Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Dòng sông Tuổi Dại 🔒

8 trả lời, 7.427 lượt xem — Trang 1 / 1
Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 1 đến 82
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
1
 
BĂNG NGANG MỘT CÁNH ĐỒNG RỘNG LỚN, DÒNG sông Floss trườn mình giữa hai bờ cây cối xanh um, cuồn cuộn mang cả triều lưu xinh xắn, tâm sự cùng biển cả. 
      Trên mặt nước hùng vĩ đó, những chiếc tàu đen đúa - chở đầy gỗ bạch còn thơm phức, hạt dầu và than đá chiếu ngời - nối đuôi nhau xuôi về St. Ogg’s, một thành phố lớn cổ kính với những mái nhà ngói đỏ có gắn kiếng ở đầu hồi, nhô lên khoảng giữa đồi cây thấp với bến sông, khiến dòng nước biến thành màu đỏ nhẹ nhàng dưới ánh mặt trời tươi dịu của tháng hai. Hai bên thành phố trải dài những mục trường phồn thịnh cùng những cánh đồng nâu thẳm, sẵn sàng tiếp nhận hạt mầm cho mùa kế tiếp chắc chắn sẽ tươi xanh, hoặc đang phe phẩy của mùa bắp sắp tới vào tháng tám. Rải rác đây kia là những đụn rơm vàng ối còn lại của năm qua, người ta có cảm tưởng dường như những con tàu trên sông muốn vươn cột buồm nâu của chúng tới tận những cành cây nhô hẳn ra ngoài xa.
      Ngay sát những thành phố lâu đời đó, con sông nhánh Ripple ồ ạt đổ vào dòng Floss. Dòng sông nho nhỏ ấy mới đẹp làm sao với những đợt sóng gợn lăn tăn. Đối với tôi, nó là một người bạn đồng hành sống động trong khi tôi lang thang thả dọc theo bờ, lắng nghe tiếng nước thì thầm êm dịu. Tôi nhớ mãi hình ảnh những cây liễu ven sông, tôi nhớ mãi cây cầu đá. 
      Và đây là nhà máy xay Dorlcote. Lần nào cũng thế, cứ mỗi lúc qua cầu là tôi lại dừng chân đôi ba phút để ngắm nhìn ngôi nhà máy đó, mặc dầu mây báo hiệu sắp mưa và trời đã về chiều. Ngay cả thời kỳ cây cối đều trụi là của tháng Hai sắp đi qua, nhà máy xay Dorlcote cũng vẫn còn giữ được cái dáng vẻ ưa nhìn. Có lẽ cái không khí rét và ẩm ướt trong mưa đã tăng thêm phần duyên dáng cho ngôi nhà trú ngụ, cũng già cỗi không thua gì các cây du, cây dẻ đang làm thành bức chắn ở một phía nhà để che luồng gió bấc. Thủy triều đã dâng cao tại nơi trồng liễu và tràn lên tới tận bờ khoảnh đất rào ở trước nhà.
      Nhìn mặt sông căng phồng, nhìn đám cỏ mượt non cùng bụi phấn xanh trong bám vào các thân cây bên dưới những nhánh, cành nâu sậm trơ trụi lá, tôi thấy yêu sự ẩm ướt của tiết trời, tôi thèm được biến thành những con ngỗng trắng đang dìm đầu vào nước giữa những hàng cây liễu, chẳng mãy may chú ý tới cái cảnh sắc khô ráo hơn đôi chút ở bên trên.
      Giòng sông chảy siết và tiếng động ầm ầm của nhà máy xay lấn át tất cả mọi âm thanh dường như tăng thêm sự an hòa của cảnh vật. Những tiếng động ầm ỉ và dầu điều đó tạo thành một bức tường âm thanh dày kín, khiến có cảm tưởng như mình đã được hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Rồi tiếng ầm vang như sấm dậy của cổ xe khổng lồ chở đầy hạt về nhà. Người lái xe ngay thật đó chẳng nghĩ gì khác hơn là bữa ăn đang chờ đợi ông ta ở bếp lò, nhưng ông ta vẫn chưa thể nào bàn được ngay vì còn phải lo cho cặp ngựa ăn – hai con vật khỏe mạnh và thuần tính – đang nhìn chủ với ánh mắt trách phiền là tại sao đã quất roi vào lưng chúng lúc đi đường, làm như chúng là loại vật hay ươn ngạnh! Cứ nhìn lúc chúng vươn vai, cố gắng vượt lên dốc cầu thì đủ biết chúng cũng nôn nóng được về mau chẳng thua gì chủ. Hãy nhìn vào những đôi chân to lớn, dầy lông của chúng cứ như muốn vồ lấy từng khoảng đất dài; hãy nhìn sức chịu đựng nhẫn nại nơi cổ chúng, những bắp thịt đùi vồng lên cũng đủ biết chúng đã nổ lực đến dường nào. Tôi vẫn thích nghe chúng hí bên máng bắp chẳng mấy gì nhiều, tôi thích nhìn vồng cổ mượt mồ hôi của chúng khi được tháo gỡ yên cương, tôi cũng thích thú vô cùng khi chúng được tự do chúi mũi vào vũng nước bùn để uống. Bây giờ, chúng đang lao xuống dốc cầu và vồng mui căng tròn của cổ xe mất hút sau một khúc quanh đầy cây cối.
      Tôi lại hướng mặt về nhà máy xay, ngắm nhìn bánh xe quay tròn không ngừng nghỉ và hất tung ra từng cụm kim cương nước. Cô bé cũng đang nhìn vào đó. Từ lúc tôi dừng lại trên cầu, cô gái nhỏ vẫn đứng yên một chỗ cạnh bờ sông trong khi con chó xù lông trắng, tai nâu, nhảy dựng từng hồi, vừa nhìn vào guồng nước vừa sũa oang oang. Có lẽ nó đang ghen tị với cái bánh xe vô tình kia bởi vì người bạn đội mũ sụp của nó cứ mê mãi nhìn vào đó mà quên phứt nó đi. Đã tới giờ người bạn nó phải về nhà, tôi nghĩ thế, bởi vì có một ánh lửa ấm đang chờ, ánh lửa đang chiếu ra giữa nền trời càng lúc càng xám mịt. Cả tôi nữa, cũng đã tới lúc phải nhấc đôi tay mình ra khỏi thành cầu giá lạnh...
      Tay tôi đã bị tê cóng thật sự rồi! Tôi phải tựa cả hai vào thành ghế đang ngồi quá lâu để hồi tưởng lại lúc đứng trên cầu, đối diện với nhà máy xay Dorlcote vào một chiều tháng hai nhiều năm trước. Trước khi ngủ thiếp đi, tôi xin mạn phép kể lại quý vị nghe những gì đã được bàn tới giữa ông và bà Tulliver, trong khi họ đang ngồi bên cạnh lò sưởi đỏ ngời ở cánh trái phòng khách, ngay vào chính buổi chiều mà tôi vừa tưởng nhớ lại.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2
 
ÔNG TULLIVER NÓI:
      -     Bà có biết tôi muốn gì không? Tôi muốn cho thằng Tom học hành thật nên người, học làm sao cho nó đủ sức nuôi sống lấy. Đó là điều mà tôi đã nghĩ tới trong khi báo cho nó biết là không còn học ở cái trường ký túc xá ở Ladyday nữa. Tôi thấy nó cần phải theo học ở một trường nào cho ra hồn ngay giữa mùa Hè này. 
      Hai năm học ở ký túc xá cũng đã đủ cho nó trở thành một nông gia không thua sút ai, bởi vì nó đã hiểu được chữ nghĩa khá nhiều hơn tôi. Thật ra, tôi có học được cái gì đâu, một vài chữ đọc cũng không thông. Tại vậy mà tôi muốn thằng Tom phải trở thành một nhà thông thái cũng giống như mấy người mà tôi đã biết, họ nói chuyện hết sức hay và viết mau như gió. Có được vậy, nó mới giúp tôi trong mấy vụ kiện cáo, điều đình gì đó. Tôi không muốn thằng con tôi làm luật sư... cái nghề đó bỉ ổi lắm... nó phải là một cái gì như ông kỹ sư, hoặc là thanh tra hay giám định viên, hồ giá viên gì cũng được, thí dụ như ông Riley; nếu không thì nó phải là một nhà buôn giỏi, chỉ có thâu lợi vào chớ không mất tiền ra. 
      Hết thảy mấy người tôi mới nói đều không ngán gì luật pháp, chắc vậy mà. Bà có thấy ông Riley không, ông nhìn... thẳng vào mặt ông thầy kiện Wakem chẳng khác gì hai con mèo nhìn nhau, không sợ một chút nào hết.
      Ông chủ nhà máy xay Dorlcote đã nói như thế cùng vợ, một người đàn bà tóc hoe vàng, dáng điệu nhu mì, hòa nhã. Lúc đó, bà Tulliver đang đội chiếc nón kiểu cánh quạt (tôi không nhớ rõ là kiểu nón này xuất hiện từ lúc nào, có lẽ chỉ mới gần đây thôi. Trong thời kỳ này, bà Tulliver trạc tuổi bốn mươi, và cả gia đình vẫn hãy còn mới lạ đối với thành phố St. Ogg’s). 
      -     Ông Tulliver, ông luôn luôn biết nhiều hơn tôi; tôi chẳng có ý kiến gì hết. Nhưng chẳng biết là tôi có nên làm thịt một cặp gà mái rồi mời các dì dượng tới chơi vào tuần tới hay không. Nhân dịp đó, ông có thể hỏi chị Glegg và Pullet để coi họ thấy ra sao. Trong chuồng, ít ra cũng có một cặp gà tới lúc làm thịt rồi.
      Ông Tulliver bực tức:
      -     Bà muốn giết bao nhiêu gà thì cứ việc, Bessy; nhưng nhứt định là tôi không thèm hỏi dì dượng nào cả về chuyện gì dính líu tới con trai tôi.
      Bà Tulliver lắc đầu chán nản:
      -     Coi kìa! Sao lại nói vậy, ông cứ nói cái giọng khinh bỉ đó với gia đình bên tôi, để rồi chị Glegg cứ đổ thừa tại tôi, mà tôi thì có lỗi gì đâu. Có bao giờ tôi nói là con gái của tôi phải khổ sở vì mấy dì dượng của nó đâu. Mà thôi, nếu thằng Tom phải tới học ở trường mới, tôi mong mỏi là được học ở một chỗ nào để tôi còn lo giặt áo, giặt quần và may vá cho nó, chớ nếu không thì đồ đạc của nó sẽ bị dơ bẩn chịu không nổi. Với lại, mỗi lần có ai đi về, tôi còn có thể gởi cho nó bánh trái thịt heo hầm cho nó ăn, dầu là người ta có cho nó ăn uống đầy đủ hay không cũng vậy. Con cái của tôi là luôn luôn phải no đủ chớ. 
      -     Không sao, không sao đâu! Mình có gởi nó đi xa lắm đâu, mình đâu muốn vậy. Nhưng bà đừng có thọc gậy vào bánh xe với cái chuyện giặt quần, giặt áo đó để tôi phải cho nó học ở một trường gần. Bessy, tôi thấy bà cứ hay mắc cái tật đó, hễ gặp một cây gậy ở giữa đường là y như rằng bà không chịu bỏ đi luôn. Tại vậy mà bà không để tôi mướn một người đánh xe giỏi bởi vì y có mụt ruồi trên mặt. 
      Bà Tulliver chỉ dám biểu lộ sự ngạc nhiên vừa phải:
      -     Chúa ơi, tôi có phản đối một người nào vì có mụt ruồi trên mặt đâu. Tôi còn thích nữa là khác bởi vì anh tôi cũng có một mụt ruồi ở chân mày mà. Tôi còn nhớ là ông định mướn người đánh xe nào có mụt ruồi đâu. John Gibbs đâu có mụt ruồi nào trên mặt, cũng như ông vậy; tôi đã làm mọi cách để ông mướn y và ông cũng đã mướn rồi; nếu y không chết trong trận cháy đó thì chắc bây giờ y cũng đang đánh xe cho mình vậy. Làm sao tôi biết được là sau khi chết rồi, y có mọc mụt ruồi nào không, ông Tulliver?
      -     Không, không phải vậy, Bessy. Tôi không phải muốn nói đúng y như vậy, tôi muốn làm thí dụ để nói khác, mà thôi... suy nghĩ nhức đầu lắm. À, cái điều mà tôi bắt buộc phải suy nghĩ muốn bể óc là phải cho thằng Tom học ở đâu cho xứng đáng, nhứt định không phải mấy cái trường chẳng ra gì đó. Rối trí quá. 
      Thỉnh thoảng ông Tulliver ngừng đôi ba phút rồi thọc sâu cả hai tay vào túi quần đùi, dường như cố tìm trong đó một ý kiến gì sáng sủa hơn. Và rõ ràng là ông đã không thất vọng với cử chỉ này, bây giờ mặt ông đã sáng rỡ lên:   
      -     Rồi, được rồi. Tôi sẽ hỏi ông Riley chuyện đó; ngày mai ổng tới để phân xử vụ cái đập nước.
      -     Được rồi, ông Tulliver. Tôi đã cho lấy mấy tấm vải trải trên cái giường tốt nhứt ra và Kezia đã đem hong gần lửa. Không phải là quí giá gì nhiều nhưng mấy tấm vải trải giường cũng quá tốt cho bất cứ người nào được nằm lên. Đó là loại Hòa Lan chớ có phải tầm thường đâu. Nếu mai kia mà ông có chết thì chúng nó đã sẵn sàng, đẹp lắm, lại có ướp mùi oải hương, nhứt định là chỉ có tôi chớ không ai được trải chúng ra. Tôi cất kỹ lắm, ở bên trái tủ gỗ sồi.
      Vừa nói xong, bà Tulliver rút ra một chùm chìa khóa và mân mê chiếc chìa mà bà đã dùng để khóa học tủ đựng mấy tấm vải trải giường kia, với một nụ cười sảng khoái trong khi nhìn ánh lửa trong lò sưởi. Nếu là người mê tín dị đoan, chắc chắn ông Tulliver sẽ coi cái cử chỉ vừa rồi của vợ như là một dấu hiệu xui bảo ông sớm nằm vào mấy tấm vải Hòa Lan kia mà bà cho là quí giá vô song. Nhưng ông không phải là hạng người này, ông chỉ bận tân đến việc nghi ngờ quyền hạn của ông đối với vấn đề thủy lực thôi. Hơn nữa, ông luôn luôn giữ cái thói quen của một người chồng chẳng bao giờ cần chú ý tới từng câu, từng lời của vợ; ngoài ra, sau khi đã nhắc tới tên Riley, ông không còn nghĩ tới chuyện nào khác hơn được nữa.
      Sau một lúc im lặng, ông tiếp tục nói lên những ý nghĩ từ nãy giờ bám sát trong đầu:
      -     Bessy, lần này là tôi đi đúng chỗ rồi. Riley mới đúng là người biết phải cho học ở đâu, chính ổng cũng đã từng đi học từ nhỏ cho tới lớn, đủ các chỗ... giám định giá hàng, giống giống như vậy. Đêm mai, sau khi xong chuyện làm ăn, mình sẽ nói vụ thằng Tom coi ông ta tính sao. Tôi muốn Tom cũng sẽ giỏi như ông Riley, biết ăn nói đàng hoàng, biết viết lách, không sợ gì pháp luật hà hiếp, lại sành sỏi công việc buôn bán nữa. 
      Dường như bà Tulliver lại muốn «thọc gậy bánh xe»:
      -     Ăn nói như nước chảy, biết hết mọi thứ, đi còng lưng lại và tóc hớt ngắn lên... thiệt tình con trai của tôi mà có như vậy, tôi cũng chẳng buồn gì mấy. Nhưng có cái chuyện là mấy người ăn nói giỏi ở thành thị lớn, phần đông đều mặc ngực áo giả. Học mặc hoài cho tới khi mấy miếng vải ổ ong đó nát bấy ra mới chịu đem đi giấu. Ông Riley chắc cũng vậy thôi. Với lại, nếu thằng Tom cũng phải đi tới tận Mudport để học như ông Riley, thì chỗ ở của nó chỉ là cái nhà bếp lớn không bằng một nắm tay, ăn sáng không có trứng tươi, rồi ngủ thì ở tuốt trên lầu ba – lầu tư – tôi biết mà – tới chừng có cháy nhà là chết thiêu luôn, xuống làm sao kịp.
      -     Không đâu, làm gì tới Mudport. Tôi muốn nó đặt văn phòng ở Saint Ogg’s này và ở với gia đình. 
      Sau vài giây suy nghĩ, ông Tulliver tiếp:
      -     Cái điều mà tôi sợ nhất là đầu óc của nó không minh mẫn như người ta chậm hiểu quá! Chắc là tại nó giống bên bà, Bessy. 
      Bà Tulliver nhìn nhận, nhưng chỉ với câu sau cùng:
      -     Chắc là đúng vậy. Nó ưa rắc muối vào đồ ăn thật nhiều. Anh tôi cũng ưa ăn mặn và cha tôi cũng vậy. 
      -     Tội nghiệp! Con trai lại giống mẹ còn con gái thì không. Thiệt là rắc rối, khó biết được chuyện gì sẽ tới. Con nhỏ thì giống tôi, nó lanh bằng hai thằng Tom. Đối với đàn bà thì như vậy là quá lanh.
       Ông Tulliver ngừng nói, ngoẹo đầu sang bên này rồi bên kia:
      -     Còn nhỏ thì lanh cỡ đó chưa có gì đáng hại, nhưng bà biết chớ, một người đàn bà quá lanh lợi cũng như là một con trừu đuôi dài, không bán được nhiều tiền hơn. 
      -     Còn nhỏ mà lanh lắm cũng có hại chớ, ông Tulliver, bởi vì lần lần nó thành hung ác. Không có cách nào giữ nó sạch được tới hai tiếng đồng hồ. Ông có nhắc tôi mới nhớ... 
      Bà Tulliver đứng dậy, đi tới cửa sổ:
      -     Chẳng biết giờ này nó ở đâu, gần tới bữa dùng trà rồi. Chắc là, phải rồi... nó lại đi lên đi xuống ở bờ sông như một con vật hoang, có ngày rồi sẽ té xuống nước... 
      Bà Tulliver vỗ mạnh vào cửa sổ một cái rồi lắc đầu – một thói quen mà bà thường lập lại nhiều lần trước khi về ghế. 
      Vừa ngồi xuống, bà nói ngay:
      -     Theo tôi thì con nhỏ chẳng lanh lợi chút nào, còn hơi đần là khác. Lần nào sai lên gác lấy đồ, nó cũng quên mất không biết lấy gì rồi cứ ngồi luôn trên sàn phơi nắng, vừa phá tóc vừa ca hát như một con điên để tôi chờ hụt hơi ở dưới. Tạ ơn Chúa, cái tánh đó không giống chút nào với gia đình bên tôi. Còn cái nước da ngâm của nó, sao mà giống như mấy đứa giữ lừa. Tôi không dám nói động tới thánh thần chớ thiệt tình trông nó cứ như là một con hề. 
      -     Nè, bà đừng nói vậy. Con gái mà mắt đen và ngó thẳng như nó ai cũng ưa nhìn. Nó có thua gi đám con gái bằng tuổi nó đâu, lại còn biết đọc chữ như mấy ông thầy tu nữa.
      -     Nhưng tóc nó không chịu quăn, dầu tôi có làm cách gì cũng vậy. Mỗi lần bắt nó uốn tóc bằng cây sắt hơ nóng là nó nhảy loi nhoi. 
      Ông Tulliver xẵng giọng:
      -     Thì cắt đi, cắt ngắn đi. 
      -     Sao nói vậy, ông Tulliver? Nó cũng lớn rồi, chín tuổi còn gì nữa, người lớn hơn tuổi, ai lại đi cắt tóc. Nghĩ tới con em họ Lucy của nó coi tóc người ta cuộn tròn một hàng dài quanh đầu, không một sợi nào rối hết. Cứ nghĩ tới dì Deanne có được một đứa con gái như vậy mà thèm. Con Lucy vậy mà giống tôi hơn là con gái của tôi. Maggie, Maggie...
      Bà Tulliver bỗng kêu lên với giọng bứt rứt ngay khi đứa con gái mà bà cho là đã đầu thai lầm, bước vào:
      -     Má dặn là không được tới gần bờ sông, sao không nghe? Có ngày rồi té xuống, chết trôi rồi mới biết là tại không nghe lời.
      Cô bé vừa lột mũ ra thì quả y như lời phiền trách của bà mẹ về mớ tóc rối tung của nó. Điều đáng nói là vừa được mẹ uốn tóc cho thì khoảng một giờ sau, tóc của cô bé lại cứ thẳng tuột ra, đã vậy, nó lại còn có thói quen hất tóc ra phía sau để khỏi che phủ đôi mắt nâu đen luôn luôn ngời chiếu, khiến nó trông không khác mấy con ngựa con giống Shetland. 
      Bà mẹ lại nhăn nhó:
      -     Chúa ơi, Maggie, làm gì mà ném mũ ở đây. Đem lên gác mau, chải tóc ngay ngắn lại, thay quần áo và giầy vớ ra... con gái mà như vậy không biết xấu sao? Rồi lo may vá đi, cho giống với con nhà tử tế. 
      Maggie ngang bướng:
      -     Không, con không chịu may vá đâu.
      -     Sao? Bộ không muốn kết nhiễu làm khăn cho dì Glegg hả? 
      Maggie hất bờm tóc lên:
      -     Làm gì như là khùng, con không chịu. Ai lại đi xé vụn ra rồi kết miếng này vào miếng khác. Con cũng không muốn làm gì cho dì Glegg đâu, con không thích dì. 
      Nói xong, cô bé quày quã ra khỏi phòng, vừa đi vừa nắm dây kéo lê chiếc mũ theo trong khi ông Tulliver thấy đời thích thú.
      Bà vợ trách móc:
      -     Vậy mà còn cười được sao, ông Tulliver? Ông cứ cưng nó hoài làm nó hư, để các dì lại đổ lỗi cho tôi.
      Bà Tulliver đúng là mẫu người hòa nhã, giỏi chịu đựng chẳng một tiếng rên la dầu là lúc sanh con, hay trong bất cứ cảnh ngộ nào. Từ thuở còn nằm nôi mãi tới giờ, bà vẫn khỏe mạnh, tươi tỉnh, mập mạp và ít chịu suy nghĩ nhiều. Nói chung, bà là ngôi sao của gia đình bà vì cả duyên sắc và tính tình khả ái. Tuy nhiên, chất sữa và những gì ngọt lịm không phải là những thứ có thể giữ được lâu, bởi vì một khi nó đã hơi chua thì rất có hại cho những chiếc dạ dày còn non trẻ. Tôi thường tự hỏi, chẳng biết những người đàn bà hiền dịu và khả ái đó, với mái tóc vàng hoe và nét mặt đôi chút ngây ngô, sẽ phải làm sao để luôn giữ được vẻ thản nhiên, một khi con của họ cả gái lần trai đều đã quá lớn đệ tự hoà nhập với đời. Theo tôi, có lẽ họ sẽ càng la rầy quở trách yếu ớt hơn trong khi cứ phải âu sầu nhiều thêm nữa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
3
 
NGƯỜI ĐÀN ÔNG THANH NHÃ VỚI CHIẾC CÀ vạt to bản và ngực áo nhún tàng ong, tỏ ra thích thú trong khi cụng ly rượu mạnh pha nước lã với người bạn tốt Tulliver, chính là ông Riley – một nhân vật có địa vị trong xã hội, da mặt màu vàng nghệ, hai bàn tay đầy đặn. Về trình độ học vấn, ông đã vượt trên mức cần thiết của một người hành nghề hỗ giá viên, tuy thế ông vẫn luôn luôn niềm nở đối với những người quen tuy ở chốn quê mùa nhưng lúc nào cũng tỏ ra hiếu khách. Nói tới những người này, ông Riley thường nhún nhường gọi họ là «bạn học ngày xưa». 
      Câu chuyện đã đi tới chỗ ngừng nghỉ. Không phải là chẳng có một lý do đặc biệt nào đã khiến ông Tulliver không lập lại thêm một lần thứ bảy về những lời bắt bẽ của ông Riley cho Dix, và thế là lão Wakem bị một vố nặng trong đời, bây giờ giữa lúc vụ cái đập nước đã được phân xử, cũng như đã chẳng bao giờ xảy ra được những vụ tranh chấp về mực nước thấp cao... nếu mọi người cứ vẫn là mình và nếu lão Harry đã không tạo nên cái đám thầy kiện. Nhìn toàn diện, ông Tulliver đúng là mẫu người bảo thủ, tuy nhiên, trên một hai khía cạnh nào đó, ông đã bắt buộc đi tới chỗ kiện tụng và đâm ra oán ghét các luật sư mà theo ông, đó chỉ là hạng người, bần tiện do chính lão Harry dựng lên. Rất tiếc là chẳng ai nói rõ cho ông biết, đó chỉ là những lề lối làm việc đã có từ xưa, và nón đã nhận được ra như thế hẳn ông cũng đã nhìn thấy được sự lỗi lầm của riêng mình. 
      Khác với ngày thường, ly rượu của ông Tulliver hôm nay nặng chất hơn. Hơn nữa, đối với một kẻ đã có khoảng vài trăm bảng Anh nằm lười ở ngân hàng thì vấn đề cởi mở đối với một người bạn quá nhiều biệt tài doanh thương đâu phải là chuyện cần suy nghĩ.
      Nhưng câu chuyện đập nước vẫn phải được nhắc tới, bởi vì bất cứ lúc nào vấn đề đó cũng có thể được đặt ra trở lại, cùng một khía cạnh và dưới một hình thái y hệt như trước. Vả lại, còn một số vấn đề khác nữa, vô cùng cấp bách mà ông phải nhờ tới cao kiến của người bạn Riley. Chính vì vậy mà ông đã im lặng một lúc sau khi đã uống hết ngụm rượu cuối cùng ngồi chà xát mãi hai tay vào gối với vẻ suy tư. Ông không phải là người có thể chuyển ý thật mau từ chuyện này sang chuyện khác. Nhưng ông vẫn thường chán nản bão, cái công việc của trí óc quả là chuyện rắc rối vô cùng, cũng như khi lái một chiếc xe qua mau là sẽ gặp hậu quả dị thường ngay. Ông Riley thì không thuộc hạng người này, vẫn điềm tĩnh như thường. Tại sao lại phải mất bình tĩnh giữa lúc được ngồi ở một nơi ấm cúng, lại được uống rượu mạnh không tiền? 
      -     Tôi có chuyện này muốn nói... 
      Cuối cùng rồi ông Tulliver cũng phải nói, thấp giọng hơn thường lệ trong khi nhìn đăm đăm vào ông bạn. 
      -     Vậy à!
      Giọng ông Riley mang âm điệu ân cần. Hai mí mắt dày cộm và đôi chân mày vòng cung vẫn cứ luôn bất động dầu ở cảnh ngộ nào. Sắc diện im lìm đó và thói quen lấy một nhúm thuốc để hít hơi trước khi trả lời càng làm ông trở nên hùng hồn nhiều hơn trước mặt ông Tulliver. 
      Ông Tulliver tiếp: 
      -     Đây là mot chuyện đặc biệt, chuyện của thằng Tom, con tôi. 
      Vừa nghe nói đến tên Tom, cô bé Maggie đang ngồi trên chiếc ghế thấp gần đó, với một quyển sách lớn lật ra trên gối, vội vàng ngước mặt lên. Gần như chẳng có một tiếng động nào bắt cô bé chú tâm giữa lúc đam mê sách, nhưng chỉ với một tiếng Tom thôi cũng đủ là một hồi còi lanh lãnh dội bên tai: lập tức cô bé tự đặt vào tình trạng báo động, mắt quắc ngời, y hệt như một con chó săn vừa đánh hơi vật lạ, sẵn sàng nhảy xổ tới bất cứ gì có thể đe dọa Tom.    
      -     Tôi định gởi nó tới một trường học mới giữa mùa hè này, nó sắp rời khỏi cái trường lôi thôi ở Ladyday. Tôi sẽ cho nó nghỉ xã hơi ba tháng rồi bắt đi học lại ngay tại một trường học nào thật đàng hoàng, để về sau nó có thể trở thành cừ khôi về chữ nghĩa.
      -     Đúng thế, ở đời chẳng có gì tốt hơn là học được tới nơi tới chốn. 
      Ông Riley nói tiếp với giọng lễ phép hơn:
      -     Tuy vậy, nếu muốn trở thành chủ nhân một nhà máy xay hay một nông gia tài giỏi, thiết tưởng trường học cũng chẳng giúp ích gì được bao nhiêu. 
      Ông Tulliver nghiêng đầu qua một bên:
      -     Ông nói phải, nhưng tôi không có ý để thằng Tom làm chủ nhà máy hay nhà nông. Nếu tôi cho nó học để trở thành chủ nhà máy hay nông gia thì thế nào nó cũng mơ tưởng... tới cái ngày nó sẽ lấy cái nhà máy xay này và đất cát ở đây, mà như vậy thì có khác nào là đã tới lúc tôi phải nghĩ đến chuyện nằm yên một chỗ, chờ lúc qua đời. Ái chà, tôi đã thấy đám con trai của người ta như vậy rồi. Không được đâu, tôi chỉ có thể cỡi áo ngoài ra trước khi đi ngủ thôi. Tôi muốn cho thằng Tom học thật giỏi để lo chuyện buôn bán, làm ăn, để nó có thể tự xây dựng lấy một mái nhà, chớ không phải để nó tống cổ tôi ra khỏi nhà tôi. Chuyện đó có thể xảy ra chỉ khi nào tôi đã đi theo ông theo bà kìa. Chưa mất hết răng là tôi vẫn cứ còn ăn thịt. 
      Hiển nhiên, đó chính là chủ điểm của ông Tulliver, một thứ gây xúc động mạnh đã khiến ông nói luôn một hơi dài, lại còn biết đặt cả vấn đề trọng tâm trong câu chuyện. Và cũng chính vì thế mà sau mấy phút đã ngừng nói, ông vẫn còn tỏ ra hăm hở, thỉnh thoảng lại nghoẹo đầu hết bên này sang bên kia, và bật lên những tiếng «ái chà».    
      Những dấu hiệu gần như giận tức của người cha khi đặt vấn đề Tom có thể tống cổ ông ra khỏi cửa không thoát qua khỏi sự chú ý bén nhạy của Maggie. Làm gì có chuyện đó xảy ra, cô bé vừa nghĩ thế vừa nhảy dựng lên khỏi ghế, quên mất quyển sách dày đang nằm trên đầu gối, khiến nó rơi xuống với một tiếng động nặng nề. Nhưng chẳng lý gì tới quyển sách, cô bé chạy vụt tới, ôm chầm lấy gối cha, miệng méo xệch đi với giọng pha lẫn chút bất bình:
      -     Ba, anh Tom nhất định không bao giờ xấu tệ với ba đâu. Con biết anh không thể nào như vậy được. 
      Trong khi ông Riley khòm xuống nhấc quyển sách lên và lật xem, ông Tulliver vừa cười dịu, vừa xoa lưng đứa gái cưng, rồi kéo cả hai bàn tay của con đặt lên gối mình:
      -     Sao? Bộ không ai được nói động tới thằng Tom hả?
      Ông nheo mắt nhìn Maggie rồi quay sang ông Riley, hạ thấp giọng, làm như Maggie không nghe được gì cả:
      -     Ông thấy chưa, nó biết là mình đang bàn một chuyện chưa bao giờ bàn tới rõ ràng như vậy cả. Có nghe nó đọc mới biết, nó đọc trôi chảy làm như đã biết đâu trước hết rồi. Lúc nào cũng coi sách! Nhưng chắc là không hay đâu... 
      Giọng ông bỗng buồn buồn:
      -     Đàn bà con gái thì không nên quá thông minh, nhiều rắc rối về sau. Nhưng có điều đáng nói là nó đọc sách rất nhiều và biết được nhiều chuyện mà lắm người đã lớn vẫn không biết. 
      Hai má Maggie ửng đỏ lên với lời khen tặng của cha, và cô bé nghĩ mau rằng bây giờ chắc ông Riley cũng đã phải phục mình, bởi vì trước đó ông ta chẳng một mảy may nào chú ý đến sự có mặt của cô. 
      Từ nãy giờ, ông Riley vẫn tiếp tục lật từng trang sách nên Maggie không thể hiểu được ông ta đang nghĩ gì với hai hàng chân mày vòng cung cao nghệu đó. Bây giờ, ông ta đã nhìn thẳng vào cô và bảo:
      -     Lại đây, cô bé! Lại đây và nói cho tôi nghe cô đã đọc được những gì nào! À, có hình ảnh đây, cô có biết hình gì không?
      Mặt càng đỏ sậm hơn, nhưng Maggie khong một chút ngập ngừng, bước thẳng tới bên cạnh ông Riley, vừa nhìn vào sách vừa hất bờm tóc lên:
      -     Đây nè, để tôi nói ông nghe. Tấm hình này đáng sợ lắm, nhưng tôi cứ xem đi xem lại hoài. Bà lão này là phù thủy – mấy người kia ném bà ta xuống nước để xem có thật bà là phù thủy không, nếu bà ta biết lội thì mới đúng là phù thủy, nhưng nếu bà ta chết chìm – ông biết không – thì bà ta vô tội, không phải là phù thủy. Cuối cùng, bà ta chỉ là một kẻ đáng thương. Nhưng tới chừng đó thì còn làm gì được nữa, bà ta đã chết đuối rồi. Tôi nghĩ chỉ còn một cách là bà ta lên Thiên Đàng để Chúa đến bù cho. Còn cái ông thợ rèn đứng chống nạnh này, ổng đang cười, đáng sợ lắm – ồ, xấu xí ghê chưa? – cho ông biết, chính ông ta mới là con quỷ chánh cống (tới đây, giọng Maggie cất cao hơn và cố nhấn mạnh) chớ không phải là thợ rèn đâu. Mấy con quỉ thường giả làm người nhưng chỉ là hạng người hung dữ thôi, họ đi tới đâu là cũng bắt người ta phải làm những chuyện hung dữ giống y như họ. Quỉ phải giả làm người vì nếu để người ta biết nó là quỉ thì ai cũng chạy trốn hết, làm sao bắt được người ta phải làm theo ý mình. 
      Ông Tulliver không khỏi kinh ngạc trước những lời biện luận của con. Ông ngẩn người giây lát rồi hỏi mau:
      -     Cuốn sách của con nhỏ là loại gì vậy, ông Riley? 
      -     «Câu chuyện của quỷ», tác giả là Daniel Defoe; không đúng là loại sách dành cho con gái. Làm thế nào mà tủ sách của ông lại có quyển này, bạn Tulliver?
      Tự ái bị tổn thương Maggie xịu mặt, trong khi người cha đáp:
      -     Tôi mua nó ở Partridge. Ở đó, tất cả sách đều giống nhau - ông thấy không, đóng bìa thật đẹp - tôi cứ tưởng như vậy là sách quý. Tôi cũng có cuốn «Sống thanh bạch, chết tinh khiết» của Jeremy Taylor, chúa nhật nào tôi cũng đọc.  (Ông Tulliver tự cảm thấy mình cũng có liên hệ phần nào với đại văn hào này, bởi vì tên của ông ta cũng là Jeremy.) Ngoài ra, còn một số sách khác, phần nhiều nói về giáo lý – tất cả đều đóng bìa tốt như nhau nên tôi cứ tưởng cùng một loại. Cứ coi ở bề ngoài là hỏng bét. Thế giới này càng ngày càng rắc rối. 
      Vừa vỗ nhẹ lên đầu Maggie, ông Riley vừa lấy giọng khuyên răn:
      -     Cháu nên dẹp cuốn này đi, đọc mấy cuốn khác bổ ích hơn. Chắc cháu có loại sách bổ ích chớ? 
      Maggie hơi tươi lại với ý định cho biết là mình cũng đã từng đọc qua nhiều loại sách khác nhau.
      -     Dạ có chớ. Tôi cũng biết cuốn này không nên đọc – nhưng tôi thích xem hình... để tự mình giải thích theo ý mình. Tôi có đọc «Ngụ ngôn của Aesop» và một cuốn nói về giống đại thử, với cuốn «Cuộc hành hương»...
      Ông Riley khen:
      -     Tốt lắm, không có quyển nào hơn được. 
      Maggie gần như reo lên với giọng đắc thắng:
      -     Nhưng ở trong đó cũng nói nhiều về chuyện quỉ. Để tôi chỉ ông xem hình còn quỉ thật ra sao, trong khi nó chống lại người của Thiên Chúa.          
      Cô bé chạy mau tới góc phòng nhảy phóc lên một chiếc ghế, vói lấy từ kệ xuống một quyển sờn rách của Bunyan. Rồi không chút ngập ngừng, cô bé lật đúng ngay nơi có bức ảnh mà cô vừa nói.
      Vừa chạy trở lại chỗ ông Riley, cô bé vừa reo:
      -     Nó đây nè. Anh Tom đã tô màu nó giùm tôi vào kỳ nghỉ lễ vừa rồi - cả người đều đen thui, ông biết không, hai con mắt đỏ rực... như lửa, bởi vì trong nó đều toàn là lửa... chiếu ra con mắt. 
      -     Đi, đi!
      Ông Tulliver bỗng gắt lên, bởi cảm thấy khó chịu vì sự mô tả hình dáng mà ông cho là của kẻ có đủ sức mạnh để tạo nên những ông thầy kiện.
      -     Xếp sách lại, không được nói tới chuyện đó nữa. Đúng như tôi nói con nhỏ chỉ học được trong sách những chuyện hư xấu hơn là điều tốt. Đi, đi mau, ra ngoài với má đi!
      Maggie xếp ập quyển sách lại với thái độ bực tức, nhưng lại không chịu ra ngoài mà chỉ sa vào một góc tối phía sau ghế của cha để tưng tiu một con búp bê mà cô yêu mến hơn ai hết trong khi vắng mặt Tom.   
      Thấy đã vắng bóng Maggie, ông Tulliver thở dài:
      -     Ông có từng nghe như vậy bao giờ chưa? Tội nghiệp... nhưng nếu nó là con trai, chắc chắn nó sẽ không chịu thua đám thầy kiện đâu. Kể cũng lạ (tới đây ông hạ giọng) tôi lấy má nó là vì lúc đó, bà đâu có tin ranh như vậy, một người đàn bà thật tốt, gia đình cũng không phải hạng thường. Có điều một người đàn bà như vậy cứ phải nuôi lũ con trai khờ khạo với đám con gái quá khôn lanh cho tới khi trái đất này chổng ngược lên. Thật là rắc rối. 
      Dáng vẻ nghiêm trọng của ông Riley từ từ tan biến. Ông lắc lắc ly rượu trước khi lên tiếng:
      -     Nhưng con trai của ông có khờ khào gì đâu. Lần ghé đây mới rồi, tôi có gặp cháu đang lo làm mấy món đồ câu cá, trông thành thạo lắm.
      -     Thú thật, nó cũng không phải đần độn gì lắm – nó đã biết qua ít nhiều các chuyện bên ngoài, nghĩ là không quá tệ. Nhưng nó chậm ăn chậm nói, còn đọc sách thì ngập ngừng, ngập ngửi, đánh vần sai, họ nói với tôi mà, lại còn nhút nhát nữa. Chẳng bao giờ ông nghe nó nói được một chuyện gì có đầu có đuôi như con em nó. Đó, vì vậy mà tôi muốn nó phải học ở một trường nào cho xứng đáng để ăn nói chững chạc, viết lách đàng hoàng không thua sút một ai...
      Ông Tulliver hớp một ngụm rượu, nuốt từ từ, và lắc đầu thiểu não. 
      Ông Riley nhẹ nhàng:
      -     Ông nói đúng. Thà tốn thêm một hoặc hai trăm để lo chuyện học cho con, còn hơn là để nó ra sao cũng phải giải quyết như ông, đã vậy lại phải còn khốn đốn với một đàn con gái. 
      Không để tình cảm bị chi phối về việc ông Riley chẳng có tiền dư, ông Tulliver bám dính vào hướng nhắm từ đầu:
      -     Ông có biết một trường nào để thằng Tom tới học không?
      Trước khi trả lời, ông Riley nhắm một hớp rượu và cứ để mặc cho bạn hồi hộp đợi.
      -     Tôi biết một chỗ rất xứng đáng cho bất cứ người nào có sẵn tiền đúng theo ý của ông. Sự thật tôi không muốn khuyên bất cứ ông bạn nào của mình gởi con tới học tại một trường thông thường như bao nhiêu trường khác, nếu họ có thể làm khá hơn. Nhưng nếu ai muốn cho con trai mình có học thức cao, thông suốt mọi việc, được học với một ông thầy thuộc vào hàng đệ nhứt danh sư – và luôn luôn có ông thầy này kèm bên cạnh – thì tôi sẽ giới thiệu cho. Thật tình, tôi cũng không muốn bạ ai cũng giới thiệu này vì biết đâu sẽ có trắc trở, mặc dầu người ta đã cố gắng lo... nhưng với ông, Tulliver, tôi chẳng ngại gì cả, chỗ bạn bè với nhau...
      Cái nhìn trân trối của Tulliver vào người bạn có tài hùng biện bỗng sáng rực lên. Ông ngồi thẳng dậy với dáng vẻ của một người có chuyện quan trọng cần nói tới:
      -     À, à... vậy là...
      Nhưng ông Riley đã cắt ngang:
      -     Người đó là một nhân vật của Oxford.
      Ông Tulliver nghi ngại:
      -     Sao? Bộ là thầy tu hả?
      -     Phải, mà cũng là một tiến sĩ. Đức Giám Mục rất quí trọng ông ấy. Chính Ngài đã giao cho ông ấy trông coi một họ ngánh.
      Ông Tulliver kêu lên:
      -     A!
      Đối với ông, đó chỉ toàn là chuyện lạ. Tuy thế, ông vẫn không buông lơi chủ đề:
      -     Nhưng ổng có thể giúp thằng Tom được gì?
      -     Có chớ. Sự thật là ông ấy rất quí mến nghề dạy, và cũng mong được học hành, nghiên cứu sâu rộng hơn. Nhưng làm một nhà truyền giáo thì còn đâu thì giờ rảnh rỗi. Bởi thế, ông ấy muốn dạy cho một vài đứa học trò ngay tại nhà. Cậu nào vào đó sẽ được coi như là người của gia đình – chẳng còn vinh hạnh nào hơn nữa. Được sự coi sóc thường xuyên của Stelling không phải ai cũng có. 
      Bà Tulliver vừa vào tới, bỗng chen vào:
      -     Nhưng có chắc là họ chịu cho thằng Tom mỗi ngày hai lần bánh tráng miệng không? Nó thích bánh ngọt chẳng ai bằng, cỡ nó mà bị bỏ đói thì tội lắm. 
      Ông Tulliver nói tiếp ngay vì nghĩ rằng đối với một ông tiến sĩ thì chẳng biết phải trả bao nhiêu cho vừa giá.
      -     Theo ông thì ông sẽ lấy bao nhiêu?
      -     Tôi đã từng biết có người cũng như ông ấy đã đòi tới một trăm năm chục, nhưng làm gì bằng nổi Stelling. Vị viện trưởng Oxford có lần đã bảo: «Stelling co thể còn lên cao hơn nữa, nhưng y lại không thích ồn ào».
      -     À, tốt lắm, nhưng một trăm rưỡi thì đâu phải là chuyện dễ kiếm. Tôi không nghĩ là quá cao như vậy.
      -     Này, bạn Tulliver, bạn nên biết là có một nền học vấn xứng đáng thì không bao giờ tính ra bằng tiền được. Nhưng Stelling là người rất biết điều không bao giờ tham lam. Tôi tin là ông ấy sẵn sàng nhận con của bạn với khoảng một trăm thôi. Nếu bạn muốn, tôi sẽ thông báo cho ông ấy.
      Ông Tulliver chẳng biết nói gì, cứ xoa xoa hai bàn tay lên gối, mắt nhìn xuống tấm thảm, đăm chiêu.
      Bà Tulliver tỏ vẻ lo âu:
      -     Nhưng ông đã sống độc thân thì làm gì lo nổi cho mấy đứa nhỏ. Tôi không tin nổi mấy người quản gia đâu. Anh tôi, hồi đó cũng có một người quản gia và cứ bị bà ta rút tỉa hết phân nửa lông chim dồn nệm, rồi áo quần nữa, tên bà ta là Scott. Ông Tulliver, ông nên nghĩ lại chuyện đó.
      Ông Riley nhếch môi:
      -     Tulliver, bạn khỏi phải bận tâm về chuyện đó, bởi vì Stelling đã kết hôn, người vợ hết sức đoan trang và hiền thục. Không còn ai hơn nổi, tôi biết gia đình bà ấy rất nhiều. Bà ấy cũng giống như bà Tulliver đây – tóc hơi quăn, thuộc dòng dõi vọng tộc ở Mudport, đặc biệt cao quí. Vã lại, Stelling cũng không thích khách khứa lăng nhăng, thỉnh thoảng mới có một vài người tới toàn là những bạn bè đã được chọn lựa kỹ càng. Chắc là ông ấy sẽ không từ chối tiếp nhận cháu Tom đâu, có tôi giới thiệu là kể như chẳng còn gì rắc rối.
      -     Có ai mà lại đi ghét bỏ thằng Tom được, nó cũng khôi ngô có kém ai.
      -     Nhưng có điều này khiến tôi hơi ngại...
      Ông Tulliver ngoẹo đầu hết bên này tới bên kia, cố tìm lời lẽ xứng hợp trước khi tiếp:
      -     Chẳng biết một ông thầy tu có đủ sức dạy cho nó trở thành một người biết công việc làm ăn, buôn bán hay không? Thật tình, tôi không muốn cho thằng Tom học hành theo kiểu mấy ông tu hành. Tôi muốn nó phải học cách tính toán sổ sách, viết chữ như in, thấy mau hiểu rộng và ăn nói trôi chảy. 
      -     Ồ, bạn Tulliver, bạn hiểu lầm giới tu hành rồi. Tất cả các hiệu trưởng giỏi nhất đều xuất thân từ giới này. Ông muốn thằng bé giỏi toán à? Thì cứ nói thẳng với ông ấy là kể như mọi việc đều xong.
      Trước thái độ xác quyết của ông Riley, ông Tulliver đã lấy lại lòng tin nơi giới tu hành. Ông Riley không bỏ lỡ cơ hội làm tăng triển lòng tin đó:
      -     Bạn cũng đã biết rồi mà, một người tài ba như Stelling cũng giống như một công nhân sử dụng cụ của mình, nếu đã làm được cửa cái thì làm gì không đóng nổi mấy cái cửa sổ.
      Ông Tulliver gật gù:
      -     Đúng vậy, đúng vậy.
      -     Đây, tôi sẽ làm như thế này, không phải với bất cứ ai tôi cũng sẵn sàng giúp ngay đâu. Tôi sẽ tới gặp nhạc phụ của Stelling, hoặc viết cho ông ấy vài chữ lúc trở về Mudport, cho biết là bạn muốn gởi con tới học ở nhà con rể ông ấy. Chắc chắn là sau đó, Stelling sẽ gởi thơ tới bạn để nói rõ về điều kiện.
      Bà Tulliver xen vào ngay:
      -     Nhưng có cần gì gấp đâu, phải không, ông Tulliver. Phải chờ tới giữa Hè nó mới đi học kia mà. 
      -     Coi kìa, Bessy, đừng có xay lúa xấu vào ngày lễ thánh chớ!
      Vừa nói, ông Tulliver vừa nheo mắt cười với bạn, tự chứng tỏ là mình có được một người vợ bao giờ cũng thuận theo ý chồng, rồi tiếp:
      -     Chắc chắn có gì phải gấp đâu, Bessy.
      -     Ba!
      Từ nãy giờ luôn theo dõi câu chuyện về anh mình, cô bé Maggie bỗng chạy nhào tới:
      -     Ba, từ nhà mình tới chỗ đó có xa không? Mình có thế thường đi thăm anh Tom được không ba?
      Ông Tulliver âu yếm:
      -     Ba không biết, con hỏi ông Riley thì biết liền chớ gì.
      Không một chút ngần ngại, Maggie đi vòng trước mặt ông Riley:
      -     Thưa ông, chỗ đó cách bao xa? 
      -     Ồ, xa lắm, xa lơ xa lắc. Cháu phải mượn đôi hia bảy dặm mới đi nổi.
      Maggie ngoe nguẩy:
      -     Không phải đâu.
      Và cô bé bắt đầu chán ghét ông khách dám coi thường mình.
      Bà mẹ mắng:
      -     Kìa, Maggie, làm vậy mà coi được sao? Tới ngồi ở ghế của con đi và không được mở miệng nữa nghe chưa? 
      Rồi bà ngước mặt lên, dáng trầm tư:
      -     Nếu xa quá như vậy thì làm sao tắm rửa và may vá cho nó được?
      Ông Riley vội vàng đính chánh:
      -     Chỉ khoảng mười lăm dặm thôi, có thể đi và về trong ngày một cách thoải mái. Hơn nữa, ông Stelling là người hiếu khách, bà có thể ở lại chơi, nếu muốn.
      Giọng bà Tulliver vẫn còn buồn:
      -     Như vậy cũng đã khó về chuyện may vá rồi. 
      Rất may là vừa vặn tới lúc dùng bữa tối nên ông Riley tạm khỏi phải đưa thêm ý kiến này nọ để trấn an người mẹ quá thương con. Qua những gì vừa nói, ông Riley tự chứng minh một cách không chối cãi được là hết sức thành tâm với bạn. Và ông ta cũng đã giới thiệu Stelling mà không một chút nghĩ ngợi về quyền lợi riêng tư của chính mình.
      Tuy nhiên, là người chuyên về các khía cạnh doanh thương, Riley lại cũng không thể dững dưng trước những quyền lợi riêng, nếu có. Thật ra, ông chưa hề giao tiếp thẳng với vị tu sĩ khả kính Walter Stelling, và chỉ biết phớt qua về ông tiến sĩ đó thôi – nghĩa là chưa đủ uy tín để gởi gắm ai, kể cả con của ông Tulliver. Nhưng ông ta biết chắc rằng Stelling là một nhân vật khuôn mẫu khả ái, qua lời của Godsby, mà Godsby lại chính là người có thân nhân làm giáo sư ở đại học Oxford. Stelling đã là sinh viên của Oxford và hầu hết những người tốt nghiệp ở Oxford thì đều... không, không phải vậy... chính những người của Cambridge mới là những tay toán học cừ khôi. Nhưng, một người đã có trình độ đại học thì có thể dạy bất cứ môn nào, nhứt là Stelling đã từng đọc diễn văn tại một bữa ăn đông đảo, đề cập về chính trị. Nhiều người đã không tỏ ra thán phục người con rể của ông Timpson đó? Ngoài ra, ông Timpson còn là người có ảnh hưởng rất lớn tại giáo khu; lại cũng là một doanh gia đáng kể. Như vậy, việc giúp cho con rể của ông Timpson – cũng như giúp gia đình Tulliver – hiển nhiên là phải có giá trị gì đối với Riley. Ông Timpson có rất đông con gái, nhứt là Louisa Timpson, với khuôn mặt diễm kiều, với những lọn tóc xoăn lơi. Vã lại, ngay lúc được hỏi ý kiến, ông cũng không hề giao du thân mật với một vị hiệu trưởng nào để có thể giới thiệu. Và tại sao ông lại giới thiệu Stelling, người chỉ giỏi về La Tinh chớ không giỏi toán? Vì rằng một khi bạn đã có chuyện nhờ mình mà lại nói chẳng biết gì cả thì mất lịch sự quá nhiều. Bởi thế, khó mà trách ông Riley đã hời hợt đối với chuyện học của con người bạn. Một kẻ đã từng hành nghề hỗ giá viên và giám định viên mà bảo rằng mình chẳng biết gì cả về chuyện giáo dục thì quả là chẳng còn chút uy tín nào nữa cả...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
4
 
MAGGIE VÔ CÙNG THẤT VỌNG VÌ KHÔNG ĐƯỢC cùng đi với cha tới trường đón Tom. Bà Tulliver bảo, sáng nay trời quá ẩm, con gái không thể mặc đồ đẹp đi xa. Maggie phản đội mạnh ngay, và kết quả trực tiếp của sự đối kháng đó là – trong khi bà Tulliver đang lo chải thẳng những lọn tóc rối cho Maggie – cô bé vùng chạy thoát khỏi tay mẹ, nhúng đầu vào một thau nước gần đó, với quyết ý trả thù, không cho cuộn tóc hôm nay.
      Bất lực, bà Tulliver bỏ bàn chải lên đùi, chán nản kêu lên:
      -     Maggie! Maggie! Mầy hư hỏng như vậy thì sau này còn ra gì nữa? Tuần sau dì Glegg và dì Pullet tới chơi, tao sẽ kể hết cho họ nghe và họ sẽ không thương mày nữa đâu. Trời ơi! Nhìn cái dãi yếm mới của mầy coi, ướt hết rồi! Người ta lại bảo là tao đã bị Thượng Đế trừng phạt nên mới có một đứa con gái như thế – người ta sẽ nghĩ rằng ngày trước tao đã ăn ở thất đức, bất nhân...
      Nhưng bà Tulliver chưa kịp dứt lời thì Maggie đã nhảy bước một lên căn gác rộng nằm sát mái nhà cũ kỹ, cô bé vừa chạy vừa rảy nước ra khỏi tóc như một con chó săn Skye đang bị tắm bỗng vùng chạy thoát đi. Căn gác là nơi thích nhứt của Maggie trong những ngày ẩm ướt, khi tiết trời chưa giá lạnh bao nhiêu; đây cũng là nơi cô bé đã trút những nỗi bực dọc bằng cách quát tháo với những kệ hàng mục nát và những gốc tối bụi bặm, nhện giăng; lại còn là nơi có giữ sẵn một vật để trừng phạt hầu đền bù những bất hạnh của mình. Đó là con búp bê lớn, bằng gỗ, không chân tay, trước đây hãy còn đôi mắt tròn xoe với hai má phính hồng. Nhưng hiện nay hình dáng bên ngoài của nó đã bị hủy diệt hoàn toàn vì đã phải chịu đựng bao nhiêu là hình phạt để chia xẻ nỗi đau khổ của chủ nhân nó. Ba chiếc đinh đóng vào đầu, đánh dấu những cơn khủng hoảng xảy ra trong chín năm tuổi đời của Maggie. Cô bé đã nảy sanh cách thức trả thù này khi được hình bức Joel tiêu diệt Sisera trong Cựu Ước. Chiếc sau cùng được đóng vào một cách hung bạo hơn bao giờ hết bởi cái vật tế thần lúc đó là đại diện cho dì Glegg. Nhưng ngay sau đó, Maggie chợt nghĩ, nếu đóng quá nhiều đinh vào đầu con búp bê thì cô ta sẽ không còn tưởng tượng được nỗi đau của nó khi đập đầu nó vào tường: và lúc đó nguôi giận, cô cũng không thể an ủi và dán thuốc chữa thương cho nó, vì ngay cả dì Glegg cũng rất đáng thương khi bị hành hạ quá nhiều. Vả lại, Maggie còn muốn dành đường cho dì phải năn nỉ, xin lỗi mình kia chớ. Từ đó, Maggie không đóng đinh vào đầu búp bê nữa, mà chỉ tự an ủi bằng cách đập và chà xát cái đầu gỗ của nó vào thành gạch lởm chởm của hai ống khói lò sưởi vĩ đại làm thành hai cột trụ chống đỡ mái nhà. Đó chính là hành động của Maggie sáng nay trên gác thượng, cô khóc vùi đến nỗi đã quên khuấy đi mất nguyên nhân sự đau khổ của mình. Cuối cùng, những tiếng nức nở dịu lại, bàn tay hình phạt cũng bớt hung hãn đi, và một tia nắng bỗng xuyên qua lưới mắt cáo, soi sáng những kệ hàng mục nát, Maggie liệng con búp bê đi và chạy ra cửa sổ.
      Mặt trời đã lên cao, tiếng máy xay lại thật vui tai như thường lệ, cửa kho lúa đã mở, và Yap, chú chó săn lông trắng đốm nâu, với một tai cụp xuống, đang chạy đánh hơi quanh quẩn như sục tìm một người bạn để đùa vui. Không dằn được, Maggie vén tóc, chạy xuống, chụp lấy chiếc nón, nhìn dáo dác khắp hành lang vì sợ chạm trán mẹ, rồi phóng mau ra sân. Cô bé vừa nhảy múa như một ả đồng bóng, vừa ca: «Yap, Yap, Yap, Tom sắp về rồi!» Con Yap cũng vừa nhảy vừa sủa chung quanh cô chủ nhỏ như muốn bảo, nếu cần khua động thì đã có chú ta đảm trách. 
      -     Ê, Ê, cô bé! Coi chừng chóng mặt rồi té vào sình.
      Người vừa gọi là bác Luke, thợ cả trong nhà máy. Thân hình cao lớn, vai rộng, tóc đen, bác trạc tuổi bốn mươi, mình mảy dính đầy bột như một cái nấm tai mèo. 
      Maggie ngừng quay, hơi lảo đảo một chút – rồi chống chế:
      -     Không đâu, bác Luke, không chóng mặt đâu. Bác cho tôi vào nhà máy với được không?
      Maggie rất thích thơ thẩn trong các phòng rộng của nhà máy để được ra về với mái tóc phủ bột trắng mịn như bông, khiến cho hai mắt của cô lóng lánh như hai viên huyền ngọc. Tiếng máy rầm rỉ đều đặn, sự chuyển động liên tục của các cối đá khổng lồ tạo cho Maggie một cảm giác sợ sệt thú vị trước dòng bột bất tận, trước lớp bụi trắng mịn màng phủ khắp nơi, làm cho các màng nhện trông giống như những khung thêu tuyệt xảo, và trước hương vị ngọt ngào, thanh khiết của bột mới. Tất cả làm cho Maggie cảm thấy nhà máy như là một thế giới nhỏ, tách rời với đời sống thường ngày của cô. Đặc biệt những con nhện đã làm cho cô bé nghĩ ngợi nhiều. Cô tự hỏi không biết chúng có bà con nào ở ngoài nhà máy hay không, và nếu có, chắc hẳn chúng đã gặp nhiều rắc rối trong những mối liên hệ họ hàng – Một chú nhện mập mạp, đã quen ăn ruồi phủ bột, chắc phải gặp khó khăn nơi bàn tiệc họ hàng lũ nhện với một con ruồi bình thường và chắc bà nhện sẽ khó chịu khi nhìn bộ dáng nhau. Nhưng nơi Maggie thích nhứt trong nhà máy chính là tầng trên cùng – kho chứa thóc, nơi tích trữ vô số bao hạt ngũ cốc và hàng đống lúa lớn mà cô bé vẫn thường leo lên ngồi cho tuột xuống. Maggie vẫn cứ tiêu khiển bằng trò này trong khi vẫn trò chuyện cùng bác Luke, người mà cô rất mến và muốn chia sớt kiến thức của mình như cha cô đã từng làm.
      Có lẽ cô bé muốn khôi phục lại địa vị của mình nơi bác Luke ở dịp này, vì thế, cô bé vừa leo lên đống lúa gần nơi bác thợ cả làm việc vừa hỏi chuyện giữa những tiếng ầm ĩ bất tận.
      -     Bác Luke, chắc bác không hề đọc sách gì khác ngoài Thánh kinh, phải không?
      Bác Luke thật thà:
      -     Phải ngay cả Thánh kinh tôi cũng đọc it lắm. Tôi không phải là người mê đọc sách.
      -     Nhưng nếu tôi mượn, bác chịu không? Loại sách dễ đọc không có bao nhiêu, nhưng tôi có cuốn «Âu Châu du ký» hay lắm - nó sẽ kể cho bác nghe về tất cả các giống người trên thế giới, và nếu bác đọc mà không hiểu rõ thì cứ coi mấy tấm hình - họ mô tả bộ dáng, lối sống và việc làm của các giống dân. Có cả người Hòa Lan, mập lắm, họ hút thuốc - bác biết không - còn có một người ngồi trên thùng gỗ nữa. 
      -     Không đây, tôi không cần biết về người Hòa Lan, họ chẳng giúp được tôi gì cả. 
      -     Nhưng họ là đồng loại của ta, bác Luke – chúng ta phải tìm hiểu đồng loại của mình chớ. 
      -     Không cần thiết lắm, tôi nghĩ vậy. Tất cả những thứ tôi biết – ông thầy của tôi ngày xưa cũng là người hiểu biết vẫn thường nói «Chừng nào tôi thấy lúa mì của tôi mặn, ngày đó tôi là người Hòa Lan» và điều đó cũng có nghĩa người Hòa Lan chỉ là một người điên, hay đại khái như vậy. Không, không, tôi không muốn gì về người Hòa Lan...
      Maggie đành chịu thua trước thành kiến đó.       
      -     Thôi được, có lẽ bác sẽ thích đọc cuốn «động vật giới» - không có người Hòa Lan đâu, mà có voi, đại thử, chồn hương, cá nóc, và một loại chim ngồi trên đuôi của nó – tên gì tôi quên mất rồi. Nhiều xứ có rất nhiều thú vật như thế, thay vì bò và ngựa như ở đây, bác biết không? Đọc cuốn đó nghe bác Luke?
      -     Không được đâu, tôi còn phải lo tính toán thóc lúa, không đủ thì giờ lo việc khác. Những thứ đó đưa con người vào chỗ chết, cái gì cũng hiểu biết hết, trừ cách thức tìm miếng ăn cho mình. Tất cả đều là giả dối, chắc vậy mà, tất cả những thứ in trong sách...
      -     Ồ, bác thật giống anh Tom...
      Maggie khéo léo đổi đề tài:
      -     Tom cũng không thích đọc sách. Bác Luke, tôi thương anh Tom lắm.
      -     Thương hơn bất cứ ai trên đời này. Khi anh ấy lớn lên, tôi sẽ lo việc nhà cho anh, và chúng tôi sẽ sống với nhau suốt đời. Tôi có thể kể cho Tom nghe những điều anh không biết. Tôi cho rằng Tom rất thông minh dầu không ham đọc sách. Anh làm roi dây và đóng chuồng thỏ đẹp ghê đi!
      -     À, nhưng chắc cậu Tom sẽ buồn vì mấy con thỏ đều chết cả rồi.
      Maggie nhảy khỏi đống lúa, thét lên:
      -     Chết rồi? Trời ơi, bác Luke! Còn con thỏ tai lớn với con thỏ cái đốm nâu mà anh Tom bỏ hết tiền ra mua, có sao không?
      -     Cũng chết luôn!
      -     Bác Luke ơi!
      Maggie thảm thiết kêu lên, nước mắt lăn dài trên má. 
      -     Anh Tom dặn tôi săn sóc chúng, vậy mà tôi lại quên. Phải làm sao bây giờ, bác Luke?
      -     Cô thấy bầy thỏ nuôi ở tận nhà kho dụng cụ xa lắc xa lơ, ai mà rảnh rang, tới đó chăm sóc hoài. Có lẽ cậu Tom có nhờ Harry coi giùm nhưng làm sao tin nó được. Cái thằng đó có bao giờ giữ đúng lời hứa đâu, nó chỉ nhớ tới cái bao tử của nó thôi. 
      -     Bác Luke, anh Tom có dặn tôi chăm sóc cho bày thỏ mỗi ngày nhưng làm sao tôi nhớ được, bác thấy không? Ồ, anh ấy sẽ giận tôi, tôi biết, và anh ấy sẽ tiếc mấy con thỏ – tôi cũng tiếc nữa, làm sao bây giờ?
      Bác thợ cả an ủi:
      -     Cô đừng lo, thỏ chỉ là thứ vô dụng – có cho ăn chúng cũng chết như thường. Cái gì phản thiên nhiên đều khó sống mạnh. Thượng Đế không ưa chúng. Ngài tạo ra tai thỏ dựng lên, vậy mà không có gì có thể làm cho nó cụp xuống như tai chó gộc giữ nhà. Cậu Tom sẽ hiểu để khỏi bỏ tiền mua lần nữa. Cô đừng lo. Cô có muốn về nhà gặp vợ tôi không? Tôi sắp về bây giờ đây.
      Lời mời phải lúc làm Maggie khuây khỏa, nước mắt khô dần trong khi cô chạy tung tăng bên cạnh bác Luke trên đường về ngôi nhà tranh của bác. Ngôi nhà nằm ở cuối khu đất nhà máy, chung quanh có trong một vài cây đào, cây táo và có cả một chái nhỏ dùng làm chỗ nuôi heo. Bà chứng tỏ lòng hiếu khách của mình bằng những chiếc bánh, những thỏi kẹo mía, hơn nữa bà lại có nhiều nghệ phẩm. Maggie quên lững đi là từ sáng đến giờ mình đã gặp nhiều chuyện buồn phiền trong khi ngồi trên ghế xem một tập tranh diễn tả chuyện «Đứa Con Hoang (1)» trong sách Phúc âm. 
 
(1) Nhân vật của một trong những ẩn dụ cảm động nhứt của sách Phúc âm (Luc XV)
 
      Cô bé nói:
      -     Tôi sung sướng khi thấy ba anh ta đón mừng anh ta về - bác Luke có thấy vậy không? Anh ta rất đáng thương và sẽ không bao giờ lầm lỗi nữa.         
      Bác Luke nghĩ khác hơn:
      -     Theo tôi thì cậu ta không đáng gì cả, hãy để cha cậu ta lo liệu lấy.
      Đó là một ý nghĩ buồn thảm đối với Maggie, và cô bé cố gắng xua đuổi dư hưởng câu chuyện của người thanh niên kia ra khỏi óc.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
5
 
ĐÁNG LẼ TOM PHẢI VỀ TỚI NHÀ KHOẢNG XẾ trưa hôm đó, nhưng chờ đã quá lâu mà vẫn chưa nghe có tiếng xe, bà Tulliver cũng bồn chồn không kém Maggie, nếu trên đời này, bà còn có được một mối thâm tình nào thì đó chính là tình thương con. Cuối cùng rồi tiếng xe cũng đã khua từ bên ngoài. Mặc dầu gió đang nổi mạnh, bà cũng ra tận ngoài cửa để đón con, một tay đặt trên mái đầu bướng bỉnh của Maggie và quên hết những phiền muộn từ sáng tới giờ. 
      -     Kìa! Con cưng của tôi đây! Chúa ơi! Nó lại không mang cổ cồn, chắc là đánh rơi dọc đường rồi. Lại phải mua cho nó một bộ khác. 
      Bà Tulliver giang rộng tay, Maggie thì nhảy cởn trong khi Tom bước xuống xe. Nó tự thấy không nên biểu lộ xúc động mềm yếu nên nói lãng đi:
      -     Ê, Yap - mày đó hả?
      Tuy vậy, Tom cũng để cho người ta hôn mình, nhưng khi Maggie lên tiếng và bám lên cổ nó, Tom đảo đôi mắt xanh dọc theo khu trại nhỏ, đàn trừu và con sông, nơi nó tự hứa sẽ ra câu vào sáng sớm mai. Tom là một cậu bé bình thường như các cậu bé khác trên khắp nước Anh, khoảng mười hai hay mười ba tuổi, ở lứa tuổi này chúng giống hệt nhau như những chú ngỗng con - một cậu bé tóc màu nâu sáng, má màu kem hồng, môi dầy, mũi và chân mày không có gì đặc sắc - một dung mạo chẳng có gì khác biệt lắm những cậu bé thường gặp. Nhưng Maggie thì khác hẳn, tạo hóa đã nhào nắn và tô điểm cô bé một cách tỉ mỉ. Nhưng cũng chính tạo hóa kỳ xảo đã che giấu tất cả dưới một bề ngoài khoáng đạt, nhu hòa, làm cho những người mới gặp đều tưởng rằng mình có thể nhìn suốt được tâm hồn của cô bé, trong khi cô ta âm thầm chuẩn bị một bác luận đối với lòng xác tín của họ. Dưới lớp vỏ ấy, cô bé giấu được sự lãnh đạm, tánh kiên quyết và hầu hết cá tính bướng bỉnh của mình, và đôi mắt đen láy, hiếu động trong chốc lát có thể đổi sang thụ động trong một dung mạo bình thường, hồng hào như con trai. 
      Khi mẹ vừa đi khỏi để soát lại rương quần áo, Tom kéo em tới một góc:
      -     Maggie, mày biết trong túi tao có gì không?
      -     Không, cái gì mà coi bộ nặng quá vậy anh Tom? Bi hay là hạt dẻ?
      Tim Maggie chợt thắt lại, vì bỗng nhớ Tom vẫn thường không cho mình chơ trò bắn bi – cô bé chơi quá tệ.
      -     Không phải bi, tao đổi bi cho mấy đứa bạn hết rồi, cũng không phải hạt dẻ nữa, đồ ngốc, hạt dẻ mùa này hãy còn xanh. Coi nè!
      Tom vừa nói vừa thò tay vào túi áo phải. 
      Maggie thì thầm:
      -     Cái gì vậy? Em chỉ thấy cái gì vàng vàng thôi.
      -     Kìa, đây là một vật mới... đoán thử coi, Maggie!
      Maggie sốt ruột:
      -     Ồ, em không đoán nổi đâu! 
      Tom vừa nói vừa thọc tay vào túi, nét mặt quả quyết:
      -     Đừng có nóng, nếu không tao sẽ không nói đâu.
      Maggie nắm lấy bàn tay của anh đang giữ chặt trong túi, nài nỉ:
      -     Không đâu Tom, em không xấu tánh đâu, chỉ tại em không thể đoán nổi thôi. Em năn nỉ anh mà.
      Tay Tom từ từ duỗi nhẹ ra:
      -     Được rồi, dây câu đây - hai bộ mới tinh - một bộ dành cho mày, Maggie, mày toàn quyền sử dụng. Tao bớt ăn bánh kẹo để dành tiền mua đó, thằng Gibson và Spouncer đã đánh lộn với tao vì tao nhịn ăn quá... còn đây là lưỡi câu, nhìn xem... Tao tính ngày mai mình ra Vũng Tròn câu, chịu không? Và mày sẽ câu được cá cho chính mày, Maggie, móc mồi vào và nhiều thứ khác nữa, chịu chưa?
      Maggie trả lời bằng cách quàng hai tay lên cổ Tom, im lặng áp má vào má anh. Trong khi đó Tom mở gói dây câu sau một thoáng ngần ngừ:
      -     Mày thấy bây giờ tao có phải là một người anh tốt chưa? Tao mua dây câu cho mày xài. Mày biết chớ, tao đâu có bị bắt buộc phải mua cho mày nếu tao không muốn. 
      -     Phải, anh rất, rất tốt... Em thương anh Tom lắm. 
      Tom cho bộ dây vào túi áo trở lại, mân mê hai lưỡi câu một lúc rồi tiết lộ: 
      -     Tụi nó đánh tao vì tao không chịu thua chúng về chuyện kẹo. 
      -     Trời ơi! Chắc tụi nó đánh anh ở trong trường hả Tom, anh có đau không?
      -     Đau hả? Không bao giờ.
      Tom vừa nói vừa cho móc câu vào túi, lấy ra một con dao xếp to bản và chậm chạp mở lưỡi dao to nhứt ra, trầm ngâm nhìn trong khi ngón tay vuốt dài theo sóng. Một lúc sau, nó tiếp:
      -     Tao đánh bầm mặt thằng Spouncer – ai bảo nó muốn đánh tao, tao không chia quà bánh vì ai cũng muốn đánh lộn với tao. 
      -     Ồ, anh can đảm quá! Em thấy anh như Samson. Nếu có con sư tử nào muốn vồ em, chắc chắn là anh sẽ đánh nó – phải không anh Tom?
      -     Làm gì có sư tử vồ, đồ ngu! Không hề có sư tử, chỉ có trong kịch thôi.
      -     Thì không, nhưng nếu mình sống ở xứ sư tử -  em muốn nói Phi Châu nơi đó nóng dữ lắm - sư tử ăn thịt người ta ở đó. Em có thể đưa anh coi cuốn sách mà em đã đọc được.
      -     Được, vậy thì tao sẽ sắm một khẩu súng để bắn nó.
      -     Nhưng nếu anh không có súng? Chúng ta bắt buộc phải ra ngoài - thí dụ như đi câu cá, rồi có một con sư tử khổng lồ gầm lớn chạy tới, và mình không thể chạy đi đâu được thì anh Tom sẽ làm gì? 
      Tom ngập ngừng, và sau cùng khinh khỉnh quay đi:
      -     Nhưng sư tử đâu có mà chạy tới. Nói chuyện như vậy có ích gì?
      Maggie đi theo.
      -     Nhưng em thích tưởng tượng lúc đó. Để coi... lúc đó anh sẽ làm gì?
      -     Ồ, đừng lôi thôi, Maggie! Mày đúng là một con khùng. Để tao đi coi mấy con thỏ.
      Tim Maggie đập rộn.
      Cô bé không dám nói ngay sự thật, mà chỉ im lặng, run rẩy bước theo Tom, nghĩ cách phải báo tin thế nào để Tom vừa nghe mà không thấy giận và hối tiếc. Thật vậy, Maggie không sợ gì hơn là cơn giận của Tom – khác hẳn với cơn giận của chính cô. 
      Maggie rụt rè lên tiếng khi cả hai bước ra ngoài.
      -     Tom, anh mua bầy thỏ hết bao nhiêu?
      Tom hãnh diện:
      -     Năm si-ling (1) sáu xu.
 
(1) Tiền Anh, bằng 1/20 đồng bằng (pound sterling) bằng mười hai xu (penny)
 
      -     Chắc là cái hộp thiếc đựng tiền của em trên lầu còn nhiều hơn số tiền đó. Em sẽ nói má cho anh.
      -     Để làm gì, tao không cần tiền của mày, đồ ngốc. Tao còn có nhiều tiền hơn mày nữa, và tao là con trai mà. Lúc nào tao cũng có nhiều đồng vàng để mua đồ Giáng Sinh. Tao sắp là một người đàn ông, còn mày thì chỉ có năm si-ling là hết mức rồi vì mày là con gái, hiểu chưa?
      -     Hiểu, nhưng em muốn dự chi cho anh năm si-ling sáu xu, để anh mua thêm thỏ, được không?
      -     Mua thêm thỏ? Không cần.
      -     Nhưng mà... anh Tom ơi, chúng nó chết hết rồi. 
      Tom dừng sững lại, quắc mắt:
      -     Mày quên cho chúng ăn, và thằng Harry cũng quên luôn, phải không?
      Hai má thằng bé nóng ran lên một lúc, rồi tái xanh ngay:
      -     Tao sẽ đánh thằng Harry. Và tao sẽ không thương mày nữa, Maggie. Ngày mai mày không được đi câu với tao. Tao đã dặn mày lo cho lũ thỏ mỗi ngày mà.
      Tom tiếp tục bước đi.
      -     Phải, nhưng em quên – em không thể làm gì được, thật đó, Tom. Em cũng tiếc chúng ghê lắm. 
      Nước mắt cô bé ràn rụa nhưng Tom vẫn lạnh lùng nghiêm khắc:
      -     Mày là một đứa con gái hư. Tao tiếc là đã mua dây câu cho mày. Tao không thể thương mày được nữa. 
      Maggie sụt sùi:
      -     Tom, anh độc ác quá. Lúc nào em cũng sẵn sàng tha thứ cho anh, nếu anh có quên làm bất cứ một chuyện gì cho em cũng chẳng bao giờ em giận anh. 
      -     Phải, nhưng mày khùng quá còn tao thì không bao giờ quên bất cứ chuyện gì. 
      -     Tom, em xin anh tha lỗi, em khổ sở lắm rồi.
      Maggie vừa nói vừa khóc nức nở, cô bé bám vào cánh tay Tom và áp má đẫm ướt nước mắt của mình vào vai anh. 
      Tom hất em ra, dừng bước lần nữa, giọng thật quả quyết:
      -     Nè, Maggie, mày nghe tao nói đây. Tao có phải là người anh tốt đối với mày không?
      -     Phả... ả... ải!
      Maggie ngửng nhìn lên rồi lại gục đầu:
      -     Có phải tao đã nghĩ tới chuyện mua dây câu cho mày, tao đã để dành tiền, không mua kẹo chia cho thằng Spouncer để nó gây lộn với tao không? 
      -     Phả... ả... ải... và em cũng thư... ơng anh Tom nữa.
      -     Nhưng mày hư quá. Kỳ lễ trước mày đã làm hư hộp màu của tao, lần trước nữa mày đã để cho xuồng kéo chìm dây câu của tao mặc dầu tao đã dặn mày coi chừng giùm, mày lại còn làm hư con diều của tao và nhiều thứ khác nữa. 
      -     Nhưng em đâu muốn vậy. Em không biết phải làm thế nào.
      -     Hừ, mày có thể làm được tất cả nếu mày chịu chú ý tới việc mày làm. Nhưng mày hư quá, mày sẽ không được đi đâu với tao sáng mai.          
      Sau quyết định khủng khiếp đó, Tom bỏ mặc Maggie, chạy thẳng vào nhà máy, tìm bác thợ cả Luke, than phiền về thằng Harry.
      Maggie đứng bất động, khóc ngất một hay hai phút rồi chạy vụt vào nhà, lên ngay gác thượng. Cô bé ngồi bệt xuống sàn ván, tựa đầu vào chiếc kệ cũ kỹ, buồn vô hạn. Tom đã về cô tưởng mình sẽ được nhiều sung sướng - vậy mà bây giờ Tom lại quá tàn nhẫn. Tom đã không còn thương cô nữa thì cuộc đời có nghĩa lý gì nữa? Ôi, Tom độc ác! Bộ cô không đề nghị đền tiền, không tỏ ý hối tiếc sao? Maggie biết mình hay ngỗ nghịch với mẹ, nhưng có bao giờ ngỗ nghịch với Tom đâu - cô không bao giờ muốn làm trái ý người anh đó cả. 
      -     Ồ, anh ấy tàn ác quá!
      Cô bé khóc to lên, và tìm đôi chút an ủi qua tiếng âm vang trên những khoảng trống dài nơi gác thượng. Cô không nghĩ tới việc đánh đập và chà sát con búp bê của mình nữa. Một khi đã quá khổ thì khó có thể mà nổi giận.
      Ôi, những nỗi buồn thơ ấu! Ngày đó ưu phiền còn hoàn toàn mới mẻ và lạ lùng, ngày mà hy vọng chưa mọc cánh bay khỏi tháng ngày, và khoảng trống giữa các mùa hè hình như cứ kéo dài vô tận.
      Maggie chợt nghĩ mình đã ngồi trên gác có lẽ đã hàng mấy giờ rồi và có lẽ bây giờ đang là giờ uống trà, cả nhà đang quây quần bên bàn và chẳng nghĩ gì tới cô nữa cả. Cũng được, mình sẽ ngồi lì nhịn đói ở đây – sẽ núp sau cái chậu gỗ và sẽ ở lại suốt đêm. Phải rồi, cứ để cho họ mặc tính hoảng sợ và mặc cho Tom hối hận. Maggie kiêu hãnh nghĩ thầm như vậy khi bò về phía sau chậu gỗ. Nhưng cô chợt khóc òa lên với ý nghĩ là biết đâu họ lại chẳng nhớ ra. Nếu bây giờ mình xuống, Tom có chịu tha thứ cho không? Cha cô đang có mặt ở đó, có lẽ người sẽ giúp cô. Nhưng Maggie lại muốn Tom tha thứ vì tình thương với cô hơn là vì phải vâng lời người lớn. Không, cô sẽ không bao giờ xuống nếu Tom không lên để đón cô. Toàn bộ vấn đề đã gây sôi nổi trong suốt năm phút trong bóng tối của cái chậu bằng cây. Nhưng sau đó, nhu cầu được thương yêu, cái nhu cầu mãnh liệt trong cá tính của Maggie bắt đầu tấn công lòng kiêu hãnh và tiêu diệt nó ngay. Maggie bò ra ngoài ánh sáng lờ mờ của buổi chiều trên căn gác, và ngay lúc đó có tiếng chân bước vội trên thang.
      Tom đã chuyện trò khá vui vẻ với bác Luke, rồi đi thơ thẩn trong vườn tìm cây đẽo gọt làm cần câu. Nó chẳng nghĩ gì tới Maggie và hiệu quả sự giận dữ của mình đối với em. Nó muốn trừng phạt em, và nhất định phải thi hành ý định đó. Bởi thế nó chỉ bận rộn với những chuyện khác, y như một người lớn đã quen cùng thực tế. Nhưng khi được gọi vào dùng trà và người cha hỏi:
      -     Ủa, con gái tôi đâu rồi?
      Và bà Tulliver cũng lên tiếng gần như cùng một lúc với chồng:
      -     Em con đâu?
      Cả hai người đều tưởng Maggie và Tom đã ở bên nhau suốt buổi chiều:
      Tom đáp gọn:
      -     Con không biết. 
      Nó không muốn nhắc tới Maggie vì còn giận, và bởi vì Tom Tulliver là một cậu bé có tư cách kia mà.
      Người cha nhíu mày:
      -     Cái gì? Không phải nó đã chơi với con suốt buổi chiều sao? Nó mong con về lắm mà.
      Tom vừa nói vừa ăn một miếng bánh nho:
      -     Hai tiếng đồng hồ con không thấy nó!
      -     Chúa ơi! Vậy là nó chết chìm rồi!
      Bà Tulliver kêu hoảng, đứng phắt dậy và chạy ra cửa sổ:
      -     Sao con không chịu coi chừng nó?
      Ông Tulliver gắt:
      -     Nè, nè, nó không chết đuối đâu. Con đã rầy mắng em, phải không Tom?
      Tom cáu kỉnh:
      -     Thưa ba, không có đâu. Con tưởng nó ở trong nhà.
      Bà Tulliver nói:
      -     Vậy chắc là nó đang ở trên gác thượng, ca hát nghêu ngao và nói chuyện một mình đến nỗi quên mất giờ ăn. 
      -     Con lên gọi nó xuống đây, Tom.
      Giọng ông Tulliver hơi xẵng, tình phụ tử sáng suốt khiến ông nghi ngờ thằng bé đã gắt gỏng với «đứa con gái cưng» của ông, có bao giờ nó chịu rời xa anh nó? Và ông tiếp: 
      -     Phải dịu dàng với em, nghe chưa? Nếu không thì liệu hồn!
      Tom không bao giờ dám cãi lời cha, vì ông Tulliver là người độc đoán và như thường nói, khi ông đã đánh đòn thì đừng hòng có ai cản ngăn nổi. Tom đành phải nhăn nhó đứng lên, nhưng không quên mang theo phần bánh của mình. Thằng bé chưa nghĩ đến chuyện tha lỗi cho em, hình phạt đâu có gì quá đáng. Tom chỉ mới mười ba, chưa xong văn phạm và toán pháp, nó xem đó như là những vấn đề toàn diện - chỉ có một vấn đề nó rất thấu đáo và tự chủ - đó là trừng phạt thật xứng đáng. 
      Tiếng chân mà Maggie vừa nghe chính là tiếng bước của Tom đúng vào lúc nhu cầu được thương yêu vừa chiến thắng lòng kiêu hãnh của cô. Maggie định xuống nhà với đôi mắt đỏ hoe và mái tóc rối bù để gợi lòng trắc ẩn của mọi người. Thế nào cha cô cũng vuốt tóc, dỗ dành đừng buồn, con gái. Sự cần thiết tình thương đã chiến thắng một cách tuyệt dịu nỗi khao khát của con tim cũng độc đoán như sự khao khát khác mà tạo hóa đã bắt buộc ta phải mang vào, và thay đổi cục diện thế giới.
      Nhận rõ tiếng bước của Tom, tim cô bé đập rộn trong lồng ngực với một hy vọng tới bất ngờ. Tom chỉ đứng ở đầu thang và nói:
      -     Maggie, mày phải xuống ngay.
      Nhưng cô bé đã chạy tới, bám vào cổ anh, nức nghẹn:
      -     Tom, tha lỗi cho em – em không chịu nổi – em sẽ luôn ngoan ngoãn, em sẽ nhớ hết tất cả – thương em nghe anh Tom!
      Lúc đã lớn khôn, chúng ta đều biết tự chế. Khi cãi nhau, chúng ta biết cách làm ra vẻ dửng dưng, biết dùng những câu trí thức, một mặt để biểu lộ sự cương quyết của mình, và mặt khác, đề âm thầm nuốt ưu phiền. Chúng ta không còn xử sự theo những xung lực nhứt thời như những con vật hạ đăng mà hành động đúng theo phong thái của xã hội văn minh, tiến bộ. Maggie và Tom vẫn như hai con thú còn tơ, do đó khi Maggie dụi má vào má Tom và hôn tai anh một cách ngẫu nhiên, cậu bé nguôi giận và quên đi ý định trừng phạt em cho xứng đáng. Nó hôn lại và giọng dịu hẳn đi:
      -     Thôi, đừng khóc nữa, Maggie - nè ăn một miếng đi.
      Maggie nín khóc, cắn một miếng bánh và Tom cũng cắn một miếng, hai anh em vừa ăn vừa cọ mãi vào nhau như hai chú ngựa con:
      Khi đã hết bánh, Tom bảo:
      -     Thôi, tụi mình xuống uống trà.
      Thế là một ngày buồn phiền đã đi qua. Sáng hôm sau Maggie chạy tung tăng ra khỏi nhà với chiếc cần câu riêng ở một tay và một tay xách giỏ, cô bé trông rạng rỡ dưới vành nón vì Tom đã có thái độ ân cần. Maggie nói là mình thích được anh móc mồi giùm cho, mặc dầu cô bé đã nhìn nhận lời của Tom cho rằng côn trùng không có cảm giác. Tom rất thông thạo về các loại côn trùng, cá và các thứ cùng loại, nó biết phân biệt các loại chim độc hại, biết cách mở ổ khóa và biết cách mở then cổng ra sao. Đối với Maggie, đó là loại kiến thức tuyệt dịu - còn khó nhớ hơn những thứ trong sách gấp mười lần. Maggie rất kính nễ anh vì Tom là người duy nhứt dám gọi sự hiểu biết của cô là «đồ lặt vặt» và không hề ngạc nhiên vì óc thông minh của em. Thật vậy, Tom cho rằng Maggie chỉ là một con ngốc, tất cả con gái đều ngốc nghếch – chúng không thể nào dùng đá ném được một thứ gì, không biết cách sử dụng dao xếp bỏ túi, lại còn sợ cả cóc nhái nữa. Tuy nhiên cậu bé cũng rất thương em, lúc nào cũng muốn bảo vệ em và trừng phạt khi em phạm lỗi.
      Hai anh em đang trên đường tới núi Vũng Tròn – đó là một cái vũng được nước lụt tạo nên cách đây lâu lắm, không ai biết đích xác nó sâu được bao nhiêu, lại còn mang một sắc thái huyền bí nữa. Vũng nước có một hình dáng gần như tròn đều, được viền quanh bởi những cây liễu và những cụm lau sậy um tùm, chỉ có thể thấy được mặt nước khi đã tới sát bờ. Quang cảnh thích thú nhứt ngày xưa làm Tom cởi mở hơn. Nó thì thầm nói chuyện với Maggie một cách vô cùng thân thiện trong khi mở giỏ và bày dụng cụ ra. Nó ném dây câu cho em và đặt cần câu vào tay cô bé. Nhưng chỉ một lúc là cô bé quên khuấy chuyện cá, rồi cứ mơ màng nhìn mặt nước lóng lánh như gương.
      -     Coi kìa, Maggie!
      Tom chợt kêu lên khe khẽ và chạy vội tới giữ cho cần câu khỏi tuột khỏi tay em. Maggie hoảng sợ vì tưởng rằng mình vừa phạm một lỗi lầm nào như thường lệ, nhưng ngay sau đó Tom vẫn kéo dây câu của em lên với một con cá mè khá lớn dẫy dụa trên bãi cỏ.
      Tom phấn khởi:
      -     Maggie, lấy đồ trong giỏ ra mau, cưng!
      Maggie không hiểu mình đã làm gì để được lời âu yếm bất thường này nhưng Tom đã gọi cô là Maggie và «cưng» tỏ ra hài lòng là đủ lắm rồi. Tràn trề hạnh phúc giữa những tiếng thì thầm và trong sự im lặng như mơ cô bé lắng nghe tiếng động nhẹ của con cá quẫy trên mặt nước và tiếng cây cối xạc xào dìu dặt. Dường như rặng liễu, hàng lau và mình nước đang vui vẻ trò chuyện với nhau. Đối với Maggie, ngồi bên vũng nước giữa khung cảnh êm đềm này cũng thần tiên như ở thiên đàng, và nhứt là không bị rầy rà, trách mắng. Nếu Tom không lên tiếng, cô bé cũng không biết cá đã mắc câu.
      Đó là một trong những buổi sáng sung sướng nhứt của cả hai anh em. Cả hai cùng vui đùa với nhau vô tư lự, không nghĩ chút gì về những đổi thay trong cuộc sống. Nhà máy xay đang hồi phát đạt cây dẻ cổ thụ mà hai anh em thường chơi đùa dưới bóng mát ở nhà – con sông Riple bé nhỏ của riêng hai anh em, nơi Tom vẫn thường ngắm mấy con chuột nước, trong khi Maggie đi nhặt nhạnh bông lau tím để rồi sau đó lại chán và liệng bỏ hết đi – quyến rũ hơn hết là dòng sông Floss vĩ đại, mà hai anh em thường đi dạo dọc theo bờ với cảm giác của hai nhà thám hiểm, hoặc nhìn con nước Eagre hung hãn ùa vào như một hung thần, hay nhìn cây trần bì cổ thụ trước đây có lần phát ra những tiếng rên la như tiếng của người – tất cả những thứ đó không bao giờ thay đổi với hai anh em. Tom nghĩ tới những thiệt thòi mà dân chúng sống ở các nơi khác phải gánh chịu, còn Maggie khi đọc đoạn Christiana đi qua «con sông không một chiếc cầu», vẫn thấy con sông Floss chạy giữa những cánh đồng xanh, bên cạnh cây trần bì cổ thụ.
      Cuộc đời đã thay đổi đối với Tom và Maggie, tuy nhiên chúng không hề sai lầm khi tin rằng tư tưởng và tình thương của những năm thơ ấu này sẽ luôn luôn dính liền vào cuộc sống của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yêu thương đất đai nếu chúng ta không sống ở đó từ thuở nhỏ – nếu mảnh đất chúng ta đang ở, hàng năm vào mùa xuân không nở cho ta những nụ hoa mà chúng ta vẫn thường hái khi ngồi chơi trên cỏ; mùa thu, trên hàng rào cây, không thấy bóng dáng của nụ sơn trà và dã tường vi; và cũng không có những con chim họa mi cổ đỏ, vẫn được quen gọi là «loài chim của Thượng Đế» vì chúng không phá hại những hạt lúa quí báu của loài người.
      Khu rừng nhỏ mà tôi đang dạo bước trong một ngày đầu xuân, với những tàng xồi vàng thẩm nhô lên giữa trời xanh, với những nụ ngọc trâm trăng trắng và những cây huyền sâm hoa xanh, với những dây trường xuân bò sát dưới chân tôi – những rừng chà là nhiệt đới, những cây dương xỉ kỳ lạ, những nụ hoa cánh to rực rỡ, có bao giờ khơi dậy một xúc cảm thâm sâu và dịu dàng trong tôi như những cảnh ở quê nhà? Những nụ hoa quen thuộc đó, những tiếng hót không bao giờ quên được này cũng như khung trời rực rỡ kia, cùng những cánh đồng xanh và những luống cày – tất cả những thứ đó đều là ngôn ngữ riêng của trí tưởng ta, một thứ ngôn ngữ chứa đầy những giờ phút êm đềm thoáng qua trong thời thơ ấu. Sự sung sướng của chúng ta trong một ngày nắng ấm, trên một bãi cỏ êm đềm hôm nay có lẽ cũng không hơn gì sự nhận thức của những tâm hồn mệt mỏi, nếu những ngày nắng và bãi cỏ xanh của những năm xa xưa không còn sống ở trong ta và biến đổi sự nhận thức của chúng ta thành một thứ tình thương.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
6
 
ĐÃ TỚI MÙA PHỤC SINH, NHỮNG CHIẾC BÁNH bông lan của bà Tulliver hôm nay lại còn nhẹ hơn ngày thường nữa. 
      Chị người làm Keza tuyên bố:
      -     Một hơi gió thoảng cũng đủ làm mấy cái bánh của bà chủ bay phất phới như lông chim. 
      Chị rất hãnh diện được giúp việc cho một bà chủ khéo tay như vậy. Mọi việc đều tiến triển theo một chiều hướng thuận lợi cho một cuộc họp mặt gia đình sắp diễn ra để vấn ý hai bà Glegg và Pullet về việc gởi Tom đi học. 
      Bà Tulliver nói:
      -     Lần này tôi tính không mời dì Dean. Dì ấy hay ganh tị và hay tìm cách kể xấu mấy đứa con mình với các dì dượng chúng. 
      Ông Tulliver đáp:
      -     Đừng, đừng, cứ mời có sao đâu. Mấy lúc gần đây tôi không có dịp nói chuyện với dượng Dean, cũng đã gần nửa năm rồi. Dì ấy nói gì thì nói, để ý làm chi? Con tôi không cần mang ơn ai cả. 
      -     Ông cũng nói vậy sao, ông Tulliver? Có điều tôi chắc là bên họ hàng nhà ông sẽ chẳng có người nào để lại cho tụi nhỏ được tới năm bảng sau khi chết, nhưng chị Glegg và chị Pullet thì đang để dành tiền, không rõ bao nhiêu, họ đã dành hết lợi tức riêng và tiền bán phó mát của họ, chồng họ mua cho đủ thứ hết. 
      Bà Tulliver là người nhu hòa, nhưng ngay cả một con trừu cũng có thể nổi hung lên được khi nó đã có một đàn con. 
      -     Hừ! Mật ít ruồi nhiều. Một nhúm tiền của chị em bà mà có nghĩa lý gì khi họ có hàng tá cháu trai, cháu gái để chia chác? Và biết đâu cô em Dean của bà lại không xúi hai bà kia để hết tiền lại cho con dì ấy? Tôi chắc họ sẽ làm cho hàng xóm có dịp để dị nghị sau khi họ chết đi.
      -     Tôi không hiểu là còn có điều gì mà dì ấy không làm, vì lũ con của tôi bướng bỉnh với dì dượng của chúng quá. Maggie thì ngoan cố gấp mười lần thường lệ khi có mặt họ, còn thằng Tom thì chẳng ưa gì ai, tệ quá thôi – dầu gì đi nữa thì đó cũng là chuyện thường với con trai hơn là con gái. Con nhỏ Luck Dean mới nhu mì làm sao – ông để nó ngồi lên ghế là nó ngồi yên ở đây luôn cả giờ. Chẳng làm sao mà không thương được một con bé như nó, tôi chắc nó còn giống tôi hơn cả con gái của tôi nữa.
      -     Được, nếu bà thương con nhỏ đó thì càng nên mời cha mẹ nó dẫn nó theo. Và tại sao bà không mời vợ chồng dượng Moss luôn? Và vài đứa con của họ nữa?
      -     Kìa, ông Tulliver, tính ra đã có tám người rồi, không kể mấy đứa nhỏ. Ông cũng thừa biết chị em tôi và cô em ông đâu có hợp nhau.
      -     Thôi được, Bessy, bà cứ tùy ý lo liệu. 
      Ông Tulliver vừa nói vừa lấy nón đi ra nhà máy.
      Ít có bà vợ nào biết phục tùng chồng trên tất cả các phương diện - trừ phương diện liên hệ tới họ hàng mình - như bà Tulliver. Nhưng bà đã từng là một thiếu nữ Dodson, thật vậy, Dodson là một danh giá vọng tộc ở quê hương họ. Các cô Dodson lúc nào cũng nghĩ cách nâng cao danh giá của mình nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy hai người chị lớn rất kén chồng - họ không chịu kết hôn sớm, đó không phải là đường lối của dòng Dodson. Họ có một lối sống khác hẳn các gia đình khác: quần áo được giặt theo một phương pháp đặc biệt, họ cũng có một lối cất giữ rượu ngọc trâm, đùi heo múi được làm theo một lối riêng, họ cũng có một lối cất giữ rượu phúc bồn tửu gia truyền. Vì vậy, các cô gái của gia đình đó không khỏi thấy hãnh diện khi mình là một người mang họ Dodson thay vì Gibson hay Watson. Dòng họ Dodson cũng có những nghi thức tống táng riêng biệt: băng nón không được dùng màu xanh, găng tay không bao giờ chừa riêng ngón cái, phu đoàn phải mang khăn choàng cổ. Khi có một người trong họ gặp chuyện rắc rối hay đau yếu, tất cả những ai còn lại đều tới thăm người không may, thường là cùng một lúc. Một người đàn bà họ Dodson khi ở nhà một người lạ, chỉ luôn dùng bánh và trà, làm ngơ trước các loại mứt và nghi ngờ các loại bơ. Họ nghĩ biết đâu những món đó lại sắp lên men vì sên đường chưa tới hay nấu không đúng cách. Cũng có vài người Dodson hơi khác những người cùng họ một chút – điều này còn chấp nhận được, có «bà con» với nhau, dầu xa tới mấy đi nữa, cũng còn hơn là những người «không bà con» gì cả. Có điều đáng chú ý là các cá nhân Dodson không bằng lòng nhau lắm, họ chỉ bằng lòng với chính họ và tập thể Dodson thôi. Người yếu nhứt trong họ – kẻ không hội đủ các đặc tính Dodson – cũng vẫn là một cuốn toát yếu cho thói quen và truyền thống gia đình. Và bà Tulliver cũng là một người Dodson dầu chỉ là một người an hòa, tầm thường. Mặc dầu ngày xưa đã từng gánh chịu nhiều khổ sở bởi thái độ khắc nghiệt của hai người chị, bà cũng không phải là một người cấp tiến trong gia đình. Bà cảm thấy sung sướng vì mình là một người Dodson, và đã có một đứa con giống dòng họ của mình, ít ra nó cũng giống họ Dodson về dung mạo và cách suy luận, về tánh thích ăn muối và đậu, mà những ai trong họ Tulliver đều không bao giờ có. 
      Những đặc tánh khác của họ Dodson đều tìm ẩn trong Tom, tuy nhiên cũng không ưa gì «bà con» bên mẹ nó hơn Maggie. Tom vẫn thường vắng mặt trong những ngày biết có các dì dượng tới, đó là một triệu chứng tinh thần báo trước một tương lai đen tối của Tom, dì Glegg suy đoán vậy. Maggie vẫn rất khổ tâm vì Tom cứ bỏ trốn mà không bí mật báo trước với cô, nhưng cô bé cũng tự biết là không có quyền gây trở ngại cho những toan tính của anh.
      Một ngày trước hôm các dì dượng tới, khắp nhà đều tỏa hương ngào ngạt, mùi bánh nướng, mùi mứt hòa lẫn với mùi nước sốt, thật khó mà ngồi yên. Tom và Maggie xuống bếp không biết bao nhiêu lần, chúng đứng lóng nhóng cho tới khi nào được ăn mới chịu thôi.
      Maggie hỏi Tom khi hai anh em đang ngồi ăn bánh nhân mứt trên nhánh cây hương mộc:
      -     Anh Tom, ngày mai anh có trốn nữa không?
      Tom đã ăn xong cái bánh của mình, nhìn sang cái bánh thứ ba, phần chung của hai đứa, và chậm chạp trả lời:
      -     Không, tao không trốn đâu.
      -     Ủa, sao vậy? Tại có con Lucy tới hả?
      -     Không.
      Tom mở con dao xếp ra, đặt lên chiếc bánh, đầu ngoẹo sang một bên, có vẻ do dự (thật khó mà chia một cái bánh hình đa giác làm hai phần đều nhau). 
      -     Con Lucy thì ăn nhằm gì tao? Nó chỉ là một đứa con gái – nó không biết chơi trò đánh quần.
      Maggie chồm về hướng Tom, mắt vẫn không rời con dao:
      -     Bánh rượu phải không anh?
      -     Không phải, đồ ngu, tới mai mới có. Đây là bánh trái cây. Tao biết bánh trái cây làm bằng gì rồi – trái mơ cuốn lại – ồ!
      Cùng một lúc với tiếng kêu, lưỡi dao ấn xuống xắn cái bánh làm hai, nhưng kết quả có lố không làm Tom vừa ý, vì nó vẫn còn nhìn lại hai mẫu bánh với vẻ nghi ngờ. Sau cùng, nó bảo:
      -     Nhắm mắt lại, Maggie!
      -     Chi vậy?
      -     Đừng hỏi. Cứ nghe lời tao đi.
      Maggie vâng lời.
      -     Rồi đây, bây giờ mày chọn phần bên tay nào, phải hay trái?
      Maggie vẫn nhắm nghiền đôi mắt cho anh mình hài lòng:
      -     Và em sẽ có một phần bánh không mứt? 
      -     Sao nói vậy, đồ ngốc! Đúng ra thì mày sẽ không có mứt, nhưng tao sẽ chia ngang với mày. Bây giờ chọn đi, phải hay trái – Ê, nhắm mắt lại chớ nếu không là sẽ không có phần nào hết. 
      Maggie nhắm mắt lại cho tới khi nghe Tom nhắc lại câu hỏi mới trả lời:
      -     Tay trái.
      Giọng Tom hơi tiếc rẻ:
      -     Rồi, lấy đi.
      -     Ủa! Cái miếng không có mứt đâu?
      Tom quả quyết đưa phần bánh ngon nhứt cho Maggie:
      -     Không, đây nè, cầm đi.
      -     Ồ, không đâu, anh Tom – em thích miếng kia hơn, đưa em miếng đó đi.
      Tom hơi gắt:
      -     Không.
      Và nó bắt đầu ăn phần bánh của mình.
      Thấy có năn nỉ thêm cũng vô ích, Maggie ăn ngay phần bánh của mình. Nhưng Tom đã ăn hết trước, nó nhìn lên Maggie trong khi cô bé đang ăn những mẫu cuối cùng, cảm thấy thèm thuồng. Maggie không biết Tom đang nhìn mình, cô bé ngồi lắc lư trên nhánh hương mộc, nghĩ ngợi vẩn vơ.
      -     Đồ tham ăn!
      Câu mắng của Tom buông ra vừa vặn lúc Maggie cho mẫu bánh cuối cùng vào miệng. Cậu bé cho rằng mình đã xử sự rất công bằng, và nghĩ rằng Maggie phải để ý tới điều đó và phải đền bù cho đôi chút. Lúc nãy nó đã từ chối nhưng dĩ nhiên lần này lại có một ý nghĩa khác và đã có một phần bánh đã ăn xong.
      Maggie tái mặt, quay lại:
      -     Ồ, Tom, sao anh không hỏi em?
      -     Tao không thèm hỏi, đồ tham ăn. Đáng lẽ mày phải nghĩ tới chớ không đợi phải nhắc, nhứt là mày biết tao đã đưa mày miếng ngon nhứt. 
      Maggie khổ sở:
      -     Nhưng em đã nhường cho anh trước rồi mà.
      -     Phải, nhưng tao không tham lam như thằng Spouncer. Nếu mày không đánh nó là nó sẽ chia một phần nhỏ hơn, và nếu mày nhắm mắt lại và chọn đúng phần lớn thì nó sẽ đổi tay. Nhưng nếu tao chia thì tao phải chia đồng đều – vì tao không phải là đứa tham ăn.
      Dứt lời, Tom nhảy xuống đất, ném một hòn đá và gọi Yap – nãy giờ vẫn ngồi chực từ dưới nhìn lên, hai tai ve vẫy với vẻ thất vọng rõ rệt. Tuy nhiên, Yap cũng mau mắn đáp ứng lời gọi của Tom, chứng tỏ rằng mình lúc nào cũng là một thứ chó rộng lượng.
      Maggie vẫn ngồi yên trên nhánh cây, chìm đắm trong chua xót vì những lời khiển trách bất công. Đáng lẽ mình không nên ăn hết miếng bánh mà phải chừa cho Tom đôi chút. Nhưng Tom đã từ chối rồi kia mà – và mình đã ăn mà không nghĩ ngợi gi cả – làm sao nhớ tới chuyện đó được? Maggie khóc nức nở suốt mười phút sau, nước mắt ràn rụa khiến cô bé chẳng còn nhìn thấy gì chung quanh nữa. Nhưng rồi cơn giận lại bắt đầu nhường chỗ cho ý định hòa giải, Maggie nhảy xuống đất tìm anh. Tom không còn trong sân ngựa phía sau sân chứa rơm - có lẽ đã về nhà với Yap rồi. Maggie chạy tới bờ đất cao cạnh cây ô rô già, từ đó có thể quan sát được dòng sông Floss. Tom kìa, nhưng tim Maggie chợt thắt lại khi thấy là Tom đã đi quá xa về hướng bờ sông, và bên cạnh nó, ngoài Yap ra, còn có cả Bob Jakin một thằng bé nghịch ngợm trước đây được giao nhiệm vụ đuổi chim. Không hiểu tại sao Maggie lai đoán chắc Bob là một tên hung ác, có lẽ vì nó có một bà mẹ mập kinh khủng, sống trong một ngôi nhà tròn quái dị ở bờ sông. Có lần Maggie và Tom đi dạo ngang đó, bỗng một con chó nhảy xổ ra sủa dữ dội và khi bà mẹ của Bob từ trong nhà ra, kêu lớn là đừng sợ chó, Maggie đã hoảng vía vì tưởng bà ta hét với mình. Maggie tưởng tượng ngôi nhà tròn đó có rắn bò trên sàn nhà và có dơi bay trong phòng ngủ. Có lần cô đã thấy Bob giơ nón đưa cho Tom xem một con rắn nhỏ cuộn tròn bên trong, và lần khác, cô bé thấy nó cầm một nắm dơi con. Hơn nữa, Maggie có ác cảm với Bob Jakin vì khi Tom đi chơi với nó, Tom sẽ không nghĩ tới cô và không bao giờ cho cô theo.
      Phải thành thật nhìn nhận rằng, Tom rất thích đi chơi chung với Bob. Làm sao mà không thích được? Vừa nhìn thấy một cái trứng chim Bob đã biết ngay đó là trứng chim én, chim bạc má hay chim họa mi, Bob tìm tổ ong rất giỏi và biết đặt hầu hết các loại bẫy, nó có thể leo cây nhanh như sóc và còn có một năng khiếu huyền bí giúp khám phá được những ổ nhím hoặc chuột hương lông trắng, nó cũng có đủ can đảm để làm những việc quỉ quái như chui vào nhà người, lấy đá liệng cừu và cả việc giết chết một con mèo đi lạc nữa. Tất cả những đặc điểm đó đã mê hoặc được Tom, và mỗi ngày Tom đi chơi với Bob là cả một ngày u sầu của Maggie.
      Được! Chẳng còn hy vọng gì nữa, Tom đã đi chơi riêng, Maggie chỉ còn biết giải khuây bằng cách đi thơ thẩn dọc hàng rào cây và tưởng tượng một thế giới bé nhỏ theo ước muốn của cô.
      Cuộc đời của Maggie như gắn liền vào phiền muộn, và óc tưởng tượng chính là một thứ ma túy cho cô bé. 
      Trong khi đó, Tom đang vội vàng theo bước Jakin - kẻ vừa gặp tình cờ - tới xem cảnh bắt chuột ở một nông trại gần đó. Nó đã quên mất Maggie và bao nhiêu phiền muộn đã gây ra cho em. Bob rất thông thạo công việc đặc biệt này, nó tả cho Tom nghe một cách tường tận và nhiệt thành đến nỗi dầu là người dửng dưng hay hoàn toàn không biết gì về chuyện bất chuột cũng có thể hình dung ra được môn thể thao này. Dầu bị nghi ngờ là độc ác và bất bình thường, Bob trông cũng không đến nỗi hạ tiện lắm, gương mặt với chiếc mũi tẹt và mái tóc quăn đỏ của nó cũng có đôi nét khả ái. Nhưng quần của nó thì lúc nào cũng xăn lên qua gối để tiện lặn lội ở những chỗ xâm xấp nước, và đức hạnh của nó – giả sử là có – hiển nhiên là thứ «đức hạnh giẻ rách» rất khó nhận thấy (có lẽ vì quá ít).
       Bob nói bằng một giọng khàn và chát:
      -     Tôi biết một ông có nhiều chồn lắm.
      Mắt nó không lúc nào rời mặt sông, như một động vật lưỡng thể, hễ có động tịnh là phóng xuống nước ngay, nó nói:
      -     Người đó ở Kennel Yard, St. Ogg’s. Ổng đi bắt chuột khắp các nơi. Ít lâu nữa tôi cũng làm nghề bắt chuột, tôi chỉ thích cái nghề đó. Cái thứ chuột nhúi không ăn thua gì với chuột đồng. Mà Chúa ơi! Cần phải có chồn mới săn chuột được. Chớ không làm gì được đâu. Ủa! Có con chó này nữa!
      Bob khinh miệt chỉ Yap:
      -     Nó chẳng làm gì được đâu. Chính mắt tôi thấy – tôi đã có dự cuộc săn chuột ở trại của ba cậu. 
      Dường như hiểu được sự khinh bỉ của Bob, con Yap cụp đuôi, lùi vào chân chủ. Tom yếu ớt bênh vực:
      -     Yap không phải chó săn. Chừng nào học xong tao sẽ có nhiều chó săn thật cừ để săn chuột và các thứ khác. 
      Bob sốt sắng:
      -     Chồn của cậu Tom, loại chồn trắng mắt hồng. Chúa ơi, cậu sẽ tự tay bắt chuột, rồi cậu có thể nhốt chuột vào lòng chung với chồn để coi chúng cắn nhau. Tôi có làm rồi, vui ghê lắm. 
      Tom chậm rãi:
      -     Loại chồn là thứ hay cắn xé - khỏi cần xúi chúng cũng cắn lẫn nhau.
      -     Ủa, đó mới là cái hay của chúng...
      Ngay lúc đó bỗng có tiếng động làm hai cậu bé dừng sững lại. Một vật gì đó vừa nhào xuống nước từ giữa bụi đăng tâm thảo. Bob quả quyết đó là một con chuột nước.
      -     Ê, Yap! Nó kìa Yap!
      Tom vừa vỗ tay vừa gọi Yap khi thấy một cái mõm đen đủi đang rẻ nước tiến sang bờ bên kia. 
      -     Rượt nó, cưng, rượt nó!
      Yap phe phẩy hai tay và nhăn trán, nhưng không chịu phóng xuống nước mà chỉ sủa ầm ỉ như cố gắng đáp ứng phần nào lời kêu gọi của chủ.
      -     Hừ, đồ chết nhát!
      Tức quá, Tom đá con Yap một cái và cảm thấy xấu hổ như một thợ săn gặp phải con chó quá tối. Bob tránh bình luận về Yap mà chỉ lần mò bước xuống chỗ nước cạn gần bờ sông. Nó khoan khoái đá nước tung tóe trước mặt và nói:
      -     Sông này vẫn còn cạn, sông Floss cũng vậy. Năm ngoái, các ruộng lúa đều phủ một màn nước. 
      Là kẻ có khuynh hướng thấy sự tương phản giữa những lời phát biểu, thật ra, hoàn toàn phù hợp của người khác, Tom cãi:
      -     Nhưng đã có lần vùng này bị lụt lớn, lần có cái Vũng Tròn đó. Tao biết vì tao nghe ba tao kể lại. Bò cừu gì cũng chết đuối hết, thuyền bè có thể đi lại khắp nơi trên đồng cỏ. 
      -     Tôi không sợ nước lụt, tôi coi nước cũng như đất. Tôi biết lội mà.
      -     À, nhưng nếu ngày này qua ngày kia mày không có gì ăn?
      Óc tưởng tượng của Tom bắt đầu hoạt động mạnh:
      -     Chừng nào lớn lên, tao sẽ làm một chiếc thuyền thật to trên nóc có một căn nhà gỗ, như con thuyền của Nô ê rồi chất đầy thức ăn lên đó - thỏ và các thứ khác – tất cả đều chuẩn bị sẵn sàng. Và khi nước dâng, mày thấy không Bob, tao chẳng lo gì cả... Và bắt gặp mày bơi, tao sẽ cho mày lên. 
      Tom thêm câu chót bằng một giọng kẻ cả. Nhưng đối với Bob đói kém không phải là một tai nạn lớn lao.
      -     Tôi không sợ, nhưng nếu cậu muốn ăn thịt thỏ, tôi sẽ lên thuyền đập đầu chúng cho.
      -     À, tao còn mấy đồng nửa xu, tụi mình chơi trò sấp – ngữa đi.
      Tom đề nghị mà không nghĩ rằng đó là một trò chơi có lẽ không còn đủ sức quyến rũ nó vào cái tuổi thành thạo này nữa.
      -     Tao sẽ chia đều ra rồi coi thử ai thắng.
      Bob hãnh diện:
      -     Tôi có nửa a xu nè.
      Nó bước lên bờ và ném đồng nửa xu của nó lên không.
      -     Sấp ngữa?
      Tom hăm hở:
      -     Sấp.
      -     Ngữa. 
      Vừa nói, Bob vừa cúi xuống chụp lẹ đồng xu.
      Tom kêu lên:
      -     Không phải Ngữa, đưa đồng xu cho tao – tao ăn mày rồi.
      Bob giữ chặt đồng xu trong túi:
      -     Không.
      -     Vậy thì mày sẽ biết...
      -     Cậu không được ép buộc tôi.
      -     Tao làm được.
      -     Không.
      -     Tao là chủ mày.
      -     Cóc cần.
      Tom nắm cổ Bob, lay mạnh:
      -     Nhưng tao làm được, đồ xảo trá.
      Bob đá Tom:
      -     Cút ngay!
      Tom sôi máu, nó chồm tới xô thằng bé bắt chuột, nhưng Bob đã ôm cứng lấy nó, và hai đứa cùng ngã. Chứng vật lộn dữ dội một lúc rồi Tom đè được hai vai của Bob, hỗn hển:
      -     Bây giờ mày nói là mày đưa đồng xu cho tao đi.
      Nhưng ngay lúc đó con Yap – từ nãy giờ chạy thơ thẩn phía trước – bỗng quay trở lại sủa inh ỏi, chợt thấy một dịp may bằng vàng để đớp cái chân trần của Bob, chẳng những không bị trừng phạt mà lại còn được chủ khen. Cái đớp của Yap thay vì làm Bob khuất phục lại càng khiến nó hung hăng hơn và như có một sức mạnh mới, nó đẩy Tom ngã ngữa và leo lên trên. Nhưng Yap, sau khi thấy cú đầu tiên không có kết quả – lại cắn hai hàng răng vào chỗ khác. Bị quấy nhiễu liên miên, Bob tức giận buông Tom ra, tóm cổ Yap và ném xuống sông. Tom chổi dậy và nhân cơ hội Bob còn lảo đảo vì cử động liệng Yap, nhảy xổ tới, đè Bob xuống và ấn mạnh hai đầu gối lên ngực thằng bé. 
      -     Bây giờ đưa cho tao đồng xu đó.
      Bob rầu rĩ:
      -     Mày lấy đi.
      -     Không, tao không lấy, mày đưa cho tao.
      Bob móc đồng nửa xu trong túi, ném ra xa. 
      Tom buông Bob ra:
      -     Đó là tiền xảo trá. Tao không thèm tiền của mày, tao không muốn lấy. Tại mày lường gạt tao, tao ghét mấy thằng gian xảo lắm, tao không đi chơi với mày nữa đâu.
      Tom quay về, không hối tiếc vì đã lỡ một dịp coi săn chuột và bỏ cả những thú vui bên cạnh Bob. 
      Bob gạo theo:
      -     Mặc kệ mày! Tao cứ ăn gian nếu tao khoái, vậy mới vui. Tao còn biết ở đâu có tổ chim kim oanh, mày đâu có biết... Mày là một con gà đá khốn kiếp, mày là...
      Tom vẫn đi, không buồn nhìn lại, và con Yap cũng vậy, nước sông lạnh đã làm nó bớt hăng. 
      -     Mày cút đi cho khuất mắt tao, cái con chó chết chìm của mày nữa. Tao không bao giờ có một con chó như vậy.
      Bob gào lớn thêm, với cố gắng làm Tom chú ý. Nhưng Tom vẫn không quay đầu lại. Giọng Bob nhỏ dần:
      -     Và tao sẽ không cho mày cái gì hết, cũng không thèm của mày bất cứ gì... Đây là con dao cán sừng của mày cho tao...
      Bob lấy hết sức ném con dao theo Tom. Nhưng cũng chẳng có kết quả gì, ngoại trừ một cảm giác trống rỗng kinh khủng bao quanh, bây giờ con dao cũng không còn.
      Bob đứng im lìm cho tới khi Tom qua cổng và mất dạng phía sau rào. Con dao vẫn còn nằm trơ trọi trên mặt đất – nó chẳng chọc tức được Tom, và lòng tự ái hay căm hờn cũng chẳng có nghĩa gì với sự mê say dao của Bob. Thằng bé bước tới chỗ con dao và cảm thấy tràn trề sung sướng khi nắm lại trong tay cái cán sừng nai xù xì quen thuộc, sau một vài phút cách xa. Nó mở cả hai lưỡi dao và khoan khoái lướt ngón cái chai cứng lên. Tội nghiệp Bob! Nó chẳng có một ý niệm nào về danh dự cũng như anh hùng tính, những đức tính cao quí đó rất ít được các người ở Kenneth Yard – tâm điểm thế giới của Bob – nghĩ ngợi đến. Dầu vậy, Bob cũng không hẳn là một đứa hèn hay một tên ăn cắp như Tom đã khăng khăng cả quyết.
      Có điều là Tom, lại nghiêm khắc như một ông thần công lý nơi địa ngục - thứ công lý chủ trương hành hạ tội nhân tới mức tối đa của hình phạt đang phải nhận lãnh. Thấy mặt Tom sa sầm khi về nhà, Maggie phải kềm hãm sự vui mừng của mình vì anh đã về sớm hơn dự liệu. Cô bé không dám hỏi han trong khi Tom đứng lầm lì ném sỏi xuống đập nước của nhà mày xay. Bỏ một dịp săn chuột sau khi đã sửa soạn đầy đủ không phải là một chuyện dễ dàng. Nhưng nếu cần phải nói cảm tưởng của mình ngay lúc đó, Tom sẽ nói «Ta cũng sẽ cứ làm như vậy». Đó là quan điểm cứng khư của nó mỗi khi xét lại những hành động đã qua, còn Maggie thì cứ luôn hối tiếc là phải chi lúc đó mình đừng làm như vậy.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
7
 
QUẢ THẬT GIA ĐÌNH DODSON GỒM TOÀN những phụ nữ có nhan sắc mặn mà mà bà Glegg không phải là người kém cỏi nhứt trong các chị em. Ngay như bà ngồi trong chiếc ghế bành của nhà Tulliver, không một quan sát viên vô tư nào có thể chối cải rằng với số tuổi năm mươi, gương mặt và dáng người của bà vẫn còn thật đẹp - nhưng Tom và Maggie thì lại coi bà dì của chúng là một mẫu người xấu xí. Thật ra, bà Glegg khinh thường sư phô trương quần áo - mặc dầu theo nhận xét của bà, chẳng một người đàn bà nào ăn mặc coi cho được - nên bà chỉ ăn mặc quần áo mới khi nào quần áo cũ đã thật sự không còn dùng được nữa. Những người đàn bà khác, nếu muốn, có thể giặt các bộ ren của họ để dùng lại, nhưng khi bà Glegg chết, người ta sẽ thấy số ren trong ngăn tủ áo bên phải của bà con nhiều hơn cả số ren mà Wooll ở St. Oggs mua cả một đời, dầu bà Wooll vẫn dùng ren mua chịu. Tóc giả cũng vậy, bà Glegg có rất nhiều, từ những bộ quăn và óng mượt cho tới những bộ dợn sóng và mềm hạng trung bình. Nhưng vào ngày thường, bà vẫn ra ngoài với bộ tóc giả ưng ý vào hạng thứ ba của mình khi đi thăm viếng xã giao, nhưng chẳng bao giờ bà mang bộ tóc đó tới nhà các em, nhứt là bà Tulliver. Từ khi có chồng, bà Tulliver đã làm cho chị em xấu hổ vì không chịu mang tóc giả. Theo nhận xét của bà Glegg với bà Dean thì một người chồng hay tranh tụng như ông Tulliver thì bà Bessy đáng lẽ phải hiểu biết nhiều. Nhưng Bessy thì lúc nào cũng yếu đuối!
      Vì vậy, nếu bộ tóc giả của bà Glegg hôm nay ít dợn sóng hơn thường lệ là vì bà có ý riêng: bà muốn bóng gió chỉ trích mái tóc vàng tự nhiên của bà Tulliver. Bà Tulliver đã chịu nhiều khổ sở vì thái độ khắt khe của chị mình. Bà Glegg đội nón trong nhà – chiếc nón không buộc dây và hơi lệch – bà vẫn thường đội như vậy khi đi thăm viếng hay đang lúc bực mình: sợ bị trúng gió trong các ngôi nhà lạ. Cũng vì lý do đó, bà còn mang thêm một chiếc khăn choàng cổ bằng lông chồn đen. Phải là người am hiểu về thời trang mới biết rằng cái áo lụa đen của bà Glegg được may từ thời nào, nhưng với những đốm vàng nhỏ li ti và mùi ẩm mốc thoang thoảng của nó, đã được cất giữ trong tủ khá lâu.  
      Cầm một cái đồng hồ, bà Glegg thông báo cho bà Tulliver, vừa từ dưới bếp lên, rằng đã gần mười hai giờ rưởi rồi.
      Bà tiếp:
      -     Mấy lúc sau này không hiểu dì Pullet ra làm sao nữa. Chị em chúng mình vẫn có lệ tới cùng một lúc – thời ba còn sống cũng vậy – không khi nào có tình trạng người này phải chờ người kia cả nửa tiếng đồng hồ. Nhưng nếu truyền thống gia đình bị phai lạt thì cũng không phải lỗi tại tôi. Tôi sẽ không bao giờ là người tới quá trễ. Tôi cũng ngạc nhiên cho dì Dean – dì ấy giống tôi nhứt. Nhưng nếu dì nghe tôi, Bessy, dì sẽ dọn ăn sớm hơn một chút, thà sớm còn hơn là trì hoãn.
      -     Ồ, nhưng chắc họ sẽ tới kịp mà tới một giờ rưỡi mới nấu nướng xong. Nhưng nếu chị không muốn chờ lâu thì để tôi dọn bánh phó mát và rượu chát ra.
      Bà Glegg lắc đầu, cười chua chát:
      -     Kìa, dì Bessy! Tôi tưởng dì hiểu tánh chị ruột của dì hơn ai hết chớ. Tôi có bao giờ ăn vào giữa hai bữa đâu, chẳng lẽ cho tới bây giờ tôi lại phải tập cái thói đó?
      -     Ồ, chị Jane, tôi biết làm sao bây giờ? Ông Tulliver không thích ăn trước hai giờ, nhưng tôi đã cho dọn sớm hơn nữa giờ là vì chị.
      -     Phải, phải, tôi biết rõ các ông lắm – họ trì hoãn đủ các thứ – họ sẽ đổi giờ ăn lại cho tới khi dùng trà xong, nếu họ có được một bà vợ quá yếu đuối. Tôi tội nghiệp cho dì lắm, Bessy, vì dì không tự chủ được gì cả. Tôi cũng mong rằng dì đừng cho chúng tôi ăn thịnh soạn quá – không nên vì chị em mà phí tiền tốn của. Hơn nữa dì còn hai đứa con nhỏ phải nuôi, dượng ấy thì cứ tiêu pha tiền của dì trong việc kiện tụng và hình như cả lợi tức của dượng ấy nữa. 
      Trong tình trang này, buổi họp mắt sắp tới sẽ không được vui lắm. Bà Tulliver không bao giờ muốn kéo dài cuộc đấu khẩu, nhưng đây không phải là một vấn đề mới, vì vậy bà Tulliver lại sử dụng câu trả lời của những lần qua:
      -     Ông Tulliver bảo rằng ông sẽ đãi đằng bạn bè hậu hỉ hơn nếu ổng có đủ tiền trang trải. Và thưa chị, ông nhà tôi có toàn quyền hành động trong ngôi nhà của ông, phải không, thưa chị?
      -     Phải, Bessy, tôi không thể bỏ sót tên các con của dì trong bản di chúc của tôi. Nhưng dì đừng mong đợi một đồng nào của ông Glegg vì có lẽ tôi sẽ chết trước ông ấy, và nếu ông ấy chết trước tôi, ông sẽ gói ghém hết tiền bạc gởi về cho bà con của ông. 
      Tiếng bánh xe vang lên ngoài ngõ trong lúc bà Glegg đang nói, làm bà Tulliver vô cùng mừng rỡ. Bà vội vàng chạy ra đón bà chị Pullet - chắc phải là bà Pullet, vì rõ ràng là tiếng xe bốn bánh.
      Bà Glegg lắc đầu khó chịu khi nghĩ đến chiếc xe bốn bánh của bà Pullet. 
      Bà Pullet đang khóc khi cỗ xe dừng lại trước cửa nhà, và hình như bà còn phải nhỏ thêm vài giọt nước mắt nữa trước khi bước xuống, dầu ông Pullet và bà Tulliver đang đứng chực sẵn để đỡ bà. Thế nhưng bà vẫn ngồi yên và buồn bã lắc đầu, nhìn qua màn nước mắt về một hướng xa xăm nào đó.
      Bà Tulliver ngạc nhiên:
      -     Chuyện gì vậy chị?
      Bà Tulliver không phải là người giàu tưởng tượng, nhưng cũng đoán thầm là tấm kiếng trang điểm khổng lồ trong phòng ngủ sang trọng của bà chị mình vừa bể lần thứ hai.
      Bà Pullet im lim đứng lên và bước xuống xe, không buồn liếc qua ông Pullet đang nâng vạt áo lụa đắt tiền của mình cho đừng chạm đất. Ông Pullet, một người nhỏ thó, mũi cao, mắt sáng nhỏ, môi mỏng, trong bộ quần áo đen mới toanh với chiếc cà vát trắng thắt hơi siết. Bên cạnh bà vợ xinh đẹp mặc áo tay phồng, khoác áo choàng dày, đội nón rộng vành có cắm lông và thắt nơ, trông ông giống như một chiếc ghe chài nép mình bên một con tàu đánh cá hai buồm.
      Thật là một cảnh tượng dễ gây cảm động – cạnh một người đàn bà ăn mặc sang trọng và hợp thời trang đang gặp cơn phiền muộn. Từ nỗi buồn của một người Hottentot (Phi Châu) tới nỗi buồn của một người đàn bà mặc áo tay phồng, tay đeo vòng vàng, đầu đội nón thắt nơ sang trọng, thật hoàn toàn cách biệt nhau. 
      Hai đầu vai áo của bà Pullet phớt nhẹ vào thành cửa khi bà bước vào nhà (vào thời đó, người đàn bà nào không có vai áo rộng trên một thước bốn mươi sẽ bị coi là quê mùa). Bà dừng lại vận dụng bắp thịt mặt để vắt thêm vài giọt lệ nữa trước khi vào gặp bà chị Glegg đang ngồi đợi.
      Khi hai người bắt tay nhau, bà Glegg hỏi cộc lốc:
      -     Dì tới trễ, có chuyện gì vậy?
      Bà Pullet ngồi xuống - cẩn thận kéo vạt áo lên trước khi trả lời:
      -     Chết rồi!
      «Thì ra không phải bể kiếng», bà Tulliver nghĩ. 
      Bà Pullet tiếp:
      -     Chết hôm qua. Chân của bà ấy to bằng cả người tôi, họ rút nước liên miên – nước nhiều khủng khiếp. 
      Bà Glegg nói giọng quả quyết:
      -     Vậy thì cái bà nào đó cũng nên mừng vì đã được chết, nhưng tôi nghĩ mãi không ra cái người mà dì Sophy nói đó là ai.
      Bà Pullet lắc đầu thở dài:
      -     Nhưng tôi biết, đó là bà cụ Sutton ở Twentylands.
      -     Ủa, bà ta đâu có họ hàng với dì đâu?
      Bà Glegg chỉ khóc khi có chuyện gì xảy ra cho «bà con» của bà và chỉ khóc đúng mức tùy trường hợp, tùy người. 
      -     Bà Sutton cũng là người giao thiệp rộng, tôi biết thế lúc tới thăm bà ta bị phù thủng... Lợi tức của bà ta nhiều lắm, ba tự tay quản trị tài sản tới phút chót, luôn luôn giữ bóp tiền và chìa khóa dưới gối. Tôi dám chắc ít có người đàn bà nào như bà ấy.
      Ông Pullet chen vào:
      -     Người ta còn bảo là trước đó bà ta khỏe mạnh lắm.
      Bà Pullet lại thở dài, thiểu não:
      -     Phải, trước kia bà ta chẳng hề đau yếu gì cả, mấy ông bác sĩ cũng không làm sao hiểu nổi. Bà ta nói khi tôi tới thăm vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua «Bà Pullet, bao giờ bà bị phù thủng, bà sẽ nghĩ tới tôi».    
      Rồi bà bắt đầu thổn thức:
      -     Bà ấy đã nói như vậy. Đám tang sẽ cử hành thứ bảy này, và gia đình tôi đã được lời mời đưa tiễn.
      Không chịu đựng được nữa, bà Glegg kêu lên:
      -     Sophy, Sophy, dì làm tôi ngạc nhiên quá, dì tự hủy hoại sức khỏe vì người dưng nước lã. Ba của chúng ta ngày xưa đâu có vậy, cả dì Frances nữa và tôi có nghe người nào trong họ chúng ta làm vậy đâu. Dì còn có thể buồn nhiều hơn bây giờ nữa nếu ông anh họ Abbott của chúng ta chết bất thình lình không kịp làm di chúc.
      Bà Pullet ngừng khóc, lộ vẻ khoan khoái hơn là bất mãn khi bị rầy rà. Không phải ai cũng có thể khóc lóc thương cảm cho người lối xóm của mình một cách tận tình như vậy được, nhất là khi người đó chẳng để lại cho mình một cái gì. Nhưng bà Pullet đã kết hôn với một đại điền chủ nên thừa tiền và thì giờ để thương vai khóc mướn và tập tành xử sự theo giới thượng lưu.
      Ông Pullet cảm thấy cần phải nói cái gì đó, yểm trợ cho những giọt nước mắt của vợ mình:
      -     Bà Sutton cũng chết đi mà chẳng để lại tờ di chúc nào, chúng ta đều là người có tiền bạc, nhưng người ta bảo rằng không ai có thể để lại hàng vạn bạc như bà Sutton cả. Vậy mà bà ấy chẳng để lại một tờ di tặng nào - hay nói đúng hơn - là bà ấy đã để hết của cải lại cho người cháu trai của ông Sutton.
      Bà Glegg nói:
      -     Nếu chết đi mà chẳng còn ai để trao lại của cải ngoài một người bà con bên chồng, thì có giàu sang tới mấy cũng không vui.
      -     Tôi cũng nghĩ vậy. 
      Bà Pullet đã bình tĩnh lại, vừa nói vừa tháo khăn trùm đầu ra và cẩn thận xếp lại trước khi tiếp:
      -     Người được hưởng gia tài của bà Sutton thật là một người thanh nhã. Ông ta bị suyển và ngày nào cũng phải đi ngủ lúc tám giờ. Ông ta đã từng tâm sự với tôi – thành thật và cởi mở – nhân một dịp tới dự thánh lễ ở nhà thờ giáo khu chúng tôi. Ông ta che ngực bằng một tấm da thỏ và giọng nói hơi rung – đúng là một người thanh nhã. Tôi cũng cho ông biết là không tháng nào mà tôi không mời bác sĩ khám binh. Và ông ta nói: «Thưa bà Pullet, tôi rất thông cảm với bà» - Đó, ông ta đã nói y như vậy – hay làm sao!
      Bà Pullet lại thở dài sườn sượt khi nghĩ tới những chai thuốc nước màu hồng, màu trắng, thuốc mạnh trong chai nhỏ, thuốc nhẹ trong chai lớn, trái gió trở trời một chút là tốn tiền thuốc men ngay. Bà quay sang chồng:
      -     Có lẽ tôi phải đi cất nón, ông thấy hộp nón để đâu không?
      Biết bà Glegg sắp sửa rầy rà về chuyện thuốc men của Sophy, bà Tulliver vội vã kiểm cách thối thoát:
      -     Ở trên lầu, chị Sophy để em dẫn chị lên.
      Trong số chị em, bà Tulliver thích bà Pullet nhứt, thích không phải vì được giúp đỡ nhiều; nhưng bà Pullet thì lại không bằng lòng tánh tình của Tom và Maggie. Bà Tulliver đã cố gắng hết sức nhưng không làm sao cho chúng ngoan ngoãn như con của bà Dean được. Về phần Tom và Maggie, chúng cho rằng bà Pullet còn có thể khoan thứ được, phần lớn chỉ vì bà không thể là bà Glegg. Tom chỉ chịu tới thăm các dì, dượng, mỗi nơi một lần đúng vào dịp hè, dĩ nhiên lần nào nó cũng được các dượng cho tiền, nhưng dưới hầm nhà dì Pullet có rất nhiều cóc để chơi đùa, do đó nó thích tới chơi nhà dì hơn. Maggie rất sợ cóc và vẫn thường gặp ác mộng vì chúng, nhưng cô bé lại thích nghe hộp nhạc của dượng Pullet. Tất cả các chị em Dodson đều đồng ý - lúc không có mặt bà Tulliver - rằng dòng máu Tulliver không thể hòa hợp với dòng máu Dodson. Thật vậy, mấy đứa con của Bessy đều mang đặc sệt tánh chất Tulliver và Tom, dầu có màu da của họ Dodson, cũng vẫn «ương ngạnh» y như cha nó. Còn Maggie thì giống hệt cô Moss, em ông Tulliver - một người đàn bà mảnh khảnh, đã lấy phải một ông chồng nghèo kiết xác, chẳng có món đồ nào đáng giá trong nhà và phải làm việc quần quật ngày này qua ngày nọ để kiếm tiền trả nợ. Nhưng khi chỉ có hai bà Pullet và Tulliver ở trên lầu thì những lời phê bình lại tiến triển theo một chiều hướng không mấy thuận lợi cho bà Glegg, và cả hai bà cùng đồng ý ở một điểm là không biết rồi đây chị Jane còn khó tánh tới mức nào. Những cuộc đàm luận riêng tư của họ đã phải tạm gián đoạn vì bà Deane và cô bé Lucy vừa tới. Bà Tulliver buồn thảm khi nhìn những lọn tóc vàng chỉnh tề của Lucy. Điều lạ là bà Deane, người gầy guộc và nước da xanh tái hơn tất cả các chị em Dodson, lại có một đứa con xinh xắn. Còn Maggie thì trông đen đúa gấp đôi ngày thường khi đứng cạnh Lucy. 
      Và hôm nay cô bé trông cũng đen như vậy khi cùng cha, dượng Glegg và Tom từ ngoài vườn trở vào nhà. Maggie đã liệng mất nón ở một chỗ nào đó mái tóc rối bù lên. Cô bé chạy ùa tới Lucy ngay. Hai chị em trông khác hẳn nhau, đối với những con mắt nông nổi thì Maggie có vẻ xấu xí hơn nhiều. Hai cô bé khác hẳn nhau như một con chó lông đen cứng khỏe mạnh khác xa với một con mèo lông trắng. Lucy chìa đôi môi nhỏ, mịn như một đóa hồng cho chị hôn, ở Lucy cái gì trông cũng có vẻ cân đối và xinh xắn cổ thon với một vòng san hô, mũi nhỏ và cao, mày nhỏ và sắc trông thật xứng hợp với đôi mắt mơ màng đang rụt rè nhin lên người chị họ. Maggie cao hơn cô em họ một cái đầu, dầu chỉ lớn hơn một tuổi. Maggie vẫn thường thích thú nhìn Lucy, cô tưởng tượng ra một thế giới gồm toàn những người tí hon, và cô là nữ hoàng của họ với chiếc vương miện và cây huyền trượng bé nhỏ... nhưng chỉ là nữ hoàng Maggie với hình dáng của Lucy. 
      Sau khi hôn Lucy, Maggie rối rít:
      -     Lucy, em sẽ ở lại chơi với chị và anh Tom, phải không kìa, hôn Lucy đi anh Tom.
      Tom bước tới, nhưng không hôn Lucy – không, mà chỉ đỏ mặt, bối rối mỉm cười, rõ ràng là thái độ thông thường của tất cả các cậu bé rụt rè đang ở giữa một cuộc họp.
      Bà Glegg bất bình, nói lớn:
      -     Ủa, trẻ con bây giờ vào phòng mà không chào hỏi các dì và dượng của chúng nữa sao? Ngày xưa tôi đâu có vậy.
      Bà Tulliver gọi:
      -     Tới chào các dì dượng đi.
      Bà lộ hẳn nét lo âu và buồn thảm, chỉ muốn bảo nhỏ Maggie đi chải tóc lại cho thật gọn gàng.
      Giọng bà Glegg lại oang oang:
      -     Tốt, dì mong rằng các cháu đều là những đứa ngoan.
      Vừa nói, bà vừa nắm tay chúng, mấy chiếc nhẫn kịch cộm của bà làm chúng đau tay. Bà hôn lên má chúng:
      -     Ngước đầu lên, Tom, con trai đã tới tuổi đi học nội trú phải biết ngước mặt lên. Vén tóc ra sau tai đi, Maggie, giữ cổ áo cho ngay thẳng.
      Bà Glegg vẫn thường gằn giọng như vậy khi nói chuyện với lũ nhỏ, làm như chúng toàn là những đứa điếc hay ngốc nghếch. Bà nghỉ rằng với cách đối xử như vậy, bà sẽ làm cho chúng cảm thấy chúng có tội, và sẽ giúp kềm chế tánh hư hỏng lại. Mấy đứa con của Bessy được nuông chiều thái quá cần có người làm cho chúng rõ được bổn phận cháu con.
      Bà Pullet thì lại khác:
      -     Các cháu của dì giỏi lắm. Các cháu mau lớn quá. 
      Rồi làm ra điệu buồn buồn, bà nhìn lại mẹ chúng:
      -     Con nhỏ có nhiều tóc quá. Tôi mà như dì là tôi sẽ tỉa mỏng và cắt ngắn bớt đi, để vậy có hại cho sức khỏe của nó lắm. Nếu tôi không lầm thì có lẽ vì vậy mà nước da của nó quá đen, phải không dì Deane?
      Bà Deane mím môi và nghiêm khắc nhìn Maggie:
      -     Tôi không nói có lẽ, mà chắc chắn là vậy.
      Ông Tulliver xen vào:
      -     Không, không, con nhỏ, con nhỏ vẫn như thường – chẳng có triệu chứng bệnh hoạn nào cả. Cũng lúa mì có thứ nâu thứ trắng, và có người lại thích lúa nâu hơn. Nhưng tôi thấy Bessy cũng nên cắt tóc ngắn cho nó để được gọn gàng hơn. 
      Một quyết định ghê gớm lóe ra trong đầu Maggie, nhưng cô bé liền dẹp qua một bên để hỏi xem dì Deane có để Lucy ở lại chơi không. Sau vài lời từ chối khéo, bà Deane quay sang gọi Lucy:
      -     Con có muốn ở lại chơi vài ngày mà không có má không, Lucy? 
      Lucy đỏ bừng mặt, ấp úng: 
      -     Dạ muốn.
      Ông Deane can thiệp: 
      -     Được rồi, cứ cho nó ở lại đi. 
      Thân phụ của Lucy là một người dềnh dàng nhưng lanh lợi, với một gương mặt có thể tìm thấy trong khắp các giai tầng xã hội Anh - đầu sói, râu đỏ, trán cao, dáng dấp gọn gàng. Người ta có thể trông thấy một nhà quý phái giống hệt như ông Deane cũng như có thể gặp một người bán tiệm hay một công nhân lương ngày chẳng khác gì ông ta. Nhưng có lẽ ít người nào có được đôi mắt nâu sắc bén như ông, không một người đàn ông nào ở St. Ogg’s được trọng vọng bằng ông, và có một số người cũng đồng ý rằng cô Susan Dodson - người trước đây đã lấy chồng bất xứng nhứt trong các chị - một ngày kia sẽ có xe nhà và sang trọng hơn chị Pullet nữa. Hiện thời, ông Deane đang có chân trong ban quản trị một nhà máy lớn, một hãng tàu với sự yểm trợ của một ngân hàng, người ta không hiểu rồi đây ông ta sẽ còn đi lên tới tận đâu. 
      Ngay khi chuyện cho Lucy ở lại được dàn xếp xong, bà Tulliver vẫy tay gọi Maggie và bảo nhỏ:
      -     Maggie, đi chải đầu lại đi – lẹ lên, xấu hổ quá. Má đã dặn con là hãy tới gặp chị Martha trước khi vào phòng khách mà.
      Lúc đi ngang Tom, Maggie kéo tay áo anh, thì thầm:
      -     Anh Tom đi với em.
      Tom đi theo ngay, không một chút do dự.
      Ra tới cửa, Maggie nói nhỏ:
      -     Lên lầu với em nghe. Em muốn làm xong chuyện này trước khi ăn.
      Chẳng mong gì hơn là tới bữa ăn, Tom đáp:
      -     Không đủ thì giờ để chơi trò gì đâu.
      -     Đủ mà, cái này không mất thì giờ đâu, đi với em đi, anh!
      Tom theo Maggie đi lên lầu vào phòng riêng của mẹ. Cô bé đi ngay lại tủ vật dụng, lấy ra một cây kéo lớn. 
      Tom ngạc nhiên:          
      -     Lấy kéo làm gì vậy, Maggie?
      Maggie trả lời bằng một phát kéo cắt ngang khoanh tóc nơi giữa trán. Tom trố mắt:
      -     Trời đất ơi, mày bị đòn cho coi. Thôi đừng cắt thêm nữa.
      Soạt. Lưỡi kéo lại nhấp thêm một nhát nữa trong khi Tom nói. Chẳng hiểu vì sao thằng bé bỗng thấy vui vui, có lẽ tại Maggie trông dễ tức cười.
      Bị kích thích bởi sự liều lĩnh của chính mình và cũng mong muốn làm xong công việc cho mau, Maggie bảo:
      -     Nè, Tom, cắt mớ tóc phía sau cho em đi.
      Tom ngần ngại cầm chiếc kéo:
      -     Thế nào mày cũng bị đòn.
      Maggie dậm chân:
      -     Không sao – mau lên!
      Mớ tóc thật đen và dày – không gì quyến rũ bằng một tiếng soạt ngon lành, một tiếng rồi tiếng nữa, mái tóc nặng nề rớt xuống sàn nhà. Maggie đứng im với mái tóc ngắn, lởm chởm, nhưng lại có cảm giác trống trải và tự do như từ một khu rừng rậm chui ra một cánh đồng bằng.
      Tom vừa cười vừa nhảy nhót chung quanh em:
      -     Ồ, Maggie, trông mày tức cười quá! Mày soi kiếng thử coi -  giống y như thằng khùng thường bị tụi tao ném vỏ hồ đào ở trường.
      Maggie bỗng cảm thấy hối tiếc. Cô bé chỉ có ý định thoát khỏi mái tóc đã gây nhiều phiền phức cho mình và sự chiến thắng của mình trước mẹ và các dì nhờ hành động táo bạo này. Maggie không mong ước làm cho mái tóc mình đẹp ra – đây là một cuộc vượt ra ngoài khả năng – cô bé chỉ muốn chứng tỏ cho mọi người thấy mình là một đứa bé gái thông mình mà đừng chỉ trích, rầy rà thêm nữa. Nhưng bây giờ, khi Tom đã cười ngạo và bảo cô giống một thằng khùng, câu chuyện lại chuyển sang một chiều hướng mới. Maggie nhìn vào kiếng, gương mặt đỏ hồng từ từ tái lại, môi run run.
      Tom cũng đâm lo:
      -     Maggie, sắp phải xuống ăn tiệc rồi! Trời đất ơi!
      -     Tom đừng cười em nữa.
      Maggie nói bằng giọng van lơn, nước mắt hờn giận bỗng trào ra. Cô bé dậm chân và đẩy mạnh anh. 
      -     Ê, đừng nóng! Mày cắt tóc để làm gì? Tao phải đi xuống đây, tao ngửi thấy mùi đồ ăn rồi.
      Tom vội vàng trở xuống, bỏ mặc đứa em đáng thương ở lại với một cảm giác tan vỡ, thứ cảm giác thường có nơi tâm hồn bé bỏng của cô. Bây giờ Maggie mới nhận ra hành động của mình thật điên rồ, từ đây có sẽ phải nghe và nghĩ tới mái tóc của mình nhiều hơn bao giờ hết. Maggie vẫn thường hành động nông nổi và nhứt thời, nhưng ngay sau đó, không những thấy trước được hậu quả của hành động đó, mà lại còn biết được những gì sẽ xảy ra nếu không hành động như vậy với đầy đủ các chi tiết trong các trường hợp có thể xảy ra. Tom không bao giờ có những hành vi điên cuồng như em, nó có năng khiếu giúp nhận rõ những gì có thể gây bất lợi cho mình, vì vậy rất ít khi bà Tulliver có thể trách mắng Tom là đứa hư hỏng được. Nhưng nếu đã lỡ phạm một lỗi lầm vào loại đó, nó nhứt định không cho là mình có lỗi, nó tự binh vực lấy và «không hối hận». Nhưng với Maggie, khi đứng khóc trước tấm kiếng, cô bé thấy ngay rằng khó mà xuống ngồi vào bàn ăn được để phải chịu đựng những ánh mắt cùng những lời khắc nghiệt của các dì, trong khi Tom, Lucy, Martha, chị hầu bàn, và có lẽ cha và các dượng sẽ cười nhạo cô – bởi vì nếu Tom đã chế nhạo thì dĩ nhiên các người khác cũng như vậy cả. Phải chi mình đừng cắt tóc, mình sẽ được ngồi chung với Tom và Lucy, sẽ có bánh đậu và bánh kem! Bây giờ cô chỉ còn biết ngồi khóc bơ vơ, tuyệt vọng giữa các nắm tóc đen của mình như Ajax khi ngồi giữa đàn cừu bị tàn sát của y...
      Chị người làm Kezia bỗng hấp tấp vào phòng:
      -     Cô Maggie, cô phải xuống ngay. Ủa, cô làm gì vậy? Chưa bao giờ tôi thấy một bộ tóc xấu xí như vậy cả. 
      Maggie cáu kỉnh:
      -     Kệ tôi, Kezia. Chị đi đi.
      -     Nhưng cô phải xuống ngay lập tức, má cô bảo thế. 
      Kezia vừa nói vừa bước tới Maggie, nắm tay cô bé kéo lên.
      Maggie trì lại:
      -     Đi ra ngay, Kezia, tôi không muốn ăn gì hết. Tôi không xuống.
      -     Cũng được, tôi không thể ở lại đây được. Tôi còn phải lo hầu bàn.
      Kezia vừa nói vừa ra ngoài. Mười phút sau, Tom ló đầu vào:
      -     Maggie, đồ ngốc, tại sao mày không xuống ăn? Có nhiều món ngon lắm, má biểu mày xuống. Tại sao lại khóc, đồ ngu?
      Ôi, thảm thương chưa! Tom lại tàn nhẫn và lạnh lùng, nếu là Tom ngồi khóc trên sàn thì Maggie cũng đã khóc theo rồi. Và còn buổi tiệc, vô cùng thịnh soạn trong khi bụng cô bé cồn cào.
      Nhưng Tom cũng không đến nỗi tàn nhẫn lắm. Nó không khóc và cũng không thấy nao lòng vì nỗi buồn của em, nhưng nó cũng bước tới, cúi xuống, dịu dàng an ủi:
      -     Mày không xuống thiệt hả? Vậy để tao đem bánh lên cho... bánh kem và các thứ khác nữa?
      Maggie bắt đầu cảm thấy cuộc đời đáng khoan thứ hơn:
      -     Dạ... ạ!
      -     Được.
      Tom bước ra, nhưng tới cửa, nó chợt quay lại:
      -     Nhưng tốt hơn hết là nên xuống với tao. Còn có đồ tráng miệng hột bồ đào và rượu ngọc trâm nữa.
      Maggie thôi khóc và đắn đo nhìn theo Tom. Thái độ chiều chuộng của anh làm cô bé vơi buồn, vả lại, hột bồ đào cùng rượu ngọc trâm cũng quyến rũ vô cùng.
      Bỏ lại những nắm tóc vung vãi trên sàn, Maggie từ từ xuống thang. Cô bé tựa vai vào cửa phòng ăn, nhìn vào. Còn một chiếc ghế trống giữa Tom và Lucy, cùng một chiếc bàn phụ dọn sẵn thật nhiều bánh kem. Cơn đói và nổi thèm ăn ngon chiến thắng một cách mau lẹ. Maggie bước vào.
      Bà Tulliver buột miệng kêu khe khẽ khi thấy Maggie, chiếc muỗng canh trong tay bà rớt xuống dĩa, bắn nước tung tóe. Kezia đã không nói cho bà rõ tại sao Maggie không chịu xuống, chị người làm không muốn bà chủ của mình phải bối rối giữa lúc này, trong khi bà Tulliver cứ đinh ninh là Maggie trở chứng và đã định sẽ phạt bằng cách bớt phần ăn.
      Tiếng kêu của bà Tulliver làm mọi cặp mắt cùng đổ dồn về phía Maggie, má và tai cô bé nóng bừng lên khi dượng Glegg, một ông già quí phái, tóc bạc, mặt có vẻ hiền từ, lên tiếng hỏi:
      -     Ủa! Con nhỏ nào đây? Chị lượm được nó ngoài đường hả Kezia?
      Ông Tulliver vừa cười vua nói nhỏ với ông Deane:
      -     Nó tự cắt tóc đó. Dượng có thấy con nhỏ nào như nó không?
      Ông Pullet cũng không thể ngồi im:
      -     Nè, cháu tự làm cho cháu trông buồn cười quá.
      Có lẽ trong đời ông chưa bao giờ nói một câu tàn nhẫn như vậy cả. Chỉ có bà Glegg là khiển trách với một giọng nặng nề và khắc nghiệt hơn ai cả:
      -     Xấu hổ quá sức rồi! Con gái mà tự cắt tóc cho mình đáng bị trừng phạt bằng cách cho ăn bánh mì không với nước lã – và không được phép ngồi chung với các dì dượng của nó. 
      Ông Glegg muốn giảm bớt tánh chất khắc nghiệt trong lời buộc tội của vợ mình:
      -     Này, tôi nghĩ là nó đang bị bỏ tù và cạo trọc đầu.
      Bà Pullet nói giọng xót thương:
      -     Coi nó giống y như dân du mục. Da đen như vậy có lẽ là điềm xấu cho nó, Bessy, tôi sợ sau này nó sẽ chịu nhiều vất vả.
      Nước mắt long lanh, bà Tulliver rầu rĩ:
      -     Nó hư hỏng quá, cứ làm khổ má nó luôn.
      Tất cả mọi người đều trách mắng và chế nhạo Maggie. Thoạt tiên, Maggie chỉ cảm thấy giận, cơn giận đó tạo cho cô bé một sức thách đố nhứt thời. Tom thì lại nghĩ rằng mình thật can đảm, nó thì thầm với Maggie:
      -     Thấy chưa, tao đã nói rồi mà!
      Nhưng Maggie lại tưởng Tom khoái trá vì thấy mình bị rầy la. Sức chịu đựng mỏng manh của cô bé tan biến ngay tức khắc, tim se thắt lại, cô bé chạy tới bên cha, giấu mặt sau vai ông, khóc nghẹn ngào:
      -     Nào, nào, con gái, đừng buồn, con có quyền cắt tóc đi nếu nó làm phiền con, đừng khóc nữa, ba binh vực con mà.
      Ôi những lời an ủi quí quá biết bao! Maggie không bao giờ quên những lúc được cha hứa «binh vực» cho mình. Cô giữ những lời hứa đó trong tim và vẫn còn nhớ mãi luôn nhiều năm về sau nữa, trong khi ai cũng cho rằng cha cô chỉ nuông chiều và làm hư hỏng con cái mà thôi.
      Bà Glegg nói với bà Tulliver:
      -     Chồng của dì nuông chiều con bé quá mức, Bessy! Dì mà không cẩn thận là nó hư luôn đó. Ba chúng ta ngày xưa đâu có quá dễ dãi với con cái như vậy.
      Bao nhiêu chuyện phiền muộn đã dồn dập ùa tới dường như làm cho mọi cảm giác của bà Tulliver tê liệt. Bà không buồn chú ý tới lời trách cứ của chị, mà chỉ lầm lì chia bánh, sửa soạn tráng miệng.
      Bữa tráng miệng là cả một sự giải thoát cho Maggie, vì bọn trẻ đã được báo trước là nếu trời tốt chúng sẽ được dùng hột bồ đào và rượu vang ngoài nhà mát; bây giờ chúng chạy ùa ra vườn, đùa giỡn giữa những bụi hoa hồng như con thú con. 
      Bà Tulliver có lý do riêng khi chúng ăn tráng miệng ngoài vườn. Vừa ăn uống linh đình xong, người ta sẵn sàng cởi mở với nhau, đó là thời gian thích hợp nhứt để ông Tulliver cho biết ý định về việc học của Tom. Trẻ con vẫn thường được tự do nghe chuyện người lớn bàn về chúng, vì dầu có chú ý mấy chúng cũng chẳng hiểu được gì. Nhưng lần này bà không muốn cho Tom nghe vì bà cho rằng Tom coi chuyện đi học trọ ở nhà một giáo sĩ cũng khổ sở như đi học tại nhà một ông tuần phu. Bà chợt thở dài khi nghĩ tới tánh ngoan cố của chồng, ông Tulliver vẫn luôn làm theo ý riêng, dầu bà Glegg và Pullet có nói gì cũng mặc; theo bà, ít ra cũng không nên để cho họ có dịp trách cứ - sanh chuyện rắc rối về sau - là Bessy cứ nhắm mắt nghe theo lời chồng mà xem thường mọi ý kiến của họ.
      Bà Tulliver ngắt ngang câu chuyện giữa hai ông Tulliver và Deane:
      -     Ông Tulliver, tôi thấy đã tới lúc ông nên báo cho các dì dượng của bọn trẻ hay những dự định của ông về thằng Tom.
      Ông Tulliver hỏi gắt:
      -     Được rồi, tôi thấy không có gì phải giấu những quyết định của tôi về thằng Tom. 
      Ông nhìn về phía ông Glegg và Deane:
      -     Tôi đã quyết định gửi nó tới học nơi ông Stelling, một giáo sĩ ở King’s Norton – một người đặc biệt khôn ngoan, tôi biết – ông ta sẽ dạy dỗ nó nên người.
      Nhiều tiếng kêu ngạc nhiên đồng loạt nổi lên. Ta có thể nghe được những âm thanh đó trong các ngôi thánh đường miền quê, khi các nông dân nghe ám chỉ tới những hành động thường ngày của họ từ trên giảng đường. Các dì dượng của bọn trẻ cũng biếu lộ cùng một sự ngạc nhiên khi nghe nói có một giáo sĩ tham dự vào việc nhà Tulliver. Chủ điền Pullet là người đầu tiên lên tiếng, ông không hiểu tại sao một giáo sĩ lại có thể làm một nhà giáo được. 
      -     Tại sao dượng lại phải gởi nó tới một nhà tu hành?
      Ông vừa hỏi vừa nhíu mày quan sát hai ông Glegg và Deane, xem họ có hiểu biết chút gì về sự kiện này hay không.
      -     Tại sao à? Bởi vì các thầy tu đều là những ông giáo giỏi nhứt. Ông thầy Jacobs ở học viện không phải là giáo sĩ, ông ta chẳng dạy thằng Tom được cái gì cả, còn tôi thì nhứt định phải tiếp tục cho nó học, phải có người nào khác hơn ông Jacobs. Và đó là ông Stelling, thuộc hạng người tôi cần. Tôi đã quyết định cho thằng Tom di học ở nhà ông vào khoảng giữa hè này.         
            Ông Deane vừa nói vừa hít thuốc ngửi ầm ỉ, đó là thói quen mỗi khi ông quyết định đứng giữa: 
      -     Vậy là anh sẽ phải tốn khá nhiều tiền, phải không Tulliver?
      Vốn là nguoi khôi hài, ông Glegg không bỏ lỡ cơ hội:
      -     Sao? Dượng tưởng một tu sĩ có thể dạy nó biết thế nào là một giống lúa tốt à?
      -     Như dượng biết, tôi đã có sẵn một chương trình cho thằng Tom rồi.
      Bà Glegg chua chát:
      -     Còn tôi, nếu tôi được phép nói, nhưng ít khi người ta cho tôi cái vinh hạnh đó, thì tôi sẽ nói rằng tại sao lại phải cho thằng bé học hành quá cái địa vị của nó mai sau?
      Ông Tulliver trả lời nhưng không nhìn bà Glegg mà chỉ nhìn về phía các ông:
      -     Kìa, mọi người đều biết rằng tôi đã nhứt định không cho thằng Tom học nghề của tôi. Tôi muốn nó có một nghề nghiệp không cần nhiều vốn liếng, tôi muốn tạo nó thành một người trí thức gì đó để có thể đương đầu với bọn thầy kiện hay những hạng người tương tự như vậy, và thỉnh thoảng giúp ý kiến cho tôi.
      Bà Glegg cười khảy:
      -     Tốt hơn là đừng nên đụng chạm tới hạng người đó.
      Ông Deane hỏi:
      -     Có phải vị giáo sĩ nào đó cũng là hiệu trưởng của trường văn phạm như giáo sĩ ở Market Bewly không?
      Ông Tulliver đáp:
      -     Không, không phải vậy. Ông ta chỉ nhận hai hoặc ba học sinh là cùng và như thế, dượng thấy, ông ta có đủ thì giời để chăm sóc chúng.
      Ông Pullet đã bắt đầu hiểu rõ hơn câu chuyện khó khăn này:
      -     À, như vậy thì nó sẽ được học sớm hơn, càng ít học trò càng dạy mau.
      Ông Glegg nói:
      -     Chắc ông ta đòi nhiều tiền lắm.
      Ông Tulliver đáp:
      -     Chỉ một trăm bảng mỗi năm thôi. Nhưng đó là một cuộc đầu tư, học vấn của thằng Tom là số vốn của nó sau này.
      Ông Glegg gật gù:
      -     À! Thì ra vậy. Được, được lắm, dượng Tulliver, dượng có lý - «khi đất đai không còn và đồng tiền mất giá, thì sự học là điều quí giá nhứt». Tôi nhớ đã đọc câu này trên một cánh cửa sổ ở Buxton. Nhưng đối với những kẻ thất học như chúng ta thì nên dành dụm tiền của là tốt hơn, phải không dượng Pullet?
      Ông Glegg vừa nói vừa xoa đầu gối với vẻ khoái trá. 
      Vợ ông cằn nhằn:
      -     Ông Glegg, sao lạ vậy? Già rồi mà không chịu tề chỉnh chút nào.
      Ông Glegg nheo mắt:
      -     Cái gì mà không tề chỉnh, bà Glegg? Cái áo choàng xanh mới may của tôi hả? 
      -     Tôi thương hại cho ông quá, ông Glegg, ai đi đùa cợt khi thấy bà con của mình sắp sửa bị phá tan sự nghiệp.
      Ông Tulliver nóng mặt:
      -     Nếu chị muốn ám chỉ tôi thì tôi cũng xin nhắc chị đừng quá lo lắng cho tôi. Tôi có thể tự lo liệu lấy công việc của mình, không cần quấy rầy tới ai.
      Ông Deane nghiêm giọng:
      -     Tôi vừa nhớ ra một chuyện, có người nói với tôi là luật sư Wakem sắp cho thằng con của ông ta – cái thằng có tật đó – tới học tại nhà một giáo sĩ – phải vậy không Susan?  (Ông quay sang vợ.)
      -     Tôi không nhớ rõ lắm.
      Bà Deane không phải là hạng người hay xen vào những màn nguy hiểm.
      Ông Tulliver nói với giọng thật tươi, chứng tỏ cho bà Glegg biết rằng ông chẳng để ý gì tới bà cả:
      -     Được, nếu Wakem đã quyết định gởi con đi học tại nhà một giáo sĩ thì quyết định của tôi về thằng Tom không vướng một lỗi lầm nào. Wakem là một tên đại lưu manh, nhưng hắn biết cách chọn người lắm. Ậy, ậy, hãy nói cho tôi biết ai bán bánh cho Wakem, tôi sẽ cho bạn biết nên mua bánh ở đâu.
      Riêng bà Pullet thì lại thấy cuộc thảo luận này có sắc thái của một đám tang:
      -     Nhưng thằng con của trạng sư Wakem hơi gù lưng nên gởi nó tới học ở nhà một giáo sĩ là chuyện thường.
      Ông Glegg diễn giải lời nhận xét của bà Pullet:
      -     Phải, dượng phải chú ý tới điều đó, dượng Tulliver. Có lẽ thằng con của Wakem sẽ không kham nổi một nghề nào, nên ba nó mới quyết định biến nó thành một nhà quí phái. 
      Bà Glegg cáu kỉnh:
      -     Ông Glegg, ông nên im miệng là hơn. Ông Tulliver đâu có muốn nghe ý kiến của ông hoặc của tôi đâu. Trên đời này bao giờ cũng có những người khôn ngoan hơn tất cả bao nhiêu người khác.
      Ông Tulliver giận thật:
      -     Kìa, vậy mà tôi tưởng chị là một trong những người đó.
      Bà Glegg mỉa mai:
      -     Thôi, tôi không nói gì hết là xong. Không bao giờ người ta chịu hỏi ý kiến tôi và bây giờ tôi cũng sẽ không góp một ý nào cả.
      Ông Tulliver nói:
      -     Lần đầu tiên mới nghe chị nói như vậy. Ý kiến là vật duy nhất mà lúc nào chị cũng sẵn sàng cho người khác. 
      -     Nếu tôi không sẵn sàng cho thì tôi cũng sẵn sàng cho mượn. Có nhiều người đã mượn tiền của tôi, nhưng hối tiếc nhứt là tôi đã cho bà con mượn tiền.
      Ông Glegg xoa dịu:
      -     Thôi mà, thôi mà.
      Nhưng ông Tulliver vẫn không kềm hãm được:
      -     Và chỉ đã lấy lời năm phần trăm, bà con hay không bà con gì cũng vậy.
      Bà Tulliver nài nỉ: 
      -     Chị dùng rượu chát đi, để tôi lấy thêm cho chị một ít hột hạnh nhân và nho nữa.
      Bà Glegg chộp lấy cơ hội:
      -     Bessy, tôi thương hại cho dì lắm. Tới lúc này mà còn nói chuyện ăn uống chi nữa.
      Bà Pullet bắt đầu sụt sùi:
      -     Chúa ơi! Chị Glegg, đừng gây gỗ nữa – giữa chị em với nhau mà làm như vậy coi không được. 
      Bà Glegg bóng gió:
      -     Phải, mời chị em tới nhà để gây gỗ và phỉ báng thì quả thật không tốt chút nào.
      Ông Glegg nài nỉ:
      -     Thôi mà – Jane – bình tĩnh lại.
      Nhưng khi ông Tulliver nổi giận rồi thì khó mà nguôi được:
      -     Ai gây với chị? Chính chị mới là người lúc nào cũng tìm cách dằn vặt người ta. Tôi không hề muốn gây lộn với người đàn bà nào nếu họ biết yên phận một chút.
      -     Yên phận? Ông nói tới ông thì đúng hơn, ông Tulliver. Ông đã đối xử với tôi không thích đáng chút nào hết, nếu người trong gia đình tôi không lấy phải một ông chồng bất xứng thì dượng đã không bao giờ gặp được tôi.
      -     Chị đã nói vậy thì tôi cũng xin nhắc chị nhớ là gia đình tôi cũng đâu có kém gì gia đình chị – và có lẽ còn khá hơn nữa vì gia đình tôi chẳng có một người đàn bà nào hay quạo quọ như vậy cả.
      Bà Glegg đứng lên:
      -     Ông Glegg, tôi không hiểu ông nghĩ gì mà cứ ngồi yên để nghe họ nhục mạ tôi. Riêng tôi thì sẽ không ở lại trong nhà này thêm một phút nào nữa. Ông có thể ở lại về sau bằng xe, để tôi đi bộ về được rồi.
      -     Thôi mà! Thôi mà!
      Ông Glegg lập đi lập lại một cách buồn bã trong khi theo vợ bước ra ngoài.
      Bà Tulliver nước mắt viền quanh:
      -     Ông Tulliver, tại sao ông lại ăn nói với chị ấy như vậy?
      Nước mắt của vợ cũng không thể lung lạc ông Tulliver được:
      -     Cứ để bả đi, càng sớm càng tốt.
      Bà Tulliver thất vọng:
      -     Chị Pullet, chị thấy có nên theo xin lỗi chị ấy hay không?
      Ông Deane xen vào:
      -     Không nên, không nên, để vài ngày nữa đã.
      Bà Tulliver lau nước mắt:
      -     Thôi được, bây giờ chị em mình ra vườn thăm mấy đứa nhỏ đi.
      Không còn đề nghị nào thích hợp hơn nữa. Ông Tulliver cảm thấy trời trong sáng và dễ thở hơn khi các bà đã kéo nhau ra khỏi phòng. Ông rất thích bàn chuyện vặt với ông Deane, ông coi ông Deane như là người hiểu biết sâu rộng duy nhất trong đám người quen, hơn nữa lối nói chuyện của ông Deane lại rất thích hợp với ông. Và khi các bà đã đi rồi, họ có thể bàn luận với nhau về Quận công Wellington và cách điều binh của ngài trong trận Waterloo, trận chiến mà ngại không bao giờ thắng được nếu chẳng có cả một đạo quân khổng lồ ở sau lưng. Nhưng hai người lại bất đồng ý kiến về Thống chế Phổ Blucher, nhân vật mà theo ông Tulliver được biết - qua một người am tường về trận Waterloo - là đã mang quân tới trợ lực Quận công Wellington một cách kịp thời và hữu hiệu; nhưng ông Deane lại cho rằng không thể tin cậy được người Phổ - cách đóng tàu buồm vụng về và rượu bia Bantzic của họ đã khiến ông Deane coi thường họ. Bị đánh bại trong lãnh vực này, ông Tulliver chuyển sang đề tài khác, ông bày tỏ mối lo ngại trước sự suy thoái của nước Anh, nhưng ông Deane thì lại quả quyết rằng nước Anh vẫn đang trên đà phát triển, ông đưa ra một số các chi tiết về tình hình nhập cảng, đặc biệt nhứt là về da thuộc và kẽm, nhằm giải tỏ nỗi bi quan của ông Tulliver vì một viễn ảnh nước Anh bị làm mồi cho bọn Giáo Hoàng Chủ nghĩa và bọn Cấp Tiến xâu xé. 
      Ông Pullet cứ lặng thinh chăm chú lắng nghe những vấn đề cao siêu đó. Ông không hiểu chính trị và cũng không cần tìm hiểu – nhưng có một điều mà ông có thể đúc kết được xuyên qua câu chuyện của hai người cùng bàn: Quận công Wellington nào đó không thể bằng ông được.
82




0
Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 83 đến 131
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
8
 
 
ĐÊM ĐÓ, BÀ TULLIVER TRÁCH CỨ CHỒNG:
      -     Rủi bây giờ chị Glegg đòi tiền lại hỏi thử ông lấy đâu ra năm trăm bảng trả người ta?
      Tuy đã sống với nhau suốt mười ba năm, nhưng bà Tulliver vẫn chưa ý thức được một điều: những lời phàn nàn của bà thường có tác dụng ngược, khiến ông Tulliver có những hành động trái hẳn sự mong muốn của bà. Bà Tulliver cũng như một con cá vàng già dặn, vẫn nuôi mãi ảo tưởng của thuở thiếu thời bà có thể lội ra ngoài bờ chậu thủy tinh và đã chạm đầu vào thành kiến suốt mười ba năm, nhưng hôm nay lại cứ mau mắn đâm đầu vào đó một lần nữa như thường.      Và câu nói vừa rồi của bà lại khiến ông Tulliver nghĩ rằng kiếm ra năm trăm bảng đối với ông không phải là chuyện khó. Và trong khi bà Tulliver thắc mắc không biết chồng sẽ đào đâu cho đủ số tiền, nếu không cầm cố ngôi nhà lẫn nhà mày xay - điều ông từng đoán quyết là không bao giờ làm – thì ông tuyên bố rằng bà Glegg có muốn đòi nợ thì cứ đòi, ông trả đủ, dầu có đòi hay không cũng vậy. Ông không muốn chịu ơn chị em bên vợ.
      Bà Tulliver khóc rấm rứt lúc sắp sửa lên giường, nhưng chỉ một lúc sau bà đã thiu thỉu ngủ với ý định là sáng mai, khi đưa bọn trẻ sang Garum Firs chơi, bà sẽ nhờ chị Pullet dàn xếp dùm mọi sự. 
      Tuy nhiên, ông Tulliver thì vẫn còn thao thức, ông cũng đang nghĩ tới một chuyến đi vào ngày mai, nhưng ý nghĩ này chẳng làm ông vui vẻ và yên lòng như vợ.
      Bình thường, ông quan niệm việc đời hết sức rắc rối và khó giải quyết vô cùng, nên ông thường hành động điềm tĩnh, cân nhắc, nhưng một khi đã nổi giận lên rồi thì ông quyết định rất mau. Vì vậy, hôm sau, khi ăn trưa xong, ông lên ngựa ngay (ông không bị chứng khó tiêu) đi Basset thăm vợ chồng cô Moss, em gái của ông. Ông nhứt quyết phải trả đủ năm trăm bảng cho bà Glegg. Em rể Moss của ông còn thiếu ông ba trăm bảng, nếu Moss có thể xoay sở theo kỳ hạn do ông đưa ra thì việc trả nợ cho bà Glegg không đến nổi khó khăn.
      Người ngoài vẫn coi Tulliver là một người giàu có – chủ nhân một nhà máy xay và một miếng đất tốt – và chính ông cũng đinh ninh như vậy. Nếu không có những kỳ trả tiền hàng lục cá nguyệt, có lẽ ông đã quên mất số nợ hai ngàn bảng của mình. Đó không hẳn là lỗi của ông vì một ngàn bảng trong số nợ đã được dùng làm của hồi môn và chi dùng cho đám cưới của em gái ông. Một người lúc nào cũng sẵn sàng tranh tụng với hàng xóm và không nỡ từ chối lời mượn tiền của người em gái lấy chồng nghèo có tới đám đứa con thì có lẽ khó mà trả nợ cho xong được. Nhưng sáng nay trên con đường lầy lội tới Basset, ông mang tâm trạng của một nhà thương mãi. Moss là một người hoàn toàn không chút vốn liếng, kém may mắn, tóm lại là người mà, nếu người ta càng cố kéo ra khỏi bùn lầy lại càng lún sâu hơn trong đó nữa. Bắt buộc ông Moss phải kiếm ba trăm bảng trả nợ có lẽ sẽ giúp ông nhiều hơn là gây khổ cho ông: điều đó sẽ bắt buộc ông Moss phải xét lại mình và đừng hành động ngốc nghếch như trước nữa. Thật vậy, ông Tulliver đã đổi xử rất đẹp với em rể, vì đã không lấy tiền lời suốt hai năm qua nên Moss cứ tưởng chừng như đã quên mất món nợ của mình. Nhưng hôm nay, ông Tulliver đã quyết định không dung túng cho hạng người trì trệ như vậy mãi.
      Nghe tiếng vó ngựa, bà Moss bước vội vàng ra ngoài cửa bếp, với một nụ cười mệt mỏi trên môi và một đứa bé trên tay. Bà Moss, cũng có màu da nhợt nhạt như ông anh, một cánh tay của đứa bé áp sát vào một bên má càng làm nổi bật sự xanh xao của da mặt bà. 
      Giọng bà chan chứa nhiều cảm xúc:
      -     Anh tới chơi em mừng quá. Anh có được mạnh khỏe không? 
      Ông Tulliver cố làm ra lạnh nhạt: 
      -     Ờ... cũng khỏe, bà Moss.
      Bà Moss biết ngay anh mình không vui mấy: không khi nào ông Tulliver gọi bà là bà Moss trừ khi ông đang giận hay khi có mặt nhiều người.
      Ông Tulliver tiếp trong khi bốn đứa trẻ từ trong nhà ùa ra: 
      -     Dượng Moss không có nhà hả?
      -     Dạ không, nhà em ra ngoài ruộng khoai ở đằng kia, Georgy, chạy mau ra đồng nói với ba là có cậu tới chơi! Anh xuống ngựa vào nhà nghỉ một lúc đi.
      -     Thôi khỏi. Tôi cần phải về ngay.
      Bà Moss tránh, không dám hỏi thêm mục đích cuộc thăm viếng của người anh.
      -     Chị và các cháu vẫn bình thường?
      -     Ờ... cũng thường. Khoảng giữa hè này thằng Tom sẽ đi học ở trường mới – tốn tiền lắm nên tôi cần tới món tiền kia. 
      -     Hôm nào anh cho các cháu lại chơi. Mấy đứa nhỏ cũng mong gặp chị Maggie của chúng lắm. Em cũng nhớ nó nữa – con đỡ đầu của em mà – em biết nó cũng thích tới đây, con bé dễ thương và thông mình làm sao!
      Dầu không phải là người đàn bà thông minh nhứt thế giới, bà Moss cũng thừa hiểu rằng không có gì làm ông Tulliver sung sướng bằng những lời khen tặng Maggie. Ít khi nào ông thấy có người sẵn lòng khen tặng «cô con gái cưng» của ông, và mặc dầu đã quyết tâm, ánh mắt của ông cũng đã dịu lại nhiều. 
      -     Phải, tôi biết là con nhỏ mến cô hơn các dì nó. Nó giống bên nội như hệt.
       -    Anh Moss nói nó giống y như em ngày xưa, có điều là em chẳng bao giờ mê đọc sách như nó. Nhưng em thấy con Lizzy của em cũng in hệt như nó. Lại đây Lizzy, chào cậu đi con, chắc anh không nhận ra nó đâu, nó lớn mau như thổi.
      Lizzy, một con bé mắt đen, khoảng bảy tuổi trông rụt rè khi được mẹ kéo tới trước, mấy đứa con của bà Moss rất kính sợ ông cậu ở Dorcote của chúng. 
      Ông Tulliver hiền từ nhìn cô bé quần lem luốc, giọng nửa âu yếm nửa trách móc:
      -     À, chúng cũng khá giống nhau. Cô có nhiều con gái quá, Gritty.
      Bà Moss vừa vuốt tóc Lizzy vừa thở dài:
      -     Cả thảy bốn đứa, bốn của nợ, và bốn đứa trai, mỗi đứa gởi lại có một thằng anh. 
      Ông Tulliver cố làm cho lòng mình rắn lại:
      -     À, vậy hả. Nhưng chúng phải cố gắng tự lo liệu lấy. Đừng mong đợi gì ở các anh của chúng. 
      Bà Moss rụt rè phản đối:
      -     Không, em thì muốn cho các anh chúng nó sẽ thương yêu chúng và nhớ mãi rằng chúng là anh em ruột thịt với nhau.
      Ông Tulliver quất nhẹ lên hông ngựa, cáu kỉnh:
      -     Thôi đi!
      Bà Moss nhìn các con, tiếp tục:
      -     Càng đông anh em, càng phải thương yêu nhau nhiều hơn. Và em cũng mong rằng thằng Tom của anh sẽ luôn tốt với em gái nó, dầu chỉ có hai đứa nó mà thôi, giống như anh em mình bây giờ. 
      Mũi tên đó đã xuyên thủng trái tim ông Tulliver. Tuy không nhạy tưởng tượng lắm, ông cũng có thể so sánh được sự liên hệ giữa Tom với Maggie. Có bao giờ đứa con gái của ông bị nghèo khổ và Tom sẽ hẹp hòi với nó không?
      Người chủ nhà máy xay dịu giọng:
      -     Kìa, Gritty, tôi vẫn luôn luôn làm những gì mình có thể làm được để giúp cô mà.
      Bà Moss nghẹn ngào:
      -     Có bao giờ em dám phủ nhận điều đó đâu, lúc nào em cũng nhớ ơn anh. Kìa, nhà em đã về tới kia rồi. Sao về lẹ vậy mình?
      Ông Moss thở dốc:
      -     Nghe nói anh tới... tôi vội vàng chạy về ngay. Mời anh vào nhà nghỉ.
      Biết là câu chuyện chỉ có thể giải quyết được nếu không có sự hiện diện của người em gái, ông Tulliver đề nghị:
      -     Được, dượng với tôi vô vườn tính chuyện này một chút. 
      Hai người bước vào khoảnh vườn, bầy gà đang kiếm ăn quanh quẩn cây thủy tùng bỏ chạy tán loạn. Ông Tulliver ngồi xuống chiếc ghế dài, gõ đầu gậy trên mặt đất như đang tìm một cái hốc nào đó và bắt đầu với giọng hơi gắt:
      -     Hừ, dượng lại gieo lúa mì lên thửa ruộng đó mà chẳng cày bừa gì hết. Vậy là năm nay thất mùa nữa rồi.
      Ông Moss nhẫn nại:
      -     Hạng nông dân nghèo như tôi thì còn làm gì hơn nữa được, chỉ biết phó thác cho đất đai chớ đâu có thể đùa cùng tiền bạc. 
      Ông Tulliver nghiêm giọng: 
      -     Tôi không biết một ai đùa với tiền bạc cả, trừ những người vay mượn mà không trả tiền lời.
      Ông có ý định châm ngòi cho một cuộc cãi vã, vì có vậy ông mới dễ mở miệng đòi tiền hơn.     
      Nhưng ông Moss vẫn từ tốn:
      -     Tôi biết là đã không phải với anh, nhưng năm rồi bị thất mùa, vợ tôi lại đau, thật là xui đến tận cùng.
      Ông Tulliver gắt: 
      -     Phải, có người lúc nào cũng bị xui: cái túi trống rỗng thì làm sao mà đứng thẳng được?
      -     Anh Tulliver, tôi không biết anh định trách mắng gì nhưng thiệt tình tôi đã cố hết sức mình rồi.
      -     Lấy vợ mà không có một đồng vốn nào ngoài của hồi môn của vợ thì còn cưới hỏi làm gì? Ngay từ đầu tôi đã cản, nhưng có ai chịu nghe đâu. Bây giờ tôi không thể vung tiền bạc được nữa, vì tôi còn phải trả cho bà Glegg năm trăm bảng và việc học hành của thằng Tom cũng rất tốn kém. Dượng nên lo liệu trả sớm cho tôi ba trăm bảng còn thiếu đó đi.
      Ông Moss đăm chiêu nhìn về khoảng không trước mặt:
      -     Cũng được, nếu anh muốn vậy. Có lẽ chúng tôi phải bán hết của cải mới có đủ tiền trả nợ cho anh và chủ điền. 
      Ông Tulliver đứng lên, giọng cáu kỉnh:
      -     Dượng phải cố gắng trả cho tôi. Tôi còn phải lo gia đình và việc làm ăn của tôi nữa chớ. Tôi không thể cho dượng thiếu lâu hơn nữa, dượng nên trả càng sớm càng tốt.
      Dứt lời ông Tulliver bước mau ra, không một lần nhìn lại. Ông đi thẳng tới cửa bếp, nơi thằng con lớn của ông Moss giữ ngựa cho ông. Bà Moss vẫn còn đứng chờ ở đó, với dáng vẻ bồn chồn.
      -     Sao anh không vào nhà chơi?
      Bà vừa hỏi vừa lo âu nhìn chồng đang lầm lũi đi tới, trong lúc ông Tulliver đã đặt chân lên bàn đạp ngựa:
      -     Thôi khỏi, chào cô.
      Ông Tulliver vừa nói vừa quay đầu ngựa phóng đi.
      Không một người đàn ông nào có thể quả quyết bằng ông Tulliver trong lúc ông cho ngựa phi ra khỏi cổng rồi đi chậm lại một khoảng đường lầy lội nhưng khi sắp tới gần khúc quanh thứ hai - qua khỏi khúc quanh đó là ông sẽ không còn thấy ngôi nhà xiêu vẹo của vợ chồng em gái ông được nữa - thì một vài ý nghĩ chợt đến. Ông ghì ngựa lại, ngồi im lìm khoảng hai ba phút, mặt đăm chiêu. Rồi đột nhiên ông quay đầu ngựa và chạy chầm chậm trở lại và nói một mình:
      -     Tội nghiệp con tôi. Tôi mà chết đi nó chỉ con có một mình với thằng Tom.
      Thấy cậu Tulliver trở lại, đám con ông Moss rối rít chạy vào nhà báo tin cho mẹ chúng. Nhờ vậy bà Moss đã đứng chờ sẵn trước nhà khi ông Tulliver cho ngựa trờ tới. Bà Moss cố giấu, không cho anh biết là mình đang khóc.
      Bà nói:
      -     Nhà em trở ra đồng, nếu anh cần gặp em sẽ cho mấy đứa nhỏ kêu về.
      Ông Tulliver dịu dàng:
      -     Thôi khỏi, Gritty. Cô đừng lo – anh tính lại rồi – anh sẽ cho vợ chồng cô khất lại ít lâu nữa – nhưng cô phải khéo léo và cẩn thận hết sức mới được.
      Nước mắt bà Moss trào ra, cơn xúc động làm bà nghẹn lời.     
      Ông Tulliver tiếp:
      -     Thôi, thôi! – Chừng nào thằng Tom sắp đi học anh sẽ dẫn nó và Maggie tới thăm cô. Đừng buồn nữa – lúc nào anh cũng tốt với cô.
      Bà Moss lau nước mắt:
      -     Dạ, cám ơn anh.
      Đoạn bà quay sang Lizzy:
      -     Chạy vô lấy quà cho chị Maggie. 
      Lizzy chạy vào và trở ra ngay với một gói giấy nhỏ trên tay. 
      Bà Moss nói: 
      -     Trứng đã được luộc cứng và nhuộm màu đẹp lắm. Tụi nó làm để cho Maggie. Hồi nãy vì quá lo nên em quên mất. Anh đem về cho cháu giùm em được không?
      -     Được, được. 
      Ông Tulliver vừa nói vừa cẩn thận cho gói giấy vào túi.
      Chủ nhân nhà máy xay Dorcolte trở lại con đường lầy lội Basset với cảm giác của một người vừa thoát nạn. Ông tin rằng hành động tệ bạc của mình đối với em gái ngày nay, biết đâu sẽ có quả báo với Maggie, biết đâu sẽ chẳng khiến cho Tom hẹp hòi cùng em nó sau này, khi ông trở về với cát bụi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
9
 
 
GIỮA LÚC ÔNG TULLIVER LO NGHĨ VỀ NHỮNG gian truân có thể xảy ra cho con gái mai sau, thì Maggie đang phải nếm mùi cay đắng trong hiện tại.
      Vận xui tới với cô bé ngay từ sáng. Niềm vui được có Lucy bên cạnh và viễn ảnh vui tươi của một cuộc thăm viếng vào xế trưa đã bị tiêu hủy bởi sự xuất hiện của ông thợ uốn tóc từ St. Ogg’s tới lúc mười một giờ. Ông thợ nghiêm khắc chỉ trích, xem xét mái tóc bờm xờm của Maggie. Ông ta cằn nhằn «Coi nè! Quá lắm rồi!» với một giọng vừa ghê tởm vừa thương hại khiến Maggie kết luận rằng ông thợ cũng thù ghét cô như mấy người kia. Ông thợ uốn tóc Rappit, với mái tóc quăn bóng mượt trông giống hình đám lửa chạm trên bình đựng tro hài cốt, là hình ảnh đáng ghét nhứt đối với Maggie giữa lúc này. 
      Chuẩn bị một cuộc thăm viếng luôn luôn là một việc nghiêm trọng đối với gia đình Dodson. Chị người làm Martha phải dọn phòng bà Tulliver sớm hơn thường lệ nửa giờ, để bày ra tất cả những trang phục thích hợp nhứt hầu có thể xử dụng vào giờ chót nếu người trong gia đình đổi ý. Tới mười hai giờ, bà Tulliver đã sửa soạn xong, bà mặc bộ sa tanh dành riêng cho các cuộc viếng thăm và một áo choàng bằng nỉ màu nâu, Maggie thì cứ nhăn nhó và vặn vẹo hai vai như muốn hất chiếc khăn choàng ra khỏi cổ, Tom thì trông rực rỡ hẳn ra với bộ quần áo màu xanh da trời, mà nó chỉ chịu mặc vào sau khi cằn nhằn đôi chút.
      Riêng Lucy thì vẫn xinh xắn gọn gàng như hôm qua, cô bé không bao giờ thấy khó chịu khi mặc quần áo đẹp, bởi thể cô nhìn dáng điệu khổ sở của Maggie với đôi mắt vừa ngạc nhiên vừa thương hại. Có lẽ Maggie đã liệng chiếc khăn đi nếu cô bé không kịp nhớ lại sự xấu hổ do hành động tự cắt tóc của mình gây ra. Hậu quả là Maggie đâm ra cáu kỉnh và nóng nãy khi các anh em được phép chơi và cất nhà bằng các lá bài trong khi chờ ăn trưa. Đây là một vài trò giải trí rất thích hợp với trẻ con khi mặc quần áo đẹp. Tom đã cất được nhiều ngôi nhà rất xinh, nhưng mấy ngôi nhà của Maggie thì không bao giờ đủ sức chịu đựng chiếc mái. Thế là Tom kết luận rằng không một cô bé nào có thể xây dựng được một thứ gì cả. Tuy nhiên, Lucy lại tỏ ra rất khéo tay một cách bất ngờ. Cô bé sắp các lá bài nhẹ nhàng và khéo léo đến nổi Tom bắt buộc phải công nhận là nhà của Lucy xây cũng đẹp không kém nhà mình. Đáng lẽ Maggie cũng sẽ thán phục những ngôi nhà của Lucy, và sẽ thôi không xếp nữa để ngắm công trình của cô em họ, nếu chiếc khăn choàng đừng làm cho cô khó chịu, và nếu Tom đừng cười chế nhạo khi thấy nhà của cô cứ ọp ẹp mãi rồi gọi cô ta là «đồ ngốc». 
      Maggie giận dữ rít lớn:
      -     Tom, không được chế nhạo em! Em không ngốc đâu, em còn biết nhiều thứ mà anh không biết nữa kìa! 
      -     Ờ, tao cũng chắc vậy, đồ quạo quọ! Mày thấy tao có bao giờ nhăn nhó như vậy đâu! Cả Lucy nữa. Tao thích Lucy hơn là mày, ước gì nó là em ruột của tao.
      Maggie đứng phắt dậy:
      -     Lời ước của anh thật độc ác, xấu xa.
      Cử động của cô làm ngôi đền đẹp nhứt của Tom sụp xuống. Maggie không cố tình phá sụp ngôi đền đó, nhưng diễn tiến câu chuyện cho thấy là cô đã cố tình làm ra vậy. Tom tái mặt, nhưng nó không nói gì cả, đáng lẽ nó đánh Maggie, nhưng nó nghĩ đánh một đứa con gái là hèn nhát, mà Tom Tulliver thì đã nhứt quyết là không bao giờ hèn nhát. 
      Maggie bàng hoàng, hoảng cuồng trong khi Tom đứng lên, bỏ đi khỏi ngôi đền sụp đổ, còn Lucy thì vẫn ngồi yên, ngạc nhiên nhìn lên như một con mèo con đang liếm lông bỗng bị quấy rầy.
      Cuối cùng, Maggie chạy theo Tom:
      -     Tom ơi! Em không cố ý làm sập đâu! Thật đó, em không cố ý mà.
      Tom chẳng một chút lưu tâm gì tới, nó móc trong túi ra vài hạt đậu búng vẩn vơ vào thành cửa sổ và vào một cái chai cũ màu xanh ngoài nắng.
      Thế là buổi sáng của Maggie trôi qua với bao nhiêu là phiền muộn. Xế chiều, chúng bắt đầu đi bộ tới Garum Firs, nhưng thái độ khư khư lạnh nhạt của Tom làm cô bé không còn thiết gì tới trời êm, nắng ấm. Tom gọi Lucy chỉ cho coi một tổ chim đang xây nửa chừng mà không chịu gọi Maggie. Tom lại còn đẽo hai ngọn roi liễu cho nó và Lucy mà không cho Maggie một cây nào. Lucy hỏi: «Maggie, chị muốn có một cái không?» nhưng Tom thì cứ giả điếc làm ngơ.
      Cuối cùng, cảnh tượng một con công đứng xòe đuôi trên vách tường sân rơm của biệt thự Garum đã làm cho đám trẻ tạm quên đi những ưu tư. Và đây chỉ mới là cảnh đẹp đầu tiên của Garum Firs. Quang cảnh sân gia súc thật tuyệt dịu - nào là gà tre lông sặc sỡ, gà Fiersland bông xước, gà sao lốm đốm, nào là bồ câu, chim ác là, ngoài ra còn có cả một con dê và một con chó xám, nửa giống chó heo, nửa giống chó giữ nhà to gần bằng con sư tử. Cổng và rào đều được sơn trắng, chỗ nào cũng thấy có đặt cánh quạt dò thăm hướng gió, đủ các kiểu, các lối đi trong vườn đều được trải sỏi đẹp - ở Garum Firs cái gì trông cũng khác thường, kể cả mấy con cóc. Về khu vực gia cư cũng đặc biệt không kém khu trung ương, cất theo hình bán nguyệt, hai cánh phụ cất theo kiểu pháo tháp của các lâu đài, tất cả đều được tô hồ trắng. 
      Dượng Pullet đã nhìn thấy toán bà Tulliver qua cửa sổ, ông vội vàng chạy xuống mở then gài và khóa xích cửa cái. Dì Pullet cũng xuất hiện nơi ngưỡng cửa, ngay khi nhận ra bà Tulliver đã ở trong tằm có thể nghe được, bà kêu lên:
      -     Chúa ơi! Cho mấy đứa nhỏ đứng lại, Bessy! Đừng cho nó lên thêm, Sally, mang giẻ cũ ra chùi giày cho mấy đứa nhỏ.
      Những tấm thảm chùi chân bày sẵn ra trước cửa nhà chỉ dành để trang trí, muốn làm sạch chân đã có mấy tấm giẻ cũ chờ làm phận sự. Tom không mấy hài lòng khi để cho người khác lau chân mình, bởi vì nó cứ để vậy tự ái nó sẽ bị tổn thương.
      Bà Pullet nói với giọng cảm động trong khi bà Tulliver đang sửa lại nón:
      -     Bessy, bà Gray vừa gởi cho tôi một cái nón mới.
      Bà Tulliver sốt sắng: 
      -     Gởi rồi hả? Đẹp không chị?
      Tôi đã cất chúng với quần áo, bây giờ phải soạn ra mới lấy được. 
      Bà vừa nói vừa lôi một chùm chìa khóa trong túi ra và ngắm nghía với dáng điệu nghiêm trọng:
      -     Nhưng đằng nào cũng phải đưa cho dì coi. Sợ rồi mình chẳng còn dịp nào khác nữa.
      Bà Pullet lắc đầu buồn bã và lựa riêng ra một chiếc chìa khóa.
      Bà Tulliver khó nghĩ:
      -     Thật tình, tôi không dám làm phiền chị, chỉ muốn biết xem bà Gray đã làm cho chị một cái nón đẹp tới mức nào.
      Bà Pullet u sầu đứng dậy, mở một cánh cửa của chiếc tủ áo lộng lẫy... người hấp tấp chắc phải nghĩ rằng bà Pullet đang tìm chiếc nón trong đó, thế nhưng, một dự đoán như thế chỉ có thể có được nơi những người chưa thấu đáo thói quen của gia đình Dodson. Mục đích của bà là tìm trong đó một vật khá nhỏ giấu ở giữa các lớp quần áo – đó là chiếc chìa khóa cửa. 
      Bà quay sang bà Tulliver: 
      -     Dì phải đi với tôi mới được. 
      Thấy Maggie và Lucy cũng đang có vẻ hăm hở đợi chờ, bà Tulliver hỏi:
      -     Cho mấy đứa nhỏ đi theo được không, chị?
      Bà Pullet ngẫm nghĩ:
      -     Được, cứ cho chúng đi theo, để đây sợ chúng phá phách lôi thôi.
      Rồi bà đưa mọi người vào một hành lang tuyệt đẹp nhưng rất âm u và trơn trợt. Một lúc sau bà ngừng lại và mở cửa một gian phòng, trông còn u ám hơn cả dãy hành lang. Lucy chợt nắm áo Maggie, trong khi tim Maggie thì đập loạn.
      Cánh cửa tủ áo được mở ra, mùi hoa hồng từ bên trong tỏa khắp phòng làm Maggie thấy dễ chịu hơn, mặc dầu đã hơi thất vọng khi thấy bà dì chỉ lấy ra trong một chiếc nón, trong khi cô bé chờ đợi được thấy một cái gì khác lạ hơn.
      Bà Pullet hỏi:
      -     Dì có muốn xem tôi đội chiếc nón này không?
      -     Thưa nếu không làm phiền chị.
      Bà Pullet giơ chiếc nón đang đội ngắm nghía chiếc nón lụa nâu vừa lấy ra rồi đội lên và chầm chậm xoay người đi cho bà Tulliver quan sát. Vừa vặn đủ một vòng, bà hỏi: 
      -     Tôi thấy có lẽ vành trái nhiều nơ quá, dì có nghĩ như vậy không?
      Bà Tulliver chăm chú nhìn nơi bà Pullet chỉ, rồi nhìn qua phía bên kia.
      -     Theo tôi thì như vậy là được rồi, chị đừng sửa đổi làm gì.
      -     Dì có lý.
      -     Chị mua hết bao nhiêu?
      Bà Tulliver đang nghĩ tới chuyện may một chiếc nón theo kiểu đó với một mảnh lụa có sẵn ở nhà.
      Bà Pullet lắc đầu:
      -     Chính ông Pullet mua cho, ông nói tôi là người có nón đẹp nhứt ở giáo khu Garum này.
      Bà chậm chạp sửa lại những dây nơ, và sửa soạn cất lại vào tủ áo, rồi bỗng nhiên buồn bã lắc đầu:
      -     Chắc là tôi sẽ không còn có dịp đội lại chiếc nón này nữa, dì Bessy!
      -     Ồ, đừng nói vậy, tôi mong chị được mạnh khỏe suốt mùa hè này.
      -     Nhưng có lẽ trong họ mình sắp có người nào đó qua đời. Ông anh họ Abbot của mình đã yếu lắm rồi, chúng ta phải chịu tang ít nhứt là nửa năm.
      Bà Tulliver hưởng ứng:
      -     Phải, xui thật. Đội một chiếc nón cũ đã hai năm thì chẳng có gì thú vị nhứt là nón lụa đổi kiểu luôn luôn – không bao giờ có hai mùa hè giống nhau.
      -     Cái thói của đời này là vậy đó.
      Bà Pullet vừa nói vừa cất nón vào tủ. Bà cụ im lìm lắc đầu mãi cho tới khi về phòng riêng. Tới lúc đó, bà bật khóc:
      -     Bessy, sau này khi tôi chết đi, nếu có dịp nhìn lại chiếc nón, dì sẽ nhớ tới ngày hôm nay.
      Bà Tulliver thấy cần phải bày tỏ đôi chút thiện cảm với chị, nhưng bà lại là người ít nước mắt, đẩy đà và khỏe mạnh - không thể mỗi lúc một khóc ồ ạt như người chị. Quá cố gắng, mặt bà nhăn nhúm lại một cách lạ kỳ, Maggie chăm chú quan sát hai người, cảm thấy chắc có chuyện buồn rầu gì đó về chiếc nón của bà Pullet, vì còn nhỏ quá nên không hiểu nổi.
      Lúc xuống nhà dưới, mọi người được ông Pullet đón tiếp với ánh mắt thông cảm, ông biết vợ mình vừa khoe nón, bởi chỉ có việc đó mới khiến họ ở trên lầu khá lâu. Đối với Tom, khoảng thời gian đó còn kéo dài hơn nữa, vì nó phải ngồi buồn tẻ, gượng gạo trên mép chiếc ghế dài đối diện với người dượng, ông nhìn nó với đôi mắt sáng màu xám tro, và thỉnh thoảng gọi nó là «cậu». 
      «Này, cậu, cậu học những môn gì ở trường?» đó là câu dượng Pullet hay hỏi nhứt. Còn Tom thì luôn luôn rụt rè, lúng túng, nó vuốt mặt và đáp «Dạ, cháu không biết». Tom vô cùng bối rối khi ngồi riêng với dượng, bối rối đến nỗi nó không thể nhìn được những bức tranh trên tường, những lòng chim hay những chậu hoa quí giá, nó không nhìn được gì ngoài dáng điệu của dượng Pullet. Không phải thằng bé khiếp sợ trước oai nghi ông dượng, thật vậy, nó đã tự hứa là sẽ không bao giờ làm đại điền chủ, vì nó không muốn trở thành một người chân tay lỏng khỏng và ngây ngô như ông Pullet – một mẫu người nhu nhược – Sự bối rối của một thằng bé không phải là dấu hiệu bị chế ngự và nếu nghĩ rằng nó đã bối rối vì tuổi tác và trí khôn thì quả là một sai lầm lớn và nếu nó biết có người đã hiểu lầm như vậy, chắc chắn nó sẽ cho là quái dị. Một điều tưởng cũng cần nên biết là một cậu bé người Hy Lạp nào cũng có thể suy luận được như Aristotle. Chỉ khi nào ta khuất phục được một con ngựa chứng, một người phu xe, hay một khẩu súng trong tay, thì lúc đó các cậu bé rụt rè mới thật sự coi ta là một người đáng phục. Ít nhứt, ta cũng có thể đoán chắc được rằng Tom Tulliver thuộc vào loại cậu bé vừa nói tới.  
      Niềm an ủi duy nhứt của Tom lúc ngồi nói chuyện riêng với dượng Pullet là thỉnh thoảng được dượng cho một viên kẹo hoặc uống vài giọt bạc hà. Sự xuất hiện của hai cô bé Maggie và Lucy làm dượng Pullet nhớ tới một số bánh ngọt nho nhỏ mà ông đã cất riêng để ăn vào những ngày mưa, nhưng khi mấy đứa trẻ vừa cầm lấy bánh thì dì Pullet vội cản, bảo rằng khi nào được dọn lên mâm rồi hãy ăn, vì sợ chúng đánh rơi vụn bánh đầy thảm lót. Lucy thì kiên nhẫn đợi, một phần vì cô bé thấy chiếc bánh quá đẹp nên tiếc và chưa muốn ăn ngay, còn Tom thi thừa lúc người lớn mãi mê trò chuyện, lén cắn hai miếng và ngốn luôn một hơi hết sạch. Riêng Maggie thì say mê ngắm bức tranh Ulysses và Nausicaa đến nổi đánh rơi chiếc bánh và vô tình dẫm chân lên. Cái lỡ tay đó khiến dì Pullet phiền hà vô cùng; cô bé cảm thấy mình đã tạo một ấn tượng xấu nơi mọi người nên bắt đầu lo dượng Pullet sẽ không cho mình nghe hộp nhạc của ông. Sau một lúc suy nghĩ, Maggie bảo nhỏ với Lucy, và Lucy - vốn ai biểu gì cũng nghe - chạy ùa tới ôm chân dượng, mặt đỏ bừng, ấp úng:
      -     Thưa dượng, dượng cho chúng con nghe hộp nhạc được không?
      Để coi đó là câu mà ông thường trả lời trong những trường hợp tương tự, nhưng chỉ vài phút sau là ông cũng làm theo lời yêu cầu. 
      Có lẽ những phiền muộn trong Maggie đã tan biến ngay khi những âm điệu tuyệt diệu đầu tiên trỗi dậy, có lẽ Maggie đã quên mất là Tom hãy còn giận mình khi vừa được phủ lên một luồng sáng hạnh phúc huyền dịu, cô ngồi yên, hai tay khoanh trước ngực, nhìn con gái trong dáng điệu đó, bà Tulliver không khỏi cảm thấy an ủi phần nào, trông nó cũng xinh xắn như ai, chỉ phải tội cái màu da hơi đen mà thôi. Nhưng khi những âm thanh tuyệt vời kia vừa ngừng lại, Maggie nhảy phất lên, chạy tới bá cổ Tom:
      -     Nhạc hay ghê hả, anh Tom?
      Chẳng may cho Maggie là Tom đang cầm một ly rượu ngọc trâm trên tay, cử chỉ của cô bé làm ly rượu đổ ra ngoài một nửa. Thằng bé giận dữ quắt mắt:
      -     Mày có thấy gì đây không?
      Bà Tulliver không nhịn được:
      -     Maggie, mày ngồi yên không được sao?
      Dì Pullet châm thêm:
      -     Con gái mà bộp chộp như vậy thì không được tới đây, nghe chưa?
      Dượng Pullet cũng phụ họa:
      -     Sao nóng nảy quá vậy, cô nhỏ?
      Cô bé đáng thương lại ngồi xuống, bao cảm hứng về âm nhạc đều bị xóa tan, tâm hồn cô lại nặng trĩu như trước đây vài phút.
      Bà Tulliver nghĩ là không nên để bọn trẻ trong nhà lâu hơn nữa, nhân cơ hội đó liền đề nghị cho chúng chơi ở ngoài vườn. Dì Pullet đồng ý nhưng còn căn dặn chúng chỉ được dạo trên lối đi mà thôi, và không được ra khỏi vườn và nếu có muốn xem sân gà vịt thì phải đứng ngoài rào chớ không được lai gần, lý do của sự chế này là vì đã có lần người nhà bắt gặp quả tang Tom đang rượt đuổi con công, với ảo vọng là sự sợ hãi sẽ làm cho nó rụng đi vài chiếc lông sặc sỡ. 
      Lũ trẻ đã đi rồi, nổi băn khoăn của ngày qua trở lại ám ảnh bà Tulliver, bà khơi mào:
      -     Từ hôm chị Glegg trở về tới nay, sao tôi thấy lo ngại quá. Thật tình tôi đâu có muốn làm cho chỉ buồn.
      Bà Pullet thở dài:
      -     Ôi! Ai mà biết được chị Jane sẽ làm gì. Nhưng tôi không hiểu tại sao chị lại sống kham khổ quá. Tôi vẫn thường nói với ông Pullet về chuyện này luôn.
      Ông Pullet xác nhận:
      -     Thì bà đã nói với tôi như vậy khi mình vừa dùng trà ở nhà anh chị ấy về. 
      Ông vừa nói vừa xoa đầu gối và trải khăn tay lên đó - một thói quen mỗi khi ông bắt đầu chú ý tới câu chuyện đang bàn luận.
      Bà Pullet gật đầu:
      -     Đúng vây, ông vẫn luôn luôn ghi nhớ những gì tôi nói.
      Rồi quay sang nhìn bà Tulliver:
      -     Ông Pullet nhớ dai lắm, nếu không có ổng, chẳng biết tôi sẽ ra sao, ổng luôn luôn nhớ rõ giờ uống thuốc của tôi mà hiện giờ tôi đang uống tới ba loại khác nhau - Thuốc viên mỗi tối trước khi ngủ, thuốc giọt lúc mười một giờ và bốn giờ và thuốc nước «khi nào thấy cần». 
      Bà Tulliver góp ý:
      -     Phải chi thỉnh thoảng chị Glegg chịu đi khám bịnh một lần, thay vì cứ ở nhà nhai vỏ cây đại hoàng luôn thì có lẽ đã khá hơn.
      Bà Pullet đưa hai tay lên, rồi lại buông thỏng xuống:
      -     Thật là khủng khiếp khi con người đùa cợt với sinh mạng của mình. Chẳng khác nào chúng ta lăng mạ Tạo Hóa. Ngài tạo ra các vị bác sĩ làm gì, nếu không phải để săn sóc sức khỏe cho chúng ta. Tôi đã nói với chị Jane như vậy hơn một lần rồi, thật là khổ! 
      Ông Pullet xen vào: 
      -     Chúng ta chẳng có gì phải hổ thẹn vì bác sĩ Turnbull, sau khi bà Sutton mất, đâu còn thân chủ nào hơn chúng ta được nữa. 
      Bà Pullet làm ra điều quan trọng:
      -     Dì biết không, Bessy - ông Pullet để dành lại hết các chai thuốc cũ của tôi. Ông không chịu bán một cái nào. Chúng đã chất đầy hai kệ dài trong nhà kho - nhưng... 
      Và bà bắt đầu thút thít:
      -     ...Biết đâu tôi lại qua đời trước khi ông Pullet chất đầy kệ thứ ba. Còn các hộp thuốc viên đựng trong tủ ở phòng riêng - dì sẽ nhớ tới những chỗ đó, Bessy à - nhưng chẳng có gì để lưu niệm mấy hoàn thước lớn, ngoại trừ những bien lai tính tiền.
      Bà Tulliver nói:
      -     Xin chị đừng nói tới chuyện đau buồn đó. Chị mà mất đi là chẳng còn ai làm trung gian giữa tôi với chị Glegg nữa, và cũng chẳng có người nào nói cho chị ấy tha thứ cho ông Tulliver, dì Deane thì chẳng bao giờ về phe tôi cả.
      Bà Pullet rầu rĩ:
      -     Dì Bessy, chồng của dì rất khó ưa. Không bao giờ ông chịu cư xử tử tế với họ hàng bên mình, còn mấy đứa nhỏ thì lại giống ông như tạc – thằng con trai thì tinh nghịch, cứ lánh mặt các dì dượng luôn, còn đứa con gái thì vụng về đen đúa. Thật không may cho dì, tôi tiếc cho dì quá bởi dì là người tôi mến nhứt trong các chị em mình.
      Bà Tulliver vừa nói vừa chùi một giọt nước mắt nhỏ nơi khóe:
      -     Tôi biết ông Tulliver hấp tấp và hay nói những điều không phải.
      Bà Pullet cảm động:
      -     Tôi không muốn làm gì buồn, Bessy, vì tôi biết dì cũng còn nhiều chuyện phải lo nghĩ, chồng của dì phải lo giúp đỡ cho cô em nghèo và bầy con của cô ấy – ông lại thích tranh tụng nữa, ai cũng nói vậy. Tôi sợ rằng sau khi ông Tulliver mất thì mẹ con dì sẽ lâm cảnh túng cùng.
      Trước viễn ảnh đen tối đó, bà Tulliver chỉ biết ngậm ngùi:
      -     Tôi đoán chắc với chị là không một người đàn bà nào chăm lo cho con cái, gia đình bằng tôi. Trong buổi tẩy uế ngày lễ Ngự Cáo vừa qua, tôi làm việc một mình bằng hai cô gái, và tự tay tôi làm rượu hương mộc nữa - ngon lắm! Tôi vẫn thường pha vào đó chút sherry, dầu chị Glegg vẫn trách tôi là hoang phí. Chính một tay tôi coi sóc việc giữ gìn quần áo và nhà cửa. Không một người nào trong xóm có thể dị nghị được vì tôi không bao giờ làm tổn hại ai. Hễ có dịp là người nào cũng ghé mua thịt heo bâm của tôi, vì thịt bâm tôi làm ngon nhứt ở đó, cả hàng vải do tôi dệt cũng vậy. Dầu mai này có chết, tôi cũng không thấy hổ thẹn chút nào. Tôi đã làm hết sức một người đàn bà rồi.
      Bà Pullet nghiêng đầu qua một bên, ánh mắt buồn bã vẫn không rời người em.
      Nhưng dì cũng thừa biết mọi cố gắng của dì đều vô ích, nếu người chồng cứ phung phí tiền bạc như lúc này. Nhưng nếu dì phải bán hết đồ đạc để trả nợ thì nói cho đúng, dì đã giữ gìn đồ đạc thật cẩn thận. Và những tấm hàng vải với dấu hiệu riêng thời con gái của dì sẽ phải tản mát ra khắp xứ, thật là một chuyện đáng buồn cho gia đình ta.
      Bà Pullet lại lắc đầu. Giọng bà Tulliver nghe bi thảm:
      -     Nhưng tôi có biết phải làm sao đâu? Ông Tulliver không phải là người dễ sai khiến. Và tôi cũng chẳng am hiểu gì về chuyện làm ăn của đàn ông cả. 
      Bà Pullet đáp:
      -     Dì cũng giống tôi về phương diện này, Bessy. Chúng ta có rất nhiều điểm giống nhau, nhưng giữa tôi và chị Jane thì lại khác. 
      -     Phải đó, Sophy, tôi nhớ là chúng ta có hai xấp hàng xanh đốm trắng giống nhau -- tôi vừa cắt một miếng để may vải lót giường. Nhưng chị nghĩ xem có thể qua nói giúp với chị Glegg cho tôi được không và năn nỉ chị ấy bỏ qua cho ông nhà tôi -- tôi biết chỉ có chị là luôn luôn tử tế với tôi.
      -     Tốt nhứt là ông Tulliver nên đích thân qua đó để xin lỗi chị Glegg. Đã là con nợ của người ta thì đáng lý ông phải biết thân biết phận chớ.
      Bà Tulliver nói gần như gắt:
      -     Không được đâu. Dầu bây giờ tôi có quì gối xuống van xin, ông cũng không bao giờ chịu làm như vậy.
      -     Vậy thì dì đừng mong tôi năn nỉ chị Jane đi xin lỗi chồng dì. Chị ấy cũng cố chấp và nóng tánh lắm, dầu rằng trong gia đình chúng ta không có người nào phải vào nhà thương điên.
      Bà Tulliver nói:
      -     Tôi không dám mong tới chuyện năn nỉ chị Glegg xin lỗi nhà tôi. Nhưng nếu chị ấy chịu bỏ qua và đừng đòi tiền lại lúc này... tôi chỉ ước ao có bao nhiêu đó thôi. Thời gian sẽ hàn gắn tất cả, dần dần ông Tulliver sẽ quên đi, và hai người sẽ thân thiện với nhau trở lại.
      Thì ra bà Tulliver không hề hay biết việc chồng mình đã nhứt quyết trả lại năm trăm bảng cho bà Glegg, hay ít ra, một quyết định như vậy cũng vượt ngoài khả năng tin tưởng của bà.
      Bà Pullet buồn rầu:
      -     Được rồi, Bessy, tôi cũng không muốn làm cho dì phải bị phá sản. Tôi sẽ cố gắng giúp, tôi không muốn người ta xầm xì rằng trong gia đình mình có chuyện bất hòa nhau. Tôi sẽ nói với chị Jane như vậy. Nếu ông Pullet thấy không có gì trở ngại, thì ngày mai tôi qua đó. Ông nghĩ sao, ông Pullet?
      -     Không có gi trở ngại cả.
      Ông Pullet vẫn chờ dịp để chứng tỏ cho ông Tulliver thấy sự hiệu nghiệm trong đường lối làm ra tiền của ông. Ông thắc mắc không hiểu người ta sẽ làm cách nào để bảo đảm cho tiền bạc của mình, nếu không đầu tư vào đất đai.
      Sau khi bàn luận thêm một chút nữa để xem có nên cho bà Tulliver tháp tùng trong chuyến viếng thăm bà Glegg hay không, bà Pullet thông báo đã tới giờ trà, bà tới mở một ngăn kéo lấy ra một tấm lụa damask thật đẹp dùng làm khăn ăn.
      Cửa mở, nhưng thay vì đem trà bánh vào, Sally lại đưa vào phòng một vật làm mọi người hoảng hốt đến nổi cả hai bà Pullet và Tulliver đều rú lên, trong khi ông Pullet nuốt chững viên kẹo thuốc – đó là lần kinh hoàng thứ năm trong đời ông, như sau này ông kể lại.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
10
 
 
NHÂN VẬT LÀM CHO MỌI NGƯỜI HOẢNG HỐT và khiến dượng Pullet phải nuốt chững viên kẹo thuốc không ai khác hơn là cô bé Lucy. Một bên người cô bé ướt đẫm và bê bết bùn từ đầu tới chân, với đôi tay nhỏ nhắn lấm đen và gương mặt vô cùng thiểu não.
      Muốn rõ tại sao có cảnh tượng này, chúng ta phải trở lại thời gian bọn trẻ ra ngoài. Tất cả những phiền muộn ban sáng bỗng đổ sô trở lại đè nặng Maggie và làm cô ủ rủ.
      Vẫn còn giận em vì chuyện làm đổ rượu lúc nãy, Tom quyết định không ngó ngàng gì tới Maggie nữa, nó gọi Lucy:
      -     Ê, Lucy, theo anh lại đây chơi.
      Và nó đi thẳng tới khu vực có nhiều cóc trong vườn. Mặt Maggie sa sầm lại. Lucy rất thích thái độ ân cần của Tom và cũng thích xem Tom dùng cây chọc lũ cóc, nhưng cô bé lại cũng thích có Maggie tham dự trò chơi cho vui, đặc biệt nhứt là Maggie có thể đặt tên cho mấy con cóc và kể cho nghe lai lịch chúng - Lucy rất thích nghe Maggie kể cho nghe những câu chuyện về đời sống của động vật, thí dụ như chuyện Bà Cuốn chiếu rửa nhà như thế nào, và một đứa con của bà đã lọt vào chảo nóng ra làm sao.
      Nghĩ thế, Lucy liền chạy tới gọi Maggie:
      -     Ồ, Maggie ơi! Ở đây có con cóc lớn lắm tới coi.
      Nhưng Maggie thì nhăn mặt và lẳng lặng quay đi. Chừng nào Tom còn thân thiện với Lucy hơn thì Lucy vẫn còn là một phần tử trong thái độ hẹp hòi của Tom. Trước đây, Maggie nghĩ rằng mình không bao giờ có thể gay gắt được với một cô bé xinh xắn như Lucy, cũng như không ai nỡ độc ác với những con chuột bạch nhưng bây giờ Maggie thấy cần phải nhéo hay tát tai cho Lucy khóc và nhứt là phải làm cho Tom tức giận. Nếu không có sự hiện diện của Lucy, có thể Tom sẽ làm lành với em sớm hơn.
      Nhưng chọc phá mãi mấy con cóc cũng đâm chán, Tom bắt đầu nhìn quanh quất để tìm một trò chơi mới. Nhưng trong khu vườn sang trọng này chẳng còn một trò chơi nào khác hơn được nữa, nhứt là dì Pullet đã cấm rời khỏi các lối đi trong vườn. Tuy nhiên, niềm vui sướng tuyệt dịu nhứt trong lúc bị cấm đoán là niềm vui khi được vượt ra ngoài sự cấm đoán đó. Và Tom suy tính tới một cuộc thám du ao nước nằm trong cánh đồng ở ngoài vườn. 
      Tom gục gặc đầu:
      -     Này, Lucy, mày biết tao tính làm gì không?
      Lucy tò mò:
      -     Cái gì, anh Tom?
      -     Tao tính ra ngoài ao coi cá măng. Nếu mày muốn, tao sẽ cho theo.
      Lucy kêu lên:
      -     Ồ, anh Tom, sao anh dám đi? Dì đã dặn không được ra khỏi vườn mà. 
      Tom đáp:
      -     Có gì đâu, đi tới cuối vườn sẽ có ngõ ra. Không ai thấy mình đâu. Hơn nữa, họ có thấy tao cũng không sợ - tao sẽ chạy vào nhà luôn.
      Chưa từng liều lĩnh bao giờ, Lucy ngần ngại:
      -     Nhưng em không chạy được.
      -     Đừng lo, họ không bao giờ mắng mày đâu. Mày nói là tại tao dẫn đi.
      Tom đi ra khỏi vườn, Lucy chạy lúp xúp theo, cô bé vừa hồi hộp vừa sung sướng về hành động can đảm lần đầu tiên, hơn nữa, cô bé còn hồi hộp hơn vì biết mình sắp thấy được cá măng, mà cô chưa bao giờ thấy hình thù ra sao cả. Thấy cả hai đã ra khỏi vườn, Maggie không dằn được, cô cũng ra theo. Khi giận dữ và ghen tức cũng như yêu thương, người ta không muốn vắng mặt đối tượng của mình, hơn nữa Maggie không thể chấp nhận sự kiện Tom và Lucy đi chơi riêng với nhau. Vì vậy cô bé lẽo đẽo theo sau cách chừng vài bước. Thế nhưng Tom cũng không chú ý gì tới em, nó đang tìm kiếm con cá măng đặc biệt – con cá mà nó được nghe kể là quá già và rất lớn. Cá măng, cũng như những bậc vĩ nhân, không muốn tìm lúc nào cũng gặp. Nhưng ngay lúc đó, Tom chợt thấy một vật gì di chuyển thật mau giữa bụi rậm trên bờ ao. 
      Nó rối rít:
      -     Ê, Lucy! Lại mau! Đi trên cỏ, đừng bước xuống vết chân bò.
      Tom vừa gọi vừa chỉ một giải đất có cỏ khô ráo, hai bên toàn là bùn sền sệt, nó cho rằng chẳng một đứa con gái nào biết đi đứng giữa một vùng dơ bẩn cả.
      Lucy cẩn thận dọ dẫm theo lời chỉ của Tom và khom người xuống nhìn một vật gì trong giống như đầu một mũi tên vàng đang rẽ nước tiến phăng phăng. Tom cho biết đó là một con rắn nước, nhưng chỉ tới khi thấy được thân hình uốn éo của con vật, Lucy mới tin chắc đó là một con rắn và rất ngạc nhiên không hiểu tại sao rắn có thể lội được. Maggie cũng đã tới sát Tom và Lucy - cô bé cũng phải thấy cho được con rắn nước, dầu đó là việc chua xót cho mình kể từ khi Tom đâm ra lơ là. Đã thấy Maggie tới từ lâu, nhưng Tom không chú ý; và bây giờ nhớ ra, nó quay lại gắt: 
      -     Đi chỗ khác, Maggie, ở đây không đủ chỗ cho mày. Có ai rủ mày tới đâu.
      Cơn phẫn nộ của Maggie lúc đó đã lên tới mức tận cùng và đã thúc đẩy cô hành động: hai cánh tay nhỏ ngâm đen vung lên và cô bé trắng hồng Lucy ngã nhào xuống bùn.
      Tom không thể dằn được nữa, nó đánh hai cái thật mạnh vào tay Maggie, rồi chạy lại đỡ Lucy đang nằm khóc nức nở. Maggie lùi lại một gốc cây cách đó vài thước, mặt thản nhiên. Mỗi khi làm bậy, Maggie thường hối hận rất mau nhưng hôm nay Tom và Lucy đã làm cô khổ sở quá rồi, cho nên cô bé lại càng thấy khoan khoái khi gây rối và khổ sở cho mọi người. Tại sao phải hối hận? Dầu Maggie có tỏ vẻ ăn năn tới mấy, Tom cũng vẫn không tha thứ kia mà.
      Tom gằn giọng sau khi đã đỡ Lucy lên:
      -     Tao sẽ méc má cho mày coi.
      Tom không có thói «méc», nhưng rõ ràng là lần này, vì công bằng, nó phải dùng tới hình phạt tối đa này, Lucy vô cùng ngạc nhiên trước tai họa vừa xảy đến cho mình. Cô không bao giờ ngờ được rằng mình đã làm cho Maggie giận, mà chỉ cảm thấy Maggie thật khó chịu và độc ác với mình thôi. Bởi thế cô bé không buồn năn nỉ Tom đừng méc Maggie nữa, mà chỉ khóc tức tưởi chạy theo Tom, trong khi Maggie ngồi yên dưới gốc cây nhìn theo với nét mặt hung tợn.
      -     Sally!
      Tom gọi chị người làm khi hai đứa về tới cửa nhà bếp, Sally ngẩn người nhìn chúng với một miếng bánh mì phết bơ trong miệng và còn nửa chiếc trong tay.
      -     Sally, chị nói với má tôi là Maggie vừa xô Lucy té xuống bùn.
      Sau khi xem xét nạn nhân, Sally nhăn mặt:
      -     Chúa ơi! Tại sao cô cậu lại tới gần bùn quá vậy?
      Trí tưởng tượng của Tom không được bén nhạy lắm nên nó không đoán trước được câu hỏi đó, nhưng nó cũng thấy ngay là câu hỏi sẽ gây rắc rối cho nó và Maggie sẽ không phải là đứa duy nhứt phạm tội trong chuyện này. Nó lẳng lặng bước ra ngoài, để mặc cho Sally tự chọn lấy câu trả lời.
      Và như đã nói, Sally dẫn ngay Lucy lên phòng khách.
      Sau khi hoàn hồn, dì Pullet liền kêu lên:
      -     Trời ơi! Đừng cho nó vô phòng, Sally! Đừng cho nó đứng lên thảm vải dầu.
      Bà Tulliver bước ra lo lắng cho Lucy vì trách nhiệm của mình với bà Deane.
      -     Ủa, con bé ngã xuống vũng bùn nào rồi đây mà.
      Sally đáp:
      -     Dạ thưa, chính cô Maggie đã xô cô Lucy xuống bùn. Cậu Tom nói với tôi như vậy, chắc các cô cậu đã ra chơi ngoài ao, chỉ có chỗ đó mới dơ như vậy.
      Bà Pullet rầu rỉ:
      -     Đó, thấy chưa, Bessy, đúng như tôi đã nói với chị. Mấy đứa con của chị – chẳng ai biết nổi là sau này chúng sẽ ra sao nữa... 
      Bà Tulliver nghẹn ngào, bà thấy mình quả thật là một bà mẹ khổ sở nhứt đời. Nhưng thường lệ, bà nghĩ tới chuyện rồi đây người ta sẽ nói với nhau là kiếp trước bà đã ăn ở thất đức nên kiếp này phải chịu quả báo. Trong lúc đó, bà Pullet chỉ dẫn Sally cách đưa Lucy xuống bếp mà không làm dơ nhà.
      Bà bếp thay Sally dọn trà bánh lên, hai đứa trẻ phạm tội bị phạt phải dùng trà dưới bếp. Một lúc sau, bà Tulliver ra ngoài tìm lũ trẻ để la rầy. Bà nghĩ là chúng vẫn còn quanh quẩn trong nhà, nhưng phải tìm kiếm một lúc lâu bà mới thấy Tom đang thản nhiên đứng dựa lưng vào bức tường trắng của sân gia cầm.
      Bà xẵng giọng:
      -     Thằng hư kia, em mày đâu?
      -     Con không biết.
      Mẹ cậu bé vừa hỏi vừa nhìn quanh:
      -     Mày để nó lại ở đâu?
      Tom dửng dưng:
      -     Nó ngồi ở gốc cây gần ao.
      -     Ra kêu nó về đây ngay, đồ hư. Tại sao mày lại bày chuyện ra bờ ao và dẫn em vào chỗ đó? Mày không biết là nó hay nghịch ngợm sao?
      Ý nghĩ Maggie đang ngồi một mình ngoài bờ ao lại khơi dậy mối lo thường ngày trong lòng người mẹ, bà leo lên chuồng ngựa, nhìn ngóng ra đồng, trong lúc Tom lửng thửng bước đi.
      Bà Tulliver vụt nói lớn mặc dầu chung quanh bà chẳng có người nào cả:
      -     Đứa nào thích chơi đùa ngoài hồ ao như tụi bây thế nào cũng có ngày chết chìm. Ước gì mấy con sông ở xa nhà người ta hơn một chút.
      Một lúc sau, thấy Tom từ ngoài ao về có một mình, bà Tulliver hoảng hốt chạy tới. Tom nói mau:
      -     Con tìm chung quanh ao mà chẳng thấy Maggie đâu, chắc nó về rồi.
      Dầu bàng quan tới đâu, ai cũng có thể đoán được người trong nhà xôn xao tới mức nào, họ hoảng hốt đổ xô đi tìm Maggie và cố gắng thuyết phục bà Tulliver rằng chắc chắn con gái bà không có ở dưới áo. Bà Pullet cho rằng nếu con bé đó còn sống thì nó cũng hư hỏng quá mức rồi. Riêng dượng Pullet thì vô cùng bối rối, hoảng sợ trước cảnh tượng xôn xao đó - bữa trà ngưng ngang, gà vịt trong sân kêu la rầm rĩ trước những bước chân chạy dọc chạy ngang - Ông vớ lấy một cây cuốc giẫy cỏ, chạy lại mở cửa chuồng ngỗng như để tìm Maggie trong đó. 
      Sau cùng, Tom nhắc khéo là chắc Maggie đã trở về nhà. Nghe nói vậy, bà Tulliver bớt sợ đôi chút. 
      Bà nói với bà Pullet:
      -     Chị làm ơn cho người làm đánh xe đưa tôi về - có lẽ tôi sẽ tìm được con bé quỉ quái ấy dọc đường. Hơn nữa, con Lucy đã làm dơ hết quần áo, không thể cho nó đi bộ được.
      Bà vừa nói vừa nhìn Lucy, cô bé lúc này đang quấn người trong một chiếc khăn choàng lớn, đứng run rẩy trên trường kỹ. 
      Muốn lấy lại trật tự và yên tĩnh trong ngôi biệt thự của mình, bà Pullet sẵn sàng cho mượn xe ngay. Và một lúc sau, bà Tulliver đã ngồi trên băng trước của cổ xe ngựa, mắt lo âu theo dõi từng chiếc bóng một trên đường. Ông Tulliver sẽ nói gì, làm gì nếu Maggie thật sự mất tích rồi? Câu hỏi ghê gớm đó cứ dán chặt bên bà.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
11
 
 
MAGGIE THƯỜNG CÓ NHIỀU Ý ĐỊNH LIỀU LĨNH hơn Tom tưởng. Sau khi Tom và Lucy đi khỏi, cô bé đã có một quyết định không giản dị là trở về nhà như Tom nghĩ. Không! Cô sẽ trốn đi sống với dân du mục, và Tom sẽ không bao giờ gặp lại cô. Đây không phải là một tư tưởng mới mẻ đối với Maggie, người ta vẫn luôn nói với Maggie rằng cô giống y như người du mục, và trong những lúc khổ tâm, cô thấy hình như đó là phương cách duy nhứt giúp mình thoát khỏi bao nhiêu phiền muộn. Không có gì phù hợp với hoàn cảnh bằng cách sống chung với dân du mục trong một túp lều nâu. Maggie cho rằng người du mục sẽ nồng nhiệt tiếp nhận và sẽ kính trọng nhiều vì cô hiểu biết hơn họ rất xa. Maggie đã có lần bàn chuyện này với Tom, và xui Tom nên làm cho da mặt đen xám đi rồi cùng nhau đi trốn. Nhưng Tom đã khinh bỉ loại bỏ kế hoạch đó và bảo rằng dân du mục hay trộm cắp, không đủ ăn và không có gì để cởi ngoài mấy con lừa.
      Tuy nhiên, hôm nay Maggie nghĩ rằng chỉ còn có một lối thoát duy nhứt là theo người du mục. Cô đứng lên, rời khỏi gốc cây với cảm giác đây là một cơn khủng hoảng lớn lao nhứt đời mình, cô sẽ chạy một mạch tới khu Dunlow, nơi cô biết chắc có dân du mục đang ở đó. Anh Tom độc ác và những người hay rầy sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa. Trong khi đang chạy, Maggie chợt nghĩ tới cha, nhưng rồi cô bé quyết định sẽ nhờ một đứa bé du mục bí mật mang thơ tới cho cha cô, rồi sau đó sẽ chạy đi ngay, để báo cho ông là cô vẫn mạnh khỏe, sung sướng và lúc nào cũng nhớ tới ông.
      Chạy được một đoạn, Maggie bắt đầu thấm mệt, và khi Tom trở lại ao thì Maggie đã cách xa đó ba cánh đồng và đang ở trên con đường mòn dẫn vào hương lộ. Cô bé dừng lại để thở và bắt đầu nhận ra rằng bỏ nhà đi không phải là một chuyện thú vị, trừ khi đã tới được lều trại của dân du mục. Dầu vậy, cô bé vẫn chưa thấy nao núng, con đường đang đi không phải là con đường nối liền Dorlcote với Garum, do đó chẳng một ai có thể đuổi kịp. Ngay lúc đó, Maggie bỗng run bắn lên khi thấy hai người đàn ông đi về phía mình, cô bé không dự phòng trường hợp phải đối phó cùng người lạ. Đó là hai người ăn mặc rách rưới và có vẻ hung dữ, một người mang bị ở đầu - gậy vắt ngang vai nhưng thật ngạc nhiên giữa lúc Maggie lo ngại bị họ bắt trả về nhà mình thì người đàn ông mang bị gậy lên tiếng nửa than van nửa nịnh bợ, hỏi Maggie xem có đồng nào bố thí hay không, Maggie lật đật móc túi lấy sáu xu - dượng Pullet cho - đưa cho người ăn mày với nụ cười lịch sự, hy vọng rằng y sẽ cảm động vì tấm lòng quảng đại của mình.
      Cô nói với giọng hối tiếc:
      -     Chỉ có bao nhiêu đó thôi.
      -     Cám ơn cô.
      Người ăn mày trả lời bằng một giọng không được tôn kính và ân cần. Maggie hy vọng, cô còn thấy y nháy mắt mỉm cười với người kia. Maggie bèn vội vàng bước đi, nhưng có cảm tưởng là hai người ăn mày vẫn còn đứng yên nhìn theo mình, và ngay lúc đó cô nghe họ cười sặc sụa. Maggie chợt nghĩ có lẽ họ cho mình là một con điên, và đó là một ý nghĩ quá đau xót để có thể quên đi. Hơn nữa, cô lại không mang khăn choàng cổ, chỉ có áo choàng không tay với nón thôi. Hiển nhiên là cô không tạo được cho người qua đường một ấn tượng tốt về mình, do đó cô thấy cần phải rời hương lộ để vào đồng trở lại. Maggie vượt qua một cổng nông trại không khóa và đi bọc theo các hàng rào cây, cô bé vẫn thường đi dạo lẽ loi trên đồng, ở đó cô thấy tự nhiên hơn ở ngoài đường lộ. Thỉnh thoảng cô phải leo qua vài cánh cổng cao nghệu, nhưng cũng chẳng sao. Mãi một lúc lâu, Maggie đã vượt hết cánh đồng xanh và thấy mình đứng trước một cái cổng nhìn ra con đường mòn với hai rìa cỏ rộng hai bên. Chưa bao giờ Maggie thấy đường đất rộng đến thế, và không hiểu sao cô có cảm giác là khu hạ trại của dân du mục không còn xa mấy, có lẽ vì cô vừa nhìn thấy một con lừa, chân cột vào một khúc gỗ to đang gặm cỏ gần đó. Trước đây, khi có dịp cùng cha đi ngang vùng Dunlow, Maggie đã thấy dân du mục cột lừa theo cách này. Cô bé chui qua cổng, bước vào con đường đất với một tinh thần mới, cô bắt đầu thấy sợ - sợ vì đã vội vàng lao đầu vào cuộc phiêu lưu để tìm kiếm một sự tương trợ vu vơ - dân du mục - Và bây giờ một mình trên con đường xa lạ, cô không dám nhìn ngang nhìn ngữa vì sợ sẽ gặp phải ác quỉ hay những tên cướp đường hung ác đang đứng chống nạnh, nhe răng cười kinh khiếp.
      Maggie bỗng giật nẩy mình khi nhìn thấy hai bàn chân trần nhô ra từ một đụn đất nhỏ, bàn chân chỉa lên trời – hai bàn chân trông thật dễ sợ như hai cây nấm ma. Đó là một thằng bé rách rưới đang nằm ngủ. Maggie đi nhanh và nhẹ nhàng hơn để khỏi làm nó thức giấc: cô bé không ngờ rằng đó chính là một trong những người bạn du mục của cô, những người có lẽ có nhiều đức tính phi thường. 
      Tới một khúc quanh, Maggie nhìn thấy một căn lều tròn, màu đen và một làn khói xanh trước cửa lều, nơi cô sẽ xa lánh được những phiền muộn vẫn thường quấy rầy cô trong đời sống văn minh. Một dáng đàn bà cao lớn hiện ra bên cạnh cột khói - có lẽ là một bà mẹ du mục, người thường bán dạo trà và các loại hàng tạp nhạp - Maggie hơi thất vọng khi tìm ra những người du mục trên lề một con đường thay vì trong một khu cắm trại, thật vậy, cô vẫn tưởng tượng người du mục phải sống ở những nơi hẻo lánh, sau những cồn cát, ngoài tầm mắt mọi người. Tuy nhiên, cô bé vẫn tiếp tục đi về phía lều cảm thấy an ủi đôi chút khi nghĩ rằng dân du mục sẽ không coi cô là một «con điên», vì chắc chắn họ không biết gì nhiều về những người điên. Dĩ nhiên, sự xuất hiện của Maggie đã làm cho mấy người du mục chú ý, vì người đàn bà cao lớn bên đống lửa - đúng hơn là một thiếu phụ đang ẩm một đứa bé trên tay - đang chậm rải bước tới. Maggie hơi run rẩy khi ngước lên nhìn mặt người thiếu phụ, quả thật dì Pullet và mấy người kia đã có lý khi bảo cô giống như một con bé du mục, gương mặt, đôi mắt đen sáng, mái tóc dài của người đàn bà này trong rất giống hình ảnh của cô trong tấm gương soi trước khi tóc bị cắt ngắn đi.
      Người đàn bà tỏ ra ân cần:
      -     Tiểu thơ đi đâu vậy?
      Thật là sung sướng, đúng như Maggie tiên đoán, người du mục nhận thấy cô là một «tiểu thơ». 
      Maggie tưởng chừng mình đang nói trong mơ:
      -     Tôi không đi sâu xa hơn nữa, tôi tới đây để sống với các người.
      Người đàn bà nắm lấy tay Maggie:
      -     Vậy thì tốt quá - mời cô lại đây.
      Maggie cảm thấy dễ chịu, nhưng ước gì người đàn bà đừng quá bẩn.
      Một nhóm người quây quần bên đống lửa. Một bà lão ngồi bệt dưới đất tay bó gối, thỉnh thoảng lại thò muỗng quậy quậy trong cái nồi kê trên lửa làm bốc dậy một mùi hương thoang thoảng: gần đó là hai đứa bé con nằm sấp, chống người trên cùi chỏ trông như hai con nhân sư, và một con lừa đang cúi đầu xuống như một cô gái đang nằm ngửa trên mặt đất, cô ta gãi gãi mũi con vật vã thỉnh thoảng cho nó ăn vài nắm cỏ khô. Nắng chiều dịu dàng trải xuống đám người, tạo thành một cảnh nên thơ và ấm cúng. Maggie chỉ mong họ dọn trà ra ngay. Tất cả sẽ gọn gàng, sạch sẽ sau khi cô dạy cho gia đình này cách sử dụng chậu thau để tấm rửa và thưởng thức những cuốn sách hay. Người thiếu phụ nói chuyện với bà lão bằng một thứ tiếng mà Maggie hoàn toàn mù tịt, trong khi cô gái cho lừa ăn ngồi dậy nhìn cô chằm chặp, chẳng buồn mở miệng hỏi han.
      Cuối cùng bà lão nói:
      -     Cô bé xinh đẹp kia, cô muốn tới ở với chúng tôi à? Ngồi xuống đi và cho chúng tôi biết cô từ đâu tới.
      Thật quả như trong sách, Maggie rất thích được gọi là cô bé xinh xắn và được đối xử như vậy. Cô ngồi xuống: 
      -     Tôi bỏ nhà đi vì chịu không nổi nữa, và tôi muốn trở thành một người du mục, tôi sẽ sống với các người nếu các người muốn, và tôi sẽ dạy cho các người biết thật nhiều chuyện.
      Người thiếu phụ ngồi xuống cạnh Maggie, và thả đứa bé xuống: 
      -     Cô khôn ngoan lắm. Nón và áo của cô đẹp quá! 
      Thiếu phụ vừa nói vừa giở nón ra xem xét kỹ lưỡng và nói với bà lão vài câu cũng bằng ngôn ngữ đặc biệt lúc này. Cô gái cho lừa ăn bỗng giựt chiếc nón, đội lên đầu và nhe răng cười, nhung Maggie cứ làm như không chú ý tới chiếc nón. Cô bé quyết định không cho thấy rõ cá tánh của mình:
      -     Tôi không muốn đội nón, tôi thích đội khăn đỏ như các người hơn. Hôm qua, tóc tôi còn dài lắm, tôi mới vừa cắt ngắn, nhưng chắc chắn nó sẽ dài lại thật mau. 
      Maggie nghĩ rằng có lẽ dân du mục rất thích tóc dài, ngay lúc này cô bé đã quên cơn đói mà chỉ lo thu phục cảm tình của đám người du mục. 
      Bà lão the thé:
      -     Cô tử tế quá! Và chắc là giàu lắm. Nhà cô đẹp lắm, phải không?
      -     Phải, nhà tôi đẹp lắm, và tôi cũng thích sông nữa, chúng tôi vẫn thường ra câu cá - nhưng tôi khổ quá. Đáng lẽ tôi mang sách theo, những vì đi quá gấp... như các người thấy. Dầu vậy, tôi có thể kể lại cho các người nghe những điều tôi đã đọc được trong sách, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần - và hy vọng sẽ làm cho các người hài lòng. Tôi cũng còn có thể nói cho các người nghe về địa dư nữa - môn học này mở ra tất cả mọi thứ trên thế giới - thật bổ ích và thú vị. Các người có bao giờ nghe nói tới Kha Luân Bố chưa?
      Mắt sáng long lanh và hai má bắt đầu ửng đỏ, Maggie đang thật sự giáo huấn dân du mục và cố thu phục cảm tình. Nhưng các người kia chẳng chú ý mấy tới lời nói của Maggie, mà chỉ để tâm tới những món đồ được người đàn bà ngồi bên phải móc ra từ trong túi của cô, trong lúc cô say mê nói.
      Bà lão hỏi:
      -     Kha Luân Bố là chỗ ở của cô hả?
      Maggie thương hại:
      -     Không! Kha Luân Bố là một vĩ nhân, người đã tìm ra phân nửa thế giới, nhưng họ đã dùng dây xích trói ông lại và xử tệ với ông – đó là chuyện tôi đọc trong cuốn Địa lý đại cương, nhưng chuyện con dài lắm, không thể kể xong trước khi uống trà... Tôi cũng đói rồi.
      Những tiếng sau cùng vuột ra khỏi miệng Maggie một cách bất ngờ, dầu cô đã cố kềm chế ngay từ phút đầu.
      Người thiếu phụ làm như ngạc nhiên:
      -     Kìa, cô đã đói rồi sao? Lấy cho một ít đồ nguội. Chắc cô đã đi bộ xa lắm, nhà cô ở đâu? 
      -     Ở nhà máy xay Dorlcote, cách đây xa lắm. Ba tôi tên là Tulliver nhưng đừng nên cho ba tôi biết là tôi đang ở đâu, nếu không, ba tôi sẽ tới bắt tôi về. Nữ hoàng du mục của các người đâu?
      Thiếu phụ ngạc nhiên:
      -     Hả, cô nói gì? Cô muốn đi đâu?
      Cùng lúc đó, cô gái cho lừa ăn nhìn Maggie chằm chập rồi lại nhe răng cười, điệu bộ không chút gì thân thiện.
      -     Không, nếu các người không còn nữ hoàng, các người nên chọn ai thay thế. Nếu tôi là nữ hoàng du mục, tôi sẽ là một nữ hoàng nhân ái, tôi sẽ rất tử tế với mọi người.
      Bà lão lấy trong túi ra một mẫu bánh mì khô và một miếng thịt heo muối trao cho Maggie:
      -     Đây, cô ăn đi.
      Maggie nhìn miếng bánh và thịt nhưng không đưa tay lấy:
      -     Cám ơn, bà có thể cho tôi một miếng bánh mì bơ và chút trà là đủ. Tôi không thích thịt heo muối.
      Bà lão càu nhàu:
      -     Tụi này không có trà mà cũng không có bơ. 
      -     Hay là một miếng bánh mì và chút mật mía cũng được.
      Bà lão thôi vì nễ:
      -     Làm gì có mật mía.
      Hai người đàn bà trao đổi nhau vài câu cộc lốc bằng thứ tiếng riêng của họ, một trong hai con «nhân sư» giật miếng bánh và lát thịt heo muối, nhai ngấu nghiến. Ngay lúc đó cô gái cho lừa ăn, đã bỏ đi từ nãy giờ, bỗng quay trở lại nói cái gì đó làm mọi người nhốn nháo lên. Bà lão hình như đã quên cơn đói của Maggie, vội vàng khuấy liền tay chiếc muỗng trong nồi, còn người thiếu phụ thì chui vào lều rồi trở ra với vài cái dĩa, muỗng. Maggie chợt run lên, cô sợ nước mắt mình sẽ trào ra. Cô gái cho lừa ăn bỗng kêu lên một tiếng the thé, ngay sau đó một thằng bé chạy tới, thằng bé mà Maggie bắt gặp đang ngủ bên mô đất – đó là một đứa con trai xấu xí trạc tuổi Tom. Nó nhìn Maggie đăm đăm rồi quay sang lí nha lí nhí với mấy người kia. Maggie bỗng thấy bơ vơ và tin chắc rằng mình sắp khóc đến nơi. Đám du mục hình như chẳng để ý gì tới người lạ nữa, cô bé bỗng thấy mình hoàn toàn yếu đuối trước mặt họ.
      Nhưng Maggie chợt tỉnh táo ra vì một mối kinh hoàng mới: hai người đàn ông đang đi tới, và chính sự xuất hiện của họ đã làm cho đám người bên bếp lửa xôn xao. Người già nhứt mang một cái bị, ông ta liệng xuống đất và la lối hai người đàn bà, hộ đáp lại bằng giọng the thé và gay gắt không vừa. Bỗng một con chó nhỏ lông đen từ đâu nhào tới sủa Maggie inh ỏi, làm cô bé sợ suýt ngất đi nếu người đàn ông trẻ tuổi không nạt lớn và đánh nó bằng chiếc gậy cầm sẵn trong tay.
      Bây giờ Maggie đã nhận ra rằng mình không thể nào làm nữ hoàng của họ hoặc có thể dạy họ những điều hữu ích.
      Hình như cả hai người đàn ông đều hỏi han về Maggie, thỉnh thoảng là họ lại nhìn về phía cô và cuộc đàm thoại đã có vẻ dịu dàng hơn. Cuối cùng người thiếu phụ nói bằng giọng tâng bốc:
      -     Cô bé đáng yêu này tới ở với chúng ta, anh có thích không?
      -     Thích lắm.
      Người đàn ông trẻ vừa nói vừa nhìn cái khâu bạc và những món lặt vặt lấy từ trong túi Maggie. Y giao hết lại cho thiếu phụ, trừ chiếc khâu kèm theo vài lời nhận xét. Người đàn bà bỏ tất cả vào túi Maggie trong khi hai người đàn ông bắt đầu tấn công cái nồi trên bếp – một nồi súp khoai tây với một ít thịt. 
      Maggie bắt đầu nghĩ tới Tom và thấy anh mình có lý khi nói tới dân du mục - chắc chắn là những kẻ trộm cắp, dầu người đàn ông có vẻ do dự muốn trả cái khâu bạc lại cho Maggie. Cô có thể biếu y chiếc khâu đó, vì chưa cần xài tới khâu, nhưng với ý nghĩ là mình đang ngồi giữa những tên trộm cắp, cô bé băn khoăn, lo ngại. Tất cả những kẻ cắp, trừ Robin Hood (1) đều toàn là kẻ ác.
(1) Một nhân vật sống ngoài vòng luật pháp trong truyền thuyết Anh, cướp của người giàu cho người nghèo.
      Thấy Maggie lộ vẻ lo âu, bà lão lại cất giọng chói tai :
      -     Chúng tôi không có đồ ăn xứng đáng cho một cô bé nhà giàu.
      Thiếu phụ múc cho Maggie một ít thịt hầm vào dĩa màu nâu và đưa cho cô một cái muỗng sắt:
      -     Nè cô bé, cố ăn chút đỉnh đi.
      Thấy bà lão có vẻ cáu kỉnh khi mình không chịu ăn bánh mì thịt muối, Maggie không dám từ chối lần thứ hai, dầu cơn lo đã làm cô không biết đói. Ồ, phải chi ba của mình đánh xe tới đây đón mình về! Hay hiệp sĩ Jack – tay giết người khổng lồ, hay ông Từ Tâm, hay Thánh Georges – người đã giết một con rồng hung dữ tình cờ đi qua! Nhưng tim Maggie thắt lại khi nghĩ có bao giờ các vị anh hùng đó có chịu xuất hiện ở vùng ngoại ô St Ogg’s này – nơi chẳng có gì thú vị. 
      Ý niệm của Maggie về dân du mục đã thay đổi rất nhanh trong năm phút vừa qua. Bây giờ cô băn khoăn tự hỏi chẳng biết họ sẽ giết mình khi trời sụp tối, rồi chặt từng mảnh để nấu nướng hay không? Ý nghĩ đó càng lúc càng khủng khiếp đến nổi Maggie nghi ngờ ông già mắt sáng kia chính là một con quỉ bất cứ lúc nào cũng có thể biến bộ mặt bình thường đó thành một bộ mặt ghê rợn của một con ác quỉ cánh rồng. Thế là cô bé không tài nào nuốt trôi đuoc miếng thịt hầm, nhưng đồng thời lại sợ làm cho họ giận và sợ rằng họ sẽ đọc được những ý tưởng của mình. 
      Thấy Maggie không đụng chạm gì tới dĩa thịt, người thiếu phụ hỏi: 
      -     Ủa! Bộ không thích ăn hả? Cố ăn một chút đi.
      Maggie cố vận dụng chút nghị lực còn sót lại, mỉm cười thân thiện với bà ta:
      -     Cám ơn. Chắc tôi không còn đủ thì giờ - trời tối rồi, tôi cũng phải về nhà ngay. Hôm khác tôi sẽ tới chơi và mang cho các người một rổ bánh ngọt và nhiều thứ bánh khác nữa.
      Maggie vừa nói vừa đứng dậy, nhưng hy vọng của cô tiêu tan ngay khi nghe bà lão nói:
      -     Khoang đã cô bé - chúng tôi sẽ đưa cô về an lành sau khi ăn. Cô sẽ được cởi ngựa về nhà giống y như một cô gái nhà giàu.
      Maggie đành ngồi xuống không tin tưởng lời hứa đó mặc dầu đã thấy cô gái du mục đang mắc yên cương cho con lừa và chất lên lưng nó vài cái túi.
      Người đàn ông trẻ đứng dậy, đi dẫn con lừa tới:
      -     Nào cô nhỏ, cho tôi biết nhà cô ở đâu, nơi đó tên gì?
      Maggie mau mắn:
      -     Nhà tôi là nhà máy xay Dorlcote. Ba tôi là ông Tulliver. 
      -     Sao, có phải cái nhà máy xay lớn ở phía bên này St Ogg’s? 
      -     Phải, để tôi đi bộ về tiện hơn.
      -     Không, không, trời sắp tối rồi, phải gấp lên. Đi lừa cũng êm ái lắm.
            Người đàn ông trẻ tuổi vừa nói vừa đặt Maggie lên lưng lừa. Cô bé cảm thấy nhẹ nhỏm đi đôi chút khi biết rằng ông lão không đi với mình, nhưng cô vẫn thích đi về một mình hơn.
      Người thiếu phụ trả nón lại cho Maggie:
      -     Nón của cô đây, hãy nói là chúng tôi đã tử tế với cô nghe!
      Maggie đáp:
      -     Dạ phải, cám ơn. Tôi rất mến các ông bà. Nhưng tôi phải về nhà ngay. 
      Maggie run bắn người ngay khi người đàn ông trẻ tuổi leo lên lưng lừa ngồi phía sau cô. Người thiếu phụ vuốt má Maggie và nói «tạm biệt» người đàn ông quất mạnh con lừa, con vật chạy mau trên đường mòn, hướng về phía Maggie đã đi tới cách đây một giờ. Cô gái và thằng bé rách rưới chạy theo la hét chừng vài trăm thước mới chịu quay về. 
      Đối với Maggie, cuộc hành trình dường như đang diễn ra trong một cơn ác mộng. Nắng chiều đỏ ói bao trùm vạn vật như ngầm chứa một ý định hung hiểm nào đó. Hai căn chòi lụp xụp - hai căn nhà duy nhứt mà họ đi qua - trông cũng đầy đe dọa: không một cánh cửa sổ, và cửa cái thì đống im lìm quả đúng là nơi cư ngụ của những tay phù thủy. Maggie thở ra nhẹ người khi con lừa không ngừng lại những chỗ đó. 
      Cuối cùng - ồ, vui biết mấy! - con đường gần như dài nhứt thế giới này đã tới đoạn cuối, con lừa đã vào một giao lộ thênh thang. Và ở một góc giao lộ là một tấm bảng chỉ dẫn, tấm bảng mà Maggie đã nhìn thấy rất nhiều lần từ trước: «Saint Ogg’s, 2 dặm».
      Thì ra người du mục muốn đưa cô về nhà thật sự. Vậy thì ông ta là một người tử tế, Maggie thấy hối hận vì đã nghĩ lầm ông ta. Càng nhận rõ con đường quen thuộc, Maggie càng thấy hối hận, muốn nói vài câu với người đưa đường, không những để lấy lòng ông ta, mà lại còn để xóa tan ý nghĩ hèn nhát của mình. Nhưng vừa tới một ngã tư khác, Maggie chợt thấy một người cởi ngựa trắng phóng tới. 
      Cô bé kêu lên: 
      -     Ồ, ngừng lại, ngừng lại! Ba tôi kìa! Ba ơi! Ba!
      Niềm vui quá đột ngột cũng có tác dụng như một cơn đau, và trước khi ông Tulliver tới, Maggie đã bật khóc nức nở. Ông hết sức ngạc nhiên vi ông chỉ đang ở trên đường từ Basset về. 
      Ông dừng ngựa lại hỏi lớn trong khi Maggie leo xuống chạy nhào tới:
      -     Kìa, sao lại có chuyện này?
      Người du mục giải thích:
      -     Cô bé đi lạc, tới lều của chúng tôi ở cuối con đường Dumlow và tôi đang đưa cô về nhà. Sau một ngày làm việc cực nhọc, con đường đối với tôi xa quá...
      Maggie xen vào:
      -     Phải đó ba, ông này đưa con về nhà, ông tốt với con lắm.
      Ông Tulliver lấy ra năm si ling:
      -     Cầm đi ông bạn. Đây là một công việc có ý nghĩa nhứt trong ngày của bạn. Tôi không thể mất con gái tôi được, ông bạn đỡ nó lên đây giùm tôi.
      Khi hai cha con đã đi được một đoạn, ông Tulliver hỏi Maggie, lúc đó đang tựa vào người ông mà khóc:
      -     Sao vậy Maggie? Tại sao con lêu lỗng cho đến nỗi lạc đường vậy?
      Maggie nức nở:
      -     Ba ơi, con khổ quá – anh Tom đã mắng và giận con. Con không thể nào chịu được. 
      Người cha an ủi:
      -     Thôi, thôi! Làm sao con có thể nghĩ tới chuyện bỏ ba của con được. Ba sẽ làm gì được nếu thiếu con gái cưng của ba?
      -     Không đâu, con sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu – không bao giờ.
      Chiều hôm đó, vừa về tới nhà, ông Tulliver đã hầm hừ ngay với mọi người và hậu quả hiển nhiên là sau đó bà Tulliver không rầy mắng gì Maggie cả, và Tom cũng không dám chế nhạo cô về chuyện bỏ nhà theo dân du mục nữa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
12
 
 
MUỐN GẶP ÔNG BÀ GLEGG TẠI NHÀ, CHÚNG TA phải vào St Ogg’s - một thị trấn cổ kính với những ngôi nhà mái đỏ và những kho hàng mênh mông, nơi các thương thuyền cất lên hàng hóa của miền cực Bắc và đem đi những sản phẩm quí giá như phó mát thượng hạng và bầy cừu ống mượt của địa phương. 
      Đây là một cổ đô thị thể hiện cho định luật tiến hóa, một cổ đô thị cho tới nay vẫn còn dung chứa nhiều dấu tính, sắc thái của các thời kỳ phát triển lâu dài trong quá khứ. St Ogg’s vẫn tiếp tục vương lên từ vị trí giữa dòng sông Floss và một ngọn đồi thấp kể từ ngày quân viễn chinh La Mã rút khỏi các doanh trại trên sườn đồi, và các ông hoàng Viking của biển cả ngược dòng sông, nhìn những cánh đồng bát ngát với đôi mắt hăm hở. Đây là một thị trấn của những năm quên lãng. Bóng ma của nhà vua oanh liệt Saxon vẫn còn đi lại trên đường phố, hồi tưởng những khung cảnh huy hoàng của thời quá khứ để gặp gỡ bóng ma sâu thẳm của bạo chúa Đan Mạch, kẻ đã bị đâm chết ngay giữa đoàn quân mình bởi thanh gươm của một kẻ địch vô hình, để rồi sau đó, cứ mỗi chiều lại rời khỏi phần mộ trên đồi, đi lang thang trong sân tòa lâu dài cổ trên bờ sông – nơi ông đã bị giết chết một cách huyền bí trước ngày tòa lâu đài đuoc dựng lên – Chính người Normandie đã khởi công xây cất tòa lâu đài này và cũng như thị trấn, tòa lâu đài đã nói lên tư tưởng và công trình của nhiều thế hệ khác nhau, nhưng dầu sao nó cũng khá già nua để chúng ta có thể tha thứ được những lối kiến trúc tương phản của chính nó. 
      Nhưng lâu đời hơn cả tòa lâu đài này có lẽ là một bức vách hiện nằm trong phạm vi tháp chuông của giáo đường thành phố. Tương truyền rằng bức vách này là một phần của ngôi giáo đường được xây cất để dâng tặng cho Thánh Ogg, vị thánh bổn mạng của thành phố. «Ogg, con trai của Beorl», theo lời người tham khảo Thành Tích Thơ «là một người lái đò sống độ nhựt bằng cách đưa khách qua sông Floss. Một chiều kia, trời bỗng nổi giông, có một người đàn bà dáng dấp tiều tụy, rách rưới, ấm một đứa bé trên tay, than vãn và năn nỉ được đưa qua sông. Người ở bến đò hỏi bà: «Giờ này làm sao qua được? Bà nên nghĩ lại đây qua đêm, chờ tới sáng hãy qua, như vậy mới là người khôn ngoan». Nhưng người đàn bà không bằng lòng, cứ than vãn mãi. Lúc đó, Ogg, con trai của Beorl, bước tới: «Tôi sẽ đưa bà qua sông, con người chỉ cần có tấm lòng là đủ». Và khi đã tới bờ bên kia, bộ quần áo rách rưới của người đàn bà bỗng biến thành bộ y phục tươm tất, trắng muốt, gương mặt bà bỗng đẹp rạng rỡ và hào quang từ người tỏa ra soi loáng mặt nước dưới ánh trăng rầm. Bà phán: «Hỡi Ogg, con trai của Beorl, người sẽ được phép lành vì đã không tỏ ra ngần ngại trước việc thiện. Từ nay về sau, bất cứ ai bước lên thuyền này sẽ được qua khỏi mọi tai ương, giông tố, và người và vật nào được chiếc thuyền này cứu, sẽ nhứt định thoát chết». Rồi nạn lụt xảy ra, đã có rất nhiều sanh mạng được chiếc thuyền đó cứu. Nhưng khi Ogg, con trai của Beorl, chết đi và được lên thiên đàng thì chiếc thuyền tự bứt đứt chiếc dây buộc, xuôi thủy triều ra biển cả, và từ đó không còn ai thấy nó. Tuy nhiên, trong một trận lụt xảy ra sau đó, Ogg, con trai của Beorl, xuất hiện với con thuyền của Ngài trên sóng nước, và Đức Thánh Mẫu ngồi ở mũi thuyền, tỏa hào quang». 
      Huyền thoại này có lẽ đã bắt đầu từ một trận lụt xa xưa, dầu không làm thiệt hại sanh mạng con người, nhưng đã tàn sát tất cả gia súc và cuốn đi tất cả những sinh vật nhỏ nhoi. Nhưng thị trấn còn gặp phải nhiều điều nguy hai hơn cả thủy tai - thị trấn đã từng là đấu trường của nhiều cuộc nội chiến, tín đồ Thánh giáo tàn sát đảng viên Bảo Thủ, đảng viên Bảo Thủ tiêu diệt tín đồ Thánh giáo. Nhiều danh giá vọng tộc vì thế mà tàn lụn, nhiều người giàu sang, thế lực vì thế mà phải tha phương cầu thực. Ngày nay vẫn còn sót lại khá nhiều ngôi nhà của những kẻ không may đó: những ngôi nhà cổ kính quay mặt ra sông chen chúc cùng những kho tàng lớn vừa mới cất với những ngõ hẻm ngang dọc dẫn ra cho tới bờ đất bùn của dòng sông. Đó là quang cảnh ở bến tàu, còn trong phố chợ thì hầu hết các ngôi nhà đều mang sắc thái giản dị như nhau. Vào thời bà Glegg, nhà cửa không còn mang kiểu kiến trúc tương phản nhau như các tòa lâu đài cũ, không còn những thương hiệu gắn kiếng, không còn những ngôi nhà tô hồ ngoài mặt tiền. Cửa các thương hiệu đã nhỏ lại và giản dị hơn, vì vợ con các điền chủ, trong những ngày ra chợ mua sắm, chỉ tới các cửa hiệu nổi tiếng và quen thuộc với họ thôi.
      Đó là những nét chính của thị trấn St Ogg’s vào thời bà Glegg, và có thể nói đúng hơn nữa là vào thời kỳ bà Glegg có chuyện bất hòa với ông Tulliver – thời mà sự dốt nát còn rất được ưa chuộng, thời mà các bà mặc áo dài lụa túi rộng, chứa một miếng xương cừu để ngừa chứng co giựt. Bà Glegg cũng mang một miếng xương cừu thừa hưởng của ngoại tổ mẫu và một chiếc áo dài thêu có thể đặt đứng được như một áo giáp. Bà cũng có một cây gậy đi đường, đầu bịt bạc, vì Dodson là một giòng khả kính từ nhiều thế hệ qua. 
      Nhà bà Glegg có hai phòng khách, một ở trước và một sau, vì vậy cũng có hai quan điểm khác nhau để nhận xét những tật xấu của người ngoài. Từ cửa sổ phòng khách trước, bà có thể nhìn được đường Tofton, con đường dọn ra ngoại ô thị trấn và ghi nhận được khuynh hướng ăn mặc của các bà con từ cửa sổ phòng khách sau, bà có thể nhìn được toàn vẹn khu vườn hoa và cây ăn trái của ông Glegg trải dài tới bờ sông, và quan sát chồng bà cặm cụi suốt ngày bên những bụi hoa, luống cải. Ông Glegg sau một thời gian hoạt động trong ngành buôn len, đã chấm dứt công việc để hưởng nhàn và rồi ông chợt nhận ra việc làm vườn quyến rũ hơn việc buôn bán len ngày trước, và kể từ đó ông bắt đầu làm việc gấp hai lần khả năng của một nhà vườn bình thường. Có lẽ nhờ vào hoa lợi khả quan của khu vườn mà bà Glegg đã nhắm mắt bỏ qua cho hành động «điên rồ» đó.
      Sáng nào bà Glegg cũng ngồi vào bàn điểm tâm với bộ mặt cau có: vì hà tiện nên bà phải tự tay sửa soạn đồ điểm tâm, và sáng nay bà cũng mang bộ mặt đó. Thấy vậy, ông Glegg – ngồi xuống ghế với món cháo bắp nấu sửa, món điểm tâm thanh đạm thường ngày của ông – đã khôn ngoan quyết định nhường cho vợ mình nói trước bởi vì một khi người đàn bà đó nổi giận thì chỉ cần đụng chạm một chút cũng có thể gây chuyện lớn. Những người hay nổi giận như bà Glegg thì cũng rất hay hờn, vì thế sáng nay bà pha trà cho mình loãng hơn thường lệ và không thèm đá động gì tới dĩa bơ. Bà cứ rình mò tìm cơ hội để gây gổ với chồng, nhưng trước sự im lặng của ông, cơ hội đã không tới được. Dần dần, bà Glegg nhận thấy rằng sự im lặng của chồng cũng là một cơ hội để mình đạt được mục đích:
      -     Ông Glegg! Đó có phải là phần thưởng dành cho tôi sau bao nhiêu năm làm vợ ông không? Nếu quả thật ông cố tính đối đãi với tôi như vậy thì tôi sẽ rời khỏi căn nhà này ngay.
      Ông Glegg ngừng ăn, ngẫng lên, chẳng có vẻ gì ngạc nhiên cho lắm:
      -     Ủa! Bà Glegg, tôi có làm gì đâu?
      -     Ông không làm gì hả? Không làm gi?... Buồn cho ông quá.
      Ông Glegg bình thản tiếp tục với món cháo sửa.
      Bà Glegg tiếp:
      -     Tôi không hiểu tại sao lại có những người chồng cứ ngồi trơ ra đó nhìn người khác nhục mạ vợ mình. Có lẽ tôi sai lầm, ông có thể chỉ dạy cho tôi thêm. Nhưng tôi thường nghe nói bổn phận làm chồng là phải bênh vực cho vợ, chứ không phải vui mừng như đắc thắng khi thấy vợ mình bị người ta sỉ nhục. 
      Ông Glegg vẫn dịu dàng và kiên nhẫn như thánh Môi Se:
      -     Tại sao bà nói vậy? Tôi vui mừng, đắc thắng hồi nào đâu? 
      -     Thái độ của ông còn tệ bạc hơn cả lúc ông nói ra miệng nữa, ông Glegg. Ông cứ tìm đủ mọi lý lẽ để binh vực cho mọi người, trừ tôi ra, và sáng nay ông lại điềm nhiên ngồi ăn, còn tôi thì suốt đêm qua chẳng hề nhắm mắt. Ông coi tôi như bụi bặm dưới chân ông chớ gì. 
      Ông Glegg khôi hài:
      -     Tôi mà coi bà như bụi bặm? Bà cứ y như một người say, lúc nào cũng cho mình là nhứt. 
      -     Này ông Glegg, ông đừng tự hạ thấp giá trị của mình bằng cách đem những lời nói hạ cấp đó ra với tôi. Nó chỉ càng làm cho ông nhỏ nhoi thôi, ông chẳng biết tự trọng chút nào hết. Một người như ông đáng lý phải ăn nói đứng đắn hơn.
      Ông Glegg không nhịn được lâu:
      -     Phải, nhưng bà có chịu nghe lý lẽ của người ta đâu. Tối qua tôi đã nói cạn lẽ với bà rồi – tôi nói bà không nên đòi tiền lại chỉ vì một chuyện cãi lẫy nhỏ nhoi, hơn nữa, cho ông ấy mượn có lợi hơn là bà để không ở nhà. Tôi tưởng là bà đã thấy chỗ thiệt hơn rồi chớ. Nhưng nếu bà có muốn đòi thì cũng đừng đòi gấp quá, như vậy sẽ gây ác cảm trong gia đình, mà hãy chờ cho tới khi nào có một chỗ cho vay thuận lợi khác. 
      Bà Glegg nhận thấy chồng mình có lý, nhưng bà vẫn lắc đầu quầy quậy và hắng giọng vài tiếng để cho ông biết là sự im lặng của bà chỉ có ý nghĩ của một cuộc đình chiến chớ không phải là dấu hiệu của hòa bình. Và thật vậy, cuộc đấu khẩu lại bùng nổ. 
      Sau khi ăn xong món cháo và nhìn vào tách trà lợt, ông Glegg cười khẩy:
      -     Cám ơn bà về tách trà sáng nay, bà Glegg. 
      Bà Glegg nhấc bình trà lên, khẽ lắc đầu:
      -     Rất hân hạnh được nghe lời cám ơn của ông. Ít khi tôi nhận được lời cám ơn của người ta khi tôi làm việc gì giúp họ. Bà con họ hàng của ông cũng vậy.
      Ông Glegg chua chát:
      -     Khi nào gây gổ xong với chị em, bà con của mình rồi, bà quay sang họ hàng của tôi chẳng muộn. Phiền bà cho tôi chút sữa.
      -     Chưa bao giờ tôi nghe ông nói một câu hàm hồ như vậy cả. Và chắc là ông cũng thừa hiểu như thế. Tôi đâu phải là người hay gây gổ với chị em, bà con của mình.
      -     Ủa! Như vậy thì chuyện gì xảy ra chiều hôm qua là chuyện gì? 
      -     Ông Glegg, tôi không cãi lộn với em tôi, ông nói vậy là lầm. Ông Tulliver đâu phải là bà con với tôi, và chính ông ấy đã gây gổ với tôi và tống cổ tôi ra khỏi nhà. Hay ông muốn tôi ở lại để nghe người ta nguyền rủa, hay là ông tiếc không được nghe thêm những lời nhục mạ đổ lên đầu vợ ông. Tôi nói cho ông biết, đó mới chính là mối nhục của ông. 
      Ông Glegg nổi nóng:
      -     Chưa bao giờ tôi nghe nói như vậy cả. Được cung phụng đầy đủ, được quyền giữ tiền riêng, có quần áo đẹp, được hưởng một gia tài lớn lao sau khi chồng mình chết - bao nhiêu đó bà cũng chưa chịu, bà cứ cắn, cứ sủa càn như một con chó điên! Thiệt không thể nào tưởng tượng nổi (ông Glegg chấm dứt câu nói bằng cách đập mạnh hai tay lên bàn).
      Bà Glegg tháo khăn ăn và xếp lại một cách nóng nảy: 
      -     Được, ông Glegg, ông nghĩ vậy cũng được. Nhưng tôi sợ là ông sẽ bị cả xứ này chê cười vì đã cư xử với tôi như vậy - thật là quá sức chịu đựng rồi...
      Bà Glegg vụt ngừng nói và rung chuông dữ dội:
      -     Sally, chị thắp đèn trong phòng tôi và kéo màn xuống: ông Glegg, ông muốn ăn gì buổi trưa thì bảo bà bếp làm. Còn tôi thì tôi ăn cháo sửa trên lầu.
      Bà bước tới kệ sách, lấy xuống cuốn «Sự Yên Nghỉ Vĩnh Cửu của Các Thánh» của Baxter, đem lên lầu. Đây là quyển mà bà vẫn thường lật ra trong những trường hợp đặc biệt; những sáng Chúa nhật mưa dầm, những khi gia đình có tang, hay những lúc có chuyện cãi vả với ông Glegg như hôm nay.
      Nhưng dần dà bà Glegg cũng thấy nguôi ngoai và bình tỉnh lại, có lẽ nhờ cuốn sách của Baxter, hay có lẽ nhờ cháo sửa, hoặc có lẽ tại đề nghị của ông Glegg là cứ để cho ông Tulliver tiếp tục vay món nợ năm trăm bảng có lợi hơn, hoặc có lẽ tại lời tiết lộ của ông Glegg về di sản lớn lao mà ông sẽ để lại sau này cho bà – từ trước tới nay ông vẫn rất kín đáo về hậu sự của mình. Và dĩ nhiên, khi ông Glegg đã bày tỏ thiện chí của mình qua lời chúc thư, thì bà phải nghĩ về ông với nhiều thiện cảm hơn. Vì vậy khi ông Glegg -  sau một lúc cuốc đất, giẫy cỏ, đã lấy lại được bản tính vui vẻ, hiền hòa thường lệ – tìm đến lầu cho vợ hay là nhà thờ vừa đổ chuông cáo phó cho ông Morton, thì được vợ đáp lại bằng một giọng thật đại lượng «Ồ, tội nghiệp cho ông ấy!». 
      Lần này, những trang sách của Baxter đã được lật tới lật lui khoản tám tiếng đồng hồ, vì lúc ông Glegg lên lâu là đã năm giờ chiều.
      Và đêm đó ông bà Glegg lại ngồi nói chuyện với nhau thân mật như chẳng có gì xảy ra. Cuối cùng, ông Glegg đi tới kết luận rằng ông Tulliver chỉ là một người quá nóng nảy, hay dự vào những chuyện lôi thôi và cứ cái đà này thì chẳng bao lâu là sạt nghiệp. Bà Glegg, cũng đồng ý với chồng vài điểm, tuyên bố rằng bà không chấp những kẻ như vậy và vì thương em gái bà sẽ để cho ông Tulliver giữ món nợ năm trăm bảng thêm một thời gian nữa vì bây giờ nếu lấy lại cho người khác vay, bà chỉ hưởng lời có bốn phần trăm thôi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
13
 
 
NHỜ BÀ GLEGG ĐÃ NHẬN CHÂN ĐƯỢC SỰ THIỆT hơn của món tiền cho ông Tulliver vay mà bà Pullet đã gặp được một sự dễ dàng thật bất ngờ trong sự mang hòa giải của mình vào hôm sau.
      Sau một hồi bàn cãi, bà Glegg kết luận:
      -     Đừng trông mong gì tôi tới đó trước khi Bessy đến gặp tôi, và cũng đừng hi vọng hão huyền là tôi sẽ xin lỗi ông Tulliver, nhưng tôi đồng ý bỏ qua câu chuyện hôm đó, và chừng nào ông Tulliver biết tỏ ra nhã nhặn với tôi, tôi sẽ nhã nhặn lại. 
      Thấy không cần phải biện hộ thêm cho gia đình Tulliver nữa, bà Pullet nhẹ cả người, và dĩ nhiên là bất đầu than phiền về chuyện lộn xộn xảy ra chiều hôm qua tại nhà mình. Bà Pullet bày tỏ sự ái ngại của mình trước nỗi bất hạnh của Bessy và đưa đề nghị nên gởi Maggie vào một trường nội trú xa nhà, không phải để giữ gìn cho da cô bé khỏi đen hơn, mà để trấn áp và dập tắt những thói xấu của cô. Còn bà Glegg thì kêu ca về thói tật yếu ớt của Bessy và xác nhận lại lần nữa rằng, như bà đã nói ngay từ đầu, đám con cái nhà Tulliver rồi đây sẽ đâm ra hư hỏng hết.
      Trước lúc ra về, bà Pullet hỏi:
      -     Như vậy tôi có thể báo cho Bessy biết là chị bằng lòng bỏ qua tất cả và mọi chuyện đều vẫn cứ như trước?
      -     Phải, Sophy, dì có thể nói lại cho ông Tulliver và cả Bessy nghe rằng tôi không phải là hạng người cố chấp, dầu người ta có xử tệ với tôi tới mấy đi nữa. Tôi ý thức được địa vị của tôi, là chị cả trong gia đình, tôi phải nêu gương sáng cho các em, và tôi đã xử sự đúng như vậy.
      Hai em gái đã về rồi, bà Glegg cảm thấy hết sức hài lòng về lòng khoan thứ của mình... Nhưng có lẽ chúng ta cũng nên thử tưởng tượng tới phản ứng của bà Glegg ra sao khi nhận được một bức thư ngắn của ông Tulliver ngay chiều hôm đó. Trong thư ông Tulliver thông báo là bà đừng nên lo ngại gì về số nợ năm trăm bảng, vì ông sẽ hoàn trả cho bà đủ cả vốn lẫn lời trong thời gian chậm nhứt là một tháng. Ông Tulliver còn cho biết thêm, không bao giờ ông muốn khiếm nhã với bà, và nếu muốn, gia đình ông lúc nào cũng sẵn sàng mở rộng cửa để đón tiếp bà, nhưng có điều ông và con cái cua ông đều không muốn chịu ân huệ nào của bà.
      Và như ai cũng thấy chính bà Tulliver khốn khổ đã gây ra tai họa này – ông Tulliver vẫn thường quyết tâm thực hiện cho bằng được những gì mà người khác cho rằng ông không đủ sức để làm.
      Lá thư không đủ hiệu lực khiến bà Glegg sửa đổi lại tờ di chúc thơ và xóa bỏ phần thụ hưởng của Tom cùng Maggie trong số tiền lên tới vài ngàn bảng mà bà sẽ để lại sau khi qua đời bởi vì bà đã có chủ trương và nguyên tắc của riêng mình. Sau khi bà chết, không một ai có thể phàn nàn gì được về sự phân chia tiền bạc của bà: tờ chúc thơ được phân chia theo liên hệ huyết tộc, chớ không phải phân chia theo mức độ thiện cảm đối với những người thân tộc, đúng theo truyền thống của dòng họ Dodson. 
      Nhưng dầu không đủ làm thay đổi chủ trương của bà Glegg, lá thơ của ông Tulliver cũng đã làm cho mối bất hòa trong gia tộc khó có cơ hội hàn gắn lại. 
      Mới tới một chiều đầu tháng tám, một chiều trước ngày Tom nhập học, bà Glegg mới tới thăm bà Tulliver. Bà ngồi trên xe suốt cả buổi viếng thăm và cho thấy sự bất mãn của mình bằng cách không đưa ra một ý kiến hay một lời bình phẩm nào cả vì, theo như bà đã nhận xét với bà Dean: «Bessy phải chịu mọi hậu quả khi đã lấy một người chồng như vậy, nhưng dù sao tôi cũng tiếc cho dì ấy». Và bà Deane cũng nhìn nhận rằng Bessy quả thật là một người đáng thương.
      Chiều đó, Tom nói với Maggie:
      -     Ê, Maggie, dì Glegg lại bắt đầu tới chơi nữa rồi, may là tao sắp sửa đi học. Cho mày ở lại mà chịu đựng. 
      Đang buồn rầu vì ý nghĩ sắp sửa xa Tom nên Maggie thấy sự vui mừng của anh thật là tàn nhẫn, và cô bé đã âm thầm khóc ngay khi bắt đầu lên giường ngủ. 
      Trong khi đó, ông Tulliver bắt buộc phải tìm cho ra một người bằng lòng cho ông vay năm trăm bảng, với điều kiện: «Không phải là thân chủ của tên Wakem». Nhưng nửa tháng sau đó, người duy nhứt mà ông Tulliver tìm được lại là một thân chủ của luật sư Wakem. 
      Cũng như Oedipus (1), ông Tulliver không thể nào cưỡng lại nổi sự chi phối của định mệnh. 
 
Chú thích:
(1) Con trai của Laios xứ Thebes và Jocaste (cổ Hy Lập) – Đã vô tình giết cha và lấy mẹ của mình, đúng như lời nguyền mà chàng không hề tin.
 
 
 
131




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2015 15:49:58 bởi Ct.Ly>
Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 132 đến 187
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
14
 
 
BA THÁNG ĐẦU TIÊN ĐẶT DƯỚI SỰ CHĂM SÓC của tu sĩ Stelling tại King’s Lorton là ba tháng khá gay go đối với Tom Sulliver. 
      Tại học viện của ông Jacob trước đây, Tom không hề gặp phải một khó khăn nào, ở đó nó có rất nhiều bạn bè để chơi đùa, và Tom là đứa đứng đầu trong các trò chơi mạnh bạo nhứt là đập lộn. Ông Jacob, thường được gọi là «Lão mắt kiếng», chẳng làm Tom kinh sợ bao nhiêu và nó cũng chẳng thấy một chút nguy hiểm nào trong việc học hành với ông Jacob, Tom không ưa nghề dạy học mà chỉ muốn trở thành một ông chủ nhà máy xay như cha nó. Nó cho rằng nói và viết đúng văn phạm không có lợi gì cho những người đã trưởng thành: khi lớn lên, nó sẽ là một ông chủ, muốn làm gì cũng được, không sợ ai khiển trách.
      Tom không tin rằng thời gian học sẽ kéo dài mãi mãi, thế nào rồi một ngày kia nó cũng sẽ trở về phụ việc với cha nó. Nghĩ tới giờ phút đó, nó cảm thấy khoan khoái, vì công việc chẳng có gì ngoài cởi ngựa rong chơi, ra lịnh cho công nhân và mua sắm ngoài chợ. Rồi mọi Chúa nhựt nó sẽ mời một giáo sĩ tới giảng cho nó nghe về phúc âm. Thánh thư, và dạy cho nó Sứ Đồ Thư ca cùng những bài kinh nguyện. Nhưng hiện tại, Tom khó mà tưởng tượng được rằng có một ngôi trường, một ông thầy giáo nào có thể hoàn toàn khác hẳn ông Jacob và học viện của ông. Bởi thế, khi nhập học, Tom đã chu đáo mang theo một hộp pháo dây nhỏ, với ý định tổ chức một trò chơi bắn súng giao hữu với các bạn mới.
      Tội nghiệp Tom, dầu nó vẫn luôn luôn nhìn thấu được những ảo tưởng của Maggie, nhưng nó lại hoàn toàn mù mờ với ảo tưởng của chính mình.
      Ở King’s Lorton được nửa tháng trời, Tom mới bắt đầu thôi bở ngở. Nó phải học tiếng La tinh và phải luyện cách phát âm tiếng Anh theo tiêu chuẩn mới, toàn là những môn vô cùng rắc rối, khó khăn. Tom, như chúng ta đã biết, không phải là một cậu bé liếng thoắng, nhanh nhẩu, vì vậy nó đã gặp phải rất nhiều trở ngại khi học cách phát âm, và khi ngồi vào bàn ăn, nó chỉ nơm nớp lo sợ ông bà Stelling hỏi xem có muốn ăn thêm bánh pudding không. Về hộp pháo thì Tom đã có quyết định cay đắng là sẽ ném xuống áo của nhà hàng xóm, không hẳn chỉ vì nó là đứa học trò duy nhứt ở nhà Stelling mà là nó bắt đầu hoài nghi về súng ống. Tu sĩ Stelling chẳng nghĩ ngợi gì về ngựa hay về súng, nhưng Tom không thể nào khinh thường ông như đã khinh thường «lão mắt kiếng».
      Stelling là một người tầm thước, chưa được ba mươi tuổi, ngực rộng, tóc vàng hoe lởm chởm, đôi mắt xám lúc nào cũng mở to, giọng trầm như vang vang. Stelling lại còn là mẫu người tự tin và cố chấp. Ông không phải là hạng người an phận, mà thuộc về mẫu người Anh quyết định chọn phương pháp phấn đấu để tiến thân. Là một nhà giáo, ông mong muốn ngày kia mình sẽ là một hiệu trưởng, là một giáo sĩ, ông luôn luôn tìm cách để các giáo khu lân cận biết đến tên tuổi mình. Tóm lại, Stelling là người muốn vươn lên, vươn lên bằng tài năng của chính mình, vì ông chẳng có một số vốn liếng đáng kể nào ngoài sự hứa hẹn của vận số.
      Và bước đầu tiên để tiến về tương lai huy hoàng của ông là phải làm sao thành công trong việc dạy dỗ Tom trong đệ nhứt lục cá nguyệt này. Vì vậy ông đã phải hết sức nghiêm khắc với Tom trong việc học hành: Tom chỉ là một cậu bé, không bao giờ có thể thấu đáo được những bài văn phạm La tinh nếu người ta không dùng uy với nó. 
      Không phải Stelling là người khó tánh hay tàn nhẫn, ông vẫn thường bông đùa với Tom ở bàn ăn, sửa lỗi phát âm nhà quê và những cử chỉ vụng về của nó một cách vui vẻ, nhưng Tom lại thấy lúng túng và rụt rè vì không quen cái lối pha trò đó. Lần đầu tiên trong đời của nó có cảm giác đau đớn khi nghĩ rằng những gì nó nói và làm đều sai lầm hết cả. Phải chi nó có được một bạn học để cùng chia xẻ những cay đắng đó và để giúp nó quen dần với không khí học tập. Có điều là ông Tulliver đã chọn cho Tom một hình thức giáo dục tốn kém đến nỗi khó có bậc cha mẹ nào có thể gởi con tới học chung.
      Vị chủ nhân đáng kính của nhà máy xay Dorlcote để Tom ở lại King’s Lorton và đánh xe ra về với tâm trạng thỏa mãn hoàn toàn. Ông tự cho là mình đã gặp may khi vấn ý ông Riley về việc học của Tom. Ông Stelling có đôi mắt to và thông minh lạ, ông có lối nói chuyện thật lưu loát và thông thạo – trả lời những câu hỏi chậm chạp và khó khăn của ông Tulliver một cách bình tĩnh: «Tôi hiểu, thưa ông, tôi đã hiểu», «Chắc chắn, chắc chắn vậy», «Tôi biết là ông muốn cho con mình thành công trên đường đời...». Ông Tulliver hết sức hài lòng khi thấy một giáo sĩ lại có nhiều kiến thức bổ ích cho đời sống hằng ngày đến vậy. Theo ông Tulliver, ngoài trạng sư Wylde trong phiên tòa vừa qua chỉ có Stelling là một người sáng suốt nhứt mà ông từng được gặp. Vị tu sĩ bàn với ông về Swing và chánh sách tiêu thổ rồi hỏi ý kiến ông về việc cho heo ăn. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Stelling quả thật là một người tài giỏi và hiểu biết tường tận những gì Tom phải học để có đủ sức đương đầu với bọn thầy kiện kia. Chính vì thế mà nếu có ai chê cười ông Tulliver thì rõ ràng là một sự bất công, bởi lẽ có lắm người có trình độ học vấn cao mà vẫn đưa ra những kết luận sai lầm tệ hại hơn nhiều. 
      Có lẽ năng khiếu dạy học đã tới với ông Stelling một cách tự nhiên nên ông khởi sự làm việc một cách bất biến và mù quáng như lối làm việc theo bản năng của loài động vật. Do đó, ông bắt đầu chương trình giảng dạy của mình với môn văn phạm của trường Eton và hình học Euclide vì cho rằng đó là hai môn căn bản duy nhứt của nền học vấn.
      Nhưng chẳng bao lâu, ông đã đi tới kết luận rằng Tom là một thằng bé vô cùng đần độn, vì dầu cố gắng và khó nhọc bao nhiêu đi nữa, nó cũng chẳng ghi nhận được đầy đủ. «Anh không chú ý tới việc mình đang làm.» Ông Stelling vẫn thường than phiền như vậy, đó là một sự thật đáng buồn. Tom không bao giờ gặp khó khăn khi phân biệt các loại chó săn nếu được chỉ dẫn chỉ một lần thôi; nghe tiếng chân ngựa chạy phía sau, nó có thể đoán được có bao nhiêu con, nó cũng có thể ném một hòn đá trúng vào một điểm đã chỉ định trước, hay có thể đoán được những khoảng cách ngắn một cách khá chính xác, hoặc có thể vẻ một hình vuông trên bảng đen mà không cần dùng thước kẻ. Nhưng vị tu sĩ Stelling chẳng hề chú ý tới những thứ đó, ông chỉ thấy rằng nó không đạt được một tiến bộ khả quan nào trong cuốn văn phạm Eton cũng như về hình học Euclide.
      Một chiều, sau khi chia sai tới lần thứ năm quá khứ phân từ của một động từ bất qui tắc, Tom bị ông Stelling trách mắng dữ dội, ông cho rằng nó đã vượt quá mức có thể chấp nhận được của sự ngu dốt và đã bỏ qua cơ hội bằng vàng trong hiện tại để học hỏi quá khứ phân từ, nó sẽ phải hối tiếc sau này - Tom, khổ sở hơn thường lệ, đã quyết định dùng tới phương sách cầu nguyện. Đêm đó, sau phần cầu nguyện thường ngày cho cha mẹ và em gái (nó bắt đầu cầu nguyện cho Maggie từ khi cô bé mới chào đời) có đủ nghị lực để giữ những luật răn của Chúa, nó thì thầm tiếp: «và xin Chúa cho con luôn luôn nhớ được những bài học La tinh». Ngừng lại một chút để nghĩ xem phải nên cầu nguyện thế nào về môn hình học, cuối cùng nó lẩm bẩm: «và xin cho ông Stelling đừng bắt con học hình học Euclide nữa, Amen».
      Hôm sau, Tom qua lọt bài quá khứ phân từ một cách suông sẻ, nhưng khi tới bài các động từ bất qui tắc thì lòng tin của Tom về các lời cầu nguyện phụ thuộc cũng tan vỡ luôn. Rồi một buổi chiều buồn am, cô đơn, khi ngồi vào bàn để chuẩn bị cho bài học ngày mai, Tom quyết định không cầu nguyện nữa. Mắt nó bỗng mờ đi trên những trang sách dầu nó ghét khóc và xấu hổ về hành vi đó, nó không thể nào không nhớ tới Spouncer được, nó cũng nhớ tới nhà máy, nhớ tới con sông, con chó Yap và không quên được cái cảm giác khoan khoái khi nắm con dao xếp trong túi hoặc khi múa may ngọn roi da.
      Ông bà Stelling vừa có thêm đứa thứ hai. Bà Stelling nghĩ rằng chẳng có gì hữu ích cho Tom bằng cách giao nó giữ con bé Laura trong những lúc nó nhàn rỗi, trong khi chị vú còn bận bịu với đứa bé mới chào đời. Tom chỉ có nhiệm vụ đưa Laura ra vườn chơi trong những ngày nắng tốt – như vậy sẽ giúp nó thấy gần gũi với gia đình thầy của mình hơn. Laura chỉ mới biết đi chập chững, mỗi khi nó muốn đi, Tom phải thắt một sợi dây băng ngang lưng và dắt đi như người ta dắt một con chó nhỏ. Nhưng thường thường Tom phải ẵm con bé đi vòng quanh vườn, trong tầm mắt của bà Stelling để bà có thể dễ dàng đưa ra những mệnh lệnh kịp thời.
      Rất có thể chúng ta đừng nên vội vàng kết án đây là một lối xử sự bất công và lợi dụng Tom. Là vợ một tu sĩ nghèo, lại phải chi phí quá nhiều tiền cho quần áo đẹp, tiệc tùng, trang điểm, chưng bày phòng ngủ, thì thật là vô lý nếu chúng ta mong đợi bà mướn thêm một người vú nữa, hay tự mình lo chăm sóc cho con cái. Ông Stelling rất thông cảm và thán phục vợ chuyện này, tuy nhiên khi nhìn Tom ẵm Laura di lệt bệt trong vườn, ông tự nhủ là vào cá nguyệt sau ông sẽ thu xếp để tìm cho Tom một huấn luyện viên thể dục.
      Nếu là kẻ có tâm địa xấu xa, chắc chắn Tom sẽ có ác cảm với Laura, nhưng đằng này nó lại là thằng bé có đủ đức tính tốt của người đàn ông. Rất có thể ghét bà Stelling, nhưng nó lại thật sự coi Laura là bạn của mình – ôi, nó nhớ bạn làm sao! Nó thầm mong được có Maggie bên cạnh lúc này, nó sẽ tha thứ hết mọi lỗi lầm, mọi sự lơ đãng của em.
      Và Maggie đã tới thăm Tom trước khi nửa năm học khốn khổ đó chấm dứt. Bà Stelling mời cô bé ở lại chơi với anh vài hôm, nhờ vậy Maggie đã được theo cha lên King’s Lorton vào khoảng cuối tháng mười, có cảm tưởng là mình đang dự một chuyến di hành trọng đại. Đây cũng là lần đầu tiên ông Tulliver đi thăm con, ông nghĩ là không nên tập cho thằng bé cái thói quen nhớ nhà nhiều quá. 
      Sau khi ông Stelling rời khỏi phòng đi báo tin cho vợ, ông Tulliver nói: 
      -     Ba thấy con có vẻ mạnh khỏe lắm! Không khí nhà trường rất hợp với con. 
      Tom bỗng ao ước phải chi nó trông tiều tụy đi đôi chút. 
      -     Con không thấy mạnh khỏe chút nào đâu ba. Con mong ba nói với thầy Stelling đừng bắt con học hình học nữa – nó làm con nhức răng, chắc vậy. (Nhức răng là chứng bịnh duy nhứt của Tom.)
      -     Hình học là gì, con?
      -     Ồ, con cũng không biết, nào là định nghĩa, định lý, tam giác, đủ hết mọi thứ. Con phải học cả một cuốn sách về môn này - nó chẳng có nghĩa lý gì cả. 
      Ông Tulliver rầy: 
      -     Không nên. Con không nên nói vậy. Con nên hoc tất cả những gì thầy dạy. Thầy con biết rõ là con phải học những gì. 
      Maggie khuyên giải anh:
      -     Em sẽ giúp anh. Em sẽ ở lại đây thật lâu nếu bà Stelling cho phép. Em có đem theo quần áo nữa, phải không ba?
      Tom cảm thấy thú vị khi nghĩ tới lúc nó làm Maggie bối rối khi đưa cho cô bé xem cuốn hình học.
       -    Mày mà giúp tao? Đồ ngu! Để coi mày sẽ ra sao với mấy bài học của tao. Tao còn học tiếng La tinh nữa. Con gái đâu có bao giờ biết mấy thứ đó, toàn là đồ ngu. 
      Maggie tự tin:
      -     Em biết tiếng La tinh như thế nào rồi. Đó là một thứ ngôn ngữ. Trong tự điển cũng có chữ La tinh nữa. Có chữ Bonus, một món quà. 
      Tom thầm ngạc nhiên:
      -     Vậy thì cô lầm rồi, cô Maggie ơi! Cô tưởng cô thông mình lắm hả? Bonus có nghĩa là tốt – Bonus, Bona, Bonum.
      Maggie cãi:
      -     Nhưng không phải vì vậy mà nói không có nghĩa là «một món quà» đuoc. Nó có thể có nhiều nghĩa – hầu hết mọi chữ đều như thế cả, thí dụ một chữ «lawn» vừa có nghĩa là một sân cỏ vừa có nghĩa là một chiếc khăn.
      -     Giỏi lắm, con gái của ba. 
      Ông Tulliver cười thích thú, trong khi Tom lộ vẻ bực dọc về sáng kiến của Maggie, dầu nó cũng vô cùng mừng rỡ khi nghĩ rằng Maggie sẽ ở lại chơi với nó. Nó nghĩ, lòng tự phụ của Maggie sẽ tan biến đi khi bắt đầu xem xét những sách vở của nó. 
      Không có dấu hiệu gì cho thấy bà Stelling sẽ mời Maggie ở lại hơn một tuần, nhưng ông Stelling khi đặt Maggie ngồi lên đùi, hỏi cô bé tìm đâu ra đôi mắt đen láy như vậy, đã nhứt định cô bé ở lại nửa tháng. Đối với Maggie, ông Stelling là người khả ái, còn ông Tulliver thì vô cùng hãnh diện và sẵn lòng cho con gái cưng của mình ở lại để có dịp trổ tài thông minh cùng người lạ. 
      Sau khi ông Tulliver đánh xe về, Tom nói với Maggie:
      -     Nào, bây giờ vào phòng học với tao, Maggie. Sao bây giờ mày hay lắc đầu quá vậy, con điên?
      Maggie sốt ruột:
      -     Thôi mà, đừng chế nhạo em nữa.
      Cô bé kêu lên, một khi nhìn thấy kệ sách:
      -     Ồ, sách nhiều quá. Em thích có được nhiều sách như thế này.
      Tom nói với giọng đắc thắng:
      -     Nhưng mày có đọc được cuốn nào đâu. Toàn là sách La tinh không!
      Maggie cãi:
      -     Đâu phải, em đọc được mấy cuốn sách này mà – Lịch sử sự suy tàn của Đế Quốc La Mã. 
      Tom lắc đầu: 
      -     Nhưng câu đó có nghĩa là gì? Làm sao mày biết được.
      Maggie cả quyết:
      -     Nhưng rồi em sẽ biết. 
      -     Bằng cách nào.
      -     Em sẽ đọc bên trong, rồi em sẽ biết nó nói gì.
      Thấy Maggie định lấy cuốn sách, Tom cản:
      -     Đừng lấy, Maggie. Ông Stelling không cho ai lấy sách khỏi kệ nếu không được phép. Mày mà lấy ra là tao sẽ bị phạt. 
      Maggie quàng tay qua cổ anh:
      -     Cũng được. Vậy anh cho em coi sách vở của anh đi.
      Cao hứng vì lại có em bên cạnh để cãi cọ và ra oai, Tom ôm ngang lưng Maggie và bắt đầu khiêu vũ quanh chiếc bàn lớn trong phòng. Hai đứa bé nhảy mỗi lúc một nhanh, tóc Maggie xổ ra và bay lòa xòa sau ót. Những bước chân của chúng đã bắt đầu hơi luống cuống khi chúng nhảy đến gần cái bàn đọc sách nhỏ của ông Stelling mà không hay, cuối cùng chiếc bàn ngã đổ, phát ra một tiếng động ầm ĩ. May cho chúng vì đây là tầng trệt nên khó gây sự chú ý của người nhà. Tuy vậy, Tôm cũng đứng bàng hoàng sợ hãi luôn vài phút, nó sợ ông hay bà Stelling bắt gặp:
      Tom dựng chiếc bàn lên rồi nói:
      -     Maggie, tụi mình không được làm ồn nữa. Nếu làm bể đồ là bà Stelling sẽ quở mắng nặng lắm nghe chưa?
      Maggie hỏi:
      -     Bà khó tánh lắm hả?
      Tom gật đầu:
      -     Chắc vậy.
      -     Em thấy đàn bà bao giờ cũng khó tánh hơn đàn ông. Như dì Glegg hơn dượng Glegg và má hay rầy em nhiều hơn ba.
      -     Và một ngày kia, mày cũng sẽ là đàn bà. Mày khỏi cần nói nhiều.
      Maggie lắc đầu:
      -     Nhưng em sẽ là một người đàn bà thông minh.
      -     Tao chắc vậy, và sẽ hung ác và kiêu hãnh nữa. Mọi người sẽ không ưa mày.
      -     Nhưng anh không được ghét em, anh Tom. Vì em là em của anh mà!
      -     Phải, nhưng nếu mày kiêu hãnh và hung ác thì tao cũng sẽ ghét.
      -     Em sẽ không khó chịu, sẽ tử tế với anh – và sẽ tử tế với tất cả mọi người. Anh sẽ không ghét em nghe anh Tom?
      -     Đừng thắc mắc nữa. Tới giờ học của tao rồi. Coi nè, bài của tao đó.
      Tom vừa nói vừa chỉ cho Maggie coi bài vở của nó. Maggie vén tóc ra sau và sửa soạn chứng tỏ cho Tom thấy khả năng của mình về môn hình học. Cô bắt đầu đọc một cách tự tin, nhưng liền sau đó mặt cô đỏ bừng lên vì bối rối và tức giận:
      -     Chẳng có nghĩa lý gì hết ai mà thèm làm mấy thứ này. 
      Tom liệng cuốn sách đi, lắc đầu: 
      -     Thấy chưa? Cô Maggie! Mày thấy rõ là mày không hề thông minh như mày tưởng. 
      Maggie trề môi:
      -     Em dám chắc là em sẽ làm mấy bài toán đó được nếu em đã học qua như anh vậy.
      -     Dầu có học trước, nhứt định mày cũng không làm nổi. Thôi bỏ qua cái này, tao sẽ học văn phạm La tinh, để coi mày có thể hiểu được gì.
      Maggie nhận thấy môn La tinh thú vị nhiều hơn môn toán, vì cô rất thích những chữ mới và nhận thấy ở dưới mọi bài đều có bảng chú thích bằng Anh ngữ có thể giúp cô hiểu tiếng La tinh một cách dễ dàng hơn. Cô bé nhứt định bỏ qua các qui tắc văn pháp trong La tinh, mà chỉ đọc các thí dụ thôi. Những câu bí mật này dường như đã được trích ra từ một tác phẩm vô danh nào đó – như sừng của những con thú lạ, lá của những loài thảo mộc hiếm hoi, những miền đất xa xôi -  đã kích thích trí tưởng tượng của cô một cách mãnh liệt: «Người đàn ông may mắn được mọi người khen ngợi vì đã có một đứa con tài ba như vậy». Hay «Khu rừng rậm rạp đến nổi không tìm thấy được ánh sao», Maggie thấy mình lạc lõng trong khu rừng đó, cô miên man tưởng tượng... 
      Nhưng Tom đã gọi: 
      -     Maggie, đưa tao cuốn văn phạm. 
      Maggie nhảy ra khỏi ghế bành, đưa cuốn sách cho Tom:
      -     Ồ, anh Tom, sách hay quá! Hay hơn cả cuốn tự điển nữa. Em có thể học tiếng La tinh được ngay, em thấy đâu có khó gì.
      -     À, tao biết mày vừa làm cái gì rồi. Mày đã đọc phần ghi chú ở cuối bài bằng tiếng Anh. Ngu tới mấy cũng có thể làm như vậy được. 
      Tom giựt cuốn sách, mở ra với vẻ trịnh trọng và cương quyết, như muốn nói rằng nó sắp phải học một bài mà không một đứa «ngốc» nào có thể hiểu được. Maggie hơi giận, quay lại kệ sách thưởng thức từng tựa sách một. 
      -     Ê, Maggie tới đây nghe tao đọc cái này. Mày đứng ở cuối bàn, chỗ ông Stelling thường ngồi nghe tao trả bài.
      Maggie ngoan ngoãn cầm lấy cuốn sách đã mở sẵn:
      -     Bắt đầu thế nào, anh Tom?
      -     Bắt đầu ở phần «Appellativa arborum», bài học của tao trong tuần này. 
      Tom đọc suông sẻ được chừng ba dòng; và Maggie cũng bắt đầu quên bổn phận của mình và đang thắc mắc không biết «mas» có nghĩa là gì mà được dùng nhiều như vậy, tới câu Sunt Ethiam Volucrum thì Tom bí. 
      -     Đừng nhắc Maggie, Sunt Ethiam Volucrum... Sunt Ethiam Volucrum... Ut Ostreaoetus... 
      Maggie lắc đầu:
      -     Không phải.
      Tom đọc thật chậm lại câu Sunt Ethiam Volucrum để mong có thể nhớ ra được những chữ kế tiếp. 
      Maggie sốt ruột nhắc: 
      -     C – U – E.
      -     Ồ, tao nhớ ra rồi – nín đi – Cue Passer Hirundo, Ferrarum... Ferrarum... 
      Tom cầm viết chì chấm chấm vào bìa sách. 
      Maggie kêu lên: 
      -     Ồ, anh đọc chậm quá - UT...
      -     Ut Ostrea...
      -     Không phải Ut Tigris...
      -     Ừ, đúng rồi, nó là Tigris Vulpes. To quên, Ut Tigris Vulpes, Et Piscium. 
      Sau một hồi vấp váp, lẫn lộn, Tom cũng đọc xong được một đoạn. 
      -     Xong rồi, phần dưới là bài học của ngày mai, đưa tao quyển sách một lúc.
      Sau một hồi lẩm bẩm, thì thầm, tiếp theo là một cú đấm trên bàn, Tom trao lại cuốn sách. Nó bắt đầu:
      -     Mascula Nomina In A...
      -     Không phải, đó là câu sau, nó là Nomen Non Creskens Genittivo... 
      Tom phá ra cười, nó nhái lại cách đọc tiếng La tinh của Maggie: 
      -     Creskens Genittivo! Mày thật là ngốc nghếch, Maggie à!
      -     Đừng cười em, anh cũng đâu có thuộc bài!
      -     Tao đã bảo là con gái không đọc được tiếng La tinh mà. Chữ đó phải đọc là Nomen Non Crescena Genivito. 
      -     Cũng được, em không thể đọc được như anh. Nhưng anh lại chẳng biết ngắc câu gì cả, vì anh ngừng lại ở dấu phết cũng lâu như ở dấu chấm phết, còn ở những chỗ không có dấu gì cả thì anh lại ngừng thật lâu. 
      -     Đừng cãi nữa, để tao đọc tiếp. 
      Một lúc sau hai anh em được mời vào phòng khách chơi. Maggie nói huyên thuyên với ông Stelling, người mà cô cho rằng chắc chắn đang thán phục sự thông minh của cô. Nhưng Tom thì lại thấy ngạc nhiên và lo lắng trước lối nói chuyện bạo dạn của Maggie. Nhưng cô bé bỗng xịu mặt xuống khi nghe ông Stelling bảo vừa nghe được chuyện một cô bé đã có lần bỏ nhà theo người du mục.
      Bà Stelling góp lời: 
      -     Con nhỏ đó thật kỳ hết sức! 
      Bà chỉ có ý pha trò cho vui, nhưng lời pha trò đó không làm vừa bụng Maggie chút nào. Cô sợ lời nói đó sẽ làm ông Stelling bớt thiện cảm với mình, và đêm đó cô đi ngủ với một tinh thần xuống thấp.
      Tuy nhiên nửa tháng ở chơi với Tom là nửa tháng sung sướng nhứt trong đời Maggie. Cô bé được phép ở lại trong phòng với Tom khi nó học bài và cô đã thâu thập được rất nhiều qua những thí dụ trong cuốn văn phạm La tinh.
      Ông Stelling rất thích nghe chuyện của Maggie. Ông và cô bé hoàn toàn tương đắc. Maggie nói với Tom là mình muốn học với ông Stelling và cùng những môn như Tom. Cô biết cô có thể học được hình học Euclid vì cô đã coi lại cuốn hình học một lần nữa, và đã hiểu A B C có nghĩa là gì, đó là tên của những đường thẳng. 
      Tom nói:
      -     Tao chắc là mày không học nổi đâu. Để tao hỏi ông Stelling thử coi.
      -     Không cần, để em tự hỏi lấy được rồi.
      Tối đó vào giờ tụ họp lại trong phòng khách, Maggie hỏi:
      -     Thưa ông Stelling, cháu có thể học hình học được không, và cả những bài học của anh Tom nữa?
      Tom gắt: 
      -     Không, em không học được đâu. Con gái không học được hình học, phải không, thưa thầy?
      Ông Stelling đáp:
      -     Tôi có thể nói được rằng con gái cũng thâu lượm được mọi thứ một ít. Chúng cũng khá thông minh, nhưng không thể đi sâu vào vấn đề. Con gái rất hoạt bát nhưng lại nong cạn. 
      Tom rất hài lòng trước lời bình quyết đó, nó gục gặc một cách đắc thắng với Maggie từ phía sau ghế. Chưa bao giờ Maggie thấy xót xa như vậy. Vì cô vẫn thường hãnh diện khi nghe người khác cho rằng mình «hoạt bát», và bây giờ hình như là sự «hoạt bát» đó cũng là một thứ thua kém. Có lẽ chậm chạp như Tom mà lại hơn.
      Khi chỉ còn lại hai anh em với nhau, Tom cười rộ: 
      -     Ha! Ha! Cô Maggie! Cô thấy hoạt bát đâu có hay ho gì. Cô sẽ không bao giờ hiểu thấu được một cái gì cả.
      Quá hoang mang trước số phận đen tối đó, Maggie không còn lòng dạ nào cãi lý với Tom.
      Nhưng khi cô bé «hoạt bát nhưng nông cạn» đó được bác Luke đem xe tới đón về, và phòng học trở lại đìu hiu như trước, Tom lại thấy nhớ em vô cùng. Quả thật Tom sáng trí và học bài mau thuộc hơn từ khi Maggie đến ở chơi. Maggie đã hỏi ông Stelling nhiều điều về đế quốc La Mã đến nổi Tom bắt đầu hiểu ra rằng quả thật vào đời xưa, trên địa cầu này đã có một dân tộc may mắn đến biết được tiếng La tinh mà không cần phải học tới cuốn văn phạm Eton. Điều này đã bổ túc cho số vốn ít ỏi của Tom về lịch sử dân Do Thái. 
       Cuối cùng, nửa năm học khổ số cũng tới lúc chấm dứt. Tom vô cùng sung sướng khi nhìn những chiếc lá vàng cuối cùng run rẩy trong gió rét. Ngày đã bắt đầu ngắn lại và những nụ tuyết đầu tiên của tháng chạp đối với Tom trông thật phấn khởi và khoái hoạt hơn những ngày rực nắng của tháng tám nhiều. Ba tuần trước ngày nghỉ học, Tom cắm sâu hai mươi mốt cái que trong một góc vườn, mỗi ngày nó nhổ đi một que và cố ném đi cho thật xa, như nếm đi một phần của nỗi khổ vào u linh giới.
      Nhưng đến lúc chiếc xe ngựa êm ái đưa Tom qua chiếc cầu phủ tuyết dầy, tất cả những ám ảnh nặng nề của nửa năm học vừa qua đều phai mờ hết khi Tom nhìn thấy ánh sáng rực rỡ tỏa ra từ phòng khách của nhà mình. Tom cảm thấy sung sướng – cái sung sướng của một kẻ từ ngoài giá rét đi vào một nơi ấm áp, có những chiếc hôn và nụ cười quen thuộc đón chào. 
      Không một cảm giác thoải mái nào bằng được cái cảm giác khi chúng ta đang ở giữa khung cảnh nơi ta chào đời, nơi mà bàn ghế đã trở nên những vật chí thân trước khi chúng ta biết chọn lựa, nơi mà hình như ngoại cảnh chỉ là một phần mở rộng của con người chúng ta. Chúng ta chấp nhận và thương yêu khung cảnh đó cũng như chúng ta thương yêu chân tay của chính mình. Làm sao có thể không thương yêu vô cùng người bạn đường cố cựu ấy, những người bạn đã từng tham dự vào các niềm vui khi những niềm vui này còn mang sắc thái linh hoạt và rạng rỡ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
15
 
 
ĐƯỢC TIN TÒA ÁN PHÁN QUYẾT PIVART VÀ Wakem thắng kiện, mọi người đều nghĩ rằng ông Tulliver sẽ chịu đựng sự thua thiệt đó một cách can đảm và tự tin hơn. Chính ông cũng nghĩ thế: nếu Wakem hay bất cứ ai cho rằng ông đã bị đánh gục thì ông sẽ chứng tỏ cho họ biết là họ đã lầm to. Ông nhìn nhận phí tổn của vụ kiện này đã vượt quá khả năng mình, nhưng ông vẫn tin rằng tự có thể xoay xở được và cứ luôn luôn là Tulliver, chủ nhân nhà máy Dorlcote. 
      Rời văn phòng luật sư Gore, ông Tulliver có vẻ suy tư. Người đã nhận cho ông thế đất là Furley, một người khả ái, chắc sẽ chịu mua toàn thể tài sản của ông gồm cả nhà máy và ngôi nhà, và sẽ giữ ông ở lại trông nom nhà máy với số lương khả dĩ nuôi sống và duy trì tình trạng hiện tại của gia đình. Ai lại có thể bỏ qua một vụ đầu tư béo bở như thế được? Người đó chắc chắn không phải là Furley. Vì vậy, ông Tulliver tin tưởng là ông Furley sẽ nhận đề nghị của mình một cách vui vẻ – và nếu ông ấy chấp nhận thì... tình trạng của ông vẫn chưa đến nổi nào tệ hại. Gia đình ông sẽ phải sống đạm bạc hơn trong một thời gian, cho tới khi dành dụm đủ tiền để trả lại cho Furley, chừng đó, nghiễm nhiên ông sẽ lại là ông Tulliver khả kính của nhiều năm trước. Như vậy, ông sẽ có thể thanh toán án phí mà không sợ phải bị trục xuất ra khỏi nhà như một kẻ bị phá sản.
      Rõ ràng, đây là thời kỳ đen tối nhứt của ông Tulliver. Riley, người mà ông đã đứng ra bảo đảm để vay một số tiền lên đến hai trăm năm mươi bảng, vừa từ trần để lại số nợ ấy cho ông phải trả làm cho những con số trong trương mục của ông xuống tới mức quá khiêm nhường. Cũng chẳng sao! Ông Tulliver tự nhủ là sẽ không bao giờ động lòng thương hại một người nào nữa, không thể nào tiếp tục mạo hiểm trong cuộc đời lắm rắc rối này. Nhưng sự kiện đáng lo ngại nhứt là người đã cho ông vay năm trăm bảng để trả cho bà Glegg cách đây vài tháng đã tỏ ý sốt ruột (dĩ nhiên là do tên Wakem xúi bầy chớ không ai khác), lúc đó ông vẫn còn tin tưởng mình thắng kiện nên đã làm giấy bán tất cả đồ đạc trong nhà cho chủ nợ như một sự bảo đảm. Ông tự nhủ đây là lần chót là sẽ cố gắng xoay xở để sớm thanh toán tiền nong. Nhưng bây giờ, tờ giấy bán đã đưa ông tới một quyết định mới, bởi thời gian trả nợ đã gần kề mà ông chưa xoay xở được đồng nào. Cách đây hai tháng, ông mạnh dạn tuyên bố là sẽ không bao giờ nhờ vào họ hàng bên vợ, để rồi hôm nay ông cũng mạnh dạn tự nhủ là đương nhiên Bessy phải qua nhà bà Pullet để trình bày hiện tình với người ta, chắc chắn là họ sẽ không thể làm ngơ trước cảnh Bessy bị tịch biên đồ đạc trong nhà – hơn nữa bên Pullet chẳng có gì phải lo ngại bị thiệt thòi nếu chịu cho ông vay. Giữa tình trạng hiện tại, chuyện gì đối với ông Tulliver cũng thật dễ dàng hơn là nhìn thẳng vào sự thất bại của mình.
      Ông cứ mãi đắm chìm trong những ý nghĩ đó cho tới khi vào St. Ogg’s, nơi ông phải đi qua trên đường trở về nhà. Nhưng rồi chẳng hiểu tại sao khi nhìn thấy chiếc xe chở khách từ Laceham về, ông lại đi theo xe cho tới văn phòng hãng xe đò và nhờ viên thơ ký viết dùm một lá thơ gởi Maggie. Ông run tay vì quá hồi hộp với những dự tính của mình nên không thể tự tay viết được, ông dặn bức thơ phải trao cho người tài xế vào sáng mai để đem tới trường nội trú của bà Firniss. Giữa cảnh bối rối này tự nhiên ông muốn được có Maggie bên cạnh - không thể trì hoãn được - Maggie phải về bằng xe đò nội ngày mai.
      Vừa hay tin chẳng lành, bà Tulliver òa khóc, khiến ông cáu kỉnh bảo rằng đừng nên quá lo về số tiền tổn phí của vụ kiện, tuy nhiên ông không cho vợ biết về tờ giấy bán các vật dụng trong nhà và ý định nhờ cậy bà Pullet. Ông muốn nắm phần chủ động trong việc này và chỉ nói với vợ những gì thấy đã tới lúc cần thiết phải nói. 
      Chiều hôm sau, ông Tulliver lại lên ngựa tới văn phòng của luật sư Gore tại St. Ogg’s. Chắc chắn là luật sư đã tiếp xúc với ông Furley từ sáng và đã có kết quả về đề nghị của ông. Nhưng nửa đường thì ông gặp viên thơ ký của luật sư Gore đang trên đường đến nhà ông. 
      Viên thơ ký cho biết luật sư Gore có một dịch vụ bất ngờ nên không thể ở lại chờ ông được, nhưng sáng mai luật sư sẽ đợi ông ở văn phòng lúc mười một giờ để báo tin, và trong khi chờ đợi luật sư trao cho ông một lá thư quan trọng.
      Ông Tulliver cầm lá thơ nhưng không mở:
      -     Vậy à? Anh về nói với trạng sư là mười một giờ mai tôi tới gặp. 
      Rồi ông quay ngựa ngay; viên thơ ký ngạc nhiên sự vội vàng của ông, y đứng nhìn theo một lúc rồi mới đi. Ông Tulliver chưa muốn đọc vội lá thơ, vì ông đọc rất chậm nên định khi nào về tới nhà ngồi thoải mái trên ghế bành mới mở ra. Nhưng mới được một quãng đường ông chợt nghĩ có thể chứa đựng một vài chuyện không nên để cho bà Tulliver biết, và như vậy thì không nên để cho bà ấy thấy lá thơ. Ông dừng lại và mở thơ ra đọc. 
      Lá thơ thật vắn tắc, đại ý ông Gore cho biết rằng theo một nguồn tin bí mật nhưng có thẩm quyền thì gần đây ông Furley rất cần tiền nên đã chuyển nhượng tất cả tài sản của ông ta – trong đó có cả giấy cầm bất động sản của ông Tulliver – cho ông Wakem.
      Nửa giờ sau, người lái xe của ông Tulliver bắt gặp ông chủ mình nắm bất tỉnh giữa đường với một lá thơ đã mở và con ngựa đang đi quanh quẩn một bên. 
      Khi Maggie trở về nhà chiều hôm đó thì ông hoàn toàn mê man. Trước đó một giờ, ông bỗng tỉnh lại. Sau một lúc thẩn thờ nhìn quanh, ông thều thào: «Lá thơ, lá thơ đâu?».  Bác sĩ cho đem lá thơ của luật sư Gore đặt lên giường. Ông nằm nhìn chằm chặp vào lá thơ như cố ý nhờ nó vá víu lại luồng tư tưởng đứt đoạn của mình. Nhưng hình như có một làn sóng kỷ niệm nào khác cứ ùa tới xua làn sóng trước đi. Mắt ông rời mãnh giấy và quay ra cửa sổ như muốn nhìn một vật gì đó qua lớp sương mờ. Ông thì thầm: «Con gái của tôi!». Sự đòi hỏi quan trọng đó - kể cả vợ ông. Bà Tulliver lòng đã tan nát vì bao nhiêu tai ương giáng xuống cùng một lúc, không ngớt chạy ra chạy vào để ngóng chuyến xe đò trở về dầu vẫn chưa tới giờ thường lệ. 
      Nhưng lúc Maggie vừa bước vào nhà thì cha cô không còn biết gì nữa cả. 
      Mặt tái xám, Maggie hối hả hỏi mẹ khi thấy bà vừa chạy ra vừa khóc: 
      -     Chuyện gì vậy má?
      Cô không ngờ cha mình ngã bịnh, vì ông ta mới vừa đọc thơ viết gởi cho cô hôm qua tại Ogg’s kia mà. Rồi bác sĩ Turnbull đã có mặt ở cổng ngay lúc đó, cứ luôn luôn là một thiên thần trong những gia đình gặp chuyện không may. Maggie chạy ào tới với người bạn cũ mà cô đã quen bắt đầu từ khi cô có trí nhớ với một cái nhìn ái ngại. 
      Bác sĩ cầm tay cô:        
      -     Đừng hoảng hốt, con gái! Ba con chỉ bị kích ngất và chưa tĩnh hẳn. Nhưng ông ấy vừa mới hỏi tới con, và sự có mặt của con hữu ích cho ông lắm. Có điều là con phải hết sức bình tĩnh mới được. Bây giờ hãy lên lầu với bác.
      Maggie ngoan ngoãn vâng lời, nhưng tim cứ đập loạn trong lòng ngực, lời yêu cầu của bác sĩ Turnbull khiến cô tưởng tới nhiều chuyện hãi hùng. Lúc Maggie bước vào phòng, ông Tulliver vẫn còn thẩn thờ nhìn ra cửa sổ và cô bắt gặp trong đôi mắt đó một tia nhìn kỳ lạ, bất lực và mòn mỏi đợi chờ... Bỗng nhiên, ông Tulliver ngồi bật dậy và Maggie chạy ùa tới hôn cha rối rít. 
      Thật đáng thương! Với từng tuổi đó, cô hãy còn quá trẻ để hiểu được rằng những giờ phút tối thượng này, những giờ phút mà con người đặt hết cả hy vọng và hạnh phúc vào, khi mất đi sẽ mang tất cả. 
      Những giây phút định thần chớp nhoáng ấy đã vượt qua sức chịu đựng đã bị nghiền nát của cha cô. Ông lại ngã xuống giường mê man và đờ người như lúc nãy. Cơn mê kéo dài nhiều giờ liền và suốt thời gian đó, ông chỉ có một lần hồi tĩnh mong manh, cầm lấy một cách vô hồn, những gì được trao tới với điệu bộ thỏa mãn của trẻ con kèm theo sự hiện diện của Maggie – đúng là sự thỏa mãn của đứa bé sơ sanh khi được trả vào tay người vú nuôi. 
      Bà Tulliver đã cho người đi báo tin với các chị em cua ba va hien gio dang co nhien tieng on ao noi nha truoc. Gia dinh ben ba Tulliver nhan thay rang su lun bai cua Bessy cung chong con da dien ra hoan toan dung nhu du doan cua ho, va bay gio ho dang bat dau chi trich va trach moc su ngoan co cua Bessy.
      Nhung Maggie khong them de y toi ho, khong luc nao co roi khoi giuong binh cua cha, lang thinh ngoi o mep giuong nam tay ong gio nay qua gio khac.
      Ba Tulliver muon goi Tom ve, duong nhu ba nghi toi con trai minh nhieu hon la chong, nhung ba da vap ngay phai su chong doi cua cac di duong. Tot nhut la cu de Tom o lai truong vi bac si Turnbull vua bao binh tinh ong Tullover khong co gi nguy ngap lam. Nhung toi chieu toi thu hai, khi da quen dan voi con me cua cha, Maggie bat dau nho toi Tom, va trong khi me co ngoi khoc ca dem, ke le: «Toi nghiep thang con toi... no co quyen ve nha ma!» thi Maggie quyet dinh ngay: «De con di bao tin cho anh Tom. Sang mai con se di som neu ba khong doi gap mat con. Tom se kho so lam neu anh ve nha ma khong biet truoc viec gi!».
      The la Maggie len duong vao sang hom sau, ngoi xe do tren duong ve, hai anh em chi trao doi nhau nhung cau ngan gon, va khe khe.
      -     Ho noi ong Waken da mua lai giay cam dat va bat dong san tren do. Theo y ho thi chac la la tho bao tin do da lam cho cha binh.
      Tom xac nhan:
      -     Chac chan la ten luu manh do da am muu hai ba tu lau roi, anh se lam cho no dau kho chung nao da truong thanh. Tu nay ve sau em khong duoc tiep xuc voi thang Philip nua, nghe chua!
      -     O! Tom...
      Maggie buon rau, keu nho, nhung giua luc nay co khong con mot chut y luc nao de neu ra mot dieu gi co the lam cho Tom gian.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
16
 
 
MAGGIE VẮNG NHÀ ĐÃ NĂM TIẾNG ĐỒNG HỒ, và đang lo ngại tự hỏi không biết trong thời gian đó cha có nhớ tới mình và có đòi gặp mặt «cô con gái cưng» hay không. 
      Vừa xuống xe, Maggie đã chạy như lao trên con đường trải sỏi và đã xông vào nhà trước Tom. Nhưng vừa đặt chân đến hành lang, Maggie bỗng dừng sửng lại ngạc nhiên vì ngửi thấy mùi thuốc lá khét nghẹt. Cửa phòng khách đang mở hé, và mùi thuốc lá tỏa ra từ đó. «Lạ chưa?» có người khách nào mà lại hút thuốc lúc này? Có mẹ ở đó không? Nếu có, mình phải vào cho hay là Tom đã về rồi. Sau một lúc do dự, cô đẩy cửa vào, cùng một lúc với Tom vừa tới, cả hai anh em cũng nhìn vào phòng khách. Một gã dáng điệu thô lỗ, kệch cỡm, mặt quen quen, đang ngồi trên ghế bành của ông Tulliver phì phà ống điếu, bên cạnh là một bình rượu và một cái ly.
      Tom hiểu ngay lập tức. Có «Thừa phát lại» trong nhà và «tài sản bị phát mại» là những câu mà cậu vẫn thường nghe từ thuở nhỏ. Và đó cũng là một phần của sự nhục nhã và cùng khốn khi người ta bị phá sản mất hết cả tiền bạc - và rơi xuống tình trạng của dân lao động. Đó cũng là chuyện đương nhiên khi cha cậu bị thất kiện và bị phá sản. Nhưng sự hiện diện của viên chức Tư pháp này khiến Tom khó chịu, và cảm thấy những phiền muộn của mình đã thực sự khai diễn.
      Người đàn ông lấy ống điếu ra, nét ngạc nhiên của hai anh em làm gã bối rối: 
      -     Hân hạnh chào ông! 
      Tom im lặng quay phắt đi, cậu không chịu nổi cảnh trạng thật khả ố này. Maggie không hiểu được sự có mặt của gã kia như Tom. Cô chạy theo anh thì thầm hỏi:
      -     Ai vậy anh? Có chuyện gì vậy? 
      Rồi lo ngại khi nghĩ rằng sự hiện diện của người đàn ông có thể liên quan tới tình trạng của cha mình, Maggie chạy vội lên lầu. Cô dừng lại trước cửa phòng ngủ, lấy lại bình tĩnh, mở nón ra và rón rén bước vào. Trong phòng hoàn toàn yên tĩnh, cha cô vẫn nằm im lìm trên giường như lúc cô ra đi. Mẹ cô không có mặt mà chỉ có người giúp việc. 
      Maggie thì thào: 
      -     Má tôi đâu?
      Chị người làm không biết. 
      Maggie hấp tấp ra ngoài với Tom. 
      -     Ba vẫn nằm im, mình đi kiếm má xem sao. 
      Nhưng bà Tulliver không ở nhà dưới – cũng không có trong phòng ngủ. Trong nhà chỉ còn lại một phòng mà hai anh em chưa tìm tới: đó là phòng chứa đồ, nằm dưới gác thượng, nơi bà Tulliver cất những cây hàng vải và «đồ quí báu nhứt của bà», những món đồ chỉ được đem ra vào những dịp đặc biệt thôi. 
      Tom mở cửa phòng và gọi to: 
      -     Má ơi!
      Bà Tulliver đang ngồi giữa phòng với những của cải dành dụm được chung quanh: Một cái rương đã được mở ra, một chiếc bình bằng bạc đã được bóc ra khỏi mấy lần giấy bọc, đồ sứ và muỗng nĩa đã được sắp ra trên kệ, và người đàn bà đáng thương đang bắt đầu sụt sùi khóc với một mớ khăn trên tay, mỗi cái đều có chữ «Elizabeth Dodson» trên chéo góc. 
      Bà bỏ chồng khăn xuống và đứng bật dậy khi nghe tiếng Tom.
      -     Ồ, con trai của má! Má không ngờ được cái ngày hôm nay! Nhà mình đã suy sụp... bị phát mãi tất cả... ba con cưới má để đem tới những thứ đó cho đời má! Mình không còn một thứ gì cả... mình sẽ đi ăn xin... sẽ ở... trại tế bần.
      Bà hôn Tom rồi lại ngồi xuống cầm xấp khăn bàn lên xem xét, trong khi hai đứa con đứng chết lặng với những tiếng «ăn xin», «trại tế bần» lởn vởn trong đầu. 
      Bà Tulliver vừa mân mê đồ đạc vừa nghẹn ngào: 
      -     Mấy cái khăn này má tự tay may lấy và chọn mẫu để thêu. Vậy mà chúng sắp bị đem bán hết – sẽ vào tay những người lạ và biết đâu sẽ rách hết trước khi má chết. Con sẽ không bao giờ có được món nào trong các vật này, Tom à. Má để dành là để cho con. Còn Maggie thì có chiếc khăn sọc vuông lớn kia – để dĩa lên trông nó còn đẹp hơn lúc này nhiều lắm.
      Tom bỗng đỏ mặt: 
      -     Chẳng lẽ mấy dì dượng con để họ bán hết mấy món này sao? Má không nói gì với họ à?
      -     Rồi, ông thừa phát lại vừa tới là má sai Luke đi ngay, dì Pullet cũng tới rồi – dì con khóc sướt mướt, dì nói cha con đã làm nhục nhã gia đình và khiến cả xứ phải cười chê. Dì Pullet hứa sẽ mua dùm các xấp vải đốm, nhưng loại sọc vuông thì dì có quá nhiều rồi (bà bắt đầu trải các chiếc khăn ra rồi thẩn thờ xếp lại). Sau đó, dượng Glegg cũng tới, dượng hứa sẽ mua lại đồ ngủ cho nhà ta, nhưng còn phải chờ quyết định của dì Glegg mới được. Các dì dượng con sẽ họp nhau ở đây để lấy quyết định chung... nhưng má biết là sẽ không có người nào chịu mua lại mấy món đồ sứ của má (bà quay lại kệ chén dĩa) bởi vì trước đây không ai bằng lòng cho má mua các món này, họ không thích hình vẻ của chúng. Nhưng má tin chắc là không có người nào có được thứ chén dĩa tốt hơn thứ của má, kể cả dì Pullet cũng vậy – má mua bằng tiền má để dành từ năm mười lăm tuổi, cái bình trà bạc này cũng vậy – má không lấy của ba con một đồng nào. Vậy mà... ba con cưới má để đem tới cái thảm cảnh này cho má. 
      Bà Tulliver lại òa ra khóc, bà đứa khăn tay lên chậm mặt, rồi thổn thức trách móc: 
      -     Má đã nói với ba con bao nhiêu lần rồi «ông làm gì thì làm, đừng kiện tụng với người ta làm chi - má còn biết làm sao khác hơn? Bây giờ má phải ngồi nhìn người ta bán đi tất cả của cải của mình. Các con sẽ không còn được một đồng xu nào hết... nhưng đâu phải lỗi của má.
      Qua lời than van đau xót của mẹ, lần đầu tiên trong đời Tom mới thấy cha mình có vài điểm đáng trách. Từ trước tới nay, Tom vẫn cho cha là người hoàn toàn hiểu biết và hữu lý chỉ với một lý do giản dị? Ông là cha của Tom Tulliver, có thế thôi.
       Tom an ủi mẹ:
      -     Má đừng lo, con sẽ tìm việc làm để lo cho nhà mình.
      Bà Tulliver nguôi ngoai đôi chút.
      -     Cầu mong ơn trên phù trợ cho con. Nhưng má chỉ có thể yên lòng được khi nào chúng ta có thể giữ lại được các món đồ có tên của má.
      Maggie bỗng thấy phẩn nộ. Tại sao lại chỉ trích cha cô trong khi ông đang nằm mê man như chết ở dưới kia? Cô càng giận thêm lên vì thái độ im lặng, có vẻ biểu đồng tình cảm Tom trước những lời trách móc của mẹ. Cô hét lên, giọng gần như hung tợn:
      -     Kìa má! Sao má nói vậy? Má làm như má chẳng đếm xỉa gì ngoài mấy món đồ có tên của má thôi, bộ má quên những thứ có tên ba trên đó rồi sao? Tại sao má chỉ lo lắng những gì đâu đâu trong khi ba nằm mê man dưới kia và có lẽ sẽ chẳng bao giờ còn nói chuyện được với má con mình nữa? Tom, anh phải nói cho má biết, anh không nên để bất cứ ai trách móc ba mình như vậy được.
      Nói xong, Maggie đi mau ra khỏi phòng với cảm giác nửa buồn, nửa bực. Cô trở lại chỗ ngồi quen thuộc của mình trên giường cha. Cô cảm thấy thương cha hơn bất cứ lúc nào vì nghĩ rằng mọi người cùng đứng về một phía để chỉ trích ông. Maggie không ưa thói chỉ trích, bởi vì chuyện đó không giải quyết được gì, trái lại còn khiến người ta nóng nảy thêm. 
      Tom hơi ngạc nhiên trước cơn giận đột ngột của em - lần đầu tiên cậu nghe Maggie khuyên bảo mình và mẹ phải làm gì! Đáng lý Maggie chính là người được chỉ bảo nên làm cái gì giữa lúc này mới đúng. Tuy nhiên, khi vào phòng cha, cảnh Maggie đang ngồi cầm tay cha bên giường đã khiến Tom xúc động. Thấy anh rón rén ngồi xuống một bên, Maggie xích lại, vòng tay lên cổ anh và cả hai cùng quên hết mọi chuyện, ngoài chuyện có cùng một người cha và một người mẹ và một mối lo chung.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
17
 
 
MƯỜI MỘT GIỜ SÁNG HÔM SAU CÁC DÌ DƯỢNG tới nhà để hỏi ý với nhau. Bà Tulliver đã cho đốt lửa trong lò sưởi trong phòng khách và buông các rèm cửa xuống. Bà lắc đầu buồn bã mỗi khi nhìn những bàn ghế bóng lộn trong nhà. 
      Ông Deane không tới được – ông có chuyện cần phải đi xa, nhưng bà Deane có mặt rất đúng giờ với một cổ xe mới tinh, đẹp lộng lẫy và người lái mặc lễ phục. Ông tiến trên đường sự nghiệp cũng rất mau như ông Tulliver lùi ra khỏi con đường đó. Bàn ghế, chén dĩa trong nhà bà Deane không được coi là của cải mà chỉ là những thứ dùng để trưng bày và được thay đổi hàng năm, hành động này không làm bà Glegg hài lòng lắm.
      Bà Deane là người tới trước nhứt. Vừa ngồi vào ghế, bà được bà Tulliver tiếp đón với gương mặt méo xệch, như bà mới vừa khóc xong. Không phải là người lau nước mắt nên bà chỉ khóc khi nào biết chắc là không còn hy vọng giữ lại bàn ghế của mình được nữa.
      Bà rên rỉ:
      -     Ôi, dì ơi, đời tôi khốn khổ quá! 
      -     Phải lắm, làm thế nào biết được những gì sẽ xảy tới cho ta vào hôm sau. Nhưng chúng ta phải luôn chuẩn bị sẵn sàng để đón chờ những gian nan có thể xảy ra đó. Tôi rất buồn cho chị, tình nghĩa chị em với nhau mà. Chừng nào bác sĩ dặn cho ông Tulliver dùng thịt đông thì chị cứ cho tôi biết, tôi sẽ sẵn sàng gởi tới ngay.
      Trong những dịp trọng đại như thế này, bà Deane thường ăn nói rất kiểu cách, rồi sau đó bà kể lại cho chồng nghe và hỏi xem bà phát biểu như vậy có thích đáng hay không.
      Bà Tulliver rút tay ra khỏi đôi tay mảnh khảnh của em gái, giọng yếu ớt:
      -     Cám ơn Susan, nhưng chúng ta chưa cần nói tới chuyện thịt đông lúc này.
      Bà ngập ngừng một lúc rồi tiếp:
      -     Vả lại trên lầu nhà chị vẫn còn mười mấy nồi... Vậy là từ nay về sau chị không bao giờ cất thịt đông vào chỗ đó được nữa. 
      Giọng bà run run khi nói mấy tiếng sau cùng, nhưng rồi tiếng bánh xe lộc cộc bên ngoài làm cho bà bình tỉnh lại. Ông bà Glegg đã tới và ngay sau đó là ông bà Pullet. 
      Bà Pullet vừa bước vào vừa khóc như thói quen của bà. Bà Glegg thì đội bộ tóc giả it dợn sóng nhứt và mặc toàn đen như người đi dự đám tang. 
      Ông Glegg vừa ngồi vào ghế vừa hỏi:
      -     Sao bà không ngồi gần lò sưởi?
      Bà Glegg quay lại:
      -     Tôi không có ý định tự thiêu.
      Ông Glegg ngã người ra sau:
      -     Sao người đàn ông trên lầu thế nào?
      Bà Tulliver đáp:
      -     Bác sĩ Turnbull bảo sáng nay ông ấy có vẻ khá hơn đôi chút. Ông tỉnh táo hơn và có nói chuyện với tôi. Nhưng ông vẫn chưa nhận ra thằng Tom. Ông nhìn nó như nhìn một người lạ, mặc dầu có lần ông nhắc tới tên nó và con ngựa con. Bác sĩ nói trí nhớ của nhà tôi lùi lại rất xa, ông không nhận ra thằng Tom vì vẫn nghĩ rằng nó hãy còn là một đứa bé. 
       Bà Pullet vừa nói vừa soi gương sửa nón:
      -     Theo tôi thì óc của dượng Tulliver bị đọng nước, nếu có lành mạnh lại chắc ông ấy cũng sẽ khờ khạo như một đứa nhỏ – giống như ông Carr hồi trước, tội nghiệp! Họ phải đút cho ông ấy ăn suốt ba năm liền!
      Bà Glegg gắt:
      -     Dì Pullet, theo chỗ tôi hiểu thì sáng nay chúng ta gặp nhau tại đây là để bàn cách cứu vãn lại sự nhục nhã của giòng họ chúng ta, tôi nghĩ dì nên ngừng lại những chuyện gì không có liên hệ với gia đình mình. Ông Carr gì đó không phải là bà con mà cũng không phải là bạn bè của gia đình. 
      Bà Pullet tháo găng tay ra, nói với giọng áy náy:
      -     Chị Glegg, nếu chị có gì không ưa ông Carr thì van chị đừng nói như vậy trước mặt tôi. Tôi biết rõ ông ta mà, ông thở gấp đến nổi ở cách đó cả hai phòng, ai cũng có thể nghe. 
      Bà Glegg giận dữ: 
      -     Sophy! Dì hãy để dành chuyện thiên hạ trong những lần khác. Tôi lập lại lần nữa là không phải tới đây để bàn về hơi thở ngắn dài của người lạ mà để tìm cách cứu một người chị em và con cái của người đó khỏi cảnh cùng khổ. Tôi không thể làm nhiều chuyện cùng một lúc. 
      Bà Pullet đáp: 
      -     Chị sốt sắng quá! Vậy mà, theo tôi biết, dường như chị mới bước chân vào nhà này lần thứ nhứt từ khi được tin mấy ông thừa phát lại tới kiểm kê. Hôm qua tôi có tới để xem vải vóc, chén dĩa của Bessy và tôi đã hứa sẽ mua xấp hàng đốm rồi.
      Bà Tulliver van nài:
      -     Làm sao để tôi có thể giữ lại các bình trà, đồ sứ, bình đựng gia vị và mấy cái kẹp gấp đường. Đó là những món tôi sắm lần đầu trong đời.
      Ông Glegg chen vào:
      -     Nhưng mấy thứ đó bây giờ đâu có ích lợi cho dì nữa. Dì nên nhớ là món nào chúng tôi cũng phải trả giá mới mua được. 
      Bà Tulliver rên rỉ:
      -     Trời ơi, vậy là tôi phải mất hết sao? Tôi mua mấy món đồ sứ lúc mới về với ông Tulliver – tôi biết chị Jane và Sophy không thích hình vẽ trên đó, nhưng tôi quí chúng lắm, không hề có một vết nứt nào. Còn mấy bình đựng gia vị nữa – dì Deane, tôi chắc dì thích lắm vì có lần tôi nghe dì khen chúng đẹp. 
      Bà Deane kiêu hãnh:
      -     Tôi không có ý định mua mấy thứ đó, nhà tôi đã có quá nhiều thứ đẹp rồi.
      Bà Glegg bực mình:
      -     Đồ đẹp! Lúc nào cũng đồ đẹp, nghe mấy người nói tôi phát ngấy, Bessy, dì nên nhớ lại hoàn cảnh hiện tại của dì, nên nghĩ coi mình còn có giường, còn nệm để nằm, còn có ghế để ngồi hay không. Dì cần phải nhớ là những gì mà dì sẽ có đều do các chị em của dì mua lại dùm. Tôi nói vậy là để giúp dì ý thức được tình cảnh của mình và nổi nhục nhã mà chồng dì đem lại cho gia đình chúng ta để dì khiêm tốn hơn chút ít. 
      Bà Tulliver phân bua:
      -     Kìa, tôi có nói gì đâu, tôi không bao giờ đòi hỏi ai phải mua cái gì cho tôi và cho con cái tôi hết, dầu đó là những của cải dành dụm của tôi. Tôi không hề nói với chị em là tôi cần cái gì hết. 
      Ông Glegg ôn tồn:
      -     Thôi, thôi, đừng làm cho tình hình đen tối thêm. Những gì có thể làm được chúng ta phải làm hết sức. Chúng tôi sẽ mua lại cho dì những thứ cần thiết, thí dụ như một cái bàn - một, hai cái ghế - đồ nấu ăn - một cái giường tốt và những thứ đại loại.
      Ông Pullet góp tiếng:
      -     Còn gia đình Moss đâu? Họ không tới thăm dì dượng sao? Họ cần phải làm cái gì đó như những người khác chớ, và nếu có mượn tiền của dượng Tulliver thì họ bắt buộc phải trả lại.
      Bà Deane nói:
      -     Phải, tôi cũng nghĩ vậy. Tại sao ông bà Moss không tới đây gặp chúng ta? Họ cũng có bổn phận phải đóng góp vào chớ.
      Bà Tulliver buồn rầu:
      -     Tôi chưa cho họ hay gì cả. Họ ở chỗ xa nhứt trong vùng Basset, chẳng biết được gì, trừ khi dượng Moss có dịp ra chợ. Tôi lại quên khuấy họ đi chẳng biết con Maggie có nhớ không vì nó rất mến cô Moss của nó.
      Nghe nhắc tới Maggie, bà Pullet hỏi:
      -     Ủa, tại sao mấy đứa nhỏ không vào đây, Bessy? Chúng phải nghe xem dì dượng bàn tính cái gì chớ. Về phần Maggie thì từ khi tôi chịu nửa tiền học cho nó, đáng lý nó phải nghĩ tới tôi nhiều hơn cô Moss của nó chớ. 
      Bà Glegg phụ họa:
      Đáng lẽ tụi nhỏ phải có mặt ở đây ngay từ đầu, vì bây giờ đã tới lúc chúng phải biết là chúng đang trông cậy vào ai, phải hiểu rõ tình trạng của gia đình để thay đổi cách sống lại. 
      Bà Tulliver thở dài chịu đựng:
      -     Để tôi đi gọi chúng. 
      Bà lên phòng ông Tulliver gọi Tom và Maggie, và lúc đi ngang phòng chứa đồ, một ý nghĩ mới bỗng lóe lên trong đầu bà. Bà bước vào, để cho hai con xuống nhà một mình.
      Các dì dượng có vẻ đang hăng say thảo luận với nhau khi hai anh em Tom dụ dự bước vào. Sự xuất hiện của cả hai làm cuộc bàn cải ngưng ngang. Hai anh em im lặng và trịnh trọng bắt tay mọi người. Ông Pullet vừa nói vừa bắt tay Tom:
      -     Này cậu, chúng tôi đang bàn xem cây viết và bình mực của cậu có thể dùng được vào việc gì đây. 
      Ông Glegg tiếp:
      -     Đây này, bây giờ chúng tôi muốn biết sự học quá hao tốn của anh có thể dùng được vào việc gì không?
            «Khi đất đai đã mất và tiền bạc cũng không còn, thì sự học là điều tuyệt hảo.»
            Đã tới lúc rồi, Tom, anh hãy cho thấy là anh có thể làm hơn tôi được không? Hồi trước, tôi chỉ học chút đỉnh mà cũng có thể gây dựng được cơ nghiệp như ngày nay. Nhưng tôi e rằng cuộc sống nhàn hạ và học vấn cao sẽ gây cho anh nhiều khó khăn hơn tôi ngày xưa lắm, người bạn trẻ. 
      Bà Glegg ngắt ngang:
      -     Nó bắt buộc phải làm việc, dầu có khó khăn cách mấy cũng vậy. Nó bắt buộc phải phấn đấu chớ không thể trông đợi vào sự giúp đỡ của bạn bè để sống nhàn hạ và xa hoa. Nó phải chịu hậu quả sự lầm lạc của người cha, nó phải gánh lấy cuộc sống kham khổ và phải đổ mồ hôi ra. Còn em của nó cũng vậy, phải nhún nhường và bắt đầu làm việc đi, bây giờ không còn đầy tớ để sai biểu nữa. 
      Tom đứng bất động giữa mọi người, mặt đỏ bừng, không có vẻ nhún nhường chút nào, và hình như sắp phát biểu gì đó thì bà Tulliver vào tới.
      Người đàn bà đáng thương đang cầm một cái khay nhỏ, trên có một bình trà bằng bạc, một tách trà mẫu với chiếc dĩa, vài bình gia vị và mấy chiếc kẹp. 
      Bà đặt khay lên bàn, vừa nói vừa nhìn bà Deane:
      -     Nè, dì coi. Tôi nghĩ có lẽ dì muốn nhìn lại cái bình lần nữa - từ lần trước tới nay cũng khá lâu rồi - tôi chắc dì thích mấy hình chạm của nó lắm. Dì có thể đem về dùng hay dành lại cho Lucy khi nó lớn lên. Cái bình này tôi mua ở Golden Lion hồi mới về với ông Tulliver, dì thử nghĩ tới lúc người ta đem trưng bày nó trước mặt khách lạ - dì thấy không, E.D. đau xót cho tôi quá.
      Bà Pullet lắc đầu buồn bã:
      -     Thật là xấu hổ quá đi thôi. Tên tuổi của gia đình phải lưu lạc khắp nơi chưa bao giờ có chuyện như vậy được. Bessy, dì xui xẻo quá. Nhưng mà chỉ mua lại có một cái bình thôi cũng vô ích vì các món khác cũng mang đầy đủ tên họ của dì trên đó - vả lại cái vòi của nó thẳng quá.
      Bà Glegg tiếp:
      -     Xấu hổ? Xấu hổ cho gia đình là khi trong gia đình có người lấy chồng rồi người chồng đó đưa mình vào con đường ăn xin. Xấu hổ là khi bị người ta tịch biên tài sản, vì chuyện đó không thể che dấu được ai. 
      Maggie nhổm dậy khi nghe nói động tới cha, nhưng Tom đã thấy cử chỉ đó, vội vàng ngăn lại:
      -     Bình tĩnh, Maggie!
      Và Tom bắt đầu nói bằng một giọng đầy tự chủ và trịnh trọng, mắt nhìn thẳng bà Glegg:
      -     Thưa dì, nếu dì nghĩ rằng tài sản của ba má cháu bị phát mãi là một điều xấu hổ cho gia đình, thì chúng ta tìm cách ngăn ngừa việc ấy có phải hay hơn không? Và nếu dì và dì Pullet muốn để tiền lại cho cháu và Maggie, thì tốt hơn là các dì nên đưa cho cháu ngay từ bây giờ để gia đình cháu trang trải nợ nần và giúp má cháu khỏi phải mất hết của cải. 
      Im lặng bao trùm cả gian phòng. Mọi người, kể cả Maggie, đều ngạc nhiên trước ý kiến thực tế của Tom. Cuối cùng, dượng Glegg lên tiếng:
      -     À, à, chàng trẻ tuổi! Cháu có vẻ biết suy xét lắm. Nhưng cháu cần phải nhớ là các dì của cháu hiện đem tiền cho vay lời năm phân, họ sẽ mất lời nếu rút tiền lại để ứng trước cho anh em cháu – cháu quên nghĩ điều đó. 
      Tom đáp ngay:
      -     Cháu sẽ đi làm việc để hoàn lại số lời mỗi năm cho các dì. Cháu sẽ làm bất cứ việc gì để cứu vãn của cải của má cháu.
      Ông Glegg buột miệng:
      -     Khá lắm!
      Nhưng không may, lời khen đó khiến vợ ông nổi giận:
      -     Này, ông Glegg! Đem tiền bạc của tôi đưa cho người ta chắc ông thích lắm phải không? Tiền của tôi dành dụm bao nhiêu năm trời, bây giờ lại đem bỏ vào việc mua đồ đạc cho người khác, để khuyến khích họ sống xa hoa hoang phí thêm trong khi họ chẳng có một bảo đảm nào hết, sao được! Dì Pullet, dì muốn làm gì thì làm, còn tôi thì quyết không.
      Bà Pullet lấy giọng ôn tồn:
      -     Kìa Jane, chị nóng tánh quá! Chắc là chị bị đọng huyết trong đầu, cần phải giác mới được. Tôi rất buồn và tiếc cho Bessy cùng con cái của dì ấy, nhưng một mình tôi thì có thể làm được gì đâu.
      Ông Glegg vẫn giữ giọng trưởng thượng:
      -     Bây giờ có trả xong nợ đất và món nợ đồ đạc cũng vô ích, vì còn phải trả án phí nữa. Chúng ta phải dành tiền để lo cho gia đình người bệnh, chớ không nên tiêu pha trong việc mua lại bàn ghế, đồ đạc, toàn là những thứ không ăn mà cũng không uống được. Bà hấp tấp quá, bà Jane, bà làm như tôi không biết cái gì hợp lý hết. 
      Bà Glegg dịu giọng:
      -     Vậy thì ông nên ăn nói đàng hoàng hơn.
      Cơn giận của Maggie bùng sôi lại:
      -     Vậy các dì tới đây để làm gì? Để chỉ trích, mắng nhiếc gia đình cháu hay sao? Các dì không muốn giúp đỡ má cháu – chị em của các dì – trong khi má cháu đang gặp khó khăn sao? Nếu vậy thì các dì hãy về đi và đừng kiếm hết chuyện này chuyện nọ chỉ trích ba cháu nữa – ba cháu hơn các dì nhiều – ba cháu biết thương người hoạn nạn. Anh Tom và cháu không cần một đồng nào của các dì hết, nếu các dì không có ý định giúp má cháu. Thà như vậy còn hơn! Chúng cháu có thể tự xoay sở được. 
      Maggie vừa nói vừa mở to mắt nhìn mọi người, thái độ như sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả do câu nói của mình đem lại. Bà Tulliver cuống cuồng, bà nhận thấy có một điều gì bất thường trong những lời nông nổi đó, còn Tom thì lộ vẻ khó chịu, cho rằng nổi quyết liệt như vậy chẳng có ích lợi gì. Các bà dì im bặt trong một lúc khá lâu, rồi bà Pullet thở ra:
      -     Rồi đây dì sẽ gặp thêm nhiều phiền muộn nữa với con bé này, Bessy. Nó đã vượt ngoài tưởng tượng của tôi. Khủng khiếp quá.
      Bà Glegg thêm:
      -     Đúng như những gì tôi thường nói. Chuyện này có thể làm cho người khác ngạc nhiên, nhưng tôi thì không. Nhiều năm nay tôi vẫn không ngừng nhắc nhỡ «Để rồi coi, nhỏ này thế nào cũng hư hỏng, nó chẳng giống gia đình ta chút nào hết». Dầu cho nó học hỏi bao nhiêu năm nữa cũng vô ích.
      Ông Glegg hòa giải:
      -     Thôi, thôi, đừng phí giờ cãi vã lôi thôi – chúng ta hãy bắt đầu ngay. Tom, lấy viết và mực ra đây.
      Trong khi ông Glegg nói, một dáng người cao và gầy thoáng qua cửa sổ.
      Bà Tulliver thông báo:
      -     Kìa, cô Moss tới, chắc cô ấy đã hay tin.
      Rồi bà ra mở cửa, Maggie đi theo.
      Bà Glegg bảo:
      -     May quá, bà ta có thể xem qua bảng danh sách những món cần phải mua lại. Phải đóng góp vào việc cứu vớt anh ruột của mình chớ.
      Bà Moss hết sức luống cuống khi được bà Tulliver kéo vào phòng khách. Dáng dấp cao gầy, tóc đen mượt, với bộ quần áo tồi tàn, bà Moss trông khác các chị em nhà Dodson. Dường như bà không chú ý tới ai khác ngoài Tom. Bà đi thẳng tới cầm tay cậu:
      -     Ồ, cháu, cô không thể giúp gì cho các cháu, cô nghèo quá. Ba các cháu ra sao?
      Maggie đáp:
      -     Bác sĩ Turnbull nói ba sẽ khá hơn. Cô ngôi xuống đi, cô Gritty, đừng ngại gì cả.
      Bà Moss theo Maggie tới chiếc ghế dựa, nhưng hình như bà vẫn không dám liếc nhìn qua mấy người kia.
      -     Cháu ơi, cô khổ tâm quá. Cô còn nợ ba cháu ba trăm bảng và bây giờ ba cháu và các cháu đều cần tới số tiền đó, khổ quá! Cô và dượng phải bán hết sản nghiệp mới mong trả nổi...
      Bà Moss bật khóc thút thít.
      Bà Tulliver sững sốt:
      -     Ba trăm bảng à, trời ơi!
      Bà không ngờ là chồng mình lại cho em gái mượn nhiều tiền như vậy.
      Bà Glegg nói:
      -     Thật là điên! Dượng ấy không có quyền cho mượn tiền như vậy. Tôi chắc là không có tờ giấy nào làm bằng cả.
      Bà Moss ngửng đầu lên:
      -     Thưa có, có giấy nợ hẳn hòi, chính chồng tôi viết giấy nợ đó. Chúng tôi không bao giờ có ý muốn giựt nợ, chúng tôi chưa trả được là vì gặp chuyện không may đó thôi. 
      Ông Glegg từ tốn:
      -     Cũng được, nhưng chồng bà đã có cách gì kiếm tiền trả món nợ đó hay chưa? Vì bây giờ số tiền đó là cả một gia tài nho nhỏ cho gia đình ông Tulliver đó. Chồng của bà có canh tác, trồng trọt, chắc ông ấy có thể kiếm tiền trả nợ được mà.
      -     Thưa ông, chồng tôi cứ gặp toàn chuyện không may, bị mất mùa liên tiếp. Chúng tôi làm việc tới nửa đêm mà cũng không đủ vào đâu. Lúa mì đã bán hết sạch, tiền mướn đất hãy còn thiếu người ta... con cái lại quá đông...
      Maggie nắm tay cô thì thầm:
      -     Đừng khóc nữa, cô... cô đừng buồn...
      Bà Tulliver hỏi:
      -     Có phải ông nhà tôi đã cho cô mượn hết trong một lần?
      Bà Moss lau nước mắt:
      -     Dạ không, ảnh cho tôi mượn cả thảy hai lần. Lần chót vào lúc tôi bị bịnh nặng cách đây bốn năm, chúng tôi có làm lại giấy nợ mới.
      Bà Glegg than giùm:
      -     Gia đình bà xui xẻo quá! 
      Bà Moss nhìn bà Tulliver:
      -     Vừa nghe tin là tôi vội vàng tới đây, phải chi chị cho hay sớm hơn.        
      Rồi nhìn ông Glegg:
      -     Thưa ông, vợ chồng tôi cũng đã bàn tính với nhau để tìm cách trả lại tiền cho anh tôi, mặc dầu chúng tôi đang vô cùng chật vật. 
      Ông Glegg nói:
      -     Bà bắt buộc phải nghĩ tới điều đó, bà Moss - cũng nên báo cho bà biết, khi ông Tulliver bị phá sản và ông ấy có giữ một giấy nợ của chồng bà thì ông bà bắt buộc phải trả số tiền đó cho người thọ nhượng.
      Tom bỗng ngước lên, nói:
      -     Thưa dượng, cháu nghĩ rằng cô Moss của cháu không bị bắt buộc phải trả ba trăm bảng đó, vì ba cháu muốn vậy.
      Ông Glegg hơi ngạc nhiên:
      -     Ủa, nếu ba cháu muốn vậy thì cũng có thể được, nhưng cháu biết là như vậy ba cháu bắt buộc phải hủy tờ giấy nợ đi. Nhưng tại sao cháu nghĩ rằng chính ba cháu có ý đó?
      Mặt Tom đỏ bừng, nhưng cậu vẫn cố giữ giọng bình tỉnh:
      -     Thưa, cháu nhớ rất rõ là vào một đêm trước khi cháu đi học ở nhà ông Stelling, cháu và ba cháu ngồi bên lò sưởi...
      Tom ngập ngừng một lúc rồi tiếp:
      -     Ba cháu nhắc tới Maggie «Ba vẫn luôn luôn tốt với em gái của ba dầu em của ba lấy người chồng trái ý ba – ba đã cho dượng Moss mượn tiền nhưng ba không bao giờ nghĩ tới lúc đòi dượng con phải trả, kể như ba cho vợ chồng dượng Moss luôn số tiền đó». Và hiện thời ba cháu đang đau không thể nói chuyện được, nhưng cháu nghĩ là chúng ta không nên làm gì trái lại ý muốn của người lâm nạn. 
      Bản tánh rộng lượng của dượng Moss khiến ông có ý định làm theo lời Tom:
      -     Cũng được, cậu nhỏ, nhưng chúng ta cần phải tìm và tiêu hủy tờ giấy nợ đó đi để tránh mọi hậu quả không tốt nếu người ta truy ra được... 
      Vợ ông nghiêm nghị ngắt lời:
      -     Ông Glegg, ông nên nhớ kỹ những lời ông vừa nói. Ông đã đi quá xa vào việc của người khác, đừng trách cứ ai hết nghe! 
      Ông Pullet nuốt vội viên kẹo thuốc để lên tiếng: 
      -     Đây là chuyện chưa bao giờ tôi biết tới. Hủy giấy nợ! Tôi cho rằng nếu có chuyện đó xảy ra là lôi thôi với cảnh sát ngay.
      Bà Tulliver thắc mắc:
      -     Giấy nợ cũng có giá trị như ba trăm bảng thì sao lại phải hủy đi? Chúng ta cứ đưa cho họ để giữ lại một số đồ đạc có phải hơn không?
      Ông Glegg lấy giọng thầy đời:
      -     Hừ, đàn bà không thể nào hiểu nói những việc này đâu.
      Tom khẩn khoản:
      -     Cháu mong dượng sẽ giúp cháu làm việc đó. Tới lúc lành bịnh, chắc ba cháu sẽ vui lòng lắm. Chắc chắn là ba cháu vẫn luôn luôn muốn cháu nhớ lại những lời người nói trong đêm đó, và bổn phận của cháu là phải tuân theo mọi ý muốn của người.
      Ngay cả bà Glegg cũng không thấy gì đáng phản đối trong sự phát biểu của Tom, bà cảm thấy giòng máu Dodson đang chảy ồ ạt trong người thanh niên đó. Maggie định nhảy cỡn lên ôm cổ Tom thì bị cô Moss ngăn lại. Cô đứng lên nắm tay Tom và nói giọng nghẹn ngào:
      -     Xin Thượng Đế ban phép lành cho cháu.
      Sau khi suy nghĩ kỹ về đề nghị của Tom, ông Glegg nói:
      -     Làm vậy là chúng ta có lỗi với các chủ nợ của ba cháu. Nhưng chúng ta bắt buộc phải hành động. Sau này, khi hoạt động các dịch vụ có dính líu tiền bạc, cháu sẽ phải lấy bữa ăn trưa của người này để làm bữa ăn sáng của người khác. Dượng nói vậy chắc cháu không hiểu hết đâu. 
      Tom đáp:
      -     Thưa cháu hiểu. Nhưng ba cháu đã quyết định cho cô cháu số nợ đó trước khi người mắc nợ, lúc đó ba cháu có quyền làm vậy.
      Dượng Glegg nói:
      -     Được lắm. Dượng không ngờ cháu biết lý luận sắc bén như vậy. Nhưng bây giờ chuyện cốt yếu là phải tìm xem ba cháu cất tờ giấy nợ đó ở đâu.
      Maggie thì thầm với người cô:
      -     Trong phòng của ba cháu. Mình lên đó đi, cô Gritty.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
18
 
 
ÔNG TULLIVER VẪN BẤT ĐỘNG, MẮT NHẮM nghiền khi hai cô cháu Maggie vào. Bà Moss kéo ghế lại ngồi ở đầu giường, còn Maggie thì ngồi vào chỗ thường ngày của mình, nắm lấy tay cha.
      Ông Glegg và Tom cũng vào theo, hai người bận rộn lựa chìa khóa của cái rương gỗ sồi đặt dưới chân ông Tulliver trong chùm chìa khóa Tom vừa lấy trên bàn viết của cha. Họ đã mở được chiếc rương và dựng nắp lên không một tiếng động. 
      Ông Glegg thì thầm:
      -     Kìa, cái hộp thiếc! Chắc ba cháu dùng để đựng những đồ vật nhỏ như giấy tờ chẳng hạn. Lấy ra đi, để dượng đọc xấp chứng thơ này coi – có lẽ là giấy sở hữu nhà máy và đất đai cũng nên.
      Ông Glegg vừa nói vừa rút xấp chứng thơ bằng da trừu ra khỏi rương, không ngờ đụng phải cây chống nắp rương, cái nắp bằng gỗ dày nặng nề rơi xuống với một tiếng động âm vang. 
      Tiếng động của nắp rương có lẽ đã tạo ra một chấn động mãnh liệt trong người đàn ông đang hôn mê trên giường bịnh. Cái rương sồi này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ Tulliver, nó chỉ được mở ra trong những dịp thật trọng đại và tánh cách trọng đại đó, chứa đựng trong tiếng đóng sập lại của nắp rương dường như đã làm bừng dậy tiềm thức của ông Tulliver. Giữa lúc mọi cặp mắt trong phòng đều lo ngại đổ dồn về ông Tulliver, thì ông ngồi bật dậy, nhìn về phía chiếc rương: xấp chứng thơ hành chánh trong tay ông Glegg và chiếc hộp thiếc trong tay Tom. 
      Ông hỏi với một giọng gay gắt như mọi khi có chuyện bất bình:
      -     Các người làm gì với mớ giấy tờ đó? Lại biểu, Tom, mày mở cái rương của tao làm chi?
      Tom run rẩy bước lại bên giường. Lần đầu tiên trong nhiều ngày qua, người cha nhận ra Tom. Nhưng thay vì tiếp tục nói với Tom, ông Tulliver nhìn đăm đăm vào mặt với ánh mắt ngờ vực:
      -     Chuyện gì vậy? Có gì mà anh phải lục soát giấy tờ của tôi? Có phải thằng Wakem định tịch biên gia sản của tôi không?
      Ông Glegg bước lại gần giường, ôn tồn:
      -     Không phải đâu, bạn Tulliver. Chưa có ai tịch biên tài sản dượng hết. Chúng tôi chỉ tới xem xét coi trong rương này có những gì. Dượng không được khỏe, dượng biết, nên chúng tôi phải đứng ra lo thay cho dượng. Tôi mong dượng sớm bình phục để có thể tự lo liệu lấy. 
      Ông Tulliver trầm ngâm nhìn quanh – nhìn Tom, nhìn ông Glegg, nhìn Maggie, rồi bất chợt ông nhận ra có người đang ngồi phía đầu giường, ông quay phắt lại và chạm ánh mắt em gái.
      Ông nói giọng nửa âu yếm nửa buồn rầu như ông vẫn thường dùng để nói với em gái:
      -     Kìa Gritty! Cô đó hả? Cô tới đây làm gì? Mấy đứa nhỏ ở nhà ai đó?
      Bà Moss xúc động đến nỗi quên cả giữ gìn ý tứ:
      -     Ồ, thấy anh tỉnh táo trở lại em mừng quá – em tưởng anh không bao giờ nhận ra chúng em được nữa.
      Ông Tulliver hỏi ông Glegg với giọng lo âu:
      -     Cái gì? Bộ tôi bị trúng phong sao?
      Ông Glegg làm như chẳng có gì quan trọng:
      -     Dượng bị té ngựa – và chạm đôi chút – có vậy thôi. Dượng sẽ bình phục mau lắm.
      Ông Tulliver đăm chiêu nhìn lên mặt giường một lúc. Một hình ảnh lại thoáng qua đầu, ông nhìn về phía Maggie, hạ thấp giọng:
      -     Có giữ lá thư của ba không, con gái?
      Maggie vừa hôn cha vừa đáp:
      -     Dạ có.
      Cô mừng ngây ngất như cha mình vừa trở về từ cõi chết. Ông Tulliver đón nhận thái độ thân thiết của con gái một cách thụ động rồi lại hỏi:
      -     Má con đâu?
      -     Má ở dưới nhà, để con kêu lên nghe ba?
      Ông quay nhìn Tom, trong khi Maggie ra khỏi phòng. 
      -     Con phải trông coi giấy tờ của ba nếu ba chết. Ba chắc chắn con sẽ gặp nhiều phiền phức lắm, nhưng con phải cố lo thanh toán sòng phẳng cho mọi người. À, đừng quên – Luke có gởi ba năm mươi bảng để ba làm ăn – ông ta đưa cho ba dần dần nên không có giấy tờ gì cả – Phải nhớ mà trả cho người ta trước. 
      Ông Glegg vô ý lắc đầu định cãi lại nhưng Tom đã nói:
      -     Dạ con nhớ. Và ba có cất giấy nợ ba trăm bảng của dượng Moss không? Con đang tìm đây. Ba định làm gì với tờ giấy nợ đó ba?
      -     À, may là con nhớ tới. Ba đã quyết định cho cô con vay dễ dãi. Vả lại cô dượng con cũng khó có cơ hội trả lại cho ba. Ba để trong hộp thiếc. 
      Ông quay sang bà Moss:
      -     Tôi vẫn luôn luôn tỏ ra rộng lượng với cô, Gritty à, nhưng cô biết, từ khi cô lấy Moss là tôi phiền hết sức. 
      Giữa lúc đó hai mẹ con bà Tulliver bước vào, bà có vẻ xúc động trước tin chồng mình đã tỉnh táo lại.
      Ông vừa hôn bà vừa nói:
      -     Bessy, bà phải tha thứ cho tôi nếu tôi có làm bà khổ quá nhiều. Nhưng lỗi không phải ở tôi mà là do luật pháp, do những thằng lưu manh! Tom, con nhớ điều này, con phải luôn luôn tìm cơ hội để cho Wakem một bài học nên thân. Con có thể đánh nó được nhưng con không thể thắng nó – luật lệ đặt ra để bảo vệ cho những tên lưu manh.    
      Ông Tulliver bắt đầu sôi nổi, mặt ông đỏ gây một cách đáng ngại. Ông Glegg định lựa lời xoa dịu nhưng ông Tulliver đã tiếp:
      -     Chúng nó sẽ tìm đủ mưu kế để làm tàn mạt nhà mình, Bessy, chị em bà chẳng giúp gì cho bà đâu... rồi thằng Tom sẽ lớn lên... tôi không biết nó sẽ trở thành người như thế nào nữa... tôi đã làm hết sức tôi... tôi đã cho nó đi học... còn Maggie nữa, nó sẽ lấy chồng... nhưng xui quá - Làn sóng chấn động tiềm thức của người bịnh yếu dần, và khi nói xong tiếng cuối, người đàn ông đáng thương ngã vật xuống giường, mê man. 
      Bác sĩ Turnbull được mời tới. Nghe kể lại sự kiện vừa qua, ông cho biết đó là một dấu hiệu tốt, có thể ông Tulliver sẽ sớm bình phục.
      Trong khoảnh khắc hồi sinh tâm não đó, ông Tulliver đã quên mất tờ giấy bán đồ đạc trong nhà. Ánh lửa của ký ức chỉ bừng lên một lần rồi tắt lịm.
      Nhưng trong đầu Tom đã có hai quyết định dứt khoát: phải tiêu hủy tờ giấy nợ của dượng Moss và phải trả lại tiền cho bác Luke. Thì ra, Tom cũng là người vô cùng thực tế, giải quyết công việc rất mau lẹ và tinh tế.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
19
 
 
MƯỜI GIỜ SÁNG HÔM SAU, TOM RỜI NHÀ ĐI St. Ogg’s để gặp dượng Deane, ông sẽ có mặt tại sở sáng nay, dì Deane cho biết vậy. Tom đã quyết định chọn ông dượng này làm người tham khảo ý kiến về việc làm của mình. Ông Deane giao thiệp rộng, hiểu biết nhiều và tiến rất mau trong xã hội – điều mà Tom hằng mơ ước. Tom biết là cả hai ông Glegg và Deane đều lập nghiệp với hai bàn tay trắng, nhưng cậu không muốn làm một công việc buồn tẻ để dành dụm được một gia tài khiêm nhường như ông Glegg – cậu muốn được như ông Deane, tìm một địa vị trong thương nghiệp và ngoi lên thật mau.
      Lúc vượt qua chiếc cầu đá bước qua sông Floss để vào thị trấn, Tom miên man nghĩ tới nhiều chuyện. Trời u ám, lạnh lẽo và chắc chắn sẽ có mưa, một ngày có thể làm nản lòng bất cứ một người lạc quan nào, nhưng Tom thì không, cậu tưởng tượng tới lúc có đủ tiền để mua lại đất đai, nhà máy cho cha, sửa chữa lại ngôi nhà và mua thật nhiều ngựa, chó.
      Một giọng khàn khàn trước mặt làm Tom giật mình:
      -     Kìa cậu Tom, cha cậu ra sao?
      Người vừa hỏi là một chủ quán rượu ở St. Ogg’s, mà ông Tulliver là một khách hàng quen thuộc. 
      Tom hơi khó chịu nhưng vẫn lịch sự:
      -     Thưa, ba tôi vẫn còn mệt, cám ơn ông.
      Người chủ quán làm ra điều thương hại:
      -     Cha cậu thua kiện, chắc cậu buồn lắm.
      Tom đỏ mặt và im lặng bỏ đi. Cậu không muốn nghe ai nhắc tới chuyện đó.
      Người chủ quán rượu nói với một chủ hiệu tạp hóa đang đứng gần:
      -     Con trai ong Tulliver.
      Ông chủ tiệm tạp hóa gục gặc:
      -     Vậy à? Tôi thấy ngồ ngộ. Cậu ta giống bên ngoại hơn. Gia đình Dodson đó. Đúng là một thanh niên khôi ngô chững chạc. À, mà cậu ấy đi đâu vậy?
      -     Ôi, cái thứ vô lễ với bạn của cha mình, thì có làm nên việc gì.
      Tom bừng tỉnh giấc mơ tương lai trở về với thực tại khi vừa tới trước văn phòng công ty Guest.
      Nhưng cậu chỉ gặp có người thơ ký, y nói bằng giọng khinh bỉ:
      -     Sáng nay ông Deane bận việc ở ngân hàng. Sáng thứ năm nào ông cũng không có mặt ở đây.
      Tại ngân hàng, Tom đã được đưa vào phòng riêng của ông Deane sau khi đã thông báo tên họ. Ông Deane đang bận kiểm kê sổ sách, nhưng lúc Tom bước vào ông cũng ngước lên và chìa tay ra:
      -     À, Tom, ở nhà không có chuyện gì lạ chứ? Ba cháu ra sao?
      -     Dạ vẫn như thường. Cám ơn dượng. Cháu sẽ xin thưa chuyện với dượng khi nào dượng rảnh.
      -     Được, ngồi đó đi!
      Ông Deane quay lại với chồng sổ sách và người thơ ký kế toán suốt nửa giờ liền. Tom bắt đầu sốt ruột tự hỏi không biết mình có phải chờ cho tới khi ngân hàng đóng cửa hay không? - dượng Deane sẵn sàng cho mình một chỗ làm trong ngân hàng này không? Thật là buồn chán nếu cứ phải ngồi nghĩ mãi tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ. Tom bắt đầu mơ ước tới một cách nào đó để có thể làm giàu thật mau, nhưng cuối cùng cũng có sự thay đổi, dượng Deane cầm viết nguệch ngoạc gì đó ở cuốn sổ và bảo:
      -     Xong, bây giờ mang qua Tory được rồi, ông Spence... 
      Tiếng nhịp của đồng hồ tự nhiên bớt to hơn đối với tai Tom.
      Ông Deane hơi trở mình trong ghế và trầm trầm hỏi, khi chỉ còn lại hai dượng cháu trong phòng:
      -     Sao Tom, cháu cần gì?
      Tom đỏ mặt nhưng giọng nói có vẻ hãnh diện về tư thái độc lập của mình:
      -     Xin dượng thứ lỗi cho về chuyện quấy rầy. Cháu nghĩ chỉ có dượng là người giúp cháu được vài ý kiến hữu ích.
      Ông Deane chăm chú nhìn Tom:
      -     À, cháu cứ nói!
      Tom vào đề ngay:
      -     Thưa dượng, cháu muốn có việc làm để kiếm chút ít tiền giúp gia đình.
      Dượng Deane ngã người ra sau:
      -     Việc làm, để coi, cháu bao nhiêu tuổi?
      -     Dạ, mười sáu. Đúng hơn là sắp sửa mười bảy.
      -     Để coi, ba cháu tính cho cháu làm kỹ sư phải không? 
      -     Dạ phải, nhưng cháu chưa học xong, cháu muốn làm việc ngay để có tiền.
      -     Nhưng dầu có làm việc gì đi nữa, cũng khó kiếm nhiều tiền khi mới mười sáu tuổi. Cháu đã học hỏi ở nhà trường khá nhiều nên đã thông thạo kế toán, cháu biết cách lập sổ sách không?
      Tom yếu ớt:
      -     Dạ không. Nhưng ông Stelling bảo cháu viết chữ đẹp lắm. Thưa dượng, đây.
      Tom vừa nói vừa đặt lên bàn một mảnh giấy đã viết ngày hôm qua.
      -     Được, được lắm. Nhưng cháu biết, chữ đẹp chỉ có thể giúp cháu làm thơ ký sao thơ văn là cùng, nếu cháu không biết gì về kế toán, mà thơ ký sao chép thơ văn lại rất ít lương. Cháu đã học những gì ở trường?
      Ông Deane không tin tưởng lề lối giáo dục ở nhà trường có thể đem lại cơm áo cho người ta được.
      Tom ngập ngừng:
      -     Dạ cháu học tiếng La tinh, học rất kỹ, và cả năm vừa rồi cháu đã học làm luận văn, một tuần làm luận tiếng La tinh, một tuần làm luận tiếng Anh. Cháu cũng có học sử Hy Lạp và La Mã, hình học Euclid, cháu vừa bắt đầu học Đại số và mỗi tuần bắt đầu có một ngày Số học. Cháu còn học vẻ và còn đọc thêm nhiều sách như Thi ca Anh, Horae Paulinae và Tu Từ học Blair. 
      Ông Deane đưa hộp thuốc ngửi lên hít, mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Cuối cùng ông nói với giọng hơi lạnh nhạt:
      -     Cháu đã phải bỏ cả ba năm trời học những thứ đó toàn là những thứ không giúp cháu được gì khi cần.
      Tom đỏ mặt, quả quyết:
      -     Cháu không muốn xử dụng những thứ đó, cháu không ưa tiếng La tinh. Cháu thấy nó hoàn toàn vô dụng, cháu cũng không muốn làm giáo viên hay trợ giáo. Cháu chỉ muốn có một nghề mà cháu có thể tiến thân mau lẹ. Cháu sẽ nuôi má và em cháu.
      Ông Deane kêu lên:
      -     Nói dễ, nhưng làm khó lắm cháu ơi!
      Tom thấy hơi sốt ruột vì dượng Deane không đề cập đến vấn đề mong đợi của mình.
      -     Nhưng chính dượng cũng tiến thân như vậy. Cháu muốn nói là chính dượng đã leo từ địa vị này lên địa vị cao hơn nhờ vào tài năng của dượng.
      Ông Deane hơi ưỡn người ra ghế, vẻ sốt sắng:
      -     A, a, để dượng nói cho nghe. Dượng không phải là thứ người đang ngồi trên khúc cây mà cứ tưởng mình cỡi ngựa. Lúc nào dượng cũng mở lớn mắt và vểnh tai lên, dượng không lưu luyến quá khứ, dượng làm chủ được con người của dượng. Dượng học hành không nhiều gì hơn một đứa nhỏ ở trại phước thiện, nhưng dượng đã sớm nhận thức được rằng mình không thể nào tiến xa hơn nếu không biết kế toán, và dượng bắt đầu học kế toán trong những giờ nghĩ. Dượng mà có thành đạt được cũng là nhờ biết sống phù hợp với hoàn cảnh. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài - chỉ có vậy thôi.
      Tom nói:
      -     Thưa dượng, đó chính là điều cháu muốn thực hiện. Cháu có thể học hỏi làm như dượng được không?
      Ông Deane dịu dàng:
      -     Cháu muốn được như dượng, cái đó còn tùy nhiều yếu tố khác nhau, Tom à. Cần phải biết rõ bản chất của cháu, phải bắt đầu như thế nào và trong một công việc nào. Để dượng phân tách cho nghe. Ba cháu đã lầm lẫn khi cho cháu đi học chữ, cháu chỉ học được những gì cần thiết cho một phú gia như ông Stephen Guest – chủ tịch công ty này – người cả đời chẳng cần làm việc gì hết ngoài việc ký tên vào ngân phiếu. Tiếng La tinh chẳng giúp gì được cho cháu cả.
      Tom khẩn khoản:
      -     Thưa dượng, cháu không thấy tiếng La tinh tại sao có thể cản trở được sự nghiệp của cháu. Chẳng bao lâu nữa, cháu sẽ quên nó đi một cách dễ dàng. Cháu vẫn học hành đàng hoàng ở trường nhưng cháu nghĩ rằng những bài vở đó chẳng giúp gì được cho cháu sau này – cháu không tha thiết với những bài học đó.
      Ông Deane gật gù:
      -     Được lắm, những điều đó cũng không thay đổi được gì điều dượng sắp nói ra. Tiếng La tinh và những thứ lộn xộn kia chẳng bao lâu sẽ phai mờ trong tâm trí cháu, nhưng sau đó cháu trống rỗng, một cành cây trụi lá. Và cháu còn biết được gì? Chẳng biết gì về kế toán, không có một kiến thức nào về việc buôn bán hết. Dượng cho biết, cháu phải bắt đầu từ bậc thang thấp nhứt nếu muốn ngoi lên trong xã hội. Quên đi sự học mà ba cháu đã tốn kém vào đó rất nhiều mà chẳng ích lợi gì nếu cháu không có một cái học nào mới.
      Tom cắn môi thật mạnh, cậu muốn khóc nhưng nhận thấy thà chết còn hơn để người ta thấy mình đang khóc. 
      Ông Deane tiếp tục: 
      -     Cháu muốn dượng giúp tìm một chỗ làm. Được, dượng rất sẵn sàng. Nhưng giới trẻ ngày nay thường thiếu thực tế và không biết lo xa. Bây giờ cháu phải xét lại mình – một thiếu niên mười sáu tuổi, không được huấn luyện về một ngành, nghề đặc biệt nào. Kiến thức La tinh của cháu chỉ có thể giúp ích được trong một vài ngành như hóa học và dược.
      Tom định nói nhưng ông Deane đã đưa tay ra ngăn:
      -     Khoan, cứ nghe dượng nói hết đã. Cháu không muốn làm một người thợ học nghề – dượng biết – cháu rất sốt ruột – và cháu không muốn đứng sau quầy để bán hàng. Cháu không muốn làm một thơ ký sao chép để ngồi cả ngày sau bàn giấy nhìn mực và viết, rất vô vị và không giúp cháu mơ màng gì cả. Vậy thì cơ hội tốt nhứt cho cháu là làm việc ở bến tàu, hay trong kho hàng, những nơi mà cháu có thể ngửi được hết các mùi vị – nhưng chắc cháu cũng không thích luôn, dượng đoán vậy, vì cháu phải dầm mưa, chịu lạnh và phải chen lấn với hạng người thô lậu. Cháu chỉ là một bạch diện thư sinh, một công tử thôi.
      Ông Deane ngừng nói và chăm chú nhìn Tom. Tom cố lấy lại bình tĩnh để trả lời: 
      -     Cháu sẵn sàng làm bất cứ việc gì có thể giúp ích nhiều cho cháu sau này. Cháu không sợ khó khăn, cực nhọc. 
      -     Được lắm, nếu cháu có đủ bản lãnh. Nhưng cần nhớ là không phải chỉ nắm đầu dây không thôi – mà còn phải ra sức kéo nó nữa. Ngày bằng tuổi cháu, dượng phải làm phu khuân vác, quần áo lúc nào cũng dơ bẩn, hôi hám. Vì vậy, ngày nay dượng có quyền mặc quần áo đẹp và ngồi ngang hàng với các nhân vật quan trọng tại St. Ogg’s này.
      Dượng Deane lại hít một hơi thuốc dài, người ông như phồng lên dưới lớp áo khoác.
      Tom hỏi:
      -     Thưa dượng, dượng có thể đưa cháu vào một chỗ trống nào ngay trong lúc này không?
      -     Khoan, khoan, không nên hấp tấp. Để dượng nghĩ lại cái đã.
      Tom cảm thấy tự ái bị tổn thương, cái tự ái vẫn có nơi các người con trai mới lớn mỗi khi không được người lớn tin cậy.
      -     Cháu mong rằng cháu không phụ lòng tin cậy của dượng.
      -     Khá lắm cháu Tom, dượng không bao giờ từ chối giúp một kẻ nào có quyết tâm và có đường lối rõ rệt cho công việc làm của mình.
      Tom nóng lòng chứng tỏ quyết tâm đó: 
      -     Vậy cháu có thể học kế toán được chưa dượng?
      -     Được, được, cháu không nên chần chờ. Nhưng... a, ông Spence, xong rồi à? Thôi được, Tom, dượng thấy bao nhiêu đó cũng đủ rồi, dượng phải trở lại với công việc. Chào cháu, nhớ gởi lời thăm má cháu dùm dượng nghe.
      Ông Deane thân mật chìa tay ra – Tom không còn đủ can đảm để hỏi thêm, nhất là khi có sự hiện diện của ông Spence. Cậu rời khỏi ngân hàng và trở lại với bầu không khí lạnh lẽo, ẩm ướt của mùa đông. 
      Đáng lẽ Tom còn phải tới gặp dượng Glegg để tình nguyện rút ra khoản tiền cha cậu đã gởi trong trương mục tiết kiệm, nhưng trên đường đi tới bến tàu, một tấm bảng yết thị dán trên cửa sổ một hiệu buôn, với hàng chữ «nhà máy Dorlcote» khiến cậu phải dừng bước. Đó là một bảng liệt kê những đồ vật sẽ được đem ra bán đấu giá vào tuần tới – Tom thấy cần phải rời thành phố này ngay.
      Cách đó hai giờ, trên đường đi St. Ogg’s, Tom thấy những khó khăn hôm nay chỉ là những khó khăn tạm thời và con đường tương lai đang mở rộng để đón chờ mình. Nhưng bây giờ cậu có cảm tưởng như đang đi trên đá nhọn và con đường tương lai đầy gai góc. Cậu xót xa khi nghĩ rằng có lẽ dượng Deane không tin tưởng ở mình, lần đầu tiên trong đời cậu mới nhận ra mình chỉ là một đứa hoàn toàn dốt nát, không đủ khả năng làm một công việc nhỏ mọn nào.
      Tom đang ngồi sưởi bên bếp lửa thì Maggie hỏi:
      -     Dượng Deane nói sao, anh? Dượng có hứa sẽ tìm chỗ làm cho anh không?
      -     Không, dượng chẳng hứa gì. Hình như dượng cho rằng anh không đủ khả năng để đảm nhận một công việc nào hết. Anh còn trẻ quá.
      -     Dượng không ân cần với anh sao?
      -     Ân cần? Hừ, ân cần có ích gì. Anh không cần dượng ấy ân cần, chỉ cần kiếm chỗ làm cho anh là đủ. Dượng Deane bảo những thứ anh học ở trường không giúp ích được gì cả, dượng bảo anh nên bắt đầu học kế toán, làm sổ sách.
      Khóe miệng Tom nhếch lên cay đắng.
      Maggie reo lên:
      -     Ồ, tụi em đã học kế toán với thầy Sampson rồi. Em và Lucy đã học kế toán kép, kế toán theo phương pháp Ý Đại Lợi, em có thể chỉ lại cho anh.
      -     Cô chỉ dạy cho tôi? Lúc nào cũng nói cái giọng đó.
      -     Em nói thật mà. 
      Tom nghiêm khắc:
      -     Cũng vậy thôi, Maggie. Cô luôn cho rằng cô hơn tôi và tất cả những người khác, dầu tôi đã nhiều lần khuyên bảo cô. Cô không cần nói với tôi cái giọng cô nói với các dì dượng. Cô nên để yên cho tôi lo cho má và cho cô. Cô cứ tưởng mình hơn thiên hạ nhưng tôi thấy cô cứ sai lầm luôn. Tôi có thể tự lo liệu được.
      Mặt Maggie nóng ran, môi run lên:
      -     Anh tưởng lúc nào em cũng tự phụ hết hả? Em không bao giờ muốn hơn ai cả – còn anh thì lúc nào cũng gay gắt với em.
      Tom gằn giọng:
      -     Không, tôi không gay gắt, lúc nào tôi cũng tốt với cô, tôi sẽ lo bảo bọc cô, nhưng cô cần phải nghe tôi mới được.
      Bà Tulliver bước vào, Maggie vội vàng ra ngoài, nước mắt đầm đìa. Dường như mọi người trên cõi đời này đều tệ bạc với cô, dường như họ chỉ sống toàn bằng lý trí chớ không phải với tình thương.
      Và nếu cuộc đời đã không có tình thương thì sự có mắt của Maggie để làm gì?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
20
 
 
CUỘC PHÁT MÃI DIỄN RA VÀO MỘT NGÀY THÁNG mười hai đến tối và kéo dài cho tới trưa hôm sau. 
      Ông Tulliver vẫn nằm im lìm trên giường bịnh trong suốt thời gian tiếng ồn ào của cuộc mua bán lan tới gần phòng ông. Bác Luke đề nghị nên đưa ông chủ qua nhà riêng của mình để được yên tỉnh, nhưng bác sĩ Turnbull đã bác bỏ để nghị đó với hy vọng những âm thanh huyên náo của cuộc bán đấu giá sẽ làm ông Tulliver hồi tỉnh. Bà Tulliver và các con ngồi im lặng quan sát và hồi hộp đợi chờ những biến chuyển trên gương mặt trơ trơ như sáp của người bịnh.
      Cuối cùng, giờ phút căng thẳng, nhói buốt cũng trôi qua. Tiếng rao chát chúa của hỗ giá viên tiếp với những tiếng búa đập lộp cộp đã im bặt tiếng chân rào rào trên đường sỏi đá lịm dần. Bà Tulliver trông già đi mười tuổi sau hơn ba mươi giờ chờ đợi và tiên đoán mình sẽ mất đi những thứ gì.
      Tới ba giờ chiều, chị người làm trung thành Kezia - người đã xem đám người tấp nập mua đồ của chủ mình như những kẻ thù riêng của chính mình - bắt đầu lau chùi nhà cửa. Chị bắt đầu công việc từ gian phòng khách, nơi «con heo hút ống vố» và «cái lũ đi mua đồ người khác» đã tụ họp. Chị cố tạo lại một bộ mặt khang trang cho gian phòng như thường lệ với vài món đã được mua lại cho gia đình. Bà chủ và các cô cậu sẽ dùng trà trong phòng khách tối nay, Kezia đã quyết định vậy. 
      Nhưng vào khoảng năm giờ rưỡi, giờ dùng trà thường lệ của gia đình, thì Kezia lên lầu cho biết có người muốn gặp cậu Tom. Người đó đang ngồi đợi trong nhà bếp. Ngay trong phút đầu tiên, qua ánh đèn lập lòe, Tom chỉ nhận ra đó là một thanh niên vạm vỡ, lanh lẹ, trạc mười tám tuổi, mắt xanh, mặt lấm tấm tàn nhang, tóc đỏ hoe. Người lạ đội một chiếc nón bằng vải dầu, áo quần lem luốc, có vẻ của một kẻ chuyên sống trên mặt nước. Tuy nhiên, những yếu tố đó không giúp Tom nhớ được là ai. 
      Thanh niên tóc đỏ cười:
      -     Chào cậu Tom. Chắc cậu không nhớ ra tôi, nhưng tôi có chuyện muốn nói riêng với cậu.
      Chị Kezia thò đầu vào:
      -     Tôi đã đốt lò sưởi trong phòng khách rồi, cậu Tom.
      Tom mời:
      -     Mời anh theo tôi.
      Cậu tự hỏi, chẳng biết gã tóc đỏ này có phải người của công ty Guest tới gọi mình đi làm hay không. Từ hôm đi St. Ogg’s trở về tới nay, Tom vẫn mong được dượng Deane báo tin hiện đã có chỗ làm còn trống.
      Ánh sáng đỏ rực của lò sưởi phòng khách là ánh sáng độc nhứt chiếu rọi lên vài cái ghế, mặt bàn viết, mặt sàn trơ trọi và một cái bàn ăn – không, không phải một mà còn có một cái nữa đặt trong góc phòng với một quyển Thánh Kinh khổ lớn với vài cuốn sách bên trên. Cảnh tượng trống trải đó làm Tom hơi bàng hoàng một lúc. Thanh niên tóc đỏ liếc nhìn Tom:
      -     Kìa, cậu chưa nhớ ra Bob à? Chính cậu đã tặng cho nó con dao xếp. 
      Vừa nói, Bob vừa móc túi lấy con dao ra và mở ngay lưỡi lớn nhứt, như để nhắc nhở Tom.
      Tom ngượng ngùng:
      -     Bob Jakin phải không?
      -     Phải, Bob Jakin đây. Bob vẫn thường đi chơi với cậu hồi nhỏ đó. Cậu thấy, cái lưỡi nhỏ này đã mẻ, nhưng tôi không dám đưa cho người ta thay cái mới vì sợ họ tráo con dao khác, tôi rất quí nó, cậu Tom.
      Bob vừa nói vừa chùi chùi lưỡi dao trên vai áo.
      Giọng Tom thân mật hơn:
      -     Sao Bob, tôi có thể giúp anh được việc gì. 
      Bob xếp dao lại và cho vào túi:
      -     Kìa, cậu Tom, hay tin cậu có chuyện buồn, tôi trở về ngay thăm cậu, chỉ có vậy thôi. Tôi không xin cậu con dao nào nữa đâu.
      Bob lôi ra một bao vải dầu nhỏ, định mở nhưng rồi ngừng tay ngay khi thấy Maggie bước vào. Maggie tò mò liếc nhìn người lạ, nhưng ngay sau đó cảnh tượng trơ trụi của căn phòng khiến cô quên đi sự hiện diện của khách. Tia nhìn của Maggie đổ về phía kệ sách, nơi đó chẳng còn gì ngoài một khoảng trắng lờ mờ trên vách. Bên dưới là một cái bàn nhỏ với vài quyển chơ vơ.
      Maggie ngạc nhiên:
      -     Anh Tom, sách đâu hết rồi? Em tưởng dượng Glegg đã mua lại hết chớ – họ chỉ để lại cho chúng ta có bao nhiêu đó thôi sao?
      Tom thẩn thờ:
      -     Hình như vậy. Họ mua sách nhiều để làm gì trong khi họ cần có vài cái bàn, cái ghế?
      Nước mắt Maggie ràn rụa:
      -     Còn cuốn «Cuộc hành hương» mà anh đã tô màu hồi nhỏ đâu rồi? Trời ơi! – Em tưởng tụi mình không bao giờ xa rời những kỷ niệm đó – nhưng bây giờ tất cả mọi thứ đều bỏ chúng ta mà đi - chẳng còn lại gì cả.
      Maggie rời bàn sách, tới buông người xuống một chiếc ghế, nước mắt lan dài trên má cô không nhận ra là Bob đang nhìn mình một cách cảm thông, cái cảm thông có được nhờ trực giác chớ không phải nhờ vào hiểu biết.
      Đối với Tom, nhắc nhở chuyện sách vở giữa lúc này hoàn toàn không phải chỗ.
      -     Bob, chúng tôi hết sức cám ơn anh... anh đã có lòng tới thăm chúng tôi giữa cơn hoạn nạn.
      Bob bắt đầu mở cái bao vải dầu ra:
      -     Cậu Tom, tôi sắp kể cho cậu nghe một chuyện của tôi. Hai năm nay tôi kiếm sống bằng cách đi đặt bẫy khắp nơi. Và cách đây nửa tháng tôi gặp được chút ít may mắn – tôi tin rằng mình là kẻ luôn gặp may mắn, vì bẫy nào do tôi đặt cũng bắt được thú – nhưng lần này không phải là một cái bẫy mà là một đám cháy ở nhà máy xay Torry. Tôi chữa cháy cho họ, nhờ tôi mà mấy thùng dầu của nhà máy không bắt lửa. Sau đó ông chủ nhà máy cho tôi mười đồng vàng (1) ông còn khen tôi nữa. Số tiền đó còn đây – chỉ tiếc là tôi đã xài hết một đồng rồi.
(1) Sovereign (hiện nay không còn lưu hành) giá trị 20 si-linh.
      Bob vừa đổ tiền lên bàn vừa tiếp: 
      -     Mới cầm số tiền này, đầu tôi rối lên như một nùi chỉ – tôi suy nghĩ lung tung. Tôi tính chuyện sẽ mua chó, mua chồn để đi săn chuột, tôi tính toán hết chuyện này chuyện khác, cuối cùng tôi quyết định làm nghề bán hàng rong, nghề bán hàng rong đi nhiều, biết nhiều và làm cho mình lanh lợi hơn. Rồi tôi sẽ đi hết mọi xứ, sống giang hồ như vậy, thích lắm!
      Bob ngừng lại ngẫm nghĩ một lúc rồi tiếp với giọng kiêu hãnh và quả quyết như người từ chối thiên đường:
      -     Nhưng tôi đã nghĩ kỹ lại, tôi không cần những thứ đó nữa! Tôi đổi một đồng vàng ra để mua cho má tôi một con ngỗng, mua cho tôi một cái áo lớn màu xanh và một cái nón da hải cẩu, vì lúc đó tôi còn muốn theo nghề bán dạo. Bây giờ thì không cần nữa. Biết đâu tôi sẽ có một dịp chữa cháy khác, tôi có số hên mà! Vì vậy, tôi mong cậu vui lòng nhận dùm tôi số tiền này, cậu Tom, để cậu có thể trang trải được chút ít – tôi tới đây chỉ có ý đó. Số tiền không được bao nhiêu, nhưng cũng có ích cho cậu lúc này.
      Tom cảm động:
      -     Anh tốt quá, Bob! Tôi sẽ không bao giờ quên anh và rất hối hận là lúc nãy đã không nhận ra anh. Có điều là tôi không thể nhận số tiền này được, làm vậy tức là đã lấy đi một gia tài nho nhỏ của anh. Không thể bỏ được, Bob.
      Bob tần ngần:
      -     Sao lại không, cậu Tom? Cậu từ chối làm tôi buồn lắm. Tôi không thiếu thốn gì đâu. Má tôi làm nghề nhặt lông gà vịt cũng đủ sống rồi, với lại bà chỉ ăn bánh mì và uống nước lã thôi, bà sợ mập. Còn tôi thì lúc nào cũng gặp may, cầm tiền đi cậu Tom – nếu không tôi buồn ghê lắm.
      Bob vừa nói vừa đẩy mấy đồng vàng tới, nhưng trước khi Tom kịp phản đối, Maggie đã nói:
      -     Ồ, Bob, tôi không ngờ anh quá tốt với chúng tôi như vậy. Tôi cũng rất hối hận vì trước đây đã nghĩ lầm cho anh.
      Tuy không biết trước đây Maggie đã nghĩ về mình như thế nào, Bob cũng mỉm cười một cách hài lòng.
      Tom nói:
      -     Không thể được, Bob, tôi không thể nhận số tiền này. Anh đừng tưởng rằng tôi không nhận vì không có cảm tình với anh. Chỉ tại tôi tự hứa sẽ không nhận bất cứ cái gì của người khác, tôi chỉ muốn cầm lấy những đồng tiền do chính tay mình làm ra. Bây giờ xin anh vui lòng cho tôi được bắt tay. 
      Maggie nói: 
      -     Để tôi cất tiền này vào túi lại cho anh. Chừng nào bắt đầu đi bán, nhớ tới thăm chúng tôi nghe Bob.
      Nhưng Bob lại lấy tiền ra, đặt xuống bàn và quả quyết xếp cái bao vải dầu lại:
      -     Không, cậu Tom, cậu làm như vậy chẳng khác nào tôi đem tiền tới để khoe. Cậu phải cầm lấy, kể như tôi đền đáp ơn cậu cho con dao hồi nhỏ.
      Tom đẩy đồng tiền trở lại: 
      -     Không đâu, Bob, tôi nói thật mà, cám ơn anh nhiều lắm, nhưng tôi không thể nhận được.
      Maggie vốc nắm tiến lên, đưa lại cho Bob, giọng dịu dàng:
      -     Cất đi, Bob. Bây giờ chúng tôi chưa cần lắm. Khi nào ba tôi hay anh Tom cần anh giúp cho thì chúng tôi sẽ báo cho anh biết – phải không anh Tom? Chúng ta sẽ là bạn với nhau mãi mãi, phải không anh Bob?
      Bob ngập ngừng cầ
Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 132 đến 187




0
Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 188 đến 241
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
21
 
 
BỊNH TÌNH ÔNG TULLIVER NGÀY CÀNG THUYÊN giảm. Theo bác sĩ Turnbull thì đã có nhiều dấu hiệu chắc chắn cho thấy là bộ óc của ông đang bắt đầu hoạt động lại. Nhưng, khi người chủ nhà máy xay bắt đầu phục hồi ký ức thì vận số của ông cũng đã thay đổi một cách nhanh chóng và rõ rệt.
      Vào trung tuần tháng giêng, các cáo thị liên quan tới việc phát mãi nông trại và hoa mầu của ông được niêm yết với pháp lịnh của Bộ trưởng Tư pháp, và tiếp theo đó là các cáo thị về nhà máy cùng đất đai. Tuy nhiên, bà Tulliver và các con vẫn còn nuôi hy vọng: dượng Deane đang nghiên cứu việc đầu tư vào nhà máy, dượng nhìn nhận rằng công ty Guest không phải là không có lợi khi mua lại nhà máy Dorlcote rồi tăng cường thêm hệ thống máy hơi nước. Trong trường hợp đó, ông Tulliver sẽ được công ty giữ lại với tư cách quản lý. Tuy nhiên, ông Deane vẫn chưa có thể nói dứt khoát được gì về vấn đề này, sự kiện luật sư Wakem đang giữ giấy cầm thế đất có thể gây khó khăn cho việc trả giá cả của công ty trong khi chủ trương của công ty là không nên để tình cảm xen lẫn vào việc kinh doanh. Riêng ông Glegg thì vấn đề này không được đặt ra, ông rất có thiện cảm với gia đình Tulliver nhưng tất cả tiền bạc của ông đều đang được cho vay với số lời rất cao nên không thể liều lĩnh được. Tuy thế, ông tự nhủ là sẽ mua cho ông Tulliver một cái áo nỉ mới và thỉnh thoảng biếu bà Tulliver một cân trà hảo hạng.
      Một hôm, dượng Deane đưa Lucy đến thăm Maggie, hai chị em đã ôm chầm nhau mà khóc. Và khi về nhà, có lẽ những lời hỏi han của con gái cưng đã khiến ông Deane quyết định dành cho Tom một chỗ làm ở kho hàng tại bến tàu và cho cậu đi học kế toán mỗi buổi chiều.
      Tom phải gặp nhiều khó khăn trong việc giữ vững nghị lực để thích ứng cùng hoàn cảnh mới. Từ một cậu học sinh nhàn nhã, bỗng nhiên phải làm quen với những bao hàng, những cuộn da thuộc, phải chen lấn với những người thô lỗ với gánh nặng trên vai, Tom thấy bước đầu tiên để tiến thân trong xã hội của mình thật vô cùng buồn thảm, lạnh lẽo và dơ bẩn. Chiều nào Tom cũng phải ở lại St. Ogg’s học kế toán với người thư ký cụt tay trong một căn phòng nồng nặc mùi thuốc lá. Da mặt Tom đã sạm lại từ khi cậu phải bỏ nón lại nhà, và vì phải bỏ bữa trà chiều, tối nào cậu cũng ngồi vào bàn ăn với cái bụng đói cồn cào. Cũng từ đó, Tom bắt đầu gay gắt với mẹ và em hơn.
      Trong thời gian ấy bà Tulliver đang ấp ủ một kế hoạch mà bà cho rằng chỉ có bà mới thực có hiệu quả. Bà nghĩ rằng vì từ trước tới nay mình đã sống hoàn toàn thụ động nên gia đình mới lâm vào cảnh nguy nan hiện nay, và bà đã quyết tâm hành động. Theo bà, phương thức ngắn và hiệu quả nhứt để cứu vãn tình thế là trực tiếp gặp ông Wakem, thuyết phục ông ta đừng mua nhà máy. Có lẽ ông Wakem không nở từ chối đề nghị của bà vì hai gia đình Dodson và Wakem trước đây cũng từng quen biết ít nhiều.
      Thế là khoảng trước một vài ngay cuộc phát mãi diễn ra tại khách sạn Golden Lion, bà Tulliver viện cớ đi mua hàng ở St. Ogg’s để tìm tới văn phòng luật sư Wakem.
      Bà chờ không bao lâu thì luật sư Wakem tới. Ông ta nhíu mày: 
      -     Xin lỗi, có phải bà Tulliver? 
      -     Thưa phải tôi là Tulliver nhủ danh Elizabeth Dodson. 
      -     Mời bà ngồi. Bà có chuyện cần gặp tôi?
      -     Thưa phải.
      Bà Tulliver cảm thấy bối rối vì bà quên nghĩ cách vào đề như thế nào. Trong khi đó, ông Wakem cho tay vào túi áo khoác, im lặng chờ đợi.
      Cuối cùng, bà cố gắng:
      -     Xin ông tha thứ cho sự đường đột của tôi. Tôi chắc ông vẫn nhớ ba tôi, vì trước đây người đã từng là bạn thân của ngài Darleigh, ngày xưa chị em chúng tôi vẫn thường tới nhà ngài khiêu vũ và...
      Bà Tulliver nghẹn ngào lắc đầu, nhìn chiếc khăn tay.
      Ông Wakem lạnh lùng:
      -     Đó là chuyện có thật, thưa bà Tulliver. Nhưng bà có chuyện gì cần bàn với tôi?
      Bà Tulliver nói mau:
      -     Thưa, tôi chỉ xin ông vui lòng bỏ qua ý định mua lại nhà máy và đất đai của nhà tôi, nếu không được vậy chắc chắn nhà tôi sẽ bị bịnh thêm nặng.
      Mắt ông Wakem sáng rực:
      -     Ai đã nói với bà là tôi định mua nhà máy?
      -     Thưa, đây không phai là điều do tôi tưởng tượng, vì từ trước tới nay tôi vẫn thường nghe nhà tôi nói là các luật sự không bao giờ đứng ra mua bán một thứ bất động sản nào – vì họ đã có cách thức để chiếm hữu những thứ đó.
      Ông Wakem hỏi dồn:
      -     Vậy thì người nào đã nói với bà như vậy?
      -     Thưa đó là ông Glegg, ông Deane và tất cả những người thông thạo khác. Ông Deane còn cho biết là còn có thể công ty Guest sẽ mua lại nhà máy và giữ ông Tulliver lại làm quản lý, nếu ông không dự vào cuộc đấu giá để cho giá nhà máy sẽ tăng gấp đôi.
      -     Sao? Bà nói là công ty Guest sẽ quản trị nhà máy và sẽ trả tiền công cho chồng bà?
      -     Thưa ông, đó là một điều khổ sở cho chúng tôi, nhưng dầu sao chúng tôi cũng muốn ở lại nhà máy hơn là phải dọn đi nơi khác nếu ông mua nhà máy, chồng tôi sẽ bị xúc động mạnh, và điều đó sẽ rất nguy hại cho sức khỏe đang yếu kém của chồng tôi. 
        -   Nhưng nếu tôi mua lại nhà máy và để chồng bà ở lại làm quản lý thì sao?
      -     Ồ, thưa ông, chắc là chồng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận được chuyện đó. Xin lỗi, vì một thành kiến nào đó mà chồng tôi cứ nghĩ rằng tên của ông là một thứ nọc độc, hơn nữa, chính ông đã đánh bại nhà tôi trong vụ kiện hơn tám năm nay, tôi vẫn khuyên bảo nhà tôi là không nên lầm lẫn...
      Ông Wakem giận run:
      -     Ông ta đúng là một thứ đầu bò!
      Bà Tulliver kinh hoàng khi thấy kết quả đi ngoài dự liệu của mình:
      -     Thưa... thưa ông, tôi không hề dám ngăn trở ông nhưng nhà tôi đã bị mất trí, nói trước quên sau, tôi khốn khổ vô cùng, chỉ lo chồng tôi có thể chết đi ngay, nếu ông mua nhà máy. Họ còn nói rằng nhà máy Dorlcote mà đổi chủ thì tai họa sẽ xảy ra, nước sông sẽ dâng lên và... Ồ, tôi không có ý cầu ác cho ông, tôi vẫn nhớ ngày cưới của ông như mới hôm qua – bà Wakem là tiểu thơ họ Clint, tôi vẫn còn nhớ rõ – và con trai của tôi cũng đã học chung với con trai ông.
      Ông Wakem đứng lên mở cửa phòng và gọi người thơ ký. 
      -     Thưa bà Tulliver, xin lỗi tôi không tiếp chuyện bà thêm được nữa. Tôi đang có nhiều việc cần giải quyết, hơn nữa tôi nghĩ rằng chúng ta không còn điều gì quan trọng để nói với nhau.
      Ba Tulliver loang choang dung len:
      -     Rat mong ong nho loi cau khan cua toi ma giup do gia dinh toi, ong Tulliver rat co loi doi voi ong, nhung khong nghi ong ay bi trung phat nhu vay cung qua du roi.
      Ong Wakem nhin ra cua, noi mau:
      -     Duoc roi, toi se ghi nho!
      Ba Tulliver dang thuong xuc dong den noi khong mo duoc loi ma chi cui dau va im lang buoc ra.
      Khi chi con lai co hai nguoi trong phong, ong Wakem hoi vien tho ky:
      -     Nha may Dorlcote se duoc phat mai vao ngay thu may? Giay to dau?
      -     Da thu sau toi, luc sau gio.
      -     Duoc, anh chay qua nha ho gia vien Winship coi ong ta co o nha khong. Toi co chuyen muon ban voi ong ta, moi ong toi ngay.
      Thi ra, khi buoc vao van phong gap ba Tulliver, luat su Wakem chua nghi toi viec mua nha may xay Dorlcote.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
22
 
 
ÁNH NẮNG THÁNG GIÊNG RỰC RỠ TRÊN TÀNG NHỮNG CÂY DẼ và trên mái ngói đối diện cửa sổ phòng ông Tulliver đã khiến ông quyết định không thể tiếp tục giam mình trên giường bịnh lâu hơn nữa. Ông không biết gì về quang cảnh trơ trọi dưới mái nhà, nơi đang nắng Xuân càng làm trơ trọi thêm. Ông cứ đinh ninh là mình vừa nhận được thư của luật sư Gore vào ngày hôm qua, ngay cả bác Turnbull cũng đành chịu thất bại trong việc cố gắng giúp ông Tulliver nhận thức ra rằng chuyện đó đã xảy ra rất nhiều tuần và trong thời gian đó đã có rất nhiều biến đổi.
      Quyết định của ông làm bà Tulliver và các con lo ngại. Bà yêu cầu Tom đi làm trễ hơn thường lệ để có mặt chuẩn bị đưa cha xuống nhà. Trước đó vài hôm kết quả cuộc phát mãi đã làm cho bà mẹ con vô cùng đau xót, công ty Guest khong mua nhà máy. Tất cả bất động sản của ông Tulliver đều lọt về tay Wakem. Và hôm đi thanh sát nhà máy, ông Wakem đã hứa với bà Tulliver – sau khi tham khảo ý kiến của hai ông Glegg và Deane – là sẽ giữ ông Tulliver lại làm quản lý sau khi đã bình phục hẳn.
      Đề nghị này đã được gia đình đem ra thảo luận thật gay go và sôi nổi. Cuối cùng các dì dượng đều đồng ý đó là một đề nghị biết điều và hợp lý, không thể bãi bỏ được chỉ vì mối thù giữa ông Tulliver và Wakem. Hơn nữa đây là một dịp may để ông Tulliver có cơ hội gây dựng lại gia đình và nuôi nấng vợ cùng con cái mà không phải nhờ vã nhiều vào gia đình bên vợ.
      Khi hai anh em rời khỏi phòng cha, Maggie bảo:
      -     Anh Tom, mình phải cố làm cho ba hiểu đôi chút những gì đã xảy ra trước khi đưa ba xuống nhà dưới. Có điều là phải làm sao cho má vắng mặt mới được. Em sợ má sẽ nói ra gây nguy hại cho thần kinh ba. Anh bảo chị Kezia mời má xuống nhà dưới và kiếm cách giữ má lại trong nhà bếp.
      Kezia vui vẻ nhận nhiệm vụ này ngay. Đã tuyên bố là sẽ ở cho tới chừng nào ông chủ bình phục hẳn, dầu «có lương hay không cũng được», Kezia lấy làm thích thú khi được tha hồ rầy rà, chi phối bà chủ của mình. Quả thật đây là thời kỳ sáng giá của Kezia, chẳng hạn như giữa lúc này, ngoài sào đang có quần áo khô cần được mang vào. Bà Tulliver ngoan ngoãn làm theo.
      Sau khi thay xong quần áo, ông Tulliver mệt mỏi ngồi nghỉ ở ghế một lúc, Maggie và Tom ngồi hai bên. Bác Luke lên hỏi ông chủ xem có cần bác dìu xuống cầu thang không.
      Ông Tulliver trỏ đầu gậy vào một chiếc ghế gần đó. 
      -     Ậy! Ậy! Ngồi xuống đó đi Luke. Sức nước ra sao, Luke? Lão Dix còn chèn ép anh nữa không? 
      -     Thưa ông chủ, tất cả đều bình thường.
      -     Đó, coi chừng anh lại lầm đó. Hôm qua tôi có nói ông Riley, tôi nói...
      Ông Tulliver khom tới trước, hai tay gác trên tay vịn của ghế, mắt nhìn đăm đăm xuống sàn như tìm kiếm vật gì.
      Maggie đặt tay lên tay cha:
      -     Kìa ba, ba quên là ông Riley đã chết rồi sao?
      Ông Tulliver trợn mắt nhìn Maggie:
      -     Chết?
      -     Dạ phải. Ông ấy đã chết gần một năm nay. Con còn nhớ ba bảo là ba phải trả nợ cho ông ấy – một cô con gái của ông ấy phải bỏ dở việc học tại trường của cô Fieniss.
      -     Hừm!
      Ông Tulliver lúc lắc đầu, mắt vẫn nhìn Maggie một cách lạ lùng. Và khi Tom sửa soạn nói, ông lại quay sang nhìn cậu cũng với cặp mắt đó, dường như ngạc nhiên trước sự hiện diện của hai người trẻ tuổi.
      Tom gắng gượng:
      -     Thưa ba, chuyện tranh chấp với ông Dix đã xảy ra cách đây lâu lắm rồi. Con nhớ ba có nói cho con nghe ba năm về trước, khoảng thời giận con sắp đi học tại nhà của ông Stelling. Con học ở đó ba năm rồi, ba không nhớ?
      Ông Tulliver ngã người ra sau, một loạt ý nghĩ mới đã trút vào đầu. Mãi một lúc lâu, ông như tĩnh lại :
      -     À, à... ba đã phải tốn nhiều tiền... ba muốn con trai của ba phải được học hành tới nơi tới chốn. Ba không được học nhiều và ba đã hiểu hậu quả của sự thiếu học đó. Và nếu Wakem...
      Nhắc tới Wakem, một ý nghĩ khác làm ông Tulliver rúng động. Ông nhìn lại chiếc áo mình đang mặc và sờ vào túi. Đoạn ông quay sang Tom gay gắt:
      -     Thơ của ông Gore đâu rồi?
      Lá thơ đã được cất ở một ngăn kéo gần đó, vì trong lúc mê sảng ông vẫn thường hỏi tới nó luôn.
      Tom vừa trao lá thơ cho cha vừa hỏi:
      -     Ba còn nhớ thơ này nói gì không?
      Ông Tulliver bừng giận:
      -     Sao lại không? Có chuyện gì đâu? Nếu Furley không lấy được sự sản này thì cũng có kẻ khác lấy. Nhưng ba phải lo thu xếp cho xong cái đã. Xuống sửa soạn xe cho tôi đi, Luke. Tôi phải đi St. Ogg’s ngay bây giờ – luật sư Gore đang chờ.
      Maggie kêu lên:
      -     Không ba ơi! Chuyện đó đã qua lâu rồi. Ba bịnh hai tháng nay, hơn hai tháng mọi chuyện đã thay đổi hết rồi.
      Ông Tulliver nhìn ba người với tất cả ngạc nhiên!
      Tom trả lời cái nhìn dọ hỏi cha:
      -     Đúng vậy ba, trong lúc này ba đừng nên bận tâm với công việc của ba nữa, mọi việc đã thu xếp xong xuôi - chuyện nhà máy, đất đai, nợ nần đã được thu xếp xong. 
      -     Cái gì giải quyết xong?
      Bác Luke đỡ lời:
      -     Ông chủ đừng lo chuyện đó. Tôi vẫn thường bảo với cậu Tom rằng rồi đây thế nào ông chủ cũng trả hết nợ cho tất cả mọi người.
      Ông Tulliver quắc mắt:
      -     Trả nợ cho tất cả mọi người? Tại sao? Họ... họ... họ sẽ tịch biên gia sản của mình rồi sao?
      Maggie cuống cuồng:
      -     Ba ơi! Ba ơi! Ba đừng buồn – Chúng con vẫn luôn luôn thương ba. Anh Tom quả quyết là anh trả hết nợ cho tất cả mọi người.
      Toàn thân ông Tulliver bắt đầu run rẩy, và cho tới khi nói được, giọng ông vẫn run run: 
      -     Con nói đúng. Đời người đâu có bao giờ được sống lần thứ hai. Tom ấp úng:
      -     Nhưng con tin rằng ba sẽ sống tới ngày còn trả hết nợ.
      Ông Tulliver nhìn con, lắt đầu buồn bã:
      -     Con của ba, bát nước đổ rồi làm sao hốt lại cho đầy được? Bây giờ là tới phần vụ của con, con chỉ mới mười sáu tuổi – con sẽ phải tranh đấu gay go lắm – nhưng đừng trách ba, bọn lưu manh đông quá. Ba đã cho con đi học đàng hoàng – điều có ích sẽ giúp cho con.
      Ông nghẹn ngào, mặt tái xanh, nhưng không có vẻ gì là sắp nổi cơn như bao nhiêu ngày trước. Thật lâu, ông nói tiếp bằng một giọng tự chủ hơn:
      -     Vậy là họ đã bán hết đồ đạc của mình?
      Tom đáp:
      -     Dạ phải. Nhưng nhà máy và miếng đất chúng con không biết ai mua.
      Maggie tiếp:
      -     Vì vậy ba cũng đừng ngạc nhiên khi thấy nhà mình trơ trọi. Bao nhiêu ghế bành và bàn viết của ta vẫn còn.
      Ông Tulliver chống gậy đứng lên, chìa tay cho Luke:
      -     Thôi, mình xuống – đỡ tôi Luke.
      Maggie chay xuống trước để soát lại phòng khách, cô quay chiếc ghế bành lại, đẩy cái bàn nhỏ qua một bên để lấy lối đi, rồi hồi hộp đứng chờ giây phút người cha bước vào. Tom vào trước, cậu cũng tới đứng gần bên Maggie. 
      Ông Tulliver đứng sửng nơi ngưỡng cửa, tựa người vào Luke, đưa mắt nhìn quanh: những khoảng trống, những vết tích của các đồ vật đã mất đi, những người bạn quen thuộc của ông.   
      Ông chầm chạp bước lại ghế bành:
      -     Thôi rồi, họ đã tịch biên gia sản của tôi... họ đã bán hết đồ đạc của tôi.
      Rồi ông ngã người ra sau, hai tay buông thõng, và trong khi bác Luke bước ra ngoài, ông lại nhìn quanh phòng lần nữa. 
      -     Họ đã chừa cho tôi cuốn Thánh Kinh trong đó chứa đựng những gì xảy ra từ lúc ba mới ra đời - bưng nó lại đây Tom.
      Cuốn Thánh Kinh khổ lớn được lật ra ở tờ giấy trắng phần đầu, và trong khi ông Tulliver đang lẩm bẩm đọc thì vợ ông vào. Bà Tulliver rất đổi ngạc nhiên khi thấy chồng mình đã xuống lầu và đang đọc... 
      -     Đây, Margaret Beaton - tên bà nội các con - qua đời năm bốn mươi bảy tuổi - gia đình bên bà nội các con rất yểu mạng - có lẽ ba và cô Gritty rồi cũng vậy.
      Ngón tay ông chợt dừng lại ở hàng số ghi ngày sanh và ngày cưới của em gái ông. Ông ngước lên hỏi Tom với giọng lo âu:
      -     Họ có tới đòi dượng Moss số tiền ba cho mượn hay không?
      Tom nói mau:
      -     Thưa không, tờ giấy nợ đã được đốt rồi.
      Ông Tulliver lại nhìn xuống trang giấy trong quyển Thánh Kinh:
      -     Đây... Elizabeth Dodson... ba cưới má đã được mười tám năm rồi.
      Bà Tulliver bước tới:
      -     Tới ngày lễ Truyền Tin Đức Bà này nữa là đúng mười tám năm.
      Ông Tulliver đăm đăm nhìn vợ:
      -     Tội nghiệp Bessy. Ngày đó bà rất đẹp – ai cũng nói vậy - và tôi đã nghĩ rằng bà đã khéo giữ gìn nhan sắc. Nhưng bữa nay bà đã già đi rất nhiều... bà đừng trách móc tôi... tôi vẫn luôn luôn mong muốn bà được sung sướng hơn người... chúng mình đã nguyện với nhau là có vui cùng vui có khổ cùng khổ.
      Bà Tulliver thống thiết:
      -     Nhưng tôi có bao giờ nghĩ rằng có thể khổ đến mức này đâu?
      Maggie bực tức:
      -     Má! Má còn nói vậy được sao?
      Người mẹ thiểu não thở dài:
      -     Má biết các con không muốn cho má nói... đời má là vậy... có bao giờ ba con chịu nghe má nói gì đâu... mà có lạy lục, van lơn cũng vô ích, và tôi bây giờ thì... 
      Ông Tulliver khẩn khoản:
      -     Đừng nói vậy, Bessy, tôi hứa sẽ hết sức đền bù lại cho bà.
      -     Như vậy thì chúng ta có thể ở lại đây để tôi còn được gần gủi chị em tôi... tôi hứa sẽ ngoan ngoãn với ông suốt đời... chỉ xin ông bớt căm thù ông Wakem nữa mà thôi.
      Tom nghiêm giọng:
      -     Má! Bây giờ không phải là lúc nhắc tới chuyện đó.
      Ông Tulliver ngăn:
      -     Cứ để má con nói... Bà cứ tiếp tục đi, Bessy.
      -     Tôi muốn nói bây giờ nhà cửa đất đai của mình đều thuộc về tay Wakem rồi, ông đương cự với ông ta làm gì – Wakem còn hứa là sẽ giữ ông lại làm quản lý cho ông ta với tiền công ba mươi si linh một tuần và cấp cho một con ngựa để đi chợ. Chúng ta còn tính đi đâu nữa... vô ruộng mà ở sao?
      Ông Tulliver run rẩy, co quắp người trên ghế, nhưng cuối cùng ông hạ giọng: 
      -     Bà muốn sao cũng được, Bessy. Tôi đã đem cảnh nghèo khổ tới cho bà... đã bị phá sản... bây giờ chống lại người ta có ích gì.
      Tom nêu giải pháp dung hòa:
      -     Thưa ba, con không bằng lòng lý luận của má và các dượng, con không nghĩ rằng ba sẽ chịu đặt dưới quyền sai khiến của Wakem. Bây giờ mỗi tuần con kiếm được mười hai si linh (một bảng) vậy là sau khi bình phục hẳn ba có thể tìm việc khác để có thêm tiền.
      -     Thôi Tom, đừng nói nữa. Ba thấy ba như vậy cũng quá đủ rồi. Hôn tôi đi, Bessy, chúng ta bắt đầu chia xẻ khổ sở với nhau đây. Chúng ta đã già rồi... Cuộc đời này quá khó khăn...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
23
 
 
THỜI KỲ BÌNH PHỤC CŨNG CHÍNH LÀ THỜI KỲ khủng hoảng trầm trọng nhứt trong đời ông Tulliver. Sức khỏe càng được phục hồi, nỗi ưu tư của ông càng lớn mạnh. Đó là thời kỳ mà ông phải nghiền ngẫm mãi về lời hứa với Bessy, ông đã hứa mà không ngờ vợ sẽ nói gì với đòi hỏi đó - chẳng khác nào vợ ông đã bắt ông phải mang trên lưng một gánh nặng ngàn cân. Nhưng cuối cùng, ông cũng đã đi tới quyết định là sẽ giữ vẹn lời hứa. 
      Từ nhỏ, ông đã sống một cuộc đời vô cùng nhàn hạ, sai khiến nhiều nhưng làm chẳng bao nhiêu, ông không đủ khả năng để thích ứng với bất cứ một công việc khó nhọc nào. Mỗi tuần ông sẽ trích ra một phần lương để dành trả nợ - và vợ ông có lẽ phải nhờ cậy tới các chị em bên đó - một viễn ảnh nhiều cay đắng đối với ông. Họ đã để cho người lạ mua hết của cải riêng của Bessy có lẽ vì họ muốn đặt Bessy vào vị thế chống đối ông bằng cách tạo cho Bessy cảm tưởng rằng chính ông đã mang thảm cảnh đó tới cho bà. Ông ngồi nghe họ khuyên nhủ với đôi mắt lờ đờ, xa vắng để rồi lại long lên mỗi khi họ quay mặt đi. Giữa tình cảnh này, ông chẳng biết phải làm sao hơn, vì còn cần tới họ.
      Nhưng điều làm ông đau buồn nhứt là sự thiếu vắng các đồ vật thân thuộc, những món đó đã gắn liền vào cuộc đời ông từ khi ông mới chào đời. Bao nhiêu thế hệ Tulliver đã tiếp diễn trên vùng đất này, và bây giờ đến lượt ông, lại chỉ còn sống bằng những kỷ niệm xa xăm. 
      Một chiều, khi ra thăm vườn cùng bác Luke, ông nói:
      -     Tôi còn nhớ rõ ngày cha tôi trồng mấy cây đào này. Cha tôi rất ưa trồng trọt – hình như chẳng có gì làm cho ông vui bằng lúc chăm sóc mấy cây con – ông bắt tôi dầm mưa với ổng cả ngày.
      Rồi dựa người vào trụ của vườn, ông nhìn về phía nhà máy:
      -     Chắc là nhà máy cũng đang nhớ tôi, Luke à. Ba tôi thường kể cho tôi nghe chuyện dòng sông nổi giận khi nhà máy đổi chủ. Nhưng ở vào cái thời đại khó khăn, đầy dẫy những kẻ lưu manh này thì còn chuyện gì lại không thể xảy ra. Đời tôi cứ gặp xui xẻo luôn.
      Bác Luke an ủi:
      -     Ông chủ đừng buồn. Đời có khi vầy khi khác. Chẳng bao lâu nữa rồi ông chủ cũng trở lại như xưa. 
      Ông Tulliver tiếp tục:
      -     Tôi vẫn nhớ như mới hôm qua thôi – cái ngày cha tôi cất xong nhà ủ mầm lúa mì. Hôm đó, nhà tôi làm tiệc lớn, có cả bánh bông lan nữa. Ngày đó tôi thường hỏi mẹ tôi – mẹ tôi có đôi mắt thật đen, con Maggie của tôi bây giờ giống bà nội nó như hai giọt nước.
      Ông Tulliver ngừng nói, gác cây gậy qua một bên và lấy hộp thuốc ngửi ra, hít một hơi dài khoan khoái: 
      -     Mẹ tôi rất thương tụi tôi - tôi và Gritty - tôi hay hỏi «má ơi, có nhà làm mạch nha rồi là mình có bánh ngọt ăn hoài hả má?» và má tôi cứ phải trả lời câu hỏi đó hoài cho tới khi bà chết. Mẹ tôi chết khi còn trẻ. Bây giờ nhiều khi nghĩ lại, tôi buồn, tôi chỉ muốn bỏ đi xứ khác làm ăn. 
      Bác Luke vỗ về:
      -     Ậy, ông chủ đừng nghĩ vậy. Dầu sao ở lại đây cũng dễ thở hơn là dọn đi xứ khác. Phần tôi thì nhứt quyết tôi sẽ không bao giờ xa con sông này. 
      -     Nhưng tôi ngại họ sẽ đuổi Ben đi và cho anh làm việc với một thằng bé khác - như vậy anh mệt lắm.
      -     Ông chủ đừng lo, tôi không sợ mệt nhọc đâu. Tôi đã làm với ông chủ hai mươi năm rồi, không thể bỏ ông chủ được. 
      Buổi đi dạo chấm dứt trong im lặng, cả hai người đàn ông cùng theo đuổi ý nghĩ riêng. 
      Trong bữa trà chiều hôm đó, Maggie nhận thấy cha mình có vẻ khác lạ. Ông cứ mãi cúi đầu nhìn xuống sàn nhà, miệng lẩm bẩm và thỉnh thoảng lại lắc đầu. Rồi ông lại trừng mắt nhìn bà Tulliver – lúc đó đang ngồi đan áo – và nhìn Maggie, trong khi cô vừa cắm cúi may vá vừa tự hỏi không biết cha mình đang nghĩ ngợi gì. Thình lình, ông lấy cái kẹp gắp than bóp vỡ một mảnh than với thái đó hung bạo.
      Bà Tulliver hoảng hốt nhìn lên:
      -     Kìa, ông, giận cái gì vậy? Nên nhớ là chúng ta chẳng còn được bao nhiêu than để sưởi nữa đâu. Tôi chẳng biết là phải đào ở đâu ra để có đủ xài. 
      Maggie khỏa lấp:
      -     Hình như tối nay ba không được khỏe, phải không ba? Con thấy ba hơi uể oải.
      Ông Tulliver hỏi:
      -     Tại sao tới giờ mà thằng Tom chưa về?
      -     Chúa ơi! Tới giờ rồi à? Tôi phải đi hâm đồ ăn cho nó mới được. 
      Bà Tulliver bỏ đồ đan xuống và lật đật đi ra.
      Ông Tulliver gằn giọng:
      -     Quá tám giờ rưởi rồi. Đáng lẽ nó phải có mặt ở nhà. Lấy cuốn Thánh Kinh lớn và viết mực ra đây.
      Maggie ngoan ngoãn vâng lời. Nhưng lúc cô trở vào thì ông Tulliver chẳng sai thêm gì nữa cả mà chỉ ngồi sốt ruột ngóng đợi tiếng chân đứa con trai. Ánh mắt lạ lùng của ông làm Maggie lo ngại:
      Cuối cùng có tiếng gõ cửa. Ông Tulliver đứng bật dậy:
      -     À, nó về rồi.
      Maggie ra mở cửa, nhưng bà Tulliver đã từ sau bếp chạy ra:
      -     Khoan, Maggie, để má mở cho.
      Bà hỏi Tom trong khi cậu đang cởi áo choàng:
      -     Má dọn sẵn xúp cho con dưới bếp. Con muốn ăn một mình thì xuống đó.
      Maggie nói:
      -     Hình như ba đang chờ anh Tom, má à. Để anh vào gặp ba trước đi.
      Tom vào phòng khách với bộ mặt dàu dàu thường lệ, nhưng cậu chú ý ngay đến cuốn Thánh Kinh mở sẵn với bình mực bên cạnh. Cậu nhìn cha dọ hỏi:
      -     Lại đây, lại đây, con về trễ quá – ba đợi con.
      -     Có chuyện gì vậy ba?
      -     Ngồi xuống - cả nhà ngồi xuống hết. Còn Tom lại đây. Ba cần con viết vài điều vào cuốn Thánh Kinh.
      Cả nhà cùng ngồi xuống, nhìn ông chờ đợi. Ông nhìn vợ và chậm rãi nói:
      -     Tôi đã quyết định rồi, Bessy. Tôi sẽ giữ đúng lời hứa với bà. Tôi sẽ ở lại đây, sẽ làm công cho Wakem – toi sẽ làm cho nó một cách đàng hoàng – nhưng không phải vì Tulliver nữa, mà vì danh dự, con nhớ kỹ điều này, Tom. Chúng đã triệt hạ được tôi -nhưng không phải là lỗi của tôi mà vì chúng đông quá. Tôi đành phải chịu thua chúng - ba rất có lý khi cho rằng tôi đã đem nghèo khổ tới cho bà, Bessy. Tôi sẽ phục vụ nó như phục vụ cho một người lương hảo. Nhưng tôi sẽ không bao giờ ngẩng đầu lên được nữa - tôi đã là một thân cây gẫy. 
      Ông ngừng lại, nhìn xuống sàn nhà một lúc, đoạn ngước mặt lên, giọng to nhưng trầm hơn:
      -     Nhưng tôi sẽ không tha thứ nó (nó quỉ quyệt quá mức). Đáng lẽ tôi đừng nên kiện tụng với nó, người ta nói vậy. Tôi biết, tôi biết, công lý, lẽ phải, chẳng ăn thua gì với nó. Nó làm giàu bằng cách chiếm đoạt tài sản của người nghèo hơn nó. Không thể tha thứ cho nó được! Tôi mong ước nó sẽ bị nhục nhã đến nỗi chính con nó cũng không dám nhìn mặt nó. Và con nhớ kỹ điều này, Tom - con đừng bao giờ tha thứ cho nó nếu con vẫn muốn là con của ba. Sẽ có ngày con làm cho nó khốn đốn như ba bây giờ - ba không còn đủ sức làm điều đó - ba đành trồng cái ách vào cổ để chờ đợi. Bây giờ con viết đi - viết vào tờ đầu cuốn Thánh Kinh.
      Maggie quì bên chân cha, mặt tái xanh, môi run rẩy:
      -     Ba ơi, nguyền rủa và căm hờn không tốt đâu, ba! 
      Ông Tulliver giận dữ:
      -     Ba không hề độc ác, chính bọn chúng mới độc ác. Viết đi, Tom!
      -     Dạ, con viết thế nào, ba? 
      -     Viết rằng: «Tôi, Edward Tulliver, nhận làm việc cho John Wakem, kẻ đã làm cho tôi tán gia bại sản, vì tôi đã hứa là sẽ cố gắng đền bù cho vợ tôi, và vì tôi muốn được nhắm mắt tại nơi tôi ra đời» - Viết đúng và rõ ràng như vậy – rồi con viết thêm «Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho nó, dầu tôi làm công cho nó một cách đàng hoàng, tôi mong tai họa đổ trúc xuống đầu nó!» Viết đi! 
      Im lặng càng lúc càng đè nặng xuống căn phòng trong lúc Tom cặm cụi viết. Bà Tulliver thất sắc trông thấy rõ, còn Maggie thì run như tàu lá.
      Ông Tulliver bảo:
      -     Bây giờ con đọc cho ba biết con viết những gì.
      Tom đọc to và chậm rãi:
      -     Được lắm, viết thêm -  rằng: «Tôi, Thomas Tulliver, sẽ không bao giờ quên những gì tên Wakem làm cho cha tôi. Và tôi hứa là sẽ cho nó nếm mùi nhục nhã khi có dịp». Rồi ký tên con ở dưới.
      Maggie nghẹn ngào kêu lên:
      -     Ồ, không được đâu, ba! Ba không nên bắt anh Tom viết vậy! 
      Tom trợn mắt:
      -     Im, Maggie! Anh phải viết y như vậy.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
24
 
 
XUÔI DÒNG SÔNG RHÔNE VÀO MỘT NGÀY MÙA hạ, có lẽ bạn sẽ nhìn thấy được khung cảnh tiêu điều của những làng mạc hoang phế dọc hai bờ, nhắc nhỡ tới thời kỳ mà dòng sông, như một thiên sứ trừng phạt, đã dâng nước lên cao để cuốn đi hơi thở mong manh của loài người và hủy diệt gia cư họ. Có lẽ bạn sẽ nghĩ ngay tới sự tương phản cao độ giữa cảnh làng mạc điêu tàn ở đây với những phế tích ở lưu vực sông Rhine, những phế tích đánh dấu một thời kỳ sôi nổi, huy hoàng trong lịch sử nhân loại, thời kỳ có nhiều đại giáo đường được tạo dựng, có nhiều đại đế rời bỏ đền đài, cung điện ở miền tây để chết trước thành lũy của quân vô thần miền đông huyền bí.
      Những đền đài ở lưu vực sông Rhine làm ta nẩy sanh thi hứng, bởi vì chúng là những chứng tích cụ thể nhứt của thời kỳ huy hoàng đó. Những khung cảnh hoang vắng, tiêu sơ của những làng mạc nghèo nàn hai bên bờ sông Rhône khiến chúng ta phải nghĩ nhiều về thân phận mong manh, tầm thường của con người.
      Có lẽ bạn sẽ gặp lại cảm nghĩ trên khi chứng kiến cảnh sống của những gia đình nằm dọc bờ sông Floss. Có lẽ bạn sẽ cho rằng đó là một cảnh sống ảm đạm, không được soi sáng bởi một tôn chỉ cao quí, một quan niệm thi vị nào. Họ chị sống theo truyền thống, theo tập tục cổ xưa, bất cần học thức, coi đó như là lớp vỏ hào nhoáng bên ngoài.
      Chắc chắn những quan niệm về tôn giáo của hai gia đình Tulliver và Dodson được phát khởi cùng nguồn gốc: họ là một phần tử trong tập thể Tân Giáo ở Anh Cát Lợi. Họ tin tưởng vào Đấng Tối Cao một cách mù quáng chẳng khác những người tà giáo. Quan niệm về tôn giáo của họ thật giản dị và gần như mê tín – chỉ vì họ không biết tới một tôn giáo nào khác hơn. Làm sao họ có thể biết được? Mục sư trưởng giáo khu của họ Dodson hoàn toàn không phải là một người sẵn sàng để chuyện vãn với các mệnh phụ trong giáo khu.
      Tôn giáo đối với gia đình Dodson là làm sao theo cho đúng tục lệ cũ đã được mọi người tôn kính, điều quan yếu là phải được rửa tội, như vậy mới được phép an nghỉ trong đất Thánh, và trước khi chết phải chịu bị tích xức dầu Thánh – được coi như là một đảm bảo chắc chắn cho hậu vận của người đã mất. Nhưng lại còn có nhiều điều cũng quan trọng không kém là gia đình phải có tang phục riêng, phải đãi ăn đùi heo muối trong đám tang, và người chết phải để lại một tờ di chúc hợp lý, không thể khiếu nại được. Sống lương thiện để nghèo khó không phải là châm ngôn của gia đình Dodson, đối với họ phải làm sao để được giàu có lớn mới là chánh yếu. Gia đình Dodson đối xử với nhau rất đứng đắn, hợp lễ, họ sẵn sàng sửa sai và chỉ trích gay gắt những «bà con» bất xứng, họ không bao giờ bỏ rơi những kẻ đó khi lâm vào cảnh khốn cùng, nhưng lại bắt họ phải nhận lấy sự viện trợ của mình một cách tối ư cay đắng.
      Chính những truyền thống tôn giáo trên cũng đang lưu chuyển trong huyết quản của những người Tulliver, nhưng bên cạnh những truyền thống cố hủ đó, người ta cũng nhận ra đức tánh rộng lượng, dễ cảm và nóng tánh riêng biệt của gia đình họ. Cũng vì đầu óc mê tín như những người cùng thời nên chúng ta mới thấy ông Tulliver ghi những oán thù của ông vào trang đầu của cuốn Thánh Kinh gia tộc. Mục sư trưởng giáo khu, bao gồm nhà máy Dorlcote, là một người xuất thân tứ quí tộc, độc thân và không có điểm nào đáng chê trách. Ông Tulliver vẫn kính trọng vị mục sư của giáo khu mình, vẫn làm hết bổn phận của ông cùng Giáo hội, nhưng lại coi Giáo hội chỉ là một phần tử hoàn toàn cách biệt với đời sống hằng ngày. 
      Hột giống cần phải có một môi trường thích ứng mới nẩy nở. Nhưng những hột giống tinh thần được gieo rắc vào tâm hồn ông Tulliver đã gặp phải một môi trường quá cằn cổi, chúng chỉ còn biết nằm yên chờ đợi giờ phút bị giông bão cuốn đi thôi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
25
 
 
NỔI KHỔ TỘT CÙNG TRONG NHỮNG GIỜ PHÚT đầu tiên của tai biến thường kích thích và giúp ta có nghị lực để chịu đựng tạm thời. Nhưng khi ngày tháng dần qua, khi đời sống ta đổi thay theo một nhịp điệu chậm chạp, buồn thảm thì đó chính là lúc tuyệt vọng hăm dọa con người và chính là lúc con người chán nản buông xuôi nhứt. 
      Maggie đang ở vào thời kỳ đó, Maggie đã được mười ba tuổi, lứa tuổi mà các cô gái vừa dậy thì khác chưa biết gì về sự phấn đấu, về sự xung đột nội tâm, và những kinh nghiệm quá sớm đó đã làm cho Maggie trông có vẻ già trước tuổi. Tuy nhiên, cô vẫn chưa có được đức tánh dè dặt và tự chủ để giúp Tom thành công hơn các thiếu niên trang lứa.
      Ông Tulliver đã bắt tay vào việc lại với tư cách quản lý của Wakem. Tom vẫn tiếp tục đi làm tại St. Ogg’s từ sáng tới chiều tối, và càng ngày càng trầm lặng nhiều hơn trước. Còn gì để nói nữa? Hôm nay cũng như mọi ngày khác mà thôi. Những mơ ước tươi đẹp về cuộc đời của Tom giờ đây đã quần tụ vào một tham vọng duy nhứt: làm sao vượt qua được tai ương.
      Phần bà Tulliver thì hình như chẳng bao giờ còn được như xưa nữa. Bà không còn làm công việc nội trợ một cách thanh thản như ngày trước. Làm sao được? Tất cả những của cải quí báu - nguồn vui của bà trong hai mươi lăm năm qua - những ước mơ, những dự tính khiêm tốn đã bị đoạt khỏi tay bà một cách đột ngột, khiến bà đâm ra ngỡ ngàng bối rối, hoang mang trước cuộc sống mới đầy trống vắng. Bà tự hỏi tại sao tai biến này lại xảy tới cho bà mà không tới với các đàn bà khác, một câu hỏi mà bà không bao giờ tìm ra giải đáp. Thật hết sức đáng thương khi nhìn thấy người đàn bà xinh đẹp ngay xưa, bây giờ đã tiều tụy hẳn đi vì thể xác và tâm trí không lúc nào được thanh thản nữa. 
      Làm xong công việc, bà thường thơ thẩn trong ngôi nhà trống trải hết giờ này sang giờ khác, khiến Maggie đâm ra lo ngại. Cô tìm mẹ và đưa bà đi nghỉ với câu nhắc nhở là Tom sẽ giận nếu biết bà cứ tự hủy hoại sức khỏe như vậy mãi. Bà không cho Maggie làm một việc nặng nhọc hay dơ bẩn nào. Bà nổi giận khi thấy con gái dành công việc chùi rây và lau nhà máy, «để đó con, con cứ cãi lời má hoài rồi sẽ bị chai tay cho mà coi. Đây là công việc của má. Con cứ lo may vá đi, lúc này má may đồ không được nữa - mắt má mờ quá rồi».
      Những nổi băn khoăn của mẹ không làm Maggie khổ sở bằng cơn tuyệt vọng ngấm ngầm của cha. Ông đã trở nên ít nói một cách kỳ lạ, và hết ngày này sáng ngày khác, tuần nọ qua tuần kia, đôi mắt lờ đờ của ông không hề lóe lên một tia sáng hăng hái hay một ánh lửa vui tươi nào cả. Nhiều khi nhìn những vết hằn trên trán và hai bên khóe miệng của cha, Maggie tự hỏi: «Tại sao mặt ba lại không bao giờ tươi lên được nữa? Đâu phải là một điều khó khăn gì?» Dĩ nhiên, làm sao những người trẻ có thể thống hiểu được nổi tuyệt vọng của những người đứng tuổi khi mà cuộc đời chỉ đem lại cho họ toàn những kết quả ê chề!
      Ông Tulliver không còn la cà ngoài phố nữa, mua sắm xong, ông trở về nhà thật mau, từ chối tất cả các lời mời mọc những nơi ông phải tới giao dịch. Ông không thể cam chịu đời sống mới của mình, ai nói với ông một lời gì ông cũng cảm thấy tự ái bị tổn thương. Nhưng hôm Wakem đến nhà máy thanh sát công việc với ông cũng không đen tối bằng những phiên chợ mà ông phải gặp nhiều chủ nợ cùng một lúc. Làm sao phải trả cho xong nợ với mấy người kia, đó là đối tượng của mọi ý nghĩ và nổ lực của ông Tulliver. 
      Từ một người ăn xài phóng khoáng, ông bỗng trở thành dè sẻn tới mức độ keo kiệt, bà Tulliver có hà tiện trong việc ăn uống, lửa củi thế mấy cũng không làm ông thỏa mãn. Ông không chịu ăn một món gì ngoài những thứ thật rẻ tiền. Mặc dầu không thích vẻ lầm lì của cha và cảnh ảm đạm trong gia đình, Tom cũng đồng ý hoàn toàn với cha về vấn đề trả nợ. Chàng hãnh diện trao hết số tiền thù lao đầu tiên trong đời cho cha để vào một chiếc hộp thiếc để dành. Những đồng tiền vàng nằm trong hộp có lẽ là hình ảnh duy nhứt đem lại một ánh sáng hài lòng yếu ớt trong đôi mắt của ông Tulliver - yếu ớt vì ánh sáng đó tắt ngấm ngay khi ông nghĩ tới cái ngày xa xăm có thể trả nợ xong. Món nợ tổng cộng trên năm trăm bảng là một lỗ hổng quá lớn đối với số tiền dành dụm ít ỏi trong thù lao hằng tháng của hai cha con ông.
      Tuy nhiên, bên dưới vẻ lầm lì ảm đạm đó, ông Tulliver vẫn còn giữ cảm tình xưa với «cô con gái cưng» của ông. Ông cần sự có mặt của Maggie bên cạnh, dù sự có mặt đó không đủ để làm ông phấn khởi hơn, ông vẫn ngắm con gái một cách âu yếm, nhưng tình phụ tử đầm ấm của ông cũng đã bị pha trộn ít nhiều chua xót như mọi tình cảm khác. 
      Đêm đêm, Maggie thường ngồi may vá trên một chiếc ghế thấp bên cạnh ghế bành của cha. Cô vẫn ước ao được cha xoa đầu hay có một cử chỉ nào đó chứng tỏ rằng ông còn biết mình có một đứa con gái rất thương yêu mình. Nhưng bây giờ thì cha cô và Tom – hai biểu tượng của cuộc đời cô - đều không chú ý tới việc biểu lộ tình thương đối với cô. Tom luôn luôn có vẻ mệt mỏi, xa vắng trong những giây phút ngắn ngủi có mặt ở nhà, còn cha cô thì luôn luôn bận rộn với ý nghĩ là con gái mình đã lớn - đã tới tuổi dậy thì - mà tương lai hãy còn mù mịt. Maggie khó lập gia đình trong tình trạng suy sụp hiện nay. Ông không muốn con gái mình sẽ lấy phải chồng nghèo như cô Gritty của nó - bởi vì nếu có chuyện đó xảy ra, ông không tài nào nhắm mắt được trong mộ huyệt. 
      Những ngày buồn bã, ảm đạm đó thỉnh thoảng cũng được khuấy động bởi khách khứa tới thăm. Các dì dượng chỉ lưu lại trong một thời gian ngắn, dĩ nhiên là họ không thể ở lại dùng bữa với gia đình được nữa, và hình như sự lầm lì đáng ngại của ông Tulliver làm cho các dì cảm thấy tiếng nói của họ như vang dội hơn trong ngôi nhà quạnh hiu này. Dường như có một vòng đai băng giá nào bao quanh những kẻ bị suy sụp địa vị trong xã hội khiến cho thân hữu của họ có cảm giác khoan khoái khi xa họ cũng như khi rời xa một gian phòng lạnh buốt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
26
 
 
NHỮNG CÂY DẼ TRONG SÂN ĐÃ BẮT ĐẦU TRỖ hoa. Buổi chiều đó, Maggie đem ghế ra ngồi đọc sách trước hiên nhà. Cuốn sách đã mở sẵn trên đùi, nhưng đôi mắt huyền của cô gái dường như đang mãi mê tìm kiếm một cái gì không chứa đựng trong ánh sáng mặt trời. 
      Đó là một ngày buồn hơn mọi ngày: cha cô, sau chuyến thanh sát cửa Wakem đã bừng giận ghê gớm và đã đánh cậu bé giúp việc nhà máy chỉ vì một lỗi nhỏ nhặt. Trước đây, khi chưa ngã bịnh, ông Tulliver cũng đã có lần giận dữ như thế, trong cơn giận dữ ông đã đánh đập con ngựa riêng của mình một cách tàn nhẫn, và cho tới nay cảnh tượng đó vẫn còn làm cho Maggie kinh hoàng mỗi khi nhớ lại, Maggie nhớ tới chuyện biết đâu trong một cơn giận khác sẽ tới phiên mẹ cô là nạn nhân.
      Đôi mắt Maggie dần dần nhòe nhoẹt, cô không còn nhìn thấy hàng dẽ cũng như chân trời trước mắt, mà chỉ thấy toàn những cảnh tượng đau buồn có thể xảy ra trong gia đình.
      Bỗng nhiên, có tiến mở then cổng và sau đó là tiếng chân rào rạo trên đường sỏi. Người đang đi vào không phải là Tom mà là một thanh niên đội nón da hải cẩu, mặc áo choàng lông, trên lưng có mang một cái túi, và lẽo đẽo theo sau là một con chó săn khổng lồ.
      -     Kìa, chào anh Bob!
      Bob giở nón vui vẻ:
      -     Dạ, cám ơn cô!
      -     Anh tôi chưa về nhà, anh ấy ở lai St. Ogg’s tới chiều.
      -     Dạ được, tôi sẽ chờ, nhưng tôi tới đây còn vì một lý do khác nữa – cô nhìn xem!
      Bob đặt chiếc túi lên thềm nhà, vài cuốn sách nhỏ đổ ra. Tuy nhiên, vật mà Bob muốn đưa cho Maggie coi không phải là chồng sách kia mà là một cái gì đó gói trong một cái khăn đỏ.
      Vừa mở khăn, Bob vừa nói:
      -     Cô coi đây! Tôi mong rằng cô sẽ không cho tôi là quá đường đột, nhưng tôi nghĩ là mấy cuốn sách này sẽ giúp cô khuây khỏa đôi chút khi bị mất hết sách vở. Tôi cũng nghe cô thích xem hình – và đây là hình, thưa cô!
      Trong chiếc khăn đỏ là một bức «Keepsake» và sáu hay bảy bộ «Portrait Gallery» trên khổ giấy lớn gấp tám và một bức họa chân dung vua George đệ tứ mặc triều phục. 
      Bob lật qua lật lại mấy tấm tranh:
      -     Thưa cô, trong này có đủ cả quý ngài trong Quý Tộc Viện, tôi chắc như vậy. Còn đây là mấy bà tóc quăn, áo đẹp – cô nhìn đây – bà này đang ngồi trước cửa, ăn mặc đẹp như mấy bà tôi thấy đi dự dạ hội ở Old Hall. Tôi nghĩ chắc mấy tấm hình này sẽ làm cho cô vui lòng. 
      Maggie cảm động:
      -     Và anh đã mua để tặng tôi? Anh tốt quá, anh Bob. 
      Bob gãi tai:
      -     Dạ, có gì đâu, cô Maggie. Tôi sẵn sàng làm bất cứ cái gì để cho cô vui. Tôi không bao giờ quên vẻ mặt buồn bã của cô khi bị mất hết sách vở. Lúc đi ngang hàng sách, tôi thấy tấm hình bà này ngồi buồn rầu như cô hôm nọ – xin cô tha lỗi – tôi chắc cô cũng thích mấy cuốn sách này lắm, và trong đó cũng có rất nhiều hình. Tôi hy vọng là cô sẽ không từ chối như cậu Tom đã từ chối món tiền mọn của tôi.
      -     Anh đứng lo, anh Bob. Rất cám ơn anh đã nghĩ tới tôi, rất tốt với anh Tom và tôi. Từ trước tới nay tôi tưởng sẽ không còn ai ngó ngàng gì tới tôi nữa cả.
      -     Vậy tôi nghĩ cô nên nuôi một con chó – chó là bạn tốt của mình. Tôi không thể cho cô con Mumps này được, vì nó không chịu xa tôi – ê, Mumps, mày nghĩ sao?  (Mumps vẫy đuôi.) Nhưng tôi sẽ cho cô một con chó con.
      -     Thôi được, cám ơn anh. Chúng tôi đã có một con chó giữ nhà rồi, với lại tôi không thể nuôi riêng một con chó được.
      -     Ồ, tiếc quá, dạ thôi, xin chào cô. 
      Bob mang chiếc túi lên vai, muốn kiếu từ ngay vì cảm thấy lưỡi mình đã líu lại vì luống cuống.
      Maggie nói:
      -     Hôm nào anh trở lại thăm anh Tom tôi nghe anh Bob!
      -     Da, cám ơn cô, lần khác, tôi sẽ trở lại. Và xin cho tôi gởi lời thăm cậu Tom, cậu ấy cao vun vút. 
      Chiếc túi lại được đặt xuống đất trở lại - Bob đã cảm thấy lưỡi của mình đã mềm dẽo ra.
      Maggie gợi chuyện:
      -     Chắc con Mumps này không phải giống thường?
      Bob cười khoan khoái:
      -     Dạ, đúng vậy, thưa cô. Mumps là con chó quí nhứt mà cô có thể gặp được ở dọc sông Floss này. Ai thấy nó cũng phải khen.
       -    Trông mắt nó dữ quá. Tôi có thể vuốt ve nó được không?
      -     Dạ được chớ. Nó biết người lắm cô. Không ai có thể dụ được, nó đánh hơi biết kẻ cắp. Không có chuyện gì của tôi mà Mumps không biết. Dạ thôi, xin chào cô!
      -     Chào anh, cám ơn anh đã mang cho tôi mấy cuốn sách. Lần sau anh nhớ lại thăm anh Tom nghe! 
      -     Dạ, tôi nhớ. 
      Bob đội nón lên và bước đi.
      Maggie mang chồng sách vào phòng ngủ để mặc chúng đó rồi chống tay ngồi nghỉ ngợi bên cửa sổ. Cô nghĩ những người chất phác như Bob mới thật sự là những người sung sướng trên cõi đời này. Cô ước ao phải chi mình là người thất học như Bob để có thể chấp nhận cuộc đời một cách dễ dàng hơn, hay có một công việc làm như anh Tom để có thể tập trung tư tưởng vào một mục tiêu duy nhất và quên đi mọi sự việc khác. 
 
      Những lúc ngồi may vá, Maggie là một bức tranh lôi cuốn nhứt. Sức sống mới trong hồn tỏa khắp mặt mày nàng thành một thứ ánh sáng dìu dịu quyến rũ, làm phong phú thêm dáng sắc yêu kiều của một nụ hoa chớm nở. Mẹ nàng đã cảm nhận sự thay đổi đó và bối rối nhìn nhận rằng: «càng lớn, con nhỏ càng đẹp ra», trái ngược hẳn với các lời tiên đoán của các bà dì.
      Thỉnh thoảng Maggie chợt bắt gặp cái nhìn băn khoăn, chờ đợi của mẹ mình, dường như bà đang chờ đợi sự ấm áp trong tia mắt của cô con gái. Bà Tulliver cảm thấy bắt đầu thương mến đứa con gái cao lớn có nước da bánh mật của mình nhiều hơn, bà coi đó là của cải còn lại duy nhứt để bà có thể chăm sóc một cách chu đáo và kiêu hãnh. Và Maggie mặc dầu không muốn trang điểm chút nào, cũng phải để cho mẹ chải và vấn tóc một cách trịnh trọng: 
      Bà nói:
      -     Con cứ để má làm. Bây giờ má còn có cái thú vui này thôi. Ngày xưa mà đã cực khổ với mái tóc của má quá nhiều. 
      Bà thường nhắc chồng chú ý tới mái tóc lộng lẩy như một nữ hoàng của Maggie và những đức tánh bất ngờ khác của nàng, nhưng ông chỉ gạt ngang:
      -     Tôi biết rõ là nó đẹp từ lâu – điều đó chẳng có gì mới lạ đối với tôi. Nhưng phải chi nó xoàng hơn một chút, tôi sợ rồi đây chẳng có ai xứng với nó hết.
      Sắc đẹp và tam hồn tuyệt hảo của Maggie khiến ông càng đâm ra lo ngại, ưu phiền.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
27
 
 
LÚC LUẬT SƯ WAKEM CỞI CON NGỰA Ô OAI vệ đi vào sân, Maggie đang ngồi bên cửa sổ nhìn qua nhà máy xay, có điều là hôm nay ông không đi một mình như thường lệ. Có một người nào đó theo ông, một người mặc áo choàng dài và cởi một con ngựa giống rất đẹp. Maggie chỉ nhận ra đó là Philip khi chàng đi qua cửa sổ và giở nón chào nàng, ông Wakem quay lại nhìn hai người một cách lạnh lùng. 
      Maggie hấp tấp lên lầu lánh mặt, vì ông Wakem nhiều lúc cũng vào nhà để kiểm soát sổ sách. Ngoài ra, nàng cảm thấy được rằng cuộc hội ngộ giữa nàng và Philip sẽ kém vui trước sự hiện diện của hai người cha thù nghịch. Có lẽ nàng sẽ gặp lại Philip vào dịp khác, lúc đó nàng sẽ nhắc cho Philip biết nàng vẫn luôn luôn ghi nhớ lòng tốt của Philip đối với anh Tom và những gì Philip đã nói với nàng ngày trước, mặc dầu hai người có thể sẽ không bao giờ còn là bạn với nhau. Sự xuất hiện của Maggie làm Philip xao xuyến, nàng nhớ lại lòng trắc ẩn của mình đối với Philip, trí thông minh của y và ước mơ của thời thơ dại là được có y bên cạnh như một người anh và một ông thầy. Những tình cảm đó trong mấy lúc gần đây đã bị phai nhạt phần nào vì những ước mơ của tuổi dậy thì, và hơn nữa, nàng nghĩ, biết đâu Philip lại chẳng thay đổi nhiều sau thời gian dài nơi xứ lạ? Biết đâu Philip chẳng thiết gì việc đàm đạm với nàng? Tuy nhiên, Philip cũng không thay đổi lắm, mặt cũng xanh xao, cũng đôi mắt xám, cũng mái tóc nâu bồng bềnh và cũng cái tật cũ đáng thương của ngày xưa. Sau một lúc nghĩ ngợi, Maggie cảm thấy thật sự muốn được nói với Philip vài lời. Nàng tự hỏi không biết Philip còn nhớ ngày xưa đã từng thích đôi mắt của mình như thế nào không. Bất giác nàng định đứng lên đi lấy gương soi mặt, nhưng rồi lại tự chủ kịp thời và tiếp tục công việc may vá cho tới khi hai cha con ông Wakem ra về. 
      Tháng sau sắp hết; Maggie vẫn giữ thói quen thơ thẩn khu vực chung quanh nhà máy để cho trôi đi những ngày vô vị, cô đơn.
      Nơi Maggie thích đi dạo nhứt là địa điểm nằm bên kia «ngọn đồi» - hay đúng hơn là một vùng đất cao, có nhiều cây cối chạy dài tới cổng nhà máy Dorlcote – nơi có một hầm đá bỏ hoang, bỏ hoang lâu đến nổi bây giờ các hầm hố và các động đều phủ đầy kim tước chi và cỏ dại.
      Thuở nhỏ Maggie hay cùng Tom ra chơi nơi đó, và nàng đã đặt tên cho nó là «Thung Lũng Đỏ». Vào mùa hè, Maggie thích ngồi trong một cái hố đầy cỏ, dưới bóng một cây trần bì xum xuê, nghe tiếng kêu của côn trùng như tiếng của những cái chuông tí hon trên trang phục của Im lặng, hay ngắm ánh nắng mặt trời len lỏi qua cành lá của những lùm cây xa xa như tìm tới những đóa lan dại ẩn náu trong bãi cỏ. Tháng sáu cũng là tháng hoa dã tường vi mãn khai, và cũng là lý đó khiến Maggie quyết định đi dạo ở Thung Lũng Đỏ vào ngày đầu tiên được rảnh rang. 
      Bây giờ, nàng đang đi trên một con đường mòn hẹp, xuyên qua một lùm tùng Tô Cách Lan để vào thung lũng. Nàng mặc chiếc áo dài xanh đen cũ kỹ, nón đã được tháo ra, buộc vào tay. Không ai ngờ nổi người thiếu nữ đó chỉ mới vừa mười bảy tuổi - có lẽ vì ánh mắt mệt mỏi, buồn rầu của bao ngày tìm kiếm và thao thức, hay có lẽ vì vóc người đều đặn, cân đối của nàng. Mắt ướt, má đầy, môi đỏ, dáng cao - vậy mà người ta lại cảm thấy bối rối khi đứng trước nàng, dường như ở nàng lúc nào cũng có những mảnh lực chực chờ cơ hội để xung đột nhau, trên gương mặt nàng người ta thấy được vẻ trầm lặng, già dặn - sự trầm lặng của những đám lửa âm ỉ chỉ chờ dịp để bùng lên. 
      Đây là lúc Maggie thoải mái nhứt. Nàng lẳng lặng thưởng thức làn không khí khinh khoái và ngẩng đầu lên ngắm những tảng lá đỏ tùng cổ thụ. Nàng nghĩ những vết cành gảy kia có lẽ là vết tích của những trận bảo trước đây - những trận bảo chỉ làm cho những thân cây cỏ sau đó vươn lên cao thêm nữa. Nhưng trong khi đang ngước nhìn, Maggie bỗng thoáng thấy một cái bóng di động do ánh mặt trời chiếu xuống trước mặt nàng. Nhìn xuống, Maggie giật nẩy mình khi nhận ra Philip Wakem. Philip giở nón, đỏ bừng mặt và chia tay ra. Maggie cũng đỏ mặt lên vì thẹn, nhưng liền sau đó nàng tươi tắn lại ngay và mỉm cười bắt tay.
      -     Anh làm tôi hết hồn. Tôi không bao giờ gặp người nào ở đây cả. Anh tới đây chắc có chuyện gì? Có phải anh định gặp tôi?
      Philip ngượng ngùng:
      -     Phải, tôi rất mong được gặp cô. Hôm qua tôi đã đứng ở bờ sông cạnh nhà rất lâu, hy vọng Maggie có ra ngoài, nhưng chẳng thấy đâu cả. Hôm nay tôi cũng đứng chờ, thấy cô đi tôi cũng đi theo. Mong rằng Maggie không giận...
      Maggie vừa đi vừa nói:
      -     Không đâu, tôi rất mừng thấy anh tới, vì tôi cũng đang mong có dịp gặp lại anh. Tôi không bao giờ quên được lòng tốt của anh đối với anh Tom và tôi lúc trước, nhưng không biết là anh có còn nhớ tới chúng tôi hay không!
      Philip rụt rè:
      -     Tôi lại tưởng Maggie không còn nhớ tôi như tôi nhớ Maggie. Cô biết không, thời gian ở nước ngoài, tôi có vẽ một bức chân dung của Maggie theo ký ức tôi buổi sáng ngày Maggie nói sẽ không bao giờ quên tôi.
      Philip lấy một chiếc hộp dẹp và mở ra. Bức họa cho thấy nàng đang dựa vào bàn, tóc vén ra sau, mắt mơ màng nhìn vào khoảng không, một bức họa chân dung bằng màu nước. 
      Maggie đỏ mặt:
      -     Ồ, hồi đó trông tôi kỳ dị ghê! Tóc ngắn củn cởn, mặc áo dài màu hồng giống hệt như dân du mục và chắc tôi bây giờ cũng vậy thôi.
      Ngập ngừng một lúc, Maggie tiếp:
      -     Trông tôi có giống như anh tưởng ra không?
      Philip nhìn thật lâu vào mặt nàng:
      -     Không, Maggie! 
      Maggie xịu mặt, môi run run, nhưng vẫn không quay mặt đi. Philip vẫn tiếp tục nhìn nàng, cuối cùng chàng nói chậm rãi:
      -     Maggie đẹp hơn tôi đã tưởng tượng nhiều.
      Maggie lại nghe hai má nóng ran:
      -     Thật à?
      Nàng hài lòng quay mặt, vừa bước tới vài bước. Philip theo một bên, mắt vẫn không rời mặt Maggie. Hai người đã vượt qua một lùm tùng và đến một khu đất thấp có dã tường vi mọc chung quanh. Maggie ngừng lại nhìn Philip nói với giọng vừa nghiêm trang vừa buồn rầu:
      -     Tôi vẫn mong chúng ta sẽ là bạn với nhau mãi mãi, nếu gia đình tôi đã gặp phải cảnh bất công và khó khăn. Những vụ án vừa qua đã làm chúng tôi khổ quá nhiều, tôi không thể giữ lại được những gì mình yêu thích từ thuở nhỏ. Mấy quyển sách cũ cũng mất; Tom đã thay đổi, và ba tôi cũng vậy. Do đó, tôi cần được nói chuyện với anh. Tôi muốn anh biết rằng tôi và anh Tom đều không thể làm theo ý muốn mình được nữa, và nếu tôi có thể buộc lòng làm như đã hoàn toàn lãng quên anh thì anh nên hiểu cho đó không phải là ý muốn của tôi, hoặc vì tôi kiêu hãnh, hoặc tôi – tôi - không có thiện cảm với anh... 
      Philip dường như xúc động:
      -     Tôi biết - tôi hiểu Maggie muốn nói gì. Tôi biết nguyên nhân nào đã chia rẽ tình bạn giữa chúng ta. Nhưng Maggie không nên giận tôi - chúng ta không thể hi sinh tất cả cho những tư tưởng phi lý của kẻ khác. Tôi có thể hi sinh những gì lớn lao nhứt vì cha tôi, nhưng tôi không thể hi sinh tình bạn vì một thiển kiến nào đó của người.
      Maggie trầm ngâm:
      -     Tôi cũng không biết mình ra sao nữa. Thường thường, hễ giận lên là tôi chẳng muốn hi sinh một thứ gi cả – tôi biết đó là một tư tưởng xấu. Có điều chắc chắn là tôi sẽ không bao giờ làm một việc gì có thể khiến ba tôi buồn khổ thêm. 
      Philip ngập ngừng:
      -     Nếu thỉnh thoảng chúng ta gặp mặt một lần, thì điều đó có làm cho cha cô buồn không?
      Maggie thở dài:
      -     Chắc chắn là ba tôi sẽ không vui. Đừng hỏi tại sao ba tôi có quá nhiều thành kiến, không lúc nào ông được hoàn toàn sung sướng cả.
      Philip nói mau:
      -     Tôi cũng vậy, tôi cũng không hề có hạnh phúc.
      Maggie dịu dàng: 
      -     Tại sao? Đáng lẽ tôi không nên hỏi vậy, xin anh tha lỗi. 
      Philip im lặng bước đi. Chàng cảm thấy không còn đủ kiên nhẫn để đứng lâu hơn nữa. Hai người rời khỏi khu đất trũng, đi thơ thẩn qua các lùm cây bụi rậm.
      Cuối cùng, Maggie nói:
      -     Hiện thời, tôi đang sung sướng vô cùng, vì tôi không còn lo nghĩ nữa, tôi đã biết là con người không thể nào sống được đúng theo ý mình, cuộc đời đã định đoạt cho chúng ta tất cả – đầu óc ta sẽ thanh thản hơn nếu ta không còn gì để mơ ước. 
      Philip sốt ruột:
      -     Nhưng tôi không thể nào ngừng mơ ước được. Đối với tôi dường như không khi nào con người có thể ngừng mơ ước và hi vọng được nếu vẫn còn sống. Trên đời có những thứ mà chúng ta cảm thấy tốt đẹp và hữu ích, khiến chúng ta khao khát. Làm sao chúng ta có thể thỏa mãn được nếu không chiếm được chúng, hay nếu những cảm tưởng của ta về chúng không phai lạt đi? Tôi rất thích những bức tranh đẹp – tôi mơ ước được vẻ đẹp như vậy. Tôi đã cố gắng hết sức, nhưng vẫn không thể tạo ra được những gì mình mơ ước. Đó là nỗi đau của tôi, và tôi sẽ đau khổ cho tới ngày nào năng lực của mình cùn nhụt đi. Đáng lẽ tôi đừng ra đời thì hơn.
      Maggie kêu lên:
      -     Ồ, Philip, anh đừng nói vậy.
      Philip quay phắt lại, nhìn thẳng vào mặt nàng:
      -     Tôi chỉ có thể bằng lòng với cuộc sống khi nào cô chịu cho tôi thỉnh thoảng được gặp mặt. 
      Rồi chàng bỗng quay mặt đi và dịu giọng:
      -     Tôi chẳng có một bạn thân nào để bộc lộ tâm sự cả – chẳng có người nào chịu ngó ngàng tới tôi. Nếu tôi thỉnh thoảng được gặp cô, nếu cô cho phép tôi được nói vài câu và nếu cô không... có ác cảm với tôi thì có lẽ tôi sẽ thấy yêu đời hơn.
      Maggie ngần ngại:
      -     Nhưng làm cách nào để gặp mặt anh? 
      (Có phải mình thực sự là người đem lại nguồn vui cho Philip không? Thật khó mà nói lời «từ giã» với Philip trong ngày hôm nay được dầu sao thì cuộc gặp gỡ này cũng đã tạo một sắc thái mới trong đời của mình.)
      -     Nếu cô cho phép thỉnh thoảng tôi được gặp cô ở đây - và được cùng đi dạo - dầu chỉ vài lần trong một tháng cũng đủ lắm rồi. Điều đó không gây phiền lụy cho ai cả, mà lại giúp cho đời sống tôi ngọt ngào hơn. Hơn nữa, nếu người thân chúng ta có ác cảm với nhau, thì tại sao chúng ta không hợp tác để bôi xóa và chận đứng bằng tình bạn của chúng ta? - Tôi muốn nói là nhờ vào ảnh hưởng riêng, chúng ta sẽ giúp cho người thân chúng ta hàn gắn lại những đổ vỡ trong quá khứ. Và tôi không tin rằng cha tôi còn mang thù hận với ai: tôi nghĩ là hành động của người cũng đủ chứng minh điều đó.
      Maggie lặng lẽ lắc đầu, nhiều ý tưởng xuong đột nhau trong đầu, theo nàng, việc thỉnh thoảng gặp lại Philip rồi đi dạo với nhau hoàn toàn là một hành vi trong sạch và tốt đẹp. Nhưng những câu nói êm dịu của Philip cũng không đủ để nàng quên đi những lời răn quen thuộc khác, những lời răn dạy mà nàng đã quen tuân theo từ thuở nhỏ.
       Cuối cùng, Maggie đi ngược trở lại con đường cũ:
      -     Tôi không thể nói dứt khoát được là nên hay không. Tôi phải có một thời gian dài nghỉ ngơi, nếu không chắc tôi sẽ vấp phải những quyết định sai lạc... 
      -     Vậy là tôi có thể sẽ trở lại đây ngày mai – ngày kia -  hay tuần tới?
      Maggie băn khoăn:
      -     Tôi nghĩ nên viết thơ thì hơn – thỉnh thoảng tôi có việc phải đi St. Ogg’s, tôi sẽ gởi thơ theo đường bưu điện.
      Philip vội ngăn:
      -     Không được đâu – cha tôi có thể sẽ đọc được thơ - và, dầu không còn thù hận nhưng ông khó tánh lắm. Xin cô cho phép tôi được tới đây lần nữa. Cô hãy cho tôi biết lúc nào có thể ấn định rõ thời gian thì tôi sẽ tới đây mãi cho tới khi nào gặp được cô. 
      -     Có lẽ nên như vậy vì tôi không được biết chắc chiều nào mình được rảnh rang để ra đây.
      Maggie cảm thấy nhẹ nhõm khi có được một quyết định lưng chừng như vậy, nàng không muốn để Philip phải thất vọng trong lúc này. Nhưng lần tới, có lẽ nàng phải làm cho Philip đau khổ vì quyết định dứt khoát của mình.
      Hai người dừng lại ở hố đất lúc nảy ngắm những dã tường vi lung linh dưới nắng chiều.
      Philip chợt hỏi:
      -     Cô còn mê đọc sách nữa không? Tôi còn nhớ ngày trước cô say mê đọc sách lắm. 
      Maggie êm ái:
      -     Không, tôi đã bớt đọc nhiều. Vả lại số sách của tôi không còn được bao nhiêu. 
      Philip rút ngay trong túi ra một cuốn sách khổ nhỏ, vừa nhìn vào gáy vừa nói:
      -     À, đây là cuốn hai, tiếc quá, nếu không cô có thể đem về nhà đọc được rồi. Tôi bỏ quyển này trong túi vì đang nghiên cứu một bức họa. 
      Maggie cũng ngắm bìa sách, và bản tánh hồn nhiên bỗng trở lại với nàng: nàng giật lấy cuốn sách trong tay Philip và nói:
      -     «Hải khấu». Ồ, tôi có đọc một lần rồi. Tôi đang đọc tới đoạn Minna đi với Cleveland thì bắt buộc phải dừng lại. Tôi đành tưởng tượng ra đoạn kết của nó, nhưng tôi nghĩ là không được thú vị bao nhiêu. Tội nghiệp Minna! Suốt một thời gian dài tôi cứ nghĩ ngợi mãi về quần đảo Shetland, nhiều khi tôi tưởng tượng mình đang ở giữa một cơn bão biển... 
      Philip chiêm ngưỡng vẻ mặt rạng rỡ của nàng:
      -     Vậy, Maggie cứ đem cuốn này về. Tôi không cần nó nữa, thay vào đó, tôi sẽ cho cô một bức họa khác, cảnh cô đứng giữa lùm tùng Tô Cách Lan với ánh nắng nghiêng nghiêng. 
      Nhưng Maggie không còn để ý tới câu nói của Philip nữa, nàng say mê với tranh sách vừa mở ra. Nhưng đột nhiên, nàng gấp cuốn sách lại và đưa cho Philip.
      Philip van nài:
      -     Cứ giữ lấy Maggie, nó sẽ giúp cô vui.
      Maggie quay đi:
      -     Không, cám ơn anh. Tôi sợ nó sẽ khiến tôi phải nghĩ lại thế thái nhân tình – tôi sợ nó sẽ làm cho tôi trở lại tâm trạng như trước – không thể được.
      -     Tại sao Maggie lại tự tiêu diệt tâm hồn mình như vậy? Đó là một hình thức khổ hạnh hết sức sai lầm. Tôi không muốn Maggie làm vậy. Nghệ thuật và kiến thức là những thứ gì thiêng liêng, thanh khiết vô cùng. 
      Maggie bước mau hơn:
      -     Nhưng với tôi thì không – tôi không chấp nhận. Vì nó sẽ làm cho tôi mơ ước nhiều hơn và tôi sẽ phải chờ đợi – mà cuộc đời này thì lại không được dài lâu.
      Đã ra tới lùm tùng Tô Cách Lan mà Maggie vẫn còn im lặng, Philip lên tiếng:
      -     Đừng bỏ tôi, Maggie. Tôi không thể đi với cô ra tới đường được.
      -     Ồ, tôi quên mất, xin tạm biệt.
      Nàng dừng lại và chìa tay ra cho Philip. Hai người im lặng nhìn nhau một lúc, Maggie rút tay về:
      -     Rất cám ơn anh đã có lòng nghĩ tới tôi trong những năm qua. Thật là vô cùng an ủi khi biết có người nghĩ tới mình. Thượng Đế nhân từ và huyền dịu khiến cho anh cảm mến một người con gái kỳ dị như tôi, người mà anh chỉ quen biết được vài tuần. Tôi còn nhớ ngày xưa, có lần tôi đã nói rằng anh còn quan tâm tới tôi hơn cả anh Tom nữa. 
      Philip giọng rầu rầu:
      -     Nhưng cô Maggie, không bao giờ tôi được cô thương mến bằng anh Tom.
      -     Có lẽ vậy. Hình ảnh mà tôi ghi nhận lần đầu trong đời là hình ảnh anh Tom nắm tay tôi đứng bên bờ sông Floss – đó là ký ức đầu đời của tôi. Nhưng tôi cũng sẽ không bao giờ quên anh – dầu chúng mình có phải cách biệt nhau.
      -     Maggie đừng nói vậy. Nếu tôi đã phải nghĩ ngợi về một cô bé suốt năm năm nay thì tôi không có quyền có một chỗ đứng trong tim người đó sao? Cô bé đó không nên cố tình lẫn tránh tôi như vậy!
      -     Phải chi tôi được tự do làm theo ý mình, nhưng không thể được - tôi phải nghe lời... Tôi thấy cũng cần nhắc thêm là khi gặp anh Tom, anh chỉ cần nên gật đầu chào là đủ, đừng nên hỏi chuyện gì cả. Có lần anh ấy cấm tôi không được nói chuyện với anh, và anh ấy sẽ không bao giờ đổi ý đâu...
      -     Ồ, mặt trời lặn rồi, tôi phải về ngay. Chào anh!
      Maggie lại chìa tay ra lần nữa.
      Philip khẩn khoản:
      -     Tôi sẽ tới đây mỗi ngày cho tới khi nào được gặp cô lần nữa. Xin hay nghĩ tới tôi như nghĩ tới bao nhiêu người khác. 
      -     Được, tôi bằng lòng. 
      Vừa nói, Maggie vừa rảo bước. Philip đứng yên nhìn theo cho tới khi bóng người thiếu nữ lẩn khuất sau cây tùng cuối.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
28
 
 
NGƯỜI TA CÓ THỂ ĐOÁN KHÔNG LẦM VỀ SỰ thành công của Tom, tánh cương trực, tham vọng cá nhân, lòng tự kiêu và sự suy sụp của gia đình đã kết hợp thành một mãnh lực giúp người thanh niên đó vượt qua tất cả mọi trở ngại. 
      Dượng Deane sau một thời gian quan sát, theo dõi tường tận đã bắt đầu nuôi hy vọng vào đứa cháu trai của mình và lấy làm hãnh diện vì đã đem được vào cơ sở của mình một đứa cháu có nhiều khả năng thương mại. 
      Dần dần, Tom hiểu được lòng tốt của dượng Deane khi đưa mình vào làm ở kho hàng trước tiên. Áp dụng đứng đắn những lời chỉ bảo của ông Deane, sau một thời gian ngắn, Tom đuoc phó thác phần vụ mua sắm những vật liệu thuộc loại thuờng. Song năm thứ hai, Tom được tăng lương, tất cả - trừ tiền ăn trưa và mua sắm quần áo - đều được mang về cất vào trong hộp thiếc. Chàng né tránh việc giao du vì sợ đưa đẩy tới những việc tiêu pha vô ích. Không phải là người thích cô độc, nhưng trong thời gian này Tom có nhiều trở ngại phải vượt qua và chướng ngại đầu tiên là món nợ của gia đình. 
      Không giống như cha, càng lớn, Tom càng được các dì dượng cảm mến. Những chi tiết kèm theo ý kiến của hai ông Deane và Glegg đều được họ ghi nhận một cách hoan hỉ. Theo họ, chàng có thể sẽ là người cũng có uy tín dòng họ mà không gặp phải một rắc rối hay tốn kém nào. Bà Pullet cũng phải nhìn nhận rằng Tom sẽ làm cho gia đình có danh vọng hơn, bà nghĩ những tật xấu ngày xưa của Tom như rượt bắt con công để bứt lông, hay coi thường các dì có lẽ những thứ không đáng kể của dòng họ Tulliver và sẽ tàn lụn dần đi theo năm tháng. Riêng bà Glegg thì tuyên bố chỉ tin tưởng những gì bà chứng kiến tận mắt và bà không phải là người chủ quan như mọi người khác. 
      Trong khi đó, Tom chẳng có dấu hiệu gì cho thấy là sẽ trông cậy vào một người nào khác ngoài chàng, tuy nhiên chàng cũng rất sung sướng nếu được dượng Glegg thỉnh thoảng tới thăm trong giờ làm việc hay được mời tới nhà ông dùng bữa trưa. Cách đây một năm, đã có vài chuyện khiến Tom đâm ra mến phục dượng Glegg nhiều. 
      Một chiều, lúc trở về nhà Tom đã gặp Bob Jakin trên cầu và hai người đã đàm luận với nhau một lúc rất lâu. Bob rụt rè hỏi cậu Tom có muốn hùn hạp với y để buôn bán chút ít kiếm lời không?
      Buôn bán? Mà buôn bán như thế nào? Tom muốn hiểu rõ hơn.
      Như thế này, Bob có một người bạn ở Laceham sẵn lòng nhường cho y một ít xa xí phẩm để đem đi bán tại các thương cảng lạ, và y rất hân hoan dành cho Tom một phần trong dịch vụ này. Đề nghị của Bob khiến Tom chú ý ngay, chàng tự hỏi tại sao mình không sớm nghĩ ra kế hoạch này. 
      Quá nôn nóng trước viễn ảnh sẽ thu lợi gấp bội, chiều hôm đó Tom về nhà đề nghị ngay với cha trích ngay một số tiền đã dành dụm được trong hộp thiếc để mua một chiếc thuyền tải hàng nho nhỏ. Tiền để dành vẫn còn nguyên đó nhưng ông Tulliver không muốn xuất ra để đầu tư vì sợ lỗ lã nặng, ông không còn yên lòng khi ông bỏ tiền để buôn bán và bị lỗ nặng, ông không còn yên lòng khi để tiền rơi xa tầm mắt của mình. Tuy nhiên, ông cũng mở rương lấy hộp tiền ra và đếm lại - một trăm sáu mươi bảng, vừa tiền giấy bẩn thiểu, vừa tiền vàng rực rỡ - hai năm trời dành dụm chỉ được bao nhiêu đó. 
      Ông thở mạnh:
      -     Con cần dùng bao nhiêu?
      -     Khoảng ba mươi sáu bảng được không ba?
      Ông Tulliver gạt ba mươi sáu bảng qua một bên và chận tay lên đó:
      -     Bao nhiêu đây cũng hơn số tiền ba dành dụm được một năm.
      -     Thưa, ba nói phải, nhưng để dành tiền qua số lương của mình thì biết tới bao nhiêu mới đủ.
      Tay ông Tulliver vẫn đặt trên đống tiền:
      -     Nhưng con có thể mất đi số tiền này – còn có thể hủy đi một năm trong đời sống của ba – và ba thì không đào đâu ra tiền được nữa. 
      Tom im lặng!
      -     Ba không muốn trả trước cho họ một trăm bảng trong số tiền này, vì ba muốn trông thấy số tiền chồng chất cho đủ số – chỉ khi nào thấy được ba mới yên lòng. Vận may không bao giờ tới với ba, nếu ba bị mất đi một năm, ba lại gần với cái chết thêm một năm vì làm sao ba có thể kéo lại năm đó được?
      Suy nghĩ một lúc lâu, Tom đành buông xuôi:
      -     Thôi được, mình bỏ qua dịch vụ này.
      Nhưng Tom không đành bỏ qua một cách làm ăn có nhiều lợi như vậy, chàng quyết định gặp dượng Glegg liều hỏi vay hai mươi bảng với năm phân lời.
      Hai mươi bảng đối với ông Glegg chỉ là con số không đáng kể. Vì vậy khi Bob trở lại kho hàng vào hôm sau để lấy quyết định, thì Tom đề nghị hai người cùng đi gặp ông Glegg để thương lượng vì chàng tin rằng miệng lưỡi của Bob sẽ giúp chàng bạo dạn hơn.
      Ông Glegg đang làm công việc kiểm kê mỗi ngày về số hoa quả trong vườn. Ông rất ngạc nhiên khi thấy Tom đi vào với một người lạ mặt: một người có mang túi trên lưng – vì Bob đang chuẩn bị cho một chuyến buôn mới – với một con chó săn khổng lồ. Con chó có vẻ đáng ngại lắm!
      -     Ê, để con chó ở ngoài cửa đi! 
      Ông Glegg vừa la vừa nhổ một chiếc cộc cầm lăm le thủ thế.
      Bob cho con chó một đá:
      -     Đi ra ngoài kia, Mumps! Nó hiền lắm, thưa Ngài!
      Con Mumps ngừ lên một tiếng nho nhỏ rồi núp phía sau lưng chủ.
      Ông Glegg hỏi:
      -     Sao, cháu tính chuyện gì đây, Tom?
      -     Thưa, cháu tới gặp dượng để bàn một chuyện làm ăn nho nhỏ.
      Ông chủ vườn yên lòng:
      -     Nhưng con chó này có dính dáng tới chuyện làm ăn đó không?
      Bob đáp ngay:
      -     Thưa Ngài, đó là con chó của tôi. Vì chính tôi là người đề nghị làm ăn với cậu Tom – cậu Tom là bạn thân với tôi từ thuở nhỏ. Công việc đầu tiên của tôi là đuổi chim cho ba cậu Tom. Sau đó, tôi được gặp khá nhiều may mắn và tôi nghĩ nên chia xẻ đôi chút với cậu Tom. Cậu có thể kiếm chút ít tiền bằng cách bỏ mối cho các nhà buôn ở các vùng xa – sau khi thanh toán xong chi phí, chúng tôi có thể lời được từ mười hai phần trăm trên giá vốn. Đây chỉ là một chuyện làm ăn tầm thường, nhưng tôi hy vọng nó sẽ giúp cậu Tom phần nào trong lúc này. Hàng hóa là những xa xí phẩm của Laceham – rất nhẹ nhang và tiện chuyên chở trên những tàu nhỏ, vì không choán nhiều chỗ. Ngài có thể gói mười kí hàng vào một gói thật nhỏ, và toàn là những thứ mà ai cũng ưa thích. Tôi sẽ đi Laceham mua hàng cho cậu Tom và tôi nữa, sau đó tôi sẽ dùng một tàu nhỏ để chở đi vùng khác và bán lại. Người làm ăn với tôi tại Laceham tên là Salt – ông ta có gia đình đàng hoàng – và cũng rất tốt, nếu Ngài không tin, tôi có thể đưa ông ta tới đây gặp Ngài.
      Ông Glegg ngẩn người nhìn Bob. Đầu tiên, ông nhìn Bob từ trên cặp mắt kiếng rồi sau đó nhìn anh ta qua cặp tròng kiếng. Tom bắt đầu chột dạ thì ông Glegg nói:
      -     Anh có vẻ hiểu biết lắm, anh bạn!
      Bob gật đầu:
      -     Ngài nói đúng lắm. Lúc nào tôi cũng tưởng chừng bộ óc tôi nó cựa quậy trong đầu. Đầu tôi luôn luôn chứa đầy những kế hoạch làm ăn, cái này nó thúc cái kia. Tôi chắc tại vì ngày xưa tôi không được học hành nhiều.
      Ông Glegg người tự coi mình như một kẻ ngạo đời từ ngày về hưu, bắt đầu thấy Bob là một người khả ái. Nhưng ông vẫn giữ nét mặt nghiêm nghị:
      -     À, tôi nghĩ chắc anh làm ăn cũng được lắm nên mới nuôi nổi con chó khổng lồ này. Nó ăn bằng hai người thợ. Mà thôi, chúng ta nên đi sâu vào vấn đề làm ăn này. Tom, dượng chắc cháu đang cần có một món tiền nho nhỏ để phiêu lưu, phải không?
      Tôm đỏ mặt:
      -     Thưa phải. Nhưng ba cháu không muốn liều lĩnh và cháu cũng không muốn nài ép Người. Phải chi cháu có được hai hoặc ba mươi bảng khởi đầu, cháu có thể trả năm phân lời cho số tiền đó.
      Ông Glegg có vẻ thán phục:
      -     À... à... đề nghị không phải dỡ. Nhưng phải để tôi gặp ông Salt nào như anh bạn vừa nói. Tôi nghĩ anh bạn đây phải có người bảo lãnh chớ?
      Tom xen vào:
      -     Thưa dượng, cháu nghĩ điều đó không cần thiết. Cháu muốn nói là cháu rất tin cậy Bob. Tuy nhiên, nếu anh ấy có người bảo đảm cũng chính đáng hơn. 
      Ông Glegg nhìn Bob trên tròng kiến:
      -     Anh sẽ chia ít phần lời trong số tiền của Tom hả?
      Bob phật ý:
      -     Thưa Ngài, không. Tôi không bao giờ trao cho cậu Tom một trái táo đã có vết cắn của tôi. Nếu muốn lường gạt thì tôi còn thiếu gì người khác. 
      -     Tốt. Nhưng dầu sao cũng phải chia cho chút ít phần trong số lời của Tom. Đó là một việc hợp lý trong vấn đề làm ăn. Tôi không muốn ai bị thiệt thòi khi họ có thiện chí phục vụ cả. 
      -     Ông có thể tin cậy nơi tôi.
      Có tiếng gọi qua cửa sổ phòng khách:
      -     Ông Glegg vào dùng trà đi chớ. Hay là muốn đứng nói chuyện ở ngoài để bị hạ sát giữa ban ngày ban mặt?
      -     Hạ sát? Bà nói gì lạ vậy? Cháu của bà tới bàn chuyện làm ăn với tôi mà.
      -     Tôi nói phải chớ không sao – cách nay không lâu có xảy ra chuyện một tên bán dạo giết một thiếu phụ ở chỗ vắng để đoạt nữ trang, rồi liệng xác xuống mương. 
      Ông Glegg trấn an:
      -     Không, không phải đâu. Bộ bà tưởng tôi không còn tay chân chắc?
      -     Cũng tương tự như vậy đó ông Glegg – ông chỉ ham cãi lý với tôi không. Nếu cháu ông muốn bàn chuyện làm ăn thì tại sao không vào nhà mà bàn, lại đứng thì thầm trong xó xỉnh như vậy?
      -     Được rồi, được rồi. Chúng ta đi vào thôi.
      Bà Glegg lớn tiếng bảo anh Bob:
      -     Anh còn ở đó làm chi. Chúng tôi không cần mua gì cả. Tôi không mua bán với người bán dạo. Nhớ đống cổng lại cho tôi.
      Ông Glegg can thiệp:
      -     Khoan đã, đừng vội chớ. Tôi chưa bàn xong việc với anh bạn trẻ này. Vào đi Tom.
      Bà Glegg cằn nhằn:
      -     Ông Glegg, nếu ông muốn cho người này và con chó của y đặt chân lên thềm nhà tôi thì ít nhứt ông cũng phải báo cho tôi biết chớ.
      Bob nhẹ chạm tay vào nón, anh ta nghĩ ngay tới chuyện đùa với người đàn bà này một chút chơi:
      -     Thưa bà, xin bà đừng ngại. Chúng tôi có thể ở ngoài này được rồi. Chúng tôi rất hiểu biết, thưa bà! Chúa ơi! Thật là xấu hổ khi một mệnh phụ như bà lại đi mua bán với tôi, một tên bán dạo, thay vì mua sắm trong những cửa hàng lớn sang trọng, lộng lẫy dầu phải trả giá mắc gấp ba lần. Nhưng tôi tin bà phải am hiểu hơn tôi nhiều.
      -     Đúng, tôi cũng nghĩ vậy, và tôi cũng rất am hiểu dân bán dạo nữa. 
      Bà Glegg trả đũa Bob trong khi chồng bà đứng sau lưng, hai tay cho vào túi áo, chân dang rộng và nheo mắt mỉm cười với người đã dám đương đầu với vợ ông. 
      Bob nói:
      -     Đúng lắm rồi. Ngày xưa, khi còn trẻ bà vẫn hay mua bán với dân bán dạo chúng tôi mà – thời mà trước khi Ngài đây để mắt tới bà. Tôi biết nơi gia đình bà ở – tôi đi qua đó nhiều lần – địa chỉ Darleigh – ngôi nhà đó có nhiều bực thềm.
      -     À, phải rồi. Vậy là chú có biết sơ về gia đình tôi, có phải chú là bà con với người bán dạo mắt lé, hay bán hàng Ái Nhĩ Lan không?
      Tom bảo:            
      -     Thưa dì, đây là Bob Jakin. Chúng cháu quen nhau từ nhỏ. Anh ấy tốt lắm lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ cháu. Anh ấy có chút kinh nghiệm về ngành buôn bán - một tàu hàng nho nhỏ để chở hàng bán tại các xứ lạ, và anh ấy có nhã ý dành cho cháu một chỗ trong công việc làm ăn này, cháu có thể hùn vào đôi chút. Việc làm này có lời nhiều lắm.
      Bà Glegg hỏi ngay:
      -     Lời nhiều? Lời nhiều là bao nhiêu?
      -     Mười hai phần trăm, Bob nói vậy, sau khi trang trải hết chi phí.
      -     Kìa sao lại không cho tôi biết trước những chuyện như vậy, ông Glegg? Sao ông cứ nói với tôi là chẳng có việc nào có thể lấy lời được quá năm phần trăm.
      Ông Glegg càu nhàu:
      -     Thôi, thôi bà đi! Bà có đứng ra buôn bán được không? Năm phần trăm là mức lời bảo đảm nhứt đối với bà rồi.
      Bob xen vào:
      -     Nhưng tôi có thể sẽ đem lại cho bà một số lời nho nhỏ, nếu bà muốn liều bỏ tiền ra – mà thật ra chẳng có gì đáng gọi là liều cả – bà chỉ cần cho cậu Tom vay ít tiền, cậu ấy sẽ trả cho bà sáu hay bảy phân, và riêng cậu ấy cũng còn được khá lời. Tôi nghĩ một mệnh phụ nhân ái như bà chắc không nở nào từ chối giúp đỡ cho cháu mình. 
      Ông Glegg bảo: 
      -     Bà Glegg, sau khi hỏi han chi tiết xong, tôi sẽ cho Tom mượn tiền, nếu muốn bà có thể xuất ra hai mươi bảng, còn phần tôi là năm mươi bảng. Được chớ, Tom?
      -     Ông đừng nên trông đợi tôi, ông Glegg à!
      -     Được lắm. Như vậy chúng tôi tính toán với nhau cũng được rồi. Này, Bob, tôi sẽ đi với anh để gặp cái ông Salt đó.
      -     Kìa, ông Glegg, sao lúc nào ông cũng muốn làm ngược với tôi hết, ông lại còn muốn loại tôi khỏi chuyện làm ăn của cháu tôi. Tôi có nói là sẽ không cho Tom mượn tiền đâu - nhưng cháu tôi phải để cho dì nó thấy rõ những gì có thể làm cho dì nó yên lòng mà xuất tiền dành dụm của mình ra chớ!
      -     Thì bà cứ coi đây như là một cuộc phiêu lưu hào hứng vậy.
      Ông Glegg kín đáo nháy mắt với Tom. Không còn dằn được nữa, Tom cười khoan khoái. 
      Ông Glegg gặp ông Salt - người làm ăn «đàng hoàng» tại Anchor Tavern, và sau đó ông Glegg thấy không có gì trở ngại, trong việc cùng với vợ xuất tiền cho Tom mượn lấy lời. 
      Từ số vốn khiêm nhường đó, Tom đã gặt hái nhiều kết quả không ngờ mà phần lớn đều nhờ vào tài tháo vát và ý chí cương quyết của chàng. Vào lúc Maggie gặp bà Philip lần đầu tiên, Tom đã có một số vốn riêng lên tới một trăm năm mươi bảng và chức vụ đại diện thương mãi cho công ty Guest. Chàng hy vọng vào cuối năm tới, sẽ có đủ tiền để giúp cha thanh toán tất cả nợ nần, và có lẽ - vào năm hai mươi mốt tuổi - chàng sẽ bắt đầu cho sự nghiệp chính mình với một địa vị cao hơn trong công ty. Tom rất tự tin về con đường tiến thân trôi chảy của mình.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
29
 
 
CHIỀU HÔM ĐÓ, MAGGIE TỪ THUNG LŨNG ĐỎ trở về với một ưu tư mới. Một khung cửa trên bức tường đá ngất trời vây phủ tất cả những ước mơ của Maggie vừa mở ra. Nàng không còn tuyệt vọng nữa. Nàng sẽ lại có sách đọc, có người trò chuyện – có tình thân – nàng sẽ có thể nghe nhiều tin tức về cái thế giới mà tâm trí nàng vẫn chưa xóa bỏ được sự hiện hữu của nó. 
      Maggie nhận thấy tình bạn có thể tiếp nối giữa nàng và Philip sẽ không có gì đáng trách. Nhưng nàng cũng không sao quên được những lời cấm đoán vô lý và bất công của gia đình. Maggie tưởng đã đủ nghị lực để tuân theo những lời cấm đoán đó trước khi tự cho phép trở lại Thung Lũng Đỏ vào một chiều sau đó một tuần. 
      Hơn nữa giờ qua, Maggie chỉ lo lựa lời để nói dứt khoát. Cuối cùng, nàng nghiêm giọng: 
      -     Philip, tôi đã dứt khoát rồi. Chúng ta nên chấm dứt liên lạc với nhau là hơn. Tôi chỉ có thể gặp anh một cách lén lút thôi - khoan đã, tôi biết anh muốn nói cái gì rồi - lén lút xấu lắm cho tôi và cho cả anh. Và nếu chuyện chúng mình bại lộ - cha tôi sẽ giận ghê gớm lắm, rồi đằng nào mình cũng phải xa nhau.
      Philip đỏ bừng mặt định cãi lại, những tự chủ kịp thời; sau cùng, chàng nói với giọng bình tĩnh giả tạo:
      -     Maggie, nếu cô quyết định phải xa nhau, thì hãy cho tôi hầu chuyện thêm ba mươi phút nữa – coi như lần nói chuyện cuối cùng với nhau.
      Philip nắm lấy tay Maggie. Nàng thấy không có lý do gì để rút tay về, sự trầm tỉnh ghê gớm của Philip làm nàng tin chắc rằng mình đã gây cho chàng một nỗi đau cùng tốt, nàng muốn chứng tỏ cho Philip thấy là nàng không cố ý tạo ra như vậy. Hai người im lặng nắm tay nhau, sóng bước. 
      Philip đề nghị:
      -     Mình nên xuống đây ngồi với nhau lần cuối. Hoa tường vi đẹp quá!
      Hai người cùng ngồi dưới gốc trần bì cổ thụ:
      -     Tôi đang bắt đầu bức họa cô đang đứng dưới rạng tùng Tô Cách Lan. Bây giờ xin cho tôi được quan sát gương mặt của cô lần cuối – vì sau đây tôi sẽ không còn gặp lại cô.  Xin vui lòng quay đầu về hướng này. 
      Trước giọng khẩn thiết đó, Maggie thấy khó thể từ chối được. 
      Nàng nói:
      -     Được rồi. Nhưng bức chân dung này có lớn hơn bức họa kia không?
      -     Ồ, phải lớn chớ, lớn hơn nhiều. Đó là một bức sơn dầu. Cô sẽ trông giống như nữ thần Kamadryad, cao lớn da ngâm đen, khỏe mạnh và quí phái như những cây tùng. 
      -     Dường như lúc này anh chỉ chú ý đến chuyện hội họa, phải không Philip?
      Philip buồn buồn: 
      -     Có lẽ vậy. Nhưng tôi cũng đang nghĩ tới rất nhiều chuyện khác – gieo hột rất nhiều nhưng chẳng gặt hái được bao nhiêu. Tôi chú ý tới hội họa và âm nhạc, văn chương cổ điển, tới văn hóa mới. Tôi đập cánh nhiều lần những chẳng bay được tới đâu. 
      -     Nhưng được thưởng thức nhiều như vậy chắc phải thú vị lắm. Cái gì cũng nằm trong tầm tay của mình cả. Tôi coi đó cũng là một hình thức của thiên tài.
      Philip chua chát:
      -     Có lẽ tôi cũng thấy thích thú lắm nếu được bình thường như những người khác. 
      -     Tôi hiểu. Tôi hiểu, mặc dầu không được hiểu biết nhiều như anh, tôi vẫn thường nghĩ mình sẽ không thể nào chịu đựng nổi một cuộc sống mà ngày nào cũng như ngày nấy, cứ phải làm hoài những công việc vô vị buồn tẻ. Nhưng Philip, tôi lại nghĩ chúng ta hãy còn trẻ quá, chúng ta cần phải có người giàu kinh nghiệm bảo bọc. Hai ba năm nay tôi đã tìm được chút ít an lành cho tâm trí.
      -     Phải Maggie. Nhưng cô đã tự giam mình vào một chỗ tối tăm, chật hẹp. Cô chỉ tự lừa dối thôi.
      Môi Maggie run run, nàng biết những lời của Philip có ẩn chứa sự thật, nước mắt nàng trào ra. Philip nắm tay nàng dịu giọng:
      -     Đừng nên nghĩ tới những điều đó trong nửa giờ sau cùng này, Maggie... Chúng ta sẽ nghĩ tới nhau mãi mãi. Tôi ước mong sẽ được sống lâu bằng cô, vì nghĩ rằng giờ đây có ngày giờ phút ước mơ sẽ tới - giờ phút mà cô sẵn sàng nhận sự giúp đỡ của tôi trên một phương diện nào đó.
      Maggie bỗng đứng lên:
      -     Xin lỗi anh, tôi không thể ở lại lâu hơn được. Tôi sẽ bị ám ảnh. Tôi phải về nhà ngay.
      Và nàng quay bước, Philip bắt buộc cũng phải đứng lên và đi theo, nói giọng thiết tha:
      -     Maggie, đừng quá cố chấp như vậy. Tôi rất khổ tâm khi nhìn thấy cô tự hủy hoại tuổi trẻ của mình. Cô vẫn còn là thiếu nữ tươi sáng, tràn trề sức sống, dầu cô tự phủ lên mình một bức màn u tối cũng không thể che giấu được.
      -     Tại sao anh chua chát với tôi như vậy, Philip?
      -     Vì tôi đã thấy trước được mức cuối thê thảm của nó. Cô không thể tiếp tục tự dày vò mình theo lối đó.
      Maggie run giọng:
      -     Tôi sẽ có đủ sức để tự xóa bỏ. 
      -     Không thể được Maggie. Không ai có khả năng kháng cự lại thiên nhiên. Tìm yên ổn trong sự phủ nhận hoàn toàn là một điều hèn nhát. Một ngày kia cô sẽ bị ném trả lại cho cuộc đời và lúc đó những gì cô chối bỏ sẽ đổ xô tới ngấu nghiến cô. 
      Maggie dừng lại, ngạc nhiên:
      -     Tại sao anh cứ lung lạc tôi bằng cách đó? Rù quến, phải không?
      -     Không phải vậy. Nhưng tình yêu sẽ làm cho người ta minh mẫn, Maggie, và minh mẫn thường giúp cho người ta tiên đoán được nhiều điều. Nghe tôi nói đây – hãy để tôi mang sách tới cho cô mượn, hãy cho tôi thỉnh thoảng được gặp cô – hãy cho tôi được làm anh và làm thầy như cô đã nói ở Lorton. Những điều đó sẽ không tệ hại bằng điều cô cứ tiếp tục con đường tự hủy của cô.
      Maggie bỗng thấy không còn đủ sức để nói nữa. Nàng lắc đầu và im lặng bước đi. Ra tới bụi tùng Tô Cách Lan, nàng đưa tay ra cho Philip, tỏ ý cáo biệt. 
      -     Cô sẽ không xua đuổi tôi khỏi chỗ này chớ? Maggie? Thỉnh thoảng tôi có thể tới đây để chuyện trò với cô có được không? Thỉnh thoảng mới gặp cô thì có gì đáng gọi là lén lúc đâu?
      Nhiều khi, người ta cứ đinh ninh rằng quyết định của mình sẽ không có gì lay chuyển được nổi – nhưng tới lúc cánh cửa sắt của định mệnh đã khép lại thì đó chính là lúc nghị lực được thử thách. Rồi sau nhiều giờ sáng suốt tự chủ, chúng ta lại chộp lấy những lời ngụy biện có thể làm tiêu tan ý chí phấn đấu của mình để chỉ đón rước những thất bại – và chính những thất bại còn được ưa thích hơn là chiến thắng. 
      Chính vì vậy mà, Maggie đành khuất phục trước mưu tính khôn khéo của Philip. Mắt nàng dịu lại. Dĩ nhiên là Philip đã nhận rõ ra ngay, và họ chia tay nhau trong im lặng.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
30
 
 
THÁNG TƯ, GẦN MỘT NĂM TRỜI QUA KỂ TỪ ngày có cuộc chia tay mập mờ đó. Nếu muốn, chúng ta có thể trở lại theo dõi từng bước chân của Maggie trên lối mòn xuyên rạng tùng để vào Thung Lũng Đỏ. Tiết trời giá buốt khiến Maggie phải quấn khăn và bước mau, tuy nhiên, trước khi vào thung lũng, nàng cũng phải dừng lại nhìn quanh xem có ai bất chợt nhận ra mình không. Ánh mắt nàng linh hoạt và hăng hái hơn tháng sáu năm rồi, và đôi môi cũng mang một vẻ như vậy. Dường như chúng đang nôn nóng được nói ra một lời ấm áp nào đó với ai...
      Maggie lấy quyển sách ra:
      -     Trả lại cho anh cuốn Corinne. Anh có lý khi bảo rằng chuyện của nàng chẳng giúp gì cho tôi được, nhưng anh đã lầm khi nghĩ rằng tôi muốn được giống nàng.
      -     Vậy là cô hoàn toàn không muốn giống như tiên nữ Musa thứ mười đó?
      Maggie cười:                                                                      
      -     Không phải vậy. Chị em Musa thật là những nàng tiên khổ sở – đi đâu cũng phải mang theo nhạc cụ, giấy viết lỉnh kỉnh. Thử tưởng tượng lúc này tôi có mang theo một cây thụ cầm coi.
      -     Vậy cô cũng đồng ý với tôi về cuốn Corinne này?
      -     Tôi chưa đọc hết. Tới đoạn thiếu nữ tóc vàng ngồi đọc sách trong vườn là tôi xếp sách lại ngay và quyết định không đọc tiếp nữa. Tôi đoán trước là cô gái tóc vàng này thế nào cũng tước đoạt tình yêu của Corinne và làm cho nàng đau khổ. Tôi đã quyết định không đọc chuyện những thiếu nữ tóc vàng dành hết mọi hạnh phúc về mình. Tôi đã bắt đầu có thành kiến với họ. Anh không chấp nhận bất công thì bổn phận của anh là đừng cho tôi có tư tưởng bất công. Anh có thể cho tôi mượn những cuốn sách khác có chuyện những người đàn bà da đen nhưng thành công.
      -     Được, có lẽ cô sẽ là người trả thù cho những người đàn bà có nước da ngâm đen và tước đoạt lại tất cả tình yêu của cô em họ Lucy tại St. Ogg’s. Hiện có rất nhiều người đang theo đuổi Lucy, cô... 
      Maggie bực dọc:
      -     Philip, anh nghĩ xấu lắm, anh đem những lời vẫn vơ của tôi áp dụng vào thực tế. Tôi có cảm tình với những người đàn bà có nước da ngâm đen – không phải vì tôi có nước da đen, mà vì tôi luôn luôn binh vực những kẻ bất hạnh. Nếu cô gái tóc vàng bị khổ sở, tôi vẫn thương cảm cô ta như thường. Tôi luôn luôn đứng về phía những người bất hạnh trong tiểu thuyết. 
      Philip đỏ mặt ngập ngừng:
      -     Vậy là có sẽ không bao giờ đành lòng cự tuyệt một người quá yêu cô – phải không?
      -     Tôi không biết...
      Maggie do dự rồi mỉm cười:
      -     Tôi nghĩ rằng tôi sẽ cự tuyệt nếu anh ta là kẻ ngạo mạn. 
      Philip hơi luống cuống:
      -     Maggie, tôi vẫn thường tự hỏi có bao giờ cô sẵn sàng yêu một người mà tất cả những cô gái khác đều không ngó ngàng gì tới không?
      Maggie cười:
      -     Cái đó cũng còn tùy. Anh ta có phải là một người khó chịu hay không, anh ta có nhìn tôi một cách khả ố như anh chàng Torry không? Có lẽ những phụ nữ khác cũng không ưa gì cái kiểu cách đó, riêng tôi thì chẳng bao giờ tôi thương hại những kẻ ngạo mạn như Torry vì tôi cho rằng họ đã quá thỏa mãn với chính họ rồi.
      -     Nhưng... Maggie, thí dụ như – thí dụ như có người nào đó không ngạo mạn – vì anh ta tự thấy là chẳng có gì để ngạo mạn cả – người từ nhỏ đã phải chịu một khổ đau đặc biệt – người coi cô như mặt trời của đời họ – người yêu cô – yêu đến nổi họ cũng cảm thấy có hạnh phúc khi được phép thỉnh thoảng gặp mặt cô... 
      Philip bỗng ngừng lại vì cảm thấy rằng lối thú nhận của mình sẽ cắt phăng đi nguồn hạnh phúc ngắn ngủi này. Đó là mối lo đã làm cho chàng giấu kín tình yêu của mình trong nhiều tháng qua. Maggie quay lại nhìn Philip, mặt nàng dần dần đổi khác. Nàng im lặng bước tới một thân cây đổ, ngồi xuống và rủ ra như người vừa bị tước đoạt hết sức mạnh của bắp thịt. Nàng bắt đầu run rẩy!
      Thái độ của nàng làm Philip ngạc nhiên và lo ngại thêm. 
      -     Maggie, tôi điên quá – xin hãy quên đi những gì tôi vừa nói.
      -     Tôi bất ngờ quá, Philip – thật bất ngờ!
      Nước mắt nàng trào ra.
      Philip nói gấp:
      -     Cô có giận tôi không, Maggie? Cô có cho tôi là một kẻ điên không?
      -     Ồ, Philip! Tại sao anh lại gán cho tôi ý nghĩ đó? Nhưng... nhưng tôi không bao giờ nghĩ rằng anh sẽ là người yêu của tôi. Điều đó xa vời quá – như một giấc mơ – như là một chuyện thần tiên. 
      Philip ngồi xuống, nắm tay nàng, giọng hân hoan:
      -     Vậy, nếu nghĩ rằng tôi là người yêu cô, cô có thấy khó chịu không? Maggie... em... có yêu anh không?
      Mặt Maggie tái lại, câu hỏi hoàn toàn khó trả lời. Nhưng mắt nàng đã chạm mắt Philip, hai ánh mắt long lanh và đẹp hẳn vì tình yêu tha thiết. Giọng nàng giản dị, dịu dàng:
      -     Thật ra em không thể yêu ai hơn anh được. Em yêu anh. Nhưng tốt hơn là chúng ta đừng nói ra điều đó – phải không, Philip? Anh thừa hiểu là chúng ta có muốn làm bạn với nhau cũng không được nữa kia mà. Em thấy lén lúc gặp anh như thế này là một hành vi không phải – dầu nhiều khi em cảm thấy đó là một nhu cầu tối yếu cho em. Em sợ quá, sợ hành động của chúng ta sẽ gây ra tai họa. 
      -     Không có gì đâu, Maggie. Nếu em cứ mang mãi mối lo đó thì biết tới bao giờ em mới được sống thật với chính em?
      Maggie lắc đầu:
      -     Em hiểu - đi dạo, sách vở, cảm giác rộn ràng khi gặp anh, khi em có thể nói với anh những ý nghĩ của mình trong những ngày vắng anh – tất cả đều tuyệt diệu. Nhưng nó cũng làm cho em luôn băn khoăn, lo nghĩ – nó làm em chán nản trở lại. 
      Philip đứng lên, sốt ruột đi tới đi lui: 
      -     Không, Maggie, quan niệm của em quá sai lầm về vấn đề tự khắc phục, anh đã thường nhắc nhở điều này. Cái mà em gọi là tự khắc phục chỉ là chứng thiên chấp của tuổi thơ mà thôi.
      Chàng lại ngồi xuống và nắm tay nàng:
      -     Đừng nghĩ tới quá khứ nữa, hãy nghĩ tới tình yêu của chúng ta. Nếu yêu anh hết lòng thì trở ngại nào cũng vượt được qua. Chúng ta chỉ cần chờ đợi thôi. Anh có thể sống bằng hi vọng được. Nhìn anh đi, Maggie, nói là em có thể yêu anh. Đừng nhìn xa xăm như vậy, anh lo lắm.
      Nàng quay lại mỉm cười.
      -     Nói đi, Maggie. Em còn nhớ ngày ở Lorton, em hỏi anh là có thích em hôn không – em còn nhớ chớ? – và em hứa sẽ hôn anh khi nào chúng ta gặp lại nhau. Em đã quên lời hứa đó rồi.
      Kỷ niệm thời thơ ấu gợi cho Maggie một cảm giác dịu dàng, nó làm cho giây phút hiện tại bớt ngỡ ngàng hơn. 
      Và nàng hôn chàng rất giản dị nhưng dịu dàng như năm còn mười hai tuổi.
 
 
241




0
Chương 40
 
BUỔI SÁNG TRỜI BỖNG ĐỔ MƯA TẦM TẢ. CƠN mưa có thể gây trở ngại cho các cuộc dạo chơi, nhưng lại là thời gian thơ mộng nhứt cho những kẻ yêu nhau.
Lucy dự đoán:
- Sáng nay thế nào Stephen cũng tới sớm. Hôm nào trời mưa cũng vậy.
Maggie im lìm. Nàng vẫn còn giận Stephen. Nếu trời không mưa, có lẽ nàng đã qua nhà dì Glegg để lánh mặt.
Nhưng Stephen không tới sớm. Người khách đầu tiên là Philip.
Một thoáng bối rối đến với hai người. Mặt Philip nhợt nhạt, giọng ngậm ngùi, dầu đã dành nhiều giờ suy định cho cuộc tái ngộ này, nhưng Maggie không đủ sức để che đậy cảm xúc của mình, mắt nàng nhức buốt, dường như có những giọt lệ nóng hổi đang âm thầm nhỏ xuống trong hồn. Hai người im lặng nắm tay nhau.
Mọi sự diễn ra hoàn toàn phù hợp với mong đợi của Lucy, nàng sung sướng khi đưa Philip và Maggie trở lại với nhau.
Nhầm giúp hai người thoát khỏi trạng thái bối rối đó, Lucy vui vẻ :
-      Anh đúng là người đáng mến, vừa về tới đã chịu khó thăm chúng tôi ngay. Mời anh ngồi. Rồi liệu mà trả lời tại sao lại đi đột ngột.
Maggie ngồi xuống, Philip cũng ngồi và quay nhìn chàng với ánh mắt thiết tha và dò xét như đối với một người chí thân sau thời gian xa cách quá lâu. Philip đọc được trong ánh mắt và cử chỉ của Maggie một sự thay đổi rõ rệt - điều mà chàng vẫn nghi ngại và lo sợ.
Maggie nói:
-   Em đang được nghỉ ngơi hoàn toàn. Lucy săn sóc em thật chu đáo. Em chẳng cần phải làm gì cả, em chưa biết mình muốn gì thì Lucy đã biết rồi.
-   Chắc chắn là Lucy vui ghê lắm khi có em bên cạnh. Phần em trông cũng rất tươi - rất thích hợp với sự thay đổi.
Sau những câu khách sáo, Lucy bỗng đứng lên viện cớ bỏ quên gì đó rồi vội vàng ra ngoài ngay.
Maggie và Philip chồm tới nắm tay nhau và cùng nhìn sâu vào ánh mắt:
-   Em nói với anh Tom là em muốn gặp anh, Philip - Em yêu cầu anh ấy miễn trừ cho em lời hứa ngày xưa và anh ấy đã bằng lòng.
-   Vậy là cuối cùng mình lại được làm bạn với nhau- Chắc không có gì ngăn trở nữa?
Maggie rút tay ra:
-    Nhưng nếu ba anh chống đối?
-   Anh chỉ có thể mất em do chính ý muốn của em thôi, Maggie. Ngoài ra không một ai có thể bắt anh làm việc đó, kể cả ba anh. Đây là điều duy nhứt lúc nào anh cũng sẵn sàng chống đối ba anh - anh đã từng nói với em như vậy.
-   Vậy thì không còn gì ngăn trở chúng mình làm bạn với nhau trở lại. Chúng mình sẽ gặp nhau tại đây trong suốt thời gian em còn ở lại. Em sắp phải đi xa. Em muốn đi sớm - để nhận một việc làm mới.
-    Không còn cách nào khác sao, Maggie ?
-   Em không thể ỏr đây lâu được. Em không muốn sống lệ thuộc vào ai cả.
Philip trầm ngâm :
-    Không còn giải pháp nào nữa, thật à? Tại sao em lại muốn xa lánh những người thương mến em.
Maggie dịu dàng:
-   Philip, em không muốn biết những gì sẽ tới với em sau này, nhưng em bắt đầu nghĩ rằng tình yêu không bao giờ đem lại hạnh phúc cho em. Ước gì em được sống ra ngoài thế giới này.
Philip chua chát :
-   Em lại trở về với những ý nghĩ cũ rồi, Maggie. Những ý nghĩ mà anh vẫn thường chống đối. Em muốn tìm một lối thoát, nhưng anh muốn em nhớ là không có một lối thoát nào phù hợp với thiên nhiên này. Anh sẽ ra sao nếu anh muốn thoát khỏi đau khổ ? Gay gắt, cau có sẽ là liều thuốc phiện của anh, hay là anh sẽ trờ thành một tên điên rồ, hợm mình.
Giọng Maggie mang âm thanh hối hận :
-   Philip, anh nói đúng. Em biết em luôn luôn nghĩ tới riêng mình mà không bao giờ nghĩ tới người khác. Em cần được anh chỉ dạy thêm, anh luôn luôn nói đúng.
 
Tiếng chuông cửa bỗng khua vang. Một lúc sau Lucy đưa Stephen vào. Chàng nghiêng đầu chào Maggie rồi tới bắt tay Philip một cách nồng nhiệt.
-   Chào bạn, bạn trở về là chuyện rất vui, nhưng hy vọng là bạn sẽ bớt đi về đột ngột như thế nầy nữa. Hôm nọ tôi đã phải chờ mãi trong phòng vẽ của bạn, vì người nhà bạn tưởng bạn đi đâu gần đó thôi.
-   Khách tới nhà tôi rất ít - thành thử nhiều khi tôi chẳng mấy quan tâm tới chuyện thông báo việc đi đứng với người nhà...
Stephen quay sang Maggie, kiểu cách lịch sự cứng ngắc:
-    Sáng nay cô vẫn bình thường, cô Tulliver ?
Maggie lạnh nhạt:
-    Bình thường. Cám ơn ông.
 
Philip chăm chú nhìn hai người, và Lucy thì quá quen với tâm tính bất thường của họ nên không mấy ngạc nhiên, nàng chỉ tiếc là Maggie đã quá cao ngạo với Stephen như thế. Sợ Stephen mất thiện cảm với người chị họ của mình, nàng nói lấp :
-   Em thấy hôm nay khó mà cỡi ngựa đi dạo được. Chỉ có chơi nhạc là hay hơn cả. Nhứt là có cả hai anh một lúc. Yêu cầu anh với Philip, cho tụi em nghe bài « Masaniello », Maggie chưa được nghe, nhưng em nghĩ là chị ấy sẽ thích lắm.
 
Stephen bước tới dương cầm, nắn vài âm thanh thánh thót?
Lucy nhìn Philip:
-    Philip, anh phụ họa với Stephen nghe!
 
Philip rất hài lòng với đề nghị đó - chẳng có cảm giác nặng nề nào mà không thể chế ngự được bởi âm nhạc. Âm nhạc giúp người ta lấy lại sự thanh thản cho tâm hồn. Chàng ngồi vào dương cầm:
-      Rất sẵn sàng. Trên đời này không có gì bằng ca hát, đánh đàn và nghe tiếng hát, tiếng đàn của mình. Hay là vừa ca vừa vẽ.
Stephen nói:
-   Bạn làm tôi khao khát quá. Tôi chẳng làm gì được với đôi tay này.
Lucy ngắt ngang:
-   Thôi, tạm gác chuyện đó đi, bây giờ nghe nhạc cái đã.
Thường thường, Maggie khó thể tiếp tục công việc may vá khi tiếng nhạc bắt dầu trổi lên. Nàng buông kim chỉ xuống, hai tay nắm chặt, mắt mở to, hoàn toàn bị tiếng nhạc cuốn trôi. Chưa lúc nào trông Maggie diễm lệ bằng giữa lúc này, Philip nghĩ thầm.
 
Bài ca vừa dứt, Lucy yêu cầu ngay :
-     Nữa, nữa đi, một bản gì thật hay.
Philip đánh lên một đoạn nhạc dạo.
Lucy hỏi:
—  Anh dạo bản gì đó ? Nghe hơi lạ.
 
Không biết à ? Một bài trong tập 4 Sommambula » — « Ah ! Perche non Possoodiarti ?» Đây là lời bằng Anh ngữ : «Tôi vẫn yêu em».
 
Giọng ca trầm ấm của Philip không có gì lạ với Maggie - nó vẫn thường vang lên bên tai nàng trên những lối mòn, trên những hố cỏ xanh và dưới rặng trần vì trong Thung Lũng Đỏ. Nhưng hình như lời ca có chứa đựng cái gì tương tự như một lời trách móc. Philip có ý gì trách nàng không?
Buổi ca nhạc chấm dứt khi bà Tulliver vào mời các cô cậu dùng bữa.
Lúc mọi người dã đông đủ phòng ăn, ông Deane nói với Philip:
-      Lâu quá mới gặp lại cậu. Chắc ba cậu không có ở nhà hả?
Hôm qua tôi có tới văn phòng tìm ông ấy, nhưng họ nói là đã rời thành phố.
-     Ba cháu đi Mudport có việc. Nhưng cũng sắp về tới rồi.
-     Ông ấy vẫn thích nông trại như xưa chứ?
 
Philip hơi ngạc nhiên trước sự chú ý đặc biệt của ông Dean về cha chàng.
-     Dạ, cháu tin như vậy.
Ba cậu chắc có khá nhiều đất ở hai bên bờ sông này?    
-     Dạ phải.
Ông Dean tiếp tục dọ dẫm :
-      À. Chắc ba cậu phải thấy trồng trọt là môt chuyện khó chớ không phải chơi, lại tốn kém nữa. Tôi thì chẳng co thú tiêu khiển nào hết. Có nhiều người lai tưởng rằng trò tiêu khiển của họ có thể ló ra tiền được!
 
Lucy sốt ruột khi thấy cha mình bình phẩm về chuyện tiêu xài của ông Wakem. Nhưng câu chuyện giữa hai người đã ngưng ở đó và ông Dean có vẻ trầm ngâm, nghĩ ngợi trong suốt bữa ăn! Đã quen với tính cha, Lucy chú ý ngay tới sự kiện này.                   
Sau bữa ăn, khi còn ngồi lại trong phòng một mình với cha, Lucy hỏi :
-    Ba không ngủ trưa sao?         
-    Chưa. Con còn muốn nói gì đây. Muốn xin them tiền cho hội chợ hả?
-    Dạ không, bữa nay con không xin ba gì cả. Con chỉ muốn hỏi ba một chuyện thôi. Con muốn biết tại sao ba lại hỏi Philip về chuyện trang trại của ba anh ấy ? Con thấy lạ vì chưa bao giờ con nghe ba hỏi han gì về ông Wakem với anh Philip cả. Vã lại, tại sao ba lại chú ý tới chuyện ông Wakem hao phí tiền bạc trong thú tiêu khiển riêng.
Ông Dean xua tay :
-     Chuyện làm ăn mà, con không biết đâu.
-    Nhưng ba vẫn thường nói với con là Philip chẳng biết gì về thương mãi cả, thì lại sao ba lại dò hỏi anh ấy ? Con thấy rõ là Philip cũng ngạc nhiên lắm.
Ông Dean đành phải nói :
-      Có gì đâu ! Ba nghe tin là nông trại và nhà máy xay nằm bên kia sông — nhà máy Dorocoite của dượng Tuiliver con ngày xưa đó - đang bắt đầu thất thu. Ba muốn biết xem Philip có hay gì về chuyện ba anh ta muốn nhường nhà máy lại không. _
-      Ủa, vậy ba định mua lại nhà máy đó à ? Ba nói rõ cho con nghe đi - nếu không con không trả hộp thuốc này lại cho ba đâu. Chị Maggie nói là anh Tom đã quyết chí lấy lại nhà máy. Trước khi chết, ba anh ấy dặn phải làm sao dành lại nhà máy cho...
-      Thôi đủ rồi congái. Con không được nói lại cho ai nghe chuyện này - nghe rõ chưa ? Tom ít hy vọng trong việc lấy lại nhà máy Dorcote. Ông Wakem mà biết gia đình Tulliver muốn lấy lại nhà máy là hỏng bét. Trận đòn bằng roi ngựa không dễ quên đâu con.
Lucy nghiêm trang hơn:
-   Này ba, ba có tin con không ? Con có chuyện này muốn nói với ba - con nghĩ kỹ rồi.
-    Cứ nói, ba nghe đây.
-   Con muốn đề nghị kéo Philip Wakem về phe chúng la - ba cho con nói hết ý định mua lại nhà máy của anh chị con và tại sao họ lại muốn mua, con tin là Philip sẽ sẵn sàng giúp đỡ về chuyện đó.
Ông Dean bối rối :
-   Tại sao con có thể tin chắc như vậy được? Con không nghĩ rằng cậu trai đáng thương đó có cảm tình với con mà sẳn sàng theo ý muốn của con đó chớ ?
-   Thưa ba không, Philip không mấy chú ý tới con - phần con đối với anh ấy cũng vậy. Nhưng con có lý do để quả quyết với ba là Philip sẵn sàng giúp đỡ chúng con về chuyện đó. Ba đừng hỏi tại sao, chỉ cho phép con hành dộng là đủ rồi.
 
Lucy lại ngồi ôm chân cha; ông Dean âu yếm nhìn
con:
-    Con tin chắc là không lầm lẫn chớ ?
-   Thưa ba, con hứa chắc như vậy. Con hấp thụ gần hết những đức tính thương mại của ba mà. Ba muốn xem sổ sách của con không?
-   Được, được, nếu Philip chịu giúp thì chuyện lấy lại nhà máy sẽ bớt khó khăn hơn. Nói thật, dùng bất cứ phương cách nào cũng phải gặp khó khăn. Thôi, ba đi ngủ nghen.
 
 
 
 
 
 
 
Chương 41 
 
KHÔNG ĐẦY BA NGÀY SAU KHI TRÌNH BÀY KẾ hoạch với cha, Lucy đã hội kiến riêng cùng Philip trong khi Maggie viếng thăm dì Glegg. Trọn một ngày và cả đêm hôm đó, đầu óc Philip cứ rối bời lên về những điều mà Lucy đã nói với chàng, mãi cho tới lúc tìm ra quyết định. Chàng cảm nhận rằng nếu mọi việc đều suông sẽ như dự tính thì địa vị của chàng trước mắt Maggie sẽ cao hơn trước, và ít ra là một chướng ngại to tát giữa hai người cũng sẽ bị xóa lấp đi. Chàng hoạch thảo chương trình hành động và tính toán từng nước bước với nhiệt tâm của một kẻ chơi cờ trong những ngày sổt sắng đầu tiên, và bỗng ngạc nhiên khám phá ra rằng chính mình cũng là một chiến thuật gia hữu hạng. Thật vậy, kế hoạch của chàng tuy táo bạo nhưng đã được cân nhắc kỹ càng. Sau một lúc dò xét và thấy cha mình chẳng còn gì bận bịu ngoài tờ báo trên tay, Philip đi tới phía sau và đặt một bàn tay lên vai cha:
-   Thưa cha, nếu có rãnh, mời cha sang viếng phòng vẽ của con để xem qua mấy bức họa mới phác. Con đã sắp loại xong rồi
Wakem dịu dàng nhìn con và đặt tờ báo xuống:
-     Gân cốt của cha muốn rả hết ra vì cứ mãi lên xuống phòng con. Nhưng con đã muốn thì cha cũng chiều con vậy.
 
Lần nào cũng vậy, vừa lên tới phòng vẽ của con là ông Wakem cũng nói câu mở đâu không đổi khác :
-      Chỗ này rất tốt cho con, phải không Philip ? Ánh sáng từ trần nhà hắt xuống được lắm.
 
Sở dĩ ông nói thế là cố ý nhắc với chính mình và đứa con trai nhớ mãi rằng chính lòng bao dung của người cha đã tạo ra điều đó. Về phương diện làm cha, ông là người toàn hảo. Dầu có sống lại Emily cũng không có gì để trách móc ông trong bổn phận này.
-    À, cái gì đây ?
Ông vừa nói vừa đeo kính lên, rồi ngồi xuống nhìn quanh:
-    Đúng là một cuộc triển lãm tranh trứ danh. Theo nhận xét của cha thì mấy bức tranh của con cũng không thua sút gì cái anh chàng họa sĩ ởLuân Đôn... tên là gì kìa... mà Leyburn đã tốn rất nhiều tiền.
 
Philip mỉm cười và lắc đầu, chàng ngồi trên chiếc ghế dùng trong khi vẽ, lấy viết chì nhịp mạnh để che dấu sự hồi hộp của mình. Chàng nhìn theo người cha đã đứng lên, từ từ tới quan sát từng họa phẩm. Tuy rằng tài nghệ của chàng trong phần họa cũng chẳng lấy gì xuất sắc khiến ông phải say mê, nhưng ông cũng đã dừng lại quan sát lâu hơn thường lệ. Tới một cái giá có hai bức chân dung - một lớn và một nhỏ - bức nhỏ được lồng vào khuôn da, ông dừng sững lại :
-    Ủa, cái gì đây ? Vậy mà cha nghĩ là con chỉ chuyên chú vẻ cảnh thôi và đã bỏ vẻ chân dung rồi. Hai người này là ai vậy ?
Philip trả lời, giọng bình tĩnh :
-   Thưa, hai người đó chỉ là một nhưng ở hai lứa tuổi khác nhau.
-    Nhưng là ai mới đưọc?
Wakem hơi xẳng giọng trong khi nhìn đăm đăm vào bức họa.
-   Thưa đó là cô Tulliver. Bức nhỏ là khuôn mặt của cô ấy khi tới thăm người anh đang cùng học với con ở King's Larton; bức lớn chỉ hao hao giống với cô ấy khi con vừa ở ngoại quốc về.
 
Wakem quay phắt lại, mặt đỏ bừng, cặp kính sút rơi ra. Ông trừng mắt nhìn Philip một lúc khá lâu, dường như đang cố dằn cơn giận khiến ông muốn tát vào mặt cái đứa nhu nhược đang ngồi trên ghế đó. Nhưng rồi ông lại buông mình lên chiếc ghế bành, thọc hai tay vào túi quần, mắt vẫn nhìn con như tóe lửa. Philip cuối mặt, chăm chú nhìn mũi viết.
 
-      Như vậy là từ khi ở ngoại quốc về, con có gặp gỡ cô ta?    
Ông gằn giọng như muốn biến từng lời, từng chữ thành một hình phạt đối với con, vì ông không thể đánh.
-    Thưa, con có gặp cô ấy nhiều lần luôn một năm trước khi cha cô ta từ trần. Chúng con thường gặp nhau trong... Thung Lũng Đỏ, gần nhà máy xay Dorcote. Con rất yêu cô ấy, trọn đời con sẽ không yêu một phụ nữ nào khác nữa. Con đã nghĩ tới cô ấy từ khi cô ấy hãy còn bé.
-    Mời cậu tiếp tục... và có phải suốt thời gian đó, hai người thư từ qua lại với nhau, phải không ?
-    Dạ không. Con không hề nói là con đã yêu cô ấy, tới khi biết là đã hết còn cơ hội gặp nhau. Phần cô ấy cũng đã hứa với người anh là sẽ không gặp lại con hay thơ từ gì cả. Con không dám chắc là cô ấy có yêu, có chấp nhận làm vợ con không. Nhưng con... sẽ thành hôn... nếu cô ấy thương con thật sự.
-    Làm như vậy là con đền đáp công ơn của ba, phải không?
 
Mặt ông Wakem trắng bệt người run bần bật, quá tức vì sự bất lực của mình trước cậu con. Philip quá bình tĩnh trong khi đặt vấn đề.
 
Lần đầu tiên từ nảy giờ, Philip nhìn cha:
-   Thưa cha, không bao giờ con như vậy đưọc. Cha đã đối xử quá tốt, quá bao dung đối với con, mà là do con nghĩ rằng lúc nào cha cũng luôn luôn mong mõi cho con có được nhiều hạnh phúc đổi sự bất hạnh của cơ thể con. Đồng thời con cũng thấy rằng đó không phải là một món nợ mà cha bắt con phải trả bằng cách hy sinh những cơ hội có thể tạo hạnh phúc cho con, hầu làm thỏa mãn những cảm nghĩ của cha trong khi con không thể nào chia sẽ được những những cảm nghĩ đó.
Wakem chua chát:
-      Theo tôi, thì hầu hết con trai phải chia xẻ cảm nghĩ của cha chúng, nhứt là trong trường hợp nầy. Cha của đứa con gái mà cậu yêu là một tên dốt nát thô bạo. điên cuồng, đã có lần suýt giết chết tôi. Cả thành phố đều biết chuyện đó. Còn anh nó thì lại hỗn xược, kiêu căng trong cái lối lạnh lùng. Cậu nói thằng đó cấm em nó gặp cậu, phải không? Rồi nó sẽ cho cậu một trận nhừ xương nếu cậu không cẩn thận. Nhưng dường như cậu đã quyết định xong rồi cậu cũng đã đo lường hậu quả rồi, tôi chắc vậy. Dĩ nhiên là cậu sẽ không còn lệ thuộc vào tôi : cậu có thể cưới con nhỏ đó ngày mai, nếu muốn. Hai mươi lăm tuổi rồi... cậu cứ đi con đường của cậu, và tôi, con đường của tôi. Mình không còn gì để nói với nhau.
 
Wakem đứng lên, đi ra cửa, nhưng có một cái gì khiến ông dừng chân lại rồi bắt đầu đi tới, đi lui. Philip không nói ngay, nhưng đến lúc trả lời, giọng chàng nghe gọn gẫy và bình thản hơn bao giờ hết:
-   Thưa không. Con không thể thành hôn với cô Tulliver dầu cô ấy thuận tình, khi mà con chưa đủ sức để bảo bọc cho đời sống cả hai. Con đã được nuôi dạy theo cách thức chẳng biết được nghề gì để mưu sinh. Con không thể chỉ đem tới cho vợ mình sự nghèo túng cũng như thân hình tàn tật của mình.
-   À, thì ra đó là lý do khiến cậu bám vào tôi, có phải không?
 
Wakem vẫn giữ giọng chua chát, mặc dù những lời sau cùng của Philip đã làm ông cảm động: đó là nỗi ám ảnh của ông đã kéo dài tới một phần tư thế kỷ rồi. ông lại buông mình xuống ghế.
 
Philip phân trần:
-   Con đã đoán trước sẽ có chuyện nầy. Con cũng đã từng chứng kiến những cảnh như vậy giữa cha con. Nếu con cũng giống như số người cùng trang lứa, con sẽ gay gắt lại với cha - lúc đó là chẳng còn gì nữa - con có thể kết hôn với người con yêu, và biết đâu lại không có dịp sống trong sung sướng như bọn họ. Nhưng nếu quả đúng là cha muốn được thỏa mãn bằng cách hủy diệt tất cả mọi thứ mà cha đã cho con thì cha cũng có lợi thế hơn bao nhiêu người cha khác, bởi vì ngay bây giờ, cha vẫn có thể bắt con từ giã cái vật có thể làm cho đời sống con đáng sống hơn.
 
Philip ngưng nói, nhưng cha chàng vẫn lặng thinh.
-   Theo con nghĩ thì cha sẽ ung dung tự toại biết chừng nào nếu đừng nuôi mãi mối thù kỳ dị đó.
Wakem nhồm dậy thét lớn:
-   Mối thù kỳ dị hả? Cậu muốn nói gì? Bị một đứa thô bạo đánh bằng roi ngựa mà vẫn phải quý mến nó hay sao ? Đã vậy cái thằng con trai ăn mày mà làm cao của nó dám hổn với tôi trong cái hôm dàn xếp đó, làm sao tôi quên được? Nó mà bị bắn chết cũng còn chưa đủ.
 
Đối với thái độ của Tom hôm đó, Philip không khỏi có cảm tình một vài phần. Chàng lái câu chuvện sang điểm chánh :
-    Con không nói tới chuyện ba thù hận họ, mặc dù mối thù đó không đáng giữ lâu. Con chỉ muốn nói là sao ba lại đi thù nghịch một thiếu nữ đáng thương, biết nhận xét tinh tường nên không hề chia xẻ những cảm nghĩ của cha và anh. Mọi cuộc bàn cải trong gia đình, cô ấy đều không tham dự.
-   Như vậy là nghĩa gì ? Có ai hỏi người con gái ấy làm gì ? Người ta chỉ hỏi cô ta thuộc gia đình nào. Chỉ nội một ý nghĩ muốn cưới con gái nhà Tulliver thôi cũng đủ làm cho cậu tồi tệ quá mức rồi.
 
Lần đầu tiên từ lúc đối thoại với cha, Philip mất bình tĩnh, mặt đỏ bừng vì giận:
-   Cha nói sao ? Cô Tulliver cũng là người có đủ tư cách của bất cứ người nào trong giới trung lưu. Cô ấy hoàn toàn tinh tế, và bạn bè của cô ấy, bất cứ ai, cũng được kính trọng về tính tình ngay thật. Con dám chắc là cả thành phố St. Ogg‘s nầy đều cho rằng cô ấy xứng đáng hơn con.
 
Wakem trừng mắt như muốn đợi một lời giải thích, nhưng Philip không nhìn cha mà vẫn tiếp tục nói như muốn gây thành một tiếng vang lớn cho những lời sau chót của mình:
-   Cha thử tìm coi cả thành phố này có người nào dám bảo rằng một người xinh đẹp dường ấy lại đáng vất bỏ đi như con không?
 
 Wakem lại đứng lên, quên hết mọi bực dọc, thù hằn. Ông nói với giọng nửa của kẻ làm cha, nửa như nói với mình:
-   Không, nếu được thành hôn với cậu là cả một sự quý báu cho cô ta. Có chồng giàu sang thì cái tật nguyền ngẫu nhiên của chồng có gì đáng kể?
-   Nhưng một cô gái chỉ biết có tiền thì làm sao xứng đáng?
Wakem lại hơi xẳng giọng:
-      Hừ, nếu nó không để ý tới cậu thì tội gì cậu lại phải nói nhiều về nó với tôi, làm cho tôi phải bực mình.
-       
Nói xong, ông đi thẳng ra và đóng sầm cửa lại.
 
Không phải là Philip không dự đoán được cơn giận tức của cha mình như mọi việc mới xẩy ra, tuy với bộ não hệ bén nhạy như phụ nữ, chàng bực dọc vô cùng. Chàng quyết định không xuống dùng bữa tối và cũng không muốn lại đối diện với cha. Thói quen của ông Wakem là khi nào có người ở lại nhà, ông lại đi ra ngoài vào khoảng bẩy giờ rưởi tối. Lúc đó chỉ mới xế chiều. Philip khóa cửa phòng lại, dự định sẽ đi thật lâu, cho tới khi cha chàng rời nhà mới trở về. Chàng lên một chiếc thuyền, đi tới một làng quen thuộc, dùng bữa ở đó và nán lại chờ tối để trở về nhà.
Từ nhỏ tới lớn, chàng chưa bao giờ cải vã với cha nên bây giờ chợt thấy sợ là tình trạng rắc rối mới vừa xảy ra đó có thể kéo dài luôn nhiều tuần lễ - và những gì có thể xảy ra trong thời gian đó? Chàng không dám nghĩ tiếp về câu hỏi vô tình đó. Nhưng nếu chàng đã nắm chắc được tình yêu của Maggie thì chẳng có gì phải đáng sợ nữa cả.
 
Về tới nhà, Philip mệt mỏi đi thẳng lên phòng vẽ, và ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, hững hờ nhìn cảnh sắc sóng nước với núi đồi được bày quanh phòng cho tới khi mí mắt nặng trỉu xuống. Trong cơn mơ màng, chàng thấy Maggie đang chuối tuột xuống một khe suối xanh rì trong khi mình đứng đó, nhìn theo và bất lực... Một tiếng động mạnh khiến chàng mở mắt ra.
 
Cánh cửa đã mở bật, chàng biết là mình đang chợp mắt chỉ vài phút vì ánh hoàng hôn vẫn còn lững lơ ở bên ngoài. Ông Wakem bước vào, Philip vừa đứng lên để nhường ghế thì ông ngăn lại :
-       Cứ ngồi, cha thích đi tới đi lui.
 
Ông đếm bước qua lại trong phòng vài lần rồi ông dừng lại trước Philip, hai tay cho vào túi áo. Ông nói, dường như câu chuyện chưa bị cắt đứt lần nào?
-      Có lẽ con bé cũng thương con, phải không Philip ? Nếu không thì nó đâu có lén lút gặp con?
Tim Philip đập rộn ràng, một thoáng ửng đỏ hiện lờ mờ trên mặt. Chàng phải cố gắng lắm mới nói ra lời :
-      Lúc còn quá nhỏ, gặp ở King‘s Lorton, cô ấy đã mến con, bởi vì con thường có mặt bên giường của Tom lúc anh ấy bị thương. Cô ấy vẫn không quên chuyện đó, và coi con như một người anh.
-   Được rồi, nhưng tới chừng con nói hẵn ra thì cô ta nói sao?
-    Cô ấy nói là có yêu con.
-   Phải coi chừng, đừng lầm lẫn, biết đâu cô ta lại không quên lời đó mất rồi.
Philip ngập ngừng :
-      Lúc ấy, Maggie hãy còn quá trẻ. Có thể là cô ấy cũng không nhận rõ được cảm nghĩ của chính mình. Có thể là sau một thời gian xa cách quá lâu, lại nghĩ rằng sẽ chẳng hàn gắn lại được những đồ vỡ, cô ấy đã đổi khác rồi.
-   Nhưng cô ta cũng ở đây, cha thường gặp ở nhà thờ. Từ ngày trở về tới nay, con có dịp nào nói chuyên với cô ta chưa?
- Thưa có, tại nhà ông Dean. Nhưng con không thể nhắc lại những lời đề nghị lúc trước. Một chướng ngại lớn lao sẽ bị xóa mất đi nếu cha thuận ý... nếu cha bằng lòng coi cô như con dâu.
 
Wakem dừng lại trước chân dung của Maggie, trầm ngâm một lúc trước khi nói:
-    Cô ta không phải mẫu người như mẹ con. Cha thấy cô ta ở nhà thờ, đẹp nhiều hơn bức họa nầy, mắt thật xinh, nhưng hơi nguy hiểm và bất trị, phải không ?
-    Theo con nhận xét thì cô ấy rất dịu dàng và khả ái, lại quen sống giản dị, không làm dáng hay mưu mô vặt như bao phụ nữ khác.
-    Vậy à ?
Wakem buộc miệng kêu lên rồi nhìn thẳng vào Philip:
-   Nhưng mẹ con thì dịu dàng hơn nhiều, cũng mắt xám và tóc dợn sóng y hệt con vậy. Chắc con không còn nhớ rõ hình ảnh của mẹ con. Rất tiếc là mẹ con qua đời quá sớm. Ba nhớ vô cùng.
-   Như vậy, thưa cha, cha có vui lòng cho con hưởng cái hạnh phúc đó cũng như cha không ? Nếu được thế thì đời con sẽ bớt đi nhiều phiền muộn. Hai mươi tám năm trước, chắc chẳng bao giờ có một sợi dây nào ràng buộc chặt chẽ hơn giữa cha với mẹ, và sau đó lại càng khắn khít hơn.
-    Philip, con là người hiểu rõ cha hơn ai hết.
Ông đưa bàn tay về phía con, nói tiếp :
-   Mình phải luôn luôn sống bên nhau... À, bây giờ, con muốn cha phải làm gì đây ? Cứ xuống nhà dưới nói hết cha biết. Cha có cần phải tới thăm cô gái đó không?
 
Chiếc rào cản một khi đã triệt hạ rồi, Philip đã có thể tự do nói hết sự giao thiệp của mình với người nhà Tulliver, về ý định của họ trong việc mua lại đất dai và nhà máy ... và về việc chuyển nhượng tất cả bất động sản đó cho Guest và công ty như là một bước trung gian. Càng nói, Philip càng hăng hái, và cha chàng đã chấp nhận mọi ý kiến một cách mau lẹ, vượt ra khỏi ức đoán của chàng...
Sau cùng, ông Wakem nói với giọng pha lẫn chút bất bình:
-   Cha có cần gì tới nhà máy đâu ? Cha đã bù đầu với nó rồi. Cứ bảo họ trả thêm phụ khoản những gì cha đã cho cải tiến là xong. Nhưng có một điều mà con đừng nên đòi hỏi ở cha. Cha không thương lượng trực tiếp với cậu con nhà Tulliver đâu. Nếu con quý mến hắn chỉ vì yêu em hắn, thì đó chỉ là chuyện của con, chớ ba thì nhứt định không.
 
Không cần nói, ai cũng tưởng tượng được là Philip đã hân hoan đến mức độ nào khi đến nhà ông Deane vào ngày hôm sau, để cho biết là cha chàng đã sẵn sàng mở cuộc thương lượng, và ai cũng có thể biết được rằng Lucy hãnh diện biết bao khi khoe với cha về khả năng doanh nghiệp của nàng. Riêng phần ông Deane thì đang băn khoăn và nghi ngờ bọn trẻ đã toa rập với nhau, và ông muốn tìm cho ra đầu mối. Tuy nhiên, với một người thuộc hạng ông Deane thì tất cả những gì diễn ra trong giới trẻ đều chẳng liên hệ tới công cuộc làm ăn thật sự, cũng giống như đời sống của loài bướm, loài chim — miễn là những gì đó không có tính cách tác hại tới tiền bạc. Và rõ ràng là trong trường hợp nầy âm mưu của bọn trẻ chẳng những không gây phiền phức gì, lại còn hoàn toàn có lợi cho ông.
 
 
 
 
 
 
Chương 42
 
 
NGÀY SÁNG CHÓI TỘT ĐỈNH TRONC CUỘC ĐỜI của Maggie giữa xã hội St Ogg’s chắc chắn phải là ngày mà nàng phụ trách một chân bán hàng tại hội chợ Từ Thiện. Với một vẻ đẹp đơn sơ quý phái trong y phục bằng soa trắng — có thể đã đuợc lấy ra từ tủ áo của dì Glegg — bóng dáng nàng đã làm lu mờ tất cả những phụ nữ, dầu họ chưng diện rực rỡ hay tầm thường, ở chung quanh - Có lẽ không một người nào trong chúng ta sớm nhận ra rằng cái cung cách xã hội mà mình đang sống đã không được tự nhiên, cho mãi mới tới một ngày chúng ta bắt gặp được một người tuyệt đẹp nhưng giản dị. Thật ra, nếu không có được cái vẻ đẹp đó thì sự giản dị không thôi cũng chẳng có gì đáng nói.
 
Các cô dòng họ Guest đều là con nhà gia giáo nên chẳng hề có một cử chỉ hay thái độ nào quá đáng để khiến họ trở thành lố bịch, nhưng gian hàng của họ lại ở sát sau gian hàng của Maggie, và có lẽ vì thế mà hôm đó cô Guest đã ngước càm quá cao trong khi cô Laura nói luôn mồm và đi tới đi lui không ngớt để cố vớt lại phần nào chú ý của khách hàng.
 
Tất cả dân cư ăn mặc sang trọng nhất của thành nhố St Ogg's và các vùng lân cận đều có mặt; vả lại, dầu có phải trải qua một đoạn đường dài cũng không phải là chuyện phí công khi muốn tới nơi ngắm nhìn tòa Thị sảnh cổ kính với những cánh cửa xếp lạ mắt và ánh sáng tuôn đổ từ trên cao xuống những cảnh vật đầy màu sắc, đầy huy hoàng bên dưới. Đúng là một nơi cổ kính với những đường sọc sơn trên tường đã phai mờ, và đầu kia là những con vật biểu trưng cho các nhà quý tộc của một thời rực rỡ xa xưa. Một vòm cửa to lớn hình bán nguyệt được mở ra từ một bức tường, nơi có bục gỗ bằng cây sồi dành cho dàn nhạc, và phía sau là một gian phòng rộng, chưng bày rải rác nhiều cây kiễng xen kẻ với những chiếc ghế sẵn sàng chờ đón khách vào giải khát: quả là một nơi lý tưởng của nam giới khi cần nghĩ ngơi giây lát để thay đổi cái không khí ồn ào náo nhiệt quanh các gian hàng. Một ngôi nhà cổ được biến cải cho thích hợp nhịp sống tân thời đã giúp cho công cuộc từ thiện trở thành một hình thái sang trọng uy nghi, khiến chẳng một ai vào đó lại không nhắc tới đôi lần.
 
Sát bên vòm cung to lớn che phủ giàn nhạc là một bệ cửa sổ bằng đá sơn màu, một trong những tương phản sùng kính nhất của ngôi nhà xưa cũ. Nằm bên cạnh bệ cửa sổ cổ thời này là gian hàng của Lucy với những món đồ giản dị. Maggie được yêu cầu ngồi ở đầu gian hàng để phụ trách bán những vật dụng nầy thay vì những tấm thảm nạm cườm hay các thứ quý giá khác mà nàng chỉ biết chúng một cách lờ mờ... Tuy nhiên, chưa đầy bao lâu, những món đồ tầm thường ở quầy hàng, chẳng hạn như
áo thụng đàn ông dùng mặc trong nhà, lại biến thành những vật được hầu hết khách hàng chú ý và tới hỏi mua - người bàn tán về chất vải, kẻ so sánh về giá trị hoặc mặc thử vào - tất cả khiến cho gian hàng của nàng trở thành nơi náo nhiệt nỗi bật hẵn lên. Thế là các cô, các bà ở những gian hàng có những vật quý giá nhận ra ngay cái tầm phào của đàn ông: chẳng biết phân biệt gì về giá trị của món hàng, cứ đi mua sắm những thứ mà bất cứ anh chàng thủy thủ nào cũng mua được dễ dàng. Và có lẽ chính cái làn sóng người bị cuốn hút về phía gian hàng của Maggie làm cho mọi người nhận rõ ra rằng đó là nhờ ở hạnh kiểm của nàng.
 
Thật ra, chẳng ai lại đi hờn dổi về sự thua sút sắc đẹp trong một ngày từ thiện, nhưng họ cũng cảm thấy có một chút gì khó chịu gợn lên. Địa vị quá nỗi bật của Maggie, ngay trong lần xuất hiện đầu tiên giữa đám đông, đã nói lên một điều mà từ lâu mọi người muốn biết. Trong ánh mắt của nàng rõ ràng là có một chút gì dạn dĩ, cũng như vẽ đẹp của nàng phảng phất phần nào dữ dội. Đó là ý kiến của các cô.
 
Riêng về phần Lucy, với sự thành công qua nghĩa cử giúp cho hai bên mở cửa điều đình về nhà máy xay, với tất cả những dự tính mến thương dành cho Philip và Maggie khiến nàng hân hoan sảng khoái hơn bao giờ hết, nên nàng chẳng để tâm tới sắc đẹp hấp dẫn của Maggie. Stephen đã đặc biệt chú ý tới nàng, rõ ràng là Lucy đã duyên dáng hơn tất cả mọi ngày.
 
 Stephen đã tranh mua cho kỳ được những gi nàng cho là quý giá, lại phụ họa với nàng chiêu đãi khách đàn ông để mời họ mua những món đồ vô bổ nhứt gần như là chỉ dành cho nữ giới. Stephen đã bỏ một bên cái nón đội hàng ngày mà lại chụp lên đầu một chiếc mũ kiểu Thổ Mhĩ Kỳ màu đỏ sậm do Lucy bán; tuy nhiên, theo nhận xét của một số người thì đó không phải là dấu hiệu chàng muốn tỏ rõ tình ý với Lucy mà chỉ là muốn làm ra cao ngạo.
 
Anh chàng Torry nói :
-   Thằng Guest quả là một đứa công tử bột, nhưng ở St Ogg‘s này thì có ai hơn nó được, nó muốn gì là được nấy. Nếu người khác mà làm vậy, người ta lại bảo là đồ điên.
 
Lúc nhận thấy Stephen chẳng mua một món gì ở quầy của Maggie, Lucy nói khẽ như hờn dỗi:
-   Coi kìa, Maggie sắp bán hết cả rồi, anh lại mua một món đi. Có một vài món làm ấm cổ tay... lại mua đi.
-   Không đâu. Những thứ đó chỉ dành cho những kẻ giàu tưởng tượng thôi, sống giữa thời tiết ấm áp này mà họ cứ tưởng như đang ở vùng băng giá Caucase Bất cứ làm gì, anh cũng phải có lý lẽ vững chắc trước đã. Em nên tìm Philip mời mua. Ủa, sao không thấy anh chàng đâu cả.
-    Anh ấy không thích tới chỗ đông người mặc dầu em đã cố mời. Anh ấy nói, bất cứ món gì của gian hàng em mà bị người ta chê là anh ấy muốn mua hết cả Nhưng mà... anh lại mua một món gì chỗ Maggie đi chớ.
-   Không, không... cô ta lại có khách... à, chính ông Wakem.
 
Lucy vội quay đầu lại với ánh mắt nửa lo âu nửa vui mừng, không biết Maggie sẽ đối xử ra sao với một người mà nàng không biết nên thương hay ghét. Nhưng rồi Lucy đả yên tâm ngay khi nhận thấy Waxem đã khéo léo mở lời bắt chuyện ngay về những món hàng từ thiện, và tỏ ra chú ý tới việc mua một ít, thỉnh thoảng lại còn cười hòa dịu với Maggie. Ông cũng không làm cho Magggie phải nói nhiều vì đã nhận ra da mặt nàng tái xanh và người hơi run rẩy.
 
Stephen nói khẽ với Lucy:
-   Lạ chưa, ông Wakem mà lại tỏ ra niềm nở với chị họ của em ! Có phải là do lòng trắc ẩn không ? Em có nói chuyện hai gia đình xích mích với nhau mà.
-    Ồ , rồi đâu cũng vào đó, chẳng có gì quan trọng đâu.
 
      Quá hài lòng nên Lucy không mấy cẩn trọng trong lời tiết lộ với vẻ gần như nhấn mạnh. Nhưng dường như Stephen chẳng mấy chú tâm đến vấn đề đó, và trong khi có một vài khách hàng phụ nữ đang đi tới, anh chàng lặng lẽ bước lần về phía quầy hàng của Maggie, tay mò mẫm một vài món rẻ tiền, và đứng cách xa một khoảng đợi ông Wakem trả tiền xong.
 
Anh chàng nghe ông Wakem nói :
-       Con tôi cũng tới đây nhưng chẳng biết cậu ta biến mất chỗ nào, vậy là tôi phải lãnh lấy phần hãnh diện này. Theo tôi thì cô nên trách cậu ta về cái thói hư không bỏ được đó.
 
Maggie chỉ cười và cúi đầu chào, chẳng biết nói gì Ông Wakem vừa quay đi thì nàng cũng vừa nhìn thấy Stephen, và gật đầu chào. Lúc đếm tiền, nàng cố kéo dài thời gian vì biết Stephen còn đứng đó. Nàng cố tránh ngước mắt lên. Từ nãy tới giờ, nàng đã hết sức hân-hoan khi thấy Stephen bám dính Lucy và không tới chỗ nàng. Buổi sáng, cả hai đã gặp nhau và chỉ chào qua hờ hững, mỗi người đều mừng thầm là đã dễ dàng coi nhau như xa cách, cũng giống như một con bịnh bỗng nhiên lành mạnh lại hoàn toàn mà khỏi phải dùng tới một thứ thuốc tê nào cả cho những vết thương nhức buốt dịu tan đi. Vậy mà trong những ngày cuối cùng vừa qua, họ đã cho rằng chẳng có thứ thuốc gì chữa nỗi cơn đau đó, chỉ mong những biến cố bên ngoài xảy tới để chia cách họ ra, hầu cho chính họ khỏi phải bận tâm tự chinh phục lấy.
 
Stephen di chuyển chậm chạp từng bước một, dường như đang bị một bàn tay vô hình nào kéo lôi đi ngoài ý muốn của mình. Cuối cùng, anh chàng cũng đã lần mò tới một chỗ khuất cạnh Maggie trong khi nàng vẫn tiếp tục đếm tiền cho tới khi giựt mình vì một giọng nói dịu dàng nho nhỏ chợt lọt vào tai :
- Em có mệt lắm không ? Có cần anh đem trái cây hay nước ngọt tới không ?
 
Những âm tiết bất ngờ khiến nàng run bần bật như một sợi dây đàn bị búng mạnh sát bên tai.
—  Ồ, không. Cám ơn.
Nàng chỉ hơi ngẩng đầu lên và nói nhỏ như gió thoảng.
Giọng Stephen càng tha thiết :
-   Mặt em đã tái xanh rồi. Chắc chắn là mệt mỏi lắm. Để anh lấy thức giải khát.
-    Không, tôi không uống nổi đâu.
-    Bộ giận anh sao? Anh có làm gì đâu ? Ngẩng mặt lên đi.
-    Chúa ơi, xin anh đi chỗ khác.
 
Vừa nói, Maggie vừa bối rối nhìn lên, ánh mắt chuyền mau từ chỗ Stephen tới góc phòng đối diện, nơi có dàn nhạc và đang bị che khuất một nửa bởi các nếp xếp của một tấm màn xanh cũ kỹ. Stephen vội vàng nhìn theo hướng mắt của Maggie. Philip đang ngồi đó, nơi có thể vừa không lộ diện quá rõ ràng lại vừa nhìn thẳng được tới chỗ Maggie ngồi.
 
Một ý nghĩ mới mẻ vội vã thành hình trong óc Stephen. Qua thái độ ân cần của ông Wakem với Maggie và câu trả lời của Lucy về việc «đâu vào đó» giữa hai nhà, Stephen hiểu ngay rằng giữa Maggie và Philip đã có những giao tiếp vượt ra ngoài khuôn khổ của tuổi thơ mà chàng từng nghe nói tới. Tự nhiên, như bị đầy bắn đi bởi một xung lực nào đó, Stephen bước mau về phía Philip, ngồi xuống ở ghế sau, một tay đặt lên vai Philip :
-      Đang tìm nét để họa chân dung hay muốn vẽ bệ cửa sổ bằng đá kia, Philip ? Thánh Georges ơi ! Ơ cái hốc tối này thì quan sát tiện lợi biết chừng nào!
 
Philip cộc lốc :
-    Chỉ nghiên cứu sắc diện thôi.
-    Sao ? Của cô Tulliver hả ? Tuyệt dịu ! Trông như một nàng công chúa từ trên cao rơi xuống ngồi ở quầy hàng. Em họ của cô ấy bảo tôi tới mang cho cô ấy một ít thức giải lao, nhưng tôi lại bị người ta cự tuyệt như thường lệ. Chắc chúng tôi sinh ra để thù nghịch nhau. Rất ít khi tôi có dịp được phục vụ cô ấy.
Philip bừng giận :
-    Đừng đạo đức giả !
-   Cái gì ! Có phải tại con người tôi dễ làm vui lòng tất cả không ? Điều đó cũng đúng, nhưng ở đây lại có một động lực phá rối mạnh hơn.
Philip đứng phắt lên :
-    Vậy thì tôi đi.
-   Tôi đi với... để thở được thoải mái hơn, ở đây ngột ngạt quá.
 
Hai ngươi cùng đi xuống thang lầu, chẳng ai nói với ai.
 
Philip đi thẳng ra sân trong khi Stephen dừng lại, nói vói theo:
-    Tạm biệt nghe ! Tôi phải vào trong này.
 
Và anh chàng đi dài theo hành lang, tới một trong các phòng cuối dãy ngôi nhà, dùng làm thư viện cho thành phố. Cả phòng đều trống rỗng và chẳng có gì thích hợp hơn với một người đang mang tâm sự nặng nề. Stephen ném mũ lên bàn, ngồi vắt vẻo trên một chiếc ghế và nhìn sững vào bức tường màu gạch với ánh mắt rực cháy như đang sắp sửa giết chết Python (l).Tâm tính thoát nguồn từ cuộc chiến ở nội tâm thường thường đều giống như tật xấu, mọi nhận định đều vực ra ngoài lý lẽ mà chỉ dựa trên hành động. Như vậy, hiển nhiên Stephen không phải anh chàng đạo đức giả - có đủ mưu mô để nhị hóa con người mình hầu đạt tới những gì mà lòng ích kỷ kêu gào tuy nhiên, những diễn biến giữa giòng hào hiệp và sự che giấu cảm tình có tính toán chính là lý do hộ trợ cho lời tố giác của Philip.
 
Trong khi đó, Maggie vẫn ngồi yên một chỗ, buốt lạnh và run rẩy, với tất cả đau xót cứ muốn làm cho nước mắt trào ra. Phải chăng, kiếp sống cứ mãi thế này đây ? - cứ luôn luôn mang tới những đầu mối mới cho trận chiến nội tâm? Quanh nàng, những tiếng cười, giọng nói đều hoàn toàn vô tư[sub];[/sub] nàng ước mong đầu óc mình cũng sẽ được mở nguồn để hòa nhập vào dòng suối dễ dãi kia.
 
Chính ngay lúc đó, bác sĩ Kenn - người tới trể nhứt - đang đi giữa đại sảnh với hai tay chắp phía sau lưng, chợt nhìn sửng vào Maggie và nhận ra ngay những nét đau xót hiện rõ trên khuôn mặt mỹ miều. Nàng ngồi gần như bất động, bởi vì lúc đó khách hàng đã bắt đầu thưa thớt, và quày hàng của nàng hoàn toàn trống vắng. Dáng vẻ thần thờ và đau khổ của nàng đã là một tương phản rõ rệt nhứt đối những đồng bạn đang vui cười, liến thoắng chung quanh.
 
Bác sĩ Kenn dừng sửng lại. Khuôn mặt kiều diễm có phần khác lạ của Maggie đã từng làm cho ông chú ý lúc ở nhà thờ, và sau đó, được giới thiệu trong một dịp tới nhà ông Deane để bàn chuyện làm ăn, nhưng ông chưa hề nói với nàng hơn vài tiếng chào hỏi thông thường. Bây giờ, ông đi thẳng tới, và Maggie thấy có bóng người đi lại vội vàng đứng lên. Tự nhiên nàng cảm thấy nhẹ người với cảm giác khi nhận ra bác sĩ Kenn đang nhìn mình: một khuôn mặt bình thường, đứng tuổi, nửa trang nghiêm nửa ân cần. Đó là khuôn mặt của một người đứng vững giữa dòng đời, nhưng vẫn tìm kiếm những kẻ bất hạnh dang bị sóng đời xô đẩy để cứu giúp. Hình ảnh đó khiến Maggie xúc động và ghi nhớ mãi về sau coi như một lời hứa hẹn của cứu rỗi.
 
Những người trọng tuổi, đã sống qua những cơn xúc động mãnh liệt nhứt trong đời nhưng ký ức vẫn chưa bị nhòa tan để đi tới chỗ trầm tư mặc tưỏng thường có thể giữ vai trò của một nhà truyền giáo, tự coi mình như một nơi trú ẩn và tế độ cho những kẻ quá sớm làm nạn nhân của tuyệt vọng. Phần đông chúng ta, vào một thời kỳ nào trong tuổi hoa niên, cũng mong ước được tiếp đón một nhà tu hành thuộc hạng đó, dầu có đạo hay ngoại đạo, để vượt thoát qua bao nhiêu chướng ngại cũng như Maggie đang ở vào năm mười chín.
 
Bác sĩ Kenn dịu dàng :
-      Công việc chắc nặng nhọc lắm, phải không cô Tulliver ?
-    Thưa, trái lại là khác.
 
Maggie chỉ nói có thế vì không quen nói ngược lại những sự kiện hiển nhiên.
 
Chút nữa đây, tôi sẽ cho bà Kenn biết là cô bán hàng chạy mau hơn ai hết, và bà ấy sẽ phải cám ơn cô.
-      Ồ, cháu có làm gì đâu, khách hàng tới tấp nập mua áo thụng và áo chẽn thêu, chỉ có vậy thôi. Cháu nghĩ là chắc mấy cô kia còn bán được nhiều hơn cháu.
Bác sĩ Kenn mỉm cười:
-   Chắc tôi phải mời cô tới tham dự luôn vào các buổi hội hè chung trong thị xã, cô có hứa không? Lâu nay cô cứ sống xa cách với chúng tôi.
- Thưa, cháu bận dạy học tại một trường, và sắp sửa phải đi dạy ở một nơi khác.
- Vậy à ! Tôi vẫn mong cô ở lại với bạn bè của cô, họ ở cả gần đây mà.
-    Thưa... cháu phải đi.
 
Maggie nói gần như nhứt quyết và nhìn bác sĩ Kenn với ánh mắt đầy tín nhiệm, như vừa kể xong tâm sự của mình trong ba tiếng đó. Đó là một trong những lúc bất ngờ mà người ta nói thật cả lòng mình, dầu chỉ là trong một cuộc gặp gỡ nhứt thời -hoặc trên một quãng đường ngắn ngủi - và đôi khi vào một dịp nghỉ chân nơi bóng mát ven đường. Lúc nào cũng vậy, ta vẫn có thể bất chợt tin tưởng ở một lời nói hay một ánh mắt của người xa lạ để cảm thấy thấm thìa mối tình người.
 
Chính tai và mắt của bác sĩ Kenn đã mang đầy đủ dấu hiệu của tình người đó nên Maggie đã không một chút ngần ngại nói với ông.
-       Tôi đã hiểu. Cô nghĩ rằng một khi đã đi là mọi việc đều tốt đẹp. Nhưng tôi vẫn hy vọng là chúng ta sẽ còn gặp nhau, tôi sẽ cố hiểu rõ cô hơn và sẵn sàng giúp cô bất cứ việc gì.
 
Ông đưa tay và dịu dàng siết lấy bàn tay nàng trước khi quay đi với ý nghĩ:
«Tội nghiệp. Con bé đang mang tâm bịnh. Trông chẳng khác gì một trong những hồng nhan bạc mệnh. Trong đôi mắt xinh đẹp đó, có một cái gì chân thật đến lạ kỳ».
Kể cũng đáng ngạc nhiên là Maggie - mặc dầu không mấy vẹn toàn về tài đức nhưng vẫn luôn bồng bột như ngày còn bé đòi làm nữ hoàng của đoàn du mục - lại chẳng thấy phấn khởi gì giữa lúc bao nhiêu cái nhìn và nụ cười ở chung quanh đều dâng hiến cho nàng. Đứng trước đài gương lớn của Lucky, với toàn thân hiện rõ ra, nàng cũng cảm nhận được mình rất đẹp. Nàng mỉm cười với bóng mình trong gương và bỗng quên đi mọi việc.
 
Nếu tình trạng tâm tưởng đó kéo dài, chắc hẳn là nàng sẽ lựa chọn Stephen Guest, khiến chàng ta phải quì dưới chân mình, dâng trọn cuộc sống ngưỡng mộ nàng và sẵn sàng tuân theo từng lịnh một.
 
Thế nhưng, có nhiều thứ còn mạnh hơn cả lòng cao ngạo - sự say mê tình cảm và một chuỗi dài kỷ niệm đã in sâu, cùng tình yêu và lòng thương cảm. Chính vì thế mà lòng cao ngạo chẳng mấy lúc đã bị dòng suối đó cuốn hút đi tất cả sức mạnh tột đỉnh của nó, giữa những biến diễn trước mắt và những xao xuyến nội tâm dồn dập suốt tuần qua.
 
Philip đã chẳng nói gì với nàng về việc đã tháo gỡ xong một chướng ngại giữa hai người - chàng không muốn tự mình nói ra điều đó với Maggie. Nhưng chàng đã thuật lại tất cả với Lucy, với hy vọng là sau khi đã được Lucy nói rõ hết ra, Maggie sẽ biểu tỏ một dấu hiệu nào đó có thể đưa chàng và nàng đến gần nhau hơn trong mục đích tạo hạnh phúc cho nàng. Cuộc chiến nội tâm sẽ nỗ bùng ác liệt khiến Maggie gần như lặng người đi, khi Lucy, mặt mày sáng rở như một thiên thần, kể lại một hơi dài câu chuyện đã xảy ra lại còn cho biết là mình hết sức ngạc nhiên và sung sướng đến gần bật khóc vì nghĩ rằng giấc mộng của thân phụ Maggie sẽ hoàn thành trong nay mai, Lucy cũng sẽ không quên bảo là công khó của Tom cũng sắp được đền bù, bởi vì vấn đề mua lại nhà máy xay chẳng còn bao xa nữa. Nhưng bao nhiêu việc liên quan tới hội chợ từ thiện đã khiến nàng quá bận rộn luôn trong mấy ngày qua, thành thử nàng chưa có dịp nào cho Maggie hay Philip cũng đã tới nhà một đôi lần nhưng Maggie không có dịp nào nói chuyện riêng nên cứ tiếp tục tự chiến đấu một cách cô đơn với lòng mình.
 
Mãi cho tới lúc hội chợ bế mạc và hai chị em lại trở về nhà, Lucy mới nói :
-   Chị nên hủy bỏ dự tính tới nhà cô Moss đi. Viết cho cô là chị không đi được vì em yêu cầu chị ở lại, em sẽ cho người mang thơ đi. Chắc cô Moss không buồn đâu, thỉnh thoảng chị lại tới thăm cũng được mà. Thật tình em không muốn chị đi đâu cả.
-   Phải đi chớ, cưng. Không bỏ được đâu. Vã lại còn quá ít thời giờ tới 25 tháng Sáu này là chị phải tới nhận nhiệm vụ mới rồi.
-    Maggie !
 
Lucy kêu lên, mặt tái nhợt vì ngạc nhiên.
Maggie phải cố gắng lắm mới nói nổi :
-   Chị chưa nói với em chuyện đó vì em quá bận. Cách nay ít lâu, chị có viết thư cho cô Firnish, người dạy mình lúc nhỏ, để nhờ cô ấy tìm cho một chỗ làm vừa với khả năng. Hôm rồi, cô Firnish trả lời, cho biết là chị có thể tới để dạy ba đứa học trò mồ côi của cô trong thời gian chúng nghỉ hè ở miên biển. Đi cũng là dịp để xem chị có đủ khả năng làm giáo viên thực thụ không. Hôm qua, chị đã viết trả lời ưng thuận điều kiện đó rồi.
Lucy im lặng một lúc lâu rồi nói giọng oán trách:
-      Maggie, tại sao lại ác với em như vậy... không nói gì với em... mà thản nhiên đi kiếm việc làm... rồi bây giờ...
 
Nàng dừng lại một lúc rồi ngập ngừng :
-      … Còn Philip nữa ? Em cứ tưởng là mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp. Ô. Maggie... tại sao ? Cứ bỏ chỗ đó đi. Để em viết thơ xin lỗi cho. Tới lúc này, chị và anh Philip sẽ không còn rời nhau được nữa.
 
Giọng Maggie nghe như tiếng thở dài:
-      Không đâu em ! Còn anh Tom nữa, nếu chị thành hôn với Philip, anh ấy sẽ nghĩ là chị đã dứt tình ruột thịt rồi. Chị biết rõ lắm, không ai có thể lay chuyển anh Tom được.,, dầu có được cũng phải khá lâu... trừ phi có một chuyện gì xảy ra khiến anh ấy mềm lòng.
-      Em nói với anh Torn, anh ấy sẽ trở về nội tuần này. Hơn nữa, chuyện được mua lại nhà máy xay chắc chắn sẽ làm anh ấy xiêu lòng. Em cũng sẽ nói nhiều về lòng tốt của Philip, thế nào anh Tom cũng nghe em, anh ấy luôn luôn chiều em.
Maggie thiểu não:
-      Dầu sao chị cũng phải đi. Cần phải để thời gian trôi qua một ít lâu. Đừng bắt buộc chị phải ở lại, Lucy.
 
Lucy lặng thinh luôn nhiều phút, quay mặt đi, đăm chiêu suy nghĩ. Thình lình, nàng quỳ thụp xuống, ôm hai gối của Maggie, mặt ngẩng lên trịnh trọng van nài:
-       Maggie, có phải chị không yêu anh Philip lắm nên chẳng muốn thành hôn với anh ấy ? Nói cho em biết đi hãy tin em.
 
Maggie siết chặt hai bàn tay của cô em họ một lúc lâu trong khi bàn tay nàng lạnh cóng. Nhưng tới lúc nói, giọng nàng lại bình tĩnh và gãy gọn :
-      Lucy, nếu phải lấy chồng, chị sẽ chọn anh Philip. Đó là điều tốt nhứt và cao quý nhứt đối với chị... tạo hạnh phúc cho anh ấy. Anh ấy yêu chị trước. Không một ai có thể để mất anh Tom vĩnh viễn. Chị phải đi xa và chỉ còn biết là chờ đợi xem sao. Em đừng nhắc lại chuyện này nữa, chị van em.
 
Lucy đành nghe theo, cuối cùng nàng nói như chẳng có gì đã xảy ra:
-      Được rồi, nhưng ít ra ngày mai chị cũng phải dự dạ vũ với em ở Park House để ngắm ánh sáng và nghe nhạc trước khi đi. A ! Tới giờ dùng trà rồi.
 
Chú thích :
(1)        Python : tên một con rắn khổng lồ bị thần Apollon giết.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.09.2015 22:21:38 bởi Ct.Ly>
Chương 43
 
HAI DÃY PHÒNG ĐỐI DIỆN NHAU TẠI PARK House đều chói chang ánh sáng và rực rỡ màu hoa, với mười sáu cặp đang khiêu vũ, dưới ánh mắt trông chừng của cha mẹ hoặc người giám hộ. Trung tâm điểm của bầu không khí huy hoàng là khách sảnh, nơi đang có cuộc khiêu vũ theo tiếng nhạc của một chiếc đại dương cầm. Kế đó là phòng sách, với ánh sáng hòa dịu hơn, nơi để nón và chương trình đêm vui. Góc đằng kia là gian phòng nghĩ chân với phòng kiếng dành để trồng hoa ở sát một bên, để cho những ai cần tới không khí mát dịu hơn.
 
Lằn đầu tiên, Lucy không mặc màu đen như thường lệ mà thay vào đó bằng một chiếc áo dài trắng đồ sộ, che lấp mất cả dáng thon mảnh của nàng. Đó là đêm mà nàng được coi như một nữ hoàng bởi vì đó là một trong số các tổ chức lễ hội có tính cách hạ mình của «cô Guest» chẳng chấp nhận bất cứ một thành phần xã hội nào cao quý hơn thành phần của St Ogg‘s, lại còn bằng lòng cho tham dự cả giới thương gia và tiểu công nghệ.
 
Lúc đầu, Maggie từ chối nhập cuộc, viện cớ là đã quên mất quá nhiều bước nhảy - kể từ ngày thôi học; và nàng rất hài lòng với lý do này bởi lẽ không ai có thể khiêu vũ nổi với một trái tim nặng trĩu. Nhưng lần lần, âm nhạc đã xâm nhập vào đôi chân non trẻ khiến nàng cảm thấy thèm được ra sàn. Lần thứ hai, anh chàng Torry lại tới mời màng đã bảo chẳng biết nhảy gì khác hơn những điệu vũ miền quê. Dầu vậy, Torry vẫn sẵn sàng chờ đợi cơ hội ngàn năm một thuở đó với lời tiếc rẻ là phải chi nàng biết điệu luân vũ thì hân hạnh biết bao.
 
Cuối cùng rồi cũng tới lượt vũ điệu xưa, tuy chẳng mấy kiêu sang nhưng lại vô cùng tươi trẻ khiến Maggie quên mất mọi ưu phiền. Điệu nhạc một nửa quê mùa đó dường như réo gọi và xóa nhoà tất cả mọi lễ nghi phiền toái. Nàng cảm thấy lâng lâng, thanh thoát trong vòng tay của Torry. Mắt nàng long lanh như rực lửa, dường như có thể cháy bùng lên nếu có ai quạt gió vào. Áo đã đen và thắt lưng cũng màu đen trông chẳng khác một pho tượng sinh động bằng huyền thạch.
 
     Stephen vẫn chưa tới mời nàng, và khi gặp nhau chỉ chào qua cho đúng phép. Từ đêm qua, chàng vẫn cứ rai rứt mãi với những ý nghĩ hỗn loạn trong đó luôn luôn có bóng hình của Philip Wakem: chắc chắn phải có một mối ràng buộc vào giữa Philip với Maggie; ít ra thì cũng có một đầu mối vương ra từ Philip, đã khiến nàng cảm thấy bị buộc ràng. Cũng từ đêm đó, Stephen tự nhủ là phải biết tự trọng để bảo toàn danh dự bằng cách cưởng chống lại sức quyến rủ của Maggie, cứ mỗi lúc mỗi đe dọa lấn áp lòng tự trọng. Đôi khi chàng tự thấy cả người gần như bị rả rời ra vì sức quyến rủ kia; có lúc chàng rùn vai như ghê tởm khi hình bóng Philip hiện ra; rồi lại muốn nhảy bổ tới, vồ lấy Maggie và tuyên bố đó là vật sở hữu của mình. Tuy thế, chàng vẫn giữ được đúng như lời tự hứa: đêm đó chàng cố tránh Maggie, gần như không hề nhìn tới, mà chỉ vui vẻ đeo theo Lucy.
 
Nhưng, hiện thời, Stephen như muốn nuốt lấy Maggie bằng mắt và muốn tống cho Torry một đạp văng xa để thay vào chỗ đó. Trong tâm trạng đó, chàng sốt ruột mong cho điệu nhạc kết thúc ngay để họ rời nhau. Ý nghĩ có thể sắp sửa được nhảy với Maggie và giữ chặt tay nàng thật lâu ở tay mình khiến Stephen rạo rực, cổ như khô cháy. Nhưng ngay cả bây giờ, dường như tay chàng và tay Maggie đang quẩn vào nhau, cho tới tận cùng điệu nhạc... dầu rằng cả hai đang xa cách.
 
Stephen vẫn bước đều theo nhịp nhạc nhưng chẳng biết, chẳng thấy, chẳng nghe gì nữa cả, mãi cho tới lúc buông rời người thiếu nữ đang nhảy với mình, mới nhận ra là điệu nhạc vừa kết thúc. Chàng ngơ ngác nhìn quanh, bắt gặp Maggie đang ngồi một mình ở cuối phòng. Không một phút ngập ngừng Stephen đi thẳng về phía đó. Lúc nhận ra, chính mình là người mà Stephen đang tìm tới, Maggie bỗng thấy hài lòng một cách lạ kỳ, không còn vướng bận một chút đau buồn nào về nỗi niềm cay đắng của lòng mình. Ánh mắt nàng vẫn long lanh và đôi má còn ửng đỏ như lúc đang nhảy với Torry; cả người nàng như tiết ra một vùng hào quang sáng bừng vui tươi và êm dịu. Nàng sẵn sàng chấp nhận buồn đau -nếu còn cảm nhận được đau buồn - và coi đó như là một phần trong cuộc sống, bởi vì cuộc sống ngay lúc đó quá rạt rào đến nỗi không còn nhận ra đâu là cảm khoái, đâu là đau khổ. Đêm nay, đêm cuối cùng này, nàng không muốn gìn giữ gì nửa cả, chỉ muốn lăn xả vào bầu không khí ấm nồng trong hiện tại, không cần nhớ tới những ý nghĩ buốt giá của dĩ vãng lẫn tương lai.
-    Lại sắp sửa có một điệu luân vũ khác.
Stephen khom người xuống nói với ánh mắt và âm
điệu trầm trầm và êm ái của những giấc mơ mùa Hạ ở rừng cây với tiếng gù gù của chim câu. Những ánh mắt và giọng nói đó đã mang lại cả một trời thi vị cho gian phòng chói chang ánh sáng và dày đặc những lời tán tỉnh nhau.
-       Lại sắp sửa có một điệu luân vũ khác, ngồi nhìn chỉ chóng mặt thêm vã lại không khí cũng đã hơi nóng bức rồi, mình có thể ra ngoài một lúc không?
 
Không đợi Maggie trả lời, Stephen nắm tay nàng, và cả hai đi sang phòng nghỉ mát. Ở đây, người ta đã cho che lại những bức hình chạm, khắc để khách khỏi vướng mắt. Nhưng vào lúc đó, chẳng có ai hiện diện. Họ đi thẳng sang phòng kiếng để trồng cây.
Maggie nói như tiếng gió rì rào:
-   Cây cối và hoa lá ở đây trông khác lạ và như không phải thật. Có lẽ tại ánh đèn. Trông chúng chẳng khác loài thảo mộc ở thiên đàng, chẳng bao giờ già cỗi hay úa héo. Mới nhìn cứ tưởng như chúng được kết bằng kim cương thạch ngọc.
 
Lúc nói, mắt nàng đang hướng về dãy Phong lữ thảo, trong khi Stephen chẳng nói gì mà chỉ nhìn nàng. Dẫu không phải là một thi hào, người ta cũng có nói được rằng thái độ im lìm tối tăm đó còn mãnh liệt hơn cả những lời hùng biện trong ánh sáng. Một cái nhìn như ma lực từ ánh mắt đắm đuối của Stephen toát ra đã khiến Maggie từ từ quay mặt lại, từ từ nhìn lên, y hệt như một đóa hoa đang chậm nở. Và họ bước đi, không hiểu là chân mình đang bước chỉ biết là mình đang mãi mê nhìn nhau, một cái nhìn bắt nguồn từ cùng tận đáy hồn. Đó cũng chính là lúc mà họ cùng nhận ra một lượt rằng, bao nhiêu ý tưởng cố tình đoạn tuyệt nhau chỉ là một sự dối lòng trắng trợn.
 
Nhưng họ đã tới cuối phòng rồi, đành phải dừng bước và quay lại. Sự đổi hướng khiến Maggie sực tĩnh: má nàng bừng đỏ, mặt quay đi, kéo tay ra khỏi bàn tay Stephen rồi đi vài bước nữa, tới mân mê các đóa hoa. Stephen đứng yên lặng, mặt tái xanh.
-    Ồ, hái cái bông hồng nầy được không?
Maggie cố nói lên một câu gì để đánh tan lời thú nhận
đang cháy bỗng trong tim.
-   Em nghĩ là em thường quá ác với loại hoa nầy. Cứ mỗi lần có tay là em cứ ngữi mãi cho đến khi chúng hết sạch cả hương vị và héo úa ra.
Stephen vẫn lặng câm, không thể ráp nối được lời lẽ thành câu, trong khi Maggie vói tay tới đóa hoa vừa nở được một phần. Ôi, còn ai có thể biết vẽ đẹp của cánh tay phụ nữ ! Làm sao có thể chối bỏ được sự thu hút dịu dàng của cái lún đồng tiền của khuỷu tay, và đường nét xinh xinh chạy dài ra tới cổ tay cùng những ngấn viền nho nhỏ cho thấy sự mềm mại của da thịt.
 
Hai ngàn năm trước cũng chính cánh tay của phụ nữ chạm vào hồn của điêu khắc khiến ông tạ tạc thành một pho tượng mỹ nhân dựng trong điện Parthenon, làm xúc động hàng bao nhiêu thế kỷ về sau dầu rằng người đẹp cầm thạch đó chẳng còn đầu. Cánh tay Maggie cũng tương tự vậy lại còn có đầy đủ phần sinh khí.
 
 Một mãnh lực xung động bất ngờ đẩy tung Stephen nhào tới, ôm chầm lấy cánh tay và hôn tràn lên đó.
 
Bỗng nhiên, Maggie vùng thoát ra và nhìn chàng với ánh mắt của một nữ thần chiến tranh đã bị thương, căm hờm và giận dữ.
Giọng nàng run :
-       Ai cho phép anh làm vậy ? Tôi có phải là một kẻ lúc nào cũng sĩ nhục được dâu ?
Rồi nàng bỏ chạy sang phòng kế cận, ngã mình lên trường kỹ vừa thở hổn hển, vừa run giận.
 
Quả là một hình phạt gớm ghiếc cho nàng, chỉ vì một chút mơ tưởng đến hạnh phúc riêng tư mà trở thành kẻ phản bội Lucy và Philip. Cái hạnh phúc nhứt thời đã bị báo trả bằng một chứng bịnh kinh khủng, chẳng khác bịnh cùi : Stephen đã đối xử với nàng quá tầm thường hơn là đối với Lucy.
 
Trong khi đó, Stephen đứng dựa lưng vào chiếc cột trong kiếng, choáng váng vì một cuộc xung đột dữ dội ở nội tâm giữa tình yêu, cơn giận và thất vọng? Thất vọng vì thái độ nông nổi của mình, và vì đã làm nàng tủi nhục.
 
Chính cái việc đã làm nàng tủi nhục là điều quan trọng hơn tất cả, chỉ còn có cách duy nhứt là xin lỗi. Bởi thế. Maggia chưa ngồi được bao lâu đã thấy Stephen rụt rè vào tới. Nhưng cơn giận của nàng vẫn chưa tan :
-       Van anh, hãy để tôi yên. Và từ nay trở đi xin đừng gặp lại tôi.
Biết là chẳng còn một hy vọng nào nữa cả, Stephen lặng lẽ quay đi. Chuyện tối cần lúc nầy là phải trở lại phòng khiêu vũ, Stephen đi vào đó. Có lẽ họ chỉ mới vắng có một khoảng thời gian thật ngắn nên bản luân vũ vẫn chưa kết thúc.
Một lúc sau, Maggie cũng đi vào. Toàn thể bản chất thiên nhiên cao ngạo của nàng đều hiển hiện ra : sự yếu đuối của tâm hồn đã đưa nàng tới chỗ bị tổn thương tự ái, tự nó đã chữa lành được vết tích đó rồi. Tất cả những ý tưởng và bao nhiêu cám dỗ trong tháng vừa qua cũng đều bị xếp lại trong xó óc, chẳng còn gì có thể mê hoặc được nàng. Nàng bước vào khách sảnh, tuy hãy còn vương màu xúc động trong đôi mắt, nhưng với một sức tự chế tột cao có vẻ như thách thức những gì toan khuấy động. Nàng từ chối mọi lời mời ra sàn nhảy nhưng niềm nở với tất cả những ai bắt chuyện. Cho tới khi trở về nhà nàng hôn lên má Lucy với tất cả chân tình cuồng nhiệt, không một chút mặc cảm phạm tội nào, không một lời hay một ánh mắt nào nói lên sự bội phản đối với cô em họ dễ mến và không bao giờ nghi kỵ.
Sáng hôm sau, Maggie không lên đường sớm như dự định. Mẹ nàng sẽ cùng đi nhưng lúc đó bà hãy còn bận sắp xếp việc nhà nên không thể rảnh tay ngay. Bởi thế, mặc dầu đã hối hã chuần bị hành trang, nàng vẫn phải ngồi chờ ở khu vườn. Lúc đó, Lucy cũng đang bận gói ghém một vài món quà để tặng cho đám trẻ ở Basset. Tiếng chuông reo ngoài cửa làm Maggie giựt mình, lo sợ. Phải chăng Lucy đã gọi Stephen đến tiễn nàng đi ?
-   Từ chỗ ngồi nầy, mình vẫn thấy được những ngọn cây tùng trên Scoth, Maggie.
Philip vừa nói vừa rụt rè nắm lấy tay nàng. Họ ngồi im lặng một lúc khá lâu nhưng ánh mắt của Maggie đã nói thật nhiều về mối tình cảm ấu thời, với một nụ cười mà Philip chưa bao giờ thấy. Chàng cảm thấy bạo dạn hơn.
Maggie tiếp nối câu nói của Philip đã bị ngắt quãng khá lâu :
-   Phải rồi, em thường ngắm chúng và mong mõi được nhìn vào những buổi chiều tà, nhưng chỉ được có một lần thôi. Đó là lần em cùng mẹ đứng ở sân nhà thờ.
-   Tôi cũng đã tới đó... tới nhiều lần. Tôi chẳng còn gì nữa cả, chỉ sống bằng kỷ niệm.
 
Ký ức bén nhạy và lòng thương hại khiến Maggie lại đặt tay mình vào bàn tay Philip. Họ đã từng sánh bước bên nhau, tay trong tay rất nhiều lần !
 
Maggie nhìn vào khoảng không :
—   Em vẫn nhớ kỹ từng nơi một, giữa lúc anh thuật lại cho em nghe bao nhiêu lạ lùng và ngộ nghĩnh mà em chưa từng nghe tới.
-     Rồi, Maggie cũng sắp đi về đó, phải không ? Chẳng bao lâu nữa là nhà máy xay lại thuộc về anh Tom.
-   Phải, nhưng em sẽ không ở đó. Em lại sắp đi xa... Lucy chưa nói gì với anh sao?
Philip rụt rè:
-   Vậy là tương lai sẽ không kết liền cùng dĩ vãng, phải không Maggie ? Phải chăng quyển sách đó đã hoàn toàn xếp lại rồi?
 
Đôi mắt màu nâu xám đã từng ngước nhìn nàng với tất cả sự tôn sùng âu yếm, bây giờ cũng ngước lên với một tia hy vọng, và Maggie đã nhìn vào đó với tất cả chân thành.
Giọng nàng thoáng buồn :
-   Không đâu, Philip, quyển sách đó sẽ mãi mãi không xếp lại. Em không muốn tương lai bị đứt lìa cùng dĩ vãng. Nhưng mối ràng buộc giữa em và anh Tom lại là sợi dây chắc chắn vô cùng. Em không thể tự ý làm một việc gì có thể đưa tới sự chia lìa vĩnh viễn với anh Tom.
-   Có phải đó là lý do khiến chúng mình phải xa cách nhau mãi mãi không ?
Phải cố gắng lắm, Philip mới dám hỏi một câu đưa tới sự trả lời dứt khoát.
-    Chỉ là lý do đó không thôi.
Maggie bình tĩnh đáp; Và nàng tin như vậy, nhưng đồng thời nàng cũng có cảm tưởng là ly rượu mừng vừa mới nâng lên đã rớt xuống vỡ tan. Tuy thế, nàng vẫn nhìn vào tương lai với một sự lựa chọn hoàn toàn bình lặng.
Luôn nhiều phút, tuy vẫn nắm tay nhau, nhưng cả hai đều chẳng nhìn nhau và cùng ngồi im lặng. Những cảnh tượng yêu đương và chia cách hiện ra trong óc Maggie còn rõ ràng hơn cảnh trí hiện thời ở chung quanh : nàng đang nhìn Philip trong Thung Lũng Đỏ.
 
Trong khi đó, Philip ghi nhận được cái cảm giác của một người hoàn toàn sung sướng: câu trả lời của Maggie hoàn toàn tha thiết và chính xác, cũng trong như một giọt nước trong. Tại sao chàng lại chẳng hoàn toàn sung sướng được ?
Lòng ganh tị chẳng bao giờ thoả mãn được với những gì thiếu mất đi sự toàn trí, bởi vì chl có sự toàn trí mới khám phá được những nếp xếp vi diệu nhứt của con tim.
 
 
 
 
 
 
 
Chương 44
 
LUÔN BỐN HÔM Ở NHÀ CÔ MOSS, MAGGIE ĐÃ đem lại cả một bầu trời trong sáng của những ngày tháng Sáu vào đôi mắt thâm quầng của người đàn bà nồng hậu đó. Cũng trong thời gian ấy, tất cả những người em cô cậu đều coi nàng như là hiện thân của một thiên thần giáng thế để dạy dỗ cho chúng từng lời nói từng cảm nghĩ.
Hôm đó, nàng cùng đứng với bà cô trên một bờ đất đắp cao, nhìn các em cho đàn gà ăn sáng. Sân nuôi hoàn toàn yên tĩnh trước giờ vắt sữa bò lúc ban chiều. Những ngôi nhà viền quanh khu sân trống trải cũng tiêu điều và ảm đạm như từ trước, nhưng bên kia tường rào cũ kỹ của khu vườn các khóm hồng đủ loại, đang bắt đầu nở rộ hoa Hè, và khu vườn xám ngắt cùng những viên gạch xưa cũ của ngôi nhà trông như đang say ngủ dưới trời trưa. Với chiếc nón trên tay, Maggie đang cười ngắm lũ gà con mới mọc lông măng, bỗng người cô hốt hoảng kêu lên :
-       Chúa ơi ! Người nào đang đi tới cỗng kia kìa!
Một người đàn ông ăn mặc sang trọng, cởi con ngựa sắc hồng đang phóng mau qua cỗng. Tim Maggie đập liên hồi, tai nàng ù đi.
Bà Moss nhìn nàng ngạc nhiên :
-    Ai vậy cháu ?
Maggie thẩn thờ :
-    Stephen Guest - bạn thân của Lucy.
Stephen đã tới gần, xuống ngựa và giỡ nón ra.
Bà Moss gọi con:
-    Willy, ra giữ ngựa cho ông khách.
Stephen dẫn ngựa tới:
-    Cám ơn bà, tôi phải đi ngay. Cô Tulliver, tôi có chuyện riêng cần nói với cô. Cô có thể ra ngoài vài phút được không ? Chúng ta vừa đi vừa nói chuyện.
Quá bối rối, không thể nói được gì. Maggie đội nón lên và bước ra phía cỗng. Stephen dẫn ngựa theo.
Hai người chẳng nói với nhau một tiếng nào cho đến khi ra tới đường mòn Basset, đột nhiên, Maggie quay lại:
-    Tôi không thể đi xa hơn được nữa. Chẳng hiểu anh nghĩ thế nào mà lại ép buộc tôi phải cùng đi với anh ?
Stephen chua chát:
-    Lẽ dĩ nhiên là cô rất khó chịu về sự có mặt của tôi. Và dĩ nhiên là sự khổ sở của tôi chẳng có nghĩa lý gì trước danh giá của một thiếu nữ. Tôi phải ở vào hoàn cảnh chẳng đặng đừng nầy cũng chỉ vì đã điên dại yêu cô. Tôi đã quên mất bản thân tôi, cô nên coi đó là một điều đáng khoan thứ, một người đàn ông yêu bằng trọn vẹn tâm hồn như tôi cũng chỉ có thể tự chủ tới một mức nào thôi.
Maggie không dám nói - không dám quay đầu lại. Bao nhiêu nghị lực vừa giúp nàng quyết định đi trở vào đã hoàn toàn tan biến. Môi nàng rung giựt, nhưng không dám nói một lời tha thứ nào đối với những thú nhận vừa rồi.
Hai người đã về gần tới cỗng, Stephen bước mau lên, ngăn chận Maggie. Nàng thiểu não nhìn xuống :
-    Anh không nên nói những điều đó - tôi không muốn nghe. Tôi biết nỗi khỗ tâm của anh, rất tiếc...
-    Bất cứ gì tôi cũng chịu được miền là Maggie không coi tôi như là một gã công tử bột hợm mình. Cô nhìn tôi xem - ngày nào tôi cũng phi ngựa hàng chục dặm để nhẹ bớt những ám ảnh về cô.
Maggie không dám nhìn, chỉ nói:
-     Tôi không hề nghĩ xấu về anh.
Stephen khẩn khoản :
-    Vậy thì hãy nhìn tôi. Đừng lánh mặt tôi nữa. Hãy cho tôi khoảnh khắc sung sướng - cho thấy là cô đã tha thứ cho tôi.
-   Được, tôi tha thứ cho anh. Nhưng bây giờ xin để tôi đi. Và xin anh hãy quay về.
 
Một giọt nước mắt nóng lăn dài xuống má nàng.
 
Giọng Stephen càng tha thiết hơn:
-    Tôi không thể rời xa cô. Nếu bị đuổi đi bây giờ tôi cũng sẽ trở lại. Xin cô cùng đi với tôi vài bước nữa thôi. Cô càng giận, tôi lại càng có hành động điên rồ rồi chẳng ra gì cả.
 
Maggie quay lại.
 
Thấy Willy Moss vẫn còn thập thò ở cỗng, Stephen
kêu :
-      Chú nhỏ, lại giữ ngựa giùm tôi.
Maggie hoảng hốt:
-     Không, không được đâu, làm vậy là cô tôi để ý
ngay.                              
Stephen ngoan cố:
-      Đừng lo, người ở đây không hiểu nỗi dân St, Ogg‘s đâu.
Và quay sang Willy, chàng tiếp :
-       Dẫn nó đi loanh quanh chừng năm phút thôi.
Hai người lại bước ra cỗng. Stephen nài nĩ:
-     Nắm tay tôi đi.
 
Mapgie có cảm tưởng như mình đang nằm mơ, nàng thẩn thờ nắm lấy cánh tay Stephen, nhưng nàng không muốn bị thua, nàng phấn đấu :
-    Không thể được - tàn nhẫn - hèn ha - hãy nghĩ tới Lucy.
Stephen siết chặt tay Maggie, giọng nồng ấm khác thường :
-      Anh đã nghĩ tới Lucy, nhưng...
Maggie cố gắng một cách tuyệt vọng :
-      Không được, tôi còn có nhiều ràng buộc khác,
Stephen hấp tấp:
-      Em đã đính ước với Philip Wanem, phải vậy không?
-      Tôi đã định kết ước cùng Philip - tôi không , muốn... người nào khác.
Hai người im lặng cho tới khi ra đến rìa cỏ đường mòn, Stephen bỗng như ngây dại:
-      Phải thản nhiên - không thể được. Maggie, nếu em yêu anh cũng như anh đã yêu em thì chúng ta sẽ gạt phăng tất cả để thuộc về nhau. Phải phá hủy những ràng buộc thành hình bởi lầm lẫn để tiến tới quyết định thành hôn.
Maggie rút tay lại, nghẹn ngào:
-       Không, thà tôi chết còn hơn là sa ngã.
Stephen hung hãn:
-       Vậy thì nói đi, nói đi, cứ nói là không yêu tôi - cứ nói là cô yêu người khác.
 
Chợt nghĩ tới Philip, Maggie muốn tự giải thoát bằng cách nói với Stephen là trái tim nàng đã hoàn toàn hiến dâng cho Philip. Nhưng môi nàng không bật ra được một lời nào. Im lặng.
 
Stephen lại nắm lấy tay nàng, dịu giọng:
-      Nếu em yêu anh thì không gì tốt đẹp - không gì hợp lý bằng chuyện chúng ta kết hôn. Tình yêu tới với chúng ta không cần tìm kiếm - chúng ta không thể đương cự lại.
 
Maggie im lặng.
 
Stephen cúi sát mặt nàng, cầu khẩn :
-      Hãy nói là đã yêu anh. Còn ngại ngùng gì nữa?
Hơi thở nàng phà lên mặt Stephen - môi chàng kề sát môi nàng - nhưng nàng chỉ cảm thấy lo sợ, một mối lo khủng khiếp.
Stephen tiếp tục bằng giọng sôi bỏng:
-   Dầu sao, anh vẫn chưa hứa hôn gì cả. Giả sử Lucy có quên anh mà yêu người khác, anh cũng chẳng có quyền nói gì. Chẳng có sai lầm, tội lỗi gì cả.
 
Stephen nắm tay và nhìn sâu vào mắt Maggie, chờ đợi. Nàng im lặng nhìn xuống một lúc rồi thở dài ngước lên :
-   Ôi, phải chi cuộc đời giản dị và bình thản như ở Thiên Đường - phải chi chúng ta đừng có gì ràng buộc - phải chi cuộc sống đừng đặt cho ta bổn phận trước khi tình yêu đến, lúc đó tình yêu mới hoàn toàn là của ta. Nhưng em đã thấy - và đã biết là trên đời này còn có rất nhiều thứ chúng ta cần phải chối bỏ, có một số người trong chúng ta cần phải xa lánh tình yêu. Đối với em, chuyện gì cũng rất khó khăn và đen tối, tuy nhiên có một điều mà em nhìn thấy rõ ràng nhứt là em không được, không được tạo dựng hạnh phúc cho mình bằng sự hy sinh của người khác. Yêu là tình cảm tự nhiên, nhưng sự thương xót và lòng thành thật lại cũng tự nhiên không kém. Lúc nào, những thứ đó cũng sống trong lòng em và chúng sẽ trừng phạt em nếu em chối bỏ. Em sẽ bị ám ảnh suốt đời bởi sự khổ sở chính em gây ra. Tình yêu giữa chúng ta sẽ là một liều thuốc độc. Đừng hối thúc, hãy giúp em - giúp em, vì em yêu anh.
Stephen quàng tay qua người Maggie giọng êm như hơi thở
-   Em yêu, anh sẽ làm, anh sẽ chịu đựng tất cả những gì em muốn. Nhưng - hãy ban cho anh một cái hôn - một thôi - một cái hôn trước khi giã biệt.
Một nụ hôn - rồi một cái nhìn đắm đuối cuối cùng là giọng run run của Maggie :
-      Để em về - chúng tay phải chia tay nhau ngay mới được
 
Maggie luống cuống bước đi, không một lời nào được nói thêm, Stephen đứng chết lặng nhìn theo rồi vẫy tay cho Willy đem ngựa lại.
 
Maggie bước qua cổng. Bà Moss đang đứng đợi trước mái hiên cũ kỹ, đưa nàng vào nhà.
-    Ngồi xuống nghỉ đi cháu.
Hai cô cháu cùng ngồi xuống chiếc băng cây. Trong nhà hoàn toàn yên tỉnh.
-   Cô Gritty ơi, cháu khổ quá. Phải chi chết đi lúc mới mười lăm tuổi. Ở tuổi đó, người ta chối bỏ rất dễ dàng - còn bây giờ... thật lắm khó khăn...
Cô gái đáng thương ôm cổ người cô, gục mặt khóc
vùi.
 
 
 
 
 
Chương 45
 
CUỐI TUẦN, MAGGIE RỜI NHÀ CÔ GRITTY ĐỂ ĐI Garum Firs. Tuần qua đã có nhiều biến chuyển bất ngờ nên gia đình thấy cần phải có một cuộc họp mặt tại ngôi biệt thự của bà Pullet để thảo luận về vận số của những người trong họ Tulliver vào giai đoạn mới này.
 
Lucy tới sớm đến nỗi ngay cả bà Glegg cũng phải ngạc nhiên, nàng mong được gặp Maggie để thông báo một tin tức tuyệt vời. Mới hôm qua - sau khi Tom từ New­castle trở về - anh chàng Jetsome, người ông Wakem đặt vào chức vụ quản trị nhà máy Dorlcote, trong một cơn say rượu, đã bị té ngựa rất nặng và hiện đang nằm điều trị tại St Ogg‘s; và ông Wakem đã bắn tiếng là sẽ sẵn sàng nhường lại nhà máy và các cơ sở phụ thuộc cho người khác ngay!
 
 « Tội nghiệp cho Jetsome, nhưng dường như sự bất hạnh của anh ta đã giúp cho Tom mau chóng thực hiện được ý định của mình » Lucy nghĩ tiếp và dì Tulliver sẽ được về với ngôi nhà thân yêu, cố cựu của dì, thật không còn gì vui mừng cho dì hơn nữa ! »
 
Với ý nghĩ sau cùng này, Lucy đã nẩy ra một kế hoạch dễ thương khi cùng Maggie xuống phòng khách.
 
Lucy ngồi xuống trường kỷ, mân mê tua nón của bà dì:
-   Dì Pullet, cháu nghĩ là dì nên quyết định ngay những món gì mà dì định cho anh Tom để dùng vào việc nhà khi anh ấy đã có được nhà riêng. Dì mà đã mở đầu thì thế nào dì Glegg cũng bắt chước.
Bà Pullet có vẻ tươi tỉnh một cách bất thường:
-   Khó lắm, dì nói chắc với cháu là dì Glegg chẳng làm sao theo kịp dì đâu. Dì ấy không có khiếu thẩm mỹ, dầu có tốn tiền tới mấy cũng vậy.
 
Rồi quay sang bà Tulliver, bà Pullet lắc đầu buồn bã:
-   Nhưng thật đáng buồn khi người ta phải phân tán của cải trước khi chết - Bessy, khi dì và tôi lựa mua xấp hàng hình hai viên ngọc lần đầu tiên trong đời, chúng ta đâu ai ngờ tới ngày bị mất hết cả đâu.
Đã quen tự coi mình là người bất hạnh, bà Tulliver đáp :
-    Tôi đâu có lựa, Sophy, tôi đâu muốn vậy. Đêm nào tôi cũng thao thức nhớ tới những xấp vải hiện giờ đang phân tán khắp xứ.
Ông Pullet an ủi bà Tulliver :
-    Dùng một cục kẹo the đi.
Lucy kỳ kèo :
— Ồ, dì Pullet, dì có nhiều vải vóc lắm mà. Thí dụ như dì có con gái thì thế nào dì cũng phải chia cho họ trước khi họ lấy chồng chớ.
-    Dì có nói là dì sẽ không cho. Hiện giờ Tom đáng được lo lắng và giúp đỡ. Còn xấp khăn trải bàn của dì nữa, Bessy, từ ngày tôi mua lại trong cuộc phát mại tới giờ, chúng vẫn còn nằm yên trên rương.
Cuộc họp mặt sống động hẳn lên với sự hiện diện của ông bà Glegg.
Ông Glegg vỗ lưng Maggie:
-      Hà, hà ! Đừng có cho dì dượng nghe gì về chuyện đi làm của cháu nữa nghe. Sao? Ở hội chợ cháu đã làm cho bao nhiêu người say đắm đó không phải là một công việc hay sao ?
Vợ ông cằn nhằn:
-      Ông Glegg, nhiều lúc tôi thấy ông đi quá trớn. Trong gia đình tôi chưa có người nào ăn nói suồng sả như vậy cả.
Ông Glegg nháy nhó với ông Pullet :
-      Nầy ông bạn ! Vậy chớ ngày xưa mấy bà nầy kêu mình là gì ? Thì cũng là «chàng» một cách ngọt ngào chớ còn gì nữa.
Nghe nhắc tới hai tiếng ngọt ngào, ông Pullet lại lấy thêm đường cho vào ly.
Bà Pullet chen vào :
-      Kìa Jone, chồng chị chỉ đùa cho vui, có gì đâu. Cứ để cho ổng đùa cợt khi nào còn đầy đủ tiền bạc và sức khỏe. Chị nghĩ tới ông Tilt coi, cái miệng méo xẹo một bên, có muốn cười cũng không biết làm sao.
Lucy bỗng vỗ tay, reo:
-      Kìa, Tom đã tới rồi. Anh ấy hứa với con là sẽ tới thăm Sinbad. Em sợ ảnh không giữ lời được.
 
Maggie bay vù ra hôn Tom ngoài ngưỡng cửa và nắm tay anh dẫn lại chiếc ghế cạnh mình. Tom mỉm cười với em :
-       Sao Maggie ? Cô Moss thế nào ?
Ông Glegg chìa tay ra :
-   Khoan, khoan đã cậu. Cậu cao lớn quá và dường như cậu đã gặp thời sớm hơn ngày trước nhiều. Chắc chắn là cậu sẽ thâu hồi được nhà máy trong một ngày gần đây thôi. Cậu không phải là hạng người bỏ cuộc nửa chừng.       
Bà Glegg xen vào :
 
-   Nhưng hy vọng là cháu tôi sẽ không quên công lao của gia đình bên ngoại nó. Nếu không có họ giúp đỡ chưa chắc gì nó có được ngày nay. Không bao giờ có thất bại kiện tụng lãng phí trong gia đình chúng ta, cũng không có cái chết nào mà không có gia tài để lại.
Bà Pullet tiếp :
-      Không có những cái chết bất ngờ, vì lúc nào cũng có sẵn bác sĩ kế bên. Nhưng Tom nó có màu da của dòng họ Dodson chúng ta, tôi đã nói vậy từ đầu mà. Không biết chị tính sao, chớ riêng tôi thì tôi định cho nó một trong ba cái khăn nổi nhứt của tôi, ngoài những tấm vải trải giường khác. Tôi sẽ không nói thêm những gì tôi sẽ làm, nhưng chắc chắn tôi sẽ làm, và nếu lỡ ngày mai nầy tôi chết đi, thì ông Pullet, ông phải nhớ cho tôi - ông cứ lầm lẫn chìa khóa này với chìa khóa kia hoài, ông chẳng bao giờ nhớ rằng trong cái ngăn thứ ba của ngăn tủ áo trái, đằng sau chòng áo ngủ là chiếc chìa khóa của cái tủ kéo trong phòng xanh và trong cái tủ đó có chìa khóa cửa cái tủ xanh nằm trong vách tường. Thuốc men của tôi thì ông nhớ rất giỏi, còn chìa khóa của tôi thì ông cứ lộn hoài.
Bà Glegg nói với giọng ghê tởm :
-   Thôi, quá đủ rồi, Sophy - cứ hết tủ rồi lại khóa ! Chị chẳng có được cái nếp của gia đình chút nào. Về vải vóc thì tôi sẽ tính tới những thứ thật hữu dụng để làm quà cho cháu tôi. Tôi chẳng bao giờ ưa nỗi màu trắng, chẳng có gì tốt bằng vải Hòa lan. Hy vọng rằng khi nằm nghỉ trên đó, cháu tôi sẽ nhớ tới dì nó.
 
Tom tự chủ là sẽ không bao giờ để cho tâm trí bận rộn về các ân đức của dì. Tuy nhiên, chàng ngỏ lời cám ơn dì Glegg.
Sau bữa tiệc, Tom lãnh nhiệm vụ đưa mẹ và Lucy về. Riêng Maggie thì theo ông bà Glegg về nhà họ và ở lại đó chơi vài ngày trước khi đi.
 
Lucy đă có chủ ý khi mời Tom đến thăm Sinbd. Nàng nói với bà Tulliver lúc lên xe :
-      Dì ngồi đằng kia đi, cháu ngồi bên cạnh anh Tom cho. Cháu có chuyện quan trọng cần bàn với anh ấy.
 
Vì nóng lòng muốn giúp Maggie, Lucy xét thấy không thể đình hoãn lại cuộc luận đàm với Tom. Nàng nghĩ rằng trước nỗi vui mừng về triển vọng sớm lấy lại nhà máy, người anh họ của nàng sẽ mềm dẽo và dễ dãi hơn. Bởi thế, nàng đã vô cùng đau đớn và thất vọng khi thấy Tom đổi sắc mặt khi được nghe kể lại chuvện làm cách nào Philip đã thuyết phục được ông Wakem bằng lòng bán lại nhà máy Dorlcote.
 
Tuy nhiên, Lucy vẫn chưa chịu thua, nàng cố hết sức lay chuyển lòng dạ sắt đá của Tom, cố làm cho Tom có thiện cảm với Philip bằng cách chứng minh rằng ông Wakem đã sẵn sàng nhận Maggie làm con dâu với tất cả những nghi lễ xứng đáng. Nhưng tất cả đều vô hiệu, Tom - người luôn luôn vui vẻ khả ái với Lucy - hôm nay lại có thái độ khác hẳn. Chàng cho biết là rất sung sướng khi thấy tất cả ưu phiền cũ đã được xóa bỏ. Tuy nhiên, quan niệm của chàng về những người trong họ Wakem từ trước tới giờ vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, Maggie muốn làm gì thì làm - nàng đã tuyên bố là nàng chọn con đường tự lập. Nhưng về phần chàng thì đã bị ràng buộc bởi bổn phận đối với người cha quá cố, và nhứt quyết sẽ không bao giờ chấp nhận một mối liên hệ nào với gia đình Wakem.




0
Chương 46
 
KHÔNG ĐẦY MỘT TUẦN SAU, MAGGIE ĐÃ TRỞ lại St Ogg’s, nàng muốn gần gủi mẹ trong những ngày cuối cùng ở lại đây. Vừa được tin, Stephen Guest liền hủy bỏ cuộc du lịch đã dự định và hầu như ngày nào cũng có mặt tại nhà ông Deane. Dường như Stephen chẳng còn thiết gì ngoài những cơ hội được nhìn ngắm Maggie. Nàng có thể dững dưng trước ánh mắt van lơn, tha thiết đó được không ? Nghị lực của nàng mỗi ngày một yếu dần và cuối cùng, hai người đã có những cái nhìn trao đổi, họ chỉ nghĩ đến những ánh mắt ân tình đó thôi.
 
Riêng Philip Wakem thì không có mặt thường xuyên bằng Sephen, chàng chĩ thỉnh thoảng tới vào buổi chiều. Và chiều hôm đó, khi mọi người chơi ngoài sân cỏ, Lucy bỗng lên tiếng:
-   Bây giờ chị Maggie chẳng còn bận bịu về chuyện ai nữa, em đề nghị chúng ta đi chơi thuyền một bữa cho thỏa thích trước khi chị ra đi. Maggie thích đi thuyền hơn bất cứ gì hết, có phải không ?
Lucy hỏi:
-   Anh có muốn làm người chèo thuyền cho chị Maggie không? Nếu muốn anh có thể tới đây đảm trách một mái chèo với chúng tôi nếu Floss là một cái hồ, thì chúng tôi chắc chắn khỏi phải nhờ ai cả, vì chị Maggie chèo không phải tầm thường.
 
Lucy vừa nói vừa nhìn Stephen đang thơ thẩn hát nho nhỏ.
 Chàng vẫn thường ra vẻ hờ hửng mỗi khi có sự hiện diện của Philip. Stephen vừa tới ngồi bên cạnh Maggie, nàng hỏi ngay:
-   Hình như lúc sau này anh không còn thích đi chơi thuyền nữa ?
Stephen gần như cáu kỉnh:
-   Anh không ưa có quá nhiều người trên thuyền. Anh chỉ đi khi nào trên thuyền chỉ có mình em thôi.
Lucy đỏ mặt. Nàng sợ Philip tự ái. Lần đầu tiên Philip ăn nói như vậy. Philip cũng đỏ mặt, nhưng không hẳn vì tự ái mà vì nghi ngờ thái độ bất thường của Stephen có liên hệ tới Maggie. Nghe Stephen nói, nàng đứng lên bước lại hàng rào nguyệt quế nhìn xuống sông.
Philip nói mau :
-   Nếu vì có tôi mà cô Deane phải làm phiền người khác thì tôi xin từ chối.
Lucy phật ý:
-   Không, anh không được quyền từ chối. Tôi mời riêng anh vào ngày mai, khoảng mười giờ rưởi là giờ thủy triều xuống, đó là thời gian thích hợp để xuôi tới Lurkreth và đi bộ về nhà trước khi mặt trời đứng bóng.
Và quay sang Stephen :
-   Tại sao anh lại chống đối việc bốn người cùng đi một thuyền?
Đã lấy lại được bình tĩnh, Stephen có vẻ xấu hỗ trước thái độ thô lỗ của mình:
-   Anh không chống người mà anh chống con số. Nếu tôi chịu chấp nhận một người thứ tư thì người đó chắc chắn phải là anh, Philip!
Câu chuyện vừa rồi khiến Philip bắt đầu chú ý nhiều tới thái độ của Stephen và Maggie lúc mọi người trở vào phòng khách. Bà Tulliver và ông Deane đang chơi bài Philip ngồi vào dương cầm, Stephen và Lucy ngồi gần bên, còn Maggie thì ngồi riêng một chỗ gần chiếc bàn để sách báo và đồ may - nhưng không làm gì cả mà chỉ nghe nhạc một cách lơ đãng. Có Stephen không cưỡng nổi sức quyến rủ của Maggie (một điều hoàn toàn tự nhiên) và Philip cảm thấy hổ thẹn khi nghĩ mình đang xen vào cái có thể gọi là nổi khổ tâm thầm kín của bạn mình. Nhưng chàng vẫn tiếp tục dò xét.
 
Stephen bỗng rời khỏi chỗ ngồi chậm rãi bước tới bên Maggie và lật lật chồng báo với dáng điệu uể oải. Rồi chàng ngồi xuống, lưng quay về phía chiếc dương cầm, hai khuỷu tay chống lên tờ báo mở rộng trên bàn, hai bàn tay lùa vào tóc, ra vẻ đang chú ý tới những tin tức địa phương trên tờ Laceham Courier. Sự thật là Stephen đang ngồi ngắm Maggie, còn nàng thì không hề chú ý tới sự có mặt của chàng. Nàng luôn luôn giữ ý khi có mặt Philip. Nhưng bỗng nhiên, nàng nghe có tiếng gọi khe khẽ «em yêu !», hai tiếng mà nàng chỉ được nghe trước một lần trên đường làng Basset. Stephen đang gọi nàng, tiếng gọi buồn và thống thiết như tiếng kêu của côn trùng.
 
Dĩ nhiên Philip không làm sao nghe được tiếng gọi đó, nhưng chàng đã thấy Maggie ngước lên, đỏ mặt, liếc thoáng Stephen rồi quay nhìn về phía chiếc dương cầm. Hiển nhiên Maggie không nhận biết là Philip đang dò xét mình, nhưng nàng cảm thấy xấu hổ vì hành vi lén lút của mình. Nàng đứng lên, đi lại bên cạnh mẹ xem đánh bài.
Philip trở về nhà như một người mất hồn. Quả nhiên đã có một sự cảm thông ngấm ngầm nào đó giữa nàng và Stephen. Chàng cố biện giải cho Maggie nhưng vô hiệu. Suốt đó, chàng không sao ngủ được.
 
Sáng hôm sau Philip viết cho Stephen vài chữ, sai gia nhân mang đi từ sáng sớm nói rằng mình bịnh bất ngờ nên không thể đúng hẹn với cô Deane, yêu cầu Stephen chuyển lời cáo lỗi và thay thế chổ mình.
 
Trong khi đó, Lucy rất hài lòng trước kế hoạch tuyệt hảo của mình. Lucy chợt nhớ rằng cha nàng mười giờ sáng nay sẽ đi Liudum có việc: Lindum là nơi mà nàng cần đến mua sắm và, món đồ thật quan trọng, và dì Tulliver cũng cần đi bởi vì dì cũng cầm mua vài món lặt vặt.
 
Rời khỏi phòng điểm tâm lên lầu Lucy nói với Maggie:
-   Chị cũng sẽ được đi chơi thuyền như thường. Mười giờ rưởi Philip sẽ tới đây và hai người sẽ có một sáng thơ mộng với nhau. Chị đừng sợ anh Tom, không vâng lời anh ấy có chút đó có sao đâu.
Maggie không phản đối. Nàng còn thấy thích thú trước kế hoạch của Lucy là khác. Có lẽ mưu tính của Lucy sẽ đem lại cho nàng sự quân bình của tâm hồn, có lẽ nàng sẽ khôi phục được ý chí khi lại được ở bên cạnh Philip, Nàng sửa soạn xong xuôi và ngồi chờ trong phòng khách lúc mười giờ rưởi.
 
Có tiếng chuông cửa khua vang, và Maggie tưởng tới vẻ mặt ngạt nhiên của Philip khi thấy nàng ngồi chờ một mình, thì nghe tiếng chân vững chãi bước trên hành lang chắc chắn không phải là tiếng chân của Philip: cửa mở ra và, Stephen Gueut vào.
Maggie đứng phắt dậy rồi lại ngồi xuống, tim đập. Stephen ném găng tay lên bàn rồi lại ngồi bên cạnh Maggie. Tưởng Philip sắp tới nàng gượng đứng lên, đi lại một chiếc ghế khác xa hơn.
Stephen nói nhỏ:
-    Philip không tới được, anh sẽ đi với em.
Maggie buông mình xuống ghế:
-   Ồ, không thể được. Lucy không biết trước chuyện nầy - nàng sẽ giận. Tại sao Philip không tới được?
-    Anh ấy bị bịnh thình lình nên nhờ anh đi thay.
 
Maggie run rẩy cỡi nón ra :
-      Lucy đã đi Lindum. Chúng ta không thể cùng đi...
-      Thì ở nhà vậy.
 
Maggie ngồi im lặng một lúc cho tới khi hết bàng hoàng, má nàng đã hồng hào trở lại.
-      Người coi thuyền đang chờ ở bến - anh ra nói với anh ta được không ?
Stephen gần như thì thầm :
-      Nói gì ?
Maggie không trả lời.
Stephen đứng dậy nắm tay nàng kéo lên:
-      Mình cùng đi, không còn nhiều thì giờ lắm đâu.
-       
Và hai người ra đi. Maggie mơ hồ thấy, mình được
dẫn qua vườn, đỡ xuống thuyền, ngồi vào nệm và được che dù - và không còn biết gì khác nữa. Ký ức đã bị hủy diệt.
 
Thuyền lướt thật mau nhờ sức kéo của thủy triều, chẳng mấy chốc họ đã vượt qua khu Tofton và bắt đầu vào giữa những cánh đồng bao la chan hòa ánh nắng. Tiếng mái chèo khua nhịp nhàng, thỉnh thoảng có tiếng chim hót vang vọng bên tai, hai người không nói với nhau một lời nào.
 
Thuyền đã trôi qua Luckret, nơi mà họ vẫn thường ghé lại để lên bờ đi bộ về nhà, nhưng Maggie vẫn không chú ý.
Cuối cùng Stephen đã gác mái chèo lên và ngồi khoanh tay, đăm đăm nhìn mặt nước. Thái độ khác thường đó làm Maggie choàng tĩnh, nàng nhìn những cánh đồng mênh mông vắng vẻ hai hên bờ sông, hoảng hốt :
-      Ồ, chúng ta đã đi quá Lucret rồi - anh muốn ghé lại ở đâu?
Stephen vẫn nhìn xuống nước, nói giọng mơ màng, kỳ lạ :
-      Phải - chúng mình đã đi quá xa rồi.
Maggie luống cuống:
-   Rồi làm sao đây? Vậy thì chúng ta sẽ về nhà trễ - rồi Lucy -  Chúa ơi !
Nàng nắm tay lại và khóc ào lên như một đứa bé: nàng chẳng nghĩ gì tới lúc gặp lại Lucy và cái nhìn ngạc nhiên nghi ngờ của cô em họ.
Stephen lăn tới ngồi bên cạnh và dịu dàng nắm lấy tay nàng, giọng dịu dàng nhưng quả quyết :
-   Maggie, chúng ta sẽ chẳng về nhà nữa - như vậy sẽ không còn ai chia cách chúng ta - cho tới khi chúng ta thành hôn.
Câu nói của Stephen làm Maggie ngừng khóc, nàng ngước nhìn lên :
-    Maggie, chuyện gì cũng tới với chúng ta một cách tự nhiên -  không cần phải tìm kiếm quanh co. Chúng la không bao giờ nghĩ rằng sẽ được ở riêng với nhau một lần nữa, vậy mà vẫn được gặp riêng nhau. Em nhìn xem thủy triều đang đưa chúng mình đi - đưa chúng mình ra khỏi những ràng buộc phản thiên nhiên đang cố gắng vây bủa. Chúng mình sẽ tới Torby, chúng mình sẽ lên bờ ở đó, tìm xe đi York rồi đi Tô Cách lan - Chúng mình sẽ không ngừng lại ở đâu cả, trước khi làm lễ thành hôn. Lúc đó, chỉ có cái chết mới chia rẽ chúng ta được. Em yêu ! Đó là một hành dộng hợp lẽ phải, là cách duy nhứt giúp chúng ta thoát khỏi những ràng buộc phiền toái. Chúng ta chẳng có tội lỗi gì cả mà là chỉ tuân theo định mạng thôi.
 
Maggie lắng nghe, nàng cố gắng tin lời Stephen, tin rằng thủy triều đã chi phối tất cả, rằng nàng nên để nước cuốn đi, đừng phấn đấu gì nữa cả. Nhưng tất cả đều vô hiệu, cuối cùng, nàng lại thấy lo lắng như cũ.
Nàng giựt tay ra, giận dữ:  
-   Buông tôi ra, anh cố tình đặt tôi vào chuyện đã rồi. Anh thừa biết rằng thuyền đã đi quá xa nhưng không nói — anh lợi dụng lòng tin của tôi.
Lời trách móc vô cùng nặng nề, Stephen ngơ ngẩn buông tay Maggie ra, trở lại chỗ cũ, ngồi khoanh tay, tuyệt vọng. Cuối cùng chàng nói :
-    Lúc vượt qua ngôi làng nằm ngoài Lucret anh mới thấy là thuyền đã đi quá xa, từ dó anh chợt có ý định đưa em đi luôn. Anh không tự bào chữa, anh biết anh có lỗi. Anh sẽ đưa em lên bờ ? Anh biết em không còn yêu anh nữa. Anh sẽ nói với Lucy là anh đã làm cho em câm hận, vì anh đã nổi điên - như vậy là em sẽ được yên thân mãi mãi. Không ai tránh em đâu, vì chính anh sẽ làm cho mọi người oán ghét.
 
Maggie phân vân, nàng có thể quay đi một cách dễ dàng hơn trước cái nhìn van lơn, thiết tha của Stephen, nhưng trước vẻ mặt tiều tụy, khổ sở của chàng thì không.
Ánh mắt nàng dịu lại, nàng chỉ là một sinh vật vô cùng yếu đuối.
Nàng trách móc, nhưng lần nầy lại là lời trách móc của một người tình :
-   Làm sao em không hiểu được nỗi khỗ tâm mà anh đang gánh chịu — em hiểu lắm...
Cánh cửa Thiên đàng mở rộng. Stephen lại tới ngồi bên cạnh Maggie, im lặng nắm lấy tay nàng. Chàng không dám nói thêm một lời, không dám cử động vì sợ sẽ làm nàng giận lại.
Cuộc đời chỉ còn tùy thuộc vào sự hài lòng của Maggie ngoài ra tất cả đều là vô nghĩa, tuyệt vọng và khổ sở - Thuyền vẫn lướt im trên sông, cả hai đều im lặng, cả hai đều lo ngại sự xúc động của họ bị chia xẻ một lần nữa - và họ dần dần nhận thấy rằng bầu trời đã vần vũ mây đen và gió đã bắt đầu thổi mạnh.
-      Coi chừng lạnh, Maggie. Để anh khoác áo thêm cho em.
Mgggie ngoan ngoãn nghe theo. Không có gì tuyệt dịu bằng lúc được biết phải làm gì, lúc mình không cần phải tự định đoạt nữa. Maggie ngồi co ro trong chiếc áo choàng, và Stephen lại cầm mái chèo lên - cần phải tới Torby trước khi trời đổ mưa. Hai người ngồi thuyền đã bốn giờ qua.
 
Stephen chợt nhận một chiếc thuyền buồm đang tiến về phía họ. Rất nhiều thuyền buồm có cả một thuyền hơi nước đi Mudport đã vượt qua họ từ lúc thủy triều xuống, nhưng khá lâu rồi, họ không thấy bóng dáng một chiếc thuyền buồm nào nữa. Nhìn chiếc thuyền buồm một lúc, Stephen bỗng nầy ra một ý nghĩ, chàng do dự nhìn Maggie một lúc rồi nói :
-       Maggie, nếu chiếc thuyền nầy đi Mudport hay một hải cảng nào khác ở miền Bắc - thì anh nghĩ rằng không còn gì tốt bằng cùng đi với họ. Em đã mệt và có lẽ trời sắp mưa - hơn nữa, đi tới Torby bằng con thuyền nhỏ nầy thật là khó khăn. Dường như đây là thuyền chở hàng, nhưng anh nghĩ là em sẽ có được những tiện nghi tối thiểu. Chúng ta sẽ mang những cniếc gối này theo. Họ sẽ sẵn sàng cho mình lên thuyền, anh có mang theo khá nhiều tiền, anh sẽ trả cho họ hậu hĩ.
 
Maggie vô cùng bối rối và lo ngại trước đề nghị mới này, nhưng nàng vẫn im lặng đằng nào cũng vậy thôi !
 
Stephen vẫy chiếc thuyền buồm một thương thuyền Hòa Lan đi Mudport. Stephen nói với viên thuyền trường người Anh :
-       Chúng tôi định đi Torby với con thuyền nhỏ nầy. Nhưng tôi ngại trời mưa và vợ tôi bắt đầu mệt và có lẽ cũng đã đói rồi. Cho chúng tôi lên thuyền ông -  đưọc chớ ? và dùng cái thuyền nầy phía sau. Tôi sẽ trả công xứng đáng.
 
Maggie, lúc nầy đã muốn ngất đi vì sợ, được đưa lên thuyền trong ánh mắt ngưỡng mộ của các thủy thủ Hòa Lan.
 
Viên thuyền trưởng có ý lo ngại Maggie không được thoải mái trong thời gian ở trên thuyền mình, vì thuyền không dự định trường hợp có khách bất ngờ - chỉ có một phòng nhỏ ở trong khoang.
 
Tuy nhiên, tất cả đều rất sạch sẽ, những chiếc gối dưới con thuyền nhỏ được đưa lên làm nệm cho Maggie ngay. Nhưng điều nàng cần thiết đầu tiên là được dìu lên boong tàu bởi Stephen, lấy lại sức. Kế đó là thức ăn và sau cùng là nghỉ ngơi trên những chiếc gối lót thuyền. Mọi chuyện chỉ có thể tính toán, giải quyết vào ngày mai.
 
 
 
 
Chương 47
 
MAGGIE ĐÃ NGỦ SAY, NHƯNG STEPHEN VẪN còn thơ thẩn trên boong, đóm lửa xì-gà vẫn còn lập lòe cho tới nửa dêm.
 
Chàng không nhìn mặt nước đen loang loáng, cũng không nhìn bầu trời đêm lấp lánh sao - chàng chỉ nghĩ tới những gì sẽ xảy ra trong tương lai gần cũng như xa - Cuối cùng mệt mỏi cũng chiến thắng được băn khoăn, chàng cuộn mình trong một tấm vải dâu nằm ngủ trên sàn thuyền, dưới chân Maggie.
 
 Maggie chợt tỉnh giấc vào lúc hừng sáng, nàng vừa nằm mơ. Trong mơ nàng thấy mình cùng Stephen ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ lênh đênh giữa biển cả trong đêm tối. Bỗng nhiên từ bóng đêm đen xuất hiện một đốm sáng. Đốm sáng càng lúc càng lớn dần và nàng nhận ra Đức Mẹ Đồng Trinh đang ngồi trên thuyền của Thánh Ogg's tiến lại gần. Nhưng bỗng nhiên Đức Mẹ biến thành Lucy còn Thánh Ogg‘s thì trở thành Philip- không, không phải Philip mà chính là anh nàng Tom chèo thuyền vượt qua một cách dững dưng, nàng nhổm người lên gọi anh, cử động đó làm cho con thuyền của nàng lật úp, nàng và Stephen chìm xuống ... Nhưng rồi nàng lại thấy mình trở lại là một cô bé đang ngồi với Tom trong phòng khách vào một buổi chiều, và Tom thì rất dịu dàng...
 
        Tiếng nước vỗ vào mạn thuyền, tiếng chân di động trên boong làm nàng tĩnh giấc. Phải mất nhiều phút, nàng mới nhận ra mình đang ở đâu vào ngay lúc đó sự thật khủng khiếp trở lại xâm chiếm nàng. Stephen đâu rồi, sao lại bỏ nàng ở đây một mình với kỷ niệm kinh hoàng - Nàng đã phạm phải một lỗi lầm không thể nào còn cứu vãn được nữa: nàng đã đem buồn tới cho người khác cho những người yêu thương và tin tưởng ở nàng. Nàng đã cắt đứt sợi dây ràng buộc của lương tâm và trách nhiệm để chạy theo tiếng gọi của đam mê. Nàng sẽ đi về đâu? Nàng sẽ đi tới đâu bây giờ ? Nàng đã tự hứa thà chết chớ không để cho phải bị cám dỗ. Bây giờ nàng đã có thể thấy được những hậu quả của nó mặc dầu hành vi vẫn chưa kết liễu. Không bao giờ nàng có thể xóa bỏ được hình ảnh Lucy và Philip đứng trước mặt mình với lòng tin tưởng và hy vọng khôn cùng của họ.
 
Ánh sáng đỏ rực của mặt trời rạng đông giúp Maggie nhận ra Stephen đang nằm ngủ trên sàn gỗ - Đã quá trễ ! Quá trễ để tránh không gây ra đau khổ - quá trễ cho tất cả mọi việc, có lẽ vậy, nhưng chưa quá trễ để thoát khỏi hành động sa ngã cuối cùng.
 
Một ngày lên. Maggie ngồi dậy với cảm tưởng là một ngày thử thách vừa bắt đầu. Mắt đẩm lệ, khăn trùm đầu. Maggie ngồi yên ngắm cảnh mặt trời lên. Stephen chợt tĩnh giấc đứng lên lại ngồi bên cạnh Maggie. Chàng lo ngại Maggie sẽ phục hồi lại được ý chí và trách cứ mình về chuyện hôm qua.
 
Nhưng Maggie không nghĩ tới chuyện đó - nàng chỉ lo sợ cho sự yếu đuối của mình. Nàng để Stephen nắm tay và mỉm cười với chàng - nàng tự nhủ không nên nói gì làm cho Stephen đau xót cho tới trước lúc chia tay.
 
Hai người dùng cà phê, đi thơ thẩn trên boong và nghe viên thuyền trưởng quả quyết là họ sẽ tới Mudport vào lúc năm giờ.         Mỗi người đều có một ưu tư riêng. Suốt buổi sáng, Stephen không ngớt bày tỏ sự áy náy của mình về sự mệt nhọc và bao nhiêu bất tiện mà Maggie phải chịu. Chàng nói bóng gió rằng khi lên bờ thì tình trạng đổi khác hơn, nàng sẽ có một cổ xe và đầy đủ những gì chàng có thể thu xếp được, Maggie cũng không ngớt trấn an Stephen rằng nàng đã ngủ rất ngon và không thấy gì bất tiện khi phải đi trên thuyền buôn - chỉ không được vui bằng khi đi thuyền trên sông Floss mà thôi. Tuy nhiên, nàng không thể nào chế ngự được sự quả quyết trong ánh mắt của mình, và Stephen càng lúc càng lo ngại rằng Magie sẽ lấy lại được chủ động. Chàng ước ao - nhưng không dám-nói với nàng về đám cưới của họ, về việc sẽ đi tới đâu và chàng sẽ thông báo cho cha biết bằng cách nào... Nhưng mỗi lần nhìn lại Maggie, Stephen lại càng thấy lo âu. Và hai người bắt đầu trầm ngâm nhiều hơn.
 
Cuối cùng Stephen lên tiếng :
-   Mudport kia rồi. Vậy là em sắp được thoải mái hơn. Trên đất liền, chúng ta sẽ giải quyết mau lẹ hơn. Khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ nữa là chúng ta sẽ có một cổ xe song mã - và như vậy thì em sẽ không còn chịu mệt nhọc nữa.
Maggie nhận thấy đã tới lúc phải nói; đã tới lúc mà không nói ra thì thật là tàn nhẫn. Nàng nói khẽ nhưng quả quyết :
-   Sẽ chẳng có «chúng ta» nữa. Chúng ta bắt buộc phải rời nhau.
Mặt Stephen bừng đỏ :
-    Không được, anh sẽ tự tử.
Đúng như chàng lo ngại - thử thách đã bắt đầu.
 
Nhưng cả hai không dám nói thêm một lời nào cho tới khi thuyền vào bến và lên đất liền. Hành khách đứng lô nhố trên bến và để chờ lên tàu đi St’ Ogg’s. Lúc Stephen nắm tay nàng hối hả đi qua, trong đám đông dường như có người bước ra muốn chào hỏi nàng. Nhưng Maggie vờ như không thấy và bước thật mau theo Stephen.
 
Người phu khuân vác đưa họ tới một lữ quán gần nhứt và chỉ đường tới bưu trạm. Stephen nhờ người đi mướn một cổ xe. Maggie không chú ý tới điều đó, nàng chỉ nói:
-   Anh bảo họ kiếm cho chúng ta một phòng để nói chuyện.
khi vào phòng, Maggie không ngồi, nàng nói giọng cương quyết :
-    Em không đi. Chúng ta phải chia tay.
Stephen khẩn khoản:
-   Maggie, em muốn giết anh sao? Tới lúc này em làm như vậy có ích gì? Mọi chuyện kể như đã xong rồi.
-   Không, chưa xong. Còn rất nhiều chuyện sẽ đưa tới xa hơn. Nhưng em ngừng lại ở đây. Anh đừng nài ép nữa. Hôm qua em không quyết định được, nhưng hôm nay thì khác.
 
Làm gì bây giờ ? Stephen không dám tới gần sợ cơn giận của nàng sẽ bùng nổ và gây thêm lắm khó khăn. Chàng đi tới đi lui trông sốt ruột.
Một lúc sau chàng đứng lại trước mặt Maggie :
-   Maggie, em nên thương hại anh một chút, nghe anh nói đây-tha thứ cho hành động của anh ngày hôm qua. Bây giờ, anh sẵn sàng tuân theo ý muốn của em- anh sẽ không làm gì trái với em. Nhưng xin em đừng làm khô héo cuộc đời của chúng ta một cách vô lý như vậy. Ngồi xuống đi em, hãy từ từ suy nghĩ lại những gì sẽ làm. Đừng đối xử với anh phủ phàng như vậy.
Stephen đã chọn những lòã van nài có hiệu quả nhứt.
 
Nhưng Maggie đã quyết định rồi. Nàng quyết định gánh chịu mọi đau khổ.
-   Không thể chần chờ được. Chúng ta phải rời nhau ngay lúc này.
-   Đừng Maggie. Em gây đau khổ cho chúng mình như vậy có ích gì? Có ai sẽ được lợi lộc gì không nếu em làm cho anh điên dại?
Maggie run giọng :
-    Không được. Anh sẽ không chịu đựng nổi. Em sẽ đưa anh tới chỗ tuyệt vọng - anh không biết mình sẽ ra sao nữa.
Maggie run rẩy ngồi xuống :
-    Em chưa thể nghĩ tới chuyện tương lai trong lúc nầy, ngay cả đối với anh cũng vậy. Anh còn nhớ rõ câu nói của em tại Basset không. Thà chết còn hơn chịu sa ngã. Chúng ta phải đoạn tuyệt với nhau ngay bây giờ ngay lúc này.
 
Stephen chậm rãi bước tới ngồi xuống bên cạnh, nắm tay Maggie, tim nàng đập mạnh và mau nhưng Maggie vẫn cương quyết:
-    Nhưng còn Lucy sẽ ra sao ? Lucy tin em - thương em - tử tế với em. Hãy nghĩ tới Lucy.
Stephen đau đớn:
-   Anh không thể nghĩ tới Lucy, anh không thể nghĩ tới gì khác ngoài em. Maggie. Em đòi hỏi những gì vượt ngoài khả năng anh. Mọi ý nghĩ của em có giúp anh được gì nếu không phải là để hành hạ anh? Em không thể làm gì tránh cho Lucy, Philip khỏi bị đau khổ được, em chỉ tự cắt đứt em ra khỏi anh và làm cho đời anh vô nghĩa thôi. Anh không chịu nổi ý nghĩ em có thể là vợ của Philip - hay của một người mà em không bao giờ yêu. Cả hai chúng ta vừa thoát khỏi một lỗi lầm tai hại.
 
Maggie bối rối đăm chiêu. Thấy thế, Stephen tiếp tục nài nỉ:
-     Maggie, nếu yêu anh, em phải thuộc về anh. Có ai thiết tha bằng anh chưa? Cuộc đời của anh hoàn toàn tùy thuộc vào tình yêu của em. Không có gì trong dĩ vảng có thể ngăn cách chúng ta kết hợp với nhau. Đây là lần đầu tiên chúng ta biết yêu với tất cả tâm hồn của chung ta.
 
    Maggie vẫn im lìm nhìn xuống. Stephen, lại thấy hy
vọng lóe sáng, chàng sắp chiến thắng. Nhưng Maggie bỗng ngẩng lên nhìn chàng với ánh mắt hối tiếc :
-   Không, em không yêu với tất cả tâm hồn. Stephen, kỷ niệm ước mơ vẫn còn sống mạnh trong em, chúng sẽ làm cho em đau khổ. Em không thể nào sống yên ổn được nếu có một bóng mây che mờ giữa em và Thượng Đế! Em đã vừa gây ra nhiều khổ lụy - em biết - nhưng em không bao giờ cố ý làm như vậy. Em không bao giờ có ý định kết hôn với anh, nếu anh chi phối được em trong lúc em yếu lòng trước tình yêu của anh thì cũng chưa hẳn anh chiếm được trọn vẹn hồn em.
 
Stephen buông tay nàng ra:
-       Maggie em không thấy rằng những gì đã xảy ra trong ngày qua đã thay đổi hẳn hoàn cảnh rồi sao ! Nguyên nhân nào đã làm cho em không thấy được điều đó. Bây giờ đã quá trể để bắt chúng ta phải làm gì, nên làm gì, tình trạng của chúng ta đã thay đổi. Chúng ta phải nhìn nhận thực trạng của chúng ta để tiếp tục tiến tới. Giả sự chúng ta đã làm lễ cưới hôm qua ? Thì cũng vậy thôi. Phản ứng của mọi người cũng sẽ chẳng có gì khác. Đằng nào thì chuyện cũng đã rồi, em có nghĩ lại thì chỉ làm khổ cho chúng mình thôi. Và em cũng nên nhớ rằng sự ràng buộc giữa anh và em lại còn mạnh mẽ hơn bất cứ một sự ràng buộc nào khác.
Maggie lại đăm chiêu, rũ rượi. Stephen quàng tay qua vai nàng, khẩn thiết :
- Em yêu, bây giờ em đã thuộc về anh ai cũng tin tưỏng như vậy cả - vài giờ nữa em sẽ chính thức thuộc về anh, và người nào có liên hệ tới chúng ta sẽ phải nhìn nhận - phải thấy rằng chúng ta chỉ hành động theo lòng mình mà thôi.
Maggie mở to mắt nhìn khuôn mặt đang kề sát mặt mình, rồi bỗng đứng lên mặt tái mét :
-    Không thể được, Stephen - đừng đòi hỏi em - đừng thúc giục em. Ta không thể bàn cãi được nữa - em hiểu - nhưng lương tâm em không cho phép. Em đã cảm nhận được tâm trạng của họ trong lúc nầy, em đã từng khổ sở, em hiểu nổi khỗ của họ. Em nghĩ tới Philip - em biết anh ấy đặt nhiều hy vọng ở em. Và Lucy - người tin tưởng em hơn bất cứ ai. Em không thể là vợ anh, em không thể dành hạnh phúc cho mình rồi ném cho họ những khổ sở dư thừa. Em không thể phiêu lưu vào một cuộc đời mới như vậy được, em phải trở về với nếp sống cũ và bám víu lấy nó, nếu không, sẽ không còn gì vững chắc dưới chân em nữa cả, em sẽ không bao giờ được yên bình.
Stephen cũng đứng lên, chụp lấy tay Maggie :
-   Maggie, em mê sảng rồi. Làm sao em có thể trở lại, nếu không làm lễ cưới với anh? Em không biết là họ sẽ nói gì về em? Em chẳng biết gì hết.
-   Nhưng họ sẽ tin em. Em sẽ nói hết cả, Lucy sẽ tin em - Lucy sẽ tha thứ cho anh, và  - Ô, mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa trong lẽ phải. Anh, Stephen phải để cho em đi !- đừng bắt em suốt đời phải sống trong hối hận.
 
Stephen bỏ tay Maggie ra và buông mình xuống ghế, bàng hoàng vì tức giận và tuyệt vọng. Chàng im lặng một lúc lâu, mắt nhìn đi chỗ khác, trong khi Maggie đứng xót xa. Cuối cùng, vẫn không thể nhìn Maggie, Stephen nói :
-   Vậy thì em cứ đi -cứ bỏ mặc anh ở đây- đừng hành hạ anh nữa -anh không còn đủ sức chịu đựng.
Maggie bất giác đưa tay ra, nhưng Stephen lùi lại:
- Đi đi !
 
Maggie bước ra khỏi phòng như người máy. Nàng không còn nghĩ gì, dự định gì được nữa. Những gì xảy ra sau đó chỉ còn mơ hồ như một giấc mộng - vài bậc thang, một đoạn đường lót đá, một cổ xe song mã sẵn sàng - rồi một con đường, một con đường nữa, một chiếc xe tứ mã đang đón khách - một ý nghĩ là cổ xe có thể đưa nàng rời khỏi đây, có lẽ là về nhà. Nàng không thể cất tiếng hỏi, chỉ biết lên xe.
 
Về nhà -nơi có anh - có mẹ nàng - có Philip – Lucy, có khung cảnh quen thuộc - nơi nương thân cho nàng. Ý nghĩ về Stephen xoáy vào tim nàng như một mũi dao nhọn bén. Nàng nghĩ ngợi miên man, nhưng dường như không hề nghĩ tới những gì phải làm khi trở về nhà. Tình thương, xót xa và hối hận đã không còn chừa một chỗ nào cho những ý nghĩ đó.
 
Cổ xe đã đưa nàng tới York (1) - càng kéo dài đường về nhà hơn, nhưng Maggie chỉ nhận ra điều nầy khi đặt chân xuống đô thị cổ kính đó vào nửa đêm. Cũng không sao, nàng có thể ngủ đêm lại đây và sáng hôm sau bắt dầu về nhà cũng được. Nàng có mang theo chiếc ví nhỏ với tất cả tiền bạc của nàng trong đó- một tờ giấy bạc và một đồng tiền vàng mà nàng đã để quên trong túi sau lúc đi mua sắm vào hôm kia.
 
Đêm đó, trên chiếc giường của ngôi lữ quán cũ kỷ, ảm đạm, Maggie cũng không ngừng nghĩ ngợi. Trong đêm tối, nàng thấy Stephen nhìn nàng với ánh mắt khẩn thiết và nét dáng xót xa. Mối tình mà nàng đã từ bỏ, bây giờ lại trở về với nàng một cách tuyệt diệu, nàng thấy mình mở rộng vòng tay đón lấy, nhưng dường như nó đã vượt ra khỏi vòng tay yếu ớt của nàng và mờ nhòa đi, chỉ còn lại một âm thanh buốt nhói Hết rồi - hết thật rồi!.
 
 
Chú thích :
(1) York : Một thành  phố của hat Yorshire, miền Bắc Anh Cát Lợi, sát bờ duyên hải miền Đông.




0
Chương 48
 
 
KHOẢNG NĂM GIỜ CHIỀU NGÀY THỨ NĂM KỂ từ khi Stephen cùng Maggie rời St Ogg‘s, Tom Tulliver đang đứng trên con đường trải sỏi trước nhà cũ của gia đình, ở nhà máy xay Dorlcote. Bây giờ Tom đã là Giám đốc nhà máy. Sau nhiều năm dài khó nhọc và kiên trì, chàng đã thực hiện một nửa ước vọng của cha chàng trước khi tạ thế.
 
    Nhưng trên mặt Tom, người ta không thấy được một nét sung sướng hay hãnh diện nào. Nón kéo sát mắt, hai hàng mày giao lại, miệng hằn nét chua chát, hai tay thọc sâu vào túi áo, chàng bắt đầu đi tới đi lui trên con đường trải sỏi.
 
Không một tin tức nào về em gái chàng kể từ khi Bob Jakin từ Mudport về đây trên chuyến tàu máy hơi nước, mọi giả thuyết là Maggie và Stephen gặp thủy nạn đều đã được xóa bỏ. Tin kế tiếp nữa sẽ là gì ? Em gái chàng đã thành hôn hay gì nữa? Riêng Tom thì quả quyết rằng Maggie sẽ không kết hôn - không chết, nhưng danh giá đã bị hoen ố rồi.
 
Lúc Tom quay ra cổng, hướng mặt vào nhà máy, một dáng người dong dõng cao, tóc đen, rất quen thuộc với chúng ta, đứng lại phía trước cổng nhìn chàng hồi hộp, lo âu. Tom là người Maggie sợ nhứt trên đời, nhưng nàng đã quyết định trở về với anh, nơi nương tựa tất yếu và đương nhiên. Maggie phải ở lại York thêm một ngày vì chứng nhức đầu dữ dội mà dường như là hậu quả của một ngày đêm thần kinh căng thẳng, vẻ mệt nhọc vẫn còn hiện rõ trên mày và trong ánh mắt, chiếc áo nhiều ngày chưa được thay làm cho nàng tiều tụy và ảm đạm thêm. Nàng nhấc cổng và chầm chậm bước vào. Tom không nghe thấy tiếng mở cổng vì đã tới gần đập nước đang sôi réo, nhưng đã tới lúc chàng phải quay lại, và ngước lên. Chàng nhìn thấy Maggie. Dáng vẻ tiều tụy của em gái càng làm chàng tin chắc vào sự phỏng đoán của mình hơn. Chàng dừng lại, mặt tái đi, người run lên, vì giận và ghê tởm.
 
Maggie cùng dừng lại - trước mặt anh khoảng xa. Nàng đã thấy rõ nét căm hận trên gương mặt anh, đã cảm thấy sự căm hận đó luồn vào huyết quản mình, nhưng nàng phải nói, nói hoàn toàn yếu ớt :
-   Tom, em trở về với anh - em về nhà - để nương tựa và để kể cho anh nghe tất cả.
Giọng Tom lạc đi và giận:
-    Cô chẳng còn liên hệ gì với tôi nữa cả - cô đã làm ô danh chúng tôi, hoen ố tên tuổi của ba. Cô đã phản bội những người thân của cô. Cô là người ti tiện, lừa dối. Không có mãnh lực nào có thể kềm hãm được cô. Tôi đã phủi tav với cô vĩnh viễn. Cô không còn liên hệ gì với tôi nữa cả.
Người mẹ cũng đã có mặt nơi ngưỡng cửa. Bà đứng bàng hoàng nhìn con gái và nghe những lời nói của con trai.
Maggie cố lấy hết can đảm :
-   Tom, có lẽ em không tội lỗi đến như anh tưởng. Em không hề muốn chạy theo tình cảm nhứt thời của mình. Em đã phấn đấu. Em đã bị người ta đưa đi trên chiếc thuyền đó quá xa. Nhưng em đã trờ lại ngay.
Qua phút sôi nỗi ban đầu, giọng Tom đã trở lại lạnh lùng :
-      Tôi không tin cô được. Cô đã lao đầu vào một chuyện ám muội với Stephen Guest - như đã từng làm trước đây với một người khác. Hắn đã tới gặp cô tại nhà cô Moss, cô đi một mình với hắn trên đường Basset. Cô nghĩ tới cô em họ của cô thì chuyện chẳng đã xảy ra. Mọi người ở Luckret đã thấy cô đi qua - cô đã đi qua nhiều chỗ khác nữa. Cô đã dùng Philip Wakem để làm bình phong để lừa gạt Lucy - người bạn thiết nhứt đời cô - Hãy tới mà xem hậu quả của cô gây ra. Lucy đau - không nói được - mà tôi không thể tới gần cô ấy vì sợ cô ấy nhớ tới cô.
 
Maggie bàng hoàng, nàng nắm chặt chiếc khăn, gắng gượng:
-   Anh Tom, em hết sức hối tiếc trước chuyện em làm. Em muốn hàn gắn lại. Em muốn được bảo vệ để khỏi bị lầm lẩn nữa.
Tom chua chát:
-    Cái gì sẽ kềm giữ được cô? Tôn giáo? Không ! Lương tâm và danh dự? Không ! Còn tên kia ? — Y đáng được cho một phát súng, nếu không ... Cô còn tôi tệ hơn hắn gấp mười lần. Cô nói là cô đã phấn đấu với đam mê của cô. Phải ! Cũng đã phấn đấu, nhưng tôi đã thắng. Tôi còn phải sống gò bó nhiều hơn cô nữa, nhưng tôi tìm được an ủi trong trách vụ của tôi. Cô có cần gì cứ cho má tôi biết - tôi sẽ cung cấp cho cô. Nhưng cô sẽ không được vào nhà tôi. Phải gánh chịu sự nhục nhã do cô gây ra cũng đủ quá rồi, tôi không còn muốn nhìn mặt cô nữa.
 
Maggie chậm chạp quay đi. Nhưng, xót tình mẫu tử, bà mẹ đáng thương lấn át đưọc mọi e dè:
-    Con gái của má. Má sẽ đi với con. Còn có má đây!
Tom lạnh lùng quay vào nhà.
Bà Tulliver thì thầm :
-      Đi vô với má, con. Tom sẽ cho con ở lại và ngủ trong phòng với má, nếu má yêu cầu, nó sẽ không từ chối đâu.
Maggie nghẹn ngào:
-    Không được má. Con không vào đâu !
-   Vậy chờ má một chút, má lấy ít đồ đạc rồi đi với con.
Khi người mẹ chàng trở ra với chiếc nón trên tay, Tom bước tới và dúi tiền vào tay bà:
-      Nhà con luôn luôn là của má. Má cần gì cứ về cho con biết, con luôn luôn chờ đợi má.
Bà Tulliver nhận tiền, quá sợ để có thể nói đưọ-c gì. Điều mà bà nhận thức rõ ràng là bà sắp đi với đứa con gái đau khổ của bà.
Maggie đứng đợi mẹ ngoài cổng. Nàng nắm tay mẹ và hai người im lặng bước đi.
 
Mãi một lúc sau, Maggie thở dài :
-      Má, mình qua nhà bác Luke. Bác sẽ cho mẹ con mình ở. Bác ấy rất tốt với con.
Luke không còn chỗ cho mình ở đâu con. Bây giờ ông ấy có đông con lắm. Má không biết phải đi đến đâu ngoài nhà mấy dì con. Nhưng má ngại...
Maggie im lặng một lúc rồi chợt nhớ ra :
-   Vậỵ mình tới nhà Bob Jakin đi. Nếu chưa ai trọ, chắc ảnh sẵn sàng cho chúng ta ở.
Và hai mẹ con hướng về St Ogg’s về ngôi nhà cũ kỹ ven sông.
 
Bob đang có mặt ở nhà, đang ở vào thời kỳ sung sướng và hãnh diện nhứt. Đứa con đầu lòng của anh ta vừa tròn hai tháng. Dường như Bob không hiểu gì lắm khi thấy cô Maggie và cậu Stephen xuống bến Mudport. Do đó, anh không hỏi gì khi mở cửa và nhìn thấy Maggie, anh chỉ dám tự hỏi là không hiểu cậu Stephen Guest hiện ở đâu ?
 
Nhà trọ vẫn trống nếu cả hai bà Jakin già trẻ đều được huy động để đem tới tiện nghi cho bà chủ và cô chủ cũ - ôi, nàng vốn là « cô chủ » hay sao? Bob Jakin vẫn có thể muốn biết đầu đuôi câu chuyện, nhưng anh ta vẫn lặng im và cũng không cho phép vợ mình hỏi han một câu nào, riêng Bob không bao giờ anh ta bước vào phòng Maggie vì sợ làm cô ta bối rối. Dưới mắt Maggie, Bob Jakin vẫn luôn luôn là con người hào hiệp như từ ngày anh ta tới với mấy cuốn sách tặng nàng.
 
Nhưng hai ngày sau, bà Tulliver phải trở lại nhà máy để lo công việc nhà cho Tom. Chính Maggie đã yêu cầu như vậy, giây phút sôi nổi đã qua, nàng không cần sự có mặt mẹ lắm, nàng muốn được cô đơn với sự phiền muộn của mình. Nhưng nàng chưa ngồi được bao lâu thì có tiếng gõ cửa.
-    Cứ vào !
Bob bước vào với đứa bé trên tay và con Mumps­ - Nếu chúng tôi làm phiền cô thì chúng tôi xin rút lui ngay.
Maggie nói khẽ :
-    Không sao.
Bob khép cửa lại và đứng trước mặt Maggie.
-   Chúng tôi vừa có một đứa con. Chúng tôi muốn cô nhìn nó một chút. Nó chưa được đặt tên. Xin cô vui lòng cho nó một cái tên.
Maggie đã bồng đứa bé trong tay Bob, trong khi con Mumps đánh hơi thật kỹ lưỡng như để xác nhận là cuộc chuyền giao này hoàn toàn hợp lý. Maggie vô cùng cảm động. Nàng biết Bob đã tìm cách nầy để bày tỏ thiện cảm và lòng kính mến của mình.
-    Ngồi xuống đi anh Bob !
Bob im lặng ngồi xuống. Anh ta thấy lưỡi mình tê cóng lại.
Sau một lúc đăm chiêu nhìn đứa bé, Maggie tiếp :
-    Anh Bob, tôi có chuyện này xin được nhờ anh.
Bob vuốt ve con Mumps.
-    Cô đừng nói vậy. Chuyện gì có thể làm được cho cô là tôi làm ngay.
-    Tôi nhờ anh tới Mục sư Kenn, nói với Mục sự là tôi đang có mặt ở đây và rất biết ơn nếu được Mục sư tới thăm.
-    Thưa cô, vợ của ông Kenn vừa chết - bà ấy sẽ được chôn vào ngày mai - bà Kenn chết hôm tôi từ Mudport về đây.
-    Ô, vậy thì chúng ta phải đợi vài ngày nữa - Khi nào nghe nói mục sư Kenn đã bắt đầu làm việc lại thì anh hãy tới.
Bob ngần ngừ một lúc rồi rụt rè:
-    Cô có vui lòng cho tôi hỏi chuyện nầy ?
Maggie ngạc nhiên :
-    Được, anh cứ hỏi - nhưng đừng hỏi về ai hết nghe.
-    Tôi muốn hỏi là có ai đã làm buồn cô không ?
Maggie ngẫng lên :
-    Không, không ai cả. Nhưng tại sao anh hỏi vậy ?
-    Ồ, vậy mà tôi tưởng cô bị ai hãm hại. Nếu có, xin cô cứ nói với tôi - gặp nó là tôi trị tội ngay.
Maggie cười buồn :
-    Bob tốt với tôi quá. Nhưng tôi không bao giờ muốn trừng phạt một ai, dù cho họ có lầm lỗi với tôi. Chính tôi cũng vẫn hay lầm lỗi.
Khi nhận lại đứa con, Bob nói với Maggie :
-    Tôi thấy cô nên làm bạn với Mumps cho vui. Nó khôn lắm và không hề làm rộn bao giờ. Nếu tôi bảo, nó sẽ nằm im ngắm cô - như ngắm cái túi hàng của tôi vậy. Cô cho phép tôi để nó lại đây với cô một chút, nó sẽ mến cô ngay.
-    Anh cứ để Mumps lại. Tôi cũng muốn có bạn lắm.
Bob chỉ một khoảng trống trước mặt Maggie :
-       Mumps, nằm đây, và không được làm rộn cô nghe.
 
-      Mumps nằm xuống ngay, chẳng một chút băn khoăn khi chủ nó bước ra.




0
Truyên đã mang vào thư viên
 
Cảm ơn Nguyễn đ Thanh đã góp sức với Ct.ly để hoàn thành cuốn sách này
 
Chúc Nguyen đ Thanh tuần mới vui vẻ nha
 
 





0