Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Kẻ cướp bến Bỏi - Tô Hoài 🔒

7 trả lời, 5.996 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.10.2014 22:44:37 bởi Ct.Ly>
Lời mở đầu:
 
Tháng chạp năm Giáp Dần (1854) đời Tự Đức thứ bảy, quan phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đi đánh bắt được Cao Bá Quát, đem về chém tại làng.
(Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim)

... Tự Đức phái thêm 500 lính từ Thanh Hóa ra đóng tại Sơn Tây và treo giải thưởng 500 lạng bạc cho người nào bắt được Cao Bá Quát và 300 lạng bạc cho người nào giết chết được Cao.
Quân nhà Nguyễn do lãnh binh Sơn Tây là Lê Thuận và quân khởi nghĩa do chính Cao Bá Quát chỉ huy đã giao chiến tại vùng Yên Sơn, phủ Quốc Oai. Trong lúc giao tranh, Cao Bá Quát đã bị viên đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Quân của Cao Bá Quát bị tan vỡ, 100 chết, 80 bị bắt sống. Tự Đức ra lệnh đem đầu của Cao Bá Quát bêu khắp các tỉnh ở Bắc Hà rồi bổ ra ném xuống sông.
(Lời giới thiệu “Tuyển tập thơ văn Cao Bá Quát” của Vũ Khiêu - Nhà xuất bản Văn Học 1984)

... Cao Bá Quát phải giam ở ngục Sơn Tây, bị đóng cũi đem xuống Hà Nội rồi đem về nguyên quán ở làng Phú Thị chịu án xử quyết.

... Anh em sinh đôi của Cao Bá Quát là Cao Bá Đạt, Đạt đương làm Tri huyện Nông Cống (Thanh Hóa), vì việc liên lụy mà bị bắt giải về Kinh. Đau đớn nỗi vạ diệt môn, đi dọc đường cắt đầu ngón tay lấy máu, viết tờ biểu kêu thương để lại, rồi tự đâm cổ mà chết. Cháu gọi Cao Bá Quát bằng chú ruột là Cao Bá Nhạ, con Cao Bá Đạt, bỏ trốn. Tám năm trời Cao Bá Nhạ lẩn lút ở vùng núi Hương Sơn, tưởng đã thoát, không ngờ có kẻ tố giác, Cao Bá Nhạ bị vây bắt đóng cũi đem về giam ở Hà Nội rồi sang ngục Bắc Ninh, sau bị phát vãng chết trên đường ngược.

... Cao Bá Quát không bị chết trận, không bị đem về chém ở làng - vì cả làng không ai kể lại chuyện ấy. Còn Cao Bá Nhạ phải về chém ở làng thì ai cũng nhớ ngày 19 tháng 7 âm lịch (1861), bây giờ vẫn còn kể lại và vài chục năm trước vẫn còn giỗ. Đồn rằng Cao Bá Nhạ vừa bị chém xong thì có chiếu vua ra cho ân xá. Hai con Cao Bá Nhạ trốn được. Sau khi Cao Bá Nhạ chết khoảng mười năm thì có một người con về làng ít ngày rồi đi hẳn.

... Về vạ tru di tam tộc như các sách nói thì người làng Phú Thị còn kể rằng quan quân về bắt cả già trẻ lớn bé họ Cao đem ra chợ Sủi đóng cọc, trói lại rồi tra hỏi ai biết Cao Bá Quát ở đâu. Bỗng một đám nghĩa quân ở trên đê tràn xuống. Quan quân chạy hết, mọi người được cởi trói rồi tất cả bỏ làng đi, mấy chục năm sau mới có vài nhà về - trong đó có chị họ nhà thơ Cao Bá Thao.

... Khi thua trận ở Mỹ Lương, Cao Bá Quát đã một mình chạy về Hà Nội, vào một ngôi chùa vùng Khâm Thiên có người nhà tu ở chùa ấy. Cao Bá Quát thay hình đổi dạng thành nhà sư, rồi đi biệt tích.

(Những mẩu chuyện trên, nhà thơ Thao Thao - Cao Bá Thao đã kể lại theo lời ông thân sinh và nhiều cố lão làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội).
 
0
I
Đêm ngồi một mình
(Độc dạ) [1]

Một mảnh đất vừa ồn vừa thấp ở nơi thành thị
Một con người vừa già vừa ốm giữa trời đất
Đem thân ra đời đã thành người thừa
Náu vết hãy chịu lầm than vậy
Nhưng nạn rét nạn lụt cứ liên tiếp phát sinh
Huống chi dân đen bị tai nạn chưa được hồi phục
Không có một sách lược gì cho đời được thái bình
Thẹn mình là nhà nho mà tầm thường đến thế.
Vũ Khiêu (dịch nghĩa)


Trong lúc ốm
(Bệnh trung)

Là một anh đồ hủ, thân tàn mà chưa chết
Cố gượng mang bộ xương mỏi mòn còn phải nhờ người nâng hộ
Nép mình giữa trời đất, thương bàn tay cô đơn
Ngoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vùng vẫy
Biết bao giờ được về ở yên trong tổ như con chim én
Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ đậu nơi vườn tốt tươi
Chú bé con không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta
Cứ hỏi luôn rằng: vành đai lưng có gầy đi phần nào không.
Hoàng Trung Thông (dịch nghĩa)


Chải đầu
(Sơ đầu)

Một đời đã phụ cả năm xe sách
Trải mãi gió bụi, mái tóc càng thưa thêm
Tâm sự và tóc cần chi phải so sánh ngắn dài
Đến lúc đã rối bời thì cũng rối bời như nhau.
Xuân Trang (dịch nghĩa)


Chiều tà, say trở về
(Bạc vãn; Túy quy)

Say mềm, đi về không cần người đỡ
Cả một dải sông mịt mờ những khói cùng tre
Lầm rầm khẻ hỏi bông hoa sen
“Có đỏ được bằng mật rượu của ta không?”
Nguyễn văn Bách (dịch nghĩa)


Họa bài thơ thọ 70 tuổi của ông Kinh Doãn họ Nguyễn - Nguyễn Công Trứ
(Phục họa Kinh Doãn Nguyễn Công thất thập thọ, thứ vận)

Một mình ngồi chống tay vào cằm nhìn về núi phía nam
Xa tưởng đến hồi tiên sinh còn chưa già
Sự gặp gỡ của bậc anh hùng từ xưa vẫn khác thường
Những người tuổi cao đức cả (như tiên sinh) ngày nay thật hiếm
Mùi đời đã nếm đủ rồi rút cục vẫn cần đến rượu
Cấm ngặt hoa sương không cho bén vào râu
Nghe nói người muốn quay về ngọn núi Hồng
Có lẽ sáu mươi chín năm qua đều là sai cả.
Trúc Khê (dịch nghĩa)

Phải khi mùa hanh hao, gió bấc thổi đêm ngày liên hồi kỳ trận, trời đất mù mịt trên sông Cái, thoạt trông sang chẳng thấy Bà Móc, chợ Cầu Cháy đâu, cả đất Kẻ Chợ vùi vào làn cát đỏ rực. Song để ý kỹ, dần dần nhìn ra những cái nan, cái thúng, người với gồng gánh sang ngang và đôi chốc, một cái mảng, một chiếc thuyền đại tạt vào ăn bến chợ ông Nước, bọn người neo lái phải vừa chèo vừa hò ơi ới để lấy đường nước giữa làn cát mờ mờ táp vào mặt. Tưởng như gió cát triền miên, đò giang cách trở thế, chẳng mấy ai qua lại, thế nhưng mọi đồn thổi thì chỉ một nhát, bên này sông, bên kia sông đã dậy lên.

Cái tin ông giáo thụ Cao bị hại ở Kệ đưa về đến Dâu Chùa hầu như ai cũng biết. Dĩ nhiên bởi có người ở các xóm trong bãi dâu này bấy lâu đã đi theo ông. Ai cũng còn mong ngóng tin tức người khác nữa. Nhưng cái hung tin ông giáo thụ bị chém chết, lại nói rõ bị đội Quang đã khét tiếng ác ở Sơn Tây chém ngã ngựa giữa trận thì đích rồi. Có người làng khi vỡ trận chạy từ trên ấy về đã kể được mắt thấy rõ ràng.

Có một người bụng nóng như lửa đốt, ấy là cái nhà Cõi ở làng bên. Cõi đã cắp sách cắp tráp hầu thầy từ hồi ông giáo thụ còn ngồi bảo học ở làng nhà. Rồi thầy vào Kinh làm quan, chẳng biết phạm thượng phải tù tội thế nào, đến khi thầy về phủ Quốc làm giáo thụ, nhưng làng nước cứ gọi tôn lên chức huấn đạo. Thầy về làng ai cũng một điều thưa bẩm quan huấn. Thầy lại gọi Cõi lên theo.

*  *  *


Tháng ba ngày tám, rồi những khi chưa đến kỳ hạn tải dầu xuôi, Cõi lại lên phủ Quốc. Thôi thì cắp sách hay cắp tráp, mài mực hay cầm cờ, cầm súng vẫn một dạ vậy. Một ngày nên nghĩa, vả chăng, Cõi cũng được đứng hàng môn sinh, đồng môn học trò thầy. Hàng năm, đồng môn thuộc ngày kỵ hai cố sinh ra thầy, hay khi cơm mới và tết nhất, thầy ở nhà trong làng, thầy ra ngoài đình Ngang hay trên hồ Tây, Cõi cũng được dự. Gia cảnh thầy thanh bạch, nhưng một nhà có đông đủ học trò bố, học trò con, đồng môn đơn đồng môn kép, thật phúc đức hiếm thấy.

Ngày thầy Cao về phủ Quốc rồi nổi quân, Cõi theo ngay. Cái gánh dầu kiếm ăn độ nhật để nhà cho mụ Cõi. Ra đi, chỉ nói: “Này nhà nó, thầy nhắn việc nước như lửa cháy, ta phải đi đây”. Mụ vợ vùng vằng, lẩm bẩm: cháy thiên hạ chứ cháy đâu nhà mình mà mua việc. Chẳng biết Cõi có nghe tường câu than vãn ấy không, nhưng Cõi đã đi buột ra ngoài cổng rồi. Vợ Cõi gánh dầu đi bán các xóm, hết lại sang đong bên bến Bà Móc. Bần cùng mới phải lấy xỉ thế, chẳng được mấy lời lãi.

Thỉnh thoảng, đôi khi Cõi về, đi cất dầu trên phủ Lâm rồi nhờ bè mảng thả về. Khi đi khi ở, chẳng nói chẳng rằng, cứ lậm lụi thế, nhưng thực thương vợ vất vả, con cái lại muộn mằn. Người vợ cục tính, có hôm về, Cõi phải lụi hụi thổi cơm lấy. Cõi chịu nhịn vì Cõi biết mình cũng phũ tính, nó mà cằn nhằn, ỷ eo thì Cõi vật cổ, đòn nhừ tử ngay. Chuyến vừa rồi, Cõi về, đã mấy phiên hết dầu, mụ vợ ở lỳ nhà. Cõi cũng động lòng, lại tất tả lên ngược. Rồi xin chân đẩy bè gỗ, để ghé được cả chục thùng dầu chẩu. May mà lúc ấy Cõi nhớ ra, ngóc dậy, cố neo cái bè ghé được vào đậu bến chốc lát, không đến nỗi trôi thẳng. Chỉ vì mấy hôm Cõi lên cơn sốt rét, nằm run trong lều mảng. Rõ lạ, ở trên Kệ, cả tháng trong rừng, leo núi nhoăn nhoắt như con tườu, thế mà chỉ một phiên qua Hưng đã ngã nước. Vừa dứt cơn sốt, lại sốt ruột trên Kệ Sơn. Từ khi rút vào Mỹ Lương thì có cơ dừng chân lâu được. Nhưng mà rồi thế nào chứ, đâu lại chịu ru rú trong xó rừng. Chắc là thầy mong... Cũng vì cứ lo, cứ thao thức thế đâm ra tỉnh ngủ, may mà canh chừng nhớ được bến làng...

Nhưng mà, khi quá gian lao, người ta hay gắng sức, sau rồi mới thấy nhọc. Bước vào nhà, Cõi bíu tay lên cái cột hiên, hai đầu gối còn run. Con ma làm bệnh sốt rét, càng khỏe nó càng hành, tưởng lại quị. Rồi Cõi nằm liệt giường cả phiên chợ, mặt hốc hác bệch như mảnh giấy bản. Vừa mới ngóc đầu dậy được thì cái tin thầy Cao chết trận ập về. Cõi ngồi lên, tựa lưng vào vách. Cõi cứ ngồi như pho tượng, từ chiều cho đến nửa đêm.

Cõi còn nhức nhối hơn cả lúc đương cơn sốt. Mới tháng trước, Cõi về trong Kệ. Mấy năm đi hầu thầy khắp các trận, từ phủ Thanh Oai vào phủ Ứng Hòa, sang bên Quế Quyển, đến khi ngược lên phủ Quốc lượt nữa, chạm trán với quân lãnh binh Sơn Tây rồi mới lui vào Mỹ Lương. Thong thả, Cõi được thầy để về lo việc nhà ít ngày. Bấy lâu, thỉnh thoảng thầy vẫn cho thế. Thì Cõi lên ngay phủ Lâm lấy dầu về. Định ở nhà vài phiên đi bán đỡ mụ ấy. Thế mà bây giờ nghe thầy bị đụng ở Kệ, thầy đã chết ở Kệ, vậy là ra làm sao?

Cõi không thể tin. Vừa mới hôm nào ở Kệ với thầy kia mà. Đến hôm có người trưởng tràng lẻn đến bảo nhỏ :
- Mai đồng môn cúng năm mươi ngày thầy.

Cõi mới nửa tin nửa ngờ. Lừa một lúc mụ ấy đi đâu, Cõi chống cái đòn cán, buông cửa, đi đến đấy. Đám đồng môn cúng năm mươi ngày thầy làm kín ở một nhà ngoài đầu đồng. Bọn chức dịch mà biết thì phải mang vạ nên không mổ lợn, thịt trâu cúng và không ăn uống, mà chỉ thắp nén hương, những nén hương đen châm lên rồi cẩn thận quây cót cho khói tụ bay lên trời, trong xóm không ngửi thấy mùi hương cúng. Hầu khắp các học trò thầy đến. Người trưởng tràng quỳ lạy trước bàn thờ có bài vị thầy, gào hai tiếng: Ô hô! Ô hô! Rồi khóc rưng rức.

Bấy giờ Cõi mới ngờ ngợ thầy đã mất thật. Cõi về, nằm như bị sốt lại mất nửa buổi. Hôm sau, Cõi lử khử bảo vợ :
- Sớm mai, nhà mày cho tôi một nắm cơm.
- Người còn như con sên thế, đi đâu?
Cõi thở dài :
- Phải ra ngoài xem thế nào.
Mụ Cõi gắt :
- Xem xỏ cái gì?
- Chưa biết à?
- Làng này còn mấy đứa toi theo rồi. Rõ ở dưng chẳng lành...
- Ông vả vỡ mồm bây giờ!

Mọi khi, thế nào mụ cũng được ăn mấy cái đạp, quả thụi. Nhưng lúc ấy Cõi chỉ trợn mắt, chắc là mắt trắng nhả, trong nhà tối âm sâm, mụ không nhìn thấy.

Hôm sau, Cõi còn lẩy bẩy, cũng chưa đi được. Mụ ấy ở ngoài xóm về, cầm một nắm lá chuối khô lót chõng làm ổ, rồi nằm úp mặt, rên ư ử :
- Tôi... lây con ma rừng... Con ma ngã nước...

Chẳng biết thật hay vờ. Thế là mụ nằm một xó. Đến trưa, mụ trở dậy thổi niêu cơm rồi lại vào chõng nằm rên rỉ không ăn. Mụ hay giả cách, nhưng cũng có thể mụ bị lây con ma ngã nước Cõi đem trên ngược về.

Cõi nói :
- Tao đi đây.
Mụ khóc hu hu :
- Giời đất ơi, đi mà chết, người ta đi chết kia kìa.

Hôm sau, Cõi đi từ gà gáy. Cõi sang bên Sủi xem thế nào. Cõi tất tả đi. Một lúc, ngước nhìn, thấy đỏ xuộm. Không phải mặt trời đã mọc, mà lúc ấy mới tang tảng sáng. Đương mùa cày, không phải lửa đốt gốc rạ sưởi của trẻ chăn trâu bỏ trên cánh đồng còn âm ỉ đến sáng. Cháy, cháy rồi. Cháy làng, cháy cướp đốt làng. Cõi ba chân bốn cẳng chạy về phía ngọn lửa bốc trên lũy tre, càng đến gần càng rõ đương cháy ở Sủi.

Chợt nghĩ ra, có thể quân quan về đốt làng, tróc nã họ Cao. Cõi vừa lo vừa thấp thỏm, thở hồng hộc. Cơn sốt mới dứt, tưởng đứt hơi được. Nhưng một sức mạnh lạ lùng đẩy Cõi chạy băng băng.

Cõi đã lên đến trên một gò cao ven bờ đê. Đường vào làng trước mặt, Cõi đã thuộc làu mỗi quãng. Cõi đứng sững, bởi vì đúng, đương cháy to trong làng Sủi. Quân quan về giết người, đốt làng rồi. Cõi bủn rủn tay chân, toát mồ hôi lạnh. Không phải vì gió cũng không phải những cơn sốt làm bải hoải cả người, mà Cõi trông vào trong bóng mờ lũy tre, trong ấy tàn lửa vẫn bay đỏ hon hỏn từng mảng. Những mắt tre, mắt vầu nổ ran như pháo lệnh.
Tịnh không một bóng người. Bao nhiêu người đã chết vùi trong những đám cháy, có lẽ suốt cả ngày đêm qua. Cõi dậm chân than nôi cái mụ vợ đã cản, đáng lẽ Cõi về được Sủi từ hôm trước. Thế này là thầy Cao đã mất thật rồi. Người đi làm giặc, quan quân về triệt hạ làng. Khói những đám cháy bốc lên, tỏa ra làn mây đen vần vụ.

Chỉ nghe tiếng nổ, tiếng lửa lên thành gió phừn phựt. Cả buổi sáng, một màu lửa đỏ khé máu. Cõi cứ đứng ngay đơ như cái cột vách.

Trong con đường cổng đồng cuối xóm, thoáng một bóng lũi cũi ra. Chưa nom rõ là con chó, con trâu hay là người. Thoắt một cái, từ bóng nhập nhoạng, đã hiện lên trước mặt Cõi một thằng bé cởi trần, đóng cái khố một cả người xanh xám như ám khói, như trong bùn chui ra. Thình lình thấy người, thằng bé rụi xuống, chắp hai tay lên đỉnh cái đầu trọc vái khóc thút thít.
- Lạy quan nhớn, lạy quan nhớn...

Cõi xốc thằng bé dậy. Da dẻ nó lạnh như đất. Thằng bé chỉ trạc bảy, tám tuổi, đầu cạo trọc lông lốc, nắm tóc hoa roi dài đến vai - rõ cái hoa roi “tóc học trò” như Cõi ngày trước.
Cõi vỗ cái lưng trần thằng bé.
- Tao không phải quan nhớn, đừng sợ, đừng sợ.
- Thế... Thế... quan là...
- Tao đi chợ Sủi.
- Không có chợ Sủi đâu. Bác chạy đi, chạy đi. Các quan ra bây giờ thì chết hết.

Rồi thằng bé vùng khỏi tay Cõi, vọt đi. Không biết thế nào, Cõi đuổi theo thằng bé. Đến một quãng khuất bên kia đê, nhìn lại không còn bóng lửa cháy trong chân tre nữa. Cõi giữ vai thằng bé, thằng bé cũng đứng lại thở, mặt càng xanh mét.
- Đứng chơ vơ chỗ này cũng không được. Xuống dưới kia, chui vào cây rơm trong cánh đồng khô.

Hai người núp vào chân đống rạ ải giữa ruộng.
- Làm sao cháu lại phải chạy trốn thế này? Lính đốt tàng hả?
- Mấy hôm rồi, lính bắt người, hôm qua còn trói đi. Người già cũng phải đóng gông vào cổ. Bố cháu đẩy cháu vào ruột cây rơm, bảo ở yên trong ấy. Loa gọi cả xóm ra đình, cả trẻ con nữa. Rồi đi đốt nhà, ai cũng phải nhảo ra.
- Thế bố mẹ cháu đâu?
- Bố cháu mẹ cháu sợ loa quá, đi rồi, đi đâu cháu không biết. Bảo cháu cứ đợi đấy, chốc thì về đem theo. Đến lúc thấy lính vào đốt nhà, cháu sợ lính ra đốt cây rơm, cháu mở mắt thấy nhà cháu cháy, cháu chạy lên đây. Bác có gặp bố mẹ cháu không?

Cõi toan nói: “Có khi quan bắt rồi, giết cả rồi”, nhưng Cõi chỉ nhìn thằng bé, lặng im.
Thằng bé ho bụi rơm rồi nức nở. Cõi nói :
- Im, im để tao nghe thế nào rồi đi với tao.

Đến quá trưa, hai người ra khỏi đống rạ. Đường sá lạnh tanh. Mọi khi, hôm nào chẳng có ba buổi chợ, cả chợ trưa ở các đầu làng, trên đê, dưới bờ sông. Hai người lại chạy, đã xa lắm rồi, đã qua những bờ giếng dat bèo ong xanh om và vào bờ tre, thấy vẻ êm ả bình thường, the nhưng vẫn chẳng gặp người, không đâu có khói nóc bếp. Những làng tận bên này gần đường cái quan cũng lây cơn hoảng hốt, bỏ đi hết. Một chốc, văng vẳng tiếng nghé ngọ, con trâu nào có người dắt chạy đằng kia, con nghé bồn theo. Nhưng cũng không trông thấy ai. Rồi lại im như không.

Cõi không trở về làng. Cõi qua đò ngang bến Ghềnh sang Kẻ Chợ. Trong phường phố dường như không biết cảnh tao loạn đang xảy ra bên kia sông. Chẳng kể được người tứ xứ xuôi ngược đường đất đường sông ra các đầu ô, những quân trảy, ngựa chạy hỏa bài, lúc nào cũng tấp nập. Cõi bơ phờ, gày hom, đi với thằng bé lấm bùn đến tận mắt, đóng cái khố lồng dây bẹ chuối. Cũng chẳng ai để mắt tới.

Cõi vào quán nước chè tươi chợ ống Nước gần đền Bạch Mã. Ngồi một lát, đã nghe mọi chuyện. Thế ra bên này cũng đã biết, xôn xao nhất, quân quan đang đốt làng sủi, có cả quân ông lãnh trên Sơn xuống. Các người họ Cao bị đem đi chém hết rồi. Những đồn đại về trận làng Kệ trên Mỹ Lương vân rối như canh hẹ.

Làng Sủi bị triệt hạ, mắt đã trông thấy, mà những tin về thầy Cao bị hại thì thật trái ngược, song chuyện nào cũng rành rọt như thật. Những đồn đại mà Cõi chỉ muốn nghe đầu mối những chuyện nhẹ nhàng nhất, không có càng hay. Người kể: lúc thầy Cao cho trống lệnh thu quân, đội Quang đã lập mưu đánh tập hậu. Bất ngờ, quân gia đã về đến xóm Kệ ở sâu trong thung thì quân đội Quang đổ ra. Thầy Cao bị chém ngã ngựa. Đội Quang chặt đầu thầy, đem về phủ Quốc. Quan lãnh binh bắt nhiều người lên nhận mặt. Lại có người nói thầy bị bắn đằng lưng lúc quân hai bên giáp chiến dưới cánh đồng Yên Sơn. Thầy đang thúc quân ùa lên thì bị một tên nỏ thuốc độc xuyên đằng lưng sang ngực. Thế là quân đang tiến, không nghe tiếng trống trận, hậu quân nhốn nháo chạy dạt trước.
Lại nghe chuyện thầy Cao không chết đâu. Hai bên đánh nhau ở đầu rừng, quân thầy Cao núng thế, rút vào Kệ. Quân địch đuổi chặn. Thầy Cao luồn về xuôi. Quân nghĩa đã mấy lần xuống chợ Tư đánh Bặt, lại còn sang Yên Lạc, sang cả Quế Quyển nên thầy thông thạo đường. Một đêm quân nghỉ, thầy Cao biệt tăm, không ai biết. Chỉ thấy để giấy lại nói thầy đi tìm cứu viện. Bằng như không thấy thầy trở lại thì đừng đi tìm, ai quê đâu về đấy, chí thú làm ăn, đợi thời. Thầy không bao giờ phụ ơn các người bấy lâu theo thầy vì nghĩa cả. Thế thì chưa chắc thầy Cao đã mất. Tuy tin ấy cũng mong manh như mọi tin khác, nhưng Cõi bám lấy, ngỡ như thật. Thầy đã đi đâu, bây giờ ở đâu? Thực ra thì mấy lâu nay quân nghĩa các nơi chẳng còn được như xưa. Nhớ có lần rộn rịch xuất quân từ giữa cánh đồng vào chiếm huyện Thanh Oai. Tưởng như chẳng mấy lúc đại quân đã vượt Quán Quạ, Đại Định sang tận Lủ vào lấy cả phủ Hoài, huyện Thọ, hãm quân quan trong Kẻ Chợ hết đường xoay xở. Thế mà rồi chẳng còn gì. Mấy năm nay xem chừng không mấy nơi nhúc nhích... Chỉ thấy bọn đầu trâu mặt ngựa sạo sục trong phường ngoài trấn, đâu đâu dân tình cũng ngậm bồ hòn làm ngọt, không dám ho he. Tuy nhiên xem kỹ ra thì tấm lòng hướng nghĩa mong mỏi đến đỏ con mắt vẫn nung nấu. Thầy ta giấu quân vào Kệ cũng là ngấm ngầm đợi các nơi lại ra quân...

Có người nói :
- Nhà đội Quang đã được thăng quan đổi xuống Kẻ Chợ, mấy hôm nay có tiệc to. Lính dắt về hàng chục con trâu mộng. Phen này thì quan đội lên quan lãnh đến nơi.

Có người buông một câu mát mẻ :
- Rồi lên cả quan tổng đốc, khao thăng quan chén cả thịt rồng rồi đi làm cỏ cả một huyện người cho mà xem.

Một người quẳng đồng kẽm trả tiền nước, nói như quát :
- Ừ, tao vừa đi qua cổng nhà đội Quang. Thấy trong vườn nhà nó khói thui trâu um lên. Ăn tiệc mừng công giết được một thằng thầy đổ, khác nào ăn thịt người. Con chó còn biết không ăn xương chó, quân này không bằng giống chó.

Rồi người ấy đi thẳng. Quán nước lại có bọn khác kéo đến, quanh bát nước, vẫn những chuyện ấy. Trong lòng Cõi lại bồn chồn. Tưởng như ở Mỹ Lương vừa qua, nếu có Cõi ở đấy thì biết đâu thầy chưa đến nỗi nào. Thật như vậy chứ. Đã bao phen thầy trò một đồng một cốt kẻ hô người ứng giữa mũi tên hòn đạn mà cứ như vào chỗ không người. Nhớ lần kéo ra phủ Quốc cũng thế, giữa ban ngày mà đến đỗi bọn đơm đó, đánh giậm dưới đồng sâu, trong khe rộc đến người tứ xứ lái buôn tay nải đi qua, nghe quan giáo thụ đã đưa quản về, tất cả kéo ra lạy mừng. Lương tiền các nơi bí mật tải về cả tháng ăn chưa cạn.

Thế mà chỉ một khoảnh khắc đã sa cơ. Làm thế nào mà Cõi về quê có dăm phiên chợ, nhưng khi lên ngược mấy hôm, lúc trở về lại lăn ra ốm. Bây giờ thì sao, Cõi vẫn phập phỏng chưa thể nghĩ là thầy không còn. Thầy còn sống. Phải rồi, vận nước đang như tơ vò thế này, thầy không thể khuất được.

Hy vọng chỉ le lói như ngọn đèn lụt bấc. Cái trận trên Kệ là có thật. Mà hôm nay qua Sủi, thấy lửa đốt làng lan ra tận chân tre, chỉ có mỗi một thằng bé chạy được ra, Cõi đã trông tận mắt. Thế là cái chết của thầy đã lụy đến cả làng, cả họ mạc. Thầy sống khôn chết thiêng, chúng con phải trả được thù này, lạy thầy. Có khi cũng bởi thầy run rủi, con lại nhặt được thằng bé có lẽ dòng máu họ Cao. Nhưng hỏi, nó cũng chẳng biết tên nó. Dẫu sao, đã cứu được thằng bé ở sủi, như nghĩa thầy trò ta vẫn đây.

Cõi và thằng bé theo bến Bà Móc xuống ven hồ Tây. Cái nhà ở đình Ngang cũng gần hồ, đã bán rồi. Vợ con thầy phải trở về làng, chuyến thầy lại vào Kinh. Nhưng Cõi nhớ bên vùng Giám có ngôi chùa Xiển. Sư bác chùa Xiển với thầy vốn tâm đắc, trước thầy thường lui tới, có khi cả tháng đàm đạo chưa dứt chuyện thời thế, chuyện quốc sự. Biết đâu thầy chẳng đã về ẩn ở đấy.

Chùa Xiển tọa lạc ngay giữa vườn, cạnh mấy miếng ruộng hậu. Cảnh chùa tiêu điều, mái lá cọ cột xoan đã xiêu vẹo. Chùa mà đến cái chuông cũng chả có. Mỗi năm, vào tháng hạ, nhà chùa phải khăn gói thúng mủng đi thập phương khuyên giáo cái ăn bù đắp cho qua tháng ngày. Bấy giờ đã sang cữ cuối xuân, trời còn u ám, suốt ngày mưa phùn nặng hạt rả rích như mưa ngâu, thầy trò nhà Cõi về đến chùa thì đã tối, người ướt rũ rượi cả. Cõi vừa ốm dậy, hai bả vai lại đau ê ẩm. Nhưng trông vào chùa thấy ánh lửa lui hui, mừng như đã thấy ấm hẳn.

Cõi khua gậy đánh tiếng từ cổng ngoài. Con chó nhà chùa sủa vang dưới cửa bếp. Có người ra mái hiên, đứng trong bậc cửa.
- Ai đấy?
- Con...
- Con là ai?
- Con ạ... Con người nhà thầy Cao...
- Thầy Cao nào? Cao nào? Nhà chùa kém đói lắm, chẳng quen biết ai đâu.
- Con là người nhà...
- Đừng có rỡn, buộc tội cho nhà chùa. Nhà chùa không quen ai cả.

Tiếng cánh cửa đóng ập lại. Nhưng Cõi đã bước tới trái bếp. Nhà sư xuống đằng ấy, nhận ra Cõi. Nhà sư thì thào :
- Cõi đấy a?

Chỉ được câu ấy, hai người nắm áo nhau, có tiếng nức. Rồi sư Thiện Tâm nói nhỏ: “Chú lên nhà hậu lạy sư tổ. Thảo nào mà lúc chặp tối chim khách, chim liếu điếu kêu râm ran ngoài bờ chuôm, thế mà nghiệm”. Nhà chùa còn vị sư già đã ngoài chín mươi. Nhiều lần đến, Cõi đã biết cụ còn minh mẫn, cũng thuộc mặt Cõi. Nhất là mấy năm trước đây, khi thầy Cao đã ra thiên hạ dấy quân, cứ quãng tiết tháng bảy lại sai Cõi lén quảy gạo về cúng chùa, năm nào cũng vậy, đã giữ lệ. Thầy lại còn gửi lời hẹn sư Thiện Tâm khi nào rỗi thầy về chơi, đánh cờ thế.

Nửa đêm, sư Thiện Tâm và Cõi vẫn thức. Ngoài kia, đôi chốc, một cơn gió dạt dào qua vườn chuối, nước đọng trên lưng lá rơi lộp bộp như mưa nặng hạt. Bấy giờ Cõi mới nói :
- Con xin hỏi thực, quan huấn con đã về chùa nhà chưa?

Sư thầy vẫn như nhìn đi đâu, nhưng câu hỏi lại có vẻ ngơ ngác, lạ lùng :
- Nhà người hỏi thế là thế nào?
- Không, con mong vậy, con hỏi vậy.
- Nhà chùa hỏi thử con thôi, những kẻ tà tâm mới hay vu oan giá họa. Con cũng biết đấy, mấy năm nay, quan huấn không về chùa. Mới đây, được tin người đã khuất núi rồi.
- Con cũng nghe người ta nói. Các quan tỉnh cho quân về đốt làng, giết người bên Sủi thì con đã thấy tận mắt, chỉ còn thằng bé này con đem đi được. Vì không trông thấy cho nên cứ ngợ, cứ mong.

Im lặng một lúc lâu. Tiếng dế rỉ ran, day dứt trong bóng khuya. Rồi tiếng sư Thiện Tâm như văng vẳng, nói lại :
- Quan huấn không về chùa.
Rồi lại nói :
- Cơ chừng thì hỏng mất rồi.

Câu chuyện hai người đàm đạo cho tới tan canh rồi ngoài sân đã tang tảng.
- Nhưng mà hỏng hay không, thành hay bại, con đã định như trình với sư thầy. Thầy con còn sống hay chẳng may thầy đã mất, con vẫn nghĩ vậy. Chúng con đã bàn rồi. Nợ máu thì chúng nó phải đền bằng máu. Chúng con phải trả được cái thù ấy. Con phải đi hỏi cho ra cái tội thằng đội Quang. Cõi tôi mà chết, đã có anh em khác, Cõi khác.

Tiếng giun dế về sáng râm ran từng đợt, rợn người. Khi Cõi đi, thằng bé còn ngủ thiếp. Sư Thiện Tâm cẩn thận mở cổng nhà hậu cho Cõi ra.
- Con gửi thằng bé lại nhà chùa. Cháu mà có cơ duyên, xin thầy cho cháu được xuống tóc. Nếu lâu vẫn không thấy con trở lại, thì nhà chùa biết thế là việc trả nghĩa thầy con chưa xong. Rồi nhà chùa kể cho cháu nghe nguồn cơn gia cảnh nhà cháu như thế, phải ghi lòng tạc dạ cái thù của cha ông.

Cõi ở chùa Xiển đi từ tờ mờ đất thì sang sông về đến nhà cũng xâm xẩm tối. Thầy Cao ngày trước ngồi bảo học nhiều làng trong vùng, mỗi làng có đến mấy lớp môn sinh ăn mày chữ cửa thầy. Có nhiều người đã thành đạt, nhưng cái số quan trường của thầy thì khốn khổ, giữa triều đình rồi mà vẫn còn phải hoạn nạn tù tội, chẳng khác gian nan vào sinh ra tử nơi trận mạc. Cho đến năm phải biếm về làm chân giáo thụ ngồi bảo học ở phủ Quốc, rồi thầy nổi quân, thì lúc ấy cũng là cái thế cùng. Chí lớn không còn thi thố được ở đâu thì phải nổ bùng như vậy, không thể khác. Bảo là bí quá, phẫn chí, bảo là vét hầu bao ném vào canh bạc cả cơ nghiệp, ai đàm tiếu thế nào cũng được. Chỉ có điều thế là chí tiến thủ đã có cơ hội vùng vẫy, trời đất có ta, còn ta. Nhưng từ năm “ông giáo thụ Cao làm giặc” nhiều người sợ. Nhỡ ai hỏi: có phải học trò thầy Cao, đã chân tay bủn rủn, chối đây đẩy, việc đồng môn đóng góp thì lánh mặt từ lâu rồi.

Cõi không được là con nhà, như ai. Chẳng qua điếu đóm hầu thầy, được võ vẽ dăm chữ. Không phải cứ lắm chữ mới là người tử tế. Ai cũng đến lúc có xoay vần mới biết lòng dạ thế nào. Cái tên là Cõi cũng không phải tên tự, tên sách ra sao. Bố mẹ Cõi cũng không ăn mày đâu được một chữ. Cái năm mẹ đi chợ sớm, đến cánh đồng Cõi thì đẻ rơi. Rồi đặt tên thằng bé là Cõi.

Cõi về đến cổng, thấy ngõ rấp cành rong. Chẳng thấy mụ vợ đâu. Mới khặc khừ thế mà giờ biến đến tận tối. Mụ này thất thường, chẳng biết thế nào, có khi ra đầm kéo vó tôm rồi nằm vạ vật ngay ở lều, mà đi chợ thì tha thẩn la liếm đến tan chợ, là người về sau cùng. Ôi thôi, thằng chồng chẳng có nổi của ăn của để, thì con vợ phải ăn mày ăn nhặt từng hạt cơm. Cõi nghĩ qua loa vậy thôi.

Cõi xuống xóm dưới, đến nhà Trắt, - một người đồng môn. Trắt cũng chỉ học thầy được dăm ba chữ, rồi phải khi nhà khó, Trắt đi bán dầu độ nhật, như Cõi. Nhưng Trắt cũng khác Cõi, từ khi thầy Cao “đi làm giặc”, Trắt không theo thầy.

Trắt tự nghĩ: thân phận hèn đớn, chẳng biết đâu những việc triều đình trên đầu trên cổ. Tên là Trắt, có phải con cái cháu chắt nhà ai đâu. Mẹ kể mẹ đi mót lúa về, đương ngồi cắn trắt thì trở dạ, mới đặt nó là thằng Trắt. Ông bà, cha mẹ lặn lội, mấy đời chỉ biết vai buông cái đòn gánh thùng dầu xuống lại vác cái cày lên. Nhưng mỗi khi gặp Cõi thì thầm chuyện thầy gặp gian truân rồi nổi tướng, Trắt cũng vừa ngậm ngùi, vừa lo.

Cõi đến thấy Trắt ở nhà. Có một mình Trắt, cũng dễ chuyện. Đoán có việc quan trọng, Trắt bảo để rủ thêm người nữa, chú này ít tuổi hơn Cõi và Trắt, bây giờ làm ruộng, nhưng cũng là học trò thầy khóa sau rốt, lúc thầy Cao về làng chờ trên gọi đi giáo thụ phủ Quốc.

Cõi nói :
- Thầy ta không thể chết chém như thế được. Nếu thật vậy thì phải đi giải cái oan cho thầy. Ba chúng ta đi tìm giết thằng đội Quang. Kỳ đem cho được cái áo máu, cái đầu, cái tai nó về đặt lên bàn thờ thầy. Các chú cùng anh ăn thề một lời...

Ba người cùng ứa nước mắt. Rồi bàn bạc thâu đêm.
- Thấy bảo đội Quang đã được đổi về dưới này, đợi sắp thăng quan to.
- Thế thì càng dễ.
- Ta sang Kẻ Chợ dò tình hình đã. Rồi tìm cách lẻn vào nhà nó. Việc mạo hiểm, nhưng không thế không xong. Lính tráng nó như rừng, đi một bước cũng gươm súng đằng trước đằng sau, xưa nay nhà quan nó vẫn thế, vừa cẩn mật lại làm oai.
- Ta đi dò la thử xem. Làm thằng bán dầu...
- Nhà quan cách người ta mua cả bè dầu thùng chứ ai đong gáo bán rong bán chợ. Nhưng mà có thể, trong nhà nó còn lính tráng, kẻ ăn người ở.
- Thợ mộc, thợ cối thì dễ ở nhà người ta được lâu. Mà làm gỗ với cái tay luyện đất cứt mối đắp cối, anh em ta cũng thạo cả. Lọt được vào nhà nó thì cũng bằng như sắp túm được sỏ nó đặt lên đĩa này rồi.
- Phải, làm đồ ngõa, đồ mộc còn có thời buổi, chứ đóng cối dễ tìm việc, nhà nào chẳng có cối xay, cối giã, nhất là những nhà đông người ăn như thế.
- Mai, cả ba chúng ta cùng ra Kẻ Chợ xem sao cái đã.

Cuối cái xóm khuất, cả ba người lúc to lúc nhỏ. Cạn chén rượu thì đập vỡ chén. Ai sai lời thì phải chịu chết tan nát như thế. Tưởng như lời thề độc đã buộc người ta keo sơn lại.
Vừa chợp mắt, đã sáng.
- Ta thổi cơm sớm ăn cho chắc dạ.
Người đồng môn nọ nói :
- Cho em về lấy cái khăn gói.
- Ù lên nhé!

Cơm chín đã lâu, rồi dần dà nắng lên lưng bụi tre. Những người đi lưới sớm ngoài sông đã vác giỏ cá về chợ mai. Đám trẻ kéo tôm trong đầm đã bỏ vó, nhảy xuống nước bơi đùa loạn xạ. Vẫn chưa thấy chú ấy trở lại. Trắt bảo để đi gọi. Nhưng Cõi xua tay:
- Ta ăn rồi còn đi. Nó vừa nói lời đã nuốt lời rồi, gọi làm gì!

Thế là có hai người thợ đóng cối sang Kẻ Chợ. Những khi tháng ba ngày tám rỗi rãi, đồng ruộng chẳng còn một hột việc, các vùng hai bên sông Cái thường khi vào kiếm miếng trong Kẻ Chợ vãn cả làng. Người xách người đeo cái bị đựng cái tràng, cái vồ, con dao gọt và quàng trên vai mấy vòng mây đã chẻ khoanh tròn như khua nón, thoạt trông cũng biết những bác thợ cối. Để làm hiệu thôi, chứ cái dăm cối còn phải gọt, phải đẽo gốc tre đực, còn cái đất cứt mối đùn để đắp mặt thớt thì đến nhà chủ ở, vừa làm vừa đi kiếm.


Chú thích :

[1] Những bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (1808-1854) được dịch nghĩa in trong tiểu thuyết này đã trích ở Tuyển tập thơ văn Cao Bá Quát, in lần thứ ba, Nhà xuất bản Văn Học 1984.
0
II

Nỗi nhớ
(Hữu sở tư)

Con nhà ai nho nhỏ
Hai đứa sóng đôi vừa đi vừa nói
Đã mấy người quên hẳn được tình
Ta cũng nhớ đến con ta
Nào lúc bám lấy mẹ kêu đói
Nào khi níu lấy ông học vái
Nay trước cửa nhà vắng đi một nửa
Thấy bay mà sinh lòng nhớ thương
Hóa dân (dịch nghĩa)


Chiêm bao thấy con gái đã mất
(mộng vong nữ)

Cha mẹ xa, mình thì đang ốm
Nhớ con mà vẫn phải nén đau thương
Bỗng nhiên trong giấc mơ lúc nửa đêm
Nhác trông thấy con mà nước mắt giàn giụa
Áo quần đã không đủ ấm, lại rách
Nét mặt buồn bã
(Con ạ) Nhà ta tuy nghèo nhưng dưa muối không thiếu
Dù có tân khổ thì con hãy cứ trở về.
Nguyễn văn Bách (dịch nghĩa)


Viết hôm tiếp được thư nhà
(Đắc gia thư, thị nhất tác)

Người ta sinh ra không phải là cỏ cây
Có buồn có vui vì có hiểu biết
Ai không có cái lụy gia đình
Nhìn xuống trông lên, nước mắt tràn thấm ngực
Dời ta trót lầm lỡ vì danh hờ
Hàng mười năm chìm đắm trong bút mực
Sau bao khó khăn thi mới đỗ
Tiều tụy không còn ra hồn người
Lần này gặp vận mà đi
Đã xét mình sửa hết mọi khiếm khuyết
Bỗng trận gió kinh khủng từ đâu đưa đến
Làm cho chim bay phải cụp cánh
Đời thịnh đâu có bỏ phí tài năng
Chỉ có mình lơ đãng, vụng về, tự rước lấy lỗi
Đương miệt mài nghĩ đền bù những điều sai trái
Buông màn chỉ cúi đầu im lặng
Chợt có khách từ quê nhà đến
Trông thấy ta chỉ những than thở
Báo tin rằng: “Ông có sự buồn
Bà chị đã qua đời rồi”
Vội vàng tay mở phong thư
Tinh thần bàng hoàng, rối loạn
Than ôi! Tình cốt nhục
Là khách phương xa, lại càng đau thương
Ta mới đi chưa được vài thảng
Mà đã bao nhiêu biến cố không ngờ
Nữa rồi ra ngày còn dài
Ai lại có thể không có sự may rủi
Nỗi buồn dằng dặc như trời đất
Thương cảm biết bao giờ cùng
Trời đã tối, một mình trầm ngâm
Ba lần trở ra, nhìn về phía Bắc thành.
Hoàng Tạo (dịch nghĩa)


Về đến nhà
(Để gia)

Mái tóc đã bơ phờ rồi mà mình vẫn không biết
Nay là lúc được về trông thấy làng xóm
Đây là điếm Cây Gạo, sương đã tan rồi
Kia là hổ Ngựa Trời, vầng ô đương lên chậm
Bạn hàng xóm thình lình gặp nhau, sủng sớt hỏi thăm
Mẹ già chợt trông thấy con, mừng mừng tủi tủi
Trước nay đã trải nhiều hoạn nạn, từ đây xin chừa
Đối với người nhà không dám nhắc đến chữ
“biệt ly” nữa.
Nguyễn Văn Tú (dịch nghĩa)


Các phường hội làm ăn ở Kẻ Chợ đều có quê gốc. Cả đến bọn nhuộm thâm, nhuộm nâu ở Đồng Lầm dưới Nam lên, trú lại bên kia hổ Ba Mau, thế mà đông dần thành một phường, con đường phía nam vào Kẻ Chợ rồi cũng thành tên ô Đồng Lầm.

Đất Kẻ Chợ là như vậy. Người tứ xứ đến ở thành phường phố, hàng chục, hàng trăm nhà vẫn giữ tên đất quê. Riêng hai chữ Kẻ Chợ thì lại khác. Thời vua Minh Mệnh đã lấy của trấn Sơn Tây và của Sơn Nam nhiều phủ huyện ghép vào Kẻ Chợ lập nên tỉnh Hà Nội, quan Tổng đốc đóng trong thành cũ, gọi là Bắc thành. Bấy giờ sang đời vua Tự Đức, cái tên tỉnh Hà Nội được đặt đã ngoài hai mươi năm. Nhưng chẳng mấy ai để ý, vẫn chưa quen, người qua lại cứ gọi đấy là Kẻ Chợ.

Trong Kẻ Chợ, các phường đều có đình miếu thờ vọng thành hoàng làng. Ấy là nói về những nhà thợ nghề đã ngụ một đời, vài đời ở đây. Không kể mỗi mùa mỗi vụ gặt hái xong, người các nơi ra đất thị thành kiếm cái ăn thì các đình, chùa, các đền miếu, am thờ đều là nơi trú chân quen thuộc của mỗi cánh, mỗi nghề.

Chỉ có thợ cối chẳng vùng nào chuyên. Đâu cũng có thợ cối và mỗi nhà hàng năm lại sửa sang lại cối, nhất là từ tháng mười sau tết cơm mới cho tới một chạp áp tết cả. Thợ cối cũng chẳng thành cánh. Thường thì hai ba người họp lại, đi rong. Ai quen thì hỏi mối các nhà đã làm, nhà nọ mách nhà kia. Rồi nằm đợi việc hay có việc rồi, cơm rượu chiều ở nhà chủ xong, ra nằm trọ đình cổ Lương. Cũng thành lệ, tìm thợ cối thì hỏi ông từ đình cổ Lương. Chẳng thế mà từ bao giờ đã có câu vè:
“Nên ra thì múa tứ linh. Không nên thì lại nằm đình cổ Lương”. Mình chẳng được nên gì thì cũng nằm đình cổ Lương. Thợ cối làm mỗi nhà vài ba hôm thì đã xong việc, không như thợ chữ, thợ khắc trọ ở đình cả tháng. Phó hai, phó nhỏ nhộn nhịp gạo nước thổi nấu lấy, chẳng giống thợ cối, thợ đấu chỉ tạm bợ một hai bữa thì ăn ghé bếp ông từ.

Đình Cổ Lương cũng như đình, đền các phường, lại như cái chợ tìm việc, hỏi việc. Năm nào, mùa nào cũng đã quen. Cái am, cái miếu phường nào hầu như đâu cũng thế. Một quán chè tươi, có cả rượu trắng dọn ở góc ngoài. Những chân tường, chân cột phía trong, các nồi cơm nghi ngút khói rơm, khói vỏ bào. Tùy hạng người, cái tam quan cũng chẳng khác cái chợ. Chợ Cầu Đông, chợ Ông Nước, chợ cửa Nam họp ban ngày, các cửa đình, tam quan là cái chợ đêm - chợ đêm chỉ rặt người ăn uống, người ngủ trọ. Đình Hàng Quạt, đình Hàng Hài, những người lên theo vụ, đẽo bản khắc in, nghề giấy, bàn xoay thợ tiện rồi người gánh hàng dầu, thúng than hoa, những bong bóng lợn đựng rượu, không ai biết ai, có người chỉ dựa tường ngủ ngồi ngoài cửa, không mất tiền cho các ông từ, ông tự.

Cõi với Trắt trọ ở đình cổ Lương đã được mấy đêm. Chỉ mình Cõi phó cối, Trắt đã ra bến Bà Móc đong dầu rồi quảy thùng dò dẫm đi các phố. Ngày ngày, mỗi người mỗi việc, người gánh dầu, người khoác vòng mây lên vai dạo các ngõ ngách, xẩm tối trở lại ngủ đình.

Cõi nói :
- Chẳng được một kẽm gãy. Đi rạc cả cẳng, không ma nào gọi thợ cối. Chưa đến tháng mười mà.
- Ừ nhỉ!
- Nhưng mà biết nhà đội Quang rồi.
- Tôi cũng đi qua mấy lần.
- Mới trên Sơn xuống mà dinh cơ đã oai lắm.
- Chuyện! Nhà quan, đâu chẳng đã sẵn.
Cõi bàn :
- Chú ở ngoài này xem xét ra sao đến khi tôi ra thì ta tính. Cạn túi rồi. Tôi phải về trữ lương ăn đem ra. Hôm đi không để ý, hai người ăn mà không kiếm ra đồng nào thì hỏng.
- Ừ nhỉ!
Ra bến đò sang Ghềnh, Cõi còn quay lại, dặn Trắt :
- Cứ thế, chú ạ.
Trắt cười :
- Được, được rồi.


Suốt ngày, Trắt gánh dầu qua các phố. Tối về nghỉ chân ở đinh Hàng Hòm. Kể ra, đình cổ Lương cũng vào những đình giữa phố xá, tiện đi lại, nhưng đêm ngày người nghỉ, người trọ nhiều đâm ra tạp. Bên đình Hàng Hòm tuy nhỏ mà thoáng hơn, lại yên tĩnh. Ở đình Cổ Lương cứ ghê ghê. Chẳng bận đến mình nhưng lỡ chẳng phải đầu cũng phải tai. Ở đấy, trong phường các phố Hàng Buồm, phố Hàng Bạc, Hàng Đào - những phố có hiệu buôn to, người Khách, người ở Trâu Khê lên mở cửa hàng, lại nghề đổi tiền đồng tiền kẽm. Hàng Đào thì mua lĩnh Kẻ Bưởi, the La, chồi Bùng, toàn những của một đống tiền, cái đám thợ ra làm, đám lái đeo đây đi bán, trong lưng ai mà chẳng sẵn của. Dễ bị cướp như chơi.

Không mấy khi trọ đình Hàng Bạc. Có bạc thì chắc mất toi, bằng như khố rách thì chẳng ai ngu mà rước lấy cái dại. Ngay ở đình cổ Lương, những lúc quá chén, có người cũng lè nhè :
- Cứ đong rượu đi, thiếu tiền thì chốc nữa sang chịt cổ vài thằng thợ bạc Trâu Khê.
- Phải, phải, bạc của nó cũng là bạc ăn cắp của chủ hiệu, của thiên giả địa.
- Hay là ra Hàng Đào lột cái váy lĩnh của con mẹ Kẻ Bưởi, bọn lái hàng tơ này hay về chợ sớm.
- Ha, ha!

Ở đình Hàng Hòm thì cánh trọ cũng ăn nói bặm trợn chẳng kém, nhưng đám lam lũ này chắc có kém ngang tàng. Quanh quẩn, mấy người khố đuôi lươn đi cắt cỏ voi ngựa bán chợ Hàng cỏ. Đến mùa vụ, người Cầu Nôm lên quét mực bản khắc. Dân làng Dũi làm ở Hàng Tiện. Người Giới Tế trọ ở Hàng Mành, uống rượu ngữ, cơm bát úp ăn với cà chan nước lã. Ngay bọn ở Hàng Đồng Giọt đập cái mâm đồng, cái âu trầu hay Hàng Hòm thì lỏng chỏng mấy chiếc tráp sơn then, cái hòm gỗ cánh gián nhợt như áo quan.
Đốt cả phố Hàng Tiện, Hàng Hòm cũng chỉ ra tro mấy thứ thổ tả ấy với cái bàn tiện. Còn người ngủ đường ngủ chợ có cái tràng, cái đục, cái con lăn, con cóc quăng đan mành mành thì vứt ra đấy, chó cũng chẳng buồn tha. Cho nên êm nhất là ngã vào đình Hàng Hòm, phải hơn bên đình Cổ Lương hay Hàng Bạc - chỉ có mấy chú phó cối cả năm ra Kẻ Chợ đôi buổi không biết mới chui vào những nơi ấy.

Người hai bên sông vào phường phố cũng là trợ thời không thành nghề như thợ bạc, thợ đồng giọt, mà là người ở đợ, làm mướn, người bán dầu thắp. Gánh đôi thùng tre ghép sơn cánh gián, đựng dầu trẩu, dầu sở tùy mùa dầu trên ngược về, đầu mẩu đòn gánh gác một sải dầu lạc. Áp tết mới nhiều người mua dầu lạc các nhà khá giả thì quanh năm thắp dầu lạc, nhà nghèo chỉ trữ hũ dầu lạc, đèn thờ những ngày giỗ chạp, tết nhất tim bấc đèn tinh khiết không bụi khói. Những người bán dầu không điêu toa pha phách đều có thể mua quanh năm. Các nhà lấy dầu quen, mua ngữ tháng bốn phiên tơ ngày một, ngày sáu. Trắt bán dầu ngắn vốn, lại đi có chừng, chỉ gặp khách mua hóng.

Ngày nào Trắt cũng đi. Thường thì ngại ở lang chạ, chiều đến nhiều khi sang sông về nhà, gà gáy lại vào. Nhưng bây giờ gánh dầu đi có ý khác, tối tối rúc ráy vào ghé lưng nhờ các cửa đình, cửa đền. Mỗi ngày, dạo khắp xó, nhưng thế nào cũng qua nhà đội Quang vài lần. Cổng đóng kín, trên vòm có chòi canh như dinh quan, người lính đứng to hó nhìn xuống. Trắt rảo bước đi thẳng, thế là chưa được cái gì khác, vẫn như thế.

Mấy hôm ấy, trời lại sụt sùi mưa. Đã sang tháng bảy, mưa ngâu sớm ướt sũng đất. Cả một vùng xám mờ như trời buông xuống những cái màn cửa nhuộm chàm che khuất chiếc bè gỗ, bè nứa, các ông lái đường ngược đương nằm hút thuốc phiện. Tự dưng, đến người cũng bực bội, bứt rứt. Chặp tối, Trắt đỗ gánh cuối phố Hàng Gai, vào mua nắm cơm muối vừng, ăn xong ra vại chiêu ngụm nước lã rồi xuống đình Hàng Hòm. Tối rồi mà còn vắng, mọi khi, vào giờ này, đám thợ tiện, thợ xén sách, thợ khắc ván các phường quanh quẩn đã tụ tập. Biết thế nào, vì trời mưa, vì nhiều việc phải làm đêm, hay đã hết lứ hàng, người ta về quê cả.

Trắt để ý, mà không quan tâm. Trắt đặt hai thùng dầu vào góc khuất trong lưng cột rồi ngồi xuống lấp sau bậc gạch, cho khỏi chói mắt, ngạt mũi vì bấc đèn dầu sở khét lẹt ở hàng nước phía ngoài tạt gió vào, khói tuôn cuồn cuộn.

Nhưng rồi cũng chẳng chợp mắt ngay được. Trắt vẩn vơ nhìn sang ngôi hàng nước dần dần đã có người đến xúm xít ngồi kín trên những nửa mặt cây vầu đặt quanh chõng hàng. Hàng nước chè tươi đình Hàng Hòm nước ngon đã được tiếng. Thấy bảo lão quán này kỹ tính. Chè tươi thì thửa chè đồi trong Chương Mỹ đem ra. Nước đun, mua nước giếng đất gánh tận chùa Bà Ngô cạnh Giám. Bát nước múc ra xanh óng, uống đến bỏng môi, nhưng đậm giọng, nhiều người đã nghiện chè tươi quán đình Hàng Hòm. Người uống quen là phải, bởi chưng cũng không phải lão quán chỉ bán nước chè xanh. Cái đóm nỏ, cái điếu cày lúc nào hút cũng giòn tanh tách thì chẳng kể, và cũng chẳng có là bao mấy thứ khác, nhưng sau lưng lão xếp một dãy vò rượu Kẻ Mơ. Cái Kẻ Mơ chính tông mới ngọt giọng làm sao. Uống suông cũng được vài chén, khách ngổ ngáo thì cứ vài hơi đã hết be.

Những khuôn mặt vuông vức nhấp nhoáng quanh ánh đèn, trông dữ như mặt thằng quỷ ở bên vạc dầu chỗ cảnh thiên đường địa ngục trên chùa. Họ đương rượu. Xem ra không phải mấy cánh thợ mọi khi. Có người vắt vẻo trên đầu mảnh vải thâm gấp đuôi khăn tai chó, như lái bè lái buôn trâu dưới bến lên hay ở trong cửa rừng ra.

Tường vách, kèo cột cửa đình nhem nhuốc ám khói bếp nấu nước, khói thuốc lào, hơi người, đã lâu năm két lại lẫn màu nâu sổng của những khách ngồi quanh, mọi thứ đều đen nhẻm như trong lòng chảo.
Những câu chuyện cũng lạ tai. Họ cãi nhau về cách bẫy chó, đánh chó, lừa chó.
- Quả mướp, quả nướng thui chín nục quăng ra, thằng chó tham ăn càng hăng càng chết. Thấy khói bốc tưởng miếng đớp được, ngoặp một cái, thế là hai cái hàm dính lại, rụng ngay hết răng. Chỉ còn nằm mọp, rên ư ử.
- Không xong. Có thù con chó thì làm vậy thôi. Chứ cũng không lọt vào nổi đâu.
- Sao không xong?
- Nó không há được mõm, thì nó cũng rên, cũng rú váng lên chứ. Thế là nó đánh trống ngũ liên báo cướp được rồi.
- Này bảo cho mà sáng mắt ra. Thằng kẻ trộm không đánh bả, không ném mướp nướng lừa chó bao giờ. Trò trẻ ranh!
- Mắt tao đã thấy mà.
- Cách vào này thì thần tình lắm. Có ghét con chó thì lúc ra, ném lại ít bả. Thế thôi.
- Ha! Ha!
- Tay này vẫn làm thế đấy.

Trắt đoán bọn này không đầu trộm thì đuôi cướp. Vào giữa phường sầm uất thì làm trộm, ra đầu ô vắng vẻ thì thành kẻ cướp. Tối đến, tù và, ốc, trống ngũ liên loạn xạ. Khắp các phố, những tiếng khiếp đảm hú vào các đầu hồi, các cây bương nứt ống, những ngọn cau tùm hum như có người ngồi rình trên ấy. Nơi nơi im thin thít đợi cơn hoạn nạn đến. Nhà phải người ném mồi lửa. Người bị chém sã vai... Tất cả nem nép trong bóng đêm, mưa ồ ạt rơi trong cơn giông, đêm nay cũng thế, trông ra trời đất thảm xịt như ai bịt mắt. Cái đèn dầu chẩu trước điếm canh đầu phường đứa nào đập vỡ đã tắt ngóm từ bao giờ để dễ bề khua khoắng. Trắt đoán bọn này tụ bạ rồi đi cướp, hay xé lẻ ra đi thón từng nhà. Bọn này đây. Trắt nghĩ ra một việc, việc khác, việc đương cần.

Trắt lò dò đến ngồi cạnh. Một người quát vào mặt Trắt :
- Thằng tuần phường Hàng Hòm à?
- Trói cổ thằng này, tội vạ đâu tao chịu.
- Không có thì chốc nữa nó cũng gông ta lại. Đem chọc tiết thằng này để tế cờ, anh em ơi!
Trắt vội nói to :
- Em là thằng bán dầu, các liền anh cứ hỏi ông chủ quán nước thì biết.

Một người trợn mắt hất hàm ý hỏi chủ quán. Nhưng ông lão không nói gì.
- Thằng bợm mắt lấm lét thế kia mà đi bán dầu a?
- Đêm nó đào tường khoét ngạch, ngày nó bán dầu.
- Không, nó là thằng tuần đi rình mò...

Trắt vào xách hai thùng dầu lại cho mọi người nhìn. Rồi kể lể :
- Nhà em ở bên kia sông, mấy hôm nay hàng họ ế ẩm quá. Ngủ đây cho gần, mai có buổi chợ cầu Đông.
- Ngày đi bán dầu, tối đi ăn trộm cũng thế. Nhập bọn với chúng tớ được.
- Em không có tài, chứ em cũng thèm.
- Tài tải tài tai, tài tai cái tai bị cắt ấy mà.
- Ngồi xuống đây làm một chén. Hay là mày uống chỗ dầu ế no say rồi.

Một con xọt xành bám trên hốc cột gõ mõ cành cạch. Con xọt xành kêu hay con mối chép miệng đớp muỗi, con dế tỉ tê rên rỉ thâu đêm, cũng thế - chẳng trông thấy con xọt xành đâu nhưng tiếng xọt xành lại thành câu ví von. Mọi người cười khục khục cùng bật một nhịp :
- Xọt xành là anh kẻ trộm! Xọt xành là anh thằng kẻ trộm!
- Thằng xọt xành nhầm nhà rồi. Chúng anh đây đi ăn trộm mà có đứa nào dám đến đây khiêng các hũ rượu của ông quán đi đâu!

Ông hàng nước cắm cúi bê hũ rượu chiết ra từng be, từng ống nứa rồi ra ngửa mặt cười khà. Đích thị! Đích thị! Mọi chuyện lại râm ran. Trắt đã rõ, đám kẻ trộm này chợt ngồi đây, chốc lại biến đi.
Một người nói :
- Này các đằng ấy, rượu vào rồi ra ngồi phơi sương, hơi người hả đi nhanh lắm. Mới đêm qua thôi, uống đến nửa đêm ở đây thì tớ đứng dậy, ra bãi tha ma nằm ngủ trên một cái mả, đến canh một thì các cụ dưới mồ lên vành mắt dựng tớ dậy, người chết đánh thức người sống. Tớ đi vào chui cổng chốt phường Hàng Đào đằng kia kìa rồi nậy cửa hiệu cái nhà có tiếng nanh ác ấy, tớ khuân một ôm lụa lĩnh như khiêng cây rơm trên lưng, vừa đi vừa thở phì phì, vẫn còn say, thế mà chẳng có một tiếng chó cắn. Chó đuổi theo chỉ ngửi ngửi, hơi người lẫn với hơi sương rồi mà.
- Bây giờ mới biết á? Cụ tổ nghề đã dạy sách ấy từ đời nam nứ kia! Cái rượu nó bốc hơi người đi, không phải cái xương cốt gì đâu.

Trắt tưởng tượng ra chốc nữa ở đây rồi họ phắt lên các nóc nhà, bờ tường, xuống ao chuôm, cả rừng chông trà, hàng chục ròi cổng chẳng là gì cả. Tiếng tù và, tiếng ngũ liên đêm nào cũng hốt hoảng thấp thỏm thì biết được trong thành, ngoài cửa ô nhộn nhạo trộm cướp thế nào.

Trắt mon men :
- Nghe các ông anh nói em sướng cả bụng.
- Sướng là làm sao?
- Sướng là cái nỗi những đứa nứt đố nổ vách lúc nào cũng bở vía, tóc gáy cứ rợn lên thế thì đến rụng trọc đầu mất.
- Ừ, nghe mày nịnh thế tớ cũng nở hai lỗ mũi đấy.
- Đàn anh cho em theo với.
Một người cười ha hả :
- Đội Quang mai về đấy. Rồi mày đi báo đội Quang chém chúng ông, đầu chúng ông là củ chuối để mày xách đi lĩnh thưởng a?
Trắt rụi mắt :
- Không, em nói thật.
Một người khác trầm ngâm :
- Nhưng mà chúng tao không phải kẻ trộm kẻ cướp đâu.
Trắt ngần ngừ.
- Nói thực, em theo học các ông anh.
- Học cái gì?
- Tay không mà đâu cũng vào lọt, như lúc nãy chư ông nói.
- Được rồi, tối nay tao uống mày chi tiền rồi tối mai tao cho đi theo.
- Vâng ạ.

Đến lúc Trắt gà gà mắt tựa vào tường thì các tay anh chị nọ tản mát đi lúc nào không biết. Trong tiếng mưa khuya, câu chuyện phảng phất như ngủ mê.
Hôm sau, Trắt lại quảy gánh dầu đi qua cổng nhà đội Quang có đến mấy lần. Nhà đội Quang ở gần đầu ô Chợ Dừa. Một dinh cơ của một quan lớn mới được bổ vào Kinh để lại. Đội Quang chuyển trên Sơn xuống, thấy cơ ngơi khang trang thì ông đội mới có công to cử vừa xin lên trên, vừa ở luôn. Thế lực đội Quang dấy lên, mỗi lúc một hống hách, quan dạng. Xa trông dưới những cây cau, mái nhà ngói bát vần, giàn trầu không xanh thẫm leo phủ bên bể nước mưa trước hiên. Ra ngoài phường, các dinh thự nhà quan đều xum xuê nhà cửa vườn tược thế.

Nhà đội Quang cũng dinh cơ; lại là nơi xét xử giam cầm người, không biết trên huyện hay Bắc thành cho mở công đường hay cái lệ đội Quang ở trên Sơn vẫn tự tiện vậy, bây giờ được lên chức lãnh binh lại càng ghê. Có đủ lệ bộ như công đường quan án đầu tỉnh. Lính gác, lính tuần, lại ông lục, thầy cai, thầy thừa - chẳng rõ có thật các chức tước ấy không, những người có việc kêu cầu, kiện cáo thường quen xưng hô đội lên chức thầy, chức quan lớn, người ta càng khiếp đảm vì ở nhà đội Quang xử tội rồi giết người được cả: đánh đòn, bỏ rọ trôi sông, đâm chết tươi, đem chôn. Trong các hàng quán ở đất Kẻ Chợ, tuy đội Quang mới về, cũng chẳng phải quan nhất quan nhì hàng tỉnh nhưng người ta đã thì thào về cái tính cục cho toi mạng người không ghê tay của quan lãnh mới được thăng.


Trắt nhìn hàng rào những cây vông hoa đỏ như tiết, mà ngẫm nghĩ về câu chuyện trộm cướp tối hôm qua ở đình Hàng Hòm. Trắt tưởng tượng có một đêm Trắt ra nằm bãi tha ma một hai trống canh, nhạt hết hơi người rồi Trắt vào leo qua cái hàng rào ô rô, leo khéo thế nào để các chòi canh trên tường không biết, cả đàn mấy chục con chó săn lùng sục suốt đêm quanh tường không đánh hơi ra. Trắt lọt vào tận buồng đội Quang. Bấy giờ mới phải tính thế nào đây, cắt đầu cả con vợ nó, hay chỉ một mình thằng chồng. Thôi, tội ai người nấy chịu.

Trắt đương nghĩ như thế, nhưng đến lúc cảm thấy một bên vai nặng trĩu cái đòn gánh và đôi lúc gió thổi dạt làn nước mưa xuống cái lòng nón sụp trên mặt, như cả vòm trời xám xịt ụp xuống. Mới lại nhớ đương quảy dầu và xưa nay chưa biết trèo leo, nạy cửa, vượt mái nhà như kẻ trộm, kẻ cướp, làm sao chui qua, trèo qua được cái bờ rào ô rô rậm rịt rối lại xoay xở thế nào những cơ ngũ chỗ ăn chỗ ở ra sao trong ngôi nhà ngói mênh mông thế kia.

Nghĩ thế, Trắt xịu mặt. Nhưng một lúc, Trắt lại hy vọng, không biết hy vọng gì. Trắt quay lại, qua cổng nhà đội Quang lần nữa. Chặp tối, Trắt trở lại đình Hàng Hòm, đòn gánh trên vai như đêm qua. Về đây, Trắt lại có ý mong và hy vọng rành rõ.

Nhưng đêm tạnh ráo mà đến khuya cũng chẳng thấy bóng dáng người nào tối hôm qua. Có mấy đám, bọn thợ cối ở Thượng Thanh lờ vờ ra, đi cả ngày chẳng ai gọi tối lại về tá túc đây. Rồi vẫn thợ tiện Hàng Hòm, Hàng Tiện, thợ khắc Hàng Gai. Những bọn này vùi đầu vào đám xóc đĩa trong góc tường, thỉnh thoảng ra làm bát nước, bát rượu lảm nhảm khấn cho khỏi cơn khát nước, rồi lại nhảo vào đỏ đen.

Trắt hỏi lão quán :
- Đám hôm qua chẳng thấy tăm hơi nhỉ?
- Dào ôi, đã sang cả bên kia sông lại xuống ô Đồng Lầm, đi như ngựa, có khi gần sáng mới mò về. Có khi vắng cả tháng.
- Các anh ấy đi dắt đất?
- Hình như bên kia sông, tận trên bến Bỏi. Đi ăn cướp mà lại được tiếng tướng cướp. Đã nghe tiếng tướng cướp bến Bỏi bao giờ chưa?

Mấy đêm nữa cũng không thấy người nào đến.
Trắt chịu khó chờ, dẫu biết chim trời cá nước, khó lòng còn có khi gặp. Có đêm lại rả rích mưa, Trắt vẫn mò về Hàng Hòm, rồi ngày lại ngày, quảy hai thùng dầu qua các phố. Như thường lệ, đi đường nhà đội Quang, Trắt nhẩn nha, thong thả đếm từng bước.
Đến những cây vông trong bờ rào ô rô - cái vườn rộng thênh thang như vườn nhà chùa, rồi tới hai cột trụ cổng vào, những búi cỏ ấu lầy lội bùn cát pha. Cũng chẳng lạ, lối này ra đường thập đạo, người qua lại, quân trảy chẳng lúc nào ngớt, nếu lâu lâu không mưa thì những cây muỗm, cây đề, cây gạo ngoài ngã ba, bụi đường nhuộm đỏ xuộm cả gốc cây, cả vòm lá.

Đằng sau, tiếng vó ngựa lộp cộp. Nhìn lại, không phải, một người tráng đội nón chóp, giơ cành tre dứ lên đầu bốn con trâu chen nhau định bồn, miệng quát “họ... họ...” dồn cho trâu chững lại. Bùn nhóp nhép vết chân trâu, thảo nào bờ cỏ ven đường nhàu nát, ngả rạp thế. Nhưng hôm nay không phải ngày chợ. Mà trâu bò các làng đem vào bán chợ cũng không qua ngả này. Đàn trâu này mẫm mạp, béo nây tròn khoáy mông, dáng trâu vỗ béo, trâu thịt, không phải trâu cày. Lại nhà quan nào có tiệc trong thành...

Bốn con trâu bị quát “họ” loanh quanh dồn lại trước cổng nhà quan đội Quang. Người tráng đánh trâu kéo cái ốc đeo bên vai, nghiêng cổ, phổng má thổi tí... u... tu... tí... u..., mấy tiếng ngắn. Lính trên chòi chạy xuống, cũng vừa lúc người trong sân cầm cái chìa khóa tất tả chạy ra. Hai người cùng rầm rầm cong lưng đẩy cái cổng sang đôi bên. Phía đường lát gạch men quanh khoảng sân rộng liền tới những tòa ngang, dãy dọc, nhà lính tráng, nhà cối xay cối giã với kẻ ăn người ở cạnh nhà bếp chầu vào ngôi nhà trên, cơ ngơi nhà quan đại thần cũng còn thua, rõ như thế. Vì mấy đời trước, vua chúa đã vào trong Kinh, đất Kẻ Chợ chỉ còn là nơi đô hội, dẫu cho có quan tổng đốc Hà Nội đấy nhưng lâu đài, thành quách mọi thứ đểu hoang lạnh và luật pháp thì tờ lệnh cũng bằng mảnh giẻ, quyền vua phép nước đều lụi bại chẳng ra thế nào. Đâu đâu cũng vỡ đê vỡ đường, đến con châu chấu, con chuột, con cào cào cũng nổi lên thành giặc tụ hội hàng vạn hàng triệu con về phá tan cánh đồng hàng tỉnh. May ra các quan võ còn có quyển chứ văn quan chỉ biết ngậm cái bút lông mèo không há được miệng chẳng ra ngô khoai gì. Bởi vậy, chỉ mới ông lãnh, ông đội ở đâu thì dinh cơ đã ra trò. Lại hung tợn quyền sinh quyền sát như đội Quang thì trong thành ngoài cõi đều một phép, trông thấy thì cúi đầu, đi qua cổng phải bước nhanh.

Đàn trâu thịt được đánh vào trong cổng. Thế là nhà quan sắp có tiệc. Người qua đường chợt thấy thì đoán vậy, nhà quan lãnh mới, tân quan, tân chức phiên nào cũng có tiệc. Khi thì đàn trâu mộng, cùng các gánh cá chắm, cá chuối vừa đánh dưới hồ ao hay sông Cái lên được lần lượt quảy theo. Trắt phải đỗ gánh dầu đợi mấy con trâu vùng vằng quăng quả chịu qua cổng đã. Nhưng Trắt cũng không vội. Mà lại ra ý lân la đứng lại. Trông thấy con cá, chẳng hiểu cơn cớ sao, Trắt lại nghĩ thằng đội Quang ở trong kia cũng bằng con cá nằm trên thớt - quanh quẩn xó nhà thì khác nào trên thớt chốc nữa ông thò tay vào, cầm con dao hạ xuống chặt khúc. Có lẽ sự sốt ruột đã khiến Trắt nghĩ ra thế, như thật. Chứ đã được lần nào nhìn vào, đã biết đội Quang mặt ngang mũi dọc ra sao. Ngay phía trong cổng vừa mở, mới thoạt thấy lần đầu. Bọn kẻ trộm ở đình Hàng Hòm nói đúng, phải có người dắt đất, phải thông thuộc đường trong ngõ ngoài như nhà mình rồi mới hòng. Vậy thì ta chưa ra đâu vào đâu. Trắt lại dùng dắng ngẩn ngơ.

Đàn trâu đã được xua khuất vào vườn sau. Trắt gánh dầu men sang bên cổng, không để ý người lính canh trên chòi đang chăm chăm nhìn xuống. Một tiếng gọi bên trong lanh lảnh :
- Hàng dầu, này hàng dầu!

Ở một túp nhà tranh bên trái cổng có một người đàn bà bước ra. Rõ vẻ người nhà quan, váy lĩnh Bưởi đen nhánh, thắt lưng nhiễu tam giang, tay xách cái khóa đuôi chuột, rỉ sắt đen xỉn to bằng ống tay. Ai gọi hàng dầu? Người này ra khóa cổng mà. Nhưng người đàn bà ấy lại cất tiếng :
- Vào đây, vào đây mua vài cân dầu. Quảy hẳn vào trong này để khóa cổng.

Không phải người đàn bà ấy khóa hai cánh cổng lim nặng như hai gọng cùm. Một người búi tóc, chít chăn lượt, dáng ông lại, ông nho trong sân tất tả đi ra, cầm lấy khóa đem móc vào lỗ cổng giữa cái rõi sắt rồi cả hai người lính trên chòi xuống đẩy. Cánh cửa cót két nặng nể đóng sập lại. Trắt đã vào trong cổng rồi, ngẩn ngơ toan hỏi cửa khóa thế thì tôi ra làm sao. Nhưng lại nhớ đây tà cửa quan, mà người ta gọi mua dầu, bỗng dưng chợt thấy được may mắn quá.

Trắt gánh dầu theo người đàn bà. Người ấy không còn trẻ, nhưng cũng chưa hẳn đã già. Da bánh mật, đuôi mắt rạn chân chim nhăn nheo, vẻ ủ ê lại như cau có rõ người hay bẳn tính, hấp tấp.

Người đàn bà bảo cái bác chít khăn lượt :
- Bảo trong ấy có nhà đứa nào hết dầu thì ra mà đong.

Người chít khăn, áo dài đã đi vào sân. Một lúc cũng chẳng thấy ai ra. Trắt đỗ thùng dầu, ngồi lên cái đòn gánh.

Rồi Trắt tự nhiên hỏi như đùa :
- Nhà quan tuyển võ sanh đàn bà gác cổng?
- Cái nhà anh này ăn nói chớt nhả! Liệu giữ cái mồm đấy. Ai lính tráng gì với nhà các người.

Nói như mắng ấy nhưng mặt lại tươi tỉnh, rồi tủm tỉm. Trắt cảm thấy dễ làm quen.
- Thấy nhà bác giống cái chòi gác, mà lại ở cạnh cổng.
Người đàn bà chép miệng, mặt lại ỉu ngay.
- Ừ, cũng là chòi gác thôi.
- Để tôi về bảo vợ con ra đây xin tuyển lính, ở dưới quê đương đói, nhờ bác giúp cho. Trần đời chưa trông thấy lính đàn bà như dinh quan nhớn đây.

Hình như người đàn bà ấy gọi Trắt vào để nói chuyện dông dài vậy, không thấy hỏi đến dầu. Hai người đàn bà khiêng ra cái nồi đồng ba mươi, lồng quai vào chiếc đòn ống.

Trắt hỏi :
- Đựng dầu bằng nồi đồng à?
- Còn bao nhiêu dầu đong hết. Nhà cỏ việc phải phiên phiến lên.
- À...
Bấy giờ hai người vợ lính cúi đầu.
- Chào bà Tư. Bà cũng đong dầu ạ?
- Tôi gọi hàng dầu cho các người đấy. Trông từ sáng mới thấy. Đỡ phải đi đong chợ.
- Đội ơn bà gọi giúp cho.

Những người đàn bà mặc cả nì nèo. Nhưng Trắt cũng chẳng đong bán diết dóng, cho nên rồi ngã giá được ngay. Lại cố ý để hời cho người nhà được vài tiền ăn bớt, tôi tớ nhà quan đều đã thạo mua bán thế. Chỉ để lại cho bà Tư mấy gáo, cả hai thùng dầu đổ vào cái nồi ba mươi còn sóng óc ách, chưa đầy được cắn mép nồi. Mấy khi đã gặp may nhường này.

Hai người tong tả khiêng nồi dầu vào. Một mình, Trắt lúng túng :
- Phúc đức quá, bà giúp cho đi chợ được thuận mua vừa bán ngay. Mà lúc nãy tôi dám hỗn, khí không phải, bà nhớn xóa tội, bỏ quá cho.

Người đàn bà ngẩng nhìn Trắt :
- Chưa rằm tháng bảy, đâu mà xá tội vong nhân sớm thế.
- Bà cứ nói giỡn!
- Anh ở đâu vào bán dầu?
- Nhà cháu ngoài đầu ô.
- Hôm nào cũng đi à?
- Cũng buổi đực buổi cái.
- Đực cái là thế nào?
- Cháu làm ruộng, phải bớt việc nhà mới đi chợ được.
- Nói toạc thế cho dễ nghe, lại đực vởi cái, rõ con hươu con vượn.

Cứ sa sả, nhưng lại rõ là người vui chuyện. Những câu lọt tai làm cho người ta gần gũi. Trắt cảm thấy bớt e dè.
- Cháu hỏi khi không phải, bà Tư là thế nào?
- Tư là tư, một hai ba bốn chứ tư gì nữa, năm à? Năm, sáu, bảy đến mười mươi người ta cũng không thiếu.
Trắt không hiểu thế nào.
- Bà bỏ lỗi cho.
Rồi Trắt im. Người đàn bà lại nói, với người đàn ông chất phác, nhưng giọng chua chát, kể lể :
-Chẳng giấu chú, tôi là con hầu thứ tư trong nhà, nhưng quan nhà này có đến đứa hầu thứ mười lăm, thứ hai mươi kia. Chật chội quá, tôi phải ra ở riêng cho mát mẻ.

Trắt nghe biết vậy, không nghĩ là câu nói xót xa của người đàn bà bị hắt hủi trong cảnh năm thê bảy thiếp.
- Bà ở ngoài này lâu chưa?
- Lâu rồi.
- Quê bà ở đâu?

Người đàn bà nghe hỏi, hàng nước mắt tràn ra mí, đong lại rồi chảy xuống hai bên má đã rám. Không nói được nữa, mặc nước mắt cứ ròng ròng.

Một lát mới thở dài :
- Đừng gọi tôi bằng bà. Tôi không phải là bà. Tôi cũng chưa đến tuổi ấy. Nghĩ lắm, cay đắng lắm thì nó rộc người ra như thế này.

Ngoài cổng, tiếng ốc rống lên, xói vào tai, như tiếng ốc rúc cháy nhà. Trắt nhớn nhác nhìn ra.
- Chú cứ ngồi, chẳng ai vào đây mà ngại. Tôi gọi nó đem khóa ra. Lại của nhà bếp về đây mà. Không sợ, mặc kệ các thằng tráng xuống đẩy cổng.

Người đàn bà thoắt vào sân trong. Trắt nhác nhìn nhanh mắt một lượt. Ngôi nhà một gian, hai trái, vách dựng đất trấu. Đằng sau một chuồng gà. Con gà mái đương túc túc gọi con. Vại nước có cái mo buộc vào gốc thân cây chuối, vắng lạnh, gọn như nếp nhà của người già ở một mình. Thế là được biết chị ta là vợ thứ tư đội Quang. Nhưng tội tình gì mà phải ra ở đây. Trắt tặc lưỡi: “Những nhà giàu, nhà quan, vợ nhiều như lợn con. Nếu không phải vì thằng chồng rẫy thì cả lũ ở với nhau cũng đủ chết vì nói cười thơn thớt mà bụng bổ dao găm, những toan giết nhau không tanh dao”.

Lại mấy người quảy vào mấy cái bu đại. Toàn là gà Mía trên Sơn đưa về. Những chiếc đòn càn thọc qua nan miệng bu, con gà trống lông mã đỏ tía thò cổ kêu hộc hộc, như nỗi khó nhọc đường xa.
Trắt hỏi :
- Nhà có tiệc à?
- Cả tỉnh này đồn mà anh không biết sao?
Lúc nãy là chú em, bây giờ gọi anh, người đàn bà cứ nói, tình cờ như không để ý.
- Tôi chẳng biết gì cả.
- Nhà làm tiệc khao.
- Tiệc tùng nhà quan thì như cơm bữa ấy mà!
- Ông đội Quang cứ mỗi trận đi đâm chém về lại mở tiệc. Nghe nói dạo trước cái trận trên Mường được to lắm, về đã khao ngay ở Sơn, xuống đây lại tiệc, lại tiệc, cơ mà cũng được thăng chức nữa kia.
- Chắc là lên quan lãnh.
Cô Tư chép miệng :
- Nào tôi biết được?

Trắt rùng mình, nóng bừng mặt tai nghe những tiếng “đâm chém”, “trên Mường” mà cô Tư vừa nói. Ngoài đường lại inh ỏi tiếng ốc. Cô Tư lại lụi hụi chạy vào sân trong, vạt áo đổi vai tứ thân nâu non lất phất ra sau, chỉ kịp vắt lên một bên vai trần. Trắt nhìn theo, nuốt nước bọt.

Lại đến bọn buôn gạo. Gạo mới ở thuyền lên, hầu như gạo cả dãy chợ Bạch Mã ngoài cầu Đông quảy vào. Thấy tíu tít đông người lại lạ mắt, Trắt ỷ tứ vào đứng sau tấm mành mành nhìn ra đám hàng gạo quảy những chiếc bị cói đại đậy vỉ buồm, những đôi thúng to, nặng trĩu đòn gánh. Nhìn đám gánh gạo, Trắt nghĩ: cô vợ tư đội Quang đương thù cả lũ chúng nó, có khi có thể tin được. Cứ một việc lọt được vào đây ngồi từ bấy tới giờ, đã chẳng ngờ.

Cô Tư vào. Trong nhà sau bức mành, nồng mùi hói dầu mỡ và hơi người, cô quát khẽ :
- Chết chửa, đứng thò đầu đòn gánh ra ngoài mành mành thế, khác nào nhà này chứa tù xổng. Ngồi hẳn vào trong kia nào!
Trắt thật thà :
- Tôi là thằng bán dầu, có trộm cắp gì đâu.
- Nhỡ cái, có đứa trông thấy thì tôi phải vạ.
Trắt nói :
- Thằng lính trên cổng để người vào mới phải tội.
Rồi Trắt dịu giọng :
- Cô cho tôi đứng xem người ta một mảy. Mấy khi đã được ở cửa nhà quan.
- Vào trong khuất kia mà nghển cổ lên. Không phải dọa. Đây là cửa quan, đừng giỡn mà chết!
- Tôi, tôi...
- Bọn gánh gạo nữa lại vào mà anh vẫn luẩn quẩn đây. Thằng lính trên cổng đã trông thấy anh ra đâu. Nó tinh ma lắm đấy. Chết thôi...
Trắt chắp tay :
- Chẳng phải giấu ai, tôi có việc...
- Ở đây không có ai là ai.
- Tôi xin...
- Lại tiếng chân trâu, chân ngựa nhốn nháo ngoài đường kìa.
- Tôi thưa với cô Tư.
Người đàn bà ngơ ngác nhìn Trắt.
- Anh nói thế nào, tôi nghe chưa ra.
- Chuyện dài, không nói hết ngay được.
Cô Tư ghé gần lại :
- Bảo thật, ra ngay, không có không xong. Đấy lại tiếng ốc, thằng tráng lại xộc xuống kia. Có chuyện gì phiên sau đến.
- Phiên sau là bao giờ?
- Phiên chợ ngoài ô, ngày tám.
- Lại vào đây à?
- Ừ.

Trắt còn ngẩn ngơ vì được cái hẹn đột ngột, người đàn bà như đã sắp sẵn câu nói :
- Từ nãy, đông người ra vào, thằng tráng khó nhớ được anh đã ra chưa, nhưng anh cứ đi đằng cổng cho nó trông thấy hẳn hoi. Phía sau bụi chuối có cây tre bắc qua hào, ngoài ấy có cái chỗ dưới bụi ô rô, cày cáo vân chui. Phiên chợ sau chịu khó chui vào đằng ấy, đừng để ai trông thấy. Nhớ chưa?
- Nhớ!
- Phiên chợ sau, buổi trưa, bây giờ khách đương đông. Thấy người thì nép xuống đám cỏ lau chớ ngẩng đầu lên, nó chém đứt cổ đấy. Rồi lên đây.
- Vâng ạ.

Lâu nữa, Trắt nhìn cô Tư, lại thấy không hiểu. Nét ủ ê lúc nãy bây giờ thân mật tươi ra, nói vẻ săn sóc, dặn dò, như với người trong nhà.

Anh hàng dầu đã ra ngoài trước cửa. Cô Tư lại tất tả vào sân trong rồi ra cùng người nhà áo the, khăn lượt, cầm cái chìa khóa đuôi chuột.

Cô Tư nói to với Trắt, với bọn lính :
- Tiện cổng mở thì ra đi. Nó đợi ra từ nãy, tôi không dám tần phiền các ông.

Rồi lại ghé vào tai Trắt :
- Lần sau đi chân tay không, đừng rước hai cái thùng của nợ ấy đến nhẻ...

Đứng với Trắt, đợi mở khóa rồi hai người tráng khom lưng đẩy cánh cổng, cô Tư cứ chuyện bâng quơ với mọi người, cô Tứ bẻo lẻo mồm miệng, cứng tuổi rồi mà xưa nay vẫn bẻm chuyện.
- Chú hàng dầu sướng nhẻ, chưa đứng bóng mà đã bán sạch một lèo cả hai thùng. Sớm nay ra ngõ gặp giai.

Trắt nghĩ, mà không dám đối đáp “Gặp gái thôi, nhưng mà được cái may”.

Tối hôm ấy, rồi quanh quẩn, Trắt lại lần về Hàng Hòm. Ngồi nín lặng, vẫn nghĩ về lúc sáng vào được trong cổng nhà đội Quang, được chuyện với người vợ lẽ chắc là bị đánh đuổi, hắt hủi ra đấy, lại được cái hẹn. Trắt cứ ngỡ ngàng không thể nghĩ ra trước được. Thế thì những ông đã ngồi đây có thể giúp một tay. Lúc thì bốc lên, nhưng rồi nghĩ lại, phải có cách rõ ràng. Cách thế nào thì cũng phải trèo tường lên dỡ ngói.

Nhưng không thấy ai trở lại. Mấy hôm nay vẫn chỉ đông đám thợ cối, thợ khắc, thợ thuộc da bò da trâu cho các nhà chủ ở Hà Trung, ở Hàng Da. Mãi quá nửa đêm mới thấy một người lò dò vào. Trắt nhận ra cái dáng cao lớn, cằm bạnh, cẳng chân dài như những người quen sông nước, chèo lái cả đời, vai ngực vạm vỡ hơn đôi bắp chân. Ngoài trời vẫn mưa sập sùi. Bước vào trong mái hiên, người ấy nhấc chiếc áo tơi lá sột soạt giống con gà đội mưa chạy vào chỗ ráo, rũ một cái. Nước bắn cả vào đám đương nằm ngủ sau cái giại đầu hiên, mà cứ làm như không, bọn kia cũng ngủ say, không biết.

Vừa vào, đã thì thào với lão quán. Trắt ngồi ngay đấy, nghe rõ, nhưng người kia cứ nói chẳng để ý, như người bên cạnh đã là chỗ quen biết.
- Khuya một mảy, tôi đem đến.
- Cái gì đã?
Khách cười hô hố.
- Của giời cho mà lại biết trước hả?
Lão quán gật gật.
- Cũng phải biết chứ. Nhỡ đem cái đầu lâu về thì để vào đâu, thối hoăng lên.
- Không, không. Gửi cái mới.
- Nói đùa vậy, cái mới hay cái sỏ người sỏ lợn cũng được.

Người ấy đứng dậy, toan đi. Trắt giơ chén.
- Ông anh cạn với em một chén cho ấm bụng. Mưa gió thế này.

Người nọ cúi nhìn Trắt rồi cười khà khà.
- À, chú mày, thằng lái dầu! Xem ra chú mày cũng nhớ bọn tớ đấy nhỉ. Nhưng mà tao cũng hỏi lại, mày là trương phiên khán thủ hay thủ túc lạnh Quang đấy? Khai thực ra, không thì ông xiên cho một nhát ngay.
Lão chủ quán nói :
- Đã bảo rồi, người tử tế mà. Chú ấy mong các ông đã mấy hôm.
Trắt nói :
- Ông anh cho đàn em theo với.
- Chú mày túng đói hay có thù ai?
- Thằng đội Quang...
- Đội Quang mới ở Sơn về được thăng chánh phó lãnh binh ấy a?
- Chính nó.
- Tao phải hỏi lại, mày đi rửa thù hay mày muốn vào ăn trộm nhà nó?
- Em trả thù.
- Cái thằng đội Quang ấy thì cả thiên hạ Sơn Tây, Kẻ Chợ này thù nó. Khéo đến lúc mày lọt được vào nhà nó thì đã có đứa chặt mất đầu nó rồi.
- Em đã vào được nhà nó.
- Có đứa dắt mối a?
Trắt lúng túng, ấp úng. Người kia nói luôn :
- Cái ả Tư phải không? Trông mặt chú mày tao đã biết bà già, gái tơ còn khối đứa chết mệt với chú này. Thằng bán dầu mà chấp chới đào hoa đấy! Đã thuổng cuốc với ả Tư được chưa?
- Không, em không phải lòng phải bề ai đâu, em còn cái thù phải...
- Bây giờ chú cần gì anh?
- Anh dạy em leo tường, moi vách, cậy cửa... Các ngón...
- Được, gì nữa?
- Thế thôi. Em nậy cửa vào buồng nó, em chặt đầu nó, xách ra.
- Không dễ như mày nói đâu.
- Phải học các anh đã. Rồi em vào nhà nó đương lúc có tiệc này.
- Ừ, nhưng mà mấy hôm, hôm nào nhà nó chả có tiệc.
- Em đã có...
- Cứ hú hí với ả Tư, vài đêm nằm đợi đấy, vội gì.
- Em đã có hẹn.
- Đã bảo có hẹn thế thì càng tốt.
- Lạy anh, em chỉ ước một điều.
- Được tao sẽ hộ mày.

Người ấy đi khỏi, ông lão quán nói :
- Hôm nọ tao đã kể. Trên bến Bỏi có một đám cướp tài lắm. Tiếng là đi ăn cướp nhưng không cướp của ai một đồng kẽm, một manh áo rách.
- Lạ nhỉ!
- Gầm giời có một đấy. Chỉ cướp cứu người giúp người.
- Thế lúc nãy bác ấy bảo xồi đem đến gửi...
- À, khi thì gửi tin, khi thì gửi người trọ.
- Chắc bác ấy là người cánh cướp trên bến Bỏi?
- Biết được!

Trắt đã biết thêm một tin lạ. Ngay từ lúc ấy, Trắt đã phấn chấn, quên cả chuyện về bàn với Cõi. Không, Trắt không quên, mà Trắt tưởng đến một sáng sớm kia, Trắt qua đò về đến nhà Cõi, Trắt cởi cái tay nải nâu, Trắt ném ra cái đầu lâu đội Quang. Trắt ngỡ như thật.

Trên tường thành Cửa Đông, Cửa Nam những tiếng trống điểm canh vọng lại. Các ông ăn sương, cái gì các ông cũng biết. Cả đến cái cô Tư hay giăng dện. Lai còn thế vậy. Các ông như thầy bói sáng, nói vanh vách. Có thể như thế, không thì sao chỉ chốc lát chẳng quen biết ra thế nào mà người ta đã đậm đà, đã cặn kẽ thế. Nhưng Trắt cũng chỉ thoáng nghĩ vậy. Từ giờ đến đầu phiên sau còn ối cái phải lo tính. Trước nhất được các ông dạy cho mấy miếng nhà nghề. Có lúc định gọi Cõi ra, nhưng lại thấy chưa đâu vào đâu, ra thêm bộn, mà không có cái ăn. Thế này là thấy mói rồi. Để xem đã.


Cái tiệc nhà ông đội Quang mừng được thăng chức chánh lãnh binh mà rộn cả đất Kẻ Chợ. Như làng vào đám, cỗ bàn linh đình trong nhà, rộn rã chèo hát ngoài sân suốt ngày đến đêm. Hai cánh cổng gỗ mở toang, không đóng im ỉm như mọi khi. Ngoài tường, đình liệu đốt suốt sáng. Dãy đèn dầu treo quanh các mái hiên thành một chuỗi sao sa. Người các phường quanh đấy nô nức vào xem hát, đông như hội.

Các quan đầu tỉnh, đầu hạt, dưới Đông lên, trên Đoài xuống khắp mặt, chốc chốc lại một đám khách mới. Ngựa đứng trong tàu chen chúc, đá nhau nhảy tung lên, phải buộc cả ra ngoài vườn. Những cái chân giá cáng đỡ võng nghỉ xếp chổng đống hai bên tường. Các quan lớn xuống võng, có ông áo thụng lam như vào buổi chầu. Những quan võ để râu ria ba chòm oai vệ áo gấm thắt lưng điều. Ngựa hay cáng tới, đoàn tùy tùng theo xách điếu, cầm hèo hoa, lại bưng những cái quả sơn son thếp vàng đựng đồ mừng - không phải buồng cau, trăm hồng Hạc, cam Canh, cam Cáo mà là những xếp bạc nén, vàng lá bọc giấy hồng điều trang kim phủ tấm nhung đỏ màu hoa hải đường, cả vàng bạc và nhung sắm ở các nhà khách buôn to bên Ô Quan Chưởng. Hai gia nhân chít khăn lượt, áo the, thắt lưng nhiễu bỏ giọt trịnh trọng bưng cái quả lên ngang vai, như khiêng long đình.

Tiếng pháo không lúc nào dứt. Thợ pháo làng Bình! Đà trong phủ Thanh Oai ra túc trực. Những cây pháo: dựng cao hơn ngọn cau, mỗi đêm pháo hoa đốt tua tủa ra ngũ sắc hoa cà hoa cải. Người ta đồn đến hội và những khao vọng ngoài kẻ Mọc kẻ Vẽ đất quan cũng chưa đâu vui bằng đám này.

Mọi toan tính của Trắt không kịp với những thuận; lợi đưa tới. Trắt chưa gặp lại được các ông ở đình Hàng Hòm, các ngón leo trèo, phá cổng, phá khóa chưa được biết thử. Ngày hẹn “phiên sau” với cô Tư đã sắp tới. Trắt lại nghĩ vơ vào. Xưa kia, Trắt cũng là tay quyền cước, tấn trung bình, chảo mã vững rồi phượng hoàng cũng ra miếng được như ai. Vả lại, hãy gặp cô Tư xem thế nào đã. Không do dự nữa. Có vào việc lại thấy nhiều cái đã định cứ phải xem lại từng ly từnq tý.

Đến đầu phiên chợ rồi, nhà đội Quang vẫn còn ăn uống, nhưng khách đã hết, chỉ còn những đám gia nhân và lính đánh cỗ vét. Bớt ồn ã nhiều, không như những hôm chính tiệc, tuy vậy người ra vào vẫn đông như đi xem chọi gà. Chỉ không còn pháo hoa Bình Đà, nhưng người hàng xứ vào sâu xem hát. Ba cánh phường Bắc được đón về thay nhau diễn ban ngày lại cả tối. Trà trộn vào lúc nào cũng được, nhưng Trắt cẩn thận làm như cô Tư đã dặn.

Trắt mặc cái áo chồi năm thân nhuộm cậy nâu sẫm, ống tay rộng như áo khách - lẫn với bọn tôi tớ nhà quan, lại như anh lái bè củ nâu, bè đó trên ngược mới về bến Bà Móc, lên dạo phường phố, chỗ nào thấy hay mắt cũng tạt vào. Trắt cốt mặc áo rộng để quấn được ngang lưng cái thừng đay, nhét được con dao bầu con dao bổ cau. Cứ sẵn sàng thế, nhỡ dùng đến đã sẵn. Thấy đông người, Trắt vừa lạ vừa mừng. Trắt đứng lại bên kia cổng, nhìn người ra vào.

Nhộn người thế này cũng tiện, cứ việc lũ lượt vào trong sân, tháo khoán rồi mà, chẳng nghe tiếng quát hỏi chửi bới nữa. Bọn lính tráng trèo cả lên chòi canh cổng đứng ngoảnh vào xem hát, mặc người chen nhau ở dưới. Một lúc, Trắt lững thững sang chỗ bờ ô rô như mọi người đi. Trắt để ý quả là chỗ bụi ô rô ấy, cày cáo chui đã thành một lỗ trống, thoạt trông tưởng tổ mối đùn đất đỏ.

Trông trước trông sau, Trắt cúi xuống, ôm hai tay giữ búi tóc, luồn thoắt qua bờ rào. Rồi trèo cái cầu noi lung lay vượt hào nước, Trắt lom khom qua bãi cỏ tranh, lên đứng núp vào lưng búi chuối, ngay cạnh cái chuồng gà. Đứng đấy nhìn ra mồn một rõ người đi bên ngoài. Trắt lé mắt vào nhà cô Tư, nhà buông cửa liếp trong, lại mành ngoài, tối như bưng. Cô ấy có trong nhà, hay đã vào ăn cỗ, hay ra sân xem phường chèo hát ban ngày vừa bắt đầu. Nhà đương nhộn nhịp thế này. Bất giác, Trắt thấy trợn. Tự dưng chui vào đây. Ngộ người ta bẫy mình thì sao?

Trắt ép mình đến cái vách bên cửa. Trắt mới giơ tay chưa kịp rờ vào, đã nghe tiếng hỏi ra :
- Đã đến à?
Rồi cánh cửa liếp kênh lên một bên.
- Vào, vào đi.

Trắt vừa bước qua ngưỡng cửa, chưa đứng vững, cô Tư đã kéo tay: “Dịch vào trong này, để buông cửa”. Rồi cô Tư thở thở, hỏi hỏi dồn. Líu ríu như chim liếu điếu hót rì rầm to nhỏ lúc mặt trời vừa lặn, Trắt chưa nghe rành ra câu gì. Bàn tay cô Tư vuốt vào lưng áo Trắt. Một tiếng kêu khẽ :
- Ối, cái gì thế này?
- Chiếc thừng thôi mà.
- Cả con dao, hai con dao, giời ơi!

Trắt giữ hai tay người đàn bà nóng hổi, đầm mồ hôi, và nói thong thả: “Tôi đã bảo hôm nọ với cô Tư thầy tôi mất mạng để nó được lên quan to thế này, cho nên vào cái lúc nó sung sướng, nó phải đền mạng. Thầy tôi, cũng là giời có mắt. Cái may run rủi tôi được gặp cô, cũng là giời xui khiến vậy”. Cô Tư rút tay trong tay Trắt ra. Những tơ tưởng vẩn vơ lúc nãy của cô Tư đã tiêu tan cả. Chỉ còn vang lên cái câu Trắt vừa nói, và những con dao, cái cuộn thừng thế này... Trong bóng tối gian nhà mờ mờ, người đàn bà đột nhiên ngồi gục đầu. Chốc lại ngửng mặt, không biết cô Tư khóc hay đương nhìn bóng Trắt. Những câu Trắt nói mỗi lúc một rợn.
- Tôi sẽ cắt đầu nó đem đi. Cho tôi cái tay nải...
- Anh ạ.
- Chỉ cho tôi biết hôm nay nó nằm buồng nào.
- Không vội được. Vội cũng không xong đâu. Trong nhà bây giờ đang bề bộn, mà cái thằng già ấy hay đa nghi, hay dáo dở, nó lắm chỗ ngủ lắm, mười mấy con đĩ mỗi con một buồng, cả một dãy buồng, phải lần khéo mới ra.

Trắt đã nổi nóng, quên cả những ý định lúc trước khi vào đây, hãy dò la xem sao. Trắt nói rít trong hàm răng :
- Để hôm khác a? Thế thì phí công quá.
- Không phải để hôm khác.
Trắt hăm hở :
- Mình bảo thế nào?
- Tôi đã trữ thức ăn đây, đợi đêm. Đến lúc ngoài sân tan hát tối thôi. Người xem về hết, trong nhà chè chén xong, lại như mọi hôm, chúng nó lăn ra ngủ như chết. Bấy giờ sẽ vào lần các cửa buồng. Không trông thấy nó vào, nhưng tôi đã biết cái lối, cái lệ nó đóng cửa buồng, đoán thì được.
- Cô đưa tôi vào à?
- Vâng.
- Cô Tư, cô Tư, tôi ơn...

Trên phản, cô Tư đã bày ra đĩa xôi, liễn thịt trâu tái bát tương gừng và một be rượu. Hai người ngồi ăn nhẩn nha, như trong buồng cô dâu chú rể. Trời đã tối lúc nào. Chợt, có tiếng gọi ngoài liếp :
- Bà Tư ơi, bà Tư!
“Chui xuống gầm giường nằm yên”, cô Tư thì thào như thở. Một lát không thấy gọi nữa. Tiếng chân lạo xạo bước ra. Có lẽ lính tuần định vào nhờ cái lửa hút điếu thuốc. Hay là đứa nào ở đám chèo vừa tan ra định nhập nhoạng vào bâng quơ. Họ tưởng cô Tư đã ngủ hay đi xem hát chưa về.

Đợi. Kỳ lạ, oái oăm lúc ấy giữa hai người. Trong gian nhà tối om, thỉnh thoảng người xem hát tối đã ra về, ánh đuốc loang loáng qua khe vách. Tiếng nhị, tiếng mõ, tiếng trống cơm đôi lúc còn inh ỏi như lúc giáo đầu, cả phường hát vỡ nước... bung bung nhóc... bung nhóc... bung nhóc..., nhưng tiếng trống chầu thì rời rạc - hát chèo không phải hát tuồng, mà hát tuồng thì cũng thế, ông cai, ông chánh, các ông chức việc rượu vào rồi vênh váo chen nhau ra ngồi cầm chầu nhưng chỉ một lúc, tiếng tùng, tiếng cắc đã loạc choạc rồi im, các cụi say khướt, mắt dip ngồi ngật ngưỡng, hay là đã vứt dùi trống, chúi đầu loạng choạng đi đâu rồi.

Người đàn bà vẫn nắm chặt tay Trắt, nhưng hễ động đến con dao bầu thì lại run bần bật. Có một người đàn ông, một người đàn bà trong góc nhà. Ai cũng cứ chợt mơ màng lại chợt tỉnh rồi chỉ còn tựa vào nhau, đợi cái sắp đến cứ nghĩ như xa xôi nhưng rõ ràng là khuya nay. Chốc chốc, Trắt lại ngoái tay rút con dao, chùi lưỡi dao vào ống tay áo rồi nghiêng tai nghe ngóng ngoài vách. Người đàn bà ôm chặt người đàn ông, nhưng mặt cũng lắng ra ngoài, hơi người sực lên ở bàn tay, ở vai áo cạnh cuộn thừng quấn quanh bụng, cái lưỡi dao bầu lạnh ngắt. Tất cả, đợi.

Người đi xem vãn dần rồi vãn hẳn. Chừng như đã khuya. Ngoài kia, tiếng vó ngựa xa xa rồi dồn dập lướt qua. Ngựa chạy đêm về trạm vào phía Cửa Nam. Chẳng mấy lúc, trên tường, trong chòi canh đã đổ mõ nửa đêm. Bắt đầu lại thanh vắng như khuya mọi khi.
Cô Tư đứng dậy.
- Anh ngồi đây, để tôi lên nghe thế nào.
Một lát, người đàn bà đã rón rén về.
- Nó ngủ buồng con Mười.

Trắt nắm lại cái thừng đay rồi rút con dao ra cầm tay. Trắt bước theo cô Tư. Chẳng rõ lối trong nhà này bao giờ, nhưng xăm xăm vội vã, chỉ nghe nói “nó ngủ buồng con Mười” đã như trông thấy, biết rồi. Người đàn bà đành phải đi đằng sau, chốc lại kéo lưng áo Trắt.

 Đầu tháng, lại ẩm ướt sương đêm, có lúc Trắt quay lại, chỉ thấy bóng cô Tư, Trắt yên chí như sắp đến nơi, lại cung cúc bước.

Ngôi nhà ngói bát vần hiện lên lù lù, hai người đi như chui vào bụng con voi, ngóc ngách, quanh quẩn. Đã hết cơn bối rối, cô Tư len lên trước Trắt. Bây giờ Trắt không hùng hục đi trước nữa. Đến một chỗ tối bưng, cô Tư cầm tay Trắt đặt vào cái cánh cửa. Trắt xòe tay lên mặt cánh cửa đã đóng cài then trong. Trắt đã săn cả -thói quen anh thợ đóng cối, cái lạt mà thiếu cũng đành ngồi chơi. Trắt moi trong cái cạp quần lá tọa ra một chiếc que đóm mỏng, lách vào khe, đẩy then.

Đâu đây, ngay sau nhà, những tiếng gà gáy canh một dồn dập. Đến lúc im, trống đầu canh trên chòi, người lính chợt tỉnh ngủ, cầm dùi đánh từng tiếng một, uể oải. Chiếc chốt cửa đã ngãng ra, kịch một cái xuống đất. Cửa mở hé, nhưng then rơi xuống khác nào sập cái bẫy chuột. Ở đâu bật ra tiếng quát giật giọng :
- Ai?

Tức khắc, tiếng mõ nổi khắp nơi. Những bó đuốc bập bung lên. Như đã rình sẵn, những đám người rùng rùng xô đến. Cả Trắt và cô Tư bị trói nghiến lại, không kịp quay lưng.

Lãnh Quang lè nhè ngái ngủ giọng rượu, ở trong buồng như bấy giờ mới thức giấc.
- Cái gì mà bay làm ầm nhà lên thế?
- Bẩm quan có động.

Lãnh Quang xộc ra, lưng thắt bó que, tay cầm con dao bảy sáng nhoáng. Dường như nó vẫn ngồi săn thế. Ánh lửa đuốc rừng rực. Cả lúc ngủ, quân ác này vẫn phòng xa thế hay nó vẫn giăng bẫy hàng đêm vậy. Trắt bị trói giật cánh khuỷu, cùng một dây với cô Tư bị đạp rụi xuống chân cột. Các tay súng, đại đao, đinh ba xỉa xuống, như rào chông sắt vây quanh.

Lãnh Quang làm như chưa trông thấy, dõng dạc hỏi :
- Sao, sao nào?
- Cái nhà Tư dắt đất cho thằng này nậy cửa.
- Cửa nào?
- Cửa buồng quan ạ. Mảnh tre nó lách gảy then ra, con nhặt được để làm chứng đây.
- Á!

Mấy người lính tâng công nhao nhao.
- Con đã nghi từ lúc tan hát cái nhà Tư ngoài ấy có khang khác, con gọi cửa thử.
- Bẩm quan con theo chúng nó từ ngoài sân.
Người trên chòi cổng lật ngửa dây trói rồi nói :
- À thằng bán dầu, cái thằng bán dầu hôm nọ đây. Thế có chết không!
Lãnh Quang nói thong thả :
- Hừ, con Tư rước giai vào ngủ rồi đem nhau đi giết tao. Thế thì tao tống cổ mày đi là phải. Đáng nhẽ phải chém đầu mày, tao chỉ đuổi mày ra ngoài ấy, tao cũng chưa đo hết được bụng dạ mày. Ha! Ha! Bay lấy rượu ra đây.
Một người nói :
- Nó giắt sẵn cuộn thừng trong lưng, nó còn đi ăn trộm nữa, thằng kẻ trộm này táo gan thật.
Trắt quát to :
- Tao không phải đứa trộm cướp. Tao...

Nếu không có lãnh Quang đứng đấy, nhiều người đã cười nhao nhao. Ai cũng há hoác miệng không thành tiếng. Nửa đêm nậy cửa, không trộm thì cướp, chứ còn không với có thế nào.
- Tao chỉ lấy cái đầu thằng đội [1] Quang!
- Á.
- Tao lấy cái đầu đội Quang đem lên Kệ tế thầy tao.

Lần này lãnh Quang “á” một tiếng như hét. Rồi rối rít quát :
- Bay! Bay đâu! Đem ra hai rọ, nhốt chúng nó vào rồi buộc đá ngay trước mặt tao. Khiêng đi trôi sông lập tức. Nhanh lên!

Lãnh Quang vừa sừng sộ lại vừa loạng quạng, liệu xiêu như hãi quá, tưởng tên cướp và con quỉ cái sắp dựng dứng lên, xông đến. Bấy giờ đã sang canh, nhưng còn mù mịt đêm dày. Trên không trung, những con vạc ăn đêm ở ngoài sông bay về ngang qua, buông từng tiếng rời rã. Xa xa, tiếng chim lợn sà xuống mặt nước tìm cá chết nổi đương bay lên, kêu éc éc rùng rợn báo điềm chết chóc đến nơi. Lãnh Quang vung con dao bảy như đỡ gạt người chém mình rồi cầm be lên tu ồng ộc, lại hét “Nhanh! Nhanh lên!” Bọn gia nhân đã vác tới hai cái rọ tre, ngã xuống, đẩy Trắt và cô Tư, mỗi người vào một rọ, trong bỏ sẵn mấy tảng đá rồi buộc lại.
- Vác đi, bỏ xuống sông Cái, đem ra tận giữa sông.

Nửa đêm, đoàn người khiêng rọ như khiêng cái võng vong đám ma, xung quanh dáo mác, đóm đuốc đùng đùng theo. Giữa khuya, vào qua Cửa Nam, ra bến Đá ngoài sông Cái.

Chỉ nghe tiếng nứa đuốc nổ lép bép, tiếng khóc rưng rức. Hai cái rọ bị ném sang chiếc đò ngang. Mấy chiếc đò nữa đã sẵn quanh đấy, xúm lại, cả đuốc cả người xô xuống, những chiếc đò bơi băng băng ra. Đã đến con nước giữa. Sông Cái vào mùa cạn, thành cát cao, nước miên man réo xiết. Không ai nói một tiếng. Nhưng cả ba bốn người ngồi áp đầu đuôi cái rọ. Bỗng thế nào mà Trắt quều được bàn tay sang cái rọ nhốt cô Tư. Một người giơ cái sào, định đập xuống, một người khác kéo vai, khẽ nói: “Mặc nó. Đằng nào nó cũng sắp chết rồi”.

Cả mấy người ngồi đò đều lầm rầm như khấn :
- Chúng tôi không làm nên tội. Các người đừng oán chúng tôi. Ân trả ân oán trả oán, thiên hạ sinh sự, chúng tôi không làm nên tội. Các người...

Thình lình, hai cái rọ bị đẩy lăn tùm xuống nước. Thuyền quay ngay mũi, vun vút lao vào bờ. Trên thành, trống vừa điểm canh năm, ngoài sông vẫn tối mờ mịt. Đám lính bước lên bãi, quỳ xuống cát, vái vọng xuống nước.

Lúc nãy, lãnh Quang luống cuống, bắt đem trôi sông ngay hai đứa không nhớ lột xống áo chúng nó ra xem còn dao búa gì không. Đằng lưng Trắt vẫn còn con dao bổ cau sắc mũi. Trắt oằn người cắt được cái dây trói từ lâu, đã quên vội thò tay ra. May mà những người lính cũng không phải đứa cố tình giết người. Bây giờ ở trong nước, Trắt quơ tay tìm cái rọ cô Tư. Nước réo ào ào, không thấy. Trắt dứt những cái lạt buộc nắp rọ, chui hẳn ra, ngoi lên mặt nước. Bốn phía mờ mờ hơi nước, hơi sương. Trắt lại lặn xuống chỗ đoán là vừa chui rọ ra. Trắt đạp chân, quạng tay. Cái rọ có đá chặn, khó trôi ngay. Nhưng chỉ thấy cát, đáy sông đương mùa kiệt, hai tai ù tiếng nước réo, cát cuốn trôi qua, phủ lên mặt. Thế này có lẽ cái rọ chuồi mất rồi. Trắt nổi lên, thờ thẫn vào bờ.

Tảng sáng, Trắt lại về đình Hàng Hòm. Ông lão quán vẫn ngồi hàng hay đã tựa vào cái thúng nổi nước mà ngủ ngồi, vừa mới mở mắt, ánh dầu chẩu nhấp nhoáng, trông ông gầy đét như pho tượng ông Nhịn Ăn ngồi ở dãy tượng La Hán trên chùa.
- Bố ơi! Có thấy cái ông hôm trước về đây không?
Ông lão hàng nước đứng dậy, trố mắt kèm nhèm.
- Ối, ông ấy vừa kể đội Quang cho lính đem mày bỏ rọ trôi sông lúc nửa đêm rồi mà.
Trắt rầu rĩ :
- Vâng ạ. Con chui dưới sông về đây.
- Quần áo rách bươm lại ướt như chuột lột thế kia, làm ngụm rượu rồi vào nằm cho lại người.

Cũng vẫn người thức, người ngái ngủ quanh chõng hàng, Trắt mặc. Thời buổi này, người cụt đầu, người chém nhau mất mạng, ngày ngày người chết như gà dây, chẳng ai để mắt - mà cũng sợ, bỗng dưng cái ách quàng vào cổ, người ta lảng nhau, ai hỏi thì lắc đầu, nói không biết. Trắt vắt lên dây cái áo ướt, cái quần chỉ còn một mảnh rồi cứ trần truồng tô hô chui vào ổ, kéo rơm lên kín mặt, ho sặc sụa.

Trắt thở khò khò như ngáy mà không tài nào chợp đi được. Nghĩ lại thương cô Tư chết oan. Oán thù chồng chất thế này, Trắt nghẹn trong cổ.

Trắt ngồi dậy, ướm cái quần rách, không mặc được mà cũng không thành cái khố. Chỉ còn cái áo chồi nâu xám xịt, ẩm sì như nhuộm thâm. Thế mà vẫn còn con dao bổ cau giắt trong áo. Trắt mặc áo, rồi rút cái khố đuôi lươn của ông quán. Quay ra hỏi nhưng lão đã vào cái ổ rơm bên kia từ lúc nào. Không biết đương nói mê hay ư ử rên quen miệng của người có tuổi.
Trắt ghé tai ông lão :
- Ông nói hộ ông ấy tối nay vào cái chỗ hôm qua đỡ cháu một tay. Nhớ tối nay.

Những ý nghĩ đau đớn giục Trắt đến quên cả suốt đêm qua chỉ đợi chết, đáng nhẽ Trắt đã chết. Trắt không mảy may còn nhớ thế. Trắt chỉ biết thế là đã thuộc đường đất, biết thung thổ, nó phải mất mạng. Bác Cõi, hôm nào em về thì em trói cái ma nó về, em thề với bác.

Rồi Trắt đi.

Chặp tối, Trắt đã trèo lên cây vông rồi chui bờ rào ô rô ngồi giữa đám cỏ tranh. Một lát thấy vắng, Trắt bò vào. Chòi canh hai đầu lặng tờ. Trắt như con nhái bén, đã qua được hào nước. Trắt kiểm lại, trên búi tóc giắt con dao bổ cau, cuộn thừng đay và con dao bầu mới. Ngước lên, chỗ nhà cỏ Tư chỉ còn tà một đống than âm ỉ khói. Bụi chuối đã bị đẵn trụi. Vại nước vỡ từng mảnh. Cái chuồng gà thì đứa nào đã khiêng mất. Trắt lẩm nhẩm: cô Tư sống khôn chết thiêng, cô Tư...

Trắt men sân đến cuối thềm nhà trên, leo lên núp trong cây nhãn lồng bùm tum góc ngoài bể nước ngay đầu vườn. Cũng đã chạng vạng, nhưng không ngờ vào được tận đây. Có lẽ giờ này những con chó săn, chó ngao canh đêm bọn lính còn chưa thả trong cũi ra. Ẩn trong cây nhãn rậm rạp, người đi lại trong nhà, buồng nào hiên nào cũng rõ mồn một. Kia kìa lãnh Quang. Lãnh Quang mặc áo lụa hoa cau, phanh dải áo bụng, ngồi uống rượu trên hiên nhà khách, hai lính hầu đứng dưới sân chốc chốc lại phảy một nhát quạt lông, ở nhà lãnh Quang chỉ ngồi chén một mình, cả chục người vợ cũng phải dọn mâm một lũ với nhau bên nhà ngang. Cái tính nó khoái chè chén thảnh thơi thế. Tinh mắt, còn nhận ra thập thò hai lính nữa cầm súng, đeo thanh đại đao canh ngoài cửa. Chắc nó mới cẩn thận hơn từ đêm qua.

Lãnh Quang đứng lên, ngất ngưởng ra. Những đĩa đèn dầu treo một dây trên hiên, ở nhà ngang, ả Mười đã đứng đợi sẵn, vội bước lên, đỡ lão vào cái buồng đầu nhà. Đến cửa, lãnh Quang đứng lại, rồi ngoắt lưng ra. Ả Mười bước tới. Lãnh Quang giơ chân đạp thốc một cái vào bụng ả. Ả nọ ngã lăn xuống thềm rồi cứ nằm úp mặt trong rãnh. Lãnh Quang hét :
- Con Chín đâu!

Một người đàn bà ở buồng cạnh đấy, ra giơ cánh tay dìu lão vào buồng. Cánh cửa khép lại. Ả Mười nằm lăn như chết dưới rãnh một lúc, rồi không biết vì đau không đứng lên được hay ả sợ quá, cứ bò lồm ngồm như con cún, lết xuống nhà ngang. Ngồi trong cây nhãn, Trắt nhìn được hết. Dần dần khuya, đèn các buồng và quanh hiên lần lượt tắt. Cả khu nhà ngập trong bóng tối. Vai áo Trắt đã ẩm. Trắt tụt trên cây nhãn xuống. Từ tối tới giờ, hơi người đã hả lẫn vào hơi sương, người như bóng ma. Các bợm đình Hàng Hòm nói phải. Đêm ở lâu ngoài trời, người lẫn vào sương. Khi nãy, những con chó dưới sân còn có lúc hích mũi đánh hơi quanh gốc nhãn, có túc Trắt đã toan tìm cách lủi, nhưng bây giờ người đứng ngay cạnh gốc cây, những con chó vẫn ngồi, không nhúc nhích, mõm hếch ra phía cổng. Không một tiếng chó sủa. Rồi mấy con chó rỗi rãi quần đùa nhau huỳnh huỵch giữa sân. Trắt lướt qua sau lưng cấy rơm, đàn chó vẫn mải vờn nhau.

Trắt bò lên thềm, bíu cái cột hiên rồi lần vào vách buồng. Đích xác cái ả Chín dắt nó vào buồng nầy. Quang đèn dầu trẩu ngoài kia đã cạn, chỉ còn khói bốc khét lẹt đưa vào. Vài bước cũng tối mò. Người ngủ, tiếng thở, tiếng ngáy, tiếng cựa mình trong các buồng rập rờn thoảng ra.

Trắt ngồi xổm, nghe ngóng, rồi khác đêm trước Trắt nhảy thoắt lên cửa buồng ả Chín. Trắt lại lách mảnh tre cật mỏng như cái lạt vào khe cửa, nhẹ nhàng nhích dần chiếc then ở trong.

Xung quanh im phăng phắc. Cánh cửa lỏng then, hũm vào rồi doãng ra. Cho khỏi vướng, Trắt thò hẳn tay, nắm được, đẩy khẽ.

Bỗng hai cánh cửa toang ra. Bất thần, một suýt thì Trắt ngã đâm đầu vào. Nhưng một cái đá thúc, hất Trắt té ngửa ra ngoài hiên.
- Trộm! Trộm!

Lập tức, người ở đâu xô đến ngay. Những bó đuốc bật tức khắc, trong khi bọn lính tuần đêm đã bẻ quặt tay Trắt ra sau lưng, trói ngồi vào chân cột.
- A! Lại thằng bán dầu hôm qua!
- Nó chết rồi cơ mà?

Cái thằng bán dầu đêm qua đã đem trôi sông! Khiếp quá, lãnh Quang kêu lên, nhiều người mới la lối theo. Nhưng vừa kêu vừa nhớn nhác :
- Ối giời ôi, con ma...
- ... Con ma thằng bán dầu.
- Nó chết trôi sông rồi mà...
- Ma à? Còn con ma Tư kia kìa...
- Chết! Chết!

Thì ra, lúc nãy vào trong buồng, lãnh Quang cũng như ngủ, như rình. Nhảy trong buồng ra, mà không phải áo lụa năm thân phanh bụng ra như chặp tối, lãnh Quang áo chẽn, thắt lưng nhiễu thâm, quần chồi thâm buông lá tọa, lại giày Tàu cẩn thận, tay lăm lăm con dao bảy. Đủ lệ bộ bằng đi trận. Lúc nào lão cũng giữ gáy. Lão ngủ chỉ nhắm một mắt, có nhẽ. Lúc cánh cửa hé, trong buồng ngoài sân vẫn tối thui, nhưng có một làn gió lành lạnh khác thường thoảng vào. Lão hất ả Chín xuống đất, ngồi ngay dậy. Chính lãnh Quang đá tống Trắt ngã ngửa ra, rồi kêu “trộm”.

Lãnh Quang chống con dao bảy, mặt phừng phừng, nhòm xuống Trắt.

Trắt giãy giụa, gào :
- Tao đây, tao không phải ma, tao là người, tao đến lấy đầu thằng đội Quang đem lên Kệ tế thầy đây. Các đồng môn đương đợi tao đem đầu mày về, đầu mày đâu, đầu con chó đội Quang đâu?

Lãnh Quang đứng yên, con dao bảy rơi xuống cạch một cái mà không biết. Tiếng hò hét của Trắt như điên, nhưng lãnh Quang còn điên hơn. Lãnh Quang nhặt con dao, tựa lưng vào vách, như sắp ngã.
Không ả Chín, ả Tám nào dám đến đỡ. Mỗi câu Trắt thét “Đầu mày đâu?” lại đẩy con dao bảy trong tay lãnh Quang quờ quạng vung lên, chém chát chát vào cột, vào vách. Lãnh Quang phát rồ rồi. Không ai dám đến gần. Trắt thì cứ nhảy như con ếch bị buộc dưới chân cột. Những cửa buồng quanh đấy đóng lại hết. Bọn lính lủi cả ra sân. Cái hãi, cái hóa dại của lãnh Quang đương cơn, con dao bảy ấy chém loạn lên vào đầu vào tai bây giờ!
Lãnh Quang hỏi to :
- Đứa nào đêm qua đem thằng này trôi sông? Ra ông xem mặt, những đứa nào?

Ba, bốn người rúm ró đùn đẩy nhau đến cạnh ánh đuốc. Lãnh Quang nói, lần này nhẹ nhàng tỉnh như không :
- Ba thằng, bốn thằng, còn thằng nào nữa? Hai thằng kia vào đem ra bốn cái rọ. Bỏ rọ chúng mày đã. Mai ban ngày ban mặt, ông xử xem tội xổng tù hay thả tù.

Bốn cái rọ được xách ra, bốn người lính bị đẩy vào. Bốn cái rọ khiêng ra treo vào cành cây sau vườn. Lãnh Quang lơ láo đảo mắt nhìn quanh rồi bỗng hét rền như sấm :
- Đem chôn sống thằng này ngoài vườn. Chôn ngay cho tao trông thấy.

Đèn đuốc ra sáng cả vườn nhãn, một chốc đã đào xong gần bờ rào ô rô, một cái huyệt loang lổ đất.
Những sợi dây mây trói cả hai tay, hai chân Trắt. Chiếc đòn ống khiêng bổng lên như vừa bắt con lợn trong chuồng ra. Lãnh Quang quẳng cái áo chồi, trần lưng ra, ngửa mặt, tu cả be rượu còn lại rồi quẳng be xuống cái hố huyệt, rên hừ hừ, trong khi Trắt nằm ngửa mặt trên đống đất, vẫn sa sả :
- Ông chặt đầu mày. Mày kề cổ ra đây. Thầy ông, anh em ông đương đợi ông vác đầu mày về. Đầu thằng... đầu...
- Chôn ngay! Chôn đứng!

Trắt bị ném huỵch vào hố. Đất rào rào lấp xuống như dội mưa. Phút chốc con người đã bị vùi biến, mặt đất lại phẳng như lúc nãy.

Mọi người lật đật về, như sợ ma đuổi. Lãnh Quang nhớn nhác chạy trước. Như hãi cái hồn người ngoi lên bíu lại. Vào đến trong hiên, lãnh Quang lại rối rít: sao chúng mày chôn nhanh thế hay đấy là cái bóng thằng trôi sông, không phải, nó còn rủa tao đến tận lúc hạ huyệt...

Càng khiếp đảm, lãnh Quang đâm vào buồng con vợ nào chẳng biết. Lãnh Quang hét lấy cái khóa đuôi chuột to, khóa trái lại, khóa trái... Ngoài kia, khu vườn đã tối om sương mờ phủ.

Lúc ấy, hai cái bóng trên cây nhãn nhảy ngay xuống. Không biết những mũi dao, những nhát thuổng hay tay bới thoăn thoắt. Chỉ một loáng đã lôi được một cái bóng trong lỗ ra.
- Em... em...
- Im!

Ba người đi về phía mấy con trâu tiệc còn lại buộc đằng góc vườn. Trên chòi canh vẳng ra tiếng mõ. Bọn lính tuần, cả đàn chó ngao dường như chưa hoàn hồn từ lúc đào huyệt chôn sống người, cả đám xúm lại giữa sân như một đống rạ. Chỉ những con trâu không biết gì đang đánh sừng cộc cộc vào gốc cây như tiếng ban chiều mõ đạc ở cổ trâu.
Ba con trâu được cởi thừng mũi ra. Người cưỡi cúi rạp, bàn tay vỗ hai bên yếm cổ. Những con trâu lồng dựng đứng, lội ào ào qua hào, nhảy húc đổ một quãng đường đất, bật rễ chỗ rào ô rô, gãy ngang một thân cây vông. Những con trâu cong lưng băng băng bôn trong đêm, như những con trâu điên.

Bấy giờ, trong nhà lãnh Quang còn điên hơn. Tiếng lội hào, tường đổ ầm ầm ngoài kia đã dựng người dậy. Đèn đuốc lao xao dọi ra vườn. Mấy con trâu còn lại, đã tụt hết thừng mũi bồn lộp cộp cả lên sân gạch. Chỗ vừa chôn người, đất bị bới tung, còn trơ lại cái hố. Thằng bán dầu mới bị chôn đã biến mất. Bọn lính chạy dạt vào rồi lại men ra. Trâu lóa mắt húc cả vào người, vào đuốc. Rối tinh lên.

Lãnh Quang lom khom đứng, mắt trợn cắm xuống cái hố đất loang lổ. Rồi, chẳng nói chẳng rằng, như ma đuổi, lại đâm bổ vào một buồng. Lãnh Quang vừa thấy thằng bán dầu cầm con dao xông tới. Ngoài vườn, trong sân, đàn trâu vẫn chạy tứ tung lẫn với người. Lãnh Quang lại nhìn thấy thằng bán dầu, kia kìa. Lãnh Quang đóng sập cửa. Rồi nằm thẳng cẳng trên giường.

Ánh đèn dầu lạc vừa khêu bấc, lãnh Quang cũng chưa kịp nhìn mặt nó là con vợ nào, lãnh Quang đẩy bắn nó xuống chỗ xó luồn góc nhà. Lãnh Quang lại chồm lên, mở cửa rồi quay lại hét :
- Xách quang đèn ra đây.
Đứng trước thềm, lãnh Quang vung con dao bảy.
- Cái Ba, cái Năm, lên đây. Vào thành trình quan Tổng đốc, xin quan cho lệnh truy nã thằng bán dầu, hỏa tốc. Bắt được... bắt được...

Rồi thở hổn hển, ngồi bệt xuống. Cô Chín, cô Tám mon men đến, xốc nách lãnh Quang đứng lên.

Buổi sáng ấy, cũng bình thường như mọi ngày, chợ Cầu Dền, chợ Dừa, chợ Cửa Nam tấp nập hơn, vì ngày phiên. Dưa cải, từng bó củ trắng nõn bên thúng cà chua đỏ ối như nhót chín, từ trong làng kĩu kịt quảy ra. Lại sắp vào cuối năm hanh hao, trên các bãi hoang dưới bờ tre, ở những chân ruộng đã gặt quang, những cây lá bánh khúc đã chớm trổ hoa. Thoạt trông, tưởng đàn bướm vàng về nhầm mùa. Sương sớm đọng trên lá khúc long lanh như hạt nước. Lũ trẻ hái lá khúc, sương ướt bắn li ti lên bờm tóc. Người chợ búa, người tất tả công việc. Gặt hái đã xong, ngoài đồng rặt những đống khói chân rạ của trẻ chăn trâu đốt hun chuột. Chợ Bưởi chợ Canh lại sắp vào những phiên cuối năm, bán tranh gà lợn Kim Hoàng, có chợ trâu bò cho người mua về đụng thịt ăn Tết. Trong trạm Hà Trung phóng ra một con ngựa chạy công văn hỏa tốc, bụi lầm suốt đường Hàng cỏ ra ngoài ô Đồng Lầm.

Cả ba con trâu được tròng thừng vào cổ, đứng nghênh ngang trước thềm đình Hàng Hòm. Nghỉ lại phường này mấy hôm cũng chẳng bận đến ai. Buộc ra bãi cho gặm cỏ, trâu bò đem bán chợ hay cho đi làm mùa, của nhà người ta hay của ăn trộm đem về qua, thì cũng thường thấy.
- Chú làm nốt bát rượu ấy rồi Lại vào trong đình mà ngủ cho lại sức. Nằm dưới đất khí lạnh liễm vào, dễ ốm. Này lão quán hôm nay dọn hàng sớm, dắt một con trâu ra bờ hồ mà thui. Tùy lão, phần bán phần để chén, tối nay khao.

Hôm sau, lão quán bảo Trắt :
- Hai con trâu kia, các ông ấy nhủ rằng cho mày đem về làng. Trâu này còn làm đồng được, cày bừa được, thịt thì phí.


Chú thích:

[1] Mặc dù đội Quang đã lên chức quan lãnh, nhưng một số học trò của Cao Bá Quát vẫn gọi hắn là thằng đội, tỏ ý khinh miệt.




0
III

Bài ca cái roi song
(Đằng tiên ca)

Sau hôm rằm tháng chín, khí trời đã dịu
Mặt trời u ám, ban mai không có ánh sáng
Người bị giam xù đầu ngồi trên giường gãy
Gió lạnh buốt thổi phần phật vào áo quần
Chợt có lính của bộ đến, tiếng lanh lảnh
Gọi ra thúc giục đến công đường
Đứng dậy mang gông đi theo
Khăn rách xốc xếch chân bước vội vàng
Lúc vào cửa có lính canh ngục kèm hai bên
Người ở kinh đô ngơ ngác đứng xem, vây kín như bức tường
Các quan lớn ngồi trên, dưới có một viên quan nhỏ
Gọi bày những hình cụ bày ra la liệt
Có cái roi song to, dài thật là dài
Da nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ ra
Người bị tội nằm duỗi, sợ hãi xanh xám
Đầu quay nghiêng, mặt lấm lét, như con dê hoảng hốt
Chân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên
Lúc đó sau trận mưa, hơi thấp độc xông lên đến bàng quang
Giờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được
Chỉ khan vã kêu: “Oan! Oan!” và gào trời
Quan thét lên như tiếng sét rung cả rường nhà
Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp
Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở
Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi
Hai cái nọc đứng sững, có vẻ vững chắc
Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang
Than ôi! Cành hoa hải đường đương xuân
Bị bẻ tan nát không kể gì đến hương thơm, ở Xương Châu nữa
Bấy giờ đã muộn, trời sâm sẩm tối
Ở nơi góc đài, những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên
Roi song rũ xuống thôi không hăng hái như trước nữa
Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn được vào ngón tay
Được, mất do mệnh là sự thường
Ta cũng mày mặt như mọi người việc gì mà đau thương
Ơn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp
Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự
Chao ôi, roi song ôi
Mày không thấy:
Ở phía nam sông Đức Giang ở đỉnh núi Nguyệt Hằng
Trên đó cây tùng, cay bách chết một nửa
Nhưng vẫn đứng trơ trơ giữa trời rét mướt
Ví phỏng có người thợ giỏi, biết dùng không bỏ nó
Thì những hạng cây như bồ kếp và chương não kia đáng kể vào đâu
Vậy mà còn đốn chặt nó thì có đáng không.

Vũ Khiêu (dịch nghĩa)



Ngày 17 tháng Mười, sau khi bộ Lễ tra tấn nghiêm ngặt, nhịn đau viết luôn bốn bài
(Thất nguyệt thập thất nhật, thừa Lễ bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh mãn chí tứ thủ)

Sấm gầm chớp giật trơ trọi một thân
Bạn quen trông thấy sợ không dám gọi
Khiêng về, bỗng mê man như trong cơn mưa gió ác liệt
Tỉnh lại thấy tiếng nói khác thường
Nửa đời thân phận mỏng manh nghĩ những chuyện gân gà mà thương
Mười phần chết chín, tấm lòng chua xót, tưởng đến râu hùm mà sợ
Đa tạ chú bộc cũ nhà họ Tiêu
Đã khóc lóc đem những lời ôn tồn mà yên ủi thân này.

Nguyễn văn Tú (dịch nghĩa)


*   *   *


Trắt ở bên kia sông về. Nhưng Trắt còn dắt trâu ra chợ bán. Bán trâu, được tiền, dễ chạy ra việc, chứ bây giờ cũng chẳng bụng dạ nào mà lo đồng áng. Chặp tối Trắt mới về đến nhà Cõi. Trắt vẫn đóng cái khố một, mặc cái áo nâu đêm trước, bùn rong trâu bết lên tận bẹn, tận mặt, như vừa lội dưới đồng sâu lên. Đã nhập nhoạng tối mả những con chó từ đầu làng xuống cuối xóm đồng chỉ sủa hoáng vu vơ. Cái mùi bùn, phân trâu chó đánh hơi được ở người hàng ngày. Những con chó nhà không nhận được mặt, nhưng cũng là quen thuộc nên chỉ cắn hóng.

Thoạt trông ra, Cõi chỉ thấy người giống mang máng.
- Trắt đấy phải khõng?

Trắt đã vào bên bậu cửa. Những mảnh bùn trên cổ, trên bẹn, ống chân đã khô róc ra. Cả chiều, cả đêm hôm kia đánh chén, ngủ vùi, mồ hôi nhày nhụa trên mặt, những đám bùn bắn lúc lội qua hào, lúc trâu bồn trên đường, lại cả ngày hôm nay lặn lội đuổi trâu, đánh trâu ra chợ, các lớp bùn bết lại rồi khô, lúc bám lúc rơi, bây giờ mới rời ra từng miếng như bóc. Cõi kêu lên :
- Ô, sao thế này?
Trắt cười :
- Giống thổ công, vua bếp, không nhận ra hả? Bị trôi sông, bị chôn sống, chẳng ngờ hãy còn về được.
- Lấy quần áo tao mà mặc cho khô. Tớ đi kiếm cái nhắm.
- Có tiền đây, cầm đi mà mua.
- Khoan đã. Chui vào ổ rơm đi, run cầm cập kìa.
- Thế bác gái đâu?
- Biết được nó đi đâu!

Lúc ấy, mụ Cõi vừa mới về, đứng ngoài mái tranh đằng hắng nói trống không cốt cho trong nhà nghe tiếng.
- Lại quân ăn tàn phá hại nào đấy!

Cái mừng Trắt về đã át cơn tức, Cõi quên cho mụ ác khẩu một quả thụi. Cõi cung cúc đi. Mụ Cõi cũng chẳng nhìn rõ mặt Trắt. Chỉ thấy cái hình thù đen nhẻm, như lội dưới bùn lên, mụ đoán thằng kẻ trộm này mò ở đâu về, trơ trụi thế chắc chẳng được cái qué gì. Mụ lẳng lặng như trong nhà không người, mụ vào bếp thổi đống dấm. Ánh lửa nhen lom dom rồi mụ cũng ngồi nguyên đấy.

Một lát, Cõi về, dựng huỵch chiếc gậy, lở cả một mảnh vách trấu. Lúc đi, Cõi định bụng hỏi nhà ai cho vay con gà - đôi khi vẫn thế, rồi Cõi trả sòng phẳng. Không thì cũng bất cần, thấy gà chưa lên chuồng thì quơ một con. Cõi không có thói gà què ăn quẩn, túng quá mới mượn, khi có lại đền, cười hề hề. Nhưng số ăn mày, chẳng được cóc khô gì. Đã tối, trời lại trở gió, cổng tán nhà nào cũng buông kín. Mụ Cõi ngồi trong bếp, cũng đoán chồng đi mõi gà. Mụ vốn háu ăn. Mụ đã lấy cái nồi đất, rút rơm đun nước sần để làm lông gà. Rõ chưa bắt được ếch đã ngả thớt. Cõi trông thấy lửa lom đom trong bếp, cũng đoán mụ đun nước làm gà, nghĩ cười thầm con mụ chết đói, nhưng Cõi không vào bếp, Cõi không biết mụ đã vùi cái ngô nướng trong đống tro.

Trắt đã rúc vào ổ lá chuối khô, ngủ ngáy khò khò. Cõi để yên, Cõi mò xuống bếp.
- Nhà mày ăn vụng cái gì đấy?
Mụ hỏi lại :
- Ai trên nhà thế?
- Chú Trắt.
- Đi biệt tăm mấy phiên chợ mà về tay không a?
- Xà, rõ nhà mày...
Mụ hỏi một câu lửng :
- Bảo đi kiếm cái nhắm kia mà? Được gì không?
- Được cái con bòi đây này.
Mụ cười khành khạch. Cõi đùa :
- Tại nhà mày đun nước trước đấy. Đi câu cá mà bảo là đi câu, sẵn lửa củi, thì có mà ăn mày.
Mụ Cõi nghiêm mặt, nói :
- Hỏi thật đấy, tưởng dạo này chú ấy đi ăn trộm? Có thế mới phải tối mò mới về, lại ướt như ngã xuống ao. Khéo nó còn giấu, chứ vác bạc nén về không biết chừng. Hỏi xem.
- Lúc nãy nó cũng bảo cầm tiền mà đi mua cái ăn, chắc nó có. Chuyện còn dài lắm, tao cũng chưa kịp hỏi. Bây giờ có gì ăn không?

Mụ Cõi ngỡ đã đoán đúng chồng biết Trắt có của nả thế nào, mụ đấu dịu :
- Niêu tép mới đánh dặm hôm qua, được không?
- Ừ nhỉ? Thế thì ù đi mua cho xó rượu rồi về bờ rào sờ sẫm quả ớt, cố nhìn mấy quả ổi chiêm ngay đấy, rượu với ổi chấm muối ớt được. Cá dấm, tép kho thì chết cơm rồi. Được, được...
- Chỉ hươu vượn tán ăn. Nhấc niêu cá trong đống tro ra, để bắc nồi thổi cơm. Mà nhà hết gạo, còn có mẹt tấm mới sảy hôm nọ.
- Tấm cám được tất! Mà thôi, đêm hôm thế này để tao lại đi vậy.

Mụ Cõi nghiêm mặt nguýt một cái rồi đẩy nắm rạ vào bếp. Không mấy khi mụ dễ sai, lại không nói cục và ngoan làm thế.

Ở vùng đồng trũng cả đời sũng nước này hiếm hạt thóc, nhưng được cái dễ vơ váo. Con nhái, con chẫu, lá mùng tơi, cây dền cơm, đâu cũng sẵn. Ra đồng người nào cũng đeo cái giỏ, cái ống, lại sẵn mấy cái lạt. Khi về, cái lạt xâu con ếch, con rắn nước, ngửa nón ra thấy quả bàng, quả nhót, nắm lá mảnh bát nấu bát canh láo nháo. Cái giỏ đựng con cua, con trạch, bọn mài mại, săn sắt thì dốc vào cái chĩnh đậy tàu lá cọ, trong đã lót muối sẵn. Tháng tháng đổ chĩnh chắt hết cá mú đã ngấu đem bỏ vào nồi, nước cáy với giềng cả miếng, trát bùn quanh nồi, quấn rơm hầm cả đêm. Sáng ra, nồi kho đã nục như bánh đúc ngô. Cái nước cáy ăn quanh năm, ngọt hơn mật. Một tay mụ Cõi làm nên cái ăn cái uống. Thằng chồng nợ đời lúc nào cũng lầm lầm như chó ăn vụng bột, như đứa chết rồi, lại đòi đi ăn trộm gà, cái lông gà chẳng được, về lại hét cơm hét rượu. Nhưng mà có nhẽ thằng Trắt có tiền!

Cõi lên gian trên, đã thấy Trắt ngồi bó gối, sột soạt giữa đống lá khô. Không biết Trắt tỉnh ngủ ngồi dậy hay đương cơn hốt hoảng, như con đồng môi mới ốp, đầu đảo lắc lư. Thấy thế, Cõi nán lại, chưa đi vội.
Cõi lay vai Trắt. Trắt nhớn nhác kêu :
- Ối!
- Mê ngủ à?
- Đây là đâu? Đình Hàng Hòm hả?
- Ở nhà rồi, ở nhà...

“Ở nhà rồi” - Trắt lẩm nhẩm nhắc lại, như chưa tan cơn bàng hoàng. Bao nhiêu khúc sống, khúc chết, Trắt đã về được đến đây, nhưng từ cái đêm chui từ dưới đất lên ấy, đi đâu, làm gì, ăn uống gì, Trắt biết cả lại cũng quên cả. Vẫn nửa tỉnh nửa mê.
Trắt nói :
- Chết ngạt rồi, tắc mũi rồi.
- Vẫn sống nhăn răng ra đấy thôi.
- Nó đã đem chôn tôi, tôi chết rồi...

Nồi cơm gạo tấm mụ Cõi đã bắc lên. Một mình Trắt lùa cơm không, vét sạch. Nóng giãy môi mà không biết. Hết cả nồi, chưa đụng đến niêu tép. Ăn xong, Trắt nằm ngửa, vật hai cánh tay xuống, bụng kênh lên, trợn mắt, thở phì phọc. Như người bội thực chết đến nơi.

Cõi như không để ý, bấy giờ mới lủi ra ngoài trời tối. Trắt thẳng cẳng một lát, lại gà gà mắt ngủ. Mụ Cõi lại đã đoán chồng đi đâu. Mụ đem cái nồi đất đã nhăn cơm ra vại múc nước vào bắc lên bếp. Lại nhác mắt tìm cái thớt con dao phay. Mụ chẳng để ý câu hèm đi câu, đi đơm lúc nãy chồng nói. Mụ đã trông thấy cái hầu bao của Trắt để cạnh ổ lá chuối khô, ló cái bẹ mo cau, hằn vệt những xâu tiền kẽm.

Cõi lại đã lù lù về. Tay cầm be rượu, tay xách con gà trống đã bị bóp họng, mào lỉu xuống, nhưng cái mỏ vẫn ngoác như giật mình sắp quang quác vỗ cánh kêu thì bị chịt cổ. Lúc này vào trộm gà nhà người ta thì phải chui rào. Nhưng mụ Cõi chẳng hỏi, lẳng lặng đun nước sôi vặt lông gà. Cõi rót rượu. Trắt đã lại ngất ngư ngồi lên. Cơm lèn vào rồi, ngửi thấy hơi rượu, mới thật lại người.

Nửa đêm, vẫn lỉnh kỉnh chén chú chén anh. Cơn thảng thốt đã nguội hẳn, Trắt mới giật mình. Mê man thế mà sao Trắt biết ra chợ bán được trâu, lại lần mò được về đến đây. Nhưng rồi dần dà, chắp nối lại, Trắt kể cho Cõi nghe từ hôm Cõi về, Trắt đi bán dầu...

Đến gà gáy, Trắt lại lăn ra ngủ. Mấy hôm, ăn cơm xong, lại ngủ. Một buổi tối, Trắt nói tỉnh táo :
- Tôi định thế này. Tôi định lại ra đình Hàng Hòm. Ta phải có cánh, cánh to, cánh vững mới được. Tôi mà còn sống là nhờ anh em bên Bắc Bỏi kia. Nhiều người các nơi theo về với Bắc Bỏi rồi. Không phải kẻ cướp, không phải tướng cướp như thiên hạ đồn đại, đây là những người cứu nhân độ thế. Anh em ấy sẽ giúp ta.
- Đã đành các ông ấy là người trọng nghĩa. Nhưng mối thù của anh em ta, thì ta phải lo.
- Phải, là việc của ta. Nhưng mà đấy, không có người đỡ một tay thì em đã ngỏm rồi.
- Chịu thầy, chịu thầy. Chú biết hơn tôi, vậy bây giờ thì làm sao?
- Như thế này...

Những chuyện tày đình tính đếm giằng co có lúc tức tốc rồi lại phân vân, chẳng khác tháng tám tháng chín ngắn ngủi, không biết trời trở lại nắng nôi hay đã sang mùa gió bấc nổi. Mùa màng sông nước cũng nhấp phỏng cái đói ngày ba tháng tám bao phủ xóm làng. Đã sang cuối tháng tám lại như đang còn, không biết ngày mai nóng nực hay mưa dầm, cũng chưa dứt những trận mưa rào. Chỉ còn ấm áp khoảnh khắc, mà lúa ra giêng ngùn ngụt xanh khắp các ruộng cao gần chân tre. Những khóm xương rồng ông lủa tủa quanh bờ cái giếng đất trước cửa đền, hoa lốm đốm vàng hây như đĩa xôi đậu. Bỗng dưng, tiếng sấm rền chân trời hệt những đêm đầu mùa hạ. Nhưng không phải chớp bể mưa nguồn đâu đâu, một cơn gió đùng đùng tới cây cối điên đảo như phải bão rớt, nhưng rồi sấm chớp nối theo ầm ầm. Đây là trận mưa cuối mùa hạ còn sót lại, trong đêm tối, vật vã trên các khoanh tre, bờ rào và cánh đồng.

Mỗi cơn gió giật những tàu cau đổ đùng xuống, ánh chớp ngoài bậu cửa xanh lè hắt vào. Vẫn thấy hai người âm thầm ngồi. Tất cả những cái đói, cái hốt hoảng như mê như tỉnh của Trắt thì những chén rượu đã đuổi bạt từ lâu, từ sau lúc Trắt đã kể ngọn ngành mọi sự việc, lại còn tính xa những việc mới. Be rượu đã lăn lóc giữa đống xương gà cạnh đĩa muối. Họ chẳng say cũng không buồn ngủ. Những ngày đêm khủng khiếp của Trắt vừa qua đã khiến hai người tỉnh như sáo, cứ đăm đắm nghĩ chưa ra thế nào. Một lằn chớp ngoằng xuống xanh lét, tiếng sét đánh ngay đâu trên ngọn tre.

Cõi gọi vào trong bếp :
- Mùi khét lắm. Sét đánh ngoài bụi tre đây thôi. Nhà mày dậy chịu khó ra xem có con cò nào sợ sét rơi xuống thì nhặt về ta làm nồi cháo gạo tấm. Cái cháo cò giã rượu đấy. Dễ đến sang canh rồi.

Mụ Cõi lổm cồm bò trong ổ ra, đội cái rổ sáo lên đầu tránh mưa, biến ra sân. Cõi nhìn theo, nói :
- Có nhẽ con mẹ này vẫn nằm nghe chuyện. Nó cứ đòi giữ cái hầu bao tiền bán trâu của chú. Nó mà cầm tiền thì bằng gió vào nhà trống. Mai phải đuổi nó đi đâu, nó là đứa trống mồm lại hay gàn quải. Nện cho luôn mà không chừa. Của nợ!
Trắt vươn vai, ngáp :
- Em chưa có cảnh vợ con, chẳng biết thế nào. Nhưng thế nào thì cũng phải bớt thượng cẳng chân hạ cẳng tay, ông anh ạ.
Rồi lại nói :
- Tính chẳng ra, ngáp sái quai hàm mà cái ngủ không đến cho.
- Chú cứ đi nằm. Mai lại bàn xem thế nào.

Nói thế, nhưng hai người vẫn ngồi ngật ngưỡng, có lúc tựa vảo cột tre, nghe răng rắc trên mái ọp ẹp. Ngoài kia, mưa đã dứt hạt. Từng cơn gió nhẹ lướt qua, nước đọng trên những tàu cau, bụi chuối, ào ào trút xuống. Những bụi tre kẽo kẹt đưa võng đã chui xuống từ lúc mưa gió to, cái nhà cột tre xiêu xiêu như người rượu say.
- Khi nãy ấy mà, mò vào cái chuồng gà đầu xóm, tớ bóp cổ con gà không kịp quéc một tiếng. Sau lại rứt nắm lông cánh, lông cổ rắc ra đằng bờ chuôm, làm như gà bị con cày con cáo tha ra ngoài đồng.
- Mẹo đấy!
- Mẹo thằng trộm gà nào cũng thế thôi, nhà chủ nó biết tỏng rồi. Vết chân người hay chân cáo, nó dò chứ. Rồi mai bảnh mắt, có người chửi “đứa nào ăn gà nhà tao” rong khắp xóm cho mà xem.
Cõi lại như phân trân :
- Nhưng mà nói có quỷ thần hai vai, tao có trộm gà nhà nào bao giờ.
- Mới lúc nãy thôi.
- Để mừng chú mày về, túng thì phải tính, chứ mai chú đưa tiền tao ra chợ mua con gà, gà to hơn con này rồi nửa đêm tao đem bỏ vào chuồng nhà nó. Tao hay làm thế đấy.
- Lại cao tay nữa!
- Đi học, vẫn nhớ thầy chả đã đánh toét đít những đứa ăn không nói có.
Rồi Cõi thì thào :
- À có cách này.
- Cách sao?
- Thằng đội Quang...
- Không phải cứ nghĩ mà được. Đấy, tôi...
- Hai thằng cùng đi.
- Bác còn ngờ em à?
- Đừng nói nhảm! Nghĩ oan anh thế phải tội, đời mình cũng còn không tiếc cơ mà. Hai người cùng đi, cùng lo thì dễ việc. Lần trước, bởi tôi vụng tính, không có đồng nào giắt lưng.
- Lần này có tiền đây.
- Không, ta tính việc khác.
Trắt nghển cổ lên :
- Bác liệu thế nào?
Cõi chậm rãi nói :
- Bây giờ thì nó sợ, nó nghi ta rồi. Lại đang truy nã chú nữa. Thì ta làm hẳn như thật, cho nó hết đường nghi, cho nó phải tin. Đóng một cái cũi. Chú ngồi vào cũi, tôi trói tay trói chân cẩn thận, ừ tôi trói. Rồi bắn tin cho đội Quang biết làng ta đã bắt được thằng hàng dầu. Nó đang truy lùng mà.
- Tôi không hiểu.
- Ta đóng lấy cái cũi. Tay tôi phó cả thợ mộc đây. Mộng mẹo đinh lim, đinh tre khớp đâu vào đấy, thật chắc, nhưng ta lại tháo ra tháo vào được, chỉ có ta tháo được.
- Thế để làm gì, tôi chưa tường.
- Nó đã đa nghi thì làm cho nó phải tin. Người của nó khiêng cũi, thế nào cũng gõ, cũng thử xem cũi có chắc không. Chắc chứ, lung lay không được, đạp không chuyển. Nhưng ở trong ta làm mộng khác, chốt khác, đẩy một cái mở được ra như cánh cửa liếp này, mà chỉ một người ở trong mở được.
- Bác làm thế nào...
- Anh đã cả đời giữ chân phó nhỏ, phó hai hầu hạ cụ phó cả làm đình, làm chùa mà!
- Vâng, vâng.
- Tớ sẽ đi với lính lên hầu quan, tớ được lên nhận thưởng bắt được thằng hàng dầu cơ mà. Cái cũi được khiêng về đặt trước mặt đội Quang.
- À... à...
- Thằng đội Quang cúi xuống nhòm vào cũi, chú tung cũi nhảy ra đấm ngay vào giữa mặt. Thế tất chúng nó bấn cả lên. Tớ rút dao chém ngay cái sỏ nó. Đường đất nhà ấy, chú đã thuộc, phải không? Hãy biết thế đã. Chắc nhà tớ nó sắp về rồi, còn nồi cháo cò. Nhớ giữ mồm giữ miệng, con mẹ ấy mà biết thì sinh lôi thôi. Hay là chú cho nó giữ bao tiền, bịt miệng nó lại. Con mẹ ấy mà thấy tiền thì mắt nó đỏ hơn mắt cá chày.

Câu chuyện càng dữ dội, lôi cuốn, hai người càng tỉnh ngủ. Vừa lúc, mụ Cõi bưng về cả một thúng cò. Lổn nhổn những cò bợ, cò bạch, cò lửa bị ướt sắp chết rét, lông bết tóp lại như những bắp ngô còi, lố nhố thò đầu lên cạp thúng, nhưng hai cánh đã rúm lại không nhảy ra nổi. Trong khi ngoài trời tối đôi lúc sấm sét lại oang oang, gió đùng đùng quật ngọn tre rạp xuống trước cửa, những con cò còn lại văng cả vào trong vách. Cò rớt bão nhiều quá. Mụ Cõi đặt thúng xuống, lũ con cò lổm ngổm lẫn với những con cò trong vách vừa dò ra.

Mụ ấy với Cõi và Trắt, nước mưa hắt ướt lõng võng, xúm xít vặt lông sống từng con. Những con cò bị nước ngấm lâu lông bở bùng bục. Rồi thì mổ vứt lòng mề, con thui vào đống rạ, con bỏ vào nồi cháo. Chẳng bao lâu giữa ánh chớp lằng nhằng chốc lại lóe vào như đuốc sáng, mọi người nhồm nhoàm vừa nhai, vừa húp xoàn xoạt, như cả ngày chưa được miếng nào. Và Cõi lại quên câu mình vừa dặn Trắt, Cõi nói bô bô :
- Phải mẹo thế cái thằng đa nghi mới mắc.
Trắt đương hứng như cắt nghĩa lại cho Cõi :
- Khôn thế nào thì được người ta khiêng đến tận nhà cái thằng định giết mình cũng phải sướng tửng lên. Sướng là phải, xúm lại xem là phải, chỉ có bác mới cao tay thế, em chịu không nghĩ ra.
- Gặp cái đứa thâm hiểm...
- Em chỉ chưa hạ thủ được nó chứ nhà nó em đã vào hai lần, đâu cũng thuộc như lòng bàn tay. Thế thì phen này...

Cõi lại to tiếng, vẻ lên mặt :
- Thế đã thật chắc chưa?
- Cái cũi ta đóng, ta lại có khóa hiểm, yên trí rồi. Nhưng còn điều này.
- Còn cái gì?
Trắt nói :
- Lo nó vẫn phòng bị. Nhỡ nó chỉ ngồi trên sập, không bước chân xuống đất, không sờ đến cái cũi. Nó sai lính xỉa dáo vào cũi...
- Tính rồi, tính cả rồi. Làm cho nó phải sốt ruột, phải háo ra nhìn cho được mặt cái đứa mà nó giết mấy lần chưa chết. Nó phải trông xem có đích không cái đã.
- Bác bảo rồi làm ra làm sao?
- Trình cho quan biết là đánh nhau suýt chết mới tóm được giặc chứ chẳng phải ngon ăn. Quan cứ ra trông thì biết. Có thế thằng tù mới chịu bị trói nằm ngửa trong cũi. Nhưng nó cũng bị đòn quá tay, đã gãy một chân. Bắp đùi phải quấn lá chuối khô cho cầm máu. Không thì nó nghẻo từ hôm nào ấy rồi. Đổ máu lợn vào cho đọng mặt cũi. Trong bọc bẹ chuối ta cặp con dao ba. Chú ngồi phắt dậy, đạp cũi, không phải đấm mà rút dao đâm thẳng, phóng thẳng vào giữa mặt nó.
- Em chịu! Thế thì em chịu rồi.

Mọi chuyện ngon ơ như húp bát cháo cò. Rồi lăn ra ngủ. Mụ Cõi như cái bóng, sập cửa xuống rồi nhặt các thứ thừa mứa bỏ vào thúng. Mụ thò tay vào mép ổ, kéo cái hầu bao, thấy nặng không xách được. Mụ sờ soạng từng buộc quan tiền. Mụ đẩy lại cái hầu bao vào chỗ mép ổ, nghĩ mừng mừng. Bên ngoài, đằng xa thỉnh thoảng ánh chớp dây, không nghe tiếng sấm. Đã tan cơn mưa cuối mùa, chẳng khác rớt bão.
Hôm sau, Trắt nói với Cõi :
- Còn một điều thật cần.
- Gì thế?
- Tôi về được đến đây lả nhờ các ông đình Hàng Hòm.
- Chú đã kể rồi.
- Các ông ấy không phải chỉ vài ba người. Người của các ông khắp cõi, có nhẽ ở Kẻ Chợ thì xó nào cũng có. Cái hôm ăn cỗ thịt trâu ở đình, em biết cái tài của các ông ấy. Khắp nơi, trong phường ngoài chợ, động chệ thế nào, biết ngay, chuyện cần thì tin về bến Bỏi.
- Bên Kẻ Chợ thì ở hồ Tây theo ven sông Cái lên bến Chèm sang Bỏi hay sang Hối, rồi vào đầm Ao cả Vực Đê, phải không?
- Nhưng ở đây lên thì gần, chỉ nửa buổi. Phải, chỗ Chèm sang. Đương khét tiếng có ông tướng cướp lạ lắm tôi đã kể đấy. Cướp mà đêm hôm không đốt nhà, trộm lợn trộm trâu, không giết người lấy của. Các ông kẻ cướp chỉ cất công đi tìm ma, trừ ma ở lẫn với người, lấy được của rồi đem phát chẩn cho người khố rách, phát hết, rồi về tay không. Hay là thấy đâu trái tai gai mắt thì đến xóa đi. Ngay tôi đây thoát chết cũng nhờ một lời hẹn với các ông ấy. Chỉ một lời hẹn giữa đường giữa chợ mà không quản sống chết, họ hàng máu mủ nào bằng.
- Bây giờ ta nên thế nào? Đêm qua, chú bảo tôi phải có cánh. Tôi thấy là nên, nếu được cánh các ông bến Bỏi giúp cho.
- Em đã nghĩ thế. Hai anh em cố sang bến Bỏi. Bẩm kỹ với các ông việc của ta. Xem có thể thì cậy các ông một tay.
- Được thế thì còn gì! Nhưng phải cẩn thận ngay ở nhà này. Chú đã biết con đĩ rạc nhà tôi, chúng mình mà đi, nhỡ nó nổi cơn, nó báo bọn lý hương thì rầy rà.

Bao nhiêu cái kín đáo, đêm qua đã nói toạc ra cả. Bây giờ vẫn nhớ giữ gìn, nhưng lại quên phứt cái hở. Một lúc sau, Cõi nói :
- Mặc nó, để rồi tôi liệu. Nghe chú nói, tôi cũng thèm đi. Nhưng nhiều cái gấp quá. Lần này, chú đi một mình. Tôi ở nhà lo thế nào lúc chú về thì ta ra Kẻ Chợ được ngay. Đóng cái cũi giả, chỉ một tay mình tháo lắp được không phải một lúc mà xong. Tôi cũng chỉ biết học lỏm thế, còn phải sang nhờ cụ phó cả chỉ vẽ thêm cho. Cụ đã yếu, ta đem con gà, chai rượu đến nhà, cụ khỏi phải đi. Mà lại kín việc, vả chăng...
- Ừ thế thì em đi một mình. Nhưng ở nhà anh liệu lời bảo chị ấy. Đưa cho chị ấy giữ tiền cũng được.
- Chú mặc tôi, đã bảo mà.

Tối hôm ấy, thế nào mà vợ chồng Cõi lại chửi nhau, rồi Cõi nện vợ ra trò, mụ vẫn cờn lên.
- Nhà này sắp rủ nhau đi giết người hả?
- Giữ mồm giữ miệng nào. Mồm mày như cái tĩ gà, ỉa xoèn xoẹt.
- Biết tỏng ra rồi.
- Á! Á! Đi đâu thì ông cũng phải chọc tiết mày cái đã.
- Ối giời ôi!

Cõi mới để ý mấy hôm mụ chạy lên chạy xuống, lúc đun nước, lúc kín nước, lại lúc ngồi ăn, thế ra nó tỏ tường cả. Không xong rồi. Phải giã một trận cho nó nhớ đời.

Nào Cõi có biết gốc gác ả ở đâu. Nằm với nhau thì là vợ ra đường cũng người dưng nước lã, thế thôi. Ngày trước quãng mùa tháng mười, các ả đi thành bọn như phường đánh dặm đến gặt mướn cho nhà người ta. Gặp nhau giữa chợ rồi nên vợ nên chồng. Nghe nói quê dưới đồng chiêm - những miền đất xót như phèn, nắng đến con cua con cáy cũng chết như rang, người phải trôi dạt ra kiếm cơm thiên hạ. Kể thì, lấy vợ nhặt cũng không ra mặt mũi thế nào. Chẳng gì, Cõi đã ngậm cái bút lông mèo theo thầy, nhưng mà cả làng, cả chi họ này không lạ nhà Cõi, đời bố đến đời con, chẳng đời nào có đồng gãy giắt lưng. Làm sao lấy nổi vợ. Lấy vợ theo không thì nghĩ tủi thân, chứ làng nước ai trách cứ, ai rỉa róc đâu. Người ta lại còn khen - chẳng biết mỉa mai hay thật bụng, kiết xác mà cũng tậu được vợ, lại còn học đòi nghiên bút. Cái nông nỗi vợ chồng Cõi thế vậy.
- Có câm đi không? Mày mà...
- Sợ chó ai! Thấy trái tai gai mắt thì nói giữa giời đấy. Kiếm mửa mật không ra hạt cơm, ngữ ấy mà vào lính thì chẳng có nổi hạt gạo làng gánh đi nuôi, ở lính cũng chẳng nên thân, lại còn ra điều ta đây đòi đâm chém ai.
- Con tuyệt tự!
- Ới ông cả bà nhớn ơi! Chúng nó tụ bạ đi giết người, ối...

Cõi xông đến. Ả cũng chẳng vừa. Hai bên dần nhau ăng ắc, tưởng có đứa gãy xương. Sáng hôm sau, ả nằm trong đống lá chuối, rên hừ hừ. Mặc kệ, Cõi sang làng bên kia đìa, đến nhà cụ phó cả. Không biết chỉ một lúc sau, mụ Cõi đã trở dậy, lục hết ổ lá chuối ổ rơm, cả trên các hốc cột, hai bên mái nhà. Nhưng không thấy cái hầu bao đựng tiền.

Giữa trưa, Trắt mải miết đi một mạch mới lên đến bến Bỏi. Sông Cái vào mùa lặng, hai bên bờ cát nổi cao như gò, ở dưới sâu, những làn nước đỏ lừ vẫn cuồn cuộn như có gió to. Trời quang, trong xanh. Từng đàn chim bói cá bụng trắng cánh đen kêu khanh khách ở đâu đến chốc lại vút lên rồi rơi bõm xuống mặt nước như ai ném mảnh sành thia lia. Bay lên, đã quắp được gáy con thiểu, con thờn bơn trắng nhoáng. Mùa này hai bên bờ, các bến Chèm, bến Bỏi quang vắng. Chỉ đến khi nước cả, những bè giang nứa, song mây, bè củ nâu, bè dó hay là vào cuối năm các của rừng tải về cho đường xuôi ăn Tết, những thuyền măng khô, măng củ, mộc nhĩ, nấm hương, lại lá dong, cây rễ ăn trầu... bấy giờ các bến mới lại nhộn nhịp khách buôn khách lái. Tuy vậy, bến bên này cũng không sầm uất bằng bến Chèm bên kia, tiện xuôi Kẻ Chợ hơn.

Thường vào mùa cạn kiệt, cả những phiên chợ hai bên sông cũng vắng đò ngang, mà buổi chợ mới có đò chuyến. Các thuyền đánh cá chỉ đi về có buổi chợ cá eo sèo đôi lúc đầu hôm, sớm mai, mà cũng bất chợt cái thúng, cái mảng nứa ghé vào, chợ tạm mỗi hôm một nơi mà thôi.

Có người sang bến Chèm, nhỡ buổi, phải chặt cây chuối, ôm thân chuối bơi ghé qua bãi Giữa vào khi vắng đò, đôi bên sông vẫn quen lội thế. Nhưng Trắt không sang sông, mà Trắt ngóng thuyền qua lại, để hỏi thăm.

Một cái nan câu lướt nhanh ngoài mép nước.
Trắt gọi :
- Ơi đò!
Chiếc nan ghé vào.
- Cho tôi hỏi thăm thuyền bác Bỏi.
- Bác Cả hả? Ở đâu về đấy?
- Ngoài đình Hàng Hòm.
- Xuống đây.

Chẳng biết thế nào, nhưng thấy người dưới nan sốt sắng tự nhiên, lại nói như ra lệnh, cũng chẳng do dự Trắt leo xuống cái thúng câu. Người ấy cúi đầu sải bàn tay. Thúng tạt ra dòng rồi xuôi vun vút. Chắc cái thúng này đi rút câu cắm hay thu lưới về, túm lưỡi câu cắm với đống lưới đã xếp bên mạn, những con cá nhảy lục đục dưới cái vỉ tre cật, người ngồi xổm lên.
- Thuyền bác Cả đậu chỗ kia.

Một đám lô nhô thuyền mờ mờ dưới bóng cây ven bờ. Trắt bỡ ngỡ, lặng im. Nhưng người nan câu lại vui chuyện.
- Cả vạn này vừa hội đánh cá tiến ngã ba sông trên ngược về, đã mấy đêm vào đám ăn cỗ đấu võ ở thuyền bác cả.
- Liền anh cũng ở đám à?
- Ừ.
- Hội võ bác Bỏi a?
- Tôi chỉ là thằng cầm bùi nhùi bật hồng thỏi, võ viền đâu thứ tôi.
- Hội võ trên thuyền thì to thế nào?
- Mấy đời các vạn ở bến Bỏi là con cháu nhà bác Cả. Nghề cá ở nước thì hội võ các vạn cũng như đình đám xóm làng bên trên bãi. Ở vạn thì chỉ bao giờ có đám ma mới phải đưa lên bờ.

Dần dần, trông rõ nhấp nhô cả chục chiếc thuyền gỗ đỗ chen chúc trong hũm bờ lở, dưới mấy cây súng xanh mát như bụi tre và những cây muỗm cổ thụ um tùm. Những cái nan len lỏi giữa đám thuyền, ra vào ve vé, như bọn trẻ con chạy quanh người lớn.

Cái nan câu Trắt ngồi, người chèo đã ném sợi thừng vắt lên cọc trước mũi chiếc thuyền rồi quay lại bảo Trắt :
- Bíu mà lên trước đi.

Trắt dún chân, nắm mạn thuyền. Người nan câu dận Trắt vào khoang trong. Thấy một người mặt rám nắng màu cát đỏ xạm, chạc trên dưới năm mươi, hàng râu ria ba chòm đen rậm xõa ngang ngực vạm vỡ để trần.

Trắt đoán đây là bác Cả, bác cả Bỏi, ông tướng cướp bến Bỏi đã được nghe lão quán nước Hàng Hòm thì thào.

Ông tướng mà sao cái anh thuyền câu không vẻ sợ sệt, mà lại nói suồng sã vui vui.
- Người Kẻ Chợ về chơi với bác Cả đấy!
Bác Bỏi ngẩng lên :
- Mày vẫn trọ đình Hàng Hòm à? Thằng Cõi đâu?
Trắt giật mình. Dường như bác ấy đã biết hết.
- Bẩm quan, anh Cõi con chưa lên được, cho con sang tạ ơn quan. Con là thằng Trắt bán dầu, quan đã ra tay cứu. Bây giờ chúng con có việc lên xin quan chỉ bảo.
- Quan nhớn, quan bé, thằng lãnh, thằng đội gì tao. Tao là cả Bỏi, thằng chài lưới bến Bỏi.
- Vâng ạ.
- Về đây thì cứ thong thả. Ra mui nghỉ chốc nữa vào ăn cơm.

Trắt ra ngồi mảnh chiếu cói ngoài mũi thuyền. Gió mát rượi, ngủ gật được, nhưng không chợp mắt nổi vì người các thuyền nhảy sang, đi như chạy rầm rập. Chỉ một thoáng đã biết đại khái quang cảnh và mọi việc quanh mình. Bác Bỏi đã vào bữa chén, ngồi với mấy tay chân sào, chắc thuyền khách. Các thuyền bên bưng sang cả rổ vỉ cá nướng thơm mõ còn sèo sèo với những vò rượu nút lá chuối được xách cổ theo. Cũng như vẻ mặt dễ dãi phúc hậu của bác Bỏi, tấp nập thế nhưng không nghiêm như cửa quan, mà còn bộn rộn, có người vừa đi vừa ê a múa hát. Ngoài sông, gió cát bốc lên đỏ xuộm, những chiếc nan như lá tre bay trong làn bụi.

Lát sau, Trắt được gọi vào. Chén bữa cơm toàn cá với rượu thuốc uống bằng bát. Không biết rượu rắn hay ngâm cá, vị hoi hoi. Về chiều, lại nhiều thuyền nữa chen đến, những chiếc to bản đậu rúc mũi vào nhau ghép liến thành cái sàn, người bước thoăn thoắt như trong nhà ra sân. Lúc ấy, thuyền nào cũng như có chén, chẳng biết tiệc hay cơm tối, khói nấu nướng xanh bốc trên mui. Ánh nước hắt lên lẫn khói, lẫn sương phảng phất, đôi chỗ còn rớt lại một vết nắng vàng nhạt.

Dần dần, khói bếp thành làn mờ mịt trên đám thuyền lẫn vào sương tỏa ra mặt nước. Cả đêm, Trắt ngồi xem những trận đấu võ, múa võ, kỳ lạ, hào hứng, không biết mỏi mắt. Khoảng sàn như mỗi lúc rộng hơn, những cây đình liệu sáng rộng tít ra các mép thuyền mới tới, chụm mũi lại, các mái khoang dỡ ra hết, neo khít lại rồi đánh đai chão dây song.

Bác Bỏi vẫn trần trùng trục, đứng ra khoang giữa, một tay giơ bổng thanh trung bình tiên bằng cả cây tre đực, như dựng cờ. Rồi vỗ bụng đốp đốp mấy cái.
- Anh em ời, anh em ới! Vụ nước kiệt vào mùa năm nay, các vạn ta ngược ngã ba Hạc được mẻ cá tiến[1], thuyền nào cũng đầy. Có biếu, có tiến ai đâu cá ngon thì làm cỗ ăn chơi, đấy là tục lệ từ thời các cụ ta ở bến Bỏi.

Những cây đình liệu tiếp nối rừng rực sáng chưng một khúc sông. Hầu như mỗi thuyền là một lò võ, một môn võ khác nhau, lúc chặp tối thì múa võ, khuya thì đấu, sau cùng đánh trung bình tiên. Mắt người xem đã lóa rượu, thấy đâm thấy gạt như múa hoa, không nhìn ra đấy là cây roi tre, cái sào chống hay chiếc bê chèo. Bây giờ mới thấy bác Bỏi ra võ thượng thặng, cả bốn ngọn roi chúc lại, bác cả gạt ngang hết ra rồi đâm sang vun vút.

Đình liệu tàn, các tay quyền tay roi nằm lăn lóc ra sàn ngáy pho pho. Trắt vui như minh cũng được là người các vạn đi đánh cá tiến về hội võ, rồi Trắt cũng nằm ngủ ngay trên ván thuyền.

Sáng sớm, bác Bỏi cho người ra lay Trắt dậy. Nhà chài thức khuya mấy cũng quen dậy sớm. Bác Bỏi hỏi :
- Có việc gì nào?

Trắt kể tình đầu.

Nghe xong, bác Bỏi chỉ nói: “Chẳng cứu chúng mày thì cứu người khác, không phải ơn huệ đâu!”Rồi bác ngồi yên, mặt lạnh không động râu, không nhếch mép, cũng không hỏi thêm câu nào. Bác Cả bảo người nhà thuyền dọn rượu sớm. Rồi bác bảo Trắt :
- Ăn cơm sớm rồi về cho kịp, kẻo tối.
Trắt mạnh dạn :
- Chúng con định làm thế, bố bảo sao?
- Đã định thế thì cứ thế mà làm.

Cả thuyền đã xong bữa sáng. Bác Cả im lặng, nhưng dường như bác vẫn nghĩ cả lúc Trắt kể lể, bây giờ bác mới nói một mạch :
- Giá năm trước mà cụ huấn Cao kéo quân qua Bỏi thế nào tao cũng lên với cụ rồi. Tao vẫn còn tiếc. Bây giờ giúp môn sinh rửa thù cho cụ, thế cũng như tao được làm quân của cụ. Có phúc mới được theo việc nghĩa trời đất chứng giám này. Anh em mày đã bàn, mưu chúng mày thì chúng mày làm, tao có nghĩ ra đâu mà tao được như chúng mày. Bây giờ chỉ còn ở cái trí, cái gan. Hãy nhớ, không được trệch sự hẹn, việc quân không sai một bước chân, biết chưa. Hẹn sao giữ hệt thế. Ngày nào chúng mày vào nhà lãnh Quang thì tao khắc biết, khỏi phải báo lại. Cứ ngày ấy, ngày ấy, lúc chặp tối, người của tao vào trói cả nhà lãnh Quang, gắn sơn vào mồm, không đứa nào kêu được một tiếng. Chúng mày bắt sống thằng lãnh Quang hay xách cái đầu nó ra bến Đá thì tùy cơ ứng biến. Bấy giờ đã sẵn thuyền đợi ở bến Đá. Được chưa?
Trắt cũng thấy rõ ràng không thể hỏi được hơn.
- Vâng, lạy bác.


* * * * *


Mặt trời lên ngọn tre, Trắt đã ra thuyền, vẫn chiếc nan câu hôm trước đưa Trắt đến. Như cái nan hòm ấy đã cố tình qua bãi chỗ Trắt đợi chứ không phải hấc lờ. Trắt biết mọi việc bác Cả ngồi đấy mà đã sắp đặt trước sau đầy đủ. Bác ấy như có con mắt đằng sau gáy. Trắt định hỏi anh thuyền câu có phải thế, lại hỏi có phải anh đã ngồi đình Hàng Hòm, anh đã biết mặt tôi. Nhưng Trắt không dám tò mò. Bấy giờ những thuyền tụ tập thâu đêm đã tản đi nhiều nhưng vẫn còn một đám dưới gốc sung xanh lưa thưa. Có khi chiều nay lại tụ hội, lại đấu võ như đêm qua. Chưa tan hội cá tiến mà.

Người chèo nan nói như biết được cái nghĩ của Trắt.
- Còn đấu nữa, mấy đêm rồi vẫn chưa ngã ngũ thuyền nào giật được giải.
- Chén hết cá tiến mới tan hội?
- Có năm còn lâu hơn. Giật hết giải mới thôi, bảo là cái hèm thế. Càng lâu mới hết giải là càng lắm trai tráng mạnh khỏe, là điềm được mùa.
Người ấy cười :
- Cả đời, ở sông nước, mong trên đồng được mùa lúa mới có hạt gạo thổi cơm.
- Sao lại có tiếng tướng cướp bến Bỏi?
- Cái tiếng ấy cũng phải. Thiên hạ sợ vạn Bỏi như sợ thành hoàng làng, mới nên cái tiếng dữ dội thế.
- Bác nói như sao?
- Như bác Cả bảo ông sáng nay đấy. Nói thẳng ra bận gì mà bác Cả phải ra tay. Có thế phải không?

Những thuyền lưới đương tấp nập từng quãng sông. Đôi lúc gió lớn như bão cạn thổi cát lẫn phù sa đỏ ngùn ngụt bốc lên ngang trời, những chiếc thuyền qua lại mơ hồ như trong mây. Tiếng gõ cá, tiếng mái chèo va mạn thuyền tiếng chài quăng roàn roạt, nghe văng vẳng trong thinh không. Gió cát và dòng nước nhuộm trời đất đỏ lừ.
Trắt rụt rè hỏi :
- Phải cái đêm anh em cứu tôi ở nhà đội Quang, bác cũng ở đình Hàng Hòm?

Người chở nan cười, không nói.

Trắt về đến thì Cõi ở bên làng cuối đìa nước cũng vừa về. Quả là học thêm được mánh nghề của cụ phó mộc - những ngón hiểm chơi khăm khi hiệp thợ dựng kèo cột các nhà giàu độc ác, bủn xỉn. Nhà hờ, cột hờ, cũi hờ, cụ phó đã bảo ban cho.

Thấy Cõi, Trắt reo lên :
- Bác Cả cho cái hẹn rồi. .

Có đến mấy phiên chợ, Cõi và Trắt lúi húi các bụi chọn những cây tre chết róc rắn chắc, lại cả tre non về hun khói giả tre già. Bốn cột cọc cũi chắc như gỗ lim, cứng như sắt, mỗi đòn nan bằng ống tay. Các nút chặt chẽ không lay được, lại nức chằng sợi mây. Con hổ, con trâu ném vào cũi này, có quạy đến rời sống tưng cũng đến chịu chết nằm co. Chỉ riêng người thợ cả nắm được ngóc ngách của cái cũi bề ngoài vững như cột đình. Cái thằng nằm trong cũi đã tường chỗ hiểm, giựt một nút lạt mây, cả cái cũi lập tức toang từng mảnh. Quả là phàm thợ ngõa, thợ mộc giỏi đểu có đòn phép. Gia chủ không được lòng thợ, cả đời phải vận áo xám vậy.

Nửa đêm, hai người đã bật dậy hì hục làm. Bấy giờ chỉ bào, chỉ tiện vì đêm hôm khuya khoắt, còn đồ nghề tràng đục thì làm vào buổi trưa, khi hàng xóm đã ra đồng, đi chợ, xuống bến. Trắt đã nằm vào cũi, giựt thử. Cả mấy lần, cái cũi đương bề thế phút chốc rụng rời ra. Mà chưa yên tâm, lại chính Cõi chui vào, đến lúc Cõi dạy Trắt đẩy nhanh thoăn thoắt thuận cả tay phải, tay trái, mới được bằng lòng.
Có điều Cõi áy náy, nhưng nói ra e Trắt cản, gạt đi. Nhưng rồi cũng phải thổ lộ rồi mới yên mà làm.
- Cái con mẹ mồm loa mép giải nhà tôi, chú ạ.
- Anh bảo thế nào?
- Thế là đằng nào nó cũng đã biết. Phải thịt nó đi, mới bịt được mồm nó.
- Ấy chết!
- Không có, nhỡ một cái, mình chưa động tình mà cả hàng tổng đã biết thì nước lã ra sông. Chẳng những công cốc mà có khi mình mất mạng.
- Tôi đã nói bác nên khuyên bảo. Một ngày nên nghĩa, thầy cô, cũng như cha mẹ, con cái phải báo đền, nói thế chắc bác ấy phải nghe ra.
- Biết thì nó vẫn biết, tôi đã nói, nhưng nó trống mồm lại cục tính.
- Nhưng mà đánh chết người thì không nên.

Rồi bẵng đi ít hôm. Cõi bảo Trắt :
- Nghĩ ra rồi, khi đi thì ta trói nó lại, bảo trước nó vậy, làm thế nào đến hôm nó cởi được thì việc ta đã xong.
Trắt ngần ngừ :
- Tùy bác.

Tùy Cõi, chứ Trắt biết tính sao. Vợ chồng mới biết nhau và chỉ Cõi mới làm được thế. Cái trái tính trái nết là những đối xử với nhau, lúc mặt nặng lúc mặt nhẹ, Cõi nói quá đi vậy chứ không đến nỗi Cõi ngờ ả có ý phản phúc, nhưng cái thói ba hoa nói hóng nói hớt lại hay nói dối vặt thì có thể khốn đấy. ừ đem trói nó ra ngoài xó vườn, bảo nó rằng làm thế cho hết nhẽ, nhỡ xảy ra điều không may, quân quan về tra soát mà thấy nó bị trói, giẻ nhét vào mồm, ắt người ta cho là vô tội, không liên lụy. Nói trước với nó thế, cho nó nghe ra.

Ngày ấy, ngày ấy đã ước với bến Bỏi. Cơ chừng đã xong xuôi cả. Trắt đã nói, ta cứ khởi sự, thế nào các ông ấy cũng biết, lại hẹn giờ giấc, như đinh đóng cột.

Bây giờ đến việc tung tin. Thổi hé ra cho người làng đi chợ, phao rằng nhà Cõi đã bắt được thằng kẻ cướp vào nhà ông lãnh Quang trốn về đây. Nó bị nhà Cõi gô cổ lại rồi. Tóm được đứa có tội tày đình phải truy nã thì được thưởng to, phen này nhà Cõi lên voi ngồi kiệu rồi. Câu chuyện kín đáo ghê thế, chỉ rỉ tai, đã loang ngay, càng được thêm thắt ly kỳ hơn.

Thằng bán dầu kẻ cướp ấy đã mấy lần vào rình nhà ông lãnh Quang. Nó biết ông lãnh Quang mới chém giáo thụ Cao nổi giặc, ở phủ Quảng, được thăng chức, được thưởng hàng chum bạc, lại được đổi ngay về Kẻ Chợ. Cả Kẻ Chợ đã ca dao chuyện nhà lãnh Quang làm tiệc khao, ăn cỗ, xem hát ròng rã mấy phiên chợ liền, khách tận Sơn Tây xuống nườm nượp. Nhà ấy thăng quan được về Kẻ Chợ mà. Chẳng phải chỉ vài chum tiền đâu mà cả cây bạc, cây vàng nữa. Thằng bán dầu mới hóa ra thằng kẻ cướp gan liền. Nhưng nó chưa tính hết nước. Lãnh Quang còn cao mưu hơn. Lọt vào mấy lần mà không quơ được cái váy rách, không dắt được một con trâu, lại còn suýt cụt đầu.

Thằng kẻ cướp trốn được sang sông toan lập bọn định làm mẻ nữa. Bị nhà Cõi vờ theo, đổ cho một trận rượu, thế là trói nghiến được. Phen này thì vợ chồng nhà thằng Cõi kiết xác sắp được ngồi vắt chân chữ ngũ, vuốt râu xốc váy mà ăn mấy đời chưa hết của.

Câu chuyện đồn, được bàn tán râu ria thêm mãi. Trói rồi, đóng cũi rồi, đợi quan trên về giải đi thôi. Nhà Cõi đương gọi người khỏe, táo tợn đến vác thằng kẻ cướp sang Kẻ Chợ để lĩnh thưởng cho nhanh. Có mấy đám đến xin việc bị Cõi chê ỏng eo là: “Ốm đói sắp chết”, thằng tù này dữ hơn ông ba mươi. Cái giả thổi đi, những người thật đến hỏi. Có người thợ cày lực lưỡng, bác Cõi bĩu môi: “Ngữ mày chưa khiêng nổi cái cũi qua bờ ao làng”, rồi xua ra. Chuyện bịa, chuyện thật cứ tung lên thế.

Những đồn thổi xuống sông, sang chợ, mắm muối thêm mãi. Đến đỗi rồi người ta quá sợ, nhìn chỗ nào cũng thấy cướp, chỉ dám thầm thì sau bức vách, trong cột hàng nước, nấp vào cái mành mành buông sụp xuống, nhưng như thế cái hãi hùng lại càng lan nhanh. Cũng chỉ ghé tai, thật cũng chưa ai tò mò lởn vởn đến nhà Cõi xem thế nào. Cái nhà bác Cõi mưu mẹo tài ba nhường mấy mà lôi được quỷ sứ dưới địa ngục lên nhốt vào cũi. Xóm nhà Cõi rồi vắng teo, khác lệ thường trong làng, động một mảy, đám cãi nhau, người say rượu, người trẫm mình, con trâu chết, cứ lũ lượt kéo đi qua, kéo đến xem. Đằng này, bề ngoài dửng dưng như không, nhưng là sợ.

Mụ Cõi te tái hớt hải ngoài chợ về. Mụ nói bô bô từ cổng tán :
- Cả chợ người ta nói dăng dăng nhà này sắp làm giặc, nuôi giặc chết lây đến cả con mẹ này đây, chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào.
Cõi ngọt nhạt :
- Có gì đâu, nhà mày biết cả rồi. Cái cũi kia kìa...
- Nó đồn các người định đi chọc tiết những ai... những ai... Đã bảo đừng dại...
- Nhà mày dại thì mới nói thế.
- Các người ăn phải bùa mê bả dột thì có. Rước cái cũi về... rồi thế này, thế này... Một đống tiền của chú ấy đấy, ở yên mà chén chú chén anh nào.
- Chớ dông dài. Kín tiếng cái đã. Hôm nào đáo sự tôi sẽ nói cho mà nghe.
- Chẳng nghe đứa nào. Cái hầu bao ấy, đưa đây không thì chẳng mấy lúc mà hết tong.
- Hôm nọ, chú ấy đã bảo thế.
- Hừm, sao chưa đưa. Đến phải đi báo quan cho trắng mắt ra rồi mới đưa chắc?
Cõi nổi cáu :
- Mày mà nho nhoe, ông chặt cổ.
- Rõ ở dưng không lành, ăn cơm không ăn, ăn...

Có lúc, Cõi cũng toan nhỏ to bàn bạc với ả, như đã định thế. Nhưng Cõi không chịu được ả nói bẳn mà ả thì mở miệng lại xẵng lời. Đáng lẽ bàn chuyện cái hầu bao tiền, Cõi lại xông vào ục tới tấp. Mụ Cõi cấu xé lại, khóc hu hu. Lúc ấy Trắt đi đâu vắng.

Một hôm, một cơ lính - chưa vào đến nơi đã có người chạy về báo lính quan tổng đốc ngoài Kẻ Chợ, đã tràn cả trên đê. Khắp cả làng nháo nhác sợ đên đỗi như những cái mắt tre cũng phải giương mắt ra như mắt người. Hơn ba mươi người lính, áo nâu dài, thắt lưng bo que, vác súng vác dáo, có ông suất đội cưỡi ngựa đeo thanh gươm - thật đấy là con dao bảy nước sơn then bọc vỏ đã tróc nham nhở mặt gỗ. Ngoài sông, gió cát đỏ xẫm lên cả cánh đồng, bụi lấm vó ngựa và chân người. Mấy cô con gái đi cấy chiêm không dám tiếc rẻ cắm rốn nốt tay mạ, hớt hải chạy núp vào bờ tre.

Bọn lính đến nhà lý trưởng, nhưng cả trương phiên khán thủ và tuần đinh cũng trốn tiệt từ bao giờ. Bao nhiêu năm lụt lội, loạn lạc, không biết cánh nào là kẻ cướp, là quân quan, chẳng đâu còn ra lệ luật, thể thống. Huống chi lại từ khi bên Sủi bị triệt hạ, đã thấy nhãn tiền. Cứ nghe có lính, thế là chẳng biết sao, hãy chạy đã. Các chánh lý, cụ tế chủ, cụ từ giữ đền cũng mất tăm. Con trâu, con chó theo người, cả xóm không một tiếng chó sủa, tiếng nghé ọ. Có lẽ chỉ còn mỗi nhà Cõi ở lại.

Không biết đâu đã mách, lính xồng xộc vào thẳng nhà Cõi. Người người hốc hác, từ mặt xuống hai ống chân, đỏ xạm, loang lổ từng tảng cát rơi xuống. Ai nấy đói vàng mắt, lã người ra rồi, không lê bước được nữa. Ông suất đội cũng mặc cái áo nâu da bò, khác lính có dải thắt lưng điều bạc nhờ nhệch, đầu quấn vòng khăn lượt che cái búi tó. Ông vẫn ngồi trên ngựa, nhưng trông cũng khướt lắm. Con ngựa còm nhom, lưng trần, cái yên lót bằng mảnh mo cau, với hai dẻ thừng làm cương. Chẳng biết bắt được ngựa làng nào, hay vì phải đi ngoắt ngéo nhiều xóm tìm người tìm chỗ, con ngựa thở phì phì, mõm rớt rãi rỏ giọt.
Ông suất đội cất tiếng đói thuốc phiện khàn khàn :
- Ới ới! Đinh Ất, đinh Giáp, đinh Bính, nhà này nhà đinh nào? Có đứa nào ở nhà không?
Cõi chạy ra, hai tay chắp lòng khòng.
- Bẩm con là đinh Cõi.
- A, mày là thằng Cõi.
- Con là thằng Cõi.
- Có lệnh về hạch tội đinh Cõi cho ra nhẽ. Phải mày là thằng Cõi?
- Bẩm quan...
- Quan đem lệnh trên truy nã thằng bán dầu có tội cướp nhà quan. Có phải mày chứa chấp thằng bán dầu?
- Con không biết thằng bán dầu nào. Con chỉ biết con bắt được một thằng ăn cướp. Mời quan vào nhận diện nó.

Suất đội quay đầu lại. Những người lính đương đứng, ngồi xổm lố nhố, chống cái mác, khẩu súng dài ngoẵng, ai cũng còn khượt ra hơn thế. Cũng chưa ai biết mặt mũi thằng bán dầu, thằng kẻ cướp thế nào.
- Trói đinh Cõi lại. Quân ta đóng lại ở nhà nó, nhà nó đây rồi.

Thấy bảo “nhà nó đây, đóng lại”, cả lũ sướng ngã ngồi ra. Cố quá rồi, cái xương sống không còn sức đỡ được cái lưng nữa. Có người rút cuộn dây mây quàng ở cổ con ngựa ra.
- Ô hay, sao các quan trói tôi?
- Trói cho nghiêm lệnh, rồi mới tra hỏi. Mày chưa biết cửa quan bao giờ a?

Người lính đương trói tay Cõi, rỉ tai :
- Bảo chạy thuốc phiện về cho quan thì mày được nới tay. Mau lên.
Ông suất đội lại hét :
- Tên Cõi!
- Dạ.
- Quan nghỉ ở nhà mày. Quân đóng ở nhà mày. Cơm rượu, thuốc hút bưng ra. Không có thì chúng mày giải nó đi tìm...
- Bẩm mấy phiên chợ rồi con ở nhà canh tù, con phải nhịn đói. Làng này sợ có giặc, sợ các quan về. Chạy hết cả rồi.
- Làm cái thòng lọng, buộc cổ đinh Cõi lại, giải đi tìm người về.

Chẳng ai nhúc nhích. Một người xách con dao vào.
- Cho chúng con đem cắt tiết thằng này thì mới ra được rượu thịt.

Cái lệ quan quân đi việc công ở đâu cũng bắt đầu dọa một vài câu từa tựa thế thì rồi mới tòi cơm rượu ra được. Cõi quì xuống vái ông suất đội. Rồi cứ hai tay bị trói, Cõi lật đật ra ngõ.
- Thằng kia định trốn à?
- Tôi đi réo vợ tôi về tìm rượu, tìm thuốc cho các quan. Nó biết các chỗ người ta trốn.
Ông suất đội nói :
- Không được cho đàn bà làm việc quan. Mà đinh Cõi, mày phải đứng yên, quan hỏi đã. Thằng kẻ cướp bán dầu đâu? Có mấy đứa?
- Có mỗi nó. Con đã cũi nó đằng sau nhà.
- Đem ra đây.

Cõi dẫn bọn lính ra sau nhà. Ngoài vườn, dưới gốc cây ổi, cái cũi cao lù lù như cái bẫy hổ, bốn chân lênh khênh bằng cây vầu đực. Ở trong, một người cởi trần nằm ngửa, đóng chiếc khố một, mình mẩy thâm tím bê bết bùn, một bên bắp đùi buộc cái bẹ chuối. Tưởng như con hổ mắc bẫy. Lại trông ra mảnh vườn hoang, cỏ tranh mọc lút đầu, ngỡ là vẫn có cánh cướp nấp trong ấy cả bọn hoảng hốt khiêng vội cái cũi ra sân trước.
- Làm sao chân nó phải bọc thế kia?
- Bẩm phải đánh nhau tợn mới bắt được nó. Tôi đâm một mũi thùng lùng. Không biết nó có gãy xương đùi hay không, nhưng máu nó ra nhiều quá, nhỡ nó mà chết thì tôi buột mất tiền thưởng, tôi phải lấy bẹ chuối buộc cho nó cầm máu lại.

Câu rỉ tai lúc nãy của người lính mà đúng, ông suất đội dịu giọng, nói khác :
- Thế là được. Bây giờ cho hai thằng dẫn nó đi gọi vợ con nó về.

Cõi ra đầu ngõ, gọi ới ới một lúc, chẳng thấy bóng mụ vợ đâu. Nó trốn chỗ nào, chẳng biết. Thế là cái việc định trói nó một chỗ chưa biết ra sao. Mà cũng chẳng biết rõ hôm nay hay mai bọn lính mới về Kẻ Chợ. Thường thế này, quân quan còn nằm hạch sách. Cõi ngước nhìn trời, mai hay hôm nay sao cho sang đến Kẻ Chợ hôm này thì vừa nhọ mặt người, cái hẹn của bác Cả lúc chập choạng tối mà.

Hai người lính lại lôi Cõi vào. Đã thấy một lũ, ông khán thủ với bọn tuần phiên lố nhố trong ngõ. Biết lính về bắt thằng kẻ cướp ở nhà Cõi thì các chức sự trong làng lại mò ra. Chẳng phải vì mẫn cán, đợi việc, mà ai cũng đều thuộc trò vè về để ghé gẩm, ăn ghẹ. Cứ rêu rao không có, chết đói đến nơi, đi ăn mày cả làng rồi. Nhưng làng bỏ hoang thì người ta đốt làng mất. Ông lý lại sai gõ vào mỗi đinh, rồi cũng biện được đủ. Người đến làm cỗ, đến chực ăn cỗ, người vào xem, chen chúc đông dần. Những người lính xúc xạo đi các nhà bắt lợn. Thoáng thấy trong chuồng hay ở xó vườn có lợn, bọn ấy nhanh như chớp, đuổi túm hai cẳng sau, xách ngược lên. Tiếng lợn eng éc vang động. Những con chó nghe lợn kêu, chạy mất dạng. Rồi chẳng mấy lúc, đã đủ các thứ, gạo nếp thổi xôi, cả liên muối còn rượu thì từng hũ sành, lại bàn đèn và những cóng những ngao thuốc phiện. Chỉ không có khách khứa dập dìu, còn thì chẳng khác đám khao vọng quan cửu, quan bát hàng tổng. Hôm nào tính tráng kéo đi rồi, phờ phạc đến cả những cây rơm, bụi tre.

Ông suất đội đã nằm dài bên bàn đèn, quên cả hạch cái thằng Cõi lúc nãy nói láo là cả làng trốn tiệt. Chưa đủ mâm đã ngả. Ở lại hôm nay, hay còn mấy ngày nữa. Cuộc chén lu bù đến chặp tối, rồi cả đêm. Việc khẩn, ông suất đội cũng không dám dùng dắng, hôm sau, làm bữa sáng xong quân quan trảy. Tuần đinh, trai tráng được ăn ké nhưng cũng một phen khó nhọc, phục dịch rồi lại phải khiêng cũi tù ra tận bờ sông. Cõi cũng bị trói tay, thêm cái gông ở cổ rồi đẩy theo xuống thuyền.

Cái cũi thằng tù buộc gò bốn cọc giữa chiếc thuyền tam bản. Có lính canh bốn phía. Một chiếc nan kéo con ngựa của ông suất đội bơi theo. Một lúc, con ngựa sặc nước, giằng đứt thừng. Ngựa chìm vào làn sóng, không biết nó bơi được hay chết đuối đâu. Chỉ có ông suất đội trên nan, ngẩn ngơ nhìn theo. Cõi cũng phải ngồi ngay cạnh cũi. Hai tay trói, cái gông sáu khấc đóng khít cổ, gần tắc thở.

Chẳng sốt ruột sớm tối nữa. Có lo cũng bằng khống, cốt sao về được Kẻ Chợ lúc chặp tối, mà liệu. Mặt trời mới xế đỉnh đầu, đã vàng vàng chiều. Những năm ấy, vào mùa này, gió đùng đùng như bão cát. Trời đất vẩn vụ đỏ lừng lững. Đoàn thuyền rào rạt trôi theo dòng. Tưởng như sắp tối, thế là trong bụng lại như có lửa đốt.

Đám lính dưới các thuyền lên, xúm xít như đàn kiến tha mồi, bò về dinh ông lãnh Quang. Cái cũi khênh cao giữa bọn, đằng sau một dây thừng đay lôi theo một người cởi trần, gông đóng sáu then, những tay tre mới đẵn còn xanh ngắt. Đám rước lạ mắt, kinh hãi đến thế những người đi chợ chiều cũng chẳng ai dám ngước mắt, cả gồng gánh tránh dạt ra ven đường. Lơ láo rồi biết thế nào, nhỡ cái thì chỉ có oan gia. Ngày nào ở Kẻ Chợ chẳng có đám đánh người, giết người, những cũi, những rọ, những tù dây gông đóng tróng mạng, từ trong thành ra, dưới sông lên và ở các cổng nhà quan lãnh, quan chưỏng đem đi trôi sông, đem chôn sống, đem vùi xác ngoài tha ma.

Án này đưa về xử giữa sân nhà quan lãnh. Bấy giờ chưa hẳn tối. Cái sân gạch bát tràng đỏ xẫm như máu khô, thoạt nhìn đã hãi. Dinh cơ vẫn thế, nhưng chằng chịt thêm những búi chông trà, những quãng hào được đào rộng ra. Trên mặt nước, không biết vì mưa rào cá rạch, hàng đàn rô, trê lúc nhúc ngoi lên ăn nổi như tép nhảy ngoài sông Tô Lịch, ở mỗi góc cất lên một cái lều vó. Từng bọn lính vừa canh gác vừa kéo cá, kiếm cái ăn cái để. Lính ở nhà này vừa gánh việc quan, vừa cày cuốc, đánh cá. Người nào cũng vậy, cả hạn ở lính, các nhà các làng cứ từng vụ theo lệ, quảy thóc, đeo xống áo chăn chiếu lên đóng lương lính thì quản gia nhà quan nhận đem cất vào kho. Không ai được biết mặt lương xoạn của làng, của nhà nộp thế nào. Ông lãnh coi đấy là bổng nhà quan, còn lính thì cày ruộng, làm vườn, nấu nước mắm cáy “được quan cho kiếm lấy mà ăn, sướng ưỡn lưng ra rồi” quan lãnh bảo thế, chẳng ai dám ho he.

Cái sân lên nhà trên trước kia sân đất, lát gạch xong thì vừa dịp tiệc khao. Lên quan lãnh rồi quan chưởng, quan bố đến nơi, như sân đình làng, chẳng khác công đường dinh tổng trấn, tổng đốc. Ở giữa uy nghi án thư sơn son thếp vàng, hai bên giá cắm hươm vàng bát bửu. Đằng kia, một đống cùm, xích, bàn tra gông, gậy song, thừng đay, dây mây trói... Người có việc vào đi nem nép, những viên gạch xẫm gan gà rợn cả mắt.

Đã chiều rồi mà người đầy sân, đám này quan trọng quan xử gấp đây. Mấy người xách những đĩa dầu ra treo sẵn dọc hiên, sắp tối đến nơi, Cõi bỗng dưng đỡ nóng ruột, mà lại mong ngóng, lo lo. Bọn lính điếu đóm, lính canh, lính chạy thư đã ngồi đứng trực quanh. Ông lục khăn lượt quấn gấp nếp áo dài the trong lót áo lụa bạch, không biết cái quản bút tháp bút hay cái xiên giữ búi tóc cài trên gáy, các ông đã ra ngồi sau án thư làm vì, bên sập ông chánh lãnh binh. Trên sập đầu hè trải chiếu hoa, ông lãnh áo nhiễu cẩm, xếp bằng tròn bệ vệ. Một người lính cắp cái điếu ống khảm, xe trúc cong vắt đặt xuống. Một lính khác đứng nghiêm, cầm cái quạt lông, chốc lại phảy làm phép một cái.

Lãnh Quang khệnh khạng xuống sân, bước lại, nhìn cái cũi, cười khà khà rồi nói :
- Thằng bán dầu, tao tưởng mày trốn lên giời rồi. Lần này thì mày lên giời thật, con ơi!

Lãnh Quang đứng ra trước mặt Cõi, thản nhiên hỏi một câu rùng rợn :
- Mày nhìn xem tao tháo cũi có đúng cái mộng của mày không?

Lãnh Quang xoe ống tay áo đến khuỷu, nắm hai cọc cũi, lay ngược một cái. Cả cái cũi vững chắc bỗng tung ra từng thanh. Y như hôm trước Cõi với Trắt đã kỳ khu lắp những cái mộc chệch. Việc xảy ra như chớp, Cõi hốt hoảng không kịp kinh ngạc. Cõi vẫn đứng đây, cái gông khoác vào chiếc cọc tre, chẹt hai con mắt trố ra xanh lè mắt mèo trước cái cũi vỡ.

Lãnh Quang lủi lên thềm, hét dồn dập :
- Chặt chân, chặt đến ngang bẹn, bắt nó hóa ra con ếch nhảy chồm chồm cho ông xem.

Trắt đã choàng dậy. Nhưng những ngọn xà mâu dằn Trắt ra. Hai nút thừng trói cổ tay Trắt buộc mẹo đã đứt tung. Mảnh bẹ chuối tuột hết, Trắt lại chồm lên chộp cái chuôi con dao bầu. Vừa lúc, cả chục mũi dáo đâm xọc vào hai vế đùi. Trắt lại ngã ngửa xuống, máu phun ồng ộc ra như nước cống. Đã đứng sẵn, một người lính vung cái rìu. Hai vế đùi đứt đỏi, cái đầu gối quắp lại, hai bàn chân giãy như đuôi con thạch sùng đứt. Trắt lăn lộn trong vũng máu, trên các mảnh cũi vỡ.

Lãnh Quang ra lệnh từng câu như từng nhát búa.
- Cho nó mấy mũi giáo vào cổ. Quấn chiếu lại, khiêng ra ngoài tha ma. Đâm cho nó chết hẳn rồi mới chôn.

Các hiệu lệnh răm rắp như đã định đâu vào đấy. Cái chiếu mộc trải sẵn trên sân, Trắt bị hất lăn vào đấy. Bọn lính xúm lại, buộc túm hai đầu. Rồi cứ thế, thằng đâm vào chiếu, như đánh cồng, hai thằng khiêng ra cổng. Rơi xuống những thanh củi, một bên căng chân thò ra lỗ chiếu thủng, máu chảy đỏ đòng đọc.
Chiếc chiếu bó người chết đã đem đi khuất rồi, cả cái sân như còn khiếp đảm. Mới vàng mặt trời mà những người lính đã bật bùi nhùi đi châm bấc các đĩa dầu.
Không biết chúng nó luống cuống quên cả, hay cái lệ ông lãnh làm việc quan buổi chiều phải lên đèn sớm thế.

Thấy ánh lửa, Cõi như tỉnh hơn. Cũng đã thành thói tục, chiều đến thì gia nhân dọn mâm rượu ra đặt giữa sập. Khuỷu tay lãnh Quang vẫn xắn như lúc nãy bây giờ chống lên mặt chiếc gối xếp da bò thuộc, tay nâng chén rượu.
- Thằng kia, quỳ, quỳ xuống!

Cõi vẫn đứng trơ. Cõi chỉ cong chân lại, cũng không bỏ chân được. Cái gông tre kéo cổ lên, cổ khò khè như sắp tắt.
- Bướng, không quỳ hả?

Lãnh Quang cầm cái tay thước, rướn người ra, quật vào đầu gối Cõi. Cõi vẫn không nhúc nhích. Lãnh Quang mới nhận ra.
- À thế thì cho mày bình thân.
Rồi lãnh Quang hỏi :
- Tên mày là Mỗ, là Giáp, là Ất...
Mắt Cõi vẫn trợn.
- Những đứa nào xui chúng mày đi giết tao? Đứa nào?
Bè đảng giặc Quát còn bao nhiêu tên, chúng nó ẩn náu, trốn tránh những đâu, khai ra.

Không phải lãnh Quang chỉ cáu tiết mà bực quá đến lú lẫn. Không trông thấy cái gông xiết như treo cả hai con mắt Cõi lên, không chớp được. Lãnh Quang lè nhè, cảu nhảu :
- À.... bè đảng giặc Quát sai chúng mày về cắt đầu tao...

Cõi nhìn như cứng mắt lại, không chớp. “Ra gan mấy thì rồi mày cũng toi thôi, con ạ”. Lãnh Quang làu bàu. Rồi ngoảnh mặt, hét to :
- Con nặc nô đâu, ra quan thưởng.

Mụ Cõi ở trong sân bước ra. Đúng mụ Cõi, vẫn bước lanh chanh, cẳng dài sắp xoạc váy, như mọi khi ở nhà. Cái váy đụp dày mo nang nhuộm vỏ dà đã bạc màu. Vẫn cái váy ấy. Bàn chân to như bàn cuốc đi vớt bèo thuê cho người ta nuôi lợn, không cần giã, chân chỉ vò mấy nhát, bèo đã nát như tương đâm. Mụ thế kia, mà Cõi ngỡ không phải. Hai mắt Cõi vẫn không cúp xuống được nhưng mặt Cõi xám như nhuộm chàm. Cơ sự này tưởng không bao giờ ra thế, mà ra thế. Thật mụ không?

Không biết lãnh Quang đã nguôi ngoai cạn mấy chén rượu rồi, lão nhẹ nhàng hỏi :
- Phải đinh Cõi chồng mày không?
- Bẩm quan, phải.
- Nó câm hả?
- Mọi khi nó vẫn chửi đánh con cả ngày.
Nghe tiếng the thé giọng đồng trũng mới biết đích con tuyệt tự ấy.
- Bẩm quan...
- Quan hỏi mới được nói.
- Bẩm... bẩm...
- Đứa nào xiên cho nó một mũi dao vào họng bắt nó im.

Lãnh Quang cầm cái gối gỗ mít to bằng cái tráp đen quăng thẳng vào mặt mụ Cõi. Máu mũi mụ tóe ra. Mụ khụy xuống, vái lia lịa :
- Bẩm...
- Câm ngay! Đứng lên.
Mụ đứng, chắp tay. Miệng rì rầm như thường ngày hay lẩm bẩm thế.
- Mày đã có công giết chồng thì bây giờ quan thưởng. Chúng mày đem một cái rọ ra đây.

Hai người lính bê cái rọ tre to cao bằng hai cái chũm úp cá cộp lại, đặt giữa sân.
- Quan thưởng cho mày được ngồi trong cái rọ này rồi bay đâu, đem nó đi trôi sông.
- Bẩm... bẩm...

Không biết mụ định nói câu gì, nhưng một tiếng lãnh Quang quát như sét đánh đã đóng đinh miệng mụ lại. Lập tức, những người lính quấn tóc mụ, ấn thốc cả người vào cái rọ rồi rút cái thừng buộc túm lại. Một chiếc đòn ống xiên qua mắt rọ, hai người khiêng bổng lên.
- Buộc đá! Buộc ở đây cho quan nhìn đã. Buộc đá cho nó chìm được mát mẻ ngay.

Mụ Cõi lên cơn hốt hoảng rồ dại. Mụ víu, hai bàn tay cứa vào nan rọ chảy máu lõa lợi, mụ gào inh ỏi :
- Ối giời ôi, sao thế này, sao thế này...

Cái rọ đã ra khỏi cổng. Những người lấp ló ngoài bức tường đất, các gia nhân đầy tớ vẫn hay ra xem xử kiện, bỗng chạy sạch. Không biết người ta sợ kẻ phải đi chết hay họ đã táo gan đuổi theo ra bến xem bỏ xuống sông cái rọ con quạ mổ.

Trong sân, vẫn mọi người chức việc như lúc nãy, nhưng im vắng hồ như con dơi bay qua cũng nghe tiếng gió cánh. Mắt Cõi vẫn trợn ngược thế. Đầu gối Cõi rúm cong lên như người chết treo. Nhưng cái góc gông vẫn ngáng vào cọc. Tiếng thở hắt dồn dập, cặt cặt.

Tưởng nốc rượu nhiều thế đã làm lãnh Quang say khướt thế mà vẫn tỉnh. Mới nhìn ra, không phải nó hỗn, Không phải nó câm. Cái gông đương thít cổ lại, thằng tù chết đến nơi. Lãnh Quang quắc mắt :
- Hạ gông xuống cho nó thở!
Rồi lại nhớ ra.
- Đứa nào gông nó?
Suất đội lập cập :
- Bẩm...
- Ông suất hả? Lại đây.

Suất đội hí hửng tưởng sắp có thưởng.
- Ông gông nó nghẹt cổ thế thì đến bố ông cũng chết. Mà nó chết thì mày mang tội thay. Tao thử gông mày xem.

Lãnh Quang nhặt cái gông cạnh đấy quàng vào cổ suất đội, đã tụt cả giải khăn lượt xuống. Lãnh Quang đóng khấc chốt gông sâu nhất, chẹt cổ. Suất đội kêu ặc ặc như đứt lưỡi, lật đật quỳ mọp xuống.
Lãnh Quang cười hì hì :
- Mới dứ một cái mà đã vãi cứt ra quần rồi.

Lãnh Quang tháo bật cái chốt gông. Suất đội đứng dậy, thở hổn hển.

Lãnh Quang rót một chén tống rượu.
- Ông cũng đáng tội chết, cái tội để con ngựa chết đuối, nhưng hãy gác đấy. Thưởng cho ông suất một chén.
Một mình Lãnh Quang ngồi nhắm rượu. Chốc lại nghĩ ra một trò quỷ quái như vừa rồi. Lúc ấy, chẳng biết nắng nhạt vào đến giọt gianh hay ánh trăng non, hay dãy quang đèn đã sáng lung lay. Không! có việc cũng không ai dám nhúc nhích. Những mũi dáo, những mặt dao bảy sáng trắng. Mọi người phục dịch đã thuộc tính lão, chẳng cứ rượu vào mới thất thường. Có khi chỉ khác mắt, chỉ muốn nghe tiếng roi, lãnh Quang cũng bắt một thằng lính nằm thẳng cẳng, nọc ra đánh vun vút hàng chục roi. Không dám kêu, nếu lạy van thì còn quất cho đến phải cấm kêu rên mới thôi.

Lãnh Quang gật gù :
- Thằng kia!
Cõi đương ngồi sụp xuống từ lúc được tháo gông, nghe gọi, đứng câm như cái cột.
Lãnh Quang nói :
- Ừ, mày không phải cái giống phản phúc thì mày biết nghĩ. Tao cho mày hết đêm nay phải nghĩ cho ra bè đảng mày là những đứa nào, ở đâu. Sáng mai, ông cho bắc sẵn cái nồi ba mươi ở góc sân, mày mà không phun ra đủ ngọn ngành đầu đuôi thì ông xẻo thịt, ông luộc, ông nhắm rượu sớm. Mày nói thì sống, không nói thì chết, thế thôi. Hỏi chúng nó ở đây mà xem, ông đã nhắm tim, gan, bồ dục luộc, toàn những thứ bổ, đã bao nhiêu là thằng, ở cái sân này tao đã ăn thịt cả trăm thằng chứ không ít đâu. Bây giờ đến lượt mày. Nhớ đấy, cứ nhớ con vợ mày đem bán rẻ mày như bán con chó, tao đã giết nỏ như giết con chó, thì mày phải mang ơn tao.

Vừa tối, Cõi bị trói tay, dắt ra sau vườn - cái vườn nhốt tù của lãnh Quang. Ở đấy, sẵn một đống rọ. Cõi phải đẩy vào một cái, mỗi rọ đựng một tù, treo lên cành nhãn.

Trên cao lơ lửng, Cõi nằm vật xuống mặt nan. Người rời rã như sắp chết. Chốc chốc lại giật mình. Mọi việc một ngày hôm nay nhanh như bóng nắng, không kịp nhớ. Thế là Trắt chết rồi. Đáng nhẽ Cõi chết mới phải. Oan khuất quá! Ai biết đâu chữ ngờ. Tưởng nó chỉ là cái đứa ngồi lê đôi mách, cái tật to nhất chỉ là thèm ăn vặt. Thế mà mày đã bán cả tao hòng được miếng ngon. Lạy thầy, cũng tưởng ngày một ngày hai thế mà hóa ra mang lụy một đời.

Bối rối thế, quên cả cái hẹn. Mà nhớ cũng chẳng để làm gì. Trắt không còn nữa. Ai biết thằng Cõi. Mà bây giờ nằm trong cái lồng treo trên cây vườn hoang. Đành mai chết nốt thôi.

Ở trên chòi canh nghe tiếng trống rồi tiếng mõ báo vào thời khắc đêm hôm. Tiếng trống, tiếng mõ như vây bốn phía tường. Đàn dơi sà xuống lạt xạt trong vòm nhãn. Chưa phải mùa, nhãn còn xanh mắt mèo, đàn dơi đói sục quăng quả vào đêm như tối giữa rừng.
Mỗi khoảng trống canh, tiếng mõ khắc khoải, rời rạc. Dinh cơ ông lãnh Quang cũng chẳng khác doanh trại trong thành, lính võ sanh đi rẻo cẩn mật thâu đêm.
Mới dứt hai đợt mõ, các phường xung quanh đã im lặng như tờ. Rồi lần lượt, mõ sang canh, trống tàn canh. Những tiếng cầm canh trong thành và các dinh thự cũng đánh hiệu cho các phường, các làng xa gần. Người già thức giấc, đun nước uống theo tiếng mõ. Người chợ đường xa, người làm đồng dậy thổi cơm sớm, liệu mà nghe trống canh mấy.

Nhưng lạ, đêm ấy trong dinh lãnh Quang chỉ văng vẳng có một đợt mõ, rồi im. Thoạt đầu, phường xã chẳng để ý, vì cũng chưa đến nửa đèm, vả chăng tiếng trống tiếng mõ quanh năm suốt đời cũng quen tai như nghe con dê ri rỉ thâu đêm. Lúc ấy đã khuya, bỗng đằng dinh cơ nhà ông lãnh Quang bừng lên. Người chạy ra đầu nhà nhìn, không nghe tiếng nổ mắt nứa mắt vầu, không phải đám cháy. Nhưng mà cả hai tòa nhà ngói bát vần sáng rõ, các gờ tường, những chuôi vồ đấu mái. Chắc có đám cướp đã lọt vào dinh ông lãnh Quang. Vừa xử cướp chặp tối, bây giờ lại bị cướp Cướp quanh Kẻ Chợ ra vào như chợ không người chẳng biết trên đầu có ai. Cướp thật, cướp đã bật hồng rồi. Bùi nhùi lên cả trăm cây đuốc nỏ sáng như ban ngày. Nhưng bốn bên chưa nghe đâu nổi ngũ liên hiệu ốc, điệu tù và. Cứ băn khoăn mãi sao đuốc đóm sáng ra tận chân tre, mà tuyệt nhiên không một tiếng kêu gào, hò hét nhốn nháo, vẫn tiếng giun dế xung quanh than vãn ri rỉ như nước rãnh chảy.
Đấy chính đám cướp bến Bỏi đã đến theo hẹn của bác Cả với Trắt. Đông lắm, hầu như các tay chèo dưới vạn lên. Bác Cả bảo đêm nay ta xuống hạ thành mà. Một thành chứ mấy thành Kẻ Chợ cũng chỉ vài mồi lửa. Cái hẹn cứu nhau, một lời nói nặng như đá đeo, như ăn thề. Quả là người ngoài Bỏi đã vào được nhà lãnh Quang lúc nhập nhoạng tối. Cho quân vào lúc ấy cũng là ý tứ đã chín. Bấy giờ ngoài đường còn lác đác người, lại vào lúc đó, khó nhận. Các nhà hàng phố đương lên cửa, cổng phường sắp đóng, tuần tráng chưa cắt canh, các làng quanh đã ra họp chợ đuổi ngoài đầu ô. Người vào người ra, con trâu và gồng gánh, bó củi, rổ rau vào cổng làng. Dinh nhà lãnh Quang ngay đấy, nửa làng nửa phố, cũng nhộn nhịp trước cổng một quang cảnh ấy.

Những người bến Bỏi bất ngờ tỏa ra, rạt dần vào bốn phía bờ ô rô. Vào được trong cây rồi, người hóa con thằn lằn, con mối bò rướn chân dưới gốc cây rồi leo lên tường, rồi lại trở xuống nước bơi đứng qua hào. Ngườí đàng sông, ở nước còn thạo hơn đi trên bộ, qua mặt hào từng búi chông chà như lùm cây. Lướt nhẹ phơ con thuổng luồng, chẳng mũi chông nào bợn được vào mình. Những con dao và cây đình liệu bọc lá chuối giơ lên đầu, đẩy trước mặt. Cả mấy chục con người đã lọt vào quanh nhà.

Khi ấy đám xử đã xong, trên sân không còn ai.

Phút chốc, biến bong khắp nơi. Trên chòi canh, người lính đương giơ các dùi mõ, bị khóa tay trói vào cột lều. Miệng vừa há hốc đã bị một nắm bùi nhùi bẹ cọ luyện với một cục sơn then tống vào miệng, không đụng đậy được cả lưỡi. Các chòi canh trên tường, trên cổng đã cùng một lúc, im bặt. Trên gian chính giữa nhà, ở buồng toàn đàn bà con gái, xuống nhà ngang các gian bếp, gian lính, mấy chục con người đều phải trói như lợn, một miếng râu cọ sơn then trám vào tận họng. Những con chó ngao sợ mùi bả, nhưng lẩn không kịp. Trong xó luồn, gầm giường, ngoài bờ rào, đã bị tròng lọng bốn chân, chó giãy lên mấy cái, đã chết thè lưỡi. Chỉ phút chốc, một vùng im phăng phắc.

Nhưng tìm đâu cũng không thấy Trắt. Phá khóa cả dãy cửa kho, tường nhà giam, cũng không thấy. Khốn nỗi, chưa ai tường mặt lãnh Quang. Lại tối như hũ nút mà chưa dám động tay bật hồng. Mọi người xô ra giữa sân, bác Cả vẫn đứng đấy từ lúc mới vào, chỗ ấy nắm được động tĩnh nhà trên nhà dưới.
- Thấy thằng Trắt chưa?
- Không thấy.
- Bắt được lãnh Quang chưa?
- Chẳng biết đứa nào là lãnh Quang.
- Thế thì khốn rồi.
Bác Cả rít răng :
- Dẫn những đứa đã khóa mõm đi từng nhà.

Dường như đêm vẫn im ắng, nhưng trong đầu mỗi người thì căng như sợi thừng néo. Đêm càng tối càng thấp thỏm. Chốc chốc, mấy bóng người lại tất tả qua trước bác Cả.
- Bắt được chưa?

Những đứa đi nhận mặt vừa rập đầu lạy vừa lắc. Trông mẽ cũng chẳng đứa nào ra dáng thằng quan.
- Lại tìm nữa!
- Bác Cả cứ cho lệnh không chỉ ra mặt lãnh Quang thì chém hết cả nhà. Có thế mới được!
Bác Cả lắc đầu.
- Không được.
- Tối quá, sờ vào mặt cũng không biết!
Bác Cả nói :
- Bật hồng lên. Bắt được thì giải ngay thằng lãnh Quang về đây.
Rồi chợt nhớ :
- Tìm cho được thằng Trắt!

Trong dinh lãnh Quang lúc nãy sáng bốn phía, là như thế.

Những người bị trói lại phải lôi đi nhận mặt. Nhưng ai cũng chỉ lắc đầu. Vào các buồng vợ cả vợ bé, đến cả chục người đàn bà cũng cúi đầu lạy, đổ nước mắt ra. Lại khua ngọn dáo vào xó nhà, dưới gầm giường, cũng chẳng đụng cái gì. Không lẽ lãnh Quang đã trốn được cũng chẳng thể chui ra kịp, ra đăng nào. mà tuyệt nhiên không thấy, cả thằng Trắt cũng mất bóng.

Có những tiếng rú hồng hộc như chọc tiết lợn ngoài vườn. Những bó đuốc được nhảo ra, soi ngửa lên cây. Đám dơi ào ào bay ra. Nhiều những cái rọ treo, trong rọ có người cựa quậy, rên hừ hừ.
- Người phải không?
- Người... Người...
- Phải tội treo lên cây à?
Có tiếng hỏi lại :
- ... Các ông... bên Bỏi phải không?
- Bỏi đây. Thằng Trắt đấy à?
Tíu tít những tiếng hỏi lên :
- Thằng Trắt đấy à? Lãnh Quang bắt mày bỏ rọ, Trắt!
- Không.
Mọi người lúng túng. Tiếng khóc rưng rức.
- Thì đem nó xuống hẵng hỏi.

Bác Cả đã vào vườn. Bác cả hỏi vào cái rọ vừa được cắt dây buộc, hạ trên mặt đất.
- Thằng Trắt đâu?
- Thằng Trắt chết rồi.
- Mày là thằng nào?
- Bẩm, tôi là thằng Cõi.
- A! Cõi đồng môn thằng Trắt?
- Vâng.

Ngay lúc ấy, tất cả các rọ người treo trên cây đều được cắt xuống, giứt lạt buộc hom rọ. Có người không đứng lên được, quểnh quàng bò ra. Cõi ngã phục xuống, hai tay víu vào cái tay thước bác cả Bỏi đương chống xuống. Cõi chưa biết mặt bác Cả. Nhưng trông bộ râu ba chòm của bác ấy và bao nhiêu chuyện đêm trước Trắt đã kể. Bây giờ thành nước mắt cả. Cõi khóc rống lên. Bác Cả quát :
- Không phải lúc vãi nước đái mắt ra. Im ngay!
- Lạy quan...

Hỏi khắp các người tù vừa được cứu ra khỏi rọ.
- Có biết mặt thằng lãnh Quang không?
- Có, có...
- Đưa đi bắt thằng lãnh Quang.
- Lãnh Quang... Lãnh Quang...
- Đi, đi ngay.
Bác Cả nói :
- Một thằng Cõi đi thôi. Tất cả ở lại đây. Lúc nào chúng tao về thì cũng tha cho chúng mày về!
Cõi đứng lên, lẩy bẩy.
- Cõng nó đi. Vào từng gian, nhìn mặt từng đứa.

Lát sau, cả bọn đã ra tụ tập trước sân. Cõi chống cái gậy tre.
- Thế nào?
- Không thấy đâu.
- Có thật mày đã tường mặt nó chưa?
- Con biết rồi mà. Không thấy đâu, không thấy đâu cả. Con đã bảo khua vào các gậm giường, lại dò bụi cây, trong chum bể nước.
- Quái nhỉ?

Bác cả Bỏi nhăn trán, hất chòm râu xõa vai, lặng đi một khắc, rồi nhìn lên :
- Sao nhạt thế kia, sang canh rồi. Không thể nấn ná được. Đành vậy.
Một người nói :
- Cho đốt cả mấy tòa nhà này. Mỗi mái một mồi lửa thì xong.

Có khi thằng lãnh Quang trốn chui trong mái nhà phải chết cháy.
- Cháy nhà ra mặt chuột!
- Mỗi cái bùi nhùi một mái!
- Đốt, đốt hết đi!
Bác Cả nghiêm mặt, giơ tay thước.
- Không, không được! Chưa biết thằng lãnh Quang có chết hay không, nhưng chết cả trăm người đương phải trói trong ấy. Thôi, không nên việc thì về.

Tất cả đi dòng dài, chập chờn, lẳng lặng ra đằng cổng. Những cây đình liệu tắt rụi rồi. Trời quang, chỉ có đốm sao li ti, nhưng những người đã quen đi đêm không cần biết sáng biết tối. Đã ra đến ngã ba bờ hào. Phía ngoài cổng vẫn tanh bành, trống hốc, im ỉm. Hai người lính gác trên chòi bị trói đứng cả đêm, không biết chúng nó lả đầu ra ngủ hay đã chết nghẹt. Cái tai bác Cả như có thần nghe xuống hào nước. Bác dừng lại, hỏi khẽ :
- Đã có đứa nào xuống soát các nhà bè chưa? Nghe tiếng sột soạt, xỉa dáo vào mà hỏi.

Tiếng nói đêm, ngay bờ nước, nhỏ mấy cũng vang rõ mồn một. Dưới hào, nghe động vó, cái cần gọng vó nhúc nhích. Một bóng người lom khom kéo cái thừng vó bè, nói lên :
- Lạy các quan. Tôi là thằng kéo vó. Các quan đừng...
- Thằng Cõi đâu, chúng mày xuống tận nơi.
Cõi bước đến bên bác cả, thì thào :
- Nó đấy, tiếng nó đấy. Thằng...
Lập tức, bác Cả với mấy người nhảy phắt xuống. Chiếc bè vó răng rắc nghiêng hẳn lên. Nhưng bóng “cái thằng nó” vừa lom khom ra cầm cái thừng néo gọng vó đá lặn mất tăm. Những ngọn dáo, những mũi đinh ba lao xoèn xoẹt xuống nước, chẳng thấy đâu.
Mọi người chưng hửng ngước quanh. Bác Cả đột nhiên nói :
- Đi đốt tất cả các nhà bè nhìn xem nó có còn bám quanh đây không!

Những cái lều vó cháy đùng đủng như con rắn lửa trôi trên mặt nước. Chốc lát, rồi tắt ngấm trong vắng lặng.

Đã ra bờ sông Cái, ngược một quãng. Những chiếc nan đón men sang bãi Giữa, rồi cứ thế, nan bơi ngược nước về Bỏi.

Tang tảng sáng, trên chòi canh nhà lãnh Quang, tiếng tù và liên hồi inh ỏi. Bốn bên phường xóm mù mịt sương sớm, vẫn tiếng tù và rền rĩ. Không thấy bóng lửa như lúc nửa đêm, lúc gà gáy. Nhưng vào khi rạng đêm sang ngày thế này mà tù và nổi thì chỉ báo có cướp, có án mạng hay là có việc quan trọng thành. Nhưng việc quan trọng ấy thì chẳng bận đến ai. Người già lại ra đầu hồi nghe ngóng rồi vào ngồi chõng thổi mồi hút thuốc, uống một bát nước chè tươi. Các bên láng giềng đã lục đục trở dậy. Tiếng tù và đánh thức người ta có sớm đôi chút, nhưng thế là cũng đã tan canh. Lửa rơm lập lòe trong bếp. Cái rõi chuồng trâu được tháo rơi bịch xuống. Quang gánh buổi chợ mai đã sắp ra ngoài hiên, đầu mái tranh.
Bảnh mắt rồi, vẫn không một ai đến gần bờ rào nhà lãnh Quang. Bây giờ đã biết tiếng tù và rền rĩ lúc sáng sớm từ trên chòi canh nhà quan lãnh Quang. Nhưng không ai rõ chính lãnh Quang đã bò dưới hào lên thổi tù và. Cứ phồng má, trợn mắt cho đến lúc hết hơi, lãnh Quang lả người, sụp xuống cái chân giá gác dáo mác trước chòi. Cứ nằm trơ thế mà không ai biết. Những người mọi khi gồng gánh đi chợ qua cổng, sớm ấy sợ động dụng thế nào đã đi tránh đường khác.

Một làn sương lạnh ướt phả vào mặt, lãnh Quang chớp mắt ngóc cổ nhìn vào trong chòi. Mới trông rõ hai thằng lính bị trói đứng vào cột lều, không biết chúng nó đã chết hay còn đương ngủ. Một miếng sơn then nhếnh nhoáng đen như mõm chó trám vào miệng.

Lãnh Quang lùng vào các gian nhà trên tất cả mọi người, ông già, bà lão, trẻ con, chỗ nào cũng la liệt người bị trói, bị miếng sơn trám chặt, phải lôi nắm bùi nhùi râu cọ ra mới há được miệng.

Những cái rọ nhốt người treo ngoài vườn nhãn đã bị rỡ tung. Lãnh Quang lẩy bẩy, run rẩy :
- Cướp bến Bỏi! Kẻ cướp bến Bỏi! Bay đâu vào thanh... vào... bẩm đêm qua kẻ cướp bến Bỏi xuống cướp Kẻ Chợ, mau lên!


Chú thích:

[1] Cá anh vũ sinh sống vùng ngã ba sông Cái ở Bạch Hạc, còn gọi là cá tiến, ý nói cá ngon tiến vua. Phong tục cũ, những thức ngon lạ được đặt cho để tiến vua: Nhãn tiến Hưng Yên, chuối ngự Hà Nam, rau muống tiến Sơn Tây.




0

IV

Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, cùng gửi cho ông bạn già là Lê Hy Vĩnh
(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín, kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)

Cố nhân chia tay trên đường Hà thành
Nghìn dặm lên xe, mắt trông như vũ
Tôi đang ốm không có rượu tiễn bạn lên đường
Trông nơi giang đình xa tít sắc cây sẫm tối
Kể từ lúc bạn cởi áo vải theo việc văn thư
Trước làm ở huyện Thạch An, sau huyện Phù Cừ
Thạch An rặt núi thì vui với núi
Phù Cừ rặt sông thì ở với sông
Ai cũng muốn yên, đó là bản tính của mọi người
Ta không nhiễu dân là mọi việc xong xuôi cả
Hai huyện công việc khác nhau, nhưng chính sự như một
Chỉ nằm mà cai trị vẫn đâu ra đấy
Ngày nay phụng mệnh đến đất này
Là “giản” hay “yếu” bạn đã biết rõ
Trước người ta cho đây là nơi vãn vật có tiếng
Nhưng nay chủ trương về thuế khóa thì lại có khác
Sông ngòi và đồng ruộng giáp liền ba tỉnh
Thợ thuyền trăm nghề ở lẫn với lính, với dân
Những nhà khoa hoạn, một nửa là dòng dõi thanh bạch
Những kẻ hào trưởng trong làng xóm, phần nhiều là người làm việc cũ
Trong thì lo bọn sai dịch mọt già, ngoài thì lo đám quan tham lại nhũng
Trên thì sợ phép lệnh nhà vua, dưới thì sợ điều tiếng
Bọn chúng ta có bác Phan làm tri huyện đã có tiếng tốt để lại
Việc ở Ứng Hòa ngày trước cũng chưa xa gì
Bạn là người thành thạo sáng suốt không phải nói nữa
Ba điều châm qui của quan trường đã được dán lên chỗ ngồi.
“Bồi đắp” hay là “bòn rút”, bạn đã thấu suốt đằng nào phải
Làm “chim diều chim cắt” hay làm “chim loan chim phượng” bạn đã nắm chắc đàng nào khó hơn
Tôi nay viết bài tặng bạn, để đưa bạn lên đường
Nhân tiện tôi muốn nói thêm điều này
Phủ đó, xưa đã có tiếng nhiều danh nhân
Tiều Ẩn và Ức Trai là hai nhân vật tuyệt vời
Tài trai sống ở đời đã không làm được việc phơi gan bẻ gãy chân song, giữ vững cương thường
Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương
Cũng không kham nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương
Cúi đầu luồn mái nhà thấp, nhụt cả khí phách
Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết
Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng có gặp hai cụ
Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi mà thôi
Ngồi nghĩ đến chuyện ấy mà dạ những bùi ngùi
Than ôi! Tôi già rồi, còn trông mong gì nữa
Bạn về đấy, xin đến thăm làng Nhị Khê và làng Cung Hoàng
Bước lên nhà thờ của hai cụ
Vì tôi mà lạy xuống hai lạy, dâng lên chén rượu.
Và cũng báo cho bạn cũ tôi là Lê Hy Vĩnh biết.
Rằng tôi còn khỏe, không chết, chỉ mắc chứng điên mà thôi.

Nguyễn Quý Liêm (dịch nghĩa)


*  *  *

Mọi người phải thay vai cõng Cõi ra thuyền. Về đến Bỏi, lại lên bờ. Buông xuống, Cõi ngã bật ngửa rũ ra như con mèo ốm.
Bác Cả nói :
- Thằng này chưa lại người. Liệu cơm cháo cho nó.

Cõi nằm trong con đò giữa bụi lau. Suốt ngày, trông lên nhọn vút những ngọn lau gió lung lay, từng đàn chuồn chuồn ớt đỏ hắt, tưởng như ăn được thì cay xé miệng, cứ con đậu con bay rập rờn như những chiếc thuyền, chiếc nan quăng chài, chăng lưới trên sông ngoài kia mà ở trong bụi nhìn ra như trông qua khe vách. Thoạt mặt nước mênh mang quạnh quẽ, thế mà chẳng mấy lúc ngớt thuyền đò, bè mảng xuôi ngược. Có hôm cả lũ thuyền như chuồn chuồn cắn đuôi nhau ghé vào - dường như đều là tôi tớ, con cháu, người nhà bác Cả.

Mỗi hôm, sớm sổm, bác Cả lại đâm nan vào ghé lên mạn lau hỏi han Cõi.
- Thế nào, đã đỡ chưa?
- Đỡ rồi ạ.
- Khỏe nhanh vào. Khỏe để còn tính việc, có sức mới tính ra việc được.
Nghĩ đến hôm suất đội đem lính về làng, Cõi hỏi :
- Ở đây không sợ quân quan dưới Kẻ Chợ về bắt ạ?
Bác Cả cười ha hả :
- Ở sông nước thì đã có ông Hà Bá giữ cửa, không ai vào được. Mà đừng lo, cụ tổ chúng nó sống lại mà bảo cũng không đứa nào dám đụng đến kẻ cướp bến Bỏi.

Mỗi hôm, có người đưa cơm đến. Tối rồi, những chiếc nan len lách vào, trò chuyện, ngủ đỗ; tinh mơ lại mải miết chèo ra. Nan nhỏ, náu trong bụi lau, tránh được sóng thình lình, ngủ đẫy giấc.

Mươi ngày, Cõi đã cảm thấy chân tay bình thường nhưng trong đầu thì còn u ám như chiều phù sa mờ sương. Cái nỗi chỉ trong một lúc mà quay chong chóng, tối tăm mặt mũi. Muốn quên không thể quên, thật khủng khiếp, thật cay đắng, cái con tuyệt tự kia, Cõi vẫn không thể ngỡ ra cái mà nó lủi đi ton hót giết tươi người ta như thế. Đành rằng chẳng qua cũng tình nghĩa giời ơi, đò nát đụng nhau, nhưng sao có thể nên thù oán đến vậy. Cả cái hầu bao mấy chục quan tiền bán trâu của Trắt, nó nằng nặc đòi cầm, đã đưa cả cho. Còn thế nào nữa, nó còn hám tiền của đến đâu nữa mà đành lòng đem bán anh em tôi vào chỗ chết. Biết sâu nông thế nào được nỗi đời. Bây giờ thì con cá đã rỉa xác nó từ hôm nảo hôm nao, ấy nhưng Cõi vẫn thảng thốt. Không vì sợ, không vì thù, mà vì vẫn không thể ngờ được, nguôi được. Còn như thằng Trắt mà chẳng may sa cơ cũng vì chúng ta không tính ra cạn nhẽ. Chỉ nghĩ giận mình, chứ nó, chứ ta đã ngậm lời thề như hòn máu, có vì thầy mà phải thế nào đi chăng nữa, cũng không còn bận tâm. Nhớ hôm đồng môn đèn hương cúng vọng thầy, tự dưng chân nắm hương đen cháy bốc trong bát ra, thì bao nhiêu môn sinh hôm ấy không người nào cầm được nước mắt. Thầy đã về chứng giám cho lòng thành chúng con. Mà chúng con chưa báo đền được nghĩa thầy. Trưởng tràng đâu, những anh trưởng tràng các nơi, cầm đi mỗi người một nắm chân hương cháy dở, búng tay lên miệng: Ô hô! Ô hô! Lạy thầy, thế là thầy đã về, thầy đã về với chúng con, chúng con để tang thầy ba năm như con cái trong nhà, chúng con để tang cho đến ngày nào xóa được mối thù cho thầy, năm năm, đồng môn về giỗ thầy chúng con xem ai còn ai mất, ai đã báo đáp được ơn nghĩa thầy.

Không biết các nơi thầy đã ngồi bảo học trong vùng, ở phủ Quốc, bên Kẻ Chợ hay trên Kệ, anh em ấy thế nào. Nhưng ở đây chỉ còn một Cõi. Nghĩ thế Cõi lại tưởng như vẫn trông thấy Trắt, Cõi đứng lên. Hai đứa lại tính việc - như bác cả đã bảo, phải có sức mới ra việc được.

Hôm sau, Cõi theo mọi người đi làm. Nghề sông nước, cái thuyền là cái nhà, mỗi nhà kiếm miếng mỗi nơi, đến những ngày giỗ chạp, tết nhất, có công chuyện thì cả vạn lại thành một xóm, một làng trên mặt sóng. Đứa trẻ mới sinh khóc oe oe, người già sắp vế cõi, cả đời ở dưới thuyền. Nước cả hay mùa cạn, mỗi thuyền rải rác, nhưng vẫn như một bè. Những cái nan len lỏi như những con kiến gặp nhau thì chụm đầu hỏi han, tin tức nan nọ sang nan kia, nhắn nhe công việc cũng ngày ngày theo đấy. Bởi thế, kiếm ăn xa mấy, thuyền với người một bến vẫn như quây quần. Cưới hỏi, ma chay, giỗ chạp, hội hè các vạn dưới nước chẳng khác mọi phường xóm hai bên bờ. Chỉ khác làng dưới nước không có hương lý - chẳng hương lý nào đuổi theo được người tản mác trên nước, có việc quan nha thì lại biện chè lá lên nhờ các nhà chức việc làng ven sông. Dưới nước chỉ có người đầu đàn, những bác Cả, chẳng ai phong chức tước mà tự dưng thành. Như bác cả Bỏi một đời vùng vẫy, chưa bao giờ biết đến cửa quan.

Chỉ ít lâu, Cõi đã thạo việc, cả nan câu, cả thuyền lưới... Những gà gáy thả nan đi gõ mạn dồn cá rồi quăng chài. Khi trở trời, cá chắm ăn nổi thì ngồi thúng đi thả lưới lửng. Hai bên bờ những chợ mai, chợ hôm ở bến ở bãi, các làng ra mua bán, đổi chác. Con chó ngồi đầu thuyền sủa ông ổng khi qua bến chợ đông người. Và lúc tan canh, những con gà trống đứng trong bu buộc bên mạn dưới khoang lái eo óc gáy báo giờ giấc nửa đêm rồi chẳng mấy lâu đã rạng sáng. Mỗi cái thuyền, cứ biết lệ mà lên lửa, le lói thổi cơm.

Nhưng việc nhà chài của vạn bác cả làm ăn sinh sống không phải chỉ có thế. Cõi đã giỏi đường nước, Cõi lại biết nghề lên bờ đi ăn cướp. Chẳng biết vạn đi ăn cướp như thế từ đời nào, mà cả trong Kẻ Chợ cũng nức tiếng kẻ cướp bến Bỏi. Chỉ nghe mà khiếp, mà lạ, những đồn thổi. Bởi vì vạn chài bến Bỏi mỗi khi kéo quân đi, không phải vì thiếu đói như cướp trộm thường xảy ra tựa cơm bữa mọi nơi.

Đằng này khác. Chẳng mấy hôm mà không có người ra tìm thuyền bác cả Bỏi - có người đường xa hàng ngày. Người khốn khổ đến để kể nỗi oan khuất, cái nhục của kẻ lép vế, tội ác của kẻ cửa quyền. Người ta trông cậy bác Cả hỏi han, trò chuyện, bảo ban. Thông thường, tưởng như đây là những đứa dắt đất, nhưng kẻ cướp bến Bỏi không đi ăn cướp. Khách về rồi, bác cho người theo chân xem thực hư thế nào rồi mới liệu xử sự. Không phải quan nha to bé mà thực chốn công môn giữa dân gian được các nơi trông đợi đến thế.

Những đêm cánh bác cả Bỏi kéo đi cướp, Cõi đã được theo. Các tay chèo thoắt nhảy lên bờ, mặt trát nhọ nồi, xách câu liêm, quắm, dao bảy, thùng lùng, thiết lĩnh, một giỏ đựng râu cọ trộn sơn, lại cả thừng chão.
Đêm tối trời, ngước mắt ra dòng sông lóng lánh như khuya mùa hạ, vòm sao in xuống nước khống biết trời đâu đất đâu. Nhưng đêm ấy tối trời, đêm tối trời mới là đêm của những tay anh chị đã được tên là người đi ăn sương. Thế mà lại một dải hiện ra dòng sông sao sa nhìn kỹ, không phải sao trời, mà là trên mặt nước đương lấp lánh như rắc sao. Ấy là những đàn đom đóm nhấp nháy suốt hai bên bãi sông, cả vạn triệu những đốm lập lòe sáng xuống nước, ánh lên trên cánh đồng như trăng suông. Gió thổi ánh sáng đom đóm dạt đi dạt lại những vạt sáng tận dưới đồng sâu vào đến chân tre. Có khi cánh bác cả thâu đêm thung dung đi trong sáng đom đóm suốt các cánh đồng, như có đuốc soi.

Nhưng dẫu có tối như bịt mắt thì chân bước trong đêm đã quen. Cũng có khi bật hồng đỏ rực đánh tiếng ngay ngoài lũy tre rồi leo tường, cắt trổ vào tận sân nhà có của, những nhà có của và sừng sỏ thường ở giữa làng. Những con chó dữ đến mấy cũng bị ống thòng lọng siết cổ. Tuần tráng khiếp vía lẩn đi, răng đánh cầm cập như chân chạy. Có điếm canh mới nổi một hồi ngũ liên báo cướp, đến khi nghe loa gọi: “Cướp bến Bỏi, cướp bến Bỏi đây” thì ông khán thủ cũng quăng dùi trống lủi thoát thân. Có xóm nổi lên tiếng reo hò đón tướng cướp bến Bỏi. Trong khi ấy, những kẻ cướp đã lệnh đi các xóm: “Bớ bàn dân thiên hạ! Bớ bàn dân thiên hạ! Đêm nay đốt nhà chánh Ất. Các quan không đụng đến nhà ai, ở đâu ở yên đấy. Đốt nhà chánh Ất. Đốt nhà chánh Ất!” Một đêm khác, ở làng khác “Bớ bàn dân thiên hạ! Vào nhà tổng Giáp! Cho vào nhà phó Đinh, nhà hương Tý mà hôi của! Hôi của, làng nước ơi!”.

Những người trong nhà lý Ất, chánh Đinh, trùm Lý được dắt ra ngồi quán giữa đồng, cứ đứng ngồi đấy trơ mắt ếch ra mà đợi sáng. Trong ánh lửa đốt nhà cháy rực, người các xóm kéo đến xúc thóc, khuân hòm xiểng vần cả cái cối đá đập lúa trong sân. Quá nửa đêm cánh cướp kéo đi, như lúc lẳng lặng đến. Mỗi người ngồi ngoài quán, bị trói tay, miệng trám một miếng sơn then. Ai cũng biết đấy là dấu hiệu cướp bến Bỏi. Biết cướp bến Bỏi, không nhà nào dám đi trình báo, mà có đi thì quan cửa nào cũng làm ngơ.

Sáng hôm sau, những thuyền gõ cá, những nan thả lưới lại tấp nập ra sông như chẳng dính đến những chuyện đêm qua ở tận làng xa nào. Chẳng một động tĩnh cái tiếng và những chuyện thần tình về kẻ cướp bến Bỏi càng âm ỉ bay xa.

Cả những chuyện cướp của cứu người ấy nữa, Cõi đã thạo. Đánh võ, vượt tường, lát phên qua chông chà, khóa trái tay, trám miệng cho câm họng... Một hôm, bác Cả gọi Cõi đến thuyền. Bấy giờ buổi trưa, không phải chiều thường ngày, các thuyền ríu lại vào đậu bụi lau cơm nước rồi qua đêm ở đấy hay vào men bãi cát, dưới hõm bờ sông lở. Có việc trọng hay giỗ chạp thì đã biết từ hôm trước, các thuyền gỗ dưới mũi tặc hai con mắt thô lố uy nghi bơi về chơi đấu quyền, đấu võ, nếu không đi đánh dẹp đâu làm cứu tinh cho thiên hạ thì các thuyền vẫn hay chè chén, chơi nhởi thế. Cõi ở vạn cũng đã lâu, như mọi người, cơ hồ bác Cả cũng nhãng đi rồi, chẳng thấy trò chuyện với - dường như bác Cả chỉ ngồi xếp bằng suốt ngày. Thế mà không ai có thể qua mắt, việc nào cũng đến tay. Bây giờ, nửa buổi, bác Cả bảo đến. Cõi phân vân, lo. Trước mặt bác Cả, Cõi phủ phục xuống.
- Ơn bác cứu sống con... Từ khi về đây, hôm nay con mới được lạy bác.
- Mày ở đây thì mày tường rồi, cái vạn bến Bỏi này mang tiếng kẻ cướp nhưng chỉ đi làm phúc cho người ta, cả cho mày, mày biết đấy. Ngồi dậy, vào uống vài chén rồi ra đi vài đường quyền chơi. Nghe nói dưới làng mày cũng có lò võ được tiếng lắm, phải không? Rồi tao mới hỏi, có chuyện bảo mày.

Cõi ngồi vào chiếu, hầu rượu bác cả, mãi đến chiều, đến tận tối. Những thuyền về luyện võ, tấp nập hò reo rộn một quãng sông. Nửa đêm, bác Cả nói câu chuyện đã rao lúc trưa. Không phải chợt nhớ lại, mà bác ấy đã nghĩ, đã định.
- Dạo này thế nào?
- Nhiều lần con đã toan thưa.
- Ở đây, theo vạn rồi lấy vợ đất Bỏi.
- Lạy bác, không phải vậy.
- Hà hà, lại còn giỏi đào tường khoét ngạch. Thế thì hôm nào cho mày xuống Kẻ Chợ, vào chơi nhà lãnh Quang một cái. Bây giờ thì mày như con thằn lằn, bò vào nhà nó lúc nào chả được.
- Bác cho con đi. Con chưa dám nghĩ đến đường vợ con nữa.
- Ừ đi thì đi. Hôm nào mát trời đã. Tao bảo mày thành người bến Bỏi, nhưng mày còn hãi cái đứa phản phúc thì thôi, bao giờ hết sợ hãy hay.

- Con biết bác có lòng thương. Nhưng anh em đồng môn chúng con đã thề trước vong linh thầy. Thằng đội Quang được sống trên cõi đời này, chúng con không thể...
Rồi Cõi giơ tay gạt nước mắt.
- Được, cứ khóc đi cho hả cơn đau, rồi ta lại chuyện.
- Ơn bác, ơn anh em, con đã khỏe mạnh như mọi khi rồi.
Bác Cả cười mỉm, vuốt râu :
- Từ nãy tao nói mọi sự để muốn nghe mày đấy thôi. Tao quý người, nhưng tao quý nhất cái người biết lo, mày biết lo. Được rồi. Tao không cản cái chí con người biết lo nghĩ. Con muốn thì con ở lại đây, rồi lấy vợ, sinh con như mọi đứa chúng nó. Tao tác thành cho. Nhưng con còn gánh nặng việc thầy con, thì con cứ đi. Hôm nào đi cũng được, ừ, để hôm nào mát trời. Có việc gì thì nhớ về bảo.

Một ngày kia, Cõi lại khăn gói vào Kẻ Chợ. Vẫn một dạ, một chí ấy. Chỉ ở nơi thanh vắng không bao lâu mà thấy quang cảnh nơi đô hội có dập dìu, có tấp nập hơn xưa. Kẻ Chợ khác trước thật. Nhìn người qua lại, không phải chỉ vì nông nhàn rỗi rãi, hay ngày ba tháng tám kém đói, người ta như con chim kiếm mồi phải tìm nơi cầu thực. Không biết từ đời nào, đất Kẻ Chợ chẳng khi nào được yên hàn. Lâu lâu lại nghe tin có giặc, chẳng biết giặc giã đâu, thế là trộm cướp nổi như ong. Người ta kéo bầu đoàn thê tử quáng quàng chạy loạn sang Bắc, xuống Đông, nương náu nhờ vả chán rồi nghe ngóng, lại mon men gồng gánh về. Mãi rồi tai lành tai điếc thế nào, lại nghe giặc đã vào đến đầu ô, nhưng cũng chẳng nhúc nhích, vì nháo nhác rạc cả người rồi. Sau, chỉ còn nhà có máu mặt mới sốt ruột của nả, lo thân. Chẳng mấy nhà chạy nữa, chợ búa lại có người rồi đông dần, trông cái chợ thì biết yên hay loạn.

Bây giờ ai cũng bảo: các vùng kẻ quê phải lo sốt vó đủ thứ, chứ ở Kẻ Chợ lại đâm ra đỡ rối ruột. Trong làng trộm cướp, người như con ngóe, lúc nào cũng bóp cổ nhau được. Thế là lại dồn ra, Kẻ Chợ càng đông hơn. Có nhiều người thì thêm công chuyện, ngành nghề, tiện kẻ mua người bán. Trước kia, ở các vùng đồi trên ngược có nghề ghép thùng, sơn thùng - cây sơn, cây cọ, tre vầu, song mây ngay quanh nhà, các thức đấy làm đấy rồi mỗi chuyến cả chục thuyền, xuôi về bán cất cho các phường. Bây giờ, một dãy bên kia hồ đã hóa ra phố Hàng Sơn, phố Hàng Thùng. Có những cô lo sơn ăn mặt, phải đi tránh không dám qua các nhà bán sơn, bán thùng ghép. Rồi lại cái bàn cuốc cái lưỡi cày, cái cuốc bướm, cái đinh bừa, thuở thường trong Bùng, trong Canh, Diễn quảy ra bán cho người xáo vườn, làm bãi. Giờ ngoài cửa Đông mới dựng san sát lều quán lò rèn, người đến chọn, đến thửa dao phay, dao bầu, đinh đỉa, đặt tên là phố Hàng sắt, phố Hàng Bừa đều như nhau. Lại còn phố Hàng Mụn, mụn vá cũng thành phố, giàu có nhà quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ thật. Không phải phố Hàng Mụn chỉ bán mẩu vải màu làm bùa túi trẻ đeo tết giết sâu bọ tháng năm, mảnh vải vá, miếng chồi sẩn dệt đuối tay, mà cả tấm vải nâu non, cái thắt lưng hầu bao hoa cau. Các cô mua vì thay miếng vải nâu non mới cho cái áo đổi vai, trông vẫn tươm, vẫn đỏm chán. Phố xá càng bộn người lên đông vui như thế.

Cõi lại vác cái rìu, tay xách chão buộc mấy đồ nghề thợ mộc. Người làm mộc đi lẻ thế này không phải các hiệp thợ cất đình cất chùa, mà là người trong làng đi dong. Cõi đã cẩn thận ngay từ lúc ở Bỏi lên không để lộ người phường chài. Cõi vào chặp tối đến đình Hàng Hòm. Thời buổi nhiễu nhương. Người ra đốc canh, cổng phường đã buông, sắp cài chốt.

Quả là đương khi ruộng đồng cạn việc, chỗ chứa trọ, người ngồi đầy mái hiên, sang cả dưới hiên, ngoài hàng nước. Đủ thứ, có bọn chân ướt chân ráo tới, nhiều người đã có việc chủ nuôi cơm, tối ra trọ đêm. Bọn thợ ván in ngủ khuất gian trong, nằm gối trên đống gỗ ván thòng mực mua thửa tận cửa rừng, đứa cáo già nào muốn rút trộm mấy miếng làm củi đun cũng chịu. Rồi thì đám đóng cối vào đình cổ Lương không chỗ len chân, lại mò xuống đây. Người nhỡ độ đường, chẳng biết người ngủ nhờ thật hay là chú chích, hay lũ dắt cướp vờ vịt nghe ngóng, đợi cánh, có khi nửa đêm gà gáy thoắt một cái như ma biến.
Nhưng quả là chen vai thích cánh, không ai biết ai, nồng nặc hơi người hơi rượu. Ngoài hàng phố im ỉm. Chốc chốc, điếm canh bên cổng phường nổi hồi tù và làm nhịp, bốn phường bên rúc ốc, điểm trống đáp, tiếng trống, tiếng ốc đối đáp xa dần rồi tại phẳng lặng như tờ. Nhưng trong cái đình thờ vọng ở phố Hàng Hòm vẫn huyên náo như chợ vỡ.

Cõi ngồi bó gối, ru rú một xó, chẳng bắt chuyện với ông mãnh nào đương ngả ngốn, la liệt quanh đấy. Từ lúc vào cái đình này, Cõi động lòng chỉ buồn, chỉ thương. Hai mắt nhòe nước mắt, nhưng không ai trông thấy. Mới như hôm nào ra đây còn Trắt. Mà nay tan tác cả. Cõi tựa lưng vào tường, mua xỉ từng chén một, nhấp suông. Đến lúc tà tà nằm nghỉ ghếch đầu lên cái chuôi rìu. Không biết khuya sớm thế nào, ngước ra thấy ông lão hàng nước đã úp cả mấy loạt bát đàn. Ông lão ngả lưng vào cái thúng rơm quấn nồi nước. Không biết ông lão ngồi ngủ hay con rượu ngủ.

Những quán nước trên đầu chợ, ở ngã năm ngã ba ngoài đường, các đình đền thờ ở các phường thấp, ẩm ướt chỉ bằng cái am trong làng. Nhớ ngôi hàng hơn nhớ người, bởi vì chỉ là nơi ghé chân bên đường, cho nên cái câu rằng khách nhớ nhà hàng ví với các tay bán quán đủ loại ở Kẻ Chợ thì không phải. Lão ấy là ông từ, ông từ vừa quán nước vừa nhà đền lo sớm tối đèn nhang ngày sóc ngày vọng. Có khi lão là người thiên hạ - cả đất Kẻ Chợ này ai chẳng là người thiên hạ dạt đến rồi thành quê, người cưỡi cổ làm quan người ngồi dưới đất, ai đâu biết ai. Ở cổng các đình đều có người đến kê cái mâm chõng, đặt chồng bát bên cái thúng quấn rơm ủ nồi nước chè tươi. Bán nước chè tươi hay đặt thùng nước vối làm phúc cho người qua lại uống cũng là việc phúc đức. Có khi thấy nơi quang thì dọn hàng, cũng hỏi qua người trương tuần thổ công thần đất ở đấy, thì người ta cũng ừ. Bởi đêm hôm mà ra đầu phường được bát nước chè đậm cũng giải nhiệt, cũng ấm bụng. Ngày nắng chang chang, khát rã họng thế mà uống hết bát nước chè tươi nóng xanh đặc, cơn khát vã mồ hôi, tan hẳn.
Khối người nghiện chè tươi, nhưng đun nấu, vò rửa lỉnh kỉnh, người ta ngày đôi ba bữa ra quán. Đến khi Kẻ Chợ chen chân thêm nhiều ngành nghề thì các đình chùa am miếu có quán nước chè lại là nơi chứa trọ trợ thời đêm hôm. Thợ đấu, thợ ngõa, thợ sơn, cả những người lang thang vô công rồi nghề không biết tông tích thế nào. Các quán nước tiện dụng cho những người này.

Lão hàng nước người thế nào, không hơi đâu tò mò. Những ông bán quán lem nhem nhưng có điều hầu như ai cũng nghi ngờ thế nào. Cái lão mặt mũi sừng sẹo ngồi cúm rúm như con sâu đo, tay cầm gáo múc nước, mắt nhìn trộm. Lão đấy, người ra người vào, từ câu chuyện dúm rau dúm bếp, đến dáng vẻ con người, khác mắt lão thế nào được. Trông cái lão quán nước đình Hàng Hòm không thể đoán được tuổi, có lẽ vì thiên lôi đánh không chết, chẳng bao giờ lão chết nữa nên cái gì cũng biết như người trên thiên tào. Nhất định rồi, không thế này cũng thế khác, một chuyến mối lái, một câu mách nước, thì bằng công cả tháng ngồi còm cọm múc nước ấy mà. Lại còn, biết đâu, những việc quốc sự tày trời. Các quan ngồi trong thành tường cao hào sâu, có tay chân, tai mắt các cõi, thế mà đêm ngày còn lo xanh mắt. Làm sao mà quân nghĩa ở đâu cũng phao tiếng sắp kéo về lấy Kẻ Chợ. Những quán nước ông lão giả vờ khù khờ kia là trạm tin, chỗ hẹn, chỗ chắp chân, chỗ tụ quân. Nào ai dò được tổ con chuồn chuồn, những nghe ý tứ ở những quán nước lập lờ, không đầu trộm đuôi cướp thì cũng những tay trọng nghĩa khinh tài. Lão hàng nước nào cũng được lão quán nước đình Hàng Hòm, ai cũng kín bưng như cái hũ rượu nút lá chuối khô.

Sáng hôm sau, Cõi bảo lão hàng :
- Ông cho tôi mượn đôi thùng kiếm bữa. May ra có người thuê quảy nước sông, chứ vác cái rìu Thạch Sanh này thì xem ra trắng bữa mất. Ông cho tôi mượn thùng rồi tôi xuống quảy nước giếng đền bà Ngô đỡ ông.

Ông lão nhìn Cõi, nói :
- Bác có nhỡ thì tôi đỡ, cứ đem thùng đi. Nước giếng đền bà Ngô thì chỉ có tôi thuộc giờ linh gánh mới được nước ngon lộc thánh cho.
Cái rìu, bó đồ mộc Cõi gửi lại. Ông lão hàng nước nhìn Cõi, nói :
- Bác này thật vô duyên với cái tràng cái đục. Lần trước ra cũng ế sưng lên rồi.

Cõi chắp hai tay vái ông lão. Cõi cũng quên cả cái lần đầu đi với Trắt, không biết ngủ đình cổ Lương hay Hàng Hòm. Đích rằng ông lão là người của bác Cả. Nhưng Cõi không dám hỏi. Ông lão quán nước lại cử rử nói :
- Đi buôn may bán đắt nhé.
- Lạy cụ, con lạy cụ.

Rồi Cõi tong tả trên vai đôi thùng tre ghép. Nhưng Cõi không ra bến Đá như bọn quảy mướn nước sông - người các phường mua nước sông Cái về đánh phèn cho lắng cát rồi trữ vào chum vại lấy nước ăn hàng ngày. Cõi nhẩn nha đi về đằng dinh lãnh Quang.
Hàng bờ rào cây găng, cây ô rô phía ngoài cái lũy đất vẫn xanh om. Thấp thoáng, qua quãng tường lở, thấy bóng mặt hào nước. Cõi đã rợn. Mới hôm nào suýt bỏ đời trong kia. Bây giờ lại lù lù đến. Nhưng ở phía trong những khoanh tre pheo phờ phạc, như bị chặt, bị đốt từng búi. Đến lúc qua giữa lối vào, chẳng thấy cổng giả đâu. Chỉ như là lối sau làng đi ra đồng, gồ ghề lốt chân trâu xéo nát những đám cỏ giữa đường. Ở cái hào ngay trong chỗ thằng lãnh Quang núp giả người kéo vó, một đàn trâu ngâm mình dưới nước đương lốp cốp, ồn ã đánh sừng, quẫy đuôi. Trông xa, không thấy tòa ngang dãy dọc nhà ngói bát vần mọi khi. Cỏ lau mọc lô xô như bãi tha ma.

Nhà lãnh Quang đi đâu? Sao thế này? Cõi nhận ra ở đầu hào chỗ trâu đầm cạnh cổng có một túp lều con, giống như Trắt đã kể dạo trước cái nhà cô Tư chết oan đã ở chỗ ấy. Cái lều vẫn tại chỗ ấy... Nhưng Cõi đoán không phải lều hoang.

Một người đàn bà trong nhà bước ra sắp đi đâu, lúi húi chống cánh cửa liếp. Cõi nhận ra cái váy lĩnh, cái áo chồi dáng hao hao bọn vợ lãnh Quang mà Cõi nằm trong rọ bị khiêng qua sân thoáng thấy chúng nó ngấp nghé sau tường nhìn vào. Chỉ khác vẻ sao xốc xếch, tiều tụy. Chiếc váy chồi đụp bạc xơ xác xắn ngang gối, như mụ vợ thằng đò ngang ngồi bán thúng ốc, thúng hến ngoài chợ.

Người đàn bà trông thấy Cõi.
- Bác hàng dầu đấy phải không?
Cõi đặt đôi thùng không xuống. Người đàn bà lại hỏi:
- Bán dầu phỏng?
- Tôi đi gánh nước mướn thôi.
Người đàn bà chăm chú nhìn Cõi :
- Này hỏi khi không phải, bác là cái nhà hàng dầu dạo trước đã vào đây bán?

Cõi choáng người. Nhưng Cõi cũng thấy ngay người này lẫn lộn không nhận ra Cõi là thằng bị đóng gông đi sau cái cũi rồi phải nhốt rọ. Ả nhầm với Trắt đã vào bán dầu. Hay đây là cái người đã vì giúp Trắt mà chết, đây là cô Tư. Nhưng cô Tư đã trôi mất tích đêm ấy, Trắt đã mò cả quãng sông không thấy. Người hay ma? Mà Trắt lần ấy cũng đã về được, biết đâu cái cô Tư cũng về được, là người này.

Nhưng thế nào đi nữa, vừa chợt tới, đã gặp những bất ngờ có lẽ rủi ro. Cõi thấy hoảng. Vì, vào đây cứ trần trần thế này, đến nỗi người ta nhận ra như một bọn, dại quá. Nhò đầu đã chui tròng lọng. Tiền đầu bất lợi rồi.

Cõi nhớn nhác, dé chân, toan chạy.
- Hãy hượm, vào đây tôi bảo.

Xung quanh, dưới đầm, chỉ ồn ào trâu đầm, phất đuôi, đánh sừng, rõ đồng không mông quạnh ở nơi dinh cơ không còn. Mà mặt người đàn bà nhăn nhó, khẩn khoản một vẻ không hiểm ác, mưu mô thế nào. Cõi quảy thùng bước tới.
- Lại đi bán dầu há?
- Đã bảo mà, cái thùng rỗng đấy. Tôi ra bến quảy nước mướn.
- Bến nào, bến nào mà mò vào trong này?
Cõi lại hớ.
- Không, không...

Cõi còn lúng túng, người đàn bà đã cười cười :
- Lại đi giết lãnh Quang há? Khám đằng lưng thế nào cũng có con dao bầu, đích rồi.

Không thể tưởng câu nói ghê gớm đến vậy, nhưng ả vừa nói vừa kéo gấu váy xuống, lại cười. Cõi lấm lét nhìn vào xó nhà, cửa sau.
- Sợ hả?
Rồi ả lại hỏi như thật mà lại như đùa. Mỗi câu, Cõi cứ giật nảy người.
- Này, chúng nó đã đem trôi sông, đã đem chôn đăng ấy mấy lần rồi, thế mà vẫn sống nhăn răng ra thế này, người hay ma đấy?
- Không, không...
- Không với có gì! Chỉ một điều...

Thật ả nọ đã nhớ, đã nhớ nhầm mà lại đinh ninh đúng. Chẳng lẽ Cõi lại cãi. Cõi đâm lo lo. Nhưng dường như ả có vẻ mau miệng, Cõi toan hỏi, mà chưa lựa được lời. Người đàn bà này cũng không như người ta, con mắt quắc như điên điên... Cõi vẫn ngồi, tay mân mê cái đòn gánh. Ả vắt vẻo ở bậu cửa rồi hỏi: “Định đánh người ta đấy à? Đợi đấy. Cho một đòn sặc gạch bây giờ!” Mặt ả, màu ăn trầu đỏ dần lên. Ả đưa ngón tay cái chùi hai mép quết trầu, rồi nói :
- Lãnh Quang hãi chết lại cút về Sơn Tây ngay dạo ấy. Chưa biết à?

Không giữ được bình tĩnh, Cõi hỏi :
- Vậy a?
- Cái hôm nó suýt chết toi ấy. Phúc nhà nó còn bằng cái đình. Nó xin đổi về Sơn Tây. Lại lên Sơn rồi, không biết a?

Giọng nói, vẻ chuyện đã khiến Cõi được tự nhiên :
- Nhà chị được ở lại trông nom trang trại? Tôi hỏi hơi tò mò, chị bỏ lỗi cho.
- Trông nom cái con tườu. Nhưng mà anh có phải cái người bán dầu dạo trước?
- Chị là cô Tư á?
- Tôi không phải chị Tư, là em Tư, là nhà nó ơi, nhà anh ạ. Tôi là bà Mười. Lãnh Quang đương ngủ với tôi, em Tư dẫn anh vào chọc tiết nó. Nó bảo vì nằm với tôi mà tý nữa nó ra con ma không đầu. Vận tôi là vận ăn mày, ông thầy số bảo thế. Nó đuổi tôi đi.

Rồi ả cười khanh khách, nói một thôi, như lên cơn dại :
- Tôi không phải cô Tư, tôi là bà Mười. Đúng anh là con ma thằng bán dầu về báo oán. ừ, ma, tôi ở với ma cũng được. Anh ma cứ ở đây với tôi rồi hôm nào tôi đưa anh lên Sơn, ân oán phải rõ ràng chứ nhỉ. Cất cái thùng, cái đòn gánh đi. Hà hà! Anh ma bán dầu, anh ở đây với em. Thích quá.

Cõi hãi ả sắp phát rồ. Cõi nhẹ nhàng :
- Nói khẽ chứ!
Nhưng ả quát tướng lên :
- Ở đây chỉ có con trâu nghe thôi, nói với con trâu thì phải nói to.
- Thế thì tôi về đây.
- Ấy, đừng, đừng. Em nói nhỏ vậy.

Im lặng một lát. Hình như mọi hoảng loạn ở hai người cùng dịu đi. Cõi hỏi :
- Chị trông nom vườn trại à?
- Cái anh này rõ ngu. Ngu thế mà ở với tôi thì phải ăn chửi, ăn đòn đánh suốt ngày thôi. Trông cái chỗ trâu đầm, chó ỉa này mà bảo là trang trại. Bầu đoàn nhà lãnh Quang vừa cuốn gói buổi sáng thì một lúc sau, người các nơi xông vào phá, khuân đi tiệt, con chó đá canh cửa người ta cũng đào mất, không còn cái giống gì. Chẳng qua cái số tôi, giời đày chẳng đứa nào khiêng, nhưng mà, bây giờ gặp anh...
- Nó đuổi nhà chị sao?
- Nó chê cái mả mẹ nó ọp ẹp, hãm tài, nó vứt đi.
- Như cô Tư ngày trước?
- Con Tư, con Năm, con Bảy, con... ối không đếm được. Ngày ây, con Tư ghen tức thèm giết tôi, bây giờ tôi là cái kiếp con Tư đây. Tôi đã toan ra sông Cái trầm mình, nhưng tôi phải bóp chết con dê già ấy tôi mới nhắm mắt được.
- Chị một mình ở đây?
- Lại còn mấy mình nữa. À thêm đằng ấy, thế là hai mình.
Rồi ả nói :
- Chưa dám vào nhà à? Còn sợ cơn chết hụt thì ngồi xuống bậu cửa này - Ả nhích người sang một bên - Em kể cho mà nghe. Em bây giờ cũng như các ông anh, bao giờ em cắt được cái sỏ thằng giời tru đất diệt ấy thì em mới khỏi bệnh dở người.
Ả hỏi Cõi :
- Thế nhà bác bao giờ lên Sơn?
- Lên Sơn Tây quảy nước a?
- Ô hay! Đi cứa cổ cái thằng cướp ngày ấy, không phải đi quảy nước, đi chơi. Chơi thì ở đây mà chơi chứ đi đâu. Nhưng trông hai con mắt ông anh thế kia thì vẫn vậy đấy.

Cõi rùng mình. Câu nói không điên dại chút nào.
Ả lại trêu :
- Mắt em na ná mắt anh, không soi gương em cũng biết. Phải đến khi đòi nợ xong mới dịu đi được, phải không? Ở đây vài hôm, ta bàn cái đã, rồi cùng lên Sơn.
Cõi chột dạ, nói bực :
- Rồi chị đi báo cho nó, để nó bắt tôi bỏ rọ à?
- Cái nhà anh này ăn nói bất nhân! Tôi đi theo nhà anh lên Sơn thì có. Cái Tư đã dắt anh vào nhà này thì ở trên Sơn, dinh cơ nhà nó, tôi đã thuộc như cháo, tôi dẫn anh vào. Nhưng tối nay ngủ đây đã, đi đâu mà vội.

Cõi không muốn nói với người sảng, Cõi lảng :
- Tôi chỉ đi quảy nước kiếm ăn qua ngày, chẳng biết chuyện vua quan ở đâu.
Ả bấm ngón tay, tính toán :
- Anh đứng ngoài, để em vào trước. Thằng ấy có bùa, nó nhiều mặt lắm, em mới nhớ được, chứ anh chẳng biết hết mặt nó đâu.
- Tôi chỉ đói thôi.
- Nhà còn cơm nguội kia.
- Tôi đói việc, phải đi làm.
- Anh còn nhớ đã có người cứu anh rồi chết vì anh đấy thôi. Em cũng muốn được thế, quân bạc như vôi Quên rồi sao?

Nghe những chuyện đau đớn, Cõi bối rối không yên.
Cái người mê cơn mê trận này cử nói xưng xưng như thật chẳng ra thảng thốt. Ôi chao, mớ bòng bong.
Cõi đứng dậy.
- Tôi phải ra bến Đá cho khỏi nhỡ buổi.

Rồi Cõi quăng quả đi. Người đàn bà níu một dẻ quang, Cõi giựt ra được. Nhưng Cõi cũng nói lấy lòng: “Rồi tôi lại về, chốc nữa tôi về”. Người đàn bà nhoẻn cười, không giằng quang nữa. - “Chiều về đây nhé!”. Cõi lùi lũi đi. Ả đứng trông cho đến lúc Cõi ra khuất sau bụi tre ngoài đường. Ả lại sập cánh liếp cửa xuống. A nghĩ người này chẳng phải bọn gánh nước, bán dầu. Nhưng mà chưa dám tin ta. Lại một người đi tìm giết lãnh Quang. Lắm người thù nó thế. Anh ấy đã hẹn trở lại, chốc nữa trở lại. Ả vào cái giường chõng, nằm vật xuống, rên rỉ rồi khóc rưng rức.

Cõi quảy đôi thùng không về trả ông quán nước đình Hàng Hòm.
- Đi muộn, chẳng ma nào hỏi!
Ông lão gật gù, nói đưa chuyện.
- Ở đất này bây giờ cũng người khôn của khó.

Ông lão sờ thấy mặt thùng ráo khô, không dính giọt nước nào thật, ông lão bảo :
- Uống bát nước đã.

Nhưng Cõi chào ông lão rồi vác cái rìu đi. Trên sông Cái, cát bay mù mịt đỏ xạm, không thấy rõ, lẫn lộn dòng nước, bãi ngô, bãi dâu. Ngang trời vẫn vần vụ màu phù sa. Cả ngày âm u không thật là còn trưa nay đã sắp tối. Người bước co ro trong gió ào ào.
Cõi trở về bên kia sông. Lãnh Quang lại lên Sơn, dinh cơ hoang phế, người đàn bà bị ném ra đường hóa dại, ngổn ngang trăm nỗi. Thì bước chân về quê, may ra. Nhưng về cái xó đầu đồng ấy chẳng còn ai, lại thêm nghĩ. Đứng trên đê đã trông thấy làng thầy, thầy ta kia rồi. Lạ thay, mà vẫn hiển hiện như xưa, mặc dù quân quan đã tàn phá, bây giờ không ai đến đất ấy, cũng không dám gọi tên làng nữa. Nhưng trong tưởng tượng Cõi vẫn thấp thoáng thấy mình đầu trọc để hoa roi kín gáy đi trên đường cái vào làng rồi tạt về phía chợ, cây gạo cổ thụ trước điếm canh, là đình, là xóm nhà mái nhấp nhô bát úp. Nhưng nhìn kỹ lại, một gốc tre cũng chẳng còn. Cỏ lau lên ngút ngàn, mặt đầm nước xanh rợn những cây rút dại. Đương tàn mùa hoa lau, màu bàng bạc hoa lau trắng đục suốt chân trời. Người đi rảo bước vội vội. Sợ cướp đường cũng có, nhưng hãi nhất bao năm nay cả vùng đã là tha ma không có nấm, dưới đất ngổn ngang, người chết cháy, người chết chém ở trong làng, ở giữa chợ, xó xỉnh nào cũng còn nghe tiếng văng vẳng kêu khóc. Cõi ngồi trên đường cái nhìn xuống. Đến lúc tàn nén hương Cõi đứng lên vái xuống những bụi lau xác xơ: “Lạy thầy, thầy phù hộ cho con...”.

Rồi Cõi lại ra bến xuống đò trở sang Kẻ Chợ. Nhưng Cõi không đến đình Hàng Hòm tối hôm ấy, cũng không qua dinh cơ nhà lãnh Quang. Cõi đương tính xem nên thế nào.

Đường ra Cửa Nam về Giám trước kia cứ chạng vạng tối, chỉ nghe chẫu chàng uôm oạp khắp các đồng hoang, bây giờ đèn đuốc rải rác, chỗ là nhà, chỗ người đi, chẳng khác chợ cá nửa đêm ven sông. Mà chợ đêm thật. Các phường trên Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Điếu, cả đến trong ngõ Hà Trung, các nhà, các cửa hàng thì tối tối, chẳng khác cái hũ nút, tuần tráng đóng cổng phường đốc canh, nhà nhà lên cửa kín bưng rải ra bó chông chà từng chiếc như cái đinh đặt ngược lại còn lẫn lộn mảnh Chĩnh, mảnh chai sắc như lưởi dao, bỏ khắp từ đỉnh mái xuống chân tường. Ngoài đường thi thoảng mới có bóng người lui hui. Tuần tráng nhìn vào tận mặt hay chỉ nghe đối đáp thoáng qua, đã biết ai, đêm hôm đi đâu.
- Người nhà cụ Ất, cụ Ất đình Ngang ấy mà.
- Đi mua thuốc đau bụng bà lang Bính chứ gì!
- Vâng ạ, đau bụng máu lên cơn lại hết thuốc.
- Không nhớ đi đêm phải mang đuốc à?
- Vội quá. Bác cầm mấy đồng uống nước cho tôi đi.
- Đứa nào kia? Đứng lại.
- Tôi đi gọi bà mụ, nàng dâu nhà ông hương Đinh vỡ ối, đẻ đến nơi rồi.
- Được.
- Thằng này sao đi lỉnh kỉnh thế. Tên gì?
- Mỗ Ất, mỗ Giáp, mỗ con chó. Hỏi lắm thế.
- Tiên sư mày, đi đâu?
- Ông đi tìm rượu.
- Đi đêm phải có đèn đóm!
- Đéo có.
- Nhớ kiếm vài xó đem về điếm.
- Đéo đem!
- Ông gông cổ mày!
- Hà... hà...!

Chẳng ra phép tắc, chẳng ra ỡm ờ. Lơ mơ thế mà vẫn có người yếu bóng vía bị đóng gông ngồi điếm đến sáng vì tội đi đêm không có đuốc. Người nhà phải đem mấy tiền ra chuộc không thì cứ ngồi đấy. Thế mà lúc nào cũng có người vào ra. Ấy là chẳng kể những kẻ không ai biết tông tích, chui chỗ nào cũng lọt, như con chuột rũi. Nhưng không phải ai cũng mưu mẹo được thế. Phố xá đêm ngày cứ nghìn nghịt, trong làng kéo đến Kẻ Chợ mỗi vụ càng nhiều hơn chỉ vì đói, vì rỗi việc, vì có nghề thì đổ ra nơi đô hội kiếm miếng. Lâu nay, Cõi đã thế, đi bán dầu, đi thợ ngõa, thợ mộc, Cõi biết! Cái ngày còn chưa thạo, đêm hôm bị tuần trong phường bắt nạt, phải dạt ra đầu ô, như Cõi vừa thấy lắm đóm đuốc trước mặt. Ở những nơi nửa phường xóm, nửa đồng không mông quạnh này, đến cả trăm kẻ cướp tụ tập cũng chẳng ai biết đâu, huống chi những cái đuốc lập lòe ma trơi hay người đi lủi thủi. Bởi thế, ở các cổng tỉnh còn bộn bề hơn trong phường. Bất giác, Cõi thở dài. Những năm gần đây càng lắm người ra tỉnh. Mất mùa, vỡ đê liên miên, người ta đi tha phương.

Cõi về đến chùa Xiển thì đã tối mịt. Vừa thấp thoáng lũy tre, ao bèo, con trâu nghênh sừng lẳng lặng qua, rồi đuốc đóm chấp chới, bây giờ thanh vắng, cứ ang áng nhớ đường mà đi. Tiếng mõ thỉnh kinh, niệm Phật đều đều như nước giọt gianh. Mùa hoa mộc rưng rưng ngan ngát, thơm thanh khiết. Hai cái cột xoan cổng tán đã xiêu, chỉ một trận mưa rào mùa hạ tới thì đổ cả. Cái liếp cành rong đã hạ xuống, nhưng cũng tuông một mảnh, cả người lọt vào được. Nhưng mà chặp tối không ngửi mùi khói bếp, không tiếng gọi lợn, không tiếng cãi nhau chửi rủa léo xéo. Con người đã vào cõi khác, u tịch trầm ngâm không như cái nhộn nhạo thường ngày ngoài trần gian.

Gian giữa chùa, trong ánh đèn dầu trám lung lay đỏ bẻm, chú tiểu đương tụng kinh. Mỗi lần thỉnh cái chuông nhỏ trước mặt bằng bàn tay úp, cái đầu trọc tròn xoe cúi rạp, đến khi ngửng lên, tay mõ lại đều đều, tiếng niệm Phật rì rầm thăm thẳm. Cõi đã nhận ra chú tiểu là thằng bé trong Sủi chạy ra năm ấy. Bây giờ nó đã lớn. Có còn nhớ làng bị đốt, cha mẹ chết cháy hay chết chém, mày còn nhớ không? Cõi cứ đứng yên ngó khe cửa, không bước vào, không muốn động đến giờ giấc của nhà chùa. Và Cõi cũng đương chìm đắm trong cái thư thái này. Nhưng lòng Cõi thì không yên. Cõi cứ nhớ hôm nao thằng bé trần trụi như cục bùn lăn trong đống lửa ra.

Một lúc, một hồi chuông lanh lảnh ngân nga rồi vắng lặng, chú tiểu đứng dậy. Trong tĩnh mịch như thế, hồ như cảm có hơi hướng gì lạ. Chú tiểu quay ra, mở then cửa, giơ bát nến khói đen cuộn lên. Chú tiểu đã nhìn thấy người ngồi ghé bậu cửa đứng dậy.

Cõi nói khẽ :
- Nhà chùa có còn nhớ tôi không?
- A bác, lạy bác, con... Con quên làm sao...

Hai người vào nhà hậu. Sư tổ chùa Xiển đã về nước Phật lâu rồi. Mấy năm nay, sư ông Thiện Tâm lại hay ốm đau, mọi việc chùa, cơm nước, kinh kệ, khách thập phương lễ bái rồi vào hạ đi khuyên giáo, cả việc đồng bãi lấy ngọc thực nuôi thân nhất nhất đều một tay tiểu Từ Tâm gánh vác lần hồi.

Nhà chùa chỉ có sào ruộng hậu vừa cày cấy vừa vườn tược, thầy trò quanh năm quần nâu áo vá. Ấy vậy nhưng sư ông Thiện Tâm vẫn thường nói: thầy ngẫm ra phúc đức cửa từ bi không bao giờ thiếu, thầy đã theo hầu sư tổ được hơn sáu mươi năm đến khi sư tổ khuất núi, bây giờ Phật phù hộ độ trì, có con về...

Bên giường sư Thiện Tâm, chú tiểu Từ Tâm quỳ xuống trước mặt Cõi :
- Lạy bác, bác cho con gọi bác là bố, là mẹ, bác là bố mẹ con, bác nhận cho con.

Cõi mủi lòng, nâng tiểu Từ Tâm đứng dậy. Lại nghĩ đến cái làng Sủi đương cháy.

Tối hôm ấy, sư ông Thiện Tâm hỏi Cõi :
- Những lo toan của bác được đến thế nào rồi?
Cõi chắp hai tay vái sư ông.
- Sư ông có lòng thương hỏi đến. Gian truân lắm, nhà chùa ạ.

Sư ông Thiện Tâm không hỏi thêm, mà nói sang chuyện lúc nãy :
- Bấy lâu nhờ cơ duyên mà bác cho tiểu Từ Tâm về chùa tôi, cái may thật không kể xiết. Thế mới biết đất Phật ở đâu thì có hương khói đấy, không bao giờ suy vi được.
- Công đức thầy dựng nên, đời này mới có đời kia, đời đời thế vậy.

Đêm ấy, ở gian nhà hậu trông ra vườn sau, Cõi kể cho tiểu Từ Tâm nghe lúc ban ngày vừa về qua làng, thắp nén hương cúng thầy với oan hồn cả làng. Tiểu Từ Tâm nói :
- Ở chùa năm nào vào hè ra hè, sư ông cũng dạy con cúng cháo giải oan cho chúng sinh, con lại khấn về làng, con vảy cháo về phía bờ sông.

Trận mưa đầu mùa rào rào trong đêm, như cả nghìn vạn người ai oán khóc. Nhưng Cõi không nói một lời về cái đau đớn khủng khiếp những ngày qua. Cõi nghĩ dầu sao nó cũng còn là đứa trẻ, lại đã lênh đênh mồ côi thế này, chẳng nên cho nó khổ ải thêm nữa.

Tiểu Từ Tâm hỏi bác Cõi :
- Bao giờ bố lại đi?
- Mai.
- Hay là bố ở đây. Thầy con dạo này yếu lắm không biết thế nào. Mai bố lại đi đâu?

Cõi ngồi lên, như lắng tai đợi dứt mưa. Rồi nói :
- Đi việc ấy. Bao giờ xong thì mới yên được.

Từ Tâm lặng im. Đứa trẻ mười mấy tuổi đầu, nhưng những khốn đốn đã trải thì óc đã cả nghĩ chẳng khác người có tuổi. Dẫu chẳng rõ việc gì nhưng Từ Tâm hiểu câu nói ngắn ngủi mà buồn, mà quả quyết ấy có ý nghĩa đến như thế nào.

Hôm sau, Cõi đi sớm. Sư ông Thiện Tâm chống gậy ra tận cổng ngoài.
- Biết khi trở lại có còn gặp nhau không?
Cõi chắp tay vái nhà sư.
- Nhà chùa cho lộc cứu vớt tiểu Từ Tâm, không bao giờ con quên được, thì dẫu rồi đây thế nào cũng là như ta còn gặp nhau, sư ông ạ.

Sư ông Thiện Tâm không nén được nước mắt lã chã trên khuôn mặt úa võ vàng.

Chỉ mới mấy ngày ở Kẻ Chợ mà dường như đằng đẵng. Căn do chỉ vì thằng lãnh Quang đã chạy chết về Sơn Tây rồi. Mọi việc phải tính lại cả. Chi bằng hãy lên Bỏi cái đã.

Buổi trưa, Cõi sang đến bến. Cõi đã thuộc nơi vạn trú những giờ giấc các nan thuyền qua lại. Bến Bỏi đã là làng nhà, khác nào nơi chôn rau cắt rốn. Mà Cõi còn trông vào đây, trong khi phương nào cũng bơ vơ rồi.

Bác cả Bỏi với một lũ tay lưới cởi trần phơi cá trong những cái nia đại đặt trên mái khoang. Nghề này học được dưới đường bể, tháng sau đã sẵn cá ướp bán cho phường buôn các chợ ven sông để các nhà khó mua về trữ, phải khi mưa dầm gió bấc, ăn cá sông muối khô còn nạc hơn cá mắm bể, mà khéo tay còn làm nước mắm ăn Tết, chẳng kém mắm cáy. Bác Cả rõ ra một nhà chài lão luyện nghề, cả đời đứng chèo chống, hai vai nở lực lưỡng hơn vế chân. Chẳng một vẻ nào là tướng cướp. Cũng hay ở đời, biết bao kẻ như hầm hố cắm chông, nhưng lại có người như bác Cả mà lắm người sợ, người phục. Bọn quan nha các huyện và ở Kẻ Chợ tảng lờ làm như không biết kẻ cướp bến Bỏi, tướng cướp bến Bỏi, nhưng trong dân gian thì lũ lượt tìm đến vái lạy, kêu cầu như trước bàn thờ Đức Ông và những ông hộ pháp thiện ác giữ cửa chùa.

Bác Cả trông lên bờ, thấy Cõi :
- Đã về đấy a? Công cốc chứ gì!
- Chẳng được một hạt việc. Chán quá.
- Việc gì mà chán! Phải nghĩ nó lại cút ngay về Sơn Tây, thế là nó khiếp chúng mày, khiếp cái gan chúng mày. Về đây nghỉ đã, rồi lại tính, ngày rộng tháng dài mà.

Cái bến đò ngang sang Bỏi những buổi chợ vẫn tấp nập.

Vào mùa cạn, các bè luồng, bè gỗ, bè vỏ dó, bè củ nâu, gỗ, bè sơn thùng gỗ mò trên ngược về đậu dài dằng dặc đến tận bến Bà Móc, chợ ống Nước dưới Kẻ Chợ trên bến dưới thuyền vui như hội.

Đến bữa chặp tối, Cõi mới biết chuyện vừa rối Cõi đi, ai nấy đều sốt ruột. Bác Cả đã nhắn xuống dưới Kẻ Chợ. Trong đám nhốn nháo đêm hôm ở đình Hàng Hòm vẫn có người bến Bỏi, cả lão quán nước cứ giả bộ ngơ ngơ ăn nói lửng lơ thế, đã đủ biết, mà không ai thấy Cõi đâu.

Cõi vái bác Cả :
- Bác cũng là người đẻ ra con, bác thương con.
Bác Cả quát :
- Ô hay, làm thằng đàn ông không được lúc nào cũng vái lạy, lúc nào cũng vãi nước mắt ra. Bây giờ mày muốn sao?
- Con phải lên Sơn.
- Được rồi. Hôm nào ngược, tao sắm cho cái nan tre đực. Nhưng mấy bữa rày được nắng, hãy ở nhà phơi cho xong vụ cá này.
- Dạ.

Việc nhà chài, có vụ có mùa vất vả chẳng khác những nặng nhọc cổ cày vai bừa đồng ruộng.

Suốt ngày dãi nắng, đến tối sáng trăng, thuyền dỡ mái khoang, mâm cơm dọn ra như ở giữa sân gạch thoáng mát hây hẩy gió. Đương vui chuyện, bác Cả hỏi Cõi :
- Mày tằng tịu với con vợ thải của thằng lãnh Quang?
- Không, oan cho con.
Bác Cả cười :
- Tao hỏi cợt thế thôi. Chứ thằng người đã có phen những con nặc nô ấn vào cửa Âm Phủ rồi thì phải biết kệch quân chó má chứ.

Cõi chỉ biết cúi mặt, ực một ngụm vào họng như tiếng trả lời câu nói điếng người. Cái gì bác cũng biết, như từ trong bụng người ta đi ra, bác thánh quá.
Hôm sau, Cõi lại ra anh thuyền chài. Lúc thì ve vé chiếc nan đi dăng lưới, trưa nắng, cởi trần, truyền mái khoang bưng nong nia phơi cá. Chẳng khác mọi người xung quanh, mọi công việc ngày ngày. Không gì sốt ruột hơn chờ đợi, vừa nấn ná lại vừa nhấp nhỏm. Mà không dám hỏi. Tính bác Cả thế, chỉ nói như ra lệnh. Chuyện rắc rối, khó khăn đến thế nào cũng hỏi một câu, nói một câu. Rồi lại như dạo nào, Cõi dông dài đi bỏ lưới, đi cắm câu, lại có đêm vác thang theo anh em đi ăn cướp. Lắm lúc, cáu bực vu vơ, nằm khàn trong bụi lau, trông lên bờ, thấy xa xa những cây xoan cuối mùa, cành trụi đen, đàn cò trắng bay qua, không biết về tận đâu, như trêu ngươi thằng nằm xó. Nghe sóng óc ách rồi ngủ quên lúc nào.

Bác Cả lay Cõi.
- Tao đã chọn được cái nan tre cật nhẹ lắm. Sắm lưỡi câu, lưới lửng, lưới chũm đủ phòng khi. Cả đồ nghề thợ mộc. Ở dưới nước thì sống nhờ con tôm con cá, lên bờ có cái tràng, cái đục, cái thùng dầu. Thế nào thì cũng không chỉ ở Sơn một ngày. Đi đâu cũng phải cẩn thận cắm cái nan một chỗ. Nan là cái nhà, cái cần câu cơm, chỗ nào cũng kiếm được, cá ăn cá bán, thế là mọi thứ xong. Bây giờ mày đi hôm nào cũng được.

Bác Cả chu đáo, trước sau, định hỏi thì thấy đã đủ, lại không hỏi. Trong bụng mừng khấp khởi, hôm sau, Cõi lên lò rèn trên bến làm cái lưỡi cuốc, đánh hai con dao - bấy giờ chưa bận rộn thời vụ gặt hái, bố con nhà phó lò chỉ phòm phọp kéo bễ, động búa nửa buổi đã xong tất. Cõi xách con dao mới ra rệ sông, thẳng cánh phạt một lúc, đã ngả quang mấy bụi chuối dại Được rồi, những con dao đem lên Sơn làm cỏ cả nhà chúng nó được, phen này thì mày chạy đằng trời.

Tinh mơ, sương đọng ngọn lau lộp độp rơi xuống nan như mưa nặng hạt. Những cái thuyền đi cá sớm đã vun vút ra, mặt sông vẫn mịt mù hơi nước và những con gà ngỡ chưa sáng còn gáy ran quanh mạn lái.
Đêm qua, Cõi đã đến chào bác Cả. Bác cả Bỏi nhìn Cõi giây lâu rồi “ừ” một tiếng, nét mặt tươi dịu, bộ râu rung rung. Tiếng “ừ” bằng lòng như bảo: được rồi, mày cố làm nên việc.

Mọi thứ lỉnh kỉnh đã xếp cả lên nan, mà nửa đêm qua Cõi vẩn vơ không chợp mắt. Nhớ cái hôm bỗng dưng bác Cả hỏi có giăng gió cái con vợ thải nhà lãnh Quang không. Rồi biết bác Cả nói chơi, thế mà khiến bây giờ Cõi áy náy. Nhà chị Tư đáng thương kia bị nó ghét bỏ thì Cõi chỉ nghe Trắt kể, nhưng cái ả đương dở dại dở điên đây, có thể nó dám cầm dao chém con dê già lắm. Giọng cay đắng, tròng mắt đỏ đọc, có thể. Thêm một tay hạ thủ được con chó. Hay là cho ả đi theo, biết đâu mà nên việc. Huống chi, ả lại thông thuộc đường đất cái dinh cơ nhà nó trên Sơn.

Nhưng ý nghĩ về người đàn bà ấy cũng chỉ loáng thoáng chập chờn từng lúc. Cái đau giết người mà con mụ đồng chiêm gây ra khiến Cõi không thể nào để tâm hơn về cái hạng đàn bà bây giờ. Dẫu cho là chưa tình nghĩa một đời, thì đã ngần ấy năm trời ăn nằm với nhau, mà nỡ nào nó lật mặt không biết gớm tay, nó cầm con dao đâm chết tươi cái đứa mới đêm trước ngủ với nó, mà tội nợ, mà oán thù truyền kiếp nào cho cam.

Nghĩ thế, Cõi bàng hoàng, Cõi không còn tơ tưởng đến chuyện có thể đem cái người đàn bà tội nợ kia lên Sơn. Thế mà băn khoăn, mà bồn chồn, không dứt nghĩ được, chốc lại ngồi, cái nõ điếu lại kêu giòn tanh tách. Đến lúc nghe những con vạc đi ăn đêm về lác đác qua kêu trong sương ngang đầu, biết đã tang tảng sáng. Cõi vớ cái điếu cày vẽ một điếu hút cho tỉnh hẳn ngủ.

Chiếc nan của Cõi đã ra ngoài bụi lau, nhấp nhô giữa dòng nước cuồn cuộn đỏ. Hai tay hai mảnh ván, cái bàn vả chém nước như con cá bơi. Từ đây lên Sơn Tây, đồng đất chỉ quá nửa buổi. Nhưng chẳng biết đường sông mà lại ngược nước thì mấy ngày. Gặp nước tĩnh thì cho nan vào men bờ, thả vài quãng lưới, nhấc lên con măng, con chép có khi gặp con chắm đói, lôi băng cả nan đi một quãng. Hôm trở trời, đêm câu cắm trong bờ chỉ được con rắn mòng. Sáng sớm chợ mai, chiểu đến chợ hôm, chỗ nào thấy người lố nhố ra bãi thì biết gặp bến, gặp làng, đấy có chợ. Nhưng chợ ven sông bao giờ cũng có thoảng có thì chốc lát. Cõi đẩy nan vội vào bán cá, đổi cá lấy gói muối, đong đấu gạo rồi bẻ củi, đẵn ống nứa, xuống nan đun nấu, làm cơm. Tối tối, vào trú bụi sậy, núp chỗ bờ hoắm bớt sóng, hôm sau lại đi. Ngồi mũi, hai tay như vây con cá, cái nan chổng đuôi mải miết ngược nước.

Cũng một dòng sông Cái, nhưng càng lên, mỗi lúc một khác dưới kia, làng mạc và bãi ngô, bãi dâu đôi khi nhô ra mép cát, mùa nước cả, các nhà phải khuân dọn chạy lụt vào trong đồng cao. Trên này, suốt ngày trông không thấy một mái nhà, hai bên sông bát ngát lau sậy, hoa lau trắng mờ, lúc nào cũng như sương chiều. Hôm qua, thấy một bến cát đỏ, ghé vào hóa ra có tảng đá ong trỗi lên. Rồi đến quãng lác đác bờ tre, tường đá ong xếp, không phải vách đất. Những cây cải dại như dóng ngô, không ai hái, đã xù xì như gốc chuối cụt. Thế mà những đàn bướm vàng, bướm trắng vỡ tổ ở đâu ra. Mùa rồi, dưới bến Bỏi, bướm ra nhiều Nhưng bây giờ đã tàn các loài hoa, bướm đã vãn rồi vắng hẳn. Trong khi bướm ở trên này vẫn ra nhiều như hoa cải vàng nở trôi trên dòng sông. Đàn bướm rống cánh như nhung như gấm giỡn theo bè nứa vào bến, như những cái bè chở đàn bướm từ trên ngược xuôi về làm đẹp tận Kẻ Chợ. Đàn bướm vàng phấp phới mặt nước bỗng bay cất cao lên bờ lác đác mái nhà, lá cọ, tường đá tổ ong đỏ hắt. Chắc gần tới thành Sơn. Nhẩm tính, không nhớ được nan ngược đã mấy ngày, sắp đến Sơn Tây, đàn bướm rực rỡ như đón rước, chắc là điềm lành. Lúc chia tay với sư Thiện Tâm lại nhớ lời dặn của bác Cả, đến đây thì được những đàn bươm bướm vàng nô nức múa chào. Tự dưng, Cõi thấy vững tâm. Trông ra sông, bướm tới tấp bay, như đàn bướm vàng đã theo nan từ Kẻ Chợ lên.

Chẳng mấy lâu, Cõi ghé hỏi thăm biết đã đến Phù Sa, trông lên thấy bờ cỏ cao như con đê vào đường cái quan. Bến tỉnh có khác, đò ngang sang Phú Nhi trở người về chợ Nghệ ngày nào cũng có chợ. Gồng gánh qua lại tíu tít, mép nước đậu san sát những bè gỗ, bè nứa lá đợi xuôi Kẻ Chợ. Trên đường, ngựa quan hay ngựa lính hỏa bài phi rầm rập, bụi đỏ lầm.

Đã xế chiều, nan của Cõi ghé vào giữa đám bè cây luồng, lá cọ đậu cao lừng lững như những tòa nhà dập dềnh mặt sóng. Những người kiếm ăn sống nước, nay đây mai đó, ai cũng như đã sẵn quen biết. Cõi sang bè được kéo vào ngồi ăn uống rồi ngả xuống chiếu xóc đĩa. Toàn những người nghề chở bè, kéo bè - các chủ bè thì từ chặp tối đã rủ nhau vào tỉnh chè chén, đú đởn hàng thịt chó, thịt trâu thui trong phường Đông Tác đầu chốt Nghệ, nghe nói ở những nơi ăn chơi ấy có hát phường chèo, hát nhà trò. Những người chở bè thuê chưa bao giờ lên đấy mà cũng chẳng để ý. Các mụ bán quán, gái hàng cơm với chè rượu, bài bạc cả đêm trên bè thế này cũng đã đủ mê tơi. Chẳng biết Cõi là thằng nào, ở bè hay ở thuyền, nhưng thấy có giỏ cá, có ống rượu, lại có gạo góp thổi cơm, thế là chụm đầu một mâm ngay được. Trong câu chuyện Cõi dò hỏi bọn khố rách chở các bè này, dẫu đã thuộc nhẵn bến Phù Sa, lại thường có khi xuống các bến dưới kia, nhưng vẫn không hề bước chân lên phường phố đất Sơn Tây, đất Kẻ Chợ, nên cũng không biết gì. Chẳng qua cầm cái cày hay độn vai đẩy cái sào ngược nước cũng thế, người lên khỏi cánh ruộng xuống con nước cũng là moi móc đi kiếm cái ăn cho vợ con ở nhà mà thôi.

Chẳng mấy lâu, Cõi đã thuộc bến, lại có hôm lên chợ Nghệ ngồi quán như một chủ bè qua lại Sơn Tây, đã lẫn với tay chơi sõi.

Cõi cắm nan trong bụi lau, buộc chắc cho sóng to cũng không tuột được. Rồi lên chợ Nghệ, - chợ quê, chợ núi mà người đi chợ đỏng như kiến cỏ. Chỉ la cà một thôi trong chợ đã biết mọi sự về dinh cơ lãnh Quang. Ông lãnh không ở chỗ cũ. Ông đã lên quan chánh lãnh binh, ông sai lính và đốc thợ trong làng ra làm dinh cơ mới, còn bề thế hơn tòa nhà dưới Kẻ Chợ - ấy người nọ nghe người kia, chưa chắc ai đã nhìn thấy cái nhà ông ở dưới Kẻ Chợ. Bây giờ dinh cơ mới ở đường vào cửa Hậu, mỗi chòi canh cổng một bọn lính gác, cha chả là oai, nhà ông đội thăng lên ông lãnh oai nghiêm khác nào dinh quan tổng đốc dưới Kẻ Chợ, trên Lâm Thao. Mà sẵn lính tráng trong tay, các ông quan võ hét ra lửa, quyền sinh quyền sát gấp mấy ông quan văn ngồi trên cao.

Đi với những gồng gánh các nơi đổ về chợ, Cõi đã ra cửa Hậu, qua cổng nhà lãnh Quang. Cũng hệt cái nhà dưới Kẻ Chợ. Thế thì càng dễ, nhưng bây giờ thì sao, hãy cốt lọt được vào đã. Đồ nghề mộc xem ra dễ kiếm việc nhưng khó xử. Nghễu nghện vác chiếc rìu đi hỏi việc, ai biết được nó là thợ mộc hay là kẻ trộm, kẻ cướp. Cái đinh, cái búa thật lộ liễu, dễ bị nghi. Mà cái nghề làm mộc thì trên này vứt đi. Không thấy ở đâu bóng dáng chiếc hòm thợ mộc. Đất đường rừng không như dưới Kẻ Chợ, đóng cối, làm nhà, thì làng xóm giúp một tay chẳng cần đến mặt anh thợ nhọ. Nhưng thấy người bán dầu ngồi cả dãy ngoài chợ. Thế thì lại đi bán dầu.

Lại làm thằng bán dầu. Dầu sở, dầu trẩu, dầu lạc, dầu thắp cũng là nghề thực của Cõi xưa nay. Có điều là phải ngừa trước. Đây chẳng phải là Kẻ Chợ, không ai quen, nhưng Cõi đã từng vào nhà lãnh Quang, nhiều đứa có thể đã chạm trán Cõi, ngộ nó mà nhận ra thì khốn. Cái này khó nghĩ nhất đây.

Cõi lại xuống nan. Càng thấy bác Cả cho Cõi đi nan lên thì thật giỏi, bác đã bảo “nó là cái nhà” của mình, ở nhà thì không phải nhờ vả, không lộ tung tích.
Cõi nằm nghĩ suốt ba đêm.

Rồi Cõi điềm nhiên lấy con dao xẻo ra từng miếng má, lại đâm nham nhở vào trán cho chảy máu lõa lợi. Cõi cắn răng, nằm sốt li bì mấy hôm. Cho đến khi hai bên má, trên trán đã thành sẹo, Cõi cắt mớ tóc để lòa xòa như người mới ốm dậy, rụng cả tóc, đầu loi thoi cạo dở. Chòm râu quai nón trổ ra, rậm rịt lấp nửa mặt. Cõi đã thành ông lão dị dạng, mặt rỗ về vệt, bước đi lom khom không còn ra dáng người cầy cuốc khỏe mạnh nhanh nhẹn xưa kia.

Hôm ấy, sắm sửa quyết định. Hai cái thùng vầu ghép, một bên đựng dầu trẩu, đèo ngoài ống dầu lạc, một thùng không, trong để con dao bầu, dao phay. Bộ quần áo nâu da bò, bạc như mo nang, Cõi xé thủng thêm một bên gối cho thật tơi tả, thất thểu. Định dạo qua cổng, có cơ hội vào được thì hay, bằng không thì đến tối, quẳng thùng dầu đâu, rồi chui rặng ô rô. Đất lạ, nhưng Cõi không lúng túng, bỡ ngỡ như cái lần vào dinh lãnh Quang dưới Kẻ Chợ. Bây giờ Cõi đã từng là quân cướp bến Bỏi, bơi lội như con dái cá, leo tường chẳng khác nhái bén, khóa nào cũng móc được, mở êm ru.

Cõi đi qua mấy lần, đã để ý vẫn cái bờ rào ô rô kín mít ngoài cùng, rồi đến tường đá ong. Bên trong, một vòng hào đầy nước bọc quanh, ở giữa, cũng tòa nhà bát vần hàng chục gian, hai phía nhà ngang, nơi kho đụn, xay giã, nơi bếp núc, nơi lính tráng ở. Gian nào cũng hàng hiên chạy dài. Đằng trước, cái sân gạch mới, cả trăm người ngồi đứng được. Trên hè, lại chiếc sập gụ chân quỳ, ngày ngày có việc quan lãnh Quang ra ngồi đấy, vẫn như mọi khi ở dưới Kẻ Chợ. Đằng sau nhà, một khoảng vườn cây cối lẫn tre pheo. Có khi lại cũng là nơi treo các rọ tù trên cây. Cái thằng Diêm Vương này ác tuyệt trần đời, không làm nhà ngục, chỉ bỏ rọ người treo lên cây, mặc mưa nắng, khi nào chật quá, hết chỗ buộc rọ thì lại đem vứt trôi sông cho chết bớt đi. Cõi định đến xế trưa đi qua cổng một lần nữa. Rồi náu vào cái gò mối sau bụi tre, đợi nhập nhọạng tối, xé bờ rào ô rô vào sau vườn. Bơi qua hào rồi leo lên cây nằm phơi mình đến khi sương xuống nhạt hết hơi, người như đống cỏ khô, những con chó và cả đàn ngỗng thính người cũng không thể đánh hơi được. Những việc này đã thuộc như nghe bài thầy giảng.

Cõi lên chợ Nghệ. Thường ngày, chợ Nghệ quá buổi đã vắng người làng xa. Nhưng ngày mai phiên, các vùng xung quanh, từ Cần Kiệm ra đến Bún, đến Gạch, người đã về chợ từ trưa hôm trước, đem của rừng, những củ nâu, mật ong, các thứ lá thuốc, rễ cây thuốc hái trong núi và những chiếc bu nhốt con trăn, con khỉ, đôi khi người Mường, người Mán trên Ba Trại xuống, khiêng đi chợ cả cái cũi con hổ, con gấu bẫy được. Thành thử lại có cả cái chợ Nghệ con con họp từ trưa hôm trước chuyên tay bán đổi vai. Bên hào thành trước cổng chợ có các hàng cơm, quán trọ tươm tất đủ cả.

Cõi ngồi ngất ngư vài chén với bánh đậu Nghệ nướng vàng óng, chấm muối. Trông ra, ánh nắng đã xuống chấm ngọn tre. Cõi đứng dậy, thong thả quảy đôi thùng đi. Đã đành xưa kia cũng đã quen trận mạc theo thầy kéo quân qua hầu khắp đất Sơn Tây, nhưng đêm nay thì thế nào? Lạy thầy, thầy sống khôn chết thiêng...

Nắng đã xế ngang lưng bờ tre, vàng rợn như sau cơn mưa có cầu vồng mọc lên trong bụi cây. Cõi quảy đôi thùng, nhẹ nhàng bước. Tiếng tù và vừa dứt, người lính trên chòi cổng xuống đẩy hai cánh cổng mở hoác. Có đồ nhà bếp về. Mấy người lính ở trong sân ra, như đã thành lệ, thấy người nhộn nhạo thì canh chừng rồi cùng lính canh đẩy hai cánh cổng lim nặng như tấm phản, khép vào cho thầy đề khóa lại.
Lúc ấy mấy người đánh hai con trâu mộng cùng với một gánh hai bu gà Mía ngon thịt có tiếng. Mấy hôm rồi, đã lân la hỏi chuyện bọn lính lệ, quân gia nhà lãnh Quang ở hàng quán chợ Nghệ, biết được các thói nó ở các buồng vợ và cả những khi lãnh Quang vào chân núi Ba Vì săn nai, lại các dịp nó lên tỉnh trên Lâm Thao. Vừa oai vừa cẩn mật, thôi thì tuần tráng canh đường, đứng đường, tổng lý các làng ven cũng phải vất vả ra túc trực. Quân đi một đoàn, có đến mấy người cùng cưỡi ngựa, đội nón dứa chóp bạc, quần chổi nâu, đeo gươm giống hệt ông chánh lãnh binh. Muốn ám hại cũng khó biết người nào là nó. Từ khi mấy lần chết hụt dưới Kẻ Chợ, lại trở về Sơn, càng phòng bị ráo riết. Cõi đã trông thấy mấy con trâu thịt béo tròn, những bu gà Mía, lại tiệc tùng đến nơi, cái tật ham mê chè chén thì nó không giữ gìn được, của ngon vật lạ quảy vào kìn kìn thế kia, chắc là lãnh Quang đương có nhà.

Cõi lững thững qua, mặt ngước thẳng, nhưng mắt nhìn xéo vào cổng. Đôi trâu mộng nữa vào rồi, những người nhà người lính tíu tít ra mở cổng, lại sắp đóng cổng nhộn nhịp. Người gác trên chòi canh vẫy cái tay thước, nói chõ xuống :
- Các ông đừng khóa cổng vội!
Rồi gọi ra đường :
- Thằng già kia, vào đây.
Cõi quay lại không thấy ai. Nhìn lên cổng, hỏi to :
- Thầy cai gọi tôi?
- Vào đây.

Cõi vẫn cái đòn gánh trên vai, đứng ngoài cổng. Người gác trên chòi đã xồng xộc xuống :
- Vào hẳn trong này. Các ông đóng cổng lại.

Cả mấy người đóng cổng xong xúm lại, như sự lạ. Cõi vẫn điểm nhiên nhìn mọi người, toan hỏi: “Các ông mua dầu?”. Nhưng người gác nọ đã sừng sộ :
- Mày quảy cái gì?
- Tôi đi bán dầu.
- Bán dầu à? Thế thì vào hẳn đây, bỏ cái gánh xuống.

Cõi đặt hai chiếc thùng ngay ngắn sang bên - ý tứ, cẩn thận, rồi đứng khoanh tay. Người lính thình lình nện một tay thước vào bả vai Cõi.
Cõi kêu :
- Tôi đi bán dầu mà!
- Không giàu với có gì cả. Ông hỏi, thật mày bán dầu a?
Cõi lật nắp thùng, mặt dầu chẩu vàng sẫm, lại lấy ống dầu lạc xuống mở nút ra.
- Dầu chẩu, dầu lạc, ông mua...
Giữa lúc ấy, cả lũ lính kêu lên :
- Bỏ mẹ mày rồi!

Lập tức Cõi bị dằn ngã ngật xuống. Người lính rút sợi dây mây trên mái cổng, trói ghì cả hai tay hai chân. Cõi kềnh ra như con lợn sắp đem chọc tiết.
- Ối giời ôi, tôi làm gì mà các ông trói tôi?
- Nằm đấy rồi thì mày biết.
- Cắn rơm cắn cỏ lạy các ông.
Người lính nói dõng dạc như hiểu thị :
- Quan đã có lệnh cấm ngặt những đứa bán dầu qua cổng nhà quan. Mày không biết thì mày chết. Ông chỉ có việc trói cổ mày lại. Rồi quan cho đánh mày một trăm roi, bấy giờ mày mới rõ mày có còn sống không!
- Quả tình con không biết. Con ở trong Bương Cấn ra. Lần sau con xin chừa.
- Rồi thì mày chừa, được rồi, còn sống thì còn chừa, nhưng mày đã thuộc chưa, thuộc cái lệ vào cửa quan phải có quà đấm mõm, đấm mõm chúng tao đây này. Mày có bao nhiêu tiền?
- Không...

Người lính cúi xuống nắn hầu bao tức khắc. Trong thắt lưng lão già chỉ có một xâu tiền kẽm.
Người lính định đút vào ngực áo. Một người lính đứng cạnh cười hể hề :
- Ông vừa bảo đấm mõm chúng tao kia mà. Chia ra.
- Mỗi người một hai kẽm cũng là lấy may.

Đưa mỗi người mấy đồng kẽm, hết cả xâu tiền, người lính như bực mình, chưa thôi, lại lần lần moi ra được toàn những thứ kỳ quái. Đằng lưng nó, ép vào cái bẹ chuối lòi ra một con dao sắc. Hèn nào, lúc quật cái tay thước vào bả vai nghe keng một tiếng. Đến lúc đá cái thùng, một bên dầu đổ tung tóe, một thùng kia văng ra cuộn thừng đay, con dao phay, một dao bầu. Hai con dao mới đánh sáng loáng, sắc ngọt. Làm sao, thằng bán dầu lại đem những con dao này đi đâu?
- A cái lão kẻ Bương, kẻ Cấn này, đi cướp đường hả?
- Tôi làm đồ tể, mổ lợn, mổ trâu, kiếm thêm ấy mà. Ông cai tha cho tôi, tôi biếu cả cái hầu bao.
Người lính quát như át đi :
- Mày chưa thịt được đám nào a? Cái hầu bao chó không thèm nhá.
- Oan tôi quá. Tôi già cả rồi, trộm cướp gì tôi.
- Tao không biết. Rồi quan ra chặt chân thằng bán dầu.
- Tôi có vào nhà quan bán dầu đâu.
- Đi qua cổng cũng phải tội, lệnh quan thế!

Rồi những người lính đang kể lể gì ấy. Không, họ nói chuyện với nhau.
- Cái nghiệp tổ tông nhà quan lãnh này cứ phải đánh thằng bán dầu.
- Chắc ngày xưa bố quan lãnh chứ, bố quan bị thằng bán dầu nhét cứt vào mồm nên đến bây giờ còn thù.
- Cũng vô phúc cái lão Bương Cấn này.

Rồi mấy người lính cầm chìa khóa đi vào. Còn lại người canh cổng. Cõi nói :
- Ông cai tha cho tôi.
- Còn tiền không?
- Chẳng còn đồng nào. Hay là ông cai cầm mấy con dao về.
- Những thằng vừa đứng đây đã vào báo quan rồi, tao chẳng dại, mày trông thấy chúng nó đi vào đấy. Bắt được thằng bán dầu, tao có thưởng. Vào báo quan thì chúng nó cũng có thưởng. Hê... hê...
- Ông cai tha cho con.
- Bố tao sống lại cũng không cứu nổi mày. Tao tha mày để tao thế mạng à?

Nhưng đến tận tối mịt cũng không thấy quan ra. Suốt đêm, Cõi bị trói nằm co quắp dưới đất. Vừa muỗi đốt, rĩn cắn, vừa đau nhức các vết trói, cứ lử lả như người ốm liệt. Thế là lại gặp cái chẳng may rồi. Mấy lần đổi gác, người lính khác đến lại lần túi áo, cạp quần, không thấy gì, lại đạp Cõi một cái lăn chúi mặt xuống.

Gà gáy, nghe phía trong nhà rộn rịch. Tiếng lợn kêu, tiếng trâu lồng, chắc có tiệc hôm nay. Vừa sáng, Cõi đã phải dựng dậy, được cởi dây trói chân. Hai người lính xách cái thùng đựng mấy con dao, tay cầm sợi thừng trói tay, ấn cổ Cõi đi vào trong sân.

Cõi như quen như lạ. Sân rộng, gạch đỏ tía, hệt cái sân làm tội người ở nhà lãnh Quang dưới Kẻ Chợ. Chỉ khác quanh sân viền đá ong bước gai chân như dẫm vào vỏ gấc và cái tường cũng xếp đá ong vàng như đất thó.

Rồi trên sân lại như in những đao búa bày trong cửa quan để đánh đấm hành hạ người: cái cùm, cái gỏng, thanh mã tấu, cây đao, cây thiết lĩnh, thùng lùng, chiếc hèo song, cái tay thước. Trên sập trải chiếu hoa đã bày sẵn chiếc mâm đồng vàng chóe và một chồng gối da xếp, cái gối gỗ mít giống như tạc cảnh ở dinh dưới Kẻ Chợ. Cõi đã thấy trợn, nhưng lại nhớ mặt mũi mình bây giờ đã đổi khác. Cõi bình tĩnh.

Trong dinh hôm nay có tiệc. Hai bên nhà ngang đã tấp nập người làm ra vào, tiếng chày giã nem chạo, khói thui trâu phía vườn tạt mù mịt lên. May ra, nhà người ta đương bận rộn linh đình thế này, có khi còn được đem nhốt chuồng trâu hay bỏ rọ cũng nên. Cõi mơ màng.

Nhưng không, lãnh Quang đã ra xử sớm, định làm gọn trước khi khách khứa đến. Chặp tối hôm qua, thấy báo bắt được thằng bán dầu hay thằng kẻ cướp, lãnh Quang đã định ra xem ngay. Từ khi lên Sơn, lãnh Quang cấm tiệt đứa nào bán dầu đi qua cổng. Mà có ra đường gặp thằng bán dầu, lãnh Quang lôi ngay lại, nọc ra giữa đường, cho lính đánh một trăm hèo. Cả tỉnh Sơn không ai dám bán dầu rong, chỉ ngồi thành dãy ở chợ. Quan lãnh như lên cơn điên, lại như cái hèm, cho nên người thiên hạ cũng như trong quân gia mới đặt ra những sự tích quỷ quái rằng bố lãnh Quang bị thằng bán dầu... mẹ lãnh Quang bị thằng bán dầu... Cả nhà lãnh Quang bị... ở đất sơn cước này bắt cướp, chém cướp thì hàng ngày. Nhưng chỉ nghe đến thằng bán dầu, có thằng bán dầu lãnh Quang đã sởn gai ốc rồi cho đi tróc ngay, đánh ngay. Thế mà vẫn còn có đứa dám quảy thùng bán dầu qua cổng à? Nhưng đêm qua, đang bữa đến lúc say rồi ríu chân lại, các ả nõn nường ra dìu vào buồng. Đến nửa đêm tỉnh giấc lãnh Quang nhớ ngay. Quá khuya mất rồi.

Cõi thấy lãnh Quang thũng thĩnh ra. Vẫn chân bước vòng kiềng, tấm áo the năm thân chuội mộc râu ria lòng thòng quết xuống. Sáng sớm, mặt đã đỏ lựng, đỏ rượu hay đỏ cơn cáu kỉnh, bực bội không biết. Đang đi lãnh Quang sững lại, một tay chống mạng sườn, mắt chăm chăm nhìn thằng tù già râu tóc rối bù lom khom dưới thềm, hai tay bị sợi dây mây thít lại đã hằn tím. Lại ngắm đến tròn nứt kẽ mắt cái thùng dầu với ba con dao sắc được bày ra bên thềm hè.

Một ông lục áo the thâm dài, chít khăn lượt đứng nghe lãnh Quang rỉ tai rồi bước ra quát :
- Thằng già kia, ngẩng mặt lên.
Cõi ngước cái mặt râu tóc xồm xoàm, lồi lõm những mảng sẹo. Lãnh Quang bỗng hét váng :
- Thằng bán dầu giả câm dưới Kẻ Chợ. Thằng bán dầu giả câm, đích nó rồi. Nó đem cả dao vào mà đứa nào dám để nó suốt đêm trong nhà. Đứa nào, tội chúng mày tội chết thôi. Trói thằng bán dầu lại, trói ngay lại.

Cõi bị xô ngã vập mặt xuống. Hai cẳng chân bị quấn dây mây lên đến tận cổ, cả người cứng đơ như cái cột nhà. Cõi như khúc gỗ nhưng không một lời năn nỉ, van xin như tối hôm qua với bọn lính trạm gác ngoài cổng.

Lãnh Quang rít :
- Thằng này biết bay đấy. Cắt gân chân nó đi. Cắt ngay!
Mấy người lính xúm lại. Hai vũng máu tươi đầm đìa tứa ra sau gót chân Cõi. Nhưng Cõi không cựa quậy, không rên rỉ, Cõi yên lặng như người ngủ mở trợn mắt.

Lãnh Quang lên sập, nhưng quên ngồi, cứ đứng lênh khênh.
- Mày có tỉnh không, nghe tao hỏi đây. Mày tìm lên tận đây giết tao. Tao biết. Tao với mày có thù đã mấy đời? Đằng nào thì mày cũng chết. Tao chưa cắt lưỡi mày, tao còn để cho cái lưỡi mày nói cho hả cái vong linh, có khi tao cho sống đấy.

Cõi nằm ngửa mặt, hốt nhiên nước mắt ứa dòng dòng sang hai bên thái dương. Cõi hét to :
- Bẩm quan nhớn, con xin nói.
- Tao cho nói.
Cõi nói thong thả, nước mắt càng chảy xối ra.
- Bẩm quan, thầy con chẳng may chết ở Mỹ Lương. Thằng đội Quang giết thầy con. Con đi cắt cho được cái đầu thằng đội Quang đem về để đồng môn chúng con giỗ thầy con năm nay.

Mỗi tiếng Cõi nói, lãnh Quang giật bắn lên. Đến câu sau cùng “giỗ thầy con năm nay” thì như sét đánh, lãnh Quang bủn rủn ngã đổ xuống, hai mắt ngược xếch lên, cứng hàm lại. Bọn gia nhân rối rít, tất bật vực lãnh Quang vào. Tiếng chân rầm rập phía trong ấy. Đám lính trong sân chĩa sẵn ngọn giáo quanh Cõi đợi lệnh đâm xuống, lại như sợ Cõi vùng dựng đứng, cầm con dao bầu đuổi theo lãnh Quang.

Một tiếng nói vọng ra.
- Dẹp hết! Dẹp hết! Để hôm khác xử.

Cái rọ mới đựng người được vác ra treo lắc lư trên một cành cây cuối vườn. Đám thui trâu đã bỏ dở, chạy hết bạt cả đi đâu, không còn một sợi khói. Cõi sóng sượt trong rọ, nhắm nghiền mắt, thở òng ọc, ngất đi. Hai bên gót chân máu vẫn nhỏ xuống từng giọt.

Cổng dinh lãnh Quang đóng im ỉm. Cây gỗ dõi cổng chèn ngang, cả cái khóa đuôi chuột khóa trái. Ai gọi, lính canh trên chòi cổng chỉ giương mắt nhìn không trả lời, không xuống mở cổng. Thế là tan đám cỗ.
Đêm đến, chỉ có sự im lặng và bóng tối. Trên nhà, trong trại lính, bên nhà ngang tiếng con dơi bay qua. Buổi tuần đêm đã bắt đầu, nhưng không nghe trống. Rồi từng canh, chỉ có tiếng mõ các chòi lác đác đối đáp quanh bờ tường, ngoài hào nước. Cứ thế cho đến sáng, một hồi mõ tan canh. Mấy hôm liền, cổng cài dõi ngang, không một người ra vào. Và đêm canh nếu ai để ý thấy liền cả phiên chợ Nghệ, không nghe tù và thổi, không cả tiếng trống vào canh, tan canh. Ông lãnh Quang ngã ngất hôm ấy không chết, nhưng không trở mình, cấm khẩu, không nói được. Nghe thoảng tiếng tù và, tiếng trống, cả người lại run rùng rùng như lên cơn chó dại cắn. Không ai dám đánh trống, thổi tù và nữa.

Một đêm kia trong bóng tối giun dế nỉ non không dứt nghe ra ai oán triền miên. Chẳng cơn cớ gì người ta cũng đoán được lại sắp đến mùa mưa dầm gió bấc, dầm dề, lạnh lẽo.

Vào khoảng trống canh hai, một bóng người hiện ra, leo thoăn thoắt lên cây dướng cuối vườn, chỗ treo cái rọ nhốt Cõi. Hai cẳng chân Cõi sưng như hai bắp chuối. Đã mấy ngày không một hạt cơm, một giọt nước. Trong kia, lãnh Quang đã cấm khẩu, liệt giường. Không ai có thù oán với thằng bán dầu, cái việc đem xử thằng bán dầu chẳng còn quan nào ngó ngàng tới nữa. Có lẽ quan nha coi như trong sổ sách không có việc ấy. Thằng tù sống hay chết, cũng quên.

Nhưng Cõi không chết, Cõi nằm đau mà vẫn tỉnh, chỉ không nhúc nhích, động đậy được. Cái bóng bò đến, cành cây dướng hơi rung, Cõi biết ngay. Rồi cái rọ được hạ từ từ xuống đất. Cõi nghe tiếng thì thào :
- Đã cởi cho hết các rọ tù chưa?
- Chẳng còn cái nào! Chúng nó khuân nhau đi từ đời tám hoánh. Ta ra thôi.
Một người hỏi vào rọ :
- Cõi hả? Còn sống không?
- Tôi vẫn còn.
- Vịn tay, ra đây.
- Nó cắt gân chân tôi rồi, không đi được.

Có hai cánh tay xốc Cõi lên. Cõi đã nằm trên lưng cái bóng, mấy cái bóng. Những người ấy không lội qua hào, mà trèo lên một thân tre, cây tre trĩu sang bờ bên kia. Đã ra đến chỗ tường tổ ong. Trên bờ tường, hai con mối người cõng Cõi trườn đi rồi luồn xuống chui qua rặng ô rô ra ngoài.

Cái nan cắm trong bụi lau bến Phù Sa, sương đêm còn mù mịt. Cõi lại đau ngất đi, không biết chiếc nan đương thuận dòng xuôi vùn vụt. Một lúc, mấy giọt sương lạnh rỏ xuống mặt, Cõi vẫn nhắm mắt, nhưng chợt tỉnh.
- Cho tôi xin hớp nước.

Cõi oàm oạp uống nước. Nghe óc ách hai bên, Cõi biết đương trên thuyền giữa dòng.
Cõi thều thào hỏi :
- Thằng lãnh Quang chết chưa?
- Không biết .
- Đi đâu bây giờ?
- Ta về Bỏi.
Cõi lại thiêm thiếp, nhưng không phải lại ngất đi mà những tiếng “về Bỏi” đã cho Cõi thấy cái sống rồi. Ngoài kia, làn sóng nhối tưởng như đỏ lừng, chiếc nan thấp thoáng băng băng như cái lá tre.

Chặp tối, đã về đến bến Bỏi. Mấy người xuống bờ cát cõng Cõi lên. Cõi mở mắt, đã thấy bác Cả ngồi đăm đăm trên sạp thuyền. Cõi ứa nước mắt.
- Bác lại cứu con.
- Ừ, con đã về. Còn cái mạng, thế là còn người.
- Nó cắt gân hai chân con rồi. Những con dao đánh ở lò rèn trên bãi, thế là vô dụng. Con thua nó rồi.
- Không, còn người là được. Cho khỏe lại đã, mọi việc ta lại tính sau.

Bác Cả Bỏi nói thế, rồi quay mặt đi. Nhìn Cõi nằm, hai bàn chân vả xuống, bác Cả rơi nuớc mắt. Nhưng bác không muốn để ai trông thấy bác khóc.

Buổi sớm đã sang thu, trời cứ tang tảng từ gà gáy mà mãi chẳng sáng. Những con vạc tưởng đã tan sương lả tả bay về, từng tiếng kêu rời rạc rơi xuống đầu thuyền. Đàn cá trôi, cá tiến đêm ngủ trong hốc đất cũng ngỡ trời đã sáng theo nhau lượn ra giữa dòng. Đến khi, trong chốc lát, mặt nước thở hơi lên, trời lại mù mịt sương phủ như mới tan canh, thế là những cá đàn rối loạn, cuống quýt.

Bấy giờ, các thuyền mới ra sông. Người gõ mạn nan dồn cá, bủa lưới cá tạc tứ tung tránh tiếng gõ, mắc lưới lao xao, người đứng ngoài mũi hất vào khoang những mẻ cá nặng lấp lánh. Có một con vạc ăn đêm về muộn đỗ trú vào bụi lau. Trời đã sáng hẳn, những thuyền cá cũng đã đầy mẻ, thong dong về. Mỗi mùa chỉ có vài buổi nhẹ nhàng mà được nặng cá thế.
Nhưng hôm ấy, sáng hẳn cũng chẳng một con cá nào ra giữa dòng. Chiếc nan xuôi bờ rồi sang ngang, lại dọc về, mảnh tre gõ mạn liên hồi, không một mống cá dồn đến. Mà sớm nay tang tảng từ sớm, rồi lại âm u, đáng lẽ cá phải ra như chấu. Cái gì thế?
Sương muộn, cá đã ra sông sớm hay lại có con giải, con thuồng luồng vào chặn chén hết cá từ nửa đêm rồi. Có hôm, nan Cõi đi nhổ cần cắm cá sớm vẫn còn gặp con giải đói tìm mồi. Những con giải, con thuồng luồng ở sông lớn lập lờ như con trăn dưới nước, dài rộng bằng mấy cánh phản. Có hôm, con giải bơi luồn dưới nan, bóng nó tỏa đen xẫm như nghiên mực, một chốc mới lượn qua hết. Con giải hay lùng cá gà gáy, lúc sắp hết đêm mà trời chưa rạng. Như người ta khỏe mạnh thì ngồi trên nan xỉa xuống một mũi đinh ba, rồi thả thừng cho con giải cứ kéo thuyền đi. Đến lúc đuối sức, con giải, con thuồng luồng bị mũi ngạnh đinh ba cắm vào sườn vào sọ còn cố lồng lộn, đôi khi hất lật cả nan. Thì người nhà thuyền xuống nước bơi đứng, thong thả dường như thờ ơ kéo dần cái thừng lôi con giải lên thẳng bãi cát. Con giải, con thuồng luồng lọc xương nấu cao tốt như cao hổ, còn thịt xả ra vác vào các chợ bán được tiền bằng con lợn ỷ thờ. Nhưng nan của Cõi thì chịu, Cõi hèn sức mất rồi. Con giải mà nổi cơn vật vã đánh sóng lật nan thì Cõi chỉ có chết chìm. Hai bàn chân mất gân oải gót xuống, không khiến được. Thằng người hỏng cái chân mà kiếm ăn ở sông nước, biết tính sao?

Cõi cho nan đậu nép vào bờ cho đến sáng hẳn đi. Tự dưng, thấy sóng dồn dập vờn đến. Quả nhiên, từ trong hốc đất bên bờ lở, một con giải đương lững lững ra như một cây gỗ đen nháy lao ngang sắp đội cái nan của Cõi lên. Cõi mím môi, bíu hai tay vào thành cố giữ khỏi bị lật úp.

Con giải ấy từ đêm đã xục hết cá trong các hốc bên bờ rồi thảnh thơi bơi ra. Cõi nhìn theo hút con giải nguồn đi tận giữa sông. Bất giác, Cõi rười rượi buồn vẩn vơ. Con giải, con thuồng luồng tung hoành thế, con người như ta thì nên thế nào?

Cõi chỉ biết có sông nước. Ngước lên lại thấy sông nước mênh mông. Kể gì khi nước cả, mà vào những ngày gió bấc thổi kiệt nước, dòng sông vẫn một màu đỏ lừ lên hai ven cát và những quãng bên lở bên bồi. Khi chiều đến rào rạt ánh vàng hoàng hôn thì hầu như sông nước rực xẫm cả trời đất. Tối đến, sông Cái thở lên bao phủ cả vùng Kẻ Chợ đến sáng tan sương, cảnh vật bựng rựng như người dậy muộn vẫn còn ngái ngủ, ấy là vì trong đêm hơi thở dòng sông đọng lại một màn sương dày mãi mới rạng sáng được.

Cõi đắm chìm trong màn sương bao phủ ấy.

Thế rồi lại một ngày mới, trên sông tíu tít những thuyền, những nan, những tiếng gõ quây cá từ tinh mơ. Cõi nhìn ra mặt nước man mác sáng dần ra.




0
V

Ngoài vườn chùa Xiển, thửa ruộng hậu làm màu cuối tháng ba đương vào vụ cà. Những luống cà bát được vun gốc, lên xanh mơn mởn, chỉ tháng sau đã ra hoa. Cái rét năm nay hết muộn, năm ngoái nhuận tháng tám bây giờ đã chớm sang tháng hạ mà có hôm còn rơi rớt gió bấc, mưa dây mưa dợ mờ mờ bóng cây gạo cổ thụ ngoài kia. Thế mà nụ gạo đã chi chít sớm. Nay mai, hoa cà tím ngát dưới ruộng, hoa gạo đỏ khé ngã ba đường, hàng đàn sáo đá, bồ các lại về ríu ran suốt ngày.

Chú tiểu Từ Tâm thoăn thoắt xới đất, vun gốc cà. Một chốc dừng tay, chống cán cuốc bướm, nhìn ra lúi húi. Không phải trẻ trâu, có lẽ người đi đường vào nghỉ chân. Nhưng ngã ba đường tận ngoài chân tre, tạt vào xa thế. Cũng chẳng phải khách chùa, hôm nay chưa đến rằm. Nghĩ đoán thế, rồi lại cúi xuống, nhấc cái bướm, mải miết làm. Nhưng lâu lâu ngước mắt ra, vẫn thấy người ngồi đấy. Một lúc, khi đứng lên, mới trông rõ ra một cụ già râu tóc bạc trắng, hai bên nách chống hai chiếc nạng tre, nhích từng bước khó nhọc, ông cụ đi vào chùa.

Từ Tâm ghếch cái cuốc bướm lên luống cà, bước ra xem ai. Tới trước mặt, ông lão thẳng người lên, run run tay nạng, gọi :
- Ôi, con.
- Bố! Bố về chùa!

Rồi Từ Tâm bước lại, ôm hai vai ông lão. Ông lão vẫn xúc động, cả cái nạng cũng loạng choạng. Từ Tâm cúi xuống, xốc ông lão lên lưng. Từ Tâm cõng ông lão vào chùa. Vừa đi, vừa khóc thút thít.
- Sao lại nên nông nỗi này? Bố chẳng nhắn người gọi con.

Ông lão nép mặt vào vai chú tiểu, không nói. Mấy gian chùa vắng lặng. Cái trái nhà hậu đã đổ, những chiếc cột tre được bó lại, để làm củi. Nền đất chỗ ấy trổng cây mộc. Chỉ có mùi hoa mộc thơm ngan ngát nhưng cũng chỉ làm bớt cái hiu quạnh nhà chùa.
Ông lão hỏi :
- Sư ông con đâu?
- Thầy con về đã bốn năm nay rồi.
- Bây giờ chỉ có mình con?
- Vâng.

Ông lão rơm rớm nước mắt. Trước kia, bác cả Bỏi hay nói như mắng: “Vãi nước mắt ra thì còn làm được trò trống gì!” nhưng mà rồi những năm về sau này không giữ được nước mắt nữa. Tuổi tác và bao nhiêu thương đau chổng chất, con người như sập xuống, giống hai cái bàn chân chỉ còn thõng ra thế, có khi tự dưng nước mắt cũng ứa ra.

Ông lão ngước nhìn quanh, nói như nhắc lại :
- Thế là còn có một mình con.

Ngôi chùa, mái tranh, tường đất, hoang tàn. Ông hộ pháp văn đã đổ, chỉ còn cái bệ đất, trên đặt bát bình hương, vẫn được quét tước sạch sẽ, khách đến lễ thì cắm hương, khách có tâm, làng xóm bốn bên quanh chùa tuy nghèo khó, nhưng những ngày có việc thì đèn nhang cũng bày ra đầy đủ. Vậy mà công của không bao nhiêu, đành chịu chùa làng tiêu điều, ông hộ pháp võ bên kia, thanh long đao cũng gãy tụt cả cái chuôi cắp. Ban ngày mà những đàn dơi bay ra bay vào hốc cột như mắc cửi. Bệ thờ Đức Ông thường thì quanh năm được đèn hương nay đã tàn lạnh cả. Cũng là trên đất Kẻ Chợ, ngoài kia dập dìu bề bộn sang hèn, có mấy bước vào trong này mà nhà chùa bần bách tang thương quá.
- Bấy lâu bố ở đâu?
- Bố ở vạn ngoài sông Cái.
- Chân bố đau thế, sao kiếm được ăn...
- Bà con hàng vạn đỡ đần chu tất lắm, chẳng thiếu đâu, bố ở đến hết đời vẫn no đủ, nhưng mà ngày đêm chỉ nhúc nhích trên cái nan, cái thúng bơi quanh quẩn buồn quá.
- Bố về ở với con.
- Bố cũng định về bàn với con xem thế nào. Bây giờ chỉ còn có hai bố con. Cái hôm con thoát được trong làng ra...

Nói đến đấy, ông lão lại nghẹn ngào. Hai người ngồi im một lúc lâu. Như cùng nhớ lại buổi sáng đỏ máu ấy. Từ Tâm chẳng biết gì. Từ Tâm chỉ mang máng không rõ bố mẹ đã chết chém hay chết cháy. Cho đến lúc bố Cõi dắt đi. Đã nhiều ngẫm nghĩ, càng lớn càng nung nấu nhưng chưa bao giờ hỏi ai cho biết được câu chuyện thương tâm đến thế nào. Bố Cõi thì biền biệt. Từ Tâm không nhớ cả tên họ, không biết mình có tên hay không, về chùa, đến năm được xuống tóc, thầy đặt tên nhà chùa cho. Thầy Thiện Tâm chỉ biết việc chùa. Thầy kể thầy đã được ở chùa và đã xuống tóc từ khi còn bé hơn Từ Tâm. Cũng có khi hỏi, thầy chỉ nói: “Xưa thế nào, thầy nhãng hết chuyện ngoài thế gian rồi con ạ”.

Đêm hôm ấy, bữa cơm ngô với chuối bung nghệ rồi hai bố con ngồi mãi. Trời se lạnh, ngoài kia lại mưa, mưa dầm thành giọt, chốc chốc những giọt mưa rơi xuống bập bùng lưng tàu lá chuối. Buồn rứt ruột.
- Lần trước về, chân bố còn vững như mọi người ta.
- Cái già, mỗi năm mỗi tuổi, chẳng thể biết!

Đĩa dầu bấc hiu hiu, lúc chợt sáng, lúc nhòa đi. Từ Tâm ngồi xếp bằng như niệm Phật. Ông già nằm ghếch đầu lên cái gối gỗ. Chừng như đã khuya, nhà ai ở phường ngoài Giám, tiếng gà đã eo óc gáy mỗi lúc một sôi dần lên.
Từ Tâm nhìn bố :
- Bố ơi, con hỏi bố câu này.
- Câu gì thế?
- Con định hỏi bố từ lâu.
- Con cứ hỏi.
- Lạy bố, bố có phải là quan huấn Cao?
Ông già ngồi dậy, chằm chằm ngó Từ Tâm, rồi nói :
- Bố không phải là quan huấn Cao. Bố là học trò quan huấn.

Rồi bố Cõi quay mặt, chắp tay lạy vào vách hai lạy cung kính, như chuyển lên thầy cái lạy chào của người trẻ tuổi biết trọng thầy.

Ông già và nhà sư còn rủ rỉ chuyện có đến sáng bạch. Cha mẹ sinh ra ta, thầy cho ta được chữ. Ông lão Cõi chẳng có nổi mấy hạt chữ. Đã mồ Cõi, nhà lại khó quá. Mài mực, viết phóng, nhai chữ ê a, khi người trưởng tràng bảo nhận mặt chữ, trông thấy thầy cầm cái roi mây lại nhấc cái bút son, đã run. Nhưng mà nhớ không thể quên, nhớ thầy nhớ anh em đồng môn ngày ngày nằm, ngồi xúm xít quanh thầy. Những chuyện đồng môn nghe kể như cổ tích đã bao đời. Ngày mùa, đến nhà thầy cày bừa, tát nước, làm cỏ, gặt hái, góp giỗ chạp, tết nhất. Nhỡ mà thầy mất, đồng môn đi lại, trông nom lo liệu việc nhà thầy, thầy đã khuất, còn cô, thì đồng môn như con cái trong nhà.

Chẳng được chữ nghĩa là bao, nhưng cứ nhất nhất nghe anh cả trưởng tràng. Người trưởng tràng cũng ví như con trưởng nhà thầy mà thầy đã cắt đặt ra mỗi khóa, mỗi nơi thầy ngồi bảo học. Người trưởng tràng được sự phó thác và cái hãnh diện hồ dễ ai đã được. Thầy ngồi đọc sách tựa tráp trên phản, trưởng tràng lo buổi học. Cũng là người đi học, nhưng lại là người thay thầy bảo ban, thưởng phạt. Dẫu cho mỗi người thay một phận, có không được học thầy nữa, mà người trưởng tràng vẫn trưởng tràng cả đời.

Những chuyện xưa một ngày nên nghĩa ấy đã nhập tâm vào môn sinh bài học chữ hiếu. Đạo thờ thầy, phàm đã là người biết ngậm cái bút lông thì ai cũng thuộc làm lòng từ lúc mới được đến cho thầy khai tâm. Như Cõi, như Trắt cũng chỉ ăn mày thầy được đôi ba chữ thế mà theo thầy, chỉ biết có thầy. Đã cắp sách đến, trên đầu chỉ biết có thầy.

Cái năm thầy về giáo thụ trên phủ Quốc rồi mưu dấy binh cùng các nhà lang cun Đinh Công Mỹ, lang đá Bạch Công Chân, đất Mỹ Lương thầy cho người về gọi quân thì Cõi, thì bao nhiêu đồng môn nữa đã gác cày cuốc. Cõi bỏ gánh dầu, đồ lề thợ mộc, đóng cối, khăn gói cơm đùm cơm nắm lên theo thầy. Bây giờ nhớ lại mấy năm xông pha vào sống ra chết, kể đã hiên ngang chọc trời, khuấy nước một phương. Lắm gian nan, nhưng cũng nhiều khi đã nắm trong tay được thiên hạ. Cái lần đưa quân về đánh chiếm phủ Thanh Oan, phủ Ứng Hòa, án ngữ một dải đồng chiêm bọc quanh cả Kẻ Chợ vào đến chân dãy núi chùa Hương trong phủ Mỹ Đức. Đến khi chẳng dè đại quân ra Đồng Dương ngoài Thanh Oai bị thất trận, bèn vượt núi tạt sang Quế Quyển bên Hà Nam định theo sông Châu vào đồng bằng phủ Lý Nhân, nhưng cũng không qua được. Lại trỏ lên phủ Quốc, thì lần này chiếm được phủ lỵ. Người Kinh, người Mường, người Mán từ trong Mỹ Lương ra Ba Trại quanh xuống đến các vùng ngoài chốt Nghệ dưới Sơn Tây, làng làng mổ trâu làm tiệc linh đình mừng quân tướng. Thừa thắng, luồn sang Tam Đảo, đánh xuống đốt thành Tam Dương ra đống tro tàn. Đương giữa tưng bừng đến khi trở lại, thì Quốc Oai đã bị quân quan Tổng đốc trên Lâm Thao tràn ngập xuống rồi. Thầy cho rút quân vào thủ hiểm trong Mỹ Lương, vùng rừng núi cát cứ của nhà lang Bạch Công Chân. Định chỉnh đốn, nghỉ ngơi ít lâu ở nơi sơn cước khuất nẻo cho nên Cõi đã được về làng lo việc nhà vào dịp ấy. Thế nào mà quan triều đình đã mạo hiểm vào tận Kệ Sơn. Thầy ta ngộ nạn giữa trận ở đấy.

Cái hôm năm mươi ngày thầy, người trưởng tràng đứng ô hô thầy rồi lạy phục xuống, tất cả môn sinh và khóa trưởng ấy cùng ôm tay lên miệng, ô hô, ô hô khóc dòng. Có rửa được thù này mới là báo đáp được công ơn thầy. Từ ấy tới giờ, người trưởng tràng đi đâu. Những trưởng tràng của thầy ở các nơi đâu rồi. Vì thầy, ai còn ai đã chết, ai đã bỏ mình thảm thương như Trắt, ai giữ được tấm lòng như xưa, ai đã muối mặt đành tâm quên cả, ai phải chịu đau đớn như Cõi. Bao giờ đồng môn lại tụ hội ngày giỗ thầy, bác trưởng tràng khấn thầy được an giấc dưới suối vàng hay chúng con phải tạ tội với thầy. Nào những ai còn, ai mất?

Đêm ấy, bác Cõi kể đầu cuối ngọn ngành với cậu bé làng sủi sống sót.

Vừa sáng, sư Từ Tâm cầm cái cuốc bước ra vun gốc luống cà, nhưng vẫn hôi hổi trong đầu những câu chuyện của bố Cõi. Có lúc nhà sư buông cuốc, cúi mặt, nghĩ đến bàn tay chai khẳng khiu như cái que khô của bố Cõi, mà thấy thật bồi hồi.

Cả ngày, sư Từ Tâm mải miết ngoài ruộng cà. Trời đã có khi mưa cơn mưa trận, phải vun vội cho đất kịp mát. Nụ cà đã chúm chím tím mờ từng dải. Đôi chốc, chống cái cuốc bướm thẫn thờ nhìn vào gian bên chùa chỗ cánh liếp thủng lỗ, mở hé. Bố Cõi ngồi trong ấy, cắm cúi đan lát, chốc chốc cái đuôi lạt thoăn thoắt vút lên. Người già chẳng ngơi tay lúc nào.

Sư Từ Tâm vẫn đăm chiêu tư lự. Chưa bao giờ người trẻ tuổi ấy được nghe biết như vậy. Bấy lâu một lòng kính yêu, ơn nghĩa người đã cứu mình. Bây giờ,... hai bàn chân mất gân chúc thõng xuống, như người tù ngồi xó trong ngục, cái gông kéo trĩu cổ nhưng câu chuyện bố kể xót như xát muối mà nghe tiếng nói lại như một người vẫn đương ngùn ngụt chí rửa thù. Đến lúc với cầm cái nạng mới lê bàn chân đứng dậy, ông lão rầu rĩ thở dài: “Biết đâu đến phải nước này. Bố chết không nhắm được mắt con ạ”.
Một hôm, sư Từ Tâm nói với bố :
- Con xin thưa...
- Bố ơi! Bố để con đi, con xin đi báo thù cho cụ huấn. Bao giờ bố yếu, con mà báo được thù thì bố yếu đến đâu bố cũng được nhắm mắt như ngủ. Bố cho con đi...
- Được! Được!
- Bố chỉ đường cho con lên Sơn Tây.
- Con hãy về bến Bỏi đã. Hỏi thăm, bây giờ là cụ Cả Bỏi. Con lạy cụ, con nói con là con bố Cõi.

Sư Từ Tâm đi khuất đã lâu, bác Cõi đứng bên cái cổng rong ngoài chùa trông ra. Đã sang đầu hè, cây gạo ngã ba đường đương cữ nở hoa đỏ ối. Dưới ruộng, những luống cà bát hôm nào sư Từ Tâm mới xới, bây giờ quả cà trắng toát, to bằng cái bát chậu, đã hái muối xổi được. Những cây gạo xa xa ven đường thấp thoáng rực rỡ. Như một niềm mong mỏi.

Từ đấy, ông lão ở lại trông nom chùa Xiển. Ngư làng gọi là ông sãi, ông sãi chùa Xiển. Ông sãi có tật chân, nhưng khéo tay như thợ mộc, cột kèo được bào đẽo nhẵn nhụi, cảnh chùa có phong quang hơn. hỏi thăm thầy Từ Tâm, ông sãi nói xưa rày nhà chùa vẫn phải đi khuyên giáo, ăn mày thập phương. Lâu lâu không thấy về, khách đến lễ cũng không tò mò nữa. Đương thời buổi tao loạn, kẻ gian người ngay lẫn lộn, thầy đi việc nhà chùa hay việc quốc sự, biết nào mà tọc mạch.





0

📎 kcbb
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.10.2014 17:14:24 bởi Ct.Ly>
Kẻ cướp bến Bỏi - Tô Hoài
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn casau đã góp sức cho thư viện
 
Chúc vui
 
📎 ThankYou_0




0