọt nước mắt hề xiếc trên cái bô vỡ, bới đôi xúc xích từ những mảnh thuỷ tinh, quệt mù-tạc lên và ăn ngấu nghiên, khiến đám người mặc quân phục màu xám dã chiến được một mẻ cười hoan hỉ. Felix và Kitty ít lâu nay đâm quen xuất hiện trong trang phục ‘sóóc’ da và mũ Tyrol, mang lại cho tiết mục của họ một nét đặc sắc. Roswitha mặc một chiếc áo dài kim tuyến bó sát người, tay đi găng dài màu xanh nhạt, đôi chân nhỏ xíu xỏ trong đôi giày cao gót thêu vàng. Cặp mí mắt xanh khép hờ cùng cái giọng Địa Trung Hải ngái ngủ của nàng vẫn phát huy ma lực mê hoặc của chúng. Oskar thì khỏi cần trang phục đặc biệt - không biết tôi đã nói điều này chưa nhỉ? Tôi vẫn đội cái mũ lính thuỷ cũ in nhãn S.M.S. Seydlitz, mặc chiếc sơ-mi xanh nước biển và chiếc va-rơi khuy vàng chạm hình mỏ neo; dưới nữa là cái quần cộc đến đầu gối, đôi tất cuộn thò trên đôi ủng rất tã. Quàng qua cổ, là cái trống hai màu trắng và đỏ, nó rất yên tâm vì biết mình còn năm đứa em trong hành trang của tôi.
 
Đêm ấy, chúng tôi diễn lại chương trình ấy cho các sĩ quan và nữ diện báo viên của trung tâm truyền tin Cabourg. Roswitha hơi căng thắng. Nàng không mắc lỗi gì nhưng giữa chừng tiết mục của mình, nàng bỗng đeo đôi kính râm gọng xanh và đột ngột đổi giọng và đến đây, những lời phán của nàng trở nên trực tiếp hơn. Chẳng hạn, với một nữ điện báo viên mặt mày xanh xao, lúng ta lúng túng, nàng nói toẹt ra rằng cô ta đang tình tang với sĩ quan chỉ huy của mình. Điều đó, theo tôi, là bất nhã, nhưng lại gây cười nhiều vì có một sĩ quan ngồi cạnh cô ta và người ta có lý do để nghĩ rằng...
 
Sau buổi diễn, các sĩ quan tham mưu trung đoàn đóng tại lâu đài mở cuộc chiêu đãi. Bebra, Kitty và Felix ở lại, còn Raguna và Oskar thì lặng lẽ chuồn về giường nằm. Đó là một ngày căng thẳng, chúng tôi nhanh chóng thiếp đi và ngủ đến 5 giờ sáng thì cuộc đổ bộ đánh thức chúng tôi dậy.
 
Tôi phải kể gì với quý vị về sự kiện này? Quân Canada đổ bộ vào khu vực chúng tôi, cửa sông Orne. Phải di tản khỏi Bavent. Hành lý của chúng tôi đã được chất lên xe tải. Chúng tôi rút cùng ban tham mưu trung đoàn. Một xe bếp dã chiến đậu ở sân lâu đài. Roswitha nhờ tôi kiếm cho nàng một tách cà-phê. Căng thắng và sợ lỡ chuyến xe, tôi từ chối. Thậm chí tôi còn hơi thô lỗ với nàng nữa. Thế là nàng bèn tự mình chạy ra xe bếp đã chiến trên đôi giày cao gót và tới chỗ bình cà-phê nóng bốc hơi cùng lúc với một trái đại bác từ tàu chiến bắn vào.
 
Ôi Roswitha, tôi không biết em bao nhiêu tuổi, tôi chỉ biết rằng em cao chín mươi tám phân, rằng Địa Trung Hải nói qua môi em, rằng em thơm mùi quế và hạt hồi và em có thể nhìn thấu tim người; song em không thể nhìn thấu tim mình, nếu không em đã ở lại bên tôi thay vì chạy đi kiếm tách cà-phê quá nóng ấy!

Đến Lisieux, Bebra xoay được một công lệnh về Berlin. Chúng tôi đợi ông ở ngoài Bộ Tư Lệnh và chỉ đến khi ra gặp lại chúng tôi, ông mới nhắc đến cái chết của Roswitha lần đầu tiên: "Bọn lùn và hề xiếc chúng ta lẽ ra không nên nhảy múa trên kết cấu bê-tông dành cho người khổng lồ. Giá như chúng ta cứ ở lại bên dưới khán đài, nơi chẳng ai ngờ tới sự hiện diện của chúng ta!".
 
Đến Berlin, tôi chia tay với Bebra. "Ờ," ông nói với một nụ cười mỏng như mạng nhện, "không có Roswitha, chú mày sẽ làm gì trong những hầm phòng không nhỉ?" Rồi ông hôn lên trán tôi. Ông tặng tôi cả năm cái trống còn lại và cử Kitty và Felix mang giấy thông hành chính thức đi tháp tùng tôi đến tận Danzig. Vậy là, với sáu cái trống và "cuốn sách" của mình, ngày 11 tháng sáu năm 1944, trước sinh nhật lần thứ ba của con trai tôi một hôm, tôi trở về thành phố quê hương vẫn còn nguyên vẹn và trung cổ, vẫn từng giờ vang lên những tiếng chuông mọi cỡ từ những gác chuông ở mọi tầm cao khác nhau.
 
[...]
 
______
Chú thích:
[1] Dưỡng đường cho thương phế binh ở Paris do vua Louis XIV lập vào cuối thế kỷ XVII.
[2] Chỉ Napoléon.
[3] Tiếng Pháp trong nguyên bản: trên vỉa hè Paris.
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.07.2016 00:51:10 bởi tducchau>
[...]
 
Quyển II
 
ĐỒ ĐỒNG NÁT
 
Ngày thăm hỏi. Maria mang đến cho tôi một cái trống mới. Sau khi đưa nó qua bên trên hàng chấn song bao quanh giường tôi, nàng định đưa nốt cái hóa đơn của cửa hàng, nhưng tôi gạt đi và bấm nút chuông ở đầu giường cho đến khi Bruno, gã y tá trông coi tôi, chạy vào và làm cái điều mà bao giờ gã cũng làm khi Maria mang đến cho tôi một cái trống mới. Gã cởi dây buộc, để tờ giấy gói màu xanh lơ tự nó mở ra, trịnh trọng nhấc cái trống lên và gấp giấy lại cẩn thận. Chỉ đến lúc ấy Bruno mới sải bước - tôi nói chính xác là sải bước - mang cái trống mới đến bồn rửa mặt, mở vòi nước nóng và bóc cái nhãn ghi giá, nhẹ nhàng không để xước lớp sơn đỏ- trắng.
 
Khi, sau một hồi thăm hỏi ngắn chưa đến nỗi chán ngấy, Maria chuẩn bị ra về, nàng nhặt cái trống cũ mà tôi đã quần đến tả tơi khi tấu khúc saga về cái lưng của Herbert Truczinski, về bức tượng gỗ trang trí mũi thuyền cũng như khi trình bày cách diễn giải có phần tuỳ tiện của tôi về Thánh Thư thứ nhất gửi người Corinthia. Nàng sẽ mang nó về để chất dưới hầm nhà chúng tôi, sát cánh với tất cả những cái trống xác xơ khác đã phục vụ cho mục đích nghề nghiệp hoặc riêng tư của tôi. "Chẳng còn mấy chỗ ở trong hầm nữa," nàng thở dài nói. "Không biết rồi sẽ để khoai tây mùa đông ở đâu đây."
 
Tôi tủm tỉm cười, làm như không nghe thấy lời than phiền của bà nội trợ trong Maria, và dặn dò nàng: cái trống "về hưu" phải được đánh số bằng mực đen và những chi tiết "lý lịch" mà tôi đã ghi vắn tắt trên một mảnh giấy phải được chuyển vào cuốn nhật ký bao năm nay vẫn treo ở mặt trong cánh cửa hầm và trong đó có ghi mọi điều về những cái trống của tôi.
 
Maria gật đầu, vẻ cam chịu và hôn tạm biệt tôi. Nàng không sao hiểu nổi sự ham thích trật tự này của tôi, thực tế, nàng thấy nó gần như điên khùng. Oskar có thể thông cảm nỗi băn khoăn của nàng vì bản thân hắn cũng bối rối khi phải giải thích về thói câu nệ của hắn trong việc sưu tầm trống thiếc nát. Điều kỳ lạ nhất là hắn không bao giờ muốn để mắt đến cái mớ đồng nát trong hầm khoai tây ấy lần nữa chừng nào hắn còn sống. Bởi vì, qua kinh nghiệm, hắn biết rằng con cái thường coi rẻ những bộ sưu tập của cha chúng và thằng con trai Kurt của hắn khá lắm cũng chỉ nhìn bằng con mắt dửng dưng tất cả những cái trống thảm hại mà một ngày kia nó sẽ được thừa kế.
 
Vậy thì cái gì khiến tôi cứ ba tuần một lần lại dặn dò Maria những điều mà nếu được thi hành đều đặn thì một ngày kia sẽ chiếm hết chỗ trong hầm nhà chúng tôi và đẩy khoai tây mùa đông ra ngoài?

Cái ý thỉnh thoảng vẫn loé lên trong đầu tôi, tuy ngày càng thưa thớt hơn, là biết đâu một ngày kia một bảo tàng nào đó lại chẳng quan tâm đến những cái trống rách của tôi, cái ý ấy chỉ đến với tôi sau khi mấy tá trống đã được xếp xó dưới hầm; do vậy nó không thể là khởi nguồn tạo nên đam mê sưu tầm của tôi. Càng nghĩ, tôi càng ngả về một cái động cơ rất đơn giản: nỗi sợ, sợ thiếu, sợ rằng một ngày kia trống thiếc có thể bị cấm, sợ rằng số trống hiện có có thể bị phá huỷ. Một ngày kia, Oskar có thể sẽ buộc phải bới lên vài cái ít hư hại nhất đem chữa lại dùng tạm để vượt qua một thời kỳ không trống ảm đạm và khủng khiếp.

Các bác sĩ ỏ bệnh viện tâm thần cũng đưa ra một cách giải thích tương tự, tuy họ diễn đạt bằng những lời lẽ khác. Bác sĩ Hornstetter (nữ) thậm chí còn muốn biết đích xác ngày nào tháng nào tôi bắt đầu phát sinh mặc cảm. Tôi nói ngay với bà: ngày 9 tháng 11 năm 1938 vì đó là ngày tôi mất Sigismund Markus, người cung cấp trống cho tôi. Sau khi mẹ tôi chết, việc kiếm một cái trống mới khi tôi cần, cũng đã bắt đầu khó khăn: không còn những chiều thứ năm đến Ngõ Binh Công Xưởng, Matzerath chỉ quan tâm đến việc cung cấp trống cho tôi một cách rất miễn cưỡng còn Jan Bronski thì ngày càng thưa đến thăm chúng tôi. Giờ đây, khi cửa hàng đồ chơi đã bị đập phá tan tành, tình thế của tôi trở nên cực kỳ tuyệt vọng. Hình ảnh Markus ngồi ở cái bàn giấy trống trơn của bác nói rất rõ với tôi: Markus sẽ không cung cấp trống cho mày nữa, Markus sẽ không bán đồ chơi nữa, Markus đã cắt đứt mọi quan hệ làm ăn với những người làm ra những cái trống đẹp đỏ-trắng của mày.
 
Tuy nhiên, lúc ấy, tôi chưa sẵn sàng tin rằng những ngày tương đối trong sáng và nghịch ngợm của tôi đã chấm dứt với cái chết của Markus; từ đống đổ nát của cửa hàng đồ chơi, tôi chọn ra được một cái trống còn nguyên vẹn và hai cái chỉ sứt sẹo ở cạnh và chạy về nhà với những vật báu của mình, những tưởng sẽ an toàn trong những ngày khó khăn.
 
Tôi giữ trống rất cẩn thận, ít khi đánh và chỉ đánh khi nào tuyệt đối cần thiết. Tôi nhịn đánh trống suốt những buổi chiều dài dằng dặc và, rất miễn cưỡng, nhịn cả đánh trống vào giờ điểm tâm, cái thói quen cho đến nay đã khiến những ngày của tôi có thể chịu đựng được. Oskar trở nên khổ hạnh, nó sút cân và phải đưa đến khám ở chỗ bác sĩ Hollatz và Xơ Inge, phụ tá của ông mỗi ngày một thêm xương xẩu. Họ cho tôi đủ các thứ thuốc, ngọt có, chua có, đắng có và cả vô vị nữa và đổ tại các tuyến của tôi mà bác sĩ Hollatz cho rằng đã làm đảo lộn thể tạng, đan xen giữa siêu năng và thiểu năng.
 
Để thoát khỏi sự kiểm soát của bác sĩ Hollatz, Oskar tiết chế bớt chế độ khổ hạnh và tăng cân. Vào mùa hè 1939, nó lại vẫn là thằng bé Oskar ba tuổi, nhưng nó phồng má lên mà đánh bục hẳn cái trống cuối cùng của Markus, hỏng không cách nào chữa được. Cái vật đeo trước bụng tôi giờ chỉ là một cái xác thảm hại, han gỉ và đầy những lỗ trống hoác; lớp sơn đỏ- trắng gần như tróc hết và tiếng thì cực kỳ ảo não.
 
Có kêu gọi sự giúp đỡ của Matzerath cũng vô ích thôi, mặc dầu Matzerath là một tâm hồn giàu lòng tương trợ và nhân hậu theo cách của ông. Từ khi mẹ tội nghiệp của tôi mất, ông chẳng còn nghĩ đến bất kỳ cái gì khác ngoài công việc của Đảng; khi cần giải trí, ông chỉ họp mặt với các tổ trưởng. Hoặc giả vào quãng nửa đêm, sau khi uống khá nhiều rượu, ông thường lớn tiếng trò chuyện tâm sự với hai tấm ảnh chân dung lồng khung đen của Hitler và Beethoven trong phòng khách của chúng tôi, bậc thiên tài thì nói về Định mệnh còn vị Führer thì giảng về thiên cơ. Khi tỉnh rượu, ông coi việc quyên tiền Cứu trợ mùa đông là định mệnh do thiên cơ dành cho ông.
 
Tôi không thích nhớ lại những ngày chủ nhật lạc quyên ấy. Chính vào một ngày chủ nhật như vậy, tôi đã tìm cách kiếm một cái trống mới nhưng không thành công. Matzerath dành cả buổi sáng đi quyên ở ngoài rạp chiếu bóng Nghệ thuật ở Hauptstrasse và cửa hàng tổng hợp của sterfeld, buổi trưa về nhà hâm nóng mấy viên thịt băm cho bữa trưa của chúng tôi. Ăn xong - tôi còn nhớ là bữa ăn rất ngon - người quyên tiền mệt mỏi nằm xuống đi-văng làm giấc ngủ trưa. Tiếng thở của ông vừa chuyển thành tiếng ngáy là tôi vớ ngay lấy cái hộp quyên đầy tới nửa ở trên mặt đàn pianô và biến vào gian cửa hàng. Ngồi thu lu dưới quầy hàng, tôi chăm chú xem xét cái vật kỳ cục tựa như một cái vỏ đồ hộp này. Không, tôi không định ăn cắp lấy một xu. Cái ý ngớ ngẩn của tôi là thử sử dụng nó như một cái trống. Nhưng tha hồ cho tôi muốn đánh thế nào, muốn múa dùi ra sao, nó cũng chỉ phát ra một câu trả lời: Cứu trợ mùa đông, xin hãy đóng góp. Chớ để ai phải rét, phải đói. Cứu trợ mùa đông, xin hãy đóng góp.
 
Sau nửa tiếng đồng hồ, tôi bỏ cuộc; tôi lấy năm xu trong ngăn kéo đựng tiền, góp vào quỹ Cứu trợ mùa đông, trả cái hộp quyên đã giàu thêm chừng nấy về chỗ cũ trên đàn pianô để Matzerath có thể tìm thấy và giết nốt số thời gian còn lại của ngày chủ nhật bằng cách xóc nó loẻng xoẻng vì những người rét và đói trong mùa đông.
 
Cuộc thử nghiệm thất bại ấy làm tôi tỉnh ngộ mãi mãi. Không bao giờ nữa tôi lại có ý định nghiêm túc sử dụng một cái vỏ đồ hộp, một cái xô úp sấp hoặc đáy một cái chậu tắm làm trống nữa... Tôi ráng hết sức để quên những đoạn chẳng vẻ vang gì ấy đi, càng ít nhắc đến chúng trên những trang giấy này càng tốt. Một cái vỏ đồ hộp thì dứt khoát không phải là một cái trống, một cái xô là một cái xô vả một cái chậu tắm chỉ tốt để tắm hay giặt đồ mà thôi. Dạo ấy cũng chẳng nhiều thế phẩm hơn bây giờ. Một cái trống thiếc với những ngọn lửa đỏ trên nền trắng tự phát ngôn lấy, chứ không gì nói thay cho nó được.
 
Oskar cô đơn, bị phản bội, bị bán rẻ. Lảm sao nó có thể bảo toàn được diện mạo lên ba của nó nếu nó thiếu thứ cần thiết tối thiểu là cái trống? Tất cả những ngón đánh lừa mà tôi đã thực hiện bao năm nay: thỉnh thoảng đái dầm, bi bô đọc kinh buổi chiều, nỗi sợ ông già Nô-en thực ra tên là Greff, những câu hỏi ngộ nghĩnh điển hình của trẻ lên ba mà tôi băm đi băm lại không biết mệt đại loại như: tại sao ô-tô lại có bánh? - tất cả những thứ vớ vẩn ấy mà người lớn trông đợi ở tôi, giờ tôi phải độc lực làm không dùng đến trống. Tôi đã sắp muốn bỏ cuộc. Trong cơn tuyệt vọng, tôi bắt đầu tìm đến con người không phải là cha tôi song rất có thể đã sinh ra tôi. Oskar bèn đợi Jan Bronski ở gần khu cư xá Ba Lan trên đường Ringstrasse.
 
Cái chết của mẹ tội nghiệp của tôi đã chấm dứt mối quan hệ đôi khi mấp mé đến tình bằng hữu giữa Matzerath và ông bác tôi (bác mới được đề bạt làm thư ký bưu vụ). Giữa hai người không hề có sự cắt đứt đột ngột, nhưng mặc dù có những kỷ niệm chung, họ cứ dần dần tách xa nhau khi cuộc khủng hoảng chính trị mỗi ngày một sâu sắc thêm. Sự phân rã của hồn và xác mảnh dẻ và giản dị của mẹ tôi kéo theo sự phân rã của tình bạn giữa hai người đàn ông này, cả hai đều soi mình trong tâm hồn mẹ và nuôi dưỡng mình trên thân xác mẹ. Mất cái nguồn dinh dưỡng ấy và cái gương cầu lồi ấy, họ không tìm được sự thay thế nào khác ngoài những cuộc hội họp với những người dốc lòng dốc sức với những ý niệm chính trị đối lập nhau tuy họ vẫn hút cùng một loại thuốc lá. Nhưng cả Sở Bưu Chính Ba Lan lẫn những cuộc họp với các tổ trưỏng mặc sơ-mi nâu đều không thể thay thế một người đàn bà đẹp, dạt dào tình cảm trong cả chuyện ngoại tình. Tuy cả hai đều cần phải thận trọng - Matzerath phải trông chừng đám khách hàng và Đảng của mình, còn Jan thì phải để ý ban quản trị bưu cục - trong khoảng thời gian từ khi mẹ tội nghiệp của tôi mất đến cái chết của Sigismund Markus, hai ông bố của tôi đã gặp nhau nhiều lần.
 
Mỗi tháng hai, ba lần, vào khoảng nửa đêm, chúng tôi lại nghe thấy Jan gõ nhẹ lên của sổ phòng khách. Matzerath gạt tấm rèm và mở hé cửa sổ một chút; cả hai đềụ hết sức lúng túng cho đến lúc một trong hài tìm được câu gỡ bí và gợi ý làm một chầu xì-cạt nửa đêm. Họ đến rủ Greff ở cửa hàng rau của giả, hoặc nếu giả không muốn - điều này thường xảy ra vì giả có ý ngại Jan và vì, với tư cách là cựu huynh trưởng hướng đạo sinh (giả đã giải tán đội), giả phải thận trọng, vả lại giả không thích xì-cạt, hơn nữa lại chơi rất tồi - thì họ thường rủ Alexander Scheffler, chủ hiệu bánh mì, làm chân thứ ba. Bản thân Scheffler cũng không hào hứng ngồi cùng bàn với Jan lắm, nhưng một chút thương mến đối với mẹ tội nghiệp của tôi chuyển qua Matzerath như kiểu thừa kế và một niềm xác tín đinh ninh rằng dân buôn bán lẻ phải sát cánh với nhau, đã khiến tay chủ hiệu bánh mì chân ngắn cũn cỡn vội vã từ phố Kleinhammer-Weg chạy đến phòng khách nhà chúng tôi, hưởng ứng lời kêu gọi của Matzerath, để trang bài bằng những ngón tay trắng bị bột bánh ăn mòn và chia những quân bài như phát chẩn.
 
Vì những cuộc bài bị cấm ấy thường chỉ bắt dầu sau nửa đêm-và giải tán vào quãng ba giờ sáng khi mà lò bánh cần đến Scheffler, nên rất hiếm khi tôi có thể ra khỏi giường không mang theo trống và lặng lẽ chui vào một góc tối dưới gầm bàn mà không ai nhìn thấy hoặc nghe thấy.
 
Như quý vị hắn đã nhận thấy, bao giờ tôi cũng thấy gầm bàn là nơi thoải mái nhất để suy nghĩ: tôi làm những đối chiếu so sánh. Tình hình đã thay đổi biết mấy từ khi mẹ tội nghiệp của tôi mất! Chẳng còn một Jan Bronski thận trọng ở bên trên mà vẫn thua hết ván này đến ván khác, nhưng lại không biết sợ ở bên dưới, phái cái chân đi tất vừa rút khỏi giày vào cuộc thám hiểm giữa hai đùi mẹ tôi. Tình dục - nói chi đến tình yêu - đã biến khỏi bàn xì-cạt. Sáu cái ống quần với những mô-típ xương cá khác nhau bao bọc sáu cẳng chân đàn ông, để trần hay mặc quần đùi, lông rậm rì hoặc lưa thưa ở mé gần mắt cá. Bên dưới, cả sáu đều ráng hết sức để tránh chạm vào nhau dù chỉ là tình cờ, trong khi bên trên, những phần nối dài của chúng - mình, đầu, cánh tay - thì bận bịu với một trò chơi mà lẽ ra đã bị cấm vì những lý do chính trị bởi mỗi ván thua hay được đều tạo cớ cho những suy nghĩ buồn bã hay đắc thắng kiểu như: Ba Lan mất một ván không có chủ bài, hoặc Thành phố Tự do Danzig được một bộ ca-rô vì Đại Đế chế Đức.
 
Người ta có thể tiên đoán rằng một ngày kia, những kiều tập trận giả ấy sẽ chấm dứt để trở thành những thực tế thảm khốc - như những trò chơi chiến tranh thường vẫn thế.
 
Đầu mùa hè năm 1939, qua những cuộc họp Đảng hằng tuần, Matzerath mới vỡ lẽ ra rằng các đồng chí của mình là những bạn chơi xì-cạt ít thoả hiệp hơn nhiều so với những viên chức bưu điện và cựu huynh trưởng hướng đạo sinh. Jan Bronski nhớ lại (bác buộc phải nhớ) cái trại mà số phận đã dồn đẩy bác tới; bác bắt đầu gần gũi với những người cùng ở sở bưu điện như bác gác cổng thọt chân Kobyella; bác này, từ độ phục vụ trong đội lê dương huyền thoại của Marszalek Pilsudski, đã bị một chân ngắn hơn chân kia vài ba phân gì đó. Mặc dầu tập tễnh, Kobyella là một người gác cổng xuất sắc, ngoài ra còn là một thợ sửa chữa khéo léo - biết đâu bác chẳng sẵn lòng điều trị cho cái trống đau ốm của tôi. Đường đến Kobyella đi qua chỗ Jan Bronski. Đó là lý do duy nhất khiến tôi quyết định đợi. Jan ở gần khu định cư Ba Lan vào quãng sáu giờ chiều, cả trong thời tiết tháng tám nóng bức ngột ngạt, tôi vẫn đợi, nhưng không thấy Jan xuất hiện. Bình thường, bác là người đúng giờ giấc, cứ tan sở là lên đường về nhà. Không hề tự đặt cho mình câu hỏi rõ ràng: Cái ông-có-thể-là-bố-mày làm gì sau khi tan sở? nhiều khi tôi cứ chờ đến bảy giờ, bảy rưỡi. Thế nhưng vẫn không thấy Jan đâu. Kể ra tôi có thể đến chỗ bác gái Hedwig. Có thể bác Jan ốm. Có thể bác sốt cao hay gẫy chân phải bó bột. Oskar cứ đứng nguyên tại chỗ và đành chỉ thỉnh thoảng nhìn về phía những cửa sổ che rèm căn hộ của người thư ký bưu vụ. Một nỗi ngại ngùng kỳ lạ khiến Oskar không muốn đến thăm bác gái Hedwig mà đôi mắt bò cái ấm áp tình mẹ làm nó nẫu người. Với lại, nó không mê lắm tụi trẻ con nhà Bronski, những đứa có thể là anh chị em cùng cha khác mẹ của nó. Bọn này ứng xử với nó như với một con búp-bê. Chúng muốn dùng nó như một thứ đồ chơi. Cái thằng Stephan, vừa tròn mười lăm tuổi, chỉ hơn nó chút đỉnh, có quyền gì mà lên mặt kẻ cả với nó như một ông bố hay một ông thày như vậy? Lại còn cái con Marga mười tuổi ranh nữa, cái con tóc đuôi sam, mặt tròn vành vạnh như mặt trăng rằm, ai cho nó cái quyền coi Oskar như một thứ ma-nơ-canh ở tiệm may để nó thử đồ, chải đầu, chải áo quần và giảng giải hàng giờ liền? Dưới mắt chúng, tôi chỉ là một đứa dị dạng, một thằng lùn thảm hại, trong khi chúng đều bình thường vầ đầy hứa hẹn. Chúng còn là cháu cưng của bà ngoại tôi nữa, nhưng về điểm này, tôi phải công nhận là tôi đã làm khó cho bà. Tôi tỏ ra chẳng mấy thích thú các truyện cổ tích cũng như sách tranh. Điều tôi chờ đợi ở bà ngoại tôi, điều mà đến giờ tôi vẫn mơ đến với từng chi tiết khoái thú nhất, cái điều ấy rất rõ ràng và đơn giản, do đó khó mà đạt được: hễ thấy bà, là Oskar lại muốn thi đua với ông ngoại Koljaiczek náu bên dưới bốn tầng váy của bà và, nếu có thể, chẳng bao giờ thở hít bên ngoài nơi trú ẩn yên tĩnh này nữa.
 
Tôi sẵn sàng làm tất cả để được vào trong cái lều ấy! Tôi không tin rằng bà thực sự không thích để Oskar ngồi ở đó. Nhưng bà ngần ngại và thường là từ chối; tôi nghĩ bà ắt vui lòng cho bất kỳ ai hơi hơi giống Koljaiczek được phép trú; tôi không có tầm vóc của ông, cũng không có đôi bàn tay mau mắn xòe diêm của ông, tôi buộc phải nghĩ ra mưu mẹo.
 
Tôi hình dung Oskar chơi một quả bóng cao-su như một thằng bé lên ba chân chính; hoàn toàn do tình cờ, trái bóng lăn vào dưới váy bà và Oskar, trên đà đuổi theo cái cớ hình cầu đó, chui tọt vào trước khi bà kịp đoán ra mẹo của nó và trả lại quả bóng.
 
Khi có mặt người lớn, bà tôi không bao giờ cho tôi ở lâu dưới váy bà. Đám người lớn ắt sẽ trêu bà, nhắc lại cuộc hứa hôn của bà ở cánh đồng khoai tây, thường là với những lời lẽ sống sượng, kỳ đến khi bà đỏ nhừ mặt rất lâu, tuy nhiên, dưới mái tóc gần như bạc trắng (bà đã ngoài sáu mươi), sắc diện đó không phải là không phù hợp với bà.
 
Nhưng khi bà ngoại Anna của tôi có một mình - điều này hiếm thấy và từ khi mẹ tội nghiệp của tôi mất, tôi họa hoằn mới gặp bà, thậm chí hầu như không gặp kể từ khi bà buộc phải bỏ quầy hàng tại phiên chợ hằng tuần ở Langfuhr - bà thuận tình hơn để tôi núp dưới những cái váy màu khoai tây của bà và cho phép tôi ở lại đó lâu hơn.Thậm chí tôi không phải giở đến cái mẹo trái bóng cao-su dấm dớ nữa kia. Trườn qua sàn nhà cùng với cái trống, một chân co, chân kia dận vào các đồ đạc đẩy người đi, tôi tiến về phía trái núi bà tôi; tới chân núi, tôi lấy dùi trống nhấc bốn tấm màn lên và khi đã vào bên trong, buông cả bốn xuống cùng một lúc. Tôi ngồi im phăng phắc một lúc, hít cái mùi ngai ngái của bơ hơi ôi, cái mùi, bất chấp sự chuyển mùa, vẫn tràn ngập không gian chọn lọc này. Đến lúc đó, Oskar mới bắt đầu đánh trống. Biết bà tôi thích nghe gì, tôi gợi lên tiếng mưa tháng mười, giống như thứ âm thanh mà hẳn bà đã nghe bên đống lửa vỏ khoai tây lom rom, khi ông Koljaiczek, kẻ phóng hỏa bị săn đuổi, đến nấp dưới váy bà. Tôi tạo một cơn mưa nhỏ rơi nghiêng trên cái trống của tôi cho đến khi tôi nghe thấy trên đầu mình những tiếng thở dài và những tên thánh; và quý vị có thể nhận ra đó là những tiếng thở dài và những tên thánh thốt ra vào buổi chiều tháng mười năm 1899 khi bà ngồi dưới mưa và ông Koljaiczek ngồi khô ráo trong túp lều váy của bà.
 
Trong khi chờ Jan Bronski bên ngoài khu định cư Ba Lan hồi tháng tám năm 1939, tôi thường hay nghĩ đến bà ngoại tôi. Có thể bà đang ở thăm bác gái Hedwig cũng nên. Nhưng dù cái mong muốn được ngồi dưới váy bà mà hít cái mùi bơ hơi ôi có hấp dẫn đến mấy, tôi cũng không trèo hai tầng cầu thang để bấm nút chuông dưới tấm biển ghi "Jan Bronski". Oskar có gì để làm quà cho bà ngoại nó? Trống của tôi hỏng rồi, nó không tấu nhạc nữa, nó quên mất tiếng mưa rồi, cái tiếng mưa nhỏ rơi nghiêng nghiêng trên một ngọn lửa vỏ khoai tây. Và vì hiệu quả của những âm thanh mùa thu ấy là cách duy nhất để tiếp cận bà ngoại nó, nên Oskar đành đứng ngoài đường Ringstrasse, nhìn các chuyến xe điện số 5 tiến đến hoặc rời khỏi, vừa rung chuông vừa phóng đi dọc con phố Heeresanger.
 
Có phải tôi vẫn đứng chờ Jan không? Phải chăng tôi đã bỏ cuộc và, nếu tôi vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ, đó phải chăng chỉ vì tôi chưa tìm ra một cái cớ khả dĩ nghe lọt tai để bỏ đi? Chờ lâu có thể có tác dụng giáo dục. Nhưng chờ lâu cũng có thể khiến người ta mường tượng ra cuộc gặp gỡ mong đợi với những chi tiết làm tiêu tan mọi khả năng của một bất ngờ thú vị. Tuy nhiên bác Jan đã thộp tôi bất ngờ. Định bụng "đột kích" bác, ve vãn bác bằng âm thanh của cái trống tàn tạ, tôi đứng đó, căng thẳng, với đôi dùi trống ở tư thế sẵn sàng. Nếu như những tiếng rên rỉ và kêu than của trống tôi có thể khiến bác thấy rõ tình thế tuyệt vọng của tôi, thì sẽ không cần phải dài lời giải thích nữa. Đợi thêm năm chuyến xe điện, tôi tự nhủ, thêm ba chuyến nữa, chỉ một chuyến này nữa thôi. Cụ thể hoá nỗi lo của mình, tôi tưỏng tượng là gia đình Bronski, theo yêu cầu của Jan, đã được chuyển về Modlin hoặc Vacxava. Tôi hình dung bác làm trưởng bưu cục ở Brmberg hoặc Thorn. Rồi bất chấp những lời tự hứa, tôi đợi thêm một chuyến xe điện nữa, và đã quay gót định lên đường về nhà thì có ai nắm lấy Oskar từ phía sau. Một người lớn lấy tay bịt mắt Oskar.
 
Tôi cảm thấy đôi bàn tay mềm mại thơm nức mùi xà-phòng đắt tiền, những bàn tay đàn ông khô ráo một cách dễ chịu; tôi cảm thấy đó là Jan Bronski.
 
Khi bác buông tôi ra và xoay người tôi lại đối mặt bác với một tiếng cười quá to, thì đã quá muộn để trình bày tình thế thảm hại của tôi trên mặt trống. Bởi thế, tôi nhét cả hai chiếc dùi trống dưới đai đeo của cái quần bẩn, bẩn và xờn ở quanh hai túi vì dạo ấy không có ai chăm nom tôi. Như vậy, tôi rảnh tay để nâng cái trống lên, nâng cao nó lên như một lời kết tội, như Cha Wiehnke nâng bánh thánh trong lễ Mi-xa, cũng như Cha, tôi có thể nói: đây là thân xác ta và máu ta, nhưng tôi không nói một lời; tôi chỉ giơ cái mảnh kim loại tả tơi ấy lên. Tôi không cầu ước một biến thể cơ bản hay kỳ diệu; tôi chỉ muốn người ta chữa cái trống cho tôi, không hơn.
 
Tiếng cười của Jan rành là cuồng loạn. Hẳn bác cũng cảm thấy nó lạc lõng vì bác dừng ngay lại. Bác trông thấy cái trống của tôi, bác không thể không nhìn thấy, nhưng rồi bác quay đi để tìm đôi mắt sáng trong của tôi dạo ấy vẫn còn nguyên cái vẻ chân thật của tuổi lên ba. Thoạt đầu, bác không thấy gì ngoài hai đồng tử xanh lạnh lùng đầy tia lấp lánh và phản quang; tóm lại, tất cả những gì mà người ta bảo là con mắt thường chứa đựng. Rồi sau khi buộc phải thừa nhận rằng những gì phản chiếu trong đó cũng rưa rứa như trong bất kỳ vũng nước nào ngoài phố - không hay hơn, cũng chẳng dở hơn - bác huy động tất cả thiện chí, tập trung trí nhớ và tự cưỡng mình phải tìm cho ra trong nhãn cầu của tôi đôi mắt xám của mẹ mà trong nhiều năm đã từng long lanh những tình cảm dạt dào đối với bác, từ ân cần đến nồng nàn say mê. Có lẽ bác cũng bối rối khi tìm thấy trong đó một thoáng bóng của mình, tuy điều đó không nhất thiết có nghĩa rằng Jan là cha tôi hay, chính xác hơn, người tác tạo ra tôi. Bởi vì mắt bác, mắt mẹ tôi và mắt tôi đều có đặc điểm là cái vẻ đẹp sắc sảo một cách hồn nhiên, long lanh một cách ngây ngô như có thể thấy trong mắt hầu hết thành viên của dòng họ Bronski - mắt Stephan, mắt Marga (kém rõ nét hơn một chút), nhất là mắt của bà ngoại tôi và ông anh Vincent của bà. Tuy nhiên, mặc dù mắt tôi màu xanh và có hàng mi đen, cũng không thể bỏ qua một chút xíu máu phóng hoả Koljaiczek ở trong tôi - nếu không thì làm sao giải thích niềm khoái thú của tôi trong việc dùng tiếng hát để đập vỡ thuỷ tinh? - trong khi thật khó mà phát hiện ra được bất kỳ nét nào của Matzeratn ở nơi tôi.
 
Lúc này, khi tôi nâng cái trống lên và để cho mắt tôi phát huy tác dụng, bản thân Jan, nếu được hỏi trực tiếp (mặc dầu bác rất muốn né tránh những câu hỏi như thế), ắt phải thú nhận: Chinh là Agnès, mẹ nó, đang nhìn tôi. Hay có lẽ tôi đang nhìn chính mình. Mẹ nó và tôi có quá nhiều cái chung. Nhưng cũng có thể là ông chú Koljaiczek của tôi, hiện ở Mỹ hay dưới đáy biển. Dù sao đi nữa cũng không phải Matzerath đang nhìn tôi và thế càng tốt.
 
Jan cầm cái trống lên, xoay các chiều, vỗ vỗ thử. Ông là người chúa vụng, gọt cái bút chì cũng không nên, thế mà lúc này lại làm ra vẻ một người cũng biết chút gì đó về việc chữa trống. Rõ ràng là đã đi đến một quyết định, điều hiếm thấy ở ông, Jan dắt tay tôi qua đường đến bến xe điện Heeresanger, khiến tôi ngạc nhiên vì tôi không ngờ là mọi sự lại tiến triển nhanh thế. Xe điện đến, ông kéo tôi lên toa hút thuốc.
 
Như Oskar đã ngờ ngợ, chúng tôi vào thành phố, đến Quảng trường Hevelius, đến sở Bưu Chính Ba Lan gặp bác gác cổng Kobyella, bác ấy có dụng cụ và kỹ năng mà cái trống của Oskar đang rất cần.
 
Chuyến xe điện số 5 với tiếng chuông leng keng ấy đã có thể là một chặng hành trình êm đềm thú vị nếu như nó không xẩy ra vào trước ngày 1 tháng 9 năm 1939. Đến Quảng trường Max-Halbe, từ bãi biển Brösen những người đi tắm mệt mỏi nhưng to mồm trần lên đầy xe điện. Buổi chiều cuối hè đang chờ đợi chúng tôi sau khi giao trống cho bác gác cổng - uống xô-đa chanh qua một cuộng rơm ở tiệm cà-phê Weitzke - có thể đã thú vị biết bao nếu các tàu chiến Scheswig và Schleswig- Holstein không bỏ neo ở cửa cảng, đối diện với Westerplatte, phô những sườn thép, tháp súng quay kép, pháo hầm ngầm dữ tợn của chúng. Và sẽ tốt đẹp biết bao nếu chúng tôi đã có thể bấm chuông nhà bác gác cổng của sở Bưu Chính Ba Lan và để lại đó một cái trống trẻ con ngây thơ cho bác Kobyella chữa nếu sở Bưu Chính trong mấy tháng qua không bị biến thành một pháo đài bọc thép trấn giữ bởi những nhân viên bưu điện xưa nay vốn ôn hoà nhưng gần đây đã dành những ngày nghỉ cuối tuần để tập quân sự ở Gdingen và Oxhöft.
 
Chúng tôi tới gần Cong Oliva. Jan Bronski, mồ hôi đầm đìa, đăm đăm nhìn hàng cây xanh bụi bặm ven đường Hindenburg và hút thuốc vượt xa mức mà ý thức tiết kiệm của ông cho phép. Oskar chưa bao giờ thấy ông bố không chính thức của mình đổ mồ hôi nhiều như thế, trừ vài ba lần nó quan sát Jan ở trên đi-văng với mẹ nó.
 
Nhưng mẹ tội nghiệp của tôi chết lâu rồi. Tại sao Jan Bronski đổ mồ hôi dữ như vậy. Khi tôi nhận thấy rằng đến gần bến đỗ nào ông cũng chuẩn bị xuống nhưng rồi đến phút chót lại nhớ ra sự hiện diện của tôi, rằng chính vì tôi và cái trống của tôi mà ông quay lại chỗ ngồi, thì tôi hiểu ra tại sao ông đổ mồ hôi. Đó là vì Jan, với tư cách là viên chức Nhà nước, có nhiệm vụ phải tham gia bảo vệ sở Bưu Chính Ba Lan. ông đã bỏ trốn, nhưng rồi gặp tôi với cái đồ đồng nát này ở góc đường Ringstrasse và đường Heeresanger, ông quyết định nghe theo tiếng gọi của bổn phận, ông kéo tôi theo lên xe điện, mà tôi thì không phải là viên chức cũng- chẳng thích hợp với việc bảo vệ một sở bưu điện, cho nên ông mới hút thuốc liên hồi và đổ mồ hôi dữ thế. Tại sao ông không xuống? Chắc chắn tôi chẳng ngăn ông đâu. ông đang ở tuổi tráng niên, chưa đến bốn mươi lăm, mắt xanh, tóc nâu. Đôi bàn tay run rẩy của ông được làm móng chau chuốt và nếu ông không toát mồ hôi một cách thiểu não như thế, thì cái mùi lọt vào lỗ mũi Oskar khi nó ngồi cạnh ông bố không chính thức, ắt phải là nước thơm Cologne thay vì mồ hôi lạnh.
 
Đến Chợ Gỗ, chúng tôi xuống và di bộ xuôi phố Altstädrischer Graben. Đó là một đêm hè yên tĩnh. Từng hồi chuông vẳng lên trời như mọi đêm vào quãng tám giờ, kéo theo những đám mây bồ câu.
 
"Hãy Trung Chính cho đến khi xuống mồ", chuông ngân nga như vậy. Thật là đẹp đến muốn khóc. Nhưng xung quanh chúng tôi toàn là tiếng cười. Phụ nữ với trẻ con da rám nắng, áo tắm bằng vải bông xù, bóng màu và thuyền buồm, bước xuống từ những chuyến xe điện chở hàng ngàn người vừa mới tắm ở các bãi biển Glettkau và Heubude. Những cô gái, còn ngái ngủ sau một ngày phơi nắng, nhấm nháp kem phúc bồn tử. Một cô khoảng mười lăm tuổi đánh rơi chiếc kem hình nón, định nhặt lên song lại lưỡng lự và cuối cùng bỏ cái món giải khát mau tan chảy ấy cho những phiến đá lát đường và đế giày của những khách qua đường sắp tới; chẳng bao lâu nữa, cô sẽ thành người lớn và sẽ thôi ăn kem ngoài đường.
 
Đến phố Schneidermuhlen-Gasse, chúng tôi rẽ trái. Quảng trường Hevelius, ở đầu đằng kia con phố nhỏ này, kín đặc những cảnh vệ ss đứng thành từng nhóm: thanh niên và trung niên với băng đeo tay và súng trường của cảnh sát an ninh. Kể ra, nếu đi vòng rồi từ khối phố Rähn vào sở, thì cũng dễ thôi. Jan Bronski đi thẳng đến chỗ bọn ss. Mục đích của bác đã rõ ràng: bác muốn để bọn này ách lại trước mắt các cấp trên của mình (họ chắc chắn phải theo dõi quan sát Quảng trường Hevelius từ sở bưu chính) và bắt quay lui. Bác hy vọng tự tạo cho mình một hình ảnh tương đối đàng hoàng - một anh hùng bị ngăn trở - đe sau đó trở về nhà vẫn bằng chuyến xe điện số 5 đã chở bác đến.
 
Bọn cảnh vệ để chúng tôi qua; có lẽ họ không bao giờ nghi rằng con người sang trọng ăn mặc lịch sự dắt một thằng bé lên ba lại có ý định đến sở bưu chính. Họ lễ phép khuyến cáo chúng tôi nên cẩn thận và chỉ đến khi chúng tôi qua cổng ngoài có rào sắt và tới gần cửa chính của sở, mới hô: Đứng lại! Jan ngoảnh lại, phân vân. Cánh cửa nặng nề hé mở và người ta kéo chúng tôi vào bên trong và đây, chúng tôi đã ở trong sảnh chính mờ mờ tối và mát rượi của sở bưu chính.
 
Các đồng nghiệp chào đón Jan Bronski không lấy gì làm thân ái cho lắm. Họ nghi ngờ ông, có lẽ họ đã coi như bác "biến" rồi. Thậm chí một số tuyên bố rất thẳng thắn rằng họ đã bắt đầu nghi ngờ là thư ký bưu vụ Bronski muốn đào nhiệm. Jan khó mà thanh minh. Không ai nghe cả. ông bị đẩy vào một hàng người đang chuyển những bao cát từ dưới hầm nhà lên. Những bao cát này cùng nhiều đồ vật linh tinh khác được chất lên đằng sau những cửa sổ; các tủ hồ sơ và những bàn ghế nặng được chuyển lại gần cửa chính để chèn lại thành chiến lũy trong trường hợp khẩn cấp.
 
Có người hỏi tôi là ai, song không có thì giờ đợi Jan trả lời. Ai nấy đều bồn chồn đứng ngồi không yên. Có lúc họ quát nhau rồi đột nhiên lại thầm thì, thận trọng quá đáng. Cái trống của tôi và sự cùng quẫn của nó đã bị quên lãng. Không thấy bác gác cổng Kobyella đâu, người mà tôi trông cậy, người mà tôi hy vọng sẽ phục hưng cái mớ đồng nát lủng lẳng nơi cổ tôi; chắc bác đang ở trên tầng hai hay tầng ba của tòa nhà, tất bật như những nhân viên văn phòng và bưu tá xung quanh tôi đang chất những bao cát để chống đạn. Rõ ràng là sự có mặt: của Oskar gây bối rối cho bác Jan của nó. Cho nên khi cái ông mà những người khác gọi là Tiến sĩ Michon tiến đến dặn dò Bronski, tôi thừa cơ lỉnh đi. Sau khi thận trọng tránh ông Tiến sĩ Michon này - ông đội một chiếc mũ sắt Ba Lan và hiển nhiên là sếp sở - tôi nhìn quanh và cuối cùng tìm ra cầu thang dẫn lên tầng hai. Phía cuối hành lang cầu thang tầng hai, tôi phát hiện thấy một căn phòng tầm trung bình không có cửa sổ, ở đó không có ai chuyển hòm đạn hoặc chất bao cát.
 
Trong căn phòng vắng ngắt, nhiều giỏ quần áo có bánh xe đựng đầy thư với những con tem đủ màu sắc được đẩy sát vào nhau. Đó là một phòng trần thấp dán giấy phủ tường màu đỏ son. Tôi ngửi thấy loáng thoáng mùi cao-su. Một cái bóng điện  không có chụp rủ từ trần xuống. Oskar quá mệt không thiết tìm nút bật tắt nữa. Xa xa, tiếng chuông các nhà thờ Đức Bà, Nữ Thánh Catherine, Thánh Jean, Thánh Bridget, Nữ Thánh Barbara, Chúa Ba Ngôi và Thân Xác Chúa Kirixitô, đồng thanh báo hiệu: Mười giờ rồi Mày phải đi ngủ thôi, Oskar. Vậy là tôi nằm vào một trong những cái giỏ thư, đặt cái trống cũng mệt như tôi bên cạnh mình và ngủ thiếp đi.
 
[...]

...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.07.2016 23:31:26 bởi tducchau>
[...]
 
BẢY MƯƠI LĂM KÍ
 
Vyazma và Briansk; thế rồi những bùn là bùn. Vào giữa tháng mười 1941, Oskar cũng bắt đầu bì bõm trong bùn. Mong quý vị hãy tha thứ cho tôi đã dám so sánh những chiến thắng ngập ngụa bùn của -Trung tâm Tập đoàn quân với những chiến thắng của tôi trên chiến địa hiểm trở và cũng ngập ngụa bùn của bà Lina Greff. Giống như những xe tăng và xe tải bị sa lầy chững lại trước Moxkva, tôi cũng sa lầy; giống như những bánh xe cứ quay trượt hoài, khuấy lộn bùn nước Nga, tôi cũng tiếp tục cố thủ - có thể nói tôi đã khuấy tơi được bùn nhà Greff thành một thứ bọt xà-phòng - nhưng phần đất tôi chiếm được không phải là ngoại biên Moxkva mà cũng chẳng phải trong phòng ngủ nhà Greff.

Tôi vẫn muốn duy trì lối ẩn dụ quân sự: cũng như các nhà chiến lược trong tương lai sẽ phải rút ra bài học từ những cuộc hành quân trong bùn, tôi cần rút ra những kết luận từ cái hiện tượng thiên nhiên tên là Lina Greff. Ta không nên đánh giá thấp những cố gắng của hậu phương trong Thế Chiến II. Oskar mới mười bảy tuổi vậy mà Lina Greff, cái bãi tập đầy những bẫy không sao phát hiện hết ấy, đã luyện nó thành một con đực sung mãn. Nhưng thôi, so sánh kiểu nhà binh như vậy là đủ. Ta hãy thử đánh giá tiến bộ của Oskar bằng thước đo nghệ thuật: nếu Maria, với lớp lớp mây va- ni mê hồn một cách hồn nhiên của nàng, đã dậy cho tôi biết giá trị của cái nhỏ bé, cái tế nhị và khai tâm cho tôi về tính trữ tình của bột sủi và hái nấm, thì có thể nói làn hơi cay nồng do nhiều mùi hợp thành phả ra từ bà Greff đã đem đến cho tôi hơi thở anh hùng ca khoáng đạt khiến tôi hôm nay có thê liền một hơi nhắc đến cả chiến thắng quân sự lẫn thành công chăn gối. Âm nhạc! Từ tiếng ácmônica thơ trẻ, đa sầu đa cảm nhưng xiết bao dịu ngọt của Maria, tôi được bốc thắng tới bục nhạc trưởng của phòng hòa nhạc, bởi vì Lina Greff tặng tôi cả một dàn nhạc phong phú cung bậc theo chiều sâu cũng như chiều rộng đến mức ngay cả ở Bayreuth [1] hay Salzbourg [2] cũng khó tìm thấy một dàn nhạc nào quy mô hơn. Tại đây, tôi học đủ thứ: bộ hơi - cả kèn đồng lẫn kèn gỗ -, bộ gõ và bộ dây - cả kéo vĩ lẫn gảy. Tôi học hòa âm và đối âm, cổ điển và gam nguyên, khởi tấu của scherzo và nhịp độ của andante. Phong thái đánh nhịp của tôi có thể chính xác chặt chẽ hay êm dịu chảy trôi; Oskar tận dụng tối đa nhạc khí của mình, cụ thể là bà Greff, vậy mà, như một nghệ sĩ chân chính, nó vẫn chưa hài lòng, nếu không muốn nói là bất mãn.

Cửa hàng rau quả của Greff ở cách cửa hàng chúng tôi dăm bước, xế bên kia đường. Một vị trí thuận lợi, tiện cho tôi hơn nhà của Alexander Scheffler chủ hiệu bánh mì ở Kleinhammer-Weg. Có lẽ địa điểm thuận lợi là lý do chính khiến tôi tiến bộ trong việc nghiên cứu cơ thể đàn bà hơn là trong việc học tập các sư phụ Goethe và Rasputin của mình. Nhưng có lẽ ta có thể cắt nghĩa và phần nào biện minh cho sự so le trong học vấn của tôi bằng sự khác nhau giữa hai cô giáo của tôi. Trong khi Lina Greff không hề có chủ định dậy dỗ gì tôi mà chỉ đơn giản và thụ động, bày tất cả những của quý của mình ra cho tôi quan sát và thử nghiệm, thì Gretchen Scheffler lại quá coi trọng thiên chức sư phạm của mình. Bà muốn mục kích kết quả, muốn nghe thấy tôi cao giọng đọc, nhìn thấy những ngón tay đánh trống của tôi cần mẫn tập viết, muốn thiết lập quan hệ hữu hảo giữa tôi và bà tiên Ngữ Pháp và nhân đó bồi bổ cho chính mình về mặt này. Khi Oskar không chịu tỏ ra có dấu hiệu tiến bộ nào., Gretchen Scheffler đâm hết kiên nhẫn; ít lâu sau khi mẹ tội nghiệp của tôi mất - cho tới lúc đó, bà đã dậy tôi được bảy năm -bà quay trở về với công việc đan lát của mình. Từ đó trở đi, sự quan tâm của bà đối với tôi chỉ thi thoảng mới biểu hiện ra bằng những chiếc áo, bít tất và bao tay mà bà tự tay đan để tặng tôi vào những dịp lễ, vì vợ chồng bà vẫn không có con. Hai chúng tôi thôi không đọc cũng chang bàn về Goethe và Rasputin nữa, và sở dĩ Oskar không quên hết mọi điều thuộc lĩnh vực học tập này, là nhờ những trích đoạn từ các tác phẩm của hai bậc thày mà tôi vẫn cất giấu ở nhiều chỗ khác nhau, chủ yếu là trên tầng áp mái của khu chung cư. Tôi tự trau dồi kiến thức và xây dựng những nhận định riêng của mình.

Đau yếu nằm bẹp trên giường, Lina Greff không thể thoát khỏi tôi, cũng chẳng thể bỏ tôi bởi lẽ bệnh của bà, tuy mãn tinh, nhưng không đủ nặng để sớm cướp đi Lina, cô giáo Lina của tôi. Nhưng vì trên đời này không có gì là vĩnh tồn, nên chính Oskar là người đã bỏ cô giáo liệt giường khi nó cảm thấy việc học tập của mình đã hoàn tất.

Quý vị sẽ nói: cái thế giới mà trong đó gã trai này khoanh học vấn của mình lại, mới hạn hẹp làm sao! Một cửa hàng tạp hoá, một hiệu bánh mì và một cửa hàng rau quả giới định phạm vi trong đó gã buộc phải góp nhặt hành trang cho cuộc đời mai sau. Vâng, tôi phải thừa nhận là thế. Oskar đã thu gom những ấn tượng đầu tiên tối quan trọng của mình trong một môi trường tiểu tư sản mốc xì. Tuy nhiên, tôi có một người thày thứ ba nữa. Chính ông là người mở thế giới ra cho Oskar và tạo cho nó thành người như ngày nay, một nhân vật mà vì chưa tìm được chữ nào đắt hơn, tôi đành định tính bằng hình dung từ thế giới chủ nghĩa.

Như các vị theo dõi chăm chú nhất hẳn đã nhận ra, tôi muốn nói đến ông thày và sư phụ Bebra của tôi, hậu duệ trực hệ của Hoàng tử Eugene, dòng giống vua Louis XIV, anh hề lùn âm nhạc Bebra như người ta thường gọi. Khi tôi nói Bebra, đương nhiên là tôi cũng nghĩ đến người đàn bà bên cạnh ông, Roswitha Raguna, người mộng du vĩ đại và giai nhân phi thời gian. Trong những năm đen tối sau khi Matzerath cướp mất Maria của tôi, ý nghĩ của tôi thường hay hướng về signora, này. Không hiểu nàng có thể bao nhiêu tuổi nhỉ? tôi tự hỏi. Một thiếu nữ mơn mởm mười tám đôi mươi? Hay một lão phụ chín mươi chín tuổi đầy duyên sắc khả dĩ suốt một thế kỷ vẫn bền vững làm một tiêu bản nhỏ hiện thân cho thanh xuân vĩnh cửu?

Nếu tôi nhớ không lầm thì tôi gặp con người gần gũi với tôi về cả thể hình lẫn tinh thần này ít lâu sau khi mẹ tội nghiệp của tôi mất. Chúng tôi cùng uống môka trong tiệm cà-phê Bốn Mùa rồi mỗi người một ngả. Về thái độ chính trị, có những điểm khác nhau nho nhỏ nhưng không phải không đáng kể. Bebra thân cận với Bộ Tuyên Truyền và, như tôi có thể dễ dàng suy ra từ một vài câu lấp lửng của ông, thường qua lại văn phòng riêng của hai ngài Goebbels và Goering [3] - một ứng xử đồi bại mà ông tìm đủ mọi cách để giải thích và thanh minh với tôi. Ông nói đến thế lực của những tay hề cung đình ở thời Trung cổ và cho tôi xem những phiên bản tranh Tây Ban Nha vẽ một vị vua Philip hay Carlos gì đó cùng với đông đảo tuỳ tùng; ở giữa những đám tụ hội phô phang ấy, người ta có thể thấy những tay hề tầm vóc như Bebra hoặc thậm chí Oskar, để râu dê, mặc áo có cổ xếp nếp và quần ống thụng. Tôi thích những bức tranh đó - vì tôi có thể tự nhận không chút quá lời rằng mình là một kẻ nhiệt thành ngưỡng mộ Diego Velasquez [4] - nhưng cũng chính vì lý do đó, những luận điểm của Bebra không thuyết phục được tôi và sau một hồi, ông từ bỏ chủ đề so sánh địa vị của anh hề trong triều vua Philip IV của Tây Ban Nha với vị trí của ông trong đám cận thần của tay Joseph Goebbels hãnh tiến miền Rhine, ông tiếp tục nói về thời buổi khó khăn, về những kẻ yếu phải tạm thời nhượng bộ, về sức đề kháng nở rộ trong vòng bí mật, tóm lại, đề xuất khẩu hiệu "di cư vào trong"; đó là điều khiến chúng tôi đành chia đôi ngả.

Đâu phải tôi giận hờn gì ông thày. Trong những năm sau, tôi vẫn tìm tên Bebra trên mọi tờ quảng cáo tạp kỹ và xiếc. Hai lần tôi thấy nó bên cạnh tên Signora Ragona, song tôi không tìm cách gặp cảc bạn mình.

Tôi trông chờ vào tình cờ, nhưng tình cờ không chịu giúp, vì nếu con đường của Bebra và của tôi giao nhau vào mùa thu năm 42 chứ không phải vào năm sau thì hẳn Oskar sẽ không bao giờ trở thành học trò của Lina Greff, sẽ thành môn đồ của đại sư Bebra. Như vậy, ngày lại ngày, tôi qua đường Labesweg, đôi khi vào lúc sáng sớm, vào cửa hàng rau quả, quanh quẩn khoảng nửa giờ bên cạnh ông chủ hiệu cho phải phép. Thời gian này, Greff trở nên bẳn tinh và ngày càng dốc hết tâm trí và thì giờ vào việc sáng chế. Tôi đứng xem Greff lắp những cái máy kỳ cục, cái kêu leng keng, cái gào, cái thét và khẽ huých ông khi thấy có khách vào mua hàng vì ông đã thôi không còn để ý gì đến thế giới xung quanh. Điều gì đã xảy ra vậy? Điều gì đã khiến con người làm vườn trước kia xiết bao cởi mở và chan hoà, trở nên lầm lì như thế? Điều gì đã biến ông thành một người trung niên cô độc, lập dị và khá lôi thôi lếch thếch?

Đám thanh thiếu niên đã thôi không đến thăm ông. Thế hệ mới không biết ông. Đám tuỳ tùng của ông từ thời hướng đạo sinh đã bị chiến tranh tung hê đi các ngả. Từ các mặt trận khác nhau, thư gửi về, rồi chỉ có bưu thiếp và một hôm, qua một nguồn gián tiếp, Greff được tin cục cưng của ông Horst Donath, mới đầu là hướng đạo sinh, rồi tiểu đội trưởng, sau lên trung uý, đã ngã xuống bên bờ sông Donetz.

Từ hôm ấy, Greff bắt đầu già đi, không thiết đến vẻ bề ngoài và chỉ dồn hết mình vào công việc sáng chế, đến nỗi trong cửa hàng, các loại máy kêu leng keng, máy gào rú trở nên nhiều hơn cả khoai tây hoặc bắp cải. Cố nhiên, điều đó phần nào cũng do tình hình thiếu lương thực nói chung, những đợt giao hàng ngày càng thưa thớt và nhỏ giọt và trên thị trường bán buôn, Greff không phải là một khách mua sộp có nhiều quan hệ tốt như Matzeratn.

Cửa hàng nom thật thiểu não; cũng may là còn có những cái máy to mồm dấm dớ của Greff chiếm lỉnh không gian như một nét trang trí dị biệt tức cười. Tôi thích những sáng tạo nảy ra từ đầu óc ngày càng lộn xộn của Greff. Bây giờ đây, mỗi khi nhìn những hình dây thắt nút của gã y tá Bruno, tôi lại nhớ đến những đồ trưng bày của Greff. Và hệt như Bruno thích thú khi thấy tôi tủm tỉm cười nhưng thực sự quan tâm đến những trò tiêu khiển nghệ thuật của gã, Greff, theo cái cách ngu ngơ của mình, cũng sướng rơn khi tôi tỏ ra khoái một trong những cái máy khí nhạc của ông. Con người bao năm nay không mảy may để ý đến tôi, nay bỗng thất vọng ra mặt khi, sau nửa tiếng đồng hồ, tôi tạm rời cửa hàng rau quả kiêm xưởng chế tác của ông để vào thăm vợ ông, Lina Greff.

Về những cuộc đến thăm người đàn bà liệt giường này - thường mỗi lần kéo dài từ hai giờ đến hai giờ rưỡi - tôi nên kể gì với quý vị đây? Khi Oskar bước vào, bà vẫy tay từ trên giường: "A, Oskar đấy ư? Nào lại đây, hãy chui vào chăn nếu cậu thích, trời rét thế mà Greff chất củi đốt lò sưởi chả được bao nhiêu." Thế là tôi chui vào với bà dưới tấm chăn lông chim, để trống và cặp dùi vừa mới dùng bên ngoài, chỉ cho phép cái dùi thứ ba (hơi khẳng khiu và mòn) theo tôi vào thăm Lina.

Tôi không cởi đồ trước khi lên giường với Lina. Cứ nguyên cả áo len, quần nhung và giày da, tôi chui vào chăn. Và, vài giờ sau, mặc dầu lao động đến nóng ran người, tôi vẫn nguyên bộ như thế, hầu như không xộc xệch, chui ra khỏi lớp chăn nệm lông chim nhàu nát.

Thế rồi, ra khỏi giường Lina, với hơi hớm của bà còn bám trên da thịt, tôi lại ghé thăm Greff một lần nữa. Sau mấy bận như thế, ông khởi đầu một nghi thức mà tôi rất hoan hỉ tuân theo: trước khi tôi ra khỏi giường Lina, ông mang vào phòng một chậu nước ấm, dặt lên một chiếc ghế đẩu cùng với xà- phòng và khăn rồi lặng lẽ đi ra, thậm chí không buồn liếc mắt về phía giường.

Oskar mau lẹ bứt mình ra khỏi cái tổ đầm ấm, lon ton đến bên chậu nước rửa ráy thật kỹ mình mẩy cùng cái dùi trống dùng trên giường; tôi có thể hiểu được là, ngay cả qua trung gian, Greff cũng không chịu nổi mùi của vợ mình.

Rửa ráy sạch sẽ rồi, tôi lại được nhà sáng chế tiếp đón niềm nở. ông giải thích cho tôi về các máy móc của ông cùng các âm thanh khác nhau chúng phát ra và cho đến nay, tôi vẫn lấy làm lạ là sự gần gũi muộn màng này vẫn không làm nẩy nở một tình bạn giữa Oskar và Greff: Greff vẫn là một người xa lạ đối với tôi, chỉ khiến tôi quan tâm chứ không hề có thiện cảm.

Tháng 9 năm 1942 - sinh nhật lần thứ mười tám của tôi vừa mới qua đi không kèn không trống và đài vừa báo tin Quân đoàn 6 đánh chiếm Stalingrad - Greff chế ra cái máy đánh trống. Một cái khung gỗ, bên trong là hai đĩa cân đầy khoai tây ở thế cân bằng; hễ lấy đi một củ, bàn cân liền chao đi và kích vào một đòn bẩy khởi động cơ chế đánh trống lắp trên chốc khung; thế là reng reng, tùng tùng, cắc cắc, chiêng trống vang lên đồng loạt và cuối cùng là một tạp âm kết thúc, loẻng xoẻng đến độ bi thảm.

Cái máy hấp dẫn tôi. Năm lần bảy lượt, tôi đề nghị Greff thao diễn lại. Vì Oskar ngỡ là ông chủ hiệu rau quả đã sáng chế và lắp đặt nó cho tôi. Chang bao lâu, tôi thấy rõ là mình đã lầm. Có thể Greff đã tiếp thu một vài ý của tôi, nhưng cái máy thì được chế tác cho chính ông bởi cái kết thúc loẻng xoẻng của nó cũng chính là kết thúc của bản thân ông.

Đó là một buổi sáng tháng mười trong xanh, như chỉ có gió tây bắc mới hào hiệp cho không, như vậy. Tôi rời căn hộ của Mamăng Truczinski từ sớm và bước ra phố khi Matzerath vừa kéo tấm rèm sắt của cửa hàng lên. Tôi đứng bên cạnh ông trong khi những tấm mành xanh lạch xạch dâng lên; một luồng hơi chở các mùi rau quả tù đọng trong cửa hàng phả tới tôi, rồi Matzerath hôn tôi thay lời chào buổi sáng. Trước khi Maria xuất hiện, tôi đi qua đường Labesweg, đổ một cái bóng dài về phía tây trên nền đá lát vì bên phải tôi, đằng đông, mặt trời đã tự lực nhô lên trên quảng trường Max-Halbe- Platz, kiểu như Nam tước Mũnchhausen [5] túm lấy đuôi sam của mình tự kéo lên khỏi đầm lầy.

Bất cứ ai hiểu Greff-Rau-Quả như tôi đây hắn đều ngạc nhiên khỉ thấy cửa chính cũng như cửa rèm mặt hàng nhà ông, vào giờ này, vẫn đóng im ỉm. Đành rằng những năm gần đây, Greff đã thay đổi, càng ngày càng trở nên kỳ quặc. Nhưng cửa hàng ông bao giờ cũng mở đúng giờ. Có lẽ ông ta ốm, Oskar nghĩ, nhưng rồi gạt ngay giả thuyết ấy đi. Bởi vì mới mùa đông vừa rồi, tuy không thường xuyên đều đặn như những năm trước, Greff vẫn còn đục lỗ vào biển Baltic để tắm, làm sao con người yêu thiên nhiên ấy, mặc dầu có vài dấu hiệu già đi, lại có thể đột nhiên một sớm một chiều ngã bệnh như vậy? Cái đặc quyền nằm liệt giường là dành cho vợ ông và bà này sử dụng nó cho cả hai. Hơn nữa, tôi biết rằng Greff coi khinh nệm mềm, chỉ thích ngủ trên phản cứng và ván gỗ. Không bệnh nào có thể cột chặt ông chủ hiệu rau quả vào giường.

Tôi đứng trước cửa hàng đóng kín, ngoái lại nhìn cửa hàng chúng tôi để chắc chắn là Matzerath đã vào bên trong; đến lúc đó tôi mới dạo vài nhịp trống, hy vọng lọt vào đôi tai thính của bà Greff. Chỉ cần nhè nhẹ thôi là cánh cửa sổ thứ hai bên phải cửa chính đã hé mở. Bà Greff mặc áo ngủ, đầu đầy cuộn uốn tóc, tay ôm một chiếc gối trước ngực, ló ra bên trên bồn hoa thu hải đường ở thành cửa sổ. "Oskar đấy à, vào đi, còn đợi gì nữa, ngoài ấy rét thấy mồ".

Tôi gõ một chiếc dùi trống lên tấm rèm sắt thay lời giải thích.

"Albrecht!" bà gọi. "Albrecht, mình đâu rồi? Có chuyện gì thế?"

Miệng vẫn gọi chồng, bà biến khỏi khung cửa sổ. Tiếng cửa rập sầm sầm, tôi nghe thấy bà lạch cạch trong cửa hàng rồi lại bắt đầu la thét. Bà la thét dưới tầng hầm, nhưng tôi không hiểu tại sao bà la, bởi vì cửa sổ tầng hầm, qua đó khoai tây được trút vào, vào những hôm giao hàng càng ngày càng thưa thớt trong những năm chiến tranh, cũng đóng chặt. Dán mắt vào những tấm ván quét hắc ín bịt kin cửa sổ tầng hầm, tôi thấy bên trong sáng đèn. Tôi cũng nhận thấy một cái gì trăng trắng trên những bậc cầu thang trên cùng của tầng hầm, có lẽ là chiếc gối của bà Greff.

Chắc hẳn bà đã đánh rơi chiếc gối trên cầu thang vì bà không còn ở trong hầm nữa mà đang tiếp tục la thét trong cửa hàng và lát sau, trong phòng ngủ. Bà nhấc máy điện thoại lên, la thét và quay số; bà hét vào máy điện thoại nhưng Oskar không hiểu bà nói những gì, chỉ nghe được hai tiếng tai nạn và địa chỉ Labesweg 24, mà bà hét đi hét lại nhiều lần. Bà đặt máy xuống và một lát sau, vẫn la thét, vẫn nguyên áo ngủ tuy không còn gối, vẫn đầy cuộn uốn tóc trên đầu, bà lại lấp đầy khung cửa sổ, bộ ngực đồ sộ rất quen thuộc đối với tôi tràn ra bên trên bồn hoa thu hải đường, hai tay thọc vào đám lá dày dặn phơn phớt đỏ. Bà kêu vọng lên trời khiến con phố trở nên chật hẹp và Oskar có cảm giác như thuỷ tinh sắp sửa bay tán loạn. Nhưng không có ô kính nào vỡ cả. Các cửa sổ mở toang, những người hàng xóm ló đầu ra, đàn bà í ới hỏi nhau, đàn ông chạy tới, bác thợ đồng hồ Laubschad vừa chạy vừa mặc nốt chiếc áo vét, già Heilandt, ông Reissberg, bác thợ may Libischewski, ông Eisch nhào ra từ những cửa nhà gần nhất; cả Probst-bán- than (chứ không phải Probst-hớt-tóc) cũng đến cùng cọn trai. Matzerath lướt tới như gió trong chiếc áo "blu" trắng trong khi Maria bế Kurt đứng trong khung cửa ra vào của cửa hàng chúng tôi.

Tôi dễ dàng trà trộn vào đám người lớn nháo nhác và thoát khỏi Matzerath đang tìm tôi. Ông và bác thợ đồng hồ Laubschad là những người đầu tiên bắt tay vào hành động. Họ định vào nhà bằng lối cửa sổ. Nhưng bà Greff không chịu để cho ai trèo lên chứ đừng nói gì đến vào nhà. Vừa đấm đá vừa cào cấu và cắn, bà vẫn còn thì giờ để kêu to hơn bao giờ hết và phần nào có thể hiểu được. Người đầu tiên vào phải thuộc đội cấp cứu; bà đã gọi điện thoại từ lâu rồi; khỏi cần ai gọi lại nữa, bà biết phải làm gì trong trường hợp như thế này. Các người hãy lo cho cửa hàng của mình, các người không xen vào tình hình cũng đã đủ tồi tệ rồi. Hiếu kỳ, độc chỉ hiếu kỳ thôi, chẳng là gì khác, cháy nhà ra mặt chuột, lúc hoạn nạn mới rõ ai là bạn. Giữa lúc than van như thế, hẳn bà đã nhìn thấy tôi bên ngoài cửa sổ vì bà lên tiếng gọi tôi và, sau khi đẩy lùi đám người lớn, vươn hai cánh tay trần về phía tôi, và một người nào đó - đến nay, Oskar vẫn nghi đó là bác thợ đồng hồ Laubschad - nhấc bổng tôi lên và, bất chấp sự phản đối của Matzerath, cố ấn tôi vào trong nhà. Đứng ngay cạnh cửa sổ, Matzerath suýt tóm được tôi, nhưng Lina Greff đã với tay ra ghì chặt tôi vào chiếc áo ngủ ấm áp và ấp vào tôi. Sau đó, bà chỉ thút thít khóc bằng một giọng the thé xen lẫn tiếng thở hổn hển.

Nếu trước đó một lát, những tiếng la thét của bà Greff đã kích động mạnh những người hàng xóm, biến họ thành một đám cuồng dại, hoa chân múa tay trơ tráo, thì lúc này, tiếng khóc thút thít, the thé của bà lại khiến đám người xúm quanh bồn hoa thu hải đường im bặt, bối rối giậm chân tại chỗ, hồ như sợ không dám nhìn thắng vào bộ mặt than khóc của bà và đành dồn hết hy vọng, tò mò và thiện cảm vào chờ đợi xe cấp cứu tới.

Oskar cũng thấy ớn tiếng khóc của bà Greff. Tôi cố tụt xuống thấp hơn chút nữa để khỏi quá kề sát điểm phát ra những tiếng nức nỏ. Tôi gỡ được tay ra khỏi cổ bà và ghé mông ngồi vào mép bồn hoa trên thành cửa sổ. Nhưng rồi Oskar cảm thấy có người để mắt theo dõi mình: Maria, tay bồng con, đang đứng trong khung cửa ra vào của cửa hàng. Một lần nữa, tôi quyết định di chuyển vì tôi hiểu rõ mình đang ở thế cực kỳ bất tiện. Nhưng tôi chỉ nghĩ đến Maria thôi, còn hàng xóm tôi bất cần.Tôi rời bến tách khỏi bờ biển Lina Greff đang chuyển rung quá dữ dội khiến tôi nhớ đến những giờ phút trên giường.

Lina Greff không nhận thấy tôi bỏ trốn, hoặc giả bà không đủ sức níu giữ cái thân hình bé nhỏ đã bao lâu mang lại sự bù đắp cho bà. Hay có lẽ bà đã ngờ ngợ rằng Oskar đang tuột khỏi tay bà mãi mãi, rằng những tiếng la thét của bà đã làm nảy sinh một âm thanh có tác động kép: một mặt, nó dựng lên một bức tường rào kiên cố giữa gã đánh trống với người đàn bà liệt giường, mặt khác nó làm sụp đổ bức tường ngăn cách Maria với tôi.

Tôi đứng trong phòng ngủ nhà Greff, cái trống đeo xệch xẹo, hờ hững. Oskar quá biết căn phòng, nó có thể đọc thuộc lòng toàn bộ giấy phủ tường màu ve nhẵn mịn theo đủ mọi chiều. Cái chậu nước rửa còn vương bọt xà-phòng xam xám từ ngày hôm trước vẫn ở nguyên chỗ. Mọi thứ đâu vẫn đấy, vậy mà tôi thấy đồ đạc trong phòng, những thứ đã mòn vì nằm, ngồi và va chạm, bỗng như mới, hay chí ít đã được làm mới lại, cứ như thể tất cả những gì đứng cứng đơ trên bốn chân dọc bốn bức tường này đã phải cần đến những tiếng la thét kèm theo tiếng khóc the thé của Lina Greff để bừng lên một vẻ rực rỡ mới, lạnh đến ghê người.

Cửa dẫn ra cửa hàng để mở. Ngoài ý muốn của mình, Oskar tự buông trôi vào cái căn phòng sực mùi hành và đất khô ấy. Lọt qua các kẽ ở cánh cửa sổ, ánh ngày làm nổi rõ những dải sáng trong đó xoáy lộn những hạt bụi. Phần lớn các máy nhạc và tạp âm của Greff chìm trong khoảng nhập nhoạng tối, trừ một vài chi tiết: một cái chuông nhỏ, một thanh gỗ chống, phần dưới của cái máy đánh trống, với những củ khoai tây được giữ ở thế cân bằng.

Khoang cửa sập dẫn xuống hầm, y hệt như ở cửa hàng chúng tôi, cũng để ngỏ. Cánh cửa bằng gỗ ván không có gì chống, chắc bà Greff đã mỏ toang trong cơn vội vã cuống cuồng la hét; bà cũng chẳng cái cái móc vào chốt gắn ở quầy. Chỉ cần đẩy khẽ một cái là Oskar có thể sập nó xuống và đóng hầm lại.

Tôi đứng sững không động đậy đằng sau ván cửa ấy, hít cái mùi bụi và mốc của nó, trân trân nhìn cái hình chữ nhật sáng loáng đóng khung một phần cầu thang và một mảng sàn hầm lát bê-tông. Trong hình chữ nhật ấy, từ mép trên bên phải, nhô ra một phần của một cái bục có bậc để bước lên, rành là Greff mới mua gần đây thôi, vì những lần trước xuống hầm, tôi không hề thấy. Nhưng nếu chỉ vì một cái bục thì ắt hẳn Oskar đã chẳng nhìn lâu và chăm chú đến thế; điều thu hút sự chú ý của nó nằm ở góc bên phải phía trên của hình ảnh: hai chiếc tất len xỏ trong đôi giày đen thắt dây, bị thu ngắn lại một cách kỳ lạ do nhìn từ đằng trước trở lại. Tuy không nhìn thấy đế, tôi vẫn biết ngay đó là đôi giày bộ hành của Greff.

Đó không thể là Greff đang đứng trong hầm, sẵn sàng khởi đầu một cuộc dạo bộ, tôi nghĩ thầm, bởi vì đôi giày không chạm đất mà lại lủng lẳng trong không trung, ngay bên trên cái bục gỗ, mặc dù có thể là những mũi giày chĩa xuống phía dưới còn hơi chạm ván bục, chút xíu thôi, nhưng vẫn là chạm. Trong một thoáng, tôi hình dung ra một ông Greff trong tư thế kiễng chân, một bài tập ngộ nghĩnh và căng thắng, nhưng hoàn toàn có thể chờ đợi ở nhà lực sĩ yêu thiên nhiên này.

Để kiểm định giả thuyết này, có nghĩa, nếu đúng là như vậy, để có dịp cười giễu ông chủ hiệu rau quả một mẻ, tôi rón rén bước xuống những bậc cầu thang dốc, tay dạo trống theo một điệu nhạc vốn để tạo ra và đồng thời xua tan nỗi sợ, hình như là "Đâu rồi mụ phù thuỷ đen như hắc ín?", nếu tôi nhớ không nhầm.

Chỉ đến khi đứng chắc chân trên nền hầm lát bê- tông, Oskar mới tiếp tục cuộc điều tra - theo đường vòng, qua những chồng bao tải đựng hành lép kẹp, qua những đống hòm đựng hoa quả trống không - cho đến lúc, lướt mắt theo một cái giàn gỗ trước đó nó chưa bao giờ thấy, tia nhìn của nó tiến gần tới chỗ đôi giày bộ hành của Greff đang lủng lẳng hoặc rướn trên đầu ngón chân.

Cố nhiên là tôi biết Greff bị treo. Đôi giày lơ lửng, do đó đôi tất đan thô màu xanh thầm cũng lơ lửng. Hai đầu gối trần trên mép tất, cặp đùi lông lá tới gấu quần cộc; đến đây, một cảm giác giậm giựt, nhói buốt từ từ dâng lên từ chỗ kín của tôi, từ từ trườn theo hông lên đến lưng làm nó đột nhiên tê dại, bò dọc cột sống, bám trụ ở gáy, khiến tôi hết nóng bừng lại lạnh toát, rồi lại chạy xuống hạ bộ, làm cái giống vốn đã bé tí của tôi sun lại đến độ gần như không còn gì, rồi lại vọt trỏ lên lưng, lên gáy và co lại - cho đến tận bây giờ, Oskar vẫn-cảm thấy cái tắc nghẹn ấy, cái cú dao đâm ấy mỗi khi có ai nói đến chuyện treo, bất cứ cái gì, kể cả treo quần áo. Không phải chỉ đôi giày bộ hành, đôi tất len, cặp đầu gối và cái quần lót bị treo; toàn thân Greff bị treo bằng một sợi dây thắt ở cổ và bên trên sợi dây, vẻ mặt căng thẳng không khỏi có bộ điệu mần tuồng.

Lạ thay, cái cảm giác giậm giựt, nhói buốt tắt rất nhanh. Tôi đâm quen mau với hình ảnh đó của Greff, vì, về cơ bản, tư thế của một người bị treo cũng bình thường và tự nhiên như tư thế của một người trồng cây chuối hoặc đi bằng hai tay, hay của một người đặt mình vào vị trí thật sự không may khi trèo lên lưng một con ngựa bốn chân để tập cưỡi.

Ngoài ra, còn có sự dàn cảnh nữa. Chỉ đến lúc đó Oskar mới đánh giá hết công sức Greff đã bỏ ra. Cách bài trí khung cảnh trong đó Greff tự treo cổ được nghiên cứu đến độ ngông cuồng, ông chủ hiệu rau quả đã nhằm một hình thức chết phù hợp với chính mình, một cái chết rất cân bằng, ông, người suốt đời đã gặp khó khăn và phiền toái trong quan hệ với Phòng Cân Đo, đã nhiều lần bị tịch thu bao quả cân, người đã bị phạt lên phạt xuống vì cân rau quả không chính xác, giờ đây ông tự cân mình thật chuẩn đến từng gam bằng những củ khoai tây.

Sợi dây thừng bóng nhờ nhờ, có lẽ được xát xà-phòng, chạy theo những con ròng rọc, vắt trên hai cái xà chính mà, để chuẩn bị cho ngày cuối cùng của đời mình, Greff đã ghép thành một giàn gỗ với mục đích duy nhất là dùng làm gàn treo cổ. Hiển nhiên là ông chủ hiệu rau quả đã không hề dè sẻn trong việc chi tiêu, ông đã dùng loại gỗ thượng hảo hạng. Trong hoàn cảnh thời chiến, vật liệu xây dựng thiếu thốn, kiếm được những xà và ván gỗ như thế này hẳn là khó khăn lắm. Chắc Greff đã đem hoa quả đổi lấy gỗ. Cái giàn không thiếu những thanh néo và giằng mang tính chất trang trí mặc dù không cần thiết. Cái bục với những bậc dẫn lên đó (mà từ trên cửa hàng, Oskar đã nhìn thấy một góc) đem lại cho toàn bộ công trình một tính chất gần như trác tuyệt.

Giống như trong cái máy đánh trống, mà hắn là nhà sáng chế đã lấy làm mẫu, Greff và vật đối trọng của ông cũng treo bên trong một bộ khung. Tương phản sắc nét với bốn thanh xà ngang quét vôi trắng, một cái thang nhỏ xinh xắn màu ve dựng giữa ông và những củ khoai tây làm đối trọng cho ông. Bằng một nút tinh xảo như kiểu các hướng đạo sinh vẫn quen làm, ông cột những giỏ khoai tây vào sợi dây chính. Vì bên trong giàn có thắp bốn bóng điện sơn trắng nhưng vẫn rất sáng, nên không cần phải đặt bước chân uế tạp của mình lên cái bục thiêng liêng, Oskar vẫn có thể đọc được dòng chữ ghi trên một tấm các-tông buộc bằng dây thép vào cái nút hướng đạo sinh bên trên giỏ khoai tây: Bảy mươi lăm kí (thiếu một trăm gam).

Greff treo mình trong trang phục một huynh trưởng hướng đạo sinh. Vào cái ngày tối chung của mình, ông đã mặc lại bộ đồng phục thời trước chiến tranh. Nhưng giờ đây, nó quá chật đối với ông. ông đã không thể cài được hai chiếc khuy quần trên cùng và chiếc thắt lưng, một nét đối chọi làm xộc xệch bộ đồ lẽ ra rất đỏm dáng. Theo đúng nghi thức xì-cút, Greff bắt chéo hai ngón của bàn tay trái. Trước khi tự treo mình, ông đã buộc chiếc mũ xì-cút vào cổ tay phải, nhưng chiếc khăn quàng thì ông đành phải bỏ. Ông cũng không thể cài cổ áo sơ-mi, để thòi ra một túm lông ngực đen xì.

Mấy bông cúc tây, kèm vài cọng mùi tây lạc lõng, vương trên các bậc của bục gỗ. Vẻ như ông không còn hoa để rải trên bục, vì ông đã dùng phần lớn cúc tây và mấy bông hồng để kết quanh bốn tấm ảnh nhỏ treo ở bốn xà chính của giàn. Phiá trước, bên trái, lồng kính, là ảnh Baden Powell, người sáng lập ra hướng đạo sinh. Đằng sau, bên trái, không khung, là Thánh George. Phía sau, bên phải, không lồng kính, là đầu David trong tranh của Michelangelo. Trên cột trước bên phải, đủ cả khung cả kính, là tấm ảnh chân dung của một thiếu niên khôi ngô tuấn tú, chừng mười sáu tuổi, một tấm ảnh ngày xưa của cục cưng của ông, Horst Donath, sau này là trung uý Donath đã ngã xuống bên bờ sông Donets.

Có lẽ tôi phải nói đôi lời về bốn mảnh giấy trên các bậc bục, giữa những bông cúc tây và những nhánh mùi tây. Chúng được sắp đặt sao cho có thể dễ dàng chắp lại với nhau. Oskar chắp lại và đọc ra đó là một trát gọi hầu tòa về tội vi phạm thuần phong mỹ tục.

Tiếng còi xe cấp cứu kéo tôi ra khỏi những suy ngẫm về cái chết của ông chủ hiệu rau quả. Một lát sau, họ lộp cộp xuống hầm rượu, bước lên bục và bắt tay vào gỡ người tự treo xuống. Họ vừa nhấc bổng ông lên, những giỏ khoai tây làm vật đối trọng liền đổ đánh ầm, khởi động một cơ chế tương tự như ở cái máy đánh trống, đặt trên chốc giàn nhưng gắn thẳng vào ván gỗ dán. Trong khi ở dưới, khoai tây lăn lông lốc trên bục hoặc rơi thẳng xuống sàn bê-tông, thì ở phía trên, vang lên những tiếng gõ dồn dập vào thiếc, vào gỗ, vào đồng và thuỷ tinh, cả một dàn nhạc trống: chương nhạc kết hùng vĩ của Albracht Greff.

Oskar thấy rất khó có thể tái hiện trên trống của mình tiếng thác khoai tây ào ào đổ - ngẫu nhiên lại thành một món hời cho mấy tay cáng thương - và khúc tạp âm có tổ chức tạo nên bởi cái máy đánh trống của Greff. Tuy nhiên, có lẽ vì cái trống của tôi đã góp phần không nhỏ gợi ý cho Greff dàn dựng cái chết của mình, nên thi thoảng tôi có thể tấu trên trống một bài thơ-âm-thanh diễn tả khá trung thành cái chết của Greff. Khi các bạn tôi hoặc gã y tá Bruno hỏi tên của tấu khúc đó là gì, tôi trả lời: Bảy mươi lăm kí.


  Chú thích:
[1] Thành phố Đức, nơi nhạc sĩ thiên tài Richard Wagner (1813-1883) đã xây dựng một nhà hát opera mẫu mực, khai trương năm 1870 bằng vở Chiếc nhẫn của Nibelumgen, một trong những kiệt tác của ông. Bayreuth hiện vẫn là trung tâm quốc tế opera dòng Wagner với những liên hoan hàng năm đã thành truyền thống.
[2] Thành phố Aó, nơi sinh của nhạc sĩ thiên tài Wolgang Amadeus Mozar (1756- 1791). Tại dây, hằng năm có Liên hoan quốc tế âm nhạc cổ điển sáng lập từ năm 1920 để tôn vinh Mozart.
[3] Joseph Paul Goehbels (1897-1945) Bộ trưởng Bộ Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã. Hermann Goering (1893-1946), Bộ trưởng Bộ Không Lực của Đức Quốc Xã. Cả hai đều là trợ thủ đắc lực của Hiller.
[4] Diego Rodriguez de Silva v Velazquez (hoặc Velasquez), đại danh họa Tây Ban Nha (1599-1660).
[5] Karl Friedrich Hyeronymus hav Nam tước Von Münchhausen (1720-1780), sĩ quan Đức phục vụ trong quân dội Nga chống Thổ Nhĩ Kỳ năm 1740 và, với những chuvến phiêu lưu kỳ lạ của mình, đã trở thành nhân vật nổi tiếng của truyện Những cuộc phiêu lưu của Nam tước Münchhausen.
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.07.2016 16:29:07 bởi tducchau>
[...]
 
Tiến độ theo Mục lục [:)]!
 

QUYỂN I:
  • CÁI VÁY ỤP 20 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • DƯỚI GẦM BÈ 38 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • BƯỚM VÀ ĐÈN 60 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • CUỐN ALBUM ẢNH 79 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • TAN TÀNH Ô CỬA KÍNH 100 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • THỜI GIAN BIỂU 119  - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • RASPUTIN VÀ VẦN CHỮ CÁI  [strike][/strike] 137 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất. [strike][/strike]
  • CA KHÚC – TRÁI PHÁ TẦM XA 158 Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • KHÁN ĐÀI 179 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • NHỮNG MẶT CỬA HÀNG 205 - Đánh máy: @galazyrulz _ Hoàn tất.
  • CÓ GÌ LÀ LẠ - Đánh máy: @galazyrulz _ Hoàn tất.
  • ]THỰC ĐƠN NGÀY THỨ SÁU THÁNH - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • THUÔN THUÔN ĐẰNG CHÂN 266 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • CÁI LƯNG CỦA HERBERT TRUCZINSKI 281 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • NIOBE - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
  • LÒNG TIN, HY VỌNG, TÌNH YÊU 328 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất.
 
QUYỂN II:
  • ĐỒ ĐỒNG NÁT 344 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • SỞ BƯU CHÍNH BA LAN 367 - Đánh máy: @galazyrulz _ Hoàn tất.[strike][/strike]
  • NGÔI NHÀ BẰNG QUÂN BÀI 389 - Đánh máy: @CtLy _ Hoàn tất. 
  • ÔNG ẤY NẰM Ở SASPE 404 - Đã nhận @CtLy  hoàn tất
  • MARIA 423 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.[strike][/strike]
  • BỘT SỦI 442 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.[strike][/strike]
  • NHỮNG THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT 461 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • ĐEM NỖI CÔ ĐƠN ĐẶT DƯỚI CHÂN BÀ GREFF 478 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • BẢY MƯƠI LĂM KÍ 501 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • ĐOÀN VĂN CÔNG TIỀN TIẾN BEBRA 522 - Đánh máy: @galazyrulz _ Hoàn tất.[strike][/strike]
  • THỊ SÁT BÊ – TÔNG, HAY MAN RỢ, HUYỀN BÍ, CHÁN NGẮT 541- Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • KẾ TỤC CHÚA KIRIXITÔ 569 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • BĂNG QUÉT BỤI  593 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • TRÒ CHƠI NÔ - EN  610 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • ĐƯỜNG CỦA KIẾN 629 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • NÊN HAY KHÔNG NÊN 651 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • THUỐC TẨY UẾ 671 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • TĂNG TRƯỞNG TRONG TOA HÀNG 689 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
 
QUYỂN III:
  • ĐÁ LỬA VÀ BIA MỘ 708  CtLy & @tducchau _ Hoàn tất.
  • FORTUNA BẮC 735 - Đánh máy: @galazyrulz _ Hoàn tất.
  • MADONA 49 755 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.[strike][/strike]
  • CON NHÍM 777  - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • TRONG TỦ ÁO 798  - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • KLEPP 815 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • TRÊN TẤM THẢM XƠ DỪA 833 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • HẦM HÀNH 851 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • TRÊN PHÒNG TUYẾN ĐẠI TÂY DƯƠNG 878 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • NGÓN TAY ĐEO NHẪN 904 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • CHUYẾN XE ĐIÊN CUỐI CÙNG HAY THỜ CÚNG MỘT CÁI BÌNH 922 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
  • BA MƯƠI 947 fin 966 - Đánh máy: @tducchau _ Hoàn tất.
 
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2016 12:39:57 bởi tducchau>
[...]
 
 
MARIA

Trong khi Lịch sử, trong rùm beng những thông cáo đặc biệt, đang lao nhanh như một chiếc xe thuỷ-lục trơn dầu mỡ trên các đường thuỷ, bộ và cả đường không của Châu Âu, chinh phục mọi thứ trên đường đi của nó, thì công việc riêng của tôi, vốn chỉ quanh quẩn với những cái trống đồ chơi con trẻ, vẫn chậm rề rề. Trong khi những người làm nên lịch sử phóng tay ném qua cửa sổ biết bao kim khí đắt tiền, thì tôi một lần nữa lại lâm vào tình trạng thiếu trống. Phải, phải, Oskar đã kiếm được một cái trống mới hầu như không bị một vết xước nào ở sở Bưu Chính Ba Lan, đem lại một chút ý nghĩa cho cuộc phòng thủ nhà bưu điện, nhưng cái trống của Naczelnik-con phỏng có nghĩa gì đối với Oskar này khi mà vào những ngày yên hàn, tôi chỉ cần chưa đầy tám tuần là đã biến một cái trống thành đồ đồng nát?

Sầu não vì phải giã từ các nữ y tá của mình, tôi bắt đầu nện trống điên cuồng sau khi xuất viện. Cái đêm mưa ở nghĩa trang Saspe không làm giảm cường độ đánh trống đó; trái lại, Oskar càng gia tăng cố gắng huỷ hoại vật chứng cuối cùng về ứng xử đáng xấu hổ của nó đối với đám cảnh vệ, cụ thể là cái trống ấy.

Nhưng nó kháng cự lại; mỗi lần tôi đánh nó, nó đều đánh trả. Kỳ lạ thay trong khi tôi thẳng tay nện, với mục đích duy nhất là xoá đi một mảng nhất định trong quá khứ của tôi, hình ảnh Victor Weluhn, tay nhân viên chuyển ngân cứ trở lại trong tâm trí tôi, mặc dù, với độ cận thị như thế, anh ta khó lòng thấy được gì nhiều đê thành nhân chứng buộc tội. Nhưng mặc dù cận thị nặng, anh ta đã chẳng trốn thoát được đó sao? Liệu có thể là người cận thị lại nhìn thấy nhiều hơn những người khác được chăng? Liệu có thể là Weluhn, mà tôi gọi là Victor tội nghiệp, đã đọc những cử chỉ của tôi như động tác của một cái bóng đen, đã nhìn thấu suốt sự phản bội của tôi và giờ đây, đang mang bí mật của Oskar, nỗi nhục của Oskar theo anh đi khắp thế giới?

Mãi đến giữa tháng 12, những lời kết tội của cái lương tâm sơn màu đỏ-trắng theo đường răng cưa đeo ỏ cổ tôi mới bớt phần xác tín; lớp sơn bắt đầu nứt và bong ra, vỏ thiếc mỗng dần và trở nên dễ vỡ. Như bao giờ cũng thế khi người ta buộc phải chứng kiến một cảnh lâm chung, tôi muốn rút ngắn những đau đớn cho kẻ hấp hối, đẩy nhanh đến kết thúc. Trong những tuần cuối của mùa Vọng, Oskar làm dữ đến nỗi Matzerath và hàng xóm phải giữ tay nó lại, vì nó đã hạ quyết tâm phải thanh toán mọi khoản vào trước đêm Giáng Sinh. Tôi hy vọng nhân dịp Giáng Sinh sẽ nhận được một cái trống mới và sạch tội.

Tôi đã hoàn tất ý đồ. Vào đêm hai mươi bốn tháng chạp, tôi đã có thể rũ bỏ khỏi thể xác và tâm hồn mình một cái gì han gỉ, méo mó, tả tơi gợi đến một cái ô-tô nát rúm; với việc thải bỏ nó, tôi hy vọng có thể xoá luôn cả cuộc phòng thủ nhà bưu diện trong ký ức tôi.

Chưa bao giờ có con người nào - nếu quý vị sẵn lòng thừa nhận tôi là một con người - từng nếm trải vào dịp Giáng Sinh một thất vọng cay đắng hơn Oskar: nó thấy tất cả mọi thứ có thể tưởng tượng được trên cây thông Nô-en, trừ một cái trống.

Có cả một hộp đồ chơi lắp ghép mà tôi không bao giờ mở ra. Một con thiên nga bập bênh, mà người lớn coi là thứ quà sáng giá nhất, bộc lộ ý đồ của họ muốn biến tôi thành một Lohengrin [1]. Hẳn là để chọc tức tôi, họ còn cả gan đặt ba, bốn quyển tranh truyện trên bàn tặng phẩm. Những món quà duy nhất mà tôi thấy còn tạm gọi là hữu dụng theo một nghĩa nào đó, là một đôi găng, một đôi ủng và một cái áo chui đầu do Gretchen Scheffler đan. Bàng hoàng, Oskar đưa mắt nhìn từ hộp đồ lắp ghép đến con thiên nga và dừng lâu trên một cái tranh trong một cuốn tranh truyện vẽ một lũ gấu nhồi bông ôm đủ mọi thứ nhạc cụ trong tay. Thậm chí một trong những con vật xinh xẻo giả dối ấy còn có cả một cái trống nữa; nom như nó biết chơi trống và sắp sửa bắt đầu biểu diễn một bài độc tấu trống, trong khi tôi đây, tôi có một con thiên nga mà không có trống, tôi có thể được cả ngàn hộp đồ lắp ghép, nhưng một cál trống nhỏ nhoi thì không; tôi có bao tay để dùng trong những đêm đông buốt rét, nhưng giữa hai bàn tay đi găng của tôi chẳng có cái vật tròn tròn bằng kim loại, sơn mịn màng và lạnh giá để tôi có thể mang ra ngoài đêm đông để làm ấm những trái tim lạnh giá của họ.

Oskar nghĩ thầm: Chắc Matzerath đã giấu cái trống. Hay là Gretchen Scheffler (đến cùng với ông chồng chủ hiệu bánh mì để chuẩn bị con ngỗng Nô-en cho chúng tôi) đã ngồi lên nó. Họ muốn được hài lòng thấy tôi hài lòng với con thiên nga, hộp đồ xây dựng, những cuốn truyện tranh, trước khi nhả ra vật báu chân chính. Tôi nhượng bộ; tôi lật giở những quyền tranh truyện như điên, nhảy lên lưng con thiên nga và, cố dẹp nỗi ghê tởm mỗi lúc một tăng, phi ít nhất là nửa tiếng. Bất chấp căn phòng nóng sực, tôi vẫn chiều họ mặc thử áo chui đầu; đi thử giày với sự giúp đỡ của Gretchen Scheffler. Trong khi đó vợ chồng nhà Greff đã đến, vì con ngỗng làm cho sáu người ăn và sau khi chén con ngỗng nhồi quả khô do Matzerath chế biến rất khéo, chuyển sang tráng miệng gồm mận và lê, tuyệt vọng đón nhận một quyển truyện tranh nữa mà Greff bổ sung vào bốn quyển trước; sau những xúp, ngỗng, bắp cải đỏ, khoai tây luộc, mận và lê, dưới cái hơi hầm hập phả ra từ một cái bếp lò sứ có thừa hơi nóng, chúng tôi, kể cả Oskar, cùng hát một bài thánh ca Nô-en và thêm một đoạn nữa, Hãy vui mừng, và ôi cây thông nô-en, ôi cây thông nô-en, và xanh biết mấy tiếng chuông của người, binh-boong binh-boong, năm này sang năm khác, và tôi ớn với tất cả những trò này; ngoài kia chuông đã bắt bắt đầu vào cuộc, và tôi muốn cái trống của tôi; cái ban kèn đồng nghiện rượu, mà dạo trước Meyn tham gia, thổi đến rụng cả những nhũ băng ngoài cửa sổ... nhưng mà tôi muốn cái trống của tôi, mà họ không đưa cho tôi, họ không chịu nôn nó ra. Oskar: " Có!" Những người khác: "Không!" Thế là tôi hét, đã lâu lắm tôi không hét, sau một thời kỳ nghỉ dài, một lần nữa tôi lại giũa giọng mình thành một công cụ cắt kính sắc bén; tôi không giết bình, cốc hoặc bóng đèn; tôi không mở toang những mặt cửa hàng, không tước bỏ thị năng của cặp kính nào - không, nỗi uất hận thanh âm của tôi chĩa vào những quả cầu, chuông, bong bóng xà-phòng óng ánh, tất cả những gì trang hoàng cho cái Ôi-cây-thông-nô-en với những loong-coong và leng-keng, những thứ trang trí cho cây Giáng Sinh, tất cả đều tan thành bụi. Đồng thời, một cách hoàn toàn không cần thiết, hàng loạt quả thông tự động rụng xuống, xúc mấy sẻng cho vừa. Nhưng nến thì vẫn cháy, lặng lẽ và thần thánh, vậy mà Oskar vẫn không được trống.

Matzerath chả có chút tinh nhạy nào. Tôi không biết có phải ông định làm cho tôi cai hẳn thứ nhạc cụ của tôi hay đơn giản là ông không hề nghĩ đến chuyện cung cấp trống cho tôi một cách rộng rãi và đúng thời hạn. Tai họa sắp ụp xuống đầu tôi. Và chỉ nhờ cái hoàn cảnh trùng hợp là đúng dịp ấy, sự lộn xộn ngày càng tăng của cửa hàng chúng tôi đã đến độ không thể nhắm mắt bỏ qua, mà tôi được giải nguy cùng với cửa hàng.

Vì Oskar vừa dứt khoát không chịu vừa không đủ cao lớn để đứng sau quầy hàng để bán bánh quy giòn, macgarin và mật ong tổng hợp nên Matzerath - mà từ nay tôi sẽ lại gọi là cha tôi cho đơn giản - bèn mướn Maria Truczinski, em gái út anh bạn Herbert tội nghiệp của tôi, làm công việc bán hàng.

Cô không chỉ tên là Maria; cô là một Maria. Không phải chỉ vì chỉ trong mấy tuần, cô đã khôi phục lại được uy tín của cửa hàng chúng tôi; ngoài tác phong kiên quyết nhưng thân tình trong quản lý kinh doanh mà Matzerath sẵn sàng quy thuận, cô còn tỏ ra hoàn toàn thông cảm với tình thế của tôi.

Ngay cả trước khi Maria vào vị tri của mình sau quầy hàng, cô đã mấy lần đưa tôi một cái chậu giặt cũ để thay thế cái mớ đồng nát mà tôi dùng để tấu bản tự kiểm thảo trong khi lên lên xuống xuống hơn trăm bậc cầu thang nhà chúng tôi. Nhưng Oskar không muốn đồ thế phẩm. Nó kiên định từ chối không chịu gõ trên đáy một cái chậu giặt. Nhưng ngay sau khi có được một chỗ đứng chắc chân ở cửa hàng, cô liền thuyết phục được Matzerath chiều theo nguyện vọng của tôi. Thực tình Oskar chẳng muốn vào một cửa hàng đồ chơi cùng với cô. Nội thất của những cửa hàng đó, đầy những mặt hàng đủ màu sắc, chắc chắn gợi cho nó những so sánh đau đớn với cửa hàng bị tàn phá của Sigismund Markus. Maria quả là hiện thân của ân cần, cô để tôi đứng ngoài trong khi một mình cô lo chuyện mua bán; cứ bốn hay năm tuần, tuỳ theo nhu cầu của tôi, cô lại mang cho tôi một cái trống mới. Và trong những năm cuối của chiến tranh, khi mà cả đến trống cho trẻ con chơi cũng trở nên khan hiếm và bán theo phiếu cung cấp, cô phải dùng đến cách đổi chác - biếu người bán hàng một lạng cà-phê nguyên chất hay đường và, đổi lại, nhận cái trống của tôi đưa lén dưới quầy. Tất cả những cái đó, cô làm không hề thở dài, không lắc đầu cũng không ngửa mặt lên trời, mà nghiêm túc và chăm chú, đồng thời cũng tự nhiên như khi mặc quần mới giặt, đi tất mới mạng tươm tất cho tôi vậy. Mặc dù trong những năm tiếp theo, quan hệ giữa Maria và tôi luôn luôn biến động và cho đến nay vẫn không hoàn toàn ổn định, cái cách cô đưa tôi một cái trống vẫn y nguyên không thay đổi, tuy giá cao hơn rất nhiều so với năm 1940.

Hiện giờ, Maria mua năm một tờ tạp chí thời trang. Từ lần đến thăm trước đến lần tiếp theo, nàng đã ăn mặc "mốt" hơn rồi. Nhưng dạo ấy thì sao?

Maria có đẹp không? Mặt nàng tròn, sạch bong và cái nhìn trong đôi mắt xám hơi lồi với rèm mi ngắn nhưng dày và cặp lông mày đen rậm giao nhau phía trên mũi, không lạnh mà dịu mát. Đôi gò má cao, mà vào những kỳ rét đậm, da thường bị căng đỏ và nẻ, đem lại cho cấu trúc mặt phẳng của mặt một sự cân bằng không hề bị phá vỡ bởi cái mũi bé xíu nhưng không hề xấu hoặc buồn cười - nhỏ nhưng khéo nặn, có thể nói về cái mũi ấy như thế. Vầng trán nhỏ và tròn, sớm hằn những nếp nhăn dọc đầy ưu tư phía trên cuống mũi. Vồng lên từ hai bên thái dương, mái tóc nâu hơi quăn, anh ảnh như thân cây ướt, ôm thật khít cái đầu tròn nhỏ hầu như không lộ chỏm, chẳng khác gì đầu Mamăng Truczinski. Hồi Maria mới bắt đầu mặc chiếc "blu" trắng và đứng vào chỗ của mình sau quầy hàng nhà chúng tôi, nàng còn tết tóc vắt đằng sau đôi tai hồng hào, khoẻ mạnh; tiếc thay dái tai không thõng rời mà dính thắng vào lớp thịt của hàm dưới, tuy không hằn nếp nhăn xấu nhưng dấu hiệu thoái hoá đủ rõ để khiến người ta có thể suy doán về tính cách của Maria, về sau, Matzerath thuyết phục nàng làm tóc gợn sóng lâu bền để che hai tai. Bây giờ, dưới mái tóc xoăn cắt ngắn hợp thời trang, Maria chỉ để lộ dái tai, nhưng giấu cái khuyết tật làm bợn sắc đẹp của mình bằng đôi kẹp lớn không lấy gì làm sang nhã lắm.
 
Cũng như cái đầu nhỏ của nàng phô đôi má đầy đặn, đôi lưỡng quyền cao, đôi mắt to hai bên cái mũi bé xíu, thân thể nhỏ nhắn của Maria, theo cách của nó, phô đôi vai tương dối rộng, cặp vú đầy vồng lên từ nách và một cỗ xương chậu rộng tương xứng với cặp mông trên đôi chân chắc khỏe nhưng thanh mảnh đến nỗi ta có thể nhìn xuyên giữa chúng dưới nạm âm mao.
 
Có thể là hồi đó chân Maria hơi vòng kiềng. Hơn nữa, tôi cảm thấy là, tương phản với thân hình mãn khai của đàn bà, hai bàn tay nhỏ bé đỏ hồng của nàng lại như tay trẻ con với những ngón khiến tôi nhớ đến những thỏi xúc xích. Cho đến giờ, hai bàn tay ấy vẫn có một cái gì trẻ con. Nhưng đôi chân nàng (hồi ấy đi giày bộ hành to gộc và ít lâu sau, thừa hưởng đôi giày cao gót sang trọng nhưng lỗi mốt của mẹ tôi, chẳng mấy hợp với nàng) thì đã dần dần mất đi cái sắc đo đỏ ngồ ngộ rất trẻ thơ khi chúng xỏ đại vào những đôi giày cũ không vừa, và dần dần thích ứng với những mốt giày hiện đại của Tây Đức và thậm chí của Ý nữa.
 
Maria ít nói nhưng thích hát trong khi rửa bát đĩa hoặc đóng đường vào các túi một ‘pao’ hay nửa ‘pao’. Khi cửa hàng đóng và Matzerath bận làm sổ sách kế toán hay vào những hôm chủ nhật khi nàng ngồi nghỉ, Marria thường chơi chiếc ácmônica mà người anh trai Fritz đã cho nàng khi anh bị gọi quân dịch và đưa đi Gross-Boschpol.
 
Maria chơi đủ mọi thứ trên chiếc ácmônica: những bài hát hướng đạo mà nàng học được trong những cuộc họp Liên đoàn Thiếu nữ Đức, những giai điệu trong các vở ôpêrét và những bài nổi tiếng mà nàng nghe trên đài hoặc học ở Fritz khi anh có công vụ về Danzig mấy hôm vào dịp lễ Phục sinh năm 1940. Oskar còn nhớ nàng chơi bài Giọt Mưa với những cú đánh lưỡi và cả bài Gió Thì Thầm Với Tôi Một Bài Ca mà không hề bắt chước Zarah Leander trứ danh. Nhưng Maria không bao giờ rút chiếc "Hohner" ra trong giờ làm việc. Ngay cả khi không có khách, nàng cũng gác âm nhạc sang một bên mà cặm cụi viết những nhãn giá và bảng kê các mặt hàng bằng nét chữ tròn trặn như của trẻ con.
 
Mặc dù ai cũng thấy rõ rằng chinh nàng là người điều hành cửa hàng và đã kéo lại được một số khách hàng bỏ chạy sang các cửa hàng cạnh tranh với chúng tôi sau khi mẹ tội nghiệp của tôi mất, thái độ của nàng đối với Matzerath bao giờ cũng lễ độ đến mức quỵ lụy, nhưng điều đó không hề làm Matzerath lúng túng bởi ông không bao giờ thiếu tin tưởng ở giá trị của mình.
 
"Nói cho cùng," ông lập luận khi Greff-Rau-Quả và Gretchen định chọc ông, "thì chính tôi đã thuê con bé và đào tạo nó chứ ai vào đấy." Quá trình tư duy của con người này đơn giản như thế đấy, tuy nhiên phải thừa nhận rằng ông trở nên tinh tế hơn, nhạy cảm hơn và, nói tóm lại, chỉ hay hơn khi bắt tay vào công việc ưa thích của ông: nấu ăn. Oskar này phải công nhận rằng khỉ giỏi leo cây: món sườn lợn hun khói ăn với dưa bắp cải, món cật lợn xốt mù-tạc, món thịt rán rắc vụn bánh mì theo kiều Vienna và nhất là món cá chép nấu kem và củ cải đỏ của ông thì tuyệt vời về đủ mọi phương diện: đẹp mắt, sướng cái lỗ mũi và ngon miệng, ông chẳng thể dậy gì nhiều cho Maria về việc trông nom cửa hàng vì cô gái vốn có khiếu kinh doanh bẩm sinh, còn bản thân Matzerath thì đâu biết gì mấy về việc bán hàng, tuy ông cũng có đôi chút năng khiếu trong việc giao dịch với cánh bán buôn; nhưng quả là ông có dậy Maria nấu, nướng, quay, hầm, ninh; vì mặc dầu nàng đã làm việc cho một gia đình công chức ở Schidlitz, giỏi lắm nàng cũng mới chỉ biết đun nước sôi khi đến với chúng tôi.
 
Chẳng bao lâu, Matzerath lại có thể tổ chức đời sống y hệt như thời mẹ tội nghiệp của tôi còn sống: ông thống trị trong bếp, không ngừng nâng cao chất lượng món quay từ chủ nhật này sang chủ nhật khác, và khoan khoái rửa bát đĩa hàng giờ liền. Ngoài ra, xem như việc tay trái, ông lo chuyện đặt hàng, mua và thanh toán với các nhà bán buôn và Phòng Thương Mại - những công việc ngày càng phức tạp theo đà chiến tranh tiếp diễn - giao dịch thư từ với sở thuế (cũng không kém phần khôn ngoan), trang hoàng tủ kính cửa hàng rất có "gu" và "phăng-te-di", và thực hiện chu đáo cái gọi là bổn phận đảng viên của mình. Nói chung - trong khi Maria bình thản đứng sau quầy - thì ông rất bận rộn.
 
Quý vị hẳn thắc mắc: tôi rào trước như vậy nhằm nói gì, tại sao tôi lại tả chi tiết đến thế về gò má, lông mày, dái tai, bàn tay và bàn chân của một cô gái? Tôi hoàn toàn đồng ý với quý vị, tôi cũng chống cái kiểu mô tả ấy. Oskar thừa biết rằng cùng lắm nó chỉ làm méo mó, thậm chí có thể là bóp méo vĩnh viễn, hình ảnh của Maria trong đầu quý vị mà thôi. Vì lý do đó, tôi xin nói thêm một câu duy nhất khả dĩ có thể làm sáng tỏ tất cả: nếu bỏ qua tất cả những nữ y tá vô danh thì Maria là mối tình đầu của Oskar.
 
Tôi bừng ý thức được điều đó vào một hôm mà, như họa hoằn mới xảy ra, tôi lắng nghe tiếng trống của mình. Tôi không khỏi nhận thấy một nốt mới đầy đam mê da diết mà Oskar, bất chấp mọi sự thận trọng giữ gìn, vẫn một mực truyền cho cái trống của mình. Maria cảm nhận tiếng trống ấy theo khía cạnh tốt. Nhưng tôi không mấy hài lòng khi nàng đặt chiếc ácmônica lên môi với một cái nhíu mày khó coi và cảm thấy có nhiệm vụ đệm theo. Tuy nhiên, nhiều lúc, trong khi mạng tất hay đóng đường vào túi, cặp mắt lặng lẽ của nàng dán vào tôi và đôi dùi trống một cách chăm chú và nhiệt thành rồi trước khi trở lại công việc, nàng đưa tay từ từ, và như buồn ngủ, vuốt mái tóc cắt ngắn của tôi.
 
Oskar bình thường không chịu nổi bất kỳ một đụng chạm nhỏ nào dù là âu yếm, trìu mến nhưng riêng bàn tay của Maria thì nó chấp nhận; và nó trở nên nô lệ cái cử chỉ vuốt ve ấy đến nỗi nhiều khi nó cố ý dạo hàng giờ liền trên trống những tiết tấu khêu gợi cho đến khi, rút cục, bàn tay của Maria đành tuân theo và mang lại sung sướng cho nó.
 
Thời gian sau, Maria bắt đầu cho tôi đi ngủ. Nàng cởi quần áo cho tôi, tắm cho tôi, mặc đồ ngủ cho tôi, dặn tôi phải đi tè lần cuối trước khi vào giường, đọc với tôi, mặc dầu nàng theo đạo Tin Lành, một lần bài kinh Cha Chúng Ta, ba lần bài Kính Mừng Maria và thi thoảng cả bài Jêxu-vì-Người-con-sống-Jêxu-vì-Người-con-chết, cuối cùng dắt chăn cho tôi với một vẻ mặt thân ái, ru ngủ.
Mặc dù những phút cuối trước khi tắt đèn rất chi là đẹp - dần dà tôi thay thế bài Cha Chúng Ta và bài Jêxu-vì-Người-con-sống bằng những bài ám chỉ âu yếm Chào-Ngôi-Sao-BiểnMaria-ta-yêu-Người - phần chuẩn bị trước khi vào giường vẫn làm tôi bối rồi, thậm chí làm tôi mất hết tự chủ, khiến Oskar - xưa nay vẫn tự hào là bao giờ cũng làm chủ được sắc diện mình - bỗng dưng nhiễm cái kiểu đỏ dừ mặt lạy-ông-tôi-ở-bụi-này của các cô gái mắt sao hoặc những chàng trai mắc cỡ. Oskar này phải thú thật là mỗi lần Maria cởi quần áo cho tôi, đặt. tôi vào trong chậu tắm, lấy bàn chải, bọt biển và xà- phòng cọ đi khỏi người tôi lớp bụi của một ngày làm việc với trống, mỗi lần hiểu ra rằng tôi đây, suýt soát mười sáu tuổi, đang đứng tồng ngồng trần như nhộng trước một cô gái chỉ lớn tuổi hơn mình tí chút - gần mười bảy - tôi đều đỏ nhừ cả người hồi lâu.
 
Nhưng Maria dường như không nhận thấy sự thay đổi màu sắc của da dẻ tôi. Liệu có phải nàng nghĩ rằng bàn chải và bọt biển chà xát đã làm má tôi hồng lên chăng? Hoặc giả Maria, đoan trang và kín đáo, tuy hằng ngày vẫn thấy hừng ánh dương tà trên người tôi, nhưng tế nhị bỏ qua?
 
Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn bị cơn đỏ mặt bất thần ấy, không sao giấu nổi, có khi kéo dài đến năm phút hoặc lâu hơn. Giống như ông ngoại tôi, tên phóng hỏa Koljaiczek, hễ nghe thấy chữ "diêm" là đỏ mặt tía tai, tôi đây, hễ có ai, dù hoàn toàn không quen biết, nói chuyện trước mặt tôi về những đứa bé, đêm đêm, được tắm rửa, kỳ cọ trước khi đi ngủ, là máu dồn lên mặt tôi. Oskar đứng ngây đó như một người da đỏ. Những người xung quanh cười bảo tôi là kỳ cục nếu không phải là có tật, vì đối với họ thì việc xát xà-phòng, tắm rửa cho bọn con nít, lấy khăn tắm kỳ cọ cho chúng vào chỗ kín, thì có nghĩa lý quái gì?
 
Mặt khác, Maria rất tự nhiên; nàng làm những điều táo bạo nhất trước mặt tôi mà chẳng ngượng ngùng gì hết.Trước khi cọ sàn phòng khách hay phòng ngủ, nàng thường xắn váy lên và cởi bỏ đôi tất dài, quà tặng cúa Matzeratn, vì sợ giây bẩn. Một tối thứ bảy, sau khi đóng cửa hàng - Matzerath bận việc ở trụ sở Đảng khu phố - Maria trút cả váy, áo, đứng cạnh tôi trong chiếc váy lót thiểu não nhưng sạch, và bắt đầu lấy xăng tẩy mấy vết trên váy và trên chiếc áo bằng lụa nhân tạo của nàng.
 
Làm sao mà, hễ khi nào Maria cởi bỏ áo, váy ngoài và ngay sau khi mùi xăng tan đi, là người nàng lại toả ra một mùi va-ni hồn nhiên, dễ chịu đến ngây ngất? Nàng có xoa một chất chiết xuất nào như thế không? Có thứ nước hoa rẻ tiền nào có kiểu mùi tương tự không? Hay cái mùi ấy là đặc trưng của nàng, tỷ như mùi a-mô-ni-ắc là đặc trưng của bà Kater hay mùi bơ khăn khẳn là đặc trưng của váy bà ngoại tôi? Oskar, vốn thích đi đến tận cùng của sự vật, bèn điều tra đến cùng về mùi va- ni: Maria không xoa va-ni. Đó là mùi của Maria, thế thôi. Phải, đến bây giờ tôi vẫn tin rằng thậm chí nàng không hề biết gì về cái mùi thơm toả ra từ người nàng; bởi vì, trong một bữa ăn ngày chủ nhật, sau món bê quay với khoai tây nghiền và su-flơ sào bơ nâu, khi một cái bánh pút-đinh va-ni rung rinh trên bàn vì tôi đá phải chân bàn, Maria, mặc dù rất thích những loại pút-đinh khác, chỉ ăn tí ti và hiển nhiên là ớn ra mặt, trong khi Oskar cho đến nay vẫn mê cái món đơn giản này, có lẽ là thứ bình thường nhất trong tất cả các loại pút-đinh.

Tháng 7 năm 1940, ít lâu sau khi các thông cáo đặc biệt loan tin về thắng lợi nhanh chóng của chiến dịch tiến công Pháp, mùa tắm biển Baltic bắt đầu. Trong khi Fritz, anh trai Maria, giờ là một hạ sĩ, gửi về tấm bưu ảnh đầu tiên từ Paris, Matzerath và Maria quyết định là Oskar phải đi tắm biển vì không khí biển chắc chắn là tốt cho sức khỏe của nó. Maria sẽ đưa tôi đến bãi tắm Brösen vào giờ nghỉ trưa - cửa hàng đóng cửa từ một giờ đến ba giờ - và nếu nàng phải lại ngoài đó đến bốn giờ cũng không sao - Matzerath nói thế - ông cũng thích thi thoảng đứng quầy để ra mắt khách hàng.
 
Một bộ đồ tắm màu xanh lơ có đính hình mỏ neo được mua cho Oskar. Maria thì đã có sẵn cái áo tắm màu lục thêu đỗ, quà của bà chị Guste nhân dịp nàng chịu lễ lần đầu. Chúng tôi nhét một áo choàng len xù màu trắng từ thời mẹ tôi cùng với mấy thứ hoàn toàn không cần thiết - một cái xô và xẻng xúc cát, mấy cái khuôn nặn cát - vào một cái túi đồ tắm cũng từ thời mẹ tôi. Maria khoác túi, còn tôi mang cái trống của tôi.
 
Oskar sợ đi xe điện qua nghĩa trang Saspe. Phải chăng nó sợ rằng cơn thèm tắm (thực ra cũng vừa phải thôi) sẽ xẹp đi khi nó trông thấy cái nơi câm lặng nhưng lại rất hùng hồn này? Hồn ma của Jan Bronski sẽ làm gì, Oskar tự hỏi, khi kẻ sát hại mình vận đồ tắm đi xe điện leng keng qua mộ mình?
 
Chiếc xe điện số 9 đỗ lại. Người lái xe báo là đã đến Saspe. Tôi nhìn trân trân qua Maria về phía Brösen, từ đó chiếc xe ngược chiều đang từ từ tiến lại, mỗi lúc một lớn dần lên. Không được nhìn ngang nhìn ngửa! Xét cho cùng thì có cái gì mà nhìn chứ? Những cây thông lùn, những chấn song sắt gỉ, ngổn ngang những bia mộ xiêu vẹo với những dòng chữ mà chỉ có cỏ gai đọc được. Tốt hơn là cứ phóng mắt qua cửa sổ và nhìn lên trời: trên đó, những chiếc Ju-52 kếch xù bay vè vè như chỉ những máy bay ba động cơ hoặc những con nhặng xanh to tướng mới vè vè cách ấy trong một, bầu trời tháng bảy không một gợn mây.
 
Xe chúng tôi chuyển bánh trong tiếng chuông rung inh ỏi và chiếc xe kia che khuất tầm nhìn của chúng tôi. Lúc vượt qua toa moóc của nó, đầu tôi tự động quay ngoắt và toàn bộ khu nghĩa trang đổ nát ùa vào mắt tôi, cả một phần bức tường phía hắc nữa; cái mảng quét vôi trắng nằm trong bóng tối, nhưng nó vẫn trắng nhức nhối...
 
Rồi khu nghĩa trang lùi lại sau, chúng tôi tới gần Brösen và một lần nữa tôi nhìn Maria. Nàng mặc một chiếc áo hoa mỏng mùa hè. Quanh cái cổ tròn với nước da anh ánh, nàng đeo một sợi dây chuyền gồm những trái anh đào gỗ bằng nhau chằn chặn, nom như chín mọng. Tôi tưởng tượng hay tôi thực sự ngửi thấy? Maria như mang cái mùi va-ni theo nàng đến biển Baltic. Oskar hơi cúi về đằng trước, hít thật sâu cái mùi ấy và lập tức chế ngự được mùi thây ma Jan Bronski. Cuộc phòng thủ sở Bưu Chính Ba Lan đã lùi vào lịch sử ngay cả trước khi thịt da của những người phòng thủ rã khỏi xương. Oskar, kẻ sống sót, giờ có trong lỗ mũi những mùi khác hẳn mùi của người cha-khả-thể của nó, xưa hào hoa phong nhã là thế mà nay đã thành cát bụi.
 
Đến Brösen, Maria mua một "pao" anh đào, nắm tay tôi - nàng biết chỉ mình nàng mới được phép làm thế - và dắt tôi qua những rừng thông đến nhà quản lý bãi tắm. Mặc dầu tôi đã gần mười sáu tuổi - người phụ trách đâu có thấy thấy điều đó - tôi vẫn được phép vào khu nữ. Nước: 18; không khí: 80; gió: đông; dự báo: trời đẹp - một tấm bảng đen ghi vậy. Cạnh đó là một tấm áp-phích giới thiệu phương pháp hô hấp nhân tạo: các nạn nhân mặc đồ tắm kẻ xọc, những người cứu nạn có ria mép, những chiếc mũ rơm lềnh bềnh trên làn nước hung dữ, phản trắc.
 
Cô phục vụ chân đi đất tiến tới. Như một kẻ sám hối, cổ ta buộc quanh mình một sợi thừng đeo lủng lắng chiếc chìa khoá to tướng mở tất cả các cửa ca- bin. Những ván gỗ bắc cầu. Tay vịn. Dọc theo các ca-bin, một tấm thảm dài bằng xơ dừa. Chúng tôi được ca-bin số 53. Vách gỗ ca-bin khô, ấm, có màu trắng xanh tự nhiên mà tôi muốn gọi là màu mù. Cạnh cửa sổ là một chiếc gương đã đến nước không tự coi mình ra gì nữa.
 
Trước hết, Oskar phải cởi quần áo đã. Tôi quay mặt vào vách làm việc đó và mãi sau mới miễn cưỡng để cho Maria giúp. Rồi Maria xoay người tôi lại theo cái cách khỏe khoắn, tự nhiên của nàng, đưa cho tôi bộ đồ tắm mới và, không chút gượng nhẹ, ấn người tôi vào bộ đồ len vừa khít. Tôi vừa cài khuy dây đeo vai xong, nàng đã nhấc tôi lên chiếc ghế băng sát vách sau ca-bin, đặt trống và dùi lên lòng tôi và bắt đầu cởi đồ với những động tác nhanh nhẹn và mạnh mẽ.
 
Thoạt tiên, tôi dạo trống một chút, đếm những chỗ lõm do mắt gỗ bị khoét đi trên ván sàn. Rồi tôi ngừng trống, ngừng đếm. Tôi không hiểu tại sao Maria, môi chúm lại một cách kỳ cục, lại phải huýt sáo trong khi cởi giày - hai nốt cao, hai nốt thấp - và trong khi tháo tất. Huýt gió như một gã lái xe chở đồ giải khát, nàng cởi chiếc áo váy hoa, huýt gió khi vắt chiếc váy trong lên trên áo váy ngoài, buông rơi cái xú-chiêng, tiếp tục huýt lung tung mà chưa tìm ra được một giai điệu nào nhất định trong khi kéo chiếc quần lót (thực ra là một chiếc quần đùi tập thể dục) xuống đến đầu gối cho nó tụt xuống sàn, bước ra khỏi hai ống quần cuộn tròn lại và đá nó vào một góc.
 
Maria làm Oskar giật thót khi thấy nạm lông tam giác của nàng. Dĩ nhiên, qua mẹ tội nghiệp của nó, Oskar biết là đàn bà không trọc lốc ở chỗ đó, nhưng đối với nó, Maria không phải là đàn bà theo cái nghĩa mà mẹ nó đã thể hiện mình là đàn bà đối với Matzerath hoặc Jan Bronski.
 
Và tôi nhận ra nàng ngay lập tức. Cuồng giận, xấu hổ, bất bình, thất vọng và cái vòi ô-doa của tôi bắt đầu cương lên, nửa đau đau, nửa tức cười, trong cái quần bơi khiến tôi quên cả trống lẫn dùi vì cái dùi mới vừa phát triển nơi tôi.
 
Oskar bật dậy và chồm tới Maria. Nàng đón nó bằng nạm lông của mình. Nó vùi mặt vào đấy. Lông mọc tua tủa giữa đôi môi nó. Maria cười và định kéo nó ra. Tôi hít thêm hơi nàng vào trong tôi, hít nữa, cố tìm nguồn gốc của mùi va-ni. Maria vẫn cười. Nàng thậm chí mặc kệ tôi với mùi va-ni của nàng, hình như nàng thấy hay hay vì nàng cứ cười không dứt. Chỉ khi tôi trượt chân làm nàng đau - vì tôi không chịu nhả mớ lông của nàng ra hay có lẽ nó không chịu nhả tôi ra - chỉ khi mùi va-ni làm tôi chảy nước mắt, chỉ khi tôi bắt đầu nếm thấy vị nấm hoặc một thứ gia vị gì hăng hắc, dù sao cũng không phải là va-ni nữa, chỉ khi cái mùi đất mà Maria giấu đằng sau mùi va-ni nhắc tôi nhớ đến mùi đất nơi Jan Bronski đang nằm rữa dần và nhiễm độc tôi bằng cái vị của những gì dễ mục rữa - chỉ đến lúc đó, tôi mới nhả ra.
 
Oskar truội xuống sàn gỗ màu mù của ca-bin và khi Maria, vẫn cười, bế nó lên, vuốt ve nó và áp chặt nó vào chuỗi dây chuyền anh đào gỗ, thứ trang phục duy nhất còn trên người nàng, Oskar vẫn còn khóc.

Nàng lắc đầu, gỡ những sợi lông còn dính ở môi tôi và nói bằng một giọng ngạc nhiên: "Cậu thật cà chớn! Cậu khơi chuyện ra, cậu chẳng biết cái gì ra cái gì rồi bây giờ cậu lại khóc."
 
______
Chú thích:
[1] Một trong những hiệp sĩ đi tìm Chén Thánh, con trai của Perceval.
  [strike][/strike]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.08.2016 17:07:31 bởi Ct.Ly>
SỞ BƯU CHÍNH BA LAN
 
 
Tôi ngủ trong một cái giỏ quần áo đầy những thư gửi từ Lodz, Lublin, Lemberg, Thorn, Krakau và Tschenstochau hoặc gửi cho những người ở Lodz, Lublin, Lwow, Torun, Krakow và Czestochowska. Nhưng tôi không mơ thấy Đức Mẹ Matka Boska Czestochowska hay Đức Mẹ Đen. Trong mơ, tôi không nhấm nháp trái tim của Marszalek Pilsudski được lưu giữ tại Krakow hay cái thứ bánh gừng đã làm thành phố Thorn nổi tiếng. Thậm chí tôi cũng không mê về cái trống chưa được sửa chữa của mình. Nằm không mộng mị trong một giỏ quần áo có bánh xe lăn, Oskar không hề nghe thấy tiếng trò chuyện thì thào, líu ríu, lao xao mà người ta nói là tràn ngập không gian khi thư được chất thành đống. Những bức thư này không hề nói với tôi một lời nào, tôi không chờ thư ai, không ai có lý do gì để coi tôi như một người nhận thư hay gửi thư. Kiêu hãnh và tự mãn, tội cụp ăng-ten xuống yên ngủ trên một núi thư đầy thông tin, một núi thư có thể là cả thế giới.
 
Do vậy, tôi không bị đánh thức bởi lá thư của một tay Lech Milewczyk nào đó ở Vacxava gửi cho cháu gái ở Danzig-Schidlitz, một lá thư xáo động đến mức có. thể đánh thức một cụ rùa nghìn tuổi, mà cái đã đánh thức tôi là tiếng súng máy gần kề hoặc tiếng gầm xa xa từ những tháp pháo quay kép trên các tàu chiến ở Cảng Tự Do.
Súng máy, tháp pháo quay kép - viết ra thì dễ ợt. Liệu cũng có thể là một trận mưa đá, một trận mưa rào, những khoảnh khắc trước một cơn dông cuối hè giống như cái cơn dông đón tôi ra đời? Tôi đang quá buồn ngủ và cái kiểu suy luận này không phải là sở trường của tôi. Với những tiếng ấy còn đầy tai, tôi đoán đúng và, giống như mọi kẻ ngái ngủ, gọi sự vật bằng tên của nó: thế đấy, họ đang bắn, tôi tự bảo.
 
Oskar trèo ra khỏi cái giỏ quần áo và đứng đó ngất ngư trên đôi chân. Đầu tiên, nó nghĩ ngay đến số phận cái trống nhạy cảm của nó. Bằng cả hai tay, tôi bới cho nó một hốc giữa đám thư đã ấp ủ cho giấc ngủ của tôi, nhưng tôi làm nhẹ nhàng không thô bạo, không làm rách, không gập cũng không làm nhàu cái nào hết; không, tôi thận trọng chọn ra những bức thư bị xới lộn, chăm chút từng cái phong bì mang dấu bưu điện "Poczta Polska phần lớn đều màu tím - và thậm chí cả những bưu thiếp. Tôi chú ý không để một cái phong bì nào bị mở ra bởi vì ngay cả trước những sự kiện nghiêm trọng khả dĩ có thể thay đổi bộ mặt thế giới, bí mật thư tín vẫn phải là thiêng liêng.
 
Cùng với hỏa lực súng máy tăng lên, cái hốc trong giỏ quần áo cũng sâu thêm. Cuối cùng, tôi thấy bằng lòng, tôi đặt cái trống trọng thương vào cái giường mới khoét của nó, và đắp cho nó cẩn thận bằng mười, không, hai mươi lớp phong bì xếp
ken lại với nhau như thợ nề sắp gạch để xây tường vậy.

Tôi vừa hoàn thành những biện pháp đề phòng, hy vọng bảo vệ được cái trống khỏi lằn tên mũi đạn, thì quả đạn chống tăng đầu tiên nổ trúng mặt tiền nhà bưu điện về phía Quảng trường Hevelius.
 
Sở Bưu Chính Ba Lan, một toà nhà gạch đồ sộ, có thể chịu đựng được nhiều đòn như vậy. Xem ra lực lượng cảnh vệ không dễ gì sớm mở được một đột phá khẩu đủ rộng để tiến hành cuộc tiến công chính diện mà họ đã bao lần diễn tập.
 
Tôi rời căn phòng kho thư khá an toàn, không cửa sổ, nằm giữa ba văn phòng và một hành lang, để đi tìm Jan Bronski. Trong khi tìm Jan, ông bố khả thể của tôi, đương nhiên là tôi cũng tìm luôn cả bác gác cổng thọt chân Kobyella nữa, có khi còn hăm hở hơn là đằng khác. Bởi vì chả phải là tôi đã nhịn ăn tối, chả phải là tôi đã đi xe điện đến tận Quảng trường Hevelius, bất chấp bọn lính và vào cái toà nhà bưu điện chẳng có gì hấp dẫn này, chỉ cốt được bác chữa cho cái trống đó sao? Nếu tôi không tìm thấy Kobyella kịp thời, nghĩa là trước khi nổ ra cuộc tấn công tổng lực - điều tất yếu phải tới - thì xem chừng khó có khả năng cái trống lâm trọng bệnh của tôi có được sự điều trị cao tay mà nó cần tới.
 
Vậy là Oskar tìm Jan mà đầu óc lại nghĩ về Kobyella. Hai tay khoanh trước ngực, nó bước đi trong cái hành lang lát gạch hoa dài hun hút và chẳng tìm thấy gì ngoài cô đơn. Giữa tiếng súng đều đặn nếu không muốn nói là xả láng của phía cảnh vệ SS, nó có thể phân biệt những phát súng lẻ chắc là từ bên trong ngôi nhà này bắn ra; những người bảo vệ sở đầy ý thức tiết kiệm chắc chỉ ở ngay trong văn phòng, sau khi đã đổi những con dấu cao su lấy những công cụ khác cũng có thể làm công việc đóng dấu. Không thấy ai ngồi, đứng hoặc nằm ở hành lang, sẵn sàng cho một cuộc phản kích có thể. Oskar đi tuần tra một mình, không trống, không bảo vệ, trước cuộc nhập lễ lịch sử vào một giờ quá sớm, kẻ hành lễ không có vàng trong miệng như trong câu ca mà chỉ khạc ra chì.
 
Những văn phòng bên mé sân cũng trống không. Rất bất cẩn, tôi nghĩ. Lẽ ra phải bố phòng cả mặt này nữa, vì chi có một hàng rào gỗ ngăn đồn cảnh sát ở phố Schneidermühlen-Gasse với sân nhà bưu điện - một sự sắp xếp quá ngon cho những kẻ tấn công. Tôi lộp cộp đi qua cả dẫy văn phòng, phòng thư bảo đảm, phòng chuyển ngân, phòng quỹ lương, phòng điện báo. Và họ nằm đấy. Đằng sau những bao cát, đằng sau những tấm thiết giáp, đằng sau những bàn ghế lật ngửa, họ nằm trong tư thế chiến đấu, bắn ra rất thưa thớt.
 
Ở phần lớn các phòng, các cửa sổ đều đã nếm mùi đạn súng máy của lực lượng cảnh vệ. Tôi nhìn lướt qua những thiệt hại, so sánh với những ô kính vỡ vụn dưới tác động của chất kim cương giọng tôi trong thời kỳ mà hòa bình đang thở sâu rất êm đềm. Ờ, tôi tự nhủ, nếu họ yêu cầu mình góp sức bảo vệ Sở Bưu Chính Ba Lan, nếu cái ông Tiến sĩ Michon gày nhẳng tiếp cận tôi không phải với tư cách giám đốc sở mà như là chỉ huy quân sự của toà nhà bưu điện, nếu ông muốn chiêu mộ tôi để phục vụ Ba Lan, thì giọng tôi đây sẽ làm bổn phận của nó. Vì Ba Lan và vì nền kinh tế vô chính phủ nhưng bao giờ cũng phì nhiêu của Ba Lan, tôi sẵn sàng hát vỡ tan những cửa sổ của tất cả các nhà ở phía bên kia Quảng trường Hevelius, những mặt tiền bằng kính dọc phố Rähm, các cửa sổ trên phố Schneidermühlen-Gasse kể cả đồn cảnh sát; đưa kỹ thuật công phá tầm xa của tôi lên đỉnh cao mới, tôi sẽ khoái chá biến mọi ô cửa kính lấp lánh trong Khu phố cổ và trên các đường Altstädtischer-Graben và Hittergasse thành những lỗ đen ngòm cho gió lùa. Điều đó sẽ gây hỗn loạn trong đám cảnh vệ cũng như bọn hiếu kỳ đứng xem. Điều đó sẽ đạt hiệu quả bằng nhiều cỗ súng máy và ngay từ đầu cuộc chiến, đã khuấy lên dư luận về những vũ khí bí mật, nhưng cũng sẽ không cứu nổi sở Bưu Chính Ba Lan.
 
Nhưng khả năng của Oskar không được đem ra thử nghiệm. Cái ông Tiến sĩ Michon với bộ mặt giám đốc và với cái mũ sắt Ba Lan trên đầu không chiêu mộ tôi; trái lại, khi chạy xuống cầu thang, tôi làm quẩn chân ông, ông đã bợp tai tôi một cái đau điếng và liền sau đó, vừa lớn tiếng chửi thề bằng tiếng Ba Lan vừa tiếp tục nhiệm vụ quân sự của mình. Tôi chỉ còn biết nuốt nỗi buồn tủi của mình. Hiển nhiên là tất cả những con người đó, đặc biệt là Tiến sĩ Michon, đang bị kích động mạnh và đang khiếp sợ; tôi phải tha thứ cho họ thôi.
 
Đồng hồ ở sảnh chính chỉ bốn giờ hai mươi phút. Khi kim chỉ  sang bốn giờ hai mươi mốt, tôi kết luận rằng những hành động chiến tranh đầu tiên đã không gây hại cho bộ máy đồng hồ. Đồng hồ vẫn chạy và tôi phân vân không biết nên coi thái độ thản nhiên này của thời gian như một điềm lành hay gở.
 
Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn ở lại sảnh chính. Tôi tìm Jan và Kobyella, né tránh Tiến sĩ Michon. Tôi không thấy bác tôi cũng như bác gác cổng, chỉ thấy những cửa sổ kính bị hư hại, cùng những vết nứt toác, những lỗ hổng ở lớp vữa tường cạnh cửa chính; và tôi có vinh dự chứng kiến hai người bị thương đầu tiên được khiêng vào. Một người là một ông lớn tuổi tóc hoa râm vẫn rẽ ngôi ngay ngắn, ông phấn khích nói luôn miệng trong khi người ta băng vết thương cho ông - một viên đạn xượt vào cánh tay trên. Cánh tay vừa được bó trong lớp băng trắng, ông đã vùng dậy vớ lấy cây súng trường định quay trở lại công sự bao cát của mình, mà theo tôi nghĩ, không có khả năng chống đạn hiệu quả cho lắm. May sao một cơn ngất xỉu nhẹ do mất máu buộc ông lại phải nằm xuống và nghỉ ngơi đủ thời gian cần thiết cho một ông già vừa bị thương. Hơn nữa, cái ông nhỏ con gầy nhẳng năm mươi tuổi đội một cái mũ sắt nhưng ở túi ngực lại thò ra một chiếc mù-soa lụa, cái ông có những cử chỉ thanh lịch của một hiệp sĩ trong cơ quan chính phủ, chính cái ông tiến sĩ Michon đã nghiêm khắc tra hỏi Jan Bronski tối qua, ra lệnh cho ông già bị thương phải nghỉ ngơi nhân danh đất nước Ba Lan.
 
Người bị thương thứ hai nằm thở nặng nhọc trên một nệm rơm và không hề tỏ ý muốn quay lại với những bao cát. Chốc chốc anh ta lại kêu lớn, không chút xấu hổ; anh ta bị một viên đạn vào bụng.
 
Đúng lúc Oskar đang định rà lại hàng người nằm đằng sau những bao cát một lần nữa xem có thấy hai người nó vẫn đang tìm không, thì hai quả đạn nổ gần như đồng thời ở phía trên và bên cạnh cửa chính, làm các thứ trong sảnh rung lên loảng xoảng. Mấy cái tủ được kê chặn cửa bật mở toang, làm những chồng hồ sơ bay tán loạn rồi rơi lả tả xuống sàn gạch hoa, lần đầu tiên tiếp xúc với những phiếu thu, chi và hoá đơn mà bình thường ra, theo nguyên tắc kế toán, chúng không được phép làm quen. Khỏi cần phải nói, những ô kính cửa sổ còn lại đều vỡ nốt trong khi những mảng vữa lớn, nhỏ từ trấn và tường rơi xuống rào rào. Một người bị thương nữa được mang vào sảnh giữa bụi mù vôi vữa, nhưng sau đó, theo lệnh của ông tiến sĩ đội mũ sắt Michon được chuyển lên tầng hai.
 
Cứ mỗi bước, tay nhân viên bưu điện lại rên ầm ầm. Oskar theo sau anh ta và những người khiêng anh ta. Không ai gọi nó trở lại, không ai hỏi nó đi đâu hoặc bợp tai nó như Tiến sĩ Michon đã làm thế một lúc trước, vả chăng nó đã làm hết sức mình để khỏi vướng chân những người lớn bảo vệ toà nhà bưu điện.
 
Khi tôi lên tới tầng hai đằng sau những người  khiêng chậm rề rề, thì ra điều tôi đã ngờ ngợ là đúng: người bị thương được đưa đến cái buồng kho không cửa sổ do đó hoá an toàn mà tôi đã tự dành cho mình. Vì không có chiếu nệm chi cả nên người ta quyết định là những giỏ thư, tuy có hơi quá ngắn, nhưng vẫn có thể cung cấp chỗ nghĩ tương đối thoải mái cho thương binh. Tôi thấy tiếc là đã đặt cái trống của mình nằm vào một trong những cái giỏ quần áo di động đầy những thư không chuyển được ấy. Liệu rồi máu của những bưu tá và nhân viên bưu điện bị thủng da rách thịt có thấm qua mười hoặc hai mươi lớp giấy và nhuộm cho nó một sắc màu mà cho tới nay nó chỉ biết dưới hình thức vẹc-ni? Cái trống của tôi thì có gì chung với máu của Ba Lan? Họ cứ việc lấy máu mình mà nhuộm những hồ sơ và giấy thấm của họ! Họ cứ việc trút hết xanh từ những bình mực của họ ra rồi lại đổ đầy đỏ vào! Họ cứ việc nhuộm đỗ một nửa những chiếc mu-soa và sơ-mi trắng hồ cứng của họ rồi biến chúng thành cờ Ba Lan! Nói cho cùng, họ quan tâm đến Ba Lan, chứ thiết gì cái trống của tôi! Nếu họ nhất quyết rằng Ba Lan, dẫu có mất, vẫn phải nguyên vẹn hai màu trắng-đỏ, thì đó có phải là lý do để cái trống của tôi, bị lớp màu mới nhuộm biến thành khả nghi, cũng phải đi tong như vậy?
 
Một ý nghĩ dần dần bắt rễ trong tôi: vấn đề không phải là Ba Lan, mà là ở như cái trống của tôi đây. Jan đã kéo tôi đến toà nhà bưu điện này cốt để đem lại cho các đồng nghiệp (đối với họ, Ba Lan chưa đủ là động lực tập hợp mạnh mẽ) một ngọn cờ khiến nhuệ khí của họ bùng cháy. Đêm hôm ấy, trong khi tôi ngủ trong một chiếc giỏ quần áo trên bánh xe lăn, tuy tôi không lăn cũng chẳng mơ mộng gì, những nhân viên bưu điện không ngủ đã thì thào với nhau rằng: Một cái trống đồ chơi hấp hối đã tìm đến nương náu nơi chúng ta. Chúng ta, những người Ba Lan, chúng ta phải bảo vệ nó, nhất là vì Anh và Pháp đã ký hiệp ước tương trợ với chúng ta.
 
Trong khi, bên ngoài cánh cửa hé mở của buồng kho chứa thư chưa gửi những suy nghĩ vô ích và trừu tượng ấy ngăn trở tôi tự do hành động, thì lần đầu tiên, tiếng súng máy vẳng lên từ dưới sân. Như tôi đã tiên đoán, bọn cảnh vệ đã tiến hành đợt tấn công đầu tiên của chúng từ phía đồn cảnh sát trên đường Schneidermühlen-Gasse. Một lát sau, tất cả chúng tôi đã sẵn sàng. Bọn cảnh vệ đã phá được cửa vào kho bưu kiện phía trên bệ dóc chất hàng cho xe thư. Một phút sau, chúng vào kho bưu kiện rồi phá cửa vào hành lang dẫn tới sảnh chính.
 
Những người vừa khiêng người bị thương và đặt y vào cái giỏ thư có chứa cái trống của tôi, lúc này lao ra, kéo theo một số người khác. Bằng vào tiếng động, tôi đoán là họ đang đánh nhau ở hành lang cửa chính rồi trong kho bưu kiện. Bọn cảnh vệ buộc phải rút lui.
 
Thoạt đầu còn chần chừ, sau rồi quả quyết, Oskar bước vào buồng kho. Mặt người bị thương xám ngoẹt; y nhe răng và sau mí mắt khép hờ, có thể thấy nhãn cầu cồn cộn. Y nhổ ra những tia máu. Tuy nhiên, vì đầu y ngửa ra bên ngoài mép  giỏ nên không có nguy cơ vấy máu vào các bức thư. Oskar phải kiễng chân lên để với tay vào trong giỏ. Mông người bị thương đè nặng lên đúng chỗ Oskar đã giấu cái trống. Mới đầu Oskar kéo nhè nhẹ, thận trọng không làm đau người bị thương cũng như các bức thư; rồi nó lôi mạnh hơn; cuối cùng, sau một cú giật xé bạo liệt, nó moi ra được mấy tá phong bì từ bên dưới người đàn ông đang rên rẩm.
 
Hôm nay, tôi vui thích kể lại rằng ngón tay tôi đã chạm vào thành trống khi có tiếng người rầm rập chạy lên cầu thang và dọc theo hành lang. Họ đang trở lại, họ đã đánh bật bọn cảnh vệ khỏi kho bưu kiện. Tạm thời lúc này đây, họ đang chiến thắng. Tôi nghe thấy tiếng họ cười.
 
Nấp sau một giỏ thư cạnh cửa, tôi đợi cho đến khi họ xúm quanh người bị thương. Mới đầu nói bô bô và khoa chân múa tay, sau rồi chửi thề khe khẽ, họ băng bó cho y.
 
Hai quả đạn chống tăng trúng vào tường mặt tiền ở tầng dưới, rồi hai quả nữa, sau đó là im lặng. Những loạt súng từ hai tàu chiến đậu ở cảng Tự Do đối diện với Westerplatte ầm ì đằng xa - một kiểu làu bàu đều đều khiến ta quen dần với nó.
 
Không để những người trị thương trông thấy, tôi lẻn ra ngoài buồng kho thư, bỏ lại cái trống để tiếp tục tìm kiếm Jan, ông bác và có thể là bố tôi, và cả bác gác cổng Kobyella luôn thể.
 
Ở tầng ba, có căn hộ của chánh thư ký bưu vụ Naczalnik; ông này rõ ràng đã kịp thời cho gia đình sơ tán về Bromberg hay Vacxava rồi. Đầu tiên, tôi  soát máy buồng kho về mé sân rồi tôi tìm thấy Jan và Kobyella trong phòng trẻ của căn hộ Naczalnik.
 
Đó là một phòng sáng sủa, dễ thương với giấy phủ tường vui mắt; tiếc thay, đã có mấy chỗ bị đạn lạc làm xây xát. Thời bình, đứng ở cửa sổ phòng này mà nhìn ra Quảng trường Hevelius thì tuyệt. Một con ngựa bập bênh chưa bị hư hại, những quả bóng nhiều cỡ khác nhau, một lâu đài Trung cổ lỏng chỏng những lính kỵ và lính bộ bằng chì, một cái hộp đầy đường ray và toa chở hàng, mấy con búp- bê ít nhiều tơi tả, những nhà búp-bê với nội thất lộn xộn, tóm lại, những đồ chơi la liệt chứng tỏ ông chánh thư ký bưu vụ Naczalnik là cha của hai đứa con rất được nuông chiều, một trai một gái. May biết bao là hai đứa đã được sơ tán về Vacxava để tôi khỏi phải gặp một cặp anh em thuộc loại như anh em nhà Bronski mà tôi đã biết. Với một chút thích thú bạo ngược, tôi nghĩ thằng bé chắc sót lắm khi phải để lại đám lính chì. Có thể nó đã bỏ vào túi quần mấy chú lính kỵ để sau này tăng viện cho đoàn Kỵ binh Ba Lan trong trận đánh bảo vệ pháo đài Modlin.
 
Oskar đã hơi quá lan man về các chú lính chì, song có một điều nó phải thú thật luôn thể. Ở ngăn trên cùng một tủ đầy đồ chơi và sách ảnh, nó thấy một lô nhạc cụ thu nhỏ. Một cái t’rompet màu mật ong nằm im bên cạnh một bộ chuông hòa âm rất nhiệt tình hưởng ứng trận chiến, có nghĩa là cứ mỗi quả trái phá trúng tòa nhà, nó lại reng reng liên hồi. Một cái ắc-coóc sơn màu sang rũ xuống ở tít đâu bên phải, ông bố bà mẹ này cũng khá ngông nên mới sắm cho con cả một cây vĩ cầm thật với bốn dây vĩ cầm thật. Và ngay cạnh cây vĩ cầm, phô cái thân tròn trắng lành lặn, dựa trên một khúc gỗ chèn cho nó khỏi lăn khỏi ngăn tủ - quý vị ắt không tin! - là một cái trống đồ chơi với lớp vẹc-ni đỏ trắng.
 
Tôi không tìm cách tự lực kéo cái trống xuống khỏi giá. Oskar ý thức quá rõ về tầm với hạn chế của mình và không ngần ngại cầu xin ân huệ của người lớn trong những trường hợp mà kích cỡ quỷ lùn của nó tỏ ra bất lực.
 
Jan Bronski và Kobyella nằm sau một công sự bằng bao cát chiếm tới môt phần ba mé dưới các cửa sổ dài xuống tận sàn nhà. Jan trấn bên phải cửa sổ còn Kobyella ở bên trái. Tôi hiểu ngay ra rằng bác gác cổng hẳn không kiếm đâu ra thì giờ để thu hồi cái trống của tôi từ chỗ ẩn náu của nó bên dưới tay nhân viên bưu điện bị thương khạc máu đang mỗi lúc một đè dí nó xuống, và đem về chữa. Kobyella đang rất bận rộn; qua một kẽ giữa công sự bao cát, với cây súng trường của bác, theo những quãng cách đều đặn, bác nhằm bắn một khẩu phao chống tăng bố trí ở bên kia Quảng trường Hevelius, cách phố Schneidermühlen-Gasse và cầu Radaune không bao xa.
 
Jan nằm co quắp, giấu đầu và run rẩy. Tôi chỉ nhận ra ông ở bộ com-lê "ghi" sẫm rất "mốt" tuy giờ đây đã phủ đầy vôi vữa. Dây giày bên phải (cũng màu " ghi") của ông đã tuột. Tôi cúi xuống và  thắt lại cho ông. Khi tôi chỉnh múi dây cho chặt, Jan rùng mình, ngước đôi mắt xanh kỳ dị lên trên ống tay áo và gửi về phía tôi một cái nhìn ươn ướt, xanh veo không tưởng tượng nổi. Mặc dầu không bị thương (như Oskar mau chóng xác định), ông đang lặng lẽ khóc. Ông sợ. Tôi lờ đi như không thấy tiếng thút thít của ông, chỉ cái trống của Naczalnik-con đã sơ tán và bằng những cử chỉ khá rõ ràng yêu cầu ông bước tới chỗ cái tủ, tất nhiên phải hết sức thận trọng và lợi dụng góc chết của phòng trẻ và lấy cái trống xuống cho tôi. Ông bác tôi không hiểu tôi. Ông bố khả thể của tôi không thấy tôi nhằm nói điều gì. Người tình của mẹ tôi thì bận bịu với nỗi sợ choán đầy tâm trí đến nỗi những cử chỉ khẩn cầu của tôi không cố tác động nào khác ngoài việc làm tăng nỗi sợ ấy. Oskar những muốn thét vào mặt ông, nhưng sợ làm phân tán Kobyella lúc này dường như chỉ biết đến cây súng trường của mình.
 
Và như thế, tôi nằm xuống cạnh Jan, đằng sau những bao cát và áp sát vào người bác, hy vọng truyền một phần cái chất tỉnh bơ thường ngày của mình cho ông bác và có thể là bố. Một lúc sau, ông có vẻ bình tĩnh hơn. Bằng cách thở đều đặn đến mức tối da, tôi truyền cho mạch ông một nhịp gần như đều đều. Nhưng khi tôi thử một lần nữa - tôi phải công nhận là hơi quá sớm - lôi kéo sự chú ý của ông vào cái trống của Naczalnik-con bằng cách nhẹ nhàng xoay đầu ông từ từ nhưng kiên quyết về phía cái tủ, thì ông vân không hiểu ra tôi muốn cái gì. Nỗi sợ xâm nhập ông bằng đường chân, dâng lên tràn khắp người, rồi lại rút xuống, nhưng không thoát ra được, có lẽ vì đế giày của ông bao giờ cũng có miếng lót tăng cường nên nó quay trở lại xâm chiếm dạ dày, lá lách, gan, xông lên đầu và bành trướng mạnh mẽ đến nỗi đôi mắt xanh của ông trố ra khỏi hốc mắt và lòng trắng vằn lên những tia máu, điều mà trước đây, Oskar chưa bao giờ có dịp quan sát thấy nơi mắt ông bác.
 
Tôi phải cố gắng hồi lâu mới hồi chỉnh mắt bác tôi lại như cũ và làm cho tim bác ổn định một chút. Nhưng mọi nỗ lực có tính chất thẩm mỹ của tôi đều đổ xuống sông xuống biển khi bọn cảnh vệ bắt đầu bắn loại súng phóng không giật đã chiến của chúng và, với một độ chính xác chứng tỏ chất lượng rèn tập cao, san bằng cái hàng rào sắt trước cửa tòa nhà bằng cách lần lượt bắn tan các trụ gạch mà nó bám vào. Chắc phải có đến mười lăm-hai mươi trụ gạch như thế và mỗi lần một trụ đổ, ông bác tội nghiệp của tôi lại đau nhói cả trái tim lẫn linh hồn, như thể không phải chỉ là những cái bệ bị bắn nát thành bụi, mà cùng với chúng là những pho tượng tưởng tượng của những vị thần tưởng tượng quen thuộc với bác và cần thiết cho sự tồn tại của bác.
 
Chỉ bằng cách suy luận như thế tôi mới giải thích được tiếng kêu bật ra từ Jan mỗi khi khẩu súng phóng không giật bắn trúng đích, một tiếng kêu the thé xé tai đến nỗi nó có thể đạt được hiệu quả cắt kính của kim cương như cái giọng diệt thuỷ tinh của tôi nếu như nó được thốt ra một cách có ý thức và có mục đích. Trong tiếng kêu của Jan có nhiệt tình nhưng thiếu kế hoạch và hệ thống; rút cục, tất cả những gì nó làm được là thu hút sự chú ý của Kobyella; từ từ, bác gác cổng gày gò, tàn tật trườn về phía chúng tôi, nghếch cái đầu chim trụi hết lông mi như thây ma và quan sát nỗi cùng quẫn tay đôi của chúng tôi bằng đôi mắt xám ươn ướt. Bác lay lay Jan. Jan thút thít. Bác vạch áo sơ-mi của Jan và đưa tay lướt nhanh trên mình Jan, tìm xem có vết thương nào không - tôi phải cố nhịn cười. Không tìm thấy một vết xước nhỏ nào, bác lật ngửa người Jan lên, nắm lấy hàm ông mà lắc đến độ kêu răng rắc, gườm gườm nhìn vào mắt ông, chửi thề bằng tiếng Ba Lan làm bắn cả nước bọt vào mặt ông và cuối cùng, ném cho ông cây súng trường mà cho đến giờ Jan vẫn chưa đụng đến; thực tế, nó vẫn chưa được mở chốt an toàn. Báng súng va vào đầu gối Jan đánh bịch một cái. Cú đau ngắn ngủi, cú đau thể xác đầu tiên sau bao nỗi đau tinh thần, lại tốt cho ông, bỡi vì ông nắm lấy cây súng, hoảng lên khi cảm thấy cái lạnh của kim khí trong những ngón tay và, thoáng sau, cả trong máu nữa, nhưng rồi, được Kobyella động viên bằng những câu chửi thề xen lẫn dỗ dành, ông bò tới vị trí của mình.
 
Mặc dầu có một trí tưởng tượng phì nhiêu của phụ nữ, ông bố khả thể của tôi lại nhìn chiến tranh với con mắt hiện thực đến nỗi ông khó mà có thể - thực tế là không thể - dũng cảm được. Thay vì quan sát tầm nhìn bao quát qua khe ngắm giữa các bao cát để chọn ra một mục tiêu đích đáng, ông lại chếch cây súng lên, chĩa về phía những mái nhà trên Quảng trường Hevelius, vội vã bắn bừa bãi cho kỳ hết ổ đạn rồi, trắng tay, lại co quắp đằng sau những bao cát. Cái nhìn ngượng ngập ông hướng về Kobyella để cầu xin tha thứ làm tôi nghĩ đến cậu bé học sinh đang thú nhận là mình đã không làm bài tập ở nhà. Kobyella nghiến răng giận dữ, và khi thấy nổi cáu như thế là đủ, bác phá lên cười ngặt nghẽo như thể không bao giờ ngừng được. Thế rồi, đột ngột một cách dễ sợ, bác ngừng bặt và đá một cái nên thân vào ống đồng viên thư ký bưu vụ Bronski, cấp trên của bác. Bác vừa rụt cái chân khập khiễng lại toan lấy đà đá thêm cái nữa vào mạn sườn thì một loạt đạn súng máy nổ toang những ô kính còn lại phía trên cùng cửa sổ và sạt vào trần. Chiếc giày chỉnh hình trở về chỗ; bác gieo mình xuống sau cây súng và bắt đầu bắn với một nhịp độ hối hả cuồng khấu như để bù lại thời gian phí hoài vì Jan, góp một phần nhỏ bé, dù chỉ ở mức vi lượng, vào số đạn được tiêu phí trong Thế Chiến II.

Phải chăng bác gác cổng không nhận thấy tôi? Thường ngày, bác thuộc loại người cộc cằn; như mọi phế binh, bác có lối ứng xử để giữ khoảng cách khá xa với mọi người. Tại sao, tôi tự hỏi, bác lại chịu bỏ qua cho sự có mặt của tôi trong căn phòng hút gió này? Phải chăng Kobyella nghĩ rằng: dù sao đây cũng là một phòng trẻ, vậy tại sao Oskar không thể ở lại đây và chơi trong những khoảng ngưng nghỉ giữa hai đợt chiến đấu?
 
Tôi không biết chúng tôi đã nằm bẹp như thế bao lâu, tôi thì ở giữa Jan và bức tường bên trái của căn phòng, cả hai núp sau những bao cát, Kobyella đằng sau cây súng của bác, bắn cho cả hai suất. Khi tiếng súng ngừng, chắc là vào quãng mười giờ. Xung quanh trở nên tĩnh lặng đến nổi nghe thấy cả tiếng ruồi bay; tôi nghe thấy cả tiếng lao xao và những hiệu lệnh chỉ huy từ phía Quảng trường Hevelius và thỉnh thoảng lắng tai theo dõi tiếng pháo ầm ì từ những tàu chiến ngoài cảng. Một ngày tháng chín, trời trong đôi lúc vần mây, nắng trải một lớp sơn láng vàng già, không khí mỏng tang, nhạy cảm song hơi điếc. Chỉ còn mấy hôm nữa là đến sinh nhật lần thứ mười lăm của tôi. Và như mọi năm vào tháng chín, tôi lại cầu ước một cái trống mới, không hơn không kém; khước từ mọi vật báu trên thế gian, tâm nguyện tôi một mực hướng về một cái trống thiếc sơn đỏ và trắng.
 
Jan nằm không động đậy. Kobyella thở đều đều đến nỗi Oskar ngỡ bác ta đã ngủ, lợi dụng khoảng ngưng ngắn ngủi giữa trận đánh để làm một giấc; bởi vì chẳng phải là mọi người, kể cả những anh hùng, thi thoảng đều cần làm một giấc lấy lại sức sao? Riêng mình tôi là tỉnh như sáo, chăm chăm nhắm vào cái trống với tất cả sức tập trung không nhân nhượng của tuổi tôi. Xin đừng nghỉ rằng đến lúc này, khi im lặng mỗi lúc một dày và con ruồi mệt nhoài vì cái nóng mùa hè đã thôi vo ve, tôi mới nhớ đến cái trống của Naczalnik-con. Ồ, không, ngay cả trong trận đánh, ngay cả giữa lúc đạn nổ ầm ầm, Oskar vẫn không rời mắt khỏi cái trống. Nhưng chỉ đến bây giờ tôi mới thấy cái cơ hội vàng mà mọi thớ thần kinh trong người đều lệnh cho tôi phải nắm lấy.
 
Oskar từ từ đứng dậy, từ từ di chuyển, tránh những mảnh kính vỡ, nhưng kiên định mục đích và không chệch hướng, về phía tủ đồ chơi. Nó đang nghĩ cách chồng hộp đồ chắp hình xây dựng lên một cái ghế vườn trẻ thành một chỗ đứng đủ cao và chắc chắn để giúp nó thành chủ nhân của một cái trống mới toanh, thì tiếng Kobyella và liền đó, bàn tay chai xạn của bác giữ tôi lại. Tôi tuyệt vọng giơ tay chỉ cái trống đã gần kề. Kobyella kéo tôi trở lui. Bằng cả hai cánh tay, tôi với về phía cái trống. Bác gác cổng đã muốn nhượng bộ; bác đang sắp sửa với tay lên để trao hạnh phúc cho tôi thì một băng liên thanh nã vào phòng trẻ và mấy quả đạn chống tăng nổ ngay trước cửa vào. Kobyella quẳng tôi vào góc phòng cạnh Jan Bronski và trở lại vị trí đằng sau cây súng. Tôi vẫn còn nhìn lên cái trống thì bác đã bắt đầu bắn đến ổ đạn thứ hai.
 
Oskar nằm đấy và Jan Bronski, ông bác mắt xanh dịu hiền của tôi, thậm chí không nghếch mũi lên khi lão thọt chân đầu chim - mắt ướt nhoèn không-lông-mi lẳng tôi vào góc đằng sau những bao cát giữa lúc tôi áp sát mục tiêu. Oskar khóc ư? Đừng hòng. Một cơn cuồng nộ tích lại trong tôi. Những con ròi béo xanh xanh trăng trắng, không mắt ngọ nguậy, sinh nở nhung nhúc, đang tìm một cái xác bõ ăn. Ba Lan là gì đối với tôi? Và cả những người Ba Lan nữa? Họ chả có kỵ binh đó sao? Thì cứ để cho họ phóng ngựa! Họ luôn hôn tay phụ nữ và không bao giờ kịp thời nhận ra trước khi quá muộn rằng cái mà họ đang hôn không phải là những ngón tay lả lơi của một quý nương mà là một cái đầu nòng pháo không son phấn. Và cô tiểu thư con gái nhà Krupp [1] bèn bộc lộ tình cảm của mình. Cô chẹp môi, bắt chước những tiếng chiến trận một cách thô thiển nhưng thuyết phục như trong những đoạn phim thời sự. Cô vãi đạn như rắc hạt tiêu vào cửa trước nhà bưu điện, xông vào sảnh chính và cố ngoạm đứt một phần cầu thang để không ai lên hoặc xuống được. Tiếp đến là tùy tòng của cô: súng máy các cỡ và hai xe trinh sát bọc thép gọn nhỏ với những cái tên mỹ miều sơn trên mình: Ostmark (Đông tiến) và Sudeteland (Đất Sudete). Bọn này tha hồ xả láng nhá! Họ lái xe đi tới đi lui, bắn tằng- tằng-tằng đằng sau tấm thiết giáp và xem xét mọi thứ: hai cô tiểu thư ham chuộng văn hóa, háo hức muốn vào thăm toà lâu đài nhưng lâu đài còn đóng cửa. Vốn là những cô gái được nuông chiều, họ không thể chờ được, sốt ruột phát cuồng, họ phóng những cái nhìn xuyên sâu bằng chì xám, tất cả đều cùng một cỡ, vào mọi phòng nhìn thấy được trong lâu đài, khiến cho những người trong lâu đài nơm nớp hết nóng lại lạnh.
 
Đúng lúc một trong hai chiếc xe trinh sát - tôi nghĩ đó là chiếc Ostmark- vừa từ phố Rittergasse quay về phía chúng tôi, thì bác Jan của tôi từ ít phút đã hoàn toàn bất động, bỗng đưa chân phải về phía kã ngắm mà lẽ ra bác phải bắn ra từ đó, và giơ nó lên thật cao, hẳn là hy vọng có kẻ nào trông thấy mà cho nó một phát súng hoặc một viên đạn lạc rủ lòng thương mà xẹt vào gót hay bọng chân, gây nên vết thương ơn phước cho phép người lính được tập tễnh rời khỏi chiến trường.
 
Một tư thế khó mà duy trì được lâu. Thỉnh thoảng Jan lại phải thư giãn. Nhưng rồi bác tôi thay đổi tư thế. Bằng cách nằm ngửa và dùng cả hai tay đỡ, bác có thể phơi bọng và gót chân ra thật lâu, do đó cải thiện rất nhiều cái triển vọng trúng đạn, dù là đạn có nhằm trước hay đạn lạc.
 
Mặc dù đã từng và vẫn còn rất quý mến Jan, tôi vẫn dễ dàng hiểu sự giận dữ của Kobyella khi bác trông thấy thư ký bưu vụ Bronski, cấp trên của bác trong cái tư thế tuyệt vọng, nếu không muốn nói là lố bịch, này. Bác gác cổng nhảy dựng lên và với cú nhảy thứ hai, đã đứng bên chúng tôi. Bác túm lấy áo Jan và cả Jan luôn thể, kéo dựng lên rồi lại dận xuống, a-lê hấp! lên-xuống, lên-xuống, lên-xuống; buông hắn ra rồi, bác lại bạt trái, bạt phải và, vẫn chưa hả giận, hai tay bác chắp vào nhau, riết chặt thành một nắm đấm to tướng sắp nện xuống ông bố khả thể của tôi thì - vèo đến một tiếng như tiếng vỗ cánh của thiên thần, một tiếng như tiếng ê-te hát rào rào trong ra-đi-ô. Nó không trúng Bronski,  không, nó trúng Kobyella, lạy Chúa, cái quả đạn này mới có đầu óc hài hước làm sao! Gạch cười vỡ bụng tự tan thành từng mảnh và mảnh tan thành bụi, vữa biến thành bột tinh, gỗ nếm lưỡi rìu, cả cái phòng trẻ ngớ ngẩn xoay ra nhảy lò cò, những con búp-bê Käthe Kruse vỡ toác, con ngựa bập bênh chạy lồng (nếu có người cưỡi thì nó đã hất lộn nhào!), kỵ sĩ Ba Lan đồng loạt trấn cả bốn góc phòng và cuối cùng ngăn đồ chơi đổ nhào: bộ chuông hòa âm vang lên mừng lễ Phục sinh, cái ắc- coóc rít lên, cây kèn t’rompet pồm pem, như cả dàn nhạc lên dây rồi đồng loạt dạo chủ đề chính: la hét, hí, ùng oàng, reng reng, xèn xẹt, líu ríu, thành một tạp âm hỗn hợp từ cao vút, the thé đến trầm tới đáy cùng. Còn tôi thì, đúng như một đứa trẻ lên ba, tôi ở ngay dưới cửa sổ, đúng góc chết, khi quả đạn nổ và thế là cái trống rơi ngay vào lòng tôi. Không một lỗ thủng nào và lớp sơn chỉ hơi xước tí gọỉi là: đó, cái trống mới của Oskar.
 
Khi tôi ngước mắt lên khỏi vật sở hữu mới của mình, tôi thấy mình cần phải giúp ông bác lúc này đang bị thân hình nặng nề của bác gác cổng đè lên: rõ ràng ông không thể tự lực thoát ra khỏi. Thoạt đầu, tôi ngỡ Jan cũng bị trúng đạn vì tôi thấy ông thút thít khóc rất chi là thật Cuối cùng, khi chúng tôi lăn được Kobyella sang một bên - bác ta đang rên cũng rất chi là thật - thì hoá ra những vết thương của Jan chả có gì đáng ngại. Má phải và một mu bàn tay ông bị mảnh thuỷ tinh vỡ làm xước da, có thế thôi. Một thoáng so sánh cho tôi thấy rằng máu ông bố khả thể của tôi nhạt màu hơn dòng máu sẫm và dinh dính thấm qua phía trên đùi ống quần của bác gác cổng.
 
Không biết Kobyella hay trái nổ đã xé toạc và vặn xoắn cái áo vêt-tông xám sang trọng của Jan. Nó rũ xuống tả tơi từ trên vai ông, lần lót xổ ra, khuy biến đi đâu hết, các đường chỉ đứt tung và các túi lộn từ trong ra ngoài.
 
Xin quý vị hãy khoan dung một chút với ông bác Jan Bronski tội nghiệp của tôi về chuyện ông cố gom vét thu nhặt lại tất cả những gì trong túi ông văng ra trước khi cùng tôi kéo Kobyella ra khỏi phòng trẻ. Ông tìm lại được cái lược, những tấm ảnh người thân yêu - trong đó có một tấm chụp mẹ tội nghiệp của tôi - cái ví nguyên xi không bị mở tung. Vất vả và không phải không nguy hiểm - hơi nổ đã quét phăng một bộ phận công sự bao cát - ông tập hợp những quân bài xì-cạt vung vãi khắp phòng; ông muốn thu hồi đủ cả ba mươi hai quân và ông thật sự khổ sở khi không tìm thấy quân thứ ba mươi hai. Khi Oskar tìm thấy nó ở giữa hai cái nhà búp-bê tan nát và đưa cho ông, Jan mỉm cười, dù đó chỉ là quân bảy pích.
 
Chúng tôi kéo Kobyella ra khỏi phòng trẻ. Khi, cuối cùng, chúng tôi đưa được bác ra tới hành lang, bác gom đủ sức để ú ớ mấy câu mà chỉ Jan Bronski nghe ra được. "Vẫn còn nguyên chứ?" câu hỏi của bác là thế. Jan thò tay vào trong quần Kobyella, kiểm tra giữa hai đùi ông già, thấy cả một nắm và gật đầu.
 
Tất cả chúng tôi đều sung sướng: Kobyella giữ được vẹn toàn niềm tự hào nam nhi của mình, Jan Bronski tìm được đủ các quân bài xì-cạt, kể cả quân bảy pích, và Oskar có một cái trống mới. Cứ mỗi bước, nó lại đập vào đầu gối tôi, trong khi Jan và một người mà ông gọi là Victor khiêng bác gác cổng xỉu đi vì mất nhiều máu xuống tầng dưới về buồng kho chứa thư chưa chuyển.
 
Chú thích :
 [1] Krupp: dòng họ kỹ nghệ gia lớn cúa Đức. Khởi nghiệp là Fried (1787-1820), người sáng lập Xí nghiệp sắi thép Krupp. Kế đến Alfred (1812-1887) bắt đầu sản xuất quân khí, lần đầu tiên chế tạo súng có cơ bẩm. Con trai ông Friedrich Alfred (1854-1902) nối nghiệp và khi chết truyền lại cho con gái là Bertha (1886- 1957). Chồng bà này, được sự dồng ý của Chính phủ Đức, đổi sang họ Krupp, thành Krupp von Bohlen und Halbach
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2016 17:50:09 bởi tducchau>
[...]
 
BỘT SỦI

Cái đó có nghĩa gì với quý vị không? Dạo xưa, người ta có thể mua nó vào bất cứ lúc nào trong năm, đóng trong những gói nhỏ bèn bẹt. Ở cửa hàng chúng tôi, mẹ tôi bán "Bột sủi Waldmeister'" trong một loại gói màu xanh nom phát ớn. Một loại gói khác có màu cam-chưa-chín-hẳn gọi là "Bột sủi vị cam." Cũng có loại vị phúc bồn tử và một loại nữa đổ nước mát vào là kêu xèo xèo, sủi bọt, xáo lộn và uống vào trước khi lắng xuống thì phảng phất vị chanh và trong cốc, màu chanh còn rõ hơn: một màu vàng nhân tạo, có vẻ độc hại.

Ngoài vị ra, còn có gì khác được ghi trên bao bì? Sản phẩm tự nhiên. Nhãn hiệu trình toà. Bảo đảm chống ẩm. Và dưới một đường chấm chấm: Xé ở đây.

Còn có thể mua bột sủi ở nơi nào khác? Không chỉ ở cửa hàng mẹ tôi, mà ở tất cả các cửa hàng tạp hoá, trừ cửa hàng của Kaiser và các hợp tác xã. Ở các cửa hàng và tất cả các quầy giải khát, mỗi gói giá ba xu.

Maria và tôl được uống không mất tiền. Chỉ khi nào không đợi được đến lúc về nhà, chúng tôl mới buộc phải ghé vào một hiệu tạp hoá hoặc một quầy giải khát, trả ba xu hoặc thâm chí sáu xu vì hai đứa uống chung không đã, thường phải gọi hai gói.

Ai đã đầu têu chuyện bột sủi? Cái thói cãi lộn muôn thuở giữa những cặp tình nhân. Tôi bảo tại Maria. Maria thì không bao giờ đổ tại Oskar. Nàng để ngỏ câu hỏi và, nếu bị hỏi dồn, nhiều lắm nàng cũng chỉ nói: "Bột sủi đã gây nên chuyện."

Tất nhiên, mọi người đều đồng ý với Maria. Chỉ riêng Oskar là không thể chấp nhận phán quyết ấy. Không bao giờ tôi chịu thừa nhận rằng Oskar lại bị quyến rũ bởi một gói bột sủi nhỏ nhoi giá có ba xu bọ. Tôi đã mười sáu tuổi, tôi thà buộc tội chính mình hoặc Maria, nếu cần, chứ nhất quyết không đổ cho một thứ bột đòi hỏi được bảo vệ để chống ẩm.

Chuyện bắt đầu sau sinh nhật tôi mấy ngày. Theo lịch thì mùa tắm biển sắp kết thúc. Nhưng thời tiết thì lại không buồn để ý gì đến tháng chín. Sau một tháng tám mưa rền, mùa hè cần chứng tỏ nhiệt huyết và ta có thể đọc những thành tích muộn màng của nó trên tấm bảng đen bên cạnh tờ áp-phích hô hấp nhân tạo: không khí: 84; nước: 20; gió: tây nam; dự báo: nói chung trời đẹp.
Trong khi Fritz Truczinski, một hạ sĩ trong không đoàn, gửi những bưu ảnh từ Paris, Copenhagen, Oslo và Brussels - anh luôn phải đi xa làm công vụ - thì Maria và tôi đã có được một nước da rám nắng. Đến tháng bảy, chúng tôi chiếm được một chỗ bãi biển gia đình. Nhưng đây, Maria bị sự quậy phá của đám thanh niên từ Conradlnum và sự tỏ tình không dứt của một sinh viên trường Petri; giữa tháng tám, chúng tôi chuyển về bãi biển dành cho nữ, ở đó chúng tôi kiếm được một chỗ yên tĩnh gần bờ nước. Những bà béo tròn hào hển, phì phò, nhúng đôi chân bị chứng giãn tĩnh mạch xuống ngập đầu gối và những thằng nhóc trần truồng khai chiến với định mệnh, có nghĩa chúng đắp cát thành những lâu đài thô sơ cứ đổ ụp suốt.

Bãi tắm nữ: khi những phụ nữ có một mình và tưởng không bị ai nhòm ngó, thì một thanh niên - và Oskar ý thức rõ rằng dưới vẻ bề ngoài, nó là một thanh niên - tốt nhất là nên nhắm mắt lại chứ đừng nên là nhân chứng, dù là vô tình, của chất nữ không che đậy.

Chúng tôi nằm trên cát, Maria trong bộ đồ tắm màu xanh lá cây viền đỏ, tôi trong bộ đồ xanh lơ. Cát ngủ, biển ngủ, những vỏ ốc, sò... đã bải hoải và không thiết nghe. Hổ phách, được cho là có đặc tính làm cho tỉnh ngủ, thì ở nơi khác; gió, mà bản tin báo là thổi từ hướng tây nam, cũng dần dần buồn ngủ; cả bầu trời mênh mông, chắc chắn đã làm việc quá sức, giờ chỉ ngáp hoài. Maria và tôi cũng hơi mệt. Chúng tôi đã tắm và sau (chứ không phải trước) khi tắm, đã ăn. Những trái anh đào của chúng tôi, giờ chỉ còn là những hột ướt, nằm trên cát bên cạnh những hột anh đào đã trắng trợt ra từ năm ngoái.

Nhìn thấy bao cảnh phù du như vậy, Oskar bèn xoay ra bốc từng nắm cát lẫn với những hột anh đào tươi mới và những hột khác đã một tuổi hoặc nghìn tuổi và cho chảy xuống cái trống; như vậy nó hiện thân cho cái đồng hồ cát và đồng thời cố hình dung mình trong vai thần chết chơi với những lóng xương. Dưới lớp da thịt âm ấm và buồn ngủ của Maria, tôi tưởng tượng ra các bộ phận của bộ xương chắc là tỉnh như sáo của nàng; tôi khoái nhìn giữa xương quay và xương trụ, chơi trò đếm dọc xương sống nàng hết lên lại xuống, xuyên qua hố xương chậu và nghịch xương mỏ ác của nàng.

Tôi đang khoái đóng vai thần chết với cái đồng hồ cát và bộ xương của tôi thì Maria cựa quậy, vẫn nhắm mắt, tin tưởng hoàn toàn vào những ngón tay của mình, nàng với tay vào trong túi đồ tắm, tìm cái gì đó, trong khi tôi trút nốt chỗ cát và hột anh đào còn lại xuống cái trống lúc này đã bị vùi đến nửa phần. Một lát sau, khi không thấy vật nàng định tìm, có lẽ là chiếc ácmônica, Maria lộn cái túi ra và một cái gì nằm ềnh trên tấm khăn trải trên bãi biền. Nhưng đó không phải là một chiếc ácmônica mà là một gói bột sủi Waldmeister.

Maria làm ra vẻ ngạc nhiên. Hay có khi nàng ngạc nhiên thật. Còn tôi thì ngạc nhiên thật: tôi cứ tự hỏi hoài hoài (đến bây giờ vẫn thế): làm sao cái túi bột sủi này, cái đồ rẻ thối này mà chỉ có con cái đám công nhân cảng và bọn thất nghiệp mới sài vì không có tiền mua nước ngọt thứ thiệt, làm sao cái của không bán được cho ai này lại lọt vào trong túi đồ tắm của chúng tôi?

Trong khi Oskar băn khoăn suy nghĩ thì Maria nổi cơn khát. Và dứt khỏi dòng suy tư, cả tôi nữa, trái với ý muốn của mình, tôi cũng phải thú nhận là mình khát không chịu nổi. Chúng tôi không có cốc tách gì cả, và từ đây đến chỗ vòi nước uống, phải mất ba mươi lăm bước nếu María đi và năm mươi bước nếu tôi đi. Muốn mượn nhân viên phục vụ một cái cốc và dùng cái vòi nước cạnh nhà quản lý bãi tắm, phải đi qua bãi cát nóng bỏng chân giữa những núi thịt bóng nhãy dầu tắm nắng Wives, người nằm ngửa kẻ nằm sấp.

Cả hai chúng tôi đều ngại đi nên cứ để gói bột sủi nằm trên khăn trải. Cuối cùng, tôi nhặt nó lên trước khi Maria tỏ dấu hiệu gì muốn nhặt nó lên. Nhưng Oskar đặt nó trở lại trên khăn trải để Maria có thể với tay ra lấy. Maria không với tay ra. Thế là tôi với tay ra và đưa nó cho Maria. Maria trả nó lạl cho Oskar. Tôi cảm ơn nàng và tặng nó cho nàng. Nhưng nàng không muốn quà tặng của Oskar. Tôi lại phải để nó trở lại trên tấm khăn. Nó nằm đó hồi lâu không động cựa.

Oskar muốn nêu rõ rằng chính Maria, sau một hồi ngưng nghỉ ngột ngạt, đã lại nhặt cái gói lên. Nhưng không phải chỉ có thế; nàng còn xé luôn một vạt theo đường chấm chấm đúng ở chỗ có ghi: Xé ỏ Đây. Rồi nàng giơ cái gói đã mở ra - cho tôi. Lần này, Oskar cảm ơn và từ chối. Maria tỏ vẻ phật ý. Nàng kiên quyết để cái gói đã mở xuống khăn trải. Tôi còn biết làm gì ngoài việc nhặt cái gói lên trước khi cát tràn vào trong, và đưa cho Maria.

Oskar muốn nói rõ rằng chính Maria đã đút cả một ngón tay vào miệng gói rồi lại rút ra và dựng thẳng lên xem xét: có thể thấy một cái gì trăng trắng xanh xanh - bột sủi - ở đầu ngón tay. Nàng chìa ngón tay cho tôi. Dĩ nhiên là tôi nhận. Mặc dù nó làm mũi tôi nhột nhột, tôi vẫn làm vẻ mặt thích thú. Chính Maria đã ngửa ra một bàn taý khum khum. Oskar khó lòng không đổ một chút bột sủi vào cái bát da hồng hồng ấy. Nàng không biết phải làm gì với dúm bột. Cái đống ấy trong bàn tay khum lại như cái chén của nàng là một cái gì quả mới, quá lạ lẫm… Tới đây, tôi ngả người về đằng trước, huy động tất cả trữ lượng nước bọt và nhổ vào đống bột. tôi lặp đi lặp lại thao tác đó và chỉ ngả người về đằng sau khi đã cạn nước bọt.

Trong bàn tay Maria, bắt đầu sèo sèo và sủi bọt. Chất waldmeister nổ như hỏa diệm sơn, sôi như cơn cuồng nộ xanh của một dân tộc ngoại lai nào đó. Một cái gì đang diễn ra mà Maria chưa từng nhìn thấy và có lẽ chưa từng cảm thấy, vì tay nàng rung lên, run bần bật, và định bay đi vì chất waldmeister đang cắn nàng, waldmeister thấm vào da nàng, waldmeister kích thích nàng, đem lại cho nàng một cảm giác, một cảm giác nó, một cảm giác mà...

Màu xanh xanh đậm hơn, còn Maria thì lại đỏ dừ, nàng đưa tay lên ngang miệng và thè một cái lưỡi dài liếm lòng bàn tay mình. Nàng làm nhiều lần như thế, một cách cuồng khấu đến nỗi Oskar gần như ngờ rằng, chẳng những không làm dịu cái cảm giác mà chất Waldmeister khuấy lên trong nàng, lưỡi nàng còn đẩy nó lên đến giới hạn quy định cho mọi cảm giác, thậm chí còn vượt qua cả giới hạn đó nữa.

Rồi cái cảm giác ấy lụi đi. Maria cười khanh khách, nhìn quanh để chắc chắn là không có ai chứng kiến cảnh vừa rồi, và khi thấy đám bò cái biển hổn hển trong những bộ đồ tắm vẫn nằm bất động, dửng dưng, nàng bèn nằm xuống tấm khăn trải. Trên nền trắng ấy, sắc đỏ ở nàng tiêu tan dần.

Có lẽ không khỉ ven biển trưa nay lại làm cho Oskar buồn ngủ và nó đã suýt thiếp đi nếu, mấy phút sau, Maria không ngồi dậy và một lần nữa với tay ra lấy cái gói vẫn còn đầy tới nửa. Tôi không biết có phải nàng đấu tranh với bản thân hay không trước khi đổ chỗ bột còn lại vào lòng bàn tay giờ đây đã không còn lạ gì tác động của waldmeister. Trong khoảng thời gian đủ cho một người lau mục kỉnh, nàng cầm cái gói bên tay trái và giơ bàn tay phải khum lại như cái bát lên ngang tầm, bất động và đối lập. Nàng không nhìn hẳn về phía cái gói hay cái tay bát, hoặc đưa mắt qua lại giữa đầy-một-nửa và trống không. Không, Maria nhìn thẳng, giữa gói và tay, với một cái cau mày nghiêm nghị. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, sự nghiêm nghị của nàng tỏ ra yếu hơn cái gói còn đầy một nửa. Cái gói sáp lại gần bàn tay khum, bàn tay tiến đến gặp cái gói, mắt nhìn mất vẻ nghiêm nghị chớm buồn, trở nên tò mò, rồi hau háu thật sự. Cố hết sức làm ra vẻ dửng dưng, nàng dốc chỗ bột sủi waldmeister còn lại vào lòng bàn tay đầy đặn, khô ráo bất chấp trời nóng bức. Rồi vứt luôn cả vẻ dửng dưng cùng với cái túi rỗng, nàng lấy bàn tay giờ trống không đỡ lấy bàn tay đầy, dán đôi mắt xám vào mớ bột một lúc, rồi nhìn tôi, gửi đến tôi một cái nhìn xám, đôi mắt xạm của nàng đang yêu cầu tôi một điều gì. Nàng cần nước bọt của tôi, tại sao nàng không dùng nước bọt của mình, Oskar chả còn mấy tí, chắc chắn nàng có nhiều hơn, nước bọt đâu có thể hồi hoàn đầy lại nhanh như thế được, nàng nên dùng nước bọt của mình, cũng tốt như thế, có khi còn tốt hơn, dù sao đi nữa chắc chắn nàng còn nhiều hơn tôi, bởi vì tôi không thể chế nước bọt nhanh thế được và cũng bởi vì nàng to hơn Oskar.

Maria cần nước bọt của tôi. Ngay từ đầu, đã rành rành là chỉ có nước bọt của tôi là đáng kể. Nàng không rời mắt khỏi tôi, đôi mắt đăm đăm đòi hỏi. Và tôi gán nguyên nhân sự ngoan cố độc ác ấy cho những cái dái tai đáng lẽ thõng xuống tự do thì lại dính thẳng vào hàm dưới. Oskar nuốt đánh ực; nó nghĩ đến những thứ mà bình thường vẫn làm nó nhỏ nước miếng, nhưng – hẳn là tại không khí biển, không khí muối, không khí biển mặn - các hạch nước bọt vẫn đình công. Bị đôi mắt của Maria đốc thúc, tôi đứng dậy và bắt đầu đi. Lao dịch của tôi là đi hơn năm mươi bước qua cát bỏng, không nhìn ngang nhìn ngửa, leo những bậc còn nóng bỏng hơn lên đến nhà quản lý bãi tắm, vặn vòi nước, ngoẹo đầu ghé miệng vào đó mà uống, mà xúc miệng, mà nuốt để cho Oskar có thể được nạp đầy lại.

Khị tôi đã hoàn tất cuộc hành trình bất tận với những ảnh dễ sợ hai bên đường từ nhà quản lý bãi tắm về tấm khăn trải màu trắng của chúng tôi, tôi thấy Maria nằm sấp, đầu rúc vào cánh tay. Những bím tóc trễ nải vắt trên cái lưng tròn của nàng.

Tôi chọc chọc nàng vì Oskar đã có nước bọt. Maria không động đậy. Tôi lại chọc. Không ăn thua. Tôi khẽ khàng mở bàn tay trái của nàng ra. Nàng không cưỡng lại: bàn tay trống không như thể chưa bao giờ biết đến chất waldmeister vậy. Tôi uốn thắng lại những ngón của bàn tay phải: lòng bàn tay hồng hồng, ấm nóng và trống trơn.

Phải chăng Maria đã dùng nước bọt của chính mình? Phải chăng nàng đã không thể chờ? Hay nàng đã phủi chỗ bột sủi ấy đi, bóp nghẹt cái cảm giác nọ trước khi cảm thấy nó? Phải chăng nàng đã chùi sạch tay vào khăn trải cho bàn tay quen thuộc của Maria xuất hiện trở lại?

Một lát sau, chúng tôi trở về nhà. Và Oskar sẽ không bao giờ biết là Maria có làm cho bột sủi sủi lần thứ hai trong cùng ngày hôm ấy hay phải đến mấy hôm sau, việc trộn bột sủi với nước bọt của tôi, qua lặp đi lặp lại, mới trở thành một thói xấu của nàng và của tôi.

Tình cờ - hay nếu quý vị muốn, do một sự tình cờ phù hợp với mong muốn của chúng tôi - vào bữa tối của cái ngày tắm biển vừa được mô tả - thực đơn: xúp dâu xanh, bánh kếp khoai - Matzerath thông báo chi tiết cho Maria và tôi biết rằng ông đã gia nhập một câu lạc bộ xì-cạt gồm toàn tổ trưởng của phân bộ Đảng địa phương; rằng mỗi tuần, câu lạc bộ này sẽ họp mặt hai tối ở tiệm ăn của Springer, rằng Sellke, sếp mới của phân bộ, thỉnh thoảng cũng sẽ dự, và chỉ riêng điều đó đã khiến ông bắt buộc phải có mặt, có nghĩa là phải để chúng tôi ở nhà một mình. Theo ông, cách thu xếp tốt nhất là để Oskar ngủ ở nhà Mamăng Truczinski vào những đêm xì-cạt.

Mamăng Truczinski tán thành ngay, nhất là vì giải pháp này hợp ý bà hơn nhiều so với đề nghị mà Matzerath đã đưa ra với bà hôm qua mà không hề hỏi ý kiến Maria, cụ thể là: mỗi tuần hai đêm, Maria sẽ ngủ trên đi-văng phòng khách nhà chúng tôi, thay vì Oskar qua đêm bên nhà Mamăng Truczinski.

Cho đến bấy giờ, Maria vẫn ngủ trên cái giường rộng, nơi trước kia anh bạn Herbert của tôi vẫn ngả tấm lưng đầy sẹo của mình. Cái đồ gỗ nặng ngoại cỡ này chấn giữ căn phòng nhỏ phía trong cùng. Giường của Mamăng Truczinski kê ngay trong phòng khách. Guste Truczinski, vẫn hầu bàn ở quầy ăn uống trong Khách sạn Eden, ở luôn tại khách sạn, thi thoảng mới về nhà vào ngày nghỉ nhưng họa hoằn mới qua đêm, và khi nào ngủ lại, đều nằm trên đi-văng. Khi nào Fritz Truczinski về phép, mang nặng quà cáp từ những miền xa lạ, anh ngủ ở giường của Herbert, Maria chiếm giường Mamăng và bà già chuyển sang đi-văng.

Sự sắp xếp ấy bị đảo lộn bởi những yêu cầu của tôi. Thoạt đầu, người ta định xếp tôi nằm ở đi-văng, điều mà tôi bác bỏ thắng thừng. Thế rồi Mamăng Truczinski đề nghị nhường giường của bà cho tôi. Còn bà thì nằm đi-văng. Lần này, đến lượt Maria phản đối, nàng muốn mẹ già ngủ ngon, không bị thao thức vì thiếu tiện nghi. Rất giản dị và thẳng thắn, Maria tuyên bố sẵn sàng chia sẻ với tôi chiếc giường cũ của Herbert. "Con nằm chung giường với Oskar là ổn," nàng nói, "Cậu ta chỉ chiếm một phần tám chỗ thôi."
Vậy là bắt đầu từ mấy ngày sau đó, mỗi tuần hai lần, Maria mang chăn, nệm và khăn trải giường của tôi từ căn hộ tầng trệt của chúng tôi nhà Truczinski ở tầng hai và chuẩn bị một đêm trọ cho tôi và cái trống của tôi ở phần bên trái giường của nàng. Đêm đầu tiên Matzerath sinh hoạt với câu lạc bộ xì-cạt mới, không có chuyện gì xảy ra cả. Cái giường của Herbert có vẻ to khủng khiếp đối với tôi. Tôi đi nằm trước, Maria vào sau. Nàng đã tắm rửa ở trong bếp và vào phòng ngủ trong một chiếc áo ngủ kiểu cổ hồ gột cứng quèo và dài một cách kỳ cục. Oskar đã chờ đợi thấy nàng khoả thân và lông lá nên mới đầu cũng thất vọng, nhưng rồi nó mau chóng hài lòng vì cái áo ngủ gia truyền hoá ra lại là chiếc cầu êm dịu nối mạch nhớ cho nó liên tưcmg đến bộ đồ trắng của những nữ y tá dạo nào.

Đứng trước bàn trang điểm, Maria vừa tháo gỡ những bím vừa huýt gió. Maria bao giờ cũng huýt gió trong khi mặc hay cởi quần áo, tết hay gỡ tóc. Ngay cả khi chải tóc, nàng vẫn không ngừng chúm môi phát ra hai nốt không bao giờ thành điệu ấy.
Đặt lược xuống một cái là Maria thôi huýt sáo liền. Nàng xoay người, rũ tóc một lần nữa, xếp gọn bàn trang điểm bằng vài động tác mau lẹ. Sự ngăn nắp khiến nàng trở nên nhí nhảnh: nàng gửi một cái hôn tới ông bố rậm ria trong tấm ảnh có sửa thêm lông khung gỗ mun rồi với một đà phấn hứng thái quá, nhảy tùm vào giường và nhún nhún liền mấy cái. Đến cái nhún cuối cùng, nàng vớ lấy tấm nệm nhồi lông chim và chui tọt vào trái núi ấy, trùm kín đến tận cằm. Tôi nằm dưới tấm nệm của mình và nàng không hề đụng đến tôi; nàng vươn một cánh tay tròn trặn từ dưới tấm nệm lông chim, quờ quờ trên đầu tìm cái dây công tắc điện, sờ thấy nó và giật tắt đèn. Chỉ đến khi tối om, nàng mới nói. khá to: "Ngủ ngon nhé!".

Chỉ lát sau, Maria đã thở đều đều... Tôi không nghĩ là nàng giả vờ; việc nàng lăn ra ngủ ngay là hoàn toàn tự nhiên vì khối lượng công việc nàng làm mỗi ngày tất phải đòi hỏi một lượng giấc ngủ tương đương.

Hồi lâu, những hình ảnh hấp dẫn lướt qua trước mắt Oskar khiến nó không ngủ được. Bất chấp bóng tối dày đặc giữa những bức tường và những cửa sổ dán giấy phòng không, các nữ y tá vẫn cúi xuống xem xét tấm lưng đầy sẹo của Herbert; từ chiếc sơ- mi trắng nhàu nát của Leo Schugger bay lên một con hải âu (liệu quý vị có thể chờ đợi cái gì khác?), nó bay mãi đến khi đâm sầm vào một bức tường nghĩa trang tan xác và bức tường bỗng có vẻ vừa mới được quét vôi trắng xóa. Cứ như thế, như thế. Mãi đến khi mùi va-ni ru ngủ không ngừng tăng lên làm cho cuốn phim trở nên chập chờn trước mắt nó, Oskar mới bắt đầu thở bình yên như Maria đã làm thế từ lâu.

Ba ngày sau, tôi lại được ngắm vẫn cái cảnh màu mè thiếu-nữ-sửa-soạn-đi-ngủ ấy. Nàng bước vào, vừa gỡ bím tóc vừa huýt sáo, vừa chải đầu vừa huýt sáo, đặt lược xuống và thôi huýt sáo, xếp gọn bàn trang điểm, hôn gửi tấm ảnh, nhảy đại vào giường, vớ lấy tấm nệm lông chim và chợt nhìn thấy - lúc này tôi đang ngắm lưng nàng - nhìn thấy một gói nhỏ - tôi đang chiêm ngưỡng mớ tóc dài yêu kiều - phát hiện thấy một cái gì xanh xanh trên nệm trải giường - tôi nhắm mắt, quyết định chờ đến khi nàng quen mắt với gói bột sủi. Lò-xo giường cót két dưới trọng lượng của một nàng Maria ngật ngửa người xuống giường. Tôi nghe thấy tiếng ‘tách’ và khi tôi mở mắt ra vì tiếng đó, Oskar có thể xác nhận được điều mà tôi đã biết trước. Maria đã tắt đèn và đang thở đứt quãng trong bóng tối; nàng chưa thể quen được với việc nhìn thấy bột sủi ở đó. Tuy nhiên, rất có thể là bóng tối do chính nàng thiết lập chỉ làm nổi bật thêm sự tồn tại của bột sủi, khiến chất waldmeister nở rộ và pha trộn bọt xôđa vào với đêm đen.

Tôi gần như tin rằng bóng tối về hùa với tôi. Bởi vì sau mấy phút - nếu như người ta có thể tính phút trong một căn phòng tối đen như mực - tôi nhận thấy những chuyển động ở đầu giường: Maria đang mò tìm sợi dây công-tắc, sợi dây giật và thoắt cái, tôi lại được chiêm ngưỡng một lần nữa mớ tóc dài yêu kiều xòa xuống chiếc áo ngủ ở tư thế ngồi của Maria. Đằng sau cái chao đèn xếp nếp, cái bóng điện mới sáng đều và vàng làm sao! Tấm nệm lông chim vẫn lù lù một đống dưới chân giường. Trên cái đống ấy, gói bột sủi vẫn nằm im không dám động cựa trông đêm tối. Chiếc áo ngủ gia truyền của Maria xột xoạt, một ống tay giơ lên cùng với bàn tay nhỏ trong đó và Oskar tập hợp nước bọt trong miệng.

Trong những tuần tiếp theo, hai chúng tôi rốc cạn hơn một tá gói bột sủi, phần lớn có vị waldmeisster, rồi khi hết waldmeisster, thì vị chanh hoặc phúc bồn tử, vẫn tiến hành theo cách cũ: dùng nước bọt của tôi làm cho nó sủi và đem lại cho Maria một cảm giác mà nàng ngày càng đánh giá cao. Tôi phát huy một kỹ thuật tập hợp nước bọt, nghĩ ra những mẹo làm nước ứa ra nhanh và nhiều trong miệng và chẳng bao lâu đã có thể, mỗi gói ba lần, mang lại cho Maria cái cảm giác mong muốn đó.

Maria hài lòng với Oskar; đôi khi sau cuộc giao hoan với bột sủi, nàng ghì chặt lấy nó và hôn hai ba lần lên bất kỳ chỗ nào trên mặt. Rồi cười khúc khích một lúc trong bóng tối và mau chóng ngủ thiếp đi.
 
Tôi thì càng ngày càng khó ngủ. Tôi đã mười sáu tuổi, đầu óc năng nổ và đầy ắp một nhu cầu đối nghịch với giấc ngủ là đem lại cho tình yêu của tôi đối với Maria những khả năng khác kỳ thú hơn những khả năng ngủ yên trong bột sủi phải chờ nước bọt của tôi đánh thức mới gây nên một cảm giác không thay đổi, trước sau vẫn thế.
 
Những suy nghĩ của Oskar không chỉ bó hẹp trong thời gian sau khỉ tắt đèn. Suốt ngày, tôi ngẫm ngợi đằng sau cái trống, lật giở những trang trích từ cuốn Rasputin, cố nhớ lại những cuộc giao hoan đầy tính chất giáo dục dạo xưa gỉữa Gretchen Scheffler và mẹ tội nghiệp của tôi, tham khảo Goethe mà tôi có một số trích đoạn từ Những ái lực chọn lọc tương tự như những đoạn trích từ Rasputin; vậy là tôi mượn của tay pháp sư cái xung lực vũ bão, điều hòa nó bằng tình cảm phổ quát đối với tự nhiên của đại thi hào; đôi khi tôi gán cho Maria dáng vẻ của Nữ hoàng Nga hoặc những nét của Nữ quận công Anastasia, chọn lựa các nàng trong đoàn quý tộc lập dị bám theo Rasputin; nhưng rồi mau chóng phát ớn vì thói dâm dục thái quá của họ, tôi hình dung Maria với vẻ trong veo thiên giới của một nàng Ottilie hay với niềm đam mê trong trắng biết kiềm chế của một nàng Charlotte. Oskar lần lượt thấy mình là đích thị Rasputin, là kẻ sát hại ông, nhiều lúc lại là một đại úy, hãn hữu hơn là anh chồng hay dao động của Charlotte và một lần - tôi phải thú nhận vậy - là một thiên tài với những nét quen thuộc của Goethe rập rờn trên một nàng Maria thiêm thiếp giấc nồng.
 
Kể cũng lạ, tôi trông chờ những gợi ý từ văn học nhiều hơn là từ đời sống thực, trần trụi. Jan Bronski, mà tôi đã bao lần thấy vần vò da thịt mẹ tôi, hầu như chả dậy tôi được điều gì. Đã đành, tôi biết cái mớ xoắn vào nhau ấy - lúc thì là mẹ và Jan, khi lại là Matzerath và mẹ - cái nút bùng nhùng hết thở dài lại rên, rồi hổn hển vì mệt và cuối cùng rời nhau ra nhầy nhụa ấy, có nghĩa là tình yêu. Tuy nhiên, Oskar không muốn tin rằng cái tình yêu ấy là tình yêu; bản thân tình yêu khiến nó loay hoay đi tìm một thứ tình yêu khác, thế nhưng quanh đi quẩn lại, nó vẫn trở về với cái thứ tình yêu xoắn nút mà nó ghét cay ghét đắng cho tới khi chính nó thực hành cái đó trong tình yêu và buộc phải bênh vực cái đó trước mắt chính mình như là tình yêu duy nhất khả thể.
 
Maria xài bột sủi trong tư thế nằm ngửa. Bột vừa sủi bọt một cái là hai chân nàng bắt đầu rung lên bần bật, giãy giụa và dôi khi ngay sau đợt khoái cảm đầu tiên, chiếc áo ngủ đã cuốn lên đến tận đùi. Đến lần sủi thứ hai, chiếc áo ngủ thường leo tới quá bụng và cộn lên bên dưới vú. Một đêm, sau nhiều tuần toàn rốc bột vào lòng bàn tay trái nàng, tôi hoàn toàn tự phát - bỏi lẽ làm gì có thì giờ để thỉnh vấn Goethe hay Rasputin trước- vâng, một cách hoàn toàn tự phát, tôi đổ nốt chỗ bột phúc bồn tử trong một gói vào hõm rốn Maria rồi nhổ nước bọt lên đó trước khi nàng kịp phản đối. Khi miệng núi lửa bắt đầu sôi, Maria quên tiệt mọi lý lẽ làm cơ sỏ để phản đối: bởi vì chất lượng sủi ở vùng rốn có nhiều ưu điểm hơn là ở lòng bàn tay. Vẫn là thứ bột sủi ấy, nước bọt vẫn là nước bọt của tôi và quả là khoái cảm vẫn không khác, nhưng mãnh liệt hơn, mãnh liệt hơn nhiều. Khoái cảm lên đến mức độ Maria không chịu nổi. Nàng rướn người về đằng trước như thể muốn thè lưỡi rạp mớ bột phúc bồn tử đang sủi bọt trong rốn như đã từng làm thế với chất waldmeisster trong lòng bàn tay, nhưng lưỡi nàng không đủ dài; rốn nàng ở xa tít, xa hơn cả Châu Phi hoặc Tierra del Fuego (Vùng Đất Lửa). Nhưng tôi thì ở gần kề rốn của Maria; tôi sục lưỡi mình vào đó tìm phúc bồn tử và càng lúc càng thấy nhiều hơn; tôi lang thang xa hơn, đến những nơi không có tay kiểm lâm nào soát nổi giấy phép hái quả; tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải càn quét cho đến trái phúc bồn tử cuối cùng, trong mắt, trong tai, trong đầu và trong tỉm tôi không có gì khác ngoài phúc bồn tử, tất cả những gì tôi ngửi thấy trên đời chỉ là phúc bồn tử và tôi săn lùng phúc bồn tử ráo riết đến nỗi Oskar chỉ nhân tiện mà tự nhủ: Maria hài lòng với nhiệt tình hăng say của mình đấy. Chính vì thế mà nàng tắt đèn. Chính vì thế mà nàng buông mình vào giấc ngủ một cách tin cẩn đến thế và cho phép mày tiếp tục hái; vì Maria rất giàu phúc bồn tử.
 
Và khi tôi không tìm thấy phúc bồn tử nữa, thì như thể do tình cờ, tôi lại tìm thấy nấm ở chỗ khác. Và vì nấm ẩn sâu bên dưới lớp rêu, nên lưỡi tôi đành bỏ cuộc và tôi mọc thêm một ngón tay thứ mười một vì mười ngón tay của tôi tỏ ra không đủ tầm để đạt mục đích. Và như vậy Oskar có thêm một cái dùi trống thứ ba - nó đã đến tuổi thích hợp với chuyện đó. Và thay vì nện trống trên thiếc, dùi tôi gò trên rêu. Tôi không còn biết người đánh trống là tôi hay là Maria nữa, hoặc đó là rêu tôi hay rêu nàng. Phải chăng đám rêu và ngón tay thứ mười một thuộc về một người nào khác và chỉ có nấm là thuộc về tôi? Không biết cái me-xừ dưới hạ bộ có đầu óc và ý chí riêng không nhỉ? Ai đang làm cái chuyện này, Oskar, xừ ấy hay là tôi?
 
Và Maria, phần trên đang ngủ còn phần dưới thì tỉnh táo tất bật, phần trên ngào ngạt mùi va-ni hồn nhiên ngây thơ còn dưới lớp rêu thì nồng mùi nấm hăng xè, Maria muốn bột sủi chứ đâu phải cái xừ nhỏ con mà tôi cũng chẳng muốn ấy, tự dưng y tuyên bố độc lập, y chỉ làm theo ý thích riêng, y làm những điều tôi chẳng hề dậy y, y đứng dậy khi tôi nằm xuống, y có những giấc mơ khác tôi, y chẳng biết đọc biết viết nhưng lại ký thay tôi, y đi con đường riêng của mình cho đến tận hôm nay, y đoạn tuyệt với tôi ngay cái hôm tôi nhận thấy y lần đầu, y thành kẻ thù của tôi mà tôi vẫn buộc phải liên minh với y hết lần này đến lần khác, y phản bội tôi và bỏ rơi tôi, tôi những muốn bán quách y đi cho rồi, tôi gột rửa y, tôi xấu hổ vì y, y chán ngấy tôi, y bôi nhọ tôi, y chẳng nhìn thấy gì nhưng ngửi thấy tất cả, y xa lạ với tôi đến mức tôi những muốn gọi y bằng Ngài, y có một trí nhớ khác hẳn với trí nhớ của Oskar vì hôm nay, khi Maria vào phòng tôi và Bruno kín đáo lỉnh ra ngoài hành lang, thì y không nhận ra nàng nữa, y không thể, không muốn nhận ra, y nằm chềnh ềnh phớt Ăng-lê trong khi tim Oskar nhẩy thót lên khiến tôi đâm lắp bắp: "Nghe này, Maria, những gợi ý êm đềm: anh có thể mua một chiếc com-pa và khoanh một vòng tròn quanh chúng ta, anh có thể đo góc nghiêng của cổ em trong khi em đọc, khâu may hoặc như lúc này đây khi em vặn những núm trên cái đài xách tay của anh. Hãy để mặc cái đài đấy, những gợi ý êm đềm. Anh có thể tiêm chủng cho mắt anh và tìm lại được nước mắt. Oskar có thể đến cửa hàng thịt gần nhất, cho trái tỉm mình vào máy nghiền thịt nếu em bằng lòng làm y như thế với tâm hồn em. Chúng mình có thể mua một con vật nhồi rơm để có cái gì đó yên tĩnh đặt giữa hai đứa. Nếu anh có sâu làm mồi và em có đức kiên nhẫn, chúng mình có thể đi câu và sẽ sung sướng hơn. Hay là quay lại trò bột sủi ngày xưa? Em còn nhớ không? Em gọi anh là waldmeisster, anh sủi liền, em muốn nữa, anh cho em nốt - Maria, bột sủi, những gợi ý êm đềm."
 
Tại sao em cứ vặn hoài những cái núm đài ấy, bây giờ em độc chỉ quan tâm đến cái đài, cứ như thể em đâm mê cuồng những thông báo đặc biêt vậy."
 
______
Chú thích
[1] Một loại cây thuộc giống Galium odoratum có hoa trắng rất thơm.
  [strike][/strike]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2016 16:51:03 bởi tducchau>
[...]
 
NHỮNG THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT
 
Thật khó mà làm thí nghiệm trên mặt đĩa trắng của trống tôi. Lẽ ra tôi phải biết rõ điều đó. Trống của tôi đòi hỏi bao giờ cũng được làm bằng cùng một loại gỗ. Nó muốn đối thoại vớí dùi trống và trả lời những câu đích đáng hoặc bỏ lửng các câu hỏi/đáp. Cho nên, quý vị thấy đấy, trống tôi không phải là một cái xoong để rán thịt cho giòn trên bếp, cũng chẳng phải sàn nhảy cho những cặp thậm chí .không biết mình có hợp cạ hay không. Do đó, ngay cả trong những giờ cô đơn nhất, Oskar cũng không bao giờ rắc bột sủi lên mặt trống, trộn với nước bọt của mình để tạo nên cái cảnh tượng đã bao năm không được thấy lại, mà tôi nhớ vô cùng. Quả thật là Oskar không thể không thử làm một thí nghiệm với loại bột nói trên, song nó tiến hành một cách trực tiếp hơn, để trống ngoài cuộc; làm vậy là tôi đánh bài liều vì không có trống, bao giờ tôi cũng thấy bơ vơ, trơ trọi.
 
Kiếm được bột sủi đâu phải là chuyện dễ. Tôi phái Bruno đi khắp các cửa hàng tạp hóa ở Grafenberg, đi xe điện đến tận Gerresheim. Tôi nhờ anh ta lên thành phố lùng, nhưng ngay cả ở những quầy giải khát ở cuối các tuyến xe điện, Bruno vẫn không tìm ra bột sủi. Các cô gái trẻ bán hàng chưa bao giờ nghe nói đến thứ đó, những chủ hiệu lớn tuổi thì hồi nhớ lại dông dài; khi nghe Bruno mô tả, họ bóp trán tư lự và nói: "Chú muốn cái gì? Bột sủi ư? Cái đó là từ hồi xửa hồi xưa rồi. Người ta bán thứ đó dưới thời Wilhelm và hồi đầu thời Adolph [1]. Đó là những ngày vàng son thuở trước. Nhưng nếu chú thích một chai xôđa hay Côca thì có ngay."
 
Vậy là gã y tá quản lý tôi uống mấy chai xôđa hoặc Côca bằng tiền của tôi mà không kiếm ra cái tôi cần. Tuy nhiên, cuối cùng, Oskar cũng có được bột sủi: hôm qua, Bruno mang cho tôi một gói nhỏ màu trắng không có nhãn; một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm của bệnh viện chúng tôi, một Cô Klein nào đó, đã thông cảm mở ngăn kéo, lấy các bình, ống, giở sách tham khảo, đóng vài gam chất này, vài gam chất kia và cuối cùng, sau mấy lần thử, đã trộn thành một thứ bột sủi mà, theo lời Bruno, có thể sủi, gây nhột nhột, chuyển thành màu xanh và phảng phất có vị waldmeisster.
 
Và hôm nay là ngày thăm hỏi. Maria đến. Nhưng người đến đầu tiên là Klepp. Chúng tôi cười với nhau khoảng bốn mươi lăm phút về một cái gì đó đáng quên đi. Tôi phải lựa lời với Klepp để khỏi xúc phạm những tình cảm cách mạng của hắn, tránh không nhắc đến những sự kiện thời sự và không đả động gì đến thông báo đặc biệt về cái chết của Stalin mà tôi đã hay tin qua cái đài xách tay- quà của Maria tặng cách đây mấy tuần. Nhưng hình như Klepp đã biết vì một mảnh băng tang đã được khâu một cách vụng về trên ống tay áo măng-tô nâu kẻ ca-rô của hắn. Rồi Klepp đứng dậy và Vittlar bước vào. Hai bạn hình như lại cãi nhau vì Vittlar chào Klepp bằng một tiếng cười lớn và giơ ngón tay làm sừng trên đầu: "Tin Stalin chết làm mình sửng sốt sáng nay giữa lúc đang cạo mặt," hắn trịnh trọng nói và giúp Klepp xỏ tay áo ngoài. Với một vẻ thành kính bóng nhẫy trên gương mặt to rộng, Klepp giơ mảnh vải đen trên ống tay áo:
 
" Chính vì thế mà mình để tang đây," hắn thở dài và, bắt chước tiếng t’rompét của Armstrong[2], dạo mấy phách đầu tang khúc của New Orleans Function: pòm-pà-pòm-pi-pom- rồi lách qua cửa chuồn thẳng.
 
Vittlar ở lại, hắn không chịu ngồi mà cứ tí tởn trước tấm gương và trong mấy phút, chúng tôi trao đổi với nhau những nụ cười thông đồng chẳng dính dáng gì đến Stalin cả.
 
Tôi cũng không biết là mình định tâm sự với Vittlar hay muốn đuổi hắn đi. Tôi vẫy hắn lại gần, bảo hắn ghé tai và thì thầm vào cái cùi-dìa ấy của hắn: "Bột sủi! Cái đó có nghĩa gì với cậu không, Gottfried?" Hốt hoảng, Vittlar nhảy phốc một cái ra cách xa cái giường cũi của tôi; hắn chĩa ngón tay trỏ và cất giọng kép hát quen thuộc mần tuồng: "Bớ Xatăng, mi định lấy bột sủi cám dỗ ta đó sao? Mi không biết ta là một thiên thần ư?"
 
Và lấy dáng như một thiên thần bay rập rờn, Vittlar tếch, trước khi đi không quên soi lần cuốị vào tấm gương bên trên bồn rửa mặt. Cái bọn thanh niên ngoài bệnh viện tâm thần quả là một lũ kỳ dị và điệu đàng.
 
Thế rồi Maria tới. Nàng mặc một bộ đồ mùa xuân may đo ở tiệm và đội một chiếc mũ sang nhã màu xám da chuột điểm những nét vàng rơm vừa tinh vi vừa kín đáo. Ngay cả khi đã vào phòng tôi, nàng vẫn không bỏ đồ mỹ phẩm ấy ra. Nàng chào tôi một tiếng ngắn gọn, chìa má cho tôi hôn và ngay ngay lập tức, bật cái đài xách tay mà tuy nàng đã tặng cho tôi, nhưng dường như chỉ dành riêng cho nàng sử dụng vì chức năng của cái hộp đáng ghét bằng chất dẻo đó là chiếm một phần cuộc trò chuyện của chúng tôi vào những ngày thăm hỏi. "Anh có nghe tin sáng nay không? Giật gân nhỉ? Hay là anh không nghe?" "Có, Maria," tôi kiên nhẫn đáp. "Họ không giấu tôi cái tin Stalin chết, nhưng thôi tôi xin, hãy tắt hộ cái đài đi."
 
Maria lẳng lặng làm theo, ngồi xuống, đầu vẫn đội mũ và chúng tôi nói chuyện về bé Kurt như thường lệ.
 
"Anh thử tưởng tượng coi, Oskar, thằng ranh không chịu đi tất dài nữa, mà bây giờ mới là tháng ba và đài nói là sắp sửa có đợt rét nữa." Tôi không biết tin dự báo thời tiết, nhưng về chuyện đi tất dài thì tôi đứng về phe Kurt. "Thằng bé đã mười hai tuổi rồi, Maria, nó ngượng, sợ đi tất len đến trường, chúng bạn cười"
 
"Dào, với em, sức khoẻ của nó là trên hết, nó phải đi tất cho đến lễ Phục Sinh."
 
Thời hạn ấy được tuyên bố một cách dứt khoát đến nỗi tôi phải thay đổi chiến thuật: "Vậy thì Maria phải mua quần trượt tuyết cho nó vì những cái tất len ấy quả thật là xấu. Thử nghĩ lại hồi mình bằng tuổi nó mà xem. Trong sân chung cư chúng mình ở phố Labesweg ấy. Cũn Cỡn bao giờ cũng phải đi tất dài cho đến tận lễ Phục Sinh, Maria có nhớ bọn chúng đã làm gì nó không? Nuchi Eyke (nó bị giết ở Crete), Axel Mischke (chết ở Hà Lan ngay trước khi chiến tranh kết thúc) và Harry Schlager, chúng nó đã làm gì Cũn Cỡn? Chúng bôi hắc ín vào những chiếc tất len dài của thằng bé cho nó dính vào da đến nỗi phải đưa Cũn Cỡn đi bệnh viện."
 
"Đó không phải lỗi tại tất, lỗi tại Susi Kater," Maria giận dữ kêu lên. Mặc dầu Susi đã tham gia đội nữ điện báo viên ngay từ đầu chiến tranh và nghe đồn sau đó đã lấy chồng ở vùng Bavaria, Maria vẫn mang một mối hiềm kéo dài đối với cô hàng xóm hơn mình mấy tuổi, theo cái kiểu giữa đàn bà với nhau, như chỉ đàn bà mới có thể hiềm nhau dai đến thế, từ lúc ấu thơ cho đến tuổi làm bà.
 
Tuy vậy việc tôi nhắc đến những chiếc tất bị phết hắc ín của Shorty cũng có một hiệu quả nào đó. Maria hứa sẽ mua quần trượt tuyết cho Kurt. Chúng tôi có thể tiếp tục trò chuyện theo một hướng khác, ở trường học, Kurt được điểm tốt. ông hiệu trưởng đã khen nó trong cuộc họp mặt giữa các thày giáo và phụ huynh học sinh. "Anh thử tưởng tượng xem, nó xếp thứ nhì trong lớp. Và nó còn giúp em ở cửa hàng, đắc lực hết chỗ nói."
 
Tôi gật đầu tán thưởng và lắng nghe nàng tả những thứ mà cửa hàng đặc sản vừa mới mua. Tôi khuyến khích Maria mở một chi nhánh ở Oberkassel. Thời kỳ này đang thuận lợi, tôi nói, đợt phát đạt sẽ còn tiếp tục- tôi vừa bắt mạch được cái xu thế ấy qua tin tức trên đài. Thế rồi tôi quyết định là đã đến lúc rung chuông gọi Bruno. Gã bước vào và đưa tôi cái gói nhỏ màu trắng đựng bột sủi.
 
Oskar đã vạch sẵn kế hoạch. Không giải thích dài dòng, tôi yêu cầu Maria đưa tay trái cho tôi. Mới đầu, nàng định đưa tay phải, nhưng rồi sửa lại ngay. Vừa cười vừa lắc đầu, nàng chìa mu bàn tay trái cho tôi, hắn là chờ đợi tôi hôn lên đó. Nàng không hề tỏ vẻ ngạc nhiên cho đến khi tôi lật ngửa bàn tay đó lên và rốc bột trong gói ra thành một đống nhỏ giữa gò Trăng và gò Vệ Mữ. Nhưng ngay cả đến lúc đó, nàng cũng không phản đối. Nàng chỉ phát hoảng khi Oskar cúi xuống và nhổ như mưa lên đống bột sủi.
 
"Ủa, cái gì vậy?" nàng bất bình kêu lên, đẩy bàn tay ra thật xa mình và kinh hãi nhìn trân trân vào lớp bọt xanh đang vồng lên. Mặt Maria đỏ bừng từ trán đổ xuống. Tôi đã bắt đầu hy vọng thì nàng bỗng bước nhanh ba bước đến bồn rửa mặt. Nàng để cho nước, dòng nước ghê tởm, thoạt đầu lạnh sau rồi nóng, chảy tràn lên chỗ bột sủi. Đoạn, nàng lấy xà-phòng của tôi rửa tay.
 
"Oskar, anh thật không chịu nổi. Anh muốn ông Münsterberg nghĩ gì về chúng mình?" Như để xin bỏ qua cho ứng xử điên rồ của tôi, nàng quay về phía Bruno, gã này trong khi tôi làm thí nghiệm, đã đến chiếm vị trí ở chân giường. Để Maria khỏi phải bối rối thêm, tôi bảo gã y tá ra khỏi phòng và khi gã vừa đóng cửa lại sau lưng, gọi nàng trỏ lại bên giường. "Em còn nhớ không? Hãy nhớ lại đi, anh xin em. Bột sủi! Ba xu một gói. Hãy nghĩ về ngày xưa. Waldmeister, phúc bồn tử, nó sủi bọt lên đẹp biết bao và cái cảm giác, Maria, cải cảm khoái nó gây cho em."
 
Maria không nhớ. Bỗng dưng sợ tôi một cách phi lý, nàng giấu bàn tay trái, cuống cuồng tìm đầu đề trò chuyện khác, một lần nữa nói về việc học hành tấn tới của Kurt ở trường, về cái chết của Stalin, về cái tủ lạnh mới ở cửa hàng đặc sản Matzerath, về dự định mở chi nhánh ở Oberkassel. Nhưng tôi thì vẫn trung thành với bột sủi, bột sủi, tôi nói, nàng đứng dậy, bột sủi, tôi van nài, nàng vội vã nói tạm biệt, vân vê chiếc mũ, phân vân không biết nên đi ngay hay nán lại, và bật đài, và đài bắt đầu léo nhéo. Nhưng tôi quát to hơn tiếng đài: "Bột sủi. Maria, nhớ lại đi!"
 
Rồi nàng đứng ở cửa ra vào, khóc, lắc đầu và để lại mình tôi với cái đài léo nhéo, lạo xạo, đóng cửa rón rén như thể đang để tôi lại trên giường lâm chung vậy.
 
Và thế là Maria không còn nhớ bột sủl nữa. Tuy nhiên đối với tôi, chừng nào tôi còn thở được và đánh trống được, cái đó - bột sủi – sẽ không bao giờ thôi sủi và ngầu bọt; vì chính nước bọt của tôi, vào cuối hè 1940, đã khuấy động chất waldmeister và phúc bồn tử, đánh thức những cảm giác, thúc giục xác thịt tôi đi tìm, khiến tôi trở thành kẻ sưu tầm mùi nấm sữa ngai ngái cùng những thứ nấm hương khác tôi chưa từng biết, khiến tôi thành bố, phải, thật vậy, mới tí tuổi đầu mà tôi đã thành bố, bởi vì đến đầu tháng 11 thì không còn nghi ngờ gì nữa, Maria đã mang thai, cái thai trong bụng Maria đã sang tháng thứ hai và tôi, Oskar đây, chính là người bố.
 
Điều đó, cho đến nay, tôi vẫn tin chắc vì chuyện với Matzerath mãi về sau mới xảy ra; ba tuần, không, mười lăm ngày sau khi tôi làm Maria thụ thai trong khi nàng ngủ trên chiếc giường cũ của người anh cả Herbert lưng đầy sẹo, ngay trước những bưu ảnh do người anh thứ hai hạ sĩ gửi về, phải, mười lăm ngày sau, trong bóng tối, giữa những bức tường và cửa kính dán giấy phòng không, tôi bắt gặp Maria, lần này thì không ngủ mà hổn hen trên đi-văng nhà chúng tôi; nàng nằm bên dưới Matzerath và nằm bên trên nàng là Matzerath.
 
Oskar, sau những phút suy tưởng trên tầng áp mái, đeo trống đi xuống dưới nhà, theo hành lang vào phòng khách. Hai người không nhận thấy tôi đến. Họ quay đầu về phía cái bếp lò gạch tráng men. Thậm chí họ cũng không cởi quần áo cho tử tế nữa. Cái quần đùi của Matzerath tụt đến đầu gối, quần dài thì lù lù một đống trên thảm. Váy ngoài và váy lót của Maria cuốn lên trên xú-chiêng đến tận nách. Quần lót của nàng lòng thòng quanh bàn chân phải lủng liểng nơi đầu cái căng chân vặn vẹo một cách tởm lợm bên rìa đi-văng. Chân kia của nàng gập lại trên chiếc gối như thể không liên qụan. Giữa hai chân nàng là Matzerath. Tay phải ông xoay nghiêng đầu nàng sang một bên, còn tay kia dọn đường cho ông hành sự. Qua những ngón tay doãng ra của Matzerath, Maria nhìn trân trân vào tấm thảm, như đang theo dõi những họa tiết trên đó đến tận dưới gầm bàn. Ông cắn ngập răng vào một cái gối bọc nhung và chỉ nhả ra khi họ nói chuyện. Bởi vì đôi lúc họ cũng nói chuyện mà vẫn không ngừng hành sự. Chỉ khi đồng hồ điểm ba khắc, hai người mới nghỉ cho đến tiếng chuông cuối cùng, và rồi tiếp tục nhiệm vụ, ông nói: "Kém mười lăm." Rồi ông hỏi nàng có thích cách làm của ông không. Nàng nói có mấy lần liền và xin ông hãy cẩn thận. Ông hứa sẽ chú ý. Nàng ra lệnh, không, cầu xin ông hãy đặc biệt cẩn thận. Rồi ông hỏi đã đến lúc chưa. Và nàng nói ừ, sắp rồi. Tiếp đó, chắc là nàng bị chuột rút ở bàn chân thõng ra ngoài đi- văng vì thấy nàng đá hất lên nhưng chiếc quần lót vẫn lủng lắng ở đó. Rồi ông lại cắn vào chiếc gối bọc nhung và nàng kêu lên: rút ra và ông cũng muốn rút nhưng không được vì Oskar đã phốc lên trên hai người trước khi ông kịp rút, vì tôi đã dằn mạnh cái trống lên mông ông và đang vung dùi nện trống, bởi vì tôi hết chịu nổi, không thể tiếp tục nghe họ bảo nhau rút ra rút ra, bởi vì tiếng trống của tôi át tiếng rút ra của họ, bởi vì tôi sẽ không cho phép ông rút như Jan Bronski bao giờ cũng rút khỏi mẹ tôi, vì mẹ bao giờ cũng bảo Jan rút ra và bảo Matzerath rút ra, rút ra, rút ra. Và thế là họ rời nhau ra, để cho tinh trùng rớt xuống bất kỳ chỗ nào, trên một chiếc khăn đặt sẵn ở đó, hoặc nếu không có khăn, thì trên nệm đi-văng, có khi trên thảm cũng được. Nhưng tôi thì chẳng chịu nổi phải nhìn cái cảnh tượng đó. Bởi vậy tôi đã không rút ra. Chính vì thế mà tôi mới là bố chứ không phải cái ông Matzerath bao giờ cũng tin đến cùng rằng ông là cha tôi. Nhưng cha tôi là Jan Bronski. Jan Bronski đã đi bước trước Matzerath và đã không rút ra mà trụ lại nơi đang chiếm lĩnh và trao gửi tất cả những gì mình có; tôi đã thừa kế phẩm chất đó từ Jan Bronski: đi bước trước Matzerath và trụ lại; và sản phẩm là con trai tôi chứ đâu phải con trai ông. Ông không bao giờ có con. Ông không phải là một người cha đích thực, cho dù ông có cưới mẹ tội nghiệp của tôi đến mười lần, cho dù ông có cưới Maria vì nàng có mang. Và ông nghĩ chắc chắn mọi người xung quanh nghĩ thế. cố nhiên, họ nghĩ rằng Matzerath đã xơi tái Maria và vì thế nên mới cưới nàng mặc dù nàng mới mười bảy còn ông đã sang tuổi bốn mươi lăm. Nhưng nàng rất già dặn so với tuổi, còn về phần bé Oskar, nó rất vui thích có được một người mẹ kế như vậy; vì Maria không đối đãi với đứa bé tội nghiệp theo cách một người mẹ ghẻ mà như một bà mẹ đích thực, ngay cả nếu bé Oskar đầu óc có không bình thường và đáng ra, phải đưa vào nhà thương điên ở Silberhammer hay Tapiau.
 
Theo lời khuyên của Gretchen Scheffler, Matzerath quyết định cưới người tôi yêu. Nếu coi ông bố hờ này là cha tôi, thì tất phải suy ra rằng cha tôi đã cưới người vợ tương lai của tôi, gọi con trai Kurt của tôi là con trai ông và chờ đợi tôi nhận cháu nội ông là em cùng cha khác mẹ, chấp nhận và chịu đựng sự có mặt, với tư cách là mẹ kế, của Maria, người yêu dấu thơm mùi va-ni của tôi, trên cái giường tanh mùi trứng cá của ông. Nhưng nếu, phù hợp hơn với sự thật, tôi nói: ông Matzerath này thậm chi không phải là bố hờ của mày, mà hoàn toàn là người dưng đối với mày, không bõ qúy mến cũng chẳng đáng ghét, làm bếp giỏi và với tài nấu nướng đã chăm sóc mày như một người cha cho tới nay bởi vì mẹ tội nghiệp của mày đã để mày lại cho ông ấy; nhưng giờ đây trước mắt mọi người, đã phỗng mất của mày người đàn bà ưu tú nhất, bắt mày phải chứng kiến hôn lễ của ông ta và, năm tháng sau, một lễ rửa tội, biến mày thành khách mời trong hai nghi lễ gia đình mà đáng ra mày phải là chủ, vì đúng ra, mày phải đưa Maria đến phòng giá thú của toà thị chính, đúng ra, mày mới là người chọn cha và mẹ đỡ đầu cho đứa bé. Nhìn lại sự phân vai nhầm trong vở bi kịch này, tôi đâm ngán cái nghiệp sân khấu vì nỗi Oskar, nhân vật chính đích thực, lại bị phân cho một vai phụ có bỏ đi cũng chả sao.
 
Trước khi tôi đặt tên cho con trai tôi là Kurt, trước khi đặt cho nó cái tên mà lẽ ra không bao giờ nên đặt - bởi lẽ tôi có thể cho thằng bé mang tên cụ nội Vincent Bronski của nó - trước khi tôi đành chọn cái tên Kurt, Oskar cảm thấy cần phải kể lại nó đã tự vệ như thế nào trong quá trình Maria mang thai để chống lại sự kiện chờ đợi.
 
Vào buổi tối của chính cái hôm tôi bắt quả tang hai người trên đi-văng, cái hôm tôi ngồi nện trống trên cái lưng đẫm mồ hôi của Matzerath và phá hỏng biện pháp phòng ngừa mà Maria yêu cầu, tôi đã làm một cố gắng tuyệt vọng nhằm giành lại người tôi yêu.
 
Matzerath hất được tôi xuống khi đã quá muộn. Vì thế, ông bạt tai tôi. Maria bênh vực tôi và té tát mắng Matzerath vì tội cẩu thả. Matzerath tự bào chữa như một ông già. Đó là lỗi tại Maria, ông cãi, lẽ ra nàng nên bằng lòng với một lần thôi, đằng này, nàng lại chưa đã cơ. Maria khóc và nói là với nàng chuyện ấy không phải cho vào rút ra đánh xoẹt một cái là xong, nếu vậy thì ông kiếm người nào khác còn hơn, phải, nàng thừa nhận rằng nàng thiếu kinh nghiệm nhưng chị gái nàng là Guste làm ở khách sạn Eden thì thông thạo ngọn ngành chị ấy bảo không mau thế đâu, tốt nhất là Maria cứ nên cảnh giác, lắm gã chỉ muốn phóng cái chất nhớt của mình càng sớm càng tốt và có vẻ như Matzerath cũng là một gã kiểu đó, nhưng từ giờ trở đi nàng sẽ không giây với ông ta nữa, nàng cũng phải rung chuông chứ, như lần vừa rồi. Nhưng dù sao, đáng ra ông cũng nên cẩn thận, ông phải dành cho nàng chút trân trọng tối thiểu như vậy chứ. Rồi nàng khóc thêm chút nữa và vần ngồi trên đi-văng. Và Matzerath trong chiếc quần xà lỏn quát tướng lên rằng ông hết chịu nổi cái kiểu bù lu bù loa của nàng; rồi ông xin lỗi vì đã nổi cáu và lại phạm lỗi lần nữa, có nghĩa là định luồn tay vào dưới váy xoa cái mông trần của nàng và điều đó khiến nàng nổi cơn lôi đình thịnh nộ.
 
Oskar chưa bao giờ thấy nàng như thế. Những vết đỏ cháy lên khắp mặt nàng và đôi mắt xám mỗi lúc một tối sẫm thêm. Nàng gọl Matzerath là đồ “em chã”, thế là ông vớ lấy quần, xỏ chân vào và cài khuy, ông có thể biến đi đâu thì biến - nàng rít lên hết cỡ giọng - đi mà nhập bọn với các tổ trưởng Đảng của ông, một lũ hoạt tinh, cả bầy đều thế tuốt tuồn tuột. Matzerath cầm chiếc áo vét lên và nắm quả đấm cửa, ông cam đoan với nàng rằng mọi sự sẽ thay đổi, ông ngấy đàn bà đến tận cổ rồi; nếu nàng nóng máy đến thế, tại sao không bẫy lấy một cha nào đó trong đám lao công ngoại quốc, chẳng hạn cái gã người Pháp đi giao bia chắc chắn là thiện nghệ hơn. Còn đối với ông, Matzerath đây, tình yêu có nghĩa là một cái gì cao hơn cái trò con heo ấy, ông đi đánh vài ván xì-cạt đây, ở bàn xì-cạt chí ít người ta cũng biết phải chờ đợi cái gì.
 
Và thế là còn một mình tôi với Maria trong phòng khách. Nàng đã thôi khóc và đang mặc quần lót vào, vẻ tư lự, miệng vẫn huýt sáo, nhưng rất dè dặt. Hồi lâu nàng vuốt phẳng lại chiếc áo váy đã bị làm nhàu trên đi-văng. Rồi nàng mở đài, làm bộ nghe thông báo mực nước trên sông Vistula và sông Nogat. Sau khi báo mực nước ở hạ lưu sông Mottlau, phát thanh viên giới thiệu một điệu van-xơ và bài van-xơ lập tức bắt đầu, bấy giờ, đột nhiên nàng lại tụt quần lót ra, vào trong bếp, dằn mạnh một cái chậu xuống và mở vòi nước; tôi nghe thấy tiếng ga xì xì và đoán là Maria quyết định làm một chầu tắm ngồi.
 
Để xóa đi cái hình ảnh không mấy thú vị ấy, Oskar tập trung chú ý vào bài van-xơ. Nếu tôi nhớ không lầm, thì thậm chí tôi còn dạo trên trống mấy nhịp phách của Strauss và thấy khoái nữa. Thế rồi bài van-xơ bị ngắt quãng để nhường chỗ cho một thông cáo đặc biệt. Oskar dám chắc đó là tin từ Đại Tây Dương và nó đã không lầm. Mấy chiếc tàu ngầm đã đánh chìm được ngoài khơi bờ biển phía tây Alien bảy-tám tàu trọng tải ngần nấy, ngần nấy tấn. Một nhóm tàu ngầm khác cũng đã cho ngần nấy tấn hải hạm xuống chầu Hải Vương. Một chiếc tàu ngầm dưới quyền chỉ huy của trung uý Schapke - hoặc có thể là trung uý Kreischmar, dù sao sao đi nữa cũng là một trong hai người, trừ phi đó là một thuyền trưởng tàu ngầm thứ ba không kém trứ danh -đã tỏ ra đặc biệt xuất sắc: không những đạt kỷ lục về trọng tải tàu địch bị đánh chỉm, mà còn hạ một khu trục hạm Anh hạng XY nữa.
 
Trong khi tôi biến tấu trên trống bài "Hạm đội tấn công nước Anh" tiếp nối bản tin và thiếu chút nữa thì chuyển nó sang nhịp van-xơ, Maria trở lại phòng khách, một chiếc khăn xốp vắt trên tay. Hàng nói khe khẽ: "Có nghe thấy không, Oskar, lại một thông cáo đặc biệt nữa. Nếu cứ tiếp tục như thế này thì..."
 
Không nói cho Oskar biết chuyện gì sẽ xẩy ra nếu cứ tiếp tục như thế này, Maria ngồi xuống cái ghế mà Matzerath thường vắt chiếc áo vét lên. Nàng vặn xoắn chiếc khăn ướt thành dạng cuốn thừng và, hoà với đài, huýt sáo bài "Hạm đội tấn công nước Anh" khá to và đúng nhịp. Nàng còn láy lại đoạn hợp xướng kết thúc một lần nữa sau khi đài đã ngừng hảt và tắt đài ngay khi bài van-xơ bất tử lại nổi lên. Nàng để chiếc khăn cuốn thừng lên bàn, ngồi xuống và đặt đôi bàn tay xinh lên đùi.
 
Im lặng trầm sâu bao trùm phòng khách, chỉ có cụ cố đồng hồ quả lắc là nói mỗi lúc một to và Marla dường như đang tự hỏi có nên mở đài lại hay không. Nhưng rồi nàng có một quyết định khác. Nàng áp mặt vào chiếc khăn vặn cuốn thừng để trên bàn, buông thõng hai cánh tay xuống giữa hai đầu gối về phía tấm thảm và lặng lẽ khóc đều đều.
 
Oskar tự hỏi không biết có phải Maria xấu hổ vì bị tôi bắt gặp trong cái tình huống oái ăm nọ hay không. Tôi quyết định khích lệ cho nàng khuây khoả. Tôi lẻn ra khỏi phòng khách; trong cửa hàng tối om, bên cạnh mớ giấy sáp và nhưng gói pút- đinh, tôi tìm thấy một gói nhỏ mà khj ra hành lang sáng hơn, tôi nhận ra là một gói bột sủi có vị waldmeisster. Oskar lấy làm hài lòng về sự chọn mò của mình vi lúc bấy giờ tôi cho rằng Maria thích waldmeisster hơn tất cả các vị khác.
 
Khi tôi trở vào phòng khách, má phải của Maria vẫn áp trên chiếc khăn cuộn xoắn. Hai cánh tay vẫn đu đưa ẽo ợt giữa hai đùi. Từ phía bên trái, Oskar tiến lại gần nàng và thất vọng thấy mắt nàng nhắm lại và ráo hoảnh. Tôi kiên nhẫn chờ đến khi những mí mắt dấp dính của nàng mở ra mới chìa cái gói ra, nhưng nàng không nhận thấy cái nhãn waldmeisster và dường như nhìn xuyên qua cái gói, xuyên qua cả tôi nữa.
 
Hắn nước mắt đã làm nhòa mắt nàng, tôi nghĩ vậy, ý muốn biện minh cho nàng; sau một lúc suy tính, tôi quyết định chọn một cách tiếp cận trực tiếp hơn. Oskar bò xuống gầm bàn và ngồi thu lu dưới chân Maria - với những ngón hơi xoay vào trong cầm lấy một trong hai hàn tay huông thõng của nàng, lật ngửa lên, dùng răng mở gói bột, rốc một nửa vào cái hõm hất động và bắt đầu nhổ nước bọt. Đúng lúc hột bắt đầu sủi bọt, một cú đá vào giữa ngực làm Oskar lăn kềnh dưới gầm bàn.
 
Mặc dù đau điếng, tôi vẫn nhổm dậy ngay và chui ra khỏi gầm bàn. Maria đứng dậy và chúng tôi đối diện nhau, thở hổn hển. Maria vớ lấy chiếc khăn xốp, lau sạch tay rồi vứt chiếc khăn xuống chân tôi; nàng gọi tôi là đồ lợn ghê tởm, là giống lùn nham hiểm, là tên quỷ lùn điên đáng lý phải tống vào nhà thương điên. Nàng túm lấy tôi, bợp vào sau đầu và rủa mẹ tôi đã cho ra đời một thằng nhãi ranh như tôi. Khi tôi sắp sửa cất tiếng thét, tuyên chiến với tất cả thuỷ tinh trong phòng khách và trên thế giói, thì nàng nhét cái khăn vào miệng tôi; tôi cắn vào khăn, nó rắn hơn cả thịt bò bạc nhạc.
 
Chỉ đến khi Oskar đỏ mặt tía tai do dồn máu, nàng mới buông ra. Tôi có thể thét tan tành tất cả các đồ thuỷ tinh và ô kính cửa sổ trong phòng và tái diễn cuộc công kích thời ấu thơ nhằm vào mặt cụ cố đồng hồ quả lắc. Song tôi không thét, tôi mở cánh cửa tim tôi đón vô một mối uất hận bắt rễ sâu đến nỗi cho tới tận bây giờ, mỗi khi Maria bước vào phòng, tôi vẫn cảm thấy nó giữa hai hàm răng như chiếc khăn xốp ngày nào.
 
Vốn tính đồng bóng, Maria quên ngay cơn giận dữ của mình. Nàng cười hồn hậu và bằng một cái ngoắt tay, lại mở máy thu thanh. Huýt sáo theo điệu van-xơ trong đài, nàng tiến lại phía tôi, định vuốt tóc tôi làm lành. Chả là tôi vốn thích được nàng vuốt tóc mà.
 
Oskar để cho nàng lại thật gần. Rồi bằng cả hai nắm tay, đấm móc lên vào đúng cái chỗ nàng đã để cho Matzerath thâm nhập. Nàng nắm lấy hai tay tôi trước khi tôi kịp đánh nữa, thế là tôi bèn cắm ngập răng vào chính cái chỗ đáng nguyền rủa ấy và, vẫn bám thật chặt, gieo mình xuống đỉ-văng cùng với Maria. Tôi nghe thấy đài loan báo một thông cáo đặc biệt nữa, nhưng Oskar chẳng thiết nghe, do đó nó không thể nói cho quý vị biết ai đánh chìm cái gì và bao nhiêu chiếc, vì một cơn nức nở khiến hàm tôi buông lỏng ra và tôi nằm không động cựa trên Maria và nàng khóc vì đau trong khi Oskar khóc vì căm ghét, vì mối tình tuy không chết nhưng đã trở thành một nỗi đơn côi nặng như chì.
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Tức Adolph Hitler.
[2] Daniel Louis Armstrong (1900-1971), nhạc sĩ Mỹ da đen, cây t'rompét cự phách, một trong những ông tổ nhạc jazz New Orleans.
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.07.2016 07:53:09 bởi tducchau>
[...]
 
 
ĐEM NỖI CÔ ĐƠN ĐẶT DƯỚI CHÂN BÀ GREFF
 
Tôi không thích Greff. Greff cũng không thích tôi. Ngay cả về sau, khi Greff làm cho tôi cái máy đánh trống, tôi cũng không thích ông ta. Cả đến bây giờ, khi mà Oskar thực sự không còn đủ kiên cường để duy trì những mối ác cảm dai dẳng, tôi vẫn không ưa gì Greff mặc dù ông ta đã ra khỏi cõi sinh tồn.

Greff là người buôn bán rau quả. Nhưng xin đừng mắc lừa. Giả không tin gì ở khoai tây cũng như bắp cải, song lại rất thạo nghề trồng rau, thích tự coi mình là người làm vườn, bạn của thiên nhiên và ăn chay. Nhưng chính vì Greff không ăn thịt nên giả không phải là một lái buôn rau quả đích thực. Giả không thể nói về rau quả như là rau quả. "Xin quý khách hãy nhìn kỹ củ khoai tây khác thường này," tôi thường thấy giả nói với khách hàng. "Cái chất thịt thực vật phổng phao, ngồn ngộn này không ngừng tạo những hình thù mới, thế mà vẫn trong trắng. Tôi yêu thích khoai tây vì nó nói với tôi." Hiển nhiên là chăng có tay lái buôn rau quả chân chính nào lại nói năng như thế làm khách hàng đâm bối rối. Ngay cả trong những năm được mùa khoai tây nhất, bà ngoại Anna Koljaiczek của tôi, người đã bạc đầu trên những cánh đồng khoai tây, cũng không bao giờ nói gì vượt quá một câu như thế này: "Chà, củ năm nay to hơn năm ngoái một tí." Vậy mà bà và ông anh trai Vincent Bronski thì trông chờ vào những vụ mùa khoai tây hơn Greff nhiều vì trong lĩnh vực kinh doanh của giả, một năm được mùa mận có thể bù lại một năm mất mùa khoai tây.

Ở Greff, mọi thứ đều thái quá. Thử hỏi giả có nhất thiết phải mặc một chiếc tạp-dề xanh trong cửa hiệu không? Con người ngạo mạn! Cái nụ cười sành sỏi khi giả giảng cho khách hàng bằng một giọng triết lý rằng miếng vải màu xanh rau dền giả mang chính là "cái tạp-dề xanh của người làm vườn của Thượng Đế". Tệ hơn cả là giả không sao bỏ được cái cung cách xì-cút. Năm 1938, giả đã buộc phải giải tán đội hướng dạo sinh của mình - người ta bắt bọn trẻ mặc sơ-mi nâu hoặc đồng phục đen mùa đông - nhưng đám cựu hướng đạo sinh, dù vận đồng phục mới hay đồ dân sự, vẫn đều đặn đến thăm huynh trưởng cũ của chúng để cùng hát những bài ca buổi sáng, những bài ca buổi tối, những hành khúc, những bài hát nhà binh, những ca khúc ngày mùa, những bài ca ngợi Đức Mẹ Đồng Trinh, những khúc dân ca trong nước và ngoài nước. Vì Greff đã kịp thời gia nhập Đoàn Cơ Giới Quốc Xã trước khi quá muộn và từ năm 1941 trở đi, không chỉ là chủ hiệu rau quả mà còn tự xưng là kiểm soát viên phòng không; hơn nữa, vì giả được sự ủng hộ của hai cựu hướng đạo sinh thời gian qua đã thăng tiến trong hàng ngũ Đoàn Thanh Niên Hitler - một gã là tiểu đội trưởng, gã kia là trung đội trưởng -, nên những cuộc hội hát dưới hầm chứa khoai tây của Greff dược Đảng bộ quận bỏ qua, nếu không phải là chính thức cho phép. Thậm chí Löbsack, trưởng ban huấn luyện của quận, còn đề nghị Greff tổ chức những cuộc liên hoan ca hát trong những lớp huấn luyện ở Lâu đài Jenkau. Đầu năm 1940, Greff và một giáo viên được quận Danzig-Tây Phổ giao nhiệm vụ biên soạn một tập ca khúc cho thanh niên dưới tiêu đề "Hát với chúng ta". Cuốn sách rất thành công, ông chủ hiệu rau quả nhận được một bức thư từ Berlin do thủ lĩnh Thanh Niên Đế Chế Đức ký và được mời dự một cuộc hội nghị quản ca ở Berlin.

Greff rành là người có năng lực. Giả thuộc tất cả lời của tất cả các bài hát, giả có thể dựng lều, nhóm và tắt lửa trại mà không gây cháy rừng và tìm thấy đường di trong rừng bằng một cái la bàn, giả thuộc tên cái của mọi vì sao nhìn thấy dược và có thể thao thao bất tuyệt tuôn ra các truyện vui tếu cũng như ly kỳ hồi hộp; giả biết vô số huyền thoại của vùng đất Vistula và đã nhiều lần thuyết trình về đề tài "Danzig và Liên đoàn Hanse". Giả có thể liệt kê tất cả các đại sư của dòng Hiệp sĩ Tơtông cùng những niên đại tương ứng và thậm chí như vậy cũng chưa đã; giả còn có thể nói hàng giờ liền về doàn truyền giáo Hhật Hhĩ Man trong những lãnh thổ của Dòng, và họa hoằn lắm mới thấy lộ ra những cụm từ sặc mùi xì-cút trong những bài thuyết trình của giả.

Greff thích đám trẻ. Giả thích con trai hơn con gái. Nói cho đúng, giả chẳng thích con gái, mà chỉ khoái con trai. Nhiều khi giả thích con trai tới mức mà ngay cả tiếng hát cũng không đủ để biểu đạt. Cũng có thể chính bà Greff, một phụ nữ nhếch nhác, đồ lót thủng lỗ chỗ, xú-chiêng nhờn mỡ, đã khiến đức ông chồng phải đi tìm một khía cạnh tinh khiết hơn của tình yêu ở nơi những cậu con trai mảnh dẻ, tươm tất. Nhưng mặt khác, có lẽ cái cây mà mỗi mùa trong năm, những đồ lót nhớp bẩn của bà Greff vẫn nở trên cành của nó, có một nhánh rễ khác. Nghĩa là có lẽ bà Greff trở thành một phụ nữ nhếch nhác là vì ông chủ hiệu rau quả và kiểm soát viên phòng không thiếu nhãn quan cần thiết để đánh giá cái nét phốp pháp cẩu thả và có phần ngẩn ngơ của bà.

Greff thích những gì rắn, căng, cuồn cuộn cơ bắp. Khi giả nói "tự nhiên", đó có nghĩa là "khổ hạnh". Khi giả nói "khổ hạnh", đó có nghĩa là một kiểu thể dục đặc biệt. Greff rất có ý thức về thân thể của mình. Giả chăm sóc nó chi li từng tí một, không những phơi nhiệt mà còn phơi lạnh với một tinh thần hết sức sáng tạo. Trong khi Oskar dùng tiếng hát tầm xa hay tầm gần đập vỡ thuỷ tinh, đôi khi làm tan chảy những đoá hoa băng giá trên cửa kính và làm những cục băng nhũ rơi lanh canh xuống đất, thì Greff-Rau-Quả là người đánh áp sát băng giá với khí cụ trong tay.

Greff đục lỗ vào băng. Trong ba tháng chạp, giêng và hai, giả dùng rìu đục lỗ vào băng. Khá lâu trước khi rạng sáng, giả đã vác chiếc xe đạp từ dưới hầm nhà lên và bọc chiếc rìu phá băng vào trong một cái bao tải đựng hành. Rồi giả đạp xe qua Saspe đến Brösen, từ đấy giả theo con dường đi dạo dọc biển phủ đầy tuyết về phía Glettkau. Đến quãng giữa Brösen và Glettkau, giả xuống xe. Trong khi trời dần dần sáng, giả đẩy chiếc xe đạp trên bãi tắm băng giá rồi quá nữa, thêm hai-ba trăm mét trên mặt biển Baltic đóng băng, cảnh vật chìm trong sương mù ven biển. Từ bãi tắm, không ai có thể trông thấy Greff đặt cái xe đạp nằm xuống, tháo rìu ra khỏi bao tải, và đứng im lặng thành kính một lúc, lắng nghe những hồi còi báo sương mù của những con tàu chở hàng bị kẹt băng trong vụng. Rồi giả cởi áo va rơi, tập vài bài thể dục và, cuối cùng, bằng những nhát rìu mạnh mẽ, đều đặn, bắt đầu khoét một lỗ tròn trên biển Baltic.

Greff mất khoảng bốn mươi lăm phút để hoàn thành cái lỗ. Xin đừng hỏi làm sao mà tôi biết được. Oskar biết hầu hết mọi chuyện hồi đó. Kể cả việc Greff mất bao nhiêu thời gian để đục một cái lỗ vào lớp băng. Những giọt mồ hôi muối đọng trên vầng trán dô, cao của giả và rơi xuống tuyết. Giả quai rìu thành thạo, bổ sâu thành một đường tròn. Rồi khi vòng tròn khép kín lại, giả dùng đôi tay không đi găng nhấc một cái đĩa dày bằng cả gang tay lên khỏi lớp băng mênh mông, dễ thường trải dài đến Hela, nếu không muốn nói là đến tận Thụy Điển. Nước trong lỗ này già và xám, loáng thoáng những mảnh băng, bốc hơi chút đỉnh tuy không phải là suối nước nóng. Cái lỗ thu hút cá. Có nghĩa người ta nói là những lỗ đục xuyên qua băng thường thu hút cá. Kể ra Greff đã có điều kiện bắt được nhiều cá mút đá hoặc một con cá tuyết ngót mười kí. Nhưng giả không câu. Giả bắt đầu cởi đồ và lát sau đã trần như nhộng vì một khi Greff đã cởi quần áo là cởi tuốt tuồn tuột. Oskar không muốn gợi cảnh đông hàn đe làm quý vị rùng mình lạnh sống lưng. Chỉ xin nói vắn tắt: trong những tháng mùa đông, Greff-Rau-Quả tắm mỗi tuần hai lần ở biển Baltic. Ngày thứ tư, giả tắm một mình vào lúc rạng đông - ra khỏi nhà lúc sáu giờ, sáu rưỡi đến, khoét lỗ xong là bảy giờ mười lăm. Tiếp đó, giả cởi bỏ quần áo bằng những động tác nhanh thoăn thoắt, xát tuyết khắp người, nhảy tùm xuống lỗ và bắt đầu la. Hoặc đôi khi tôi nghe thấy giả hát: "Ngỗng trời bay xuyên qua màn đêm” hay "Ta yêu bão dông..." Giả hát, la và tắm độ hai phút hay cùng lắm là ba. Rồi bằng một cú nhảy gọn ghẽ, giả đã đứng trên mặt băng, rõ nét một cách dễ sợ: một khối thịt đỏ như tôm luộc bốc hơi ngùn ngụt, chạy quanh cái lỗ, hừng hực, vẫn la hét. Cuối cùng, giả mặc đồ trở lại và lên xe đạp ra về. Trước tám giờ một chút, giả đã về tới Labesweg và mở cửa- hàng không sai một phút.

Buổi tắm lần hai hằng tuần của Greff được tiến hành tập thể, cùng với đám thiếu niên hoặc thanh niên choai choai. Điều này, Oskar không được mắt thấy, cũng không hề có ý mạo nhận là mình đã mục kích. Nhưng chuyện đã lan truyền khắp. Meyn-t’rompét biết nhiều chuyện về tay chủ hiệu rau quả và đã đem loa lên um xùm khắp trong khu phố. Một trong những chuyện anh loa lên um xùm là trong những tháng đông khắc nghiệt nhất, chủ nhật nào Greff cũng tắm cùng mấy chú choai choai. Tuy nhiên, ngay cả Meyn cũng không bao giờ nói rằng Greff đã bắt bọn chip ấy trần truồng nhẩy xuống cái lỗ khoét giữa lớp băng như chính giả. Dường như đối với giả, được thấy chúng, gần như trần truồng hoặc nửa mình trần, mềm mại và dẻo dai chạy nhảy trên băng và lấy tuyết kỳ cọ cho nhau, là đã thoả mãn rồi. Cái cảnh đám choai choai trong tuyết quyến rũ Greff đến nỗi trước hoặc sau khi tắm, giả thường nhảy tung tăng với chúng, giúp chúng cọ tuyết cho nhau hoặc để 'cho cả lũ xúm vào cọ tuyết cho giả. Meyn-t’rompét cả quyết rằng có lần di dạo dọc biển từ phía Glettkau, mặc dầu trời mù sương, anh đã thấy Greff trần truồng dễ sợ, vừa hát vừa la, bế bổng hai tên đệ tử trần truồng và cứ thế, trần truồng bồng bế trần truồng, như một chiếc xe trượt ba ngựa t’roika, vừa gào rú vừa lao như điên trên mặt băng rắn chắc của biển Baltic.

Mặc dầu ở Brösen và Neufahrwasser có nhiều dân chài mang họ Greff, ta vẫn dễ dàng đoán ra rằng Greff không phải con trai một người đánh cá. Nguyên quán Greff-Rau-Quả ở Tiegenhof, nhưng, giả gặp Lina Bartsch ở Praust. Tại đây, giả đã giúp một cha xứ trẻ năng nổ điều hành một câu lạc bộ học việc và Lina, cũng để giúp vị cha xứ này, thứ bảy nào cũng đến nhà giáo xứ. Bằng vào một tấm ảnh chụp chớp nhoáng mà chắc bà đã cho tôi (vì nó còn ở trong cuốn album của tôi), thì Lina, ở tuổi hai mươi, là một cô gái khoẻ mạnh, tròn trĩnh, có vẻ nhẹ dạ và hơi đần. Cha Lina khai thác một vườn rau quả lớn ở Sankt Albrecht. Theo lời bà kể lại sau này vào bất kỳ lúc nào thuận miệng, khi bà lấy Greff ở tuổi hai mươi ba theo lời khuyên của cha xứ, bà hoàn toàn ngờ nghệch, chưa từng trải. Bằng tiền của cha bà, hai vợ chồng mở một cửa hàng rau quả ở Langfuhr. Vì phần lớn rau và hầu hết trái cây đều do ông già cung cấp với giá rẻ, công việc kinh doanh của họ hồ như cứ thế tự động vận hành và Greff không gây tổn hại gì lớn.

Nếu Greff không có cái sở thích trẻ con là hí hoáy chế tác vặt, thì hắn giả đã có thể biến cái cửa hàng rất đắc địa ở một khu ngoại ô đông trẻ con, hoàn toàn không bị cạnh tranh này, thành một mỏ vàng. Nhưng khi viên thanh tra Phòng Đo Lường xuất hiện lần thứ ba hay thứ tư gì đó để kiểm tra việc bán hàng và tịch thu những quả cân, quyết định một loạt khoản phạt, một số khách quen bèn bỏ cửa hàng của Greff mà ra mua rau ngoài chợ. Rau của Greff thuộc loại hảo hạng, họ nói, và giá cũng không quá cao, nhưng một khi thanh tra cứ đến hoài như vậy, chắc phải có điều gì khuất tất.

Tuy nhiên, tôi dám chắc Greff không hề có ý định lừa lọc ai. Chuyện đã xảy ra là thế này. sau khi Greff ‘cải tiến’ vài chi tiết ở bàn cân to cân khoai tây, kết quả giả lại đâm thiệt. Do đó, ngay trước khi chiến tranh bùng nổ, giả gá vào chính cái bàn cân ấy một bộ chuông hoà âm cứ sau mỗi mẻ cân, lại tấu lên một nét giai điệu coi như phân thưởng cho khách mua hàng và giai điệu này thay đổi tuỳ theo trọng lượng cân được. Phần thưởng cho hai mươi ‘pao’ là điệu Bờ sông Saale tươi nắng, cho năm mươi ‘pao’ là Hãy mãi mãi thật thà và chính trực; một mẻ nửa tạ khoai tây mùa đông khiến bộ chuông ngân lên những nốt say đắm một cách hồn nhiên của bài Nàng Annchen von Tharau.

Tôi dễ dàng thấy là Phòng Đo Lường không ưa gì những trò ngông âm nhạc ấy, tuy nhiên cái ngón tiêu khiển này của ông chủ hiệu rau quả lại hợp ‘gu’ tôi. Ngay cả Lina Greff cũng rộng lượng đối với những trái thói của chồng bởi lẽ, phải, bởi lẽ cốt lõi và nội dung cuộc hợp hôn Greff là chịu đựng những nhược điểm của nhau. Xét từ góc độ ấy, cặp vợ chồng Greff có thể gọi là tốt đôi. Greff không đánh vợ, không bao giờ phụ bạc vợ vì những người đàn bà khác, không rượu chè cũng chẳng chơi bời trác táng; giả là một người đàn ông vui tính, ăn mặc chải chuốt và, do tính cách thích giao tiếp và hay giúp đỡ, được nhiều người cảm mến, không riêng gì bọn thanh thiếu niên choai choai mà cả những khách hàng đến mua khoai tây kèm theo nhạc.Cũng như vậy, bằng con mắt độ lượng, Greff bình thản nhìn cô ả Lina của minh, năm này sang năm khác, trở thành một mụ nhếch nhác càng ngày càng hôi hám. Tôi thường thấy giả mỉm cười khi nghe những người bạn đồng cảm nói toẹt ra rằng vợ giả là một mụ nhếch nhác. Đôi khi, tôi nghe thấy Greff đáp lại Matzerath khi ông chê vợ giả: "Cố nhiên, anh nói hoàn toàn đúng, Alfred. Lina nhà tôi quả có phần buông thả. Nhưng tất cả chúng ta ai chả có khuyết tật." Giả xoa vào nhau hai bàn tay thường xuyên vần vò khoai tây nhưng vẫn rất trau chuốt. Nếu Matzerath còn vặn vẹo thêm, Greff liền chấm dứt cuộc tranh cãi bằng một giọng thân ái nhưng kiên quyết: "Anh có thể đúng ở một số điểm, nhưng Lina cơ bản rất tốt bụng. Tôi hiểu Lina của tôi."Có thể là giả hiểu thật. Nhưng Lina thì hầu như không hiểu gì về giả. Cũng giống như những người hàng xóm và khách hàng, bà chẳng nhìn thấy ở quan hệ của Greff với đám thiếu niên thường xuyên đến thăm bất cứ điều gì khác ngoài sự nhiệt thành của lớp trẻ đối với một người bạn và thày dậy tuy không chuyên nghệp nhưng hết lòng hết sức vì tuổi trẻ.

Riêng phần tôi, Greff chẳng thể dậy gì cho tôi, cũng không cách gì khơi được lửa nhiệt tình trong tôi. Thực ra, Oskar không thuộc ‘týp’ của giả. Giá như trước đây tôi đã quyết định lớn thì có thể tôi đã trở nên hợp cạ với giả đấy bởi vì thằng con trai Kurt mảnh dẻ và dong dỏng của tôi, nay đã mười ba tuổi, đúng là hiện thân cho ‘týp’ của Greff, mặc dầu nó giống Maria là chính, chỉ hơi nhang nhác tôi và chả giống Matzerath tí nào.

Greff là một người làm chứng trong lễ thành hôn của Maria Truczinski và Alfred Matzerath, người kia là Fritz Truczinski về phép vào dịp.ấy. Vì Maria, cũng như chú rể, theo đạo Tin Lành nên họ chỉ đăng ký ở phòng hộ tịch toà thị chính thôi. Đó là vào giữa tháng chạp. Matzerath mặc đồng phục Đảng nói "Tôi đồng ý". Maria đã có mang ba tháng.

Bụng người tôi yêu càng tròn căng, mối hờn ghét của Oskar càng lớn. Tôi chẳng phản đối gì việc nàng có chửa. Nhưng việc cái thai do tôi gieo mầm mai đây sẽ phải mang họ Matzerath, tước đi hết của tôi niềm vui chờ đợi đứa con trai thừa tự. Khi Maria sang tháng thứ năm, tôi thực hiện cú đầu tiên trong mưu toan làm nàng xảy thai. Đó là vào dịp Hội hoá trang. Maria đang buộc những dải hoa giấy và một số mặt nạ hề có mũi bằng khoai tây vào thanh đồng phía trên quầy, nơi treo xúc xích và thịt xông khói. Mọi khi chiếc thang được bắc vững chắc vào những giá gỗ, lúc này lại chỉ dựa hờ vào quầy. Maria ở tít trên, tay đầy những dải hoa giấy. Oskar ở dưới chân thang. Dùng đôi dùi trống làm đòn bẩy, với sự hỗ trợ của đôi vai và lòng quyết tâm không lay chuyển, tôi nhấc chân thang lên rồi đẩy sang một bên. Bùng nhùng giữa mớ hoa giấy và mặt nạ, Maria khẽ kêu lên một tiếng khiếp hãi. Cái thang chao di, Oskar nhảy sang một bên và Maria ngã nhào xuống cạnh nó, kéo thểo cả giấy màu, mặt nạ lẫn xúc xích.

Nom thì dễ sợ nhưng hậu quả thực tế không đến nỗi tệ hại. Nàng chỉ bị sai mắt cá chân, phải nằm và giữ gìn cẩn thận, nhưng không có tổn thương nghiêm trọng nào khác. Nàng ngày càng sồ sề và thậm chí không hề nói cho Matzerath biết ai đã làm nàng sai mắt cá chân.

Mãi đến tháng năm năm sau, khoảng ba tuần trước hạn kỳ sinh nở, tôi mới làm cú thứ hai; lần này thì nàng có hơi hé ra với đức ông chồng Matzerath. Ngồi ngay trước mặt tôi trong một bữa ăn, nàng nói: “Oskar dạo này thô bạo ghê gớm. Đôi khi cậu ta đánh vào bụng tôi. Hay là ta để cậu ta ở với mẹ tôi một thời gian cho đến khi đứa bé ra đời. Chỗ bà còn rộng chán."

Matzerath nghe vậy thì biết vậy. Thực tế, một cơn khùng đầy sát khí đã gây ra một cuộc đụng độ khác hắn giữa Maria và tôi.

Nàng nằm dài trên đi-văng sau bữa ăn trưa. Matzerath đã rửa xong bát đĩa và đang ở ngoài cửa hàng bày biện tủ kính. Phòng khách tĩnh'lặng. Họa chăng chỉ có tiếng một con ruồi vo ve, tiếng đồng hồ tích tắc như thường lệ, tiếng đài vặn nhỏ loan tin chiến thắng của lính dù ở Crete. Tôi chỉ giỏng một tai lên khi họ truyền lời phát biểu của võ sĩ lừng danh Max Schmeling. Theo như tôi hiểu láng máng, thì nhà vô địch thế giới đã bị trẹo chân khi đáp xuống mặt đất đầy đá rắn cấc của đảo Crete và giờ đây phải nằm dài tự điều trị, giống như Maria phải nằm dài sau cú ngã từ trên thang vậy. Schmeling nói với giọng khiêm tốn bình thản; tiếp đó là những lính dù kém nổi tiếng hơn và Oskar thôi không nghe nữa; tịch lặng, họa chăng chỉ một tiếng ruồi vo ve, tiếng tích tắc đồng hồ như thường lệ, tiếng đài vặn nho nhỏ.

Tôi ngồi trên chiếc ghế băng nhỏ bên cạnh cửa sổ quan sát cái bụng của Maria trên đi-văng. Nàng thở nặng nhọc, mắt nhắm nghiền. Thi thoảng tôi gõ trống một cách bực dọc. Nàng không hề động đậy, tuy nhiên tôi vẫn buộc phải thở hít cùng một làn không khí với cái bụng của nàng. Cái đồng hỗ vẫn đó và con ruồi vo ve giữa ô kính cửa sổ và rèm trên nền của.tiếng đài phát thanh vẫn nói về cái đảo đá Crete. Nhưng tất cả những cái đó nhanh chóng bị chỉm lấp: tôi chỉ còn nhìn thấy cái bụng ấy. Tôi không còn biết cái bụng căng phồng ấy đang ở trong phòng nào, cũng như nó thuộc về ai, hay ai đã làm cho nó to thế. Tôi chỉ còn biết là tôi không thể chịu nổi nó: phải trừ bỏ nó đi, đó là một sai lầm, nó chắn tầm nhìn của mày, mày phải đứng dậy làm một cái gì đó! Thế là tôi đứng dậy. Mày phải tìm hiểu xem có thể làm gì được. Thế là tôi tiến lại gần cái bụng và tiện tay vớ lấy một cái gì đó. Đây là một khối sưng phồng ác tính cần phải làm cho xẹp đi. Tôi giơ cao cái vật tôi vừa vớ được và nhằm tìm một chỗ giữa hai bàn tay Marla đang nằm thở cùng một nhịp với bụng nàng. Đã đến lúc rồi đấy, Oskar, hành động đl kẻo Maria mở mắt ra bây giờ!

Lúc này, tôi đã cảm thấy bị theo dõi, nhưng tôi vẫn đứng ngây nhìn trân trân vào bàn tay trái hơi rung lên của Maria, tuy tôi có thấy tay phải nàng chuyển động, phải, tôi có thấy nàng định làm gì đó bằng bàn tay phải; cho nên tôi không quá ngạc nhiên khi bàn tay phải ấy giật lấy cái kéo khỏi tay Oskar. Có thể tôi đã đứng đó thêm mấy giây nữa, tay vẫn giơ lên nhưng không cầm gì cả, tai bất giác lại nghe thấy tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng con ruồi vo ve, tiếng người phát thanh viên báo là bản tin về đảo Crete đã kết thúc. Tôi quay đằng sau và trước khi chương trình tiếp thèo - nhạc nhẹ từ hai đến ba giờ - bắt đầu, tôi đã rời khỏi cái phòng khách trở nên quá chật đối với tôi vì cái bụng choán hết không gian kia.

Hai hôm sau, Maria mua cho tôi một cái trống mới và đưa tôi lên căn hộ tầng ba sực mùi cà-phê thế phẩm và khoai tây rán của Mamăng Truczinski. Mới đầu tôi ngủ ở xôfa, không chịu nằm trên cái giường cũ của Herberrt vì sợ cái mùi va-ni còn vương lại đâu đó. Một tuần sau, già Heilandt mang cái giường ti hon bằng gỗ của tôi lên. Tôi đành để cho họ kê nó bên cạnh cái giường đã từng chứa chấp tôi, Maria và cái món bột sủi của hai chúng tôi.

Ở nhà Mamăng Truczinski, Oskar trở nên bình tĩnh hơn hay dửng dưng hơn, do khỏi phải nhìn thấy cái bụng kia vì Maria sợ phải leo cầu thang. Tôi tránh tất cả: căn hộ của chúng tôi, cửa hàng, đường phố, thậm chí cả sân chung cư, ở đó người ta lại bắt đầu nuôi thỏ vì thức ăn ngày càng trở nên khan hiếm.Phần lớn thời gian, Oskar ngồi ngắm những tấm bưu ảnh do trung sĩ Fritz Truczinski gửi hoặc trực tiếp mang về từ Paris. Tôi hình dung thành phố Paris theo cách của mình và khi Mamăng Truczinski đưa cho một tấm bưu ảnh có hình Tháp Eiffel, tôi bèn lấy đó làm chủ đề và bắt đầu thể hiện Paris trên trống, dạo một khúc muyzet[1] mặc dầu tôi chưa bao giờ được nghe một bản nhạc nào theo thể loại này.

Ngày 12 tháng sáu - sớm hai tuần so với tính toán của tôi - Kurt con trai tôi ra đời, cầm tinh Song Nam chứ không phải Bắc Giải như tôi dự đoán. Cha sinh vào một năm sao Mộc, con sinh vào một năm sao Kim. Cha thuộc cung xử Nữ, sao Thủy chiếu mệnh, tính hoài nghi và mưu trí, con cũng sao Thủy chiếu mệnh: nhưng lại cầm tinh Song Nam, do vậy được phú cho một trí thông minh lạnh lùng, đầy tham vọng. Những gì ở tôi được sao Kim cung Thiên Xứng trong phổ hoàng đạo đầu đời nơi chân trời đằng đông làm giảm nhẹ đi, thì ở con trai tôi lại đậm nét hơn bởi cung Dương Cưu trong cùng một phổ hoàng đạo; tôi sẽ gặp rắc rối với sao Hỏa của nó.

Phấn khích và lăng xăng như một con chuột nhắt, Mamăng Truczinski báo tin: "Này Oskar, con cò vừa mang đến cho cháu một đứa em trai đấy. Thế mà bác đã bắt đầu lo rằng ngộ nhỡ là một Thị Mẹt thì sau này lại sinh chuyện." Tôi hầu như không ngắt quãng khúc độc tấu trống của mình về Tháp Eiffel và Khải Hoàn Môn, chủ đề mới vừa chợt đến trong đầu. Cả ở cương vị mới là bà ngoại, Mamăng Truczinski dường như cũng không chờ đợi tôi ngỏ lời chúc mừng. Mặc dầu hôm đó không phải là chủ nhật, bà vẫn quyết định tô tí phấn hồng theo lối cổ truyền bằng cách lấy giấy gói rau diếp quăn thoa lên má và sau khi trang điểm như thế, xuống dưới nhà để giúp ông bố hờ Matzerath một tay.

Như tôi đã nói, đó là vào tháng sáu. Một tháng xảo trá. Chiến thắng trên khắp các mặt trận - nếu ta muốn gán cái tên kêu như vậy cho những thắng lợi ở vùng Balkan - nhưng người ta đang chờ những chiến thắng lớn hơn trên mặt trận phía đông. Một đạo quân lớn đang di chuyển theo hướng đó. Các tuyến đường sắt đang rất bận rộn. Fritz Truczinski, từ trước đến nay vẫn vui chơi thoải mái ở Paris, cũng buộc phải lao vào một cuộc Đông tiến có thể sẽ rất dài và không thể tưởng lầm là một chuyến đi phép được. Trong khi đó, Oskar bình thản ngồi ngắm những bưu ảnh bóng loáng, đắm mình trong tiết xuân êm dịu của Paris và khẽ dạo bài Ba chú bé đánh trống; chẳng hề có quan hệ gì với quân đội chiếm đóng, nó không có lý do gì để sợ du kích ném nó qua thành cầu sông Seine. Không, tôi mặc đồ dân thường mà leo lên Tháp Eiffel cùng với cái trống của tôi, thoải mải thưởng ngoạn toàn cảnh thành phố; tôi cảm thấy rất khoan khoái và mặc dầu ở độ cao đầy cám dỗ như vậy, không hề bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ tự sát vừa ngọt ngào vừa cay đắng, đến nỗi mãi tới khi xuống đứng ở chân tháp với tầm vóc chưa đầy một mét của mình, tôi mới nhớ ra rằng con trai tôi đã ra đời.Thế đấy, tôi nghĩ thầm, một đứa con trai. Khi nào lên ba, nó sẽ được một cái trống thiếc. Để xem ỏ đây ai là cha, cái ông Matzerath kia hay là tôi, Oskar Bronski.

Trong cái nóng tháng tám - đâu như người ta vừa loan tin cuộc bao vây Smolensk đã kết thúc thắng lợi - lễ rửa tội cho con trai Kurt của tôi được tiến hành. Nhưng bà ngoại Anna Koljaiczek của tôi và ông anh Vincent Bronski của bà đã được mời tới dự như thế nào nhỉ? Dĩ nhiên nếu quý vị chấp nhận như tôi rằng Jan Bronski là cha tôi và ông lão Vincent Bronski lầm lì và ngày càng trái tính là ông nội tôi thì việc mời họ là có lý. Vì nói cho cùng, ông bà tôi là cụ cố của Kurt con trai tôi.

Nhưng đương nhiên là Matzerath, người đứng ra mời, không hề nghĩ đến cách biện luận như vậy. Ngay cả trong những khoảnh khắc hồ nghi bản thân nhất như sau một chầu xi-cạt thua liểng xiểng, ông vẫn tự coi mình hai lần là người cha, người sinh thành và nuôi nấng. Còn có những lý do khác khiến Oskar có dịp được gặp bà ngoại và ông nội mình: hai cụ đã thành dân Đức, không còn là người Ba Lan nữa và chỉ còn nói tiếng Kashubes trong mơ mà thôi. Người ta gọi họ là công dân Đức, nhóm 3. Hơn nữa, Hedwig Bronski, vợ goá của Jan, đã tái giá với một người Đức gốc Baltic là thủ lĩnh địa phương của nông dân Ramkau. Họ đã làm đơn xin cho Marga và Stephan Bronski được mang họ của bố dượng. Stephan, hiện mười bảy tuổi, đã tình nguyện nhập ngũ, đang được đào tạo tại Trại Huấn luyện Bộ binh ở Gross- Boschpol và có triển vọng được thăm nhiều chiến trường của châu Âu trong khi Oskar, cũng sắp đến tuổi nghĩa vụ quân sự, đành phải ôm trống chờ đến khi nào hé mở cơ may cho một chú bé đánh trống lên ba có thể được nhận vào bộ binh hay hải quân, hoặc thậm chí không quân.

Chính thủ lĩnh nông dân địa phương Ehlers đã chủ động đi bước trước. Hai tuần trước lễ rửa tội, ông ta đã lái một chiếc xe hai ngựa cùng Hedwig đến phố Labesweg. Ông ta chân vòng kiềng, đau dạ dày và không thể chịu nổi bất cứ ai nhắc đến mình cùng lúc với Jan Bronski. Thấp hơn Jan cả một cái đầu, ông ta ngồi cạnh Hedwig-mắt-bò-cái ở bàn phòng khách nhà chúng tôi. Cung cách của ông ta khiến cho ngay cả đến Matzerath cũng phải ngạc nhiên. Cuộc trò chuyện không cách nào bắt đầu được. Họ nói về thời tiết, nhận xét rằng ở phương Đông đang xảy ra đủ mọi thứ chuyện, rằng quân ta đang đánh rất cừ - cừ hơn thời kỳ 1915 nhiều, theo như Matzerath, người đã từng tham chiến hồi đó, nhớ lại. Tất cả đều cố hết sức tránh nhắc đến Jan Bronski cho đến khi tôi giở quẻ phá thối cái trò rởm của họ bằng cách dẩu mỏ theo kiểu con nít ngộ nghĩnh mà lớn tiếng hỏi đi hỏi lại thế còn bác Jan của Oskar thì sao. Matzerath phải gồng mình lên nói đôi điều suy tư thương mến về người bạn cũ đồng thời là tình địch của mình. Ehlers nồng nhiệt phụ họa mặc dầu ông ta chưa bao giờ thấy người tiền nhiệm của mình. Hedwig thậm chí còn chắt ra được mấy giọt nước mắt chính hiệu từ từ lăn trên má và cuối cùng tìm được lời để khép lại đề tài Jan: "Anh ấy là một con người tốt, không làm đau đến cả một con ruồi. Ai ngờ một người sợ đến cả cái bóng của mình như anh ấy lại phải chịu một kết cục như vậy."

Sau những lời đó, Matzerath bảo Maria đang đứng đằng sau ông mang ra mấy chai bia và hỏi Ehlers có chơi xì-cạt không. Không, Ehlers lấy làm tiếc là mình không biết chơi, nhưng Matzerath hào hiệp bỏ qua cho tay thủ lĩnh nông dân cái thiếu sót nhỏ ấy. Thậm chí ông còn vỗ vai ông này và, sau khi bia đã rót đầy cốc, cam đoan rằng họ vẫn có thể là bạn tốt mặc dù Ehlers không biết chơi xì-cạt, cái đó chả thành vấn đề.

Thế là Hedwig Bronski, với tư cách là Hedwig Ehlers, tìm lại được đường trở về với chúng tôi và đưa đến dự lễ rửa tội của Kurt con trai tôi không chỉ vị thủ lĩnh nông dân địa phương của mình, mà cả ông bố chồng cũ và em gái Anna của ông nữa. Matzerath ồn ã và vồn vã chào đón hai ông bà già từ ngoài phố, ngay dưới cửa sổ các nhà hàng xóm và vào đến phòng khách, khi bà ngoại tôi lôi từ dưới bốn lần váy ra một con ngỗng béo đẹp, quà mừng nhân lễ rửa tội, ông nói: “Bà không phải làm thế. Bà cứ đến tay không, con cũng sung sướng lắm rồi." Nhưng bà ngoại tôi không chịu thế, bà muốn mọi người thấy rõ giá trị con ngỗng của bà. Đập tay vào con chim quý tộc, bà phản đối: "Đừng có vớ vẩn, Alfred. Đây không phải là một con ngỗng Kashubes, đây là một con ngỗng quốc tịch Đức, anh sẽ thấy thịt của nó có vị y hệt như hồi trước chiến tranh."

Như vậy, mọi vấn đề về quốc tịch được giải quyết và mọi sự đều trôi chảy cho đến giờ cử hành nghi lễ, thì Oskar nhất định không đặt chân vào nhà thờ Tin Lành. Họ lấy cái trống của tôi ra khỏi tắc-xi, định dùng nó để dụ dỗ tôi, cam đoan với tôi, không phải chỉ một lần mà nhiều lần, rằng người ta cho phép mang trống vào nhà thờ Tin Lành. Tuy nhiên, tôi vẫn kiên trì bám chắc lấy đạo Thiên Chúa. Tôi thà, ngay lúc này, rót vào lỗ tai thánh tông đồ của Cha Wiehnke một lời xưng tội tổng quát và chi tiết còn hơn phải nghe một bài thuyết pháp Tin Lành trong lễ rửa tội. Matzerath đành nhượng bộ, có lẻ vì sợ tôi cất giọng gây đổ vỡ khiến ông phải bổi thường thiệt hại. Trong khi con trai tôi đang chịu lễ rửa tội, tôi ngồi lại trong tắc-xi, nhìn trân trân vào sau đầu người lái xe, xem xét kỹ từng nét mặt của Oskar trong gương chiếu hậu, nhớ lại lễ rửa tội của chính mình đã lùi vào quá khứ xa xăm và những cố gắng dũng cảm của Cha Wiehnke nhằm đuổi quỷ Xa-tăng ra khỏi hài nhi Oskar.

Sau đó là bữa ăn. Hai cái bàn được kê sát lại. Đầú tiên là món xúp giả ba ba[1]. Những người ở quê ra húp xùm xụp. Greff cong ngón tay út. Gretchen Scheffler khẽ đụng răng vào nước xúp. Guste cười toét miệng trên chiếc cùi-dìa của mình. Ehlers tiếp tục trò chuyện bên trên thìa xúp, ông già Vincent run run liếc sang bên cạnh. Chỉ có hai bà già, bà ngoại Anna và Mamăng Truczinski, là toàn tâm toàn ý với cùi-dìa của mình. Riêng Oskar thì buông thìa và, mặc cho những người khác vẫn múa cùi-dìa, lỉnh đi tìm cái nôi của con trai nó trong phòng ngủ vì Oskar muốn nghĩ về con trai mình trong khi, đằng sau những chiếc muổng, những người kia càng ních đầy xúp vào bụng thì càng đắm sâu vào một trống rỗng cạn kiệt mọi ý nghĩ.

Bên trên chiếc giỏ có bánh xe là một tán che bằng vải tuyn màu xanh da trời. Mép giỏ quá cao, nên thoạt đầu, tôi chỉ nhìn thấy một cái đầu xanh xanh đỏ đỏ nhăn nhúm, bé tí tẹo. Đặt cái trống xuống sàn nhà và đứng lên đó, tôi có thể quan sát con trai tôi đang thiêm thiếp, chốc chốc lại giật thon thót trong giấc ngủ. Ôi lòng kiêu hãnh của kẻ làm cha luôn luôn háo tìm những lời chữ to tát! Ngắm đứa con trai sơ sinh, tôi chẳng nghĩ ra điều gì khác ngoài, câu này: Khi nó lên ba, nó sẽ có một cái trống. Con trai tôi không chịu hé cho tôi thấy chút gì về tình hình trí tuệ của nó, và tôi chỉ có thể hy vọng rằng, cũng như tôi, nó thuộc vào loại hài nhi thính tai. Bối rối không biết làm gì tiếp, tôi nhắc.lại lời hứa sẽ tặng nó một cái trống vào dịp sinh nhật thứ ba, bước xuống khỏi cái bệ-trống và một lần nữa, thử cơ may với những người lớn ở trong phòng khách.

Họ vừa ăn xong món xúp giả ba ba. Maria mang tiếp vào món đậu cô-ve hộp với bơ nước. Matzerath, phụ trách món lợn quay, tự tay sắp thịt lên đĩa; ông cởi bỏ áo ngoài, mặc sơ-mi trần đứng thái từng miếng, cúi xuống đĩa thịt mềm dịu một gương mặt mềm dịu đến nỗi tôi phải quay mắt đi.

Greff ăn chay kiêng thịt, dược phục vụ riêng: măng tây hộp, trứng luộc và củ cải đỏ trộn kem, Cũng như mọi người, giả lấy một tảng khoai tây nghiền nhưng không rưới bằng nước thịt mà bằng bơ nâu mà Maria ân cần mang từ trong bếp ra trong một cái xoong kêu xèo xèo. Trong khi những người khác uống bia, giả xài nước táo. Người ta bàn tán về chuyện bao vây Kiev, tính số tù binh bắt được bằng đầu ngón tay. Ehlers, vốn quê gốc ở vùng Baltic, tỏ ra có năng khiếu đặc biệt trong việc đếm tù binh Nga; cứ được mười vạn, ông ta lại giơ một ngón tay lên; khi cả hai bàn tay xòe ra thành trọn một triệu, ông tiếp tục đếm bằng cách lần lượt cụp từng ngón một. Khi không còn gì để nói về đề tài tù binh do tổng số tăng vùn vụt khiến nó trở nên vô bổ và vô vị, Scheffler xoay sang nói chuyện tàu ngầm ở Gotenhafen và Matzerath thầm thì vào tai bà ngoại Anna rằng ở Schichau mỗi tuần, người ta hạ thuỷ hai chiếc. Thế là Greff-Rau-Quả bèn giải thích cho tất cả những ai có mặt rõ tại sao tàu ngầm khi hạ thuỷ lại phải xoay ngang chứ không lao đằng mũi xuống trước. Để trình bày thật rõ ràng, cụ thể, giả minh họa từng thao tác bằng những điệu bộ mà các vị khách mê thích tàu ngầm đều ra sức bắt chước một cách vụng về. Mô phỏng một chiếc tàu ngầm đang lặn, tay trái ông Vincent Bronski hất đổ cốc bia của mình. Bà ngoại tôi đã lên tiếng cự nự ông, nhưng Mania bèn xoa dịu, nói không sao, đằng nào khăn bàn cũng đã đến lúc phải giặt, tiệc tùng ăn mừng làm sao tránh khỏi giây bẩn. Mamăng Truczinski mang khăn vào lau sạch chỗ bia đổ; tay trái bà cầm một cái bát pha-lê lớn đầy bánh pút-đinh sô-cô-la rắc hạnh đào giã vụn.

Ôi chao, giá như cái bánh pút-đinh sô-cô-la có một thứ nước xốt nào khác hoặc đừng có nước xốt gì hết! Nhưng lại là nước xốt va-ni cơ chứ. Vàng vàng, đặc quánh: xốt va-ni! Có lẽ trên đời này không có gì vui bằng mà cũng không có gì buồn bằng xốt va-ni. Rất nhẹ nhàng, mùi va-ni lan toả khắp, bao bọc tôi mỗi lúc một sâu trong Maria đến nỗi tôi không đủ sức nhìn nàng đang ngồi cạnh Matzerath, tay nắm tay ông ta, nàng, nguồn gốc của mọi thứ va-ni.

Oskar bám lấy váy của Lina Greff tụt xuống khỏi chiếc ghế cao con nít dành cho nó, nằm dài dưới chân bà trong khi bà múa thìa ở bên trên. Lần đầu tiên tôi hít vào cái mùi đặc biệt của Lina Greff; nó lập tức át hẳn, nhận chìm và diệt sạch mọi mùi va-ni.

Bất chấp mùi hương mới có cay nồng đến mấy, tôi vẫn bám riết lấy nó cho đến khi mọi hồi ức liên quan đến va-ni dường như nhoà đi. Một cơn buồn nôn như sự giải cứu từ từ xâm chiếm tôi, lặng lẽ, không chút co thắt. Trong khi ói ra nào xúp giả ba ba, nào thịt lợn quay thái từng miếng, nào đậu cô- ve hộp gần như còn nguyên cùng mấy thìa bánh pút-đinh sô-cô-la với xốt va-ni, tôi chợt nhận chân ra trọn vẹn nỗi đơn côi của mình. Tôi đằm mình trong đơn côi. Nỗi đơn côi của Oskar trải ra dưới chân Lina Greff - và tôi quyết định từ đây trở đi, hằng ngày, tôi sẽ đem nỗi đơn côi của mình đến đặt dưới chân Lina Greff.

______
Chú thích:
[1] Loại nhạc đồng quê bắt chước tiếng kèn túi.
[2] Nguyên bản là xúp giả rùa.
 
[...]
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.07.2016 12:44:31 bởi tducchau>
[...]
 
KẾ TỤC CHÚA KIRIXITÔ
 
Nào, hãy nói chuyện trở về nhà! Vào lúc tám giờ bốn phút tối, đoàn tàu chở lính về phép vào ga Danzig. Felix và Kitty tiễn tôi đến tận Quảng trường Max-Halbe. Kitty òa khóc khỉ hai người nól lời chia tay. Rồi - lúc đó là gần chín giờ tối - họ về trụ sở Đội Tuyên Truyền ở Hochstriess trong khi Oskar ì ạch xách hành lý xuôi phố Labesweg.
 
Về nhà! Ngày nay, mọi gã thanh niên từng làm giả một tấm hối phiếu, xung vào đội Lê-dương và, khi về nhà sau vài năm, huênh hoang dăm ba câu chuyện, đều có thể được coi như một Ulysse  [1] hiện đại. Có thể trên đường về, anh bạn trẻ của chúng ta lên nhầm tàu đi Oberhausen thay vì Frankfurt và dọc đường, trải qua vài cuộc phiêu lưu - tại sao không? - và về tới nhà là luôn miệng nhắc đến những cái tên thần thoại: Circe, Penelope, Telemaque [2].
 
Oskar không phải là một Ulysse, trước hết vì khi trở về nhà, gã thấy chẳng có gì thay đổi cả. Maria yêu dấu của gã không hề bị bủa vây bởi kẻ dâm đãng rắp ranh, ve vãn, có thể ví như một nàng Penelope nếu gã là Ulysse, nàng vẫn ở với Matzerath mà nàng đã quyết định chọn từ lâu trước khi Oskar ra đi. Và tôi hy vọng những vị có đầu óc cổ điển trong số các độc giả của tôi không vì thuật mộng du của nàng mà tưởng lầm Roswitha tội nghiệp của tôi là một Circe, người đẹp mê hồn biến đàn ông thành thú vật. Sau rốt, thằng con trai Kurt của tôi không hề giơ lên đến một ngón tay để chào người cha trở về, do vậy, nó đâu phải là Telemaque, cho dù nó không nhận ra tôi.
 
Nếu cần phải so sánh - và tôi hiểu rằng những kẻ đi xa trở về nhà phải chịu đôi điều so sánh - thì tôi những muốn được ví với Đứa Con Hư trong Kinh Thánh; bởi lẽ Matzerath đã mở cửa và hoan hỉ đón tôi như một người cha thật chứ không phải cha hờ. Thực vậy, ông tỏ ra sung sướng thấy Oskar trở về đến mức ứa những giọt nước mắt thật sự và lặng lẽ, đến nỗi từ hôm ấy trở đi, tôi không chỉ tự gọi mình là Oskar Bronski mà còn là Oskar Matzerath nữa.
 
Maria đón tôi bình thản hơn nhưng không phải là không thân ái. Nàng dang ngồi ở bàn, dán những tem thực phẩm cho Phòng Thương mại; trước đó nàng đã xếp mấy gói quà sinh nhật cho bé Kurt sang bàn hút thuốc, vốn là người có đầu óc thực tế, nàng nghĩ trước tiên đến sự thoải mái thể chất của tôi, cởi quần áo cho tôi và tắm cho tôi như ngày xưa, mặc cho tôi đỏ mặt vì ngượng ngùng, rồi đặt tôi ngồi vào bàn trong bộ đồ pyjama trước một đĩa trứng ốp-la và khoai tây rán mà Matzerath đã dọn sẵn cho tôi. Tôi uống sữa và trong khi tôi ăn uống, cuộc tra hỏi bắt đầu: "Anh đã ở những đâu. Bọn tôi - và cả cảnh sát nữa - đã tìm anh như điên khắp mọi nơi; thậm chí bọn tôi đã phải ra tòa thề rằng đã không thủ tiêu anh. Thôi được, giờ anh đã về đây, đội ơn Chúa. Nhưng anh đã gây cho chúng tôi bao nhiêu rắc rối và sắp tới sẽ còn tiếp tục phiền toái nữa; bởi vì chúng tôi sẽ phải báo cáo là anh đã trở về. Tôi chỉ hy vọng họ đừng bắt anh vào một trại cải huấn. Mà có thế cũng đáng kia, ai bảo trốn biệt chẳng nói một lời!"
 
Maria nói đúng. Quả là lắm thứ rầy rà. Một tay ở Bộ y Tế đến nói chuyện riêng với Matzerath, nhưng Matzerath quát to đến nỗi cả nhà nghe thấy: "Không thể thế được. Tôi đã thề với vợ tôi trên giường lâm chung của bà ấy. Tôi là cha nó chứ không phải là cảnh sát vệ sinh y tế.
 
Vậy là tôi không phải vào trại cải huấn. Nhưng cứ hai tuần họ lại tống xuống một công văn, yêu cầu Matzerath ký vào; Matzerath không chịu ký, nhưng trán ông hằn những nếp nhăn lo âu.
 
Oskar đã nói hơi sớm; giờ thì gã phải tạm xóa những nếp nhăn trên trán Matzerath đi đã, vì tối hôm tôi về, ông tươi như hoa; ông ít lo lắng hơn Maria nhiều, ít lục vấn hơn và thấy tôi về là sướng rồi. Tóm lại, ông ứng xử như một người cha thực sự. "Kurt gặp lại anh trai chắc thích lắm!" ông nói khi bọn họ đặt tôi vào giường trong căn hộ của Mamăng Truczinski (bà có vẻ hơi ngỡ ngàng). "Và đúng vào hôm trước sinh nhật lần thứ ba của nó!"

Trên bàn sinh nhật của nó, con trai Kurt của tôi thấy một cái bánh ga-tô với ba ngọn nến, một chiếc áo chui đầu đỏ thắm do Gretchen Scheffler đan, mà nó chẳng buồn để ý tới, cùng nhiều thứ khác. Có một quả bóng gớm ghiếc màu vàng cho nó cưỡi lên nhong nhong ếp ếp để rồi cuối cùng chọc thủng bằng một con dao gọt khoai tây. Nó ghé miệng vào vết thương, mút lấy cái chất nước lờ lợ tụ lại bên trong mọi trái bóng thổi bằng hơi; chán rồi, nó bắt đầu quay sang phá cái thuyền buồm đến tơi tả. Con quay cùng cây roi đánh quay không được nó đụng đến, nhưng nằm ngay trong tầm tay đến dễ sợ.
 
Từ lâu, Oskar đã nghĩ đến dịp sinh nhật này. Gã đã hối hả lao về phía Đông giữa một trong những cơn cuồng phong dữ dội nhất của lịch sử, quyết không lỡ dịp mừng đứa con trai thừa kế mình tròn ba tuổi. Giờ đây, gã đứng né một bên theo dõi những nỗ lực phá hoại của thằng bé, thán phục ý chí quyết tâm của nó, so sánh kích thước, tầm vóc của hai cha con. Tôi phải nhìn thẳng vào sự thật. Trong khi mày đi xa, tôi hơi lo lắng tự bảo, Kurt đã cao lên hơn một cái đầu. So với cái mức chín mươi tư xăngtimét mà mày đã giữ nguyên từ ngót nghét mười bảy năm nay, nó đã vượt hai hoặc ba xăngtimét; đã đến lúc phải luyện nó thành một tay trống và chặn đứng sự tăng trưởng vô độ này lại.
 
Tôi lên tầng áp mái, nơi tôi đã cất bộ trống và cuốn sách duy nhất của mình, chọn ra một cái trống mới toanh, bóng lộn. Vì những người lớn khác không ai nghĩ đến điều đó nên tôi quyết đem lại cho con trai tôi cùng một cơ hội như mẹ tội nghiệp của tôi đã đem lại cho tôi, đúng như mẹ đã hứa, vào dịp sinh nhật lần thứ ba của tôi.

Từ hồi tôi còn thơ ấu, Matzerath đã muốn tôi sau này sẽ kế nghiệp ông trông nom cửa hàng. Dự định ấy không thành, giờ đây tôi có lý do để nghĩ rằng ông đã chuyển kỳ vọng của mình sang Kurt. Tôi tự nhủ phải ngăn điều này bằng mọi giá. Nhưng tôi không muốn quý vị nhìn tôi như một kẻ thù không đội trời chung với ngành bán lẻ. Nếu như người ta định cho con trai tôi sở hữu một xí nghiệp hay thậm chí một vương quốc kèm theo những thuộc địa, tôi cũng sẽ ứng xử y hệt như thế. Oskar không muốn nhận những gì đã dùng rồi cho bản thân mình và cũng không muốn con trai mình nhận dồ "xê-cân hen". Điều Oskar muốn - và đây là chỗ yếu trong lôgích của tôi - là biến Kurt thành một thằng bé đánh trống mãi mãi ba tuổi, cứ như thể, đối với một thiếu niên có triển vọng, việc tiếp nhận một cái trống thiếc còn đỡ tởm lạm hơn là thừa kế một cửa hàng tạp hóa có sẵn vậy.

Đó là ý kiến bây giờ của Oskar. Nhưng hồi ấy, gã chỉ nung nấu một ước muốn: được thấy một trống sĩ con bên cạnh một trống sĩ cha, hai tay trống tí hon quan sát những hành vi của thế giới người lớn; thiết lập một triều đại trống sĩ có khả năng trường tồn và truyền từ đời này sang đời khác sự nghiệp của tôi trên trống thiếc sơn hai màu đỏ-trắng.
 
Cuộc đời trước mặt chúng tôi biết bao hứa hẹn! Đáng ra chúng tôi đã có thể hòa trống, cánh sát cánh, hoặc riêng rẽ ở hai phòng khác nhau, mà cũng có thể là nó ở Labesweg và tôi ở phố Luisen, nó dưới hầm rượu, tôi trên tầng áp mái, Kurt trong bếp, Oskar trong toa-lét, cha và con, kẻ đây người đó nhưng cũng đôi khi bên nhau; và khi gặp dịp, hai cha con có thể chui vào tạm trú dưới những tầng váy của Anna Koljaiczek, bà ngoại tôi và cụ ngoại nó, để đánh trống và hít cái mùi bơ hơi khăn khẳn. Ngồi xệp bên cửa váy bà, tôi sẽ nói với Kurt: "Hãy nhìn vào trong, con trai. Chúng ta từ đó mà ra. Và nếu con là một đứa bé ngoan, chúng ta có thể trở lại đó một vài giờ, thăm những người đang đợi chúng ta."
 
Và bé Kurt sẽ cúi xuống ghé mắt nhòm. Và rất lễ phép, nó sẽ đề nghị tôi, cha nó, giải thích.
 
Và Oskar sẽ thì thầm: "Người thiếu phụ yêu kiều ngồi ở giữa đang múa đôi bàn tay đẹp kia, người thiếu phụ yêu kiều mà gương mặt trái xoan dịu dàng làm ta - và có thể cả con nữa - ứa nước mắt, đó là mẹ tội nghiệp của ta, bà nội của con; bà chết bởi món xúp lươn vì tim bà quả mềm yếu."
 
"Kể nữa đi, cha, kể nữa đi," bé Kurt ắt sẽ gặng thêm. "Thế cái ông có ria là ai?"
 
Với một vẻ bí ẩn, tôi sẽ hạ thấp giọng hơn nữa: "Đó là Joseph Koljaiczek, cụ ngoại của con. Hãy nhìn kỹ đôi mắt loé chớp bốc lửa kia, nhìn kỹ sự dữ dằn thần thánh rất Ba Lan kia và cái chất Kashubes tinh quái thực dụng của vầng trán kia. Hãy quan sát những cái màng giữa các ngón chân cụ. Vào năm 1913, khi hạ thuỷ tàu Columbus, cụ đã trốn dưới gầm một bè gỗ. Sau đó cụ phải bơi một chặng đường dài; cụ bơi mãi, bơi mãi cho đến khi tới Mỹ và trở thành triệu phú. Nhưng thi thoảng, cụ lại xuống nước, bơi trở về và hụp lặn ở đây, nơi lần đầu tiên trong khi trốn chạy, cụ tìm thấy sự che chở và góp phần tạo ra mẹ ta."
 
"Nhưng còn cái ông đẹp trai nấp sau cái bà mà cha bảo là bà nội của con, cái ông giờ đang ngồi xuống cạnh bà nội và vuốt tay bà? Mắt ông ấy cũng xanh y hệt mắt cha, cha à!"
 
Bấy giờ tôi, đứa con ngoại hôn và phản trắc, sẽ phải lấy hết can đảm để trả lời con trai yêu quý của tôi: "Chính là những con mắt xanh mơ mộng của dòng họ Bronski đang nhìn con đó. Mắt con màu xám, giống mắt mẹ con. Tuy nhiên, cũng như ông Jan (người đang hôn tay mẹ tội nghiệp của ta kia) hay cụ Vincent thân sinh ra ông, con cũng là một thành viên của dòng Bronski, một kẻ mơ mộng tuyệt đối nhưng với một khía cạnh thực tế rất Kashubes. Một ngày kia chúng ta sẽ trở lại đó, một ngày kia ta sẽ ngược về nguồn, nơi phả ra cái mùi bơ khăn khẳn ấy. Đó là điều mong đợi."
 
Hồi ấy, tôi cảm thấy cuộc sống gia đình đích thực chỉ có thể có được trong "nội vi" hay theo cách tôi gọi đùa, trong cái hũ bơ của bà ngoại tôi. Bây giờ, nhiều cái đã thay đổi. Với một cái búng tay, tôi có thể sánh ngang, nếu không muốn nói là vượt, Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và, quan trọng hơn nữa, Đức Chúa Thánh Thần. Kế tục Chúa Kirixitô đã trở thành một công việc mà tôi thực thi một cách ngán ngẩm y như khi làm các công việc khác. Và mặc dầu ngày nay, lốì vào bà tôi đã xa tít mù tắp, những cảnh gia đình đẹp đẽ nhất mà tôi mường tượng ra vẫn là ở giữa các bậc ông bà cha mẹ.
 
Những hoang tưởng ấy đến với tôi đa phần vào những ngày mưa: bà ngoại tôi gửi giấy mời và tất cả chúng tôi gặp nhau bên trong bà. Jan Bronski đến với những bông hoa, phần lớn là cẩm chướng, cắm ở những lỗ đạn xuyên thủng bộ ngực người-bảo-vệ-sở-bưu-chính-ba-lan của ông. Maria rụt rè tiến lại gần mẹ tôi (theo yêu cầu của tôi, nàng cũng nhận được một giấy mời); cầu cạnh xu nịnh, nàng đưa trình mẹ những sổ sách kế toán do mẹ lập nên một cách hoàn hảo không chê vào đâu được và được Maria kế tục một cách hoàn hảo không chê vào đâu được, và mẹ phá lên cười, cái cười điển hình Kashubes, kéo cục cưng của tôi lại hôn lên má và nháy mắt, nói: "Có gì mà phải xấu hổ, bé em. Chẳng phải cả hai chúng ta đã cưới một tay Matzerarh và nuôi ẵm một thằng Bronski đó sao?"
 
Tôi phải kiên quyết tự cấm mình tiếp tục liên tưởng theo hướng đó, chẳng hạn như suy biện về một đứa con trai do Jan gieo giống, được mẹ tôi đặt vào trong bụng bà ngoại Koljaiczek và cuối cùng ra đời trong hũ bơ. Những ý tưởng như vậy tất yếu sẽ dẫn đi quá xa. Rất có thể thằng em trai cùng cha khác mẹ Stephan Bronski của tôi - nói cho cùng, nó cũng là người trong gia đình - chợt nảy ra ý nghĩ liếc nhìn Maria một cái, rồi sau đó toan tính những gi khác có trời biết. Do vậy, trí tưởng tượng của tôi dừng lại ở một cuộc xum họp gia đình vô hại. Khước từ một tay trống thứ ba, thứ tư, tôi đành tự bằng lòng với Oskar và bé Kurt mà thôi. Mua vui cho những người có mặt, trống tôi kể đôi điều về cái Tháp Eiffel, mà tôi xem như thay thế bà tôi ở nơi đất khách quê người. Tôi vui mừng thấy các khách mời và cả nữ chủ nhân Anna Koljaiczek đều khoái bài trống và vỗ vào đùi nhau bồm bộp theo nhịp.
 
Cho dù có là điều kỳ thú khi được: thấy thế giới cùng những mối quan hệ của nó triển khai bên trong bà ngoại của chính mình, đạt tới chiều sâu trong một phạm vi hạn hẹp, Oskar vẫn phải quay về - vì cũng như Matzerath, gã chỉ là một ông bố giả định thôi - với những sự kiện ngày 12 tháng sáu năm 1944, với buổi mừng sinh nhật lần thứ ba của Kurt.
 
Tôi nhắc lại: người ta đã cho thằng bé một chiếc áo chui đầu, một quả bóng, một cái thuyền buồm, một con quay sáo cùng cây roi đánh quay và nó lại sắp được một cái trống sơn hai màu đỏ-trắng nữa. Khi nó hoàn thành việc tháo tung chiếc thuyền buồm, Oskar bèn tiến đến, chiếc trống mới làm quà tặng giấu sau lưng, còn chiếc cũ đã tã thì lủng lắng trước ngực. Chúng tôi đứng mặt đối mặt, chỉ cách nhau một bước ngắn. Oskar, người chim chích, Kurt cũng chim chích tuy có cao hơn hai xăngtimét. Vẻ mặt nó dữ dội và tập trung vì nó vẫn đang bận phá nốt chiếc thuyền buồm. Đúng lúc tôi giơ cái trống lên, nó bẻ gẫy cột buồm cuối cùng của con thuyền Pamir, vì đó là tên của món đồ chơi gió này.
 
Kurt buông rơi cái xác thuyền, vớ lấy cái trống và lật ngửa lên. Dường như nó đã dịu đi một chút, nhưng vẻ mặt nó vẫn căng thẳng. Đã đến lúc đưa dùi trống cho nó. Thật không may, nó hiểu sai ý nghĩa động tác kép của tôi, cảm thấy bị đe dọa và đẩy cái trống ra khiến cạnh của nó làm văng đôi dùi trống khỏi tay tôi. Trong khi tôi cúi xuống nhặt, nó với tay ra sau lưng. Tôi lại thử đưa cặp dùi trống cho nó một lần nữa, thế là nó lùi lại với cái tặng phẩm sinh nhật và đánh tôi. Nó không quất con quay mà quất Oskar, không quất con quay sáo vốn được làm ra để bị quất, mà quất cha nó. Quyết tâm dậy cha nó quay, Kurt quất tôi, bụng nghĩ: hãy đợi đấy, anh trai. Như vậy Gain quất Abel [3] cho đến khi Abel bắt đầu quay cuồng, thoạt đầu lảo đảo, rồi nhanh hơn và chính xác hơn, cho đến khi gã bắt đầu hát, thoạt đầu ầm ừ nho nhỏ, rồi cao dần lên và rền hơn, cuối cùng thành tiếng huýt gió của con quay sáo. Và với cây roi của nó, Gain khiến tôi hát mỗi lúc một cao, như một ca sĩ tê-no hát bài nguyện buổi sáng, như những thiên thần bạc, như dàn đồng ca thành Vienna, như một hợp xướng hoạn quan - tôi hát như Abel hắn đã hát trước khi gục xuống; và tôi cũng gục xuống dưới ngọn roi của Kurt con trai tôi.
 
Khi nó thấy tôi nằm lăn ra đấy, rên rỉ như một con quay hết đà, nó bèn quất vào không khí như thể chưa hả cơn giận. Rồi nó xem xét thật kỹ cái trống trong khi vẫn giám sát tôi bằng con mắt hoài nghi. Đầu tiên, nó đem cọ vào cạnh gờ một chiếc ghế cho bong sơn ra; rồi nó ném món quà tặng của tôi xuống sàn nhà, vớ lấy cái thân to gộc của cái vừa mới đây còn là thuyền buồm và bắt đầu nện trống. Nhưng những thanh âm nó tạo ra đâu phải là tiếng trống, thậm chí không thể nhận ra một tiết tấu nào, dù là thô sơ nhất. Với một vẻ tập trung cuồng khấu, nó phũ phàng bổ xuống cái trống vốn không chờ đợi một nhạc công như thế, vốn được tạo ra để tấu thật rền, thật bay bướm chứ không phải dành cho mưa dập gió vùi. Cái trống oằn xuống, cố vùng ra khỏi đai để thoát thân, cố cải dạng bằng cách rũ bỏ lớp sơn đỏ-trắng để trơ chất thiếc xám xịt, cầu xin tha mạng. Nhưng thằng con trai không hề mủi lòng đối với món quà tặng sinh nhật của cha. Và khi người cha ráng cầu hòa, cắn răng nuốt những cơn đau buốt lê qua tấm thảm đến chỗ thằng con, nó lại vung roi lên một lần nữa. Con quay mệt đừ đành xin hàng, thôi không quay, không rên, không huýt gió nữa và cái trống từ bỏ mọi hy vọng được trao vào tay một nhạc công nhạy cảm với ngón dùi tuyệt kỹ, mãnh liệt mà không thô bạo.
 
Khi Maria bước vào, cái trống đã có thể đem ra vứt ngoài đống rác được rồi. Nàng bế tôi lên, hôn vào đôi mắt sưng vù và vành tai rách tướp, liếm máu và những vết roi lằn trên tay tôi.
 
Ôi, giá như Maria đừng hôn đứa trẻ bị ngược đãi, chậm phát triển, bất bình thường một cách thảm hại, mà là nhận ra người cha bị xúc phạm, nhận ra người tình qua từng vết thương! Nếu vậy, thì trong những tháng đen tối sau đó, tôi đã có thể là một niềm an ủi lớn biết bao, một người chồng giấu mặt nhưng trung hậu biết bao đối với nàng!
 
Đầu tiên là cái chết của người anh em cùng cha khác mẹ của tôi, mặc dù tổn thất này không trực tiếp đụng chạm đến Maria. Stephan Bronski hay, nếu quý vị muốn, Ehlers, vì cậu ta đã lấy họ của ông bố dượng, ngã xuống trên trận tuyến Bắc cực sau khi vừa được thăng chức thiếu uý; cái chết đánh dấu chấm hết cho binh nghiệp của cậu. Khác với Jan, cha cậu, khi bị hành quyết ở nghĩa trang Saspe vì tội tham gia bảo vệ sở Bưu Chính Ba Lan còn giấu trong ống tay áo một quân bài, chàng thiếu uý được chôn với huân chương Thập Tự sắt hạng nhì, huy hiệu Bộ binh và cái gọi là huy chương Đông Lạnh.
 
Cuối tháng 6, Mamăng Truczinski bị một cơn đột quỵ nhẹ khi người bưu tá mang đến cho bà tin dữ: Trung sĩ Fritz Truczinski đã hy sinh cùng một lúc cho ba điều lớn: đức Führer, Nhân Dân và Tổ Quốc. Chuyện này xảy ra ở Quân khu Trung tâm và tư trang của Fritz - cái ví đựng những tấm ảnh các cô gái xinh đẹp, phần lớn đều tươi cười, chụp ở Heidelberg, Brest, Paris, Kreuznach va Saloniki, huân chương Thập Tự sắt hạng nhất và hạng nhì, nhiều huy chương cho những vết thương khác nhau, tấm giáp đồng cận chiến, hai cầu vai binh chủng chống tăng, một số thư riêng - được một viên đại uý Kanauer nào đó gửi trực tiếp từ Tổng hành dinh Quân khu Trung tâm về Labesweg, Langfuhr.
 
Matzerath giúp đỡ hết mình và chang bao lâu Mamăng Truczinski đã đỡ tuy không bao giờ bình phục lại hoàn toàn, cả ngày bà ngồi trên chiếc ghế bên cửa sổ, chốc chốc lại hỏi tôi hay Matzerath (mỗi ngày hai, ba bận, ông mang đồ ăn thức uống lên) cái "Quân khu Trung tâm" ấy ở đâu, có xa không và liệu có thể đi tàu hoả đến vào một ngày chủ nhật nào đó không.
 
Với tất cả thiện ý trên đời, Matzerath vẫn không soi sáng được gì cho bà. Tuy nhiên, Oskar đã học được chút kiến thức địa lý qua các phim thời sự và những thông cáo của Wehrmacht. Tôi bỏ ra mấy buổi chiều đằng đẵng cố gắng dùng ngôn ngữ trống thuật lại cho Mamăng Truczinski ngồi im như tượng trên chiếc ghế, trừ cái đầu hơi lắc lư, nghe tất cả những gì tôi biết về Quân khu Trung tâm và những di chuyển ngày càng cấp tập của nó.

Maria rất yêu quý người anh trai tuấn tú của mình. Nàng trở nên sùng đạo. Suốt tháng 7, nàng hành đạo theo cái tôn giáo nàng đã được dậy từ bé; chủ nhật nào nàng cũng đến nghe mục sư Hecht giảng ở Nhà thờ Chúa Kirixitô; một đôi khi Matzerath đi cùng nàng tuy rằng nàng ưng đi một mình hơn.
 
Những buổi hành lễ Tin Lành không thoả mãn Maria. Một hôm - thứ năm hay thứ sáu gì đó - Maria giao cửa hàng cho Matzerath trông, dắt tay tôi, tín đồ Chính giáo, ra khỏi nhà. Xuất phát về phía Chợ Mới, chúng tôi rẽ vào Elsenstrasse, rồi theo đường Đức Bà, đi qua cửa hàng thịt của Wohlgemuth, tới tận Công viên Kleinhammer - đây rồi, Oskar nghĩ thầm, chúng ta ra ga Langfuhr lên tàu làm một chuyên du lịch nho nhỏ, có thể là đến Bissau ở Kashubes chăng. Nhưng rồi chúng tôi rẽ trái, dừng lại gần cầu chui theo thói quen mê tín chờ cho một đoàn tàu chợ đi qua rồi đi tiếp vào một đường hầm ri rỉ nước. Đến đầu hầm đằng kia, thay vì đi thẳng về phía Cung Điện ảnh, chúng tôi quẹo trái dọc theo chân đường tàu. Hoặc là nàng kéo tôi đến phòng khám của bác sĩ Hollatz, tôi đoán, hoặc là nàng định đến Nhà thờ Thánh Tâm để cải giảo.
 
Cửa nhà thờ trông ra đường xe lửa. Chúng tôi dừng một lát giữa rệ đường tàu và khung cửa mở. Một buổi chiều cuối tháng tám đầy tiếng côn trùng bay vo ve. Đằng sau chúng tôi, mấy người phụ nữ Ukraina chít khăn trắng đang cuốc và xúc đá ba-lát. Chúng tôi đứng đó, dòm vào cái bụng râm mát của nhà thờ. Tận trong cùng, như một lời mời chào khéo léo, lấp lánh một con mắt rực lửa: ngọn đèn vĩnh hằng. Đằng sau chúng tôi, trên rệ đường tàu, mấy người phụ nữ Ukraina thôi cuốc và xúc. Một tiếng còi rúc, một đoàn tàu đang đến, nó đây rồi, vẫn đây, chưa qua, qua rồi, còi rúc, và những người phụ nữ lại làm việc. Maria tần ngần, như không biết đưa chân nào lên trước, và dồn tất cả trách nhiệm lên tôi vì từ lúc ra đời và được rửa tội, tôi vốn gần gũi hơn với Nhà thờ Cứu rỗi; lần đầu tiên sau nhiều năm, lần đầu tiên kể từ hai cái tuần lễ bột sủi và tình yêu ấy, nàng tự ký thác cho sự dẫn dắt của Oskar.
 
Chúng tôi để lại đường tàu và những âm thanh của nó, tháng tám và những tiềng rì rào của nó ỏ bên ngoài. Tư lự, tôi uể oải dạo những ngón tay trên trống dưới lần áo khoác, trong khi bề ngoài phô một vẻ mặt dửng dưng. Tôi nhớ lại những lễ mi-xa, những buổi lễ trọng do đức Giám mục chủ tế, những buổi kinh chiều và những buổi xưng tội ngày thứ bảy bên cạnh mẹ tôi - ít lâu trước khi chết, cuộc dan díu cuồng nhiệt với Jan làm cho mẹ trở nên ngoan đạo, và đều đặn các ngày thứ bảy, mẹ trút gánh nặng bằng xưng tội, chủ nhật lại củng cố thêm bằng phép bí tích để rồi, vơi tội và được củng cố như vậy, thứ năm sau lại gặp Jan ỏ phố Thợ Mộc. Vị linh mục hồi đó là ai nhĩ? Phải, Cha Wiehnke hiện vẫn là linh mục của Nhà thờ Thánh Tâm, những bài thuyết giảng của Cha nhỏ nhẹ êm ái mặc dầu chẳng ai hiểu gì cả, Cha tụng kinh Credo bằng một giọng mảnh và não nùng đến nỗi ngay cả tôi hồi ấy cũng suýt cảm thấy bị xâm chiếm bởi một cái gì từa tựa như niềm tin nếu không có cái ban thờ bên trái với Đức Mẹ Đồng Trinh, Chúa hài đồng Jêxu và thánh lean Bastiste hồi nhỏ.
 
Tuy nhiên chính cái ban thờ ấy đã thúc tôi kéo Maria khỏi ánh mặt trời để đi qua cửa, bước trên sàn lát đá vào gian giữa giáo đường.
 
Oskar cứ thủng thỉnh, lặng lẽ ngồi bên Maria trên chiếc ghế dài gỗ sồi, cảm thấy mỗi lúc một thoải mái hơn. Nhiều năm đã trôi qua, vậy mà tôi có cảm giác như vẫn những người ấy đang lần giở cuốn sách lễ, sắp sẵn những điều sẽ rót vào tai Gha Wiehnke. Chúng tôi ngồi hơi chếch sang bên lối đi giữa. Tôi muốn để Maria lựa chọn nhưng tạo điều kiện cho sự lựa chọn của nàng dễ dàng hơn. Một mặt, phòng xưng tội không ở gần nàng đến mức khiến nàng rối trí, như vậy nàng có thể lặng lẽ cải giáo một cách không chính thức; mặt khác, nàng có thể thấy những người khác ứng xử ra sao trong khi chuẩn bị xưng tội và, trong khi quan sát như vậy, đi đến quyết định. Nàng chỉ đi một quãng là có thể gặp Cha Wiehnke trong phòng xưng tội và thỉnh Cha về những chi tiết cho phép nàng chuyển sang Chính giáo duy nhất cứu rỗi. Tôi ái ngại cho nàng; nom nàng thật bé nhỏ, vụng về khi nàng quỳ giữa khói hương, bụi, xtuých-cô, những thiên thần uốn éo, ánh sáng khúc xạ, các vị thánh co giật, khi nàng quỳ dưới và giữa sự ngọt ngào đau khổ -của Thiên Chúa giáo và lần đầu tiên làm dấu thánh giá lộn. Oskar bấm Maria, bày cho nàng làm dấu thánh giá lại cho đúng cách. Nàng sốt sắng học. Oskar chỉ cho nàng Cha và Con và Thánh Thần ngự ở đâu - trên trán, đáy tim, hai khớp vai - , phải chắp tay thế nào để nói amen. Maria làm theo, chắp hai tay lại như khi nói amen và bắt đầu cầu nguyện.
 
Thoạt đầu, Oskar cũng thử cầu nguyện cho một số người chết, nhưng trong khi cầu xin Thượng Đế cho Roswitha được an tĩnh và hưởng những niềm vui thiên giới, gã lại lạc vào những chi tiết trần tục đến nỗi rút cục, an tĩnh và những niềm vui thiên giới đậu xuống một khách sạn ở Paris. Vậy nên tôi bèn náu vào Phần Mở Đầu vì đoạn này tương đối trôi chảy; đời đời chẳng cùng, tôi cầu, sursum corda, dignum et justum - xứng phẩm cách và công bằng. Rồi tôi bỏ lửng và ngó sang bên quan sát Maria.
 
Sự cầu nguyện Thiên Chúa giáo thật hợp với nàng. Lòng mộ đạo làm cho nàng xinh, đẹp như một bức tranh. Lời cầu nguyện khiến hàng mi nàng như dài thêm, cặp lông mày nhướn cao lên, đôi má hây hây, vầng trán trang nghiêm, cổ mềm mại hơn và đôi cánh mũi phập phồng. Nét mặt Maria, bừng nở trong đau buồn, suýt khiến tôi bày tỏ tình cảm. Nhưng không nên quấy rầy người đang cầu nguyện, không nên quyến rũ họ hoặc để họ quyến rũ mình, ngay cả nếu người đang cầu nguyện có hài lòng khi biết ai đó đang ngắm mình.
 
Oskar tụt xuống khỏi cái ghế dài nhẵn bóng và chuồn khỏi Maria. Dưới lần áo ngoài, hai tay tôi vẫn ngoan ngoãn chắp trên cải trống trong khi chúng tôi - tôi và trống - bước trên sàn đá lát, qua các chặng dừng trên hành trình của Thánh Giá ở lối đi bên trái của gian giữa; chúng tôi không dừng lại với ông Thánh Antoine - cầu cho chúng tôi - vì chúng tôi không đánh mất túi tiền cũng chẳng đánh rơi chỉa khóa nhà, cũng không dừng lại với Thánh Adalbert thành Praha bị bọn Phổ vô đạo giết hại. Chúng tôi cứ đi tiếp, nhảy chân sáo từ phiến đá này sang phiến đá kia như trên những ô bàn cờ, và chỉ dừng lại khi tới những bậc rải thảm dẫn đến ban thờ bên trái.

Quý vị có tin hay không thì tuỳ, nhưng quả là chẳng có gì thay đổi trong cái Nhà thờ Thánh Tâm xây bằng gạch theo kiểu Tân-Gôtích này, nhất là ở ban thờ bên trái. Chúa Jêxu hài đồng hồng hào và trần truồng vẫn ngồi trên cặp đùi hồng hào của Đức Mẹ Đồng Trinh - tôi không gọi người là Đức Mẹ Maria Đồng Trinh vì sợ lẫn với Maria của tôi lúc này đang bận cải giáo. Chú bé Jean Baptiste, quấn độc một tấm da sống màu sô-cô-la, vẫn nép bên đầu gối phải của Đức Mẹ Đồng Trinh. Bản thân Đức Mẹ vẫn chỉ ngón trỏ của bàn tay phải vào Jêxu, nhưng mắt lại nhìn Jean.
 
Tuy nhiên, sau nhiều năm vắng mặt, Oskar lại không mấy quan tâm đến niềm tự hào hiền mẫu của Đức Mẹ Đồng Trinh, mà chú trọng hơn đến thể chất của hai chú bé. Jêxu vào tầm Kurt con trai tôi hôm sinh nhật lần thứ ba của nó, nói cách khác, cao hơn Oskar khoảng hai xăngtimét. Jean - lớn tuổi hơn Jêxu, theo tài liệu để lại - thì vào tầm tôi. Nhưng cả hai đều có cái vẻ già trước tuổi như tôi, kẻ vĩnh viễn lên ba. Chẳng có gì thay đổi. Vẫn cái vẻ xảo trá trên khuôn mặt như nhiều năm trước, vào hồi tôi thường xuyên đến Nhà thờ Thánh Tâm cùng mẹ tội nghiệp của tôi.
 
Leo lên những bậc rải thảm mà không đọc bài Nhập lễ, tôi xem xét từng nếp vải, chậm rãi và thận trọng khảo sát lớp thạch cao bên ngoài hai chú bé theo chủ nghĩa khỏa thân bằng cái dùi trống, nó nhạy cảm hơn tất cả những ngón tay của tôi cộng lại, không bỏ sót tí gì. Tôi cứ soát mọi chỗ, đùi, bụng, cánh tay, đếm từng nếp thịt, từng lúm đồng tiền. Jêxu đúng là hình ảnh của Oskar, da thịt lành mạnh của tôi, đôi đầu gối khoẻ khoắn hơi bụ bẫm của tôi, đôi cánh tay ngắn nhưng cuồn cuộn cơ bắp của người đánh trống là tôi và tư thế của cu cậu cũng là tư thế của người đánh trống. Cu cậu ngồi trên đùi Đức Mẹ Đồng Trinh, cánh tay và nắm tay giơ lên như thể định đánh trống, như thể Jêxu, chứ không phải Oskar, là trống sĩ, như thể cu cậu chỉ chờ cái trống của tôi, như thể lần này, cu cậu có ý định nghiêm chỉnh muốn đãi Đức Mẹ Đồng Trinh, Jean và chính tôi một tiết tấu mê ly trên trống. Tôi lại làm cái điều tôi đã làm nhiều năm trước đây. Tôi nhấc, cái trống ra khỏi bụng mình để cho Jêxu đánh thử. Thận trọng, không làm xước lớp thạch cao sơn, tôi đặt cái trống sơn đỏ-trắng của Oskar lên cặp đùi hồng của cu cậu. Nhưng lần này đơn thuần là trò tinh nghịch, tôi đã mất niềm tin ngu xuẩn vào những phép màu, tôi chỉ muốn cho cu cậu biết tay thôi. Bởi vì tuy cu cậu ngồi giơ hai nắm tay lên, tuy cu cậu có kích thước và tầm vóc rắn rỏi như tôi, tuy cu cậu là bản sao bằng thạch cao của đứa trẻ lên ba mà tôi vẫn giữ được mình nguyên vẹn là thế bằng giá của biết bao cố gắng, biết bao mất mát thiếu thốn, nhưng cu cậu lại không đánh trống được, cu cậu chỉ làm ra vẻ biết đánh trống mà thôi. Nếu tớ có một cái trống, tớ sẽ đánh được, có vẻ như cậu ta đang nghĩ thế; ha-ha, tôi nói, thì bây giờ cậu có rồi đấy, để xem cậu làm gì nào? Cười ngặt nghẽo, tôi ấn cả hai dùi trống vào những ngón tay của cu cậu, mười ngón như mười thoi xúc xích nhỏ - hỡi Jêxu thạch cao yêu mến, nào, đánh trống đi! Oskar bước giật lùi, xuống ba bậc, rời tấm thảm sang sàn đá lát, nào, đánh trống đi chú bé Jêxu. Oskar lại lùi một bước dài để mở rộng tầm nhìn. Oskar bắt đầu cười đau cả bụng vì tất cả những gì Jêxu có thể làm là ngồi đó, không biết đánh trống mặc dầu có lẽ cu cậu cũng muốn. Sự ngán ngẩm đã bắt đầu gặm nhấm tôi như con chuột nhắt gặm miếng thịt sấy thì kia - xin thề độc - cậu ta bắt đầu dóng trống.

Trong khi quanh chúng tôi không có gì động đậy, thì cậu ta khởi đầu bằng dùi phải, rồi một, hai nhát bằng dùi trái, rồi cả hai cùng một lúc. Thế rồi cậu bắt chéo dùi, phải nói là hồi trồng rền không đến nỗi tồi. Cậu đánh rất nghiêm túc và cách chơi khá đa dạng. Cậu trổ mấy ngón rất phức tạp, và khi chuyển sang tiết tấu đơn giản cũng rất thành công. Không có gì giả tạo trong lối chơi, cậu tránh mọi thủ thuật và chỉ chú trọng vào tiếng trống của mình. Phong cách của cậu thậm chí không nhuốm màu tôn giáo, cũng không hề vướng chất nhà binh tầm thường. Cậu là một nhạc công thuần tuý, không chút đua đòi. Cậu thuộc tất cả các bài thời thượng. Cậu chơi bài Es geht alles vorüber (Mọi sự đều qua đi) mà hồi đó, ai cũng hát, và dĩ nhiên cả Lili Marlene nữa. Từ từ, có phần hơi cà giựt, cậu quay cái đầu tóc xoăn với đôi mắt xanh nhà Bronski về phía tôi, tủm tỉm cười hơi ngạo mạn (tôi có cảm giác thế) và trộn những bài ưa thích của Oskar thành một thứ nộm: bắt đầu là Tan tành ô kính cửa sổ, rồi lướt qua Thời gian biểu một tí; cũng như tôi, cu cậu đem Rasputin đối chọi với Goethe, cùng tôi leo lên Tháp Công Lý, trườn dưới khán đài, bắt lươn ở đê chắn sóng, cùng tôl đi sau cỗ quan tài thuôn thuôn đẳng chân của mẹ tôi và, điều làm tôi sửng sốt nhất, liên tục tìm đến náu dưới bốn tầng váy của Anna Koljaiczek bà ngoại tôi.
 
Oskar bước lại gần hơn. Một cái gì hút gã về phía trước. Gã muốn đứng trên thảm chứ không muốn ở trên sàn đá lát nữa. Bậc này tiếp bậc kia, tôi leo lên, mặc dầu trong bụng muốn cậu ta bước xuống. "Jêxu," tôi nói, huy động hết chút giọng tàn còn lại, "đó không phải giao ước của chúng ta. Trả lại trống cho tớ ngay đi. Cậu đã có cây thánh giá, thế là đủ rồi. » Cậu ta từ từ kết thúc tấu khúc không chút đột ngột và bắt chéo cặp dùi đặt lên trống một cách cẩn trọng quá đáng và không một lời cãi lại, trao trả cái mà Oskar đã nhẹ dạ cho cậu mượn.

Tôi đã sắp lao xuống các bậc không một lời cảm ơn và chạy trốn khỏi Thiên Chúa giáo với toàn bộ tốc lực có thể của đối chân, thì một giọng tuy hách dịch nhưng êm ái chạm vào vai tôi: "Ngươi có yêu ta không, Oskar?" Không ngoái lại, tôi đáp: "Tôi không biết." Cậu nhắc lại, không cất cao giọng: "Ngươi có yêu ta không, Oskar?" Lần này, giọng tôi sẵng hơn: "Xin lỗi, mình e rằng không." Lần thứ ba, cái giọng khó chịu của cậu phóng vào tôi: "Oskar, ngươi có yêu ta không?" Tôi quay phắt lại, nhìn thắng vào mặt cậu: " Đồ con hoang, tao ghét mày, mày và trò bịp của mày!"
 
Lạ thay, sự hằn học của tôi không làm cậu chưng hửng, mà lại khiến cậu đắc thắng. Giơ ngón tay trỏ lên như một cô giáo tiểu học, cậu giao nhiệm vụ cho tôi: "Ngươi là Oskar, tảng đá, và trên tảng đá ấy, ta sẽ xây Nhà thờ của ta. Hãy theo ta."
 
Quý vị có thể tưởng tượng được nỗi bất bình của tôi. Tôi phát khùng đến nổi cả da gà. Tôi bẻ một ngón chân thạch cao của cậu, nhưng cậu không hề nhúc nhích. "Nhắc lại coi," Oskar rít lên, "tao sẽ cạo tuột sơn khỏi người mày."
 
Sau đó, không một lời nào nữa. Chỉ có ông già mọi khi, ông già muôn thủa lệt xệt đôi dép lê khắp các nhà thờ trên thế giới, ông liếc mắt về phía ban thờ bên trái nhưng không trông thấy tôi, và lại lệt xệt đi tiếp. Ông đã đến chỗ thánh Adalbert thành Praha khi tôi lật đật xuống các bậc, rảo bước từ thảm sang sàn đả lát và, không ngoái lại, vượt qua nhưng ô bàn cờ tới chỗ Maria đúng lúc ấy đang làm dấu thánh giá đúng theo cách tôi đã chỉ dẫn.

Tôi nắm tay nàng dẫn đến bồn nước thánh; đến đúng trước cửa ra vào, tôi bảo nàng làm dấu thánh giá một lần nữa hướng về phía ban thờ chính, nhưng tôi không làm theo và khi nàng định quỳ gối, tôi kéo tuột nàng ra ngoài ánh mặt trời.
 
Trời đã ngả chiều. Đám phụ nữ Ukraina đã rời khỏi đường tàu. Nơi họ làm việc ban nãy, một chuyến tàu hàng đang rẽ sang đường ray khác, ngay gần ga Langfuhr. Lơ lửng trên không từng đàn muỗi. Từ trên cao, vắng xuống những hồi chuông, hoà lẫn với những tiếng động trên đường sắt. Muỗi vẫn túm tụm từng đám. Mặt Maria đầm đìa nước mắt. Oskar những muốn gào lên. Tôi phải làm gì để đối phó với Jêxu đây? Tôi cảm thấy muốn nạp năng lượng cho giọng mình. Tôi phải làm gì với cây thánh giá của cậu ta? Nhưng tôi thừa biết giọng tôi hoàn toàn bất lực đối với những cửa sổ nhà thờ của cậu ta. Cậu ta cứ việc xây giáo đường của mình trên những người tên là Pierre. "Cẩn thận đấy, Oskar, đừng động đến những cửa sổ nhà thờ," Xa-tăng thì thầm bên trong tôi. "Kẻo tay ấy sẽ làm tiêu giọng của cậu đó." Tôi phóng một tia nhìn lẻ loi lên thử đo kích thước của một trong những cửa sổ kiểu Tân Gô-tích kia rồi kiên quyết dứt mắt ra khỏi đó. Tôi không cất giọng, tôi không đi theo Jêxu, mà chỉ lon ton bên Maria đến cầu chui ỏ Bahnhofstrasse. Qua đường hầm ri rỉ nước, đi ngược lên đến Công viên Kleinhammer, rẽ phải vào phố Đức Bà, qua cửa hiệu bơ của Wohlgemuth, rẽ trái vào phố Elsenstrasse, băng qua Striessbach đến Chợ Mới, nơi người ta đang xây một bể nước phòng không. Phố Labesweg dài dằng dặc nhưng rồi chúng tôi cũng đến nhà. Tách khỏi Maria, Oskar leo chín mươi bậc thang lên tầng áp mái. Người ta phơi nệm trải giường và đằng sau đó, là một đống cát phòng không. Đằng sau đống cát cùng những xô nước, đằng sau những xấp báo và những chồng ngói, là nơi cất giấu cuốn sách và lô trống của 'tôi. Ngoài ra, còn có mấy cái bóng điện đã cháy nhưng vẫn giữ nguyên hình trái lê, cất trong một hộp đựng giầy.
 
Oskar chọn ra một cái và cất giọng diệt tan nó. Gã lấy một cái nữa, biến nó thành thuỷ tinh vụn, còn cái thứ ba thì cắt gọn làm đôi. Trên cái thứ tư, giọng gã khắc chữ JESUS bằng mẫu tự Sütterlin, rồi đập nát cả bóng lẫn chữ khắc. Gã muốn tiếp tục nhưng không còn bóng nào nữa. Kiệt lực, tôi gieo mình xuống đống cát phòng không. Oskar vẫn còn giọng! Có thể Jêxu vẫn còn người kế tục. Còn tôi, những thánh tông đồ đầu tiên của tôi là băng Quét Bụi.
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Anh hùng truyền thuyết Hy Lạp, nhân vật chính trong tường ca Odyssé của Homère, đã trải nhiều gian truân, nhiều cành ngộ phi thường trong một chuyến đi dài.
[2] Những nhân vật trong trường ca Odyssé cúa Homère - Circe: nữ phù thủy từng biến Ulysse thành lợn; Penelope: người vợ chung thủy cúa Ulysse; Tclemaque: con irai Ulysse.
[3] Abel là con thứ hai của Adam và Eva, bị anh trai là Cain giết vì ghen tị (Kinh Thánh, Sáng Thế Kỷ, ch.4)
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
«« « 1 2 » »»