<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.08.2015 23:54:03 bởi Ct.Ly>
Sỏi Đá Ngậm Ngùi – Trang 62 đến 114 (Phần 1)
Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
CHƯƠNG IV
Người ở giữa bị còng cả hai tay lẫn hai chân là tôi. Tay bên phải của tôi và tay bên trái của người đứng bên phải tôi chung một cái còng số 8. Chân cũng vậy. Tay chân bên trái còng với tay chân bên phải của người đứng bên trái. Vì chỉ xử dụng hai cái còng nên tay trái, chân trái, tay phải, chân phải của hai người bên cạnh tôi không bị dính còng. Hai bàn tay «tự do» ấy sẽ vất vả vì tôi.
Chúng tôi thân nhau rất dễ dàng. Người bên phải tôi là Nga, giáo sư văn chương của trường Lê Văn Duyệt. Nga cầm đầu một tổ chức phản động gồm toàn nữ sinh của nàng, tổ chức của những cô gái lãng mạn của thời đại. Thay vì nằm nhà đọc tiểu thuyết ướt át và hẹn hò đôi lứa, họ đã hẹn hò nhau, đem truyền đơn chống cộng sản vào các rạp xi nê, đặt tận tay từng người. Nga viết truyền đơn. Học trò nàng chung tiền để mua giấy, mua stencil và quay ronéo. Rất nhiều tổ chức như tổ chức của Nga. Họ không quen nhau. Họ chống cộng sản như con nít chọc khỉ, chọc cọp đói trong sở thú. Và họ đã bị bắt. Người bên trái tôi là Nhi. Nàng mở quán cà phê trên lề đường Tự Do. Khách của nàng là những thanh niên, thiếu nữ của tổ chức. Họ thường tới uống cà phê để thông tin và nhận công tác mới. Nhi dậy triết ở Trường Sơn. Ông hiệu trưởng bị bắt trước nàng hai tháng. Cả ông giám thị cũng mắc lưới. Nhi cho tôi biết hai ông bị phát hiện vì là do Kẻ tà đạo. Nó đã bán ông bạn già của mình. Nhiều học sinh Trường Sơn theo thầy vào các trại giam. Tôi kể cho Nga và Nhi nghe về hoạt động của nhóm chúng tôi. Và chúng tôi đã cười vang cả cachot. Quả thật, chúng tôi lãng mạn. Cachot nhốt ba chúng tôi rộng bằng phòng tập thể C1. Không có bức xi măng, không có vòi nước, không có cầu tiêu. Cửa gió đóng kín ngày đêm. Chúng tôi nằm trên sàn phòng ẩm ướt, không chăn chiếu. Một cái xô thiếc đặt ở góc phòng, chúng tôi sẽ tiểu tiện, đại tiện vào đó. Luật lệ ở các nhà tù cộng sản cấm tù nhân không được giữ trong mình bất cứ một thứ giấy nào, trừ thư gia đình. Do đó, tù nhân đại tiện xong phải rửa bằng nước. Chúng tôi bị tống vào cachot không hành lý, tay chân còng kỹ, nhìn nhau, chưa hiểu sẽ phải đương đầu với hình phạt này ra sao. Ở cái hành tinh quyến rũ và tự hào văn minh số một của chúng ta, có nơi nào người ta xích đàn bà, con gái thành chùm trong nhà tù không nhỉ? Địa ngục ở đâu? Chắc chắn, địa ngục không bao giờ là địa ngục của thiên chúa giáo hay âm phủ của phật giáo. Nó ở ngay lòng chủ nghĩa mà chủ nghĩa cộng sản là điển hình của một địa ngục ghê tởm. Quỷ sứ là những người cộng sản lớn nhỏ. Trò chơi của họ thì giống hệt trò chơi của quỷ sứ đã được mô tả dưới địa ngục, âm phủ của tôn giáo. Chúng tôi đang leo lên cái cầu vồng chênh vênh. Bầy chó ngao đợi chúng tôi té ngã, trơn ngã, chóng mặt ngã là xé xác chúng tôi. Hãy can đảm leo lên cái cầu vồng thử thách đó. Tôi tự nhủ. Bên kia cầu vồng là gì, có gì? Nếu không phải là mênh mông, mơ ước, không có chứa chan hạnh phúc thì, ít ra, cũng có một cuốn sổ, một cây bút để chúng ta ghi rõ câu định nghĩa làm người.
Buổi chiều, người ta mở cửa phòng, đem cho chúng tôi ba phần cơm, để ngay sát cửa. Cô giáo Hoàng Thị Nga mỉm cười:
- Chúng ta sẽ là Án Tử sang nước Sở.
Nga kể vanh vách cái điển cố này như thể nàng đang đứng trước bảng đen. Rồi Nga kết luận:
- Thế đó. Ở với bọn chó, ta đành sống theo kiểu chó. Nào, ra lấy cơm. Chúng ta cần sống.
Tôi nói:
- Để đủ sức leo qua cầu vồng.
Cô giáo Trần Thu Nhi tiếp:
- Cầu vồng còn dài lắm.
Cả ba chúng tôi cùng đứng dậy, cùng đi, cùng cúi xuống. Nhưng chỉ có tay trái của Nga và tay phải của Nhi làm việc. Chúng tôi lượm cơm canh hai lần. Tôi có thể bưng cơm canh. Và khi tôi bưng, tay phải của Nga và tay trái của Nhi cũng phải làm những động tác y hệt hai bàn tay tôi.
- Nếu ngồi ăn, Nga nói, Lan sẽ chờ lâu, chúng tôi ăn xong mới bón cơm cho Lan được.
- Em thích làm bébé, chị Nga ạ! Tôi nói.
- Mình ăn kiểu nằm đi. Nhi nói.
Chúng tôi nằm sấp. Như thế, muốn ngóc đầu cao, Nga và Nhi cần chống một khuỷu tay. Họ sẽ ăn bằng tay còng với hai tay của tôi. Tôi vẫn đợi thôi. Nếu họ ăn bằng tay không bị còng, họ phải dùng tay bị còng mà chống khuỷu. Người ở giữa thúc thủ. Cuối cùng, chúng tôi ngồi dậy. Nga và Nhi ăn trước. Tôi ăn sau theo kiểu vú già nuôi con nít.
- Cộng sản kết tội Mỹ đưa dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Còn họ, họ đưa chúng ta trở về thời kỳ gì nhỉ? Nga hỏi.
- Thời kỳ heo! Tôi đáp.
- Heo cổ đại, Nhi thêm, heo hiện đại nuôi phuong pháp kỹ nghệ sướng hơn chúng ta. Chúng có vòi nước tắm tự động, có nhạc cổ điển nghe và không bị còng.
Chúng tôi có những bữa ăn uống đau khổ, tủi nhục. Rồi chúng tôi cũng tự giải quyết ổn thỏa. Nhưng vấn đề tiêu, tiểu mới phiền phức. Một người đi tiểu là ba người cùng lết còng đi, không mót đi cũng phải đi. Đang đêm, cả ba lồm cồm ngồi dậy, lê chân dưới ngọn đèn tù cachot vàng khè, mắt nhắm mắt mở đi tiểu hoặc đi tiêu. Nga và Nhi thay phiên nhau chùi đít giùm tôi. Không có nước, không có giấy, chúng tôi đành xé ống quần dài lấy giẻ thế giấy vệ sinh. Cái xô cứt và nước đái thiếu luôn nắp đậy. Người ta hẹp hòi đến thế là cùng. Ban ngày ruồi nhặng ghê tởm. Ban đêm muỗi hãi hùng. Chúng tôi đã sống như vậy. Con người đã bị sống như vậy và sống trong tiếng thét hào hùng của các chiến sĩ đấu tranh nhân quyền làm dáng bên kia đại dương.
- Nếu chúng ta có chính quyền, chúng ta sẽ đối xử với những kẻ đã ngược đãi với chúng ta như sao? Nga mở đầu buổi «còng đàm» trong cachot ẩm mốc, hôi hám của khu A đề lao Gia Định.
- Chúng ta sẽ dậy họ làm người. Nhi nói. Và nàng cao hứng hát lớn. «Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương. Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm. Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương...»*
*Lời một bài hát khá thịnh hành của cộng sản Hà Nội. (Chú thích của nhà xuất bản.)
Cô giáo triết lý ngừng lại. Rồi góp ý:
- Thấy chưa, người cộng sản mơ ước làm chim, làm hoa, làm mây và cả làm người nữa. Tôi tự hỏi họ đang làm gì mà họ mơ ước làm người. Theo thuyết luân hồi của nhà Phật, kiếp này ta làm người, kiếp sau ta làm chim, làm thỏ, làm gà... Kiếp này ta làm chó, ta mong làm người. Chúng ta sẽ dậy cộng sản làm người, sẽ giúp họ chóng nên người. Họ thèm làm người quá rồi.
- Ý nghĩ tuyệt diệu. Nga nói. Khi cộng sản hóa kiếp làm người, họ sẽ hết là cộng sản. Giúp họ làm người thật, đó là sứ mạng của những kẻ đang bị họ còng tay còng chân trong cachot. Chúng ta hãnh diện chúng ta là những con người dám đem yêu thương đổi căm thù.
- Các chị sẽ bị những ông đòi thọc huyết cộng sản, đòi chôn sống hết cộng sản giết lây. Dẫu các chị không chết, các chị cũng bị bôi bẩn, lên án. Tôi nói. Nhưng em thích lãng mạng như các chị.
- Tổ tiên của chúng ta đã lãng mạn và cao thượng.
- Do đó tổ tiên chúng ta có ca dao bay bổng.
- Chúng ta có thơ lục bát.
- Có sao diều lơ lửng.
- Chúng ta còn có triền miên đau khổ để chúng ta định nghĩa làm người Việt Nam.
- Tôi sẽ lập thuyết ở cachot tồi tệ này. Ai là tinh hoa của nhân loại? Giai cấp nào? Trả lời ngay: Tiểu tư sản. Tất cả vĩ nhân, tài năng của nhân loại đều xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản. Tại sao tiểu tư sản chỉ cam đành làm tôi mọi cho tư bản và vô sản? Và bị cả tư bản lẫn vô sản ghét bỏ, khinh khi? Tiểu tư sản là đầu óc, là tâm hồn của tư bản và vô sản. Tiểu tư sản đông nhất thế giới. Ai còn thích cái xe riêng, căn nhà riêng, mảnh vườn riêng, ao cá riêng... người ấy là tiểu tư sản. Tư bản và vô sản đã bất lực trong sự mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại và đã lộ rõ móng vuốt bất lương, bất nhân của chúng. Vậy thì tiểu tư sản phải giành quyền lãnh đạo loài người. Tiểu tư sản các nước trên trái đất, hãy vùng lên!
- Lại tân chủ nghĩa, lại chém giết nhau nữa.
Những buổi «còng đàm» giúp chúng tôi qua thời gian mau lẹ. Tôi bỗng thấy một điều mới đã cũ rích. Con người không thể sống thiếu con người. Thế mà có những con người cứ đòi giết hết người khác. Tôi đã ở các cachots ròng rã một năm. Sống một mình đơn độc, buồn nản và sợ hãi vô cùng. Sống với người khác, dù chỉ hai ba thôi, bỗng lòng mình ấm áp, tin tưởng. Ngày thứ bẩy, người ta mang cho chúng tôi mỗi đứa một bộ quần áo và những thứ lặt vặt như khăn, xà phòng, bàn chải đánh răng, khăn, lược... Người ta đã lấy chúng từ những cái bị hành lý tù của chúng tôi. Rồi người ta mở còng, cho phép chúng tôi đi tắm. Nhà lập thuyết tiểu tư sản, cô giáo triết học Trần Thu Nhi, xách cái xô lưng lưng phân tiểu ra khỏi phòng. Chúng tôi ăn ít nên tiêu hóa ít. Và nữa, sợ làm phiền nhau, chúng tôi hạ quyết tâm nín đại tiện, càng lâu càng tốt. Ở tù cộng sản, sự tiểu tiện, cái thú thứ tư của con người, cũng bị giới hạn. Nhi đi đổ phân tiểu, rửa xô. Nga và tôi quét phòng, Sau đó, người ta dẫn chúng tôi tới phòng tắm. Chúng tôi gội đầu, tẩy uế thể xác, đánh răng... Hạnh phúc, tôi đã nhìn rõ một sợi tơ hồng của nó trong cơn tắm say sưa. Bình thường, tắm gội chẳng có ý nghĩa gì ngoài sự vệ sinh hàng ngày. Nhưng một tuần lễ xích tay, còng chân trong cachot hôi hám, mình mẩy nhớp nhúa, được tắm một trận thỏa thuê thì mỗi gáo nước là một ý nghĩa trong vắt, nhiệm mầu. Nước trên suối tiên Đào Nguyên chưa chắc đã tuyệt diệu bằng.
- Tiên nữ tắm như thế nào, Lan biết không? Nga xối nước ào ào lên đầu tôi.
- Em thiếu trí tưởng tượng, chị ạ! Tôi vuốt mặt.
- Thì cũng trần truồng như mình. Khác một điều là họ được tự do phơi sự trần truồng của họ với thiên nhiên. Nhi nói.
- Có lần Lưu Thần và Nguyễn Triệu tắm chung với họ. Nga cười.
- Tôi muốn tắm chung với anh tù phản động nào đó. Nhi nói. Rất tiếc, kép của tôi không dám làm phản động.
- Y làm gì? Nga hỏi.
- Trí thức yêu nước! Nhi đáp.
- Ôi, cái bọn yêu nước có bảng hiệu, cái bọn vô liêm sỉ ấy nhan nhản khắp nơi. Trí thức yêu nước, Việt kiều yêu nước. Tu sĩ yêu nước... vịt yêu nước! Chúng nó là cái xô phân trong góc cachot của ta. Nga gay gắt phán xét.
- Nói tiếp chuyện tiên đi, các chị. Tôi dục.
- Ba chị em mình là ba nàng tiên đẹp nhất trong bầy tiên. Khúc nghê thường của chúng ta là vũ khúc diễn tả sự thống khổ làm lay động cái bóng tối âm u trùm kín mít lương tri của loài người. Chúng ta đang ở trong các cachot tù ngục? Không phải đâu, chúng ta đang múa trên những sân khấu vĩ đại. Chúng ta đang sáng tạo bản trường ca hạnh phúc cho loài người.
- Bản trường ca có người xách xô cứt.
- Có ba người con gái tay chân còng chung, đi ỉa xé quần làm giẻ chùi, kinh nguyệt không serviettes hygiéniques, một tuần không đánh răng, rửa mặt.
- Vẫn can đảm chịu đựng và ngẩng mặt.
Câu chuyện trong phòng tắm đang hấp dẫn thì cai ngục hối thúc. Chúng tôi lau khô mình mẩy, đầu tóc, mặc quần áo, chải đầu và bước ra. Cai ngục thu lại những món lặt vặt, thu luôn cả quần áo dơ bẩn vừa giặt giũ xong. Chúng tôi về cachot như buổi trưa chúng tôi mới đến. Hôm nay, tới lượt Nga ở giữa trong «tam ca cái còng». Sẽ tới lượt Nhi ở giữa. Chúng tôi tượng trưng ba miền đất nước: Bắc, Trung, Nam. Cả ba miền đất nước đã bị còng chung đằng đẵng năm mươi năm chém giết.
«Cái còng này còng tay ta
Do Mỹ do Nga tạo ra
Các con ráng còng cho kỹ
Muôn năm với nước non người»
Nga đã chế ra những lời mới cho bài ca Lá Cờ. Người Việt Nam, từ ba chục năm nay, đều chỉ biết còng nhau bằng còng Nga, còng Mỹ. Đất nước chúng ta thiếu nhiều thứ. Có một thứ chúng ta bằng lòng thiếu là kỹ nghệ chế tạo còng. Kỹ nghệ này phát triển mạnh ở Mỹ và Nga, nó là ưu tiên hàng đầu cho mục đích cao cả viện trợ các nước nhỏ.
- Tôi sẽ viết bài diễn văn trong tù! Nga nói.
- Đọc ở đâu? Nhi hỏi.
- Quốc hội Mỹ. Tôi đã nghĩ sẽ có ngày tôi vượt ngục, trốn sang Mỹ đọc bài diễn văn trước Quốc hội Mỹ rồi lại về Việt Nam.
- Đề tài diễn văn của chị?
- Những cái còng Mỹ. Phải, những cái còng made in USA đang trên tay ta, dưới chân ta, đang có mặt khắp các nhà tù Việt Nam. Một tối nào đó, tôi sẽ đọc cho Nhi và Lan nghe.
Bài diễn văn đọc trước Quốc hội Mỹ soạn trong bóng tối cachot, gần xô cứt và tay chân bị còng bằng còng Mỹ. Tuyệt diệu. Bài diễn văn lạ lùng nhất từ thuở khai thiên lập địa.
- Em sẽ đeo còng Mỹ vỗ tay.
Chúng tôi tiếp tục sống dính chùm sang tuần thứ hai. Mọi sinh hoạt không mảy may thay đổi. Qua tuần lễ thứ ba, bệnh tim của Nhi dở chứng. Nhi nói chị mắc bệnh tim từ năm còn ngồi trung học. Thỉnh thoảng, chị như bị nghẹt thở và phải chở đến nhà thương cấp cứu. Ngót một năm vào tù, bệnh tim cảm thông nỗi khổ của chị, quên hành hạ chị. Bây giờ, nó muốn tiếp tay với hình phạt nhà tù. Nửa đêm, Nhi thở yếu và xỉu. Chúng tôi kêu la ầm ỹ. Y tá trực tới, khám xét qua loa và bảo Nhi giả vờ. Khi y tá trực xuất hiện, tim của Nhi trở lại nhịp độ bình thường, do đó, y quả quyết Nhi đùa rỡn. Y không biết y đã đến quá chậm. Nhiều lần kế tiếp, báo bệnh hàng trăm lần, y tá trực lờ đi. Rất may, bệnh tim chưa nỡ hại nhà lập thuyết tiểu tư sản.
- Chị phải lập thuyết xong hãy chết, chị Nhi nhé! Tôi nói.
- Tôi thèm nghe bài diễn văn của Nga. Bài diễn văn đọc trước Quốc hội Mỹ sau khi đã là điếu văn đọc trước xác chết của tôi. Nhi nói.
- Ở đây không cho phép ai nói đến cái chết? Nga nói.
- Vậy chúng ta nói cái gì? Tôi hỏi.
- Sự sống. Sự sống của ta và của người khác. Nga đáp và tiếp, - Nếu bài diễn văn của tôi không được đọc trước Quốc hội Mỹ nó sẽ mang tên Bài diễn văn không đọc trước Quốc hội Mỹ.
- Không cần đọc ở Mỹ.
- Đọc ở đâu?
- Ở cachot, đọc bên cạnh xô cứt, đọc cho ruồi nhặng và muỗi nghe.
- Ý kiến hay nhưng mỉa mai cay đắng quá.
- Nó coi ta như rác, ta coi nó như ruồi muỗi.
- Chưa thoát. Nó coi ta như rác, ta hoan hỉ nhận ta là rác làm đồ bón dưới gốc cây Hạnh Phúc của loài người.
- Và nó là ruồi muỗi chuyên gây bệnh hoạn khắp trái đất.
Tôi thường ngồi nghe Nhi và Nga «còng đàm» một cách thích thú. Tiếc rằng, ít khi họ «còng đàm» đầy đủ một vấn đề. Chúng tôi nói đủ các thứ chuyện. Thuở đầu đời, những tháng năm học trò, tình yêu, hẹn hò, chia ly và chiến đấu. Chúng tôi gặp nhau ở điểm: chiến đấu vì cần thiết phải chiến đấu. Thế thôi. Chúng tôi không hề nghĩ chuyện thành công và thất bại.
- Nếu chúng ta thành công, chị sẽ làm gì, chị Nga?
- Tôi chỉ xin được tiếp tục dạy ở trường Lê Văn Duyệt.
- Còn chị, chị Nhi?
- Tôi muốn đi trồng hoa ở các phòng tù.
- Chị không làm Bộ trưởng à, chị Nga?
- Thứ cóc chết ấy, nó sẽ làm bẩn những ngày chúng ta dính chùm ở đây, Lan ạ!
- Chị nghĩ sao, chị Nhi?
- Tôi ghê tởm quyền bính. Quyền bính làm con người ngu si, hèn hạ và độc ác?
Chúng tôi ở với nhau rất hòa thuận. Định mệnh đưa chúng tôi đến cái cachot tồi tệ này, còng chúng tôi chung một thứ còng. Thể xác tôi rã rượi lắm rồi. Tôi sắp sửa tê liệt chân tay. Nếu không có Nga và Nhi hoặc nếu ở giữa, ở cạnh những người khác, chắc chắn, tôi đã gục ngã. Nga luôn luôn khích lệ tinh thần tôi. Chị bảo tôi còn phải chịu đựng nhiều nữa. Chị bảo tôi đừng tính từng ngày chịu đựng mà nên nghĩ mỗi ngày là mỗi bắt đầu chịu đựng. Chị bảo cuộc sống sẽ chỉ đãi ngộ ai dám chịu đựng mọi cơ cầu. Tôi tưởng tôi đã trưởng thành. Với Nga và Nhi, tôi vẫn là cô học trò của hai chị.
Buổi trưa ngày thứ năm mươi mốt, Nga báo tin chị đã soạn xong bài diễn văn ứng khẩu. Và chị sẽ đọc cho Nhi và tôi nghe đêm nay. Tôi không nhìn thấy tôi nhưng tôi nhìn rõ khuôn mặt của Nga và Nhi. Mắt họ trũng sâu, thâm quầng. Họ già nua, hốc hác. Đàn bà rất mau già nua trong nỗi khổ. Nụ cười của Nga còn trẻ, còn tươi. Nụ cười của Nhi thì héo hắt, tàn tạ. Tôi đã mơ hồ cảm giác một nỗi gì đó thật buồn bã, thật bất hạnh phảng phất trên khuôn mặt cô giáo triết học Trần Thu Nhi. Tự nhiên, nước mắt tôi ứa ra.
CHƯƠNG V
Bài diễn văn đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ.
- Thưa quý vị nghị sĩ và dân biểu Mỹ, đại diện cho lương tâm của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Hiệp chủng quốc,
Thật là một sự hân hạnh lớn lao cho tôi, được vào tòa nhà thiêng liêng này và được thưa chuyện với những con người cao cả của nước Mỹ, những con người sắp trở thành, sẽ trở thành những vĩ nhân không những của riêng nước Mỹ mà còn của cả thế giới, những con người mà tay dơ cao biểu quyết hay buông thấp khước từ là một nửa trái đất no hay đói, chiến tranh hay hòa bình, thắng hay bại, hạnh phúc hay đau khổ, bỏ nước chạy trốn như bầy vịt hay ở lại sống đoàn viên. Chính quý vị, những người đầy phép tích, đầy quyền uy, lương tâm của hai trăm mười sáu triệu dân Mỹ, đã vung cánh tay thần tiên, biến quê hương Việt Nam của chúng tôi thành một đại dương nước mắt. Tôi phải thành thật bầy tỏ tấm lòng cảm phục của tôi với quý vị, những nhà ảo thuật đổi trắng thay đen trứ danh bậc nhất từ thuở có nền ảo thuật trên hoàn cầu. Tôi càng cảm phục hơn về tấm lòng trắc ẩn của quý vị, lương tâm của nước Mỹ, đã chẳng thèm lý tới hàng ngàn bộ xương của các chiến sĩ anh dũng Hoa Kỳ không bao giờ biết thua trận còn nằm ngổn ngang đó đây ở bờ bụi Việt Nam. Sau hết, tôi vinh tôn sự khiêm tốn của quý vị, sự hiếu hòa tối đa của quý vị, những con bồ câu hiền lành hơn cả bồ câu, những chú nai ngoan hơn cả nai, đã tình nguyện thua trận tại Việt Nam mà chẳng cần đau sót, nhục nhã, xấu hổ. Theo tinh thần Đồng phương, quý vị đã đạt rồi, đã là chính nhân quân tử rồi vậy. Và theo tinh thần nhà Phật, quý vị đã ngộ. Thua cái đáng thua ấy là thắng. Thắng cái không đáng thắng ấy là thua. Quý vị thông hiểu nghĩa sinh sát của nhà Phật một cách sâu sắc. Những anh lính Mỹ khù khờ, đần độn chết khốn nạn ở Việt Nam là đáng đời. Vì trót dại đòi thắng, thắng nữa, thắng mãi. Những ông Đại sứ cuốn cờ chạy bán sống bán chết cũng là những anh mê muội, xuẩn ngốc, cao ngạo, sống ở phương Đông mà không thèm nghiên cứu triết lý sống của cố nhân Đông phương. Một lần nữa, nhân danh người Việt Nam chống cộng sản không cần bàn tay quý vị dơ lên tụt xuống quyết định số phận của dân tộc tôi, tôi xin biểu dương quý vị, lương tâm của nước Mỹ, người khổng lồ đã hoan hỉ thua chú tí hon.
Thưa quý vị,
Tôi trốn khỏi ngục tù của cộng sản sang đây không phải để xin quý vị thương sót ban cho chút hạnh phúc định cư tại Mỹ, xin được nhập quốc tịch Mỹ. Cũng không sang đây để bắt chước ông Thân Bao Tư, người nước Sở, quỳ gối giữa sân Tòa Bạch Ốc, xin quý vị đem quân sang lần nữa giải phóng chúng tôi. Tôi sang đây chỉ trình bày một vấn đề liên quan tới lương tri của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Mỹ. Sau đó, tôi sẽ trở về quê hương tôi, sẽ vào tù nữa. Ngục tù đối với chúng tôi nó còn đơn giản hơn tự do, dân chủ đối với quý vị. Cách đây mấy năm, ông Gerald Ford, vị tổng thống bất hủ của lịch sử hiện đại Hoa Kỳ, nhìn cái quyền uy cuối cùng của nước Mỹ ở Việt Nam rơi vào tay cộng sản đã thản nhiên tuyên bố với nhân dân Mỹ, quân đội Mỹ, và thế giới rằng, lịch sử đã sang trang. Lịch sử thua trận ở Việt Nam của người Mỹ không hề biết thua trận đã sang trang, sang rất vội vàng. Mọi bí ẩn của nó, đời sau sẽ rỏ. Chúng tôi không phàn nàn gì cả. Một cô gái quê lên tỉnh gặp Tú Bà, Sở Khanh chỉ biết trách mình ngu ngơ, khờ khạo. Thế thôi. Lẽ phải luôn luôn nằm trong tay những kẻ táng tận lương tâm. Tôi chẳng có gì để hậm hực. Người Mỹ rút khỏi Việt Nam để lại rất nhiều cặn bã. Cộng sản nó bảo quý vị đưa chúng tôi trở về thời kỳ đồ đá. Nó bài trừ ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và tư tưởng của quý vị rất kỹ. Chiến dịch và chiến dịch. Việc của nó không ăn nhằm gì tới tôi. Cả những đứa trẻ con lai Mỹ đen, Mỹ trắng còn vất vưởng ở Sài Gòn, ngày đi ăn xin, lượm giấy vụn, đêm hộp nhi đồng nhận Hồ Chí Minh là Bác cũng không ăn nhằm gì tới tôi. Cái đáng nói, đối với chúng tôi, những người trực diện chống đối cộng sản không cần nhận quý vị là đồng minh, là những cái còng Made in USA mà khi cuốn gói khỏi Việt Nam, quý vị đã không quên đi tản.
Thưa quý vị,
Tôi xin phép quý vị để được nói đôi chút về sự liên hệ của chúng tôi với người Mỹ và những cái còng. Vâng, người Mỹ, chúng tôi, kẻ thù, còng khóa chỉ là những con dominos tội nghiệp. Lục ngũ phải dính với ngũ tứ, ngũ tứ phải dính với tứ tam vân vân. Cái chủ thuyết domino thật trứ danh. Nó là trò chơi của tư tưởng. Nó có luật giết bò, gài triệt, triệt buộc... Dĩ nhiên, nó có cả gian lận, chạy làng nữa. Chúng tôi vốn đôn hậu, hồn nhiên, ngây thơ và nồng nhiệt. Theo tiếng gọi tân biên cương và quyền sống con người trên trái đất của cố tổng thống Kennedy, chúng tôi lớn lên, phóng tầm mắt nhìn sang nước Mỹ như nhìn rõ hạnh phúc của dân tộc mình sau một trăm năm buồn tủi. Cái lý tưởng tự do, dân chủ của Hiệp chủng quốc đã hấp dẫn thế hệ chúng tôi, đã thúc dục chúng tôi móc trái tim dâng hiến sự nghiệp xây dựng tự do, dân chủ. Như những chiến sĩ Mỹ đã anh dũng đã hy sinh tại đây, chúng tôi không cần tiết kiệm xương máu. Cho tới phút này, hình ảnh người lính thủy Mỹ cuối năm 1954 vẫn là hình ảnh ngoại nhân đẹp nhất đối với chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn chính sách của nước Mỹ ở Việt Nam như đã nhìn lính thủy Mỹ thật thà, dễ thương xuất hiện trên vỉa hè Sài Gòn năm xưa. Bất hạnh cho chúng tôi là chính sách của quý vị đã không giống hình ảnh người lính thủy cuối năm 1954, càng khác xa chính sách của quý vị ở ngay nước Mỹ. Chúng tôi già nua trong nỗi thất vọng và những dâu biển của thời thế do quý vị tạo ra trên quê hương chúng tôi. Tôi vẫn để dành những giọt nước mắt khóc những người lính Mỹ bỏ xác tại Việt Nam. Hôm nay, tôi xin được khóc thương họ trước mặt quý vị, vì tôi biết quý vị đã quên họ. Nước mắt cho những con người chết cho lý tưởng giả dối và cho sự lừa gạt của con người trên trái đất. Nhưng quý vị, quý vị luôn luôn cao cả, luôn luôn là ngọn đuốc sáng biểu tượng luong tri của dân tộc Hoa Kỳ, luôn luôn là thứ quyền uy vô địch kể từ nhân loại có quyền uy.
Thưa quý vị,
Bây giờ, tôi xin trở lại chuyện những cái còng viện trợ Mỹ. Xin thưa với quý vị rằng, tháng năm nằm trong cachot của cộng sản, tôi chợt nhớ hai bàn tay thân hữu nắm chặt lấy nhau gắn bó tình nghĩa viện trợ Mỹ các nước trên thế giới. Cái «emblème» quý vị chọn lựa thật là thấm thía. Bàn tay của quý vị lớn, khỏe, quý vị bắt chặt, siết chặt thân hữu các nước nhỏ thì các nước nhỏ chỉ có trợn mắt, lè lưỡi mà thôi. Ý nghĩa thấm thía nữa là hai bàn tay trao và nhận viện trợ hôm nay sẽ là hai bàn tay còng và sẽ bị còng ngày mai. Ở Việt Nam, cộng sản chơi rất bẩn. Nó cứ còng chúng tôi bằng còng Mỹ. Nó hô hào tận diệt mọi tàn tích của đế quốc Mỹ nhưng nó đã «nuôi dưỡng» còng Mỹ. Tôi không hiểu tại sao kỹ nghệ và văn minh chế còng của cộng sản tối tân hơn của Mỹ mà nó lại suy tôn còng Mỹ quá đáng thế. Đó là vấn đề tôi phải bơi thuyền gỗ, lênh đênh trên mặt đại dương, đương đầu với bao nhiêu hiểm nguy để sang nước Mỹ phỏng vấn quý vị, sau nhiều năm luân lạc khắp các đề lao, các trại tập trung. Tôi phải bán cái nhẫn kỷ niệm cuối cùng mới đủ tiền mua vé xuống thuyền trốn khỏi Việt Nam. Như những thuyền nhân bất hạnh khác, tôi bị hải tặc hãm hiếp bẩy lần, bị đói khát mười ngày ròng rã và, sau hết, trầy bả vai, nhỏ máu mắt mới vô được nước Mỹ thiên đường. Để lên Thiên Đường, nước Mỹ chỉ cần làm sáng danh Chúa. Để vào nước Mỹ, quý vị linh mục cần có thân nhân ruột thịt ở Mỹ, cần làm ở RMK, Pacific... hay đi lính! Tôi vô thiên đường Mỹ nhờ dậy học dưới chế độ quý vị bảo trợ. Nhưng tôi sẽ trở về quê hương đau khổ của tôi như Lưu Thần, Nguyễn Triệu đã trở về quê hương trần thế lầm than sau một lần dại dột cất bước lên Thiên Thai. Người trên Thiên Thai trái tim bằng gỗ, không biết rung động, không biết yêu, không biết xấu hổ. Tôi hy vọng quý vị sẽ chẳng làm tôi tiếc rẻ cái trinh tiết còn lại đã bị ô uế trên mặt biển khi trở lại Việt Nam.
Thưa quý vị,
Chúng tôi, khi bị còng dính chùm với nhau, đã bàn cãi sôi nổi về những biểu quyết của quý vị về ngân sách, tài khoản viện trợ cho Việt Nam. Bạn tôi bảo, quý vị toàn là những người xuất thân ở Harvard, ở Yale, ở Cornell, ở Dartmouth..., những nơi quy tụ tinh hoa của trí thức, những nơi mà trí tuệ nước Mỹ sẽ tỏa khắp năm châu mở đường, khai lối tự do, dân chủ cho loài người. Những người cao cả như quý vị không thể không bao giờ biểu quyết chấp thuận viện trợ dùi cui và còng cho bọn thống trị độc tài, phát xít bản xứ. Bạn tôi bảo, quý vị chỉ thuận cho chính phủ Mỹ viện trợ thuốc DDT giết muỗi, thuốc khai quang giết cây, hại rừng, tàn sát môi sinh, bom đạn giết người, lựu đạn mửa, khói cay đàn áp tuổi trẻ xuống đường học tập dân chủ và chính sách tham nhũng riêng cho lũ tướng tá thống trị bù nhìn vơ vét mồ hôi của dân, xương máu của lính. Không bao giờ quý vị chấp thuận viện trợ dùi cui và còng. Trí tuệ của nước Mỹ không bao giờ là dùi cui và còng. Bạn tôi bảo thế. Và chúng tôi hoàn toàn đồng ý. Thế nhưng, tại sao dùi cui và còng Mỹ lại ngổn ngang khắp đất nước Việt Nam? Chẳng lẽ chính phủ Mỹ dám qua mặt Quốc Hội? Những cái dùi cui Mỹ viện trợ đã giáng xuống nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam ra sao, quý vị đã đọc trên bảo chí Mỹ, xem trên vô tuyến truyền hình Mỹ. Còn những cái còng Mỹ viện trợ thì để còng tay cộng sản và còng luôn cả tay những người chống cộng sản, đồng thời, cũng chống luôn tập đoàn thống trị quân phiệt ngu dốt và ăn cắp. Nếu từ trước tới nay, quý vị chưa hiểu bí mật của còng Mỹ thì, bây giờ, quý vị đã hiểu tại sao những người trí thức chân chính bản xứ không ưa người Mỹ.
Thưa quý vị,
Có hàng ngàn vấn đề cần đặt ra để thắp sáng thêm lương trị của dân tộc Mỹ nhưng, rất tiếc, không thuộc phạm vi bài diễn văn của tôi hôm nay. Tôi sang đây không làm công việc than vãn, trách móc hay cầu cạnh. Lịch sử, như ông Ford đã nói, đã sang trang. Người Mỹ không thích lần dở quá khứ, không thích phục hồi dĩ vãng. Những kẻ còn ôm cái ảo tưởng bám chân người Mỹ về giải phóng quê hương, thâu tóm lại quyền bính cũ là những kẻ xuẩn ngốc đang chiến đấu với hư mộng. Chúng tôi khẳng định với quý vị rằng chúng tôi không cần người Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần đã đủ chua sót. Hãy để chúng tôi yên lặng ngồi liếm vết thương và làm lại quê hương chúng tôi. Lịch sử đã sang trang, thật sự đã sang trang rồi. Hiện tại là khởi sự những trang lịch sử mới của dân tộc chúng tôi chiến đấu cô đơn với cộng sản, chiến đấu bằng trái tim không bằng súng đạn Hoa Kỳ. Có một thứ quyền trên cả nhân quyền. Đó là quyền hy vọng. Chúng tôi hy vọng sẽ loại bỏ cộng sản như tổ tiên chúng tôi đã loại bỏ quân thù truyền kiếp. Nhưng, trước khi dấn thân vào sự quyết liệt, tôi tưởng nên gỡ nốt cái móc làm sự sang trang của lịch sử hiện đại Hoa Kỳ thiếu xuông xẻ. Vâng, tôi xin tiếp tục đề cập cái còng Mỹ. Còng Mỹ, nói rõ rệt, còng chế tạo tại Mỹ, do Mỹ viện trợ cùng với bột DDT, sữa hết chất béo, phó mát thừa, quần áo cũ, thuốc khai quang, bom đạn và cố vấn lãnh đạo đàn áp, đã còng tay còng chân những người Việt Nam đối lập các chế độ ở nước tôi do quý vị nặn ra rồi đạp đổ. Những người Việt Nam bị còng Mỹ siết chặt đều là những người nghe răm rắp tiếng thúc dục tranh đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ vĩ đại của người Mỹ Kennedy. Còng Mỹ được trao cho đầy tớ Mỹ để nó phản bội lý tưởng của vĩ nhân Mỹ. Rốt cuộc, tình nghĩa Mỹ trao gửi Việt Nam đã bị còng luôn! Nghĩ cũng buồn.
Thưa quý vị,
Càng buồn hơn, còng Mỹ đang được cộng sản trao cho cái sứ mạng còng tay còng chân những người Việt Nam chống cộng sản một mình, những người Việt Nam còn say mê lý tưởng tự do, dân chủ, còn nhìn ông Kennedy như ngọn đuốc soi đường. Có lẽ, quý vị sẽ phải mở cuộc điều tra tường tận để có con số còng Mỹ chính xác viện trợ cho Việt Nam hai mươi năm. Nhiều người quá khích cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam, để lại toàn bộ còng, khóa, dùi cui là có mục đích xấu xa. Tôi không tin thế. Thật lòng, tôi không tin thế. Luôn luôn, tôi nhìn dân tộc Mỹ qua các văn hào Mỹ, các vĩ nhân Mỹ. Tâm hồn đích thực của dân tộc Mỹ là tâm hồn Lincoln. Ngoài tâm hồn ấy là chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ. Tôi yêu dân tộc Mỹ, người Mỹ và thù ghét chính sách Mỹ ở nước tôi như tôi thù ghét còng Mỹ đã siết chặt chân tay tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi. Còng Mỹ đang siết chặt chân tay đồng bào tôi và chẳng biết đến ngày nào nó mới chịu nghỉ mệt. Dân tộc Mỹ, và quý vị, chắc chắn, không bao giờ muốn dân tộc Việt Nam bị cộng sản còng chân tay, tống vào tù ngục bằng còng Mỹ. Bởi thế, thân gái dặm trường, tôi phải chịu nhục nhã trên đường bôn tẩu, sang tận đây để tường trình quý vị những cái còng viện trợ Mỹ còn ngổn ngang khắp các nhà tù, đề lao, trại tập trung của cộng sản. Tôi không dám làm công việc tra vấn lương tâm quý vị vì tôi hiểu lịch sử sang trang vội quá nên quý vị cũng quên nhanh quá nhiều chuyện quý vị chưa kịp nhớ. Vậy tôi sang đây nhắc quý vị rằng, quý vị cần phải thu hồi toàn bộ còng của quý vị về Mỹ. Thu hồi bằng cách nào, đó là nhiệm vụ, là bổn phận, là lương tâm của quý vị, nằm trong chiến thuật, chiến lược mà tôi không nên biết, không nên hỏi. Người Mỹ đã lên cung trắng đem đá xuống trần gian, người Mỹ sẽ sang Việt Nam mang hết còng Mỹ về nước. Chúng tôi tin tưởng quý vị thừa khả năng.
Thưa quý vị,
Khi những cái còng Mỹ viện trợ Việt Nam còn do cộng sản dùng để siết chân tay những người Việt Nam chống cộng sản cô đơn, những người Việt Nam chân chính quả cảm quyết thắp sáng ngọn đuốc lý tưởng tự do, dân chủ thì lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ hai mươi năm can thiệp ở Việt Nam chưa sang trang. Khi ấy, Quốc Hội Mỹ nên đeo một chiếc còng vào cổ, tay cầm bó đuốc của Nữ Thần Tự Do và hoán chuyển thế đứng cho nữ thần yêu dấu. Và, chính phủ Mỹ cũng nên treo một chiếc còng lớn lên Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoa Kỳ bỏ mình vì lý tưởng tự do, dân chủ tại Việt Nam. Bởi vì, còng Mỹ viện trợ còn hoạt động tại các ngục tù Việt Nam là người Mỹ còn có mặt tại Việt Nam và vết ô nhục phản bội còn hằn trên lương tâm quý vị, hằn trên lương tri dân tộc Hoa Kỳ; còn là lưỡi lê dơ bẩn cắm xuống nấm mồ các vĩ nhân Mỹ, đâm vào trái tim những người lính anh hùng Mỹ đã chiến đấu, đã đổ mồ hôi và máu, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho ngọn cờ dân chủ và cho hạnh phục loại người...»
Có tiếng vỗ tay và tiếng chìa khóa tra vào ổ. Cánh cửa sắt mở rộng. Nga ngừng đọc diễn văn. Bài diễn văn chưa có đoạn kết. Bài diễn văn dang dở. Quốc Hội Mỹ, bây giờ, chỉ là cái cachot ẩm mốc, hôi hám dưới ánh sáng hắt hiu của ngọn đèn tù vàng khè có ba nữ tù nhân bị còng dính chùm ngồi dựa lưng vào tường và xô cứt. Và nghị sĩ Mỹ là mấy tên cái ngục cộng sản đang đứng trước mặt chúng tôi. Trí tưởng tượng của Nga đã vượt Thái Bình Dương. Rồi nó trở lại như Nga đã nói, chị sang Mỹ đọc xong bài diễn văn là trở về quê hương ngay. Thiên thai của Nga, của dân tộc Việt Nam ở tổ quốc Việt Nam ngàn năm khốn khổ, không phải ở Hoa Kỳ.
- Ai vừa đọc diễn văn trước Quốc Hội Mỹ? Hay lắm, hay lắm. Nằm trong tù mà dám vọng tưởng viễn xứ.
Người công an vỗ tay một mình. Ông ta không phải là thứ cai ngục mở cửa mà chính là người chấp pháp đã ký lệnh tống chúng tôi vào cachot.
- Ai can đảm thế? Ông ta hỏi.
- Tôi. Nga đáp. Chẳng can đảm gì cả, tôi nói chuyện tiếu lâm cho đỡ buồn.
- Tôi đứng nghe từ lâu, biết hết. Chị vẫn mơ mộng Mỹ giúp các chị, không thành khẩn nhận ra sự thật. Tất cả những kẻ theo Mỹ đều bị còng bằng còng Mỹ. Chúng tôi không chế tạo còng.
- Tôi không theo Mỹ.
- Nhưng ảnh hưởng tư tưởng Mỹ.
- Tôi không ảnh hưởng ngoại bang.
- Tất cả đứng dậy.
Tuần lễ này, Nhi ở giữa hai đứa tôi. Nga và tôi đứng dậy theo lệnh của người công an chấp pháp. Nhưng chúng tôi đã không thể đứng nổi vì Nhi vẫn ngồi, lưng dựa vào tường. Tôi đập vai Nhi. Chị không nhúc nhích. Tôi chợt nhớ mới hôm nào, vừa đây, Nhi nói đến cái chết và bầy tỏ sự thèm muốn nghe bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Mỹ của Nga. Tự nhiên, tôi hoảng sợ. Và tôi khóc rống.
- Cái gì? Người công an hỏi.
- Bạn tôi chết rồi! Tôi đáp trong tiếng nức nở. Nga và tôi cùng ngồi xuống và cùng đưa tay không bị còng của mình ôm chặt lấy Nhi. Người ta rọi đèn pin. Người ta bước gần chỗ chúng tôi. Nhờ ánh sáng của đèn pin, tôi nhìn rõ khuôn mặt héo hắt, tàn tạ của Nhi. Nàng đã chết. Nàng đã chết ở đoạn nào đó của bài diễn văn ứng khẩu của Nga. Hẳn là Nhi phải xúc động đến nghẹt thở rồi tắt thở. Người ta mở còng cho chúng tôi, khiêng Nhi ra khỏi cachot. Cánh cửa tù đóng lại. Cô giáo triết học Trần Thu Nhi đã chết trong khi tay chân bị cộng sản siết còng của Mỹ. Vào giờ này, Quốc Hội Mỹ đang lo đối phó với tình hình Nicaragua. Có lẽ, lịch sử Mỹ sắp sang trang lần nữa.
- Chị Nga ạ, chị đã đọc điếu văn trước xác chết của chị Nhi. Tôi nói.
- Điếu văn trước xác chết hàng triệu người Việt Nam. Nga nói. Chị sẽ soạn lại bài diễn văn này, sẽ thêm đoạn Nhi chết mà tay chân còn đeo còng Mỹ trong ngục tù cộng sản.
- Bài diễn văn sẽ dài lắm.
- Dài bằng một đời tù tội của chúng ta. Lau nước mất đi, em nhỏ. Chúng ta sắp chia tay. Hãy can đảm sống, cố sống, bằng cách nào cũng phải sống, bằng giá nào cũng phải sống để viết diễn văn. Đừng hủy hoại cuộc sống, đừng sống hèn mọn như lũ giá áo túi cơm tình nguyện vào tù rồi về phán xét lảm nhảm.
Đúng như Nga tiên đoán, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, tôi được dẫn về cachot C1. Còn Nga đi đâu, tôi không biết. Chúng tôi bị còng dính chùm vừa chẵn năm mươi hai ngày. Nhi bỏ cuộc chơi vì bệnh hoạn. Mai này, tôi sẽ tìm nấm mồ của Nhi nơi nào nhỉ? Để đeo trên bia mộ của nàng một cái còng Mỹ.
CHƯƠNG VI
Tôi ăn một cái Tết trong cachot đề lao Gia Định. Nữ hoàng cachot trở về với thần dân vương quốc C1 rực rỡ hơn bao giờ hết. Tù nhận được thông tin mau lẹ. Họ biết hết tên ba chúng tôi, biết cực hình chúng tôi phải chịu đựng và biết Nhi chết. Nhưng họ mù tịt bài điếu văn mà Nga đọc cạnh xác Nhi. Tôi không mấy quan tâm đến sự hiểu biết của họ về chúng tôi. Sau vài hôm duỗi chân, vươn tay thoải mái, tôi chợt nhớ người bạn chuột nhắt thân mến của tôi. Tôi lục tung bị hành lý. Không thấy chú nhỏ. Chắc chú ấy đã chết đói hoặc đã tìm đường về bầy rồi. Tôi bỗng thấy trống trải và buồn bã vô cùng. Bây giờ là tháng 6 năm 1977, ông Đinh Xuân Cầu và các tử tù vụ Vinh Sơn bị nhốt hết ở khu cachot C1. Đêm đêm, nghe Ali Hùng thổi sáo, lòng tôi nhàu nát như tàu lá uá. Tiếng sáo của kẻ sắp chết, của kẻ chờ đợi từng giây phút người ta bắt há mồm ra, tống trái chanh vào, dán bằng keo kín miệng, buộc chặt mắt và dẫn đi bắn giữa đêm khuya, sao mà não nuột! Nó gợi tưởng sự tuyệt vọng. Nó hiện ra một biên giới tối tăm của tha ma, mộ chí. Tôi không thích nghe tiếng sáo của tử tù Ali Hùng mà vẫn phải nghe ròng rã mấy tháng.
Ròng rã mấy tháng, người ta bắt tôi tự khai năm mươi hai ngày còng dính chùm, bài diễn văn của Nga và cái chết của Nhi. Bị còng dính chùm sướng hơn tự khai nhiều. Tôi tự hỏi, với sự đọa đầy mà chúng tôi phải chịu đựng, thì sự tình nguyện vào các trại tập trung, tự khai tập thể một lần, sống phơi phới dưới nắng trời, đắm mình giữa suối, lao động vớ vẩn, cười nói tíu tít, quà cáp ê hề, thấm tháp gì đâu mà người ta cứ lên mặt tự hào! Người ta cứ tưởng người ta gánh hết thương đau cho dân tộc, người ta được độc quyền yêu nước, thao túng lịch sử, làm chứng nhân thời đại bằng ngọn gió buốt dao cau miền Bắc! Và, ngu xuẩn hơn cả, người ta đòi kết án thiên hạ, phán xét thiên hạ. Những con mối chỉ có thể bay trước cơn mưa. Sau đó, chúng nó làm mồi cho thạch thùng và nát bấy dưới cống rãnh, cạnh thùng rác. Nỗi thống khổ không bao giờ là thành tích để khoe khoang. Nỗi thống khổ vàng mười mới là nỗi thống khổ làm con người khôn lớn, cao thượng và khoan dung. Tôi học điều đó ở Nga, ở Nhi, những người tù chẳng khi nào thèm khát chuyện thăm nuôi, chẳng khi nào mong ước được kẻ thù tha tội.
Cuối năm 1977, người ta đưa tôi sang khám Chí Hòa va nhốt luôn ở cachot khu FG. Địa ngục được mô tả trong kinh giới rắn là có chín tầng. Nếu nhà tù đem ví với địa ngục thì các trại tập trung của cộng sản mới chỉ là tầng đầu. Nhà văn Soljenitsyne đã thừa nhận thế. Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh là tầng thứ hai. Đề lao Gia Định, tầng thứ ba. Đề lao Đại Lợi, tầng thứ tư. Khu ED, khám Chí Hòa, tầng thứ năm; khu AH, tầng thứ sáu; khu BC, tầng thứ bẩy; khu FG, tầng thứ tám và cachots khu FG, tầng thứ chín, cái đáy địa ngục thăm thẳm mịt mùng, đủ khả năng soi mòn thịt xương trong khoảnh khắc. Tôi ở cachot khu FG, ở dưới đáy địa ngục. Những cái chuồng cọp ngoài Côn Đảo nghĩa lý gì. Thế mà có dạo, dưới những con mắt thiên vị, những con mắt lé, mắt chột, mắt đóng màng thành kiến, báo chí Mỹ đã bi thảm hóa những cái chuồng cọp Côn Sơn như là đáy khổ địa ngục, toa rập với bọn mù lòa Ủy ban Cải thiện chế độ lao tù! Những con mắt ấy chưa hề biết cachot FG hôm nay và chẳng bao giờ dám bén mảng tới để nhìn cachot FG dầu chỉ nhìn bằng mắt lé, mắt chột mà lên tiếng giùm.
Cachots FG nằm trên tầng chót của cái lô bát quái. Đó là những cái hộp nhỏ trong cái phòng giam y hệt những cái tủ bầy biện trong căn nhà. Khác chút thôi, là những cái hộp giam người kê sát nhau, đối diện nhau bằng một hành lang hẹp. Nên gọi cachots FG là cachettes mới đúng. Ban ngày tối mù như ban đêm. Thời gian ở đây là bóng tối âm u. Không gian là cõi tanh nồng, hôi hám. Buổi trưa nắng rực ngoài trời, dơ tay sát mặt, chẳng thể nào nhìn rõ tay mình. Tù nhân bị đẩy vào cachots FG phải tập cách sinh hoạt giống người mù. Không có cầu tiêu và vòi nước. Một cái xô thiếc đặt ở góc phòng chiều ngang tám mươi phân, chiều dài hai thước. Tù nhân tiêu, tiểu vào đó, cuối tuần xách nước xuống sân khám, đổ phân, rửa xô và tắm gội. Cũng như An Ninh Nội Chính, ở đề lao Gia Định, mọi thứ giấy bị cấm mang vào. Tù nhân đành xé quần áo làm giẻ chùi đít sau khi đại tiện. Người ta không phát chiếu, tù nhân phải nằm trên cái nền mà phân để đống lớp dầy cả gang tay, khô cứng qua các chế độ. Chưa hề một lần quét dọn, rửa lau nào cho những cachots thượng thặng này kể từ khi người ta khánh thành khám Chí Hòa. Nhiều cuộc cách mạng đã xảy ra ở Sài Gòn, Chí Hòa không biết dâu biển thời thế. Mỗi cách mạng là mỗi đông tù, là mỗi nhiều thành phần chống phá cách mạng nên Chí Hòa chỉ được bổ xung những hình phạt khe khắt nghiệt ngã. Tù nhân thèm từng sợi gió, từng tia nắng. Thèm cả đến ánh điện vàng hiu hắt.
Người ta nhốt tử tù mọi thành phần ở cachots FG và người ta giao nhiệm vụ phát cơm ăn, nước uống cho bọn trật tự đầu trâu mặt ngựa. Bọn này vốn là công an can đủ các tội hình sự, có án tích rõ rệt. Công an cộng thêm vô lại, chúng đã hành hạ, bóc lột chúng tôi không nương tay. Một đồng bạc một cây nến nhỏ và dài bằng chiếc bút chì thêm que diêm mồi cháy. Linh mục Nghị, tử tù vụ Vinh Sơn sang Chí Hòa trước tôi hai tháng, đã đốt mấy chục cây nến và đã mù thật sự. Ali Hùng hết hơi, không còn huýt sáo buồn bã nữa. Người ta cho chúng tôi ăn uống theo quy chế kỹ luật, nghĩa là một tháng chín kí lô gạo với thức ăn rau muống nấu canh muối. Chúng tôi thường nói chuyện nửa đêm. Lúc ấy, tám cửa ngục nặng hàng tấn đã đóng chặt, khóa kỹ, không một điệp viên tài ba nào trốn nổi dù là Hubert hay James Bond. Và, lúc ấy, dầu tù nhân biết tù nhân khác chết rũ, có khan cổ họng báo cáo cán bộ thì tiếng hô hoán cũng chỉ chìm vào sự hiu quạnh hãi hùng của địa ngục Chí Hòa bao la, năm vòng đai công an võ trang bảo vệ. Khi đã quen với bóng tối và thán khí, tôi tham dự vào các cuộc «tù đàm» trong đêm đen. Và tôi biết tôi cùng chung số phận giam nhốt với linh mục Nguyễn văn Nghị, Ali Hùng người nhái, Nguyễn Việt Hưng, thủ lãnh Phục Quốc vân vân... Đối diện cachot của tôi là Chung, tên cướp phi thường, kẻ dám vào Ngân Hàng thành phố hốt bạc, đã chống trả công an, đã phóng xe hơi như bay trên đường Hàm Nghi, đã bị bắt trong chiếc xe đang chạy và lật ngửa.
Tôi đã gặp mặt Chung tại cachot C2 đề lao Gia Định. Nó bị siết chặt đùi bằng giây điện nhỏ. Sau ba tháng giam giữ để thẩm vấn, người ta đưa nó ra tòa. Giây điện lằn vào thịt đùi nó, sâu cả đốt ngón tay cùng nút thắt. Người ta phải cắt phần giây bên ngoài. Cuộc đời nó bị đánh dấu bởi hai vòng giây điện lún trong da thịt. Nó đã bị kết án tử hình. Mạng sống của nó còn chờ đợi sự ân xá của Chủ Tịch Nhà Nước. Nó sắp ra tòa lần chót. Hai tuần lễ, khi tôi nhận nó ở cạnh cachot tôi bên đề lao Gia Định, Chung đi hầu tòa phiên chung thẩm. Buổi chiều, về phòng, nó hân hoan báo tin vui.
- Được tha chết hả, Chung? Tôi hỏi.
- Em xin được ve dầu cù là lớn, chị ạ! Nó đáp. Chúng vẫn muốn giết em. Lần này dứt khoát em bị chết rồi. Em cầu nguyện chúng nó bắn em đêm nay.
- Dầu cù là giúp gì, Chung?
- Em hít hà cho đỡ hôi hám. Chị chịu đựng giỏi thật. Chị đúng là nữ hoàng cachot. Nếu em không bị tử hình, em sẽ cố gắng chịu đựng. Sự sống là ước mơ, chị nhỉ? Còn được ước mơ, ta còn ham sống và ta chịu đựng hết. Em đã tàn tạ ước mơ nên mỗi phút em sống là mỗi bản án tử hình. Em bị xử tử hàng triệu lần. Chúng lên án tử hình mà không thèm bắn bỏ luôn. Chúng nó thích thấy em dẫy dụa trước cái chết, thích xử tử em cả triệu lần. Em không sợ chết mà sợ sống trong cachot FG. Em lại sợ cả tự tử, chị ạ! Chị nhớ giùm em nhé, kẻ không sợ chết nhưng rất sợ sống ở cachot FG khám Chí Hòa.
Đâu chỉ riêng Chung sợ sống. Tất cả tử tù của cộng sản đều sợ sống. Linh mục Nguyễn Văn Nghị bị kết án tử hình, bị đày đọa ở cachot FG đến mù lòa mà vẫn chưa được chết. Một lần đi tắm, tôi gặp Ali Hùng người nhái chỉ còn là bộ xương cách tri phơi nắng, tay còng xích vào chân song sắt dưới hành lang khu tập thể. Những kẻ không sợ chết, những kẻ chọc trời khuấy nước, những kẻ đã có án tử hình, đều sợ sống trong cachot FG. Tại sao người ta cứ bắt người muốn chết phải sống? Ai hiểu nổi từng phút chết của con người sợ sống. Thế giới còn u mê trong cái đêm đen như những đêm đen cachots FG khám Chí Hòa. Hình như, đối với nhân loại nhởn nhơ, chuyện người chết sợ sống ở cachots FG chỉ là tiểu thuyết giả tưởng. Nhưng, đối với người viết tiểu thuyết thì có phần khác, là y đã thiếu khả năng, thiếu ngôn ngữ để diễn tả cachots FG, người bị nhốt trong đó, cảm giác đầy đọa, ý nghĩa của từng con người, sự chịu đựng, niềm hy vọng, nỗi mơ ước, dù y đã có lần trọ ở đây như một thứ khách thượng hạng.
Một cái gì đó cơ hồ điềm báo trước sự chết, sự giải thoát vĩnh cửu của Chung. Nửa đêm cuối năm, nó gọi tôi dậy đứng nghe nó nói chuyện:
- Chị Lan ơi, chị nghĩ gì về thằng tướng cướp?
- Tôi không nghĩ gì cả.
- Thật chứ, chị?
- Tôi không thích phán xét những người cùng cảnh ngộ.
- Cám ơn chị. Em mong ngày nào đó, chị trở về đời sống, sẽ nhắc tới em, thằng tướng cướp chuyên đánh cướp ngân hàng mà mẹ nó vẫn bán thuốc lá ở vỉa hè. Thế thôi, chị nhé!
- Tại sao vậy?
- Vì nó cướp tiền của kẻ cướp tiền của dân, nó cướp lại và phát cho dân.
- Tôi sẽ nhớ. Tôi phải nhớ.
- Có kẻ thích rắc truyền đơn, có kẻ lại thích cướp tiền. Em sợ sống quá rồi. Chắc chắn, em nên can đảm một tí.
Tôi không biết an ủi Chung ra sao. Làm sao an ủi được một người sắp chết? Nó gọi tôi dậy chỉ để nghe có thế. Rồi nó đánh thức linh mục Nghị.
- Cha ơi, con vừa nằm mơ thấy được đem ra bãi bắn. Xin cha rửa tội giúp con. Con chưa rửa tội để lên Thiên Đàng, nay con rửa tội để xuống Địa Ngục. Con một đời lương thiện, thưa cha.
- Mai hãy tính.
- Ngay bây giờ đi cha. Cha phiên phiến giùm. Cha sẽ không còn được rửa tội cho ai, ngoài con.
Linh mục Nghị chiều ý Chung. Ngài đọc tiếng la tinh, nhân danh Chúa, ban cho Chung những bí tích trước giờ lâm chung. Bây giờ, chỉ cần một que diêm ai bật lên, mọi người sẽ tưởng đó là ánh sáng của thiên thần. Rất tiếc, đêm cachot FG tối mò như ngày cachot FG. Và Chúa khó lòng vô đây vì những năm vòng đai công an võ trang bảo vệ và tám cửa ngục vĩ đại kín mít, khóa chặt. Nhưng tử tù Chung tin Chúa đã đến, Chúa đang ban bí tích cho nó từ một cachot cuối dẫy. Mười giờ sáng hôm sau, bọn trật tự rọi đèn pin vào cachot nhốt Chung, dục nó dậy lấy cơm. Không nghe tiếng Chung trả lời. Ngọn đèn rọi dưới chân cửa sắt. Tôi nhìn qua ô gió thấy hai dòng máu đen đặc. Bọn trật tự bỏ chạy. Lát sau, cai ngục kéo nhau lên. Cửa cachot mở tung. Người ta lôi xác Chung ra.
- Nó đập ve dầu cù là, dùng miểng ve cắt hai mạch máu! Ai cho nó ve dầu?
Cai ngục la lối một lát rồi sai trật tự khiêng xác Chung xuống dưới. Tôi hiểu, Chung đã «can đảm một tí». Nó can đảm một tí hay nó hết can đảm chờ chết thì cũng vậy. Chung đã nói dối cha Nghị. Tôi ứa nước mắt thương sót nó. Giọt nước mắt cho Chung, cho con người không sợ chết, chỉ sợ sống lây lất ở cachot FG. Cachot FG nhốt Chung không hề quét rửa, tẩy uế. Vài hôm sau, người ta tống một phần tử nguy hiểm mới vô. Sinh hoạt bình thường, sinh hoạt trong bóng tối. Nghĩ đến cái chết của Chung, cái cachot thấm máu nó xuống nền phân khô đã thấm máu nhiều người. Trước khi chết, Chung cho tôi một bài học: Sự sống là ước mơ, còn được ước mơ ta còn ham sống và ta chịu đựng hết nỗi thống khổ đòi đoạn. Hôm nào, chị Nga dặn tôi: bằng cách nào cũng phải sống, bằng giá nào cũng phải sống để viết diễn văn. Chúng tôi còn nợ cô giáo triết học Trần Thu Nhi «Bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Mỹ», bài diễn văn sẽ dài bằng một đời tù ngục của chúng tôi. Bài diễn văn khỏi sự bên xô cứt, dang dở giữa cái chết tay chân vẫn đeo còng là một trong ước mơ của tôi. Nó sẽ được tiếp nối ở cachot khu FG khám Chí Hòa và, có thể, sẽ kết thúc ở đề lao hay tập trung thứ 10.756! Đừng ngạc nhiên về con số này, Riêng thành phố mang tên Người giải phóng nô lệ Hồ Chí Minh đã trên 100T. Đề lao Gia Định bí số T20, Chí Hòa T30, Tế Bần T50. Mẫu tự Việt Nam có 23 chữ, đều bị đem đặt tên các trại tập trung. T chưa đủ, thêm TH. Riêng Z là chữ lạ đã có 30. Rồi Z30A đến Z30Y! Tôi sợ con số 10.754 hãy còn quá khiêm tốn. Bởi vì, ở thành phố Hồ Chí Minh, người ta còn nhốt tù trong các bin đinh Đại Nam, Đại Lợi...
Và nếu ngang qua ngôi biệt thự vắng vẻ nào, thấy cái biển nền đỏ chữ vàng «Không có gì quý hơn độc lập, tự do», hãy nghĩ ngay đó là một cái nhà tù. Chẳng hạn biệt thự số 4 đường Phan Đang Lưu, quận BìnhThạnh.
Nghĩ tới bài diễn văn, tôi lại nhớ chị Nga. Lúc này chị ở đâu? Trong một cái cachot tương tự cachot của tôi hay còn ghê gớm hơn, thảm não hơn? Giá mà được còng chung với chị hết một đời tù ngục, tôi sẽ thấy cái cachot tồi tệ này sẽ chỉ giống cái miếng sân đời làm phong phú sự hồi tưởng mai sau. Cachot FG, tôi không thể quên nó. Với tay lên, tôi đụng cái trần đục xi măng cốt sắt. Quơ tay bên phải đụng tường, bên trái đụng tường. Nó là cái quan tài nhốt người còn sống. Nó là vết ô nhục của loài người. Nó là dấu ấn ghê tởm hằn lên lá cờ dân chủ đang phần phật bay ở nửa trái đất bên kia. Nó là mụn nhọt đặt mủ trong trái tim những kẻ buôn bán nhân quyền. Nó tối tăm, cô quạnh hơn cả địa ngục của Diêm Vương, của Satan. Nó nhốt sắt thép, sắt thép hoen rỉ, hao mòn. Nhưng nó đã nhốt con người. Con người trở về thời đại ở hang đá. Con người mò mẫm, ăn, uống, ngủ, ỉa, đái trong cái quan tài kín mít. Bọn trật tự mang cơm cho chúng tôi ăn phải soi đèn nhận lối. Chúng tôi nuốt cơm, nuốt bóng tối. Người ta đã kiểm soát được khí trời, ở đây.
Tự hào biết bao nhiêu, chúng tôi vẫn sống. Tôi vẫn sống. Tướng cướp tử tù Chung đã để lại một di chúc ngắn cho tôi: Sự sống là ước mơ. Tôi vẫn sống vì tôi vẫn ước mơ. Ước mơ trong thống khổ. Ước mơ bên cạnh xô cứt. Ước mơ với còng Mỹ toòng teng.
Mỗi tuần một lần, tôi được xuống sân tù tắm gội và đổ phân, rửa xô. Tôi có dịp nhìn cái lò bát quái Chí Hòa, cái lò giết dần giết mòn mười ngàn người khốn nạn. Hãy kể con người, không kể tội trạng. Thời đại của chúng ta ai cũng có tội và chẳng một ai được phép tự cho mình phân biệt tội trạng. Mỗi lần từ bóng tối ra ánh sáng, mắt tôi hoa lên muốn ngất xỉu. Lên và xuống hàng trăm bậc thang, chân tôi rã rời. Tôi đã cố gắng phấn đấu bằng sức khỏe mỏng manh của mình để khỏi ngã gục. Nói cho đúng, tôi đã phấn đấu bằng ước mơ định nghĩa làm người, trước hết, tìm hiểu tại sao con người và ước mơ của nó có thể tồn tại trong cachot FG và, những cachots tương tự. Tháng 5 năm 1978, sau 240 ngày sống mòn mỏi trong chiếc quan tài bê tông cốt sắt, ăn một cái Tết lổn nhổn vài miếng thịt mỡ, người ta lại đưa tôi về đề lao Gia Định, cachot C1. Tám tháng xa cách, C1 thay đổi nhiều. Khách hàng cũ của các phòng tập thể đã bị đẩy hết tới các trại cải tạo. Khách hàng mới của cachots C1, bây giờ, là quý vị Đại đức, Thượng tọa chùa Ấn Quang. Láng giềng của tôi, một bên là Thượng tọa Thích Quảng Độ, một bên là tiến sĩ Hoàng Mạnh Hùng. Tấc cả đều xa lạ đối với tôi. Họ không hề biết nữ hoàng cachot Ngô Kim Lan. Họ nhìn tôi sót sa giùm thân con gái phải vào cachot. Trở về Gia Định, được thấy ánh sáng mặt trời, thấy loài người dù loài người trong cũi - tôi hiểu tôi không thể chết dễ dàng. Nhưng mắt tôi đã lờ mờ và sức khỏe sa sút thậm tệ. Cởi quần áo lúc tắm gội, tôi bỗng tội nghiệp cái hình hài tôi. Thêm ba tháng nữa thôi, nếu còn ở cachot FG, chắc chắn, tôi sẽ chết thảm. Nhưng tôi lại thèm ở thêm ba tháng nữa, để xem sức chịu đựng của tôi tới mức nào.
Người ta chưa tha tôi. Nhiều tháng ngày bị lãng quên, người ta gọi tôi đi tự khai từ đầu. Người ta muốn truy cái nguồn mà các tổ chức tuôn ra mỗi ngày một đông. Đến nỗi, nhà tù thành phố chặt cứng, hết chỗ giam giữ. Cái đau nhất của tôi là bị kết tội làm tay sai cho đế quốc Mỹ! Tự khai của tôi như tôi đã tự khai, chỉ dài thêm chứ không khác đi. Tôi có dịp viết 240 ngày trong quan tài. Người ta thản nhiên hỏi tôi cảm thấy ra sao! Tôi cảm thấy hình phạt của thù hận và sự chịu đựng hình phạt ấy... Rốt cuộc, tôi nói, sự chịu đựng sẽ chiến thắng hình phạt. Kết quả của sự phát biểu cảm tưởng rất chân thành của tôi là tôi không được viết thư về gia đình báo tin tôi còn sống và bị còng chân lưu lạc khắp các cachots C1, C2, B và A. Hãy hình tưởng một người con gái mảnh mai, chân xích tay còng, lang thang qua các cachots của các nhà tù danh tiếng của thành phố Hồ Chí Minh 1390 ngày đêm đói khát, rã rượi thể xác, mệt nhoài tâm hồn! Hãy hình tưởng 52 đêm của ba người con gái còng dính chùm trong một cachot hôi hám! Hãy hình tưởng 240 ngày đêm, người con gái mảnh mai nằm trong cái quan tài cachot FG khám Chí Hòa! Hãy hình tưởng tàm tạm thế thôi, đã đủ suy nghĩ cho những kẻ hò hét chiến đấu phục hồi dĩ vãng. Hàng triệu công dân Việt Nam đang là cô gái mảnh mai ấy. Và chẳng ai trông cậy xa lộ xuyên Thái Bình Dương hư ảo, trông cậy ở sự tự tử giả vờ của mệnh phụ lỗi thời, trông cậy ở sự mô phỏng quần áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ và cung cách chiến đấu của kẻ thù. Phải nhớ, hàng triệu công dân Việt Nam quả cảm, chống Cộng không cần Mỹ, đã bị cộng sản siết chặt chân tay bằng còng Mỹ.
Tháng 12 năm 1979, tính ra là 46 tháng hay 1390 ngày tôi bị nhốt ở cachots. Nếu một phút ở đây địa ngục là một lần bị xử tử, tôi đã bị xử tử 345.000 lần, đã lãnh 345.000 nhân với 10 phát đạn không tiếng nổ của đội hành quyết gớm ghiếc nhất của thời đại mà 345.000 viên đạn ân huệ của họ cũng phi thường như chủ nghĩa của họ vậy. Lịch sử tù đày của tôi sang những trang mới. Tôi hy vọng sẽ sống lâu, sẽ viết dùm chị Nga «Bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Mỹ» nếu chị Nga chết sớm, chết mà tay chân còn dính còng Mỹ như chị Nhi. Bài diễn văn mơ ước ấy, chị Nhi kính mến, chỉ thế hệ chúng ta mới có quyền soạn thảo, có quyền đọc, có quyền phán xét, có quyền chê trách. Bởi vì, dĩ vãng của chúng ta là mặt trăng, hiện tại của chúng ta là mặt trời. Chúng ta đứng thẳng, bình đẳng tuyệt đối với bè bạn, với kẻ thù. Bởi vì, chúng ta chưa hèn mọn, không thèm chạy trốn và dám trực diện chiến đấu trong nỗi cô đơn.
CHƯƠNG VII
- Cô thấy thế nào? Người công an chấp pháp hỏi tôi.
- Tôi thấy bình thường. Tôi đáp.
- Cô không hiểu ý tôi. Ý của tôi muốn biết cô đã nghĩ gì khi bị nhốt biệt giam.
- Biệt giam nào? Các ông có đủ các thứ biệt giam mà.
- Biệt giam khu FG Chí Hòa.
- Tôi đã ghi rõ trong Tự Khai.
- Tôi đã đọc. Cô hãy hiểu rằng, tôi từ Hà Nội vào đây để làm việc với cô bằng tinh thần mới, hoàn toàn mới. Tôi đề nghị thế này: Cô tạm quên tôi là công an, tôi tạm quên cô là tù nhân chính trị, chúng ta nói chuyện như bè bạn.
- Tuỳ ý ông.
- Trước hết, tôi xin cảm phục các cô, dù các cô chống đối chúng tôi, các cô xứng đáng là kẻ thù của chúng tôi. Chúng tôi hết sức lo ngại tinh thần chiến đấu ngoan cường của các cô, các cậu, chúng tôi sẽ thua. Tôi đã gặp bọn lãnh đạo cũ ở các trại cải tạo. Chúng tôi đánh giá bọn nó rất thấp. Trung ương Đảng ngạc nhiên vô cùng khi thấy các cô, các cậu chống cộng sản chân tay không. Các cô, các cậu, trong tự khai, không hề xin khoan hồng, không hề nhận tội lỗi, không mong đợi ngày về. Còn thì cúi đầu chịu tội hết. Các cô, các cậu, có mất quyết lợi cũ đâu mà chống chúng tôi?
- Ông từ Bắc vô Nam có mang theo tàu bay không?
- Tôi đi tàu bay.
- Mang theo tàu bay cơ.
- Chúng tôi có Mig 19, Mig 23.
- Có cả tàu bay giấy nữa!
- Cô đừng nghĩ chúng tôi thỏa mãn tự ái của cô để khai thác. Tôi đi thu thập tài liệu viết lịch sử Đảng.
- Vậy tốt. Tôi sẵn sàng giúp ông.
- Cảm ơn cô.
- Muốn biết tôi đã nghĩ gì ròng rã 240 ngày đêm ở cachot FG Chí Hòa, ông nên vào đây ở một ngày thôi, ở như một tội nhân nguy hiểm, ông sẽ có cảm giác và cảm tưởng rất hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Tôi chỉ muốn cảm tưởng của riêng cô.
- Cảm tưởng của tôi là ghê tởm.
- Cô không sợ hãi.
- Sợ hãi gì.
- Sự ghê tởm.
- Tôi ghê tởm và tôi thương hại. Các ông chưa được làm người. Chỉ những kẻ chưa được làm người mới dám đối xử với con người như vậy.
- Cô được làm người rồi?
- Phải, làm người từ sự biết chịu đựng hình phạt của kẻ chưa được làm người.
- Ai dạy cô tư tưởng ấy?
- Nỗi khổ.
- Chúng tôi chỉ cần cô biết sợ hãi. Và cô sẽ phải biết sợ hãi, chừng đó, chúng tôi thả cô về.
- Các ông muốn dùng tôi làm vật thí nghiệm?
- Gần như thế.
- Tôi hiểu.
- Bọn ngụy nhân, ngụy quyền và phản động vớ vẩn, chúng tôi không thèm quan tâm. Chúng tôi sợ các cô, các cậu. Chúng tôi sợ tuổi trẻ Sài Gòn. Một thắc mắc thuộc phạm vi tâm lý đấy. Người ta chống cộng sản hoặc để nắm quyền bính hoặc để phục hồi quyền bính cũ, tài sản cũ, sự nghiệp cũ. Tuổi trẻ Sài Gòn chống cộng sản để được cái gì nhỉ? Ngày xưa, tuổi trẻ Sài Gòn chống ngụy quyền, chống Mỹ; bây giờ, họ chống cộng sản, tại sao?
- Bất kể một chế độ nào bất nhân, tàn ác, bóc lột và không làm cho dân tộc tôi hạnh phúc thật sự, tuổi trẻ đều chống. Chế độ của các ông cũng bất nhân, tàn ác, bóc lột và không thể làm cho dân tộc tôi hạnh phúc, tuổi trẻ tiếp tục chống đối. Tuổi trẻ hoàn toàn vô tư trong sự chống đối. Chúng tôi không chống cộng sản. Bất hạnh thay cái chế độ bất nhân, tàn ác, bóc lột của các ông lại là chế độ cộng sản nên các ông và thiên hạ cứ ngộ nhận chúng tôi chống cộng sản. Nếu chế độ của các ông có tự do, dân chủ thực sự và dân chúng hạnh phúc, ấm no, sẽ chẳng còn ai chống đối, dù chế đó ấy là cộng sản.
- Chúng tôi không có tự do, dân chủ à?
- Hãy nhìn tôi, hãy hình tưởng 1390 ngày đêm cùm xích trong các cachots, ông sẽ có câu trả lời.
- Cô cần phải biết sợ hãi. Tuổi trẻ cần phải biết sợ hãi.
- Tuỳ ý các ông.
- Đói khát và sợ hãi sẽ làm cô đầu hàng. Rồi cô sẽ trở thành một công dân ngoan ngoãn.
- Tôi biếu ông chi tiết này để ghi Đảng sử: Trong cực kỳ đau khổ và gần kề cái chết, có những người tuổi trẻ sợ sống hơn sợ chết. Lại có những người thèm ước mơ vì ước mơ là sự sống bền bỉ, vĩnh cửu. Và họ bảo vệ sự sống bằng ước mơ.
- Ước mơ sẽ chết luôn.
- Ông đừng kiêu ngạo, con người chết, ước mơ vẫn còn. Bởi vì ước mơ là ý nghĩa cao cả, vô tận của đời sống. Lưỡi lê có thể đâm thủng trái tim con người, lưỡi lê bất lực với ước mơ. Và hình phạt của chủ nghĩa của ông cũng bất lực luôn.
- Để xem.
Sau lần «mạn đàm» với sử gia của Đảng, người ta chở tôi tới bệnh viện Chợ Rẫy. Bác sĩ trưởng khoa thần kinh là ông bác sĩ của chế độ cũ. Sau một năm học tập cải tạo, người ta xử dụng khá đông bác sĩ Sài Gòn. Những vị trí thức này bỗng trở nên hèn mọn, khúm núm, sợ hãi và khó khăn hơn cả bác sĩ cộng sản. Tôi ngồi chờ khám bệnh, chứng kiến nhiều vụ khiến buồn nôn. Quả thật, bọn ngụy nó ngụy từ cái móng chân lên tới cái tóc. Những người gầy ốm, hốc hác, mất ngủ, xin chứng nhận mắc bệnh thần kinh để sang Pháp, sang Đức, sang Thụy Sĩ chữa bệnh, mục đích là thoát khỏi Việt Nam, bọn bác sĩ ngụy mắng mỏ bằng ngôn từ cộng sản làm như chúng yêu nước lắm, cách mạng lắm. Vị bác sĩ trưởng khoa khước từ chứng nhận, xua đuổi, hất hủi đồng bào cũ của ông ta. Đồng bào khiếu nại lên bác sĩ Giám Đốc. Bác sĩ cộng sản xuống tận nơi giải quyết. Bọn bác sĩ ngụy líu ríu tuân lệnh, dạ vâng khô cổ họng. Cộng sản chấp thuận đồng bào điên khùng để đồng bào đủ giấy tờ nộp hồ sơ xuất ngoại. Quốc gia kìm hãm đồng bào, muốn đồng bào tỉnh táo để sống ở nhà thương điên bao la. Tôi nhìn lũ trí thức cầy cáo của 2, 3 chế độ, bỗng lợm giọng. Và tôi chợt hiểu tại sao cộng sản nó khinh bỉ trí thức miền Nam, dù nó cho một cái nhà, dựng một cái biển, đẩy cả lũ vô Hội Trí Thức Yêu Nước.
Đến lượt tôi khám bệnh theo chỉ thị. Đích thân bác sĩ trưởng khoa khám bệnh cho tôi. Tôi biết trước còn một nhà tù ghê gớm hơn cachot FG Chí Hòa mà tôi sắp được ở. Hai người công an dẫn giải mặc quần áo dân ngồi ngoài. Phòng của trưởng khoa có mình tôi và bác sĩ. Ông ta hỏi tôi:
- Cô bị thần kinh lâu chưa?
- Thần kinh là bị gì? Tôi giả vờ.
- Là điên điên khùng khùng do mất ngủ lâu ngày, do suy nghĩ mỏi mệt, do lo lắng đủ thứ, do sự khủng hoảng nào đó. Ông giải thích.
- Thế tôi bị từ 30-4-1975. Tôi bị sau 1390 ngày đêm trong các cachots nhà tù. Như thế có phải là điên khùng không?
- Thời kỳ bắt đầu đấy.
- Xin lỗi ông, tôi chỉ bắt đầu điên khi gặp ông. Tên ông là gì nhỉ?
- Bác sĩ Vũ Duy Tiếp.
- Ngụy hả?
- Cải tạo rồi.
- Vẫn ngụy giờ thêm phỉ. Tên ông tôi sẽ nhớ để sau này đặt tên cho cái cầu tiêu công cộng. Mỗi thằng bác sĩ ngụy ở cái khóa thần kinh này là một thùng rác. Bây giờ, khỏi khám, khỏi hỏi, chứng nhận đi, tôi Ngô Kim Lan, phản động, điên nặng.
- Cô mạ lỵ cán bộ nhà nước.
- Ghi thêm, tôi chửi rủa ông. Người điên có chứng chỉ chửi cả Hồ Chủ Tịch!
- Cô điên thật rồi.
- Tôi không chối cải. Nhưng nếu ông quả quyết những người xin xuất ngoại bị điên thì ông bớt khốn nạn một tí.
- Tôi phải chứng nhận cô điên, thần kinh tâm liệt...
- Ông không muốn cũng không dám. Đồ hèn, chứng nhận lẹ đi. Nếu ông đủ can đảm vào tù mới bảo tôi hoàn toàn bình thường. Bác sĩ ngụy khốn kiếp, tôi điên nặng, có ngày tôi sẽ gặp ông.
- Cô thông cảm. Chỉ thị của công an thành phố.
- Đàn em tôi sẽ viếng nhà ông. Một trái lựu đạn chắc vừa đủ.
Tôi dọa ông bác sĩ. Ông ta tái mặt, phân trần. Tôi cười:
- Tôi không biết giết người đâu, bác sĩ ạ! Để lương tâm ông giết ông và những lời thề của ông trước linh hồn Hippocrate dày vò ông. Tôi xin ông một điều: Sau khi chứng nhận tôi điên, ông nên giải nghệ thầy thuốc.
Ông bác sĩ buồn bã:
- Tôi đông con cái quá.
Cuối cùng, tôi được mời ra khỏi phòng bác sĩ trưởng khoa. Tôi thừa đoán những việc sắp xảy tới. Công an dẫn tôi về đề lao Gia Định và tôi lại nằm trong cachot. Chẳng ai gọi tôi đi làm việc. Chẳng ai cho tôi biết kết quả sau lần khám bệnh thần kinh và giải thích tại sao tôi phải đến Chợ Rẫy. Người ta bắt tôi sợ hãi dần dần. Người ta muốn tôi suy luận và thầm sợ hãi từ từ. Cộng sản thật khó hiểu. Chỉ cần thủ tiêu tôi là xong, họ không thủ tiêu. Họ mất công đầy đọa và bắt tôi sợ hãi. Họ thích thí nghiệm sự chịu đựng của tuổi trẻ. Trò chơi thí nghiệm của họ rất hãi hùng. Cứ đem con người ra thí nghiệm. Con người vô tích sự. Con vật sản xuất tốt hơn. Hai mươi ngày sau, tôi gặp lại sử gia của Đảng, người bôn xê vích đeo kính trắng, tóc hoa râm, đôi môi tím tái.
- Chúng tôi luôn luôn nghĩ đến cô. Sợ cô ở biệt giam lâu đâm ra mất bình thường, chúng tôi đưa cô đi khám bệnh thần kinh.
- Cảm ơn các ông.
- Kết quả đáng ngại.
- Tôi biết rồi. Các ông chỉ thị cho ông bác sĩ ngụy chứng nhận tôi điên nặng. Các ông mất công quá. Muốn đẩy tôi vào nhà thương điên, các ông cứ việc đẩy. Bày đặt thủ tục rườm rà.
- Chúng tôi làm sáng tỏ chính nghĩa cộng sản.
- Các ông mượn tay ngụy hại tôi.
- Giúp cô đấy. Tôi đã nói gì về nhà thương điên đâu. Làm gì có chuyện nhà thương điên. Nếu có, chỉ có vấn đề chữa bệnh thần kinh căng thẳng của cô. Tôi đã nghiên cứu lý lịch gia đình cô. Một lý lịch hoàn toàn trong sạch. Thế mà riêng cô, cô thù nghịch chúng tôi.
- Tôi không thù các ông.
- Cô chống chúng tôi. Tại sao?
- Vì các ông tàn ác, các ông không đem lại hạnh phúc cho dân tộc.
- Ai sẽ đem lại hạnh phúc cho dân tộc? Bọn ngụy lưu vong hay các cô?
- Chúng tôi.
- Dễ quá, tại sao cô không cộng tác với chúng tôi?
- Thế hệ cha, anh tôi đã cộng tác với các ông rồi, đã bị thủ tiêu hết rồi. Mèo không thể sống chung với chuột.
- Lịch sử đã khác xưa.
- Nhưng lịch sử cộng sản không thay đổi.
- Cô định chống chúng tôi tới ngày nào?
- Ngày các ông tạo được hạnh phúc cho đồng bào chúng ta. Chừng nào dân Việt Nam không bị ăn rặt đầu tôm, vỏ tôm, tôi hết chống đối. Mình mẩy con tôm các ông đem đi đâu? Tại sao lãnh đạo ở nhà lớn, đi xe hơi, ăn uống đầy đủ chất bổ béo mà người bộ đội chỉ đi bộ, đeo rau muống quanh lưng, lương tháng vừa trả một đĩa cơm vỉa hè. Cá nhân ông có nhà riêng chưa? Có Honda chưa? Có radio chưa? Có vân vân chưa? Tại sao quý vị Uỷ viên Bộ chính trị chiếm ngự các biệt thự sang trọng, còn đào cả hầm, xây bê tông cốt sắt tránh bom và ông, ông phải nhảy xuống tăng sê tập thể? Tôi chống đối vì cả ông nữa, ông ráng hiểu. Còn hành hạ tôi, ông cứ hành hạ. Nhưng hãy nhớ rằng tôi không bao giờ muốn giết ông.
- Cô nói chuyện lảm nhảm rồi.
Sử gia bảo cai ngục dẫn tôi về cachot. Sáng hôm sau, trên xe du lịch 404, tôi ngồi giữa ghế sau, hai bên là hai công an nữ; ghế trước, tài xế và sử gia. Người ta đưa tôi đến nhà thương điên Chợ Quán. Tôi tưởng người ta sẽ gửi tôi ở đây như một bệnh nhân mất trí nhưng người ta đã chưa làm thế vội mà chỉ dắt tôi đi thăm quan cái thế giới người điên. Hoặc là tôi may mắn, hoặc là tôi không may mắn, những người điên ở khu vực dành riêng cho họ, thản nhiên nhìn chúng tôi. Họ chả điên tí nào. Ngay cả những người bị nhốt trong phòng cũng hiền hòa, dễ thương. Đến phòng cuối dãy, sử gia bảo tôi nhìn kỹ xem có gặp ai quen không. Tôi đứng sát cánh cửa chấn song sắt to, tròn nhìn vào. Bỗng tôi hoa mắt muốn khụyu ngã trên hành lang. Tôi phải bám hai tay vào song sắt. Chị Nga, cô giáo văn chương Hoàng Thị Nga, tác giả «Bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Mỹ» dang dở đang ở trong phòng này. Chị giống hết một «con điên» chính cống. Bộ quần áo nhà thương màu cháo lòng làm tăng thêm vẻ khờ dại trên khuôn mặt chị. Tóc chị rối bù và đã lốm đốm bạc. Đôi mắt chị trũng sâu, tay chị gầy gò, nhăn nheo.
- Chị Nga! Tôi gọi.
Chị nhìn tôi. Chị cười. Rồi chị chỉ tay:
- Cút đi!
Tôi ngỡ ngàng. Nước mắt tôi ứa ra.
- Chị không nhận ra em à?
- Mày là ai? Jane Fonda hay Bertrand Russell, Elizabeth Hopkins hay Henry Ford?
- Lan nè, chị Nga!
- Lan huệ sầu ai lan huệ khóc.
Những người trong phòng vỗ tay. Chị Nga gật gù, khoái chí.
- Em hãy can đảm sống, cố sống, bằng cách nào cũng phải sống, bằng giá nào cũng phải sống em nhé!
Chị ngừng lại, chạy vụt ra cửa, nắm lấy tay tôi, cắn một miếng. Tôi giật tay và lùi lại vài bước. Chị xỉa nói:
- Cút đi, cút đi...
Rồi chị vung tay, đọc diễn văn:
- Thưa quý vị...
Người ta bảo tôi rời phòng của chị Nga. Rồi tôi được trở về đề lao Gia Định, cachot C1. Lạ chưa, tù nhân đi tham quan người điên. Tôi không còn bị còng chân nữa. Người ta bỏ mặc tôi lây lất trong cachot. Tôi bằng lòng thế. Để suy nghĩ về chị Nga. Tôi nhớ 52 ngày còng chung với chị, chị đã kể cho tôi nghe những mẩu chuyện liên quan tới Jane Fonda, Elizabeth Hopkins. Tôi còn nhớ, như mới nghe hôm qua, giọng chị vừa phẩn nộ, vừa bùi ngùi: «Sau ngày 30-4-1975, đài BBC mở mục Diễn đàn cho những người đã từng ở Việt Nam, biết về Việt Nam phát biểu quan điểm của họ. Tôi có nghe, mỗi tuần một lần. Trừ giáo sư Honey và một ký giả nào đó, rất tiếc, tôi quên tên, viết về thiếu tá Minh biểu diễn đáp máy bay chở vợ con xuống sân hàng không mẫu hạm đã làm tôi xúc động. Con thì rặt một lũ tiểu nhân chơi trò đánh người ngã ngựa. Mình thua trận, đau đớn chết đi được, chúng nó còn chửi rủa thêm, ca ngợi kẻ thù của mình. Con nhãi Elizabeth Hopkins, hai mươi bốn tuổi, hiểu cái gì! Vậy mà nó dám dở giọng hỗn láo, nó bảo Sài Gòn cho Hà Nội chút ít vật chất nhưng Hà Nội cho Sài Gòn phẩm cách con người. Đấy, Hà Nội cho Sài Gòn phẩm cách làm người bằng cách còng dính chùm Sài Gòn đi ỉa, đi đái, ăn uống dính chùm luôn. Cần bắt con nhãi Hopkins xấc xược, ngu dốt đó, còng nó lại, nhốt nó cạnh xô cứt để nó nhìn rõ phẩm cách Hà Nội cho Sài Gòn. Ngày nào, trong ước mơ của tôi, tôi sẽ gặp con nhãi Elizabeth Hopkins nói chuyện về phẩm cách của cộng sản. Chị Nga nhắc lại những lời đã dặn tôi trước giờ chúng tôi chia tay. Bài diễn văn. Cái còng. Sự can đảm. Cuộc sống. Tôi không tin chị Nga đã điên. Không, chị Nga chưa điên. Chị Nga còn tỉnh táo. Chị Nga giả vờ điên.
Người ta đẩy chị Nga vào Chợ Quán hồi nào? Chắc chắn, thời gian chị bị nhốt ở trại điên cũng lâu bằng thời gian tôi ở cachot FG Chí Hòa. Người ta muốn tôi nhìn chị Nga để tôi sợ hãi. Phản ứng đã ngược lại. Tôi muốn gần gũi chị Nga để san sẽ nỗi đau khổ chị đang phải chịu đựng một mình. Trại điên, tầng thứ mấy của địa ngục nhỉ? Địa ngục hết tầng rồi. Vậy thì trại điên là cái đáy thứ hai dưới tầng thứ chín. Trại tập trung có gì ghê gớm đâu, so với nhà thương điên nó chỉ là mụn ghẻ. Phải, trại tập trung chỉ là mụn ghẻ dù ở Sibérie, ở Sơn La, Lào Kay, Cao Bằng hay Hàm Tân, Xuyên Mộc... Một năm ở trại tập trung bằng một tuần ở khu FG, bằng một giờ ở cachot FG Chí Hòa, bằng một phút ở nhà thương điên. Xem chừng người ta hơi ồn ào về những trại tập trung. Mỗi người từ đó về đều tự phong mình là ngục sĩ, thứ tù nhân phi thường nhất thời đại, chứng nhân số một của tội ác. Với tôi, những ngày đêm cachot mịt mù, dằng dặc chỉ là cuốn văn phạm quá dầy để viết những trang đời sống quá khổ, nhưng nếu viết được thì rất hay, rất lạ. Thế thôi. Cái mốt của thời đại khốn khó của chúng ta là thích đánh bóng nỗi khổ như đánh bóng một món hàng. Nhiều người hưởng thụ kỹ nhờ biết cách quảng cáo nỗi khổ của người khác. Đến cả nỗi khổ cũng kiếm ra cơm áo, xe hơi, nhà cửa, sự nghiệp thì lạ thật. Bây giờ là kỷ nguyên nhân danh nỗi khổ, sau khi đã nhân danh lòng yêu nước, nhân danh tự do, nhân danh dân chủ, nhân danh nhân quyền...
Chúng ta nhân danh gì trong bóng tối cachot, bên cạnh xô cứt, chị Nga, chị Nhi? Có lẽ chúng ta không biết nhân danh cái gì, chúng ta chỉ biết chịu đựng, chịu đựng và chịu đựng. Và nếu có ai hỏi chúng ta chịu đựng để làm gì, em sẽ trả lời rằng: Chúng tôi chịu đựng để biết ngậm trái đắng nói chuyện ngọt bùi, để trồng hoa nhân ái trên mọi dấu tích thù hận, để biến những cái còng thành đồ trang sức và ngục tù thành phòng triển lãm hạnh phúc, ước mơ.
114
![[8|]](/images/smiley/s13.gif)