Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện tình Paris - Dương Bình Nguyên 🔒

15 trả lời, 35 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn Chuyện tình Paris
Tác giả: Dương Bình Nguyên
 
 
Thư cho người yêu dấu...
 
Cuốn sách này tái bản, và nó đã khác với bản in lần đầu tiên. Tôi đã giữ lại “Chuyện tình Paris” vì muốn đưa nó vào một cuốn sách khác, với một mong muốn nó sẽ được đặt trong một chỉnh thể khác. Và tôi chọn những truyện mà bạn đọc của tôi, những người tôi gọi là người - yêu - dấu, nhắn tin qua Facebook rằng, họ muốn có nó trong tập sách này. Như cảm giác đọc lại những gì tôi viết trên báo khi bắt đầu chập chững cầm bút. Như một chỉnh thể khác được thiết lập. Tôi muốn làm điều này, để tri ân những bạn đọc của mình.
Đến tận lúc này, tôi vẫn chưa dám tin rằng, văn chương đã mang đến cho mình một cái tên. Tôi chỉ nghĩ rằng, nhờ văn chương, dù là được viết ra từ lúc đơn sơ nhất cho đến lúc dụng công nhất, tôi đã có được thêm những người bạn. Truyện ngắn của tôi thường mang nhiều tâm trạng và tôi hay viết vào những lúc thấy mình không yên ổn. Chính vì thế nó ít khi vui. Nên khi bạn đọc những trang viết của tôi, là bạn đọc cả những trạng thái ấy. Khi bạn đồng cảm với nó, nghĩa là bạn đã đồng cảm được, chia sẻ được phần nào tâm trạng của tôi khi viết ra những dòng chữ này.
Tôi vẫn luôn nghĩ rằng, cuộc sống của ngày hôm nay là một dòng chảy mạnh. Và tôi buộc phải bước vào dòng chảy ấy. Thời gian qua tôi viết chậm chạp hơn. Vì bận làm việc. Bận sống hết mình. Và bận nghĩ suy rất nhiều điều trước những biến cố trong đời. Nhưng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ mình sẽ bỏ việc viết văn. Bởi vì nó như một niềm vui riêng, một phần để tôi tĩnh tại trong dòng chảy ồ ạt này. Bạn hỏi, khi nào tôi sẽ có thêm tác phẩm mới. Chính tôi cũng hỏi mình câu hỏi đó. Nhưng có lẽ, tôi đã không có được câu trả lời chính xác. Vì viết thì không thể vội vàng...
Cuốn sách này rất mỏng, điều này có làm bạn băn khoăn? Tôi đã viết nó trong gần hai năm. Và khi tôi chọn đưa vào tập sách, tôi muốn nó chỉ trên dưới hai trăm trang. Vì tôi thích như thế. Tôi thích bạn có thể đọc hết nó trong một chuyến bay từ Sài Gòn về Hà Nội. Hoặc cũng có thể bạn đọc nó trong những quãng nghỉ ở trạm chờ xe bus, quán cà phê. Bạn có thể mang nó theo người, nhẹ nhàng như một chiếc Ipad nhỏ. Tôi nghĩ, nó thuộc về cuộc sống hôm nay...
Tôi muốn bạn đọc cuốn sách này, với sự chia sẻ. Bởi vì tôi chỉ có một mong ước như vậy trong suốt hành trình viết của mình.

Sài Gòn 12.2010
Dương Bình Nguyên


📎 ctp
0
Trời cao trong vắt
 
Hạnh phúc chứa mầm của những cơn bão.
Trong bóng tối của khu vườn ẩm ướt, trong mùi hoa dạ hương ngọt đậm muốn ngất đi và trong tiếng chân chuột sột soạt giữa những bụi chuối già cũ, tôi biết mình phải cố quên đi.
Ngồi bên tôi là anh trai, gương mặt phẳng lặng như bóng tối phía trước, điểm sáng duy nhất là đốm thuốc vụt sáng vụt tắt theo mỗi nhịp môi thở. Tóc anh trai dài như một mớ rễ tre, phủ tràn hai vai rộng. Và mỗi khi anh nói, giọng anh như hắt lên từ những chum vại ẩn mình trong lòng đất, hắt lên từ những chén rượu nhỏ giọt ăn sâu vào thanh quản. Anh trai bảo, nếu thấy mình khó sống ở đó, thì tìm nơi khác. Không tìm được thì đi về. Tôi ngồi im. Đây là lần thứ mấy rồi anh trai nói thế. Nhưng tôi lại chẳng muốn về.
Anh trai hút thuốc rất khuya và thường ngắm nhìn bầu trời một mình, chưa khi nào anh tỏ ra nao núng và buồn phiền. Hay giả chăng không ai thèm biết tới những điều đó. Tôi bảo: “Về quê thấy nản, chẳng biết làm gì”. Anh trai rít thêm một hơi thuốc: “Tùy! Cũng chẳng còn non dại gì. Thế bao giờ lại đi?”. Tôi chưa biết khi nào đi. Tôi ngồi lịm trên phiến đá dài trong vườn, cho đến khi anh trai tắt thuốc, tay vỗ sương xuôi vai áo tôi: “Vào đi, trời lạnh”. Tôi theo anh trai vào nhà. Đã im lìm tất cả. Chỉ còn bóng tối và những làn hơi thở thao thức.
* * * * *
... Bạn đến nhà tôi theo lối cửa sau. Một bà già đeo phẻn dao, nhổ cốt trầu tì toẹt, mặt mũi phờ phạc như vừa thoát cuộc chạy giặc giữa tuổi loạn ly. Theo sau bà là đứa con gái dính đầy tay màu chàm tươi, mặt xước đỏ như vừa chạy qua rừng rậm đầy mây móc. Bà già bảo bố tôi, nó còn quá bé, mà mẹ nó mất chiều qua, bị cơn hậu sản từ ngày mới sinh, hấp hối chỉ dặn mang nó về nhờ ông chăm sóc. Bà già không phải ruột rà gì của bạn. Chỉ là một người láng giềng tốt bụng. Hay đại loại một người thân quen nhưng không thể, không đủ sức cưu mang một đứa trẻ, bởi một ngày nào đó nó sẽ lớn lên, nó sẽ đòi hỏi một cuộc sống khác mà những người cưu mang nó buộc lòng phải tăng cường trách nhiệm và san sẻ quyền lợi. Bà già nhổ cốt trầu, nhìn kín đáo ra ngoài ngõ, rồi bảo bố tôi, từ ngày ông không qua đó, cô ấy buồn thảm tưởng rụng cái thai. Thế nào rồi vẫn sinh ra nó. Chẳng biết bố nó bây giờ làm gì? Bố tôi hút thuốc sâu kèn đỏ cả bờ môi, chỉ lắc đầu nhìn bạn. Được rồi, bà cứ về, nó sẽ là con út của tôi. Bố nó đi rồi, nghe đâu chết sập mãi mỏ than làng Hít, xa xôi lắm, chẳng tìm được xác về. Bà già lắc đầu kinh hãi, chiếc nón lá cọ của người Thổ lập cập đội lên đầu rồi lại theo lối cửa sau ra về. Bạn không chạy theo, mặt lầm lì nhìn bố tôi như thể biết chắc điều này sẽ đến từ khoảnh khắc rất lâu nào đó trong cuộc đời. Rồi hỏi, bây giờ bác là bố cháu hả? Bố tôi gật đầu. Lại hỏi, bác có thương cháu bằng thằng kia không? Bạn nhìn tôi. Tôi rất ghét bạn nhìn như thế. Bố tôi lẳng lặng gật đầu. Ông hiền lành như củ sắn. Bạn bảo, từ lâu lắm rồi, cháu chỉ thèm có bố, ai đi qua nhà mà ở lại với mẹ, cháu cũng thích được gọi là con. Và cháu sẽ gọi người đó là bố. Tôi bảo, mày im ngay, tao đập chết. Bố mày là quân kẻ cướp, chết sập lò than. Bố tao là bố tao chứ. Bạn lao đến, ôm chầm lấy cổ bố tôi. Tôi chạy lại, kéo tóc bạn giật ngược. Cái cảm giác độc ác đó bám riết lấy tôi, để đến bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi chỉ muốn khóc, khóc thỏa thuê như những đêm khuya rỗng ngực trong căn phòng trọ tồi tàn mà nhớ về tháng ngày xưa cũ đã vĩnh viễn không thuộc về mình nữa. Khi đó mắt bạn mở to, bạn duỗi thẳng chân trên nền nhà. Tịnh không một tiếng khóc. Bạn vùng dậy, định lao tiếp đến chỗ bố. Tôi đứng chắn ngang. Bạn lao đến, đấm túi bụi vào ngực tôi, đấm quyết liệt như thể dồn mọi sức lực của mình chỉ để giành quyền gọi một người đàn ông xa lạ là bố. Tôi giận run người, tát bạn đến quay lơ trên sàn. Cũng lúc ấy, tôi thấy mắt mình hoa lên và má mình bỏng rát. Tôi ngã vật ra nền đất. Lần đầu tiên trong đời, người đàn ông hiền từ nhất mà tôi từng biết đã đánh tôi, rất thật và rất đau đớn. Rồi ông nâng hai đứa dậy. Ông nâng hai đứa trong vòng tay cáu đầy nhựa chè và đôi mắt đỏ quạch, không biết vì nước mắt, vì khói bụi hay vì những đêm thao thức bởi một ký ức xa vời nào. Bố nhìn bạn và nhìn tôi, rồi ông nói, hãy yêu thương nhau như hai anh em, bởi đó là cuộc sắp đặt của trời đất. Tôi nhìn bạn. Bạn nhìn tôi. Im lặng. Cuộc chạm trán đầu tiên trong căn nhà này đã khiến chúng tôi bị chìm lẫn vào đời nhau trong từng nghịch cảnh, từng nỗi đau và từng mất mát.
* * * * *
... Những ngày tươi đẹp vốn đến như một bóng nắng. Tuổi thơ của chúng tôi trôi đi như dòng nước lũ, trôi cả bèo bọt phù sa lẫn những lắng bồi của ngàn năm suối sông, của đất đai đồi núi. Nhà tôi nằm cuối thị trấn. Cái thị trấn buồn thảm với những cây bàng bị cụt ngọn đều đặn như những chiến binh dũng mãnh bị phạt ngang thân vẫn kiên trung bảo vệ thành trì. Những cây bàng già nua và kiên cường trước gió mưa dễ đến trăm năm, đếm từ cửa ngõ thị trấn nơi con suối Đầu Đẳng cắt ngang phiến đất rộng của thung lũng làm đôi cho tới khi hụt hơi đầu cuối của những mái hiên lúp xúp được chín mươi chín gốc. Những ngày mưa phùn gió bấc, người ta hay nhìn thấy những bóng áo trắng tha thướt lướt qua, như những giấc mơ chưa kịp hồi sinh đã miệt mài đi mất. Để hôm sau hàng phố mê mải trong những lớp lang câu chuyện từ thời hồng hoang, nhưng tất cả đều hoảng sợ nếu một mai lỡ sét đánh cây bàng đầu tiên trong phố chết đi, hẳn tai họa sẽ ập đến như lời báo ứng của ông thầy phù thủy giải oan những cái chết đầy tức tưởi vì thất tình hay nợ nần cờ bạc nơi con suối Đầu Đẳng.
Mẹ tôi có sạp hàng nhỏ ở chợ. Còn bố tôi sáng sáng đeo dao vào phẻn, sách thạ vào trong núi, lo làm mấy nương chè. Tay bố tôi lúc nào cũng cáu nhựa chè, đen bóng. Một ngày, bố làm việc mười mấy tiếng, lầm lụi và không phàn nàn. Chè mang về nhà, ông lại nhóm lò, rồi hì hụi rang sao. Những cánh chè đen thơm phức và mồ hôi bố tôi ướt đầm áo. Bạn thường đun củi trong lò giúp bố tôi. Những lúc như thế, bố rất cảm động. Tôi không có thiên hướng ấy. Tôi lười biếng những công việc chân tay. Tôi thích đọc sách, thích nghĩ về thế giới với những sắc màu kỳ diệu và một thành phố ở đâu đó phía xa kia. Tôi nghĩ rằng, mình vĩnh viễn không bao giờ làm những công việc mỏi mệt và chán ngắt như thế kia. Để ngày mai mẹ tôi đem ra chợ, bán chè được mấy đồng bạc lẻ, mua đủ một cân thịt lợn, vài mớ rau. Sự nhạt nhẽo của thị trấn khiến tôi luôn nghĩ rằng, nếu như tôi có thể thành nhà văn, điều đầu tiên tôi sẽ phải mô tả thành công là cái tẻ nhạt và buồn thảm của nó, nhất là mỗi độ thu tàn và bắt đầu chớm đông.
Bắt đầu vào những ngày đông, những nương chè của bố tôi dường như câm lặng và không thể nảy chồi lên được. Bố tôi tha thẩn đi quanh đó và nhặt cỏ, cuốc đất... Nhìn từ trên núi xuống thấy bóng bố lúp xúp như một cây nấm thật bự, cứ tồi tội. Tôi ngồi đó và nhìn thấy tháp truyền hình cũ kỹ từ phía thành phố (cái thành phố mà về sau này lớn lên tôi mới biết nó giống như cái thị trấn bé xíu bao gồm những tòa nhà hộp diêm xếp liền nhau) mà thèm thuồng. Tôi nhìn hút về phía đó, nghĩ đến một ngày mình sẽ thoát xác thành một nhân vật nổi tiếng, tất cả đều ứ đầy trong những ngăn ước mơ riêng biệt và chật hẹp. Còn bạn, trong những tháng ngày đó, sau khi những trang sách đó gấp lại, bạn đã nghĩ gì, đã làm gì?
* * * * *
... Những ngày mùa đông thị trấn buồn âm u buồn. Bọn choai mới lớn lê lết trên những quán rượu ốc, uống thứ nước đục lờ như nước vo gạo rồi gào rống lên từ đầu phố tới cuối phố. Người già không đi ra đường, mang những khuôn mặt ảm đạm trùm chăn đến cổ ngồi xem ti vi, những chiếc ti vi đen trắng rọt rẹt đêm ngày. Nếu nghèo hơn thì vừa nằm nghe radio vừa lơ mơ ngủ. Mẹ tôi thường về nhà lúc chiều muộn, mang theo mớ rau củ hành, vài con cá biển khô và kho mặn. Bà thổi bếp lúc đã nhập nhoạng và những bữa cơm lấp liếm qua ngày. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng, trong một khoảnh khắc nào đó của thời thơ ấu mà bạn nghĩ suy một cách nghiêm túc và minh bạch về những vấn đề lớn của cuộc đời, thì những dự định ấy sẽ bám đuổi cho tới khi bạn giã từ mặt đất. Những ngày đó, trên những ngọn đồi dài và nhìn về thành phố, tôi nghĩ mai mốt mình sẽ trở thành một người nổi tiếng với những tác phẩm thành công rực rỡ. Tôi sẽ có những cuốn sách mà người khác nhét vào hộp carton và lần hồi đem ra đọc từ ngày này qua tháng khác. Mẹ tôi bảo, viết ra ba cái cuốn sách cóc gặm, chẳng ma nào thèm xem. Ở nhà mở tiệm cà phê bán có khi còn sinh lời lãi. Chúng mày học cái thứ gì mà sao tốn tiền nhiều quá, cái sạp hàng của tao cứ mòn mãi cho mấy cái chữ to chữ nhỏ của chúng mày. Bây giờ, khi đang viết đến dòng này, tôi lại tìm đến những trang nhật ký cũ, khi ấy tôi từng khóc nhòe nhoẹt những dòng chữ yếu đuối và thảm hại. Nhưng tôi vẫn viết rất đau đớn và kiên quyết. Tôi không muốn suốt ngày loăng quăng đến cuồng chân trong từng ấy con phố, từng ấy ngõ ngách và buồn với chỉ từng ấy nỗi buồn...
* * * * *
... Anh trai lục tục ngồi dậy, hút thuốc. Ngoài trời sương rơi nặng hạt, tiếng lộp bộp qua những tàu chuối như tiếng bầy chim sẻ sột soạt gọi nhau mỗi ban mai trước hiên nhà. Anh thường rít thuốc rất sâu và ươm lâu trong cổ họng, mãi sau mới phả ra bằng mũi. Anh trai nghiện thuốc rất nặng. Hồi cuối kỳ trung học, viện cớ học thi, anh mang cả tút thuốc lá không đầu lọc về trong phòng hút một cách lén lút. Mẹ tôi biết, rất giận. Nhưng nhìn thấy anh học hành ghê quá, nghĩ tội lại thương. Hồi đó mẹ kỳ vọng rất nhiều vào anh. Mẹ mua cho anh những bộ quần áo đẹp nhất chợ, chiếc cặp của anh cũng được mua từ mãi Thái Nguyên về. Mẹ muốn anh thành thầy giáo, như ông chú tôi, dạy đám học trò ở trường cấp hai thị trấn. Rồi anh sẽ lấy một cô vợ xinh xắn, làm hàng xén chẳng hạn, rồi có hai đứa con cho mẹ bế bồng. Anh hút thuốc nhiều, mặt sắt lại và năm đó anh bước vào phòng thi tốt nghiệp với cái cổ họng sưng tấy. Anh làm bài không tốt. Khi đó mẹ đổ thừa cho thuốc lá. Anh trai thi trượt. Bố xấu hổ với người hàng phố. Nhưng đó chưa phải là những ngày ảm đạm nhất trong nhật ký gia đình tôi.
Anh trai thi trượt, hút thuốc lào xòng xọc như mấy cụ già cuối phố. Rồi anh theo mấy thằng trai mới lớn, uống rượu ốc và cưa gái dọc đường. “Không học đại học cũng chả chết” - mẹ tôi kết luận thế sau hai tuần nhìn anh trai phờ phạc. Mẹ tôi bảo sẽ mở thêm cho anh một sạp hàng vải ở chợ. Giật gấu vá vai buổi đầu, mai mốt sang hèn là do cái lộc, cái duyên buôn bán. Tôi thấy anh trai tồi tội. “Anh bỏ hút thuốc được thì thật tốt”. Anh trai không nói lời nào. Hôm sau anh vẫn hút. Và cả hôm sau nữa vẫn hút. Hút cho đến bây giờ.
Anh vẫn ngồi bên bàn nước, hút đăm chiêu và miên man những suy nghĩ. Rồi anh bảo: “Mày có uống nước thì dậy”, chè mới, thơm thật thơm. Tôi nhỏm dậy. Trời đã chuyển về sáng. Ngoài phố, tiếng những xe tải đổ bộ từ phía Cao Bằng, Bắc Kạn ầm ì xa gần. Ngoài vườn, sương vẫn không ngớt. Tôi ra ngồi cùng anh trai. Mùi nước chè mới, thơm ngai ngái. Cái mùi lạ kỳ. Từ trong thẳm sâu tâm hồn mình, từ một xứ sở nào đó, bất chợt bắt gặp cái mùi hương ấy tôi lại nhớ tới bố với cái thị trấn tưởng như nhạt nhẽo này. Nhưng rồi, mọi việc cuốn đi đến mức tôi không còn thói quen pha chè để uống vào mỗi ban sáng. Chè túi lọc ngoại quốc dễ pha và sạch sẽ. Những cô gái tôi quen về sau cũng bị quyến rũ bởi những mùi hương đến từ xứ sở xa vời nào đó. Họ mơ hồ nghĩ về những cánh chè đen của bố tôi. Những lúc ấy, tôi âm thầm nghĩ, lén trộm nghĩ về bạn của ngày ngu ngơ tặng nhau những bông hoa bồng bé dại và ngu ngơ lo sợ về một ngày mai xa vời nào. Để đến bây giờ về lại mái nhà này, uống chè với ly tách cũ này, mới thấy sao mà lạ lùng, sao mà quen thuộc. Ngày tháng trôi nhanh trong những bề bộn. Chả mấy chốc mà tự tôi biết mình cũng đã già.
Anh trai hỏi, lâu ngày có nghe tin gì không? Tin gì là tin gì? Thì cô ấy? Cô ấy à? Không nghe! Tôi không muốn nhắc đến bạn với anh trai. Cái cảm giác ấm ức lập tức bao trùm lấy tôi, giống như bóng tối của khu vườn muốn trùm lấp mọi sinh khí của ngôi nhà trong những đêm tối như bao đêm đã qua của gia đình tôi. Bạn và tôi, trong thẳm sâu nghĩ suy, trong những giấc mơ không ướt áo mồ hôi, không sùng sũng đũng quần như giấc mơ của anh, tôi biết tôi và bạn đã đi qua một ranh giới trong tâm thức, từ cái buổi bạn kéo tôi xuôi cầu thang trong ngập tràn nước mắt.
Mười bảy tuổi, bạn đẹp như bông hoa rhum trên gùi người Mông, không khoe khoang nhưng cũng chẳng giấu diếm cố tình. Người con gái mùa hè của tôi, nước suối mát và nước suối ôm bạn trong vòng tay mơn man. Ngực tôi như muốn cháy bùng lên thành một ngọn đuốc. Mười bảy tuổi, trái tim non tơ yêu đương vĩ đại. Giá mà được nhào đến, được ôm chầm lấy mùa hè ấy, ngấu nghiến non tơ ấy, được chìm trong khuôn ngực mưng mẩy tình yêu và một dòng sông con gái tơ non ẩm ướt. Đã có bao nhiêu đêm, tôi ngồi trên cây bàng phủ đầy bóng tối mà thấy phía dưới hông, phía dưới những vùng cỏ dại tươi mới là cơn đau tức nhột nhạt. Tuổi mười bảy căng đầy muốn phá tung mọi hệ lụy và rào cản, để nhảy tràn xuống trăng sáng, xuống vùng thịt da tươi tắn và náo nức dậy thì. Nhưng tôi bất động trên thân cây bàng cụt ngọn, để rồi rên lên trong khoảnh khắc cuối cùng lạnh đỉnh tủy sống. Một dòng đàn ông ồ ạt vung vãi nơi đáy quần, một dòng khởi thủy cho cuộc đời của gã trai bị vây bủa bởi những cám dỗ của tình dục khó cưỡng.
Nếu tôi đủ sức mạnh, tôi sẽ một lần cưới bạn làm vợ.
Nếu tôi đủ sức mạnh, có thể tôi đã không để mất đi những nỗi khát khao tinh khiết ấy. Để bây giờ tôi khỏi phải trở về, khỏi phủ nỗi buồn của mình lên bóng tối của căn nhà lao xao chân chuột.
Tôi đã không giữ được tuổi mười bảy của bạn. Tôi đã nhìn thấy thân hình ấy lao đến bạn, đã gần như ngất đi trên thân bàng cụt ngọn rồi lăn vào lòng suối. Một cuộc vật lộn hoặc đơn giản là những kẻ cuồng loạn đánh nhau vì một điều chưa hẳn đã là của mình. Chỉ đơn giản là sự điên cuồng trong một phút chốc nào đó của tuổi trẻ. Một bàn tay như gọng kìm siết lấy cổ tôi. Tôi thấy mình như ngất đi. Ngất lịm. Và trôi cùng rong rêu đá sỏi của con suối Đầu Đẳng. Tôi nghĩ mình đang chết. Tôi chết khi chưa trực tiếp nhấn chìm mình trong một dòng sông nào, chưa từng biết mùi hương nồng nàn đàn bà hay cảm giác một cái ghì, một tiếng rên con gái. Tôi chết mà không thể cứu bạn. Tôi này, sao mà tôi nhiều tham vọng, tôi hèn nhát biết bao nhiêu.
Tôi đã nằm đó không biết bao nhiêu lâu cho đến khi tôi nhận ra những tiếng thầm thì, những ấm ức rên xiết, những nỗi buồn được sổ lồng thành những tiếng kêu của tự do hoan lạc. Tôi nhìn lên những phiến đá dài. Như thể đã từ đó mà sinh ra vạn vật. Như thể đã tràn trề nhan sắc của tự nhiên. Ào ạt. Vội vã. No đầy. Vậy mà trái tim tôi như thủy tinh vỡ. Những tiếng kêu của một thiên đường đã bị hủy diệt. Tôi đấm lên trái tim mười bảy của mình những cú đấm lạc điệu. Cuộc ái ân đó, như mệnh trời, đã không thuộc về tôi. Tôi đấm vào gốc cây bàng cụt ngọn. Cây bàng im lặng, như mỉa mai. Tôi đã không còn lại điều gì. Tôi nghĩ mình sẽ bỏ đi. Thiên đường ấy đã vĩnh viễn đi mất...
Tôi im lặng. Tôi bỏ về. Nhà tôi phủ đầy bởi bóng tối của khu vườn những ngày cuối tháng.
Đôi khi, nghĩ lại những ngày tháng ấy, nghĩ lại những giấc mơ chán nản ấy, tôi vẫn cứ nghĩ phải chi chúng tôi đừng gặp nhau, đừng liên quan đến cuộc đời nhau, có thể mọi thứ sẽ tốt hơn, đẹp đẽ và đầy thành kính.
* * * * *
Tôi có một mái nhà để trở về chữa lành những vết thương. Rồi tôi lại hối hả về thành phố, đốt cháy mình, tàn phá cuộc đời mình. Những đứa như tôi, mọi thứ đều mơ hồ. Tôi đã thả mình vào biết bao cuộc vui, để rồi thấy mình là một kẻ cô độc và nhạt nhẽo. Bao nhiêu ngày tháng sống cật lực chỉ để nhận ra mình bất lực trước quá nhiều điều. Đi mãi mà vẫn chẳng thấy lối, chỉ thấy những đám lửa hừng hực cháy phía thành phố. Nhiều khi tôi ước mình biến thành một làn hơi nước, có thể bốc thành những sợi mây rồi thả mình vào một đám mưa cuồng loạn, tung tăng vui trong một dịp bất thường, và làm xanh biết bao cây lá.
Nhưng tôi nào có làm được gì. Gia đình tôi những năm tháng tuyệt vọng ấy như một cái lò sao chè. Nóng ran. Và nhớp nháp. Bạn bỏ đi vào một lúc không ngờ nhất. Bố khóc. Tôi đã từng muốn đập tan mọi thứ. Tôi muốn tát vào khuôn mặt cương nghị của anh trai. Nhưng cuối cùng, tôi nào có làm được gì. Tôi và bạn, chúng tôi lạc nhau suốt mười mấy năm...
* * * * *
... Hà Nội những ngày mùa thu, trời chợt đẹp như một thiếu phụ không có thói quen đi thẩm mỹ viện. Đẹp trễ tràng và không phấn son. Nhưng tôi thì đang khóc. Đêm qua, trong cơn mê sảng của rượu, tôi đã thấy gì? Những cái bóng lướt qua nhau, vùn vụt, trong những căn phòng hẹp...
Tiểu Thiên, cô người mẫu tôi quen có người yêu là đại gia. Cô muốn dẫn tôi tới bữa tiệc sinh nhật của hắn. Nhìn tôi, cô hỏi, anh có chuyện gì buồn phải không? Tối anh đi cùng em, em sẽ giới thiệu cho anh đứa bạn, nó rất biết cách làm cho người khác sung sướng. Tiểu Thiên cười rinh rích. Tôi đi với Tiểu Thiên. Tôi nhìn cô gái ngồi bên cạnh, thấy có chút gì đó thật thân thuộc. Một chút đồng ruộng, cả phù sa hay đồi nương trôi theo ánh mắt là lạ. Tôi bất chợt hỏi, nhà em ở đâu? A, nhà em ở xa. Nói rồi cười, hồn nhiên. Tôi bảo, nghe giọng Nhài như ở biển lên. Nhài bảo, thực ra thì anh chẳng có tài năng gì đáng nể, ngoài chuyện nghe giọng đoán quê hương. Rồi cười. Nhài hồn nhiên quay qua ôm hôn tôi thắm thiết. Môi cô đỏ mọng, ngực phập phồng ép sát, quả là không thể không bị hấp dẫn. Tôi không kịp phản ứng gì. Hôn xong thì cô cười phá lên, anh chưa biết hôn. Đúng là nai tơ. Nhưng em thích anh ở điều ấy... Chúng tôi ngồi trong phòng máy lạnh, những cô nhân viên mặc đồng phục váy ngắn nhộn nhịp qua lại. Và tôi như muốn đứng bật dậy, khi nhìn thấy bờ vai ấy, bờ vai có vết sẹo như một chiếc mỏ chim. Nhưng vết sẹo đã mất. Không để lại dấu vết nào.
Tôi mệt mỏi chạy dọc những dãy hành lang đầy ắp người, vỏ bia, mùi phấn son lẫn mùi rượu. Vô vọng. Tôi nói với Tiểu Thiên, tôi muốn đi về. Xe chạy ngoài đường đêm, những ánh đèn chạy xéo qua gương như những vết xước của thành phố. Đúng lúc ấy Nhài gục vào vai tôi, thở nhè nhẹ, em chẳng muốn về nhà chút nào. Tôi khẽ gỡ tay Nhài ra, không nói. Đến ngã tư tôi xuống. Tôi đi bộ về nhà. Con ngõ tối như cái hũ nút đêm Ba mươi Tết. Tịnh không còn le lói một chớp đèn. Và lúc ấy, trong đêm tối tôi thấy mình thực sự thành thật, rằng sao mà tôi thấy buồn. Buồn rũ...
* * * * *
... Anh trai lại rót chè ra chén, tiếp tục uống. Uống vì một thói quen. Hoặc vì một nhu cầu bức bách của những ý nghĩ. Rồi đặt chén xuống. Rồi có tìm được không? Anh trai hỏi, mắt nhìn ra bầu trời. Anh à, em muốn nói, đây là chuyện anh em mình, chẳng cần cho bố mẹ biết. Tuổi già, như gió lại như sương... Chúng tôi ngồi cùng nhau bên bàn trà. Từ rất lâu rồi, chúng tôi không có những cuộc chuyện trò trực diện như thế. Trời đã nhấp nhỉnh sáng. Con gà trống nhốt trong lồng lúc túc kêu lên, rồi bất giác te te gáy. Tiếng gáy uất ức của một thứ tù đày đanh khỏe.
Tôi có gặp lại bạn không?
Tôi không gặp lại bạn?
Hay tôi đã gặp mà tôi vô tình không nhận biết?
Tôi không chắc.
Tôi đi tìm vết sẹo hình mỏ chim trong nhà hàng ấy nhiều lần. Tôi luôn nghĩ rằng, chúng ta có thể đánh mất cả cuộc đời trong phút chốc, nhưng ký ức là cái còn lại. Và đôi khi chúng ta phải nương vào nó, đi tìm lại mình.
Tôi gặp vết sẹo hình mỏ chim vào một lúc không ngờ, khi tôi cảm thấy tôi bị lạc cô vĩnh viễn. Khi tôi chuẩn bị trở về nhà, khi tôi đi ngang qua cây cầu cũ, trong thành phố buổi sáng sớm đầy khói, như những đám mây bay lững lờ qua những nóc nhà. Tôi không nhận ra nét thân yêu nào trên khuôn mặt bạn. Bạn lững thững đi trên những thanh ray cũ của cây cầu cũ. Thời gian đánh rơi của tôi quá nhiều điều. Hay tôi tự đánh rơi, cũng không biết nữa. Chúng tôi đứng lặng nhìn nhau thật lâu. Cảm giác những chiếc thuyền dưới chân cầu cũng như dừng lại. Cô gái mùa hè của tôi đã đi đâu trong suốt những tháng năm qua. Để trong thành phố nhỏ hẹp này, tôi không gặp? Để bây giờ tôi hồ nghi, dường như cô đã đi qua một cuộc đời khác. Không còn cuộc đời nào dành cho tôi... Em vẫn đọc báo, và biết anh đã thành công. Tại sao em biết, mà không đến gặp? Vì em chỉ muốn đến khi anh thất bại. Tại sao? Bởi vì chúng ta không phải là món nợ của nhau. Khi anh thất tại, em sẽ đến và chúng ta cùng bắt đầu. Để bước tiếp... Giờ anh cũng chẳng còn gì. Kể cả em...
... Trời sáng. Bố mẹ tôi đã ngồi trong bếp, nướng những củ sắn già. Từ lâu, họ như đôi bạn lặng lẽ, kiệm lời và hai bàn tay thường nắm vào nhau. Anh trai nói, anh muốn gặp lại cô gái ấy một lần. Tôi hỏi, để làm gì? Anh trai không nói. Rót hết những giọt cuối cùng trong ấm chè đã cạn. Anh trai vươn vai đi ra vườn. Tôi biết, ngày mai anh sẽ ra đi.
Tôi mở toang cửa nhà. Thị trấn đón một ngày bằng bầu trời trong vắt, lặng thinh...

0
Người con gái không đợi nơi đầu dốc
 
Không còn ai đứng đợi tôi trên đầu dốc nữa.
Cô gái ấy đã đi rồi. Tôi nghĩ là cô đi lấy chồng. Cả thị trấn nói cô bị bán qua Đài Loan. Tôi chậc lưỡi, qua Đài Loan cũng là một cách lấy chồng. Cô ấy đẹp. Đàn ông nào cũng sẽ mê gái đẹp. Nhưng tôi tiếc một người đã đứng đợi tôi suốt bao nhiêu mùa đông trên đỉnh dốc có cây thông già như mái nhà rông...
Thị trấn bây giờ rất khác, nhà xây đẹp lên nhiều, mọi thứ đều khang trang. Thế nên cây thông đầu dốc bỗng trở nên chênh vênh. Người ta đang bàn xem có nên đốn hạ nó hay không, nếu hạ gỗ xẻ ra cũng được vài chục khối, bán đi cũng được một món tiền, chia nhau cũng đủ một cái Tết. Nhiều người thấy tiếc vì dù sao nó cũng là nơi trú ẩn của biết bao miền ký ức. Tôi đọc ở đâu đó rằng, ký ức là nhiên liệu cho sự sống. Ắt hẳn cái cây già này là một thứ nhiên liệu tỏa hương ấm suốt những mùa đông. Tôi được gọi về vì tôi là người học cao học rộng nhất con phố nghèo này. Người ta muốn nghe cái lý của người có chữ. Tôi về. Thực ra không đủ sến để buồn thương cho một đời cây. Nhưng cũng thấy tiếc vì suốt một tuổi thơ bóng mát. Cuối cùng mọi người đồng ý để lại, chỉ vạt bớt những cành già chùm lên một mái nhà. Cây thông còn. Riêng cô gái ấy thì đi mất.
Tôi hỏi cha tôi, cô ta đi đâu? Cha tôi bảo, nó đi đâu mặc xác nó. Sao mà mặc xác? Ngày xưa con yêu cô ấy đấy chứ? Thế sao mày không ở nhà mà giữ? Mày đi đú đởn với gái phố, giờ về ủ rũ tiếc thương cái gì? Vớ vẩn! Cha tôi là thể loại đàn ông khẩu xà tâm Phật, lúc nào cũng muốn bổ vào mặt người khác. Người như thế thì tốt bụng, nhưng không được đàn bà ưng. Thế nên tôi chẳng cần hỏi cũng biết vì sao mẹ tôi đi mất. Mẹ tôi đi khi tôi còn chưa biết buồn. Tôi chỉ tiếc người con gái chờ tôi nơi đầu dốc, đưa cho tôi những quả sim chín mọng rồi chạy ù lên đồi, giấu mình sau những lùm cây. Cô gái thật ngốc!
Cha tôi có một vóc dáng đẹp. Ông có được một món của lớn ông nội tôi để lại, nên sống một đời nhàn nhã. Nhưng như một cái mệnh, cha tôi không giữ được cho mình một người đàn bà. Khi tôi mười bảy tuổi, tôi phát rồ phát dại lên không hiểu vì sao cha tôi sống được như thế bao nhiêu năm. Đôi khi tôi vật vã ân hận vì tôi đã lấy đi của ông cả sinh lực và những ham muốn của một người đàn ông. Tôi đi tìm cho cha tôi những người đàn bà quá lứa lỡ thì. Họ say cha tôi như điếu đổ. Cha tôi cười khinh khỉnh, nhóc con đừng có mà điên. Rồi nói như bổ vào mặt người ta. Người ta khóc, bỏ về. Cha tôi thêm tiếng hâm gàn. Cha tôi chắc muôn đời không thể lấy thêm được một đời vợ.
Năm nay mùa đông như đến rất sớm. Hoặc vì tôi thấy thị trấn rất vắng khi cô gái ấy không còn chờ mình mà thấy lạnh lòng. Lòng tham của con người ngộ thật. Thỏa thuê mọi chốn mà tôi vẫn thấy mất mát khi cái mà mình ngỡ như mặc định ở đầu dốc ấy bỗng chốc ra đi. Rõ ràng cô ta không thuộc về tôi, dù có yêu tôi trong chốc lát, tình yêu như một trò chơi thi vị. Tôi thích một người chờ đợi. Nhưng tôi không có ý định cưới cô làm vợ. Đôi khi tôi tự giải vây tội lỗi cho mình rằng, trong máu của mọi gã đàn ông đều có dấu vết của Sở Khanh.
Dạo này cha tôi tân kỳ hơn xưa. Ông mua một chiếc điếu cày kiểu cọ bắt mắt hay thấy các đại gia trong phim truyền hình Việt Nam sử dụng. Một cái gốc hóp được vót kỳ khu, những cái rễ như những bộ râu thêu rồng vẽ phượng. Cha tôi bảo ông mua cái này trong chuyến đi nghỉ mát. Dạo này dân thị trấn có phong trào nghỉ mát, cứ mùa hè lại thuê một chuyến xe rồi chất nhau lên, nhóc nhách xuống biển. Cha bảo, đi biển toàn thấy đàn ông đàn bà trần như nhộng, phơi đùi phơi mông tênh hênh. Chẹp, chả còn ra làm sao, cứ như là sắp lao vào nhau mà chiến đấu! Tôi không biết cha tôi tắm biển mặc đồ gì. Cha tôi bảo, ông mặc cả bộ quần áo dài, lội nước chơi, nước biển mặn bay vào mắt sợ bị mờ. Ông là người làm rừng, mắt ông phải sáng hơn mắt cáo. Với lại biển chỉ là một bãi nước rộng hơn cái ao, ông cũng chẳng thiết tha. Tôi cười ông, giờ bói cũng chẳng còn rừng, cái thị trấn này đã nhốt rừng vào những căn nhà, biến hình rừng thành tivi, sập gụ, là những chiếc tủ lạnh chỉ để làm đá lạnh thả vào cốc nước đun sôi cho giống thành phố mùa hè. Cha tôi vẫn thích được gọi là thợ rừng. Nhưng thực ra ông đã quanh quẩn bộ sa lông bóng loáng của mình mười mấy năm.
Cha tôi có một bình rượu rắn rất to. Những con rắn ngóc đầu trong màu rượu sánh. Cha tôi nói rượu rắn chữa được bệnh đau khớp, đau lưng. Ông thích chiết một cái bát sành rượu rắn cốt, rồi pha với rượu gạo mới nấu, ngồi nhâm nhi và kể về những cuộc vây bắt rắn hổ mang. Tam xà, ngũ xà...và những tích tục của những bầy rắn trong bình rượu, đó là một cái hứng bất tận. Mỗi đêm trong ánh bếp lấp loáng, bất giác nhìn vào cái bình óng ả với những đầu rắn nhấp nhô, tôi thường cảm thấy sống lưng mình dựng đứng, như có một bầy hổ mang đang chạy ngược lên tới đỉnh đầu. Về sau này, khi bia rượu sần sần, tôi hay nghĩ tới bình rượu ấy và vội vàng lao vào toilet để tháo ra bằng hết những gì vừa uống. Và tôi cảm thấy mình mệt kinh khủng. Nhưng tôi không ghét cha tôi vì điều này. Người thành phố bây giờ cũng ngâm rượu rắn ầm ầm, uống rượu rắn rùng rùng, cả rắn thật và rắn giả. Người ta uống vì nghĩ rằng mình sẽ nhanh chóng trở nên xung mãn. Cha tôi nói, bình rượu của ông hôm trước có tên bơm từ thành phố lên gạ bán mấy chục triệu đồng. Ông bảo để chờ tôi về, hỏi ý tôi rồi ông mới bán. Cái gì của ông cũng có thể bán ra tiền. Tôi bảo, cha để mà uống. Cha tôi chậc lưỡi, rượu này bổ phải biết, uống một chén là thấu trời mây. Cha tôi đã ngâm rồi chiết cái bình rượu này không biết bao nhiêu năm. Có thể ông say vì cảm giác chứ không vì rượu. Đời nhàn, say đôi khi cũng là một niềm vui.
Ngày trước, cha tôi hay uống rượu với chú Lừng. Lần này cha tôi chỉ uống rượu một mình. Ngày trước, mùa đông sương rơi rất nhiều, rơi xuống mái nhà tôi như những cơn mưa. Bây giờ, sương không buồn rơi nữa. Cây thông già đứng trên đầu dốc nhìn xuống, như một bóng gấu xù xụ, ngồi gục mình để sưởi ấm mình. Đơn côi. Tôi đi gọi chú Lừng cho cha tôi có bạn rượu. Tôi sợ nhìn cảnh những con rắn lập lờ trong bình và nuốt một phần thân thể nó vào trong người. Cha tôi bảo, đừng gọi, thằng đó nó không qua đâu. Tôi hỏi tại sao? Cha tôi bảo, chả sao, nó chẳng ra cái gì hết. Cha tôi với chú Lừng từng là bạn thân thiết, làm bẫy đánh hổ suốt bao nhiêu năm, giờ già như những gốc cây lại tự dưng chán nhau đến mức không buồn gặp. Tôi hỏi, chú ấy làm gì? Cha tôi bảo, nó chẳng làm gì, nhưng cũng chẳng ra gì. Tôi gọi chú Lừng. Chú Lừng ậm ừ, dắt con dao vào thắt lưng rồi đi qua. Chú Lừng bước đi nặng bình bịch, cái đầu bạc trọc lốc, những chân tóc như những sợi mây dính tuyết nhú lên trong một ngày mùa đông nào đó rất cũ. Hai ông già ngồi bên bếp lửa, uống rượu lừ đừ. Họ rất ít nói. Tôi nằm trong cái nệm rơm, gật gà ngủ. Từ lâu rồi, về nhà tôi không còn thấy nệm rơm ấm như trước, bếp lửa cũng không ấm như trước. Tôi không trách nệm rơm, không trách bếp. Tôi trách lòng mình không còn ấm như nệm rơm...
Tôi đã lơ mơ một giấc rất dài trong trạng thái mê sảng vạ vật. Thi thoảng có nghe tiếng gằm ghè của hai ông già. Họ thường hậm hực vì một điều gì đó rồi nuốt cả vào bụng bằng những chén rượu. Hình như chú Lừng có văng tục câu gì đó trước khi tôi choàng tỉnh dậy. Cha tôi nói, hình như cha tôi miêu tả lại một câu chuyện tình. Một thứ tình cảm gì đó bất thường. Một thứ ánh sáng cuối đường hầm. Chú Lừng chửi, mẹ kiếp, nó là con tôi, nó là bạn gái thằng cháu, thế mà... Cha tôi không nói được gì. Cha tôi lại uống rượu. Rồi hai con gấu già lao vào nhau trong đêm khuya. Họ vật nhau. Tôi ngồi bật dậy và nhìn họ. Những ông già gân cốt mạnh khỏe! Tôi nhìn họ. Tôi thích sự khỏe mạnh này. Nhưng tôi không thích họ vật nhau vì một điều như thế...
Rồi sẽ qua một mùa đông. Và rồi sẽ đến Tết. Tôi thấy mình thực sự là một đứa con bạc bẽo. Nhưng sao tôi chỉ muốn ra đi và không muốn về. Thị trấn chỉ có mỗi cây thông già, đứng trân mình như mái nhà rông. Còn người con gái ấy đã đi rồi, không còn ai đợi tôi nơi đầu dốc...

0
Thung lũng Bách Niên
 
Trăm năm nữa, dẫu có về đất, tôi vẫn sẽ nhớ hoài khum trời màu tro vạc đắm vào màu mắt ông nội nơi thung lũng Bách Niên.
Bách Niên. Người từ xa thường tìm tới Bách Niên qua câu chuyện kể về những người đàn ông không bao giờ xuống núi, suốt cuộc đời chỉ mải miết đi tìm con nước ở phía ngược dòng sông. Những người đàn ông mở mang bờ bãi cho cháu con mà chẳng bao giờ nghĩ đến mình. Những đứa con sinh ra để tiếp thêm một đôi tay cường tráng.
Bách Niên. Mẹ tôi đến vì sự tò mò ẩm ương của một cô gái mười tám. Rồi mẹ về thành phố không mang theo dấu vết của tôi.
Ông nội nuôi tôi bằng sữa dê. Tôi yêu những con dê núi như yêu mạch nguồn đầu tiên nuôi nấng mình.
Bách Niên. Những người đàn ông không trễ hẹn bao giờ. Sau trăm năm tóc trắng bay theo gió trời, thác mình nơi đầu con suối. Tôi sớm tách mình khỏi rừng núi, nhưng ký ức vẫn báo thức mỗi sớm, máu trong thân xác tôi sẽ mãi chảy về đất ấm Bách Niên.
Ông nội thường ngồi trên phiến đá rộng, nơi có chòm cây bứa già tháng Tám mùa thu rụng quả vàng ươm. Ông ngồi đó ơ hờ chơi. Gặp khách tứ chiếng đi qua thì ngồi nói dăm câu chuyện. Không bận rộn. Mái nhà ủ trăm năm khói trắng khói xanh qua giọt gianh của ông cũng không bận rộn.
Ông yêu mái nhà của mình. Và ông yêu tôi!
Mái nhà của ông đủ rộng đủ dài cho bố tôi và các cô chú lớn lên, sinh con đẻ cái. Ngày ông bắt đầu dựng mái nhà, có bầy chim sẻ tới đậu, kêu ríu ran. Ông nội sinh được ba người con. Bà nội vì quá ghen, nghe người làng đồn ông đi dân công lên miền Tây bắc có vợ mọn con thêm, cái uất dồn ngày qua đêm, khi bố tôi mới lên tám thì bà ra đi trong lúc tối trời. Bà nội thành cái sẹo khó xóa trong trí não ông. Bà treo mình trên cây. Ông nội bảo, đến mãi sau này, trong những đêm tối trời, ông vẫn mường tượng ra cảnh ấy. Ông không đi bước nữa, cũng chẳng đoái hoài gì đến những người phụ nữ quanh mình. Ông sống như sống với một lời hẹn. Ông dựng cả một thung lũng phì nhiêu và nuôi những đứa con lớn lên. Rồi ông ao ước một ngày kia, những đứa con sẽ ra đi. Xuôi những con suối. Để đi tìm những thung lũng của chính mình. Nhưng không ai đi qua cây cầu để bước về phía thị trấn. Không một ai. Trừ chú Phấn.
Bố tôi không đi qua cây cầu ấy. Ông ngồi bó gối trong bếp gần như suốt mùa đông. Một bộ mặt ám khói. Ông thường ngồi đọc một cuốn sách cũ. Những câu thơ của ai đó, viết nét tròn vo như những viên sỏi cuội dưới lòng suối lạnh. Bố nói đó là những dòng chữ trời. Không ai biết đích xác nó là cái gì và từ đâu tới. Tôi nghĩ đó là những con chữ ông nội viết trong những đêm buồn rầu. Bố suốt ngày đọc, lẩm bẩm và lần hồi những nghĩ suy. Sau một cuộc yêu mụ mị, bố không còn sức lực để tiếp tục cuộc hành trình, dù bố còn một gánh nặng là tôi. Bố đổ gánh nặng đó vào ông nội. Và nghiễm nhiên như một thứ trách nhiệm trời sinh. Ông nội đã mắng biết bao đêm, mà bố vẫn giống như người ngã nước. Bố tôi ngồi đó, đọc những dòng chữ tròn vo... “Đêm ta ngồi soi bóng ta trong lửa ấm. Ta gặp đôi mắt đen. Ta gặp mái tóc dài. Người đi như nắng quái...”. Người đi như nắng quái! Câu thơ ấy suốt những đêm dài mùa đông tôi thường được nghe bố nói, như một câu nói mớ. Nhưng lâu thành quen. Những đêm sương bay lạnh như bóng ma, bố lồng những trang thơ vào ngực áo tôi che bớt lạnh. Trời gió báo có tuyết, bố ôm tôi ngủ, tiếng giấy soạt soạt, nghe như gió mở ra một ngực sách. Những con chữ lâu năm rất bạc. Khi tôi bắt đầu đi học, bố bắt tôi tô lại. Tô lại rồi bạc tiếp. Giờ thì bố không cần nhìn chữ trong sách. Bố cầm nó như một thói quen và giữa chiều gió to, bố cất tiếng đọc vang cả dãy nhà dài. Phải đến khi lớn lên, tôi mới hiểu một hiện thực nhạt nhẽo và tù buồn đến mức không muốn gọi tên, tôi mới biết vì sao bố không bao giờ lìa nổi chiếc bếp ngầu bồ hóng của ông nội. Ông nội nói nhiều, ông nội ngăn cấm nhiều, mà bố vẫn xì xoạch với bàn đèn. Một cuộc đời oi khói. Bố đã mãi mãi không còn là chàng trai tuấn tú đi ngược những dòng sông.
Cô Phan lấy chồng, về ở với ông nội. Chồng cô đi đốt nghiến trên rừng. Ngày trước kiếm rất nhiều tiền. Mùa đông khói nghiến cay sè mắt ông nội. Ông nội nhắc chồng cô Phan, ăn của rừng in ít, kẻo trời phạt, chú nghe chuyện, cười tít mắt. Mỗi mùa nghiến qua đi, nhà cô Phan lại có thêm một món đồ đắt tiền, chú có hẳn cái ti vi chuyên chiếu phim chưởng Hồng Kông. Cả thung lũng dậy lên tiếng la hét của đám trẻ con. Vào một đêm, tôi không nhớ ngày nào, chỉ biết trời tối đen và cả thung lũng nặng trĩu như một cái bình dưỡng ẩm, có tiếng cô Phan nức nở phía sau vườn chuối. Tôi và ông nội lục sục cầm đèn pin chạy ra. Cô Phan ngất lả trên tay tôi. Chồng cô và một đứa con gái bỏ chồng đi buôn quế nằm sấp lên nhau bất tỉnh. Một con rắn lướt ngang người họ, ánh mắt xanh lét. Ông nội hực lên. Đã bảo mà! Đã bảo mà! Rừng ân rừng oán! Tiếng ông nội nói như tiếng thác chém, xẻ giữa lồng ngực. Ông nội đốt theo cái nhà táng chồng cô Phan chiếc ti vi và những đĩa phim con heo mà chú xem vụng trộm đêm đêm. Từ bấy cô Phan giống bố tôi, hai người lùi lũi trong gian bếp. Cô trồng ngô ban ngày, tẽ ngô ban đêm, một năm cô đi chợ thị trấn hai lần, mua những thứ kim khâu đá lửa. Ông bảo, cô quen ai thì cứ yêu, yêu rồi cưới. Cưới lần hai nhưng ông vẫn làm cỗ to nhất làng. Đàn bà con gái bước vào tuổi nhỡ nhàng như nhà không tức vách, gió quật gục mấy chốc. Nhưng cô không yêu ai, chẳng thiết tha gì. Cô Phan là chủ nhân tiếng thở dài thứ hai trong ngực ông nội.
Chú Phấn ra đi vào một ngày chớm đông, những bông hoa dại đã kéo dần theo tiếng gió rét. Mùa đông lúc nào cũng buồn như mắt cô Phan. Sương muối phủ tràn lên những gốc cây già. Những ông già ngồi bán lạt giang gói bánh chưng đầu cầu chào chú Phấn, chân xù xì như những củ sắn lùi vội. Những ông già không biết vì sao chú Phấn ra đi.
Chỉ có ông nội biết vì sao chú Phấn ra đi. Chiếc xe khách của chú Tầng xếp người gọn một góc, còn lại là những bao tải sắn ngô chở xuôi về thị trấn bán cho những người buôn đến từ những xứ nảo xứ nào, tên nghe mơ hồ như tiếng chuông gió trên gác mái chùa đỉnh núi. Tôi chạy theo xe bụi đỏ ngầu một đoạn rất dài. Không ai tiễn chú Phấn cùng tôi. Tôi cũng không biết vì sao chú ra đi. Ông nội bảo, cho nó đi ra thị trấn, biết đâu nó thành người, chứ giống thằng bố mày, cái nhà này mất phúc. Bố tôi khóc. Ông nội thở hắt, quay đi. Từ bấy không nghe ông nhắc đến bố nữa.
Chú Phấn đi nửa năm, vào một ngày hửng gió, người ta mang theo xe chú Tầng về một lá thư. Ông nội đọc rất lâu. Ông nội ngồi như cái gốc cây, trơ ra chòm râu đốm bạc. Không phải khóc. Không có điều gì khiến ông còn có thể khóc. Mẹ sẽ đón tôi. Mười lăm tuổi, tôi cần phải trở thành một người không giống như bố và không sống một cuộc đời khum tròn như cái rế đựng nồi cơm. Thế là mày cũng đi rồi! Ông nội quẳng cái điếu cày vào bếp. Cái điếu cày nỏ lửa, cháy bừng một góc nhà. Bố tôi và cô Phan chuẩn bị cho tôi hai ngày. Rồi tôi theo xe chú Tầng đi về thị trấn. Mẹ tôi đón tôi ở đó. Chú Phấn cũng sẽ đón tôi ở đó...
Tôi đã không về Bách Niên suốt mười năm sau đó. Mười năm. Trong cuộc đời tôi, có lẽ đó là mười năm lạnh lùng sóng gió, mười năm quần quật lớn lên rồi già đi, yêu thương rồi thù hận, trưởng thành đổ vỡ, đau khổ tan nát. Mười năm, tôi như một cây măng dần lớn thành cây trúc già, thô ráp và không mọc thẳng. Mười năm, tôi đã không còn mẹ ở bên cạnh. Tôi nhớ đêm ấy thị trấn mưa sầm sập, những khoảng đường tối om vì mất điện. Tôi ngồi trên gác, ngó ra khung cửa sổ bé như đôi mắt cáo, thấy mưa như một người đàn ông quá khỏe mạnh, khao khát chiếm đoạt cả thị trấn cho thỏa nỗi cuồng vọng. Đó là đêm trước khi tôi rời khỏi thị trấn, về thành phố học đại học. Mẹ nói sẽ làm một bữa tiệc mời cả thị trấn tới chúc mừng tôi, đứa trẻ đầu tiên đỗ đại học ở thành phố. Tôi tính sẽ quay về làng chào ông rồi mới ra đi. Trời mưa bão bập bùng, cảm giác mọi sông suối sẽ đầy ắp sau cơn mưa này. Tôi ngồi nghĩ về ông nội, nghĩ về chòm râu của ông lặng phắc như một giấc mơ cũ. Tôi mong trời sáng và mưa tạnh.
Trời vừa ngớt mưa và tôi tính gọi chú Phấn dậy thắp đèn. Bỗng điện sáng bừng khi tôi bước chân đến cửa phòng chú. Những cơn mưa ầm ĩ. Những nỗi đau âm ỉ. Mẹ đứng sững ở đó, tay mẹ che vội vã lên ngực. Mẹ thở dài. Mẹ cô đơn quá... Tôi im lặng, lấy áo choàng lên người mẹ. Tôi đã không về thăm ông nội, tôi không biết sẽ phải nói với ông như thế nào. Tôi cũng không nói lại với mẹ rằng, tôi không muốn tất cả những điều này, nó xuyên thủng mọi giấc mơ tốt đẹp của tôi về cuộc đời. Tôi đã ra đi. Về sau, nghe bố kể lại, chú Phấn về đòi bán cả thung lũng cho người ta dựng nhà máy. Ông nội cầm khúc tre già quật vào đùi chú. Chú gào lên, bỏ đi, đi mãi không về. Bố bảo, chú Phấn và mẹ đi Sài Gòn. Bố không biết Sài Gòn là gì. Tôi sống ở Sài Gòn suốt một năm, chưa từng nghe ai nói gì về chú Phấn. Tôi không biết mẹ có đi tìm tôi hay không. Tôi không chắc mẹ muốn tìm tôi nữa. Nhưng chưa bao giờ tôi oán trách mẹ. Tôi biết, dù mẹ rời bỏ tôi quá lâu và quá dài, nhưng tôi đã có được một cuộc đời từ mẹ...
Tôi chỉ trở lại thung lũng khi tôi đạt được niềm hạnh phúc lớn lao trong công việc. Tôi muốn mang tấm bằng đại học và một bằng chứng nhận về thành quả lao động của tôi về cho ông nội. Tôi nhìn thấy người đàn ông nhỏ xíu mái tóc bạc tay phấp phới trên những tảng đá dài. Cô Phan ngồi bậu cửa, tay đan những sợi len dài màu đỏ. Cuộn len văng ra giữa sân, quấn vào đàn gà con, buộc túm chúng lại như một đám thảm rực màu. Bố chỉ tôi lên phía thượng nguồn. Ông nội nằm dưới gốc bồ đề già. Bồ đề đang rụng lá, bay phất phơ trong hư vô như một giấc mơ thoảng trầm hương. Bố bảo, khi ông nhắm mắt giã biệt cuộc đời, ông trào nước mắt. Tôi đã đi quá xa, tôi rời khỏi vòng tay ông quá nhanh. Tôi ngồi bên cạnh ông trong buổi chiều khói tạc tay tràn bầu trời. Tôi nói khẽ với ông nội, cháu đã về quá muộn, nhưng thà như thế còn hơn cháu mang về tặng ông một tiếng thở dài. Tôi nghe tiếng ông nhẹ nhàng trong lòng đất ấm. Dường như ông đang nắm tay tôi. Ông ngồi đó trên phiến đá dài, nhìn lên bầu trời. Tôi đã ngồi đó, tới khi thung lũng cuộn bóng tôi vào lòng đêm, những giấc mơ cũng cuộn vào lòng đêm.
Tôi ngồi uống rượu ngô với bố. Những ngày này bố đã bớt ho, ông ngồi hiền lành như chú mèo già bên bếp lửa. Bố có giận con không? Không. Bố biết là con sẽ trở về. Nhưng con sẽ không ở lại. Và bố sẽ ngồi đây, chờ con quay về vào mỗi mùa xuân. Ông nội luôn tin con sẽ trở về vào những mùa xuân. Ông nội nói, đừng mang trong lòng những cơn hận, bởi khi con gặp một người đàn bà phản bội, con mới biết yêu những người chung thủy với mình, phải biết cảm giác đớn đau của người xa xứ khi nghĩ về nguồn cội, con mới biết cái ấm áp của ngày trở về... Tôi muốn ôm bố trong vòng tay mình. Tay tôi thô ráp tự khi nào tôi không hề biết. Bố đã quá già và nhỏ bé. Nhưng bố vẫn là tất cả những gì còn lại, để tôi tha thiết với Bách Niên. Và để tôi quay lại.
Bách Niên. Tôi đã đánh lạc mười năm để có lại Bách Niên...

0
Mưa phù du
 
1. Khi tôi đang viết những dòng này thì cha tôi đang say ngủ trên chiếc chõng tre cũ. Ông mang vào giấc ngủ hy vọng mong manh rằng Ngữ - em trai tôi đã bình tâm quay lại. Và một sớm mai kia, ông sẽ ngồi thổi kèn acmonica nời đầu thềm để đón nó về như những ngày nó còn thơ dại. Giờ đây, khi đã đi qua rất nhiều những nỗi thương yêu, tôi mới mường tượng nổi tình cảm mà một người cha dành cho những đứa con khác thường và mãnh liệt đến nhường nào.

2. Chúng tôi sinh ra giữa rừng đại ngàn trong một đêm mưa rả rích. Tôi không biết mặt mẹ, nhưng từ tập ảnh kỷ niệm đã ố vàng của cha, tôi nhận rõ nỗi buồn dai dẳng và tội nghiệp phả ra từ đôi mắt một người con gái đẹp. Nỗi buồn ấy in lại vào đôi mắt Ngữ, em tôi. Hai anh em sinh đôi nhưng không hợp nhau về tính. Từ nhỏ tôi đã hấp thụ hầu như toàn bộ những khí chất bướng bỉnh đến bạo liệt và cả nỗi cô đơn tột cùng của cha. Còn Ngữ yếu đuối và bé nhỏ những cô bé búp bê gỗ. Điều đó là không đúng với những đứa con sinh ra trên nền lá phủ mịn màng của đất rừng mạnh mẽ. Cha tôi coi đây là một điều xấu hổ. Tôi hiểu cha cần gì ở những đứa con.Từ nhỏ, anh em tôi đã hiểu rằng mình là những đứa trẻ nghèo. Sự nghèo khổ vằn lên từng lớp áo quần, lên đôi mắt trố mở to và cái bụng ỏng eo của Ngữ. Cha tôi đi làm từ sớm tới tối, những bữa ăn vội vã thất thường. Một cuộc sống dưới mức bần hàn nhưng vẫn im lặng trôi đi. Một sự im lặng cố tình. Một sự im lặng cần thiết.
Cha tôi tích cóp mười năm trời để dựng được ba gian nhà gỗ. Khi từng chiếc gianh tết bằng lá đao phủ kín căn nhà thì phía bên trong, ngoài chiếc giường dẻ quạt mọt nghiến lỗ chỗ, chẳng còn vật gì đáng giá. Có chăng thì là chiếc đài bán dẫn đã rọt rẹt lắm, cha tôi để nghe thời sự. Có lần người buôn gạo đổi nó lấy mười cân gạo, cha tôi không bằng lòng. Nó là sự tự hào của cha tôi với những người thợ rừng trong làng. Nhà họ có cả trâu, cả lợn, có tài vun quén của một người mẹ. Nhưng họ không có cái đài để tiếp cận với những cái “văn minh”. Tôi không coi đó là điều quan trọng, tôi chỉ thấy lũ bạn hàng xóm mắt tròn mắt dẹt ồ ề nhìn cái đài thì đầu hãnh diện. Những lúc như thế Ngữ nhìn tôi đầy lạ lẫm, như một sự chế giễu. Nó bảo: “Các cậu có thích nghe đọc truyện không, hay lắm”. Rồi nó lấy cái đài đang treo ở trên cột xuống, dò sóng lẹt xẹt một hồi. Chiếc đài không còn là sự hãnh diện đơn thuần nữa, nó là một điều kỳ diệu với lũ trẻ.Chúng quên tôi ngay lập tức và nhập ngay vào truyện Tây du ký đang đọc trên chương trình của đài Trung Quốc. Hết chương, Ngữ tắt đài, bảo: “Mỗi hôm chỉ nghe thế thôi, mới thích, lại đỡ tốn pin”. Những đứa khác trầm trồ hỏi: “Có thật là được phát từ Trung Quốc không? Làm sao mà lại thu được”. “À, thu được là nhớ có sóng điện”. “Sóng điện là gì?”. “Cái đó để tớ hỏi bố tớ đã”. Ngữ mang thắc mắc ấy đi hỏi bố tôi. Ông ngần ngừ một hồi rồi lảng sang chuyện khác. Tôi nhận ra một điều gì đó đang vỡ dần trong mắt Ngữ. Một sự thất vọng lẫn ngạc nhiên làm nước mắt nó trào ra. Chính điểm yếu này làm Ngữ hay bị mắng. Lần nào cũng vậy. “Lại khóc. Làm sao cơ chứ. Ai chém giết gì mày. Con trai mà khóc lóc ỉ ôi thế à? Hừ, không biết ở đây nảy nòi ra thứ bạc nhạc này cơ chứ?”. Tôi không bênh Ngữ mà còn có đôi phần hả hê vì chuyện mở đài lúc chiều. Tôi bảo: “Cho mày sướng đời. Khóc lóc cái gì cơ chứ?”. Ngữ nín bặt nhìn tôi như căm giận: “Anh hèn lắm”. Tôi giật mình. Thằng em lặng lẽ trong cam chịu đã lên tiếng rồi. “Mày bảo ai hèn cơ?”. “Anh hèn lắm, Nguyên ạ. Anh không hay khóc nhưng anh cũng chẳng bản lĩnh gì”. Chúng tôi lôi nhau ra giữa bãi cỏ sau nhà. Những đứa trẻ đánh nhau là chuyện cơm bữa. Nhưng khi anh em xông vào choảng nhau chí mạng thì là chuyện động trời. Lũ trẻ hàng xóm bu đến, quây tròn như đang xem thi đấu quyền Anh. Tôi ra đòn không tiếc tay vào người Ngữ, những tiếng kêu “hự” vang lên, đập và tâm trí khiến tôi chững lại và nó ám ảnh đến tận bây giờ. Thứ ám ảnh tội lỗi và ân hận, thường ùa về bủa vây mỗi khi tôi nghĩ tới Ngữ. Suốt cà dại khờ nó hứng trọn vẹn tất cả những thua thiệt. Cuộc đấu ác liệt ấy - đến lúc này - tôi hiểu chỉ đáng có của những kẻ giết người đổi xuống kẻ thù.

3. Cha tôi lôi hai anh em về nhà. Ngữ mệt lắm rồi, máu cam chảy tràn xuống môi. Cha tôi lấy thuốc lá đắp cho Ngữ và bắt nó nằm yên. Xong xuôi, ông ra ngoài hiên rút cái roi mây. “Quỳ xuống!” - Ông quát. Tôi lập cập ngồi xuống. “Có bao giờ bố dạy các con đánh nhau không?”. “...”. “Có hay không?”. “Dạ không!”. “Thế con là anh hay là em?”. Ông trói tôi vào cột nhà bằng dây thừng rồi bỏ đi. Tôi nhìn theo bóng cha. Đau đớn. Sợ hãi. Và ân hận. Tôi nghĩ sẽ chẳng ai cứu giúp mình nữa.Không ai cứu giúp người đã đánh mình một cách túi bụi không tiếc thương. Suốt đêm ấy cha tôi không về. Tôi biết ông đau đớn và bị dày vò. Tôi đứng mỏi nhừ hết cả hai chân. Hai tay thì bị trói nghiến vào cột. Không thể gục xuống hay ngã khuỷu. Tôi lờ đờ mệt mỏi và thiếp đi.
Gần sáng có ai đó lay tôi dậy. Sợ dây trói đang được cởi. Là Ngữ. Ngữ đứng đến tai tôi. Nó phải nghển cổ để tháo được sợi dây. Cái sợ dây bé nhỏ nhưng đủ sức níu giữ tôi lại, không biến tôi thành một con quỷ lốt người. Cái sợi dây vô cảm vô tri ấy đủ sức neo tôi lại bên Ngữ, để tôi nhận ra mình kém còn kém cỏi và nhỏ bé hơn nhiều lần cái vóc dáng còm cõi kia. Tôi lờ đờ nhìn Ngữ đi ra, muốn nói với nó một lời xin lỗi nhưng sao lòng cứ đắng đót đến lặng câm. Tôi quay đi. Tôi khóc.
Khi bắt đầu một ngày mới thì cha tôi quay về. Tôi biết chắc cha vừa đi ra từ một quán rượu nào đó. Mặt ông tái lại nhưng vết sẹo dài nơi thái dương kéo lên giật xuống đỏ ửng. Bước chân ông liêu siêu trên con đường gồ ghề sỏi cuội. Ông đã đi trên con đường này gần cả cuộc đời mình mà giờ đây đi thêm đoạn cuối lại thấy quá cực nhọc khó khăn. Ngữ đến bên, dìu ông đi. Nó đứng chưa tới nách, tay cố cắp vào một bên hông để cha vững bước. Trông nó giống như một điểm tựa, mảnh dẻ nhưng chắc bền.

4. Cuộc rượu thâu đêm và mưa sương của một ngày tàn hạ có khả năng đánh quỵ bất kể thân sức trẻ trai nào. Huống hồ cha tôi đã già và năm tháng rừng rú đã đánh cắp dần mòn những sức lực dẻo dai. Tôi không muốn nói đến từ ốm bệnh, chỉ cầu mong cha tôi cảm hàn xoàng nhẹ và sớm khỏe mạnh trở lại. Nhưng bệnh tật không phụ thuộc vào lời của tôi. Nó hành hạ cha tôi khổ sở. Những thang thuốc của ông già người Mán đã cứu được cha nhưng đồng nghĩa với việc những đồng tiền còm cõi trong ống mai của cha con tôi đã ra đi lặng lẽ. Gạo đã hết rồi. Tôi và Ngữ nhìn nhau. Và chiếc đài là đồ dùng cuối cùng có thể bán. Trong tao đoạn bi đát này, cứu cánh là sức khỏe cho cha tôi. Anh em tôi bọc chiếc đài vào và mang ra thị trấn. Bằng những ưu điểm mà Ngữ chỉ ra của chiếc đài “cổ điển” chúng tôi đã thu vào số tiền tương đương ba yến gạo. Tôi biết cha rất buồn. Nhưng đây là phương cách cuối cùng.
Chiếc đài thân thuộc và quý giá đã từ giã chúng tôi như thế. Sau này vào trung học, bằng những sáng tác đầu tay của mình được đăng báo. Ngữ đã dành dụm khoản tiền nhuận bút còm cõi để mua chiếc đài mới, hai cửa băng lại còn chạy được cả đĩa CD. Chiếc đài sáng bừng cả gian nhà và ngày ngày nó vẫn phát ra những thông tin cho cha tôi, sẽ cất lên những giai điệu trầm buồn của những khúc tình ca cho Ngữ và tường thuật những trận bóng đá cho tôi. Nó là tính yêu, là cuộc sống, là một phần niềm tin của chúng tôi vào cuộc sống.

5. Tôi vào đại học. Còn Ngữ ở nhà. Không phải vì Ngữ học dốt. Mà Ngữ luôn là người nhận phần thiệt thòi về mình. Nó ở nhà đi làm nuôi tôi. Sang năm thứ hai tôi kiếm việc làm thêm, viết thư xin cắt mọi khoản viện trợ và động viên Ngữ ôn thi lại. Ngữ tha thiết được trở thành chiến sĩ phòng cháy. Nhưng cha tôi ao ước nó sẽ thi lâm nghiệp để nối nghiệp mình. Cha tôi là người không dễ thỏa hiệp. Ông kiên quyết áp đặt ý kiến của mình lên tương lai của Ngữ. Ngữ im lăng chấp nhận như đã từng im lặng. Nhưng âm ỉ đằng sau là những ước muốn đang nhen dần và trở nên bạo liệt lúc nào không hay. Nó đã bỏ thi lâm nghiệp và quyết tâm thi đại học phòng cháy - một nghề vất vả, nguy hiểm và hết sức lặng thầm. Tôi chở Ngữ đi thi và đứng ngoài chờ giữa nắng và cát bụi, lòng thầm mong nó thành công. Tôi hồi hộp như chính mình đang tiến về phòng thi để thực hiện tương lai của mình. Tối về phòng trọ, cái dáng gầy của nó lại cặm cụi bên những trang ôn, lòng tôi không khỏi nhói lên một tình cảm chân thành. Một thứ tình cảm không gọi thành tên nhưng chan chứa biết bao, như đang kề sát mặt và ta cầm nắm được. Ngày thi cuối cùng, nó vào phòng thi với tâm trạng kỳ lạ, vừa bồn chồn vừa sợ hãi. Tôi hiểu nó sợ sẽ trượt. Đây là cơ hội đầu nhưng cũng là duy nhất cho nó. Tôi nắm tay Ngữ, lặng im.
Thi xong, tôi bảo Ngữ đi chơi cho biết Hà Nội nhưng Ngữ nằng nặc đòi về. Đành đưa nó ra xe, cố len lên chuyến xe chật ních, nó cười: “Em đã trót hẹn ‘người ta’ ra đón rồi”. Tôi bật cười. Ngữ bằng tuổi tôi cơ mà. Ngữ đã thành người lớn.

6. Chuyến trở về gấp khiến tôi không kịp chuẩn bị gì. Chế độ quân kỷ nghiêm khắc nên tôi chỉ có ba ngày kể cả đi và về. Cha tôi gọi điện báo Ngữ đi thi mãi vẫn chưa về nhà. Tôi nghĩ Ngữ sẽ không làm gì dại dột nhưng đáng sợ biết bao cho cha tôi, cứ từng giờ từng phút lo âu những những rủi ro ập xuống đôi vai gầy gò của Ngữ. Tôi muốn nói với cha những lời an ủi. Chỉ đơn giản là Ngữ đã làm theo ý mình nên sợ cha nổi giận. Nó cần vắng mặt một thời gian để bầu rượu nóng trong người ông hạ nhiệt, nó sẽ trở về.
Tôi ngồi trước hiên nhà, dưới những tán lá rừng lặng lẽ. Năm tháng gian khó đã qua rồi. Nó qua đi bình thản như ấu thơ. Ở đó khong có tiếng thở dài vào những phiền lo của cuộc đời. Tôi nằm xuống nền đất mịn. Trong giấc mơ, tôi thấy Ngữ đang trở về trong cơn mưa phù du. Nhưng cơn mưa nhỏ nhẹ mà mềm mại phủ xuống cuộc đời của chúng tôi như một người mẹ, xoa dịu những cơn nắng rát bỏng và nghiệt ngã. Tựa mồ hồi tri kỷ tri âm, đôi khi hờn dỗi và cãi vã để rồi hiểm thắm thiết, thủy chung và yêu nhau hơn. Mảnh đất bao la này, anh em tôi đã lớn lên cùng mưa nắng.

0
Dấu vết thiên thần
 
Ở nơi này mùa xuân đi qua rất chậm. Trên những thảm cỏ ướt tháng Hai, từng bầy con gái nhảy múa và se sợi, gom lại những chùm hoa đỏ rực rỡ để chờ ngày mang về nhà chồng. Tôi ngồi nhìn con suối vắt qua trước nhà, nhìn những trái mơ non lông trắng mượt trên những tàn cây trước cửa, thấy lòng nhẹ thoảng như một vệt gió.
Mẹ tôi ngồi khâu lại cái túi nhỏ xíu, cho mấy đồng bạc trắng vào trong và bảo, mang về dưới thành phố, đi đường xa thì nhét vào túi áo túi quần, kẻo cảm lạnh. Tôi bảo, đến khi con lấy vợ, mẹ có làm túi bạc cho vợ con không? Mẹ tôi nhìn tôi, còn tùy con dâu đã. Tôi bảo, chắc chắn là đẹp rồi. Mẹ tôi bảo, đẹp chẳng để làm gì. Đàn bà thành phố như yêu tinh.
Tôi nhìn đám con gái tóc dài xuống suối lạnh. Nắng bắt đầu tràn qua những ngọn đồi, tốc khói những đám sương ướt. Mẹ tôi nhìn theo, chép miệng, con gái xóm mình đẹp, nhưng toàn lấy mấy thằng nát rượu, phí thân.
Tôi bảo, nếu con lấy một trong những đứa con gái dưới suối, mẹ ưng đứa nào? Mắt mẹ tôi sáng ngời: Con Phần. Nó đẹp nhất xóm. Mà đảm đang. Tôi lại bảo, mẹ có chắc là nó sẽ chịu ở nhà với mẹ không? Con xuống thành phố, chắc là sẽ có nhân tình, nhưng sẽ không bao giờ bỏ vợ. Mẹ tôi bảo, thằng mất dạy, làm đàn bà nhục vì có những thằng đàn ông tham dục. Tôi cười. Nắng lên cao, vời vợi những đỉnh đồi trước mặt. Đám con gái thôi se sợi, líu ríu đi qua ngõ nhà. Mẹ tôi gọi: Phần. Phần vào nhà, chân trắng, lông mày cạo thành vệt như sợi chỉ, đẹp cổ điển. Tôi bất giác cười, nghĩ đến những cô nàng thoáng qua tại các trung tâm ngoại ngữ ban đêm, mắt mày xăm đậm kỹ lưỡng. Họ có vẻ đẹp sắc sảo của họ. Họ không bao giờ là Phần được. Tôi bảo, Phần mấy tuổi? Phần cười, em hai mươi. Hai mươi mà chưa lấy chồng sao? Phần lại cười, chẳng nói. Mẹ tôi ngừng khâu, nhìn Phần cười, làm con dâu tao đi cho xong, mày đẹp người. Đám con gái cười rinh rích. Tôi cũng cười. Tôi không thích Phần.
Cái thung lũng này như một miền đất hứa, cứ vài năm lại nảy thêm một nóc nhà mới, chẳng biết từ đâu về và tuyệt nhiên không ai có ý định bỏ đi. Mỗi nhà một dân tộc, một tiếng nói khác nhau. Nhưng đều êm đềm cả. Những người đàn ông đi biền biệt. Năm thì mười họa mới về. Những người đàn tà thì chờ đợi.
Mẹ tôi sống quanh năm trong mấy nếp nhà sàn không muộn phiền. Mẹ bảo, tôi là con trời nên đi đâu cũng được, mẹ cũng chẳng lo lắng, chẳng ngại sợ những mưu chước của người đời. Tôi nhớ những ngày nhỏ, mùa đông thường rất dài. Ngày đó mẹ vẫn thường bảo, một buổi tối trời mưa dông sấm sét, mẹ đi lên núi Tả Van lấy lá thuốc về đắp chân cho bà ngoại. Đi ngang gốc cây dẻ sồi lớn, bỗng có tiếng nổ đinh tai. Mẹ ngất lịm đi. Sáng sớm tỉnh dậy, mẹ thấy mình đang ngập chìm trong bùn đất và cây dẻ sồi ngã vật ngang con suối, thân hình nó vạm vỡ như người đàn ông cường tráng nhất làng. Mẹ lấy tay khoét những vuông bùn quanh mình để tự giải cứu. Khi bước lên khỏi đám bùn ấy mẹ thấy thân mình nặng trĩu, như vừa trải qua một cuộc giày vò kinh khủng, chính mẹ cũng không hiểu vì sao. Cái cảm giác như vừa bị ngã ngựa, vừa đau rát phía cửa mình, vừa bần thần hoan lạc. Trên đám bùn rộng chảy tràn con suối, có những vết chân vừa to vừa dài đi hun hút lên phía thượng nguồn. Mẹ định thần lại, mẹ ngồi trên thân cây dẻ sồi. Mẹ bảo, mỗi khi trời nổi cuộc ngông cuồng, sau mây mưa vần vũ là một thiên thần xuất hiện, chân thiên thần vừa to vừa dài, người đến rồi đi không ai biết mặt. Nhưng đó là một khuôn mặt đẹp, đẹp hơn hoàng tử, đẹp hơn cả ông Hẳng Bồ Câu suốt ngày tập khí công trên đỉnh núi Tả Van...
Những ngày sau, cuộc sống của mẹ cứ bấn loạn lên vì những thay đổi bất thường, những thay đổi khiến bà ngoại cũng không ngờ tới. Mẹ mới hai mươi tuổi, mẹ chẳng biết gì nhiều. Khi thiên hạ đồn ầm lên, đến tai bà ngoại thì cũng là lúc tôi gào khóc đòi nợ cuộc đời. Bà ngoại lịm đi, không nói được gì và cũng chẳng muốn nói gì. Rồi bà kiệt dần. Hồn bà bay khỏi mái nhà tranh khi mẹ đưa tôi ra suối gội sạch đám cứt trâu trên đầu đúng ngày đầy tháng.
Suốt những ngày ấu thơ, tôi vẫn thường huênh hoang với đám bạn, tôi là con của thiên thần, sinh ra từ gốc cây dẻ sồi và tôi khỏe mạnh cũng bởi được thừa hưởng sức lực cường tráng từ mạch nguồn bí ẩn đó. Và cho đến tận năm mười bảy tuổi, tôi vẫn thích tin vào những câu chuyện của mẹ, câu chuyện bí ẩn về thân phận tôi trong cuộc đời này. Mẹ tôi bảo tôi, mấy hôm nữa đi rồi chừng nào về? Mày có ưng con Phần để tao qua bảo với nhà người ta. Tôi cười, tôi không thích Phần. Mẹ cũng chẳng ngăn cản tôi đi đâu. Mẹ sinh cho trời đất một đứa con ngang bướng. Và mẹ để tôi đi, say mê đi và rồi âm thầm trả giá. Lúc nào chán mỏi thì lại về với mẹ...
... Mười bảy tuổi. Tôi lộc ngộc như con gà chọi, mắt thao láo, mặt đỏ gấc nhìn mái tóc dài như một búi quả mây. Chị mười tám, bỏ trốn khỏi nhà chồng đã được năm năm. Thực lòng tôi không biết chị đến nhà tôi từ đâu, chỉ nghe mẹ kể nhà chị ở bản người Mông, bố chị là ông già bán than củi khô mỗi chợ phiên. Tôi không đánh dấu ngày chị về ở chung một gian bếp với mẹ tôi, chỉ thấy đã thành thân thuộc. Để về sau nhớ lại, tôi nhớ mãi cái sợi chỉ nhỏ mảnh căng trên đôi mắt chị, đẹp miệt mài.
Mãi về sau tôi mới biết những bão giông của chị trong đêm tối tuổi mười ba. Chị nhớ rất rõ, đêm đó là hội trùm chăn, đám con gái như những búp xuân mưng mẩy mong ngóng được bắt trộm đem về làm vợ. Chị chẳng mong như vậy. Anh trai chị hùng hục lôi chị từ phòng trọ của trường nội trú lên lưng ngựa, bắt chị về nhà. Mẹ chị tự tay khâu váy đẹp, bắt chị mặc để đợi được bắt đi. Mẹ chị bảo, đàn bà học nhiều chỉ để cãi nhau. Cái đêm hôm ấy, trong bóng đuốc lấp loáng sáng, người ta đi chơi, người ta uống rượu rộn ràng. Mưa gió gọi nguồn bất chợt kéo nhau về. Mưa ầm ào, mưa rộn rã. Chị vân vê cuốn sổ tay mà thầy giáo chủ nhiệm dạy văn đẹp trai trao tặng. Cuốn sổ tay có vẽ bông hoa đỏ rực, màu hoa như màu môi. Thế rồi bất ngờ chị bị bịt kín chăn, bị vác trên vai, xuôi dốc rồi ngược dốc. Chị quẫy đạp. Chị quăng mình trong đám cỏ rậm. Chị nhìn thằng trai say rượu đang cầm khúc cây định bổ xuống thân mình. Chị hoảng sợ, cầm hòn đá quăng ngược trở lại. Thằng trai say rượu ôm mặt, khóc tu tu như một đứa trẻ con. Chị chạy ngược suối, chị tìm về đây và gục xuống cầu thang của mẹ tôi. Mười ba tuổi chị đã một đời làm vợ. Về sau bố chị cũng ghé tìm. Nhưng chị tránh mặt. Mẹ tôi cũng cho chị tránh mặt. Bố chị biết, nhưng chỉ thở dài. Ông âm thầm một đời, lên núi đốt than để kiếm tiền đền con gái cho người ta.
Tôi nhìn chị quay tóc bên vại nước, chị mười tám, người chị như con cá trắm. Chị thích vẽ những bông hoa màu môi đỏ rực, nghĩ nhiều đến những tháng ngày ngắn ngủi ở thị trấn với người thầy giáo đẹp trai. Tôi biết điều đó khi theo chị lên núi tẻ ngô. Chị luôn mang theo cuốn sổ bên mình. Tôi lén xem, tất cả các trang viết đều đã nhòe ướt, chắc có lẽ bởi nước mắt, nhưng sao bông hoa màu môi vẫn đỏ rực không thôi. Chị nhìn tôi với cái mặt ngơ ngáo màu gà chọi mà cười. Thế mà tôi vẫn cứ nhìn. Chị cột tóc lên cao, cái cổ trắng ngần, bầu ngực phập phồng thở. Rồi chị đi lên núi hái chè. Tôi ngồi trên thềm nhà, nhìn ra những cây mơ trụi lá ngoài vườn, nghĩ xa xôi mà không sao dứt khỏi trái lê màu trắng phập phồng phía trong ngực áo chị. Đêm đó tôi thao thức. Ngày hôm sau vẫn thao thức. Có cái gì đó đau tức, như muốn trào ra, vỡ ra từ phía dưới thân mình. Đêm ấy tôi giã từ mười bảy năm non trẻ.
Mười tám tuổi. Tôi đếm kỹ tất cả số bạc trắng được cất giữ suốt từ ngày bà ngoại mười tám tuổi cho đến khi cây tùng thông trên mộ bà đã cao quá hai đầu người, chúng khá nhiều và nặng. Mẹ tôi bảo, đem về thành phố mà ăn học thành tài.
Cái đêm cuối cùng tôi ở lại nhà trước khi về thành phố. Tôi thực tâm không nhớ đêm đó có trăng hay không, nhưng hình như mới quá rằm. Chị bảo tôi, mai Toàn đi rồi, có thấy buồn, có thấy nhớ nhà không? Tôi chẳng buồn nói với chị nữa. Tôi chẳng buồn, chỉ thấy mái nhà này, mảnh vườn này, nhớ mẹ và nhớ chị. Tôi đi lên núi chào ông bà ngoại. Núi đầy sương và cây lá thẫm sậm như những khối thạch đen óng mượt, chị chạy theo tôi, bước chân chị thình thịch. Chúng tôi cùng chào ông bà ngoại và ngồi lại. Trong mùi cỏ già đơm hạt, mùi hoa dẻ xôn xao từ những suối khe, mùi những trái bồ kết rụng xào xạc trong đêm ngai ngái, chị tựa vào vai tôi, tóc thơm mùi hoa dại, mắt khép như một vầng trăng kín. Chị bảo, ngày mai phía trước Toàn là cả một cuộc đời. Còn tôi mãi vẫn chỉ có bông hoa màu môi làm bạn. Tôi sẽ là một thứ ma khô. Tôi không nhìn chị, chỉ nhìn vào khoảng bóng tối trước mắt, nghe tiếng thầm thì của những bông hoa rớt về đêm. Tôi nhìn mãi vào đó để rồi bất ngờ nhận ra những chiếc cúc áo của mình đã được cởi hết. Tay chị nhẹ lướt xuôi xuống. Những miền cỏ xanh mùa xuân dậy thì. Và những bí mật. Tôi ngã vật ra đám cỏ. Đôi tay, như thiên thần dịu nhẹ, nhịp nhàng. Phía trên người tôi là một bầu máu nóng ngập tràn. Tôi đi nhẹ nhàng trong giấc mơ không ngày tháng. Si mê, cuồng dại. Những vòng quay bất tận. Trên cỏ. Bất chợt như vần vũ. Bất chợt gió. Bất chợt mưa. Và lóe chớp. Giấc mơ trong thân thể tôi như dòng nước suối khe chảy vào vùng bất tận. Mình tôi giật mạnh, sức tôi trôi đi cùng với giấc mơ của người đàn ông mười tám tuổi.
Tôi nằm vật ra, mặt ngửa lên trời. Trong mưa gió vẫn có một vì sao cháy trên bầu trời. Mưa tràn lên thân thể tôi và chị. Mát lịm. Chị hôn lên những hạt mưa. Rồi bất thần bỏ chạy. Một mình tôi nằm lại. Nằm tới khi trời sáng, mưa tạnh. Tôi mơ thấy vết chân mình to như vết chân thiên thần. Tôi khóc...
... Tôi thường gắn những kỳ nghỉ Tết và nghỉ phép luôn thể, về chơi với mẹ. Đêm cuối ở nhà với mẹ, tôi định hỏi chuyện về chị nhưng lại thôi. Đám con trai kéo đến, rủ đi đánh bữa rượu, mai thì biền biệt suốt cả năm mới về. Mẹ tôi bảo, mai tàu xe xa, đừng nên uống nhiều. Bạn bảo, uống chút nữa, cho say cho mê, không mai mốt lại quên đường về nhà. Uống rượu với thịt trâu khô, rượu thật đậm đà. Rồi đi trêu gái. Đi xa quá. Mà đường về chếnh choáng. Tôi đi liêng biêng trên những triền dốc cao. Mỗi thằng con trai lại tìm được một cái bếp đàn bà rồi chui vào ngủ lại. Còn tôi, tôi bị thành thị làm phai mùi mồ hôi, chẳng đứa con gái nào theo nữa. Tôi đi, một mình cũng đi. Có tiếng sáo thổi bài ca gì, thật chẳng nhớ. Và tiếng sáo ngưng. Và trên trán tôi là bàn tay con gái. Anh Toàn đã say rồi, ngồi đây lạnh là mai không đi về thành phố được đâu. Tiếng của Phần. Tôi như lịm đi. Phần bảo, mai anh về thành phố, chắc chẳng nhớ em đâu. Nhưng em thì nhớ anh. Tôi bảo, đàn ông ra thành phố dễ hư hỏng, Phần tin làm gì. Em sẽ ở lại với mẹ, lúc nào thích thì anh về cũng được. Tôi nhìn nước mắt Phần. Nước mắt đẹp. Nhưng tôi bỏ chạy. Phần ngồi phịch xuống cỏ, khóc rấm rứt. Suốt đêm đó quẩn trong thung lũng là tiếng sáo réo rắt. Mờ sáng hôm sau, tôi lách qua phên giậu của mẹ. Tôi đi...
Tôi đi như tháng Giêng mười tám tuổi...

0
Đôi Giày đỏ đã mất
 
Hà Nội tháng Sáu nóng như một con ngỗng ngập trong chảo mỡ. Thế nên tôi thích là một cái bom bia, quay tròn, mát lạnh. Tưng bừng náo nhiệt Hà Nội mùa hè là quán bia hơi, rả rích, lai rai, ồn ào, xôm tụ, gặp mặt, chia tay, hỉ, nộ, ái, ố... Người sành đời uống bia Hòa Mã, uống bia Câu lạc bộ Quân đội. Người đại chúng tấp nập Lan Chín, Hải Xồm. Người giàu vào quán bia tươi, người nghèo uống bia vi sinh, bia cỏ ở gần ga Hàng Cỏ.
Lúc 5 giờ chiều, thành phố như căng ra, hổn hển thở. Tôi đã mất cái cảm giác ngồi quán cà phê bờ hồ Thiền Quang vào buổi chiều từ lâu lắm rồi. Cụng ly, lâng lâng, đêm về ngủ một trận, sáng mai lại thong thả đi làm.
Từ lâu tôi ít khi buồn, tôi bằng lòng với Hà Nội ngổn ngang xưa và nay, cũ lẫn mới, nhộn nhạo như chiếc chân giò lợn nướng dở ở hàng cơm làm món giả cầy.
Thế mà chiều hôm nay, mưa dội xuống, thành phố sùng sũng như cô gái tóc dài đang gội dở đầu thì nước máy bị cúp. Tôi hết hứng uống bia, tôi ngồi ở quán cà phê như một cái lầu cũ, nhìn ra hồ Hoàn Kiếm.
Những đôi tình nhân trú mưa, hỉ hả rúc rích với nhau. Thời sinh viên tôi cũng rúc rích, yêu tưởng như đến chết, uất ức thì cùng nhảy xuống hồ, cùng chết. Giờ cô gái ấy đi lấy chồng, có con và cực yêu chồng, gặp tôi ở Tràng Tiền, cười tươi giới thiệu chồng và con. Viên mãn như nàng, tôi thấy đời sống hôn nhân đâu có tội nghiệp và nghiệt ngã như mấy bài báo hay than vãn.
Thực ra nếu buổi chiều, nếu tôi không uống bia, tôi không uống cà phê thì tôi chẳng biết làm gì. Đời thằng đàn ông độc thân nhiều khi nhạt nhẽo hơn rất nhiều lần của sự tưởng tượng. Gái gú hoài đâm mệt. Những cô gái váy ngắn chân dài, đôi khi giống như một thứ phù hiệu của những gã đàn ông thành đạt, hay chí ít có được một chỗ đứng ổn định.
Và bị ngập lụt lâu ngày, người ta thèm khát một sự khô ráo cô độc, không bị những cuộc điện thoại làm phiền hay những yêu cầu lúc vui thì đáng yêu nhưng lúc mệt thì đúng là rách việc. Đàn ông và đàn bà luôn như vậy, tìm nhau hoài, dò từng chân tơ kẽ tóc, có khi mộng mơ đầu gối tay ấp, nhưng nào có hiểu gì nhau.
Khi chia tay vài mối tình, tôi thấy mình là kẻ thất bại, chẳng hiểu được đàn bà. Đôi lúc ngồi nhạt nhẽo ở cà phê nào đó, thì lại thèm một cặp đùi trắng bóc, lộ ra sau chiếc váy ngắn.
Đôi chân ấy vắt lên nhau, ngồi bên cạnh tôi, để tôi đặt tay lên. Cảm giác như được ngồi cạnh một chiếc máy lạnh. Nhưng tôi cả thèm chóng chán, yêu nhanh rồi tan nhanh. Giờ nhiều khi đi uống bia, tôi cảm thấy sống một mình với bom bia thật thú vị, vừa mát vừa đã khát.
Nhưng buổi chiều hôm nay, thì tôi thực sự đang nhớ Phan.
Trước buổi gặp lần đầu, chúng tôi hoàn toàn xa lạ. Lại cũ kỹ kiểu chuyện tình internet thôi. Lâu lắm rồi, mặt đất này đâu còn gì mới lạ. Phan đến gặp tôi, một cô gái mang dáng dấp digan, không phấn son mà đôi mắt như có lửa. Đôi giày màu đỏ như một bông hồng nhung đệm dưới gót chân.
Anh cứ gọi em là Giày đỏ, cô nói. Em có một tủ giày cùng màu, và mỗi ngày em sẽ mix các chi tiết vào với nhau. Nói rồi cười, rồi uống hết nửa ly nước sấu thơm vị gừng tươi. Sự nồng nhiệt của Giày đỏ làm tôi hơi bối rối. Rõ ràng là tôi thích sự nồng nhiệt của cô gái này.
Hàm răng trắng, đôi môi dày gợi tình, rõ ràng cô xinh hơn những bức ảnh được post trên blog. Tôi gần như bị hút chặt vào hai trái lê chín mọng sau chiếc váy hoa thêu những họa tiết như một cảnh trong màn múa của thổ dân. Thật là một cái nhìn khiếm nhã, tôi tự nhủ trong bối rối.
May là trời hôm đó rất đẹp và chỗ chúng tôi ngồi cạnh Bờ Hồ, nhìn ra Tháp Rùa. Và người ta nói, ngồi đó có thể khiến mọi thứ chạy nhanh hơn bình thường, ví dụ như tim sẽ đập nhanh hơn một chút, như một cách đối xứng với cái đồng hồ trên gác bưu điện ở bên kia đường. Giày đỏ không hề bối rối trước tôi.
Sự tự tin ấy khiến tôi hồi hộp. Nhưng sự tự tin đó cho tôi thấy không phải sự từng trải mà giống như một hơi thở mạnh mẽ.
Tôi ngồi mãi, không biết nói chuyện gì. Đôi khi người ta tinh nhanh trên mạng mà ra đời lơ ngơ đến lạ. Lại là Giày đỏ bắt chuyện. Anh thực ra không khác với blog nhiều, chỉ là xấu trai hơn, anh dùng ảnh photoshop phải không, avatar của anh lừa tình lắm nhé! Không, tôi vẫn thế, chỉ là xử lý ánh sáng một chút thôi. Thế em gọi anh là gì được, gọi là “Một cảm giác rất...” nhé? Cả hai cùng bật cười. Tôi đã từng có một blog cũ, blog ấy tên là “Mr Q nhà số 16”.
Giày đỏ bảo, vẫn dài quá, thôi, em gọi anh là Mr Q. Này Mr Q, có phải anh đã yêu em ngay từ lúc nhìn thấy em không? Mặt tôi tái đi, cảm giác mặt mình xám như ly cà phê nâu đã tan loãng những viên đá cuối cùng. Tôi không giấu được cảm giác đó thật, rõ ràng là sự nôn nao, nhưng yêu nhau được không khi người ta mới vừa gặp nhau chừng ba mươi phút? Tôi nghĩ cô ấy thật cuốn hút.
Tôi cười, cố không bắt mình theo nhịp độ gấp gáp của câu chuyện, nếu cứ dồn dập thế này, chẳng mấy chốc tôi kiệt sức và bỏ chạy. Giày đỏ kể chuyện của cô, về những công việc đang làm, về những bóng tối phía sau khung cửa mỗi khi trở về nhà. Cô sống một mình và yêu thích cuộc sống của một người độc thân.
Người ta độc thân thì có thể đi bar đến quá nửa đêm, uống những ly tequilla rực cháy và hôn trộm vào gáy một gã không phải người yêu từ phía sau lưng. Hoặc người ta cũng có thể thả rông nghĩ suy về một gã đàn ông khỏa thân đi trên phố mà không bị mắng là đồ lăng loàn.
Hay những lúc buồn chán, không có gã đàn ông nào bên cạnh, không còn một đứa bạn “đơn ca” nào bên cạnh, phải sống kiếp solo, người ta có thể rủ đám bạn nhậu chuyên nghiệp ra lề phố, ngồi gọi món mực chiên yêu thích, uống vài chai bia. Rồi nếu say, người ta có thể về nhà, khóc như một đứa trẻ, trút hết uất ức hờn giận đau đớn về những mối tình không đầu không cuối vào những chiếc khăn giấy ướt nhẹp, rồi ngày hôm sau trở lại làm mình, cô gái quyến rũ sôi động múa bụng đẹp tuyệt trần. Những câu chuyện như thế, có phần kích động và rõ ràng là nó thả được một cục hoang mang vào kẻ đối diện.
Tôi là gã khờ và có phần đáng thương trước Giày đỏ. Thế còn anh thì sao? Tôi đớ ra làm Giày đỏ bật cười. Tôi thì sao? Trước khi quen với Giày đỏ thì tôi cũng đã có vài tình yêu, gọi là gì cũng được, yêu đương không quá nồng nhiệt, nhưng rõ rệt là chân thành. Nhưng rồi, hiếm cô gái nào ở lại. Họ chỉ thích đi cùng tôi chừng một đoạn đường vui. Nhiều người nghĩ tôi tán gái, ngủ nghê chán chê rồi lượn mất. Kỳ thực phụ nữ là giống loài thông minh, khi họ phủ lên não bộ một bầy chữ nghĩa, họ sẽ là kẻ dẫn dắt đàn ông vào mê cung của mình. Rồi khi mọi chuyện trở nên viên mãn, cảm giác bất an về tương lai khiến họ chới với và họ thực sự không muốn tiếp tục với người đàn ông yêu cho vui thì thích chứ làm chồng thì còn lắm dò xét băn khoăn. Thế là tình vỗ cánh mà đôi khi không thực sự quá đau đớn. Riêng tôi thì buồn, vì cảm giác đàn ông thua cuộc và vì tôi là kẻ lụy tình. Nhưng sau vài “điệp vụ”, như một thứ bệnh tái kết hợp nan y, tôi trơ lỳ như một gốc cây trên phố, cười khẩy với chuyện yêu đương. Tôi cứ tưởng tôi già trơ, những bữa bia tràn lan khiến tôi thành gã đàn ông chua loét. Vậy mà tôi hỏng bét khi gặp cô gái này. Thực sự, có cảm giác như tôi đã gặp Giày đỏ ở đâu đó, có thể trên sàn khiêu vũ, hay đơn giản hơn là gặp cô đi mua đồ ở siêu thị Big C. Giày đỏ nói, thực ra cô biết rõ tôi là ai, thời học sinh cô đọc truyện của tôi trên báo Hoa Học Trò, không thích lắm vì cảm thấy sến và đầy buồn bã.
Cô đã từng nghĩ tôi sẽ là một gã nào đó, yếu ớt và đeo một đôi kính cận, ngồi nhặt lá đá ống bơ để tìm cảm hứng. Rõ ràng là thiên hạ đã vẽ chân dung những người sáng tác như một thứ quỷ sứ bệ rạc. Cô nói đầy hào hứng. Còn tôi thì cười như ma làm. Chê người khác là một nhu cầu xả stress của nhiều người. Nhưng Giày đỏ có được ưu điểm là chê một cách hài hước.
Tôi thích cô mỉa mai như thế, nó vừa hóm hỉnh vừa ngộ nghĩnh. Nó làm tôi thấy những gì mình viết ra không thật nhạt nhẽo và nó có ý nghĩa hơn rất nhiều những lời khen đáng tởm khi kỳ thực không nhớ được tôi là kẻ viết văn hay làm thơ. Chúng tôi nói chuyện văn chương khá say sưa.
Và trời đã sập tối lúc nào chẳng biết. Tôi thấy hơi đói bụng. Và cảm giác bia bọt bạn nhậu lại réo rắt qua điện thoại. Tôi nghe điện thoại và liếc nhìn đồng hồ. Rõ ràng tôi thích được ngồi với cô gái này. Nhưng Giày đỏ lại nắm ý tôi thật gọn, anh sẽ đi uống bia với bạn, cho em đi theo được không? Cứ coi như chúng ta cụng ly cho cuộc hẹn đầu. Thế thì còn gì bằng, tôi nghĩ vậy, nhưng lòng cũng không thật chắc.
Cảm giác đưa một cô gái mới quen đến một quán bia hơi ồn ào thì có điều gì bất nhã. Hơn thế, tôi có thể bị những ly bia đánh gục bất cứ lúc nào. Và khi ấy, chẳng biết điều gì sẽ xảy ra với bản năng gốc không được hiền lành cho lắm của tôi.
Nhưng tôi đâu có quyền chối từ. Tôi hỏi, em có thực sự nghĩ rằng mình phù hợp với quán bia hơi không? Chúng ta có thể đi uống bia tươi, ở một quán bar nào đó. Giày đỏ cười ngất, cô ôm eo tôi rất tự nhiên. Con gái mặc váy đi xe máy, hẳn nhiên ôm eo đàn ông rất đẹp.
Tôi cười thầm, cảm giác như mua được hàng khuyến mãi. Giày đỏ bảo, em thích uống bia hơi, em thích là một cốc bia hơi, tan ra trong những người đàn ông, mát lạnh và đầy hưng phấn. Cô gái kỳ lạ, đẩy đưa tôi đến với những bất ngờ ngoạn mục.
Khi chúng tôi tới nơi, Cao, anh bạn của tôi đã ngồi chờ. Cao có hứng thú uống vài vại bia trước khi về nhà ăn cơm với vợ. Anh ta có một cô vợ đẹp và một cậu con trai kháu khỉnh, đời sống thảnh thơi, lương bổng dư dả. Nhìn thấy rõ ở Cao khả năng chung thủy cao, vì anh ta không hứng thú lắm những câu chuyện tình yêu của chúng tôi.
Cả tòa soạn chưa ai nghe tiếng Cao ngoại tình, hay đại loại là có quan hệ nào đó mờ tỏ. Xét về mọi phương diện, Cao hơn tôi một bậc. Nhưng anh ta thích uống bia cùng tôi. Chỉ đơn giản vì uống cùng nhau thì cảm thấy vui, nói chuyện lảm nhảm vui vẻ, dăm ba chuyện báo chí, vài câu chuyện hậu trường...
Cao khá bất ngờ trước sự xuất hiện của Giày đỏ. Anh ta đỏ bừng mặt. Giày đỏ ngay lập tức xóa nhòa những khoảng cách. Em là Phan, em muốn ngồi cạnh anh, em muốn uống cùng anh một cốc bia. Biết đâu đây là lần duy nhất trong đời? Biết đâu ngày mai chúng ta lại chẳng còn dịp nhìn thấy nhau nữa?
Chúng tôi ngồi trên sân thượng, gió mát lồng lộng, quán tấp nập dập dìu, thiên hạ này quả nhiên lắm người khao khát được nói được cười. Bia mang ra, ăn cá chép om dưa, ăn bò cuốn lá cải. Giày đỏ tỏ ra không nao núng trước các bậc nam nhi. Cô mời tôi, mời Cao, mắt lúng liếng, miệng tươi cười, má mọng đỏ như mận chín. Nhưng rõ ràng là cô không phải kẻ biết uống bia. Nhìn cô nhắm mắt tu ừng ực cốc bia là biết kẻ học đòi bợm nhậu. Tu xong ly bia, cô gần như muốn ngất đi, như thể vừa uống xong một liều thuốc độc.
Nhưng chỉ trong giây lát, cô trở lại linh hoạt. Rồi cô bị cuốn vào những lời mời chào bên cạnh. Cô cụng ly, cô cười đùa. Bất giác, cô nhảy phắt lên chiếc bàn còn trống và lắc bụng điệu nghệ, những quả chuông nhỏ treo trên chùm chìa khóa bất giác leng keng rộn ràng.
Tất cả đàn ông đứng bật dậy, những tiếng “dzô!” tưng bừng, biến cái sân thượng trở thành một sân khấu dã chiến. Cô càng múa càng say, tay cầm ly bia lắc lư, vừa múa vừa uống. Có sự chen lấn, có tiếng những ly bia đổ vỡ, vang động nhất vẫn là những tiếng hò reo không ngừng của đám đàn ông đã ngấm hơi men.
Tôi cảm thấy mình như bị say, lao vào, lôi cô xuống, cố gắng níu cô dừng lại. Phải mất ít nhất 10 phút, tôi mới lôi cô trở lại bàn trong trạng thái tiếc rẻ của đám đàn ông cuồng loạn. Cứ đến những chốn thế này, cứ chứng kiến những cảnh này, mới thấy đàn ông cuối cùng cũng vẫn chỉ là những con giống đực hồn nhiên và đặc biệt bản năng khi có rượu bia mớm lời.
Khi chúng tôi ngồi lại bàn thì Cao đã bỏ về. Rõ ràng Cao không thích hợp với những nơi chốn như thế này. Và cũng đã đến giờ anh ta về với vợ con, người đàn ông của gia đình mẫu mực hiếm thấy. Giữ anh ta ở lại trong khi cả một gia đình đang ngồi bên mâm cơm chờ đợi, đôi khi tôi thấy mình trơ trẽn.
Cao đã về. Tôi chắc chắn điều ấy khi anh ta nhắn tin lại vào máy di động, rằng anh ta thực sự không thích Giày đỏ. Anh ta dặn thêm, nếu muốn qua đêm với một ai đó, ít nhất cũng nên tìm hiểu xem nơi chốn của cô ta có thực sạch sẽ để bạn đưa con giống quý báu của mình đến bến bờ hạnh phúc hay không. Nói rõ dài và rõ văn hoa, mà tóm lại vẫn là chuyện ngủ nghê giường chiếu. Đôi khi tôi ghét Cao ở những điều lặt vặt như thế...
Chúng tôi xuôi cầu thang. Sau một câu chuyện bất ngờ, tôi cảm giác như Giày đỏ có phần hơi hối lỗi. Cô đi hơi lảo đảo, miệng váng vất hơi men lẫn trong hơi bạc hà. Giày đỏ hơi gục vào vai tôi. Chúng tôi đi qua những con phố. Hà Nội vào những đêm chưa khuya lắm, những con phố lớt đớt ánh đèn, các cửa hàng đang xếp gọn đồ và khóa chặt, nhìn rõ những mặt đường rộng dài và gió thốc từ đầu phố tới cuối phố, mát lạnh.
Tôi đã đi nhiều đêm trên những con phố như thế, cảm giác như mình đang đi vào bên trong một người đàn bà trẻ, không nơn tơ phơi phới mà đủ sự từng trải để biết mình nồng nàn. Giày đỏ hỏi, bây giờ anh có muốn đi tiếp cùng em không hả Mr Q?
Tôi hỏi, chúng ta sẽ đi đâu? Giày đỏ bảo, thực ra đi đâu không quan trọng, quan trọng là anh có còn sức để tiếp tục hay không mà thôi. Lúc đó tôi cứ ước, giá mà cô ta huỵch toẹt rằng em muốn về nhà và chúng ta lên giường cùng nhau, nó sẽ kết thúc mọi cảm giác day dứt.
Nhưng Giày đỏ không làm vậy. Tôi bắt đầu quặt tay lái về phía bờ sông. Chỉ sang phía bên kia cây cầu Chương Dương thôi, có thể chiếc xe này sẽ chui tọt vào một tòa nhà cao cao rồi mọi chuyện sẽ theo tuần tự như những cuộc mây mưa qua đường khác. Giày đỏ thực ra cũng chỉ là cô gái đến từ buổi chiều thôi mà.
Xe đang đi qua cầu, Giày đỏ đột ngột bắt dừng lại. Cô ngồi vắt vẻo trên lan can, bắt đầu nói huyên thuyên. Thực ra chuyện quê hương, chuyện những ước mơ và những kỷ niệm ai cũng có. Chuyện của Giày đỏ không có gì khác lạ. Tôi mặc kệ cho cô nói chuyện một mình. Còn tôi ngồi hút thuốc lá vã. Thực sự đầu tôi lúc đó trống rỗng. Giày đỏ, em là ai?
Giày đỏ đã nói xong, cô gần như đã rút mọi sinh lực cho cuộc chuyện trò với dòng sông. Rồi cô vịn vào thành cầu, nôn thốc nôn tháo. Tôi xốc cô dậy. Cô gục đầu vào vai tôi. Cô nói cô muốn đi về nhà. Nhưng cô cũng chẳng nhớ được đường về. Cô hỏi có thể về nhà tôi được không? Hoặc nếu không thì cứ vứt cô vào một khách sạn nào đó.
Hoặc nếu tôi sợ láng giềng dị nghị thì cứ cho cô về đó, mờ sáng ngày mai cô sẽ ra đi. Tôi lại thấy hưng phấn với tình huống này, bởi nó cho tôi cảm giác giống phim Hàn Quốc. Tôi thích phim Hàn Quốc vì có những chi tiết điêu toa không chịu được, nhưng rồi bất ngờ một ngày mình gặp thực sự trong cuộc đời mình. Tôi cá rằng, cô cũng rất mê phim Hàn Quốc.
Tôi tặc lưỡi, tôi đã mang tiếng rồi, từ cơ quan cho đến hàng xóm, thêm một lần cũng chẳng chết ai. Khi cánh cửa được cài chốt, tôi đưa Giày đỏ vào giường, đắp cho cô một chiếc chăn mỏng rồi chui vào toilet. Tôi thích hát trong toilet vào những khi vòi sen tỏa rộng. Tôi cảm giác rõ ràng mình còn rất nhiều năng lượng.
Ôi nhìn Giày đỏ đang nằm trên giường thiêm thiếp, cảm giác như chiếc khăn quấn quanh người ngột ngạt. Cuộc sống nhiều khi tạo ra những khúc quanh, cho ta những phần thưởng bất ngờ như thế này, có uổng quá không khi ta không chịu hưởng?
Tôi nằm xuống bên cạnh cô gái. Giày đỏ gần như nín thở. Có điều gì đó khiến tôi thấy cô gái này quá mâu thuẫn, sự nổi loạn, những phá phách và cảm giác sợ sệt. Tôi nằm xuống. Không ép buộc. Tôi nhủ lòng, không bao giờ được ép buộc cô gái này.
Tôi ôm cô vào lòng. Giày đỏ người mềm nhũn, cảm giác cô như một kẻ phạm tội bị bắt sống. Giày đỏ không nói, cô rúc đầu vào nách tôi, cô giả vờ ngủ. Nhưng Giày đỏ có vẻ mệt. Tôi im lặng. Đã 3 giờ sáng, tôi rơi vào một giấc ngủ chập chờn. Thật khó gọi tên cảm giác ấy. Một cảm giác khó thở. Giày đỏ, em là ai?
Nếu như những truyện ngắn cũ, chắc tôi sẽ viết rằng, tôi cao thượng và bỏ đi, để cô gái này ở lại. Nhưng sự thật lúc nào cũng mạnh mẽ hơn trí tưởng tượng. Buổi sáng hôm sau, chúng tôi tạm biệt.
Giày đỏ nói, đó là buổi sáng cuối cùng cô ở lại Hà Nội. Buổi trưa, cô đã lên tàu. Cô vào Nam kiếm việc làm. Cô đã mất ba năm học việc và đi làm bartender trong một quán bar. Lẽ ra cô chẳng bao giờ có ý định gặp tôi, yêu một người chỉ ở trên blog, như vậy thú vị hơn. Nhưng đêm trước, cô đã bị mất việc và cô không thể ở lại thành phố này.
Cô đã khóc quá nhiều rồi. Và cô thèm một lần quậy phá. Bất giác, cô bật cười, anh thực sự là một gã ngốc còn sót lại trong thành phố. Nhưng có lẽ vì thế mà em yêu anh. Em đi đây! Em sẽ sống như một bà cô trinh tiết! Tôi cũng bật cười, chua chát, sự thật phũ phàng hơn rất nhiều Giày đỏ ạ, nhưng đến giờ thì nó đâu còn ý nghĩa gì đâu?
... Tôi đã nghĩ mình sẽ quên. Một câu chuyện bông phèng trong biết bao ngẫu sự ở đời. Em vào Nam, chuyến tàu dài dằng dặc. Chuyến tàu không mang màu nước mắt. Nhưng tôi đã mất em khi chưa kịp thấy em. Đã biết bao lần tôi đi về phía thành phố mặt trời, hàng chục triệu khuôn mặt, tìm mãi không ra được cô gái múa bụng với những quả chuông kêu leng keng. Cô chỉ đến với tôi một lần thôi, như một cơn mưa ban trưa, rất vội. Rồi cô đi. Trang blog đã hóa thành hoang mạc.
Tôi đã ngồi không biết bao lần trên sân thượng, trên chiếc bàn mà tôi đã uống bia với Giày đỏ. Tôi lại ước mình là một cái bom bia...

0
Không khóc ở Hà Nội
 
Buổi tối nào đó Hà Nội rũ mục trong quán cà phê ẩm mùi lá phượng rơi lã chã vào những ly nước. Người ta gọi đó là cà phê phượng. Còn tôi gọi nó là cà phê chát.
Buổi tối nào đó, Hà Nội như một giấc mơ cũ kỹ trong chiếc hòm gỗ cha tôi đóng trong ngày tôi được vào đại học. Tôi đã không giữ được ký ức nào nguyên vẹn. Tất cả đã nhòe lẫn vào nhau. Cha tôi thì già rồi. Cha tôi không nhớ được gì nhiều. Còn tôi, chẳng phải tôi đã cố gắng để quên được càng nhiều càng tốt?
Buổi tối nào đó, tôi và sếp ngồi cạnh nhau trong quán cà phê đầy muỗi. Sau cơn dông buổi chiều, mưa chụp xuống những tòa cao ốc như những thác nước dội xuống những quả đồi vuông trong thành phố. Nhưng sau đó, vào lúc hoàng hôn, bốn góc thành phố hừng lên thứ ánh sáng lấp lánh nuối tiếc. Trời đẹp như cô gái điếm vừa sau cuộc mây mưa thanh thản tiền bạc mà chợt ánh lên sự thanh khiết đáng ngờ. Tôi khuấy ly cà phê cho sếp, giọng đã khàn đi vì suốt cả ngày hút thuốc lá quá nhiều. Sếp à, phải chi chị đừng quá đẹp và đừng làm sếp, thì chắc là tôi yêu chị mất. Sếp bật cười, phải chi cậu đừng ngu ngốc một cách đặc biệt và đừng có xấu trai một cách lạ lùng, có thể tôi sẽ dành hy vọng cho cậu theo kiểu 50/50. Sếp và tôi có cùng điểm xuất phát. Vậy mà sếp đã thành một ngôi sao truyền hình. Lộng lẫy không chịu được... Sếp bảo, hôm qua con trai chị theo ba nó đi Mũi Né. Chị được tự do một tuần, không phải nghĩ tới việc hàng đêm đọc truyện cổ tích cho con nghe và mỗi khi mẹ đọc sai thì con trai sẽ “nhắc vở” mẹ, hệt như người nhắc tuồng đứng sau cánh gà còn mẹ miễn cưỡng làm ngôi sao không thuộc thoại. Nó vừa gọi điện cho mẹ, bảo bạn gái của ba vui tính lắm, cho con uống rượu vang. Chị gắt con đừng uống, thằng bé cười rinh rích, con chỉ uống chút thôi. Mai con đi trượt cát rồi. Cả nhà cùng trượt. Mẹ có muốn nói gì với ba không? Chị không biết nói gì. Thấy hạnh phúc và hôn nhân cũng như nền kinh tế, lắm khi suy thoái và lạm phát trầm trọng nhưng rồi cũng ổn định dần và mọi vết thương sẽ được lành lại. Tôi bảo sếp, chị có cảm giác ghen tuông với tình yêu mới của chồng không? Sếp cười, đàn ông đẹp đẽ theo tôi cả đàn, tiếc gì con cá mất. Sếp nói rồi tợp ngụm cà phê lớn, nuốt đánh ực. Con cá mất nào cũng là con cá to! Nhất là khi cá to ấy lại đang đua thuyền cùng cá khác ngoài biển lớn. Cá ấy không dại gì nhốt mình đêm đêm trong căn nhà to rộng giữa thành phố, biến thành kẻ bảo mẫu tội nghiệp, ngồi sừng sững như hòn vọng thê xem bóng đá qua ngày. Còn người đàn bà lộng lẫy trên danh nghĩa là của mình nhưng thực chất đã ôm nghiến lấy một đống gã màn hình phẳng ngày đêm, đến khi mệt lử thì nằm lăn lông lốc ra giữa trường quay mà ngủ vạ vật rồi gà chưa kịp gáy đã lại lục tục phấn son cho chương trình tin sáng. Mất năm năm để sếp thành sếp như bây giờ. Sếp mất đi một người đàn ông có cưới cheo đàng hoàng, có kết hôn và có ly hôn. Nhưng tất nhiên, sếp có rất nhiều người đàn ông khác đang ngồi ghế dự bị. Còn tôi, tôi không có gì, không mất gì.
Dạo này Hà Nội tự nhiên lắm mưa. Như thể người Hàn Quốc hay khóc hồn nhiên trên phim truyền hình Hàn Quốc. Những lúc ấy, ở một góc nào đó, sếp hay nhắn tin rủ rê tình tứ, rằng sếp có chừng ba chục phút cho một cốc cà phê nguội, rằng tôi có diễm phúc ngồi cùng gái đẹp lại nổi tiếng. Có rất nhiều kẻ sẵn sàng trả tiền để được ngồi cùng chị. Nhưng tôi biết, có thể ngồi cùng chị sẽ biến buổi chiều thành bí mật đáng nhớ hoặc sẽ biến nó thành một cuộc cãi vã không khoan nhượng. Đàn bà làm truyền hình dường như là những loại đàn bà tham vọng. Tham vọng như những cơn cuồng loạn cuốn vào khóe mắt vành môi họ. Chính điều ấy làm cho họ quyến rũ hơn... Thành phố sau cơn mưa, sếp nói, giống như người phụ nữ qua kỳ sinh nở mệt mỏi, mọi thứ đều thấy thoải mái thênh thang không gìn giữ. Và sau cơn mưa, hình như cả chiếc ghế trong quán cà phê cũng sạch hơn lên. Sếp hỏi, cái băng đã dựng xong chưa? Tôi ngập ngừng. Cuốn băng đó chưa được dựng. Câu chuyện về những người mẹ bỏ rơi con mình. Có thật là họ vô tâm đến mức sẵn sàng bỏ rơi giọt máu thiêng? Câu chuyện không giản đơn như chúng ta cố tình gán ghép cho họ. Sếp gần như muốn đứng bật dậy. Nếu chiều mai cậu không có cái băng đó hoàn chỉnh, cậu nên làm đơn chuyển qua ban khác. Tôi ấy, về một mặt nào đó, cũng chỉ là thân trâu ngựa ở cái cơ quan này thôi. Và tôi cũng biết rằng, người ta sẵn sàng hy sinh một tên phóng viên lêu lổng như tôi chứ không bao giờ bỏ rơi một ngôi sao truyền hình như chị cả. Nhưng tôi ấy, tôi luôn nhớ, thầy giáo của chúng ta dạy rằng, nhà báo chỉ được quyền nói lên sự thật mà thôi. Chúng ta ép những người phụ nữ ấy thành những kẻ vô lương tâm ư? Sếp bật cười, này trái tim kiêu hãnh và lòng tự trọng trào sôi, chúng ta chẳng phải là những đứa thực tập sinh ngớ ngẩn. Cậu, về một mặt nào đó, hơn tôi rất nhiều trong kinh nghiệm làm nghề. Cũng cậu, biết rất rõ rằng, những ranh giới nào nên dừng lại. Chiều mai cậu nên nộp băng...
Tôi đã ngồi rất lâu trong buổi tối hôm ấy. Quán cà phê sau cơn mưa luôn nhiều muỗi. Người ta đã đốt những cây hương muỗi. Ban đầu mùi hương lan ra có thể khiến người ta ngất đi. Nhưng lâu dần lại trở thành một thứ hương vị. Tôi đã không chở chị về. Chị đi trên chiếc xe rất đẹp của mình. Sếp à, sếp đẹp quá làm gì, mà lại thêm nghiệt ngã nữa!
Trong một khoảnh khắc nào đó, tôi đã nhớ sếp của những ngày tháng cũ biết bao nhiêu. Cuộc sống luôn bắt chúng ta phải đi theo những con đường không ai muốn. Sếp ngày ấy sẵn sàng đi cùng tôi sáng đêm để thực hiện phóng sự về những đứa trẻ nhặt rác trong thành phố. Sếp đã đủ nước mắt để khóc cho chú bé nghèo mơ có một chiếc áo mới vào ngày khai trường. Sếp âm thầm nhờ người bạn thân của mình may một chiếc áo sơ mi thật vừa và lặn lội trở lại Sóc Sơn đưa cho chú bé. Có thể chiếc áo ấy sẽ là báu vật mãi mãi của một đời người. Và bây giờ thì sếp đã quên đi rồi. Tôi không trách sếp những điều này. Trong cuộc chơi của tham vọng quyền bính, người ta buộc phải biết luật và phải biết bỏ lại sau lưng mình những cánh đồng hoang hóa không mang lại lợi ích, bỏ cả những bè bạn mà không giúp sức được cho bước đi tiếp theo. Tôi thích sự sòng phẳng ấy ở sếp. Người phụ nữ này, từ một góc nào đó, tôi có thầm ngưỡng mộ. Tôi đã có vũng tối im lặng không muốn kể lại. Tôi đã vội vã bỏ chạy cùng chiếc camera trong buổi đi làm phóng sự về cảnh giải trí ở xóm trọ công nhân, bỏ lại chị cùng đám công nhân vừa mải mê xem phim sex lao ra đầy cuồng nộ. Dường như chị đã được giải thoát bằng một cách nào đó. Nhưng, tôi đã không đủ sức để bảo vệ người phụ nữ bên cạnh mình. Cái băng ghi hình ấy đã không thể làm tin phát sóng. Chúng tôi đã bỏ cả thời gian và đánh cược cả tính mạng cho một cuộn băng vứt đi. Để sau đó, một tiền bối đã làm lại, đoạt một giải thưởng báo chí cỡ bự. Khi tiền bối đoạt giải, chúng tôi đã chở nhau trên chiếc xe máy cũ đi một vòng tròn thành phố. Hình như hôm đó sếp đã ôm tôi rất chặt. Sếp đã không nói gì. Nhưng nước mắt sếp đã chảy ròng rã trên vai tôi.
Tôi luôn nhớ về sếp trong những ký ức buồn bã và lộng lẫy ấy. Tâm trí tôi tự khoác lên chị một bộ xiêm y rực rỡ nhất. Để rồi, giờ đây, ngồi trong căn phòng này, biết bao nhiêu nóng lạnh của đời sống chảy qua tâm não tôi, tôi vẫn không muốn đổi thay hình ảnh chị. Tôi đã ước ao sếp là Phan của ngày dám khóc trước mặt tôi, những giọt nước mắt biết đổ vỡ. Dựng xong chưa? - sếp đã đến. Về cơ bản đã xong rồi. Nhưng tôi muốn xin chị thêm 10 giây. Để làm gì? Tôi muốn nói thêm câu cuối cùng, bày tỏ quan điểm riêng của mình. Không được, ngớ ngẩn, trữ tình ngoại đề. Chị đã nghe đâu nào? Tôi chỉ nói là không được. Những người làm tin tức là những người biết đứng ở giữa những ngọn giáo mà không ngọn giáo nào chạm được tới mình. Phan à... Nếu có thêm thông tin mới, chúng ta sẽ trở lại đề tài này cũng không sao, cậu hiểu không, sếp vỗ vai tôi, giọng mềm trở lại. Giọng sếp rất biết mượt đúng lúc. Nhưng lúc này đây nó lại làm cho tôi cảm giác sợ hãi. Sếp à, tại sao chúng ta lại phải giam mình trong một rãnh mòn thông tin dốt nát? Nhưng nếu cậu rơi vào hoàn cảnh ấy, cậu có tha thứ cho mẹ mình được không? Tôi đứng im như màn hình bị bấm nút tạm dừng. Sếp đặt tôi vào cái nơi mà tôi đã muốn quên đi rất nhiều. Tôi đã hằng ngày tẩy rửa nó và cất kín như chiếc hộp đen máy bay, chỉ khi nào mọi thứ tan hoang thì mới cần đến, mới phơi bày. Tôi ư? Sếp, khi cha tôi nhặt tôi từ một góc chợ về nhà, cha tôi không nghĩ tôi sẽ thành một nhà báo. Khi cha tôi đóng chiếc hòm gỗ cho tôi đựng chiếc vòng bạc nhỏ xíu mẹ tôi đeo vào cổ tôi khi bà để tôi lại trên mặt đất, để tôi về thành phố mà không quên gốc gác của mình, cha tôi cũng không nghĩ rằng tôi có ngày sẽ đối diện với thực tế này, sẽ làm phóng sự về những người mẹ buộc phải bỏ rơi những đứa con. Ông luôn nghĩ tôi là một phóng viên truyền hình vĩ đại của một công ty truyền thông đẹp đẽ gắn biển vàng rực rỡ ngoài building kia. Và cũng có nhiều lúc tôi ngồi trong căn phòng này nghĩ như vậy. Nhưng sếp à, chưa một lần tôi oán mẹ. Tôi vẫn tin rằng mẹ tôi ở một nơi nào đó và bà đang cầu phúc cho tôi. Tôi đang sống và đứng nói chuyện với chị, chẳng phải cuộc sống này là do mẹ tôi sinh ra? Tôi không tha thứ, thì tâm hồn tôi nương tựa vào điều gì?...
* * * * *
Sếp lái xe đến nhà, mang đồ ra chất vào cốp xe, đưa tôi lên sân bay. Tôi đùa, sếp à, tiếc nhất là không được nhìn thấy sếp đẹp mỗi ngày thôi. Sếp cười, chẳng phải vì khuôn mặt này mà cậu bỏ đi sao? Thực lòng tôi không nghĩ vậy. Nước trong ống bao giờ cũng phải dài cho vừa lòng ống. Sếp im lặng. Tôi chỉ muốn hỏi chị một cách thành thật, rằng chị có hạnh phúc không? Nhưng tôi đã phải mang câu trả lời lặng im của sếp vào một thành phố khác. Hạnh phúc bao giờ cũng là trò chơi bí mật nhất của loài người. Khi chị quàng tay qua cổ, hôn lên trán tôi, tôi gần như muốn bỏ chạy. Tôi đã ngăn mình không khóc ở Hà Nội. Chỉ là những giọt nước mắt tự chảy. Nó được sinh ra và phải chảy hết mình. Thế thôi...
0
Massage thương nhớ
 
Không có ước mơ nào trong đêm cô tròn mười bảy tuổi.
Người đàn ông ngồi ngó ra cửa sổ. Ngôi nhà phủ đầy bóng tối, ngoài kia là những tàng lá ướt nước, phả lẫn mùi gỗ mục với mùi những chiếc lá bị mưa quật nát. Mùa hạ phủ làn hơi ẩm quanh thân thể cô. Như mùa xuân thì năm cô mười ba tuổi, bất giác thức giấc trong một đêm thu, cô chợt nhận ra mình lớn nhanh như một cái cây, từng thớ thịt như tự nảy nở và vươn dài, vòm ngực nhú cao vời vợi và vùng thiêng liêng diệu vợi như cỏ ướt. Náo nức và say mê. Người đàn ông chậm rãi, tiếng nói mỏng như làn khói thuốc lá đang phả tràn qua khóe môi. Ngày mai anh phải đi. Anh đi lâu không? Sáu tuần. Không quá dài. Nhưng mà em sẽ buồn. Ừ, anh cũng buồn. Anh buồn vì xa em à? Người đàn ông quay lại, quàng tay qua eo cô, hôn lên ngực cô, nụ hôn có mùi rượu rhum. Không trả lời. Anh chưa bao giờ nói yêu cô. Và cô sợ rằng, khi anh biết cô mới vừa bước qua tuổi mười sáu, anh sẽ bỏ chạy. Vì trách nhiệm. Và phần nhiều, trong những câu chuyện tương tự, đàn ông đều hèn nhát như nhau.
Cô thắp nến. Những cơn gió lất phất trong căn phòng rộng. Cô vẫn để mình trần, lục tìm những món đồ cần thiết, xếp vào chiếc va-li của anh. Cô tần ngần nhìn hộp bao cao su đã vơi quá nửa. Rồi lặng lẽ xếp vào bên cạnh những chiếc underwear sáng màu. Và nhìn sợi dây ngũ sắc cô mang về từ một chuyến đi rừng. Cô mang đến đeo vào cổ tay anh. Nhưng anh đã cất sâu vào ngăn tủ. Dường như anh đã quên. Cô nhìn ngắm sợi dây. Trong vùng sáng tối bập bùng, cảm giác như những sắc màu đang nhảy múa. Cô nhớ, người phụ nữ dân tộc đã tết chúng vào nhau trong buổi chạng vạng nắng, bóng tối cũng chấp chới phủ dần từ đỉnh đầu xuống khuôn mặt bà. Cô kiên nhẫn chờ đợi và nghĩ đến việc cô sẽ tết chúng vào đai những chiếc quần vải đũi anh hay mặc. Cô thích ngắm nhìn anh mọi lúc, mọi nơi, trong căn phòng này, cả khi anh mặc chiếc áo thun trễ nải hay khi anh không còn chút tơ lụa nào trên người, thân thể đẫm nước bước ra từ phòng tắm. Cô thấy mình kiệt sức mỗi khi nghĩ đến việc phải thốt ra câu nói yêu đương nào đó. Tự thẳm sâu cô biết, mình đã thuộc về người đàn ông này. Cô biết, khi cô cảm nhận được sự dịu dàng nhưng cương quyết của anh, khi xâm chiếm cô. Cô biết, khi anh nấu cho cô bát canh thiên lý, đút cho cô từng đũa, cũng trong căn phòng này, trước khung cửa sổ này, trong một chiều sau giông gió như buổi chiều này. Và cô biết, người đàn ông có đôi môi dày hơn bình thường này, nếu có rời bỏ cô cũng sẽ không làm cô tổn thương. Nhưng cô đã không dám nghĩ tiếp, cô không muốn mình yêu anh quá nhiều, cô muốn cô sẽ là người bỏ lại phía sau, để lẫn vào thành phố này, mà anh sẽ không bao giờ tìm thấy.
Cô mang chiếc quần short vải thô ra cửa sổ và bắt đầu tết những sợi dây ngũ sắc vào đai quần. Ngọn nến tí tách cháy. Và trên môi anh điếu thuốc đỏ rực. Anh ôm cô từ phía sau, nụ hôn ẩm ướt lướt trên da thịt. Cô lại muốn rơi vào vòng xoáy này. Cô quay lại. Cô cảm nhận anh đang bước vào cô, từng bước. Nhịp nhàng. Và chắc chắn. Người đàn ông dịu dàng ba mươi tuổi.
* * * * *
Tôi nói với Đỏng Đảnh, ngày mai tôi đi. Trời cuối mùa hè mang cảm giác của cô gái đôi mươi, chứa nhiều mây và bão tố, nhưng luôn cởi mở và nhựa sống tràn trề, giận dữ trút sạch và lại tươi xanh lồng lộng không gợn đục. Những ngọn cây ngoài vườn cũng căng tràn trên búp cành, chuẩn bị một mùa ra trái, trước khi bước vào mùa thu chín. Tôi ngồi nhìn ra khu vườn, bóng lá lấp loáng nước dưới ánh trăng. Từ khi gặp Đỏng Đảnh, chúng tôi thường thích những buổi chiều tối. Hai đứa đi bộ dưới những tàn cây, cùng ăn bữa tối ngoài tiệm ăn quen thuộc. Đỏng Đảnh mua những cây kẹo mút bên một góc phố, và ở góc đầu hồ nhỏ mua cho tôi một bao thuốc lá thơm. Đến đầu dốc, cô hay giả bộ mỏi chân và bắt tôi cõng. Tôi thường cõng cô lên tới căn gác nhỏ, nơi đựng cuộc đời tôi suốt ba năm qua, với ngập tràn rác và bề bộn sách. Trước khi Đỏng Đảnh buộc tôi vào chúng tôi cùng uống chút gì đó và Đỏng Đảnh thường không chờ đợi được cạn ly rượu. Cô nói, cô thích tôi bởi tôi là nhà văn. Điều này làm tôi cảm động. Hầu hết các cô gái đẹp bây giờ nghe thấy hai chữ nhà văn là bắt đầu bỏ chạy. Đỏng Đảnh đọc rất say sưa những truyện ngắn trong tập “Bình Nguyên Đỏ”. Cô nói, hầu hết những truyện trong ấy rất sến. Nhưng có chút ít đẹp đẽ. Nó hợp với cô. Và cô hay lấy những chi tiết mà cô cho là ngớ ngẩn, viết ra những tờ giấy vàng, dán lên khắp bức tường. Nó thực sự là món thuốc làm tôi đủ bật cười mỗi khi cáu giận. Tôi không giàu. Tôi thất bại trong hôn nhân. Và tôi luôn cảm thấy kiệt sức khi nghĩ đến việc bắt Đỏng Đảnh biết sự thật ấy và biết rằng tôi trót yêu cô. Tôi không đủ tốt để bước vào cuộc đời cô gái này. Tôi có một cuộc đời vá lại, và cô thì vẫn còn quá nguyên vẹn để phải đánh vỡ mọi thứ. Tôi nói với Đỏng Đảnh, anh cũng rất buồn. Đỏng Đảnh nói, anh buồn vì phải xa em ư? Tôi thở dài. Cái thở dài trôi vào lòng tôi như khói thuốc cay xé. Tôi thích cái dây cô mua cho tôi, nó luôn đẹp bất ngờ vào mỗi lần tôi nhìn thấy. Và tôi luôn hình dung ra hình ảnh cô với chiếc váy ngắn đi đôi giày màu đỏ rực thả bộ xuôi dốc. Chân cô dài và trắng như bãi cù lao sông Hồng. Tôi nói với Đỏng Đảnh, tôi thích sợi dây này và sợ sẽ đánh mất nó nếu mang nó bên mình. Tôi là kẻ có trí nhớ suy tàn, rất hay nhầm lẫn và quên ngày tháng. Tôi sợ đánh mất hình ảnh cô gái tươi sáng trong những khoảnh khắc này, nếu tôi cứ quá gắn bó, quá yêu và quá ràng buộc. Tôi cũng sợ sự ích kỷ đôi khi lớn mạnh như sóng thần, có thể phá tung tất cả. Nhưng, sự hèn nhát bám lấy tôi đến mức, khi tới sân bay, tôi vẫn không dám nói với cô rằng, tôi muốn giữ lại mãi hình bóng này, thân thể này, trong không gian này, ở những khoảnh khắc cô ở bên tôi. Bởi khi ấy cô thanh sơ và thành thật. Vì thế nên tôi ra đi...
* * * * *
Trước khi anh bước vào hàng kiểm soát an ninh, cô kịp buộc vào chiếc va-li chiếc túi vải dù màu rượu chát. Trong ấy là những tép tỏi nhỏ trộn lẫn những chiếc lá cỏ cô hái về từ trên đỉnh núi Bồ Đề. Cô nói, đó là mùi hương của cô. Ở tuổi mười bảy, người ta thường hay thần thánh hóa những thứ nhỏ bé, biến chúng thành mật mã, thành những vật thiêng để níu giữ một con người. Anh hôn lên trán cô, nhìn cô, mắt nâu dịu dàng quá thể. Đàn ông mắt nâu thường đa cảm. Cô bước ra ngoài, lên xe. Phi trường buổi chiều tối tấp nập những người ra đi. Cũng có thể, sau hai tiếng nữa, là những cuộc hội ngộ tại một nơi cách nhau gần hai ngàn cây số. Tay taxi nhìn qua tấm gương, mắt đăm đắm vào đùi cô. Cô bật cười. Đàn ông và đàn bà là hai loài virus, luôn muốn gây lộn nhưng không thể rời bỏ nhau. Ai cũng nghĩ mình sẽ ăn thịt được đối phương, nhưng kết cục, sau trận chiến cả hai thở phì phào và cùng hả hê thua cuộc. Cô dừng xe đầu dốc, mua kẹo mút. Có tin nhắn. Em đi đêm nhớ mang theo khăn. Nghĩa là giờ này máy bay của anh cất cánh. Cô mỉm cười. Người quen cũ gọi điện. Người quen cũ đã già. Người quen cũ vừa trở về sau chuyến đi nghiên cứu tại Hàn Quốc. Có quà tặng em, người quen cũ nhấn mạnh. Những thứ vặt vãnh, đôi khi là một chiếc váy, đôi khi là một thỏi son mà cô sẽ không bao giờ dùng. Nhưng cô đã quen với điều đó. Chị gái nghề nghiệp từng dạy, không được chê món quà nào, dù sau đó có thể thả chúng vào thùng rác vì không dùng được. Bởi vì, con người ta ai cũng có ý định lợi dụng nhau, nhưng khi người ta tìm cách lấy lòng ta bằng những món quà, nghĩa là người ta còn nghĩ mình rất có giá trị và mình rất thông minh, người ta phải dùng man trá êm ái để dụ dỗ. Cái quan trọng là mình phải tỉnh táo để nhận quà và tỉnh táo để rời bỏ cái vuốt tay vào mông, em gái à. Chị nuôi nghề nghiệp khôn ngoan và xinh đẹp, giờ nằm đâu đó trong thành phố này, dưới những bóng cây râm mát. Chị nuôi từng ước điều đó và người thân của chị chắc là đã làm. Người thân của chị không cho cô đến thăm khi chị rời trần thế. Mày là cái thứ đĩ non, đừng có làm ô nhục thêm đời nó nữa, người thân của chị nuôi nghề nghiệp nói thế. Người quen cũ gặp cô một năm trước trong một bữa tiệc buffet. Vì rượu mà người quen cũ lấy được đời con gái của cô. Chị nuôi nghề nghiệp có được hai ngàn đô. Còn cô được mua hai chiếc váy sexy nhất. Từ ấy, cô thích những người đàn ông từng trải. Người quen cũ gặp lại, cười rất tươi, hàm răng mới bọc sứ trông tươi sạch gợi cảm. Cô cười, gái Hàn có đẹp không? Người quen cũ bảo, đẹp đâu có đến lượt mình. Gái Việt là đẹp nhất. Cô cười phá lên. Người quen cũ đưa tặng chai nước hoa Kenzo nam giới, có mùi gỗ thơm trầm tĩnh. Người quen cũ không hiểu vì sao cô thích nước hoa nam giới. Và thích mùi gỗ của Kenzo. Cô cất chai nước hoa vào túi xách và nói cảm ơn. Người quen cũ bảo, ở lại đây với anh đêm nay nhé. Cô định gật đầu. Lần đầu tiên cô phải suy nghĩ về việc mình có nên ở lại nhà người tình qua đêm không. Căn nhà này cô đã từng quen, quen cả những chậu cây xanh nhức mắt trong toilet với những chiếc ly thủy tinh trong veo mà mỗi khi cô nhìn vào, mắt cô sáng xanh lên như đôi mắt mèo. Cô trọng người đàn ông này, vì luôn đưa ra những lời đề nghị trung thực và chừng mực. Và không khi nào đưa cho cô những đồng tiền sỗ sàng. Tự cô thấy mình đẹp vì điều ấy. Tự cô thấy mình đáng giá vì điều ấy. Cô ôm đầu người quen cũ áp vào ngực mình, chua chát nghĩ đến cảnh phải nhặt mớ tiền hổ lốn trên giường, trong khách sạn năm sao nào đó, rồi đón taxi về nhà giữa đêm. Những gã tỷ phú trộm đất để bán, tìm sự may mắn bằng những cô gái non tơ. Mỗi khi nghe chị nuôi nghề nghiệp dặn, phải nói em là gái sạch, cô lại bật cười. Dạ, em là gái sạch! Trong những cái đầu gió của tỷ phú trộm đất khi ấy chỉ còn vọng vang hai từ GÁI SẠCH. Những cái đầu chứa toàn gió...
Cô nhìn người quen cũ. Cưng à, hôm nay em muốn ở lại, nhưng hôm nay là ngày anh chẳng làm được gì và có thể anh sẽ gặp xui xẻo trong cả tháng. Em thực sự muốn ở lại, cô nhắc lại, công thức pha sự nuối tiếc đã được kiểm duyệt nhiều lần bởi chị nuôi nghề nghiệp. Người quen cũ hôn môi cô. Ừ, vậy để anh đưa em về. Cô ngăn lại, bây giờ thì để em massage cho anh nhé. Massage thương nhớ. Người quen cũ lịm dần vào giấc ngủ. Cô khép cửa lại. Lặng lẽ xuống phố. Cô mở máy, nhắn tin, anh nhớ đắp chăn qua ngực nhé, trời ngoài đó lạnh rồi. Định thêm một nụ hôn vào cuối câu, rồi cô dừng lại, ngập ngừng. Tay cô sờ lên môi mình, mùi hương bạc hà hình như vẫn còn lưu lại. Cô gửi tin nhắn. Cô muốn về căn phòng của anh, nằm trên chiếc giường ấy, ngửi mùi mồ hôi của anh qua chiếc chăn mỏng mà họ thường quấn tạm sau mỗi lần rã rời. Cô hơi hoảng sợ, hình như cô đã yêu người đàn ông này quá nhiều, trên mức giới hạn mà cô cho phép mình bước tới.
* * * * *
Mùa thu thường đến rất nhẹ. Những cơn gió thổi từ một cánh đồng ngoại ô nào đó, mang đến mùi hương ngai ngái của những chân rạ mới gặt. Dường như mùa vừa chuyển nhịp khi máy bay hạ cánh. Tôi ngồi trên xe, định nhắn tin đùa như mọi khi, máy bay không rơi đâu bé ạ, nhưng rồi lại thôi. Những dãy nhà cao tầng mọc nhanh như nấm cao cấp, tràn hết những con phố cũ. Tôi lấy phòng khách sạn ở khu phố Tây, với cái nghĩ giản đơn là nếu có buồn và mệt, thì nửa đêm vẫn có thể trốn mình vào một quán bar nào đó, uống vài chai bia, rồi trở về phòng ngủ vùi. Những người bạn thân hỏi thăm qua Facebook. Vài người quen trong nhóm “Bắc Kỳ” nhắn tin là “vẫn toàn thây để thác loạn Hà Nội phải không?”. Tôi off điện thoại, đi tắm và thấy hụt cảm giác có một bàn tay, cầm nắm xơ dừa, cọ lưng cho mình. Và vòng tay ấy, có khi choàng qua người tôi, bỏ mặc vòi nước xối trắng xóa tóc hai đứa. Những buổi chiều như thế có thể không còn nữa. Tôi đứng im trong nhà tắm rất lâu. Và ước gì cuộc đời như một trò game, nếu chúng ta thua cuộc hoặc chúng ta bế tắc trong mỗi bước đi, có thể xóa đi và làm lại. Tất cả ký ức đã được xóa đi, để bắt đầu nguyên vẹn như chưa bắt đầu.
Buổi sáng cuối tuần, người cũ lái xe chở con trai đến chơi với ba. Con trai lớn nhanh, mạnh mẽ và mắt sáng nhìn thẳng, nói dứt khoát. Người cũ nói, anh đã yêu rồi phải không? Tôi lừng khừng, ừ, thật ra là chưa. Còn em? Khi chúng ta rời bỏ nhau, khi anh bước ra khỏi mái nhà này, thì em muốn giữ tình yêu của em như một bí mật. Nhưng anh nghĩ, lúc này em đang yêu, phải không? Người cũ ngần ngừ, tuần sau em làm đám cưới. Em không dám nghĩ anh sẽ đến dự. Tôi ngẫm nghĩ. Tôi không giận. Nhưng cảm giác buồn thấm thía. Hình như tôi đã sai lầm ở đâu đó và người phụ nữ này thất vọng đến mức muốn rời bỏ tôi để tìm một hơi ấm khác. Anh biết em làm đám cưới và anh ra vì điều này.
Ngày cưới. Tôi và con trai trao bó hoa cho cô dâu. Người đàn ông trẻ tuổi đứng bên cạnh cô dâu ngập ngừng, cảm giác như tôi đang làm một điều kỳ quái. Con trai nói, ba à, con muốn đi Vincom, muốn chơi xe đụng cơ. Tôi cởi cà vạt, dẫn con đi. Con trai hỏi, người con gái ba yêu có đẹp hơn mẹ không? Bật cười, không, không ai đẹp được như mẹ. Thế sao ba lại không ở với mẹ, sao ba lại gả mẹ cho chú Bánh Mì?...
Hết giờ xe đụng. Dẫn con trai đi ăn xúc xích nướng. Con trai im lặng. Tôi dắt con đi dọc con phố dài. Lá vàng bắt đầu rụng. Tôi những nghĩ mình sẽ sa thải được mọi nỗi nhớ, mọi phiền lụy. Vì quá khứ, nghĩ cho cùng, nếu ta biết thả nhẹ, thì cũng là thứ lá sen sau mùa hạ vậy thôi mà. Nhưng tôi biết, máu thịt của tôi vẫn từ quá khứ mà sinh ra, đang cầm tay tôi lắc nhẹ. Con trai à, ba có lời xin lỗi...
* * * * *
Cô ngồi nhìn bầu trời lúc rạng đông, những chiếc lá ngái ngủ bắt đầu vươn mình lên hóng nắng. Cảm giác cơ thể như mảng rêu đang cạn nước. Đêm qua cô những nghĩ sẽ ngủ trong vòng vây của những cảm giác cũ. Nhưng mọi thứ đã không dễ như thế. Đã hai mươi mốt ngày kể từ khi thành phố vắng người đàn ông này. Cô đã không nhắn tin hỏi khi nào anh trở về. Cô đã từng ao ước về thành phố cũ của anh, để nhìn ngắm anh từ xa cái cách anh chăm sóc con mình. Cô cũng đã từng ao ước, được chạm tay vào đôi má măng tơ của cậu bé, khuôn mặt đẹp mà cô chỉ trộm hôn qua màn hình máy tính. Cô cũng muốn nhìn thấy người đàn bà đẹp kia và muốn hỏi, tại sao chị lại rời bỏ một cuộc đời như cuộc đời người đàn ông này, tại sao chị lại phung phí cả những điều mà cô không bao giờ dám nghĩ mình sẽ có. Cô với tay lấy chai nước suối. Rồi lại bẹp đầu xuống khung cửa sổ. Cô miên man nghĩ về những tháng ngày này. Mồ hôi vã ra. Cô thấy mình hâm hấp sốt. Cô muốn có một chiếc khăn ướt. Nhưng rốt cuộc, cô vẫn ngồi bẹp trên chiếc ghế bên cửa sổ. Nỗi nhớ như một lò nung thủy ngân, nó rút ruột nhan sắc và đánh sập cô từ bên trong, mà chính cô không lường trước được. Cô thấy mắt mình âm ấm. Nước mắt ngân ngấn. Nước mắt chảy từ trong lòng, nên ấm hoài trên má không thôi. Cô không dám nói với anh rằng, cô không đủ dũng cảm để làm người tiếp tục trên hành trình của anh, dù cô luôn muốn thuộc về. Cô cũng không đủ tỉnh táo để tiếp tục những ngày tháng vừa qua, với vai diễn hoàn hảo này. Kỷ niệm là những viên đạn của quá khứ, găm sẵn vào lòng ta mất rồi...
Cô lấy hết sức lực còn lại, xếp đồ vào chiếc túi đẹp đỏ rực đặt trong đáy tủ quần áo. Có thể khi anh trở về anh sẽ biết. Nhưng, biết nào có ích gì, khi chỉ thêm đau lòng cho một lần dứt bỏ. Cô không đủ vững để đi trên đôi giày quen thuộc. Cô xuôi dốc trên đôi chân trần. Đôi giày đỏ thả lửng lơ trên tay, như một người tình hờ hững...
* * * * *
Thành phố hừng hực nóng.
Rồi bất ngờ phá toang trời bằng những nắm mưa bạt mạng.
Tôi không gọi Đỏng Đảnh chờ đón như lần trước. Tôi muốn cô bình tĩnh ngồi đâu đó trong thành phố đợi mình. Nhưng cô đã không để lại gì ngoài làn hương quen thuộc trên gối bông, thoảng lẫn mùi hương gỗ của nước hoa Kenzo và mùi thuốc bổ pha trong bình cây phất lộc.
Mỗi ngày, tôi cẩn thận tết chiếc dây ngũ sắc vào đai quần và nhớ đến Đỏng Đảnh như một tình yêu không bao giờ bày tỏ. Tôi day dứt với tuổi mười bảy của cô. Tôi day dứt với sự nhạy cảm của tâm trí mình. Tôi day dứt vì tôi đã biết. Và tôi không đủ dũng cảm để thứ tha. Tôi không đủ dũng cảm để thú tội. Cả đời tôi không phải là một game thủ ra hồn.
Tuổi ba mươi chập chờn những nỗi buồn. Như mưa nắng...

0
Tháng ngày xanh biếc
 
Tiết trời bạc như mắt chim câu.
Tháng Giêng. Những ngọn đồi bàng bạc khói. Xuân xắn cao quần, dọn bãi trồng sắn. Những củ sắn sượng nằm len lỏi trong mớ đất già, được bới tung, đem lùi trong tro ấm, thơm vọng xuống lòng thung. Xuân đã làm công việc này bao nhiêu năm. Những củ sắn như bầu bạn với kẻ đói lòng trong mùa đông rét mướt, lại như người đi xa gặp lại sau cái Tết ngập trong bánh chưng, bánh ngải, thịt quay, canh gà. Xuân đã đi qua biết bao nhiêu mùa xuân trên những triền đồi tháng Giêng khói mù mù như sương bạc. Hai mươi lăm tuổi, Xuân vẫn chưa lấy chồng.
Nhớ hôm trước Tết, Tạo đi rừng về, mang cho Xuân một cành đào ắp nụ. Hoa đào tươi như đôi môi trẻ con. Tạo ngày trước hay rủ Xuân đi lấy măng, thích Xuân cuộn lá giang làm kèn thổi bài hát Gọi người bên kia núi. Vai Tạo rộng, răng trắng như bắp nếp, cười lấp lóa cả đêm trăng. Có khi Tạo đi học ở dưới thị trấn, mang về cho Xuân những chiếc cặp tóc in hình những chiếc lá sen. Xuân cứ giữ mãi trong chiếc hòm gỗ của mẹ để lại, không dám dùng, sợ phai màu lá. Xuân âm thầm nghĩ, mình sẽ cặp nó trong ngày cưới. Nhưng một ngày Tạo bỏ học, đi lấy vợ bên kia núi. Cô gái ấy đẹp hơn Xuân, làm nghề buôn chuyến miền xuôi. Người ta bảo, lấy vợ như Tạo là khôn. Xuân nhìn ánh mắt Tạo ngượng ngập khi đưa thiếp mời Xuân, thấy thương Tạo quá. Đàn ông cứ phải sống trong những lựa chọn bề bộn, cả đời lưng chẳng bao giờ thẳng được. Rồi Xuân cũng hít sâu tiếng thở vào lòng. Là vì Xuân yêu Tạo. Nhưng Xuân đã không khóc một giọt nước mắt nào cho mối tình ấy. Xuân nói, mừng cho Tạo thôi. Xuân nghĩ Tạo sẽ khó hạnh phúc vì cô gái đẹp lại biết mình có nhan sắc, thường hay toan tính nhiều bề, mơ ước nhiều chiều. Đêm nằm Xuân nghĩ, biết đâu như thế lại may, vì Xuân sẽ không phải có những đêm về sau, ôm con nhóm lửa nấu cơm đợi chồng. Mà chồng thì đang vun lửa cho cái bếp nào mãi bên kia núi. Từ bấy, Xuân ngồi đan áo len mùa đông đi bán, nấu rượu sắn lấy bã chăn lợn, mỗi tuần thịt hai con gà tơ, vừa ăn vừa chia cho trẻ con hàng xóm. Nhà Xuân lúc nào cũng tíu tít tiếng trẻ con. Người ta bảo nhà Xuân thời trước có ma gà nơi cối giã gạo, nên Xuân muộn chồng. Nhưng Xuân biết, con ma đó rình rập trong lòng mình. Xuân không yêu được người đàn ông kém cỏi.
Hôm đưa cành đào cho Xuân, Tạo mang theo một chiếc xe tải những món đồ quý của rừng. Tạo bảo, đám trẻ con bây giờ khôn quá, cần mua gì cũng có thể gọi được, chúng nó kiếm trong rừng như thần, tầm gửi cây nghiến cao xa khó khăn là thế cũng lấy được. Xuân bảo, mua đồ này về làm gì? Tạo bảo, mua về vợ Tạo sẽ đóng thành thùng, mang về mãi Hải Phòng, Quảng Ninh bán làm thuốc. Người ta sản xuất làm thuốc tân dược, bán ra nhiều tiền lắm. Xuân hỏi, vợ Tạo sắp có con chưa? Tạo gục đầu, chắc là phải vài năm nữa. Vợ Tạo muốn làm ăn kiếm tiền, có con rồi không biết làm gì mà nuôi nhau. Nhà Tạo nghèo, nên Tạo phải nghe vợ thôi. Vợ Tạo có yêu Tạo nhiều không? Tạo cúi đầu, không nói gì. Tạo nói, ra Giêng ăn Tết xong, vợ Tạo sẽ theo xe hàng về xuôi, có khi đi mất nửa tháng. Tạo sẽ qua dọn bãi cùng Xuân. Xuân hỏi, Tạo còn biết dọn bãi không? Tạo bảo, làm gì thì làm, chứ người Tày thì không quên cái bờ cái bãi. Con dao quắm trên phẻn dao nhà Tạo lúc nào cũng sáng. Tạo bảo, Tạo có chết cũng không quên Xuân bao giờ. Vì Tạo không lấy Xuân là Tạo sai rồi. Xuân bật cười, chắc gì Tạo cầu hôn Xuân đã nhận lời. Vì Xuân đâu thích những anh chàng không biết ngẩng đầu như đỉnh núi. Xuân không trách Tạo, không ghét Tạo. Nhưng Xuân đã hết yêu rồi.
Đám lửa dọn bãi đã lụi ngọn, chỉ còn than âm ỉ cháy, chiều tháng Giêng vừa thư thả vừa bồn chồn. Tạo đi tạt ngang qua triền đồi. Dáng Tạo thật khỏe mạnh. Nó làm cho Xuân thấy bồi hồi. Ngày trước, Xuân thường nhìn từ sau lưng Tạo, nghĩ rằng có thể ôm lấy tấm lưng ấy mà hít mùi mồ hôi quen thuộc, hít cả rừng già vào lồng ngực, hít cả những vết xước trên người Tạo vì phải leo cây hái những chiếc nấm lớn cho Xuân mang về phơi trước sân nhà. Ngày ấy Xuân mơ ước nhiều. Và Xuân ngây thơ. Mười bảy tuổi nào đã biết gì. Chỉ biết nghĩ rằng nếu người con trai ấy nói yêu mình thì mình sẽ phải quay đi ra sao, e thẹn thế nào và chấp nhận nhẹ nhàng, lơ lửng chập chừng để người ta không coi thường, không cho là mình dễ dãi. Xuân chưa nghĩ được đến việc, không có lời tỏ tình nào cả, và một ngày trời đẹp như nắng phơi trên sân, Xuân nhận được thiệp cưới. Nghĩ đến cảm giác ấy, tới tận khi này, Xuân mới thấy rưng rưng.
Tạo mang con dao quắm bên hông, đầu đội mũ lưỡi trai có in chữ Sport, tay xách một xâu chim cu gáy. Tạo hỏi, năm nay trồng cây gì. Xuân bảo, vẫn trồng sắn thôi, vì đất này chỉ thích cây sắn, năm nào củ cũng sai. Tạo không nói gì, đến đám than cời ra, nhặt khúc sắn nướng thơm phức. Tạo hỏi, có ăn không? Xuân bảo, người ta nướng cho mà ăn đấy. Tạo cười, ngồi bóc lớp vỏ giấy đã đen nhẻm. Tạo hỏi Xuân có muốn ăn chim cu gáy không? Xuân không nói, vẫn tiếp tục chặt từng hom sắn, chuẩn bị trồng. Tạo vặt lông chim, vót những cành tre thành xiên nhọn và bắt đầu thổi lửa. Mùi thịt nướng bốc lên rất nhanh. Xuân nhớ ngày nhỏ vẫn thường được bố cho theo lên rừng đi săn. Bố không cho Xuân đi xa, chỉ quanh quẩn ở bìa rừng, giữ đồ vật và được cầm những con thú nhỏ bố bẫy được. Đến những chiều muộn, trên sân nhà Xuân, người trên kẻ dưới, bếp lửa bập bùng, rượu sắn rót ra chén vại hoa hồng, mùi thịt nướng, mùi xào nấu lẫn trong lá mắc mật, lá sả và cả mùi rau xương sông quyện vòng thung lũng. Những khi ấy, Tạo chỉ được đứng ngoài hàng rào nhà Xuân, nhìn vào thòm thèm. Không ai chơi với Tạo, cả làng không ai được chơi với Tạo. Vì Tạo là một đứa con hoang, mẹ Tạo là một người đàn bà tật nguyền. Hai mẹ con Tạo đã sống lầm lũi như hai con rùa suốt nhiều năm ngoài bìa rừng. Tạo như con chồn hoang, chạy khắp nơi, nhưng thấy người là lại lầm lũi nép vào một gốc cây nào đó, đôi khi hoảng sợ. Những buổi chiều ấy, Xuân thường gói những miếng thịt ngon nhất trong tấm lá chuối nướng, rồi lẻn ra cửa sau đưa cho Tạo. Xuân nói, Tạo là một người bạn tốt vì không bao giờ Tạo đánh hay làm Xuân đau giống những đứa con trai trong làng. Khi ấy, Xuân nào biết rằng, khi hai đứa đã đi với nhau suốt một phần đời, thì Tạo mới khoét trong lòng Xuân một vết đau không hình hài. Mà chính Xuân cũng không chịu nhận đó là nỗi đau. Xuân chỉ nghĩ, mọi thứ đã qua rồi. Và Xuân quên đi...
Mùi thịt chim thơm thật thơm. Xuân bảo, có uống rượu không? Tạo gật. Tạo chợt giật mình hỏi, rượu ở đâu ra? Xuân cười, rút từ trong chiếc tay nải ra chai rượu màu hổ phách. Xuân luôn mang theo chai rượu khi đi làm, để uống một ngụm cho nóng bụng trước khi bắt đầu làm việc, để xúc miệng sau khi ăn trưa ngoài bãi và để phòng rửa vết thương nếu lỡ có sẩy tay. Tạo ngồi uống rượu, chia cho Xuân nửa con chim. Xuân nhớ, ngày xưa hai đứa cái gì cũng chia đôi. Lúc này xa nhau rồi, xa nhau vời vợi, mà vẫn còn ngồi lại được, chia cho nhau những miếng ngon ngày cũ, thấy lòng ấm lại. Tạo bảo Xuân uống một ngụm nhé. Xuân cầm chai rượu, tu một ngụm. Rượu buổi chiều như đậm hơn. Ngày bố mẹ Xuân và mẹ Tạo cùng ba chục người của làng bị lốc xoáy cuốn đi trong cơn thịnh nộ, Xuân và Tạo đã ngồi bên nhau như thế này, trên đỉnh ngọn đồi này, nơi những ngôi mộ trống mới đắp dưới những bóng pơ mu, hai đứa cũng uống với nhau như thế. Chỉ khác là khi ấy, hai đứa giằng nhau chai rượu, uống đến giọt cuối cùng, rồi nằm lăn bên cạnh gốc pơ mu, ngủ mặc cơn mưa đêm tràn xối mặt. Xuân những tưởng Xuân sẽ không bao giờ quên được. Xuân tưởng Xuân sẽ khóc cạn kiệt thân xác khi Tạo rời bỏ mình. Mà sao Xuân gan lì hơn chính Xuân nghĩ. Xuân không bao giờ khóc nữa, sau sự ra đi của bố mẹ. Xuân như cây liễu già, mảnh mai nhưng không sầu bi.
Hơi rượu phả bừng bừng lên khuôn mặt Xuân. Đôi gò má đỏ ửng, khuôn ngực phập phồng sau màu áo gụ. Tạo lén nhìn đôi gò ngực Xuân rồi thở dài, quay đi. Xuân nghĩ, ngày xưa nếu Tạo liều ôm Xuân, có thể Xuân đã cho Tạo thời con gái. Nhưng Tạo đã không làm thế. Tạo đã không chọn Xuân cho hôn nhân, nên Xuân có thể giận, nhưng không thể trách. Có thể lúc đó, Tạo nghĩ nhiều cho tương lai. Tạo nghĩ, vợ Tạo bây giờ mới mang lại cho Tạo một tương lai bền vững. Lấy Xuân, có thể được tiếng là trọn tình, nhưng rồi mai sau có ra sao, nào ai biết. Xuân không đủ cho những khát vọng của Tạo. Và sự rời bỏ Xuân của Tạo có thể làm Xuân đau buốt, nhưng lại làm cho Xuân nhận ra rằng, có những thứ mãi mãi chỉ ở bên cạnh chứ không thuộc về nhau.
Như những khi người ta cố đan đời nhau, như mười ngón tay đan chéo, nhưng rồi một cái buông tay, mỗi người mỗi ngả, đời như nước chảy, không còn lại gì ngoài nỗi u hoài như mây ngang đỉnh núi...
... Xuân ngồi cạnh Tạo, uống rượu trong im lặng. Có còn gì để nói vào lúc này, khi mọi thứ yên ắng đến kỳ lạ. Bầy sẻ ri bay từ góc đồi nào đó, quẩn quanh những tàng mua tìm chỗ ngủ, kêu ríu ran. Xuân gục dần đầu vào vai Tạo, không cố tình. Dường như men rượu ngấm dần làm Xuân buồn ngủ. Cơn buồn ngủ kéo Xuân đi qua thời con gái. Và Tạo cứ đinh ninh rằng, Xuân muốn dành điều kỳ lạ của đời người ấy cho mình. Tạo dìu Xuân lên thảm cỏ. Và lách vào góc khuất cuối cùng của đời con gái vội vã, cuồng nhiệt. Xuân níu lấy người con trai này, như thể tình yêu gọi về từ tiềm thức. Đê mê như cỏ ướt. Nóng giãy như lửa cháy lưng đồi. Chỉ có bầy sẻ ri lượn vòng quanh những tàng mua...
... Chiều đã quá trễ tràng. Xuân xốc áo tỉnh dậy. Im lặng. Xuân dọn dao, cuốc ra về. Không quay lại nhìn. Đi đến dưới chân đồi, Xuân quay lại, vẫn thấy Tạo đứng trân trân nhìn theo. Xuân nói với lên, đừng bao giờ quay lại nữa. Tạo nhìn theo bóng Xuân đi khuất vào vuông cửa. Và ngọn đèn bắt đầu bập bùng trong nhà. Tạo quay về. Tạo khóc.
* * * * *
Tháng Giêng năm sau, có một người đàn bà đẹp đến tìm khi Xuân đang cho bé Tiểu Xuân bú sữa bên bãi sắn. Không có ai đem những cánh đào phớt hồng cho Xuân ngày Tết nữa. Tiểu Xuân là một rừng đào nguyên vẹn mà Xuân dành dụm cả cuộc đời. Đàn bà đẹp bảo, thằng bé sao mà giống cha. Đuôi mắt Xuân hút dài, như hai vạt suối bạc, nhìn xa xôi. Xuân biết vì sao đàn bà đẹp đến tìm mình. Đàn bà đẹp nói muốn nhận Tiểu Xuân làm con nuôi, vì Tạo không thể có con. Xuân cười, biết đàn bà đẹp nói dối. Thơm nói, Tạo muốn Tiểu Xuân mang họ Hà của Tạo. Và muốn nuôi con. Xuân cười lớn hơn, không nói. Rồi bất ngờ chặt mạnh con dao vào đám cành sắn đang chuẩn bị trồng. Xuân cười mà nước mắt tràn qua gò má, rớt ướt chiếc tã ủ ấm cho Tiểu Xuân.
Tháng Giêng. Một buổi sáng khi tỉnh dậy, cả thung lũng thấy hụt đi một khoảnh, vơi đi một nóc nhà. Ngôi nhà của Xuân chỉ còn lại nền đất trống. Không ai biết Xuân dời về phía trời nào.
Mùa xuân năm sau, có một người đàn ông bỏ làng đi.

0
Võ đường im lặng
 
1. Không một ai tiễn tôi ra về cả. Tôi một mình dắt bộ chiếc xe trên lối đi trải sỏi. Lặng lẽ. Và chống chếnh lòng. Tôi cũng đã từng tự nhủ, đừng để ý nhiều vào những điều vụn vặt, như thế sẽ nhẹ lòng và bớt ích kỷ đi. Nhưng sao lúc này tôi không thể ở lại để chúc mừng Tuấn và các bạn đồng môn. Dù sao cũng nên chúc mừng nó để tuần sau nó lao vào cuộc đấu mới, một võ đài rộng lớn hơn và lắm anh tài hơn.
Vừa đi, tôi vừa lẩn thẩn nghĩ, giống như một kẻ mắc chứng hoang tưởng. Một cuộc thi đấu, xét về phương diện là một cuộc thi đấu thể thao hay là thế nào đi nữa, thì võ đài cũng thực sự là một sân khấu, còn các võ sĩ là những diễn viên. Vì nó cần có một chất men làm say lòng những người cuồng nộ. Cái men say ấy chính là những cú ra đòn, những pha tránh né thông minh và đòn tay, đòn chân giội vào đối phương như trời giáng. Mà tôi thì chẳng muốn làm một diễn viên tài hoa khi mà bạn diễn chính là đối thủ. Tôi hạ Tuấn nghĩa là tôi đã làm chấm dứt niềm hy vọng của nó. Nghĩa là chàng diễn viên tôi rỗng tuếch và giả dối ngoài đời thực. Thế là tôi thua.

2. Tôi vẫn nhớ như in ngày tôi xin đi học võ. Bố tôi gỡ mục kỉnh, còn mẹ tôi sửng sốt. “Cái gì?”. Tiếng mẹ tôi cất lên như một tiếng kêu. Và sau đó mẹ phản đối, vì mẹ đã nếm đủ cái khổ ải mà võ thuật đem đến cho gia đình. Cái lưng nhức của bố và điện thoại nửa tháng một lần của anh tôi ở Đại học Thể dục thể thao gọi về xin tiền để trị vết thương, đã làm cho mẹ đủ mệt mỏi đến kiệt sức. Đã tập rèn là có va chạm và chấn thương. Tôi lao vào, mẹ phải chịu khổ thêm thôi. Nhưng khi ấy trong tôi bùng lên một ý nghĩ mạnh mẽ. Lẽ nào tôi cứ để bọn lớp trên bắt nạt? Tôi bước chân tới võ đường với ý nghĩ cháy bỏng về việc trả thù. Lúc ấy tôi sẽ đánh bại chúng như trong phim chưởng Hồng Kông. Mặc bộ võ phục trắng tinh, tôi thầm nhủ với mình bằng tất cả niềm đam mê sẵn có. Những kỷ luật của võ thuật về sự chịu đựng đã tát mạnh vào cái ý nghĩ bông phèng của tôi. Lớp học ban đầu có tới hơn năm chục mạng. Rồi sau hai tuần chỉ còn lại hai mươi mạng. Đây là những kẻ đam mê thật sự và có một ý chí sắt đá hơn người. May mắn, tôi đã vượt qua ngưỡng để vào giai đoạn tập quyền.
Thầy dạy chúng tôi là một võ sư đã lớn tuổi, tóc muối tiêu và bụng bự như ông Địa. Ông nhìn chúng tôi khắp lượt rồi mỉm cười. Chỉ sau một tháng trời, với con mắt tinh thông nhà nghề, ông đã phát hiện ai có năng khiếu và ý chí thực sự. Sự phân ngôi diễn ra theo số lượng bài tập nặng nhẹ. Tôi thuộc nhóm thứ hai, nghĩa là nhóm có khả năng nhưng không thật xuất sắc. Điều này sẽ được khắc phục bằng sự cần cù, trui rèn luyện tập. Thầy tôi bảo: “Em nên chú ý việc rèn luyện ở nhà, nó sẽ giúp đường quyền linh hoạt và biến ảo hơn”. Tôi biết thầy đặt chút hy vọng vào mình và tập rèn đến mụ mị. Ngay cả trong giấc mơ tôi còn mơ đến quyền cước.

3. Khi chúng tôi luyện được hơn nửa bài quyền thì Tuấn xin nhập môn. Việc tập đuổi theo chúng tôi làm nó rất mệt, tôi phải uốn giúp nhiều đường nét. Chuyện về tình bạn giữa tôi và Tuấn thì thật dài. Chúng tôi học cùng nhau từ mẫu giáo tới lớp 9. Lên cấp 3, Tuấn vào trường chuyên trong thành phố, còn tôi mãi lẹt đẹt trường huyện. Từ đó, cứ xa nhau dần. Nhưng tôi luôn nghĩ về nó như một người bạn thân nhất. Năm lớp 10, Tuấn ghé nhà và cho tôi địa chỉ, số điện thoại. Tháng nào chúng tôi cũng liên lạc với nhau, chỉ có điều, chẳng biết có phải do quá bận rộn hay vì lý do gì mà những cuộc nói chuyện cứ ngắn dần. Lâu lâu tôi gọi lại, hỏi qua quýt rồi cúp máy. Đến bây giờ dù đã xa, nhưng tôi vẫn chưa tìm được thằng bạn nào thân như nó. Thực tình thì cũng chẳng cần tìm, vì bạn tốt tự nó sẽ đến, tôi nghĩ thế.
Thầy giáo thông báo chúng tôi sẽ chia hạng cân, đấu loại để chọn đội tuyển đi dự giải toàn thành phố. Tôi với Tuấn cùng hạng cân. Cái sự oái ăm ấy bắt một trong hai chúng tôi phải ngã trước mũi giày của bạn mình. Chúng tôi lao vào luyện tập. Tuấn tập khỏe và hăng máu hơn tôi nhiều. Còn tôi, cứ chùng chình cái ý nghĩ vẩn vơ về tình bạn.

4. Mẹ tôi khóc: “Thôi con ạ, tập cho khỏe người, chứ đi thi thì không nên. Lỡ được cái giải vớ vẩn rồi ngộ nhận, rước lấy nó làm nghiệp chướng, rồi long đong suốt đời”. Còn bố tôi bảo: “Nếu con quyết định thì bố sẽ ủng hộ”. Bố tôi bao giờ cũng thế, ông coi con cái là một cánh diều. Ông sẽ nối thêm dây cho cánh diều bay nhưng cũng sẽ sẵn sàng đón nó trở về mặt đất sau lần vấp gió đứt dây. Thế là tôi bước vào cuộc đấu với sự an ủi của bố và lời nói như dao cứa của mẹ. Tôi và Tuấn đã quen miếng, thuộc sở trường sở đoản của nhau nên cuộc đấu trở nên quyết liệt. Tuấn có cú “tuýp” thẳng rất hiểm, dễ đánh bật ngửa đối phương. Qua hai hiệp, cả hai chưa ai ghi được điểm nào. Hiệp cuối cùng, thầy giáo nói đánh hết sức, tránh để thầy phải phân xử điểm, dễ mất công bằng. Mọi người trên khán đài im phăng phắc như chứng kiến trận chung kết thế giới. Đến khi thầy hô: “Chào”, “Đánh!” thì tôi lại chợt mường tượng ra nỗi buồn dai dẳng của mẹ vì những vết thương của bố con tôi. Tôi biết đấu võ là môn thể thao, chứ đâu phải làm thân võ biền. Nhưng tôi lại thấy hình ảnh tôi toàn thân bó bột màu trắng nằm giường bệnh. Các hình ảnh cứ kết vào nhau, chập chờn trong tâm não. Người tôi như rũ ra. Tôi lơ mơ chịu đòn của Tuấn, cho đến lúc tôi ngẩng đầu lên chuẩn bị tấn công, thì cú đá trời giáng của Tuấn hất mạnh tôi xuống sàn. Một trời đom đóm xung quanh tôi. Những đốm sáng buốt sắc cắt vào thân thể đau đến tê dại, trước lúc lịm đi, tôi kịp nhìn thấy Tuấn cười rạng rỡ, nhảy tưng tưng bên bạn bè nó, đầy hoa và ánh mắt thán phục. Tôi lịm đi. Trong cái láng máng lềnh bềnh, hư thực như tâm linh ấy, tôi thấy mình đang nằm gọn trong võng ru của bà, trong cái làng quê yên ả tre pheo, nơi gói ghém bao nhiêu cuộc đời. Rồi tôi thấy có một ông tiên nhấc bổng mình lên thềm đá. Có tiếng ai hát dặt dìu và cả tiếng thầm thì gọi tên tôi. Tôi lơ mơ. Rồi hồi dần, hồi dần.
Chỉ thầy giáo lặng lẽ ngồi bên tôi, phía bên kia là tiếng cười reo hạnh phúc. Đó là lẽ thường tình trên sàn đấu. Tôi cố ngồi dậy. Trong lòng tôi, nỗi đau đớn tinh thần còn lớn hơn gấp nhiều lần nỗi đau thể xác. Sao lúc ấy Tuấn không kéo tay tôi đứng dậy. Để tôi không vĩnh viễn mất đi một người bạn thân và cả những tình cảm vun vén từ thời ấu dại. Cái mất mát này rất thật. Nó không phải là nỗi đau bi kịch trên sân khấu của diễn viên.

5. Tôi ra về. Lòng tịnh không một mảy may cảm xúc nào. Có chăng, chỉ thấy tội nghiệp cho ý nghĩ và ước mơ quá đỗi bạo liệt của mình. Võ đường là nơi người ta phải học cả đạo đức làm người. Tôi lớn lên thêm ở đó. Tôi đã yêu mến nó với niềm sủng ái của một con chiên mộ đạo của Chúa. Tôi nhìn võ sư như một thánh nhân. Nhưng bây giờ ngẫm lại, mẹ tôi đã đúng. Trong khi đám trẻ chúng ta cứ kêu họ là lạc thời, bảo thủ thì chính cha mẹ là người luôn đúng trong tình huống như thế này, bởi họ đã trải qua những cú vấp. Đến mãi bây giờ tôi mới thấm thía điều này.
Trong tôi bây giờ là thứ âm thanh của cuộc reo mừng chiến thắng. Tôi phải về, không phải vì tôi là kẻ chiến bại, mà bởi tôi sợ mất mát khác sẽ còn ập đến sau buổi liên hoan. Hơn thế, bố mẹ tôi đang đợi tôi về. Bố tôi đủ bản lĩnh và sức mạnh để đón nhận thất bại nơi tôi. Và ông còn coi đó là bài học, đương nhiên. Tôi về, để những bài tập chất đống được thanh lý, để bao thứ trong cuộc sống riêng được trở lại nhịp hoạt động bình thường. Tôi còn quá trẻ. Sang năm sẽ là vận hội lớn của đời tôi.

6. Cái võ đường có sàn tập xi-măng bóng nhẫy lớp mồ hôi của bao thế hệ võ sinh, giờ nằm chơ vơ nơi góc cuối thành phố. Mỗi lúc bực mình hay ôn bài thi, tôi thường ghé qua đó, trốn người gác và vào ngồi im lặng. Nơi đây tôi đã tập dượt cú ngã đầu đời. Thế nên mỗi khi nhớ về nó, tôi lại nhớ những buổi tập với ông thầy võ sư bụng bự của mình. Phải chăng, một đứa trẻ trong hành trình đến với cuộc đời cần phải có những khoảng lặng sau cơn bão sốc đầu tiên như thế?

0
Bố mẹ và con và đại ngàn...
 
1. Nhà nằm e ấp trong sương, mái lá đao kệu xào xạc trước những cơn gió mùa đông bắc. Khi lạnh tràn về tước xơ những vườn chuối, thung lũng rạc cỏ khô, con suối trơ đá và rừng thì gào thét đầy uy vũ, lốc gió của đại ngàn.
Tôi sinh ra từ căn nhà ấy, và ra đi từ căn nhà ấy. Dường như bây giờ nó đã khác xưa, những cây cột gỗ lim vươn cánh tay vạm vỡ nâng đỡ cuộc sống con người đã được thay thế bằng những thân cột mới vàng xuộm, vẫn còn vết bào. Tôi bước đi vội vã trong sương, cảm nhận cái lạnh thấm vào da thịt mà buốt xót lòng. Nhà hiện dần ra, toàn vẹn mảnh vườn trồng toàn mận, mùa này trơ những cành. Dưới cầu thang vẫn đôi gáo bên vại nước, đôi bương treo ở đầu hiên. Khói bếp như ẩn dật trong mây. Chắc mẹ đang ngồi hâm nước uống. Con vện chạy xô ra, nhưng kịp nhận thấy ông chủ cũ, quấn quýt rên lên tha thiết.
Tôi bước lên cầu thang, cởi giày, múc nước rửa chân. Nước lạnh tê, đầu óc tôi tỉnh táo kỳ lạ :
- Mẹ! - Tiếng gọi mẹ chỉ thốt được như thế rồi ngưng lại. Tô không dám nói một lời nào thêm nữa, cứ nghĩ nếu nói điều gì nữa lúc này đều là thừa thãi.
- Nguyên đấy ư con? Vào bếp sưởi cho ấm, trời lạnh thế này...

2. Bố mẹ đặt tên tôi là Nguyên, mong gửi sự an lành vào đứa con trai duy nhất. Bố tôi thợ rừng. Ông thường cùng người làng vào rừng đốt nghiến, xẻ gỗ. Những chuyến đi rừng bất thường và kéo dài cả tháng trời của bố đã kéo mẹ tôi thành người phụ nữ luôn chịu đựng, chờ đợi và nín nhịn. Mẹ bấm đốt ngón tay, khắc vạch than lên cột nhà từng ngày bố đi. Mỗi đêm khuya nghe tiếng chân hươu chạy qua trái nhà, ngỡ bố về, mẹ lại giật mình chạy ra khỏi bếp và mở cửa. Rồi thẫn thờ mẹ lại trở vào. Nằm trong tấm đệm, mẹ trở mình liên tục, tiếng thanh nứa kêu kẽo kẹt. Tôi lớn lên trong tiếng thở dài và sự đợi chờ của mẹ. Bố tôi đi rừng, mỗi khi về thường mang tiền và khi thì mang mật ong, khi thì nhung hươu, lại có khi cả một gói cao gấu lớn bằng bắp chân, bọc trong tấm áo bông bố thường mặc. Những ngày bố ở nhà, cuộc sống trở nên hấp dẫn gấp nhiều lần. Và có lúc tôi ước gì bố ở nhà mãi với tôi. Nhưng chưa bao giờ điều ước của tôi thành hiện thực.
Bố thường đi săn vào buổi trưa hoe nắng. Con vện là trợ lý đắc lực của bố. Tôi cũng muốn bám theo nhưng bố cấm vì tôi mới lên mười. Chưa một lần bố phải vác súng về không. Đó là những con thú lớn nhỏ, khi thì con nhím, con cáo, con cầy hương rồi thì cheo cheo, chồn, sóc... Nhiều hôm bố còn vác về con hươu chừng nửa tạ, thịt chia cho cả xóm. Làng tôi ở mỗi nhà một cánh rừng, đêm gọi nhau bằng tiếng tù và, đến thăm nhau phải bỏ ngày bỏ buổi. Bố mẹ tôi đều là người Kinh, nhưng di lên đây nên sống như người Trại. Chẳng hiểu chữ Trại nghĩa thế nào nhưng trong giấy khai sinh người ta ghi rõ Sán Trí với lại Cao Lan. Người Trại sống quây quần bên những cánh rừng. Đêm trăng sáng trai gái rủ nhau ra bờ suối ngồi nói chuyện. Vợ chồng cũng lấy nhau từ đây, hẹn thề cũng bằng hòn đá ném xuống vực nước, khi nào đá nổi mới thay đổi dạ lòng. Mẹ tôi sống bên làng, nhưng ít giao tiếp nên ít hiểu đặc điểm của người Trại. Bố tôi đi nhiều biết nhiều, bố còn trêu tôi: Mai sau lớn tao cho mày đi ở rể nhà Trại. Mẹ tôi nhìn bố, đầy ngụ ý. Bố im lặng. Lúc ấy tôi 12 tuổi, tôi đã biết bẫy gà gô, chim gáy, biết bẫy sóc, chồn. Bố cũng đã cho tôi đi theo mỗi khi đi săn. Tôi đã học lớp 6, bắt đầu hiểu cái nhìn của mẹ - Và tôi biết mẹ trông chờ vào một tương lai khác nơi tôi.

3. Bố tôi đi xẻ gỗ, xuôi mảng về mạn dưới bán. Có bận bị cướp mất cả chì lẫn chài. Ông bực bội, về bỏ cơm, ngồi uống hết chai rượu mật ong với thịt sóc rồi hùng hục vác rìu lên rừng. Mẹ tôi thất thần nhìn bố, không dám can ngăn. Tôi hỏi: Bố đi đâu? Bố nhìn tôi: Bố đi tìm tương lai cho con.
- Tương lai của con bắt đầu từ bố?
Bố giật mình, nhìn cậu con trai mười hai tuổi của mình. Rồi như có mạch nguồn trong tâm hồn đã chai sạn bởi năm tháng chống lại cái nghiệt ngã của rừng, bố khóc. Bố và mẹ khóc. Tôi ngơ ngác giữa hai người lớn đứng khóc nhìn nhau.
Bố bảo :
- Con muốn sống với rừng thì cần phải biết tự vệ. Bố sẽ đem điều đó về cho con.
Bố dứt áo ra đi, mẹ lặng lẽ lau nước mắt. Rồi rất lâu sau bố mới lại quay về.

4. Tôi bước vào tuổi mười bảy với những bài tập võ triền miên từ thuở mười ba. Người dạy võ cho tôi là chú Sinh, bạn rừng của bố ở đâu mạn Yên Trạch - Chợ Mới gì đó. Chú Sinh có vòm ngực rộng, đôi mắt sáng và cắp lông mày xoáy trôn ốc. Trông chú dữ như trùm đảng trong phim võ thuật. Nhưng chú rất hiền, chưa bao giờ nổi cáu với tôi. Dẫn chú Sinh về, bố tôi lại đi rừng bạt ngày. Dăm bữa nửa tháng ghé về một hôm, nhâm nhi rượu rắn với chú Sinh, dặn dò mẹ bảo ban tôi rồi lại đi. Cứ thế cho đến khi tôi mười bảy. Chú Sinh bảo: “Nếu cháu gắng tập sẽ khá hơn”. Tôi yên lặng. Sau này khi vào trường đại học, tôi được học những thế võ mới. Tôi đã có một thế tấn vững vàng như những cột gỗ lim nâng đỡ sàn nhà, nâng đỡ cuộc sống con người qua bao mùa nương rẫy.

5. Tôi lên đường về thành phố giữa tuổi mười bảy đầy ước vọng. Bố bán đi tám đôi nhưng hươu và bổ ống bương lấy tiền xẻ gỗ dự trữ được đưa cho mẹ tôi. Mẹ nấu xôi nếp nương thơm ngan ngát cả thung lũng. Làng tôi tự hào vì có một người được đi học xa. Bố đưa tôi ra xe còn dặn: “Nhớ viết thư cho mẹ thường xuyên. Đừng lo gì cho bố. Bố sẽ gửi tiền hàng tháng”.
Tôi câm lặng, biết không thể nói bất cứ lời nào. Nắm đôi bàn tay trầy sẹo đục của bố, thấy dòng máu trong hai cơ thể như giao hòa, chảy dần dật cùng một huyết quản và bất giác buốt xót con tim. Tuổi mười bảy, con tim tôi không đau vì một chuyện tình yêu người con gái nào, mà là cơn đau của một thằng nhóc nhận ra sự hy sinh thầm lặng của người cha, khi biết mình bắt đầu trở thành người lớn.
Hà Nội ồn ào kéo tôi đi, những bậc thang nhiều màu sắc và khó chối từ. Ngày đầy bao lạc lõng, bao nhớ thương. Những buổi tập võ thuật trên sàn xi măng, mồ hôi rơi ướt cả một vùng, tôi da diết nhớ về miền rừng ấy, có chú Sinh với sàn tập bằng cỏ đệm và những thân cây làm đích đấm, có mẹ cổ vũ, có bố mong chờ. Tôi lạc lõng trước mọi người, tôi lạ lẫm với những bộ đồng phục sinh viên trên mình với đầy đủ ve hàm, biển hiệu. Tôi khát khao trở về.
Chưa kịp trở về, bố đã xuống. Bố mặc chiếc áo trấn thủ đã sờn, đeo đôi tông Lào khố đế, tay khoác tay nải, đầu đội mũ lá cọ. Tôi nhìn bố, ngỡ ngàng. “Con gầy đi nhiều quá” - bố bảo. “Tại lâu bố không thấy con, con còn tăng cân đấy. Mọi người ở nhà thế nào, bố?”. “Tốt. Mẹ gửi quà cho con đây”. Bố đưa tôi một nắm tiền dầy cộm, nhăn nheo và món quà của mẹ. Rồi lật đật ra ga về sau khi hỏi han đủ chuyện. Tiễn bố lên tàu, tôi chỉ kịp hỏi: “Bố đã thôi đi rừng chưa?” Bố thoáng bối rối rồi gật đầu. Tôi không tin. Cái gì đã ăn vào máu thịt từ thưở ấu thơ dễ gì có thể quên trong một sớm một chiều, nhất là niềm hoang dại lại đầy cám dỗ thế.

6. Bố tôi nằm trên giường khi nóng hấp khi rét run bần bật. Tôi bảo bố uống kí ninh rồi nằm yên. Bố nhìn tôi, đầy mệt nhọc. Mẹ đứng bên tôi, khẽ đưa tay vén mái tóc cha bết vào mắt. Mái tóc đã bạc vì năm tháng rừng rú và đã cõng tuổi xuân của mẹ đi qua bên này con dốc cuộc đời. Tôi nhìn mẹ, muốn nói với mẹ một câu, nhưng có lẽ tôi là con trai miền rừng, và mẹ là mẹ của tôi, sự im lặng sẽ nói hộ tất cả. Tôi cùng mẹ trở ra ngoài khi thấy cha thiêm thiếp. Nhìn thấy mẹt ớt mẹ phơi ngoài hiên, tôi chợt nhớ liền bảo: “Hồi trước mẹ sợ con ‘ngã nước’ ở thành phố hay sao mà gửi cho con măng ngâm ớt?”. Mẹ bảo: “Măng và ớt, hai thứ đều là của rừng. Mẹ mang cho con, không phải vì mẹ sợ con ‘ngã nước’, mà vì sợ con quên mất lối về”. Ôi, bố mẹ tôi! Những người ăn đời ở kiếp với rừng. Lẽ nào tôi lại quên? Mà quên sao được vị mật ong ruồi vẫn ngọt ướt đầu lưỡi. Vị măng đắng đót nơi tiềm thức vẫn còn. Và cơn đau đầu vẫn hành tôi mỗi khi trở trời vì thói tham ăn nhiều quả gắm trong bao tử hươu từ lúc thiếu thời. Nó vẫn hành tôi, hệt như lời nhắc nhở của đại ngàn.

7. Đêm đã buông. Đêm tĩnh lặng và huyền bí đến hoang sơ. Có tiếng chim vỗ cánh bên cánh rừng, tiếng nai tác khắc khỏai đợi chờ. Tôi ngồi bên bố, khẽ đưa đưa chiếc võng dù ngày xưa của tôi. Vậy mà bây giờ vẫn còn, có chú mèo con đang say ngủ. “Cái đó là mẹ nhớ con nên mắc lên đấy” - bố nói. “Vâng!”. “Mai con đi?”. “Vâng, con chỉ được nghỉ ba ngày”. “Thế chuẩn bị đi. Tiếc là bố không đưa con ra ga được. Nhưng có lẽ... con tự lo cho mình được rồi”. Tôi sửa thế nằm cho bố, rồi ra ngoài hiên. Có lẽ trong mắt bố mẹ, chúng tôi đều là lũ nhỏ nhít, vậy mà hôm nay, trong mắt bố, tôi đã trở thành người lớn thực sự. Tiếng gió, tiếng của vạn vật đang hòa tan vào bản tình ca của đêm. Bản ca dành cho bố mẹ, và tôi, và đại ngàn.

0
Đi săn
 
Từ cầu thang nhà Kỳ nhìn sang, những triền rừng lúc nào cũng mươn mướt xanh. Đó là những bụi giang bụi nứa lớn, những thân cây gỗ đang tuổi lớn và dây nhợ đeo bám nhằng nhịt. Thảng hoặc mới có những cây chò chỉ, cây sồi cổ thụ lớn mọc trội hẳn lên. Kỳ bảo đó là mắt rừng, nó như một sự minh chứng cho việc rừng vẫn còn tồn tại. Tôi chỉ nghe Kỳ nói về rừng nhiều, chứ thực tình những chuyến đi rừng của tôi rất ít. Bố tôi là một người nghiêm khắc. Ông muốn trui rèn tôi thành một người học hành tử tế hơn là một người thợ rừng bình thường. Vì thế tôi chỉ được theo bố đi săn vào những ngày trời nắng và rất đông người.
Tôi đã sướng đến khi Kỳ bảo: “Mày muốn đi săn thì chuẩn bị súng sang nhà tao”. Tôi đã rất công phu chọn lựa trong số súng kíp của bố để tìm một khẩu ưng ý, chuẩn bị những thứ cần thiết và sang ngủ nhà Kỳ từ đêm hôm trước để sáng sau lên đường.
Buổi sáng. Mặt trời đã lên bằng con sào. Sương đang dần tan. CHúng tôi nai lại quần áo cho chặt, buộc con dao săn một bên hông và một bên là bi đông nước. Kỳ khoác súng lên vai, hỏi: “Xong cả chưa?”. Tôi bảo: “Rồi. Có cho Sao đi không?”. Kỳ khẽ gắt: “Con nhóc cho đi làm gì. Con gái lẽo nhẽo theo đuôi. Rõ ghét”. Sao chạy từ trong bếp ra, hai má đỏ bừng, tóc đỏ lông ngựa, nói như hụt hơi: “Không cho em đi, chiều em mách bố là anh bỏ nương đi săn”. Kỳ nhăn mặt, dứ dứ gói xôi thịt gà bọc chuối vào mặt Sao: “Liệu cái thần hồn đấy. Nhưng được rồi, đi cấm kêu khóc nghe không?”. Nhoẻn cười, Sao vội xách chiếc thưng vào tay: “Không mà. Em quen lắm rồi”. Kỳ gọi con vện xuống cầu thang, rồi chúng tôi đi.
Cuộc đi săn bắt đầu!
Chúng tôi vượt qua con suối, chạm chân đến cánh rừng. Những cây kháo, cây bứa đang mùa trổ lá. Những đám guột lên thân mới um tùm. Kỳ hạ súng xuống, quay lại bảo: “Chỉ trong vòng khu này thôi. Vào sâu trong lá ướt lắm, mà lúc sau lại không biết đường ra”. Sao hỏi: “Tính đến vạch lá dựng à?”. Kỳ trả lời: “Ừ. Nhưng mà mày phải ngồi ở gốc dẻ dai ấy. Nhớ không? Cái gốc cây to tướng mà hôm nọ mày lấy mấy xiên mộc nhĩ ấy”. Sao gật đầu, nhưng chợt nhớ, giãy nảy lên: “Không. Sợ lắm. Eo ơi trong đó có tiếng ma kêu “chét chét”...”. “Biết ngay mà. Cứ đòi đi theo! Cáu lắm rồi đấy”. Kỳ nổi quạu, tôi liền dàn hòa: “Bây giờ em chịu khó ngồi đây, bọn anh cũng chỉ ở khu này thôi, có đi đâu xa đâu mà sợ”. Sao miễn cưỡng ngồi ở gốc cây dẻ gai, chờ cho chúng tôi đi săn về phía rừng rậm. Đi chừng trăm bước, Kỳ bảo: “Phải bước thật êm, không lũ rái cá nó tinh lắm, nghe bước là nó chạy biến”.
Chúng tôi đi nhẹ, không một tiếng động. Bỗng vện hộc lên một tiếng từ phía bụi cây gần đó. Kỳ quay phắt sang. Con vện đã đánh thấy hơi mùi còn mồ, liền ngửi theo vết mòn chân thú lần theo. Hai chúng tôi cũng bám sát. Vết chân con thú khá lơn, hiện rõ lên trên nền lá mục. Rất có thể là gấu hoặc lợn rừng. Nhưng ở khu này những con vật ấy gần như đã xóa sổ. Hay rừng đang hồi sinh nên những con thú lại trở về? Lòng nghi hoặc, tôi định hỏi Kỳ xem thế nào, nhưng nhìn nó quá chăm chú, tôi lại thôi. Đi đến một bụi giang lớn, lá lòa xòa chán hết tầm nhìn, con vện phóng vào trong rồi sủa ầm lên. Kỳ lấy xoa chặt những ngọn giang xòa xuống để lấy lối vào. Bỗng một mùi hôi khăn khẳn bốc lên, đến nghẹt thở. Tôi tính bịt mũi lại, nhưng không được. Rất có thể một con lợn rừng đang ở rất gần. Kỳ đã lăm lăm súng trong tay, sẵn sàng bóp cpfn nếu gặp. Rồi lần lần tới chỗ con vện, tôi đi sau Kỳ, không mấy tự tin. Đây là lần đầu tôi đi săn - hiểu theo đúng nghĩa của nó - trách sao khỏi ngỡ ngàng và lo lắng. Được cá Kỳ rất tự tin nên tôi yên tâm đôi phần.
Con vện cứ sủa nhặng lên, chứng tỏ đã phát hiện được điều gì. Nó cũng làm tôi hăm hở đi theo Kỳ, đầy tò mò. Nhưng đến nơi, chỉ là một đống lông rụng và xương của con vật gì đó bị ăn thịt chừng một tuần rồi. Và con vật ăn thịt đã bỏ đi hoặc ở đâu đó gần đấy. Mùi hôi bốc lên dữ dội, tôi gọi Kỳ trở ra.Có một vết trượt dài trên lá làm chúng tôi chú ý. Chứng tỏ con thú vừa bỏ chạy khi bị con vện phát hiện. Chúng tôi tiếp tục lần theo dấu chân. Đúng lúc ấy có tiếng kêu của Sao. Chúng tôi đạp dây chạy về phía Sao. Nó đang đứng há hốc mồm mắt như người mất hồ, trợn ngược. Người nó run bắn. Phía sau gốc cây sồi già, có một con chồn. Kỳ bắn một phát chỉ thiên. Con vật sợ hãi bỏ chạy. Động rừng, tiếng chim kêu, tiếng chân thú chạy lạng chạng, lao xao cả một khu. Kỳ nhìn con bé Sao định cáu nhưng lại im lặng. Tấm thân rắn chắc của Kỳ hơi gù xuống. Nó đặt phịch khẩu súng xuống dễ dẻ gai rồi nói, vẻ chán nản: “Thế là mất toi con mồi”. Sao đầy vẻ hối lỗi: “Tại nó há mồm nhe răng làm em sợ quá”. Tôi liều nói: “Thôi, bây giờ đi ăn, chạy suốt buổi sáng, đói mềm rồi”. Chúng tôi giở xôi trong lá chuối ra ăn. Nhìn hút từ vòm sáng nhỏ ngước lên, nắng đã gắt lắm. Trời đứng bóng giữa ngọ rồi. Nhìn Kỳ ăn tôi lại mường tượng ra những bước đi của nó, trông dáng khoan thai như một con báo. Nó ăn như hổ, làm cũng mạnh bạo, đúng sức trai 17. Con bé Sao lấm lét nhìn anh, ăn nhỏ nhẹ như gượng ép. Tôi nhìn nó, thấy tồi tội bảo: “Anh nhận thấy là em hay khóc quá đấy. Có gì đâu, ăn mạnh vào, chiều chúng ta còn đi nhiều”. Nhìn hai anh em nhà nó, nghĩ mà buồn cười. Thằng anh lầm lì còn con em hay khóc. Chả hiều nổi.
Nghỉ trưa xong, Sao dứt khoát đòi theo sau chúng tôi. Lần này chúng tôi đi theo hướng khác. Tịnh không có một bóng chim thú nào. Đến độ hai giờ., Kỳ dường như đã hơi nản. Tôi đã định thong súng xuống đi cho nhanh. Đúng lúc ấy thì con mồi hiện ra. Lại là con chồn lúc sáng. Lần này chắc nó khó thóat khỏi tay súng của Kỳ. CHúng tôi nín thở, theo dõi. Tiếng súng của Kỳ nổ giòn tan. Con vật vụt chạy thục mạng. Con vện lao theo, ba chúng tôi cùng dàn hàng ngang đéo bám quyết liệt. Con vện đã bám sát lắm, chỉ cách chừng nửa mét, rồi độ một cán dao, rồi đuổi kịp. Nó ngoạm vào cẳng con vật. Có tiếng kêu thống thiết của con chồn, nó định chống trả nhưng hình như nó cũng nhận ra bóng người nên cố lao về phía gố dẻ gai. Chạy tới gần gốc dẻ nó kiệt sức, nằm sượt như đã tắt thở. Chúng tôi quát con vện ra, nhìn con vật đang thoi thóp thở. Máu ở chân nó chảy ướt thẫm một khoảng lông vàng mịn màng. Nó rên khe khẽ. Con bé Sao lại khóc. Nước mắt yếu mềm con gái. Kỳ bảo Sao: “Bây giờ mày dám vào nhấc xác nó ra đây không?”. “Nó chưa chết. Mà em thấy thương nó lắm”. “Thế mày theo đi săn làm gì?”
Đúng lúc ấy, có tiếng “ư ử, chét chét” nổi lên, con bé Sao bíu chặt tay tôi: “Đấy, tiếng ma...”. “Vớ vẩn. Ma gì mà ma”. Đến cả Kỳ can đảm là vậy cũng bắt đầu phát hoảng khi nghe tiếng réo nhè nhẹ từ phía sau gốc dẻ gai. Cả bọn chúng tôi mò về phía rễ cây bị lấp ấy, có một cái hốc sâu. Chao ôi, ba con vật lông măng mượt, ba sinh vật bé nhỏ vô tôi. Con chồn mẹ đang cố rướn thân về phía ấy nhưng đầu vẻ khó nhọc. Nó bất lực. Tôi quay lại. Từ hai khóe mắt của nó, từ từ lăn ra hai giọt nước. Con vật cũng biết khóc? Khóc trong sự khốn cùng? Tôi bắt đầu ân hận về chuyến đi của mình. Con bé Sao quay lại, nhìn con chồn, lại khóc. Nó nhìn Kỳ: “Hay là mình tha cho nó đi anh Kỳ?”. “Sao phải thế?”. “Để nó nuôi con chứ. Bắt nó là giết cả ba cái con”. “Đi săn mà không lấy con thú mình hạ được thì xui lắm!”. Con bé Sao vẫn nài nỉ: “Nhưng nó thật đáng thương. Mình phải băng chân cho nó nữa”... Hai chúng tôi lặng yên, không biết nói gì. “Máu ra thế kia, nó sẽ chết mất!” - Sao nói rồi đi hái lá để đắp vết thương cho con thú mẹ. Sự thể này không biết phải làm gì nữa. Kỳ nhìn tôi ngán ngầm: “Thật là một ngày xúi quẩy”. Không biết nó nói có đúng không, nhưng lúc ấy tôi cứ bần thần cả người, nghĩ ngợi ghê gớm.
Sau khi Sao đắp lá, băng chân cho con thú mẹ thì cũng là lúc nó tắt thở. Sao khóc ghê gớm, không hiểu có ohải đó chỉ là nước mắt mềm yếu? Tôi chạnh buồn. Kỳ không nói gì. Bỏ lại đám măng hái dưdợc ban sáng, Sao nâng ba con thú con vào trong cái thưng. Chúng tôi ra về. Chiến lợi phẩm trên vai Kỳ kia mà chúng tôi thấy lòng trĩu nặng. Vì nhiều lẽ.
Sau buổi ấy tôi phải về trường ngay cho kịp. Sau này nghe Sao kể lại, ba con thú bé nhỏ đã chết vì không được chăm sóc đúng cách. Tôi hỏi xem Kỳ có hay đi săn nữa không. Nó bảo rừng đã thưa đi nên thú cũng ít. Giờ nghĩ lại buổi ấy, tôi vẫn thấy cảm giác là lạ, hệt như mắt rừng đang nhìn tôi oán giận. Tôi đứng bên cầu thanh nhà Kỳ, nhìn sang bên kia thấy rừng bớt xanh đi thì phải. Buổi đi săn ấy là buổi đầu tiên và cuối cùng của cuộc đời tôi.

0
Mùa hạn
 
Chiều váng vất những áng mây màu cua gạch phía trời Tây. Mặt trời bầm đỏ đang tụt dần sau những ngọn đồi. Và nắng dại rồi thì nhạt lắm, chỉ tràn độ tàn phai. Anh em tôi khiêng chiếc chõng tre ra ngồi dưới gốc sấu đợi xe bố tôi đi qua. Bà tôi nhìn bóng mẹ hụp lên hụp xuống với cái gàu dai tát nước lên ruộng hạn, thở dài: “Trời đất này rồi không biết có sống được hay không? Nắng trao ôi là nắng!”.
Đã hơn một tháng, bố tôi không lái xe qua nhà. Chẳng hiểu vì lý do gì nhưng mẹ tôi bảo bố chuyển tuyến xe. Nghe đâu bố còn lái ngược Cam Đường - Nghĩa Lộ. Nhưng bà nội không tin. Bà bảo: “Rồi mấy hôm nữa bố mày đánh xe về mang đầy tú hụ là quà ấy chứ!”. Và bà vẫn phe phẩy quạt mo cau, chúng tôi vẫn mang chõng ra đầu cổng để chờ. Chờ đến khi mẹ tôi gọi về ăn cơm mới thôi. Thường khi ấy cũng vào độ tám giờ tối. Hôm trước, ngày nào bố tôi cũng lái xe chở chè theo hợp đồng nhà máy chè đen. Mỗi khi chập choạng tối, ánh đèn pha xe “y pha” của bố lại quét dọc khắp cánh đồng, đồi bãi theo những cung đường. Lúc ấy, đến cổng là bố bấm còi inh ỏi rồi dừng xe lại, vẫn bật đèn pha chiếu sáng cho cả nhà ngồi. Anh em tôi đứng giữa sân, rồi bắt đầu diễn kịch và tự xem bóng mình in trên bức tường nhà. Rồi sau bữa cơm vội với gia đình, bố tôi lại hộc tốc ra xe, mở cái thế giới đầy dầu mỡ kia và tiếp tục cuộc hành trình trên những cung đường. Anh em tôi chạy theo, cứ đòi theo bố, đến khi bố bực lên mới thôi. Cái Mai bảo: “Bố chẳng thương anh em mình gì cả. Em chỉ muốn ra phố một lần rồi về”. Thế là bố tôi lại nhảy xuống, xoa đầu hai anh em, rồi ôm cái Mai vào lòng: “Bố chẳng thương hai của khoai của bố thì thương ai? Thôi vào nhà để bố đi”. Lúc ấy, thế nào mẹ tôi cũng gọi: “Vào để bố đi cho may!”. Anh em tôi còn nhìn theo ánh đèn xe bố phản vào vách đồi, những hàng cây bờ cỏ hiện ra, lươn lướt như những thước phim nhoang nhoáng sắc màu mà chúng tôi được xem trên phông chiếu bóng.
Nhưng mà, đã hơn ba mươi buổi chiều nắng hạn, bố tôi vẫn chưa về!
Cái Mai ngả vào lòng bà, nũng nịu: “Bà kể chuyện đi bà”. Bà tôi vứt bã trầu vào gốc sấu, hắng giọng và bắt đầu: “Ngày xửa, ngày xưa, có hai vợ chồng trẻ, chồng bị bắt đi lính thú xa nhà, vợ vò võ chờ qua ngày tháng mà tin chồng vẫn bặt im giữa khói lửa binh đao...”. Câu chuyện của bà tôi nghe có đến cả trăm lượt rồi. Thể nào mà người chồng chẳng tử trận, người vợ ở nhà hóa đá hoặc thủ tiết bằng cách trầm mình trôi sông. Nhưng mà bà có cách kể lạ lắm, cứ rù rì thủ thỉ làm tôi không dứt ra được. Còn cái Mai thì cứ gọi là say như điếu đổ, bỏ quên hết mọi thứ. Rồi khi kết thúc câu chuyện, nó lại vòi vĩnh: “Bà ru cháu ngủ đi”. Hôm nay cũng thế, bà phe phẩy quạt cho anh em tôi rồi ru:
“Bông bồng con ngủ con ơi
Dưới sông cá lội trên giời chim bay
Ước gì mẹ có mười tay
Tay kia bắt cá tay này bắt chim
Một tay chuốt chỉ luồn kim
Một tay đi ruộng tay tìm hái rau
Một tay kéo sợ guồng xa
Một tay lo bếp của nhà sớm hôm
Tay nào để giữ lấy con
Để lau nước mắt mẹ còn thiếu tay
Bồng bồng con ngủ cho say
Dưới sông cá lội chim bay trên giời”.
Tôi không nhớ bà ru đến khi nào, chỉ biết đến lúc được đánh thức dậy ăn cơm thì đã khuya rồi, đêm phẩy những đốm sao rừng rực. Bà tôi đã lại bỏm bẻm miếng trầu khác. Bà có thể ăn trầu suốt ngày. Bà bảo không ăn thì nó nhạt miệng. mẹ tôi dọn cơm cho hai an hem tôi hỏi: “Chăn trâu có no không?” Tôi bảo: “Có”. Mẹ lại bảo: “Mai mang trâu sang cho nhà bác An kéo đường”. Bà tôi bảo: “Hay là snag nhờ bác ấy kéo cái máy về bơm cho đỡ khổ”. Mẹ tôi không nói gì. Hình như mẹ cũng đang chờ đợi.
Nhưng mà, hơn ba mươi đêm rồi sao bố tôi vẫn chưa về!
* * * * *
Cho đến chiều hôm sau, bóng tối đến rất muộn và luẩn quẩn hư thực giữa bốn bề trời đất. Mẹ tôi vẫn tát nước,lúa vàng võ đi nhiều vì một tay mẹ sao cáng đáng dược trăm bề. Ruộng thì rộng mà đều khô nứt nẻ. Tôi đang nấu cơm trong bếp thì cái Mai chạy vào: “Anh Nguyên ơi, anh la nghe tiếng gì lạ mà hay lắm”. Vùi nồi cơm vào tro, tôi chạy theo Mai ra đầu ngõ. Phải lắng nghe thật lỹ mới thấy tiếng xe ầm ĩ và tiếng còi thanh thanh. Bà tôi hỏi: “Cái gì thế?”. Tôi bảo: “Có tiếng xe ô-tô. Hình như bố cháu về”. “Bà đã nói rồi mà, thế nào bố mày lại chẳng về. Rồi mai bố mày bơm nước lên đồng”.
Thế nhưng chiều ấy, đến khuya chúng tôi vẫn nghe tiếng còi xe rên rỉ vọng lại từ đâu đó. Tôi nói dối sang nhà bạn mượn sách học và đạp xe đi về hướng tiếng còi. Đến khi tôi nghe rõ tiếng còi ấy từ đâu thì tôi thấy vọng hoàn toàn. Mỏ than Phấn Mê đang khai thác trở lại, tiếng xe ben đang trở than về bãi. Tôi đạp xe về nhà mà trong lòng không hiểu mình làm sao nữa. Cứ thấy bứt rứt khó chịu mà không biết gọi tên. Tâm trí tôi vẫn riết róng mùi dầu mỡ quan thuộc của bố. Hình như từ lúc lọt lòng tôi đã quen với cái mùi mỏi mệt ấy.
* * * * *
Đêm. Tôi nằm mãi ở cái chõng tre, không ngủ được! Bà tôi ra ngồi bên, phe phẩy cái quạt mo: “Mày giã cho bà miếng trầu”. Tôi lấy cái tràng, giã thật nhuyễn trong chiếc cối bằng đồng thau. Hương trầu cay quấn chặt lấy tim óc. Bà tôi bảo: “Thôi, nằm xuống bà ru cho mà ngủ”. Tôi không cưỡng lời bà, nằm yên nghe bà ru khúc ru cũ mà chợt liên tưởng đến mẹ. Ừ, có lẽ để lau nước mắt mẹ còn thiếu tay thật. Sao ba mươi ngày nắng nôi rồi mà bố tôi vẫn chưa về nhỉ?
Nước bơm suốt sáng thì ngập đồng. Đầu óc tôi nặng trĩu và đau như búa bổ. Một việc làm quá sức khiến tôi quị ốm. Tôi chẳng thấy mình dạo chơi trong những giấc mơ nữa mà những mộng mị ma quái cứ chờn vờn quanh đầu óc. Mọi người túc trực trên giường tôi, đến khi mở mắt nhìn quanh tôi hiểu mình đang hạnh phúc.
Bố tôi biên thư về. Mẹ tôi đọc ngắt quãng. Thư bảo bố đi lái xe đường dài nên đến Tết mới về. Bố dặn anh em tôi nhiều thứ nữa nhưng mà tôi không nghe được. tôi thiếp đi, bỏ quên nỗi buồn chập chờn ban nãy. Bây giờ thì bà và cái Mai vẫn ra gốc sấu ngồi chờ xe bố tôi về. Nhưng tôi thì không. Tôi biết phải làm gì khi mình bắt đầu lớn. Mà hơn thế, dù sao thì mua đại hạn cũng qua rồi. Nhà chỉ có mỗi mình tôi là con trai. Và bố tôi thì đến Tết mới về cơ.
0
Mắt mùa thu
 
1. Những bông hoa nở từ phía thượng nguồn, trôi bâng khuâng theo dòng và cuốn cả hương thơm dịu dàng về. Tôi bảo bạn, tôi chưa biết, nhưng chắc chắn phải là một người yêu thương tôi. Bạn nhìn tôi và bảo, thời gian qua chúng ta chạy trốn nhiều sự thật, trong đó có tình yêu. Tôi nhìn sang những vạt đá dài phía bên kia. Mùa thu mang màu xanh biếc.
Đã bắt đầu mùa thu. Trên những mái nhà cũ, từng bầy chim tíu tít bay về, đậu rỉa những hạt thóc sót từ những bó rơm nếp khô ông nội quăng lên chờ mùa đông bện chổi. Chúng líu ríu buổi sáng, ào bay đi vào buổi trưa và buổi chiều chui vào những chiếc tổ bé xíu trong những hốc dui mè. Chúng đi ngủ từ rất sớm và mỗi ban sáng, khi nghe hơi sương thoảng qua mặt đất mát lạnh, đã nghe tiếng chúng gọi bầy. Ông nội tỉnh giấc, cây gậy trúc khua lọc cọc và ánh đèn pin quét suốt lượt từ chuồng gà, gióng trâu rồi vào khuôn bếp. Rồi ông pha trà, hút thuốc lào gọi tôi dậy. Luôn là những mùa thu hiền lành trong ký ức của tôi.
Bắt đầu từ mùa thu của tuổi mười lăm. Bóng dáng bà nội trôi theo những hình nhân giấy qua phía bên kia đồi. Tôi đem áo ra suối giặt. Nước mùa thu trong veo như đôi mắt đứa con gái ngồi bàn đầu tiên trong lớp học. Tôi gọi nó là mắt mùa thu. Mắt mùa thu nhìn thấy tôi đang giặt chiếc áo cuối cùng. Chiếc áo hàng ngày tôi hì hụi găm trên người đến lớp. Mắt mùa thu bảo, con trai chẳng cần giặt quần áo, có cần để tôi giặt cho. Tôi nhìn mãi mái tóc mượt như những vầng lá dài trên triền núi. Mái tóc loà xoà rớt cả xuống nước. Rồi hắt mạnh lên. Mái tóc bay bay. Nước trắng cũng bay. Tôi bảo, tôi gọi bạn là mắt mùa thu nhé. Nhà bạn ở phía bên kia sông? Bạn khẽ cười, chiếc áo trắng hoa nhài lung linh dưới nền sỏi cuội. Tự dưng tôi lại bảo bạn, tôi chẳng còn người phụ nữ nào trên đời để yêu thương. Bà tôi đã mất rồi. Tôi chỉ còn mỗi ông nội. Bạn bảo, tôi như cơn gió, tôi sẽ bay qua, rất nhanh. Tôi nắm tay bạn. Tay rất mềm. Mắt mùa thu rút tay về. Bạn mang cặp sách lên vai, bước cắm cúi trên những mỏm đá dài và lẫn dần vào những bóng cây bên bờ suối. Tôi mang chiếc áo cũ về phơi trên giậu, thấy bóng dáng bà nội đâu đó trong vườn. Tôi thì thầm với bà nội, mai này cháu thực sự lớn, cháu chỉ yêu cô ấy thôi.
Mùa thu ấy, ông nội xuống sức, cảm giác như ông già gấp đôi số tuổi của mình đang có và những mạch máu muốn co dần lại. Ông nội hút nhiều thuốc lào, những gói nhỏ bà nội cuốn trong lô giấy xi măng trên gác bếp ông đã rút gần hết. Những quả bầu khô đựng đỗ giống, hạt bí hạt bầu vẫn lúc lắc mỗi khi ông chạm đến, chờ bà một buổi tối trời đem dặm vào một góc vườn, một thẹo đất thừa ngoài bờ bãi. Ông nội nhìn những quả bầu cũ như cái gác bếp đầy bồ hóng, mắt khô kiết nhưng mà buồn. Tôi chui vào cái phòng xép của mình, lôi cuốn sách ra đọc cái bài thơ lan man về những người đàn ông cả đời không xuống núi. Những người đàn ông sinh ra trên đường đi của mẹ đến những vùng đất mới, tiếng khóc vóng vót trong lòng địu và thân mình vằn vện dấu vết của những cuộc du canh. Họ lớn lên trong những buổi đi săn mình trần chân toé máu, tóc họ bết đầy than khói của những vạt rừng đang sắp biến thành đồi nương. Cuốn sách đâu đó, ông nội giấu biệt trong chiếc túi vải từ ngày nào. Chỉ tôi biết và tôi hiểu được, ông nội chưa một lần xuống núi, ông chỉ muốn đi ngược lên thượng nguồn con suối, đi ngược lên đỉnh núi có cây tùng dài mình và gió chót vót reo.
Mùa thu tuổi mười lăm đến và đi mang lại những dấu ấn buồn bã. Tôi và ông nội trải qua những đêm đầy khói thuốc và những hoài niệm phiền muộn. Những buổi chiều tôi hay ra suối, ngồi ngó mây trời, nghĩ vẩn vơ về một điều gì không rõ rệt. Mắt mùa thu thường đến rất nhẹ, tiếng bước chân như thể chỉ lướt qua mặt đất. Tôi bảo bạn, nhà tôi bên này sông, cái mái rơm nếp thấp nấp sau tàn cây bứa. Chắc là buổi chiều bạn chẳng bận lắm, hay là ghé qua đó chơi. Ông nội tôi thường hút vã thuốc lào. Ông nội cũng buồn. Bạn ngồi nghe trên phiến đá dài. Bạn bảo, có phải bạn muốn tôi đến thăm ông nội không? Tôi nói, ông nội tôi có những cuốn sách viết về những người đàn ông không bao giờ xuống núi. Bạn bảo, điều đó chẳng có ý nghĩa gì nhiều. Nhưng tôi sẽ đến. Bạn lại giặt áo cho tôi. Chiếc áo đã sờn mỏng. Mùa thu qua đi bằng những buổi chiều của bạn ở nhà tôi. Tôi nói mình thật sự yêu thích những buổi chiều ấy.

2. Mùa thu thứ hai mươi đi ngang qua đời. Tôi đã thực sự trở thành người lớn. Tôi nhìn những đốm lửa hắt sáng từ những triền nương phía bên kia sông, thấy lòng chợt nhớ, chợt bâng khuâng chút gì. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên những phiến đá dài. Năm năm trôi qua rồi còn gì. Ngày tháng cuống cuồng trôi nơi phố hội làm người ta cảm thấy mình quá bé nhỏ và rượt đuổi những điều đôi khi là khá viển vông. Bạn quay qua tôi bảo, Nguyên có được gì sau suốt những ngày qua? Tôi ngó lơ qua bên những triền hoa dại. Tôi chẳng có gì cả. Nhưng tôi biết mình vững vàng hơn. Lớp học ngày ấy tan theo mùa hoa, giờ mỗi đứa lưu lạc một góc trời, tịnh không một bóng nào ở lại quê nhà. Tôi và bạn, hai đứa chỉn chu và tử tế nhất lớp, cũng ngồi tại Hà Nội và trong đầu ngùn ngụt ý định chiếm giữ nó như mảnh đất của chính mình. Tôi nhìn lại mái nhà mình từ ánh mắt quay ngược. Mái nhà đầy chim sẻ, thu rồi, chúng đang cuống cuồng mưu toan lót một cái tổ mới. Tôi biết chúng sẽ làm xong vào trước mùa đông.
Chúng tôi ngồi bên nhau cho đến khi mặt sông đỏ thẫm. Rất ít những câu chuyện cũ. Tình đầu vốn nhẹ như những chiếc lá rớt. Thực lòng thì không thể nói không buồn. Nhưng cuộc sống cuốn tròn mọi thứ lăn mạnh về phía trước. Và tạm lắng dần kỷ niệm. Về Hà Nội, bạn như một cơn gió, một chút hương lạ len lỏi giữa ngạt ngào mùi phố thị. Tôi chẳng giữ được bạn. Hôm bạn ngồi sau xe người khác, tôi không ngạc nhiên. Chỉ thấy mình đã mất đi một chút gì đó thân thương trong lòng. Tôi bực bõ ngồi trên thềm nhà hát lớn, ngó ra phố Tràng Tiền. Ngày đầu tôi và bạn đã ra đây, hồn nhiên ăn kem như những đứa trẻ. Bây giờ bạn không thế. Bạn không thích thế. Tôi biết. Nên im lặng cho bạn bỏ đi. Lâu lâu vào ngày sinh nhật, tôi cũng có ghé qua bạn, âm thầm đặt vào cái lọ rỗng nơi ký túc xá một cành hoa. Những đứa bạn trong phòng nhìn tôi, chúng nghĩ tới những trái tim si tình ngớ ngẩn đầy rẫy trong những bài hát thời trang trên đĩa CD. Bạn có tình yêu mới. Còn tôi thì mãi vẫn còn lại một ký ức. Ký ức âm thầm về trên mắt mùa thu.
Suốt những mùa thu sau, tôi lẩn trốn mọi thứ để về nhà ông nội, nhìn ra bờ sông đầy hoa dại. Và những ngày đó bạn không bao giờ về. Tôi ngược phía đỉnh đồi, bà nội đã nằm im lìm dưới bóng những tàng cây lớn. Tôi nằm cạnh bà, nghĩ rất nhiều về những mùa thu sau này, khi tôi ra trường. Tôi cũng nghĩ sẽ phải rời xa những ký ức xưa xa ấy. Tôi cần một buổi chiều tan sở làm, về nhà với người phụ nữ của mình, cuộc sống ấy được gọi giản đơn là bình dị. Ông nội bảo, bà nội mày nhớ tao vì luôn luôn trong tâm trí tao chỉ có một mình bà mà thôi. Mai mốt mày có lấy ai, nhớ một điều vậy là đủ. Khi ấy tôi ngồi lơ mơ trong khói thuốc lào của ông nội. Tôi không nghĩ gì nhiều về chuyện này. Ông nội cả đời không xuống núi, mắt ngó ngược nhìn trời, chân mải miết đi tìm đầu con nước. Bà nội yêu tất cả những điều ấy của ông. Bà nội hạnh phúc. Còn ba tôi thì không, mẹ tôi cũng không. Có một phương trời khác đang mời gọi họ. Chẳng biết có hạnh phúc hơn. Nhưng rất khác. Và tôi, tôi đã ở vào một khoảng khá xa với cuộc sống của ông nội, vậy mà vẫn không nguôi nghĩ đến những kỷ niệm suối sông với mái tóc dài và mắt mùa thu.

3. Hai mươi tư tuổi, những mùa hoa vẫn cũ, chỉ có mỗi chúng tôi đã khác xưa. Chúng tôi ra trường, tìm về những cơ quan khác nhau tá túc. Mỗi đứa ở một đầu thành phố, tìm giọng nói, hơi thở của nhau qua những cuộc điện thoại. Bộn bề những công việc của nhân viên mới, mới thấy mình sao mà nhỏ bé, sao mà cần một người phía bên cạnh trong quán cà phê, nghe đủ những chuyện mệt mỏi và bực bội, ăn hết phần bánh sandwich bên cạnh và uống hết ly trà lọc phía đối diện. Hai mươi tư tuổi, mùa thu có còn ý nghĩa gì?
Tôi bỏ một chuyến đi dài để về nhà ông nội, nhìn lại cái mái rêu cũ kỹ của bầy sẻ thu. Chúng buồn bã nhưng bình yên. Tôi ngồi ngó ra sông, thấy mái tóc dài, thấy mắt trong veo và muộn phiền nhìn mình. Bạn bảo, Nguyên bỏ sở về nhà, có chuyện gì buồn đến thế sao? Tôi không nói gì, chỉ nhìn vào mặt suối, phía bên dưới sỏi cuội vẫn reo cười. Lại bảo, Nguyên bỏ về mà không thấy nói tiếng nào với Phan, như vậy mà được sao. Tôi nhìn bạn. Thời gian trôi đi nhanh thật. Chúng tôi đã không còn hồn nhiên. Tôi bảo, Nguyên chỉ muốn về, nhìn lại chính mình, dứt bỏ những chuyện cũ để làm một khởi đầu mới. Nguyên chẳng có một công việc tốt, một cuộc sống tốt? Nói thế nào nhỉ? Nhưng bao nhiêu năm qua, Nguyên chẳng có gì cả. Mọi chuyện tốt đẹp cứ lần lượt ra đi, biền biệt. Bạn nhìn tôi, thật ra Nguyên có quyền giận Phan. Nhưng với Phan, Nguyên là người quan trọng, cực kỳ quan trọng. Tôi nói tôi không giận. Nhưng nỗi buồn là của tôi. Nó đến và làm cho tôi không quên. Bạn bảo, có nhiều lúc Nguyên nghiệt ngã với mọi thứ. Nguyên bận rộn với quá nhiều thứ. Đôi khi Phan muốn có ai đó chở mình đi trên phố, chỉ thế thôi, vậy mà Nguyên thì không bao giờ. Tôi nói, tôi đã làm mọi thứ, chỉ để mình được sống đàng hoàng. Và đã đến lúc, tôi cần một cuộc sống cho riêng mình, với người phụ nữ mà mình sẽ cưới làm vợ. Một trong những cô gái bên cạnh Nguyên sao? Tôi cười, nhìn lại mặt suối, mùa thu trôi trong lòng nó một sức sống mong manh mà lâu bền. Những bông hoa nở từ phía thượng nguồn, trôi bâng khuâng theo dòng và cuốn cả hương thơm dịu dàng về. Tôi bảo bạn, tôi chưa biết, nhưng chắc chắn phải là một người yêu thương tôi. Bạn nhìn tôi và bảo, thời gian qua chúng ta chạy trốn nhiều sự thật, trong đó có tình yêu. Tôi nhìn sang những vạt đá dài phía bên kia. Mùa thu mang màu xanh biếc.
 
[font="verdana"][size="3"][color="#ff0000"]HẾT
[/color][/size][/font]
0
Chuyện tình Paris - Dương Bình Nguyên
 
Đã mang vào thư viện
Chúc casau luôn vui
 
 





0