Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Mười hai chiếc ghế - I.Ilf & E.Petrov (đủ 2 tập) 🔒

40 trả lời, 1.204 lượt xem — Trang 2 / 2
 
PHẦN THỨ BA
KHO BÁU CỦA MAĐAM PETUKHOVA
 
CHƯƠNG XXXI
ĐÊM HUYỀN DIỆU TRÊN SÔNG VOLGA
 
Vua mánh cùng với ông bạn kiêm trợ thủ gần gũi nhất của mình là Kisa Vorobjaninov đứng bên trái cầu tàu hành khách của công ty quốc doanh vận tải đường sông Volga, phía dưới tấm biển “Hãy buộc cáp vào vòng, hãy bảo vệ song sắt, đừng chạm vào tường”.
Trên bến tàu, những lá cờ bay phần phật. Khói xoắn như hoa xúp lơ, tuôn ra từ các ống khói. Người ta đang chất hàng xuống chiếc tàu thủy “Anton Rubinstein” đậu ở bên cầu tàu No2. Công nhân khuân vác thọc những cái móng sắt vào các kiện bông. Trên bến tàu thôi thì ngổn ngang đủ thứ: các chậu gang, các tấm kính, các miếng da chưa thuộc, các máy móc nông nghiệp, các lẵng quả anh đào đầu mùa và các thùng cá trích. Chưa thấy tàu “Shriabin”. Điều đó khiến cho Ippolit Matveevich rất lo lắng.
– Gì mà lo cuống lên thế? – Ostap hỏi – Ông hãy cứ nghĩ rằng “Shriabin” đang đậu ở đây. Ông sẽ làm thế nào để lên tàu? Cho dù mình có tiền mua vé chăng nữa thì cũng chẳng nước non gì. Vì nó không lấy khách.
Lúc còn ở trên tàu hỏa, Ostap đã kịp nói chuyện với thợ điện Mechnikov, người phụ trách máy ép thủy lực và qua ông ta biết được mọi điều. Tàu thủy “Shriabin” do Bộ Dân ủy tài chính thuê, sẽ phải đi một chuyến từ Nizhni đến Tsarisyn, dừng lại ở mọi bến tàu và tổ chức quay xổ số công trái có thưởng. Để làm việc đó, từ Mátxcơva có cả một cơ quan lên đường, bao gồm bộ phận quay số, văn phòng quản trị, dàn nhạc khí, tổ quay phim, phóng viên các tờ báo trung ương và nhà hát Kolumbo. Dọc đường nhà hát sẽ diễn những vở kịch phổ biến tư tưởng công trái quốc gia. Từ đây đến thành phố Stalingrat nhà hát được bộ phận quay số chu cấp toàn bộ, còn sau đó nhà hát sẽ đem vở “Cuộc hôn nhân” đi biểu diễn ở Kapka và Crưm và phải tự lo liệu mọi khoản.
“Shriabin” đến chậm. Người ta đã hứa rằng nó sẽ từ vụng sông, nơi tiến hành công việc chuẩn bị cuối cùng, đến đây vào lúc chiều tối. Vì thế trong lúc chờ đợi, toàn bộ bộ phận đáp xe lửa từ Mátxcơva tới đóng quân ngay trên bến.
Phái yếu ngồi trên các cuộn dây thép, canh giữ những chiếc va ly nhỏ và đồ đạc lặt vặt của mình, đưa mắt cảnh giác về phía mấy tay thợ cẩu hàng. Một ông râu tím ngồi trên cái cối đá xay. Trên đùi ông để một chồng các tấm biển nhỏ bằng sắt tráng men. Người tò mò có thể đọc được dòng chữ ghi ở tấm biển trên cùng:
BAN THANH QUYẾT TOÁN
Những cái bàn lớn bàn nhỏ kê chồng lên nhau. Một người gác đi đi lại lại quanh chiếc két sắt có dấu niêm phong. Đại diện tờ báo “Máy cái” là Persitski đang dùng ống nhòm phóng đại tám lần nhìn về phía chợ phiên.
Tàu thủy “Shriabin” quay mũi tiến vào bến. Hai bên thành tàu có những tấm ván ép vẽ những phiếu công trái khổng lồ đủ màu lòe loẹt. Còi tàu rít lên bắt chước tiếng kêu của voi Mamút hoặc của một loài vật khác thời tiền sử đã dùng thay cho còi tàu thủy.
Đoàn cán bộ tài chính – sân khấu nhộn nhịp hẳn lên. Các nhân viên xổ số từ trên đường phố chạy xuống bến. Platon Plasuk béo phục phịch chạy lại chỗ tàu thủy đậu trong đám bụi lệt xệt. Galkin, Palkin, Malkin, Chalkin và Zalkinđ từ quán rượu lao ra. Mấy tay thợ cẩu hàng đã đang loay hoay cẩu cái két sắt không cháy lên tàu. Chỉ đạo viên nhào lộn Jorzetta Tiraspolskikh đi những bước thể dục nghệ thuật trên cầu thang dẫn lên tàu. Simbievich-Sinđievich cứ chỉ tay lúc lên trời, lúc về phía vị thuyền trưởng đứng trên đài chỉ huy, như đang quan tâm đến các thứ dụng cụ trang trí sân khấu. Nhà quay phim giơ cao chiếc máy quay phim trên đầu mọi người và vừa len đi vừa đòi phải dành cho anh ta một cái phòng rộng trên tàu để bố trí thiết bị làm phim.
Giữa khung cảnh nhốn nháo ấy, Ippolit Matveevich lẻn đến chỗ đặt mấy chiếc ghế và đã mó tay vào một chiếc định mang ra chỗ khác.
– Bỏ cái ghế ra! – Ostap rít lên – Ông điên hả? Lấy được một chiếc, để rồi mất tất cả những chiếc khác hay sao? Tốt nhất là ông hãy nghĩ cách lên được tàu thủy.
Các nhạc công khoác kèn đồng đi trên cầu tàu. Họ ghê tởm nhìn những cái kèn sắc-xô, plếc-xô, những cái chai bia và những cái ly Esmarkh được trang bị để thực hiện phần nhạc đệm.
Những bánh xe quay số được chở đến trên một chiếc xe Ford nhỏ. Đấy là một thiết bị phức tạp, gồm sáu cái hình trụ quay, lấp loáng ánh đồng và kính. Việc bố trí nó ở boong dưới chiếm khá nhiều thời gian.
Tiếng rậm rịch và cãi cọ lẫn nhau kéo dài mãi đến khuya.
Ở phòng quay xổ số người ta bố trí một cái bục sân khấu, dán các biểu ngữ và khẩu hiệu trên tường, kê những cái ghế dài cho khán giả và nối dây điện vào các bánh xe quay số. Mấy cái bàn viết được kê ở đằng đuôi tàu. Từ buồng đánh máy, tiếng gõ máy chữ xen lẫn tiếng cười rúc rích vọng ra. Vị công dân râu tím đi khắp tàu thủy và treo các tấm biển sắt tráng men của mình lên các cửa phòng tương ứng:
BAN THANH QUYẾT TOÁN
BAN NHÂN SỰ
BAN PHỤ TRÁCH CHUNG
PHÒNG MÁY
Cạnh các tấm biển to, ông râu tím gắn thêm những cái biển nhỏ hơn.
KHÔNG PHẬN SỰ MIỄN VÀO
KHÔNG TIẾP KHÁCH
CẤM NGƯỜI LẠ VÀO
AI HỎI GÌ XIN SANG PHÒNG ĐĂNG LỤC
Gian hành khách hạng nhất được dùng để triển lãm các loại tiền giấy và công trái. Điều này khiến cho Galkin, Palkin, Malkin, Chalkin và Zalkinđ nổi xung lên:
– Chúng tôi biết ăn ở đâu? Nếu trời mưa thì sao?
– Ôi – Nik. Sestrin bảo trợ lý của mình – như thế không ổn đâu!... Cậu nghĩ sao, Xécgây, thiếu ban nhạc thì kịch cọt gì nữa?
– Khỏi lo, đồng chí Nicôlai Sestrin! Các diễn viên đã thuộc nhịp lắm rồi.
Lại một chuyện ồn ào nổi lên. Năm nhạc công đánh hơi thấy tác giả kịch bản đã bê cả bốn chiếc ghế về buồng riêng của mình.
– Thế đấy, hay ho chưa! – Tốp nhạc công nói giọng châm biếm – Vậy mà bọn này sẽ ngồi trên giường để tập, còn bốn chiếc ghế dành cả cho ông Nicôlai Sestrin và bà vợ Gustaia của ông ta ngồi hết ư? Mà bà ấy có quan hệ quái gì với đoàn kịch đâu kia chứ! Hay là bọn này muốn đem vợ đi chơi thì cứ việc đem?
Từ trên bờ, vua mánh cau có nhìn con tàu quay xổ số.
Người tiếng nói oang oang vọng đến tai hai thành viên hợp đồng.
– Tại sao ông không báo sớm hơn cho chúng tôi biết? – Một vị ủy viên hội đồng xổ số nói lớn.
– Làm sao tôi biết anh ta ốm?
– Khỉ thật! Nếu vậy ông hãy tới phòng thông tin bảo họ cử ngay cho ta một họa sĩ đi theo đoàn.
– Bây giờ đã sáu giờ tối còn đi đâu được nữa? Phòng thông tin đóng cửa từ đời nào rồi. Mà nửa tiếng nữa tàu thủy đã nhổ neo.
– Thế thì ông phải tự vẽ lấy. Nếu ông đã nhận trách nhiệm trang trí con tàu, thì xin ông muốn làm sao tùy ý.
Ostap chạy vội lên cầu thang lên tàu, vừa chạy vừa dùng cùi tay gạt mấy tay thợ cẩu hàng, đám phụ nữ và những người tò mò đứng xem ra. Sắp bước lên bong thì hắn bị giữ lại.
– Giấy đâu?
– Đồng chí gì ơi! – Ostap gọi to – Này, đồng chí beo béo ơi! Đồng chí cần họa sĩ ơi!
Năm phút sau Ostap đã ngồi trong buồng tàu trắng tinh của ông béo phụ trách quản trị của con tàu xổ số để thỏa thuận về điều kiện công tác. Ông béo nói:
– Nghĩa là chúng tôi đề nghị đồng chí lo trình bày các biểu ngữ nghệ thuật, kẻ chữ và hoàn thành các băng khẩu hiệu. Họa sĩ của chúng tôi đang làm dở thì ốm. Chúng tôi phải để anh ta nằm lại bệnh viện ở đây. Vâng, dĩ nhiên là đồng chí lo cho khoản trang trí nghệ thuật. Đồng chí có nhận việc ấy được không? Cũng xin báo trước là bận lắm đấy.
– Được, tôi có thể nhận việc ấy. Tôi vẫn thường phụ trách công tác trang trí mà.
– Và đồng chí có thể đi ngay bây giờ với chúng tôi chứ?
– Cái này hơi khó đây, nhưng tôi sẽ cố gắng.
Ông trưởng ban quản trị như trút được một gánh nặng ghê gớm. Cảm thấy nhẹ cả người, ông béo nhìn họa sĩ mới bằng đôi mắt long lanh sáng.
– Thù lao ra sao đã chứ? – Ostap nghiêm mặt – Xin nhớ tôi không phải ở công ty mai táng.
– Trả công khoán. Theo giá biểu của phòng thông tin.
Ostap nhăn mặt (phải vất vả lắm hắn mới làm được cử chỉ ấy).
– Nhưng ngoài ra đồng chí còn khỏi trả tiền ăn – ông béo vội bổ sung – và được ở một buồng riêng.
– Thôi được – Ostap thở dài – tôi đồng ý. Nhưng tôi phải đem theo một cậu bé giúp việc nữa.
– Về cậu bé giúp việc thì tôi không biết. Chúng tôi không có tiền chi khoản đó. Đồng chí tự thu xếp vậy. Hãy cho nó ở cùng buồng với đồng chí.
– Cũng được. Tôi sẽ theo ý ông. Cậu bé giúp việc của tôi nhanh nhẹn lắm. Nó chịu đựng quen rồi.
Ostap nhận giấy phép đi tàu cho mình, cho cậu bé giúp việc nhanh nhẹn, đút cái chìa khóa ở vào sau túi áo và bước ra ngoài boong tàu nóng rực. Hắn cảm thấy rất dễ chịu khi chạm tay vào cái chìa khóa buồng. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời sôi nổi của mình, hắn có riêng một buồng và chìa khóa căn buồng hẳn hoi. Tuy trong buồng không để tiền, nhưng tiền ở ngay bên cạnh thôi, trong mấy chiếc ghế kia. Vua mánh thọc hai tay vào túi đi dạo dọc boong tàu chẳng buồn để ý đến Ippolit ở trên bờ.
Ban đầu Ippolit còn im lặng ra hiệu, sau đó đánh liều cất tiếng gọi. Nhưng Ostap vẫn như người điếc. Hắn quay lưng về phía vị chủ nhiệm hợp đồng, chăm chú theo dõi quá trình hạ cái máy ép thủy lực xuống hầm tàu.
Con tàu chuẩn bị rời bến. Agafia Tikhônôpna chạy từ buồng mình ra mũi tàu, ngó xuống nước và oang oang trao đổi với một tay chơi đàn balalaika bậc thầy về sự thán phục của mình, khiến các ủy viên hội đồng xổ số đáng kính ngồi gần đó đỏ mặt bối rối.
Con tàu rúc hồi còi thứ hai. Âm thanh ghê gớm của nó khiến các đám mây tụ lại. Mặt trời đỏ như máu đã khuất dần phía chân trời. Thành phố trên kia đã lên đèn. Từ phía chợ Potraev vẳng lại những tiếng kèn hát nức nở vẫy gọi các khách hàng cuối cùng. Ippolit bơ vơ đứng trên bờ lớn tiếng gọi, nhưng chẳng nghe rõ gọi cái gì. Tiếng còi trèo trẹo đã át hết mọi âm thanh còn lại.
Ostap Benđer thích tạo ép-phê. Mãi đến lúc này, khi hồi còi thứ ba sắp vang lên, khi Ippolit đã tin chắc rằng mình bị bỏ lại trên bờ mặc cho số phận trớ trêu, thì Ostap mới ngó đến ông ta.
– Sao ông cứ đứng ngay như phỗng ấy thế? Tôi ngỡ ông đã ở trên tàu từ lâu rồi cơ đấy. Người ta sắp kéo cầu thang lên tàu rồi! Chạy mau lên nào! Các đồng chí hãy để ông ấy lên! Đây, giấy phép đây!
Ippolit leo lên tàu gần như phát khóc.
– Đây mà là cậu bé giúp việc của đồng chí à? – Ông trưởng ban quản trị nghi ngờ hỏi.
– Vâng, nó đấy – Ostap đáp – Thì sao cơ? Ai bảo rằng nó là cô bé, xin cứ việc nhổ vào mặt tôi.
Ông béo cau có bỏ đi.
– Này Kisa – Ostap dặn – sáng mai sẽ phải làm việc ngay đây. Tôi hy vọng ông có thể bôi màu chứ? Và xin ông nhớ cho tôi là họa sĩ, đã tốt nghiệp Trường đại học mỹ thuật quốc gia, gọi tắt là Đê-ho-mi-thu-cu-gi, còn ông là trợ lý của tôi. Nếu ông cho rằng không phải như vậy, thì hãy chạy ngay lên bờ cho tôi nhờ.
Bọt nước xanh xanh bật ra từ dưới mũi tàu. Con tàu rùng mình. Những cái thanh la, chũm chọe, những cây sáo, kèn coóc nê, trombon ré lên giọng nữ cao, xen lẫn giọng nam trầm, tấu thành khúc nhạc kỳ quặc, và thành phố quay mình tròng trành chạy sang bờ bên trái. Con tàu tiếp tục rùng mình, bắt đầu xuôi dòng và lẩn nhanh vào bóng đêm. Những ngôi sao, những ngọn đèn và các loại đèn hiệu đủ màu ở bến đã chao đảo ở mãi phía sau. Một lát nữa thì con tàu đã đi xa tới mức thành phố chỉ còn là một quầng sáng bất động.
Còn nghe thấy tiếng máy chữ gõ lách tách, nhưng thiên nhiên và dòng Volga đã ngự trị. Cảm giác thoải mái xâm chiếm tất cả những ai đang ở trên tàu thủy “Shriabin”. Các ủy viên hội đồng xổ số ngồi uống trà. Tại phiên họp đầu tiên của ban chấp hành công đoàn bộ phận, không khí thật đầm ấm. Buổi tối ấm áp thở mạnh, nước bên mạn tàu róc rách êm và những hình bóng hai bên bờ lướt qua nhanh đến mức ông chánh thư ký ban chấp hành công đoàn, một nhân vật hoàn toàn tích cực, vừa mở miệng ra định diễn thuyết về điều kiện lao động trong hoàn cảnh bất bình thường, đột nhiên lại cất tiếng hát (điều này bất ngờ đối với tất cả mọi người và với ngay bản thân ông).
Con tàu lướt trên dòng Volga
Dòng sông – mẹ hiền vĩ đại...
Những vị khác dự họp cùng cất tiếng hát đệm:
Hoa đinh hương ngào ngạt...
Thế là không có nghị quyết về bản báo cáo của chánh thư ký công đoàn bộ phận. Tiếng pianô du dương. Chỉ huy phần nhạc đệm Kh. Ivanov vắt ra từ nhạc cụ những nốt trữ tình nhất. Tay chơi đàn balalaika điêu luyện bám sát gót Agafia Tikhônôpna và không biết dùng lời của mình để diễn tả tình yêu, đành mượn lời một bản tình ca:
– Em ơi đứng lại đã nào! Làn môi em mới nồng nàn làm sao! Vòng tay em mới truyền cảm xiết bao! Những đám mây đen trong hẻm núi vẫn chưa tỉnh giấc, những hạt ngọc sao còn sáng trên trời...
Simbievich-Sinđievich tì hai tay vào lan can, lặng ngắm bầu trời. Ông cảm thấy sự phối trí đồ vật của vở “Cuộc hôn nhân” đem so với bầu trời sao chi chít kia sẽ chỉ là một trò nhơ nhuốc. Ông ghê tởm nhìn hai bàn tay mình đã từng hăng hái tham gia phối trí đồ vật cho vở hài kịch cổ điển.
Giữa lúc mệt mỏi cao độ, năm nhạc công (Galkin, Palkin, Malkin, Chalkin và Zalkinđ) liền gõ mạnh các dụng cụ quen dùng để uống bia. Họ đang diễn tập. Ảo ảnh lập tức tiêu tan. Agafia Tikhônôpna ngáp dài một cái và, chẳng thèm để mắt đến chàng nghệ sĩ chơi đàn balalaika, cô đi về buồng ngủ. Các ủy viên chấp hành công đoàn bộ phận sực nhớ đến bản hợp đồng, thế là họ lao vào thảo nghị quyết. Simbievich-Sinđievich sau một hồi suy ngẫm thấu đáo đã đi đến kết luận rằng nghệ thuật phối trí của vở “Cuộc hôn nhân” chẳng đến nỗi nhơ nhuốc lắm. Một giọng nói giận dữ trong bóng tối gọi nàng Jorzetta Tiraspolskikh đến hội ý với đạo diễn. Chó sủa rộ lên ở các thôn xóm ven bờ. Không khí trở nên trong lành.
Ở buồng tàu hạng nhất, Ostap nằm trên đi-văng da, đăm chiêu nhìn cái dây chằng bằng vải bạt màu xanh lá cây, đang lục vấn Ippolit.
– Ông có biết vẽ không? Rất tiếc. Tôi cũng không biết mới chán chứ.
Hắn suy nghĩ một lát, rồi hỏi tiếp:
– Thế kẻ chữ, ông biết chứ? Cũng không biết à? Hỏng, hỏng! Chúng mình là họa sĩ cơ mà! Họ sẽ để yên cho hai ngày, rồi sẽ tống cổ chúng mình lên bờ thôi. Trong hai ngày ấy chúng mình phải làm cho xong tất cả những gì cần thiết. Tình hình có phần gay go đấy. Tôi đã biết rằng bốn chiếc ghế đều ở trong buồng đạo diễn. Nhưng suy cho cùng, điều đó chẳng đáng ngại. Cái chính là mình đã ở trên tàu. Trong khi họ chưa đuổi ta đi, ta phải lục soát cả bốn chiếc ghế. Hôm nay đã khuya rồi. Thằng cha đạo diễn đang ngủ trong buồng của nó.
0
 
CHƯƠNG XXXII
HAI KẺ GIAN
 
Mọi người đã ngủ, nhưng dòng sông vẫn tỉnh như ban ngày. Những bè gỗ lớn, trên có các ngôi nhà gỗ con con, vẫn trôi xuôi. Một chiếc tàu kéo, trên vỏ chắn bánh răng của nó kẻ vòng cung tên con tàu – “Chinh phục bão táp”, đang kéo ba sà lan chở dầu nối đuôi nhau theo hàng dọc. Một chiếc xuồng máy chở thư và bưu phẩm đề tên “Látvia Đỏ” lao vút qua. Tàu “Skriabin” vượt qua chỗ tàu hút bùn, rồi vừa đo độ sâu bằng một cây sào có vạch, vừa quay mũi ngược với dòng chảy.
Mọi người trên tàu bắt đầu thức dậy. Một quả tạ nhỏ buộc dây thừng được ném lên bến tàu “Barmino”. Thủy thủ trên bến dùng nó để kéo về phía họ cái đầu dây tời to tướng cho tàu cặp bến. Chân vịt quay theo chiều ngược lại. Cả một khúc sông sủi bọt. “Skriabin” rùng mình áp toàn bộ một mạn tàu vào cầu tàu. Còn sớm. Bởi vậy người ta quyết định sẽ quay số vào lúc mười giờ.
Giờ làm việc trên tàu “Skriabin” đúng chín giờ sáng thì bắt đầu, hệt như trên đất liền. Không một ai thay đổi thói quen của mình. Người nào đi làm muộn ở trên đất liền, thì ở đây cũng vậy, mặc dù họ ngủ ngay cơ quan. Biên chế cán bộ của Bộ dân ủy tài chính làm quen với nếp sống sinh hoạt mới khá nhanh. Nhân viên lao công quét dọn các buồng tàu với thái độ cũng bàng quan hệt như khi họ quét phòng làm việc ở Mátxcơva. Các nhân viên khác mang nước trà cho các buồng và đem giấy tờ công văn từ phòng đăng lục đến ban nhân sự mà không chút ngạc nhiên về chuyện ban nhân sự đặt ở đuôi tàu, còn phòng đăng lục thì ở đằng mũi tàu. Từ buồng “thanh quyết toán” vọng ra tiếng máy tính và bàn tính gảy tay lạch xạch, lạch xạch...
Vua mánh đi chân không trên boong thượng xung quanh một dải vải điều dài và hẹp khổ, để tô vẽ cái khẩu hiệu mà nội dung của nó được hắn luôn luôn đối chiếu với tờ giấy cầm trong tay.
“Tất cả mọi người hãy đến dự quay số! Mỗi người lao động phải có trong túi một tờ công trái quốc gia”.
Vua mánh cố gắng thật sự, nhưng sự thiếu vắng khả năng dầu sao cũng bộc lộ rõ. Dòng chữ cứ xiên xiên vẹo vẹo, và mảnh vải điều có lẽ đến phải vứt đi. Trước tình hình ấy, họa sĩ Ostap với cậu bé trợ lý Kisa bèn lật mặt sau tấm vải lên để kẻ lại. Lần này hắn cẩn thận hơn. Trước khi kẻ chữ, hắn dùng một đoạn dây thấm mực bật hai đường song song, rồi vừa nhiếc mắng cậu bé trợ lý vô tội, vừa bắt tay kẻ chữ.
Ippolit tận tụy thực thi công việc của một cậu bé. Ông ta chạy xuống boong dưới lấy nước nóng, ông ta khuấy bột làm hồ, ông ta vừa hắt hơi vừa đổ bột màu vào xô và cứ đưa mắt lấm lét nhìn vị họa sĩ nghiêm khắc. Khi băng khẩu hiệu làm xong, hai nghệ sĩ liền đem xuống gắn ở mạn tàu.
Ông trưởng ban quản trị, người đã thuê Ostap, chạy lên bờ và từ đó ngắm nhìn tác phẩm của tay họa sĩ mới. Các chữ của băng khẩu hiệu có độ dày mỏng khác nhau và hơi xiên xiên. Chẳng còn lối thoát nào khác, thôi thì cũng đành bằng lòng như thế vậy.
Dàn nhạc khí kéo lên bờ và bắt đầu chơi những điệu hành khúc sôi sục, dồn dập. Nghe tiếng nhạc, trẻ con ùn ùn từ các nơi chạy xuống bến, tiếp đó từ các vườn táo người ta kéo ra, nam có, nữ có. Dàn nhạc cứ chơi cho đến lúc tất cả các ủy viên hội đồng xổ số lần lượt lên bờ. Cuộc mít-tinh bắt đầu. Từ thềm quán nước trà Kôrôbcôp vang lên những tiếng đầu tiên của bản thuyết trình về tình hình quốc tế.
Cán bộ nhà hát Kolumbo đứng trên tàu thủy xem mít-tinh. Từ trên bờ nhìn rất rõ những tấm khăn trắng của các bà các cô e lệ đứng cách thềm quán nước trà một quãng xa, nhìn rõ đám đàn ông đứng im thin thít nghe diễn giả đang vừa nói vừa vung tay. Sau đó tiếng nhạc nổi lên. Các nhạc công quay mình, vừa chơi nhạc vừa tiến về phía cầu thang lên tàu. Đám đông ùa theo đằng sau.
Hệ thống bánh quay số hoạt động, chỉ ra những hỗn hợp con số đúng phương pháp. Các số trúng được công bố. Bà con Barmino đứng xem và nghe.
Ostap chạy lại nghiêng ngó một lát, tin rằng mọi người sống trên tàu thủy đều ngồi ở phòng quay số, hắn liền phóng lên boong.
– Kisa – hắn gọi khẽ – có công tác khẩn cấp về trang trí nghệ thuật cho ông đây. Ông hãy đứng ở cửa hành lang hạng nhất và nếu thấy ai bước ra thì hát to lên.
Ông già ngớ người ra.
– Tôi biết hát bài gì?
– Bài gì cũng được, trừ bài “Lạy Chúa, hãy phù hộ cho Sa hoàng”. Bài gì tha thiết một chút ấy. “Quả táo nhỏ” hoặc “Trái tim người đẹp”. Nhưng tôi báo trước, nếu ông không cất tiếng hát cho kịp thời, thì... đây không phải là sân khấu thực nghiệm đâu, tôi sẽ cắt tiết ông.
Vua mánh chạy chân không vào dãy hành lang hai bên dựng các tấm gỗ dán màu anh đào. Một chiếc gương lớn ở cuối hành lang in hình hắn trong giây lát. Hắn đọc tấm biển nhỏ trên cửa buồng:
NIK. SESTRIN
ĐẠO DIỄN NHÀ HÁT KOLUMBO
Tấm gương sạch bóng người. Lát sau nó lại in hình vua mánh. Hắn xách một tay chiếc ghế chân cong. Hắn phóng nhanh trong hành lang, lên boong, ra hiệu cho Ippolit, rồi mang chiếc ghế tới chỗ buồng lái. Trong buồng lái không có ai. Ostap xách ghế lại mũi tàu và nói:
– Cái ghế sẽ để ở đây đến đêm. Tôi đã nghĩ cả rồi. Sẽ không một ai leo lên đây, ngoài chúng mình. Bây giờ ta hãy lấy biểu ngữ che lên chiếc ghế, và đêm nay sẽ tìm hiểu cái ruột của nó.
Một phút sau chiếc ghế đã được che kín bằng các mảnh ván ép và miếng vải điều.
Ippolit lại cảm thấy hăng máu lên:
– Tại sao không mang luôn cái ghế về buồng chúng mình? – ông ta sốt ruột hỏi – ta rạch nó ra ngay bây giờ có hơn không? Và nếu tìm thấy kim cương thì vọt luôn lên bờ cho rồi...
– Thế nếu không tìm thấy? Thì sẽ ra sao? Quẳng chiếc ghế đi đâu? Hay là xách trả lại phòng lão Sestrin và lịch sự thưa: “Xin lỗi ông, chúng tôi đã ăn trộm cái ghế ở buồng ông, nhưng chả tìm thấy gì bên trong cả, vậy xin ông hãy nhận lại nó, tuy có bị hỏng đôi chỗ!” Ông định hành động như thế hả?
Vua mánh bao giờ cũng đúng, Ippolit chỉ hết ngượng khi từ dưới boong vẳng lên khúc nhạc chào được trình diễn bằng những chiếc ly Esmarkh và các vỏ bia.
Tiết mục quay số hôm nay đã kết thúc. Khán giả đứng lố nhố trên bờ và trái với sự chờ đợi, họ biểu lộ ầm ĩ sự tán thưởng của mình trước dàn nhạc mới lạ. Galkin, Palkin, Malkin, Chalkin và Zankinđ hãnh diện nhìn qua ngó lại, như muốn nói: “ Các vị thấy chưa! Thế mà các vị cứ quả quyết rằng quần chúng không hiểu. Nghệ thuật bao giờ cũng đi sâu vào lòng quần chúng!”
Sau đó trên sân khấu ngoài trời, các diễn viên nhà hát Kolumbo biểu diễn một màn kịch vui bằng điệu múa và lời ca. Màn kịch kể chuyện anh chàng Vavila trúng xổ số năm mươi ngàn rúp và hành động ra sao. Các diễn viên không bị trói buộc bởi sự chỉ đạo của Nik. Sestrin, đã múa rất hăng và hát rất mùi. Công chúng rất chi là thỏa mãn.
Tiết mục thứ hai là của nghệ sĩ chơi đàn balalaika. Khán giả mỉm cười, nghệ sĩ vừa đàn vừa hát.
“Tiểu thư ơi hỡi tiểu thư,
Phu nhân ơi hỡi phu nhân”.
Cây đàn chuyển động. Nó bay ra sau lưng nghệ sĩ, tiếng hát lại cất lên: “Nếu ông chủ chỉ còn dây đeo, nghĩa là ông chủ đã mất đồng hồ”. Cây đàn bay lên không khí và trong chuyến bay ngắn ngủi của mình, nó phát ra không ít làn điệu phức tạp nhất.
Đến lượt Jorzetta Tiraspolskikh. Cô kéo theo cả một tốp con gái mặc áo sarafan. Buổi biểu diễn kết thúc bằng các vũ điệu Nga.
Trong khi “Skriabin” chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình, trong khi thuyền trưởng nói chuyện điện thoại với buồng máy và lò đốt của tàu nổi lửa rừng rực đun nóng nước, dàn nhạc khí lại lên bờ và bắt đầu chơi nhạc nhảy làm vừa lòng tất cả mọi người. Những tốp nhảy đẹp mắt hình thành. Mặt trời sắp lặn gửi đến những tia nắng nhạt màu vàng mơ. Đã đến giờ lý tưởng để quay phim. Quả vậy, nhà quay phim Polkan vừa ngáp vừa từ trong buồng bước ra. Ippolit đã quen với vai trò cậu bé trợ lý cho tất cả mọi người, cẩn thận vác ống kính quay phim đi sau Polkan. Polkan đứng trên mạn tàu nhìn lên bờ. Ở đây, người ta đang nhảy điệu polka của binh lính ngay trên cỏ. Bọn thanh niên chân đất giậm chân mạnh đến nỗi tưởng chừng họ muốn chọc thủng hành tinh của chúng ta. Người xem đứng rải rác trên các sườn dốc. Nếu nhà quay phim thuộc nhóm làm phim “Avangard” của Pháp có mặt ở đây, hẳn ông ta sẽ tìm được việc làm suốt ba ngày đêm. Đằng này Polkan chỉ lướt cặp mắt chuột lên bờ rồi quay ngay về buồng ông chủ tịch hội đồng xổ số, bảo ông đứng trước bức tường trắng, giúi một cuốn sách vào tay ông, dặn ông đừng nhúc nhích, rồi quay tay máy một hồi lâu. Sau đó Polkan kéo ông ra đuôi tàu và quay cảnh ông trên cái nền hoàng hôn.
Quay xong, Polkan trịnh trọng lui về buồng mình và khóa trái cửa lại.
Tiếng còi tàu lại rúc lên, và mặt trời lại sợ hãi chạy trốn. “Skriabin” có sẵn sàng rời bến.
Ostap lo lắng nghĩ đến buổi sáng ngày mai. Hắn sẽ phải lấy bìa các-tông cắt hình một người tung phiếu công trái ra tứ phía. Thử thách nghệ thuật ấy thật quá sức vua mánh. Nếu việc kẻ chữ Ostap dầu sao cũng còn đảm đương tàm tạm, thì tác phẩm mới ngày mai đã vượt khỏi toàn bộ năng lực tiềm tàng của hắn.
– Đồng chí nhớ cho đấy nhé – ông béo báo trước với Ostap – chúng tôi sẽ bắt đầu cuộc quay số buổi tối từ thành phố Vasiuki trở đi, và nhất thiết phải có băng khẩu hiệu và tranh vẽ, kiểu transparant.
– Yên chí, đâu sẽ vào đó – Ostap tuyên bố – Hắn hy vọng vào tối hôm nay, chứ không phải vào sáng ngày mai, vào cái ghế chứ không phải vào transparant.
Đêm xuống. Trời đầy sao và gió. Khách trên tàu quay số đã đi ngủ.
Những ông sư tử của hội đồng xổ số đã ngon giấc. Cũng đã ngủ say rồi các chú cừu non ở ban nhân sự, các cô dê phòng kế bên của ban nhạc và các chú chim câu ở buồng máy, các em nhỏ ở ban thanh quyết toán, các chàng linh cẩu và chó rừng, chỉ riêng hai kẻ gian là không ngủ. Vua mánh bước ra khỏi buồng mình lúc một giờ sáng. Bám sát gót hắn là cái bóng câm lặng của Kisa ngoan ngoãn. Hai gã lên boong thượng và nhẹ nhàng tiến đến chỗ chiếc ghế được phủ kín. Sau khi thận trọng dỡ bỏ mấy tấm ván ép, Ostap dựng cái ghế lên, bạnh quai hàm, dùng chiếc kìm dẹp phanh lớp vải bọc ra và thọc một tay vào ruột ghế.
Gió thổi ù ù trên boong thượng. Những ngôi sao khẽ lay động trên trời. Dưới chân, mãi dưới sông, dòng nước đen chảy óc ách, óc ách. Không nhìn thấy đôi bờ, Ippolit run bắn cả người.
– Đây rồi! – Ostap nói, giọng khản đi.
 
THƯ CỦA CHA FÊDOR
Viết ở khách sạn “Giá trị” tại Bacu
gửi cho vợ mình ở thị trấn N
Katerina vô cùng yêu quý của anh!
Mỗi giờ trôi qua vợ chồng mình lại tiến gần hơn đến hạnh phúc. Anh đang viết thư này cho em từ khách sạn “Giá trị” dựng toàn bằng gỗ, sau khi anh đã đi làm mọi việc. Thành phố Bacu rộng lắm em ạ. Người ta bảo ở đây đang khai thác dầu hỏa, nhưng muốn xem mỏ dầu phải đi xe lửa điện mới tới, mà anh thì chả có tiền. Thành phố phong cảnh hữu tình này nằm trên bờ biển Kaspi. Kaspi quả là một biển lớn. Ở đây nóng kinh khủng. Anh phải một tay cầm áo bành tô, tay kia cầm áo vét, chỉ mặc sơ-mi cho đỡ nóng. Hai tay mỏi rã. Thỉnh thoảng uống một chén nước trà. Tiền thì gần như nhẵn túi rồi. Nhưng đừng lo, Katerina ạ, chúng mình sắp có hàng đống tiền rồi. Ta sẽ đi du lịch khắp nơi, cuối cùng sẽ về sống sung sướng ở Samara, bên cạnh nhà máy của mình, và ta sẽ tha hồ uống rượu mùi. Anh lại dông dài phải không?
Về vị trí địa lý và dân số, thành phố Bacu lớn hơn hẳn thành phố Rostov. Nhưng lại thua Rostov về tốc độ phát triển. Dân tứ xứ ở đây nhiều lắm, đặc biệt là người Armenia và người Ba Tư. Từ Bacu sang Thổ Nhĩ Kỳ gần lắm em ạ. Anh có ra chợ, thấy rất nhiều đồ dùng và các loại khăn san Thổ Nhĩ Kỳ. Anh muốn mua làm quà cho em một cái mạng che mặt của phụ nữ Hồi giáo, phiền một nỗi là chẳng có đồng nào. Lúc ấy anh nghĩ bụng, bao giờ chúng mình giàu sang (mà ngày đó sắp tới rồi), bấy giờ hãy mua cái mạng che mặt của dân đạo Hồi cũng vẫn được.
Ôi, anh quên kể em biết hai trường hợp đáng sợ xảy ra đến với anh ở thành phố Bacu: 1/ anh đánh rơi cái khoác của cậu em xuống biển Kaspi và 2/ ở ngoài chợ anh bị một con lạc đà có một bướu bổ vào người. Hai sự cố ấy khiến anh rất đỗi ngạc nhiên. Tại sao chính quyền địa phương lại để xảy ra những điều càn bậy như thế với khách vãng lai, nhất là vụ con lạc đà, chẳng những anh không chạm đến nó, mà còn làm cho nó thích bằng cách lấy một cái cành mềm ngoáy nhẹ vào mũi nó! Cái áo vét thì được mọi người vớt lên hộ, nhưng nó đã dính đầy dầu hỏa. Anh chưa biết sẽ ăn nói thế nào với cậu em đây. Nhưng em đừng cho cậu ấy biết vội nhé. Evstigneev còn ăn trưa ở nhà ta không?
Anh đọc lại bức thư và thấy anh chưa kịp kể gì với em về công việc cả. Kỹ sư Bruns đúng là đang làm việc ở Tổng công ty dầu khí châu Á. Có điều là hiện giờ ông ấy đi nghỉ phép ở Batum, chứ không có mặt tại Bacu. Gia đình ông ấy thường trú ở Batum kia. Anh đã hỏi chuyện mọi người ở đây, ai cũng bảo rằng nhà Bruns ở Batum quả là có một bộ ghế. Tại Batum, ông ấy sống ở nhà nghỉ khu Mũi Xanh (người ta nói chỗ đó đắt đỏ lắm). Tiền đi đường từ đây đến Batum phải mất hơn 15 rúp. Em hãy gửi hai mươi rúp đến đây cho anh bằng hình thức điện báo, rồi từ Batum anh sẽ tin về cho em hay. Em hãy tung tin đồn khắp thành phố rằng anh vẫn đang ở chỗ bà cô hấp hối tại Vôrônezh nhé.
Chồng suốt đời của em, Fêđor.
Tái bút: Trong lúc đem thư ra bỏ vào thùng thư, anh đã bị lấy cắp cái áo bành tô của cậu em (cái áo anh để ở khách sạn “Giá trị”), Khổ thân anh thế đấy! May là đang mùa hè. Em chớ nói gì với cậu em vội nhé.
0
 
CHƯƠNG XXXIII
ĐUỔI KHỎI THIÊN ĐƯỜNG
 
Trong khi một vài nhân vật này của cuốn tiểu thuyết tin rằng có thể chờ đợi ít lâu, thì một số nhân vật khác thì lại cho rằng phải hành động ngay lập tức, rằng thời gian không chờ đợi ai. Tiếp sau tháng năm bụi bặm ở Mátxcơva là tháng sáu bụi bặm. Ở thị trấn N, chiếc xe Nhà nước No1 bị hỏng vì sa ổ gà, đã đứng chết dí hai tuần nay ở góc quảng trường Staropan và đường phố mang tên đồng chí tỉnh trưởng. Nó đứng đây và chỉ thỉnh thoảng lại xịt khói mù mịt ra xung quanh. Từ trại giam Stargorot, các hội viên “Lưỡi kiếm và lưỡi cày” rụt rè bước ra đường từng người một, sau khi đã viết giấy cam đoan không rời khỏi thành phố. Chị gái góa Gritsasueva (người phụ nữ hăng hái, niềm mơ ước của thi nhân) đã trở về với hiệu tạp hóa của mình, bị phạt mười lăm rúp về tội không treo bảng giá (xà bông, ớt, bột màu và các mặt hàng không có thể nhìn rõ) – đấy là cái tính hay quên của một người đàn bà có trái tim lớn mà ta có thể bỏ qua cho họ.
***
– Đây rồi! – Ostap nói, giọng khản đi – Này, cầm lấy!
Ippolit Matveevich đưa hai bàn tay run run đỡ lấy một cái hộp gỗ nhỏ nhẵn nhụi. Ostap tiếp tục thọc tay vào ruột ghế trong bóng tối. Cây đèn chỉ đường trên bờ sông nhấp nháy. Một dải ánh sáng màu vàng in xuống mặt nước và chạy theo con tàu.
– Quái nhỉ! Tại sao chẳng có gì nữa? – Ostap nói.
– Khô-ông thể như vậy được! – Ippolit lắp bắp.
– Thì ông thử tìm xem!
Ippolit nín thở, quỳ hai gối xuống và thọc một tay sâu đến tận khuỷu vào ruột ghế. Ngón tay ông ta đã sục tận gốc lò so. Không thấy vật gì cưng cứng cả. Từ ruột ghế chỉ xộc ra mùi bụi khô hăng hắc.
– Có không? – Ostap hỏi.
– Không.
Ostap bèn bưng cái ghế lên và ném thật mạnh xuống sông. Một tiếng “tùm” nặng nề. Đoạn cả hai bán tín bán nghi quay về buồng của mình. Ostap nói:
– Nào, thử xem ta tìm thấy cái gì nào?
Ippolit lấy cái hộp gỗ ở trong túi ra và nhìn nó một cách thờ ơ.
– Mở ra, mở ra xem nào! Sao ông cứ giương mắt ếch lên thế!
Cái hộp nhỏ được mở ra. Dưới đáy hộp đặt một miếng đồng đã rỉ xanh, với mấy dòng chữ khắc như sau:
CHIẾC GHẾ NÀY
MỞ ĐẦU LOẠT GHẾ MỚI
CỦA THỢ CẢ
HAMBX
Năm 1865. Saint Peterbourg
Ostap đọc thành tiếng mấy dòng chữ ấy.
– Thế kim cương và ngọc đâu nhỉ? – Ippolit hỏi.
– Ông sáng trí thật đấy, ông thợ săn ghế ạ! Làm gì có kim cương và ngọc!
Ippolit lúc này trông thật thảm hại. Bộ ria mới mọc khẽ ngọ nguậy, mắt kính kẹp mũi mờ mờ. Có cảm giác trong lúc tuyệt vọng ông ta sắp cụp vành tai vào má.
Giọng nói lạnh lùng, hợp lý của vua mánh lại phát huy ma lực quen thuộc của nó. Ippolit đặt nghiêm hai tay ở đường chỉ quần và im lặng nghe.
– Không việc gì phải buồn, nghe chưa, Kisa! Rồi sẽ đến lúc chúng mình cười nhạo chiếc ghế thứ tám, bên trong chứa một hộp gỗ ngớ ngẩn. Hãy vững vàng lên. Ở đây còn ba cái ghế nữa – chín mươi chín khả năng thành công trong số một trăm!
Sau một đêm, trên má của nhà quý tộc tuyệt vọng mọc bao nhiêu là mụn trứng cá. Mọi nỗi đau khổ, mọi thất bại, toàn bộ nỗi gian truân của cuộc săn vàng tìm ngọc tựa hồ vào các thứ mụn nhọt ấy, làm cho cái thì đo đỏ, cái thì tim tím, cái thì đen đen.
– Ông cố ý tạo ra mụn nhọt đấy à? – Ostap hỏi.
Ippolit thở dài não ruột, rồi còng còng lưng như một cái cần câu, đi lấy thuốc vẽ. Việc chuẩn bị băng biểu ngữ chạy bắt đầu. Hai họa sĩ làm việc trên boong thượng.
Ngày thứ ba trên tàu thủy cũng bắt đầu.
Nó bắt đầu từ sự va chạm giữa dàn nhạc khí và tốp nhạc công của đoàn kịch để tranh nhau chỗ diễn tập.
Sau khi ăn sáng, các tay lực sĩ thổi kèn đồng và tốp nhạc công gầy còm chuyên sử dụng ly Esmarkh từ hai phía cùng tiến lại đằng đuôi tàu. Galkin kịp ngồi xuống chiếc ghế dài ở đuôi tàu trước tiên. Người thứ hai bước đến là người thổi kèn clarinét của dàn nhạc khí.
– Chỗ này có người rồi – Galvin cau có nói.
– Ai ngồi? – Tay chơi clarinét quắc mắt hỏi.
– Tôi, Galkin, ngồi.
– Còn ai nữa?
– Còn Palkin, Malkin, Chalkin và Zankinđ.
– Thế tốp các anh có Elkin không? Đây là chỗ của chúng tôi.
Từ hai phía lực lượng tiếp viện đều kéo tới. Cái trống bọc bằng ba đai đồng – nhạc cụ lớn nhất của dàn nhạc khí – đứng ở giữa. Cái kèn co trông như cái tai đưa qua đưa lại. Mấy cái kèn trombon ở tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Mặt trời được phản chiếu hàng ngàn lần trong các thứ binh giáp. Còn tốp nhạc công của đoàn kịch thì có vẻ thảm hại và tối tăm. Tốp này chỉ có vài cái chai, mấy cái ly nham nhở, một cái sắc-xô giả làm dụng cụ nhạc khí, một đoạn ống nước dùng làm kèn, trông như một cái tẩu ngắn ngủi.
– Âm nhạc quái gì các anh, mà cũng đòi chỗ – tay thổi kèn clarinét gây sự.
– Các người cũng im đi cho bên đây diễn tập! Các người càng ít tập chừng nào càng đỡ điếc tai chừng ấy.
– Các anh thì có gõ nồi gõ bát nhiều mấy cũng đếch thành nhạc!
Không ai chịu ai, cả hai bên cứ ở cùng một chỗ mà chơi nhạc theo bài bản của mình. Âm thanh phát ra chỉ giống như tiếng bánh xe điện đang chầm chậm nghiền trên kính vỡ. Dàn nhạc khí chơi bài hành khúc của trung đoàn tự do Kekshom, còn tốp nhạc công thì chơi điệu nhạc nhảy của dân da đen nhan đề “Con sơn dương ở đầu sông Zambezi”. Đích thân ông chủ tịch hội đồng xổ số đến can thiệp mới chấm dứt được cuộc cãi lộn.
Đến mười một giờ sáng, hai họa sĩ hoàn thành tác phẩm vĩ đại. Ostap và Ippolit đi giật lùi, kéo băng biểu ngữ transparant về phía cầu thuyền trưởng. Ông béo trưởng ban quản trị giơ hai tay lên trời chạy phía trước. Nhờ nỗ lực chung, tấm băng được gắn vào tay vịn của tàu, treo phía trên boong hành khách như một cái màn ảnh. Anh thợ điện kéo dây tới phía sau tấm bảng và mắc ở đó ba bóng điện. Chỉ còn việc bật công tắc điện là đèn sáng.
Đằng trước mũi tàu hơi chếch về bên phải, đã thấy thấp thoáng ánh điện của thành phố Vasiuki.
Trưởng ban quản trị mời tất cả những người có mặt trên tàu đến dự lễ khai trương băng transparant. Ippolit và vua mánh đứng trên boong thượng, ở hai bên tấm băng chưa được chiếu sáng, nhìn xuống đám đông tụ tập bên dưới.
Mọi sự kiện trên tàu đều được hết thảy mọi người tha thiết quan tâm. Các cô nhân viên đánh máy, các cán bộ chạy công văn giấy tờ, các diễn viên nhà hát Kolumbo, thủy thủ đoàn – tất cả đã có mặt trên boong hành khách, mặt ngẩng lên phía trên.
– Bắt đầu đi! Ông béo ra lệnh.
Tấm băng transparant được chiếu sáng.
Ostap ngó xuống dưới, xuống phía đám đông. Dải ánh sáng màu hồng hắt vào mặt mọi người.
Khán giả cười phá lên. Sau đó im lặng. Và một giọng nói nghiêm khắc từ bên dưới vang lên:
– Trưởng ban quản trị đâu?
Giọng nói oai tới mức trưởng ban quản trị bất chấp các bậc thang, cắm cổ chạy ngay xuống.
– Nhìn thử xem! – giọng nói lúc nãy giục giã – anh thử ngắm tác phẩm của anh xem nào!
– Họ sắp tống cổ chúng mình đi đấy! – Ostap nói nhỏ với Ippolit.
Quả vậy, ông béo bay lên boong thượng như một con chim cắt.
– Sao, băng transparant khá chứ? – Ostap trâng tráo hỏi – Mọi người có hiểu không?
– Hãy cuốn gói và xéo ngay đi! – Trưởng ban quản trị quát.
– Đi đâu mà vội thế?
– X-é-éo ngay! Cút! Phải đưa các anh ra tòa kia! Thủ trưởng của tôi không thích đùa.
– Đuổi cổ hắn đi! – giọng nói từ dưới ném lên.
– Này, chuyện nghiêm túc đấy, các anh không thích băng transparant à? Quả thực nó xấu à?
Tiếp tục trò chơi đã trở nên vô nghĩa. Tàu “Skriabin” đã đến Vasiuki, và từ dưới tàu đã có thể nhìn rõ các khuôn mặt ngạc nhiên của những người dân Vasiuki đứng ở trên bến tàu.
Người ta kiên quyết không trả tiền công cho Ostap và chỉ cho năm phút để thu xếp hành lý.
Khi hai thành viên hợp đồng đã bước lên bờ, Simbievich-Sinđievich nói:
– Đúng là chân con chó. Giá thuê tôi vẽ tấm băng có phải hơn không. Tôi mà trình bày thì hết ý.
Đứng trên bờ, hai thành viên hợp đồng nhìn xuống dưới. Tấm băng transparant sáng rực giữa khoảng trời tối sẫm.
– Ừ – Ostap nói – trình bày hơi xí. Không đạt thật.
Con la bướng bỉnh dùng đuôi vẽ tranh mà đem so với bức vẽ của Ostap, vẫn còn ăn đứt. Thay vì vẽ người tung các phiếu công trái ra xung quanh, Ostap lại vẽ một con vật cụt đuôi, chân tay loằng ngoằng chả ra hình thù gì cả.
Đằng sau hai thành viên hợp đồng là ánh sáng, là con tàu xập xình tiếng nhạc, còn trước mặt, trên bờ sông cao, là bóng tối, là tiếng chó sủa và tiếng đàn ắc-cóoc-đê-ông xa xa.
– Xin tổng kết tình hình như sau – Ostap nói với vẻ lạc quan yêu đời – Chỗ yếu: không một xu dính túi, ba cái ghế vuột mất khỏi tay, chẳng có nơi ngả lưng. Chỗ mạnh: một tài liệu địa phương chí về sông Volga xuất bản năm một ngàn chín trăm hai mươi sáu (tạm mượn ở buồng ngài Simbievich trên tàu thủy). Thật khó lên bảng cân đối thu chi. Ta đành ngủ đêm ở bến tàu vậy.
Hai người bước vào một cái quán bỏ không. Dưới ánh sáng vàng ệch của cây đèn đường thắp bằng dầu hỏa, Ostap đọc một trang trong cuốn tài liệu địa phương chí:
“Trên bờ phải sông Volga là thành phố Vasiuki. Từ đây người ta chở đi các loại gỗ, nhựa thông, sợi vỏ cây, vải gai, và chở đến đây các mặt hàng tiêu dùng, phục vụ cho một vùng cách xa tuyến đường sắt 50 kilômét.
Thành phố có 8000 dân, một nhà máy làm bìa các-tông có 320 công nhân, một xưởng đúc gang, một nhà máy bia và một xí nghiệp thuộc da. Ngoài các trường phổ thông, có một trường trung cấp nông nghiệp”.
– Tình hình nghiêm trọng hơn tôi dự kiến – Ostap nhận xét – Kiếm tiền của dân chúng Vasiuki còn là vấn đề tôi chưa biết giải quyết ra sao. Mà chúng mình cần có ít ra ba chục rúp. Thứ nhất là để ăn uống, thứ hai là để đuổi theo con tàu quay số, đón nhà hát Kolumbo ở thành phố Stalingrat khi họ biểu diễn tại đó.
Ippolit co tròn người lại như con mèo già sau cuộc đối đầu với một con chuột cống khổng lồ, chủ nhân của các thứ cống rãnh và xó xỉnh.
Ostap vừa đi dọc dãy quán chợ, vừa suy nghĩ phương án hành động. Đến nửa đêm thì kế hoạch đã phác xong. Vua mánh nằm xuống cạnh Ippolit và ngủ thiếp đi.
0
 
CHƯƠNG XXXIV
CUỘC ĐẤU CỜ LIÊN HÀNH TINH
 
Từ sáng sớm, trên đường phố Vasiuki có một ông già cao, gầy, đeo chiếc kính kẹp mũi mạ vàng, chân đi ủng ngắn, bẩn và dính đầy thuốc vẽ, đi dán lên tường những tờ áp-phích viết tay với nội dung như sau:
22 tháng 6 năm 1927
ở câu lạc bộ “Công nhân Các-tông”
sẽ có buổi thuyết trình về đề tài:
“NƯỚC CỜ ĐẦU TIÊN VÀ ĐỘC ĐÁO” VÀ
BIỂU DIỄN ĐÁNH CỜ CÙNG MỘT LÚC
Trên 160 bàn cờ
của đại kiện tướng O. Benđer.
Mời tất cả mọi người đem bàn cờ của mình tới tham dự.
Vé chơi cờ – 50 côpếch
Vé vào cửa – 20 côpếch
Khai mạc hồi 6 giờ tối.
Ban quản trị K. Mikhelson
Bản thân đại kiện tướng cờ cũng rất khẩn trương. Sau khi thuê câu lạc bộ hết 3 rúp, Ostap chạy ngay tới bàn cờ (không hiểu sao ban này lại bố trí bàn làm việc ở hành lang của ban phụ trách một trại ngựa giống).
Ở đấy Ostap thấy có một người chột đang ngồi đọc cuốn tiểu thuyết của Shpilhaghen in từ ngày xưa.
– Tôi là đại kiện tướng O. Benđer. – Vua mánh tuyên bố và ngồi ghé xuống bàn – Tôi sẽ tổ chức đấu cờ đồng thời với nhiều người của ban ông.
Con mắt độc nhất của kỳ thủ Vasiukin mở rộng tới hết mức mà thiên nhiên cho phép.
– Xin đồng chí đại kiện tướng chờ cho một chút – Ông chột nói – Mời ông ngồi ghế. Tôi sẽ quay lại ngay.
Rồi ông chột chạy đi. Ostap nhìn nơi làm việc của ban cờ. Trên tường treo la liệt ảnh các con ngựa đua. Còn trên bàn đặt một cuốn sách đầy bụi, nhan đề: “Thành tích của ban cờ Vasiuki trong năm 1925”.
Ông chột trở lại, kéo theo một tiểu đội người thuộc các lứa tuổi khác nhau. Tất cả lần lượt lại gần, xưng tên họ để làm quen và cung kính bắt tay đại kiện tướng cờ.
– Chúng tôi chỉ ghé qua đây trên đường đi Kadan – Ostap nói rất nhanh – vâng, vâng, biểu diễn tối nay, mời các vị tới dự. Còn bây giờ thì xin các vị tha lỗi, tôi hơi bị mệt vì mới kết thúc vòng thi đấu ở Karlsbat.
Các kỳ thủ ở Vasiuki tỏ thái độ tôn kính với Ostap như con với cha. Ostap như được chắp cánh. Hắn cảm thấy dồi dào sức lực mới và nảy ra nhiều tư tưởng lớn về cờ.
– Các vị chắc khó tin rằng tư tưởng về cờ đã tiến xa tới mức nào – Ostap nói – Các vị biết đấy, Lasker đã dùng thủ đoạn rất đê tiện, khiến người ta không thể đấu với lão ta được nữa. Khi thi đấu, lão cứ đốt xì gà liên miên, và cố ý hút loại nặng nhất để đối thủ khó chịu, sặc sụa vì khói. Giới cờ đang lo.
Đại kiện tướng chuyển sang đề tài địa phương.
– Tại sao ở tỉnh ta không có trò chơi tư tưởng nhỉ? Ví dụ ban cờ của các vị. Các vị chỉ gọi nó là ban cờ. Buồn tẻ quá! Tại sao các vị không gọi nó bằng một cái tên khác cho đẹp, cho đúng với tinh thần làng cờ nhỉ? Lúc ấy nó sẽ lôi cuốn được quần chúng cả nước chú ý. Chẳng hạn: “Câu lạc bộ cờ tứ mã”, hoặc “Nước kết đỏ” hoặc “Được cái nhanh thì mất chất”. Thế có hay hơn không nào!
Tư tưởng ấy nghe cũng hấp dẫn.
– Ừ nhỉ – các kỳ thủ Vasiuki nói – tại sao ta không đặt tên ban cờ của ta là “Câu lạc bộ tứ mã”?
Vì nhóm lãnh đạo của ban cờ có mặt ở đây, Ostap bèn tổ chức luôn một phiên họp chớp nhoáng do mình làm chủ tọa danh dự. Phiên họp nhất trí đổi tên ban cờ thành “Câu lạc bộ tứ mã”. Vận dụng kinh nghiệm dưới tàu “Skriabin”, đại kiện tướng đích thân trình bày nghệ thuật bốn con ngựa và dòng chữ trên một miếng bìa các-tông.
Biện pháp quan trọng này hứa hẹn phát triển mạnh tư tưởng cờ ở Vasiuki.
– Cờ! – Ostap nói. – Các vị có biết cờ là gì không? Cờ có tác dụng thúc đẩy không chỉ văn hóa, mà cả nền kinh tế phát triển mạnh! Các vị biết không, nếu biết cách đặt vấn đề cho đúng, “Câu lạc bộ tứ mã” của các vị có thể làm thay đổi hẳn bộ mặt của thành phố Vasiuki.
Từ hôm qua đến giờ Ostap chưa được miếng nào vào bụng. Vì vậy sự diễn giảng của hắn thật là hùng hồn.
– Đúng thế! – hắn lớn tiếng nói. – Cờ làm giàu cho đất nước! Nếu các vị tán thành dự án của tôi, thì con đường từ thành phố xuống bến tàu của các vị sẽ được lát đá hoa! Vasiuki sẽ trở thành trung tâm của hàng chục tỉnh! Trước đây các vị đã biết gì về thành phố Zemmerig không? Chẳng biết gì cả! Vậy mà ngày nay cái thành phố nhỏ bé ấy đã trở nên giàu đẹp và nổi tiếng chỉ vì ở đấy mới tổ chức vòng đấu loại quốc tế. Cho nên tôi mới bảo là nên tổ chức vòng đấu cờ quốc tế ở Vasiuki.
– Làm thế nào ạ? – tất cả đồng thanh hỏi.
– Một việc hoàn toàn thực tế – đại kiện tướng cờ trả lời – Sự quen biết rộng rãi của tôi và tinh thần sáng tạo của các vị – đó là tất cả những gì cần và đủ để tổ chức vòng thi đấu quốc tế ở Vasiuki. Các vị thử nghĩ xem, nghe cũng kêu đấy chứ: “Vòng thi đấu quốc tế ở Vasiuki năm 1927”. Hoze-Raul Kapablanca, Emmanuel Lasker, Alekhin, Nimsovich, Reti, Rubinstein, Marotsi, Tarasch, Viđma và tiến sĩ Grigorev chắc chắn sẽ đến. Ngoài ra tôi cũng sẽ tham gia.
– Nhưng mà tiền! – các kỳ thủ Vasiuki rên rỉ. – Tất cả các vị ấy đều phải trả tiền! Phải có nhiều ngàn rúp mới đủ! Lấy tiền đâu ra?
– Tất cả đã được tính toán từ trước – Ostap nói – Lạc quyên sẽ có tiền.
– Ai sẽ góp những khoản tiền lớn như vậy? Dân Vasiuki ấy à?
– Dân Vasiuki thì góp được gì? Họ sẽ không góp, mà chỉ nhận tiền thôi. Điều đó cực kỳ đơn giản. Có phải là những người chơi cờ nghiệp dư trên toàn thế giới sẽ đổ xô về dự vòng đấu loại của những siêu kiện tướng không nào? Hàng trăm ngàn người giàu có sẽ đến Vasiuki. Thứ nhất, tàu thủy không thể chở ngần ấy hành khách. Do đó bộ dân ủy giao thông vận tải sẽ phải xây dựng tuyến đường sắt Mátxcơva – Vasiuki. Thứ hai là các khách sạn và nhà chọc trời để bố trí nơi ăn ở cho khách. Thứ ba phải phát triển sản xuất nông nghiệp trong bán kính hàng chục nghìn kilômét, vì phải cung cấp đủ rau, hoa quả, trứng cá, kẹo sôcôla cho khách chứ. Thứ tư, phải xây dựng một cung thể thao làm nơi thi đấu. Thứ năm, xây dựng các ga ra cho khách để xe. Thứ sáu, phải xây dựng một đài phát thanh cực mạnh để kịp thời truyền đi toàn thế giới mọi kết quả thú vị của cuộc thi đấu. Bây giờ nói đến tuyến đường sắt Mátxcơva – Vasiuki. Rõ ràng con đường ấy cũng không đủ khả năng chở hết thảy những người muốn đến Vasiuki. Do đó phải xây dựng sân bay “Đại Vasiuki” để hàng ngày chở thư từ bằng máy bay và khinh khí cầu đi khắp nơi trên thế giới, kể cả sang Lốt Ang-giơ-lét và Men-buốc.
Một viễn cảnh vô cùng tươi sáng mở ra trước mắt giới hâm mộ cờ ở Vasiuki. Khuôn khổ hành lang như rộng thêm ra. Cái ổ chuột của trại ngựa giống như bị hót đi, thay vào đó là một tòa lâu đài ba mươi tầng, cửa kính sáng choang, cao vút tận trời xanh – tòa lâu đài của tư tưởng cờ. Ở mỗi phòng, mỗi lầu, thậm chí ngay trong cầu thang máy (những cái thang máy lao vun vút như tên bắn) của tòa lâu đài đều có những kỳ thủ ngồi đăm chiêu thi đấu bên những bàn cờ khảm bằng đá quý...
Con đường bậc thang lát đá hoa chạy xuống dòng sông Volga xanh xanh. Những con tàu vượt đại dương đậu trên sông. Khách ngoại quốc, các bậc thầy về cờ nước Anh, các kiện tướng của Úc, các vua cờ Ấn Độ mặc áo thụng trắng, các đại biểu của trường phái cờ Tây Ban Nha, rồi người Đức, người Pháp, người Tân Tây Lan, người sống ở lưu vực sông Amadôn và tất cả những người ghen tị với dân Vasiuki (như người Mátxcơva, người Lêningrat, người Kiép, người Xibiri và người Ôđetsa) – Tất cả đang ngồi trên đường goòng treo (bắc từ dưới sông lên thành phố) lũ lượt kéo lên thành phố.
Từng đoàn xe du lịch chạy như mắc cửi giữa các ôten xây bằng đá cẩm thạch. Nhưng kìa tất cả đều dừng lại! Từ khách sạn thanh lịch “Tốt qua sông”, nhà vô địch thế giới Hoze-Raul Kapablanca và Grauper bước ta. Các bà các cô xúm lại. Một anh công an trang phục theo kiểu đặc biệt (áo kẻ ô bàn cờ, cầu vai in hình con tượng) lịch sự giơ tay chào. Ông chột – chủ tịch “Câu lạc bộ tứ mã” của thành phố Vasiuki – đường hoàng tiến lại chỗ nhà vô địch thế giới.
Câu chuyện giữa hai ngôi sao (diễn ra bằng tiếng Anh) bị ngắt quãng bởi chuyến máy bay chở bác sĩ Grigorev và nhà vô địch thế giới tương lai là Alekhin hạ cánh.
Những lời chúc mừng làm rung chuyển cả thành phố. Hoze-Raul Kapablanca và Grauper nhăn mặt.
Ông chột đưa tay ra hiệu, và một cái thang bằng cẩm thạch được áp vào máy bay. Bác sĩ Grigorev từ trên máy bay chạy xuống, tay vẫy vẫy chiếc mũ mới và vừa chạy vừa bình luận về khả năng Kapablanca đi sai nước cờ trong trận đấu sắp tới với Alekhin.
Bỗng đằng chân trời xuất hiện một chấm đen. Nó gần lại rất nhanh và biến thành cái dù lớn màu ngọc bích. Một người xách va li nhỏ treo lơ lửng vào chiếc vòng dù.
– Ông ấy đấy – một ông kêu to – U-ra!U-ra! Tôi nhận ngay ra nhà triết gia – kỳ thủ vĩ đại, tiến sĩ Lasker mà! Trên thế giới chỉ có một mình ông ấy đi bít tất xanh thôi.
Hoze-Raul Kapablanca lại nhăn mặt.
Người ta vội vã đặt thang cẩm thạch đón Lasker, và nhà siêu vô địch vừa thổi một hạt bụi bám vào tay áo bên trái lúc ông bay trên vùng Siledia, vừa ngã vào vòng tay ông chột. Ông chột ôm ngang lưng Lasker, dẫn ông ta lại chỗ Kapablanca và nói:
– Thay mặt toàn thể dân chúng Vasiuki, xin hai ngài hãy giảng hòa với nhau!
Kapablanca thở dài một tiếng thật to, rồi vừa lắc lắc tay nhà vô địch, vừa nói:
– Tôi bao giờ cũng khâm phục nước cờ của ngài ở Tây Ban Nha, khi ngài chuyển con tượng từ B5 sang C4.
– U-ra! Ông chột reo lên – Thật giản dị và đầy sức thuyết phục, đúng phong cách nhà vô địch!
Và cả đám đông chưa hiểu gì cũng hòa theo:
– U-ra! Vi vát! Bandai! Thật giản dị và đầy sức thuyết phục, đúng phong cách nhà vô địch!!!
Những chuyến tàu tốc hành dồn dập chạy tới mười hai nhà ga của Vasiuki và đổ xuống ngày một nhiều những người hâm mộ cờ, những kỳ thủ nghiệp dư.
Khi trời đêm đã bừng sáng vì các biển quảng cáo nhấp nháy, thì một con ngựa trắng được cho diễu qua các phố. Đây là con ngựa duy nhất còn sót lại sau khi cơ giới hóa toàn bộ hoạt động giao thông của Vasiuki. Một nghị quyết đặc biệt đổi tên ngựa thành mã, dù rằng đối với nó thì ngựa hay mã cũng thế cả thôi. Dân hâm mộ cờ vung vẩy các cành cọ hoặc bàn cờ để chào mừng con bạch mã.
– Các vị khỏi lo – Ostap nói – dự án của tôi bảo đảm cho thành phố của các vị nhịp độ phát triển lực lượng sản xuất chưa từng thấy. Các vị thử nghĩ xem, điều gì sẽ xảy ra, khi vòng thi đấu kết thúc và quan khách đã ra về. Dân Mátxcơva bị cuộc khủng hoảng nhà cửa xua đuổi sẽ đổ xô về thành phố tuyệt diệu của quý vị. Thủ đô sẽ tự động dời đến Vasiuki. Chính phủ sẽ chuyển tới đây. Vasiuki sẽ đổi tên thành Niu-Mátxcơva, Mátxcơva thì thành Cựu-Mátxcơva. Dân Lêningrat và Kháckốp nghiến răng căm tức nhưng cũng chẳng làm gì được. Niu-Mátxcơva sẽ biến thành trung tâm, thành hòn ngọc của châu Âu, và chẳng mấy chốc của cả thế giới.
– Của cả thế giới!!! – Đám kỳ thủ Vasiuki nghẹn ngào nói.
– Đúng thế! Sau đó của cả vũ trụ kia. Cái tư tưởng cờ sau khi đã biến một thị trấn hẻo lánh thành kinh đô của trái đất, sẽ trở thành một khoa học ứng dụng và phát minh ra những phương thức giao thông liên hành tinh. Từ Vasiuki, các tín hiệu sẽ bay đến sao Hỏa, sao Mộc và Hải vương tinh. Việc thông tin với sao Kim sẽ trở nên dễ dàng như việc đi tàu từ Rybinsk đến Iaroslav. Biết đâu đấy khoảng tám năm sau ở Vasiuki sẽ khai mạc cuộc đấu cờ liên hành tinh lần đầu tiên trong lịch sử vũ trụ cũng nên.
Ostap lau mồ hôi trên vầng trán thanh cao của mình. Hắn đói cồn cào tới mức sẵn sàng ăn hết cả con mã của bàn cờ, nếu con mã ấy được chiên lên tử tế.
– Vâng – Ông chột nhìn cái hành lang bụi bặm, thở dài – Nhưng thực hiện biện pháp ấy như thế nào đây, như người ta nói xây dựng cơ sở vật chất trên cái gì được ạ?
Những người có mặt căng mắt nhìn đại kiện tướng.
– Tôi nhắc lại rằng việc thực thi kế hoạch hoàn toàn lệ thuộc vào sáng kiến của các vị. Toàn bộ công tác tổ chức, xin nhắc lại, tôi nhận đảm nhiệm chu tất. Chẳng tốn kém gì hết, trừ một khoản nhỏ tiền cước phí điện tín.
Ông chột quay sang các chiến hữu của mình:
– Thế nào các bạn? Nhất trí chứ?
– Nhất trí, nhất trí! – Mọi người đồng thanh tán thưởng.
– Cần bao nhiêu tiền để trả cái khoản... cước phí điện tín ạ?
– Có bao nhiêu đâu – Ostap nói – một trăm rúp thôi.
– Quỹ chúng tôi chỉ còn hai mươi mốt rúp mười sáu côpếch. Dĩ nhiên, chúng tôi hiểu rằng thiếu nhiều quá, hẳn thế...
Nhưng đại kiện tướng tỏ ra là một nhà tổ chức tháo vát.
– Cũng được – Ostap nói – ông hãy đưa tạm hai chục rúp đã.
– Có đủ được không ạ? – Ông chột hỏi.
– Đủ để đánh điện đợt đầu! Sau đó người ta sẽ đóng góp, tiền có mà hàng đống.
Ostap cất tiền vào túi áo vét, nhắc mọi người nhớ bài thuyết trình và buổi biểu diễn đánh cờ cùng một lúc trên 160 bàn cờ vào lúc tối nay, đoạn lịch sự chia tay với mọi người, hẹn gặp lại, rồi hắn đến câu lạc bộ “Công nhân các-tông” để gặp Ippolit.
– Đói quá – Ippolit thều thào.
Ông ta đã ngồi sau cửa bán vé, nhưng chưa thu được một xu nào nên cũng chưa có gì cho vào bụng. Trước mặt ông ta đặt một cái đĩa đan bằng mây để đựng tiền. Ở các gia đình đủ ăn, người ta thường dùng loại đĩa ấy để đựng dao, dĩa, phuốc sét.
Ostap nói:
– Này ông bán vé, hãy tạm đóng cửa bán vé chừng một tiếng rưỡi để đi ăn đã! Dọc đường tôi sẽ tóm tắt tình hình cho mà nghe. Mà ông cũng phải cạo râu, rửa mặt mũi cho ra hồn người một chút. Trông ông như thằng ăn mày ấy. Đại kiện tướng không thể giao du với những phần tử đáng ngờ như vậy được.
– Chả bán được cái vé nào – Ippolit báo tin.
– Không sao. Gần tối sẽ đông. Thành phố đã đóng góp cho tôi hai chục rúp để tổ chức cuộc đấu cờ quốc tế rồi đây.
– Thế thì còn tổ chức đấu cờ tối nay làm quái gì? – Phụ trách quản trị nói – Khéo không họ lại nện cho mình một trận thì khốn. Với hai chục rúp, ta có thể đáp tàu thủy đi luôn – Chiếc tàu khách “Karl Lipnekht” vừa vặn sắp khởi hành. Ta đến thẳng Stalingrat và cứ yên chí chờ nhà hát ở đó. Tìm ra mấy cái ghế thì giàu to còn gì nữa.
– Đừng có nói những lời ngu ngốc với cái dạ dày lép kẹp. Cái đó ảnh hưởng xấu đến não. Với hai chục rúp ta có thể đến được Stalingrat, đúng... Thế còn tiền ăn? Đồng chí đô thống thân mến ơi, vitamin không tự dưng chạy vào bụng ai đâu. Trong khi còn có thể lột được của bọn bành trướng Vasiuki vài chục rúp nữa về khoản thuyết trình và biểu diễn đấu cờ.
– Họ nện ta mất! – Ippolit cay đắng nói.
– Đương nhiên là hơi liều. Có thể ăn đòn thật đấy. Nhưng tôi đã nghĩ cách bảo đảm an toàn cho ông rồi. Mà chuyện đó nói sau. Bây giờ ta phải tìm nơi thưởng thức các đặc sản của địa phương đã.
Khoảng sáu giờ tối, đại kiện tướng no nê, mày râu nhẵn nhụi, nước hoa thơm phức, bước vào quầy bán vé của câu lạc bộ “Công nhân các-tông”.
Ippolit cũng đã no nê và cạo râu nhẵn nhụi, đang túi bụi bán vé.
– Thế nào? – Đại kiện tướng hỏi nhỏ.
– Bán được ba chục vé chơi cờ và hai chục vé vào xem – Phụ trách quản trị đáp.
– Mười sáu rúp. Yếu, yếu quá!
– Đồng chí Benđer, đồng chí thử nhìn xem, họ xếp hàng đông quá! Thể nào họ cũng cho ta ăn đòn mất thôi.
– Đừng nghĩ chuyện ấy. Bao giờ họ nện hãy khóc, còn bây giờ thì bán vé đi! Cố bán cho nhiều vào!
Một giờ sau đã thu được ba mươi lăm rúp. Cử tọa trong phòng xôn xao.
– Đóng cửa bán vé lại đi thôi! Đưa tiền đây cho tôi! – Ostap nói – Bây giờ thế này nhé. Ông cầm năm rúp ra bến tàu, thuê một chiếc thuyền trong vòng hai giờ và đưa thuyền chờ tôi ở ven bờ, bên dưới dãy kho ấy. Tối nay tôi sẽ cho ông đi chơi thuyền trên sông. Đừng lo gì về tôi cả. Đâu vào đấy cả.
Đại kiện tướng bước vào phòng lớn. Hắn cảm thấy sảng khoái và biết chắc rằng nước đi đầu tiên e2 – e4 sẽ không gây điều gì rắc rối cho hắn. Những nước đi sau, quả thật hắn mù tịt, nhưng cái đó chẳng khiến vua mánh bối rối chút nào. Hắn đã chuẩn bị lối thoát hoàn toàn bất ngờ để cứu vãn bất cứ ván cờ tuyệt vọng nào.
Tiếng vỗ tay rộ lên đón đại kiện tướng. Căn phòng câu lạc bộ treo nhiều lá cờ nhỏ đủ màu sắc.
Một tuần trước ở đây có dạ hội “Hội cứu đuối”. Khẩu hiệu ở trên tường chứng tỏ điều đó:
CỨU ĐUỐI LÀ VIỆC
CỦA CHÍNH NHỮNG NGƯỜI SẮP
CHẾT ĐUỐI.
Ostap cúi chào, giơ hai tay ra phía trước như muốn gạt đi những tràng vỗ tay mà hắn không đáng được hưởng và bước lên bục.
– Thưa các đồng chí! – Hắn nói, giọng sang sảng – Thưa các đồng chí, các kỳ hữu. Đề tài buổi thuyết trình của tôi hôm nay là điều tôi đã giảng – và phải nói là rất thành công – ở Nizhni Novgorot một tuần trước đây. Đề tài buổi thuyết trình của tôi là “Tư tưởng đấu cờ độc đáo”. Thưa các đồng chí, thế nào là đấu cờ và thế nào là tư tưởng? Đấu cờ, thưa các kỳ hữu, đó là “Quasi una fantasia”. Còn tư tưởng, thưa các đồng chí, là cái gì? Tư tưởng? Thưa các đồng chí, đó là tư tưởng của con người được hiện thân thành hình thức lôgic của cờ. Ngay cả khi lực rất yếu vẫn có thể làm chủ cả bàn cờ. Tất cả đều phụ thuộc vào cá nhân riêng lẻ. Chẳng hạn anh bạn tóc vàng ngồi ở dãy thứ ba kia. Giả sử anh ta chơi giỏi...
Anh bạn tóc vàng ở dãy thứ ba cựa quậy.
– Còn anh bạn tóc đen này giả sử chơi kém hơn...
Mọi người đều quay nhìn anh bạn tóc đen.
– Chúng ta thấy gì nào, thưa các đồng chí? Chúng ta thấy rằng anh bạn tóc vàng chơi khá, còn anh tóc đen chơi kém. Và không một bài thuyết giảng nào có thể thay đổi cái tương quan lực lượng ấy, nếu mỗi cá nhân riêng lẻ không thường xuyên rèn luyện, nghĩa là chơi cờ... Còn bây giờ, thưa các đồng chí, tôi xin kể các đồng chí nghe mấy bài học rút ta từ thực tế của các kỳ thủ siêu mô-đéc đáng kính của chúng ta: Kapablanka, Lasker và bác sĩ Grigorev.
Ostap kể mấy giai thoại cũ rích mà hắn đọc từ hồi còn bé từ quyển “Tạp chí xanh” và kết thúc buổi thuyết trình ở đó.
Thính giả hơi kinh ngạc về cái sự ngắn ngủi của bài thuyết trình. Còn ông chột thì không rời con mắt độc nhất của mình khỏi đôi giày của đại kiện tướng.
Tuy nhiên, buổi biểu diễn chơi cờ cùng một lúc với nhiều đối thủ đã bắt đầu, tạm ngăn sự nghi ngờ ngày càng tăng của ông chột. Cùng với mọi người, ông im lặng bày quân cờ ra các bàn. Tổng cộng chỉ có ba chục người dám đấu với đại kiện tướng. Nhiều người trong số họ hết sức lúng túng, cứ chốc chốc lại giở sách giáo khoa về cờ ra xem, để ôn lại những thế cờ phức tạp khả dĩ có thể giúp họ chọi lại đại kiện tướng đến nước thứ hai mươi hai rồi có thua mới chịu.
Ostap lướt mắt nhìn các hàng quân “đen” đang bao quanh hắn tứ phía, hắn nhìn cánh cửa ra vào đóng kín và dũng cảm bắt tay vào công việc. Hắn bước lại chỗ ông chột ngồi sau bàn cờ đầu tiên và đi quân tốt hoàng hậu từ ô e2 sang ô e4.
Ông chột lập tức dùng hai tay chộp lấy cả hai tai và căng trán suy nghĩ. Tiếng xì xào lan nhanh qua các kỳ thủ nghiệp dư:
– Đại kiện tướng đi nước e2 – e4.
Ostap không chiều theo ý muốn của các đối thủ bởi các nước cờ khác nhau. Trên hai mươi chín bàn cờ còn lại, hắn chỉ đi mỗi một nước là nhấc con tốt hoàng hậu từ E2 sang vị trí E4. Các kỳ thủ lần lượt theo nhau vò đầu bứt tóc, chìm trong suy nghĩ căng thẳng. Những người không chơi cờ thì đưa mắt theo dõi đại kiện tướng. Anh thợ ảnh nghiệp dư duy nhất của thành phố đã leo lên ghế và chuẩn bị bật đèn bấm máy, thì Ostap giận dữ xua tay, đang đi giữa hai dãy bàn cờ liền đứng lại, quát to:
– Cất máy ảnh đi! Nó cản trở tư tưởng cờ của tôi!
“Chả nên để lại ảnh của mình ở cái thị trấn đáng thương này. Mình không thích dính dáng với mấy ông công an” – Vua mánh thầm nghĩ.
Tiếng hầm hừ giận dữ của đám kỳ thủ buộc tay thợ ảnh phải từ bỏ ý định của mình. Mọi người bực bội đến nước tay phó nháy bị đuổi hẳn ra ngoài. Đến nước thứ ba mới vỡ lẽ rằng đại kiện tướng chơi mười tám ván theo kiểu Tây Ban Nha. Ở mười hai bàn cờ còn lại, quân đen áp dụng lối thủ tuy hơi cổ, nhưng khá chắc chắn của Filiđor. Giá như Ostap biết rằng hắn đang chơi những ván cờ có bài bản hay ho như vậy và bắt gặp sự thủ thế đáng kính như vậy, hẳn hắn sẽ rất ngạc nhiên. Bởi một lẽ giản dị: đây là lần thứ hai trong đời, vua mánh chơi cờ.
Lúc đầu các kỳ thủ, mà trước hết là ông chột, rất hoảng. Sự quỷ quyệt của đại kiện tướng thật quá hiển nhiên.
Đại kiện tướng hẳn có mưu mô thâm hiểm gì đây với các kỳ thủ chậm tiến của thành phố Vasiuki nên mới dễ dàng thí bỏ những con tốt, những quân cờ quan trọng và ít quan trọng ở hai bên như vậy. Với anh bạn tóc đen bị lấy làm ví dụ chơi kém trong buổi thuyết trình, đại kiện tướng thậm chí còn thí cả hoàng hậu. Anh ta đã hoảng sợ, định xin hàng luôn, nhưng phải dùng nỗ lực, ý chí ghê gớm lắm mới buộc mình chơi tiếp.
Tiếng sấm giữa lúc trời xanh trong nổ ra vào phút thứ năm.
– Chiếu tướng! – Anh bạn tóc đen run rẩy nói – Chiếu tướng hết, thưa đồng chí kiện tướng!
Ostap phân tích tình thế và ngạo nghễ chúc mừng anh bạn tóc đen thắng cuộc. Tiếng ồn ào nổi lên khắp các dãy bàn.
“Đến lúc chuồn rồi” – Ostap nghĩ bụng trong lúc thản nhiên đi dọc các dãy bàn cờ và đặt quân cờ vô tội vạ.
– Đồng chí đại kiện tướng đi sai con mã rồi – Ông chột ấp úng – Con mã không đi như vậy.
– Pardon, pardon, xin lỗi – đại kiện tướng trả lời – sau buổi thuyết trình tôi hơi mệt.
Trong vòng mười phút tiếp theo, đại kiện tướng thua luôn mười ván nữa.
Những tiếng kêu kinh ngạc vang lên trong phòng. Cuộc xung đột đã chín muồi. Ostap thua liền mười lăm ván, rồi ba ván nữa. Chỉ còn mỗi mình ông chột. Ban đầu ông sợ quá nên đi vô số nước sai, bây giờ phải vất vả khôi phục lại thế cờ mới dẫn tới chiến thắng. Thừa lúc mọi người không để ý, Ostap thó luôn con tháp đen trên bàn cờ và giấu vào túi.
Đám đông xúm quanh hai kỳ thủ cuối cùng.
– Con tháp của tôi vừa đứng đây! – Ông chột nhìn quanh, hét to – mà bây giờ biến đâu mất tăm!
– Không có trên bàn tức là bị ăn rồi! – Ostap nói.
– Bị ăn là thế nào? Tôi nhớ kỹ lắm!
– Bị ăn là bị ăn!
– Nó đâu? Anh ăn nó à?
– Tôi ăn.
– Ăn bao giờ? Nước thứ mấy?
– Sao ông cứ làm đầu óc tôi mụ mẫm đi vì con tháp của ông như vậy? Chịu thua đi, rồi muốn nói sao hãy nói.
– Xin lỗi, các đồng chí, mọi nước đi của tôi đều được ghi chép hẳn hoi.
– Ghi chép cũng bỏ! – Ostap nói.
– Không được! – Ông chột dằn giọng – Anh hãy trả tôi quân tháp.
– Chịu thua đi, chịu thua đi đã!
– Trả ngay quân tháp cho tôi!
Đại kiện tướng hiểu rằng chậm trễ lúc này là chết, bèn vớ lấy một vốc quân cờ trên bàn và ném thẳng vào mặt đối thủ một mắt.
– Các đồng chí ơi – Ông chột rú lên – Người ta đánh kỳ thủ kìa!
Các kỳ thủ của thành phố Vasiuki sững sờ.
Không để phí một giây phút quý báu, Ostap văng cả bàn cờ vào bóng đèn và trong bóng tối vừa ập xuống, hắn đấm lung tung vào quai hàm, vào trán ai đó, rồi chạy thẳng ra đường. Các kỳ thủ Vasiuki ngã dúi dụi vào nhau, hò la đuổi theo.
Tối nay có trăng, Ostap chạy vùn vụt trên con đường chan hòa ánh trăng, nhẹ nhàng như thiên thần sắp từ giã mặt đất tội lỗi. Vì Vasiuki chưa biến thành trung tâm của vũ trụ nên phải chạy qua những ngôi nhà gỗ nhỏ, cửa sổ mở rộng, chứ không phải chạy giữa các lâu đài tráng lệ.
Các kỳ thủ đuổi sát sau lưng.
– Bắt lấy thằng đại kiện tướng! – Ông chột thét lớn.
– Tên bịp bợm! – Mọi người hòa theo.
– Bọn công tử bột! – Đại kiện tướng tăng tốc độ và nhiếc lại.
– Báo động! – Các kỳ thủ tự ái gầm lên.
Ostap chạy xuống con đường bậc thang dẫn xuống bến tàu. Phải chạy qua bốn trăm bậc. Ở bậc dừng nghỉ thứ sáu, có hai kỳ thủ chạy đường tắt đã chờ hắn sẵn ở đó. Ostap ngoảnh lại, từ phía trên cả một bầy kỳ thủ theo trường phái Filiđor đang ào xuống như một đàn chó hung dữ. Hết đường thoái lui. Bởi vậy, Ostap chỉ còn cách chạy tiếp.
– Quân chó má, ta sẽ cho chúng mày biết tay! – Hắn quát to với hai tay trinh sát dũng cảm và lao từ bậc dừng nghỉ thứ năm xuống bậc thứ sáu.
Hai trinh sát viên rú lên, leo qua tay vịn chạy biến vào bóng tối. Đường đã mở.
– Bắt lấy đại kiện tướng! – Tiếng vang từ phía trên tràn xuống.
Tới bờ sông, Ostap lánh sang bên phải và đưa mắt tìm con thuyền với người cộng sự trung thành của hắn.
Ippolit đang ngồi nhởn nhơ trên thuyền. Ostap nhảy xuống thuyền và vội vàng bơi ra xa. Một phút sau, những hòn đá ném tới tấp về phía con thuyền. Một hòn rơi trúng Ippolit. Phía trên đám mụn đỏ xuất hiện một cục sưng vù màu tím. Ippolit so vai rụt cổ, rên rỉ.
– Rên rên rỉ rỉ cái gì! Suýt nữa tôi mất đầu mà tôi vẫn tỉnh táo và vui tươi. Nếu tính khoản lãi ròng năm chục rúp, thì ông có bị một hòn sưng đầu, cũng chẳng có gì đáng phàn nàn. Ta vẫn lãi to.
Trong khi ấy, những người đuổi theo mãi bây giờ mới hiểu rằng kế hoạch biến Vasiuki thành Niu-Mátxcơva đã sụp đổ, rằng đại kiện tướng cướp trắng năm chục rúp mồ hôi nước mắt của dân chúng Vasiuki, liền xuống một chiếc thuyền lớn và hò nhau chèo ra giữa sông. Trên thuyền có khoảng ba chục người. Ai cũng muốn tham gia thanh toán món nợ với đại kiện tướng. Chỉ huy là ông chột. Trong đêm tối, con mắt độc nhất của ông long lanh sáng như ngọn hải đăng.
– Bắt lấy đại kiện tướng – Mọi người trên thuyền gào to.
– Chèo mạnh vào, Kisa! – Ostap giục – Nếu họ đuổi kịp, tôi không thể bảo đảm được kính của ông nguyên lành đâu đấy.
Cả hai con thuyền đều trôi xuôi dòng. Khoảng cách giữa hai bên ngắn dần. Ostap gần kiệt sức.
– Đừng hòng trốn thoát, quân chó má! – Đám đông trên thuyền gầm lên.
Ostap không trả miếng vì chả có thì giờ. Mái chèo văng nước từng đám vào thuyền hắn.
– Cố lên! – Ostap tự nhủ mình.
Ippolit lo sốt vó. Con thuyền to thắng thế. Mũi thuyền ấy đã vượt lên, ép con thuyền nhỏ từ phía bên trái để buộc hai thành viên hợp đồng phải cặp vào bờ. Số phận hẩm hiu đang chờ hai kẻ bịp bợm. Niềm vui trên con thuyền to dâng lên cao tới mức tất cả các kỳ thủ đều dồn sang mạn thuyền bên phải, để với ưu thế hơn hẳn về lực lượng, giáng đòn trả thù vào tên đại kiện tướng bịp bợm.
– Giữ chiếc kính kẹp mũi cho chắc nhé, Kisa! – Ostap thất vọng quăng chèo, bảo Ippolit – Sắp sửa rồi đấy!
Ippolit kêu lên bằng giọng gà trống:
– Các vị ơi, chẳng lẽ các vị đánh đập bọn tôi thật ư?
– Khỏi phải bàn! – Các kỳ thủ Vasiuki gầm lên và chuẩn bị nhảy sang con thuyền nhỏ.
Nhưng lúc ấy xảy ra một sự cố cực kỳ đáng buồn đối với những người chơi cờ trung thực toàn thế giới. Cái thuyền lớn chao hẳn sang bên phải và nước tràn mạnh vào thuyền.
– Cẩn thận – Thuyền trưởng độc nhãn quát to.
Nhưng đã muộn. Vì quá nhiều người đổ sang mạn phải, chiếc thuyền bị lệch trọng tâm, đành tuân theo quy luật vật lý, lật sấp hẳn lại.
Tiếng rú của đám đông phá vỡ sự yên tĩnh của dòng sông.
– Ô – ôi – ối – ối! – Các kỳ thủ ré lên.
Cả ba chục người đều chìm nghỉm. Họ nhanh chóng ngoi lên mặt nước và lần lượt bám vào con thuyền bị lật sấp. Người ngoi lên sau cùng là ông chột.
– Lũ công tử bột! – Ostap khoái trá gọi to – Sao các người không đánh ngài đại kiện tướng đi? Hình như các người muốn nện ta thì phải, nếu ta không lầm?
Ostap bơi thuyền quanh các nạn nhân.
– Các vị biết đấy, ta có thể dìm chết từng đứa một, nhưng thôi, ta tha cho các vị sống. Hãy sống cho lành mạnh nhé, có điều, lạy chúa, chớ chơi cờ nữa! Các vị không biết chơi đâu! Toàn một lũ công tử bột, công tử bột thôi... Nào! Ta tiếp tục cuộc hành trình của ta, Ippolit. Vĩnh biệt các kỳ thủ độc nhãn. Ta sợ rằng Vasiuki khó mà trở thành cái rốn của vũ trụ. Ta nghĩ rằng vị tất các bậc thầy làng cờ thế giới chịu đến với bọn người ngu ngốc như các vị, cho dù ta hết sức nài nỉ họ. Vĩnh biệt những kẻ săn tìm cảm giác mạnh qua thú chơi cờ! “Câu lạc bộ tứ mã” muôn năm!
0
 
CHƯƠNG XXXV
VÀ VÂN VÂN
 
Sáng ra, hai nhân vật của chúng ta đã tới thành phố Cheboksar. Ostap thiu thiu ngủ bên tay lái. Ippolit thì vừa chèo vừa ngủ gật. Hơi lạnh ban đêm khiến cả hai run rẩy. Ở phía đông nở lớn những nụ hồng. Cái kính kẹp mũi của Ippolit sáng dần, lấp la lấp lánh, lần lượt in hình hai bờ sông. Ngọn đèn hiệu ở bờ bên trái bị cong gập trong mắt kính lõm từ hai phía. Cái vòm xanh của Cheboksar trôi như những con tàu. Vườn cây phía đông mở rộng. Các nụ hồng biến thành núi lửa và bắt đầu phun ra những dòng phún thạch đủ màu. Bầy chim trên bờ trái đua nhau cãi cọ ầm ĩ. Cái gọng vàng của chiếc kính chợt bừng lên, chiếu vào đại kiện tướng. Mặt trời đã mọc.
Ostap mở mắt, duỗi người, vặn khớp xương kêu răng rắc, làm con thuyền chòng chành.
– Chào ông Kisa – hắn cố nén cái ngáp, nói – Tôi đến để chào ông, và kể rằng mặt trời đã mọc, rằng không hiểu sao mới sáng ra trời đã nóng như nung...
– Đến bến tàu rồi – Ippolit báo cáo.
Ostap lấy cuốn tài liệu địa phương chí ra xem.
– Chắc đây là Cheboksar. Thử xem nào...
Chúng tôi chú ý đến một thành phố rất đẹp nằm trên bờ sông. Đó là Cheboksar...
– Kisa, thành phố này có đẹp thật không?
Hiện nay Cheboksar có 7702 người dân.
– Kisa, tôi với ông hãy bỏ phắt cuộc săn tìm kim cương, để tăng dân số Cheboksar lên bảy ngàn bảy trăm lẻ bốn người. Đồng ý chứ? Ép-phê ra phết... Ta sẽ mở một cửa hàng kinh doanh món gì đó và sẽ có những miếng bánh mì thật to... Nào, xem sách viết gì.
Xây dựng từ năm 1555, thành phố đến nay vẫn còn nguyên mấy nhà thờ rất đẹp. Ngoài các cơ quan hành chính của nước cộng hòa Truvasơ, ở đây có: một khoa công nhân, một trường Đảng, một trường trung học sư phạm, hai trường cấp hai, một nhà bảo tàng, một hội nghiên cứu khoa học và một thư viện. Ở bến tàu Cheboksar và ngoài chợ, ta có thể gặp những người Truvasơ và Treremis qua hình thức nổi bật của họ...
Nhưng trước khi cặp bến để gặp những người Truvasơ và Treremis, hai người nhìn thấy một vật đang trôi phía trước con thuyền.
– Ghế! Ostap kêu to – Kisa, chiếc ghế của chúng mình đang trôi kìa.
Họ cho thuyền bơi lại bên chiếc ghế. Nó đang đung đưa, quay tròn, khi nổi lên, lúc chìm xuống né tránh hai thành viên hợp đồng. Nước chui vào đầy cái bụng rỗng của nó.
Đây là chiếc ghế đã bị rạch bụng trên tàu “Skriabin” và lúc này đang trôi ra biển Caspi.
– Chúa thật! – Ostap nói – Lâu lắm mới gặp lại nó. Kisa, ông biết không, chiếc ghế này làm cho tôi nghĩ đến cuộc đời của chúng mình. Chúng mình cũng đang xuôi dòng như nó. Người ta muốn dìm chết ta, ta vẫn ngoi lên, tuy điều đó chẳng làm ai vừa ý. Chả ai yêu thương ta, trừ Bộ luật hình sự, mà bộ luật ấy cũng chẳng thương gì ta. Không ai muốn dính dáng với ta. Giả sử tối qua đám kỳ thủ Vasiuki dìm chết tôi với ông, thì người ta chỉ còn biết về tôi với ông qua biên bản khám nghiệm tử thi: “Cả hai cái xác đều nằm, đầu chỉ hướng tây bắc, chân chỉ hướng đông nam. Trên người có nhiều vết thương có lẽ bị đánh bằng vật không nhọn”. Chắc bọn Vasiuki sẽ dùng bàn cờ để đập chúng mình. Cái bàn cờ là vật không nhọn mà... Cái xác thứ nhất là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, mặc chiếc áo vét rách rưới, quần dài và ủng đều tã. Trong túi áo khoác có thẻ căn cước mang tên Konđrat Karlovich Mikhelson... Đấy, người ta sẽ viết về ông như thế đấy, Kisa ạ...
– Thế còn anh thì sao? – Ippolit giận dữ hỏi.
– Ồ! Về tôi họ sẽ viết khác hẳn. Đại loại như sau: “Cái xác thứ hai là của một thanh niên khoảng hai mươi bảy tuổi. Người này đã yêu và đã đau khổ. Anh ta yêu tiền và đau khổ vì thiếu tiền. Cái đầu anh ta có vầng trán cao, với vài món tóc đen nhánh xõa xuống trán, hướng mặt về phía mặt trời. Hai bàn chân tuyệt đẹp của anh ta, đi cỡ giày bốn mươi hai, hướng về phía bắc cực quang. Xác được che bằng bộ quần áo trắng sạch bong, trên ngực đeo một cái đàn hạc bằng vàng có khảm ngọc trai và một câu trong bản tình ca ‘Vĩnh biệt quê mới’. Người thanh niên này làm nghề khắc nóng trên gỗ, xét qua tấm thẻ căn cước tìm thấy trong túi áo, cấp ngày 23 tháng tám năm 1924, No 86/1562 tại xưởng thủ công ‘Pegas và Parnas’”. Và ông Kisa ạ, tôi sẽ được chôn cất tử tế, có dàn nhạc hẳn hoi, có điếu văn, và trên bia mộ sẽ đề: “Nơi đây yên nghỉ cán bộ kỹ thuật nhiệt Ostap-Suleiman-Berta-Maria Benđer Bei, mà người cha là một công dân quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ khi chết đi không để lại cho cậu con trai Ostap-Suleiman của mình chút tài sản gì. Mẹ của anh thanh niên quá cố là bá tước và vốn sinh sống bằng thu nhập không chính đáng”.
Vừa nói chuyện như thế, chiếc thuyền của hai người đã cặp vào bờ Cheboksar.
Buổi tối, sau khi tăng thêm năm rúp vào lưng vốn nhờ bán chiếc thuyền thuê ở Vasiuki, hai người xuống chiếc tàu thủy “Uritski” để đi Stalingrat, với dự kiến sẽ đến đó trước nhà hát Kolumbo vì tàu “Skriabin” chạy rất chậm.
“Skriabin” tới Stalingrat vào đầu tháng bảy. Hai nhân vật của ta ra nấp ở các kiện hàng trên bến và đón chờ nó. Trước khi lên bờ, người ta tổ chức một cuộc quay số có thưởng rất lớn dưới tàu.
Phải chờ gần bốn giờ đồng hồ mới thấy ba cái ghế. Đầu tiên các diễn viên nhà hát Kolumbo và các nhân viên quay số lên bờ trước. Khuôn mặt Persitski nổi bật trong đám họ.
Ngồi ở chỗ phục kích, hai thành viên hợp đồng nghe rõ tiếng ông ta nói:
– Vâng, tôi đi Mátxcơva tức khắc! Tôi đã đánh đi một bức điện! Và các bạn có biết nội dung thế nào không? “Vui với tất cả”. Mặc họ đoán già đoán non!
Sau đó Persitski leo lên một chiếc ô tô cũ (ông ta đã đi vòng quanh xe xem xét và sờ mó vào hộp tản nhiệt thật kỹ). Chiếc xe chạy đi và không rõ vì sao người ta tiễn nó bằng tiếng “u-ra”.
Sau khi cái máy nén thủy lực được đưa lên bờ, người ta bắt đầu chuyển các dụng cụ trang trí của nhà hát Kolumbo. Lúc ba chiếc ghế được bưng ra, trời đã nhá nhem tối. Người ta chất tất cả đồ đạc lên năm cái xe và vui vẻ phóng thẳng đến ga xe lửa.
– Hình như họ không biểu diễn ở Stalingrat, – Ippolit nói.
Điều đó khiến Ostap lo ngại.
– Phải bám theo họ – hắn quyết định – mà tiền đâu mua vé bây giờ? Thôi, ta cứ đi ra ga, sau hãy hay.
Tới ga, mới biết rằng nhà hát đi Piatigorak qua ngả Tikhoretskaia – Nước khoáng. Hai thành viên hợp đồng chỉ đủ tiền mua một chiếc vé.
– Ông có biết cách đi tàu lậu vé không? – Ostap hỏi Ippolit.
– Để tôi thử xem vậy – Ippolit lưỡng lự trả lời.
– Quỷ tha ông đi! Tốt hơn là ông chớ có thử! Tôi tha cho ông lần này nữa. Vậy là tôi phải đi trốn vé.
Một chiếc vé ở toa ghế cứng được mua cho Ippolit. Ông ta đáp tàu tới ga “Nước khoáng” của tuyến đường sắt Bắc Cápcadơ, một nhà ga bày nhiều chậu cây trúc đào, cố không chạm trán với các diễn viên nhà hát Kolumbo lúc họ xuống ga, và bắt đầu đi tìm Ostap.
Nhà hát đã chuyển tàu đi Piatigorak bao nhiêu lâu rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng Ostap đâu cả. Mãi chiều tối hắn mới tới và thấy Ippolit đang ở trong trạng thái cực kỳ hoang mang.
– Anh ở đâu vậy? – vị đô thống rên lên – Tôi đến là khổ sở!
– Ông khổ sở vì được ung dung đáp tàu với chiếc vé trong túi hả? Còn tôi sướng lắm phải không? Vậy là không phải tôi bị người ta đuổi khỏi chuyến tàu của ông ở ga Tikhoretskaia chăng? Vậy là không phải tôi bị ngồi ở ga đó suốt ba tiếng đồng hồ như một thằng ngốc, chờ chuyến tàu hàng chở toàn vỏ chai nước khoáng chắc? Ông là con lợn, ông đô thống ạ! Nhà hát đâu rồi?
– Họ đã đi Piatigorak
– Thì ta đi thôi. Tôi đã kiếm được ba rúp dọc đường. Tuy không nhiều nhặn gì, nhưng cũng đủ để mua vé và uống nước để cầm hơi.
Chuyến tàu chở khách đi nghỉ cuối tuần sau năm mươi phút đã đưa hai nhân vật của chúng ta đến Piatigorak. Họ đi ngang qua Zmeika và Beshtau tới chân núi Mashuk.
0
 
CHƯƠNG XXXVI
THẮNG CẢNH VŨNG NƯỚC XANH
 
Buổi tối chủ nhật. Tất cả đều sạch sẽ như được gột rửa. Ngay núi Mashuk với nhiều bụi cây và rừng thưa, cũng như được chải chuốt cẩn thận và toát ra hương thơm man mác.
Những cái quần trắng đủ kiểu loại, may bằng các thứ hàng khác nhau, với độ dày mỏng khác nhau, cứ nối nhau qua lại trên cái sân ga nhỏ xíu. Dân ở đây đi săng-đan và mặc áo sơ mi ital. Hai nhân vật của chúng ta thì đi loại ủng nặng nề, bẩn thỉu, mặc quần nhem nhuốc, áo gi lê nóng nực và áo vét tông còn nực hơn nữa, trông rất xa lạ giữa đám đông. Trong đám con gái lũ lượt đổ về đây nghỉ mát, với đủ kiểu quần áo bằng vải xita mỏng như thế nổi lên bộ cánh trắng cực kỳ lịch sự của vị nữ trưởng ga.
Tất cả những người tới đây đều ngạc nhiên vì trưởng ga lại là nữ. Mấy món tóc len ra ngoài vành mũ đỏ trông đến là duyên. Trên người nữ trưởng ga là chiếc áo kitel trắng và cái váy cũng trắng muốt.
Sau khi ngắm chán chê vị nữ trưởng ga, đọc tờ áp-phích vừa dán về chuyến đi biểu diễn của nhà hát Kolumbo tại Platigorak và uống hai ly nước suối hết mười côpếch, hai nhân vật của chúng ta đáp chuyến tàu điện chạy tuyến Nhà Ga – Vườn Hoa để vào trung tâm Piatigosak. Vào Vườn Hoa phải trả mười côpếch.
Ở Vườn Hoa có rất nhiều tiếng nhạc, nhiều con người vui nhộn và rất ít hoa. Dàn nhạc giao hưởng đang chơi bản nhạc “Điệu vũ của loài muỗi”. Ở nhà bảo tàng Lermontov có bán nước suối. Nước suối được bán tại các quầy và ở khắp mọi nơi.
Chẳng ai để ý đến hai kẻ bẩn thỉu đi săn tìm kim cương.
– Kisa, chúng mình quá xa lạ ở nơi ăn chơi phè phỡn này.
Đêm đầu tiên ở khu nghỉ mát, hai người nằm ngủ cạnh nguồn suối nước khoáng.
Ở Piatigosak, khi nhà hát Kolumbo biểu diễn buổi thứ ba vở “Cuộc hôn nhân” của mình trước công chúng thành phố, hai nhân vật của chúng ta mới nhận thức rõ toàn bộ sự khó khăn của việc săn tìm kho báu. Họ không thể lọt vào sân khấu như dự tính lúc trước. Galkin, Palkin, Malkin, Chalkin và Zankinđ nằm ngủ ngay sau cánh gà, vì sự ăn kiêng không cho phép tốp nhạc công này sống ở khách sạn.
Ngày nọ qua ngày kia, và hai thành viên hợp đồng kiệt sức dần vì phải ngủ ở nơi Lermontov xưa kia từng đấu súng và phải xách thuê hành lý cho dân du lịch hạng trung để lấy tiền sinh sống.
Đến ngày thứ sáu, Ostap làm quen được với thợ điện Mechnikov, người phụ trách máy ép thủy lực. Dạo này, vì không còn tiền uống rượu, ngày nào cũng chỉ ngà ngà say nước suối khoáng, Mechnikov lâm vào tình thế đáng sợ và, theo quan sát của Ostap, cứ phải đem một vài thứ đồ lề của nhà hát ra chợ bán. Sự thỏa thuận cuối cùng diễn ra vào lúc bình minh bên nguồn suối khoáng. Thợ điện Mechnikov gọi Ostap là chú em và đồng ý.
– Xong – bác ta nói – bao giờ cũng xong, chú em ạ. Xong ngay tắp lự.
Ostap hiểu ngay rằng bác thợ điện vào loại tay tổ.
Hai bên thỏa thuận nhìn vào mắt nhau, ôm nhau, vỗ vỗ vào lưng nhau và cười tử tế.
– Này – Ostap nói – xong toàn bộ việc ấy tôi xin biếu bác một chục!
– Ồ chú em! – tay tổ ngạc nhiên. – Toa làm moa giận đấy. Moa là kẻ nghiện nước trắng mà.
– Thế bác muốn bao nhiêu?
– Nửa bách đi. Tài sản quốc gia. Mà moa lại là dân ghiền.
– Thôi, bác nhận hai chục thôi, được không? Nhìn mắt bác tôi biết là bác đã đồng ý.
– Đồng ý là sản phẩm của sự thỏa thuận hoàn toàn giữa cả hai bên.
– Nó nói hay chưa, đồ chó. – Ostap ghé tai Ippolit nói nhỏ – Ông hãy lắng nghe mà học tập nó.
– Vậy bao giờ bác đem ghế lại?
– Có tiền thì có ghế.
– Nhất trí – Ostap trả lời không cần suy nghĩ.
– Phải ứng trước – tay tổ tuyên bố – tối nay đưa tiền, sáng mai có ghế, hoặc, sáng tiền, tối ghế.
– Nếu hôm nay trao ghế, sáng mai trả tiền thì có hơn không? – Ostap thử mặc cả.
– Moa là dân ghiền mà, chú em. Điều kiện như thế nghe không thuận tai.
– Nhưng phải sáng mai tôi mới ra bưu điện lĩnh tiền được kia – Ostap nói.
– Vậy thì lúc ấy ta sẽ nói chuyện với nhau – lão thợ điện ngang bướng kết luận – còn bây giờ thì tạm biệt hai vị, moa đi đây, cái máy ép của moa luôn đòi hỏi người trông nom. Simbievich nó gớm lắm. Sức moa đã yếu, mà chỉ uống nước suối không thì sống sao được?
Và Mechnikov bỏ đi trong ánh nắng ban mai rọi vào người lão ta.
Ostap nghiêm nghị nhìn Ippolit, nói:
– Thời gian mà chúng ta đang có chính là khoản tiền mà chúng ta không có. Ta phải hành động thôi. Trước mắt ta là một trăm năm mươi ngàn rúp không hào không xu. Chỉ cần có hai mươi rúp là đống tiền kia vào tay chúng ta. Giờ thì phương tiện gì cũng đều là tốt. Được ăn cả, ngã về không.
Ostap trầm ngâm đi quanh Ippolit một vòng.
– Ông hãy cởi áo vét ra, lẹ lên – đột nhiên hắn nói.
Cầm lấy cái áo trước con mắt ngạc nhiên của Ippolit, hắn ném ngay xuống đất và dùng gót giày bẩn thỉu chà đạp lên.
– Anh làm gì thế? – Ippolit cao giọng – Cái áo này tôi mặc đã mười lăm năm nay mà vẫn mới nguyên.
– Đừng lo! Nó sắp sửa hết mới rồi! Đưa mũ đây! Bây giờ ông hãy vẩy nước vào quần và trát bụi đất vào đó! Nhanh lên!
Mấy phút sau, Ippolit trở thành một kẻ lem luốc dễ sợ.
– Bây giờ thì ông đã có đầy đủ khả năng để kiếm tiền bằng lao động chân chính.
– Tôi phải làm gì đây? – Ippolit dở khóc dở mếu, hỏi.
– Tôi hy vọng ông biết tiếng Pháp chứ?
– Hỏng quá, chỉ trong chương trình trung học ngày xưa.
– H... ừm! Thì sử dụng vốn liếng ấy cũng được. Liệu ông có thể nói nổi bằng tiếng Pháp câu sau đây không: “Các ngài ơi, đã sáu ngày nay con không được ăn miếng gì...”?
– Mơxiơ... – Ippolit ấp a ấp úng – mơxiơ, hưm, hưm, giơ nơ, hình như giơ nơ măng-giơ pa... sáu, gì nhỉ, oong, đơ, troa, cát, xanh,... sít... sít giua. Nghĩa là giơ nơ măng-giơ pa sít giua.
– Phát âm của ông chán mớ đời! Nhưng cũng chả đòi hỏi gì hơn ở kẻ ăn mày được nữa! Đương nhiên kẻ ăn xin ở nước Nga châu Âu phải nói tiếng Pháp tồi hơn Milleran. Này, thế ông biết tiếng Đức đến trình độ nào, Kisa?
– Tôi cần tất cả các trò này để làm gì? – Ippolit ngơ ngác.
– Để – Ostap nói cứng rắn – bây giờ ông đến Vườn Hoa, đứng dưới bóng cây và dùng tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga mà xin ăn, viện cớ ông nguyên là ủy viên Đuma thuộc phái Kađét. Toàn bộ số tiền xin được sẽ nộp cho lão thợ điện Mechnikov. Ông hiểu chưa?
Ippolit thay đổi hẳn. Ngực ông ta ưỡn thẳng như cây cầu Đvorsovưi ở Leningrat, mắt tóe lửa, còn hai lỗ mũi thì Ostap thấy hình như đang xả khói. Bộ tia từ từ ngọ ngoạy.
– Ái chà chà – vua mánh không chút sợ hãi, nói – nhìn ông ta kìa. Không phải là người nữa, mà y như một chú ngựa non.
Ippolit nói không mấp máy môi:
– Không đời nào, không đời nào thằng Ippolit thuộc dòng họ Vorobjaninov này chịu ngửa tay ăn xin.
– Thì chết thẳng cẳng, đồ con lừa! – Ostap rít lên – Ông chưa bao giờ ngửa tay ăn xin thật chứ?
– Chưa bao giờ.
– Giỏi quá nhỉ! Ba tháng nay hắn ăn bám vào tôi. Ba tháng nay tôi cho hắn ăn uống, dạy dỗ hắn, bây giờ cái giống ký sinh trùng ấy còn mở miệng tuyên bố rằng hắn... Được lắm, ông bạn ạ, thế là đủ rồi! Cho phép ông lựa chọn: hoặc ngay bây giờ ông phải đến Vườn Hoa và tối nay mang mười rúp về đây, hoặc tôi sẽ gạch tên ông ra khỏi danh sách cổ đông tham gia hợp đồng. Tôi sẽ đếm đến năm. Có chịu hay không? Một...
– Chịu – Ippolit lắp bắp.
– Thế thì nhắc lại câu ăn xin đi.
– Mơxiơ, giơ nơ măng-giơ pa sít giua. Heben di mia bit te ết vat côpếch a-úp đem stus brot. Xin các ông các bà bố thí đôi chút cho kẻ nguyên nghị viên viện Đuma này.
– Nhắc lại! Nói cho thảm thiết hơn!
Ippolit nhắc lại.
– Được đấy. Ông có tài bẩm sinh đi ăn mày đó. Giờ thì đi đi. Hẹn nửa đêm gặp nhau ở đây. Và nhớ rằng không phải hò hẹn để tình tự đâu nhé, vì ăn xin buổi tối dễ được người ta bố thí hơn.
– Còn anh đi đâu? – Ippolit hỏi.
– Ông khỏi lo. Bao giờ tôi cũng nhận hành động ở nơi gay go nhất.
Đôi bên chia tay nhau.
Ostap chạy đến ki-ốt bán giấy, dùng đồng mười côpếch cuối cùng mua một cuốn hóa đơn, rồi ngồi trên ghế đá gần một giờ để đánh số thứ tự và ký tên trên từng tờ hóa đơn một.
– Phải làm cho có hệ thống tử tế. – hắn lẩm bẩm – mỗi xe của nhà nước đều được ghi sổ kế toán hẳn hoi.
Vua mánh rảo bước trên con đường chạy quanh núi Mashuk dẫn đến chỗ nhà thơ Lermontov đấu súng với Martysov, ngang qua các dãy nhà an dưỡng. Nhiều chiếc xe buýt và xe ngựa vượt lên trước hắn. Hắn tới một địa điểm gọi là Proval – nơi núi sụt.
Một cái hành lang nhỏ đục qua đá dẫn vào một nơi núi sụt hình nón. Hết hành lang tới một cái ban công nhỏ, đứng ở đây có thể nhìn thấy dưới đáy hố sụt một vũng nước hôi màu xanh lục. Nơi này được coi là một thắng cảnh của Piatigosak, cho nên hàng ngày có khá nhiều tốp tham quan và dân du lịch tới thăm.
Ostap đã hiểu ngay rằng địa điểm này, đối với một người không có thành kiến, có thể là một nguồn thu nhập.
“Quái lạ – Ostap suy ngẫm – tại sao đến nay thành phố vẫn không nghĩ ra sáng kiến thu của khách đến thăm Proval mỗi người mười côpếch vào cửa? Hình như đây là nơi duy nhất mà thành phố Piatigosak cho dân du lịch đến xem không thu tiền lệ phí. Mình sẽ xóa vết nhơ này khỏi bộ mặt danh giá của thành phố, mình sẽ sửa chữa thiếu sót đó.”
Và Ostap đã hành động theo sự gợi ý của lý trí, của bản năng lành mạnh và của tình thế hiện tại.
Hắn đứng ở lối vào Proval, vẩy vẩy quyển hóa đơn trong tay và thỉnh thoảng kêu to:
– Mua vé, bà con ơi! Mười côpếch! Trẻ em và bộ đội được miễn! Sinh viên – năm côpếch! Ai không phải là đoàn viên công đoàn thì phải trả ba chục côpếch.
Ostap đánh trúng tâm lý. Dân Piatigosak chả ai đến Proval, còn muốn móc túi mười côpếch của mỗi người du lịch xô viết về khoản lệ phí vào cửa nào đó thì chẳng có gì khó. Đến khoảng năm giờ chiều đã thu được sáu bảy rúp. Đóng góp cho khoản ấy là những người không phải đoàn viên công đoàn, ở thành phố này thiếu gì họ. Ai vào cửa cũng sẵn sàng bỏ ra đồng mười côpếch. Một anh chàng du lịch hồng hào nhìn Ostap, đắc thắng bảo vợ:
– Em thấy chưa, Tania, hôm qua anh bảo em thế nào nhỉ? Thế mà em cứ cãi rằng ở Proval không phải mua vé vào cửa. Làm gì có chuyện đó, phải không đồng chí bán vé?
– Tuyệt đối đúng – Ostap xác nhận – Làm gì có chuyện vào xem không mất tiền. Đoàn viên công đoàn trả mười côpếch, không phải đoàn viên thì phải trả ba mươi côpếch.
Gần tối, có hai chiếc cam nhông chở một tốp chiến sĩ công an Khác-cốp chạy đến Proval. Ostap hoảng hốt, đã định giả vờ sắm vai một người du lịch vô tư nhưng các chiến sĩ công an rụt rè tụ tập xung quanh vua mánh đông đến nỗi không còn đường rút nữa. Ostap đành nói to, giọng khá chững chạc:
– Đoàn viên công đoàn phải trả mười côpếch, nhưng vì anh em công an thuộc loại sinh viên và trẻ em, nên chỉ phải trả năm côpếch một người.
Anh em công an trả tiền và tế nhị hỏi xem người ta thu năm côpếch của họ để làm gì.
– Để đại tu khu vực núi sụt – Ostap trâng tráo đáp – để nó khỏi bị sụt thêm.
Trong lúc Ostap khôn khéo hành nghề tại thắng cảnh vũng nước xanh, thì Ippolit cúi gập lưng đứng dưới một gốc cây keo, xấu hổ gầm mặt xuống không dám nhìn những người đi dạo, miệng nhai đi nhai lại mấy câu được giao:
– Mơxiơ, giơ nơ măng-giơ pa... Heben di mia bit te... Hãy bố thí cho nguyên lão nghị viên viện Đuma một chút gì...
Người ta cũng quẳng cho vài côpếch gì đó, tuy là ít, nhưng rất miễn cưỡng. Dầu sao, nhờ lối phát âm chữ “măng-giơ” đặc giọng Pari và nhờ đem hoàn cảnh đáng thương của nguyên lão nghị viên viện Đuma để làm mủi lòng mọi người, mà Ippolit đã kiếm được khoảng ba rúp.
Dưới chân những khách dạo chơi, sỏi kêu lạo xạo. Dàn nhạc chốc chốc lại chơi bài của Straus, của Brams và của Grig. Đám đông vui vẻ trò chuyện, lướt qua chỗ ngài đô thống già và sau đó quay trở lại. Bóng hình Lermontov mờ mờ ảo ảo như ẩn hiện trên đầu những người đang đứng ăn món masomi ở hiên căng tin. Mùi nước hoa và nước suối thoang thoảng.
– Xin hãy bố thí chút ít cho nguyên lão nghị viên viện Đuma – Ippolit lầm bầm.
– Này ông lão, quả thật ông là nghị viên viện Đuma hả? – tiếng ai đó oang oang ngay bên tai Ippolit – Ông từng dự các kỳ họp của viện Đuma thật hả? Chao! Chao! Nhất hạng! Nhất hạng!
Ippolit ngẩng mặt lên và sờ sững. Trước mặt ông ta là Avessal Vlađimirovich Iznurenkov đang nhảy choi choi như một con chim sẻ. Nhà hài hước đã thay cái áo vét nâu bằng áo màu trắng và chiếc quần cộc màu xám. Ông đang rất vui vẻ và có lúc nhảy cao đến nửa mét cách mặt đất. Iznurenkov không nhận ra Ippolit nên cứ liên tục hỏi luôn miệng”
– Này, ông quả thật đã gặp Rođzunko à? Có đúng là Purishkevich hói đầu không? Chao! Chao! Đề tài này hết ý! Nhất hạng.
Vừa nhảy choi choi, Iznurenkov vừa nhét ba rúp vào tay vị đô thống luống cuống, rồi chạy đi. Nhưng ở khu vực Vườn Hoa còn thấp thoáng hồi lâu cặp chân mập mạp của ông ta và tiếng nói oang oang cứ như từ trên cây rót xuống:
– Chao! Chao! “Người đẹp ơi, đừng hát, những câu hát Grudi!” Chao! Chao! “Bài ca buồn da diết, nhắc nhở ta cuộc đời, và bến bờ xa xôi!...” (1) Chao! “Sáng sáng nàng lại mỉm cười!” Nhất, nhất hạng!
Ippolit tiếp tục đứng cúi gằm mặt xuống đất. Đứng như thế thật uổng, vì không nhìn thấy nhiều điều.
Trong bóng tối kỳ lạ của màn đêm buông xuống Piatigosak, có một đôi nam nữ đang đi dạo trong công viên, trên con đường hai bên trồng cây. Đấy là Elloska Sukin và anh chồng ngoan ngoãn Ernest Pavlovich Sukin (anh này đã quay về làm lành với vợ). Chuyến đi du lịch đến vùng suối khoáng này là nỗ lực cuối cùng trong cuộc đua tranh gay go với con gái nhà tỷ phú Mỹ Vanđerbilđ. Cô gái Mỹ cách đây ít lâu đã quyết định dùng chiếc thuyền buồm riêng của mình đi ra đảo Sanđvichev du ngoạn.
– Ô hô! – tiếng nói vang lên trong cảnh yên tĩnh của đêm tối. – Nổi quá, Ernestulia! Tu-uy-ệ-t!
Ở căng tin chan hòa ánh sáng, gã ăn cắp vặt Alkhen đang ngồi với vợ mình là Sashken. Hai má chị ta vẫn được trang điểm những bím tóc kiểu Nikolaev như cũ. Alkhen ngượng nghịu ăn món thịt nướng, nhắm với rượu Kakhentia (2) No2 còn Sashken thì vừa ngồi mân me các bím tóc, vừa đợi món cá tầm đã đặt mua.
Sau khi giải thể nhà dưỡng lão số 2 (và bán đi tất cả mọi thứ kể cả được mũ vải tualđenor của người cấp dưỡng và khẩu hiệu “Nhai kỹ thức ăn là bạn giúp đỡ xã hội”), Alkhen quyết định đi nghỉ và du ngoạn ít lâu. Số phận lần này lại cứu tên bợm no nê đó. Sáng nay hắn đã định đến thắng cảnh Proval, nhưng chưa kịp đi. Sự ngẫu nhiên đã cứu hắn. Nếu không chắc chắn Ostap phải moi được của gã chủ nhiệm e lệ ấy không dưới ba chục rúp.
Ippolit chỉ trở về nguồn suối khi các nhạc công đã thu dọn dụng cụ của mình, công chúng đã giải tán và chỉ còn những cặp trai gái thở hổn hển trong công viên “Vườn Hoa”.
– Được bao nhiêu? – Ostap hỏi khi thấy cái dáng còng còng của ngài đô thống xuất hiện bên nguồn suối.
– Bảy rúp hai mươi chín côpếch. Ba rúp tiền giấy. Còn lại là tiền xu bằng đồng và bạc.
– Ngày đầu tiên như thế là khá lắm! Bằng lương của một cán bộ tầm cỡ! Ông thật đáng yêu, Kisa ạ! Nhưng tôi muốn biết cái thằng ngu nào lại đưa cho ông những ba rúp thế? Hay là ông phải thối lại khi họ đưa tiền chẵn?
– Iznurenkov cho đấy.
– Thật ư? Avessal Imurenkov? Chà, cái thằng cha ấy! Ông nói chuyện với nó à? Nó không nhận ra ông hay sao?
– Lão ta hỏi về viện Đuma! Và cười ha hả!
– Thấy chưa ngài đô thống, làm kẻ ăn xin chẳng đến nỗi nào, nhất là khi có học vấn và biết cách hạ giọng! Thế mà ban đầu ông còn định khước từ. Mà thôi, tôi cũng không bỏ phí thời gian vô ích đâu. Mười lăm rúp cơ đấy. Cộng lại với ông, quá đủ.
Sáng hôm sau Mechnikov nhận tiền và buổi tối vác hai chiếc ghế đến. Chiếc thứ ba, theo lão nói, không thể lấy được, vì tốp nhạc công dùng làm bàn đánh bạc với nhau.
Để thật an toàn, hai nhân vật của chúng ta đem ghế lên gần đỉnh núi Mashuk.
Ở phía dưới, thành phố Piatigosak là một quầng sáng bất động nhờ vô số ánh đèn. Xa hơn nữa là bản Goriachevođa – bản Nước Nóng – ánh sáng ở đấy mờ hơn. Còn phía chân trời là thị trấn Kislovosk nổi lên thành hai đường chấm chấm song song với nhau.
Ostap ngẩng mặt lên bầu trời đầy sao và rút từ trong túi ra chiếc kìm dẹt mà bạn đọc đã biết.
 
__________
(1) Mấy câu thơ mở đầu bài thơ “Người đẹp ơi, đừng hát” của Puskin.
(2) Một tỉnh ở phía đông Grudia
0
 
CHƯƠNG XXXVII
MŨI XANH
 
Kỹ sư Bruns ngồi trên hàng hiên bằng đá của ngôi nhà nghỉ ở khu vực Mũi Xanh, dưới bóng một cây cọ lớn. Lá cọ hắt những bóng râm nhọn và hẹp xuống cái gáy của viên kỹ sư, cái áo sơ mi trắng của anh ta và cái ghế kiểu Hambx trong bộ bàn ghế của bà tướng Popova, cái ghế mà viên kỹ sư đang ngồi trong lúc ăn trưa.
Bruns chúm cặp môi dày và mọng thành hình ống loa và kéo dài giọng gọi to:
– Mu-u-usik!
Ngôi nhà nghỉ im lặng.
Các thứ cây cỏ nhiệt đới ngả về phía viên kỹ sư. Bụi xương rồng chìa những ống tay áo nhọn như lông nhím vê phía anh ta. Cây huyết dụ xào xạc. Lá chuối và lá dừa xua ruồi đậu trên vầng trán hói của viên kỹ sư. Những bụi hồng mọc quanh hàng hiên ngả mình dưới đôi dép của anh ta.
Nhưng tất cả đều vô ích. Bruns đang đói. Anh ta khó chịu nhìn ra vụng biển, nhìn cái mũi đất nhỏ của Batum và gọi dài giọng:
– Mu-u-usik! Mu-u-usik!
Trong không khí ẩm thấp của vùng á nhiệt đới, âm thanh lặng đi rất nhanh. Không có tiếng trả lời. Bruns tưởng tượng một con ngỗng quay to tướng, vàng ngậy và không kìm mình được nữa, anh ta giật giọng quát lớn:
– Musik!!! Món ngỗng xong chưa?
– Anđrei Mikhailovich! – giọng phụ nữ quát từ trong phòng ra.
– Im cái mồm đi!
Viên kỹ sư tròn môi thành hình ống loa theo thói quen, nói rất nhanh:
– Musik! Em chẳng thương gì người chồng bé bỏng của em cả!
– Cút đi đâu thì đi, đồ háu ăn! – tiếng trả lời từ trong phòng vọt ra.
Nhưng Bruns không chịu thua. Anh ta đang định tiếp tục gọi món ngỗng quay mà suốt hai tiếng đồng hồ vừa qua gọi mãi vẫn chưa được, thì bất ngờ tiếng sột soạt khiến anh ta phải quay đầu lại.
Từ sau bụi tre xanh bước ra một người mặc chiếc áo varơi màu xanh rách rưới, thắt ngang bụng một cái dây vải quá sờn, cái quần kẻ sọc thì tã ơi là tã. Trên khuôn mặt hiền hậu của người lạ, một chòm râu phất phơ, rối tung.
Người ấy đang vắt chiếc áo vét trên tay.
Ông ta tiến lại gần và hỏi bằng một giọng rất ấm:
– Kỹ sư Bruns ở chỗ nào ạ?
– Tôi là kỹ sư Bruns đây – Người gọi món ngỗng quay cũng bất ngờ đáp bằng giọng trầm – Ông cần gì?
Người lạ mặt lặng lẽ quỳ xuống. Đó là cha Fêđor.
– Ông điên rồi! – Viên kỹ sư bật dậy, thốt lên – Mời ông đứng lên cho!
– Không ạ! – Cha Fêđor đáp và nhìn Bruns bằng đôi mắt trong sáng.
– Ông hãy đứng dậy!
– Không ạ!
Và cha Fêđor bắt đầu thận trọng (để khỏi đau) cộp trán xuống lớp sỏi từng cái một.
– Musik! Ra đây mau! – Bruns hoảng sợ gọi to – Em ra mà xem này. Mời ông đứng dậy cho, tôi van ông đấy. Nào! Tôi van ông!
– Không dám ạ! – Cha Fêđor nhắc lại.
Musik hiểu rất rõ âm điệu tiếng nói của chồng, nên chạy vội ra hiên.
Trông thấy nữ chủ nhân, cha Fêđor vẫn quỳ như như thế, nhanh nhẹn lê gối lại gần chỗ chị ta, gục đầu xuống chân và nói:
– Lạy bà, lạy chị, lạy cô, tôi hoàn toàn trông cậy ở cô.
Kỹ sư Bruns đỏ mặt, túm lấy nách người khách lạ, lên gân để xốc ông ta đứng dậy, nhưng cha Fêđor khôn ngoan co quắp hai chân vào mông. Bực mình, Bruns bèn kéo lê ông khách tới một góc và ấn ông ta ngồi xuống chiếc ghế (kiểu Hambx thật, nhưng hoàn toàn không phải lấy từ biệt thự nhà Ippolit Vorobjaninov, mà từ phòng khách của bà tướng Popova).
– Không dám ạ – cha Fêđor lắp bắp, đặt chiếc áo vét đầy mùi dầu hỏa của cậu em vợ lên đầu gối – tôi không dám ngồi trước mặt những đấng chí kính ạ.
Và cha Fêđor lại tính chuyện quỳ xuống đất.
Kỹ sư Bruns đành phải đỡ hai vai vị khách và ngán ngẩm bảo vợ:
– Musik – Anh ta thở hổn hển – em hãy nói chuyện với lão này xem sao. Hình như có chuyện hiểu lầm gì đây.
Musik lập tức lấy giọng nghiêm trang:
– Ở nhà tôi – chị ta đe dọa – cấm không ai được quỳ hết!
– Lạy bà! – Cha Fêđor rên rỉ – Lạy chị!
– Không có bà có chị gì với nhà ông cả! Ông muốn gì?
Vị cố đạo ấp a ấp úng nói câu gì không rõ, chỉ đoán là một lời cầu xin. Sau rất nhiều câu hỏi, mới hiểu ra rằng ông ta cầu xin chủ nhà làm phúc bán cho ông ta bộ ghế mười hai chiếc, mà một trong những chiếc đó ông ta đang hân hạnh được ngồi.
Viên kỹ sư ngạc nhiên buông vai cha Fêđor, vị cố đạo lập tức quỳ phịch xuống và lê gối theo Bruns như một con rùa.
Bruns cố bứt ra khỏi hai cánh tay dài ngoẵng của vị khách đang muốn bám lấy anh ta, nói:
– Tại sao? Tại sao tôi lại phải bán bộ ghế của tôi đi? Ông có quỳ đến mai, tôi cũng chẳng hiểu đầu cua tai nheo sao cả!
– Thưa đó là bộ ghế của tôi ạ! – Cha Fêđor rên lên.
– Của ông là thế quái nào? Sao lại của ông? Ông điên hả? Musik, bây giờ thì anh đã rõ. Thằng cha này mất trí rõ ràng rồi.
– Của tôi đấy ạ – Cha Fêđor nhắc lại, giọng thảm thiết.
– Ông bảo tôi ăn trộm của ông chăng? – Bruns nổi đóa – Phải thế không? Em nghe thấy chứ, Musik! Một tên khiêu khích!
– Thưa không phải đâu ạ! – Cha Fêđor nói nhỏ.
– Nếu tôi ăn trộm của ông, thì ông cứ việc đệ đơn ra tòa và đừng có giở trò nửa điên nửa dại ở nhà tôi! Em nghe chưa, Musik! Trâng tráo đến thế là cùng! Đến bữa ăn trưa người ta cũng chẳng để cho mình được yên mà ăn nữa!
Không, cha Fêđor không muốn yêu cầu tòa án giải quyết bộ ghế “của mình”. Hoàn toàn không. Cha biết rằng kỹ sư Bruns không hề ăn trộm ghế của cha. Làm gì có chuyện ấy. Cha đâu nghĩ như vậy. Nhưng bộ ghế này dầu sao cũng đã thuộc về cha từ trước cách mạng kia, và nó vô cùng quý giá đối với người vợ của cha đang hấp hối ở thành phố Voronezh. Theo ý muốn của vợ, chứ hoàn toàn không phải vì sự trâng tráo của mình, cha đã cho phép mình tìm biết chỗ để bộ ghế và đã đến nhà kỹ sư Bruns. Cha Fêđor không xin bố thí. Hoàn toàn không! Hoàn cảnh kinh tế của cha tương đối khá (cha có một nhà máy nến nho nhỏ ở vùng Samara), đủ để mua bộ ghế cũ kỹ làm vừa lòng người vợ vào giờ phút cuối cùng của đời bà. Cha sẵn sàng hào phóng trả khoảng hai chục rúp để mua hết mười hai chiếc ghế.
– Bao nhiêu? – Viên kỹ sư đỏ mặt tía tai, hỏi to – Hai chục rúp? Để mua toàn bộ mười hai chiếc ghế đẹp như thế này à? Musik! Em nghe thấy chứ? Đúng là kẻ mất trí! Mất trí thật rồi!
– Tôi không mất trí đâu ạ. Tôi chỉ muốn thực hiện nguyện vọng của người vợ đã phái tôi đi...
– Ôi, quỷ thần ơi, lão ta lại bò kìa! – Viên kỹ sư nói – Lão ta lại bò kìa!
– Xin ông bà hãy định giá cho – Cha Fêđor rên rỉ nói và khẽ vập trán mấy cái vào thân cây bách tán.
– Cái nhà lão lập dị này, khéo làm sước vỏ cây bây giờ! Musik, có lẽ lão ta không phải kẻ mắc bệnh tâm thần đâu. Chẳng qua căn bệnh của vợ đã khiến lão trở nên ngớ ngẩn. Hay là mình bán bộ ghế cho lão? Cho nó thoát nợ, kẻo lão đập vỡ trán lão ra đấy!
– Thế nhà mình ngồi bằng gì? – Musik hỏi.
– Thì ta mua bộ ghế khác.
– Hai chục rúp mà mua nổi à?
– Hai chục rúp thì anh không bán đâu. Hai trăm rúp cũng chả bán nữa là... Phải hai trăm rưỡi.
Trả lời là một tiếng cộp đầu đáng sợ vào thân cây huyết dụ.
– Musik, anh chán cái trò này quá rồi.
Bruns quả quyết bước lại bên cha Fêdor và đọc tối hậu thư:
– Thứ nhất, lão hãy tránh xa cây cọ ít nhất ba bước, thứ hai, hãy đứng ngay dậy, thứ ba, muốn mua bộ ghế ấy phải trả hai trăm rưỡi rúp, không kém một đồng.
– Thưa tôi mua bộ ghế ấy chỉ là để bà vợ hấp hối hài lòng, chứ không mưu cầu lợi lộc gì. – Cha Fêđor nói như hát.
– Ông lão ơi, vợ tôi cũng đang ốm đấy. Có đúng là hai lá phổi của em đang có vấn đề phải không, Musik? Nhưng tôi không hề viện cái cớ ấy để đòi ông, chẳng hạn, phải bán cho tôi cái áo vét kia với giá ba mươi côpếch.
– Xin biếu không ông! – Cha Fêđor chớp ngay.
Bruns phẩy tay giận dữ và lạnh lùng nói:
– Lão hãy thôi ngay trò đùa của lão. Tôi sẽ không lý luận gì với lão nữa. Tôi định giá bộ ghế hai trăm rưỡi rúp, và tôi không bớt cho lão một xu nào đâu.
– Năm chục – Cha Fêđor đề nghị.
– Musik! – Viên kỹ sư nói – Em hãy gọi hộ anh Bagration để cậu ấy tống cổ lão này ra!
– Tôi không mưu cầu lợi lộc gì...
– Bagration!
Cha Fêđor hoảng sợ bỏ chạy, còn viên kỹ sư thì đi vào phòng ăn và ngồi xuống bên đĩa ngỗng quay. Loài gia cầm đáng yêu này có tác động tốt tới Bruns. Anh ta trấn tĩnh dần.
Đang lúc viên kỹ sư lấy giấy thuốc lá quấn quanh cái chân vịt và đưa lên miệng định gặm, thì ngoài cửa sổ hiện ra khuôn mặt van vỉ của cha Fêđor.
– Không mưu cầu lợi lộc gì đâu ạ – Giọng cha mềm mỏng – xin trả năm mươi lăm rúp.
Bruns hét lên không cần quay đầu lại. Cha Fêđor biến mất.
Sau đó suốt ngày hôm ấy hình bóng cha Fêđor cứ thấp tha thấp thoáng ở khắp mọi phía quanh ngôi nhả. Khi thì nó từ bụi tre chạy ra, khi thì xuất hiện trong vườn quýt, lúc lại lao vút qua sân sau và phóng nhanh về phía vườn thực vật.
Suốt ngày viên kỹ sư luôn miệng gọi Musik, kêu đau đầu vì sự quấy nhiễu của vị khách mắc bệnh tâm thần. Buổi nhá nhem, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng nói của cha Fêđor.
– Một trăm ba mươi tám! – giọng nói đâu như từ trên trời dội xuống.
Một phút sau, tiếng nói của cha vọng lại từ phía nhà nghỉ của Đumbasov.
– Một trăm bốn mươi mốt, ngài Bruns ở, không phải vì mưu cầu lợi lộc gì đâu, mà chỉ...
Cuối cùng viên kỹ sư không chịu nổi nữa, anh ta bước ra hiên, nhìn vào bóng tối và nói thật rành rọt:
– Quỷ tha ma bắt lão đi! Hai trăm rúp! Rồi xéo ngay đi cho rảnh!
Từ phía bụi tre vọng lại tiếng loạt soạt, tiếng rên rỉ và tiếng bước chân xa dần. Sau đó tất cả trở nên im lặng.
Những vì sao bập bềnh trong vịnh biển. Bầy đom đóm đuổi kịp cha Fêđor, bay loạn xạ quanh đầu và phát ra thứ ánh sánh màu xanh soi mặt cha.
– Bây giờ may ra mới được yên thân để ăn món ngỗng quay đây – kỹ sư Bruns lẩm bẩm bước vào phòng.
Trong lúc ấy cha Fêđor đáp chuyến xe buýt cuối cùng phóng dọc bờ biển về phía Batum. Ngay bên sườn xe, tiếng sóng vỗ nhè nhẹ như tiếng lật giở các trang sách. Gió quạt ràn rạt vào mặt và tiếng chó rừng thỉnh thoảng đáp lại tiếng còi xe.
Ngay tối hôm ấy cha Fêđor gửi về thị trấn N cho bà vợ Katerina Aleksanđrovna một bức điện như sau:
ĐÃ TÌM ĐƯỢC HÀNG GỬI NGAY HAI TRĂM BÀ MUỐN BÁN GÌ THÌ TÙY FÊDOR.
Hai ngày liền cha Fêđor hoan hỉ lấp ló bên nhà nghỉ của Bruns, từ xa cúi chào Musik và thỉnh thoảng lại nói lớn vào khoảng không gian nhiệt đới:
– Tôi không mưu cầu lợi lộc gì, mà chỉ làm theo ý muốn của bà vợ đã phái tôi đến đây!...
Ngày thứ ba, tiền được gửi tới với bức điện tuyệt vọng:
ĐÃ BÁN HẾT MỌI THỨ NHÀ CHẲNG CÒN MỘT XU HÔN VÀ ĐỢI ANH ESTIGNEEV VẪN ĂN KATERINA.
Cha Fêđor đếm lại tiền, làm dấu thánh vội vã, rồi thuê một chiếc xe ngựa và phóng đến Mũi Xanh.
Thời tiết u ám. Từ phía biên giới Thổ Nhĩ Kỳ gió xua từng đám mây đen tràn tới. Biển bốc hơi ngùn ngụt. Những mảnh trời xanh hẹp dần. Gió biển thổi mạnh tới cấp sáu. Người ta cấm tắm và bơi thuyền. Sóng ì ầm vùng Batum. Sóng biển đập ầm ầm vào bờ.
Đến nhà kỹ sư Bruns, cha Fêđor bảo anh chàng xà ích (người địa phương, đội mũ basluc) đợi ở ngoài, rồi đi vào gặp viên kỹ sư.
– Tôi đã mang tiền đến đây – cha Fêđor nói – xin ngài bớt cho chút xíu.
– Musik – Bruns gọi vợ – tôi không thể chịu được nữa!
– Không, tôi mang tiền đến rồi đây này. Đúng hai trăm rúp như ngài dạy.
– Musik! Em nhận tiền của lão ta đi! Rồi trao ghế cho lão. Và hãy làm mọi việc nhanh lên. Tôi đang nhức muốn vỡ đầu ra đây.
Mục đích của cả cuộc đời đã thành đạt. Nhà máy nến ở Samara tự nó chui lọt vào tay vị cố đạo. Những viên kim cương rủng rỉnh trong túi như hạt dẻ.
Mười hai chiếc ghế lần lượt được chất lên xe ngựa. Chúng y hệt bộ ghế của Ippolit, chỉ khác một nỗi là lớp vải bọc không phải thuộc loại phin hoa, mà là vải bông màu xanh, xen sọc đỏ.
Cha Fêđor nóng lòng sốt ruột. Trong vạt áo của cha đã giắt sẵn một cái rìu nhỏ vào thắt lưng. Cha ngồi bên cạnh anh xà ích, chốc chốc lại nhìn bộ ghế và bảo xe tiến về phía Batum. Hai con ngựa khỏe chở cha Fêđor và kho báu của cha chạy xuống con đường nhựa, ngang qua tiệm ăn “Final” – nơi gió mạnh thổi ào ào dọc các dãy bàn tre, ngang qua cửa tun-nen (một đoàn tàu kéo xitéc vừa mất hút vào đó), ngang qua một ông phó nháy hôm nay chả chụp được pô nào vì trời xấu, không có khách du ngoạn, ngang qua tấm biển “Vườn thực vật Batum” rồi chạy chầm chậm ngang bên chân sóng... Đến chỗ con đường tiếp cận với dãy núi chắn ngang, cha Fêđor bị một lớp biển mặn chát tạt vào mặt. Ở đoạn này, gặp núi đá ngang đường, sóng biển tung và quăng mình lên trời rồi từ từ rơi xuống.
Tiếng sóng ầm ầm càng nung nấu lòng cha Fêđor. Hai con ngựa ra sức chống trả với gió, chậm chạp kéo chiếc xe về phía Makhingiauri... Phóng tầm mắt tới đâu cũng chỉ thấy những lớp sóng bạc đầu.
Gần đến Batum, cha Fêđor bảo người đánh xe.
– Thôi dừng lại, anh bạn tín đồ đạo Hồi!
Đoạn cha run rẩy đỡ bộ ghế xuống bờ biển vắng ngắt, chân cứ luôn luôn vấp ngã. Anh chàng đánh xe hờ hững nhận năm rúp tiền công và ra roi quất ngựa chạy đi. Cha Fêđor ngó quanh, tin chắc ở đây không có một ai, liền khuân ghế lên một chỗ khô ráo và rút cây rìu nhỏ ra.
Cha lưỡng lự một lát, chưa biết nên bắt đầu từ chiếc ghế nào. Sau đó, như người mắc bệnh mộng du, cha tiến về chiếc ghế thứ ba và vung rìu bổ mạnh xuống lưng nó. Chiếc ghế đổ chổng kềnh, nhưng vẫn nguyên vẹn.
– À, mày bướng hả? – Cha Fêđor nói – Tao sẽ cho biết tay!
Và cha xông tới chiếc ghế như một đối thủ sống. Trong chớp mắt, nó bị băm nhỏ như người ta vằm bắp cải. Cha Fêđor không nghe tiếng rìu bổ vào gỗ, vào vải, vào lò xo, vì tất cả đều chìm trong tiếng gầm rú của cơn bão biển.
– Này thì bướng, này thì bướng! – Cha Fêđor vừa bổ mạnh, vừa nói đệm.
Chiếc ghế nọ tiếp chiếc ghế kia được phanh phui. Cơn giận dữ của cha Fêđor theo đó tăng dần. Bão biển cũng mạnh lên. Có đợt sóng chồm đến tận chân cha.
Từ Batum đến Sinop, thiên nhiên gầm rú kinh người. Biển nổi sùng, trút sự hung dữ vào những con tàu. Chiếc tàu “Lênin” phun khói đen, chúi xuống đuôi tàu, nặng nề tiến lại gần thành phố Novôrosisk. Bão biển hoành hoành trên Bắc Hải, tung những đợt sóng hàng ngàn tấn vào bờ Trapezunđ, Ialta, Ôđetsa và Kotansa. Phía sau eo Bostor và Đarđanel im lìm, Địa Trung Hải cũng gầm gừ. Đại Tây Dương thì dập mạnh vào châu Âu ở phía bên kia vịnh Gibralta. Sóng giận dữ bao quanh quả đồi.
Trên bờ biển Batum, cha Fêđor toát mồ hôi, đang bổ rìu vào chiếc ghế cuối cùng. Một phút sau, tất cả đã chấm dứt. Cha Fêđor tuyệt vọng. Cha ném cái nhìn điên khùng, sờ sững vào đống chân, lưng, lò xo ghế do cha vừa tạo ra, rồi bước giật lùi. Nước biển túm lấy chân cha. Cha giật mình, lao lên đường nhựa, hai ống quần ướt sũng. Một con sóng lớn tràn vào chỗ cha Fêđor vừa đứng và khi rút đi, nó cuốn theo toàn bộ mười hai chiếc ghế của bà tướng Popova đã bị cha Fêđor băm vằm. Cha Fêđor không nhìn thấy cảnh đó. Cha lê bước trên đường, lưng còng xuống, hai bàn tay ướt nắm chặt áp vào ngực.
Cha đi vào thành phố Batum như một người mù, không nhìn thấy bất cứ gì xung quanh. Tình cảnh của cha thật là đáng sợ. Cách xa nhà năm ngàn kilômét, với hai chục rúp trong túi, hoàn toàn không thể tính đến chuyện trở về thị trấn quê hương.
Cha Fêđor đi qua chợ Thổ Nhĩ Kỳ, nơi người ta thì thầm mời cha mua hộp phấn xoa mặt kôti, bít tất lụa và thuốc lá Sukhumi, lê bước ra ga xe lửa và lẫn vào đám công nhân khuân vác.
0
 
CHƯƠNG XXXVIII
DƯỚI NHỮNG ĐÁM MÂY
 
Ba ngày sau cuộc trao đổi tiền – ghế giữa hai nhân vật của chúng ta với thợ điện Mechnikov, nhà hát Kolumbo đáp tàu lửa đi qua Makhachkaia và Bacu. Suốt ba ngày đó, không hài lòng về bộ ruột của hai chiếc ghế bị phanh phui trên đỉnh núi Mashuk, Ostap và Ippolit chờ đợi Mechnikov mang đến chiếc ghế thứ ba cũng là chiếc cuối cùng của nhà hát Kolumbo. Nhưng Mechnikov quá khổ sở vì món nước suối, đã quẳng cả hai chục rúp mua rượu vốtca và lâm vào tình trạng bị cấm cung trong sân khấu.
Biết tin nhà hát đã lên đường, Ostap nói:
– Tác dụng của suối khoáng thế đấy! Lão thợ điện thật là quân chó má! Từ rày thì kiềng mặt bọn nhân viên nhà hát nhé!
Ostap có vẻ tất bật hơn trước kia. Khả năng thành công trong vụ săn tìm kho báu đã tăng lên mức cao nhất.
– Phải có tiền đi Vlađikavkaz – hắn nói – Từ đây mình sẽ đến Tiflis bằng ô tô theo đường Quân đội Grudia. Cảnh vật ở đấy hết sức hữu tình! Thiên nhiên hùng vĩ! Không khí vùng núi cứ gọi là khỏi phải chê! Và kết quả là một trăm năm chục ngàn rúp không hào không xu. Vụ này cần được tiếp tục.
Nhưng lên tàu rời khỏi Piatigosak không phải dễ. Ippolit không biết cách đi tàu lậu vé, thành thử mọi cố gắng của ông ta nhằm lên tàu đều uổng công vô ích. Ông đành sắm vai cựu thanh tra học đường ra đứng ăn xin ở “Vườn Hoa”. Kết quả chẳng là bao. Sau mười hai giờ đồng hồ lao động nặng nhọc và nhục nhã, chỉ được bố thí hai rúp. Tuy nhiên số tiền ít ỏi ấy cũng đủ để mua vé đi Vlađikavkaz. Còn Ostap thì đi lậu.
Đến ga Beslan, Ostap bị đuổi xuống. Vua mánh đã chạy theo đoàn tàu đến năm cây số, vừa chạy vừa giơ nắm đấm dọa Ippolit là kẻ chẳng có tội tình gì.
Sau đó Ostap nhảy lên được bậc toa của một chuyến tàu chạy chầm chậm về phía dãy núi Kavkaz. Đứng ở đó Ostap tha hồ tò mò đưa mắt ngắm toàn cảnh dãy núi Kavkaz trải rộng trước mặt hắn.
Lúc ấy chừng hơn ba giờ sáng. Các đỉnh núi trọc đã hồng lên ánh bình minh. Ostap không thích núi non.
– Toàn chóp nhọn là chóp nhọn – hắn nói – Đẹp man rợ. Chả ra cái đếch gì.
Cạnh ga Vlađikavkaz, một chiếc xe buýt của công ty công nghệ phẩm Zakavkaz mở rộng cửa chờ khách và có tiếng chào mời dịu dàng:
– Ai muốn đi trên con đường Quân đội Grudia, chúng tôi xin chở giúp không lấy tiền.
– Đi đâu thế, Kisa? – Ostap nói – Lên xe buýt kia mà. Không mất tiền, tội gì không đi.
Khi xe buýt chạy đến văn phòng công ty công nghệ phẩm để hành khách đăng ký vé đi tiếp, Ostap không vội làm việc đó. Hắn giả vờ mải trò chuyện với Ippolit, mải ngắm đỉnh núi Stolovaia ôm mây và nhanh chóng lẩn mất.
Họ phải ngồi ở Vlađikavkaz mấy ngày. Nhưng mọi cố gắng xoay tiền để đi xe vượt con đường Quân đội Grudia hoặc hoàn toàn không đem lại kết quả, hoặc chỉ đủ mua đồ ăn. Ý đồ móc túi mỗi công dân mười côpếch mới cho họ ngắm cảnh dãy núi Kavkaz là không thực tế, vì dãy núi này quá cao và quá rõ, chả phải qua cửa nào. Về dòng sông Terek chảy qua cửa “Trek” thì thành phố đã thu tiền vé vào xem của khách mà không cần nhờ sự giúp đỡ của Ostap. Ippolit đi ăn mày hai ngày chỉ được có ba mươi côpếch.
– Thôi đủ rồi – Ostap nói – chỉ còn một lối thoát là cuốc bộ đến Tiflis. Trong năm ngày chúng mình sẽ đi được ba trăm cây số. Không sao, ta sẽ được thưởng thức phong cảnh hữu tình và không khí trong lành của vùng núi, ông bạn thân mến ạ!... Chỉ cần tiền mua bánh mì và món Kolbasa. Ông có thể thêm vào vốn từ ăn xin vài câu tiếng Italia, câu gì cũng được, miễn là đến tối ông phải mang về đây ít nhất hai rúp! Trưa nay chúng ta sẽ nhịn, đồng chí thân mến ạ! Than ôi! Khả năng thành đạt sao mà ít ỏi!...
Sớm hôm sau họ vượt qua chiếc cầu nhỏ bắc ngang sông Terek, vòng quanh khu doanh trại quân đội và tiến sâu vào một thung lũng xanh tươi – con đường Quân đội Grudia chạy trên thung lũng này.
– Chúng mình gặp may đấy, ông Kisa ạ – Ostap nói – đêm qua mưa nên bây giờ khỏi phải nuốt bụi. Ông hãy hít không khí trong lành cho thật căng lồng ngực vào. Hãy hát lên. Hãy nhớ lại những bài thơ Kavkaz. Hãy tươi tỉnh một chút!
Nhưng Ippolit không hát và không nhớ lại các vần thơ. Đường lên dốc. Những đêm ngủ ngoài trời gợi nhớ đến cái đau trẹo sườn, cái mỏi nhừ dưới chân, còn món Kolbasa dỏm thì thà không ăn còn hơn. Ippolit bước đi không vững, tay ôm chiếc bánh mì gối nặng năm funt bọc trong tờ báo Vlađikavkaz, chân bên trái gần như phải lết.
Lại đi bộ! Lần này đến Tiflis, lần này đi trên con đường đẹp nhất thế giới. Ippolit chẳng thiết gì nữa. Ông ta không nhìn ngắm xung quanh như Ostap. Ông ta hoàn toàn chẳng buồn để ý tới dòng sông Terek đang bắt đầu chảy như thác dưới đáy thung lũng. Và chỉ những đỉnh núi đóng băng lấp lánh ánh mặt trời mới làm cho ông ta lờ mờ thấy lúc thì giống các viên kim cương, lúc thì như những cái quan tài trang trí đẹp nhất của lão thợ Bejentruc.
Từ Balta trở đi con đường đi vào khe núi hẹp, men giữa những khối đá đen thẳng đứng. Con đường xoắn ốc lên trên, và buổi tối hôm đó hai người đã lên tới trạm Lara, ở độ cao một ngàn mét so với mặt biển.
Họ ngủ đêm trong một tiệm ăn nghèo, không phải trả tiền trọ, thậm chí còn được cho mỗi người một cốc sữa vì đã làm cho ông chủ tiệm và khách của ông ta thích thú bằng các trò ảo thuật cờ bạc.
Sáng hôm sau trời đẹp đến nỗi Ippolit tỉnh người ra vì không khí vùng núi, bước đi tươi tỉnh hơn ngày hôm qua. Ngay sau trạm Lara nổi lên bức thành hùng vĩ của dãy núi Bokovoi. Lũng sông Terek khép lại thành một vùng rất hẹp. Phong cảnh kém xanh tươi dần, còn các chữ viết trên các tảng đá thì nhiều vô kể. Ở chỗ các tảng đá chìa ra, gần như đè bẹp dòng chảy của Terek, nơi chiếc cầu bắc qua sông chỉ dài chừng mươi xagien (1), hai nhân vật của chúng ta thấy nhiều chữ đề trên các tảng đá đến nỗi Ostap quên cả cảnh tượng hùng vĩ của khe núi Đarial, hét to lên cố át đi tiếng nước chảy ầm ầm của dòng Terek.
– Những con người vĩ đại thay! Ngài đô thống hãy nhìn kìa. Ông thấy chưa, Kisa? Chỗ cao hơn đám mây và thấp hơn con chim ưng một chút kia kìa! Dòng chữ “Kolia và Mika, tháng 7 năm 1914”. Một cảnh tượng khó quên! Ông hãy lưu ý cách trình bày đầy tính nghệ thuật! Mỗi chữ cái cao một mét và được viết bằng sơn dầu hẳn hoi! Hỡi Kolia và Mika, hiện giờ các vị ở đâu? Ông Kisa này – Ostap nói tiếp – chúng mình cũng nên lưu danh muôn thuở ở đây đi. Mình phải đè đầu lão Mika xuống. Tôi có mang theo cục phấn đây! Bây giờ tôi sẽ leo lên viết mấy chữ “Kisa và Osia đã từng ở đây”.
Và chẳng cần suy nghĩ, Ostap đặt ngay món Kolbasa dự trữ xuống cạnh bức tường ngăn cách con đường với vực sông Terek sôi sục ở bên dưới, bắt đầu leo lên tảng đá.
Ippolit lúc đầu theo dõi vua mánh leo lên cao, nhưng sau đó ông ta quay lại ngắm nhìn cái nền của lâu đài Tamara còn lưu dấu vết trên một phiến đá giống hình răng ngựa.
Lúc ấy, cách đấy ba kilômét, từ phía Ippolit, cha Fêđor tiến vào khe núi Đarial. Cha bước đều chân như một người lính, cặp mắt kim cương quả quyết nhìn thẳng về phía trước, tay chống một chiếc ba-toong.
Với số tiền cuối cùng, cha Fêđor đáp xe đến Tiflis và bây giờ đang cuốc bộ trở về thị trấn quê hương, vừa đi vừa ăn xin dọc đường. Khi qua đèo Cây Thập tự (cao 2345 mét so với mặt biển) cha bị một con chim ưng sà xuống mổ. Cha phải dùng ba-toong xua đuổi con chim dữ để đi tiếp.
Cha đi, mây vờn quanh người cha, miệng cha lẩm bẩm:
– Không phải mưu cầu lợi lộc gì, tôi chỉ làm theo ý muốn của bà vợ đã phái tôi đi!...
Khoảng cách giữa hai kẻ thù ngắn dần. Sau khi vượt qua một khúc quanh, cha Fêđor tiến thẳng về phía một ông già đeo kính kẹp mũi gọng vàng.
Khe núi như đổ sụp trước mắt cha Fêđor. Dòng Terek ngừng bặt tiếng gầm ngàn đời của nó.
Cha Fêđor đã nhận ra Ippolit Vorobjaninov. Sau thất bại khủng khiếp ở Batum, sau khi mọi hy vọng đều sụp đổ, một khả năng mới về sự chiếm đoạt kim cương lại tác động mạnh tới cha Fêđor.
Cha chộp ngay lấy cái yết hầu lồ lộ của Ippolit, bóp chặt các ngón tay và gầm lên, giọng khản đặc:
– Mày giấu kho báu của bà mẹ vợ bị mày giết ở đâu?
Ippolit hoàn toàn bị bất ngờ, không thốt ra được một tiếng, lồi hai mắt ra tới mức chúng gần như chạm vào cái kính kẹp mũi.
– Nói đi! – cha Fêđor ra lệnh – Xưng tội đi, quân tội lỗi.
Ippolit cảm thấy nghẹn thở dần.
Lúc ấy cha Fêđor đang đắc thắng, chợt trông thấy Ostap từ trên tảng đá tụt xuống. Vị giám đốc kỹ thuật vừa tụt vừa hát to:
Sóng sủi ngầu sủi bọt
Đập mãi vào đá xám...
Nỗi sợ hãi ghê gớm bóp nghẹt trái tim cha Fêđor. Tay cha vẫn nắm chặt yết hầu ngài đô thống như một cái máy, nhưng đầu gối cha đã bủn rủn.
– Ai đấy nhỉ? – Ostap thân ái hỏi to – A, tổ chức cạnh tranh!
Cha Fêđor không dám chần chừ. Theo bản năng cao quý, cha chộp ngay lấy món Kolbasa và cái bánh mì của đối thủ rồi bỏ chạy.
– Đồng chí Benđer ơi, hãy giần cho nó một trận! – Ippolit vừa thở hổn hển, vừa gọi.
– Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!
Ostap huýt sáo đuổi theo:
– Chịu – chịu! Kịch chiến trên kim tự tháp, hoặc Benđer đi săn thú! Chạy đi đâu thế, ông bạn hàng? Xin mời ông mua một chiếc ghế đã moi ruột tử tế!
Cha Fêđor không chịu đựng nổi nỗi gian truân của sự săn đuổi, bèn leo lên một tảng đá dựng đứng. Sức mạnh đẩy cha lên chính là quả tim đang thót lên đến tận cổ và cảm giác buồn buồn dưới gót chân, một cảm giác chỉ những thằng hèn mới biết. Hai chân tự nó tách khỏi mặt đá hoa cương và nâng chủ của nó lên cao.
– U-u-u! – Ostap đứng dưới hét. Bắt lấy nó!
– Nó cướp mất thức ăn của ta rồi! – Ippolit gào to, chạy đến chỗ Ostap.
– Đứng lại, lão già kia! – Ostap quát lớn – Ta bảo lão đứng lại kia mà.
Nhưng câu nói ấy chỉ tăng thêm sức lực cho cái thể xác đã mệt lử của cha Fêđor. Cha vẫn cứ leo và sau mấy bước chân cuối cùng đã vọt lên chỗ cao hơn dòng chữ cao nhất tới hàng chục xagien.
– Trả món Kolbasa đây! – Ostap gọi – Trả ta món Kolbasa đây, đồ ngốc! Ta sẽ tha thứ hết.
Cha Fêđor không còn nghe thấy gì nữa. Cha đã đứng trên một chỗ bằng phẳng mà từ xưa đến nay chưa một người nào leo lên nổi. Nỗi kinh sợ xâm chiếm lòng cha. Cha hiểu rằng cha không tài nào tụt xuống được nữa, vì phiến đá trơn tuột và gần như dựng đứng. Cha nhìn xuống bên dưới. Ở đấy Ostap đang chạy nhào lên tức giận, và cái gọng vàng của chiếc kính kẹp mũi của Ippolit lấp lánh. Cha gọi to:
– Cho tôi xuống với, tôi xin trả lại món Kolbasa!
Đáp lại chỉ có tiếng dòng Terek chảy ầm ầm và những âm thanh là lạ từ phía lâu đài Tamara. Đấy là nơi cư ngụ của bầy cú.
– Cứu tôi xuống vớ-ới-ới! – Cha Fêđor gọi thảm thiết.
Cha nhìn rõ mọi động tác của hai đối thủ. Chúng chạy đi chạy lại bên dưới tảng đá và nhìn cử chỉ, có thể đoán chúng đang chửi tục.
Một giờ sau, cha Fêđor nằm sấp bụng, cúi đầu xuống và thấy Ostap cùng Ippolit bỏ đi về phía đèo Cây Thập tự.
Đêm xuống nhanh. Trong bóng tối đen đặc và tiếng gầm đáng sợ ngay dưới chân mây, cha Fêđor nằm khóc nức nở, người run lẩy bẩy. Giờ này cha chẳng cần gì những kho báu dưới trần nữa. Cha chỉ còn muốn mỗi một điều: xuống được dưới đất. Đêm ấy, đôi lúc cha rú lên át cả tiếng nước sông Terek chảy như thác. Sáng ra, sau khi được trợ lực bằng món Kolbasa và bánh mì, cha cười man rợ như quỷ satăng ở trên đầu những chiếc xe ô tô chạy dưới đường. Cả ngày cha nằm lặng ngắm các quả núi và thiên thể – mặt trời. Đêm thứ hai, cha mơ thấy hoàng hậu Tamara, từ lâu đài của mình nàng bay sang đây và kiểu cách nói:
– Ta sẽ là láng giềng của nhau nhé.
– Mẹ ơi! – cha Fêđor dịu dàng đáp – Không phải tôi mưu cầu lợi lộc gì...
– Ta biết, ta biết – hoàng hậu nhận xét – chỉ là để thực hiện ước nguyện của người vợ đã phái ngươi đi.
– Sao hoàng hậu biết ạ? – Cha Fêđor ngạc nhiên.
– Ta biết chứ. Sang ta chơi nhé, ông bạn láng giềng. Ta sẽ chơi bài sáu sáu với nhau, bằng lòng chứ?
Hoàng hậu cười phá lên rồi bay đi, câu nói đùa còn văng vẳng giữa trời đêm.
Ngày thứ ba, cha Fêđor bắt đầu giảng đạo cho các loài chim. Không hiểu sao cha lại khuyên chúng theo thuyết Lute.
– Chim chóc ơi! – cha dịu dàng bảo chúng – các ngươi hãy công khai thú nhận tội lỗi của mình đi!
Ngày thứ tư, cha Fêđor đã thành đối tượng của những khách tham quan ở phía dưới. Mấy cán bộ hướng dẫn dày kinh nghiệm nói:
– Bên phải là lâu đài Tamara. Còn bên trái có một người đứng ngắm cảnh. Người ấy sống bằng gì và làm thế nào lên được đó đến nay vẫn chưa ai biết.
– Dân vùng núi man rợ thật! – Khách tham quan tỏ ý ngạc nhiên.
Những đám mây bay tới. Lũ chim ưng quần tụ trên đầu cha Fêđor. Một con táo tợn nhất dám đánh cắp miếng Kolbasa còn lại và lúc vỗ cánh bay lên đã làm cho một funt rưỡi bánh mì văng xuống dòng sông Terek ngầu bọt.
Cha Fêđor giơ một ngón tay dọa con chim ưng, mỉm cười rạng rỡ, thì thầm:
Chim thần không hề biết
Lo nghĩ và làm việc
Chẳng bao giờ tất bật
Xây tổ ấm lâu dài
Chim ưng liếc nhìn cha Fêđor, kêu mấy tiếng “Ku-ku-ro-ku” rồi bay đi.
– Ôi, chim ưng, chim ưng, mi là đồ hư đốn!
Mười ngày sau từ Vlađikavkaz một đội cứu hỏa đem theo thiết bị cần thiết tới đây và cứu cha Fêđor đem xuống.
Khi người ta khiêng cha xuống, cha vừa vỗ tay vừa hát thều thào:
Và em sẽ là bà hoàng hậu của thế gian
Người bạn gái suốt đời của ta!
Và núi Kavkaz nghiêm nghị nhắc lại nhiều lần lời thơ của M.Iu. Lermontov với nhạc của A. Rubinstein.
– Không phải mưu cầu lợi lộc – cha Fêđor nói với viên đội trưởng cứu hỏa, – mà chỉ vì...
Người ta dùng thang cứu hỏa chở vị cố đạo cười nhăn nhăn nhở nhở tới bệnh viện tâm thần.
__________
(1) Đơn vị đo lường của Nga. 1 xagien = 3 ác sin = 2,13m
0
 
CHƯƠNG XXXIX
ĐỘNG ĐẤT
 
– Ông nghĩ sao, ông đô thống – Ostap hỏi khi hai người đến gần bản Sioni – có thể kiếm ăn bằng cách gì ở cái vùng hẻo lánh, cao hơn mặt biển trên ba ngàn mét này?
Ippolit Matveevich im lặng. Cái việc duy nhất có thể giúp ông ta sinh sống là ăn mày, nhưng ở đây, trên vùng núi cao heo hút này, chả có ai để mà ăn xin
Kể ra ở đây cũng có cảnh ăn xin, nhưng là kiểu đặc biệt như ở vùng núi Anpơ: mỗi khi có chiếc xe buýt hoặc xe hơi chạy qua làng, trẻ con lại kéo tới biểu diễn vài điệu múa Lezginka rồi chạy theo xe và nói to:
– Cho tiền đi, cho tiền đi, các vị!
Hành khách quẳng những đồng xu năm côpếch xuống rồi bay lên đèo Cây Thập tự.
– Chúa thật – Ostap nói – không cần chi phí đầu tư, thu nhập ít ỏi, nhưng trong tình cảnh chúng mình, khoản ấy rất có giá trị.
Khoảng hai giờ chiều ngày đi đường thứ hai, Ippolit dưới sự quan sát của vua mánh, đã biểu diễn trước hành khách ngồi trên ô tô điệu múa đầu tiên của mình. Điệu này giống điệu Mazurka nhưng hành khách mải say sưa với cảnh đẹp hoang dại của vùng Kápka, cứ tưởng đó là điệu Lezginka của địa phương nên quẳng xuống ba đồng năm côpếch. Đến chiếc xe sau, một chiếc xe buýt từ Tiflis chạy đến Vlađikavkaz thì đích thân giám đốc kỹ thuật ra nhảy múa.
– Cho tiền đi, thưởng tiền đi, các vị! – Vua mánh cau có nói.
Hành khách vui cười và hào phóng thưởng tiền. Trong đám bụi đường, Ostap nhặt được ba chục côpếch cả thảy. Nhưng ngay lập tức hai kẻ cạnh tranh bị bọn trẻ con ở bản Sioni ném đá tới tấp. Để tránh tai nạn, họ vội rời chân sang bản bên cạnh, nơi họ dùng số tiền vừa kiếm được để mua phó mát và bánh churek.
Những ngày tiếp theo diễn ra tương tự. Ban đêm họ ngủ nhờ các nhà trong bản. Sang ngày thứ tư, họ theo con đường ngoằn ngoèo đi xuống thung lũng Kaisaur. Ở đây rất nóng, nhờ đó các khớp xương của hai người bị tê cứng vì giá lạnh trên đèo Cây Thập tự nhanh chóng được hâm nóng lại.
Những khối đá ở hẻm Đarial, bóng tối âm u và giá rét trên đèo đã được thay bằng cây cỏ xanh tươi và nhà cửa san sát dưới lũng sâu. Hai kẻ lữ hành đi xuống thung lũng đông dân, có nhiều gia súc và gia cầm... Ở đây có thể ăn xin, kiếm miếng gì đó cho vào bụng hoặc cùng lắm thì đi ăn trộm. Đây là vùng Zakápka.
Hai người hớn hở đi nhanh hơn.
Ở Passanaur, một bản khá giàu, có hai khách sạn và mấy tiệm ăn, hai người xin được ít bánh churek và nằm nghỉ dưới một bụi cây trước cửa khách sạn “Francis”, nơi có một vườn hoa và hai con gấu nhỏ bị xích cổ. Cả hai thưởng thức hơi ấm và vị ngon của bánh.
Được một lát, bỗng có tiếng còi ô tô inh ỏi, tiếng lốp xe mới nghiến lạo xạo trên đường sỏi và tiếng cười nói vui vẻ. Hai thành viên hợp đồng ngó ra, thấy ba chiếc ô tô mới toanh cùng kiểu từ từ chạy vào cửa khách sạn “Francis” và dừng lại thật êm. Từ chiếc xe đi đầu, Persitski nhảy ra. Theo sau là “Tòa án và sinh hoạt” dùng tay chải chải mái tóc lấm bụi. Rồi từ ba xe đổ xuống nốt tất cả các hội viên câu lạc bộ ô tô của báo “Máy cái”.
Persitski gọi to:
– Ông chủ ơi! Mười lăm xuất thịt nướng nhé!
Khách sạn rộn tiếng bước chân của nhiều người và tiếng kêu của một chú cừu bị lôi vào nhà bếp.
– Kisa, ông không nhận ra anh chàng trẻ tuổi kia sao? – Ostap hỏi – Đấy là anh chàng phóng viên đã ở dưới tàu “Skriabin”, một trong những kẻ đã phê phán băng biểu ngữ transparant của chúng mình đấy. Sao bọn họ đi xe sang thế nhỉ? Lạ thật!
Ostap mon men lại gần tốp người đang ăn thịt cừu nướng và cúi chào Persitski một cách vô cùng lịch thiệp.
– Bông-giua! – Nhà báo nói – Anh bạn thân mến, tôi đã gặp anh ở đâu rồi nhỉ? A-a-a! Nhớ rồi. Họa sĩ trên tàu “Skriabin”! Phải không nào?
Ostap đặt bàn tay lên ngực và cung kính cúi mình.
– Hượm đã. Hượm đã – Persitski, với trí nhớ tuyệt diệu của nhà báo, nói tiếp – Có phải ở quảng trường Sverlov tại Mátxcơva anh bạn đã đụng phải xe ngựa không nào?
– Chứ sao, chứ sao! Và theo nhận xét rất tinh của đồng chí, tôi còn bị một mẻ sợ nữa kia.
– Thế anh tới đây lo việc trang trí nghệ thuật à?
– Không, tôi đi tham quan ạ.
– Đi bộ ư?
– Đi bộ. Các chuyên gia khẳng định rằng đi du lịch trên đường Quân đội Grudia mà dùng xe ô tô là ngốc.
– Không phải bao giờ cũng là ngốc đâu, anh bạn ạ! Như bọn tôi chẳng hạn, bọn tôi chẳng ngốc chút nào. Xe của bọn tôi, anh bạn thấy đấy, xin nhấn mạnh, của tập thể chúng tôi đó, chạy thẳng một mạch Mátxcơva – Tiflis. Tốn rất ít xăng. Vừa tiện lợi vừa nhanh chóng. Êm như ru. Châu Âu mà lại!
– Các anh lấy đâu ra xe mới thế? – Ostap ghen tị hỏi – Trúng số một trăm ngàn à?
– Không trúng một trăm ngàn, nhưng cũng được một nửa số anh bạn nói.
– Đánh bạc được ngần ấy ư?
– Phiếu công trái của câu lạc bộ bọn tôi trúng thưởng đó.
– À – Ostap nói – và các đồng chí lấy tiền ấy mua ba chiếc xe phải không?
– Thì anh bạn thấy đấy!
– Vâng. Này, các đồng chí có cần cố vấn không? Tôi có biết một thanh niên cừ lắm. Không nghiện rượu.
– Cố vấn cái gì?
– Thì... chỉ đạo chung, đưa ra các lời khuyên nhủ, huấn luyện trực tiếp theo phương pháp tổng hợp ấy mà.
– Tôi hiểu rồi. Không, bọn này chả cần.
– Không cần thật à?
– Không. Rất tiếc. Họa sĩ cũng không cần nốt.
– Nếu vậy hãy đưa cho tôi mười rúp.
– Avđôtin – Persitski gọi – cậu làm ơn đưa anh bạn này ba rúp, trừ vào tiền của tớ nhé. Không cần phiếu và chữ ký đâu. Anh bạn này ở ngoài biên chế báo cáo.
– Ít quá – Ostap nói – nhưng tôi cũng xin nhận. Tôi hiểu toàn bộ tình hình khó khăn của các đồng chí. Giá các đồng chí trúng một trăm ngàn, chắc tôi sẽ đòi năm rúp đấy. Nhưng lại chỉ trúng có năm chục ngàn rúp không hào không xu. Bởi vậy xin cám ơn.
Ostap cung kính ngả mũ chào. Persitski cũng lịch sự ngả mũ đáp lại. Ostap lịch sự nghiêng mình. Persitski cũng nghiêng mình lịch sự không kém. Ostap niềm nở phẩy tay. Persitski ngồi bên tay lái cũng vẫy vẫy tay. Nhưng Persitski ra đi trên chiếc xe ô tô bóng lộn, tới những miền xa lạ đầy hấp dẫn, cùng với tốp bạn bè vui vẻ; còn vua mánh thì ở lại giữa đường trong đám bụi mù với một thằng ngốc.
– Ông đã thấy loại xe này bao giờ chưa? – Ostap hỏi Ippolit.
– Xe của công ty công nghệ phẩm Zakapkaz hay là của hãng “Motor” tư nhân ấy nhỉ? – Ippolit hỏi lại ra vẻ thành thạo. Sau mấy ngày đường, ông ta đã biết rõ tất cả các loại phương tiện giao thông – Tôi đã định lại gần để múa cho họ xem.
– Ông bạn đáng thương ơi, ông mụ mẫm quá mất rồi. Xe này của công ty công nghệ phẩm Zakapkaz? Ông nghe đây, Kisa. Bọn họ mới trúng số năm chục ngàn rúp đấy! Ông đã thấy họ vui sướng và thực hiện cơ giới hóa sinh hoạt thế chưa! Bao giờ chúng mình nhận được số tiền của chúng mình, ta sẽ chi tiêu hợp lý hơn nhiều. Đúng thế không ông?
Và hai người bạn rời khỏi Passanaur, vừa đi vừa mơ ước sẽ mua những gì khi trở nên giàu có. Ippolit tưởng tượng sẽ mua ngay đôi bít tất mới và sẽ đi ra ngoại quốc. Mơ ước của Ostap rộng lớn hơn. Dự án của hắn mang tầm cỡ quốc tế: nào xây đập chắn ngang dòng sông Nil, nào xây biệt thự ăn chơi ở Riga và mở sòng bạc ở nhiều nơi khác.
Ngày thứ ba, trước bữa ăn trưa, sau khi đi qua mấy địa danh buồn tẻ và bụi bặm: Anapur, Đuchet và Silkam, hai người đã tới Mekhet là kinh đô cũ của Grudia. Ở đây họ quẹo về phía Tiflis.
Tối hôm đó họ đi qua nhà máy thủy điện Zemo Avechal. Kính, nước và điện nhấp nháy các ánh lửa khác nhau, in bóng lung linh xuống dòng sông Kura chảy xiết. Tại đây họ làm quen với một bác nông dân và được bác cho đi nhờ xe ngựa đến Tiflis vào hồi mười một giờ đêm, đúng vào cái giờ mà sự mát mẻ quyến rũ người dân thủ đô Grudia đổ ra đường sau một ngày oi nồng mệt mỏi.
– Thành phố này khá đây – Ostap nhận xét khi bước ra đại lộ Sot Rustaveli – Ông biết không, Kisa...
Bỗng Ostap ngừng bặt, chạy đuổi theo một người nào đó, sau mười bước đã đuổi kịp và bắt đầu hăng hái nói chuyện với người ấy.
Loáng một cái vua mánh đã quay lại và khẽ thọc ngón tay vào sườn Ippolit.
– Ông biết ai đấy không? – Hắn thì thầm rất nhanh – Đấy là “Xưởng bánh mì Odessa – bánh mì vòng Mátxcơva”, ngài Kisliarski. Bây giờ ông hãy sắm vai nhà tư tưởng khổng lồ và người cha của nền dân chủ Nga, dù điều đó quá ư ngược đời. Đừng có quên phồng má và ngọ nguậy ria đấy nhé. Ria ông khá dài rồi đó. Thật là một sự tình cờ thú vị! Nếu bây giờ tôi không lột được của nó năm trăm rúp thì ông cứ nhổ vào mặt tôi! Nào, ta đi! Lẹ lên!
Quả vậy, cách chỗ hai người một quãng chính là Kisliarski mặc bộ đồ tuýtxo, mặt trắng bệch vì sợ hãi.
– Hai vị hình như đã quen biết nhau – Ostap nói nhỏ – Đây là người thân cận của Sa hoàng, nhà tư tưởng khổng lồ, cha đẻ của nền dân chủ Nga. Xin đừng để ý tới bộ quần áo của người. Phải ăn vận như thế để giữ bí mật. Ông Kisliarski hãy chở hai chúng tôi tới một chỗ nào đó. Chúng ta cần nói chuyện với nhau một lát.
Kisliarski đến Kapkaz nghỉ ít ngày sau các sự kiện động trời ở Stargorot, lúc này hết cả hồn vía. Miệng lẩm bẩm phàn nàn mấy câu vớ vẩn về tình hình làm ăn thua lỗ ở xưởng bánh vòng, ông ta gọi một cái xe ngựa choáng lộn đưa hai người quen đáng sợ tới núi Đaviđ. Họ theo đường cáp treo lên trên tiệm ăn đặt ở đỉnh núi. Thành phố Tiflis với hàng ngàn ngọn điện đã tụt hẳn xuống bên dưới. Ba thành viên hội kín dường như có thể với tay tới các vì sao.
Các bàn ăn bày ngay trên cỏ. Dàn nhạc Kavkaz chơi một bài nhè nhẹ, một cô bé đang uốn éo nhảy điệu Lezginka giữa các bàn ăn trước cặp mắt sung sướng của cha mẹ cô.
– Ông hãy gọi vài món ăn đi – Ostap sai bảo.
Vốn sành ăn, Kisliarski gọi món rượu vang, xà lách và phó mát chua của vùng Kavkaz.
– Gọi vài món ăn nữa chứ – Ostap nói – Giá ông Kisliarski thân mến biết tôi và ngài Ippolit đây, đã phải chịu đựng cảnh thiếu thốn như thế nào, hẳn ông sẽ phải kinh ngạc về lòng quả cảm của hai chúng tôi.
Kisliarski nghĩ thầm: “Mình lại bắt đầu khổ sở rồi đây! Tại sao mình không đi Krưm cơ chứ? Mình đã định đi nghỉ ở Krưm kia mà! Và Henrietta cũng khuyên mình đến đó!”
Nhưng ông ta vẫn ngoan ngoãn gọi hai xuất thịt nướng đoạn quay khuôn mặt sẵn sàng phục vụ về phía Ostap.
Vua mánh đưa mắt nhìn xung quanh, thấp giọng:
– Xin nói tóm tắt. Chúng tôi bị theo dõi suốt hai tháng nay, rất có thể ngày mai căn phòng bí mật của chúng tôi sẽ bị phục kích. Đành phải nã súng đánh trả kẻ thù.
Mặt Kisliarski tái xám đi.
– Chúng tôi rất mừng – Ostap tiếp – được gặp một chiến hữu trung thành với Tổ quốc trong giờ phút nghiêm trọng này.
– V... â-âng! – Ippolit hậm hừ trong cổ họng và nhớ lại lúc ông trong phải nhảy điệu Lezginka ở làng Sioni trong lúc bụng đói meo như thế nào.
– Chúng tôi hy vọng với sự giúp đỡ của ông, có thể đập tan kẻ thù – Ostap nói – Tôi sẽ trao cho ông một khẩu Parabenlum.
– Ấy chớ – Kisliarski cương quyết đáp.
Một phút sau mới vỡ lẽ rằng ngài giám đốc sở lao động không có khả năng tham gia trận đánh ngày mai. Ông ta rất lấy làm tiếc, nhưng chả biết làm thế nào khác được. Ông không biết bắn. Chính vì vậy người ta mới cử ông vào chức giám đốc sở lao động. Ông rầu lòng lắm, nhưng để cứu sinh mạng cha đẻ của nền dân chủ Nga (thì chính ông từng theo phái Tháng Mười), ông sẵn sàng đóng góp về mặt tài chính.
– Ông quả là người bạn trung thành của Tổ quốc! – Ostap đắc thắng vừa nói vừa nhấm nháp món thịt nướng thơm phức, ngọt thắm – Năm trăm rúp có thể cứu sống nhà tư tưởng khổng lồ.
Kisliarski hỏi bằng giọng khổ sở:
– Liệu hai trăm rúp có thể cứu sống nhà tư tưởng khổng lồ không ạ?
Ostap không dừng được, bèn dùng chân đá nhẹ vào cẳng Ippolit ở dưới gầm bàn.
Ippolit lên tiếng.
– Ta cho rằng đây không phải là chuyện mặc cả mua bán.
Lập tức Ippolit nhận được một cái dúi khẽ vào sườn, có nghĩa:
“Khá lắm, Kisa, khá lắm, trường học là thế đó!”
Lần đầu tiên trong đời Kisliarski nghe thấy tiếng nói của nhà tư tưởng khổng lồ. Ông ta kinh ngạc vì chuyện đó tới mức trao ngay cho Ostap năm trăm rúp. Sau đó ông trả tiền và để hai người bạn ngồi lại ăn tiếp, ông xin phép cáo lui vì bị đau đầu. Nửa giờ sau ông điện về cho vợ ở Stargorot:
ANH ĐI KRƯM THEO EM KHUYÊN
CHUẨN BỊ SẴN KHĂN GÓI CHO VÀO LẴNG
Sự thiếu thốn lâu ngày mà Ostap Benđer phải chịu đựng đòi được đền bù ngay lập tức. Bởi vậy, cũng đêm đó, vua mánh uống rượu trên núi say đến mức suýt nữa thì lúc ngồi trong toa goòng xuống núi bị ngã ra ngoài. Sáng hôm sau, hắn thực hiện mơ ước từ lâu của hắn: mua một bộ complê màu xám. Mặc bộ này tuy nực, nhưng hắn cứ mặc kệ cho mồ hôi đổ ròng ròng. Ippolit thì mua ở cửa hàng quần áo may sẵn của Hợp tác xã tiêu thụ Tiflis một bộ đồ trắng và chiếc mũ thủy thủ đính huy hiệu màu vàng của một câu lạc bộ thuyền buồm vô danh. Mặc bộ đồ ấy, Ippolit giống như một đô đốc thương thuyền nghiệp dư. Lưng ông thẳng lại. Dáng đi chững chạc hơn.
– Cha cha! – Ostap nói – hết sảy! Giá tôi là cô bán hàng, tôi sẽ giảm giá tám phần trăm cho một trang nam nhi điển trai và dũng cảm như ông. Chao! Chao! Điệu này chúng mình có thể múa được đấy! Ông biết nhảy chứ, Kisa?
– Đồng chí Benđer – Ippolit nghiêm trang – Còn cái ghế kia mà?! Phải hỏi xem nhà hát Kolumbo đâu rồi.
– Ô hô! – Ostap nhảy vòng quanh chiếc ghế trong phòng thuê ở khách sạn “Orient”. – Đừng dạy tôi cách sống. Ta đang bực đây. Ta có tiền. Nhưng ta cao thượng lắm. Ta cho ngươi hai chục rúp cùng ba ngày đi cướp phá thành phố! Ta là tướng Xuvôrốp!... Hãy cướp phá thành phố thoải mái, Kisa! Cho ngươi ăn chơi thoải mái đấy!
Và Ostap ngoáy đùi, hát thật nhanh:
Âm thanh đêm trường, âm thanh đêm trường
Gợi bao suy tưởng, gợi nhiều suy tưởng.
Hai người bạn say sưa rượu chè suốt một tuần liền. Bộ đồ trắng của Ippolit và bộ đồ xám của Ostap nhem nhuốc đầy vết rượu táo và các vết bẩn khác. Buổi sáng ngày thứ tám, Ostap tỉnh rượu, nảy ra ý đọc tờ báo “Bình minh phương Đông”, hắn nói:
– A, đây rồi, ông bạn rượu Kisa ơi, thử nghe những nhà thông thái viết cái gì ở đây nào. Nghe này!
TIN SÂN KHẤU
Hôm qua, ngày 3 tháng 9, sau khi biểu diễn ở Tiflis, nhà hát Kolumbo Mátxcơva đã lên đường đi Alta. Nhà hát dự định sẽ biểu diễn ở Krưm cho đến đầu mùa đông mới trở về Mátxcơva.
– Thấy chưa, tôi đã bảo anh mà! – Ippolit nói.
– Ông bảo tôi cái đếch gì! – Ostap càu nhàu.
Nhưng hắn cảm thấy bối rối. Hắn khó chịu về sai lầm vừa qua. Đáng lẽ nên kết thúc cuộc săn tìm kho báu ở Tiflis, bây giờ lại phải đi đến bán đảo Krưm. Vua mánh lập tức hành động. Hắn mua vé đi Batum, rồi đặt trước vé hạng hai trên chuyến tàu thủy “Pestel” sẽ khởi hành từ Batum đi Odessa vào hồi 23 giờ ngày 7 tháng 9 theo giờ Mátxcơva.
Đêm ngày 10 rạng ngày 11 tháng chín, khi chiếc tàu “Pestel”, không ghé cảng Anapa vì bão biển, quay mũi ra khơi thẳng tiến về Ialta, thì Ippolit nằm mơ.
Ông ta mơ thấy mình mặc bộ đồ đô đốc hải quân đứng trên ban công tòa biệt thự của mình ở Stargorot và biết rằng đám đông ở bên dưới đang chờ ông nói điều gì đây. Một cái cần trục lớn cẩu một con lợn lấm chấm điểm đen đặt vào bên chân ông.
Lão quét sân Tikhôn mặc bộ đồ tử tế chạy lại, tóm lấy hai chân sau của con lợn và nói:
– Ôi, quỷ tha ma bắt chúng nó đi. Hãng “Nimfa” làm sao nó có được loại áo quan như của tôi!
Trong tay Ippolit có một con dao găm. Ông thọc dao vào sườn con lợn. Và từ cái vết thương toang hoác ấy, các viên kim cương lăn cồng cộc ra nền xi măng. Chúng nhảy lóc cóc. Lóc cóc. Tiếng lóc cóc cuối cùng trở nên đáng sợ tới mức không chịu đựng nổi.
Ippolit choàng dậy vì tiếng sóng đập mạnh vào cửa kính của tàu.
Tàu cập bến Ialta trong cảnh sóng yên biển lặng, vào một buổi sáng đầy nắng, uể oải. Vị đô thống đã bớt say sóng đường hoàng đứng ở mũi tàu, cạnh chiếc chuông có đề chữ đúc bay bướm kiểu Slavơ cổ. Thành phố Ialta vui vẻ trưng ra dọc bờ biển từng dãy quán hàng và tiệm ăn nổi. Trên bến tàu có những chiếc xe ngựa chờ khách, xe có đệm nhung, có vải che đầu lịch sự. Ngoài ra có nhiều xe buýt của quốc doanh và hợp tác xã. Các cô gái mảnh dẻ cầm ô hoặc khăn vẫy vẫy chào.
Hai người thuộc loại khách đầu tiên bước xuống bến tàu nóng nực. Trông thấy hai nhân vật của chúng ta, từ trong đám đông những người ra đón hoặc tò mò đứng xem, có một vị mặc bộ đồ tuýtxo vội chuồn về phía cửa ra khỏi cảng. Nhưng đã muộn. Con mắt thợ săn của Ostap đã nhanh chóng nhận ra vị đó.
– Chờ tôi một chút, Kisa nhé! – Ostap dặn.
Và vua mánh lao nhanh tới nỗi đuổi kịp người nọ ở cách lối ra chừng mươi bước. Loáng một cái hắn đã quay lại với một trăm rúp.
– Nó chỉ đưa ngần ấy. Vả lại tôi cũng không làm căng quá. Cũng phải để cho nó đủ tiền đi đường về nhà nữa chứ.
Quả vậy, Kisliarski lập tức đáp ô tô chuồn thẳng đi Sevastopol, rồi từ đó lấy vé hạng ba về thành phố Stargorot.
Suốt ngày hai người bạn ở lỳ trong khách sạn, cởi trần ngồi dưới đất và chốc chốc lại chạy vào trong buồng tắm. Nhưng nước cũng nóng như đun vậy. Trời nóng như thiêu như đốt. Tưởng chừng Ialta sắp tan thành nước và trôi ra biển.
Khoảng tám giờ tối, vừa lẩm bẩm nguyền rủa mọi thứ ghế trên đời, hai thành viên hợp đồng ăn món shtiblet và lên đường tới nhà hát.
Người ta đang diễn vở “Cuộc hôn nhân”. Stêpan làm động tác đứng trên hai tay, suýt ngã nhào vì nóng. Agafia Tikhônôpna chạy trên dây, hai tay ướt đẫm cầm chiếc ô có dòng chữ “Em thích Pođkolesin”. Lúc này, cũng như suốt cả ngày nay, cô chỉ thích có một thứ thôi, đó là món nước đá. Khán giả cũng khát nước. Bởi vậy, và có lẽ vì vậy mà cảnh Stêpan nhồm nhoàm ăn món trứng tráng bỏng lưỡi khiến mọi người kinh tởm và vở kịch không làm vừa lòng khán giả.
Hai thành viên hợp đồng rất hài lòng vì chiếc ghế của mình vẫn còn đó, bên cạnh ba chiếc ghế mới tinh kiểu roksko.
Lánh vào một lô, hai người bạn kiên nhẫn chờ lúc chấm dứt vở kịch quá dài. Cuối cùng khán giả giải tán, các diễn viên chạy tìm chỗ thoáng mát. Trong rạp chả còn ai, trừ hai nhân vật của chúng ta. Mọi sinh vật đều đã chạy ra đường đón cơn mưa mát rượi vừa ập xuống.
– Kisa, theo tôi – Ostap ra lệnh – Có chuyện gì thì bảo chúng mình là dân tỉnh lẻ tới đây, chưa tìm được lối ra khỏi rạp nhé.
Họ mò lên sân khấu, bật diêm soi (song vẫn vấp phải cái máy ép thủy lực) để khảo sát toàn bộ đồ vật.
Vua mánh theo cầu thang chạy lên chỗ sân khấu giả.
– Lên đây, Kisa! – Hắn gọi.
Ippolit leo lên.
– Thấy chưa? – Ostap bật diêm, hỏi.
Trong bóng tối hiện ra một góc chiếc ghế kiểu Hambx và một phần cái ô có chữ “... thích…”.
– Đấy! Tương lai, hiện tại và quá khứ của chúng mình đây rồi. Đốt diêm đi, Kisa. Để tôi móc ruột nó ra.
Và Ostap thò tay vào túi lấy dụng cụ.
– Nào – Hắn giơ tay, giục – bật que khác đi, ngài đô thống.
Ánh lửa lóe lên và lạ thay, chiếc ghế tự nó nhảy sang bên cạnh rồi trước con mắt sửng sốt của hai người, nó tụt đánh hẫng qua bàn.
– Cha mẹ ơi! – Ippolit vừa bay vào tường (mặc dù ông ta không hề cử động chân tay) vừa rú lên.
Kính cửa vỡ loảng xoảng, chiếc ô với dòng chữ “Em thích Pođkolesin” bị bốc cuốn bay qua cửa sổ ra biển. Ostap nằm trên sàn bị mấy tấm ván mỏng đè lên.
Lúc ấy là mười hai giờ bốn mươi phút. Đó là cú giật đầu tiên của vụ động đất mạnh ở Krưm năm 1927.
Cơn động đất mạnh chín độ gây bao thiệt hại ghê gớm cho toàn bán đảo Krưm đã giằng kho báu ra khỏi tay hai kẻ săn tìm.
– Đồng chí Benđer ơi, cái gì thế nhỉ? – Ippolit thất kinh gọi to.
Ostap lúng túng: trận động đất đang cản trở bước tiến của hắn. Đây là trường hợp duy nhất trong thực tiễn hoạt động phong phú của hắn.
– Cái gì thế nhỉ? – Ippolit rú lên.
Từ ngoài đường vọng vào tiếng kêu thét, tiếng rên la và tiếng bước chân chạy rầm rập.
– Chúng mình chuồn ngay ra ngoài đường trong khi chưa bị tường đổ vùi lấp. Lẹ lên! Lẹ lên! Đưa tay đây, đồ ngu!
Và hai người lao ra cửa rạp. Kỳ lạ thay, ngay cạnh lối đi từ sân khấu ra phố, chiếc ghế kiểu Hambx của họ vẫn nguyên vẹn, nằm chỏng trơ ở đấy. Miệng rú lên như chó hú, Ippolit choàng hai tay hai chân quắp chặt lấy nó.
– Đưa tôi cái kìm đi! – Ông ta bảo Ostap.
– Đồ con lừa! – Ostap quát – Trần nhà ụp xuống đầu bây giờ, thế mà nó lại giở chứng điên kia chứ! Chạy ra ngoài kia đã!
– Kìm! Kìm đâu? – Ippolit hét lên như kẻ mất trí.
– Thì mặc xác cho mày chết! Cứ ngồi đấy mà ôm chiếc ghế! Tao quý mạng sống của tao hơn!
Vừa nói, Ostap vừa lao ra ngoài. Ippolit sủa một tiếng, chộp chiếc ghế chạy theo Ostap.
Họ ra tới giữa đường, thì đất chao đảo như đưa vòng dưới chân, ngói trên mái rạp bay xuống tới tấp, và ở chỗ hai người bạn vừa bỏ chạy, các mảnh vỡ của chiếc máy ép thủy lực rơi xuống ình ịch.
– Nào, giờ thì đưa cái ghế đây – Ostap lạnh lùng nói – Tôi thấy ông cầm nó mỏi tay rồi đấy.
– Tôi không đưa! – Ippolit gầm gừ.
– Gì thế này? Nổi loạn trên tàu hả? Đưa đây, nghe chưa?
– Nó là ghế của tôi! – Ippolit quát to, át cả tiếng rên la, than khóc và tiếng gãy vỡ răng rắc vọng lên tứ phía.
– Nếu vậy thì hãy nhận lấy phần thù lao này, đồ chó đẻ!
Và Ostap giơ bàn tay cứng như đồng chặt vào cổ Ippolit.
Đúng lúc ấy, có một chiếc xe ngựa cứu hỏa cầm đuốc chạy qua, và dưới ánh đuốc chập chờn Ippolit nhìn rõ vẻ mặt đáng sợ của Ostap, đành khuất phục và trao chiếc ghế cho hắn.
– Vậy là tốt – Ostap nói, thở hổn hển – cuộc bạo loạn đã bị đập tan. Còn bây giờ thì ông hãy bưng cái ghế đi theo tôi. Ông phải chịu trách nhiệm về sự toàn vẹn của nó. Dù động đất có giật mạnh đến năm chục độ, vẫn phải giữ chặt chiếc ghế! Hiểu chưa?
– Hiểu rồi ạ.
Suốt đêm hai người dò dẫm cùng với các tốp dân chúng kinh hoàng và, cũng như tất cả mọi người, không dám bước vào trong nhà, nơm nớp chờ những cơn động đất mới.
Rạng sáng, khi nỗi kinh sợ đã giảm bớt, Ostap chọn một chỗ gần đó không có bức tường nào có thể đổ sụp hoặc không ai có thể cản trở, và hắn bắt tay vào việc phanh phui ruột cái ghế.
Kết quả khiến cả hai rất đỗi ngạc nhiên. Trong ruột ghế chẳng có gì. Ippolit không chịu nổi mọi sự chấn động hồi đêm, cười lên hí hí như chuột.
Liền sau đó là cơn giật thứ ba, đất nứt ra và nuốt chửng chiếc ghế kiểu Hambx mà cơn giật thứ nhất còn thương tình chưa động đến và đã bị con người phanh phui ruột gan. Những bông hoa của lớp vải bọc còn cố cười mỉm với vầng thái dương vừa ló lên trong đám mây bụi.
Ippolit Matveevich bò lồm cồm bằng cả tứ chi, mặt hướng về phía vầng thái dương đỏ như máu và rú lên. Nghe tiếng rú ấy, vua mánh ngã bổ chửng và ngất đi. Lúc hắn tỉnh lại, hắn nhìn thấy cạnh mình cái cằm lún phún râu màu tím của Ippolit: ông ta nằm ngất xỉu. Ostap nói bằng giọng của một bệnh nhân vừa trải qua đợt ốm thương hàn:
– Rốt cuộc thì bây giờ chúng mình còn xác xuất thành công một trăm phần trăm. Chiếc ghế cuối cùng (nghe tiếng “ghế”, Ippolit bừng tỉnh dậy) mất hút ở bãi gửi hàng của nhà ga Oktiabrơ, nhưng hoàn toàn không phải là nó độn thổ. Không sao. Công việc vẫn tiếp tục.
Đâu đó có tiếng gạch đổ ầm ầm. Một hồi còi tàu thủy kéo rền rĩ.
0
CHƯƠNG XXXX
KHO BÁU
 
Một ngày mưa gió cuối tháng Mười, Ippolit Matveevich chỉ bận chiếc áo gilê lấm tấm các ngôi sao trắng, không mặc áo vét, đang bận rộn làm việc trong căn phòng của Ivanopulo. Cho đến giờ ở đây vẫn chưa có bàn, nên Ippolit phải tì lên bậu cửa sổ. Vua mánh có nhận đơn đặt hàng lớn về khoản trang trí nghệ thuật cho các tấm biển địa chỉ của Hội nhà đất. Việc kẻ biển theo khuôn khổ Ostap giao cho Ippolit, còn đích thân hắn thì suốt một tháng ròng, kể từ hôm quay về Mátxcơva, cứ quanh quẩn ở khu vực nhà ga Oktiabrơ, kiên quyết lần cho ra dấu vết của chiếc ghế cuối cùng, là chiếc ghế chắc chắn giấu trong lòng nó những viên kim cương của mađam Petukhova.
Ippolit nhăn trán kẻ các tấm biển bằng sắt theo khuôn khổ. Sau nửa năm săn tìm kim cương, ông ta đã đánh mất các thói quen của mình.
Đêm đêm Ippolit mơ thấy những dãy núi, những băng biểu ngữ transparant quái đản, thấy Iznurenkov bay lượn trước mặt mình, thấy những con thuyền lật úp, thấy cảnh người chết đuối, gạch từ trên trời đổ xuống, đất nứt toác và tung lớp bụi xám vào mắt ông ta.
Ostap hàng ngày ở bên cạnh Ippolit, không nhận ra bất kỳ sự thay đổi nào ở ông ta. Song thật ra Ippolit thay đổi rất ghê gớm. Dáng dấp ông ta không còn như trước, ánh mắt cũng trở nên man rợ, bộ ria được nuôi cũng không song song với mặt đất như xưa, mà vểnh ngược lên như râu mèo già. Ippolit còn thay đổi cả nội tâm nữa. Trong tính cách ông ta xuất hiện những nét quả quyết và tàn ác mà xưa kia chưa từng có ở ông. Ba sự việc dưới đây đã dần dần tạo nên ở ông những cảm xúc mới: cái may mắn thoát khỏi trận đấm đá của giới kỳ thủ Vasiuki, ngày đầu tiên làm kẻ ăn mày ở “Vườn Hoa” tại thành phố Piatigosak, và cuối cùng là trận động đất (mà sau đó Ippolit bị thương nhẹ và nuôi lòng căm hận thầm kín đối với anh bạn đồng hành Ostap).
Thời gian gần đây càng ngày Ippolit càng hay ngờ vực. Ông ta sợ rằng Ostap sẽ một mình moi ruột ghế lấy hết kho báu và trốn đi, bỏ mặc ông ta cho số phận trớ trêu. Mà nói thẳng sự ngờ vực ra thì Ippolit không dám, vì ông ta biết rõ tính cách cương quyết và quả đấm nặng cân của Ostap. Hàng ngày ngồi bên cửa sổ dùng lưỡi dao manh-xơ-lam cùng tỉa tót các chữ cái đã khô sơn cho gọn ghẽ, Ippolit rất nóng ruột. Ngày nào ông cũng sợ Ostap không trở về nhà, và ông ta sẽ chết đói ở căn phòng chật hẹp, ẩm thấp này.
Nhưng tối nào Ostap cũng về, mặc dù hắn không đem theo tin gì đáng mừng. Sinh lực và sự vui vẻ của hắn quả là vô tận. Hy vọng không phút nào từ bỏ hắn.
Ngoài hành lang chợt vang lên tiếng chân người chạy hối hả, có ai đá vấp mạnh vào chiếc két sắt đánh sầm một cái, rồi cánh cửa gỗ dán mở toang ra nhẹ như một trang sách bị gió lật. Vua mánh đứng sừng sững ở ngưỡng cửa. Người hắn ướt như chuột lột, hai má đỏ như mận chín, hơi thở hổn hển.
– Ippolit Matveevich! – Ostap gọi to – Ippolit Matveevich!
Ippolit kinh ngạc. Chưa bao giờ tay giám đốc kỹ thuật gọi tên và chữ đệm của ông ta đầy đủ như vậy. Và ông ta chợt hiểu...
– Có hả? – Ippolit nghẹn ngào hỏi.
– Tất cả là ở chữ “có” ấy đấy. Chà, Kisa, quỷ tha ma bắt ông đi!
– Đừng kêu tướng lên như thế, người ta nghe thấy mất.
– Đúng, đúng, người ta có thể nghe thấy mất – Ostap nói nhỏ, thật nhanh – Có, ông Kisa ạ, có, và nếu ông muốn, tôi có thể chỉ chỗ cho ông ngay bây giờ. Nó đang ở câu lạc bộ công nhân đường sắt, câu lạc bộ mới xây... Khánh thành ngày hôm qua... Làm cách nào tôi tìm ra ấy à? Chuyện vớ vẩn ư? Cực kỳ khó khăn đấy! Một kiểu tổ chức công việc thiên tài, được thực hiện xuất sắc từ đầu đến cuối! Một sự mạo hiểm chưa từng thấy!... Tóm lại là hết sảy!
Không đợi Ippolit mặc xong áo vét, Ostap đã chạy ra hành lang. Ippolit đuổi kịp vua mánh ở cầu thang. Cả hai vừa hồi hộp trao đổi với nhau, vừa chạy trên các đường phố ướt át dẫn tới quảng trường Kalachep. Họ thậm chí cũng không nghĩ rằng có thể đáp tàu điện đến đó.
– Ông ăn mặc như một lão thợ giày ấy! – Ostap vui vẻ nói – Ai lại ăn mặc như thế ra đường bao giờ? Lẽ ra ông phải thắng bộ đồ là thẳng nếp, đi bít tất lụa và dĩ nhiên đội mũ lễ mới đúng. Ông là đại diện cho một cái gì đó cao quí! Này, quả thực trước kia ông giữ chức đô thống quý tộc à?
Sau khi chỉ cho ngài đô thống thấy chiếc ghế đặt ở căn phòng của ban cờ quốc tế và có hình dáng đúng là kiểu ghế Hambx thông thường (tuy chứa đựng trong lòng nó kho báu vô giá), Ostap kéo Ippolit ra hành lang. Ở đây không có ai. Ostap tiến lại chỗ cái cửa sổ chưa kịp trám kín khe hở (để phòng lạnh mùa đông) và gỡ cả hai khung kính ra khỏi chốt (1). Hắn nói:
– Chúng mình có thể dễ dàng chui qua cửa sổ này vào trong câu lạc bộ vào bất cứ giờ nào đêm nay. Ông nhớ kỹ nhé, cửa sổ thứ ba tính từ lối cổng chính.
Hai người còn lang thang trong khuôn viên câu lạc bộ khá lâu, giả dạng các đại diện của Sở giáo dục say sưa ngắm nghía các căn phòng của câu lạc bộ mới khánh thành.
– Ví thử ở Vasiuki tôi được ngồi trên chiếc ghế kia mà đấu cờ – Ostap nói – chắc tôi sẽ không chịu thua ván nào. Nhiệt tình sẽ giúp tôi chiến thắng. Nhưng ta đi thôi, ông già ạ, tôi có hai mươi lăm rúp trong túi đây. Ta phải làm một chầu bia và nghỉ ngơi đôi chút trước giờ hành động đêm nay. Bia không làm ông bị choáng chứ, ông đô thống? Không sao. Sáng mai ông đã có thể nốc sâm banh thả cửa rồi.
Từ quán bia bước ra phố Sivsev Vrashek, vua mánh hứng chí chọc ghẹo người qua đường. Hắn ôm vai ngài đô thống ngà ngà say và thân ái nói:
– Ngài quả là một ông già đáng yêu, nhưng tôi sẽ không chia cho ông quá mười phần trăm đâu. Lạy Chúa, không nên chia cho ông nhiều hơn. Ông cần ngần ấy tiền để làm gì kia chứ?
– Sao lại để làm gì? Sao lại để làm gì? – Ippolit nổi nóng hỏi.
Ostap cười thân ái và cọ má vào ống tay áo ướt đầm của ông bạn đồng hành.
– Thế ông sẽ mua cái gì nào, Kisa? Mua cái gì? Đầu óc ông có biết nghĩ ngợi xa đâu. Lạy Chúa, mười lăm ngàn đối với ông là quá đủ... Ông đã già nua, sắp đi ngủ với giun rồi, cần tiền làm quái gì kia chứ... Ông biết không, có lẽ tôi sẽ chẳng đưa cho ông đồng nào lại hóa hay. Cưng chiều ông chỉ có hại. Tôi sẽ lấy ông làm thư ký cho tôi. Thế nào? Lương bốn chục rúp một tháng. Tôi nuôi ông ăn. Bốn ngày nghỉ... Được chứ? May quần áo cho ông nữa, rồi còn tiền puốc-boa, tiền bảo hiểm xã hội... Sao? Ông coi đề nghị của tôi đạt chưa?
Ippolit gỡ tay hắn ra và đi vượt lên trước. Lời nói đùa của vua mánh khiến ông ta điên tiết.
Ostap đuổi kịp Ippolit ở cổng nhà tập thể sinh viên.
– Ông giận tôi thật đấy à? Tôi nói đùa đấy mà. Ông sẽ được chia ba phần trăm. Lạy Chúa, ba phần trăm là quá đủ với ông rồi, Kisa ạ.
Ippolit hầm hầm bước vào phòng.
– Sao, Kisa? – Ostap đã tỉnh tảo – Đồng ý nhận ba phần trăm đi! Lạy Chúa, đồng ý đi! Kẻ khác hẳn bằng lòng liền. Ông chả cần mua nhà, vì Ivanopulo đã đi Tver một năm nữa mới về kia. Đằng nào thì ông cũng sẽ trở thành gia nhân của tôi thôi... Chỗ làm ấy thơm phải biết.
Thấy không có cách gì khiến Ippolit mở miệng, Ostap ngáp dài, vươn vai chạm cả tay vào trần nhà, hít một hơi căng lồng ngực nở nang và nói:
– Thôi, ông bạn hãy chuẩn bị túi đi. Chúng mình sẽ tới câu lạc bộ trước lúc trời sáng. Đó là giờ hay nhất. Bọn gác cổng sẽ ngủ gật, mơ thấy những giấc mơ ngọt ngào, vì thế mà bọn họ thường bị người ta thải hồi luôn và không cho lãnh tiền trợ cấp thôi việc. Còn bây giờ thì tôi khuyên ông bạn ngủ đi đã.
Ostap nằm xuống ba chiếc ghế đã được đem về đây từ ba nơi khác nhau ở Mátxcơva và vừa thiếp đi, vừa nói:
– Làm gia nhân của tôi ấy mà... Lương hậu hĩ... Được nuôi ăn... Tiền puốc-boa... Thôi, tôi đùa chút chơi đấy... Kỳ họp tiếp tục! Băng đã trôi, thưa các quý ngài!
Đây là những lời cuối cùng của vua mánh. Hắn thiếp đi trong giấc ngủ vô tư, say sưa và không bận một cơn ác mộng nào cả.
Ippolit bước ra đường. Ông ta cực kỳ thất vọng và giận dữ. Trăng len lỏi giữa các cụm mây. Những song cửa ướt của các biệt thự lấp lánh. Những ngọn đèn hơi có bụi nước bao quanh phát sáng chập chờn. Từ quán bia “Orel” người ta đẩy ra một kẻ say. Hắn ta kêu rống lên. Ippolit nhăn mặt, quả quyết quay về. Ông ta chỉ muốn chấm dứt tất cả mọi chuyện chóng chừng nào hay chừng nấy.
Ông ta bước vào phòng, nghiêm mặt nhìn Ostap ngủ, lau mắt kính và nhặt con dao lam từ bậu cửa sổ lên. Lưỡi dao còn dính sơn khô. Ông ta đút dao vào túi, đi ngang qua chỗ Ostap một lần nữa, không nhìn hắn, nhưng nghe rõ tiếng hắn thở. Nhòm ra hành lang, Ippolit thấy không khí vắng lặng và ngái ngủ. Rõ ràng mọi người đã đi ngủ cả. Trong bóng tối của hành lang, Ippolit bỗng mỉm cười nham hiểm và cảm thấy lớp da trên trán ông ta xê dịch. Để kiểm tra cảm giác mới mẻ ấy, ông ta lại mỉm cười lần nữa và sực nhớ rằng hồi còn đi học, một tay học trò tên là Pưkhtep Kakuep có thể vẫy vẫy tai.
Ippolit ra đến đầu cầu thang và dỏng tai nghe. Cầu thang chẳng có ai. Từ ngoài đường vọng vào tiếng vó ngựa lộp cộp rất rõ rệt, tựa hồ con ngựa kéo xe đang đếm từng bước. Ngài đô thống nhón chân như mèo quay vào phòng, móc trong túi áo vét của Ostap vắt trên thành ghế ra hai mươi lăm rúp và cái kìm dẹt, đội lên đầu chiếc mũ đô đốc bẩn thỉu và lại dỏng tai nghe.
Ostap ngủ say không ngáy. Tỵ hầu và bộ phổi của hắn làm việc thật lý tưởng, hít vào và đẩy không khí ra đều đặn. Một cánh tay gân guốc thỏng xuống chạm sàn nhà. Cảm thấy máu chảy giần giật trên thái dương, Ippolit thong thả vén tay áo bên phải lên quá khuỷu, dùng khăn mặt bông quấn quanh cánh tay trần, lùi ra cửa, lấy lưỡi dao trong túi ra, dùng mắt đo khoảng cách trong phòng rồi xoay công tắc điện. Đèn phụt tắt, nhưng căn phòng vẫn mờ mờ ánh sáng từ ngọn đèn đường hắt vào.
– Càng hay – Ippolit lẩm bẩm.
Ông ta tiến lại phía đầu Ostap, tay cầm lưỡi dao đưa xa ra đằng sau rồi dùng hết sức bình sinh cứa thẳng ngang cổ họng Ostap, đoạn rút ngay ra và nhảy lùi vào sát tường. Vua mánh phát ra âm thanh tương tự như cái lỗ lavabô lúc thoát nước. Ippolit tránh không để máu phun vào người. Ông ta cọ áo sát tường, lần ra cửa và ngoảnh nhìn Ostap một giây nữa. Người hắn cong ưỡn lên hai lần rồi ngã dụi vào lưng ghế. Ánh đèn đường bơi trên một vũng nước đen đen mới xuất hiện ở dưới sàn.
“Vũng gì thế nhỉ? – Ippolit nghĩ thầm – À, phải rồi, máu... Đồng chí Benđer ngủm rồi”.
Ippolit tháo chiếc khăn mặt dính máu, ném đi, rồi thận trọng đặt lưỡi dao xuống sàn nhà và bước ra, khép hờ cửa lại.
Tới đường, Ippolit cau mày, lẩm bẩm: “Tất cả kim cương đã là của mình, chứ hoàn toàn không phải chỉ có vài phần trăm”, rồi ông ta đi đến quảng trường Kalachep.
Tới cửa sổ thứ ba tính từ cổng chính vào câu lạc bộ công nhân đường sắt, Ippolit dừng lại. Các cửa kính của tòa nhà trong như ngọc dưới ánh rạng đông. Trong không khí ẩm nghe lầm rầm tiếng đầu máy xe lửa dồn toa, Ippolit khéo léo leo lên gờ tường, đẩy khung cửa và nhảy vào hành lang không một tiếng động.
Dễ dàng định hướng trong các căn phòng lờ mờ ánh rạng đông của câu lạc bộ, Ippolit lọt vào phòng sinh hoạt của ban cờ, cụng đầu vào bức chân dung Emmanuel Lasker treo trên tường, và tiến lại chỗ chiếc ghế. Ông ta không vội. Ông ta cứ ung dung mà hành động. Chẳng ai săn đuổi ông ta cả. Đại kiện tướng O. Benđer thì đang yên giấc nghìn thu ở tòa biệt thự màu hồng ở phố Vrashek.
Ippolit ngồi xuống sàn, dùng hai chân quặp lấy cái ghế và với thái độ lạnh lùng của bác sĩ nha khoa, ông ta bắt đầu nhổ từng chiếc đinh đồng ra khỏi cái ghế, không bỏ sót một chiếc. Lớp vải hoa Ăng-lê bọc ghế đã không còn gì níu giữ nữa.
Chỉ còn việc lật vải lên là sẽ nhìn thấy những chiếc bao, hộp nho nhỏ đựng đầy các viên ngọc quý.
“Phải đáp ô tô ra ga ngay – Ippolit nghĩ bụng, ông ta đã học được sự khôn ngoan qua trường học rèn luyện của vua mánh. – Sau đó tới thẳng biên giới Ba lan. Lót tay cho bọn công an biên phòng một hạt kim cương thì chúng cho mình tót sang bên kia thôi. Sang đó sẽ hay...”
Rồi để nhanh chóng nhìn thấy những gì ở “bên đó”, Ippolit lật lớp vải hoa, rồi lớp vải bố ra. Trước mắt ông ta hiện rõ những cái lò-xo Anh tuyệt diệu, vật liệu nhồi ruột ghế cực tốt chỉ có hồi trước chiến tranh, bây giờ bói cũng chẳng ra. Nhưng trong ruột ghế không còn thứ gì nữa. Ippolit cứ bới tung đám vật liệu nhồi ruột ghế như một cái máy và suốt nửa giờ đồng hồ cứ ngồi quặp chặt chiếc ghế, miệng lải nhải:
– Tại sao ở đây chẳng có gì? Không thể như vậy được! Không thể như vậy được!
Trời gần sáng rõ. Ippolit vứt bỏ tất cả mọi thứ ở phòng sinh hoạt của ban cờ, quên cả chiếc kìm dẹt và cái mũ viền vàng gắn hình hiệu của một câu lạc bộ thuyền buồm chẳng ai biết, rồi nặng nề và uể oải chui qua cửa sổ ra đường.
– Không thể như vậy được – Ông ta đã đi hết một quãng phố, vẫn lẩm bẩm – Không thể như vậy được!
Và Ippolit quay trở lại câu lạc bộ, cứ đi đi lại lại dọc các cửa sổ lớn, môi mấp máy, mấp máy:
– Không thể như vậy được! Không thể như vậy được! Không thể như vậy được!
Ippolit thỉnh thoảng khóc sụt sịt và đưa hai tay ôm cái đầu ướt vì sương. Nhớ lại mọi sự việc hồi đêm, ông ta cứ lắc lắc mái đầu bạc. Món kích thích bằng kim cương tỏ ra là một vị thuốc quá mạnh: trong vòng năm phút ông ta già sọm hẳn đi.
– Ai cũng kéo đến xem – Ippolit nghe có tiếng nói ngay bên tai mình.
Ông ta nhìn thấy người gác cổng mặc áo vải bạt và đi ủng chống lạnh. Đấy là một cụ già có vẻ mặt rất đôn hậu.
– Ai cũng kéo đến xem, ông ạ – Cụ già đã chán cái cảnh thức đêm một mình, thân mật bắt chuyện – và đồng chí cũng đến đây xem. Như thế là đúng. Câu lạc bộ của chúng tôi có thể nói là rất đặc biệt.
Ippolit đau khổ nhìn cụ già hồng hào.
– Đúng – cụ già tiếp – câu lạc bộ này rất đặc biệt. Không có cái thứ hai ở bất cứ nơi nào khác.
– Nó có cái gì đặc biệt ở bên trong ạ? – Ippolit định thần, hỏi.
Cụ già vui vẻ nhìn Ippolit. Rõ ràng câu chuyện về tòa câu lạc bộ đặc biệt này chính cụ cũng thích nghe, cho nên cụ muốn kể đi kể lại.
– Đầu đuôi thế này, đồng chí ạ – Cụ bắt đầu kể – Lão làm bảo vệ ở đây mười năm rồi mà chưa bao giờ gặp chuyện như vậy. Này anh bạn có nghe không đấy? Ừ thì kể. Ngày trước chỗ này cũng từng có một cái câu lạc bộ, nhưng lụp xụp lắm. Lão làm bảo vệ, lão biết mà. Câu lạc bộ gì nó, câu bí bộ thì đúng hơn... Phòng cứ trống tuềnh trống toàng, đốt lò sưởi tốn bao nhiêu củi cũng chả thấy ấm. Đồng chí Krasilnikôp lại còn vặn tôi: “Này ông già, củi của ông chạy đi đâu rồi?”. Làm như tôi ăn hết củi không bằng. Đồng chí Krasilnikôp cũng vất vả với cái câu lạc bộ này, chỗ thì mái dột, chỗ thì vỡ kính chống lạnh, ban nhạc khí không có phòng riêng, hôm nào có đoàn đến biểu diễn thì đến là khổ, vì các ông các bà nghệ sĩ cứ rét cóng cả chân tay. Suốt năm năm đi vay tiền để xây dựng câu lạc bộ mới mà lão chả hiểu vì sao ngân hàng không cho vay. Nghe đâu công đoàn đường sắt không bằng lòng. Một hôm, bấy giờ là mùa Xuân, đồng chí Krasilnikôp mua về một chiếc ghế dùng cho sân khấu, một chiếc ghế mềm còn tốt nguyên...
Ippolit tựa cả người vào ông già gác cổng mà nghe. Ippolit nửa mê nửa tỉnh. Còn ông già thì vừa cười ha hả, vừa kể rằng một bữa cụ leo lên chiếc ghế để thay một cái bóng điện bị cháy, nhưng bị ngã chổng kềnh.
– Lão trượt chân ngã nhào xuống làm cho lớp vải bọc ghế rách toang. Lão bỗng thấy từ trong ruột ghế văng ra mấy chuỗi hạt đeo cổ.
– Hạt cườm – Ippolit nói.
– Ừ, hạt cườm! – Cụ già reo lên vui sướng – Tiếp đó anh bạn ạ, lão thấy trong ruột ghế còn mấy cái hộp nữa. Lão cũng chả sờ đến mấy cái hộp ấy xem bên trong có gì, lão chạy đi báo cáo với đồng chí Krasilnikôp. Sau đó lão được báo cáo trước một ủy ban. Lão không hề động chạm đến mấy cái hộp ấy. Và lão làm vậy là đúng, vì anh bạn biết không, trong đó đựng toàn các thứ châu báu mà bọn tư sản cất giấu...
– Thê châu báu đâu? – Ngài đô thống quát to.
– Đâu, đâu – cụ già nhại lại – đây chứ đâu, anh bạn. Anh phải biết tưởng tượng một chút chứ. Châu báu đây này!
– Đâu? Đâu?
– Đã bảo đây này! – cụ già khoái trá vì hiệu quả do mình tạo ra, nói oang oang – Thì đó, anh bạn hãy lau mắt kính mà nhìn. Người ta đã dùng chúng để xây dựng câu lạc bộ! Thấy rõ chưa, anh bạn? Đấy, câu lạc bộ đấy! Có hệ thống sưởi bằng hơi nước nóng này, có tháp đồng hồ này, có căng tin, sân khấu hẳn hoi này, muốn vào phải tháo giầy bẩn để bên ngoài!...
Ippolit lạnh xương sống, đứng im đưa mắt nhìn các gờ tường.
Thì ra kho báu của mađam Petukhova nằm ở đây! Tất cả đều ở đây! Toàn bộ một trăm năm mươi ngàn rúp không hào không xu, theo cách nói quen miệng của Ostap Suleiman Berta Maria Benđer.
Kim cương đã biến thành những tấm cửa kính dày, những bức tường bê tông cốt sắt. Vàng ngọc đã biến thành các phòng tập luyện và giải trí. Đá quý được dùng làm phòng biểu diễn có sân khấu quay, bông đeo tai trở thành các dãy đèn chùm, vòng đeo tay hóa thân thành một thư viện tuyệt diệu, các thứ đồ trang sức biến thành nhà mẫu giáo, xưởng làm tàu lượn, phòng chơi cờ và phòng đánh bi-a.
Kho báu vẫn nguyên vẹn, được bảo quản và thậm chí còn được tăng thêm. Có thể sờ mó vào nó, nhưng không thể bưng đi nơi khác. Nó đang phục vụ mọi người.
Ippolit đưa tay sờ mặt đá hoa cương lát bên ngoài. Cái lạnh của đá thấm vào tận tim ông.
Và ông ta rú lên.
Tiếng rú của ông ta nghe thật man dại, điên khùng – tiếng rú của con sói cái bị đạn xuyên thủng ngực – bay ra giữa quảng trường, chui vào dưới gầm cầu và, bị đẩy dội lại từ mọi phía bởi âm thanh của một thành phố lớn vừa thức giấc, nó lịm dần rồi tắt hẳn. Buổi sáng mùa thu đẹp trời từ trên các mái nhà ướt át lăn xuống đường phố Mátxcơva. Thành phố cựa mình, bắt đầu một ngày sinh hoạt bình thường của nó.
 
HẾT
__________
(1) Ở xứ lạnh, cửa sổ thường có hai lớp kính để chống rét và không có cánh gỗ bên ngoài như ở xứ nóng.
0
Mười hai chiếc ghế - I.Ilf & E.Petrov
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc Huy Nguyên vạn sự như ý
 
📎 thankyouA




0
«« « 1 2 » »»