Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Con Đường Một Chiều - Bà Tùng Long 🔒

9 trả lời, 6.276 lượt xem — Trang 1 / 1
VÀO TRUYỆN
 

Phi Nga ngồi dựa lưng vào một gốc dừa tàu lá sum sê, nhìn về phía sông, đôi mắt mơ màng. Chưa bao giờ Phi Nga thấy trời đẹp như hôm nay. Nhưng nàng không phải ra đây để ngắm cảnh vì còn lạ gì phong cảnh làng này nữa, ngày nào mà nàng không ra ngồi nhìn những chiếc thuyền chở hàng hay những chiếc đò dọc chậm chạp trôi trên dòng nước xanh rì. Đôi mắt của Phi Nga khác nào những ống kính chụp mãi những bức tranh linh động của quê nàng, một ngôi làng yên tĩnh trên bờ Cửu Long miền Hậu giang.
Phi Nga cảm thấy cuộc đời nàng không khác nào dòng sông trước mặt. Ngày nào cũng như ngày nấy, cũng những cảnh quen mắt, không thay đổi. Và Phi Nga bỗng ao ước một cuộc đời mới khác hẳn so với cuộc đời buồn tẻ của nàng. Sống trong gia đình, Phi Nga thấy không ai hiểu nàng hết. Hai em gái nàng, Phi Anh và Phi Yến, như quá xa cách mặc dù hàng ngày ba chị em vẫn sống bên nhau, dưới mái gia đình, bên cha mẹ.
Ông bà Hoàng Minh chỉ có ba cô con gái nhưng không hề lấy chuyện không có con trai làm trọng. Ông Minh thường nói với bạn bè:
-   Đời bây giờ gái cũng như trai.
Nhưng ông lại không chủ trương cho con gái học nhiều. Cả ba con ông, cô nào cũng chỉ học đến bậc trung học đệ nhất cấp (1) là ở nhà để giúp mẹ trong việc nhà và việc đồng áng.
(1) nay là trung học cơ sở (cấp 2)
Cha ông Minh từng là một nhà cách mạng, tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của người Pháp và bị tù đày, chết ở Côn Đảo. Ông Minh có học thức, như ai thì ông cũng có thể chen lấn tìm một địa vị ngoài xã hội. Nhưng trước cái chết của cha, ông Minh thề không hợp tác với thực dân, về quê sống với nghề nông trên ruộng vườn của ông cha để lại. Những lúc nhàn tản ông vẫn đọc sách, đọc báo để cập nhật kiến thức. Biết làm thơ, thích ngâm vịnh, ông Minh thường đem đọc những bài thơ của mình cho các bạn nghe bên những tách trà thơm ngát, dưới ánh trăng trong...
Ba năm liên tiếp, bà Minh sinh cho ông ba con gái, cả ba đều xinh đẹp khác thường. Bà Minh vốn không quen việc đồng áng. Từ ngày về làm vợ ông Minh, bà chỉ trông nom việc nhà, nuôi dạy con cái và chăm sóc chồng. Ông bà rất tương đắc. Ông thì hãnh diện có một người vợ vừa đẹp vừa hiền lại hiểu ông, chịu sống theo nếp sống của ông. Bà thì tự phụ có được một người chồng khác hẳn với những người đàn ông tầm thường trong làng. Nhờ hiểu nhau và kính nể nhau nên hai ông bà vui sống với hạnh phúc thanh đạm ở thôn quê. Thỉnh thoảng cao hứng, ông Minh lại làm vài bài thơ và người được nghe trước nhất là bà.
Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, thời thanh xuân không còn nữa, ngay nay hai ông bà sống bên nhau như hai người bạn. Việc dạy dỗ con cái, ông bà đã xao lãng hơn trước.
Ông chủ trương dạy dỗ con cái là bổn phận của mẹ, còn bà thì lại nghĩ các con bà có học nết na, ngày mai đây chúng nó có chồng thì ông bà không còn lo lắng gì nữa. Nhưng cả ông và bà làm sao hiểu được tâm trạng của ba con, mỗi cô ham thích một cách và cả ba đều cảm thấy khung cảnh gia đình và làng quê chật hẹp và quen thuộc quá. Trong lúc chưa đi lấy chồng, mỗi cô tìm một việc làm để giải trí. Phi Nga vẽ, Phi Anh đàn hát và Phi Yến thì may thêu nấu nướng. Mỗi cô có một căn phòng rộng rãi, nhiều hôm họ chỉ gặp nhau trong những bữa cơm.
Phi Nga thích phong cảnh đẹp, sống với thiên nhiên nhiều hơn sống với các em, với cha mẹ. Phi Nga có một người bạn trai, cùng học từ lớp năm trường làng. Dũng mến Phi Nga và phục tài nàng vì lúc còn đi học, Phi Nga là một nữ sinh thông minh, lúc nào cũng dẫn đầu và còn có khiếu vẽ, nam sinh cũng phải thua. Dũng là con một giáo viên nhà thanh bạch nhưng phúc hậu. Nối nghiệp cha, vừa thi đậu trung học, Dũng thi vào trường sư phạm và giờ đây là một giáo viên ở quận.
Chủ nhật nào Dũng và Phi Nga cũng gặp nhau trên bờ sông cách nhà Phi Nga chừng nửa cây số. Hôm nay cũng như mọi ngày, Phi Nga ra chỗ hẹn, nhưng Dũng chưa đến. Phi Nga không sốt ruột và lợi dụng thì giờ ngồi một mình, Phi Nga nghiền ngẫm lại những ý nghĩ suốt tuần nay luôn ám ảnh nàng, về chuyện hôn nhân, ông bà Minh để các con được quyền lựa chọn và cho phép các con tự do giao thiệp với bạn trai. Nhưng Phi Anh và Phi Yến chưa thích có bạn trai, chỉ có Phi Nga là quen thân với Dũng.
Từ khi còn đi học, Dũng đã rất nể phục Phi Nga. Vì thế mặc dù yêu cô bạn gái từ lúc còn học ở lớp đệ ngũ, Dũng vẫn không dám tâm sự với nàng. Phi Nga đoán biết mối tình của Dũng qua những cử chỉ lúng túng khi hai người ngồi bên nhau, nhưng cứ giả vờ như không để ý. Dũng chưa bao giờ cầm tay nàng quá một phút. Có lần Dũng đưa tay ra vuốt mái tóc dài và óng ánh của Phi Nga, nhưng rồi có lẽ cho rằng cử chỉ ấy quá thân mật, Dũng bẽn lẽn rút tay lại nhìn Phi Nga như một kẻ có lỗi bị bắt tại trận.
Dũng thường nói:
-   Phi Nga tài giỏi quá! Tại sao Phi Nga không xin phép hai bác học nữa để trở thành một ngôi sao của phụ nữ sau này?
Nhưng khi được biết Phi Nga thôi học ở nhà thì Dũng lại không giấu được niềm vui và ấp ủ một hy vong kín đáo. Nếu Phi Nga mà đi học nữa thì Dũng sẽ thua nàng xa và hai người làm sao còn gặp nhau trong cuộc sống?
Năm nay Phi Nga vừa đúng hai mươi tuổi, còn Dũng thì đã hai mươi hai. Phi Nga quen nhiều bạn trai, nhưng nàng chỉ mến có Dũng. Nàng cho rằng Dũng hiểu nàng hơn cả cha mẹ và các em. Từ ngày thôi học, nhiều nơi đi hỏi nàng, nhưng nàng đều từ chối khéo nên không phiền lòng ai.
Phi Nga không biết làm sao ra khỏi cảnh buồn tẻ này, nàng phải tìm một công việc gì mới hay lãnh một trách nhiệm gì khác để cuộc sống của nàng có ý nghĩa hơn. Và Phi Nga đã nghĩ đến chuyện lập gia đình. Chỉ có giải pháp ấy mới đem lại cho nàng một hướng đi mới mẻ, nàng sẽ có phương tiện hoạt động cho chính nàng, tạo nên một mái nhà theo ý muốn của nàng. Nàng sẽ đóng vai nội trợ lo cho chồng, và những lúc rảnh thì vẽ tranh, nắn tượng. Rồi nàng sẽ có những đứa con, trung tâm điểm cuộc sống của người đàn bà. Nhưng lập gia đình với ai? Chỉ có Dũng là Phi Nga có thể yêu thương, nhưng lạ quá, mấy năm trời ròng rã quen nhau, lúc nào Dũng cũng có mặc cảm thua sút Phi Nga nên chẳng dám tỏ tình yêu của chàng.
Chẳng lẽ Phi Nga lại mở miệng nói trước? Nhưng nếu Phi Nga không nói gì thì Dũng sẽ không bao giờ dám mở miệng trước. Ai quen Phi Nga đều công nhận nàng rất chân thật, muốn việc gì là nói thẳng, không úp mở, giấu diếm, ghét thương ai cũng dám nói thật với họ và không bao giờ giận ai trên một giờ đồng hồ.
Phi Nga có tánh tình như con trai, dám nói những điều mà các cô gái khác thường e lệ, rụt rè. Nhất là về chuyện hôn nhân, Phi Nga luôn tự nhiên bày tỏ ý kiến của mình. Hai em của Phi Nga thường cho chị quá táo bạo khi nghe Phi Nga nói:
-   Chị mà có chồng thì chị sẽ trang hoàng nhà cửa như thế này...
Hay là:
-   Chị sẽ tạo cho gia đình chị thành một tổ ấm, một tổ uyên ương. Người con gái phải có chồng mới phát triển được tài năng của mình về mọi mặt.
Cả tuần nay Phi Nga đã suy nghĩ kỹ, nàng phải bàn với Dũng về chuyện hôn nhân. Thân nhau và hiểu nhau quá, Dũng lẽ nào lại chê cười Phi Nga là nông nổi, sỗ sàng? Chuyện hôn nhân là chuyện quan trọng cả đời người, người con trai có quyền nghĩ đến thì người con gái tại sao lại không được phép bàn tới?
Ông Minh nghĩ Phi Nga mới hai mươi tuổi, việc hôn nhân của nàng còn nhiều thì giờ để sắp đặt, lựa chọn. Các cô con gái của ông đẹp đẽ, có học thức, nhà không đến nỗi túng thiếu lẽ nào không có được những người chồng có chức nghiệp, địa vị? Đối với Phi Nga, ông lại càng không lo lắng vì Phi Nga có tài, tánh tình chân thật, làm việc gì cũng chu đáo.
Phi Nga đã có ý định sẽ bàn với Dũng về chuyện hôn nhân và nàng đã ngồi chờ Dũng, lòng bình tĩnh vì đã suy nghĩ kỹ về những gì nàng sắp nói với Dũng.
Phi Nga ngồi như thế được một giờ thì Dũng đến. Anh bối rối hỏi:
-   Nga đợi anh lâu chưa?
-   Đợi anh cả giờ rồi. Hôm nay sao anh đến trễ vậy?
Dũng ngồi xuống bên Phi Nga:
-   Ba anh bị cảm. Anh phải lo cho ba xong mới đi được.
Phi Nga vào ngay đề:
-   Chúng mình quen nhau lâu quá rồi anh Dũng nhỉ?
Dũng ngạc nhiên:
-   Chín, mười năm rồi. Nhưng sao hôm nay em lại nói đến chuyện ấy?
-   Hai bác đã bàn về việc hôn nhân của anh chưa?
Dũng nhìn sâu vào mắt Phi Nga như để tìm hiểu nàng muốn nói gì:
-   Cha mẹ anh cũng thường nhắc về việc này, nhưng anh chưa làm vui lòng cha mẹ được. Cũng may là cha mẹ anh cho phép anh được quyền lựa chọn người bạn đời. Anh định hai năm nữa mới cưới vợ, sau khi dành dụm được chút ít tiền đã.
Phi Nga hỏi:
-   Hai bác cho anh cái quyền lựa chọn người bạn đời? Vậy anh đã lựa ai chưa?
Dũng cúi mặt không dám nhìn Phi Nga:
-   Anh đã lựa rồi.
Và Dũng nói nhanh như để trấn áp sự xúc cảm của mình:
-   Còn Nga, chắc hai bác đã nhắm được chỗ nào rồi? Nga đẹp và có tài như vậy, làm gì mà không kiếm được chồng giàu sang.
-   Việc hôn nhân của Nga do Nga định đoạt, cha mẹ không ép Nga đâu.
Dũng vừa nghe Phi Nga nói vừa cúi xuống nhìn những đường ngang dọc trên mặt đất mà chàng đang vẽ với một que củi khô. Phi Nga nói tiếp như để tâm sự với Dũng:
-   Nga đã nghĩ kỹ. Nga phải lập gia đình để có những trách nhiệm mới, để thương yêu chăm lo một người hiểu Nga và thương yêu Nga. Cha mẹ Nga yêu Nga thật, nhưng Nga đã đến cái tuổi tự mình phải lo cho mình.
Dũng ấp úng:
-   Dũng hiểu ý Nga, nhưng Dũng muốn biết là Nga đã chọn được người ai chưa?
Phi Nga nói thật nhanh:
-   Nga đã chọn rồi.
Dũng nghe tim mình đập mạnh vì lo lắng:
-   Dũng chúc Nga tìm thấy hạnh phúc trong sự lựa chọn này.
Phi Nga nhìn Dũng với đôi mắt đầy trách móc:
-   Thế còn anh, với người anh đã chọn, anh có thể tìm thấy hạnh phúc không?
-   Nếu người ấy nhận lời anh thì đời anh sẽ hạnh phúc lắm.
-   Người ấy là ai vậy anh Dũng?
Dũng nhìn thẳng về phía trước:
-   Anh không thể nói được. Vì anh không hiểu người ta có bằng lòng lập gia đình với anh không?
-   Thì anh cứ nói thử tên người ấy cho em nghe đi. Chúng ta quen nhau lâu lắm rồi, anh còn ngại gì?
Dũng yêu Nga nhưng không dám thú thật vì lầm tưởng Nga không yêu chàng, đã có người yêu khác. Dũng thở dài:
-   Thôi, không nên nói cho em nghe. Chuyện yêu thương của anh chưa chắc đã đi đến hôn nhân được. Được biết em có hạnh phúc, anh mãn nguyện lắm rồi.
Thấy vẻ lúng túng của Dũng, Nga đoán hiểu được phần nào, nên mạnh dạn nói:
-   Chúng ta quen nhau những chín, mười năm nay, tại sao chúng ta không thể lập gia đình với nhau hả Dũng?
Thật là một câu hỏi đột ngột mà Dũng không bao giờ tưởng tượng là nó có thể thốt ra từ miệng Phi Nga, khiến Dũng không còn biết trả lời sao. Dũng chỉ nhìn Phi Nga sửng sốt. Phi Nga không chút thẹn thùng nói tiếp:
-   Hạnh phúc của chúng ta phải do chính chúng ta định đoạt. Nga nghĩ rằng chúng ta đã hiểu nhau thì có thể lập gia đình với nhau.
Dũng không giấu được sự vui mừng:
-   Nga bằng lòng lập gia đình với anh? Trời ơi! Anh cứ tưởng đâu Nga chê anh bất tài, nghèo nàn. Anh thành thật cảm ơn Nga đã nói trước, chớ nếu như Nga mà không nói thì anh không bao giờ dám nói.
Và để Nga khỏi hỏi, Dũng nói tiếp:
-   Anh yêu Nga từ lâu rồi, từ ngày Nga vừa đậu tiểu học kia lận, nhưng yêu một cách tuyệt vọng. Vì thế anh đã tự nhủ lòng là sẽ chờ em lập gia đình rồi mới cưới vợ.
Nga mỉm cười:
-   Nhưng bây giờ thì anh nghĩ sao?
-   Anh là người may mắn nhất đời này. Rồi đây sẽ có vô số người ganh tị với anh.
-   Mặc họ, hãy nói đến chuyện mình đã. Thế nào, anh có đồng ý là chúng ta cưới nhau trong năm nay không?
Dũng dè dặt:
-   Trong năm nay? Sao gấp vậy? Em có thể đợi anh vài năm nữa không?
Phi Nga cương quyết:
-   Không, em không thể đợi vài năm nữa. Em muốn có một mái gia đình, em muốn dùng thì giờ của em vào một tổ ấm. Em muốn tìm cho đời em một hướng đi. Anh sợ chưa có tiền làm đám cưới, thuê nhà cửa, sắm đồ đạc à?
Dũng suy nghĩ một chút rồi nói:
-   Anh chưa có đủ tiền, và cũng chưa biết ý kiến của cha anh ra sao. Em ráng đợi anh thu xếp đã nhé.
-   Còn thu xếp cái gì nữa? Thuê một căn phố hay cất một căn nhà nhỏ đâu có tốn kém gì bao nhiêu. Em có tiền.
Dũng lưỡng lự:
- Tiền của em? Không, hãy để anh lo.
Phi Nga không bằng lòng:
-   Tại sao lại có chuyện anh lo hay em lo? Chúng ta sống với nhau thì ai lo được cứ lo, miễn sao hạnh phúc thì thôi. Hay là anh không yêu em, anh khinh em vì thấy em đã mở lời trước về chuyện hôn nhân? Nếu cứ lấy chuyện thường tình mà đối xử với nhau, thì cuộc hôn nhân của chúng ta không bao giờ thành được. Em đang cần có chốn để hoạt động, em đang muốn có một nếp sống theo ý muốn. Đã đến lúc tình yêu của cha mẹ không còn thỏa mãn được cuộc sống tình cảm của em nữa. Em thấy chỉ có lập gia đình là giải pháp hay nhất. Nếu anh chưa lập gia đình trong năm nay thì em sẽ xin cha mẹ cho lên Sài Gòn tìm việc làm...
Phi Nga hơi chán nản khi thấy Dũng không hề sốt sắng hân hoan khi nghe nàng bày tỏ cảm tình. Sự thật Dũng không ngờ Phi Nga lại chân thành đến nước đó nói đến chuyện hôn nhân như người ta giải một bài toán. Thấy Phi Nga không được vui, Dũng liền phân trần:
-   Không phải anh không sốt sắng về chuyện hôn nhân của chúng ta, nhưng em phải để anh thu xếp rồi trả lời em sau. Có được một người vợ như em, anh còn cầu mong gì hơn?
Rồi Dũng cầm lấy tay Phi Nga:
-   Về nhà cửa thì anh đã có sẵn cái nhà dành cho ông hiệu trưởng, nhưng ông ta không ở vì có nhà của cha mẹ vợ cho. Ngôi nhà đó mấy lúc nay anh vẫn ở. Chỉ còn lo tiền làm đám cưới. Đồ đạc sẽ lo sau. Bây giờ có gì thì dùng nấy.
Phi Nga cười:
-   Như vậy anh còn lo gì nữa? Cuối năm nay chúng mình làm đám cưới nhé.
Trước sự bồng bột của Phi Nga, Dũng đành nói:
-   Anh sẽ ráng thu xếp. Nhưng nãy giờ chúng ta quên nghĩ đến việc hai bên cha mẹ có bằng lòng không đã chứ?
-   Sao lại không? Anh bảo bác cho anh được tự do kia mà. Còn em, em cũng đã cho anh biết là cha mẹ em không ngăn cản nếu kết hôn với anh.
-   Em tin chắc như thế?
-   Tin chắc.
Dũng siết chặt bàn tay Phi Nga:
-   Em không sợ phải khổ sở khi về làm vợ một giáo viên không địa vị, không giàu có? Em không ân hận chứ?
-   Em đã nghĩ kỹ, em chỉ cần một người hiểu em. Còn anh?
-   Anh vô cùng sung sướng.
Hai người ngồi im bên nhau một lúc lâu, cùng nhìn về phía trước. Một chiếc ghe chở dừa tươi trôi ngang qua, sau lái là một cặp vợ chồng còn trẻ có vẻ mặt tươi vui.
Phi Nga mỉm cười:
-   Rồi chúng ta cũng như cặp vợ chồng kia.
Dũng cãi lại:
-   Nhưng chúng ta đâu có xuôi ngược quanh năm như vậy.
-   Em muốn nói là chúng ta sẽ hạnh phúc như vợ chồng nhà kia.
-   Tại sao em biết họ có hạnh phúc?
-   Sống có cặp có đôi là hạnh phúc. Nét mặt tươi vui của họ đã nói lên điều đó.
-   Em nói có phần đúng.
Phi Nga bực dọc:
-   Em nói là đúng, chớ không có phần gì hết! Anh từ trước đến giờ có tính hay lưỡng lự, không cương quyết bây giờ đến chuyện hôn nhân anh cũng lưỡng lự nữa sao?
Dũng thú nhận:
-   Anh đâu có lưỡng lự. Việc này anh nghĩ từ lâu, ao ước ngày đêm.
-   Ao ước ngày đêm nhưng sao bây giờ anh lại lạnh lùng vậy?
-   Anh lạnh lùng? Không, anh mừng quá, không còn biết nói năng gì nữa.
Phi Nga đứng dậy:
-   Bây giờ em về thưa cha mẹ em biết. Chủ nhật tuần tới chúng ta sẽ gặp lại và bàn về chuyện đám cưới. Em mong anh thu xếp cho yên xong.
Dũng ngạc nhiên:
-   Sao em về gấp vậy? Chúng ta hãy ngồi lại đây bên nhau một chút đã.
Phi Nga vẫn quyết định ra về:
-   Hôm nay em gặp anh chỉ để bàn chuyện này thôi, một chuyện quan trọng suốt đời chúng ta.
Từ thuở nhỏ Phi Nga đã muốn việc gì là đem hết tâm trí vào việc ấy và làm cho kỳ được. Phi Nga muốn may một cái áo hay thêu một cái áo gối, tức thì lấy vải ra, bắt tay vào việc và cắm cúi làm, đến bao giờ xong mới thôi. Và khi xong, chiếc áo ấy sẽ khít khao, cái áo gối ấy sẽ vừa vặn đẹp đẽ. Đôi mắt cũng như đôi tay của Phi Nga chính là cái thước, là máy đo, máy cắt... Đã làm việc gì là nàng làm say mê, chính xác, hết lòng, chớ không có cái lối lừng khừng, như bị ai bắt buộc phải làm. Ông Minh thường nói với vợ:
-   Con đó đã muốn cái gì là không ai cản nổi! Nếu điều nó ham thích là tốt thì khòng nói gì, chớ rủi nó đam mê một cái gì có hại thì có trời cứu!
Bà Minh thì cho là thứ đàn bà, con gái ấy có ngày sẽ hư hỏng vì không kềm chế nổi sự ham muốn quá độ, nhưng trong thâm tâm, bà cũng không khỏi phục Phi Nga có nhiều biệt tài.
Thấy Phi Nga không chịu ngồi lại, Dũng phải đứng lên theo, bước đi cạnh nàng. Lòng Dũng tràn ngập một tình yêu đẹp đẽ trong khi đầu óc Phi Nga đang bận rộn về chuyện cưới hỏi, chuyện nhà cửa, áo cưới... Không dằn được nữa, Dũng cầm tay Phi Nga đưa lên môi đặt một cái hôn nồng nàn:
- Anh sẽ yêu em mãi mãi.
Phi Nga choàng tay qua vai Dũng:
-       Tuần sau lại gặp nhé!





0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.04.2015 15:56:24 bởi Ct.Ly>
Chương 1
                                              

 

Lựa một hôm cha mẹ đang vui, Phi Nga thưa:
-   Con xin phép cha mẹ được kết hôn với anh Dũng.
Bà Minh ngạc nhiên nhìn con:
-   Thằng Dũng chưa hề thưa với cha mẹ. Ông Bính, cha nó, cũng chưa đến đây. Con này nông nổi quá!
Ông Minh ôn tồn:
-   Con đã nghĩ kỹ chưa? Dũng chỉ là một giáo viên...
Phi Nga không hề nao núng:
-   Con nghĩ kỹ rồi. Anh Dũng và con quen nhau từ nhỏ, cùng học chung một trường từ lớp năm đến lớp đệ tứ (1). Anh Dũng rất hiểu con... Chúng con đã đồng ý lập gia đình với nhau... Con về đây xin phép cha mẹ, còn anh Dũng cũng về xin phép cha mẹ anh ấy...

Bà Minh biết rõ tánh tình Phi Nga, bà cũng biết ông Minh sẽ để con tự do lựa chọn người bạn đời. Dù bà có ngăn cản hay rầy la cũng không được, chỉ tổn thương tình mẹ con không ích gì, nên bà dịu giọng:
-   Dũng hiền lành đứng đắn thật, nhưng một người con trai như vậy khó có sự nghiệp được. Mẹ thấy con hơi hấp tấp đó.
Phi Nga trình bày:
-   Thưa mẹ, con đã nghĩ kỹ, chỉ có anh Dũng là hiểu con và có thể đem hạnh phúc đến cho con... Anh sẽ khuyến khích con phát triển tài năng nếu con thật sự có chút ít tài về mặt nào đó... Chúng con đồng ý cưới nhau nội trong năm nay...
Ông Minh hỏi:
-   Việc cưới hỏi, nhà cửa, tiền nong... Dũng đều lo được?
-   Chúng con cùng lo, nếu một mình anh Dũng không lo nổi. Theo ý anh Dũng thì anh muốn hai năm nữa hãy làm đám cưới vì hiện giờ anh đang để dành tiền...
Bà Minh nói:
-   Như vậy là phải, nhưng con đã thúc hối nó? Mẹ biết mà, con muốn cái gì là phải có ngay cho con.
Ông Minh hỏi:
-   Và con không sợ thằng Dũng cười con nông nổi sao?
-   Anh Dũng hiểu con lắm.
Ông Minh hiểu con nhưng bà Minh thì không sao hiểu nổi, vì khi ở cỡ tuổi Phi Nga, mỗi lần nghe ai nói đến chuyện hôn nhân, cưới hỏi là bà không khỏi thẹn thùng, không dám bày tỏ ý kiến. Ngay lúc ông bà mới cưới nhau, mỗi lần đi chung bà vẫn thấy ngường ngượng.

Phi Nga thúc hối Dũng cưới gấp như vậy, liệu Dũng và Phi Nga có tránh được sự bồng bột của tuổi trẻ, quên cả giữ gìn cho nhau không? Bà Minh lo ngại lắm, nhưng bà không để lộ sự nghi ngờ ra ngoài vì Phi Nga không ghét gì hơn là bị người khác ngờ vực, hiểu lầm.
Phi Nga nói tiếp:
-   Anh Dũng có sẵn nhà rồi.
Ông Minh nói:
-   Không có thì cha có thể giúp nó.
-   Nhưng anh ấy không muốn thế.
-   ha hiểu nó. Lập gia đình thì phải đủ sức lo. Người đàn ông nào cũng tự ái như Dũng hết. Được, cứ để nó lo, bao giờ nó lo không xong rồi sẽ hay.
Bà Minh hỏi:
-   Thế ông Bính không lo cho nó sao?
Phi Nga nói:
-   Việc cưới hỏi phải có cha mẹ anh Dũng đứng ra lo, nhưng bên trong chắc anh Dũng phải lo hết, vì ông bà Bính đâu có giàu, anh Dũng còn hai người em nữa.
Bà Minh có vẻ nghĩ ngợi:
-   Mẹ vẫn không yên lòng. Việc gì con muốn con đều làm được, từ trước đến giờ đều như thế, nhưng việc hôn nhân là việc quan trọng. May một cái áo hay đan một cái khăn, thêu một cái bao gối, máy hư, thêu xấu, đan lộn con còn tháo ra sửa lại được. Chớ một khi lập gia đinh rồi, thấy mình lầm lẫn muốn xây dựng lại, đâu phải dễ. Mình đã mất mát quá nhiều trong cuộc hôn nhân ấy rồi.
Ông Minh nói:
-   Việc hôn nhân của nó do nó lựa chọn, sau này nó khỏi phiền trách chúng ta.
Sau khi trình bày với cha mẹ, Phi Nga mới cho hai em biết.
Phi Yến không tán thành:
-   Anh Dũng lù khù lắm, em không hiểu tại sao chị lại tha thiết lập gia đình với anh ấy? Cha mẹ có ép chị đâu. Anh Đình gần ra trường, sắp làm bác sĩ rồi mà chị lại không ưng.

Phi Anh không bày tỏ ý kiến riêng vì nàng mong Phi Nga có chồng cho rồi để nàng không còn bị chị chỉ trích mỗi khi làm một việc gì không chu đáo. Khác với chị, Phi Anh làm gì cũng bỏ dở dang, đàn một bản nhạc cũng đàn nửa chừng, thêu một cái áo cũng thêu lỡ dở.

Phi Anh không có gì ganh ghét với chị, nhưng bên một người chị có tài như thế, nàng cũng phải bực bội vì mình thua sút quá nhiều.
Mỗi khi thấy Phi Anh đàn sai một bản nhạc hay đan sai một đường kim, Phi Nga khuyên em đàn lại hay tháo ra đan lại thì Phi Anh hờn dỗi bỏ đi, không chịu nghe, không chịu sửa đổi.
Nhiều khi hai chị em xích mích nhau cũng vì Phi Anh cứng đầu mà Phi Nga không chịu được cách sống cẩu thả của em. Phi Yến không giống Phi Nga và cũng không giống Phi Anh, nói cười luôn miệng và không biết lo nghĩ gì hết. Phi Yến thích có một nếp sống nhung lụa, không thể chịu vất vả nhọc nhằn và cũng không có được tánh kiên trì.
Phi Anh thưòng nói với Phi Yến:
-   Chị Phi Nga đi lấy chồng rồi thì chị cũng xin cha mẹ đi Sài Gòn học đánh máy, kế toán. Chị Nga nghĩ lập gia đình là tìm một lối thoát hợp lý hợp tình, không phiền cha mẹ, không trái ý ai, nhưng chị, chị không muốn thoát ly gia đình kiểu ấy. Sống bên cha mẹ không phải là sướng hơn sao? Ở đây cha mẹ lo cho mình, lập gia đình mình phải lo tất cả, gánh cả một gánh nặng mà không biết chồng mình có phụ giúp mình được phần nào không? Chị sẽ xin đi học nghề và tìm việc làm để sống một cuộc đời tự do không bị ràng buộc.
Phi Yến hỏi:
-   Chớ ở đây ai ràng buộc chị?
-   Tình thương ràng buộc chớ còn ai nữa? Vì thương yêu cha mẹ, không nỡ làm trái lòng cha mẹ mà mình chịu ngồi yên một chỗ, không dám làm gì theo ý muốn của mình cả.
-   Tại sao cha không thích mình học nhiều hơn nữa, chị nhỉ? Em đậu trung học sớm quá, mới mười lăm tuổi, vậy mà cha không cho em học thêm. Mấy năm nay ở nhà, em cũng chả dám làm gì. Có phải tại chị Phi Nga nghỉ học sớm rồi mình cũng phải đi theo con đường ấy?
-   Không phải đâu. Cha không muốn cho chị em mình đi làm việc thì có học nhiều cũng chẳng ích gì.
-   Học để mở mang trí tuệ, mà dù có đi làm việc thì đã sao? Con Thúy Liễu đâu giàu gì hơn mình, vậy mà cha mẹ nó cho nó đi học, bây giờ nó đậu tú tài phần nhất rồi. Nó bảo nó sẽ học lên bác sĩ. Thế chị xin học nghề, liệu cha có bằng lòng không?
-   Bây giờ chưa chắc cha cho, nhưng đợi chị Phi Nga đi lấy chồng rồi, có lẽ cha sẽ bằng lòng. Cha vì vấn đề chánh trị không chịu ra làm việc, nằm yên một chỗ làm người ẩn dật, chớ còn chị em mình ở trong thời đại mới, làm sao sống như cha được? Cha cứ tưởng con gái chỉ có mỗi một nghề là nghề đi lấy chồng, cứ tưởng nghề nghiệp là chồng, sự nghiệp cũng là chồng và ai đi lấy chồng rồi cũng có hạnh phúc như mẹ cả.
Phi Yến cười khẩy:
-   Kể ra thì không ai sung sướng và vô tư như mẹ, cha lo hết, mẹ chỉ biết nuôi tụi mình. Nhưng chị đi học nghề rồi thì em ở nhà một mình buồn lắm, em cũng phải nghĩ cách làm một cái gì mới được. Chị Anh à, kể ra thì chị Nga có tài thật đấy, chị ấy làm cái gì cũng khéo hơn người khác, chính mẹ cũng phục chị. Chị không xuống bếp thì thôi chớ một khi đã tự tay nấu nướng thì món ăn nào cũng ngon, cũng vừa miệng. Những chiếc áo của chị Nga may còn đẹp hơn tay thợ rành nghề. Chị không thấy chị ấy vẽ tranh à? Hôm nọ anh Giang họa sĩ, bạn của anh Đình thấy chị Nga vẽ phục sát đất. Anh Giang có nói với anh Đình một câu mà em nghe lén được.
-   Câu gì?
-   Anh Giang bảo: “Giá chưa có vợ thì tôi sẽ cưới cô Phi Nga. Cô ấy là một thiên tài”.
-   Chị ấy đâu có học với ai đâu mà thiên tài!
-   Vì không học với ai mới là thiên tài chớ. Nếu có học thì là nhân tài mà thôi.
-   Em nhận xét thiên tài và nhân tài theo lối đó thì chị phục em hết sức.
-   Anh Giang còn định giới thiệu chị Nga với một giáo sư dạy vẽ cho chị học thêm, nhưng chị Nga không chịu.
-   Chị ấy vẽ để giết thì giờ chứ đâu phải ham mê cái nghề ấy.
-   Cha cũng khen chị Nga vẽ đẹp. Cha thích nhứt là bức tranh “Người gánh lúa” của chị. Gánh lúa mà như gánh cả một giang san, gánh cả cuộc sống của nhân loại, cha bảo thế. Anh Đình đòi mua bức tranh ấy với giá cao mà chị Nga không bán.
Phi Anh hỏi:
-   Anh Đình mua để làm gì?
-   Anh Đình mua cho anh Giang.
-   Tại sao anh Giang không hỏi mua?
-   Vì anh Giang là một họa sĩ mà hỏi mua tranh của một người chưa tên tuổi, anh ấy sợ mất mặt.
-   Không phải vậy đâu. Anh Đình mua là dể mua lòng chị Nga, chớ đâu phải mua tranh. Một bác sĩ mà biết gì về hội họa? Lại nữa anh Đình muốn cho chị Nga thấy anh ấy có tiền. Gặp chị thì chị bán ngay!
-   Đâu phải chỉ có một bức tranh ấy. Còn một bức khác nữa, vẽ một cô gái ở chợ về, tay xách giỏ, tay xách cặp gà.
Phi Anh bĩu môi:
-   Chị Nga vẽ những cảnh gì đâu, không thơ mộng chút nào. Chị thấy sao thì vẽ vậy và giờ đây lại đi yêu một anh chàng lù đù đến ngốc. Tại sao chị Nga lại yêu được anh Dũng, Yến nhỉ?

Chuyện hôn nhân của Phi Nga, cha mẹ và hai em đều không được ưng ý, nhưng Nga vẫn giữ ý kiến riêng của mình. Sau khi gặp lại Dũng lần thứ hai là Phi Nga bắt tay vào việc may áo quần cưới, thêu gối... Một mình Phi Nga tự thêu may lấy, chứ không thuê thợ, không nhờ hai em. Nàng tính là còn ba tháng nữa mới đến ngày cưới, ba tháng là đủ thì giờ cho nàng xếp đặt đâu vào đó.
Ông bà Bính đã nhờ mai mối đến hỏi và cả hai bên đã bằng lòng. Dũng có vẻ lo lắng, mỗi lần gặp Phi Nga là bàn tính về chuyện trang hoàng nhà cửa, tổ chức tiệc tùng. Phi Nga nói:
     Anh để đó cho em, em sẽ lo được.
Gần đến ngày cưới, Dũng mới cho Phi Nga biết bà Bính không phải là mẹ ruột của chàng. Hai em của chàng mới là con ông bà Bính, Dũng chỉ là con riêng của ông Bính. Mẹ chết từ lúc Dũng mới hai tháng. Dũng được cô ruột, tức em ông Bính, đem về nuôi cho đến khi lên năm tuổi, mới trả lại cho ông Bính, khi ông vừa cưới vợ khác, tức bà Bính bây giờ. Ông Bính sắp về hưu và sẽ dọn về ở quê vợ. Bà Bính có hưởng của cha mẹ một phần ruộng đất ở Biên Hòa và có lẽ khi Dũng lập gia đình rồi thì ông bà không còn ở đây nữa.

Phi Nga không lấy chuyện ấy làm quan trọng. Nàng chỉ biết có Dũng, lập gia đình với Dũng, phải tự tạo lấy một sự nghiệp, không thể dựa vào cha mẹ.
Dũng kể:
-   Lúc nhỏ anh không được mẹ yêu thương như hai em, và đến ngày nay, anh đã có nghề nghiệp, không còn là gánh nặng cho gia đình, vậy mà mẹ anh vẫn không thương hay nể gì anh cả, đôi khi nghĩ đến anh cũng buồn lắm. Ngày nay được sống trong tình yêu của em, anh sẽ tìm lại niềm tin ở tương lai. Những đứa trẻ thiếu tình thương cha mẹ thường bi quan, thiếu nghị lực, tự tin. Anh thua em xa lắm, anh không được cương quyết, không ham hố cái gì, đi dạy là vì sống chớ không thấy thích cái nghề của mình. Từ nay anh sẽ sửa đổi lại. Cha anh như một người bất đắc chí, không lo cho gia đình, con cái. Mẹ của anh phải lo hết và lẽ dĩ nhiên bà phải lo cho hai con bà. Với anh, bà luôn luôn có ý nghĩ không cần phải lo cho anh vì anh đã có cha lo, có gia đình bên nội, có họ hàng của mẹ anh. Vì thế mà từ lúc nhỏ, anh muốn làm gì thì làm, miễn không làm phiền đến bà mẹ kế, không chọc ghẹo đến hai đứa em khác mẹ là được.
Phi Nga khuyên:
-   Thôi, anh đừng nói đến chuyện ấy nữa. Việc gì đã qua hãy để nó qua. Bà mẹ kế của anh có ghét anh, không lo cho anh thì ngày nay anh cũng khôn lớn rồi, cần gì tình thương của bà ta nữa. Huống chi anh đã có nghề nghiệp. Hãy quên những gì không đẹp, và chỉ nghĩ đến cái ơn của bà đối với anh. Bà đã đem lại cho cha anh những ngày yên vui, đã săn sóc hai em của anh và giờ đây trong lúc cha già, bà đã ở bên cha, an ủi cha, vì anh đã ra sống riêng.
-   Em nói rất phải. Nhưng anh sở dĩ đem chuyện gia đình của cha mẹ anh ra nói với em là để em hiểu rõ để sau này khỏi phiền trách mẹ anh, nếu thấy người lạnh nhạt với em. À, mấy lúc nay em lo may áo quần phải không?
-   May áo cưới và sắm những thứ cần thiết. Em có nói cho mẹ em biết là em không cần sắm gì hết ngoài chiếc áo cưới. Vải may áo cũng là tiền cùa em mua. Hạnh phúc của chúng ta sau này không phải ở cái đám cưới linh đình hay những rương quần áo, đồ đạc mà cô dâu mang về nhà chồng. Làm sao cho nó giản tiện thôi. Anh cũng biết mẹ anh chớ, làm cái gì phiền phức cho bà, tốn thì giờ của bà là bà không thích. Còn cha em thì xưa nay không thích tiệc tùng, bạn bè nhiều rnà cái đám cưới này do chúng ta chủ trương, cha mẹ không phản đối là may chứ còn nói là tán thành thì không thể được.
Dũng gật đầu thú nhận:
-   Với cha mẹ anh cũng thế. Cha anh không ngờ anh lại cưới vợ gấp như vậy.
Một hôm Phi Nga đang ngồi may áo cưới thì bà Minh lại ngồi bên nàng, cầm chiếc áo lên xem:
-   Hàng này đẹp đấy chứ! Sao con không thuê người ta may? Con may thì làm sao đẹp được?
-   Bao giờ may xong, con sẽ mặc cho mẹ xem thử có đẹp không?
Phi Nga nói thêm:
-   May xong chiếc áo này, con sẽ may cho hai em con mỗi đứa một chiếc áo mới, màu xanh nhạt. Con đã mua vải rồi.
Bà Minh hỏi:
-   Con đã may cho con mấy bộ áo quần?
-   Hai chiếc áo dài, hai chiếc quần hàng trắng, ba bộ áo quần mặc trong nhà. Chừng ấy thứ đủ rồi. May sắm làm chi cho nhiều, tốn kém mẹ ạ.
-   Hình như ông bà Bính không tán thành việc Dũng cưới con?
Phi Nga buồn bã:
-   Không tán thành việc anh Dũng cưới vợ, dù cưới ai cũng thế chớ không phải là cưới con, nhất là cưới trong năm nay.
Rồi Phi Nga kể mẹ nghe chuyện gia đình Dũng. Bà Minh nói:
-   Thảo nào bà Bính đã nói: “Tôi không có quyền về chuyện tương lai của nó. Nhà tôi chủ trương thế nào cũng được”. Phi Nga à, mẹ thấy trước là con sẽ không tìm thấy hạnh phúc bên Dũng nên mẹ lo lắm. Hai em của con cũng không tán thành.
Phi Nga quả quyết:
-   Con tin chắc là con có hạnh phúc. Hai em con còn nhỏ hiểu gì? Huống chi Phi Anh và Phi Yến khác con nhiều lắm. Xin mẹ yên lòng.
Bà Minh lấy chiếc áo Phi Nga đang may ướm vào người nàng rồi nói:
-   Con mặc chiếc áo này chắc đẹp lắm. Đôi khi mẹ ân hận hết sức.
-   Mẹ ân hận về việc gì?
Bà Minh tâm sự:
-   Mẹ vì yêu cha con nên không màng chi hết, tiền bạc, địa vị. Tất cả mẹ không xem ra gì mà chỉ nghĩ đến cha, đến cái chí nguyện của cha. Và vì thế đối với các con, mẹ cảm thấy như người không đầy đủ bổn phận. Tại sao mẹ không tìm cách làm cho thật nhiều tiền để các con sung sướng hơn, có một nếp sống đầy đủ hơn?
Phi Nga ngạc nhiên:
-   Các con có phiền trách gì mẹ đâu. Chúng con vẫn thấy sống bên mẹ là hạnh phúc kia mà.
Bà Minh thở dài:
-   Thật thế không con? Mẹ cảm thấy dường như các con mỗi ngày mỗi xa dần mẹ.
Phi Nga cười:
-   Con cái lớn lên thì phải có cuộc sống riêng chớ mẹ. Mẹ đâu thể giữ mãi tụi con. Mà giữ làm gì cho khổ mẹ. Những đứa con nếu biết điều thì tự tìm lấy cuộc sống độc lập để đỡ cho cha mẹ những mối lo. Còn ở dưới mái gia đình, những đứa con dù lớn khôn, dù có học thức, có địa vị đến đâu, kẻ làm cha mẹ vẫn thấy những đứa con ấy hãy còn nhỏ... Mà đã thấy là còn nhỏ tức là phải lo lắng, phải săn sóc.
Ngừng một lát, Phi Nga nói tiếp:
-   Ví dụ con ở đây, con đi đâu về trễ là mẹ lo ngay ngáy đủ chuyện, đứng ngồi không yên, và khi thấy con về bình yên vô sự lúc ấy mới hú hồn. Còn như con có gia đình rồi, sống xa mẹ, mẹ đâu có những lo lắng ấy? Tránh bớt cho cha mẹ những lo lắng, những bực dọc là bổn phận của tụi con.
Bà Minh ngẫm nghĩ rồi nói:
-   Con nói cũng có phần đúng. Nhưng con lập gia đình với Dũng, mẹ vẫn thấy không yên lòng chút nào. Lương một giáo viên có là bao. Rồi đây con sẽ có con...
-   Lương của Dũng không đủ thì con sẽ làm thêm để phụ giúp gia đình.
-   Con trông vào những bức tranh, vào tài vẽ của con sao?
-   Chớ mẹ nghĩ con trông vào cái gì bây giờ? Nhưng ngoài những bức tranh, nếu có người chịu mua, con còn có thể thêu may để kiếm thêm tiền. Con và Dũng phải tạo một cơ sở vững vàng để lo cho con cái, để tương lai sáng lạng huy hoàng chớ mẹ. Ai ra đời cũng hai bàn tay trắng hết. Được mấy người thừa hưởng của cải của cha mẹ?
Phi Nga đã trấn an được mẹ về chuyện hôn nhân của mình với Dũng, nên bà Minh không còn phân vân nhiều nữa. Nhưng còn ông Minh, từ hôm Phi Nga xin phép được lập gia đình với Dũng, ông chưa có dịp để chuyện trò riêng với con. Ông rất thương yêu Phi Nga vì Phi Nga là đứa con đầu lòng và cũng vì Phi Nga có nhiều tài hơn các em. Ông Minh thường nói với nàng:
-   Con hiểu cha hơn hết.
Có nhiều chuyện, ông Minh bàn với Nga mà không bàn với vợ và chính Phi Nga cũng nhận thấy cha còn hiểu mình hơn mẹ.
Một hôm ông nhìn Phi Nga vẽ một bức tranh và hỏi:
-   Con đã lo xong áo quần về nhà chồng chưa mà ngồi vẽ như vậy?
-   Con vẽ vài tấm phong cảnh để treo phòng khách. Con lo xong áo quần cả rồi.
-   Cha không khỏi buồn khi thấy con tự lo tất cả... Lẽ ra cha mẹ phải lo cho con. Nhưng cũng tại con đảm đang quá, lúc nào cũng nhận lấy trách nhiệm.
-   Có gì đâu mà cha mẹ phải lo. Về việc hôn nhân cua con với Dũng, mẹ không được yên lòng. Còn cha, cha có hiểu cho con không?
Chưa kịp vào đề thì Phi Nga đã mở đầu câu chuyện, ông Minh vui vẻ:
-   Cha tin con tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống chung với Dũng. Nếu Dũng bất tài, yếu đuối thì đã có con, con thúc đẩy, khích lệ, khuyến khích Dũng. Con không phải hạng đàn bà ngồi im một chỗ chờ chồng mang đồng lương về. Con thích hoạt động, lại có tài.
-   Con cảm ơn cha đã hiểu con. Mẹ chỉ sợ với đồng lương của Dũng, Dũng không đủ lo cho gia đình.
Ông Minh gật đầu:
-   Mẹ con lo cũng phải. Nhưng nếu Phi Anh mà có chồng như con thì đáng lo vì Phi Anh không có sự kiên nhẫn và lòng hăng hái, say mê như con. Con bảo lập gia đình với Dũng con sẽ hạnh phúc, vì nói quả quyết như vậy nên cha yên lòng, chớ thật sự với thái độ lạnh lùng của ông bà Bính, cha mẹ làm sao không lo ngại.
-   Ông bà Bính tán thành là được, anh Dũng sẽ khỏi mang tiếng trái lời cha mẹ. Việc ông bà Bính lạnh lùng hay không chỉ là chuyện phụ thuộc. Chúng con đều ở vai chủ động, nếu chúng con không có hạnh phúc là lỗi tại chúng con...
-   Cha tin Dũng sẽ thương yêu con mãi mãi, và nhờ thế con sẽ tìm thấy hạnh phúc...
 
* * *

Dũng đưa Phi Nga lên quận xem qua căn nhà nhỏ ông hiệu trưởng đã nhường lại cho Dũng ở mấy lúc nay. Thấy ngôi nhà xinh xinh, vừa gọn gàng vừa đầy đủ tiện nghi, có vườn có giếng, Phi Nga vui mừng nói:
-   Ngôi nhà thơ mộng quá. Em sẽ trang hoàng nó không thua bất cứ một biệt thự sang trọng nào.
Dũng lo nghĩ:
-   Nhưng trang hoàng phải tốn tiền...
-   Em phải tìm cho ra tiền để trang hoàng ngôi nhà này.
Dũng ngạc nhiên:
-   Em tìm đâu ra tiền? Vả lại đây là nhà người ta, đâu phải nhà mình mà trang hoàng cho tốn kém. Mai mốt đây ông hiệu trưởng này đổi đi, ông khác đến, không có nhà sẵn như ông này, rồi đòi nhà lại thì có phải là toi công không?
-   Ở một ngày cũng trang hoàng. Vì mình cũng là chủ ngôi nhà đó một ngày. Huống chi ông hiệu trưởng này có đổi đi thì cũng phải chờ hết niên khóa, nghĩa là còn sáu bảy tháng nữa... Còn về chuyện tiền, có người chịu mua hai tấm tranh của em lâu rồi... Em cứ do dự không chịu bán.
-   Hai bức tranh nào?
-   Bức “Thằng bé tắm sông” và bức “Mẹ ngồi đan áo”.
-   Ai chịu mua?
-   Cái bà gì về nghỉ mát ở nhà ông hội đồng Tích... Hình như bà ấy có họ hàng với ông hội đồng.
-   Bà ấy làm nghề gì mà mua tranh? Đàn bà nước mình mà có người chịu bỏ tiền ra mua tranh thì cũng lạ đấy. Phần đông các bà có tiền là để sắm nữ trang, mua hột xoàn. Mấy người biết giá trị của một bức họa?
-   Bà này có chồng ngoại quốc.
Dũng kêu lên:
-   Có thế chứ! Và chắc là chồng bà có lắm tiền.
-   Hồi đó em chưa muốn bán, mặc dù bà ta cứ theo năn nỉ hoài...
-   Tại sao em chưa muốn bán? Chưa được giá à?
Phi Nga nói, đôi mắt xa xăm:
-   Vì hai bức tranh ấy chưa có gì đặc sắc, nét bút còn non lắm. Sự thật em chưa là môn đệ ai, chỉ tự học và vẽ theo sở thích. Bà ta mua hai bức tranh ấy vì em vẽ cảnh thôn quê nước mình, cảnh ấy mang qua Pháp, qua Mỹ sẽ lạ mắt thiên hạ... Nhưng lúc này vì cần tiền nên chắc em phải dẹp tự ái, bán càn để lấy tiền. Năm nghìn đồng lúc này (1) rất cần cho ta...

-   Em vẽ mất mấy ngày?
-   Vẽ suốt ngày thì độ một tuần là xong...
-   Một tuần mà kiếm được năm nghìn, khỏe thật! Anh hò hét cả tháng mà chỉ được trên ba nghìn...
Nói xong, Dũng thở dài...
Với ý định bán hai bức tranh để lấy tiền trang hoàng nhà cửa, Phi Nga liền đi quan sát các phòng, trù tính, vẽ kiểu và bàn lại với Dũng... Dũng chỉ nói chấm câu mỗi khi Phi Nga hỏi ý kiến chàng:
-   Em tính sao được thì thôi. Anh không thạo bằng em đâu...
-   Em phải ở đây một tuần để trang hoàng nhà cửa...
Dũng lo ngại:
-   Chúng ta chưa làm đám cưới, cha mẹ có để em lên đây với anh không?
Phi Nga ngạc nhiên:
-   Sáng lên, chiều tối về... Chúng ta sắp cưới nhau rồi, đâu có gì phải ngại. Anh không hiểu em sao mà lại hỏi vậy? Ái tình là một cái gì thiêng liêng và lâu dài, đâu phải là chuyện ham muốn chốc lát ... Nga sở dĩ muốn lập gia đình với anh, là vì Nga thấy anh đứng đắn, biết kính nể Nga và tôn trọng tình yêu. Nếu anh cũng như bao thanh niên khác, yêu thương bồng bột, ham muốn nông nổi thì không đời nào có chuyện đi trang hoàng nhà cửa như ngày hôm nay đâu.
Dũng vội vàng nói:
-   Anh hiểu mà... Anh đâu dám phạm đến bà chúa của anh...
Ngày hôm sau Phi Nga liền bắt tay vào việc. Với hai người làm công cho ông Minh. Phi Nga quét lại nước vôi, sơn cửa ngõ, làm cỏ xung quanh vườn. Rồi Phi Nga mua bàn ghế, giường nệm, may màn, gối, sắm chén bát. Nhiều người không khỏi ngạc nhiên về việc làm của Phi Nga. Người ta thì thầm với nhau:
-   Cô ấy tân thời quá, đi cưới chồng nên phải lo hết. Ông giáo Dũng vậy mà có phước! Nhưng ông bà Minh cũng dễ quá. Lẽ ra nhà trai phải lo những chuyện ấy...
Người ta bàn tán nhiều về cô con gái đầu lòng của ông Minh, nhưng vì dân chúng trong làng từ trước đến nay vẫn kính mến gia đình ông Minh, nên bàn tán mà không chê bai, bịa đặt nói xấu Phi Nga. Họ chỉ cho là Phi Nga tân tiến quá, muốn làm một cuộc cách mạng về chuyện cưới hỏi.
Dọn dẹp yên xong đâu đó, Phi Nga liền rước cha mẹ đến xem ngôi nhà mà nàng sắp về sống chung với Dũng. Bà Minh không khỏi ngạc nhiên:
-   Con này có đầu óc tổ chức thật! Nhưng rủi ông hiệu trưởng đòi lại nhà thì sao?
-   Bao giờ đòi sẽ hay, mẹ ạ.
Ông Minh nói:
-   Mẹ con lo xa như vậy rất phải... Cha phải nghĩ cách mua cho con một ngôi nhà ở quận, thì cái công con trang hoàng nhà cửa khỏi bị uổng. Con người vốn là giống ích kỷ, dù sao mình cũng thấy tiếc khi mình ra công làm cho người khác hưởng.
Phi Nga chỉ im lặng quay qua nhìn Dũng, chính Dũng cũng đã nghĩ như ông Minh, ông Minh nói tiếp:
-   Với một tổ ấm như thế này, cha tin con sẽ tìm thấy hạnh phúc. Và dù con không tìm thấy hạnh phúc thì con cũng đã tạo được hạnh phúc cho người con yêu...
-   Tạo được hạnh phúc cho người mình yêu tức là mình có hạnh phúc rồi, cha ạ...
Ông Minh nhìn Dũng rồi gật đầu:
-   Đúng vậy.
Dũng không giấu được sự bẽn lẽn:
-   Em Phi Nga có tài quá... Con không ngờ...
Ông Minh nói:
-   Nó nói phải... Người con gái khi ra lập gia đình mới có dịp phát triển tài năng, và khi có con mới đủ sức mạnh đương đầu với tất cả khó khăn trở ngại để nuôi con và bảo vệ hạnh phúc cho con cái.
Bà Minh ngồi lên chiếc ghế dựa, đưa mắt nhìn khắp phòng. Bà không bao giờ có được óc sáng kiến ấy. Ngày xưa ông bà nấu nướng như thế nào, bây giờ bà làm như thế ấy, không sửa đổi. Chiếc áo bà ba phải có tà, có đinh, cổ phải viền vì các cụ ngày trước mặc như vậy thì bà may như vậy. Nhà bếp của bà từ ngày bà về làm vợ ông Minh đến nay vẫn không thay đổi: cái sống chén để ở một góc, bộ ngựa kê bên hông cửa, lu nước gần cái lò và cái tủ để thức ăn bên cửa sổ... Năm này tháng nọ, những vật ấy không bị dời chỗ bao giờ. Cảm tình của bà có xê dịch phần nào đối với chồng con theo ngày tháng, nhưng những vật ở trong nhà vẫn nguyên chỗ cũ... Bà không bao giờ nghĩ những vật vô tri vô giác ấy lại có thể ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con người, có thể đem lại những ý nghĩ đẹp đẽ, vui tươi cho cuộc sống. Cái tủ là để sắp áo quần, cái ghế để ngồi, những vật vô linh hồn ấy cần gì phải thay cũ đổi mới cho tốn kém? Nhưng bây giờ được thấy căn nhà của Phi Nga, bà mới nhận ra sự cần thiết của nghệ thuật bày trí. Nó làm cho cuộc sống êm dịu và thơ mộng hơn lên rất nhiều.
Bà Minh chưa bao giờ thấy khoan khoái như lúc ấy cho nên khi ông Minh đứng dậy ra về, bà thơ thẩn như tiếc rẻ một cái gì.
Những hôm Phi Nga không đến, Dũng ngồi nhìn những căn phòng vừa trang hoàng xong, thầm nghĩ:
-   Phi Nga có tài như thế, liệu có chịu ép mình trong khung cảnh hẹp hòi của một người nội trợ không? Phi Nga có tự cho là đủ với bổn phận của một người vợ, người mẹ không? Hay khung cảnh này chỉ là chỗ dừng chân tạm thời để nàng phóng mình vượt qua một thế giới mênh mông, xa lạ khác, cái thế giới của nghệ thuật?
Và Dũng không khỏi lo lắng. Dũng không có tinh thần tranh đấu, lại không đủ can đảm để nhận lãnh một trách nhiệm lớn lao mà Dũng cho là quá sức mình. Khi Dũng được đổi về đây, người ta định giao cho Dũng làm hiệu trưởng một trường tiểu học, nhưng Dũng cứ lo sợ là Dũng mới ra trường, chưa có kinh nghiệm, điều khiển một trường có năm sáu lớp, Dũng làm không được. Dũng cứ nghĩ là mình vụng về trong giao thiệp, còn trẻ, khó có được uy tín, khó gây được tình cảm với các bạn đồng nghiệp. Vì thế ông Châu, một giáo viên lớn tuổi, đã làm hiệu trưởng thay thế Dũng.
Bây giờ sắp lập gia đình, Dũng lo lắng không biết mình có đủ tư cách làm chủ một gia đình không? Mặc cảm thua sút Phi Nga từ lúc còn đi học khiến ngày nay Dũng không dám quyết định một việc gì mà chỉ biết tán thành những đề nghị của Phi Nga.
Cũng như bà Minh, khi đến thăm ngôi nhà mới của Dũng, bà Bính đã ngồi im lặng một lúc lâu ở phòng khách, rồi mới nói với Dũng:
-   Thế là mẹ yên lòng, không còn lo nghĩ gì cho con nữa.
Dũng chưa hiểu bà kế mẫu ấy muốn nói gì vì từ trước đến giờ Dũng có bao giờ thấy bà vì Dũng mà lo nghĩ cái gì đâu. Dũng không phiền trách bà, không ganh tị với hai em là vì Dũng đã nghĩ như ông Mẫn Tử Khiên. Nếu không có bà thì ai lo cho cha, ai thương yêu săn sóc hai em của Dũng? Bà Bính nói tiếp:
-   Con hiền lành quá nên không bao giờ nỡ phiền trách mẹ không hề lo gì cho con... Nhưng chắc con cũng hiểu dùm mẹ là cảnh nhà quá thanh bạch, cha con ngoài đồng lương không biết làm gì ra tiền, vì thế mẹ phải lo cho hai em... Và lo cho hai em thành ra bỏ bê con. Nhưng may là con đã có nghề nghiệp, tuy không hơn ai nhưng cũng đủ sống, không đến nỗi thiếu thốn. Giờ đây con lại được một người vợ đảm đang, mẹ tin con sẽ tìm thấy hạnh phúc. Mẹ không còn ân hận về những thiếu sót của mẹ đối với con. Từ nay mẹ sẽ đem hết tâm trí để lo cho cha con và hai em. Cha con cũng gần đến tuổi hưu rồi, mấy lúc nay mẹ định dọn về quê mẹ. Có ít vườn tược, ruộng đất, mẹ sẽ trồng trọt, chăn nuôi và tuổi già của cha con sẽ được an nhàn. Trước đây mẹ đã bàn việc này với cha con, nhưng cha con còn do dự là vì con chưa có gia đình, không có người săn sóc, giúp đỡ. Bây giờ con gặp được Phi Nga, nó hiểu con, yêu thương con, tình yêu của nó sẽ thay đổi cuộc đời con từ vật chất đến tinh thần. Một cô gái biết trang hoàng nhà cửa như thế này trước khi về với chồng, cô gái ấy sẽ có đầy đủ bổn phận. Phần của con như thế là yên, mẹ mừng cho con mà cũng mừng cho mẹ đỡ đi một mối lo về tinh thần. Mẹ không đủ sức lo cho con, điều đó không ai trách mẹ, nhưng tự mẹ cảm thấy bất công đối với con...
Chưa bao giờ nghe người mẹ kế nói với mình những câu tình nghĩa như thế, nên Dũng vô cùng cảm động. Bà Bính hỏi:
-   Chỉ còn ba hôm nữa là ngày cưới, con còn việc gì phải lo nữa không? Có cần thêm chút ít tiền không?
-   Con đã lo tất cả rồi. Và con không bao giờ phiền trách mẹ. Tại sao mẹ phải phân trần như vậy? Hay có ai đã nói gì với mẹ?
-   Đợi gì có người nói mẹ mới hiểu những điều ấy. Đừng tưởng người mẹ kế nào cũng vô tình ích kỷ đâu.
-   Con không bao giờ nghĩ vậy, thưa mẹ.
-   Con là con trai nên không phiền trách mẹ, nếu là gái thì khó tránh những xích mích mẹ ghẻ con chồng. Xã hội luôn có thành kiến người mẹ ghẻ nào cũng độc ác và đứa con chồng nào cũng bị hất hủi, bỏ bê. Cũng thời con ghẻ nhưng đứa con trai bao giờ cũng dễ chịu hơn đứa con gái.
Dũng không muốn nghe bà Bính biện hộ cho những người đàn bà xấu số bước về gia đình chồng với cái chức “mẹ ghẻ”, nên nói:
-   Bao giờ con cũng nhớ ơn mẹ, mẹ đã đem hạnh phúc đến cho cha con, mẹ đã cho con một mái gia đình và những đứa em ngoan ngoãn.
Được yên tâm vì những lời nói của Dũng, bà Bính không còn ân hận gì nữa. Bà hết lời khen Phi Nga về cách trang hoàng nhà cửa, nhất là khi việc ấy không hề làm bà tốn đồng nào. Bà chỉ may cho Dũng một bộ âu phục, gọi là mừng Dũng nhân ngày trọng đại nhất đời chàng. Dũng sợ bà tốn kém nên xin trả tiền bộ quần áo ấy, nhưng bà không chịu. Bà thành thật nói:
-   Con hãy để cho mẹ làm bổn phận của mẹ. Con đi cưới vợ mà mẹ không tốn đồng nào thì vô lý lắm.
Dũng nói để bà yên tâm:
-   Mẹ không biết đó thôi, chớ Phi Nga cũng đã tự mình lo lấy tất cả, từ chiếc áo cưới cho đến những đồ đạc trang hoàng ngôi nhà này.
Bà Bính hỏi:
-   Thế ông bà Minh không lo à?
-   Không phải không lo, nhưng Phi Nga đã bán những bức tranh để lấy tiền lo việc đám cưới. Đâu phải bà Minh không phải là mẹ ruột của Phi Nga, cũng đâu phải ông Minh không có tiền. Nhưng Phi Nga muốn làm thế để tỏ cho con thấy là nàng yêu con và một khi tự mình chọn lấy người bạn đời thì mình phải lo liệu lấy, đừng để phiền cha mẹ. Tuy vậy, theo lời Phi Nga thì ông bà Minh cũng đã gửi ngân hàng cho ba đứa con, mỗi người một số tiền hồi môn...
-   Tiền hồi môn? Con có nghe là bao nhiêu không?
-   Con không nghe nói, và con cũng không hỏi. Phi Nga nói sẽ chỉ dùng tiền ấy trong những trường hợp khẩn cấp, không đào đâu ra được tiền mà thôi. Mẹ nên yên lòng đừng lo nghĩ nhiều về việc mấy lúc nay không săn sóc được cho con. Từ nhỏ con đã sống với bà con, nay ở với bác, mai ở với chú, khi bên nội, lúc ở bên ngoại, nên con đã quen với cảnh tự mình lo lấy cho mình...
-   Nhưng từ nay sẽ có Phi Nga săn sóc cho con. Mẹ yên lòng lắm. Thôi, mẹ về và lúc nào mẹ cũng cầu mong cho con được nhiều hạnh phúc.
Bà Bính ra về với những ý nghĩ vui tươi, đẹp đẽ. Trước đây khi Dũng ở với cô bác, những người có họ hàng với mẹ Dũng thường nói xấu bà, còn những người bên gia đình ông Bính thì lạnh nhạt với bà. Bà không phải không hay biết, nhưng đã làm ngơ giả điếc để đừng phải lãnh Dũng về. Đến khi Dũng hơi lớn, bà mới rước Dũng về nuôi. Lúc ấy Dũng đã giúp được bà nhiều việc, mà cái việc chánh là trông em. Lẽ ra khi Dũng thi đậu trung học là bà nên nghe lời chồng cho Dũng học thêm vài ba năm nữa để có bằng tú tài, rồi học lên đại học bằng cách vừa đi học vừa đi dạy. Nhưng bà không chịu, bà chỉ muốn cho Dũng có nghề nghiệp sớm, để đỡ cho bà một mối lo, để bà có thể đem toàn lực ra mà lo cho hai con bà. Bà chỉ sợ cảnh cha già con muộn, ông Bính về hưu khi hai con bà chưa thành tài, đỗ đạt... Bà tự bào chữa cho mình là bà không phải ích kỷ, rào cản con đường tiến thủ của Dũng, nhưng mà người mẹ nào cũng phải lo cho con mình trước... Ông Bính không thể cãi lại ý muốn của bà, không thể vì Dũng mà bỏ hai đứa con sau trong sự thiếu thôn hay để gia đình có chuyện lục đục.
Sau khi ở nhà Dũng về, bà Bính thường ngồi ngắm những đồ đạc và cách bày biện trong nhà của mình và không khỏi nghĩ:
-   Nhà này cũng không thiếu bàn ghế, đồ đạc, nhưng sao trông nó luộm thuộm quá. Vào nhà của thằng Dũng, mình thấy mát mắt và tâm hồn tự nhiên khoan khoái. Bao giờ dọn về quê, ta sẽ dọn dẹp nhà cửa thật gọn gàng. Những hình thức bên ngoài ngó vậy mà cũng cần thiết hết sức.
Bà nói với ông Bính:
-   Ông hãy lại thăm nhà thằng Dũng. Tôi thật phục tài của con Phi Nga. Không biết nó ở trường nào ra mà khéo léo như vậy.
Ngày nào bà cũng lặp lại những lời khen ấy, khiến ông Bính phải tò mò tìm đến nhà Dũng. Ông đi coi một vòng rồi nói với Dũng:
-   Vợ con có đầu óc lạ thật đấy. Nhà là của người khác, có chắc gì ở được lâu mà chịu tốn công trang hoàng như vậy. Nó đã lỡ trang hoàng như thế rồi thì con nên vận động cuối năm nay làm hiệu trưởng để được ở luôn đây.
-   Con đã lỡ trao chức hiệu trưởng cho ông Châu rồi, lấy lạl cũng kỳ. Coi bộ ông ấy hãnh diện với cái chức ấy lắm.
-   Lẽ dĩ nhiên là hãnh diện vì ở một quận nhỏ chức phận thường được người ta kiêng nể. Hiệu trưởng bao giờ cũng có quyền hơn giáo viên. Người ta đem con cái đến xin học phải thưa với ông hiệu trưởng chớ thưa với con sao?
Ngẫm nghĩ một lát, ông Bính nói:
-   Có một người vợ như Phi Nga, cuộc đời con sẽ thay đổi nhiều. Từ lúc còn nhỏ, con có tánh rụt rè, vì thế lớn lên con không được cương quyết, thiếu nghị lực. Cha tin tưởng con sẽ bỏ được tánh do dự và mạnh dạn lãnh trách nhiệm nếu cần. Người ta bảo người đàn bà co tài thường không có đức, nhưng theo cha thấy thì Phi Nga rất hiền lành, biết yêu thương con. Mà đã biết yêu thương con thì Phi Nga có thể hy sinh tất cả để cho con tìm thấy hạnh phúc. Mẹ con khen Phi Nga nhiều lắm và mừng con may mắn về đường nhân duyên. Mẹ con như con đã hiểu, ít khi chịu khen ai, nhất là khen người cùng phái, vậy mà bây giờ lại khen Phi Nga thì cũng lạ thật.
-   Ai đến đây và nhìn thấy ngôi nhà này cũng phải khen. Ông Châu còn không khỏi tiếc rẻ là đã nhường ngôi nhà này cho con ở. Cha thấy đó, bàn ghế, đồ đạc có gì là sang trọng hay mắc tiền đâu. Bàn cũ nhưng Phi Nga sơn lại. Ngay như cái tủ đựng thức ăn, Phi Nga lót vải dầu nên trông như mới. Chén bát cũng thế, Phi Nga lựa màu sắc tươi đẹp trông vừa mắt lắm. Chưa có gì cả cha ạ, mấy cái chén, vài cái đĩa, một ít ly tách vừa đủ dùng, nhưng Phi Nga đã tự lựa cho vừa ý. Những tấm màn cửa này cũng tự tay Phi Nga cắt. Phi Nga làm việc gì cũng vừa mau lại vừa đẹp.
Nhưng ông Bính thấy Dũng dường như có điều gì lo nghĩ chứ không được thoải mái lắm:
-   Nhưng ba trông con như có điều gì không được vui?
Dũng tươi cười nói để cha yên lòng:
-   Con không có điều gì lo nghĩ cả.
-   Tại sao con tính gấp chuyện hôn nhân? Trước đây ba tháng, cha có bàn với con về việc này thì con bảo để vài năm nữa. Có phải Phi Nga đã thúc hối con không?
-   Trước đây con chưa dám nghĩ đến chuyện hôn nhân là vì con sợ Phi Nga không bằng lòng lập gia đình với con, trong khi con đã yêu nàng từ lâu rồi.
-   Nhưng bây giờ con còn lo nghĩ gì nữa?
Để cha khỏi hỏi lôi thôi, Dũng nói:
-   Con sợ rủi Phi Nga thay đổi ý kiến thì cũng phiền... Thà cưới hỏi cho rồi để yên xong đâu đó.
Ông Bính gật đầu:
-   Con nghĩ như vậy là phải. Đời bây giờ các cô thiếu nữ hay ham muốn một cách dễ dàng...
-   Không phải trường hợp của Phi Nga... Phi Nga mến con lắm. Có nhiều nơi sang giàu đến hỏi mà Phi Nga không ưng, nàng bảo con hiểu nàng... Vợ chồng trước nhất phải hiểu nhau thì mới sống lâu dài bên nhau được. Nhưng tại sao cha lại nghĩ là con lo lắng việc gì?
-   Mặt con trông bơ phờ... Từ khi con còn nhỏ, hễ có việc gì lo nghĩ là nét mặt con như thế đó, cha còn lạ gì! Khi con đi thi tiểu học rồi trung học, nét mặt con như thế đó: đôi mắt sụp mi, vành môi trên như cuốn lên...
Dũng đành thú thật:
-   Phi Nga tài giỏi quá... Con thấy mình thua sút.
-   Thua sút cái gì? Nó đậu trung học, con cũng đậu trung học... Đâu phải nó học tú tài, cử nhân gì mà bảo là hơn con?
-   Phi Nga vẽ giỏi, làm việc gì cũng khác thiên hạ, tính toán việc gì cũng đúng. Bắt tay vào việc gì thì việc ấy cũng thành công, kết quả.
Ông Bính khuyên:
-   Nếu con giữ mặc cảm thua sút Phi Nga là hỏng. Con sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc. Cha hỏi thật, Phi Nga có tỏ ý gì khinh dễ hay chê bai con không?
Dũng vội nói:
-   Nếu khinh dễ hay chê bai thì Phi Nga đâu thèm kết hôn với con.
Ông Bính thở ra:
-   Như thế thì thôi, chuyện gì con phải thắc mắc? Có phải Phi Nga đã thúc hối con làm đám cưới gấp chăng? Con cứ nói thật cho cha biết. Hay là nó đã lỡ có thai với con?
Dũng đứng ngay dậy:
-   Không bao giờ Phi Nga lại như thế. Nàng xem con như một người bạn và đôi khi con có cái cảm giác Phi Nga chỉ là một bạn thân, một bạn trai. Nếu con mà không đứng đắn với Phi Nga thì chắc chắn không bao giờ có chuyện hôn nhân này. Các bạn của con bảo Phi Nga không dễ gì mà chọc ghẹo được. Gần nàng họ phải cảm mến nàng, và đôi khi sợ nàng là khác.
-   Như vậy con không nên nghĩ ngợi nhiều, hãy hiểu Phi Nga và đừng nuôi mặc cảm thua sút nó. Vợ chồng phải kính nể nhau. Con kính nể nó thì nó sẽ kính nể con. Nó không thấy con thua sút nó nên nó mới chọn con và chê những thanh niên có địa vị, có tiền của hơn con. Con hay lo nghĩ những chuyện không đâu. Như thế sẽ làm cho hạnh phúc của con bị lung lay, giảm mất giá trị.

Ông Bính khuyên lơn Dũng rất nhiều rồi mới ra về. Thấy cả cha và mẹ đều tin tưởng ở Phi Nga, Dũng cũng yên lòng. Từ hôm ấy đến ngày đám cưới, nét mặt của Dũng đã tươi tỉnh, hân hoan như lúc nghe Phi Nga tỏ ý muốn lập gia đình cùng chàng.
 
Chú thích :
 
(1)                tương đương lớp chín ngày nay
(2)               Đơn vị tiền tệ ở miền Nam khoảng năm 1960




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.04.2015 16:37:47 bởi Ct.Ly>
Chương 2
 
 

Phi Nga bày bàn, sắp chén đũa và nhìn đồng hồ. Sắp đến giờ tan học rồi. Các món đồ chín tất cả chỉ chờ Dũng về là hai vợ chồng ngồi vào bàn. Dũng xấu đói lắm, về đến nhà chỉ kịp rửa mặt và hai tay xong là kéo ghế ngồi vào bàn ăn.
Phi Nga mơ màng nhớ lại những ngày đã qua. Một đám cưới giản dị đầy thân mật, không có chuyện đi hưởng tuần trăng mật. Sau ngày cưới nàng bắt tay vào việc nội trợ, không có người giúp việc mà Dũng cũng chỉ nghỉ được có ba ngày. Nàng về với Dũng đến nay đã đúng một tuần. Một tuần hạnh phúc vô biên vì cả hai đều yêu thương nhau và hiểu nhau. Dũng trẻ ra và yêu đời hơn trước. Chàng không còn thấy mệt nhọc, uể oải sau giờ dạy vì bây giờ ở trường về nhà, chỉ cách một quãng đường rất ngắn, chàng thấy ngay nét mặt vui vẻ, xinh đẹp của Phi Nga. Nàng đứng đón Dũng ở tận cửa ngoài. Từ bỏ cái không khí ồn ào của lớp học, Dũng bước ngay vào thế giới của tình yêu và tuổi trẻ. Những nụ hôn nồng cháy, những nụ cười âu yếm, những câu nói tình tứ, những cái nhìn trìu mến... làm cả hai như sống ở một thế giới riêng biệt. Ngồi bên nhau, họ không cần biết những gì đang xảy ra bên ngoài, xung quanh họ.
Chưa bao giờ Dũng được ăn những bữa cơm ngon lành như từ lúc về với Phi Nga. Dũng chưa bao giờ được ai săn sóc như lúc này. Có hôm Dũng cầm lấy đôi tay của Phi Nga hôn say sưa:
-   Đưa anh xem đôi tay của em ra sao mà em đã mang lại cho anh bao nhiêu hạnh phúc? Cái gì do bàn tay của em làm ra cũng đều đem lại cho anh niềm yên vui cả. Đôi tay của em là đôi tay của nàng tiên xinh đẹp.
Phi Nga cũng nhận thấy Dũng yêu nàng tha thiết, chân thành, nên nàng cố tạo cho nếp sống của hai người tất cả những gì êm đềm, hòa thuận. Nàng lo cho Dũng từng li từng tí, làm lụng suốt ngày, hết nấu nướng đến thêu may, dọn dẹp, nhờ vậy mà những bữa cơm được ngon lành, nhà cửa lúc nào cũng ngăn nắp, sạch sẽ. Tối đến, sau bữa cơm, Phi Nga còn giúp Dũng chấm bài, hay Dũng đọc sách với Phi Nga ngồi vẽ bên chàng.
Tuy bận rộn như thế nhưng Phi Nga vẫn thấy chưa tận dụng hết sức hoạt động của mình. Lo cho Dũng chưa đủ, Phi Nga cần phải làm một cái gì khác. Lúc còn ở với cha mẹ, Phi Nga có một căn phòng riêng biệt dùng làm “xưởng vẽ”. Thỉnh thoảng nàng vào đó mở tung cửa sổ, chống tay vào thành cửa nhìn ra ngoài vườn. Một con bướm lượn qua, một hàng tre nghiêng ngã bên lối đi, một đôi chim rỉa cánh trên cành lựu, một đóa hồng tươi đẹp vừa nở đêm qua... đều có thể là đề tài cho Phi Nga. Nàng hứng lên là ngồi vào ghế và vẽ say mê quên cả ăn uống.
Từ ngày nhận lời làm vợ Dũng, bận rộn với chuyện dọn nhà, lo đám cưới, Phi Nga quên mất thú vui tô vẽ của mình. Nàng cần một căn phòng riêng biệt hay một xó xỉnh nào đó, miễn sao đừng có những cặp mắt tò mò soi vào để nàng có thể làm việc tự do. Những lúc ấy, nàng dường như sống trong một thế giới riêng biệt. Nàng không muốn ai lọt vào đó, dù là Dũng, người thân yêu nhất của nàng hiện giờ. Lúc còn ở nhà với cha mẹ, nàng cũng cảm thấy cần có những lúc sống một mình như thế. Khi ngồi một mình trước bức họa và làm việc say mê, nàng không bao giờ thấy mình cô độc. Trái lại, có lúc nàng ngồi bên hai em hoặc giữa đám đông mà lại thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết.
Sống những ngày hạnh phúc nhất của người con gái mới bước chân về nhà chồng, Phi Nga quên bẵng đi thú tiêu khiển trước đây của mình, nhưng giờ đây trong lúc bày bàn ăn chờ Dũng về, Phi Nga bỗng nhớ ra và tự nghĩ:
-   Thảo nào mà mình có cảm giác như chưa dùng hết sức hoạt động của mình.
Dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng may vá, những việc ấy Phi Nga đã làm như một cái máy... Những chuyện ấy không đòi hỏi ở Phi Nga một chút nhọc mệt nào của đầu óc. Với Phi Nga, làm việc mà đầu óc không mệt nhọc là chưa phải làm hết sức mình...
Đầu óc đang bận rộn về chuyện chưa dùng hết thì giờ, nên khi Dũng bước vào cửa, sau cái hôn thường lệ, Phi Nga nói ngay:
-   Em phải tìm một góc nào đó để tạo một chỗ làm việc riêng cho em mới được.
Dũng tươi cười hôn lại vợ:
-   Cái nhà bếp không đủ cho em múa máy tay chân sao? Anh thấy em bận rộn suốt ngày.
-   Em muốn nói cái xưởng vẽ của em đấy chứ...
Dũng lo lắng nhìn Phi Nga:
-   Lại nghĩ đến chuyện sáng tác rồi à? Thì hãy sáng tác cho anh một đứa con đã.
Phi Nga choàng hai tay qua cổ Dũng, ghì đầu chàng xuống:
-   Ừ nhỉ, phải lo sáng tác chuyện ấy trước đã. Thích quá nhỉ! Một đứa con... Còn bức tranh nào đẹp bằng bức tranh ấy... Một đứa con... Những tiếng cười nói của nó sẽ là những bản nhạc làm rộn rịp ngôi nhà này...
Thế là Phi Nga bỏ dở ngay chuyện tìm một chỗ để đặt cái giá vẽ của mình.
Dũng đi thay quần áo, rửa mặt rồi trở ra kéo ghế ngồi trước bàn ăn. Phi Nga cũng vừa bưng tô canh cá nóng hổi lên, khói nghi ngút. Những miếng cà chua màu đỏ, những cánh hành ngò màu xanh, cùng với những miếng thịt cá trắng nõn nằm trong cái bát sành màu tím nhạt đặt giữa một cái đĩa cùng màu có vẽ hoa làm Dũng thấy nôn nao đói... Không kịp đợi vợ cùng ngồi vào mâm, Dũng cầm muỗng múc canh vào chén, miệng khen:
-   Em có món canh này ngon tuyệt...
Nhưng khi Phi Nga đặt thêm đĩa xà lách lên bàn thì Dũng kêu lên:
-   Một bát canh, hay một đĩa thức ăn của em soạn là một bức tranh đầy đủ màu sắc hòa hợp đẹp mắt. Ăn một bữa cơm mà thị giác, khứu giác, vị giác đều được thỏa mãn thì em thật là một người nội trợ hoàn toàn. Mẹ anh không bao giờ biết trộn xà lách như thế này... Mát miệng đã đành mà còn mát cả mắt nữa...
Phi Nga đã dẹp chuyện vẽ tranh lại rồi, nhưng không ngờ Dũng lại bươi ra bằng cách khen về hình thức những món ăn của nàng, vì thế Phi Nga buộc lòng phải nói:
-   Trong khi em chưa tạo ra được một xưởng vẽ thì em tạm lấy cái nhà bếp làm nơi sản xuất những bức tranh với màu sắc đẹp mắt, ngon miệng anh.
Dũng gật đầu:
-   Nhưng chính những bức tranh này mới cần cho anh, cho hạnh phúc của đôi ta.
Nghe Dũng nói thế, đôi mắt của Phi Nga bỗng đăm chiêu và trong giây phút ấy, Dũng cảm thấy Phi Nga dường như xa cách hẳn mình, dù vẫn ngồi sờ sờ bên chàng.
Dũng hỏi:
-   Em nghĩ gì mà thừ người ra như vậy?
Phi Nga giật mình:
-   Em đang nghĩ đến hạnh phúc của đôi ta. Lúc nãy anh nói đến chuyện sáng tác một đứa con, một sáng tác đầu tiên của chúng ta, khiến em đã dẹp lại trong cái ngăn kéo tận cùng của đầu óc em chuyện tạo ra một nơi yên tĩnh làm xưởng vẽ. Sao bây giờ anh cứ nhắc đi nhắc lại hoài nào là bức họa, nào là màu sắc, khiến cái ngăn kéo đó bị lôi ra lại, và em lại bị lôi cuốn vào chuyện tranh, chuyện vẽ. Có phải là đáng lo không?
Dũng ngơ ngẩn nhìn Phi Nga. Gương mặt nàng sáng ngời lên nhứ lòng đang bị nung đốt bởi ngọn lửa nào đó, chắc chắn không phải là ngọn lửa do tình yêu tạo nên.
Cũng có nhiều lúc nét mặt của Phi Nga sáng ngời lên như thế nhưng cái sáng ngời ấy do tình yêu nung đốt nên Dũng liền nhận được ở đôi môi nàng những cái hôn nồng nàn tha thiết... Nhưng lần này thì lòng Phi Nga đang bị thần nghệ thuật hành hạ và làm xao lãng trong giây lát sự yêu chồng... Chỉ là xao lãng trong giây lát, nhưng Dũng thấy dài vô tận... Vốn yếu đuối nên luôn thiếu tự tin, ngày nay mặc dù đã nắm trong tay tình yêu và hạnh phúc do Phi Nga tạo cho, Dũng vẫn lo lắng những vật quý báu ấy sẽ không còn ở với chàng nếu chàng cứ để Phi Nga cảm thấy thiếu thốn một cái gì hay ngăn trở Phi Nga đeo đuổi ham thích của nàng. Dũng liền nói:
-   Nếu em cần thấy có một nơi yên tĩnh để vẽ những lúc anh đi vắng thì em cứ ngăn bớt căn phòng ngủ...
Phi Nga không để Dũng nói hết lời:
-   Phòng ngủ như vậy là chật quá rồi... Ngôi nhà này chỉ gồm có một phòng trước dùng làm chỗ tiếp khách và đặt bàn ăn, một phòng ngủ và một nhà bếp. Muốn mở xưởng vẽ phải làm thêm cái gác ở trên bếp, hay phải che thêm cái chái. Em sẽ nghĩ lại, nhưng cũng không cần gấp đâu anh. Chúng ta còn chán thì giờ.
-   Chỉ sợ lúc em có con thì em không còn ngày giờ nữa chứ. Có nên lợi dụng lúc em chưa bận rộn con cái không?
Phi Nga hỏi như để hỏi chính mình:
-   Những đứa con có là trở ngại đáng kể cho sự nghiệp của người đàn bà không, nếu họ có sự nghiệp, hay nếu họ thật sự muốn tạo cho họ một sự nghiệp?
Hỏi xong câu đó, Phi Nga ngồi trầm ngâm trước mâm cơm, quên cả ăn.
Dũng nói, từng tiếng của chàng rơi ra nặng nề trong bầu không khí im lặng lúc bấy giờ:
- Theo ý anh, sự nghiệp đáng kể cúa người đàn bà là chồng con.
Phi Nga không cãi lại, nàng chỉ nói:
-   Sang năm chúng ta sẽ có một đứa con, anh đồng ý chớ?
Dũng bỗng lo lắng:
-   Đợi vài năm nữa hãy có con. Có con sớm em sẽ khổ, kéo dài thời kỳ trăng mật lâu chừng nào thì chúng ta được hưởng hạnh phúc lứa đôi nhiều chừng ấy.
-   Nhưng đứa con có làm giảm mất hạnh phúc lứa đôi của chúng ta không?
-   Em cứ nhìn gia đình chị Loan thì rõ. Chị ấy có chồng mới ba năm, đã hai lần làm mẹ. Suốt ngày chị ấy đầu bù tóc rối, anh Phẩm chồng chị, không còn chút hứng thú mỗi khi về nhà. Nào tiếng khóc của con, tiếng than của vợ, rồi thì nhà cửa bừa bãi, bếp núc dơ bẩn. Còn đâu cái cảnh thuở ban đầu...
-   Lỗi tại chị Loan! Em mà có được hai đứa con như chị Loan thì anh sẽ thấy em săn sóc chúng nó như thế nào.
-   Hãy nghe lời anh đi, khoan nghĩ đến chuyện có con đã.
Phi Nga nhún vai vẻ bất bình:
-   Anh thật dễ thay đổi ý kiến. Lúc nãy bảo em hãy nghĩ đến chuyện sáng tác một đứa con, bây giờ bảo em hãy đợi vài năm nữa. Bực mình chưa? Anh nên nhớ em mà muốn thì không ai cản nổi đâu nhé.
Dũng liền nói:
-   Thì tùy em vậy. Anh chỉ sợ em mệt, em khổ vì con cái nheo nhóc. Em không thấy chuyện có con là mệt thì tùy em vậy, sau này đừng đổ lỗi cho anh.
Phi Nga trớ lại vui vẻ và lườm Dũng:
-   Từ nay không nên do dự như vậy. Đàn ông phải cương quyết mới làm nên việc.
Dũng nhận lỗi:
-   Anh hay do dự quá. Tánh anh từ trước đến giờ như thế, biết làm sao bây giờ.
Phi Nga đợi Dũng ăn xong, dẹp bàn và đem chén đĩa xuống bếp. Dũng nói:
-   Để anh phụ em dọn dẹp. Anh cứ nằm dài như các cụ đồ nho ngày trước, lỗi thời lắm! Đời này chồng vợ phải đâu lưng sát cánh bất cứ trong công việc gì. Trong khi vợ làm lụng mà mình nằm dài đọc báo, đọc sách để chờ thức ăn tiêu hóa thì vô lý lắm.
Vừa nói Dũng vừa lấy giẻ lau bàn, dọn ghế và mang chén đĩa xuống bếp. Phi Nga nói:
-   Anh giúp em thì công việc mau rồi, em rảnh tay sẽ lên ngồi bên anh. Chúng ta có nhiều thì giờ bên nhau, có phải là vui hơn không?
Phi Nga vừa sắp chén dĩa xong thì bên ngoài có tiếng giầy đi vào sân. Phi Nga nhìn qua cánh cửa sổ nhà bếp thì thấy Loan và Phẩm khoác tay nhau đi lên thềm. Phi Nga vội vàng rửa tay rồi chạy lên nhà trên. Lúc ấy Dũng đã đứng dậy ra đón bạn:
-   Anh chị đến chơi, mà tụi này không biết trước.
Loan hỏi:
-   Biết trước để lo đãi đằng phải không?
Phi Nga cười:
-   Vậy mới phải chớ...
Phẩm nói:
-   Từ hôm đưa cô dâu về đây, chúng tôi chưa có dip đến thăm anh chị. Thế nào, hạnh phúc lắm phải không?
Phi Nga chỉ nói mấy tiếng cảm ơn thường lệ trong khi Dũng vui vẻ nói:
-   Phi Nga thay đổi hẳn tôi, anh chị ạ...
Loan nói:
-   Chị giỏi thật. Nhưng rồi đây có con, anh sẽ biết. Anh Phẩm cứ than như bộng. Con nít thì hay khóc, vậy mà anh ấy bảo không chịu được. Suốt ngày tôi lo cho hai con, anh về đến, cơm có trễ, canh có nguội là anh càu nhàu muốn điên lên được.
Phẩm nghe vợ đem chuyện nhà ra nói liền lườm vợ:
-   Đến nhà vợ chồng mới cưới mà than thở như vậy là kém xã giao nghe chưa bồ?
Bị chồng cảnh cáo, Loan quay qua nói chuyện khác:
-   Ông hiệu trưởng buồn cười thật! Từ hôm đi dự đám cưới anh chị, ông ấy dường như tiếc rẻ là đã để cho anh chị ở ngôi nhà này...
Dũng hỏi:
-   Tiếc rẻ cái gì vậy chị?
-   Tiếc rẻ vì thấy chị Nga trang hoàng ngôi nhà này đẹp quá. Coi bộ ông ta muốn lấy lại.
-   Có lấy lại cũng đợi hết niên khóa đã chớ.
Loan nói:
-   Tội gì trả lại? Anh cứ vận động lấy lại chức hiệu trưởng đi. Anh muốn không? Tôi giúp cho.
-   Chị quen với ai hả chị Loan? Quen với ông trưởng ty hả? Hay ông quận trưởng?
-   Quen với ai miễn là lấy lại chức hiệu trưởng cho anh được thôi.
Phẩm nói:
-   Cái ông ấy coi vậy mà nhỏ nhen quá, đã có nhà của cha vợ rồi mà còn tham lam. Người ta đã nhường chức hiệu trưởng cho mà không biết cám ơn... Anh Dũng à, anh không vận động làm hiệu trưởng thì năm tới anh sẽ mất ngôi nhà này cho mà xem.
Loan nói thêm:
-   Ngôi nhà này lúc bỏ trống không ra gì nên ông ấy chê, bây giờ chị Nga đã trang hoàng đẹp đẽ nên nó ăn đứt những biệt thự nửa quê nửa tỉnh ở đây. Chị Nga à, chị phải thúc anh ấy đi vận động làm hiệu trưởng. Bao giờ anh chị vận động không được, tôi sẽ nói giúp cho.
Phi Nga nói:
-   Cái đó tùy ở anh Dũng. Trước đây anh không chịu làm hiệu trưởng, bây giờ sau khi cưới vợ lại đòi làm, người ta sẽ nghĩ là tôi xúi xử và thế nào họ cũng bảo là cái tụi đàn bà thích làm lớn, ham chức vị quyền thế và bất cứ ở đâu có đàn bà là có chuyện lôi thôi xía vô chuyện của chồng.
Loan nói:
-   Ăn thua gì cái chuyện làm hiệu trưởng đã cực khổ mà lương hướng cũng chẳng lên được là bao. Địa vị quyền thế gì một ông hiệu trưởng ở một trường quận, có làm lớn thì cũng chỉ làm lớn được với mấy đứa học trò, bắt nạt được ai? Nhưng mình cần giữ cái nhà này để ở, chị Nga ạ. Tôi tiếc cái công chị trang hoàng lắm.
Rồi Loan quay qua Dũng:
-   Anh nghĩ sao hả anh Dũng? Không dám làm hiệu trưởng hả? Anh lười thật đấy. Việc đời đâu phải dễ như anh nghĩ, phải tranh đấu mới được. Anh cứ buông xuôi thì hỏng tất cả.
Phi Nga nhìn Dũng và nghĩ:
-   Chị Loan nói vậy mà đúng. Ngay như chuyện hôn nhân, nếu ta không đề nghị với anh ấy trước thì chắc anh cũng để buông xuôi rồi.
Dũng thấy vợ nhìn liền nói:
-   Bây giờ đến nghỉ hè còn ba tháng nữa. Để xem ông ấy tỏ thái độ thế nào đã. Bây giờ thì ông ta vẫn tử tế với tôi, tôi không nghe ông ta nói gì về chuyện nhà cửa hết.
Phi Nga thấy chuyện nhà cửa không làm Dũng vui, liền nói với Loan:
-   Anh chị dùng bánh ngọt nhé. Tôi đi pha trà.
-   Uống trà giờ này làm sao ngủ được? Thôi, chị cứ ngồi đây nói chuyện, đừng đi pha trà làm gì. Chúng tôi cũng vừa ăn xong.
-   Thì để tôi làm nước cam hay nước chanh vậy.
Loan vẫn ngăn bạn:
-   Chúng tôi không khát.
Rồi kéo tay Phi Nga ngồi xuống. Loan hỏi:
-   Chị đi thăm ai chưa? Bà hiệu trưởng, các cô giáo bạn của anh Dũng? Những bà trong quận này?
Phi Nga lắc đầu:
-   Tôi chưa và có lẽ cũng không đi thăm ai hết. Ở đây tôi chỉ quen chị. Những người kia gặp thì chào hỏi, còn không thì thôi.
Phẩm cười:
-   Tôi biết mà. Lúc này chị chỉ thích làm quen với anh Dũng.
Phi Nga tỉnh bơ:
-   Đúng vậy.
Loan cũng cười:
-   Chúng tôi thật không ngờ anh chị lập gia đình với nhau. Bạn bè quen thân rồi thường không muốn sống chung nữa.
Phi Nga hỏi:
-   Tại sao vậy? Quen nhiều thì hiểu nhau chớ có sao đâu. Hiểu nhau mới ở đời với nhau được chứ.
Loan lắc đầu:
-   Tôi không nghĩ như chị, quen quá hóa lờn thì còn đâu là sự kính nể nữa, lại nữa quen nhau quá, còn gì lạ với nhau nữa đâu...
Phẩm nhìn vợ cười:
-   Vì nghĩ thế mà mình đã chọn tôi, vì tôi với mình không quen nhau từ trước?
Loan lườm chồng:
-   Đừng nói chuyện mình, nhàm tai anh chị Dũng...
Phi Nga muốn xoay câu chuyện qua một chiều khác liền hỏi:
-   Sao anh chị không đem hai cháu đến đây chơi?
Loan nói:
-   Đi đâu mà mang trẻ con theo thì khổ lắm, lại nữa chúng nó có để yên cho mình nói chuyện đâu. Chị Phi Nga chắc chưa muốn có con lúc này...
Dũng nghĩ Loan và Phẩm đã có nhiều kinh nghiệm về chuyện con cái nên hỏi:
-   Vợ chồng đến lúc nào thì nên có con hả anh chị?
Phẩm giành trả lời trước:
-   Ba năm sau ngày cưới. Có con sớm mất vui...
Dũng nhìn vợ:
-   Em nghe chưa?
Phi Nga hỏi Loan:
-   Còn ý kiến chị thế nào?
-   Chuyện ấy đâu phải muốn là được. Mình có con thì mình cực, đàn ông họ cực cái gì mà than? Đẻ con ra cho họ thương yêu, lại ban cho họ cái chức làm cha vậy mà họ không muốn, thật ích kỷ hết chỗ nói.
Phẩm cãi:
-   Ban cho chức làm cha rồi ngồi khoanh tay mà hưởng sao? Không đặt lên đầu, lên vai người ta bao nhiêu là bổn phận mới sao? Rồi thì vợ đẻ con bịnh, không chạy tiền hụt hơi sao? Các bà đâu thấy những chuyện phiền ấy, các bà cứ thấy chuyện mang nặng đẻ đau, nuôi con nuôi chồng mà không thấy cái khổ tâm của chồng trong trường hợp ấy...
Loan nói:
-   Thôi đi, ai mà cãi lại cái miệng của anh. Anh và anh Tuấn khác nhau một trời một vực.
Dũng hỏi:
-   Anh Tuấn nào?
-   Anh Tuấn làm ở Tòa hành chánh tỉnh này. Chị Tuấn sợ có con lắm, chị mới sanh có hai đứa con là tìm cách ngừa không cho có con nữa. Anh Tuấn thì ham con lắm, vì thế gặp ai anh cũng nói: đàn bà sao kỳ quá, đẻ con đẹp đẽ, dễ thương như vậy mà lại không thích, cứ kêu rên là khổ là bịnh hoài. Theo tôi thấy, người đàn bà cao quí và được đời kính trọng, nể nang là nhờ đẻ con đẻ cái để nhân loại khỏi diệt vong. Tôi mà có tiền thì tôi mở một viện dục anh tại nhà tôi, để hằng ngày được nhìn những đứa trẻ đùa nghịch, chạy nhảy. Mỗi đứa trẻ là một nguồn sống, hàng ngày mà được nhìn những mầm sống ấy thích quá.
Phẩm nói đùa:
-   Hay để anh ấy đẻ thế cho vợ?
Phi Nga nói:
-   Phải chi được thì chắc anh Tuấn cũng sẵn sàng.
Phẩm hỏi:
-   Thế anh chị có thích con nít không?
Phi Nga cười:
-   Ái tình phải đi đến hôn nhân và con cái là nguồn bảo đảm cho hạnh phúc gia đình.
Phẩm nhìn Dũng lắc đầu:
-   Đàn bà khó hiểu lắm phải không anh Dũng?
Loan nói:
-   Chính các anh mới là khó hiểu.
Phi Nga nói:
-   Thôi cãi làm gì. Hãy nói chung con người thật khó hiểu. Như vậy không ai tranh chấp làm gì.
Phẩm cười:
-   Như thế là huề cả làng. Nói thì nói vậy chớ tôi cũng chúc anh chị đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái.
Dũng hỏi:
-   Để theo kịp anh chị và cũng để nếm mùi con khóc, con la chứ gì?
Phẩm cười lớn:
-   Đúng vậy! Có vậy mới là tri kỷ, chớ bây giờ tôi có nói gì, anh cũng không tin.
Phi Nga trở nên lặng lẽ, không góp câu nào về câu chuyện chung nữa. Đôi mắt của Phi Nga trở nên xa vắng, Dũng nhìn nàng và trên nét mặt của chàng thoáng ngay một nỗi lo lắng. Câu chuyện từ đó trở nên lạt lẽo. Phẩm liền nói:
-   Đến thăm anh chị một chút, bây giờ chúng tôi về để anh chị nghỉ.
Phi Nga đứng lên ngay trong khi khách vẫn còn ngồi:
-   Hôm nào chúng tôi sẽ đến thăm anh chị và các cháu.
Cử chỉ đuổi khách của Phi Nga khiến Phẩm khó chịu. Chàng liền kéo vợ đứng lên:
-   Chúng ta về kẻo các con đợi...
Phi Nga và Dũng tiễn hai người ra tận ngoài đường. Khi quay vào, Dũng nói:
-   Em đang vui bỗng trở nên đăm chiêu khiến anh Phẩm khó chịu bỏ ra về. Em làm như là muốn đuổi khách vậy.
Phi Nga bực bội:
-   Để anh Phẩm nói nhảm nhí mất cả ngày giờ của mình...
Và Phi Nga trở vào ngồi lại chỗ cũ, đôi mắt vẫn xa xăm như lúc nãy. Dũng lấy báo ra đọc, để yên cho nàng với những ý nghĩ riêng. Chính Dũng cũng không sao hiểu được nàng đang nghĩ gì...
Phi Nga ngồi như thế một lúc lâu mới đứng lên:
-   Thôi mình đi ngủ đi, để ngày mai anh còn đi dạy.
Dũng hỏi:
-   Anh Phẩm nói gì mà em không được vui vậy?
-   Có gì đâu. Em thường có tánh hay nghĩ vơ vẩn. Một lời nói không đâu vậy mà đôi khi làm em nghĩ liên miên cả ngày. Anh đừng lấy chuyện đó làm điều...
Dũng hỏi:
-   Em không thích bạn bè đến chơi?
-   Anh hiểu em nhiều, tại sao lại hỏi vậy? Từ trước đến giờ em đâu có nhiều bạn. Em quen chị Loan vì chị ấy là bạn học, mà chị Loan cũng là bạn của anh nữa. Từ ngày có gia đình chị thay đổi nhiều lắm, không khác gì những người đàn bà khác, gặp nhau là đem chuyện thiên hạ ra nói, còn không thì đem chuyện nhà ra than thở, nào con đau, nào chồng khó, nào túng thiếu, nào nhọc nhằn... Nhưng nghĩ kỹ lại thì cũng tại chị Loan không biết hướng cuộc sống của mình theo một chiều vui tươi đẹp đẽ hơn. Em không quan niệm như họ, có chồng là mất tự do, là khổ cực, có con là mất thì giờ, là vất vả. Có chồng có con đối với em là trách nhiệm mà người đàn bà nào cũng phải nhận lãnh. Lo cho chồng, săn sóc con không phải là cực hình mà là công việc có ý nghĩa, tự mình mình thích làm, vì yêu chồng yêu con, chớ đâu có ai bắt buộc mình.
-   Chị Loan tánh vốn nông nổi, em cũng biết rồi. Mình đâu ngờ chị ấy kết hôn với anh Phẩm. Ai cũng tưởng chị Loan yêu anh Phúc. Em có còn nhớ anh Phúc không? Anh ấy bây giờ là một chiến sĩ.
-   Người ta bảo anh Phúc sở dĩ nhập ngũ là vì Loan đó. Anh Phúc đinh ninh là chị Loan lập gia đình với anh.
-   Lúc nãy chị ấy nói em không nghe sao? Quen nhiều thì còn lạ gì nhau nữa. Nhưng thật ra chị ấy không hiểu gì hết. Quen thì quen vậy chớ làm sao hiểu nhau hết được. Ngay như chúng ta, chúng ta có thể tự hào là hiểu nhau, vậy mà anh làm sao hiểu được em đang nghĩ gì khi em ngồi thừ người ra như lúc này.
Phi Nga khen:
-   Anh bao giờ cũng có một lối kết luận tài tình. Anh muốn biết em nghĩ gì à?
Dũng phân trần, vẻ mặt kém vui:
-   Làm chồng mà không hiểu vợ mình nghĩ gì khi ngồi đối diện với mình thì vô lý lắm, hay là kém thông minh thôi, ở bên Châu Âu, mỗi khi chồng hay vợ nói đến người bạn đời thường bảo một phân nửa của tôi, như thế có nghĩa là chồng vợ xem nhau như một, có hiểu nhau mới xem nhau như một phải không em?
-   Anh muốn chúng ta là mấy bây giờ nếu không là một? Sao lại thắc mắc những chuyện không đâu như vậy? Em đang nghĩ liệu chúng ta có thể sống riêng biệt không cần bạn bè không?
-   Sao em lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy. Con người ta phải có bạn bè, sống riêng biệt thì làm sao thành xã hội được? Đâu phải ai cũng như anh Phẩm, chị Loan. Nhưng anh thấy cặp vợ chồng ấy cũng dễ chịu, tử tế với mình đó chứ. Em thích sống một mình à? Thảo nào nhiều đêm đang ngủ anh giựt mình thức dậy thấy em cứ nhìn lên trần nhà. Những lúc ấy nếu anh có một ngai vàng hay một đế quốc, chắc anh sẵn sàng đổi cho người nào có thể nói cho anh biết em đang nghĩ gì.
Phi Nga khó chịu:
-   Nếu vậy từ nay em không nghĩ như vậy nữa.
-   Anh có cấm em đâu.
-   Anh sợ em bất bình anh về chuyện gì sao?
-   Không, anh không nghĩ hẹp hòi như vậy...
Phi Nga nói sau một lúc suy nghĩ:
-   Nhiều lúc em ngồi nhìn căn phòng rồi nghĩ đến nếu em có tiền thì em sẽ trang hoàng lại như thế nào cho đẹp hơn. Hoặc em nghĩ nếu có thì giờ thì em sẽ vẽ một bức tranh về ngôi nhà của mình như thế nào. Cũng có lúc em nghĩ về bố cục của một quyển sách mà em vừa đọc, hay nghĩ đến cuộc sống của một người nào đó mà em mới gặp... Những chuyện em nghĩ viễn vông lắm, mênh mông lắm, không liên quan đến đời sống tình cảm của chúng ta.
Dũng nói, không hiểu là khen hay chê:
-   Em giàu tưởng tượng quá!
Phi Nga chấm dứt câu chuyện:
-   Thôi, đi ngủ là vừa.
Nhưng khi nằm vào giường, Phi Nga lại vớ ngay một quyển sách. Dũng hỏi:
-   Lại định đọc sách để nửa đêm thức nghĩ vẩn vơ à?
Mặc dù đã được may mắn làm chồng Phi Nga, nhưng Dũng vẫn cảm thấy chàng không thể nắm hết được tinh thần của Phi Nga. Một phần nào đó trong cơ thể Phi Nga đã vuột ra khỏi tầm tay, tầm mắt của Dũng. Nhưng Dũng tự an ủi là Phi Nga đã yêu chàng và lo cho chàng một cách chu đáo. So sánh Phi Nga với những người đàn bà khác mà Dũng đã từng quen biết thì không ai hơn được Phi Nga về mặt nội trợ, về tài điều khiển một gia đình êm thấm, ngăn nắp.
 
* * *

Phi Nga đang làm bếp thì Phi Anh đẩy cổng bước vào sân. Phi Nga ra đón em:
-   Phi Yến đâu? Chỉ một mình em đến thăm chị à?
Phi Anh ngạc nhiên nhìn chị:
-   Trông chị mập ra, lạ thật.
Phi Nga hỏi:
-   Có phải bây giờ trông chị nhà quê lắm không?
-   Trông hồng hào và có da có thịt hơn. Mẹ bảo em đến thăm chừng chị có vui vẻ không? Chưa vào nhà, đi đằng xa nghe tiếng chị hát, em biết ngay là chị có hạnh phúc.
Phi Nga cười:
-   Mẹ sợ chị khổ?
-   Vì chị phải lo việc nội trợ. Có một cái nhà là cực nhọc lắm. Huống chi ngôi nhà này rộng quá.
-   Đâu có rộng gì. Chị không biết tìm đâu ra chỗ để làm xưởng vẽ của chị.
Phi Anh đi xem qua khắp nơi rồi thừ người ngồi xuống ghế. Nàng không ngờ chị mình đã tạo được một tổ ấm đẹp đẽ như thế. Phi Nga hỏi:
-   Em nghĩ gì mà ngồi im như vậy? Có gì làm em không vừa lòng chăng?
-   Chị có căn nhà đẹp quá. Vợ chồng mới cưới mà có một mái nhà như thế này thì hạnh phúc quá. Vậy mà em cứ lo không ai rửa chén cho chị, chị không thích xuống bếp.
Phi Nga cười:
-   Việc nhà thì phải lo, có chồng thì phải đảm đang. Lúc ở nhà chị muốn dọn dẹp thì mẹ lại bảo chị làm sai ý mẹ. Em uống nước chanh nhé, chị đi pha. À, em quên nói cho chị biết, Phi Yến đâu mà không đi với em?
-   Phi Yến đến chơi nhà bạn. Mẹ đi chợ về bỗng nhớ đến chị, sai em lên đây thăm chị. Anh Dũng đi dạy chưa về à? Chị đang nấu cái gì đó?
-   Chị chiên thịt. Chúng ta xuống bếp nói chuyện nhé. Chị trông chừng chảo thịt.
Phi Anh đi theo chị:
-   Chị làm bếp mệt không? Ai đi chợ cho chị?
-   Chị chớ ai. À, trưa nay em ở đây ăn cơm với chị nhé.
-   Em phải về để nói cho mẹ biết. Em ở đây chỉ làm phiền anh chị chớ ích gì...
-   Em có nhớ chị không?
Phi Anh thành thật:
-   Vắng chị cũng buồn, nhưng có chị ở nhà tụi em cảm thấy bất tài lắm.
Phi Nga cười:
-   Thế chị đi lấy chồng, các em thấy mình có tài gì chưa?
-   Em đang học đàn với chị Xuân.
-   Chị Xuân biết gì về âm nhạc mà học? Em đàn được bản nào chưa?
Phi Anh tự phụ nói:
-   Em đàn được từ trước, nhưng bây giờ học thêm cho vui.
Phi Nga nhớ lại những bản nhạc mà Phi Anh đàn sai và mỗi lần Phi Nga sửa thì Phi Anh không bằng lòng, liền nói:
-   Em phải chú ý đến nhạc lý để khỏi đàn sai...
Phi Anh nghe thế không được vui:
-   Lúc nào chị cũng nghĩ là em đàn sai!
Phi Nga liền hỏi sang việc khác:
-   Cha mẹ độ rày có hay đi chơi không?
-   Từ hôm chị đi lấy chồng, cha trở lại làm thơ.
Phi Nga mừng rỡ:
-   Thế à? Em thấy cha làm được mấy bài rồi?
-   Em nghe cha ngâm nga mãi, không biết mấy bài. À, chút nữa thì em quên chuyện này... Bà Quỳnh, người mua hai bức tranh của chị, vừa xuống đây nghỉ mát tại nhà ông hội đồng Tích. Bà ta cho người đến mời chị và khi nghe mẹ nói chị có chồng hiện ở trên quận thì bà ao ước làm sao gặp được chị. Bà bảo có việc nhờ đến chị.
Phi Nga hỏi, đôi mắt trở nên vui vẻ lạ thường:
-   Thế à? Mẹ có chỉ chỗ chị ở không?
-   Không, mẹ dặn chị nay mai nếu rảnh thì về để gặp bà Quỳnh, chắc bà ấy muốn nhờ chị vẽ tranh nữa đó. Chị về được không?
-   Được chứ, chị về thì anh Dũng ăn cơm trưa ngoài quán, còn không chị nấu sẵn thức ăn anh ấy mua bánh mì về ăn cũng được... Nhưng vợ chồng mới cưới mà bỏ anh ăn cơm quán thì cũng tội.
-   Ai có chồng rồi cũng mất tự do. Chị Huệ từ ngày có chồng không dám tiếp bạn trai nữa. Chị ấy không dám đi đâu một mình sợ anh Viễn ghen. Chán thật đấy. Nhưng công việc làm ăn của chị mà chị cùng đi với anh Dũng thì người ta đâu thích. Em sẽ trả lời với bà Quỳnh như thế nào?
-   Được, ngày mốt chị sẽ về. Em nói trước cho bà Quỳnh biết.
Phi Anh vui vẻ:
-   Có vậy chớ. Chẳng lẽ con gái có chồng rồi, mỗi lần về thăm cha mẹ phải đi với chồng?
Phi Nga nghĩ:
-   Dũng không cấm ta đi đây đi đó, nhưng ta cũng không thích đi đâu cả...
Phi Anh hỏi:
-   Chị vẽ thêm được gì chưa?
-   Chị chưa vẽ vì chưa có phòng vẽ.
-   Ngồi đâu mà vẽ không được, chuyện gì phải có phòng riêng. Những lúc anh Dũng đi vắng, chị cứ bày giá vẽ ngay trong phòng chị, hay ở dưới bếp cũng được, vừa vẽ vừa trông chừng nồi cơm.
Phi Nga cười lớn:
-   Làm việc kiểu đó thì mất thú. Chị mà làm việc thì trời đất phải thu hẹp lại trong cây cọ, trên tờ giấy, mắt chị không còn thấy gì khác hơn là cái giá vẽ, đầu óc chị không nghĩ gì khác hơn là cái đề tài mà chị đang vẽ.
Phi Anh bỗng hỏi:
-   Anh Dũng dễ chịu không chị?
-   Dễ chịu lắm...
-   Các em đều chê anh Dũng... Nhưng bây giờ anh chị đã sống với nhau rồi, em chỉ còn cách khen thôi.
Phi Nga khen:
-   Biết điều đấy! Miễn chị thấy có hạnh phúc thì thôi...
Phi Anh nói bằng một giọng hoài nghi:
-   Mới có ba tháng, lấy gì làm chắc.
Phi Anh ra về trước khi Dũng ở trường ra. Phi Nga cho Dũng biết có Phi Anh đến chơi thì Dũng hỏi:
-   Sao cô ấy không ở lại dùng cơm?
-   Mẹ kêu Phi Anh đến xem thử em và anh có vui vẻ không.
Dũng cười:
-   Ai cũng lo cho mình cả. Có lắm người sợ chúng ta không có hạnh phúc.
-   Ai nữa?
-   Anh Phẩm và chị Loan chớ ai. Họ nghĩ là mình quen nhau quá nên lờn... Phi Anh không ở lại chơi à?
-   Nó bảo mẹ đợi. Không biết mẹ nóng ruột hay thấy chiêm bao thế nào mà bỗng lo lắng như vậy. À, đến thứ sáu em về thăm mẹ rồi chủ nhật chúng ta về thăm cha mẹ bên nhà anh, anh Dũng nhá?
-   Tùy em, nhưng em nhớ chiều về, đừng ở lại đêm.
-   Độ ba giờ chiều là có mặt em ở đây rồi. Em làm sẵn thức ăn để anh ăn trưa với bánh mì được không, anh không phiền chớ?
-   Được mà, lâu lâu em mới đi vắng một hôm. Mọi ngày em lo đầy đủ cho anh quá, anh đâu đến nỗi ích kỷ quá như vậy.
Phi Nga không kể Dũng nghe chuyện bà Quỳnh muốn gặp mình vì nàng chưa biết công việc ra sao, nhưng Dũng dường như đã đoán ra:
-   Có phải mẹ kêu Phi Anh gọi em về không?
-   Không, mẹ chỉ kêu Phi Anh đi thăm, nhưng em sợ mẹ không yên lòng, nên em phải về. Với lại cũng còn một số tranh dở dang còn bỏ ở nhà, em phải về lấy.
Ngày hôm sau Phi Nga làm thức ăn và dọn dẹp đâu vào đó rồi nói với Dũng:
-   Sáng mai chúng ta ăn sáng rồi anh đến trường, em về nhà cha mẹ... Trưa anh về ăn cơm có nồi thịt em kho sẵn, có ngủ thì nhớ khóa cửa nhé.
Dũng cười:
-   Em đi vắng có một buổi mà làm như đi đâu xa lắm, dặn dò đủ chuyện.
-   Không dặn sao được, anh hay quên lắm.
Dũng nhún vai:
-   Anh đâu có đãng trí. Ở đây dân tình hiền lành lắm, ít có chuyện trộm cắp.
-   Mấy bà vợ của các đồng nghiệp anh tò mò quá. Ngày nào cũng lân la đến đây tìm cách hỏi chuyện em, họ muốn em mời họ vào nhà nhưng em chỉ đứng trong cửa nói ra, họ cụt hứng phải ra về.
-   Sao em không mời họ vào nhà chơi?
-   Chi vậy? Em sợ chuyện ngồi lê đôi mách lắm. Năm ba bà ngồi lại với nhau, không khoe khoang chuyện giàu sang thì cũng đem chuyện nhà người khác ra nói. Mình không nói cũng phải nghe, mà nghe là bực mình rồi. Anh còn nhớ lúc đi học, em không thân với một cô bạn nào mà chỉ thích làm quen với các anh. Các anh bao giờ cũng thành thật muốn gì thì nói, không úp mở, không giận hờn, không ganh ghét.
-   Và các cô bạn đã cười em là mê con trai.
-   Lúc đầu họ nói xấu em, nhưng rồi họ thấy em thẳng thắn, dám nói ngay vào mặt các anh nếu các anh không đúng đắn nên họ cũng phải kiêng nể em.
-   Đúng vậy. Mà những bà ấy đã hỏi gì em?
-   Họ hỏi đủ thứ. Và cũng như chị Loan, họ bảo ông hiệu trưởng muốn đòi lại ngôi nhà này.
-   Nếu vậy chắc mình phải lo tìm nhà khác thôi.
-   Chúng ta lo kiếm tiền mà cất nhà cho rồi...
Dũng sững sờ:
-   Bộ cất nhà rẻ lắm hay sao? Tiền đâu mà cất?
-   Không tiền thì làm cho ra tiền...
-   Em lại nghĩ đến chuyện bán tranh chứ gì? Ở xứ mình chớ phải ở các nước mà một họa sĩ có thể làm giàu với nghề vẽ tranh... Anh ra dạy trên một năm nay, để dành được bao nhiêu thì làm đám cưới hết rồi.
-   Nếu chưa có thì phải làm theo chị Loan đã nói, vận động làm hiệu trưởng...
-   Được, để anh nghĩ lại. Còn không thì mình xin đổi lên tỉnh... Ở tỉnh có nhà cho các giáo viên ở...
-   Lên tỉnh cũng tiện, em dễ sống hơn...
-   Em không cần tiếp xúc với ai thì sống ở đâu không được?
-   Nhưng em thích nơi này hơn vì ở đây yên tịnh, thích hợp với con người hay nghĩ ngợi như em.
-   Nếu vậy anh phải vận động làm hiệu trưởng để mình có thể ở lại ngôi nhà này. Chưa có tiền làm nhà khác thì sao tính chuyện bỏ ngôi nhà này được. Huống chi em đã tạo cho anh một tổ ấm như thế này, dại gì để cho người khác đến ở. Nơi đây chúng ta đã có bao nhiêu là kỷ niệm.
-   Ít lắm chúng ta cũng phải ở đây ba năm, lúc ấy chúng ta mới có tiền tạo được ngôi nhà riêng của chúng ta.
-   Bà Châu đến đây lần nào chưa?
-   Bà vợ ông hiệu trưởng phải không? Có đến hôm đám cưới.
-   Chỉ một lần đó?
-   Có nhiều hôm em thấy bà Châu đi qua đây nhưng em giả vờ không hay biết hoặc núp trong bếp. Không thấy ai, bà không vào.
Dũng lắc đầu:
-   Em lạ thật! Giá ai khác mà có ngôi nhà như thế này thì gặp người nào họ cũng mời vào để khoe.
-   Em không phải là thiên hạ. Lúc em còn nhỏ, cha đã bảo em không giống ai hết và như thế ra đời dễ bị người ghét. Vì thế em chỉ cần một mình anh yêu em là đủ rồi... Ở đời có một tình yêu rồi thì lo gì không tìm được một lẽ sống...
Dũng lặp lại:
-   Ở đời có được một tình yêu rồi thì lo gì không tìm được một lẽ sống... Em nói hay thật, một câu triết lý đầy ý nghĩa...
-   Có triết lý gì đâu. Em chỉ nói những gì em nghĩ.
Dũng không bao giờ nghĩ ngợi việc gì quá mười lăm phút, các bạn của Dũng thường bảo Dũng cạn và hẹp. Có lẽ nhờ vậy mà Dũng không bao giờ oán trách bà mẹ kế vì bà đã đối xử không tốt với chàng, Dũng cũng không bao giờ nghĩ nếu Phi Nga không nhận lời yêu chàng, lập gia đình với chàng thì chàng sẽ khổ sở, hay phải có một phản ứng như thế nào, hành động ra sao để chiếm cho kỳ được cảm tình của Phi Nga. Dũng cứ để việc gì đến là đến, chàng không cần tranh đấu, không cần chống lại những trở ngại trong tưởng tượng. Con người của chàng dường như vô tư, nhưng lại yếu đuối, dễ thất vọng...
Thấy Dũng có vẻ nghĩ ngợi, Phi Nga nói tiếp:
-   Tình yêu mà em nói đây nghĩa của nó bao la lắm chớ không chỉ là thứ tình của thanh niên nam nữ yêu nhau. Tình yêu Tổ quốc, tình yêu bạn bè, tình yêu nhân loại, tình mẫu tử, phụ tử... Tình yêu mầu nhiệm lắm, biết yêu thương tức là biết sống...
-   Em nói cũng có phần đúng.
Phi Nga cười và sửa lại:
-   Em nói đúng, anh nên công nhận như thế. Nhà bác học nung nấu bởi tình yêu nhân loại đã vùi đầu vào trong các phòng thí nghiệm, dám đổi sinh mạng, sức khỏe của mình để tìm thuốc trị một chứng bịnh nan y, hay để đem lại cho loài người một cuộc sống vui tươi hơn, tránh bệnh tật, khổ đau. Người chiến sĩ vì tình yêu Tổ quốc sẵn sàng hy sinh xương máu để cứu vớt đồng bào khỏi cảnh nô lệ tàn khốc, người chiến sĩ cũng như bác học cũng đều nhờ tình yêu mà tìm một lẽ sống cao cả. Người mẹ vì tình mẫu tử mà không quản công lao khó nhọc lo cho con, săn sóc cho con từ tấm bé đến khi khôn lớn, người mẹ ấy cũng đã tìm được cho mình một lẽ sống.
Dũng hỏi:
-   Thôi học rồi chắc em đọc nhiều sách lắm nhỉ?
-   Em đọc nhiều sách nhưng chưa “lắm”, nghĩa là mới đọc vừa vừa thôi, ở đây làm gì có sách nhiều mà đọc, thỉnh thoảng cha đi tỉnh mua về quyển nào là em đọc quyển đó. Nhưng đọc xong, em hay có tánh suy nghĩ. Với anh, em nói những ý nghĩ của em, với ai khác thì em giữ lấy cho riêng em, không nói đâu. Nhưng dường như anh không thích nghe em lý luận bất cứ vấn đề nào không liên quan đến cuộc sống của chúng ta.
-   Sao lại không thích nghe?
-   Em thấy anh có vẻ mệt mỏi, chán nản khi nghe em nói. Một nhà phân tâm học ở Pháp có nói một câu như thế này: một người đàn bà mà để cho người ta thấy mình cũng có đầu óc, cũng thông thái như ai là dại. Những người đàn bà ù ù cạc cạc có lẽ là những người sung sướng nhất trong gia đình.
Dũng cười:
-   Ù ù cạc cạc có nghĩa là không biết gì hết ngoài việc lo cho chồng, dạy dỗ con cái? Chớ còn ù ù cạc cạc là khờ dại dốt nát thì họ làm sao tạo được gia đình hạnh phúc? Người đàn bà dốt nát, ngu xuẩn thì làm sao mà giúp chồng, dạy con?
Và để Phi Nga khỏi thắc mắc nhiều, Dũng nói sang chuyện khác.

* * *

Ngày hôm sau, khi Phi Nga về đến nhà cha mẹ thì đã mười giờ. Ông bà Minh ra đón con và khi thấy nét mặt vui vẻ, tươi tắn của Phi Nga thì cả hai người đều không giấu được sự vui mừng.
Bà Minh nói:
-   Em con bảo hôm nay con về nhưng mẹ không tin là con rảnh được. Lại nữa hôm nay Dũng mắc dạy, con về một mình, rủi nó không bằng lòng thì sao?
-   Con thu xếp thế nào được thì thôi. Anh Dũng không phải là khó.
Ông Minh nói:
-   Biết con thế nào cũng về, nên ba ở nhà đợi chớ không đi đánh cờ. Mấy lâu nay con đã vẽ được bức tranh nào chưa?
-   Dạ chưa, con đang nghĩ cách tạo một chỗ làm việc. Nhưng nhà chật, lại nữa công việc nội trợ cũng thu hút của con khá nhiều thì giờ. Lúc đầu bao giờ cũng bận rộn, chưa quen việc, nhưng lần lần đâu vào đó thì có khác nào đoàn xe lửa chạy trên đường rầy ngày nọ qua tháng kia không có gì phải mệt trí nữa.
Ông Minh chuyện trò với con gái một lúc đoạn ra đi, bà Minh lo làm cơm. Phi Nga ngồi giúp mẹ, nhưng bà liền nói:
-   Con nên đi lại nhà ông hội đồng Tích để gặp bà Quỳnh, bà ấy ở nán lại đây mấy ngày là chờ con về đó.
Phi Nga hỏi:
-   Mẹ nhắn con về là vì chuyện bà Quỳnh thôi sao?
-   Thấy lâu con không về, mẹ có ý trông. Nhân bà Quỳnh muốn gặp con, mẹ nhắn con về luôn thể. Con vui cảnh chồng con là mẹ yên lòng rồi.
Phi Nga nhìn quanh, thấy chén bát bừa bãi liền nói với mẹ:
-   Để con giúp mẹ dọn dẹp rồi hãy đến bà Quỳnh.
-   Mẹ dọn dẹp được rồi.
Mẹ nói vậy nhưng Phi Nga vẫn ra tay dọn dẹp, nàng chỉ làm độ một giờ là đã đem lại thứ tự trong ngôi nhà bếp rộng rãi. Phi Nga nói:
-   Hai em của con tệ quá, không giúp được mẹ gì cả sao?
-   Từ hôm con đi lấy chồng, hai đứa nó thường đi chơi luôn. Phi Anh có xin lên Sài Gòn học đánh máy và kế toán, nhưng ba con không cho. Còn Phi Yến thì muốn học thêm ngoại ngữ. Chúng nó không phải như con...
Thấy câu chuyện muốn kéo dài, bà Minh nhắc chừng con gái:
-   Con đi công việc của con đã, chừng nào về mẹ con ta lại có dịp nói chuyện nhiều.
Phi Nga mặc áo ra đi, vừa đi vừa ngắm cảnh. Những người quen biết trong làng gặp Phi Nga đều mừng rỡ:
-   Về thăm nhà hả cô Phi Nga?
-   Cô vẫn mạnh giỏi chớ? Đã có tin mừng gì chưa?
-   Cô đi thăm ai vậy?
Phi Nga lễ phép và niềm nở với mọi người:
-   Đi quanh một vòng để thăm bà con cô bác chớ thăm ai!
Phi Nga đến nhà ông hội đồng giữa lúc nhà đang dọn cơm. Nàng ngập ngừng không biết nên vào nhà hay không thì bà Quỳnh đã nhìn thấy, liền cho người ra mời nàng vào.
Bà Quỳnh nói để Phi Nga yên lòng:
-   Tôi không dùng cơm, chúng ta lên lầu nói chuyện. Thế cô đã ăn uống gì chưa? Ở bên nhà chồng về thẳng đây hả?
Phi Nga nói:
-   Cháu đã ghé về nhà. Mẹ cháu đợi cơm ở nhà. Bà muốn gặp cháu?
Bà Quỳnh nắm tay Phi Nga lôi lên lầu:
-   Lên đây hãy nói chuyện.
Hai người vào phòng bà Quỳnh. Bà thân mật hỏi:
-   Cô đi lấy chồng sao không cho tôi hay để tôi có chút quà mừng cô. Ai lại tệ vậy?
-   Lúc ấy bà không ở đây, cháu biết bà ở đâu mà mời? Xin bà tha lỗi cho cháu, cháu vụng về lắm.
Bà Quỳnh cười:
-   Nghệ sĩ bao giờ cũng vậy. Cô là một nghệ sĩ.
Phi Nga khiêm tốn:
-   Cháu đâu đã có tài gì...
Bà Quỳnh nói tiếp:
-   Một nghệ sĩ mà đi lấy chồng sớm là uổng lắm. Nhà tôi bảo thế. Nhà tôi đã nhận được mấy bức tranh của cô, tôi gởi qua cho ông ấy... Nhà tôi khen cô lắm và mới rồi nhà tôi và cháu bé đi Nhật, có ghé lại Sài Gòn thăm tôi. Nhà tôi muốn gặp cô...
Phi Nga liền hỏi:
-   Ông muốn nhờ tôi vẽ cái gì nữa phải không?
-   Không phải nhờ cô vẽ mà muốn mua những bức tranh của cô, muốn xem qua những gì mà cô đã vẽ được. Nhà tôi là một người sưu tập tranh vẽ đủ loại của những họa sĩ khắp thế giới. Vì thế mà tôi muốn gặp cô để hỏi cô bao giờ tiếp được chúng tôi.
Phi Nga không ngờ nàng dược một người sành về tranh để ý đến, nên cảm động, ngồi thừ người ra, một lúc lâu sau mới nói:
-   Bao nhiêu tranh vẽ của cháu, cháu còn để hết ở nhà cha mẹ. Cháu đang nghĩ cách tạo một nơi làm việc, nhưng chưa có thì giờ, phương tiện.
Bà Quỳnh tiếc rẻ:
-   Từ ngày có chồng, cô không vẽ gì nữa sao? Bỏ phí thì giờ mà tài của cô cũng mai một sao?
-   Cháu vẫn nghĩ đến sở thích của cháu, nhưng thưa bà bây giờ thì cháu đang sống hoàn toàn cho chồng cháu.
Bà Quỳnh cười có vẻ không tin:
-   Một người có tài như cô không thể sống hoàn toàn cho chồng được. Để rồi đây cô sẽ thấy lời nói của tôi là đúng. Bây giờ tình đang nồng, chuyện yêu thương còn mới mẻ, đối với cô cũng giống như một đề tài chưa được khai thác, nhưng một khi đã khai thác rồi, thì cô sẽ không còn thấy hứng thú gì nữa.
Thấy Phi Nga im lặng cúi đầu suy nghĩ, bà Quỳnh tiếp:
-   Nhà tôi muốn xem qua những tranh cô đã vẽ được. Vậy cô nên nghĩ cách đem những bức tranh ấy tập trung lại một chỗ. Tháng sau nhà tôi sẽ trở lại đây. Riêng về phần tôi thì tôi muốn nhờ cô vẽ cho tôi một bức tranh về thằng con nhỏ của tôi, nó tên là Paul, năm nay mười hai tuổi. Chúng tôi cũng có một đứa con gái rất thích hội họa, còn thằng con riêng của nhà tôi thì đang theo học một trường mỹ thuật ở Rome.
Phi Nga suy nghĩ một chút rồi nói:
-   Cháu sẽ dọn hết tranh về nhà riêng của chúng cháu tháng sau nếu ông về nước thì xin mời ông bà đến xem. Nhưng bà thưa dùm với ông, cháu không vẽ được bao nhiêu và cũng chỉ học lóm vậy thôi, không có thầy. Còn cậu Paul, khi nào bà muốn cháu vẽ cậu thì bà cứ đưa cậu đến.
-   Nhà cô ở đâu?
-   Nhà cháu ở trên quận... Bà đến trường tiểu học Thanh cần hỏi nhà thầy Dũng thì ai cũng biết.
-   Từ Sài Gòn xuống đây, tôi thường đi ngang quận. Được rồi, có dịp tôi sẽ ghé thăm cô. Độ rày tôi lên xuống đây thường lắm.
Bà Quỳnh đứng lên lấy một cái gói lớn ở trên bàn đưa cho Phi Nga:
-   Nghe cô Phi Anh bảo hôm nay cô đến, nên tôi có cái này để dành cho cô. Một cân táo và một cân nho tươi, quà tôi mang từ Saigon về đó.
-   Bà cho thì cháu nhận, cháu xin cảm ơn bà.
-   Thôi, bây giờ cô về dùng cơm kẻo ông bà trông. Để tôi bảo xe đưa cô về nhà.
Phi Nga vội vàng nói:
-   Bà cho cháu đi bộ để ngắm phong cảnh luôn thể...
Về gần đến nhà, Phi Nga đã nghe một mùi thịt nướng thơm phức. Phi Nga vừa bước vào sân thì Phi Yến đã chạy ra đỡ lấy cái gói ở tay chị:
-   Gói gì mà nặng vậy?
-   Táo và nho của bà Quỳnh cho. Em lấy đĩa sắp ra cho cha mẹ dùng.
Bà Minh nói:
-   Sắp một nửa thôi, còn một nửa con mang về cho chồng con ăn với.
Phi Anh đang nướng thịt, chạy lên hỏi:
-   Chị gặp bà Quỳnh rồi à? Bà ấy muốn gặp chị để nói về việc gì thế?
-   Bà ta muốn đưa ông chồng của bà đến xem tranh của chị, nhưng chị đâu có bao nhiêu tranh. Có mấy bức thì đã bán hết cho bà ta rồi...
Phi Anh nhắc:
-   Còn hai bức mà anh Đình hỏi mua cho anh Giang, chị có định bán không?
- Không, chị chưa muốn bán...
-   Ông chồng bà Quỳnh là một họa sĩ à? Ông ta là người Pháp mà.
Phi Nga nói để khỏi kể lể dông dài:
-   Chị không hiểu rõ vì không hỏi. Ông ta là một nhà sưu tập tranh chớ không phải là một họa sĩ.
Bà Minh hỏi:
-   Chỉ có từng ấy chuyện mà nhắn con gấp vậy à? Cha con chắc không về dùng cơm. Mẹ con mình ăn với nhau...
Phi Nga đi ngay vào phòng vẽ, mở tung các cánh cửa sổ và đứng ngắm những bức tranh dựng ở dưới đất hay treo trên tường. Những bức vẽ lỡ dở bỏ trên bàn hay còn gắn trên giá vẽ như có ý phiền trách nàng sao đi lấy chồng mà không chịu vẽ tiếp.
Phi Nga đi qua đi lại trong phòng, cảm thấy như nàng vừa đi xa về và tất cả đồ đạc thân quen trong phòng đã làm nàng cảm động không sao tả được.
Phi Nga trù tính mang tất cả những vật quen thuộc này về nhà và phải làm sao tạo cho nàng một căn phòng rộng rãi như thế này để làm việc.
-   Tại sao ta có thể quên khung cảnh quen thuộc này mấy tháng nay? Ta không bỏ bê công việc gia đình thì thôi, Dũng sẽ không phiền trách ta được. Lập gia đình không phải là giết hết tài năng của mình. Lấy chồng không phải bỏ cả những thú vui lành mạnh.
Phi Nga đang suy nghĩ thì Phi Yến bước vào:
-   Chị định mang hết những thứ này về nhà chị?
-   Chớ để đây làm gì?
-   Theo em thì chị cứ để yên ở đây, hôm nào rảnh chị về đây vẽ.
Phi Nga lắc đầu:
-   Đi lại mất cả ngày giờ, lại nữa một khi say mê với công việc chị sẽ không còn nhớ giờ về, anh Dũng phiền.
Phi Yến choàng tay qua vai chị:
-   Ra dùng cơm, mẹ đợi. Lát nữa chúng em có nhiều chuyện nói với chị lắm.
Phi Nga ra ngồi cạnh mẹ. Phi Anh hỏi chị:
-   Chiều nay chị về?
Phi Nga gật đầu. Phi Yến hỏi:
- Không ở lại chơi với tụi em vài ngày à?
Phi Anh cười:
-   Chị ấy ở sao được, bỏ anh Dũng cho ai?
Bà Minh liền nói:
-   Rồi đây các con có chồng, các con cũng vậy cả. Đừng vội cười chị các con.
Ăn xong, Phi Nga cùng các em dọn dẹp rồi trở lại phòng vẽ. Phi Yến đi theo chị:
-   Chị Phi Anh xin cha đi Sài Gòn học đánh máy nhưng cha không cho. Em đợi chị Phi Anh xin được thì em cũng sẽ xin.
Phi Nga nói:
-   Các em đi học hết cha mẹ sẽ buồn.
-   Ở nhà mãi thế này, tụi em chịu không được. Phải chi tụi em tài như chị, biết dùng thì giờ vào một việc hữu ích hay để đeo đuổi một chí hướng.
-   Sự thật chị cũng không hiểu chị vẽ như vậy có phải là đeo đuổi một chí hướng không? Lúc đi học chị thích vẽ, ngồi nghĩ một bài luận hay một bài toán, đầu óc nghĩ, tay chị vẽ trên giấy, vẽ ngoằn ngoèo, vẽ một cách tự nhiên, không chú ý là mình vẽ gì. Lần lần thành một thói quen, và khi nghỉ học không biết làm gì, chị vẽ.
Phi Nga ngồi trước giá vẽ, ngắm bức tranh mà nàng đang vẽ dở dang trước khi đi lấy chồng. Nàng đã phác họa cảnh trên sông. Bây giờ nhìn lại, nhận thấy sai nhiều chỗ, nàng muốn sửa ngay lại, nhưng Phi Yến đã đứng sau lưng chị nhắc chừng:
-   Chị về đây không phải để vẽ. Hãy nói chuyện cho vui, chị mà vẽ thì tối nay anh Dũng phải chờ sáng mắt ra.
Nghe em nhắc đến Dũng, Phi Nga thở dài đứng lên rời khỏi giá vẽ:
-   Ừ nhỉ. Ngày mai em chở dùm những thứ này lên quận cho chị nhé.
-   Chở bằng xe ngựa?
Phi Nga cưới:
-   Chớ chở bằng xe gì? Chiều nay chị mang đi một ít màu, cọ và những bức tranh chưa lồng vào khuôn...
-   Được, em sẽ giúp chị.
Phi Yến giúp chị cuốn tranh, gói màu và những dụng cụ. Nàng hỏi luôn miệng, tò mò muốn biết cảm nghĩ của chị về những ngày sống bên chồng, nhưng Phi Nga không để em hỏi nhiều về việc gia đình, cứ tìm cách nói lãng sang chuyện khác. Phi Nga nghĩ hai em không thể nào hiểu nàng, nhất là về việc nàng lập gia đình. Cả hai đều không tin là nàng có hạnh phúc khi về làm vợ Dũng.
Phi Yến nói:
-   Chắc anh Dũng phục chị lắm. Anh ấy làm sao bằng chị được.
Phi Nga nói:
-   Các em thấy như vậy vì không hiểu anh Dũng, nhưng vợ chồng không cần phải cùng có tài mới có hạnh phúc.
-   Chị Phi Anh không nghĩ như chị. Chị ấy bảo chị chỉ lập gia đình với người nào có thể đưa chị ra khỏi cảnh tầm thường. Nghĩa là không ai xứng làm chồng chị.
-   Thế còn em, em quan niệm hôn nhân như thế nào?
Phi Yến bẽn lẽn:
-   Em chưa nghĩ về chuyện ấy, vì nói đúng ra em cũng chưa biết gì về chuyện hôn nhân, gia đình...
-   Em không chịu nói ra ý kiến của em thôi. Chị biết thế nào em cũng đã nghĩ rồi.
-   Em chưa nghĩ. Em chỉ nghĩ lập gia đình là mất tự do...
Phi Yến và Phi Nga nói chuyện đến đây thì Phi Anh bước vào và hỏi chị:
-   Chị có cách gì thưa giúp với cha cho em lên Sài Gòn học không? Chị nói chắc chắn cha nghe...
Phi Nga nhìn em rồi thở dài:
-   Chị nói chắc gì cha đã nghe. Cha thấy rõ chị có tài vẽ như vậy mà biết mấy lần chị xin cha đi học vẽ với một giáo sư hội họa, vậy mà cha đâu có bằng lòng. Nhưng em chịu khó đợi một thời gian nữa, có dịp chị sẽ nói giúp em.
Phi Anh nói:
-   Đợi đến bao giờ? Cha không muốn chị em mình đi làm việc. Ở nhà mãi thế này buồn lắm. Chị bây giờ sung sướng rồi, có thể tự chủ.
Phi Nga nói:
-   Em nói thế là sai rồi. Lúc nào chị cũng nhớ những gì cha đã dạy bảo chị, dù có chồng chị cũng giữ đừng làm trái ý cha. Có chồng chị còn bị phụ thuộc vào chồng nữa. Ví dụ chị làm một việc gì mà anh Dũng không thích thì chị cũng phải bỏ.
Phi Anh hỏi:
-   Như vậy nếu anh Dũng không cho chị vẽ nữa, chị cũng phải chiều theo ý anh ấy sao?
Phi Nga bỗng đăm chiêu, nghĩ ngợi. Tuy Dũng chưa nói gì về chuyện Phi Nga với chí hướng của nàng, nhưng mới đây chính Dũng đã bảo những bức tranh mang hạnh phúc đến cho chàng là những đĩa thức ăn đầy đủ màu sắc do Phi Nga soạn. Phi Nga biết rõ vì thiếu nghị lực, thiếu tự tin nên chàng không dám phản đối việc Phi Nga vẽ vì sợ Phi Nga giận mà không còn yêu chàng nữa.
Nhưng nếu Dũng phản đối ra mặt khi thấy nàng vẽ suốt ngày thì lúc ấy Phi Nga có phản ứng gì không, hay là sẽ nghe theo ý muốn của Dũng, giữ yên địa vị của người nội trợ lo cho gia đình.
Phi Anh thấy chị đang vui bỗng lo nghĩ, liền hỏi:
-   Chị nghĩ gì thế?
Phi Nga nói:
-   Chị hay nghĩ vớ vẩn lắm. Tánh chị như thế...
Khi bà Minh trở về thì đã ba giờ. Thấy Phi Nga sửa soạn ra về, bà dặn:
-   Con sắp đặt thì giờ để mỗi tuần có thể về thăm cha mẹ một lần.
Phi Nga vâng dạ, rồi gọi xe chở mấy bao đồ về nhà...

* * *

Dũng đi dạy về thấy Phi Nga đứng chờ trước cổng thì vui vẻ hỏi:
-   Em về từ bao giờ?
-   Em về từ lúc bốn giờ rưỡi...
Vào nhà, thấy trên bàn có hai đĩa táo và nho, Dũng ngạc nhiên:
-   Em làm gì mà có những thứ này?
-   Của bà Quỳnh cho em đấy.
-   Em gặp bà ta ở đâu?
-   Tại nhà ông hội đồng Tích. Bà mang quà từ Sài Gòn về cho em.
Dũng nhìn Phi Nga có vẻ hoài nghi:
-   Em về thăm nhà là để gặp bà Quỳnh?
-   Mẹ nhắn về nhưng em về cũng có một phần do bà Quỳnh muốn gặp em.
Dũng uể oải ngồi xuống ghế:
-   Việc gì thế?
-   Về những bức tranh mà em đã bán cho bà...
Phi Nga nói qua cho Dũng biết về chồng bà Quỳnh và về chuyện ông ấy muốn gặp nàng. Dũng liền nói:
-   Anh biết em có tài... Thế nào rồi đây em cũng thành công về nghề vẽ...
-   Muốn thành công phải học thêm. Nhưng em làm gì có cơ hội mà học. Thôi, khoan nói đến vụ ấy đã. Anh dùng một ít trái cây cho khỏe.
-   Lát nữa ăn cơm xong đã. Cha mẹ và hai em vẫn khỏe chớ?
-   Ai cũng hỏi thăm anh hết.
-   Bao giờ thì em gặp chồng bà Quỳnh? Bà ấy là người như thế nào? Thường thường những bà me Tây ấy không được đúng đắn, em phải đề phòng trong khi giao thiệp với bà ta.
-   Bà Quỳnh là một người đàn bà có học. Vì trải qua một lần tình duyên ngang trái nên bà mới làm lại cuộc đời với người ngoại quốc này. Em không biết ông ta tên gì. Nhưng nghe bà Quỳnh nói ông ấy muốn xem qua hết những bức tranh của em, em phải mời ông bà đến đây. Chuyện ấy có gì phiền hà cho anh hay trở ngại cho hạnh phúc của chúng ta không? Anh cứ nói thật...
Giọng của Phi Nga hơi gắt, đôi mắt cương nghị của nàng nhìn thẳng vào đôi mắt rụt rè của Dũng, Dũng cúi gằm mặt xuống:
-   Anh không thấy có gì phiền hà. Anh chỉ nói để em đề phòng vậy thôi. Nhưng nếu bà Quỳnh là người tốt thì đó là một chuyện may mắn cho em, được một nhà sưu tập tranh để ý đến, đâu phải là chuyện dễ. Em mang những bức tranh về đây à?
Vừa nói Dũng vừa nhìn mấy cuộn giấy, hai cái bao đựng khung ảnh, thuốc vẽ:
-   Em định bày những thứ ấy ở đâu?
-   Em chưa biết. Nhưng em chưa đem về đủ. Phi Yến sẽ mang giúp em những khung ảnh lớn và cái giá vẽ. Có lẽ em phải thuê thợ cất thêm một cái chòi bên hông nhà. Như thế tiện hơn.
Nói đến đây Phi Nga đứng lên đi dọn cơm, để Dũng ngồi lại với những ý nghĩ không được vui. Chàng lo lắng không biết một khi Phi Nga nhận thấy mình có cái thiên tài hiếm có ấy thì cuộc sống giữa chàng và Phi Nga có gì thay đổi không? Mấy lâu nay Dũng yên trí là Phi Nga vẽ để giải trí, để khỏi ở không, nàng có lẽ chưa bao giờ cho rằng nàng có nét bút của một họa sĩ tài hoa lỗi lạc. Nhưng bây giờ đã có người chú ý đến những bức tranh của nàng rồi. Người ta bảo nàng là một thiên tài thì thế nào nàng cũng nghĩ cách khai thác tài năng của mình.
Dọn cơm xong, thấy Dũng vẫn ngồi thừ người trong chiếc ghế dựa, Phi Nga hỏi:
-   Hôm nay anh không đói sao mà ngồi yên vậy?
Dũng vội vàng đứng lên đi rửa mặt, thay bộ pyjama rồi đi lại ngồi vào bàn ăn. Dũng nói như để phá tan không khí kém vui lúc ấy:
-   Trưa nay anh ăn bánh mì nhiều quá nên chưa nghe đói. Còn em, về bên ấy, em dùng cơm chắc vui lắm. Người ta bảo không gì vui bằng con gái về nhà cha mẹ.
-   Cha không có ở nhà, em dùng cơm với mẹ...
Phi Nga gắp thức ăn bỏ vào chén Dũng và khi Dũng ăn xong, nàng lấy nho và táo mời chàng. Phi Nga thấy rõ Dũng không được vui vẻ, vì vậy nàng cung không giấu được sự bực bội.
Ăn xong, Dũng vào phòng nằm đọc sách, bỏ một mình Phi Nga lo dọn dẹp, soạn đồ đạc trong hai cái bao ra sắp ở một góc phòng. Mãi đến mười một giờ đêm Phi Nga mới vào phòng ngủ. Dũng nằm xây mặt vào vách, nhưng Phi Nga biết rõ Dũng chưa ngủ. Lần này là lần đầu, từ ngày họ cưới nhau mà cả hai đều có chuyện bực mình. Nhưng Phi Nga không muốn không khí tẻ lạnh ấy kéo dài đến giờ này, nàng lấy tay lay vai của Dũng:
-   Anh ngủ trước em được sao?
Dũng dường như cũng ăn năn về thái độ hờn giận vô lý của mình, nên nói:
-   Anh đợi em vào ngủ đấy chớ.
Phi Nga nằm xuống bên Dũng, quàng tay qua ôm lấy chồng. Dũng cảm thấy vui vẻ trở lại, cái ý nghĩ Phi Nga sẽ bỏ quên mình đã không còn nữa. Dũng quay lại ôm vợ thật chặt:
-   Anh vô lý thật! Đợi em cả ngày, đến khi em về lại buồn ngang như vậy. Em đừng giận anh, em nhá. Em cũng đừng hiểu lầm là anh không muốn cho em gặp chồng bà Quỳnh. Anh luôn cầu mong cho em có dịp tốt để thi thố tài năng. Em cứ tự ý thương thuyết với họ, đó là công chuyện làm ăn và cũng là sự nghiệp của em sau này... Đừng ngại là anh tìm cách ngăn cản em không cho em vẽ tranh hoặc anh chỉ nghĩ cách ràng buộc em với trách nhiệm làm vợ, làm mẹ. Em cũng thấy rõ anh chưa muốn cho em có con, sợ em khổ cực...
Dũng nói có vẻ lúng túng không được tự nhiên. Phi Nga hiểu tâm trạng của chồng lúc ấy nên dịu dàng nói:
-   Hiện giờ thì em chưa nghĩ gì về chuyện vẽ tranh. Em sở dĩ đem tranh về đây là để xem thử người ta nghĩ thế nào về cái việc làm để choáng thì giờ dư của em...
Nhưng đêm đó Dũng biết là Phi Nga không thể ngủ được, nàng đã thức trắng đêm để vạch một chương trình làm việc hay để trù tính một việc gì mà Dũng không thể nào hiểu được.
Khi Dũng thức dậy thì đã thấy Phi Nga chống tay lên thành cửa sổ, nhìn ra ngoài trời, cảnh vật còn nhá nhem, mặt trăng chưa lặn mà mặt trời đã bắt đầu ló dạng...
Dũng đi thật nhẹ lại bên Phi Nga, đặt nhẹ tay lên vai nàng:
-   Đêm nay em không ngủ?
Phi Nga nói thật:
-   Em không sao ngủ được. Tuy vậy em không nghe mệt, anh ạ...
Sáng hôm ấy Phi Nga vẽ sơ đồ và tìm người đến cất cho nàng một cái chái bên hông nhà. Chái rộng ba thước, dài năm thước, lợp tôn, có cửa sổ, cửa lớn...
Công việc làm ấy mất cả tuần lễ. Phi Nga bận rộn cả ngày, nhưng càng bận rộn nàng càng thích thú vì có việc làm, không còn cảm giác bực bội là mình chưa dùng hết sức hoạt động của mình...
Khi cất xong, Phi Nga bỗng nhận thấy cái chái ấy không thể là xưởng vẽ của một họa sĩ vì nằm ngay trước mặt thiên hạ. Ai di ngang qua đều thấy và để ý đến cái chái mà họ lầm tưởng là cái nhà xe... Phi Nga lấy tranh ảnh treo lên vách, trang hoàng cho dễ nhìn, nhưng lần nào ngồi ở đấy, Phi Nga cũng không sao làm việc được. Nàng nghĩ:
- Trông nó tù túng và ngộp thở quá!
Khi Phi Nga đem ý này nói lại với Dũng thì Dũng nói:
-   Anh thấy các họa sĩ có thể làm việc ở bất cứ chỗ nào. Họ vẽ ngoài đồng, bên lề đường, trong công viên... Sao em lại khó tánh như vậy?
-   Em chưa phải là một họa sĩ...
Phi Nga có xưởng vẽ rồi nhưng lại không làm việc được. Nghe trong người mệt mỏi, nàng biết là mình đang có thai, một mầm sống mới đang nảy nở trong người nàng, máu nàng đang chan hòa qua cái bào thai nàng đang nuôi dưỡng...
-   Ta sắp có một đứa con...
Phi Nga báo tin mừng ấy cho Dũng biết và nàng nói:
-   Bây giờ thì em đành dẹp chuyện vẽ tranh lại. Em đang có chán vạn việc để làm.
Dũng nghĩ:
-   Nhiều cô gái khi chưa lập gia đình, xây không biết bao nhiêu mộng đẹp, nhưng khi có chồng có con rồi thì không còn nghĩ đến giấc mộng thanh xuân nữa. Cái mộng làm một nhà văn, một nghệ sĩ, một xướng ngôn viên ở đài phát thanh rồi cũng phải dẹp lại một bên khi người con gái trở thành một người mẹ. Và biết đâu sự hào hứng của Phi Nga ngày hôm nay về chuyện vẽ tranh rồi cũng tiêu tan trước đứa con ngây thơ mũm mĩm, trước những bổn phận mới thiết thực hơn...
Những ý nghĩ này đã khiến Dũng không còn lo nghĩ như hôm chàng thấy Phi Nga mang cái giá vẽ cùng những hộp màu, những bức tranh về. Rồi đây những bữa cơm sẽ ngon lành như trước, sự chăm nom của Phi Nga sẽ chu đáo hơn nữa, và gia đình của chàng sẽ mãi mãi là một tổ ấm đáng cho mọi người thèm thuồng, khen ngợi.
Giữa lúc Dũng tin tưởng và hy vọng Phi Nga không còn băn khoăn về sự chưa dùng hết tầm hoạt động của mình, thì bà Quỳnh đến thăm Phi Nga vào rnột buổi sáng trời quang đãng. Lúc ấy Dũng đi dạy, Phi Nga vì thai nghén hành mệt không ăn uống được nên trông người hơi xanh xao, gầy ốm. Thấy bà Quỳnh từ trên xe hơi bước xuống sắp đi vào cổng, Phi Nga vội vàng ra đón:
-   Bà tìm ra được nhà cháu rồi!
-   Không khó, cô ạ. Tôi hỏi, ai cũng biết cả. Sao trông cô không được khỏe vậy?
-   Cháu có thai, mấy hôm nay nghe uể oải và không ăn uống gì được.
Bà Quỳnh đang vui bỗng sa sầm nét mặt lại:
-   Có thai? Nếu cô có thai thì cô đâu còn vẽ vời gì được nữa!
Giọng bà đầy vẻ chán nản và thương hại. Phi Nga liền nói:
-   Cháu thấy không có gì là trở ngại. Vài hôm nữa khỏe lại, cháu sẽ vẽ...
Phi Nga mời bà Quỳnh ngồi vào ghế. Bà nhìn khắp nơi rồi nói:
-   Ngôi nhà đẹp quá nhỉ? Nhà của cô?
-   Nhà của chính phủ. Đáng lẽ ông hiệu trưởng ở đây, nhưng ông ta không ở, nhường cho nhà cháu...
-   Cô trang hoàng khéo lắm. Tôi phải rước cô lên Sài Gòn để giúp tôi trang trí mấy phòng của tôi mới được. Tôi mới mua một biệt thự cũng khá rộng...
Nhưng rồi bỗng nhớ ra Phi Nga đang cấn thai, bà thở dài:
-   Lúc này cô đâu có làm được. Yếu đau như thế mà...
Uống xong một chén trà, bà Quỳnh đứng lên nói:
-   Xưởng vẽ của cô đâu?
-   Cháu vừa thuê thợ xây xong... Mời bà ra xem thử. Cháu không được vừa lòng lắm. Vì chật hẹp quá xây cất tạm thôi...
Bà Quỳnh và Phi Nga đi ra xưởng vẽ. Bà đứng ngắm các bức tranh chăm chú:
-   Cô không học với ai mà vẽ được như vầy thì quả là một thiên tài!
Phi Nga khiêm tốn:
-   Cháu vẽ để tiêu khiển. Bà khen cháu quá, cháu ngại lắm.
-   Nhưng bây giờ đã có thai thì công việc của cô lẽ dĩ nhiên sẽ gặp nhiều trở ngại. À, thầy giáo có ngăn cản cô vẽ không? Nhiều người chồng không thích cho vợ mình nổi tiếng, nhất là khi họ chỉ là một giáo viên tầm thường của một trường tiểu học...
Phi Nga vội vàng nói:
-   Chúng cháu là bạn thân từ lúc nhỏ, chúng cháu hiểu nhau và kính nể nhau...
-   Việc ấy không liên quan gì đến sự nghiệp của cô. Có nhiều người đàn ông kính nể, thương yêu vợ chỉ vì vợ mình phục tài mình, sống hoàn toàn trong bóng tối để lo cho mình. Nhưng khi người đàn bà có một sự nghiệp thì lại khác...
Nói đến đây đôi mắt của bà Quỳnh trở nên xa xăm. Nhìn vào bức tranh Phi Nga vẽ một thiếu phụ đứng trước cánh đồng, bà thở dài:
-   Tâm trạng của người phụ nữ trong tranh kia...
Phi Nga giật mình nhìn bà Quỳnh:
- Theo bà thì người ấy đang nghĩ gì?
-   Một phụ nữ đứng trước một cánh đồng rộng rãi, mênh mông, đôi mắt dõi theo đàn chim đang tung cánh bay... Chắc chắn nàng đang nghĩ đến một chân trời xa xăm nào đó mà nàng không sao đi đến được. Nàng tiếc rẻ hay thương hại cảnh mình không bằng đàn chim tung cánh, không bị ai ràng buộc, giữ chân? Người ấy đang ôm ấp một hoài bão chưa thể thực hiện, hay đang từ chối một chí hướng để sống với nhiệm vụ của người đàn bà mà số đông người đời bảo là cao cả, thiêng liêng. Cô tìm đề tài này ở đâu vậy?
-   Cháu vẽ một phụ nữ đang ao ước một cuộc đời xa lạ khác với nếp sống sau lũy tre xanh. Bà đã đoán được những gì mà cháu muốn diễn tả qua nét bút. Bà tài tình thật!
Bà Quỳnh cười một cách chua chát:
-   Tôi cũng đang ở trong tâm trạng ấy. Cô Phi Nga à, lúc chưa gặp ông Malê nhà tôi đầy, tôi cũng là một nghệ sĩ của sân khấu...
Phi Nga nhìn bà Quỳnh không giấu được sự ngạc nhiên thì bà nói:
-   Tôi không phải là em ruột của ông hội đồng Tích. Tôi là con một vú già của gia đình ông ấy. Mẹ tôi giúp việc cho ông bá cai tổng, cha mẹ của ông Tích từ khi mười lăm tuổi đến ngày có chồng, có con rồi chết. Ông bà cai tổng đã nuôi và xem tôi như con. Tôi nhỏ hơn ông Tích năm tuổi, nhưng lúc ấy tôi ham học và còn học giỏi hơn ông ta nữa. Thấy tôi thông minh, học được, ông cai tổng cho tôi học đến bậc trung học. Tôi thích vẽ và thêu may, nghĩa là thích những cái gì đẹp đẽ, mỹ thuật. Tôi hát cũng khá, giọng cao và trong. Ông Tích cứ gọi tôi là cô Năm vọng cổ. Một thầy đờn nghe tôi hát, khen tôi có giọng tốt và năn nỉ tôi để ông dạy cho chuyện đàn hát. Nhưng ông cai tổng cấm không cho tôi hát. Ông bảo, con gái mà đi hát đi ca thì thế nào cũng bạc mệnh. Tôi lén học với ông thầy đàn được mấy tháng. Lúc ấy tôi thi rớt, ông cai tổng bắt tôi nghỉ học để ở nhà lo việc bếp núc. Ông Tích hiểu tôi có tài và không thích bị trói buộc trong nếp sống tầm thường, liền khuyến khích tôi học đàn, học hát. Ông Tích giúp tôi tiền bạc và phương tiện để học âm nhạc mà ông cai tổng không hay biết.
Năm hai mươi tuổi, tôi khá đẹp. Thú thật với cô, tôi yêu Tích và Tích cũng yêu tôi. Sống bên nhau từ thuở bé, Tích phục tài của tôi và giờ đây lại mê nhan sắc của tôi nữa. Nhưng chuyện yêu thương ấy tôi biết rõ không đi đến đâu vì ông bà cai tổng là người rất phân biệt giai cấp. Tích cũng thừa hiểu cha mẹ không bao giờ cho phép một cuộc hôn nhân như thế nên mặc dù yêu tôi, Tích vẫn không dám bày tỏ tình yêu của mình, chỉ ôm ấp tận đáy lòng. Riêng tôi, tôi chỉ biết yêu bằng một mối tình tuyệt vọng...
Tích thường nói với tôi:
-   Anh thấy rõ em sẽ có một tương lai tươi đẹp, nhưng nếu em cứ chịu ép mình sống ở đây thì rồi em cũng như bao thiếu nữ khác, an phận với cảnh chồng con...
Tôi nói với Tích:
-   Chớ anh bảo em làm sao để ra khỏi cảnh tầm thường này được?
Tích hứa:
-   Nếu có dịp anh sẽ giúp em.
Cuối năm đó, ông bà cai tổng đi cưới vợ cho Tích. Tích buồn lắm nhưng không thể trái lời cha mẹ. Tích bảo tôi từ nay hãy xem Tích như anh ruột. Vợ Tích rất hiền lành, nhưng từ khi Tích có vợ thì ông cai tổng dường như không muốn cho tôi ở chung nhà nữa. Ông bà nghi ngờ sẽ có chuyện xảy ra nếu tôi ở đấy. Tích tốt lắm, nếu lúc ấy Tích để lộ tình yêu hay tiến tới trước là tôi sẵn sàng quên tất cả vì Tích, nhưng Tích giữ gìn cho tôi, không nỡ để tôi phải đau khổ. Năm sau, Tích cho tôi một số tiền và khuyên tôi đi Sài Gòn học thêm hay tìm việc làm. Tôi liền nghĩ đến ông thầy đờn cũ, người đã dạy tôi sử dụng cây độc huyền cầm. Tôi tìm gặp ông ta thì may sao giữa lúc đó, một ông chủ gánh hát lớn đang nhờ ông ta kiếm giùm một cô đào trẻ để đóng vai phụ. Gặp tôi, ông bầu ấy mừng lắm và nhận tôi ngay...
Bà Quỳnh kể đến đây thì thở dài:
-   Cuộc đời tôi ba chìm bảy nổi, chín cái lênh đênh chớ nào phẳng lặng như giòng sông nhỏ chảy qua các làng mạc của miền đồng bằng. Tôi cộng tác với ông bầu nọ hơn một năm thì bắt đầu nổi tiếng, được khán giả chú ý đặc biệt. Lúc đó tôi nhớ Tích vô hạn. Tôi cố chôn sâu mối tình đầu dang dở ấy để sống với danh vọng và sự nghiệp, nhưng không sao quên được. Từ cô đào phụ tôi trở thành đào chánh, và không ai không hâm mộ tài sắc của tôi... Khổ cho tôi là ông bầu lại mê tôi như điếu đổ, ông là kép chánh mà tôi là đào chánh, chúng tôi thường đóng cặp với nhau, rồi trong khi giả nhân giả nghĩa, giả vợ giả chồng trên sân khấu, ông thường có những cử chỉ như thật khiến tôi không sao khỏi lo lắng và lần lần tôi cũng bị lôi cuốn vào chuyện yêu đương tha thiết của ông.
Ông bầu góa vợ, đã trải qua nhiều chuyện yêu đương sôi nổi, trong giới ca kịch không ai không biết tiếng của ông, nhưng khi yêu thương tôi thì ông không muốn cho tôi tiếp tục ca hát nữa. Ông ghen với những kép khác, cả với những khán giả hâm mộ tài nghệ của tôi.
Những trận đòn ghen vô nghĩa đã khiến tôi chán ghét ông, tôi bỏ ông trở về quê. Nhưng tại đây tôi cũng không sao sống được vì ông bà cai tổng khinh ghét tôi, bảo tôi chỉ là một đào hát hư hỏng, khát tình, khát danh vọng.
Tích khuyên tôi nên nhận hát với gánh khác, nhưng tôi chán nản quá. Tôi trở lên Sài Gòn và chưa biết phải làm gì để sống thì gặp một bà bầu mời tôi gia nhập đoàn của bà. Nghĩ rằng hợp tác với một người chủ cùng giới chắc là không xảy ra việc gì phiền hà như trước, tôi nhận lời bà. Tôi hát ở đây được một năm, tiến bộ nhiều vì được nhiều nghệ sĩ đàn anh, đàn chị chỉ vẽ thêm. Người ta bảo khi mối tình đầu không thành thì người con gái dễ yêu thương lãng mạn, không còn dè dặt nữa. Sau khi thất vọng vì không được làm vợ Tích, vì nhẹ dạ rơi vào vòng tay của ông bầu vũ phu nọ, giờ đây cũng vì tình yêu chưa được thỏa mãn, tôi lại để cho một kép trẻ yêu thương. Chúng tôi sống bên nhau sóng gió nhiều hơn hạnh phúc. Nhiều hôm đóng một vai đào thương, tôi thấy dường như tôi khóc cho mình chớ không phải khóc vì đóng kịch.
Tôi khổ đau không còn thiết đến danh vọng, sự nghiệp gì cả và tôi lại ra đi để dứt khoát với người chồng không thể cho tôi một tình cảm đầy đủ. Nhờ một người quen giới thiệu tôi vào giúp việc một hãng buôn ngoại quốc, nơi đây tôi gặp ông Malê từ Pháp sang Sài Gòn du lịch kết hợp mua tranh cùng đồ cổ. Ông Malê thấy tôi thì có cảm tình ngay, ông tìm cách làm quen với tôi rồi hỏi tôi về hoàn cảnh gia đình. Tôi cứ sự thực tỏ bày thì ông nói:
-   Tôi cũng đang thất vọng vì mối tình đầu dang dở. Nếu cô đồng ý lập gia đình với tôi thì chúng ta sẽ có thể hiểu nhau và sống bên nhau đến lúc bạc đầu.
Nghe ông Malê nói thế, tôi đã nghĩ:
-   Đời tôi đã trải qua nhiều năm phiêu lưu, phiêu lưu cả vật chất lẫn tinh thần, giờ đây tôi đánh bạo làm một cuộc phiêu lưu cuối cùng. May ra cuộc phiêu lưu này đưa tôi đến một cuộc đời yên tĩnh cũng không biết chừng.
Ông Malê còn nói tiếp:
-   Tôi là một nhà sưu tập tranh, với cái nghề này tôi đi xa luôn và giao thiệp rộng lắm. Cô là một phụ nữ Á đông, chắc cô không thể cùng tôi hòa mình trong cuộc sống ấy, nhưng tôi chỉ mong ở cô một người nội trợ, một người bạn hiền trong gia đình. Tôi không hiểu cô có còn nhớ tiếc cuộc đời đầy danh vọng của một nghệ sĩ không?
Tôi đã nhận lời làm vợ ông Malê và hứa với ông sẽ bỏ cái mộng làm nghệ sĩ sân khấu. Sự thật lúc ấy tôi chán yêu thương thì nhiều mà chán ca hát thì ít. Nhưng vì làm nghề ca hát mà tôi mới gặp những chuyện yêu thương rắc rối kia.
Bà Quỳnh kể đến đây, ngừng lại lấy thuốc lá ra hút rồi nói tiếp:
-   Lúc đầu về sống với ông Malê, tôi không khỏi buồn tủi và cũng không sao không nhớ Tích, nhớ mối tình đầu..., nhưng lần lần trước sự săn sóc và lòng tử tê của ông Malê, tôi quên được dĩ vãng buồn thương để sống với hiện tại tuy không phải là mộng lòng của thời xuân trẻ, nhưng là những ngày yên vui bên một người chồng đầy đủ bổn phận. Tôi đã theo ông ấy đi nhiều nước: Ấn Độ, Tàu, Nhật, Pháp, Ý. Nhưng đi đâu rồi tôi cũng trở về sống với bà con của tôi là gia đình ông bà cai tổng. Từ ngày có chồng, tôi quên hẳn mối tình đầu, không còn nghĩ vơ vẩn đến Tích nữa. Tích từ đó cũng chỉ xem tôi như một người em gái. Mặc dù tôi có chồng ngoại quốc, ông bà cai tổng không hề xua đuổi tôi như xưa kia tôi làm một đào hát.
Bà Quỳnh tằng hắng rồi nói tiếp:
-   Cô thấy đó, những gì mình ham muốn lúc tuổi trẻ, khi có gia đình cũng đành phải dẹp lại không thực hiện được...
Phi Nga nói:
-   Có biết bao nhiêu người có gia đình rồi mà vẫn đeo đuổi sự nghiệp văn chương nghệ thuật hay khoa học... Chồng con không ngăn cản bước đường tiến thủ của họ...
Bà Quỳnh lắc đầu:
-   Ít lắm. Tôi có một bà bạn, từ lúc học ở trường đã tỏ ra có khiếu làm thơ. Ra trường, bà đã có mấy tập thơ, vậy mà từ ngày bà ta vớ được ông chồng công chức, sống đấy đủ về vật chất rồi thì có ai thấy bà ta sáng tác được bài thơ nào đâu! Muốn phát triển được tài năng của mình, phải có đất dụng tài. Cái không khí sặc mùi thương mãi, cái nếp sống trưởng giả làm sao tạo được thi hứng cho con người?
Rồi bà nhìn đồng hồ:
-   Tôi định ghé thăm cô một chút, vậy mà nãy giờ ham nói chuyện, tôi quên cái chuyện chính cần nói cô biết, là ngày mai nhà tôi sẽ đến đây.
-   Bà cùng đến với ông?
-   Nếu tôi rảnh. Tôi thấy không cần có tôi đi theo.
-   Tôi không nói thạo tiếng Pháp.
-   Nhà tôi hiểu tiếng Việt. Nhưng cô đậu trung hoc, sao lại không nói được tiếng Pháp?
-   Nói cũng được nhưng không giỏi.
-   Đủ hiểu thì thôi. Lúc ấy chắc cậu giáo chưa về. Nhà tôi chỉ rảnh một giờ.
Phi Nga có vẻ lo lắng thì bà Quỳnh nói:
-   Đó, cô thấy chưa. Tiếp nhà tôi mà cô còn không yên lòng, sau này tiếp xúc với các bạn bè họa sĩ thì cô mới làm sao?
-   Anh Dũng không ngăn cấm tôi chuyện ấy.
-   Nhưng cô đã tỏ vẻ lo lắng tức là Dũng không được vui cho lắm. Giá cô bán cho tôi mấy bức tranh này từ lúc tôi ngỏ ý mua, nghĩa là cách nay hơn một năm thì có lẽ cuộc hôn nhân của cô và cậu Dũng đã không thành.
-   Tại sao vậy?
-   Cô chịu bán tranh thì những bức tranh ấy đã đến mắt nhà tôi từ lâu và nhà tôi đã gặp cô rồi. Gặp cô, nhà tôi sẽ thuyết phục để cô khỏi lấy chồng...
Phi Nga cười lớn:
-   Ông làm sao mà thuyết phục tôi được.
Rồi như sực nhớ, Phi Nga hỏi:
-   Sao ông không thuyết phục bà đừng lấy chồng, ở vậy để thực hiện mộng làm nghệ sĩ sân khấu của bà?
Bây giờ đến phiên bà Quỳnh cười lớn:
-   Cô lanh trí lắm, bắt bẻ hay thật. Nhưng tôi đâu có được thiên tài như cô. Bây giờ nghĩ kỹ lại, tôi thấy lúc ấy tôi không có tài gì bao nhiêu. Tôi trẻ, tôi đẹp, có giọng hơi trong, vả lại chưa có chồng nên người ta sẵn lòng nâng đỡ tôi. Nâng đỡ tôi, họ có lợi, có thể gây cảm tình với tôi. Nếu tôi xấu xí thì làm sao nổi danh được? Nhưng sau hai lần được yêu thương bởi một ông bầu, một anh kép, tôi đâu được nâng đỡ nữa. Cô thấy đó, nếu lúc ấy tôi cứ khép chặt cửa phòng, treo cao giá ngọc thì có lẽ đến ngày nay tôi vẫn còn được nhiều người mời mọc, đeo đuổi...
Bà Quỳnh vội đứng lên vì sợ sẽ trễ giờ về Sài Gòn:
-   Ngày mai, bốn giờ cô nhá.
Khi bà Quỳnh về rồi, Phi Nga phân vân không biết có nên cho Dũng biết về cuốc viếng thăm hôm nay của bà và về chuyện ngày mai đúng bốn giờ ông Malê sẽ đến gặp nàng không? Phi Nga nghĩ:
-   Không nói thế nào được? Bà Quỳnh đến đây, những người ở xóm này thế nào mà chả trông thấy. Họ sẽ nói cho Dũng biết. Nếu ta không nói trước thì Dũng sẽ nghi ta quen giấu chàng nhiều việc, như thế rất phiền. Lại nữa, dù ông Malê hay bà Quỳnh có đến đây thì việc đó cũng không có gì đáng giấu diếm, che đậy...
Vì nghĩ thế mà Phi Nga quyết định nói cho Dũng biết chuyện bà Quỳnh đến xem tranh, khi hai vợ chồng ăn cơm xong và ra ngồi hóng mát ngoài sân. Dũng hỏi:
-   Bà Quỳnh chỉ đến xem tranh?
-   Bà ta xem tranh và hỏi thăm em đã vẽ được bức tranh nào khác chưa...
-   Bà ta không nói hôm nào ông Malê đến đây sao?
-   Anh nhớ lâu quá nhỉ? Em cứ tưởng anh quên rồi. Bà Quỳnh nói hôm nào rảnh, ông ấy sẽ đến. Nhưng đâu có chắc gì. Em tài cán gì mà ông ta phải mất thì giờ như vậy?
Phi Nga không hiểu tại sao mình lại nói như thế. Tại sao Phi Nga không nói thật cho Dũng biết là ngày mai đúng bốn giờ là ông Malê đến? Có lẽ là tại Phi Nga thấy nét mặt của Dũng không được vui, cau có là khác...
Dũng nói, sau một lúc nghĩ ngợi:
-   Anh tin là ông ấy đến. Càng hay, có sao đâu. Ông ấy rất sành về tranh, sẽ giúp em được nhiều ý kiến về hội họa.
Rồi Dũng nói thêm:
-   Và ông ấy cũng đã lớn tuổi, có nhiều kinh nghiệm... Bà Quỳnh nói chuyện với em có ỉâu không?
-   Độ một giờ. Bà ta bảo nếu em có thai thì chắc là không vẽ được.
-   Anh cũng nghĩ vậy. Em không được khỏe thì vẽ thế nào được? Huống chi em còn phải lo việc bếp núc. Từ rày em nên nghỉ ngơi, đừng làm lụng nhiều.
Phi Nga vui vẻ:
 
???? thieu trang sach 112 (p.63 - cdmc02.pdf?)
 
 
 
Page 113 (cdm02.pdf)
 
cứ an phận thủ thường như thế này thì rồi đây anh sẽ thua em...
Hôm ấy Dũng nói nhiều lắm nhưng Phi Nga khuyên chàng hãy yên lòng, đừng lo nghĩ về việc thua sút mà hạnh phúc của hai người sẽ giảm đi. Phi Nga nói:
-   Lúc này anh có thể học thêm để thi tú tài, anh nghĩ sao? Em sẽ giúp anh học.
-   Em khuyến khích anh? Con người của anh dở lắm, không có em chắc anh không ham thích gì nữa cả. Tại sao còn trẻ mà anh đã có sự chán nản của người già, không có đầu óc tiến thủ, không có tinh thần tranh đấu để có thể đi lên, ra khỏi cảnh tầm thường?
Phi Nga đề nghị:
-   Em sẽ khuyến khích anh. Tháng sau bắt đầu học anh nhé! Hay là em cùng học với anh, chúng ta gởi thư học lớp hàm thụ?
Nghe Phi Nga bảo sẽ cùng học, Dũng tỏ vẻ lo lắng. Phi Nga hiểu ngay ý chàng:
-   Thôi, anh học đủ rồi, em đâu có thì giờ mà học.
Phi Nga biết nếu nàng mà chịu học thì nàng sẽ thu xếp được thì giờ và không bao giờ bỏ học dở dang. Nàng đã đeo đuổi việc gì là phải đến cùng, không ai bàn ra nói vào mà nàng thối chí được. Có lẽ Dũng hiểu chỗ đó nên nghe Phi Nga bảo nàng sẽ cùng học với chàng là chàng lo ngại, thấy trước sự thua sút của mình.
Phi Nga nhắc lại:
-   Anh nhớ viết thư hỏi về chuyện học nhé. Hay để em viết cho anh?
-   Tùy em vậy.
Phi Nga không bằng lòng:
-   Tại sao lại tùy em?
Dũng vội vàng nói cho Phi Nga vui lòng:
-   Vì anh sẽ làm tất cả những gì em muốn...
 
 
 
 
 
trang 212 (p.63 - cdmc02.pdf?)
 
Phi Nga nói lớn tiếng. Dũng nhìn nàng, thấy nét mặt tức giận của nàng thì không dằn được :
- Thế em có quen với Đình không? Mấy lâu nay anh không nghe em nói về Đình, nhưng bây giờ thì anh hiểu vì lẽ gì mà em không nói đến người ấy.
- Vì lẽ gì?
Phi Nga hét lên, Dũng cũng hét lại :
- Sao lại la lớn lên như vậy?
- Anh cũng la lối om sòm thì sao? Đâu, anh muốn nói gì thì cứ nói huỵch tẹt ra đi, đừng úp mở nữa. Tôi tuy là đàn bà, nhưng không phải thứ đàn bà muốn không nói có, muốn có nói không. Anh hiểu tôi quá mà.
Dũng bỗng thấy hôi hận vì sự tức giận vô lý của mình, nên vội vàng nói :
- Không có chuyện gì úp mở hết... Tại em bảo em không quen với ai là đàn ông ngoài anh, nên anh bỗng nhớ đến anh Đình.
Phi Nga không chịu thua, hỏi cho ra lẽ :
- Em quen với anh Đình thì đã sao? Trước đây, em không từng nói anh biết về việc ấy sao? Nhưng em không hề yêu anh ấy, nếu em yêu anh Đình thì ai ngăn cấm em nhận lời làm vợ anh ấy chứ? Anh còn lạ gì chuyện ấy nữa. Nói ra, anh đừng giận, anh Đình là một sinh viên gần đậu bác sĩ, nhà anh ấy lại giàu, tánh tình dễ chịu mà tướng mạo cũng khá khôi ngô, tuấn tú...
Dũng sững sờ ngồi nhìn Phi Nga, và bỗng có mặc cảm mình thua Đình về mọi phương diện... Phi Nga không để cho Dũng hiểu lầm, nên nói tiếp:
cứ an phận thủ thường như thế này thì rồi đây anh sẽ thua em...
Hôm ấy Dũng nói nhiều lắm nhưng Phi Nga khuyên chàng hãy yên lòng, đừng lo nghĩ về việc thua sút mà hạnh phúc của hai người sẽ giảm đi. Phi Nga nói :
- Lúc này anh có thể học thêm để thi tú tài, anh nghĩ sao? Em sẽ giúp anh học.
- Em khuyến khích anh? Con người của anh dở lắm, không có em chắc anh không ham thích gì nữa cả. Tại sao còn trẻ mà anh đã có sự chán nản của người già, không có đầu óc tiến thủ, không có tinh thần tranh đấu để có thể đi lên, ra khỏi cảnh tầm thường?
Phi Nga đề nghị :
- Em sẽ khuyến khích anh. Tháng sau bắt đầu học anh nhé! Hay là em cùng học với anh, chúng ta gởi thư học lớp hàm thụ?
Nghe Phi Nga bảo sẽ cùng học, Dũng tỏ vẻ lo lắng. Phi Nga hiểu ngay ý chàng :
- Thôi, anh học đủ rồi, em đâu có thì giờ mà học.
Phi Nga biết nếu nàng mà chịu học thì nàng sẽ thu xếp được thì giờ và không bao giờ bỏ học dở dang. Nàng đã đeo đuổi việc gì là phải đến cùng, không ai bàn ra nói vào mà nàng thối chí được. Có lẽ Dũng hiếu chỗ đó nên nghe Phi Nga bảo nàng sẽ cùng học với chàng là chàng lo ngại, thấy trước sự thua sút của mình.
Phi Nga nhắc lại :
- Anh nhớ viết thư hỏi về chuyện học nhé. Hay để em viết cho anh?
- Tùy em vậy.
Phi Nga không bằng lòng :
- Tại sao lại tùy em?
Dũng vội vàng nói cho Phi Nga vui lòng :
- Vì anh sẽ làm tất cả những gì em muốn...




0
Chương 3
                                     
 

Đồng hồ vừa đổ bốn giờ thì chiếc xe hơi của bà Quỳnh cũng vừa ngừng trước cổng. Tự nhiên Phi Nga nghe hồi hộp, nhưng rồi nàng cũng trấn tĩnh được, đi ra đón khách, ông Malê, một người đàn ông cao lớn, tóc đã hoa râm, phục sức sang trọng, đã tiến vào cửa, không có bà Quỳnh đi theo. Bộ dáng bệ vệ của ông Malê không có vẻ gì là nghệ sĩ cả. Nhìn Phi Nga không nháy mắt, ông hỏi:
-   Cô Phi Nga?
-   Vâng, chính tôi đây.
-   Tôi có thể dùng tiếng Pháp để nói chuyện với cô?
-   Tôi không thạo lắm và cũng không quen nghe người ngoại quốc nói, nhưng ông cứ dùng tiếng Pháp, xem thử tôi có hiểu không?
Lúc bấy giờ ông Malê mới nói tiếng Pháp. Ông nói chậm rãi:
-   Nhà tôi đã nói trước cho cô biết về mục đích thăm viếng của tôi?
Ông Malê cao lớn vì thế mỗi lần nói, phải cúi xuống. Phi Nga đứng mới đến vai của ông, đôi mắt của ông cứ nhìn thẳng vào mặt Phi Nga, khiến nàng hơi khó chịu, nhưng vẫn không tránh ánh mắt của ông:
-   Vâng... Xin mời ông ngồi.
-   Trông cô còn nhỏ... như một thiếu nữ độ mười bốn tuổi. Vậy mà cô đã lập gia đình rồi à?
Phi Nga mỉm cười:
-   Tôi đã hai mươi tuổi.
-   Hai mươi tuổi? Lập gia đình vẫn là sớm đấy, nhất là một người có tài như cô.
-   Ông quá khen.
-   Tôi không biết nịnh đầm. Tôi khen vì đã thấy hai bức tranh của cô. Cô học vẽ với ai?
-   Tôi chỉ học lúc ở trường, với một giáo sư dạy vẽ, có đi học ở ngoại quốc.
-   Về trường phái nào?
-   Tôi không biết. Nghe đâu ông ấy học ở Paris...
-   Lúc cô học, ông ấy đã nói gì về những tranh cô vẽ?
-   Ông ấy khuyên tôi nên đi học vẽ ở trường Mỹ thuật.
-   Thế cô có đi không?
-   Không.
-   Tại sao?
-   Cha tôi không thích cho con gái học nhiều...
Ông Malê nhún vai, rồi nói có vẻ bực tức:
-   Con gái học nhiều thì xã hội có ngừng tiến bộ không? Sao lại ngăn cấm những thiên tài phát triển?
Phi Nga đi pha trà, ông Malê ngồi nhìn căn phòng, rồi đi xem từng bức tranh nhỏ treo trong phòng khách. Lúc xem xong, ông lại ngắm Phi Nga trong khi nàng pha trà. Những cử chỉ lanh lẹ của nàng đã lọt vào mắt ông Malê. Ông nheo mắt nói:
-   Cô pha trà y như một phụ nữ Nhật, chỉ tiếc là cô không mặc chiếc áo kimono của họ.
Phi Nga đặt tách trà trước mặt ông Malê, rồi nói như để phá những ý nghĩ của ông ta mà Phi Nga không thích lắm:
-   Ông may mắn thật, đi nhiều nước quá.
Ông Malê nâng tách trà rồi hỏi:
-   Trang hoàng nhà cửa như thế này, chắc là cô thích xây dựng một gia đình êm ấm. Nhưng hình như chồng cô chỉ là một giáo viên...
-   Nghề nghiệp của chồng tôi không phải là sự trở ngại cho hạnh phúc gia đình.
Ông Malê lại nhún vai:
-   Cô nghĩ như thế? Nhưng tôi không tin như thế.
-   Đó là quyền của ông.
Ông MaLê uống cạn tách trà rồi đứng lên:
-   Nào, chúng ta hãy ra xưởng vẽ của cô.
Phi Nga hướng dẫn ông đi ra cái chái bên hông nhà. Ông vừa đi vừa hỏi:
-   Cô sắp làm mẹ?
Phi Nga gật đầu:
-   Chồng tôi bảo anh ấy thích những bức tranh do tôi soạn ở nhà bếp hơn là ở xưởng vẽ.
Ông Malê nói lớn như nạt:
-   Đàn ông ai không ích kỷ như thế! Những món ăn do cô soạn mà bảo là những bức tranh? Con người phàm phu thật! Và đứa con là sản phẩm ông ấy thích hơn cả?
Đôi mắt sáng quắc của ông Malê nhìn thẳng vào đôi mắt rụt rè của Phi Nga, nhưng Phi Nga không chịu thua:
-   Chính tôi cũng thích có con. Với những mầm sống ấy, chúng ta thấy rõ sự tiến bộ của nhân loại. Còn nghệ thuật, khoa học, y học, văn học có tiến bộ được cũng phải nhờ vào những mầm sống ấy. Không có loài người làm gì có những bức tranh, những phát minh?
Ông Malê cười lớn làm Phi Nga phải ngừng nói:
-   Và cô nghĩ cô tạo cho đời những mầm sống ấy tức là tạo cho thế giới sự tiến bộ về mọi mặt?
Phi Nga gật đầu. Ông Malê nghĩ ngợi rồi nói:
-   Cô triết lý cũng khá đó. Và cô nghĩ chỉ đàn bà mới giữ cho nhân loại khỏi diệt vong? Nhưng nào, hãy bàn về tranh ảnh đã. Cô có bao nhiêu tranh?
Phi Nga chỉ tay lên mấy tấm vách và nói:
-   Chỉ có từng ấy...
-   Đã bán cho ai bức tranh nào chưa? Hay chỉ bán cho nhà tôi?
-   Có người chịu mua các bức này nhưng tôi không bán.
Phi Nga chỉ hai bức tranh mà Đình muốn mua thì ông Malê hỏi:
-   Tại sao cô không bán?
-   Vì tôi thấy tôi chưa thật có tài. Người muốn mua tranh lại có ý mua để tặng một người bạn là họa sĩ.
-   À, vì thế mà cô không bán? Nhưng hai bức tranh này cũng khá lắm đấy chớ. Tôi không ngờ cô có cả một kho tài hoa như vậy?
Ông Malê lim dim đôi mắt rồi nói:
-   Lạ thật. Thượng đế dường như cũng thiên vị người đẹp.
Phi Nga mỉm cười trong khi ông MaLê nói tiếp:
-   Chồng con sẽ làm mất thì giờ của cô và cũng do đó một phần tài năng của cô bị phân tán. Thật là điều đáng tiếc. Cô Phi Nga à, cô nên nghe lời tôi, tìm một họa sĩ có tiếng mà học thêm. Cô bảo họa sĩ nào muốn mua tranh của cô đó? Cô có thể học với ông ta không?
-   Không, lúc này tôi không vẽ gì được, tôi bận...
-   Bận vì sắp làm mẹ? Đáng tiếc thật! Người có tài như cô mà lập gia đình sớm uổng thật đấy. Bên nước tôi, người như cô sẽ nổi tiếng... Có bao giờ cô nghĩ đến sự nghiệp của cô, của một họa sĩ?
Phi Nga lắc đầu. Ông Malê nói như hét:
-   Vô lý, cô không chịu nói thật! Có phải cha mẹ cô ép cô lập gia đình? Phải mà, ở cái xã hội Việt Nam, nhà nào có con gái là y như có một mối lo, phải tìm cách tống khứ sớm chừng nào tốt chừng nấy.
Phi Nga cãi:
-   Không phải cha mẹ tôi ép, tại tôi muốn lập gia đình.
-   Tại cô? Tại sao như thế?
-   Tại tôi nghĩ như thế này...
-   Nghĩ như thế nào?
-   Nghĩ rằng người phụ nữ chỉ có thể phát triển mọi mặt khi có gia đình.
Ông Malê lại nhìn Phi Nga với đôi mắt đầy kinh ngạc:
-   Cô nghĩ như thế? Cô lạ hơn ai hết và thật khó hiểu.
Phi Nga tự phụ nói:
-   Ông làm sao hiểu tôi được.
Ông Malê quả quyết:
-   Tôi tin chắc cô sẽ nổi tiếng về tài vẽ của cô. Tôi cũng tin rằng một ngày nào đó cô sẽ thấy chán khung cảnh chật hẹp của gia đình...
Phi Nga dằn từng tiếng:
-   Không đời nào. Tôi thích sống với chồng, tôi thích được làm mẹ, tôi không bao giờ chán những công việc nội trợ. Những việc ấy không làm tôi quên lãng chuyện vẽ tranh. Nhưng bây giờ chưa vẽ được, tôi tạm nghỉ một thời gian. Trong lúc nghỉ, nếu tôi có tài như lời ông nói thì cái tài ấy sẽ có dịp mà phát triển thêm lên.
-   Phát triển thêm lên? Bằng cách nào? Cô không đi học thêm, không cầm cây cọ, không rờ đến hộp màu... mà tài cô phát triển?
Phi Nga cười lớn, vẻ mặt tươi tắn khác thường:
-   Nhiều nhà văn không cần viết, chỉ cần suy nghĩ, quan sát mà tư tưởng họ sáng suốt, cao siêu hơn. Vì thế có nhiều người sau khi bị tù chính trị trở thành những nhà triết học hay những nhà tâm lý học. Lúc ở tù họ chịu khó nghiền ngẫm về một vấn đề gì đó.
Ông Malê gật đầu:
-   Nãy giờ tôi thấy cô thạo về sách vở hơn là vẽ tranh! Chắc cô đọc nhiều sách?
-   Tôi đọc rất ít vì không có sách nhiều. Nhưng khi đọc thì phải suy nghĩ. Tôi chưa có dịp đi xem triển lãm tranh của các họa sĩ, nên không biết gì nhiều về tranh. Tôi nói thế chắc ông không tin.
Ông Malê ngạc nhiên:
-   Chưa đi xem cuộc triển lãm tranh nào? Thế thì lạ thật!
-   Nhưng tôi được xem nhiều bức tranh ở nhà bạn bè hay ở trong sách. Tôi thích vẽ trên lụa như các họa sĩ Tàu, nhưng không ai chỉ tôi cả. Vẽ trên lụa chắc khó lắm.
-   Cô học là vẽ được. Cô nói có lẽ đúng, vì không học với ai, nên tranh cô có những khuyết điểm về kỹ thuật. Cô Phi Nga à, cô nên nghe lời tôi, thu xếp thì giờ để đi học thêm. Cô nên dọn lên Sài Gòn, đừng ở nơi hẻo lánh này. Sài Gòn là sân hoạt động thích hợp nhất của cô. Lên đó, cô sẽ có dịp đi xem những cuộc triển lãm tranh, sẽ gặp nhiều họa sĩ tài hoa. Họ sẽ giúp cô, đưa cô ra khỏi chỗ tăm tối...
-   Tôi thích ở đây. Chúng tôi cưới nhau chưa đầy một năm.
-   Đó không phải là lý do để cô chôn cuộc đời của cô ở đây.
-   Vài năm nữa, có lẽ tôi sẽ thay đổi ý kiến. Bây giờ thì chưa được.
-   Chồng cô ngăn cản? Tôi biết mà, có ông chồng nào mà muốn vợ mình nổi tiếng hơn họ đâu. Ái tình, sự nghiệp, là những con đường một chiều.
Phi Nga bực tức nói lớn:
-   Chồng tôi không hề ngăn cản. Ông nói như vậy là không hiểu gì nhà tôi hết. Nhà tôi hiền lắm, chúng tôi rất hiểu nhau trước khi cưới nhau.
Ông Malê nhún vai, đứng lên:
-   Tôi làm mất thì giờ của cô quá nhiều rồi... Tôi chỉ còn điều này khuyên cô, bao giờ cô thấy khung cảnh này tù túng, có ý nghĩ muốn tạo cho mình một sự nghiệp thì cô hãy liên lạc với tôi theo những địa chỉ này, bất cứ lúc nào. Tôi sẽ giúp cô. Cô không cần viết nhiều, vài dòng thôi, cho biết cô muốn học vẽ hay muốn gặp tôi, là tôi đến ngay... Tôi cho cô ba địa chỉ, một ở Sài Gòn, một ở Paris và một ở Nhật. Ngoài ra cô còn có thể liên lạc với nhà tôi.
Khi ông Malê đi rồi, Phi Nga cứ đứng thẫn thờ như người mất trí. Tấm giấy có ghi địa chỉ của ông cứ nằm trên bàn mà nàng cũng không buồn đọc.
Vài phút sau thấy Dũng về, Phi Nga vội vã cất mảnh giấy vào túi và tối hôm ấy lặng lẽ cất nó vào ngăn kéo. Đọc làm gì khi Phi Nga không thể bỏ chồng để làm theo lời đề nghị của ông Malê. Ông muốn Phi Nga đi học vẽ, muốn Phi Nga dọn lên Sài Gòn để tiếp xúc với giới hội họa. Những chuyện ấy Phi Nga chưa làm được trong lúc này.
Dũng vui vẻ hỏi:
-   Ông Malê đến rồi à?
-   Ông ấy đi độ năm phút thì anh về...
-   Thế à? Ông ấy nói chuyện gì mà lâu thế?
-   Ông ấy xem tranh và khuyên em nên học thêm với một họa sĩ, hoặc dọn về Sài Gòn để có dịp đi xem những cuộc triển lãm tranh.
Dũng lo lắng:
-   Rồi em nói sao?
-   Em trả lời là chuyện ấy chưa cần. Em đang có thai và thấy chuyện sắp làm mẹ mới là quan trọng.
Đôi mắt của Dũng sáng lên một niềm vui khó tả:
-   Em trả lời như thế phải lắm.
-   Còn về chuyện dọn lên Sài Gòn thì em bảo em thích ở đây, vì đã quen sống với khung cảnh yên tịnh. Ông ấy có vẻ tức giận bảo em khờ dại, chôn vùi một tài năng mà không biết. Ông ấy nói nhiều lắm nhưng em không hề xao xuyến. Thấy thuyết phục em không được, ông ta liền ra về.
Dũng vui vẻ lắm khi nghe Phi Nga đã làm ông Malê thất vọng, nhưng trong khi dùng cơm, thấy nét mặt Phi Nga uể oải, và khi ăn xong, ngồi hóng mát ngoài hiên, Phi Nga trả lời một cách bất đắc dĩ những điều mà Dũng hỏi, Dũng không khỏi lo nghĩ. Chàng liền nói với vợ, khi hai người đã lên giường ngủ:
-   Phi Nga à, anh không ngăn cản gì em đâu. Nếu em thấy cần học vẽ thì cứ đi.
-   Tại sao anh lại băn khoăn như vậy? Nếu muốn học thêm thì em đã nói với anh, và đã nhờ ông Malê giới thiệu với một họa sĩ nào đó rồi. Em không chịu kia mà.
Dũng yên lòng, và một lát sau đã nghe tiếng chàng ngáy đều. Phi Nga nghĩ:
-   Con người vô tư thật...
Phi Nga không sao ngủ được, cứ nằm nhớ mãi những lời ông Malê nói. Nàng tự nhủ:
-   Có lẽ một ngày nào đó, ta sẽ thấy ông Malê nói đúng...
Từ trong thâm tâm của Phi Nga có tiếng thì thầm:
-   Để cho một thiên tài mai một là có tội với bản thân và cũng có tội với xã hội nữa.. Ta có đủ thời giờ lo cho gia đình và học thêm, tại sao ta không làm...?

* * *

Một tuần sau bà Quỳnh đến hỏi mua bức “Người gánh lúa”, bức tranh mà ông Minh đã khen: “Gánh lúa mà như gánh cả giang san đất nước, gánh cả cuộc sống nhân loại”. Bà Quỳnh nói:
-   Nhà tôi bảo cô không bán cho họa sĩ nào đó, nhưng chẳng lẽ không bán cho nhà tôi? Cô muốn mấy nghìn cũng được.
Phi Nga nói:
-   Bà để cháu suy nghĩ lại đã.. Ông mua để làm gì?
-   Để đem về triển lãm ở Paris cùng với những bức tranh đã sưu tầm được trong chuyến đi này. Đó là một vinh hạnh cho cô. Nếu bức tranh ấy mà được giải thưởng thì tên tuổi cô sẽ nổi như cồn...
Phi Nga suy nghĩ một chút rồi nói:
-   Được rồi, tuần tới cháu sẽ bán bức tranh ấy cho bà vì cháu cũng đang cần tiền. Để cháu sửa lại vài chỗ đã.
-   Còn về chuyện vẽ hình cho cháu Paul, cô nghĩ sao? Lúc này vẽ được chưa?
-   Tuần tới cháu sẽ trả lời luôn.
-   Tuần tới tôi sẽ trở lại. Tôi hy vọng cô không từ chối. À, cô Phi Nga này, nhà tôi khen cô lắm, nhà tôi tiếc là cô không chịu nghe lời nhà tôi, nhưng nhà tôi hy vọng cô sẽ thay đổi ý kiến. Cô đã khỏe hơn chưa? Cô hãy vẽ hình cháu Paul, nhà tôi muốn biết tài vẽ chân dung của cô, cô có thể lột hết tinh thần qua bức vẽ ghi lại nét mặt của cháu không? Nhiều họa sĩ vẽ rồi nhưng vẫn không thấy giống.
Bà Quỳnh nói nhiều lắm, nhưng Phi Nga như không còn nghe gì nữa cả. Phi Nga đang nghĩ ngợi. Nàng biết nàng phải có một số tiền lo cho đứa con tương lai của nàng, hay là nàng nhân cơ hội này mà bán bức tranh “Người gánh lúa” để có tiền sắm giường nệm, may khăn tã, quần áo cho đứa bé...
Bà Quỳnh nói một lúc, thấy Phi Nga ngồi thừ người ra, đôi mắt như đang đeo đuổi những ý nghĩ riêng tư, liền hỏi:
-   Cô nghĩ gì thế? Nãy giờ cô có nghe tôi nói gì không?
Phi Nga giật mình trở về thực tại:
-   Cháu nghe, thưa bà. Cháu sẽ bàn với nhà cháu về việc này và tuần sau sẽ trả lời cho bà.
-   Tuần sau về đây nghỉ hai tuần, tôi sẽ đem theo cháu Paul. Cô nhớ vẽ cho cháu...
Phi Nga đưa bà Quỳnh ra cửa, bà còn đứng lại, nhìn Phi Nga rồi nói:
-   Cô nên nghĩ kỹ những gì nhà tôi đã khuyên cô. Vì lợi ích cho cô mà tôi đã nói như vậy chớ không có ý gì khác đâu. Nếu cô chưa có thể tìm thầy học thêm thì ít ra cô cũng phải dọn lên Sài Gòn. Lên Sài Gòn cậu Dũng vẫn đi dạy được như thường. Và ở đó, cậu còn có thể học thêm, thi tú tài để khỏi thua sút bạn bè, nhất là khỏi sợ thua vợ.
Bà Quỳnh ngồi vào xe rồi vẫn còn căn dặn:
-   Tuần sau tôi trở lại để đón sự chấp thuận của cô.
Phi Nga chậm rãi đi vào nhà, trong lòng không được vui.
-   Không biết Dũng có bằng lòng đổi lên Sài Gòn không? Ông Malê nói cũng có lý. Ta cần phải có thầy chỉ vẽ, huớng dẫn thêm về ngành vẽ. Cứ vẽ theo sở thích thì làm sao được.
Ba hôm sau, trong một buổi chiều đi dạo mát trên bờ sông, Phi Nga mới đá động đến việc này:
-   Bà Quỳnh có đến thăm em, cách đây ba hôm.
-   Hôm nay em mới nói cho anh biết?
-   Tại không có gì quan trọng. Bà ấy muốn em vẽ một bức chân dung của cậu con bà, độ mười hai tuổi. Còn ông Malê thì muốn mua bức “Người gánh lúa”.
-   Em nhận lời rồi chớ gì?
-   Chưa, em chưa nhận lời. Em nói với bà là tuần sau, em sẽ trả lời.
-   Tại sao em không trả lời liền?
Phi Nga nhìn Dũng:
-   Tại em chờ ý kiến của anh.
-   Ý kiến của anh? Tranh của em, anh có quyền gì góp ý kiến?
Phi Nga giận dỗi:
-   Sao anh lại nói vậy? Đã là vợ chồng, việc gì quan hệ đến em tức quan hệ đến anh, và ngược lại. Anh làm như chúng ta là người dưng. Bạn bè còn giúp nhau ý kiến nữa kia mà...
Nghe Phi Nga nói thế, Dũng liền hỏi:
-   Em đã nghe khỏe chưa?
-   Chưa khỏe lắm.
-   Tại sao em không đi bác sĩ, uống thuốc cho chóng khỏe.
-   Tốn kém vô ích. Người nào có thai, trong mấy tháng đầu cũng như thế cả. Rồi đây em sẽ khỏe lại và ăn uống nhiều như trước.
-   Chưa khỏe thì làm sao vẽ được?
-   Chính em cũng tự hỏi như thế. Nhưng có lẽ tuần sau nữa thì em vẽ được.
Hai người ngồi trên bãi cỏ, quay mặt về phía sông. Phi Nga nói:
-   Mấy tháng nay chúng ta không dư được bao nhiêu.
-   Mỗi tháng anh gởi ở quỹ tiết kiệm một nghìn đồng. Còn lại bao nhiêu chỉ đủ xài vì độ này em cho anh ăn uống sung sướng quá. Ngày nào cũng có gà, vịt cả. Anh cứ sợ quen cái nếp sống này, anh không còn chịu cực như trước nữa. Các bạn của anh cứ quở anh trẻ và mập hơn.
-   Anh đi dạy lao tâm, mệt xác, không ăn uống tẩm bổ sao được?
Ngừng một lát, Phi Nga nói tiếp:
-   Đến tháng em sanh chắc tốn kém lắm.
Dũng gật đầu:
-   Chắc là tốn kém. Nhưng anh có gởi tiền ở quỹ tiết kiệm đến lúc đó cũng đủ cho em may sắm, trả tiền nhà bảo sanh.
-   Không đủ đâu anh...
Dũng hơi buồn:
-   Chớ anh biết đào tiền đâu ra?
-   Hay để em lãnh vẽ chân dung cho cậu Paul và bán bức tranh kia cho ông Malê?
-   Em muốn bán thì cứ bán, muốn vẽ thì cứ vẽ, nhưng anh không muốn em lấy số tiền ấy để lo cho con chúng ta.
Phi Nga nhìn Dũng:
-   Tại sao vậy? Con là con chung. Anh lo được thì em cũng lo được.
-   Em cần mua sắm cái gì? Em hãy tính thử xem độ bao nhiêu tiền về chuyện sanh đẻ và mua sắm đồ đạc cho con?
Phi Nga kể:
-   Em muốn sắm cho con một cái giường có nệm, có mùng lưới, một cái nôi nhỏ.
     Đã giường, lại còn nôi chi cho phí?
-   Anh quên nó là đứa con đầu lòng của chúng ta sao? Nôi nó nằm ba tháng thôi, đến tháng thứ tư thì nằm giường. Em còn sắm cho nó một chiếc xe, để ban ngày đẩy nó quanh vườn hoặc đi dạo mát. Rồi thì nào tã, nào khăn, nào chỉ đan áo, nào vải hàng may áo quần, phấn, xà phòng, nước hoa...
Phi Nga kể một dọc để kết luận:
-   Em cần ít nhất là một vạn đồng.
Dũng hốt hoảng:
-   Một vạn đồng? Chi nhiều vậy?
Và Dũng ngồi sững sờ. Phi Nga nói:
-   Đó là em chưa tính chuyện rước bác sĩ đỡ đẻ cho em... Mẹ bảo em con đầu phải cẩn thận. Anh thấy đó, tôn kém như vậy mà anh bảo để anh lo, không cho em góp sức vào thì có phải là vô lý không?
Dũng nói chậm rãi:
-   Một người cha mà không lo được cho con thì thiếu sót bổn phận. Anh mà không lo đầy đủ cho em thì anh không thể vui được. Nhưng anh chỉ là một ông giáo quèn, biết đào đâu ra tiền? Em tiện tặn, vừa đủ với số tiền anh gởi tiết kiệm là được rồi.
-   Như vậy con chúng ta không có xe đẩy, không có giường.
-   Con các giáo viên khác đâu có những thứ ấy.
-   Vì họ lo không nổi, còn em, em lo được, sao anh không muốn để em lo? Anh tự ái quá và anh không chịu nghĩ đến tình làm mẹ của em.
Phi Nga không giằn được sự bực mình, nói tiếp:
-   Tiền anh để dành, thì cứ để yên đó. Cũng như món tiền hồi môn của em, em không sờ đến. Lúc nào cần lắm hãy dùng đến nó. Còn lúc này mình có thể lo được thì cứ lo. Em cần một vạn đồng, số tiền ấy em lo được. Có những thứ tiêu xài mới ngó tưởng đâu không cần thiết gì, nhưng có nó đời sống của chúng ta vui tươi hơn lên, hạnh phúc gia đình tăng gấp bội. Trong gia đình mà con cái ăn bận rách rưới, thiếu thốn về mọi mặt thì kẻ làm cha mẹ làm sao không khổ tâm, nhọc trí. Họ cảm thấy không lo đầy đủ cho con cái. Đứa bé còn nằm trong nôi đâu có biết gì, cho nó mặc thế nào không được, nhưng cho nó mặc sạch sẽ, đẹp đẽ là để vui mắt mình...
Dũng không chịu thua:
-   Em đã biết những đứa bé lúc còn nhỏ chưa biết thế nào là cực khổ, thì cho chúng nó ăn mặc thế nào không được, việc gì phải chọn thứ hàng đẹp, phải may sắm đủ loại áo quần, khăn tã, rồi thì nào xe đẩy, nôi đưa, giường nằm... Có phải mình tự tạo cho mình sự phiền phức không? Anh biết em có tài, em có thể tạo cho em một cuộc sống huy hoàng hơn cuộc sống này, nhưng em đã yêu anh thì em hãy chiều anh một chút có sao đâu? Em đã chọn anh là chồng nghĩa là em có thể từ bỏ tất cả những giàu sang, xa hoa, để sống với một anh thầy giáo. Người đàn bà thường thích giữ thể thống, còn người đàn ông thì không bỏ được tánh tự ái. Anh lo được cho con chừng nào thì em cứ bằng lòng như thế, không nên bắt anh phải dẹp bỏ tánh tự ái của anh.
Phi Nga bực mình:
-   Anh thật là vô lý, hẹp hòi quá. Đứa bé này là con của chúng ta, đâu phải là con riêng của ai. Anh lo được thì em cũng lo được.
Sau hôm ấy, thấy Phi Nga có vẻ chán nản mặc dù vẫn lo lắng phục vụ chàng những bữa cơm ngon lành. Dũng không được yên lòng lắm, nói với Phi Nga:
-   Em muốn sắm cho con thế nào cũng được, nhưng cứ dùng số tiền ở quỹ tiết kiệm của anh để anh vui lòng. Còn thiếu bao nhiêu thì em chêm thêm tiền của em vào. Em trọn quyền bán tranh hay vẽ chân dung cậu Paul. Anh không có ý kiến gì hết.
-   Đây không phải là một sự nhượng bộ mà là một sự thỏa thuận... Anh vui vẻ chớ?
Dũng gật đầu. Phi Nga nói:
-   Rồi đây anh sẽ thấy là em đem hết tâm trí và thì giờ vào việc nuôi nấng, dạy dỗ cho đứa con của chúng ta. Nó sẽ là nguồn vui của chúng ta.
Dũng mỉm cười:
-   Anh tin như vậy...
Thế là tuần sau, khi bà Quỳnh trở lại, Phi Nga đồng ý bán bức tranh và nhận vẽ chân dung của cậu Paul. Bà Quỳnh mừng rỡ:
-   Bắt đầu ngày mai, tôi sẽ cho cháu lại đây. Mấy ngày thì cô vẽ xong?
-   Chỉ cần ba hôm. Bà bảo cậu ấy lại đây từ chín giờ đến mười một giờ.
Bà Quỳnh lo ngại:
-   Nó về đây, thích lắm, giờ đó nó ở ngoài sông tắm với đứa cháu ông hội đồng. Nhưng để tôi bảo nó lại xem sao. Tôi xin nói trước cho cô biết là nó nghịch chịu không nổi, không bao giờ nó chịu ngồi yên hai giờ đồng hồ. Cô có cách bắt nó ngồi yên không?
-   Bà cứ cho cậu ấy đến rồi sẽ hay. Nhưng về bức tranh và bức chân dung, bà tính cho cháu bao nhiêu?
-   Cô cứ định giá cả. Bao nhiêu nhà tôi cũng trả cho cô.
-   Cháu chỉ cần sáu nghìn đồng. Bà thấy như thế có nhiều không?
Bà Quỳnh lắc đầu:
-   Không nhiều đâu. Chúng tôi trả nổi.
Ngày hôm sau chiếc xe nhà của bà Quỳnh đưa Paul đến. Thằng bé đi ngay vào nhà và gọi rối rít:
-   Cô Phi Nga đâu rồi?
Phi Nga chạy ra, vui vẻ:
-   Tôi đây rồi. Còn cậu, cậu có phải Paul, con ông bà Malê không?
Paul nhìn Phi Nga và hỏi:
-   Cô nhỏ quá, cô vẽ hình tôi à? Nhưng phải cho chóng xong để tôi đi chơi. Mẹ tôi sao lôi thôi quá chụp hình vừa mau, vừa dễ giống mà không chịu, cứ muốn có một bức vẽ. Tôi ngồi hay đứng?
Phi Nga chỉ chiếc ghế:
-   Chúng ta hãy nói chuyện đã.
Paul bực dọc:
-   Mất thì giờ đến thế sao? Tụi nó đi tắm sông cả rồi.
-   Mất vài buổi tắm sông có sao? Tắm buổi sáng không được thì tắm buổi chiều, có sao đâu.
Vừa nói Phi Nga vừa quan sát từng cái nhìn, cái nhíu mày của Paul. Rồi Phi Nga đưa cho Paul một tờ giấy và một cây bút chì:
-   Trong khi tôi vẽ cậu thì cậu vẽ hình tôi nhé.
Paul thích chí cười lớn, đôi mắt sáng quắc:
-   Em thích vẽ lắm. Nhưng ngồi đây mà vẽ sao chị?
Thấy cách xưng hô của Paul có vẻ thân mật. Phi Nga mừng thầm:
-   Chúng ta ra ngoài này. Cậu theo tôi.
Phi Nga đặt nhẹ tay lên vai Paul rồi cả hai đi ra cái chái bên nhà. Phi Nga ngồi vào giá vẽ còn Paul thì ngồi ở cái bàn nhỏ trước mặt. Cả hai bắt đầu vẽ. Paul vẽ nguệch ngoạc một lúc rồi reo lên:
-   Thích quá, em vẽ giống chị ghê.
Phi Nga đã đặt hết tâm trí vào công việc, không còn nghe thấy gì nữa. Paul ngừng vẽ, nhìn nàng:
- Khi làm việc trông chị đẹp làm sao ấy.
Phi Nga vẫn vẽ không ngừng. Nàng làm việc độ một giờ thì đứng lên:
-   Hôm nay như thế là đủ rồi. Em vẽ chị ra sao, cho chị xem với.
Paul đưa tấm giấy mình vẽ, Phi Nga nhìn và mỉm cười:
-   Em vẽ giỏi đấy. Để chị cất, ngày mai em trở lại vẽ tiếp nhé. Bây giờ em về đi tắm vẫn còn kịp.
Paul vừa chạy ra xe vừa nói:
-   Ngày mai em sẽ đến. Em cám ơn chị đã cho em về sớm.
Paul đi rồi, Phi Nga còn ngồi trầm ngâm trước giá vẽ, nhớ lại từng cử chỉ của Paul. Đến mười một giờ Phi Nga mới xuống bếp làm cơm và đợi Dũng về.
Ngày hôm sau Paul lại đến, vui vẻ hỏi:
-   Chúng ta lại làm việc? Nào, bức vẽ của em đâu?
Phi Nga nhìn sững vào cặp mắt của Paul rồi gật đầu:
-   Tại sao ta không nhận ra ánh mắt của Paul? Hèn gì ta thấy có cái gì không được giống lắm.
Paul hỏi:
-   Chị nói cái gì vậy?
Phi Nga mỉm cười rồi dắt Paul qua xưởng vẽ. Nàng nói:
-   Tấm giấy em vẽ vẫn còn đó.
Paul cầm xem lại rồi bĩu môi:
-   Chị đẹp hơn nhiều! Em vẽ chưa giống, hôm nay em sửa lại.
Phi Nga thúc giục:
-   Chúng ta làm việc vậy.
Paul cắm cúi vẽ trong khi Phi Nga ngồi ngắm từng cử chỉ của cậu. Cả hai cũng làm việc độ một giờ, rồi Paul buông viết xuống trước, đi lại bên cửa sổ, tự nhiên tâm sự với Phi Nga:
-   Anh Jean cao lớn vì không phải là con của mẹ em. Anh Jean mà gặp chị chắc sẽ thích lắm vì chị và anh sẽ nói chuyện với nhau về hội họa. Em thì không hiểu gì hết, nói chuyện với em chắc chị chán lắm.
Phi Nga ngắm nét mặt của Paul và nhận thấy mình vẽ không đúng liền xóa vài chỗ để vẽ lại, không chú ý về những lời của Paul nói. Thật ra nàng không nghe gì hết. Nàng kêu lên trong thâm tâm:
-   Lần này thì ta nắm chắc phần hồn của Paul rồi!
Paul quay lại thấy Phi Nga phóng bút một cách nhanh nhẹn, trên môi một nụ cười đắc thắng đã làm khuôn mặt nàng tươi hẳn lên. Paul kêu lên:
-   Chị đẹp thật! Em chưa thấy ai làm việc mà lại có nét mặt đẹp kinh khủng như vậy!
Phi Nga cười:
-   Đẹp kinh khủng là không đẹp gì hết. Nhưng hãy để chị làm việc.
-   Hôm nay sao chị ham làm việc quá vậy? Em nói gì chị cũng không nghe.
Phi Nga buông viết đứng lên:
-   Ngày mai em đến một lần nữa là xong. Bây giờ chúng ta đi uống nước.
Paul nhìn ra vườn:
-   Em định vẽ hai con bướm đang đuổi nhau, nhưng tại chị mà em mất hứng.
-   Tại chị?
-   Em nói gì chị cũng không trả lời. Em phải chạy lại nói vào tai chị, bây giờ thì bướm bay mất rồi.
-   Ngày mai em đến sẽ có bướm khác, ngày nào mà nó không bay lượn ở đây.
-   Ngày mai em đến mà không có bướm là em bắt thường chị đó.
Phi Nga thấy nét mặt phụng phịu của Paul liền nói:
-   Đúng rồi, ta không thể nhận sai nữa.
-   Cái gì mà đúng rồi?
-   Nét mặt thật của em.
Paul nhìn trừng trừng vào mặt Phi Nga:
-   Em có nét mặt giả sao?
Phi Nga chỉ cười mà không nói, Paul kêu lên:
-   Em khát nước lắm, cho em một ly nước và em về kẻo tụi nó trông, không có em là y như tụi nó không tổ chức được trò chơi nào hết.
Uống nước xong, Paul ra về. Phi Nga đưa Paul ra xe, thấy Paul vừa đi vừà nhảy như một đứa bé thì vui vẻ nói:
-   Thôi, em về nhé. Ngày mai là ngày chúng ta hoàn thành bức vẽ. Rồi thì em tha hồ chạy nhảy, bơi lội ngoài sông.
Paul đưa tay làm một cử chỉ thân mật rồi leo lên xe.
Phi Nga trở vào nhìn bức vẽ một lúc lâu, gật đầu nghĩ:
-   Lần này thì không thể sai được, rõ ràng là nét hóm hỉnh, tinh nghịch nhưng lại rất thông minh.
Bữa cơm trưa hôm ấy thịt chiên hơi bị cháy vì Phi Nga đã để tâm trí tận đâu đâu. Ngồi vào mâm cơm, Phi Nga nói với Dũng:
-   Hôm nay em tệ quá, để thịt cháy. Chắc là mất ngon.
Dũng hỏi:
-   Em bận vẽ?
-   Không, em đứng trong bếp mà lại nghĩ về bức tranh chưa vẽ xong.
Phi Nga cười và nói tiếp:
-   Em tự hào vì đã tóm được phần hồn của cậu bé ấy để diễn tả một cách rõ ràng qua nét bút.
Dũng nói sau khi ăn một lát thịt:
-   May quá, chưa bị khét đâu, còn ăn được.
Phi Nga cười:
-   Anh khen để an ủi em chứ gì?
-   Không, anh nói thật đấy. Em làm việc có mệt không?
-   Không, khi em thích thú thì không nghe mệt.
-   Nếu em đi dạy thì em có thích không? Chớ còn anh, anh chán nghề này lắm rồi.
Phi Nga nói như đã nghĩ về điều này:
-   Nếu em dạy học thì em phải tìm những cái gì làm em thích để có thể yêu nghề. Chẳng hạn em sẽ tìm cách thương yêu mấy đứa học trò, còn không nữa thì lấy sự tiến bộ thấy rõ của chúng nó để làm nguồn vui. Em cũng có thể vui thích vì sự nghịch ngợm hay hay của chúng nó. Và nhờ thích những thứ ấy, em sẽ lấy việc dạy dỗ làm vui, không thích cũng phải tạo ra những cái gì có thể thích được mới có thể làm việc và yêu nghề. Còn làm việc mà lúc nào cũng nghĩ mình làm một cách bất đắc dĩ thì làm sao làm được và mau chán lắm.
Dũng thở dài:
-   Tại em chưa dạy học, em mà dạy rồi thì không thể nào nghĩ như vậy. Có hôm anh vô lớp thấy chán làm sao. Đứa thì mặt mũi dơ bẩn, đứa nghịch ngợm chịu không nổi, đứa sách vở không đủ, đứa bài vở chưa làm, la hét khan cả tiếng. Dạy mãi không thấy chúng tiến bộ chút nào cả. Lớp học thì lúc nào cũng như cái tổ ong...
Phi Nga hỏi:
-   Tại sao anh lại chọn nghề này?
-   Nào anh có chọn! Anh dạy học vì cha anh muốn anh cũng làm nghề ấy.
-   Thế khi còn đi học anh thích nghề gì?
-   Anh cũng không biết thích nghề gì. Anh định học thêm nữa, nhưng hoàn cảnh không cho phép thì anh nghỉ.
Phi Nga đề nghị:
-   Nếu anh không thích thì anh nên nghĩ cách đổi nghề.
Dũng hốt hoảng:
-   Đổi nghề? Biết nghề gì mà đổi?
Phi Nga không hiểu tại sao như thế được, không yêu nghề mà vẫn làm, bảo đổi nghề thì lại không biết mình thích nghề gì.
Phi Nga nói:
-   Chúng ta còn cả một con đường dài trước mắt, anh cứ tự tìm thử anh thích nghề nào. Anh còn chán thì giờ để mà đổi nghề. Không thể sống miễn cưỡng và kéo dài chuỗi ngày trong một công việc bất đắc dĩ.
Dũng nói để vợ yên lòng:
-   Ừ, để anh nghĩ lại đã.
Sau những buổi cơm trưa, Dũng nghỉ một giờ để chiều đi dạy tiếp, vì thế không có thì giờ để chuyện trò nhiều với vợ. Nhưng sau những bữa cơm tối, khi Phi Nga dọn dẹp xong, hai vợ chồng đi dạo ngoài đường hay ngồi hóng gió ngoài sân, những lúc ấy Dũng cảm thấy mình đang sống những giờ hạnh phúc. Bên chàng có một nàng tiên lúc nào cũng chăm lo cho chàng, chàng không cần nghĩ ngợi nhiều về tương lai, cuộc sống của chàng bình thản, không sóng gió. Nhưng cũng có nhiều lúc, Dũng như người có hạnh phúc mà lại cảm thấy mình không thể giữ vững được nó. Chàng nghe như cái hạnh phúc ấy đang lần hồi lọt qua đôi tay chàng như khi chàng vốc một ngụm nước...
Phi Nga hiểu tâm trạng ấy của Dũng và nghĩ Dũng vì thiếu sự săn sóc, thiếu tình yêu từ lúc nhỏ nên bây giờ khi sống trong hạnh phúc vẫn hoài nghi không dám tin. Vì thế Phi Nga cố tạo cho Dũng một cuộc đời êm vui, cố đánh tan những lo nghĩ bi quan của Dũng, cố cảm hóa Dũng và nhất là làm cho Dũng yêu nghề của mình.
Sáng hôm sau, chờ Dũng vừa đi dạy là Phi Nga chạy ngay ra xưởng vẽ. Cả đêm Phi Nga không ngủ được vì nhớ ra mình đã bỏ sót nét nào đó khiến cái miệng của Paul mất đi vẻ liếng thoắng. Phi Nga muốn tông chăn đi ra để vẽ tiếp nhưng nhớ ra xưởng vẽ của nàng không có đèn, vả lại nếu nàng bỏ ra khi cựa mình không thấy nàng đâu Dũng lại đi tìm...
Phi Nga cắm cúi làm việc cho mãi tới khi Paul đến, tiếng còi xe bóp lên inh ỏi mà Phi Nga vẫn không hay biết.
Paul vừa đi vào nhà vừa hỏi lớn:
-   Chị Phi Nga đâu rồi?
Không thấy Phi Nga, Paul chạy ra xưởng và gặp nàng đang ngồi vẽ thì kêu lên:
-   Đã tìm được đôi bướm cho em chưa? Em bắt đền chị đó!
Phi Nga ngơ ngác:
-   Mấy giờ rồi? Sao em đến sớm vậy?
-   Em đến đúng giờ mà. Kìa, bướm của em đầu?
Vừa nói Paul vừa chạy lại cửa sổ nhìn ra vườn, rồi Paul xụ mặt:
-   Bướm bay đâu mất rồi!
Phi Nga đã quên hẳn chuyện đôi bướm của Paul:
-   Bướm gì, chị không hiểu?
Paul dậm chân:
-   Chị chóng quên quá! Em bảo em vẽ hình chị xong rồi, bây giờ em vẽ bướm.
-   Thì cứ vẽ đi.
-   Bướm đâu mà vẽ? Cặp bướm đuổi nhau ngày hôm qua. Chị bảo ngày nào chúng cũng đuổi nhau...
Đôi mắt của Paul sắp sửa ứa lệ, Phi Nga thích quá vì vừa nhận ra ở nét mặt của Paul những điểm đặc biệt khác. Nàng quên cả chuyện Paul đang hờn dỗi mình.
Nhưng Paul bỗng nhảy lên vỗ hai tay vào nhau:
-   Hai con bướm kia rồi! Hôm nay có con bướm vàng đuổi con bướm đen có những chấm trắng. Thích lắm! Giấy đâu, đưa đây để em vẽ.
Thấy cái hứng thú làm việc của Paul, Phi Nga thích lắm vội vàng đi lấy giấy kẹp vào tấm khung đưa cho Paul vẽ. Thấy Phi Nga đứng sau lưng, Paul nói:
-   Chị có đi chỗ khác không? Em đang vẽ mà ai nhìn thì em ngượng lắm.
Phi Nga mỉm cười trở về chỗ cũ, ngồi ngắm Paul. Đôi mắt của Paul sáng lên một niềm vui thích, đôi tay của Paul làm việc không ngừng... Paul vẽ được một lúc thì cặp bướm bay mất. Paul nói lớn:
-   Tụi bây đi đâu tao cũng không cần. Tao đã chụp được màu sắc của tụi bây rồi. về nhà tao sẽ tô màu. Chắc chắn không sai.
Phi Nga khen:
-   Chàng họa sĩ trẻ tuổi của tôi ơi! Sao anh tự phụ quá vậy?
-   Không tự phụ thì không thể làm việc được.
-   Ai nói với em như vậy?
-   Anh Jean nói. Anh nói mình có tin mình làm được việc thì mình mới đạt được mục đích. Những kẻ rụt rè, chưa làm đã thấy thất bại, làm việc gì cũng sợ thiếu sức, không đủ tài thì không bao giờ làm được. Theo ý chị, anh Jean nói có đúng không?
-   Đúng lắm, nhưng tự phụ quá đôi khi cũng hỏng.
-   Ba cũng nói thế, nhưng anh Jean cãi lại và nói trong một trăm trường hợp chỉ có chừng mười trường hợp không đúng thôi. Nhất là với những người có tài như chị thì phải tự phụ mới được...
Phi Nga lắc đầu:
-   Chị thấy anh Jean có lẽ đã lầm tự phụ với tự tin. Tự tin là để thành công. Tự phụ đôi khi phải vấp...
Rồi Phi Nga chỉ bức vẽ của mình:
-   Em xem thử có giống em không?
Paul đứng tần ngần nhìn vào giá vẽ hồi lâu:
-   Em đẹp đến thế sao?
-   Em đẹp? Không, em thông minh thì đúng hơn. Em có thích nhìn em như thế này không? Thường thì ít ai chịu công nhận tấm ảnh của mình là vừa ý khi vừa lấy ở tiệm ra. Thế nào họ cũng chê anh thợ chụp hình không giống.
-   Em thích chị vẽ em như vậy. Trông em giống bức ảnh của một nhà văn nào đó. Hình như là Chateaubriand hay Alfred de Musset gì đó...
Phi Nga cười:
-   Em có thích làm một nhà văn không?
Paul trả lời ngay, không chút nghĩ ngợi:
-   Làm nhà văn đâu phải thích hay không thích mà được. Người ta sinh ra là nhà văn, hay sinh ra làm thợ mộc, chỉ có thế. Nào phải muốn mà được.
Phi Nga ngạc nhiên:
-   Em bao nhiêu tuổi mà nói năng như người lão luyện vậy?
-   Em mười ba tuổi. Em nghe cha và anh chị thường bảo thế. Em đâu có biết gì. Lớn lên em sẽ đi du lịch, đi du lịch rồi lúc ấy em sẽ thấy rõ em thích làm nghề gì...
-   Nếu không có phương tiện để đi du lịch thì sao?
-   Thì em đi vòng quanh nước em. Chị Phi Nga à, tại sao chị không đi học vẽ?
-   Tại chị không bao giờ nghĩ rằng mình có thể thành một họa sĩ.
Paul nhún vai:
-   Em không tin như vậy. Thế tại sao chị lại vẽ?
-   Chị vẽ để giải trí, cũng như người biết đàn, lúc rảnh lấy đàn ra chơi gọi là để di dưỡng tinh thần, vì vẽ cũng như nhạc làm dịu linh hồn con người...
Paul cãi:
-   Nhạc làm dịu linh hồn con người? Nhưng cũng phải lựa những bản nhạc êm dịu, nhạc cổ điển, chứ những điệu nhạc kích động làm cho con người cuồng loạn là khác. Còn vẽ, vẽ nhất định không làm cho linh hồn êm dịu được. Lúc cầm đến cây cọ rồi thì đầu óc nóng bừng lên vì thích thú.
Phi Nga gật đầu:
-   Nếu vậy sau này em sẽ trở thành một họa sĩ.
-   Không, em không muốn vẽ tranh để bán. Nhưng bây giờ em còn nhỏ, chưa biết em thích cái gì. Em không muốn cãi với chị, biết đâu vài năm nữa, em lại không thay đổi ý kiến để trở thành một họa sĩ. Lúc ấy chị em mình tha hồ mà tranh tài với nhau. Chị không cần em đến nữa phải không?
-   Chị vẽ xong rồi. Em thưa với mẹ, vài hôm nữa hoàn thành bức vẽ chị sẽ mang đến cho mẹ.
Paul phản đối:
-   Em sẽ đến lấy vì em có xe, chị mang đi không tiện.
-   Như thế càng tốt. Vậy thì ba hôm nữa nhé.
-   Em tặng chị tấm em vẽ chị. Còn tấm hai con bướm, em mang về tô màu, bao giờ xong sẽ đưa chị xem. Thỉnh thoảng em đến thăm để xem chị làm việc được không?
-   Vẽ xong tấm này chị không vẽ nừa, chị làm việc khác.
-   Làm việc gì?
-   Công việc nhà.
-   Tại sao chị không mướn một người giúp việc? Họ làm giúp chị những việc ấy, để chị có thì giờ mà vẽ.
-   Không, chị phải lo cho đứa con tương lai của chị.
Paul nói một câu mà Phi Nga cho là nó nghe lóm từ những người lớn:
-   Đàn bà khó hiểu quá! Thôi, em về đây.
Khi Paul đi rồi, Phi Nga cầm tờ giấy mà Paul vẽ mình, nhìn kỹ rồi nói:
-   Thằng bé ngó vậy mà có tài ghê. Nhưng nét mặt của tôi như thế này sao?
Phi Nga cầm tờ giấy ấy đi qua phòng khách, ngồi ngắm một lúc lâu mới đi xuống bếp làm cơm. Khi Dũng về thấy tờ giấy để trên bàn, cầm lên xem rồi gọi lớn:
-   Phi Nga, em vẽ hình em đó à?
Phi Nga vội vàng chạy lên:
-   Thằng Paul con ông Malê vẽ em đó.
-   Nó vẽ khá vậy à?
-   Em vẽ nó, sợ nó ngồi không rồi nghịch, em đưa giấy cho nó vẽ hình em. Anh thấy thế nào, có giống em không?
-   Giống lắm! Những lúc em nghĩ ngợi hay ỉàm việc, nét mặt em như thế đó. Không ai hiểu được em đã nghĩ gì, vì thế mới nhìn em, người ta có cảm giác nhìn một pho tượng đá lanh lùng, uy nghiêm.
-   Paul vẽ lúc em đang làm việc và nó bảo em lúc đó đẹp một cách kinh khủng...
-   Nó nói đúng đó, và có lẽ nó không dùng đúng hai chữ “kinh khủng”. “Kinh khủng” mà Paul dùng có nghĩa là uy nghiêm...
-   Nếu vậy Paul cũng thuộc loại có hạng rồi sao?
-   Một nhân tài mới chớm nở! Paul bao nhiêu tuổi rồi?
-   Mười ba tuổi, nhưng cao lớn vì có giòng máu của người Tây phương mà...
Dũng ngắm bức vẽ của Paul một lúc lâu rồi nói với Phi Nga:
-   Hãy cất tấm hình này để làm kỷ niệm.
Lúc ngồi vào bàn ăn, Dũng còn nói:
-   Lạ thật, tại sao Paul lại vẽ được nét mặt xa xăm của em? Nếu đem tấm hình ấy mà so với nét mặt vui vẻ của em lúc này thì có thể nói là hai người hoàn toàn khác nhau. Nói thật, anh thích em với nét mặt hiện giờ hơn...
Dũng nói xong bưng chén lên chuyển ngay đề tài:
-   Ồ, hôm nay chúng ta ăn uống thịnh soạn quá! Em làm món gì mà ngon thế? Gà nấu đậu?
Phi Nga nói:
- Đừng nghĩ gì hết, ăn uống cho no nê đã...
Phi Nga không nghe Dũng hỏi gì về bức vẽ của mình và suốt mấy ngày kế đó, Dũng cùng không hề muốn nhìn qua để biết nàng vẽ như thế nào. Biết là Dũng tránh không muốn nói đến, Phi Nga chỉ làm việc khi Dũng đi vắng. Bức vẽ ấy đã xong vào sáng thứ bảy. Paul hẹn đến sáng thứ hai sẽ đến chở về cho bà Quỳnh. Chủ nhật Dũng ở nhà, Phi Nga thức dậy sớm và nói với chàng:
-   Em đi chợ mua thức ăn. Chiều nay chúng ta đi xem hát anh nhé.
-   Đi xem hát hay về nhà thăm cha mẹ và các em cũng được. Trời nóng nực vào rạp hát bực lắm.
Phi Nga ra chợ mua rau cải, thịt cá xong vội vàng trở về nhà. Khi vòng lối đi tắt bên hông vườn ngang qua xưởng vẽ, nàng thấy Dũng đang đứng ngắm bức chân dung của Paul một cách chăm chú đến nỗi không nhìn thấy nàng.
Phi Nga đi nhè nhẹ vào bếp. Một lát sau, khi Dũng vào nhà và nghe có tiếng động dưới bếp, vội hỏi:
-   Em về đó à?
-   Em về nãy giờ...
Dũng ngạc nhiên:
-   Em đi ngõ nào mà anh không thấy?
Phi Nga giả như không biết Dũng đã xem tranh:
-   Em đi vào phòng khách rồi xuống đây.
Dũng vội nói:
-   Anh đi dạo ngoài vườn.
Phi Nga không hỏi nữa, lo soạn các thức ăn ra rổ. Dũng nói bâng quơ:
-   Ngoài vườn mát ghê. Đi dạy cả tuần, được nghỉ, đi dạo quanh vườn cũng thích...
Phi Nga tự hỏi:
-   Tại sao Dũng lại dối ta, không chịu nói thật là Dũng đã qua xưởng để xem bức vẽ của ta? Hay Dũng không thích cho ta vẽ, hoặc không quan tâm đến việc làm của ta? Hay là Dũng cho rằng việc làm của ta không quan trọng gì đến cuộc sống chung của hai người? Tại sao ta lại quan tâm đến công việc dạy học của Dũng, giúp Dũng chấm bài, soạn bài, góp ý kiến vào việc tổ chức lớp học... mà Dũng lại thờ ơ, lãnh đạm với việc làm của ta? Trước đây ta cứ ngỡ ta và Dũng hiểu nhau nhiều, bây giờ mới thấy ta vẫn chưa hiểu được Dũng vì Dũng không bao giờ chịu bộc lộ những ý muốn của mình.
Những ý nghĩ này đã làm Phi Nga không được vui, và suốt buổi sáng hôm ấy Phi Nga cứ lục đục dưới bếp, hết nấu nướng đến dọn dẹp. Dũng ở nhà trên và cũng như Phi Nga, tự dưng cảm thấy không vui. Có lẽ Dũng đang nghĩ đến bức chân dung của Paul.
Thấy Phi Nga ở nhà bếp đi lên, đôi mắt mệt nhọc, Dũng hỏi:
-   Em mệt thì ngồi nghỉ đi để anh làm cho.
Phi Nga cười lạt:
-   Xong hết rồi!
Dũng nói gượng:
-   Thì để anh dọn bàn.
Dũng giúp vợ trải khăn bàn, bày chén đĩa, bưng thức ăn từ dưới bếp lên. Nghe nôn nao đói, chàng khen:
-   Em mới đi chợ về mà đã nấu xong cả.
Phi Nga cố nén bực bội:
-   Anh quên cả thì giờ. Em về từ lúc tám giờ, bây giờ là mười hai giờ. Bốn giờ đã trôi qua. Anh làm gì trên này?
-   Anh có làm gì đâu. Anh nằm nhìn lên trần nhà và nghĩ vơ vẩn. Anh cảm thấy mình có nhiều hạnh phúc do chính em ban cho...
Phi Nga làm thinh xới cơm vào chén, đôi mắt không giấu được sự khó chịu.
Dũng nói tiếp:
-   Anh không biết dùng thì giờ như em. Anh chỉ làm việc khi không thể nghỉ được.
-   Nghĩa là có giờ giấc và bị bắt buộc?
Dũng xác nhận:
-   Chắc vì vậy mà anh không bao giờ làm việc xuất sắc được.
-   Thôi mình ăn đi, đừng nói nữa. Em nấu nướng mệt, nếu anh ăn ít thì em buồn lắm đó...
Dũng cười:
-   Việc gì chớ ăn ngon thì anh không từ chối đâu. Và cũng không bao giờ ăn vì bất đắc dĩ.
Nhìn Dũng ăn một cách ngon lành, Phi Nga cũng quên đi chuyện bực mình trong giây lát. Khi hai người nằm nghỉ trưa, Phi Nga chợt nói:
-   Hôm nào rảnh em sẽ vẽ hình anh.
-   Có cần anh ngồi cho em vẽ không?
-   Với anh thì không cần. Em thuộc làu từng cử chỉ của anh, không có anh ngồi trước mắt, em cũng có thể vẽ được như thường. Hôm nào em sẽ vẽ.
Dũng lim dim đôi mắt:
-   Tại sao em không tự vẽ em? Anh chưa thấy bức tranh nào về em cả.
-   Em không nghĩ đến chuyện ấy. Thôi, để hôm nào em vẽ hình của chúng ta, mình sẽ treo ở phòng khách.
Dũng tán thành ngay:
-   Đồng ý, như thế có vẻ êm đềm hơn, chớ vẽ anh ngồi một mình vô duyên lắm...
Phi Nga im lặng, nghĩ đến bức tranh mà nàng sắp vẽ, nhất là bức chân dung của Dũng. Phi Nga sẽ vẽ một mình Dũng, vẽ lớn như vẽ Paul, để xem thử Dũng có phản ứng như thế nào. Rồi Phi Nga mới vẽ bức thứ hai, đôi vợ chồng trẻ ngồi bên nhau trên chiếc ghế đá nhìn ra dòng sông. Mãi trù tính chuyện vẽ tranh, Phi Nga không để ý là Dũng đã ngủ từ bao giờ. Khi Dũng thức dậy thấy Phi Nga nằm nhìn lên trần nhà, đôi mắt đăm đăm theo dõi những ý nghĩ vô hình. Dũng hỏi:
-   Em không ngủ à?
Phi Nga giật mình nhìn lên đồng hồ:
-   Ba giờ rồi à?
-   Anh ngủ một giấc ngon quá. Thấy anh ngủ, em có chán không?
-   Em cũng không để ý là anh đã ngủ.
-   Việc gì khiến em không còn biết những gì xảy ra quanh em vậy?
-   Em bận phác họa trong đầu em bức tranh về anh.
-   Em phác họa trong đầu?
-   Khi em đã phác họa xong thì ngồi lại vẽ sẽ rất nhanh.
Dũng ngồi dậy lấy khăn đi tắm:
-   Anh tắm xong chúng ta đi dạo một vòng nhé?
Một giờ sau, họ thong dong đi bên nhau. Dũng khoác tay Phi Nga đầy âu yếm.
 
* * *

Paul đến chở bức họa từ tuần trước. Bà Quỳnh cũng đã sai người đến lấy bức tranh “Người gánh lúa”, và đưa tiền đến cho Phi Nga. Bà có viết cho Phi Nga mấy dòng, bảo khi ở Sài Gòn về, bà sẽ ghé tặng quà cho nàng và cho nàng biết ý kiến của ông Malê...
Với số tiền bán tranh, Phi Nga mua một ít hàng vải, chỉ thêu, chỉ len để lúc rảnh sẽ thêu may và đan áo cho đứa con tương lai. Mỗi tối sau bữa cơm, Dũng chấm bài thì Phi Nga ngồi đan bên chàng. Khung cảnh ấy làm Dũng vui sướng nhất, tin rằng những công việc ấy sẽ làm Phi Nga quên giá vẽ. Phi Nga cũng không muốn vẽ gì nữa cả. Nàng may, thêu một cách say sưa. Những chiếc áo nhỏ, đôi vớ, chiếc nón... bé xíu tạo cho Phi Nga một niềm vui mới mẻ, niềm vui mà chỉ có ai sắp làm mẹ mới hưởng được. Phi Nga vừa may vừa nghĩ đến đứa con. Nàng muốn nó giống Dũng nhưng tánh tình thì phải giống mình, nghĩa là cương quyết và khi làm một việc gì là đeo đuổi đến cùng để gặt được thành công.
Một hôm đang may bỗng nghe có tiếng còi xe trước cửa, Phi Nga đứng lên nhìn ra cửa sổ thì thấy ông Malê và bà Quỳnh cùng đi vào.
Phi Nga ra đón hai ông bà. Ông Malê vui vẻ bắt tay Phi Nga:
-   Tôi phải thân hành đến đây khen cô và cảm ơn cô về bức tranh cô vẽ thằng Paul. Tôi sợ nhắn qua nhà tôi, nhà tôi sẽ không diễn đạt hết ý.
Bà Quỳnh nói:
-   Tôi mang quà cho cô đây. Trái cây và hàng vải để cô may áo quần cho cháu...
Ông Malê ngắt ngang lời vợ:
-   Cô vẽ rất đúng với “hình dáng về tinh thần” của thằng Paul. Nó như thế đó. Cô tả đúng nội tâm của nó, bồng bột, tinh nghịch, nhưng lại chịu ghép mình trong kỷ luật. Còn bức tranh “Người gánh lúa”, tôi gởi về Pháp để dự một kỳ thi vẽ tranh tự do. Nếu bức tranh ấy được giải thưởng, dù chỉ là giải an ủi, thì cuộc đời của cô sẽ thay đổi ngay.
Ông Malê nói xong, đưa ra cho Phi Nga một cái gói nãy giờ vẫn cầm trên tay:
-   Đây là quà tôi tặng riêng cô. Những dụng cụ về nghề vẽ. Không phải là trái cây hay hàng vải...
Vừa nói ông Malê vừa nhìn vợ cười:
-   Bà ấy chỉ nghĩ đến việc ăn mặc, thường lắm. Cô không phải là hạng người ấy.
-   Bà thiết thực lắm. Ông không thấy tôi đang may những chiếc áo kia sao?
Vừa nói Phi Nga vừa chỉ mớ áo quần đã cắt và chưa may xong.
Phi Nga mời hai ông bà ngồi vào phòng khách rồi đi pha trà. Bà Quỳnh lật từng cái áo, cái nón Phi Nga vừa may xong, trầm trồ:
-   Chà, thêu đẹp quá...
Khi Phi Nga đặt khay nước trà trước mặt ông Malê thì ông hỏi:
-   Bây giờ nhất định may thêu và lo cho đứa bé sắp ra đời à?
-   Đó là công việc quan trọng nhất.
-   Phải, nhưng tôi thấy không phải vì thế mà cô không còn vẽ được. Cô thử vẽ xem. Vẫn tài như thường.
-   Chưa chắc. Lại nữa, tôi muốn nghỉ vẽ một lúc để đem hết tâm trí vào việc lo cho đứa con đầu lòng.
Ông Malê nói:
-   Thằng Paul nhờ đến đây ngồi cho cô vẽ mà nảy ra sự ham thích vẽ. Cô thấy tấm vẽ hai con bướm của nó chưa? Nó cho màu nổi lắm. Nó chịu ngồi yên cho cô vẽ là một việc hy hữu đó.
-   Tôi đưa giấy bút cho cậu Paul vẽ tôi.
-   Nó vẽ cô? Tấm giấy ấy đâu rồi?
-   Cậu ấy tặng tôi.
Phi Nga đi lại bàn lấy tấm giấy vẽ của Paul và nói:
-   Nhà tôi bảo cậu ấy vẽ giống tôi lắm, giống những lúc tôi làm việc, say sưa với công việc.
Ông Malê nhìn qua bức vẽ:
-   Khá lắm! Đã có khiếu rồi đó. Cám ơn cô đã khơi nguồn cảm hứng ở thằng bé. Tôi chẳng biết nó ham thích cái gì. Học thì lười, chơi thì hăng, chỉ thích cái mới lạ, ở mãi một chỗ không chịu, làm một việc gì chưa lâu đã chán. Thật tôi không biết dạy dỗ nó như thế nào. Nhưng bây giờ thì tôi yên lòng rồi...
Phi Nga thấy ông Malê vui vẻ thật tình thì không khỏi vui lây:
-   Cậu Paul chắc có nhiều tài.
Bà Quỳnh nói:
-   Nó phục cô hết sức. Hôm nay nó đòi đi thăm cô, đem tấm vẽ đôi bướm cho cô xem nhưng nhà tôi không cho nó đi.
Phi Nga hỏi:
-   Ông sợ phải khen con trước mặt à?
Ông Malê ngạc nhiên:
-   Ồ, cô thông minh quá!
Phi Nga cười:
-   Nhưng ông lại khen tôi nhiều quá, ông không sợ tôi kiêu căng phách lối vì những lời khen tặng của ông sao?
Ông Malê nói:
-   Cô đã lớn rồi, đâu phải nhỏ như nó. Cô khiêm tốn quá, phải khuyến khích cô mới được. Cô lại không chịu đeo đuổi chí nguyện của cô. Cô cứ mãi sống cho một ông chồng, mà không chịu sống cho nghệ thuật, cho đời. Thượng đế không phân biệt trai hay gái đã trao gởi ở cô cái kho thiên tài ấy thì cô phải đem nó ra mà dùng cho đời. Tại sao cô lại dẹp nó qua một bên để lo cho một người đàn ông? Công việc hầu hạ một ông chồng, ai làm không được?
Bà Quỳnh xen vào:
-   Nhà tôi nói phải đó, cô ạ.
-   Thế tại sao bà không đeo đuổi nghề hát của bà?
-   Tại tôi không thật có biệt tài. Người ta nâng đỡ tôi vì thấy tôi có chút ít nhan sắc, còn trẻ, giá lúc ấy mà tôi trải qua vài đời chồng, hay xấu xí một chút thì ai thèm lăng xê tôi làm gì cho tốn công?
Ông Malê nói:
-   Tuần tới tôi rời Sài Gòn rồi, tôi sẽ viết thư cho cô để nói về cuộc thi tranh vẽ. Hôm nay tôi đến chào cô, từ giã cô.
Rồi ông đứng lên nói với vợ:
-   Thôi chúng ta về. Chúc cô khỏe mạnh và không bao giờ bỏ sự ham thích vẽ.
Bà Quỳnh đứng lên theo:
-   Lần này tôi sẽ xa cô một thời gian khá lâu đó. Nay mai thằng Paul cũng đến chào cô. Mẹ con tôi lên Đà Lạt nghỉ mát trong lúc nhà tôi về Pháp.
Khi khách đi rồi, Phi Nga vội mở gói quà của ông Malê ra. Nàng vui mừng thấy những hộp màu đắt tiền, những cuộn giấy, cây cọ đủ cỡ, tất cả những dụng cụ của một họa sĩ... Phi Nga nghĩ:
-   Nhưng lúc này ta chưa dùng đến.
Phi Nga gói lại cẩn thận và để nguyên cái gói lên đầu tủ. Còn giỏ trái cây và những gói vải đủ màu mà bà Quỳnh cho thì Phi Nga không buồn rờ đến. Nàng cứ đi qua đi lại trong phòng, đầu óc bấn loạn vì những lời nói vừa rồi của ông Malê.
Trong giây phút ấy Phi Nga quên tất cả, quên những chiếc áo, những xấp hàng, những cuộn chỉ mà mấy hôm nay, mỗi khi sờ đến nàng đều cảm thấy nảy nở một mối tình mới mẻ và vô cùng êm đẹp.
Nhưng rồi những cử động yếu đuối trong người nàng như nhắc nhở nàng nhớ đến cái bào thai, đến đứa con mỗi ngày mỗi lớn dần trong người nàng. Phi Nga trở lại ngồi trước giỏ may, với tay lấy chiếc áo đang đan dở ra, hai tay thoăn thoắt cử động...
Phi Nga chưa bao giờ cảm thấy vui vẻ, sung sướng như hôm nay. Hôm bước lên xe hoa về nhà chồng, lòng Phi Nga cũng không thấy hân hoan rạo rực như bây giờ. Lúc còn đi học, mỗi kỳ nhà trường tổ chức những buổi lễ phát phần thưởng cuối năm, trước bao nhiêu quan khách, nhà tai mắt trong tỉnh, trước bao nhiêu giáo sư, phụ huynh học sinh, với giải thưởng danh dự, cả chục lần xướng danh, Phi Nga vẫn không có được niềm vui ngày nay. Phi Nga cố phân tích và tìm hiểu niềm vui ấy từ đâu đến, có phải do Phi Nga vừa được ông Malê khen ngợi về tài vẽ của nàng, hay do Phi Nga tìm thấy ở việc mình sắp làm mẹ với những bổn phận mới. Cũng có thể Phi Nga hãnh diện nhận thấy mình có thể xem thường chuyện nổi tiếng, chuyện được đời ca tụng tài vẽ để bằng lòng với cuộc sống tầm thường, tăm tối của một người vợ, người mẹ...
Chính Phi Nga cũng không hiểu được tâm trạng của mình lúc ấy. Nhưng điều chắc chắn là Phi Nga đã đặt hết tâm trí trở lại công việc thêu những chiếc áo bé nhỏ...
Mấy hôm nay Phi Nga thấy Dũng thay đổi hẳn, trông Dũng trẻ ra, nhất là những khi Dũng nói đến đứa con đầu lòng của chàng. Dũng nhìn từng chiếc áo Phi Nga đã may xong và hỏi có vẻ ngớ ngẩn:
-   Con của chúng ta nhỏ như thế này sao?
Phi Nga cười:
-   Anh làm như anh không có đứa em nào cả. Mẹ có đến mấy người con kia mà.
-   Lúc ấy anh khờ dại lắm, lại nữa anh cũng không để ý đến chuyện đó. Anh không bao giờ bồng ẵm em nhỏ lúc nó mới được năm, sáu tháng. Anh chỉ đùa giỡn với nó khi nó bắt đầu biết đi.
-   Chắc các em nhỏ không yêu anh?
Dũng cười:
-   Yêu anh lắm.
Phi Nga không tin:
-   Anh có thèm để ý đến chúng nó đâu. Anh không có vẻ gì là yêu thương trẻ con cả. Ngay bây giờ, anh cũng chả yêu thương học trò của anh.
Dũng gật đầu:
-   Em nói có phần đúng.
Phi Nga phì cười:
-   Vẫn không chịu bỏ câu nói “có phần đúng”! Em đã bảo, em nói là đúng...
Những lúc ấy, Dũng vui lắm và chàng đã hứa với Phi Nga là chàng sẽ yêu thương con.
-   Có con thì phải yêu thương, lo lắng, dạy bảo nó, đó là bổn phận của anh, việc gì anh phải hứa. Anh lẩm cẩm thật!
Nghĩ đến nét mặt hớn hở của Dũng lúc ấy, Phi Nga không còn muốn làm gì hết ngoài các việc nội trợ, lo cho Dũng và đứa con trong tương lai. Chuyện ông Malê đến thăm chỉ là một xáo trộn nho nhỏ, không quan hệ gì. Phi Nga tự nói với mình như vậy, và để đầu óc mình không còn nghĩ vẩn vơ đến những lời khuyến khích hay khen tặng của ông Malê, thỉnh thoảng Phi Nga nói lớn:
-   Lúc này chưa cần nghĩ đến việc ấy!
Nhưng thỉnh thoảng Phi Nga lại đưa mắt nhìn về cái gói để trên đầu tủ, những món quà quý giá mà ông Malê đã cho nàng.
Tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, Phi Nga đem những món quà của bà Quỳnh ra, mở từng gói và nói với Dũng:
-   Bà Quỳnh cho em đây, mãi tới bây giờ em mới nhớ.
Dũng thấy nào hàng vải, nào bánh kẹo, trái cây thì hỏi:
-   Cho nhiều đến thế à? Bây giờ em mới soạn?
-   Em thêu say sưa, có còn nhớ gì đâu. Bà ấy ra về là em lại bắt tay vào việc.
-   Bà Quỳnh đến một mình à?
-   Có cả ông Malê nữa. À, ông ấy tặng em cái gói lớn kia. Những dụng cụ để vẽ. Lúc này em chưa cần đến nên cất ở trên đầu tủ. Hàng vải này thì cần vì may áo quần cho con. Bánh kẹo để đãi khách. Trái cây là phần của chúng ta.
Dũng không hỏi ông Malê đã nói gì vì thấy Phi Nga không muốn đá động đến chuyện hội họa nữa. Dũng sợ nếu hỏi đến thì Phi Nga thế nào cũng nhớ đến và biết đâu nàng không nghĩ ngợi vẩn vơ như mấy lần trước...
Phi Nga vừa gọt táo vừa nói:
-   Ông Malê sắp về Pháp rồi. Bà ấy thì sắp đi Đà Lạt và ở luôn trên ấy cho đến khi chồng bà ở ngoại quốc qua.
Dũng mừng rỡ:
-   Thế à? Lần này là lần chót họ gặp em?
-   Họ từ giã em. Nhưng rồi có lẽ sẽ trở lại nếu chúng ta còn ở đây.
Dũng lặp lại:
-   Nếu chúng ta còn ở đây...
Dũng muốn hỏi “Em có muốn gặp lại họ không?”, nhưng không dám.
-   Khi họ trở lại thì em đã là mẹ rồi. Lúc ấy biết em có còn thích vẽ như lúc còn con gái không? Chuyện ngày mai biết sao mà nói - Phi Nga nói.
Dũng không tin Phi Nga có thể thay đổi một cách dễ dàng như thế. Dũng biết rõ tánh Phi Nga vì chàng đã sống gần Phi Nga bảy tám năm. Suốt thời gian đi học, Phi Nga chỉ thích mỗi một màu là màu xanh da trời. Không ai có thể làm Phi Nga thay đổi ý kiến, thích màu nào khác. Tất cả những quyển tập của Phi Nga đều được bao màu xanh da trời. Và cả những bìa sách, cây viết, cây thước cũng màu xanh da trời. Phi Nga thường rnặc chiếc áo dài xanh nhạt. Nhiều bạn gái rủ Phi Nga may màu hồng, màu tím, Phi Nga đều lắc đầu:
-   Nga không thích những màu ấy.
Các cô bạn muốn Phi Nga thích màu tím hay màu hồng như họ, mỗi khi họ thấy nàng mặc áo màu xanh là xúm lại chê:
-   Phi Nga mặc áo màu xanh trông xấu quá, da đen xạm lại và người gầy hẳn đi.
Ai chê thế nào cũng mặc, Phi Nga vẫn không thay đổi ý muốn của mình.
Vì thế nghe Phi Nga bảo biết đâu sau này khi đã làm mẹ rồi, Phi Nga sẽ không còn thích gì ngoài sự nuôi dạy con cái, trông nom nhà cửa, chăm lo việc bếp núc, Dũng không khỏi hoài nghi. Tuy Dũng vẫn thấy có nhiều người đàn bà chịu lìa bỏ những ham thích, nghề nghiệp để quay về sống hoàn toàn cho chồng con.
Dũng nghe Mai, một cô bạn cùng dạy ở trường, kể về trường hợp của Phương, chị nàng. Phương là một cử nhân vạn vật, có chồng là kỹ sư. Gia đình của Hoàng, chồng Phương, rất giàu có lại chỉ có một mình Hoàng. Phương đã có một đứa con trai lên ba tuổi, đứa cháu đích tôn mà cả gia đình bên chồng đều yêu quý, nâng niu. Gần đây Phương được một học bổng qua Mỹ học và được theo một phái đoàn gồm những nhà bác học đi khảo cứu về các loại cây cỏ, chim cá khắp các nước trên hoàn vũ. Đó là một cuộc phiêu lưu đầy thích thú. Phương sẽ được lội khắp hang cùng ngõ hẻm, khi đi tàu thủy, khi đi máy bay, khi trèo núi băng rừng, miền tuyết đông giá lạnh cũng như vùng rừng nhiệt đới... Đây là cái mộng lúc còn là một nữ sinh Phương đã từng ôm ấp, ao ước và giờ đây dịp may ấy đã đến. Nhưng khi Phương đem tin mừng ấy về cho chồng và gia đình chồng biết thì nàng gặp trở ngại: Đứa con. Cha mẹ Hoàng cũng như Hoàng đều lấy cớ Phương không thể bỏ con ở nhà mà đi làm một chuyện mạo hiểm như thế.
Hoàng than thở:
-   Em đi như thế, rủi có chuyện gì thì sao? Anh và con sẽ mất em...
Cha mẹ của Hoàng nói:
-   Người đàn bà không thể có sự nghiệp nào khác ngoài bổn phận làm mẹ. Có một đúa con như vậy, con nỡ lòng nào bỏ nó mà đi? Dù có lên cung trăng để gặp Hằng Nga hay qua một nước nào đó để làm hoàng hậu...
Phương nghẹn họng. Nhà Hoàng giàu, Phương đi thì có vú, huống chi mẹ của Hoàng còn trẻ, bà có thể trông nom đứa cháu nội một thời gian. Phương đi độ ba năm thì về. Ba năm ngó vậy rồi cũng mau qua...
Nhưng rốt cuộc, Phương không đi đâu hết. Giữa chồng con và chuyến đi ấy, Phương đã chọn vế thứ nhất mà bỏ đi mộng ước của tuổi thanh xuân...
Khi Phương đến trả lời với cấp trên là mình không thể đi được, ai nấy đều tỏ ý tiếc rẻ Phương đã bỏ qua một dịp may hiếm có, một cơ hội để lập danh, tạo sự nghiệp. Các bạn của Phương đều cho Phương dại, yếu đuối, không đủ can đảm nắm lấy cơ hội.
Nhưng nhờ vậy mà gia đình Phương ấm cúng. Phương tìm thấy tình yêu và hạnh phúc giữa gia đình của chồng.
Kể xong câu chuyện, Mai kết luận:
-   Thế là tan vỡ giấc mộng thanh xuân.
Dũng bỗng dưng nhớ lại chuyện Phương và tự nhủ:
-   Biết đâu Phi Nga cũng sẽ như Phương. Chồng con là tất cả...
Chính Phi Nga cũng đã kể Dũng nghe chuyện cô Minh Nguyệt, giáo sư dạy việt văn của Phi Yến. Cô Nguyệt đậu tú tài văn chương và được bổ dạy Việt văn ở các lớp đệ thất, đệ lục. Dạy được ba năm thì cô Nguyệt lấy chồng và sau bốn năm đã có hai con. Vì phải đi dạy, không có thì giờ săn sóc con cái, cô thường than thở với bạn bè:
-   Giao cho chị vú, con sen, mình không yên tâm chút nào. Người đàn bà theo tôi chỉ sung sướng hoàn toàn khi được ngồi nhà săn sóc con cái, đùa giỡn với chúng nó. Nhưng chúng tôi nhà nghèo không thể ngồi nhà, phải đi dạy, thật là một cái khổ.
Thế rồi cô Nguyệt lập chí, cô vừa đi dạy vừa đi học ở trường dược. Cô Nguyệt làm việc không ngừng, cô nhất định thi đậu cái bằng dược sĩ để mở một con đường tương lai sáng sủa hơn, nhất là có cơ hội sống bên con, chăm lo cho chúng nó.
Cô Nguyệt đã đạt được ý muốn, cô thi đậu cử nhân dược khoa và hợp tác với một người có vốn mở một nhà thuốc tây. Từ đó, cô không đi dạy nữa, ở nhà ẵm con và cho đó là một hạnh phúc lớn lao của đời cô.
Khi kể chuyện cô Nguyệt cho Dũng nghe, Phi Nga đã nói:
-   Không hiểu khi em có con thì em có thay đổi nhiều về tư tưởng không? Bây giờ thì em cảm thấy em chưa dùng hết thì giờ. Lúc có con chắc em bận rộn nhiều.
Những câu này Phi Nga đã nói với Dũng lúc hai người mới cưới nhau...




0
Chương 4
                                     
 

Dũng ở trường về không thấy Phi Nga đâu, lòng không khỏi lo lắng. Bỗng chàng thấy trên bàn ăn có một miếng giấy nhỏ ghi mấy dòng chữ:
-   Em đau bụng nhiều, phải vào nhà bảo sanh. Anh đi báo tin cho cha mẹ biết. Anh yên lòng, em tin chắc mọi việc sẽ tốt đẹp...
Tự nhiên Dũng nghe tay chân bủn rủn, như không còn đứng vững. Suốt thời kỳ thai nghén, Dũng không bao giờ nghe Phi Nga than thở gì. Mấy tháng đầu, Phi Nga ăn uống không được, nhưng lần lần Phi Nga khỏe mạnh, ăn ngủ đều đặn, chừng mực, da dẻ hồng hào trông xinh đẹp khác thường. Bà Minh và các em của Phi Nga đều khen:
-   Phi Nga có thai trông đẹp hơn trước nhiều...
Phi Nga làm lụng may vá suốt ngày, nàng đã sắm đầy đủ cho đứa bé nào áo quần, giường nôi, xe đẩy. Mấy tháng sau này Phi Nga tuy có vẻ nặng nề, nhưng vẫn làm việc không ngừng và lúc nào cũng vui vẻ. Dũng thường nói với vợ:
-   Mẹ anh mỗi lần có thai là kêu yếu, kêu mệt, cha anh phải khổ tâm hết sức.
Từ khi vẽ bức tranh cho bà Quỳnh rồi, Phi Nga không vẽ gì nữa. Nhiều lần, Dũng làm bộ nhắc nhở để Phi Nga vui lòng:
-   Em chưa vẽ hình của anh.
Phi Nga hẹn:
-   Sanh xong sẽ vẽ, không gấp gì.
Mới hôm kia đây, Dũng còn nhắc chuyện vẽ bức hình hai người thì Phi Nga cười, chỉ cái bụng:
-   Đợi sanh xong, nuôi con được một tuổi rồi em sẽ vẽ một tấm hình anh, em và con. Chắc chắn là một đứa con trai, em biết trước như vậy...
Dũng có bàn với Phi Nga tìm một người vú để nuôi đứa bé, nhưng Phi Nga bảo:
-   Không cần. Em lo được rồi. Chúng ta cần phải để dành tiền cất nhà hay mua nhà, đâu ở mãi đây được.
Đứng một lúc lâu cho lòng bình tĩnh lại, Dũng mới ra bến xe, đi báo tin cho cha mẹ vợ biết. Ngồi trên xe đò, lòng Dũng đầy lo lắng. Không biết Phi Nga có đau bụng nhiều không? Có sinh được chưa? Chàng ăn năn đã không đưa Phi Nga lên Sài Gòn, vào một nhà bảo sanh lớn hay một dưỡng đường tư của một bác sĩ chuyên môn:
-   Rủi Phi Nga có chuyện gì thì sao?
Dũng thường nghe các bà già nói:
-   Ai gánh một gánh nặng, mình thương hại họ thì còn gánh giùm cho họ một đoạn đường, chớ còn chuyện sanh đẻ, mẹ ruột, anh chị, họ hàng có thương cũng đành chịu, không làm sao chia bớt sự đau đớn được...
“Người ta đi biển có đôi
Đàn bà đi biển đơn côi một mình”

Người ta ví người đàn bà lúc sanh đẻ không khác nào chuyện đi ghe, đi biển, gặp cơn sóng to gió lớn...
Dũng bỗng thấy thương Phi Nga nhiều hơn và lo âu nghĩ rủi Phi Nga có bề gì thì cuộc đời của Dũng sẽ mất ánh sáng... Dũng nghe toát mồ hôi, và khi xe ngừng trước con đường đi vào nhà ông Minh, vẻ mặt của Dũng bơ phờ, mệt nhọc.
Vừa thấy Dũng, bà Minh đã hốt hoảng:
-   Có việc gì vậy?
Dũng nói:
-   Phi Nga vào nhà bảo sanh rồi, lúc con đi dạy...
-   Con chưa vào nhà bảo sanh à?
Dũng lắc đầu, bà Minh trách:
-   Con dở quá! Trước khi đến đây cũng phải ghé qua nhà bảo sanh để coi nó thế nào rồi chứ.
Dũng đứng tần ngần trông thảm não vô cùng, thấy thế Phi Anh liền nói:
-   Anh ấy có đến nhà bảo sanh cũng không làm gì được đâu. Thôi, mẹ sửa soạn đi kẻo chị con đợi. Tụi con chờ ba về báo tin cho ba biết, rồi đi sau.
Bà Minh vội vàng đi thay áo rồi hớt hải đi theo Dũng. Phi Anh nhìn theo hai người rồi nói với Phi Yến:
-   Trông anh ấy thiểu não làm sao! Chồng gì mà ngốc như thế.
Phi Yến nói:
-   Biết lo như vậy là đáng thương, sao chị lại cười anh Dũng? Anh ấy như vậy không hơn những ông chồng vợ đẻ mặc vợ, cứ đi với gái hay lo gầy sòng đỏ đen, sát phạt nhau hay sao?
-   Với chị Phi Nga, chuyện sanh đẻ đâu có nghĩa lý gì. Chị ấy can đảm và bình tĩnh lắm.
Bà Minh và Dũng ra đón xe đến nhà bảo sanh. Dọc đường, bà Minh hỏi:
-   Mấy hôm nay nó có khỏe không?
-   Không có gì khác hết. Sáng nay lúc con đi dạy, Phi Nga vẫn khỏe.
Bà Minh lại hỏi:
-   Nó lo đủ mọi thứ chưa?
-   Dạ đủ.
Dũng trả lời chấm câu vì chàng đang lo lắng, không yên. Chàng chỉ trông sao cho mau đến nơi. Bà Minh thì hỏi luôn miệng, hết việc này đến việc khác. Sự thật bà cũng không yên lòng. Bà lại có tánh hễ có việc gì rối là không để ai ngồi yên. Bà muốn ai cũng phải rối như bà.
-   Cha con đi đâu không hiểu nữa!
Và khi không nghe Dũng nói gì, bà nói:
-   Hồi nãy sao mẹ không cho Phi Anh hay Phi Yến đi theo? Có việc gì sai tụi nó.
-   Biết đâu khi mẹ và con đến nơi thì Phi Nga đã sanh xong rồi.
Bà Minh kêu lên khiến Dũng càng lo lắng thêm:
-   Làm gì mà tài vậy? Con so cầu chuyển bụng ba ngày!
Dũng hốt hoảng:
-   Sao mẹ không nói trước để con đưa nhà con lên Sài Gòn. Rủi có bề gì thì sao?
Bà Minh sần sộ:
-   Đừng nói dại! Chuyển bụng ba ngày nhưng rồi cũng không có gì đâu.
Dũng chặc lưỡi:
-   Con không hiểu gì hết.
Bà Minh cười đầy vẻ thương hại:
-   Con hiểu thế nào được! Kinh nghiệm như cha con mà còn không biết gì. Ông về đến mà nghe nói con Phi Nga chuyển bụng thì sẽ quýnh như gà mắc đẻ cho xem.
Khi hai người đến nhà bảo sanh thì được một cô nữ điều dưỡng ra đón:
-   Ông giáo Dũng?
Dũng tái mặt:
-   Tôi đây. Có việc gì hả cô?
Cô nọ liền nói:
-   Bà Dũng sanh con trai. Mới sanh xong, bà bảo tôi ra đón thử ông đến chưa. Bà khỏe như thường, đứa bé gần bốn ký. Tôi chưa thấy ai sanh con mà mau và can đảm như thế. Khi lên bàn bà cười và nói: Tôi sanh con trai. Rồi bà ấy sanh con trai thật.
Bà Minh mừng rỡ:
-   Nó về phòng chưa cô?
-   Dạ mới về. Mời bà và ông Dũng theo tôi.
Bà Minh nói với Dũng:
-   Mau quá, thật là có phúc.
Dũng thấy người nhẹ nhõm, tưởng chừng có thể bay lên tận chín tầng mây.
Thấy hai người bước vào, Phi Nga hỏi Dũng:
-   Anh đi rước mẹ phải không? Con kia kìa, lớn bằng con người ta một tháng.
Rồi Phi Nga chào mẹ:
-   Con chỉ lo nếu mẹ đến mà con chưa sanh thì gây lo lắng cho mẹ.
Bà Minh nói:
-   Hãy nằm yên, đừng nói nhiều.
Phi Nga cười sung sướng:
-   Con không thấy mệt.
Dũng đi lại bên chiếc nôi nhỏ, đứng nhìn đứa con đầu lòng của mình một cách chăm chú. Thằng bé nhắm nghiền đôi mắt, nhưng miệng lại chép lia lịa ra chiều đói lắm. Tóc nó dài và đen, da đỏ hồng, nhưng Dũng chưa phân biệt được nó giống ai.
Dũng xây lại nói với vợ:
-   Trông hay hay làm sao ấy.
Bà Minh cũng đến bên chiếc nôi, đưa hai tay bồng thằng bé lên, nhìn nó một cách sung sướng:
-   Ồ, nó giống cha như đúc.
Quay lại Dũng, bà hỏi:
-   Con có thấy vậy không?
Dũng lắc đầu:
-   Trông đỏ loi lói, không biết nó giống ai.
Phi Nga nói:
-   Mẹ đặt nó nằm bên con đi.
Bà Minh không bằng lòng:
-   Để nó nằm riêng cho con nghỉ. Mấy ngày đầu thế nào nó cũng quấy. Con chưa mướn ai nuôi sao?
-   Con thấy không cần.
-   Sao lại không cần? Con không thể ngồi dậy được. Để mẹ mượn thím Ba đến nuôi con đỡ một tuần.
Phi Nga phản đối thì Dũng liền nói:
-   Em nên để mẹ nhờ thím Ba đến đây với em. Mẹ anh lần nào sanh cũng có người nuôi suốt một tháng. Phải kiêng cữ mà.
Phi Nga cười:
-   Anh nói nghe thạo dữ...
-   Đi dạy về thấy mảnh giấy em để trên bàn anh sợ cuống lên. Đến đây mà em chưa sanh chắc anh xỉu quá.
Bà Minh cười:
-   Mặt mày nó buồn xo, thấy tội nghiệp lắm!
Rồi thấy Dũng cứ lẩn quẩn bên Phi Nga, bà liền nói:
-   Hay là để mẹ về cho hai em con đi thăm con? Con khỏe, mẹ ở đây cũng chẳng làm gì. Để mẹ đi về kiếm thím Ba bảo thím lại đây với con.
Khi bà Minh đi rồi, Dũng lại ngồi bên Phi Nga:
-   Bây giờ anh mới hoàn hồn. Nghe em đến nhà bảo sanh, anh lo quá. Anh cứ nghĩ dại...
Phi Nga sung sướng thấy Dũng tỏ lòng yêu mình trong sự lo lắng ấy, nên nói:
-   Nhưng anh thấy đó, có gì đâu. Suốt mấy tháng có thai, lúc nào em cũng nuôi hy vọng sẽ sanh một đứa con trai thật khỏe mạnh và khi sanh không đau. Phương pháp đẻ không đau là thế đó, sản phụ phải luyện cho mình bằng những cử động, những ý chí, chứ không phải uống thuốc dễ sanh như người mình thường quan niệm. Nhiều bà lúc có thai uống thật nhiều thuốc cứu, lá tía tô để cho cái thai nhỏ lại, dễ sanh. Phương pháp này tuy cũng có hiệu nghiệm, nhưng có thể làm cho đứa bé mất sức.
Nghe vợ nói, Dũng chỉ gật đầu khen phải. Dũng cầm lấy bàn tay Phi Nga đưa lên miệng hôn mấy cái hỏi đùa:
-   Bây giờ em còn muốn có con nữa không?
Phi Nga cười:
-   Muốn có thêm đứa con gái nữa.
Dũng vội vã nói:
-   Chờ ba năm nữa. À, ta phải đặt tên con. Em có ý định đặt tên gì chưa?
-   Thế còn anh?
-   Anh muốn con chúng ta tên Huy Hoàng...
-   Anh đã lựa tên rồi thì thôi. Huy Hoàng, kể cũng đẹp đấy chứ. Ngày mai, anh đi khai sanh nhé.
Nhớ ra là Dũng chưa ăn cơm, Phi Nga giục Dũng về nhà:
-   Anh ăn cơm tiệm đỡ một tuần nhé. Bao giờ em về sẽ hay. Anh có muốn em nhờ chị Loan nấu cho anh ăn không?
-   Thôi, để anh ăn tiệm được rồi. Một tuần đâu có lâu gì.
Dũng về được một lát thì Phi Anh, Phi Yến và thím Ba đến. Phi Yến vui vẻ nói với chị:
-   Có cháu trai, em mừng quá. Chị Phi Anh muốn cháu gái.
Phi Nga cười:
-   Lần sau sẽ có cháu gái cho em Phi Anh.
Thím Ba nghe thế cười ầm lên:
-   Mới đẻ đầu hôm, đến tối đã muốn có con gái. Sao mà ham hố đến thế... Không sợ người ta cười à?
Mọi người bu quanh cái nôi của thằng bé. Phi Yến đưa hai tay ra muốn ẵm thằng bé thì thím Ba nói:
-   Cô chưa quen ẵm em nhỏ, không ẵm được đâu.
Phi Anh nói:
-   Nó là con út, làm sao biết ẵm em? Tôi cũng không dám ẵm, nó nhỏ như thế kia, ẵm lên rủi làm té thì sao.
Phi Anh và Phi Yến nói cười luôn miệng và Phi Nga mừng thầm thấy bé Hoàng ra đời đem lại sự vui vẻ, hân hoan cho tất cả người thân yêu của mình. Phi Nga hỏi:
-   Ba về chưa?
Phi Yến nói:
-   Lúc tụi em đi ba vẫn chưa về. Có lẽ ngày mai ba mới đến thăm chị được. Lên chức ông ngoại, chắc ba mừng lắm.
Thím Ba nói:
-   Đứa cháu ngoại đầu bao giờ cũng được cưng.
Rồi xây qua Phi Anh, Phi Yến, thím Ba nói:
-   Đến lúc các cô có con thì hết sốt dẻo rồi.
Phi Anh nói:
-   Tôi thích có cháu chứ không thích có con. Nuôi con cực lắm.
Thím Ba hỏi:
-   Thế còn cô Phi Yến?
Phi Yến trả lời:
-   Tôi chưa biết sao. Nhưng một khi lập gia đình thì phải có con mới vui nhà.
Phi Anh lại ngồi bên chị, nhìn đứa bé đỏ loi lói, ngủ ngon lành trong chiếc nôi thì mỉm cười:
-   Anh Dũng chắc sung sướng lắm chị nhỉ?
-   Anh ấy mừng lắm, không do vì có con và được làm cha, mà mừng vì thấy chị sanh xong, bình yên vô sự.
Phi Anh nhún vai:
-   Coi bộ anh ấy nhát gan quá. Đi dạy về, được biết chị đi lại nhà bảo sanh, anh ấy xanh mặt, chạy kiếm mẹ hớt hải. Có ông chồng hiền lành như thế cũng đỡ khổ.
Thím Ba xen vào:
-   Cậu giáo trông hiền lành thật. Cô Hai vậy mà có phước.
Phi Nga hỏi:
-   Thím thấy anh Dũng của tôi hiền à? Những người ít nói mới là khó chịu đó.
Thím Ba cười:
-   Với cô, hiền hay dữ gì cô ở cũng được. Cô giỏi lắm, tôi biết cô từ lúc nhỏ.
Phi Yến hỏi chị:
-   Chị đã mua nôi cho cháu rồi phải không?
-   Rồi, nôi đẹp lắm, chị lại bao lưới màu xung quanh, có may bèo bằng hàng mỏng xung quanh thành nôi, mùng tuyn màu xanh nhạt. Chị cũng đã mua chiếc xe đẩy.
Phi Yến nói:
-   Thế là chị sắm tất cả, không để cho tụi này sắm cho cháu cái gì hết sao?
Phi Anh nói:
-   Chị Phi Nga lo đủ tất cả rồi, hôm nào mình lại nhà chị sẽ thấy rõ tài làm mẹ của chị. Hai em cho cháu cái gì bây giờ?
Phi Yến nói:
-   Muốn cho cái gì thì cứ mua, hỏi chị ấy mà làm gì? Đừng nói cho chị ấy biết, lát nữa về nhà rồi mình tính.
Phi Anh và Phi Yến nói chuyện một lúc rồi đứng dậy ra về.
-   Ngày mai chắc cha mẹ đến thăm chị. Tụi em về kẻo mẹ trông. Nếu chị có cần gì thì nhờ thím Ba về cho mẹ biết.
Phi Nga nói:
-   Chắc chị không cần gì đâu. Các em thưa cho mẹ biết để mẹ yên lòng.
Ngày hôm sau ông Minh đến thăm Phi Nga, trao cho Phi Nga một cái bao thư:
-   Cha có một tin mừng nói cho con biết, có một nhà xuất bản muốn in tập thơ của cha. Cha đang do dự không muốn bán thì được tin con sanh con trai. Thế là cha nhận lời bán ngay. Người ta trả trước cho cha mấy nghìn đây. Cho con đó. Gọi là mừng con và cảm ơn con đã cho cha niềm vui được làm ông ngoại.
Phi Nga cảm động quá, cầm phong bì trở qua, trở lại thì ông Minh nói tiếp:
-   Với số tiền này con có thể trang trải mọi chi phí về việc sanh đứa con đầu lòng.
Phi Nga cười một cách sung sướng:
-   Thằng bé này vậy mà có phúc. Con bán hai tấm tranh để có tiền lo cho nó, giờ đây cha lại cho con số tiền bán bản quyền tập thi đầu tay của cha. Cuộc đời của nó bắt đầu ở nguồn lợi của nghệ thuật.
-   Và cuộc đời của nó sẽ huy hoàng như cái tên của nó. Có phải hai con đặt tên cho nó là Huy Hoàng không?
-   Dạ, anh Dũng lựa tên đó. Con cũng bằng lòng như thế. Cha mẹ thấy có được không?
-   Được lắm chớ.
Nói chuyện với Phi Nga một lúc, ông Minh mới sực nhớ là chưa nhìn mặt cháu, nên đi lại bên nôi. Thím Ba vội vàng ẵm bé Hoàng lại bên ông Minh:
-   Nó ngủ cả ngày, ngoan quá. Khi thức dậy là đun cả hai tay vào miệng, láo ăn hết sức.
Ông Minh nói:
-   Từng này mà nuôi cho lớn cũng khổ lắm đấy.
Phi Nga nói:
-   Ở đây ai cũng bảo nó lớn hơn những đứa trẻ khác.
-   Nhỏ téo chớ lớn nỗi gì? Nuôi ngán lắm. Con định cho nó bú à...
-   Con nuôi lấy nó.
Khi ông Minh về rồi thì Dũng đến với Loan. Phòng của Phi Nga lúc nào cũng có người vào thăm viếng, tiếng cười nói vang lên không ngớt, trái với các phòng bên cạnh, lúc nào cũng vắng teo. Thím Ba nói:
-   Lúc còn ở nhà bảo sanh, người ta kiêng cữ, ít đi thăm lắm.
-   Tại sao lại cữ?
-   Ừ, thì người mình cữ vậy đó. Nhưng sanh như cô coi bộ sung sướng thật. Cô ăn uống như thường, khỏe mạnh, trông như người nằm dưỡng bịnh. Thằng bé lại ngủ cả ngày, không nghe một tiếng khóc.
Đúng bảy ngày, Phi Nga về nhà. Nàng đi lại như thường và muốn cho thím Ba nghỉ, nhưng bà Minh bảo cứ để thím Ba giúp luôn một tháng.
Bé Hoàng chịu sữa và mau lớn vô cùng. Nó lớn thấy rõ, hai má phúng phính, tay chân ú thịt, có khúc có ngấn.
Dũng về đến nhà là đến bên nôi con, đứng ngắm cả giờ không chán. Dũng vui nhất là thấy Phi Nga để hết tâm trí vào việc nuôi con. Nhưng Phi Nga đã khỏe như trước thì nàng cũng bắt đầu lo việc bếp núc, dọn dẹp nhà cửa, không thuê người giúp việc.
Phi Nga không thấy bận rộn nhiều, nàng vẫn còn dư thì giờ để may thêu hay ngồi bên nôi ngắm thằng bé ngủ.
Khi bé Hoàng được ba tháng thì Phi Nga bắt đầu nghĩ:
-   Ta chưa dùng hết thì giờ, vậy mà mẹ cứ lo ta không làm sao mà quay cho kịp.
Có lần, Loan đến thăm Phi Nga giữa lúc Phi Nga đang ngồi nhìn ra vườn không có việc gì để làm. Loan nhìn khắp nhà rồi hỏi:
-   Một mình chị mà đâu đó ngăn nắp như thế à? Lại còn rảnh để nhìn trời, nhìn mây nữa sao? Tôi thì ngày nào cũng như ngày nấy, đầu bù tóc rối mà nhà cửa vẫn bừa bãi, con cái vẫn dơ bẩn, thấy mà chán.
Phi Nga nói:
-   Vậy mà chị cũng chịu khó đến thăm tôi, tội nghiệp thật đấy.
-   Thì cũng phải đi để đổi không khí. Chị làm sao mà rảnh được hả chị Nga? Anh Dũng có giúp chị được việc gì không?
-   Anh ấy cũng muốn giúp em lắm chớ, nhưng biết gì mà giúp. Lại nữa có gì đâu, anh ở trường về là mọi việc đã đâu vào đó rồi.
Loan ẵm bé Hoàng lên:
-   Thằng bé chóng lớn thật. Dễ chịu lắm phải không? Tôi nghe thím Ba bảo nó ngủ cả ngày, mà đêm cũng không khuấy.
-   Dễ chịu lắm. Tôi cho nó bú xong là bỏ vào nôi. Nhờ vậy tôi mới làm việc được.
Loan như nhớ ra điều gì:
-   Anh Phẩm bảo chị vẽ tranh và bán được tiền lắm phải không?
-   Vẽ cho vui chớ bán cho ai? Ai nói cho anh Phẩm biết chuyện ấy?
-   Không biết anh ấy nghe ai nói. Nhưng mà lúc chị đi học, chị cũng đã thích vẽ rồi kia mà. Làm có tiền kể cũng khỏe, chị ạ. Chị muốn may sắm gì cho chị hay cho con cũng được. Chớ còn tôi, muốn mua một cái gì mà anh Phẩm không đồng ý cũng thôi.
Phi Nga cứ để cho Loan nói, Loan làm sao hiểu được mình, đó là ý nghĩ của Phi Nga lúc ấy.
Loan nói tiếp:
-   Ở nhà với con, đôi khi bực mình ghê. Thấy các chị bạn, người đi dạy, kẻ làm thư ký, tôi thèm làm sao ấy.
-   Tại sao chị không đi dạy?
Loan thở dài:
-   Anh Phẩm không muốn cho tôi đi dạy. Anh bảo tiền tôi đi dạy không đủ để nuôi vú em và người giúp việc. Nếu tôi có kêu túng thiếu thì anh về quê xin cha mẹ lúa, bán lấy tiền đem lên cho tôi xài. Nhưng mà chị thử nghĩ, tôi tiêu xài cái gì? Lo cho mấy đứa nhỏ và anh Phẩm là không còn đồng nào nữa.
-   Anh Phẩm không muốn rồi chị phải chịu yên phận như thế à?
-   Nếu tôi làm theo ý muốn của tôi thì gia đình lại không yên vui. Mà anh ấy nói cũng có lý. Nếu tôi đi dạy thì tôi phải thuê một chị vú và một chị bếp. Thuê hai người ấy tốn ít lắm cũng một nghìn đồng, đó là chưa kể tiền họ ăn uống. Còn tôi đi dạy thì tốn tiền áo quần, son phấn, xe cộ, lời qua lỗ lại rồi nó cũng vậy thôi không dư bao nhiêu. Một người đàn bà khi nào làm chừng trên mười nghìn thì nên đi làm, còn không được vậy thì nên ở nhà giữ con, lo việc bếp núc, anh Phẩm bảo như thế. Phải chi tôi có tài như chị, tôi lên Sài Gòn mở tiệm vẽ quảng cáo liền, tội gì mà ở nhà bồng con, làm bếp cho khổ thân. Vẽ quảng cáo đâu có gì khó, chị dư sức làm việc ấy.
Phi Nga mỉm cười:
-   Anh Phẩm không cho chị đi dạy thì anh Dũng cũng không cho tôi vẽ. Làm sao bây giờ. Mình lỡ sanh ra làm đàn bà, biết sao.
Nói xong Phi Nga cười có vẻ hóm hỉnh, khiến Loan nghi ngờ hỏi:
-   Chị nói đùa à? Chị nể anh Dũng đến nước ấy sao. Anh Dũng dễ chịu lắm mà.
-   Đàn ông người nào cũng khó chịu hết. Họ dễ chịu là khi họ chưa cưới được mình thôi. Chị nghĩ sao mà bảo tôi không nể anh Dũng?
Ngừng một lát, Phi Nga nói:
-   Sự thật không ai ngăn cản tôi, nếu tôi thích vẽ. Hiện giờ tôi chỉ muốn sống cho con tôi, cho cái gia đình bé nhỏ này. Lại nữa như chị thấy đó, tôi đâu còn thì giờ?
-   Chị vẫn còn thì giờ ngồi thêu may, mà ngồi mơ mộng chớ còn tôi, tôi không rảnh để mà đọc một tờ báo hay một quyển sách. Riết rồi mình chịu dốt, thua sút bạn bè, không còn biết gì ngoài việc nuôi con cái và làm bếp.
Mỗi lần đến thăm Phi Nga, Loan thường than thở về việc gia đình, khiến Phi Nga không khỏi bực mình. Vì thế khi Loan đứng lên ra về, Phi Nga mừng lắm, nghe người nhẹ nhõm và vội vàng tiễn Loan ra cửa.
Phi Nga không nghĩ như Loan, nàng lấy làm sung sướng được săn sóc con cái, chăm lo cho chồng. Phi Nga làm những việc ấy với tất cả tình yêu và lòng tận tụy, không bao giờ kêu than mệt nhọc hay vất vả.
Từ khi có con, Phi Nga ít khi về thăm cha mẹ, thỉnh thỏang bà Minh hay hai em phải đến thăm để biết qua sức khỏe của nàng và đứa bé. Mỗi lần mẹ đến, Phi Nga nói để tạ lỗi:
-   Con bận cháu không về thăm cha mẹ thường được. Đi một mình thì không biết gởi cháu cho ai mà còn ẵm cháu đi thì sợ nắng nôi, cháu bị cảm.
Bà Minh liền nói:
-   Thôi để mẹ và các em đi thăm được rồi.
Dũng thấy Phi Nga chỉ biết có chồng con, chuyện nổi tiếng đối với nàng thật là vô nghĩa. Đôi khi sợ Phi Nga ở nhà mãi thế nào cũng chán, nên Dũng nhắc nhở vợ:
-   Sao em không đi chơi? Đi thăm bạn bè cũ, chớ ở nhà mãi sao được.
Phi Nga hỏi:
-   Sao lại không được, ở nhà đùa với con không thích hơn sao?
Dũng nhắc nhở:
-   Bạn bè đến thăm mình luôn, mà mình không đi thăm ai hết, lần lần không còn bạn nữa.
-   Đã có anh đi thăm được rồi. Em bận con nhỏ, ai không biết vậy?
Phi Nga nói xong bồng bé Hoàng lên, hôn chùn chụt lên mặt nó:
-   Bạn bè chỉ mất thì giờ, không ích gì. Như chị Loan đó, mỗi lần chị ấy đến em thấy bực mình hết sức. Còn em mà đến nhà chị thì em cũng không chịu nổi. Nhà cửa gì mà không có thứ tự, ngăn nắp. Các con của chị thì mặt mày dơ bẩn, đứa khóc, đứa la. Em dỗ chúng nó thì chị không bằng lòng, chị tưởng đâu em chê chị không biết dỗ con.
Có lần nể lời Dũng, Phi Nga tổ chức tiệc trà thết đãi các bạn của Dũng. Hôm ấy mấy người đàn ông người nào cũng khen Dũng có phúc, khen Nga giỏi giắn, đảm đang, khen bé Hoàng khéo nuôi. Những lời khen của các bạn trai khiến các bà khách không bằng lòng, khó chịu ra mặt.
Sau khi khách về, Phi Nga nói với Dũng:
-   Anh thấy chưa, mời bạn bè đến chỉ thêm phiền. Vui vẻ gì đâu.
-   Thật anh không ngờ các bà nhiều chuyện như vậy.
-   Tiệc với tùng, mất cả ngày giờ, để mình giỡn với con có phải thích hơn không?
Dũng hỏi:
-   Tại sao các bà ấy lại không thích em?
-   Họ có phải là bạn của em đâu. Ngay các cô bạn của em mà họ còn không thích em nữa là những người xa lạ ấy.
-   Thành ra em ở đây không có ai làm bạn cả.
-   Có anh và có con đủ rồi. Họ không thích vì thấy nhà của em đàng hoàng hơn họ. Họ càng không thích khi nghe các bạn của anh khen em. Em trang hoàng nhà cửa là vì anh, vì chúng ta, đâu phải khoe khoang với ai. Em thêu áo quần cho con là vì muốn đẹp mắt chúng ta, đâu phải để lên mặt sang trọng với ai đâu. Em không hiểu tại sao họ lại làm mặt giận hờn em. Từ nay anh đừng mời vợ các bạn anh đến đây nữa.
-   Anh tưởng mời họ cho em vui, đâu ngờ giới đàn bà của em phiền phức như thế.
- Em còn không hiểu nổi họ. Anh đừng mong hiểu họ qua vợ anh mà lầm đấy.
Dũng mỉm cười không trả lời. Chàng nghĩ:
-   Với vợ anh, anh còn không hiểu nổi thì mong gì hiểu các bà ấy? Mà hiểu các bà ấy để làm gì?
Ngày nghỉ hè đã đến. Nhà trường đang chuẩn bi tổ chức buổi lễ phát phần thưởng. Một hôm ở trường về, Dũng vui vẻ nói với vợ:
-   Ông Châu, hiệu trưởng, định nhờ em một việc.
Phi Nga hỏi:
-   Việc gì thế?
-   Ông Châu định nhờ em vẽ dùm vài tấm panô. Và nếu em rảnh thì lãnh dùm phần trang hoàng sân khấu cho buổi trình diễn văn nghệ, ông Châu lại còn nhã ý mời em dự buổi lễ phát phần thưởng và dành cho em một chỗ ngồi ở hàng ghế danh dự.
-   Và anh trả lời như thế nào?
-   Anh nói để hỏi ý kiến em, lúc này em bận con mà nhà không có người giúp việc. Nhưng anh thấy chúng ta cũng cần gây cảm tình với ông Châu, để ông ấy bỏ cái ý định lấy lại ngôi nhà này. Em mà giúp ông ấy thì buổi lễ phát phần thưởng này sẽ được tổ chức long trọng hơn mọi năm, tiếng tăm lan rộng ra đến tỉnh, ông Trưởng ty sẽ ban khen ông ấy về cách điều khiển ngôi trường, ông ấy mang ơn em không ít. Như vậy dù ta có ở đây ba bốn năm thì ông cũng không lấy lại nhà làm gì. Huống chi quê vợ của ông ở đây, ông được tiếng thì cha mẹ ông ấy sẽ hãnh diện với xóm làng.
Phi Nga do dự nói:
-   Ông Châu không sao, nhưng bà vợ ông ấy làm phách lắm, em không chịu được.
Thấy nét mặt Phi Nga không được vui, Dũng liền nói:
-   Mình chỉ biết ông Châu là được. Huống chi nếu em mà giúp ông ấy thì từ rày về sau, anh sẽ được cảm tình và sự giúp đỡ của ông ta.
Phi Nga hỏi gay gắt:
-   Sao anh không nói là sự che chở? Nhưng được, anh cứ trả lời là em sẽ giúp ông ấy về phần trang trí. Bao giờ ông ấy khởi sự thì cho em hay, em sẽ nhờ Phi Anh hay Phi Yến đến đây coi chừng nhà cửa và bé Hoàng. Em cũng đang cần hoạt động, em muốn cho các bà ấy thấy rằng họ có muốn ganh tị với em thì cũng không được nào.
Dũng mừng rỡ:
-   Ngày mai anh sẽ trả lời ông Châu, chắc ông ấy vui lắm. Ông Châu có ý định mời hiệu trưởng các trường khác đến dự, mời cả các cấp quận, dân chính trong quận, trong tỉnh. Lễ phát phần thưởng năm nay lớn lắm. Nếu buổi lễ có kết quả mỹ mãn thì một phần lớn nhờ em.
-   Còn phải tùy ở những màn văn nghệ do các em nữ sinh trình diễn. Em tài gì? Sao tự nhiên anh lại có cái hứng đề cao em lên như vậy?
-   Chớ mấy lúc nay, anh có chôn em bao giờ đâu?
Phi Nga nói sau mấy phút nghĩ ngợi:
-   Bà Châu không phải có ý ganh tị gì với em. Thật ra em không muốn tiếp bà, thành ra bà và em không có dịp gặp để tìm hiểu nhau. Bà ấy có đến đây mấy lần, đi qua đi lại trước nhà, nhưng em làm ngơ không ra mời vào. Họ muốn vào thì cứ vào, việc gì lại làm bộ làm tịch như vậy. Họ làm ra vẻ ta đây là vợ ông hiệu trưởng, và em, vợ một giáo viên, có bổn phận ra mời bà ấy vào nhà, như vợ mấy tá điền hễ thấy vợ ông điền chủ thì phải chạy ra chào hỏi, tiếp đón. Em ít khi lưu ý đến những chuyện nhỏ nhặt ấy.
Dũng khuyên:
-   Thôi, hãy bỏ qua những chuyện ấy đi.
Hôm sau Dũng đi dạy về, nét mặt vui vẻ, nói với vợ:
-   Lát nữa, ông Châu sẽ đến thăm chúng ta, nhờ em về việc mà anh đã nói với em ngày hôm qua. Biết em nhận lời, ông ấy mới dám đến. Ông Châu bảo, nếu bà Châu không bận việc gì thì sẽ cùng đến với ông.
Phi Nga đề nghị:
-   Vậy thì mình ăn cơm sớm để còn tiếp họ, em dọn cơm vậy. Anh coi chừng bé Hoàng nhé.
Dũng nhìn bé Hoàng nằm ngửa trên chiếc xe đẩy, hai tay bắt chân lên bú, đôi mắt trong suốt, hai gò má ửng hồng thì vui vẻ nói:
-   Thằng bé bú xong mà vẫn bắt chân lên mút, dễ thương quá. Để nó đó cho anh.
Dũng đã bắt đầu yêu thằng bé một cách không sao tả được. Dũng thường nói với Phi Nga:
-   Trong đời anh, anh chưa thấy đứa bé nào dễ thương và đẹp như bé Hoàng. Em nói phải đó, mình cho nó mặc chiếc áo sang trọng là để đẹp mắt mình, chớ sự thật nó không biết gì cả.
-   Em đã bảo có những chuyện tiêu xài mới ngó có vẻ phung phí, vô ích, nhưng sự thật rất quan trọng đến hạnh phúc của con người, nó làm cho cuộc sống của ta trở nên dễ chịu, nhờ vậy mà ta mới có thể yêu đời.
-   Em nói đúng đó. Mỗi khi ở trường về, nhìn thấy bé Hoàng, là anh quên hết nhọc nhằn. Một đứa con như thế này lại thêm một người vợ lúc nào cũng lo cho anh, đời anh đầy đủ quá rồi.
Dũng lại vơ vẩn nghĩ:
-   Mà cái gì đầy quá không tốt, người ta thường bảo thế. Liệu ta có được hưởng hạnh phúc này suốt đời ta không?
Phi Nga không bao giờ phân vân về hạnh phúc hiện tại của mình và cũng không bao giờ nghĩ rằng Dũng lại phân vân vì được sống những ngày yên vui bên vợ con.
Dũng hứa với vợ sẽ học thêm để thi tú tài nhưng từ khi Phi Nga sanh rồi và bây giờ bé Hoàng đã được sáu tháng, nàng không hề nghe Dũng nhắc nhở gì đến chuyện học hành, nên nàng cũng làm ngơ không đá động đến. Phi Nga cũng không hề nghĩ đến chuyện vẽ tranh, và nàng thấy Dũng vui vẻ, sung sướng thật sự khi thấy nàng chỉ biết lo cho chồng con.
Nhưng hôm nay, Phi Nga không hiểu tại sao Dũng lại nhận lời với ông Châu và bàn với mình về chuyện giúp ông Châu tổ chức một buổi lễ phát phần thưởng thật long trọng hơn năm ngoái, cái năm đầu ông Châu làm hiệu trưởng. Dũng không sợ Phi Nga trở lại với nỗi ham thích trước đây sao?
Vừa dọn cơm, Phi Nga vừa nghĩ như thế, nhưng bữa cơm hôm ấy cả Dũng và Phi Nga đều vui vẻ, họ chỉ nói về bé Hoàng.
-   Bé Hoàng biết nhìn theo em rồi.
-   Bé Hoàng xổm lên rồi. Nó sắp ngồi được. Nó mà biết đi thì mệt lắm anh ạ. Đâu dám bỏ nó một mình, nó té thì khổ.
Mấy lúc sau này, bé Hoàng là đầu đề cho những câu chuyện của họ trao đổi trong bữa cơm...
Họ vừa ăn xong, Phi Nga chưa kịp dọn dẹp thì ông Châu đến. Dũng thúc hối vợ lên tiếp. Phi Nga vào phòng trong thay áo, nghe ông Châu nói với Dũng:
-   Nhà tôi hôm nay có khách, không đến được. Hôm khác tôi sẽ đưa nhà tôi đến.
Phi Nga nghĩ:
-   Như thế càng tốt.
Phi Nga ra phòng khách thì Dũng đứng lên đi pha trà thay vợ. Ông Châu nói cho Phi Nga biết mục đích viếng thăm của ông, rồi kết luận:
-   Được biết cô đã nhận lời giúp nhà trường, tôi đến đây cảm ơn cô và cũng để bàn với cô về cách tổ chức buổi lễ. Tôi mong cô giúp tôi những ý kiến hay ho của cô.
Phi Nga nói chuyện một cách tự nhiên, góp ý kiến về sự trang hoàng sân khấu, cách tổ chức tiệc trà thế nào cho chu đáo, cách luyện tập các em hát, vũ và đóng kịch. Dũng chỉ ngồi nghe, không nói gì hết. Sự thật Dũng không thạo những chuyện ấy. Ông Châu luôn miệng khen Phi Nga có ý hay, rồi ông nói:
-   Hôm nọ tôi gặp ông hội đồng Tích, nghe nói về chuyện cô bán tranh cho ông Malê, tôi không khỏi phục cô. Mấy lúc nay cô có vẽ thêm được bức tranh nào chưa?
-   Mấy lúc nay tôi bận cháu nhỏ.
-   Cô nên dành một ngày vài giờ để vẽ, cô ạ. Ông hội đồng Tích có nói là ông Malê đến tận đây hai lần khuyên cô mà dường như cô không thích vẽ tranh nữa.
Phi Nga lặp lại:
-   Tôi bận cháu.
Nhưng ông Châu không cần nghe câu trả lời của Phi Nga, cứ nói tiếp:
-   Ông Malê bảo cô là một thiên tài và khuyên cô nên tìm một họa sĩ học thêm. Có phải như thế không?
-   Ông Malê có khuyên tôi như vậy, nhưng tôi thấy lúc này chưa cần lắm, tôi muốn sống cho chồng, cho con tôi.
-   Dù cô có vẽ thì cô cũng sẽ sống cho chồng, cho con chớ cô có bỏ chồng, bỏ con đâu mà sợ.
Dũng liền chen vào góp một câu:
-   Tôi cũng có khuyên nhà tôi, nhưng nhà tôi bảo thủng thỉnh đã.
Ông Châu liền nói:
-   Có một người vợ có tài như vậy, thầy phải khuyến khích cô vẽ để một ngày gần đây trở thành một họa sĩ tên tuổi. Không nên vì mình mà để vợ phải sống như kẻ vô tài.
Dũng cau mày. Phi Nga đỡ lời cho Dũng:
-   Nhà tôi khuyên tôi học thêm, nhưng ông thấy đó, tôi đâu có thì giờ. Vài năm nữa, khi cháu Hoàng hơi lớn, tôi sẽ tính đến chuyện đó.
Ông Châu cười:
-   Bé Hoàng lớn thì lại có bé khác ra đời.
Khi đứng lên ra về, ông Châu nói:
-   Bắt đầu ngày mốt, cứ bốn giờ chiều thì cô qua trường để giúp ý kiến cho chúng tôi. Còn về chuyện trang hoàng thì tùy cô... Tôi không dám có ý kiến gì cả, để trọn quyền cho cô...
Phi Nga nhận lời, Dũng đưa ông Châu ra tận ngoài đường. Hai người đứng nói chuyện với nhau rất lâu. Phi Nga quay vào bồng con, dỗ cho nó ngủ, nên không biết họ đã nói gì.
Ông Châu khoác tay Dũng và hai người đi bên nhau, có vẻ thân mật. Ông Châu đã ngoài bốn mươi tuổi, người cao lớn, tánh tình vui vẻ, nói năng hoạt bát. Đưa ông ta đến cổng, Dũng toan quay vào, thì ông Châu liền nói:
-   Trời mát như thế này, chúng ta đi dạo một lúc cho khỏe.
Ông kéo tay Dũng lôi đi, bất đắc dĩ, Dũng phải theo ông, để nghe ông tâm sự:
-   Có một người vợ như thầy thật là một điều may mắn. Thấy vợ chồng thầy, tôi không khỏi buồn cho cảnh ngộ của tôi. Nhà tôi làm gì mà bằng cô ở nhà. Tôi cũng đã lớn rồi, xem thầy cô như em út của tôi, nên thành thật lắm. Tôi cưới nhà tôi đến nay gần hai mươi năm, nhưng tôi có cảm giác là suốt đời tôi rồi cũng không khác gì hai mươi năm qua, nghĩa là cũng buồn tẻ. Cha mẹ vợ tôi giàu, hồi đó ông bà bỏ tiền ra “cưới chồng” cho con gái lớn. Nhà tôi nghèo, cha tôi mất sớm, mẹ tôi đi lấy chồng khác, tôi ở với bà nội, bà tôi cũng chết, lúc này tôi mới học xong bậc trung học, chưa thi trung học đệ nhị cấp, vì thế phải bỏ học về chịu tang bà. Thấy tôi bơ vơ, cha vợ tôi bấy giờ để tôi làm sổ sách cho ông và sau đó bằng lòng gả con gái. Rồi ông chịu cho tôi đi học thêm, thi vào trường Sư phạm để ra đi dạy. Vợ tôi cũng hiền lành, nhưng phải cái tánh ỷ tiền, xài phí quen thân. Đồng lương của tôi không đủ cho vợ tôi xài, nên lúc nào bà ấy cũng muốn tôi về sống với cha mẹ vợ, mà sống bên nhà vợ thì lắm khi bực mình làm sao chịu nổi. Lúc tôi còn dạy ở các tỉnh, tuần nào cũng phải lặn lội về nhà, tôi phải xin đổi về đây. Và từ ngày tôi về dạy ở quê vợ thì cha mẹ vợ bỏ tiền cất cho tôi ngôi nhà mà tôi ở hiện giờ. Từ ngày thầy về đây dạy, thầy không chịu làm hiệu trưởng, nhờ vậy mà tôi được cái tiếng hiệu trưởng, cha mẹ vợ tôi nể nang tôi thêm đôi phần. Vợ tôi nghe thiên hạ gọi tâng bốc “bà Hiệu trưởng” thì thích lắm. Nhưng không hiểu ai xúi sử nhà tôi không biết mà bà ấy cứ đòi lấy lại ngôi nhà của thầy cô. Bà ấy mà đòi thì phiền lắm. Lại thêm các bà ghét vợ tôi nên lại thường xúi sử luôn, tôi khổ tâm hết sức, không biết phải nói thế nào với thầy để thầy hiểu mà không phiền tôi, cho tôi là người xấu, thấy cô trang hoàng lại nhà cửa đẹp đẽ nên thay đổi ý kiến.
Nói đến đây ông Châu ngừng lại, Dũng lo lắng chờ đợi. Nhưng ông Châu nói tiếp khi đã thở một hơi mạnh như để trút hết sự bực mình:
-   May sao cô Loan, vợ của thầy Phẩm đến chơi, liền nói với cha mẹ vợ tôi là nếu tôi mà đòi cái nhà lại thì thầy sẽ xin lãnh lại chức hiệu trưởng mà hai năm nay thầy đã nhường cho tôi. Cha mẹ vợ tôi nghe thế liền khuyên vợ tôi đừng có đòi nhà lại, ông bà sẽ bỏ thêm tiền để sửa sang lại cái biệt thự của tôi cho thật sáng sủa, mới mẻ, đầy đủ tiện nghi. Nhưng rồi vợ tôi vẫn còn hậm hực, chưa vừa ý. Lúc nãy tôi có rủ nhà tôi lại thăm thầy cô nhưng nhà tôi không chịu đi. Thì cũng là chuyện đàn bà tranh hơn, tranh thua với nhau chứ có gì lạ đâu, nhà tôi nghe ông Hội đồng khen cô vẽ giỏi, có tài, bán một bức tranh năm nghìn đồng, bỗng đòi đi học vẽ. Có phải là lạ đời không. Bà ấy thì vẽ cái quỷ gì, vẽ bài tứ sắc biết được chưa. Nhưng mà tôi cản không nổi, bà nói để bà lên Sài Gòn học vẽ với ông thầy Tàu nào đó trong Chợ Lớn.
Ông Châu nói đến đây cười lớn, khiến Dũng cũng phải cười theo... Dũng hỏi:
-   Ông hiệu trưởng để cho bà đi học à?
Ông Châu thở dài:
-   Làm sao cản? Bà nhà tôi chỉ có hai đứa con trên mười tuổi cả rồi, về sức học thì trước kia bà đã đậu tiểu học, cũng có đi học nữ công gia chánh, rồi đánh máy, kế toán... Thôi thì bà học đủ thứ và hễ nghe ai khen bà nào tài giỏi về một môn nào đó là bà hăng tiết lên, đòi đi học môn ấy để hơn người ta mới nghe. Năm ngoái có bà phán Hùng ở quận giỏi làm bánh, ở đây ai cũng khen. Nhà tôi tức lắm, lên Sài Gòn học sáu tháng làm bánh đó chứ. Nhưng học rồi tôi có thấy bà ấy trổ tài bao giờ đâu. Chỉ được cái là từ đó, mỗi lần ăn vào miệng một thứ bánh gì, bà nói có vẻ thông thạo lắm, bánh này làm bằng bột gì và làm như thế nào...
Dũng mỉm cười thấy câu chuyện kéo dài một cách thích thú. Ông Châu nói tiếp:
-   Bà ấy đòi đi học vẽ. Biết có cản cũng không được, nên tôi khuyến khích: Mình mà học vẽ thì thế nào cũng trở thành một họa sĩ danh tiếng! Nghe thế nhà tôi thích lắm. Cha mẹ vợ bảo riêng tôi: Để nó đi học vẽ không hơn là để nó ở nhà đánh tứ sắc hay mạt chược sao? Cha mẹ vợ tôi bao giờ cũng có lý. Hôm nay tôi rủ nhà tôi đến thăm thầy cô, nhà tôi không chịu đi, nhưng tôi tin chắc mai mốt thế nào bà ấy cũng đến đây...
-   Bao giờ thì bà đi Sài Gòn học?
-   Đầu tháng, sau ngày lễ phát phần thưởng. Bà ấy đâu có chịu vắng mặt trong dịp lễ này.
Hai người ngừng lại ở một góc đường, ông Châu bắt tay Dũng:
-   Thầy làm ơn dặn cô nếu có nhà tôi đến nói về chuyện vẽ thì cô nên nhẹ lời một chút, đừng làm bà ấy thất vọng.
Thấy mình dặn như thế có hơi chướng, ông Châu vội vàng nói tiếp:
-   Tôi thấy cô Phi Nga khiêm tốn lắm, không hề khoe khoang mình có tài, cứ bảo thích sống cho con, cho chồng. Cô Phi Nga không làm phách, tôi hiểu rõ lắm, nhưng cũng dặn phòng hờ. Đàn bà với đàn bà khó lắm.
Rồi ông Châu vừa cười vừa nói:
-   Tôi còn nhớ câu này: Hai nhà bác học hoặc hai luật sư cũng có thể sống chung với nhau được, nhưng hai người đàn bà thì không bao giờ. Không biết tôi đọc câu này ở đâu, nhưng ngẫm nghĩ kỹ tôi thấy đúng hết sức.
Dũng rảo bước về nhà. Phi Nga hỏi chồng:
-   Đưa ông ấy sao lâu quá vậy anh?
Dũng cười:
-   Ông ấy tâm sự nhiều chuyện cũng vui vui.
Dũng kể vợ nghe những lời ông Châu vừa nói với mình. Phi Nga nói:
-   Bà Châu tự ái và háo thắng quá. Nhưng cũng hay, từng ấy tuổi rồi mà còn chịu khó đi học vẽ thì đáng khen thật, ông Châu lo như thế là dư sự, bà ta đến đây em sẽ khen vùi bà ấy, khuyến khích bà học vẽ để trong giới em có thêm một nhân tài. Bà sẽ mở đường cho chị em bước theo để tiến vào ngành hội họa.
Ngừng một chút, Phi Nga tiếp:
-   Bà ấy đâu hiểu là em đang cần tiền mua sắm đồ đạc cho con nên mới bán liền mấy bức tranh.
-   Ừ, đâu có ai chịu hiểu như vậy. Bà Châu tưởng em phách lối lắm, nhứt là khi nghe ông hội đồng Tích khen em với mọi người.
Như ông Châu đã nói, hôm sau bà Châu đến thăm Phi Nga lúc Dũng đi dạy. Lần này, bà đi thẳng vào nhà. Phi Nga đón tiếp một cách tử tế, niềm nở. Và làm như không hay biết gì về ý định đi học vẽ của bà, Phi Nga hỏi thăm bà về sức khỏe, rồi nói:
-   Ông hiệu trưởng có nhờ tôi giúp một phần nhỏ vào việc tổ chức buổi lễ phát phần thưởng. Tôi lo quá vì tôi đâu có biết gì...
-   Người ta bảo cô vẽ tranh giỏi lắm kia mà.
-   Tôi chỉ được học vẽ lúc đi học ở trường. Mỗi tuần một giờ. Vẽ nguệch ngoạc vậy thôi, đâu có gì là giỏi. Bà nghe ai nói mà khen tôi như vậy. Dù sao thì tôi cũng xin cám ơn bà về những lời khen ấy.
Hai người đàn bà vừa nói chuyện vừa nhận xét nhau để tìm hiểu đối thủ. Phi Nga thấy bà Châu đã lớn tuổi, người đẫy đà, tướng mạo nghiêm nghị. Tuy vậy, bà không gây cho Phi Nga chút ác cảm nào như trước đây. Còn bà Châu thì thấy Phi Nga hiền lành, vui vẻ như một nữ sinh.
Bà Châu nói:
-   Tôi nghe ông hội đồng Tích bảo cô có tài lắm, cô vừa bán cho ông Malê mấy bức tranh. Mà ông Malê là một tay rất sành về tranh.
Phi Nga vừa pha trà vừa nói:
-   Trong lúc rảnh tôi có vẽ để giải trí. Mấy bức tranh ấy tôi treo ở ngoài cái chái kia. Ông Malê thấy, tỏ ý muốn mua. Trước đó thì bà Quỳnh, vợ ông, cũng có mua của tôi hai tấm. Tôi cần tiền nên mới bán. Lần đầu tôi bán hai tấm để có tiền lo đám cưới, lần sau tôi bán một tấm để lấy tiền sắm xe và giường cho thằng bé con tôi.
Phi Nga đặt chén trà trước mặt bà Châu và quay lại chỉ chiếc xe đẩy, cái giường nhỏ mà bé Hoàng đang ngủ, rồi nói tiếp:
-   Nếu tôi có tiền thì tôi không bán tranh, vì thưa bà đã vẽ ra gì mà bán?
Bà Châu ngạc nhiên nhìn Phi Nga. Bà cứ tưởng Phi Nga phách lối và ỷ tài, giờ chỉ thấy một Phi Nga dịu dàng, lễ phép và lại rất thành thật, bà đâm ra lúng túng.
Uống trà xong, bà Châu muốn đi xem xưởng vẽ. Phi Nga vui vẻ đưa bà đi:
-   Chỉ còn có mấy bức tranh. Mấy lúc nay tôi không vẽ gì cả vì bận cháu.
Bà Châu xem từng tấm tranh:
-   Chắc cô có học với ai mới vẽ được thế này.
-   Tôi chỉ học ở trường, lúc còn đi học.
Bà Châu tỏ vẻ không tin. Phi Nga cũng không cần phân trần để bà tin:
-   Tôi tưởng vẽ để khỏi ở không, không ngờ có người lại chịu mua.
-   Nghe nói cô có vẽ cho cậu Paul, cháu ông hội đồng Tích, một bức chân dung?
-   Dạ có, vẽ lúc mới có thai cháu bé.
Bà Châu xem xong mấy tấm vẽ, theo Phi Nga trở vào nhà. Lần này bà đến đứng bên giường của bé Hoàng, ngắm thằng bé và khen:
-   Cháu đẹp quá.
Rồi bà nhìn khắp nơi:
-   Cô nhất định sống cho chồng con thôi à?
Phi Nga ngạc nhiên nhìn bà. Nàng chưa hề nói với bà điều này. Bà Châu hiểu ý liền nói:
-   Tôi nghe nhà tôi bảo cô nói với nhà tôi như thế.
-   Tôi có nói với ông là lúc này tôi sống hoàn toàn cho con cho chồng.
-   Tại sao vậy cô Phi Nga?
-   Tôi bận suốt ngày.
-   Đây không phải là một trở ngại mà chỉ là một cái cớ cô viện ra để khỏi phải vẽ.
-   Đành là không phải trở ngại, nhưng người đàn bà một khi có gia đình...
Bà Châu không để Phi Nga nói tiếp:
-   Cô có thể thuê một vú em, một chị bếp... Tiền cô làm ra dư để trả công cho họ.
-   Nhưng tôi không muốn thế.
-   Có phải tại thầy Dũng ngăn cản không cho cô vẽ không?
Phi Nga lắc đầu. Bà Châu nói:
-   Vậy mà tôi lại định tìm thầy học vẽ đây. Cô có thể chỉ cho tôi không?
-   Tôi không dám. Thật ra tôi chỉ vẽ theo ý tôi, tôi không biết cách dạy lại.
-   Đã đến tuổi này mà còn đi học vẽ, có kỳ không hả cô?
Phi Nga thành thật nói:
-   Sao lại kỳ? Ở tuổi nào học không được, miễn là mình có chí.
Nghe Phi Nga nói thế, bà Châu thích lắm. Nhưng lạ thay, từ khi gặp Phi Nga, cái hứng thú đi học vẽ của bà dường như giảm mất hết phân nửa. Bà háo thắng muốn hơn Phi Nga. Nhưng Phi Nga đâu có tranh đua với ai, như thế việc gì bà phải đi học vẽ?
Bà Châu nói:
-   Tôi định đi học vẽ. Tôi có nhờ một người bạn hỏi dùm việc này rồi. Bao giờ nghỉ hè, tôi lên Sài Gòn để học với một họa sĩ người Tàu.
-   Tại sao bà phải đợi đến nghỉ hè?
-   Để nhà tôi có thể lên Sài Gòn với tôi. Học chừng bao lâu thì vẽ được hả cô?
-   Cái đó tôi không biết. Chắc bà đã biết vẽ chút ít rồi?
-   Tôi chỉ học vẽ lúc đi học như cô vậy. Lúc trước tôi cũng thích vẽ lắm. Các con tôi lớn cả rồi, lại nữa từ lúc lọt lòng, các con tôi được mẹ tôi nuôi dạy, tôi không bao giờ bận bịu chúng nó, tôi muốn đi đâu cũng được, cô ạ.
-   Nếu vậy bà học cái gì không được?
-   Cô khuyến khích tôi như vậy, tôi mừng lắm, tôi chỉ sợ cô cười tôi.
-   Tôi đâu dám vô lễ như vậy. Bao giờ bà đi học xong, tôi sẽ lại nhờ bà dạy cho tôi cũng không biết chừng, vì bà học có thầy, còn tôi chỉ học lỏm, vẽ theo ý thích.
Bà Châu cười:
-   Cô khiêm tốn hoài. Tôi định bụng bao giờ cô vẽ cho cuộc lễ phát phần thưởng thì tôi đến giúp cô, được phần nào hay phần nấy. Cô bằng lòng chớ?
Bà Châu nói có vẻ thành thật, cái ý nghĩ này mới đến với bà từ khi được biết Phi Nga không có phách lối hay kiêu căng như bà tưởng.
Phi Nga sốt sắng:
-   Mời bà đến chơi, góp ý cho tôi. Dù sao thì sống nhiều, bà cũng có nhiều kinh nghiệm hơn tôi.
Sự tiếp xúc giữa bà Châu và Phi Nga hôm đó rất có lợi cho nàng vì sau đó, bà Châu gặp ai cũng khen nàng khiêm tốn, có tài mà không tự phụ, nói năng nhỏ nhẹ, tánh tình vui vẻ. Bà nói với ông Châu:
-   Tôi sẽ đến giúp cô Phi Nga trang hoàng cho buổi lễ phát phần thưởng...
Thấy ông Châu có vẻ hoài nghi, bà nói:
-   Cô ấy mời tôi đến vẽ với cô. Cô còn khuyên tôi nên đi học vẽ.
Chẳng những với ông Châu, mà với bất cứ ai bà cũng khoe rùm lên như vậy. Và từ hôm ấy người ta nghe bà khen Phi Nga có tài, nào vẽ giỏi, thêu may khéo, đảm đương biết lo cho chồng. Bà Châu nghĩ rằng bà càng khen Phi Nga thì thiên hạ càng thấy bà cũng có tài không thua gì nàng vì chính bà được Phi Nga mời đến vẽ, bà cũng có góp công vào việc trang hoàng sân khấu cho học sinh trình diễn văn nghệ trong buổi lễ phát phần thưởng.
Khi sân khấu trang hoàng xong, trong khi các giáo viên tập dượt cho các học sinh đóng kịch, ca hát, Phi Nga nghe bà Châu hỏi vợ các ông giáo:
-   Mấy bà thấy sân khấu có đẹp không? Những tấm pa nô kia mỹ thuật không? Tôi và cô Phi Nga cặm cụi mất cả tuần đó.
Phi Nga nghe thế chỉ mỉm cười. Bà Châu chạy lại nói với Phi Nga:
-   Cô Phi Nga ơi, ngó vậy mà nổi hết sức. Mình mất cả tuần chớ ít sao. Công lao như vậy mà ngày mai đây, trình diễn xong lại phải mang đi hết.
Phi Nga vui vẻ:
-   Năm nay có bà giúp tay vào, buổi lễ phát phần thưởng sẽ vô cùng long trọng.
Bà Châu nghe thế cười khanh khách:
-   Có vậy mấy ông mới không khinh mình bất tài. Tôi phải đi học vẽ mới được, cô đã cho tôi sự ham thích trở thành một họa sĩ. Cô còn nhỏ mà có tài, tôi phải bắt chước cô mới được.
Với Phi Nga bà nói như vậy, nhưng ông Châu mừng thầm thấy vợ không còn đá động gì đến chuyện đi học vẽ nữa, nhất là sau ngày bà đi dự buổi lễ phát phần thưởng.
Hôm ấy bà Châu chưng diện thật đẹp, thật nổi, và đứng bên ông Châu tiếp đón quan khách. Rồi bà lại có mặt bên những cái bàn để phần thưởng, người ta thấy bà chạy qua chạy lại, chỗ nào cũng có bà để chân đến, đặt tay vào và ra lệnh không ngừng. Trên sân khấu khi các em trình diễn những màn văn nghệ, người ta cũng thấy bà vạch tấm màn nhìn xuống những hàng ghế. Bà Châu hoạt động không ngừng, trái lại Phi Nga chỉ ngồi im trên hàng ghế quan khách, bên các bà giáo.
Nhiều người nói với nhau:
-   Bà hiệu trưởng hoạt động còn hơn chồng nữa.
Có người cãi lại:
-   Bà ấy có làm hiệu trưởng đâu. Bà ấy chạy hiệu mà chạy hiệu thì không hoạt động sao được?
Nhưng cũng có người khen:
-   Bà ấy chịu khó giúp chồng trong việc trường trại, giỏi lắm đó. Có lẽ nhờ bà mà buổi lễ năm nay long trọng hơn mọi năm, phần thưởng cho học sinh cũng nhiều nữa.
Không ai nói đến Phi Nga, nhưng Phi Nga không lấy thế làm bực mình. Sau buổi lễ, ông Châu đến thăm Dũng để cám ơn Phi Nga:
-   Ông Tỉnh trưởng và ông Trưởng ty Giáo dục khen trường mình năm nay biết tổ chức. Tôi có nói với các vị quan khách, năm nay sở dĩ được như thế là nhờ cô Phi Nga. Tôi còn nhờ cô Phi Nga việc này nữa.
Phi Nga nhìn ông Châu, trong khi Dũng nói:
-   Thưa ông, còn việc gi nữa?
-   Nhà tôi coi bộ không còn đòi đi học nữa.
Phi Nga nói:
-   Bà nói với tôi là nghỉ hè bà sẽ đi học vẽ.
Ông Châu cười:
-   Bây giờ bà ấy mãn nguyện rồi. Hôm lễ phát thưởng ai cũng khen bà và như thế là đủ rồi, bà đâu còn mặc cảm thua ai nữa mà học? Cô quá khiêm tốn và bà ấy phục cô lắm. Nếu có học vẽ chắc bà ấy đến học với cô.
Dũng vội nói:
-   Nhà tôi đâu biết gì mà dạy.
Ông Châu không bằng lòng:
-   Thầy nói đùa sao? Vẽ được như vậy mà không biết gì à? Nhưng rồi thầy xem, nhà tôi không đi học vẽ nữa đâu. Bà ấy tưởng đâu mình giỏi lắm rồi. Bà đâu có nghĩ mọi sự trang hoàng sân khấu là do công cô Phi Nga.
Phi Nga khiêm tốn:
-   Nhưng bà cùng đã chịu khó giúp tôi cả tuần, dù không làm gì đi nữa thì bà cũng đã mất bảy ngày ròng rã.
Ông Châu công nhận:
-   Kể ra cũng đáng khen. Bảy ngày không gầy sòng. Đàn bà đến khi tự ái và giữ thể diện thì không ai còn biết họ đi đến đâu. Dù sao thì cô Phi Nga cũng đã giúp tôi hai việc rất lớn. Nhà tôi đi Sài Gòn rồi, đi sắm đồ đạc và bà ấy hứa khi về thế nào cũng có quà cho cô.
Dũng và Phi Nga đều nói:
-   Chúng tôi giúp ông hiệu trưởng có chút việc mà ông đến cảm ơn hai lần, chúng tôi ái ngại quá.
-   Mấy ông giáo trong trường đều phục cô Phi Nga. Nếu cô có thể xếp đặt thì giờ để học vẽ như ông Malê đã khuyên thì thế nào cô cũng nổi tiếng.
Phi Nga nói:
-   Tôi đợi cháu lớn đã. Còn nhiều thì giờ, ông ạ.
Hai hôm sau, bà Châu đến thăm Phi Nga, tặng Phi Nga một xấp hàng may áo dài và tâm sự với nàng:
-   Tôi có đi hỏi để học vẽ. Ông họa sĩ người Hoa mà tôi nói với cô đó đã lớn tuổi rồi, ông ta vẽ nhiều bức tranh lụa và sơn dầu đẹp lắm. Nhưng ông ấy đòi mắc tiền quá. Học sáu tháng cũng phải đóng tiền cả năm, ông ấy bảo không ai học sáu tháng mà thành tài được. Ông ta có nhiều môn đệ, nhưng người nào cũng còn trẻ, không ai bằng tuổi tôi, nên tôi còn ái ngại. Một năm phải trả tới mười hai nghìn đồng.
Ngừng một lát bà Châu nói tiếp:
-   Mười hai nghìn tôi lo cũng nổi, nhưng cha mẹ tôi cứ theo ngăn cản, bảo lớn rồi mà còn đi học làm gì. Nhà tôi thì không ngăn cản, nhưng coi bộ ông ấy không thích lắm. Đàn ông nào cũng như thế hết, cô ạ. Họ không muốn cho mình nổi tiếng đâu. Họ chỉ muốn mình cho họ những bữa cơm ngon. Ai chớ tôi thì đừng hòng chuyện đó. Cần ăn thì có bếp, giữ con đã có vú em. Tôi rảnh thì đi học này nọ cho biết với thiên hạ. Người ta biết mà mình không biết tức là thua họ rồi, mà tôi thì không muốn thua ai hết.
-   Làm sao hơn thiên hạ được mọi mặt, thưa bà? Có cái hơn thì cũng phải có cái thua. Ai có phần nấy, nếu mình muốn theo kịp mọi người thì học suốt đời cũng không có đủ thì giờ. Hơn nữa, việc gì cũng thế, quí ở chỗ dùng. Học cho biết để rồi không bao giờ dùng đến thì có biết nhiều cũng như không.
Phi Nga nói một hồi, bỗng nhớ bà Châu vốn hiếu thắng, mình lý luận với bà ấy không lợi, nên nói:
-   Tôi nghĩ như vậy, nhưng bà là người đã sống nhiều, bề gì cũng có nhiều kinh nghiệm hơn tôi. Bà muốn học một môn nào chắc bà đã cân nhắc kỹ.
-   Tôi nghĩ kỹ lắm chớ. Nhưng lần này về việc học vẽ, không hiểu tại sao tôi do dự quá. Có lẽ tại ông Trần Phong, ông ta gặp tôi hỏi nhiều điều khiến tôi bắt ngượng.
-   Ông ấy hỏi bà những gì, chắc cũng trong vấn đề vẽ thôi chớ?
-   Ông ấy hỏi tôi vẽ được bao nhiêu bức tranh rồi? Vẽ trên lụa, vẽ dầu hay vẽ trang trí. Ông hỏi nhiều lắm nhưng tôi biết gì mà trả lời. Và khi nghe tôi nói là chưa vẽ được bức tranh nào thì ông ấy cười một cách mỉa mai khiến tôi xấu hổ với các học sinh của ông ấy. Ông nói: Cô chưa biết vẽ thì đừng đến vô ích, tôi là thầy của các họa sĩ.
Bà Châu nói tiếp:
-   Hay là cô cùng đi học với tôi, cô Phi Nga?
-   Lúc này tôi chưa đi học được.
-   Ông Trần Phong có nhiều môn đệ, nhưng người nào cũng còn trẻ, không có ai bằng tuổi tôi hết. Cô bận con nhỏ, tiếc quá. Lại nữa, chắc gì thầy Dũng đã cho cô lên Sài Gòn học xa thầy, vợ chồng mới cưới mà.
-   Tôi chưa đi học lúc này, vì tôi có một người quen rất thạo về hội họa, nếu cần học thêm thì sẽ đến học với người ấy.
Phi Nga định nói vậy để bà Châu đừng rủ mình đi học với ông Trần Phong, nhưng bà Châu cứ hỏi lần tới khiến Phi Nga phải nghĩ đến Giang, bạn của Đình.
Từ ngày có chồng đến giờ, Phi Nga không hề gặp lại Đình, vì thế nàng không biết hiện giờ Giang ở đâu. Mấy năm trước, Phi Nga có nghe Đình nói là Giang sắp đi Rome, kinh đô của nghệ thuật, để tìm thầy học thêm về điêu khắc, không biết nay đã về chưa. Bị bà Châu hỏi tới về người quen rất rành về hội họa ấy, Phi Nga đành nói:
-   Người quen tôi đi học ở Rome chưa về.
-   Thế à? Thảo nào mà bây giờ cô chịu ngồi yên một chỗ để ẵm con. Có vậy chớ, lẽ nào một người tài như cô mà không hề nuôi mộng trở thành họa sĩ.
Phi Nga chỉ mỉm cười. Bà Châu ham muốn một việc gì là vì tự ái, sự ham muốn ấy bộc phát nhưng rồi cũng bộc tàn, chớ còn Phi Nga thì khác.
Trước khi ra về, bà Châu còn hỏi Phi Nga:
-   Theo ý cô, tôi có nên lên học với ông Trần Phong không? Tôi cứ nói đại với ông là tôi vẽ được nhiều tranh rồi, chắc ông không bắt tôi mang lên cho ông xem đâu.
-   Ông Trần Phong không nhận thì bà tìm họa sĩ khác mà học. Có tiền thì học với ai không được, đợi gì phải học với ông ấy?
Bà Châu khen:
-   Cô nói phải. Ông ấy làm như ngoài ông ấy ra không còn ai biết dạy vẽ. Cô Phi Nga nè, tôi thấy mấy bức tranh của ông ấy không có gì đặc sắc, còn thua những bức tranh của cô là khác.
Phi Nga cười:
-   Tranh của tôi thì ăn thua gì!
-   Không ăn thua sao ông Malê lại chịu mua? Mà mua bạc vạn chớ ít sao? Nhà tôi bảo có những bức bán với giá cả triệu nữa, cô ạ. Tranh của ông Trần Phong để giá năm trăm nghìn, bức nào rẻ lắm là năm chục nghìn. Ai dư tiền mà mua những bức tranh ấy cô nhỉ?
Ra đến cổng bà Châu còn nói:
-   Bao giờ đi học tôi sẽ nói cho cô biết.
Phi Nga không ngờ vì câu chuyện với bà Châu hôm ấy mà giữa nàng và Dũng có sự cãi cọ nhau suốt mấy ngày.
Một hôm Dũng đi thăm vài người bạn, khi về có vẻ không vui. Phi Nga đưa bé Hoàng cho Dũng ẵm thì Dũng nói:
-   Anh không được khỏe. Ẵm nó, nó nhảy mệt lắm.
-   Anh đi đâu về mà anh không được khỏe?
Dũng nói cộc lốc:
-   Không được khỏe nên đi một vòng cho vui, té ra không có gì vui mà còn bực mình nữa.
-   Bực mình vì lẽ gì? Ai đã làm anh bực mình?
Dũng cau mày:
-   Có gì mà em phải hỏi lôi thôi như vậy? Hãy để yên cho anh.
Phi Nga đặt bé Hoàng vào nôi và đi dọn cơm. Lúc ngồi vào bàn ăn, nàng vẫn giữ giọng nhẹ nhàng:
-   Anh đến thăm ông Châu?
-   Anh đến để đáp lễ, ông ấy đến thăm chúng ta mấy lần rồi.
-   Ông ấy nói chuyện gì mà anh không được vui? Ông ấy tính lấy lại nhà à?
-   Chuyện nhà cửa ông ấy nói dứt khoát rồi, em biết mà.
-   Vậy thì chuyện gì? Có phải ông Châu khuyên anh cho em đi học vẽ với bà Châu không?
Dũng càu nhàu:
-   Việc ấy can gì đến ông Châu? Học hay không là quyền của em. Đến anh đây còn không có quyền gì trong việc riêng của em, nữa là ông Châu.
Nghe Dũng nói thế, Phi Nga chỉ cười:
-   Hôm nay anh nói năng buồn cười thật! Đã là vợ chồng thì không có chuyện quyền của người này, người kia. Làm việc gì chúng ta cũng bàn với nhau cả mà.
Ngừng một lát, Phi Nga nói bằng một giọng cứng rắn:
-   Nếu anh có chuyện gì bất bình em thì cứ nói cho em biết, đừng để trong lòng... Hay có ai dèm pha, nói xấu em với anh? Nếu anh ôm lấy một mình rồi hiểu lầm em thì anh có khổ cũng ráng mà chịu.
Dũng nói, nhấn mạnh từng tiếng:
-   Anh có khổ cũng ráng mà chịu... Đúng rồi, anh có bắt em phải khổ với anh đâu...
Phi Nga nghe nói thế tức lắm, nhưng chỉ nói:
-   Anh không muốn nói thì thôi.
Sau bữa cơm, Dũng bỏ đi ngủ. Phi Nga dọn dẹp xong rồi dỗ cho bé Hoàng ngủ và ngồi bên giường của bé Hoàng đọc sách. Dũng thấy mình giận hờn như thế có phần vô lý mà Phi Nga cũng không tỏ gì là khó chịu, nên chờ nàng vào ngủ để làm lành. Nhưng khi nàng vào thì Dũng đã ngủ ngon từ bao giờ...
Sáng ra, Dũng vẫn còn cau có vì thái độ tự nhiên của Phi Nga. Dũng nghĩ:
-   Phi Nga làm như không hề xảy ra việc gì...
Phi Nga pha cà phê sữa, lấy bánh mì nướng sắp vào dĩa và hỏi:
-   Còn mệt hết? Đêm qua anh ngủ ngon quá.
Dũng bẽn lẽn:
-   Em không giận anh sao?
-   Việc gì mà giận? Người đàn ông thường có những lúc cau có vô lý như thế.
-   Sao em biết rõ tâm lý đàn ông như vậy?
Nhận thấy đôi mắt soi mói của Dũng, Phi Nga đoán hiểu được cơn sóng gió trong lòng Dũng, liền nói:
-   Ủa, sao hôm nay anh lại có cái giọng ấy? Anh thấy em quen với bao nhiêu người đàn ông? Cấm anh không được thốt những lời nói úp mở ẩn ý nghi ngờ như thế.
Phi Nga nói lớn tiếng. Dũng nhìn nàng, thấy nét mặt tức giận của nàng thì không dằn được:
-   Thế em có quen với Đình không? Mấy lâu nay anh không nghe em nói về Đình, nhưng bây giờ thì anh hiểu vì lẽ gì mà em không nói đến người ấy.
-   Vì lẽ gì?
Phi Nga hét lên, Dũng cũng hét lại:
-   Sao lại la lớn lên như vậy?
-   Anh cũng la lối om sòm thì sao? Đâu, anh muốn nói gì thì cứ nói huỵch tẹt ra đi, đừng úp mở nữa. Tôi tuy là đàn bà, nhưng không phải thứ đàn bà muốn không nói có, muốn có nói không. Anh hiểu tôi quá mà.
Dũng bỗng thấy hối hận vì sự tức giận vô lý của mình, nên vội vàng nói:
-   Không có chuyện gì úp mở hết... Tại em bảo em không quen với ai là đàn ông ngoài anh, nên anh bỗng nhớ đến anh Đình.
Phi Nga không chịu thua, hỏi cho ra lẽ:
-   Em quen với anh Đình thì đã sao? Trước đây, em không từng nói anh biết về việc ấy sao? Nhưng em không hề yêu anh ấy, nếu em yêu anh Đình thì ai ngăn cấm em nhận lời làm vợ anh ấy chứ? Anh còn lạ gì chuyện ấy nữa. Nói ra, anh đừng giận, anh Đình là một sinh viên gần đậu bác sĩ, nhà anh ấy lại giàu, tánh tình dễ chịu mà tướng mạo cũng khá khôi ngô, tuấn tú...
Dũng sững sờ ngồi nhìn Phi Nga, và bỗng có mặc cảm mình thua Đình về mọi phương diện... Phi Nga không để cho Dũng hiểu lầm, nên nói tiếp:
-   Anh Đình lại còn ngỏ lời với em trước chớ không phải im lặng, lạnh lùng như anh. Vậy thì nếu em thích anh Đình, em đã nhận lời rồi, đàng này em trả lời ngay với anh ấy là em không thể làm một người vợ như ý của anh ấy được. Trả lời dứt khoát với anh Đình để rồi tự em phải ngỏ ý với anh về chuyện lập gia đình. Như vậy mà anh còn nghi ngờ gì nữa?
Dũng lúng túng:
-   Thôi, anh xin nhận lỗi.
Phi Nga gạt ngang:
-   Anh đừng nói cái giọng ấy, em không chịu được đâu. Anh đừng tưởng cứ nói bậy cho sướng cái miệng, cho đã cơn giận rồi nhận lỗi là yên chuyện. Với em không dễ dàng như vậy đâu.
Dũng cười làm lành:
-   Chớ em bắt anh phải làm sao bây giờ?
-   Anh phải nói cho em biết vì lẽ gì hôm nay anh lại khoác bộ mặt khó chịu ấy khi ở nhà ông Châu về. Ai đã nói với anh về chuyện gì? Nếu anh không nói rõ cho em biết thì em không bao giờ tha thứ cho anh.
-   Không tha thứ thì em làm gì?
Phi Nga đắn đo một lát rồi nói:
-   Em sẽ bồng bé Hoàng lên Sài Gòn học vẽ.
Dũng cười lạt:
-   Tưởng em phạt anh cách gì chớ phạt cách đó thì anh càng vui.
-   Có thật anh vui không?
Dũng làm thinh. Phi Nga hỏi thêm lần nữa:
-   Có thật anh vui không? Hãy thành thật đi...
Dũng khó chịu:
-   Em bắt buộc anh phải nói thật. Thì đây anh xin nói, em nói phải đó, không nên để có sự hiểu lầm giữa chúng ta. Em thẳng thắn như vậy thì tại sao anh lại không thẳng thắn. Nhưng nghe xong, nếu anh nghe lầm hay hiểu lầm thì em cũng đừng giận anh nữa.
Phi Nga dịu giọng:
-   Anh cứ nói, em không giận đâu. Em chỉ muốn biết vì lẽ gì mà hôm nay anh lại có giọng nói ghen tương ấy. Từ trước đến giơ anh không bao giờ có kia mà.
Dũng hỏi:
-   Em vẫn nuôi cái ý định đi học vẽ?
-   Em có bảo là em bỏ cái ý định ấy đâu? Rồi sao nữa?
Dũng thở dài:
-   Tại anh hiểu lầm... Thì ra em vẫn nuôi cái ý định học vẽ. Bây giờ anh mới hiểu. Không phải em không nghe lời khuyên của ông Malê. Em không tìm thầy học thêm vì em đang đợi một người bạn đang học ở ngoại quốc... Đâu phải tại em bận con nhỏ, đâu phải em muốn sống hoàn toàn cho con và cho anh.
Phi Nga nhìn Dũng không nháy mắt. Vẻ mặt Dũng hơi buồn, đôi môi mím lại. Đợi Dũng nói xong, Phi Nga liền nói:
-   Thôi, em hiểu rồi. Có phải bà Châu đã nói với anh như thế không? Ừ, thì cứ nói rõ cho em nghe để em giảng giải cho anh hiểu có phải là hay hơn không? Bà Châu làm sao hiểu em được, với bà ấy mà em gây được cảm tình là quá nhiều rồi, còn muốn cho bà hiểu nữa, em không đủ sức. Bà ta định đi học vẽ với họa sĩ Trần Phong, nhưng ông ấy đòi nhiều tiền, lại không chịu nhận bà vì bà chưa biết vẽ, chưa có một bức tranh nào. Vì thế bà Châu mới rủ em cùng đi học với bà, em từ chối nhiều lần nhưng bà cứ đi theo thuyết mãi, em bực quá. Rồi bà còn dèm pha, bảo tại anh ngăn cản không cho em đi học vẽ, nào là anh ích kỷ chỉ muốn em lo cho anh... Không muốn bà nói mãi, em liền bảo là em có một người quen hiện đang học ở Rome, bao giờ người ấy về nước thì sẽ dạy em. Lúc đầu em nói là để bà Châu không còn phá rầy em nữa, nhưng bà ấy cứ hỏi phăng tới. Khiến em phải nhớ đến anh Giang, anh ấy hiện đang học ở Rome thật đấy. Anh biết anh Giang chớ, anh ấy là bạn anh Đình, cả hai học chung một trường từ nhỏ, và cùng đậu tú tài rồi anh Đình thi vào trường thuốc, anh Giang thi vào trường Mỹ thuật. Anh Giang được học bổng đi ngoại quốc. Em chỉ quen anh Đình, nhưng anh Giang là bạn thân của anh Đình nên nhiều lần anh Đình đưa anh Giang lại chơi. Anh Giang có vợ rồi. Trước đây em cũng đã nói anh biết là Đình có hỏi mua hai tấm tranh của em để tặng anh Giang, trước khi anh ấy đi ngoại quốc, nhưng em không chịu bán... Từ ngày nhận lời anh đến giờ, em không còn gặp lại anh Đình nữa, và không có tin tức gì về anh Giang. Em nói với bà Châu như thế đó. Em tưởng đâu anh hiểu em, không ngờ anh lại nghi ngờ một cách vô lý quá.
-   Nhưng nếu anh Giang về đây thì em cũng có thể học vẽ với anh ấy, anh đâu có ngăn cản em.
Phi Nga nói, giọng vẫn còn tức giận:
-   Em muốn học thì học với ai cũng được và học lúc nào cũng không sao, nhưng lúc này em chưa định học, không phải chờ anh Giang mà là chờ khi nào em có hứng thú cầm cọ trở lại. Anh còn thắc mắc gì nữa không? Hãy nói đi cho em giải thích luôn thể.
Dũng lắc đầu
-   Thôi, anh hiểu rồi. Nhưng bây giờ bà Châu cũng sẽ đợi anh Giang về rồi cùng học với em luôn.
-   Bà ấy muốn nói gì thì nói. Hơi đâu mà nghe... Bà ấy tưởng vẽ tranh cũng dễ dàng như làm bánh, làm mứt và làm theo một hình thức, một kiểu mẫu có sẵn, bao nhiêu bột, bao nhiêu đường, ai cũng làm như thế, không đòi hỏi sự thông minh, sáng tạo. Còn vẽ tranh, tay làm việc, nhưng đầu óc là phần quan trọng để thực hiện thành bức tranh. Có màu, có dụng cụ đầy đủ, nhưng đâu phải là chép lại một bức vẽ của kẻ khác. Bà Châu thấy em chỉ cách cho bà tô màu những hàng chữ kẻ trên vải để treo trong buổi lễ phát phần thưởng, là tự hào mình biết vẽ. Em cứ để bà ta ba hoa cho vui, rồi bà in trí là bà đã trở thành một họa sĩ vì ai cũng khen bà. Hạng người như bà Châu ở xã hội này thiếu gì. Nhưng anh đã nghe ông Châu nói rồi chứ. Bà ấy đâu còn tranh hơn thua với ai đâu mà học vẽ nữa. Em sẵn lòng tránh trong bóng tối, cho bà chường mặt lên sân khấu tự khoe khoang đã mất suốt bảy ngày để trang hoàng cho buổi lễ kia mà. Giá em làm mặt bảnh không nhường bà Châu phần vinh dự ấy, thì ngày nay bà đã nhảy lên Sài Gòn học rồi, không học được với ông Trần Phong thì học với anh thợ vẽ quảng cáo hay anh chàng chuyên vẽ hình tiểu thuyết kiếm hiệp cũng không sao, miễn sao có tiếng đi học và biết sử dụng cây cọ và hộp màu là được rồi!
Đây là lần đầu tiên Dũng nghe vợ nói với cái giọng kiêu căng ngấm ngầm ấy. Dũng nghĩ:
-   Hạng người có tài phần đông ít khi khiêm tốn, ngày hôm nay ta mới hiểu rõ Phi Nga. Phi Nga phách nhưng là phách ngầm. Nhưng tại sao nàng lại chịu đựng được thái độ của bà Châu? Có phải tại nàng khinh bà Châu không? Hay là nàng nể bà Châu vì ta, vì không muốn mất ngôi nhà này?
-   Anh hiểu rồi, thôi em đừng phiền anh nữa.
Phi Nga biết Dũng vẫn chưa yên lòng về chuyện này, mà Dũng chưa yên lòng thì gia đình làm sao yên vui như những ngày đã qua. Phi Nga vẫn nói:
-   Anh thật chưa hiểu em. Anh vừa bảo là anh đã hiểu rồi chỉ là miễn cưỡng để tránh sự cãi cọ mà thôi. Anh cứ nhìn ngôi nhà của chúng ta, cứ nhìn bé Hoàng, cứ xem xét từng cử chỉ, từng việc làm của em cũng biểu hiện giờ em đang sống cho ai, em có luyến tiếc chuyện vẽ tranh, có đặt nặng vấn đề đi học vẽ để trở thành một họa sĩ không? Anh không cần nghe lời ai hết, nhất là nghe lời bà Châu lại càng không nên.
Sau khi có sự cãi cọ ấy, Phi Nga trở nên buồn bã. Nàng làm lụng suốt ngày để quên sự bực mình, nhưng vẫn không thể dùng hết thì giờ. Nàng đùa giỡn với bé Hoàng suốt ngày. Vì là nghỉ hè, nên Dũng ở nhà không đi dạy, hai vợ chồng ra vô gặp nhau luôn, Dũng thấy Phi Nga không được vui thì biết Phi Nga còn giận mình về chuyện hôm nọ, nhưng Dũng không muốn nhắc tới nữa, Dũng bàn với Phi Nga nên đưa con về thăm cha mẹ chồng và ở lại đó vài tuần, nhưng Phi Nga nói:
-   Về bên cha mẹ, nhà cửa chật chội, không thể ở lâu được. Tốt hơn anh về thăm cha mẹ và nếu anh muốn ở chơi vài hôm thì cứ ở, bao giờ con lớn rồi chúng ta sẽ mang nó về thăm ông bà.
Thế là Dũng đi một mình. Dũng nghĩ chàng đi vắng một tuần, khi trở về, Phi Nga sẽ không còn phiền trách về chuyện cũ nữa. Còn Phi Nga thì nghĩ:
-   Để cho Dũng sống xa ta vài ngày thì chàng mới coi cái tổ ấm này rất cần thiết cho chàng.
Phi Nga thu xếp đồ đạc cho Dũng lên đường về quê thăm cha mẹ. Còn mấy hộp bánh mà bà Quỳnh cho nàng trước đây, nàng cũng gói lại gởi về cho cha mẹ chồng. Khi Dũng đi rồi, Phi Nga cảm thấy dễ chịu lắm. Nàng làm những bữa cơm đơn giản hơn để có thì giờ suy nghĩ hay bồng bé Hoàng đi dạo ngoài vườn.
Phi Nga tự nhủ:
-   Người ta bảo vợ chồng cần có những lúc sống xa nhau đôi ngày để tìm thấy sự yên tĩnh của tâm hồn và sống với bản ngã của mình.
Trưa hôm ấy, dùng cơm qua loa, Phi Nga cho bé Hoàng ngủ, rồi đi ra xưởng vẽ... Đã mấy tháng nàng không đặt chân ra đây, ngoài cái hôm đưa bà Châu vào xem mấy bức tranh. Thấy bụi bặm đóng đầy, Phi Nga lấy chổi quét dọn, lau chùi, rồi ngồi ngắm tranh. Tâm hồn của nàng lúc ấy gởi về bà Quỳnh, cậu Paul và ông Malê.
-   Lâu quá ta không nhận được tin tức gì của ông Malê cả. Còn bà Quỳnh và cậu Paul sao ở mãi trên Đà Lạt như thế.
Bỗng Phi Nga có ý muốn vẽ chân dung của Dũng.
-   Tại sao ta không vẽ? Ta hứa với Dũng sẽ vẽ hình của Dũng kia mà.
Thế là Phi Nga say mê bắt tay vào việc. Nàng họa những nét chính, ngắm nghía một lúc, rất hài lòng:
-   Dũng như thế đó, ngày mai bức vẽ sẽ hoàn thành.
Phi Nga quên cả thời gian, chỉ biết có tấm giấy trước mặt. Bỗng nàng nghe có tiếng gọi ngoài cổng inh ỏi:
-   Chị Nga đâu rồi? Sao chị để cháu khóc ầm lên như vậy?
Phi Nga như người rớt từ cung trăng xuống, chợt nhớ ra nàng còn bị ràng buộc với cái thực tế là Dũng, là bé Hoàng. Hai tay còn lấm mực đen, Phi Nga vội vàng chạy vào bồng bé Hoàng:
-   Mẹ ham vẽ quên cả con. Ôi chao. Mẹ xin, đừng khóc nữa.
Một tràng cười nổi lên từ bên ngoài cửa, Phi Nga bồng con đi ra:
-   Ai đó?
Phi Anh xuất hiện, cười to:
-   Em đây chứ ai. Nếu em không đến thì chắc bé Hoàng khóc khan cả tiếng. Chị vẽ tranh à? Thế anh Dũng đâu rồi? Anh ấy nghỉ hè sao không trông con cho chị vẽ?
Phi Nga ngồi xuống cho con bú, rồi chỉ chiếc ghế cho Phi Anh:
-   Anh Dũng về thăm cha mẹ rồi.
Phi Anh mừng rỡ:
-   Anh ấy đi được mấy hôm rồi?
-   Mới đi sáng nay. Anh ấy bảo đi độ một tuần.
Phi Anh tiếc rẻ:
-   Em mà hay việc này thì rủ Phi Yến qua ở đây với chị cho vui.
-   Thì hôm nay em ở lại đây với chị.
-   Em không thưa trước cha mẹ biết. Chị vẽ cái gì ngoài ấy?
Phi Anh chạy qua xưởng, một lát sau trở về nói:
-   Chị vẽ anh Dũng à? Anh ấy đi vắng làm sao chị vẽ giống được?
Phi Nga mỉm cười:
-   Chị quen anh ấy cả chục năm, lẽ nào không thuộc làu từng nét mặt? Nhưng thế nào, em thấy chị vẽ anh có giống không?
Phi Anh do dự rồi nói:
-   Em nói chị đừng giận nhé. Sao trông anh ấy... bư quá.
-   Bư quá nghĩa là thế nào?
Phi Anh nói không thương xót:
-   Là tầm thường, không thông minh chút nào.
Phi Nga cúi xuống nhìn bé Hoàng, đổi tay cho thằng bé bú tiếp và nói:
-   Từ trước đến giờ em cứ chê anh Dũng tầm thường...
Phi Anh sợ chị buồn, nói sang chuyện khác:
-   Từ hôm đẻ cháu Hoàng, bây giờ chị mới lại cầm bút? Tại sao chị đợi anh Dũng đi chị mới làm việc?
-   Anh Dũng ở nhà thì chị phải lo cho anh ấy. Chỉ có thế mà em cũng thắc mắc.
Cho bé Hoàng bú no rồi, Phi Nga trao nó cho Phi Anh:
-   Em ẵm cháu để chị đi tìm cái gì hai chị em mình ăn cho vui.
Phi Anh nghe chị nói mới sực nhớ cái giỏ ở ngoài hè:
-   Mẹ gởi quà cho chị đó. Chuối khô, kẹo chuối, bánh phồng... Mẹ cặm cụi làm mất mấy ngày đó. Ba nhắc chừng tụi em đi thăm chị, ba bảo chị có chồng có con rồi quên cả cha mẹ.
-   Làm sao quên được.
Phi Nga soạn những cái gói trong chiếc giỏ mây ra, đặt lên bàn:
-   Bây giờ đi pha trà uống với những thứ này thì thích lắm. Chị cũng còn nhiều thứ bánh ngọt.
Một lát sau, hai chị em ngồi trước mâm trà. Phi Anh ngần ngừ một chút rồi nói:
-   Em đến nhờ chị một việc.
-   Việc gì?
-   Chị đưa cháu về thăm ba mẹ và xin ba mẹ cho em đi học đánh máy, kế toán để đi làm.
-   Anh Dũng đi vắng, chị phải chờ anh Dũng về.
-   Tại sao lại phải chờ? Anh đi vắng, chị về thăm mẹ thì đã sao? Chị đi sáng thì chiều về rồi.
Phi Nga lắc đầu:
-   Chị không muốn thế. Nhưng tại sao em lại muốn đi học? Chị nghe nói có ai muốn đi hỏi em kia mà.
Phi Anh cười:
-   Em chưa muốn có chồng lúc này. Em không giống chị, bao giờ em ba mươi tuổi, em mới nghĩ đến chuyện lập gia đình. Nhưng chưa lập gia đình lúc này thì phải tìm một việc gì để làm chứ không thể ở nhà ra vô mãi được, buồn lắm. Về việc hôn nhân, em không quan niệm như chị. Em thấy chị chưa biết yêu, chưa biết sống.
Phi Nga nhìn em không khỏi ngạc nhiên:
-   Chị chưa biết yêu, chưa biết sống?
-   Chị kết hôn với anh Dũng không phải vì ái tình thúc đẩy, chị cần một mái nhà để sống theo ý muốn, nhưng chị quên rằng làm thế là chị lệ thuộc vào một người khác. Rồi đây chị sẽ ăn năn về sự lựa chọn này. Người như chị không thế có một người chồng như anh Dũng.
Nói đến đây như nhớ ra điều gì, Phi Anh nói:
-   Cách đây mấy hôm, em có gặp anh Đình.
-   Thế à?
-   Anh Đình có hỏi thăm chị. Nghe em nói chị đã có cháu trai, anh ấy có vẻ buồn.
-   Đáng lẽ anh ấy nên mừng cho chị. Nếu chị kết hôn với anh Đình thì cả chị và anh ấy đều khổ.
-   Tại sao vậy?
-   Tại anh Đình không hiểu chị. Anh Dũng hiểu chị hơn.
Phi Anh hỏi vặn lại:
-   Có thật anh Dũng hiểu chị không?
Phi Nga cúi đầu trước câu hỏi của em. Sự thật Dũng cũng không thể hiểu Phi Nga. Phi Anh nói tiếp:
-   Anh ấy cưới chị vì thấy chị mến anh hơn những người bạn trai khác, anh ấy hãnh diện chiếm được tình cảm của chị. Bây giờ thì anh ấy còn vui mừng vì được một cái gì ngoài sự mong muốn của mình. Nhưng lần lần anh ấy sẽ nhận ra mình không đủ sức, đủ tài để giữ được cái hạnh phúc ấy.
Phi Nga nhìn em, không ngờ Phi Anh suy nghĩ được như vậy. Phi Anh nói tiếp:
-   Anh Dũng yếu đuối nên không dám nói thật cho chị hiểu sự lo nghĩ của anh. Cái này mới là điều tai hại. Anh Đình sắp ra trường, một bác sĩ trong tương lai.
-   Chị biết chị không thể tạo hạnh phúc cho anh Đình.
-   Thế chị nghĩ chị có thể tạo hạnh phúc cho anh Dũng sao? Sống với anh ấy, chị chỉ sống có một phân nửa.
Uống trà xong, Phi Anh ra về:
-   Em tưởng đến đây rủ chị về chơi được. Chị không về thì em còn ở lại làm gì. Bao giờ anh Dũng về, em lại đến thăm chị, chị hứa sẽ giúp em chị nhé.
Phi Anh đi rồi, Phi Nga tự hỏi:
-   Có thật ta chỉ mới sống có một phân nửa không? Phi Anh bảo ta chưa biết yêu, chưa biết sống. Chớ thế nào mới là yêu? Không yêu mà ta có thể quên tất cả vì Dũng.
Những lời của Phi Anh còn văng vẳng bên tai, Phi Nga lại nghĩ:
-   Có thật ta chưa biết sống không? Chưa biết sống cho tình yêu hay chưa biết sống cho ta?
Ngày hôm sau, Phi Nga vừa vẽ xong bức hình của Dũng thì Dũng về tới, vẻ mệt nhọc bơ phờ. Vừa bước vô cửa, Dũng đã liệng cái cặp trên bàn và chạy lại ôm lấy bé Hoàng hôn lên đầu lên mặt nó:
-   Nhớ con quá phải bò về.
Bé Hoàng đang ngủ, bị ẵm xốc dậy, ngơ ngác nhìn Dũng, nhưng rồi cũng nhoẻn miệng cười và đưa tay sờ mặt Dũng.
Không chút thẹn thùng, Dũng nói với vợ:
-   Tưởng về được một tuần, ai ngờ mới ngủ một đêm đã thấy bực bội, chịu không được. Có đi xa nhà mới thấy cái tổ ấm của mình êm đềm như thế nào. Em tha lỗi cho anh và cũng đừng cười anh, không có em và con chắc anh không còn thiết gì nữa. Em đã lo cho anh đầy đủ và chu đáo quá. Chưa ai lo cho anh được như thế. Tại sao anh lại hiểu lầm, lại quá ích kỷ để em phiền anh. Thôi, hãy quên chuyện đáng tiếc ấy đi em nhé...
Dũng còn nói nhiều lắm, nhưng Phi Nga chỉ mỉm cười mà không nói gì, đứng yên nghe chồng phân trần. Dũng trao con lại cho vợ:
-   Anh đi tắm đã. À, mẹ có gởi mấy gói bột cho em làm bánh... Mẹ chỉ có những món quà ấy, vì ở nhà quê có được quày chuối, dăm trái dừa khô, vài chục quả trứng là đem ra chợ bán, lấy tiền mua thứ khác.
Phi Nga nói:
-   Mẹ em cũng vừa gởi chuối cho anh đây. Tha hồ mà ăn...
Dũng sung sướng đi qua đi lại khắp nhà như vừa đi vắng lâu lắm mới về. Phi Nga nhìn chàng, lòng bỗng vui vẻ, quên tất cả chuyện bực mình.
Lúc ngồi vào bàn ăn, Phi Nga nói:
-   Anh ăn tạm vậy, tưởng anh còn ở bên nhà, nên em không mua thức ăn.
Dũng nhìn đĩa chả trứng và tô canh tôm khô nấu với bún tàu:
-   Ăn thế này còn sướng chán, về nhà, mẹ chỉ cho anh ăn cá lóc kho. Một con cá kho ăn hai ngày. Hâm đi hâm lại mà ba vẫn thấy ngon.
Dũng vừa ăn vừa nhìn vợ, cố ý tìm thử Phi Nga có còn giận chàng không nhưng Phi Nga vẫn nói cười luôn miệng, nàng chỉ không nói cho Dũng biết là nàng đã vẽ xong bức hình của Dũng và còn để bên xưởng. Có lẽ Dũng yên trí là Phi Nga không làm việc gì khác ngoài chuyện săn sóc bé Hoàng trong lúc Dũng đi vắng.
Phi Nga nói:
-   Anh đi vắng chớ không em đã theo Phi Anh về thăm cha mẹ rồi.
-   Tại sao em không đi?
-   Tại... anh đi vắng.
Nói xong Phi Nga cười:
-   Phi Anh muốn đi học, nhưng ba không cho, nên Phi Anh đến đây nhờ em nói giúp.
-   Cô ấy định học môn gì?
-   Học đánh máy, kế toán để đi làm.
Dũng ngạc nhiên:
-   Phi Anh muốn đi làm à? Trước đây em có nghĩ như Phi Anh không?
Phi Nga lắc đầu. Dũng mỉm cười hài lòng:
-   Nhưng em thì cần gì phải đi làm, với tài vẽ của em, em dư sức kiếm được tiền, nếu muốn.
-   Nếu em muốn...
Phi Nga lặp lại câu ấy rồi tiếp:
-   Nhưng bây giờ thì em chưa muốn.
Tối lại, Dũng tâm sự với Phi Nga:
-   Nguy quá em ạ, chắc từ nay không có em thì anh không sao sống được. Em đã tập cho anh quen cuộc sống nhàn hạ này rồi. Xa con, anh nhớ nó quá. Không biết giữa anh và em, ai yêu thằng bé nhiều hơn ai?
-   Có lẽ anh yêu nó nhiều hơn em.
-   Em săn sóc cho con nhiều. Anh không làm được những việc ấy. Như thế làm sao mà bảo anh yêu con nhiều hơn em được...
Nhân dịp nghỉ hè, Phi Nga muốn nhắc Dũng về chuyện ghi tên học thêm ở một lớp hàm thụ, nhưng thấy Dũng không đề cập đến chuyện ấy từ ngày có bé Hoàng, nên Phi Nga phải đợi Dũng khơi ra trước, Phi Nga không hiểu rồi đây Dũng sẽ dùng thì giờ vào việc gì để khỏi phải ngồi không nhìn ra đường hoặc khoanh tay nghĩ vơ vẩn.
Dũng đi ra đi vào, Phi Nga cũng cảm thấy bực bội lây. Phi Nga thì làm lụng suốt ngày, ở không một giờ cũng không chịu được, còn Dũng có thể nằm hai, ba giờ dưới bóng cây, nhìn trời nhìn mây, hay lim dim đôi mắt, giống như một con mèo phơi nắng, không còn biết xung quanh xảy ra những gì.
Mà Dũng có mặt ở nhà thì Phi Nga không thể ra xưởng vẽ, chỉ quanh quẩn bên Dũng và bé Hoàng. Câu chuyện giữa hai người cũng chỉ lấy đầu đề quanh bé Hoàng.
Một tuần sau, Phi Yến lại đến thăm Phi Nga. Khi bước vào vườn thấy Dũng nằm dài trên ghế bố, bên cạnh là bé Hoàng nằm trên xe đẩy, Phi Yến ngừng lại chào chàng:
-   Chị đâu rồi mà anh phải trông chừng cháu?
Dũng mừng rỡ chào cô em vợ:
-   Chị làm bếp. Em qua thăm anh chị và cháu đấy à?
Phi Yến nói:
-   Em qua thăm anh chị. Tuần trước chị Phi Anh có qua nhưng anh đi vắng. Nghỉ hè rảnh sao anh không đưa chị đi chơi? Nằm nhà mãi thế này anh chịu được à?
-   Anh không thích đi đâu hết, anh lười lắm.
-   Thế mấy tháng hè anh làm gì cho hết thì giờ?
-   Anh giữ cháu cho chị làm việc.
-   Chị làm việc gì? Thì cũng làm việc bếp núc, may vá. Những việc ấy mọi khi anh đi làm chị vẫn làm được mà bé Hoàng có sao đâu.
Phi Yến thấy Dũng cau mày liền nói:
-   Xin lỗi anh, em vào gặp chị đã nhé.
Phi Nga đã nghe em nói chuyện với chồng ngoài vườn, nên vừa thấy em, liền trách:
-   Em làm anh Dũng buồn rồi. Một năm mới được mấy tháng hè để anh ấy nghỉ ngơi cho lại sức.
Phi Yến cười:
-   Em có bảo anh ấy phải làm việc đâu. Em muốn anh đưa chị đi chơi mà thôi. Anh Dũng cưới chị gần hai năm rồi mà chưa hề đưa chị đi nghỉ mát. Đi hưởng tuần trăng mật cũng không có, mà đi nghỉ hè cũng không, chán chết được.
Phi Nga vỗ nhẹ vào đôi má phúng phính của em:
-   Nhưng chị không chán thì sao? Ở đây khí hậu tốt như thế này, còn đi đâu làm gì cho mệt. Lại nữa cháu Hoàng còn nhỏ quá, đi đâu cũng phiền lắm.
-   Ở mãi một chỗ chán lắm, thỉnh thoảng phải thay đổi không khí, thay đổi khung cảnh sống thì cuộc đời mới khỏi buồn tẻ.
-   Không hiểu tại sao hai cô em gái của tôi độ rày hay lý luận với tôi về hạnh phúc và ý nghĩa của cuộc đời quá. Lúc chị còn ở nhà, các em không bao giờ đề cập đến chuyện này.
Phi Yến không thấy đó là một lời trách khéo của chị nên nói tiếp:
-   Tại chị đi lấy chồng nên chúng em mới nghĩ về vấn đề ấy. Chị Phi Anh cứ lo là chị không thể tìm thấy hạnh phúc khi đi lấy chồng. Mà nhất là đi lấy anh Dũng.
Phi Nga trỏ tay ra vườn:
-   Đừng quên anh Dũng ở ngoài kia nghe. Anh ấy nghe được lại buồn. Chị yêu anh Dũng, anh Dũng yêu chị. Như thế là có hạnh phúc rồi. Nhưng thôi, đừng nói đến chuyện ấy nữa. Ba mẹ có khỏe không?
Phi Yến nói một cách bất đắc dĩ, vì phải bỏ dở một vấn đề chưa đi sâu vào được:
-   Ba mẹ vẫn khỏe. Mẹ gởi chị mấy gói tôm khô và bột nếp, gì nữa trong giỏ em cũng chả hiểu.
-   Em gái tôi giỏi thật, mang quà cho chị mà không biết trong ấy có gì. Trưa nay ở lại đây dùng cơm với chị.
Phi Yến đi thay áo rồi xuống bếp ngồi chơi với chị. Phi Nga hỏi:
-   Thế nào, ba đã bằng lòng cho Phi Anh đi học chưa?
-   Chị Phi Anh đợi chị về để xin ba việc này. Ở nhà mãi, không biết dùng thì giờ vào việc gì, buồn lắm. Em cũng muốn xin đi học.
Phi Nga nói đùa:
-   Thì hãy bắt chước chị, lập gia đình cho có công chuyện mà làm.
Phi Yến nhún vai:
-   Lúc nãy chị không cho em nói về vấn đề này nữa sao bây giờ chị lại khươi trở lại? Đừng mở máy cho em nói, vì thế nào em cũng bị chị rầy.
-   Lát nữa ăn xong, anh Dũng và bé Hoàng ngủ rồi, chị em chúng ta ra ngoài vườn nói chuyện. Lúc ấy, chị sẵn lòng nghe em lý luận.
-   Được, trưa hãy nói tiếp về chuyện này...
Bỗng Phi Yến hỏi:
-   Chị vẽ xong tấm hình của anh Dũng chưa?
Phi Nga chỉ tay ra vườn, ra dấu cho Phi Yến im:
-   Đừng nói cho anh Dũng nghe. Anh ấy chưa biết chuyện này.
Phi Yến ngạc nhiên:
-   Tại sao chị phải giấu anh ấy?
Phi Nga nói nhỏ vào tai em:
-   Chị muốn dành cho anh ấy một sự ngạc nhiên.
Phi Yến hóm hỉnh:
-   Có thật vậy không? Hay là chị làm việc nhưng không muốn cho anh ấy biết.
Hôm ấy Phi Yến vui vẻ, líu lo như một con chim sơn ca. Phi Nga nhìn em, bỗng nhớ đến thời gian mình còn ở với các em. Lúc bấy giờ các em không bàn luận với nàng tự do như ngày nay. Phi Nga tự hỏi:
-   Tại sao có sự thay đổi ấy? Hay là tại ta lập gia đình với Dũng mà các em ta đã có dịp bàn tán với nhau?
Rồi nàng thở dài, nói với Phi Yến:
-   Thôi, em đi bày bàn dùm chị đi. Xong tất cả rồi. Bày bàn xong thì đi ra vườn mời anh Dũng vào.
-   Đứng đây gọi anh ấy vào không được sao mà phải kiểu cách như vậy? Anh chị là tân học lại cũng trẻ trung cả, học chi cái thói các ông đồ xưa?
-   Vợ chồng phải kính nể nhau, người ta bảo vợ chồng mà lờn mặt nhau thì khó sống đời được. Có em, chị còn phải tỏ ra kính nể anh ấy. Đàn ông họ thích như vậy đó.
-   Và chị bằng lòng với chuyện đóng kịch ấy?
-   Sao lại đóng kịch? Chị kính nể anh ấy thật sự mà.
Phi Yến nhún vai rồi đi bày bàn. Rồi cũng chiều ý chị, Phi Yến đi ra mời Dũng:
-   Chị bảo em mời anh vào dùng cơm. Em đẩy cháu vào anh nhé.
Ngồi vào mâm, Dũng nói cười luôn miệng. Phi Nga thỉnh thoảng nhìn chàng, mỉm cười. Phi Yến ít nói, chỉ trả lời những câu anh chị hỏi. Dũng hỏi vợ:
-   Có phải em yêu Phi Yến hơn Phi Anh không?
Phi Nga trả lời:
-   Em thương hai đứa như nhau, nhưng Phi Yến dễ chịu hơn Phi Anh.
-   Dễ chịu là nghĩa làm sao?
-   Nghĩa là biết nghe lời em.
Ngừng một lát, Phi Nga nói tiếp:
-   Trước kia thì vậy nhưng bây giờ không biết sao... Đi lấy chồng, người chị gái thường mất hết quyền lực với các em. À, Phi Anh nhờ Phi Yến nhắc em về chuyện Phi Anh đã nhờ em hôm nọ.
Dũng hỏi:
-   Về xin phép cha mẹ cho cô ấy đi học? Tại sao Phi Anh lại thích đi học đánh máy, kế toán?
Phi Yến vội nói:
-   Học cho biết nghề để đi làm chớ sao lại thích? Anh thử nghĩ ở nhà mãi không buồn sao? Mất hết cả tuổi trẻ. Em chỉ chờ chị Anh đi được là em cũng xin đi.
Dũng hỏi:
-   Hai em đi cả thì ai ở nhà với cha mẹ?
-   Nếu tụi em đi lấy chồng như chị Nga thì ai ở nhà với cha mẹ?
Dũng vội nói:
-   Tôi sợ cô rồi, nói gì cô cũng bắt bẻ được hết. Thà là các cô đi lấy chồng, như thế cha mẹ được yên lòng hơn. Vì nếu đi lấy chồng, ít ra các cô cũng được ông chồng giữ gìn dùm. Còn các cô đi học xa, rồi đi làm, làm sao cha mẹ yên lòng được?
Phi Yến mỉa mai:
-   Như vậy chắc chị Phi Nga cần anh giữ dùm nên mới đi lấy chồng.
Phi Nga đưa mắt lườm em. Phi Yến hiểu ý chị, từ đó ngồi yên, và khi ăn xong lãnh phần dỗ bé Hoàng ngủ. Dũng nói:
-   Để đó cho anh, nó quen ngủ trưa với anh rồi. Em giúp chị dọn dẹp rồi chị em cứ tự do nói chuyện cho vui. Lâu lâu mới có dịp gặp nhau.
Phi Yến nhìn chị mỉm cười. Một giờ sau, hai chị em ra vườn ngồi dưới bóng một cây xoài rợp mát. Phi Nga lấy tay vuốt tóc em và hỏi:
-   Nếu Phi Anh được cha mẹ cho đi học thì em nên ở nhà với cha mẹ. Em mà đi nữa thì cha mẹ sẽ buồn.
-   Sự thật, hiện giờ em cũng chưa biết mình muốn gì. Nhưng sống cho một người như chị, chắc em không làm được. Còn nếu em làm được, nghĩa là em có thể sống cho một người, thì ít ra người đàn ông ấy cũng phải hơn hẳn em.
Biết Phi Yến lại sắp nói đến Dũng, Phi Nga liền đón trước:
-   Mỗi người mỗi ý. Em chưa yêu nên muốn nói gì chẳng được. Một khi đã yêu thì quan niệm về cuộc sống của em sẽ thay đổi hẳn.
Phi Yến nhìn chị:
-   Chị muốn nói là chị đã yêu?
Phi Nga ngạc nhiên:
-   Lẽ dĩ nhiên.
Phi Yến cười lớn:
-   Em không tin. Anh Đình cũng không tin là chị yêu anh Dũng.
Phi Nga đang đuổi theo những ý nghĩ thầm kín tự đáy lòng nên không để ý là Phi Yến vừa nhắc đến Đình, người sinh viên đã yêu Phi Nga và muốn lập gia đình với nàng.
Phi Yến bất chợt hỏi:
-   Chị còn nhớ anh Đình không?
Phi Nga giật mình:
-   Cái gì mà có anh Đình trong ấy nữa?
-   Chị không nghe em nói à? Anh Đình cũng không tin chị yêu anh Dũng.
Phi Nga hốt hoảng la lên:
-   Đừng nói nhảm như vậy! Ai mà hiểu chị được?
-   Anh Đình bảo là anh có thể hiểu chị. Nghe nói chị đã có con, anh Đình tiếc lắm. Có lần anh ấy nói với em, chị không thể tìm thấy hạnh phúc bên người đàn ông nào hết. Anh Giang cũng nghĩ như thế và anh Giang nói với anh Đình, giá chị đừng lập gia đình thì hơn.
-   Nói nhảm hết. Anh Giang thì biết gì, anh ấy chỉ biết có hội họa. Gia đình, vợ con đối với anh ấy đâu nghĩa lý gì.
-   Như thế không có nghĩa là anh ấy không hiểu chị. Em gặp anh Giang nhiều lần, khi anh ấy về vẽ phong cảnh ở làng mình. Lúc ấy em hay đi theo xem anh vẽ. Chị kết hôn với anh Giang mới xứng.
Phi Nga đập mạnh lên vai em:
-   Sao độ này em nói năng ẩu vậy? Anh Giang đã có vợ rồi.
-   Vợ con gì anh ấy!
-   Thế em gặp anh Đình bao giờ?
-   Em gặp cách đây mấy tuần, liên tiếp ba bốn lần. Người ta bảo anh ấy về thăm bà Nhàn. Chị biết bà Nhàn chớ? Bà ấy là cô của anh Đình. Nhưng theo em hiểu, anh Đình về đây là để dò xét tin tức về chị. Gặp em hay chị Phi Anh, anh ấy mừng lắm, hỏi thăm chị không ngớt.
Phi Nga nói, vẻ mặt xa xăm:
-   Hôm nọ Phi Anh cũng bảo là có gặp anh Đình. Anh ấy còn về đây làm gì kìa?
Ngừng một lát, Phi Nga hỏi em:
-   Em có nghe anh ấy nói gì về anh Giang không?
-   Em không hỏi nên anh ấy cũng không nói gì. Chị cần biết tin tức về anh Giang à? Hay chị muốn bán tranh cho anh ấy?
Phi Nga cười:
-   Em làm như tranh của chị đẹp lắm. Chỉ có bà Quỳnh mua chớ họa sĩ như anh Giang thì mua làm gì.
Phi Yến không bằng lòng:
-   Ai nói với chị như vậy? Có phải anh Dũng không? Nếu thật vậy thì anh ấy muốn ém tài của chị đó. Bà Quỳnh cũng đâu có biết gì về tranh mà mua, bà ta mua cho ông Malê là một nhà sưu tầm tranh, chẳng lẽ ông ta không biết gì về hội họa sao? Chị khiêm tốn là tốt, nhưng đừng vì những lời dèm pha của kẻ khác mà tự ti mặc cảm, không được đâu. Em hỏi thật chị, tại sao chị vẽ hình anh Dũng mà lại phải vẽ lén lút?
-   Chị đã bảo là để làm gây ngạc nhiên cho anh ấy kia mà.
-   Được rồi, em tin chị, nhưng chị chưa trả lời cho em về lời nói của anh Đình. Anh ấy không tin là chị có hạnh phúc.
-   Mỗi người quan niệm hạnh phúc mỗi khác. Cái mà anh ấy cho là hạnh phúc thì với chị, chị cho là phiền phức thì sao? Chị cũng hiểu anh đang đau khổ vì chị, nhưng thà như thế còn hơn. Chị mà kết hôn với anh ấy thì anh ấy sẽ khổ nhiều hơn nữa. Anh Đình không phải như anh Dũng. Anh Dũng chỉ cần được sống yên thân, bên anh ấy có chị là đủ. Anh ấy không ao ước gì nữa, chị muốn sao anh ấy cũng chiều chị được. Chớ còn anh Đình, một khi anh ấy cưới được chị rồi thì một là lái chị, hai là bỏ chị vì bất đồng ý kiến. Mà con người của chị, em biết chớ, dễ gì chịu để cho ai lái đâu.
-   Chị biết vậy cũng đỡ. Nhưng em vẫn thấy thương anh Đình làm sao ấy... À, chị có việc gì cần đến anh Giang sao?
-   Bây giờ thì chưa. Nhưng rồi đây sẽ có lúc chị phải nhờ đến anh ấy.
- Chị muốn học vẽ với anh Giang? Anh ấy đi Rome chưa về mà. Chị Nga à, chị nên khuyến khích anh Dũng học thêm, sao chị cứ để anh ấy sống an phận như thế?
-   Mỗi người có mỗi triết lý cuộc sống. Người này ham danh ham lợi, người khác an phận thủ thường. Mình làm sao ép họ được? Người ham danh ham lợi thích chen lấn với đời, thích được thiên hạ biết tên tuổi, còn người an phận thủ thường lại thích sống trong bóng tối. Cũng chưa biết ai là người có hạnh phúc hơn ai. Hiện giờ chị thích được sống như thế này, sống cho anh Dũng, cho bé Hoàng. Chị không nghĩ như em, chỉ sống cho anh Dũng khi nào anh ấy hơn chị mọi mặt. Nếu ai cũng nghĩ như em thì chẳng mấy ai lập gia đình được đâu...
Hai chị em bàn cãi với nhau rất lâu, nhưng rồi Phi Yến vẫn kết luận:
-   Chị sống cho tình yêu cũng được rồi, nhưng em vẫn thấy anh Dũng tầm thường quá mà tình yêu chị nói đó dường như chưa đúng với ý nghĩa của nó. Chị yêu thương hơi vội vàng, hay như có lần chị tâm sự với chúng em: lập gia đình mới có thể vận dụng tất cả khả năng của người con gái. Chị muốn thoát ly khỏi áp lực của cha mẹ.
-   Các em độ rày lý luận ghê thật! Hôm nọ Phi Anh đã quay chị một keo rồi, bây giờ đến lượt em. Chị phục các em quá.
Hai chị em cùng cười vui vẻ.




0
5
 
Phi Nga ngồi trên ghế đá, hai tay thoăn thoắt cặp kim đan, bé Hoàng đi chập chững một bên. Bỗng bên ngoài có tiếng gọi lớn :
- Chị Phi Nga!
Phi Nga chưa kịp quay lại đã nghe tiếng giày chạy lộp bộp sau lưng và một giọng rất quen thuộc vang lên :
- Chị vẫn khỏe chớ?
Quay lại và nhìn thấy Paul, da dẻ hồng hào, cao lớn hơn trước, Phi Nga mừng rỡ :
- Cậu Paul! Cậu ở Đà Lạt về à? Bà có về với cậu không?
- Mẹ em cùng về nhưng chưa tới thăm chị được. Hôm qua xe đi ngang đây thì trời tối quá rồi, không ghé được. Nhớ chị quá, em phải đi xe đạp đến đây, xe nhà hỏng máy rồi.
- Cám ơn em. Mấy lúc nay em làm gì?
- Em vẫn đi học trên Đà Lạt. À, chị có nhận được thư của ba em không?
- Không, chị không nhận được thư của ông.
- Thế chị không biết gì cả sao?
Phi Nga ngạc nhiên :
- Biết gì?
Paul nói :
- Lẽ ra để mẹ em đến báo tin mừng cho chị thì hơn, nhưng em thấy vui quá vì thế phải tiết lộ cho chị biết trước. Bức tranh “Người gánh lúa” của chị được giải khuyến khích và được các báo bên Pháp khen rất nhiều. Lại có một họa sĩ Việt Nam nào đó bảo đã biết bức tranh đó và có biết qua về chị nữa.
Phi Nga để tay lên ngực, không giấu được sự hồi hộp :
- Chắc là Giang rồi. Giang đã thấy bức tranh của ta. Anh ấy đã nghĩ thế nào?
Paul thấy Phi Nga làm thinh, tưởng nàng xúc cảm quá không nói được nên hỏi :
- Chắc chị mừng lắm nhỉ?
- Chị mừng lắm, nhưng em chưa nói hết cho chị nghe.
- Tại sao chị chưa nhận được thư của ba em? Người họa sĩ Việt Nam mà em nói đó, bảo là sắp về nước, bao giờ về sẽ đến gặp chị. Thích chưa? Ba em muốn chị theo học với ông ấy.
Phi Nga lắc đầu :
- Không thể được, em ạ. Nếu muốn học thì chị đã học với ông ấy rồi, đợi chi đến bây giờ. Lúc ấy chị chưa lập gia đình.
Paul hỏi lớn :
- Lúc ấy chị chưa lập gia đình à? Thế tại sao chị không học? Đáng tiếc thật!
- Và bây giờ thì chị lại chưa thể học được. Vì chị đang có thai, sắp được làm mẹ lần thứ hai.
Paul cau mày :
- Ba em sẽ không bằng lòng nếu chị không chịu học với người họa sĩ kia. Ba em bảo ông ấy nổi tiếng, giỏi lắm. Ba em có mua của ông ta ba bức tranh gần nửa triệu bạc. Chị mà chịu khó học thì rồi đây tranh chị cũng có giá như thế.
Phi Nga hỏi thăm Paul về sự học của cậu ta, rồi hỏi :
- Em có vẽ thêm được gì không?
- Không có chị em đâu thèm vẽ, ba em muốn cho em theo chị học vẽ với ông họa sĩ gì đó. Nhưng hôm nay gặp chị, em thấy chị không có chút gì gọi là thích vẽ, nên cũng nguội lạnh rồi. Chị chỉ biết có chồng và con.
Phi Nga bồng bé Hoàng lên đưa vào mặt Paul :
- Em nhìn thử có phải nó đẹp lắm không?
Paul mỉm cười với thằng bé :
- Đẹp lắm, nhưng chị đã vẽ tranh của nó chưa? À, mấy lâu nay chị không vẽ gì cả sao? Nào cho em vào xem xưởng vẽ của chị với.
Nói xong, Paul chạy qua xưởng vẽ, nhưng khi thấy hai cánh cửa được khóa chặt bằng một ống khóa lớn, Paul thất vọng nói :
- Chắc chị chẳng bao giờ đặt chân đến đây.
Phi Nga đứng dậy ẵm bé Hoàng đi theo Paul :
- Để chị mở cửa cho em. Nhưng chị đã bảo chị không vẽ được thêm gì nữa cả.
Khi hai cánh cửa mở rộng ra, Paul chạy tọt vào trong, đứng nhìn khắp nơi rồi đi lại bên giá vẽ, mở tấm vải che bên ngoài :
- Chưa vẽ xong?
Nhưng khi Paul nhìn kỹ và nhận ra đó là hình của Dũng thì hỏi bằng một giọng bất bình :
- Chị vẽ hình anh ấy?
Phi Nga gật đầu :
- Em thấy anh ấy bao giờ mà nhận ra?
- Cần gì phải thấy. Chị không vẽ thêm một bức tranh nào, mà lại vẽ bức tranh này thì là hình của anh chớ hình ai?
Ngắm kỹ một lúc, Paul nói :
- Anh ấy tầm thường quá! Nhưng sao nét mặt anh không được vui, lại dường như có điều gì lo nghĩ?
Phi Nga lấy vải phủ bức tranh lại :
- Chúng ta vào nhà uống nước đi.
- Thôi chị, cho em về, em đến đây mà không nói cho mẹ em biết, thế nào mẹ em cũng cho người đi tìm.
- Nhưng thế nào bà cũng biết là em đến thăm chị. Sao em về gấp vậy?
- Em còn đi thăm tụi bạn.
Khi Paul về rồi, Phi Nga hôn lên đầu bé Hoàng :
- Danh vọng và sự nghiệp của mẹ đây.
Nhưng khi bé Hoàng ngủ ngon lành trong đôi cánh tay của Phi Nga sau một hồi đùa giỡn với mẹ thì Phi Nga trở nên nghĩ ngợi. Phi Nga nhớ đến cái hôm mà nàng gặp Giang. Giang đến thăm Phi Nga với Đình. Vì Đình đã giới thiệu với Giang về tài vẽ của Phi Nga, nên khi gặp Phi Nga, Giang hỏi :
- Sao cô không đi học vẽ?
Phi Nga còn nhớ là mình đã trả lời Giang :
- Tôi chưa muốn học.
- Bao giờ cô mới muốn? Đợi đến khi có gia đình rồi thì còn học được gì nữa. Một ông chồng là tất cả của người đàn bà, một ông chồng sẽ lấy hết thì giờ của cô.
Giang đã nhìn Phi Nga sửng sốt, và khi Đình rủ chàng về thì chàng nói :
- Nếu có dịp tôi sẽ gặp lại cô.
Sau đó Phi Nga được Đình cho biết là Giang phục Phi Nga có tài, Giang sẵn sàng chỉ vẽ thêm cho Phi Nga. Nhưng sau cái lần gặp đầu tiên ấy, Giang không đến nữa. Phi Nga hỏi thì Đình bảo Giang bận lắm và Đình có nói sơ qua về Giang cho Phi Nga biết :
- Anh ấy là một họa sĩ, mà họa sĩ tức là người sống cho nghệ thuật, tất cả vì nghệ thuật. Với họ chỉ có sự nghiệp là đáng kể. Anh Giang đã có một người vợ, do cha mẹ cưới cho anh, nhưng dường như anh không thích người vợ này, anh chỉ thích sống bừa bãi với những cô bạn gái. Anh bảo: Một họa sĩ mà có vợ thì còn đâu là sự nghiệp!
Ít khi Đình nhắc đến Giang, cho đến khi Đình hân hoan báo cho Phi Nga biết là Giang được học bổng đi Rome, gởi lời chào Phi Nga. Hôm ấy Đình nói :
- Anh Giang bảo giá không có vợ thì anh sẽ kết bạn với Phi Nga để hai người cùng phụng sự cho hội họa. Hai người sẽ cùng ký dưới một bức tranh.
Nghe Đình nói thế, Phi Nga bẽn lẽn :
- Anh chỉ tài bịa đặt, anh Giang không bao giờ nói như thế. Anh Giang không đến từ giã tôi để đi ngoại quốc đủ thấy anh ấy không quan tâm đến tôi.
Đình không nói gì, nhưng Phi Nga đoán biết là Đình không thành thật với mình về chuyện Giang. Có lẽ Đình sợ để Giang và Phi Nga gặp nhau thường thì cả hai sẽ cảm nhau mà Đình không còn hy vọng chiếm được con tim của người đẹp. Nhưng Đình đâu ngờ là Phi Nga lại yêu một người rất tầm thường như Dũng, Dũng lại không hề tìm cách chinh phục Phi Nga.
Sau ngày nghỉ hè, Dũng có vẻ mệt mỏi, kém vui. Phi Nga không hiểu tại sao Dũng bỗng có ý muốn mua một ngôi nhà khác. Chàng nói :
- Nếu là nhà của mình, em sẽ tha hồ trang hoàng theo ý muốn của em.
Phi Nga liền bàn :
- Hay để em lấy món tiền hồi môn mua nhà? Chúng ta ở rộng mà hai con có chỗ chạy chơi. Ngôi vườn này nhỏ quá, trồng trọt gì cũng không được.
- Ngôi vườn nhỏ thế này mà anh cũng chẳng trồng trọt gì được. Anh lười quá.
Nhưng rồi Dũng lại tự bào chữa :
- Nhà của người ta chớ nào phải nhà mình mà trồng cho mệt. Bao giờ chúng ta có nhà riêng, em sẽ thấy anh làm lụng ngoài vườn suốt ngày.
- Chúng ta sẽ lưu ý về việc mua nhà, tậu vườn. Nhưng anh định ở đây mãi sao? Việc dạy dỗ có thể dời đổi chỗ, anh cũng thừa biết điều này.
- Mua nhà để đó, ở được càng tốt, không ở thì cho mướn, còn không bán lại cũng có lời.
Phi Nga lấy làm ngạc nhiên tại sao lần này khi nghe nàng nói lấy tiền hồi môn để mua nhà, Dũng không phản đối nữa.
Trong khi Phi Nga chưa tìm được một ngôi nhà vừa ý thì Paul lại hiện ra đưa nàng vào một giấc mộng khá vui, khá đẹp. Tuy vậy, Phi Nga cũng tự nhủ :
- Bao giờ các con lớn rồi sẽ hay.
Hai hôm sau, bà Quỳnh đến thăm nàng, bảo là bà đến trễ vì xe hỏng máy, phải chờ sửa. Cũng như mọi lần, bà mang cho Phi Nga rất nhiều quà, có cả quà của ông Malê ở Pháp gởi qua :
- Nhà tôi gởi cho cô cái gói này. Chắc có cả thư của nhà tôi trong ấy. Thằng Paul nó đã kể gì với cô rồi? Tôi nhận được thư nhà tôi nói về bức tranh của cô. Cô may mắn quá, con đường vinh quang mở ra trước mắt cô mà cô lại không chịu bước lên, nhà tôi tiếc lắm. Nhà tôi bảo kỳ sau cô sẽ nhận được những tờ báo có bài phê bình về bức tranh “Người gánh lúa” của cô.
- Ông bà tử tế với tôi quá. Chỉ tiếc là tôi chưa thể nghe lời khuyên của ông.
- Nhà tôi tin chắc cô sẽ nghe lời khuyên của nhà tôi khi cô gặp họa sĩ Giang. Nhà tôi gặp ông Giang ở phòng triển lãm tranh ấy. Ông Giang rất mừng khi thấy bức tranh của cô được phần thưởng khuyến khích. Theo lời ông Giang nói với nhà tôi thì ông ta có quen với cô lúc cô chưa có chồng.
Phi Nga không muốn nghe bà Quỳnh nói mãi về chuyện bức tranh, nên nói :
- Bà để cháu nghĩ kỹ lại đã. Lần này có lẽ cháu phải nghe lời ông mới được. Gặp lại bà, thấy bà khỏe mạnh, cháu mừng lắm.
Rồi Phi Nga chỉ bé Hoàng :
- Cháu cũng đã lớn. Chập chững đi rồi. Đã biết gọi ba, má...
Bà Quỳnh khen :
- Cháu dễ thương quá nhỉ.
Rồi bà thở dài :
- Tại vậy mà cô không muốn nghĩ chuyện tương lai, sự nghiệp của cô.
- Cháu đã nghĩ nhiều về vấn đề này, bà ạ. Người đàn bà có chồng thì tương lai, sự nghiệp là con cái của mình.
- Nhưng cậu giáo có bao giờ nghĩ đến sự nghiệp của cậu không? Hay là cậu an phận với nghề gõ đầu trẻ này, an phận ở đây, không cần biết nơi nào khác?
Bà Quỳnh thấy Phi Nga không để ý đến gói quà mà bà vừa mang lại thì nói :
- Cô mở thử cái gói kia và đọc bức thư mà nhà tôi gởi cho cô.
Nể lời bà Quỳnh, Phi Nga mở cái gói thì đó là một quyển sách bách khoa về hội họa, có cả những bức tranh nổi tiếng từ xưa đến nay ở những nước trên thế giới.
Phi Nga mừng rỡ :
- Ông cho tôi quyển sách này thật có ích. Lúc nào ông cũng lo nghĩ đến tôi. Tôi biết nói gì để cám ơn ông bà. Chỉ tiếc hiện giờ tôi đang có thai.
Bà Quỳnh nói như một tiếng thở dài :
- Lại có thai!
Phi Nga mở bức thư của ông Malê ra đọc lớn cố ý cho bà Quỳnh cùng nghe. Nhưng bức thư vỏn vẹn có mấy hàng:
Cô Phi Nga, cô còn nhớ những lời khuyên nhủ của tôi không? Tôi đợi mãi không thấy thư cô, chắc là cô chưa cần đến sự giúp đỡ của tôi. À, bức tranh của cô được nhiều người chú ý lắm. Tôi sẽ gởi những tờ báo có bài phê bình về cho cô. Tôi có gặp họa sĩ Giang chắc cô biết ông ta. Nếu từ nay đến ngày ông Giang về nước mà cô không thay đổi ý kiến thì lúc ông Giang gặp cô, ông ấy lãnh phần chinh phục cô đó. Luôn luôn nhớ đến cô.
Malê

Bà Quỳnh tươi cười :
- Tôi không thấy người nào săn sóc cô như nhà tôi, đó chẳng qua là lòng liên tài. Nhà tôi đã dắt dẫn không biết bao nhiêu người bước lên con đường vinh quang, danh vọng. Vậy mà bây giờ gặp cô, nhà tôi không thuyết phục cô được, kể cũng lạ. Chắc ông ta đang bực mình về việc này.
- Nhờ bà viết thư nói dùm với ông là hiện giờ tôi đang có thai.
- Tại sao cô không viết cho nhà tôi? Viết cho ông vài hàng cũng được.
- Bây giờ tôi có viết cho ông cả chục bức thư, dài năm bảy trang giấy mà nếu tôi bảo tôi chưa thể học vẽ được, chưa muốn nghĩ đến tương lai và sự nghiệp nào khác ngoài chuyện tương lai và sự nghiệp của chồng con, thì ông cũng liệng những bức thư ấy vào sọt rác mà thôi. Ông chỉ cần tôi viết một câu thôi, nhưng cái câu ấy hiện giờ tôi chưa viết được...
- Cô bảo nhà tôi chỉ cần cô viết một câu. Câu gì vậy?
- Nhờ ông ấy giới thiệu cho một họa sĩ, hay là tôi sẽ gặp ông tại... Chỉ một câu như thế, nhưng câu ấy sẽ định đoạt cả cuộc đời tôi, thay đổi cả cuộc sống của tôi.
- Thế tại sao cô không viết?
Phi Nga cười một cách hồn nhiên :
- Bà hiểu vì lẽ gì rồi.
Phi Nga cầm tay bà Quỳnh đặt lên bụng của mình :
- Bà nghe đó, đứa bé đã bắt đầu cử động mạnh. Một mầm sống đang lớn dần trong tôi. Cái việc này cần thiết hơn tất cả mọi việc trên đời.
Bà Quỳnh nhìn kỹ nét mặt hồn nhiên như một đứa trẻ của Phi Nga lúc ấy. Đôi mắt đen sáng rực, đôi môi hé mở như một đóa hoa hàm tiếu, để lộ những cái răng vừa trắng vừa nhỏ. Phi Nga không có vẻ gì là một thiếu phụ đã có một lần sanh đẻ và giờ đây sắp làm mẹ một lần nữa. Nàng bé bỏng, ngây thơ và xinh đẹp một cách lạ lùng.
Bà Quỳnh nghĩ :
- Một con người không biết tham vọng. Và có lẽ hạng người này mới dễ hưởng được hạnh phúc.
Bà Quỳnh bất giác cảm thấy yêu thương Phi Nga một cách lạ lùng. Bà đặt lên mái tóc Phi Nga một cái hôn :
- Chồng tôi phải đợi cô sanh xong, chờ biết sao? Cô phải biết nàng nghệ thuật không chịu chờ đợi ai mà thời cơ cũng không đến hai lần trong đời người ta.
Phi Nga cảm động và sung sướng vì cử chỉ thân yêu của bà Quỳnh nên nói :
- Cháu có bắt nàng nghệ thuật đợi cháu bao giờ?
Bà Quỳnh nguýt yêu Phi Nga :
- Tôi chịu thua cô rồi. Cô cứng đầu không ai chịu nổi, nhưng khổ cho tôi là tôi lại phải nhượng bộ trước sự cứng đầu mới tức chớ.
Nói xong bà đưa tay choàng qua vai Phi Nga rồi cả hai đi ra cửa :
- Tôi sẽ còn đến thăm cô. Bao giờ thì cô sanh?
- Cuối năm. Còn những bốn tháng nữa. Bà có vui lòng nhận làm mẹ đỡ đầu cho cháu bé này không?
Bà Quỳnh cười :
- Tôi thì sao cũng được, chớ còn nhà tôi thì ông ấy bảo chỉ làm cha đỡ đầu cho những bức tranh sắp tới của cô mà thôi.
Phi Nga reo lên :
- Ông nói hay thật, nhưng chuyện ấy còn lâu.
Bà Quỳnh lên xe rồi còn nói :
- Tôi nghe ông hội đồng Tích nói ở đây ai cũng phục cô hết, kể cả bà Châu, vợ ông hiệu trưởng. Bà ấy phục cô đến nỗi giờ đây bà ấy đi học vẽ để theo kịp cô. Nhưng bà ấy lầm, vẽ phải có thiên tài mới mong nổi tiếng, nổi tên, chớ còn vẽ theo lối bắt chước thì suốt đời cũng chỉ làm anh thợ sơn mà thôi.
Đợi cho chiếc xe của bà Quỳnh chạy khuất sau lũy tre xanh. Phi Nga mới lững thững đi vào nhà. Nàng ngồi phệch xuống chiếc ghế dựa, đeo đuổi theo những tư tưởng mà nàng bỗng thấy hiện ra trong đầu óc từ khi bà Quỳnh ra về. Lúc nãy khi đọc bức thư vắn tắt của ông Malê, Phi Nga có vẻ như không chú ý đến nhưng bây giờ thì nàng nhớ lại từng câu, từng chữ không sót một ý nào.
Rồi Phi Nga nhớ lại những lời bà Quỳnh đã nói với nàng. Phi Nga ngồi thừ người cả giờ không để ý là bé Hoàng vịn hai tay vào thành ghế và đi từ ghế này qua ghế khác, miệng thì kêu “Ma! Ma!”. Nàng không còn nghe thấy tiếng động bên ngoài mà chỉ còn nghe những lời trong bức thư của ông Malê. Nàng nghĩ :
- Bức tranh của ta được một giải thưởng an ủi trong một triển lãm tranh ở kinh đô của một cường quốc ở Châu Âu, thật là một vinh dự ngoài sức tưởng tượng.
Dù chưa có thể đeo đuổi theo sự nghiệp của mình nhưng Phi Nga cũng cảm thấy lòng đang mở rộng, đón một niềm vui mới mẻ.
Giữa lúc ấy Dũng đi dạy về, chàng đã bước vào trong sân mà Phi Nga cũng không hay biết. Dũng đi vào nhà, bé Hoàng reo lên khi thấy chàng :
- Ba! Ba!
Và thằng bé đưa hai tay về phía trước, chờ chàng ẵm lên. Dũng cười hỏi vợ :
- Em nghĩ gì mà trông bơ phờ như thế?
Phi Nga giật mình như rơi từ cung trăng xuống :
- Mấy giờ rồi mà anh đã về?
Dũng cười có vẻ tha thứ :
- Tội nghiệp em tôi chưa? Quên cả thời gian, chắc cơm nước gì cũng chưa có. Vậy để anh đi nấu nhé.
Phi Nga vội vàng đứng lên. Bé Hoàng nhảy trong đôi tay cha và cười reo ầm ỹ. Dũng hỏi bé Hoàng :
- Mẹ ở nhà làm gì mà giờ này chưa lo cơm nước cho cha con mình?
Bé Hoàng lấy tay đập vào má Dũng, cười toe toét để lộ hai hàm răng chưa mọc đầy đủ, Phi Nga lấy cái gói trên bàn và nói :
- Ở nhà em có khách, bà Quỳnh đến thăm.
Dũng nói như có vẻ tiếc rẻ :
- Đã từ lâu bà ấy không đến.
Và Dũng nghĩ nhưng không nói ra :
- Và như thế hay hơn. Mỗi lần bà ấy đến là một lần tâm hồn Phi Nga bị xáo trộn.
Phi Nga nói :
- Đây là quà của ông Malê gởi từ Pháp qua. Một quyển sách nghiên cứu về ngành hội họa. Có đủ những bức tranh nổi danh từ trước đến nay, và ở khắp các nước của các họa sĩ tên tuổi.
- Món quà đặc biệt quá. Ông Malê vẫn còn ở bên Pháp chứ.
- Còn...
- Chỉ có một quyển sách ấy thôi à!
- Có một bức thư rất ngắn.
Rồi Phi Nga nói tiếp :
- À, bức tranh “Người gánh lúa” của em được một giải thưởng an ủi.
- Nghĩa là em sắp được ngang hàng với những họa sĩ có tên tuổi?
- Đây là cuộc triển lãm những bức tranh của các nghệ sĩ tự do, chưa thuộc hẳn về trường phái nào, chưa có tên tuổi, chưa có thầy hướng dẫn. Ông Malê cho biết ông có gặp họa sĩ Giang trong cuộc triển lãm này. Anh Giang cũng sắp về nước.
Dũng hôn lên mái tóc tơ của Hoàng và nói một cách như không quan tâm đến chuyện của vợ :
- Lớn lên con sẽ làm gì hả Hoàng? Đi dạy học làm ông giáo quèn ở một làng nhỏ, hay vẽ tranh để nổi tiếng như mẹ con?
Hoàng nhìn cha cười :
- Ma! Ma!
Không thấy Dũng hỏi về bức thư của ông Malê, Phi Nga đi xuống bếp làm cơm.
Đêm hôm ấy, đang ngủ ngon lành, Phi Nga giật mình thức dậy vì bỗng có cảm giác Dũng không còn nằm bên nàng. Mà đúng như thế, Dũng đã ra đứng chống tay trên thành cửa sổ để nhìn ra vườn. Cánh cửa sổ đầu hôm Phi Nga mở rộng cho mát vì trời nóng bức quá. Ánh trăng lọt vào phòng. Bên ngoài trời quang đãng. Lúc ấy đã ba giờ.
Phi Nga tự hỏi :
- Tại sao đêm nay Dũng lại không ngủ được? Thường ngày vừa đặt lưng xuống giường là ngủ một giấc ngon lành đến sáng.
Phi Nga bỗng nhớ đến món quà của ông Malê đến bức thư,Nlến chuyện bức tranh được các báo nhắc nhở, phê bình suốt cả tháng. Chiều hôm qua trong bữa cơm Dũng không hề nhắc đến chuyện ấy, chàng tỏ ra vui vẻ, nói cười luôn miệng, nhưng trong sự vui vẻ ấy Phi Nga thấy rõ là Dũng cố giấu một sự bực mình. Đêm nay chàng lại không ngủ. Phi Nga nhè nhẹ ngồi dậy, đi chân không lại đặt nhẹ bàn tay lên vai chồng :
- Sao anh không ngủ?
Cử chỉ đột ngột ấy giữa đêm khuya, trong sự im lặng hoàn toàn của vũ trụ, lại không hề làm Dũng giật mình. Chàng cứ đứng im như pho tượng đá.
Phi Nga sợ hãi kêu lên :
- Ô kìa, sao anh không...
Nàng chưa nói hết câu thì Dũng đã quay phắt lại. Trên đôi mắt của Dũng, Phi Nga thấy dường như long lanh nước. Phi Nga vẫn chưa tin nên lấy tay sờ lên mặt Dũng và hốt hoảng hỏi :
- Anh khóc sao anh Dũng?
Dũng cũng hốt hoảng khi thấy Phi Nga khám phá ra là mình khóc. Anh cố chối :
- Tại anh ngáp nên nước mắt chảy.
Phi Nga ôm chầm lấy Dũng :
- Không, anh đã giấu em, anh có chuyện buồn.
Dũng nhè nhẹ gỡ tay của Phi Nga ra, rồi quay mặt nhìn lên bầu trời đêm. Trăng sáng đang lơ lửng giữa trời, những vì sao lấp lánh như những hạt kim cương. Phi Nga choàng tay qua vai Dũng, đứng sát vào người chàng, rồi cũng nhìn lên không trung. Cả hai đều im lặng không ai nói với ai lời nào. Họ đứng như thế không biết là bao lâu.
Dũng buồn, điều ấy thấy rõ, nhưng giờ đây chính Phi Nga cũng cảm thấy một nỗi buồn khó tả. Nàng nghe ngột ngạt khó thở, như vừa bị đầu độc bởi một chất gì mà nàng chưa khám phá ra được. Nàng bỗng thấy căn phòng ấy thiếu không khí, quá chật hẹp đối với vòm trời cao lồng lộng giữa đêm khuya. Giữa lúc ấy một con vạc đi ăn đêm buông lên những tiếng lẻ loi như phá tan cái không khí yên tĩnh. Phi Nga nghĩ :
- Con vạc kia và ta, ai lẻ loi, cô đơn hơn?
Có tiếng Dũng thở dài bên tai nàng :
- Anh vô lý thật, đã làm em mất ngủ.
Phi Nga siết chặt đôi vai của Dũng :
- Nhưng tại sao anh không ngủ? Anh buồn chuyện gì?
- Không, anh nghĩ vơ vẩn vậy thôi.
Rồi Dũng siết đôi vai của Phi Nga bằng một cử chỉ âu yếm thật sự :
- Tự nhiên anh đâm ra cuồng trí. Anh đã nghĩ như một kẻ điên.
- Anh nghĩ cái gì?
Dũng bẽn lẽn :
- Nói ra xấu hổ lắm. Em sẽ cười anh, khinh anh và oán anh là khác.
- Việc gì thế?
Dũng thú thật :
- Anh đang ngủ bỗng có cảm giác mất em. Anh ngồi ngay dậy và khi anh ra đứng đây, anh đã cố tìm một giải pháp. Nếu không có em thì anh sẽ sống như thế nào?
Trong khoảnh khắc ấy, Phi Nga hiểu tất cả, vì lẽ gì mà Dũng lại nghĩ như thế. Chỉ vì cái giải thưởng mà ông Malê vừa cho nàng hay. Sự thật Phi Nga cũng chưa biết dư luận bên ấy đã bàn tán như thế nào về tài của nàng.
- Con vạc lẻ loi trong đêm tối, nhưng nó còn tự do tung cánh bay giữa bầu trời bao la. Chớ còn ta, ta có khi nào được tung trời mà bay như thế?
Ý nghĩ ấy vừa hiện ra trong trí Phi Nga thì cái bào thai trong bụng nàng chợt cựa quậy như nhắc nhở nàng bổn phận trước mắt. Phi Nga lấy tay Dũng đặt lên bụng mình :
- Anh lắng nghe con chúng ta đạp kìa. Nó đạp mạnh lắm rồi. Chắc là một đứa con gái.
Dũng cảm động nói bằng một giọng buồn buồn :
- Anh cũng thích có thêm một đứa con gái. Thôi, chúng ta đi nghỉ. Anh xin lỗi em.
Phi Nga không nói không rằng đi theo Dũng. Khi nằm lên giường, Dũng nói :
- Nếu không có em, cuộc đời của anh mới ra sao nhỉ?
Phi Nga thở dài :
- Đừng nói nhảm mà anh.
* * * * *
Nhân ngày giỗ ông, Phi Nga về thăm cha mẹ, mang theo bé Hoàng. Vì gần ngày sanh, Phi Nga được mẹ và các em cho ngồi ở trên nhà, không phải xuống bếp nấu nướng hay dọn dẹp. Bà Minh nói :
- Con lên nhà trên nói chuyện với cha con. Để mẹ và các em nấu nướng được rồi. Còn mấy bà hàng xóm qua làm phụ nữa.
Phi Nga ẵm con lên nhà, ông Minh đang ngồi trầm ngầm nhìn lên bàn thờ, thấy Phi Nga với dáng điệu nặng nề, tay dắt bé Hoàng thì nghĩ :
- Mới đó mà tay bồng tay dắt.
Phi Nga vừa cười vừa nói :
- Mẹ không cho con làm gì hết. Con gái có chồng, về nhà cha mẹ là được nuông chiều.
- Chớ bụng dạ như thế kia lại thêm con nhỏ nữa thì làm cái gì. Con ngồi đây cha hỏi cái này.
Phi Nga ngồi xuống ghế bên cha. Ông Minh nói :
- Hôm nọ cha có gặp ông hội đồng Tích, ông ấy có nói về bức tranh mà con gởi dự thi ở Pháp.
- Không phải con gởi dự thi đâu, cha ạ. Con bán bức tranh ấy cho bà Quỳnh và ông Malê đưa đi dự thi.
- Nhưng con đã được một giải thưởng an ủi và người ta khen bức tranh ấy, có phải vậy không?
- Dường như vậy. Con chưa biết rõ mà chỉ nghe bà Quỳnh nói lại mà thôi. Ông Malê có hứa sẽ gởi những số báo có viết bài phê bình về bức tranh cho con xem nhưng con chưa nhận được.
- Như vậy là con may mắn lắm. Có phải ông Malê muốn con học thêm về ngành hội họa không?
- Ông ấy khuyên thế thôi, còn học hay không là quyền của con.
- Ông ấy khuyên như thế, có gì là quá đáng đâu? Con nên thu xếp thì giờ để học.
Phi Nga ngó xuống cái bụng của mình :
- Lúc này con chưa tính đến chuyện ấy được cha ạ. Còn nhiều việc khác phải lo.
Ông Minh lặp lại :
- Con nói phải. Còn nhiều việc khác phải lo. Nhưng con nên nhớ cái cưa, cái cuốc, con dao để lâu không dùng rồi cũng rỉ sét. Con bỏ không vẽ thì rồi con cũng không còn thích sờ mó đến cây cọ nữa.
Ngừng một lát, ông Minh nói tiếp :
- Dùng nghĩ thế nào về việc con được giải thưởng?
- Anh ấy không nói gì hết.
- Nó cũng phải có một phản ứng chớ, hoặc vui, hoặc buồn.
- Anh Dũng bảo lúc nào cũng nghĩ đến hạnh phúc của con, nếu con có vì sự nghiệp mà không lo nổi việc gia đình thì anh cũng không lấy thế làm phiền con.
Ông Minh gật đầu :
- Nó nói vậy là phải lắm. Con không thấy bà Châu đó à, bà ta đã lớn tuổi như vậy mà vẫn cố gắng học vẽ để trở thành một họa sĩ thì sao. Con không chịu học thêm là uổng lắm.
Phi Nga cười :
- Đời có nhiều bà Châu...
Ông Minh hiểu ý con gái nói gì, nên cũng cười :
- Nhưng đời chỉ có một mình Phi Nga, con gái của cha. Con có ý tự phụ như thế cũng được lắm.
Sau bữa giỗ, Phi Anh và Phi Yến đều hỏi chị về chuyện được giải thưởng. Phi Nga cười :
- Giải thưởng ấy thì thấm tháp vào đâu so với cái giải thưởng mà chị sắp nhận được trong một ngày gần đây.
Phi Anh hỏi :
- Giải thưởng gì nữa?
Phi Yến cũng hỏi :
- Chị lại gởi tranh dự thi nữa à?
- Không, đây không phải là chuyện tranh, chuyện vẽ, mà chị sắp có con. Một đứa con gái.
Phi Anh bĩu môi, tỏ vẻ thất vọng :
- Đẻ cho nhiều, vài ba năm nữa trông chị già khú và mộng đẹp ngày xanh không còn thực hiện được.
Phi Yến cũng nói :
- Chị chỉ biết có anh Dũng, nhưng anh ấy làm sao ngăn cản con đường tiến thủ của chị được.
- Anh ấy ngăn cản làm gì? Các em cứ vu khống cho anh Dũng, tội chết, anh ấy hiền lắm, cắn cơm không bể mà!
Phi Anh nói :
- Chính những hạng người ấy mới đáng sợ, lạt mềm buộc chặt mà!
Phi Yên cười vì nghe câu nói hay hay của chị. Phi Anh được thể liền nói :
- Bà Châu bất tài như vậy mà còn đi học vẽ, còn chị, chị lại định dẹp tất cả để lo cho mỗi một mình anh Dũng. Mà nào anh ấy có phải là người có tài gì cho cam.
- Các em không nên công kích anh Dũng hoài vậy. Chị không muốn nghe các em bàn đến công việc của chị. Thế nào, cha bằng lòng rồi đó, sao Phi Anh chưa đi học?
Phi Anh nói :
- Em sắp đi rồi. Lần này chị sanh cháu nhỏ chắc không có em ở nhà. Từ nay em không bàn gì về chuyện của chị nữa.
Từ hôm ăn giỗ ở nhà cha mẹ về, Phi Nga thấy Dũng có vẻ băn khoăn, lo nghĩ. Sau cái đêm Dũng ra đứng ở cửa sổ đôi mắt ngấn lệ, Phi Nga nhận thấy Dũng ít nói hẳn, có khi ngồi sững cả giờ không buồn nhìn đến bé Hoàng. Rồi một hôm ở trường về, Dũng đột ngột nói với vợ :
- Anh xin đổi về Biên Hòa.
Phi Nga ngạc nhiên :
- Từ miền Tây xin đổi về miền Đông? Lại xin đôi giữa niên khóa thế này? Ông hiệu trưởng có chịu chuyến đơn của anh lên cấp trên không?
Dũng chậm chạp nói :
- Lẽ ra anh nên bàn với em về việc này, trước khi gởi đơn đi. Nhưng anh nghĩ, chúng ta là một, em không bao giờ phản đối việc làm hợp lý nào của anh, mà việc anh xin đổi đây cũng rất hợp lý.
Phi Nga dằn từng tiếng :
- Hợp lý? Hợp lý khi niên khóa chưa mãn, khi em đang thai nghén gần ngày sanh... Đổi lên Biên Hòa, mình không quen với ai hết, nhà cửa phải thuê mướn. Trả ngôi nhà này lại cho ông Châu, em tiếc lắm. Đây đang là tổ ấm của chúng ta.
- Giữa niên khóa xin đổi khó lắm chớ đâu phải dễ. Anh có một người bạn dạy ở Biên Hòa. Anh ấy có việc nhà, cần về đây, anh ta năn nỉ anh hoán đổi cho nhau. Có vậy mới mau chóng. Em có sanh cũng còn vài tháng nữa.
- Anh đã có ý đổi đi nơi khác thì mọi việc anh lo lấy, em không lo được nữa. Em thấy mệt lắm rồi.
- Từ trước đến giờ anh không bao giờ nghe em kêu mệt.
- Nhưng lần này thì em mệt. Anh lo sao cũng được, miễn là có nhà ở, đồ đạc chuyển lên trên ấy đầy đủ cho em thì thôi.
Dũng buồn bã nói :
- Em không lo thì anh lo chớ sao. Nhưng anh lo thì không thể nào đầy đủ bằng em. Theo lời anh Phong thì có một biệt thự nhỏ rộng bằng hai ngôi nhà này. Nhà ở trên bờ sông, mát mẻ. Cái biệt thự ấy anh Phong thuê nhưng bây giờ người ta muốn bán, vài trăm nghìn gì đó. Em nhắm mua được thì mua.
- Anh thấy nhà chưa?
Dũng lắc đầu :
- Sắp có lễ được nghỉ hai ngày, anh định đi Biên Hòa xem nhà cửa ra sao? Anh sẽ hỏi kỹ càng hơn, rồi chúng ta định liệu sau.
- Anh cứ quyết định đi, không cần có ý kiến của em. Anh xin đổi, anh có hỏi ý kiến em đâu?
Từ ngày cưới nhau, đây là lần đầu Phi Nga nói lẫy với chồng. Dũng biết Phi Nga đang giận vì Phi Nga hiểu rõ nguyên nhân khiến Dũng không muốn ở đây nữa. Dũng không thích cho Phi Nga gặp bà Quỳnh thường. Nếu Phi Nga ở Biên Hòa, mỗi lần về thăm ông hội đồng Tích, bà Quỳnh sẽ không đến thăm Phi Nga được. Nàng sẽ không nhận được tin tức của ông Malê. Không ai nhắc nhở nàng về chuyện vẽ. Bà Châu cùng không lui tới kể chuyện học vẽ với các họa sĩ ở Sài Gòn. Như thế hạnh phúc của Dũng không bị hăm dọa nữa.
Dũng thấy rõ là Phi Nga đang tức giận nên hỏi :
- Em không muốn cho anh đối lên Biên Hòa à?
Phi Nga bực dọc :
- Anh đặt em trước một việc đã rồi như thế, anh còn hỏi em bằng lòng hay không thì thật là dư sự. Em hiểu vì lẽ gì anh không muốn ở đây nữa. Em nói cho anh hiểu, với em, ở bất cứ nơi nào, em cũng có thể tạo một nếp sống yên vui, hạnh phúc. Hạnh phúc do mình tạo ra. Nhưng dời chỗ ở giữa lúc em mang thai gần ngày như thế này, em thấy anh nông nổi và thiếu suy nghĩ.
Trước những lời trách móc của vợ, Dũng thấy hối hận, liền đi lại ngồi bên Phi Nga. Để nàng bớt tức giận, Dũng bắt chước những cử chỉ mà trước đây nàng dùng để làm Dũng đừng nghĩ ngợi lan man. Dũng cầm lấy tay Phi Nga đặt lên bụng của nàng :
- Nghe kìa, con đạp mạnh thật. Nó đang đòi quyền được sống.
Nhưng lần này nghe Dùng nói thế, Phi Nga cau mày :
- Anh nói đúng, nó đang đòi quyền được sống và chắc chắn nó là một đứa con gái. Đàn ông các anh tha hồ ngang dọc, còn đàn bà chúng tôi thì lúc nào cũng đóng vai phụ vì thế lắm lúc cũng bực mình, muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Trong khi Dũng đang sững sốt vì câu nói của Phi Nga thì nàng nói tiếp, giọng mỉa mai :
- Đạp tiêu phòng là cảnh các cung nữ ngày xưa, còn con bé trong bụng em thì chắc chắn là nó muốn đạp cái bụng em để trông thấy ánh sáng.
- Tại sao em biết nó là một đứa con gái? Em muốn mà được sao?
- Sao lại không được? Ý chí em mạnh lắm, anh biết mà. Nhưng thôi, bàn chi chuyện viển vông. Anh nhất định đổi về Biên Hòa phải không? Được, em không làm trái ý anh, nhưng mọi việc anh hãy lo lấy.
Phi Yến và Phi Anh được tin chị sắp dọn về Biên Hòa liền đến thăm và phản đối :
- Anh ấy làm mà không hỏi ý kiến chị à?
- Và chị bằng lòng đi theo anh ấy à? Cha mẹ biết chuyện này đều không được vui. Cha bảo có chồng thì phải theo chồng, cha mẹ đâu có quyền gì trong việc này, cha nói vậy nhưng em thấy cha buồn. Còn mẹ thì không yên lòng vì nghĩ đến lúc chị sanh không có ai ở bên chị.
Phi Anh nói tiếp :
- Bây giờ em mới thấy, anh Dũng ngó vậy mà khó chịu thật.
Phi Yến nói :
- Hôm nọ em chất vấn anh Dũng thì anh bảo anh nê bạn nên mới chịu đổi như vậy. Anh không ngờ chị không vui.
Phi Nga nói :
- Ở mãi một chỗ cũng buồn, đi đây đi đó để thay đổi không khí cũng hay. Chỉ bực mình là lúc này chị đang có thai gần ngày sinh, không dọn dẹp nhà cửa gì được.
Phi Yến nói :
- Vài tháng nữa chị hãy nghĩ đến chuyện ấy, bây giờ chị nặng nề như thế kia đừng làm lụng nhiều. Hãy để anh ấy lo cho biết chừng.
Ba chị em cùng cười. Phi Yến nói :
- Anh Dũng đổi đi chắc ông Châu tiếc anh ấy lắm.
Phi Anh cãi lại :
- Tiếc chị Phi Nga thì có... À, ông ấy không nói gì cả sao, hay là ông ấy cũng thích vì anh chị đi thì trả ngôi nhà này lại cho ông ta?
Phi Nga nói :
- Hôm nọ ông Châu có đến đây, lúc anh Dũng dạy ở trường. Ông không muốn cho anh Dũng đổi đi nhưng chị không thể làm như thế. Kể ra cũng tội nghiệp cho anh Dũng. Thì cứ thử chiều anh ấy một lần xem sao? Người đàn bà một khi có chồng mong mỏi cái gì? Sự hòa thuận, êm ấm ở gia đình. Ngoài ra cái gì cũng chỉ là ảo ảnh cả. Khi nào các em có gia đình rồi, các em mới hiểu điều này.
Phi Nga nói như thế vì nàng nhớ lại cái đêm Dũng đang ngủ bỗng thức dậy ra đứng ở cửa sổ mà nước mắt chạy quanh. Phi Nga không nói cho hai em biết điều này và cũng không nói lại những lời ông Châu đã nói với mình :
- Cô Phi Nga à, tại sao cô lại để cho thầy Dũng hoán đổi về Biên Hòa? Chúng tôi có lấy lại nhà cửa đâu? Thầy Dũng và tôi cũng không có sự gì bất bình nhau.
- Nhà tôi muốn thế, biết sao bây giờ?
- Cô còn nhỏ, cô cùng như em gái của tôi, cô cho phép tôi lấy tình thân hỏi cô việc này.
- Xin ông cứ hỏi.
- Hình như thầy Dũng không vui khi hay tin cô được giải thưởng gì đó bên Pháp.
- Nhà tôi vui lắm chớ.
- Không, cô đừng che đậy như thế. Liền sau cái tin mừng kia, ai cũng thấy thầy Dũng có vẻ nghĩ ngợi. Và thầy bỗng có ý muốn đổi đi. Tôi có khuyên thầy Dũng khi thầy nộp đơn nhưng thầy không chịu nghe. Nếu cô tỏ ra nể chồng thái quá thì tôi e từ đây cô chỉ biết sống cho gia đình.
- Sống cho gia đình, cho chồng con là nguyện vọng của tôi.
Ông Châu lắc đầu :
- Không đâu. Tôi không hiểu tại sao cô lại chịu kết hôn với một người như thầy Dũng. Lẽ ra cô phải có một người chồng hiểu cô hơn. Dũng không hiểu cô, không biết tài của cô. Cô không chịu nghe lời khuyên của ông Malê, của bà Quỳnh và bây giờ của cả tôi nữa. Cô đành để cho tài của cô mai một trong bổn phận làm vợ, làm mẹ thì thật là điều đáng tiếc.
Ông Châu nói nhiều lắm, Phi Nga ngồi nghe, đôi mắt nhìn ra vườn, tâm trí để tận đâu đâu. ông Châu kể chuyện bà Châu đang học vẽ ở Sài Gòn, coi bộ ham thích lắm.
- Tôi tưởng bà ấy nói đùa cho vui, ai ngờ bà ấy chịu khó học thật sự. Mấy hôm trước bà ấy mang về mấy bức tranh phong cảnh, xem cũng đỡ đỡ. Nay mai gì thì bà đi học với ông Trần Phong. Cô thấy đó, tôi không hề ngăn cản nhà tôi, tôi còn khuyến khích là khác.
- Cảnh của tôi khác của bà xa lắm. Tôi còn trẻ, đang lúc cần sống cho chồng, cho con, đang lúc chỉ thấy tình thương là lẽ sống, sự nghiệp, công danh là chuyện chưa phải lúc nghĩ đến. Không hiểu trước đây tôi chưa lập gia đình mà tôi gặp ông Malê, gặp ông với những lời khuyên của ông, tôi có nghe hay không, có đem hết tâm trí vào việc tạo cho đời tôi một sự nghiệp không? Chớ còn bây giờ, con tim có những lý lẽ mà lý trí không sao hiểu được, ông ạ. Tôi không hiểu nếu tôi phụng sự cho nghệ thuật, những bức tranh của tôi đem lại cho đời những lợi ích thiết thực gì, và nếu tên tôi được đời nhắc nhở đến, có lợi ích gì cho tôi không? Chớ còn bây giờ sống cho chồng con, tôi thấy lòng tôi lúc nào cũng ngập tràn một niềm vui. Chồng tôi có tôi, con tôi có tôi, tôi nhận thấy tôi có ích cho những người thân và rồi đây con tôi lớn lên, tôi dạy dỗ chúng nó nên người. Như thế ít ra tôi thấy rõ ràng trước mắt cuộc sống của tôi cần thiết đối với gia đình và với cả xã hội nữa.
Phi Nga còn nói nhiều lắm và ông Châu ngồi im nghe. Khi ra về ông tiếc rẻ là chưa thuyết phục được Phi Nga. Ông đành nói :
- Cô đi xa thỉnh thoảng về thăm nhà, nhớ ghé qua thăm vợ chồng chúng tôi.
Sau khi Dũng đi Biên Hòa xem qua ngôi nhà mà Phong nói với Dũng, Dũng rất hài lòng là Phong hứa giúp Dũng việc chuyên chở đồ đạc, kêu thợ sơn quét nhà cửa. Đâu đó yên xong rồi Dũng sẽ rước vợ con lên. Phong còn giới thiệu cho Dũng một người bạn làm cô đỡ ở bệnh viện để khi nào Phi Nga sanh đẻ thì nhờ đến cô ấy.
Phong còn nói :
- Ở đây phong cảnh đẹp, chị ấy tha hồ vẽ. Nếu anh chị có tiền thì mua luôn ngôi nhà này.
Từ hôm Dũng đi Biên Hòa về thì chàng và Phi Nga vẫn vui vẻ như thường, cả hai cùng tính chuyện dọn dẹp đồ đạc, chờ ngày Phong cho người xuống chở. Dũng nói :
- Em cứ ngồi nghỉ đi, để anh làm cho.
Phi Nga vẫn dọn dẹp đồ đạc vào rương, vào thùng. Những bức tranh và dụng cụ để vẽ, nàng bỏ hết vào một thùng lớn. Đôi khi vừa làm, Phi Nga vừa nói đùa :
- Em muốn để anh dọn một mình cho đáng kiếp, ai bảo xin đổi đi làm gì, nhưng rồi thấy anh hì hục, em không nỡ.
Dũng mừng rỡ :
- Em hết giận anh rồi chớ?
- Giận mà làm gì? Giá mạng có hai vợ chồng mà giận nhau thì ở với ai đây? Em mà giận anh thì còn thương yêu thằng Hoàng sao được?
Dũng cười :
- Vậy mà mấy hôm nay anh lo quá.
- Lo quá? Anh mà biết lo cái gì? Dù anh có lo thì chuyện lo nghĩ của anh cũng chỉ là chuyện tầm phào.
- Em khinh anh đến mức ấy sao?
- Không phải khinh mà em biết rõ tánh anh như thế. Chuyện đã rồi có cãi nhau cũng không ích gì. Nếu sống ở đây, anh không yên lòng thì muốn đi đâu em cũng có thể theo anh, xem thử rồi đây anh có vui lòng hay không? Em không muốn thấy anh tái diễn cái cảnh đêm nọ anh bỏ ngủ để lo nghĩ những chuyện không đâu.
Dũng nghe vợ nhắc lại chuyện cũ, bẽn lẽn :
- Thôi mà em, nhắc chi chuyện ấy? Từ nay anh không còn có ý nghĩ chán nản, cuồng điên ấy nữa. Đôi khi anh cũng nhận thấy anh quá ích kỷ, nhưng nếu em hiểu cho anh thì em cũng sẵn lòng tha thứ cho sự ích kỷ có lý do ấy. Một người chồng bao giờ cũng không muốn mất vợ, không bao giờ yên lòng khi hạnh phúc gia đình bị hăm dọa thường xuyên.
Phi Nga không muốn nghe những lý luận ấy. Nàng chỉ nghĩ Dũng muốn đòi đi Biên Hòa mà nàng chiều ý Dũng là được, nhưng lúc nào nàng cũng tin là nàng có thể làm chủ hoàn cảnh, nàng có thể tạo cho đời nàng, những người thân của nàng một cuộc sống theo ý nàng.
Khi Phi Nga lên tới Biên Hòa thì thấy nhà cửa dọn dẹp đâu đó yên xong. Ngôi nhà ấy rộng gấp đôi ngôi nhà cũ, có vườn rộng, ngó ra bờ sông mát mẻ. Dũng nói :
- Ở đây, nếu em muốn sẽ có chỗ riêng biệt cho em vẽ. Có cả phòng riêng cho con cái, nếu ta có tiền thuê vú thì các con chúng ta ở một phòng. Em tha hồ làm việc.
Mặc dù gần ngày sanh, Phi Nga cũng chịu khó trang hoàng lại nhà cửa và Dũng mừng thầm khi thấy Phi Nga không phiền trách chàng.
Làm việc gì Phi Nga cũng để hết tâm trí vào việc ấy và cũng có thể say mê vì công việc. Dũng ngồi nhìn nàng trang hoàng căn phòng dành riêng cho bé Hoàng, không khỏi phục tài nàng nên nói :
- Em định mua ngôi nhà này hay không mà vẽ kỹ như vậy?
- Anh muốn mua ngôi nhà này à? Anh định ở luôn đây sao?
- Anh thấy khí hậu miền Đông dễ chịu hơn.
- Nếu vậy, anh cứ nhờ anh Phong thương lượng giùm đi rồi em thưa với cha mẹ lấy món tiền hồi môn của em mà mua. Nếu là nhà của mình thì em sẽ sửa lại cái giếng, đặt máy bơm, em giao anh phần trồng trọt ngoài vườn, nhớ trồng thật nhiều hoa hồng cho em đấy nhé.
Việc dạy học của Dũng không có gì thay đổi, vẫn ngày hai buổi. Phi Nga không bao giờ nghe Dũng bảo là chàng thích học sinh, lớp học chàng vui vẻ... Dũng làm việc một cách bất đắc dĩ, không có gì sốt sắng. Từ ngày về đây, Dũng chưa có bạn bè thân. Chỉ vài đồng nghiệp mới đến thăm, có ông cũng đưa vợ đến chơi với Phi Nga.
Một tháng sau khi Dũng mua xong căn nhà thì Phi Nga sanh một đứa con gái. Con bé lần này cân nặng hơn bé Hoàng lúc trước, khỏe mạnh, hồng hào và Phi Nga cũng chóng bình phục. Lần này trong lúc sanh, không có cha mẹ và hai em thăm viếng, Phi Nga hơi buồn. Tuy vậy, Dũng không thấy vợ băn khoăn nhiều về việc này. Trước khi sanh, Phi Nga có mượn được một người giúp việc đã lớn tuổi. Một hôm Dũng đi vắng, Phi Nga chuyện trò với chị Tâm :
- Trước đây chị đã làm việc với ai chưa?
Chị Tâm nói :
- Tôi chưa đi làm, cô ạ. Chồng tôi chết sáu, bảy năm nay, hai con tôi đều có gia đình, nhưng thật ra chúng nó là con riêng của nhà tôi, vì thế bây giờ tôi không còn ai thân thích cả. Cô Phong thấy vậy khuyên tôi đến giúp cô vài tháng, bao giờ cô thật mạnh rồi, không cần đến tôi nữa thì tôi buôn bán làm ăn.
Phi Nga nghe thế liền hỏi :
- Chị có nhà cửa ở đây chớ?
- Không, quê tôi ở Bình Dương, tôi ở chung với một người bà con nhưng mà cảnh ở nhờ phiền lắm.
Phi Nga do dự một lát rồi hỏi :
- Chị có muốn ở đây luôn với chúng tôi không?
Chị Tâm nói, vẻ chân thật :
- Tôi chưa đi làm thuê ở mướn với ai bao giờ nên không biết có thể ở đây lâu với thầy cô không. Cô cứ để tôi ở thử xem sao? Nếu tôi thương hai cháu được, nếu thầy cô thương tôi được thì tôi có thể giúp cô lâu dài. Và cô cho phép tôi xem gia đình của thầy cô như gia đình của tôi.
- Bây giờ trong giai đoạn ở thử thôi phải không? Nhưng tôi tin rồi đây chị sẽ mến hai cháu. Bé Hoàng cũng dễ thương phải không chị?
- Dễ thương lắm, mà cháu nhỏ cũng đẹp quá, cô ạ. Cháu nhỏ tên gì hả cô?
- Bé Phi Hồng... Chị không còn ai là người thân thích thì hãy xem gia đình tôi như gia đình chị, chị ở đây với chúng tôi, bao giờ thấy buồn không muốn ở nữa thì hãy đi.
Nhờ vậy mà chị Tâm đã hết lòng với Phi Nga. Phi Nga rất mừng khi thấy chị Tâm nấu nướng rất khéo, làm lụng lanh lẹ, gọn gàng. Nhờ vậy mà Phi Nga rảnh rang săn sóc hai con. Chị Tâm còn thu xếp thì giờ tắm rửa cho bé Hoàng, đưa nó đi chơi, hoặc ẵm bé Phi Hồng, ru nó ngủ. Tối lại chị còn giành phần giữ hai đứa bé để Phi Nga có thể ngủ yên giấc.
Phi Nga nói với Dũng :
- May thật, chị Tâm giỏi quá mà lại biết thương yêu hai đứa bé. Chị làm tất cả và xem việc nhà của mình như của chị. Chị nấu nướng rất khéo, còn khéo hơn em nữa, lúc này em rảnh rang thật đấy mà bé Hồng thì dễ hơn Hoàng lúc nhỏ.
- Nhưng chắc gì chị ấy ở mãi đây với mình?
- Em chưa thấy chị ấy phiền gì về mình cả, chắc là chị ấy sẽ ở đây lâu. Nếu được vậy thì em sẽ dùng thì giờ dư vẽ cho xong mấy bức tranh em định vẽ lúc chưa có thai bé Phi Hồng. Vẽ hình anh, vẽ hình của chúng ta.
Không thấy Dũng nói gì, Phi Nga nói :
- Em định bán vài tấm tranh để trang hoàng nhà cửa. Em bắt đầu làm việc lại, xem thử có được không.
Ngày hôm sau, Phi Nga dọn dẹp một căn phòng để làm chỗ vẽ. Nàng hì hục dọn quét cả ngày. Chị Tâm thấy vậy liền hỏi :
- Cô làm gì, sao không bảo tôi làm cho?
Phi Nga cười :
- Chị cứ để yên cho tôi, tôi sửa soạn một chỗ để vẽ.
- Cô biết vẽ sao?
- Biết chút ít thôi. Nếu chị ở lại đây với tôi, tôi được rảnh rang sẽ vẽ tranh.
- Vẽ tranh để bán hả cô?
- Vẽ để tập và nếu ai mua cũng bán.
Chị Tâm suy nghĩ một chút rồi nói :
- Nếu cô có công việc làm thật sự, nghĩa là cô cần tôi thì tôi sẽ ở đây lâu với cô.
Phi Nga hỏi lại :
- Chị bằng lòng ở lại đây với tôi? Tốt lắm. Tôi sẽ có việc làm và nếu có đi đâu, tôi yên lòng vì đã có chị săn sóc hai cháu.
Từ hôm ấy, hễ Dũng đi dạy thì Phi Nga vào phòng vẽ. Nàng sửa lại bức vẽ hình của Dũng, rồi vẽ một tấm hình lớn gồm Dũng, nàng và hai đứa bé, Dũng và Phi Nga ngồi bên nhau, bé Hoàng đứng bên Dũng, còn bé Phi Hồng thì ngồi trong lòng mẹ. Vẽ xong bức tranh ấy, Phi Nga cuốn lại, rồi vẽ các bức phong cảnh “Buổi chiều trên sông”, “Bình minh trên cánh đồng”...
Cuộc sống của nàng và Dũng không có gì thay đổi, ngày nào cũng thế. Dũng ở trường về đã thấy Phi Nga bồng bé Hồng ra đón chàng, sáng cũng như chiều. Còn bé Hoàng hễ thấy Dũng về là ôm chầm lấy Dũng. Thằng bé rất yêu Dũng. Những bữa cơm vẫn ngon, nhà cửa thứ tự, các con vẫn sạch sẽ, khiến Dũng không ngờ là Phi Nga đã làm việc trong những lúc Dũng vắng nhà. Chiều nào Dũng cũng tưới hoa, xới đất trong khi phi Nga săn sóc con, chờ chị Tâm làm cơm. Sau bữa cơm tối, Dũng chấm bài, Phi Nga may thêu...
Ngày tháng cứ như thế trôi qua một cách nhanh chóng. Ngày bãi trường lại đến nhưng mùa hè năm ấy Dũng phải đi dự lớp tu nghiệp và còn phải đưa học sinh đi dự trại hè. Phi Nga ở nhà với hai con tha hồ mà vẽ. Nàng biết Dũng không thích đi xa, nhưng ông hiệu trưởng ở đây không phải như ông Châu. Ông Châu vì nể Dũng, mến Phi Nga nên rất dễ dãi với Dũng, tránh cho Dũng những sự mệt nhọc, vất vả.
Sau khi dự khóa tu nghiệp, Dũng về nhà bỗng xuống sức hẳn. Phi Nga săn sóc chồng và khuyên Dũng đi khám bệnh, nhưng Dũng bảo là chỉ mệt xoàng, nghỉ ở nhà vài hôm sẽ bình phục. Nhưng còn phải đưa học sinh đi dự trại hè, Dũng mất sức thêm một cấp nữa. Người ta đi nghỉ mát thì khỏe, Dũng đi nghỉ mát lại yếu đau, mệt mỏi.
Đến ngày tựu trường, Dũng vẫn nghe mệt nhiều, bỏ cả việc săn sóc vườn tược. Vì thế chiều nào Phi Nga cũng đưa Dũng đi dạo trong vườn. Một hôm tình cờ Dũng hỏi Phi Nga :
- Mấy lâu nay sao không thấy em vẽ?
- Em có vẽ, nhưng anh không biết là vì em chỉ làm việc những lúc anh đi dạy.
- Em vẽ được những gì, sao không cho anh xem với? Hay em nghĩ anh không biết gì về tranh?
- Tại anh có vẻ không muốn xem tranh của em.
Dũng theo Phi Nga vào phòng vẽ. Sau khi xem các bức tranh đang vẽ lỡ dở, Dũng hỏi :
- Còn đâu nữa?
Phi Nga lấy từng cuốn giấy căng ra cho Dũng xem. Khi xem bức vẽ chính mình. Dũng ngạc nhiên :
- Anh như vậy sao?
Phi Nga gật đầu thì Dũng nói :
- Không có anh ngồi làm mẫu, làm sao em vẽ giống anh được?
- Em thuộc tất cả những nét đặc biệt của anh. Anh thấy không giống anh à?
- Không phải không giống, nhưng trông anh xa vắng, yểu tướng, có một nét gì đó mong manh quá.
- Sao anh lại nghĩ vậy?
Dũng không được vui :
- Anh nhìn bức tranh, tự nhiên có cảm giác như thế.
Phi Nga vội nói :
- Anh chỉ tài nghĩ nhảm.
- Còn tấm tranh nào nữa?
- Còn tấm vẽ chúng ta và hai con. Đây này.
Dũng giúp Phi Nga căng tấm tranh ấy lên giá vẽ, rồi lùi lại để ngắm. Phi Nga đứng sau lưng, chờ chàng phê bình. Nàng hồi hộp không hiểu tại sao Dũng lại đứng tần ngần cả mười phút, không nói năng gì cả, đôi mắt cứ nhìn đăm đăm vào bức tranh. Phi Nga lo sợ đi lại đứng sát bên, đặt nhẹ tay lên vai chồng. Dũng giật mình khi cảm thấy có bàn tay của Phi Nga đè nhẹ lên chiếc áo.
- Anh thấy thế nào? Có được không?
Dũng quay lưng lại rồi đi lại cửa sổ, nhìn ra vườn, lặng lẽ không nói một lời. Phi Nga nhớ lại cái đêm nọ lúc còn ở ngôi nhà cũ, Dũng cũng đã đứng như thế giữa đêm khuya, trong lúc Phi Nga ngủ ngon.
Phi Nga bối rối hỏi :
- Anh không thích bức vẽ ấy à?
- Bức vẽ đẹp lắm, em thật là một thiên tài. Nhưng tại sao em lại vẽ như thế? Một người vợ ngồi bên chồng, phải nhìn về phía chồng, còn không phải cúi nhìn đứa con. Trong tranh, em lại nhìn về phía khác, và đôi mắt của em xa xăm, như đang mơ ước một chân trời nào khác, không phải cái khung cảnh chật hẹp của gia đình. Nét mặt em đầy nhựa sống, đầy tin tưởng, còn nét mặt anh thì đầy băn khoăn, lo nghĩ...
Phi Nga quay nhìn lại bức vẽ :
- Lúc vẽ em không để ý.
Dũng hỏi gằn :
- Em không để ý?
- Hình hai con đẹp chớ?
- Lẽ dĩ nhiên là đẹp.
- Thế tại sao em lại vẽ anh không đẹp? Như thế nào phải vẽ thế ấy. Vẽ hình người nào, tức là chép y hình dung người ấy. Và nếu có tài thì lột hết nội tâm của họ lên bức vẽ.
Dũng bực bội nói :
- Anh không cần em vẽ anh thành một kép xinê đẹp trai, anh chỉ nói về chuyện em vẽ em ngoảnh mặt về phía khác, trông nó làm sao ấy. Lại nữa hình anh ở đây cũng có một cái gì đó phù du. Đôi mắt thì vô thần còn nụ cười lại quá nhạt nhẽo...
Nói xong Dũng đi thẳng ra vườn, ngồi lên chiếc ghế đá. Phi Nga cuốn bức vẽ lại cất rồi đi ra theo, lại ngồi bên Dũng :
- Anh không thích bức vẽ ấy?
Phi Nga thấy Dũng chỉ lắc đầu mà không nói, không giải thích tại sao. Không hiểu được ý chồng, Phi Nga dọ dẫm :
- Hay là để em vẽ bức khác?
Dũng buồn rầu nói :
- Vẽ bức khác làm gì? Cứ để vậy đi.
Tối hôm ấy trước khi đi ngủ, Phi Nga còn nói :
- Vài hôm nữa, em sẽ vẽ bức tranh khác. Anh muốn em nhìn về phía anh hay nhìn con?
Dũng chua chát nói :
- Em nhìn anh hay nhìn con là tự ý em, anh muốn mà làm gì? Anh muốn thì còn có ý nghĩa gì nữa?
Phi Nga làm thinh, nàng cũng không được vui vì chuyện này và từ hôm ấy Phi Nga không còn muốn bước vào phòng vẽ nữa.
Chị Tâm thấy cả tuần Phi Nga không mó đến cây cọ thì hỏi :
- Sao cô không vẽ nữa? Tôi không biết vẽ nhưng thấy cô làm việc tôi thích quá. Đàn bà có tài là chuyện quý.
Phi Nga nghe thế liền kéo chị Tâm vào phòng vẽ, chỉ bức tranh gia đình của mình rồi hỏi :
- Chị xem thử nó có đẹp không?
Chị Tâm đứng ngắm một lúc lâu rồi nói :
- Đẹp lắm. Hai em giống lắm. Hình thầy cũng giống. Thầy có vẻ không được linh hoạt, nét mặt lúc nào cũng bơ phờ như thế đó. Dường như là người bất mãn. Hình cô thì giống lắm rồi, những lúc cô nghĩ ngợi nét mặt cô như thế đó.
- Vậy mà nhà tôi không thích bức tranh này. Chị biết tại sao không?
Chị Tâm nói vì chị nghĩ quá giản dị :
- Tại thầy không được đẹp.
- Không phải vậy. Thầy hỏi tại sao tôi lại không nhìn về phía thầy?
- Như thế thì đã sao?
Rồi chị Tâm gật đầu :
- Hèn gì mấy hôm nay tôi thấy thầy không vui, thì ra là tại bức tranh này.
Phi Nga chỉ muốn biết qua ý kiến một người ít học như chị Tâm. Chị ấy đành là không hiểu gì về hội họa, nhưng nghe chị nói thế, Phi Nga hơi yên lòng. Chị Tâm nói tiếp :
- Có lẽ thầy nghĩ cô không nhìn về phía thầy là không để ý đến thầy, bận tâm cho chuyện gì khác.
- Để tôi vẽ lại bức tranh khác.
Nhưng Phi Nga không vẽ gì hết, nàng chán nản vì thấy Dũng lúc nào cũng đăm chiêu, nghĩ ngợi. Riêng về phần Dũng, Dũng thấy mỗi ngày mỗi mệt mỏi thêm, dường như từng ngày qua đã mang đi một phần sinh lực của chàng. Chàng không sao quên được bức tranh gia đình của Phi Nga và ý nghĩ này luôn có trong đầu Dũng :
- Tại sao Phi Nga lại nhìn về phía khác? Không nhìn ta hay nhìn con? Tại sao Phi Nga lại vẽ ta với nét mặt mệt mỏi ấy?
Phi Nga không biết phải làm sao để Dũng vui lại như trước. Những món ăn do tay Phi Nga làm trước kia Dũng thích và ăn ngon lành, bây giờ Dũng không còn muốn đụng đũa đến. Dũng ăn rất ít, người gầy thấy rõ. Phi Nga buồn lắm.
Trong lúc gia đình Phi Nga đang trải qua một cơn xáo trộn ngấm ngầm thì một hôm bà Châu tìm đến thăm. Bà Châu như trẻ ra, phục sức trang nhã hơn trước. Vừa thấy mặt Phi Nga, bà reo lên :
- Tại sao cô lại nghe lời thầy Dũng dọn về đây?
Nói xong câu ấy, bà khựng lại vì thấy Dũng đang ở nhà. Bà giả lả nói tiếp :
- Tôi tìm nhà thầy cô mất cả buổi... Mệt quá! Ô kìa, sao thầy Dũng gầy sút hẳn đi như thế, không hạp khí hậu ở đây à?
- Từ hôm đi trại hè về đến nay, anh Dũng của tôi bệnh luôn.
- Chắc thầy bị sốt rét rồi. Khí hậu miền Tây hiền lành hơn. Lúc ở dưới, thầy khỏe mạnh, da dẻ hồng hào.
Dũng hỏi thăm sức khỏe của ông Châu và công việc ở trường thì bà Châu nói :
- Nhà tôi vẫn mạnh, công việc vẫn như trước. Không có thầy và cô Phi Nga nên kỳ nghỉ hè vừa rồi, lễ phát phần thưởng mất cả hào hứng.
Dũng hỏi :
- Bà không giúp ông hiệu trưởng sao?
- Tôi đâu có thì giờ. Tôi học vẽ ở Sài Gòn mà.
Phi Nga nói :
- Xa xôi mà bà cũng chịu khó đến thăm chúng tôi, chúng tôi cảm động quá.
- Tôi lên đây thăm người bà con, nhân thế ghé thăm thầy cô. À, tôi sắp cho triển lãm tranh của tôi tại phòng triển lãm Đô thảnh. Hôm ấy tôi sẽ rước cô đi dự lễ khai mạc vởi tôi. Tôi sở dĩ đưực như ngày nay là nhờ cô. Vì thế mà tôi lên đây cảm ơn cô.
Phi Nga đưa mắt nhìn Dũng. Dũng cúi đầu làm thinh. Bà Châu nói tiếp :
- Tôi lên Sài Gòn, lúc đầu học với ông Nam, một họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định. Ông Nam không phải là một họa sĩ có tài, chỉ chuyên vẽ những tấm quảng cáo, bìa tiểu thuyết, truyện tranh... Ông ta dạy tôi được ba tháng. Nhờ ông Nam dẫn dắt tôi vẽ được tất cả mười bức tranh phong cảnh, tranh người. Rồi ông Nam đưa tôi đến giới thiệu với ông Trần Phong. Lần này thì ông Trần Phong nhận cho tôi học. Ông Trần Phong xem những bức tranh của tôi, khen vẽ được, nhưng chưa phải là họa sĩ vì tôi chỉ chép lại tranh của người khác. Bây giờ thọ giáo với ông Trần Phong, tôi tiến bộ nhiều rồi, chính ông đã khuyến khích tôi triển lãm những bức tranh vẽ được trong thời gian học với ông. Ông Trần Phong lo tất cả về cuộc triển lãm này chứ tôi có biết gì đâu.
Bà Châu càng nói, Phi Nga càng cảm thấy buồn, nhưng cô làm vui để bà khỏi hiểu lầm nàng ganh tị với bà. Dũng đang ngồi nghe bà Châu nói chuyện, bỗng đứng lên :
- Anh có hẹn với một người bạn, em ở nhà tiếp bà hiệu trưởng và mời bà ấy ở lại đây dùng cơm nhé.
Quay lại bà Châu, Dũng nói :
- Xin lỗi bà, tôi có hẹn với một người bạn. Bà cứ ở chơi...
Không để Dũng nói hết câu, bà Châu vội nói :
- Thầy có việc cứ đi. Để tôi ở nhà nói chuyện với cô cũng được. Lâu ngày không gặp nhau, chị em chúng tôi còn nhiều chuyện nói với nhau.
Đợi Dũng đi rồi, bà Châu nói :
- Cô không vẽ gì hết sao cô Phi Nga?
- Gần đây tôi có ý định vẽ lại, nhưng rồi lại phải dẹp một chỗ vì anh Dũng bị bệnh. Không phải mắc bệnh nặng nhưng anh ấy ăn ít, ngủ ít và gầy thấy rõ. Bác sĩ bảo anh ấy bị suy nhược, tẩm bổ một thời gian sẽ khỏe lại.
- Họa sĩ nào quen với cô ở Rome về chưa?
- Dạ chưa.
- Thế cô có định đi học với ai không?
- Tôi chưa nghĩ đến chuyện đó.
- Cô nên nghĩ gấp đi. Tôi vẽ thua cô nhiều mà bây giờ nhờ học có thầy, tôi tiến bộ nhiều lắm.
Phi Nga nghĩ thầm :
- Bà ấy vẽ như thế nào mà dám bảo là tiến bộ?
Bà Châu nói :
- Ông Trần Phong phục tôi. Tôi có nói với ông về cô, và ông tỏ ý muốn gặp cô. Hôm nào cô đi Sài Gòn dự triển lãm tranh của tôi, tôi sẽ đưa cô đến thăm ông Trần Phong. Cô nhớ kỹ, tuần sau tôi đem xe lên rước cô.
Phi Nga do dự :
- Anh Dũng đang bệnh, tôi đi sao tiện? Lại còn hai đứa bé...
- Thầy Dũng chỉ mất sức, đâu phải đau nặng. Còn hai cháu thì đã có chị vú. Tôi thấy cô có mướn người, tôi mừng quá.
Lúc đứng dậy ra về, bà Châu còn dặn :
- Nhớ đấy nhé, tuần sau, đúng thứ tư, tôi lên rước cô. Cô sửa soạn sẵn, bảy giờ tôi lên tới. Có cần mời thầy Dũng cùng đi không?
Nghĩ một giây, bà nói tiếp :
- Phải mời cả thầy Dũng, còn đi hay không là tùy ở thầy.
Bà Châu về rồi, Phi Nga ngồi nhìn ra vườn, đôi mắt buồn rười rượi. Bé Hoàng chạy lại gọi nàng mấy lần mà nàng cũng không nghe. Chị Tâm thấy vậy phải lên bồng bé Hoàng xuống bếp. Một sự chán nản từ đâu kéo đến xâm chiếm tâm hồn nàng, nàng nhớ lại những lời của bà Quỳnh, những lời khuyên của ông Malê, rồi thở dài.
Giữa lúc ấy thì Dũng về. Dũng đi lại gần bên mà Phi Nga vẫn không hay biết. Dũng đứng nhìn vợ rồi lên tiếng :
- Bà Châu về rồi à? Em nghĩ gì mà thừ người ra vậy?
- Nghĩ vẩn vơ vậy mà.
- Em nhớ đi dự cuộc triển lãm tranh của bà Châu nhé. Em nên đi cho biết.
Nói xong Dũng ngồi xuống bên Phi Nga rồi nói tiếp :
- Bà Châu đâu có tài gì, vậy mà bây giờ người ta gọi bà là nữ họa sĩ Huỳnh Ngọc Diệp. Rồi đây các báo sẽ nói đến tên bà, trong khi đó, một người có tài như em lại ngồi nhà ẵm con. Vô lý thật!
- Bà Châu tên thật là Huỳnh Ngọc Diệp à? Sao anh biết?
- Lúc nãy anh đến thăm anh Trinh, anh ấy có nói về bà Châu vì bà này có họ hàng với vợ anh Trinh.
- Thế anh có cùng đi xem triển lãm với em không? Từ ngày cưới nhau đến giờ, chúng ta chưa có dịp đi Sài Gòn. Bà Châu mời cả anh nữa.
- Nếu đến hôm đó mà khỏe thì anh sẽ đi với em, chúng ta sẽ gặp ông Châu.
- Chắc gì ông Châu đến dự.
- Sao lại không? Có vợ là một nữ họa sĩ cũng thích chớ.
Phi Nga buột miệng :
- Vậy mà có người không thích thì sao?
Dũng hiểu ý Phi Nga muốn ám chỉ mình liền nói :
- Anh cũng thích thấy em nổi tiếng lắm. Từ nay em nên sắp đặt thì giờ để đi học vẽ. Độ rày đã có chị Tâm chăm nom các con.
Phi Nga nhìn Dũng, vẻ mặt của Dũng thản nhiên, đầy vẻ thành thật. Dũng hiểu cái nhìn ấy nên nói :
- Anh đã nghĩ lại rồi. Em có tài, em nên nghĩ đến sự nghiệp của em. Bao nhiêu người đã khuyên em như thế, lẽ nào anh lại ích kỷ cứ bắt em phải sống bên anh, phải lo cho anh, cho các con?
Dũng nói đến đây ngừng một chút để suy nghĩ, rồi hỏi tiếp :
- Anh Giang về chưa? Em có định học với anh Giang không?
- Anh Giang chưa về. Nhưng lúc này em cần vẽ hơn là học. Em có sẵn nhiều đề tài nhưng chưa vẽ được.
- Thế thì bắt đầu từ ngày mai, em vẽ đi.
Phi Nga hỏi :
- Anh có muốn em sửa lại bức tranh gia đình của chúng ta không?
- Không cần. Em đã vẽ như vậy thì cứ để vậy.
- Anh không muốn em sửa thì thôi, chuyện ấy sẽ nghiên cứu lại.
Dũng cầm tay Phi Nga rồi nói :
- Mấy năm nay, em mất thì giờ nhiều cho anh, cho con rồi. Lúc này anh lại không được khỏe. Không hiểu tại sao từ ngày dọn về đây, anh nghe trong người suy yếu nhiều. Anh cảm thấy anh yếu dần.
Phi Nga nhìn Dũng. Quả thật nét mặt Dũng đầy vẻ mệt mỏi. Nàng liền nói :
- Bác sĩ dặn anh phải tĩnh dưỡng, uống thuốc bổ thật nhiều, vậy mà anh lại không chịu uống thuốc.
Dũng làm bộ vui vẻ :
- Anh sẽ uống để em vui lòng.
Từ hôm ấy, mỗi khi ở trường về, Dũng thường hỏi vợ :
- Ở nhà em đã vẽ được gì chưa?
Phi Nga vui vẻ :
- Em đã vẽ được rồi.
Thế là Dũng đi nhanh vào phòng vẽ của Phi Nga để xem nàng đã làm được những gì. Phi Nga không ngờ sự thăm viếng thình lình của bà Châu đã làm Dũng thay đổi như vậy.
Một hôm Trinh đến thăm Dũng khi Phi Nga đi vắng. Khi Phi Nga về thì chị Tâm nói nhỏ với nàng :
- Thầy mời ông khách vào phòng vẽ. Cả hai nói chuyện trong ấy cả giờ rồi.
Phi Nga đến đứng ngoài cửa thì nghe hai người đang nhận xét về những bức vẽ của nàng. Trinh nói :
- Tôi đâu ngờ chị ở nhà có tài như thế. Ồ, những bức tranh của chị còn đẹp hơn những bức tranh của bà Châu. Vậy tại sao chị không đem ra triển lãm?
- Nhà tôi không có học với ai, vì thế không có người đỡ đầu. Đâu phải ai có tranh cũng đem ra triển lâm được. Phải có vây cánh nữa chớ.
- Thì hãy để chị ấy đến học với ông Trần Phong như bà Châu. Rồi tự nhiên ông ấy đứng ra lo việc ấy cho. Bà Châu cũng nhờ ông Trần Phong lo cho đấy chớ.
Phi Nga nghe Dũng kể Trinh nghe về sự giúp đỡ và khuyến khích của ông Malê thì Trinh liền nói :
- Nếu vậy thì chị đã bỏ trôi qua một dịp? Hay là anh không muốn cho chị có sự nghiệp nào khác ngoài sự nghiệp sanh con đẻ cái cho anh?
- Tôi cũng có khuyên mà nhà tôi bảo đang bận cháu. Có lẽ từ nay nhà tôi sẽ nghĩ đến con đường sự nghiệp.
- Không có lẽ gì hết. Chị phải nghĩ đến con đường sự nghiệp và anh phải vui vẻ giúp chị, có thế gia đình mới có hạnh phúc. Nếu anh vì ích kỷ mà tìm cách ngăn cản không cho chị vẽ thì rồi chị sẽ chán anh.
Dũng phàn nàn :
- Tôi đâu có ngăn cản. Tại sao ai cũng nghĩ vậy? Ông Châu, bà Châu đều nói như thế. Và giờ lại đến phiên anh.
Trinh nhận định :
- Anh không ngàn cản nhưng anh lại muốn chị lo cho anh từng ly từng tí thế kia, thì khác nào anh ngăn cản. Lúc mới yêu nhau, chị ấy có thể hy sinh tất cả cho tình yêu, nhưng anh cũng thừa biết với hạng đàn bà có tài phải đối xử với họ một cách khác. Không thể xem họ là một cái máy đẻ, là chị bếp, chị vú được. Đã lỡ cưới họ rồi thì nếu họ có tài hơn mình, mình hãy nhượng bộ, đừng lên mặt chủ nhân ông với họ mà hạnh phúc gia đình tan vỡ. Nếu anh không phải là hạng người cúi đầu trước một thiên tài thì đừng cưới vợ giỏi hơn mình.
Trinh nói đến đây thì Dũng đứng lên :
- Thôi, chúng ta hãy ra ngoài nói chuyện. Anh hiểu lầm đấy, Phi Nga hiền lành lắm, không cậy mình có tài, không nghĩ mình hơn chồng. Phi Nga bảo đã là vợ chồng thì phải xem nhau như một.
Phi Nga vội vã tránh vào phòng bé Hoàng. Nhưng cũng nhờ nghe câu chuyện giữa Trinh và Dũng mà Phi Nga hiểu vì lẽ gì Dũng thay đổi ý kiến, chịu để cho Phi Nga đi học vẽ, đi xem triển lãm.
Đưa Trinh ra về, Dũng trở vào thấy Phi Nga ngồi bồng con thì ngạc nhiên :
- Em về từ hồi nào?
Phi Nga cười :
- Đố anh biết?
- Em về lúc anh và anh Trinh nói chuyện trong phòng vẽ phải không?
- Đúng rồi! Em tránh mặt, để yên cho anh trò chuyện với bạn. Anh thích anh Trinh lắm phải không?
- Ở đây anh chỉ có Trinh là bạn, không thân thì rồi cũng phải thân.
Để Phi Nga khỏi hỏi lôi thôi về sự thăm viếng của Trinh, Dũng hỏi :
- Bé Hoàng đâu rồi?
- Nó đang đuổi bướm ngoài vườn.
Trong lúc ấy, Dũng nghe có tiếng gọi :
- Mình ơi! Ra đây Hoàng nói cái này.
Dũng ngạc nhiên :
- Nó gọi ai vậy?
- Đố anh biết nó gọi anh hay gọi em?
Dũng cười một cách đầy thú vị :
- Chắc là nó gọi anh.
Bé Hoàng gọi lớn hơn :
- Mình ơi ra bắt dùm em con bướm.
Phi Nga giải thích :
- Mọi ngày chúng ta gọi nhau bằng “mình” nên nó tưởng đâu chúng ta tên Mình.
Thấy gọi mãi mà Dũng không ra, bé Hoàng gọi lại :
- Anh ơi ra bắt con bướm cho em.
Dũng cười và nói với vợ :
- Đúng là nó gọi anh rồi!
Dũng vội vàng chạy ra vườn. Nét mặt Dũng vui hẳn lên và Phi Nga nhìn theo chồng, lòng rộn lên niềm vui khó tả. Trong lúc ấy, Phi Nga cảm thấy mình và Dũng gần nhau vì cả hai đều hướng về bé Hoàng. Phi Nga biết Dũng yêu Hoàng lắm, nhất là từ khi thằng bé bắt đầu tập nói. Dũng cũng rất yêu bé Phi Hồng, nhưng vì nó còn bé quá nên tình cảm ấy chưa thể hiện nhiều được.
Phi Nga bồng bé Hồng đi ra vườn. Dũng đuổi theo con bướm trong khi bé Hoàng đưa hai tay ra chờ đón con vật nhiều màu sắc ấy. Thấy mẹ ra, bé Hoàng nói :
- Mẹ bắt bướm, nó bay mất rồi.
- Cha đang bắt cho con kìa.
Phi Nga kêu Dũng :
- Anh ráng bắt cho con, con bướm nhỏ ấy.
Hoàng nói theo :
- Ba ráng bắt cho con, con bướm nhỏ ấy.
Dũng đã chụp được con bướm trong hai bàn tay úp lại, chàng cười lớn, vang lên cả một góc vườn. Tiếng Hoàng hò reo hòa với giọng cười vô tư của Dũng khiến Phi Nga càng quên tất cả. Câu chuyện của Dũng và Trinh lúc nãy gây cho Phi Nga bao bâng khuâng, xúc cảm thì bây giờ đã tiêu tan theo nhịp cười của cha con Dũng.
Nhưng tôi lại, sau bữa cơm, Dũng nhắc vợ :
- Em phải thu xếp thì giờ để vẽ và nhớ đi xem cuộc triển lãm tranh của bà Châu, em nhé. Em hãy quên đi những gì xảy ra trong đêm nọ và tha thứ cho anh về những gì mà anh đã làm em buồn phiền, nếu có.
- Anh không có lỗi gì hết. Chính em mới là người có lỗi. Nếu em không muốn hay chưa muốn nghĩ đến nghệ thuật, là vì em đang thích sống cho tình yêu. Chỉ có thế, thiên hạ làm sao hiểu em được. Nhưng anh đã muốn cho em học vẽ thì em sẽ nghĩ đến chuyện đó.
Từ hôm ấy Phi Nga thấy Dũng có vẻ cởi mở hơn bao giờ hết.
Nhưng rồi đến ngày bà Châu lên mời Dũng và Phi Nga đi xem triển lãm thì Dũng lại viện cớ chưa được khỏe, không đi dự, để vợ đi một mình. Dũng nói với vợ :
- Em cứ yên lòng mà đi chơi. Ở nhà đã có chị Tâm và anh, em đừng ngại.
Hôm ấy bà Châu chưng diện thật đẹp, nhưng Phi Nga lại rất giản dị trong chiếc áo dài màu xanh nhạt mặt không chút son phấn. Lúc ngồi vào chiếc xe hơi của bà Châu, Phi Nga nói :
- Đây là lần đầu tiên em đi xem một cuộc triển lãm, chắc em quê mùa lắm.
Bà Châu khuyên :
- Cô nên thoa một chút son cho tươi.
Phi Nga lắc đầu. Nàng đang nghĩ về sự thành công của bà Châu. Bà Châu thì khoe khoang luôn miệng :
- Tôi mới mua chiếc xe này để làm phương tiện đi lại. Từ rày về sau chắc tôi phải đi nhiều. Buồn cười lắm, cô Phi Nga ạ. Lúc mình còn ở dưới tỉnh, đội cái chức hiệu trưởng của ông chồng thì không ai thèm biết mình là ai, vậy mà từ khi mình vẽ được vài bức tranh và nàng nghệ thuật cho phép mình mang lại cái tên hồi con gái Huỳnh Ngọc Diệp thì không biết bao nhiêu người tìm đến làm quen với mình. Rồi các báo nói đến tác phẩm của mình, đến phỏng vấn, đăng hình mình lên báo. Có nhiều người lầm tưởng mình chưa lập gia đình nữa! Vì họ nghĩ một người đàn bà đã có chồng, có con và lớn tuổi như mình thì làm sao vẽ vời được... Có vậy ông Châu nhà tôi mới không còn khinh rẻ tôi chỉ biết vẽ bài tứ sắc...
Bà Châu như người say hơi men đắc thắng không có một chút gì gọi là khiêm tốn, quên phắt là mình đang ngồi bên một người có tài hơn bà nhưng người ấy lại vui lòng chịu sống trong bóng gia đình.
Bà nói một hơi, không nghe Phi Nga nói gì thì quay qua nhìn nàng. Nàng cúi đầu nhìn bàn tay, nhìn mà không để ý đến vật mình đang nhìn, tâm trí để tận đâu đâu. Phi Nga đang nghĩ lại sự gặp gỡ của nàng và ông Malê trước đây, về những lời khuyên nhủ của ông, của bà Quỳnh... Bà Châu hỏi :
- Cô nghĩ gì thế?
Phi Nga lim dim đôi mắt :
- Tôi không quen đi xe hơi nên nghe mệt, chớ không nghĩ gì hết.
- Nãy giờ cô nghe tôi nói chớ?
Sự xã giao bắt buộc Phi Nga phải nói dối :
- Tôi nghe.
Thế là bà Châu nói tiếp :
- Ông Trần Phong trước đây làm tôi thất vọng bao nhiêu thì giờ đây lại tử tế với tôi bấy nhiêu. Ông ta thật là người có tinh thần nâng đỡ những người mới chập chững bước vào con đường nghệ thuật. Để tôi giới thiệu cô với ông Trần Phong. Người có tài như cô, chắc thế nào cũng được ông ta mến nể. Trong thời gian người bạn của cô ở Rome chưa về, cô hãy nghe lời tôi, đến học với ông Trần Phong.
- Cám ơn những lời khuyên của bà, tôi sẽ nghĩ lại.
Chiếc xe hơi chạy bon bon trên đường, nuốt bảy chục cây số giờ, thì bà Châu cũng nói không ngừng. Phi Nga ngồi nghe, thỉnh thoảng mới trả lời vài câu hỏi của bà.
Xe ngừng trước một biệt thự lớn ở đường Vĩnh Viễn. Bà Châu nói :
- Chúng ta ghé lại đây để rước họa sĩ Trần Phong.
Bà Châu mở cửa xe và rủ Phi Nga cùng vào nhà ông Trần Phong. Phi Nga đi theo bà như một cái máy. Trong khi bà Châu đi thẳng vào phòng trong thì Phi Nga ngừng lại xem những bức tranh treo đầy phòng lớn bên ngoài. Tranh các môn đệ của ông Trần Phong treo về một phía, một phía là tranh của ông. Những bức tranh của các môn đệ không có gì là đặc sắc, trong khi tranh của ông Trần Phong thật là tài tình.
Phi Nga ngắm say sưa một bức tranh lụa, màu sắc thanh nhã không sao tả được. Phi Nga cảm thấy một cái gì cao khiết, thần diệu len lỏi vào tâm tư mình. Lúc nãy ngồi trên xe, Phi Nga bực mình bao nhiêu vì chuyện khoe khoang của bà Châu thì bây giờ lại thấy khoan khoái, nhẹ nhàng bấy nhiêu khi được xem bức tranh thủy mạc ấy.
Phi Nga không còn biết mình đang đứng ở đâu, quên cả thời gian, không gian. Nàng không ngờ nghệ thuật đi đến một chỗ tuyệt mỹ như thế.
Một bàn tay đặt nhẹ lên vai Phi Nga, lúc bấy giờ Phi Nga mới giật mình quay lại. Bà Châu giới thiệu nàng với ông Trần Phong trong khi nét mặt của nàng còn chìm đắm trong một cảm giác mới lạ. Nàng cũng không để ý là ông Trần Phong đang nhìn mình với đôi mắt vừa ngạc nhiên vừa mến phục :
- Cô Phi Nga mà bà thường nói với tôi đây phải không?
- Dạ phải.
Ông Trần Phong hỏi Phi Nga :
- Cô ngắm gì mà thẫn thờ vậy?
Phi Nga nói :
- Bức tranh này đẹp quá.
Ông Trần Phong chỉ một bức tranh gần đó và hỏi :
- Thế còn bức tranh kia?
- Tôi không thích nó lắm.
- Tại sao vậy?
- Tại vì nếu tôi vẽ, tôi sẽ vẽ thế này.
Vừa nói, Phi Nga vừa đưa tay phác họa một cử chỉ. Nàng nói về con đường dài trải ra trước mắt trong bức tranh :
- Một túp lều bên một con đường hoang vắng phải nằm về hướng này thì bức họa mới nói lên được sự hoang vắng của cảnh vật mà ông muốn diễn tả.
Phi Nga vừa nói vừa đi lại một tấm bảng đen gần đó, lấy viên phấn phác họa những nét chính trước mặt ông Trần Phong.
- Cô không thích tôi vẽ như thế à? Vậy mà có người trả bức tranh ấy đến hai vạn đồng đó.
Ông Trần Phong chắp hai tay sau lưng đi lại trong phòng mà đôi mắt không rời khỏi bức tranh, vẻ mặt ông thay đổi từ tức giận đến suy tư. Bà Châu thấy thế liền nói :
- Xin mời thầy ra xe kẻo trễ.
Ông Trần Phong liếc nhanh Phi Nga, rồi đi theo bà Châu. Bà này lôi Phi Nga đi và nói :
- Chiều nay cô trở lại xem những bức tranh của thầy. Mới xem qua không thể phê bình được.
Lúc ngồi vào xe, ông Trần Phong nói :
- Bà Châu nói phải đó, chiều nay mời cô trở lại xem nốt những bức tranh khác.
- Vâng, chiều nay tôi sẽ trở lại. Mong họa sĩ không giận tôi về những ý kiến mạo muội lúc nãy.
Ông Trần Phong cười lớn :
- Không sao, biết đâu cô không có lý.
* * * * *
Phi Nga bước vào xưởng vẽ của ông Trần Phong, định xem tiếp những bức tranh treo trong phòng. Phi Nga đã dự lễ khai mạc cuộc triển lãm tranh của bà Châu. Không dám nói ra nhưng nàng thấy không có bức nào đặc sắc cả, đó chỉ là một sự sao chép tranh của các họa sĩ khác. Tuy vậy, cũng có vài bức khá đẹp mà Phi Nga đoán chắc đã có ông Trần Phong nhúng tay vào. Ai tinh mắt sẽ thấy rõ ngay.
Trong lúc người đi xem tranh tấp nập trong phòng, nhiều người tụ lại bên bà Châu, thì Phi Nga thấy ông Trần Phong ra về trước. Phi Nga không ganh tị với sự thành công của bà Châu ngày hôm nay, nhưng nàng không sao chịu được cái không khí ồn ào, náo nhiệt ấy. Vì thế Phi Nga đã lặng lẽ ra khỏi phòng triển lãm và kêu xe đi thẳng lại nhà ông Trần Phong.
Phi Nga xem kỹ từng bức tranh, rồi đến ngắm lại bức tranh túp lều giữa cảnh hoang vu thật lâu. Tâm trí nàng để hết vào sự phê bình bức tranh ấy thì sau lưng nàng có tiếng chân đi nhè nhẹ.
- Tôi biết thế nào cô cũng trở lại đây. Cô vẫn giữ ý kiến của cô về bức tranh này?
Phi Nga quay lại và nói :
- Vâng, tôi vẫn thấy nó không được đẹp.
Rồi nàng nhìn lại tấm bảng đen mà sáng nay mình đã phác họa những nét đơn sơ, thấy nó vẫn còn nguyên, chưa được lau chùi. Đôi mắt sáng lên, nàng nói :
- Tôi là một người vô danh tiểu tốt mà lại dám phê bình tranh của một họa sĩ bậc thầy của thiên hạ thì thật là một điều đáng trách, xin ông tha thứ cho tôi.
Ông Trần Phong nhìn thẳng vào đôi mắt của Phi Nga :
- Tôi đã nghĩ kỹ trước khi cô đến đây. Bức tranh này đúng là phải sửa lại.
Rồi với một cử chỉ thân mến, quên rằng ông ta là đàn ông còn Phi Nga là người của phái đẹp, ông lấy hai tay ôm lấy đôi vai nhỏ bé của Phi Nga, y như đối với một người bạn cùng phái :
- Tại sao cô không đến học với tôi? Tôi sẵn sàng chỉ vẻ cho cô. Tôi cũng sẵn sàng xem cô như một người bạn. Cô thấy đó, tôi vẫn nghe theo lời phê bình của cô.
Phi Nga gỡ nhẹ đôi tay của ông Trần Phong ra :
- Tôi hiện đang làm mẹ hai đứa con. Tôi nghĩ đó cũng là một sự nghiệp đáng kể.
Ông Trần Phong la lên :
- Làm mẹ... Chuyện ấy tầm thường quá! Bất cứ người con gái nào có chồng cũng có thể làm mẹ được hết. Nhưng trên đời này có mấy người con gái vẽ được một bức tranh?
Rồi ông chỉ tay ra ngoài đường :
- Kìa, cái bọn đàn ông chạy qua chạy lại đó, có đứa nào không làm cha được đâu, nhưng thử hỏi mấy đứa vẽ được một bức tranh?
Phi Nga phì cười trước lời nói đầy tự đắc của ông Trần Phong. Thấy thế ông Trần Phong hét lên :
- Cô cười à? Tôi nói không phải sao?
Rồi kéo Phi Nga lại một chiếc ghế, ông ra dấu bảo nàng ngồi xuống. Ông đến ngồi trên một góc bàn thấp đối diện và nói :
- Tôi nghe bà Châu nói về cô rất nhiều. Tôi chưa được xem một bức tranh nào của cô. Tôi phải tìm lên chỗ cô ở để xem qua cho biết. Nhưng cô hãy hứa với tôi đi.
- Hứa cái gì thưa ông?
- Hứa sẽ đến đây để tôi chỉ vẻ thêm cho cô. Tôi không lấy tiền đâu mà cô ngại.
Phi Nga lắc đầu :
- Nhưng tôi chưa học được thì làm sao dám hứa? Xin ông đừng đi Biên Hòa mất công, tôi chưa vẽ được bao nhiêu đâu. Mấy lúc nay tôi bận lo cho chồng con. Những bức vẽ được lúc còn con gái thì tôi đã bán hết rồi.
Ông Trần Phong nhìn thẳng vào đôi mắt Phi Nga :
- Vậy cô muốn gì?
- Tôi không hiểu câu nói của ông? Tôi có muốn gì đâu?
- Thế cô đến đây làm gì? Tự nhiên ở đâu đến đây chê tranh của tôi?
Phi Nga nói một cách tự nhiên :
- Tôi được bà Châu mời đi xem cuộc triển lãm tranh của bà. Bà ghé lại đây rước ông nên tôi có dịp ngắm những bức tranh của ông. Chỉ thế thôi. Đâu phải tôi đến đây với ý định xin học vẽ với ông.
Ông Trần Phong nói, giọng bực dọc :
- Tôi muốn giúp cô.
- Tôi thành thật cám ơn ông. Hôm nào rảnh, tôi sẽ đem vài bức tranh của tôi đến đây cho ông xem.
- Cô thích vẽ loại tranh gì?
- Tôi thích vẽ phong cảnh, nhưng trong phong cảnh phải có người. Tôi không thích cảnh chết như bức tranh túp lều bên đường vắng của ông.
Ông Trần Phong mỉm cười :
- Đàn bà thường không thích cảnh chết.
Chỉ một bức tranh treo trên vách, ông Trần Phong hỏi :
- Bức này có đẹp không?
Đó là một bức tranh vẽ một người mẹ đang âu yếm nhìn đứa con nhỏ ngồi chơi dưới đất. Phi Nga nhìn một lúc rồi nói :
- Chưa diễn tả được một cách đầy đủ. Cái đầu người mẹ nghiêng xuống quá, nên đôi mi nhắm lại. Tình mẫu tử chỉ bộc lộ ở nét mặt hiền từ, mà nét mặt người mẹ, họa sĩ nào đây diễn tả không nổi. Bức tranh này không phải của ông.
Ông Trần Phong gật đầu thì Phi Nga nói tiếp :
- Muốn vẽ được bức tranh này phải là một họa sĩ tài hoa, là thợ thì không nên chọn đề tài này.
Ngừng một lát như để suy nghĩ kỹ thêm, Phi Nga nói :
- Một tay thợ mà chọn đề tài này thì càng dễ cho thiên hạ thấy sự bất tài của mình. Một tay thợ có thể vẽ vầng thái dương đang nhô ở chân trời, trải trên mặt biển một rừng hào quang lóng lánh, lung linh năm màu mười sắc; hoặc vẽ những cành hoa tươi thắm giữa trời xuân huy hoàng, với màu sắc óng ánh. Một tay thợ cũng có thể vẽ những đề tài sau đây: một bà cụ già đầu tóc bạc phơ ngồi trên chiếc ghế đá trong một ngôi vườn mát mẻ, giữa cảnh hoàng hôn, chung quanh là năm ba đứa trẻ đang xúm xít để nghe kể chuyện cổ tích; hoặc một thiếu phụ đang làm bếp, đang trang điểm, đang thêu may... Những đề tài ấy ai vẽ không được, vì nó thuộc thể loại chép y một cảnh mắt thấy, màu sắc có sẵn. Nhưng vẽ bức tranh tình mẫu tử thì phải diễn đạt hết tinh thần.
Ông Trần Phong ngồi im nghe Phi Nga nói, đôi mắt dán lên đôi môi nàng. Nhưng Phi Nga không để ý cái nhìn chăm chú của ông, nàng đang bận rộn suy nghĩ như chính mình đang tìm cách thực hiện bức tranh về tình mẫu tử :
- Vẽ một người mẹ đang nghiêng mình bên chiếc nôi của con là cả một công trình vĩ đại. Người mẹ ấy không cần đẹp, ăn mặc không cần sang, nhưng phải vẽ sao cho nét mặt bà thật dịu hiền, đôi mắt trong sáng trong tình yêu thương tha thiết... Phải vẽ đôi tay bà thật mềm mại, để khi ngắm đôi bàn tay mềm mại ấy, người ta hình dung ngay được những cái vuốt ve êm ái.
Đứa bé thì phải vẽ thật mũm mĩm, đôi mắt đen lánh với những cái núm đồng tiền xinh xinh, hai cườm tay no tròn, có ngấn. Phải vẽ như thế để thấy rõ sự khéo nuôi, khéo săn sóc của người mẹ. Đứa bé nhìn mẹ cũng như bà mẹ nhìn đứa bé. Phải vẽ thế nào cho Vũ trụ thu hẹp lại bên chiếc nôi, đôi mắt đứa bé chưa nhận định được gì xung quanh nó, nhưng nó đã nhận ra được nét mặt thân yêu, quen thuộc lúc nào cũng nghiêng mình bên nó. Nếu người vẽ có tài thì qua nét bút, người ta sẽ cảm thấy lúc nó khóc, lúc nó cười, lúc nó vòi vĩnh... nó chỉ thấy có mẹ nó mà thôi.
Vẽ được như vậy sẽ là một bức tranh tuyệt bút. Bức tranh ấy sẽ đẹp hơn tất cả những kỳ quan của vũ trụ, đẹp hơn tất cả những sáng tạo của khoa học. Không một bài hùng ca nào, không một lời triết lý nào và cũng không một vẻ kiều diễm của bậc quốc sắc nào có thể so sánh với bức tranh mẫu tử này của nhân loại.
Đôi mắt sáng lên một cách kỳ quặc, đôi môi đỏ hồng như bị nung đốt bởi một ham muốn say mê phụng sự cho nghệ thuật, Phi Nga nói tiếp :
- Loài người chỉ có bức tranh ấy là đẹp nhất và có vẽ được như thế, nét bút của họa sĩ mới lột được cái ý: Tình mẫu tử còn thì nhân loại còn.
Ông Trần Phong nghe Phi Nga nói đến đây liền đứng ngay dậy :
- Ồ, cô nói phải lắm. Mặc dù chưa thấy bức họa nào của cô, nhưng tôi tin chắc cô là một họa sĩ có tài. Cô đã học với ông thầy nào chưa?
- Có học lúc còn đi học ở trường.
- Lúc ấy cô đi học chữ kia mà! Mỗi tuần được mấy giờ vẽ?
- Vài giờ. Nhưng tôi thích vẽ, nên học thêm, phần nhiều là tự học.
- Bây giờ cô chưa học được à?
- Tôi phải sống cho chồng con tôi.
Ông Trần Phong thở dài :
- Lại trở lại vấn đề này. Sống cho chồng con! Sao cô nghĩ tầm thường quá vậy?
- Sao lại tầm thường?
- Tôi không cãi với cô đâu. Tôi chỉ khuyên cô ráng thu xếp thì giờ để học vẽ, còn không học thì cũng vẽ. Cô đã xem xong những tấm tranh này chưa?
- Xem xong tất cả rồi.
- Cô thích nhất bức nào? Cứ nói đi, tôi tặng cô bức ấy.
Phi Nga từ chối :
- Cám ơn ông. Nhưng tôi đâu dám nhận như thế.
Ông Trần Phong như nhớ ra, chỉ bức tranh lụa mà lúc sáng Phi Nga đã khen :
- Cô thích bức tranh này. Tôi sẽ tặng cho cô.
Phi Nga do dự thì ông Trần Phong nói :
- Đây chỉ là một món quà của một họa sĩ hiểu tài của một họa sĩ khác nên đề tặng. Trên lãnh vực văn học nghệ thuật, không nên phân biệt nam hay nữ, đã là nghệ sĩ thì ai cũng như ai. Tôi có tặng bức tranh này cho cô Phi Nga đâu, mà tôi tặng cho một nhân tài. Thượng đế khi phân phát cho loài người cái thiên tài, đâu có phân biệt người này là đàn ông, người kia là đàn bà. Chỉ tại cô phân biệt như thế, nên cô mới khư khư nghĩ rằng cô phải sống cho chồng con, sự nghiệp của người đàn bà là làm vợ, làm mẹ, và cô tàn nhẫn chôn mất cái tài mà Thượng đế đã ban cho cô. Như vậy Thượng đế một là mù quáng, hai là quá rộng rãi, vung vãi tài hoa mà không cần lựa người, không cần biết người nhận lãnh cái kho thiên tài ấy có chịu đem ra phụng sự cho đời không?
Bây giờ đến Phi Nga ngồi im nghe ông Trần Phong nói. Ông nói một hồi, cũng hùng biện, thiết tha như Phi Nga nói về bức tranh tả tình mẫu tử lúc nãy. Nói xong, ông Trần Phong hạ bức tranh thủy mạc xuống, đề vào những dòng chữ này với cây bút lông:
“Thân tặng một người có tài, nhưng chưa nổi tiếng. Khi nổi tiếng hãy nhớ đến Trần Phong”.
Ông Trần Phong viết xong, cuốn bức tranh lại, lấy giấy hoa gói cẩn thận, bỏ vào một cái hộp giấy, trao cho Phi Nga. Phi Nga nhận và nói :
- Cảm ơn ông. Bây giờ thì tôi phải trở ra phòng triển lãm của bà Châu để còn về Biên Hòa.
Đưa Phi Nga ra tận đường, ông Trần Phong hỏi :
- Cô thấy thế nào về cuộc triển lãm này?
- Tôi cũng nghĩ như ông.
Ông Trần Phong ngạc nhiên :
- Cô biết tôi nghĩ thế nào mà dám bảo rằng nghĩ như tôi?
Phi Nga cười :
- Ông muốn khuyến khích phái nữ.
Ông Trần Phong nhìn sững Phi Nga, không ngờ Phi Nga tế nhị và thông minh như thế :
- Tôi khuyến khích bà Châu là để mở đường cho cô đó, cô có tin vậy không?
- Lúc ấy ông đã biết tôi là ai?
- Mới nghe nói. Nhưng bà Châu nói về cô tỉ mỉ quá khiến tôi biết là cô có tài.
Lúc Phi Nga ngồi trên xe rồi, còn thấy ông Trần Phong đứng trước cửa nhìn theo chiếc xe của nàng, đôi mắt đăm chiêu, nghĩ ngợi...

0
6
 
Phi Nga đang ngồi vẽ trong phòng thì chị Tâm chạy vào :
- Có khách, cô ạ.
- Ai thế?
- Một người Tàu. Ông đi chiếc xe hơi nhà, bảo là tìm nhà cả giờ mới được. Phi Nga biết là ông Trần Phong đến thăm mình, bất giác nhìn đồng hồ và thấy mười giờ. Phi Nga nghĩ :
- Dũng gần về rồi...
Nếu gặp ông Trần Phong chắc chắn Dũng sẽ không vui, mặc dù mấy lúc sau này Dũng thường khuyên Phi Nga vẽ.
Phi Nga nói :
- Chị ra ngoài mời ông Trần Phong vào phòng khách rồi đi nấu nước và dọn ấm chén sẵn giùm.
Nói xong Phi Nga đi rửa tay, thay áo, định đi ra tiếp khách. Rồi không hiểu nghĩ sao, nàng vào phòng bé Hoàng. Hoàng đang ngồi chơi, thấy mẹ vào liền hỏi :
- Mẹ đi đâu đó cho con đi với.
Phi Nga kéo tay con :
- Đi ra chào khách với mẹ.
Thấy Phi Nga bước ra, dắt theo bé Hoàng, ông Trần Phong nói :
- Tìm nhà cô khó quá. Hỏi cô Phi Nga không ai biết hết.
- Phải hỏi nhà ông giáo Dũng thì ai cũng biết.
- Một ông giáo mà thiên hạ biết hơn một họa sĩ à? Lạ quá!
Rồi ông Trần Phong hỏi tiếp :
- Cô vẽ được gì chưa? Xưởng vẽ của cô đâu?
- Tôi không có xưởng vẽ. Tôi chỉ vẽ trong một căn phòng riêng.
- Thế cô vẽ được mấy bức tranh rồi? Có thể cho tôi xem không?
Phi Nga nhìn bé Hoàng. Thằng bé ngạc nhiên trước ông khách lạ nên nhìn ông ta không nháy mắt. Nàng nói :
- Đây là con trai đầu lòng của tôi. Có phải nó đẹp lắm không ông?
Ông Trần Phong cau có :
- Cô cứ mất thì giờ vì những đứa con thì sẽ không làm được trò trống gì hết.
Thấy ông Trần Phong nhìn mình với đôi mắt giận dữ, bé Hoàng rút tay ra khỏi tay mẹ, toan chạy vào nhà. Ông Trần Phong liền nói :
- Đó, cô thấy không? Nó có thích đứng ở đây với cô đâu. Hãy buông tay ra cho nó đi chơi.
Phi Nga chưa kịp nói gì thì chị Tâm bưng nước lên. Bé Hoàng chụp lấy chị :
- Đưa em đi bắt bướm đi.
Ông Trần Phong hỏi :
- Chị vú đó à? Để chị ấy đưa nó đi chơi. Chúng ta còn nói về tranh.
Phi Nga pha trà trong khi chị Tâm đưa bé Hoàng ra sân. Ông Trần Phong ngồi nhìn Phi Nga rót trà ra những cái chén nhỏ, rồi không đợi Phi Nga mời, ông bưng một chén trà uống cạn ngay. Phi Nga rót chén khác, ông cũng uống cạn và cứ như thế làm một hơi cả bốn chén trà nóng. Ông nói :
- Khát nước quá! Trà của cô ngon lắm, sao cô không uống?
- Tôi uống trà ít lắm.
- Thế cô ghiền thứ gì?
Lúc đầu Phi Nga không hiểu câu hỏi của ông Trần Phong, nhưng rồi nàng nhớ đến một bài báo về những cái ghiền của nhà văn. Như Victo Hugo mỗi khi viết văn thì mặc chiếc áo màu đỏ; Balzac thì mặc chiếc áo đen có thêu ren trắng ở tay, ở cổ; Lý Bạch phải có rượu mới làm được thơ... Phi Nga mỉm cười :
- Tôi không ghiền gì hết.
Ông Trần Phong giải thích :
- Cô phải có một sự ham mê nào chớ.
- Khi tôi làm việc thì quên tất cả.
- Có quên con cái không?
Phi Nga muốn thú nhận là nàng quên tất cả, kể cả tiếng con khóc, nhưng nàng không nói, chỉ rót trà thêm vào chén ông Trần Phong. Nhưng ông đã đẩy lui chén trà, đứng dậy :
- Nào, cho tôi xem những bức tranh của cô đi. Tôi lên đây chỉ có một mục đích này thôi.
Phi Nga đành đưa ông vào phòng vẽ, hồi hộp đứng chờ ông xem những bức tranh của nàng, ông Trần Phong xem hết bức này đến bức khác, không nói một lời. Khi xem đến bức tranh gia đình của Phi Nga, ông Trần Phong gật đầu :
- Giỏi lắm! Cô thông minh lắm. Phải vẽ như thế này mới đúng.
Rồi ông nói như để tự hỏi mình :
- Tại sao khi vẽ một gia đình sum họp thì người ta thường có ý nghĩ người vợ phải nhìn chồng hoặc nhìn đứa con đang ẵm trên tay?
Quay lại Phi Nga, Trần Phong hỏi :
- Chồng cô đây phải không?
Phi Nga gật đầu thì ông Trần Phong lắc đầu tỏ vẻ thương hại :
- Cô Phi Nga, cô có tài như thế này, tại sao lại chịu sống trong bóng tối? Tại sao cô chưa chịu xuất đầu lộ diện?
- Tôi mới tập vẽ. Thật ra tôi chưa hài lòng về những bức vẽ này.
Rồi Phi Nga nói về tấm tranh “Người gánh lúa” mà nàng đã bán cho ông Malê.
Nghe đến tên ông Malê, ông Trần Phong hỏi :
- Có phải ông ấy đi sưu tầm tranh không? Tôi gặp ông ấy nhiều lần lắm, ông ta có mua của tôi mấy tấm tranh lụa. Nếu ông Malê đã khuyên cô như vậy, thì cô nên nghe lời. Ông ấy sưu tầm tranh lẽ dĩ nhiên có đôi mắt tinh đời.
Ngừng một lát, ông Trần Phong nói tiếp :
- Cô hãy để tôi chỉ thêm cho cô. Những bức tranh này tuy vậy vẫn còn những khuyết điểm nhỏ về kỹ thuật.
- Tôi sẽ thu xếp thì giờ để lên thọ giáo với ông.
Thấy mình dùng tiếng “ông” có vẻ khách sáo quá, Phi Nga sửa lại :
- Tôi sẽ lên thọ giáo với thầy.
- Không cần học nhiều. Mỗi tuần hai buổi là đủ rồi.
Vừa nói ông Trần Phong vừa đi ra khỏi phòng vẽ, ngồi trở lại chỗ cũ. Phi Nga pha ấm trà khác, ông Trần Phong uống cạn ba chén nữa rồi đứng dậy :
- Tôi phải về Sài Gòn ngay bây giờ. Học trò của tôi đang đợi. À, cô có đọc những bài phê bình của các báo về cuộc triển lãm tranh của bà Châu chưa?
- Tôi chưa đọc.
Ông Trần Phong cười :
- Có người bảo bà ấy chỉ chép lại một số tranh của tôi. Làm bà ấy giận lắm.
- Nhưng chắc cũng có báo khen?
- Tôi không thấy ai khen. Muốn được nhà báo khen thì phải có cái gì cho họ. Họ hiếm khi vô tư mà cũng không có tinh thần khuyến khích người khác. Ở nước Việt Nam dường như người ta không thích thấy phụ nữ múa may trên sân khấu đời để phô trương tài năng của họ.
- Tại bà Châu không có thực tài. Khi người nào có thực tài thì tự nhiên thiên hạ sẽ biết. Thầy lầm đó, người ta ghét những kẻ múa rối, chớ ai lại ghét kẻ thực tài?
Ông Trần Phong nhún vai :
- Chẳng những ở Việt Nam mà ở bất cứ nước nào cũng vậy, kế cả bên Âu, bên Mỹ, người phụ nữ có tài vẫn thiệt thòi hơn nam giới. Cô tưởng giới văn nhân, nghệ sĩ tử tế lắm sao? Họ luôn ganh ghét nhau.
Phi Nga cười :
- Tôi không thấy điều đó. Bằng chứng rõ ràng là tôi chưa phải là kẻ có tài mà thầy, ông Malê và nhiều người nữa còn khuyến khích, giúp đỡ, huống chi là đối với những người có tài thật sự.
Ông Trần Phong ngồi vào xe còn nói với :
- Cô lạc quan quá, tại cô chưa chen chân với đời.
Phi Nga đứng nhìn theo xe của ông Trần Phong cho đến khi nó chạy khuất rồi mới trở vào nhà, ngồi ngẫm nghĩ về những lời của ông Trần Phong vừa nói với mình.
Một lát sau, Dũng đi dạy về. Thấy dấu bánh xe in trên sân đất ướt, Dũng hỏi vợ :
- Bà Châu đến thăm em phải không?
- Không phải. Ông Trần Phong đó. ông ấy lên đây để xem qua những bức tranh của em.
- Ông ấy nói sao?
- Ông ấy khen em vẽ được, nhưng còn những khuyết điểm nho nhỏ. Ông hứa sẽ dạy cho em một tuần hai buổi, dạy không lấy tiền.
Dũng nói :
- Đã học thì phải trả tiền. Không nên nhờ không người ta như vậy. Theo anh thì em nên học với ông Trần Phong. Ông ấy lớn tuổi bao giờ cũng hơn.
- Để em sắp lại thì giờ đã.
- Thế em trả lời cho ông Trần Phong về việc này chưa?
- Em bảo là chưa rảnh. Và anh vẫn chưa được khỏe nhiều.
- Anh khỏe nhiều mới đi dạy được như thế này. Lúc này đã có chị Tâm. Chị ấy nấu ăn không thua gì em, vừa miệng lắm. Em nên đi học vẽ, một tuần hai buổi không mất bao nhiêu thì giờ. Sáng em dậy sớm đi Sài Gòn, độ một giờ trưa em đã về đến rồi. Nếu em học buổi chiều còn tiện hơn nữa.
Phi Nga nhìn Dũng, thấy đôi mắt Dũng quầng đen, làn da còn xanh thì nói :
- Lạ quá, anh uống bao nhiêu thuốc bổ mà sao trông anh vẫn chưa được khỏe.
- Nếu chưa khỏe, bác sĩ đã không cho anh nghỉ ưông thuốc bổ. Em biết rành hơn bác sĩ sao?
Phi Nga bỗng thở dài rồi đi xuống bếp, phụ chị Tâm dọn cơm.
Hai người vừa ngồi vào mâm cơm thì Phi Anh đến. Phi Nga buông đũa chạy ra đón em :
- Em ở dưới nhà lên?
- Không, em ở Sài Gòn lên, vì thế mà không có quà của mẹ gởi cho chị. Ngày mai thế nào Phi Yến cũng lên.
Phi Nga vội vàng bảo :
- Vô dùng cơm với chị rồi nói chuyện sau.
Phi Anh chào Dũng :
- Nghe nói anh bị bệnh, nay đã khỏe chưa?
Dũng nói :
- Anh đã khỏe rồi, cô dùng cơm với anh chị luôn thể.
Chị Tâm đưa hai đứa bé ra mừng dì. Phi Anh ôm bé Hoàng, hôn lên tóc và hỏi :
- Có nhớ dì không? Lên trên này rồi không còn biết dì cháu gì nữa cả. Phi Hồng lại dì ẵm nào.
Chị Tâm trao Phi Hồng cho Phi Anh rồi đi lấy chén đũa bày thêm lên bàn. Phi Anh nói :
- Cháu Phi Hồng giống chị quá, vì thế trông tui nó cũng giống em.
Dũng nói :
- Cô trả nó lại cho chị Tâm, lại dùng cơm kẻo nguội.
Phi Anh ngồi vào bàn :
- Anh chị dùng trước đi, em còn no. Lúc mười giờ em gặp bà Quỳnh với cậu Paul, bà Quỳnh mời em đi ăn sáng vì thế đến giờ này chưa nghe đói. Cậu Paul hỏi thăm chị rối rít. Cậu ấy bảo thế nào cũng lên thăm chị.
Phi Nga vừa ăn cơm vừa nhìn em. Phi Anh trông đẹp hơn trước nhiều. Mới tuần trước đây, Phi Anh có viết một bức thư cho chị biết nàng đã học xong một khóa kế toán đánh máy và đã được ông hiệu trưởng nhận làm thư ký. Phi Nga hỏi :
- Thế nào, em đã đi làm được ngày nào chưa?
- Ông hiệu trưởng cho em làm thư ký, nhưng em không làm vì lương ít quá. Bà Quỳnh hứa sẽ giới thiệu em cho một ông chủ hãng buôn ngoại quốc.
Dũng nói :
- Cô may mắn thật, vừa học xong đã có chỗ làm.
Phi Nga hỏi :
- Em về thăm nhà hồi nào?
- Cách đây ba hôm. Em không định lên đây thăm chị, nếu không em đã rủ Phi Yến cùng đi rồi. Phi Yến vừa xin được cha mẹ cho lên Sài Gòn học sinh ngữ.
- Đi hết chắc cha mẹ buồn lắm.
Phi Anh nhún vai :
- Thế còn chị? Từ ngày dọn về đây chị không về thăm nhà, cha mẹ chưa biết mặt cháu Hồng, chị tệ thật. Bà Quỳnh bảo sẽ đem xe lên đây rước chị về quê chơi.
Nhìn Phi Nga, Phi Anh nói tiếp :
- Chị có đi xem triển lãm tranh của bà Châu không? Em nghe bà ấy bảo là đem xe lên đây rước chị.
- Thế em có đi xem không?
- Cũng đi cho biết. Nhưng bà Châu thì vẽ vời gì! Bà ấy đã bán đám ruộng để mua cái danh nữ họa sĩ đó.
Dũng hỏi :
- Cô nghe ai nói vậy?
Phi Anh cười :
- Em biết rõ lắm. Lúc đầu bà ấy học vẽ với một họa sĩ còn nhỏ tuổi, chuyên vẽ quảng cáo. Nói là học vẽ cũng không đúng. Bà ấy đã bỏ tiền ra thuê ông này vẽ cho bà chừng một chục bức tranh, rồi mang những bức tranh ấy đến ra mắt ông Trần Phong.
Dũng nói :
- Hèn gì!
Phi Anh nói tiếp :
- Ông Trần Phong tưởng bà Châu vẽ được nên thu nhận bà làm môn đệ.
Phi Nga cãi :
- Ông Trần Phong đâu có tệ như vậy? Ai có tài hay không ông ấy biết mà.
- Nhưng bà Châu cứ theo năn nỉ. Lại đóng tiền tử tê thì ông Trần Phong tiếc gì mà không cho bà ấy một chỗ ngồi tại xưởng vẽ của ông ta.
Dũng hỏi :
- Đến đó ngồi chơi sao?
Phi Nga cũng nói :
- Bà Châu cũng phải vẽ trước mặt ông Trần Phong chứ.
- Bà ấy cũng phải vẽ, nhưng mà vẽ xấu lắm, ông Trần Phong phải sửa nhiều. Bà Châu còn nhờ các bạn học vẽ dùm, bà ấy vung tiền ra, thứ gì mà không được. Vì thế những bức tranh của bà có vẻ chép cóp, mất cả sự linh động. Hôm đến xem triển lãm, em nghe một họa sĩ phê bình: “Không được tự nhiên. Có những nét tài tình, nhưng lại có những nét rất học trò”. Quả là phê bình xác đáng, những nét tài tình là do ông Trần Phong vẽ, còn những nét “học trò” là của bà Châu. Nhưng dù sao cũng nên khuyến khích bà ấy. Bà đã lớn tuổi mà còn chịu khó đi học. Người ta còn nói nhiều về chuyện bà Châu và ông Trần Phong...
Nói đến đây, như sực nhớ là không nên, Phi Anh tóp ngay lại :
- Chị không chịu học để theo kịp thiên hạ, em tiếc lắm. Bà Quỳnh cũng đã nói với em như thế.
- Chị đang sắp đặt thì giờ để đi học đây.
Dũng chen vào :
- Anh cũng đang nhắc chị về chuyện đó.
Phi Anh nhìn Dũng và khen :
- Thế thì anh tiến bộ quá rồi. Anh thấy đó, bà Châu đâu có tài gì, vậy mà bây giờ nhiều người đã nói đến bà, ai cũng gọi bà là nữ họa sĩ. Có một người vợ tên tuổi cũng là một vinh dự, sao anh cứ muốn giấu chị ru rú trong nhà?
Phi Nga vội nói :
- Anh đâu có giấu chị, đừng nói thế anh buồn. Chính anh đã thúc hối chị đi học vẽ với ông Trần Phong đó.
- Chị thấy ông ấy thế nào, có tài không?
- Có chứ.
Phi Anh muốn nói gì nhưng lại thôi. Khi ăn cơm xong, Dũng đi ngủ, Phi Anh ngồi lại bên chị :
- Người ta bảo bà Châu là tình nhân của ông Trần Phong, vì thế ông ta mới 0 bế đẩy bà ấy lên như thế. Chớ bà đâu có vẽ gì được.
Phi Nga rầy em :
- Em đừng nói như vậy, đàn ông nghe được họ cười cho. Tại sao chúng ta không chịu tin là người của phái mình có tài? Chị nghe nhiều bà chê nữ bác sĩ sẽ không giỏi bằng nam bác sĩ, hoặc nữ luật sư không có tài hùng biện bằng nam luật sư. Phụ nữ đành rằng đi sau, bước chậm, nhưng chị em phụ nữ với nhau mà không có tinh thần nâng đỡ nhau, chỉ biết dèm pha nhau thì thật là một chuyện đáng buồn. Rồi khi thấy có ai được bên nam giới giúp đỡ, khuyến khích thì thiên hạ lại nghi ngờ người ta không đứng đắn.
- Chị muốn nói bà Châu có tài thật sự?
- Chị không nói như thế, nhưng chị nhận thấy bà Châu có cố gắng chịu khó học. Chính ông Trần Phong cũng bảo là bà Châu không có tài.
- Thế tại sao ông Trần Phong giúp bà ấy triển lãm tranh? Không có tài thì đem ra phô bày làm gì?
Phi Anh cười lạt và nói tiếp :
- Lẽ dĩ nhiên ông ấy phải nói như thế, nhưng thiên hạ họ nghĩ khác. Mà thôi, chuyện của người ta mình nói làm gì, nói thì người khác cho rằng mình ganh tị. Nói về việc của chị đi. Bao giờ chị mới chịu đi học? Và bao giờ chị mới về thăm cha mẹ?
Phi Nga cười :
- Các cháu còn nhỏ, đi đường xa chị sợ các cháu bị cảm nắng. Còn về việc học vẽ, lẽ dĩ nhiên chị sẽ nghĩ đến... Chị muốn hỏi em về chuyện tình duyên. Thế nào, em tìm được người lý tưởng chưa? Nếu đi làm thì mỗi tháng được bao nhiêu tiền? Cha có nói gì về chuyện em đi làm không?
Phi Anh cũng cười :
- Chị định hỏi em thật nhiều để đừng trả lời những câu em hỏi chị chớ gì? Cha cho phép em đi học thì cha phải vui lòng cho em đi làm. Học để mà hành, chớ bộ học để đem về nhà xào nấu gì sao? Chị thấy em độ rày ăn mặc có bảnh hơn lúc trước không?
- Bảnh lắm! Em mặc áo gì mà sát vào người quá vậy?
- Người ta mặc sao thì mình mặc vậy. Chị hỏi em gặp người lý tưởng chưa à? Em chưa lập gia đình lúc này. Em muốn sống những ngày thật tự do, tận hưởng cuộc đời được nuông chiều của người con gái. Lấy chồng thì còn gì vui nữa?
- Em phải cẩn thận đấy nhé. Tự do cho lắm thì khổ.
- Chị đừng lo. Em biết cách giữ mình mà. Em đi làm vài năm, kiếm tiền may sắm quần áo và nếu có thể thì học thêm. Em không nghĩ như chị. Muốn làm gì thì hãy làm trong lúc chưa lập gia đình, chớ khi đã có chồng rồi thì tài cho nhiều, giỏi cho lắm cũng chẳng làm được gì.
Ngừng một lát, Phi Anh nói :
- Anh Dũng độ rày trông không được khỏe. Có phải anh đang có chuyện lo nghĩ không?
- Anh Dũng đâu có chuyện gì phải lo nghĩ. Con người anh ấy không phải là hạng suy tư, em ạ.
- Chị lầm đấy. Anh ấy có vẻ không được vui. Chắc vì không ngăn cản được chị...
Phi Nga không để em nói tiếp :
- Đổi chỗ ở, đổi khí hậu, anh Dũng bị sốt.
Phi Anh lắc đầu :
- Anh Dũng sợ chị ở dưới quê gặp bà Quỳnh bà Châu thường nên mới xin đổi lên đây để cắt đứt liên lạc giữa chị và những người ấy. Nào ngờ những người ấy vẫn tìm lên đây, lại thêm ông Trần Phong nữa... Hết ông Malê đến ông Trần Phong, chắc anh ấy buồn thúi ruột!
Phi Anh đứng lên đi xem khắp nhà, rồi quay vào nói tiếp :
- Nhà này chị đã mua, sao chị không trang hoàng kỹ lưỡng như ngôi nhà trước?
- Chị dọn về đây lúc có thai gần ngày, vì thế cũng hơi lười. Ngôi nhà trước tuy không phải nhà của mình, nhưng là tổ ấm đầu tiên. Nay thời kỳ trăng mật qua rồi.
- Chớ không phải chị giận anh Dũng xin đổi đi đột ngột nên không thèm trang hoàng nhà cửa?
- Đâu phải. Em chưa thấy phòng vẽ của chị và phòng ngủ của bé Hoàng. Chị trang hoàng hai càn phòng ấy đẹp lắm.
Rồi Phi Nga đứng lên đưa em qua phòng vẽ. Phi Anh ngồi bên giá vẽ và hỏi :
- Chị vẽ thêm được những gì nào?
- Vẽ được nhiều lắm, em ạ. Lúc này anh Dũng khuyến khích chị làm việc vì anh thấy bà Châu nổi tiếng.
- Lòng tự ái của người chồng! Nhưng chính vì thế mà anh buồn đó. Anh đâu ngờ dọn về đây, anh không tránh được gì hết. Chị ráng vẽ nghe chị Phi Nga, hội họa mới là người chồng vĩnh viễn của chị. Chớ còn anh Dũng hay ai khác nữa cũng chỉ là người chồng giai đoạn mà thôi.
- Người chồng giai đoạn? Em nói nghe lạ tai thật. Chị luôn yêu anh Dũng.
Phi Anh cười :
- Chị chưa biết yêu là gì. Chị chỉ mến anh Dũng thôi. Một ngày nào đó, chị sẽ yêu đúng với cái nghĩa của nó, nhưng đến khi đó thì chị sẽ thất vọng.
Phi Nga cũng cười :
- Em làm như em thạo đời lắm vậy.
Phi Anh nằm duỗi chân trên ghê dài, đầu gác lên đùi của chị đầy vẻ thân mật :
- Người như chị chỉ nên lựa một người chồng, là hội họa, là nghệ thuật. Với người chồng ấy chị có thể hy sinh tất cả cuộc đời của chị cũng không sao. Chớ còn anh Dũng...
Phi Nga lấy tay bụm miệng em :
- Em hay nói nhảm quá.
Phi Anh gỡ tay chị ra :
- Em dám nói sự thật chớ không phải nói nhảm. À chị nè, cậu Paul con bà Quỳnh, bao nhiêu tuổi sao ăn nói khôn quá. Lại còn đứng cao hơn em một cái đầu nữa.
- Nó nhỏ tuổi hơn Phi Yến, nhưng khôn đáo để. Người Âu Mỹ cao lớn, chớ tuổi tác Paul chưa được bao nhiêu.
Phi Anh tâm sự :
- Paul rủ em đi chơi, nhưng em không nhận lời. Nó còn nhỏ lại là người ngoại quốc, đi với nó cũng ngượng. Nó hứa khi nào lên đây nó sẽ lại rủ em cùng đi.
- Lâu quá không gặp Paul, chị cũng thấy nhớ nó. Nó có tài lắm, thế nào cũng thành một họa sĩ.
- Nó bảo chị có tài hơn cả anh của nó. Ông Malê cũng bảo thế.
Hôm ấy Phi Anh chuyện trò với chị rất lâu và đợi Dũng ngủ dậy mới cáo từ trở về Sài Gòn. Phi Anh đi rồi, Dũng nói :
- Phi Anh thật lắm chuyện. Độ rày nó thay đổi ghê quá. Ăn mặc cũng khác nữa.
- Còn con gái thì để nó chưng diện chút ít. Khi có chồng rồi thì đâu sẽ vào đó.
Dũng phân bua :
- Anh khuyên mãi mà em không chịu nghe, để bây giờ Phi Anh trách anh.
- Phi Anh đâu có trách anh, nó nói chuyện cho vui vậy thôi.
- Anh thấy sao hai cô em của em có nhiều ác cảm với anh quá, lần nào các cô đến thăm cũng đều trách móc, chê bai anh.
Nói xong, Dũng buồn bã sửa soạn đi dạy.
* * * * *
Phi Nga đang vẽ thì chị Tâm đi vào :
- Có một thanh niên người nước ngoài nhưng nói tiếng Việt rất thạo hỏi cô. Cậu ấy có vẻ vô lễ quá, vừa bước vào cổng đã hỏi om sòm: Cô Phi Nga có ở nhà không? Sao lại chạy trốn tận trên này?
Phi Nga mỉm cười :
- Cậu Paul đó. Cậu ấy có mẹ người Việt.
Rồi nàng đứng dậy, mặc nguyên chiếc áo blouse trắng đi ra ngoài. Vừa thấy Phi Nga, Paul đã reo lên :
- A, em đến gặp lúc chị vẽ. Khen chị đấy.
Paul chạy lại bắt tay Phi Nga và hôn lên má nàng. Cử chỉ thân mật kiểu Tây phương ấy của Paul làm chị Tâm khó chịu, ngó Phi Nga sửng sốt. Phi Nga hiểu ý chị nên hói :
- Cậu Paul còn nhỏ lắm, mới mười sáu tuổi.
Paul đính chánh :
- Chưa tới mười sáu tuổi, còn ba tháng nữa.
Rồi Paul chạy lăng xăng hỏi :
- Phòng vẽ của chị đâu? Chị vẽ được gì cho em xem với?
Phi Nga đưa Paul vào phòng vẽ. Xem xong các bức tranh, Paul nói :
- Em không biết gì nên không dám phê bình, nhưng em phải khen chị chịu khó làm việc. À, có phải chị sắp lên Sài Gòn học với ông Trần Phong không?
Phi Nga gật đầu :
- Chị tính thế.
- Tốt lắm, chị nên học với ông ấy. Cha em bảo ông ấy có tài lắm, lại có tinh thần nâng đỡ những họa sĩ mới. Như bà Châu chị thấy không, bà ấy đâu biết gì vậy mà ông Trần Phong đã dạy bà vẽ được, còn giúp bà triển lãm... À, em vừa nhận được thư của cha em ông bảo sắp qua Sài Gòn vì chuyện của chị.
- Tại sao ông phải mất công như vậy?
- Tìm thêm cho ngành hội họa một nhân tài đâu phải dễ. Những họa sĩ có thể vì ganh tài mà dìm chị, còn một người sưu tầm tranh thì đời càng có nhiều họa sĩ, họ càng kiếm được nhiều tranh chớ có sao đâu. Cha em bảo lần này qua thế nào cũng rầy chị.
Phi Nga cười :
- Nhưng chị đang vẽ, sắp sửa đi học với ông Trần Phong thì rầy cái gì nữa?
- Nếu như vậy thì thôi. Để em viết thư nói cho cha em biết.
Rồi Paul ngắm lại tấm ảnh của Dũng và hỏi :
- Anh ấy độ này làm gì?
- Thì vẫn đi dạy.
- Thế anh ấy nghĩ thế nào về chuyện chị đi học vẽ với ông Trần Phong?
- Anh ấy khuyên chị nên đi học.
Thấy bé Hoàng chạy ra đứng bên mẹ, Paul lại hỏi :
- Con chị đấy à? Sao chóng lớn quá vậy?
Phi Nga đi ẵm bé Hồng ra :
- Còn một em gái nữa.
Paul lắc đầu :
- Như vậy chị còn thì giờ đâu mà vẽ?
- Chị có thuê một người giúp việc.
Paul ngồi xuống ghế và nói :
- Em thấy chị quyết tâm vẽ rồi đó. Em mừng cho chị. Em sẽ viết thư cho cha em biết.
- Bà có thường đi Sài Gòn không?
- Mẹ em hiện ở Sài Gòn. Mẹ có đi xem triển lãm tranh của bà Châu. Hôm ấy em thấy mẹ buồn lắm.
- Tại sao vậy?
- Mẹ em tiếc cho chị.
Phi Nga cười :
- Em thật khéo bày chuyện.
- Em nói thật, chớ sao lại bày chuyện? Hôm nào mẹ em lên đây, chị sẽ nghe mẹ em nói. À, tại sao chị không dọn về Sài Gòn, em sẽ đến học vẽ với chị.
Phi Nga làm thinh không nói gì, thì Paul nói :
- Có người bảo là chồng chị đem chị giấu lên đây để mọi người không đến thăm chị được. Nhưng anh ấy lầm phải không chị? Bà Châu, rồi em và cả ông Trần Phong lên thăm chị nữa, mới buồn cười chớ.
Paul nói xong, đứng dậy :
- Em thăm chị một chút rồi em về Sài Gòn. Chị có đi Sài Gòn, ghé thăm em chị nhé.
Đi dạy về và nghe Phi Nga nói có Paul đến thăm, Dũng hỏi :
- Đến bao giờ em mới chịu lên Sài Gòn học vẽ với ông Trần Phong? Nếu em chưa đi học vẽ thì rồi đây bà Quỳnh, bà Châu rồi ông Trần Phong sẽ lại lên đây tìm em, và biết đâu họ không nghĩ là tại anh không muốn cho em đi học. Anh bực mình về chuyện này nhiều rồi.
Phi Nga nói :
- Việc gì mà anh phải bực mình? Chuyện của em để em thu xếp.
- Ngày mai em lên Sài Gòn tìm ông Trần Phong đi.
- Thì ngày mai em đi.
Sáng hôm sau, Dũng dậy sớm đưa Phi Nga ra tận bên xe. Chàng có vẻ săn sóc và lo lắng cho nàng nhiều lắm. Ngồi trên xe đò, Phi Nga nghĩ nhiều về chuyện học vẽ này. Nàng không biết Dũng có buồn phiền gì không, và theo lời Phi Anh thì Dũng không được khỏe cũng vì chuyện Phi Nga với những hy vọng trở thành họa sĩ. Phi Nga nghĩ :
- Bây giờ thì không thể lùi bước được nữa. Ta phải học thêm với ông Trần Phong.
Không khí ban mai đã giúp Phi Nga tỉnh táo, vui vẻ. Khi xe ngừng trước nhà ông Trần Phong, Phi Nga bước xuống, đứng nhìn một lúc lâu rồi mới bước vào. Mấy người học trò đang ngồi vẽ ở phòng ngoài nhìn thấy nàng, không khỏi ngạc nhiên. Một thanh niên ngồi ngoài hỏi nàng :
- Cô tìm ai?
- Tôi tìm ông Trần Phong.
- Cô tìm có việc gì?
- Tôi muốn gặp ông ấy.
Thanh niên ấy quay lại nhìn một thiếu nữ ngồi ở trong cùng :
- Chị Dục Tú, chị vào thưa cho thầy biết đi.
Dục Tú nhún vai và hỏi Phi Nga :
- Cô muốn gặp thầy có việc gì hãy cho tôi biết để tôi vào thưa lại với thầy.
- Ông Trần Phong mời tôi đến đây.
Dục Tú nhìn Phi Nga từ đầu đến chân :
- Thầy tôi nhờ cô làm người mẫu phải không?
Phi Nga bực dọc nói :
- Không.
Vừa lúc ấy ông Trần Phong từ trong nhà bước ra. Nheo mắt và sửa lại cặp kính trắng, ông kêu lên :
- Cô Phi Nga! Cô đã quyết định rồi à? Hôm nay đến học phải không?
Phi Nga bối rối cúi đầu chào ông Trần Phong. Những người học trò của ông nhìn nàng không nháy mắt. Ông Trần Phong giới thiệu :
- Đây là cô Phi Nga mà thầy đã nói với các con. Cô ấy tài lắm.
Rồi ông quay qua Phi Nga :
- Mấy hôm nay cô vẽ thêm được gì chưa?
Phi Nga lùi lại mấy bước :
- Tôi đến xin học với thầy.
Ông Trần Phong cười lớn :
- Tốt lắm! Vào đây! Tôi đang có đề tài cần thực hiện gấp. Cô vẽ thử đi. Tôi đã phác họa được một phần rồi.
- Tôi đem giá vẽ ra làm việc chung với mấy anh chị này, thầy cho phép chớ?
- Cũng được. Nhưng tại sao không vẽ trong này yên tĩnh hơn? Cô hãy vào đây xem qua đề tài của tôi. Mặt trời lặn ở thôn quê. Cô vẽ được không?
Phi Nga cười tự tin :
- Tôi sống nhiều ở thôn quê nhưng đề tài này tôi chưa vẽ. Ông cho tôi mượn cái giá và dụng cụ. Hôm nay tôi không mang những thứ ấy theo.
Ông Trần Phong đưa Phi Nga vào phòng trong, chỉ bức vẽ ông đang phác họa. Phi Nga đứng ngắm một lúc rồi nói :
- Cùng một đề tài nhưng tôi sẽ vẽ khác thầy.
- Được, hãy ngồi đây mà vẽ.
- Ngồi vẽ trước mắt thầy à? Không, tôi thích ngồi vẽ một mình. Tôi không muốn nghe một tiếng động nào quanh tôi, tôi cũng không muốn ai để ý đến trong lúc tôi vẽ.
- Vậy thì cô hãy ngồi đây, tôi đi ra ngoài.
Phi Nga ngồi trước giá vẽ, đôi mắt đăm đăm nhìn lên tấm giấy căng trước mặt, tập trung tư tưởng một lúc lâu rồi cầm bút vẽ. Nàng phác họa một cây dừa nghiêng thân trên sông, một chiếc đò dọc thả xuôi theo dòng nước. Một cặp vợ chồng ngồi trên đò, vợ thổi cơm, chồng ngắm nhìn trời. Nàng vẽ nhanh lắm, không còn biết gì nữa cả. Cho đến khi nghe có tiếng xì xào sau lưng, Phi Nga buông cọ quay lại thì thấy ông thầy và mấy người học trò đang đứng sau lưng, ông Trần Phong sửng sốt nhìn vào bức vẽ, nét mặt đăm chiêu. Mấy người học trò thì khen :
- Giỏi thật! Vẽ nhanh thật!
Và nhìn nhau tỏ vẻ khâm phục Phi Nga. Họ cũng nhìn ông Trần Phong vì thấy ông đứng sững sờ, chưa thốt lời nào, chỉ thở dài, lắc đầu. Một lúc lâu, ông mới hỏi :
- Cô biết mấy giờ rồi không?
Phi Nga lắc đầu thì Dục Tú cười :
- Hai giờ chiều rồi.
Ông Trần Phong nói :
- Thượng đế không lựa người mà vung rải tài...
Phi Nga vội vàng đứng dậy :
- Chết rồi, tôi phải về Biên Hòa. Tôi tưởng còn sớm.
Ông Trần Phong nói :
- Mấy người này đi ăn trưa cả rồi. Cô không nghe đói à?
Phi Nga cười :
- Bây giờ nghe thầy nhắc đến chuyện ăn, tôi mới thấy đói. Nhưng không sao, tôi sẽ ăn trên xe. Một khúc bánh mì đủ rồi. Chồng và con tôi đang chờ.
- Lại nhắc đến chuyện chồng con!
Vừa nói ông Trần Phong vừa nhìn các môn đệ, lắc đầu. Lê Thanh ngạc nhiên :
- Cô ấy có chồng rồi à?
- Có chồng và làm mẹ hai con nữa!
Trong phòng có ba nam môn đệ là Lê Thanh, Hà Nam và Vũ Minh. Cả ba đều cau mày. Dục Tú nói :
- Chị đợi tôi chạy sang tiệm gần đây mua bánh cho chị ăn.
- Để tôi ghé mua rồi ra đón xe luôn thể.
Ông Trần Phong hỏi :
- Bao giờ cô trở lại học?
- Thứ sáu. Mỗi tuần tôi học hai ngày như lời thầy dặn. Lần sau tôi sẽ đem đủ dụng cụ.
Ông Trần Phong đưa Phi Nga ra cửa :
- Cô ráng đi học đều đặn nhé. Với một người học trò như cô, ông thầy nào mà không nể.
Khi trở vào phòng vẽ, thấy Lê Thanh còn đứng tần ngần trước bức vẽ của Phi Nga, ông Trần Phong vô nhẹ lên vai Lê Thanh :
- Phải chi con hay Hà Nam, Vũ Minh có được cái tài ấy.
Đôi mắt của ông Trần Phong đượm một nét buồn kín đáo. Lê Thanh hỏi :
- Cô ấy đã học với ai rồi?
- Chỉ học lúc còn ở chương trình phố thông.
Lê Thanh ngạc nhiên :
- Lạ thật. Cô ta có chồng thật rồi sao thầy?
Hà Nam chọc :
- Nãy giờ tôi thấy anh chỉ thắc mắc có chừng ấy.
Dục Tú nói :
- Có chồng vẫn học được. Nhưng vẽ như thế đã lấy gì làm tài. Cũng đề tài ấy, thầy vẽ đẹp hơn nhiều.
- Cô không thích thấy một phụ nữ giỏi hơn cô. Cô học mười năm nữa chưa chắc đã vẽ được như vậy. Ngay tôi đây mà tôi cũng không thể không mến phục cô ấy được. - Ông Trần Phong đáp lời Dục Tú.
Hà Nam nói :
- Người có tài có khác, không cần đến cách phục sức. Đẹp như vậy mà không để ý là mình đẹp.
Ông Trần Phong nói :
- Có vậy mới phụng sự nghệ thuật được.
Ông Trần Phong ngồi xuống ghế nhìn bức vẽ của Phi Nga, tâm trí để tận đâu đâu, không còn nghe câu chuyện giữa mấy môn đệ của ông nữa. Rồi ông đứng lên như một người mê ngủ, đi lại giá vẽ của mình, ngắm một hồi lâu. Lê Thanh ra dấu cho mấy bạn cùng nhìn về phía ông Trần Phong. Dục Tú nói nhỏ vào tai Hà Nam :
- Thầy tức mình vì thấy Phi Nga có tài quá.
Nhưng họ càng ngạc nhiên hơn khi thấy ông Trần Phong rút tấm giấy trên giá rồi xé mạnh làm hai, liệng lên cái bàn gần đó...
Hà Nam kéo các bạn ra phòng ngoài :
- Hãy để yên cho thầy nghĩ ngợi.
Ra bên ngoài, Dục Tú nói với các bạn :
- Cô Phi Nga vẽ ra sao mà thầy giận xé tấm vẽ của thầy, các anh nhỉ?
Hà Nam bực mình nói :
- Vẽ làm sao cô không thấy à? Sao hồi nãy cô lại khen là đẹp?
- Tại các anh khen nên tôi cũng khen theo.
Mọi người nghe thế cười rộ lên, rồi Lê Thanh nói :
- Vậy mà sáng nay khi thấy cô Phi Nga đến, chị Tú dám hỏi cô Phi Nga có phải đến để làm người mẫu cho thầy không.
Dục Tú nói :
- Trông chị ấy không có vẻ gì là một họa sĩ cả.
Vũ Minh hỏi :
- Thế cô ấy có vẻ gì là một người mẫu không? Cô ấy không chưng diện như chị.
Ngẫm nghĩ một lát, Vũ Minh nói tiếp :
- Nhưng trông cô ấy đẹp lắm. Người nào không quan tâm nhiều đến nhan sắc của mình thì người đó lại có một vẻ đẹp tự nhiên.
Dục Tú thở dài :
- Mấy anh kỳ quá, cả thầy lẫn trò đều hết hồn hết vía vì một cô Phi Nga.
Lê Thanh nói :
- Tôi phục tài là một việc khác.
Hà Nam cũng nói :
- Cùng một đề tài mà bức tranh của Phi Nga linh hoạt làm sao ấy. Cảnh chiều là cảnh tàn tạ mà Phi Nga làm cho nó sống động như vậy. Cuộc đời của Phi Nga chắc sẽ rực rỡ, tương lai sáng lạng lắm.
Dục Tú bĩu môi :
- Anh này còn làm nghề thầy bói nữa mà mình không hay. Thế còn tương lai anh thế nào, anh có biết không?
Hà Nam tức giận nói :
- Sao lại không? Tôi cũng trở thành một họa sĩ, nhưng chắc chắn không phải là một thiên tài như chị Phi Nga. Với sự cố gắng, mọi người đều có thể thành công, nhưng không phải họa sĩ nào cũng là một thiên tài. Thầy Trần Phong còn phải phục chị ấy.
Không còn biết bắt bẻ gì các bạn được, Dục Tú liền nói :
- Các anh buồn cười quá. Với Phi Nga, các anh khi thì gọi bằng cô, khi thì gọi bằng chị.
Vũ Minh cãi lại :
- Vì chị ấy chưa có dịp để chuyện trò với chúng ta, nên chúng ta chưa biết phải xưng hô như thế nào. Cùng học một thầy tức là bạn đồng môn thì gọi bằng chị là phải. Nhưng vì chưa quen thì cũng có thể gọi bằng cô, như thế có gì lạ đâu mà chị lại thắc mắc, cái điều đáng thắc mắc là tại sao chị lại không thấy vui mừng khi gặp một thiên tài như chị Phi Nga. Lẽ ra chị phải hãnh diện vì có một người bạn gái có tài như thế.
Dục Tú nhún vai :
- Hãnh diện lắm chớ. Cũng như trước đây, tôi đã hãnh diện vì có được một bạn đồng môn là bà Châu.
Hà Nam nói :
- Bà Châu thì khỏi phải nói, đó là trường hợp đặc biệt mà.
Lê Thanh hỏi :
- Sao lại đặc biệt? Dù sao một người đàn bà đã lớn tuổi mà có chí như thế không đáng khen hay sao?
Vũ Minh nói :
- Đáng khen lắm. Chị Dục Tú cũng đáng khen lắm nữa. Chị ấy là con nhà giàu, ở nhà đi chơi cũng sung sướng chán, việc gì phải đi học vẽ? Vậy mà chị cũng chịu khó ngày hai buổi đến đây học với thầy.
Dục Tú nói :
- Tại thầy là bạn của cha tôi, đến nhà chơi thấy tôi có khiếu vẽ, mới bảo tôi đến đây thầy dạy cho. Chứ học cho cố đến khi có chồng con rồi thì cũng dẹp lại một chỗ.
Vũ Minh hỏi :
- Sao chị Phi Nga không dẹp?
- Chị ấy khác. Lại nữa có lẽ chồng chị ấy khờ lắm nên mới chịu được người vợ có nghệ sĩ tính như chị ấy. Vẽ gì mà quên cả đất trời, quên cả ăn uống, quên cả chồng con chờ đợi.
Lê Thanh nói :
- Như vậy mới là nghệ sĩ. Còn vẽ như tụi mình chỉ là học trò.
* * * * *
Phi Nga học với ông Trần Phong được sáu tháng, cảm thấy mình đã tiến bộ nhiều. Từ khi nàng đi học vẽ, cuộc sống gia đình vẫn yên vui, không có gì xáo trộn. Nàng vẫn săn sóc Dũng đầy đủ như trước. Nhiều hôm ở phòng vẽ của ông Trần Phong ra, Phi Nga ghé chợ Sài Gòn mua thức ăn, bánh trái mang về cho Dũng và nàng cùng ăn. Bà Quỳnh đến thăm Phi Nga và khi thấy nàng đã chịu khó đi học vẽ thì tỏ ý vui mừng, khen ngợi nàng không hết lời. Bà còn mua của Phi Nga mấy bức tranh. Phi Nga hiểu là bà muốn giúp nàng một số tiền để đi học. Ông Trần Phong cũng giới thiệu bán cho nàng mấy bức vẽ. Ông nói :
- Để cô có tiền tiêu xài thêm trong khi đi học. Kể ra bán những bức tranh ấy lúc này uổng lắm. Tranh của một họa sĩ chưa nổi tiếng với tranh của người đã nổi tiếng khác nhau rất xa. Cũng bức tranh này của cô bán bây giờ không được bao nhiêu tiền, nhưng để sau này, giá sẽ lên gấp đôi, gấp ba. Nhưng Phi Nga hiểu tại sao tôi bán dùm cô mấy bức tranh này không?
- Thầy nghĩ là tôi cần tiền?
Ông Trần Phong cười :
- Không phải thế. Tôi bán những bức tranh này để cô vẽ cái khác. Cô thấy cô đã vẽ được nhiều rồi thì không chịu cố gắng vẽ thêm nữa. Nhưng đến khi cô triển lãm tranh, tôi có thể đi mượn những tranh này lại cho cô triển lãm.
Phi Nga cười :
- Một khi tôi đã ham làm thì dù có vẽ mấy chục bức rồi, tôi cũng chưa thấy là nhiều. Có điều thưa thầy, cần cái phẩm hơn cần cái lượng. Vẽ thật nhiều mà không đẹp, không có gì đặc sắc thì cũng không ích gì.
Ông Trần Phong gật đầu mà không nói gì.
Lần nào cũng vậy, hễ đến phòng vẽ là Phi Nga cắm cúi làm việc, ít khi trò chuyện với ai. Ngay với ông Trần Phong cũng thế, Phi Nga chỉ hỏi những điều cần thiết, hay chỉ phát biểu ý kiến mỗi khi ông hỏi nàng về một họa phẩm của ông. Dục Tú thường tìm cách hỏi chuyện Phi Nga, nhưng Phi Nga không thích chuyện trò. Còn các anh Lê Thanh, Hà Nam, Vũ Minh thấy Phi Nga quá lạnh lùng với họ, nên cũng ít khi trò chuyện thân mật với nàng. Mỗi khi Phi Nga vẽ xong và ra về rồi thì họ mới đến ngắm những gì Phi Nga vừa vẽ được.
Có lần Lê Thanh mời Phi Nga lên xe Vespa để đưa nàng ra Sài Gòn vì nghe nàng nói với ông Trần Phong là còn phải đi mua hàng :
- Sẵn đường xin cho phép tôi đưa chị ra Sài Gòn, đi xe buýt chen lấn phiền lắm.
- Cám ơn anh. Nhưng đi xe buýt cũng có cái thú riêng của nó. Mình có dịp được ngắm khách đồng hành và đó là những đề tài sống để mình thực hiện lên tranh sau này. Tôi lại không biết cách ngồi sau xe Vespa. Tôi sợ té lắm.
Cũng có lần Hà Nam mời các bạn đi ăn cơm rồi mời luôn Phi Nga :
- Chị đi dùng cơm với chúng tôi.
Phi Nga từ chối :
- Tôi không quen ăn cơm nhà hàng. Xin anh hiểu cho.
Một hôm, Phi Nga đang chuẩn bị vẽ thì nghe có tiếng người lạ nói chuyện với Lê Thanh ở phòng ngoài. Nàng nhận ra tiếng ông Malê, nhưng vẫn ngồi im chờ xem ông đến có việc gì.
- Ông Trần Phong có ở nhà không?
Lê Thanh trả lời :
- Dạ có, để tôi đi mời thầy tôi.
Ông Malê nói :
- Đây, tấm danh thiếp của tôi.
Lê Thanh đi qua trước mặt Phi Nga và nói nhỏ :
- Có ông Malê đến. Chị biết ông ấy chớ?
Phi Nga chỉ gật đầu. Một lát ông Trần Phong ra với Lê Thanh trong chiếc áo dài Thượng Hải, trông có vẻ đạo mạo và trịnh trọng lắm. ông Trần Phong hỏi Phi Nga :
- Không ra đón ông Ma Lê à?
Phi Nga nói :
- Ông ấy đến thăm thầy.
Ông Trần Phong mỉm cười, đi thẳng. Phi Nga nghe hai người chào nhau bằng tiếng Anh và họ cũng chuyện trò với nhau bằng thứ tiếng ấy. ông Trần Phong mời ông Malê vào nhà trong. Khi đi ngang qua phòng vẽ của Phi Nga, ông Malê ngạc nhiên khi :
- Hôm nay cô vẽ ở đây à? Sao cô không ra mừng tôi?
- Ông đến tìm ông Trần Phong...
Ông Malê nhìn Phi Nga bằng đôi mắt trách móc :
- Vì tôi không biết có cô ở đây. Tôi định ở đây ra là đi thăng lên Biên Hòa thăm cô, hay nói cho đúng là đề nghị với cô một việc.
Ông Trần Phong hỏi :
- Ông có thể nói chuyện với cô ấy ở đây không?
Ông Malê nói :
- Nếu cô ấy bằng lòng.
Phi Nga nói :
- Bây giờ ông là khách của thầy tôi.
Ông Trần Phong hiểu ý Phi Nga nên rước ông Malê vào phòng khách. Dục Tú chạy theo vào để pha trà. Phi Nga vẫn ngồi vẽ. Xong việc, Dục Tú ra nói với Phi Nga :
- Chị quen ông ấy à?
- Tôi quen với vợ ông ấy. Bà Malê đã mua của tôi nhiều bức họa.
- Tại sao lúc nãy chị không ra chào ông Malê?
- Ông ấy đến tìm thầy chớ nào phải tìm tôi.
Dục Tú ngạc nhiên :
- Chị câu nệ quá, mất cả sự thân mật.
- Thân mật thái quá, mất cả phép lịch sự.
Dục Tú nghe thế đi thẳng lại chỗ giá vẽ của mình và bắt đầu làm việc lại.
Ông Malê nói chuyện với ông Trần Phong một lúc lâu, mới trở ra ngoài, đi lại bên Phi Nga, nhìn bức tranh nàng đang hoàn thành và hỏi :
- Bao giờ thì cô về Biên Hòa?
- Một giờ trưa.
- Cô cho phép tôi đưa cô về nhé. Trén xe chúng ta có thể nói chuyện với nhau, như thế khỏi mất thì giờ của cô.
- Tôi không thích như vậy.
- Cô không thích thì thôi. Hôm khác tôi sẽ lên thăm cô. Thấy cô chịu đến học với họa sĩ Trần Phong, tôi mừng lắm. Lúc này cô vẽ khá hơn nhiều. Cô đã đọc những bài báo nói về bức tranh “Người gánh lúa” của cô rồi phải không?
- Tôi đã đọc rồi. Xin thành thật cảm ơn ông.
- Việc ấy không có gì đáng cám ơn. Tôi thúc giục cô bước vào con đường nghệ thuật bằng cách ấy. Tôi thấy chỉ có cách ấy là có hiệu quả thôi.
Phi Nga cười :
- Ông nghĩ với cái giải khuyến khích kia tôi sẽ mạnh dạn bước vào con đường nghệ thuật, không còn rụt rè, do dự nữa? Ông không thể nào hiểu tôi được.
Ông Malê cũng cười :
- Có lẽ tôi không thể nào hiểu con người của cô, nhưng về tài năng, cách ham làm việc của cô, tôi đoán hiểu cô sẽ đi đến đâu.
Xây lại ông Trần Phong, ông Ma Lê hỏi :
- Có phải cô ấy có tài lắm không?
Ông Trần Phong gật đầu :
- Có tài hơn cả bọn đàn ông. Cô ấy được Thượng đế biệt đãi quá.
Hai người đàn ông nhìn nhau cười. Phi Nga không để ý đến cái cười đầy ý nghĩa của họ và chỉ có họ hiểu riêng với nhau mà thôi.
Ông Malê hỏi :
- Thế còn ông giáo, chồng cô, ông ấy lúc này làm gì?
- Vẫn đi dạy học.
Ông Trần Phong nói :
- Lúc nào cô ấy cũng nói đến chồng con. Tôi bảo chuyện sanh con đẻ cái, bất cứ người đàn bà nào cũng làm được, nhưng cô Phi Nga cười tôi nói nhảm.
Phi Nga đứng lên, chỉ về bộ bàn ghế gần đó để ông Trần Phong và ông Malê khỏi đứng sau lưng nàng mà chuyện trò :
- Xin mời thầy, mời ông ngồi.
Ba người ngồi quây quần bên cái bàn. Ông Ma Lê nói :
- Họa sĩ Giang sắp về đây rồi. Ông ấy nóng lòng được gặp cô. Hình như họa sĩ Giang chưa quen nhiều với cô.
- Họa sĩ Giang là bạn thân với một người bạn của tôi. Tôi chỉ được gặp anh ấy có một lần và khi ấy anh không biết tôi vẽ. Sau này bạn tôi nói lại anh ấy mới biết. Và để biết qua về cái tài vẽ của tôi, anh Giang có nhờ bạn hỏi mua của tôi hai bức tranh, lúc ấy tôi không chịu bán.
Ông Trần Phong nói :
- Cô Phi Nga tự ái lắm.
Ông Malê nói :
- Cô ấy chỉ ao ước những chuyện thật cao.
Rồi ông gật đầu nói tiếp :
- Nhưng mà rồi cô ấy đạt được, vì như tôi đã bảo với ông, Thượng đế đã thiên vị người đẹp, đến nỗi trao cả kho thiên tài cho cô ấy nắm.
Ông Trần Phong thở dài :
- Vậy mà cô khinh thường không chịu dùng kho tài năng mà Thượng đế ban cho để phục vụ nghệ thuật.
Ông Malê hỏi :
- Cô vẽ được mấy bức tranh rồi?
Ông Trần Phong nói :
- Cô ấy vẽ nhanh lắm. Có nhiều bức khá đẹp. Cô ấy mà chịu khó đến đây học độ một năm thì chắc chắn sẽ nổi tiếng.
Ông Malê nói với Phi Nga :
- Ông Trần Phong là một giáo sư dạy vẽ. Một họa sĩ vào bậc thầy, ở các nước người ta gọi là Maitre đó. Ông Giang mà về đây cũng sẽ đến học vẽ trên lụa với ông Trần Phong. Ông Giang thạo tranh sơn dầu.
Phi Nga nói :
- Tôi không hiểu có thể học lâu được không? Tôi bận nhiều việc khác.
Ông Trần Phong ngạo :
- Lại nói đến chuyện chồng con rồi.
Ông Malê đứng lên cáo từ ông Trần Phong, rồi nói với Phi Nga :
- Tôi sẽ lên Biên Hòa thăm cô.
Lúc ông Malê đi rồi, ông Trần Phong nói :
- Coi bộ ông ấy phục tài cô lắm.
- Ông ấy chỉ khuyến khích chớ không phải phục tài vì tôi chưa có gì đáng gọi là tài. Nếu tài, tôi không đến đây học với thầy. Thầy khen tôi nhiều quá khiến tôi ngượng.
Hôm ấy Phi Nga về nhà thì thấy Dũng không được vui và có vẻ mệt. Phi Nga vội vàng hỏi :
- Anh nghe trong người thế nào?
Dũng vỗ nhẹ đầu :
- Anh nghe nhức đầu.
Nhìn đồng hồ thấy gần hai giờ rồi, Phi Nga hỏi :
- Anh đi dạy được không? Hay xin nghỉ một hôm?
- Để anh đi dạy. Ở nhà cũng nằm vậy thôi.
- Nằm cho khỏe. Hôm nay vì có ông Malê đến thăm ông Trần Phong nên em về hơi trễ. Anh dùng cơm chưa?
Dũng lắc đầu :
- Anh chưa ăn gì hết vì nghe mệt.
Phi Nga vội vàng thay áo :
- Vậy để em làm sữa cho anh, chúng ta cùng ăn luôn thể. Rồi chiều nay anh đi bác sĩ.
- Anh thấy anh có đi bác sĩ rồi cũng vậy, không bớt chút nào. Ông ấy cứ cho uống thuốc bổ, mà nào anh có lên được cân nào đâu.
Chị Tâm dọn cơm xong ra mời Phi Nga :
- Ở nhà tôi có thưa để tôi nấu cháo cho thầy dùng nhưng thầy không chịu.
Dũng có vẻ giận :
- Chị không biết là tôi sợ cháo lắm hay sao? Lúc tôi còn nhỏ, mỗi lần tôi đau mà mẹ tôi nấu cháo dọn lên là tôi ngồi dậy, hết bệnh.
Phi Nga hỏi chị Tâm :
- Tại sao chị không khuấy sữa cho thầy?
- Thầy bảo đợi cô về.
Khi ăn xong, chị Tâm nói riêng với Phi Nga :
- Lúc mười hai giờ rưỡi, thầy ra bến xe đón cô đón mãi không thấy cô về thầy bực mình lắm. Vì thế mà thầy nghe nhức đầu. Mọi ngày cũng đến giờ này cô mới về chứ đâu phải sớm hơn. Thầy dường như có chuyện gì lo nghĩ.
Phi Nga thở dài. Nàng nhớ lại lúc nãy có cho Dũng biết là có ông Malê đến nhà ông Trần Phong, vậy mà nàng không nghe Dũng hỏi gì về việc ấy.
Đến ba giờ, Dũng sửa soạn đi dạy. Phi Nga hỏi :
- Anh không ở nhà nghỉ à? Để em đi xin phép ông hiệu trưởng.
- Để anh đến xin phép nghỉ một tuần. Anh đi bác sĩ xin giấy xác nhận sức khỏe.
Phi Nga nhìn theo Dũng rồi chờ Dũng ra khỏi cửa, đi ngay vào phòng vẽ. Nàng dọn dẹp lại căn phòng, treo thêm những bức tranh đã vẽ xong lên vách. Nàng cũng lấy bức tranh của ông Trần Phong tặng treo ngay giữa phòng. Nàng làm việc cho đến lúc Dũng ở trường về.
Nghe tiếng Dũng ở phộng ngoài, Phi Nga đi ra, đã thấy bé Hoàng ngồi trong lòng Dũng thỏ thẻ :
- Cha bệnh phải không? Cha nằm đi Hoàng đấm lưng cho.
Phi Nga hỏi :
- Bác sĩ bảo thế nào?
- Bác sĩ cho anh nghỉ một tuần. Ông ấy bảo anh bị sốt rét. Có lẽ tại anh không hạp khí hậu ở đây.
Phi Nga ngồi xuống bên Dũng. Dũng nói :
- Anh hay nông nỗi này thì không xin đổi về đây làm gì. Bây giờ mình lỡ mua ngôi nhà này rồi.
- Anh không muốn ở đây nữa thì chúng ta bán cho người khác, xin đổi về chỗ cũ.
- Như thế cũng phiền lắm. Công việc của em đang tiến hành một cách khả quan. Ở đây, em đi Sài Gòn học được.
- Việc của em không quan hệ đâu. Anh hãy lo sức khỏe của anh trước đã. Anh không chịu được khí hậu ở đây thì cứ xin đổi về chỗ cũ, chỗ nào mà anh thích.
Dũng chán nản nói :
- Anh không biết thích chỗ nào. Chỗ nào đối với anh bây giờ cũng vậy. Được nghỉ một tuần, anh định về quê thăm cha mẹ và các em.
- Anh không được khỏe, đi làm gì?
- Anh muốn về thăm nhà, sợ rồi đây không có dịp đi nữa.
Câu nói của Dũng làm Phi Nga lo lắng. Dũng hiểu ngay sự lo lắng ấy nên nói :
- Đi để đổi không khí luôn thể. Em cứ yên lòng để anh đi ít hôm. Về phần em cứ tiếp tục đi học vẽ như thường, em nhé.
Nói đến đây, giọng của Dũng dịu hẳn lại, vẻ mặt thật hiền lành dễ mến.
- Về nhà cha mẹ, ai lo ăn uống cho anh?
Dũng cười :
- Thì anh mang sữa theo uống. Lúc này anh cũng chẳng ăn uống được bao nhiêu.
Thế là ngày hôm sau Phi Nga thu xếp đồ đạc cho Dũng về quê. Dũng nói lần này chàng sẽ ở với cha mẹ đúng năm ngày mới về.
Khi Dũng đi rồi, Phi Nga không giấu được sự lo lắng, nói với chị Tâm :
- Thầy không được khỏe mà đòi về quê thăm ông bà nội của Hoàng, tôi lo quá.
- Cô cứ để thầy đi cho vui. Nghề dạy học bộ mệt nhọc lắm hay sao mà trông thầy lúc nào cũng không được khỏe.
- Dạy học cũng mệt thật, nhưng với ai yêu nghề thì sẽ không thấy mệt.
- Cô nói phải đó, làm việc mà không thích thì dễ chán lắm.
Phi Nga vào phòng làm việc. Nàng định hoàn thành bức tranh “Ngày mùa” đã vẽ hai tuần nay. Nhưng nàng vừa ngồi vào giá vẽ thì có tiếng còi xe trước cửa. Một lát chị Tâm đi vào và nói :
- Có một người ngoại quốc đến tìm cô. Ông ấy nói được tiếng Việt.
Phi Nga nói :
- Chắc là ông Malê đó.
Phi Nga vào thay áo và ra tiếp ông Malê.
- Chào cô, tôi tìm mãi mới ra nhà cô. Cô đang vẽ à?
- Tôi định hoàn thành bức vẽ đã hai tuần nay. Ông Malê kéo ghế ngồi :
- Thế tôi có phá rầy cô không?
- Ông đến chắc có việc gì dạy bảo tôi. Xin để tôi pha trà đã, ông đi nắng cũng mệt.
- Xin cô ngồi đây nói chuyện đã. À, cô đã có người giúp việc rồi phải không? Có vậy cô mới học được chớ.
Chị Tâm đã mang ấm tách lên. Phi Nga pha trà trong khi ông Malê nói :
- Ở đây các họa sĩ sắp mở một cuộc triển lãm chung các tác phẩm đặc sắc nhất của họ. Tôi định đem bức tranh cô được giải thưởng ở Pháp đến dự cuộc triển lãm ấy. Nếu cô có những bức tranh nào khác ưng ý thì cũng nên gởi dự luôn thể.
Phi Nga do dự một chút rồi nói :
- Họ là những họa sĩ đã có tên tuổi. Tôi chưa được ai biết đến, triển lãm tranh chung liệu họ có bằng lòng không?
- Đây là một nhóm họa sĩ tự do. Ai có tranh cũng có thể dự được.
- Gởi tranh đến dự lúc này hơi sớm. Vả lại tôi mới học được mấy tháng, chưa tiến bộ nhiều.
Uống xong chén trà, ông Malê đứng lên :
- Cô cho tôi xem qua những bức tranh của cô.
Phi Nga đưa ông Malê vào phòng vẽ cho ông xem từng bức tranh, ông Malê nói :
- Cô tiến bộ nhiều lắm. Tôi thấy có nhiều bức đem ra triển lãm được. Dù sao thì đây cũng là một dịp đua tài, không nên do dự, mạnh dạn một chút.
Khi thấy bức tranh của ông Trần Phong, ông Malê nói :
- Ông ấy mến cô lắm nên mới tặng cô bức này. Tôi hỏi mua mấy lần mà ông ấy không bán, bảo đó là một kỷ niệm.
Phi Nga ngạc nhiên :
- Một kỷ niệm à?
- Ông Trần Phong bảo ông vẽ bức tranh này lúc mẹ ông mới mất được mấy hôm.
Phi Nga không giấu được sự cảm động khi nghe ông Malê nói. Nàng không ngờ ông Trần Phong lại tử tế với nàng đến thế.
- Tôi khen bức tranh này đẹp. Mà đúng thế. Mỗi khi có chuyện bực mình, ngắm bức tranh này, tôi thấy người như nhẹ ra.
- Có những bức họa mà khi mình nhìn đến, nếu có bệnh sẽ khỏe hơn, nếu có chuyện đau khổ, chuyện đau khổ nhẹ bớt. Tôi có đọc một bài hồi ký của một nhà văn Mỹ. Ông này sau một chuyến di chuyển nhọc nhằn, được đưa vào một khách sạn ở Tokyo. Lúc ấy ông vừa đói, vừa mệt, vừa cảm thấy xa nhà, lạ chỗ. Vậy mà sự trang trí của căn phòng khách sạn khiến ông nghe nhẹ người. Chỉ cần vài bức tranh đơn sơ nhưng tuyệt bút treo trên vách của một họa sĩ Nhật đã làm người du khách mệt mỏi quên tất cả để sống với những cảm giác mới mẻ, đẹp đẽ. Khi trở về nước ông ta đã viết: “Tôi không bao giờ quên được những kỷ niệm êm đềm của chuyến viếng thăm nước Phù Tang”. Cô thấy đó, hội họa có một sức quyến rũ khá quan trọng và cũng như âm nhạc, nó làm cho tâm hồn con người êm dịu lại.
Khi đọc đến câu đề tặng của ông Trần Phong, ông Malê cười :
- Lời đề tặng hay lắm đấy!
Rồi ông xem lại các bức tranh một lần nữa, chọn lấy hai bức “Chợ chiều” và “Hoàng hôn ở thôn quê” :
- Cô cho tôi mượn hai bức tranh này. Tôi lấy ngay bây giờ. Cô hãy yên lòng về việc triển lãm này, cứ để tôi lo cho. Tôi quen gần hết các họa sĩ nổi tiếng ở đây.
Thấy Phi Nga có vẻ do dự, ông Malê nói :
- Cô không nên do dự. Mạnh dạn mà bước vào con đường danh dự, cô sẽ thành công. Hãy tin tôi.
Ông Malê ôm hai bức tranh đi ra ngoài, vẫn còn có vẻ luyến tiếc :
- Còn mấy bức tranh có thể mang đi triển lãm được.
Phi Nga mỉm cười :
- Mở màn để tôi bước ra trình diễn trên sân khấu đời.
Ông Malê sửa lại :
- Trình diễn trên sân khấu nghệ thuật. Tôi tin chắc sau cuộc triển lãm này, người ta sẽ chú ý đến cô. Cô không thấy các báo bên Pháp đã nói về cô hay sao? Mấy lần tôi viết thư xin cô một tấm ảnh, cô không chịu cho, nếu không thì ảnh của cô đã được đăng trên các báo rồi.
- Chưa phải lúc, ông ạ. Bao giờ tôi vẽ được nhiều đã. Tôi chưa tin mình bằng những họa sĩ khác. Thật ra tôi cũng chưa thấy những họa phẩm của ông Giang. Tôi không biết ông ấy vẽ như thế nào.
- Thế cô thấy ông Trần Phong hơn cô ở chỗ nào?
Phi Nga liền kể ông Malê nghe chuyện nàng đã chê một bức tranh của ông Trần Phong làm ông này tức giận như thế nào. Ông Malê cười :
- Ông Trần Phong không thích ai chê ông ta. Vì ông ta tự hào mình là bực thầy rồi. Cô khen ông ấy thì không sao, chớ cô chê thì liệu hồn.
Nhưng ông Malê vội vàng nói tiếp :
- Cũng may cô là phái đẹp. Người ta bao giờ cũng nể người khác phái. Với người đẹp không ai nỡ làm dữ.
- Lúc đầu ông ấy giận lắm, nhưng rồi ông đã nhận là ông vẽ sai. Theo lời các bạn cùng học trong lớp kể lại thì ông Trần Phong đã xé bức tranh đang vẽ lỡ dở sau khi bị tôi chê. Tuy vậy, ông Trần Phong là người hết lòng phụng sự cho nghệ thuật, cho cái đẹp. Đôi khi ông xem tôi như người bạn cùng phái, không còn nhớ tôi là học trò của ông hay tôi là một phụ nữ. Có hôm say sưa sáng tác, ông ấy không còn biết có tôi ở đó... Tôi chỉ phân vân có mỗi một chuyện này.
- Chuyện gì?
- Ông Trần Phong không chịu nhận học phí của tôi, ông ấy bảo dạy không cho tôi, nếu phải dạy hết những gì ông biết về nghệ thuật hội họa, ông cũng không tiếc. Ông chỉ tôi cách pha màu, cách tô và những bí quyết để vẽ tranh lụa. Ông tiết lộ là ông chưa dạy ai những bí quyết ấy và chỉ dạy cho tôi. Nếu ông chưa kịp dạy đến mà gặp tai nạn thì ông cũng đã viết sẵn trên một tờ di chúc để lại cho tôi.
Ông Malê nghe thế hết sức ngạc nhiên :
- Ông Trần Phong bảo như thế à?
Phi Nga gật đầu. Ông Malê nhìn Phi Nga một lúc lâu, bỗng thở dài quay lưng lại, giả vờ nhìn một bức tranh.
Phi Nga chỉ bức tranh gia đình và hỏi ông Malê :
- Ông nghĩ thế nào về bức tranh này?
- Đẹp lắm, nhưng là tranh gia đình của cô, triển lãm chắc không được.
- Nhà tôi không thích bức tranh này.
Ông Malê cười lớn :
- Ông ấy đâu phải là một họa sĩ mà bảo thích tranh.
Phi Nga vội vàng giải thích :
- Nhà tôi không thích cách tôi trình bày bức tranh.
- Trình bày? À, tôi hiểu rồi. Tại cô không ngoảnh mặt về phía ông ấy? Một người như cô không ngoảnh mặt nhìn ai hết. Cô đang sống với nội tâm của cô, hơn nữa lúc vẽ, cô đáu có nghĩ đến chồng con mà chỉ nghĩ đến đề tài của mình. Chồng cô không thể hiểu cô được. Nhưng chịu cho cô đi học vẽ là ông ấy cũng đã nhượng bộ phần nào rồi.
Ông Malê ôm những tấm tranh ra xe rồi cáo từ ra về :
- Hôm nào khai mạc triển lãm tôi sẽ cho xe lên rước cô.
Phi Nga quay vào, chưa bao giờ cảm thấy vui vẻ như hôm ấy. Nàng đi ngay vào phòng vẽ và tiếp tục làm việc.
Tuần sau, khi Phi Nga đến lớp vẽ của ông Trần Phong thì ông này hỏi :
- Ông Malê mang hai bức vẽ của cô đi dự triển lãm phải không?
- Tôi bảo để hỏi ý kiến thầy nhưng ông ấy nhất định gỡ xuống và mang đi.
- Ông ấy sợ bị từ chối. Nhưng không sao, thế nào cô cũng được vài giải thưởng...
Phi Nga cười :
- Có hai bức tranh mà được vài giải thưởng?
- Ông ấy đến đầy lấy thêm hai bức tranh của cô để đây nữa...
- Sao thầy lại để ông ấy mang đi?
Ông Trần Phong cười :
- Tôi có quyền gởi tranh của học trò tôi dự thi mà! Cô không cho phép à?
Rồi ông hỏi tiếp :
- Nếu không được giải thưởng thì cô có thất vọng không? Nếu các báo chê ầm lên, hay các họa sĩ trong ban giám khảo phê bình còn kém thì cô thấy thế nào? Có vì thế mà cô chán nản không muốn vẽ nữa không?
- Không bao giờ. Con người của tôi chưa biết chán nản lần nào. Một khi tôi thích cái gì thì khó ai làm tôi bỏ sự ham thích ấy. Tôi đã thích vẽ, thì nhất định suốt đời phải vẽ.
Ông Trần Phong cười lớn :
- Tốt lắm! Đừng vì sự thất bại này mà bỏ cả ý nguyện lớn. Tôi chỉ nói đề phòng như thế, chớ chắc gì cô đã thất bại.
- Nếu lần này mà tôi thất bại trong việc gởi tranh dự thi, thì sự thất bại này là của thầy, của ông Malê chớ không phải của tôi.
- Sự thất bại của tụi tôi?
- Vì các ông quá tin tưởng vào tôi nên mới gặt lấy sự thất bại ấy...
Ông Trần Phong gật đầu :
- Cô nghĩ trước như vậy để sau này khỏi phải buồn, cũng hay lắm đó.
Phi Nga liền hỏi :
- Thầy có gửi tranh của bà Châu đi dự thi không?
- Không... Làm gì mà trúng thưởng. Tôi định gởi vài bức tranh của tôi.
Phi Nga nhún vai :
- Thầy nói đùa.
- Tôi không nói đùa. Nhưng các họa sĩ không cho phép tôi dự thi, sợ tôi chiếm hết các giải thưởng. Sự thật họ quá lo xa. Hậu sanh khả úy, trò hơn thầy là chuyện rất thường và con hơn cha là nhà có phúc. Thôi, chúng ta làm việc vậy.
Phi Nga ngồi vào giá vẽ thì ông Trần Phong như nhớ ra điều gì, hỏi :
- Ông Malê thấy tấm tranh tôi tặng cô phải không?
- Trước đây ông ta đòi mua mà tôi không bán.
Phi Nga nhìn ông Trần Phong vì nhớ đến lời nói của ông Malê, bức họa ấy ông Trần Phong vẽ sau ngày mẹ ông ấy mất, đó là một kỷ niệm. Đôi mắt nàng gặp ngay đôi mắt sáng ngời của ông Trần Phong, nét mặt ông như tươi trẻ hẳn ra :
- Tôi vẽ sau khi mẹ tôi mất được một tuần. Lúc ấy tâm hồn tôi xao xuyến vì quá thương tiếc mẹ tôi.
- Nhưng bức vẽ ấy lại có được cái nhiệm mầu làm dịu tâm hồn đang đau khổ. Chính bức tranh này đã khuyến khích tôi nhiều lắm. Tôi thành thật cảm ơn thầy.
Ông Trần Phong quay lưng vào nhà trong chốc lát rồi đi trở ra, cầm một khung ảnh nhỏ đưa cho Phi Nga :
- Đây là ảnh của thân mẫu tôi. Thân mẫu tôi mất cách đây ba năm, thọ bảy mươi hai tuổi. Mẹ tôi hiền lắm, nhưng cũng như tất cả những người mẹ khác, mẹ tôi không thích tôi làm một nghệ sĩ. Mẹ thường nói với tôi: Mẹ muốn cho con học trường y, sau này khi mẹ già yếu, con chữa cho mẹ. Tôi đã không làm toại nguyện mẹ tôi. Tôi nhất định học vẽ. Nhưng đến khi tôi nổi tên tuổi thì mẹ tôi rất hãnh diện có được một đứa con làm họa sĩ. Lúc còn sinh thời, mẹ tôi rất thích những bức tranh lụa. Vì thế khi mẹ tôi mất, mỗi lần nhớ đến mẹ tôi, là tôi lại vẽ tranh lụa.. Tôi sẽ nhờ cô một việc.
Phi Nga vội vàng hỏi :
- Thưa thầy việc gì?
Ông Trần Phong do dự một lúc rồi mới nói :
- Đợi khi nào triển lãm xong đã. Nói bây giờ hơi sớm.
- Ai lo việc triển lãm ở đâu chớ tôi có bận gì đâu. Thầy có việc gì thì cứ dạy.
Ông Trần Phong nghiêm nghị :
- Tôi muốn nhờ cô họa ảnh mẹ tôi cho lớn hơn. Để làm kỷ niệm luôn thể. Cô là đàn bà, nét bút thế nào cũng dịu dàng, vì thế thích hợp với việc vẽ chân dung phụ nữ. Nhất là mẹ tôi có nét mặt hiền lành quá.
Phi Nga cảm động thấy ông Trần Phong nhờ nàng việc ấy, nên nói :
- Thầy tin tôi vẽ được và muốn giao tôi việc ấy thì tôi xin nhận lãnh, tôi chỉ sợ phụ lòng tin cậy của thầy mà thôi.
Vừa nói Phi Nga vừa cầm khuôn ảnh của thân mẫu ông Trần Phong, nhìn kỹ một lúc lâu. Ông Trần Phong nhìn Phi Nga chăm chú với đôi mắt đã dịu hẳn lại :
- Tôi thấy cô có một nét gì rất giống mẹ tôi. Có lẽ đó là sự hiền thục của người phụ nữ.
Phi Nga để khuôn ảnh lại trên bàn :
- Tôi vẽ xong bức tranh này sẽ vẽ bức ảnh của cụ bà.
Ông Trần Phong nhắc lại :
- Đợi có kết quả cuộc thi tranh này đã.
- Tại sao vậy?
Ông Trần Phong mỉm cười :
- Cô thông minh mà không hiểu nổi ý tôi sao?
Phi Nga suy nghĩ một chút rồi nói :
- Tôi hiểu rồi. Thầy chờ có kết quả, nếu tôi được giải thưởng, lúc ấy tôi là một họa sĩ có tên tuổi ký tên dưới bức ảnh của bà, bức ảnh ấy có thêm giá trị.
- Cô hiểu rồi đó. Thật sự dù không có cuộc thi này, tôi đã thừa nhận cô là người có tài. Tôi muốn làm thêm vinh dự cho mẹ tôi.
Phi Nga không bằng lòng :
- Giá trị của một bức họa là ở nét vẽ, không phải ở tên người vẽ.
Ông Trần Phong gật đầu :
- Đúng vậy.
Phi Nga cắm cúi làm việc, không còn nghe ông Trần Phong nói gì nữa. Ông cứ ngồi gần đó và nhìn Phi Nga làm việc suốt mấy giờ như vậy.
Khi Phi Nga ngẩng đầu lên, ông Trần Phong nói :
- Lạ thật, khi cô làm việc hăng say, trông cô trẻ làm sao ấy.
Phi Nga ngạc nhiên :
- Nãy giờ thầy vẫn ngồi đây sao?
- Cô không hay biết là tôi nhìn cô vẽ à?
Phi Nga đứng lên, sửa soạn ra về, không nói năng gì...

0
7
 
Dũng ở nhà cha mẹ về, trông mệt nhọc hơn trước. Phi Nga hối Dũng đi khám bệnh lại, đổi bác sĩ khác thì Dũng nói :
- Em nói phải đó, anh phải đến bác sĩ Văn mới được, ông Huyên hình như xem bệnh anh không ra.
Mấy hôm nay, cứ buổi chiều là anh nghe trong người như bị sốt.
- Anh có đo thân nhiệt không?
- Không.
Phi Nga lấy nhiệt kế đặt cho Dũng, hốt hoảng thấy nó chỉ đến 39 độ :
- Anh sốt cao rồi, phải đi bác sĩ ngay.
Bác sĩ Văn nói sau khi khám cho Dũng :
- Ông mệt lại đi xa, nên bị cảm... Nằm nghỉ và chích thuốc vài hôm, ông sẽ khỏe. Tôi không thấy có triệu chứng một bệnh nặng nào khác.
Như lời bác sĩ Văn, hai hôm sau Dũng đã bớt sốt bắt đầu ăn uống lại như thường. Dũng đòi đi dạy lại nhưng Phi Nga không chịu và xin phép cho Dũng được nghỉ thêm ba hôm nữa...
Trong lúc ấy ông Malê sai Paul lên cho nàng hay ngày hôm sau sẽ khai mạc cuộc triển lãm và Paul sẽ đem xe lên rước Phi Nga về dự. Paul nói ầm lên ở phòng khách, Phi Nga liền cho Paul biết Dũng đang bệnh, nghỉ cả tuần nay. Paul vội hỏi :
- Nếu vậy chị không đi dự lễ khai mạc được à?
- Anh bị bệnh, làm sao chị yên lòng đi được?
Từ phòng trong Dũng đã lên tiếng :
- Phi Nga vào đây anh nói cái này.
Phi Nga vội vàng đi vào. Dũng nói :
- Anh nghe hết rồi. Em cứ nhận lời đi xem triển lãm đi. Người ta đã chấm những bức tranh dự thi rồi mà. Tranh của em như thế nào?
- Em không nghe Paul nói gì...
- Chắc người ta chấm rồi mới đưa ra triển lãm. Em nên đi dự.
Phi Nga ái ngại :
- Nhưng anh không được khỏe...
- Anh khỏe rồi. Em ra nhận lời với cậu Paul đi.
Thấy Phi Nga còn do dự, Dũng ngồi ngay dậy :
- Hay để anh ra trả lời cho cậu ấy?
Phi Nga vội vàng đỡ Dũng nằm xuống :
- Thôi để em nói.
Paul ra về rồi, Phi Nga trở vào ngồi bên Dũng cầm tay chàng và hỏi :
- Anh nghe trong người thế nào?
- Anh nghe đỡ nhiều.
Phi Nga vạch xem mí mắt của Dũng rồi nói :
- Trông anh còn xanh nhiều, chưa lại sức. Chưa thật khỏe mà đi dạy thì mệt lắm. Để em đưa anh đi bác sĩ Văn tái khám.
Dũng cười :
- Anh đi một mình không được sao? Em làm anh như là trẻ con vậy.
Nói đến đây, cặp mắt của Dũng để lộ sự mệt nhọc, Dũng nói tiếp :
- Nhưng đôi khi, anh thấy anh đúng là trẻ con thật. Như chuyện bức tranh gia đình mà em vẽ đó, không hiểu sao anh cứ nghĩ đến nó hoài và tự hỏi, tại sao em lại vẽ em ngoảnh mặt đi nơi khác?
- Em bảo để em vẽ lại, anh lại không chịu.
- Em có quyền vẽ theo cảm xúc của em, vẽ lại mất hay. Nhưng anh vẫn thấy làm sao ấy. Mấy hôm về quê thăm cha mẹ, anh cứ có cảm giác rồi đây anh sẽ mất em. Anh lo quá. Rồi lúc này anh lại nghe trong người mệt mỏi quá. Dường như có một cái gì sắp thay đổi trong đời anh, trong người anh, lắm lúc anh cảm thấy buồn làm sao ấy.
Nói đến đây, Dũng ứa nước mắt :
- Anh thật lẩn quẩn quá, em sẽ chán anh.
Phi Nga siết chặt tay Dũng :
- Anh đừng nói vậy. Em lúc nào cũng yêu anh.
- Anh hiểu thế nhưng anh vẫn lo...
- Hay là ngày mai em ở nhà với anh, không đi dự triển lãm nữa? Ngày mai người ta làm lễ khai mạc. Hôm khác em đi xem cũng được. Đợi anh thật khỏe đã.
Dũng lắc đầu :
- Em nên đi, đó là một vinh dự người ta dành cho em, anh không được ích kỷ.
- Anh hứa là chiều nay anh đi thăm bệnh lại.
- Anh sẽ đi, em hãy yên lòng.
Hai người nói chuyện tới đây thì bé Hoàng chạy vào, leo lên ngồi bên Dũng :
- Ba đưa con đi chơi đi, sao ba nằm hoài vậy?
Phi Nga trả lời thay Dũng :
- Ba không khỏe, ba mệt.
Hoàng hỏi :
- Ba bệnh hả?
Rồi nó ôm đầu Dũng hôn mấy cái :
- Con hôn nhiều để ba mau hết bệnh.
Dũng siết nó vào lòng :
- Ba sẽ khỏi bệnh để đưa con đi chơi, cả em Hồng nữa.
- Hồng là con gái, cho nó ở nhà với mẹ. Con trai mới đi với nhau chớ.
Nghe Hoàng nói thế, Phi Nga phì cười :
- Con là con nít, chớ con trai với ai?
Hoàng cãi lại :
- Con là con trai, ba cũng là con trai. Mẹ là con gái. Em Hồng là con gái như mẹ. Con không chơi với con gái.
Nghe Hoàng lý luận, Dũng bật cười. Phi Nga nói :
- Mới có ba tuổi mà thằng bé này đã tự phụ về giới tính của mình. Đàn ông các anh được cái tài ấy.
Dũng quên cả buồn phiền, cười lớn :
- Bây giờ đến em gọi thằng Hoàng là đàn ông, buồn cười chưa? Thằng này rồi đây thế nào cũng có sự nghiệp làm trai. Mới ba tuổi mà đã nêu cao ngọn cờ của nó...
Ngày hôm sau, Phi Nga thức dậy sửa soạn đi Sài Gòn thì Dũng còn ngủ. Lúc mặc áo dài vào rồi, Phi Nga đến bên giường, lấy tay đặt nhẹ lên trán Dũng, hốt hoảng vì nghe trán Dũng nóng hổi. Dũng mở mắt ra và hỏi :
- Em chưa đi à?
- Anh sốt thế này, vậy mà hôm qua em nhắc anh đi bác sĩ, anh lại không chịu.
Dũng đưa tay sờ lên trán :
- Anh đâu có sốt. Tại anh nằm trong phòng kín nên ấm như thế.
Dũng cựa mình, nghiêng ra ngoài và hỏi :
- Em ăn gì chưa? Xe chưa đến sao?
- Chưa đến, nhưng em không muốn đi nữa. Rõ ràng là anh bị sốt nặng rồi. Hai mắt đen láy, môi ửng đỏ thế kia.
Vừa nói, Phi Nga vừa cởi nút áo trên cổ. Dũng hỏi :
- Thế hẹn lỡ với cậu Paul thì sao?
- Không sao cả. Ngày nào anh khỏe em đi Sài Gòn xem triển lãm sau cũng được.
Dũng ngồi ngay dậy :
- Anh có sốt đâu.
Nhưng Dũng nghe chóng mặt, mồ hôi ra ướt cả áo, lại phải nằm ngay xuống, lấy tay vỗ nhẹ lên trán. Phi Nga hoảng hốt vì thấy mặt Dũng tái nhợt :
- Anh bị sao vậy?
Dũng vẫn gượng gạo :
- Anh có sao đâu, hơi chóng mặt chút thôi. Em nghe lời anh, đi dự lễ khai mạc triển lãm đi.
Phi Nga vén mùng lên ngồi xuống bên Dũng :
- Anh còn mệt vậy mà không chịu đi bác sĩ.
- Em yên lòng, ở nhà uống sữa xong anh sẽ đi.
Phi Nga còn do dự thì Dũng cầm lấy tay nàng, đưa lên miệng hôn :
- Tội nghiệp em quá. Từ ngày về làm vợ anh chưa có được một ngày hạnh phúc.
Phi Nga lườm Dũng :
- Lại nói bậy nữa đi. Tại sacf không có lấy một ngày hạnh phúc?
Dũng lắc đầu :
- Anh không mang hạnh phúc đến cho em.
- Anh đừng nói vậy. Anh đã cho em hai đứa con, chúng nó là nguồn sống, nguồn an ủi của em.
Dũng cười đầy vẻ hoài nghi :
- Anh không tin.
Phi Nga đã thay áo dài để mặc lại chiếc áo bà ba. Dũng nói :
- Kìa, sao lại thay áo? Em đừng cãi lại anh, anh buồn sẽ đau nặng hơn. Hãy sửa soạn đi dự lễ đi.
Vừa lúc ấy bên ngoài có tiếng xe ngừng trước cửa. Dũng nói :
- Cậu Paul đến rước em đó. Sai hẹn kỳ lắm, nhất là sai hẹn với ông Malê.
Có tiếng Paul gọi lớn :
- Chị Phi Nga ơi! Bức tranh của chị được huy chương vàng rồi! Một bức khác được huy chương bạc! Ông Trần Phong và ba em sung sướng như điên. Đêm qua hai ông kéo nhau đi ăn uống để mừng thắng lợi của chị.
Sợ Paul chạy vào buồng, Phi Nga phải ra ngoài đón cậu ta :
- Chị may mắn như thế à?
- Ông Trần Phong bảo, nếu chị là đàn ông thì ông đã đem xe lên rước chị đêm qua khi biết kết quả và đưa chị đi ăn uống để mừng chị. Đến lúc này ông ta mới thấy cái phiền phức, chị là đàn bà con gái.
- Anh Dũng bị bệnh, hôm nay anh ấy bị sốt lại. Paul đứng sững lại nhìn Phi Nga :
- Thảo nào mặt mày chị bơ phờ như thế.
- Anh Dũng bị bệnh, chị sợ không đi được.
Paul chán nản ngồi phệch xuống ghế :
- Chị không đi được à? Đúng mười giờ người ta khai mạc, có cả ông bộ trưởng đến dự, chị không đi để chứng kiến sự thành công của chị à? Nhiều người muốn biết mặt chị. Thế nào hôm nay các phóng viên báo chí cũng sẽ xúm lại phỏng vấn chụp ảnh chị.
Paul nói lớn lắm nên ở trong phòng Dũng nghe lồng lộng. Dũng lên tiếng :
- Em Phi Nga!
Nghe Dũng gọi, Phi Nga vội vàng quay vào. Dũng nói :
- Anh đã nghe cậu Paul nói về chuyện em được giải thưởng. Anh mừng cho em. Em nên sửa soạn đi dự lễ, đừng để ông Malê và ông Trần Phong đợi.
Phi Nga còn do dự thì Dũng ngồi dậy, dựa lưng vào thành giường :
- Anh nghe khỏe rồi, đầu anh cũng hết nóng rồi.
Dũng cười vui vẻ để trấn an Phi Nga. Phi Nga lại đặt tay lên trán Dũng và hỏi :
- Anh không nói để em yên lòng chớ?
- Không có gì cho em lo cả. Nếu em không đi, anh buồn lắm và anh sẽ ân hận suốt đời. Em bảo chị Tâm cho anh một ly sữa càphê. Lát nữa anh sẽ đi đến phòng mạch của bác sĩ Văn.
Nghe thế, Phi Nga mới đi mặc lại chiếc áo dài. Nàng siết tay Dũng :
- Anh nhớ đi lại bác sĩ Văn nhé.
Rồi Phi Nga dặn chị Tâm :
- Chị làm sữa cho thầy rồi lấy nước nóng cho thầy lau mặt. Chị nhớ nhắc thầy đi bác sĩ và săn sóc thầy giúp tôi.
Chị Tâm đã nghe Paul nói chuyện với Phi Nga, chị mừng cho Phi Nga và nói :
- Cô nên đi dự lễ cô ạ. Trong đời mình được mấy lần như thế? Chắc thầy chỉ đau xoàng thôi, có gì cô phải bận tâm. Cô yên lòng, mọi việc đã có tôi.
Thấy Phi Nga quay ra, đã thay chiếc áo dài, Paul mừng rỡ đứng dậy :
- Có vậy chớ. Tưởng đâu chị không đi.
- Anh Dũng bảo chị phải đi, nhưng lòng chị vẫn không yên.
- Khi chị thấy được chiến thắng của mình, chị sẽ quên tất cả. Chiều nay, người ta sẽ giữ chị lại và đãi đằng. Thế nào ông Trần Phong cũng giành đãi chị trước, rồi đến những họa sĩ được giải, ban giám khảo và cuối cùng là cha mẹ và tụi em.
Hai người lên xe và xe chạy đi. Nhìn chiếc áo dài màu tím sậm Phi Nga đang mặc, Paul hỏi :
- Đi dự lễ mà chị ăn mặc như đi đưa đám tang, lựa chi cái áo màu tối quá! Một nữ họa sĩ mà diện đồ không mỹ thuật chút nào cả.
- Đi xem triển lãm chớ đi khoe áo quần sao?
Paul nói sau khi ngắm kỹ Phi Nga :
- Tuy vậy trông chị cũng đẹp chán. Đố ai biết chị đã có chồng và hai con.
Rồi vừa cười Paul vừa nói tiếp :
- Em tuy vậy chớ thạo cách ăn mặc lắm. Để em đưa chị đi phố, chọn những màu áo thích hợp cho chị. Chị phải mặc màu gạch hay màu nâu tươi mới đẹp.
- Chà, cậu này ngó vậy mà rành cách ăn mặc của đàn bà ghê quá. Thế cậu thấy Phi Anh ăn mặc thế nào?
- Ăn mặc trang nhã mới đẹp. Không phải có tiền rồi muốn mặc thế nào cũng được. Có bà đi dạo phố, nhìn vào mình cứ có cảm tưởng bà ta đang quảng cáo cho thứ hàng may màn cửa, bao ghế nệm. Lại có bà mập thù lù như bao gạo chỉ xanh, vậy mà lại mặc quần jean áo thun mới khổ. Em còn nhớ có hôm em bị nhức đầu, đang đi khám bệnh thì gặp ngay một bà mặc áo dài đỏ và cái quần cũng đỏ luôn, nguyên bộ comlê, mốt bây giờ đó. Đầu em đã nhức, bấy giờ mắt cũng nhức luôn!
Ngừng một lát, Paul nói tiếp :
- Cô Phi Anh kể ra cũng biết cách ăn mặc đây. Em thấy Phi Anh không đẹp bằng chị, nhưng biết chưng diện. Chị vẽ tranh biết chọn màu sắc cho hòa hợp, lẽ dĩ nhiên phải biết cách ăn mặc. Chị không chưng diện là tại chị không thích, không muốn để ý đến chuyện đó. Mà những người ái mộ tài chị như ông Trần Phong hay cha em chắc cũng không để ý đến những chuyện ấy mà chỉ để ý đến những bức tranh của chị...
Paul nói luôn miệng, hết chuyện này đến chuyện khác, trong khi Phi Nga nghĩ ngợi liên miên. Phi Nga không ngờ nàng có đến hai bức tranh được trúng giải. Đó là một vinh dự lớn lao của đời nàng, nhưng tại sao vinh dự ấy lại đến giữa lúc Dũng bị bệnh? Nếu Dũng khỏe mạnh thì Dũng có chịu đi dự triển lãm với nàng không.
Nhưng trong lúc ấy, Phi Nga đã quên đi là Dũng đang bệnh, nàng chỉ nghĩ đến những bức tranh nàng sắp vẽ. Nếu hai bức kia mà được giải thưởng thì rồi đây sự nghiệp của nàng sẽ đi đến đâu? Vì nàng chưa mấy thích hai bức tranh vừa được giải thưởng đó.
Phi Nga không sợ gì hơn là sợ đám đông. Mà giờ đây cái đám đông ấy lại để ý đến nàng, chỉ biết có nàng. Giữa đám đông ấy, Phi Nga chắc chắn là lạc lõng, nàng không hiểu họ mà họ cũng không hiểu nàng.
Chiếc xe của Paul ngừng trước một biệt thự ở đường Hiền Vương [1]. Paul nói :
- Tới nhà em rồi.
Ông Malê ăn mặc chỉnh tề, vừa nghe tiếng còi xe đã vội vàng bước ra, theo sau là bà Quỳnh. Cả hai đều để lộ sự vui mừng. Paul mở cửa xe đẩy Phi Nga ra ngoài :
- Cha mẹ em ra đón chị kia kìa.
Phi Nga vừa bước xuống xe thì bà Quỳnh đã ôm lấy nàng :
- Cô may mắn quá! Cô thấy đó, tôi nói có sai đâu. Thế nào cô cũng thành công.
Ông Malê bắt tay Phi Nga rồi lườm vợ :
- Bà giành lấy cô Phi Nga cho mình bà sao? Thì cũng để cô ấy bắt tay tôi chứ.
Ba người cùng cười. Ông Malê nói tiếp :
- Vậy mà cô còn chưa muốn mang tranh của cô đi dự thi.
Bà Quỳnh nhìn Phi Nga từ đầu đến chân, rồi kéo nàng vào nhà :
- Ăn mặc sao lôi thôi thế? Vào đây tôi sửa soạn lại cho. Một nữ họa sĩ mà không ra dáng chút nào. Ai lại nhè ngày vui vẻ thế này mà mặc chiếc áo màu tím sậm!
Ông Malê nói :
- Cứ để yên cô Phi Nga như thế. Có vậy mới là một nghệ sĩ.
- Dù là nghệ sĩ, người đàn bà cũng phải phục sức trang nhã. Những người đàn bà có sự nghiệp, sở dĩ không tìm thấy hạnh phúc ồ gia đình cũng tại họ quên họ là đàn bà.
Ông Malê bực bội :
- Tôi không có thì giờ tranh luận với bà về việc này bây giờ. Hãy cho cô Phi Nga dùng cái gì, sữa tươi hay nước cam, để chúng ta còn đi kẻo trễ.
Trong khi bà Quỳnh đi vào phòng ăn thì ông Malê nói với Phi Nga :
- Đêm qua gặp tôi tại phòng triển lãm, ông Trần Phong tỏ vẻ bực tức vì cô là một phụ nữ.
Phi Nga ngạc nhiên nhìn ông Malê thì ông nói tiếp :
- Nếu cô không phải là đàn bà thì đêm qua tôi và ông ấy đã đem xe lên Biên Hòa rước cô về Sài Gòn để chúng ta cùng đi ăn uống một bữa no say rồi. Cô có tài, điều ấy theo tôi không có gì đáng phiền, phiền chăng chỉ vì cô là đàn bà, nên dù cô có tài mấy đi nữa, tụi tôi cũng không thể hết mình với cô. Tôi và ông Trần Phong đành dẫn nhau đi ăn, nhưng không vui trọn vẹn được.
Bà Quỳnh đi ra mời mọi người :
- Có sẵn sữa tươi và bánh ngọt, mời vào dùng còn đi kẻo trễ.
Ba người xúm xít quanh một bàn àn rộng. Paul đã thay bộ comlê màu xám nhạt, ở trên lầu đi xuống, vừa cười vừa nói :
- Con đã lo phần con rồi, đi rước chị Phi Nga về nghe đói quá. Chị Phi Nga hôm nay không được vui, vì anh Dũng đang bị sốt.
Ông Malê nói :
- Sốt thì uống thuốc, có sao mà sợ? Cô nên quên chuyện ấy đi để hoàn toàn sống một ngày thật vui thật sôi nổi. Đời người được mấy mùa xuân? Tối nay cô ở lại đây dùng cơm với tôi và ông Trần Phong. Có cả nhà tôi đi nữa để cô khỏi ngại.
- Nể ông lắm hôm nay tôi mới đi như thế này. Nhà tôi đang bị bệnh. Dự lễ khai mạc xong tôi trở về Biên Hòa ngay.
Ông Malê nhún vai, trong khi bà Quỳnh nói :
- Cũng phải ở lại một buổi chiều cho thiên hạ biết qua mặt mày một chút chớ, làm gì mà về gấp vậy? Lễ khai mạc dành riêng cho quan khách, chớ người ngoài đã có ai đi xem đâu.
Paul cũng nói :
- Chị ở lại đây chơi, sáng mai em đưa chị về sớm.
Phi Nga lắc đầu. Paul đi lại đứng bên Phi Nga, nũng nịu nói :
- Chị mà về thì em giận đó.
- Giận thì chịu chớ biết sao?
Mọi người ra xe. Thấy Phi Nga ngồi có vẻ đăm chiêu, bà Quỳnh hỏi :
- Cô nghĩ gì vậy?
- Cháu lo lắng quá. Cháu không quen những chuyện lễ lạc như vầy.
Ông Malê cười :
- Thỉnh thoảng cô cũng phải ra khỏi cái tháp của mình, tập giao thiệp cho quen. Rồi đây cô sẽ có hội hè liên tiếp.
- Một họa sĩ đâu cần phải sống như một nhà ngoại giao. Họa sĩ cần sống với thiên nhiên, với nội tâm của mình.
- Trường đời sẽ thay đổi cô.
Bà Quỳnh nói :
- Cô cứ lúc thúc ở nhà thì làm sao làm việc? Cũng phải đi ra ngoài, có bạn bè.
Chiếc xe của ông Malê vừa ngừng trước phòng triển lãm thì Phi Nga đã thấy ông Trần Phong và bà Châu chạy lại. Bà Châu thò tay qua cửa xe, nắm lấy tay Phi Nga :
- Tôi thành thật chia mừng với cô.
Phi Nga bước ra ngoài. Ông Trần Phong và Phi Nga nhìn nhau, qua cái nhìn ấy, cả hai đều hiểu họ muốn nói gì. Ông Malê nói :
- Ông Trần Phong vui mừng như chính ông ấy được giải thưởng.
Phi Nga đến bên ông Trần Phong và nói vừa đủ cho ông nghe :
- Tôi xin cám ơn thầy.
Ông Malê và ông Trần Phong giới thiệu Phi Nga với các họa sĩ khác, Phi Nga chỉ biết chào hết người này đến người nọ, và cũng không nhớ nổi tên họ của những người ấy. Những phóng viên nhiếp ảnh cứ chìa máy về phía Phi Nga, khiến nàng ngượng nghịu quá. Lúc ấy nàng không còn nhớ gì cả, chỉ đi theo ông Malê hay ông Trần Phong như một cái máy.
Rồi nhạc trỗi, rồi người ta đứng ngay ngắn để nghênh đón ông bộ trưởng. Cuộc triển lãm đã khai mạc với một làn sóng người. Phi Nga cùng các bạn học đi theo ông Trần Phong, ông chỉ từng bức tranh được giải và phê bình cho mọi người nhận xét.
Bỗng Phi Nga nghe tiếng người hỏi :
- Nữ họa sĩ Phi Nga có trong đám này không?
Phi Nga lánh đi nơi khác, nhưng rồi ông Trần Phong cũng kéo nàng đứng lại cho mấy phóng viên phỏng vấn. Phi Nga thấy mình không thể tiếp tục chịu được những cực hình ấy nên nói với Paul :
- Em lén đưa chị về trước đi. Chị thấy mệt quá!
- Chị hãy chờ ông bộ trưởng về đã.
- Ai cấm mình về trước?
- Chị chưa xem hết những bức tranh kia mà.
- Hôm khác sẽ đến xem sau.
Ông Malê thấy Phi Nga và Paul định đi ra một cánh cửa hông thì chạy ngay lại :
- Con định đưa cô ấy đi đâu vậy?
- Chị Phi Nga đòi về.
Ông Malê nói :
- Cô ở lại đây xem tranh đã chứ?
- Tôi khổ sở quá.
Ông Malê cười lớn :
- Mọi người tìm cô để tỏ lòng khâm phục, tại sao cô lại khổ?
- Chính vì thế mà tôi khổ.
Ông Trần Phong nghe ông Malê cho biết Phi Nga đòi về thì vui vẻ nói :
- Được rồi. Người ta cũng đã phỏng vấn và chụp ảnh xong rồi. Cô về cũng được. À, để tôi bảo Dục Tú đưa cô về nhà tôi. Chúng tôi sẽ về sau. Trưa nay tôi sẽ đãi cô và các môn đệ của tôi.
- Tôi định về Biên Hòa ngay bây giờ.
Ông Trần Phong la lớn :
- Đâu được!
Dục Tú, Lê Thanh, Hà Nam và Vũ Minh cũng xúm lại bên Phi Nga :
- Chị về sao được? Hôm nay thầy đãi, hôm khác đến phiên bọn này. Chị đã làm vinh dự cho chúng tôi.
Bà Châu cũng chạy lại :
- Tôi nhường các bạn đãi trước, phần tôi đãi sau cùng.
Bà Quỳnh nói :
- Cô phải dành cho vợ chồng tôi một ngày nữa!
Phi Nga cảm động trước những lời mời mọc ấy :
- Tôi nhận lời hết, nhưng hôm nay cho tôi về vì việc nhà.
Dục Tú nhìn ông Trần Phong để hỏi ý kiến. Ông nói :
- Em đưa cô ấy về nhà thầy đi, không nói lôi thôi gì hết.
Thế là Dục Tú kéo Phi Nga ra xe. Bà Châu chạy theo :
- Tôi cũng về Chợ Lớn luôn thể. Thầy bảo tôi cùng đi với hai cô.
Khi ngồi vào xe của ông Trần Phong rồi, Phi Nga mới thở phào :
- Thế là thoát nạn!
Dục Tú cười và nói với bà Châu :
- Người ta càng đến chúc mừng chị ấy chừng nào, em thấy chị ấy càng khổ sở chừng nấy.
Bà Châu nói :
- Cô may mắn thật đấy!
Dục Tú bênh Phi Nga :
- Chị Phi Nga có tài chớ sao lại may mắn?
- Thiếu gì người có tài mà không may mắn thì sao?
Dục Tú dằn từng tiếng :
- Nhưng chị Phi Nga chắc chắn là có tài, chớ không phải chỉ may mắn thôi đâu.
Phi Nga không hiểu tại sao hôm nay Dục Tú lại bênh vực mình như thế. Mọi ngày mỗi khi ông Trân Phong hay các bạn khen Phi Nga thì Dục Tú luôn tỏ ra ganh tị.
Bà Châu nói :
- Cô Phi Nga có tài, điều này tôi có phủ nhận đâu. Nhưng cô ấy cũng may mắn hơn nhiều người có tài khác vì cô đã gặp ông Malê và thầy Trần Phong. Nếu cô không gặp những người này khuyến khích thì cô đã nằm yên một chỗ ở dưới quê, chớ làm sao có tranh gởi dự thi ở Paris? Cô Phi Nga chỉ biết có chồng con. Cô ấy có tài mà không chịu dùng tài. Chính tôi trước đây đã thúc giục cô ấy đi học. ông Malê cũng đã nói biết bao nhiêu lần. Nhưng cũng nhờ tôi rủ cô ấy đi dự cuộc triển lãm tranh của tôi...
- Nhưng nếu chị Phi Nga không phải là người có thực tài thì làm sao có những sự khuyến khích kia? Ai chịu mất công khuyến khích một người bất tài, trừ phi người ấy bỏ tiền ra để mua một chút hư danh?
Thấy câu chuyện đi đến chỗ gây cấn, Phi Nga liền nói :
- Bà Châu khuyến khích tôi nhiều lắm. Tôi rất phục sự cố gắng và sự kiên nhẫn của bà Châu. Chị Dục Tú không biết đó thôi, chớ nếu không có bà Châu đây thì chưa chắc tôi đã chịu học với thầy Trần Phong.
Xây lại Dục Tú, Phi Nga nói :
- Tôi cũng xin cám ơn chị, nhưng sự thật thì cũng nhờ thầy Trần Phong và các anh chị giúp đỡ tôi nhiều.
Về đến nhà ông Trần Phong, Dục Tú đi pha trà, cả ba cùng uống để chờ đợi ông Trần Phong về với Lê Thanh, Hà Nam, Vũ Minh. Vừa về đến, ông nói :
- Mấy họa sĩ trẻ tuổi cũng đòi về theo để bắt thầy đãi nhưng thầy không cho họ về vì sợ Phi Nga không bằng lòng.
Câu chuyện trở nên vui vẻ và thân mật. Vũ Minh hỏi bà Châu :
- Chị có mấy bức tranh dự thi?
- Có một tấm nhưng không được giải nào.
Vũ Minh quay qua hỏi Phi Nga :
- Chị nghĩ thế nào khi hay tin được hai giải thưởng?
Phi Nga nói :
- Lẽ dĩ nhiên là tôi mừng.
Lê Thanh hỏi :
- Chỉ thế thôi sao?
- Các anh làm gì mà hỏi còn hơn các phóng viên sáng nay phỏng vấn tôi vậy?
Lê Thanh hỏi :
- Với họ chị đã trả lời thì với anh em tôi, chị cứ nói cho chúng tôi biết cảm tưởng của chị di.
Hà Nam thêm vào :
- Để may ra sau này tụi tôi có được giải thưởng thì còn rút kinh nghiệm để biết cách nói.
- Tôi rất vui mừng, chỉ thế thôi, chớ không nghĩ gì khác.
Ông Trần Phong nói :
- Ông bà Malê quý mến Phi Nga quá. Ông Malê thật có bụng liên tài. Ông ấy nể tôi lắm mới nhường tôi đãi cô trước đó. Tối hôm qua, ông ấy cứ đòi lên Biên Hòa báo tin cho cô biết và rước cô đi ăn uống luôn. Tôi cản vì ông ấy không chịu hiểu phong tục tập quán mỗi nơi mỗi khác. Nếu cô là người Âu Mỹ thì không sao nhưng cô là một phụ nữ Việt Nam. Chúng ta là người Á Đông, chúng ta có những phong tục tập quán riêng.
Phi Nga chấm dứt câu chuyện ấy bằng một câu :
- Nếu đêm qua ông bà Malê có lên rước thì tôi cũng không đi được...
Và để xoay câu chuyện qua một chiều khác, Phi Nga hỏi :
- Thầy nghĩ thế nào về hai giải thưởng của tôi?
Ông Trần Phong nói :
- Có vài giải thưởng có vẻ thiên vị, nhưng hai giải thưởng của Phi Nga thì thật xứng đáng. Các họa sĩ trong ban giám khảo đã bàn cãi nhiều về hai giải thưởng của Phi Nga. Họ không tin một phụ nữ vẽ được như thế. Họ càng ngạc nhiên hơn khi sáng nay gặp Phi Nga, thế nào rồi đây họ cũng tìm tới xưởng vẽ này để xem Phi Nga làm việc.
Phi Nga hỏi :
- Phiền phức như thế sao?
- Nhưng bây giờ thì họ tin rồi... Ông Malê có đưa cho họ xem những bài báo phê bình giải khuyến khích của Phi Nga ở cuộc triển lãm tranh vẽ tự do ở Paris.
Rồi ông Trần Phong nhìn lên chiếc đồng hồ trên tường :
- Mười hai giờ rưỡi rồi. Thôi chúng ta đi ăn kẻo trễ. Nhà hàng gần đây, mình đi bộ cho vui.
Dục Tú đi lại bên Phi Nga, lấy tay vuốt lại mái tóc cho nàng :
- Chị có nghệ sĩ tính thật đấy, không biết chưng diện gì cả, đầu cổ thế này mà đi dự tiệc à?
Bà Châu cũng nói :
- Cô ấy ít khi chưng diện lắm.
Lê Thanh nói :
- Người ta bảo nữ văn sĩ Sagan bên Pháp không hề chưng diện, lúc nào cũng chỉ mặc cái áo thun dài tay, đầu cổ chôm bôm. Không khéo chị Phi Nga cũng giống Sagan.
Phi Nga vừa nói vừa sửa lại cổ áo :
- Giống thế nào được.
Đến nhà hàng, ông Trần Phong giao cho bà Châu phần gọi món ăn :
- Ngọc Diệp thay thầy tổ chức bữa tiệc vì Ngọc Diệp lớn tuổi nhất trong đám môn đệ của thầy.
Phi Nga ngạc nhiên thấy ông Trần Phong gọi bà Châu bằng tên con gái của bà. Bà Châu thoăn thoắt đi giao thiệp với các nhân viên nhà hàng. Lé Thanh và các môn đệ khác xúm lại bên khung cửa sổ chuyện trò với nhau, Phi Nga ngồi trên một chiếc ghế dài, có vẻ mệt mỏi. Ông Trần Phong đến ngồi bên nàng và hỏi :
- Phi Nga nghĩ gì thế?
Phi Nga lập tức ngồi xích xa ra :
- Tự nhiên tôi cảm thấy không được yên lòng.
- Tại Phi Nga sợ đi lâu, ông Dũng ở nhà chờ đợi?
- Nhà tôi đang bệnh.
- Có phải đau nặng đâu. Cô lo lắng như thế mất vui. Tôi muốn thấy mặt Phi Nga thật vui, vui vì đã thành công một phần nào.
- Tôi vui lắm, nhưng không có nghĩa là quên chồng đang đau ốm ở nhà.
Ông Trần Phong thở dài :
- Đây cũng là một trở ngại lớn cho sự nghiệp của cô.
- Tôi không thấy như thế.
Ông Trần Phong nhìn Phi Nga, đôi mắt sáng lên :
- Tôi tin sự nghiệp của cô còn nhiều hơn nữa. Rồi cô sẽ là một tên tuổi lớn.
Phi Nga nhìn lên và gặp đôi mắt của ông Trần Phong. Đến hôm ấy Phi Nga mới nhận thấy ông Trần Phong có một cái nhìn rất say đắm, nói lên sự khao khát một tình yêu lý tưởng, mặc dù tuổi ông đã lớn. Nhưng lòng Phi Nga vẫn dửng dưng, không chút xao xuyến.
- Tôi rất vui mừng thấy cô được hai giải thưởng, nhưng lại thấy dường như cô không vui mừng bao nhiêu. Lúc nào nét mặt cô cũng ngây thơ, đôi mắt của cô lúc nào cũng vô tư như không hề biết yêu đương là gì. Lạ thật, vậy mà tại sao cô lại sống với thầy Dũng được?
Phi Nga cười một cách hồn nhiên :
- Chuyện ấy ở một lãnh vực khác, không phải ở lãnh vực hội họa thì thầy làm sao hiểu đưực?
- Phi Nga muốn nói thầy không biết yêu đương là gì à?
Phi Nga lắc đầu :
- Tôi không bao giờ tìm hiểu những chuyện ấy. Vì chuyện đó không liên quan tới việc tôi học với thầy.
Ông Trần Phong cười :
- Cô lý luận hay thật. Nhưng chắc gì cô đã biết yêu đương là gì. Chuyện yêu mà các nam nữ đặt lên trên hết, trên cả công danh sự nghiệp, theo tôi không có gì đáng kể cả. Các thanh niên hiểu lầm đấy thôi.
Phi Nga thấy ông Trần Phong đề cập đến chuyện yêu đương thì vội vàng đưa tay vẫy Dục Tú đến. Cả Lê Thanh, Hà Nam, Vũ Minh cùng kéo theo. Dục Tú hỏi :
- Chị gọi bọn này?
- Làm gì mà đứng riêng đằng ấy, lại đây nói chuyện với thầy đi. Thầy đang nói về nhiều vấn đề hay lắm.
Vũ Minh nhìn ông Trần Phong :
- Trông thầy trẻ hơn mọi ngày.
Lê Thanh nói :
- Nhờ chị Phi Nga giật được hai cái giải thưởng.
Rồi Lê Thanh ngậm ngùi nói tiếp :
- Tôi học với thầy mấy năm rồi mà chưa đem lại cho thầy vinh dự ấy. Tôi cảm thấy buồn vì quá bất tài.
Ông Trần Phong nói :
- Các con cũng có tài nhưng chắc chắn không bằng Phi Nga.
Vũ Minh nói :
- Chị Phi Nga đã làm thầy trẻ được mấy năm.
Thấy Vũ Minh trở lại lời khen ấy, ông Trần Phong hỏi :
- Các con thấy thầy trẻ lại à? Sự vui mừng thường làm cho con người ta trẻ lại. Chưa bao giờ thầy thấy vui vẻ như hai hôm nay. Thầy dạy học trò cũng đã nhiều, chưa ai làm thầy vừa lòng như Phi Nga.
Vừa nói, ông Trần Phong vừa nhìn Phi Nga. Dục Tú nói :
- Rồi đây chị còn học với thầy nữa không?
Ông Trần Phong vội nói :
- Sao lại không?
Dục Tú nói :
- Bà Châu khi triển lãm tranh xong đâu có học nữa, mặc dù bà ấy chưa được giải thưởng nào cả.
Lê Thanh hỏi Phi Nga :
- Chị vẫn tiếp tục học chớ chị Phi Nga?
- Học chứ. Tôi đã học hết nghề của thầy đâu. Vẽ trên lụa tôi chưa học tới.
Ông Trần Phong nói :
- Phi Nga mà vẽ trên lụa chắc giỏi hơn thầy.
- Tại sao vậy, thưa thầy?
- Vẽ trên lụa, cần có sự tế nhị. Đàn bà bao giờ cũng tế nhị hơn.
Hà Nam nói đùa :
- Thảo nào mà chị Dục Tú chỉ thích vẽ trên lụa.
Dục Tú càu nhàu :
- Anh ngạo tôi à? Để rồi anh xem, tôi sẽ vẽ hơn anh.
Ông Trần Phong hỏi :
- Tại sao?
Dục Tú nói :
- Trước đây con cứ nghĩ về hội họa, đàn bà không thể có tài bằng đàn ông, vì lẽ đàn bà bận gia đình, chồng con. Nhưng bây giờ thấy chị Phi Nga thành công như thế, con tin tưởng phái nữ của con không phải không có người tài.
Hà Nam hỏi :
- Và dựa vào thành công của chị Phi Nga, chị tin rằng ngày mai đây chị cũng nối tiếng là họa sĩ tài hoa. Chị không nên phân biệt đàn bà hay đàn ông, mà nên nghĩ có tài hay không có tài. Chính thầy đã bảo thế kia mà. Trên lãnh vực nghệ thuật, không nên phân biệt đàn ông hay đàn bà.
Câu chuyện đến đây thì bà Châu đã trở lại. Bà nói với ông Trần Phong :
- Tôi chỉ gọi những món ăn thầy thích, chứ không biết các bạn đây thích món gì.
Ông Trần Phong không bằng lòng :
- Đãi Phi Nga thì phải lựa những món Phi Nga thích. Có phải đãi thầy đâu?
Phi Nga nói :
- Tôi không quen đi ăn tiệm. Tôi quê mùa lắm, không biết thích món nào đâu.
Dục Tú nói :
- Nhưng ít ra chị cũng phải biết chị thích ăn cá hay heo bò gà vịt gì chớ.
- Cái đó thì tôi biết. Nhưng bà Châu làm như thế phải lắm. Ở đây có thầy là lớn, phải lựa những món ăn thầy thích.
Bà Châu nói :
- Họ đã bắt đầu dọn những món ăn chơi rồi đó, chúng ta ngồi vào bàn là vừa.
Mọi người ngồi vào bàn... Bữa tiệc bắt đầu bằng một bầu không khí vui vẻ, thân mật. Trong lúc ăn uống, ông Trần Phong kể cho mọi người nghe về cuộc đời nghệ sĩ của ông lúc còn ở bên Trung Hoa. Qua những mẩu chuyện ấy, Phi Nga biết ông Trần Phong đã hai lần cưới vợ, nhưng rồi ông không thể ở với người vợ nào cả. Người vợ đầu ghen với các cô người mẫu, bỏ về ở với cha mẹ, còn người vợ thứ hai thì chính ông Trần Phong đã bỏ. Ông Trần Phong nói :
- Chuyện yêu đương tầm thường lắm. Một khi mình đã bước vào con đường nghệ thuật rồi thì yêu đương là chuyện tầm thường như ăn cơm bữa, không có gì đáng cho ta mất nhiều ngày giờ.
Phi Nga cau mày. Thấy thế ông Trần Phong không dám nói tiếp ý nghĩ này :
- Nội vài đêm cũng đủ biết yêu đương là thế nào rồi.
Hà Nam nói :
- Chị Ngọc Diệp và chị Phi Nga đã có gia đình mới có quyền nhận xét lời thầy nói đúng hay không. Biết đâu hai chị ấy không quan niệm chuyện yêu đương như thầy?
Lê Thanh nói :
- Chắc chắn chị Ngọc Diệp không thể quan niệm như thầy vì chị sống với chồng đến nay đã gần hai mươi năm. Còn chị Phi Nga thì tôi không hiểu chị nghĩ thế nào?
Phi Nga nói :
- Thầy là đàn ông nên quan niệm như vậy. Người đàn bà không thể nghĩ như thế được, nhất là người đàn bà Á Đông. Đối với người đàn bà, ái tình phải đi đến hôn nhân, mà một khi đã lấy hôn nhân để đóng khuôn ái tình thì đâu có thể xem chuyện yêu thương là tầm thường được.
Vũ Minh nói :
- Chị Phi Nga nói phải lắm.
Lê Thanh cãi :
- Nhưng chị không đứng về phía nghệ thuật. Trước đây chị chưa nổi tiếng thì khác, chớ bây giờ chị đã có sự nghiệp thì trong đời chị, ngoài chuyện ái tình còn có chuyện sự nghiệp, mà ái tình và sự nghiệp liệu có đi đôi với nhau không?
Ồng Trần Phong nói :
- Với bọn đàn ông, ái tình và sự nghiệp còn không thể đi đôi với nhau nữa là với đàn bà. Người ta bảo ái tình và sự nghiệp là những con đường một chiều.
Bà Châu hỏi :
- Nghĩa là ái tình là con đường một chiều và sự nghiệp lại là con đường một chiều khác, làm sao mà gặp nhau được phải không thầy?
Ông Trần Phong gật đầu. Dục Tú nghĩ ngợi rồi nói :
- Nếu vậy chắc tôi không chọn con đường sự nghiệp đâu. Là đàn bà, con đường nào bình thản thì tôi chọn, chọn chi con đường sự nghiệp cho lắm chông gai.
Hà Nam, Lê Thanh và Vũ Minh cười rộ lên. Ông Trần Phong mỉm cười :
- Dục Tú đúng là nghĩ thế nào nói thế nấy, không cần giấu diêm gì cả. Dục Tú đã có vị hôn phu rồi.
Hà Nam vội vàng hỏi :
- Một họa sĩ?
Dục Tú đỏ ửng đôi má :
- Không, tôi không chọn một họa sĩ đâu. Ghép cuộc đời tôi với cuộc đời của một họa sĩ thì còn mệt tâm, nhọc trí hơn là chọn con đường sự nghiệp. Chọn sự nghiệp, mình còn làm chủ được mình, chớ chọn một ông chồng nghệ sĩ thì đố mà mình làm chủ mình được nữa, chỉ có nước làm đầy tớ cho họ thôi.
Ông Trần Phong khen :
- Dục Tú vậy mà thực tế đó.
Hà Nam hỏi :
- Thế chị chọn luật sư hay bác sĩ?
- Một thương gia.
Vũ Minh cười :
- Vậy chị đi học vẽ để làm gì? Ông thương gia biết gì về vẽ? Không khéo ông ta lại chê chị bôi bậy, tốn mực tốn màu, để tiền ấy ông ta ghim mười tờ thành chục, cất vào tủ sắt.
Dục Tú mỉm cười :
- Chính vì nghĩ thế tôi mới bảo không thích chọn con đường sự nghiệp.
Bữa tiệc hôm ấy thật vui vẻ. Khi ăn xong, bà Châu lãnh phần đưa Phi Nga về Biên Hòa. Ông Trần Phong rất bằng lòng :
- Cám ơn Ngọc Diệp đã giúp thầy việc ấy.
Lúc mọi người chia tay thì đã hai giờ rưỡi. Ông Trần Phong dặn :
- Thứ sáu nhớ đi học lại nhé Phi Nga.
- Dạ, con sẽ đi học như thường. Trên con đường sự nghiệp con mới đặt chân ở ngưỡng cửa, chưa đi tới đâu cả, không học sao được?
Lần này là lần đầu tiên Phi Nga xưng hô với ông Trần Phong như vậy. Có lẽ ông Trần Phong không ngạc nhiên vì ông hiểu chỗ dụng ý rất khôn khéo của Phi Nga.
* * * * *
Phi Nga về đến đầu ngõ đã thấy ông Minh đứng đợi trước cửa. Phi Nga vội vàng chạy tới :
- Ba lên thăm con từ hòi nào?
Phi Nga ngạc nhiên khi thấy nét mặt lo lắng và buồn rầu của cha.
- Dũng sốt cả ngày. Bác sĩ đến chích thuốc mà cơn sốt chưa hạ. Ba lo quá!
Phi Nga đi thẳng vào phòng của Dũng. Đôi mắt Dũng đen lay láy nhìn về phía cửa như có ý chờ đợi. Phi Nga cầm lấy tay Dũng và có cảm giác cầm phải một cục lửa.
- Anh sốt quá! Bác sĩ Văn đã cho anh uống những gì?
Dũng chỉ những chai thuốc trên bàn :
- Ba kêu chị Tâm đi mua và đã cho anh uống. Ba lên lúc em vừa đi.
Ông Minh nói với Phi Nga :
- Ba lên tới, thấy Dũng sốt nhiều. Ba hối chị Tâm đi mời bác sĩ Văn, vậy mà Dũng còn cản không cho. Ba cũng bảo để ba đi gọi con về, Dũng không chịu. Ba chỉ sợ con ở lại dự tiệc với bạn bè.
Dũng nói :
- Sốt sẽ lui khi uống những thứ thuốc ấy. Xin ba hãy yên lòng.
Ông Minh nói :
- Bác sĩ dặn con phải đi rọi X quang sau khi bớt sốt. Thế con thấy bớt chưa?
Dũng nói :
- Con nghe bớt nhiều rồi, ngày mai Phi Nga sẽ đưa con đi bác sĩ.
Phi Nga nói :
- Không có ngày mai gì hết. Em đi rước bác sĩ Văn ngay bây giờ.
Nói xong Phi Nga quày quả ra đi. Dũng nói :
- Em ngồi đây với anh một chút không được sao? Đi đâu gấp vậy? Anh chưa nghe em nói gì về sự thành công của em cả kia mà.
- Việc gì cũng không gấp bằng việc đi rước bác sĩ Văn đến khám lại cho anh.
Ông Minh nói :
- Con nói phải đấy.
Phi Nga ra đi, Dũng nhìn theo, đôi mắt lim dim có vẻ mệt mỏi.
Vừa thấy mặt Phi Nga, bác sĩ Văn nói ngay :
- Ông Dũng đau nặng lắm, sáng nay tôi phải tiêm cho ông ấy hai mũi thuốc. Bây giờ ông đã đỡ chưa?
- Tôi vừa về tới thấy nhà tôi còn sốt nhiều quá. Xin bác sĩ chịu khó đến lần nữa.
Bác sĩ Văn nhìn Phi Nga :
- Ông Dũng làm sao ấy, dường như ông có một sự chán nản ghê lắm. Con người ai không bệnh, nhưng bệnh thì chữa, và phải có ý chí chống lại cơn bệnh, chống lại với tử thần, giành lại sự sống. Người bệnh muốn sống thì bác sĩ mới chữa được. Chớ còn người bệnh chán nản, để mặc cho cơn bệnh giày vò thì bác sĩ tài giỏi đến đâu cũng khoanh tay. Ông Dũng sở dĩ không lành bệnh là tại ông ấy đã chán sống.
Thấy Phi Nga cau mày, bác sĩ Văn liền nói tiếp :
- Tôi không biết việc gia đình của bà ra sao nhưng tôi muốn rõ giữa ông và bà có có việc gì bất bình nhau không? Có hiểu được, tôi mới mong chữa cho ông Dũng lành bệnh. Một bác sĩ cũng phải là một nhà tâm lý học nữa mới được.
Phi Nga đau đớn hỏi :
- Nhà tôi không muốn khỏi bệnh? Nhà tôi vẫn uống thuốc, vẫn chịu khó nghe lời bác sĩ dặn bảo kia mà.
Bác sĩ Văn lắc đầu :
- Nếu vậy bà không hiểu ông chút nào cả. Bà chịu khó nghĩ kỹ lại đi. Bà có làm gì cho ông buồn không?
Phi Nga thấy khó nói quá. Nàng không thể bộc lộ tâm sự của mình cho bác sĩ Văn nghe. Nói ra thì Dũng, hay nàng giảm mất giá trị?
Phi Nga liền nói :
- Hiện giờ thì chúng tôi không phiền trách nhau điều gì cả. Chúng tôi vẫn sống trong hạnh phúc. Xin bác sĩ đến gấp dùm. Tôi hứa sẽ tìm hiểu vì lẽ gì nhà tôi chán nản như thế. Một người vợ mà không thấy rõ chồng mình chán nản, chán nản đến mức không muốn khỏi bệnh thì thật là vô lý.
Bác sĩ Văn xách chiếc vali nhỏ rồi nói với Phi Nga :
- Bà phải lưu ý về việc này. Tôi cũng lấy làm lạ, tại sao ông có người vợ như bà, đầy đủ bổn’phận, có tài, mà ông lại chán nản như thế được. Thôi, chúng ta ra xe.
Phi Nga và bác sĩ Văn lên chiếc xe nhà của bác sĩ. Bác sĩ Văn dặn Phi Nga :
- Đêm nay bà chịu khó thức trông chừng cho ông uống thuốc, cứ hai giờ uống một lần. Tim của ông mệt, tinh thần lại không yên. Tôi phải cho uống thuốc an thần.
Khi bác sĩ Văn bước vào thì Dũng đang lim dim ngủ. Phi Nga đến cầm lấy tay Dũng, Dũng mở mắt nhìn và khi thấy bác sĩ Văn thì chàng nói :
- Tôi bảo tôi đã khỏe, vậy mà nhà tôi không chịu nghe, đến phá rầy bác sĩ nữa.
Bác sĩ Văn xem mạch, đặt lại nhiệt kế rồi nói :
- Sốt hạ chút ít, nhưng vẫn còn mệt. Tôi sẽ chích thuốc khỏe và nước biển.
Bác sĩ Văn lấy thuốc, vô ông tiêm cho Dũng. Rồi ông mời Phi Nga ra dặn :
- Bà phải săn sóc ông thật cẩn thận, nếu có gì khác phải gọi tôi lập tức.
- Có gì đáng lo ngại lắm không, thưa bác sĩ?
- Cũng đáng lo ngại vì ông đã uống bao nhiêu thuốc rồi mà cơn sốt không chịu lui. Bà lấy nước đá chườm cho ông. Tôi xin về, sợ thân chủ của tôi đợi.
Lại ngồi bên Dũng, Phi Nga nói :
- Bây giờ anh ngủ một giấc cho khỏe nhé.
- Không, anh đợi em kể anh nghe về những giải thưởng của em đã.
Phi Nga kể cho Dũng nghe về không khí của buổi lễ và về sự tiếp đãi ân cần của mọi người dành cho nàng. Dũng tỏ ra rất vui mừng :
- Em thật là người hạnh phúc!
Rồi Phi Nga thấy Dũng lim dim đôi mắt và không còn nghe Dũng nói gì nữa cả. Chàng đã ngủ thiếp tự bao giờ. Phi Nga lo sợ kề tai sát vào ngực Dũng để nghe hơi thở của Dũng có đều hay không. Nàng cầm bàn tay Dũng trong đôi tay mình. Nhưng Dũng vẫn ngủ thiếp không hay biết.
Nhờ ảnh hưởng của thuốc an thần, Dũng ngủ một giấc cho đến tối. Phi Nga vẫn ngồi bên Dũng, tâm trí không yên. Ông Minh thỉnh thoảng cũng chạy vào xem Dũng đã bớt được phần nào chưa. Bữa cơm tối hôm đó, Phi Nga không sao ăn hết một chén cơm. Bữa tiệc quá thịnh soạn lúc trưa và sự lo nghĩ đã làm Phi Nga không thấy đói, mặc dù lúc ấy đã gần tám giờ tối.
- Xin phép ba cho con vào ngồi với anh Dũng.
Ông Minh ái ngại nói :
- Dũng đau bao lâu mà trông có vẻ nặng quá như vậy hả con?
Phi Nga kể sơ cho cha nghe về sức khỏe của Dũng từ ngày dọn về đây :
- Anh ấy không hạp khí hậu ở đây, cứ bị sốt hoài.
- Có lẽ là bị sốt rét.
- Nhưng bác sĩ đã chữa lành chứng sốt rét rồi.
- Bệnh sốt rét khó đứt gốc lắm. Thỉnh thoảng nó quay trở lại và người bệnh sốt rét mỗi khi mắc bệnh gì thì cơn sốt phát trước, khiến bác sĩ khó tìm ra chứng bệnh mới. Nhưng ba thấy dường như nó có việc gì lo nghĩ. Bác sĩ Vàn cũng nói với ba như vậy.
- Để rồi con sẽ thưa với ba về việc này. Bây giờ con phải vào trông chừng anh ấy. Bác sĩ dặn hai giờ phải cho anh ấy uống thuốc một lần.
Phi Nga đi vào phòng Dũng. Dũng đã thức dậy, đôi mắt hơi khỏe hơn lúc trưa. Phi Nga rót thuốc cho Dũng uống và ra dấu cho chị Tâm đi ra ngoài. Dũng uống xong thuốc nói với Phi Nga :
- Anh nằm mơ thấy chúng ta đi du lịch, đi thật xa, qua tận một nước nào đó mà anh không biết tên. Rồi em bỏ anh lại đó, đi đâu mất, anh kiếm mãi không được. Anh kêu ầm ĩ vẫn không nghe em trả lời. Anh vùng thức dậy thì thấy trời đã tối.
Phi Nga đặt tay lên trán Dũng :
- May quá, anh bớt sốt rồi. Anh có nghe đói không? Có sẵn nước súp lêghim anh uống một tí nhé?
- Anh không nghe đói. Nhịn vài hôm cho khỏe bộ máy tiêu hóa cũng không sao.
- Anh phải uống chút ít nước súp để lấy lại sức chứ, nhịn mãi mất sức lắm.
Dũng đưa tay ra cầm tay Phi Nga :
- Em còn đi Sài Gòn xem triển lãm nữa không?
- Không, em ở nhà với anh.
- Em không đi học vẽ ở nhà ông Trần Phong nữa à?
- Em chờ bao giờ anh thật bình phục mới đi học. Mà không chừng em không đi học nữa đâu.
Dũng chớp mắt :
- Tại sao em không đi học nữa? Anh đau vài hôm rồi cũng khỏi, có sao đâu.
- Chuyện ấy rồi sẽ bàn sau. Bây giờ thì em phải ở nhà săn sóc cho anh. Anh uống nước súp nhé?
Dũng lắc đầu. Phi Nga thở dài :
- Cả ngày nay anh chưa ăn uống gì cả.
- Sốt phải nhịn.
- Nhịn những thức ăn cứng, khó tiêu, chớ còn nước cam, nước súp thì việc gì phải nhịn? Anh uống một ít nước súp cho em vui lòng.
Dũng bực bội nói :
- Thì uống!
Thế là Phi Nga đứng lên đi lấy nước súp. Nàng đút từng muỗng vào miệng Dũng. Dũng ực được mấy muỗng đã kêu mệt :
- Thôi, không uống nữa.
Phi Nga van nài :
- Anh uống thêm vài muỗng nữa.
Dũng xua tay :
- Thôi, đừng ép anh nữa. Anh ói hết ra bây giờ.
Phi Nga phải cất chén súp rồi lại ngồi bên Dũng :
- Em bỏ mùng cho anh ngủ nhé?
- Không, em ngồi đây với anh. Em Phi Nga à, anh hối hận quá.
- Tại sao anh lại hối hận?
- Hối hận là đã cưới em và làm em khổ.
- Lại nói nhảm rồi.
- Không, anh suy nghĩ kỹ rồi. Tại sao em lại bằng lòng ghép cuộc đời em vào cuộc đời anh?
- Tại em muốn như thế kia mà.
- Từ ngày cưới em đến giờ, anh đã làm được gì cho em vui chưa? Anh chỉ là mối lo âu, phiền hà, gây cho em những nhọc nhằn, vất vả. Một căn nhà, anh lo cũng không nổi. Con cái anh cũng giao cho em. Đồng lương của anh, không đủ cho anh uống thuốc...
Phi Nga đặt nhẹ bàn tay lên môi Dũng, không cho Dũng nói :
- Anh mà nói nữa thì em giận, bỏ ra ngoài à. Anh đừng nghĩ vớ vẩn, phải lo thuốc thang, ăn uống cho chóng khỏi.
- Nghĩa là em không phiền trách gì anh hết phải không?
- Không phiền trách gì cả. Anh và hai con là lẽ sống của em.
Đôi mắt Dũng lóe ra một tia sáng vui vẻ :
- Vậy mà anh vẫn không yên tâm.
- Từ nay anh đừng nghĩ như thế, em không bằng lòng.
Dũng mỉm cười :
- Đúng rồi, anh không nghĩ nữa. Em lấy nước súp lại đây cho anh uống.
Phi Nga vui mừng đứng lên lấy chén súp và Dũng đỡ lấy uống một hơi. Uống xong, Dũng nói :
- Em đỡ cho anh ngồi dựa lưng vào gối một chút, anh nghe đỡ nhiều rồi.
Phi Nga đỡ Dũng ngồi dậy. Dũng nhìn khắp phòng một lượt :
- Cũng căn phòng này, lúc vắng em, anh thấy nó đen tối làm sao!
Phi Nga hứa :
- Từ nay em ở nhà với anh.
- Không, anh ích kỷ thật. Tại sao những lúc anh đi dạy, em ở nhà lại không thấy khổ sở như anh? Đàn ông ích kỷ hơn đàn bà...
- Anh có công việc ngoài xã hội. Tất cả đàn ông đều có công việc ngoài xã hội. Vai trò của người đàn bà là ở gia đình. Vì thế mà người đàn bà khi ở một mình trong nhà thường không thấy buồn.
Rồi Phi Nga cười và nói tiếp :
- Bắt các anh phải lẩn quẩn suốt ngày bên vợ thì các anh làm sao chịu được và ai làm ra tiền để nuôi vợ con?
Dũng hỏi như than thở :
- Anh thì lo gì nổi cho vợ con?
- Sao lại không nổi? Vậy chớ các ông giáo khác thì sao? Họ không lo nổi cho vợ con họ à? Tiền lương của anh vẫn đủ tiêu xài cho gia đình kia mà. Độ rày anh hay nghĩ lẩn thẩn thật.
Dũng thở dài :
- Anh đã bảo anh ích kỷ, đòi hỏi quá nhiều. Kể ra thì anh cũng đã có hạnh phúc nhiều rồi. Anh biết bằng lòng với những gì đã có cũng đã sung sướng chán. Em đỡ cho anh nằm xuống. Mấy giờ rồi em nhỉ?
Phi Nga nhìn đồng hồ :
- Chín giờ rồi. Anh ráng nghỉ cho khỏe. Em bỏ màn cho anh nhé.
- Nhưng em phải ngồi xuống chiếc ghế kia và chờ anh ngủ xong hãy đi ra ngoài.
Vừa lúc ấy, Hoàng hiện ra ở khung cửa. Phi Nga khoát tay bảo nó ra ngoài, nhưng Dũng đã nhìn thấy :
- Hoàng không hôn cha rồi đi ngủ à?
Hoàng đựợc gọi, chạy xổ vào :
- Chúc cha ngủ ngon giấc và khỏi bệnh.
Dũng ôm ghì lấy con :
- Con ngoan lắm. Cha khỏe sẽ đưa con đi chơi.
Phi Nga nói nhỏ với Hoàng :
- Con có để cho cha nghỉ không? Vào khuấy mãi.
Bỏ màn cho Dũng xong. Phi Nga nói :
- Em đổi đèn nhé?
- Em không đọc sách à?
- Không, em nằm ghế dựa trông chừng anh.
- Em hãy đi ngủ đi, em đi suốt ngày chắc phải mệt.
- Không, em không mệt. Thôi, anh ngủ đi, đừng nói chuyện nữa.
Dũng chỉ nằm im một lát rồi lại gọi :
- Phi Nga, em thức suốt đêm với anh sao?
- Kìa, anh nằm im ngủ đi chớ.
- Phi Nga, người ta nhận xét hai bức tranh được giải thưởng của em ra sao?
- Chưa ai nhận xét.
- Rồi đây người ta bình luận. Rủi người ta chê thì sao?
- Chê cũng không sao. Em đã có tài gì đâu. Nếu phê bình xây dựng thì có lợi cho em lắm. Ở đời, người khen cũng là bạn mà chê cũng là bạn.
- Em nghĩ như vậy thì hay lắm. Nhưng chắc không ai chê em đâu.
- Sao vậy? Người ta không thích lối vẽ của em thì người ta có quyền chê chứ.
- Em là đàn bà, nên dù muốn chê em, người ta cũng không bao giờ thẳng tay.
- Có lẽ như thế.
Nhưng trong thâm tâm, Phi Nga không thích nghe Dũng nói vậy. Phi Nga còn nhớ lúc đi học, mồi lần Phi Nga đứng nhất môn thi nào thì các bạn trai lại thì thầm :
- Thầy nể con Phi Nga, vì nó là con gái.
Mỗi khi thầy phạt các nam sinh mà không phạt nữ sinh thì bọn nam sinh liền nói :
- Thầy nể tụi con gái.
Sự thật các bạn nữ sinh đâu có ngỗ nghịch, thì làm sao mà bị phạt?
Dũng lại hỏi :
- Lúc trưa này đã có ai đãi đằng gì em chưa?
- Anh ráng nghỉ cho khỏe. Hôm khác chúng ta sẽ nói về chuyện này.
- Khổ thật, trong lúc em đang vui mà anh lại đau yếu như thế này. Anh rõ là cái đồ phá đám. Em có phiền anh không?
Phi Nga gạt đi :
- Anh nằm yên mà ngủ, nếu không em giận à.
- Ừ, thì ngủ.
Trong lúc Dũng nằm im, Phi Nga lại nghĩ đến những lời của bác sĩ Văn đã nói với nàng. Dũng không chịu chống lại với ma bệnh, Dũng buông xuôi và bỏ mặc cho cơn bệnh hành hạ. Có thật Dũng chán nản, buồn phiền không? Như thế có phải tại lỗi của Phi Nga không? Tại sao trong Dùng lại đầy những chuyện mâu thuẫn như vậy? Dũng không muốn cho Phi Nga vẽ tranh, rồi Dũng lại thúc giục Phi Nga đi học vẽ? Phi Nga không làm theo lời Dũng thì Dũng buồn, mà làm theo thì Dũng cũng không vui. Có phải Dũng có mặc cảm thua Phi Nga không? Có phải vì mặc cảm ấy mà Dũng cảm thấy dường như Phi Nga mỗi ngày một xa chàng không?
Phi Nga tự hỏi mình :
- Ta có đối xử với Dũng khác với ngày trước không? Ta có ý gì khinh khi Dũng thua sút ta không?
Rồi Phi Nga tự trả lời :
- Đối với Dũng, ta vẫn một lòng kính mến, không hề có ý chê hay khinh Dũng. Dũng có việc của Dũng, ta có việc của ta. Việc làm của ta đâu có động chạm gì đến việc làm của Dũng? Tại sao Dũng lại buồn? Ta chỉ vẽ những lúc Dũng đi vắng kia mà. Người như bà Châu mà còn được chồng kính nể, thì ta đối với Dũng có thiếu bổn phận đâu mà Dũng lại buồn phiền?
Trong khi Phi Nga nghĩ ngợi phân vân thì Dũng vẫn nằm thao thức, không sao ngủ được. Dũng thương hại cho Phi Nga và tự trách mình :
- Ta đã làm khổ Phi Nga. Ta yêu Phi Nga một cách ích kỷ quá.
Dũng tự hứa từ nay sẽ không buồn phiền gì nữa và sẽ giúp Phi Nga thực hiện được sự nghiệp của nàng.
Nhưng lúc gần sáng, Phi Nga đang lim dim thì nghe Dũng rên khe khẽ. Nàng giựt mình hỏi :
- Sao đó anh? Anh nghe trong người thế nào?
Không nghe Dũng trả lời, Phi Nga tung mền ngồi dậy, đi lại bên Dũng :
- Anh ngủ hay thức?
- Anh buồn quá, em ạ.
Phi Nga thở dài :
- Anh cố gắng ngủ đi để lấy lại sức, sao cứ nghĩ loanh quanh hoài vậy?
- Em vào đây ngồi với anh chút đi.
Phi Nga vào ngồi kề bên và cầm lấy tay Dũng, nghe bàn tay Dũng mát lạnh :
- Anh hết nóng rồi, bây giờ bị lạnh phải không?
- Anh nghe mát rồi. Em Phi Nga à, có lẽ anh bị đau nặng. Anh mà hay thế này thì đã không xin đổi lên đây. Anh đã làm hỏng hạnh phúc của anh, của em. Anh đáng trách lắm, nhưng chắc là em cũng sẵn sàng tha thứ cho anh. Cuối năm nay, anh sẽ xin đổi về quê em. Nhưng liệu có còn kịp không hả em?
- Sao lại không kịp? Nhưng ở đây cũng được. Em đâu có phiền trách gì anh.
- Em có đời nào mà trách anh. Anh biết em tót lắm. Dù sao thì em cũng đã cho anh những năm sung sướng nhất của đời anh. Trong đời con người, hưởng một ngày hạnh phúc cũng đã là nhiều. Đằng này anh được hưởng những mấy năm, còn đòi hỏi gì nữa? Anh thành thật cám ơn em, cám ơn Trời Phật đã cho anh cái may mắn ấy.
Giọng nói của Dũng có vẻ mệt nhọc. Phi Nga nói :
- Anh đừng nói nữa, nói nhiều sẽ mệt.
Phi Nga không giấu được sự lo lắng, lấy tay sờ khắp người Dũng, rồi bàn tay nàng ngừng lại trên đôi mắt ướt đầm nước mắt của chàng. Phi Nga hốt hoảng :
- Anh khóc sao anh Dũng?
- Anh buồn lắm. Anh đã làm khổ em.
Phi Nga nói lớn :
- Anh đâu có làm khổ em.
- Đau yếu như thế này là làm khổ em rồi đó.
Và Dũng vừa nói vừa khóc nức nở như một đứa con nít :
- Anh hay như thế này, anh không cưới em.
Cái gì cũng làm Dũng ăn năn: dọn lên Biên Hòa, cưới Phi Nga, làm nghề dạy học... Dũng lặp lại :
- Buồn quá em ạ. Anh yếu đuối quá, bác sĩ Văn nói phải, anh không có một chút nghị lực để chống lại với con ma bệnh, con ma chán nản. Anh hèn lắm, anh ích kỷ lắm. Nếu xã hội này mà đầy rẫy hạng người như anh thì...
Phi Nga ôm lấy đầu Dũng :
- Em van anh, anh đừng nói nữa.
- Xin lỗi em, nghe em Phi Nga. Xin lỗi về tất cả mà những gì anh đã gây cho em.
- Em đã nói anh không có lỗi gì hết.
Dũng siết chặt tay Phi Nga :
- Em hãy để anh nói, chưa bao giờ anh có dịp tâm sự với em như hôm nay.
- Nói nhiều anh sẽ mệt.
- Không, để cho anh nói anh sẽ đỡ hối hận và sẽ khỏe khoắn.
Phi Nga thở dài :
- Khổ quá, anh không chịu nghe lời em. Anh đâu có gì mà phải hối hận?
Nhưng Dũng cứ nói :
- Anh ích kỷ lắm. Anh chỉ là một giáo viên tầm thường mà lại cưới em, một người có tài hơn thiên hạ. Làm giáo viên phải chi anh yêu nghề, tìm thấy cái vui trong nghề thì còn đỡ, đàng này làm thầy giáo mà anh ghét học trò, anh chán việc dạy dỗ, thật là đáng khinh bỉ. Em thì lúc nào cũng ham làm việc, lúc nào cũng có tinh thần phục vụ, phục vụ chồng con, phục vụ cho đời. Còn anh, anh để ngày tháng trôi qua trong sự chán nản, em thích làm việc bao nhiêu thì anh lại lười biếng bấy nhiêu. Anh không hiểu anh, cũng không hiểu em. Không hiểu anh, anh bỏ trôi cuộc đời của anh một cách vô nghĩa. Không hiểu em, anh làm cho cuộc đời của em khó thở, buồn tẻ. Thấy em có tài, anh đâm ra lo sợ. Không phải anh lo sợ vì mặc cảm thua em mà anh còn lo sợ mất em, vì thế mới có chuyện đổi lên Biên Hòa. Anh muốn em đừng gặp những người nào biết em có tài, anh không muốn ai khuyến khích em đi vào con đường nghệ thuật hết. Anh muốn em sống hoàn toàn cho anh, tất cả tư tưởng, hành động của em phải hướng về anh. Anh cố bám víu vào tình yêu của em, nhưng anh lại cảm thấy mỗi ngày em mỗi xa dần anh. Sự thật em vẫn là em của ngày nào, không có gì thay đổi hết. Cái kho thiên tài mà trời ban cho em đó không hề làm em giảm đi lòng yêu thương anh, yêu thương các con. Chỉ tại anh nghĩ quẩn, chỉ tại anh ích kỷ nên anh khổ. Nhiều người bạn đã thấy sự thất bại của anh nếu anh cứ khư khư giữ cái tánh ích kỷ ấy. Nhưng làm sao bây giờ? Non sông có thể đổi dời, còn bản tính của con người thì khó thay lắm?
Nói đến đây Dũng ngừng lại, nhìn Phi Nga. Qua ngọn đèn ngủ trong phòng, mọi vật đều có vẻ huyền ảo. Dũng không sao hiểu được những cảm nghĩ của nàng khi nghe chàng tâm sự như thế. Tâm trạng của Phi Nga lúc ấy ra sao? Nhưng giá mà Dũng thấy rõ được nét mặt của Phi Nga lúc ấy thì Dũng sẽ không khỏi ngạc nhiên. Nét mặt của Phi Nga vẫn bình thản vì nàng đã hiểu tâm trạng kỳ dị của Dũng từ lâu rồi. Dũng nói tiếp :
- Nhưng dọn lên đây, em vẫn không phải là kẻ bị lưu đày. Anh không đày em ra khỏi thế giới hội họa của em được. Người ta vẫn tìm đến gặp em, người ta vẫn cố tình lôi em ra khỏi ngục tù của anh để đưa em ra vùng ánh sáng của nghệ thuật. Thấy mình không thể nào giữ em được nữa, anh bằng lòng để em đi theo con đường sự nghiệp. Làm thế, anh cũng đã khổ nhiều. Nhưng anh biết, không làm thế, anh cũng sẽ mất dần em, anh không tài nào giữ được một thiên tài. Người có tài là của đời, của tất cả, nhưng lại không phải là của ai hết. Trước đây nếu anh chịu hiểu như thế này thì anh không bao giờ chịu để em ghép cuộc đời em vào cuộc đời anh.
Nói đến đây, Dũng có vẻ mệt nhọc, đưa tay lên đè nén con tim. Phi Nga cũng vội vàng đặt tay lên ngực Dũng, lo lắng vì chợt nhớ đến câu:
Con chim trước chết kêu thương,
Con người trước chết lời thường khôn ngoan.

Phi Nga sờ khắp người Dũng. Hai tay Dũng hơi lạnh, hai chân rịn mồ hôi. Phi Nga nói :
- Anh mệt lắm hả anh Dũng?
Dũng lắc đầu :
- Anh không nghe mệt. Anh chỉ muốn nói nhiều, thật nhiều với em. Khi nào em chán không muốn nghe nữa thì thôi.
Phi Nga vẫn lo lắng :
- Anh có nghe làm sao không? Việc gì mà anh phải kể lể lôi thôi như thế? Anh quên rằng chính em đã tỏ ý muốn lập gia đình với anh trước kia mà.
Dũng nói chậm rãi :
- Anh đâu có quên điều ấy. Em cứ để anh nói Anh đã làm khổ em nhiều. Ngay như hôm nay, một người nào khác ở địa vị em, họ đâu có về nhà. Họ đi dự tiệc, họ say sưa với danh vọng, họ cười nói với bạn bè. Họ hãnh diện với thành công, với đắc thắng. Chớ họ đâu phải là người bó tay bên nguời bệnh. Phi Nga ơi! Rồi đây em sẽ được tự do sống theo ý muốn của em anh không ràng buộc em nữa, em sẽ đi vào con đường sự nghiệp mà không gặp chướng ngại vật nào cả. Đời em sẽ bằng phẳng, sẽ sáng sủa, tương lai em sáng lạng huy hoàng. Còn anh... Anh sẽ không còn nữa...
Phi Nga hốt hoảng :
- Kìa, sao anh lại nói vậy?
Dũng thở hổn hển :
- Em tha lỗi cho anh, tha lỗi tất cả cho anh. Những gì anh đã làm phiền em, em hãy quên đi, đừng nhớ đến nữa.
Phi Nga cầm lấy tay của Dũng, hai tay chàng lạnh ngắt. Phi Nga vội vàng chạy ra ngoài gọi ông Minh :
- Ba ơi! Anh Dũng...
Ông Minh đang ngủ, nghe con gái gọi vội ngồi ngay dậy :
- Có cần đi mời bác sĩ Văn ngay bây giờ không?
Phi Nga run rẩy nói :
- Ba đi giùm con...
Ông Minh vội vã ra đi. Phi Nga đánh thức chị Tâm dậy :
- Chị dậy nấu nước sôi đổ vào bịch cao su giùm tôi. Thầy làm sao ấy, tôi lo quá.
Rồi Phi Nga tất tả trở vào phòng. Dũng hỏi :
- Em làm gì ngoài ấy?
- Em nhờ ba đi mời bác sĩ Văn rồi.
- Kìa, sao em làm phiền ba quá vậy? Anh có sao đâu mà em phải mời bác sĩ?
- Không, anh không được khỏe. Anh phải uống thêm thuốc.
- Không, anh không muốn uống gì nữa cả. Anh chỉ muốn em ngồi bên anh. Rồi đây em phải lo cho hai con. Anh bất tài thật!
Phi Nga ngồi khựng không còn biết nói gì nữa. Nàng biết Dũng đang trối trăn, những lời mà Dũng vừa nói với nàng là những lời nói cuối cùng. Nước mắt Phi Nga chảy ràn rụa nhưng nàng không dám để Dũng biết. Nàng cố nuốt lệ, cố trấn tĩnh tâm hồn, nhưng có lẽ Dũng đã nhận thấy sự đau khổ của Phi Nga :
- Đừng buồn em nhé. Em là trụ cột của gia đình. Hãy tha thứ cho anh, anh đã làm lỡ cuộc đời em.
Phi Nga không dằn được nữa, khóc òa lên :
- Anh đừng nói vậy. Anh ráng uống thuốc cho chóng khỏi. Anh không sốt sao lại nói mê sảng như vậy?
- Anh đâu có mê sảng, anh nói rõ ràng quá rồi anh không còn gì để nói với em nữa. Anh sẽ yên lòng khi nghe em nói em sẵn lòng tha thứ cho anh.
Phi Nga nói qua tiếng khóc :
- Anh không có lỗi gì hết. Anh đã cho em hạnh phúc và tình yêu. Anh phải nghe lời bác sĩ, chịu khó uống thuốc để chóng khỏi.
Dũng nằm im một lúc lâu. Phi Nga tưởng là chàng ngủ, ngồi yên không dám cử động. Đến khi ông Minh đưa bác sĩ về thì Dũng hỏi :
- Có tiếng xe hơi đi vào sân... Ba đã rước bác sĩ về đến rồi phải không?
- Bác sĩ đến xem lại mạch cho anh.
Dũng thở dài và nói nho nhỏ :
- Vô ích.
Ông Minh đưa bác sĩ Văn vào phòng. Phi Nga bật đèn và khoác mùng lên để bác sĩ khám bịnh cho Dũng. Lúc bấy giờ Phi Nga mới thấy nét mặt của Dũng xanh xao, đôi mắt lạc thần.
Bác sĩ Văn vừa nghe mạch cho Dũng vừa nhìn Phi Nga. Qua cái nhìn ấy, Phi Nga thấy rõ sự lo ngại của nàng không phải vô cớ. Sự im lặng của bác sĩ Văn đè nặng lên tâm trí Phi Nga và căn phòng bỗng trở nên ngột ngạt, khó thở. Bác sĩ Văn lấy thuốc chích cho Dũng và kéo chăn lên đắp cho Dũng. Vừa lúc ấy chị Tâm đem túi nước nóng vào. Bác sĩ Văn nói :
- Không cần. Tôi đã chích thuốc.
Phi Nga biết bác sĩ Văn đã chích thuốc hồi dương và nàng chạy ra ngoài úp mặt vào ghế khóc nho nhỏ. Ông Minh đi theo ra và đặt tay lên vai con gái. Ông nói :
- Chắc là không qua khỏi, số phần của nó ngắn ngủi quá. Biết sao bây giờ?
Phi Nga nói :
- Con không ngờ anh ấy ngắn số như thế.
Bác sĩ Văn đi ra, nói nhỏ với ông Minh :
- Ông Dũng muốn nói gì với ông. Tôi về vậy. Tôi ở đây cũng vô ích. Tôi biết trước ông ấy sẽ khó qua khỏi. Ông ấy không có một chút nghị lực.
Rồi bác sĩ Văn đến bên Phi Nga :
- Tôi rất tiếc không làm gì được. Đã đến giờ rồi.
Phi Nga kêu lên :
- Nhà tôi không phải đau nặng.
- Tôi biết thế và tôi đã nói cho bà rõ. Ông không chịu chống lại với ma bệnh, ông chịu làm kẻ bại trận trước kia mà.
Bác sĩ Văn buồn bã ra về. Lúc ấy đã gần bốn giờ sáng. Tiếng gà bắt đầu cất lên xa xa, phá tan sự tĩnh mịch của đêm tối.
Phi Nga trở vào phòng Dũng. Nàng thấy ông Minh ngồi bên Dũng và nghe Dũng nói với cha :
- Cha mẹ con chắc đến không kịp. Sẵn đây con xin ba tha lỗi cho con về tội con làm dở dang cuộc đời Phi Nga. Nếu ba biết lòng con yêu quý Phi Nga đến bực nào thì ba sẽ tha thứ cho con về cái tội quá ích kỷ. Con xin gởi Phi Nga lại cho ba mẹ. Cha mẹ con chắc không có đủ phương tiện lo cho các con của con. Con kính lời vĩnh biệt me, các em Phi Anh, Phi Yến...
Nói đến đây, Dũng ngập ngừng rồi nói tiếp :
- Đến bây giờ con mới thấy Phi Anh nói rất phải, Phi Nga không thể nào làm vợ con được. Cuộc hôn nhân của con với Phi Nga chỉ là cuộc hôn nhân giai đoạn. Lúc nghe Phi Anh nói như thế, con bực mình lắm. Nhưng bây giờ ngẫm nghĩ lại, con mới thấy Phi Anh nói đúng. Con cưới Phi Nga là con làm dở cuộc đời em. Có phải bác sĩ Văn chạy rồi phải không?
Ông Minh ngập ngừng :
- Bác sĩ Văn mới chích thuốc khỏe cho con. Con ráng nằm im mà ngủ.
Dũng thở dài :
- Bác sĩ Văn mỗi khi đến khám bệnh đều khuyên lơn, an ủi con. Lần này, bác sĩ không nói một lời là đủ hiểu bệnh tình của con thế nào rồi...
- Hay là bác sĩ Văn không giỏi, coi không ra bệnh của con? Sao con mới đau có mấy ngày mà bác sĩ lại không chữa khỏi?
Ông Minh quay lại Phi Nga :
- Ba thấy hình như bác sĩ Văn không giỏi. Để ba thuê xe chở Dũng đi Sài Gòn đưa vào bệnh viện Đồn Đất. Đâu có thể nghe theo lời bác sĩ dễ như vậy.
Ông Minh nói xong quay ra thì Dũng nói với Phi Nga :
- Không nên chở anh đi đâu cả. Em ra thưa với ba, anh biết rõ trong người anh lắm mà. Anh yếu lắm rồi.
- Ba nói rất phải. Chính em cũng đã nghĩ như thế. Em thu xếp đồ đạc để lát nữa có xe về thì ba và em đưa anh đi Sài Gòn.
Phi Nga cầm lấy tay Dũng. Nhờ những mũi thuốc của bác sĩ Văn lúc nãy, bàn tay Dũng đã ấm lại.
Đúng sáu giờ Phi Nga và ông Minh đưa Dũng ra xe. Dũng vẫn còn tỉnh táo :
- Con làm phiền ba và em Phi Nga quá.
- Bác sĩ Văn coi bệnh không ra mà cứ giữ lấy bệnh nhân, đến khi thấy người ta trở nặng lại bỏ. Có phải là vô lý không?
- Bác sĩ Văn không phải dở đâu, ba ạ.
- Giỏi gì lại không tìm ra bệnh?
Nằm dài trên băng sau, đầu gối lên đùi Phi Nga, Dũng lim dim đôi mắt, hơi thở mệt nhọc. Tuy vậy Dũng không có gì là mê man hay kiệt sức hết.
Phi Nga hơi an lòng, nàng nghĩ :
- Ba ta nói có lẽ đúng, bác sĩ Văn không xem ra bệnh.
Khi Phi Nga và ông Minh đến phòng nhận bệnh và xin cho Dũng vào nằm điều trị thì Dũng có vẻ mệt nhiều. Bác sĩ thường trực được mời đến ngay. Sau khi khám thật kỹ cho Dũng, bác sĩ bảo đưa Dũng vào phòng chờ thử máu. Bác sĩ hỏi Phi Nga là Dũng đau bao lâu và bác sĩ nào đã chữa. Phi Nga đưa hết các toa thuốc của bác sĩ Văn và nói rõ về thời gian Dũng bị bệnh.
Bác sĩ thường trực ấy xem xong nói :
- Chờ thử máu mới biết. Nhưng bệnh nhân đã mệt nhiều.
Phi Nga đi phòng Dũng thì thấy mấy cô y tá đang tiếp nước biển vào mạch máu ở tay của Dũng. Một cô hỏi Phi Nga :
- Bà là vợ ông ấy?
Phi Nga gật đầu thì cô ta hỏi :
- Sao để nặng như thế mới đem vào đây?
- Tôi ở xa. Nhà tôi khỏi đã lâu, mới đau lại có ba hôm.
- Có ba hôm mà mệt như thế này sao?
Nước biển vào, Dũng khỏe lại. Rồi đi thử máu, thử đàm, chụp hình phổi... Dũng khổ sở nói với Phi Nga :
- Em để anh ở nhà có phải là yên thân không? Đưa anh đến đây để anh chịu đủ thứ cực hình, mà nào anh có chết chóc gì đâu?
- Thế tại sao lúc nào anh cũng nói như trối khiến em và ba không yên.
- Lúc đau yếu người ta hay bi quan, nghĩ quẩn.
Phi Nga mừng rỡ :
- Bây giờ anh nghe khỏe rồi phải không?
- Anh muốn em đưa anh về nhà.
- Đâu dễ như vậy. Đã vào nằm đây thì ở hay về còn phải tùy bác sĩ phụ trách.
- Được, để lát nữa bác sĩ đến, anh sẽ xin bác sĩ cho anh về.
Đến trưa bác sĩ vào khám bệnh, Dũng xin về thì ông này nổi giận :
- Tôi không phải là một anh bán thịt! Ông vào đây để chữa bệnh, chớ phải vào để mua thịt đâu mà trả giá.
Dũng cũng cau có :
- Tôi bực mình vì phải chờ đợi kết quả thử máu và đủ thứ thử khác.
Bác sĩ nhún vai :
- Hãy kiên nhẫn chờ đợi, nếu ông muốn khỏi bệnh.
Phi Nga liền nói với bác sĩ :
- Nhà tôi vì đau yếu nên chán nản. Xin bác sĩ tha lỗi cho.
Bác sĩ gật đầu thông cảm và dặn cô y tá chích các loại thuốc cho Dũng. Đợi bác sĩ đi rồi, Dũng mới nói với Phi Nga :
- Nằm ở đây đã tốn tiền mà họ lại không cho mình được tự do gì hết.
Ông Minh nói :
- Vào đây là giao tính mệnh cho họ. Con cứ yên lòng, thế nào rồi bệnh của con cũng khỏi. Con thấy không, nếu nghe lời bác sĩ Văn, nằm ở nhà mà chịu trận thì làm sao qua khỏi?
Đòi về mãi không được, Dũng buồn phiền nằm im một chỗ, không nói gì nữa. Đến giờ ăn, Dũng không chịu ăn súp, Phi Nga ép lắm Dũng mới uống độ nửa ly sữa. Các cô y tá đều lắc đầu :
- Tôi chưa thấy người bệnh nào khó tánh như ông này.
Dũng nói :
- Tôi đâu có muốn nằm đây để làm phiền các cô.
Mỗi lần họ đem thuốc vào tiêm cho Dũng, Dũng hỏi :
- Chi vậy? Tốn công vô ích!
Qua ngày thứ ba, Dũng lại bắt đầu nói như trối trăng :
- Anh làm phiền em quá nhiều phải không Phi Nga? Anh mỗi ngày một kiệt sức. Bác sĩ Văn chạy là phải, tại sao không nghe lời ông ấy, chở vào đây làm gì cho tốn tiền. Hôm nay em gầy hẳn đi vì đã thức nhiều đêm. Thiên hạ đi xem tranh của em, họ đâu có ngờ em khổ vì chồng con thế này.
Nghe Dũng nhắc đến con, Phi Nga thở dài :
- Mấy hôm nay chắc chúng nhớ anh lắm, nhất là bé Hoàng. Tội nghiệp quá!
Dũng dặn :
- Em ráng nhắc nhở nó học, em đừng để nó yếu đuối, thiếu nghị lực như anh. Đời anh mà hỏng là vì quá yếu đuối. Em cũng đừng bắt nó phải nối nghiệp của em. Nếu tự nó, nó có khiếu vẽ thì không nói gì. Thấy Phi Nga vẫn im lặng, Dũng liền nói :
- Em nên bán ngôi nhà ấy, dọn về ở gần cha mẹ thì hơn. Nhưng em làm gì để nuôi con?
- Anh lại nói nhảm rồi.
Dũng cười héo hắt :
- Anh không nói nhảm.
Rồi Dũng nắm chặt tay Phi Nga :
- Thôi, vĩnh biệt em.
Phi Nga trách :
- Anh không thương em chút nào.
- Không, anh thương em lắm. Bây giờ anh ngủ đây.
Phi Nga nghe bàn tay Dũng rịn mồ hôi để rồi lạnh dần. Hốt hoảng, Phi Nga bấm chuông gọi. Một cô y tá chạy vội đến, sờ vào cổ Dũng và kêu lên :
- Ông ấy chết rồi! Chết một cách nhẹ nhàng như thế sao?
Phi Nga hỏi :
- Cô nói gì? Nhà tôi chết rồi à?
Và Phi Nga ôm chầm lấy Dũng khóc nức nở.
-----------------------------------------------------
[1] Nay là đường Võ thị Sáu.



0
Kết truyện
 
Chôn cất Dũng xong, ông Minh khuyên Phi Nga đưa hai con về sống với ông bà, nhưng Phi Nga không chịu đi. Thấy Phi Nga buồn rầu quá, bà Minh bịn rịn không nỡ ra về. Ông Minh liền nói :
- Đang lúc ngày mùa, cha mẹ phải về trông nom việc đồng áng. Cha mẹ để Phi Yến ở lại đây cho con đỡ buồn. Cha mẹ cũng đã dặn Phi Anh mỗi chủ nhật sẽ lên đây với con.
Cha mẹ Dũng chỉ đến dự đám tang rồi về ngay.
Suốt ngày Phi Nga nằm trong phòng, không khóc mà cũng không nói năng gì cả.
Hôm cử hành đám tang Dũng, ông Malê, ông Trân Phong và các môn đệ đều có đi đưa và chia buồn với Phi Nga. Riêng bà Châu ở lại bên Phi Nga mấy hôm mới về. Những ngày ấy, Phi Nga không còn biết ai là ai, ngồi đâu cứ như kẻ mất hồn. Ông Trần Phong thấy thế đã nói với Dục Tú :
- Coi bộ Phi Nga không còn nghĩ đến chuyện vẽ vời gì nữa.
Ông Malê thì không nghĩ như thế. Ông nói :
- Hãy để yên cô ấy với sự tang tóc. Không lâu đâu. Một năm là nhiều. Rồi cô ấy sẽ bắt đầu làm việc lại.
Nhiều đêm Phi Nga ngồi sững sờ không sao ngủ được. Tâm trí nàng để tận đâu đâu. Nàng cũng không thiết gì đến con cái. Nhiều lần Hoàng chạy đến đứng bên nàng, nàng cũng không hay biết. Phi Nga có cảm giác tất cả đều sụp đổ và nàng không muốn xây dựng lại, để mặc cho sự chán nản xâm chiếm người nàng.
Phi Yến không biết phải khuyên chị như thế nào. Hai chị em thường ngồi bên nhau, không ai nói với ai lời nào. Chị Tâm cũng thế, chị thương cho cảnh Phi Nga, mỗi khi thấy Phi Nga ngồi khựng trước mâm cơm mà chị đã nấu nướng hết sức kỹ lưỡng, ngon lành, chị chỉ biết nói :
- Cô ráng ăn vài chén.
Phi Yến đợi chị Tâm nói, mới dám nói tiếp :
- Chị bỏ ăn, ai lo cho mấy cháu?
Trước đây, Phi Yến và Phi Anh thường công kích cuộc hôn nhân giữa chị và Dũng. Bây giờ Dũng chết, Phi Yến cũng như Phi Anh không dám đá động đến chuyện ấy nữa vì thấy chị thất vọng quá sức, chứng tỏ chị đã yêu thương một cách chân thành, không phải như hai cô thường bảo là Phi Nga đã vội vàng trong sự lựa chọn.
Phi Nga khổ nhất là những giờ tan học. Những lúc ấy nàng không thể không nhớ đến Dũng, đến sự chờ đợi, đến những công việc nhỏ nhặt mà nàng đã dành cho Dũng, như lấy sẵn áo quần cho Dũng thay, để sẵn chiếc ghế bố chờ Dũng về nằm nghỉ lưng, bảo chị Tâm đổ nước ở nhà tắm, hâm nóng các thức ăn, bày bàn... vắng Dũng, Phi Nga không biết dùng thì giờ vào việc gì, không biết sống cho ai. Cái trung tâm của sự sống của nàng không còn nữa. Nàng dường như chơ vơ, như mất phương hướng. Không làm vợ thì làm mẹ, ai cũng nghĩ như thế, nhưng Phi Nga vẫn không thể tìm thấy ở hai con một niềm an ủi.
Nhiều lúc ôm bé Hồng trong lòng mà Phi Nga quên rằng mình đang bồng con. Có lúc Hoàng đến quàng đôi tay nhỏ bé qua đôi vai của mẹ mà Phi Nga cũng không hay biết. Những lúc ấy Hoàng hỏi :
- Mẹ buồn vì ba không còn nữa phải không?
Phi Nga giật mình ôm lấy nó. Phi Nga biết thằng bé nhớ Dũng lắm. Suốt ngày nó chạy nhảy ngoài vườn là để nhớ đến Dũng. Thường ngày, Dũng hay thích ngồi nhìn Hoàng chạy nhảy, vui đùa.
Những hôm chủ nhật có Phi Anh lên thăm và ở chơi, Phi Nga cũng không chuyện trò gì với em hết. Nhưng Phi Anh không phải như Phi Yến chỉ ngồi yên kính nể sự buồn rầu của chị. Nàng tìm đủ cách để cho Phi Nga phải chuyện trò :
- Cậu Paul, em tinh thần của chị, buồn cười lắm. Cậu ấy cứ đeo đuổi, tán tỉnh em mãi.
Nghe nói đến Paul, Phi Nga nhìn Phi Anh mà không nói gì.
- Paul rủ em đi xem hát, đi ăn uống, nhưng em không nhận lời. Nó còn trẻ con quá. - Phi Anh nói tiếp.
Phi Yến hỏi :
- Paul không về Pháp à?
- Nó bảo nó ở đây thêm vài năm nữa là vì chị đó.
Phi Yến nhún vai :
- Trẻ con thật đấy. Chị nghĩ thế nào về chuyện này hả chị Phi Nga?
Phi Nga lắc đầu không nói gì.
Phi Yến đưa mắt nhìn Phi Anh :
- Chị Phi Nga mà cứ buồn cái kiểu này thì tội nghiệp cho hai cháu thật.
Nghe nói thế, Phi Nga thở dài. Phi Anh nói :
- Vậy mà mình tưởng chị ấy thương con chớ. Mấy tuần nay, hai cháu thật đáng thương. Cháu Hoàng thì lẩn quẩn bên chị Tâm chạy nhảy ngoài vườn. Còn cháu Hồng thì nằm trong phòng, trông cho có ai hỏi đến là đưa tay đòi bê. Con bé chưa hiểu gì nhưng mặt nó lúc nào cũng buồn xo.
Nghe hai em nói thế, Phi Nga bỗng tỉnh ngộ. Bắt đâu từ hôm ấy, nàng săn sóc hai con, dùng thì giờ vào việc tắm rửa, chăm nom chúng nó. Nhưng rồi Phi Nga vẫn đau khổ ngấm ngầm, không sao nguôi được. Có hôm, Phi Nga nói với hai em :
- Chị buồn quá.
Phi Yến đánh bạo nói :
- Tại chị vội vàng quá trong việc hôn nhân.
Phi Nga cau mày nhìn em thì Phi Anh nói thêm :
- Đã có lần em bảo với chị, việc hôn nhân của chị và anh Dũng chỉ là vấn đề giai đoạn. Em nói thế mà đúng đó chị ạ. Bây giờ chị phải nghĩ cách gì để có tiền nuôi hai cháu chớ. Hay là chị gởi hai cháu về cho cha mẹ nuôi?
Phi Nga chưa bao giờ nghĩ đến việc này từ hôm Dũng chết. Nghe Phi Anh nói, nàng giật mình tự hỏi :
- Tại sao ta lại không nghĩ đến chuyện này? Tại sao ta chỉ thấy có sự đau buồn?
Phi Yến nói :
- Dường như chị chỉ biết đau khổ, chứ không còn biết có ai nữa. Ngay cả hai con chị, lẽ sống duy nhất của chị hiện giờ, mà chị cũng không thiết. Em không thể ở mãi đây với chị, em còn phải về để xin cha đi học. Em thấy chị cứ để cái chết của anh Dũng ám ảnh mãi như thế này thì rồi ai lo cho hai cháu, thì rồi còn gì là sự nghiệp của chị?
- Chị không thiết gì nữa cả.
- Thì chị gởi hai cháu về cho cha mẹ.
Phi Nga lắc đầu, Phi Anh nói :
- Chị phải sắp xếp lại mọi việc đi. Con người của chị đâu phải yếu đuối như thế này. Chị đâu có chịu khoanh tay chịu thua một cách dễ dàng như thế. Từ trước đến giờ, chị lo tất cả. Anh Dũng tuy là chồng nhưng chỉ đóng vai phụ. Thế mà mất anh ấy, chị làm như thuyền không lái, như ngựa không cương thì cũng lạ thật.
Phi Yến cũng nói :
- Chị can đảm lắm kia mà. Vậy mà mấy tuần nay ở gần bên chị, em thấy chị còn thua những người đàn bà tầm thường khác.
Phi Nga thở dài :
- Các em làm sao mà hiểu được chị. Anh Dũng yếu đuối như vậy nhưng sự có mặt của anh cần thiết cho chị lắm.
Phi Yến nói :
- Lúc nào thì chị cũng bảo các em không thể hiểu chị được. Tại sao hai em lại không thể hiểu chị?
Phi Anh nói :
- Em hiểu chị lắm chứ.
Và Phi Anh muốn nói tiếp :
- Chị là người đam mê, vì thế chị muốn có anh Dũng bên chị để chị có thể chế ngự con tim và những ham muốn của chị.
Nhưng Phi Anh sợ nói ra thì Phi Nga buồn, nên nói :
- Ông chủ của em sắp đi ngoại quốc, có lẽ em phải đi theo ông ấy.
Phi Yến hỏi :
- Ông ấy chịu tốn kém cho chị đi theo sao?
- Ông ấy năn nỉ hết sức chị mới bằng lòng đi theo đó chớ. Em tưởng chị xin đi theo sao?
Phi Nga nhìn em. Từ hôm Dũng chết, đây là lần đầu tiên nàng góp ý kiến vào câu chuyện của hai em :
- Đi như thế nguy hiểm lắm. Ông chủ của em là người như thế nào?
Phi Anh cười :
- Chị bao giờ cũng nghĩ như thế. Ông chủ của em lớn tuổi lắm rồi, hơn em trên hai mươi tuổi, hai lần lập gia đình, hai lần ly dị vợ. Bây giờ ông ta sống độc thân.
- Vậy mà em dám đi ngoại quốc với ông ấy?
- Đâu có sao! Chị sợ em bị ông ấy lợi dụng? Em không lợi dụng ông ấy thì thôi, chớ ông ấy làm sao lợi dụng em được?
Phi Nga nhìn em với đôi mắt đượm buồn nhưng chứa chan tình thương :
- Chị không muốn em lợi dụng người ta cũng như cầu mong sao cho người ta đừng lợi dụng em. Em đã thưa việc này cho cha mẹ biết chưa? Theo chị thì em nên xin phép cha mẹ.
Phi Anh nhún vai :
- Chị lúc nào cũng vậy, đầy đủ bổn phận, khép mình trong khuôn khổ. Nhưng rồi chị có được hạnh phúc không?
Phi Nga thở dài :
- Chị van các em, hãy để yên cho chị.
Nhưng lúc không có Phi Anh ở đó, Phi Nga đã nói với Phi Yến :
- Chị không muốn em giống Phi Anh.
Phi Yến cười và nói :
- Không phải chị không muốn hay muốn là được. Vả lại, em không thích lối sống của chị Phi Anh. Tuy vậy em cũng đồng ý với chị Phi Anh là trước khi bằng lòng ghép cuộc đời của mình vào cuộc đời một người đàn ông nào thì ít ra mình cũng phải quen và hiểu nhiều người để còn lựa chọn. Chị chỉ quen một mình anh Dũng, chị nhận lời anh ấy mà không có một người thứ hai để lựa chọn.
- Chị hiểu anh Dũng nhiều lắm. Chị không lầm lẫn trên sự lựa chọn đâu.
- Em không muốn cãi với chị về việc này vì anh Dũng không còn nữa. Cho rằng chị không lầm lẫn thì Thượng đế cũng đã nhận thấy để cho chị sống với anh Dũng là một sự lầm lẫn đáng tiếc.
Phi Yến ở với chị được một tháng, xin về để đi học, còn Phi Anh thì vì đi ngoại quốc không lên thăm chị được. Phi Nga sống với con trong ngôi nhà đầy kỷ niệm của Dũng một cách buồn bã và đau khổ. Chị Tâm cố khuyên lơn nhưng Phi Nga vẫn bỏ ăn, bỏ ngủ.
Nhiều đêm đang ngủ, chị Tâm thức dậy vì nghe có tiếng động bên phòng Phi Nga. Chị nhè nhẹ bước qua thì thấy Phi Nga đi trong phòng, cũng có khi nàng đứng tựa cửa sổ nhìn ra đêm tối. Những lúc ấy nàng nhớ đến Dũng lúc buồn lo, sợ mất nàng. Bây giờ thì chính nàng mất Dũng.
Thế rồi một hôm không ngủ được, Phi Nga bước qua phòng vẽ vì đã nhớ đến lời trách móc của Dũng :
- Sao em lại vẽ em ngoảnh mặt đi nơi khác, không nhìn anh hay con?
Để làm vui lòng người chết, Phi Nga ngồi lại giá vẽ, định vẽ lại bức tranh khác. Lúc ấy là hai giờ đêm. Phi Nga vẽ cho đến khi trời sáng trắng mà nàng không hay biết. Khi xem lại những hình ảnh đang phác họa, nàng có cái cảm giác như nàng nhìn về phía Dũng là nhìn về một dĩ vãng xa xăm. Vì thế nàng xóa bỏ tất cả, hẹn đêm sẽ vẽ lại.
- Cô thức suốt đêm để vẽ à?
Chị Tâm hỏi như thế, nhưng rồi chị nghĩ :
- Thà cô ấy có công việc làm để khuây khỏa còn hơn. Cô ấy làm việc gì là làm say mê, thì say mê với công việc còn hơn là say mê với nỗi buồn tang tóc.
Nhưng cả một tuần thức đêm không ngủ, Phi Nga cũng không vẽ lại được bức tranh gia đình. Vì vẽ thế nào cũng không ổn được. Và không vừa ý, Phi Nga đành phải bỏ đề tài ấy, không nghĩ đến nữa.
Nhận thấy chỉ có những lúc ngồi trước giá vẽ là mình quên được sự cô đơn, Phi Nga liền lấy sự vẽ tranh làm phương thức chữa tâm bệnh của nàng. Phi Nga vẽ hết bức này đến bức khác và khi vẽ xong một bức tranh, nàng đứng ngắm hàng giờ, không vừa ý. Nàng so sánh những bức tranh vừa vẽ sau khi Dũng chết với bức tranh thủy mạc mà ông Trần Phong đã tặng nàng :
- Thầy Trần Phong vẽ bức tranh này sau khi thân mẫu thầy mất. Thật là một bức tranh tài tình. Thế tại sao sau cái chết của Dũng, ta lại không vẽ được bức tranh nào nói lên tâm trạng của ta lúc này là nghĩa làm sao? Hay là người đàn bà khi đứng trước một sự đau khổ quá lớn thì không còn tâm trí làm việc gì được? Hay là tình chồng vợ không cao cả, thiêng liêng bằng tình mẫu tử?
Tuy vậy, nhờ có việc làm mà ngày tháng trôi qua một cách bình thản. Tiền Phi Nga dành dụm nhờ những giải thưởng, mấy tháng nay nàng đem ra tiêu xài lần hồi. Khi nghe chị Tâm nhắc là đã hết tiền chợ, Phi Nga tính lại và ngạc nhiên thấy từ khi Dũng chết đến nay đã được sáu tháng.
- Thầy mất được sáu tháng rồi sao chị Tâm? Hết tiền rồi lấy gì mà xài?
- Cô còn thiếu gì tranh. Nếu cô bán thì xài đến bao giờ cho hết.
Phi Nga thở dài không nói thì chị Tâm hỏi :
- Lâu quá cô không đi Sài Gòn? Để thăm thầy của cô và những người bạn.
Phi Nga lắc đầu :
- Tôi không thích đi đâu nữa cả, không muốn gặp ai nữa cả. Chị Tâm à, tôi rất ân hận. Có phải tại tôi đi học vẽ mà thầy buồn và lâm bệnh không chị Tâm? Và tại tôi nghĩ đến sự nghiệp mà thầy chết không?
Chị Tâm được cơ hội liền nói đến số mạng, ai có số chết yểu thì sẽ chết, dù có thần y cũng không cứu nổi.
- Cô đừng nghĩ quẩn vậy. Cô lo cho thầy như vậy là quá đầy đủ bổn phận. Cô không việc gì phải ăn năn. Bây giờ cô nên nghĩ làm sao cho có tiền để nuôi hai em ăn học thành tài. Cô nên vẽ tranh và sống với nghề này, nếu không muốn nhờ vào ông bà và chôn vùi tài năng của cô. Cô nên thương hai em. Mấy lúc nay hai em khổ nhiều rồi.
Phi Nga cúi đầu suy nghĩ thì chị Tâm xô bé Hoàng và bé Hồng lại bên Phi Nga. Nàng ôm bé Hồng vào lòng và đặt tay lên đầu Hoàng, vuốt tóc nó. Bé Hoàng chụp lấy tay của mẹ đưa lên môi hôn và nói :
- Mẹ đừng buồn nữa nghe mẹ. Mẹ thương các con nghe mẹ.
Phi Nga hôn hai con :
- Mẹ thương hai con lắm. Từ nay mẹ sẽ sống cho các con.
Từ hôm ấy, Phi Nga vẽ suốt ngày, hết bức tranh này đến bức tranh khác. Chị Tâm đã bán những món nữ trang của chị để lấy tiền đi chợ, không cho Phi Nga biết. Một hôm gặp bà Châu đến thăm, chị nói cho bà nghe là Phi Nga đã bắt đầu làm việc say mê lại, đến nỗi quên rằng nhà hết tiền, hết gạo. Bà Châu đem việc này nói lại cho ông Trần Phong nghe thì ông mừng lắm :
- Dũng chết được bao lâu rồi Ngọc Diệp nhỉ?
- Gần bảy tháng rồi.
- Hãy đợi đúng một năm đã nhé.
- Để làm gì? Thầy muốn nói gì?
- Khoan đến gặp Phi Nga đã, cứ để Phi Nga tìm nguồn vui trong sự làm việc đã. Nếu Ngọc Diệp giỏi thì cứ kiếm tiền đưa chị Tâm lo cho mẹ con Phi Nga khỏi thiếu thốn, được ăn uống đầy đủ.
Bà Châu nói :
- Việc ấy dễ lắm, tôi sẽ đến nhà cha mẹ Phi Nga, thuyết phục ông bà giúp Phi Nga.
Một năm đã trôi qua. Phi Nga quên cả ngày tháng. Chị Tâm nhắc :
- Chỉ còn một tuần nữa là đến ngày giỗ đầu của thầy.
Phi Nga giật mình :
- Vậy sao? Chết chưa!
Rồi Phi Nga đi lại đếm số tranh đã vẽ được :
- Một năm đã trôi qua. Thảo nào tôi vẽ được nhiều tranh quá.
- Cô mới vẽ sáu tháng sau này.
Bỗng Phi Nga như nhớ ra, giật mình hỏi :
- Chị Tâm, mấy lúc nay chị lấy tiền ở đâu mà lo việc cơm nước, chợ búa?
Chị Tâm nhìn Phi Nga cười :
- Tôi bán những món nữ trang.
- Của chị? Trời ơi! Chị tốt quá! Thế tôi đã thiếu của chị tất cả là bao nhiêu?
- Không bao nhiêu, mà cô cứ yên trí đi, cô sắp giàu đến nơi rồi.
Phi Nga ngạc nhiên :
- Tại sao chị biết tôi giàu đến nơi rồi?
Chị Tâm cười :
- Với mấy chục bức tranh cô đã vẽ xong đó, thế nào rồi đây cũng có người hỏi mua. Và nếu ông Trần Phong về đây thăm cô, ông ấy sẽ mang đi triển lãm.
Phi Nga cúi đầu suy nghĩ. Hơn một năm đã trôi qua, từ ngày nàng đi Sài Gòn dự cuộc triển lãm tranh và được giải thưởng. Hôm nay nàng mới có dịp nghĩ đến cái ngày vinh dự ấy. Cái chết của Dũng đã làm nàng quên tất cả, quên luôn cái ngày đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời mình.
Chị Tâm hỏi :
- Không biết đến ngày giáp năm của thầy, có ai đến đây không cô nhỉ?
Phi Nga nói giọng buồn bã :
- Chắc là không có ai. Ai mà nhớ đến chuyện của mình?
Đến ngày hôm ấy, Phi Nga ngạc nhiên thấy chị Tâm đi chợ mua thật nhiều thức ăn, rồi nhờ mấy người hàng xóm sang giúp nấu nướng. Và đúng mười hai giờ trưa, ngoài cổng chợt vang lên tiếng còi xe. Phi Nga nhìn ra thấy bà Châu, bà Quỳnh đi vào. Và sau đó lại có một chiếc xe khác, chở ông Trần Phong và các môn đệ. Ngày giỗ của Dũng lại hóa thành một ngày họp mặt đông đủ của các người bạn thật tâm muốn đưa Phi Nga lên đài danh dự.
Bà Quỳnh nói :
- Nhà tôi và thằng Paul đi Pháp rồi. Trước khi đi nhà tôi dặn tôi phải âm thầm đến giúp cô cho đến ngày cô chịu quên nỗi buồn để làm việc lại.
Ông Trần Phong thì nói :
- Cô biết mấy lúc nay Ngọc Diệp đi chạy tiền để cho chị Tâm lo cho cô không?
Phi Nga đã hiểu, cúi đầu thầm cám ơn lòng tốt của mọi người.
Dục Tú nói :
- Mấy lúc nay em nhớ chị quá nhưng thầy cấm không cho em và mấy anh Lê Thanh, Hà Nam và Vũ Minh đi thăm chị. Thầy đoan chắc thế nào đến ngày này chị cũng qua khỏi cơn sốt yêu thương để đem hết tâm trí phục vụ cho nghệ thuật.
Sau khi ăn uống vui vẻ, Phi Nga đưa ông Trần Phong và mọi người đi xem những bức tranh nàng đã vẽ được. Ông Trần Phong xiết đỗi vui mừng khi thấy Phi Nga vẽ rất tiến bộ nên đề nghị sẽ đem tranh Phi Nga triển lãm riêng trong ngày đầu xuân.
Phi Nga đã chấp thuận. Ông Trần Phong hỏi :
- Họa sĩ Giang đến thăm Phi Nga chưa? Sau cuộc triển lãm này, tên tuổi Phi Nga sẽ nổi như cồn và Phi Nga có còn nghĩ đến chuyện học vẽ tranh với thầy không?
- Ngày mai, con sẽ bắt đầu đi học vẽ lại với thầy. Lần này thì học mỗi tuần ba ngày. Họa sĩ Giang đã về nước rồi sao thầy?
Ông Trần Phong nhìn Phi Nga với đôi mắt chứa chan cảm tình :
- Họa sĩ Giang đã về đây rồi, nhưng bây giờ tôi tin Phi Nga sẽ không bận tâm về bất cứ chuyện gì ngoài sự nghiệp. Phi Nga nên nhớ ái tình và sự nghiệp là những con đường một chiều. Từ nay, ai làm cho cô rời bỏ con đường sự nghiệp, người ấy sẽ có tội với đất trời và nhân loại. Cô hiểu ý tôi không? Nghĩa là không ai có quyền làm cho cô yêu họ hơn hội họa, cô biết chưa?
Hạ thấp giọng, ông Trần Phong tiếp :
- Tôi đã nói với họa sĩ Giang như vậy. Tôi biết họa sĩ Giang yêu cô lắm. Cũng như tôi, ngoài sự mến phục tài cô, nhiều khi tôi cũng không ngăn cấm nổi con tim tôi yêu cô. Nhưng tôi đã đặt nghệ thuật lên trên hết, không dám nói chuyện yêu thương với cô mà chỉ thành thật xem cô như một người bạn thân, một người bạn đi tìm cái đẹp cho nhân loại, phụng sự cho nghệ thuật. Chỉ thế thôi. Họa sĩ Giang rồi cũng phải nghĩ và làm như tôi. Tôi nhân danh nàng nghệ thuật, sẽ ngăn cấm cô không được yêu ai hết dù người đó có đẹp và có tài như họa sĩ Giang.
Phi Nga mỉm cười :
- Con rất cám ơn thầy. Và chỉ có cách ấy con mới không còn hối hận về cái chết của Dũng. Con sẽ chọn con đường nghệ thuật và sống cho ngành hội họa. Bên con còn có hai con để nhắc con nhớ nếu con tim con cần yêu thương thì hãy trút hết tình thương cho chúng nó...
 
Viết xong ngày 3-11-1972 tại Sài Gòn

 
HẾT
0
Truyện đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn casau và NGuyen Đ Thanh nhiều
 
 




0