Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Cái Bong Bóng Lợn - Phan Văn Tạo 🔒

16 trả lời, 4.251 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.04.2015 12:47:00 bởi Ct.Ly>
Cái Bong Bóng Lợn
 
Tác giả: Phan Văn Tạo
 
 
Lời ngỏ

Tuyển tập truyện “Cái bong bóng lợn” của nhà văn Phan văn Tạo được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1961 bởi nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư, là những tác phẩm đặc sắc đã đăng trên tạp chí Bách Khoa.

Vậy là đã hơn năm mươi năm qua kể từ khi cuốn sách ra đời. Thế nhưng, những độc giả đã từng đọc tác phẩm vẫn mong mỏi việc cuốn sách được in lại. Một phần bởi sự quý mến nhà văn lúc sinh thời, và một phần có lẽ vì tác phẩm đã tái hiện lại cho họ một bức tranh con người và xã hội Việt Nam xưa. Những truyện ngắn trong tuyển tập là những hoàn cảnh, tình tiết, hay trò chơi trẻ em đã gắn bó với bất cứ gia đình người Việt nào thời đó, bởi lẽ ấy mà qua tác phẩm, người đọc thấy được cả một thế giới vẫn sinh tồn trong ký ức và tâm niệm của họ.

Qua bao nhiêu biến cố đất nước, qua những trải nghiệm của tác giả, thì tình gia đình, bằng hữu lại như càng gắn bó hơn theo thời gian. Tác phẩm cũng thể hiện điều đó. Nếp sống êm đềm, tính mộc mạc của thôn quê miền Bắc Việt Nam với những nét văn hóa dân gian, vừa bình dị, vừa tinh túy được đọng lại trong từng trang viết, và lan trong tâm thức người đọc.

Nhà văn Phan văn Tạo yêu những câu chuyện đời thường, như yêu cái bong bóng lợn, quả bóng đá mà những bạn bè, anh em ngày bé vẫn thường chơi trong những ngày Tết. Ông cũng yêu tha thiết cái cầu ao, một hình ảnh rất thanh bình là biểu tượng cho đời sống và tình yêu gia đình từ thuở Cha Ông để lại.

Văn chương và con người của Phan văn Tạo yêu đời một cách mãnh liệt, đến viết về chính đám ma của mình mà ông vẫn làm cho độc giả thấy được ông còn sống.

Với bạn bè, gia đình và những con người sống xung quanh, thì ai cũng nhớ tới ông - một con người hết sức bình dị. Ông hòa vào một cách tự nhiên với những con người đời thường như chuyện ông đi coi bóng đá, dù có vé mời khán đài danh dự trước mặt thì ông vẫn chỉ thích mua vé ngồi khán đài bình dân mà thôi.

“Cái bong bóng lợn” là ghi chép của một thời kỳ lịch sử, là hình ảnh trung thực của nước Việt Nam muôn thuở. Phan văn Tạo đã sáng tác với con gái thứ ngồi trên đùi ông, trong không gian gia đình rất đỗi đầm ấm cùng vợ hiền và hai con trai mà cùng chia một đĩa đu đủ đạm bạc nhưng ngon lành.

Nhà văn Phan văn Tạo sinh năm 1920 tại Tranh Xuyên, Hải Dương, vào Nam năm 1954, sang Pháp năm 1975, và mất năm 1987 tại Paris. Ông là trưởng nam của một gia đình đông anh em. Do cảnh nghèo, các em đã phải hy sinh không được đi học để dốc hết tiền cho anh cả ở trọ trên tỉnh lỵ rồi được học đến nơi đến chốn. Sự hy sinh của các em, nếu không nói tới sự hy sinh của cả cha mẹ, đã để lại một dấu vết nặng trĩu trên tâm khảm của ông, ông đã từng nguyện sẽ đến bù cho các em đích đáng. Nhưng thời cuộc đã không cho phép ông gặp lại một số anh em ruột, vết thương và nỗi niềm của món nợ tinh thần không bao giờ được hàn gắn.

Càng thân tình ruột thịt, lại càng phải tạ ơn.

Cuốn sách trên tay độc giả như là lời cảm tạ chân thành nhất mà nhà văn Phan văn Tạo mong dành tới anh em, gia đình.

Không chỉ thể hiện tình yêu quê hương đất nước qua những trang sách, mà trong cách dạy dỗ con cái, nhà văn cũng truyền cho các con ông lòng yêu thương đồng bào thật thống thiết, cũng như cái tâm thanh bạch, bất khuất trước mọi hoàn cảnh. Lời ông thường dặn dò con cái rằng: “Qua bao nhiêu sự đổi thay, con người Việt Nam vẫn giữ đậm nét trong sáng, nhân bản và chân thật”.

Gia đình nhà văn Phan văn Tạo


Lời cảm ơn

Chắc chắn rằng hương linh của cố nhà văn Phan văn Tạo sẽ ấm áp vô ngần khi biết cuốn sách được trở lại với độc giả trong và ngoài nước.

Để có được duyên văn chương tái ngộ này, gia đình cố nhà văn Phan văn Tạo gửi lời cảm tạ chân thành tới các anh chị em văn nghệ trong nước, đặc biệt là đối với nhà văn Tuệ An và các anh chị biên tập viên, họa sĩ, kỹ thuật viên của nhà xuất bản Trẻ.
 

Đại diện gia đình
 

Phan văn Trường




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.04.2015 16:31:59 bởi Ct.Ly>
Cái bong bóng lợn
 
 
 

Đã có một thời gian, tôi không thể quan niệm rằng tôi có thể ăn Tết mà không có một cái bong bóng lợn. Đó là những năm tôi còn nhỏ, đi học ở một tỉnh xa nhà và Tết đến thì được trở về làng với gia đình. Ở thời đó những hình thức thưởng xuân chưa bị giản dị hóa đến mực độ làm nông cạn cả ý nghĩa của Tết như bây giờ. Thầy tôi thì bắt buộc phải có cái giò thủy tiên, mẹ tôi thì bắt buộc phải có nồi nước nóng lá mùi để tắm gội, và tôi thì bắt buộc phải có cái bong bóng lợn, đúng cái bong bóng của con lợn nhà giết để ăn Tết.

Nói đến giết lợn ăn Tết là nói đến cả một nghi thức nhịp nhàng như một bản hợp tấu do chính thầy tôi chỉ huy vững vàng như một nhạc trưởng.

Tết nào cũng vậy đúng năm giờ sáng hôm ba mươi, sau khi kéo xong điếu thuốc lào thường lệ là thầy tôi tiến ra phía chuồng lợn với bác nhiêu Cầu.

Bác nhiêu giúp việc cho gia đình tôi đã trên mười lăm năm và đã trên mười lăm cái Tết rồi, cứ đến ngày ba mươi tháng chạp thì bác lại diễn lại đúng như chừng nấy cử chỉ. Bác cầm một cái thòng lọng làm bằng một cây tre, một đầu để nguyên, một đầu đánh dập ra rồi tết lại thành một nút như con số 9. Bác dồn lợn vào một góc chuồng, lùa thòng lọng qua đầu và một chân trước của lợn, giật mạnh rồi nhấc lợn ra khỏi chuồng, dáng điệu vừa gọn vừa sang. Lợn được mang ra bên bờ ao, đặt trên một cái chõng tre, dưới có một cái sanh đồng để hứng tiết. Một nồi lớn nước sôi được bưng ra và chỉ một loáng, một con lợn trắng hếu đã nằm tênh hênh trên chõng, vết thương ở cổ còn rỉ máu, mặt ngửa lên trời, mắt nhắm nghiền. Phải nhìn cái lúc con lợn được mổ xẻ, chia cắt mới có thể thấy rõ được thế nào là một sự phân phối hợp lý theo nhu cầu - Cái thủ và bộ lòng thì để cúng trưa ba mươi, khoanh bí tức là cái cổ thì để nấu ninh với măng khô, cái lưng nạc để gói giò lụa, cái bụng ba chỉ gói giò mỡ và làm nhân bánh chưng, mông đem làm nem, lá mỡ đem rán bỏ vào một cái liễn dùng cả tháng giêng, chân giò để cúng miếu Thổ Thần và nấu giả cầy.

Có một điều tôi lấy làm lạ nhất là vai trò của mẹ tôi trong tất cả những sự liệu lý nhộn nhịp đó. Ngày thường công việc bếp nước là do mẹ tôi chỉ huy suốt năm với một thứ oai quyền không ai cưỡng lại được, thế mà đến hôm ba mươi là bị thầy tôi giành lại một cách thật là bất ngờ và thật là êm đềm. Trong khi thầy tôi cắt đặt người gói bánh chưng, người giã giò, người làm nem, người luộc lợn, thì mẹ tôi với một dáng điệu khiêm tốn đến mực âm thầm, lúi húi ngồi lau mấy cái lá chuối hay cầm cái rây rây thính. Tết có cái gì thiêng liêng đến nỗi mà mẹ tôi phải trả lại quyền hành cho thầy tôi một cách không va chạm như vậy?

Tuy vậy tất cả những sự kiện trên đối với tôi chỉ quan trọng một cách vừa phải - Phút chủ yếu là lúc bác nhiêu Cầu thích lưỡi con dao nhọn hoắt vào bụng dưới con lợn, lách một bàn tay thành thạo xuống dưới bộ lòng vừa mới xổ tung, rút ra một cái túi màu trắng đục lớn gần bằng bàn tay của tôi, rồi cầm giơ cao lên giời. Tất cả những người có mặt reo to lên: “Bong bóng”. Tôi đánh đu lên cánh tay bác, cố níu xuống để lấy cái túi đó. Bác lại vươn tay lên kéo dài sự giằng vật để tăng sự kích thích của tôi, chán chê rồi mới cho tôi hẳn - Tôi nắm chặt cái bong bóng vào trong lòng bàn tay như bắt được một của quý - Những ai không say mê thì không thể nào hiểu nổi cái lý do say mê của kẻ khác. Tôi chắc có người cho rằng cái bong bóng lợn thì quý hóa gì mà thèm khát nâng niu đến thế. Giảng làm sao cho người đó hiểu được đây? Tôi chỉ biết đối với tuổi tôi khi đó cái bong bóng lợn không phải chỉ là một đồ chơi kỳ diệu trong mấy ngày Tết, nó còn ý nghĩa hơn thế nhiều - Cả một con lợn mà cả nhà trịnh trọng giết để ăn Tết chỉ có một cái bong bóng - Phải là đứa trẻ được thương yêu nhất nhà mới được chơi cái bong bóng đó. Thành ra việc mình được cái bong bóng có một cái giá trị tinh thần đặc biệt: đó là một sự thừa nhận long trọng, một năm một lần, cái địa vị khác thường của mình trong lòng thương của gia đình. Cái ngày mà mình bị coi là lớn không được chơi bong bóng lợn nữa cũng là cái ngày mà lòng thương của gia đình tìm thấy một trọng tâm mới.

Cái bong bóng lợn mới lấy ra thì hãy còn nhầy nhụa những mỡ, những miếng bạc nhạc. Công việc đầu tiên là phải làm sạch bong bóng đã. Tôi chạy vào bếp lấy ra một ít gio rồi chọn một miếng đất nhẵn đặt cái bong bóng xuống phủ gio lên, xong lấy chân nhẹ di cho gio tuốt lấy mỡ. Sau đó tôi vò khe khẽ bằng tay rồi rửa nước thật kỹ cho bong bóng sạch hẳn - Còn vài cái xơ lủa tủa như mấy sợi râu, tôi bóc nốt cho thật nhẵn nhụi.

Bây giờ đến công việc thổi bong bóng - Tôi lấy cái xe điếu của thầy tôi, luồn một đầu vào cuống bong bóng, buộc một cuộng rơm cho cuống bóng thật sát với đầu xe điếu, rồi phùng má trợn mắt lên thổi. Mặt tôi đỏ gay lên, mắt như muốn lòi ra ngoài mà bong bóng vẫn chưa to. Tôi lại cầu cứu đến bác nhiêu Cầu và chỉ hai ba hơi, bác đã thổi bong bóng phình lên to bằng đầu tôi. Bác áp bóng vào tai tôi, lấy ngón tay búng hai ba tiếng kêu boong boong nghe quyến rũ lạ. Tôi lấy chỉ buộc cuống thật chặt, rút xe điếu ra, rồi chạy sang sân nhà thờ. Ở đây, con ông Hội Chúc, em ông Lý Sanh, con ông cả Trữ, cháu bà khán Bình đã chờ sẵn, và nhìn tôi mang bóng đến với một vẻ mặt hết sức khâm phục. Chúng tôi đá trận banh tất niên với một niềm say sưa khó tả và khi nghỉ giải lao chúng tôi được mẹ tôi mang cho một đĩa xôi, mấy cái đầu giò, một quả nem và một đĩa lòng lợn. Tôi đố ai tìm thấy ở đâu một thứ lòng lợn ngon hơn.

Qua ba ngày Tết thì quả bóng đã se mặt lại, nhem nhuốc cát bụi, và đã bắt đầu xuống hơi, đá không thấy thú nữa. Nhưng tôi đâu có chịu bỏ nó ngay. Tôi đem rửa đi sạch sẽ, rồi cắt đem bưng lên trên cái đấu của mẹ tôi làm thành một cái mặt trống, hay đem bưng lên hai ống sữa bò rồi nối một sợi chỉ từ mặt nọ tới mặt kia làm ống điện thoại. Biến hóa đi như thế thì tôi còn chơi cái bong bóng được suốt cả tháng giêng - Và đến tháng hai bác nhiêu Cầu lại sang chợ Quỳnh Côi chọn một lợn con thật đẹp về vỗ trong tám tháng cho thật béo để đến ngày ba mươi Tết lại diễn lại những cử chỉ cổ truyền. Thành ra vừa khi cái bong bóng này hỏng thì tôi đã được thấy ngay sự hứa hẹn của một cái bong bóng khác đang tiềm sinh trong lòng con lợn đang nuôi - chỉ một sự hứa hẹn đó là đủ thi vị của cuộc đời.

Nhưng tôi càng lớn lên thì tôi lại càng bị cạnh tranh ráo riết về vấn đề bong bóng lợn. Số em tôi mỗi ngày một nhiều ra và mỗi ngày chúng một thêm ý thức về quyền lợi của chúng. Càng gần đến Tết mối tham vọng của chúng càng phát hiện và tôi càng thấy khó khăn trong sự bảo vệ ưu thế của tôi. Cũng may mà bác nhiêu Cầu đối với tôi còn nhiều tư vị.

Tôi còn nhớ cái Tết mà tôi tranh được lần cuối cùng cái bong bóng lợn với các em tôi. Thật là vất vả. Bác nhiêu Cầu vừa vật con lợn lên cái chõng tre bên bờ ao thì thằng Cống, thằng Phùng, thằng Kim, thằng Ngân đã đứng chầu chồm hổm như bốn con chó. Dáng chúng nó khiêu khích lạ - Chốc chốc thằng Cống lại lải nhải: “Anh được chơi nhiều rồi, lần này là của chúng em”. Thằng Phùng phụ họa luôn: “Anh lớn rồi phải nhường các em - Mẹ bảo thế”. Nghe có tức không! Nó lại lấy cả cái oai mẹ tôi mà khuynh loát tôi nữa - Tôi chỉ còn biết nhìn bác nhiêu Cầu như van lơn và cũng hơi thấy hy vọng một chút khi thoáng bắt được ở bác một tia mắt thông cảm. Bác chăm chú làm lợn như không biết gì đến sự tranh chấp đang bao vây bác. Khi bác lấy đến cỗ lòng thì mấy thằng em tôi mắt sáng lên, đấu cúi thấp xuống như chờ đợi sự xuất hiện của vật đang mong chờ. Bác nhiêu Cầu lùa tay vào trong bụng lợn, khua đi khua lại mấy lần rồi nói một cách rất thản nhiên: “Ơ, con lợn này không có bong bóng”.

Mấy thằng em tôi xìu ngay nét mặt, bán tin bán nghi - Tôi cũng thẫn thờ cả người nhưng bỗng thấy mắt bác hướng về mắt tôi một cách đầy ý nghĩa, tôi chợt hiểu ngay - Để đánh lạc hướng địch thủ tôi hất hàm về phía các em tôi và nói:

“Nào tranh nhau nữa đi”.

Chúng chưa chịu thua hẳn cứ lằng nhằng đứng mãi bên con lợn không chịu đi. Tôi nóng ruột không thể nào nói hết.

Cơm trưa xong tôi mới tìm được cách đến gần bác nhiêu Cầu mà không bị bọn em tôi theo dõi - Bác bới đống gio trong bếp, lấy ra một gói bọc lá chuối và trao cho tôi với một nụ cười ý nhị. Tôi nắn cái gói thấy một cái gì nhùn nhũn bên trong mà sung sướng tưởng chừng như muốn khóc - Tôi bỏ luôn vào túi chạy một mạch ra đến tận ao đình, mới giở gói lấy cái bong bóng ra - Phải, không là cái bong bóng thì còn là cái gì nữa! Tôi cọ tôi kỳ, tôi vò tôi rửa. Thỉnh thoảng tôi lại ngậm vào cái cuống thổi thử xem. Khi cái bong bóng đã sạch rồi tôi lại bỏ vào túi, tay nắm lấy khư khư và đi về nhà. Tôi chờ cho các em tôi đi ngủ hết mới lấy cái xe điếu của thầy tôi, chạy ra ngồi bên đống rơm, lấy rơm buộc xe điếu vào cuống bóng rồi thổi... rồi thổi... Bóng phình lên dần, lên dần... Tôi buộc chặt cuống lại, áp má tôi vào bong bóng một hồi lầu, rồi cứ ngồi cười một mình khi nghĩ đến mấy thằng em bị gạt. Gần tới giao thừa tôi mới đi ngủ mang theo cả bong bóng lợn vào trong chăn. Đêm nằm chỉ mơ thấy đá bóng với thằng con ông Hội Chúc, thằng em ông Lý Sanh, thằng cháu bà Khán Bình, thằng con ông cả Chữ.

Sáng mồng một tôi trở dậy cứ thấy thầy tôi lúi húi tìm một cái gì. Chắc thầy tôi tìm đã lâu lắm rồi, xem dáng đã có vẻ hơi cáu. Vừa thấy mặt tôi thầy tôi hỏi: “Mày có thấy cái xe điếu của tao đâu không?” Thôi chết rồi! Cái xe điếu, cái xe điếu tôi thổi bong bóng đêm qua. Lúc tôi say mê quá trở vào nhà đã quên không mang xe điếu về trả thầy tôi.

Tôi chạy ra đống rơm, bới tung cả lên mà cũng không thấy xe điếu đâu. Chắc có ai sáng sớm ra rút rơm về đun bếp đã đun cả cái xe điếu rồi. Thầy tôi ngủ dậy mà không có điếu thuốc lào thì không làm ăn gì được. Cả nhà quay ra đi tìm cái xe điếu, nhưng khi chính tôi mà không tìm thấy thì còn ai tìm thấy cho ra. Sáng mồng một Tết lại cũng chẳng mua đâu được xe điếu mới. Thầy tôi giận lắm nhưng vẫn cố nhịn không gắt sợ giông cả năm. Sau cùng thèm thuốc quá, thầy tôi lẳng lặng xé mấy tờ giấy đã viết rồi trong một quyển vở cũ, rồi ngồi cuộn một cái xe điếu bằng giấy hút tạm. Khi thầy tôi nhả cái xe điếu mới chế ra này ra để thở khói, tôi nhìn thấy mực tím ở mấy trang giấy vừa cuộn lại đã thôi ra trên môi thầy tôi, tôi buồn cười quá mà không dám cười. Hình như cái điếu thuốc tạm bợ này không làm cho thầy tôi hài lòng. Thầy tôi quăng cái xe bằng giấy ra một bên rồi đưa mắt lườm tôi, hỏi một cách rất nghiêm nghị:

“Mày lấy cái xe điếu của tao thổi bong bóng phải không?”

Tôi chưa biết trả lời ra sao thì ở giường bên, thằng Ngân, thằng em út cùng ngủ với tôi bây giờ mới trở dậy, lục sục ở trong chăn rồi kêu lên:

“Ơ, bắt được một cái bong bóng lợn.”





0
Hiệu đính : Nguyen Đ Thanh
 
Lá thư cho vợ
 


 
Saigon, ngày... tháng...

Em,

Chắc em ngạc nhiên lắm khi nhận được thư này vì vợ chồng bên nhau mà lại phải gửi thư cho nhau qua nhà bưu điện. Và em đoán trước phải có việc gì ghê gớm lắm đây nên anh đã không nói thẳng với em mà lại viết thư cho em. Anh nói ngay để em an lòng. Chẳng có việc chi ghê gớm cả. Chỉ có một việc là anh muốn gửi cho em một bức thư tình.

Anh không biết trước khi lấy anh, em đã nhận được biết bao nhiêu bức thư tình. Anh không dám biết thì đúng hơn. Trước hết vì anh kính trọng những sự thầm kín nơi lòng em, tâm hồn người nào cũng có những chỗ tự do mà kẻ thân nhất dầu là chồng cũng không có quyền được dòm ngó tới. Sau nữa anh sợ có khi biết, anh lại đâm ra ghen tuông với những bóng mờ quá khứ, chỉ tổ làm khổ em mà cũng chẳng lợi gì cho anh, vì ghen với quá khứ bao giờ cũng nắm phần thua rồi.

Có một điều chắc chắn là từ ngày lấy anh, em không nhận được bức thư tình nào nữa. Đó là một sự thiếu sót lớn nơi anh.

Bây giờ anh như là người tình độc nhất của em thì tại sao anh lại không cho em những phút rung động mà người ta chỉ có khi đọc những bức thư tình.

Em sẽ trả lời anh rằng đời sống hằng ngày của chúng ta là một bủc thư tình dài rồi, cần gì đến những thư bằng giấy, bằng mực nữa. Đúng lắm! Khi em mang hết tâm trí sửa soạn cho anh một món ăn ngon, khi anh dán mũi vào cửa kính các tiệm buôn chọn biếu em một món quà sinh nhật, chúng ta đều đã biểu lộ những ý nghĩ mà người nọ dành cho người kia. Nhưng nếu thêm vào những cách tỏ tình đó, chúng ta lại nói lên những ý nghĩa kia, ghi những ý nghĩ đó trên giấy mực thì tình ta đã thắm lại càng thêm tươi chứ sao?

Anh đồng ý là có những sự im lặng thật hùng biện, nhưng nếu im lặng đủ hùng biện rồi thì Thượng Đế còn cho ta thêm tiếng nói làm chi nữa?

Thư tình giữa vợ chồng cũng như âm nhạc giữa một bữa tiệc - không có nhạc tiệc vẫn ngon, nhưng thêm âm nhạc tiệc càng đậm đà. Vợ chồng ta dại gì mà không dùng tiệc có âm nhạc?

Có những ngày đã xa xôi lắm, anh đã viết và đã nhận được thư tình. Số phận những bức thư này thật đáng thương. Chúng là cái gì thành thực thiết tha nhất, thế mà chúng sống ẩn náu như những kẻ có tội. Người viết thì viết lén, kẻ đọc thì đọc trộm. Chúng đi từ người viết đến kẻ đọc qua những quãng đường thật là gian nan, trắc trở, chúng phải len lỏi qua những đồn ải canh gác thật là hiểm nghèo. Chúng được cất giấu trong những hộp, ngăn có khóa kỹ và khi sự có mặt của chúng bắt đầu làm bận rộn cho đời sống của một trong hai người thì thường thường chúng được một mồi lửa thiêu rụi đến không còn cả vết tích.

Thư tình giữa vợ chồng thoát được cái số phận lẩn lút tối tăm đó. Nhưng có thể có người cho rằng khi việc viết thư này không còn là một bí mật nữa thì nó cũng kém thi vị, kém nồng nàn. Anh không tin hẳn - Trước hết là vì tình vợ chồng tuy công khai mà vẫn kín đáo. Vả lại không phải thấy suối cuồn cuộn, sông lững lờ mà bảo rằng sông không nhiều nước bằng suối.

Nói lẩn quẩn loanh quanh mãi mà đọc lại cũng chưa biết mình muốn nói gì. Nhưng không sao, đặc điểm của thư tình là như vậy, không cần đề tài mà cái gì cũng là đề tài.

Hai chúng ta lấy nhau mười lăm năm rồi đó. Chóng thật. Tưởng như vừa hết tuần trăng mật thế mà thằng Tùng đã 14, thằng Long đã lên 10 và con Bích đã lên 6. Sau chúng còn đứa nào nữa không? Bây giờ thì chưa biết. Không thì cũng đỡ vất vả mà có cũng càng vui.

Mười lăm năm rồi. Biết bao nhiêu vui, biết bao nhiêu buồn, bao nhiêu chiều chuộng, bao nhiêu giận hờn. Nhưng mỗi một chuyện xảy tới, dù hay dù dở, đều làm cho sự tác hợp của chúng ta thêm khăng khít. Mỗi một ngày đi qua, dù xấu dù tốt, đều mang thêm một chút thống nhất tính cho gia đình, càng ngày hai vợ chồng càng thấy hai người chỉ là một đơn vị.

Các bạn thường chế giễu anh làm gì cũng hay hỏi vợ. Họ có biết đâu khi hỏi em là anh chỉ hỏi anh, mà ngay cả những chuyện mà họ tưởng anh quyết định một mình, chính là đã có một nửa phần em trong đó. Sự thâm nhập giữa hai người đã đến một chỗ thật tinh vi và không người nào mà lại không là cả người kia cộng lại.

Ngay cả đến những tật xấu cũng thấy cần thiết cho đời sống chung vì người nào cũng quen nhận ở người kia những tật xấu đó rồi. Thiếu tật đó thì hình như là một xã hội thiếu phong tục.

Anh muốn nói hơi dài với em một chút về những tật xấu này. Thư tình khác họ chỉ ca tụng sắc đẹp hay những đức tính của nhau. Thư tình giữa vợ chồng có thể nói đến tật xấu của nhau mà không hại gì.

Trước hết là những tật mà em thường trách anh. Tật bề bộn đứng đầu. Ngồi đầu thì tàn thuốc lá rụng hết chung quanh, tìm được một cái khăn mùi-xoa thì vứt ra ngoài tủ nửa tá sơ-mi, vặn nước rồi không khóa lại để cho nước chẩy lênh láng khắp nhà, quần áo thay ra không bỏ giặt cứ vùi vào một xó. Đến nỗi ở nhà hễ thấy có cái gì lệch lạc là em đưa mắt về phía anh, nhìn anh với con mắt không còn cho ai chối cãi, hễ thấy cái gì bề bộn là chẳng hỏi xem ở tại đầu, em đã kết luận một cách thật khẳng định: “Lại anh rồi”. Có nhiều lần đúng và cũng có lần sai, nhưng sai anh cũng chẳng cãi làm gì. Được vợ gán cho cái tiếng bề bộn cũng là một cái thú - Không bề bộn cũng chẳng có gì khó lắm, nhưng bề bộn để vợ thu xếp cho có phải thích hơn không. Anh bề bộn là để cho em phát huy toàn vẹn cái tính ngăn nắp của em vậy. Mà hình như trách anh thì trách, song trong thâm tâm em vẫn thích anh bề bộn để em chiều.

Sau đó là tật lười - Em thấy anh hễ đi làm thì thôi chứ đã về đến nhà là không chịu mó tay vào việc gì hết. Không kèm con học, không cả nói chuyện với vợ, ăn vội ăn vàng, rồi nằm dài ra đọc báo hay lăn ra ngủ. Đâu có phải bản tính anh lười như vậy? Nhưng chính vì về nhà trông thấy em là thấy có thể tin cậy phó thác được hết mọi việc rồi. Bước qua ngưỡng cửa đã thấy như bước vào vương quốc của vợ, làm gì cũng có cảm tưởng như đụng chạm đến thẩm quyền của vợ - Anh sợ rằng anh mà chăm làm mọi việc ở nhà chính em sẽ thấy buồn đầu tiên.

Lại còn bao nhiêu tật khác. Rủ vợ đi đâu, thì giục rối giục rít, quên hẳn rằng vợ cần phải mất thì giờ sửa sang sắc đẹp. Mời khách về nhà ăn mà chẳng cho vợ hay trước, nhận lời đi ăn cơm khách cả hai vợ chồng mà cũng không hỏi trước xem vợ có đi được không, hình như lúc nào cũng tin chắc rằng mình nghĩ sao thì vợ nghĩ vậy, mình ưng là vợ thuận, mình là vợ mà vợ là mình.

Cho nên tất cả những tật của anh, gọi là tật xấu có lẽ hơi khắt khe, muốn công bằng phải gọi là tật yêu vợ.

Bầy giờ đến tật của em. - Em đừng giật mình vội, anh không tìm thấy tật gì nặng quá đâu, hay có nặng thì cũng chưa bằng những tật của anh.

Trước hết là cái tật chiều con - Ai đời con Bích lên sáu rồi mà thỉnh thoảng anh còn bắt gặp nó chui vào bú tí mẹ. Mà không phải chỉ tại nó đâu. Đôi khi chính em đã gọi nó đến bên em, chính em cho phép nó, hình như em thèm được cho con bú vậy.

Rồi đến cái tật tích trữ - Gạo, vải, than, củi, xà phòng, nước mắm cái gì em cũng tích trữ. Hơi có tin tức gì về giá cả lên xuống là em chạy ra chợ hối hả mang về chục hộp sữa hay mấy ký đường.

Các nhà buôn đầu cơ trông thấy em là đon đả chào mời và cho em những tin tức sốt dẻo nhất về giá cả. Và một ngày kia nếu có nhà kinh tế học nào đó tới phỏng vấn em để viết luận án về ảnh hưởng của những bà nội trợ trong việc thị trường xáo động, anh cũng sẽ không lấy làm ngạc nhiên.

Mà nào có phải em chỉ tích trữ những thứ hữu dụng đâu. Cả những thứ chỉ có thể đem vứt đi em cũng tích trữ. Chổi cùn, rế rách, mụn vải, mẩu giấy,... cái ghế đã gẫy chân, cái chiếu đã nát bung từng mảnh, hễ đem quẳng đi thì em giữ lại. Đôi khi anh thấy các vật đó ngạo nghễ nhìn anh như thách đố anh xem có làm gì được chúng không khi chúng đã được sự bảo trợ của em.

Nhưng nếu có tật nào đó của em làm cho anh sốt ruột nhất chắc phải là tật cả ngày đánh lạc chùm chìa khóa. Không mấy lúc là anh không thấy em lúi húi tìm nó, rồi hỏi chồng có cầm không, rồi hỏi con có nghịch không, trong khi em, vâng chính em, đã cất nó ở những chỗ không ai có thể ngờ tới được. Em mở tủ rồi bỏ chìa trong tủ, đóng cửa tủ lại, em để chìa khóa trong túi chiếc áo em thay để giặt, em ra vườn rồi móc chìa khóa lên cành cây trứng cá. Có lúc anh đã ngồi tính trung bình mỗi ngày em mất mười lăm phút tìm chìa khóa. Như vậy trong mười lăm năm vợ chồng ta lấy nhau, em đã bỏ ra nguyên hai tháng vào công việc đó rồi đấy em ạ. Nếu trời mà cho vợ chồng ta sống với nhau ba mươi năm nữa, thì cái chùm chìa khóa tai ác kia sẽ giành của anh mất đúng nửa năm. Có ai tin được không? Một đời ân ái mỗi phút đều đáng kể mà bỏ phí tới nửa năm đi tìm chìa khóa.

Nhưng cũng như người mẹ vừa mắng đứa con là hư, mà lại vừa ôm nó hôn lấy hôn để, chúng ta có nói đến tật xấu của nhau cũng chỉ để mượn một cớ mà đối với nhau thêm nồng nàn. Sự mượn cớ này là một điểm rất tế nhị trong đời sống vợ chồng Á Đông. Người Âu Tây vô cớ cũng phải hò la inh ỏi rằng họ yêu thương nhau, lấy cái sự ồn ào bên ngoài mà phụ lực cho cái trống trải bên trong, chúng ta vững vàng bên trong rồi nên bên ngoài biểu thị tình cảm một cách thật êm đềm.

Anh viết tới đây thì giường bên em đang trở mình hình như khó ngủ vì ánh đèn của anh - Bàn anh ngồi viết cách giường em nằm không tới một thước thế mà thư này còn phải đi nhiều chặng nữa mới đến tay em. Anh nhìn sang em thấy hình như tuy thư chưa gửi mà em đã biết hết những điều anh viết.
Anh mong khi thư tới, anh sẽ không có nhà - Vì nếu anh có mặt lúc em đang đọc thư anh chắc anh sẽ ngượng lắm.

Chồng em,

Ký tên không rõ





0
Dọn nhà
 
 
 
 

Văn đang lúi húi vẽ ngang dọc trên một trang giấy có kẻ ô vuông, bỗng vứt bút ra một bên rồi kêu ầm lên:

- “Cho tôi một tờ giấy khác đi. Vẽ nhầm mất một ô rồi”.

Thì ra Văn đang vẽ bình đồ căn nhà mà anh sắp dọn tới. Ba thước tám bề ngang, một thước hàng ba, bốn thước phòng ngoài, năm thước phòng trong, ba thước sân, ba thước bếp. Anh thuộc lầu những kích thước đó rồi thu lại trên giấy theo một tỷ lệ. Khi anh đặt xong vị trí các ô cửa sổ và cửa ra vào, anh bắt đầu kê đến đồ đạc.

Đây là bàn ăn. Anh vừa vẽ chiếc bàn và sáu chiếc ghế vừa lẩm bẩm: “Có lẽ phen này phải mua bộ sa-lông mới được”. Đây là giường bà Cụ đẻ ra anh, giường hai đứa con giai, đây là ghế bố của đứa con gái út, giường của vợ chồng anh. Ngọn bút của anh đang đi nhanh thoăn thoắt bỗng dừng lại ngập ngừng “Bây giờ mua cái tủ nữa thì kê đâu đây?”

Còn gần nửa tháng nữa anh mới sang nhà mới thế mà ngày nào cũng vậy, anh cũng huỳnh huỵch vẽ đi vẽ lại, kê vào kê ra, dọn nhà một cách tuy là tinh thần mà thật là vất vả.

Chị Văn thực tế hơn nhiều. Chị thu xếp thủng thẳng mà gọn gàng được việc. Để mặc chồng loay hoay tính toán ở những phạm vi cao siêu, chị thu nhặt những mảnh giấy, mẩu dây, cái đinh, thanh gỗ, vật gì cũng nhìn thấy công dụng của nó. Chị bỏ va-li, hộp giấy ra phơi phong rồi những thức gì chưa dùng đến ngay, chị đóng gói lại, gói ghém và vuông vắn. Phải nhìn thấy chị đóng đồ mới thấy cái tài của người đàn bà biết khai thác sức chứa của những dung tích chật hẹp.

Chị lặng lẽ làm việc, bận luôn tay mà không lúc nào cần phải om sòm rối rít. Văn đôi khi coi sự im lặng của vợ như một thách thức, hình như vợ chỉ là một người giỏi về thực hành mà dám khinh nhờn một bộ óc đầy những công thức.

Văn còn lạ gì việc dọn nhà nữa? Từ lúc còn là học trò đi trọ học, giang sơn vỏn vẹn một chiếc rương sơn đỏ với một chiếc cặp da, đến khi lấy vợ đẻ con mà đồ đạc ngoài chổi cùn rế rách có cả đến bình sữa vú cao su, kim băng tã lót, anh đã biết bao lần thay đổi chỗ ở.

Có lần tung tăng như chim non mới mọc cánh đi với vợ về ngôi nhà mới, theo sau là chiếc chăn bọc sa-tanh với cặp gối hồng thêu đôi chim nhạn.

Có lần kinh hoàng, tay lôi vợ rũ rượi, tay ghì con đỏ hỏn, chạy chữ chi trên những con đường đào giao thông hào, gối đã mỏi mà còn muốn bước nhanh hơn làn đạn réo sau lưng.

Từ Hà Nội dọn về quê, long tong hết các tỉnh khu ba, khu bốn rồi lại từ quê dọn về Hà Nội. Rồi cùng với non triệu người nữa dọn đi Saigon, hành lý có hai mươi cân mà nặng trĩu gánh sầu đất nước.

Sang được căn nhà thì Bình Xuyên lại bắn phá, anh lại dọn.

Mỗi lần dời chỗ thế này là một lần vương vãi thất lạc, không phải chỉ những đồ vật hữu dụng có thể mua sắm thức khác thay thế được mà còn cả những kỷ niệm vô giá vì không bao giờ có nữa như bức ảnh độc nhất của bà nội anh hay chiếc hoa hồng ép dẹp giữa quyển tự vị mà chị tặng anh khi chị còn là nữ sinh trường Đồng Khánh.

Nghĩ đến những ngày đã qua Văn sợ dọn nhà lắm rồi. Đừng ai nói đến chuyện đổi chỗ nữa. Văn chỉ mong yên ổn sống tại ngôi nhà đang ở, thèm khát một cái gì bền chặt sau bao nhiêu bồng bềnh.

Ấy thế mà lần này Văn lại dọn nhà, dọn một cách thích thú, say sưa. Chỉ vì căn nhà anh sắp dọn tới là căn nhà anh vừa mới mua, là căn nhà của anh. Anh đã nghe nói nhiều và cũng đã bàn tới nhiều về quyền tư hữu, nhưng anh chỉ mới hiểu quyền đó một cách thấm thía từ khi anh mua căn nhà mới.

Năm năm trời dành dụm, thêm hai bát họ mua non, với một số tiến vay của hai cô em gái mới đủ trả tiền nhà. Tính mỗi tháng ăn tiêu dè sẻn để ra được một nghìn, thì cũng phải bốn năm mới hết nợ. Nhưng đó là chuyện về lâu về dài. Bây giờ anh hãy dọn nhà đã. Và anh cặm cụi vẽ vẽ, xóa xóa, mãi chưa thấy hài lòng. Mới trông bài toán nào có khó gì cho cam. Xếp một số đồ đạc vào hai căn phòng, vỏn vẹn có thế thôi. Nhưng xếp đồ vào căn nhà thuê của người khác thì đâu có thành vấn đề. Chỉ có xếp đồ vào căn nhà của mình mới mua thì mới thật là nát óc. Chính là cái mối tương quan mới giữa đồ đạc và căn nhà là điểm tế nhị.

Chị Văn thấy chồng cứ loay hoay mãi, cũng phải nói vào: “Để đến nơi mới trông ra chứ kê trên giấy thì biết đến bao giờ mới xong”. Văn đứng lên nhưng vẫn cố giữ phần phải về mình:

- “Có tính trước vẫn hơn chứ! Thôi bây giờ tôi còn phải đi ăn cơm tiễn anh Long đi Mỹ. Cho tôi bộ quần áo với cà-ra-vát đi.”

- “Em gói kỹ lắm rồi bây giờ không thể lấy ra được.”

Có lẽ lúc khác Văn đã bực mình lắm. Nhưng lần này Văn thản nhiên mặc sơ-mi ngắn tay đi ăn cơm khách mà không thấy chút gì mặc cảm. Chúng bạn ai cũng biết anh sắp dọn sang nhà mới. Ai mà còn khắt khe về y phục với một anh mới mua nhà?

Văn muốn dọn vào một hôm chủ nhật cho tiện. Nhưng chị Văn đã đi xem bói và thầy dạy mồng tám mới được ngày, không những hợp tuổi anh tuổi chị mà con lợi cả cho tuổi bà cụ nữa. Nhưng mồng tám là ngày thứ sáu, anh phải đi làm. Bà cụ và chị Văn muốn anh xin nghỉ một ngày. Anh hơi ngại vì tháng trước anh đã nghỉ ba ngày rồi. Sau cùng mới đi đến giải pháp dung hòa. Thứ sáu mồng tám sẽ dọn lấy ngày và chủ nhật mồng mười dọn hẳn.

Sáng sớm mồng tám, trước khi đi làm Văn đưa vợ qua chợ mua một cái hỏa lò, một nắm củi thông, một bao diêm. Sau đó hai vợ chồng lại đằng nhà mới. Chị lau quét trong bếp cho thật sạch sẽ, kê hỏa lò ngay ngắn, trịnh trọng đặt nắm củi thông và châm diêm đốt. Củi cháy phừng phựt. Chị gọi chồng đến bên rồi nhìn vào ngọn lửa bằng con mắt chứa chan hy vọng. Chị bảo chồng: “Lửa reo mình ạ, dọn đến đây nhất định phải làm ăn phát tài”. Văn gật gù tán thưởng. Không biết lửa reo thật hay là lòng hai người đang reo.

Sau đó hình như không muốn cho hàng xóm trông thấy. Chị Văn đóng các cánh cửa lại, rồi mắt nhắm lim dim, chị chắp tay vái khắp bốn phương, vừa vái vừa xuýt xoa khấn khứa. Văn không nghe thấy vợ khấn những gì nhưng cứ trông dáng điệu thì thấy vợ để hết cả thành tâm kính ý van xin Trời Phật phù trì.

Tối thứ bẩy, chị Văn mua một ít giò chả về kho để hôm sau khỏi đi chợ mua thức ăn. Còn Văn thì gọi ba đứa con lại căn dặn chúng cách thức sống ở nhà mới làm sao cho gọn gàng ngăn nắp. Anh nói rất kỹ nhưng chúng nghe bằng một tai rất lơ đãng.

Sáng chủ nhật, một chiếc xe chở hàng lù lù đưa cái lưng có mui cao gồ vào sát bậc cửa nhà anh. Trẻ con reo rối rít: “Xe đến, xe đến”. Anh chạy ra thì vừa gặp cô hàng xóm nhoẻn miệng cười rồi nói với anh: “Ông ở đây đang vui, bây giờ dọn đi xóm này buồn chết”. Lời nói chỉ là xã giao mà sao hôm nay thấy tình tứ lạ. Và thoáng một giây, anh thấy cô hàng xóm đẹp hẳn lên khác xa ngày thường. Anh lựa một câu mà anh cho là duyên dáng nhất để đáp lại:

“Chúng tôi đi cũng nhớ xóm làng lắm”.

Tiếng guốc chị Văn ở đằng sau cắt rất mau cái phút ẫm ờ đó và Văn hối hả giục những người phu chuyển đồ lên xe. Có những thứ mà anh không hiểu còn thu vén mang đi làm gì cho thêm bận. Anh bảo vợ vứt đi nhưng chị Văn trả lời bằng một giọng không ai có thể cãi được :

- “Cứ để đấy cho tôi. Rồi dùng có việc hết.”

Bà cụ thân sinh ra anh ngồi yên một chỗ, hai tay ôm bức ảnh Phật bà Quan âm, ngoài có bọc một cái màn cho khỏi vỡ. Hai đứa con giai mỗi đứa xách một cái cặp nặng mà còn chạy ra đá một trận banh tiễn biệt với lũ trẻ bạn chúng. Đứa con gái út thì chỉ lo nhặt các nút chai nhét đầy hai túi.

Đồ đạc chẳng có gì nên chỉ một giờ sau đã lên xe hết. Văn khóa cửa chính rồi nghĩ ngợi thế nào, lại mở ra, đi rảo vào hết các buồng một lượt nữa, soát xem có quên gì không. Mấy con nhện lững lờ đu ở trên trần như không có để ý gì đến cảnh đổi thay bên dưới.

Văn trở ra, khóa hẳn cửa lại rồi nói:

“Bà và mẹ nó lên ngồi chỗ bên ông tài, ba đứa con lên đằng sau, còn tôi đi xe đạp.”

Lũ trẻ bạn của các con anh bám tay vào đây cái xe chở đồ đang rồ máy. Chúng chạy theo một quãng và chỉ đứng lại khi không theo kịp tốc độ xe nữa.

Văn trước khi lên xe đạp còn ngoái cổ sang nhà bên cạnh nói với cô hàng xóm :

- “Thôi xin chào cô. Chắc còn nhiều dịp gặp cô.”

Khi Văn về tới nhà mới thì đồ đã rỡ xuống xe. Anh móc ở túi ra cái bình đồ đã vẽ từ trước và bảo mọi người cứ theo đó mà kê. Song chỉ được một lúc là ai nấy đếu thấy không thể theo ý kiến kỹ thuật của anh được. Cái mặt bàn cao hơn mép cửa sổ trông rất khó coi, giường lấn ra lối đi, và để được cái kệ sách thì không mở được cửa ra vào.

Lại đến chị Văn giải quyết và chỉ độ hai giờ sau trông đâu đã tạm vào đấy. Riêng anh vẫn có vẻ không chịu sự sắp đặt này và một vài cử chỉ của anh để thoáng lộ một sự phản đối âm thầm. Giữa lúc đó có tiếng trẻ reo lên. Huy, bạn thân của vợ chồng Văn, từ ngoài bước vào tay mang một cái gói bọc kín. Huy đến gần bà cụ sinh ra Văn trao cái gói tận tay cụ, và nói:

“Gọi là mừng Cụ với hai bác”.

Lũ con Văn nhẩy với lên đến tận tay bà để bóc cái gói và khi tờ giấy bọc đã tung ra mọi người kêu ầm lên:

“Quả gấc! Quả gấc!”

Bà cụ cảm động lắm đứng một hồi lâu rồi mới nói: “Được ông đến xông nhà, cậu mợ cháu làm ăn nhất định là may mắn. Tên ông có nghĩa là sáng đẹp, tính nết ông vui vẻ, quả gấc lại đỏ như thế này, thật là mọi sự tốt lành”.

Mọi người xử sự như việc Huy đến là một việc rất tự nhiên không có xếp đặt gì ở trong tuy rằng ai nấy đều rõ hôm trước chính chị Văn đã đi chợ mua quả gấc đó và đưa đến nhờ Huy tới xông nhà hộ. Lại dặn đúng giờ nào phải tới, e có người nào đến trước mà vía không lành chăng.

Khi Huy ra về Văn cũng biến đâu mất. Chị Văn không nói ra nhưng giận lắm không hiểu làm sao giữa lúc nhà bận thế mà Văn còn bụng dạ đi chơi được.

Chị đã nấu xong nồi cơm và đã dọn lên với món giò kho sẵn. Lũ trẻ kêu đói, chị đã cho ăn trước.

Vẫn chưa thấy Văn đâu cả. Muộn lắm mới thấy tiếng xe xích-lô đỗ ngoài cửa và tiếng Văn kêu ơi ới:

“Ra đỡ hộ tôi một chút”.

Văn khệ nệ bưng vào một cái bể kính đựng đôi cá vàng vẻ mặt đầy đắc thắng. Rồi lại chạy trở ra ôm hai chậu hồng.

Cả buổi chiều hôm đó anh chỉ loay hoay, kê bể cá, đặt chậu cây, tưới hồng, cho cá ăn. Anh thoáng nghĩ tới mấy người bạn giờ này chắc đang ngồi trong mấy rạp chiếu bóng thường trực và thấy thương hại họ một cách thật thà làm sao họ lại có thể giải trí một cách nghèo nàn như vậy được.

Buổi tối, sau một ngày nhọc mệt cả nhà đi ngủ sớm Văn vẫn để đèn, hình như còn muốn ngắm kỹ thêm căn phòng mới. Hai vợ chồng cùng ngửa mặt nhìn lên trần, không ai nói với ai. Có một cảm giác gì êm đềm quá và họ muốn im lặng thật lâu để kéo dài cái giây phút đó. Bỗng Văn nói thật nhẹ:

“Này mình. Công nợ trả xong thằng lớn lấy vợ ta cơi lên một tầng lầu.”





0
Xem đá banh
 
 
 
 

Từ hàng ngàn lồng ngực phát ra một tiếng hét vang trời: “DÔ”.

Văn cùng gào lên với mọi người, nhưng tiếng anh hình như át trùm hết cả tiếng người khác - Lúc thường anh đã nói “Vào”, trong khi các bạn miền Nam của anh kêu “Vô” nhưng ở trận banh quốc tế này khi mà danh dự của cả dân tộc rực sáng hay lu mờ tùy theo trái banh da đi vào trong hay ra ngoài một cái khung gỗ trắng thì tất cả mọi người quên hết những dị biệt về ngôn ngữ và đều thống nhất ý chí trong một tiếng hò: “DÔ”.

Cái lúc hùng tráng như một thảm kịch đó, kêu “Vào” cũng không đúng mà kêu “Vô” lại càng sai. Phải kêu: “DÔ”.

“DÔ” mới là danh từ được công nhận. Dùng tiếng khác anh chỉ tỏ ra anh không phải là người của cầu trường.

Vậy thì tiếng “DÔ” khủng khiếp ấy đã nổi lên như sấm động.

Trái banh ngập ngừng luống cuống rồi như sợ hãi quá trước sức uy hiếp của tiếng hò, nó chui tọt vào thành, nằm nép mình dưới lưới im không động đậy.

Đội banh nhà vừa bị dẫn trước một bàn nay đã gỡ hòa - Từ mọi phía tiếng vỗ tay ran lên, đều đều, đều đều đến nỗi cho ta một cái cảm giác im lặng. Có tiếng kèn mừng nổi lên hấp tấp hình như người thổi kèn cũng hòa mình với sự say sưa của khán giả rồi quên cả nhịp điệu.

Vài chiếc nón, mấy chiếc dép cao su được tung lên trời, vừa rớt xuống lại được ném tiếp lên, cao vút như niềm hân hoan đang dâng lên cuồn cuộn.

Trong khi chờ đợi trái banh được đặt lại giữa sân, mọi người mới chợt nhận ra rằng trời nóng và nắng đang chiếu xiên khoai vào chỗ ngồi. Những lá quạt giấy trước đây im phăng phắc khi ai nấy còn mê man theo đuổi trái banh, bây giờ mới hoạt động trở lại trông dập dìu như những đàn bướm tím.

Văn đấm mạnh sang đùi Tuấn, anh bạn ngồi bên, rồi nói: “Cậu cho tôi khao cậu một chai nước chanh”.

* * *

Văn mê xem đá banh đã gần bốn chục năm nay rồi. Ngay từ năm lên sáu anh đã lăn lộn với trái banh. Theo định nghĩa quốc tế thì trái banh phải là một quả bằng da vòng tròn từ 68 đến 71 phân và cân nặng từ 396 đến 453 gam. Nhưng ở nơi Văn cứ mỗi tuổi trái banh lại có một hình thể khác nhau, kích thước khác nhau và không phải lúc nào cũng luôn luôn làm bằng da.

Khi anh còn học ở trường làng, trái banh của anh là một gói giẻ rách, tàm tạm tròn, có buộc dây chung quanh, đá một lúc dây bung ra, trận đấu ngưng lại để cầu thủ buộc dây thêm cho chắc. Vào khoảng tháng năm, tháng sáu khi cây bưởi ở vườn bà ngoại đã có trái non, anh thường hái trộm một trái làm banh. Nhưng nếu đá ngay thì bưởi dễ vỡ. Phải cắm trái bưởi vào một cái đũa dài rồi hơ lên bếp cho bưởi mềm đi, đá mới bền. Đặc biệt mấy ngày Tết nhà mổ lợn, lấy bong bóng đá, nẩy thì có nẩy nhưng không chơi được lâu và đá không thật chân.

Đến khi lên trường học phủ lỵ, Văn đã tiến bộ hơn. Phủ có một cái sân quần, ông Đồn và ông Chánh Đoan vẫn ra đánh vợt. Anh tán tỉnh với người nhặt banh mua lại một trái banh quần rồi đá cho đến khi nó tuột hết lần da trắng trơ cao su đen ra.

Sau đó là đến thời kỳ banh cao su đặc và banh cao su bơm. Phải mãi đến khi thi vào được trường Bưởi anh mới biết thế nào mới thật là một quả banh da.

Y phục của anh khi đá banh cũng qua nhiều đổi thay - Thường thường là cởi trần, quần cụt, nhưng gặp hôm trời rét thì anh và các bạn đóng luôn bộ quốc phục mà giao tranh. Áo the đen lượt thượt, áo dài trắng phất phới chẳng cần gì đồng phục để phân biệt thế mà giao banh vẫn gắn, truyền banh vẫn ngoạn mục. Chân thì đi đất, dần dần tiến lên đi bít tất, rồi đi giầy vải.

Bữa mà ông Giám học ở trường Bưởi gọi anh lên phát cho một cái áo chẽn theo màu sắc của trường và cấp cho cái giấy đi đóng giầy đinh, anh cảm động như đã leo lên đến tuyệt đỉnh của thang danh vọng. Cũng từ bữa đó anh được hưởng những đặc quyền chỉ dành cho một thiểu số hảo thủ: Không phải xếp hàng khi vào lớp, tới chậm giờ không bị phạt hay xin phép nghỉ dễ dàng.

Văn trọ ở Hàng Than và Tuấn, bạn đồng đội, trọ ở đường Sông Tô Lịch. Tan học hai người cùng về với nhau. Và hôm nào cũng vậy bắt đầu từ đền Quan Thánh cho tới vườn hoa Hàng Đậu là chỗ họ chia tay ai về nhà nấy, Văn và Tuấn mỗi người đi một bên vỉa hè rồi cứ vừa đi vừa truyền cho nhau một viên đá hay một quả bàng. Trái banh ứng chế đó chạy chữ chi trên mặt đường, từ chân Văn sang chân Tuấn rồi lại từ chân Tuấn trở về chân Văn, làm cho họ quên hết cả đường dài.

Không có trận banh quan trọng nào mà Văn bỏ qua không đi xem - Có tiền thì lấy vé. Không tiền thì anh nghĩ đủ cách để qua mặt người soát vé. Có khi anh lợi dụng sự chen lấn để đi thoát. Có khi anh mang banh, xách giầy cho các cầu thủ đi trà trộn giữa lúc họ tới sân. Chẳng lúc nào anh lấy thế làm xấu cả. Khi người ta theo đuổi mục đích chính đáng như xem đá banh làm gì có phương tiện nào gọi là xấu? Trái lại nhiều lúc anh lại tự hào về khối óc phong phú của mình đã nghĩ ra lắm mưu nhiều kế lừa được người gác cổng. Hơn nữa trốn vé lại còn đòi hỏi nhiều gan dạ và dũng cảm. Sân banh Cột Cờ nằm sát ngay một trại lính Lê Dương. Có lần anh đã băng qua mặt một tên lính gác đen ngòm, vượt suốt chiếu ngang trại mà vào sân, lính hô anh cũng không đứng, dọa bắn anh cũng không lui. Trước một sự coi rẻ cái chết đến như vậy, người lính gác chỉ còn biết lắc đầu rồi hạ súng xuống, nhe hàm răng trắng ởn ra cười.

Được hun đúc trong cái tinh thần đó nên khi đã luống tuổi không còn chạy theo trái banh được nữa, Văn vẫn còn là một khách trung thành của sân banh - Chị Văn không làm sao giảng nổi được sự mê say của chồng. Đối với chị, trái banh chẳng qua là một trò chơi con nít, một người trên đầu đã hai thứ tóc như anh sao còn để cho nó quyến rũ, mê hoặc? Đã có lần chị bảo anh:

“Chủ nhật nào cũng thấy anh nói chuyện banh vào, banh ra. Vào thì đã làm chi? Mà không vào thì đã làm sao?”

Nói thế có bực không - Mê say là thuộc phạm vi tình cảm, đem lý trí ra phân tách một cách lạnh lùng như vậy là không biết mê say rồi.

Không làm chi với chẳng làm sao! Đá vào bên người ta thì được, để người ta đá vào bên mình thì thua. Không hiểu được cái nghĩa được, thua tức là không hiểu được cả ý nghĩa cuộc sống!

Cho nên vợ nói sao thì nói, Văn vẫn theo đuổi say mê bóng tròn - Đó là một thứ bệnh nghiện nặng, vô phương cứu chữa. Người Pháp hình như cũng cùng một ý nghĩ trên khi họ gọi những người như Văn là bị bóng tròn “cắn”. Đúng vậy quả banh da thật là một con chó dại, khi nó đã “cắn” ai, truyền nọc nó vào cơ thể mình, thì chỉ còn một cách là chờ nọc ngấm và mình trở thành một người điên dại.

Văn thường nói với chúng bạn, muốn thật thưởng thức bóng tròn phải ngồi bên khán đài bình dân. Đừng có trả lời Văn rằng đi xem hạng chót cực lắm. Nào phải xếp hàng nối đuôi nhau từ 7 giờ sáng để lấy vé, nào phải bỏ bữa cơm trưa, ăn qua quít cái bánh mì chờ từ 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều mới xem trận banh hạng nhì đá mở màn, rồi đến 4 giờ rưỡi chiều xem trận chính thức, nào chỗ ngồi không có mái che, nắng chín người, mưa sũng áo...

Văn sẽ giơ tay ra một cách quyết liệt, ngăn không cho người đối thoại nói tiếp, rồi giải thích, giọng có đôi chút miệt thị rằng xem đá banh mà còn để ý đến chen chúc, đói khát, mưa nắng thì có khác nào yêu mê một người tình mà không chịu hy sinh cho người đó. Mình đã được ngồi trong sân mà xem, còn những người không có vé, bám lủng lẳng vào những cành cây mỏng mảnh, hay đậu chơi trên những nóc nhà dốc tuột, họ có phàn nàn gì đâu?

Vả lại bên khán đài bình dân có một không khí truyền cảm mãnh liệt, kích thích người xem đến cực độ. Chỉ ở đó người ta mới hồi hộp đến nghẹn thở khi banh tới gần thành nhà, tức giận đến uất máu khi mất một cơ hội thắng điểm, sung sướng đến điên cuồng khi banh vào lưới địch, buồn bã đến thẫn thờ khi ôm hận thất bại. Tất cả những tình cảm đó được trút ra qua những tiếng hò, tiếng hét, tiếng vỗ tay, tiếng chửi thề. Có người quên hẳn mình là khán giả, ngồi ngoài xem mà tưởng đứng trong sân, lồng hẳn mình vào một vai cầu thủ, sống vai đó một cách rất thực, đến nỗi thấy trong sân người ta co cẳng đá, ở ngoài này cũng phóng chân ra đá một trái banh tưởng tượng. Chỉ khi người ngồi trước mặt kêu lên mới thấy mình lầm.

Cũng ở bên khán đài bình dân người ta mới được nghe những lời phê bình thật đích xác về lối chơi của từng đội, từng cầu thủ. Bóng tròn không còn là một trò chơi giải trí nữa mà được đưa lên hàng một nghệ thuật tinh vi, một khoa học có những phép tắc nghiệt ngã.

Văn cũng có lần được bạn mua biếu vé khán đài trung ương. Ghế có ghi số, không phải đi sớm, ngồi xem ung dung, lại có mái che mưa nắng mà sao Văn cứ thấy như lạc lõng không phải chỗ mình. Ông khách ngồi bên phải suốt buổi chỉ hút xì gà, xong hiệp nhứt rồi mới quay sang hỏi: “Đội nào đá với đội này đây ông?” Bà ngồi bên trái chốc chốc lại bắt Văn giảng thế nào là phạt góc, thế nào là phạt trực tiếp và có mấy thứ việt vị. Văn thấy nhớ Tuấn lạ. Trước mặt anh là một rừng người lố nhố. Tuấn ở trong đó, giờ này chắc cũng thấy thiếu Văn.

Trời bỗng đổ mưa - Rừng người vẫn thản nhiên không nhúc nhích. Văn ngồi nơi khô ráo, nghĩ đến Tuấn đang ướt như chuột lột, mà thấy như mình đã phản bội bạn. Bà ngồi bên cạnh lại còn làm anh bực mình thêm khi bà lẩm bẩm: “Thôi cái xe hơi để ngoài quên không lên kính rồi”.

Một lần khác Văn xin hẳn được cả một cái thiếp mời khán đài danh dự - Anh đang tiến vào cổng bỗng một chú bé chừng 13 tuổi, đầu chải bóng, quần áo sạch sẽ chạy theo hỏi: “Ông có thiếp mời?”

Anh chưa kịp trả lời, chú bé đã nói tiếp, giọng như cầu khẩn:

- Ông cho cháu vào theo với.

- Người soát vé không chịu đâu. - Văn đáp.

- Thưa ông, cháu thấy các ông khác có giấy mời cũng mang trẻ em đi theo. Hôm nay cháu đã mượn được của thằng bạn bộ quần áo mới, dép này cháu cũng đi mượn. Cháu ăn mặc dàng hoàng, chải đầu sạch sẽ, họ sẽ cho cháu là con ông không ai ngờ được đâu.

Văn buồn cười về thằng bé tinh khôn nhưng thấy nó cứ lẵng nhẵng theo mình, anh hơi khó chịu và rảo bước đi lên. Khi anh đưa cái thiếp cho người soát vé, có ai đó khẽ giựt áo anh như muốn nhắc anh điều gì, anh làm như không biết cứ đi thẳng. Có tiếng người soát vé xua đuổi đứa nhỏ ở đằng sau anh.

Vào đến chỗ ngồi, anh thấy thằng bé nói đúng. Một số người đã mang trẻ em theo và anh hơi thấy hối hận đã không cho nó cùng vào.

Anh chợt nhớ lại những ngày anh còn nhỏ. Mấy chục năm trước anh giống hệt thằng bé này, không có tiền nhưng nghĩ đủ mọi cách để được xem đá banh. Đáng lẽ anh phải coi nó như một người bạn đồng bệnh. Đáng lẽ anh phải thấu hiểu hơn ai những nỗi đau đớn của người bạn vong niên đó đang bị một cơn ghiền chưa thỏa mãn dằn vặt dày vò. Thế mà anh đã hắt hủi nó. Tội nghiệp cho nó đã mất công đi mượn quần áo, giầy dép, sửa sang mái tóc mà rồi cũng chẳng gặp được sự tương dung ở một người đã từng là nó. Chắc nó đã phải vắt óc ra nhiều ngày mới nghĩ ra được cái mưu này. Bây giờ nó đến phải trở về nhà, cởi bộ y phục mượn ra rồi nằm khóc thút thít.

Tất cả những ý nghĩ đó làm cho anh thấy trận banh nhạt nhẽo lạ. Bên khán đài bình dân vẫn cái không khí sôi nổi quen thuộc của những tháng ngày thịnh hội. Phía bên này anh ngồi một mình một ghế, có lưng dựa, có chỗ để tay, nhưng những tiện nghi đó chỉ làm anh càng thấy lẻ loi. Anh có cảm tưởng như mỗi ngày anh một quên dần những đức tính thuần túy của người mê say bóng tròn.

Những buổi đá banh sau, anh lại lấy vé hạng chót, trở về khán đài bình dân, trở về với Tuấn, trở về với những người hò la, chửi thề, tung nón, đá nhầm người ngồi trước mặt. Anh lại thấy thích thú trở lại, như một người gò bó trong bộ quần áo sang trọng, đi ăn ở một khách sạn đắt tiền, nay trở về cởi trần, ăn bữa cơm thanh đạm với người vợ hiền không phấn son.





0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.04.2015 13:29:44 bởi Ct.Ly>
Sơn và Hạnh

Ai hỏi Sơn làm thế nào mà đi thoát và đi khó khăn làm sao, anh đều không nói hay nói rất ít. Những chuyện đó có nghĩa lý gì so với những nỗi day dứt trong lòng anh. Vì anh chỉ đi được có một mình. Anh đã bó buộc phải để vợ anh ở lại ngoài Bắc, giữa những thiếu thốn, bất trắc và thứ nhất là giữa sự cô độc trong một thời gian không ai biết ngắn dài.

Chính chị đã thúc anh đi, tuy rằng linh tính đã báo cho chị biết anh ra đi chị sẽ khổ lắm. Nhưng chị thấy không còn con đường nào khác, đi cả hai chắc không xong, mà anh ở lại còn nguy hiểm hơn.

Ở trong những tình cảm đó, người ta không có rộng đường để chọn lựa. Nhưng Sơn cũng mất một thời gian khá lâu mới quen dần với ý nghĩ mình phải ra đi.

Sau đó là những đêm hai vợ chồng bàn tán sửa soạn. Tiếng người nọ thì thầm tắt hẳn ở trong tai người kia, thế mà cũng có lúc họ rùng người bắt chợt tiếng mình giữa canh khuya trống trải. Có những lời nghẹn ngào không nói hết, có những tiếng thở dài não ruột, nhưng cũng có những dự tưởng rất lạc quan làm giảm bớt phần nào nỗi hãi hùng của hai người trước tương lai mịt mùng. Có lần Sơn đã bảo vợ: “Khi nào chúng mình gặp nhau, anh sẽ làm lễ cưới em lại”.

Nói vậy thì nói nhưng khi nắm lấy bàn tay khẳng khiu của vợ, anh thấy những đốt xương đâm nhói vào đến tận tim anh, và anh giữ chặt thật lâu không muốn buông ra nữa.

Cả hai người cùng thấy việc ra đi không trì hoãn được, nhưng cả hai đều muốn lùi xa ngày khởi hành để kéo dài thêm đôi chút những giây phút sống bên nhau. Rồi ngày khởi hành cũng đã tới. Đêm hôm trước, chị Sơn sắp một đĩa hoa quả, một ly nước trong, thắp hương khấn vái, mà nước mắt chạy quanh. Anh vốn không hay lễ bái, nhưng đêm đó cũng thấy lòng tràn ngập một niềm nhiệt tín. Anh cúi đầu thật thấp như muốn nép mình xin sự che chở rồi nhắc đi nhắc lại một lời cầu nguyện: “Lạy Trời, lạy Phật cho nhà con đủ can đảm”. Lúc ngẩng lên, anh thấy chị đang mếu máo trông đến thương hại, người chị vốn đã nhỏ nhắn nay càng thêm héo hắt. Bỗng chị khẽ lắc đầu như muốn xua đuổi một hình ảnh gì rồi bưng hai tay lên mặt khóc hu hu, không còn nghĩ giữ gìn kín đáo, mặc ai muốn nghe thấy thì nghe. Khi người ta đã đến chỗ khổ sở cùng cực này, chẳng còn cái gì đáng làm cho người ta sợ hãi nữa.

Sau những cơn xúc động mạnh mẽ đó, chị tự nhiên thấy bình thản lạ lùng và chị gối đầu lên cánh tay anh ngủ một giấc thật ngon lành trong đêm ly biệt.
 

* * *

Đặt chân lên miền Nam, mấy ngày đầu Sơn chỉ bận tiếp khách. Nghe tin anh vào, bạn bè thân thuộc kéo nhau đến hỏi thăm và thứ nhất là để nghe chuyện ngoài kia. Ông này bắt anh tả ngôi nhà cũ ở đường hàng Đẫy, bà nọ đòi anh kể cho thật đầy đủ chi tiết cách sinh sống của mấy đứa em ở phố hàng Đào. Không mấy người nghĩ hỏi đến chị Sơn, không mấy người hiểu rằng tuy mới vào Nam được vài bữa, Sơn còn nóng lòng muốn biết tin ngoài đó hơn những người đã đi trước anh mấy năm.

Những ý nghĩ về chị chiếm hết thì giờ của anh. Trước đây hai vợ chồng dựa vào nhau sống mà còn thấy xiêu vẹo, nay còn lại một mình chị chống đỡ, không biết rồi chị làm sao mà chịu nổi đây?

Sơn thấy như anh mới đi thoát có nửa người, còn một nửa nữa mắc kẹt bên kia. Nửa đó đau đớn làm sao, ê chể làm sao đều xót xa thấm thìa sang đến cả bên này.

Cái gì cũng tạo cho anh cảm giác thương vợ. Một gia đình người bạn mời anh đến dùng cơm, vốn biết sở thích của anh đã cho làm món bún chả. Đã lâu lắm anh không được dùng món này. Chả nướng thật khéo, bún thật ngon lành, lại thêm đủ các rau thơm, gia vị. Có lẽ lúc khác có thể một mình ăn hết những đĩa đã bày ra. Nhưng bỗng chạnh nhớ tới vợ đã có lần giữa một bữa cơm đạm bạc ước ao được ăn một bữa bún chả thỏa thích, Sơn tự nhiên thấy chua xót lạ và anh nói với vợ chồng bạn: “Bún chả khéo quá nhưng xin lỗi anh chị, dạo này bụng tôi yếu lắm không dùng được bún”.

Bất cứ một tin tức gì ở ngoài kia lọt vào đều làm anh chú ý. Nhận được tin đời sống khó khăn, công trường nặng nhọc, anh thương chị đến thẫn thờ cả người. Nhưng nếu có một tin nào hừng lên như một tia sáng trong cái viễn tưởng của cuộc tái hợp, như khi đồn sẽ trao đổi mấy trăm gia đình, anh lại thấy lòng tràn trề hy vọng.

Nhiều tối, Sơn ngồi bên máy thu thanh theo dõi mục “nhắn tin về Bắc” nghe lời người khác mà tưởng chính tâm sự mình.

Đôi khi có chuyến máy bay đưa từ Lào về một số đồng bào đã tìm được đường vượt qua biên giới, anh hối hả chạy lên phi trường, biết là không có vợ mình, mà vẫn thấy hồi hộp.

Thỉnh thoảng anh cũng nhận được thư chị. Thư chỉ ghi mấy câu về sức khỏe hay cho tin tức người trong họ, nhưng sao đọc lên có một cái gì u uất nặng nề như nói chẳng nên lời.

Nghĩ đến những thiếu thốn chị phải chịu đựng, nhiều khi sắp tiêu một món anh lại thôi. Tiền để dành được anh cất cùng với những thư của chị vào một cái hộp riêng. Đó là một cái hộp bích quy bằng sắt thường, nhưng đối với anh hộp này là cả một kỷ niệm. Hôm anh đi, chị đã xếp vào trong hộp mấy bức ảnh của chị, giấy giá thú, một hộp dầu cù là, một ít tăm tre vót thật kỹ, một cuộn chỉ gai và cả một nhíp nhổ râu cùng một cái móc tai bằng đồng.

Sơn nghĩ thầm: “Khi nào cô ta vào, khoe cái hộp này chắc cô ta thích lắm”.

* * *

Hơn một năm qua mà cũng chưa có gì báo hiệu anh sẽ gặp được chị. Sự nóng nảy ban đầu bây giờ đã thành một thứ bồn chồn âm ỷ. Cái buồn nhớ chị cũng không nhức nhối như trước nữa, y như người bị kẹp tay lâu, qua những phút đau đầu tiên, chỉ còn thấy tê tê.

Trước đây buồn, anh ngồi một mình với mối ưu tư, không cần phải kiếm cách giải trí. Bây giờ buồn, anh đã cần phải làm một cái gì khác. Anh sắm một cái cần câu, ngồi để nhìn phao nhiều hơn để câu cá, nhưng được vài buổi lại xếp cần vào một xó.

Sách báo mua về, nhiều khi anh đọc chỉ thấy chữ mà không thấy nghĩa.

Anh ra biển hóng gió, nhìn sóng nước mênh mông mà ghê rợn cho sự lẻ loi của mình.

Càng tìm cách giải trí anh càng thấy hiu quạnh. Không, anh cần một cái gì khác hơn là sự giải trí, cái gì như một bóng mát cho một mảnh đất khô cằn. Có lúc tai anh tự nhiên vang lên một tiếng cười xinh xinh và anh tự hỏi: “Tiếng cười này mình đã nghe thấy ở đâu nhỉ?” Nhiều đêm, qua những mi mắt nhắm, anh thấy hiện ra một gương mặt thật lờ mờ nhưng rất khả ái, chẳng giống một ai mà anh đã từng gặp cả. Thôi anh biết rồi, anh thèm khát cái gì anh sợ là anh đã biết rồi.

Giữa lúc đó thì anh gặp Hạnh.

Hai gia đình Hạnh và Sơn quen nhau đã lâu, lại ở cùng một đường ngoài Hà Nội, nên nghe nói Sơn vào, Hạnh tới hỏi thăm tin nhà.

Hạnh lấy chồng sớm. Buổi đi ăn cưới Hạnh, Sơn ngồi ngắm Hạnh xúng xính trong bộ quần áo cô dầu rồi nghĩ thầm: “Mình đến thật đoảng, con gái cùng phố xinh thế này mà để cho một anh ở đâu đến cướp mất”.

Đã lâu lắm rồi hai người mới gặp nhau. Mắt Hạnh có buồn thêm đôi chút nhưng vẫn cái sắc đẹp ngày xưa, thêm cái đậm đà mà chỉ cuộc sống mới mang lại cho người đàn bà. Trong lúc nói chuyện, họ không ngờ đã có một thời gian họ hững hờ với đời sống của nhau quá. Chồng Hạnh đã mất mà Sơn cũng chẳng biết, Sơn đã lấy vợ mà Hạnh cũng chẳng hay. Lúc tiễn Hạnh ra về, Sơn nói một câu như để an ủi: “Cô thấy không tôi có vợ mà y như một người góa bụa”.

Sau đó họ gặp nhau nhiều lần nữa. Họ nhắc lại những kỷ niệm ngày còn nhỏ và có lần Sơn nói với Hạnh: “Tôi hay chạy sang bên nhà chơi. Vui quá, đến bữa ăn cũng chẳng nhớ về”. Bác gái một hôm đã phải bảo tôi :
- Tao cho mày con Hạnh đấy!

Hạnh khẽ cúi đầu mỉm cười, và Sơn bỗng thấy lòng mình xôn xao.

Hôm giỗ chồng, Hạnh mời anh sang chơi ăn cơm thường. Nhìn Hạnh đứng vái trước ảnh chồng, anh thấy lờ mờ như mình có lỗi gì trong cuộc đời dang dở của Hạnh. Hạnh ở chung nhà với gia đình một người bạn. Bữa ăn có cả hai vợ chồng người này và người chồng cười nói với Hạnh một cách thiếu ý tứ làm Sơn hơi khó chịu. Anh nghĩ thầm: “Hạnh không thể ở đây lâu được”.

Về đến nhà anh hãy còn bực. Tự nhiên anh thấy ghét Hạnh lạ, không muốn gặp nữa.

Nhưng Hạnh lại tới, vừa mới hỏi anh một câu, anh đã hết cả giận hờn - Mầu áo của Hạnh hôm đó sao mà đẹp vậy. Anh cầm lấy tay Hạnh, nhìn sâu vào đáy mắt Hạnh mà tưởng nghe thấy nhịp tim Hạnh đập. Từ đó họ không nghĩ che đậy tình cảm nữa, Hạnh trông hây hây như cây non gặp nắng ấm và Sơn lăng xăng như một chàng trai quấn quít tình đầu.

Mấy vợ chồng người bạn thân đã bắt đầu biết chuyện - Anh chờ đợi, nhất là ở nơi các bà, những lời cảnh báo thân mật hay ít nhất cũng vài câu bóng gió nhắc anh tới nghĩa vụ với người vợ đang bấu víu vào hy vọng gặp chồng mà cắn chịu mọi tê tái. Nhưng không ai nói chi cả. Hình như các bà, tuy vẫn liên kết chặt chẽ với nhau trong việc bảo vệ gia đình, nay cũng tỏ ra hiểu biết trước cảnh ngộ anh, và sẵn sàng có một vài nhân nhượng.

Với các bạn giai anh đã ướm hỏi: “Có lẽ tôi sắp nhờ anh làm phù rể đấy”.

Mỗi ngày những người xung quanh càng làm quen thêm với câu chuyện anh sẽ chung sống với Hạnh. Có lẽ khi chuyện tới thật, sẽ có người nói vào nói ra, nhưng hiện giờ thì họ để cho Sơn liệu mà xử sự, ai biết đâu mai sau thế nào mà tự dưng mang trách nhiệm đã đồng tình hay phản đối. Nhưng đối với Sơn, đó là dấu hiệu chắc chắn bạn bè đã tán thành. Chỉ còn sự thừa nhận của họ hàng nữa là xong.

Việc này có lẽ cũng dễ. Họ hàng ở đây chỉ có một bà chị ruột. Ông anh rể thì đã là một đồng lõa rồi, ông ta chả vẫn lái xe cho Sơn sang chơi nhà Hạnh là gì? Đối với bà chị, anh sẽ có một lý lẽ mà không có một người đàn bà nào nặng lòng gia tộc có thể bác bỏ được. Anh tưởng tượng ra cảnh anh đứng trước mặt bà chị, nói bằng giọng buồn buồn: “Thầy mẹ được có hai chị em mình. Chị lấy chồng phải trông nom nhà chồng. Còn em bốn mươi mấy tuổi đầu rồi, có vợ cũng như không, con cái cũng chưa có nốt. Cho là hai vợ chồng em sẽ gặp nhau, không biết nhà em còn ở tuổi sinh nở nữa không?” Chắc chắn bà chị sẽ hỏi dồn: “Nào thế bây giờ cậu tính sao, cậu muốn chị giúp cậu như thế nào?”

Anh hẹn với Hạnh chủ nhật tới, cả hai người sẽ cùng lại thăm bà chị, dò xem phản ứng ra sao. Lâu lắm anh mới sống một ngày rộn ràng như ngày chủ nhật đó. Mười giờ Hạnh mới tới, nhưng ngay từ sáng sớm anh đã chạy ra chợ, chọn mua một ký trái dâu để biếu bà chị, gần như một thứ lễ ra mắt. Rồi anh về nhà thờ. Anh đứng lên ngồi xuống, đi vào đi ra.

Nhưng thấy gói dâu anh chợt nghĩ: “Nhà bà chị ít người làm sao mà ăn hết cả ký. Thôi gói cho Hạnh một ít”.
 
 Gọi là một ít nhưng tay anh cứ bốc ở túi giấy nọ bỏ thêm vào túi giấy kia cho đến khi thấy hai túi bằng nhau anh mới thôi. Bây giờ phải gói lại mới khó đấy, sao nhà hàng làm thì gọn gàng thế! Tay anh lóng cóng, túi giấy lùng bùng, được đầu này thì đầu kia lăn ra mấy trái, mạnh tay lại sợ nát hết dâu, giá có một sợi dây nào thì tốt quá. À anh nhớ ra rồi, trong cái hộp bích quy đựng thư và giấy má, có một cuộn dây gai.

Anh lại bên tủ, lấy hộp ra. Vừa mở nắp anh bỗng để ý tới một gói bọc giấy trắng. Anh giở xem thì ra là mấy chục viên thuốc sốt rét rừng. Thuốc này từ lâu chị đã có thư xin anh tìm cách gửi ra để chị mang theo mỗi khi phải đi dân công. Anh mua rồi, nhưng bận những việc gì đã quên khuấy đi không gửi.

Anh lục thêm trong hộp sắt.

Hộp dầu cù là chị xếp cho anh hôm anh đi vẫn nằm bên mấy cái tăm tre vót kỹ, cái nhíp vẫn buộc vào cái móc tai bằng đống.

Rồi đến món tiền mà anh để dành chờ chị vào.

Rồi đến những thư của chị mà mỗi chữ đọc lên nghe như một tiếng nức nở.

Rồi đến giấy giá thú, trên mười hai năm rồi qua bao nhiêu biến cố mà giấy vẫn nguyên lành.

Rồi đến những ảnh của chị, mắt trông u uất, miệng mếu máo y như bữa chị khấn Trời, Phật cho anh đi bình yên.

Sau lưng bức ảnh hai người chụp chung, có một dòng chữ chị chép lại câu anh đã nói, nét chữ rung rung như toàn thân một người đang khóc:

“Khi nào chúng mình gặp nhau, anh sẽ làm lễ cưới em lại”.

Cả một cái gì như sụp đổ trong lòng Sơn. Anh nằm vật ra giường.

Có tiếng gõ cửa.

Anh vẫn nằm yên. Chẳng dậy mở cửa. Mà cũng chẳng cất tiếng thưa.




0
 
Ông Ba kim
 
Văn xuống xe hấp tấp hơn mọi ngày. Anh lấy sức nhấc bánh trước lên cho xe qua bậc cửa. Chiếc bàn đạp quay trở lại đập vào chân anh làm anh buột ra một tiếng tục tĩu.
Anh vào bếp thấy vợ đang lom khom nhóm than, má ửng hồng trông đến hay. Anh áp cổ tay trái mình vào sát tai vợ. Vợ không quay lại, khẽ hỏi :
- Mua rồi hả?
- Ừ, mua rồi.
- Bao nhiêu?
- Tám.
- Đắt thế!
- Chưa biết ra làm sao mà đã kêu đắt. Cách đây vài tháng bác Tân mua một cái, kiểu năm ngoái, mà còn phải trả bảy ngàn hai.
- Ờ thế những tám ngàn cơ à! Tưởng mua một cái bảy tám trăm dùng tạm ai ngờ đâu lại rước cả một cái tám ngàn.
Văn lùi lũi đi ra phòng ngoài.
Cả bữa ăn trưa hôm đó, anh ăn uống chểnh mảng, mắt hết đưa về phía vợ lại nhìn xuống cổ tay. Vơ vẫn lầm lì. Anh gợi chuyện :
- Cái này tiện ở chỗ không phải lên dây.
- Anh đã đóng tiền học cho con chưa?
- Quên làm sao được. Này em xem này. Có cả lịch, chỗ chỉ ngày lại có một cái kính lồi lên, trông rõ lắm.
- Tháng này lại còn phải mừng con bác Tám lấy vợ.
- Dây da cá sấu thật đấy nhé.
- Tháng sau lại giỗ Thầy.
- Vỏ bơi hẳn hoi, anh có thể cứ đeo nguyên thế này nhảy xuống nước mà không việc gì.
- Người lạ thật. Nói một đằng thì lại cứ bắt chuyện một nẻo.
Văn thấy mình trái, không nói thêm nữa, ăn vội cho xong bữa rồi đi vào trong bếp lấy cái búa, lúc trở ra cầm nhăm nhăm ở tay. Anh tiến lại gần vợ, khẽ hỏi :
- Cho anh xin một cái đinh.
- Làm sao lại phải đinh?
- Treo lên chứ để ở dưới mấy ông con táy máy nghịch hỏng mất.
- Đến giờ ngủ trưa mà lại đem đinh ra đóng, không đề hàng xóm nghỉ à?
- Thế nào cũng phải treo lên đã.
Văn hơi ngạc nhiên thấy giọng nói của mình hôm nay cứng rắn khác hẳn mọi ngày.
Có đinh rồi, anh chọn đóng ngay ngắn, ngay trên đầu giường. Mọi lần khác đóng đinh thì hoặc chỏi tay không vào, hoặc vừa mới đóng đinh đã ngập lút trong vữa. Lần này đinh vào, vừa ngọt vừa đâm làm Văn thấy một cảm giác khoái trá rung từ đầu búa truyền vào cánh tay. Anh lấy ngón tay trỏ níu cái đinh xuống ướm thử mấy lần xem có thật chắc không.
Với một cử chỉ vừa khoan thai vừa trịnh trọng, anh tháo một cái dây cá sấu ở cổ tay ra, rồi treo cái đồng hồ mới mua vào cái đinh vừa đóng.
Trưa hôm đó anh chẳng ngủ gì cả, nằm nghĩ lan man mắt lúc nào cũng dán vào cái đinh.
Anh thấy bực mình với vợ lạ. Chị Văn mua bán thức gì, anh có bao giờ nói vào nói ra đâu, thế mà hễ đến lượt anh sắm sửa là y như chị ta bằng cách này hay cách khác tỏ vẻ không tán thành. Hoặc cho là không biết mà cả để phải chịu mua đắt, hoặc cho là sắm một món vô vị, chẳng dùng vào việc chi hết. Không biết những người đàn bà khác có giống chị Văn mà coi chồng như một anh chàng ngớ ngẩn hay không?
Kể ra anh cũng đã lầm lẫn nhiều lần, nhưng lần này thì nhất định anh không sai. Đã một tháng nay anh đi thăm gần hết các tiệm đồng hồ lớn, ngắm nghía đủ mọi kiểu, so sánh đủ mọi giá, trả ướm một vài lần rồi lại phải tính luôn cách tháo lui khi chủ tiệm thuận bán. Anh đã rụt rè cân nhắc, đã biết hết cả những nỗi lưỡng lự day dứt của sự chọn lựa, trước khi quyết định hẳn việc mua chiếc đồng hồ này.
Anh cho rằng chị Văn trong thâm tâm chắc cũng phải nhận là tuy đi mua có một mình không có chị bên cạnh, anh cũng đã chọn được một cái đồng hồ thật khéo. Nhưng vì đã lâu nay chị trót đóng vai thành thạo mất rồi nên chị phải khăng khăng từ chối không cho anh chia sẻ độc quyền tháo vát của chị.
Có thể là chị cũng tiếc tiền. Tám ngàn đồng! Dành dụm cả năm may ra mới được số tiền đó. Anh thừa hiểu như vậy nhưng thử hỏi xem có người đàn ông nào biết tiêu xài mà chịu dùng một cái đồng hồ dưới tám ngàn không?
Chưa đến giờ anh đã trở dậy, đến bên cái đinh và với một cử chỉ trịnh trọng như lúc tháo dây ra, anh lại đeo dây vào cổ tay.
Chị Văn vẫn nằm im như ngủ say lắm - Tức thật không có ai mà nói chuyện đồng hồ cả. Người đàn bà kỳ cục thế đấy! Có những lúc chồng cần một người bạn tâm sự thì người vợ cho đó không phải việc mình. Bây giờ mình nói chuyện với ai khác thì lại không bằng lòng.
Văn chợt nghĩ đến Tường, người bạn làm cùng một hãng buôn với anh. Tường có vẻ biết nhiều về đồng hồ, nhưng giờ này còn sớm quá hãng chưa mở cửa. Anh đi đi lại lại trong phòng, vẻ mặt vừa sốt ruột vừa sung sướng y như một anh nóng nảy có hẹn với người tình. Có lúc anh đưa tay trái lên áp vào tai, mắt nhắm thật say sưa, miệng lẩm bẩm: “Tiếng kêu có khác thật. Tanh, tanh, tanh, tanh... nghe giòn ghê”.
Không chờ được lâu hơn, anh dắt xe ra cửa, đi làm sớm hơn ngày thường đến mười lăm phút. Nghe tiếng xe vừa lạch bạch nổ, chị Văn nhỏm dậy ngay, hình như trước đây chị đã cố gắng nằm yên lâu quá, nay chồng đi khỏi, chị được đứng lên thoải mái hơn nhiều. Chị nói với theo tiếng xe đang tắt dần ở đằng xa: “Rõ điên, hàng trăm món tiêu mà ném ngay đi được tám ngàn”.
Gần đến sở, có một khúc đường xấu, xe xóc lên dằn xuống. Văn co tay trái lên để cho nó khỏi chịu cái sức rung của tay lái. Anh nghĩ thầm: “Để nó rung, dễ hại máy lắm”. Và thấy bằng lòng mình đã đủ thông minh biết co tay lên.
Sở vắng ngắt, chưa có ai tới cả. Văn vào phòng, vặn quạt lên, ngồi xuống ghế, để cánh tay trái lên mặt bàn, ngắm nghía, rồi tay phải rút khăn ra, lách vào trong dây, lau sau lưng cái đồng hồ:
“Nó cam đoan vỏ không gỉ, nhưng cứ cẩn thận là hơn”.
Tường hôm nay không biết có công việc gì mà mãi chưa thấy đâu. Khi Tường tới, Văn lúng túng như đã làm một điều gì xấu trong khi vắng mặt bạn.
Tường đến bên bàn Văn, nói một hai câu rồi trở về chỗ mình, không nhận thấy gì mới ở nơi Văn cả.
Hai người ngồi làm việc một hồi lâu, Văn nóng ruột quá, lại trước mặt Tường chìa cổ tay ra hỏi :
- Anh trông có được không?
Tường sửa lại cặp kính cho ngay ngắn rồi ngắm nghía với dáng điệu khoan thai của một tay sành sỏi :
- Được lắm - Kiểu mới đây. Tốt lắm đấy nhé.
- Anh thử đoán xem bao nhiêu?
- Ít nhất cũng trên tám ngàn.
Văn thấy nở nang từng khúc ruột, ở trên đời không gì thú bằng gặp được một anh biết người viết của.
Từ bữa đó có cái gì đổi thay ở nơi Văn. Anh ở nhà đến sở sớm hơn. Anh từ sở về nhà chậm hơn. Anh chỉ trích những người tới chậm. Anh cằn nhằn khi thấy vợ sửa soạn lâu. Hình như bây giờ đời sống của anh được dốc hết vào sự theo đuổi một tiêu chuẩn: giữ sao cho đúng giờ, cho mình đúng giờ, cho người xung quanh đúng giờ.
Mỗi khi đi qua Nhà thờ Lớn, Nhà Bưu điện, Bộ Kinh tế, chợ Bến Thành hay một nhà hàng nọ ở đường Tự Do, anh không bao giờ quên ngước mắt nhìn lên rồi lại cúi xuống cổ tay mình để so sánh. Ở chỗ này anh gật đầu khen đúng, ở chỗ khác anh lắc đầu chê chậm hay nhanh. Khi tiếp các khách hàng, anh không thể nào không liếc xuống cổ tay xem đồng hồ họ đeo kiểu gì và đang chỉ mấy giờ. Anh cũng biết tò mò như vậy là không tốt nhưng anh không thể nào tự kiểm chế nổi - Làm sao có thể khác được khi người ta làm chủ một bộ máy tinh mật, một công trình kỹ thuật hoàn hảo như cái đồng hồ của anh.
Gần hãng của Văn có xưởng kỹ nghệ kéo còi tầm rất đúng. Văn thường nói với Tường: “Tôi muốn thưởng cho anh chàng kéo còi quá”. Và cứ đến trưa khi bên kia tiếng còi tầm nổi lên thì bên này Văn giơ tay trái ra khoe với Tường: “Ba kim lại chập một rồi”. Có hôm vui vẻ hơn Văn bảo Tường: “Anh làm ơn tìm hộ tôi hai chiếc kim kia đâu, chỉ còn có một kim thôi”.
Lẽ tất nhiên muốn thành công trong trò chơi đó, Văn đã phải tính toán nhiều. Chỉ khi nào biết chắc còi với đồng hồ ăn nhịp với nhau và lựa một lúc thuận lợi nhất giữa hồi còi ngân nga anh mới giơ tay ra.
Dầu sao trò chơi đó cũng làm cho Văn nổi tiếng. Buổi trưa sắp đến lúc còi tầm, anh em trong hãng lại nhắc tới Văn, và Văn được mang biệt hiệu là ông “Ba kim chập một”. Có khi muốn vắn tắt hơn, họ gọi anh là ông “Ba kim” hay ông “Chập một”, nhưng muốn gọi cách nào, khi nghe đến tên đó ai cũng biết chỉ có thể là Văn thôi.
Văn không khó chịu về biệt hiệu đó, lại hãnh diện là đằng khác. Và anh cũng phải cố gắng để giữ cho xứng đáng với cái tên mới này.
Chiều chiều anh tìm bắt cho được đài phát thanh Luân Đôn để lấy giờ cho thật đúng và hôm nào bận việc gì quên đi, anh hậm hực như đã có một thiếu sót lớn lao.
Khổ công như thế mà đã có một lần anh không được đền bù. Một buổi lễ nọ, anh được nghỉ tới hai ngày rưỡi, nên bộ máy tự động của anh được treo lên cái đinh lâu quá đã chạy hết cả sức dây thiều. Tới ngày đi làm, khi anh đeo đồng hồ vào tay cũng không dè rằng ba cái kim đã nằm chết cứng không biết bao lâu, nay nhờ sự cử động của tay anh mới bắt đầu chạy lại. Cả buổi sáng hôm đó anh bận quá, chỉ đến lúc gần giờ tầm, nhìn xuống cổ tay anh mới chợt nhận thấy sự tai hại. Mặt trời gần tới đỉnh đầu rồi mà cái đống hồ tốt, cái đồng hồ chưa bao giờ sai của anh mới chỉ có năm giờ. Làm sao đầy? Chỉ một chút xíu nữa thì anh buột miệng hỏi giờ Tường. May mà anh nhớ ra kịp. Ông “Ba kim” lại đi hỏi giờ sao? Câu chuyện không có gì, sao anh thấy như đau đớn đến cả thể xác?
Càng tới gần mười hai giờ trưa thì anh càng thấy nôn nao.
Tiếng còi tầm bỗng nổi lên như xé. Anh đưa mắt thật nhanh xuống cổ tay rồi lùi lũi đi ra.
Từ đầu đến cuối Tường vẫn không hay chi cả.
Khi Văn ra đến gần cửa, Tường bỗng nắm tay trái Văn, kéo sát lên gần mắt, và hỏi bạn: “Nào, xem có chập một không nào?” Văn rút tay lại thật nhanh và gắt lên: “Này đừng có đùa nhả”.
Tường trố mắt nhìn Văn không hiểu tại sao vẫn là trò chơi thường ngày mà Văn lại có thể giận dữ đến như vậy.
📎 cbbl1
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.04.2015 01:13:46 bởi casau>
 
Đi mổ
 
Lúc thường những người ra vào đều dùng cửa nhỏ bên cạnh, nhưng khi xe chị Văn vừa tới thì hai cánh cửa lớn mở rộng, hình như với con bệnh này bệnh viện thấy cần phải săn sóc hơn. Văn bước xuống xe, bơ phờ, một tay đỡ vợ, một tay cầm lấy cái lẵng mây trong có ít quần áo, mấy trái cam, một bình thủy. Chị Văn gập người trên cánh tay chồng, tóc rũ rượi, mặt nhợt nhạt, mắt sâu hoắm, thỉnh thoảng lại khẽ rít lên một hơi qua hai hàm răng cho dịu cơn đau nhức nhối.
Một thứ mùi ngai ngái, dai dẳng quyện lấy không khí làm người ta nghĩ đến những cuộn bông, băng dầy cộm, những thuốc sát trùng nồng nặc. Qua những khung cửa sổ xám ngắt thỉnh thoảng lại hiện ra một vài bóng trắng, chập chờn giữa những giường sắt gầy gò, sơn một thứ màu trắng nay đã đổi thành một màu vàng bệnh hoạn.
Nếu không có những cơn đau dằn vặt, có lẻ chị Văn đã về ngay. Chị tiến tới chỗ của mình, leo lên giường một cách miễn cưỡng, nằm thở một lúc rồi đưa mắt nhìn quanh. Từ các giường bên, những cặp mắt lờ đờ, vắng sinh khí, đang mệt nhọc day về phía chị như muốn hỏi: “Làm sao mà tới đây?”
Chị chợt nghĩ đến các con ở nhà, giờ này không biết đã ai cho ăn uống gì chưa hay vẫn còn chạy rông ngoài đường, đánh lộn với trẻ con hàng xóm. Vắng mẹ, chúng nó có thấy thiếu thốn không? Con Bích bao giờ cũng ngủ với mẹ, đêm nay có khỏi quấy khóc không?
Những ý nghĩ đó làm chị ứa nước mắt.
Văn đi vào đi ra chẳng biết làm việc gì rõ rệt, nửa sốt ruột muốn về, nửa thương vợ muốn ở lại.
Bác sĩ tới. Chị Văn chờ đợi sẽ được uống ngay một thứ thuốc gì thật mạnh dứt hết cơn đau rồi được về với con, nhưng bác sĩ chỉ dặn người y tác ba hôm nữa cho chị đi chiếu điện. Ba hôm nữa! Từ nay tới đó, không biết có còn sống không, nói gì đến đi chiếu điện.
Sau đó, trong mười ngày liền chỉ thấy nghe với thử, nghe tim, nghe phổi, thử máu, thử nước tiểu và giữa lúc chị Văn bắt đầu quên là mình có bệnh thì bác sĩ cho biết bệnh chị phải mổ.
Phải mổ! Chỉ có nghe hai tiếng đó chị đã hoa mắt dưới ánh sáng xanh lạnh của con dao giải phẫu mà chị tưởng tượng phải lớn hơn, nhọn hơn, ngọt hơn con dao bầu mổ lợn. Chị đã thấy máu đỏ vọt ra, gan ruột lẩy nhầy như ở trong những hình ảnh Thập điện Diêm Vương vẽ trên tường các ngôi chùa. Chị đã nghe dội trong tai tiếng dao kéo lẻng xẻng, tiếng thịt da đứt xoèn xoẹt và không làm sao hiểu nổi mình lại vô phước đến như vậy.
Khi Văn vào thăm, chị vẫn còn nằm úp mặt trên gối, chồng hỏi gì cũng không nói. Một lúc lâu chị mới nhắc lại lời bác sĩ và bảo chồng: “Đằng nào cũng chết, thà em cứ để nguyên bệnh thế này, sống thêm được ngày nào với các con thì sống, chứ mổ là chết chắc chắn rồi - Không, anh cho em về đi, em nhất định không mổ đâu, cho em về đi”. Văn khẽ vỗ lên vai vợ: “Can đảm lên em”. Nhưng chính anh là người đang cần có một ai nói với mình một cầu tương tự.
Chị vốn là người dễ xúc cảm. Đi xem chiếu bóng gặp những đoạn đâm chém dữ dội, chị thường nhắm mắt lại, quay mặt đi. Và có lần đưa con đi nhổ răng, thấy bác sĩ cho kìm vào trong miệng con, lôi ra cái răng hư với chút máu ở chân răng, chị đã ngất xỉu đến nỗi bác sĩ phải để đứa con đấy mà ra săn sóc người mẹ.
Bây giờ cũng con người đó nói chuyện phải đi mổ. Văn không tin rằng vợ mình sẽ đủ sức qua được cơn thử thách này. Mà nếu không qua... anh sợ quá, không dám nghĩ tiếp nữa.
Họ hàng bè bạn cũng chia ra làm hai phe, chẳng biết nghe ai cả, vừa mới cho người này nói là phải đã thấy người kia khuyên cũng có lý.
Điểm làm cho vợ chồng Văn phân vân nhất là phe nào cũng dẫn ra những bằng chứng cụ thể. Bà cụ đẻ ra Văn nhất định cho rằng phương pháp trị bệnh Âu Tây thường mạnh bạo quá không thích hợp với thể chất người Á Đông và theo cụ, chỉ ba thang thuốc tiêu của ông lang Chợ Đuổi là dứt bệnh: “Mợ xem bà cả Thìn đấy, trước đây bác sĩ cũng bảo mổ, bà ta không chịu, bỏ ra về xin đơn thuốc ông lang đó uống, nay còn bệnh tật gì nữa đâu?”
Cô em chị Văn lại kể chuyện người bạn mình ốm yếu gầy nhom, mổ xong lên cân đến mười ký, rồi lại vừa sinh đứa con trai thật kháu khỉnh.
Chị Văn như trôi nổi lềnh đềnh, giạt đi giạt lại giữa những luồng ý kiến trái ngược đó. Chưa biết quyết định ra sao thì một việc xây ra đã làm chị hoang mang thêm - Bà bạn nằm cùng phòng, đến ngày đi mổ, đã lẻn trốn biệt dạng từ sáng sớm, chồng con tìm đâu cũng không thấy nữa.
Nhưng dần dần chị làm quen với cái không khí đau thương của bệnh viện. Một thứ tình bạn mới cũng đã chớm nở giữa những người cùng cảnh ngộ. Họ chưa biết nhau bao giờ nhưng gặp nhau trong một khung cảnh bệnh não xót xa, mỗi người đã quên phần nào nỗi đau khổ riêng của mình, để làm nhẹ nỗi đau chung, cho tất cả cùng đủ sức bấu víu vào sự sống. Họ biếu nhau tấm quà miếng bánh, chia sẻ nhau từng nụ cười, từng hy vọng. Họ kể cho nhau nghe về con cái, gia đình, họ còn có gì phải giấu nhau khi họ đã phô trần trước mắt nhau những sự thực thầm kín hơn nữa. Đêm đêm nếu có người nào không nén được tiếng rên, tiếng khóc, người bèn cạnh sẽ tới bóp chân, xoa đầu tìm lời nựng nịu. Họ đến để săn sóc bệnh mình mà ai cũng thấy mình phải săn sóc bệnh người khác và khi có một người trong bọn đã lấy lại sức khỏe họ thấy như chính họ đỡ đau rồi.
Cái không khí đùm bọc đó như là một thứ nệm êm ái làm người ta quên những giường sắt khẳng khiu và có lúc chị Văn không nhớ ra mình đang nằm nhà thương mà tưởng như hãy còn là nữ sinh nội trú trong một trường trung học. Chị đã bớt thấy ghê rợn với cái ý nghĩ phải đi mổ.
Bên tay mặt chị là một bà cụ, đã ngoài sáu mươi, phải mổ để gắp một viên đạn bắn vào bụng mà vẫn khuyên chị bằng một giọng vui vẻ:
“Sống chết mạng trời chẳng việc gì mà lo. Chữa cho khỏe hẳn có sướng không - kéo dài bệnh hoạn chỉ làm khổ chồng con”.
Cô nằm giường bên tay trái, vén ngay áo lên, chỉ vào mấy cái sẹo trên bụng rồi nói:
“Chị xem em đây này, mổ hai lần rồi, bận này nữa là ba. Các cô y tá trên khu giải phẫu quen nhẵn mặt em rồi. Chiều nay em đưa chị lên giới thiệu, đến phiên chị, các cô ấy trông nom cẩn thận cho. Chẳng sao đâu. Bác sĩ này mát tay lắm, rồi chị coi”.
À, phải mấy người bạn tri tình này nói mới tin được. Sau khi được giới thiệu với nhân viên phụ trách, sau khi được coi tận mắt mấy người vừa mới mổ xong, chị thấy vững dạ quá. Hình ảnh mũi dao nhọn thích vào bụng mình không gợi cho chị cái cảm giác như lừa cháy trên da thịt nữa. Và chị bình tĩnh chờ.
Nhưng trước hôm đi mổ, chị lại thấy nôn nao một cách khó tả - Mắt những người bạn cùng buồng nhìn chị hôm nay có chút xót xa thương hại. Chị được phép về nhà, và khi đi qua một tiệm bán quần áo trẻ con may sẵn, chị vào chọn mua cho ba con một số đủ mặc trong một năm.
Chị thu xếp lại các giấy má, dọn dẹp thật gọn các ngăn tủ để ai nấy có thể không cần chị cũng tìm thấy các thứ một cách dễ dàng.
Chị gọi u già lên, tính hết công xá, và trả lại cái vòng vàng u vẫn gửi chị.
Chị tháo đôi hoa tai đưa bà cụ mẹ chồng:
“Con biếu mẹ. - À, còn bát họ mua rồi của bà giáo Kính, phải đóng ba tháng nữa, mỗi tháng hai ngàn, mẹ nhớ nhắc nhà con đóng nốt”.
Chị đem lau bức ảnh của mình và nghĩ thầm:
“Cũng may mà chụp lúc còn béo tốt - Bây giờ mới chụp chắc xấu như ma”.
Có một ngày thôi mà chị thấy còn nhiều việc phải làm quá!
Mọi người trong nhà gượng nhẹ, nghĩ hết cách để chiều chị. Ai nấy cố gây một không khí vui vẻ nhưng vẫn có cái gì nặng nề đè trĩu lên từng lời nói, từng cử chỉ.
U già dọn một bữa cơm chiều thật ngon lành nhưng cả nhà ăn uống chổn chảng. Văn nhìn các con rồi nói: “Hôm nào mẹ mổ xong, khỏe hẳn rồi, bố khao chúng mày môt bữa chim quay đã đời”.
Không thấy đứa nào vỗ tay reo hò như mọi khi.
Cơm xong, bà cụ ra bàn thờ Phật, thắp hương, tụng kinh cứu khổ. Văn hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Chị Văn lúi húi ngồi viết ở một góc bàn, không ai hiểu chị viết gì, nhưng dáng điệu hình như không muốn cho ai lại gần. Mấy đứa trẻ hết nhìn bố lại nhìn mẹ, còn u già ngồi rửa bát ngoài sân nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc trộm lên phía chị Văn.
Bỗng chị gọi các con:
“Hôm nay cho cả ba đứa ngủ với mẹ”.
Ba đứa rúc vào nách mẹ như mấy con gà con. Chị nhẹ đưa tay lên mặt từng đứa, vuốt sống mũi đứa này, sờ vành tai đứa kia, như muốn thâu tóm hết những nét thân yêu đó vào trong hai bàn tay. Chị khẽ nói với chúng:
“Vắng mẹ, các con phải ngoan nhé”. Rồi cứ thấy như nghẹn tắc ở cổ. Đứa con gái đang hôn lên má mẹ, bỗng thấy mặn ở đầu môi, bèn kêu lên: “Mẹ khóc đấy à mẹ?”
Văn đến bên đầu giường, chị giơ tay nắm lấy tay chồng. “Anh có thương em không?”
Văn không đáp chỉ ghì chặt tay vợ trên ngực mình.
* * * * *
Những việc xảy ra hôm mổ chỉ còn để lại trong óc chị Văn một vài hình ảnh lờ mờ.
Một phát tiêm ở cánh tay. Có ai bảo chị đếm 1, 2, 3,... Cái ấm ức của một người muốn tỉnh mà bị thuốc mê ngấm... Chồng có đây không nhỉ... các con đâu... một ánh đèn chói lòa... Sau đó là hư không.
Văn đi đi lại lại ngoài hành lang, vừa lo vừa buồn, bỏ cả cơm trưa, chờ đến chiều mới được vào thăm vợ. Chị vẫn chưa tỉnh, chân tay còn buộc vào thành giường, mắt nhắm nghiền, người gầy tọp, nước da xám ngoét.
Hết giờ thăm người bệnh, anh chán nản bước ra, chưa nói được với vợ câu nào để vợ nằm lại chênh vênh giữa cái sống và cái chết. Ngoài sân bệnh viện, bóng chiều chập choạng sắp tắt hẳn trên những hàng cây thê lương.
“Trời ơi! Đau quá!” Chị Văn đã bắt đầu tỉnh lại. Chị chẳng còn đủ sức nghĩ tới việc chi cả, chỉ thấy toàn thân nặng trịch và bụng đau ê ẩm.
Trong năm, sáu hôm liền, chị vẫn sốt và máu ra nhiều, hy vọng sống càng ngày càng mỏng mảnh. Mỗi lần mở cửa vào buồng chị, anh rón rén chỉ lo một luồng gió lọt vào cũng đủ sức tắt phụt cái hơi sống còn leo lắt kia. Anh tiến đến bên giường vợ mà run sợ không biết rằng dưới cái mền trắng nọ còn có cái gì thoi thóp không, hay tất cả đã im lìm lạnh ngắt rồi.
Nhưng không, đôi mắt chị vẫn mờ, có lờ đờ mệt nhọc nhưng vẫn bám chặt lấy ánh sáng bên ngoài. Chị thấy rõ ràng nếu không cố gắng thì chỉ một phút buông trôi, đôi mắt mình sẽ nhắm hẳn, và tất cả chỉ còn là đêm tối.
Nhìn nét mặt xót xa của chồng, nhìn những người bạn tới thăm khẽ quay đi lau vội nước mắt, chị đo được hết sự gay go của một cuộc vật lộn chênh lệch.
Nhưng chị không tuyệt vọng - Bác sĩ đến tiếp máu cho chị và ngắm dòng máu đỏ tươi đang rỏ giọt vào cơ thể mình, chị thấy như cả Sức Sống mầu nhiệm đang cuồn cuộn chảy trong huyết quản, đang rân ran chạy khắp nơi đánh thức từng đầu gân, thớ thịt. Không, nhất định chị sẽ thắng! Nhất định chị sẽ sống.
Văn mở cửa sổ trông ra đường và ra một dấu hiệu nhỏ - Ba đứa con đứng ngoài hàng rào, do thằng lớn cầm trịch, hô từng tiếng một thật đều: “Chúc mẹ chóng khỏe, về với chúng con. Chúng con nhớ mẹ lắm”.
Đôi môi của chị héo hắt từ lâu bỗng nở một nụ cười. Tiếng hò của mấy đứa con thân yêu vang dội như tiếng kèn trận và thổi lùa vào phòng chị nằm một nguồn sinh khí mới.
* * * * *
Thằng Tùng, thằng Long, con Bích hôm nay đều mặc quần áo đẹp. Chúng khoe với trẻ con hàng xóm:
“Tao đi đón mẹ tao đây”.
Hình như mấy tháng trời vắng mẹ, chúng đã thấy thua kém bọn kia, nay mới có dịp được đền bù.
Văn dẫn vợ vào phòng bác sĩ và nói với ba đứa nhỏ:
“Các con có biết nhà ta mang ơn bác sĩ như thế nào không? Các con nói cám ơn bác sĩ đi”.
Sau đó chị Văn đi chào hết một lượt các cô y tá, các bạn cùng phòng, nỗi mừng được khỏi bệnh về với gia đình lại càng làm chị nhớ thấm thía những người bạn đã chia sầu sẻ não với chị.
Tối hôm đó, Văn đang thu dọn những đồ mang ở bệnh viện ra, bỗng để ý tới một phong bì mang tên anh. Bên trong là bức thư chị đã lúi húi ngồi viết, bữa trở về ngủ một đêm với các con trước hôm đi mổ:
“Anh,
Khi hai vợ chồng ta lấy nhau, có ai ngờ được rằng em 30 tuổi đã phải viết chúc thư để lại cho chồng và anh 36 tuổi đã gặp nghịch cảnh trung niên chôn vợ.
Em đi mổ lần này, mười phần chết không có một phần sống, nên em để ỉại thư này xin anh tha hết lỗi cho em nêu trong thời gian ngắn ngủi hai vợ chồng sống bên nhau, em đã làm anh buồn phiền hay em đã không chiều anh hết mực.
Em không dám nghĩ như một chị bạn em trước khi chết đã nắm lấy tay chồng mà năn nì: “Dầu anh nói dối em cũng được, anh hứa với em đi rằng em chết anh sẽ không lấy ai”.
Không, em không có sợ gì anh lấy vợ khác. Em chỉ lo anh không trông nom đến các con, bỏ mặc chúng lêu lổng đến nỗi chúng đã thiếu tình mẹ lại còn thiếu cả những cơ hội thành người.
Thiếu tình mẹ là do em bạc phước nhưng còn nên người được hay không là trông cậy nơi anh. Em chỉ xin anh có một điều: Trông nom lấy các con anh nhé, nuôi nấng dạy dỗ chúng cho chúng được tự hào là con anh con em. Em không viết được dài hơn nữa.
Người vợ chết rồi cũng hãy còn yêu anh”.

Văn đọc xong, cầm bức thư đưa trả vợ rồi mỉm cười: “Thế bây giờ sống thì sao?”

📎 cbbl2
0
Dưới mắt du khách
 
John S., người Mỹ, sang thăm Việt Nam một tháng và trong thời gian này thường viết thư về cho vợ kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Một vài nhận xét có thể hấp tấp hay sai lầm nhưng cũng cho biết thêm về hình ảnh của chúng ta dưới mắt một du khách ngoại quốc.

Saigon, ngày............
Dora,
Nếu ở Nữu ước người ta phải vặn gập cổ về đằng sau để ngắm một thành phố cao tắp thì ở Saigon tầm mắt được nghỉ ngơi trên những rặng cây xanh làm cho đường phố thân mật hơn.
Đường không rộng nhưng đủ các loại xe. Ở Mỹ ta chỉ thấy xe hơi, ở Hòa Lan hay Đan Mạch nhiều xe đạp, ở Ý nhiều sì-cút-tơ nhưng ở đây xe gì cũng nhiều, mỗi loại xe lại có vài biến thể. Xích-lô có thứ lững lờ do một người êm đềm ngồi đạp ở đằng sau, có thứ chạy bằng máy hung hăng như một cơn gió lốc và phun khói như những tầu thủy em thường thấy trên sông East River. Xe bò lạch cạch nghênh ngang không buồn để ý đến nhịp thời gian. Xe hơi có những kiểu ra đời cách đây đã đến hơn nửa thế kỷ sánh vai với những kiểu tối tân lộng lẫy, trông cặp kè như đôi vợ chồng quá lệch tuổi.
Sức chứa của các xe thật ngoài sức tưởng tượng. Anh đã gặp một xe mô-tô, người chồng cầm lái, hai đứa con ngồi trên bình xăng đằng trước, và người vợ bế đứa con thứ ba ngồi đằng sau. Sì-cút-tơ được lắp thêm một thùng xe, chở được từ sáu đến tám người với một số hàng hóa.
Nhưng ngoạn mục nhất có lẽ là xe ngựa. Ngựa có một nắm lông ở trên đầu, cổ đeo nhạc, và khi xe chạy, vó ngựa lốp bốp như chân một cặp tài tử nhảy thiết hài trên sân khấu Broadway.
Tất cả các xe đó len lách, chèn, vượt, chẳng theo gì hàng lối đã vạch trên mặt đường mà không thấy vướng nhau. Nhưng rủi có hai xe đụng nhau là cả một con đường nghẹt lại. Anh đã thấy một xe đạp chạm nhẹ vào một xe gắn máy, chẳng xe nào hư hao chi cả. Tưởng hai người sẽ cười với nhau rồi lên xe đi cho khỏi mất thì giờ nhưng không, họ để hai chiếc xe nằm ềnh giữa đường rồi đứng đấy chẳng nhìn nhau mà cũng chẳng nói với nhau. Anh vội đi nên không ở lại xem đến hết, không biết rồi về sau câu chuyện kết cục ra sao?
Lạ nhất là giữa cảnh xe cộ hỗn độn đó, khách bộ hành đi đứng thản nhiên chẳng khác gì đang dạo chơi vườn cảnh.
Tuy là một hải cảng, Saigon không có cái không khí đặc biệt của một bến tầu như khu Manhattan của Nữu Ước. Bờ sông ở đây trông trang nhã như một vườn cảnh, có sân golf tí hon, có vườn chơi cho trẻ nhỏ. Những đêm nóng nực một vài gia đình mang chiếu ra trải trên cỏ cho mấy đứa con nằm ngủ trong khi người cha và người mẹ ngồi vừa hóng gió vừa ăn những khẩu mía cắm vào một chùm tăm tre vót tỏa ra như một bó hoa.
Các cửa tiệm bày biện hơi tham lam, nên kiếm chọn hàng rất khó. Mình là người ngoại quốc muốn đi tìm những hàng đặc biệt Việt Nam thì chủ tiệm lại chỉ khoe với mình hàng Mỹ và tỏ vẻ ngạc nhiên trước sự dửng dưng của mình. Chen vào giữa các tiệm buôn thỉnh thoảng lại hiện ra những tấm biển đạo mạo ghi tên một trường học Anh ngữ. Mua bán còn phải mà cả thành ra sắm cái gì đó có ai hỏi giá, mình cứ nơm nớp sợ họ chê đắt. Nhưng ai nấy đều khen rẻ, như không nỡ đem việc mình mua hớ ra chế giễu. Các nhà buôn lại tin rằng người khách đầu tiên vào buổi sáng có ảnh hưởng cho trọn ngày nên tốt hơn hết là mình tránh làm người khách đó kẻo đã vào mà không mua cứ thấy như mình mắc lỗi với chủ hàng.
(Những đoạn sau trong thư chỉ có tính cách gia đình nên không trích đăng).
J.S.

Saigon, ngày......................
Dora,
Người Việt nhỏ nhắn, tính nết kín đáo và hiếu khách. Anh trông họ, người nọ cứ hao hao giống người kia và) khó lòng mà đoán được tuổi họ. Có lần một người kia còn trẻ lắm hỏi anh: “Ông đoán tôi bao nhiêu tuổi?” Anh ngắm nghía thật kỹ thấy da chưa nhăn, má còn đầy nên đã trả lời “Từ 36 đến 38”. Khi nói vậy, mình đã nghĩ tăng lên vài tuổi thế mà người kia phá lên cười: “52 rồi ông ơi, con trai lớn của tôi năm nay đã 33”.
Đàn bà Việt càng có tuổi hình như càng đẹp ra nên hỏi tuổi họ, không phải là một điều vô phép.
Các bà trang điểm nhiều hơn các cô, và ai đi qua Việt Nam cũng phải chịu áo dài phụ nữ là đẹp. Thật là uyển chuyển, thật là mềm mại. Mỗi bước đi tà áo lả lướt chẳng khác gì những cánh hoa phong lan.
Họ mặc quần chùng áo dài nên họ không lo sợ những cơn gió tinh nghịch như đàn bà Âu Mỹ, trái lại gió càng làm tôn vẻ người họ lên.
Thời trang không thay đổi nhiều từ năm này qua năm khác - (Người đàn ông Việt Nam may mắn hơn chúng ta ở điểm này chăng). Gần đầy các bà Việt Nam cũng đã nghĩ canh cải áo dài của họ nhưng không phải sự thay đổi nào cũng hợp với thẩm mỹ - Có những cổ áo cao quá làm đầu họ cứng nhắc, có những eo chật quá trông như buộc một sợi dây ngang lưng.
Ngắm một đôi vợ chồng người Việt ở ngoài đường ta thấy cả một sự tương tranh giữa ảnh hưởng Tây phương và những quan niệm cổ truyền Á Đông - Người chồng, khi nào nhớ ra thì nhường vợ đi trước, mở cửa cho vợ lên xe, lúc quên thì lại mặc vợ lẽo đẽo đằng sau, hay để vợ tay xách nách mang không đỡ đần chi cả. Có khi ở tiệm ăn ra mà người chồng thản nhiên để vợ móc ví trả tiền. Thực ra trong vài trường hợp người chồng cũng không làm gì hơn được vì có bao nhiêu tiền đã đưa vợ giữ hết.
Ở Nữu Ước, có lần em chỉ ra mua đồ ở tiệm Macy’s, anh ngồi uống ly cà phê với người bạn ở xóm Greenwich mà chúng ta cũng thấy cần gọi điện thoại cho nhau. Vợ chồng người Việt yêu nhau một cách lặng lẽ hơn, thầm kín hơn và tránh cả những cử chỉ thân mật trước công chúng.
Các gia đình không thấy tổ chức những buổi họp mặt cho con trai, con gái mới lớn lên có dịp gặp gỡ làm quen. Anh không rõ họ làm thế nào để hai bên hiểu biết tính tình trước khi lấy nhau. Anh có hỏi một thanh niên về chuyện đó và được anh này trả lời: “Ồ đã có mẹ tôi lo” - Không biết anh ta nói đùa hay nói thật.
Nhà nào cũng đông con - Có bà 30 tuổi mà đã 9 con rồi nghĩa là một mình bà ta đẻ bằng cả 5 gia đình Bob, Richard, Henry, Arthur, David cộng lại. Thế mà hỏi có định đẻ nữa không, bà ta vẫn mỉm cười một cách nhiều ý nghĩa.
Trẻ con chơi rất ít, học rất nhiều. Người ta đã kể cho anh nghe một em 13 tuổi mỗi ngày phải làm mười bài toán, người cha ngồi bên cạnh gào thét, thúc giục. Học sinh gần như không nghỉ hè. Bãi trường chừng mười ngày chúng đã cầp sách đi học lớp hè và chỉ còn năm ngày trước khi tựu trường chúng mới lại được nghỉ. Khi chúng chơi, cha mẹ cũng không muốn cho chúng hò la inh ỏi, chỉ muốn chúng chơi ngoan. Cho nên trò chơi mà anh thường gặp nhiều nhất là thấy hai đứa trẻ cúi đầu trên một mảnh giấy kẻ ô vuông, đứa gạch chữ thập, đứa vẽ vòng tròn, đứa nào kéo dài được năm ô liền không bị đứa kia cắt ngang thì được cuộc.
Trong khi đó, ở bên ta trẻ con suốt ngày nhai kẹo gôm, xem vô tuyến truyền hình hay chơi baseball.
Phải công nhận về điểm này trẻ con Mỹ chúng ta hư hỏng quá và chúng được nuông chiều quá đáng.
J.S

Saigon, ngày.....................
Dora,
Hồn thơ của người Việt thật là phong phú - Bất cứ cái gì cũng gợi hứng cho họ làm thơ được, không những chỉ có chuyện tình cảm mà các vấn đề hành chánh, kinh tế, kỹ thuật họ cũng ngâm vịnh được. Các báo chí, ngay các báo hàng ngày và một số báo chuyên môn, số nào cũng có cột đăng thơ.
Người ngoại quốc tới đây khó mà phân biệt được ai là người Bắc, ai là người Nam. Những sự thử thách dân tộc Việt phải chịu đựng đã mài giũa dần các dị biệt địa phương. Tuy nhiên vài người Bắc thỉnh thoảng vẫn xuýt xoa nhắc cho ta chỉ có gạo vùng họ mới thơm, cam nhãn đất họ mới ngọt, lợn gà quê họ mới ngon. Tâm lý này dễ hiểu - Ai chẳng thấy quê hương mình là đẹp: bên Mỹ cũng vậy, người California thì hãnh diện về trái cây xứ mình, còn người New Orleans lại tự hào về khách sạn của họ. Nhưng tại sao chúng ta lại không tỏ lòng yêu nơi chôn rau cắt rốn mình một cách khác hơn là cứ so sánh các sản vật vùng mình với sản vật vùng khác.
Tuần trước, anh được mời dùng một bữa cơm Việt Nam. Trông thấy đĩa bầy trên bàn mà hoa cả mắt. Tất cả các món đều đưa lên một lúc chứ không có món trước món sau. Khách còn đang phân vân chưa biết dùng món nào thì bà chủ đã gắp cho đầy bát. Tay mình cầm đôi đũa dài, lêu đêu nhặt từng hạt cơm, chẳng khác gì một con chim mỏ dài đang mổ vào trong bát. Bà chủ không nói tiếng Anh, suốt mấy tiếng đồng hồ chỉ khẽ gật đầu, khẽ mỉm cười mà cũng đủ để cho mình thấy cách tiếp khách của bà thật là ý nhị. Các món ăn đều thái nhỏ và thường thường là nhạt nên phải chấm vào một thứ nước mặn, mùi rất nặng nhưng dùng quen lại thấy vị thật đậm đà.
Cơm xong ông bà chủ cho đi coi hát. Một số khá đông khán giả mang con cái đi theo. Phải chịu những đứa nhỏ này tài thức khuya. Trong khi ở bên Mỹ các bạn chúng đã lên giường từ lầu thì ở đây chúng còn ngồi mắt thao láo theo dõi từ đầu đến cuối thật chăm chú và không lúc nào tỏ ra buồn ngủ.
Người phương Tây xem ca kịch Á Đông không thể tránh khỏi một vài bỡ ngỡ. Xem tuồng cổ chẳng hạn chúng ta quá chú trọng về sự diễn tả lại sự thực lịch sử nên chúng ta khắt khe với những điểm nào sai lầm về thời đại. Nhưng bữa đó, anh đã thấy giữa một triều đình cổ, ban vũ biểu diễn một điệu nhảy mới thịnh hành ở Mỹ cách đây vài năm.
Có một bản ca gì rất được nhiều người hoan nghênh, tài tử vừa mới hát xong câu thứ nhất còn đang hạ giọng xuống thật trầm, cả rạp đã vỗ tay vang như sấm.
Chúng ta có thói quen vỗ tay sau khi màn buông xuống và hết màn cuối cùng chúng ta vỗ tay nhiều lần cho tài tử ra chào khán giả, càng ra chào nhiều lần là càng được hoan nghênh. Xem hết vở tuồng ấy anh cũng làm như vậy, nhưng quay đi quay lại chẳng thấy ai hưởng ứng cả chỉ riêng có mình vỗ tay, nghe mới vô duyên lạc lõng làm sao!
Ảnh hưởng Đông, Tây còn hòa trộn trong những lãnh vực thật bất ngờ. Anh đã gặp một đám ma, đối trướng chữ Hán đi giữa các vòng hoa cườm, phường bát âm mở đường cho xe ngựa phủ đen, theo sau là thân nhân mặc mầu tang trắng, bạn bè phì phèo thuốc lá, kể lể hàn huyên.
Người Trung Hoa ở Saigon còn dùng cả những nhạc cụ Tầy Phương, kèn đồng, trống lớn, đi cạnh một xe tang chạm trổ trang hoàng như một cung điện nhỏ. Trong lúc đám ma từ từ kéo dài trên đường phố thì kèn kia vang lên một bản nhạc, có trống nọ đệm nhịp, làm những anh gánh heo quay dẫn đầu cũng lắc lư theo tiết điệu. Có người còn nói với anh đã từng thấy nhạc cử bài “Si tu reviens” (nếu anh trở lại), không biết người chết mà còn nghe được thế sẽ nghĩ sao?
Thấm thoắt đã gần đến ngày về và anh đã giữ chỗ máy bay thứ tư tuần tới. Một bạn người Việt có hỏi cảm tưởng của anh sau một tháng lưu lại Saigon. Anh nghĩ rằng thành thực nhất là nhắc lại những đoạn thư đã viết cho em - Có thể đúng, có thể sai, nhưng điều anh mong mỏi nhất là những nhận xét của anh sẽ không để cho người bạn Việt phiền lòng vì không gì buồn hơn là làm buồn một người bạn.
J.S

0
Bài toán khó
 
Văn loay hoay mãi không ra. Thằng Tùng gối cằm lên hai cánh tay khoanh trên mặt bàn rồi hếch mũi nhìn bố. Nó không tỏ vẻ gì sốt ruột mà hình như còn thích thú trong khi bố nó viết viết xóa xóa dầy đặc bốn, năm trang giấy mà chưa tìm ra lời giải bài toán lớp đệ tam của nó. Văn không nhìn con nhưng vẫn thấy cái nhìn của nó đè nặng trên người mình. Anh lại cúi xuống giấy, vận dụng hết sức lý luận, moi móc ở trong ký ức rung mờ một vài điểm tựa nào còn vững chắc để bấu víu vào đó mà ra thoát bước khó khăn này.
Chẳng qua chỉ tại anh nhiều tự tin quá - Thấy thằng Tùng sau bữa cơm tối cắn mãi quản bút mà không làm xong, rồi liếc qua để bài toán cũng không có gì khó lắm, anh đã hăm hở ngồi xuống, nửa muốn giúp con, nửa muốn cho nó được tự hào về phong độ của một người cha tuy rời nhà trường đã gấn hai chục năm mà vẫn còn có thể để cho lớp người đang lên thán phục. Anh vẫn thường khoe với các con:
“Toán ở trường Bưởi ngày xưa thì chỉ có ba với bác Hải chia nhau dẫn đầu lớp. Bọn tao trước học khó nhiều Đíp-lôm khó bằng Tú tài bấy giờ - Ba coi bộ chúng mày ì ạch lắm”.
Nhưng bài toán hôm nay thật hiểm hóc - Nó cho người ta chơi vơi, lạc lõng, giữa lúc tưởng gần như tới đích thì lại phải làm lại từ đầu. Văn thấy để cho con ngồi chờ, vừa mất giấc ngủ của nó, vừa cho nó cơ hội chứng kiến quá lâu sự lúng túng của mình, nên đã bảo con:
“Khuya rồi, con đi ngủ trước đi - Ba tìm ra, sáng mai dậy ba giảng cho con”.
Tùng lên giường, Văn bình tĩnh hơn - Anh mở cuốn sách toán xem kỹ lại mấy bài giảng về lý thuyết rồi quay trở về bài toán.
Lần này anh làm xong - anh vươn vai một cách thật khoan khoái, và muốn đánh thức con dậy ngay lúc đó cho nó coi - Anh chỉ bỏ ý định ấy khi nhìn đồng hồ đã chỉ một giờ đêm và nghe tiếng con ngáy nhẹ đều ở giường bên.
Anh tưởng rằng sau phút tự hào đã vượt được một khó khăn anh sẽ ngủ ngon lắm. Nhưng không, cái bài toán thiếu chút nữa đã làm anh vấp đổ, cái bài toán lớp đệ tam đó còn lởn vởn mãi trong đầu anh.
May mà anh đã tìm ra lời giải. Nếu không xong, anh không hiểu sáng hôm sau sẽ nói với con sao, và thằng Tùng sẽ nghĩ sao về ba nó?
Nó còn tin rằng ba nó với bác Hải đã luôn luôn dẫn đầu lớp về toán ở trường Bưởi nữa không? Lại còn những thành tích khác của thời học sinh mà ba nó vẫn thường kể lại - mắt sáng và giọng say sưa - cốt để khuyến khích nó, lúc bấy giờ chắc nó sẽ cho cũng đại loại như tài làm toán kia thôi.
Lần này thì chưa sao, nhưng với sự học mỗi ngày mỗi tiến của con, liệu anh còn vượt qua trôi chảy được bao nhiêu lần nữa. Dầu sao cũng có lúc anh sẽ chồn chân đứng lại như con ngựa đua già ngập ngừng trước giậu chắn cao.
Anh có cảm tưởng là các con anh chờ đợi ở anh nhiều thứ quá - Đối với tuổi chúng một người cha chịu nhiều thiếu thốn để nuôi con hình như chưa đủ. Muốn được chúng nó thật kính phục, có lẽ ba nó còn phải đá banh hay, thả diều tài, câu cá giỏi, trả lời được những câu hỏi oái oăm của chúng về các kiểu xe hơi hay về cách phóng vệ tinh.
Anh không có đủ những cái tài kia nhưng làm toán thì anh không thua nhiều người. Từ trước đến nay, thằng Tùng vẫn chịu ba nó là giảng kỹ và dễ hiểu hơn cả ông giáo ở trường. Điểm đó làm đẹp lòng tự ái của anh không ít. Vì thế mà bài toán hôm nay đối với anh như là một thách đố.
* * * * *
Sáng hôm sau thằng Tùng vừa dậy, anh đã cho nó coi bài giải. Nó cũng chẳng hỏi ba nó đã phải thức bao lâu mới làm xong. Nó chép vội chép vàng vào quyển vở rồi đi học, không nghĩ gì đến cám ơn, hình như nó coi việc ba nó phải giúp nó là chuyện dĩ nhiên.
Buổi trưa hôm đó, ở trường về thằng Tùng cũng chẳng nói cho ba nó nghe nó được bao nhiêu điểm. Hình như nó đã quên cả chuyện bài toán rồi - Chính Văn phải gạn hỏi:
“Thế nào bài toán thầy giáo bảo sao?”
Lúc đó nó mới trả lời, với một giọng chán chường không thể nào chịu được ở miệng một đứa trẻ:
“Ba làm đúng cũng như không, ba đặt sai dấu phẩy”.
Thằng Tùng nói thật mà anh thấy như mình bị châm chọc. Anh bắt nó đưa vở cho anh coi và trước sự hiển nhiên anh mới chịu tin là mình lầm. Giá không làm được còn đỡ tức, đằng này làm đúng chỉ vô ý mà thành sai. Văn chẳng khác một tay cao cờ, đang cơ thắng, lỡ một nước đi để sa vào thế bại. Anh không nói gì ra ngồi vào bàn ăn, gõ mấy đầu ngón tay xuống mặt bàn, mỗi lần ngón tay mổ xuống anh lại trút được một ít bực dọc đang âm thầm dày vò anh. Có lúc anh đang gõ, bỗng nắm cả bàn tay lại đấm mạnh lên một chút. Giữa lúc đó thằng Long, thằng con thứ hai của anh, đi học về, quần áo xộc xệch, dáng điệu lấm lét. Đi qua chỗ anh, nó hơi nghiêng mặt đi như giấu diếm cái gì. Anh gọi nó lại, nó che tay lên má rồi mới tới gần, mắt dò xét chờ đợi từng cử chỉ của ba nó.
Anh kéo tay nó xuống và thấy trên má một vết cào dài - Anh hỏi:
“Đánh nhau với đứa nào?”
Nó mếu máu như muốn khóc rồi kể lại:
“Thằng Đắc nó khoe bố nó đi xe máy như bay, nó bảo ba ngủ gật trên tay lái, đã thế lưng lại còn còng như lưng tôm. Con tức quá, con đánh nó và nó cào con”.
Anh nhìn vết thương của con mà thấy như đau xót trên má mình. Trước mắt các con, anh đã phơi bầy nhiều bằng chứng về sự sút kém của anh. Làm toán thì sai, đi xe máy lại ngủ gật và còng lưng tôm. Thế này thì quá lắm rồi - Anh không để cho ai chế nhạo anh hơn nữa. Anh phải làm sao cho các con anh kính phục anh, tin tưởng anh như cũ. Anh quay xuống dưới bếp quát to lên cho chị Văn nghe thấy:
“Dọn cơm đi thôi chứ”.
Bữa cơm cuối tháng rất sơ sài. Món chính là món giá đậu xào - Thằng Tùng, thằng Long ăn uống lơ đãng. Chúng kể cho nhau nghe chuyện những thằng bạn ở trường được ba mẹ cho hàng trăm bạc đi ăn quà. Câu chuyện càng làm tăng vẻ nghèo nàn của bữa cơm.
Con Bích, con gái út của anh, cứ ngồi chống đũa chẳng ăn miếng nào. Nó vốn sợ giá đậu, nó kêu tanh và nếu dọn món đó không bao giờ nó dám đụng đũa.
Văn càu nhàu với vợ :
- Làm sao mà không mua món khác?
- Anh không biết cho nỗi khổ của người đi chợ. Tiền có hạn, lại phải tính ăn đổi món, đâu có phải chuyện dễ. Mà nó cũng làm trò ra thế. Người ta ăn được cả chứ có sao đâu.
Văn gắp đầy giá vào bát cơm của con gái rồi gắt lên: “Ăn đi”.
Hai thằng anh thấy như sấm sét đang lởn vởn trong bầu không khí, cúi đầu xuống, và thật nhanh. Con Bích vẫn lấy hai tay đẩy bát ra: “Tanh lắm! Con sợ lắm!”.
Anh không thể kiên nhẫn hơn được nữa anh giơ tay tát nó một cái.
Tất cả nỗi giận của anh về bài toán đặt sai dấu phẩy, về chuyện thằng Đắc cào mặt thằng Long và chê anh ngủ gật trên xe như đã nổ tung ra theo cái tát đó.
Con Bích òa lên khóc. Anh vẫn chưa tha. Anh cầm đũa gạt một miếng giá qua hai hàm răng ương ngạnh của nó rồi quát to: “Muốn sống thì nuốt ngay”. Nó vẫn cưỡng lại - Anh tát thêm cho nó một cái nữa. Lần này nó mới chịu nghe và nó đành nuốt miếng giá đầu tiên trong đời nó, miếng giá tanh nuốt cùng với nước mắt mằn mặn.
Trông cái dáng nó ăn một cách khó nhọc và ghê tởm anh chợt nhận ra mình đã đi quá mức nhưng bầy giờ lùi lại thì lần sau còn bảo được ai. Anh quay sang phía thằng Tùng, thằng Long, thét lên:
“Còn hai thằng kia nữa, liệu cái hồn”.
Văn tưởng rằng sau khi bắt vào khuôn phép đứa con bướng bỉnh, anh sẽ nguôi cơn bực tức. Nhưng không anh chỉ buồn thêm - Trông con Bích dúm dó trước sự phũ phàng của anh, đầu gục xuống bên những hạt cơm, cọng giá vương vãi, đôi vai thỉnh thoảng lại giật lên, anh thấy hối hận về sự bất công của mình.
Cả nhà không ai nói chi cả, và sự im lặng mới lạnh lùng làm sao. Chưa kịp nghĩ thêm về việc mình mới làm anh đã thấy rõ là mình thất bại. Anh có cái cảm giác khó chịu của một người đang đi bỗng bước hụt.
Suốt ngày hôm đó, mấy đứa con như muốn lảng tránh anh - Cả những ngày sau con Bích cũng không sán tới gần ba như mọi khi nữa. Chung quanh anh có một khoảng trống khiến anh sống giữa người thân mà thấy lẻ loi. Anh thèm nhớ những lúc con cái quấn quít bên mình mà cả mấy đứa nhỏ hình như cũng đang chờ ở ba nó một cử chỉ gì gần gụi. Thôi thì làm toán sai cũng được, ngủ gật trên xe cũng chẳng sao, con Bích không ăn giá anh sẽ bảo làm cho nó món khác, chứ còn không có chúng nó ôm ấp quấy phá, anh sẽ không sao chịu nổi.
Con Bích đang lúi húi chơi ở góc nhà. Anh nhìn con, mắt chan chứa tình thương. Anh rón rén đến đằng sau con, bế bổng lên, rồi ôm nó vào lòng. Nó đưa bàn tay mũm mĩm đẩy cằm anh ra và ngắm nghía ba nó với đôi mắt nghi hoặc. Một lúc lầu nó mới khẽ hỏi:
“Bây giờ ba lại yêu con hả ba?”
Anh ôm chặt đầu nó vào ngực mình, day đôi má mình lên mái tóc nó, rồi trả lời:
“Có bao giờ ba không yêu con”.
Tiếng anh thốt ra nghe như một tiếng rên.
Không biết con Bích có hiểu không? Không biết thằng Tùng, thằng Long có hiểu không?

0
Một trận quyền Anh
 
Cổng sân Tinh Võ đã đóng chặt mà ở ngoài hãy còn mấy trăm người xô đẩy, gào thét, thúc lên, lùi ra, rồi lại ào ào chồm tới như một đoàn quân xung kích đang ném hết sức mạnh điên dại để phá thành địch. Hàng chục cánh tay đấm thình thình lên khung cửa sắt gan lì, mấy bàn chân nóng nảy đạp túi bụi trên ổ khóa nhẫn nại. Vô ích hết. Cánh cửa vẫn đóng chặt - Mấy nhân viên ban trật tự, đứng trong nhìn ra, vẻ mặt lạnh lùng hình như tất cả những bão táp ngoài kia không có liên can gì tới họ.
Vài khán giả tới chậm, cầm vé giơ cao lên khỏi đầu rồi vẫy lia lịa cho những người đứng trong cửa chú ý :
- Tôi có giấy phải cho tôi vào chứ!
Người soát vé ngửa hai tay ra, chỉ vào chùm người đang đập phá, nhún vai một cách bất lực, không nói gì, nhưng cũng đủ để cho mọi người hiểu rằng trước tình thế này làm sao mà mở cổng được.
Một người lực lưỡng, tóc húi ngắn, mũi bẹt, cằm nhô, miệng nhai kẹo gôm làm chuyển những gân guốc trên mặt, đi đi lại lại một cách sốt ruột trên vỉa hè, bỗng nắm quả đấm trỏ về phía nhân viên ban trật tự rồi gầm lên :
- Đến võ sĩ sắp lên đài mà các anh cũng không cho vào thì thật là hết nước!
Ngày thường sần Tinh Võ là một sân bóng rổ. Đêm nay giữa sần có đặt một bục gỗ cao vuông vắn, dây thừng trắng bao quanh, với ánh sáng ngập đầy, trông chẳng khác gì một cái bánh vuông khổng lồ thắp nến rực rỡ để ăn mừng lễ sinh nhật.
Hàng ngàn người đang nghếch mũi lên cái bánh đó mà chỉ những ai biết thưởng thức mới nhận ra được cái hương vị quyến rũ đến rạo rực. Không phải chỉ có những thanh niên, bắp thịt và máu dễ sôi mới đi xem đấu quyền Anh. Có cả những thân hình ẻo lả như một bản nhạc sầu, những bộ râu mà người ta vuốt một cách nóng nảy theo nhịp các trận đấu, những cặp môi son tô điểm công phu đang mím chặt lại vì hồi hộp.
Ở trên đài các võ sĩ đấm nhau mà dưới này người ta cũng né, cũng tránh, trên ngừng lại là dưới hò la thôi thúc. Không khí như truyền chạy một làn điện mạnh phát ra từ những ngọn đèn sống sượng, những tiếng cồng man rợ âm u, những găng da lếu nghểu chẳng khác gì bốn bàn tay đen hung hãn của một cặp phù thủy. Những trái đấm bình bịch dội lên người xem một cảm giác rực rạo, làm cho ai nấy thấy gân cốt mình chuyển cựa.
Trận chính đêm nay là cuộc đấu lấy chức vô địch hạng gà. Người ta chờ đợi rất nhiều ở Hùng, một tài năng đang lên. Địch thủ của Hùng tuy nhiều tuổi hơn, nhưng có một lối đánh rất tinh vi và tất cả mọi người đều nóng lòng muốn biết trong cuộc tranh tài này, sức mạnh ồ ạt hay sự tính toán khôn ngoan sẽ dành được phần thắng.
Khi Hùng giơ cao hai bàn tay nắm lại lên khỏi đầu để chào khán giả, tiếng vỗ tay nổ ran lên làm anh muốn hít mạnh tất cả những sự khuyến khích đó vào đầy ắp lồng ngực. Anh bỏ áo choàng, kiêu hãnh để lộ ra những bắp thịt cuồn cuộn, rồi về góc đài cho những người săn sóc đeo găng. Anh liếc mắt về góc đối diện, nhìn địch thủ của mình. Mặt hắn lầm lì, bắp thịt như chìm đi che đậy một sự nguy hiểm ngầm độc, nhưng đôi mắt kia thì không giấu ai được - Nó dò xét, lục lạo, và nếu Hùng có một sơ hở gì chắc chắn nó sẽ biết dùng cơ hội đó.
Tuy nhiên Hùng rất nhiều tự tín. Anh đưa mắt nhìn quanh một vòng và sung sướng nhận ra những cái vẫy tay thân mật, những lời khích lệ của một số bạn bè.
Bỗng anh để ý trên hàng ghế đầu có một thiếu nữ mặc áo vàng, không đẹp lắm nhưng rất có duyên, đang trân trân nhìn anh. Hùng nghĩ thầm:
“Cô này mà mình ra tay chinh phục thì còn chạy đâu thoát”. Và anh thở mạnh một hơi cho lồng ngực căng lên.
Trọng tài gọi hai đấu thủ ra căn dặn một số luật lệ - Hùng nghe một tai lơ đãng, anh còn điều gì phải học thêm nữa?
Những người săn sóc được mời xuống khỏi đài.
Hùng đứng ra phía trước cô gái áo vàng, bám đôi găng vào dây thừng, nhún cánh tay vài lượt trên dây, uốn bắp thịt vai cho mềm mại, nhảy vừa nhẹ vừa dẻo trên đầu ngón chân. Anh chợt nhận thấy mình có một chút gì đỏm đáng khác thường.
Tiếng cồng bỗng nổi lên nghe rờn rợn trên da. Không khí căng thẳng đến ngột ngạt. Hùng liếc nhanh xuống cái áo vàng một lần nữa, rồi quay lại hung hãn tiến tới.
Hiệp đầu, hai bên còn dò dẫm xem xét đấu pháp của nhau. Sang đến hiệp nhì, Hùng đã tìm thấy dụng ý của địch thủ. Rõ ràng là hắn ta không chịu đánh mà chỉ tìm cách lẩn trốn cốt làm anh hao sức rồi sẽ lựa lúc cho anh những ngón đòn quyết định. Hắn đấu quyền mà như chơi ú tim - Anh đã sốt ruột lắm nhưng vẫn nhắc nhủ mình phải thận trọng. Dầu sao anh cũng đã mấy lần cho hắn nếm đòn và mỗi lần mặt hắn, ngực hắn chuyển rung dưới trái đấm của mình, anh phảng phất thấy như ngoài anh ra, trên hàng ghế đầu còn có một ai nữa bằng lòng.
Dứt hiệp anh về góc đài. Trong khi mấy người săn sóc nắn tay chân, lau mặt anh, quạt nhẹ cho anh bằng một cái khăn bông lớn, anh khẽ day người về phía cái áo vàng. Thiếu nữ nhìn anh nhẹ gật đầu và mỉm cười - Anh nhắm mắt lại, thầm hưởng cái phần thưởng người đẹp vừa kín đáo tặng mình.
Giữa nơi thi thố những sức khỏe hung bạo sao mà lại có cách tỏ tình tế nhị đến như vậy.
Tiếng cồng lại nổi lên. Hùng đứng vụt dậy và anh thoáng thấy người đẹp giơ nắm tay xinh xinh đấm nhanh mấy cái liền về phía trước mặt. Anh hiểu rằng nàng ra hiệu cho anh đánh mạnh và mau hơn nữa. Ý muốn đó là mệnh lệnh đối với anh. Anh sẽ phải tốc thắng một trận cho xứng đáng với bao nhiêu ân cần chờ đợi. Anh vung cánh tay ra với một sức mạnh mới và nhất quyết hạ địch thủ trong khoảnh khắc. Nhưng đối phương của anh cũng không phải tay vừa. Giữa một lúc bất ngờ, hắn đã đánh trúng mắt trái anh là anh rách mí mắt. Từ đó hắn cứ nhằm vết thương mà đánh túi bụi khiến anh phải lo che đỡ cánh trái và do thế để hở cánh mặt quá nhiêu. Đôi mắt hau háu của hắn đã chộp được chỗ yếu đó và một trái đấm vừa lẹ vừa gọn của hắn đã đặt trúng mạng mỡ của anh. Có một tiếng âm dội trong người anh. Anh đổ sầm xuống như một thân cây trúng một nhát rìu chí tử.
Cái gì đã làm cho anh lồm cồm bò ngay dậy? Tuổi trẻ hồi sức mau chóng hay lòng tự ái bùng lên? Anh vẫn khuỵu một gối và chống tay trên thảm, nghỉ thêm một chút lấy lại tỉnh táo. Mắt anh hơi mờ đi nhưng còn nhận thấy cái áo vàng trên hàng ghế đầu. Nàng kiễng người lên, môi cắn chặt như muốn bật khóc, và đôi mắt xót xa thương hại của nàng như rót vào tận buồng gan lá phổi của anh một liều thuốc chỉ thống mầu nhiệm. Trọng tài đang đếm 6... 1... 8... Anh đã tỉnh hẳn. Ý nghĩ phục thù cuồn cuộn trong bắp thịt anh. Liệu hồn cho kẻ đã làm nhục anh, đánh ngã anh trước mặt người đẹp. Anh đem hết cả vũ bão của tuổi trẻ quăng vào trận đấu. Máu rỉ từ mí mắt bị thương xuống gò má, lành lạnh xon xót, làm anh nhăn mặt một cách ghê sợ. Anh tới tấp đấm vào địch thủ và có lúc giữa những cánh tay anh hoa lên, anh tưởng như thấy cả đôi tay xinh xinh của cô gái áo vàng cũng phụ lực anh đánh hạ kẻ thù.
Tiếng vỗ tay nổi lên như sóng cồn khi trọng tài tuyên bố anh thắng điểm - Các người săn sóc, các bạn bè nhảy hết lên đài, khen ngợi anh, bắt tay anh, bế bổng anh lên vai. Các nhà nhiếp ảnh xúm xít chung quanh anh, bắn vào mắt anh những ánh đèn chói lòa. Anh chỉ muốn vùng ra đi tìm thiếu nữ áo vàng, con người anh chưa quen mà đã thấy lòng gần gụi.
Lảu lắm anh mới gỡ được ra để về phòng riêng. Thay xong quần áo, trở lại thì khán giả đã về hết. Các hàng ghế chỏng chơ, những giấy rác, mẩu thuốc lá bừa bãi gợi cho anh một thứ dư vị trống trải của những đêm vui tàn cuộc.
Đến trước chỗ nàng ngồi, anh càng thấy buồn hơn. Trên ghế còn rớt lại bản chương trình trận đấu. Anh nhặt tờ giấy lên, gấp lại, bỏ vào túi mang về.
Từ đó cái bóng áo vàng theo đuổi anh như một ám ảnh. Anh đính cái chương trình nhặt được lên tường cạnh mẫy đôi găng da. Thôi thì chẳng giữ lại được cái gì khác, cũng còn tạm mảnh giấy kia vậy.
Vài tuấn sau trong lúc đến chơi tại một hồ tắm nọ, anh đã gần lặng người đi khi nhận thấy người thiếu nữ buổi nào giữa đám đông, vẫn cái dáng thông minh tinh nghịch, vẫn những cử chỉ tự nhiên thoải mái, vẫn cái áo vàng đêm xưa. Anh ngập ngừng mãi không dám tới gần. Một võ sĩ vô địch như anh mà sao nhút nhát đến thế trước mặt một người đàn bà. Nhưng nếu lần này anh không nói gì biết bao giờ nữa mới gặp lại nhau. Ý nghĩ đó đã làm anh can đảm hơn. Anh lựa chỗ đứng cho thiếu nữ phải đi qua mặt mình rồi tiến lên chào :
- Chắc cô còn nhớ tôi.
Thiếu nữ nheo đôi mắt như lục tìm trong ký ức, anh phải nói thêm :
- Tôi là Hùng, võ sĩ Hùng.
- À tôi nhớ ra rồi. Tôi có xem ông đấu tháng trước. Hay lắm.
Hùng chán nản vô chừng - Bao nhiêu ân cần khích lệ đêm tranh giải nay chỉ còn để lại có một lời khen nhạt nhẽo kia sao?
- Tôi muốn được cám ơn cô. Nếu không có cô khuyến khích, không chắc gì tôi đã thắng.
- Ông dạy quá lời. Thực ra chính tôi phải cám ơn ông.
Hùng đứng ngẩn người ra không hiểu nàng định nói gì. Thiếu nữ áo vàng mỉm cười một cách tinh quái :
- Tôi đánh cá với một người bạn là ông sẽ thắng. Lúc ông bị đấm ngã tôi sợ quá, chỉ lo mất một trăm bạc toi.

0
Cãi nhau
 
Chẳng qua chỉ tại sáng chủ nhật đó trời đẹp. Sau trận mưa đêm, không khí vừa nhẹ vừa mát, lòng người tự nhiên tung tăng như những trái bóng phơ phất bay trước gió. Văn nảy ra ý rủ vợ đi chơi, và vợ hưởng ứng ngay.
Anh sửa soạn rất nhanh rồi đứng ngắm vợ trang điểm trước gương. Anh chợt khám phá ra rằng hai vợ chồng sống bên nhau mười lăm năm rồi tưởng không còn đường nét nào là không quen thuộc thế mà đến hôm nay anh mới nhận ra vợ có một cái gì duyên dáng anh chưa từng biết. Đôi mắt chị mở to đang nhìn sâu vào trong gương, thỉnh thoảng chị lại ghé sát mắt vào nhìn cho rõ hơn. Chị đưa ngón tay vuốt
nhẹ lên lông mày, kéo mấy sợi tóc xuống trước trán rồi khẽ uốn cho tóc cong cong. Kể ba con rồi, giữ được thế này là khá lắm. Cô trước cửa mới ngoài hai mươi mà có vẻ còn già hơn mình. Ồ, cái mụn này mọc ngay dưới cằm khó chịu quá!
Chị khẽ mỉm cười để có dịp bằng lòng hơn về hình ảnh trong gương, nhưng chợt thấy anh bắt gặp được cử chỉ đỏm đáng của mình, chị vội đưa son lên môi rồi nói lảng :
- Hai năm giời mà vẫn chưa hết một cây son.
Văn tiến lại gần, để tay lên vai vợ - Da thịt cô này hôm nay mát lạ. Mũi vợ hênh hếch, hênh hếch, trông ngộ quá, anh nắm lấy cái mũi đó giật một cái. Anh giật cũng khá mạnh mà vẫn thấy chưa diễn được hết những ý nghĩ đang trào lên ở lòng mình.
Chị Văn vùng vằng đứng dậy, vứt cây son ra mặt bàn :
- Đùa lối gì mà lạ thế?
Văn ngơ ngác như đứa trẻ thò tay vào lồng, vuốt ve con chim bỗng thấy nó xù lông ra mổ túi bụi. Tỏ tình với vợ mà cũng khó vậy. Không đúng lúc, không đúng cách, ý nghĩ đẹp nhất cũng trở nên thô lậu.
Văn nhìn đồng hồ rồi nói rất nhẹ :
- Thôi sửa soạn đi không muộn.
- Chẳng đi đâu cả.
Mũi chị Văn vẫn còn đỏ gay, một chút sáp son nguệch lên trên mép khi anh đụng phải tay chị, làm cho miệng chị ngoác thêm ra, khiến anh vừa buồn cười vừa thương hại.
- Đi, chóng anh đền một bữa xi-nê và một chầu kem.
Kể ra lời đề nghị hòa của anh nghe cũng xuôi tai đấy nhưng không hiểu tại sao chị không bằng lòng :
- Đi với ai thì đi - Còn tôi, tôi xin ông cho tôi được ở nhà.
- Cô nói thế nào tôi không hiểu.
- Có gì mà không hiểu. Ai làm thì người đó biết. Ở ngoài thì nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa, về nhà với vợ con là dằn vặt, hành hạ.
- Tôi dằn vặt gì cô mà tôi nưng hứng gì ai?
Câu hỏi đó đã như là cái nút người ta nhận xuống làm xổ tung ra tất cả những điếu u ẩn mà ngày thường chị Văn vẫn gác một bên. Nay anh đã muốn biết, chị sẽ kể ra bằng hết, để anh hiểu rằng từ trước đến nay chị không muốn nói đấy thôi, chứ còn chẳng điều gì thoát khỏi mắt chị.
Thế là anh đứng sững người ra để nghe chị nhắc lại rành rọt những sự lệch lạc, những tình ý của anh từ ngày chưa lấy chị đến bây giờ.
- Ừ lúc chưa cưới muốn sao cũng được, nhưng ngay hôm cưới mà hãy còn toét miệng hót như khướu với mẫy cô phù dâu.
- Đã chạy tản cư mà vẫn tính nào tật nấy. Hôm qua đò Nhõng máy bay bắn ầm ầm, người ta vai đeo bị, tay bế thằng Tùng rã cánh ra chẳng thấy đỡ đần gì cả. Con Sinh nó chạy có một mình, thì nào cầm lẵng hộ nó ư, nào dắt nó xuống đò ư, thế không là nưng hứng là gì?
- Vợ dặn năm lần bảy lượt vẫn quên, con Hiền nó nhờ mua hộp thuốc thì chạy khắp tỉnh mua lấy được, lúc về lại còn: “Dạ thôi ạ - chị Văn vừa nói vừa dợt miệng ra nhại tiếng anh - chị khỏi phải tính toán chẳng đáng bao nhiêu ạ”.
Toàn là những mẩu chuyện như thế cả. Ký ức người đàn bà thiên lệch một cách đáng sợ. Chiều chuộng họ một ngàn lấn họ vẫn quên được dễ dàng, nhưng nếu có lần nào, chỉ một lần thôi mình có cử chỉ gì sơ ý họ sẽ chôn chặt trong trí nhớ suốt đời không phai.
Văn không thể nào chịu được sự bất công đó và anh chống trả kịch liệt. Hai người lúc đầu còn mỉa mai, chua chát sau giọng nói mỗi lúc một cao. Có đoạn Văn gầm thét lên, chị ta lại khẽ rít giữa hai hàm răng :
- Này vừa vừa chứ, hàng xóm người ta đang cười cho kìa.
Nhưng anh vừa dịu giọng đi, chị lại kiếm được cách trêu chọc rỉa móc, khiến anh không nhịn nổi phải hét ầm lên. Trận cãi nhau cứ lằng nhằng từ chuyện nọ sang chuyện kia. Lúc tám giờ sáng mới còn là chuyện anh nắm mũi chị, nhưng đến mười giờ sáng giá có nói tới bỏ nhau có lẽ hai người cũng chẳng tiếc thương gì nữa.
Khi mới lấy nhau, hai vợ chồng Văn tưởng rằng họ sẽ không bao giờ cãi nhau được. Họ đã lấy làm ngạc nhiên thấy Lương, ông anh họ bất cứ chuyện gì cũng mè nheo với vợ, nào lòng lợn thiếu rau thơm, bún thang không cà cuống, nào muỗi chui đốt trong mùng, gió lùa qua khe cửa, không mấy khi đến Lương chơi mà gặp được một bộ mặt không nhăn nhó. Văn đã phải kêu lên :
- Đời sống thế khác gì hỏa ngục mà sao họ chịu nổi nhỉ?
Đến lượt vợ chồng anh, tuy chẳng đến nỗi quanh năm xô xát, nhưng cũng đã nhiều lần điều qua tiếng lại, anh bỏ cơm, chị khóc sưng cả mắt. Mà nguyên nhân nào có to tát gì cho cam? Toàn chuyện cái tơ cái tóc.
Chuyện to, họ lại không cãi nhau - Hồi còn ở hậu phương, chị giao anh cầm một cái túi vải đựng cái kiểng vàng, ít đồ nữ trang cùng tất cả vốn liếng của hai vợ chồng. Văn mải xem anh hàng bán thuốc rong làm trò ảo thuật, nhìn ra túi đã bị rạch mà không hay. Chị Văn tuy xót xa công lao bao nhiêu năm dành dụm chỉ bảo chồng :
- Thôi anh đừng buồn - Em không đeo vàng cũng chẳng sao.
Cũng con người êm ả, dịu dàng đó, có lúc đã chồm chồm lên hung hăng một cách đến ghê sợ, trách móc Văn về những chuyện không đâu, trong khi chính Văn không tìm ra mình có lỗi gì. Chẳng bao giờ chị Văn chịu là mình lầm cả. Bao giờ lẽ phải cũng về chị. Không biết lẽ phải nó là cái gì mà vợ chồng trao xương gửi thịt cho nhau còn được, nhưng nói đến lẽ phải thì không ai chịu nhường ai. Anh cũng cảm thấy trong cuộc đời hàng ngày chị Văn không thể sống một cách cởi mở như anh nghĩa là gặp đâu nói liền đấy khỏi phải vấn vương nghĩ ngợi. Hoặc là vì tính kín đáo, hoặc vì muốn tránh cho con cái người nhà chứng kiến cảnh bất hòa giữa hai vợ chồng, chị đã nén chặt nhiều nỗi ấm ức, kịp đến khi nói được ra thì phải trút hết những khó chịu chồng chất bấy lâu, trước khi tích lũy những bực dọc mới.
Anh cũng thường tự nhủ vợ chồng cãi nhau chẳng qua như người nằm ngủ trở mình, nằm mãi một chiều thấy ê ẩm, nên thỉnh thoảng cũng xây đi, trở lại tìm một thoải mái mới.
Vì thế dù có cãi nhau đấy rồi họ lại chiều quý nhau. Nhưng lần này thật chị đi quá mức rồi. Ai đời chồng chỉ có bẹo yêu vào mũi mà chu chóe, giận dỗi làm như chồng đã phản bội không bằng. Anh sẽ không thèm nói với vợ câu nào nữa trong ít nhất một tháng giời cho mà coi.
Từ lúc cãi nhau với vợ, anh thấy vợ mất hết cả vẻ ưa nhìn. Mặt khó đăm đăm, chân tay lõng thõng, quần áo lôi thôi. Những ngày trước kia sao anh không nhận ra những nét xấu ấy nhỉ? Mà anh lấy vợ làm gì cho khổ thân anh nhỉ?
Chị nhìn anh cũng chẳng còn thấy đẹp đẽ chỗ nào. Lầm lầm, lì lì, cằm bạnh ra, gân trán nổi lên. Người đâu mà chiều chuộng thế nào cũng chưa vừa ý. Vợ chưa nói hết lời đã mắng át, lúc nào đuối lý lại im lặng một cách khinh khỉnh. Được đã muốn thi gan, chị sẽ lì ra đấy xem ai thua ai.
Hai đứa con trai anh chị Văn rủ nhau đi khỏi nhà chơi đùa cho yên ổn. Chúng đã có kinh nghiệm cay chua là giữa tình thế đang găng chúng lẩn quẩn gần bố mẹ là dễ gặp những tai họa bất ngờ.
Đứa con gái út trái lại cứ sán chặt bên chị Văn. Nó hỏi han chị thật dịu dàng và nhìn bố một cách bất mãn. Có lẽ nó cho rằng mẹ nó đã yếu đuối hơn nên cần phải sự bảo vệ của nó. Hay là một linh tính nào đã báo trước cho nó biết sau này nó cũng sẻ gặp những cảnh tương tự nên nó tập trước cách đối phó?
Dầu sao Văn cũng thấy ghét lây cả con gái út đã về hùa với mẹ chẳng biết đâu là phải, trái cả.
Hai vợ chồng Văn mới không nói nhau vài tiếng đồng hồ mà nghe chừng đã lâu quá. Nhất là đối với anh. Từ trước đến nay Văn đã phó mặc vợ việc tổ chức đời sống hàng ngày. Anh chỉ biết tháng tháng nộp chị tiến lương đều đều, còn công việc trong nhà chị lo sao thì lo. Cái áo đứt cúc, đôi vớ phải mạng là anh kêu chị, thăm chị bạn mới sanh, mừng cô cháu lấy chồng, anh lại kêu chị, cần tiền hớt tóc, mua báo, cũng lại chị. Kể ra lúc thuận hòa êm đẹp, đóng vai ông chồng biếng nhác, chờ vợ đi trước từng ý muốn của mình, cũng là một cái thú. Nhưng đến khi giận nhau mới thấy là bất lợi. Văn đã quen nếp sống ý dựa vào vợ rồi nên nhiều việc anh cần phải hỏi vợ quá. Mà cất lời hỏi vợ bây giờ có khác nào nhận là mình trái nên phải làm lành. Không, chị Văn có muốn đấu dịu thì chị bước trước, còn anh chẳng việc gì anh phải chịu nước lép.
Chị Văn ngồi khâu ở một góc phòng, tay đưa kim một cách uể oải, mắt tưởng như chỉ nhìn vào mũi kim không để ý đến xung quanh nhưng thật ra anh làm gì chị cũng biết. Chị cũng thấy nóng ruột lắm rồi. Đằng đẵng một tuần lễ mới tới ngày chủ nhật tưởng được sống một ngày vui vẻ thế mà hai vợ chồng cứ câm lặng, ghẻ lạnh mãi thế này, còn ai chịu nổi. Chồng đâu mà có thứ chồng gan thế nhỉ? Bây giờ anh chỉ nói với chị một câu thôi hay để cho cho chị bấu trả lại một cái, chị sẽ quên hết giận hờn. Có ai bắc hộ một cái cầu giữa hai thế giới xa xăm này không?
Bỗng có tiếng gõ cửa và tiếng thằng Tùng chào :
- Lạy hai bác ạ - Ba mẹ cháu có nhà đấy ạ.
Văn cau mặt lại - Bạn bè nào mà lại nhằm đúng lúc này đến thăm. Chị Văn xếp vội thúng khâu, rồi tất tả chạy ra bên gương chải lại đầu. Thằng Tùng nói vọng vào trong nhà :
- Thưa ba mẹ, có hai bác Thiệu tới chơi đấy ạ.
Văn đằng hắng một tiếng, lấy lại tự nhiên, rồi bước ra phòng khách. Vừa thấy bạn anh đon đả mời chào như không có chuyện gì xảy ra. Chị Văn lúng túng mãi. Chị mất nhiêu thì giờ mới tìm thấy bình tĩnh, lúc chào khách dáng điệu chị hãy còn nhiều nét ngượng ngùng. Vợ chống Thiệu hôm nay không biết vô tình hay hữu ý mà nói chuyện đến ẫm ờ :
- Gớm anh Văn dạo này trông cứ phây phây ra thôi, không biết chị nuôi anh ấy thế nào mà khéo thế!
- Dạ thưa hai bác tôi đoảng lắm ạ, chả được việc gì.
- Hai ông bà thật gương mẫu, ngày nghỉ cũng chẳng đi đâu, lúc nào cũng quấn lấy nhau.
Văn cười rồi đáp :
- Chết anh chị chớ tin vào bề ngoài.
Trong khi tiếp khách, hai vợ chồng Văn đều dùng những câu mập mờ, nhiều nghĩa như vậy. Khách nghe có thể tưởng là họ nói nhún mình nhưng chỉ riêng hai vợ chồng mới hiểu được cái dụng ý chua chát.
Thiệu thật vui tính lại có tiếng cười giòn tan nên câu chuyện mỗi lúc một đậm đà. Anh chị Văn như lây cái vui của Thiệu quên dần những phút gay go buổi sáng. Lúc đầu anh chị còn tránh không nhìn nhau, sau anh đã quay sang nhìn chị, chị quay lại nhìn anh. Chị Văn đưa chén nước mời anh Thiệu, nhưng khách ngồi hơi xa, chị còn đang vươn ra thì Văn đã đỡ chén trong tay vợ, đặt giúp trước mặt khách. Văn hơi mỉm cười khi nhìn thấy trên lưng bàn tay chị hãy còn sót lại vết son sáng nay. Chồng chỉ khẽ chạm vào tay mình thế mà chị Văn cũng thấy một cảm giác gì rất êm dịu.
Hai vợ chồng định tâm chỉ đóng kịch cho khách khỏi nhận thấy họ vừa có chuyện bất hòa, không dè kịch đóng khéo quá đến nỗi xóa nhòa cả cuộc xung đột.
Anh chị Thiệu tới chơi hôm nay chủ đích để mời vợ chồng Văn đi ăn cưới đứa con giai đầu lòng. Chị Văn quay sang chị Thiệu :
- Chóng thế đấy - Bao giờ mới đến lượt thằng Tùng nhà tôi?
- Chẳng bao lâu đâu chị ơi. Bọn mình là sắp có cháu nội, cháu ngoại đến nơi cả rồi.
Văn cười phá lên - Anh vừa chợt nghĩ đến cuộc cãi lộn sáng nay. Sắp có dâu có rể rồi mà vợ chồng hãy còn chí chóe với nhau như con nít.
Lúc tiễn bạn ra về, anh chị Văn còn nói với theo :
- Thế nào vợ chồng chúng tôi cũng xin tới mừng anh chị và ăn cỗ cháu.
Chị Văn quay trở vào trong nhà trước, Văn đi theo sau bỗng cất tiếng hỏi trống không :
- Hôm nào cưới?
Chị Văn trả lời bâng quơ :
- Thứ năm sau.
Một làn gió ở đâu thổi tới làm nhẹ bay tà áo chị, Văn nhìn lên thấy lưng vợ còn óng ả lắm.

0
Mười thang thuốc
 
- Bị rồi mình ạ.
Chị Bình quay lại nói với chồng, tay vẫn còn cầm bút chì, chấm đếm từng ngày một trong quyển lịch bỏ túi.
Bình cười gượng gạo như một anh phạm lỗi :
- Chắc không?
- Có vẻ chắc. Em vẫn đều lắm mà lần này quá mười ngày rồi.
- Em đã thấy dấu hiệu gì khác chưa?
- Dấu hiệu gì thì cũng phải một tháng trở ra.
Bình đưa tay lên gãi đầu :
- Chà, đừng có lo hão. Tại dạo này em không được khỏe nên nó cũng chậm đi ít bữa. Chẳng sao đâu!
Nói vậy nhưng Bình cũng hơi thấy bồn chồn. Mỗi buổi đi làm về, anh lại khẽ hỏi vợ :
- Có gì chưa?
Vợ lắc đầu và Bình trông tiu nghỉu.
Mấy hôm liến, vẫn một câu hỏi và vẫn một cách trả lời. Đến một hôm kia Bình không còn giữ được bình tĩnh nữa. Thấy vợ vẫn còn lắc đầu, anh gát lên :
- Người gì lạ thật. Cứ ì ra thôi.
Vừa gắt xong, Bình nhận ra ngay là mình vô lý. Anh đến bên vợ, để tay lên vai vợ :
- Có là thánh cũng phải sốt ruột.
Chị Bình cười một cách mệt nhọc :
- Em còn sốt ruột bằng mười anh.
Sau đó, chị Bình lúc nào cũng buồn ngủ rồi lại sợ cơm - Bà mẹ chồng ngắm nghía nàng dâu từ đầu đến chân, tủm tỉm cười :
- Chị lại có tin mừng.
- Không phải đâu, mẹ ơi.
- Tôi nhìn lầm làm sao được, người chị cứng queo, lông mày dựng ngược thế kia, đúng chị có mang rồi.
Đã từ mấy năm nay việc có mang không còn là một tin mừng với anh chị Bình nữa. Lấy nhau mười sáu năm, chị ta bảy lần đẻ và nuôi được cả bảy. Lũ con đứng bên nhau, đứa nọ lớn hơn đứa kia một đầu, đều đặn như những bực cầu thang. Trông thấy một đứa mặc cái áo quá rộng hay đi đôi dép há miệng, ngay đến chị Bình cũng không nhớ nổi áo kia hay dép nọ lúc đầu đã mua cho đứa nào trong bọn, vì chúng cứ mang mặc thừa của nhau, đứa nhỏ ngong ngóng chờ đứa lớn thải ra cho chóng đến lượt mình. Chúng gọi thế là “ăn thừa tự”.
Cơm hàng ngày chỉ có rau đậu, họa hoằn lắm mới có thịt, ít khi chúng được ăn quà, và đồ chơi lại còn hiếm hơn nữa. Nhìn lủ con giương đôi mắt thèm thuồng ngắm bạn chúng chùn chụt mút kem cây hay xuýt xoa nhai thịt bò khô, anh chị Bình nhiều khi nhói cả ruột, phải quay mặt đi chỗ khác.
Năm đứa đã đi học, hai đứa lớn đáp xe buýt, ba đứa nhỏ được bố đèo xe đạp, một ngồi khung trước, hai quặp đằng sau, lại thêm ba cái cặp sách lủng lẳng ở tay lái. Có người thấy bốn bố con chi chít như một chùm sung trên cái xe liêng chiêng đã phải kêu là nguy hiểm, nhỡ đứa nào té thì khốn. Nhưng không đèo con như vậy để chúng nó đi xe chở học sinh, sáu trăm ba đứa lại còn nguy hiểm hơn - Vì lương anh chỉ có trên bốn ngàn mà nhà một mẹ già nay đau mai yếu và mười miệng ăn - Trong họ, anh Bình lại vẫn còn là người khá nhất, nên những chuyện nhờ vả, hiếu hỉ không tháng nào không có.
Anh chị Bình cũng đã nhiều lần bảo nhau phải đẻ từ từ thôi, chứ cứ hai năm một thế này chật vật quá. Nhưng từ từ đâu có phải dễ. Bình đã từng nửa đêm dậy đi bộ hàng giờ ở ngoài đường, hay giội nước tắm thùm thùm để cho những kích thích được ru êm đi nhưng có những thói quen mạnh hơn cả ý muốn của mình - Vả lại trừ phi muốn đảo lộn cả đời sống thân mật của vợ chồng, còn không làm sao mà tránh được. Một anh bạn đã biếu thuốc nọ thuốc kia mà cũng chẳng ăn thua gì cả. Có lần vừa dùng thuốc đã có mang ngay, đến trách ông bạn thì ông ta lại giảng cho nghe một cách rất xuôi tai :
- Chính nhà chế thuốc cũng sợ thất đức nên trong lọ bên cạnh những viên thuốc thật họ đã để một vài viên giả. Người ta thì không sao, đúng lúc ông bà dùng lại vớ phải ngay viên giả.
Sau mỗi lần sinh, hai vợ chồng lại nói chuyện cương quyết hạn chế, nhưng kết quả vẫn là đến nay chị Bình đã bảy con và đang có mang đứa thứ tám. Nghĩa là dòng người chờ “ăn thừa tự” quần áo cũ, dép giầy há mõm sắp thêm một tên nữa, cái xe lạch cạch của anh Bình sắp nặng trĩu thêm, và khẩu phần của mỗi người trong gia đình sẽ bị cắt xén bớt đi cho đủ gộp vào thành một khẩu phần mới. Còn đầu cái sung sướng điên cuồng khi mới có đứa con trai đầu lòng? Đến đứa thứ năm thứ sáu, nghe chừng đã có cái gì tẻ nhạt. Lần này chỉ còn là sự nhẫn nại cam chịu số kiếp đông con và nỗi lo ngại trước một con đường dài trách nhiệm và chắc chắn nhiều thiếu sót. Trời mà cho cả tám đứa nên người thì việc nuôi nấng chúng cũng đủ nheo nhóc chật vật. Lỡ có một đứa nào ngu đần, tàn tật không biết rồi khổ cho nó đến đâu, và đau lòng bố mẹ biết mấy.
Cả hai anh chị Bình đều không nói ra, nhưng người nọ đọc hết những ý nghĩ của người kia - Trong nhà có lẽ chỉ có một bà cụ thân sinh ra anh là còn cho đó là một tin mừng :
- Chị cố đẻ một đứa con gái nữa đi, cho vuông hai cỗ. Về sau bốn dâu bốn rể vừa đẹp. Đám ma tao chắc nhiều người chỉ trông thấy cháu chắt tao mà thèm.
- Bà lại còn mong cho đẻ con gái nữa! Nuôi dậy tốn kém hơn cả con trai mà nhà nghèo thế này rồi ai lấy.
- Chà, cháu gái bà không có của ế.
Sự lạc quan của mẹ chồng không làm cho anh chị Bình bớt bận lòng.
Nhà trăm công ngàn việc mà chị Bình mỗi ngày một nặng nhọc, chân tay rời rã. Chị nói với chồng :
- Em thấy ngại quá anh ạ. Em đẻ sáu đứa đầu còn nhẹ nhàng, đến thằng thứ bầy đã bị một phen hú vía. Ra xuôi chẳng ra, lại quay ngang đâm cánh tay ra trước. Ngày đó không được bà đỡ giỏi thì chết rồi còn đâu. Lần này mà khó khăn nữa chắc không thoát.
- Em cứ nghĩ vẩn vơ thế không tốt đâu.
- Anh coi bà gì báo đăng hôm nọ có sợ không? Tiếp bao nhiêu máu mà cũng không cứu được - Hỏng cả mẹ lẫn con. Thế có ai oán cho người chồng không?
Bình nín lặng, đi đi lại lại trong phòng, đầu cúi gập xuống, tay thõng thượt. Bỗng anh tiến đến bên vợ ngập ngừng một lát, rồi hỏi trong hơi thở :
- Em có dám không?
Chị Bình giương to mắt nhìn chồng xem chồng định nói gì nhưng anh Bình đã bước nhanh ra phòng ngoài với dáng điệu của một người tránh không muốn cho ai thấy rõ nét mặt mình.
Suốt ngày hôm ấy, anh ta giữ bộ mặt khó hiểu như vậy mà chị Bình cũng không tìm được lúc thuận tiện để hỏi thêm. Tuy vậy chị cũng hơi đoán được một phần nào rồi. Tối đến khi cả nhà đã đi ngủ, chị vào giường đưa tay ôm lấy đứa con nhỏ nằm giữa hai vợ chồng, và bắt gặp tay anh đang nhẹ xoa đầu con. Chị khẽ nắm lấy tay chồng :
- Anh bảo em có dám không, tức là dám cái gì?
Bình vẫn nằm im - Một lúc sau, anh gỡ tay mình ra khỏi tay vợ chép miệng rồi trả lời :
- Các nước người ta làm cả. Bên Nhật với bên Ấn Độ mà không làm thế thì để đâu cho hết người.
Đêm tối mò mà Bình tưởng như trông thấy rõ vợ đang chăm chú nghe. Anh thủng thẳng tiếp :
- Bên mình cũng có mấy thầy thuốc chuyên môn việc đó. Nhưng phải kín đáo lắm người ta mới chịu làm.
Chị Bình thấy không còn mập mờ chi nữa và chị khẽ kêu lên :
- Úi trời! Việc gì chứ việc đó tôi chịu thôi - thất đức lắm.
- Tôi cũng nói chuyện chơi thế thôi chứ có ai bảo mình làm.
Sáng hôm sau, chị Bình soi gương thấy đôi mắt mình thâm quầng. Câu chuyện anh nói chơi đã làm chị nghĩ ngợi cả đêm.
Trong mấy tối liến, câu chuyện vẫn trở lại như một ám ảnh.
- Mình phá nó ra như vậy có khác nào mình giết đứa trẻ. Nó oán cho thì sao?
Bình lại phải cắt nghĩa cho vợ :
- Nói bậy! Đâu nó đã thành hình đứa trẻ mà bảo là giết mới không giết. Nó mới như là một hột máu thôi chứ. Chẳng có gì phải tội cả.
Hình như câu chuyện đã làm cho chị Bình bớt ghê sợ - Anh ta lúc đầu còn phải chọn lời, bây giờ đã lý luận một cách mạnh bạo hơn :
- Anh nói câu này em đừng cho anh là tàn nhẫn. Ừ thì cứ để cho nó đủ ngày đủ tháng nó ra đời, anh hỏi thật em, cảnh nhà túng thiếu như thế này liệu nó có sung sướng gì không? Hay là không biết đến cảnh bệu rệch ngay từ lúc nó còn là hột máu lại may mắn cho nó hơn.
- Anh nói cũng có phần đúng nhưng em vẫn thấy làm sao ấy!
- Chẳng qua cũng như em sẩy chứ có gì khác.
Chưa biết vợ đã thuận hay chưa, nhưng anh Bình cũng đã bắt đầu dò hỏi xem công việc áy người ta làm ở đầu và giá cả bao nhiêu. Đàn ông nói câu chuyện đó thật khó. Những người đã dùng tới giải pháp mạnh bạo ấy hình như đã ký một thỏa hiệp im lặng. Dầu sao Bình cũng tìm biết được một địa chỉ về khoe vợ. Và anh hạ giọng nói thêm :
- Họ đòi những ba ngàn.
- Làm gì mà cắt cổ thế. Vào đẻ ở nhà bảo sanh cũng chỉ hết bảy tám trăm. Đỡ cho người ta mẹ tròn con vuông mới khó chứ giết cái thai thì khó gì mà đòi tới ba ngàn. Tiền đó tôi để mua sữa cho con tôi.
Thế là chuyện lại xếp lại cho đến một hôm chị Bình thì thầm với chồng :
- Này chị Hạnh chị ấy cũng vừa làm đấy.
- Mới hai con mà đã làm à?
- Chị ấy bảo chả tội gì lúc nào cũng nheo nhệch con cái, chồng mê người khác lại thiệt.
- Em xem đấy. Lý do của mình còn chính đáng hơn nhiều chứ, thế mà mình cứ phân vân mãi.
- Chị ấy uống thuốc ta - Có mười thang thôi, mỗi thang bốn chục.
Khi hai vợ chồng tìm đến ông lang đã cắt thuốc cho Hạnh, chị Bình có những ý nghĩ rất lạ lùng. Chị thấy Bình đi bên cạnh như không phải là chồng mình nữa mà là một chàng trai nào đã lừa dối chị và lợi dụng được chị. Nay chị có mang, anh ta phải nghĩ cách lấp liếm sự vụng trộm của mình. Bàn tay khô đét có móng dài của ông lang vừa đặt lên cổ tay chị để bắt mạch, một cảm giác ma quái đã truyền chạy vào người chị. Con dao cầu thái thuốc phầm phập băm xuống hăm hở, ác liệt làm chị thấy như mấy vị thuốc đang ứa máu dưới lưỡi dao. Lúc tiễn khách, ông lang còn nhắn theo :
- Thuốc này của tôi gia truyền - Phải thì nó ra, không phải thì bổ máu tốt lắm.
Chết chưa, nghề này mà cũng truyền mấy đời rồi sao. Chị Bình đang xách lủng lẳng mấy thang thuốc trước bụng bỗng đưa vội cho chồng cầm, như sợ đứa con trong bụng trông thấy. Gần về tới nhà, Bình còn dặn vợ :
- Mẹ hỏi thì bảo thuốc dưỡng thai nhé!
Sắc xong thang thuốc đầu, chị Bình vã hết cả mồ hôi ra - Chị ngồi ngắm bát thuốc đen quánh mỏng chừng đó là thuốc độc. Chị thở thật mạnh, lắc đầu bảo chồng :
- Thôi em không uống nữa đâu.
- Lạ chửa - Thuốc mua về mà lại không uống! Thuốc bắc nó nhẹ nhàng không công phạt gì đâu.
Có tiếng xe xích-lô đậu ngoài cửa và tiếng bà cụ gọi các cháu - Chị Bình cầm lấy bát thuốc, nhắm chặt mắt lại, đưa hai ngón tay bịt mũi, rồi nuốt ừng ực, mặt nhăn nhó một cách ghê tởm. Thuốc đắng hay sao mà chị trào cả nước mắt ra.
Thấy mẹ bước vào, hai vợ chồng lúng túng như hai kẻ gian. Bà cụ giơ cao lên một con cá chép chĩa về phía chị Bình :
- Sang mãi bên kia cầu mới mua được đầy - Đàn bà có mang ăn cá này đẻ con thông minh lắm nhé. Mà chị phải nấu riêng, một mình ăn hết một con mới tốt. Bà ra mâm cả nhà, lũ trẻ nó khoắng cho một lúc thì chẳng còn được miếng nào.
Chị Bình không muốn cho mẹ nhìn thấy mắt mình đỏ hoe nằm úp mặt xuống gối - Bà cụ lại gần :
- Chị làm sao thế?
- Con chóng mặt quá.
Bình lấy chân khẽ gạt bát thuốc vừa uống cạn vào gấm giường.
Tới bữa chị Bình nằm nguyên, không ra ăn cơm. Anh ngơ ngơ ngác ngác, chẳng nói chẳng rằng.
Hết mười thang thuốc rồi, Bình nghe ngóng mãi không thấy vợ động tĩnh gì cả. Thỉnh thoảng anh lại nhìn vợ khẽ hất hàm như muốn hỏi tin tức. Vợ chỉ cúi đầu xuống không nói gì.
Chị Bình mỗi ngày một ồ ề, bụng đã rõ hẳn. Những lúc có riêng hai vợ chồng, anh lẩm bẩm :
- Lão lang già chỉ khoác lác. Phải đòi tiền lại mới được.
Sáng chủ nhật nọ, Bình ở đâu về chạy vào bếp tìm vợ :
- Hắn vẫn cả quyết thuốc hắn tốt. Hắn bảo cô đến cho hắn xem mạch lại.
Chị Bình cứ trùng trình, anh ta phải giục :
- Đi, mặc áo đi luôn.
Khi đó chị Bình mới dìu chồng ngồi xuống :
- Mình ngồi yên, em kể cho mình nghe câu chuyện này.
Bình ngước mắt nhìn vợ, nửa tin nửa ngờ :
- Nó chuyển rồi mà em giấu anh phải không?
- Nó chẳng chuyển gì cả - Tại em, không phải tại thuốc ông lang - Em có uống một thang đầu, chín thang sau em đổ đi hết.
Rồi không để chồng hỏi thêm, chị nói thật nhanh :
- Nó cứ may máy trong bụng như là nó biết mình sắp sửa làm gì nó. Em thấy thương nó quá em không nỡ.
Chị ngồi chờ phản ứng của chồng. Bỗng chị cầm tay chồng đặt nhanh lên bụng mình :
- Đấy nó lại máy đấy.
Bình rụt rè để tay theo vợ chỉ. Cái bụng phình phình cưng cứng như có một trái bưởi bên trong. Anh lắng tay nghe và thoáng một giây thấy tim mình, ngực vợ, bụng kia cùng đập một nhịp.
Lúc Bình đứng dậy, anh có cảm tưởng vừa ở một cơn mơ ra. Chỉ một chút nữa cái mầm sống kia đã tắt lụi. Anh nói hổn hển như một người mới thoát một tai nạn.
- Ừ nó máy thật - Rồi nó được yêu nhất nhà cho mà coi.

0
Làm văn nghệ
 
- Chúng mày ra hết cả ngoài kia đi.
Văn xua hai tay đuổi lũ con ra phòng ngoài dáng điệu nóng nảy. Thằng Long, con Bích, nhặt vội nhặt vàng những đồ chơi chúng đang bày la liệt trên mặt đất, vài cái lọ thủy tinh, mấy cái hình bìa cứng, rồi kéo nhau đi chỗ khác, vừa đi vừa quay lại nhìn bố, nửa ngơ ngác, nửa thất vọng.
Phải có cái gì quan trọng lắm Văn mới nghiêm nhặt với con như vậy. Ngày thường chúng nó muốn quấy phá thế nào anh cũng mặc. Nhưng hôm nay mà chúng đùa nghịch bên cạnh anh thì không xong. Lý do là anh đang sáng tác văn nghệ.
Không hiểu tại sao Văn lại nảy ra ý định viết truyện ngắn. Ý đó lúc đầu lướt qua óc anh như một cơn gió thoảng. Nhưng dù chỉ là đi qua, gió đã để một cái gì ở lại như một thứ phấn hoa được đặt vào nhụy cái. Từ đó cái mầm văn nghệ thỉnh thoảng lại cựa mình. Câu truyện ngắn mà Văn ủ ấp mỗi ngày một lớn lên, một rõ ra. Văn như một nhà kiến trúc đứng trước mảnh đất hoang mà đã nhìn thấy các đường nét ngôi nhà định xây, cách xếp đặt các căn phòng, lối sinh hoạt của những người sẽ tới ở. Văn tưởng chừng như sờ mó được những nhân vật trong câu truyện anh đang xây dựng, nghe thấy tiếng họ nói, sống hẳn những cảm giác của họ. Càng ngày những nhân vật đó càng cồng kềnh, dẫy dọng y như một cái thai đến ngày đến tháng sắp lọt ra khỏi cái bụng ồ ề.
Ý định sáng tác ám ảnh anh, dằn vặt anh đến một độ không chịu nổi. Anh không ngờ cái nhu cầu tinh thần đó mà có thể làm anh quằn quại đau đớn đến cả thể chất. Anh phải viết thì nó mới nhẹ đi, anh nhất định viết rồi đấy.
Nhưng mà lạ thế! Cảm hứng tưởng đã là dồi dào súc tích, thế mà sắp cầm đến bút lại thấy nó mong manh, chới với như sắp bay đi đâu mất hết. Bây giờ chỉ là một cái cửa đóng mạnh, một tiếng còi xe hơi cũng đủ làm vụt biến đi cả cái công trình kiến trúc trong óc anh chẳng khác gì mấy vòng khói thuốc lá bị loãng tan trong cơn gió.
Anh đã đuổi hết con cái đi rồi, mà ngồi vào bàn viết, anh còn phải đưa hai tay lên ôm lấy đầu ghì giữ lại trong óc mấy cái hình ảnh mông lung. Rồi thế vẫn còn chưa đủ, anh lùa mười mấy ngón tay dưới mái tóc, xoắn chặt lấy tóc vào ngón tay như muốn níu lại áo một kẻ sắp bỏ ra đi.
Chật vật như vậy anh mới viết được vài dòng. Chị Văn ở dưới bếp đi lên, rón rén qua chỗ anh, khẽ liếc nhìn chồng, con mắt vừa âu yếm vừa khâm phục.
Hơn một tuần nay, đã nhiều lần anh cho chị biết ý định sáng tác của anh nên vẻ mặt đăm chiêu xa vắng của anh không làm chị ngạc nhiên.
Chị ra phòng ngoài lăng xăng tìm kiếm cái gì không biết rồi lại lẳng lặng xuống bếp. Một lát sau chị mang vào bên anh một địa khô mực và một ly rượu bia, bọt sủi chung quanh miếng đá mát lạnh. Anh Văn mắt vẫn không rời tờ giấy trước mặt, đưa tay ra lấy một miếng khô mực bỏ vào miệng chẳng nói chẳng rằng, hình như việc vợ phải chiều mình như thế là một chuyện dĩ nhiên. Anh cầm ly bia lên ngả người về đằng sau, uống một hơi dài, rồi vừa rung đùi vừa đọc lại mấy câu anh vừa viết. Tự nhiên anh thấy giọng văn của anh có một ầm điệu gì rất êm tai. Anh gọi vợ lại gần :
- Cô thử nghe đoạn này có được không?
Anh đọc xong, chị tấm tắc :
- Hay!
Anh nói thêm :
- Được đấy chứ. Còn khô mực cho tôi một đĩa nữa.
Và anh lại cắm cúi viết. Tối đến mới xong có hai trang. Anh đưa vợ coi rồi giảng với một giọng say sưa :
- Nếu viết truyện ngắn mà chỉ là kể một câu chuyện thì dễ quá. Ít nhất mình phải nói lên được một cái gì. Ít nhất mình phải là nhân chứng thời đại mình đang sống. Đối với những thế hệ sắp tới, sáng tác của mình phải chứa đựng một thông điệp.
Anh còn nói nhiều nữa. Chị Văn chỉ hiểu lơ mơ văn nghệ còn là một cái gì khác hơn là viết văn.
Có đêm anh đang ngủ, bỗng nhỏm dậy, bật đèn lên, nắm vội lấy cái bút chì, nguệch ngoạc vài chữ trên xếp giấy đặt sẵn đầu giường, rồi lại tắt đèn đi, nằm xuống.
Ậm ạch như thế trong một tuần lễ, anh viết xong truyện ngắn của mình, và lúc bấy giờ mới chợt nhận thấy anh chưa đặt tên cho nó. Chị Văn lại được anh hỏi ý kiến nhiều lần :
- Thế nào là “Hiu quạnh” hơn hay là “một tâm hồn” hơn?
Anh thấy tên nào cũng hay, bỏ tên nào cũng tiếc, sau cùng anh chọn ghép cả hai tên lại và đặt truyện ngắn mình là: “Một tâm hồn hiu quạnh”.
Anh nắn nót tên đó lên khoảng trống anh vẫn chừa ra ở trang nhất rồi chua thêm ở dưới một giòng chữ nắn nót hơn: “Truyện ngắn của Hoàng Mai”.
Bút hiệu này anh chọn đã lầu rồi. Ngay từ lúc anh chưa viết lách gì anh đã nghĩ sau này nếu có dịp nào sáng tác nhất định sẽ lấy tên Hoàng Mai làm bút hiệu. Hoàng Mai là tên làng anh. Chỉ có cách đó là trả được món nợ tinh thần của anh đối với làng cũ.
Văn nâng tập truyện ngắn lên trong hai tay, khẽ lật từng tờ rồi lẩm bẩm :
- Mười lăm trang chứ có ít đâu.
Khó lòng mà tả được sự kiêu hãnh của anh khi đó. Chính Văn cũng không rõ nó như thế nào chỉ biết là nó mênh mang tràn ngập. Anh thấy anh đã thoát khỏi con người nhỏ mọn hàng ngày và đã vượt tới một bực mà người thường không dễ đến nơi. Anh cất tiếng gọi, giọng vang lên như một lời ca :
- Mẹ con mày lại cả đây.
Chị Văn, thằng Tùng, thằng Long, con Bích đã từ một tuần nay chịu đựng sự lầm lì của anh, nay thấy anh cởi mở như vậy, chạy ùa lại bâu quanh anh.
- Đọc cho mẹ con mày nghe nhé.
Mấy đứa con chờ đợi cái gì khác hơn là một sự bình văn nên không tỏ vẻ hào hứng. Chị Văn một tay ôm lấy con gái, một tay khẽ để lên vai chồng, đứng nghe chăm chú.
Có những đoạn anh dằn từng tiếng rồi hất hàm hỏi vợ :
- Có nhận thấy dụng ý của mình không?
Vợ khẽ gật đầu. Văn sung sướng đã gặp được kẻ hiểu mình, lại cúi xuống đọc tiếp. Chưa hết nửa bài, thằng Long, con Bích đã có dấu hiệu sốt ruột. Thằng Long, không biết nghĩ ngợi thế nào nắm lấy tóc em giựt mạnh và con Bích quay lại đấm ngay vào ngực anh trả thù. Văn lừ mắt nhìn sang hai đứa, chúng đứng im một lát rồi giữa lúc ông bố đang say sưa với chính giọng mình sang sảng, chúng lại chím chóe, đâu trở về đấy. Chị Văn không nhịn được hơn nữa, phát mạnh vào mông hai con. Chúng òa lên khóc và cuộc bình văn gián đoạn.
Từ khi viết xong truyện ngắn, Văn thấy mình giàu hẳn lên và trong tay như có thêm một thứ quyền hành mới. Anh làm gì mà chẳng được khi anh đã chia sẻ quyền sáng tác với tạo vật.
Mấy bữa ăn gần đây, Văn có vẻ nóng nảy hơn. Anh đi đi lại lại như tính toán một việc gì. Chị Văn đang ngồi khâu ở phòng ngoài bỗng nghe tiếng chồng hỏi vọng ra :
- Này 160 hay 170 nhỉ?
Chị dừng kim lại :
- Cái gì mà 160, 170.
- Địa chỉ tạp chí Thời Mới ấy mà. Có phải 160 Phan Đình Phùng không?
- Em đâu có biết!
Giọng Văn gay gắt hơn :
- Ngồi đây thì làm sao mà biết được. Đứng lên xem hộ người ta một chút. Lật đằng sau lưng một số báo cũ là thấy ngay.
Chị Văn mang một số báo vào cho chồng, dáng điệu nhẫn nại. Văn nhìn nét mặt vợ, biết là mình vô lý, vừa cầm tờ báo vừa nắm lấy tay vợ :
- Cứ chịu khó thế này rồi bao nhiêu tiền nhuận bút anh biếu mẹ con mày hết.
Vợ vẫn lẳng lặng, Văn nói tiếp :
- Này, rồi nữ độc giả họ viết thư khen thì đừng có ghen đấy nhé.
Gửi bài cho tòa báo rồi, Văn càng nóng ruột, ngồi đứng không yên.
Chưa bao giờ Văn thấy báo Thời Mới ra chậm như lần này. Hôm này anh cũng rảo qua mấy sạp báo, mà hôm nào cũng chỉ thấy mấy số báo cũ bụi bậm, nhạt màu. Anh chịu không nổi nữa. Anh phóng xe lại tòa soạn, vừa gặp lúc báo mang từ nhà in về. Anh hỏi mua một số và lúc đưa tiền cho cô thư ký anh nóng ran cả hai tai, tưởng chừng như cô ta nhìn thấu gan ruột của mình.
- Đúng rồi, đúng là cô ta biết là mình có bài gửi đăng rồi.
Văn nghĩ thầm như vậy và lúc quay trở ra, anh còn thấy cái nhìn tò mò đó đè nặng sau gáy mình. Tự nhiên anh đưa tay về phía sau vuốt mạnh gáy như muốn lau sạch ảnh hưởng ma quái của cái nhìn kia.
Ra tới ngoài đường anh lật vội những trang báo, càng vội những trang giấy lại càng dính vào nhau. Bỗng anh dừng lại ở gần cuối tập, ghé sát mắt vào một khung báo, đọc chăm chú một hồi, rồi hai tay khép lại trên tờ báo, anh ngửng đầu lên, mặt đờ ra, vừa sung sướng, vừa tần ngần, như một sáng anh dậy hút được một điếu thuốc lào ngon.
Anh nhảy lên xe ra về, dọc đường thỉnh thoảng lại bỏ một tay ra, kẹp tờ báo vào ngực, lần trở tới trang cũ, lách nhìn vào trong, rồi mỉm cười một mình. Không hiểu làm sao đi xe như vậy mà anh không đâm vào ai.
Vừa xuống xe, Văn chạy vào khoe vợ, và chị Văn theo tay chông trỏ đọc ở mục “Hộp thư Thời Mới” trong những bài đã nhận được có cả “Một tâm hồn hiu quạnh” của Hoàng Mai. Chị Văn ngước mắt nhìn chồng và Văn sung sướng như thuở còn đi học thấy tên mình trong danh sách những người trúng tuyển một kỳ thi.
Dưới mục “Hộp thư” tòa soạn có đề câu: “Xin trân trọng cảm ơn các bạn” Văn đọc to câu đó lên rồi nói tiếp :
- Muốn cảm ơn hả? Đã thế sẽ gửi cho bài nữa!
Chị Văn hỏi lại chồng :
- Nhưng đây mới là họ nhận được bài chứ đã đăng đâu?
Văn trả lời với nhiều tự tín :
- Của ai kia chứ còn bài mình thì nhất định là họ phải đăng rồi.
Các bạn Văn cũng đã bắt đầu nhận thấy ở nơi anh một cái gì hơi khác thường. Một sự lúng túng có đôi chút tính toán ở trong, một vẻ ngập ngừng như muốn gợi sự tò mò của kẻ đối thoại. Văn đến bực mình về sự chậm hiểu của các bạn. Còn có gì là khó hiểu cho cam. Một người đã sáng tác như anh thì tất nhiên mặt phải hiện ra cái phong thái văn nghệ giấu làm sao nổi. Thế mà chưa bạn nào đủ tinh tế để gọi ra là anh đang viết văn. Đã có lần Văn hỏi một anh bạn :
- Thế nào, dạo này cậu giải trí cách nào?
- À, đại loại xem sách báo, chơi thể thao, coi xi-nê. Thế còn anh?
Văn mỉm cười một cách thật bí mật :
- Anh muốn biết tôi giải trí cách nào hả? Chờ vài ngày nữa rồi anh sẽ biết.
Thật là nói đến nơi rồi mà anh kia vẫn ngơ ngẩn như mới từ cung trăng rơi xuống. Trên đời này không có gì buồn nản bằng gặp những người sừng sững như những bức tường chặn đứng mọi dòng thông cảm.
Văn lại sống những giờ phập phồng mong đợi chờ ngày báo ra. Anh đã nhìn thấy trước truyện ngắn của anh trong tập báo, ý nhị và duyên dáng bên những bài khảo luận đạo mạo hay những bài thơ uốn éo. Anh đã thở đầy ngực hơi mực in như người mẹ day dụi mũi mình trên da thịt đứa con mới sinh. Anh băn khoăn không biết đăng một kỳ có dài quá không :
- Các ông ấy mà cắt làm hai kỳ là chết mình. Mười lăm ngày sau độc giả mới được đọc tiếp mất hết cả hứng thú còn gì nữa.
Văn không ngờ là tim mình có thể đập mạnh đến thế khi nhận được số báo mới. Chưa biết báo có đăng bài mình không mà cả một giòng chữ “Một tâm hồn hiu quạnh của Hoàng Mai” đã hiện lên bật ra trong óc anh, rõ rệt ngay từ lúc anh chưa nhìn vào tờ báo. Anh đưa mắt thật nhanh vào bản mục lục, liếc dọc từ trên xuống dưới, chờ đọc ở mỗi dòng những chữ “Một tâm hồn hiu quạnh của Hoàng Mai” y như anh đánh số đặt hết tương lai vào chuyện rủi may đang dò tìm số vé của mình trên bản in lô trúng.
Nhưng đọc đi, đọc lại cũng không thấy. Giở mục “Thời mới trong những số tới” cũng không thấy nói đến bài mình, Văn cầm tờ báo vứt ra một bên. Tự nhiên anh thấy báo chí dạo này kém quá xem không nổi nữa.
Chị Văn nhìn gương mặt chồng mà đọc được hết cả những ý nghĩ của anh. Chị lại bên chồng đon đả :
- Báo mới đây hả anh?
Và chị cúi người xuống vươn tay định cầm lấy tờ báo. Bỗng chị dừng hẳn lại, anh vừa cất tiếng gắt :
- Để đấy cho tôi. Báo mua về chưa kịp xem. Vợ con đã định tha đi.
Lúc khác có lẽ chị đã giận chồng. Nhưng sống với chồng lâu năm rồi, không phản ứng nào của chồng là chị không đoán trước được, nên không những không giận chồng mà chị lại còn buồn cười thấy chồng cáu kỉnh đúng như chị đã chờ đợi.
Chiều hôm đó anh vui vẻ hơn - Anh trỏ cho vợ xem ở mục hộp thư có ghi: “Nếu bài nào qua bốn kỳ Thời Mới mà vẫn chưa đăng thì xin các bạn coi như là không đăng” và nói thêm :
- Bài mình có đăng thì cũng phải mấy số sau.
Cả nhà đi ngủ rồi Văn hãy còn thao thức. Bỗng anh khẽ đập lên vai vợ :
- Này, ngủ chưa? Anh lại vừa nảy ra ý cho một truyện ngắn mới rồi.
Chị Văn lụng bụng nói gì nghe không rõ, còn Văn tiếp theo ý kiến của mình :
- Cứ lững thững viết chỉ một năm là có thể góp vào xuất bản một cuốn truyện ngắn chọn lọc đấy chứ đừng tưởng đâu.
Và anh ngủ thiếp đi với hình ảnh những cuốn sách của mình bầy la liệt các tiệm sách đô thành.
Mỗi một lần có số báo mới, Văn lại rơi từ hy vọng xuống thất vọng rồi lại tìm được cách an ủi mình, lóp ngóp bò lên từ chỗ buồn nản đến chỗ mong chờ. Củ như vậy được bốn lần báo ra mà vẫn không có bài mình, Văn thấy nhọc thõng thượt cả từ tầm trí đến thể xác y như một cái lò xo kéo ra, co lại nhiều lần đến nỗi mất cả sức đàn hồi.
Chị Văn cũng không ngờ chồng lại có thể xúc động đến như vậy. Lần thứ tư, cầm tờ báo dò tìm xong, không thấy gì mới, tay anh run rẩy và mặt anh nhợt đi đến độ tím ngắt. Không phải chỉ là nỗi bực dọc vì người ngoài đã phủ nhận chân tài của anh mà thôi đâu, anh còn thấy đau đớn nhưng một người sùng đạo đã bị ai xúc phạm đến tín ngưỡng của mình. Vì anh tin một cách không lay đổi được là sáng tác của anh có một giá trị trác tuyệt và kẻ nào không biết thưởng thức đáng cho anh thương hại. Anh luôn mồm giảng giải cho vợ :
- Bọn họ có hiểu gì đâu. Họ quen với một thứ văn nghệ công thức. Có phải mình không làm được như họ đâu. Mình không muốn đi vào con đường mòn. Mình cố tìm tòi đưa văn nghệ thoát ra khỏi một ngõ bí. Thế là họ sợ, họ không dám đăng.
Chồng càng giảng, chị Văn lại càng thấy văn nghệ là bí hiểm. Dầu sao chị cũng rõ là chồng đặt nhiều kỳ vọng vào bài mới gửi đi. Nay nếu có cách gì mà làm cho bài ấy được đăng, chắc chắn anh sẻ vui lòng. Trước mặt vợ con, anh sẽ không còn nỗi hờn tủi của một người xuống giá, anh sẽ lấy lại được sự tự tín đã từng bị lung lay, anh sẽ viết thêm, và biết đâu đấy anh sẽ chẳng thành một nhà văn nổi tiếng.
Những ý nghĩ đó lúc đầu chỉ lởn vởn trong óc chị nhưng ngày càng rõ rệt, càng thôi thúc chị phải làm một cái gì. Lòng thương chồng bấy lâu nay băn khoăn sáng tác rồi phải chịu nhiều dày vò về tự ái đã khiến cho chị muốn chia sẻ những khắc khoải văn nghệ với chồng. Chị vốn hiền lành ít nói nhưng khi đã quyết định việc gì, chị theo đuổi đến cùng. Đôi khi chính anh cũng phải chịu tính ương bướng của chị. Bây giờ anh đã gần quên hẳn những tấm tức về bài báo không được đăng nhưng lại đến lượt chị nóng nảy muốn công trình khó nhọc của chồng được đền bù xứng đáng.
* * * * *
Chị gửi bức thư cho tòa soạn Thời Mới rồi mới thấy rằng việc mình làm là vô lý. Chuyện không phải chuyện mình tự nhiên lại xen vào, anh mà biết chắc sẽ không để chị yên. Dầu sao chị cũng nhẹ cả lòng. Chị đã gửi lên trên mặt giấy tất cả những ý nghĩ thành thực nhất của chị. Chị cũng không hiểu làm sao mà chị có thể viết dài được đến thế. Tất cả những vật vã của anh khi sáng tác, lòng người vợ chăm nom chồng lúc viết văn, sự hãnh diện khi sáng tác hoàn thành, nỗi thấp thỏm trông chờ bài mình trên mặt báo, sự sụp đổ của hy vọng khi bài báo không được đăng, tất cả những cảm nghĩ đó được chị ghi lại một cách tế nhị đến nỗi người đọc thấy hết được những rung động của người viết. Chị cũng chẳng trông mong gì tòa soạn trả lời. Chị viết vì thấy cần viết còn lá thư của chị ai muốn nghĩ ra sao thì nghĩ. Hai hôm sau chị nhận được thư của tòa báo. Chị thầm trách mình không dưng gây chuyện, nhìn quanh quẩn không thấy có ai bên mình, lúc bấy giờ mới dám mở ra đọc:
“Thưa bà,
Chúng tôi rất cảm kích nhận được thư bà. Anh em trong tòa soạn đều đã biết ít hay nhiều những giầy vò của người sáng tác nên đọc thư bà nhắc lại những nỗi khổ tâm của ông, chúng tôi tưởng như thấy ai nói hộ những điếu bứt rứt của chính riêng mình. Tác giả có bài không được đăng thường cho là tòa soạn lạnh nhạt, không mấy ai chịu tin rằng tòa soạn cũng buồn, buồn vì đã phụ lòng người gửi bài, buồn vì mở rộng dang tay đón bạn mà không ân cần giữ bạn được như lòng kỳ vọng. Giờ phút nào chúng tôi cũng lo sợ không biết rằng cảm tình bốn phương gửi tới, đón giữ lại được bao nhiêu và gió thổi đi tan tác mất bao nhiêu. Chúng tôi thật rất biết ơn bà đã cho chúng tôi có dịp nói hết những mối ưu tư hàng ngày.
Bà có đề nghị với tòa soạn trong kỳ tới, in thêm cho bà 100 số với bài ‘Một tâm hồn hiu quạnh’ của ông nhà, còn tất cả các tờ khác đều không có mang bài đó và sẽ do Thời Mới phát hành, như thường lệ. Như vậy độc giả vẫn nhận được tờ báo như tòa soạn muốn trình bày, còn riêng với ông nhà và các bạn bè thân thuộc sẽ nhận được 100 số báo có thêm mấy trang kia. Bà lại cho chúng tôi hay là bà mới lấy được một bát họ và sẵn sàng chịu hết mọi phụ phí. Bà tin rằng lâu ngày rồi ông cũng sẽ biết sự xếp đặt đó, nhưng nếu tòa báo chịu giúp lúc này ông sẽ qua cơn chán nản và sẽ tìm lại được cái thú sáng tác.
Tất cả các anh em trong tòa soạn đều kính phục lòng bà chăm lo cho ông nhưng rất tiếc không thể nhận được đề nghị trên. Theo ý chúng tôi không có giải pháp nào khác hơn là trình bày thẳng thắn cùng ông những lý do nào đã khiến cho chúng tôi không đăng được bài vừa gửi.
Thực ra mới một tác phẩm đầu tay, ông nhà đã tỏ ra có một bút pháp vững chãi. Tiếc rằng trong suốt truyện ngắn ông nhằm tuyên bố một thái độ hơn là gói ghém một tâm tình. Sáng tác hình như chỉ là mượn cớ và vì thế đôi khi thiếu cả chất thực.
Trái lại khi bà viết thư cho chúng tôi bà đã nói lên những cảm nghĩ thành thực nhất, bà không có phải băn khoăn về một thái độ văn nghệ nào, nên chính lá thư của bà đã là một sáng tác rất đặc sắc. Nếu được bà cho phép, chúng tôi sẽ rất lấy làm sung sướng được đăng lá thư đó trong một số Thời Mới gần đây.
Chúng tôi kính xin bà trình ông bức thư này. Có thể có một vài chỗ sẽ không làm ông hài lòng, nhưng ngay trong anh em tòa soạn chúng tôi có những anh mà lần đầu gặp nhau đã cãi nhau kịch liệt chỉ vì lòng tự ái không chấp nhận được lời phê bình của kẻ khác thế mà sau đó biết nhau hơn lại dung nạp được nhau và mỗi ngày một thân thiết với nhau hơn.
Chúng tôi tin rằng ông bà cũng sẽ khoan lượng cho chúng tôi. Hơn nữa chúng tôi còn tin rằng khi trong gia đình ông có một người bạn ân cần như bà, rồi đây trong những bạn cộng tác với Thời Mới không những sẽ chỉ có ông Hoàng Mai mà lại còn thêm cả bà Văn nữa.
Kính gửi ông bà lời chào của toàn thể anh em tòa soạn”.
Chị Văn đọc xong bức thư ngơ ngác một hồi lâu. Đến bây giờ chị cũng hãy còn phân vân không biết có nên đưa cho anh Văn biệt hiệu Hoàng Mai xem không, và đến bây giờ chị vẫn không hiểu nổi là làm sao mới viết có một bức thư mà chị đã trở thành một nhà sáng tác văn nghệ.

0
Đám ma anh Văn
 
Nhà Văn ở trên con đường đi tới Bắc Việt Nghĩa Trang nên một trong những thú tiêu khiển của Văn là đứng xem những đám ma đi ngang qua nhà mình. Thường thường ngày nào cũng có một đám, ngày đông đến ba, bốn đám.
Có đám linh đình nhộn nhịp như một thịnh hội, có đám xơ xác rạc rời như một dúm tàn quân, đám nào cũng cho người xem nhiều dấu hiệu về gia thế, nghề nghiệp cùng về những nỗi thành bại, thăng trầm của người đã chết.
Sáng chủ nhật đó, nghe từ xa tiếng kèn nức nở, Văn châm một điếu thuốc lá rồi ra đứng cửa theo thường lệ. Anh còn đang ngắm nghía bức ảnh đặt trên linh xa, bỗng thấy người khó chịu, sa sẩm mày mặt, anh vứt điếu thuốc đi, quay vào trong nhà, nằm lên chiếc ghế dài. Một lát sau chị Văn đang làm cơm trong bếp nghe thấy chồng ngáy khò khò ở buồng ngoài. Chị lẩm bẩm :
- Chả được cái việc gì! Chỉ được cái dễ ngủ là không ai bằng!
Gần trưa, thằng Long ra đánh thức bố nó dậy ăn cơm, không thấy bố nó trả lời. Chị Văn lại gần, định bụng sẽ đập mạnh lên vai cho chồng giật mình tỉnh giấc, nhưng chị đã sững sờ trước sắc mặt khác thường của chồng. Mắt anh nhắm nghiền, môi cắn chặt - Chị cầm tay anh giơ cao lên, lúc bỏ ra, tay vật thõng xuống.
Chị hốt hoảng kêu thằng Tùng đạp xe đi mời bác sĩ. Chị giật tóc mai chồng, xoa đầu, gọi ầm ĩ. Con Bích lè nhè ngồi khóc một xó, chả lẽ nó không làm gì khi cả nhà tíu tít.
Bác sĩ khám, cho biết anh Văn đã bị một cơn đau tim nặng và không phương gì cứu chữa được nữa. Có ai tin được không? Chín giờ còn đứng xem đám ma, mười hai giờ đã chết. Ở đời có những sự vô lý mà chỉ có ai phải chịu đựng mới tin được là có thực.
Riêng đối với Văn, cái chết là một sự khám phá kỳ thú. Từ trước đến nay anh đã nghĩ rằng chết là một cái gì tăm tối âm u như một đêm dài vô tận, người chết không còn biết đến cảnh vật xung quanh. Nhưng đến khi chết thật, anh mới rõ cái chết khác hẳn những điều anh tưởng tượng. Anh thấy như mình có thêm một giác quan mới, cùng một lúc nhìn được khắp chốn khắp nơi, đọc được cả ý nghĩ người bên cạnh. Và anh quyết lợi dụng cái khả năng mới này mà nhìn lại cuộc đời cho bõ với những lúc phải trông bằng nhỡn quan hạn chế của đôi mắt mở sáng.
Bác sĩ xếp ống nghe vào túi da rồi rửa tay với xà bông. Văn hơi khó chịu :
- Người ta chết vì tim chứ có vì vi trùng đâu mà ông phải rửa tay kỹ thế.
Chị Văn vừa mếu máo vừa đưa bác sĩ tiền khám bệnh. Anh thấy rõ ông ta đang nghĩ :
- Mình không lấy tiền mới phải. Mình tới coi, hắn đã chết rồi, có phải chữa chạy gì đâu?
Văn đang sung sướng thì bác sĩ cầm tiền rồi đi ra về.
Chị Văn bao nhiêu năm nay sống với chồng, không có lúc nào tưởng tượng rằng chồng có thể chết mau đến thế nên chị lúng túng quá. Chị sai thằng Tùng đi báo tin trong họ và tìm bác Đào. Đào là một anh bạn thân, tính nết sốt sắng, lại khéo cắt đặt nên các bạn hễ có việc gì khó khăn đều tới nhờ Đào.
Anh ta đang nằm vừa đọc báo vừa nghe phát thanh cổ nhạc thì thằng Tùng lấp ló ở cửa.
- Cái gì đấy cháu? Bố mày lại muốn rủ bác sang đánh chén phải không?
Tùng nghẹn ngào :
- Bố cháu chết rồi.
- Hứ!
Lúc Đào chạy sang tới nơi, Văn không thể nhịn được cười. Chưa vào đến cửa, Đào đã cất tiếng hỏi, cố lấy giọng bình tĩnh, thế mà hai đầu gối run lẩy bẩy và trống ngực đánh thình thình. Đào đứng xa nhìn vào. Văn tưởng bây giờ hét lên được một tiếng, chắc chắn Đào té xỉu.
Con mèo con vẫn được Đào vuốt ve mỗi khi anh sang chơi, mon men đến cạnh, cọ bộ râu mép vào cánh tay anh làm Đào túm chặt lấy cổ nó kêu lên :
- Nhốt ngay nó lại, hay là gửi nó đi đâu, chứ không lôi thôi bây giờ.
Đào xếp đặt mấy việc lặt vặt xong, chạy đi kiếm cỗ áo và mướn xe đòn. Qua nhà Sơn, anh tạt vào báo tin Văn chết. Sơn chạy báo Thiệu, và Cầu đang đi ở đường Lê Lợi bỗng nhìn thấy Nhân gọi giật lại :
- Này Cầu, Văn chết rồi.
- Văn nào?
- Văn “Ba Kim” chứ còn Văn nào.
Cứ từ người nọ truyền sang người kia như vậy đến buổi chiều hôm đó thì gần hết các bạn thân đã biết tin.
Đêm hôm chủ nhật, Văn nằm sõng sượt giữa nhà. Lúc còn sống, suốt ngày bị con quấy phá, vợ hỏi dồn, anh thường nói :
- Tao chịu không nổi rồi. Ước gì tao được nằm một mình một chỗ cho sướng cái thân tao.
Bây giờ anh mới thấy mình lầm. Dưới ngọn đèn xanh xao, không có bên mình hơi thở quen thuộc của những người thân yêu, anh thấy thê lương một cách khó tả. Cái lạnh lẽo của cái chết cũng chưa ghê rợn bằng cái lạnh lẽo của tình thương tắt dụi.
Ba đứa con anh, vì thiếu chỗ, - anh đã chiếm hết cả phòng ngoài rồi còn đâu - nằm chúi đầu vào với nhau trên cánh phản nhỏ ở góc phòng trong, trông chẳng khác gì ba con chó con. Nhà bận quá, cũng chẳng ai nghĩ đến mắc màn cho chúng và mấy con muỗi đói đang hút đầy máu trên đùi của thằng Long. Thằng Tùng ngủ say mệt, nó chạy suốt ngày hôm nay còn gì, gác cả đôi chân nặng chĩu lên mặt em Bích.
Anh chợt nghĩ đến những em nhỏ lải nhải mới anh mua vé số, dai dẳng đến khó chịu, hay lúi húi ở dưới gậm bàn trong các tiệm ăn, ôm cẳng từng người, đặt lấy được lên trên quai cái hộp gỗ mà đánh đôi giầy. Xin Trời phù hộ cho các con anh khỏi phải ném quá sớm tuổi thơ của chúng vào cuộc đời. Bây giờ mà anh sống lại, chúng nó dù có quấy phá, hờn, vòi thế nào cũng mặc, anh nhất định sẽ không đánh mắng chúng nó nữa.
Chị Văn đang cặm cụi may áo sô cho chị và các con. Nỗi buồn đã đến đột ngột quá làm chị không còn đủ sức mà khóc nhưng khuôn mặt chị có những nét cứng rắn khác thường. Văn không biết rồi vợ sẽ loay hoay ra sao trong những ngày sắp tới. Trước đây đã có lúc anh nói với vợ :
- Khi nào anh sắp chết, thế nào anh cũng kể hết cho em nghe anh đã chơi bời giấu diếm em như thế nào.
Đến nay lời đó anh cũng không giữ nổi và anh chết đã đem theo đi cả những câu dối trá nói với vợ những bữa về khuya, hay những chuyện nhiều thêu dệt để tự bào chữa sau những đêm trác táng.
Anh chợt liên tưởng đến mấy người bạn đã cùng anh chia sẻ những phút đó và anh nẩy ra ý tò mò muốn biết xem giờ này họ đang làm gì và cái chết của anh có thay đổi gì đến nếp sống của họ không. Anh thả hồn rảo đi một vòng. Tất cả các bạn đều đã ngủ kỹ, anh ngáy, anh nói mê, không ai bỏ những thói quen thường nhật. Chỉ còn hai anh thao thức. Thiện và Nhân. Thiện thì đang loai hoay làm bài thơ để phúng anh. Thiện mới nghĩ được câu đầu:
“Hôm qua sống mà hôm nay đã chết”.
Cái vần chết này thật là tử vận. Thiệu tìm mãi không ra câu dưới. Nhân không làm thơ nhưng lại nghĩ đến món nợ hai chục ngàn mà Văn đã mượn để sang căn nhà đang ở. Bây giờ Văn chết đi, chị ta một nách ba con, kiếm đủ ăn cũng còn chật vật, nói gì đến chuyện trả nợ.
Sáng thứ hai, ông chủ hãng của Văn lúc tới sở vẫn chưa biết tin. Không thấy Văn ở bàn giấy, ông càu nhàu :
- Lại còn tạt đi làm tô phở gà với ly cà phê. Không mấy buổi là không đi chậm.
Trong khi đó, các bạn Văn tíu tít kêu điện thoại, bắt liên lạc họp thành từng nhóm, chia nhau đóng góp mua đồ phúng. Ai nấy đùn cho người khác công việc đi sắp lễ và mang lại nhà đám, chỉ xin về phần mình được đứng tên trong một danh sách chung.
Người ta đã đặt Văn trong một cái hòm kín mít. Anh tưởng anh sẽ ngột ngạt khó chịu lắm nhưng không, nằm dài trên một lượt dầy giấy bản và bấc thông êm ái, anh thấy rất thoải mái và anh vẫn trông rõ hết những cảnh bên ngoài.
Nếu không chết đi như thế này không bao giờ anh lại biết anh đã có một đời sống gương mẫu và được nhiều người thương tiếc đến như vậy.
- Người hiền lành, chu đáo quá, thế mà trời bắt tội.
- Ăn ở với anh em, chẳng ai mất lòng cả.
- Tính nết thật dễ dãi, việc gì cũng chín bỏ làm mười.
Tất cả những lời khen đó làm anh nửa sung sướng, nửa nghi hoặc. Đúng là anh đã quá nghiêm khắc với anh rồi, nên phải chờ người khác nói anh mới biết là mình có bao nhiêu điều hay nết tốt.
Có ông đến phúng anh mà chỉ giương mục kỉnh đi quanh nhà đọc các bức trướng đối, có bà ngắm đi ngắm lại đứa cháu gái của anh mà bà vẫn muốn hỏi cho con giai nhưng bà chưa có dịp nào xem mặt kỹ càng.
Tiếng kèn nghe mới khó chịu làm sao. Mỗi một người vào là nó lại tỉ tê, nức nở, chẳng ra tiếng khóc mà cũng chẳng phải điệu nhạc. Nó cứ ỉ eo dai như thế từ sáng đến tối khuya làm Văn nghe kèn mà có cảm giác như bị ai cầm một cái lá dứa nhiều gai rồi nhay đi, kéo lại trên da thịt.
Kèn nổi lên, vợ con anh lại xụp xuống đáp lễ khách. Mấy đứa trẻ lúc đầu còn lễ một cách chăm chỉ, sau mỏi dần, chân xiêu vẹo, khăn một nơi, gậy một nẻo.
Sáng hôm thứ ba người ta đưa Văn ra nghĩa trang. Anh chưa bao giờ được đi đứng một cách rềnh ràng như vậy. Đời anh đã nhiều lần bực mình về chuyện kẹt xe, nay được làm cho sự lưu thông ứ đọng lại, anh tìm thấy một cách thích thú riêng.
Trên một chiếc xe hơi nọ, một đôi trai gái đang cãi nhau. Họ đang muốn đi thật nhanh ra khỏi thành phố để tránh những con mắt tò mò, thì bị nghẽn lại ở khúc này. Người con gái, cúi gầm mặt xuống :
- Đã bảo đi đường khác mà không nghe.
- Ai có ngờ đâu lại gặp cái đám ma chết tiệt này.
Một vài người cất mũ chào anh mà dáng như lo ngại thiên hạ không trông thấy cử chỉ lịch sự của mình.
Anh ngoái lại đằng sau nhìn đám người đi theo xe tang. Chị Văn lê lết trên đường, lưng gập xuống như phải vác một cái gì quá nặng. Thằng Tùng đi bên mẹ. Nó đã khá lớn nhưng mới chỉ hiểu một cách mơ hồ là gia đình nó đang trải qua một biến cố. Thằng Long, con Bích vẫn nhởn nhơ như không, coi việc bố chết chẳng khác gì bố đi chơi xa.
Các bạn anh quần áo trịnh trọng, nét mặt trầm ngâm, tưởng như sắp làm việc gì quan trọng lắm.
Đào đi lên, đi xuống, chỉ huy mọi việc. Thiệu vẫn ậm ạch với bài thơ chưa làm xong. Nhân ngơ ngác về món nợ Văn chưa thanh toán. Cầu bấm ngón tay cái lên mấy ngón kia rồi quay sang nói với người bên cạnh :
- Tôi xem tử vi hắn thì chưa việc gì mới phải. Có Kình, Đà, Không, Kiếp thật nhưng ngộ Triệt.
Sơn ghé vào tai Tường dáng điệu rất bí mật :
- Cậu xem nghị định thăng thưởng đã ký chưa? Có thấy tên tớ không?
Mỗi nhóm nói một chuyện nhưng tất cả đều sốt ruột mãi chưa thấy đến trạm nghỉ - Trời đã nắng gắt và mồ hôi bắt đầu rỏ giọt làm người ta ngưa ngứa trên lưng.
Hải bước uể oải, chậm dần, chậm dần, đang hàng trên tụt xuống dưới, rồi vừa lúc đến chỗ rẽ nhẩy ngoắt lên hè, quay lưng trở lại, nét mặt thản nhiên như mình không có dính dáng gì đến đám người đang đi.
Đám ma tới nghĩa trang, người ta đặt Văn cạnh huyệt đã đào sẵn. Miệng huyệt đen ngòm và sâu thẳm như sắp nuốt lấy Văn. Ngay bên đống đất đầy ù đang chờ đợi xóa trùm mọi vết tích của một cuộc sống.
Thân nhân của Văn tự nhiên khóc rống lên chẳng khác gì những con thú bị thương. Con đường của mọi người đi tiễn Văn đã dừng sững lại trước cửa huyệt này.
Đã mấy hôm nay, Văn vẫn đùa nghịch với cái chết của mình, nhìn lại người sống, nhìn lại cuộc đời với con mắt diễu cợt. Nhưng trước miệng huyệt anh mới chợt thấy cái chết nghiêm khốc phũ phàng hơn anh tưởng.
Chim chóc ríu rít ngoài trời, một cái máy bay vừa cất cánh ở phi trường gần đấy, những tiếng ồn ào của thành phố nhịp nhộn, tất cả những âm thanh đó dội vào tai Văn làm anh thấy mình thèm thuồng cuộc đời như một người uống chưa đã khát.
Những người phu đòn không để anh nhớ tiếc lâu. Họ bỏ thõng anh xuống huyệt, lấp đất vào, dận thình thình trên ngực anh. Những hòn đất mà bạn bè thân thuộc ném lốp đốp trên anh như còn muốn dìm anh xuống sâu hơn nữa trong lòng đất.
Một màn đen tối sầm phủ chặt lấy mắt anh. Anh cũng không nghe thấy gì nữa. Một sự im lặng mênh mông như từ vạn cổ trôi về cuốn anh đi mất. Thế là hết. Hết hẳn.
* * * * *
Văn sợ quá giật mình tỉnh dậy, bàng hoàng một hồi lâu rồi mới chợt nhận ra mình đã ngủ quên đi và đã nằm mê trong giấc ngủ.
Ngoài trời, ánh sáng chói lòa, sức sống đang chồi lên từ ngọn cỏ, từ búp cây. Mấy đứa con anh đang chụm đầu vào nhau chơi chọi dế. Anh lại gần các con, và chẳng có duyên cớ gì, phát lên mông mỗi đứa một cái. Anh vào trong bếp - Vợ vẫn đứng làm cơm và đang gọt củ đậu (củ sắn) nhanh thoăn thoắt. Anh đưa một tay ra đập vào lưng vợ, còn tay kia nhặt một miếng củ đậu bỏ vào miệng nhai ngau ngáu. Chưa bao giờ anh thấy củ đậu ngọt và mát như hôm nay.

0
Cái cầu ao
 
Trong những hình ảnh quê hương thường lởn vởn trong trí óc tôi thì đầu tiên phải kể cái cầu ao. Thực ra nó cũng chẳng có gì là đặc biệt song đối với ai đã từng ở nơi đồng ruộng, cái cầu ao quả đã gắn liền vào đời sống hàng ngày, và chỉ nhìn nó người ta có thể biết ngay nề nếp sinh hoạt của cả một gia đình.
Khi tôi còn nhỏ, cầu ao của nhà tôi chỉ là ba thân cây cau già ghép lại, một đầu dựa vào bờ ao, một đầu ghếch lên một cái nạng tre cắm sâu xuống bùn ao. Tuy đơn sơ như vậy mà nó được hết ông tôi đến thầy tôi chăm chút, sửa chữa cho mỗi ngày một dễ coi hơn, một tiện lợi hơn. Ông tôi cứ mỗi khi có một cái cối đá giữa gạo nào dùng lâu bị thủng trôn, nhà thay cối mới, thì lại hì hà hì hục khênh cái cối thủng ra bên bờ ao, lật sấp cối làm cái bực cầu ao cho dễ bước lên, bước xuống. Thường thường phải một hai chục năm cái cối giã gạo mới bị thủng trôn, nên phải đợi gần hai chục năm mới có một cái cối thải ra làm bực cầu ao. Ông tôi thọ được gần bảy chục tuổi mà suốt đời chỉ có được ba lần sung sướng khênh cái cối thủng ra vật sấp bên bờ ao.
Nhưng với ba cây cau nhiều khi chật chội quá nên ở đầu cầu dọc thấy tôi đã bắc một cái cầu ngang ngắn hơn và thấp hơn, dầm hẳn dưới nước. Như vậy khi ở cầu chính có người rửa rau, vo gạo thì ở cầu phụ người khác vẫn có thể giặt giũ tắm táp như thường. Có cầu ngang lại thêm một cái lợi là mùa nước cạn vẫn với tay được tới mặt ao một cách dễ dàng.
Cách đó ít lâu thầy tôi mua được một bạnh gỗ vừa rộng vừa dầy. Thầy tôi bỏ hẳn ra một ngày làm lại cầu ao, mặt gỗ nhẵn nhụi để lên trên, mặt gồ ghề quay xuống dưới. Lúc đặt xong cầu mới, thầy tôi lấm láp bò từ dưới ao lên, hút một hơi thuốc lào thật dài rồi mồm thở khói, tay cầm cái xe điếu trỏ xuống ao :
- Tao cho cái cầu này thì thiên niên bất dịch.
Và cả gia đình tôi đã sử dụng cầu ao như là nó sẽ không bao giờ hỏng được. Từ sáng đến tối, mùa nọ qua mùa kia lúc nào cũng thấy bì bõm, thì thùm, khua khoắng, róc rách, việc gì cần đến nước là đều mang ra cầu ao. Người có mặt nhiều nhất ở cầu ao có lẽ là chị tôi. Vừa mới sớm tinh sương chị tôi đã lò dò ra phía bờ ao với những bước đi chập chờn của người còn ngái ngủ. Những ngày trời rét chị tôi co ro ngồi trên cầu ao thọc thật nhanh một ngón tay xuống mặt ao và tay vừa chấm nước chị tôi đã vội rụt ngay lại, rùng mình vì hơi lạnh từ lòng nước thấm lên. Rồi chị tôi lấy hết can đảm lùa mạnh hai tay xuống mặt ao, vốc lên một ít nước, vã vào mặt mình cho tỉnh ngủ. Sau đó, chị tôi ngồi ngắm bóng mình giữa bóng trăng sao rung rinh. Ước gì tôi mà hiểu được những lúc đó chị tôi đang nghĩ ngợi gì.
Ba bữa trong một ngày, làm món ăn, rửa đũa bát, năm thằng em nhỏ phải tắm gội, vài chậu quần áo phải vò giặt, đếm làm sao hết những lượt chị tôi ra cầu ao. Ấy là chưa kể những buổi sáng nhà thay hết loạt chiếu, chị tôi nắm từng chiếc, từng chiếc, uốn mình đập chiếu, rộn ràng như người đập pháo trên mặt ao. Chiếu sũng nước, nặng chình chịch, thế mà chị tôi vung lên, quăng xuống nhịp nhàng đến tưởng chừng như chiếu kia là một phần của thân hình cô gái óng ả nọ.
Mẹ tôi có cho chị tôi một đôi lợn nái làm vốn nên chiều chiều tôi còn được xem người chị đảm đang, kiễng chân trên cầu ao, vươn ra đằng trước mặt một cái sào dài đầu có buộc một cái rế tre để vớt bèo nấu cám. Bèo lôi vào đến đâu thì cái bè rau muống lại quấn quít tới đó như số kiếm rau đã buộc vào bèo.
Nhưng không phải chỉ có mình tôi ngắm chị tôi. Bên kia ao nhà tôi là vườn ông Nhiêu Kính. Ông này không có ao, nên nói với thầy mẹ tôi cho bắc nhờ cái cầu tre để có chỗ lấy nước dùng. Cái cầu ao nhà tôi đĩnh đạc đàng hoàng chừng nào thì cái cầu tre nhà ông Nhiêu Kính bẽn lẽn tóp mọp chừng nấy. Được cái cậu con trai ông ta thì lại nhanh nhẹn hoạt bát và trong khi chị tôi đang cắm cúi làm việc bên này ao, ở bên kia thường vọng sang những câu bâng quơ chẳng biết hỏi ai :
- Nước ao hôm nay mát quá! Tối nay đi tát nước không? Sào nấu gì mà thơm thế?
Có lúc cũng giọng nói ấy lại loan sang bên này những tin tức mới nhất trong ngày :
- Ông Bá Hạ bên Lang Viên chết rồi. Hôm nay hai đồng một công gặt.
Thường thường chị tôi không đáp lại cứ lặng lẽ làm cho xong việc. Nhưng có lần tôi bắt gặp chị tôi với tay lên nhành khế lòa xòa trên mặt ao, ngắt một quả ném sang bên kia bờ. Chị tôi ném yếu quá, quả khế trôi lơ lửng cách cầu tre hơn một sải tay và cậu con trai nhà ông Nhiêu Kính, chẳng kịp xắn ống quần lên cho khỏi ướt, lội bừa xuống ao, túm vội lấy quả khế đưa lên miệng nhai ngấu nghiến.
Khung cảnh cầu ao mộc mạc thuần khiết như vậy nên có những việc đem ra chỗ khác sẽ rất chướng mắt mà đặt ở cầu ao chẳng làm ai ngạc nhiên. Mùa nực, về buổi chiều, khi nước ao đã hả bớt hơi nóng ban ngày hay mùa đông, vào giữa trưa, khi ao đã hút được chút nắng ấm áp, đàn ông đàn bà ra tắm ở cầu ao chẳng có vẻ gì là ngượng ngùng. Anh đàn ông thường là vô ý nhất, từ lúc kỳ cọ thiếu cả một tối thiểu y phục, đến lúc lên bờ lấy tay vuốt sạch nước trên mình, giậm mạnh đôi chân cho ráo nước khi xỏ vào quần vắt trên bụi dứa. Đàn bà có những cử chỉ được tính toán kỹ càng hơn và không có gì ăn nhịp với nhau bằng lúc cái xiêm ướt được trút bỏ đến đâu thì cái xiêm khô được buông trùm tới đó.
Riêng tôi đã tắm ao là phải mất hàng giờ. Tôi lặn, tôi ngụp, tôi bơi ếch, tôi bơi sải, tôi lấy chân khẽ dận trên bùi rồi thấy chân vướng vật gì, tôi cúi xuống vớt lên những con ốc, con trai, tôi mò những thìa, đũa, chén, đĩa mà người nhà đã đánh rơi khi rửa bát.
Ở dưới ao lên, tôi còn bẩn hơn lúc chưa xuống tắm. Những cáu bùn bám đầy người tôi và làm cho lông chân lông tay tôi như dài ra, đen hơn và sồm soàm một cách ghê sợ.
Dần dần tôi thuộc hết quang cảnh cầu ao và chỉ nhìn những thay đổi ở nơi đó tôi có thể nói ngay được đang là mùa nào, tháng mấy trong năm.
Tháng giêng, ăn tết xong rồi, mẹ tôi thường cho vượt bùn từ ao đổ lên vườn chè. Bùn đổ vào gốc chè, tròn trĩnh và ngon lành như một chiếc bánh ngọt, và đổ xong bùn, vườn trông như một cửa hàng bầy bánh la liệt trên quầy. Mười ngày sau đó chè được tiết xuân lại thêm bùn dưới gốc, đâm lộc non mơn mởn.
Tháng hai là tháng thả cá. Người bán cá giống gánh cá trong hai cái thúng sơn đen, vừa đặt thúng xuống là mấy anh chị em tôi đã xúm chặt chung quanh để xem ông ta vớt cá, và để bắt những lúc ông ta đếm ăn gian. Cá đang bơi tung tăng trong thúng thì người bán cá nhẹ nhàng lùa một cái vợt tre, vớt cá lên cho sang một cái chậu thau đầy nước. Mỗi một lần chao vợt là ông ta đếm, nhưng đáng lẽ đếm một cách liên tiếp thì ông ta lại đếm đứt quãng :
- 14,... 15,... con cá, này thế mà tốt, 21, 22,... con này loại choai... 32, 33...
Thành ra mua trăm cá không chắc được tám chục con. Lúc nghiêng cái thau nước cho cá lội xuống ao tôi tưởng chừng đã nhìn thấy cá lớn lên như thổi.
Tháng ba, tháng chín tương đối rảnh việc nhất trong năm, nên ở nhà thường đan lát rổ rá, cạp lại cái thúng này vá lại cái nong kia. Trước khi đan, thầy tôi đem ngâm dưới chân cầu ao những khúc tre già cho khỏi mọt. Đó là một dịp cho tôi vác những khúc tre ra làm phao bơi lội, hay làm tầu chiến đánh nhau với trẻ con hàng xóm.
Tháng năm, tháng mười là mùa gặt, cái cầu ao tấp nập khác thường. Chị tôi quần quật lên lên, xuống xuống để lo cho kịp ba bữa cơm thợ gặt và ba bữa cơm người nhà. Những ngày đó tôi không bao giờ chịu ăn cơm với thầy mẹ tôi và tôi chỉ đòi ăn với những người thợ gặt, không phải là họ có món gì ngon hơn, nhưng bởi vì ăn với họ tôi cảm thấy tôi lớn mạnh hơn, hùng dũng hơn.
Gặt xong là bắt đầu ngâm thóc giống cho vụ sau, tháng sáu ngâm giống vụ mùa và tháng một ngâm giống vụ chiêm. Cầu ao được nối dài ra bằng một cây tre có treo lủng lẳng năm sáu dành thóc dầm nước tới miệng dành. Ban ngày thì ngâm nước, ban đêm lại đem lên ủ, cứ như vậy được ba hôm, thóc nẩy mộng. Tôi không ưa công việc này lắm vì suốt mấy ngày ngâm thóc, mẹ tôi cứ bắt tôi ngồi trên cầu ao canh chừng không cho đàn vịt kéo nhau vào rúc hết thóc.
Tháng bảy mưa ngâu nước lên cao có khi ngập hết cả cầu ao. Chung quanh bờ ao có chỗ nào thấp là chúng tôi lấy lá dứa, cành rào chắn ngang cho cá ao mình khỏi đi mất.
Tháng tám nước trong vắt, cá đi hàng đàn trông rõ mồn một. Thấy tôi ngồi trên vườn nhìn dáng cá lội, xem cách nó phun tăm hay lên ngáp trên mặt nước mà biết con nào là cá chép, con nào là cá mè.
Và lần nào cũng vậy, gọi tên từng con xong, thầy tôi nói một cách hãnh diện :
- Những con cá này đã thấm vào đâu. Chúng mày rình mà coi con trắm của tao. Mình nó bằng cây chuối hột, đuôi nó như cây quạt.
Nhưng bọn tôi không bao giờ nhìn thấy con trắm cả mặc dầu có nhiều đêm, nhà chưa đi ngủ, có tiếng quẫy mạnh ở ngoài ao, thầy tôi lại kêu to lên :
- Đấy, nó đấy.
Tháng chạp là tháng cầu ao rộn rịp nhất trong năm, có phần còn hơn cả ngày mùa. Đầu tháng nhà đã rửa hành, nén dưa. Vào ngày 21 hay 22 thầy mẹ tôi kêu phường lưới tới đánh cá. Như vậy hôm 23 có cá chép cúng ông Táo. Hai bên mà cả với nhau, cá tạp sẽ chia đều, cá lớn thì “một chục ăn đôi” nghĩa là chia nhà chủ mười con thì phường lưới lấy hai con. Chính vì không hiểu tường tận nghĩa câu “một chục ăn đôi” này nên đã có lần tôi bị hớ đến bây giờ chưa quên. Năm đó thầy mẹ tôi bận việc gì không rõ đã giao cho tôi đứng trông cho phường lưới chia cá. Mấy người đánh lưới chắc trông thấy bộ mặt tôi ngớ ngẩn lắm nên đã bảo tôi :
- Một chục ăn đôi nghĩa là được mười con thì cậu lấy tám, bọn tôi lấy hai.
Tôi đã nhận đề nghị đó với dáng điệu tự mãn của một kẻ thành thạo.
Cá đánh được bao nhiêu, thầy mẹ tôi để lại một số nhà dùng còn cho đem ra chợ bán lấy tiền tiêu tết. Những con cá giữ lại được sống trong một cái sảo tre to còn gọi là “sảo thuyền” buộc chặt vào chân cầu ao, trên có đậy một cái nong. Chỉ nhìn lũ cá dẫy dọng trong sảo mà đã ngửi thấy mùi riềng của món gỏi hay mùi thì là của món cháo cá ám.
Hai mươi bảy Tết đã thấy ngâm lạt, rửa lá chuối để gói giò, ngâm lá dong gói bánh chưng, hai mươi tám giặt chiếu, giặt màn thờ. Hai mươi chín, ba mươi phải tranh giành nhau mới có một chỗ trên cầu ao. Nào vo gạo, sát đỗ, nào mổ lợn, giết gà, người đánh mâm, rửa nồi, kẻ tắm gội tất niên, đi lên đi xuống cầu ao phải đợi một lúc mới đến lượt mình.
Ba ngày Tết, cầu ao cũng không được nghỉ. Công việc trong nhà tuy có giảm bớt đi, nhưng ai sắp sửa mặc những bộ quần áo mới cũng ra cầu ao rửa chân tay thật kỹ, ai đóng bộ xong rồi cũng ra cầu ao ngắm nghía, soi vuốt, ai đi đâu về cũng trở lại cầu ao. Những cô con gái trong họ đều mừng tuổi thầy mẹ tôi cũng nghĩ cách làm đỡ chị tôi vài việc nhỏ, rửa hộ mấy lá trầu, lấy giùm một thau nước, để có dịp ra cầu ao tự hào với bóng mình. Chỉ ở nhà quê mới có thể tự tìm thấy một nơi mà công việc nội trợ đi liền với sự đỏm đáng như ở cầu ao.
Năm này qua năm khác, nhịp sống bên cầu ao đều đặn như vậy nhưng nhìn kỹ cũng thấy nhiều đổi thay. Những năm mất mùa, cầu ao ủ dột chán chường. Những năm thầy mẹ tôi làm ăn may mắn, cầu ao tung tăng rộn lên nhiều niềm thịnh hội. Cầu ao với đống rơm là những dấu hiệu chắc chắn về sự hưng suy của một gia đình thôn quê, chẳng khác gì những đồ biểu hoạt động của những nhà doanh nghiệp.
Lớn lên, tôi có công ăn việc làm ở một tỉnh xa. Mẹ tôi một hôm lên chơi và xong bữa cơm chiều, mẹ tôi thủng thẳng nói :
- Kiếm được đồng nào con phải lo dành dụm. Rồi cũng phải trông nom sửa sang ở nhà quê. Ra giêng này, mẹ muốn xây cái cổng và cái cầu ao.
Tôi không hiểu hết những băn khoăn của mẹ tôi nên đã trả lời :
- Còn bao nhiêu việc phải làm, sao mẹ lại lo xây cổng với cầu ao trước?
- Cái cổng như bộ mặt mình, phải cho nó phong quang còn nhà mình là nhà làm ăn không thể nào không xây cầu ao được. Con xem đấy, nhà chú Lý Tam đâu có sung túc gì lắm, thế mà chú ấy cũng xây được cái cầu ao bề thế đáo để.
Còn ai mà có thể trái được ý mẹ tôi nữa?
Nhưng tới nay cái mộng xây cầu ao của mẹ tôi vẫn chưa thành. Chúng tôi thuộc những người, mười mấy năm chiến sự vẫn bám chặt lấy quê nhà, nhưng vừa đình chiến đã phải bỏ làng ra đi. Ai chẳng sợ chiến tranh, nhưng chúng tôi đã phải trốn cả hòa bình, để đống rơm, để cầu ao ở lại.
Hành lý sửa soạn xong rồi, tất cả mọi người trong nhà, không ai bảo ai, lần lượt ra cầu ao rửa chân. Tại sao lại rửa chân lúc sắp lên đường nhỉ? Thầy tôi cầm mấy nắm cơm vứt xuống ao cho con trắm, đứng tần ngần hồi lâu rồi trở vào bảo mọi người ra đi.
Đến nay đã bảy năm rồi, chúng tôi ăn Tết xa cầu ao, mà ở ngoài kia cầu ao nhà tôi không biết có Tết mà ăn không?
 
HẾT
0
Cái Bong Bóng Lợn 
Tác giả:Phan Văn Tạo
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn casau, nguyen đ thanh đã góp sức cho thư viện
 
Chúc vui
 

📎 thankyou




0