Dòng Sông Tuổi Dại - Trang 1 đến 82
BĂNG NGANG MỘT CÁNH ĐỒNG RỘNG LỚN, DÒNG sông Floss trườn mình giữa hai bờ cây cối xanh um, cuồn cuộn mang cả triều lưu xinh xắn, tâm sự cùng biển cả.
Trên mặt nước hùng vĩ đó, những chiếc tàu đen đúa - chở đầy gỗ bạch còn thơm phức, hạt dầu và than đá chiếu ngời - nối đuôi nhau xuôi về St. Ogg’s, một thành phố lớn cổ kính với những mái nhà ngói đỏ có gắn kiếng ở đầu hồi, nhô lên khoảng giữa đồi cây thấp với bến sông, khiến dòng nước biến thành màu đỏ nhẹ nhàng dưới ánh mặt trời tươi dịu của tháng hai. Hai bên thành phố trải dài những mục trường phồn thịnh cùng những cánh đồng nâu thẳm, sẵn sàng tiếp nhận hạt mầm cho mùa kế tiếp chắc chắn sẽ tươi xanh, hoặc đang phe phẩy của mùa bắp sắp tới vào tháng tám. Rải rác đây kia là những đụn rơm vàng ối còn lại của năm qua, người ta có cảm tưởng dường như những con tàu trên sông muốn vươn cột buồm nâu của chúng tới tận những cành cây nhô hẳn ra ngoài xa.
Ngay sát những thành phố lâu đời đó, con sông nhánh Ripple ồ ạt đổ vào dòng Floss. Dòng sông nho nhỏ ấy mới đẹp làm sao với những đợt sóng gợn lăn tăn. Đối với tôi, nó là một người bạn đồng hành sống động trong khi tôi lang thang thả dọc theo bờ, lắng nghe tiếng nước thì thầm êm dịu. Tôi nhớ mãi hình ảnh những cây liễu ven sông, tôi nhớ mãi cây cầu đá.
Và đây là nhà máy xay Dorlcote. Lần nào cũng thế, cứ mỗi lúc qua cầu là tôi lại dừng chân đôi ba phút để ngắm nhìn ngôi nhà máy đó, mặc dầu mây báo hiệu sắp mưa và trời đã về chiều. Ngay cả thời kỳ cây cối đều trụi là của tháng Hai sắp đi qua, nhà máy xay Dorlcote cũng vẫn còn giữ được cái dáng vẻ ưa nhìn. Có lẽ cái không khí rét và ẩm ướt trong mưa đã tăng thêm phần duyên dáng cho ngôi nhà trú ngụ, cũng già cỗi không thua gì các cây du, cây dẻ đang làm thành bức chắn ở một phía nhà để che luồng gió bấc. Thủy triều đã dâng cao tại nơi trồng liễu và tràn lên tới tận bờ khoảnh đất rào ở trước nhà.
Nhìn mặt sông căng phồng, nhìn đám cỏ mượt non cùng bụi phấn xanh trong bám vào các thân cây bên dưới những nhánh, cành nâu sậm trơ trụi lá, tôi thấy yêu sự ẩm ướt của tiết trời, tôi thèm được biến thành những con ngỗng trắng đang dìm đầu vào nước giữa những hàng cây liễu, chẳng mãy may chú ý tới cái cảnh sắc khô ráo hơn đôi chút ở bên trên.
Giòng sông chảy siết và tiếng động ầm ầm của nhà máy xay lấn át tất cả mọi âm thanh dường như tăng thêm sự an hòa của cảnh vật. Những tiếng động ầm ỉ và dầu điều đó tạo thành một bức tường âm thanh dày kín, khiến có cảm tưởng như mình đã được hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Rồi tiếng ầm vang như sấm dậy của cổ xe khổng lồ chở đầy hạt về nhà. Người lái xe ngay thật đó chẳng nghĩ gì khác hơn là bữa ăn đang chờ đợi ông ta ở bếp lò, nhưng ông ta vẫn chưa thể nào bàn được ngay vì còn phải lo cho cặp ngựa ăn – hai con vật khỏe mạnh và thuần tính – đang nhìn chủ với ánh mắt trách phiền là tại sao đã quất roi vào lưng chúng lúc đi đường, làm như chúng là loại vật hay ươn ngạnh! Cứ nhìn lúc chúng vươn vai, cố gắng vượt lên dốc cầu thì đủ biết chúng cũng nôn nóng được về mau chẳng thua gì chủ. Hãy nhìn vào những đôi chân to lớn, dầy lông của chúng cứ như muốn vồ lấy từng khoảng đất dài; hãy nhìn sức chịu đựng nhẫn nại nơi cổ chúng, những bắp thịt đùi vồng lên cũng đủ biết chúng đã nổ lực đến dường nào. Tôi vẫn thích nghe chúng hí bên máng bắp chẳng mấy gì nhiều, tôi thích nhìn vồng cổ mượt mồ hôi của chúng khi được tháo gỡ yên cương, tôi cũng thích thú vô cùng khi chúng được tự do chúi mũi vào vũng nước bùn để uống. Bây giờ, chúng đang lao xuống dốc cầu và vồng mui căng tròn của cổ xe mất hút sau một khúc quanh đầy cây cối.
Tôi lại hướng mặt về nhà máy xay, ngắm nhìn bánh xe quay tròn không ngừng nghỉ và hất tung ra từng cụm kim cương nước. Cô bé cũng đang nhìn vào đó. Từ lúc tôi dừng lại trên cầu, cô gái nhỏ vẫn đứng yên một chỗ cạnh bờ sông trong khi con chó xù lông trắng, tai nâu, nhảy dựng từng hồi, vừa nhìn vào guồng nước vừa sũa oang oang. Có lẽ nó đang ghen tị với cái bánh xe vô tình kia bởi vì người bạn đội mũ sụp của nó cứ mê mãi nhìn vào đó mà quên phứt nó đi. Đã tới giờ người bạn nó phải về nhà, tôi nghĩ thế, bởi vì có một ánh lửa ấm đang chờ, ánh lửa đang chiếu ra giữa nền trời càng lúc càng xám mịt. Cả tôi nữa, cũng đã tới lúc phải nhấc đôi tay mình ra khỏi thành cầu giá lạnh...
Tay tôi đã bị tê cóng thật sự rồi! Tôi phải tựa cả hai vào thành ghế đang ngồi quá lâu để hồi tưởng lại lúc đứng trên cầu, đối diện với nhà máy xay Dorlcote vào một chiều tháng hai nhiều năm trước. Trước khi ngủ thiếp đi, tôi xin mạn phép kể lại quý vị nghe những gì đã được bàn tới giữa ông và bà Tulliver, trong khi họ đang ngồi bên cạnh lò sưởi đỏ ngời ở cánh trái phòng khách, ngay vào chính buổi chiều mà tôi vừa tưởng nhớ lại.
ÔNG TULLIVER NÓI:
- Bà có biết tôi muốn gì không? Tôi muốn cho thằng Tom học hành thật nên người, học làm sao cho nó đủ sức nuôi sống lấy. Đó là điều mà tôi đã nghĩ tới trong khi báo cho nó biết là không còn học ở cái trường ký túc xá ở Ladyday nữa. Tôi thấy nó cần phải theo học ở một trường nào cho ra hồn ngay giữa mùa Hè này.
Hai năm học ở ký túc xá cũng đã đủ cho nó trở thành một nông gia không thua sút ai, bởi vì nó đã hiểu được chữ nghĩa khá nhiều hơn tôi. Thật ra, tôi có học được cái gì đâu, một vài chữ đọc cũng không thông. Tại vậy mà tôi muốn thằng Tom phải trở thành một nhà thông thái cũng giống như mấy người mà tôi đã biết, họ nói chuyện hết sức hay và viết mau như gió. Có được vậy, nó mới giúp tôi trong mấy vụ kiện cáo, điều đình gì đó. Tôi không muốn thằng con tôi làm luật sư... cái nghề đó bỉ ổi lắm... nó phải là một cái gì như ông kỹ sư, hoặc là thanh tra hay giám định viên, hồ giá viên gì cũng được, thí dụ như ông Riley; nếu không thì nó phải là một nhà buôn giỏi, chỉ có thâu lợi vào chớ không mất tiền ra.
Hết thảy mấy người tôi mới nói đều không ngán gì luật pháp, chắc vậy mà. Bà có thấy ông Riley không, ông nhìn... thẳng vào mặt ông thầy kiện Wakem chẳng khác gì hai con mèo nhìn nhau, không sợ một chút nào hết.
Ông chủ nhà máy xay Dorlcote đã nói như thế cùng vợ, một người đàn bà tóc hoe vàng, dáng điệu nhu mì, hòa nhã. Lúc đó, bà Tulliver đang đội chiếc nón kiểu cánh quạt (tôi không nhớ rõ là kiểu nón này xuất hiện từ lúc nào, có lẽ chỉ mới gần đây thôi. Trong thời kỳ này, bà Tulliver trạc tuổi bốn mươi, và cả gia đình vẫn hãy còn mới lạ đối với thành phố St. Ogg’s).
- Ông Tulliver, ông luôn luôn biết nhiều hơn tôi; tôi chẳng có ý kiến gì hết. Nhưng chẳng biết là tôi có nên làm thịt một cặp gà mái rồi mời các dì dượng tới chơi vào tuần tới hay không. Nhân dịp đó, ông có thể hỏi chị Glegg và Pullet để coi họ thấy ra sao. Trong chuồng, ít ra cũng có một cặp gà tới lúc làm thịt rồi.
Ông Tulliver bực tức:
- Bà muốn giết bao nhiêu gà thì cứ việc, Bessy; nhưng nhứt định là tôi không thèm hỏi dì dượng nào cả về chuyện gì dính líu tới con trai tôi.
Bà Tulliver lắc đầu chán nản:
- Coi kìa! Sao lại nói vậy, ông cứ nói cái giọng khinh bỉ đó với gia đình bên tôi, để rồi chị Glegg cứ đổ thừa tại tôi, mà tôi thì có lỗi gì đâu. Có bao giờ tôi nói là con gái của tôi phải khổ sở vì mấy dì dượng của nó đâu. Mà thôi, nếu thằng Tom phải tới học ở trường mới, tôi mong mỏi là được học ở một chỗ nào để tôi còn lo giặt áo, giặt quần và may vá cho nó, chớ nếu không thì đồ đạc của nó sẽ bị dơ bẩn chịu không nổi. Với lại, mỗi lần có ai đi về, tôi còn có thể gởi cho nó bánh trái thịt heo hầm cho nó ăn, dầu là người ta có cho nó ăn uống đầy đủ hay không cũng vậy. Con cái của tôi là luôn luôn phải no đủ chớ.
- Không sao, không sao đâu! Mình có gởi nó đi xa lắm đâu, mình đâu muốn vậy. Nhưng bà đừng có thọc gậy vào bánh xe với cái chuyện giặt quần, giặt áo đó để tôi phải cho nó học ở một trường gần. Bessy, tôi thấy bà cứ hay mắc cái tật đó, hễ gặp một cây gậy ở giữa đường là y như rằng bà không chịu bỏ đi luôn. Tại vậy mà bà không để tôi mướn một người đánh xe giỏi bởi vì y có mụt ruồi trên mặt.
Bà Tulliver chỉ dám biểu lộ sự ngạc nhiên vừa phải:
- Chúa ơi, tôi có phản đối một người nào vì có mụt ruồi trên mặt đâu. Tôi còn thích nữa là khác bởi vì anh tôi cũng có một mụt ruồi ở chân mày mà. Tôi còn nhớ là ông định mướn người đánh xe nào có mụt ruồi đâu. John Gibbs đâu có mụt ruồi nào trên mặt, cũng như ông vậy; tôi đã làm mọi cách để ông mướn y và ông cũng đã mướn rồi; nếu y không chết trong trận cháy đó thì chắc bây giờ y cũng đang đánh xe cho mình vậy. Làm sao tôi biết được là sau khi chết rồi, y có mọc mụt ruồi nào không, ông Tulliver?
- Không, không phải vậy, Bessy. Tôi không phải muốn nói đúng y như vậy, tôi muốn làm thí dụ để nói khác, mà thôi... suy nghĩ nhức đầu lắm. À, cái điều mà tôi bắt buộc phải suy nghĩ muốn bể óc là phải cho thằng Tom học ở đâu cho xứng đáng, nhứt định không phải mấy cái trường chẳng ra gì đó. Rối trí quá.
Thỉnh thoảng ông Tulliver ngừng đôi ba phút rồi thọc sâu cả hai tay vào túi quần đùi, dường như cố tìm trong đó một ý kiến gì sáng sủa hơn. Và rõ ràng là ông đã không thất vọng với cử chỉ này, bây giờ mặt ông đã sáng rỡ lên:
- Rồi, được rồi. Tôi sẽ hỏi ông Riley chuyện đó; ngày mai ổng tới để phân xử vụ cái đập nước.
- Được rồi, ông Tulliver. Tôi đã cho lấy mấy tấm vải trải trên cái giường tốt nhứt ra và Kezia đã đem hong gần lửa. Không phải là quí giá gì nhiều nhưng mấy tấm vải trải giường cũng quá tốt cho bất cứ người nào được nằm lên. Đó là loại Hòa Lan chớ có phải tầm thường đâu. Nếu mai kia mà ông có chết thì chúng nó đã sẵn sàng, đẹp lắm, lại có ướp mùi oải hương, nhứt định là chỉ có tôi chớ không ai được trải chúng ra. Tôi cất kỹ lắm, ở bên trái tủ gỗ sồi.
Vừa nói xong, bà Tulliver rút ra một chùm chìa khóa và mân mê chiếc chìa mà bà đã dùng để khóa học tủ đựng mấy tấm vải trải giường kia, với một nụ cười sảng khoái trong khi nhìn ánh lửa trong lò sưởi. Nếu là người mê tín dị đoan, chắc chắn ông Tulliver sẽ coi cái cử chỉ vừa rồi của vợ như là một dấu hiệu xui bảo ông sớm nằm vào mấy tấm vải Hòa Lan kia mà bà cho là quí giá vô song. Nhưng ông không phải là hạng người này, ông chỉ bận tân đến việc nghi ngờ quyền hạn của ông đối với vấn đề thủy lực thôi. Hơn nữa, ông luôn luôn giữ cái thói quen của một người chồng chẳng bao giờ cần chú ý tới từng câu, từng lời của vợ; ngoài ra, sau khi đã nhắc tới tên Riley, ông không còn nghĩ tới chuyện nào khác hơn được nữa.
Sau một lúc im lặng, ông tiếp tục nói lên những ý nghĩ từ nãy giờ bám sát trong đầu:
- Bessy, lần này là tôi đi đúng chỗ rồi. Riley mới đúng là người biết phải cho học ở đâu, chính ổng cũng đã từng đi học từ nhỏ cho tới lớn, đủ các chỗ... giám định giá hàng, giống giống như vậy. Đêm mai, sau khi xong chuyện làm ăn, mình sẽ nói vụ thằng Tom coi ông ta tính sao. Tôi muốn Tom cũng sẽ giỏi như ông Riley, biết ăn nói đàng hoàng, biết viết lách, không sợ gì pháp luật hà hiếp, lại sành sỏi công việc buôn bán nữa.
Dường như bà Tulliver lại muốn «thọc gậy bánh xe»:
- Ăn nói như nước chảy, biết hết mọi thứ, đi còng lưng lại và tóc hớt ngắn lên... thiệt tình con trai của tôi mà có như vậy, tôi cũng chẳng buồn gì mấy. Nhưng có cái chuyện là mấy người ăn nói giỏi ở thành thị lớn, phần đông đều mặc ngực áo giả. Học mặc hoài cho tới khi mấy miếng vải ổ ong đó nát bấy ra mới chịu đem đi giấu. Ông Riley chắc cũng vậy thôi. Với lại, nếu thằng Tom cũng phải đi tới tận Mudport để học như ông Riley, thì chỗ ở của nó chỉ là cái nhà bếp lớn không bằng một nắm tay, ăn sáng không có trứng tươi, rồi ngủ thì ở tuốt trên lầu ba – lầu tư – tôi biết mà – tới chừng có cháy nhà là chết thiêu luôn, xuống làm sao kịp.
- Không đâu, làm gì tới Mudport. Tôi muốn nó đặt văn phòng ở Saint Ogg’s này và ở với gia đình.
Sau vài giây suy nghĩ, ông Tulliver tiếp:
- Cái điều mà tôi sợ nhất là đầu óc của nó không minh mẫn như người ta chậm hiểu quá! Chắc là tại nó giống bên bà, Bessy.
Bà Tulliver nhìn nhận, nhưng chỉ với câu sau cùng:
- Chắc là đúng vậy. Nó ưa rắc muối vào đồ ăn thật nhiều. Anh tôi cũng ưa ăn mặn và cha tôi cũng vậy.
- Tội nghiệp! Con trai lại giống mẹ còn con gái thì không. Thiệt là rắc rối, khó biết được chuyện gì sẽ tới. Con nhỏ thì giống tôi, nó lanh bằng hai thằng Tom. Đối với đàn bà thì như vậy là quá lanh.
Ông Tulliver ngừng nói, ngoẹo đầu sang bên này rồi bên kia:
- Còn nhỏ thì lanh cỡ đó chưa có gì đáng hại, nhưng bà biết chớ, một người đàn bà quá lanh lợi cũng như là một con trừu đuôi dài, không bán được nhiều tiền hơn.
- Còn nhỏ mà lanh lắm cũng có hại chớ, ông Tulliver, bởi vì lần lần nó thành hung ác. Không có cách nào giữ nó sạch được tới hai tiếng đồng hồ. Ông có nhắc tôi mới nhớ...
Bà Tulliver đứng dậy, đi tới cửa sổ:
- Chẳng biết giờ này nó ở đâu, gần tới bữa dùng trà rồi. Chắc là, phải rồi... nó lại đi lên đi xuống ở bờ sông như một con vật hoang, có ngày rồi sẽ té xuống nước...
Bà Tulliver vỗ mạnh vào cửa sổ một cái rồi lắc đầu – một thói quen mà bà thường lập lại nhiều lần trước khi về ghế.
Vừa ngồi xuống, bà nói ngay:
- Theo tôi thì con nhỏ chẳng lanh lợi chút nào, còn hơi đần là khác. Lần nào sai lên gác lấy đồ, nó cũng quên mất không biết lấy gì rồi cứ ngồi luôn trên sàn phơi nắng, vừa phá tóc vừa ca hát như một con điên để tôi chờ hụt hơi ở dưới. Tạ ơn Chúa, cái tánh đó không giống chút nào với gia đình bên tôi. Còn cái nước da ngâm của nó, sao mà giống như mấy đứa giữ lừa. Tôi không dám nói động tới thánh thần chớ thiệt tình trông nó cứ như là một con hề.
- Nè, bà đừng nói vậy. Con gái mà mắt đen và ngó thẳng như nó ai cũng ưa nhìn. Nó có thua gi đám con gái bằng tuổi nó đâu, lại còn biết đọc chữ như mấy ông thầy tu nữa.
- Nhưng tóc nó không chịu quăn, dầu tôi có làm cách gì cũng vậy. Mỗi lần bắt nó uốn tóc bằng cây sắt hơ nóng là nó nhảy loi nhoi.
Ông Tulliver xẵng giọng:
- Thì cắt đi, cắt ngắn đi.
- Sao nói vậy, ông Tulliver? Nó cũng lớn rồi, chín tuổi còn gì nữa, người lớn hơn tuổi, ai lại đi cắt tóc. Nghĩ tới con em họ Lucy của nó coi tóc người ta cuộn tròn một hàng dài quanh đầu, không một sợi nào rối hết. Cứ nghĩ tới dì Deanne có được một đứa con gái như vậy mà thèm. Con Lucy vậy mà giống tôi hơn là con gái của tôi. Maggie, Maggie...
Bà Tulliver bỗng kêu lên với giọng bứt rứt ngay khi đứa con gái mà bà cho là đã đầu thai lầm, bước vào:
- Má dặn là không được tới gần bờ sông, sao không nghe? Có ngày rồi té xuống, chết trôi rồi mới biết là tại không nghe lời.
Cô bé vừa lột mũ ra thì quả y như lời phiền trách của bà mẹ về mớ tóc rối tung của nó. Điều đáng nói là vừa được mẹ uốn tóc cho thì khoảng một giờ sau, tóc của cô bé lại cứ thẳng tuột ra, đã vậy, nó lại còn có thói quen hất tóc ra phía sau để khỏi che phủ đôi mắt nâu đen luôn luôn ngời chiếu, khiến nó trông không khác mấy con ngựa con giống Shetland.
Bà mẹ lại nhăn nhó:
- Chúa ơi, Maggie, làm gì mà ném mũ ở đây. Đem lên gác mau, chải tóc ngay ngắn lại, thay quần áo và giầy vớ ra... con gái mà như vậy không biết xấu sao? Rồi lo may vá đi, cho giống với con nhà tử tế.
Maggie ngang bướng:
- Không, con không chịu may vá đâu.
- Sao? Bộ không muốn kết nhiễu làm khăn cho dì Glegg hả?
Maggie hất bờm tóc lên:
- Làm gì như là khùng, con không chịu. Ai lại đi xé vụn ra rồi kết miếng này vào miếng khác. Con cũng không muốn làm gì cho dì Glegg đâu, con không thích dì.
Nói xong, cô bé quày quã ra khỏi phòng, vừa đi vừa nắm dây kéo lê chiếc mũ theo trong khi ông Tulliver thấy đời thích thú.
Bà vợ trách móc:
- Vậy mà còn cười được sao, ông Tulliver? Ông cứ cưng nó hoài làm nó hư, để các dì lại đổ lỗi cho tôi.
Bà Tulliver đúng là mẫu người hòa nhã, giỏi chịu đựng chẳng một tiếng rên la dầu là lúc sanh con, hay trong bất cứ cảnh ngộ nào. Từ thuở còn nằm nôi mãi tới giờ, bà vẫn khỏe mạnh, tươi tỉnh, mập mạp và ít chịu suy nghĩ nhiều. Nói chung, bà là ngôi sao của gia đình bà vì cả duyên sắc và tính tình khả ái. Tuy nhiên, chất sữa và những gì ngọt lịm không phải là những thứ có thể giữ được lâu, bởi vì một khi nó đã hơi chua thì rất có hại cho những chiếc dạ dày còn non trẻ. Tôi thường tự hỏi, chẳng biết những người đàn bà hiền dịu và khả ái đó, với mái tóc vàng hoe và nét mặt đôi chút ngây ngô, sẽ phải làm sao để luôn giữ được vẻ thản nhiên, một khi con của họ cả gái lần trai đều đã quá lớn đệ tự hoà nhập với đời. Theo tôi, có lẽ họ sẽ càng la rầy quở trách yếu ớt hơn trong khi cứ phải âu sầu nhiều thêm nữa.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG THANH NHÃ VỚI CHIẾC CÀ vạt to bản và ngực áo nhún tàng ong, tỏ ra thích thú trong khi cụng ly rượu mạnh pha nước lã với người bạn tốt Tulliver, chính là ông Riley – một nhân vật có địa vị trong xã hội, da mặt màu vàng nghệ, hai bàn tay đầy đặn. Về trình độ học vấn, ông đã vượt trên mức cần thiết của một người hành nghề hỗ giá viên, tuy thế ông vẫn luôn luôn niềm nở đối với những người quen tuy ở chốn quê mùa nhưng lúc nào cũng tỏ ra hiếu khách. Nói tới những người này, ông Riley thường nhún nhường gọi họ là «bạn học ngày xưa».
Câu chuyện đã đi tới chỗ ngừng nghỉ. Không phải là chẳng có một lý do đặc biệt nào đã khiến ông Tulliver không lập lại thêm một lần thứ bảy về những lời bắt bẽ của ông Riley cho Dix, và thế là lão Wakem bị một vố nặng trong đời, bây giờ giữa lúc vụ cái đập nước đã được phân xử, cũng như đã chẳng bao giờ xảy ra được những vụ tranh chấp về mực nước thấp cao... nếu mọi người cứ vẫn là mình và nếu lão Harry đã không tạo nên cái đám thầy kiện. Nhìn toàn diện, ông Tulliver đúng là mẫu người bảo thủ, tuy nhiên, trên một hai khía cạnh nào đó, ông đã bắt buộc đi tới chỗ kiện tụng và đâm ra oán ghét các luật sư mà theo ông, đó chỉ là hạng người, bần tiện do chính lão Harry dựng lên. Rất tiếc là chẳng ai nói rõ cho ông biết, đó chỉ là những lề lối làm việc đã có từ xưa, và nón đã nhận được ra như thế hẳn ông cũng đã nhìn thấy được sự lỗi lầm của riêng mình.
Khác với ngày thường, ly rượu của ông Tulliver hôm nay nặng chất hơn. Hơn nữa, đối với một kẻ đã có khoảng vài trăm bảng Anh nằm lười ở ngân hàng thì vấn đề cởi mở đối với một người bạn quá nhiều biệt tài doanh thương đâu phải là chuyện cần suy nghĩ.
Nhưng câu chuyện đập nước vẫn phải được nhắc tới, bởi vì bất cứ lúc nào vấn đề đó cũng có thể được đặt ra trở lại, cùng một khía cạnh và dưới một hình thái y hệt như trước. Vả lại, còn một số vấn đề khác nữa, vô cùng cấp bách mà ông phải nhờ tới cao kiến của người bạn Riley. Chính vì vậy mà ông đã im lặng một lúc sau khi đã uống hết ngụm rượu cuối cùng ngồi chà xát mãi hai tay vào gối với vẻ suy tư. Ông không phải là người có thể chuyển ý thật mau từ chuyện này sang chuyện khác. Nhưng ông vẫn thường chán nản bão, cái công việc của trí óc quả là chuyện rắc rối vô cùng, cũng như khi lái một chiếc xe qua mau là sẽ gặp hậu quả dị thường ngay. Ông Riley thì không thuộc hạng người này, vẫn điềm tĩnh như thường. Tại sao lại phải mất bình tĩnh giữa lúc được ngồi ở một nơi ấm cúng, lại được uống rượu mạnh không tiền?
- Tôi có chuyện này muốn nói...
Cuối cùng rồi ông Tulliver cũng phải nói, thấp giọng hơn thường lệ trong khi nhìn đăm đăm vào ông bạn.
- Vậy à!
Giọng ông Riley mang âm điệu ân cần. Hai mí mắt dày cộm và đôi chân mày vòng cung vẫn cứ luôn bất động dầu ở cảnh ngộ nào. Sắc diện im lìm đó và thói quen lấy một nhúm thuốc để hít hơi trước khi trả lời càng làm ông trở nên hùng hồn nhiều hơn trước mặt ông Tulliver.
Ông Tulliver tiếp:
- Đây là mot chuyện đặc biệt, chuyện của thằng Tom, con tôi.
Vừa nghe nói đến tên Tom, cô bé Maggie đang ngồi trên chiếc ghế thấp gần đó, với một quyển sách lớn lật ra trên gối, vội vàng ngước mặt lên. Gần như chẳng có một tiếng động nào bắt cô bé chú tâm giữa lúc đam mê sách, nhưng chỉ với một tiếng Tom thôi cũng đủ là một hồi còi lanh lãnh dội bên tai: lập tức cô bé tự đặt vào tình trạng báo động, mắt quắc ngời, y hệt như một con chó săn vừa đánh hơi vật lạ, sẵn sàng nhảy xổ tới bất cứ gì có thể đe dọa Tom.
- Tôi định gởi nó tới một trường học mới giữa mùa hè này, nó sắp rời khỏi cái trường lôi thôi ở Ladyday. Tôi sẽ cho nó nghỉ xã hơi ba tháng rồi bắt đi học lại ngay tại một trường học nào thật đàng hoàng, để về sau nó có thể trở thành cừ khôi về chữ nghĩa.
- Đúng thế, ở đời chẳng có gì tốt hơn là học được tới nơi tới chốn.
Ông Riley nói tiếp với giọng lễ phép hơn:
- Tuy vậy, nếu muốn trở thành chủ nhân một nhà máy xay hay một nông gia tài giỏi, thiết tưởng trường học cũng chẳng giúp ích gì được bao nhiêu.
Ông Tulliver nghiêng đầu qua một bên:
- Ông nói phải, nhưng tôi không có ý để thằng Tom làm chủ nhà máy hay nhà nông. Nếu tôi cho nó học để trở thành chủ nhà máy hay nông gia thì thế nào nó cũng mơ tưởng... tới cái ngày nó sẽ lấy cái nhà máy xay này và đất cát ở đây, mà như vậy thì có khác nào là đã tới lúc tôi phải nghĩ đến chuyện nằm yên một chỗ, chờ lúc qua đời. Ái chà, tôi đã thấy đám con trai của người ta như vậy rồi. Không được đâu, tôi chỉ có thể cỡi áo ngoài ra trước khi đi ngủ thôi. Tôi muốn cho thằng Tom học thật giỏi để lo chuyện buôn bán, làm ăn, để nó có thể tự xây dựng lấy một mái nhà, chớ không phải để nó tống cổ tôi ra khỏi nhà tôi. Chuyện đó có thể xảy ra chỉ khi nào tôi đã đi theo ông theo bà kìa. Chưa mất hết răng là tôi vẫn cứ còn ăn thịt.
Hiển nhiên, đó chính là chủ điểm của ông Tulliver, một thứ gây xúc động mạnh đã khiến ông nói luôn một hơi dài, lại còn biết đặt cả vấn đề trọng tâm trong câu chuyện. Và cũng chính vì thế mà sau mấy phút đã ngừng nói, ông vẫn còn tỏ ra hăm hở, thỉnh thoảng lại nghoẹo đầu hết bên này sang bên kia, và bật lên những tiếng «ái chà».
Những dấu hiệu gần như giận tức của người cha khi đặt vấn đề Tom có thể tống cổ ông ra khỏi cửa không thoát qua khỏi sự chú ý bén nhạy của Maggie. Làm gì có chuyện đó xảy ra, cô bé vừa nghĩ thế vừa nhảy dựng lên khỏi ghế, quên mất quyển sách dày đang nằm trên đầu gối, khiến nó rơi xuống với một tiếng động nặng nề. Nhưng chẳng lý gì tới quyển sách, cô bé chạy vụt tới, ôm chầm lấy gối cha, miệng méo xệch đi với giọng pha lẫn chút bất bình:
- Ba, anh Tom nhất định không bao giờ xấu tệ với ba đâu. Con biết anh không thể nào như vậy được.
Trong khi ông Riley khòm xuống nhấc quyển sách lên và lật xem, ông Tulliver vừa cười dịu, vừa xoa lưng đứa gái cưng, rồi kéo cả hai bàn tay của con đặt lên gối mình:
- Sao? Bộ không ai được nói động tới thằng Tom hả?
Ông nheo mắt nhìn Maggie rồi quay sang ông Riley, hạ thấp giọng, làm như Maggie không nghe được gì cả:
- Ông thấy chưa, nó biết là mình đang bàn một chuyện chưa bao giờ bàn tới rõ ràng như vậy cả. Có nghe nó đọc mới biết, nó đọc trôi chảy làm như đã biết đâu trước hết rồi. Lúc nào cũng coi sách! Nhưng chắc là không hay đâu...
Giọng ông bỗng buồn buồn:
- Đàn bà con gái thì không nên quá thông minh, nhiều rắc rối về sau. Nhưng có điều đáng nói là nó đọc sách rất nhiều và biết được nhiều chuyện mà lắm người đã lớn vẫn không biết.
Hai má Maggie ửng đỏ lên với lời khen tặng của cha, và cô bé nghĩ mau rằng bây giờ chắc ông Riley cũng đã phải phục mình, bởi vì trước đó ông ta chẳng một mảy may nào chú ý đến sự có mặt của cô.
Từ nãy giờ, ông Riley vẫn tiếp tục lật từng trang sách nên Maggie không thể hiểu được ông ta đang nghĩ gì với hai hàng chân mày vòng cung cao nghệu đó. Bây giờ, ông ta đã nhìn thẳng vào cô và bảo:
- Lại đây, cô bé! Lại đây và nói cho tôi nghe cô đã đọc được những gì nào! À, có hình ảnh đây, cô có biết hình gì không?
Mặt càng đỏ sậm hơn, nhưng Maggie khong một chút ngập ngừng, bước thẳng tới bên cạnh ông Riley, vừa nhìn vào sách vừa hất bờm tóc lên:
- Đây nè, để tôi nói ông nghe. Tấm hình này đáng sợ lắm, nhưng tôi cứ xem đi xem lại hoài. Bà lão này là phù thủy – mấy người kia ném bà ta xuống nước để xem có thật bà là phù thủy không, nếu bà ta biết lội thì mới đúng là phù thủy, nhưng nếu bà ta chết chìm – ông biết không – thì bà ta vô tội, không phải là phù thủy. Cuối cùng, bà ta chỉ là một kẻ đáng thương. Nhưng tới chừng đó thì còn làm gì được nữa, bà ta đã chết đuối rồi. Tôi nghĩ chỉ còn một cách là bà ta lên Thiên Đàng để Chúa đến bù cho. Còn cái ông thợ rèn đứng chống nạnh này, ổng đang cười, đáng sợ lắm – ồ, xấu xí ghê chưa? – cho ông biết, chính ông ta mới là con quỷ chánh cống (tới đây, giọng Maggie cất cao hơn và cố nhấn mạnh) chớ không phải là thợ rèn đâu. Mấy con quỉ thường giả làm người nhưng chỉ là hạng người hung dữ thôi, họ đi tới đâu là cũng bắt người ta phải làm những chuyện hung dữ giống y như họ. Quỉ phải giả làm người vì nếu để người ta biết nó là quỉ thì ai cũng chạy trốn hết, làm sao bắt được người ta phải làm theo ý mình.
Ông Tulliver không khỏi kinh ngạc trước những lời biện luận của con. Ông ngẩn người giây lát rồi hỏi mau:
- Cuốn sách của con nhỏ là loại gì vậy, ông Riley?
- «Câu chuyện của quỷ», tác giả là Daniel Defoe; không đúng là loại sách dành cho con gái. Làm thế nào mà tủ sách của ông lại có quyển này, bạn Tulliver?
Tự ái bị tổn thương Maggie xịu mặt, trong khi người cha đáp:
- Tôi mua nó ở Partridge. Ở đó, tất cả sách đều giống nhau - ông thấy không, đóng bìa thật đẹp - tôi cứ tưởng như vậy là sách quý. Tôi cũng có cuốn «Sống thanh bạch, chết tinh khiết» của Jeremy Taylor, chúa nhật nào tôi cũng đọc. (Ông Tulliver tự cảm thấy mình cũng có liên hệ phần nào với đại văn hào này, bởi vì tên của ông ta cũng là Jeremy.) Ngoài ra, còn một số sách khác, phần nhiều nói về giáo lý – tất cả đều đóng bìa tốt như nhau nên tôi cứ tưởng cùng một loại. Cứ coi ở bề ngoài là hỏng bét. Thế giới này càng ngày càng rắc rối.
Vừa vỗ nhẹ lên đầu Maggie, ông Riley vừa lấy giọng khuyên răn:
- Cháu nên dẹp cuốn này đi, đọc mấy cuốn khác bổ ích hơn. Chắc cháu có loại sách bổ ích chớ?
Maggie hơi tươi lại với ý định cho biết là mình cũng đã từng đọc qua nhiều loại sách khác nhau.
- Dạ có chớ. Tôi cũng biết cuốn này không nên đọc – nhưng tôi thích xem hình... để tự mình giải thích theo ý mình. Tôi có đọc «Ngụ ngôn của Aesop» và một cuốn nói về giống đại thử, với cuốn «Cuộc hành hương»...
Ông Riley khen:
- Tốt lắm, không có quyển nào hơn được.
Maggie gần như reo lên với giọng đắc thắng:
- Nhưng ở trong đó cũng nói nhiều về chuyện quỉ. Để tôi chỉ ông xem hình còn quỉ thật ra sao, trong khi nó chống lại người của Thiên Chúa.
Cô bé chạy mau tới góc phòng nhảy phóc lên một chiếc ghế, vói lấy từ kệ xuống một quyển sờn rách của Bunyan. Rồi không chút ngập ngừng, cô bé lật đúng ngay nơi có bức ảnh mà cô vừa nói.
Vừa chạy trở lại chỗ ông Riley, cô bé vừa reo:
- Nó đây nè. Anh Tom đã tô màu nó giùm tôi vào kỳ nghỉ lễ vừa rồi - cả người đều đen thui, ông biết không, hai con mắt đỏ rực... như lửa, bởi vì trong nó đều toàn là lửa... chiếu ra con mắt.
- Đi, đi!
Ông Tulliver bỗng gắt lên, bởi cảm thấy khó chịu vì sự mô tả hình dáng mà ông cho là của kẻ có đủ sức mạnh để tạo nên những ông thầy kiện.
- Xếp sách lại, không được nói tới chuyện đó nữa. Đúng như tôi nói con nhỏ chỉ học được trong sách những chuyện hư xấu hơn là điều tốt. Đi, đi mau, ra ngoài với má đi!
Maggie xếp ập quyển sách lại với thái độ bực tức, nhưng lại không chịu ra ngoài mà chỉ sa vào một góc tối phía sau ghế của cha để tưng tiu một con búp bê mà cô yêu mến hơn ai hết trong khi vắng mặt Tom.
Thấy đã vắng bóng Maggie, ông Tulliver thở dài:
- Ông có từng nghe như vậy bao giờ chưa? Tội nghiệp... nhưng nếu nó là con trai, chắc chắn nó sẽ không chịu thua đám thầy kiện đâu. Kể cũng lạ (tới đây ông hạ giọng) tôi lấy má nó là vì lúc đó, bà đâu có tin ranh như vậy, một người đàn bà thật tốt, gia đình cũng không phải hạng thường. Có điều một người đàn bà như vậy cứ phải nuôi lũ con trai khờ khạo với đám con gái quá khôn lanh cho tới khi trái đất này chổng ngược lên. Thật là rắc rối.
Dáng vẻ nghiêm trọng của ông Riley từ từ tan biến. Ông lắc lắc ly rượu trước khi lên tiếng:
- Nhưng con trai của ông có khờ khào gì đâu. Lần ghé đây mới rồi, tôi có gặp cháu đang lo làm mấy món đồ câu cá, trông thành thạo lắm.
- Thú thật, nó cũng không phải đần độn gì lắm – nó đã biết qua ít nhiều các chuyện bên ngoài, nghĩ là không quá tệ. Nhưng nó chậm ăn chậm nói, còn đọc sách thì ngập ngừng, ngập ngửi, đánh vần sai, họ nói với tôi mà, lại còn nhút nhát nữa. Chẳng bao giờ ông nghe nó nói được một chuyện gì có đầu có đuôi như con em nó. Đó, vì vậy mà tôi muốn nó phải học ở một trường nào cho xứng đáng để ăn nói chững chạc, viết lách đàng hoàng không thua sút một ai...
Ông Tulliver hớp một ngụm rượu, nuốt từ từ, và lắc đầu thiểu não.
Ông Riley nhẹ nhàng:
- Ông nói đúng. Thà tốn thêm một hoặc hai trăm để lo chuyện học cho con, còn hơn là để nó ra sao cũng phải giải quyết như ông, đã vậy lại phải còn khốn đốn với một đàn con gái.
Không để tình cảm bị chi phối về việc ông Riley chẳng có tiền dư, ông Tulliver bám dính vào hướng nhắm từ đầu:
- Ông có biết một trường nào để thằng Tom tới học không?
Trước khi trả lời, ông Riley nhắm một hớp rượu và cứ để mặc cho bạn hồi hộp đợi.
- Tôi biết một chỗ rất xứng đáng cho bất cứ người nào có sẵn tiền đúng theo ý của ông. Sự thật tôi không muốn khuyên bất cứ ông bạn nào của mình gởi con tới học tại một trường thông thường như bao nhiêu trường khác, nếu họ có thể làm khá hơn. Nhưng nếu ai muốn cho con trai mình có học thức cao, thông suốt mọi việc, được học với một ông thầy thuộc vào hàng đệ nhứt danh sư – và luôn luôn có ông thầy này kèm bên cạnh – thì tôi sẽ giới thiệu cho. Thật tình, tôi cũng không muốn bạ ai cũng giới thiệu này vì biết đâu sẽ có trắc trở, mặc dầu người ta đã cố gắng lo... nhưng với ông, Tulliver, tôi chẳng ngại gì cả, chỗ bạn bè với nhau...
Cái nhìn trân trối của Tulliver vào người bạn có tài hùng biện bỗng sáng rực lên. Ông ngồi thẳng dậy với dáng vẻ của một người có chuyện quan trọng cần nói tới:
- À, à... vậy là...
Nhưng ông Riley đã cắt ngang:
- Người đó là một nhân vật của Oxford.
Ông Tulliver nghi ngại:
- Sao? Bộ là thầy tu hả?
- Phải, mà cũng là một tiến sĩ. Đức Giám Mục rất quí trọng ông ấy. Chính Ngài đã giao cho ông ấy trông coi một họ ngánh.
Ông Tulliver kêu lên:
- A!
Đối với ông, đó chỉ toàn là chuyện lạ. Tuy thế, ông vẫn không buông lơi chủ đề:
- Nhưng ổng có thể giúp thằng Tom được gì?
- Có chớ. Sự thật là ông ấy rất quí mến nghề dạy, và cũng mong được học hành, nghiên cứu sâu rộng hơn. Nhưng làm một nhà truyền giáo thì còn đâu thì giờ rảnh rỗi. Bởi thế, ông ấy muốn dạy cho một vài đứa học trò ngay tại nhà. Cậu nào vào đó sẽ được coi như là người của gia đình – chẳng còn vinh hạnh nào hơn nữa. Được sự coi sóc thường xuyên của Stelling không phải ai cũng có.
Bà Tulliver vừa vào tới, bỗng chen vào:
- Nhưng có chắc là họ chịu cho thằng Tom mỗi ngày hai lần bánh tráng miệng không? Nó thích bánh ngọt chẳng ai bằng, cỡ nó mà bị bỏ đói thì tội lắm.
Ông Tulliver nói tiếp ngay vì nghĩ rằng đối với một ông tiến sĩ thì chẳng biết phải trả bao nhiêu cho vừa giá.
- Theo ông thì ông sẽ lấy bao nhiêu?
- Tôi đã từng biết có người cũng như ông ấy đã đòi tới một trăm năm chục, nhưng làm gì bằng nổi Stelling. Vị viện trưởng Oxford có lần đã bảo: «Stelling co thể còn lên cao hơn nữa, nhưng y lại không thích ồn ào».
- À, tốt lắm, nhưng một trăm rưỡi thì đâu phải là chuyện dễ kiếm. Tôi không nghĩ là quá cao như vậy.
- Này, bạn Tulliver, bạn nên biết là có một nền học vấn xứng đáng thì không bao giờ tính ra bằng tiền được. Nhưng Stelling là người rất biết điều không bao giờ tham lam. Tôi tin là ông ấy sẵn sàng nhận con của bạn với khoảng một trăm thôi. Nếu bạn muốn, tôi sẽ thông báo cho ông ấy.
Ông Tulliver chẳng biết nói gì, cứ xoa xoa hai bàn tay lên gối, mắt nhìn xuống tấm thảm, đăm chiêu.
Bà Tulliver tỏ vẻ lo âu:
- Nhưng ông đã sống độc thân thì làm gì lo nổi cho mấy đứa nhỏ. Tôi không tin nổi mấy người quản gia đâu. Anh tôi, hồi đó cũng có một người quản gia và cứ bị bà ta rút tỉa hết phân nửa lông chim dồn nệm, rồi áo quần nữa, tên bà ta là Scott. Ông Tulliver, ông nên nghĩ lại chuyện đó.
Ông Riley nhếch môi:
- Tulliver, bạn khỏi phải bận tâm về chuyện đó, bởi vì Stelling đã kết hôn, người vợ hết sức đoan trang và hiền thục. Không còn ai hơn nổi, tôi biết gia đình bà ấy rất nhiều. Bà ấy cũng giống như bà Tulliver đây – tóc hơi quăn, thuộc dòng dõi vọng tộc ở Mudport, đặc biệt cao quí. Vã lại, Stelling cũng không thích khách khứa lăng nhăng, thỉnh thoảng mới có một vài người tới toàn là những bạn bè đã được chọn lựa kỹ càng. Chắc là ông ấy sẽ không từ chối tiếp nhận cháu Tom đâu, có tôi giới thiệu là kể như chẳng còn gì rắc rối.
- Có ai mà lại đi ghét bỏ thằng Tom được, nó cũng khôi ngô có kém ai.
- Nhưng có điều này khiến tôi hơi ngại...
Ông Tulliver ngoẹo đầu hết bên này tới bên kia, cố tìm lời lẽ xứng hợp trước khi tiếp:
- Chẳng biết một ông thầy tu có đủ sức dạy cho nó trở thành một người biết công việc làm ăn, buôn bán hay không? Thật tình, tôi không muốn cho thằng Tom học hành theo kiểu mấy ông tu hành. Tôi muốn nó phải học cách tính toán sổ sách, viết chữ như in, thấy mau hiểu rộng và ăn nói trôi chảy.
- Ồ, bạn Tulliver, bạn hiểu lầm giới tu hành rồi. Tất cả các hiệu trưởng giỏi nhất đều xuất thân từ giới này. Ông muốn thằng bé giỏi toán à? Thì cứ nói thẳng với ông ấy là kể như mọi việc đều xong.
Trước thái độ xác quyết của ông Riley, ông Tulliver đã lấy lại lòng tin nơi giới tu hành. Ông Riley không bỏ lỡ cơ hội làm tăng triển lòng tin đó:
- Bạn cũng đã biết rồi mà, một người tài ba như Stelling cũng giống như một công nhân sử dụng cụ của mình, nếu đã làm được cửa cái thì làm gì không đóng nổi mấy cái cửa sổ.
Ông Tulliver gật gù:
- Đúng vậy, đúng vậy.
- Đây, tôi sẽ làm như thế này, không phải với bất cứ ai tôi cũng sẵn sàng giúp ngay đâu. Tôi sẽ tới gặp nhạc phụ của Stelling, hoặc viết cho ông ấy vài chữ lúc trở về Mudport, cho biết là bạn muốn gởi con tới học ở nhà con rể ông ấy. Chắc chắn là sau đó, Stelling sẽ gởi thơ tới bạn để nói rõ về điều kiện.
Bà Tulliver xen vào ngay:
- Nhưng có cần gì gấp đâu, phải không, ông Tulliver. Phải chờ tới giữa Hè nó mới đi học kia mà.
- Coi kìa, Bessy, đừng có xay lúa xấu vào ngày lễ thánh chớ!
Vừa nói, ông Tulliver vừa nheo mắt cười với bạn, tự chứng tỏ là mình có được một người vợ bao giờ cũng thuận theo ý chồng, rồi tiếp:
- Chắc chắn có gì phải gấp đâu, Bessy.
- Ba!
Từ nãy giờ luôn theo dõi câu chuyện về anh mình, cô bé Maggie bỗng chạy nhào tới:
- Ba, từ nhà mình tới chỗ đó có xa không? Mình có thế thường đi thăm anh Tom được không ba?
Ông Tulliver âu yếm:
- Ba không biết, con hỏi ông Riley thì biết liền chớ gì.
Không một chút ngần ngại, Maggie đi vòng trước mặt ông Riley:
- Thưa ông, chỗ đó cách bao xa?
- Ồ, xa lắm, xa lơ xa lắc. Cháu phải mượn đôi hia bảy dặm mới đi nổi.
Maggie ngoe nguẩy:
- Không phải đâu.
Và cô bé bắt đầu chán ghét ông khách dám coi thường mình.
Bà mẹ mắng:
- Kìa, Maggie, làm vậy mà coi được sao? Tới ngồi ở ghế của con đi và không được mở miệng nữa nghe chưa?
Rồi bà ngước mặt lên, dáng trầm tư:
- Nếu xa quá như vậy thì làm sao tắm rửa và may vá cho nó được?
Ông Riley vội vàng đính chánh:
- Chỉ khoảng mười lăm dặm thôi, có thể đi và về trong ngày một cách thoải mái. Hơn nữa, ông Stelling là người hiếu khách, bà có thể ở lại chơi, nếu muốn.
Giọng bà Tulliver vẫn còn buồn:
- Như vậy cũng đã khó về chuyện may vá rồi.
Rất may là vừa vặn tới lúc dùng bữa tối nên ông Riley tạm khỏi phải đưa thêm ý kiến này nọ để trấn an người mẹ quá thương con. Qua những gì vừa nói, ông Riley tự chứng minh một cách không chối cãi được là hết sức thành tâm với bạn. Và ông ta cũng đã giới thiệu Stelling mà không một chút nghĩ ngợi về quyền lợi riêng tư của chính mình.
Tuy nhiên, là người chuyên về các khía cạnh doanh thương, Riley lại cũng không thể dững dưng trước những quyền lợi riêng, nếu có. Thật ra, ông chưa hề giao tiếp thẳng với vị tu sĩ khả kính Walter Stelling, và chỉ biết phớt qua về ông tiến sĩ đó thôi – nghĩa là chưa đủ uy tín để gởi gắm ai, kể cả con của ông Tulliver. Nhưng ông ta biết chắc rằng Stelling là một nhân vật khuôn mẫu khả ái, qua lời của Godsby, mà Godsby lại chính là người có thân nhân làm giáo sư ở đại học Oxford. Stelling đã là sinh viên của Oxford và hầu hết những người tốt nghiệp ở Oxford thì đều... không, không phải vậy... chính những người của Cambridge mới là những tay toán học cừ khôi. Nhưng, một người đã có trình độ đại học thì có thể dạy bất cứ môn nào, nhứt là Stelling đã từng đọc diễn văn tại một bữa ăn đông đảo, đề cập về chính trị. Nhiều người đã không tỏ ra thán phục người con rể của ông Timpson đó? Ngoài ra, ông Timpson còn là người có ảnh hưởng rất lớn tại giáo khu; lại cũng là một doanh gia đáng kể. Như vậy, việc giúp cho con rể của ông Timpson – cũng như giúp gia đình Tulliver – hiển nhiên là phải có giá trị gì đối với Riley. Ông Timpson có rất đông con gái, nhứt là Louisa Timpson, với khuôn mặt diễm kiều, với những lọn tóc xoăn lơi. Vã lại, ngay lúc được hỏi ý kiến, ông cũng không hề giao du thân mật với một vị hiệu trưởng nào để có thể giới thiệu. Và tại sao ông lại giới thiệu Stelling, người chỉ giỏi về La Tinh chớ không giỏi toán? Vì rằng một khi bạn đã có chuyện nhờ mình mà lại nói chẳng biết gì cả thì mất lịch sự quá nhiều. Bởi thế, khó mà trách ông Riley đã hời hợt đối với chuyện học của con người bạn. Một kẻ đã từng hành nghề hỗ giá viên và giám định viên mà bảo rằng mình chẳng biết gì cả về chuyện giáo dục thì quả là chẳng còn chút uy tín nào nữa cả...
MAGGIE VÔ CÙNG THẤT VỌNG VÌ KHÔNG ĐƯỢC cùng đi với cha tới trường đón Tom. Bà Tulliver bảo, sáng nay trời quá ẩm, con gái không thể mặc đồ đẹp đi xa. Maggie phản đội mạnh ngay, và kết quả trực tiếp của sự đối kháng đó là – trong khi bà Tulliver đang lo chải thẳng những lọn tóc rối cho Maggie – cô bé vùng chạy thoát khỏi tay mẹ, nhúng đầu vào một thau nước gần đó, với quyết ý trả thù, không cho cuộn tóc hôm nay.
Bất lực, bà Tulliver bỏ bàn chải lên đùi, chán nản kêu lên:
- Maggie! Maggie! Mầy hư hỏng như vậy thì sau này còn ra gì nữa? Tuần sau dì Glegg và dì Pullet tới chơi, tao sẽ kể hết cho họ nghe và họ sẽ không thương mày nữa đâu. Trời ơi! Nhìn cái dãi yếm mới của mầy coi, ướt hết rồi! Người ta lại bảo là tao đã bị Thượng Đế trừng phạt nên mới có một đứa con gái như thế – người ta sẽ nghĩ rằng ngày trước tao đã ăn ở thất đức, bất nhân...
Nhưng bà Tulliver chưa kịp dứt lời thì Maggie đã nhảy bước một lên căn gác rộng nằm sát mái nhà cũ kỹ, cô bé vừa chạy vừa rảy nước ra khỏi tóc như một con chó săn Skye đang bị tắm bỗng vùng chạy thoát đi. Căn gác là nơi thích nhứt của Maggie trong những ngày ẩm ướt, khi tiết trời chưa giá lạnh bao nhiêu; đây cũng là nơi cô bé đã trút những nỗi bực dọc bằng cách quát tháo với những kệ hàng mục nát và những gốc tối bụi bặm, nhện giăng; lại còn là nơi có giữ sẵn một vật để trừng phạt hầu đền bù những bất hạnh của mình. Đó là con búp bê lớn, bằng gỗ, không chân tay, trước đây hãy còn đôi mắt tròn xoe với hai má phính hồng. Nhưng hiện nay hình dáng bên ngoài của nó đã bị hủy diệt hoàn toàn vì đã phải chịu đựng bao nhiêu là hình phạt để chia xẻ nỗi đau khổ của chủ nhân nó. Ba chiếc đinh đóng vào đầu, đánh dấu những cơn khủng hoảng xảy ra trong chín năm tuổi đời của Maggie. Cô bé đã nảy sanh cách thức trả thù này khi được hình bức Joel tiêu diệt Sisera trong Cựu Ước. Chiếc sau cùng được đóng vào một cách hung bạo hơn bao giờ hết bởi cái vật tế thần lúc đó là đại diện cho dì Glegg. Nhưng ngay sau đó, Maggie chợt nghĩ, nếu đóng quá nhiều đinh vào đầu con búp bê thì cô ta sẽ không còn tưởng tượng được nỗi đau của nó khi đập đầu nó vào tường: và lúc đó nguôi giận, cô cũng không thể an ủi và dán thuốc chữa thương cho nó, vì ngay cả dì Glegg cũng rất đáng thương khi bị hành hạ quá nhiều. Vả lại, Maggie còn muốn dành đường cho dì phải năn nỉ, xin lỗi mình kia chớ. Từ đó, Maggie không đóng đinh vào đầu búp bê nữa, mà chỉ tự an ủi bằng cách đập và chà xát cái đầu gỗ của nó vào thành gạch lởm chởm của hai ống khói lò sưởi vĩ đại làm thành hai cột trụ chống đỡ mái nhà. Đó chính là hành động của Maggie sáng nay trên gác thượng, cô khóc vùi đến nỗi đã quên khuấy đi mất nguyên nhân sự đau khổ của mình. Cuối cùng, những tiếng nức nở dịu lại, bàn tay hình phạt cũng bớt hung hãn đi, và một tia nắng bỗng xuyên qua lưới mắt cáo, soi sáng những kệ hàng mục nát, Maggie liệng con búp bê đi và chạy ra cửa sổ.
Mặt trời đã lên cao, tiếng máy xay lại thật vui tai như thường lệ, cửa kho lúa đã mở, và Yap, chú chó săn lông trắng đốm nâu, với một tai cụp xuống, đang chạy đánh hơi quanh quẩn như sục tìm một người bạn để đùa vui. Không dằn được, Maggie vén tóc, chạy xuống, chụp lấy chiếc nón, nhìn dáo dác khắp hành lang vì sợ chạm trán mẹ, rồi phóng mau ra sân. Cô bé vừa nhảy múa như một ả đồng bóng, vừa ca: «Yap, Yap, Yap, Tom sắp về rồi!» Con Yap cũng vừa nhảy vừa sủa chung quanh cô chủ nhỏ như muốn bảo, nếu cần khua động thì đã có chú ta đảm trách.
- Ê, Ê, cô bé! Coi chừng chóng mặt rồi té vào sình.
Người vừa gọi là bác Luke, thợ cả trong nhà máy. Thân hình cao lớn, vai rộng, tóc đen, bác trạc tuổi bốn mươi, mình mảy dính đầy bột như một cái nấm tai mèo.
Maggie ngừng quay, hơi lảo đảo một chút – rồi chống chế:
- Không đâu, bác Luke, không chóng mặt đâu. Bác cho tôi vào nhà máy với được không?
Maggie rất thích thơ thẩn trong các phòng rộng của nhà máy để được ra về với mái tóc phủ bột trắng mịn như bông, khiến cho hai mắt của cô lóng lánh như hai viên huyền ngọc. Tiếng máy rầm rỉ đều đặn, sự chuyển động liên tục của các cối đá khổng lồ tạo cho Maggie một cảm giác sợ sệt thú vị trước dòng bột bất tận, trước lớp bụi trắng mịn màng phủ khắp nơi, làm cho các màng nhện trông giống như những khung thêu tuyệt xảo, và trước hương vị ngọt ngào, thanh khiết của bột mới. Tất cả làm cho Maggie cảm thấy nhà máy như là một thế giới nhỏ, tách rời với đời sống thường ngày của cô. Đặc biệt những con nhện đã làm cho cô bé nghĩ ngợi nhiều. Cô tự hỏi không biết chúng có bà con nào ở ngoài nhà máy hay không, và nếu có, chắc hẳn chúng đã gặp nhiều rắc rối trong những mối liên hệ họ hàng – Một chú nhện mập mạp, đã quen ăn ruồi phủ bột, chắc phải gặp khó khăn nơi bàn tiệc họ hàng lũ nhện với một con ruồi bình thường và chắc bà nhện sẽ khó chịu khi nhìn bộ dáng nhau. Nhưng nơi Maggie thích nhứt trong nhà máy chính là tầng trên cùng – kho chứa thóc, nơi tích trữ vô số bao hạt ngũ cốc và hàng đống lúa lớn mà cô bé vẫn thường leo lên ngồi cho tuột xuống. Maggie vẫn cứ tiêu khiển bằng trò này trong khi vẫn trò chuyện cùng bác Luke, người mà cô rất mến và muốn chia sớt kiến thức của mình như cha cô đã từng làm.
Có lẽ cô bé muốn khôi phục lại địa vị của mình nơi bác Luke ở dịp này, vì thế, cô bé vừa leo lên đống lúa gần nơi bác thợ cả làm việc vừa hỏi chuyện giữa những tiếng ầm ĩ bất tận.
- Bác Luke, chắc bác không hề đọc sách gì khác ngoài Thánh kinh, phải không?
Bác Luke thật thà:
- Phải ngay cả Thánh kinh tôi cũng đọc it lắm. Tôi không phải là người mê đọc sách.
- Nhưng nếu tôi mượn, bác chịu không? Loại sách dễ đọc không có bao nhiêu, nhưng tôi có cuốn «Âu Châu du ký» hay lắm - nó sẽ kể cho bác nghe về tất cả các giống người trên thế giới, và nếu bác đọc mà không hiểu rõ thì cứ coi mấy tấm hình - họ mô tả bộ dáng, lối sống và việc làm của các giống dân. Có cả người Hòa Lan, mập lắm, họ hút thuốc - bác biết không - còn có một người ngồi trên thùng gỗ nữa.
- Không đây, tôi không cần biết về người Hòa Lan, họ chẳng giúp được tôi gì cả.
- Nhưng họ là đồng loại của ta, bác Luke – chúng ta phải tìm hiểu đồng loại của mình chớ.
- Không cần thiết lắm, tôi nghĩ vậy. Tất cả những thứ tôi biết – ông thầy của tôi ngày xưa cũng là người hiểu biết vẫn thường nói «Chừng nào tôi thấy lúa mì của tôi mặn, ngày đó tôi là người Hòa Lan» và điều đó cũng có nghĩa người Hòa Lan chỉ là một người điên, hay đại khái như vậy. Không, không, tôi không muốn gì về người Hòa Lan...
Maggie đành chịu thua trước thành kiến đó.
- Thôi được, có lẽ bác sẽ thích đọc cuốn «động vật giới» - không có người Hòa Lan đâu, mà có voi, đại thử, chồn hương, cá nóc, và một loại chim ngồi trên đuôi của nó – tên gì tôi quên mất rồi. Nhiều xứ có rất nhiều thú vật như thế, thay vì bò và ngựa như ở đây, bác biết không? Đọc cuốn đó nghe bác Luke?
- Không được đâu, tôi còn phải lo tính toán thóc lúa, không đủ thì giờ lo việc khác. Những thứ đó đưa con người vào chỗ chết, cái gì cũng hiểu biết hết, trừ cách thức tìm miếng ăn cho mình. Tất cả đều là giả dối, chắc vậy mà, tất cả những thứ in trong sách...
- Ồ, bác thật giống anh Tom...
Maggie khéo léo đổi đề tài:
- Tom cũng không thích đọc sách. Bác Luke, tôi thương anh Tom lắm.
- Thương hơn bất cứ ai trên đời này. Khi anh ấy lớn lên, tôi sẽ lo việc nhà cho anh, và chúng tôi sẽ sống với nhau suốt đời. Tôi có thể kể cho Tom nghe những điều anh không biết. Tôi cho rằng Tom rất thông minh dầu không ham đọc sách. Anh làm roi dây và đóng chuồng thỏ đẹp ghê đi!
- À, nhưng chắc cậu Tom sẽ buồn vì mấy con thỏ đều chết cả rồi.
Maggie nhảy khỏi đống lúa, thét lên:
- Chết rồi? Trời ơi, bác Luke! Còn con thỏ tai lớn với con thỏ cái đốm nâu mà anh Tom bỏ hết tiền ra mua, có sao không?
- Cũng chết luôn!
- Bác Luke ơi!
Maggie thảm thiết kêu lên, nước mắt lăn dài trên má.
- Anh Tom dặn tôi săn sóc chúng, vậy mà tôi lại quên. Phải làm sao bây giờ, bác Luke?
- Cô thấy bầy thỏ nuôi ở tận nhà kho dụng cụ xa lắc xa lơ, ai mà rảnh rang, tới đó chăm sóc hoài. Có lẽ cậu Tom có nhờ Harry coi giùm nhưng làm sao tin nó được. Cái thằng đó có bao giờ giữ đúng lời hứa đâu, nó chỉ nhớ tới cái bao tử của nó thôi.
- Bác Luke, anh Tom có dặn tôi chăm sóc cho bày thỏ mỗi ngày nhưng làm sao tôi nhớ được, bác thấy không? Ồ, anh ấy sẽ giận tôi, tôi biết, và anh ấy sẽ tiếc mấy con thỏ – tôi cũng tiếc nữa, làm sao bây giờ?
Bác thợ cả an ủi:
- Cô đừng lo, thỏ chỉ là thứ vô dụng – có cho ăn chúng cũng chết như thường. Cái gì phản thiên nhiên đều khó sống mạnh. Thượng Đế không ưa chúng. Ngài tạo ra tai thỏ dựng lên, vậy mà không có gì có thể làm cho nó cụp xuống như tai chó gộc giữ nhà. Cậu Tom sẽ hiểu để khỏi bỏ tiền mua lần nữa. Cô đừng lo. Cô có muốn về nhà gặp vợ tôi không? Tôi sắp về bây giờ đây.
Lời mời phải lúc làm Maggie khuây khỏa, nước mắt khô dần trong khi cô chạy tung tăng bên cạnh bác Luke trên đường về ngôi nhà tranh của bác. Ngôi nhà nằm ở cuối khu đất nhà máy, chung quanh có trong một vài cây đào, cây táo và có cả một chái nhỏ dùng làm chỗ nuôi heo. Bà chứng tỏ lòng hiếu khách của mình bằng những chiếc bánh, những thỏi kẹo mía, hơn nữa bà lại có nhiều nghệ phẩm. Maggie quên lững đi là từ sáng đến giờ mình đã gặp nhiều chuyện buồn phiền trong khi ngồi trên ghế xem một tập tranh diễn tả chuyện «Đứa Con Hoang (1)» trong sách Phúc âm.
(1) Nhân vật của một trong những ẩn dụ cảm động nhứt của sách Phúc âm (Luc XV)
Cô bé nói:
- Tôi sung sướng khi thấy ba anh ta đón mừng anh ta về - bác Luke có thấy vậy không? Anh ta rất đáng thương và sẽ không bao giờ lầm lỗi nữa.
Bác Luke nghĩ khác hơn:
- Theo tôi thì cậu ta không đáng gì cả, hãy để cha cậu ta lo liệu lấy.
Đó là một ý nghĩ buồn thảm đối với Maggie, và cô bé cố gắng xua đuổi dư hưởng câu chuyện của người thanh niên kia ra khỏi óc.
ĐÁNG LẼ TOM PHẢI VỀ TỚI NHÀ KHOẢNG XẾ trưa hôm đó, nhưng chờ đã quá lâu mà vẫn chưa nghe có tiếng xe, bà Tulliver cũng bồn chồn không kém Maggie, nếu trên đời này, bà còn có được một mối thâm tình nào thì đó chính là tình thương con. Cuối cùng rồi tiếng xe cũng đã khua từ bên ngoài. Mặc dầu gió đang nổi mạnh, bà cũng ra tận ngoài cửa để đón con, một tay đặt trên mái đầu bướng bỉnh của Maggie và quên hết những phiền muộn từ sáng tới giờ.
- Kìa! Con cưng của tôi đây! Chúa ơi! Nó lại không mang cổ cồn, chắc là đánh rơi dọc đường rồi. Lại phải mua cho nó một bộ khác.
Bà Tulliver giang rộng tay, Maggie thì nhảy cởn trong khi Tom bước xuống xe. Nó tự thấy không nên biểu lộ xúc động mềm yếu nên nói lãng đi:
- Ê, Yap - mày đó hả?
Tuy vậy, Tom cũng để cho người ta hôn mình, nhưng khi Maggie lên tiếng và bám lên cổ nó, Tom đảo đôi mắt xanh dọc theo khu trại nhỏ, đàn trừu và con sông, nơi nó tự hứa sẽ ra câu vào sáng sớm mai. Tom là một cậu bé bình thường như các cậu bé khác trên khắp nước Anh, khoảng mười hai hay mười ba tuổi, ở lứa tuổi này chúng giống hệt nhau như những chú ngỗng con - một cậu bé tóc màu nâu sáng, má màu kem hồng, môi dầy, mũi và chân mày không có gì đặc sắc - một dung mạo chẳng có gì khác biệt lắm những cậu bé thường gặp. Nhưng Maggie thì khác hẳn, tạo hóa đã nhào nắn và tô điểm cô bé một cách tỉ mỉ. Nhưng cũng chính tạo hóa kỳ xảo đã che giấu tất cả dưới một bề ngoài khoáng đạt, nhu hòa, làm cho những người mới gặp đều tưởng rằng mình có thể nhìn suốt được tâm hồn của cô bé, trong khi cô ta âm thầm chuẩn bị một bác luận đối với lòng xác tín của họ. Dưới lớp vỏ ấy, cô bé giấu được sự lãnh đạm, tánh kiên quyết và hầu hết cá tính bướng bỉnh của mình, và đôi mắt đen láy, hiếu động trong chốc lát có thể đổi sang thụ động trong một dung mạo bình thường, hồng hào như con trai.
Khi mẹ vừa đi khỏi để soát lại rương quần áo, Tom kéo em tới một góc:
- Maggie, mày biết trong túi tao có gì không?
- Không, cái gì mà coi bộ nặng quá vậy anh Tom? Bi hay là hạt dẻ?
Tim Maggie chợt thắt lại, vì bỗng nhớ Tom vẫn thường không cho mình chơ trò bắn bi – cô bé chơi quá tệ.
- Không phải bi, tao đổi bi cho mấy đứa bạn hết rồi, cũng không phải hạt dẻ nữa, đồ ngốc, hạt dẻ mùa này hãy còn xanh. Coi nè!
Tom vừa nói vừa thò tay vào túi áo phải.
Maggie thì thầm:
- Cái gì vậy? Em chỉ thấy cái gì vàng vàng thôi.
- Kìa, đây là một vật mới... đoán thử coi, Maggie!
Maggie sốt ruột:
- Ồ, em không đoán nổi đâu!
Tom vừa nói vừa thọc tay vào túi, nét mặt quả quyết:
- Đừng có nóng, nếu không tao sẽ không nói đâu.
Maggie nắm lấy bàn tay của anh đang giữ chặt trong túi, nài nỉ:
- Không đâu Tom, em không xấu tánh đâu, chỉ tại em không thể đoán nổi thôi. Em năn nỉ anh mà.
Tay Tom từ từ duỗi nhẹ ra:
- Được rồi, dây câu đây - hai bộ mới tinh - một bộ dành cho mày, Maggie, mày toàn quyền sử dụng. Tao bớt ăn bánh kẹo để dành tiền mua đó, thằng Gibson và Spouncer đã đánh lộn với tao vì tao nhịn ăn quá... còn đây là lưỡi câu, nhìn xem... Tao tính ngày mai mình ra Vũng Tròn câu, chịu không? Và mày sẽ câu được cá cho chính mày, Maggie, móc mồi vào và nhiều thứ khác nữa, chịu chưa?
Maggie trả lời bằng cách quàng hai tay lên cổ Tom, im lặng áp má vào má anh. Trong khi đó Tom mở gói dây câu sau một thoáng ngần ngừ:
- Mày thấy bây giờ tao có phải là một người anh tốt chưa? Tao mua dây câu cho mày xài. Mày biết chớ, tao đâu có bị bắt buộc phải mua cho mày nếu tao không muốn.
- Phải, anh rất, rất tốt... Em thương anh Tom lắm.
Tom cho bộ dây vào túi áo trở lại, mân mê hai lưỡi câu một lúc rồi tiết lộ:
- Tụi nó đánh tao vì tao không chịu thua chúng về chuyện kẹo.
- Trời ơi! Chắc tụi nó đánh anh ở trong trường hả Tom, anh có đau không?
- Đau hả? Không bao giờ.
Tom vừa nói vừa cho móc câu vào túi, lấy ra một con dao xếp to bản và chậm chạp mở lưỡi dao to nhứt ra, trầm ngâm nhìn trong khi ngón tay vuốt dài theo sóng. Một lúc sau, nó tiếp:
- Tao đánh bầm mặt thằng Spouncer – ai bảo nó muốn đánh tao, tao không chia quà bánh vì ai cũng muốn đánh lộn với tao.
- Ồ, anh can đảm quá! Em thấy anh như Samson. Nếu có con sư tử nào muốn vồ em, chắc chắn là anh sẽ đánh nó – phải không anh Tom?
- Làm gì có sư tử vồ, đồ ngu! Không hề có sư tử, chỉ có trong kịch thôi.
- Thì không, nhưng nếu mình sống ở xứ sư tử - em muốn nói Phi Châu nơi đó nóng dữ lắm - sư tử ăn thịt người ta ở đó. Em có thể đưa anh coi cuốn sách mà em đã đọc được.
- Được, vậy thì tao sẽ sắm một khẩu súng để bắn nó.
- Nhưng nếu anh không có súng? Chúng ta bắt buộc phải ra ngoài - thí dụ như đi câu cá, rồi có một con sư tử khổng lồ gầm lớn chạy tới, và mình không thể chạy đi đâu được thì anh Tom sẽ làm gì?
Tom ngập ngừng, và sau cùng khinh khỉnh quay đi:
- Nhưng sư tử đâu có mà chạy tới. Nói chuyện như vậy có ích gì?
Maggie đi theo.
- Nhưng em thích tưởng tượng lúc đó. Để coi... lúc đó anh sẽ làm gì?
- Ồ, đừng lôi thôi, Maggie! Mày đúng là một con khùng. Để tao đi coi mấy con thỏ.
Tim Maggie đập rộn.
Cô bé không dám nói ngay sự thật, mà chỉ im lặng, run rẩy bước theo Tom, nghĩ cách phải báo tin thế nào để Tom vừa nghe mà không thấy giận và hối tiếc. Thật vậy, Maggie không sợ gì hơn là cơn giận của Tom – khác hẳn với cơn giận của chính cô.
Maggie rụt rè lên tiếng khi cả hai bước ra ngoài.
- Tom, anh mua bầy thỏ hết bao nhiêu?
Tom hãnh diện:
- Năm si-ling (1) sáu xu.
(1) Tiền Anh, bằng 1/20 đồng bằng (pound sterling) bằng mười hai xu (penny)
- Chắc là cái hộp thiếc đựng tiền của em trên lầu còn nhiều hơn số tiền đó. Em sẽ nói má cho anh.
- Để làm gì, tao không cần tiền của mày, đồ ngốc. Tao còn có nhiều tiền hơn mày nữa, và tao là con trai mà. Lúc nào tao cũng có nhiều đồng vàng để mua đồ Giáng Sinh. Tao sắp là một người đàn ông, còn mày thì chỉ có năm si-ling là hết mức rồi vì mày là con gái, hiểu chưa?
- Hiểu, nhưng em muốn dự chi cho anh năm si-ling sáu xu, để anh mua thêm thỏ, được không?
- Mua thêm thỏ? Không cần.
- Nhưng mà... anh Tom ơi, chúng nó chết hết rồi.
Tom dừng sững lại, quắc mắt:
- Mày quên cho chúng ăn, và thằng Harry cũng quên luôn, phải không?
Hai má thằng bé nóng ran lên một lúc, rồi tái xanh ngay:
- Tao sẽ đánh thằng Harry. Và tao sẽ không thương mày nữa, Maggie. Ngày mai mày không được đi câu với tao. Tao đã dặn mày lo cho lũ thỏ mỗi ngày mà.
Tom tiếp tục bước đi.
- Phải, nhưng em quên – em không thể làm gì được, thật đó, Tom. Em cũng tiếc chúng ghê lắm.
Nước mắt cô bé ràn rụa nhưng Tom vẫn lạnh lùng nghiêm khắc:
- Mày là một đứa con gái hư. Tao tiếc là đã mua dây câu cho mày. Tao không thể thương mày được nữa.
Maggie sụt sùi:
- Tom, anh độc ác quá. Lúc nào em cũng sẵn sàng tha thứ cho anh, nếu anh có quên làm bất cứ một chuyện gì cho em cũng chẳng bao giờ em giận anh.
- Phải, nhưng mày khùng quá còn tao thì không bao giờ quên bất cứ chuyện gì.
- Tom, em xin anh tha lỗi, em khổ sở lắm rồi.
Maggie vừa nói vừa khóc nức nở, cô bé bám vào cánh tay Tom và áp má đẫm ướt nước mắt của mình vào vai anh.
Tom hất em ra, dừng bước lần nữa, giọng thật quả quyết:
- Nè, Maggie, mày nghe tao nói đây. Tao có phải là người anh tốt đối với mày không?
- Phả... ả... ải!
Maggie ngửng nhìn lên rồi lại gục đầu:
- Có phải tao đã nghĩ tới chuyện mua dây câu cho mày, tao đã để dành tiền, không mua kẹo chia cho thằng Spouncer để nó gây lộn với tao không?
- Phả... ả... ải... và em cũng thư... ơng anh Tom nữa.
- Nhưng mày hư quá. Kỳ lễ trước mày đã làm hư hộp màu của tao, lần trước nữa mày đã để cho xuồng kéo chìm dây câu của tao mặc dầu tao đã dặn mày coi chừng giùm, mày lại còn làm hư con diều của tao và nhiều thứ khác nữa.
- Nhưng em đâu muốn vậy. Em không biết phải làm thế nào.
- Hừ, mày có thể làm được tất cả nếu mày chịu chú ý tới việc mày làm. Nhưng mày hư quá, mày sẽ không được đi đâu với tao sáng mai.
Sau quyết định khủng khiếp đó, Tom bỏ mặc Maggie, chạy thẳng vào nhà máy, tìm bác thợ cả Luke, than phiền về thằng Harry.
Maggie đứng bất động, khóc ngất một hay hai phút rồi chạy vụt vào nhà, lên ngay gác thượng. Cô bé ngồi bệt xuống sàn ván, tựa đầu vào chiếc kệ cũ kỹ, buồn vô hạn. Tom đã về cô tưởng mình sẽ được nhiều sung sướng - vậy mà bây giờ Tom lại quá tàn nhẫn. Tom đã không còn thương cô nữa thì cuộc đời có nghĩa lý gì nữa? Ôi, Tom độc ác! Bộ cô không đề nghị đền tiền, không tỏ ý hối tiếc sao? Maggie biết mình hay ngỗ nghịch với mẹ, nhưng có bao giờ ngỗ nghịch với Tom đâu - cô không bao giờ muốn làm trái ý người anh đó cả.
- Ồ, anh ấy tàn ác quá!
Cô bé khóc to lên, và tìm đôi chút an ủi qua tiếng âm vang trên những khoảng trống dài nơi gác thượng. Cô không nghĩ tới việc đánh đập và chà sát con búp bê của mình nữa. Một khi đã quá khổ thì khó có thể mà nổi giận.
Ôi, những nỗi buồn thơ ấu! Ngày đó ưu phiền còn hoàn toàn mới mẻ và lạ lùng, ngày mà hy vọng chưa mọc cánh bay khỏi tháng ngày, và khoảng trống giữa các mùa hè hình như cứ kéo dài vô tận.
Maggie chợt nghĩ mình đã ngồi trên gác có lẽ đã hàng mấy giờ rồi và có lẽ bây giờ đang là giờ uống trà, cả nhà đang quây quần bên bàn và chẳng nghĩ gì tới cô nữa cả. Cũng được, mình sẽ ngồi lì nhịn đói ở đây – sẽ núp sau cái chậu gỗ và sẽ ở lại suốt đêm. Phải rồi, cứ để cho họ mặc tính hoảng sợ và mặc cho Tom hối hận. Maggie kiêu hãnh nghĩ thầm như vậy khi bò về phía sau chậu gỗ. Nhưng cô chợt khóc òa lên với ý nghĩ là biết đâu họ lại chẳng nhớ ra. Nếu bây giờ mình xuống, Tom có chịu tha thứ cho không? Cha cô đang có mặt ở đó, có lẽ người sẽ giúp cô. Nhưng Maggie lại muốn Tom tha thứ vì tình thương với cô hơn là vì phải vâng lời người lớn. Không, cô sẽ không bao giờ xuống nếu Tom không lên để đón cô. Toàn bộ vấn đề đã gây sôi nổi trong suốt năm phút trong bóng tối của cái chậu bằng cây. Nhưng sau đó, nhu cầu được thương yêu, cái nhu cầu mãnh liệt trong cá tính của Maggie bắt đầu tấn công lòng kiêu hãnh và tiêu diệt nó ngay. Maggie bò ra ngoài ánh sáng lờ mờ của buổi chiều trên căn gác, và ngay lúc đó có tiếng chân bước vội trên thang.
Tom đã chuyện trò khá vui vẻ với bác Luke, rồi đi thơ thẩn trong vườn tìm cây đẽo gọt làm cần câu. Nó chẳng nghĩ gì tới Maggie và hiệu quả sự giận dữ của mình đối với em. Nó muốn trừng phạt em, và nhất định phải thi hành ý định đó. Bởi thế nó chỉ bận rộn với những chuyện khác, y như một người lớn đã quen cùng thực tế. Nhưng khi được gọi vào dùng trà và người cha hỏi:
- Ủa, con gái tôi đâu rồi?
Và bà Tulliver cũng lên tiếng gần như cùng một lúc với chồng:
- Em con đâu?
Cả hai người đều tưởng Maggie và Tom đã ở bên nhau suốt buổi chiều:
Tom đáp gọn:
- Con không biết.
Nó không muốn nhắc tới Maggie vì còn giận, và bởi vì Tom Tulliver là một cậu bé có tư cách kia mà.
Người cha nhíu mày:
- Cái gì? Không phải nó đã chơi với con suốt buổi chiều sao? Nó mong con về lắm mà.
Tom vừa nói vừa ăn một miếng bánh nho:
- Hai tiếng đồng hồ con không thấy nó!
- Chúa ơi! Vậy là nó chết chìm rồi!
Bà Tulliver kêu hoảng, đứng phắt dậy và chạy ra cửa sổ:
- Sao con không chịu coi chừng nó?
Ông Tulliver gắt:
- Nè, nè, nó không chết đuối đâu. Con đã rầy mắng em, phải không Tom?
Tom cáu kỉnh:
- Thưa ba, không có đâu. Con tưởng nó ở trong nhà.
Bà Tulliver nói:
- Vậy chắc là nó đang ở trên gác thượng, ca hát nghêu ngao và nói chuyện một mình đến nỗi quên mất giờ ăn.
- Con lên gọi nó xuống đây, Tom.
Giọng ông Tulliver hơi xẵng, tình phụ tử sáng suốt khiến ông nghi ngờ thằng bé đã gắt gỏng với «đứa con gái cưng» của ông, có bao giờ nó chịu rời xa anh nó? Và ông tiếp:
- Phải dịu dàng với em, nghe chưa? Nếu không thì liệu hồn!
Tom không bao giờ dám cãi lời cha, vì ông Tulliver là người độc đoán và như thường nói, khi ông đã đánh đòn thì đừng hòng có ai cản ngăn nổi. Tom đành phải nhăn nhó đứng lên, nhưng không quên mang theo phần bánh của mình. Thằng bé chưa nghĩ đến chuyện tha lỗi cho em, hình phạt đâu có gì quá đáng. Tom chỉ mới mười ba, chưa xong văn phạm và toán pháp, nó xem đó như là những vấn đề toàn diện - chỉ có một vấn đề nó rất thấu đáo và tự chủ - đó là trừng phạt thật xứng đáng.
Tiếng chân mà Maggie vừa nghe chính là tiếng bước của Tom đúng vào lúc nhu cầu được thương yêu vừa chiến thắng lòng kiêu hãnh của cô. Maggie định xuống nhà với đôi mắt đỏ hoe và mái tóc rối bù để gợi lòng trắc ẩn của mọi người. Thế nào cha cô cũng vuốt tóc, dỗ dành đừng buồn, con gái. Sự cần thiết tình thương đã chiến thắng một cách tuyệt dịu nỗi khao khát của con tim cũng độc đoán như sự khao khát khác mà tạo hóa đã bắt buộc ta phải mang vào, và thay đổi cục diện thế giới.
Nhận rõ tiếng bước của Tom, tim cô bé đập rộn trong lồng ngực với một hy vọng tới bất ngờ. Tom chỉ đứng ở đầu thang và nói:
- Maggie, mày phải xuống ngay.
Nhưng cô bé đã chạy tới, bám vào cổ anh, nức nghẹn:
- Tom, tha lỗi cho em – em không chịu nổi – em sẽ luôn ngoan ngoãn, em sẽ nhớ hết tất cả – thương em nghe anh Tom!
Lúc đã lớn khôn, chúng ta đều biết tự chế. Khi cãi nhau, chúng ta biết cách làm ra vẻ dửng dưng, biết dùng những câu trí thức, một mặt để biểu lộ sự cương quyết của mình, và mặt khác, đề âm thầm nuốt ưu phiền. Chúng ta không còn xử sự theo những xung lực nhứt thời như những con vật hạ đăng mà hành động đúng theo phong thái của xã hội văn minh, tiến bộ. Maggie và Tom vẫn như hai con thú còn tơ, do đó khi Maggie dụi má vào má Tom và hôn tai anh một cách ngẫu nhiên, cậu bé nguôi giận và quên đi ý định trừng phạt em cho xứng đáng. Nó hôn lại và giọng dịu hẳn đi:
- Thôi, đừng khóc nữa, Maggie - nè ăn một miếng đi.
Maggie nín khóc, cắn một miếng bánh và Tom cũng cắn một miếng, hai anh em vừa ăn vừa cọ mãi vào nhau như hai chú ngựa con:
Khi đã hết bánh, Tom bảo:
- Thôi, tụi mình xuống uống trà.
Thế là một ngày buồn phiền đã đi qua. Sáng hôm sau Maggie chạy tung tăng ra khỏi nhà với chiếc cần câu riêng ở một tay và một tay xách giỏ, cô bé trông rạng rỡ dưới vành nón vì Tom đã có thái độ ân cần. Maggie nói là mình thích được anh móc mồi giùm cho, mặc dầu cô bé đã nhìn nhận lời của Tom cho rằng côn trùng không có cảm giác. Tom rất thông thạo về các loại côn trùng, cá và các thứ cùng loại, nó biết phân biệt các loại chim độc hại, biết cách mở ổ khóa và biết cách mở then cổng ra sao. Đối với Maggie, đó là loại kiến thức tuyệt dịu - còn khó nhớ hơn những thứ trong sách gấp mười lần. Maggie rất kính nễ anh vì Tom là người duy nhứt dám gọi sự hiểu biết của cô là «đồ lặt vặt» và không hề ngạc nhiên vì óc thông minh của em. Thật vậy, Tom cho rằng Maggie chỉ là một con ngốc, tất cả con gái đều ngốc nghếch – chúng không thể nào dùng đá ném được một thứ gì, không biết cách sử dụng dao xếp bỏ túi, lại còn sợ cả cóc nhái nữa. Tuy nhiên cậu bé cũng rất thương em, lúc nào cũng muốn bảo vệ em và trừng phạt khi em phạm lỗi.
Hai anh em đang trên đường tới núi Vũng Tròn – đó là một cái vũng được nước lụt tạo nên cách đây lâu lắm, không ai biết đích xác nó sâu được bao nhiêu, lại còn mang một sắc thái huyền bí nữa. Vũng nước có một hình dáng gần như tròn đều, được viền quanh bởi những cây liễu và những cụm lau sậy um tùm, chỉ có thể thấy được mặt nước khi đã tới sát bờ. Quang cảnh thích thú nhứt ngày xưa làm Tom cởi mở hơn. Nó thì thầm nói chuyện với Maggie một cách vô cùng thân thiện trong khi mở giỏ và bày dụng cụ ra. Nó ném dây câu cho em và đặt cần câu vào tay cô bé. Nhưng chỉ một lúc là cô bé quên khuấy chuyện cá, rồi cứ mơ màng nhìn mặt nước lóng lánh như gương.
- Coi kìa, Maggie!
Tom chợt kêu lên khe khẽ và chạy vội tới giữ cho cần câu khỏi tuột khỏi tay em. Maggie hoảng sợ vì tưởng rằng mình vừa phạm một lỗi lầm nào như thường lệ, nhưng ngay sau đó Tom vẫn kéo dây câu của em lên với một con cá mè khá lớn dẫy dụa trên bãi cỏ.
Tom phấn khởi:
- Maggie, lấy đồ trong giỏ ra mau, cưng!
Maggie không hiểu mình đã làm gì để được lời âu yếm bất thường này nhưng Tom đã gọi cô là Maggie và «cưng» tỏ ra hài lòng là đủ lắm rồi. Tràn trề hạnh phúc giữa những tiếng thì thầm và trong sự im lặng như mơ cô bé lắng nghe tiếng động nhẹ của con cá quẫy trên mặt nước và tiếng cây cối xạc xào dìu dặt. Dường như rặng liễu, hàng lau và mình nước đang vui vẻ trò chuyện với nhau. Đối với Maggie, ngồi bên vũng nước giữa khung cảnh êm đềm này cũng thần tiên như ở thiên đàng, và nhứt là không bị rầy rà, trách mắng. Nếu Tom không lên tiếng, cô bé cũng không biết cá đã mắc câu.
Đó là một trong những buổi sáng sung sướng nhứt của cả hai anh em. Cả hai cùng vui đùa với nhau vô tư lự, không nghĩ chút gì về những đổi thay trong cuộc sống. Nhà máy xay đang hồi phát đạt cây dẻ cổ thụ mà hai anh em thường chơi đùa dưới bóng mát ở nhà – con sông Riple bé nhỏ của riêng hai anh em, nơi Tom vẫn thường ngắm mấy con chuột nước, trong khi Maggie đi nhặt nhạnh bông lau tím để rồi sau đó lại chán và liệng bỏ hết đi – quyến rũ hơn hết là dòng sông Floss vĩ đại, mà hai anh em thường đi dạo dọc theo bờ với cảm giác của hai nhà thám hiểm, hoặc nhìn con nước Eagre hung hãn ùa vào như một hung thần, hay nhìn cây trần bì cổ thụ trước đây có lần phát ra những tiếng rên la như tiếng của người – tất cả những thứ đó không bao giờ thay đổi với hai anh em. Tom nghĩ tới những thiệt thòi mà dân chúng sống ở các nơi khác phải gánh chịu, còn Maggie khi đọc đoạn Christiana đi qua «con sông không một chiếc cầu», vẫn thấy con sông Floss chạy giữa những cánh đồng xanh, bên cạnh cây trần bì cổ thụ.
Cuộc đời đã thay đổi đối với Tom và Maggie, tuy nhiên chúng không hề sai lầm khi tin rằng tư tưởng và tình thương của những năm thơ ấu này sẽ luôn luôn dính liền vào cuộc sống của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yêu thương đất đai nếu chúng ta không sống ở đó từ thuở nhỏ – nếu mảnh đất chúng ta đang ở, hàng năm vào mùa xuân không nở cho ta những nụ hoa mà chúng ta vẫn thường hái khi ngồi chơi trên cỏ; mùa thu, trên hàng rào cây, không thấy bóng dáng của nụ sơn trà và dã tường vi; và cũng không có những con chim họa mi cổ đỏ, vẫn được quen gọi là «loài chim của Thượng Đế» vì chúng không phá hại những hạt lúa quí báu của loài người.
Khu rừng nhỏ mà tôi đang dạo bước trong một ngày đầu xuân, với những tàng xồi vàng thẩm nhô lên giữa trời xanh, với những nụ ngọc trâm trăng trắng và những cây huyền sâm hoa xanh, với những dây trường xuân bò sát dưới chân tôi – những rừng chà là nhiệt đới, những cây dương xỉ kỳ lạ, những nụ hoa cánh to rực rỡ, có bao giờ khơi dậy một xúc cảm thâm sâu và dịu dàng trong tôi như những cảnh ở quê nhà? Những nụ hoa quen thuộc đó, những tiếng hót không bao giờ quên được này cũng như khung trời rực rỡ kia, cùng những cánh đồng xanh và những luống cày – tất cả những thứ đó đều là ngôn ngữ riêng của trí tưởng ta, một thứ ngôn ngữ chứa đầy những giờ phút êm đềm thoáng qua trong thời thơ ấu. Sự sung sướng của chúng ta trong một ngày nắng ấm, trên một bãi cỏ êm đềm hôm nay có lẽ cũng không hơn gì sự nhận thức của những tâm hồn mệt mỏi, nếu những ngày nắng và bãi cỏ xanh của những năm xa xưa không còn sống ở trong ta và biến đổi sự nhận thức của chúng ta thành một thứ tình thương.
ĐÃ TỚI MÙA PHỤC SINH, NHỮNG CHIẾC BÁNH bông lan của bà Tulliver hôm nay lại còn nhẹ hơn ngày thường nữa.
Chị người làm Keza tuyên bố:
- Một hơi gió thoảng cũng đủ làm mấy cái bánh của bà chủ bay phất phới như lông chim.
Chị rất hãnh diện được giúp việc cho một bà chủ khéo tay như vậy. Mọi việc đều tiến triển theo một chiều hướng thuận lợi cho một cuộc họp mặt gia đình sắp diễn ra để vấn ý hai bà Glegg và Pullet về việc gởi Tom đi học.
Bà Tulliver nói:
- Lần này tôi tính không mời dì Dean. Dì ấy hay ganh tị và hay tìm cách kể xấu mấy đứa con mình với các dì dượng chúng.
Ông Tulliver đáp:
- Đừng, đừng, cứ mời có sao đâu. Mấy lúc gần đây tôi không có dịp nói chuyện với dượng Dean, cũng đã gần nửa năm rồi. Dì ấy nói gì thì nói, để ý làm chi? Con tôi không cần mang ơn ai cả.
- Ông cũng nói vậy sao, ông Tulliver? Có điều tôi chắc là bên họ hàng nhà ông sẽ chẳng có người nào để lại cho tụi nhỏ được tới năm bảng sau khi chết, nhưng chị Glegg và chị Pullet thì đang để dành tiền, không rõ bao nhiêu, họ đã dành hết lợi tức riêng và tiền bán phó mát của họ, chồng họ mua cho đủ thứ hết.
Bà Tulliver là người nhu hòa, nhưng ngay cả một con trừu cũng có thể nổi hung lên được khi nó đã có một đàn con.
- Hừ! Mật ít ruồi nhiều. Một nhúm tiền của chị em bà mà có nghĩa lý gì khi họ có hàng tá cháu trai, cháu gái để chia chác? Và biết đâu cô em Dean của bà lại không xúi hai bà kia để hết tiền lại cho con dì ấy? Tôi chắc họ sẽ làm cho hàng xóm có dịp để dị nghị sau khi họ chết đi.
- Tôi không hiểu là còn có điều gì mà dì ấy không làm, vì lũ con của tôi bướng bỉnh với dì dượng của chúng quá. Maggie thì ngoan cố gấp mười lần thường lệ khi có mặt họ, còn thằng Tom thì chẳng ưa gì ai, tệ quá thôi – dầu gì đi nữa thì đó cũng là chuyện thường với con trai hơn là con gái. Con nhỏ Luck Dean mới nhu mì làm sao – ông để nó ngồi lên ghế là nó ngồi yên ở đây luôn cả giờ. Chẳng làm sao mà không thương được một con bé như nó, tôi chắc nó còn giống tôi hơn cả con gái của tôi nữa.
- Được, nếu bà thương con nhỏ đó thì càng nên mời cha mẹ nó dẫn nó theo. Và tại sao bà không mời vợ chồng dượng Moss luôn? Và vài đứa con của họ nữa?
- Kìa, ông Tulliver, tính ra đã có tám người rồi, không kể mấy đứa nhỏ. Ông cũng thừa biết chị em tôi và cô em ông đâu có hợp nhau.
- Thôi được, Bessy, bà cứ tùy ý lo liệu.
Ông Tulliver vừa nói vừa lấy nón đi ra nhà máy.
Ít có bà vợ nào biết phục tùng chồng trên tất cả các phương diện - trừ phương diện liên hệ tới họ hàng mình - như bà Tulliver. Nhưng bà đã từng là một thiếu nữ Dodson, thật vậy, Dodson là một danh giá vọng tộc ở quê hương họ. Các cô Dodson lúc nào cũng nghĩ cách nâng cao danh giá của mình nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy hai người chị lớn rất kén chồng - họ không chịu kết hôn sớm, đó không phải là đường lối của dòng Dodson. Họ có một lối sống khác hẳn các gia đình khác: quần áo được giặt theo một phương pháp đặc biệt, họ cũng có một lối cất giữ rượu ngọc trâm, đùi heo múi được làm theo một lối riêng, họ cũng có một lối cất giữ rượu phúc bồn tửu gia truyền. Vì vậy, các cô gái của gia đình đó không khỏi thấy hãnh diện khi mình là một người mang họ Dodson thay vì Gibson hay Watson. Dòng họ Dodson cũng có những nghi thức tống táng riêng biệt: băng nón không được dùng màu xanh, găng tay không bao giờ chừa riêng ngón cái, phu đoàn phải mang khăn choàng cổ. Khi có một người trong họ gặp chuyện rắc rối hay đau yếu, tất cả những ai còn lại đều tới thăm người không may, thường là cùng một lúc. Một người đàn bà họ Dodson khi ở nhà một người lạ, chỉ luôn dùng bánh và trà, làm ngơ trước các loại mứt và nghi ngờ các loại bơ. Họ nghĩ biết đâu những món đó lại sắp lên men vì sên đường chưa tới hay nấu không đúng cách. Cũng có vài người Dodson hơi khác những người cùng họ một chút – điều này còn chấp nhận được, có «bà con» với nhau, dầu xa tới mấy đi nữa, cũng còn hơn là những người «không bà con» gì cả. Có điều đáng chú ý là các cá nhân Dodson không bằng lòng nhau lắm, họ chỉ bằng lòng với chính họ và tập thể Dodson thôi. Người yếu nhứt trong họ – kẻ không hội đủ các đặc tính Dodson – cũng vẫn là một cuốn toát yếu cho thói quen và truyền thống gia đình. Và bà Tulliver cũng là một người Dodson dầu chỉ là một người an hòa, tầm thường. Mặc dầu ngày xưa đã từng gánh chịu nhiều khổ sở bởi thái độ khắc nghiệt của hai người chị, bà cũng không phải là một người cấp tiến trong gia đình. Bà cảm thấy sung sướng vì mình là một người Dodson, và đã có một đứa con giống dòng họ của mình, ít ra nó cũng giống họ Dodson về dung mạo và cách suy luận, về tánh thích ăn muối và đậu, mà những ai trong họ Tulliver đều không bao giờ có.
Những đặc tánh khác của họ Dodson đều tìm ẩn trong Tom, tuy nhiên cũng không ưa gì «bà con» bên mẹ nó hơn Maggie. Tom vẫn thường vắng mặt trong những ngày biết có các dì dượng tới, đó là một triệu chứng tinh thần báo trước một tương lai đen tối của Tom, dì Glegg suy đoán vậy. Maggie vẫn rất khổ tâm vì Tom cứ bỏ trốn mà không bí mật báo trước với cô, nhưng cô bé cũng tự biết là không có quyền gây trở ngại cho những toan tính của anh.
Một ngày trước hôm các dì dượng tới, khắp nhà đều tỏa hương ngào ngạt, mùi bánh nướng, mùi mứt hòa lẫn với mùi nước sốt, thật khó mà ngồi yên. Tom và Maggie xuống bếp không biết bao nhiêu lần, chúng đứng lóng nhóng cho tới khi nào được ăn mới chịu thôi.
Maggie hỏi Tom khi hai anh em đang ngồi ăn bánh nhân mứt trên nhánh cây hương mộc:
- Anh Tom, ngày mai anh có trốn nữa không?
Tom đã ăn xong cái bánh của mình, nhìn sang cái bánh thứ ba, phần chung của hai đứa, và chậm chạp trả lời:
- Không, tao không trốn đâu.
- Ủa, sao vậy? Tại có con Lucy tới hả?
- Không.
Tom mở con dao xếp ra, đặt lên chiếc bánh, đầu ngoẹo sang một bên, có vẻ do dự (thật khó mà chia một cái bánh hình đa giác làm hai phần đều nhau).
- Con Lucy thì ăn nhằm gì tao? Nó chỉ là một đứa con gái – nó không biết chơi trò đánh quần.
Maggie chồm về hướng Tom, mắt vẫn không rời con dao:
- Bánh rượu phải không anh?
- Không phải, đồ ngu, tới mai mới có. Đây là bánh trái cây. Tao biết bánh trái cây làm bằng gì rồi – trái mơ cuốn lại – ồ!
Cùng một lúc với tiếng kêu, lưỡi dao ấn xuống xắn cái bánh làm hai, nhưng kết quả có lố không làm Tom vừa ý, vì nó vẫn còn nhìn lại hai mẫu bánh với vẻ nghi ngờ. Sau cùng, nó bảo:
- Nhắm mắt lại, Maggie!
- Chi vậy?
- Đừng hỏi. Cứ nghe lời tao đi.
Maggie vâng lời.
- Rồi đây, bây giờ mày chọn phần bên tay nào, phải hay trái?
Maggie vẫn nhắm nghiền đôi mắt cho anh mình hài lòng:
- Và em sẽ có một phần bánh không mứt?
- Sao nói vậy, đồ ngốc! Đúng ra thì mày sẽ không có mứt, nhưng tao sẽ chia ngang với mày. Bây giờ chọn đi, phải hay trái – Ê, nhắm mắt lại chớ nếu không là sẽ không có phần nào hết.
Maggie nhắm mắt lại cho tới khi nghe Tom nhắc lại câu hỏi mới trả lời:
- Tay trái.
Giọng Tom hơi tiếc rẻ:
- Rồi, lấy đi.
- Ủa! Cái miếng không có mứt đâu?
Tom quả quyết đưa phần bánh ngon nhứt cho Maggie:
- Không, đây nè, cầm đi.
- Ồ, không đâu, anh Tom – em thích miếng kia hơn, đưa em miếng đó đi.
Tom hơi gắt:
- Không.
Và nó bắt đầu ăn phần bánh của mình.
Thấy có năn nỉ thêm cũng vô ích, Maggie ăn ngay phần bánh của mình. Nhưng Tom đã ăn hết trước, nó nhìn lên Maggie trong khi cô bé đang ăn những mẫu cuối cùng, cảm thấy thèm thuồng. Maggie không biết Tom đang nhìn mình, cô bé ngồi lắc lư trên nhánh hương mộc, nghĩ ngợi vẩn vơ.
- Đồ tham ăn!
Câu mắng của Tom buông ra vừa vặn lúc Maggie cho mẫu bánh cuối cùng vào miệng. Cậu bé cho rằng mình đã xử sự rất công bằng, và nghĩ rằng Maggie phải để ý tới điều đó và phải đền bù cho đôi chút. Lúc nãy nó đã từ chối nhưng dĩ nhiên lần này lại có một ý nghĩa khác và đã có một phần bánh đã ăn xong.
Maggie tái mặt, quay lại:
- Ồ, Tom, sao anh không hỏi em?
- Tao không thèm hỏi, đồ tham ăn. Đáng lẽ mày phải nghĩ tới chớ không đợi phải nhắc, nhứt là mày biết tao đã đưa mày miếng ngon nhứt.
Maggie khổ sở:
- Nhưng em đã nhường cho anh trước rồi mà.
- Phải, nhưng tao không tham lam như thằng Spouncer. Nếu mày không đánh nó là nó sẽ chia một phần nhỏ hơn, và nếu mày nhắm mắt lại và chọn đúng phần lớn thì nó sẽ đổi tay. Nhưng nếu tao chia thì tao phải chia đồng đều – vì tao không phải là đứa tham ăn.
Dứt lời, Tom nhảy xuống đất, ném một hòn đá và gọi Yap – nãy giờ vẫn ngồi chực từ dưới nhìn lên, hai tai ve vẫy với vẻ thất vọng rõ rệt. Tuy nhiên, Yap cũng mau mắn đáp ứng lời gọi của Tom, chứng tỏ rằng mình lúc nào cũng là một thứ chó rộng lượng.
Maggie vẫn ngồi yên trên nhánh cây, chìm đắm trong chua xót vì những lời khiển trách bất công. Đáng lẽ mình không nên ăn hết miếng bánh mà phải chừa cho Tom đôi chút. Nhưng Tom đã từ chối rồi kia mà – và mình đã ăn mà không nghĩ ngợi gi cả – làm sao nhớ tới chuyện đó được? Maggie khóc nức nở suốt mười phút sau, nước mắt ràn rụa khiến cô bé chẳng còn nhìn thấy gì chung quanh nữa. Nhưng rồi cơn giận lại bắt đầu nhường chỗ cho ý định hòa giải, Maggie nhảy xuống đất tìm anh. Tom không còn trong sân ngựa phía sau sân chứa rơm - có lẽ đã về nhà với Yap rồi. Maggie chạy tới bờ đất cao cạnh cây ô rô già, từ đó có thể quan sát được dòng sông Floss. Tom kìa, nhưng tim Maggie chợt thắt lại khi thấy là Tom đã đi quá xa về hướng bờ sông, và bên cạnh nó, ngoài Yap ra, còn có cả Bob Jakin một thằng bé nghịch ngợm trước đây được giao nhiệm vụ đuổi chim. Không hiểu tại sao Maggie lai đoán chắc Bob là một tên hung ác, có lẽ vì nó có một bà mẹ mập kinh khủng, sống trong một ngôi nhà tròn quái dị ở bờ sông. Có lần Maggie và Tom đi dạo ngang đó, bỗng một con chó nhảy xổ ra sủa dữ dội và khi bà mẹ của Bob từ trong nhà ra, kêu lớn là đừng sợ chó, Maggie đã hoảng vía vì tưởng bà ta hét với mình. Maggie tưởng tượng ngôi nhà tròn đó có rắn bò trên sàn nhà và có dơi bay trong phòng ngủ. Có lần cô đã thấy Bob giơ nón đưa cho Tom xem một con rắn nhỏ cuộn tròn bên trong, và lần khác, cô bé thấy nó cầm một nắm dơi con. Hơn nữa, Maggie có ác cảm với Bob Jakin vì khi Tom đi chơi với nó, Tom sẽ không nghĩ tới cô và không bao giờ cho cô theo.
Phải thành thật nhìn nhận rằng, Tom rất thích đi chơi chung với Bob. Làm sao mà không thích được? Vừa nhìn thấy một cái trứng chim Bob đã biết ngay đó là trứng chim én, chim bạc má hay chim họa mi, Bob tìm tổ ong rất giỏi và biết đặt hầu hết các loại bẫy, nó có thể leo cây nhanh như sóc và còn có một năng khiếu huyền bí giúp khám phá được những ổ nhím hoặc chuột hương lông trắng, nó cũng có đủ can đảm để làm những việc quỉ quái như chui vào nhà người, lấy đá liệng cừu và cả việc giết chết một con mèo đi lạc nữa. Tất cả những đặc điểm đó đã mê hoặc được Tom, và mỗi ngày Tom đi chơi với Bob là cả một ngày u sầu của Maggie.
Được! Chẳng còn hy vọng gì nữa, Tom đã đi chơi riêng, Maggie chỉ còn biết giải khuây bằng cách đi thơ thẩn dọc hàng rào cây và tưởng tượng một thế giới bé nhỏ theo ước muốn của cô.
Cuộc đời của Maggie như gắn liền vào phiền muộn, và óc tưởng tượng chính là một thứ ma túy cho cô bé.
Trong khi đó, Tom đang vội vàng theo bước Jakin - kẻ vừa gặp tình cờ - tới xem cảnh bắt chuột ở một nông trại gần đó. Nó đã quên mất Maggie và bao nhiêu phiền muộn đã gây ra cho em. Bob rất thông thạo công việc đặc biệt này, nó tả cho Tom nghe một cách tường tận và nhiệt thành đến nỗi dầu là người dửng dưng hay hoàn toàn không biết gì về chuyện bất chuột cũng có thể hình dung ra được môn thể thao này. Dầu bị nghi ngờ là độc ác và bất bình thường, Bob trông cũng không đến nỗi hạ tiện lắm, gương mặt với chiếc mũi tẹt và mái tóc quăn đỏ của nó cũng có đôi nét khả ái. Nhưng quần của nó thì lúc nào cũng xăn lên qua gối để tiện lặn lội ở những chỗ xâm xấp nước, và đức hạnh của nó – giả sử là có – hiển nhiên là thứ «đức hạnh giẻ rách» rất khó nhận thấy (có lẽ vì quá ít).
Bob nói bằng một giọng khàn và chát:
- Tôi biết một ông có nhiều chồn lắm.
Mắt nó không lúc nào rời mặt sông, như một động vật lưỡng thể, hễ có động tịnh là phóng xuống nước ngay, nó nói:
- Người đó ở Kennel Yard, St. Ogg’s. Ổng đi bắt chuột khắp các nơi. Ít lâu nữa tôi cũng làm nghề bắt chuột, tôi chỉ thích cái nghề đó. Cái thứ chuột nhúi không ăn thua gì với chuột đồng. Mà Chúa ơi! Cần phải có chồn mới săn chuột được. Chớ không làm gì được đâu. Ủa! Có con chó này nữa!
Bob khinh miệt chỉ Yap:
- Nó chẳng làm gì được đâu. Chính mắt tôi thấy – tôi đã có dự cuộc săn chuột ở trại của ba cậu.
Dường như hiểu được sự khinh bỉ của Bob, con Yap cụp đuôi, lùi vào chân chủ. Tom yếu ớt bênh vực:
- Yap không phải chó săn. Chừng nào học xong tao sẽ có nhiều chó săn thật cừ để săn chuột và các thứ khác.
Bob sốt sắng:
- Chồn của cậu Tom, loại chồn trắng mắt hồng. Chúa ơi, cậu sẽ tự tay bắt chuột, rồi cậu có thể nhốt chuột vào lòng chung với chồn để coi chúng cắn nhau. Tôi có làm rồi, vui ghê lắm.
Tom chậm rãi:
- Loại chồn là thứ hay cắn xé - khỏi cần xúi chúng cũng cắn lẫn nhau.
- Ủa, đó mới là cái hay của chúng...
Ngay lúc đó bỗng có tiếng động làm hai cậu bé dừng sững lại. Một vật gì đó vừa nhào xuống nước từ giữa bụi đăng tâm thảo. Bob quả quyết đó là một con chuột nước.
- Ê, Yap! Nó kìa Yap!
Tom vừa vỗ tay vừa gọi Yap khi thấy một cái mõm đen đủi đang rẻ nước tiến sang bờ bên kia.
- Rượt nó, cưng, rượt nó!
Yap phe phẩy hai tay và nhăn trán, nhưng không chịu phóng xuống nước mà chỉ sủa ầm ỉ như cố gắng đáp ứng phần nào lời kêu gọi của chủ.
- Hừ, đồ chết nhát!
Tức quá, Tom đá con Yap một cái và cảm thấy xấu hổ như một thợ săn gặp phải con chó quá tối. Bob tránh bình luận về Yap mà chỉ lần mò bước xuống chỗ nước cạn gần bờ sông. Nó khoan khoái đá nước tung tóe trước mặt và nói:
- Sông này vẫn còn cạn, sông Floss cũng vậy. Năm ngoái, các ruộng lúa đều phủ một màn nước.
Là kẻ có khuynh hướng thấy sự tương phản giữa những lời phát biểu, thật ra, hoàn toàn phù hợp của người khác, Tom cãi:
- Nhưng đã có lần vùng này bị lụt lớn, lần có cái Vũng Tròn đó. Tao biết vì tao nghe ba tao kể lại. Bò cừu gì cũng chết đuối hết, thuyền bè có thể đi lại khắp nơi trên đồng cỏ.
- Tôi không sợ nước lụt, tôi coi nước cũng như đất. Tôi biết lội mà.
- À, nhưng nếu ngày này qua ngày kia mày không có gì ăn?
Óc tưởng tượng của Tom bắt đầu hoạt động mạnh:
- Chừng nào lớn lên, tao sẽ làm một chiếc thuyền thật to trên nóc có một căn nhà gỗ, như con thuyền của Nô ê rồi chất đầy thức ăn lên đó - thỏ và các thứ khác – tất cả đều chuẩn bị sẵn sàng. Và khi nước dâng, mày thấy không Bob, tao chẳng lo gì cả... Và bắt gặp mày bơi, tao sẽ cho mày lên.
Tom thêm câu chót bằng một giọng kẻ cả. Nhưng đối với Bob đói kém không phải là một tai nạn lớn lao.
- Tôi không sợ, nhưng nếu cậu muốn ăn thịt thỏ, tôi sẽ lên thuyền đập đầu chúng cho.
- À, tao còn mấy đồng nửa xu, tụi mình chơi trò sấp – ngữa đi.
Tom đề nghị mà không nghĩ rằng đó là một trò chơi có lẽ không còn đủ sức quyến rũ nó vào cái tuổi thành thạo này nữa.
- Tao sẽ chia đều ra rồi coi thử ai thắng.
Bob hãnh diện:
- Tôi có nửa a xu nè.
Nó bước lên bờ và ném đồng nửa xu của nó lên không.
- Sấp ngữa?
Tom hăm hở:
- Sấp.
- Ngữa.
Vừa nói, Bob vừa cúi xuống chụp lẹ đồng xu.
Tom kêu lên:
- Không phải Ngữa, đưa đồng xu cho tao – tao ăn mày rồi.
Bob giữ chặt đồng xu trong túi:
- Không.
- Vậy thì mày sẽ biết...
- Cậu không được ép buộc tôi.
- Tao làm được.
- Không.
- Tao là chủ mày.
- Cóc cần.
Tom nắm cổ Bob, lay mạnh:
- Nhưng tao làm được, đồ xảo trá.
Bob đá Tom:
- Cút ngay!
Tom sôi máu, nó chồm tới xô thằng bé bắt chuột, nhưng Bob đã ôm cứng lấy nó, và hai đứa cùng ngã. Chứng vật lộn dữ dội một lúc rồi Tom đè được hai vai của Bob, hỗn hển:
- Bây giờ mày nói là mày đưa đồng xu cho tao đi.
Nhưng ngay lúc đó con Yap – từ nãy giờ chạy thơ thẩn phía trước – bỗng quay trở lại sủa inh ỏi, chợt thấy một dịp may bằng vàng để đớp cái chân trần của Bob, chẳng những không bị trừng phạt mà lại còn được chủ khen. Cái đớp của Yap thay vì làm Bob khuất phục lại càng khiến nó hung hăng hơn và như có một sức mạnh mới, nó đẩy Tom ngã ngữa và leo lên trên. Nhưng Yap, sau khi thấy cú đầu tiên không có kết quả – lại cắn hai hàng răng vào chỗ khác. Bị quấy nhiễu liên miên, Bob tức giận buông Tom ra, tóm cổ Yap và ném xuống sông. Tom chổi dậy và nhân cơ hội Bob còn lảo đảo vì cử động liệng Yap, nhảy xổ tới, đè Bob xuống và ấn mạnh hai đầu gối lên ngực thằng bé.
- Bây giờ đưa cho tao đồng xu đó.
Bob rầu rĩ:
- Mày lấy đi.
- Không, tao không lấy, mày đưa cho tao.
Bob móc đồng nửa xu trong túi, ném ra xa.
Tom buông Bob ra:
- Đó là tiền xảo trá. Tao không thèm tiền của mày, tao không muốn lấy. Tại mày lường gạt tao, tao ghét mấy thằng gian xảo lắm, tao không đi chơi với mày nữa đâu.
Tom quay về, không hối tiếc vì đã lỡ một dịp coi săn chuột và bỏ cả những thú vui bên cạnh Bob.
Bob gạo theo:
- Mặc kệ mày! Tao cứ ăn gian nếu tao khoái, vậy mới vui. Tao còn biết ở đâu có tổ chim kim oanh, mày đâu có biết... Mày là một con gà đá khốn kiếp, mày là...
Tom vẫn đi, không buồn nhìn lại, và con Yap cũng vậy, nước sông lạnh đã làm nó bớt hăng.
- Mày cút đi cho khuất mắt tao, cái con chó chết chìm của mày nữa. Tao không bao giờ có một con chó như vậy.
Bob gào lớn thêm, với cố gắng làm Tom chú ý. Nhưng Tom vẫn không quay đầu lại. Giọng Bob nhỏ dần:
- Và tao sẽ không cho mày cái gì hết, cũng không thèm của mày bất cứ gì... Đây là con dao cán sừng của mày cho tao...
Bob lấy hết sức ném con dao theo Tom. Nhưng cũng chẳng có kết quả gì, ngoại trừ một cảm giác trống rỗng kinh khủng bao quanh, bây giờ con dao cũng không còn.
Bob đứng im lìm cho tới khi Tom qua cổng và mất dạng phía sau rào. Con dao vẫn còn nằm trơ trọi trên mặt đất – nó chẳng chọc tức được Tom, và lòng tự ái hay căm hờn cũng chẳng có nghĩa gì với sự mê say dao của Bob. Thằng bé bước tới chỗ con dao và cảm thấy tràn trề sung sướng khi nắm lại trong tay cái cán sừng nai xù xì quen thuộc, sau một vài phút cách xa. Nó mở cả hai lưỡi dao và khoan khoái lướt ngón cái chai cứng lên. Tội nghiệp Bob! Nó chẳng có một ý niệm nào về danh dự cũng như anh hùng tính, những đức tính cao quí đó rất ít được các người ở Kenneth Yard – tâm điểm thế giới của Bob – nghĩ ngợi đến. Dầu vậy, Bob cũng không hẳn là một đứa hèn hay một tên ăn cắp như Tom đã khăng khăng cả quyết.
Có điều là Tom, lại nghiêm khắc như một ông thần công lý nơi địa ngục - thứ công lý chủ trương hành hạ tội nhân tới mức tối đa của hình phạt đang phải nhận lãnh. Thấy mặt Tom sa sầm khi về nhà, Maggie phải kềm hãm sự vui mừng của mình vì anh đã về sớm hơn dự liệu. Cô bé không dám hỏi han trong khi Tom đứng lầm lì ném sỏi xuống đập nước của nhà mày xay. Bỏ một dịp săn chuột sau khi đã sửa soạn đầy đủ không phải là một chuyện dễ dàng. Nhưng nếu cần phải nói cảm tưởng của mình ngay lúc đó, Tom sẽ nói «Ta cũng sẽ cứ làm như vậy». Đó là quan điểm cứng khư của nó mỗi khi xét lại những hành động đã qua, còn Maggie thì cứ luôn hối tiếc là phải chi lúc đó mình đừng làm như vậy.
QUẢ THẬT GIA ĐÌNH DODSON GỒM TOÀN những phụ nữ có nhan sắc mặn mà mà bà Glegg không phải là người kém cỏi nhứt trong các chị em. Ngay như bà ngồi trong chiếc ghế bành của nhà Tulliver, không một quan sát viên vô tư nào có thể chối cải rằng với số tuổi năm mươi, gương mặt và dáng người của bà vẫn còn thật đẹp - nhưng Tom và Maggie thì lại coi bà dì của chúng là một mẫu người xấu xí. Thật ra, bà Glegg khinh thường sư phô trương quần áo - mặc dầu theo nhận xét của bà, chẳng một người đàn bà nào ăn mặc coi cho được - nên bà chỉ ăn mặc quần áo mới khi nào quần áo cũ đã thật sự không còn dùng được nữa. Những người đàn bà khác, nếu muốn, có thể giặt các bộ ren của họ để dùng lại, nhưng khi bà Glegg chết, người ta sẽ thấy số ren trong ngăn tủ áo bên phải của bà con nhiều hơn cả số ren mà Wooll ở St. Oggs mua cả một đời, dầu bà Wooll vẫn dùng ren mua chịu. Tóc giả cũng vậy, bà Glegg có rất nhiều, từ những bộ quăn và óng mượt cho tới những bộ dợn sóng và mềm hạng trung bình. Nhưng vào ngày thường, bà vẫn ra ngoài với bộ tóc giả ưng ý vào hạng thứ ba của mình khi đi thăm viếng xã giao, nhưng chẳng bao giờ bà mang bộ tóc đó tới nhà các em, nhứt là bà Tulliver. Từ khi có chồng, bà Tulliver đã làm cho chị em xấu hổ vì không chịu mang tóc giả. Theo nhận xét của bà Glegg với bà Dean thì một người chồng hay tranh tụng như ông Tulliver thì bà Bessy đáng lẽ phải hiểu biết nhiều. Nhưng Bessy thì lúc nào cũng yếu đuối!
Vì vậy, nếu bộ tóc giả của bà Glegg hôm nay ít dợn sóng hơn thường lệ là vì bà có ý riêng: bà muốn bóng gió chỉ trích mái tóc vàng tự nhiên của bà Tulliver. Bà Tulliver đã chịu nhiều khổ sở vì thái độ khắt khe của chị mình. Bà Glegg đội nón trong nhà – chiếc nón không buộc dây và hơi lệch – bà vẫn thường đội như vậy khi đi thăm viếng hay đang lúc bực mình: sợ bị trúng gió trong các ngôi nhà lạ. Cũng vì lý do đó, bà còn mang thêm một chiếc khăn choàng cổ bằng lông chồn đen. Phải là người am hiểu về thời trang mới biết rằng cái áo lụa đen của bà Glegg được may từ thời nào, nhưng với những đốm vàng nhỏ li ti và mùi ẩm mốc thoang thoảng của nó, đã được cất giữ trong tủ khá lâu.
Cầm một cái đồng hồ, bà Glegg thông báo cho bà Tulliver, vừa từ dưới bếp lên, rằng đã gần mười hai giờ rưởi rồi.
Bà tiếp:
- Mấy lúc sau này không hiểu dì Pullet ra làm sao nữa. Chị em chúng mình vẫn có lệ tới cùng một lúc – thời ba còn sống cũng vậy – không khi nào có tình trạng người này phải chờ người kia cả nửa tiếng đồng hồ. Nhưng nếu truyền thống gia đình bị phai lạt thì cũng không phải lỗi tại tôi. Tôi sẽ không bao giờ là người tới quá trễ. Tôi cũng ngạc nhiên cho dì Dean – dì ấy giống tôi nhứt. Nhưng nếu dì nghe tôi, Bessy, dì sẽ dọn ăn sớm hơn một chút, thà sớm còn hơn là trì hoãn.
- Ồ, nhưng chắc họ sẽ tới kịp mà tới một giờ rưỡi mới nấu nướng xong. Nhưng nếu chị không muốn chờ lâu thì để tôi dọn bánh phó mát và rượu chát ra.
Bà Glegg lắc đầu, cười chua chát:
- Kìa, dì Bessy! Tôi tưởng dì hiểu tánh chị ruột của dì hơn ai hết chớ. Tôi có bao giờ ăn vào giữa hai bữa đâu, chẳng lẽ cho tới bây giờ tôi lại phải tập cái thói đó?
- Ồ, chị Jane, tôi biết làm sao bây giờ? Ông Tulliver không thích ăn trước hai giờ, nhưng tôi đã cho dọn sớm hơn nữa giờ là vì chị.
- Phải, phải, tôi biết rõ các ông lắm – họ trì hoãn đủ các thứ – họ sẽ đổi giờ ăn lại cho tới khi dùng trà xong, nếu họ có được một bà vợ quá yếu đuối. Tôi tội nghiệp cho dì lắm, Bessy, vì dì không tự chủ được gì cả. Tôi cũng mong rằng dì đừng cho chúng tôi ăn thịnh soạn quá – không nên vì chị em mà phí tiền tốn của. Hơn nữa dì còn hai đứa con nhỏ phải nuôi, dượng ấy thì cứ tiêu pha tiền của dì trong việc kiện tụng và hình như cả lợi tức của dượng ấy nữa.
Trong tình trang này, buổi họp mắt sắp tới sẽ không được vui lắm. Bà Tulliver không bao giờ muốn kéo dài cuộc đấu khẩu, nhưng đây không phải là một vấn đề mới, vì vậy bà Tulliver lại sử dụng câu trả lời của những lần qua:
- Ông Tulliver bảo rằng ông sẽ đãi đằng bạn bè hậu hỉ hơn nếu ổng có đủ tiền trang trải. Và thưa chị, ông nhà tôi có toàn quyền hành động trong ngôi nhà của ông, phải không, thưa chị?
- Phải, Bessy, tôi không thể bỏ sót tên các con của dì trong bản di chúc của tôi. Nhưng dì đừng mong đợi một đồng nào của ông Glegg vì có lẽ tôi sẽ chết trước ông ấy, và nếu ông ấy chết trước tôi, ông sẽ gói ghém hết tiền bạc gởi về cho bà con của ông.
Tiếng bánh xe vang lên ngoài ngõ trong lúc bà Glegg đang nói, làm bà Tulliver vô cùng mừng rỡ. Bà vội vàng chạy ra đón bà chị Pullet - chắc phải là bà Pullet, vì rõ ràng là tiếng xe bốn bánh.
Bà Glegg lắc đầu khó chịu khi nghĩ đến chiếc xe bốn bánh của bà Pullet.
Bà Pullet đang khóc khi cỗ xe dừng lại trước cửa nhà, và hình như bà còn phải nhỏ thêm vài giọt nước mắt nữa trước khi bước xuống, dầu ông Pullet và bà Tulliver đang đứng chực sẵn để đỡ bà. Thế nhưng bà vẫn ngồi yên và buồn bã lắc đầu, nhìn qua màn nước mắt về một hướng xa xăm nào đó.
Bà Tulliver ngạc nhiên:
- Chuyện gì vậy chị?
Bà Tulliver không phải là người giàu tưởng tượng, nhưng cũng đoán thầm là tấm kiếng trang điểm khổng lồ trong phòng ngủ sang trọng của bà chị mình vừa bể lần thứ hai.
Bà Pullet im lim đứng lên và bước xuống xe, không buồn liếc qua ông Pullet đang nâng vạt áo lụa đắt tiền của mình cho đừng chạm đất. Ông Pullet, một người nhỏ thó, mũi cao, mắt sáng nhỏ, môi mỏng, trong bộ quần áo đen mới toanh với chiếc cà vát trắng thắt hơi siết. Bên cạnh bà vợ xinh đẹp mặc áo tay phồng, khoác áo choàng dày, đội nón rộng vành có cắm lông và thắt nơ, trông ông giống như một chiếc ghe chài nép mình bên một con tàu đánh cá hai buồm.
Thật là một cảnh tượng dễ gây cảm động – cạnh một người đàn bà ăn mặc sang trọng và hợp thời trang đang gặp cơn phiền muộn. Từ nỗi buồn của một người Hottentot (Phi Châu) tới nỗi buồn của một người đàn bà mặc áo tay phồng, tay đeo vòng vàng, đầu đội nón thắt nơ sang trọng, thật hoàn toàn cách biệt nhau.
Hai đầu vai áo của bà Pullet phớt nhẹ vào thành cửa khi bà bước vào nhà (vào thời đó, người đàn bà nào không có vai áo rộng trên một thước bốn mươi sẽ bị coi là quê mùa). Bà dừng lại vận dụng bắp thịt mặt để vắt thêm vài giọt lệ nữa trước khi vào gặp bà chị Glegg đang ngồi đợi.
Khi hai người bắt tay nhau, bà Glegg hỏi cộc lốc:
- Dì tới trễ, có chuyện gì vậy?
Bà Pullet ngồi xuống - cẩn thận kéo vạt áo lên trước khi trả lời:
- Chết rồi!
«Thì ra không phải bể kiếng», bà Tulliver nghĩ.
Bà Pullet tiếp:
- Chết hôm qua. Chân của bà ấy to bằng cả người tôi, họ rút nước liên miên – nước nhiều khủng khiếp.
Bà Glegg nói giọng quả quyết:
- Vậy thì cái bà nào đó cũng nên mừng vì đã được chết, nhưng tôi nghĩ mãi không ra cái người mà dì Sophy nói đó là ai.
Bà Pullet lắc đầu thở dài:
- Nhưng tôi biết, đó là bà cụ Sutton ở Twentylands.
- Ủa, bà ta đâu có họ hàng với dì đâu?
Bà Glegg chỉ khóc khi có chuyện gì xảy ra cho «bà con» của bà và chỉ khóc đúng mức tùy trường hợp, tùy người.
- Bà Sutton cũng là người giao thiệp rộng, tôi biết thế lúc tới thăm bà ta bị phù thủng... Lợi tức của bà ta nhiều lắm, ba tự tay quản trị tài sản tới phút chót, luôn luôn giữ bóp tiền và chìa khóa dưới gối. Tôi dám chắc ít có người đàn bà nào như bà ấy.
Ông Pullet chen vào:
- Người ta còn bảo là trước đó bà ta khỏe mạnh lắm.
Bà Pullet lại thở dài, thiểu não:
- Phải, trước kia bà ta chẳng hề đau yếu gì cả, mấy ông bác sĩ cũng không làm sao hiểu nổi. Bà ta nói khi tôi tới thăm vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua «Bà Pullet, bao giờ bà bị phù thủng, bà sẽ nghĩ tới tôi».
Rồi bà bắt đầu thổn thức:
- Bà ấy đã nói như vậy. Đám tang sẽ cử hành thứ bảy này, và gia đình tôi đã được lời mời đưa tiễn.
Không chịu đựng được nữa, bà Glegg kêu lên:
- Sophy, Sophy, dì làm tôi ngạc nhiên quá, dì tự hủy hoại sức khỏe vì người dưng nước lã. Ba của chúng ta ngày xưa đâu có vậy, cả dì Frances nữa và tôi có nghe người nào trong họ chúng ta làm vậy đâu. Dì còn có thể buồn nhiều hơn bây giờ nữa nếu ông anh họ Abbott của chúng ta chết bất thình lình không kịp làm di chúc.
Bà Pullet ngừng khóc, lộ vẻ khoan khoái hơn là bất mãn khi bị rầy rà. Không phải ai cũng có thể khóc lóc thương cảm cho người lối xóm của mình một cách tận tình như vậy được, nhất là khi người đó chẳng để lại cho mình một cái gì. Nhưng bà Pullet đã kết hôn với một đại điền chủ nên thừa tiền và thì giờ để thương vai khóc mướn và tập tành xử sự theo giới thượng lưu.
Ông Pullet cảm thấy cần phải nói cái gì đó, yểm trợ cho những giọt nước mắt của vợ mình:
- Bà Sutton cũng chết đi mà chẳng để lại tờ di chúc nào, chúng ta đều là người có tiền bạc, nhưng người ta bảo rằng không ai có thể để lại hàng vạn bạc như bà Sutton cả. Vậy mà bà ấy chẳng để lại một tờ di tặng nào - hay nói đúng hơn - là bà ấy đã để hết của cải lại cho người cháu trai của ông Sutton.
Bà Glegg nói:
- Nếu chết đi mà chẳng còn ai để trao lại của cải ngoài một người bà con bên chồng, thì có giàu sang tới mấy cũng không vui.
- Tôi cũng nghĩ vậy.
Bà Pullet đã bình tĩnh lại, vừa nói vừa tháo khăn trùm đầu ra và cẩn thận xếp lại trước khi tiếp:
- Người được hưởng gia tài của bà Sutton thật là một người thanh nhã. Ông ta bị suyển và ngày nào cũng phải đi ngủ lúc tám giờ. Ông ta đã từng tâm sự với tôi – thành thật và cởi mở – nhân một dịp tới dự thánh lễ ở nhà thờ giáo khu chúng tôi. Ông ta che ngực bằng một tấm da thỏ và giọng nói hơi rung – đúng là một người thanh nhã. Tôi cũng cho ông biết là không tháng nào mà tôi không mời bác sĩ khám binh. Và ông ta nói: «Thưa bà Pullet, tôi rất thông cảm với bà» - Đó, ông ta đã nói y như vậy – hay làm sao!
Bà Pullet lại thở dài sườn sượt khi nghĩ tới những chai thuốc nước màu hồng, màu trắng, thuốc mạnh trong chai nhỏ, thuốc nhẹ trong chai lớn, trái gió trở trời một chút là tốn tiền thuốc men ngay. Bà quay sang chồng:
- Có lẽ tôi phải đi cất nón, ông thấy hộp nón để đâu không?
Biết bà Glegg sắp sửa rầy rà về chuyện thuốc men của Sophy, bà Tulliver vội vã kiểm cách thối thoát:
- Ở trên lầu, chị Sophy để em dẫn chị lên.
Trong số chị em, bà Tulliver thích bà Pullet nhứt, thích không phải vì được giúp đỡ nhiều; nhưng bà Pullet thì lại không bằng lòng tánh tình của Tom và Maggie. Bà Tulliver đã cố gắng hết sức nhưng không làm sao cho chúng ngoan ngoãn như con của bà Dean được. Về phần Tom và Maggie, chúng cho rằng bà Pullet còn có thể khoan thứ được, phần lớn chỉ vì bà không thể là bà Glegg. Tom chỉ chịu tới thăm các dì, dượng, mỗi nơi một lần đúng vào dịp hè, dĩ nhiên lần nào nó cũng được các dượng cho tiền, nhưng dưới hầm nhà dì Pullet có rất nhiều cóc để chơi đùa, do đó nó thích tới chơi nhà dì hơn. Maggie rất sợ cóc và vẫn thường gặp ác mộng vì chúng, nhưng cô bé lại thích nghe hộp nhạc của dượng Pullet. Tất cả các chị em Dodson đều đồng ý - lúc không có mặt bà Tulliver - rằng dòng máu Tulliver không thể hòa hợp với dòng máu Dodson. Thật vậy, mấy đứa con của Bessy đều mang đặc sệt tánh chất Tulliver và Tom, dầu có màu da của họ Dodson, cũng vẫn «ương ngạnh» y như cha nó. Còn Maggie thì giống hệt cô Moss, em ông Tulliver - một người đàn bà mảnh khảnh, đã lấy phải một ông chồng nghèo kiết xác, chẳng có món đồ nào đáng giá trong nhà và phải làm việc quần quật ngày này qua ngày nọ để kiếm tiền trả nợ. Nhưng khi chỉ có hai bà Pullet và Tulliver ở trên lầu thì những lời phê bình lại tiến triển theo một chiều hướng không mấy thuận lợi cho bà Glegg, và cả hai bà cùng đồng ý ở một điểm là không biết rồi đây chị Jane còn khó tánh tới mức nào. Những cuộc đàm luận riêng tư của họ đã phải tạm gián đoạn vì bà Deane và cô bé Lucy vừa tới. Bà Tulliver buồn thảm khi nhìn những lọn tóc vàng chỉnh tề của Lucy. Điều lạ là bà Deane, người gầy guộc và nước da xanh tái hơn tất cả các chị em Dodson, lại có một đứa con xinh xắn. Còn Maggie thì trông đen đúa gấp đôi ngày thường khi đứng cạnh Lucy.
Và hôm nay cô bé trông cũng đen như vậy khi cùng cha, dượng Glegg và Tom từ ngoài vườn trở vào nhà. Maggie đã liệng mất nón ở một chỗ nào đó mái tóc rối bù lên. Cô bé chạy ùa tới Lucy ngay. Hai chị em trông khác hẳn nhau, đối với những con mắt nông nổi thì Maggie có vẻ xấu xí hơn nhiều. Hai cô bé khác hẳn nhau như một con chó lông đen cứng khỏe mạnh khác xa với một con mèo lông trắng. Lucy chìa đôi môi nhỏ, mịn như một đóa hồng cho chị hôn, ở Lucy cái gì trông cũng có vẻ cân đối và xinh xắn cổ thon với một vòng san hô, mũi nhỏ và cao, mày nhỏ và sắc trông thật xứng hợp với đôi mắt mơ màng đang rụt rè nhin lên người chị họ. Maggie cao hơn cô em họ một cái đầu, dầu chỉ lớn hơn một tuổi. Maggie vẫn thường thích thú nhìn Lucy, cô tưởng tượng ra một thế giới gồm toàn những người tí hon, và cô là nữ hoàng của họ với chiếc vương miện và cây huyền trượng bé nhỏ... nhưng chỉ là nữ hoàng Maggie với hình dáng của Lucy.
Sau khi hôn Lucy, Maggie rối rít:
- Lucy, em sẽ ở lại chơi với chị và anh Tom, phải không kìa, hôn Lucy đi anh Tom.
Tom bước tới, nhưng không hôn Lucy – không, mà chỉ đỏ mặt, bối rối mỉm cười, rõ ràng là thái độ thông thường của tất cả các cậu bé rụt rè đang ở giữa một cuộc họp.
Bà Glegg bất bình, nói lớn:
- Ủa, trẻ con bây giờ vào phòng mà không chào hỏi các dì và dượng của chúng nữa sao? Ngày xưa tôi đâu có vậy.
Bà Tulliver gọi:
- Tới chào các dì dượng đi.
Bà lộ hẳn nét lo âu và buồn thảm, chỉ muốn bảo nhỏ Maggie đi chải tóc lại cho thật gọn gàng.
Giọng bà Glegg lại oang oang:
- Tốt, dì mong rằng các cháu đều là những đứa ngoan.
Vừa nói, bà vừa nắm tay chúng, mấy chiếc nhẫn kịch cộm của bà làm chúng đau tay. Bà hôn lên má chúng:
- Ngước đầu lên, Tom, con trai đã tới tuổi đi học nội trú phải biết ngước mặt lên. Vén tóc ra sau tai đi, Maggie, giữ cổ áo cho ngay thẳng.
Bà Glegg vẫn thường gằn giọng như vậy khi nói chuyện với lũ nhỏ, làm như chúng toàn là những đứa điếc hay ngốc nghếch. Bà nghỉ rằng với cách đối xử như vậy, bà sẽ làm cho chúng cảm thấy chúng có tội, và sẽ giúp kềm chế tánh hư hỏng lại. Mấy đứa con của Bessy được nuông chiều thái quá cần có người làm cho chúng rõ được bổn phận cháu con.
Bà Pullet thì lại khác:
- Các cháu của dì giỏi lắm. Các cháu mau lớn quá.
Rồi làm ra điệu buồn buồn, bà nhìn lại mẹ chúng:
- Con nhỏ có nhiều tóc quá. Tôi mà như dì là tôi sẽ tỉa mỏng và cắt ngắn bớt đi, để vậy có hại cho sức khỏe của nó lắm. Nếu tôi không lầm thì có lẽ vì vậy mà nước da của nó quá đen, phải không dì Deane?
Bà Deane mím môi và nghiêm khắc nhìn Maggie:
- Tôi không nói có lẽ, mà chắc chắn là vậy.
Ông Tulliver xen vào:
- Không, không, con nhỏ, con nhỏ vẫn như thường – chẳng có triệu chứng bệnh hoạn nào cả. Cũng lúa mì có thứ nâu thứ trắng, và có người lại thích lúa nâu hơn. Nhưng tôi thấy Bessy cũng nên cắt tóc ngắn cho nó để được gọn gàng hơn.
Một quyết định ghê gớm lóe ra trong đầu Maggie, nhưng cô bé liền dẹp qua một bên để hỏi xem dì Deane có để Lucy ở lại chơi không. Sau vài lời từ chối khéo, bà Deane quay sang gọi Lucy:
- Con có muốn ở lại chơi vài ngày mà không có má không, Lucy?
Lucy đỏ bừng mặt, ấp úng:
- Dạ muốn.
Ông Deane can thiệp:
- Được rồi, cứ cho nó ở lại đi.
Thân phụ của Lucy là một người dềnh dàng nhưng lanh lợi, với một gương mặt có thể tìm thấy trong khắp các giai tầng xã hội Anh - đầu sói, râu đỏ, trán cao, dáng dấp gọn gàng. Người ta có thể trông thấy một nhà quý phái giống hệt như ông Deane cũng như có thể gặp một người bán tiệm hay một công nhân lương ngày chẳng khác gì ông ta. Nhưng có lẽ ít người nào có được đôi mắt nâu sắc bén như ông, không một người đàn ông nào ở St. Ogg’s được trọng vọng bằng ông, và có một số người cũng đồng ý rằng cô Susan Dodson - người trước đây đã lấy chồng bất xứng nhứt trong các chị - một ngày kia sẽ có xe nhà và sang trọng hơn chị Pullet nữa. Hiện thời, ông Deane đang có chân trong ban quản trị một nhà máy lớn, một hãng tàu với sự yểm trợ của một ngân hàng, người ta không hiểu rồi đây ông ta sẽ còn đi lên tới tận đâu.
Ngay khi chuyện cho Lucy ở lại được dàn xếp xong, bà Tulliver vẫy tay gọi Maggie và bảo nhỏ:
- Maggie, đi chải đầu lại đi – lẹ lên, xấu hổ quá. Má đã dặn con là hãy tới gặp chị Martha trước khi vào phòng khách mà.
Lúc đi ngang Tom, Maggie kéo tay áo anh, thì thầm:
- Anh Tom đi với em.
Tom đi theo ngay, không một chút do dự.
Ra tới cửa, Maggie nói nhỏ:
- Lên lầu với em nghe. Em muốn làm xong chuyện này trước khi ăn.
Chẳng mong gì hơn là tới bữa ăn, Tom đáp:
- Không đủ thì giờ để chơi trò gì đâu.
- Đủ mà, cái này không mất thì giờ đâu, đi với em đi, anh!
Tom theo Maggie đi lên lầu vào phòng riêng của mẹ. Cô bé đi ngay lại tủ vật dụng, lấy ra một cây kéo lớn.
Tom ngạc nhiên:
- Lấy kéo làm gì vậy, Maggie?
Maggie trả lời bằng một phát kéo cắt ngang khoanh tóc nơi giữa trán. Tom trố mắt:
- Trời đất ơi, mày bị đòn cho coi. Thôi đừng cắt thêm nữa.
Soạt. Lưỡi kéo lại nhấp thêm một nhát nữa trong khi Tom nói. Chẳng hiểu vì sao thằng bé bỗng thấy vui vui, có lẽ tại Maggie trông dễ tức cười.
Bị kích thích bởi sự liều lĩnh của chính mình và cũng mong muốn làm xong công việc cho mau, Maggie bảo:
- Nè, Tom, cắt mớ tóc phía sau cho em đi.
Tom ngần ngại cầm chiếc kéo:
- Thế nào mày cũng bị đòn.
Maggie dậm chân:
- Không sao – mau lên!
Mớ tóc thật đen và dày – không gì quyến rũ bằng một tiếng soạt ngon lành, một tiếng rồi tiếng nữa, mái tóc nặng nề rớt xuống sàn nhà. Maggie đứng im với mái tóc ngắn, lởm chởm, nhưng lại có cảm giác trống trải và tự do như từ một khu rừng rậm chui ra một cánh đồng bằng.
Tom vừa cười vừa nhảy nhót chung quanh em:
- Ồ, Maggie, trông mày tức cười quá! Mày soi kiếng thử coi - giống y như thằng khùng thường bị tụi tao ném vỏ hồ đào ở trường.
Maggie bỗng cảm thấy hối tiếc. Cô bé chỉ có ý định thoát khỏi mái tóc đã gây nhiều phiền phức cho mình và sự chiến thắng của mình trước mẹ và các dì nhờ hành động táo bạo này. Maggie không mong ước làm cho mái tóc mình đẹp ra – đây là một cuộc vượt ra ngoài khả năng – cô bé chỉ muốn chứng tỏ cho mọi người thấy mình là một đứa bé gái thông mình mà đừng chỉ trích, rầy rà thêm nữa. Nhưng bây giờ, khi Tom đã cười ngạo và bảo cô giống một thằng khùng, câu chuyện lại chuyển sang một chiều hướng mới. Maggie nhìn vào kiếng, gương mặt đỏ hồng từ từ tái lại, môi run run.
Tom cũng đâm lo:
- Maggie, sắp phải xuống ăn tiệc rồi! Trời đất ơi!
- Tom đừng cười em nữa.
Maggie nói bằng giọng van lơn, nước mắt hờn giận bỗng trào ra. Cô bé dậm chân và đẩy mạnh anh.
- Ê, đừng nóng! Mày cắt tóc để làm gì? Tao phải đi xuống đây, tao ngửi thấy mùi đồ ăn rồi.
Tom vội vàng trở xuống, bỏ mặc đứa em đáng thương ở lại với một cảm giác tan vỡ, thứ cảm giác thường có nơi tâm hồn bé bỏng của cô. Bây giờ Maggie mới nhận ra hành động của mình thật điên rồ, từ đây có sẽ phải nghe và nghĩ tới mái tóc của mình nhiều hơn bao giờ hết. Maggie vẫn thường hành động nông nổi và nhứt thời, nhưng ngay sau đó, không những thấy trước được hậu quả của hành động đó, mà lại còn biết được những gì sẽ xảy ra nếu không hành động như vậy với đầy đủ các chi tiết trong các trường hợp có thể xảy ra. Tom không bao giờ có những hành vi điên cuồng như em, nó có năng khiếu giúp nhận rõ những gì có thể gây bất lợi cho mình, vì vậy rất ít khi bà Tulliver có thể trách mắng Tom là đứa hư hỏng được. Nhưng nếu đã lỡ phạm một lỗi lầm vào loại đó, nó nhứt định không cho là mình có lỗi, nó tự binh vực lấy và «không hối hận». Nhưng với Maggie, khi đứng khóc trước tấm kiếng, cô bé thấy ngay rằng khó mà xuống ngồi vào bàn ăn được để phải chịu đựng những ánh mắt cùng những lời khắc nghiệt của các dì, trong khi Tom, Lucy, Martha, chị hầu bàn, và có lẽ cha và các dượng sẽ cười nhạo cô – bởi vì nếu Tom đã chế nhạo thì dĩ nhiên các người khác cũng như vậy cả. Phải chi mình đừng cắt tóc, mình sẽ được ngồi chung với Tom và Lucy, sẽ có bánh đậu và bánh kem! Bây giờ cô chỉ còn biết ngồi khóc bơ vơ, tuyệt vọng giữa các nắm tóc đen của mình như Ajax khi ngồi giữa đàn cừu bị tàn sát của y...
Chị người làm Kezia bỗng hấp tấp vào phòng:
- Cô Maggie, cô phải xuống ngay. Ủa, cô làm gì vậy? Chưa bao giờ tôi thấy một bộ tóc xấu xí như vậy cả.
Maggie cáu kỉnh:
- Kệ tôi, Kezia. Chị đi đi.
- Nhưng cô phải xuống ngay lập tức, má cô bảo thế.
Kezia vừa nói vừa bước tới Maggie, nắm tay cô bé kéo lên.
Maggie trì lại:
- Đi ra ngay, Kezia, tôi không muốn ăn gì hết. Tôi không xuống.
- Cũng được, tôi không thể ở lại đây được. Tôi còn phải lo hầu bàn.
Kezia vừa nói vừa ra ngoài. Mười phút sau, Tom ló đầu vào:
- Maggie, đồ ngốc, tại sao mày không xuống ăn? Có nhiều món ngon lắm, má biểu mày xuống. Tại sao lại khóc, đồ ngu?
Ôi, thảm thương chưa! Tom lại tàn nhẫn và lạnh lùng, nếu là Tom ngồi khóc trên sàn thì Maggie cũng đã khóc theo rồi. Và còn buổi tiệc, vô cùng thịnh soạn trong khi bụng cô bé cồn cào.
Nhưng Tom cũng không đến nỗi tàn nhẫn lắm. Nó không khóc và cũng không thấy nao lòng vì nỗi buồn của em, nhưng nó cũng bước tới, cúi xuống, dịu dàng an ủi:
- Mày không xuống thiệt hả? Vậy để tao đem bánh lên cho... bánh kem và các thứ khác nữa?
Maggie bắt đầu cảm thấy cuộc đời đáng khoan thứ hơn:
- Dạ... ạ!
- Được.
Tom bước ra, nhưng tới cửa, nó chợt quay lại:
- Nhưng tốt hơn hết là nên xuống với tao. Còn có đồ tráng miệng hột bồ đào và rượu ngọc trâm nữa.
Maggie thôi khóc và đắn đo nhìn theo Tom. Thái độ chiều chuộng của anh làm cô bé vơi buồn, vả lại, hột bồ đào cùng rượu ngọc trâm cũng quyến rũ vô cùng.
Bỏ lại những nắm tóc vung vãi trên sàn, Maggie từ từ xuống thang. Cô bé tựa vai vào cửa phòng ăn, nhìn vào. Còn một chiếc ghế trống giữa Tom và Lucy, cùng một chiếc bàn phụ dọn sẵn thật nhiều bánh kem. Cơn đói và nổi thèm ăn ngon chiến thắng một cách mau lẹ. Maggie bước vào.
Bà Tulliver buột miệng kêu khe khẽ khi thấy Maggie, chiếc muỗng canh trong tay bà rớt xuống dĩa, bắn nước tung tóe. Kezia đã không nói cho bà rõ tại sao Maggie không chịu xuống, chị người làm không muốn bà chủ của mình phải bối rối giữa lúc này, trong khi bà Tulliver cứ đinh ninh là Maggie trở chứng và đã định sẽ phạt bằng cách bớt phần ăn.
Tiếng kêu của bà Tulliver làm mọi cặp mắt cùng đổ dồn về phía Maggie, má và tai cô bé nóng bừng lên khi dượng Glegg, một ông già quí phái, tóc bạc, mặt có vẻ hiền từ, lên tiếng hỏi:
- Ủa! Con nhỏ nào đây? Chị lượm được nó ngoài đường hả Kezia?
Ông Tulliver vừa cười vua nói nhỏ với ông Deane:
- Nó tự cắt tóc đó. Dượng có thấy con nhỏ nào như nó không?
Ông Pullet cũng không thể ngồi im:
- Nè, cháu tự làm cho cháu trông buồn cười quá.
Có lẽ trong đời ông chưa bao giờ nói một câu tàn nhẫn như vậy cả. Chỉ có bà Glegg là khiển trách với một giọng nặng nề và khắc nghiệt hơn ai cả:
- Xấu hổ quá sức rồi! Con gái mà tự cắt tóc cho mình đáng bị trừng phạt bằng cách cho ăn bánh mì không với nước lã – và không được phép ngồi chung với các dì dượng của nó.
Ông Glegg muốn giảm bớt tánh chất khắc nghiệt trong lời buộc tội của vợ mình:
- Này, tôi nghĩ là nó đang bị bỏ tù và cạo trọc đầu.
Bà Pullet nói giọng xót thương:
- Coi nó giống y như dân du mục. Da đen như vậy có lẽ là điềm xấu cho nó, Bessy, tôi sợ sau này nó sẽ chịu nhiều vất vả.
Nước mắt long lanh, bà Tulliver rầu rĩ:
- Nó hư hỏng quá, cứ làm khổ má nó luôn.
Tất cả mọi người đều trách mắng và chế nhạo Maggie. Thoạt tiên, Maggie chỉ cảm thấy giận, cơn giận đó tạo cho cô bé một sức thách đố nhứt thời. Tom thì lại nghĩ rằng mình thật can đảm, nó thì thầm với Maggie:
- Thấy chưa, tao đã nói rồi mà!
Nhưng Maggie lại tưởng Tom khoái trá vì thấy mình bị rầy la. Sức chịu đựng mỏng manh của cô bé tan biến ngay tức khắc, tim se thắt lại, cô bé chạy tới bên cha, giấu mặt sau vai ông, khóc nghẹn ngào:
- Nào, nào, con gái, đừng buồn, con có quyền cắt tóc đi nếu nó làm phiền con, đừng khóc nữa, ba binh vực con mà.
Ôi những lời an ủi quí quá biết bao! Maggie không bao giờ quên những lúc được cha hứa «binh vực» cho mình. Cô giữ những lời hứa đó trong tim và vẫn còn nhớ mãi luôn nhiều năm về sau nữa, trong khi ai cũng cho rằng cha cô chỉ nuông chiều và làm hư hỏng con cái mà thôi.
Bà Glegg nói với bà Tulliver:
- Chồng của dì nuông chiều con bé quá mức, Bessy! Dì mà không cẩn thận là nó hư luôn đó. Ba chúng ta ngày xưa đâu có quá dễ dãi với con cái như vậy.
Bao nhiêu chuyện phiền muộn đã dồn dập ùa tới dường như làm cho mọi cảm giác của bà Tulliver tê liệt. Bà không buồn chú ý tới lời trách cứ của chị, mà chỉ lầm lì chia bánh, sửa soạn tráng miệng.
Bữa tráng miệng là cả một sự giải thoát cho Maggie, vì bọn trẻ đã được báo trước là nếu trời tốt chúng sẽ được dùng hột bồ đào và rượu vang ngoài nhà mát; bây giờ chúng chạy ùa ra vườn, đùa giỡn giữa những bụi hoa hồng như con thú con.
Bà Tulliver có lý do riêng khi chúng ăn tráng miệng ngoài vườn. Vừa ăn uống linh đình xong, người ta sẵn sàng cởi mở với nhau, đó là thời gian thích hợp nhứt để ông Tulliver cho biết ý định về việc học của Tom. Trẻ con vẫn thường được tự do nghe chuyện người lớn bàn về chúng, vì dầu có chú ý mấy chúng cũng chẳng hiểu được gì. Nhưng lần này bà không muốn cho Tom nghe vì bà cho rằng Tom coi chuyện đi học trọ ở nhà một giáo sĩ cũng khổ sở như đi học tại nhà một ông tuần phu. Bà chợt thở dài khi nghĩ tới tánh ngoan cố của chồng, ông Tulliver vẫn luôn làm theo ý riêng, dầu bà Glegg và Pullet có nói gì cũng mặc; theo bà, ít ra cũng không nên để cho họ có dịp trách cứ - sanh chuyện rắc rối về sau - là Bessy cứ nhắm mắt nghe theo lời chồng mà xem thường mọi ý kiến của họ.
Bà Tulliver ngắt ngang câu chuyện giữa hai ông Tulliver và Deane:
- Ông Tulliver, tôi thấy đã tới lúc ông nên báo cho các dì dượng của bọn trẻ hay những dự định của ông về thằng Tom.
Ông Tulliver hỏi gắt:
- Được rồi, tôi thấy không có gì phải giấu những quyết định của tôi về thằng Tom.
Ông nhìn về phía ông Glegg và Deane:
- Tôi đã quyết định gửi nó tới học nơi ông Stelling, một giáo sĩ ở King’s Norton – một người đặc biệt khôn ngoan, tôi biết – ông ta sẽ dạy dỗ nó nên người.
Nhiều tiếng kêu ngạc nhiên đồng loạt nổi lên. Ta có thể nghe được những âm thanh đó trong các ngôi thánh đường miền quê, khi các nông dân nghe ám chỉ tới những hành động thường ngày của họ từ trên giảng đường. Các dì dượng của bọn trẻ cũng biếu lộ cùng một sự ngạc nhiên khi nghe nói có một giáo sĩ tham dự vào việc nhà Tulliver. Chủ điền Pullet là người đầu tiên lên tiếng, ông không hiểu tại sao một giáo sĩ lại có thể làm một nhà giáo được.
- Tại sao dượng lại phải gởi nó tới một nhà tu hành?
Ông vừa hỏi vừa nhíu mày quan sát hai ông Glegg và Deane, xem họ có hiểu biết chút gì về sự kiện này hay không.
- Tại sao à? Bởi vì các thầy tu đều là những ông giáo giỏi nhứt. Ông thầy Jacobs ở học viện không phải là giáo sĩ, ông ta chẳng dạy thằng Tom được cái gì cả, còn tôi thì nhứt định phải tiếp tục cho nó học, phải có người nào khác hơn ông Jacobs. Và đó là ông Stelling, thuộc hạng người tôi cần. Tôi đã quyết định cho thằng Tom di học ở nhà ông vào khoảng giữa hè này.
Ông Deane vừa nói vừa hít thuốc ngửi ầm ỉ, đó là thói quen mỗi khi ông quyết định đứng giữa:
- Vậy là anh sẽ phải tốn khá nhiều tiền, phải không Tulliver?
Vốn là nguoi khôi hài, ông Glegg không bỏ lỡ cơ hội:
- Sao? Dượng tưởng một tu sĩ có thể dạy nó biết thế nào là một giống lúa tốt à?
- Như dượng biết, tôi đã có sẵn một chương trình cho thằng Tom rồi.
Bà Glegg chua chát:
- Còn tôi, nếu tôi được phép nói, nhưng ít khi người ta cho tôi cái vinh hạnh đó, thì tôi sẽ nói rằng tại sao lại phải cho thằng bé học hành quá cái địa vị của nó mai sau?
Ông Tulliver trả lời nhưng không nhìn bà Glegg mà chỉ nhìn về phía các ông:
- Kìa, mọi người đều biết rằng tôi đã nhứt định không cho thằng Tom học nghề của tôi. Tôi muốn nó có một nghề nghiệp không cần nhiều vốn liếng, tôi muốn tạo nó thành một người trí thức gì đó để có thể đương đầu với bọn thầy kiện hay những hạng người tương tự như vậy, và thỉnh thoảng giúp ý kiến cho tôi.
Bà Glegg cười khảy:
- Tốt hơn là đừng nên đụng chạm tới hạng người đó.
Ông Deane hỏi:
- Có phải vị giáo sĩ nào đó cũng là hiệu trưởng của trường văn phạm như giáo sĩ ở Market Bewly không?
Ông Tulliver đáp:
- Không, không phải vậy. Ông ta chỉ nhận hai hoặc ba học sinh là cùng và như thế, dượng thấy, ông ta có đủ thì giời để chăm sóc chúng.
Ông Pullet đã bắt đầu hiểu rõ hơn câu chuyện khó khăn này:
- À, như vậy thì nó sẽ được học sớm hơn, càng ít học trò càng dạy mau.
Ông Glegg nói:
- Chắc ông ta đòi nhiều tiền lắm.
Ông Tulliver đáp:
- Chỉ một trăm bảng mỗi năm thôi. Nhưng đó là một cuộc đầu tư, học vấn của thằng Tom là số vốn của nó sau này.
Ông Glegg gật gù:
- À! Thì ra vậy. Được, được lắm, dượng Tulliver, dượng có lý - «khi đất đai không còn và đồng tiền mất giá, thì sự học là điều quí giá nhứt». Tôi nhớ đã đọc câu này trên một cánh cửa sổ ở Buxton. Nhưng đối với những kẻ thất học như chúng ta thì nên dành dụm tiền của là tốt hơn, phải không dượng Pullet?
Ông Glegg vừa nói vừa xoa đầu gối với vẻ khoái trá.
Vợ ông cằn nhằn:
- Ông Glegg, sao lạ vậy? Già rồi mà không chịu tề chỉnh chút nào.
Ông Glegg nheo mắt:
- Cái gì mà không tề chỉnh, bà Glegg? Cái áo choàng xanh mới may của tôi hả?
- Tôi thương hại cho ông quá, ông Glegg, ai đi đùa cợt khi thấy bà con của mình sắp sửa bị phá tan sự nghiệp.
Ông Tulliver nóng mặt:
- Nếu chị muốn ám chỉ tôi thì tôi cũng xin nhắc chị đừng quá lo lắng cho tôi. Tôi có thể tự lo liệu lấy công việc của mình, không cần quấy rầy tới ai.
Ông Deane nghiêm giọng:
- Tôi vừa nhớ ra một chuyện, có người nói với tôi là luật sư Wakem sắp cho thằng con của ông ta – cái thằng có tật đó – tới học tại nhà một giáo sĩ – phải vậy không Susan? (Ông quay sang vợ.)
- Tôi không nhớ rõ lắm.
Bà Deane không phải là hạng người hay xen vào những màn nguy hiểm.
Ông Tulliver nói với giọng thật tươi, chứng tỏ cho bà Glegg biết rằng ông chẳng để ý gì tới bà cả:
- Được, nếu Wakem đã quyết định gởi con đi học tại nhà một giáo sĩ thì quyết định của tôi về thằng Tom không vướng một lỗi lầm nào. Wakem là một tên đại lưu manh, nhưng hắn biết cách chọn người lắm. Ậy, ậy, hãy nói cho tôi biết ai bán bánh cho Wakem, tôi sẽ cho bạn biết nên mua bánh ở đâu.
Riêng bà Pullet thì lại thấy cuộc thảo luận này có sắc thái của một đám tang:
- Nhưng thằng con của trạng sư Wakem hơi gù lưng nên gởi nó tới học ở nhà một giáo sĩ là chuyện thường.
Ông Glegg diễn giải lời nhận xét của bà Pullet:
- Phải, dượng phải chú ý tới điều đó, dượng Tulliver. Có lẽ thằng con của Wakem sẽ không kham nổi một nghề nào, nên ba nó mới quyết định biến nó thành một nhà quí phái.
Bà Glegg cáu kỉnh:
- Ông Glegg, ông nên im miệng là hơn. Ông Tulliver đâu có muốn nghe ý kiến của ông hoặc của tôi đâu. Trên đời này bao giờ cũng có những người khôn ngoan hơn tất cả bao nhiêu người khác.
Ông Tulliver giận thật:
- Kìa, vậy mà tôi tưởng chị là một trong những người đó.
Bà Glegg mỉa mai:
- Thôi, tôi không nói gì hết là xong. Không bao giờ người ta chịu hỏi ý kiến tôi và bây giờ tôi cũng sẽ không góp một ý nào cả.
Ông Tulliver nói:
- Lần đầu tiên mới nghe chị nói như vậy. Ý kiến là vật duy nhất mà lúc nào chị cũng sẵn sàng cho người khác.
- Nếu tôi không sẵn sàng cho thì tôi cũng sẵn sàng cho mượn. Có nhiều người đã mượn tiền của tôi, nhưng hối tiếc nhứt là tôi đã cho bà con mượn tiền.
Ông Glegg xoa dịu:
- Thôi mà, thôi mà.
Nhưng ông Tulliver vẫn không kềm hãm được:
- Và chỉ đã lấy lời năm phần trăm, bà con hay không bà con gì cũng vậy.
Bà Tulliver nài nỉ:
- Chị dùng rượu chát đi, để tôi lấy thêm cho chị một ít hột hạnh nhân và nho nữa.
Bà Glegg chộp lấy cơ hội:
- Bessy, tôi thương hại cho dì lắm. Tới lúc này mà còn nói chuyện ăn uống chi nữa.
Bà Pullet bắt đầu sụt sùi:
- Chúa ơi! Chị Glegg, đừng gây gỗ nữa – giữa chị em với nhau mà làm như vậy coi không được.
Bà Glegg bóng gió:
- Phải, mời chị em tới nhà để gây gỗ và phỉ báng thì quả thật không tốt chút nào.
Ông Glegg nài nỉ:
- Thôi mà – Jane – bình tĩnh lại.
Nhưng khi ông Tulliver nổi giận rồi thì khó mà nguôi được:
- Ai gây với chị? Chính chị mới là người lúc nào cũng tìm cách dằn vặt người ta. Tôi không hề muốn gây lộn với người đàn bà nào nếu họ biết yên phận một chút.
- Yên phận? Ông nói tới ông thì đúng hơn, ông Tulliver. Ông đã đối xử với tôi không thích đáng chút nào hết, nếu người trong gia đình tôi không lấy phải một ông chồng bất xứng thì dượng đã không bao giờ gặp được tôi.
- Chị đã nói vậy thì tôi cũng xin nhắc chị nhớ là gia đình tôi cũng đâu có kém gì gia đình chị – và có lẽ còn khá hơn nữa vì gia đình tôi chẳng có một người đàn bà nào hay quạo quọ như vậy cả.
Bà Glegg đứng lên:
- Ông Glegg, tôi không hiểu ông nghĩ gì mà cứ ngồi yên để nghe họ nhục mạ tôi. Riêng tôi thì sẽ không ở lại trong nhà này thêm một phút nào nữa. Ông có thể ở lại về sau bằng xe, để tôi đi bộ về được rồi.
- Thôi mà! Thôi mà!
Ông Glegg lập đi lập lại một cách buồn bã trong khi theo vợ bước ra ngoài.
Bà Tulliver nước mắt viền quanh:
- Ông Tulliver, tại sao ông lại ăn nói với chị ấy như vậy?
Nước mắt của vợ cũng không thể lung lạc ông Tulliver được:
- Cứ để bả đi, càng sớm càng tốt.
Bà Tulliver thất vọng:
- Chị Pullet, chị thấy có nên theo xin lỗi chị ấy hay không?
Ông Deane xen vào:
- Không nên, không nên, để vài ngày nữa đã.
Bà Tulliver lau nước mắt:
- Thôi được, bây giờ chị em mình ra vườn thăm mấy đứa nhỏ đi.
Không còn đề nghị nào thích hợp hơn nữa. Ông Tulliver cảm thấy trời trong sáng và dễ thở hơn khi các bà đã kéo nhau ra khỏi phòng. Ông rất thích bàn chuyện vặt với ông Deane, ông coi ông Deane như là người hiểu biết sâu rộng duy nhất trong đám người quen, hơn nữa lối nói chuyện của ông Deane lại rất thích hợp với ông. Và khi các bà đã đi rồi, họ có thể bàn luận với nhau về Quận công Wellington và cách điều binh của ngài trong trận Waterloo, trận chiến mà ngại không bao giờ thắng được nếu chẳng có cả một đạo quân khổng lồ ở sau lưng. Nhưng hai người lại bất đồng ý kiến về Thống chế Phổ Blucher, nhân vật mà theo ông Tulliver được biết - qua một người am tường về trận Waterloo - là đã mang quân tới trợ lực Quận công Wellington một cách kịp thời và hữu hiệu; nhưng ông Deane lại cho rằng không thể tin cậy được người Phổ - cách đóng tàu buồm vụng về và rượu bia Bantzic của họ đã khiến ông Deane coi thường họ. Bị đánh bại trong lãnh vực này, ông Tulliver chuyển sang đề tài khác, ông bày tỏ mối lo ngại trước sự suy thoái của nước Anh, nhưng ông Deane thì lại quả quyết rằng nước Anh vẫn đang trên đà phát triển, ông đưa ra một số các chi tiết về tình hình nhập cảng, đặc biệt nhứt là về da thuộc và kẽm, nhằm giải tỏ nỗi bi quan của ông Tulliver vì một viễn ảnh nước Anh bị làm mồi cho bọn Giáo Hoàng Chủ nghĩa và bọn Cấp Tiến xâu xé.
Ông Pullet cứ lặng thinh chăm chú lắng nghe những vấn đề cao siêu đó. Ông không hiểu chính trị và cũng không cần tìm hiểu – nhưng có một điều mà ông có thể đúc kết được xuyên qua câu chuyện của hai người cùng bàn: Quận công Wellington nào đó không thể bằng ông được.
82
1
BĂNG NGANG MỘT CÁNH ĐỒNG RỘNG LỚN, DÒNG sông Floss trườn mình giữa hai bờ cây cối xanh um, cuồn cuộn mang cả triều lưu xinh xắn, tâm sự cùng biển cả.
Trên mặt nước hùng vĩ đó, những chiếc tàu đen đúa - chở đầy gỗ bạch còn thơm phức, hạt dầu và than đá chiếu ngời - nối đuôi nhau xuôi về St. Ogg’s, một thành phố lớn cổ kính với những mái nhà ngói đỏ có gắn kiếng ở đầu hồi, nhô lên khoảng giữa đồi cây thấp với bến sông, khiến dòng nước biến thành màu đỏ nhẹ nhàng dưới ánh mặt trời tươi dịu của tháng hai. Hai bên thành phố trải dài những mục trường phồn thịnh cùng những cánh đồng nâu thẳm, sẵn sàng tiếp nhận hạt mầm cho mùa kế tiếp chắc chắn sẽ tươi xanh, hoặc đang phe phẩy của mùa bắp sắp tới vào tháng tám. Rải rác đây kia là những đụn rơm vàng ối còn lại của năm qua, người ta có cảm tưởng dường như những con tàu trên sông muốn vươn cột buồm nâu của chúng tới tận những cành cây nhô hẳn ra ngoài xa.
Ngay sát những thành phố lâu đời đó, con sông nhánh Ripple ồ ạt đổ vào dòng Floss. Dòng sông nho nhỏ ấy mới đẹp làm sao với những đợt sóng gợn lăn tăn. Đối với tôi, nó là một người bạn đồng hành sống động trong khi tôi lang thang thả dọc theo bờ, lắng nghe tiếng nước thì thầm êm dịu. Tôi nhớ mãi hình ảnh những cây liễu ven sông, tôi nhớ mãi cây cầu đá.
Và đây là nhà máy xay Dorlcote. Lần nào cũng thế, cứ mỗi lúc qua cầu là tôi lại dừng chân đôi ba phút để ngắm nhìn ngôi nhà máy đó, mặc dầu mây báo hiệu sắp mưa và trời đã về chiều. Ngay cả thời kỳ cây cối đều trụi là của tháng Hai sắp đi qua, nhà máy xay Dorlcote cũng vẫn còn giữ được cái dáng vẻ ưa nhìn. Có lẽ cái không khí rét và ẩm ướt trong mưa đã tăng thêm phần duyên dáng cho ngôi nhà trú ngụ, cũng già cỗi không thua gì các cây du, cây dẻ đang làm thành bức chắn ở một phía nhà để che luồng gió bấc. Thủy triều đã dâng cao tại nơi trồng liễu và tràn lên tới tận bờ khoảnh đất rào ở trước nhà.
Nhìn mặt sông căng phồng, nhìn đám cỏ mượt non cùng bụi phấn xanh trong bám vào các thân cây bên dưới những nhánh, cành nâu sậm trơ trụi lá, tôi thấy yêu sự ẩm ướt của tiết trời, tôi thèm được biến thành những con ngỗng trắng đang dìm đầu vào nước giữa những hàng cây liễu, chẳng mãy may chú ý tới cái cảnh sắc khô ráo hơn đôi chút ở bên trên.
Giòng sông chảy siết và tiếng động ầm ầm của nhà máy xay lấn át tất cả mọi âm thanh dường như tăng thêm sự an hòa của cảnh vật. Những tiếng động ầm ỉ và dầu điều đó tạo thành một bức tường âm thanh dày kín, khiến có cảm tưởng như mình đã được hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Rồi tiếng ầm vang như sấm dậy của cổ xe khổng lồ chở đầy hạt về nhà. Người lái xe ngay thật đó chẳng nghĩ gì khác hơn là bữa ăn đang chờ đợi ông ta ở bếp lò, nhưng ông ta vẫn chưa thể nào bàn được ngay vì còn phải lo cho cặp ngựa ăn – hai con vật khỏe mạnh và thuần tính – đang nhìn chủ với ánh mắt trách phiền là tại sao đã quất roi vào lưng chúng lúc đi đường, làm như chúng là loại vật hay ươn ngạnh! Cứ nhìn lúc chúng vươn vai, cố gắng vượt lên dốc cầu thì đủ biết chúng cũng nôn nóng được về mau chẳng thua gì chủ. Hãy nhìn vào những đôi chân to lớn, dầy lông của chúng cứ như muốn vồ lấy từng khoảng đất dài; hãy nhìn sức chịu đựng nhẫn nại nơi cổ chúng, những bắp thịt đùi vồng lên cũng đủ biết chúng đã nổ lực đến dường nào. Tôi vẫn thích nghe chúng hí bên máng bắp chẳng mấy gì nhiều, tôi thích nhìn vồng cổ mượt mồ hôi của chúng khi được tháo gỡ yên cương, tôi cũng thích thú vô cùng khi chúng được tự do chúi mũi vào vũng nước bùn để uống. Bây giờ, chúng đang lao xuống dốc cầu và vồng mui căng tròn của cổ xe mất hút sau một khúc quanh đầy cây cối.
Tôi lại hướng mặt về nhà máy xay, ngắm nhìn bánh xe quay tròn không ngừng nghỉ và hất tung ra từng cụm kim cương nước. Cô bé cũng đang nhìn vào đó. Từ lúc tôi dừng lại trên cầu, cô gái nhỏ vẫn đứng yên một chỗ cạnh bờ sông trong khi con chó xù lông trắng, tai nâu, nhảy dựng từng hồi, vừa nhìn vào guồng nước vừa sũa oang oang. Có lẽ nó đang ghen tị với cái bánh xe vô tình kia bởi vì người bạn đội mũ sụp của nó cứ mê mãi nhìn vào đó mà quên phứt nó đi. Đã tới giờ người bạn nó phải về nhà, tôi nghĩ thế, bởi vì có một ánh lửa ấm đang chờ, ánh lửa đang chiếu ra giữa nền trời càng lúc càng xám mịt. Cả tôi nữa, cũng đã tới lúc phải nhấc đôi tay mình ra khỏi thành cầu giá lạnh...
Tay tôi đã bị tê cóng thật sự rồi! Tôi phải tựa cả hai vào thành ghế đang ngồi quá lâu để hồi tưởng lại lúc đứng trên cầu, đối diện với nhà máy xay Dorlcote vào một chiều tháng hai nhiều năm trước. Trước khi ngủ thiếp đi, tôi xin mạn phép kể lại quý vị nghe những gì đã được bàn tới giữa ông và bà Tulliver, trong khi họ đang ngồi bên cạnh lò sưởi đỏ ngời ở cánh trái phòng khách, ngay vào chính buổi chiều mà tôi vừa tưởng nhớ lại.
2
ÔNG TULLIVER NÓI:
- Bà có biết tôi muốn gì không? Tôi muốn cho thằng Tom học hành thật nên người, học làm sao cho nó đủ sức nuôi sống lấy. Đó là điều mà tôi đã nghĩ tới trong khi báo cho nó biết là không còn học ở cái trường ký túc xá ở Ladyday nữa. Tôi thấy nó cần phải theo học ở một trường nào cho ra hồn ngay giữa mùa Hè này.
Hai năm học ở ký túc xá cũng đã đủ cho nó trở thành một nông gia không thua sút ai, bởi vì nó đã hiểu được chữ nghĩa khá nhiều hơn tôi. Thật ra, tôi có học được cái gì đâu, một vài chữ đọc cũng không thông. Tại vậy mà tôi muốn thằng Tom phải trở thành một nhà thông thái cũng giống như mấy người mà tôi đã biết, họ nói chuyện hết sức hay và viết mau như gió. Có được vậy, nó mới giúp tôi trong mấy vụ kiện cáo, điều đình gì đó. Tôi không muốn thằng con tôi làm luật sư... cái nghề đó bỉ ổi lắm... nó phải là một cái gì như ông kỹ sư, hoặc là thanh tra hay giám định viên, hồ giá viên gì cũng được, thí dụ như ông Riley; nếu không thì nó phải là một nhà buôn giỏi, chỉ có thâu lợi vào chớ không mất tiền ra.
Hết thảy mấy người tôi mới nói đều không ngán gì luật pháp, chắc vậy mà. Bà có thấy ông Riley không, ông nhìn... thẳng vào mặt ông thầy kiện Wakem chẳng khác gì hai con mèo nhìn nhau, không sợ một chút nào hết.
Ông chủ nhà máy xay Dorlcote đã nói như thế cùng vợ, một người đàn bà tóc hoe vàng, dáng điệu nhu mì, hòa nhã. Lúc đó, bà Tulliver đang đội chiếc nón kiểu cánh quạt (tôi không nhớ rõ là kiểu nón này xuất hiện từ lúc nào, có lẽ chỉ mới gần đây thôi. Trong thời kỳ này, bà Tulliver trạc tuổi bốn mươi, và cả gia đình vẫn hãy còn mới lạ đối với thành phố St. Ogg’s).
- Ông Tulliver, ông luôn luôn biết nhiều hơn tôi; tôi chẳng có ý kiến gì hết. Nhưng chẳng biết là tôi có nên làm thịt một cặp gà mái rồi mời các dì dượng tới chơi vào tuần tới hay không. Nhân dịp đó, ông có thể hỏi chị Glegg và Pullet để coi họ thấy ra sao. Trong chuồng, ít ra cũng có một cặp gà tới lúc làm thịt rồi.
Ông Tulliver bực tức:
- Bà muốn giết bao nhiêu gà thì cứ việc, Bessy; nhưng nhứt định là tôi không thèm hỏi dì dượng nào cả về chuyện gì dính líu tới con trai tôi.
Bà Tulliver lắc đầu chán nản:
- Coi kìa! Sao lại nói vậy, ông cứ nói cái giọng khinh bỉ đó với gia đình bên tôi, để rồi chị Glegg cứ đổ thừa tại tôi, mà tôi thì có lỗi gì đâu. Có bao giờ tôi nói là con gái của tôi phải khổ sở vì mấy dì dượng của nó đâu. Mà thôi, nếu thằng Tom phải tới học ở trường mới, tôi mong mỏi là được học ở một chỗ nào để tôi còn lo giặt áo, giặt quần và may vá cho nó, chớ nếu không thì đồ đạc của nó sẽ bị dơ bẩn chịu không nổi. Với lại, mỗi lần có ai đi về, tôi còn có thể gởi cho nó bánh trái thịt heo hầm cho nó ăn, dầu là người ta có cho nó ăn uống đầy đủ hay không cũng vậy. Con cái của tôi là luôn luôn phải no đủ chớ.
- Không sao, không sao đâu! Mình có gởi nó đi xa lắm đâu, mình đâu muốn vậy. Nhưng bà đừng có thọc gậy vào bánh xe với cái chuyện giặt quần, giặt áo đó để tôi phải cho nó học ở một trường gần. Bessy, tôi thấy bà cứ hay mắc cái tật đó, hễ gặp một cây gậy ở giữa đường là y như rằng bà không chịu bỏ đi luôn. Tại vậy mà bà không để tôi mướn một người đánh xe giỏi bởi vì y có mụt ruồi trên mặt.
Bà Tulliver chỉ dám biểu lộ sự ngạc nhiên vừa phải:
- Chúa ơi, tôi có phản đối một người nào vì có mụt ruồi trên mặt đâu. Tôi còn thích nữa là khác bởi vì anh tôi cũng có một mụt ruồi ở chân mày mà. Tôi còn nhớ là ông định mướn người đánh xe nào có mụt ruồi đâu. John Gibbs đâu có mụt ruồi nào trên mặt, cũng như ông vậy; tôi đã làm mọi cách để ông mướn y và ông cũng đã mướn rồi; nếu y không chết trong trận cháy đó thì chắc bây giờ y cũng đang đánh xe cho mình vậy. Làm sao tôi biết được là sau khi chết rồi, y có mọc mụt ruồi nào không, ông Tulliver?
- Không, không phải vậy, Bessy. Tôi không phải muốn nói đúng y như vậy, tôi muốn làm thí dụ để nói khác, mà thôi... suy nghĩ nhức đầu lắm. À, cái điều mà tôi bắt buộc phải suy nghĩ muốn bể óc là phải cho thằng Tom học ở đâu cho xứng đáng, nhứt định không phải mấy cái trường chẳng ra gì đó. Rối trí quá.
Thỉnh thoảng ông Tulliver ngừng đôi ba phút rồi thọc sâu cả hai tay vào túi quần đùi, dường như cố tìm trong đó một ý kiến gì sáng sủa hơn. Và rõ ràng là ông đã không thất vọng với cử chỉ này, bây giờ mặt ông đã sáng rỡ lên:
- Rồi, được rồi. Tôi sẽ hỏi ông Riley chuyện đó; ngày mai ổng tới để phân xử vụ cái đập nước.
- Được rồi, ông Tulliver. Tôi đã cho lấy mấy tấm vải trải trên cái giường tốt nhứt ra và Kezia đã đem hong gần lửa. Không phải là quí giá gì nhiều nhưng mấy tấm vải trải giường cũng quá tốt cho bất cứ người nào được nằm lên. Đó là loại Hòa Lan chớ có phải tầm thường đâu. Nếu mai kia mà ông có chết thì chúng nó đã sẵn sàng, đẹp lắm, lại có ướp mùi oải hương, nhứt định là chỉ có tôi chớ không ai được trải chúng ra. Tôi cất kỹ lắm, ở bên trái tủ gỗ sồi.
Vừa nói xong, bà Tulliver rút ra một chùm chìa khóa và mân mê chiếc chìa mà bà đã dùng để khóa học tủ đựng mấy tấm vải trải giường kia, với một nụ cười sảng khoái trong khi nhìn ánh lửa trong lò sưởi. Nếu là người mê tín dị đoan, chắc chắn ông Tulliver sẽ coi cái cử chỉ vừa rồi của vợ như là một dấu hiệu xui bảo ông sớm nằm vào mấy tấm vải Hòa Lan kia mà bà cho là quí giá vô song. Nhưng ông không phải là hạng người này, ông chỉ bận tân đến việc nghi ngờ quyền hạn của ông đối với vấn đề thủy lực thôi. Hơn nữa, ông luôn luôn giữ cái thói quen của một người chồng chẳng bao giờ cần chú ý tới từng câu, từng lời của vợ; ngoài ra, sau khi đã nhắc tới tên Riley, ông không còn nghĩ tới chuyện nào khác hơn được nữa.
Sau một lúc im lặng, ông tiếp tục nói lên những ý nghĩ từ nãy giờ bám sát trong đầu:
- Bessy, lần này là tôi đi đúng chỗ rồi. Riley mới đúng là người biết phải cho học ở đâu, chính ổng cũng đã từng đi học từ nhỏ cho tới lớn, đủ các chỗ... giám định giá hàng, giống giống như vậy. Đêm mai, sau khi xong chuyện làm ăn, mình sẽ nói vụ thằng Tom coi ông ta tính sao. Tôi muốn Tom cũng sẽ giỏi như ông Riley, biết ăn nói đàng hoàng, biết viết lách, không sợ gì pháp luật hà hiếp, lại sành sỏi công việc buôn bán nữa.
Dường như bà Tulliver lại muốn «thọc gậy bánh xe»:
- Ăn nói như nước chảy, biết hết mọi thứ, đi còng lưng lại và tóc hớt ngắn lên... thiệt tình con trai của tôi mà có như vậy, tôi cũng chẳng buồn gì mấy. Nhưng có cái chuyện là mấy người ăn nói giỏi ở thành thị lớn, phần đông đều mặc ngực áo giả. Học mặc hoài cho tới khi mấy miếng vải ổ ong đó nát bấy ra mới chịu đem đi giấu. Ông Riley chắc cũng vậy thôi. Với lại, nếu thằng Tom cũng phải đi tới tận Mudport để học như ông Riley, thì chỗ ở của nó chỉ là cái nhà bếp lớn không bằng một nắm tay, ăn sáng không có trứng tươi, rồi ngủ thì ở tuốt trên lầu ba – lầu tư – tôi biết mà – tới chừng có cháy nhà là chết thiêu luôn, xuống làm sao kịp.
- Không đâu, làm gì tới Mudport. Tôi muốn nó đặt văn phòng ở Saint Ogg’s này và ở với gia đình.
Sau vài giây suy nghĩ, ông Tulliver tiếp:
- Cái điều mà tôi sợ nhất là đầu óc của nó không minh mẫn như người ta chậm hiểu quá! Chắc là tại nó giống bên bà, Bessy.
Bà Tulliver nhìn nhận, nhưng chỉ với câu sau cùng:
- Chắc là đúng vậy. Nó ưa rắc muối vào đồ ăn thật nhiều. Anh tôi cũng ưa ăn mặn và cha tôi cũng vậy.
- Tội nghiệp! Con trai lại giống mẹ còn con gái thì không. Thiệt là rắc rối, khó biết được chuyện gì sẽ tới. Con nhỏ thì giống tôi, nó lanh bằng hai thằng Tom. Đối với đàn bà thì như vậy là quá lanh.
Ông Tulliver ngừng nói, ngoẹo đầu sang bên này rồi bên kia:
- Còn nhỏ thì lanh cỡ đó chưa có gì đáng hại, nhưng bà biết chớ, một người đàn bà quá lanh lợi cũng như là một con trừu đuôi dài, không bán được nhiều tiền hơn.
- Còn nhỏ mà lanh lắm cũng có hại chớ, ông Tulliver, bởi vì lần lần nó thành hung ác. Không có cách nào giữ nó sạch được tới hai tiếng đồng hồ. Ông có nhắc tôi mới nhớ...
Bà Tulliver đứng dậy, đi tới cửa sổ:
- Chẳng biết giờ này nó ở đâu, gần tới bữa dùng trà rồi. Chắc là, phải rồi... nó lại đi lên đi xuống ở bờ sông như một con vật hoang, có ngày rồi sẽ té xuống nước...
Bà Tulliver vỗ mạnh vào cửa sổ một cái rồi lắc đầu – một thói quen mà bà thường lập lại nhiều lần trước khi về ghế.
Vừa ngồi xuống, bà nói ngay:
- Theo tôi thì con nhỏ chẳng lanh lợi chút nào, còn hơi đần là khác. Lần nào sai lên gác lấy đồ, nó cũng quên mất không biết lấy gì rồi cứ ngồi luôn trên sàn phơi nắng, vừa phá tóc vừa ca hát như một con điên để tôi chờ hụt hơi ở dưới. Tạ ơn Chúa, cái tánh đó không giống chút nào với gia đình bên tôi. Còn cái nước da ngâm của nó, sao mà giống như mấy đứa giữ lừa. Tôi không dám nói động tới thánh thần chớ thiệt tình trông nó cứ như là một con hề.
- Nè, bà đừng nói vậy. Con gái mà mắt đen và ngó thẳng như nó ai cũng ưa nhìn. Nó có thua gi đám con gái bằng tuổi nó đâu, lại còn biết đọc chữ như mấy ông thầy tu nữa.
- Nhưng tóc nó không chịu quăn, dầu tôi có làm cách gì cũng vậy. Mỗi lần bắt nó uốn tóc bằng cây sắt hơ nóng là nó nhảy loi nhoi.
Ông Tulliver xẵng giọng:
- Thì cắt đi, cắt ngắn đi.
- Sao nói vậy, ông Tulliver? Nó cũng lớn rồi, chín tuổi còn gì nữa, người lớn hơn tuổi, ai lại đi cắt tóc. Nghĩ tới con em họ Lucy của nó coi tóc người ta cuộn tròn một hàng dài quanh đầu, không một sợi nào rối hết. Cứ nghĩ tới dì Deanne có được một đứa con gái như vậy mà thèm. Con Lucy vậy mà giống tôi hơn là con gái của tôi. Maggie, Maggie...
Bà Tulliver bỗng kêu lên với giọng bứt rứt ngay khi đứa con gái mà bà cho là đã đầu thai lầm, bước vào:
- Má dặn là không được tới gần bờ sông, sao không nghe? Có ngày rồi té xuống, chết trôi rồi mới biết là tại không nghe lời.
Cô bé vừa lột mũ ra thì quả y như lời phiền trách của bà mẹ về mớ tóc rối tung của nó. Điều đáng nói là vừa được mẹ uốn tóc cho thì khoảng một giờ sau, tóc của cô bé lại cứ thẳng tuột ra, đã vậy, nó lại còn có thói quen hất tóc ra phía sau để khỏi che phủ đôi mắt nâu đen luôn luôn ngời chiếu, khiến nó trông không khác mấy con ngựa con giống Shetland.
Bà mẹ lại nhăn nhó:
- Chúa ơi, Maggie, làm gì mà ném mũ ở đây. Đem lên gác mau, chải tóc ngay ngắn lại, thay quần áo và giầy vớ ra... con gái mà như vậy không biết xấu sao? Rồi lo may vá đi, cho giống với con nhà tử tế.
Maggie ngang bướng:
- Không, con không chịu may vá đâu.
- Sao? Bộ không muốn kết nhiễu làm khăn cho dì Glegg hả?
Maggie hất bờm tóc lên:
- Làm gì như là khùng, con không chịu. Ai lại đi xé vụn ra rồi kết miếng này vào miếng khác. Con cũng không muốn làm gì cho dì Glegg đâu, con không thích dì.
Nói xong, cô bé quày quã ra khỏi phòng, vừa đi vừa nắm dây kéo lê chiếc mũ theo trong khi ông Tulliver thấy đời thích thú.
Bà vợ trách móc:
- Vậy mà còn cười được sao, ông Tulliver? Ông cứ cưng nó hoài làm nó hư, để các dì lại đổ lỗi cho tôi.
Bà Tulliver đúng là mẫu người hòa nhã, giỏi chịu đựng chẳng một tiếng rên la dầu là lúc sanh con, hay trong bất cứ cảnh ngộ nào. Từ thuở còn nằm nôi mãi tới giờ, bà vẫn khỏe mạnh, tươi tỉnh, mập mạp và ít chịu suy nghĩ nhiều. Nói chung, bà là ngôi sao của gia đình bà vì cả duyên sắc và tính tình khả ái. Tuy nhiên, chất sữa và những gì ngọt lịm không phải là những thứ có thể giữ được lâu, bởi vì một khi nó đã hơi chua thì rất có hại cho những chiếc dạ dày còn non trẻ. Tôi thường tự hỏi, chẳng biết những người đàn bà hiền dịu và khả ái đó, với mái tóc vàng hoe và nét mặt đôi chút ngây ngô, sẽ phải làm sao để luôn giữ được vẻ thản nhiên, một khi con của họ cả gái lần trai đều đã quá lớn đệ tự hoà nhập với đời. Theo tôi, có lẽ họ sẽ càng la rầy quở trách yếu ớt hơn trong khi cứ phải âu sầu nhiều thêm nữa.
3
NGƯỜI ĐÀN ÔNG THANH NHÃ VỚI CHIẾC CÀ vạt to bản và ngực áo nhún tàng ong, tỏ ra thích thú trong khi cụng ly rượu mạnh pha nước lã với người bạn tốt Tulliver, chính là ông Riley – một nhân vật có địa vị trong xã hội, da mặt màu vàng nghệ, hai bàn tay đầy đặn. Về trình độ học vấn, ông đã vượt trên mức cần thiết của một người hành nghề hỗ giá viên, tuy thế ông vẫn luôn luôn niềm nở đối với những người quen tuy ở chốn quê mùa nhưng lúc nào cũng tỏ ra hiếu khách. Nói tới những người này, ông Riley thường nhún nhường gọi họ là «bạn học ngày xưa».
Câu chuyện đã đi tới chỗ ngừng nghỉ. Không phải là chẳng có một lý do đặc biệt nào đã khiến ông Tulliver không lập lại thêm một lần thứ bảy về những lời bắt bẽ của ông Riley cho Dix, và thế là lão Wakem bị một vố nặng trong đời, bây giờ giữa lúc vụ cái đập nước đã được phân xử, cũng như đã chẳng bao giờ xảy ra được những vụ tranh chấp về mực nước thấp cao... nếu mọi người cứ vẫn là mình và nếu lão Harry đã không tạo nên cái đám thầy kiện. Nhìn toàn diện, ông Tulliver đúng là mẫu người bảo thủ, tuy nhiên, trên một hai khía cạnh nào đó, ông đã bắt buộc đi tới chỗ kiện tụng và đâm ra oán ghét các luật sư mà theo ông, đó chỉ là hạng người, bần tiện do chính lão Harry dựng lên. Rất tiếc là chẳng ai nói rõ cho ông biết, đó chỉ là những lề lối làm việc đã có từ xưa, và nón đã nhận được ra như thế hẳn ông cũng đã nhìn thấy được sự lỗi lầm của riêng mình.
Khác với ngày thường, ly rượu của ông Tulliver hôm nay nặng chất hơn. Hơn nữa, đối với một kẻ đã có khoảng vài trăm bảng Anh nằm lười ở ngân hàng thì vấn đề cởi mở đối với một người bạn quá nhiều biệt tài doanh thương đâu phải là chuyện cần suy nghĩ.
Nhưng câu chuyện đập nước vẫn phải được nhắc tới, bởi vì bất cứ lúc nào vấn đề đó cũng có thể được đặt ra trở lại, cùng một khía cạnh và dưới một hình thái y hệt như trước. Vả lại, còn một số vấn đề khác nữa, vô cùng cấp bách mà ông phải nhờ tới cao kiến của người bạn Riley. Chính vì vậy mà ông đã im lặng một lúc sau khi đã uống hết ngụm rượu cuối cùng ngồi chà xát mãi hai tay vào gối với vẻ suy tư. Ông không phải là người có thể chuyển ý thật mau từ chuyện này sang chuyện khác. Nhưng ông vẫn thường chán nản bão, cái công việc của trí óc quả là chuyện rắc rối vô cùng, cũng như khi lái một chiếc xe qua mau là sẽ gặp hậu quả dị thường ngay. Ông Riley thì không thuộc hạng người này, vẫn điềm tĩnh như thường. Tại sao lại phải mất bình tĩnh giữa lúc được ngồi ở một nơi ấm cúng, lại được uống rượu mạnh không tiền?
- Tôi có chuyện này muốn nói...
Cuối cùng rồi ông Tulliver cũng phải nói, thấp giọng hơn thường lệ trong khi nhìn đăm đăm vào ông bạn.
- Vậy à!
Giọng ông Riley mang âm điệu ân cần. Hai mí mắt dày cộm và đôi chân mày vòng cung vẫn cứ luôn bất động dầu ở cảnh ngộ nào. Sắc diện im lìm đó và thói quen lấy một nhúm thuốc để hít hơi trước khi trả lời càng làm ông trở nên hùng hồn nhiều hơn trước mặt ông Tulliver.
Ông Tulliver tiếp:
- Đây là mot chuyện đặc biệt, chuyện của thằng Tom, con tôi.
Vừa nghe nói đến tên Tom, cô bé Maggie đang ngồi trên chiếc ghế thấp gần đó, với một quyển sách lớn lật ra trên gối, vội vàng ngước mặt lên. Gần như chẳng có một tiếng động nào bắt cô bé chú tâm giữa lúc đam mê sách, nhưng chỉ với một tiếng Tom thôi cũng đủ là một hồi còi lanh lãnh dội bên tai: lập tức cô bé tự đặt vào tình trạng báo động, mắt quắc ngời, y hệt như một con chó săn vừa đánh hơi vật lạ, sẵn sàng nhảy xổ tới bất cứ gì có thể đe dọa Tom.
- Tôi định gởi nó tới một trường học mới giữa mùa hè này, nó sắp rời khỏi cái trường lôi thôi ở Ladyday. Tôi sẽ cho nó nghỉ xã hơi ba tháng rồi bắt đi học lại ngay tại một trường học nào thật đàng hoàng, để về sau nó có thể trở thành cừ khôi về chữ nghĩa.
- Đúng thế, ở đời chẳng có gì tốt hơn là học được tới nơi tới chốn.
Ông Riley nói tiếp với giọng lễ phép hơn:
- Tuy vậy, nếu muốn trở thành chủ nhân một nhà máy xay hay một nông gia tài giỏi, thiết tưởng trường học cũng chẳng giúp ích gì được bao nhiêu.
Ông Tulliver nghiêng đầu qua một bên:
- Ông nói phải, nhưng tôi không có ý để thằng Tom làm chủ nhà máy hay nhà nông. Nếu tôi cho nó học để trở thành chủ nhà máy hay nông gia thì thế nào nó cũng mơ tưởng... tới cái ngày nó sẽ lấy cái nhà máy xay này và đất cát ở đây, mà như vậy thì có khác nào là đã tới lúc tôi phải nghĩ đến chuyện nằm yên một chỗ, chờ lúc qua đời. Ái chà, tôi đã thấy đám con trai của người ta như vậy rồi. Không được đâu, tôi chỉ có thể cỡi áo ngoài ra trước khi đi ngủ thôi. Tôi muốn cho thằng Tom học thật giỏi để lo chuyện buôn bán, làm ăn, để nó có thể tự xây dựng lấy một mái nhà, chớ không phải để nó tống cổ tôi ra khỏi nhà tôi. Chuyện đó có thể xảy ra chỉ khi nào tôi đã đi theo ông theo bà kìa. Chưa mất hết răng là tôi vẫn cứ còn ăn thịt.
Hiển nhiên, đó chính là chủ điểm của ông Tulliver, một thứ gây xúc động mạnh đã khiến ông nói luôn một hơi dài, lại còn biết đặt cả vấn đề trọng tâm trong câu chuyện. Và cũng chính vì thế mà sau mấy phút đã ngừng nói, ông vẫn còn tỏ ra hăm hở, thỉnh thoảng lại nghoẹo đầu hết bên này sang bên kia, và bật lên những tiếng «ái chà».
Những dấu hiệu gần như giận tức của người cha khi đặt vấn đề Tom có thể tống cổ ông ra khỏi cửa không thoát qua khỏi sự chú ý bén nhạy của Maggie. Làm gì có chuyện đó xảy ra, cô bé vừa nghĩ thế vừa nhảy dựng lên khỏi ghế, quên mất quyển sách dày đang nằm trên đầu gối, khiến nó rơi xuống với một tiếng động nặng nề. Nhưng chẳng lý gì tới quyển sách, cô bé chạy vụt tới, ôm chầm lấy gối cha, miệng méo xệch đi với giọng pha lẫn chút bất bình:
- Ba, anh Tom nhất định không bao giờ xấu tệ với ba đâu. Con biết anh không thể nào như vậy được.
Trong khi ông Riley khòm xuống nhấc quyển sách lên và lật xem, ông Tulliver vừa cười dịu, vừa xoa lưng đứa gái cưng, rồi kéo cả hai bàn tay của con đặt lên gối mình:
- Sao? Bộ không ai được nói động tới thằng Tom hả?
Ông nheo mắt nhìn Maggie rồi quay sang ông Riley, hạ thấp giọng, làm như Maggie không nghe được gì cả:
- Ông thấy chưa, nó biết là mình đang bàn một chuyện chưa bao giờ bàn tới rõ ràng như vậy cả. Có nghe nó đọc mới biết, nó đọc trôi chảy làm như đã biết đâu trước hết rồi. Lúc nào cũng coi sách! Nhưng chắc là không hay đâu...
Giọng ông bỗng buồn buồn:
- Đàn bà con gái thì không nên quá thông minh, nhiều rắc rối về sau. Nhưng có điều đáng nói là nó đọc sách rất nhiều và biết được nhiều chuyện mà lắm người đã lớn vẫn không biết.
Hai má Maggie ửng đỏ lên với lời khen tặng của cha, và cô bé nghĩ mau rằng bây giờ chắc ông Riley cũng đã phải phục mình, bởi vì trước đó ông ta chẳng một mảy may nào chú ý đến sự có mặt của cô.
Từ nãy giờ, ông Riley vẫn tiếp tục lật từng trang sách nên Maggie không thể hiểu được ông ta đang nghĩ gì với hai hàng chân mày vòng cung cao nghệu đó. Bây giờ, ông ta đã nhìn thẳng vào cô và bảo:
- Lại đây, cô bé! Lại đây và nói cho tôi nghe cô đã đọc được những gì nào! À, có hình ảnh đây, cô có biết hình gì không?
Mặt càng đỏ sậm hơn, nhưng Maggie khong một chút ngập ngừng, bước thẳng tới bên cạnh ông Riley, vừa nhìn vào sách vừa hất bờm tóc lên:
- Đây nè, để tôi nói ông nghe. Tấm hình này đáng sợ lắm, nhưng tôi cứ xem đi xem lại hoài. Bà lão này là phù thủy – mấy người kia ném bà ta xuống nước để xem có thật bà là phù thủy không, nếu bà ta biết lội thì mới đúng là phù thủy, nhưng nếu bà ta chết chìm – ông biết không – thì bà ta vô tội, không phải là phù thủy. Cuối cùng, bà ta chỉ là một kẻ đáng thương. Nhưng tới chừng đó thì còn làm gì được nữa, bà ta đã chết đuối rồi. Tôi nghĩ chỉ còn một cách là bà ta lên Thiên Đàng để Chúa đến bù cho. Còn cái ông thợ rèn đứng chống nạnh này, ổng đang cười, đáng sợ lắm – ồ, xấu xí ghê chưa? – cho ông biết, chính ông ta mới là con quỷ chánh cống (tới đây, giọng Maggie cất cao hơn và cố nhấn mạnh) chớ không phải là thợ rèn đâu. Mấy con quỉ thường giả làm người nhưng chỉ là hạng người hung dữ thôi, họ đi tới đâu là cũng bắt người ta phải làm những chuyện hung dữ giống y như họ. Quỉ phải giả làm người vì nếu để người ta biết nó là quỉ thì ai cũng chạy trốn hết, làm sao bắt được người ta phải làm theo ý mình.
Ông Tulliver không khỏi kinh ngạc trước những lời biện luận của con. Ông ngẩn người giây lát rồi hỏi mau:
- Cuốn sách của con nhỏ là loại gì vậy, ông Riley?
- «Câu chuyện của quỷ», tác giả là Daniel Defoe; không đúng là loại sách dành cho con gái. Làm thế nào mà tủ sách của ông lại có quyển này, bạn Tulliver?
Tự ái bị tổn thương Maggie xịu mặt, trong khi người cha đáp:
- Tôi mua nó ở Partridge. Ở đó, tất cả sách đều giống nhau - ông thấy không, đóng bìa thật đẹp - tôi cứ tưởng như vậy là sách quý. Tôi cũng có cuốn «Sống thanh bạch, chết tinh khiết» của Jeremy Taylor, chúa nhật nào tôi cũng đọc. (Ông Tulliver tự cảm thấy mình cũng có liên hệ phần nào với đại văn hào này, bởi vì tên của ông ta cũng là Jeremy.) Ngoài ra, còn một số sách khác, phần nhiều nói về giáo lý – tất cả đều đóng bìa tốt như nhau nên tôi cứ tưởng cùng một loại. Cứ coi ở bề ngoài là hỏng bét. Thế giới này càng ngày càng rắc rối.
Vừa vỗ nhẹ lên đầu Maggie, ông Riley vừa lấy giọng khuyên răn:
- Cháu nên dẹp cuốn này đi, đọc mấy cuốn khác bổ ích hơn. Chắc cháu có loại sách bổ ích chớ?
Maggie hơi tươi lại với ý định cho biết là mình cũng đã từng đọc qua nhiều loại sách khác nhau.
- Dạ có chớ. Tôi cũng biết cuốn này không nên đọc – nhưng tôi thích xem hình... để tự mình giải thích theo ý mình. Tôi có đọc «Ngụ ngôn của Aesop» và một cuốn nói về giống đại thử, với cuốn «Cuộc hành hương»...
Ông Riley khen:
- Tốt lắm, không có quyển nào hơn được.
Maggie gần như reo lên với giọng đắc thắng:
- Nhưng ở trong đó cũng nói nhiều về chuyện quỉ. Để tôi chỉ ông xem hình còn quỉ thật ra sao, trong khi nó chống lại người của Thiên Chúa.
Cô bé chạy mau tới góc phòng nhảy phóc lên một chiếc ghế, vói lấy từ kệ xuống một quyển sờn rách của Bunyan. Rồi không chút ngập ngừng, cô bé lật đúng ngay nơi có bức ảnh mà cô vừa nói.
Vừa chạy trở lại chỗ ông Riley, cô bé vừa reo:
- Nó đây nè. Anh Tom đã tô màu nó giùm tôi vào kỳ nghỉ lễ vừa rồi - cả người đều đen thui, ông biết không, hai con mắt đỏ rực... như lửa, bởi vì trong nó đều toàn là lửa... chiếu ra con mắt.
- Đi, đi!
Ông Tulliver bỗng gắt lên, bởi cảm thấy khó chịu vì sự mô tả hình dáng mà ông cho là của kẻ có đủ sức mạnh để tạo nên những ông thầy kiện.
- Xếp sách lại, không được nói tới chuyện đó nữa. Đúng như tôi nói con nhỏ chỉ học được trong sách những chuyện hư xấu hơn là điều tốt. Đi, đi mau, ra ngoài với má đi!
Maggie xếp ập quyển sách lại với thái độ bực tức, nhưng lại không chịu ra ngoài mà chỉ sa vào một góc tối phía sau ghế của cha để tưng tiu một con búp bê mà cô yêu mến hơn ai hết trong khi vắng mặt Tom.
Thấy đã vắng bóng Maggie, ông Tulliver thở dài:
- Ông có từng nghe như vậy bao giờ chưa? Tội nghiệp... nhưng nếu nó là con trai, chắc chắn nó sẽ không chịu thua đám thầy kiện đâu. Kể cũng lạ (tới đây ông hạ giọng) tôi lấy má nó là vì lúc đó, bà đâu có tin ranh như vậy, một người đàn bà thật tốt, gia đình cũng không phải hạng thường. Có điều một người đàn bà như vậy cứ phải nuôi lũ con trai khờ khạo với đám con gái quá khôn lanh cho tới khi trái đất này chổng ngược lên. Thật là rắc rối.
Dáng vẻ nghiêm trọng của ông Riley từ từ tan biến. Ông lắc lắc ly rượu trước khi lên tiếng:
- Nhưng con trai của ông có khờ khào gì đâu. Lần ghé đây mới rồi, tôi có gặp cháu đang lo làm mấy món đồ câu cá, trông thành thạo lắm.
- Thú thật, nó cũng không phải đần độn gì lắm – nó đã biết qua ít nhiều các chuyện bên ngoài, nghĩ là không quá tệ. Nhưng nó chậm ăn chậm nói, còn đọc sách thì ngập ngừng, ngập ngửi, đánh vần sai, họ nói với tôi mà, lại còn nhút nhát nữa. Chẳng bao giờ ông nghe nó nói được một chuyện gì có đầu có đuôi như con em nó. Đó, vì vậy mà tôi muốn nó phải học ở một trường nào cho xứng đáng để ăn nói chững chạc, viết lách đàng hoàng không thua sút một ai...
Ông Tulliver hớp một ngụm rượu, nuốt từ từ, và lắc đầu thiểu não.
Ông Riley nhẹ nhàng:
- Ông nói đúng. Thà tốn thêm một hoặc hai trăm để lo chuyện học cho con, còn hơn là để nó ra sao cũng phải giải quyết như ông, đã vậy lại phải còn khốn đốn với một đàn con gái.
Không để tình cảm bị chi phối về việc ông Riley chẳng có tiền dư, ông Tulliver bám dính vào hướng nhắm từ đầu:
- Ông có biết một trường nào để thằng Tom tới học không?
Trước khi trả lời, ông Riley nhắm một hớp rượu và cứ để mặc cho bạn hồi hộp đợi.
- Tôi biết một chỗ rất xứng đáng cho bất cứ người nào có sẵn tiền đúng theo ý của ông. Sự thật tôi không muốn khuyên bất cứ ông bạn nào của mình gởi con tới học tại một trường thông thường như bao nhiêu trường khác, nếu họ có thể làm khá hơn. Nhưng nếu ai muốn cho con trai mình có học thức cao, thông suốt mọi việc, được học với một ông thầy thuộc vào hàng đệ nhứt danh sư – và luôn luôn có ông thầy này kèm bên cạnh – thì tôi sẽ giới thiệu cho. Thật tình, tôi cũng không muốn bạ ai cũng giới thiệu này vì biết đâu sẽ có trắc trở, mặc dầu người ta đã cố gắng lo... nhưng với ông, Tulliver, tôi chẳng ngại gì cả, chỗ bạn bè với nhau...
Cái nhìn trân trối của Tulliver vào người bạn có tài hùng biện bỗng sáng rực lên. Ông ngồi thẳng dậy với dáng vẻ của một người có chuyện quan trọng cần nói tới:
- À, à... vậy là...
Nhưng ông Riley đã cắt ngang:
- Người đó là một nhân vật của Oxford.
Ông Tulliver nghi ngại:
- Sao? Bộ là thầy tu hả?
- Phải, mà cũng là một tiến sĩ. Đức Giám Mục rất quí trọng ông ấy. Chính Ngài đã giao cho ông ấy trông coi một họ ngánh.
Ông Tulliver kêu lên:
- A!
Đối với ông, đó chỉ toàn là chuyện lạ. Tuy thế, ông vẫn không buông lơi chủ đề:
- Nhưng ổng có thể giúp thằng Tom được gì?
- Có chớ. Sự thật là ông ấy rất quí mến nghề dạy, và cũng mong được học hành, nghiên cứu sâu rộng hơn. Nhưng làm một nhà truyền giáo thì còn đâu thì giờ rảnh rỗi. Bởi thế, ông ấy muốn dạy cho một vài đứa học trò ngay tại nhà. Cậu nào vào đó sẽ được coi như là người của gia đình – chẳng còn vinh hạnh nào hơn nữa. Được sự coi sóc thường xuyên của Stelling không phải ai cũng có.
Bà Tulliver vừa vào tới, bỗng chen vào:
- Nhưng có chắc là họ chịu cho thằng Tom mỗi ngày hai lần bánh tráng miệng không? Nó thích bánh ngọt chẳng ai bằng, cỡ nó mà bị bỏ đói thì tội lắm.
Ông Tulliver nói tiếp ngay vì nghĩ rằng đối với một ông tiến sĩ thì chẳng biết phải trả bao nhiêu cho vừa giá.
- Theo ông thì ông sẽ lấy bao nhiêu?
- Tôi đã từng biết có người cũng như ông ấy đã đòi tới một trăm năm chục, nhưng làm gì bằng nổi Stelling. Vị viện trưởng Oxford có lần đã bảo: «Stelling co thể còn lên cao hơn nữa, nhưng y lại không thích ồn ào».
- À, tốt lắm, nhưng một trăm rưỡi thì đâu phải là chuyện dễ kiếm. Tôi không nghĩ là quá cao như vậy.
- Này, bạn Tulliver, bạn nên biết là có một nền học vấn xứng đáng thì không bao giờ tính ra bằng tiền được. Nhưng Stelling là người rất biết điều không bao giờ tham lam. Tôi tin là ông ấy sẵn sàng nhận con của bạn với khoảng một trăm thôi. Nếu bạn muốn, tôi sẽ thông báo cho ông ấy.
Ông Tulliver chẳng biết nói gì, cứ xoa xoa hai bàn tay lên gối, mắt nhìn xuống tấm thảm, đăm chiêu.
Bà Tulliver tỏ vẻ lo âu:
- Nhưng ông đã sống độc thân thì làm gì lo nổi cho mấy đứa nhỏ. Tôi không tin nổi mấy người quản gia đâu. Anh tôi, hồi đó cũng có một người quản gia và cứ bị bà ta rút tỉa hết phân nửa lông chim dồn nệm, rồi áo quần nữa, tên bà ta là Scott. Ông Tulliver, ông nên nghĩ lại chuyện đó.
Ông Riley nhếch môi:
- Tulliver, bạn khỏi phải bận tâm về chuyện đó, bởi vì Stelling đã kết hôn, người vợ hết sức đoan trang và hiền thục. Không còn ai hơn nổi, tôi biết gia đình bà ấy rất nhiều. Bà ấy cũng giống như bà Tulliver đây – tóc hơi quăn, thuộc dòng dõi vọng tộc ở Mudport, đặc biệt cao quí. Vã lại, Stelling cũng không thích khách khứa lăng nhăng, thỉnh thoảng mới có một vài người tới toàn là những bạn bè đã được chọn lựa kỹ càng. Chắc là ông ấy sẽ không từ chối tiếp nhận cháu Tom đâu, có tôi giới thiệu là kể như chẳng còn gì rắc rối.
- Có ai mà lại đi ghét bỏ thằng Tom được, nó cũng khôi ngô có kém ai.
- Nhưng có điều này khiến tôi hơi ngại...
Ông Tulliver ngoẹo đầu hết bên này tới bên kia, cố tìm lời lẽ xứng hợp trước khi tiếp:
- Chẳng biết một ông thầy tu có đủ sức dạy cho nó trở thành một người biết công việc làm ăn, buôn bán hay không? Thật tình, tôi không muốn cho thằng Tom học hành theo kiểu mấy ông tu hành. Tôi muốn nó phải học cách tính toán sổ sách, viết chữ như in, thấy mau hiểu rộng và ăn nói trôi chảy.
- Ồ, bạn Tulliver, bạn hiểu lầm giới tu hành rồi. Tất cả các hiệu trưởng giỏi nhất đều xuất thân từ giới này. Ông muốn thằng bé giỏi toán à? Thì cứ nói thẳng với ông ấy là kể như mọi việc đều xong.
Trước thái độ xác quyết của ông Riley, ông Tulliver đã lấy lại lòng tin nơi giới tu hành. Ông Riley không bỏ lỡ cơ hội làm tăng triển lòng tin đó:
- Bạn cũng đã biết rồi mà, một người tài ba như Stelling cũng giống như một công nhân sử dụng cụ của mình, nếu đã làm được cửa cái thì làm gì không đóng nổi mấy cái cửa sổ.
Ông Tulliver gật gù:
- Đúng vậy, đúng vậy.
- Đây, tôi sẽ làm như thế này, không phải với bất cứ ai tôi cũng sẵn sàng giúp ngay đâu. Tôi sẽ tới gặp nhạc phụ của Stelling, hoặc viết cho ông ấy vài chữ lúc trở về Mudport, cho biết là bạn muốn gởi con tới học ở nhà con rể ông ấy. Chắc chắn là sau đó, Stelling sẽ gởi thơ tới bạn để nói rõ về điều kiện.
Bà Tulliver xen vào ngay:
- Nhưng có cần gì gấp đâu, phải không, ông Tulliver. Phải chờ tới giữa Hè nó mới đi học kia mà.
- Coi kìa, Bessy, đừng có xay lúa xấu vào ngày lễ thánh chớ!
Vừa nói, ông Tulliver vừa nheo mắt cười với bạn, tự chứng tỏ là mình có được một người vợ bao giờ cũng thuận theo ý chồng, rồi tiếp:
- Chắc chắn có gì phải gấp đâu, Bessy.
- Ba!
Từ nãy giờ luôn theo dõi câu chuyện về anh mình, cô bé Maggie bỗng chạy nhào tới:
- Ba, từ nhà mình tới chỗ đó có xa không? Mình có thế thường đi thăm anh Tom được không ba?
Ông Tulliver âu yếm:
- Ba không biết, con hỏi ông Riley thì biết liền chớ gì.
Không một chút ngần ngại, Maggie đi vòng trước mặt ông Riley:
- Thưa ông, chỗ đó cách bao xa?
- Ồ, xa lắm, xa lơ xa lắc. Cháu phải mượn đôi hia bảy dặm mới đi nổi.
Maggie ngoe nguẩy:
- Không phải đâu.
Và cô bé bắt đầu chán ghét ông khách dám coi thường mình.
Bà mẹ mắng:
- Kìa, Maggie, làm vậy mà coi được sao? Tới ngồi ở ghế của con đi và không được mở miệng nữa nghe chưa?
Rồi bà ngước mặt lên, dáng trầm tư:
- Nếu xa quá như vậy thì làm sao tắm rửa và may vá cho nó được?
Ông Riley vội vàng đính chánh:
- Chỉ khoảng mười lăm dặm thôi, có thể đi và về trong ngày một cách thoải mái. Hơn nữa, ông Stelling là người hiếu khách, bà có thể ở lại chơi, nếu muốn.
Giọng bà Tulliver vẫn còn buồn:
- Như vậy cũng đã khó về chuyện may vá rồi.
Rất may là vừa vặn tới lúc dùng bữa tối nên ông Riley tạm khỏi phải đưa thêm ý kiến này nọ để trấn an người mẹ quá thương con. Qua những gì vừa nói, ông Riley tự chứng minh một cách không chối cãi được là hết sức thành tâm với bạn. Và ông ta cũng đã giới thiệu Stelling mà không một chút nghĩ ngợi về quyền lợi riêng tư của chính mình.
Tuy nhiên, là người chuyên về các khía cạnh doanh thương, Riley lại cũng không thể dững dưng trước những quyền lợi riêng, nếu có. Thật ra, ông chưa hề giao tiếp thẳng với vị tu sĩ khả kính Walter Stelling, và chỉ biết phớt qua về ông tiến sĩ đó thôi – nghĩa là chưa đủ uy tín để gởi gắm ai, kể cả con của ông Tulliver. Nhưng ông ta biết chắc rằng Stelling là một nhân vật khuôn mẫu khả ái, qua lời của Godsby, mà Godsby lại chính là người có thân nhân làm giáo sư ở đại học Oxford. Stelling đã là sinh viên của Oxford và hầu hết những người tốt nghiệp ở Oxford thì đều... không, không phải vậy... chính những người của Cambridge mới là những tay toán học cừ khôi. Nhưng, một người đã có trình độ đại học thì có thể dạy bất cứ môn nào, nhứt là Stelling đã từng đọc diễn văn tại một bữa ăn đông đảo, đề cập về chính trị. Nhiều người đã không tỏ ra thán phục người con rể của ông Timpson đó? Ngoài ra, ông Timpson còn là người có ảnh hưởng rất lớn tại giáo khu; lại cũng là một doanh gia đáng kể. Như vậy, việc giúp cho con rể của ông Timpson – cũng như giúp gia đình Tulliver – hiển nhiên là phải có giá trị gì đối với Riley. Ông Timpson có rất đông con gái, nhứt là Louisa Timpson, với khuôn mặt diễm kiều, với những lọn tóc xoăn lơi. Vã lại, ngay lúc được hỏi ý kiến, ông cũng không hề giao du thân mật với một vị hiệu trưởng nào để có thể giới thiệu. Và tại sao ông lại giới thiệu Stelling, người chỉ giỏi về La Tinh chớ không giỏi toán? Vì rằng một khi bạn đã có chuyện nhờ mình mà lại nói chẳng biết gì cả thì mất lịch sự quá nhiều. Bởi thế, khó mà trách ông Riley đã hời hợt đối với chuyện học của con người bạn. Một kẻ đã từng hành nghề hỗ giá viên và giám định viên mà bảo rằng mình chẳng biết gì cả về chuyện giáo dục thì quả là chẳng còn chút uy tín nào nữa cả...
4
MAGGIE VÔ CÙNG THẤT VỌNG VÌ KHÔNG ĐƯỢC cùng đi với cha tới trường đón Tom. Bà Tulliver bảo, sáng nay trời quá ẩm, con gái không thể mặc đồ đẹp đi xa. Maggie phản đội mạnh ngay, và kết quả trực tiếp của sự đối kháng đó là – trong khi bà Tulliver đang lo chải thẳng những lọn tóc rối cho Maggie – cô bé vùng chạy thoát khỏi tay mẹ, nhúng đầu vào một thau nước gần đó, với quyết ý trả thù, không cho cuộn tóc hôm nay.
Bất lực, bà Tulliver bỏ bàn chải lên đùi, chán nản kêu lên:
- Maggie! Maggie! Mầy hư hỏng như vậy thì sau này còn ra gì nữa? Tuần sau dì Glegg và dì Pullet tới chơi, tao sẽ kể hết cho họ nghe và họ sẽ không thương mày nữa đâu. Trời ơi! Nhìn cái dãi yếm mới của mầy coi, ướt hết rồi! Người ta lại bảo là tao đã bị Thượng Đế trừng phạt nên mới có một đứa con gái như thế – người ta sẽ nghĩ rằng ngày trước tao đã ăn ở thất đức, bất nhân...
Nhưng bà Tulliver chưa kịp dứt lời thì Maggie đã nhảy bước một lên căn gác rộng nằm sát mái nhà cũ kỹ, cô bé vừa chạy vừa rảy nước ra khỏi tóc như một con chó săn Skye đang bị tắm bỗng vùng chạy thoát đi. Căn gác là nơi thích nhứt của Maggie trong những ngày ẩm ướt, khi tiết trời chưa giá lạnh bao nhiêu; đây cũng là nơi cô bé đã trút những nỗi bực dọc bằng cách quát tháo với những kệ hàng mục nát và những gốc tối bụi bặm, nhện giăng; lại còn là nơi có giữ sẵn một vật để trừng phạt hầu đền bù những bất hạnh của mình. Đó là con búp bê lớn, bằng gỗ, không chân tay, trước đây hãy còn đôi mắt tròn xoe với hai má phính hồng. Nhưng hiện nay hình dáng bên ngoài của nó đã bị hủy diệt hoàn toàn vì đã phải chịu đựng bao nhiêu là hình phạt để chia xẻ nỗi đau khổ của chủ nhân nó. Ba chiếc đinh đóng vào đầu, đánh dấu những cơn khủng hoảng xảy ra trong chín năm tuổi đời của Maggie. Cô bé đã nảy sanh cách thức trả thù này khi được hình bức Joel tiêu diệt Sisera trong Cựu Ước. Chiếc sau cùng được đóng vào một cách hung bạo hơn bao giờ hết bởi cái vật tế thần lúc đó là đại diện cho dì Glegg. Nhưng ngay sau đó, Maggie chợt nghĩ, nếu đóng quá nhiều đinh vào đầu con búp bê thì cô ta sẽ không còn tưởng tượng được nỗi đau của nó khi đập đầu nó vào tường: và lúc đó nguôi giận, cô cũng không thể an ủi và dán thuốc chữa thương cho nó, vì ngay cả dì Glegg cũng rất đáng thương khi bị hành hạ quá nhiều. Vả lại, Maggie còn muốn dành đường cho dì phải năn nỉ, xin lỗi mình kia chớ. Từ đó, Maggie không đóng đinh vào đầu búp bê nữa, mà chỉ tự an ủi bằng cách đập và chà xát cái đầu gỗ của nó vào thành gạch lởm chởm của hai ống khói lò sưởi vĩ đại làm thành hai cột trụ chống đỡ mái nhà. Đó chính là hành động của Maggie sáng nay trên gác thượng, cô khóc vùi đến nỗi đã quên khuấy đi mất nguyên nhân sự đau khổ của mình. Cuối cùng, những tiếng nức nở dịu lại, bàn tay hình phạt cũng bớt hung hãn đi, và một tia nắng bỗng xuyên qua lưới mắt cáo, soi sáng những kệ hàng mục nát, Maggie liệng con búp bê đi và chạy ra cửa sổ.
Mặt trời đã lên cao, tiếng máy xay lại thật vui tai như thường lệ, cửa kho lúa đã mở, và Yap, chú chó săn lông trắng đốm nâu, với một tai cụp xuống, đang chạy đánh hơi quanh quẩn như sục tìm một người bạn để đùa vui. Không dằn được, Maggie vén tóc, chạy xuống, chụp lấy chiếc nón, nhìn dáo dác khắp hành lang vì sợ chạm trán mẹ, rồi phóng mau ra sân. Cô bé vừa nhảy múa như một ả đồng bóng, vừa ca: «Yap, Yap, Yap, Tom sắp về rồi!» Con Yap cũng vừa nhảy vừa sủa chung quanh cô chủ nhỏ như muốn bảo, nếu cần khua động thì đã có chú ta đảm trách.
- Ê, Ê, cô bé! Coi chừng chóng mặt rồi té vào sình.
Người vừa gọi là bác Luke, thợ cả trong nhà máy. Thân hình cao lớn, vai rộng, tóc đen, bác trạc tuổi bốn mươi, mình mảy dính đầy bột như một cái nấm tai mèo.
Maggie ngừng quay, hơi lảo đảo một chút – rồi chống chế:
- Không đâu, bác Luke, không chóng mặt đâu. Bác cho tôi vào nhà máy với được không?
Maggie rất thích thơ thẩn trong các phòng rộng của nhà máy để được ra về với mái tóc phủ bột trắng mịn như bông, khiến cho hai mắt của cô lóng lánh như hai viên huyền ngọc. Tiếng máy rầm rỉ đều đặn, sự chuyển động liên tục của các cối đá khổng lồ tạo cho Maggie một cảm giác sợ sệt thú vị trước dòng bột bất tận, trước lớp bụi trắng mịn màng phủ khắp nơi, làm cho các màng nhện trông giống như những khung thêu tuyệt xảo, và trước hương vị ngọt ngào, thanh khiết của bột mới. Tất cả làm cho Maggie cảm thấy nhà máy như là một thế giới nhỏ, tách rời với đời sống thường ngày của cô. Đặc biệt những con nhện đã làm cho cô bé nghĩ ngợi nhiều. Cô tự hỏi không biết chúng có bà con nào ở ngoài nhà máy hay không, và nếu có, chắc hẳn chúng đã gặp nhiều rắc rối trong những mối liên hệ họ hàng – Một chú nhện mập mạp, đã quen ăn ruồi phủ bột, chắc phải gặp khó khăn nơi bàn tiệc họ hàng lũ nhện với một con ruồi bình thường và chắc bà nhện sẽ khó chịu khi nhìn bộ dáng nhau. Nhưng nơi Maggie thích nhứt trong nhà máy chính là tầng trên cùng – kho chứa thóc, nơi tích trữ vô số bao hạt ngũ cốc và hàng đống lúa lớn mà cô bé vẫn thường leo lên ngồi cho tuột xuống. Maggie vẫn cứ tiêu khiển bằng trò này trong khi vẫn trò chuyện cùng bác Luke, người mà cô rất mến và muốn chia sớt kiến thức của mình như cha cô đã từng làm.
Có lẽ cô bé muốn khôi phục lại địa vị của mình nơi bác Luke ở dịp này, vì thế, cô bé vừa leo lên đống lúa gần nơi bác thợ cả làm việc vừa hỏi chuyện giữa những tiếng ầm ĩ bất tận.
- Bác Luke, chắc bác không hề đọc sách gì khác ngoài Thánh kinh, phải không?
Bác Luke thật thà:
- Phải ngay cả Thánh kinh tôi cũng đọc it lắm. Tôi không phải là người mê đọc sách.
- Nhưng nếu tôi mượn, bác chịu không? Loại sách dễ đọc không có bao nhiêu, nhưng tôi có cuốn «Âu Châu du ký» hay lắm - nó sẽ kể cho bác nghe về tất cả các giống người trên thế giới, và nếu bác đọc mà không hiểu rõ thì cứ coi mấy tấm hình - họ mô tả bộ dáng, lối sống và việc làm của các giống dân. Có cả người Hòa Lan, mập lắm, họ hút thuốc - bác biết không - còn có một người ngồi trên thùng gỗ nữa.
- Không đây, tôi không cần biết về người Hòa Lan, họ chẳng giúp được tôi gì cả.
- Nhưng họ là đồng loại của ta, bác Luke – chúng ta phải tìm hiểu đồng loại của mình chớ.
- Không cần thiết lắm, tôi nghĩ vậy. Tất cả những thứ tôi biết – ông thầy của tôi ngày xưa cũng là người hiểu biết vẫn thường nói «Chừng nào tôi thấy lúa mì của tôi mặn, ngày đó tôi là người Hòa Lan» và điều đó cũng có nghĩa người Hòa Lan chỉ là một người điên, hay đại khái như vậy. Không, không, tôi không muốn gì về người Hòa Lan...
Maggie đành chịu thua trước thành kiến đó.
- Thôi được, có lẽ bác sẽ thích đọc cuốn «động vật giới» - không có người Hòa Lan đâu, mà có voi, đại thử, chồn hương, cá nóc, và một loại chim ngồi trên đuôi của nó – tên gì tôi quên mất rồi. Nhiều xứ có rất nhiều thú vật như thế, thay vì bò và ngựa như ở đây, bác biết không? Đọc cuốn đó nghe bác Luke?
- Không được đâu, tôi còn phải lo tính toán thóc lúa, không đủ thì giờ lo việc khác. Những thứ đó đưa con người vào chỗ chết, cái gì cũng hiểu biết hết, trừ cách thức tìm miếng ăn cho mình. Tất cả đều là giả dối, chắc vậy mà, tất cả những thứ in trong sách...
- Ồ, bác thật giống anh Tom...
Maggie khéo léo đổi đề tài:
- Tom cũng không thích đọc sách. Bác Luke, tôi thương anh Tom lắm.
- Thương hơn bất cứ ai trên đời này. Khi anh ấy lớn lên, tôi sẽ lo việc nhà cho anh, và chúng tôi sẽ sống với nhau suốt đời. Tôi có thể kể cho Tom nghe những điều anh không biết. Tôi cho rằng Tom rất thông minh dầu không ham đọc sách. Anh làm roi dây và đóng chuồng thỏ đẹp ghê đi!
- À, nhưng chắc cậu Tom sẽ buồn vì mấy con thỏ đều chết cả rồi.
Maggie nhảy khỏi đống lúa, thét lên:
- Chết rồi? Trời ơi, bác Luke! Còn con thỏ tai lớn với con thỏ cái đốm nâu mà anh Tom bỏ hết tiền ra mua, có sao không?
- Cũng chết luôn!
- Bác Luke ơi!
Maggie thảm thiết kêu lên, nước mắt lăn dài trên má.
- Anh Tom dặn tôi săn sóc chúng, vậy mà tôi lại quên. Phải làm sao bây giờ, bác Luke?
- Cô thấy bầy thỏ nuôi ở tận nhà kho dụng cụ xa lắc xa lơ, ai mà rảnh rang, tới đó chăm sóc hoài. Có lẽ cậu Tom có nhờ Harry coi giùm nhưng làm sao tin nó được. Cái thằng đó có bao giờ giữ đúng lời hứa đâu, nó chỉ nhớ tới cái bao tử của nó thôi.
- Bác Luke, anh Tom có dặn tôi chăm sóc cho bày thỏ mỗi ngày nhưng làm sao tôi nhớ được, bác thấy không? Ồ, anh ấy sẽ giận tôi, tôi biết, và anh ấy sẽ tiếc mấy con thỏ – tôi cũng tiếc nữa, làm sao bây giờ?
Bác thợ cả an ủi:
- Cô đừng lo, thỏ chỉ là thứ vô dụng – có cho ăn chúng cũng chết như thường. Cái gì phản thiên nhiên đều khó sống mạnh. Thượng Đế không ưa chúng. Ngài tạo ra tai thỏ dựng lên, vậy mà không có gì có thể làm cho nó cụp xuống như tai chó gộc giữ nhà. Cậu Tom sẽ hiểu để khỏi bỏ tiền mua lần nữa. Cô đừng lo. Cô có muốn về nhà gặp vợ tôi không? Tôi sắp về bây giờ đây.
Lời mời phải lúc làm Maggie khuây khỏa, nước mắt khô dần trong khi cô chạy tung tăng bên cạnh bác Luke trên đường về ngôi nhà tranh của bác. Ngôi nhà nằm ở cuối khu đất nhà máy, chung quanh có trong một vài cây đào, cây táo và có cả một chái nhỏ dùng làm chỗ nuôi heo. Bà chứng tỏ lòng hiếu khách của mình bằng những chiếc bánh, những thỏi kẹo mía, hơn nữa bà lại có nhiều nghệ phẩm. Maggie quên lững đi là từ sáng đến giờ mình đã gặp nhiều chuyện buồn phiền trong khi ngồi trên ghế xem một tập tranh diễn tả chuyện «Đứa Con Hoang (1)» trong sách Phúc âm.
(1) Nhân vật của một trong những ẩn dụ cảm động nhứt của sách Phúc âm (Luc XV)
Cô bé nói:
- Tôi sung sướng khi thấy ba anh ta đón mừng anh ta về - bác Luke có thấy vậy không? Anh ta rất đáng thương và sẽ không bao giờ lầm lỗi nữa.
Bác Luke nghĩ khác hơn:
- Theo tôi thì cậu ta không đáng gì cả, hãy để cha cậu ta lo liệu lấy.
Đó là một ý nghĩ buồn thảm đối với Maggie, và cô bé cố gắng xua đuổi dư hưởng câu chuyện của người thanh niên kia ra khỏi óc.
5
ĐÁNG LẼ TOM PHẢI VỀ TỚI NHÀ KHOẢNG XẾ trưa hôm đó, nhưng chờ đã quá lâu mà vẫn chưa nghe có tiếng xe, bà Tulliver cũng bồn chồn không kém Maggie, nếu trên đời này, bà còn có được một mối thâm tình nào thì đó chính là tình thương con. Cuối cùng rồi tiếng xe cũng đã khua từ bên ngoài. Mặc dầu gió đang nổi mạnh, bà cũng ra tận ngoài cửa để đón con, một tay đặt trên mái đầu bướng bỉnh của Maggie và quên hết những phiền muộn từ sáng tới giờ.
- Kìa! Con cưng của tôi đây! Chúa ơi! Nó lại không mang cổ cồn, chắc là đánh rơi dọc đường rồi. Lại phải mua cho nó một bộ khác.
Bà Tulliver giang rộng tay, Maggie thì nhảy cởn trong khi Tom bước xuống xe. Nó tự thấy không nên biểu lộ xúc động mềm yếu nên nói lãng đi:
- Ê, Yap - mày đó hả?
Tuy vậy, Tom cũng để cho người ta hôn mình, nhưng khi Maggie lên tiếng và bám lên cổ nó, Tom đảo đôi mắt xanh dọc theo khu trại nhỏ, đàn trừu và con sông, nơi nó tự hứa sẽ ra câu vào sáng sớm mai. Tom là một cậu bé bình thường như các cậu bé khác trên khắp nước Anh, khoảng mười hai hay mười ba tuổi, ở lứa tuổi này chúng giống hệt nhau như những chú ngỗng con - một cậu bé tóc màu nâu sáng, má màu kem hồng, môi dầy, mũi và chân mày không có gì đặc sắc - một dung mạo chẳng có gì khác biệt lắm những cậu bé thường gặp. Nhưng Maggie thì khác hẳn, tạo hóa đã nhào nắn và tô điểm cô bé một cách tỉ mỉ. Nhưng cũng chính tạo hóa kỳ xảo đã che giấu tất cả dưới một bề ngoài khoáng đạt, nhu hòa, làm cho những người mới gặp đều tưởng rằng mình có thể nhìn suốt được tâm hồn của cô bé, trong khi cô ta âm thầm chuẩn bị một bác luận đối với lòng xác tín của họ. Dưới lớp vỏ ấy, cô bé giấu được sự lãnh đạm, tánh kiên quyết và hầu hết cá tính bướng bỉnh của mình, và đôi mắt đen láy, hiếu động trong chốc lát có thể đổi sang thụ động trong một dung mạo bình thường, hồng hào như con trai.
Khi mẹ vừa đi khỏi để soát lại rương quần áo, Tom kéo em tới một góc:
- Maggie, mày biết trong túi tao có gì không?
- Không, cái gì mà coi bộ nặng quá vậy anh Tom? Bi hay là hạt dẻ?
Tim Maggie chợt thắt lại, vì bỗng nhớ Tom vẫn thường không cho mình chơ trò bắn bi – cô bé chơi quá tệ.
- Không phải bi, tao đổi bi cho mấy đứa bạn hết rồi, cũng không phải hạt dẻ nữa, đồ ngốc, hạt dẻ mùa này hãy còn xanh. Coi nè!
Tom vừa nói vừa thò tay vào túi áo phải.
Maggie thì thầm:
- Cái gì vậy? Em chỉ thấy cái gì vàng vàng thôi.
- Kìa, đây là một vật mới... đoán thử coi, Maggie!
Maggie sốt ruột:
- Ồ, em không đoán nổi đâu!
Tom vừa nói vừa thọc tay vào túi, nét mặt quả quyết:
- Đừng có nóng, nếu không tao sẽ không nói đâu.
Maggie nắm lấy bàn tay của anh đang giữ chặt trong túi, nài nỉ:
- Không đâu Tom, em không xấu tánh đâu, chỉ tại em không thể đoán nổi thôi. Em năn nỉ anh mà.
Tay Tom từ từ duỗi nhẹ ra:
- Được rồi, dây câu đây - hai bộ mới tinh - một bộ dành cho mày, Maggie, mày toàn quyền sử dụng. Tao bớt ăn bánh kẹo để dành tiền mua đó, thằng Gibson và Spouncer đã đánh lộn với tao vì tao nhịn ăn quá... còn đây là lưỡi câu, nhìn xem... Tao tính ngày mai mình ra Vũng Tròn câu, chịu không? Và mày sẽ câu được cá cho chính mày, Maggie, móc mồi vào và nhiều thứ khác nữa, chịu chưa?
Maggie trả lời bằng cách quàng hai tay lên cổ Tom, im lặng áp má vào má anh. Trong khi đó Tom mở gói dây câu sau một thoáng ngần ngừ:
- Mày thấy bây giờ tao có phải là một người anh tốt chưa? Tao mua dây câu cho mày xài. Mày biết chớ, tao đâu có bị bắt buộc phải mua cho mày nếu tao không muốn.
- Phải, anh rất, rất tốt... Em thương anh Tom lắm.
Tom cho bộ dây vào túi áo trở lại, mân mê hai lưỡi câu một lúc rồi tiết lộ:
- Tụi nó đánh tao vì tao không chịu thua chúng về chuyện kẹo.
- Trời ơi! Chắc tụi nó đánh anh ở trong trường hả Tom, anh có đau không?
- Đau hả? Không bao giờ.
Tom vừa nói vừa cho móc câu vào túi, lấy ra một con dao xếp to bản và chậm chạp mở lưỡi dao to nhứt ra, trầm ngâm nhìn trong khi ngón tay vuốt dài theo sóng. Một lúc sau, nó tiếp:
- Tao đánh bầm mặt thằng Spouncer – ai bảo nó muốn đánh tao, tao không chia quà bánh vì ai cũng muốn đánh lộn với tao.
- Ồ, anh can đảm quá! Em thấy anh như Samson. Nếu có con sư tử nào muốn vồ em, chắc chắn là anh sẽ đánh nó – phải không anh Tom?
- Làm gì có sư tử vồ, đồ ngu! Không hề có sư tử, chỉ có trong kịch thôi.
- Thì không, nhưng nếu mình sống ở xứ sư tử - em muốn nói Phi Châu nơi đó nóng dữ lắm - sư tử ăn thịt người ta ở đó. Em có thể đưa anh coi cuốn sách mà em đã đọc được.
- Được, vậy thì tao sẽ sắm một khẩu súng để bắn nó.
- Nhưng nếu anh không có súng? Chúng ta bắt buộc phải ra ngoài - thí dụ như đi câu cá, rồi có một con sư tử khổng lồ gầm lớn chạy tới, và mình không thể chạy đi đâu được thì anh Tom sẽ làm gì?
Tom ngập ngừng, và sau cùng khinh khỉnh quay đi:
- Nhưng sư tử đâu có mà chạy tới. Nói chuyện như vậy có ích gì?
Maggie đi theo.
- Nhưng em thích tưởng tượng lúc đó. Để coi... lúc đó anh sẽ làm gì?
- Ồ, đừng lôi thôi, Maggie! Mày đúng là một con khùng. Để tao đi coi mấy con thỏ.
Tim Maggie đập rộn.
Cô bé không dám nói ngay sự thật, mà chỉ im lặng, run rẩy bước theo Tom, nghĩ cách phải báo tin thế nào để Tom vừa nghe mà không thấy giận và hối tiếc. Thật vậy, Maggie không sợ gì hơn là cơn giận của Tom – khác hẳn với cơn giận của chính cô.
Maggie rụt rè lên tiếng khi cả hai bước ra ngoài.
- Tom, anh mua bầy thỏ hết bao nhiêu?
Tom hãnh diện:
- Năm si-ling (1) sáu xu.
(1) Tiền Anh, bằng 1/20 đồng bằng (pound sterling) bằng mười hai xu (penny)
- Chắc là cái hộp thiếc đựng tiền của em trên lầu còn nhiều hơn số tiền đó. Em sẽ nói má cho anh.
- Để làm gì, tao không cần tiền của mày, đồ ngốc. Tao còn có nhiều tiền hơn mày nữa, và tao là con trai mà. Lúc nào tao cũng có nhiều đồng vàng để mua đồ Giáng Sinh. Tao sắp là một người đàn ông, còn mày thì chỉ có năm si-ling là hết mức rồi vì mày là con gái, hiểu chưa?
- Hiểu, nhưng em muốn dự chi cho anh năm si-ling sáu xu, để anh mua thêm thỏ, được không?
- Mua thêm thỏ? Không cần.
- Nhưng mà... anh Tom ơi, chúng nó chết hết rồi.
Tom dừng sững lại, quắc mắt:
- Mày quên cho chúng ăn, và thằng Harry cũng quên luôn, phải không?
Hai má thằng bé nóng ran lên một lúc, rồi tái xanh ngay:
- Tao sẽ đánh thằng Harry. Và tao sẽ không thương mày nữa, Maggie. Ngày mai mày không được đi câu với tao. Tao đã dặn mày lo cho lũ thỏ mỗi ngày mà.
Tom tiếp tục bước đi.
- Phải, nhưng em quên – em không thể làm gì được, thật đó, Tom. Em cũng tiếc chúng ghê lắm.
Nước mắt cô bé ràn rụa nhưng Tom vẫn lạnh lùng nghiêm khắc:
- Mày là một đứa con gái hư. Tao tiếc là đã mua dây câu cho mày. Tao không thể thương mày được nữa.
Maggie sụt sùi:
- Tom, anh độc ác quá. Lúc nào em cũng sẵn sàng tha thứ cho anh, nếu anh có quên làm bất cứ một chuyện gì cho em cũng chẳng bao giờ em giận anh.
- Phải, nhưng mày khùng quá còn tao thì không bao giờ quên bất cứ chuyện gì.
- Tom, em xin anh tha lỗi, em khổ sở lắm rồi.
Maggie vừa nói vừa khóc nức nở, cô bé bám vào cánh tay Tom và áp má đẫm ướt nước mắt của mình vào vai anh.
Tom hất em ra, dừng bước lần nữa, giọng thật quả quyết:
- Nè, Maggie, mày nghe tao nói đây. Tao có phải là người anh tốt đối với mày không?
- Phả... ả... ải!
Maggie ngửng nhìn lên rồi lại gục đầu:
- Có phải tao đã nghĩ tới chuyện mua dây câu cho mày, tao đã để dành tiền, không mua kẹo chia cho thằng Spouncer để nó gây lộn với tao không?
- Phả... ả... ải... và em cũng thư... ơng anh Tom nữa.
- Nhưng mày hư quá. Kỳ lễ trước mày đã làm hư hộp màu của tao, lần trước nữa mày đã để cho xuồng kéo chìm dây câu của tao mặc dầu tao đã dặn mày coi chừng giùm, mày lại còn làm hư con diều của tao và nhiều thứ khác nữa.
- Nhưng em đâu muốn vậy. Em không biết phải làm thế nào.
- Hừ, mày có thể làm được tất cả nếu mày chịu chú ý tới việc mày làm. Nhưng mày hư quá, mày sẽ không được đi đâu với tao sáng mai.
Sau quyết định khủng khiếp đó, Tom bỏ mặc Maggie, chạy thẳng vào nhà máy, tìm bác thợ cả Luke, than phiền về thằng Harry.
Maggie đứng bất động, khóc ngất một hay hai phút rồi chạy vụt vào nhà, lên ngay gác thượng. Cô bé ngồi bệt xuống sàn ván, tựa đầu vào chiếc kệ cũ kỹ, buồn vô hạn. Tom đã về cô tưởng mình sẽ được nhiều sung sướng - vậy mà bây giờ Tom lại quá tàn nhẫn. Tom đã không còn thương cô nữa thì cuộc đời có nghĩa lý gì nữa? Ôi, Tom độc ác! Bộ cô không đề nghị đền tiền, không tỏ ý hối tiếc sao? Maggie biết mình hay ngỗ nghịch với mẹ, nhưng có bao giờ ngỗ nghịch với Tom đâu - cô không bao giờ muốn làm trái ý người anh đó cả.
- Ồ, anh ấy tàn ác quá!
Cô bé khóc to lên, và tìm đôi chút an ủi qua tiếng âm vang trên những khoảng trống dài nơi gác thượng. Cô không nghĩ tới việc đánh đập và chà sát con búp bê của mình nữa. Một khi đã quá khổ thì khó có thể mà nổi giận.
Ôi, những nỗi buồn thơ ấu! Ngày đó ưu phiền còn hoàn toàn mới mẻ và lạ lùng, ngày mà hy vọng chưa mọc cánh bay khỏi tháng ngày, và khoảng trống giữa các mùa hè hình như cứ kéo dài vô tận.
Maggie chợt nghĩ mình đã ngồi trên gác có lẽ đã hàng mấy giờ rồi và có lẽ bây giờ đang là giờ uống trà, cả nhà đang quây quần bên bàn và chẳng nghĩ gì tới cô nữa cả. Cũng được, mình sẽ ngồi lì nhịn đói ở đây – sẽ núp sau cái chậu gỗ và sẽ ở lại suốt đêm. Phải rồi, cứ để cho họ mặc tính hoảng sợ và mặc cho Tom hối hận. Maggie kiêu hãnh nghĩ thầm như vậy khi bò về phía sau chậu gỗ. Nhưng cô chợt khóc òa lên với ý nghĩ là biết đâu họ lại chẳng nhớ ra. Nếu bây giờ mình xuống, Tom có chịu tha thứ cho không? Cha cô đang có mặt ở đó, có lẽ người sẽ giúp cô. Nhưng Maggie lại muốn Tom tha thứ vì tình thương với cô hơn là vì phải vâng lời người lớn. Không, cô sẽ không bao giờ xuống nếu Tom không lên để đón cô. Toàn bộ vấn đề đã gây sôi nổi trong suốt năm phút trong bóng tối của cái chậu bằng cây. Nhưng sau đó, nhu cầu được thương yêu, cái nhu cầu mãnh liệt trong cá tính của Maggie bắt đầu tấn công lòng kiêu hãnh và tiêu diệt nó ngay. Maggie bò ra ngoài ánh sáng lờ mờ của buổi chiều trên căn gác, và ngay lúc đó có tiếng chân bước vội trên thang.
Tom đã chuyện trò khá vui vẻ với bác Luke, rồi đi thơ thẩn trong vườn tìm cây đẽo gọt làm cần câu. Nó chẳng nghĩ gì tới Maggie và hiệu quả sự giận dữ của mình đối với em. Nó muốn trừng phạt em, và nhất định phải thi hành ý định đó. Bởi thế nó chỉ bận rộn với những chuyện khác, y như một người lớn đã quen cùng thực tế. Nhưng khi được gọi vào dùng trà và người cha hỏi:
- Ủa, con gái tôi đâu rồi?
Và bà Tulliver cũng lên tiếng gần như cùng một lúc với chồng:
- Em con đâu?
Cả hai người đều tưởng Maggie và Tom đã ở bên nhau suốt buổi chiều:
Tom đáp gọn:
- Con không biết.
Nó không muốn nhắc tới Maggie vì còn giận, và bởi vì Tom Tulliver là một cậu bé có tư cách kia mà.
Người cha nhíu mày:
- Cái gì? Không phải nó đã chơi với con suốt buổi chiều sao? Nó mong con về lắm mà.
Tom vừa nói vừa ăn một miếng bánh nho:
- Hai tiếng đồng hồ con không thấy nó!
- Chúa ơi! Vậy là nó chết chìm rồi!
Bà Tulliver kêu hoảng, đứng phắt dậy và chạy ra cửa sổ:
- Sao con không chịu coi chừng nó?
Ông Tulliver gắt:
- Nè, nè, nó không chết đuối đâu. Con đã rầy mắng em, phải không Tom?
Tom cáu kỉnh:
- Thưa ba, không có đâu. Con tưởng nó ở trong nhà.
Bà Tulliver nói:
- Vậy chắc là nó đang ở trên gác thượng, ca hát nghêu ngao và nói chuyện một mình đến nỗi quên mất giờ ăn.
- Con lên gọi nó xuống đây, Tom.
Giọng ông Tulliver hơi xẵng, tình phụ tử sáng suốt khiến ông nghi ngờ thằng bé đã gắt gỏng với «đứa con gái cưng» của ông, có bao giờ nó chịu rời xa anh nó? Và ông tiếp:
- Phải dịu dàng với em, nghe chưa? Nếu không thì liệu hồn!
Tom không bao giờ dám cãi lời cha, vì ông Tulliver là người độc đoán và như thường nói, khi ông đã đánh đòn thì đừng hòng có ai cản ngăn nổi. Tom đành phải nhăn nhó đứng lên, nhưng không quên mang theo phần bánh của mình. Thằng bé chưa nghĩ đến chuyện tha lỗi cho em, hình phạt đâu có gì quá đáng. Tom chỉ mới mười ba, chưa xong văn phạm và toán pháp, nó xem đó như là những vấn đề toàn diện - chỉ có một vấn đề nó rất thấu đáo và tự chủ - đó là trừng phạt thật xứng đáng.
Tiếng chân mà Maggie vừa nghe chính là tiếng bước của Tom đúng vào lúc nhu cầu được thương yêu vừa chiến thắng lòng kiêu hãnh của cô. Maggie định xuống nhà với đôi mắt đỏ hoe và mái tóc rối bù để gợi lòng trắc ẩn của mọi người. Thế nào cha cô cũng vuốt tóc, dỗ dành đừng buồn, con gái. Sự cần thiết tình thương đã chiến thắng một cách tuyệt dịu nỗi khao khát của con tim cũng độc đoán như sự khao khát khác mà tạo hóa đã bắt buộc ta phải mang vào, và thay đổi cục diện thế giới.
Nhận rõ tiếng bước của Tom, tim cô bé đập rộn trong lồng ngực với một hy vọng tới bất ngờ. Tom chỉ đứng ở đầu thang và nói:
- Maggie, mày phải xuống ngay.
Nhưng cô bé đã chạy tới, bám vào cổ anh, nức nghẹn:
- Tom, tha lỗi cho em – em không chịu nổi – em sẽ luôn ngoan ngoãn, em sẽ nhớ hết tất cả – thương em nghe anh Tom!
Lúc đã lớn khôn, chúng ta đều biết tự chế. Khi cãi nhau, chúng ta biết cách làm ra vẻ dửng dưng, biết dùng những câu trí thức, một mặt để biểu lộ sự cương quyết của mình, và mặt khác, đề âm thầm nuốt ưu phiền. Chúng ta không còn xử sự theo những xung lực nhứt thời như những con vật hạ đăng mà hành động đúng theo phong thái của xã hội văn minh, tiến bộ. Maggie và Tom vẫn như hai con thú còn tơ, do đó khi Maggie dụi má vào má Tom và hôn tai anh một cách ngẫu nhiên, cậu bé nguôi giận và quên đi ý định trừng phạt em cho xứng đáng. Nó hôn lại và giọng dịu hẳn đi:
- Thôi, đừng khóc nữa, Maggie - nè ăn một miếng đi.
Maggie nín khóc, cắn một miếng bánh và Tom cũng cắn một miếng, hai anh em vừa ăn vừa cọ mãi vào nhau như hai chú ngựa con:
Khi đã hết bánh, Tom bảo:
- Thôi, tụi mình xuống uống trà.
Thế là một ngày buồn phiền đã đi qua. Sáng hôm sau Maggie chạy tung tăng ra khỏi nhà với chiếc cần câu riêng ở một tay và một tay xách giỏ, cô bé trông rạng rỡ dưới vành nón vì Tom đã có thái độ ân cần. Maggie nói là mình thích được anh móc mồi giùm cho, mặc dầu cô bé đã nhìn nhận lời của Tom cho rằng côn trùng không có cảm giác. Tom rất thông thạo về các loại côn trùng, cá và các thứ cùng loại, nó biết phân biệt các loại chim độc hại, biết cách mở ổ khóa và biết cách mở then cổng ra sao. Đối với Maggie, đó là loại kiến thức tuyệt dịu - còn khó nhớ hơn những thứ trong sách gấp mười lần. Maggie rất kính nễ anh vì Tom là người duy nhứt dám gọi sự hiểu biết của cô là «đồ lặt vặt» và không hề ngạc nhiên vì óc thông minh của em. Thật vậy, Tom cho rằng Maggie chỉ là một con ngốc, tất cả con gái đều ngốc nghếch – chúng không thể nào dùng đá ném được một thứ gì, không biết cách sử dụng dao xếp bỏ túi, lại còn sợ cả cóc nhái nữa. Tuy nhiên cậu bé cũng rất thương em, lúc nào cũng muốn bảo vệ em và trừng phạt khi em phạm lỗi.
Hai anh em đang trên đường tới núi Vũng Tròn – đó là một cái vũng được nước lụt tạo nên cách đây lâu lắm, không ai biết đích xác nó sâu được bao nhiêu, lại còn mang một sắc thái huyền bí nữa. Vũng nước có một hình dáng gần như tròn đều, được viền quanh bởi những cây liễu và những cụm lau sậy um tùm, chỉ có thể thấy được mặt nước khi đã tới sát bờ. Quang cảnh thích thú nhứt ngày xưa làm Tom cởi mở hơn. Nó thì thầm nói chuyện với Maggie một cách vô cùng thân thiện trong khi mở giỏ và bày dụng cụ ra. Nó ném dây câu cho em và đặt cần câu vào tay cô bé. Nhưng chỉ một lúc là cô bé quên khuấy chuyện cá, rồi cứ mơ màng nhìn mặt nước lóng lánh như gương.
- Coi kìa, Maggie!
Tom chợt kêu lên khe khẽ và chạy vội tới giữ cho cần câu khỏi tuột khỏi tay em. Maggie hoảng sợ vì tưởng rằng mình vừa phạm một lỗi lầm nào như thường lệ, nhưng ngay sau đó Tom vẫn kéo dây câu của em lên với một con cá mè khá lớn dẫy dụa trên bãi cỏ.
Tom phấn khởi:
- Maggie, lấy đồ trong giỏ ra mau, cưng!
Maggie không hiểu mình đã làm gì để được lời âu yếm bất thường này nhưng Tom đã gọi cô là Maggie và «cưng» tỏ ra hài lòng là đủ lắm rồi. Tràn trề hạnh phúc giữa những tiếng thì thầm và trong sự im lặng như mơ cô bé lắng nghe tiếng động nhẹ của con cá quẫy trên mặt nước và tiếng cây cối xạc xào dìu dặt. Dường như rặng liễu, hàng lau và mình nước đang vui vẻ trò chuyện với nhau. Đối với Maggie, ngồi bên vũng nước giữa khung cảnh êm đềm này cũng thần tiên như ở thiên đàng, và nhứt là không bị rầy rà, trách mắng. Nếu Tom không lên tiếng, cô bé cũng không biết cá đã mắc câu.
Đó là một trong những buổi sáng sung sướng nhứt của cả hai anh em. Cả hai cùng vui đùa với nhau vô tư lự, không nghĩ chút gì về những đổi thay trong cuộc sống. Nhà máy xay đang hồi phát đạt cây dẻ cổ thụ mà hai anh em thường chơi đùa dưới bóng mát ở nhà – con sông Riple bé nhỏ của riêng hai anh em, nơi Tom vẫn thường ngắm mấy con chuột nước, trong khi Maggie đi nhặt nhạnh bông lau tím để rồi sau đó lại chán và liệng bỏ hết đi – quyến rũ hơn hết là dòng sông Floss vĩ đại, mà hai anh em thường đi dạo dọc theo bờ với cảm giác của hai nhà thám hiểm, hoặc nhìn con nước Eagre hung hãn ùa vào như một hung thần, hay nhìn cây trần bì cổ thụ trước đây có lần phát ra những tiếng rên la như tiếng của người – tất cả những thứ đó không bao giờ thay đổi với hai anh em. Tom nghĩ tới những thiệt thòi mà dân chúng sống ở các nơi khác phải gánh chịu, còn Maggie khi đọc đoạn Christiana đi qua «con sông không một chiếc cầu», vẫn thấy con sông Floss chạy giữa những cánh đồng xanh, bên cạnh cây trần bì cổ thụ.
Cuộc đời đã thay đổi đối với Tom và Maggie, tuy nhiên chúng không hề sai lầm khi tin rằng tư tưởng và tình thương của những năm thơ ấu này sẽ luôn luôn dính liền vào cuộc sống của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yêu thương đất đai nếu chúng ta không sống ở đó từ thuở nhỏ – nếu mảnh đất chúng ta đang ở, hàng năm vào mùa xuân không nở cho ta những nụ hoa mà chúng ta vẫn thường hái khi ngồi chơi trên cỏ; mùa thu, trên hàng rào cây, không thấy bóng dáng của nụ sơn trà và dã tường vi; và cũng không có những con chim họa mi cổ đỏ, vẫn được quen gọi là «loài chim của Thượng Đế» vì chúng không phá hại những hạt lúa quí báu của loài người.
Khu rừng nhỏ mà tôi đang dạo bước trong một ngày đầu xuân, với những tàng xồi vàng thẩm nhô lên giữa trời xanh, với những nụ ngọc trâm trăng trắng và những cây huyền sâm hoa xanh, với những dây trường xuân bò sát dưới chân tôi – những rừng chà là nhiệt đới, những cây dương xỉ kỳ lạ, những nụ hoa cánh to rực rỡ, có bao giờ khơi dậy một xúc cảm thâm sâu và dịu dàng trong tôi như những cảnh ở quê nhà? Những nụ hoa quen thuộc đó, những tiếng hót không bao giờ quên được này cũng như khung trời rực rỡ kia, cùng những cánh đồng xanh và những luống cày – tất cả những thứ đó đều là ngôn ngữ riêng của trí tưởng ta, một thứ ngôn ngữ chứa đầy những giờ phút êm đềm thoáng qua trong thời thơ ấu. Sự sung sướng của chúng ta trong một ngày nắng ấm, trên một bãi cỏ êm đềm hôm nay có lẽ cũng không hơn gì sự nhận thức của những tâm hồn mệt mỏi, nếu những ngày nắng và bãi cỏ xanh của những năm xa xưa không còn sống ở trong ta và biến đổi sự nhận thức của chúng ta thành một thứ tình thương.
6
ĐÃ TỚI MÙA PHỤC SINH, NHỮNG CHIẾC BÁNH bông lan của bà Tulliver hôm nay lại còn nhẹ hơn ngày thường nữa.
Chị người làm Keza tuyên bố:
- Một hơi gió thoảng cũng đủ làm mấy cái bánh của bà chủ bay phất phới như lông chim.
Chị rất hãnh diện được giúp việc cho một bà chủ khéo tay như vậy. Mọi việc đều tiến triển theo một chiều hướng thuận lợi cho một cuộc họp mặt gia đình sắp diễn ra để vấn ý hai bà Glegg và Pullet về việc gởi Tom đi học.
Bà Tulliver nói:
- Lần này tôi tính không mời dì Dean. Dì ấy hay ganh tị và hay tìm cách kể xấu mấy đứa con mình với các dì dượng chúng.
Ông Tulliver đáp:
- Đừng, đừng, cứ mời có sao đâu. Mấy lúc gần đây tôi không có dịp nói chuyện với dượng Dean, cũng đã gần nửa năm rồi. Dì ấy nói gì thì nói, để ý làm chi? Con tôi không cần mang ơn ai cả.
- Ông cũng nói vậy sao, ông Tulliver? Có điều tôi chắc là bên họ hàng nhà ông sẽ chẳng có người nào để lại cho tụi nhỏ được tới năm bảng sau khi chết, nhưng chị Glegg và chị Pullet thì đang để dành tiền, không rõ bao nhiêu, họ đã dành hết lợi tức riêng và tiền bán phó mát của họ, chồng họ mua cho đủ thứ hết.
Bà Tulliver là người nhu hòa, nhưng ngay cả một con trừu cũng có thể nổi hung lên được khi nó đã có một đàn con.
- Hừ! Mật ít ruồi nhiều. Một nhúm tiền của chị em bà mà có nghĩa lý gì khi họ có hàng tá cháu trai, cháu gái để chia chác? Và biết đâu cô em Dean của bà lại không xúi hai bà kia để hết tiền lại cho con dì ấy? Tôi chắc họ sẽ làm cho hàng xóm có dịp để dị nghị sau khi họ chết đi.
- Tôi không hiểu là còn có điều gì mà dì ấy không làm, vì lũ con của tôi bướng bỉnh với dì dượng của chúng quá. Maggie thì ngoan cố gấp mười lần thường lệ khi có mặt họ, còn thằng Tom thì chẳng ưa gì ai, tệ quá thôi – dầu gì đi nữa thì đó cũng là chuyện thường với con trai hơn là con gái. Con nhỏ Luck Dean mới nhu mì làm sao – ông để nó ngồi lên ghế là nó ngồi yên ở đây luôn cả giờ. Chẳng làm sao mà không thương được một con bé như nó, tôi chắc nó còn giống tôi hơn cả con gái của tôi nữa.
- Được, nếu bà thương con nhỏ đó thì càng nên mời cha mẹ nó dẫn nó theo. Và tại sao bà không mời vợ chồng dượng Moss luôn? Và vài đứa con của họ nữa?
- Kìa, ông Tulliver, tính ra đã có tám người rồi, không kể mấy đứa nhỏ. Ông cũng thừa biết chị em tôi và cô em ông đâu có hợp nhau.
- Thôi được, Bessy, bà cứ tùy ý lo liệu.
Ông Tulliver vừa nói vừa lấy nón đi ra nhà máy.
Ít có bà vợ nào biết phục tùng chồng trên tất cả các phương diện - trừ phương diện liên hệ tới họ hàng mình - như bà Tulliver. Nhưng bà đã từng là một thiếu nữ Dodson, thật vậy, Dodson là một danh giá vọng tộc ở quê hương họ. Các cô Dodson lúc nào cũng nghĩ cách nâng cao danh giá của mình nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy hai người chị lớn rất kén chồng - họ không chịu kết hôn sớm, đó không phải là đường lối của dòng Dodson. Họ có một lối sống khác hẳn các gia đình khác: quần áo được giặt theo một phương pháp đặc biệt, họ cũng có một lối cất giữ rượu ngọc trâm, đùi heo múi được làm theo một lối riêng, họ cũng có một lối cất giữ rượu phúc bồn tửu gia truyền. Vì vậy, các cô gái của gia đình đó không khỏi thấy hãnh diện khi mình là một người mang họ Dodson thay vì Gibson hay Watson. Dòng họ Dodson cũng có những nghi thức tống táng riêng biệt: băng nón không được dùng màu xanh, găng tay không bao giờ chừa riêng ngón cái, phu đoàn phải mang khăn choàng cổ. Khi có một người trong họ gặp chuyện rắc rối hay đau yếu, tất cả những ai còn lại đều tới thăm người không may, thường là cùng một lúc. Một người đàn bà họ Dodson khi ở nhà một người lạ, chỉ luôn dùng bánh và trà, làm ngơ trước các loại mứt và nghi ngờ các loại bơ. Họ nghĩ biết đâu những món đó lại sắp lên men vì sên đường chưa tới hay nấu không đúng cách. Cũng có vài người Dodson hơi khác những người cùng họ một chút – điều này còn chấp nhận được, có «bà con» với nhau, dầu xa tới mấy đi nữa, cũng còn hơn là những người «không bà con» gì cả. Có điều đáng chú ý là các cá nhân Dodson không bằng lòng nhau lắm, họ chỉ bằng lòng với chính họ và tập thể Dodson thôi. Người yếu nhứt trong họ – kẻ không hội đủ các đặc tính Dodson – cũng vẫn là một cuốn toát yếu cho thói quen và truyền thống gia đình. Và bà Tulliver cũng là một người Dodson dầu chỉ là một người an hòa, tầm thường. Mặc dầu ngày xưa đã từng gánh chịu nhiều khổ sở bởi thái độ khắc nghiệt của hai người chị, bà cũng không phải là một người cấp tiến trong gia đình. Bà cảm thấy sung sướng vì mình là một người Dodson, và đã có một đứa con giống dòng họ của mình, ít ra nó cũng giống họ Dodson về dung mạo và cách suy luận, về tánh thích ăn muối và đậu, mà những ai trong họ Tulliver đều không bao giờ có.
Những đặc tánh khác của họ Dodson đều tìm ẩn trong Tom, tuy nhiên cũng không ưa gì «bà con» bên mẹ nó hơn Maggie. Tom vẫn thường vắng mặt trong những ngày biết có các dì dượng tới, đó là một triệu chứng tinh thần báo trước một tương lai đen tối của Tom, dì Glegg suy đoán vậy. Maggie vẫn rất khổ tâm vì Tom cứ bỏ trốn mà không bí mật báo trước với cô, nhưng cô bé cũng tự biết là không có quyền gây trở ngại cho những toan tính của anh.
Một ngày trước hôm các dì dượng tới, khắp nhà đều tỏa hương ngào ngạt, mùi bánh nướng, mùi mứt hòa lẫn với mùi nước sốt, thật khó mà ngồi yên. Tom và Maggie xuống bếp không biết bao nhiêu lần, chúng đứng lóng nhóng cho tới khi nào được ăn mới chịu thôi.
Maggie hỏi Tom khi hai anh em đang ngồi ăn bánh nhân mứt trên nhánh cây hương mộc:
- Anh Tom, ngày mai anh có trốn nữa không?
Tom đã ăn xong cái bánh của mình, nhìn sang cái bánh thứ ba, phần chung của hai đứa, và chậm chạp trả lời:
- Không, tao không trốn đâu.
- Ủa, sao vậy? Tại có con Lucy tới hả?
- Không.
Tom mở con dao xếp ra, đặt lên chiếc bánh, đầu ngoẹo sang một bên, có vẻ do dự (thật khó mà chia một cái bánh hình đa giác làm hai phần đều nhau).
- Con Lucy thì ăn nhằm gì tao? Nó chỉ là một đứa con gái – nó không biết chơi trò đánh quần.
Maggie chồm về hướng Tom, mắt vẫn không rời con dao:
- Bánh rượu phải không anh?
- Không phải, đồ ngu, tới mai mới có. Đây là bánh trái cây. Tao biết bánh trái cây làm bằng gì rồi – trái mơ cuốn lại – ồ!
Cùng một lúc với tiếng kêu, lưỡi dao ấn xuống xắn cái bánh làm hai, nhưng kết quả có lố không làm Tom vừa ý, vì nó vẫn còn nhìn lại hai mẫu bánh với vẻ nghi ngờ. Sau cùng, nó bảo:
- Nhắm mắt lại, Maggie!
- Chi vậy?
- Đừng hỏi. Cứ nghe lời tao đi.
Maggie vâng lời.
- Rồi đây, bây giờ mày chọn phần bên tay nào, phải hay trái?
Maggie vẫn nhắm nghiền đôi mắt cho anh mình hài lòng:
- Và em sẽ có một phần bánh không mứt?
- Sao nói vậy, đồ ngốc! Đúng ra thì mày sẽ không có mứt, nhưng tao sẽ chia ngang với mày. Bây giờ chọn đi, phải hay trái – Ê, nhắm mắt lại chớ nếu không là sẽ không có phần nào hết.
Maggie nhắm mắt lại cho tới khi nghe Tom nhắc lại câu hỏi mới trả lời:
- Tay trái.
Giọng Tom hơi tiếc rẻ:
- Rồi, lấy đi.
- Ủa! Cái miếng không có mứt đâu?
Tom quả quyết đưa phần bánh ngon nhứt cho Maggie:
- Không, đây nè, cầm đi.
- Ồ, không đâu, anh Tom – em thích miếng kia hơn, đưa em miếng đó đi.
Tom hơi gắt:
- Không.
Và nó bắt đầu ăn phần bánh của mình.
Thấy có năn nỉ thêm cũng vô ích, Maggie ăn ngay phần bánh của mình. Nhưng Tom đã ăn hết trước, nó nhìn lên Maggie trong khi cô bé đang ăn những mẫu cuối cùng, cảm thấy thèm thuồng. Maggie không biết Tom đang nhìn mình, cô bé ngồi lắc lư trên nhánh hương mộc, nghĩ ngợi vẩn vơ.
- Đồ tham ăn!
Câu mắng của Tom buông ra vừa vặn lúc Maggie cho mẫu bánh cuối cùng vào miệng. Cậu bé cho rằng mình đã xử sự rất công bằng, và nghĩ rằng Maggie phải để ý tới điều đó và phải đền bù cho đôi chút. Lúc nãy nó đã từ chối nhưng dĩ nhiên lần này lại có một ý nghĩa khác và đã có một phần bánh đã ăn xong.
Maggie tái mặt, quay lại:
- Ồ, Tom, sao anh không hỏi em?
- Tao không thèm hỏi, đồ tham ăn. Đáng lẽ mày phải nghĩ tới chớ không đợi phải nhắc, nhứt là mày biết tao đã đưa mày miếng ngon nhứt.
Maggie khổ sở:
- Nhưng em đã nhường cho anh trước rồi mà.
- Phải, nhưng tao không tham lam như thằng Spouncer. Nếu mày không đánh nó là nó sẽ chia một phần nhỏ hơn, và nếu mày nhắm mắt lại và chọn đúng phần lớn thì nó sẽ đổi tay. Nhưng nếu tao chia thì tao phải chia đồng đều – vì tao không phải là đứa tham ăn.
Dứt lời, Tom nhảy xuống đất, ném một hòn đá và gọi Yap – nãy giờ vẫn ngồi chực từ dưới nhìn lên, hai tai ve vẫy với vẻ thất vọng rõ rệt. Tuy nhiên, Yap cũng mau mắn đáp ứng lời gọi của Tom, chứng tỏ rằng mình lúc nào cũng là một thứ chó rộng lượng.
Maggie vẫn ngồi yên trên nhánh cây, chìm đắm trong chua xót vì những lời khiển trách bất công. Đáng lẽ mình không nên ăn hết miếng bánh mà phải chừa cho Tom đôi chút. Nhưng Tom đã từ chối rồi kia mà – và mình đã ăn mà không nghĩ ngợi gi cả – làm sao nhớ tới chuyện đó được? Maggie khóc nức nở suốt mười phút sau, nước mắt ràn rụa khiến cô bé chẳng còn nhìn thấy gì chung quanh nữa. Nhưng rồi cơn giận lại bắt đầu nhường chỗ cho ý định hòa giải, Maggie nhảy xuống đất tìm anh. Tom không còn trong sân ngựa phía sau sân chứa rơm - có lẽ đã về nhà với Yap rồi. Maggie chạy tới bờ đất cao cạnh cây ô rô già, từ đó có thể quan sát được dòng sông Floss. Tom kìa, nhưng tim Maggie chợt thắt lại khi thấy là Tom đã đi quá xa về hướng bờ sông, và bên cạnh nó, ngoài Yap ra, còn có cả Bob Jakin một thằng bé nghịch ngợm trước đây được giao nhiệm vụ đuổi chim. Không hiểu tại sao Maggie lai đoán chắc Bob là một tên hung ác, có lẽ vì nó có một bà mẹ mập kinh khủng, sống trong một ngôi nhà tròn quái dị ở bờ sông. Có lần Maggie và Tom đi dạo ngang đó, bỗng một con chó nhảy xổ ra sủa dữ dội và khi bà mẹ của Bob từ trong nhà ra, kêu lớn là đừng sợ chó, Maggie đã hoảng vía vì tưởng bà ta hét với mình. Maggie tưởng tượng ngôi nhà tròn đó có rắn bò trên sàn nhà và có dơi bay trong phòng ngủ. Có lần cô đã thấy Bob giơ nón đưa cho Tom xem một con rắn nhỏ cuộn tròn bên trong, và lần khác, cô bé thấy nó cầm một nắm dơi con. Hơn nữa, Maggie có ác cảm với Bob Jakin vì khi Tom đi chơi với nó, Tom sẽ không nghĩ tới cô và không bao giờ cho cô theo.
Phải thành thật nhìn nhận rằng, Tom rất thích đi chơi chung với Bob. Làm sao mà không thích được? Vừa nhìn thấy một cái trứng chim Bob đã biết ngay đó là trứng chim én, chim bạc má hay chim họa mi, Bob tìm tổ ong rất giỏi và biết đặt hầu hết các loại bẫy, nó có thể leo cây nhanh như sóc và còn có một năng khiếu huyền bí giúp khám phá được những ổ nhím hoặc chuột hương lông trắng, nó cũng có đủ can đảm để làm những việc quỉ quái như chui vào nhà người, lấy đá liệng cừu và cả việc giết chết một con mèo đi lạc nữa. Tất cả những đặc điểm đó đã mê hoặc được Tom, và mỗi ngày Tom đi chơi với Bob là cả một ngày u sầu của Maggie.
Được! Chẳng còn hy vọng gì nữa, Tom đã đi chơi riêng, Maggie chỉ còn biết giải khuây bằng cách đi thơ thẩn dọc hàng rào cây và tưởng tượng một thế giới bé nhỏ theo ước muốn của cô.
Cuộc đời của Maggie như gắn liền vào phiền muộn, và óc tưởng tượng chính là một thứ ma túy cho cô bé.
Trong khi đó, Tom đang vội vàng theo bước Jakin - kẻ vừa gặp tình cờ - tới xem cảnh bắt chuột ở một nông trại gần đó. Nó đã quên mất Maggie và bao nhiêu phiền muộn đã gây ra cho em. Bob rất thông thạo công việc đặc biệt này, nó tả cho Tom nghe một cách tường tận và nhiệt thành đến nỗi dầu là người dửng dưng hay hoàn toàn không biết gì về chuyện bất chuột cũng có thể hình dung ra được môn thể thao này. Dầu bị nghi ngờ là độc ác và bất bình thường, Bob trông cũng không đến nỗi hạ tiện lắm, gương mặt với chiếc mũi tẹt và mái tóc quăn đỏ của nó cũng có đôi nét khả ái. Nhưng quần của nó thì lúc nào cũng xăn lên qua gối để tiện lặn lội ở những chỗ xâm xấp nước, và đức hạnh của nó – giả sử là có – hiển nhiên là thứ «đức hạnh giẻ rách» rất khó nhận thấy (có lẽ vì quá ít).
Bob nói bằng một giọng khàn và chát:
- Tôi biết một ông có nhiều chồn lắm.
Mắt nó không lúc nào rời mặt sông, như một động vật lưỡng thể, hễ có động tịnh là phóng xuống nước ngay, nó nói:
- Người đó ở Kennel Yard, St. Ogg’s. Ổng đi bắt chuột khắp các nơi. Ít lâu nữa tôi cũng làm nghề bắt chuột, tôi chỉ thích cái nghề đó. Cái thứ chuột nhúi không ăn thua gì với chuột đồng. Mà Chúa ơi! Cần phải có chồn mới săn chuột được. Chớ không làm gì được đâu. Ủa! Có con chó này nữa!
Bob khinh miệt chỉ Yap:
- Nó chẳng làm gì được đâu. Chính mắt tôi thấy – tôi đã có dự cuộc săn chuột ở trại của ba cậu.
Dường như hiểu được sự khinh bỉ của Bob, con Yap cụp đuôi, lùi vào chân chủ. Tom yếu ớt bênh vực:
- Yap không phải chó săn. Chừng nào học xong tao sẽ có nhiều chó săn thật cừ để săn chuột và các thứ khác.
Bob sốt sắng:
- Chồn của cậu Tom, loại chồn trắng mắt hồng. Chúa ơi, cậu sẽ tự tay bắt chuột, rồi cậu có thể nhốt chuột vào lòng chung với chồn để coi chúng cắn nhau. Tôi có làm rồi, vui ghê lắm.
Tom chậm rãi:
- Loại chồn là thứ hay cắn xé - khỏi cần xúi chúng cũng cắn lẫn nhau.
- Ủa, đó mới là cái hay của chúng...
Ngay lúc đó bỗng có tiếng động làm hai cậu bé dừng sững lại. Một vật gì đó vừa nhào xuống nước từ giữa bụi đăng tâm thảo. Bob quả quyết đó là một con chuột nước.
- Ê, Yap! Nó kìa Yap!
Tom vừa vỗ tay vừa gọi Yap khi thấy một cái mõm đen đủi đang rẻ nước tiến sang bờ bên kia.
- Rượt nó, cưng, rượt nó!
Yap phe phẩy hai tay và nhăn trán, nhưng không chịu phóng xuống nước mà chỉ sủa ầm ỉ như cố gắng đáp ứng phần nào lời kêu gọi của chủ.
- Hừ, đồ chết nhát!
Tức quá, Tom đá con Yap một cái và cảm thấy xấu hổ như một thợ săn gặp phải con chó quá tối. Bob tránh bình luận về Yap mà chỉ lần mò bước xuống chỗ nước cạn gần bờ sông. Nó khoan khoái đá nước tung tóe trước mặt và nói:
- Sông này vẫn còn cạn, sông Floss cũng vậy. Năm ngoái, các ruộng lúa đều phủ một màn nước.
Là kẻ có khuynh hướng thấy sự tương phản giữa những lời phát biểu, thật ra, hoàn toàn phù hợp của người khác, Tom cãi:
- Nhưng đã có lần vùng này bị lụt lớn, lần có cái Vũng Tròn đó. Tao biết vì tao nghe ba tao kể lại. Bò cừu gì cũng chết đuối hết, thuyền bè có thể đi lại khắp nơi trên đồng cỏ.
- Tôi không sợ nước lụt, tôi coi nước cũng như đất. Tôi biết lội mà.
- À, nhưng nếu ngày này qua ngày kia mày không có gì ăn?
Óc tưởng tượng của Tom bắt đầu hoạt động mạnh:
- Chừng nào lớn lên, tao sẽ làm một chiếc thuyền thật to trên nóc có một căn nhà gỗ, như con thuyền của Nô ê rồi chất đầy thức ăn lên đó - thỏ và các thứ khác – tất cả đều chuẩn bị sẵn sàng. Và khi nước dâng, mày thấy không Bob, tao chẳng lo gì cả... Và bắt gặp mày bơi, tao sẽ cho mày lên.
Tom thêm câu chót bằng một giọng kẻ cả. Nhưng đối với Bob đói kém không phải là một tai nạn lớn lao.
- Tôi không sợ, nhưng nếu cậu muốn ăn thịt thỏ, tôi sẽ lên thuyền đập đầu chúng cho.
- À, tao còn mấy đồng nửa xu, tụi mình chơi trò sấp – ngữa đi.
Tom đề nghị mà không nghĩ rằng đó là một trò chơi có lẽ không còn đủ sức quyến rũ nó vào cái tuổi thành thạo này nữa.
- Tao sẽ chia đều ra rồi coi thử ai thắng.
Bob hãnh diện:
- Tôi có nửa a xu nè.
Nó bước lên bờ và ném đồng nửa xu của nó lên không.
- Sấp ngữa?
Tom hăm hở:
- Sấp.
- Ngữa.
Vừa nói, Bob vừa cúi xuống chụp lẹ đồng xu.
Tom kêu lên:
- Không phải Ngữa, đưa đồng xu cho tao – tao ăn mày rồi.
Bob giữ chặt đồng xu trong túi:
- Không.
- Vậy thì mày sẽ biết...
- Cậu không được ép buộc tôi.
- Tao làm được.
- Không.
- Tao là chủ mày.
- Cóc cần.
Tom nắm cổ Bob, lay mạnh:
- Nhưng tao làm được, đồ xảo trá.
Bob đá Tom:
- Cút ngay!
Tom sôi máu, nó chồm tới xô thằng bé bắt chuột, nhưng Bob đã ôm cứng lấy nó, và hai đứa cùng ngã. Chứng vật lộn dữ dội một lúc rồi Tom đè được hai vai của Bob, hỗn hển:
- Bây giờ mày nói là mày đưa đồng xu cho tao đi.
Nhưng ngay lúc đó con Yap – từ nãy giờ chạy thơ thẩn phía trước – bỗng quay trở lại sủa inh ỏi, chợt thấy một dịp may bằng vàng để đớp cái chân trần của Bob, chẳng những không bị trừng phạt mà lại còn được chủ khen. Cái đớp của Yap thay vì làm Bob khuất phục lại càng khiến nó hung hăng hơn và như có một sức mạnh mới, nó đẩy Tom ngã ngữa và leo lên trên. Nhưng Yap, sau khi thấy cú đầu tiên không có kết quả – lại cắn hai hàng răng vào chỗ khác. Bị quấy nhiễu liên miên, Bob tức giận buông Tom ra, tóm cổ Yap và ném xuống sông. Tom chổi dậy và nhân cơ hội Bob còn lảo đảo vì cử động liệng Yap, nhảy xổ tới, đè Bob xuống và ấn mạnh hai đầu gối lên ngực thằng bé.
- Bây giờ đưa cho tao đồng xu đó.
Bob rầu rĩ:
- Mày lấy đi.
- Không, tao không lấy, mày đưa cho tao.
Bob móc đồng nửa xu trong túi, ném ra xa.
Tom buông Bob ra:
- Đó là tiền xảo trá. Tao không thèm tiền của mày, tao không muốn lấy. Tại mày lường gạt tao, tao ghét mấy thằng gian xảo lắm, tao không đi chơi với mày nữa đâu.
Tom quay về, không hối tiếc vì đã lỡ một dịp coi săn chuột và bỏ cả những thú vui bên cạnh Bob.
Bob gạo theo:
- Mặc kệ mày! Tao cứ ăn gian nếu tao khoái, vậy mới vui. Tao còn biết ở đâu có tổ chim kim oanh, mày đâu có biết... Mày là một con gà đá khốn kiếp, mày là...
Tom vẫn đi, không buồn nhìn lại, và con Yap cũng vậy, nước sông lạnh đã làm nó bớt hăng.
- Mày cút đi cho khuất mắt tao, cái con chó chết chìm của mày nữa. Tao không bao giờ có một con chó như vậy.
Bob gào lớn thêm, với cố gắng làm Tom chú ý. Nhưng Tom vẫn không quay đầu lại. Giọng Bob nhỏ dần:
- Và tao sẽ không cho mày cái gì hết, cũng không thèm của mày bất cứ gì... Đây là con dao cán sừng của mày cho tao...
Bob lấy hết sức ném con dao theo Tom. Nhưng cũng chẳng có kết quả gì, ngoại trừ một cảm giác trống rỗng kinh khủng bao quanh, bây giờ con dao cũng không còn.
Bob đứng im lìm cho tới khi Tom qua cổng và mất dạng phía sau rào. Con dao vẫn còn nằm trơ trọi trên mặt đất – nó chẳng chọc tức được Tom, và lòng tự ái hay căm hờn cũng chẳng có nghĩa gì với sự mê say dao của Bob. Thằng bé bước tới chỗ con dao và cảm thấy tràn trề sung sướng khi nắm lại trong tay cái cán sừng nai xù xì quen thuộc, sau một vài phút cách xa. Nó mở cả hai lưỡi dao và khoan khoái lướt ngón cái chai cứng lên. Tội nghiệp Bob! Nó chẳng có một ý niệm nào về danh dự cũng như anh hùng tính, những đức tính cao quí đó rất ít được các người ở Kenneth Yard – tâm điểm thế giới của Bob – nghĩ ngợi đến. Dầu vậy, Bob cũng không hẳn là một đứa hèn hay một tên ăn cắp như Tom đã khăng khăng cả quyết.
Có điều là Tom, lại nghiêm khắc như một ông thần công lý nơi địa ngục - thứ công lý chủ trương hành hạ tội nhân tới mức tối đa của hình phạt đang phải nhận lãnh. Thấy mặt Tom sa sầm khi về nhà, Maggie phải kềm hãm sự vui mừng của mình vì anh đã về sớm hơn dự liệu. Cô bé không dám hỏi han trong khi Tom đứng lầm lì ném sỏi xuống đập nước của nhà mày xay. Bỏ một dịp săn chuột sau khi đã sửa soạn đầy đủ không phải là một chuyện dễ dàng. Nhưng nếu cần phải nói cảm tưởng của mình ngay lúc đó, Tom sẽ nói «Ta cũng sẽ cứ làm như vậy». Đó là quan điểm cứng khư của nó mỗi khi xét lại những hành động đã qua, còn Maggie thì cứ luôn hối tiếc là phải chi lúc đó mình đừng làm như vậy.
7
QUẢ THẬT GIA ĐÌNH DODSON GỒM TOÀN những phụ nữ có nhan sắc mặn mà mà bà Glegg không phải là người kém cỏi nhứt trong các chị em. Ngay như bà ngồi trong chiếc ghế bành của nhà Tulliver, không một quan sát viên vô tư nào có thể chối cải rằng với số tuổi năm mươi, gương mặt và dáng người của bà vẫn còn thật đẹp - nhưng Tom và Maggie thì lại coi bà dì của chúng là một mẫu người xấu xí. Thật ra, bà Glegg khinh thường sư phô trương quần áo - mặc dầu theo nhận xét của bà, chẳng một người đàn bà nào ăn mặc coi cho được - nên bà chỉ ăn mặc quần áo mới khi nào quần áo cũ đã thật sự không còn dùng được nữa. Những người đàn bà khác, nếu muốn, có thể giặt các bộ ren của họ để dùng lại, nhưng khi bà Glegg chết, người ta sẽ thấy số ren trong ngăn tủ áo bên phải của bà con nhiều hơn cả số ren mà Wooll ở St. Oggs mua cả một đời, dầu bà Wooll vẫn dùng ren mua chịu. Tóc giả cũng vậy, bà Glegg có rất nhiều, từ những bộ quăn và óng mượt cho tới những bộ dợn sóng và mềm hạng trung bình. Nhưng vào ngày thường, bà vẫn ra ngoài với bộ tóc giả ưng ý vào hạng thứ ba của mình khi đi thăm viếng xã giao, nhưng chẳng bao giờ bà mang bộ tóc đó tới nhà các em, nhứt là bà Tulliver. Từ khi có chồng, bà Tulliver đã làm cho chị em xấu hổ vì không chịu mang tóc giả. Theo nhận xét của bà Glegg với bà Dean thì một người chồng hay tranh tụng như ông Tulliver thì bà Bessy đáng lẽ phải hiểu biết nhiều. Nhưng Bessy thì lúc nào cũng yếu đuối!
Vì vậy, nếu bộ tóc giả của bà Glegg hôm nay ít dợn sóng hơn thường lệ là vì bà có ý riêng: bà muốn bóng gió chỉ trích mái tóc vàng tự nhiên của bà Tulliver. Bà Tulliver đã chịu nhiều khổ sở vì thái độ khắt khe của chị mình. Bà Glegg đội nón trong nhà – chiếc nón không buộc dây và hơi lệch – bà vẫn thường đội như vậy khi đi thăm viếng hay đang lúc bực mình: sợ bị trúng gió trong các ngôi nhà lạ. Cũng vì lý do đó, bà còn mang thêm một chiếc khăn choàng cổ bằng lông chồn đen. Phải là người am hiểu về thời trang mới biết rằng cái áo lụa đen của bà Glegg được may từ thời nào, nhưng với những đốm vàng nhỏ li ti và mùi ẩm mốc thoang thoảng của nó, đã được cất giữ trong tủ khá lâu.
Cầm một cái đồng hồ, bà Glegg thông báo cho bà Tulliver, vừa từ dưới bếp lên, rằng đã gần mười hai giờ rưởi rồi.
Bà tiếp:
- Mấy lúc sau này không hiểu dì Pullet ra làm sao nữa. Chị em chúng mình vẫn có lệ tới cùng một lúc – thời ba còn sống cũng vậy – không khi nào có tình trạng người này phải chờ người kia cả nửa tiếng đồng hồ. Nhưng nếu truyền thống gia đình bị phai lạt thì cũng không phải lỗi tại tôi. Tôi sẽ không bao giờ là người tới quá trễ. Tôi cũng ngạc nhiên cho dì Dean – dì ấy giống tôi nhứt. Nhưng nếu dì nghe tôi, Bessy, dì sẽ dọn ăn sớm hơn một chút, thà sớm còn hơn là trì hoãn.
- Ồ, nhưng chắc họ sẽ tới kịp mà tới một giờ rưỡi mới nấu nướng xong. Nhưng nếu chị không muốn chờ lâu thì để tôi dọn bánh phó mát và rượu chát ra.
Bà Glegg lắc đầu, cười chua chát:
- Kìa, dì Bessy! Tôi tưởng dì hiểu tánh chị ruột của dì hơn ai hết chớ. Tôi có bao giờ ăn vào giữa hai bữa đâu, chẳng lẽ cho tới bây giờ tôi lại phải tập cái thói đó?
- Ồ, chị Jane, tôi biết làm sao bây giờ? Ông Tulliver không thích ăn trước hai giờ, nhưng tôi đã cho dọn sớm hơn nữa giờ là vì chị.
- Phải, phải, tôi biết rõ các ông lắm – họ trì hoãn đủ các thứ – họ sẽ đổi giờ ăn lại cho tới khi dùng trà xong, nếu họ có được một bà vợ quá yếu đuối. Tôi tội nghiệp cho dì lắm, Bessy, vì dì không tự chủ được gì cả. Tôi cũng mong rằng dì đừng cho chúng tôi ăn thịnh soạn quá – không nên vì chị em mà phí tiền tốn của. Hơn nữa dì còn hai đứa con nhỏ phải nuôi, dượng ấy thì cứ tiêu pha tiền của dì trong việc kiện tụng và hình như cả lợi tức của dượng ấy nữa.
Trong tình trang này, buổi họp mắt sắp tới sẽ không được vui lắm. Bà Tulliver không bao giờ muốn kéo dài cuộc đấu khẩu, nhưng đây không phải là một vấn đề mới, vì vậy bà Tulliver lại sử dụng câu trả lời của những lần qua:
- Ông Tulliver bảo rằng ông sẽ đãi đằng bạn bè hậu hỉ hơn nếu ổng có đủ tiền trang trải. Và thưa chị, ông nhà tôi có toàn quyền hành động trong ngôi nhà của ông, phải không, thưa chị?
- Phải, Bessy, tôi không thể bỏ sót tên các con của dì trong bản di chúc của tôi. Nhưng dì đừng mong đợi một đồng nào của ông Glegg vì có lẽ tôi sẽ chết trước ông ấy, và nếu ông ấy chết trước tôi, ông sẽ gói ghém hết tiền bạc gởi về cho bà con của ông.
Tiếng bánh xe vang lên ngoài ngõ trong lúc bà Glegg đang nói, làm bà Tulliver vô cùng mừng rỡ. Bà vội vàng chạy ra đón bà chị Pullet - chắc phải là bà Pullet, vì rõ ràng là tiếng xe bốn bánh.
Bà Glegg lắc đầu khó chịu khi nghĩ đến chiếc xe bốn bánh của bà Pullet.
Bà Pullet đang khóc khi cỗ xe dừng lại trước cửa nhà, và hình như bà còn phải nhỏ thêm vài giọt nước mắt nữa trước khi bước xuống, dầu ông Pullet và bà Tulliver đang đứng chực sẵn để đỡ bà. Thế nhưng bà vẫn ngồi yên và buồn bã lắc đầu, nhìn qua màn nước mắt về một hướng xa xăm nào đó.
Bà Tulliver ngạc nhiên:
- Chuyện gì vậy chị?
Bà Tulliver không phải là người giàu tưởng tượng, nhưng cũng đoán thầm là tấm kiếng trang điểm khổng lồ trong phòng ngủ sang trọng của bà chị mình vừa bể lần thứ hai.
Bà Pullet im lim đứng lên và bước xuống xe, không buồn liếc qua ông Pullet đang nâng vạt áo lụa đắt tiền của mình cho đừng chạm đất. Ông Pullet, một người nhỏ thó, mũi cao, mắt sáng nhỏ, môi mỏng, trong bộ quần áo đen mới toanh với chiếc cà vát trắng thắt hơi siết. Bên cạnh bà vợ xinh đẹp mặc áo tay phồng, khoác áo choàng dày, đội nón rộng vành có cắm lông và thắt nơ, trông ông giống như một chiếc ghe chài nép mình bên một con tàu đánh cá hai buồm.
Thật là một cảnh tượng dễ gây cảm động – cạnh một người đàn bà ăn mặc sang trọng và hợp thời trang đang gặp cơn phiền muộn. Từ nỗi buồn của một người Hottentot (Phi Châu) tới nỗi buồn của một người đàn bà mặc áo tay phồng, tay đeo vòng vàng, đầu đội nón thắt nơ sang trọng, thật hoàn toàn cách biệt nhau.
Hai đầu vai áo của bà Pullet phớt nhẹ vào thành cửa khi bà bước vào nhà (vào thời đó, người đàn bà nào không có vai áo rộng trên một thước bốn mươi sẽ bị coi là quê mùa). Bà dừng lại vận dụng bắp thịt mặt để vắt thêm vài giọt lệ nữa trước khi vào gặp bà chị Glegg đang ngồi đợi.
Khi hai người bắt tay nhau, bà Glegg hỏi cộc lốc:
- Dì tới trễ, có chuyện gì vậy?
Bà Pullet ngồi xuống - cẩn thận kéo vạt áo lên trước khi trả lời:
- Chết rồi!
«Thì ra không phải bể kiếng», bà Tulliver nghĩ.
Bà Pullet tiếp:
- Chết hôm qua. Chân của bà ấy to bằng cả người tôi, họ rút nước liên miên – nước nhiều khủng khiếp.
Bà Glegg nói giọng quả quyết:
- Vậy thì cái bà nào đó cũng nên mừng vì đã được chết, nhưng tôi nghĩ mãi không ra cái người mà dì Sophy nói đó là ai.
Bà Pullet lắc đầu thở dài:
- Nhưng tôi biết, đó là bà cụ Sutton ở Twentylands.
- Ủa, bà ta đâu có họ hàng với dì đâu?
Bà Glegg chỉ khóc khi có chuyện gì xảy ra cho «bà con» của bà và chỉ khóc đúng mức tùy trường hợp, tùy người.
- Bà Sutton cũng là người giao thiệp rộng, tôi biết thế lúc tới thăm bà ta bị phù thủng... Lợi tức của bà ta nhiều lắm, ba tự tay quản trị tài sản tới phút chót, luôn luôn giữ bóp tiền và chìa khóa dưới gối. Tôi dám chắc ít có người đàn bà nào như bà ấy.
Ông Pullet chen vào:
- Người ta còn bảo là trước đó bà ta khỏe mạnh lắm.
Bà Pullet lại thở dài, thiểu não:
- Phải, trước kia bà ta chẳng hề đau yếu gì cả, mấy ông bác sĩ cũng không làm sao hiểu nổi. Bà ta nói khi tôi tới thăm vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua «Bà Pullet, bao giờ bà bị phù thủng, bà sẽ nghĩ tới tôi».
Rồi bà bắt đầu thổn thức:
- Bà ấy đã nói như vậy. Đám tang sẽ cử hành thứ bảy này, và gia đình tôi đã được lời mời đưa tiễn.
Không chịu đựng được nữa, bà Glegg kêu lên:
- Sophy, Sophy, dì làm tôi ngạc nhiên quá, dì tự hủy hoại sức khỏe vì người dưng nước lã. Ba của chúng ta ngày xưa đâu có vậy, cả dì Frances nữa và tôi có nghe người nào trong họ chúng ta làm vậy đâu. Dì còn có thể buồn nhiều hơn bây giờ nữa nếu ông anh họ Abbott của chúng ta chết bất thình lình không kịp làm di chúc.
Bà Pullet ngừng khóc, lộ vẻ khoan khoái hơn là bất mãn khi bị rầy rà. Không phải ai cũng có thể khóc lóc thương cảm cho người lối xóm của mình một cách tận tình như vậy được, nhất là khi người đó chẳng để lại cho mình một cái gì. Nhưng bà Pullet đã kết hôn với một đại điền chủ nên thừa tiền và thì giờ để thương vai khóc mướn và tập tành xử sự theo giới thượng lưu.
Ông Pullet cảm thấy cần phải nói cái gì đó, yểm trợ cho những giọt nước mắt của vợ mình:
- Bà Sutton cũng chết đi mà chẳng để lại tờ di chúc nào, chúng ta đều là người có tiền bạc, nhưng người ta bảo rằng không ai có thể để lại hàng vạn bạc như bà Sutton cả. Vậy mà bà ấy chẳng để lại một tờ di tặng nào - hay nói đúng hơn - là bà ấy đã để hết của cải lại cho người cháu trai của ông Sutton.
Bà Glegg nói:
- Nếu chết đi mà chẳng còn ai để trao lại của cải ngoài một người bà con bên chồng, thì có giàu sang tới mấy cũng không vui.
- Tôi cũng nghĩ vậy.
Bà Pullet đã bình tĩnh lại, vừa nói vừa tháo khăn trùm đầu ra và cẩn thận xếp lại trước khi tiếp:
- Người được hưởng gia tài của bà Sutton thật là một người thanh nhã. Ông ta bị suyển và ngày nào cũng phải đi ngủ lúc tám giờ. Ông ta đã từng tâm sự với tôi – thành thật và cởi mở – nhân một dịp tới dự thánh lễ ở nhà thờ giáo khu chúng tôi. Ông ta che ngực bằng một tấm da thỏ và giọng nói hơi rung – đúng là một người thanh nhã. Tôi cũng cho ông biết là không tháng nào mà tôi không mời bác sĩ khám binh. Và ông ta nói: «Thưa bà Pullet, tôi rất thông cảm với bà» - Đó, ông ta đã nói y như vậy – hay làm sao!
Bà Pullet lại thở dài sườn sượt khi nghĩ tới những chai thuốc nước màu hồng, màu trắng, thuốc mạnh trong chai nhỏ, thuốc nhẹ trong chai lớn, trái gió trở trời một chút là tốn tiền thuốc men ngay. Bà quay sang chồng:
- Có lẽ tôi phải đi cất nón, ông thấy hộp nón để đâu không?
Biết bà Glegg sắp sửa rầy rà về chuyện thuốc men của Sophy, bà Tulliver vội vã kiểm cách thối thoát:
- Ở trên lầu, chị Sophy để em dẫn chị lên.
Trong số chị em, bà Tulliver thích bà Pullet nhứt, thích không phải vì được giúp đỡ nhiều; nhưng bà Pullet thì lại không bằng lòng tánh tình của Tom và Maggie. Bà Tulliver đã cố gắng hết sức nhưng không làm sao cho chúng ngoan ngoãn như con của bà Dean được. Về phần Tom và Maggie, chúng cho rằng bà Pullet còn có thể khoan thứ được, phần lớn chỉ vì bà không thể là bà Glegg. Tom chỉ chịu tới thăm các dì, dượng, mỗi nơi một lần đúng vào dịp hè, dĩ nhiên lần nào nó cũng được các dượng cho tiền, nhưng dưới hầm nhà dì Pullet có rất nhiều cóc để chơi đùa, do đó nó thích tới chơi nhà dì hơn. Maggie rất sợ cóc và vẫn thường gặp ác mộng vì chúng, nhưng cô bé lại thích nghe hộp nhạc của dượng Pullet. Tất cả các chị em Dodson đều đồng ý - lúc không có mặt bà Tulliver - rằng dòng máu Tulliver không thể hòa hợp với dòng máu Dodson. Thật vậy, mấy đứa con của Bessy đều mang đặc sệt tánh chất Tulliver và Tom, dầu có màu da của họ Dodson, cũng vẫn «ương ngạnh» y như cha nó. Còn Maggie thì giống hệt cô Moss, em ông Tulliver - một người đàn bà mảnh khảnh, đã lấy phải một ông chồng nghèo kiết xác, chẳng có món đồ nào đáng giá trong nhà và phải làm việc quần quật ngày này qua ngày nọ để kiếm tiền trả nợ. Nhưng khi chỉ có hai bà Pullet và Tulliver ở trên lầu thì những lời phê bình lại tiến triển theo một chiều hướng không mấy thuận lợi cho bà Glegg, và cả hai bà cùng đồng ý ở một điểm là không biết rồi đây chị Jane còn khó tánh tới mức nào. Những cuộc đàm luận riêng tư của họ đã phải tạm gián đoạn vì bà Deane và cô bé Lucy vừa tới. Bà Tulliver buồn thảm khi nhìn những lọn tóc vàng chỉnh tề của Lucy. Điều lạ là bà Deane, người gầy guộc và nước da xanh tái hơn tất cả các chị em Dodson, lại có một đứa con xinh xắn. Còn Maggie thì trông đen đúa gấp đôi ngày thường khi đứng cạnh Lucy.
Và hôm nay cô bé trông cũng đen như vậy khi cùng cha, dượng Glegg và Tom từ ngoài vườn trở vào nhà. Maggie đã liệng mất nón ở một chỗ nào đó mái tóc rối bù lên. Cô bé chạy ùa tới Lucy ngay. Hai chị em trông khác hẳn nhau, đối với những con mắt nông nổi thì Maggie có vẻ xấu xí hơn nhiều. Hai cô bé khác hẳn nhau như một con chó lông đen cứng khỏe mạnh khác xa với một con mèo lông trắng. Lucy chìa đôi môi nhỏ, mịn như một đóa hồng cho chị hôn, ở Lucy cái gì trông cũng có vẻ cân đối và xinh xắn cổ thon với một vòng san hô, mũi nhỏ và cao, mày nhỏ và sắc trông thật xứng hợp với đôi mắt mơ màng đang rụt rè nhin lên người chị họ. Maggie cao hơn cô em họ một cái đầu, dầu chỉ lớn hơn một tuổi. Maggie vẫn thường thích thú nhìn Lucy, cô tưởng tượng ra một thế giới gồm toàn những người tí hon, và cô là nữ hoàng của họ với chiếc vương miện và cây huyền trượng bé nhỏ... nhưng chỉ là nữ hoàng Maggie với hình dáng của Lucy.
Sau khi hôn Lucy, Maggie rối rít:
- Lucy, em sẽ ở lại chơi với chị và anh Tom, phải không kìa, hôn Lucy đi anh Tom.
Tom bước tới, nhưng không hôn Lucy – không, mà chỉ đỏ mặt, bối rối mỉm cười, rõ ràng là thái độ thông thường của tất cả các cậu bé rụt rè đang ở giữa một cuộc họp.
Bà Glegg bất bình, nói lớn:
- Ủa, trẻ con bây giờ vào phòng mà không chào hỏi các dì và dượng của chúng nữa sao? Ngày xưa tôi đâu có vậy.
Bà Tulliver gọi:
- Tới chào các dì dượng đi.
Bà lộ hẳn nét lo âu và buồn thảm, chỉ muốn bảo nhỏ Maggie đi chải tóc lại cho thật gọn gàng.
Giọng bà Glegg lại oang oang:
- Tốt, dì mong rằng các cháu đều là những đứa ngoan.
Vừa nói, bà vừa nắm tay chúng, mấy chiếc nhẫn kịch cộm của bà làm chúng đau tay. Bà hôn lên má chúng:
- Ngước đầu lên, Tom, con trai đã tới tuổi đi học nội trú phải biết ngước mặt lên. Vén tóc ra sau tai đi, Maggie, giữ cổ áo cho ngay thẳng.
Bà Glegg vẫn thường gằn giọng như vậy khi nói chuyện với lũ nhỏ, làm như chúng toàn là những đứa điếc hay ngốc nghếch. Bà nghỉ rằng với cách đối xử như vậy, bà sẽ làm cho chúng cảm thấy chúng có tội, và sẽ giúp kềm chế tánh hư hỏng lại. Mấy đứa con của Bessy được nuông chiều thái quá cần có người làm cho chúng rõ được bổn phận cháu con.
Bà Pullet thì lại khác:
- Các cháu của dì giỏi lắm. Các cháu mau lớn quá.
Rồi làm ra điệu buồn buồn, bà nhìn lại mẹ chúng:
- Con nhỏ có nhiều tóc quá. Tôi mà như dì là tôi sẽ tỉa mỏng và cắt ngắn bớt đi, để vậy có hại cho sức khỏe của nó lắm. Nếu tôi không lầm thì có lẽ vì vậy mà nước da của nó quá đen, phải không dì Deane?
Bà Deane mím môi và nghiêm khắc nhìn Maggie:
- Tôi không nói có lẽ, mà chắc chắn là vậy.
Ông Tulliver xen vào:
- Không, không, con nhỏ, con nhỏ vẫn như thường – chẳng có triệu chứng bệnh hoạn nào cả. Cũng lúa mì có thứ nâu thứ trắng, và có người lại thích lúa nâu hơn. Nhưng tôi thấy Bessy cũng nên cắt tóc ngắn cho nó để được gọn gàng hơn.
Một quyết định ghê gớm lóe ra trong đầu Maggie, nhưng cô bé liền dẹp qua một bên để hỏi xem dì Deane có để Lucy ở lại chơi không. Sau vài lời từ chối khéo, bà Deane quay sang gọi Lucy:
- Con có muốn ở lại chơi vài ngày mà không có má không, Lucy?
Lucy đỏ bừng mặt, ấp úng:
- Dạ muốn.
Ông Deane can thiệp:
- Được rồi, cứ cho nó ở lại đi.
Thân phụ của Lucy là một người dềnh dàng nhưng lanh lợi, với một gương mặt có thể tìm thấy trong khắp các giai tầng xã hội Anh - đầu sói, râu đỏ, trán cao, dáng dấp gọn gàng. Người ta có thể trông thấy một nhà quý phái giống hệt như ông Deane cũng như có thể gặp một người bán tiệm hay một công nhân lương ngày chẳng khác gì ông ta. Nhưng có lẽ ít người nào có được đôi mắt nâu sắc bén như ông, không một người đàn ông nào ở St. Ogg’s được trọng vọng bằng ông, và có một số người cũng đồng ý rằng cô Susan Dodson - người trước đây đã lấy chồng bất xứng nhứt trong các chị - một ngày kia sẽ có xe nhà và sang trọng hơn chị Pullet nữa. Hiện thời, ông Deane đang có chân trong ban quản trị một nhà máy lớn, một hãng tàu với sự yểm trợ của một ngân hàng, người ta không hiểu rồi đây ông ta sẽ còn đi lên tới tận đâu.
Ngay khi chuyện cho Lucy ở lại được dàn xếp xong, bà Tulliver vẫy tay gọi Maggie và bảo nhỏ:
- Maggie, đi chải đầu lại đi – lẹ lên, xấu hổ quá. Má đã dặn con là hãy tới gặp chị Martha trước khi vào phòng khách mà.
Lúc đi ngang Tom, Maggie kéo tay áo anh, thì thầm:
- Anh Tom đi với em.
Tom đi theo ngay, không một chút do dự.
Ra tới cửa, Maggie nói nhỏ:
- Lên lầu với em nghe. Em muốn làm xong chuyện này trước khi ăn.
Chẳng mong gì hơn là tới bữa ăn, Tom đáp:
- Không đủ thì giờ để chơi trò gì đâu.
- Đủ mà, cái này không mất thì giờ đâu, đi với em đi, anh!
Tom theo Maggie đi lên lầu vào phòng riêng của mẹ. Cô bé đi ngay lại tủ vật dụng, lấy ra một cây kéo lớn.
Tom ngạc nhiên:
- Lấy kéo làm gì vậy, Maggie?
Maggie trả lời bằng một phát kéo cắt ngang khoanh tóc nơi giữa trán. Tom trố mắt:
- Trời đất ơi, mày bị đòn cho coi. Thôi đừng cắt thêm nữa.
Soạt. Lưỡi kéo lại nhấp thêm một nhát nữa trong khi Tom nói. Chẳng hiểu vì sao thằng bé bỗng thấy vui vui, có lẽ tại Maggie trông dễ tức cười.
Bị kích thích bởi sự liều lĩnh của chính mình và cũng mong muốn làm xong công việc cho mau, Maggie bảo:
- Nè, Tom, cắt mớ tóc phía sau cho em đi.
Tom ngần ngại cầm chiếc kéo:
- Thế nào mày cũng bị đòn.
Maggie dậm chân:
- Không sao – mau lên!
Mớ tóc thật đen và dày – không gì quyến rũ bằng một tiếng soạt ngon lành, một tiếng rồi tiếng nữa, mái tóc nặng nề rớt xuống sàn nhà. Maggie đứng im với mái tóc ngắn, lởm chởm, nhưng lại có cảm giác trống trải và tự do như từ một khu rừng rậm chui ra một cánh đồng bằng.
Tom vừa cười vừa nhảy nhót chung quanh em:
- Ồ, Maggie, trông mày tức cười quá! Mày soi kiếng thử coi - giống y như thằng khùng thường bị tụi tao ném vỏ hồ đào ở trường.
Maggie bỗng cảm thấy hối tiếc. Cô bé chỉ có ý định thoát khỏi mái tóc đã gây nhiều phiền phức cho mình và sự chiến thắng của mình trước mẹ và các dì nhờ hành động táo bạo này. Maggie không mong ước làm cho mái tóc mình đẹp ra – đây là một cuộc vượt ra ngoài khả năng – cô bé chỉ muốn chứng tỏ cho mọi người thấy mình là một đứa bé gái thông mình mà đừng chỉ trích, rầy rà thêm nữa. Nhưng bây giờ, khi Tom đã cười ngạo và bảo cô giống một thằng khùng, câu chuyện lại chuyển sang một chiều hướng mới. Maggie nhìn vào kiếng, gương mặt đỏ hồng từ từ tái lại, môi run run.
Tom cũng đâm lo:
- Maggie, sắp phải xuống ăn tiệc rồi! Trời đất ơi!
- Tom đừng cười em nữa.
Maggie nói bằng giọng van lơn, nước mắt hờn giận bỗng trào ra. Cô bé dậm chân và đẩy mạnh anh.
- Ê, đừng nóng! Mày cắt tóc để làm gì? Tao phải đi xuống đây, tao ngửi thấy mùi đồ ăn rồi.
Tom vội vàng trở xuống, bỏ mặc đứa em đáng thương ở lại với một cảm giác tan vỡ, thứ cảm giác thường có nơi tâm hồn bé bỏng của cô. Bây giờ Maggie mới nhận ra hành động của mình thật điên rồ, từ đây có sẽ phải nghe và nghĩ tới mái tóc của mình nhiều hơn bao giờ hết. Maggie vẫn thường hành động nông nổi và nhứt thời, nhưng ngay sau đó, không những thấy trước được hậu quả của hành động đó, mà lại còn biết được những gì sẽ xảy ra nếu không hành động như vậy với đầy đủ các chi tiết trong các trường hợp có thể xảy ra. Tom không bao giờ có những hành vi điên cuồng như em, nó có năng khiếu giúp nhận rõ những gì có thể gây bất lợi cho mình, vì vậy rất ít khi bà Tulliver có thể trách mắng Tom là đứa hư hỏng được. Nhưng nếu đã lỡ phạm một lỗi lầm vào loại đó, nó nhứt định không cho là mình có lỗi, nó tự binh vực lấy và «không hối hận». Nhưng với Maggie, khi đứng khóc trước tấm kiếng, cô bé thấy ngay rằng khó mà xuống ngồi vào bàn ăn được để phải chịu đựng những ánh mắt cùng những lời khắc nghiệt của các dì, trong khi Tom, Lucy, Martha, chị hầu bàn, và có lẽ cha và các dượng sẽ cười nhạo cô – bởi vì nếu Tom đã chế nhạo thì dĩ nhiên các người khác cũng như vậy cả. Phải chi mình đừng cắt tóc, mình sẽ được ngồi chung với Tom và Lucy, sẽ có bánh đậu và bánh kem! Bây giờ cô chỉ còn biết ngồi khóc bơ vơ, tuyệt vọng giữa các nắm tóc đen của mình như Ajax khi ngồi giữa đàn cừu bị tàn sát của y...
Chị người làm Kezia bỗng hấp tấp vào phòng:
- Cô Maggie, cô phải xuống ngay. Ủa, cô làm gì vậy? Chưa bao giờ tôi thấy một bộ tóc xấu xí như vậy cả.
Maggie cáu kỉnh:
- Kệ tôi, Kezia. Chị đi đi.
- Nhưng cô phải xuống ngay lập tức, má cô bảo thế.
Kezia vừa nói vừa bước tới Maggie, nắm tay cô bé kéo lên.
Maggie trì lại:
- Đi ra ngay, Kezia, tôi không muốn ăn gì hết. Tôi không xuống.
- Cũng được, tôi không thể ở lại đây được. Tôi còn phải lo hầu bàn.
Kezia vừa nói vừa ra ngoài. Mười phút sau, Tom ló đầu vào:
- Maggie, đồ ngốc, tại sao mày không xuống ăn? Có nhiều món ngon lắm, má biểu mày xuống. Tại sao lại khóc, đồ ngu?
Ôi, thảm thương chưa! Tom lại tàn nhẫn và lạnh lùng, nếu là Tom ngồi khóc trên sàn thì Maggie cũng đã khóc theo rồi. Và còn buổi tiệc, vô cùng thịnh soạn trong khi bụng cô bé cồn cào.
Nhưng Tom cũng không đến nỗi tàn nhẫn lắm. Nó không khóc và cũng không thấy nao lòng vì nỗi buồn của em, nhưng nó cũng bước tới, cúi xuống, dịu dàng an ủi:
- Mày không xuống thiệt hả? Vậy để tao đem bánh lên cho... bánh kem và các thứ khác nữa?
Maggie bắt đầu cảm thấy cuộc đời đáng khoan thứ hơn:
- Dạ... ạ!
- Được.
Tom bước ra, nhưng tới cửa, nó chợt quay lại:
- Nhưng tốt hơn hết là nên xuống với tao. Còn có đồ tráng miệng hột bồ đào và rượu ngọc trâm nữa.
Maggie thôi khóc và đắn đo nhìn theo Tom. Thái độ chiều chuộng của anh làm cô bé vơi buồn, vả lại, hột bồ đào cùng rượu ngọc trâm cũng quyến rũ vô cùng.
Bỏ lại những nắm tóc vung vãi trên sàn, Maggie từ từ xuống thang. Cô bé tựa vai vào cửa phòng ăn, nhìn vào. Còn một chiếc ghế trống giữa Tom và Lucy, cùng một chiếc bàn phụ dọn sẵn thật nhiều bánh kem. Cơn đói và nổi thèm ăn ngon chiến thắng một cách mau lẹ. Maggie bước vào.
Bà Tulliver buột miệng kêu khe khẽ khi thấy Maggie, chiếc muỗng canh trong tay bà rớt xuống dĩa, bắn nước tung tóe. Kezia đã không nói cho bà rõ tại sao Maggie không chịu xuống, chị người làm không muốn bà chủ của mình phải bối rối giữa lúc này, trong khi bà Tulliver cứ đinh ninh là Maggie trở chứng và đã định sẽ phạt bằng cách bớt phần ăn.
Tiếng kêu của bà Tulliver làm mọi cặp mắt cùng đổ dồn về phía Maggie, má và tai cô bé nóng bừng lên khi dượng Glegg, một ông già quí phái, tóc bạc, mặt có vẻ hiền từ, lên tiếng hỏi:
- Ủa! Con nhỏ nào đây? Chị lượm được nó ngoài đường hả Kezia?
Ông Tulliver vừa cười vua nói nhỏ với ông Deane:
- Nó tự cắt tóc đó. Dượng có thấy con nhỏ nào như nó không?
Ông Pullet cũng không thể ngồi im:
- Nè, cháu tự làm cho cháu trông buồn cười quá.
Có lẽ trong đời ông chưa bao giờ nói một câu tàn nhẫn như vậy cả. Chỉ có bà Glegg là khiển trách với một giọng nặng nề và khắc nghiệt hơn ai cả:
- Xấu hổ quá sức rồi! Con gái mà tự cắt tóc cho mình đáng bị trừng phạt bằng cách cho ăn bánh mì không với nước lã – và không được phép ngồi chung với các dì dượng của nó.
Ông Glegg muốn giảm bớt tánh chất khắc nghiệt trong lời buộc tội của vợ mình:
- Này, tôi nghĩ là nó đang bị bỏ tù và cạo trọc đầu.
Bà Pullet nói giọng xót thương:
- Coi nó giống y như dân du mục. Da đen như vậy có lẽ là điềm xấu cho nó, Bessy, tôi sợ sau này nó sẽ chịu nhiều vất vả.
Nước mắt long lanh, bà Tulliver rầu rĩ:
- Nó hư hỏng quá, cứ làm khổ má nó luôn.
Tất cả mọi người đều trách mắng và chế nhạo Maggie. Thoạt tiên, Maggie chỉ cảm thấy giận, cơn giận đó tạo cho cô bé một sức thách đố nhứt thời. Tom thì lại nghĩ rằng mình thật can đảm, nó thì thầm với Maggie:
- Thấy chưa, tao đã nói rồi mà!
Nhưng Maggie lại tưởng Tom khoái trá vì thấy mình bị rầy la. Sức chịu đựng mỏng manh của cô bé tan biến ngay tức khắc, tim se thắt lại, cô bé chạy tới bên cha, giấu mặt sau vai ông, khóc nghẹn ngào:
- Nào, nào, con gái, đừng buồn, con có quyền cắt tóc đi nếu nó làm phiền con, đừng khóc nữa, ba binh vực con mà.
Ôi những lời an ủi quí quá biết bao! Maggie không bao giờ quên những lúc được cha hứa «binh vực» cho mình. Cô giữ những lời hứa đó trong tim và vẫn còn nhớ mãi luôn nhiều năm về sau nữa, trong khi ai cũng cho rằng cha cô chỉ nuông chiều và làm hư hỏng con cái mà thôi.
Bà Glegg nói với bà Tulliver:
- Chồng của dì nuông chiều con bé quá mức, Bessy! Dì mà không cẩn thận là nó hư luôn đó. Ba chúng ta ngày xưa đâu có quá dễ dãi với con cái như vậy.
Bao nhiêu chuyện phiền muộn đã dồn dập ùa tới dường như làm cho mọi cảm giác của bà Tulliver tê liệt. Bà không buồn chú ý tới lời trách cứ của chị, mà chỉ lầm lì chia bánh, sửa soạn tráng miệng.
Bữa tráng miệng là cả một sự giải thoát cho Maggie, vì bọn trẻ đã được báo trước là nếu trời tốt chúng sẽ được dùng hột bồ đào và rượu vang ngoài nhà mát; bây giờ chúng chạy ùa ra vườn, đùa giỡn giữa những bụi hoa hồng như con thú con.
Bà Tulliver có lý do riêng khi chúng ăn tráng miệng ngoài vườn. Vừa ăn uống linh đình xong, người ta sẵn sàng cởi mở với nhau, đó là thời gian thích hợp nhứt để ông Tulliver cho biết ý định về việc học của Tom. Trẻ con vẫn thường được tự do nghe chuyện người lớn bàn về chúng, vì dầu có chú ý mấy chúng cũng chẳng hiểu được gì. Nhưng lần này bà không muốn cho Tom nghe vì bà cho rằng Tom coi chuyện đi học trọ ở nhà một giáo sĩ cũng khổ sở như đi học tại nhà một ông tuần phu. Bà chợt thở dài khi nghĩ tới tánh ngoan cố của chồng, ông Tulliver vẫn luôn làm theo ý riêng, dầu bà Glegg và Pullet có nói gì cũng mặc; theo bà, ít ra cũng không nên để cho họ có dịp trách cứ - sanh chuyện rắc rối về sau - là Bessy cứ nhắm mắt nghe theo lời chồng mà xem thường mọi ý kiến của họ.
Bà Tulliver ngắt ngang câu chuyện giữa hai ông Tulliver và Deane:
- Ông Tulliver, tôi thấy đã tới lúc ông nên báo cho các dì dượng của bọn trẻ hay những dự định của ông về thằng Tom.
Ông Tulliver hỏi gắt:
- Được rồi, tôi thấy không có gì phải giấu những quyết định của tôi về thằng Tom.
Ông nhìn về phía ông Glegg và Deane:
- Tôi đã quyết định gửi nó tới học nơi ông Stelling, một giáo sĩ ở King’s Norton – một người đặc biệt khôn ngoan, tôi biết – ông ta sẽ dạy dỗ nó nên người.
Nhiều tiếng kêu ngạc nhiên đồng loạt nổi lên. Ta có thể nghe được những âm thanh đó trong các ngôi thánh đường miền quê, khi các nông dân nghe ám chỉ tới những hành động thường ngày của họ từ trên giảng đường. Các dì dượng của bọn trẻ cũng biếu lộ cùng một sự ngạc nhiên khi nghe nói có một giáo sĩ tham dự vào việc nhà Tulliver. Chủ điền Pullet là người đầu tiên lên tiếng, ông không hiểu tại sao một giáo sĩ lại có thể làm một nhà giáo được.
- Tại sao dượng lại phải gởi nó tới một nhà tu hành?
Ông vừa hỏi vừa nhíu mày quan sát hai ông Glegg và Deane, xem họ có hiểu biết chút gì về sự kiện này hay không.
- Tại sao à? Bởi vì các thầy tu đều là những ông giáo giỏi nhứt. Ông thầy Jacobs ở học viện không phải là giáo sĩ, ông ta chẳng dạy thằng Tom được cái gì cả, còn tôi thì nhứt định phải tiếp tục cho nó học, phải có người nào khác hơn ông Jacobs. Và đó là ông Stelling, thuộc hạng người tôi cần. Tôi đã quyết định cho thằng Tom di học ở nhà ông vào khoảng giữa hè này.
Ông Deane vừa nói vừa hít thuốc ngửi ầm ỉ, đó là thói quen mỗi khi ông quyết định đứng giữa:
- Vậy là anh sẽ phải tốn khá nhiều tiền, phải không Tulliver?
Vốn là nguoi khôi hài, ông Glegg không bỏ lỡ cơ hội:
- Sao? Dượng tưởng một tu sĩ có thể dạy nó biết thế nào là một giống lúa tốt à?
- Như dượng biết, tôi đã có sẵn một chương trình cho thằng Tom rồi.
Bà Glegg chua chát:
- Còn tôi, nếu tôi được phép nói, nhưng ít khi người ta cho tôi cái vinh hạnh đó, thì tôi sẽ nói rằng tại sao lại phải cho thằng bé học hành quá cái địa vị của nó mai sau?
Ông Tulliver trả lời nhưng không nhìn bà Glegg mà chỉ nhìn về phía các ông:
- Kìa, mọi người đều biết rằng tôi đã nhứt định không cho thằng Tom học nghề của tôi. Tôi muốn nó có một nghề nghiệp không cần nhiều vốn liếng, tôi muốn tạo nó thành một người trí thức gì đó để có thể đương đầu với bọn thầy kiện hay những hạng người tương tự như vậy, và thỉnh thoảng giúp ý kiến cho tôi.
Bà Glegg cười khảy:
- Tốt hơn là đừng nên đụng chạm tới hạng người đó.
Ông Deane hỏi:
- Có phải vị giáo sĩ nào đó cũng là hiệu trưởng của trường văn phạm như giáo sĩ ở Market Bewly không?
Ông Tulliver đáp:
- Không, không phải vậy. Ông ta chỉ nhận hai hoặc ba học sinh là cùng và như thế, dượng thấy, ông ta có đủ thì giời để chăm sóc chúng.
Ông Pullet đã bắt đầu hiểu rõ hơn câu chuyện khó khăn này:
- À, như vậy thì nó sẽ được học sớm hơn, càng ít học trò càng dạy mau.
Ông Glegg nói:
- Chắc ông ta đòi nhiều tiền lắm.
Ông Tulliver đáp:
- Chỉ một trăm bảng mỗi năm thôi. Nhưng đó là một cuộc đầu tư, học vấn của thằng Tom là số vốn của nó sau này.
Ông Glegg gật gù:
- À! Thì ra vậy. Được, được lắm, dượng Tulliver, dượng có lý - «khi đất đai không còn và đồng tiền mất giá, thì sự học là điều quí giá nhứt». Tôi nhớ đã đọc câu này trên một cánh cửa sổ ở Buxton. Nhưng đối với những kẻ thất học như chúng ta thì nên dành dụm tiền của là tốt hơn, phải không dượng Pullet?
Ông Glegg vừa nói vừa xoa đầu gối với vẻ khoái trá.
Vợ ông cằn nhằn:
- Ông Glegg, sao lạ vậy? Già rồi mà không chịu tề chỉnh chút nào.
Ông Glegg nheo mắt:
- Cái gì mà không tề chỉnh, bà Glegg? Cái áo choàng xanh mới may của tôi hả?
- Tôi thương hại cho ông quá, ông Glegg, ai đi đùa cợt khi thấy bà con của mình sắp sửa bị phá tan sự nghiệp.
Ông Tulliver nóng mặt:
- Nếu chị muốn ám chỉ tôi thì tôi cũng xin nhắc chị đừng quá lo lắng cho tôi. Tôi có thể tự lo liệu lấy công việc của mình, không cần quấy rầy tới ai.
Ông Deane nghiêm giọng:
- Tôi vừa nhớ ra một chuyện, có người nói với tôi là luật sư Wakem sắp cho thằng con của ông ta – cái thằng có tật đó – tới học tại nhà một giáo sĩ – phải vậy không Susan? (Ông quay sang vợ.)
- Tôi không nhớ rõ lắm.
Bà Deane không phải là hạng người hay xen vào những màn nguy hiểm.
Ông Tulliver nói với giọng thật tươi, chứng tỏ cho bà Glegg biết rằng ông chẳng để ý gì tới bà cả:
- Được, nếu Wakem đã quyết định gởi con đi học tại nhà một giáo sĩ thì quyết định của tôi về thằng Tom không vướng một lỗi lầm nào. Wakem là một tên đại lưu manh, nhưng hắn biết cách chọn người lắm. Ậy, ậy, hãy nói cho tôi biết ai bán bánh cho Wakem, tôi sẽ cho bạn biết nên mua bánh ở đâu.
Riêng bà Pullet thì lại thấy cuộc thảo luận này có sắc thái của một đám tang:
- Nhưng thằng con của trạng sư Wakem hơi gù lưng nên gởi nó tới học ở nhà một giáo sĩ là chuyện thường.
Ông Glegg diễn giải lời nhận xét của bà Pullet:
- Phải, dượng phải chú ý tới điều đó, dượng Tulliver. Có lẽ thằng con của Wakem sẽ không kham nổi một nghề nào, nên ba nó mới quyết định biến nó thành một nhà quí phái.
Bà Glegg cáu kỉnh:
- Ông Glegg, ông nên im miệng là hơn. Ông Tulliver đâu có muốn nghe ý kiến của ông hoặc của tôi đâu. Trên đời này bao giờ cũng có những người khôn ngoan hơn tất cả bao nhiêu người khác.
Ông Tulliver giận thật:
- Kìa, vậy mà tôi tưởng chị là một trong những người đó.
Bà Glegg mỉa mai:
- Thôi, tôi không nói gì hết là xong. Không bao giờ người ta chịu hỏi ý kiến tôi và bây giờ tôi cũng sẽ không góp một ý nào cả.
Ông Tulliver nói:
- Lần đầu tiên mới nghe chị nói như vậy. Ý kiến là vật duy nhất mà lúc nào chị cũng sẵn sàng cho người khác.
- Nếu tôi không sẵn sàng cho thì tôi cũng sẵn sàng cho mượn. Có nhiều người đã mượn tiền của tôi, nhưng hối tiếc nhứt là tôi đã cho bà con mượn tiền.
Ông Glegg xoa dịu:
- Thôi mà, thôi mà.
Nhưng ông Tulliver vẫn không kềm hãm được:
- Và chỉ đã lấy lời năm phần trăm, bà con hay không bà con gì cũng vậy.
Bà Tulliver nài nỉ:
- Chị dùng rượu chát đi, để tôi lấy thêm cho chị một ít hột hạnh nhân và nho nữa.
Bà Glegg chộp lấy cơ hội:
- Bessy, tôi thương hại cho dì lắm. Tới lúc này mà còn nói chuyện ăn uống chi nữa.
Bà Pullet bắt đầu sụt sùi:
- Chúa ơi! Chị Glegg, đừng gây gỗ nữa – giữa chị em với nhau mà làm như vậy coi không được.
Bà Glegg bóng gió:
- Phải, mời chị em tới nhà để gây gỗ và phỉ báng thì quả thật không tốt chút nào.
Ông Glegg nài nỉ:
- Thôi mà – Jane – bình tĩnh lại.
Nhưng khi ông Tulliver nổi giận rồi thì khó mà nguôi được:
- Ai gây với chị? Chính chị mới là người lúc nào cũng tìm cách dằn vặt người ta. Tôi không hề muốn gây lộn với người đàn bà nào nếu họ biết yên phận một chút.
- Yên phận? Ông nói tới ông thì đúng hơn, ông Tulliver. Ông đã đối xử với tôi không thích đáng chút nào hết, nếu người trong gia đình tôi không lấy phải một ông chồng bất xứng thì dượng đã không bao giờ gặp được tôi.
- Chị đã nói vậy thì tôi cũng xin nhắc chị nhớ là gia đình tôi cũng đâu có kém gì gia đình chị – và có lẽ còn khá hơn nữa vì gia đình tôi chẳng có một người đàn bà nào hay quạo quọ như vậy cả.
Bà Glegg đứng lên:
- Ông Glegg, tôi không hiểu ông nghĩ gì mà cứ ngồi yên để nghe họ nhục mạ tôi. Riêng tôi thì sẽ không ở lại trong nhà này thêm một phút nào nữa. Ông có thể ở lại về sau bằng xe, để tôi đi bộ về được rồi.
- Thôi mà! Thôi mà!
Ông Glegg lập đi lập lại một cách buồn bã trong khi theo vợ bước ra ngoài.
Bà Tulliver nước mắt viền quanh:
- Ông Tulliver, tại sao ông lại ăn nói với chị ấy như vậy?
Nước mắt của vợ cũng không thể lung lạc ông Tulliver được:
- Cứ để bả đi, càng sớm càng tốt.
Bà Tulliver thất vọng:
- Chị Pullet, chị thấy có nên theo xin lỗi chị ấy hay không?
Ông Deane xen vào:
- Không nên, không nên, để vài ngày nữa đã.
Bà Tulliver lau nước mắt:
- Thôi được, bây giờ chị em mình ra vườn thăm mấy đứa nhỏ đi.
Không còn đề nghị nào thích hợp hơn nữa. Ông Tulliver cảm thấy trời trong sáng và dễ thở hơn khi các bà đã kéo nhau ra khỏi phòng. Ông rất thích bàn chuyện vặt với ông Deane, ông coi ông Deane như là người hiểu biết sâu rộng duy nhất trong đám người quen, hơn nữa lối nói chuyện của ông Deane lại rất thích hợp với ông. Và khi các bà đã đi rồi, họ có thể bàn luận với nhau về Quận công Wellington và cách điều binh của ngài trong trận Waterloo, trận chiến mà ngại không bao giờ thắng được nếu chẳng có cả một đạo quân khổng lồ ở sau lưng. Nhưng hai người lại bất đồng ý kiến về Thống chế Phổ Blucher, nhân vật mà theo ông Tulliver được biết - qua một người am tường về trận Waterloo - là đã mang quân tới trợ lực Quận công Wellington một cách kịp thời và hữu hiệu; nhưng ông Deane lại cho rằng không thể tin cậy được người Phổ - cách đóng tàu buồm vụng về và rượu bia Bantzic của họ đã khiến ông Deane coi thường họ. Bị đánh bại trong lãnh vực này, ông Tulliver chuyển sang đề tài khác, ông bày tỏ mối lo ngại trước sự suy thoái của nước Anh, nhưng ông Deane thì lại quả quyết rằng nước Anh vẫn đang trên đà phát triển, ông đưa ra một số các chi tiết về tình hình nhập cảng, đặc biệt nhứt là về da thuộc và kẽm, nhằm giải tỏ nỗi bi quan của ông Tulliver vì một viễn ảnh nước Anh bị làm mồi cho bọn Giáo Hoàng Chủ nghĩa và bọn Cấp Tiến xâu xé.
Ông Pullet cứ lặng thinh chăm chú lắng nghe những vấn đề cao siêu đó. Ông không hiểu chính trị và cũng không cần tìm hiểu – nhưng có một điều mà ông có thể đúc kết được xuyên qua câu chuyện của hai người cùng bàn: Quận công Wellington nào đó không thể bằng ông được.
82
