Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hau thuy hu - hồi 104 & 105

1 trả lời, 4.859 lượt xem — Trang 1 / 1
Hồi 104

Đoàn Gia trang kén rể hiền,
Phòng Sơn trại đổi chủ mới.

Đang nói chuyện Vương Khánh sang chơi bảo Định Sơn. Bên ấy có chừng năm sáu trăm nhà, dựng rạp diễn trò hát trên đám ruộng ở phía đông. Bấy giờ vai đào hát chưa lên rạp diễn. Phía dưới kê ba bốn chục chiếc bàn, người đứng vòng trong vòng ngoài, chen nhau vào để chơi xúc xắc, đánh xóc đĩa ăn tiền. Mỗi tiếng bạc ít cũng có vài người đặt cược. Khắp nơi râm ran kẻ hô người đáp. Nào là "Lục phong nhi", "Ngũ ma tử", "Hảo liêu mao", "Chu oa nhi".
Những người đánh xóc đĩa ngồi quỳ trên đất đến hơn hai chục đám, cũng hô gọi ồn ào: "Hồn thuần nhi", "Tam bối gian", "Bát xoa nhi".
Bọn đánh xúc xắc đằng này hô "Lục", kẻ đánh xóc đĩa đằng kia quát "Bối", rồi thì cười nói, văng tục, gây chuyện đánh nhau. Kẻ thua thì cởi áo tháo khăn, cầm cố lấy tiền đánh gỡ vốn đến nỗi mất cả gia nghiệp, quên ngủ, bỏ ăn, rốt cuộc chỉ chuốc một tiếng "thua" vào mình. Người được thì mặt mày hớn hở, khoát đông vẫy tây, ra quán rượu đằng này lại vào ăn hàng ăn đằng nọ. Kẻ thì bao túi đeo vai, khăn lưng buộc bụng, ống áo vén tay, chỗ nào cũng thấy tiền, nhưng khi tính lại mới biết vào lỗ hà ra lỗ hổng, bị nhà hồ hớt ngọn, thành ra thu được cũng chẳng bao nhiêu, đành buộc túi cúi đầu đi thẳng. Không cứ gì các đám cờ bạc, đàn bà con gái các thôn ấy cũng vứt cuốc cày, bỏ rổ rau hái dở, túm năm tụm ba kéo nhau đi xem hội, phô những khuôn trăng đen nhẻm, lộ những hăm răng ngọc vàng khè, đứng ngây người chờ xem các vai đào kép. Ai nấy trầm trồ khen cô đào chính, cũng là người do cha sinh mẹ đẻ mà sao lại đép như tiên, được bao nhiêu người hâm mộ? Đêm diễn hôm ấy, chẳng những các thôn phường lân cận, mà người châu thành cũng đánh đường đến xem, khiến cho những ruộng lúa mạch đã lên xanh bị xéo nát đến hơn mười mẫu.
Không kể rườm rà: Vương Khánh đi lướt xem xung quanh mỗi nơi một tí. Đến gần bên nhà rạp thấy giữa đám đông một người đàn ông to lớn ngồi trên chiếc ghế đẩu, hai tay vịn mép bàn. Người ấy mặt to bè, hai mắt tròn xoe, vai rộng bụng thon. Trên bàn đặt sẵn năm quan tiền, một hộp xúc xắc và sáu hột đổ bằng xương, nhưng không thấy khách chơi nào đến xóc hộp. Vương Khánh nghĩ bụng: "Ta từ khi bị phát vãng đến nay đã mười mấy tháng chưa được chơi trò này lần nào. Hôm trước đại huynh Phạm Toàn đưa cho ta đĩnh bạc để mua củi đóm, vẫn còn cả đây, nay tạm dùng làm vốn, thử đồ chơi vài ván, may ra được lãi vài quan mua hoa quả ăn cho vui". Nghĩ đoạn Vương Khánh lấy đĩnh bạc ném lên bàn rồi nói:
- Đưa đây đổ chơi vài ván!
Người chủ bàn xúc xắc liếc Vương Khánh rồi đáp:
- Muốn đổ thì đổ.
Người ấy chưa dứt lời, một gã to cao nét mặt hao hao giống người chủ bàn, từ phía bên kia lách đám đông đi đến nói với Vương Khánh:
- Ông trọc ơi, người kia không chịu cho xuất chủ bằng đĩnh bạc ấy đâu. Đem bạc đây tôi cho ông vay tiền. Nếu ông được, mỗi quan chỉ cần trả lãi hai mươi đồng.
Vương Khánh đáp:
- Tốt lắm!
Nói đoạn lấy đĩnh bạc đưa cho người kia để cầm hai quan tiền, nhưng đã bị hắn trừ ngay mỗi quan hai mươi đồng. Vương Khánh tặc lưỡi: "Cũng được!" Nói đoạn bảo chủ bàn xóc hộp, đổ hột, rồi hô: "Chu oa nhi!". Đổ được hai ba ván lại có một người khác chen vào đặt tiền suất chủ để cùng đổ. Vương Khánh vốn chuyên nghề cờ bạc ở Đông Kinh, hô phát nào thường trúng phát ấy, lại biết cách né mình đánh lảng và nhiều mánh gian khác khiến cho người đứng cược phải thua thiệt. Người cho Vương Khánh vay tiền nhân lúc lộn xộn đã lẻn sang bàn bên kia. Người chen đến đánh sau nói là Vương Khánh đánh hăng quá không theo được, bèn gật đầu ra hiệu cho người chủ cược, rồi bỏ đi nơi khác. Vương Khánh đánh một mạch, thắng cược được hai quan, người đứng xem tấm tắc khen ngợi. Tiếp theo, càng đánh lại càng đỏ. Vương Khánh chỉ việc giơ tay vơ tiền. Người chủ bàn cược nóng mặt, muốn đánh cao cho chóng thu lại vốn, nhưng càng đổ càng thua, Vương Khánh đánh chín ván thì chủ cược thua hết tám, chẳng mấy chốc thua sạch cả năm quan tiền. Vương Khánh được tiền, lấy dây xâu hai quan để lên bàn, chờ tìm người cho vay tiền vốn, còn ba quan cũng xâu lại để đó. Vương Khánh định đi tìm người cho vay để trả tiền chuộc bạc lại, người chủ cược liền quát:
- Nhà ngươi định đem tiền đi đâu? Tiền mới ra lò, nóng bỏng tay đấy!
Vương Khánh tức giận nói:
- Ngươi đánh cược bị thua vào tay ta rồi, còn nói thối gì nữa?
Người chủ bàn cược trừng mắt mắng:
- Đồ chó đẻ! sao mi dám chạm đến bố đẻ của mi?
Vương Khánh mắng lại:
- Thằng đểu, ta chỉ sợ ngươi đấm vào bụng ta rồi rút tay không ra thôi! bỏ ra để ta đi!
Người chủ bàn cược bèn giơ nắm tay đấm vào mặt Vương Khánh. Vương Khánh né người tránh được, liền lựa thế nắm lấy tên kia, hất khủyu tay đánh vào ngực, lại co chân phải đá vào chân trái hắn. Tên kia chỉ cậy sức mạnh mà không biết phép võ, làm sao gỡ được thế quật ấy, rốt cuộc bị ngã chổng vó. Đám đông cười rộ, khoái chí. Tên chủ bàn cược đang giãy gụa, chưa kịp bò dậy thì Vương Khánh đã nhảy đè lên mà đấm. Gã cầm bạc lúc nãy chạy tới chẳng khuyên can mà cũng không đánh giúp, thừa dịp vơ tiền trên bàn bỏ chạy. Vương Khánh cả giận bỏ tên chủ bàn cược, co chân đuổi theo tên cướp tiền. Bỗng thấy một người con gái rẽ đám đông bước ra quát lớn:
- Tên kia không được vô lễ, có ta ở đây!
Cô gái ấy khoảng chừng hai tư, hai lăm tuổi, vội cởi áo ngoài cuộn vo lại ném lên bàn, chỉ mặc áo chẽn hẹp tay và áo bán thân màu lục, quần thêu hẹp ống màu tía. Bây giờ cô gái vung tay xông đến đánh. Vương Khánh thấy đối thủ là con gái, nước quyền đánh tới lại có chỗ sơ hở, nên có ý đùa bỡn coi thường, vờn qua vờn lại chờ người con gái kia đánh tới.
Bấy giờ vài đào hát đã lên rạp diễn, hát một bài theo điệu tiếu nhạc. Nhưng người đi xem thấy đôi nam nữ đang đánh nhau thì đổ xô đến xem, đứng chật vòng trong vòng ngoài. Người con gái thấy Vương Khánh chỉ ngáng tay làm rào chắn mà không dám xông vào, bèn giả cách chú ý vào chỗ không rồi dùng thế "Hắc hổ thâu tâm" (hổ đen móc tim) thoi một quyền vào ngực Vương Khánh. Vương Khánh nhẩy sang một bên, tránh được. Người con gái kia đánh hụt, không kịp thu quyền về, liền bị Vương Khánh lựa thế khóa tay rồi hất chân quật ngã. Nhưng khi cô gái sắp đập đầu xuống đất, Vương Khánh đã kịp luồn tay qua lưng, bế thốc lên, thế võ ấy gọi là "hổ bão đầu" (hổ ôm đầu). Vương Khánh nói:
- Chưa bẩn quần áo. Trót làm đụng chạm, xing đừng trách, vì chính cô nương tự tìm đến.
Cô gái không chút xấu hổ tức giận, lại còn khen Vương Khánh:
- Đường quyền đẹp lắm, quả là cứng tay!
Bấy giờ cả gã chủ cược và gã cướp tiền từ ngoài rẽ đám đông xông vào quát tháo:
- Thằng lạc loài, sao mi dám đánh ngã em ta?
Vương Khánh lớn tiếng mắng lại:
- Đồ bẩn thỉu, đã thua cược lại cướp tiền của ta mà còn dám nói thối!
Nói đoạn vung tay sấn đến đánh. Bỗng từ trong đám đông một người vội xông tới đứng chặn, cất tiếng can ngăn:
- Lý đại lang không được vô lễ. Các đại ca Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ cũng xin dừng tay cho. Chỗ láng giềng quen biết, có chuyện gì thì bảo nhau mới phải.
Vương Khánh nguoclến nhận ra Phạm Toàn. Bấy giờ cả ba người đều chịu đứng im. Phạm Toàn nói với cô gái:
- Xin chào Tam nương.
Người con gái cũng đáp chào "Vạn Phúc", rồi hỏi:
- Lý đại lang là bà con của viện trưởng à?
Phạm Toàn đáp:
- Là em con dì của tôi.
Tam nương nói:
- Một tay đánh quyền xuất sắc đấy.
Vương Khánh nói với Phạm Toàn:
- Chỉ vì người kia đánh được xúc xắc thua tiền của đệ, rồi bảo đồng bọn đến cướp.
Phạm Toàn cười đáp:
- Đây là nơi làm ăn của Nhị lang và Ngũ lang, hiền đệ sao lại đến gây chuyện rắc rối?
Đoàn Nhị và Đoàn Ngũ đưa mắt nhìn Tam nương. Tam nương nói:
- Vì nể thể diện của Phạm viện trưởng, chẳng cần phải tranh chấp với Lý đại lang làm gì. Đem đĩnh bạc ra đây!
Đoàn Ngũ nghe em gái khuyên can, phải chịu nhận mình thua cuộc và đem đĩnh bạc ra để Tam nương trả lại Phạm Toàn.
- Đĩnh bạc còn nguyên đây, viện trưởng đem trả cho người ấy.
Nói xong Đoàn Tam nương dẫn Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ rẽ đám đông đi ra. Phạm Toàn cũng kéo Vương Khánh về trang trại. Trên đường đi, Phạm Toàn trách Vương Khánh:
- Ta nể tình với dì, dù biết nguy hiểm vẫn giữ hiền đệ ở lại đây, chờ khi được ân xá lại lo liệu tiếp. Thế mà hiền đệ chẳng chịu ngồi yên cho! hai gã Đoàn Nhị và Đoàn Ngũ kia là hạng điêu toa lừa đảo. Còn Đoàn Tam nương có tiếng là hạng đàn bà đáo để, người ta đặt cho ả biệt danh là "Đại trùng oa" (cọp ở hang), con em nhà tử tế bị ả ta dụ dỗ lừa đảo không biết bao nhiêu mà kể. Năm mười lăm tuổi, cha mẹ đã gả cho một lão già, chỉ một năm là lão ngốc ấy bị ả ta nướng nghẻo. Ả cậy có sức khoẻ, thường theo bọn Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ đi gây sự cướp bóc kiếm chác. Các thôn phường lân cận đây ai cũng phải kiềng mặt anh em nhà ả. Khi nào đón được đào hát ở châu về, anh em ả đều đứng ra làm chủ gá bạc, có bàn xúc xắc đĩa nào mà không thuộc vòng khống chế của bọn họ? Thế mà hiền đệ không biết, lại đến đây gây chuyện rắc rối. Chẳng may để lộ tung tích, cả ta và hiền đệ đều phải chuốc tai họa không nhỏ.
Vương Khánh bị Phạm Toàn mắng cho một trận cứng họng, không đối đáp được. Khi ra đi, Phạm Toàn bảo Vương Khánh:
- Ta phải về thành đi trực, ngày mai lại đến thăm hiền đệ.
Không nói việc Phạm Toàn trở về thành Phòng Châu, kể tiếp chuyện Vương Khánh đêm ấy nghỉ ngơi, không có sự gì xảy ra. Sáng hôm sau, Khánh vừa dậy rửa mặt chải đầu xong thì thấy trang khách vào báo: "Có Đoàn thái công đến thăm đại lang". Vương Khánh vội ra tiếp. Đó là một cụ già da nhăn nheo, râu tóc bạc trắng. Chào hỏi xong, hai người chia ngôi chủ khách cùng ngồi. Đoàn thái công nhìn Vương Khánh một lượt từ đầu đến chân, nói nhỏ một mình: "Quả là khôi ngôi tuấn tú". Rồi Đoàn thái công hỏi quên quán họ hàng gia thế của Vương Khánh, vì sao đến ở Phòng Châu, bà con với Phạm viện trưởng như thế nào, đã có vợ chưa, v..v.. Vương Khánh nghe thái công hỏi hai nhiêu khê, bèn bịa chuyện trả lời:
- Tiểu nhân nhà ở Tây Kinh, cha mẹ mất sớm, vợ cũng ốm chết, tiểu nhân là em con dì của Phạm tiết cấp. Năm ngoái Phạm tiết cấp có việc đi công cám ở Tây Kinh, thấy tiểu nhân sống độc thân không ai chăm sóc nên đón về đây để anh em được gần gũi, nương tựa vào nhau. Tiểu nhân cũng biết qua các môn quyền bổng, chờ dịp thuận tiện sẽ xin một chân thưa phái ở bản châu.
Đoàn thái công nghe xong cả mừng, hỏi thêm tuổi tác, ngày tháng năm sinh của Vương Khánh, rồi cáo từ ra về. Hồi lâu sau, Vương Khánh đang ngồi lo nghĩ ngợi thì một người khách lạ đẩy cửa bước vào cất tiếng hỏi:
- Phạm viện trưởng có nhà không? có phải vị đây là Lý đại lang?
Hai người ngạc nhiên im lặng nhìn nhau một lúc. Cả hai đều nghĩ: "Có lẽ đã gặp người này ở đâu rồi?" Chào hỏi xong, hai người đang nói chuyện thì Phạm Toàn đến. Ba người ngồi yên chỗ, Phạm Toàn hỏi:
- Lý tiên sinh có việc gì đến đây?
Vương Khánh nghe nhắc đến Lý tiên sinh chợt nhớ ra: "Đúng rồi! hắn đúng là gã thầy bó Lý Trợ". Lý Trợ cũng nhớ lại: "Người này ở Đông Kinh, họ Vương, đã từng mời ta xem bói". Lý Trợ nói với Phạm Toàn:
- Thưa Phạm viện trưởng, tiểu nhân chưa có dịp làm quen với vị đây, có phải là lệnh đệ Lý đại lang không?
Phạm Toàn chỉ Vương Khánh nói:
- Đúng là Lý đại lang em họ tôi đấy.
Vương Khánh nó tiếp:
- Tiểu nhân vốn họ Lý, gọi họ Vương là họ bên ngoại.
Lý Trợ vỗ tay, cười nói:
- Nhớ ra rồi. Đúng vị này họ Vương, tiểu nhân tôi từng gặp trước cửa phủ Khai Phong ở Đông Kinh.
Vương Khánh thấy Lý Trợ đã nói ra rành mạch như thế, chỉ ngồi yên cúi đầu. Lý Trợ nói với Vương Khánh:
- Sau ngày tôi với đại lang chia tay, tôi xuống miền Kinh Nam được dị nhân truyền thụ kiếm thuật, và diệu quyết xem tướng số, vì thế người ta gọi tôi là "Kim kiếm tiên sinh". Gần đây đến Phòng Châu, nghe nói miền này đông vui, tôi tìm đến hành nghề. Anh em họ Đoàn biết tôi am hiểu kiếm thuật, mời tôi đến ở tại nhà để chỉ giáo cho họ. Đoàn thái công vừa ở đây về đưa tờ ghi tuổi tác, ngày giờ sinh của đại lang có tướng tinh đẹp thế, ngày sau sẽ được phú quý hết chỗ nói. Còn hiện nay đại lang đang có chim loan đỏ ứng chiếu vào mệnh, hợp với việc vui mừng. Đoàn thái công đang muốn chọn đại lang làm rể, mà hôm nay lại là ngày đại cát. Tiểu nhân đến đây để làm nguyệt lão xe tơ. Tướng tinh của Đoàn Tam nương cũng rất vượng cho chồng. Hôm qua hai vị gặp nhau, ngang tài ngang sức thật đẹp đôi. Mong hai vị sớm thành nhân duyên cho tiểu nhân kiếm rượu uống.
Phạm Toàn nghe câu chuyện của Lý Trợ, trầm ngâm nghĩ ngợi hồi lâu: "Cha con họ Đoàn là hạng điêu toa, ghê gớm, nếu không bằng lòng cuộc thu xếp nhân duyên này thì có chỗ sơ hở khiến họ nghi ngờ, cái hại chẳng nhỏ. Tốt nhất cứ phải tương kế tựu kế". Nghĩ đoạn Phạm Toàn bèn nói với Lý Trợ:
- Việc tốt mà Phạm Toàn tôi không biết! nhã ý của cha con Đoàn thái công như vậy, có điều là em họ tôi đây tính tình thô vụng, không biết có xứng làm rể họ Đoàn không?
Lý Trợ nói:
- Ái chà! viện trưởng bất tất phải khiêm tốn quá. Đoàn Tam nương từ khi gặp đại lang về nhà không ngớt lời khen ngợi.
Phạm Toàn nói:
- Như thế thì hay lắm! Phạm Toàn tôi sẵn sàng đứng làm chủ hôn.
Nói đoạn lấy năm lạng bạc đưa biếu Lý Trợ rồi nói:
- Ở đây thôn quê không có gì thết đãi, chút quà mọn biếu tiên sinh uống nước, xong việc sẽ xin hậu tạ.
Lý Trợ nói:
- Chẳng có gì đáng kể, xin viện trưởng chớ bận tâm.
Phạm Toàn nói:
- Khoan đã! xin dặn tiên sinh một câu: tiên sinh bất tất phải nói em họ tôi có hai họ. Mọi chuyện xin tiên sinh chu toàn cho.
Lý Trợ là gã thầy bói, chỉ cốt được tiền, cám ơn rối rít rồi cáo tù trở về Đoàn gia trang, chẳng chú ý gì đến chuyện hai họ hay một họ, tốt xấu ra sao, chỉ cốt nói vun vào để kiếm tiền uống rượu. Hơn nữa việc kén chọn ấy lại là do ý của Đoàn Tam nương. Ngày thường cả nhà vẫn sợ ả ta, cả Đoàn thái công cũng chẳng dám nói động đến, vì thế việc chắc chắn phải thành.
Lý Trợ qua lại bàn bạc với cả hai bên, mong có nhiều sinh lễ để cho ông mối mát mặt. Nhưg Phạm Toàn lại lo việc sính lễ sẽ gây chuyện lôi thôi, bèn bàn với hai bên nên giảm cả. Đoàn thái công là bên nhà gái đứng ra thu xếp việc nhân duyên, nghe Phạm Toàn bàn thế cũng lấy làm mừng, bèn chọn ngày làm lễ cưới. Ngày hai mươi tháng ấy hai bên sẽ giết dê, mổ lợn, đánh cá, sửa soạn cỗ bàn, mời bà con họ hàng đến uống rượu mừng. Các khoản sênh tiêu, kèn trống, lễ động phòng hoa chúc, v..v.. Đều bỏ cả. Phạm Toàn may cho Vương Khánh một bộ quần áo mới, đích thân dẫn đến Đoàn gia trang, sau đó vì bận việc quan nên xin cáo từ về trước. Vương Khánh và Đoàn Tam nương làm lễ hợp cẩn, các nghi thức khác cũng chỉ chiếu lệ cho xong chuyện. Đoàn thái công bầy tiệc rượu trên thảo đường. Hơn hai chục người thân thích con cái trong nhà, cùng chàng rể mới và ông mối Lý Trợ ngồi uống rượu vui vẻ suốt một ngày, đến chiều tối mới tan. Bà con thân thích ở gần đều cáo từ ra về, chỉ có mấy người vì đường xa phải ngủ lại là vợ chồng cô dượng Phương Hàn; vợ chồng em họ Khưu Tường, và vợ chồng Thi Tuấn là cậu của Đoàn Nhị. Ba khách nam nghỉ ở chái phái đông, ba khách nữ, đều còn trẻ, ngồi lại uống rượu vui chơi với Vương Khánh và Đoàn Tam nương, hồi lâu mới tan về phòng đi nghỉ. Người vú già vào phòng tân hôn trải chăn đệm, mời tân lang và tiểu thư vào nghỉ, rồi đóng cửa phòng đi ra. Đám con gái còn đang ngồi lại nô đùa cười nói, bỗn thấy Đoàn Nhị từ bên ngoài hốt hoảng chạy vào nói to:
- Nguy rồi! bọn các ngươi không biết việc gì hay sao còn ngồi đố mà cười!
Ai nấy sợ toát mồ hôi nhưng không biết xảy ra việc gì. Đoàn Nhị chạy đến trước phòng tân hôn gọi to:
- Tam nương đâu, dậy mau, tai vạ đến nơi rồi!
Đoàn Tam nương đang lúc vui vẻ, nghe Đoàn Nhị gọi lấy làm bực, nằm trên giường nói vọng ra:
- Đêm hôm có chuyện gì mà làm ầm lên thế?
Đoàn Nhị lại kêu to:
- Lửa sém lông mày rồi, chỉ còn các người là chưa biết!
Vương Khánh có tật giật mình, vội bảo Đoàn Tam nương mặc quần áo chạy ra ngoài xem sao. Đám đàn bàn con gái ngồi chơi ở nhà đã chạy ta cả. Vương Khánh vừa ra khỏi phòng thì Đoàn Nhị kéo ngay đến thảo đường. Vương Khánh bước vào đã thấy Phạm toàn đang ngồi ở đó, không ngớt mồn kêu khổ, tiếp sau là Đoàn thái công, Đoàn Ngũ, Đoàn Tam nương cũng theo đến.
Nguyên là gã Hoàng Đạt ở phía đông Cung Gia thôn huyện Tân An sau khi chữa lành vết thương và khỏi ốm, ngày đêm săn lùng tung tích Vương Khánh. Đêm hôm qua hắn đã đến Phòng Châu báo cho quan doãn biết Vương Khánh hiện đang ở đây. Quan châu doãn Trương Cô Hành liền áp triện công văn sai một viên đô đầu đem quân lính đến bắt hung phạm Vương Khánh. Kẻ chứa chấp là Phạm Toàn và cả nhà Đoàn thái công. Phạm Toàn vốn chơi thân với Tiết khổng mục chuyên lập hồ sơ án kiện của bản châu nên được Tiết khổng mục rỉ tai báo cho biết trước chuyện đó. Phạm Toàn không kịp đem theo vợ con, đi ngay đến đây vừa lúc quân quan chưa kịp kéo đến. Thế là mọi người đều bị dính vào việc quan ty. Ai nấy đều giẫm chân đấm ngực, nháo nhác như ổ gà bị lật, cuống cuồng sợ hãi, xúm đến mắng nhiếc Vương Khánh và Đoàn Tam nương. Đang lúc ồn ào bỗn thấy Kim kiếm tiên sinh Lý Trợ từ gian nhà chái phía đông đi vào thảo đường, nói:
- Các vị muốn tránh khỏi tai họa thì phải nghe tôi nói!
Mọi người xúm đến hỏi, Lý Trợ nói:
- Việc đã như vậy, ba mươi sáu chước, chuồn là hơn cả!
Mọi người hỏi:
- Nhưng biết chạy đi đâu?
Lý Trợ đáp:
- Chỉ còn cách lên núi Phòng Sơn ở phía tây, cách đây hai mươi dặm.
Mọi người nói:
- Chỗ ấy bọn cướp thường hai lui tới.
Lý Trợ cười đáp:
- Chao ôi, sao các vị ngu ngốc thế? sự thể này mà còn mong làm người lương thiện được ư?
Mọi người lại nói:
- Vậy làm thế nào?
Lý Trợ nói:
- Trại chủ Phòng Sơn là Liêu Lập vốn quen biết với Lý Trợ tôi. Thủ hạ của ông ta có đến năm sáu trăm lâu la, quan quân không lùng bắt nổi. Mau thu xếp đồ tế nhuyễn, đi ngay đến xin nhập bọn mới tránh được tai vạ.
Bọn Phương Hàn, sáu người cả đàn ông, đàn bà sợ sau này liên lụy đến họ hàng thân thích nên chần chừ chưa muốn đi. Vương Khánh và Đoàn Tam nương phải hết sức thuyết phục, không còn cách nào khác, đành phải ưng thuận. Sau đó mọi người thu xếp những của cải, đồ vật quý để đem đi, còn lại dồn thành ba bốn chục đống châm lửa đốt.
Xong xuôi mọi việc, Vương Khánh, Đoàn tam nương, Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ, Phương Hàn, Khâu Tường, Thi Tuấn, Lý Trợ, Phạm Toàn, tất cả chín người đều hai nịt gọn gàng, ai nấy đeo đoản đao, rút mã tấu cầm tay. Điểm gọi số trang khách muố[n đi theo, tất cả có hơn bốn chục người. Ai nấy đều lo gói buộc tay nải, hành lý. Vương Khánh, Lý Trợ, Phạm Toàn đi đầu, Phương Hàn, Khâu Tường, Thi Tuấn hộ vệ đàn bà con gái đi giũ7a. Cũng may cả bọn đàn bà ấy đều có bàn chân như lưỡi cuốc nên đi nhanh chẳng kém gì đàn ông. Đi sau cùng là Đoàn Tam nương, Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ. Ba anh em đi khắp một lượt châm lửa đốt trang trại, rồi hò reo dẫn đoàn người cầm khí giới, nhằm đường chạy về phía tây. Láng giềng và dân chúng các làng lân cận ngày thường vẫn sợ nhà họ Đoàn như cọp, nay thấy lửa cháy rừng rực mà bọn họ ai nấy đều gậy gộc cầm tay, không hiểu nguyên do thế nào, cho nên nhà ai cũng đóng cửa đứng im nhìn không dám cản trở.
Bọn Vương Khánh đi chung bốn năm dặm thì gặp đội quân do viên giáo đầu của bản châu chỉ huy, có cả Hoàng Đạt, đang trên đường về Đoàn gia trang. Viên đô đầu đi trước liền bị Vương Khánh vung dao chém đứt làm hai đoạn. Bọn Lý Trợ, Đoàn Tam nương nhất tề xông lên chém giết bọn quân nhân, Hoàng Đạt cũng bị Vương Khánh giết.
Tảng sáng, bọn Vương Khánh đến dưới trại Phòng Sơn. Lý Trợ bảo mọi người chờ để mình lên núi báo trước với Liêu Lập. Lâu la đi tuần tiễu, thấy dưới chân núi có nhiều đám đuốc cháy liền trở về báo cho trại chủ. Liêu Lập ngờ đó là quan quân đến đánh. Hàng ngày hắn vẫn coi thường quan quân, nay thấy quan quân kéo đến vội đứng dậy đeo đai, khoác thương, điểm lâu la xuống núi chặn đánh. Vương Khánh thấy lửa sáng trên núi, rồi nhiều bóng người đi xuống, liền chuẩn bị đối phó. Liêu Lập xuống đến nơi thấy đông cả đàn ông đàn bà, đoán chừng không phải quan quân bèn xách thương lên tiếng quát:
- Đám đông các người vì cớ gì đén đây làm kinh động sơn trại của ta? có muốn sao Thái Tuế dọi đầu hồi không thì bảo?
Lý Trợ bước lên cung kính cúi chào:
- Thưa đaivượng, ngu đệ chính là Lý Trợ đây.
Tiếp đó Lý Trợ đem chuyện Vương Khánh phạm tội đi đầy, giết quản doanh và quân lính ra sao kể lại một lượt với Liêu Lập. Liêu Lập nghe Lý Trợ khen Vương Khánh tài giỏi, lại thấy hắn có anh em họ Đoàn đi theo, sợ mình thân cô thế cô, ngày sau mặc mưu độc, bèn trở mặt nói với Lý Trợ:
- Sơn trại của bọn ta chỉ àl nơi nhỏ hẹp, cũng khó thu nạp anh em quý vị.
Vương Khánh nghĩ bụng: "Sơn trại chỉ có mình hắn làm chủ, trừ khử được khắn thì bọn lâu la có đáng lo ngại gì?"
Vương Khánh bèn tước mã tấu xông vào. Liêu Lập cả giận, vung thương chặn đánh. Đoàn Tam nương sợ Vương Khánh sơ hở, cũng xách mã tấu đến giúp sức. Ba người đánh hơn mười hiệp thì có một người ngã. Đúng là:
Bình gốm vỡ liền trên miệng giệng,
Gian hùng ngã gục dưới làn tên.
Chưa biết người bị đánh ngã là ai, xem hồi sau sẽ rõ.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 105

Tống Công Minh tránh nắng dưỡnng quân,
Kiều Đạo Thanh quạt gió thiêu giặc

Đang nói chuyện Vương Khánh và Đoàn Tam nương xông vào đánh Liêu Lập, hai bên giao chiến hơn chục hiệp, Vương Khánh đâm dứ một đường để Liêu Lập đánh vào rồi vọt tới đâm ngã. Đoàn Tam nương đuổi tới bồi tiếp một đao, kết liễu tính mạng hắn. Liêu Lập nửa đời làm nghề cường đạo, đến đây kết thúc giấc mộng xuân!
Vương Khánh xách mã tấu quát lớn:
- Kẻ nào không thuận theo ta thì cứ xem gương Liêu Lập đó!
Bọn lâu lau thấy Liêu Lập bị giết vội nâng giáo lạy hàng, không dám chống cự. Vương Khánh lên núi vào trong trại. Bấy giờ chân trời đã ửng rạng đằng đông. Ngọn núi này xung quanh có nhiều vòm đá tự nhiên giống như những căn phòng nên gọi là Phòng Sơn, thuộc địa hạt Phòng Châu. Bấy giờ, Vương Khánh sắp xếp nơi ăn chốn ở cho từng nhà, xong cho điểm số lâu la, xem xét lương thảo, vàng bạc, vải vóc và ngựa chiến trong doanh trại. Một mặt cho giết bò mổ ngựa bầy tiệc rượu chúc mừng khao thưởng lâu la. Mọi người đều suy tôn Vương Khánh làm trại chủ. Một mặt cho rèn binh khí, huấn luyện lâu la chuẩn bị giao chiến với quân triều đình, việc không cần nói đến.
Lại nói đội quân Phòng Châu theo viên đô đầu tìm bắt Vương Khánh, bị bọn Vương Khánh chém giết, đánh đuổi chạy tan, có kẻ thoát được trở về báo với châu doãn Trương Cố Hành: "Bọn Vương Khánh biết trước sự việc, đã tìm cách chống cự với quan quân. Đô đầu và người tố giác là Hoàng Đạt đều bị giết. Sau đó cả bọn chạy về phía tây". Ngay ngày hôm ấy Trương Cố Hành liền bàn với võ quan trấn thủ bản châu để phái quân tuần tiễu cùng với quân ở bản doanh đi truy bắt. Nhưng vì giặc cướp hung tợn, quan quân lại thiệt mạng một số người nữa. Số lâu la theo lên sơn trại ngày càng đông, bọn Vương Khánh thường đem quân xuống núi đi các nơi cướp phá. Trương Cố Hành thấy thế giặc ngày càng hung hãn, một mặt gửi văn thư báo cho các huyện canh phòng để giữ yên trong cõi, điều thêm quân về châu để hợp sức dẹp cướp. Một mặt lại bàn với chỉ huy binh mã bản châu là đô giám Hồ Hữu Vi tìm kế sách tiễu trừ. Đô giám Hồ Hữu Vi liền điểm quân lính của bản doanh chọn ngày cất quân tiến đánh. Bất ngờ quân lính cả hai doanh hò reo khua trống ầm ầm, hỏi ra thì nguyên nhân là vì đã hai tháng nay không được cấp phát tiền gạo, bụng đói meo sao mà đi đánh giặc được?
Trương Cố Hành nghe tin quân sĩ làm biến liền cho đem tiền gạo đến phát trước một tháng, nhưng vẫn lo làm như thế càng khiến quân sĩ tức giận thì sau không biết làm thế nào? Sự việc xảy ra là do ngày thường không biết vỗ về răn dạy quân sĩ, đến khi quân sĩ đánh trống làm reo mới đem tiền bạc đến phát, thế là đã làm cho quân sĩ sinh kiêu. Lại còn chuyện nực cười nữa: việc đã xảy ra như thế nhưng các tệ khấu đầu trừ đuôi, bớt xén tiền lương của quân sĩ vẫn không giảm. Quân lính thường ngày đã bị bớt xén quá nhiều, nay bỗng được dịp bùng lên. Quân sĩ ào ào tức giận, nổi dậy giết chết đô giám Hồ Hữu Vi. Châu doãn Trương Cố Hành thấy tình thế bất lợi vội ôm giấy tờ ấn tín tìm đường tẩu thoát. Trong thành vô chủ, lại thêm bọn vô lại phụ họa với bọn quân kéo đi đốt phá, cướp bóc các nhà dân.
Vương Khánh thấy trong thành có biến, thừa thế đem quân lâu la xuống núi đánh vào thành Phòng Châu. Bao nhiêu quân sĩ làm phản cùng bọn gian đồ ô hợp ra mặt quy thuận. Vương Khánh hả hê đắc chí, bèn chiếm thành Phòng Châu làm sào huyệt. Châu doãn Trương Cố Hành trốn tránh không thoát cũng bị bắt giết. Vương Khánh cướp đoạt lương tiền trong các kho công ở Phòng Châu, sai Lý Trợ, Đoàn Nhị, Đoàn Ngũ chia nhau đến Phòng Sơn và các nơi khác dựng cờ hiệu, chiêu binh mãi mã, tích chứa lương thảo. Khắp các trấn gần, thôn xa đều bị cướp đoạt kinh động. Bọn vô lại du thủ du thực cùng bọn tù phạm gian ác phản nghịch đều nhao nhao kéo đến quy thuận Vương Khánh. Bọn Cung Đoan, Cung Chính trước đó bị Hoàng Đạt phát đơn kiện làm cho mất sạch gia sản, nay nghe tin Vương Khánh chiêu mộ binh sĩ cũng tìm đến xin nhập bọn. Các châu huyện lân cận chỉ lo giữ thành trì, còn ai dám đem quân cứu ứng? Trong vòng hơn hai tháng, dưới tay Vương Khánh đã tụ tập được hơn hai vạn tên, Khánh bèn tung quân đi đánh phá thành trì các huyện lân cận như Thượng Tân, Trúc Sơn, Viên Hương. Các quan châu huyện dâng biểu tâu lên. Triều đình xuống lệnh cho trấn quan địa phương ấy đem quân đi đánh dẹp. Đám quân triều đình nhà Tống phần nhiều vì lương bổng không đủ, nên ít được thao diễn luyện tập, quân không sợ tướng, tướng chẳng biết quân. Kịp khi nghe tin có biến, quan quân thường thổi phồng thế lực quân giặc mười phần hung dữ, khiến cho sĩ tốt chợt nghe đã nản lòng, trăm họ kinh hoàng tán đảm. Đến khi ra trận đối đầu với địch, tướng quân thì khiếp nhược, quân sĩ thì đói mệt, làm sao mà đánh lại được quân của Vương Khánh? Gần toàn những dân vong mạng, quân Vương Khánh khi đã liều chết đánh tới thì quan quân đều phải tan chạy như gió xô cỏ lướt. Vì vậy, thế lực của Vương Khánh ngày càng mạnh, vượt sang đánh phá cả ở phủ Nam Phong. Về sau, triều đình sai quân đi đánh thì các tướng tá được giao chức cầm quân nếu không hối lộ Sái Kinh, Đồng Quán thì cũng đút lót Dương Tiễn, Cao Cầu. Bọn họ nhận tiền bạc đút lót rồi thì dù là kẻ tầm thường hèn nhát cũng cho cân nhắc bổ dụng. Bọn ấy đã mất tiền của đút lót, một khi nắm được quyền binh trong tay liền thả sức bớt xén quân lương, bức hại dân lành để mạo nhận công lao, rông quân cho đi vơ vét đốt phá gây rối động khắp vùng, dân chúng vì bị bức bách mà phải theo. Từ đó thế giặc ngày càng lớn mạnh, Vương Khánh đã tung quân đánh xuống miền Nam. Lý Trợ vốn là người Kinh Nam liền hiến kế xin Vương Khánh cho đóng vai thầy bói đi trước vào thành, ngầm kết giao với bọn gian manh côn đồ, rồi trong ngoài ứng hợp đánh lấy thành Kinh Nam. Vương Khánh bèn cho Lý Trợ làm quân sư, tự xưng là "Sở Vương". Các bọn giặc sông cướp biển, cường đạo ở chốn sơn lâm đều tìm đến quy hàng. Trong khoảng ba bốn năm bọn Vương Khánh đã chiếm giữ sáu châu thành của nhà Tống.
Vương Khánh đem bộ hạ vaò đóng trong thành Nam Phong, cho xây dựng cung điện, lâu đài, tiếm ngụy thay đổi niên hiệu, cũng bắt chước triều nhà Tống đặt ngụy quan tướng văn tướng võ và hàng quan liêu ở các đài, sảnh, viện. Phong Lý Trợ làm quân sư đô thừa tướng, Phương Hàn làm khu mật, Đoàn Nhị làm hộ quốc thống quân đại tướng, Đoàn Ngũ làm phụ quốc thống quân đô đốc, Phạm Toàn làm Điện súy, Cung Đoàn làm tuyên phủ sứ, Cung Chính làm chuyển vận sứ chuyên cai quản việc chi tiêu xuất nhập, kiểm tra tính toán lương tiền, Khâu Tưởng làm ngự doanh sứ, lập Đoàn Tam nương làm chánh phi, Vương Khánh xưng vương được năm nwm kể từ năm Tuyên Hòa thứ nhất đến mùa xuân năm Tuyên Hòa thứ năm. Bấy giờ bọn anh em Tống Giang đang đi đánh Điền Hồ ở Hà Bắc, đến khi đánh quân Điền Hổ ở ải quân Vân An và Uyển Châu, tổng cộng là tám châu thành. Đó là các châu: Nam Phong, Kinh Nam, Sơn Nam, Vân An, An Đức, Đông Xuyên, Uyển Châu, Tân Kinh.
Số châu huyện thuộc các quận ấy tất cả là tám mươi sáu. Vương Khánh sai dựng hành cung ở huyện Vân An, sai Thi Tuấn đóng giữ, làm trấn thủ quận Vân An.
Lúc đầu Vương Khánh sai bọn Lưu Mẫn đánh lấy Uyển Châu. Châu này ở gần Đông Kinh, bọn Sái Kinh không che giấu được, phải tâu lên Đạo quân hoàng đế. Thiên tử xuống sắc sai Sái Du, Đồng Quán đem quân đi đánh dẹp Vương Khánh, cứu Uyển Châu. Quân lính của Sái Du, Đồng Quán là hạng quân lính tàn bạo, không có phép tắc kẻ cương, trên dưới lìa lòng, vì thế bị bọn Lưu Mẫn đánh bại. Quân Vương Khánh phá được thành Uyển Châu, khắp kinh đô dân chúng chấn động lo sợ. Bọn Sái Du, Đồng Quán sợ tội, cố tìm cách không cho thiên tử biết chuyện. Tướng giặc là bọn Lưu Mẫn, Lỗ Thành sau khi lấy được Uyển Châu liền đem quân bao vây Lỗ Châu, Dương Châu. Anh em Tống Giang dẹp yên Điền Hổ ở Hà Bắc, chưa đem quân về đến Đông Kinh đã tiếp chiếu sắc sai đi đánh Vương Khánh ở Hoài Tây. Đúng là người ngồi chưa ấm chỗ, ngựa chưa kịp nghỉ chân, anh em Tống Giang lại phải thống lĩnh đại binh hơn hai mươi vạn người ngựa tiến xuống phía nam. Vừa qua sông Hoàng Hà lại tiếp được văn thư của sảnh viện thúc giục Trần an phủ và Tống Giang cho binh mã ngày đêm ruổi gấp đến cứu ứng cho Lỗ Châu, Dương Châu. Tống Giang bon ngựa đẫm mồ hôi, hành quân giữa mùa nóng nực, theo đường từ huyện Túc và sông Dĩ Thủy tiến xuống, những nơi đi qua không mảy may xâm phạm của dân. Nghe tin đại binh của Tống Giang tiến đến địa giới châu Dương Định, quân Vương Khánh phải lui về. Hai thành Lỗ Châu và Dương Châu được giải vây.
Lại nói chuyện Trương Thanh, Quỳnh Anh, Diệp Thanh được tận mắt chứng kiến việc hành hình Điền Hổ, được thiên tử ban tước rồi vâng mệnh trở lại quân doanh theo Tống Giang đem quân đi đánh Vương Khánh. Bọn Trương Thanh rời Đông Kinh đến thành Dĩnh Xương chờ hơn nửa tháng, nghe tin quân của Tống tiên phong đã tới, cả ba người đều đến trước quân doanh chào đón. Trương Thanh kể lại việc ba người ở kinh được thiên tử ban phong phẩm tước, Tống Giang và các anh em đầu lĩnh hết lòng khen ngợi. Tống Giang cho bọn Trương Thanh ở lại trong quân doanh để chờ sai phái.
Tống Giang mời Trần an phủ, Hầu tham mưu và La vũ dụ vào đóng quân trong thành Dương Định, còn anh em Tống Giang phải chỉ huy đại quân, không tiện đem quân vào thành. Tống Giang truyền lệnh cho các tướng đóng quân trong khi rừng cây cối rậm rạp ở núi Phương Thành. Nhận thấy quân sĩ vượt đường xa ngàn dặm giữa mùa hè nóng bức, trong quân nhiều người ốm đau, Tống Giang giao cho An Đạo Toàn lo liệu thuốc men chữa bệnh. Lại sai quân sĩ dựng lều lán cho ngựa nghỉ ngơi, giao cho Hoàng Phủ Đoan sai quân tắm rửa, chải lông cho ngựa và khám chữa những con bị ốm.
Ngô Dụng nói với Tống Giang:
- Đại quân ta đóng trong rừng, chỉ lo quân giặc dùng kế hỏa công.
Tống Giang nói:
- Chính ta đang muốn dùng hỏa công đốt trại giặc.
Tống Giang bèn sai quân sĩ tìm chỗ râm mát trên gò cao núi Phương Thành, dùng tre nứa, cỏ trang dựng một dẫy lán nhỏ. Bấy giờ hàn tướng Hà Bắc là Kiều Đạo Thanh đến thưa với Tống Giang:
- Đạo Thanh tôi được nhờ ơn sâu của tiên phong, nay xin góp chút sức mọn.
Tống Giang cả mừng, bí mật bàn định mưu kế với Kiều Đạo Thanh, rồi giao cho Kiều Đạo Thanh vào trông nom công việc trong lán. Tống Giang xuống lệnh tuyển chọn ba vạn quân khoẻ mạnh. Lệnh cho Trương Thanh, Quỳnh Anh chỉ huy một vạn quân mã đến mai phục ở chân núi phía đông. Lệnh cho Tôn An, Biện Tường chỉ huy một vạn binh mã mai phục ở chân núi phía tây. Hễ nghe tiếng pháo oanh thiên nổ vang ở trung quân thì các quân mai phục nhất tề xông ra đánh. Toàn bộ lương thảo đều chất cả ở chân núi phía nam, giao cho Lý Ứng, Sài Tiến chỉ huy năm nghìn quân canh giữ.
Cắt cử mọi việc đâu đó đã xong, bỗng Công Tông Thắng bước vào nói:
- Huynh trưởng trù hoạch kế sách thần diệu, nhưng hiện nay đang mùa nóng bức, quân sĩ đi lại mệt mỏi. Nếu giặc cho quân tinh nhuệ đến đánh thì quân ta tuy đông gấp mười lần cũng không giành được phần thắng. Bần đạo xin thi thố chút phát thuật để giải trừ buồn phiền nóng nực, khiến cho tướng sĩ mát mẻ sảng khoái, tự nhiên sẽ cảm thấy trong người khoẻ mạnh.
Nói xong bèn chống kiếm làm phép, tay trái làm dấu Thiên lôi, tay phải vung kiếm bắt quyết, định thần suy nghĩ hướng về phía đông bắc thổi một luồng khí rồi niệm chú. Trong nháy mắt gió lạnh nổi lên, mây đen cuồn cuộn từ trong thung lũng đùn ra, nhanh chóng phủ kín núi Phương Thành. Hơn hai vạn người ngựa được cơn gió lạnh thổi mát. Trong khi đó những vùng xung quanh vẫn nóng như thiêu, ve kêu nhức óc, chim chóc phải tìm nơi trống nắng. Quân sĩ Tống Giang ai nấy đều vui, khen ngợi đạo pháp thần diệu của Công Tôn Thắng. Trong khoảng sáu bảy ngày đó cũng đủ cho An Đạo Toàn chăm quân, Hoàng Phủ Đoan chữa ngựa. Đại quân người ngựa dần dần được sung túc, việc không cần nói đến.
Lại nói tướng của Vương Khánh là Lưu Mẫn đóng giữ Uyển Châu vốn là kẻ khá mưu lược, được tôn là "Lưu Trí Bá". Bấy giờ Lưu Mẫn cho quân đi thám thính, biết binh mã của Tống Giang đang đóng trại nghỉ ngơi tránh nắng trong rừng. Lưu Mẫn nói:
- Bọn Tống Giang rốt cuộc chỉ là giặc cỏ miền sông nước, không hiểu binh pháp cho nên chẳng làm được việc lớn. Ta chỉ cần thi thố một kế nhỏ đủ khiến cho hai mươi vạn người ngựa của chúng, ít nhất cũng một nửa bị thiêu cháy thành tro.
Nói đoạn truyền lệnh chọn năm nghìn tên quân nhanh nhẹn ai nấy sửa soạn đầy đủ tên lửa, hỏa pháo và đuốc nhựa. Lại sửa soạn hai nghìn cỗ xe trận chở đầy lau sậy, củi khô cùng các thứ thuốc dẫn lửa như lưu quỳnh, diêm tiêu. Mỗi xe có bốn tên quân sĩ kéo đẩy. Bấy giờ là trung tuần tháng bảy, tiết đầu thu, Lưu Mẫn dẫn bốn viên phó tướng: Lỗ Thành, Trịnh Tiệp, Khấu Mãnh, Cố Sầm đem một vạn quân thiết kỵ, người mặc giáp mỏng, ngựa bỏ lục lạc đi sau tiếp ứng. Lưu Mẫn để hai phó tướng là Hàn Triết và Ban Trạch ở lại giữ thành. Chiều muộn, bọn Lưu Mẫn ra khỏi thành, gặp lúc giố nam thổi mạnh, Lưu Mẫn cả mừng nói:
- Phen này bọn Tống Giang tất phải thua to!
Đến đầu canh ba quân Lưu Mẫn mới đến cách núi Phương Thành hai dặm về phía nam, bỗn thấy mù đen bao trùm thung lũng. Lưu Mẫn nói:
- Trời giúp ta lập công.
Nói đoạn sai quân đi sau đánh trống hò reo trợ chiến, Lưu Mẫn tự mình dẫn năm nghìn quân tiến vào rừng đánh quân Tống Giang. Quân Lưu Mẫn được lệnh ồ ạt bắn hỏa tiễn, hỏa pháo, đuốc lửa để đốt cháy trại quân Tống Giang. Lại sai bọn Khấu Mãnh, Tất Thắng đốc thúc quân sĩ đẩy xe châm mồi lửa rồi đẩy xuóng chân núi để đốt cháy lương thảo của quân Tống. Quân Lưu Mẫn đang hăng hái tiến đánh bỗng cùng lúc kêu thét lên. Lúc ấy gió nam đang thổi mạnh, bất ngờ chuyền ngược lại thành gió bắc! Lại nghe trên núi có tiếng nổ vang. Đó là Kiều Đạo Thanh đã dùng phép quạt gió trở lửa, làm cho bao nhiêu tên lửa, đuốc lửa đều biến thành rồng lửa rắn lửa cháy bùng bay ngược lại thiêu đốt quân Lưu Mẫn, khiến chúng không kịp tìm nơi ẩn nấp. Đương thời trong quân Tống lưu truyền bốn câu thơ chê cười bọn Lưu Mẫn:
Quân cơ cố nam trắc
Tặc nhân võng tý hoạch
Phóng hỏa tự thiêu quân
Hảo cá "Lưu Trí Bá".
Việc quân khó khôn dại
Đánh giặc giặc không bại
Phóng hỏa thiêu quân mình
"Lưu Trí Bá" giỏi đấy!
Bấy giờ Tống tiên phong truyền lệnh cho pháo thủ Lăng Chấn bắn hỏa pháo. Đạn pháo bay vọt lên không rồi nổ tung. Phía đông các tướng Trương Thanh, Quỳnh Anh; phía tây các tướng Tôn An, Biện Tường đều dẫn quân đánh ập tới. Quân Vương Khánh một phen thua to. Lỗ Thành bị Tôn An vung kiếm sả làm hai đoạn. Trịnh Tiệp bị Quỳnh Anh ném đá lăn xuống ngựa, Trương Thanh đưa thêm một mũi thương kết liễu tính mệnh. Cố Sầm bị Biện Tường đâm chết. Khấu Mãnh chết trong đám loạn quân. Hơn hai vạn ba nghìn quân Lưu Mẫn bị cháy, bị giết đến quá nửa, số còn lại tán loạn chạy trốn khắp nơi, hai nghìn cỗ xe cháy trụi không còng một chiếc. Lưu Mẫn cùng ba bốn trăm tên tàn quân thoát chết tìm đường chạy về Uyển Châu. Quân Tống không phải đốt một cọng rơm sợi cỏ, không thiệt mạng một tên quân nào mà thu đoạt được ngựa chiến, áo giáp, chiêng trống nhiều không đếm xuể.
Bọn Trương Thanh, Tôn An thắng trận trở về sơn trại báo công. Tôn An dâng thủ cấp Lỗ Thành; Trương Thanh, Quỳnh Anh nộp đầu Trịnh Tiệp; Biện Tường hiến thủ cấp Cố Sầm. Tống Giang xuống lệnh khao thưởng ba quân tướng sĩ, nêu công đầu cho Kiều Đạo Thanh, thứ đến là bọn Trương Thanh, Quỳnh Anh, Tôn An, Biện Tường. Quân sư Ngô Dụng nói:
- Huynh trưởng mưu tính kỳ diệu khiến quân giặc một phen mất trận kinh hồn. Tuy nhiên địa thế Uyển Châu sông núi quanh co, gò bãi bùn lầy, dân ở đây thường vẫn gọi là "Biển cạn", nếu giặc điều thêm quân tướng, cho đại binh đóng giữ thì bên ta rất khó đánh chiếm. Nay đã sang thu tiết trời mát mẻ, người ngựa đều sung sức, thừa lúc uy thế quân ta đang mạnh, quân giặc trong thành thế cô lực yếu, ta nên thúc quân đóng giữ ở hai phía nam bắc đề phòng quân giặc cho viện binh tiếp ứng.
Tống Giang khen phải, theo đúng kế sách truyền lệnh thi hành: giao cho Quan Thắng, Tần Minh, Dương Chí, Hoàn Tín, Tôn Lập, Tuyên Hán, Hách Tư Văn, Trần Đạt, Dương Xuân, Chu Thông thống lĩnh ba vạn quân mã đến đóng giữ phía đông Uyển Châu đề phòng viện binh giặc từ phía nam tiến đến. Giao cho Lâm Xung, Hô Diên Chước, Đổng Bình, Sách Siêu, Hàn Thao, Bành Kỷ, Đan Đình Khuê, Ngụy Định Quốc, Âu Bằng, Đặng Phi đem ba vạn quân bộ đến đống ở phía tây Uyển Châu để chặn quân giặc từ phía bắc kéo đến. Các tướng tuân lệnh điểm quân cho người ngựa lên đường. Bấy giờ các hàng tướng Hà Bắc là bọn Tôn An mười bảy người cùng nhau đến thưa với Tống tiên phong rằng:
- Bọn anh em chúng tôi được tiên phong thu dụng, cho hưởng nhiều đặc ân. Nay chúng tôi nguyện xin đem quân đi tiên phong trong trận đánh thành mong báo đáp ơn sâu của tiên phong.
Tống Giang cả mừng bèn lệnh cho Trương Thanh, Quỳnh Anh thống lĩnh bọn Tôn An mười bảy viên chánh phó tướng và năm vạn quân mã đi tiền bộ. Mười bảy viên chánh phó tướng ấy là: Trương Thanh tuân lênh thống lĩnh quân mã lên đường tiến về Uyển Châu. Tống Giang cùng Lư Tuấn Nghĩa, Ngô Dụng và các tướng còn lại thống lĩnh đại quân nhổ trại rời núi Phương Thành tiến xuống phía nam, đến cách thành Uyển Châu mười dặm thì dừng lại đóng trại, Tống Giang hạ lệnh cho Lý Vân, Thanh Long, Đào Tôn Vượng trông coi việc tu sửa các dụng cụ đánh thành, tu sửa xong thì chở đến quân doanh cho bọn Trương Thanh sử dụng.
Trương Thanh và các tướng đem binh mã đến vây thành Uyển Châu. Liền trong sáu bảy ngày quân giặc giữ thành rất vững nên không thể hạ được. Phía bắc Uyển Châu tiếp giáp vơi Nhữ Châu. Tướng giặc là Trương Thọ dẫn hai vạn quân tiến đến bị quân Lâm Xung chặn đánh, chủ tướng Trương Thọ bị giết, các tướng tá còn lại và quân lính thua chạy tán loạn. Cùng ngày hôm ấy viện binh của giặc từ huyện An Xương, Nghiã Dương ở phía nam Uyển Châu kéo đến bị quân Quan Thắng đánh bại. Tướng giặc là bọn Bá Nhân, Trương Di bị bắt sống đem đến hành quyết trước quân doanh của Tống tiên phong. Quân tướng giặc ở cả hai cánh viện binh bị chém giết và bắt sống nhiều không kể xiết. Bấy giờ bọn Lý Vân đã sửa chữa và làm xong các dụng cụ đánh thành. Bọn Tôn An, Mã Linh đốc xuất quân sĩ xúc đất cho vào bao, chất thành nhiều đống cao bằng mặt thành. Lại chọn các quân sĩ dũng cảm nhanh nhẹn dùng cầu bay vượt qua các lớp rào nhọn, hào rãnh rồi nhất loạt chèo lên chiếm thành. Thành Uyển Châu liền bị hạ. Lưu Mẫn bị bắt sống, các tướng tá dưới quyền bị giết hơn hai mươi tên. Quân sĩ chết tại trận hơn năm nghìn, số đầu hàng đến hơn một vạn. Tống Giang và các tướng đem quân vào thành Uyển Châu, truyền lệnh đem tướng giặc Lưu Mẫn ra chém bêu đầu. Cho yết bảng vỗ yên dân chúng. Tống tiên phong xuống lệnh ghi công đầu cho Quan Thắng, Lâm Xung, Trương Thanh, thứ đến là bọn Tôn An. Một mặt sai người đến thành Dương Định báo tin thắng trận và mời Trần an phủ dời bản doanh đến đóng ở Uyển Châu. Trân an phủ nghe tin cả mừng liền cùng với tham mưu Hầu Mông và Vũ học dụ La Tiễn lên đường đi Uyển Châu. Tống Giang và các tướng ra ngoài thành nghênh đón, mời Trần an phủ vào thành. Trần an phủ không hết lời khen ngợi công lao của anh em tống Giang, việc ấy bất tất phải nói đến.
Tống Giang đóng quân ở thành Uyển Châu lo liệu mọi việc đến hơn mười ngày. Bấy giờ đã là thượng tuần tháng tám, thời tiết mát dần. Tống Giang mời quân sư Ngô Dụng đến hỏi:
- Nay ta nên đánh thành nào?
Ngô Dụng đáp:
- Từ đây tiến xuống phía nam là quận Sơn nam, tận cùng là vùng Động Đình, sông Tương; quận đó phía bắc khống chế Quan Trung, Lạc Dương, là đất yết hầu của cả hai miền Sở, Thục. Vì thế ta nên đánh chiệm thành Sơn Nam để phân chia thế giặc.
Tống Giang nói:
- Quân sư nói rất phải.
Nói đoạn truyền lệnh cho Hoa Vinh, Lâm Xung, Tuyên Tán Hách Tư Văn, Lã Phương, Quách Thịnh quản lĩnh năm vạn quân mã giúp Trần an phủ ở lại đóng giữ Uyển Châu. Trần an phủ sai Thánh thủ thư sinh Tiêu Nhượng đi truyền lệnh cho các thủy quân đầu lĩnh là bọn Lý Tuấn tám người thống lĩnh chiến thuyền xuất phát từ sông Tất, tiếng xuống sông Hán ở phía bắc thành Sơn Nam, để hộ với đại quân.
Tống giang chia quân bộ làm ba đội, cáo từ Trần an phủ, rồi thống lĩnh các tướng tá và mười lăm vạn quân mã rời thành Uyển Châu lên đường tiến đánh quân Sơn Nam.
Đúng là:
Muôn ngựa đua bon trời đất sợ,
Nghìn quân nhảy nhót quỷ thầnh kinh.
Chưa biết quân Tống tiếng đánh thành Sơn Nam như thế nào hồi sau sẽ rõ.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0