Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

O chuột - Tô Hoài 🔒

8 trả lời, 551 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn O chuột
Tác giả: Tô Hoài
 
 
O chuột
 
Trong nhà, không kể người, thì chó và mèo làm chúa tể. Chó giữ về mặt bộ, mặt thủy. Hắn có phận sự chạy nhông khắp chốn, để đánh hơi, để hỏi han và để mắng những người lạ đi tơ lơ mơ vào trong ngõ. Có khi cao hứng, hắn lội xuống ao, tắm; hoặc nếu có ai cầm hòn gạch ném vào nước và huýt sáo mấy tiếng, hắn cũng động cỡn mà nhảy tùm xuống. Một đôi bận, sự đùa cợt của hắn cũng được việc. Ấy là khi hắn bơi ở trong ao để dồn vịt về chuồng. Chó hay lèm bèm, ủng oẳng, sinh sự nhỏ nhen. Nhưng tính tình lại phổi bò, dễ dãi và thường chóng quên.
Còn mèo, rất khác. Mèo lừ đừ và nghiêm nghị tựa một thầy giáo nhà dòng, trên mình có khoác bộ áo thâm. Hắn có cái cốt cách quý phái và trưởng giả. Lúc nào cũng ra vẻ nghĩ ngợi như sắp mưu toan một việc gì ghê gớm. Có phải thế chăng, hỡi cái gã lừ đừ và nghiêm nghị kia? Gã lại càng làm ra vẻ khó hiểu tợn. Nhưng cái vỏ ngoài chưa thể đủ nói rỏ được bề trong. Biết đâu, mèo ta không khó chịu như mình tưởng. Mà vốn hắn lại lành hiền cũng nên.
Hôm nay, tôi kể chuyện một gã mèo, một gã mèo trẻ tuổi. Y sống lặng lẽ trong một nếp nhà ngói cổ kính, giữa một vườn cây, ở làng Nghĩa Đô, cùng một sân với bọn chó, bọn gà ri, bọn ngỗng.
Y là một chàng mèo mướp. Giống đó, nhà quê người ta nuôi nhiều. Cái bộ lông mèo mướp thực là kỳ dị. Nó vừa trắng màu lụa, vừa xám màu tro, lại vừa đen xỉn. Khắp mình, ba màu ấy trộn lẫn với nhau, mà trộn rất nhỏ, hòa hợp lại thành một màu đặc biệt như màu cái chăn dạ của các chú lính tập. Chỉ ở dưới bụng mới có một mảng lông trắng mềm mềm. Màu mướp ấy trông bẩn, vì đen ngòm ngòm, nhưng chính ra sạch lắm. Nó sạm như đất, mà không phải là có đất bám. Nó lại mờ mịt như tro ở bếp phủ lên - bếp tro là chỗ ngủ tốt nhất của loài mèo - mà thực ra cái bờm lông xấu xí đó chẳng vẩn một chút tro bụi. Ngắm thì không đẹp mắt, nhưng nếu sờ tay vào, nó mịn mướt như sờ tay trên tấm nhung tơ.
Hai mắt mèo tròn và quắc lên như đôi hòn bi ve để dưới ánh sáng mặt trời. Hắn không có môi, song hắn có cái mũi đo đỏ, đẹp như cặp môi son hồng của cô con gái mười tám đương thì. Không ai ưa cái mũi mèo đỏ. Người ta bảo mèo mũi đỏ là mèo hay ăn vụng. Hai bên mép hắn có hai hàng ria cứng ngắc như ria làm bằng thép nước. Lũ trẻ con, có lúc nghịch đè ngửa hắn xuống, lấy kéo cắt trụi cả đôi hàng ria suôn đuột. Nhưng chỉ qua ít ngày, những sợi ria lại trổ ra như thường.
Gã mèo mướp ăn ở thì giờ như một người đúng mực. Ban ngày hắn ngủ hoài; cái dáng mèo nằm, dáng êm, dáng nhanh, dáng lâng, đẹp biết bao. Lúc bấy giờ thân hắn nhẹ muốt, chỉ như một chút gợn gió phẩy bay một nắm bông gạo nõn.
Mà giá ban ngày hắn có thức cũng không làm gì; hắn chỉ nằm gù gù. Để đến đêm, trong cái bóng tối mung lung, hắn mới ra tay hoạt động. Hắn đi rà rà thâu canh như người trương tuần.
Gã mèo có cái vẻ đạo mạo như một ông đứng tuổi, đương bắt đầu để râu. Hắn hiền hiền mà lại ang ác. Nghĩa là trông hắn thì không tài nào đoán được trong óc hắn nghĩ ngợi gì. Mà chừng hắn chẳng tư tưởng chi ráo! Hắn chỉ là một người rong chơi lông bông. Chẳng đã có những bác trông mặt thì ra dáng đăm chiêu tư lự mà thực ra trong đầu không chứa đựng một ý nhỏ nào.
* * * * *
Gã ngồi đây, ở trên mặt giại bể. Hai chân trước đứng thẳng, đôi chân sau gập lại, y lối ngồi xổm. Đôi mắt nhìn xa xôi... Thỉnh thoảng, theo thói quen, hắn đưa cẳng chân phải lên để gãi mép cũng như người ta sờ tay lên vuốt ria cho nó oai vậy.
Trời đã xê chiều rồi. Một chiều thu êm ả. Vài gợn nắng vàng nhạt đọng lại trên những tàu cau rách rưới màu xanh om. Bên nhà ngang tiếng guồng tơ quay đều đều. Trên đường cái lũ trẻ con đi học về, vừa chạy thi nhau vừa la, nghe vang động xa vời vợi. Ngoài giếng thơi, người kéo nước rào rào. Cái gáo mo lạt xạt đụng vào thành giếng đá.
Trong bếp lặng tờ. Bây giờ là sau bữa cơm chiều, người ta không dùng đến bếp nữa. Gã mèo mướp ngồi ngắm trời, ngắm đất mãi thì cũng chán. Gã bèn đứng lên, uốn cong cái lưng và nhuôi bốn chân ra để vươn vai, rồi đi về căn nhà hiu quạnh. Hắn bước đi từ tôn và uyển chuyển như một con hổ nhỏ. Khi qua gốc cau, chẳng biết ý định ra sao, hắn leo tót lên ngay, quào quào mấy móng sắc vào cái vỏ cây cau ráp trắng, rồi lại tụt xuống, lại đi lểu đểu, đạo mạo như trước. Hắn thường có những cử chỉ rất đột nhiên. Hắn làm bất ngờ như trong lòng đang khoái một điều gì mà hắn vừa nghĩ đến. Luôn luôn gã mèo mang một nét mặt tư lự.
Y vào ngồi thì lì bên bếp tro. Y nghiêng màng tai để dũi vào một ông đồ rau, to bằng hòn gạch vồ lớn. Lúc nào y cũng ngứa và cũng cần gãi.
Bỗng y đứng im. Y nghếch đầu lên. Hai cái tai mỏng vểnh ra để nghe ngóng. Hình như có tiếng lịch kịch ở sau đống củi. Nhưng khi bước lại thì không thấy động gì nữa. Gã quay đầu ra, ngước mắt nhìn lên đám mạng nhện mắc bồ hóng đen sạm, bị gió đưa lúc lắc trên trần bếp.
Có tiếng động thực. Lần này gã mèo dúm bốn chân lại bước từng bước rất nhẹ vào phía đống củi. Đống củi đó người ta để phiền quá, vừa chướng bếp, vừa làm cái rừng bùm tum, chỉ tiện cho quân gian núp náu.
Giống mèo là một giống, đứng ở chỗ nào, không thể chịu có được một tiếng động nhỏ. Đã có khi gã mèo mướp nằm ngủ suốt đêm ở trên đống củi. Đây là chỗ ra vào của lũ chuột ngày, cái lũ chuột con rất vô danh, hễ tha được một hột cơm nhỏ cũng chạy thọt ngay vào đó để nhấm nháp.
Mèo và chuột là đôi loài có thù không đội trời chung với nhau. Mèo ghét chuột quá, ghét kịch liệt. Ý giả mèo ta tin rằng giống mình là giống giỏi nhất thiên hạ; những tên chuột, tất cả lò nhà chuột, chỉ đáng đem thân làm nô lệ cho loài mèo thần thánh. Thế mà cái giống thấp hèn ấy không biết điều lại cứ hay tắt mắt, táy máy, bặng nhặng làm nghịch mắt và rác tai ông bề trên.
Hai cái tai gã mèo mướp hơi động đậy. Ấy là khi gã đương hết sức lắng nghe. Tai mèo mỏng tanh, gần soi bóng qua được, dỏng lên như chiếc tai lừa tí hon. Cái vành tai rộng mở và loe ra. Chả trách gã nghe rõ lắm.
Gã khum hai chân trước xuống, nhìn vào gậm đống củi. Rõ ràng gã trông thấy một cái đuôi nhỏ mà dài thò lò dưới một mẩu gỗ. Đúng cái đuôi chuột. Gã nép về một bên, thon người lại.
Lúc này trông gã mèo quái ác dị thường, thoát hẳn cái dáng lừ đừ, hiền hậu hằng ngày. Y quờ quờ cái chân. Sau y biết là làm thế hấp tấp quá, phải chờ cho cái đuôi chuột lùi ra nữa mới được.
Lại có tiếng rúc rích ở trong. A, có hai thằng chuột rửng mỡ đang đùa nhau. Chúng nó hẳn đến ngày tận số. Ai đời chuột lại dám đánh đu ở miệng mèo!
Tuy cáu, nhưng mèo cũng đủ kiên nhẫn đê chờ cơ hội tốt đến. Trong kia, hai con chuột vô tình, vẫn đùa cợt vui vẻ. Nhiều lúc, có nhách lại chạy ra tận ngoài, thò cái mõm nhọn ngửi chung quanh. Lộn tiết, gá mèo đã toan chộp. Nhưng chuột lại chạy ngay vào mất. Con mèo lại im lặng, chịu khó ngồi rình.
Bóng tối chụp xuống mau nhẹ. Vừa mới nhọ mặt người. Bây giờ đã đêm hẳn. Đêm nay là đêm rằm. Mặt trăng đã nhô tròn ở đằng đầu tường. Một mảnh sáng nhờn nhợt in trước sân bếp.
Trên nhà, người ta đã quẹt diêm để châm đèn sáng cho trẻ học. Tiếng những đứa trẻ ra ao rửa chân, vừa đi vừa khua guốc lóc cóc. Hai chú chuột ở trong gậm củi, dáng hẳn thày trời tối thì muốn ra ngoài kia lắm.
Cái thằng mèo mướp ốm bệnh hen cò cử quanh năm mà không chết ấy, bữa nay tất đi chơi đâu vắng; nếu nó có nhà tất đã nghe thấy nó rên gù gù ở trên đầu ông đồ rau. Chúng mình ra ngoài kia đùa một tí hoặc kiếm chác được cái gì ăn thì hay quá.
Hai cái đầu ló ra. Rồi hai gã chuột bước hẳn ra khỏi đống củi, đi lần về phía bếp. Chúng vui vẻ cãi nhau choe chóe.
Hai cái bóng bé nhỏ quá, chụm lại với nhau chưa bằng được một ngón chân cái của người lớn ta. Đấy là hai con chuột nhắt. Chuột nhắt bé hơn chuột chù. Nhưng nó nhanh và hoạt hơn nhiều. Anh chuột chù có cái mõm dài nghêu - cứ vác mõm đã đủ mệt - đi đến đâu cũng rụt rụt rè rè. Hề hơi có cái gì đáng sợ là vội hốt hoảng chạy cuống lên, vãi cả đái và kêu rối rít. Đã thế lại còn chậm và cũng không biết leo tường, leo cột, chỉ ở luẩn quẩn sát mặt đất. Thật là một thứ chuột cùng dân, thấp kém nhất trong xã hội chuột. Vậy mà thiên hạ lại ưa thứ chuột đó. Không phải ưa cái thân hôi hám của nó - chẳng đã có câu mỉa: “hôi như chuột chù”, - nhưng người ta chỉ ưa có cái tiếng kêu: “chuúc... chuuuúc...”. Các cụ ta nói: Ấy là chuột chù bảo: “túc túc” nghĩa là “đủ đủ”. Nhà ai, chuột chủ mà cứ “túc túc” luôn, ắt nhà ấy hẳn sắp có việc phát tài.
Và đây chỉ là hai con chuột nhắt. Thân chúng nhỏ nhắn, mõm xinh xinh vừa phải, về sự nhanh nhẹn, phải biết rằng nhờ ở cái thân hình bé bỏng, chúng leo vun vút, chạy nhoăn nhoắt như có phép biến hóa.
Thoạt thấy bóng đôi chuột lúi húi ra khỏi đống củi, gã mèo mướp mừng khấp khởi. Nhưng rồi gã chán đớ ngay ra. Tưởng chuột chiếc to tát thế nào, chứ nếu biết chỉ là hai chuột nhắt nhép ranh ấy thì gã đã bước từ nãy, không phải tốn công, tốn hơi sức mà rình nấp vô ích. Mèo ta cũng khá đại lượng. Song thực cũng tại cái tính lười nhác cố hữu, chả muốn cắt đại công trình mà chỉ được có một tí ti kết quả đấy thôi.
Nhưng đã thế này thì cứ bắt chơi. Hầy! Đùa một mảy vậy. Nghĩ vậy, mèo ta co lưng lại để lấy thế, rồi vươn hai chân ra chộp cả hai cái bóng đen cọ quậy ở trước mặt. Có tiếng kêu “chí... í...”. Một con chạy thoát được. Còn một bị nắm lại. Mèo gầm gừ để thị uy và dọa dẫm. Chú chuột khốn nạn bị túm lại, nằm ngất trong hai bàn tay sắt đầy vuốt cong và nhọn hoắt của ông mèo, y như cái cảnh rúm ró của chị cua nhà quê mà bị cụ đại vương ếch lấy một bàn tay mà vỗ vào mai.
* * * * *
Chú chuột nhắt bị mèo tha ra cửa bếp và được thả xuống đây. Mèo không hề nghĩ đến sự nhắm chú chuột nọ. Dễ thường gã ta ví mình như một người anh hùng cái thế có thèm sát hại lũ trẻ oắt bao giờ đâu! Sinh phúc cho chúng sống còn hơn là túm lấy chúng mà nhai. Chưa bõ dính răng.
Nhưng vốn mèo vẫn ác tính. Gã không ăn. Mà gã cũng không thả chuột ra. Cái mùi hôi ở lông chuột khiến cho gã mèo nhớ rằng thịt chuột ngon và loài chuột là cái loài đáng ghét lắm.
Mèo nhả chú chuột xuống đất, rồi ngồi ngây ra mà nhìn. Con vật khổ sở nằm co ro. Mèo ta đắc chí, lấy một chân vờn vờn vào mặt chuột. Bất tỉnh nhân sự từ này, giờ mới lai hồn, chuột khe khẽ thoi thóp thở. Mèo yên lặng, dáng ngẫm nghĩ. Gã không để ý đến chú chuột đương giương đôi mắt lồi như hai hột chàng ràng ra nhìn gã. Chỉ ti hí mắt lươn, mà ranh thượng hạng.
Bỗng thoáng một cái, chú chuột chạy vụt vào phía trong. Nhưng gã mèo vẫn nhanh hơn. Gá vươn tay ra. Lại chộp liền ngay lấy gáy chú nhỏ. Ôi chao! Gã ta mới đập cho chú nhỏ một cái nhá! Chú nhỏ kêu “chí... chí...” rầm cả lên.
Có lẽ nhân cuộc chạy trốn ấy, gã mèo bầy ra một trò chơi tiêu khiển cho qua thì giờ. Gã đem chuột ra chỗ ánh trăng. Giả vờ để yên chú ta đấy. Rồi mèo yên lặng. Chú chuột sợ hãi, không nhúc nhích. Nhưng chính ra chuột vẫn rình mèo và mèo cũng lại rình chuột. Để hễ khác ý là chuột chuồn biến. Còn mèo, mèo cũng chỉ chờ chuột chạy là vồ ngay lấy. Gã mèo dương oai thả lỏng và chắc chắn chăng khi nào chú chuột chạy thoát nổi đôi bàn chân nanh móng của gã.
Mà cũng thế thật. Chú chuột tưởng bác mèo hấc lờ, cứ xểnh một chút lại chạy. Có đến mươi lần. Nhưng vẫn không lần nào khỏi bị tóm lại. Mỗi bận chuột động chân, mèo ta chỉ nhoi đi một tí đã túm lại được rất dễ dàng. Mãi rồi con chuột hóa mệt lử. Nó chạy chậm dần và cuộc chơi cũng dần mất thú vị.
Khi đó, ở trong đống củi, bỗng lại có tiếng rúc rích. Lại có tiếng lao xao của lũ chuột nào khác. Chả biết là chúng đùa nhau hay chúng định chơi cái lối chó cậy gần nhà, đứng trong ấy chửi đổng ra. Toan nhảy vào vồ cho chúng chết một mẻ, nhưng mèo lại vướng có con chuột tù binh ở dưới chân. Đã thế, phải mắng cho chúng một trận mới được. Mèo liền gầm gừ, gầm gừ, làm như sắp lăn ngay vào chiến tranh với những quân thù cỏ rác kia. Lũ chuột nhép câm ngay, song chúng cũng không câm hẳn. Hễ mèo mà ngớt tiếng, là chúng nó lại “chííí chííí” rầm rầm. Làm điệu như sỉ vả mèo.
Bực mình, mèo ta nhảy một bước. Chú chuột nhắt đang nằm yên như chết, vụt vùng chạy. Mèo hoảng hốt, thò dài chân ra, nắm lấy nó. Nhưng chỉ nắm hụt được bóng cái lưng của chú chuột in thoáng trên nền đất giãi đầy ánh trăng. Hai mắt mèo long lanh, sáng quắc! Cũng không thể đủ sáng để chọc thủng được bóng tối dày ra mà tìm lấy chú chuột nhắt tí hon.
Gã mèo sục vào đống củi. Giá gã đâm đến vỡ đầu ra, cũng chẳng tóm được một nỡm chuột. Mà những tiếng “chíí... chíí” quái ác, rất khó chịu vẫn văng vẳng đâu hai bên lỗ tai.
* * * * *
Gã mèo mướp - mà gã mèo nào cũng thế - không cố ý ăn thịt chuột nhắt bao giờ. Mèo chỉ bắt những con chuột tiểu yêu đó để đùa nghịch và để hả cơn cáu kỉnh; vì loài chuột nhép cứ bặng nhặng, rúc rích trong xó bếp, là chỗ nghỉ ngơi của mèo. Chính những con chuột lớn lại đứng đắn, không ầm ĩ đến thế. Chỉ vì bực mình mà mèo bắt chuột nhắt. Nhưng chú chuột nhỏ khôn ngoan vẫn hay chạy trốn được. Đời đời, cái giống chuột nhắt ma quái cứ làm rức tai loài mèo.
Suổt đêm hôm đó gã mèo mướp kia chỉ đi quanh đi quẩn để tìm, để lùng chuột nhắt. Và có những đêm sau, hắn cũng đi tìm chuột, nhưng - vẫn khờ dại như thường - hắn chỉ tìm để đùa chơi một chút. Rồi nó có rông mất, hắn lại khó chịu, bực dọc, hậm hực mà đi lùng bắt những con khác. Cái loài chuột nhãi cứ làm cho ta rối đầu và ngứa mắt quá.
Cơ chừng gã mèo mướp phải dành tất cả cái hoa niên của mình để mà chỉ luẩn quẩn đi o chuột.

 
📎 oc
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.03.2016 18:58:30 bởi casau>

Tuổi trẻ
 
Trời sớm chưa rạng hẳn đã nghe thấy tiếng gà te te gáy.
Tiếng gà non gáy e é như một giống rít hơi đưa từ trong cuống họng đưa ra. Rồi thì cả nhà ai cũng nhắc đến :
- Ồ, con gà gáy đã gọn giọng ra phết đấy!
Một lát sau, cu Lặc ra mở tung hai cái cánh cửa chuồng gà vịt. Lập tức, anh Gà trống te tái chạy ra đầu tiên, sau mới đến mấy mụ Ngan lạch bạch, mươi chú Ngỗng khề khà vừa bước vừa thò cái cổ dài nghêu ra nghe ngóng. Thật là một cuộc điểm binh long trọng mà anh Gà giữ địa vị một ông thống soái đi dẫn đầu. Nó nhảy phóc ngay lên cái sàn chạn bát ở ngoài hiên vỗ đồm độp đôi cánh rồi lấy thẳng gân cổ, gáy một câu rõ thật oai: “Kéc... ke... ke... ke...”.
Xa đây chừng hơn một tháng, một ngày phiên chợ Bưởi, u tôi mua về đôi gà nhỏ giá có gần ba hào cả hai. Người bảo: “Có thêm mấy con gà lắt nhắt cho nó vui sân”. Hai con gà - một trống, một mái - còn bé tẹo, dáng như vừa mới lìa đàn, suốt ngày cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng thảm thê. Chúng nó biếng cả ăn. Gạo rắc đầy ra chỗ cạnh cái lon nước mà thỉnh thoảng mới mổ vài hột. Con gà trống đôi khi cũng nhanh nhẹn, chạy chỗ nọ, chỗ kia, ngơ ngác như muốn tìm đường về. Còn ả gà mái dễ thường ốm bệnh nhớ; nó nằm liệt vị trong giữa bụi cây sói mà kêu ai oán. Rồi được đâu có vài hôm, một buổi sáng, tôi mở cửa chuồng chỉ thấy có một nhách gà trống lò dò đi ra. Con gà mái nằm chết còng queo dưới bục gỗ. Người ta đem ném xác con gà chết ra đồng và hôm ấy, anh gà trống còn lại sống lủi thủi một mình.
Nó là một giống Gà gi, thấp bé và nhỏ nhắn hơn giống Gà thường. Nó còn nhỏ, chưa vỡ lông vỡ cánh mà lại ủ rũ như một người buồn, cho nên trông càng đáng ái ngại. Lông cánh nó màu đỏ có đốm trắng, đốm đen, nhưng bàn quả thành ra một màu xám xịt. Cái mào nhu nhú tái ngoét ở trên đôi mắt lờ đờ mà lúc nào Gà ta đứng cũng muốn nhắm. Hai cái chân nhỏ quá, thấp quá, xám đen lại, luôn luôn run rẩy như sắp ngã quỵ xuống, như không chịu được thời tiết, dù đấy là thời tiết đầm ấm của những ngày mùa xuân. Nên khi nó đứng ở một góc sân kia, Lặc ném từng nắm thóc ở đằng này cho Ngan, cho Ngỗng ăn mà nó cũng không buồn chạy lại. Nó ngẩn ra nhìn lũ Ngan con bước đi líu tíu. Những con Ngan nhỏ mới nở được ba hôm, chỉ to hơn cái trứng một ít. Chúng có bộ lông vàng óng - một màu vàng đáng yêu - như màu những con tơ nõn mới guồng. Nhưng đẹp nhất là đôi mắt và cái mỏ. Đôi mắt chỉ bằng hột cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mỡ. Một cái mỏ màu nhung hươu vừa bẳng ngón tay đứa bé mới đẻ và có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngăn ngắn đằng trước, cái đầu xinh xinh vàng nuỗn và ở dưới lũn chũn hai cái chân bé tí màu đỏ hồng. Chúng nó chỉ líp chíp khe khẽ và lẩn quẩn ở dưới chân mẹ. Mụ Ngan mẹ, lờ đờ như một người đàn bà đụt và hiền, lúc nào cũng như mải nghĩ ngợi một điều gì ở tận đâu đâu. Thỉnh thoảng mụ kêu kíu kíu, dụi mỏ vào lũ con và lúc lắc cái đuôi. Lối chăn con của mụ rất vụng.
Anh Gà trống gi bé nhỏ và cô độc lắm lúc đứng nhìn đàn Ngan bằng đôi mắt hó háy rất thèm muốn. Anh ngoe nguẩy cái đuôi ngắn củn khi có mấy con Ngan tí hon sán đến chân. Và khi chúng hấp tấp chạy lại với mẹ chúng đang lừ đừ đi, con Gà trống khốn nạn cũng lây cái vui sướng cong cóc đuổi theo. Nhưng đến gần, mụ Ngan cái xù xì liền giơ mỏ lên quàng quạc mổ nó. Nó chợt tưng hửng. Nó lùi lại, lảng đi một phía, ngẩn ngơ kêu chim chíp, khắc khoải như tưởng nhớ, như đau thương. Có lúc nằm gục xuống vệ cỏ, buồn nghiêng một bên má, màng trắng kéo che kín mắt.
Tội nghiệp con Gà gi bé nhỏ sống côi cút một thân một mình!
* * * * *
Nhưng rồi nó cũng lớn và đẹp, sau đấy hơn một tháng. Qua mấy bữa ốm o, tiếp đến những ngày đẹp trời, có ánh nắng dịu lồng đầy bóng sân, thì con gà trống bắt đầu rỉa lông, rỉa cánh, sửa sang bộ mã cho bớt bẩn ướt. Rồi trông nó cũng choai choai đẹp mắt và lớn dần lên. Đến bây giờ ngắm nó cũng đã khá đường được.
Một buổi sớm, cả nhà đều nghe thấy một tiếng gì khang khác ở đằng sau nhà. Tiếng rít như tiếng ho thủng thẳng của một người khản cổ. Một lát, cụ Lặc chạy hộc tốc vào gọi :
- Cả nhà ra xem con gà gi nó học gáy.
À ra đây là tiếng con Gà gi tập gáy. Thảo nào. Nghe như tiếng người ta ọe. Nó đứng ở trên đầu một cái cọc giậu nứa, chốc chốc lại thưỡn dài cổ, phồng tướng cái diều đựng cơm lên rồi đưa ra một hơi “Quét... ke... ke...”. Cứ một lát lại thế... Gáy rất khó nhọc, nhưng xem ra anh Gà khoan khoái lắm, mỗi khi xong được một tiếng như vậy. Vì thấy lúc tiếng “ke” cuối cùng vừa thoát ra khỏi mỏ, Gà ta nhìn ngang nhìn ngửa, hiêng hiếc hai con mắt tráo trâng ra vẻ lắm! Và lại bộ tịch nữa.
Và rồi ngày ngày lần lần qua, con Gà trống trút được cái dáng điệu buồn thỉu, buồn thiu buổi nọ đi. Có lẽ nó quên đàn, quên mẹ, quên con gà em chết hôm mới đây, quên, quên hết rồi. Vì nó đã lớn; khi người ta lớn thì những ý tưởng liên lạc về gia đình có lỏng lẻo dần dần. Con Gà đang ở thời kỳ sắm sửa, thời kỳ ăn chơi của một người thanh niên.
Màu sắc trên bộ má nó sẫm lại, đen thì đen biếc, trắng thanh trắng bạch và đỏ trở nên đỏ khé. Mào nó mọc dài, thắm hoe như dải lá cờ nheo. Đuôi nó uốn vồng lên từng chiếc lông dài huyền bóng. Mỏ nó thẫm ngà vàng và rắn chắc, có thể mổ đôm đốp được vào thân một cây nứa tép.
Bây giờ những buổi sớm, cậu Gà trống gi thường trở dậy gáy te te tự lúc chưa tỏ mặt người. Mỗi ngày cái câu “Kéc... ke... ke...” lại nối dài thêm tiếng “ke” vào. Bác xã Khóm làm nghề bán cháo rong bên hàng xóm đã phải theo tiếng gà báo thức để trở dậy làm hàng. Bác thường khen con gà gáy đúng giấc lắm!
Nó đứng đắn và hóa ra có bộ mặt khinh khinh ta đây. Nó bắt đầu coi thường mấy chú Ngan nhép cứ quẩn bên chân, những con Ngan nhỏ nhắn xưa đã làm nó vướng nhớ đến mẹ nó. Nó thị uy bằng cách đá cho chúng mấy cái. Bọn trẻ con này sợ, phải lảng ngay ra xa. Nó rất bằng lòng cái sự tấn công đầu tiên mà lại được thắng lợi. Dần dần nó lấn lên một bước nữa, nghĩa là con Gà gi của tôi, một bữa kia mổ ông Ngỗng cao lêu nghêu một cái vào cổ rồi lùi lại rất nhanh để giữ miếng. Ông Ngỗng bại và lẩn. Thế là một lúc sau, con Gà anh hùng và kiêu hãnh ấy nhảy lên, vừa đá vừa mổ vào lưng bà Ngan cái lừ đừ. Lúc này lại khiêm tốn, bà Ngan cũng đờ đẫn làm ngơ đi.
Từ đấy, con Gà trống gi lên ngôi cửu ngũ ở cái sân nuôi gà vịt con con. Mỗi buổi mai, khi người ta mở cửa chuồng, nó bay ngay ra đậu trên một cái sào nứa ngất nghểu, cất cao tiẽng gáy trong khi mấy con Ngan, mấy con Ngỗng lần lượt diễn binh qua ở dưới chân.
Ra vẻ tài ba lắm! Cái dĩ vãng buồn teo kia thật là xa, xa lăng lắc.
* * * * *
Đáng tiếc một nỗi, Gà lại là giống Gà gi, một thứ Gà bé nhất trong loài Gà. Cho nên, những khi anh ta làm bộ tịch người lớn thì buồn cười như những anh lùn mà đi cái lối ngoe nguẩy. Gà cũng uống nước, cũng rỉa lông, cũng hếch mắt lên nhìn trời những khi nắng to. Chỉ phiền cái nỗi anh chàng bé và thấp lũn chũn. Những bác lùn tịt lại hay dùng bộ điệu của người cao. Có một lần, anh mon men sang bên sân nhà hàng xóm chơi, chợt gặp một bác trống thiến. Chao ôi! Sao mà bác Gà trống thiến kia mới to thế, béo mẫm làm sao! Nó đứng mới đến bẹn anh bạn khổng lồ. Nó chuồn ngay về và từ buổi đó không bén mảng sang bên ấy nữa.
Nó kiếm ăn phương khác.
Và con Gà gi nhỏ cũng đa tình lắm. Nó có cái tật mê gái như cái tình chung của loài Gà khi mới lớn lên. Nó yêu rất ham, mặc dầu con đường tình của nó rất khó khăn và gặp nhiều trở ngại lớn. Là bởi một duyên cớ:
Xung quanh cái khu vực chỗ nó ở, tuyệt nhiên không có đến hai gã Gà gi. Trước sau mỗi một mình. Tìm một người bạn tri âm bằng trạc, không tài nào thấy. Có vài ba chị láng giềng thì đã “nái xề” quá, chỉ biết đẻ trứng và biết “cục ta, cạc tác” loạn xạ chứ không thể hiểu những giọng yêu đương tình tứ. Mỗi khi anh Gà trống đến gần, chúng chỉ biết quỳ hai chân xuống cho bạn nhảy lên lưng, làm tình yêu theo cái lối cơm bữa của hai vợ chồng, chẳng hiểu tán tụng xuân tình nửa lời. Anh Gà gi đang ở cái tuổi mơ mộng, nghĩ những chuyện ái ân cao xa. Vả lại trạc vai cũng không bằng các ả mái nọ; có lúc buồn muốn gỡ gạc, anh đến bên cạnh để xòe xòe cái cánh theo kiểu ghẹ mái, chực tán phó-mát một đôi câu nhưng lập tức bị các nàng phản đối và bị các chú Gà trống lớn nhất là ông Gà chọi - đánh cho chạy bán xác không kịp. Anh Gà gi hoảng. Trong vùng quanh đấy cũng có hai chị mái tơ. Nhưng có lẽ nó đã biết thân phận cho nên không dám há mỏ tán tỉnh. Hai chị thuộc về giống Gà lớn. Tán như vậy nếu gặp những thằng nhân tình của chúng thì thật là một cơn tối đại nguy hiểm của những trận đòn ghen. Anh chàng chịu thua. Đành chịu làm ăn một mình.
Nhưng anh rất bực mình. Những sớm sớm, những chiều chiều, đứng giương cặp mắt hau háu trong một bụi cây, nhìn từng cặp một vui thú tâm tình với nhau, lòng anh rạo rực và phiền muộn làm sao ấy. Chúng khinh anh bé nhỏ quá! Anh rất buồn rầu. Và buồn rầu, ảo não bao nhiêu anh lại càng hay cáu kỉnh, bực dọc với cái lũ Ngan, lũ Ngỗng ngu si bấy nhiêu. Anh đá, anh đạp, anh mổ, anh đuổi.
Chỉ khổ cho bọn ngốc nghếch!
Nhưng rồi anh Gà trống gi cũng học đòi đi kiếm ăn xa nhà. Hắn lẩn thẩn đến những khoảng vườn lạ. Như thế có lẽ lòng đỡ được buồn và trong khi rẽ bước giang hồ từ vườn cây này sang mô đất nọ, được từng trải và hiểu biết nhiều cảnh khác nhau, anh cũng giác ngộ thêm. Và anh còn có hy vọng mong gặp được một người bạn đồng tâm.
Anh hay đi vắng, ít khi phải về bới xó bếp nữa. Bây giờ anh đã tiêm nhiễm cái thú của sự du lịch. Có khi một ngày anh chỉ về nhà có một lần, lúc sẫm tối, khi trở lại chuồng ngủ.
Rồi không ai biết rõ là bữa nào, con Gà trống ra đi. Có lẽ hắn đi theo tiếng gọi của ái tình? Chỉ có một sáng, cu Lặc mở cửa chuồng như thường lệ, thấy vắng anh Gà gi, tìm cũng không có.
U tôi chép miệng :
- Mất con gà ranh con rồi!
Tưởng là mất hút. Nhưng một hôm chúng tôi ra ngoài đầu xóm chơi, lại bắt gặp anh Gà trống gi. Trông anh tang thương phờ phạc quá. Thật là gầy guộc phong trần cả đến lông đến cánh. Khi đó, chú Gà đương mải mê đi theo một chị Gà mái. Đó là một chị Gà mái gi. Chả trách được, bấy lâu nay vắng mặt chàng cũng là có lý và có lẽ lắm.
Bọn trẻ chạy về gọi Lặc. Lặc đuổi theo hai con gà thì thấy chúng chạy xô cả vào một ngõ gần đấy. Người ta bảo rằng :
- Một hôm, tự dưng có anh gà này không biết ở đâu, theo con gà mái của nhà tôi. Chẳng thấy ai trong xóm kêu mất gà nên tôi cũng mặc. Mà anh này thì mê tít con gà mái, ở liền ngày đêm, không rời đi đâu nữa!
Chúng tôi ôm con Gà trống gi về. U tôi bảo Lặc ra ngoài hỏi mua con Gà mái gi kia để cho có đôi. Và cốt là để buộc cẳng chàng Gà. Nhưng người ta trả lời :
- Ngày kia, nhà tôi có kỵ. Cũng phải giết thịt đến nó.
Thực thất vọng gớm ghê cho anh Gà gi. Và chỉ luẩn quẩn được vài hôm, anh ta lại biến đi đâu mất mặt. Nó đi tìm bạn tình của nó. Nhưng cái nàng Gà gi đã khiến cho gã phải bỏ cửa bỏ nhà, thì chết rồi.
Lần này gã đi biệt hẳn. Song chẳng phải là đi với nỗi nhớ thương con người má đào mệnh bạc ấy ngàn đời. Gã mau quên lắm. Và chắc là gã trẻ tuổi đó lại lần mò đi tìm một vài cái ái tình khác!

📎 oc
0
Truyện gã Chuột Bạch
 
Lóng nghe có tiếng rộn nho nhỏ.
Lóc cóc... Lóc cóc...
Như tiếng một cái guồng tơ quay khẽ khẽ. Nhưng không đã đúng hẳn. Âm thanh đó bé quá, chỉ vời vợi như tiếng tích tắc của một quả đồng hồ trong đêm khuya.
Chẳng phải là guồng tơ đụng đậy. Vậy thì tiếng chi đằm đằm và ồn ã ở một góc nhà, phía bên cửa sổ, dưới một giàn thiên lý? Ánh sáng, qua những kẽ lá thiên lý xanh rờn, ùa vào, đóng thành vũng, như một thứ ánh sáng, hư huyền, lơ mơ, chỉ hửng gợn lên mà không có thực. Tiếng gì vui vui trong ấy?
À, ra một gã Chuột Bạch đương quay tơ. Không phải là người. Chuột quay tơ? Phải! Gã quay cái kiểu riêng của gã.
Gã chỉ bé bằng một quả nhót và cũng mũm mĩm như thế. Gã ở trong một cái lồng nhỏ, hình vuông, đan bằng tre. Giữa lồng, người ta treo hai cái vòng tròn bằng thép nhỏ, sát sát từng cánh, như hai chiếc đu tiên tí hon. Chuột ta chui vào đấy. Bốn chân dạo thoăn thoắt trên những sợi thép. Thế là chiếc vòng quay tít theo từng bước đẩy. Con Chuột loay hoay chạy tròn mãi mãi trong cái vòng tròn mà không bao giờ hết được đường. Cái đu tiên xoay xung quanh một chiếc chốt. Chính ở chiếc chốt đó nảy ra những tiếng lóc cóc đều đều như tiếng guồng tơ quay.
Gã Chuột Bạch đánh vòng luôn luôn. Chán chân thì gã lại chui ra, vơ vẩn, tìm những hạt gạo tẻ mà người ta rắc vào một cái đĩa để ở đáy ống, cho chuột ăn. Gã rung hai hàng râu tơ, gật gù cái đầu, nhấm gạo. Đôi mắt gã đỏ thậm, như hai hạt gạo đỏ đính lên trên một nền bông nõn trắng. Bốn cẳng chân loắt choắt, ngắn củn, và trơ da đỏ hỏn. Bời nỗi đánh vòng nhiều quá, bắp chân đã kệp cứng thành chai. Ăn xong, gã nhìn quanh quẩn, ngước cái mũi bé xíu đỏ hoe hoe lên ngửi bên phải, ngửi bên trái. Rồi gã lại làm cái công việc đánh vòng liền liền.
Nếu không thể, gã đi ngủ. Gã đứng vào một góc lồng, dựng hai chân trước lên, đầu chụm vào chân. Hai mắt nhắm lại. Ấy vậy là gã ngủ. Ngủ đứng như cái hộp diêm. Cứ cái kiểu đó, suốt đời.
* * * * *
Gã Chuột Bạch ăn; gã Chuột Bạch đánh vòng; và gã Chuột Bạch ngủ đứng. Đó là tóm tắt tất cả những công việc của một cuộc sống của Chuột ở trong lồng.
Nhưng không phải là gã ở một mình. Bên cạnh cái vòng sắt đu tiên của gã, còn có một cái vòng sắt đu tiên khác, như hệt cái này. Và ở bên góc lồng kia, cũng có một con Chuột Bạch khác đương ngủ dựng đứng lên. Vợ gã đấy, Cậu và mợ Chuột. Cũng rất có thể gọi được thế, chứ sao.
Dường như cậu mợ ấy cũng khá yêu nhau. Họ yêu nhau thần tình và tài ghê. Hai người cùng bé bỏng, cứ luẩn quẩn chạy ngang chạy dọc xung quanh. Cậu gầy hơn mợ. Bộ lông xù lên và phờ phạc. Mà cậu lại có tính mơ mộng. Thỉnh thoảng, gã thường đứng ngẩn ngơ nhìn lên trên nóc lồng. Qua những chiếc lá thiên lý mỏng mảnh, ngoài kia là trời xanh bao la. Tưởng như chiếc hình hài nhỏ bé chỉ điểm một chút sống cỏn con này đương giương cặp mắt đỏ, ngùi trông ra cái khoảng không bờ bến để mơ một giấc mơ sông núi chi đó. Chao ôi! Ai mà biết được lòng gã.
Cả hai vợ chồng cùng ưa đêm tối. Bởi ban ngày họ thường ngủ. Bốn cái chân trước sát vào nhau; bốn con mắt cùng khép. Chiều đến đã đem bóng về dần dà trong cửa sổ. Ở chênh chếch ngoài khung cửa, vì sao Hôm từ từ lên cao, lấp lánh như một giọt ánh sáng lớn. Bấy giờ vợ chồng Chuột mới bừng mắt. Họ ngơ ngác nhìn hoàng hôn. Gã Chuột đực mò mẫm tìm cái đĩa đựng gạo. Chị vợ cũng nhẹ nhàng đi theo. Họ gậm nhấm mấy hạt. Những tiếng răng nghiến trên hạt gạo, nghe ken két, sàn sạt như tiếng một con mọt nhỏ cựa mình trong thớ gỗ.
Rồi gã Chuột mon men ra leo lên cây đu, chui đầu vào, đánh một vòng chơi. Chị ả cũng bắt chước, chạy về cây đu của mình. Hai cái vòng quay tít. Rộn lên những tiếng đằm đằm.

Những tiếng đằm đằm trong đêm khuya! Những âm thanh chỉ be bé, mơ hồ gần như hư không. Lúc chậm, nghe rỉ rích như tiếng nước giọt tranh. Lúc mau thì bồn bồn như tiếng vầy tơ quay lọc cọc như tiếng bánh xe sắt chạy trên con đường đá trắng dài hun hút, vào một buổi chiều vàng ngây ngất.
Riêng những đứa trẻ ở nhà, đêm nằm trong màn mà chợt thức giấc nghe tiếng guồng đu của chuột chạy thì sợ lắm. Chúng giương mắt thao láo mà cũng không thể nhìn thấy gì. Chỉ nghe lóc cóc... lóc cóc... như tiếng của ông Ba Bị hoặc của một con ma nào chưa biết tên, rất thường hay ghét giống trẻ con. Chúng hãi hùng, rúm ró, ôm chặt lấy nhau. Đôi mắt khép kín lại. Thế là giấc ngủ cũ của mỗi trẻ lại tới để tiếp theo cho đến lúc mặt trời lên, chiếu ánh sáng qua khe liếp, vào tận trong đình màn.
Còn vợ chồng Chuột chán đánh vòng thì tan ra ăn gạo. Ăn xong, lẩn thẩn thế nào, lại giở trò đánh vòng. Cứ như thế, luẩn quẩn cả đêm. Cũng có đến khi trời đã tang tảng sáng, có tiếng chim chích chòe hót véo von dưới bờ ao, hai vợ chồng lại chúi về một góc buồng, dựng đứng lên mà ngủ.
Cuộc đời chung ấy không có ai làm nhộn. Ý như họ mến những ngày tháng đó lắm. Đã một lần, có một đứa trẻ nghịch tinh mở cửa lồng xem chuột rồi quên không đóng lại. Đôi vợ chồng nối đuôi nhau, tha thẩn bò ra ngoài. Hai cái bóng đi lồm cồm hếch chiếc mõm nhọn hoắt lên, ngơ ngác nhìn quanh quẩn. Như là họ chẳng quen bò giữa nơi khoáng đãng. Và họ lại nối đuôi nhau, tha thẩn, từ từ bò vào, cũng như lúc bò ra.
Từ đấy, dù mở cửa, cậu mợ Chuột cũng không buồn đi ra. Họ yếu đuối, ở ngoài làm chi có gạo để ăn!
Trời đã trở về mùa lạnh. Những cụm lá bánh khúc thấp lè tè, nở hoa vàng khắp cánh đồng làng Nghĩa Đô. Đã không có nắng lớn. Những đứa trẻ nghèo cũng hồng đôi má còm cõi. Môi chúng khô còng lên, ăn cơm có nước mắm thấy xon xót. Chúng gãi vào da, da nổi lên những lần bụi trắng. Buổi chiều, cậu nào rửa chân cũng ngần ngại, không yêu nước. Và đêm đã phải ngủ chung với chăn bông cùng ổ rạ rồi.
Đôi vợ chồng Chuột cũng lạnh. Phong cảnh trong cái cửa sổ lại buồn nữa. Giàn thiên lý đã rụng hết lá xanh. Chỉ còn trơ lại những dây già đen đủi, còng queo trên ngách cửa. Từng nắm lá khô, rúm vào nhau, nẳm co ro trong giàn, để mỗi buổi chiều đỏ hoe, hễ chớm hơi một gợn mây nhỏ, cũng tới tấp rơi lạt xạt xuống mặt đất. Đêm đêm, vẫn có tiếng đánh vòng của Chuột. Những tiếng khô và ròn, cũng như trời khô và hanh. Nhưng ít bữa nay, gã Chuột Bạch không được vui. Ta cứ thí dụ như việc đánh vòng đu là một sự vui làm mực thước, thì thấy gã thưa trèo vào vòng đu. Chỉ hay thấy chị vợ đạp vòng. Anh chồng đứng bần thần, mõm vêu ra. Người gã chừng như gầy và bé hơn giạo mùa hạ. Gã đi đứng ra lối lử khử. Và chỉ ngủ là ngủ nhiều. Đêm ngủ quên cả đánh đu. Mùa rét vào rồi. Tại sao gã Chuột lại buồn? Ý như buồn vì tiết trời sang đông? Ý như buồn vì heo may hiu hắt? Không, gã chẳng có thể là một nhà thơ ưa những điều sầu muộn.
Mà chính chỉ vì những ngày lạnh lẽo tới, gã phải thương yêu vợ gã nhiều quá nên lờ phờ cả người ra. Biết rằng nên buồn, hay nên vui!
Thì gã buồn như một kẻ ốm. Nhiều lần cũng hứng tí đánh đu, nhưng gã lại lười lĩnh chui vào vòng đu của vợ để cho vợ đẩy vòng, mà gã cũng được hí hửng đẩy theo. Hai con Chuột lồng chung vào một vòng. Tiếng lạch cạch đi chậm, nặng và rền ra.
Vự hắn vẫn như thường và như thường. Đôi mắt nàng đỏ mà sáng. Bộ lông của nàng trắng nuột, óng ả. Dạo này trở rét, lũ trẻ bỏ vào lồng cho vợ chồng Chuột một rúm tơ rối để làm chăn. Lúc nào đánh vòng đã chán chân, chị ả ra rúc vào những sợi tơ vàng nõn, dựng đứng hai chân lên ngủ với chồng.
* * * * *
Chiều ấy, Chuột vợ thức dậy, bò ra ăn gạo. Gã chồng vẫn say sưa ngủ một giấc ngủ mệt mỏi. Nàng đứng bên vành đĩa, hướng nhìn ra ngoài lồng. Nàng chưa nhìn ra ngoài như thế bao giờ. Nàng vốn không hay có tính vẩn vơ như chồng. Mặt trời đã gác núi, nhưng ráng vàng còn lên đỏ xuộm cả lũy tre. Thực chẳng phải vì bóng hoàng hôn u uất mùa đông mà nàng nhìn ra. Mà vì một cớ mọn khác. Chỉ tại nàng nghe thấy tiếng sột soạt ở bên khung lồng. Thì ra, có một con Bọ Ngựa nhỏ ở đâu lạc lõng tới đậu vào thành lồng. Hình như gió đánh con Bọ Ngựa nhỏ này rơi từ trên cây xoan xuống và bám được vào đây. Bọ Ngựa mới ra nắng được ít lâu. Cánh chưa mọc dài đủ và màu người chưa xanh thẫm. Đôi gươm hãy còn mềm, chưa có vuốt đen cứng và nhọn. Cái đầu bẹp của nó lồi ngang hai mắt sang hai bên, đu đưa nhanh nhẹn trên hai khấc cổ dài nghêu. Nó đứng dúm dó bốn chân, nghếch nhìn, như để ngắm xem nơi này là nơi nào?
Nàng Chuột bỗng được trông thấy một con vật nhỏ mà xinh. Cái màu xanh mơn mởn ở mình Bọ Ngựa nom đến là ngon. Không ngần ngại, chị rón rén tiến đến mép lồng, thò mõm ra, ngoặp luôn chú Bọ Ngựa. Chú Bọ Ngựa xấu số chưa kịp giơ hai càng lên thủ thế thì cái cổ đã bị gẫy gục. Và trong khoảnh khắc cả người nó đã trôi vào họng Chuột.
Một mạng lớn giết đi một mạng nhỏ, ôm nhẹ như hơi chiều lặng lờ sang.
Đêm ấy, không có tiếng rộn lóc cóc của cây đu. Cả hai cây đu cùng im ắng. Thiếu những tiếng động quen thuộc, canh khuya mới tẻ làm sao!
Sớm hôm sau, người ta ngó thấy nàng Chuột cái béo tốt, nằm chết còng queo ở bên tụm rác tơ. Bốn chân nàng rụt rúm lại. Cái lưng nhỏ cong khum lên. Và mõm nhọn của nàng thì há hoác. Dòm vào trong: còn cái đuôi Bọ Ngựa xanh xanh thò lò ra. Ôi! Cổ họng của nàng Chuột bé quá, không đủ lối nuốt thoát được anh Bọ Ngựa. Nó tắc tị lại. Thế là nàng chết. Nàng chết nhẹ như một người chán cõi đời này, bước lên một chiếc ghế, cho đầu vào một cái tròng lọng bằng cái thừng đay rồi rún chân đạp đổ ghế, cứ vậy mà đu đưa lửng lơ cho đến lúc tắt thở, thè dài lưỡi ra. Để sang tìm ở bên kia (?) một quãng đời vui vẻ nào đó.
Nàng chết từ bao giờ, không ai hay. Gã chồng nàng cũng không biết chi cả. Bởi vì gã còn đương mải ngủ. Dạo này gã yếu thì gã càng ngủ say tợn. Chim Chích Chòe hót sáng dưới bờ ao, gã cũng không nghe tiếng. Cho mãi tới khi ông mặt trời đỏ gay nhô lên, xua ánh sáng vào nhà, đánh thức lũ trẻ dậy thì gã cũng mới bừng mắt. Ở trong mớ rác tơ vàng, gã uể oải thò đầu ra. Gã liền nhìn thấy vợ gã nằm chết ngay dưới chân. Gã nhìn, bằng đôi mắt đỏ thường ngày, lạnh lùng và rất tự nhiên.
Rồi gã chui ra khỏi mớ rác. Gã bất thần bò đến bên đĩa gạo. Gã nhấm một hạt. Gã chạy quanh lồng vài vòng. Cuối cùng, gã lại men đến, chúi đầu vào mớ rác tơ, dựng đứng hai chân lên, lim dim hai mắt, làm một giấc ngủ khác.
Như là chẳng có sự gì là thay đổi ở quanh mình. Tối đến người ta cũng lại nghe tiếng gã đánh vòng đu lóc cóc.
* * * * *
Từ đó, gã ở trên đời một mình. Ở trên đời để ăn gạo, để đánh vòng và để đi ngủ dựng đứng hai chân lên. Gã đã khỏi ốm. Không có đàn bà thì chừng như gã khỏe khoắn lắm lắm. Lông đã mượt bóng và trắng nuỗn. Một mình đánh cả hai cái vòng - lúc chạy bên này, lúc chạy bên kia - nghe rộn ràng, cũng vui. Mỗi buổi chiều, trước khi xuống ăn gạo, gã vẫn có thói quen nhìn và nghe ngóng ra ngoài lồng. Như là xem và đợi hoàng hôn bâng khuâng lắng đến.
Chính gã cũng không biết mình đã góa vợ. Tôi thì tôi chỉ rõ được rằng bây giờ gã đã khỏe, đã mạnh và hoạt động hơn khi gã có đàn bà ở chung. Gã thậm thọt chạy đi chạy lại, nhanh thoăn thoắt.
Thằng này là một thằng bạc tình chăng?
Cũng chẳng có lẽ!

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.03.2016 09:32:27 bởi casau>
Đôi Gi Đá
 
Ít lâu nay, có một loài lạ lạc vào vườn. Anh chim Sẻ xưa nay vẫn to hó đứng trong đầu nhà, kêu tẹc tẹc không được điềm tĩnh và đều đặn như mọi khi. Ra vẻ thảng thốt. Như thể lo rằng có những kẻ lạ nào đương dò dẫm, tìm kiếm nơi ăn chốn ở trong vườn nhà mình.
Quả đúng như nỗi lo của Sẻ.
Có hai con chim Gi Đá, mấy bữa rày thường lai vãng đến vườn. Chúng nhấm nhoắt chuyền từ cây bưởi sang cây khế, đến cành hồng bì. Sẻ ta đứng băn khoăn trên nóc đầu hồi, nhớn nhác nhìn, ra điệu ghét lắm.
Bấy giờ là đầu mùa đông. Ngoài ruộng, lúa chín vàng hây. Những bông thóc nếp mập và tươi ong óng, trĩu gù lưng xuống. Màu vàng san sát giải từ cánh đồng làng Nghĩa Đô mênh mông đến tận bờ tre làng Phú Gia.
Theo với mùa lúa, từng đàn chim Gi bay về mọi cánh đồng. Và hai con Gi Đá kia thẩn thơ vào trong vườn này.
Đó là một đôi vợ chồng. Chàng và nàng. Có lẽ là đôi vợ chồng mới cưới nhau mùa thu vừa rồi cũng nên.
Nếu nói so sánh, ta có thể nói so sánh rằng đôi Gi Đá ấy tựa như một cặp vợ chồng quê mùa mới rủ nhau lên tỉnh. Họ lờ khờ, ngẩn ngơ - nghĩa là đặc nhà quê! Họ thuộc loài Gi Đá chính tông. Và có hiệu là Gi Sừng. Người loắt choắt, bé chưa bằng Gi Cam, mà lại bé hơn cả chim Sẻ. Trông một Gi Đá chỉ bằng nửa chim Sẻ. Vừa như chiếc hạt mít mập mạp, có dính chút đuôi. Đôi mắt nâu lờ đờ. Cặp mỏ ngắn, cục mịch thây lẩy trước đôi mắt như một viên cuội xam xám. Lông màu nâu, mượt, trơn và mịn. Đôi chân cũng xám như mỏ. Ở con chim Gi, có bóng hình một người cù rù nhưng nhẫn nại, lam lũ và luôn luôn chân lấm tay bùn - người cần lao của đồng ruộng.
* * * * *
Một buổi sáng, vợ chồng Gi Đá ở đâu sà đến cây bưởi. Chúng kêu kéc kéc nho nhỏ. Thế là, trên nóc nhà, chim Sẻ lắng tai nghe tiếng bỗng tẹc tẹc ầm ĩ. Dáng hẳn chàng ta chửi đứa nào dám vào nhà mình. Nhưng Sẻ chỉ nỏ mỏ công kích suông thế thôi, không dám xuống tận nơi.
Vợ chồng Gi Đá điềm nhiên, chẳng để ý đến sự lèm bèm đó. Chàng nghiêng má nhìn cây hồng bì rồi rún cẳng nhảy sang. Nhẹ như một chiếc lá rơi, và cũng lẩn ngay vào lá, không động tĩnh gì hết. Nàng bay theo chàng, dáng bay hơi nặng nề, đôi cánh vỗ sè sè, bởi người nàng có đẫy đà chút đỉnh. Không hiểu nàng Gi Đá đã có con lần nào chưa, chứ thực trông nàng chẳng được gọn mấy. Đầu bơ phờ. Lông bụng bạc phếch. Cườm ngực, cườm cổ không đen nhánh và bóng mượt như của chàng. Có cái lối của những người đàn bà xười xĩnh từ khi còn con gái đã ăn mặc xốc xếch, bây giờ chẳng thiết điểm trang gì nữa.
Chàng xáo xác trong cây hồng bì. Cây hồng bì thấp nhưng dày lá. Vả lại, với một anh Gi bé bỏng, thế đã là khá cao rồi. Nàng cũng sục sạo trong cây, như kiếm chác một cái gì. Chẳng có lẽ. Họ tìm chi trong tụm lá hồng bì đó? Loài Gi Đá không biết ăn sâu. Mà đâu có bông lúa vàng ở đây. Kìa, đôi vợ chồng lại bay ra đậu ở một cành cây cụt. Họ nghiêng má nhìn trời. Trời cao và xanh, không cùng. Vụt một cái, bốn cánh bay đi loang loáng.
Người ta thấy ở ngoài đầu xóm, hai vợ chồng Gi Đá đến đậu trên một mái rạ cũ. Rạ đã bạc trắng và nát mủn. Chị chim Gi hé mỏ mổ vào cuộng rạ. Anh cong đuôi lên để lôi cuộng rạ đứt ra. Khi đã lôi được, anh quắp lấy và bay vụt đi. Cô ả cũng bay liền ngay theo. Họ bay về cây hồng bì. Cây hồng bì ở ngay trước sân, bên cạnh một bể nước. Những lá mùa đông rụng xuống, vàng úa trên giại nứa. Chàng đặt cuống rạ vào một cành hồng bì kín và cao nhất. Rồi họ lại bay đi, vợ theo đuôi chồng, đến lấy rạ ở lớp mái nhà nát nọ, chị mổ và anh kéo. Dù được mẩu dài hay mẩu ngắn, anh không phiền hà, quắp ngay lấy, mang về cây. Công việc như thế, đều đều suốt ngày, như người ta mắc cửi.
Được chừng ba hôm, bác chim Sẻ hay qua cây hồng bì, đã thấy trong có lù lù một nắm rạ lòng thòng, bẩn thỉu như một mớ rơm rửa bát. À, ra hai vợ chồng con Gi Đá đến ngụ cư ở nơi này. Họ đương làm nhà.
Bao nhiêu công việc xây dựng, người chồng phải đương lấy cả. Chàng tha rác liền liền về cây. Chàng xếp đặt cho thực khéo, thực gọn. Trong khi ấy, nàng chỉ biết có việc mổ đứt cuống rạ và việc bay nhởn nhơ theo chồng. Thỉnh thoảng nàng lại khẽ hát kéc kéc, như để khuyến khích hoặc nói bông cho chàng được buồn cười. Chẳng hiểu chàng có thấy vui không, nhưng chàng vẫn hậm hụi, cắm cúi làm như thường.
Chàng đặt móng cho lớp nhà mới bây giờ một lớp rạ. Rồi chàng đi tìm ở những bẹ cau và bẹ dừa lấy những sợi dây rất nhỏ. Việc tha những sợi dây này vẫn là việc của anh chồng chịu khó. Chàng đem về, đánh đai rất xinh, vòng trong những cuộng rạ dựng thành một khung tròn hình lòng tổ.
Cái lòng tổ êm ái đã hoàn thành, sau ba ngày chịu khó.
Bây giờ chàng đi tìm lá khô. Chẳng biết chàng mò mẫm thế nào mà tha về được từng nạm lá duối, đem chất lù lù cả lên xung quanh thành tổ. Mỗi chuyến chàng mang về chừng đôi ba tờ lá nhỏ.
Một chuyến kia, vợ chồng Gi Đá song song bay từ ngoài bờ giậu vào vườn. Vừa sà xuống cây hồng bì, anh Gi Đá đã hoảng hốt buông rời mấy chiếc lá, cuống cuồng nhào lên, bay tít tắp ra tận ngoài đồng. Chị vợ cũng nhớn nhác ruổi theo.
Có gì đâu! Dưới gốc cây hồng bì lộn xộn bao nhiêu là người. Khắp sân, đầy đống những lượm lúa vàng rượi. Người ta kê một chiếc cối đá hổng đáy ra đấy. Lượm lúa chắc nịch được cặp vào hai thanh tre rồi người ta đập lên cối đá từng hồi, cho thóc rơi vung vãi ra bốn phía. Họ vừa làm vừa cười cười, nói nói ồm ồm, cả đàn ông lẫn đàn bà. Thấy thế, vợ chồng nhà Gi Đá sợ hết vía. Không dám bén mảng về nữa. Nói của đáng tội, chiều hôm đó cậu mợ cũng về. Nhưng ở sân vẫn còn tíu tít ồn ã những người, nên lại vội vàng bay đi. Sáng hôm sau, chàng lại về. Mỏ ngậm rác cẩn thận. Song người ta vẫn thi nhau đập lúa thình thịch. Chàng lại bỏ đi, để rơi mấy chiếc lá khô xuống đất.
Người đập lúa trong sân, bác Sẻ mon men xuống kiếm chác, nhặt những hạt thóc rơi rụng. Không thấy bóng vợ chồng anh Gi Đá đâu, ý chừng Sẻ ta hả hê lắm.
* * * * *
Gió may dạt dào, đánh lúc lắc những cành hồng bì mảnh khảnh. Cái tổ hoang kia, không chim nào ngó đến, những ruộng rạ ở xung quanh đã ải sẵn, cứ trệ xuống dần. Rồi nó chỉ còn là một nắm rác, một nắm bùi nhùi của một đứa trẻ nào gài vu vơ lên đấy Hai con chim sợ người đã bỏ phí mất một cái nhà đương dựng. Nó sắp rơi hoài xuống cỏ mất.
Công việc gặt hái đã xong. Sân vườn lại trở về hiu quạnh như thường ngày. Chỉ còn tiếng chim Sẻ rền rĩ trên đầu hồi. Cây hồng bì không phải mùa quả, hoang vắng lạnh lùng như một cây rừng. Đôi chim Gi chẳng trở về nữa hay sao?
Không, họ lại trở về. Một hôm, từ lúc mới vừa rạng sáng, đã nghe có tiếng lạt xạt trong cây. Bấy giờ bác Sẻ chưa trở dậy. Đến khi trở dậy, ra đứng ngoài đầu ống, thì bác đã thấy vợ chồng Gi Đá đương nối đuôi nhau tha rác về cây hồng bì. Bác lại trông xuống mà hé cái mỏ, bắt đầu kêu khan kêu vã. Họ tha về những cuộng rạ nát. Lại những cuộng rạ nát nhũn! Bởi vì họ lại bắt đầu. Nghĩa là vợ chồng chim Gi lại kì cục xây lên trên cái tổ dở dang kia, một cái tổ khác, mới nguyên. Lại những cuống rạ mục, lại những dây dợ ở những bẹ dừa, bẹ cau. Lại những chiếc lá duối khô, lá quăn quăn. Và lại vẫn anh chồng còm cọm tha rác suốt ngày để cho chị vợ thẩn thơ bay theo. Có khi, chàng bắt được ở đâu cả một mảng mạng nhện nhăng nhít, cũng lôi thôi tha về.
Chẳng bao lâu, cái tổ đã có lòng trũng xuống, và những chiếc lá khô thì làm thành một vòng tường cao. Ở trên trông vào, tựa hình một cái tổ bé tí tẹo của trẻ con chơi. Giá ở nhiều loài chim khác, như bọn chào mào, sáo sậu ắt hẳn cái tổ kia đã được khánh thành. Nhưng với Gi Đá, chưa thể gọi thế là xong được. Họ còn tạo tác thêm. Nói là họ, cho ra vẻ có vợ có chồng mà thôi, kỳ thực công việc xây dựng đều do mỏ và chân của chồng. Chàng nựng vợ đủ điều.
Chàng đi kiếm ở các xó vườn lạ về những cẳng lá xoan, cẳng lá khế đã khô đét. Chàng xếp thành từng lượt ngang dọc trên nóc tổ. A! Anh chàng lợp một cái mái. Cái mái nhà để che mưa che nắng. Chàng lại đi khuân lá duối, khuân cẳng rạ về và xếp một lượt dày lợp lên trên những lượt cẳng. Xong xuôi đâu đấy cả rồi, chàng loay hoay khoét một cái lỗ. Khi đục xong lỗ, ấy là lúc công cuộc làm tổ đã hoàn thành. Chàng chui vào trong tổ cất lên mấy tiếng ke ke. Ở ngoài, vợ chàng cũng đáp lại như thế. Chàng liền bay ra, đứng cạnh nàng, tỏ vẻ như âu yếm. Chàng xích lại một chút, chị vợ cũng rún rún đôi chân và rung rung đôi cánh. Hai cái mỏ chíu vào nhau, chịn đuôi vào nhau. Đôi chim hoan hỉ nhìn nhau và cùng xù lông ra giũ phành phạch. Chàng khoan khoái bay tung tăng đi vu vơ đâu một lúc, rồi lại trở về, cùng chui tọt vào tổ. Cái tổ kín và riêng tây như một nếp nhà của người ta.
Thế là tổ đã làm xong. Trông nó xù xì tựa như một mớ rác lộn. Song đó chỉ là cái bề ngoài không quan trọng thôi. Này, ta hãy đến gần, ló đầu vào một tí xem. Đường cửa tổ tròn, xung quanh nhẵn thín, chui ra chui vào rất gọn, không vướng víu mảy may. Cái lòng tổ thì êm và mịn, vừa chỗ cho nàng Gi cái nằm. Gi đực chỉ rón rén nằm ghếch bên cạnh. Hai cái mỏ cùng chìa ra phía cửa.
Từ hôm ấy, sớm mờ mờ đã nghe tiếng Gi động lạt xạt trong cây hồng bì. Họ đùa nhau chắc? Chị vợ thì nằm xù xù trong tổ cả ngày. Nàng nằm ấp dọn cho những ngày sắp sinh trứng. Đến khi hoàng hôn xuống, thì cả hai vợ chồng cùng chui vào tổ, lại cùng nằm chầu mỏ ra ngoài cửa.
Họ chờ đến ngày đẻ trứng.
* * * * *
Những con chim hét đen chậm chụi mỏ vàng bệch, đã từ phương xa bay về. Những dấu hiệu mùa lạnh sắp đến.
Gió may trở về đã từ lâu, hiu hiu và hiền lành. Nhưng chiều ấy, gió may bỗng đột nhiên nổi cơn đùng đùng. Trời đất âm u sẫm lại. Từng làn mây nước lớn xám xịt, chuyển vận theo gió bay xuôi hỗn độn, tới tấp như ở trong một cuộc thay đổi kỳ lạ của trời đất. Sáng hôm sau, trời đổ mưa xuống đều đều nhưng không to lắm, vòm không mù trắng những nước. Và trời cứ mưa đều đều, lai rai, nhỏ nhẻ như thế, hết ngày ấy sang ngày khác. Ông mặt trời đã đi đâu mất để cho nơi nơi thi nhau khóc ra mưa ra gió. Người ta đều phải ở trong nhà. Đường cái làng lầy lội, bùn xám ngập cao tới lưng ống chân.
Đôi chim Gi cũng phải ở trong nhà. Chúng nằm ro ró mà nhìn ra xem mưa. Chao ôi! Cái thứ trời gì mà cứ xối mãi nước xuống, xối mãi nước xuống. Mưa vài hôm, đôi chim đã bắt đầu thấy buồn buồn. Mưa được bốn ngày thì lành lạnh. Những hạt nước đọng ở trên mái tổ rích vào, thấm xuống, ướt hết cả xung quanh. Nhưng sự lạnh và sự thấm nước đó chưa đáng để ý bởi đôi chim mặc bộ lông dày và họ có hơi ấm của nhau. Song chúng không dám bay ra ngoài. Nằm nhịn đói cũng đã thường quen, không hề chi. Trời vẫn mưa. Bây giờ lại có những giọt nước mới dột đến, lá và cành khô không chịu thấm được hơn. Hạt nước lăn trên mái tổ rồi rỏ tạch tạch xuống đầu vợ chồng gã chim Gi. Lại có thêm gió. Gió đu đưa cành cây hồng bì. Từng loạt nước rơi xuống rào rào, liên tiếp. Vợ chồng Gi Đá xù lông ra lắc bụi nước. Nhưng rồi bụi nước, tuy đã lắc mãi, cũng bám được vào lông chim. Hai cái đầu thấm nước, bết lông vào với nhau, bé tọp hẳn lại. Trông thảm như hai người ốm liệt giường mà bị cạo trọc đầu. Lúc này là lúc mà vợ chồng chim Gi không thể nén được nữa. Nếu họ không đi tránh mưa, nước cứ rỏ tạch tạch luôn vào đầu thì đến chết rét mất. Bởi trời lạnh. Buổi sáng, người ta mó tay vào trong nước thấy buốt thon thót. Mưa thì liên miên. Giọt tranh chảy rinh rích xuống bốn bên xung quanh.
Một hôm, hai vợ chồng chim Gi đành lòng rời cái tổ ẩm ướt, đi tìm một mái nhà nào để tạm ẩn. Chúng bay đi trong bụi mưa, bốn cánh ướt vỗ nặng nề. Bấy giờ mới xế trưa, nhưng trời đầy mây xám và trắng những nước, tưởng như trời đã sắp tối. Vợ chồng chim Gi rời tổ, bác Sẻ già kia không biết. Mấy bữa nay mưa gió, bác ta rúc tránh vào trong ống tre.
* * * * *
Nhưng cũng còn cuộc trở về của đôi chim. Ấy là một ngày mùa đông có nắng, sau trận mưa dai dẳng liên miên đến nửa tháng. Mọi vật vẫn chưa khỏi hẳn ẩm ướt, nước ẩm nhiều quá. Bức tường ngoài ngõ, thảm rêu xanh om. Tuy nắng, nhưng nắng chưa đủ gây ấm. Không khí vẫn phảng phất hơi giá.
Đôi chim Gi lìa tổ ngơ ngác ở đâu về đậu bên cây bưởi. Bác Sẻ ở dưới sân, đứng trong ánh nắng để hong lông, hong cánh, trông thấy đôi chim đáng ghét liền bay vù lên nóc nhà và kêu choe chóe như bị ai bóp cổ. Chàng Gi đực liệng vào trong chòm lá hồng bì. Chàng vào thăm lại tổ. Trận mưa cũng có làm hư hại mất đôi chút. Mấy chú nhện lạc lõng nơi nào tới đã chăng mạng kín cả cửa ngõ. Gi ta mới tức làm sao. Gi mổ luôn cho mấy mỏ tan hoang cả khung cửi nhện. Vào trong tổ, chàng dùng mỏ và cẳng, bới xếp, dọn lại một lát thì giường nệm lại phẳng phiu và gần được như cũ. Chàng chui ra, nhường chỗ cho vợ vào. Chị vợ lại nằm xềm xệp thò chiếc mỏ ngắn ngủn ra cửa.
Và hai vợ chồng lại thay nhau ấp tổ. Mươi hôm, Gi cái đã đẻ ra một chiếc trứng nhỏ xíu. Trước sau chị đẻ ra được bốn chiếc trứng. Bốn chiếc trứng chỉ nhỉnh hơn bốn củ lạc lớn, màu trắng đục, lốm đốm nâu, nằm đều đặn, gọn thon lỏn trong lòng tổ. Chị Gi phải xoè lông bụng ra mới đủ che kín được cho cả bốn trứng.
Trong cái tiểu gia đình này, cứ nửa mừng và nửa lo. Sáng ngày ra, hai vợ chồng hát nho nhỏ. Họ hát ra sao? Chỉ có mỗi một điệu hót ke ke. Và riêng khi nào vui lắm, âu yếm nhau lắm, họ mới rung hai cánh mà làm điệu mỏ ri ri ri… Họ ăn ở dè lén, bình lặng, chịu khó, ít ồn ã. Cuộc đời trôi chảy âm thầm dưới khe lá xanh, y như cuộc đời của những người Nghĩa Đô, cần cù và nghèo khó trên cái khung cửi, trong bốn lũy tre già. Họ ít nói năng, trái hẳn với loài Sẻ láu táu, luôn kêu lải nhải.
Bốn trứng đã tới kỳ nở. Những cái mỏ non nớt tự mổ rạn bốn vỏ trứng để thoát ra. Thế là bốn con Gi nhỏ vào ánh sáng. Mẹ chúng nhảy ra cửa, đứng doạng chân, ngó bố của chúng đứng gần đấy. Bốn con mắt nâu đục nhìn nhau lơ láo.
Bây giờ cái tổ là chiếc giường của người đàn bà con mọn. Bừa bãi đầy những vỏ trứng vỡ, nhớp nháp như mấy cái tã. Nhớp nháp bốn nhách chim đỏ hỏn. Mụ Gi cái lại càng phờ phạc, đờ đẫn tợn. Anh chồng cũng ra vẻ lo lắng thay. Song giờ đương là đầu tháng chạp. Không còn mưa rớt của tháng bảy như trận mưa tầm tã hôm xưa nữa. Thời tiết lạnh, nhưng hanh và khô cứng.
Bốn con Gi cũng đã nhớn nhao. Bố mẹ chúng rạc cả người về nỗi kiếm mồi nuôi con. Chúng lớn dần dần cùng với tết Nguyên đán cũng lần lần nghiêng đến với mọi người.
* * * * *
Năm nay, ở Nghĩa Đô, người ta ăn một cái tết Nguyên Đán không vui. Bởi vì làng có mỗi nghề làm lĩnh. Lĩnh, lụa lại ế. Hàng dệt ra không bán đi được. Chẳng có ai mua. Nhiều khung cửi phải xếp lại. Những vày tơ bỏ trống. Vắng tiếng lóc cóc ran rỉ của cái vày tơ. Ngày phiên không có những bác thợ cửi say rượu, mặt đỏ gay đi chệnh choạng trên đường cái làng. Công việc chẳng có, bao nhiêu dấn vốn đếu hết cả, người ta đã phải đi quảy đất thuê, đi làm thợ nề và đi lên tỉnh kéo xe. Có những kẻ liều lĩnh đã ký giấy “mộ phu” sang bên “Tân thế giới”.
Cái tết hờ hững đến với mọi sự lạnh nhạt. Giá gạo cao tới ba đồng rưỡi một chục đấu nhỏ. Xưa nay chưa cao thế bao giờ! Túng quẫn quá, người ta không cần và không thể nghĩ đến lo tết lắm nữa. Hàng lá rong vào làng rao ơi ới, rồi lại ê hề quảy ra. Làng mạc buồn teo.
Chiều hôm ba mươi, cả làng vắng lạnh. Ấy là một buổi chiều bồn chồn và khó chịu. Người ta ở cái hoàng hôn u uất đó để đợi một năm mới vẫn hằng mong ước sắp đến. Một năm mới đầy những bí mật của hy vọng còn khuất ở bên kia một lần lặn mặt trời và một đêm đen thẫm, nặng trịch nữa. “Nhờ phép tổ” mà nghề nghiệp có được khá khẩm chăng!
Gia đình tôi cũng không còn phong lưu như xưa. Ngày mồng một, không có pháo để đốt. Tôi mặc tấm áo vải chéo go cũ, đi đôi guốc sơn bóng nhoáng, đầu vuốt nước lã lên để rẽ cho được mượt. Tôi thơ thẩn trong cổng, hai tay thủ túi, buồn ngẩn ngơ. Cả làng, chỉ có vài nhà đốt pháo. Nghe lẹt đẹt như gõ mẹt vậy.
Nhưng sáng ngày mồng hai, nhà tôi được có một người đến lễ tết, khách đem theo một bánh pháo. Bác quyền Vực, người bên làng Phú Gia, một học trò “tam tự kinh” ngày xưa của ông ngoại tôi. Bác Vực đi lính, tết được nghỉ phép về chơi quê.
Bác ăn vận rất ngộ. Đầu bác đội chiếc mũ Tây lợp vải vàng và mặc quần áo cũng màu vàng, xù ra. Bắp chân quấn xà cạp chặt chẽ lên tận đầu gối. Bác dận một đôi giày có cổ rất to, da mốc thếch như da cóc. Đi giày nện gót trên sân gạch, nghe kêu kệt kệt, đến ghê.
Lặc cầm bánh pháo của bác Vực, đem ra sân. Bánh pháo dài chưa đủ một gang tay. Hắn treo lên trên cây hồng bì. Rồi hắn cầm một cái sào dài, đầu có mồi lửa, một tay bịt tai, một tay run run châm. Pháo bén lửa nổ xì toạch, xì toạch toang toang. Mươi cái xác pháo toàn hồng, rắc ra sân như những cánh hoa đào bích.
Con Đực đương luẩn quẩn dưới bếp, đột nhiên nghe tiếng pháo, hốt hoảng chúi cổ cúp đuôi chạy biến ra ngoài đồng. Nó sợ, Lặc phải đi tìm và lôi nó, nó mới dám về.
Nhưng cái gia đình chim Gi ở trên cây hồng bì thì không bao giờ về nữa. Sớm ấy, bỗng nghe tiếng pháo kinh khủng nổ vang động trong cây, cả nhà chim Gi cuống cuồng bay đi. Những con chim nhỏ ngã xuống, cố vỗ cánh bay ngoi ngóp. Tan tác mỗi con về một phía. Ai cũng lạc lõng. Tội nghiệp, bốn con chim nhỏ mới ra ràng. Ngày nào chúng cũng đứng chen chân ở cửa tổ để ngơ ngác nhìn ra xung quanh và nhìn lên trời. Bố mẹ chúng thì lượn xập xoè như muốn bay cho các con bắt chước.
Sớm ngày mồng hai tết Nguyên đán ấy, sợ những tiếng pháo nổ một cách rất vô tình ở dưới gốc hồng bì, đôi vợ chồng Gi Đá chịu khó và nhẫn nại kia, cùng một đàn bốn đứa con thơ dại, tan tác bay đi, không bao giờ còn trở về cây nữa. Chẳng ai biết được cái bầu đoàn khốn khổ long đong bạt đi đâu và về sau ra làm sao.
Đến độ tháng ba năm đó, đương mùa hoa bưởi nở, cũng có một đôi chim Gi lảng vảng về vườn - biết có phải những con chim cũ? - song chúng chỉ đậu trong cây hồng bì một lát. Bác Sẻ già đứng đầu hồi, ngó cổ xuống, trông thấy, liền kêu tẹc tẹc rộn rã như muốn khơi chuyện cãi nhau.
 
1940

0
Một cuộc bể dâu
 
Ấy là một tay hảo hán trong đám Gà Chọi - cái loài sống ở trên đời, nhất sinh chỉ có một nghề đi đánh lẫn nhau cho người ta xem. Tay ấy oai lắm. Chẳng thể có đủ chữ mà tả cho hết cái oai lẫm liệt của chàng. Ờ, mà có thể gọi chàng là ông Từ Hải. Từ Hải chọc mây khuấy nước, đầu thì đội trời, chân thì đạp đất.
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào...

Đấng anh hào nọ được phong vương - hay tự xưng cũng thế - ở đất này để cai trị một khoảng vườn. Mà trong vườn có một góc gồm một chuồng gà, một chuồng vừa vịt, vừa ngan, vừa ngỗng và một chuồng chim bồ câu. Đại vương chỉ có mỗi một mắt và mang trên mình bộ mã ô miến tía - cái thứ áo có lông đen nháy, điểm dòng dọc đỏ. Chàng bị độc nhãn là bởi trong cuộc lên sới, phải địch thủ đánh một cái đá mé, lòi bật con ngươi. Từ đấy, người ta không cho hắn ra trận nữa. Để nuôi cho đẹp sân.
Chàng Gà Chọi đứng thẳng người, hai cái cẳng chân cứng và lẳn như hai thanh sắt, phủ những vảy lớn sắp vàng bóng. Đôi bắp đùi chắc nịch, gân lên những thịt. Chàng chỉ có lông trổ ra hai cánh, ở trên lưng, ở đuôi và lơ phơ mấy chiếc quăn queo dưới bụng. Lông ấy được xén, cắt thực gọn. Đầu chàng to và hung dữ như dáng một chiếc nắm đấm. Cái cổ bạnh và hai bắp đùi thì để lộ ra. Da chàng đỏ gay, đỏ gắt, đỏ tía, đỏ bóng lên như có quết một nước sơn thắm. Mặt chàng lùi sùi những mào, những tai, những mấy cái ria mép - tím lịm như mặt anh say rượu. Một bên mắt thì lép mịt mờ, còn một bên chóp chớp nháy nháy tròng vàng hoe.
Lúc chàng đi, hai đầu cánh nhô lên thụt xuống, rõ ra điều một anh chàng cuồng võ, lúc nào cũng chỉ ngứa ngáy chân tay.
Buổi sớm, khi cậu Gà Ri te tái chạy ở trong chuồng ra, dẫn đầu ba chị gà, một bác ngan với một lũ con líp nhíp và mấy thím vịt, thì, ở nóc chuồng, Chọi ta cũng nhảy xuống, hai cái chân gieo bịch trên nền đất. Chàng không ngủ trong chuồng với những con gà khác. Chúng làm quẩn chân. Bởi vì chàng cao quá, đầu đụng tới nóc chuồng; nếu phải đứng khom khom cô thì chàng chịu, không thể cúi được.
Chàng đưa mắt nhìn quanh sân một lượt rồi vỗ đồm độp đôi cánh, lấy gân thẳng hai chân, cong bạnh cần cổ, phưỡn ngực ra gáy lên một hồi: côôô... côô... cô... cô... ô... Tiếng gáy mới to khiếp. Nghe ồ ồ như tiếng nước mưa rào chảy vào trong một vành cống hẹp.
Côôô... côô... cô... cô... ô...
Những thim vịt nhút nhát luống cuống đôi chân, nghiêng một bên má để hiếc mắt lên trời, ra điệu nghe ngóng. Có thím hải quá, cạc cạc một hồi ầm ĩ, như muốn kêu: “Ai cứu tôi với! Cạc cạc cạc! Ai cứu tôi với!”. Cậu Gà Ri đương làm bộ làm tịch, đứng diễu võ giương oai ở trên đầu mỏm cọc tre cũng giật nẩy mình, hai mắt nhớn nhác. Hai khoeo chân đã khum xuống, chực lủi, rõ ra bộ anh hùng rơm.
Loài ngan xưa nay có tiếng là gan góc, lúc nào cũng lỳ lỳ lầm lầm. Thế mà nghe tiếng Gà Chọi gáy, mụ ngan cái cũng vừa kêu kíu kíu, vừa thò ra thụt vào cái cổ, dường như muốn hỏi các bạn cùng sân xem: “Cái gì thế? Cái gì thế? Kíu kíu...”.
Lại đến tình cảnh những nỡm chó con ra ăn vụng cơm của gà mới buồn cười. Nghe tiếng gà ồ ồ gáy, chả biết tiếng người ta chửi, người ta mắng hay tiếng máy móc ghê gớm gì, các ranh cứ nháo mắt lên, đuôi cúp thụt xuống tận bụng, len lét chuồn thẳng.
Cái tiếng gáy mới kinh khủng chứ! Ai mà chả phải sợ ông Từ Hải.
Côôô... côô... cô... cô... ô... ô...
* * * * *
Có những buổi trưa.
Những buổi trưa mùa hè, nắng to. Ngoài vườn, cây cối rủ rượi đứng chịu tội trong ánh nắng lửa. Những mảnh lá mướp to bản đều cụp uốn xuống, để lộ ra những cánh hoa màu vàng gắt. Có tiếng vỗ cánh sè sè của vài con ong bò đen bóng, bay rập rờn trong bụi cây chanh.
Nắng dữ quá. Gã Đực nằm đầu hiên, thè dài lưỡi ra thở hực hực. Lũ ngan, lũ ngỗng thì rủ nhau chúi xuống bờ ao, núp bên những tàu lá khoai sơn hà xanh rời rợi. Ở dưới gậm cụm lá sói, hai ba chị mái tơ thi nhau dũi đất. Thỉnh thoảng lại rủ cánh phành phạch.
Ấy vậy mà có hai người bạn vàng kia quên cả nắng, quên cả tròi đất nóng nực. Đó là hai trái tim: một anh Gà Chọi và một chị Gà mái nạ dòng. Nếu mà đối Gà Chọi với chàng Từ Hải thì phải kể chị ta vào cái độ cô Kiều gặp người anh hùng đó, sau mười lăm năm luân lạc, trên vai nàng đã đeo nặng hơn ba mươi cái gánh xuân. Mà chàng Từ Hải thì trải bao trận thư hùng, đã tàn tạ rồi mà vẫn có mã, vẫn đỏm dáng như thường.
Cho nên, trời nắng là thế mà thuyền quyên cũng chịu khó đứng ở dưới gốc cây thầu dầu tía, gần bờ ao. Nàng xù bộ lông vàng, phờ phạc, lốm đốm trắng như mớ rơm rửa bát. Vậy mà nàng cũng chớp chóp đôi mắt, rung rung cái mào xám xịt ngả về một bên má.
Nàng nghển cổ lên, nhìn sang phía gốc cam - chỗ có anh Gà Chọi đứng; hơi he hé đôi mỏ, chị cất một giọng oang oác, rất bổng rồi trầm xuống: “Kééééc. .. kéééc... kééc... k... éc... k... é... é... é... c...”
Ý như làm duyên mấy câu Kiều lẩy.
Cái tiếng éc cuối câu cứ kéo dài, vang động khắp vườn một cách lâm ly và não nuột khiên cho anh Gà Chọi đứng bên kia dường như phải ngơ ngẩn bồi hồi mà nghếch một bên mắt lên nhìn lơ láo. Và chàng vừa kêu cộôc cộôc vừa đi về phía cô ả.
Ấy thế là khách biên đình sang chơi. Kiều nhi bèn ra bộ làm gái, thấy tình nhân thì không hát nữa. Muốn tỏ với nàng rằng ta đây cũng là tay thiệp đời, gà Chọi xõa hai cánh, doạng mấy móng chân để bới đất và cúi mỏ xuống, giả cách vừa mổ vừa kêu cộc cộc, làm điệu gọi mái đến ăn chung. Rất tình tứ. Nhưng mà xác anh ta thì nặng, hai cái cẳng chân to lều nghều, khi anh lấy cái dáng đẹp nhất, cái điệu chân dẻo nhất để bới, trông hóa ra ngây ngô và ngượng nghịu, đến hay.
Chị ả còn làm bộ mãi, không chịu đến. Để cho chàng hết rủ rê, tán tỉnh bằng điệu chân, điệu mỏ, lại xòe cánh ra đập phành phạch. Mà cô nàng cứ còn cao giá làm lơ và lại bắt đầu hát kéc kéc ầm ĩ.
Ôn tồn, dịu ngọt mãi không được thì chột ta tức lắm. Chàng ngẩng đầu lên.
Cái tính hung hăng, nóng nảy cố hữu của chàng ở đâu lại kéo đến ầm ầm. Chàng đỏ mặt tía tai, lộc ngộc chạy đến tận nơi. Chị ả cũng ù té chạy biến phía bờ ao.
Nhưng này, ối ai ơi! Chị ả nõn nường đó chỉ giả cách khệnh khạng một chút đấy thôi. Đến chỗ khuất bóng cây chanh, nàng đã nằm khụy hai chân xuống. Để đợi người yêu.
Sáng nào chị mái nạ dòng ấy cũng lên ổ để đẻ. Mỗi lần đẻ xong, chị nhảy choàng từ trong ổ ra đứng giữa sân mà cục te cục tác rồn rã. Chừng muốn khoe với làng xóm rằng mình vừa mới đẻ được một cái trứng, công phu khó nhọc nhiều lắm đây.
Được có chín trứng ả đã thôi và bắt đầu nằm ấp. Ả ấp ham lắm. Suốt buổi. Quên cả ăn. Cứ nằm sù sù cả ngày thâu đêm trong ổ. Ai động đậy ở đâu gần đấy là ả đã kêu cục cục, lông cánh xù ra, chực những sự vừa chửi vừa đánh.
Ả nằm ấp vừa đứng cữ hai mươi mốt ngày. Từ đầu tuần trăng lưỡi liềm cho tới những đêm trăng chỉ còn nhô lên lúc gà gáy sáng là tới thời kỳ những cái thai bắt đầu cựa quậy và mổ vỏ ra để tìm ánh sáng.
Nửa tháng sau, xung quanh chuồng gà đã ríu rít những gà con. Bây giờ cái mảnh sân sau ấy vui lắm. Qua một ít bữa, chín con gà nhỏ vỡ lông, vỡ cánh và lần lần trên người chúng, hiện ra những màu sắc của một bộ mã. Mỗi con một mã: hoa mơ, tía, trứng cuốc, mãn trắng. Cũng có những đứa đeo cái màu vàng bềnh bệch như mẹ. Đây là một đàn gà pha.
Có thêm những một đàn chín con gà nhỏ, sân và vườn bây giờ trở nên âu tri viên. Cả ngày, rối lên những tiếng líp nhíp, líu nhíu. Gà con, chúng kêu luôn mỏ. Nếu không chép chép to tướng thì ít ít be bé trong cuống họng. Xô nhau cũng kêu. Mổ hạt tấm, cũng kêu. Đến cả khi mẹ ngồi xuống, xòe cánh ra cho chúng rúc vào bụng, chui vào nách, nhảy lên lưng, cũng kêu í ới.
Còn mẹ chúng nó? Thật là một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực mà khi phải vào cái bổn phận dạy dỗ, nuôi nấng con trẻ, lại đáng nên bậc mẹ hiền gương mẫu. Luôn đi cạnh các con, mụ không rời chúng lấy nửa bước ngắn. Mụ cong chòm đuôi, xù vành lông cổ lên, làm điệu nghiêm khắc và ác. Thật ra, với các con thì mụ rất ngọt ngào. Bới được một hạt giền đỏ, mụ cũng gọi chúng đến, cho chúng ăn. Vừa nhìn các con ăn, mụ vừa cúc cúc, nói chuyện vui vẻ. Nhưng hễ động một bà ngan đãng trí - những con ngan hay đãng trí, lúc nào cũng bước đi thanh thản, lơ tơ mơ, ngất ngưởng tới bên cạnh là mụ Gà nhảy lên như choi choi, bao nhiêu lông đuôi lông cánh dựng đứng ngay lên, miệng kêu oang oác, khoéc khoéc, chân thì đập, mỏ thì mổ khiến cho mụ kia mở mắt không kịp, chúi đầu xuống đưa vòng kiềng hai chân mà lạch bạch chạy.
Mụ mê mải chăn nuôi con đến quên cả mình. Chả thế mà trong khi săn sóc trẻ, thân hình mụ gầy xác, gầy xơ. Bây giờ thì không thể bảo mụ là cô gái giang hồ gần bạc tóc mà vẫn ưa lá gió cành chim được nữa. Phải gọi mụ là một bà xã trong làng, một bà xã chỉ biết tảo tần nuôi con cho đi thả chim thả diều và nuôi chồng một ngày hai bữa rượu. Những điều nguyệt nọ hoa kia, giờ tịnh câm, mụ không màng tới, mà lại còn ghét là khác. Mỗi khi có cô mái tơ phớn phở đi qua, mụ đuổi đuổi, mổ mổ, túi bụi.
Còn anh Gà Chọi mã ô miến tía? Thôi thôi thôi, nói làm chi đến cái quân lang chạ, phất phơ.
* * * * *
Một ngày cuối tháng năm. Mấy hôm nắng dữ dội như muốn hun héo cả xóm làng. Đến hôm ấy, từ buổi sớm, nắng không loe lên như mọi khi. Trời vần vụ đầy mây trắng. Song không phải là mây trắng đục, báo hiệu cơn mưa. Mây trắng tinh chẳng biết ở đâu trôi lừ đừ đến từng tảng lớn, ngổn ngang cả nền trời xanh ngắt - trời xanh lắm, ở mỗi khoảng không có mây. Mây đến rồi mây đi, mây đến, mây lại đi, mây chuyển vùn vụt. Ấy thế rồi gió nổi lên dạt dào trong các lũy tre. Cái thứ tiếng dạt dào của lá tre rung vào nhau liên miên, tưởng như tiếng heo may cuối thu, mà không bao giờ ngớt, gây nên bởi từng luồng gió rất dài, rập rờn trên sóng lúa, từ ngoài đồng xa về. Người ta gọi gió ấy là gió giải đồng - gió quạt mát cho những người cầy dưới ruộng.
Bữa đó, Gà mái dẫn đàn con lách qua bờ tre, ra ngoài ruộng nhửn nhơ chơi. Bởi vì không có nắng nên cả mẹ, cả con mải bắt nhái, bắt châu chấu, mãi tới xế chiều mới dò về. Về tới chuồng, trời đổ một trận mưa rào. Mưa rào đến đêm thì tạnh. Nhưng còn sập sùi mãi tới lúc sang canh mới dứt hạt.
Sớm hôm sau, khi cửa chuồng đã mở, chỉ thấy chị Gà mái mẹ dẫn có bốn con nhỏ lủi thủi ra. Nhòm vào trong: năm chú gà con kia đã nằm mỗi chú một xó chết còng queo từ bao giờ. Và chỉ từ sáng tới buổi trưa, cả bốn gà còn lại này cũng mỗi con nằm rụi ở một góc vườn. Những cái diều cơm cứng ních lại. Lặc kêu ầm lên rằng :
- Biết ngay mà. Trở gió! Trở gió! Trái gió. Trái gió. Gà bên nhà bác xã Khóm cũng lăn đùng ra thế đấy.
Sẩm tối, ông ngoại tôi sai Lặc hun một đống bồ kếp ở trước cửa chuồng, chỗ thang gà leo lên leo xuống. Trong sự tĩnh mặc âm thầm của vườn sau, đám khói hoàng hôn sực mùi bồ kếp thơm gây gây càng làm cho cái khu gà vịt ở có một không khí ảm đạm như một xóm nhuốm bệnh thời khí. Thế mà sáng hôm sau, lại có ba chị Gà mái tơ nằm chết chỏng hai cẳng lên trời.
Một sự đổi đời ghê gớm. Tai nạn chỉ bởi có một thoáng thay thời tiết. Mụ Gà mái mẹ và anh Gà Ri sợ không dám ở chuồng nữa. Tối đến, chúng ngủ cao trên bụi tre. Còn ở lại chỉ có lũ nhà ngan, họ nhà vịt - cái tụi ngu ngơ lúc nào cũng đờ đẫn mà khỏe - và anh Gà Chọi đứng ngang nhiên trên nóc chuồng. Dáng hẳn thấy cảnh vật phút chốc bỗng trở nên quạnh hiu, anh không hộc mỏ kêu kộôc kộôc như mọi hôm.
Chẳng những chỉ vắng vẻ thế mà thôi!
Một sớm kia, Gà Chọi không cất tiếng gáy. Tay nhà võ đi có dáng lừ đừ, đầu rúc xuống, mà cổ thì hình như nằng nặng. Loài gà không bao giờ ốm bệnh gì, chỉ có bệnh dây. Khi lử khử, tất chàng mắc bệnh ghê gớm đó. Chàng bị truyền nhiễm bởi bọn gà chết hôm qua, hôm kia. Chắc thế. Bởi chàng khỏe cho nên chàng không quỵ ngay. Song cũng khó lòng qua khỏi được. Có sức khỏe, bệnh chỉ kéo dài. Thể nào, một ngày rất gần đây, cũng sẽ đi đời.
Chàng không ăn được nữa. Chỉ uống nước thôi. Mà uống nước luôn luôn. Cái bìu diều cơm rắn lại. Cho đến chiều thì chắc đanh, sờ tay không bóp chuyển được. Đêm, chỉ nghe tiếng quéc quéc, như vướng cái gì trong cuống họng. Cái tiếng quéc sắc rợn và lạnh. Nghe ghê người.
Sang hôm sau, mào, bắp chân và bụng Gà Chọi đã xám lại. Chàng bước đi; cái cần cổ gục xuống, hai vai cánh so lên, xiêu vẹo như lão kiết đã nghiện nặng lại thiếu cả sái hút. Đôi chân hiên ngang nọ như sắp không khiêng nổi cái mình to lớn nữa. Thảm hại quá. Ôi! Con Gà Chọi, ôi! Con Gà Chọi! Con Gà Chọi chỉ còn mở thao láo một mắt ra nhìn. Không còn hục hặc đạp phành phạch. Không còn gáy cồô... cộộ, không kêu cộô... cộ gì cả.
Ngày hôm sau nữa thì đành chẳng thể nào nhấc chân được. Chàng Gà Chọi nằm gục một chỗ, chỏng đuôi lên, đầu lả rụi. Người tọp lại, như một người thân thể to lớn, bây giờ chỉ còn lần da, ôm một bọc xương. Buổi chiều thì Gà Chọi tắt thở.
Lặc được nhận việc xách một bên cẳng nó, đem ném ra ngoài đồng xa.
Hỡi ôi! Ông Từ Hải về với đất.
* * * * *
Cậu Gà Ri không dám bén mảng về đến sân nhà. Trông trước, trông sau chẳng có ai, chỉ còn một mình chị mái già, ra lại vào, ngẩn ngơ.


0
Mụ Ngan
 
Sự chết chóc ghê rợn trong họ nhà Gà không ảnh hưởng đến các chú Ngan, thím Ngan cũng cùng ngụ một sân. Loài Ngan khỏe mạnh, ít khi trở trời mà bị trái gió.
* * * * *
Xóm Gà Vịt này có hai con Ngan trắng.
Độ nọ cũng còn có thêm một đàn Ngan nhỏ. Nhưng bây giờ đã tan tác mất cả. Chẳng phải vì bệnh dây, mà là vì nhiều sự không may khác. Đời sống lăn dài vào thời gian rộng lớn và cao cả, triền miên đã bao nhiêu năm, trong khối óc tí hon của muôn loài. Với chúng - nhất là những con vật luẩn quẩn xung quanh thì trái lại. Ngày tháng vụn vặt, chỉ có những đau thương nhỏ bé, những xa cách ít đáng để ý. Ấy là cuộc sống tủn mủn, bèo nhèo. Chúng chẳng làm hại ai, chẳng hít hớt mất của ai ít khí trời, dù chúng cũng thở ra, thở vào cẩn thận. Như những con giun, cái kiến làm sao mà được nhòm ngó tới.
Đếm đàn Ngan con có được sáu cái đầu cả thảy. Sáu cái đầu xinh xinh, sáu cặp mắt tròn xoe, đen láy và ngơ ngác. Chúng luẩn quẩn líp nhíp xung quanh hai bàn chân tõe ngón rất thô kệch của bà mẹ. Mà tâm tính của mẹ chúng thì cũng “thô kệch” như hai bàn chân nọ. Mụ đần độn đến phát ghét lên được. Thực là một thứ đàn bà đoảng. Mặt mũi lúc nào cũng ngẩn ngơ, lúc nào cũng lắc lư như một bà nhiêu ra chợ mà bị kẻ cắp xén mất túi. Mỗi khi cất bước, đôi chân khụng khiêng đi vòng kiềng lại đu đưa tất cả mình lên. Nom đến chậm.
Cũng bởi cái tối dạ, chậm chạp ấy mà vô tình, mụ đã giết một đứa con của mụ.
Một hôm, cu Lặc đem ngô ra sân cho Ngan ăn. Mụ Ngan xô đến. Đàn con cũng tất tả chạy theo. Chúng len, đun, tranh nhau trèo vào chậu ngô. Mẹ chúng đứng ngoài xốc cành cạch từng hột một.
Nhưng lũ trẻ leo vào đầy chậu, khiến cho mụ bị vướng, không xoi được hột nào nữa. Tức mình mụ cũng thò chân vào cái chậu sành. Rồi mụ bước nốt cả chân kia vào. Thành ra mụ đứng phè phè giữa chậu, cứ cúi xuống mà xốc, tranh ăn của cả các con. Một bàn chân mụ - cái bàn chân có ba ngón trước tõe ra, mạng liền với nhau - giẫm lên lưng một con nhỏ. Con Ngan nhỏ kêu thảm thiết. Nhưng mụ mẹ vẫn chưa biết, vẫn dí chặt chân lên lưng nó mà đớp ngô như thường. Đến khi mụ dịch chân đi để thò mỏ ăn chỗ khác thì con Ngan khốn nạn kia không thể đứng dậy được nữa. Nó gãy xương lưng.
Ăn no rồi, mụ vỗ hai cánh dẫn năm trẻ xuống ao lội chơi. Mặc thây một con bị trọng thương, cứ việc nằm rụi, kêu khắc khoải. Mụ lờ tít hay là không biết. Đến chiều, con nhỏ ấy chết. Mụ như không biết có một đứa con mình vừa mới chết. Thế thì cố nhiên không phải lỗi ở mụ. Bởi vì mụ vẫn thò ra thụt vào cái cổ, vẫn lúc lắc bộ đuôi. Những tiếng kíu kíu thốt ra, như vẫn biểu lộ một nỗi vui sướng vu vơ, ngây ngô.
Thế là một Ngan con chết. Mươi hôm sau, hai mống nữa cũng chết theo. Chúng bơi dưới ao, rúc đầu mò vào ven bờ. Hai con lập tức bị lươn rút vào tổ. Lũ trẻ con trong nhà đi tìm chỉ thấy hai cái đuôi chổng vọc lên. Cái đầu kẹt trong lỗ, bị lươn cắn thủng một vết sâu hoắm.
Còn lại có ba nhách lơ láo.
Lại một hôm nữa, mụ dẫn ba trẻ ấy ra ngoài ruộng chơi. Mấy bữa trời đổi gió, cả đàn Diều Hâu ở miền xa đâu trên núi bay về. Chúng dang cánh ra liệng vòng tròn trên đồng lúa. Chúng lửng lơ trong không, lẫn vào từng khoảng mây xanh. Những tiếng kêu rin rít nổi lên như tiếng sáo đẩu. Không phải là chúng cứ liệng chơi “xây giếng cho tròn” mãi ở trên trời cao thăm thẳm ấy. Chúng liệng đi, liệng lại thỉnh thoảng sà xuống ở một chỗ quạnh quẽ, hoặc để tìm một cái ngòi nước vào mà tắm, hoặc để kiếm mồi. Hôm ấy, có một con Diều Hâu liệng vòng tròn rất cao. Bỗng nghiêng cánh, đâm bổ xuống. Nó vừa trông thấy mấy cái mồi. Đó là ba con Ngan nhỏ cùng với mẹ ra nhởn nhơ ngoài đồng. Diều hâu sà xuống tận nơi, thò dài hai cái chân sắt, quắp lấy một con Ngan, rồi bay bổng lên, vụt đi. Nó tìm đến một nơi thanh vắng, thả Ngan xuống, mổ cho chết rồi ăn thịt. Một lát sau, có một gã Diều Hâu nữa sà đến cũng quắp một con Ngan. Văng vẳng tiếng Ngan kêu thảm thiết trên cao.
Mụ Ngan mẹ cũng nghe được rõ ràng những tiếng kêu cứu ấy. Bởi vì mụ có nghển cổ, có liếc mắt lên trời. Nhưng rồi mụ lại cúi xuống mổ cỏ và lúc lắc cái đuôi của mụ. Còn có mỗi một con Ngan nhỏ khiếp sợ, chúi vào bụng mẹ. Song mẹ nó cũng vô tâm, không để ý chi. Thế là hai con Ngan nhỏ bị Diều Hâu bắt ăn thịt. Phải tay một mụ Gà thì không bao giờ mụ chịu im như vậy. Sống chết mụ cũng xù lông ra, nhảy lên đánh nhau ngay với quân thù. Đằng này, có thể như không bao giờ mụ Ngan nghĩ đến cái điều phiền nhiễu đó. Mụ đủng đỉnh dẫn một con lõng chõng về, mỏ và mắt thản nhiên như lúc đi ra.
Cả đàn sáu con Ngan, chỉ còn vỏn vẹn có một. Cái sân Gà Vịt vừa bị một trận chết dây kinh khủng, bây giờ lại càng vắng vẻ thêm. Các cổng chuồng bị bỏ trống, không cài then. Những lối bùn đã mọc rêu xanh. Chẳng có mấy vết chân ba ngón qua lại.
Tối đến, nhà Ngan ngủ dưới gậm chuồng gà. Con Ngan nhỏ nằm bên cạnh, mỏ rúc xuống cánh. Bao giờ chúng cũng ngủ đây. Cái giống Ngan luộm thuộm yên trí rằng ngủ ở đấy đã là sạch sẽ.
Một đêm kia, có một con rắn mai gầm từ dưới ao bò lên. Thân nó trườn bằng một cái đòn gánh và vằn những khúc vàng, khúc đen. Bởi vậy, rắn ấy còn có tên là rắn cạp nong cạp nia. Nó luồn men bờ ao, đánh hơi thấy mùi tanh ở chuồng gà thì bò vào. Và nó bắt gặp ba con Ngan, liền rướn bạnh cổ ra, phun phè phè. Hai Ngan lớn lật đật chạy. Bởi rắn ấy là ông Ba Mươi, đối với các loài vật trong nhà. Cũng chẳng biết có phải vì sợ mà vợ chồng nhà Ngan chạy, có khi chẳng biết sợ cũng nên. Chú Ngan nhỏ chậm chân, bị rắn tiêm một nhát vào lưng. Tội nghiệp, chú nằm quay lơ, giẫy giụa một lát thì gục xuống chết. Con rắn lừ đừ trườn đi mất.
Sáng hôm sau, Lặc thấy xác con Ngan nằm chết rũ. Nhìn một vệt dài lằn nhẵn trong rãnh bùn ướt từ dưới ao lên trên gậm chuồng, Lặc biết ngay là con Ngan kia bị rắn phun. Nó chạy vào nhà, hô hoán ầm lên. Lũ trẻ thập thò ra xem, níu nhau, rón rén bước từng bước một, như sợ con rắn nguy hiểm hãy còn luẩn quẩn đâu quanh ở đấy.
Lặc xách cẳng con Ngan lên. Nó ngắm nghía và nói :
- Hoài của. Thế lày mà rắn cắn chết. Thịt ăn đương mềm nắm. Chốc nữa tôi vào xin ông mang về...
- Ăn?
- Chứ nỵ gì! Hôm lọ, con gà chọi tôi cũng mang về ăn đây. Chỉ phải bỏ cái diều đựng cơm thôi. Ngon đáo để. Tôi gì, thịt ăn chẳng có, có thịt vứt đi.
- Nhưng đằng này rắn phun độc lắm.
- Độc xộc vào mồm. Tôi đếch sợ.
Lũ trẻ xanh mắt lại. Chúng chắc rằng ăn thịt Ngan rắn cắn, thể nào nhà Lặc cũng chết ngay đuôi ra. Lặc mang con Ngan về.
Nhưng sáng hôm sau, Lặc vẫn đến như thường. Mặt mũi vẫn hồng hào và cái bụng vẫn như chiếc trống cái. Cả bọn trẻ xúm lại.
- Ăn hết thịt Ngan chưa?
- Mấy con lữa cũng hết bay.
- Thế thực anh không sợ nọc rắn độc hử?
Lặc nói nhỏ, ra lối bí mật :
- Sợ quái gì. Núc nuộc gà thì bỏ một cái đinh lăm phân vào lồi. Sắt kỵ nhau với rắn, thế nọc rắn tan ra lước. Chỉ phải bỏ đi có lước suýt, còn thì nhắm được tuốt!
Lũ trẻ ngẩn ngơ nhìn nhau. Ra lối phục cái mẹo ấy là đúng.
* * * * *
Con Ngan nhỏ cuối cùng chết đi, hết dấu vết của đàn Ngan. Không ai nhớ nữa. Cả mẹ và cả đến cha chúng. Tàn mùa hè thì hoa xoan rụng.
Hai vợ chồng nhà Ngan lại quanh quẩn. Chồng là một chàng Ngan bạch. Thằng cha to gấp đôi vợ. Loài này, bao giờ đực cũng lớn hơn mái. Toàn thân trắng muốt. Nhưng ở cuối mỏ, sùi lên những mụn đỏ. Nếu nó in ít, có thể tưởng đấy là trứng cá của loài Ngan, nhưng đây nó dầy bì bì, đỏ tía như màu hoa mào gà và ngay ở trên trán, mụn đỏ cũng mọc cao lên như một cái nấm. Những cái mụn đỏ ấy làm xấu dáng của Ngan, dù là một con Ngan trắng muốt. Vì còn có những thứ Ngan khác, hoặc đen biếc, hoặc trắng đốm đen, bẩn như những bà già trong làng đi chợ mùa lạnh mà mặc váy rách vá chùm vá đụp.
Nhưng vẫn chỉ vì tính nết của Ngan làm cho người ta ít ưa chúng.
Chàng Ngan kia bướng bỉnh lạ. Nếu bị người đuổi, chàng chỉ rảo từng bước thủng thỉnh. Và lại còn thò cổ lại “hỏi han” người ta. Nếu chỉ bị đuổi xoàng, chàng còn mổ lại người ta là đằng khác nữa. Chàng không nhát như mấy anh Vịt, lúc nào cũng chỉ đứng ngẩn tò te ra nghe ngóng để rình chạy. Song chắc là vốn bẩm sinh ra thế, chứ thực Ngan ta chẳng có tâm tính chi. Đã một lần, có một đứa trẻ ngắt hai chiếc lá khoai san hà. Nó vật hai con Ngan xuống và lấy lá khoai chùm kín cả đôi bên mắt của chúng. Đôi Ngan bừng mắt ra, thấy màu xanh xanh của lá phủ trên mặt thì quên hết cả trước sau. Chúng cho rằng chúng đương được lơ mơ ở trong bụi cỏ. Bụi cỏ non xanh và mát. Thế là chúng cứ nằm chỏng chân lên, im lặng không nhúc nhích, cho mãi tới lúc hai chiếc lá khô cong, hé nhìn lên thấy trời, mới lóp ngóp bò dậy. Lại thủng thỉnh bước một, gieo những bước nặng lạch bạch xuống nền sân.
Một hôm chàng Ngan lừ đừ ra đầu ngõ. Hắn đi ngơ ngác lờ phờ, lắc lư cái mình, lắc lư cái chân, mà lắc lư cả đến chiếc đuôi ngắn củn. Bất đồ gặp một đứa trẻ độ ba bốn tuổi, chập chững đi vào trong ngõ. Ngõ hẹp và sâu, có những cây xoan cao, thân mốc trắng, cành nặng trĩu những chùm quả chín khô, vàng thẫm. Thằng bé cũng trông thấy con Ngan. Nó cởi trần, cởi truồng nhưng nó không sợ Ngan chút nào. Nó thò tay ra vớ lấy đầu con vật. Chàng Ngan cũng chẳng sợ thằng bé, chàng liền rúc một mỏ vào rốn nó. Thấy buồn buồn, nó lấy tay gạt đi. Chàng Ngan lại rúc nữa. Lần này chàng rúc xuống phía dưới. Đúng. Thế là chàng cứ bặp bặp hai cái mỏ, vừa lôi vừa nhay thằng bé.
Thằng bé giãy giụa, gào “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” ầm lên. Mọi người chạy ra thì bé đã cố dứt được cái mỏ Ngan tai quái ra rồi. Chẳng ai ngờ là gã Ngan đờ đẫn nọ lại vừa đánh nhau với thằng bé. Bởi thằng bé chưa biết nói sõi. Nó chỉ khóc. Mà gã Ngan thì vẫn đứng cạnh đấy, thò dài cổ ra “hỏi han” mọi người, với một điệu ngẩn ngơ.
Người ta tưởng có một ổ kiến lửa chi đó ở quanh đấy.
* * * * *
Sau nhà, có một vườn cải. Đấy là một khoảng đất tận góc vườn đằng kia, giáp bờ ao, vun xới bón tưới do công trình của Lặc. Cũng là ở trong vườn, nhưng Lặc rào kín bốn phía. Để đề phòng sự tàn phá của bọn Gà Vịt nghịch ngợm. Chỉ hở mỗi một cái cửa nhỏ. Mỗi ngày hai buổi, Lặc xách vò nước vào tưới.
Bốn luống cải chạy đều một hàng. Màu xanh tươi tắn trải lên trên màu đất vàng sẫm. Có luống vừa bén chân, mới trổ được đôi ba tờ lá bé. Những mảnh lá xanh rờn, có khía răng cưa xung quanh, khum xuống sát đất. Cải này trồng để ăn vào tết Nguyên Đán. Cũng có luống những tầu lá cải đã vồng cao. Khía lá rách mảnh vào chiều sâu. Ở giữa chòm lá lòe xòe, vươn lên một cái thân dài mụ mẫm và phấn trắng. Đầu thân, lơ thơ có những chùm hoa nhỏ, những chùm hoa của những đóa hoa nhỏ xíu ấy, nở ra những cánh vàng li ti. Đó là những luống cải đã già rồi để làm dưa. Nhưng vườn chỉ đẹp, khi những cây cải già nở hoa vàng. Có không biết bao nhiêu bướm trắng từ xứ mô tê nào rủ nhau đến chơi vườn cải. Chúng họp thành đàn, bay rập rờn trên từng cánh lá. Chỉ bay thôi mà không đậu. Những cánh trăng trắng phấp phới trên nền cải xanh lốm đốm hoa vàng. Lại thêm mưa xuân về sớm. Mưa không ra mưa, mà là trời đổ bụi mưa xuống. Trước gió hiu hiu, những bụi trắng bay loăng quăng, vẩn vơ.
Căn vườn xinh xinh là thế, mà một bữa kia, có kẻ phàm phu nào vào bới tung hết cả lên. Chỉ vì hôm ấy, Lặc tưới vườn nhưng lúc ra quên cài then cửa. Một lúc sau, nghe có tiếng khịt khịt thở mũi. Rồi lại tiếng chân lạch bạch. Rồi thì một cái mỏ vàng to bè bè, hai con mắt lơ láo và cả cái đầu đỏ khé, thò vào trong phên. Thấy phên ngỏ rộng, hai cái chân thấp lũn chũn cũng rún lên nữa: à, chàng Ngan đực đương ỳ ạch leo vào vườn. Chàng vừa leo vào xong, còn đứng nhởn nhơ nhìn khu vườn man mác một màu xanh ngợp mắt, thì ở ngoài lại có tiếng thở, lại có tiếng chân đi, lại có cái đầu đỏ nữa thò vào. Con mụ! Mụ Ngan cũng nhảy vào vườn nốt.
Ôi chao! Thực là hả hê, thực là phê pha. Mấy khi có được những lá xanh non và mềm thế kia để cho mát ruột. Vợ chồng nhà Ngan cắm cúi vặt mổ lá cải. Chúng tỉa từng lá, xốc ngoem ngoẻm. Chúng ăn những cây lá cải non.
Chúng nằm xệp cả xuống giữa luống mà xốc xoàn xoạt. Vừa ăn, vừa giày vò, vừa ngoe nguẩy cái đuôi lý thú. Chẳng bao lâu quang đãng hết một góc hai luống cải. Còn trơ lại mặt đất những cái gốc trụi. Ăn mệt ư? Không, chỉ vỗ cánh đành đạch, đứng nghỉ ngơi một lát rồi lại tiếp tục. Chúng ăn vô hồi kỳ trận. Vườn cải nát hết. Đàn bướm trắng lờn vờn trong bụi mưa. Bụi mưa vẫn phơi phới xuống. Hai cái mỏ, hai cái chân, giẫm và nuốt tan hoang cả.
Cuộc tàn phá đương dữ dội thì có một đứa trẻ đi ra vườn, nghé qua khe nứa, trông thấy, nó hoảng hốt chạy vào trong nhà.
Cu Lặc hớt hơ hớt hải chạy ra. Môi nó mắm lại. Những bước chân giận dữ vang thình thịch, có thể dẫm chết cả chó. Có đứa cướp vườn cải! Có đứa cướp vườn cải! Làng nước ơi, hại cu Lặc chưa!
Lặc giương to đôi mắt mà nhìn vào vườn, hai con Ngan mải ăn, không biết. Đến lúc Lặc bước vào thì chúng mới nghếch mắt lên nhìn, nhưng lại cúi xuống ngay, lại xốc lá cải liền liền. Lặc thì Lặc, nhà Ngan ít cần, mà nói rằng chúng chẳng cần mới đúng. Cửa ngỏ thì đi vào. Có lá non đấy, tha hồ xơi tự nhiên. Giản dị lắm. Nhưng người ta lại không thể nghĩ giản dị như vậy.
Lặc co cẳng đá phốc anh Ngan đực một cái. Thằng nỡm bắn bổng lên, chúi vào khe giậu. Con mụ cũng được ăn một đá tương tự. Chúng lóp ngóp bò dậy, và trong lúc thảng thốt, không hiểu thế nào ra thế nào cả. Chúng vươn cái cổ chĩa là là xuống, trợn mắt lên, đồng thanh cất tiếng kêu kíu kíu. Cái gì thế? Cái gì thế hử?
Lặc đá liền liền. Lũ trẻ reo à à. Mỗi lần bị ngã mà lóp ngóp bò dậy, hai con Ngan lại càng vươn thưỡn cổ ra, đôi mỏ đánh vào nhau cặp cặp. Như cố ý hỏi rồi kháng cự lại. Chúng quay cổ nghênh địch, không chịu chạy. Lặc đá tới tấp. Loài Ngan khỏe thực. Người đá lắm chỉ nghe tiếng bồm bộp. Sau, Lặc xách cổ cả đôi Ngan, đem nhốt vào chuồng. Nó cài kỹ lưỡng cả hai cái chốt lại.
Vợ chồng nhà Ngan bị bỏ tù. Cho đến lúc ấy, chúng vẫn không hiểu chi, cứ vung cổ ra kêu kít kít, rất bướng.
Ba hôm sau, đôi Ngan được thả ra. Chúng vỗ cánh, rướn chân, bay vè vè trong sân. Nhưng bỗng nhiên, chàng Ngan đực vù lên cao. Chị vợ cũng nối cánh. Hai con Ngan trắng phau phau bay bổng lên không trung, thấp thoáng trong nền mây trắng. Chúng bay cả ra cánh đồng. Thực là một sự bất ngờ kỳ khôi. Loài Ngan có bay biếc trên trời bao giờ đâu. Kỳ tình Ngan cũng biết và có thể bay cao lắm. Nhưng ít khi chúng trổ tài cho thiên hạ rõ. Chắc là mấy bữa nay cậu mợ quẩn chân lắm, bây giờ đã được tự do thì xê dịch lên trên trời một tí cho sướng cái thân.
Lặc co cẳng chạy đuổi theo. Hai con Ngan hạ cánh xuống giữa cánh đồng. Lặc túm được và lại xách cổ cả hai, bôông bêêng lôi chúng về nhà.
* * * * *
Chàng Ngan đực bị xử tội chết ngay ngày hôm sau.
Người ta bày ra một cái bát chiết yêu. Một đứa trẻ túm hai cánh Ngan, giơ cao lên. Một đứa khác cầm hai chân, Lặc tóm cổ Ngan, vặt nhẵn một tụm lông ở phía mỏ dưới. Nó kề lưỡi dao vào đấy, khía mạnh một cái. Máu đỏ tươi chảy xuống bát. Con Ngan giương mắt ra thở khò khè. Nhưng cái màng trắng ở một bên mi kéo lên, khép kín đôi mắt ấy lại. Nó giẫy mấy cái mạnh, rồi nhuôi ra.
Mụ Ngan đứng cạnh, nhìn vớ vẩn. Mụ nghĩ ngợi chi? Vẫn thò ra thụt vào cái cổ, như là thản nhiên. Thực mụ cũng chẳng biết người ta đương xúm lại để làm gì chồng mụ. Giống này có nhớ chi biết chi. Một việc qua rồi, được coi tựa như việc chưa có lần nào đã tới. Mụ chỉ nhớ khi có hạt ngô đo đỏ, hạt thóc vàng vàng, tàu lá xanh xanh thì xô đến khởi sự ăn.
Mụ chưa bị chết. Mụ chỉ phải xén cụt hai đầu cánh, để từ giờ cụt hứng bay. Nhưng án của mụ cũng đã được tuyên. Ông ngoại tôi nói :
- Còn con Ngan này thì đến hăm ba, cho nó về chầu ông Công.

0
Đực
 
Có một hôm nó trốn đâu từ lúc đương cơm chiều. Cả nhà đi tìm quanh quẩn khắp xóm mà cũng chẳng thấy. Không thường con quái lại chạy tít ra tận ngoài cánh đồng!
Nó tinh quá. Mới giơ có cái xích ống ra rung rung mà nó đã chạy phát nhọc lên. Có gì đâu! Người ta chỉ muốn làm cái việc trường cửu cho nó thôi.
Nó là chó. Nhưng ở nhà gọi tên là Đực. Trước kia, hồi nó còn nhỏ, thấy tôi đặt tên là con Bô-Tô. Phải cái trí nhớ của cu cậu kém quá, chỉ có việc nghe gọi: “Bô-Tô Bô-Tô” mà cứ quên khuấy, đang chạy cũng nhãng cả quay cả lại. Nếu lại hò cái tiếng thông thường: cún cún ều cún ều, thế thì nó sẽ ve vẩy cái đuôi, sán lại ngay đấy, song nghe thế mới tục tĩu làm sao! Có khi chỉ phải tặc tặc cái đầu lưỡi, nhổ một bãi nước bọt là chó ta cũng mon men đến.
Nên cả nhà tôi gọi nó là Đực. Nghe tiếng gọi “đực đực” cũng gần giống tiếng tặc tặc cái lưỡi. Thế là dung hòa cả đôi cách. Có đâu vài ba bận nó đã quen được tên.
Mẹ nó quê ở gần bên kia sông - chẳng ai có thể biết được bố nó là dòng dõi nơi đâu. Cái loài chó má vô luân làm gì có sự giao kèo vợ chồng! Một lần ông ngoại tôi sang Phú Gia chơi với cụ Nhiêu Vạng. Nhân nhà có một chị chó cái giống tốt đẻ được một đàn năm con, cụ Nhiêu bèn biếu ông tôi hai con lớn nhất: một đực, một cái. Ông cụ bỏ đôi chó bụ bậm, mỗi chú vào trong một cái rọ tre. Bữa ấy, tôi chọc hai đầu gậy vào cặp rọ mà quảy thung thăng đôi chó về bên nhà. Đi đường, chúng kêu nhăng nhẳng như kiểu chúng chửi bới tôi.
Về bên nhà tôi, hai con chó chỉ biết có một việc hục đầu ăn no kềnh, đi lục lặc cái bụng phềnh chắc nịch, trĩu cả sống lưng xuống, và đùa giỡn nhau suốt cả ngày.
Chúng chóng lớn quá. Nhất là con Đực ăn xong, nó lại lê cái mõm ướt át đi tìm chỗ phóng uế. U tôi lấy màu rơm đo vào đuôi nó rồi quẳng lên nóc nhà. Để làm phép cho cu cậu không có tính ể rấy.
Chó nhỏ vui chơi chẳng khác gì trẻ nhỏ. Hốc đấy, nô đấy, lại cũng ngủ ngay đấy. Con Đực thật hệt một đứa trẻ bướng bỉnh và anh hùng rơm. Nó hay bắt nạt con chó em. Nó vật cổ con kia ra, cắn một miếng chơi vào bụng rồi chuồn mất, để cho con bé cứ nằm chổng bốn vó lên mà kêu ăng ẵng. Nó lại cợt với cái chổi dựng ở đầu hè. Nó lấy chân khều khều, làm như cái chổi là một bạn tri kỷ của nó. Nó nhá chổi và nhá quai guốc của trẻ con bỏ quên ở ngoài sân, nghe cồn cột. Chán, nó lại chạy ra đàng sân sau dọa dẫm lũ Gà và Ngỗng làm cho bác Gà trống vừa phải nhảy hậu vừa nhớn nhác kêu quéc quéc rộn rã. Ông Ngỗng thì gan hơn. Ông thò vươn cái cổ, nói khàn khàn trong cuống họng. Ông xử cặp mỏ dài và rắn, bổ độp một chùy vào sọ con chó như một người mẹ độc ác lấy tay cốc xuống đỉnh đầu đứa bé. Con chó nhãi nhép vừa chạy vừa la om sòm.
Hễ có một khách lạ vào nhà, cả hai con chó cùng xổ ra sủa ồm ồm. Nhưng người ta đi tiến lên thì chúng lại lùi sâu vào. Sau hết, cả hai nỡm cùng lẩn vào gậm phản để giữ thế thủ với nhau và sủa hóng ra.
Thường giữa ban ngày chúng cũng ngủ lăn lóc. Chúng gối vào nhau mà say giấc. Con thì nằm úp mõm, duỗi thẳng bốn chân. Con thì nằm khoanh người lại, đầu vắt xuống đuôi. Nhiều khi chúng mê hoảng, đang nằm cũng nghiến răng kêu ư ử. Cũng có những bận chúng đái dăm nữa. Đương ngơi bình yên - dám hắn chợt mơ màng tưởng mình đứng tận ngoài đầu vườn - chúng đái tè tè ra ướt đầm thành một vũng nước. Thực là những đứa trẻ nằm mớ, những đứa trẻ con khoai củ ở nhà quê.
Nhưng chúng càng lớn lại càng nằm xa nhau; cho đến khi thật đứng đắn thì không còn ai thấy lần nào chúng nằm ngủ vắt lên nhau mà ngáy nữa.
Trong vòng mấy tháng trời - từ độ ngoài tết mùng mười cho đến cạn tháng Ba - đôi nhách chó tí tẹo đã trở nên hai con chó trẻ tuổi. Chúng vỡ da, vỡ thịt để nhớn. Cái giọng cắn the thé đã đổi sang giọng trầm trầm, nhát một. Cũng ở cái thời mười sáu, mười tám ta bắt đầu lang mặt và vỡ tiếng nói ồ ồ.
Bộ lông của hai anh em nó rất giống màu nhau. Đó là cái màu vàng lợt lợt, không ra sẫm hẳn mà cũng không hẳn trắng bệch. Chân cao. Đuôi chỏng lên trời. Khi bước đi, nó nghiêng ngả như cái cán cờ. Các người sành chó bảo giống này là giống chó thường, chẳng dữ mà cũng chẳng hiền. Cái thứ chó vừa tầm người, không cao, không to mà ở hầu khắp các vùng nhà quê người ta vẫn nuôi. Chả hiếm nên không quý. Chúng dốt bắt Chuột, nhưng cũng hiểu việc đánh hơi và cách hít. Một con mũi hung hung đỏ và một con mũi xám ngắt.
* * * * *
Những sớm tinh sương, anh Đực hay ra ngóng ở ngoài cổng tán. Đã biết cái khóe chơi của một gã trai tơ rồi đấy. Cậu đứng đợi người yêu.
Ở đâu, ở loài nào, khi cuộc đời đương độ, người ta cũng thở hít thấy rặt những không khí ái tình. Cái hương vị mơ hồ và bâng khuâng ấy đã làm cho con Đực đang trẻ con láu táu bỗng trở nên người lớn đứng đắn và có lễ độ. Dáng đi của nó ra điệu gọn dẻo, từ tốn, khoan thai. Và nó ít đùa nhả nữa.
Đôi mắt ốc nhồi của nó linh hoạt như có dầu trơn trong cặp con ngươi màu nâu đùng đục. Chả biết bộ mắt ấy có phải là lẳng không, thế mà vô lủng các chị em láng giềng cảm Đực ra phết.
Con Đực yêu hăng lắm. Nó có hàng tá nhân tình. Bởi nó bảnh bao, phì nộn và cũng bởi nó tài năng, khỏe mạnh. Nó là một ông tướng, một ông đại tướng. Nó phải hành động rất lắm việc.
Nó đi chim các Chó nhà người ta. Nó vơ vét mọi nơi. Nhưng nó vẫn không khỏi không có cái tính ích kỷ nhỏ nhen. Con em Cái nó cũng đương tuần cập kê. Nó lại kiêm cả việc ở nhà để trông coi riết. Nó không muốn em nó hư hỏng vì sự đua đả bạn bè. Còn không bao giờ nó nghĩ đến sự hư hỏng của mình và hỏng vô khối kẻ khác. Con bé cứ thập thò ra ngõ chực đi rong là nó lại cắn cho một chặp. Và hễ cậu nào có lượn lờ, lảng vảng qua cửa, nó cũng nhảy ra cắn luôn.
Lúc nào nó cũng lo nghĩ bận rộn. Đi ve vãn các chỗ lại còn rào giậu ở nhà. Bao nhiêu công việc! Phải biết rằng khi trẻ tuổi nó chẳng chịu làm ăn chi cả, chỉ có nghĩ đến sự ái tình. Mà thực cũng buồn, nếu những con chó trẻ trung không có những chuyện ma chuột ấy thì tuổi thanh niên của nó còn biết dùng làm chi nữa!
Cho nên nó chiến đấu một cách mạnh mẽ. Sau những trận chơi bời dữ dội, nó mệt nhọc về nằm ở cổng ngõ. Nhưng dù nằm nghỉ đấy, thoáng có bóng một chị cái nào lởn vởn, nó lại ve vẩy đuôi, thè cái lưỡi dài và đỏ, chạy theo. Chỉ một ít lâu, người nó tọp hẳn lại. Thân thể nó dài thượt và nghêu ngao. Cái bộ mã vàng lợt có chỗ mất cả một mảng lông, để lộ lần da xam xám.
Một buổi kia, cả nhà đã cơm nước xong, đến bữa cho chó. Thằng cu Lặc lấy bát chắt nước vo gạo, đồ đầy cơm vào lon rồi gọi ồn lên mà cũng chẳng thấy bóng con nào về ăn. Đi tìm: cậu Đực, trong bụi tre sau vườn. Còn cô Cái cũng mải đú đởn bên gốc cây rơm.
Thằng Lặc vác cái gậy to thô lố ra phết cho cậu Đực của nhà những roi đòn kịch liệt. Thế là tan. Còn cái đôi có con Cái, biết đấy, nhưng Lặc không “khủng bố” tới, Lặc nghĩ: “Cho nó đi lấy giống”. Hừm! Thằng Lặc ác độc quá lắm. Cái phương pháp nó đem khu trị giống chó quả là không cân và ức hiếp trái hẳn với sự xét nhận loài người, nó dung túng cho phái khuyển yếu mà đi trừng trị bọn đàn ông. Chẳng ai người ta thừa cơm mà nuôi một con chó điếm đàng. Ông ngoại tôi bảo rằng :
- Con Đực tốt nết lắm. Tao muốn để nuôi nó. Nhưng phải cũi nó lại, không được cho nó đi lang thang như thế mà nó rạc đi.
Con Đực bị nhốt cũi. Nhưng làm sao đổi được tính nết nó! Chẳng nhẽ nhốt được mãi. Mà cứ thả ra là lập tức nó chạy biến. Và bị kìm hãm như thế mỗi lần sổ lồng nó lại la cà hơn bao giờ hết.
Thấy vậy, ông cụ bèn bảo thằng Lặc :
- Mày sửa sẵn lấy cái xích ống. Tao phải thiến nó mới được. Đến tuổi rồi. Chưa kịp thiến, cứ nhông nhổng lên thôi.
Lặc đem dao ra vườn chặt một đốt tre. Nó đánh chòng lọng một đoạn thừng đay rồi xâu vào cái đốt tre ấy. Con chó sổng đi từ hôm qua. Lặc rình. Nó ở một rặng cây ô rô. Lặc giả cách đi lừ đừ tới, giấu cái xích ống đằng sau lưng. Thấy người nhà, Đực ve vẩy đuôi, cúi mõm xuống. Nhưng chừng như nó đoán hẳn nó có tội gì. Nếu không, ai bỗng dưng lại đi đến gần nó làm chi? Quả thế, kia kìa cái đầu gậy thò lò ở sau lưng thằng người. Tới gần Lặc giơ cái xích ống lên. Thế là Đực xoải chân ra chạy thẳng. Bữa cơm chiều cũng không dám tưởng đến về ăn.
Người ta định bắt thiến con chó. Thiến nó thì còn gì là đời thanh xuân của nó? Nhưng bản tâm người ta chỉ định cái việc lâu dài, cái việc trường cữu cho nó. Bởi có thiến thì con chó mới bó buộc phải sống lâu năm được. Ở đời, người ta chỉ chuộng có giống khỏe khoắn thôi chứ.
* * * * *
Đã muốn thì rồi cũng được vậy. Một buổi, thằng Lặc lừa bắt nổi con Đực. Tay nó vẫn lăm lăm cái xích ống. Đực hoảng hốt.
Nhanh như cắt. Lặc quàng vội chiếc vòng thừng vào đầu Đực rồi đẩy cái ống tre xuống cho rút lại. Nó kéo con chó đi. Kéo một lại được cả hai! Con chó rít lên và kêu gầu gầu ỏm tỏi... Thằng cha vô lương tâm, thấy thế, lại cười ằng ặc.
Nó bị nhét đầu vào gậm cái bậc cửa dưới nhà ngang. Lặc lấy chiếc ghế nhỏ chặn lên cổ con chó và giữ chặt lấy. Ông tôi kéo dài hai cẳng sau, lật ngửa tênh hếnh bụng nó lên. Con chó cố cựa nhưng không quạy được một mảy, cố kêu nhưng chỉ ấm ứ ở trong họng. Ông cụ cầm sẵn con dao nhỏ, xẻo rất nhanh... Lặc nhét vài hột muối và quết một ít dầu ta vào chỗ vết cắt. Thế để cho đến lúc se máu, vết thương không bị cứng dấu và đóng vẩy được ngay. Máu tuôn đỏ lòm. Đực kêu thất thanh. Ôi chao! Buốt biết mấy!
Cái công việc đó ông tôi làm nhanh lắm. Dễ chừng chỉ một vài giây đồng hồ đã xong hẳn và buông được con chó ra. Thật là một hành động chóng vánh, chỉ trong có một ly đã biến đổi cả một đời.
Con chó được buông lỏng, hống lên, hục hặc chạy đi. Nó đến nằm rấp ở một xó bụi ô rô mà rên hừ hừ. Chẳng biết nó tiếc xuân, tiếc đời hay là tại đau quá? Bữa ấy cậu cả bỏ cơm.
Nhưng đa dẻ loài chó rất chóng liền vết. Nên được độ một phiên chợ nó khỏi hẳn và đã đi lại nheo nhẻo.
Có lẽ bởi thế, con Đực mới nghĩ ức trong lòng. Mấy hôm Đực buồn thỉu, buồn thiu, đi lừ khừ, quên cả ăn cả uống. Chắc hẳn cu cậu ứa nước mắt ra mà sầu cái sự đời éo le.
Cái xó vườn cỏ dại đằng sau nhà không còn oanh yến dập dìu như xưa nữa.
Có một hôm, Lặc đang đứng cầm cái sào nứa dài để dồn vịt vào chuồng. Con Đực đi qua đó, trong thấy thằng cha đã hại mất nửa đời mình, liền chồm lên, cắn môt miếng vào bắp chân dưới Lặc. Thằng Lặc bị miếng đòn thù bất ngờ, không kịp kêu, vội vàng lấy sào đập con chó, vết cắn ấy sâu lắm, in rõ hằn hai cái răng nanh dài ngoắc, ấn lõm vào trong thịt, máu tuôn ra đầm đìa.
Lặc lấy mồi thuốc lào và cạo một ít rêu cau rịt ngay lại cho cầm máu rồi vác gậy đi tầm con chó hỗn láo. Ai cũng biết mà đoán ngay rằng con chó tinh ma ấy trả thù kẻ đã thiến nó. Nhưng cũng biết trông mặt mà rửa hờn nên nó chỉ dám đả có thằng Lặc.
Lặc lùng được con chó. Lặc xích cẩn thận lại rồi đánh Đực một trận nhừ tử. Những cái gậy to bằng đầu cái chầy đâm riềng nện vun vút xuống lưng, xuống sườn, xuống mông, xuống đầu chàng Đực. Kêu chán rồi chàng chỉ đành nằm mọp. Cái giống chó chịu đòn giỏi hơn cả người.
Về sau, biết thân kém hèn, nên không một lần nào Đực dám nghĩ đến sự thù hằn nữa. Nó yên phận thủ thường. Và đối với kẻ thâm độc, than ôi! - Hỏi cái sự ngôn ngữ bất đồng - ý như nó chỉ dành ở riêng với trời cao.
* * * * *
Từ đấy, bắt đầu những ngày tháng buồn tênh.
Thôi còn gì nữa! Hết cả rồi! Dù chẳng là tù nhưng thân con Đực có khác chi thân một tội nhân phải vĩnh viễn giam cầm bên trong cái cánh cửa sổ, kiếp kiếp đóng chặt lại, không thể có khóa nào mở được. Mà ngoài kia thì này là trời xanh, này là nước bạc, này bướm, này chim, vạn vật sinh linh như rạo rực lên trong một nguồn sống mãnh liệt.
Loài người mình, khi thất vọng một điều gì, thường hay cáu kỉnh và đâm ra liều lĩnh. Hoặc yếu linh hồn một chút, liền trở nên rầu rĩ, chán nản. Nhưng hẳn cái kho trí khôn mờ tối của con chó không có, không biết đến những sự phiền phức ấy. Nó chỉ biết có một điều cáu kỉnh. Nó cáu kỉnh đợp thẳng Lặc một miếng. Người ta đã trả lời cuộc báo thù của nó bằng một trận đòn dữ dội quá thì nó chừa hận thù rồi. Nó chỉ còn bực mình suông thôi. Nó bực mình với phía khác, với em nó, với đồng bào nhà nó. Bởi vì thế là nó hết cả rồi! Đời có còn chi?
Trước tiên là cáu với con em. Mấy hôm ốm vì bị thiến phải nằm lử một xó. Đực nhận ra rằng: cái con em đốn mạt đã chẳng thương xót gì anh thì chớ mà nó lại còn kéo đàn, kéo lũ ở ngoài đường ngõ với bọn bạn hữu giăng hoa. Cho nên đến khi khỏi, suốt buổi Đực chỉ chuyên có việc cắn vặt em. Gặp chỗ nào cũng gừ. Luôn luôn nó hếch môi lên, nheo mắt lại và chìa cả hai hàm răng trắng tểnh như ngà có đôi nanh nhọn hoắt mà gầm ghè, làm bộ như sắp giết em đến nơi. Chị ả sợ hãi, cúp đuôi lẩn ra chỗ khác. Nhưng kể con Đực cũng quá quắt lắm. Nó bực em nó cả ngày. Cái trò bị đánh mãi thì coi thường đòn, con Cái không biết sợ nữa. Nó cũng gâu trả lại, mỗi khi thằng anh bất lương đả nó.
Sau con Đực chắc cũng biết hục hặc như thế là vô lý. Nó thôi. Bởi nếu mà cáu thì cứ còn cáu cả đời. Ở cái tuổi trẻ măng măng của con bé, nó đè nén làm sao được sóng tình dào dạt. Đực lại bỏ đi gây sự đánh nhau rắc rối với người ngoài. Nó sinh ra rất ghét tất cả những cuộc tụ bạ ở các ngã ba, ngã tư đường. Nó tưởng như lũ chó chưa thiến chỉ đứng đấy để chế diễu nó. Cho nên, nếu người ta còn trông thấy nó ra đó, là nó ra là choảng nhau. Nó cắn tuốt, không trừ một con nào. Thảng hoặc đôi khi, ngó thấy một con chó mơn mởn quá, động tình, nó cũng hít hít... nhảy nhảy. Nhưng cái thời xuân xưa đã đi đâu mất rồi!
Nó mới ngán ngẩm ra. Nó mới tợp cho chị ả một miếng nặng. Thế là cả họ, cả tụi nhà con chó Cái mỹ miều nọ kéo đến gầm gừ, khởi một cuộc xung đột tan hoang.
Nhưng rồi anh cắn nhau mãi cũng buồn. Đời đã sẵn buồn, như thế lại càng buồn, chán hơn.
Con Đực thôi không hay táo tợn nữa. Nó tìm kết bạn với một vài anh chó già hoặc cũng đã hết xuân như nó. Thiến lại chơi với thiến; đồng bệnh, người ta sẽ hiểu nhau hơn.
Quả nhiên thế thật. Những bác chó chán đời này thân mật với nhau lắm. Nhưng sớm mùa hạ, trời mới hồng ửng chứ chưa có nắng, cả bọn quần nhau, đùa nghịch thung thăng ở ngoài cánh đồng lúa xanh.
Đực không chơi bời - hay là muốn cũng không chơi bời được nữa - thì người hắn béo ra. Những chòm lông mọc dài, óng ả và mỡ màng. Dáng đi của nó đàng hoàng và bệ vệ; những gióng chân bước đều đặn, đôi con mắt lừ đừ như trong đầu nó đang nghĩ ngợi xa xôi hay triết lý một điều gì. Thân nó chắc nịch, và chỉ trong có đôi, ba năm trời nó đã to bằng một con lợn hạng nhỡ.
Cái tính hung hăng thuở trẻ của nó mất hẳn. Nó lừ đừ và hiền hậu trở lại. Nếu có khách vào nhà, nó cũng chỉ cắn oang oang mấy tiếng làm hiệu chứ không xổ đến tận chân người ta như trước nữa. Nó thường nằm ở gầm phản hè, lối trông ra ngõ. Ngày nó nằm, đêm nó đi mò suốt canh. Nó tuần phòng. Con chó khôn quá! Khi người ta kéo nó ra khỏi con đường tình ái thì nó mới trông thấy con đường nghĩa vụ. Bởi vì giống chó sinh ra đời chẳng là để làm cái chức việc giữ nhà hay sao?
Bây giờ con chó Cái đã chửa. Nó vác cái bụng đi khạng nạng như thế trông xấu đi nhiều, mất cả cái vẽ tự nhiên. Được ít lâu nó đẻ ra lóc nhóc bốn năm mủn chó con. Cái đàn chó nhỏ ấy cứ rúc đầu vào bú tồm tộp cả ngày. Những chiếc vú xinh xẻo của mợ Cái dài ra, to và mẫm như những chiếc củ cải nõn. Mỗi bước đi, một chùm tám chiếc vú lại đánh lúc lắc sang hai bên, làm thỗn thễn cái bụng. Ra vẻ nạ dòng quá.
Con Cái cứ đẻ năm một xòn xòn. Mỗi lần nó ở cữ, các nhà bà con láng giềng có tình tới chơi, thấy những con chó xinh xinh lại xin một nhỏ.

Năm tháng lần trôi, con chó Cái gầy rạc và xấu xí mãi đi. Mà anh Đực vẫn như nguyên. Có phần anh lại càng béo đẫy thêm. Thằng em con nhà dì tôi, mỗi khi nghịch tinh, thường túm cổ con chó, cưỡi lên lưng nó như người ta cưỡi lưng ngựa. Chân thằng bé vừa xệt đất. Con Đực có thể mang trên lưng thằng bé lên tám tuổi ấy mà đi chậm chạp từng bước một, từ đầu sân nọ tới đầu sân kia.
Bọn trẻ thích Đực lắm. Chúng nô đùa với nó cả ngày. Chúng buộc dây và đeo chuông vào cổ con Đực mà giả cách tưởng nó làm ngựa, cho nó chạy nhong nhong. Mỗi bận, những đứa bé sờ tay vào đầu, vào tai Đực, Đực lại sung sướng lim dim đôi mắt lại và ngoe ngoải cái đuôi. Nó hiền như bụt đất.
Và nó ăn ở có giờ giấc hẳn hoi. Ngay đôi bữa ăn rồi lại nằm ươn bụng mà thở phập phồng. Ban đêm, nó mò mẫm. Nó dạo trên đường sân; mỗi một bước, những cái móng nhỏ, sắc và khoắm đập xuống mặt gạch, nổi lên những tiếng lách tách như âm thanh ở một thứ nhạc kim. Chốc chốc nghe hơi đâu có tiếng động, nó cắn vọng gâu gâu.
Đã đến ngoài mười mùa đông rét mướt đi qua. Thấm thoát mới ngày nào, giờ đã mười mấy năm trời.
Con Đực sống dưới mái gia đình tôi đã hơn mười năm, từ cái ngày tôi còn có ở trên đầu một núm hoa rơi dài lê thê xuống tận sống lưng và mặt một bộ quần áo nâu da bò có hai tay áo bóng nhẫy những quết mũi.
Đã nhiều đổi thay. Ông ngoại tôi khuất núi từ một sớm mùa đông năm Canh Thìn. Cái người đem nó ở bên kia sông sang đây đã bỏ các cháu mà ra đi mãi mãi rồi. Bà ngoại tôi, thành lưng cao ngày một gục còng xuống, không cất nhắc được mấy nỗi công việc nữa.
Mấy đứa em con nhà dì tôi, thằng bé nhất cũng đã biết cắp sách đi học trường làng.
Còn Lặc, cái kẻ thù số một của con Đực già cũng đã lớn ngót ba mươi tuổi. Hắn không ở cho nhà tôi nữa. Sống mãi ở một nơi cũng chán. Nhưng có lẽ nó chán hơn cả là ở đâu cũng thấy cái xiềng nghèo kiết đóng đai vòng quanh cổ. Năm vừa đây theo với chúng bạn, Lặc nhập vào bọn phu mộ sang vỡ rừng, ở một miền cao su đất đỏ tận trong xứ Nam xa xôi.
Riêng phần con Đực, con Đực chỉ lạnh lùng trước cuộc đời và lạnh lùng với tháng ngày. Thỉnh thoảng nó phải nỗi lòng vào vài tiếng cắn hoáng lên trời.
Các bạn nó cũng tan tác hết. Con em chết đã lâu. Đẻ nhiều quá, thân thể gầy nhòm, bữa kia người ta liền cho nó một cái chầy vào đầu để làm một nồi rựa mận. Con Chó Nhôm bên hàng xóm, một tết Nguyên Đán, sợ pháo mà chạy mất tích, không thấy trở về. Con Vàng có tính hay cắn trộm, ghẻ lở đầy người cũng qua đời đã bốn năm nay. Những anh đồng niên với Đực mà không thiến thì chết từ lâu lắm, dễ có đến ngót mười năm. Nếu chẳng thiến thì thọ làm sao được! Một hai mùa chơi bời, gầy mõ xương ra, ai còn buồn phí cơm nuôi một con chó trụy lạc, còm xác xơ đến tận răng!
Câu chuyên của nó đã ra chuyện ngày xưa. Thời gian làm ly tán cả. Trở đi, trở về, kẻ chết, kẻ giang hồ mất, kẻ bị bán đi nơi khác. Lại còn có những kẻ xấu số mắc vào những bẫy cò ke của tụi ăn trộm giăng ở bờ giậu để đến nỗi chúng bắt được, đem bán cho các tửu quán. Họ đem làm thịt, lôi lòng gan ra và móc vào chiếc móc sắt, treo cong cái lưng chó vàng ngẫy ở cửa các hàng cơm ở những dọc đường.
Mòn mỏi trong đám chó hậu sinh bây giờ, một mình con Đực lặng lẽ sống cái cuộc đời tàn cục buồn thiu.
Đực nằm ở đầu ngõ vào, trên vành ổ rơm cuộn tròn, lõm trong một mảnh nắng mỏng của mùa đông hanh ráo. Cái đuôi nó cuốn lại, ba chân thò vào, còn một chân để tỳ dưới chiếc mõm khép kín cho hếch lên cái sống mũi xám xám. Những chòm lông trắng đẹp ngày xưa bây giờ quăn lại và kết thành từng đóm bù xù.
Qua thời kỳ trai trẻ chơi bời, đến lúc tỉnh ngộ với cái thân hình tráng kiện rồi lần lần bước sang tuổi già, con Đực cũng héo hắt dần.
Đực không còn thính tai nhanh chân như thuở trẻ. Ăn cũng nhấm nháp in ít. Cả ngày chỉ nằm tròn. Được mấy hôm nay hửng trời, không có mưa bụi phấn bay lăn phăn, con Đực tìm ra nằm sưởi nắng ở đầu tường.
Nó lão lắm, chả còn kham nổi việc coi nhà đêm hôm. Mà nhà có vườn rộng, không được con chó khôn ngoan, lanh lẹ, trong những đêm dài, người ta cũng chẳng dám tròn giấc.
Hôm qua, tôi đi mua ở trên chợ Bưởi về một con chó, lông vàng sẫm như lông bò. Anh này mới ra đời được gần một tuổi, khỏe và béo lẳn. Chắc nhanh trai lắm.
Nhưng phiền một nỗi, chàng ta lại chưa bị thiến.

0
Cu Lặc
 
Thành tên là cu Lặc, chính bởi cái bụng của hắn.
Thực ở trên đời này, có thể nói rằng không có cái gì vĩ đại hơn cái bụng phì nhiêu của thằng cu Lặc vậy. Nó trương phình ra; nó nhẵn thín; nó tròn múp míp; nó choáng lấp cả ngực thằng Lặc và khum khum vồng từ cổ xuống tận háng. Trên đường cong ấy, xẽ một chút về phía dưới, nổi lên như cục thịt. Nom như cái nút ở lưng vò rượu. Đó cũng gọi cái nút, nhưng là cái nút rốn; nó mọc thây lẩy ra, đứng trơ trẽn và lơ láo giữa sa mạc bụng. Nếu mới nhác thấy, người khéo tưởng tượng, có thể ví như một gã ma lanh nào tinh nghịch, lại đi thò đầu ngón tay... từ trong bụng thằng bé ra.
Cu Lặc đeo cái bụng tầy đình, phưỡn phệ, đi lặc lè... lặc lè...
Bao nhiêu người ngắm nghía nó đi, và đều cười mũm mĩm, phê bình nhỏ với nhau. Những lời phê bình của cái quần chúng táp nham đó đúc lại, tạo nên một câu chắc chắn như thế này :
- Chà! Ta gọi nó là thằng cu Lặc Lè!
Rồi người ta gọi bớt đi một chữ đằng sau. Thế là thành tên.
Hắn không có quê quán gì. Một người đàn bà ở phương mô tê nào chẳng ai biết, đến Nghĩa Đô làm nghề quay tơ mướn, rồi chẳng may ốm mà chết, bỏ lại cho thiên hạ một đứa con. Thằng bé được người ta nuôi làm phúc, nó vào ở gia đình nhà tôi từ một ngày xưa lắm, tôi cũng không được rõ gốc tích nguyên do ra sao. Ngày còn bé cỏn con, thoạt mới biết nhìn và biết nhận thì tôi đã nhìn và nhận thấy cái bụng cùng cái rốn gớm ghê của cu Lặc. Và hắn đã lớn hơn tôi nhiều.
* * * * *
Người trong làng tả cu Lặc bằng mấy nét thực đơn sơ:
Bụng nó to hơn bụng ông phỗng. Rốn nó vừa bằng cái bát mộc. Nó ăn như đánh trống.
Quả thật là cu Lặc ăn khỏe vừa ngoai ngạch mà vừa vô địch. Hình như chẳng bao giờ hắn no miệng. Ăn lắm vào, cái bụng tích trữ bị phềnh ra quá đỗi, thì phải thôi đấy, chứ cu Lặc chẳng hề biết thế nào là no đâu. Lúc ngồi ăn, hai chân hắn soạc ra, để chỗ cái bụng được tự do thở và chứa. Rồi thì hắn múa đũa lên để và để húp soàn soạt. Cơm quyện với nước canh cứ trôi xuống cuống họng òng ọc như nước chảy xuống lỗ cống. Hắn ăn lấy ăn để, ăn ăn thở thở, như ăn cướp.
Nhưng thực tính hắn lại mụ mị, hiền hiền. Mà dường như lại đá lẩm cẫm. Bởi vì, có một ngày tết, đương ngồi đông đủ cả nhà, u tôi xẻ vào bát cho một ít canh miến gọi là ai cũng có chút của thơm ngày tết. Hắn húp sụp một cái, rồi há hoác mồm ra, tru lên :
- Úi chà! Tơn tơn quá. Chưa luốt đã tụt vào củ tỉ!
Từ ấy, ngày tết mà ai xe món canh miến cho cu Lặc, cu Lặc cũng lắc đầu. Hắn sợ những sợi miến trơn và lạnh, chưa kịp nuốt, đã dám trôi tuột xuống tận cuống họng!
Trẻ con trong nhà thân với cu Lặc lắm. Bởi vì cu Lặc vừa là con bò, cu Lặc lại là con voi. Hắn cúi khom khom, đứa nào cũng có thể tự do trèo lên lưng và bíu lấy hai tai hắn. Cu Lặc lại vui tính, và có nhiều trò chơi kỳ lạ.
Tôi hãy kể đại khái một trò: hắn nằm thẳng xuống đất thì cái bụng của hắn vồng cao hơn mặt. Hắn bảo một kẻ cưỡi lên. Hắn liền trợn mắt mím môi, thót lúm bụng xuống rồi thở phè ra một hơi dài. Thằng bé ở trên bụng cứ theo nhịp thở mà nhảy lên nhấp nhổm, nhấp nhô.
Ăn cơm no rồi, cu Lặc phanh áo, để lòi bụng. Hai tay hắn vỗ vào bụng, mồm hắn làm điệu trống cơm bung bung bập bùng, bung bung bập bùng. Ấy là cái hiệu cho lũ trẻ gọi nhau :
- Anh em ơi! Lại xem cu Lặc hát.
Cu Lặc sắp hát thực. Mặt hắn méo nhăn như cái bị nát. Nhưng lại hát một câu rất là hữu tình. Trăm lần cũng như một, hắn chỉ hát độc có mỗi một câu ấy, đến nỗi lũ trẻ chúng tôi cũng sắp thuộc và bắt chước được điệu gần bằng. Hắn hát rằng:
Đào niễu, em ơi! Buông mành,
Con oanh học lói trên cành mai mỉa mai.
Em nghĩ mình em cái cúc bạc nưu tai,
Cúc bạc tình chung thời có, cái trâm cài vốn không.
Một duyên, hai lợ, ba tình;
Ấy cái tang tình, ngày hai tình mười một,
Cái tình mong xong hỡi tình!
À nên một, nên hai, nên ba, nên bốn.
Nàm con mẹ cha nên chín, nên mười,
Soi gương tình chung nà đánh phấn,
Tang tích tịch! Tang tình tang!
Cho ló đẹp, em sắp ra nấy chồng.
Ò ý e... ò e ý ò...

Trẻ con thích nhất đoạn này. Chúng reo lên để tán thưởng. Và cu Lặc cũng góp một hồi cười hề hề.
* * * * *
Cu Lặc là người như trẻ con... Bởi vì, ngoài những thì giờ phải lảm, hắn chỉ đùa với trẻ con. Nhưng giá hai đứa trẻ trong nhà có công kênh nhau lên, chắc cũng chỉ mới mó đến mũi cu Lặc. Trẻ con yêu nhất cái bụng trống của hắn. Rồi yêu đến câu hát ò ý e kia.
Nhưng bỗng một hôm, không nhớ có việc gì, một đứa trẻ gọi :
- Cu Lặc! Cu Lặc!
Hắn trừng mắt.
- Lầy tôi bảo. Từ giờ cấm không được gọi tôi cu Nặc.
Hắn nói câu ấy với một giọng khá nghiêm nghị. Mặt hắn sầm lại, làm ra lối đứng đắn. Hắn tiếp :
- Phải gọi tôi ... anh Nặc nghe không?
Lũ trẻ chẳng nói gì. Và cũng không dám cười. Song thốt nhiên thấy hắn trở nên đứng đắn thế, chúng nhìn cu Lặc bằng những đôi mắt là lạ, ngẩn ngơ.
Một ngày kia, lại có một sự lạ hơn thế nữa.
Ấy là một buổi chiều, tôi nghe u tôi nói chuyện với thầy tôi rằng :
- Thằng cu Lặc lấy vợ rồi đấy.
Thầy tôi sửng sốt :
- Thế hử?
- Nó lại xin ra ở riêng...
Từ hôm sau ấy, mỗi chiều chiều, lũ trẻ thấy Lặc xách guốc xuống ao, rửa chân xong, lạch cạch đi lên, chào cả nhà rồi bước ra ngõ. Lặc đi về nhà của Lặc. Hắn ở với vợ của hắn. Việc đó là một việc hết sức mới mẻ và lạ lùng, khiến chúng tôi phải bàn tán với nhau dữ lắm, trong nhiều buổi sáng và buổi chiều.
Và từ khi nghe nói Lặc có vợ thì bọn trẻ trong nhà thường hó háy nhìn trộm Lặc. Lặc truồng long ngong ra để lội xuống ao vớt bèo hộ cô ả.
Thế mà đã có một ngày tốt lành, hai con người đó lấy nhau, về với nhau. Họ mướn của làng một mảnh đất ở ngoài đầu xóm, làm nên một túp nhà nhỏ. Chỗ ấy chỉ có cỏ dại tự do mọc hoang. Nhưng Lặc ta cũng chịu khó dọn được ở trước cửa một khu cỏ để làm sân và hắn lại rào giậu bằng nứa đan chéo, như kiểu của những nếp nhà ngăn nắp. Trong sân, hắn trồng mười cây đu đủ. Cái thứ cây xốc nổi, chóng được ăn quả nhất.
Bây giờ Lặc không ăn cơm ở nhà tôi nữa. Cuối tháng hắn xin hai đồng rưỡi tiền công. Hắn mang tiền về đong gạo ăn chung với vợ. Vợ chồng ăn cùng một mâm. Cu Lặc, lần thứ nhất đã gặp một địch thủ thật là lợi hại. Cô ả cũng ăn khỏe không kém gì chàng. Cái nghĩa là cho đến khi vét cồn cột cũng chẳng còn sót lấy một hạt cơm thì phải đứng dậy dô. Mỗi lần xong bữa cô vợ khệ nệ đứng dậy, vươn vai. Nếu cái bụng của nàng phưỡn ra to phềnh thì cái bụng của chàng cũng thế, không kém. Có phần lại hơn nữa. Cặp vợ chồng mới liền nhìn nhau mà cười. Chàng cù nàng một cái. Ôi! hạnh phúc thay!
Nhưng ở đời, hạnh phúc vốn là một sự chẳng bao giờ có; người ta chỉ đặt ra hai chữ ấy để nói cho hoa mỹ mà thôi. Cho nên họ ở với nhau được hơn một tháng thì cả hai người cùng khám phá ra được một điều sâu lắm: là họ cùng ăn khỏe đến bậc nhất nhì trong thiên hạ cả.
Tuy sức chứa của bụng Lặc vào hạng nặng tấn, nhưng chưa khi nào Lặc biết rõ mình ăn nhiều đến độ nào. Bởi hắn chưa hề phải đong gạo. Làm cho nhà người, hắn chỉ có việc ngày đánh ba bữa no kềnh. Bây giờ tiền túi bỏ ra thì hắn thấy rằng một tháng công của cả hai người, cộng lại, không đủ cung cho miệng hai người ăn đủ. Thực là một nỗi buồn rầu. Nếu họ cùng không ăn khỏe, thì họ yêu nhau biết bao nhiêu!
Bởi cũng ăn khỏe nên họ không thể yêu nhau. Một hôm, người vợ hơi cáu một mảy vì phải ăn đói. Người chồng không nói gì, nhưng mà cũng không cười. Một hôm nữa, người vợ vét gạo để đi thổi cơm, thấy ít quá, văng ra một câu không được hay. Anh chồng nghe tiếng, cũng văng ra một câu không được hay. Thế là họ xông vào đấm đá, cào cấu nhau liền. Hăng quá. Con mụ vừa cào vừa kêu làng. Nhưng chẳng một ai đến can. Ở đây không có tứ bề hàng xóm. Họ đánh nhau chân tay, rồi thôi. Người đàn bà ngồi ôm mặt khóc bu bu. Người đàn ông bỏ đi. Nhưng đến chiều họ lại ăn cơm với nhau như thường. Và họ lại cùng cười hề hề.
Song không thể còn yêu được nữa. Cái thói đánh nhau như đã thành tính và thành lệ. Không mấy ngày là họ không réo năm đời mười đời nhau, cho ông bà ông vãi của nhau ăn toàn những của ngon vật hiếm và, để kết liễu cuộc đấu khẩu, họ thụi nhau từng trận cật lực. Sức vóc cùng tương đương cả, nên không ai hề gì.

Một buổi chiều nọ, vợ Lặc ở nhà chủ về nhà. Buổi sáng, hai vợ chồng đã đánh nhau to lắm. Mụ về nhà gói ghém quần áo, đội nón và bỏ cả đôi guốc mộc vào bọc cẩn thận. Rồi mụ đánh lên một que diêm. Que diêm xòe lên thì mụ tiếp vào một bó đóm. Cái mặt rỗ của mụ quặm lại, nom đến ghê, Mụ châm liền bó đóm ấy vào mái bếp, về phía trong. Lửa đỏ bùng bén và cháy lên.
Mụ cắp nón, đi mất.
Lúc ngọn lửa bốc cao gần bằng ngọn tre mới có người biết. Người ta chạy dồn cả đến. Nhưng khi trông thấy lửa đang hoành hành ở một cái nhà chơ vơ giữa bãi hoang thì không ai xô vào chữa. Người ta lại nhăn răng ra cười.
Mãi sau cu Lặc mới hay tin. Hắn hộc tốc chạy về. Thì nhà của hắn chỉ còn là một đống than hãy còn hồng rực và còn ba cây đu đủ cháy đỏ hắt, chong chỏng giữa sân. Hắn đứng chắp hai tay ra sau lưng, tần ngần nhìn đám khói đen.
Rồi Lặc huỳnh huỵch chạy đến nhà bà hương Khoai tìm vợ. (Tội nghiệp, hắn chẳng biết gì hết!) Người ta bảo vợ hắn về từ lâu. Hắn liền cầm một cái gậy tre lớn, đi lùng vợ khắp xóm trong làng Nghĩa Đô. Nhưng không thấy con mụ đâu cả. Đến tận sáng hôm sau cũng vẫn bặt âm tín con người nội trợ không được tốt ấy.
* * * * *
Bây giờ Lặc lại trở về cuộc đời xưa.
Lặc làm rồi Lặc ăn cơm và lại đi ngủ ở nhà tôi. Còn có nghĩa nữa là Lặc ta lại về đánh bạn với lũ trẻ. Mọi khi, ở với vợ, hắn chỉ lầm lỳ cuốc vườn cả ngày, đợi đến lúc mặt trời tà tà, hắn cung cúc về nhà ngay, quên cả các bạn tí nhau. Lũ trẻ cũng lảng đi chơi với nhau, lờ cái anh cu có vợ ấy đi.
Giờ lại chơi với nhau như thường rồi. Và hắn lại dễ dàng như trước. Anh nào muốn gọi hắn là Lặc, là cu Lặc cũng được, không hề giận dỗi chi. Ai hỏi gì về vợ hắn, hắn chỉ mỉm cười vu vơ rồi lúc lắc cái đầu. Nếu có vui chuyện lắm, Lặc mới nói :
- gớm nám. vừa đánh, vừa bóp. Tôi phải thua đấy.

Một hôm, lũ trẻ nghe có tiếng bập bùng bung ở trong vườn. Chúng vội chạy vào thì thấy Lặc ta đương giơ hai tay vỗ bụng và gân cổ lên hát cái bài “ò ý e” quen thuộc ngày trước. Đã lâu mới lại được nghe hắn hát, vui lạ. Hát xong, hắn nheo mắt, cười. Và hắn lại làm cái trò phập phồng bụng.
Cu Lặc lại còn có thêm nhiều trò mới nữa. Hắn có một câu đố rằng :
- Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên ta thời có, bên Tàu thời không. Đố cái gì?
- Không biết.
- Chịu.
Có thằng hóm hỉnh.
- Là cái bụng anh Lặc.
Cả bọn cũng cười. Nhưng Lặc nói :
- Không phải. Ló nà cái váy.

Hắn giảng tỉ mỉ nhưng tại làm sao mà lại là cái váy. Chúng tôi nghe, lấy làm phục lắm. Hẳn hắn mới học mót được của vợ. Tôi hỏi. Hắn nhìn tôi, mặt bỗng xịu lại. Tôi gặng :
- Có phải anh Lặc học của vợ anh không?
Buồn buồn, hắn nói :
- Không phải. Tôi nại hát câu thế lày cho cậu nghe nhé. Mà hát trống quân cẩn thận cơ!
- Anh Lặc hát đi...
Lặc phồng bụng, xòe hai bàn tay ra vỗ:
Thình thùng thình... yêu nhau thời lém bỏ giầu, ghét nhau thời chứ lém đá vỡ đầu nhau ra... Thính thùng thình...
Tiếng reo hoan hò vang động cả khu vườn.
Mấy anh chích chòe đương vểnh đuổi, cong cánh lên hót véo von, chẳng biết cà kê ra sao, vỗ cánh bay mất.
Cái câu hát lạ này, ý hẳn Lặc cũng mới học được của vợ. Đàn bà tài thực!
* * * * *
Một năm, đói kém quá. Hàng lụa ế đến nỗi ai đặt chân vào làng Nghĩa Đô đều thấy vắng tanh không nghe tiếng một con thoi chạy. Nhà tôi cũng phải nghỉ dệt lụa.
Lặc không còn việc gì để làm. Ngày kia hắn bỏ đi đâu mất. Không có ai biết. Được ít lâu, có kẻ nói là nghe phong thanh thấy người ta đồn cu Lặc đã nhập với bọn phu mộ đi sang Tân-Thế-Giới làm ăn.
Ba năm sau. Vào khoảng tháng Hai, gia đình tôi nhận được một lá thư xa. Ngoài bì thư có đóng dấu ở Thủ Dầu Một, Nam Kỳ. Thư như sau này:
Dầu Tiếng le 8 tháng Giêng.
Tên con là Lặc. Hôm nay là tháng Giêng năm mới, con có lời về mừng hai cụ, ông bà cùng là các cậu, năm mới đều được phát tài bằng năm mười năm ngoái. Con ở bên này lấy đều làm mừng lắm lắm. Từ ngày con ra đi làm ăn xa xôi, nhờ ơn thiên địa trời đất cũng vẫn được như thường.
Thư bất tận ngôn

Bấy nhiêu chữ viết bằng mực tím nhòe nhoẹt bò cao thấp, lổm ngổm vừa kín cả một mặt mảnh giấy con, dính đen xạm những chất nhờn của mồ hôi tay. Không thấy đề rõ chỗ ở. Dáng hẳn Lặc ta nhờ mãi, nói khó mãi mới có được một ông bạn tốt bụng viết cho ngần ấy chữ quý hóa.
 
Nghĩa Đô năm 1941

 
HẾT
0
Truyện đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn vui
 
📎 Thank-you1




0