Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Mùa Phục sinh, nói về: Giáo hội chuyển mùa - Đinh Từ Thức

1 trả lời, 6 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.04.2016 21:24:20 bởi Heoconmtv>
Mùa Phục sinh, nói về: Giáo hội chuyển mùa
Tác giả: Đinh Từ Thức
 
Chuyến thăm nước Mỹ của Giáo Hoàng Francis vào cuối tháng 9, 2015, đã được coi là chuyến đi lịch sử. Tuy lãnh đạo hơn một tỉ giáo dân, còn kém số dân Tầu dưới quyền lãnh đạo của Tập Cận Bình, nhưng chuyến đi của nhà lãnh đạo thần quyền đã che lấp chuyến đi của nhà lãnh đạo thế quyền, cùng đến Mỹ trong một tuần. Truyền thông Mỹ và thế giới đã bình luận sôi nổi, loan tin và theo dõi sát từng bước đi, từng cử chỉ và lời nói của Giáo Hoàng. Người ta đã gọi Ngài là Giáo Hoàng Nhân Dân, Giáo Hoàng Cách Mạng, Giáo Hoàng Cấp Tiến, thậm chí, có người còn chụp cho Ngài cái mũ là Giáo Hoàng Cộng Sản.
Giáo Hoàng Francis, hình vẽ trên tường (graffiti image) tại Saint-Romain-au-Mont-d’Or, France
                                                                                   v
 
 
Thật ra, nếu theo dõi kỹ, sẽ thấy Giáo Hoàng Francis không phù hợp với bất cứ nhãn hiệu nào vừa kể. Ngài là Giáo Hoàng trở về nguồn, “phúc âm hoá” (evangelization). Ngài là vị Giáo Hoàng Thứ Sáu vào thời kỳ Giáo Hội đang chuyển mùa. Chuyển từ thời đại xa rời Phúc Âm, trở lại con đường Phúc Âm.
 
Những ai sống ở miền ôn đới, khí hậu mỗi năm có bốn mùa rõ rệt, đều thấy vào thời gian từ mùa nọ sang mùa kia, gọi là chuyển mùa, nhiệt độ trồi sụt bất thường. Ví dụ từ Hạ sang Thu năm 2015, ngày chính thức đổi mùa là 23 tháng 9, nhưng không phải chỉ qua một đêm, cái nóng nực mùa Hạ bỗng chuyển qua mát mẻ của mùa Thu. Kinh nghiệm cho thấy, nhiệt độ thường thay đổi từ từ, mát dần, có khi đột biến nóng trở lại trong vài ngày, rồi lại mát, lên xuống nhiều lần, trước khi ổn định. Thời gian chuyển mùa này thường kéo dài nhiều ngày, có khi vài ba tuần.
 
Một năm có bốn mùa, mỗi mùa dài ba tháng, nếu chuyển mùa trung bình lâu ba tuần, là thời gian chuyển mùa chiếm khoảng 25 phần trăm thời gian toàn mùa. Giáo Hội Công Giáo đã tồn tại hai ngàn năm, thời gian mỗi mùa không bằng nhau, mỗi lần chuyển mùa ắt phải kéo dài trong nhiều thập kỷ, hay hàng thế kỷ. Nếu mùa Xuân của Giáo Hội xây dựng trên Phúc Âm là lời dậy của Đức Giê Su vào Thế Kỷ thứ 1, mùa Hạ từ thời Constanstine ở Thế Kỷ thứ 4 mở Nước Chúa bằng binh đao, mùa Thu từ Thế Kỷ 19 thoả hiệp với thế quyền để sống còn, thì Giáo Hội đang trong thời kỳ chuyển từ Thu sang Đông, bắt đầu từ khi Giáo Hoàng John XXIII lên ngôi vào tháng 10, 1958.
 
Từ John XXIII tới Benedict XVI


Sau mấy thế kỷ bị bách hại ban đầu, tiếp theo là nhiều thế kỷ Giáo Hội phát triển và tự bảo vệ bằng binh đao và toà án, quyền bính bao trùm cả thần và thế quyền, từ cuối thế kỷ 18 Giáo Hội bắt đầu gặp khó khăn từ các phong trào giải phóng, thế quyền nổi dậy ngay từ các vùng vốn là con cưng của Giáo Hội như Pháp và Ý, khiến lãnh thổ và quyền bính của Giáo Hội bị thu hẹp dần. Tuy số tín hữu thần phục Giáo Hội trên thế giới vẫn tăng, đạt con số hàng tỉ người vào cuối Thiên niên kỷ thứ Hai, nhưng sau Đại chiến thứ Nhất vào đầu thế kỷ 20, lãnh thổ mênh mông dưới quyền của Giáo Hoàng (Papal states) trước kia chỉ còn lại một khu rộng chưa tới một nửa cây số vuông, với “dân số” chưa tới một ngàn người, hầu hết thuộc nam giới, là Vatican City ngày nay.
 
Trước những điều kiện thực tế thay đổi khiến Giáo Hội phải thay đổi. Giáo Hoàng John XXIII kế vị Giáo Hoàng Pius XII vào tháng 10, 1958. Lên ngôi ở tuổi 77, dư luận không trông đợi tân Giáo Hoàng có những thay đổi lớn, nhưng chính Ngài đã mở đầu giai đoạn chuyển mùa bằng nhiều quyết định quan trọng. Tuy bề ngoài, Ngài vẫn giữ những hình thức cũ, vẫn đội vương miện ba tầng (triregnum) và đi kiệu (Sedia Gestatoria) vào ngày lễ đăng quang, mặc lễ phục rực rỡ như các Giáo Hoàng từ hàng nghìn năm trước. Nhưng sau khi lên ngôi, Ngài đã có nhiều thay đổi táo bạo, đáng kể hàng đầu là việc triệu tập Công Đồng Vatican II vào tháng 10, 1962. Tuy thời gian trị vì của Ngài chỉ có 5 năm, Công Đồng Vatican II chưa kết thúc, nhưng nhờ người kế vị Ngài vào năm 1963 là Giáo Hoàng Paul VI, thay vì những dự án riêng, đã tiếp tục hoàn tất công việc của người đi trước.
 
Giáo Hoàng John XXIII được phong thánh cùng với Giáo Hoàng John Paul II vào tháng 4/2014
 
Với thời gian trị vì lâu gấp ba lần người tiền nhiệm, Giáo Hoàng Paul VI, mặc dầu trước nhiều chống đối ngay trong nội bộ Giáo Hội từ những người không muốn thay đổi, đã can đảm làm nốt những gì Giáo Hoàng John XXIII đã khởi sự. Ngoài ra, Ngài là Giáo Hoàng đầu tiên đi máy bay, đã mở những cuộc du hành xa tới 6 lục địa, tới Thánh Địa và Ấn Độ vào năm 1964, tới Liên Hiệp Quốc vào năm 1965, đồng thời, mở đối thoại với Giáo Hội Chính Thống, Giáo Hội Phương Đông, và Anh Giáo. Về hình thức, Ngài vẫn giữ lễ đăng quang, đi kiệu và đội mũ ba tầng, nhưng chỉ một thời gian sau, qua cử chỉ bầy tỏ sự khiêm nhường để phù hợp với tinh thần thay đổi của Công đồng Vatican II, Ngài đã chính thức từ bỏ việc đội mũ ba tầng, mang ý nghĩa “cha của các hoàng tử và hoàng đế; người cai trị thế giới; và đại diện Chúa Giê Su dưới thế” (patrem principum et regum, rectorem orbis in terra vicarium Salvatoris nostri Jesu Christi).
 
Hồng Y Albino Luciani, tuy ít được biết tới ngoài nước Ý, nhưng Ngài đắc cử ngay vòng bỏ phiếu thứ ba vào ngày đầu mật nghị bầu người kế vị Giáo Hoàng Paul VI vào tháng 8, 1978. Ngài đột ngột từ trần vào cuối tháng 9, ở ngôi vị Giáo Hoàng có 33 ngày, chưa làm được điều gì cụ thể. Tuy nhiên, là người đầu tiên chọn danh hiệu Giáo Hoàng gồm tên của hai vị tiền nhiệm ghép lại, John Paul I, điều này chứng tỏ Ngài muốn tiếp tục công cuộc thay đổi của hai vị đi trước. Ngài cũng bỏ lễ đăng quang theo truyền thống, thay bằng lễ nhậm chức giản dị hơn.
 
Một trong những thay đổi có ảnh hưởng nhiều sau này của Giáo Hoàng Paul VI là vào năm 1970, Ngài định tuổi hưu trí của linh mục và giám mục là 75, và đến tuổi 80, Hồng Y không còn tham dự vào công việc của giáo triều nữa. Khi Ngài được bầu làm Giáo Hoàng, tổng số Hồng Y chỉ có 80, nhưng đến năm 1976, Hồng y đoàn lên tới 138, gồm nhiều người được chọn từ thế giới thứ ba, khiến số Hồng Y người Ý chỉ còn là thiểu số. Tuy vậy, Giáo Hoàng John Paul I được bầu mau lẹ, vì ngài từng là một trong hai Hồng Y được cố Giáo Hoàng Paul VI đặc biệt chú ý như những người sẽ kế vị Ngài. Người kia là Hồng Y trẻ Wojtyla, người Ba Lan, mới nổi nhờ những đóng góp cho Công Đồng Vatican II.
 
Ở mật nghị bầu giáo hoàng vào tháng 10, 1978, sau vài vòng phiếu đầu, vài ba Hồng Y người Ý nổi bật đã chia phiếu, không ai có hy vọng chiếm đủ đa số đắc cử. Trong khi ấy, Hồng Y trẻ người Ba Lan, Karol Wojtyla 58 tuổi, như ngôi sao đang lên, đã mau chóng được các Hồng Y cử tri không phải người Ý dồn phiếu cho, đắc cử ở vòng bầu thứ tám, với tỷ lệ tuyệt đối 103 trên 109 phiếu (có tài liệu ghi là 99 trên 108 phiếu), nối tiếp danh hiệu của vị tiền nhiệm đoản mệnh: John Paul II.
 
Giáo Hoàng John Paul II vào năm 1991 – Hình L’Osservatore Romano
 
Là Giáo Hoàng đầu tiên ngoài nước Ý từ trên 400 năm, và cũng là Giáo Hoàng đầu tiên từ một nước cộng sản, ưu tiên của tân Giáo Hoàng là giải thoát Giáo Hội khỏi sự bức hại của cộng sản vô thần, đồng thời cũng góp phần giải phóng quê hương mình. Tuy còn trẻ, Ngài theo khuynh hướng bảo thủ; sống dưới chế động Cộng Sản, bị tấn công liên tục, bám vào những giá trị cổ truyền để bảo vệ Giáo Hội, đó là chọn lựa tự nhiên. Hơn nữa, xuất thân từ Ba Lan và với những kinh nghiệm sống từ Ba Lan, có lẽ, đối với Ngài, Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ cũng giống như một phóng ảnh của Giáo Hội Ba Lan. Do đó, trong suốt hơn 26 năm trị vì, Giáo Hoàng John Paul II lo củng cố, hơn là thay đổi Giáo Hội. Về hình thức, Ngài cũng theo đường lối giản dị của vị tiền nhiệm, bỏ lễ đăng quang rườm rà, tất nhiên cũng bỏ luôn việc đội vương miện ba tầng và đi kiệu. Nhưng về nội dung, Ngài vẫn theo đường lối bảo thủ. Trong khi Ngài bôn ba, du hành khắp các lục địa trên thế giới, công việc giữ gìn kỷ cương của Giáo Hội được trao cho Hồng Y người Đức Joseph Ratzinger, một nhà thông thái về thần học và giáo sử có khuynh hướng bảo thủ giống ngài, đứng đầu Thánh bộ Giáo lý và Đức tin.
 
Trong gần ba thập niên thời đại John Paul II, Giáo Hội chẳng những không có thay đổi quan trọng nào có thể sánh với thời John XXIII và Paul VI, mà còn có chiều hướng muốn sửa lại những thay đổi từ Công Đồng Vatican II.
 
Sau thời gian đứng đầu Giáo Hội lâu gần đạt kỷ lục, và những thành quả vang dội liên hệ tới chính trị và ngoại giao thế giới của Giáo Hoàng John Paul II, không ai nổi bật là người có thể kế vị Ngài bằng chính cánh tay mặt của Ngài trong gần một phần tư thế kỷ, là Hồng Y Ratzinger. Tuy đã 78 tuổi, vị Hồng Y bảo thủ này đã được bầu làm Giáo Hoàng, với danh hiệu Benedict XVI, ở vòng phiếu thứ 5, mật nghị 2005. Tuy Giáo Hoàng là người ngoài nước Ý, nhưng cũng như vị tiền nhiệm, vẫn là người châu Âu.
 
Thoát khỏi bóng cả của Giáo Hoàng tiền nhiệm, tân Giáo Hoàng có toàn quyền theo đường lối bảo thủ của mình. Về hình thức, tuy Ngài cũng bỏ lễ đăng quang, không đội vương miện ba tầng do Công giáo Đức tặng, nhưng ngay từ đầu, Ngài đã chọn y phục, từ mũ áo đến giầy, chỉ dành riêng cho Giáo Hoàng từ hàng chục thế kỷ trước. Ngài làm sống lại nhiều trang phục rực rỡ từ lâu vắng bóng, đến nỗi tạp chí Esquire đã tặng Ngài danh hiệu “Accessorizer of the year” năm 2007. Trong khi ấy, dưới triều đại của Ngài, có những dấu hiệu chuẩn bị phục hồi những thay đổi sau Công Đồng Vatican II. Ví dụ, về phụng vụ, khuyến khích việc cử hành trở lại thánh lễ bằng tiếng Latin.
 
Cũng như với thiên nhiên, nếu có những người dị ứng với khí hậu chuyển mùa, thì cũng có nhiều người muốn thời gian thay đổi sớm hoàn tất để dễ thở hơn. Nếu uy tín lớn của Giáo Hoàng John Paul II có thể chặn được những chống đối công khai hay ngấm ngầm thì người kế vị là Giáo Hoàng Benedict không có may mắn này. Những thay đổi cần thiết được mong đợi, chẳng những không sẩy ra, còn có cơ nguy bị lật ngược. Sự chia rẽ đã thành hình, ngay trong nội bộ giáo triều, bao gồm cả âm mưu chống đối. Cụ thể là những tin tức thuộc loại thâm cung bí sử được tiết lộ cho báo chí bên ngoài, kể cả vụ trộm tài liệu mật ngay từ văn phòng Giáo Hoàng. Cảm thấy không thể tiếp tục sứ mạng cao cả, Giáo Hoàng Benedict XVI đã bất ngờ tuyên bố từ chức vào ngày 11 tháng 2, 2013, một việc chưa hề diễn ra trong hơn 800 năm, từ thời Giáo Hoàng Celestine V, từ nhiệm ngày 13 tháng 12, 1294.
 
Giáo Hoàng từ nhiệm Benedict XVI… 
và Giáo Hoàng kế nhiệm Francis 
 
Francis, mục tử khó nghèo


“Từ khi Ngài bước vào ban công sau khi được bầu làm Giáo Hoàng, sự việc đã khác. Mặc chiếc áo trắng giản dị, Ngài yêu cầu những người hành hương cầu cho mình và tự tới khách sạn trả tiền phòng. Sự khiêm nhường và thân thiện của Giáo Hoàng Francis đã chiếm được trái tim của hàng triệu người”. Đó là nhận xét của bà Meghan J. Clark, một học giả và tác giả viết về Đức Giáo Hoàng Francis trên New York Times, trước chuyến thăm Hoa Kỳ của Ngài.
 
Thật ra, không phải chỉ có thế, và không cần đợi tới khi Ngài bước lên ban công ra mắt và ban phép lành đầu tiên theo truyền thống, người ta mới thấy sự khác biệt giữa vị Giáo Hoàng mới và các bậc tiền nhiệm. Sự khác biệt đã diễn ra ngay trong mật nghị (conclave) ở nhà nguyện Sistine, nơi 115 Hồng Y họp mật bầu tân Giáo Hoàng bắt đầu vào ngày 12 tháng 3, 2013, và kết thúc vào hôm sau.
 
Bắt đầu mật nghị, các Hồng Y phải đặt tay vào Kinh Thánh thề không được tiết lộ bí mật, nhưng có một cặp vợ chồng ký giả, Elisabetta Piqué và chồng là Gerry, nhờ làm việc lâu năm tại Roma, và quen biết hầu hết các Hồng Y, đã biết được nhiều chuyện mật trong mật nghị. Elisabetta là ký giả duy nhất trên thế giới đã viết trên báo La Nación ở Buenos Aires vào hôm trước ngày mật nghị kết thúc là Jorge Bergoglio, một Hồng Y người Argentina gốc Ý dư luận ít biết tới, có thể được bầu làm Giáo Hoàng. Cuốn tiểu sử Life and revolution FRANCIS của Elisabetta Piqué cho biết rõ về cuộc đời và hướng đi của Giáo Hoàng.
 
Trước mật nghị 2013, không có ai nổi bật như Hồng Y Ratzinger năm 2005. Bầu cử Giáo Hoàng không có ứng cử, không có vận động tranh cử. Trên lý thuyết, cử tri bầu chọn theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, sau buổi lễ cầu nguyện chung mấy ngày trước khi mật nghị khai mạc, các Hồng Y cũng có ít phút trình bầy quan điểm của mình. Ngày 7 tháng 3, năm ngày trước mật nghị, chỉ trong hơn ba phút, Tổng Giám Mục Buenos Aires đã được nhiều bạn đồng liêu, cả bảo thủ và cấp tiến, chú ý và khen ngợi về quan điểm rõ ràng của mình đối với tương lai Giáo Hội. Elisabetta ghi lại lời kể của Hồng Y nổi tiếng người Cuba là Jaime Ortega, rằng: Hồng Y Jorge Bergoglio đã nói về phúc âm hoá, là lý do tồn tại của Giáo Hội. Theo Ngài, Giáo Hội phải tự lột xác, ra khỏi vỏ bọc của mình để đến với tầng lớp ngoại vi, những người thuộc thành phần tội lỗi, đau khổ, chịu bất công, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin, nghèo khó dưới mọi hình thức. Ngài chỉ trích một Giáo Hội chỉ biết có mình, tự ái, làm nẩy sinh những tư tưởng thế tục xấu xa và sống để ca tụng lẫn nhau. Theo Ngài, “Có hai hình ảnh của Giáo Hội: Giáo Hội phúc âm hoá, tự ra khỏi mình, Giáo Hội của lời Chúa, trung thành nghe và rao giảng lời Chúa; và Giáo Hội thế tục, sống cho mình, bởi mình và vì mình. Nhận thức này nên soi sáng cho những thay đổi và cải tổ để hoàn thành việc cứu rỗi các linh hồn”.
 
Cần 77 trên 115 phiếu để đắc cử. Tại vòng bỏ phiếu thứ sáu – cũng có thể gọi là thứ năm, vì vòng thứ năm bị huỷ, do một phiếu không hợp lệ — Hồng Y Bergoglio được gần 90 phiếu, trở thành Giáo Hoàng thứ 266, nối ngôi Thánh Phê Rô.
 
Khác với các Giáo Hoàng trước, phần đông chọn danh hiệu là tên các vị tiền nhiệm danh tiếng, như Pius, Paul, John, Benedict… , tân Giáo Hoàng khiến nhiều người ngạc nhiên khi Ngài chọn Francis. Khởi đầu, người ta tưởng Ngài chọn Francis Xavier, là nhà truyền giáo nổi tiếng, đồng sáng lập Dòng Jesuit, là dòng tu của Ngài. Nhưng Ngài chọn Francis của vùng Assisi, một vị thánh người Ý con nhà giầu, bỏ hết của cải, chỉ trích sự giầu có, chuyên giúp người nghèo, hoà mình với thiên nhiên, làm bạn với chim muông, cầm thú; yêu sự nghèo hèn đến nỗi mong được chết không một mảnh vải che thân, để giống với hình ảnh Chúa trên thập giá.
 
Hình ảnh tương phản giữa hai Giáo Hội đã thể hiện qua bề ngoài của hai người ngay sau khi vừa được chọn làm chủ chăn: Benedict XVI mặc bộ phẩm phục vương giả, rực rỡ, dành cho Giáo Hoàng theo truyền thống từ hàng ngàn năm trước; ngay cả những bộ phận không còn dùng nữa hay đã cải tiến giản dị từ thời Giáo Hoàng Paul VI, như áo khoác ngắn đến khửu tay bằng nhung đỏ viền lông chồn trắng (mozzetta), dải biểu tượng quyền bính (pallium) to bản và dài đến chân theo mẫu từ thế kỷ 11, đôi giầy đặc biệt bằng da đỏ…Ngược lại, Francis chỉ mặc bộ đồ giản dị toàn trắng, không thêu thùa mầu sắc rực rỡ, từ chối đeo giây, tượng, và nhẫn vàng dành cho Giáo Hoàng, vẫn dùng giây đeo thánh giá và nhẫn bạc, cả đôi giầy đen cũ của mình. Tại ban công Đền Thánh Phê Rô, Benedict rạng rỡ mở đầu thời đại của mình bằng Phép Lành Toà Thánh ban cho mọi người, Francis khiêm nhường xin mọi người cầu nguyện cho mình.
 
Người con xa tìm về nguồn
 
Trên nguyên tắc, Giáo Hội được xây dựng và mở mang dựa trên lời dậy của Đức Giê Su, được gọi là Tin Mừng, hay Phúc Âm. Như vậy, sao lại có chuyện “Phúc Âm hoá”? Có thể dùng ngay ví dụ trong lịch sử gần đây của Việt Nam để hiểu điều này. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến Việt Nam, đã có “Việt Nam hoá”. Bởi vì, do thời cuộc đưa đẩy, từ năm 1965, cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ VNCH đã bị “Mỹ hoá” thời Tổng Thống Johnson. Rồi lại do thời cuộc đưa đẩy, đến khi không thể tiếp tục đường lối Mỹ hoá, Tổng Thống Nixon đành phải Việt Nam hoá cuộc chiến, bắt đầu từ năm 1969.
 
Giáo Hội Thiên Chúa cố gắng lớn lên theo Phúc Âm trong ba thế kỷ đầu. Cuối thế kỷ thứ ba, Giáo Hội đang trong hoàn cảnh bị bách hại, bỗng có biến cố lớn vào đầu thế kỷ thứ bốn: Năm 312, trong nỗ lực thống nhất sơn hà, Hoàng Đế La Mã Constantine cho biết, trước trận đánh quan trọng tại cầu Milvian trên sông Tiber ở Roma, ông đã thấy biểu tượng đạo Chúa là cây Thánh Giá hiện ra trước ánh mặt trời sáng chói, điều này khiến ông tin tưởng và quân sĩ nức lòng. Ông tiến về hướng hình ảnh Thánh Giá và đánh tan kẻ thù. Thay vì cấm đạo như các Hoàng Đế tiền nhiệm, ông quyết định theo đạo. Giáo Hội, đang trong tư thế bị bách hại, bỗng nhiên trở thành thế lực tinh thần, là đồng minh của bên chiến thắng.
 
Hoàng Đế tân tòng, tuy chưa rửa tội cho tới ít lâu trước khi qua đời vào năm 337, Constantine dành cho Giáo Hội nhiều ưu đãi. Giáo hữu được miễn dịch, phục vụ tôn giáo cũng được kể như phục vụ tổ quốc. Giáo Hội được cấp đất, cấp tiền xây những nhà thờ đồ sộ, làm chứng cho sự phát triển của tôn giáo, và sự thịnh vượng của triều đại. Đền Thánh Phê Rô đầu tiên được xây cất thời kỳ này. Việc đạo và việc nước pha trộn với nhau. Sau khi Constantine mất, chiến tranh, xáo trộn kéo dài một phần tư thế kỷ. Năm 361, cháu Constantine là Julian lên ngôi, phủ nhận đạo Thiên Chúa, nhưng chỉ cai trị được hai năm, không ngăn nổi sức phát triển đã có đà của tôn giáo này. Đây cũng có thể coi như thời kỳ chuyển mùa đầu tiên, từ mùa Xuân của Giáo Hội theo Phúc Âm, sang mùa Hạ của Giáo Hội Đế Chế hoá, xa rời Phúc Âm, phát triển và tổ chức như một đế quốc.
 
Trong hơn mười thế kỷ, Phúc Âm vẫn được rao giảng, nhưng không được thể hiện hoàn toàn đúng trên thực tế. Có rất nhiều thí dụ về việc này:
Đức Giê Su cưỡi lừa vào Thành Jerusalem
 
– Vào một ngày quan trọng hàng đầu trong cuộc đời giảng đạo, Đức Giê Su và các môn đệ tiến vào thành Jerusalem, trước sự tung hô của dân chúng (được kỷ niệm bằng Chủ Nhật Lễ Lá, mở đầu Tuần Thánh, mùa Phục Sinh). Dịp này, Ngài cưỡi một con lừa mượn tạm của dân làng (Mt 21, 1-10; Mc 11, 1-11; Lc 19, 28-38; Ga 12, 12-16). Đây là dịp duy nhất Ngài không di chuyển bằng đôi chân của mình.
 
Nhưng qua hàng ngàn năm, mãi đến 1978, trong những dịp trọng thể, các vị Giáo Hoàng vẫn ngồi trên kiệu (sedia gestoria) như vua chúa, do 12 người khiêng. Cho đến Giáo Hoàng Benedict XVI, con lừa của các vị thay mặt Thiên Chúa ở thế gian là những chiếc xe Mercedes sang trọng hàng đầu và đắt tiền. Mãi đến Giáo Hoàng Francis, con lừa của Ngài mới là chiếc xe con cóc Fiat 500 nhỏ xíu, rẻ tiền.
 
Một Giáo Hoàng trên kiệu giống như Hoàng Đế Ai Cập
 
Về trang phục, Đức Giê Su bảo: “Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, ta bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salomon trong vinh quang tột bậc cũng không đẹp đẽ được như một trong những bông hoa ấy. Bởi đó, với những bông hoa nay còn mai huỷ mà Chúa còn cho mặc đẹp như vậy, chẳng lẽ Ngài không lo cho anh em nhiều hơn về chuyện mặc. Sao yếu đức tin thế? (Mt 6, 28-30; LC 12, 27-28). Phúc Âm đã nói rõ như vậy, nhưng từ khi Giáo Hoàng, chẳng những được coi ngang Hoàng Đế, mà còn trở thành “Siêu Hoàng Đế”, vua của các Hoàng Tử và Hoàng Đế, phẩm phục của các ngài còn rực rỡ hơn cả cẩm bào của Hoàng Đế. Hãy so sánh phẩm phục của Giáo Hoàng Benedict XVI với bộ áo của Giáo Hoàng Francis, sẽ thấy rõ Ngài Phúc Âm hoá như thế nào.
 
– Khi sai các tông đồ đi giảng đạo, Đức Giê Su chỉ thị cho các ông, ngoài cây gậy, đôi dép và bộ quần áo trên người, không được mang theo lương thực, tiền nong (Mt 10, 5-15; Mc 6, 8-9; Lc 9, 1-6). Đến đâu, ai cho ăn thì ăn, cho ở thì ở. Khi người ta không cho ăn ở nữa, thì đi chỗ khác. Người lập ra Giáo Hội dậy như thế, nhưng khi Giáo Hội giầu mạnh, các đấng thay mặt Chúa ở thế gian cư ngụ trong những cung điện nguy nga tráng lệ. Mới cách đây hơn hai năm, vào cuối năm 2013, một trong những việc bận tâm của tân Giáo Hoàng Francis là cách chúc Giám Mục Franz Peter Tebartz van Elst thuộc Địa Phận Limburg (Đức), vì ông này đã chi trên 40 triệu đô la để tân trang tư dinh của mình, trong đó trên một triệu dành cho vườn cảnh, và riêng chiếc bồn tắm giá 20 ngàn đô la.
 
– Ham mê tiền của cũng là một thứ nô lệ tai hại như nô lệ ma quỷ. Cho nên, Phúc Âm ghi lại lời Chúa dậy rằng “anh em không thể vừa là tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được ((Mt 6, 24; Lc 16, 13), và “anh em đừng tích trữ kho tàng dưới đất (Mt 6, 19-20; Lc 12, 33-34). Ngài còn nói rõ hơn: “người giầu vào nước Thiên Đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim” (Mt 19, 23-26; Mc 10, 23-25; Lc 18, 24-27). Nhưng trong hàng chục thế kỷ, Giáo Hội đã rất giầu có. Của nổi chủa chìm mỗi địa phận ít “đại gia” nào sánh bằng, và người giầu đã từng có địa vị đặc biệt trong lịch sử Giáo Hội. Bao nhiêu Giáo Hoàng từng xuất thân từ những dòng họ giầu sang như Borgia, Medici, hoặc từ những vùng giầu có như Florence, Venice và Milan.
 
Chiều tối Chủ Nhật 27 tháng 9, 2015, trong Thánh Lễ do Đức Giáo Hoàng Francis cử hành ở Philadelphia trước khi Ngài về lại Roma, bài Thánh Thư thứ nhì do nữ tu Hồng Quế đến từ Việt Nam đọc, không phải là bài đọc đặc biệt riêng cho Thánh Lễ này, đó là lời trong thư của Thánh Gia Cô Bê Tông Đồ (St. James), đã được đọc trên khắp thế giới vào cùng ngày, và từng được đọc đi đọc lại từ hai ngàn năm. Bài đọc không dài, có thể ghi lại đầy đủ như sau:
 
Giờ đây, những kẻ giầu có, các người hãy than khóc về những tai hoạ sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã bị hư hại, quần áo của các người đã bị mối xông. Vàng bạc của các người đã bị han rỉ, và chính rỉ sét ấy là bằng chứng chống lại các người, và sẽ thiêu huỷ xác thịt các người như lửa đốt. Các người đã thu góp tài sản cho những ngày cuối cùng. Các người đã gian lận ăn bớt tiền lương của những người thợ gặt khiến họ kêu khóc, và những tiếng kêu đã thấu tai Thiên Chúa. Các người đã sống khoái lạc và buông thả trên mặt đất này, các người đã được hả dạ trong ngày sát sinh. Các người đã kết án và giết hại người công chính; và họ đã chẳng hề cưỡng lại.


Từ các bậc trưởng thượng trong Giáo Hội đến hàng tỉ giáo dân, vẫn đọc, vẫn nghe nhắc đi nhắc lại như trên từ hai ngàn năm nay, nhưng đã có bao nhiêu người xa lánh sự giầu có? Ngay trong thánh lễ đọc Thánh Thư trên, rất có thể, vẫn có người cầu xin cho mình trúng số, buôn bán phát tài, làm ăn trúng mối, một vốn mười lời. Năm 1963, đang khi đất nước trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục nâng lễ Ngân Khánh của mình ngang tầm quốc lễ, để Chủ Tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ làm trưởng ban tổ chức, cử hành lưu động khắp Trung Nam. Có người bênh vực: “Đức Tổng làm vậy để lấy tiền giúp Địa Phận, cho Đại Học Đà Lạt, đâu phải cho cá nhân Ngài”. Cho việc riêng hay cho việc chung, cũng là mù quáng chạy theo tiền tài. Mà, một khi chạy theo của cải, như Thánh Gia Cô Bê đã nói, “các người hãy than khóc về những tai hoạ sắp đổ xuống trên đầu các người”.


– Theo tinh thần Phúc Âm, việc Nước và việc Đạo tách rời nhau. Khi có người hỏi có phải đóng thuế cho Caesar không, Chúa trả lời: “Cái gì của Caesar hãy trả cho Caesar, cái gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa ((Mt 22, 15-22; Mc 12, 17; LC 20, 20-26). Từ thời Constantine, việc nước đã nhập chung với việc đạo, rồi quyền bính giữa đạo và đời gắn bó với nhau. Thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604), người đứng đầu Giáo Hội kiêm cả việc trị nước; tự mình thương thảo về hiệp ước, chọn tướng lãnh và trả lương cho binh sĩ.
 
Sự lạm dụng quyền bính của Giáo Hoàng đã lên tới cao độ, tạo tì vết trong lịch sử Giáo Hội, mang nhiều tiếng xấu khiến các Giáo Hoàng ngày nay vẫn còn phải xin lỗi, ví dụ những việc làm thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216). Nhiều vương quốc thời này như Bulgaria, Poland, Portugal… đã phải quy phục Giáo Hoàng, trở thành lãnh địa của Toà Thánh. Văn kiện nhân quyền đầu tiên của thế giới Magna Carta do vua John nước Anh ban hành năm 1215 bị huỷ bỏ, với lý do các bá tước áp lực nhà vua ký mà không có sự chấp thuận của Giáo Hoàng.
 
Vạ tuyệt thông (Excommunication) và Toà án dị giáo (Inquisition) cũng được thiết lập thời kỳ này, dưới quyền Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241) để trừng phạt những kẻ không tuân lệnh Giáo Hội, kể cả Hoàng Đế từng là bạn và được Giáo Hoàng gửi vương miện tấn phong, như Frederick II. Điều đặc biệt, chính Giáo Hoàng Gregory IX từng là bạn của Francis ở Assisi (Thánh danh của Giáo Hoàng hiện tại) và phong thánh cho Ngài năm 1228, chỉ hai năm sau khi Ngài qua đời, nhanh kỷ lục.
 
Đáng nói hơn nữa, mặc dầu theo Phúc Âm, Chúa đã cấm việc xử dụng vũ khí, “kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26, 52; Mc 14, 43-50; Lc 22, 47-53; Ga 18, 3-11), Giáo Hoàng Urban II (1088-1099), đã khởi sự cuộc Thánh Chiến Thứ Nhất (First Crusade – 1096), coi bạo lực là việc làm thiêng liêng để bảo vệ nước Chúa; quân sĩ đeo Thánh Giá, được gọi là “Thập Tự quân”. Và đúng như lời Chúa, sau hai thế kỷ, – từ 11 đến 13 – và chín cuộc Thánh Chiến lớn, lãnh thổ của Giáo Hội ngày càng thu hẹp. Tuy không còn Thánh Chiến, tinh thần hiếu chiến trong đạo, được biểu lộ dưới nhiều hình thức vẫn còn tồn tại đến thời hiện đại. Trẻ con các xứ đạo được tổ chức thành đoàn ngũ gọi là “Nghĩa binh Thánh Thể”, những giáo hữu nam nữ họp lại chỉ để cầu nguyện và làm việc thiện, được gọi là “Đạo binh Đức Mẹ”, quý vị nam giới đã trưởng thành được mời tham gia các tổ chức “Hiệp Sĩ”, mặc y phục như các hiệp sĩ đời xưa, tuốt gươm sáng ngời trong nhà thờ vào các dịp lễ trọng.
 
Thời Trung cổ, dù các cuộc Thánh Chiến lớn đã chấm dứt, Giáo Hoàng Boniface VIII (1294-1303) vẫn mặc phẩm phục như Hoàng Đế, tự cho mình vừa là Giáo Hoàng, vừa là Hoàng Đế, công bố giáo chỉ (bull) “Unam sanctam”khẳng định mọi tạo vật cần phải quy phục Giáo Hoàng La Mã là điều cần thiết cho công trình cứu chuộc. Và, cũng chính vị Giáo Hoàng này phán rằng “Chúa đã đặt chúng tôi trên các vua chúa và các vương quốc”.
 
Chỉ qua một số dẫn chứng trên cũng đủ thấy Giáo Hội, trong hơn một ngàn năm, đã đi xa tinh thần Phúc Âm như thế nào.
 
Giáo Hoàng Benedict XVI, tựa như một Hồng Y sống vào thế kỷ 13, được Thánh Nicholas (Santa Claus – Ông Già Noel) cõng về Bắc Cực, làm đông lạnh, rồi gần một ngàn năm sau cho ấm lại, mang về Roma lên ngôi Giáo Hoàng năm 2005. Nhờ trí tuệ còn tốt, và nhờ Thánh Thần soi sáng, Ngài biết cơ thể mình từng đông lại ở mùa Hạ, không thể thích hợp với mùa Đông, bèn từ chức. (Nhà lãnh đạo thần quyền, dầu sao cũng sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo thế quyền, thường bị mù quáng bởi tiền của và địa vị, dù trần truồng tồng ngồng trước mắt thiên hạ mà vẫn tưởng mình được che phủ bởi vương phục rực rỡ, chỉ biết tại chức hay thăng chức, không bao giờ biết từ chức).
 
Trong khi ấy, vào cùng thời kỳ cuối thế kỷ 12, đầu 13, chán cảnh Giáo Hoàng và Giám Mục chỉ lo bảo vệ quyền lực và của cải trần thế, tại vùng Assisi nước Ý, một người con nhà giầu mang tên Francis, đi ngược trào lưu thời đại, bỏ hết của cải, lập dòng tu, phục vụ người nghèo, chăm lo cho tạo vật, sống đời khó nghèo theo gương Chúa, được Chúa cho mang năm Dấu Thánh, và cũng là người đã viết ra “Kinh Hoà bình” rất gần với tinh thần “Bài giảng trên núi” của Chúa. Linh hồn Francis thoát xác năm 1226. Là tinh thần, linh hồn không bị đông lạnh hay bốc hơi, vẫn còn nguyên vẹn những đức tính khó khăn, khiêm nhường, yêu người, yêu vật, chu du khắp nơi trong gần mười thế kỷ, đã nhập vào một Giám Mục có lối sống gần với mình, coi thường địa vị và của cải, ở chung cư, đi xe buýt, từng xin về hưu khi được 75 tuổi ở tận Nam bán cầu, trở thành Giáo Hoàng Francis, nối ngôi Benedict XVI, cố đem Giáo Hội trở lại với tinh thần Phúc Âm.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Francis trong chuyến đi lịch sử
 
Chính trong chuyến đi Mỹ, được gọi là chuyến đi lịch sử vào cuối tháng 9, 2015, dư luận đã thấy rõ chiều hướngPhúc Âm hoá của Giáo Hoàng Francis, mà theo Ngài, đó là lý do tồn tại của Giáo Hội. Từ những lời phát biểu và cách cư xử của Ngài trong chuyến đi, không phản ảnh hào quang của các Giáo Hoàng trong quá khứ, mà rất gần với tinh thần Phúc Âm, tiêu biểu là thái độ của Ngài đối với trẻ em, với người nghèo, với các nạn nhân, những người tù tội, với những tôn giáo khác, và cả với những người làm chính trị.
 

 
– Với trẻ em: Theo dõi những cuộc tiếp xúc với dân chúng của Giáo Hoàng Francis, ai cũng thấy, từ khi lên ngôi, tại bất cứ đâu, Ngài cũng rất gần gũi với trẻ em. Trong chuyến thăm nước Mỹ, từ Washington, New York và Philadelphia, ở đâu Ngài cũng ân cần, ôm hôn, xoa đầu hàng chục trẻ em. Điều này, đúng như Phúc Âm kể lại thái độ của Đức Giê Su từ hai ngàn năm trước: “Rồi người ta mang những trẻ nhỏ đến để Người đặt tay lên chúng mà cầu nguyện; và các tông đồ ngăn cản chúng. Nhưng Đức Giê Su nói, hãy để chúng đến với ta, đừng ngăn cấm, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng. Người đặt tay lên chúng, rồi đi khỏi (Mt19, 13-15; Mc10, 13-16; Lc18, 15-17). Trong một dịp khác, khi các tông đồ thắc mắc về ai là người lớn nhất trong Nước Trời. Đức Giê Su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông, rồi nói: “Ta bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời”. (Mt18, 1-4; Mc9, 33-37; Lc9, 46-48).
 
– Với người nghèo và tù nhân: Cùng với nếp sống giản dị, Giáo Hoàng Francis đã đặc biệt gần gũi với người nghèo. Điều này cũng theo sát tinh thần Phúc Âm, qua đó, Đức Giê Su dậy rằng bất cứ ai làm điều gì dù nhỏ nhặt để giúp đỡ người nghèo, tù đầy, bệnh tật hay không nơi nương tựa là đã giúp chính Người và đáng được hưởng phúc trên Nước Trời (Mt25, 40).
 
Sau khi đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội sáng 24 tháng 9, Giáo Hoàng đã từ chối dùng bữa trưa với các nhà lập pháp Mỹ, thay vào đó, Ngài tới nhà ăn miễn phí của một tổ chức từ thiện dành cho người nghèo, đi tới từng bàn, thăm hỏi trò truyện với nhiều người.
 

 
Khi xưa, Đức Giê Su tới nhà và ăn uống với những người tội lỗi. Những người đạo đức giả hỏi các môn đệ của Người: “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?”. Người nghe thấy, bèn trả lời: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” ((Mt9, 10-13; Mc2, 15-17; Lc5, 29-32). Cũng trong tinh thần này, Giáo Hoàng Francis đã tới thăm các tù nhân tại trại giam Curran-Fromhold ở Philadelphia hôm 27 tháng 9. Ngài đã nói với các tù nhân về ý nghĩa việc Đức Giê Su rửa chân cho các tông đồ: “Cuộc đời là một chuyến đi, theo những con đường khác nhau, lối đi khác nhau, để lại dấu vết trên chúng ta. Tất cả chúng ta đều có chút gì đó cần phải gột rửa, thanh tẩy”. Và Ngài nói thêm, “Tôi là người đầu tiên trong số đó”.
 
Vào Mùa Phục Sinh đầu tiên sau khi được bầu làm Giáo Hoàng tháng Ba năm 2013, Giáo Hoàng Francis nói về biểu tượng lễ rửa chân theo một ý hướng khác. Ngài nói: Chúa quan trọng nhất và Chúa rửa chân cho người khác, vì ai là người có địa vị cao nhất trong chúng ta phải là người phục vụ những người khác. Rửa chân cho người khác là nói rằng “Tôi là kẻ phục vụ”.
 
Tuy nhiên, mỗi người phục vụ một cách khác. Giáo Hoàng Benedict XVI cũng rửa chân, nhưng người được rửa chân là các đấng nam nhi, mặc áo giám mục hay linh mục, ngồi trên bệ cao như loại ghế đánh giầy ở nhà ga hay phi trường, rồi Giáo Hoàng đứng mà rửa, như hình sau đây vào tháng 04, 2012.
 
(Hình St. Peter’s List: 2012-04-05 • http://spl.link/6epr5)
 
Trong khi ấy, Giáo Hoàng Francis rửa chân cho các tù nhân, cho di dân, đàn ông và đàn bà, thuộc về những tôn giáo khác nhau, cả người nghèo ăn mặc rách rưới. Ngài không đứng, mà quỳ xuống đất, rửa và hôn chân từng người, cẩn trọng như người giúp việc trung thành phục vụ chủ nhân, như hình dưới đây:
 
Vào Thứ Năm Tuần Thánh 24 tháng Ba 2016, Giáo Hoàng Francis đã quỳ xuống, rửa và hôn chân tám người nam và bốn người nữ là di dân thuộc nhiều tôn giáo khác nhau: Ba người theo Hồi giáo, ba người theo Thiên Chúa giáo Coptic, một người theo Ấn giáo. Ngài nói: “Chúng ta có văn hoá và tôn giáo khác nhau, nhưng chúng ta là anh em, và chúng ta muốn sống trong hoà bình” (Hình AP)
 
– Có thể nói lời phát biểu đáng ghi nhất của Giáo Hoàng Francis là tại Bảo Tàng Tưởng Niệm 11 tháng Chín (Sept. 11 Memorial Museum) ở New York. Phần chính Đài Tưởng Niệm là hồ nước chảy vào nền toà tháp đôi đã bị phá huỷ ngày 11 tháng 9, 2001, gây thiệt mạng gần ba ngàn người. Mấy đoạn trích dịch lời của Ngài vào sáng 25 tháng 9:
 
Làn nước chảy này cũng còn là biểu tượng của nước mắt chúng ta, nước mắt tại nơi quá nhiều tàn phá huỷ hoại, quá khứ và hiện tại. Đây là nơi chúng ta chảy nước mắt, chúng ta khóc cho sự bất lực đối diện với bất công, giết hại và sự thất bại của dàn xếp qua đối thoại. Tại đây chúng ta để tang cho sự mất mát sai lầm và vô lý tính mạng của những người vô tội vì không tìm được giải pháp cho sự tôn trọng giá trị tốt đẹp chung. Làn nước chảy này nhắc nhở chúng ta nước mắt của hôm qua, nhưng cũng là tất cả nước mắt còn chảy hôm nay.
 
Ít phút trước đây tôi đã gặp một số người là thành viên gia đình của những người cấp cứu đầu tiên đã thiệt mạng. Gặp họ khiến tôi thấy một lần nữa là những hành động phá hoại không bao giờ vô danh, trừu tượng, hay chỉ là vật chất. Chúng luôn có diện mạo, một câu truyện cụ thể, tên tuổi. Qua những thành phần gia đình này, chúng ta nhìn thấy bộ mặt của đau khổ, một sự đau khổ vẫn còn khiến chúng ta xúc động và kêu thấu trời cao. Cùng lúc ấy, những thành viên gia đình này cho chúng ta thấy bộ mặt khác của cuộc tấn công, bộ mặt khác sự tang tóc của họ: Sức mạnh của tình thương và niềm nhớ. Một niềm nhớ không để chúng ta trống vắng và co cụm. Tên của rất nhiều người yêu dấu đã được khắc nơi trước đây là các chân tháp. Chúng ta có thể nhìn thấy, chúng ta có thể sờ được, và chúng ta không bao giờ quên chúng…
 
Nơi tử địa này cũng đã trở thành một sinh địa, một nơi đã cứu được nhiều mạng sống, một thánh ca cho khải hoàn của sự sống trên những tiên tri của huỷ hoại và sự chết, cho sự tốt lành trên ma quỷ, cho hoà giải và đoàn kết trên thù hận và chia rẽ.


(Lại không thể tránh liên tưởng tới thác nước mắt khác, khóc cho những người khác, ở nơi khác: Oriana Falaci, nữ ký giả người Ý đã phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội vào tháng Hai 1969, theo đó, tại trận Điện Biên Phủ, Pháp thiệt hại 12 ngàn binh sĩ, trong khi thiệt hại về phía Việt Minh là 45 ngàn. Tướng Giáp đã nói tới chuyện này như một người ngoài cuộc, hoàn toàn không ưu tư, trắc ẩn. Ông nhận xét: “Mỗi hai phút, có ba trăm ngàn người chết trên trái đất này. Bốn mươi lăm ngàn cho một trận đánh là cái gì? Chết không kể trong chiến tranh”. Nước mắt cũng chảy cho cả người chỉ biết tới con số, không biết tới nước mắt.)
 
– Nhiều người đã nói về tự do tôn giáo, nhưng được nghe một Giáo Hoàng nói về tự do tôn giáo, là cơ hội đáng chú ý. Trong bài giảng trước các Giám Mục và giáo sĩ tại Vương Cung Thánh Đường Phê Rô Phao Lồ ở Philadelphia trong thánh lễ trưa 26 tháng 9, Giáo Hoàng Francis mở đầu: “Sáng nay tôi đã được biết vài điều về lịch sử của ngôi Thánh Đường đẹp đẽ này: Câu truyện đằng sau những bức tường cao và của sổ. Tuy nhiên, tôi muốn nghĩ rằng, lịch sử của Giáo Hội tại thành phố và tiểu bang này thật ra không phải là việc xây cất những bức tường, mà về sự phá đổ chúng. Đó là câu truyện về thế hệ này sang thế hệ khác của những người Công Giáo tận tâm đã đi tới những vùng ngoại vi, và xây dựng những cộng đồng thờ phụng, giáo dục, bác ái và phục vụ cho xã hội lớn hơn”.
 
Cathedral Basilica of Saints Peter and Paul là nhà thờ hàng đầu ở Phila, được xây cất trong 18 năm theo kiểu mẫu Roma, hoàn tất năm 1864. Giáo Hoàng nói tới những bức tường và cửa sổ cao, vì nhà thờ bắt đầu xây hai năm sau cuộc nổi loạn của người bản địa (Nativist Riots), là những người di dân theo đạo Tin Lành, chống lại những di dân tới sau theo Công Giáo. Vì sợ bị phá, kiến trức sư đã phải cho người ném đá lên cao, để định vị trí các cửa sổ ở mức cao hơn tầm có thể bị ném. Ý của Giáo Hoàng đã rõ, khi Ngài nghĩ rằng, việc xây những bức tường cao để bảo vệ Giáo Hội không quan trọng bằng việc phá bỏ những bức tường ngăn cách để xây dựng những cơ sở giáo dục, bác ái, phục vụ mọi người trong xã hội.
 
Sau đó, vào buổi chiều 26 tháng 9, tại Independence Hall, nơi đã khai sinh ra nước Mỹ, Giáo Hoàng Francis nói:
 
“Tại nơi chốn biểu tượng cho lối sống Mỹ này, tôi muốn cùng các bạn suy nghĩ về quyền tự do tín ngưỡng. Đó là một quyền căn bản nó định hình cho đường lối chúng ta sinh hoạt với nhau giữa xã hội và riêng tư với những láng giềng của chúng ta có cái nhìn về tôn giáo khác với chúng ta.
 
… Do đó tôn giáo có quyền và có bổn phận phải làm sáng tỏ rằng có thể xây dựng một xã hội đa tôn giáo lành mạnh trong đó các tôn giáo tôn trọng khác biệt và giá trị của nhau, và là một đồng minh quý giá trong sự cam kết bảo vệ phẩm giá con người… và một lối đi đến hoà bình trong thế giới bất ổn của chúng ta”.


So với chủ trương Giáo Hội độc tôn thời Trung Cổ, quan điểm về tự do tôn giáo của Giáo Hoàng Francis đã khác xa.
 
Thời Trung Cổ, các Giáo Hoàng đã dùng thế quyền để phục vụ thần quyền. Bây giờ, nhà cầm quyền cộng sản làm ngược lại, dùng thần quyền như công cụ để phục vụ thế quyền. Ngày xưa, vua chúa tùng phục Giáo Hội và được Giáo Hoàng tấn phong. Bây giờ, trong hệ thống Đảng và Nhà Nước, từ trung ương tới địa phương, đều có ban tôn giáo, hoạt động bằng ngân sách quốc gia; tôn giáo phải đăng ký và được chấp thuận mới có thể hoạt động hợp pháp. Bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc tôn giáo phải có sự đồng ý của nhà cầm quyền. Dùng thế quyền phục vụ thần quyền, tuy không hay như lịch sử đã chứng minh, nhưng ít nhất, vẫn có hướng đi lên. Trong khi ấy, dùng thần quyền phục vụ thế quyền, là theo hướng đi xuống, làm hư hỏng những giá trị tinh thần.
 
– Mặc dầu lần đầu tiên trong lịch sử, một vị đứng đầu Giáo Hội Công Giáo có cơ hội đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ là do lời mời từ Chủ Tịch Hạ Viện thuộc đảng Cộng Hoà, nhưng thông điệp của Giáo Hoàng Francis không thiên về đảng nào. Ngài kêu gọi cả hai đảng, đôi khi chống nhau kịch liệt về ngân sách, về dùng súng, về phá thai, về hôn nhân đồng tính…cần hợp tác với nhau: “Chúng ta phải cùng nhau tiến tới, như một, trong sự làm mới tinh thần thân hữu và đoàn kết, rộng lượng hợp tác vì lợi ích chung… Những thử thách chúng ta phải đối diện hôm nay gồm có việc làm mới tinh thần hợp tác, điều này đã đạt được rất nhiều tốt đẹp trải qua lịch sử của Hoa Kỳ”.
 
Giáo Hoàng cũng nhắc nhở các nhà lập pháp Mỹ rằng đất nước này vốn là nơi tập hợp của những di dân, “Nên chúng ta hãy nhớ tới một khuôn vàng thước ngọc. ‘Hãy làm cho người khác những gì mình muốn người khác làm cho mình’” (Mt7, 12). Sau khi trích Phúc Âm, Ngài còn diễn đạt thêm: “Cái thước để ta đo người khác, sẽ là cái thước đến lúc sẽ dùng cho chính mình”.
 
Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner đã lau nước mắt trước lời lẽ của Giáo Hoàng. Có lẽ, ông thấy Ngài nói đúng, nhưng biết mình không thể thực hiện được, nên đã quyết định từ chức trong cùng ngày.
 
Chính thống và nguỵ Giáo Hoàng


Trong hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội Công Giáo La Mã đã có ít nhất 40 ngụy giáo hoàng (antipope). Gọi là “ít nhất”, vì con số này vẫn còn tranh cãi, ví dụ Nguỵ Giáo Hoàng đầu tiên là Hyppolitus (217-235), tuy không được bầu chọn theo đúng thủ tục Giáo luật, nhưng sau vẫn được phong thánh. Ngay cả người lên ngôi đúng theo Giáo luật, như Giáo Hoàng Paul VI năm 1963, cũng bị một nguồn dư luận chống đối gọi là “nguỵ giáo hoàng”, vì Ngài đã thực hiện những thay đổi mà phe bảo thủ không thích. Ví dụ, chưa đầy hai tháng sau khi khai mạc khoá thứ nhì Công Đồng Vatican II, trong một thánh lễ vào tháng 11, 1963 tại Đền Thánh Phê Rô, Ngài đã bỏ triều thiên ba tầng (triregnum) trên bàn thờ chính, như cử chỉ khiêm nhường, từ bỏ biểu tượng quyền bính trên thế quyền, và không bao giờ đội lại triều thiên này nữa. Phe bảo thủ cho rằng triều thiên ba tầng là biểu tượng quyền uy chính thống của Giáo Hoàng từ hàng ngàn năm. Giáo hoàng từ bỏ biểu tượng chính thống, là phi chính thống, là “nguỵ giáo hoàng”.
 
Từ bỏ triều thiên ba tầng chỉ là việc làm có tính biểu tượng của Giáo Hoàng Paul VI. Thực tế, Ngài đã có những thay đổi quan trọng hơn nhiều, như là giáo hoàng đầu tiên du hành tới khắp châu lục trên thế giới, đối thoại với các tôn giáo khác; tháo gỡ thù hận với Do Thái và thân thiện với những anh chị em trong đại gia đình Thiên Chúa Giáo. Quan trọng hơn cả là những thay đổi trong nội bộ Giáo Hội Công Giáo, như tăng thêm sự quan trọng của giám mục; từ vai trò viên chức cao cấp chỉ hành động theo lệnh Toà Thánh, tới địa vị đại diện địa phương mình tham gia vào việc hoạch định đường lối chung của Giáo Hội; và đổi mới về phụng vụ, “địa phương hoá” về ngôn ngữ, bỏ kiêng thịt ngày Thứ Sáu hàng tuần, cho tín hữu kết hôn với người theo tôn giáo khác…
 
Nhưng tất cả những thay đổi ngoạn mục của hai đời Giáo Hoàng John XXIII và Paul VI trong 20 năm đều đứng lại trong gần 40 năm dưới hai đời Giáo Hoàng John Paul II và Benedict XVI. Không phải hai Giáo Hoàng trước đã thay đổi đủ rồi, các Giáo Hoàng sau không cần thay đổi thêm nữa, mà vì người sau đã chận lại đà tiến của Giáo Hội.
 
Gần 40 năm “dậm chân tại chỗ” là khoảng thời gian vô cùng quý báu bị đánh mất, khiến Giáo Hội lâm vào tình trạng lạc hậu, bị hụt hơi trước đà tiến chóng mặt của xã hội. Giáo Hoàng John Paul II là một nhân vật xuất chúng. Về đạo đức, Ngài đã được phong thánh năm 2014. Về chính trị, Ngài đã đóng góp đáng kể vào tiến trình kết liễu Chủ nghĩa Cộng Sản. Nhưng với Giáo Hội, Ngài chỉ giữ nguyên trạng, trong khi Giáo Hội cần thay đổi.
 
Thay vì mở rộng, thay vì lắng nghe, Giáo Hội vẫn khép kín như thời Trung Cổ, khiến tiếng than của những đứa trẻ và gia đình nạn nhân ấu dâm không thấu tai Giáo Hội, làm cho Giáo Hội mang tiếng bao che tội phạm kinh tởm. Uy tín quá lớn của Giáo Hoàng John Paul II đủ khả năng chặn đứng mọi than phiền hay mầm mống chống đối, nhất là từ hàng giáo sĩ và giáo dân. Đến nỗi, người ta kính sợ Ngài, thế giới lắng nghe mỗi khi Ngài lên tiếng, nhưng chẳng mấy ai làm theo lời Ngài. Thí dụ rõ ràng nhất là lệnh cấm ngừa thai của Toà Thánh. Trước khi thành Giáo Hoàng John Paul II, từ hậu trường, chính Ngài đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lệnh cấm ngừa thai. Chuyện này đã gây khó khăn cho Giáo Hoàng Paul VI từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Trái với sự mong đợi của dư luận, qua sứ điệp Humanae Vitae (Về đời sống con người) ngày 24 tháng 7, 1968Giáo Hoàng Paul VI đã không theo đề nghị của một uỷ ban do Giáo Hoàng tiền nhiệm John XXIII thành lập, Ngài vẫn cấm ngừa thai nhân tạo. Biện pháp này làm hài lòng những người theo khuynh hướng bảo thủ, vì bảo vệ được tính thánh thiện trong sự truyền giống. Nhưng với những người khác, nó chứng tỏ Giáo Hội chỉ khăng khăng giữ vững những nguyên tắc cứng nhắc thiếu thực tế của mình, không cần biết tới nhu cầu và hạnh phúc lứa đôi, cũng như nạn nhân mãn tại những xã hội quá nghèo nàn. Kết quả là giáo dân bất chấp những điều cấm kỵ của Giáo Hội. Bằng chứng là vào thời người Việt tị nạn tới Mỹ, có gia đình Công Giáo đông con được Giáo Xứ bảo trợ, trong món quà cứu trợ đầu tiên, ngoài gạo và nước mắm, còn cả “bao cao su”.
 
Ngay từ khi còn trẻ ở tuổi 40, Giám Mục Karol Wojtyla (sau là Giáo Hoàng John Paul II) đã viết một cuốn sách về“Tình yêu và Trách nhiệm” (Love & Responsibility), qua đó, Ngài khẳng định tình yêu đích thực phải nhằm mục tiêu sáng tạo, là tạo ra đứa con. Yêu đương chỉ để thoả mãn thôi thúc của dục vọng là không phải tình yêu đích thực. Ngừa thai nhân tạo là hạ thấp nhân phẩm phụ nữ, là biến phụ nữ thành phương tiện để thoả mãn đòi hỏi của nam giới. Tuy công nhận Ngài là một người cực kỳ khôn ngoan lanh lợi mới có thể làm Hồng Y dưới chế độ Cộng Sản Ba Lan, nhưng một người bạn phái nữ chí thân của ngài, Tiến sĩ Giáo Sư triết Anna-Teresa Tymieniecka nhận xét Ngài là một người rất ngây thơ về phương diện tình dục, cả trong cách cư xử cũng như trong nội dung cuốnTình yêu và Trách nhiệm. Theo Carl Bernstein và Marco Politi ghi lại trong cuốn “His Holiness” (trang 135), Tiến sĩ Tymieniecka nhận xét rằng “Tôi thật ngạc nhiên khi đọc cuốn Tình yêu và Trách nhiệm. Tôi nghĩ rõ ràng là ngài không biết ngài đang nói về cái gì. Làm thế nào ngài có thể viết những chuyện như thế? Câu trả lời là ngài không có kinh nghiệm về chuyện ấy”. Không cần biết rõ về tình dục để được phong thánh, nhưng ở cương vị Giáo Hoàng, có thể ban hành chỉ thị hướng dẫn hay cấm cản những việc liên hệ tới tình dục, mà không biết rõ về lãnh vực này, là điều vô cùng hệ trọng, vì có liên hệ tới hạnh phúc hay đau khổ của hàng tỉ người. Một điều hầu như Ngài không biết, nhưng có lẽ ai cũng biết: khách hàng mua những viên thuốc mầu hồng, một phát minh kỳ diệu vào giữa thế kỷ 20, là nữ giới, không phải nam giới.
 
Thánh Giáo Hoàng John Paul II và người bạn phái nữ của Ngài, TS Anna-Teresa Tymieniecka. (Hình Bill & Jadwiga Smith, New York Times 16/02/2016)
 
Khói Satan trong Đền Thánh


Sự khó khăn trong giai đoạn chuyển mùa của Giáo Hội không phải bây giờ mới lộ diện. Chính Giáo Hoàng Paul VI đã thấy từ trên 40 năm trước.
 
Qua bài giảng quan trọng vào ngày 29 tháng 6 năm 1972, nhân lễ kính các thánh Phê Rô và Phao Lồ, cũng là kỷ niệm chín năm lên ngôi và bắt đầu năm thứ mười triều đại của mình, trước những người hiện diện gồm Chức sắc Toà Thánh, trên ba chục vị trong Hồng Y Đoàn và nhiều đại diện ngoại giao từ các nước trên thế giới, Giáo Hoàng Paul VI nói về tình trạng đáng lo ngại của Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II. Không có nguyên văn toàn thể bài giảng của Ngài. Theo bản ghi lại nội dung bài giảng này do văn phòng Toà Thánh công bố, có những chỗ đáng chú ý như sau:
 
Nói về tình hình Giáo Hội hôm nay, Đức Thánh Cha xác nhận ngài đã cảm thấy rằng “từ một vài chỗ nứt, khói của Satan đã lọt vào đền thờ Chúa”. Có sự nghi ngờ, lưỡng lự, mơ hồ, băn khoăn, bất mãn, đương đầu. Đã không còn sự tin tưởng vào Giáo Hội; họ tin tưởng vào nhà tiên tri trần tục đầu tiên phát biểu trên vài tờ báo hay vài phong trào xã hội, và họ chạy theo anh ta và hỏi xem anh ta có cách thức nào cho cuộc sống thực sự. Và chúng ta không tỉnh táo trước sự kiện rằng chúng ta đã có và biết cách làm gì cho cuộc sống thực sự. Nghi ngờ đã đột nhập lương tâm của chúng ta, và nó đã vào qua cửa sổ đáng lẽ mở ra cho ánh sáng. Khoa học tồn tại để cho chúng ta những sự thật không phải để tách khỏi Thiên Chúa, nhưng để chúng ta tìm kiếm người nhiều hơn và ca ngợi người mãnh liệt hơn; thay vào đó, khoa học cho chúng ta chỉ trích và nghi ngờ. Khoa học gia là những người suy tư nhiều hơn và cực khổ nhiều trong việc sử dụng trí óc của họ. Nhưng cuối cùng họ dậy chúng ta: “Tôi không biết, chúng tôi không biết, chúng tôi không thể biết”. Trường học trở thành vận động trường của sự hỗn tạp và nhiều khi của sự mâu thuẫn vô lý. Tiến bộ được ca ngợi, rồi chỉ để phá đi bằng những cuộc cách mạng cấp tiến hơn và lạ lùng hơn, cũng như phủ nhận tất cả những gì đã được hoàn thành và bỏ đi như thuở ban sơ sau khi đã đề cao những tiến bộ của thế giới tân tiến.
 
Tình trạng bất ổn này gây lay chuyển ngay cả trong Giáo Hội. Chúng ta đã tưởng rằng sau Công Đồng sẽ là một ngày tràn ngập ánh sáng trong lịch sử Giáo Hội. Nhưng thay vào đó đã là sự xuất hiện của một ngày mây mù, bão táp, tăm tối, tìm kiếm, bất định. Chúng ta rao giảng toàn cầu nhưng chúng ta luôn luôn tự tách biệt chúng ta với người khác. Chúng ta tìm cách đào vực sâu thay vì lấp đầy chúng (1)
 
Giáo Hoàng Paul VI trước khi từ bỏ đi kiệu và đội mũ ba tầng
 
Thật lạ lùng, một người có đầu óc tiến bộ, và từng dấn thân theo chiều hướng thay đổi của vị tiền nhiệm là John XXIII như Giáo Hoàng Paul VI đã tỏ ra thiếu bình tĩnh trước những phản ứng không thuận lợi phát sinh từ sự thay đổi. Lạ lùng nữa, Giáo Hội Công Giáo là sức mạnh chống Cộng hàng đầu, nhưng về phương diện đối phó với những nguồn dư luận chống đối, nhà lãnh đạo Giáo Hội và lãnh đạo Đảng có thái độ giống nhau. Giáo Hội cho là bị ma quỷ (Satan) quấy phá, trong khi Đảng đổ tội cho “thế lực thù địch”.
 
Dù bị đặt tên khác nhau, dù bị coi là “khói Satan” hay “lực phản động”, chống đối thật ra chỉ phát sinh từ những cọ sát là lực đẩy cần thiết để tiến bộ. Và cũng lạ khi một nhà thông thái như Giáo Hoàng Paul VI, vào hậu bán thế kỷ 20 mà vẫn còn tầm nhìn hẹp hòi về vai trò của khoa học. Đúng ra, khoa học đã phục vụ nhiều cho tôn giáo. Từ chỗ Lời Chúa đến với con người qua một bụi gai bên lề đường, hay từ một đám mây, khoa học đã có thể đưa Lời Chúa tức thì đến với mọi người tại khắp nơi trên thế giới chỉ bằng một cái nhấn chuột. Hơn hai ngàn năm trước, Đức Giê Su sai tông đồ đi mượn tạm một con lừa của nông dân làm phương tiện di chuyển tiến vào thành Jerusalem, giữa thập niên 60 thế kỷ trước, Giáo Hoàng Paul VI cưỡi máy bay tới nói chuyện với các nhà lãnh đạo khăp thế giới tại Liên Hiệp Quốc. Đó là sự phục vụ cụ thể của khoa học cho Giáo Hội. Còn việc củng cố đức tin, là nhiệm vụ của các nhà truyền giáo, không phải của các nhà khoa học. Nếu có những khám phá khoa học khiến đức tin bị lung lay, như chứng minh được trái đất quay quanh mặt trời, thay vì ngược lại, đó không phải lỗi của khoa học.
 
Hơn nữa, đời sống tinh thần của con người cũng thay đổi. Khi còn nhỏ, chưa hiểu biết nhiều, dễ tin vào chuyện thần tiên, như Ông Già Noel chui lò sưởi mang đồ chơi tới vào dịp Giáng Sinh, con cò bay qua nhà để rơi cái bọc có em bé trước cửa… Nhưng một thiếu niên tới tuổi lái xe viết thư cho Ông Già Noel xin một cái xe, hay một thiếu nữ 17 tuổi tối tối quỳ gối cầu xin thần tiên sai khiến con cò mang tới cho một em bé để bế, đó không phải là chuyện bình thường, mà là dấu hiệu đáng lo, có vấn đề.
 
Hình ảnh nổi bật xưa nay diễn tả mối tương quan giữa tín hữu và người lãnh đạo là đàn cừu với người chăn cừu. Thay vì nhìn mối tương quan này đề định rõ trách nhiệm của người chăn cừu, lại thường được hiểu như tín hữu có bổn phận tuân phục người chăn như một đàn cừu. Phúc Âm dậy rằng, mọi việc dù nhỏ như cái tóc trên đầu, cũng đều do Chúa định. Nếu chỉ muốn có loài cừu, hà tất Chúa mất công tạo ra loài người và cho nó bộ óc thông minh hơn loài cừu. Chúa ban cho bộ óc người, mà chỉ xử dụng nó như bộ óc cừu, là làm hư một công trình sáng tạo của Chúa. Vận hành nó đúng theo khả năng Chúa đã tạo ra, chẳng lẽ là do quỷ Satan xui khiến?
 
Sức nặng của Thánh Giá


Những gì tồn đọng trong thời kỳ dậm chân tại chỗ bây giờ là sức nặng của Thánh Giá do Giáo Hoàng Francis gánh vác. Liệu Ngài có đủ sức, và còn đủ thời gian? Chỉ có Thiên Chúa biết rõ.
 
Điều người thường có thể thấy được là về mặt nổi, Ngài được dư luận khắp nơi ca tụng. Nhưng bên trong, Ngài đang, và sẽ còn bị chống đối từ nhiều phía, cả tả lẫn hữu. Phe hữu cho rằng Ngài theo chủ trương quá cấp tiến, từ bỏ hết những truyền thống và giá trị cao đẹp của Giáo Hội gìn giữ từ hàng ngàn năm. Có người đã gọi Ngài là “Nguỵ Giáo Hoàng”, hoặc “Giáo Hoàng Cộng Sản”, vì Ngài chỉ trích sự bất công của nền kinh tế tư bản, và bênh vực người nghèo. Trong khi ấy, phe tả cho rằng Ngài vẫn còn quá bảo thủ, vẫn chưa dám mạnh tay làm những thay đổi cần phải có. Cấm phá thai, có thể hiểu được, vì giết một bào thai, cũng như giết một mạng người. Cấm linh mục lấy vợ, cũng có thể hiểu được. Bốn tông đồ đầu tiên đã bỏ gia đình đi theo Chúa, nếu cho linh mục lập gia đình, chẳng hoá ra đi ngược lại chủ trương ban đầu của người lập ra Giáo Hội. Hơn nữa, nhiệm vụ người cha trong gia đình và cha linh hồn quan trọng ngang nhau, một sứ mạng cần toàn thời gian phục vụ. Một người kiêm hai việc, sẽ không đầy đủ bổn phận đối với cả hai; chỉ có thể phục vụ bán thời gian cho một nhiệm vụ cần toàn thời gian.
Nhưng, bây giờ còn cấm ngừa thai, không thể hiểu được. Ngoài ra, nữ nhà báo nổi tiếng từng được giải Pulitzer của New York Times là Maureen Dowd viết rằng Francis là Giáo Hoàng hoàn hảo cho Thế Kỷ 19, vì khi được hỏi về vấn đề phụ nữ làm linh mục, Ngài nói “Giáo Hội đã lên tiếng về chuyện này và nói không”, và thêm “Cánh cửa này đã đóng rồi”. Cùng với những vấn đề nổi cộm như cấm ngừa thai và không cho phụ nữ làm linh mục, cấm ly dị cũng là một vấn đề gai góc.
Thật ra, con đường Giáo Hoàng Francis theo đuổi còn cũ hơn Thế Kỷ 19 ít nhất 1500 năm, là con đường do Phúc Âm chỉ dẫn. Bởi vì, từ Thế Kỷ thứ Bốn, Giáo Hội không còn theo sát Phúc Âm nữa. Hoàng Đế Constantine, sau khi nhập đạo, đã trộn lẫn thế quyền với thần quyền, trong khi theo Phúc Âm, trả lời câu hỏi của Tổng Trấn Phi-la-tô về việc làm của mình, Đức Giê Su nói rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra, Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga18, 36). Nếu Nước của Đức Giê Su là Nước Trời, “không thuộc chốn này”, tại sao Giáo Hội của Người can thiệp quá sâu đậm vào sinh hoạt trần thế của loài người, từ khi thụ thai đến khi nằm sâu dưới lòng đất? Ở một chỗ khác trong Phúc Âm, Đức Giê Su nói rằng “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng” (Lc20, 34-35). Như vậy, rõ ràng trên Nước Trời không có chuyện hôn nhân, vợ chồng. Đó là chuyện của cõi thế, do luật pháp thế gian quy định. Giáo Hội áp đặt thêm luật lệ nghêm ngặt về hôn nhân, về thụ thai, về sự chết… Phải chăng là một sự lạm dụng quyền bính, trái tinh thần Phúc Âm? Nếu chỉ lo những gì có liên hệ tới “Nước Trời”, còn những gì thuộc về xã hội trần thế như kết hôn, sinh con… hãy để cho cõi thế lo, Giáo Hội sẽ nhẹ gánh hơn nhiều, và cuộc sống con người cũng thảnh thơi hơn.
***
Giáo Hội Công Giáo đã bắt đầu chuyển mùa từ năm 1958 khi Giáo Hoàng John XXIII lên ngôi, và cuộc chuyển đổi đã gặp khó khăn ngay từ thời Giáo Hoàng Paul VI, vào thập niên 60-70. Trước những chống đối, chính Ngài đã nói tới chuyện từ chức, nhưng do bản tính thiếu dứt khoát, Ngài đã ở lại đến khi từ trần. Giáo Hoàng Benedict XVI, không nói trước chuyện từ chức, nhưng khi gặp chống đối ngay trong giới thân cận, Ngài đã bất ngờ từ chức, khi tự biết mình không thể vượt qua được những khó khăn. Trong dịp kỷ niệm hai năm nhậm chức vào Mùa Xuân 2015, đương kim Giáo Hoàng Francis cũng đã nói tới chuyện từ chức, mặc dầu Ngài tỏ ra là một người can đảm. Nhưng can đảm chỉ giúp vượt qua sợ hãi. Chưa nghe nói có ai kéo dài được tuổi thọ nhờ can đảm. Tháng 12, 2015, Ngài đã ở tuổi 79. Cuối năm 2016, Ngài sẽ vượt qua tuổi có thể bầu giáo hoàng. Không còn khả năng bầu giáo hoàng mà vẫn làm giáo hoàng, liệu Ngài có đủ sức vượt qua những khó khăn để hoàn tất cuộc chuyển mùa của Giáo Hội? Trong những ngày tháng còn lại, liệu Ngài có chọn đủ một Hồng Y Đoàn chắc chắn sẽ bầu ra vị Giáo Hoàng kế tiếp sẽ theo bước đi của Ngài? Hay một lần nữa lại trải qua một thời kỳ “gió chướng” hoặc dậm chân tại chỗ?
 
Qua diễn từ đọc trước các giám mục tham dự Đại hội Thế giới về Gia đình (World Meeting of Families) nhân chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng Chín 2015, Giáo Hoàng Francis nói: “Tín hữu Thiên Chúa Giáo không được miễn trừ trước các thay đổi trong thời đại của mình. Thế giới cụ thể này, với tất cả những vấn nạn và khả năng của nó, là nơi chúng ta phải sống, tin tưởng và tuyên xưng” (2).
 
Không được miễn trừ trước các thay đổi của thời đại, nghĩa là Giáo Hội cũng phải thay đổi cho hợp thời. Không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải.
 
__________________________________________
1- http://www.catholicstand.com/109/
2- “Christians are not immune to the changes of their times,” Francis said. “This concrete world, with all its many problems and possibilities, is where we must live, believe, and proclaim.”
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0