Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Bản Án Tử Hình - NGười thứ 8

25 trả lời, 8.999 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.04.2014 21:37:47 bởi Ct.Ly>
Bản Án Tử Hình
Z.28
 
Tác giả Người thứ 8
từ trang 10 - 17


Lời chú thích : Tác giả xin trân trọng nhắc lại rằng mặc dầu dựa vào thực tế địa lý và thời sự, bộ truyện gán điệp này chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Nếu có sự trùng hợp hoặc gần gặn nào với sự việc xảy ra, đó chỉ là ngẫu nhiên, ngoài trách nhiệm của người viết
 
 
Chương I
 
Giòng sông nhuộm máu
 
Trời mưa như trút nước.
 
Ngoại trừ cầu Hiền Lương là còn sáng đèn, toàn khu vực sát vĩ tuyến 17 đều chìm trong bóng đêm dày đặc. Dường như nước mắt của hàng triệu người xa vợ, xa chồng, xa con cái, xa cha mẹ, xa quê hương đã kết tụ thành mưa trên sông Bến Hải, nên trời mưa mãi mưa hoài, mưa suốt từ sáng đến chiều, rồi mưa suốt từ chiều đến nửa đêm.
 
          Lê Tùng lấy ống tay áo chùi mắt để nhìn rõ con đường gồ ghề, uốn khúc như con rắn hổ mang giữa những cánh đồng ngập nước. Mắt chàng bỗng đỏ hoe vì bị làn vải kaki cọ sát thật mạnh, khiến chàng sực nhớ ra bộ áo màu vàng dày cộm của chàng đã ướt sũng.
 
Bộ áo kaki một tuần chưa giặt bị thấm đầy nước của Lê Tùng trở nên nặng chình chịch như đeo quả tạ trên mình. Công việc chàng làm đêm nay cũng nặng chình chịch như quả tạ ngàn cân đè lên đôi vai mảnh khảnh của chàng.
 
Lê Tùng vội lái sang bên để khỏi lọt xuống ruộng nước. Hai ngọn đèn pha sáng quắc của chiếc xe zeep không mang số không đủ sức xuyên thủng màn mưa, màn đêm và màn sương. Vốn là đệ tử của thần tốc độ, Lê Tùng thường phóng nhanh trên trăm cây số một giờ, ngay cả trên những con đường quanh co, và lòi lỏm. Đêm nay, chàng chỉ được chạy số một, mỗi giờ không quá 15 cây số.
 
Lê Tùng cúi xuống cổ tay nhìn đồng hồ lăn tinh : 3 giờ sáng. Trời, 3 giờ sáng là giờ sung sướng nhất của giống đực và giống cái đa tình. Trong thời gian ở Sài Gòn, 3 giờ sáng là giờ Lê Tùng trịnh trọng bỏ ba cục đá của tủ lạnh vào cái ly pha lê, rót vào nửa chai coca xủi bọt trước khi pha trộn với một đốt ngón tay bacađi (1)
 
Chàng uống nhiều rượu rhum (rum) khác nhau trong cuộc đời gián điệp bẩy nổi ba chìm, song chưa thấy thứ nào đậm đà bằng bacađi, người đàn ông thức đêm không cảm thấy buồn ngủ, men say bốc lên từ từ, nhẹ nhàng làm cho tứ chi đê mê như hít một gờram bạch phiến.
 
        Chàng lại có thói quen không bao giờ uống Bacadi một mình : đêm nào chàng cũng có một người đàn bà đầy nhựa yêu đương bên cạnh. Song đêm nay, một đêm đầy mưa, và đầy gió lạnh, chàng một mình một xe oằn oại dọc bờ sông Bến Hải. Không có đàn bà đẹp. Không có rượu bacadi. Không có mùi nước hoa thơm thơm, trong tầm tay, để tắt, toàn căn phòng gắn máy điều hòa khí hậu biến thành thế giời thiên thai.
 
Bất giác, Lê Tùng thở dài.
 
Chàng nhớ đến người đàn ông lực lưỡng, tóc cắt ngắn, mấy sợi quăn quăn lòa sòa trên vầng trán rộng ; loé ra tia mắt sáng như chứa chất thép.
 
Người ấy là Văn Bình, tức Z.28. Trước khi Lê Tùng trèo lên phi cơ quân sự vô danh, bay ra Quảng Trị, giáp tuyến ? Văn Bình kêu chàng vào phòng. Lệ thường, người ra lệnh cho chàng là ông Hoàng, tổng giám đốc. Song ông Hoàng đi ngoại quốc vắng, Văn Bình thay thế. Lê Tùng thích được làm việc với ông Hoàng hơn với Văn Bình. Ông Hoàng còn mỉm cười, còn vỗ bàn tay gầy gò vào vai chàng, còn Văn Bình thì đứng sững giữa phòng, nét mặt nghiêm nghị :
-      Chào anh Lê Tùng. Hân hạnh được gặp anh. Như anh đã biết, đây là một công tác quan trọng. Đêm nay, Z.307 sẽ trở về. lần này, 307 sẽ mang theo một số tin tức và tài liệu tối mật và tối hệ. Anh được phái đi đón vì anh là cấp trên trực tiếp của 307, cũng như của các điệp viên do Sở gài đặt từ Quảng Bình đến Thanh Hóa. Trong quá khứ, anh đi đón nhiều lần nên quen đường.
Tưởng cần nhắc thêm là ở bờ Bắc, địch canh phòng rất cẩn mật. Địch có thể giết 307. Địch cũng có thể giết anh. Anh đừng quên là xe zeep anh lái dọc bờ Nam là xe zeep tư nhân, không đeo bảng số. Trong người, anh cũng không được mang theo một giấy tờ căn cước nào hết. Tôi đã liên lạc với cơ quan an ninh để rút lính ra khỏi khu vực mà anh sẽ gặp 307 đêm nay. Anh nhớ rõ rồi chứ ?
-      Thưa, nhớ.
Người đàn ông đẹp trai, và cường tráng đập nhẹ vào vai Lê Tùng. Chàng vẫn thích được vỗ vai, nhưng khi Văn Bình đụng vào người, chàng vội rụt lại, mặt nhăn nhó. Ông Hoàng vỗ vai êm ái bao nhiêu, thì Văn Bình vỗ vai đau nhức bấy nhiêu. Chàng bỗng nhớ ra Văn Bình là một võ sư đệ tứ đẵng Nhu đạo, vô địch quyền Anh, và có bàn tay cứng như sắt nguội. Tuy gia nhập tổ chức của ông Hoàng đã lâu, và leo lên tới chức R(2) Lê Tùng vẫn chưa bằng một móng tay của văn Bình. Lê Tùng giỏi võ, song tài ba của chàng chỉ có thể đánh ngã một đám anh chị, hoặc hạ sát một điệp viên của địch.
 
Thấy chàng nhăn nhó, Văn Bình ngó sững, vẻ mặt kinh ngạc. Lê Tùng xoa vai :
-      Anh khoẻ quá. Tôi tưởng như xương vai tôi bị gẫy.
- Xin lỗi anh.
Vừa lái xe, Lê Tùng vừa xoa lại chỗ vai bị đau. Trời vẫn mưa như trầm như trút. Một lằn chớp xẹt ngang nền trời tối thui. Trong một phần trăm tích tắc đồng hồ, Lê Tùng thoáng thấy giòng sông Bến Hải và vùng phi chiến rộng mênh mang.
 
Chạy được một quãng nữa, Lê Tùng tắt đèn. Bắt đầu từ đoạn này, chàng phải lái mò trong đêm khuya mù mịt. Đành rằng chàng có một thứ kính riêng có thể nhìn xuyên qua màn tối (3), chàng vẫn thấy lờ mờ. Nếu tay lái non, chàng có thể đâm sầm xuống ruộng. Chàng không sợ tai nạn. Và trong đời dọ thám tai nạn xảy ra như cơm bữa. Chàng chỉ sợ không đến địa điểm AQ- 19 đúng giờ, đúng phút đã hẹn.
 
Lê Tùng lại coi đồng hồ lần nữa.
 
3g15
 
Chàng đậu xe, tắt máy, mở bản đồ, đặt trên vô lăng. Dưới ánh sáng lờ mờ của táp lô (tableau), chàng nhận ra điểm AG – 19 được ghi bằng dấu chì đỏ trên bản đồ bằng ni lông, không thấm nước. Còn 5 phút nữa đến nơi. Miệng khô đắng, chàng cảm thấy thèm thuốc lá. Chàng có thể che đầu thuốc trong lòng bàn tay, song chàng không thể bật lửa. Lính gác trên bờ Bắc có thể phăng ra chàng.
 
Dạo này, dọc bờ sông họ đều trí súng đại liên.
Đêm đêm, họ thường bắn vu vơ xuống bờ Nam, không biết để khỏi buồn ngủ, để bớt sợ ma, hay để rượt theo một bóng người can đảm dám vượt vĩ tuyến 17.
 
AQ- 19 là một trong những điểm cạn nhất trên sông Bến Hải. Ông Hoàng đã nghiên cứu kỹ càng : trừ những ngày đầu tháng và giữa tháng có con nước, AQ – 19 lúc nào cũng cạn, cạn nhất là ban đêm từ 3 đến 4 giờ sáng.
 
Những giọt mưa lạnh buốt hắt vào mặt Lê Tùng. Cái áo tơi và cái dù chàng đã vô ý bỏ quên ở Quảng Trị. Trong người chàng chỉ còn một chỗ không bị ướt ; đó là dưới nách trái, nơi chàng đeo khẩu súng Ruger (4) nóng 22. Trong phòng hẹp, khẩu Ruger là một võ khí kiến hiệu, không kềnh càng mà bắn chính xác, song giữa đồng không mông quạnh ; đối diện những khẩu liên thanh ba càng, nó trở thành một món đồ chơi cho trẻ con.
 
Tuy nhiên, Lê Tùng vẫn mang súng lục bên mình để khỏi cảm thấy lẻ loi. Bao da cừu đựng súng đã được chàng đánh xi láng bóng, chàng đụng nhẹ vào là khẩu Ruger thân yêu tuột vào gan bàn tay, và trong vòng 10 thước Lê Tùng có thể bắn trúng một chai nước ngọt. So sánh với tài bách bộ xuyên dương của Văn Bình, chàng chỉ là đệ tử, nhưng dầu sao chàng vẫn dư sức đối phó với bọn điệp viên của địch.
 
Lê Tùng nâng cặp kính hồng ngoại tuến lên ngang mày. Mưa vẫn xối xuống ào ào. Tiếng côn trùng rỉ rả hòa với tiếng mưa rơi tạo cho đêm cuối đông ở giáp tuyến một quang cảnh buồn tênh. Chàng đâm oán ông Hoàng, oán cái nghề tình báo phải gió, vào lúc thiên hạ ngủ say với mỹ nhân thì mình phải thức, và lăn vào chỗ chết.
 
3 g30 …
Qua ống kính hồng ngoại, chàng chỉ thấy một lùm cây to lớn và một dãy nhà đen sì ở đàng xa. Dãy nhà này là một trong nhiều trạm gác của địch trên bờ Bắc. ban đêm, binh sĩ Bắc Việt chui xuống hầm, chĩa họng đại liên về phía Nam. Z.307 phải là kẻ quyền biến và can trường mới vượt qua nổi hàng rào đạn thép của địch. Trong quá khứ, 307 đã vượt qua sông, gặp Lê Tùng 5 lần, lần nào cũng mỹ mãn.
 
Nhưng lần này …
 
Lê Tùng không muốn nghĩ thêm nữa. Gián điệp là một nghề lạ lùng, 9 lần thành công, song lần thứ 10 có thể thất bại nghĩa là chết. Z.307 đã vượt tuyến 5 chuyến thành công. Chuyến thứ 6 và cũng là chuyến sau cùng trước khi 307 đổi công tác có thể cũng là chuyến sau cùng của cuộc đời.
 
Gặp 307 xong, Lê Tùng sẽ trở về Sài Gòn làm tờ trình cho Văn Bình, và như ông Hoàng đã hứa, chàng sẽ được đổi sang Nhật, làm R. dưới danh nghĩa đệ nhị tham vụ sứ quán tại Đông Kinh. Chà ! Còn gì thú bằng ở Đông Kinh, với những phòng tắm hơi nước, những hộp đêm thần tiên, những hằng nga bằng xương, bằng thịt …
 
Bỗng một tiếng sét long trời lở đất nổi lên. Bàng hoàng, Lê Tùng dựa vào xe zeep, mắt chàng vẫn không rời ống kính quan sát. Lê Tùng bàng hoàng không phải vì nghe tiếng sét bất thần mà vì qua ống nhòm chàng vửa thấy một cảnh tưởng làm chàng dựng tóc gáy. Bất giác, chàng nắm lấy chuôi súng.
 
Cơn mưa dữ dội đã bắt đầu tạnh.
 
  •   *   *   *
 
Nhìn bề ngoài mưa tầm tã, Trần Hiệp lo ngại bản bạn :
-      Mưa thế này, các anh đi tuần sao được ?
Thiếu tá Phan Lộ tợp một ngụm rượu, giọng lè nhè :
-      Kệ xác bọn lính.
Dưới ánh đèn nê ông sáng xanh, Trần Hiệp nhìn kỹ nét mặt lờ đờ của thiếu tá Lộ, chỉ huy một đội tuần cảnh bí mật dọc bờ Bắc sông Bến Hải. Lộ là bạn cùng học với chàng. Trong những năm ở Trung học, hai người đều ngồi một bàn. Ra đời, Lộ gia nhập quân đội, còn Hiệp làm báo. Trần Hiệp là phóng viên đặc biệt của nhật báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Trung ương đảng Lao động.
 
Phan Lộ là bợm rượu, song đã bắt đầu ngấm say sau một chai mạc ten (Martell). Lộ dễ say vì lâu ngày không uống, trời lại mưa dầm và gây gấy lạnh, làm hắn nhớ quê hương, và nhớ đàn bà, Lộ cầm ly martell cuối cùng, đưa lên miệng :
-      Hà, hà, ngon quá ! Chúc anh thượng lộ bình an.
Nghe bạn nói. Trần Hiệp tái mặt. tại sao thiếu tá Lộ chúc chàng thượng lộ bình an? hắn biết đêm nay chàng vượt tuyến đến AQ – 19 để gặp nhân viên của ông Hoàng chăng?
 
Không có lẽ. Từ lâu, thiếu tá Lộ coi chàng như ruột thịt. Lần nào tới vùng giáp tuyến lấy tin cho tòa soạn báo Nhân Dân. Trần Hiệp cũng mò đến trạm gác bí mật của thiếu tá Lộ. Lộ là ông trời con ở vùng Bắc bến Hải vì lẽ hắn là cộng sự viên thân cận của đại tá Bùi Vinh, một trong những con hùm xám tình báo. Bề ngoài, Phan Lộ là thiếu tá quân đội, không có một nhiệm vụ rõ rệt nào ở vùng giáp tuyến, nhưng bên trong Lộ là người chịu trách nhiệm ngăn ngừa các vụ vượt tuyến.
 
Trần Hiệp ngồi xuống một bên. Mắt Phan Lộ lim dim như bị dán lại bằng keo, miệng hắn nồng nặc mùi rượu mạnh. Rồi hắn gục đầu xuống bàn.
 
Trần Hiệp im lặng như pho tượng. Ngoài sân, mưa vẫn đổ ào ào. Chàng nghe rõ tiếng gió xoáy qua những bụi dâm bụt xơ xác, và thổi tốc những viên ngói cũ. Trần Hiệp thở dài một tiếng rồi trở mình ra cửa.
 
Chàng đã mang rượu cho Phan Lộ uống nhiều lần và lần nào hắn cũng say bí tỉ. Mỗi lần chuốc rượu cho bạn, Trần Hiệp không quên bỏ vào một viên thuốc mê đặc biệt. Uống vào với rượu, nó sẽ làm đương sự ngủ say trong hai tiếng đồng hồ, và khi tỉnh giấc không hề mệt mỏi.
 
Trần Hiệp lay vai bạn. Thiếu tá Lộ vẫn ngáy o o. Nét mặt hiền khô của Trần Hiệp bỗng đanh lại. Trước mặt chàng còn đúng 120 phút. Chàng tha hồ hoạt động. Phan Lộ có thói quen ngủ một mình, trong phòng đóng kín, thuộc viên không được đánh thức. Hồi tối, hắn đã gọi bí thư tới dặn đêm nay hắn có hẹn với một người đàn bà trong xóm rồi uống rượu say với Trần Hiệp. Phan Lộ vào làng mãi đến quá nửa đêm mới về, một góc chai rượu đế đã làm hắn chân nam đá chân xiêu chưa cần tới rượu mạc-ten pha thuốc mê của Trần Hiệp nữa.
 
Chú thích :
(1)        Bacađi là một thứ rượu rhum chế tại Cuba. Dân chơi ở Tây bán cầu rất khoái bacadi uống với coca cola. Các bạn của Z.28 thử uống bacadi xem !
(2)        Theo từ ngữ dọ thám R tức Resident là người đứng đầu một cơ sở lấy tin ở nước ngoài. Tiếng Mỹ là Resident, tiếng Pháp là résident, còn tiếng Nga là rezident (khu lấy tin gọi là rezidentura)
(3)        Đó là loại kính có hồng ngoại tuyến (rayons infra – rouges) cơ quan an ninh tân tiến thường dùng để nhìn qua màn đêm trong các cuộc rượt bắt kẻ tình nghi.
(4)        Đó là khẩu Ruger Mark1, một loại súng ngắn của Hoa Kỳ rất tốt.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:11:34 bởi Ct.Ly>

Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
 
92
 
IX
 
Mê hồn trận 
 
        Mùi thuốc lá cháy khét làm Nguyễn Biên bực mình. Tuy nghiện thuốc lá mỗi ngày hai gói, một gói Chesterfield ở nhà, một gói Bát Tốt ngoài đường - hắn lại ghét mùi cháy khét. Vì vậy, đĩa đựng tàn của hắn luôn luôn đựng nước. Gặp nước, tàn thuốc phải tắt ngủm. 
        Không hiểu sao hôm nay Nguyễn Biên lại quên đổ nước. Có lẽ hắn bận suy nghĩ. Thật vậy, suốt từ chiều đến giờ, hắn ngồi im như tượng đá trong ghế bành, nhìn qua bao lơn xuống đường.
        Hắn nhìn xuống đường song không thấy, không nghe gì hết. Đường Phạm Ngũ Lão, sau lưng ga xe buýt, thường là khu vực náo nhiệt đông đúc nhất Sài gòn, ngày cũng như đêm, nhất là khi trời sắp tối. Hàng trăm xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, xe buýt khổng lồ dài ngoằn phun khói đen kịt, xe xì cút tơ bóp kèn te te, xe hơi nhà lộng lẫy áo mầu, xe đạp, xích lô ì ạch và xe thổ mộ khệnh khạng...
        Nguyễn Biên chỉ thấy khoảng không vô tận. Trên nền trời hoàng hôn, những đám mây màu xám đang chuyển sang màu tím... Đột nhiên, Nguyễn Biên cảm thấy trống trải lạ lùng.
        Trên bàn, hai tờ báo vẫn nằm chềnh ềnh dưới

 
93
 
ánh đèn 60 nên sáng quắc. Tờ Sống, và tờ J.E.O. Pháp ngữ.
        Nguyễn Biên đọc đi đọc lại nhiều lần nên thuộc làu bài lai cảo đăng ở trang sau. Lai cảo thứ nhất đăng trên báo Sống như sau:
        «Phạm Tư ở Huế phải về ngay. Mẹ đau nặng.
        Anh cả.
        Phạm Thân.»
        Và lai cảo thứ hai đăng trên báo J.E.O.:

        «Marie em, từ ngày em ra đi, con khóc ngày đêm. Em hãy về nhà. Anh sẽ quên hết quá khứ. 
        Người yêu em: Paul.»
                Trên đất Việt Nam, những người như Phạm Tư không hiếm, tuy nhiên Phạm Tư và Paul ở đây chỉ có trong trí tưởng tượng của Nguyễn Biên, giám đốc trú sứ gián điệp Bắc Việt ở Sài gòn. 
        Những lai cảo hiền lành này sẽ đến văn phòng điệp báo trong vụ Lễ Tân 4 ngày sau. Nghĩa của nó rất giản dị: công tác đã hoàn tất, đã ra lệnh cho nhân viên tạm rút vào bóng tối, trân trọng chờ chỉ thị.
        Ba ngày trôi qua...
        Nguyễn Biên vẫn chưa nhận được chỉ thị. Mỗi tối, đúng 8g5’, hẳn phải túc trực bên máy thu thanh để nghe âm ngữ của đài bá âm Hà nội. Hắn không hiểu sao Hà nội bắt đình chỉ mọi liên lạc bằng điện đài, viện cớ là Phản gián Sài gòn hoạt động đắc lực. 
        Nguyễn Biên lẩm bẩm:
-          Hừ, như vậy mà cho là đắc lực! Rõ thần hồn nát thần tính! 
        Trong thâm tâm, Nguyễn Biên khinh rẻ tổ
 

         
 
94
 
chức của ông Hoàng. Hắn đã bố trí cho Lê Tùng rời Sài gòn một cách dễ dàng, ung dung trèo phi cơ ở Tân Sơn Nhất, trước mũi công an và Phản gián. Phen này trở về, hắn sẽ báo cáo tường tận cho Đại tá Bùi Vinh...
        Đại tá Bùi Vinh... con người quân nhân cương nghị, khôn ngoan và dũng lược, thăng cấp nhanh như ngựa phi, thành phần đầy hy vọng của nguồn máy điệp báo...
        Theo chương trình, Nguyễn Biên phải lưu lại miền nam hai năm nữa. Thêm 24 tháng dài đăng đẳng nữa... Hắn xa gia đình từ lâu, một năm 4 lần, vợ con hắn gởi thư vào. Thư từ được viết vào giấy gói đồ bằng mực hoá chất, hoặc chụp trên phim vi-ti. Từ lâu, hắn không được ngửi lại mùi cà phê Nhân ở Cầu Gỗ, gần hồ Hoàn Kiếm.
        Nhà hắn ở phố Cầu Gỗ, sau tiệm cà phê Nhân, nổi tiếng nhất nhì Hà nội. Buổi sáng thức giấc, hắn ngồi một mình trong tối, cánh mũi nở rộng, hít mùi cà phê phin đặc biệt vào buồng phổi. Ban đêm trước khi lên giường, hắn cũng không quên thưởng thức hương vị cà phê. Nhiều đêm, hắn ân ái với vợ trong bầu không khí sực nức mùi cà phê độc đáo. Cà phê đã biến thành một phần của đời hắn.
        Hồi nhỏ, hắn sống trong một đồn điền trồng toàn cà phê, thứ cà phê thượng hạng, gần Phủ lạng thương. Lớn lên, hắn mê uống cà phê một cách kinh khủng. 
        Mùi cà phê của tiệm ăn bên cạnh xông vào mũi, lôi Nguyễn Biên về thực tại. Sau khi Lê Tùng sa bẫy, hẳn rời ngôi nhà ở đường Nguyễn Văn Giai, dọn về căn gác cao chót vót này.
 
95
 
        Nguyễn Biên giật mình đánh thót.
        Đồng hồ quả lắc trên tường dõng dạc điểm 8 tiếng. 5 phút nữa, giọng nói quen thuộc của đài Hà nội sẽ vang rền trong máy thu thanh Zenith đặc biệt 3000-1 của Mỹ đặt trên bàn.
        Nhân viên điệp báo Bắc Việt hoạt động tại Đông nam á thường dùng máy thu thanh Zenith. Âm thanh của nó trong trẻo, và rõ ràng, những băng làn sóng ngắn của nó có thể được dùng để nghe mật điện, ngoài ra, băng F M có thể biến thành điện đài.
        Bản tin của đài Hà nội bắt đầu – Cô gái xướng ngôn uốn éo, giọng chua như dấm, nếu ở gần Nguyễn Biên phải vít đầu xuống, hôn cho bẹp đi. Tai Nguyễn Biên vểnh lên. Tiếng nói nũng nịu từ trong máy phát ra:
        «... Sông có khúc, người có lúc...
        Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm...»
        Nguyễn Biên hứ một tiếng rồi tắt máy. Chỉ thị của Trung ương đã tới sau 3 ngày chờ đợi mỏi mắt. Nhưng Trung ương đã có thái độ hoàn toàn khó hiểu: trước đây ra lệnh đình chỉ hoạt động một thời gian thì nay lại đổi hẳn tập trung năng lực vào vụ Lê Tùng... Sông có khúc, người có lúc... Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm... nghĩa là «đã nhận được lai cảo đăng trên báo, yêu cầu tiếp tục công tác, đúng 8g30 tối nay. Trung ương sẽ gởi chỉ thị bằng vô tuyến điện trên tần số thường lệ».
        Nguyễn Biên lặng lẽ châm thuốc hút. 
        Thời gian trôi qua từ từ... Hắn gác chân lên bàn, hớp một ngụm cà phê đặc. Dáng điệu khoan thai, hắn đeo ống nghe vào tai, hí hoáy ghi chú mật điện. Tạch tè, tạch tè...
 
96
 
        Cơ quan tầm đài của Phản gián Nam Việt cũng nghe được bức điện này, và thu vào băng nhựa. Tuy nhiên, họ không thể nào hiểu nghĩa. Họ cũng không biết được người nhận là ai. Phuơng pháp truyền tin này, danh từ chuyên môn điệp báo gọi là truyền tin một chiều».
        Bức điện dài đúng 3 phút. Nguyễn Biên ghi đầy một trang giấy. Hắn liếc qua một phút, thở khói thuốc lá xuống bàn, rồi cúi đầu dịch. Dưới đèn bồ hôi hắn nhễ nhại. 
        Nguyễn Biên hút hết điếu thuốc thứ năm, bức điện mới được dịch xong.
        Nội dung làm hắn bàng hoàng: 
        Giám đốc
        gửi
        Trú sứ KC
                Đã nhận được báo cáo tạm đình chỉ hoạt động đăng trên nhựt báo Sống và Journal d’Extrême Orient dưới hình thức lai cảo. Thành thật khen ngợi. Lê Tùng đã đến nơi bình yên. 
                Yêu cầu Trú sứ thi hành những chỉ thị thuợng khẩn sau đây:
                a-    tiếp xúc ngay với Quỳnh Bích để lấy thêm tài liệu, và tin tức liên quan đến vụ Lê Tùng. Phải khám phá ra bằng được phản ứng cửa sở Mật vụ đối với việc Lê Tùng vắng mặt. 
b-    lấy thêm tài liệu, tin tức về sở H-4 trong Tổng Nha Mật vụ, đặc biệt là tìm hiểu thủ tục chuyển ngân của sở này.
 
 
97
 
                c-    báo cáo hỏa tốc bằng điện đài cao Trung ương. 
        d-    đây là công tác cuối cùng của trú sứ KC. Sau đó trú sứ sẽ được triệu hồi. Cố gắng thi hành chỉ thị trong bí mật. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bất khả kháng, có thể bất chấp an ninh, miễn hồ đạt được kết quả trong thời gian ngắn.
e-    liên lạc vô tuyến theo thời khoá biểu thường lệ. Mật mã KFS, và KBN. Nhân viên Trung ương sẽ túc trực mỗi đêm từ 0 đến 5 giờ sáng đề liên lạc với trú sứ KC.
        Nguyễn Biên ngồi thừ thật lâu trong ghế. Hầu hết nhân viên dưới quyền ở Sài gòn đều vắng mặt. Hắn đành phải hoạt động một mình. Mặt hắn cau lại, trong sự giận dữ. Giám đốc ở Trung ương ra lệnh rất dễ, vì chỉ cần bấm chuông, gọi thư ký tốc ký – một cô gái bụng lép, mông tròn, ngực nở – rồi chuyển mảnh giấy xuống phòng mật điện.
        Trung ương không thể hiểu được những khó khăn ghê gớm của hắn ở Sài gòn, với nguồn máy Phản gián đại qui mô...
        Nguyễn Biên nhún vai sửa soạn tắt đèn. 
        Chợt nhỡn tuyến của hắn chạm phải chồng báo trên tủ buýp phê. Chập tối, bà già bán báo ở đầu đường mang lên mà hắn quên đọc. Dầu có nhiều tiền, hắn chỉ dám thuê báo, mỗi ngày 10 đồng, đọc hết 20 tờ. Hắn cần thiên hạ tưởng hắn là ông kế toán già, độc thân, mang sổ sách tư nhân về nhà cặm cụi làm đêm, với số lương đủ sống. 
        Tấm hình ở trang nhất tờ Quyết Tiến làm Nguyễn Biên khựng người.
 
98
 
        Đó là hình Lê Tùng.
        Nguyễn Biên vồ lấy tờ báo, trải trên bàn. Một tiêu đề chữ đậm chạy dài 4 cột như sau: 
        Phủ Thủ tướng đính chính một tin thất thiệt: Lê Tùng không phải là cựu nhân viên tình báo. Lê Tùng vẫn ở Sài gòn.
        Bên dưới là nội dung, kèm theo bức hình Lê Tùng, một Lê Tùng gầy gò, tiều tụy và buồn bã:
        «Phủ Thủ tướng Sài gòn vừa đính chính hôm nay một nguồn tin thất thiệt được đăng tải trên báo chí ngoại quốc, và báo chí trong nước, theo đó một cựu nhân viên tình báo quan trọng Nam Việt vừa biệt tích, và có lẽ đã xuất ngoại. 
        «Trả lời câu hỏi của các ký giả, một phát ngôn viên của Phủ Thủ tướng tuyên bố rằng các cơ quan tình báo Nam Việt không có nhân viên nào mang tên Lê Tùng. Cũng theo lời phát ngôn viên này thì có lẽ báo chí đã lầm với Lê Tùng, một nhân viên hành chánh trung cấp, vừa ở tù 6 tháng về tội lường gạt và hành hung nhân viên công lực. Sau khi được phóng thích, Lê Tùng vẫn ở Sài Gòn. Đương sự vừa đệ đơn lên chính phủ phản kháng về vụ báo chí loan tin thất thiệt, mặt khác, luật sự của Lê Tùng cho biết đương sự sẽ dành quyền truy tố trong vụ này.» 
        Nguyễn Biên quăng tờ báo xuống sàn gác, phá lên cười khanh khách. Hắn cười to hơn khi thấy toàn thể các báo đều loan tin về Lê Tùng. Rồi hắn châm điếu Bát-tốt, gật gù một mình:
        -      Cóc khô. Tại sao nhà báo không phỏng vấn Nguyễn Biên? Phen này, bọn mật vụ Sài gòn sẽ chết chung một hố.
 
99
 
        Nguyễn Biên đã lạc quan một cách quá đáng. Vào giờ ấy, nhân viên Mật vụ dưới quyền ông Hoàng vẫn hoạt động ráo riết.
        Bản báo cáo từ Hồng kông gửi được đặt nằm ngay ngắn trên bàn. Người bán hàng trong Trung tâm Ngọc Thạch, ở đại lộ Carnarvon, phục sức kỳ dị, mắt đeo kính dâm, miệng ngậm tẩu cán sắt Falcon, sơ mi ngắn tay màu đỏ ca-rô, cổ áo gài 2 nút, đã loan tin Lê Tùng rời Hồng kông đi Hà nội. 
        Ông tổng giám đốc xoa tay có vẻ hể hả. Lần này được coi là biệt lệ nên sự hiện diện của Lê Tùng tại Hà nội không được ông thông báo cho tổ chức của Sở ở miền Bắc vĩ tuyến 17 biết. Kế hoạch MA-15: Hào quang đã tới phần gay go nhất, Lê Tùng cần hoạt động một mình. Lê Tùng sẽ được Sở giúp đỡ gián tiếp.
        Giúp đỡ bằng cách trương thêm một cái bẫy mới ở Sài gòn. Vì vậy, Văn Bình bám sát Quỳnh Bích. 
        Trong khi Nguyễn Biên chậm rãi rời căn gác ở đường Phạm Ngũ Lão, hòa mình vào thủ đô ban đêm thì ở góc đường Mặc Đĩnh Chi – Nguyễn Du, tiếng nhạc nhẹ tràn ngập phòng ngủ của Quỳnh Bích.
        Quỳnh Bích, nữ nhân viên Biệt vụ, Bí thư của tổng thanh tra Văn Bình. Cô gái mảnh mai như liễu, song lại làm đàn ông choáng váng vì cái mông tròn trịa, và bộ ngực nở nang cực độ, một nửa lộ ra ngoài, dưới cái áo dài trắng may khít, hở vai, hở đến nỗi thợ may phải lắc đầu, le lưỡi. 
        Đêm ấy, Quỳnh Bích khánh thành áo mới. Cái áo hở vai táo bạo nhất Sài gòn. Nàng khỏa thân có lẽ còn ít khêu gợi hơn là mặc
 
100
 
áo hở vai, vì làn da trắng hồng của nàng có điều kiện khoe khoang dễ dàng, nhất là khoe khoang hai trái tuyết lê mũm mĩm và đú đởn.
        Nàng nằm dài trên đi-văng, ngực hơi nghiêng, cốt cho Văn Bình ngắm nghía. Áo nàng được cài bằng khuy bấm, chỉ kéo nhẹ là tuột ra, và Văn Bình đã biết rõ là bên trong nàng không mặc gì hết.
        Thái dương chàng nóng ran, mạch máu chạy rần rần, chàng muốn tắt ngọn đèn cuối cùng trong phòng, và xà xuống đi-văng lót cao su mút êm như tơ, song cố kèm hãm. Quỳnh Bích đẹp thật! Quỳnh Bích khêu gợi thật! Nàng là huýt-ky pha đá vụn đặt trên khay vàng, bưng tận miệng chàng. Đúng ra, bưng tận miệng người lữ hành lang thang nhiều ngày trên sa mạc mênh mông cháy bỏng. Chàng chỉ vươn tay ra thì tất cả thuộc quyền sở hữu của chàng.
        Và nàng cũng chờ đợi một cử chỉ đòi hỏi của chàng.
        Mà chàng không dám.
        Chàng không sợ nhan sắc quyến rũ của Quỳnh Bích sẽ làm chàng tối mắt, quên lửng nhiệm vụ. Trong đời, chàng đã ôm ấp nhiều thân hình quyến rũ hơn Quỳnh Bích, và nhiều lần chàng ra đi, không tiếc nuối, nhiều lần chàng dửng dưng khi người đẹp quằn quại trong vũng máu.
        Chàng rụt rè vì sợ Quỳnh Bích mềm lòng.
        Nàng là nhân viên của địch. Từ lâu, nàng đánh cắp tài liệu trong phòng giấy của chàng, trao cho
 
101
 
Phạm Huề và Nguyễn Biên. Chàng đã nhắm mắt làm ngơ cho nàng tiến hành công tác phản bội. Hơn thế nữa, theo lệnh ông Hoàng, chàng lại khuyến khích nàng bước sâu trên đường phản bội.
        Chàng bắt đầu lo ngại vì Quỳnh Bích yêu chàng thành thật. Nếu chàng yêu trả một cách tha thiết, nàng sẽ thú tội hết. Khi ấy, kế hoạch của ông Hoàng sẽ thất bại. 
        Quỳnh Bích nhìn chàng bằng luồng mắt đắm đuối. Hồi chiều, nàng hẹn Văn Bình đến phòng. Thường lệ, hai người đóng cửa trong phòng ngủ, rồi đến 10 giờ kéo nhau đến vũ trường nhảy cho đến 2 giờ sáng. Chàng đưa nàng về phòng, rồi ngủ lại với nàng đến sáng.
        Dưới đèn, Văn Bình đẹp trai lạ lùng. Cặp mắt to, sáng, đầy vẻ cương nghị, cái miệng cười hấp dẫn và chân thành, đôi vai tròn, lực lưỡng... Nhắm mắt lại, nàng vẫn thấy chàng. Bịt tai, nàng vẫn nghe giọng nói vỗ về khả ái của chàng.
        Nàng buột miệng :
        -      Văn Bình ơi!
        Chàng hôn nhẹ vào môi nàng. Mùi nước hoa VentVert thơm ngào ngạt.
        -      Em như con nít gọi anh hoài. Trong vòng 10 phút, em gọi anh cả thảy 5 lần. Gọi xuông mà chẳng nói gì hết.
        Quỳnh Bích thở dài:
        -      Em có chuyện muốn thổ lộ với anh.
Nếu không trấn tĩnh giỏi, Văn Bình đã tái mặt. Giây phút mềm yếu của người đàn bà muôn thuở đã tới. Chàng bèn mỉm cười:





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:13:58 bởi Ct.Ly>
Thiếu trang 102 - 111
112
 
Dường như đọc được tư tưởng nàng, Nguyễn Biên phải, hẳn là Nguyễn Biên, giám đốc trú sứ KC phân vua:
-      Cô đừng ngại. Tôi chỉ lái xe trên toàn đường tối. Tôi rất đứng đắn. Và nếu tôi không lầm, nhân viên của tôi cũng rất đứng đắn. Theo chỉ thị, mọi hành động sàm sỡ đều bị trừng phạt nặng. Nhân viên của tôi có làm cô bất mãn không?
Nàng đáp:
-      Không. Tuy nhiên, ông ta quá khô khan nếu không là tàn nhẫn. Tôi không thích gặp lại ông ta nữa.
-      Vâng, từ nay tôi sẽ gặp cô.
-      Thú thật là tôi chán lắm rồi. Tôi sợ thì đúng hơn. Sớm muộn, vai trò của tôi sẽ bại lộ. Tôi hy vọng các ông buông tha tôi. 
-      Cô dùng chữ không đúng. Cô không phải là tù nhân để chúng tôi buông tha. Chúng ta hợp tác, với nhau để làm một việc lớn. Thôi, biết cô bận, tôi không dám giữ cô lâu. Lẽ ra, tôi chờ cô đăng lai cảo trên báo, như đã hẹn trước, để tôi nhận tài liệu, nhưng lệnh trên muốn cô cung cấp ngay mọi tài liệu liên quan đến vụ Lê Tùng.
-      Tôi chỉ có một cái phim mà thôi.
-      Phim gì?
-      Về một nội lệnh của tổng thanh tra Tống Văn Bình. Nội lệnh được ký hôm nay, gửi cho nhân viên ban H-4. Nội dung chỉ gồm một bản như hưởng lệ, nghĩa là chỉ đánh máy mỗi một không dùng giấy cạc-bon, tự tay tôi mang cho nhân viên H-4 đọc, rồi mang về cất trong tủ sắc. 
-      Nội lệnh về việc gì?
 
113
 
-      Như tôi đã nói, về việc Lê Tùng. Tổng thanh tra ra lệnh cho toàn thể nhân viên H-4 không được tiết lộ Lê Tùng là trưởng phòng. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị nghiêm trị.
-      Tại sao cô chụp được?
-      Vì tôi là người đánh máy, và cũng là tống thư văn.
-      Cô độc bản đính chánh của Phụ Thủ tướng chưa?
-      Rồi. Ý kiến cô thế nào?
-      Tôi không có ý kiến nào cả.
-      Nhân viên của tôi báo cáo là cô chỉ hợp tác một cách miễn cưỡng, không tỏ ra thích thú. Một lần nữa, cô cần biết rằng gia đình cô ở Thanh Hoá hoàn toàn nằm trong sự hợp tác của cô.
-      Tôi chán lắm rồi.
-      Làm nghề này, ai cũng chán, không riêng cô. Song, chán mà không bỏ được. Chúng tôi chỉ phiền cô lần này nữa thôi. Cô nghĩ ra sao về bản đính chánh đăng trên mặt báo?
-      Hôm qua, tôi đang đánh máy trong phòng thì nghe ông tổng thanh tra Văn Bình gọi điện thoại cho Việt tấn Xã, hỏi về bài đính chánh. Ông giám đốc Việt tấn Xã đáp là bài này đã được in trong bản tin Việt ngữ buổi sáng, và các báo sẽ đăng trong ngày. Các báo ra chiều nay đều loan tin Lê Tùng trên trang nhất, chắc ông đã đọc.
  -    Thong thả, tôi cần biết thêm một vài chi tiết. Tin tức tình báo cần rõ ràng, nếu có điều kiện, phải ghi cả ngày giờ nữa. Văn Bình gọi điện thoại hồi mấy giờ?
 
114
 
-      Khoảng 5 giờ chiều.
-      Tại sao cô nhớ là 5 giờ chiều?
-      Vì Văn Bình hẹn tôi đi xem chiếu bóng buổi tối. Sau đó, tôi xem đồng hồ thì Văn Bình quay điện thoại.
-      Ai cung cấp ảnh Lê Tùng cho các báo?
-      Tôi không biết.
-      Đọc bên dưới, tôi thấy hàng chữ Sài gòn ảnh xã. Tổ chức này do ông Hoàng kiểm soát phải không?
-      Không, đây là của tư nhân. Của các nhiếp ảnh viên tổ hợp lại, bán ảnh cho báo chí.
-      Tại sao họ có hình Lê Tùng?
-      Năm ngoái, Lê Tùng bị ra tòa.
-      Cảm ơn cô. Cô biết tại sao Phủ Thủ tướng phải đính chánh không?
-      Tôi không biết.
Xe hơi đã tới đại lộ Phan đình Phùng. Ánh đèn những tiệm ăn sầm uất giữa đường Đinh tiên Hoàng hắt lại. Quỳnh Bích nhìn được rõ mặt Nguyễn Biên. Nàng thấy miệng hắn mím lại, trong vẽ suy nghĩ day dứt. 
        Hắn quẹo vào đường Phan kế Bính, một trong những con đường nhỏ tối om của đô thành Sài gòn. Cách lái xe từ tốn, khoan thai, tôn trọng luật lệ giao thông của Nguyễn Biên chứng tỏ hắn ở Sài gòn đã lâu, hoặc đã được huấn luyện chu đáo.
        Giảm bớt tốc lực, hắn bắt sang đầu đề khác:
-          Giờ tôi muốn hỏi về cô Huệ Lan. Cô đối với Huệ Lan ra sao?
Nàng buông thõng :
-          Không thân lắm.
 
115
 
-          Huệ Lan là tình nhân của Lê Tùng phải không? 
-          Phải, hai người sửa soạn lấy nhau.
-          Huệ Lan làm ở phòng nào?
-          H.4.
-          Phụ trách tài chánh?
-          Vâng.
-          Thái độ của Huệ Lan ra sao trong vụ Lê Tùng?
-          Tôi không biết. Tuy nhiên, tôi thấy họ yêu nhau tha thiết. Sau khi ở khám ra, Lê Tùng gặp Huệ Lan luôn.
-          Hiện Lê Tùng ở đâu?
-          Tôi không biết.
-          Theo cô, có thật Lê Tùng bị mất tích không?
-          Tôi không biết.
-          Câu trả lời của Quỳnh Bich làm Nguyễn Biên yên tâm. Nàng chưa biết Lê Tùng đã rời Sài gòn. 
-          Hắn bèn đặt một câu hỏi khôn ngoan:
-          Huệ Lan đang là nhân viên Mật vụ, tại sao ông Hoàng không cấm đoán giao du với Lê Tùng?
Quỳnh Bích lắt đầu:
-          Tôi không hiểu lý do. Cách đây 2 hôm Huệ Lan được kêu tới văn phòng tổng thanh tra.
-          Văn Bình?
-          Vâng. Tổng thanh tra Văn Bình. Trong văn phòng tổng thanh tra khi ấy có tôi. Huệ Lan bị căn vặn về sự giao du thân mật với Lê Tùng. Thoạt đầu, nàng không nói song vì Văn Bình hăm doạ...
-          Hăm doạ như thế nào?
-          Sẽ dùng kỷ luật.
-          Nghĩa là ám sát?
 
116
 
-          Không. Việc ám sát chưa hề xảy ra. Nhân viên phạm kỷ luật thường bị cách chức, giáng cấp hoặc bị đưa ra tòa án quân sự, hoặc bị đưa đi an trí một thời gian.
-          Văn Bình muốn Huệ Lan khai những gì?
-          Chi tiết của mỗi cuộc gặp gỡ.
-          Kẻ cả gặp gỡ trong phòng kín.
-          Vâng. Hai người gặp nhau, không ngoài mục đích yêu đương. Cho nên, tôi hơi ngạc nhiên trước thái độ tò mò vô lý của Văn Bình.
-          Không vô lý đâu, cô ạ. Tò mò là một trong các đức tính cần thiết của người điệp báo, Huệ Lan có tiết lộ điều nào lý thú không?
-          Không. Văn Bình cho nàng 24 giờ để suy nghĩ. Qua thời hạn này, nàng phải báo cáo nhất cử nhất động của Lê Tùng cho Văn Bình.
-          Thời hạn này đã hết rồi. Huệ Lan khai ra sao?
-          Tôi không thấy nàng lên văn phòng tôi nữa.
-          Tại sao cô không hỏi nàng, hoặc hỏi tổng thanh tra Văn Bình?
-          Tưởng đây là chuyện tầm thường nên tôi không quan tâm tới. Vì các ông đã cho tôi nghĩ.
-          Đáng tiếc. Ngày mai phiền cô hỏi khéo Văn Bình?
-          Sợ không đi đến đâu. Văn Bình phăng ra thì khốn.
-          Cô sẽ lựa lời mà hỏi. Vả lại, cô nên hỏi vào lúc hắn bị xúc động mãnh liệt.
-          Trời! Tôi không thể biến thành người máy. Tôi không thể lợi dụng tình yêu của Văn Bình.
-          Cô yêu hẳn rồi ư?
 
117
 
-          Vâng.
-          Thoạt đầu, cô cam kết là chỉ yêu hẳn vì sự đòi hỏi của công tác. 
-          Tôi tưởng như vậy, nhưng càng đi sâu vào tôi mới thấy khó khăn, hoàn toàn khó khăn. Văn Bình cũng thành thật yêu tôi. 
-          Cô dở hơi lắm. Giá chúng tôi yêu cầu cô đầu độc Văn Bình, hoặc lấy những tin tức có hại cho Văn Bình, cô khước từ là đúng. Vì chấp nhận là phản lại người yêu. Nhưng trong trường hợp này, người yêu của cô không thiệt hại, không mất mát gì hết. Cô đã nghĩ ra chưa?
Quỳnh Bích lặng thinh.
Nguyễn Biên nói tiếp: 
-          Tôi hiểu lòng cô lắm. Sự rụt rè của cô chỉ là phản ứng tất nhiên của mọi người đàn bà. Cô trung thành với nhiệm vụ, song lại bị tình yêu dằn vặt. Thật ra, cô đáng được khen, không đáng chê. Gia đình cô ở quê nhà sẽ hãnh diện vì cô.
        Đêm nay, cô hãy nghĩ kỹ, rồi trưa mai hẹn với Văn Bình. Kinh nghiệm cho thấy không người đàn ông nào trên trái đất còn giữ được thần trí tỉnh táo trong khi ân ái với mỹ nhân. Cô sẽ tìm cách vuốt ve hắn, kích thích hắn, rồi...
        -      Tôi không phải là con điếm...
        -      Xin lỗi cô. Tôi không bao giờ có ý nghĩ sống sượng như vậy. Nhưng, cô Quỳnh Bích ơi, người đàn bà chỉ được gọi là con điếm nếu bán thân thể của mình để lấy tiền tiêu. Dùng thân thể đẹp đẽ để phụng sự một mục đích cao xa lại là ân nhân của tổ quốc. Tôi không dám nài ép, vì đó là quyền riêng của cô. Tuy nhiên, tôi chỉ muốn cô nghĩ đến đại cuộc, nghĩ đến mẹ cô, các
 
118
 
em cô...
        Một lần nữa, người ta lại mang gia đình ra để bắt chẹt. Và như mọi lần, Quỳnh Bích chịu thua.
        Xe hơi chạy bon bon trên đường Trần quang Khải, gần đến ngã ba Hai Bà Trưng. Nguyễn Biên lái sang bên trái, giọng đột nhiên thay đổi:
        -      Văn Bình vừa ở trong phòng cô phải không?
        Mặt đỏ gay, nàng đáp:
        -      Phải.
        -      Lẽ ra, cái áo được đưa vào cho cô trước khi đèn tắt trong phòng... Song tôi không muốn phá dám cuộc vui của hai người. Tôi chờ xong xuôi mới bấm chuông. 
        -      Té ra ông núp ngoài cầu thang.
        -      Không đúng. Tôi ở dưới đường, cách nhà cô hơn một trăm thước. Vì cần gì núp ngoài cầu thang mới nghe được tiếng nói trong phòng. Tôi có vành tai thính lắm cô ạ. Vành tai điện tử. 500 đô la, mua ở Hồng kông.
        Nguyễn Biên mở hộc táp lô, lấy ra một cái hộp vuông, rồi nói, giọng tự đắc:
        -      Mọi âm thanh trong phòng cô đều được thu vào băng nhựa tí hon trong máy này. 500 đô la cái máy ghi âm. 400 đô la nữa, tiền mua cây đèn, hao hao như đèn pha xe hơi. Ngọn đèn ở vè trái xe hơi là ngọn đèn giả hiệu, được dùng để truyền dẫn âm thanh từ phòng cô vào băng ghi âm của tôi.
        -      Cô đừng giận nhe! Văn Bình nói nhiều câu ri rởm ghê. Đàn bà mê hắn là đúng, vì hắn biết dùng những danh từ lạ lùng. Chính tôi là đàn ông khô khan, cứng nhắc mà cũng nổi gai ốc
 
119
 
khi nghe hắn phê bình những bộ phận thiên phú trên cơ thể của cô.
        -      Tôi van ông...
        -      Vâng, tôi sẽ không nói nữa. Sở dĩ tôi nhắc lại là để xác định với cô rằng chúng tôi có tai mắt khắp nơi. Bên trong cơ quan điệp báo của ông Hoàng, chúng tôi có người, khá nhiều người.  Những người này không biết nhau, và có nhiệm vụ thu lượm tin tức, đôi khi kiểm soát, theo dõi lẫn nhau. Cô làm việc cho chúng tôi, song bên cạnh cô đã có nhiều người như cô. Vì vậy, cô nên thành thật. Cô cũng nên đặc quyền lợi công tác lên trên quyền lợi tình ái riêng tây. Cô nghĩ sao?
        Quỳnh Bích nghẹn ngào:
-          Vâng.
Nguyễn Biên vòng xe vào đường Nguyễn văn Thinh, đậu sát lề, xế tòa báo Thần Chung. Hắn dặn nàng: 
-         Vì điều kiện an ninh, tôi không thể thả cô xuống gần nhà. Tôi tin rằng giờ này nhân viên của ông Hoàng đang canh chừng phòng cô. 
        Quỳnh Bích sửng sốt:
-          Tôi bị ông Hoàng nghi ngờ rồi ư?
-          Chưa. Ít ra là trong lúc này. Theo chỗ tôi biết, biện pháp an ninh đã được áp dụng đối với nhân viên, ngay sau khi xảy ra vụ Lê Tùng. Biện pháp an ninh gồm 3 nấc: thứ nhất, đối với nhân viên trung cấp, giữ chức vụ quan trọng tương đối tại Trung ương, sẽ có mật vụ canh chừng nhà ở, đề phòng bị chúng tôi ám sát, bắt cóc; thứ hai, đối với nhân viên bị tình nghi, canh chừng và theo dõi; thứ ba, đối với nhân viên bị tình nghi đặc biệt,
 
120
 
thì canh chừng và theo dõi đặc biệt.
-          Theo ông, tôi bị liệt vào hạng nào?
-          Hạng thứ nhất. Ông Hoàng chưa ngờ vực cô. Ông Hoàng chỉ cho nhân viên canh chừng mà không theo dõi cô. 
-          Ông tài thật.
-          Cám ơn lời khen ngợi của cô. Riêng tôi, tôi chẳng có tài cán gì. Tôi chỉ là một bánh xe trong bộ máy vĩ đại. Cô cũng vậy, bộ máy quay, bánh xe cũng phải quay. 
-          Tôi hiểu rồi. 
-          Cô thông minh lắm, tôi biết. Cám ơn cô đã giúp tôi hôm nay. Bây giờ cô xuống xe trở về nhà. Song cô đừng về bằng đường Hai Bà Trưng. Phiền cô ra đường Tự Do, đi thẳng tới ngã tư Gia Long, rồi quẹo tay phải. Chúc có ngủ ngon và dệt thật nhiều mộng.
Hơn ai hết, Nguyễn Biên biết đêm nay Quỳnh Bích sẽ không tài nào ngủ được.
Hắn cũng thức suốt đêm như nàng.
Đêm ấy, ông Hoàng, tổng giám đốc Mật vụ, cũng thức. Thức bên phích cà phê đặc xịt và bên đống hồ sơ cao ngất liên quan đến vụ Lê Tùng.
***
-          Lê Tùng, anh không giấu giếm được tôi đâu.
-          Lê Tùng, anh chưa thành thật.
        Tiếng nói của đại tá Bùi Vinh vang dội bên tai Lê Tùng. Chàng có cảm giác như trái tim và khối óc bị điện cao thế giật mạnh. Song chàng cố giữ bình tĩnh cho bàn tay khỏi run, vì chàng biết rõ Bùi Vinh đang nhìn chằm chằm vào bàn tay chàng dò xét phản ứng.
        Lăn lộn trong nghề, chàng không lạ gì
 
121
 
phương pháp «đánh phủ đầu» khá quen thuộc này. Đối phương bắt nọn trước, nếu yếu bóng vía chàng phải bàng hoàng lo sợ. Nhưng cũng có thể Bùi Vinh thành thật. 
        Lê Tùng bèn ung dung đáp:
        -      Anh không tin tôi là quyền của anh. Song giữa những người điệp báo chuyên nghiệp, tôi cần nói anh biết là tôi chẳng dại gì dối gat, vì sớm muộn anh sẽ phăng ra. Vả lại, tôi là kẻ ra đi, không hy vọng trở về, dầu muốn dầu không, các anh là đồng minh của tôi chống lại ông Hoàng, và dầu muốn dầu không tôi phải hợp tác thành thật. 
        Bùi Vinh mỉm cười:
-          Anh biện hộ rất xác đáng, tuy nhiên tôi có đủ chứng cớ về việc anh chưa hoàn toàn thành thật. Chẳng hạn, về thời gian anh hoạt động ở Hà nội.
-          Hồi nào?
-          Tháng 6-1965.
-          Hồi này, tôi đã về Nam.
-          Trước khi về anh liên lạc với một nhân viên ở chợ Hôm.
-          Đúng. Tôi đã nói rõ vụ này với đại tá Tú và Chu Nghị ở Hồng kông.
-          Còn một điều anh quên. Nhân viên này là ai?
-          Ồ, đây là một chi tiết nhỏ nhặt. Tôi đã cho các anh biết hết cơ sở thì còn giấu tên người làm gì vô ích. Nhân viên này là Y-43.
-          Tại sao số hiệu nhân viên lại chia ra Z, Y, XX?

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:15:14 bởi Ct.Ly>

122
 
-          XX là nhân viên tập sự. Sau khi được đưa vào ngạch chính thức thì mang số hiệu Z, như Z.28, hiện làm tổng thanh tra. Nhân viên Z. thuộc ngạch trung cấp, hoạt động ở phía bắc vĩ tuyến thứ 17 được mang số hiệu Y. 
-          Y.43 là ai?
-          Nhân viên liên lạc.
-          Tên thật là gì?
-          Chịu. Theo chỉ thị, tôi không được quyền hỏi tên thật của thuộc viên.
-          Theo chỉ thị, anh được quyền ngủ với nữ thuộc viên không?
-          Không. Tại sao anh lại hỏi như vậy?
-          Vì anh đã ngủ với Y.43, một nữ nhân viên khá đẹp.
Lê Tùng thở dài:
-          Nàng đã thành người thiên cổ rồi, chúng ta nên để nàng nằm yên trong mộ. Nàng chết vì tôi, vì tôi cẩu thả. Vì tôi trà trộn tình yêu với nhiệm vụ.
Bùi Vinh nghiêm giọng :
-      Tại Hồng kông, anh chỉ nói mù mờ về Y.43. Anh không chịu cho đại tá Tú biết Y.43 là đàn bà, và là người yêu của anh. Tại sao anh lại giấu giếm?
-      Như tôi đã nói với anh, tôi không muốn vong linh người chết phải hờn tủi.
Bùi Vinh cười khà khà:
-      Thôi, tôi cũng chiều anh. Tôi chỉ hỏi thêm một câu nữa về Y.43 thôi. Tại sao nàng bị bắt?
-      Tôi chưa tìm ra lý do. Sau này về Sài gòn, tôi hỏi Văn Bình thì Văn Bình cũng chưa biết. Có lẽ vì nội phản.
-      Ai là nội phản?
 
123
 
        -      Nếu biết, tôi đã không ở lì trong Nam. Nếu biết, tôi đã xé xác đứa nội phản. Được tin nàng thiệt mạng, tôi đã nguyện trả thù. Tôi sẽ không tha kẻ đã giết nàng.
        -      Tôi sẽ giúp anh tìm ra kẻ nội phản. Nhưng anh có dám cam kết là tự tay giết nó không?
        -      Đời tôi luôn luôn coi trong danh dự. Tôi đã hứa là không bao giờ làm sai. Dầu chết, tôi cũng trả thù.
        -      Anh sẽ gặp một đối thủ cừ khôi.
        -      Khi ấy, ta hãy nói chuyện lại.
        -      Cám ơn anh. Bây giờ ta bước sang vấn đề khác. À, có lẽ anh khát lắm thì phải. Để tôi gọi người mang rượu lên. Anh dùng gì? Huýt ky hay Vốt ka? Nghe nói anh rất thích rom bacadi. Ở đây chúng tôi có loại bacadi đặc biệt do nhà máy cất rượu riêng của Thủ tướng Castro chế tạo và gửi biếu. Dầu anh uống cả năm thay nước lạnh cũng không hết.
        -      Bacadi của Cuba phải uống với nước ngọt côca côla của Mỹ mới ngon. 
        -      Dĩ nhiên sống chung hòa bình mà lị... Anh uống nhe! Để tôi gọi Huyền Nhung. 
        -      Vâng, xin ký cả hai tay.
        Bùi Vinh bấm nút anh-tét-phôn, ra lệnh. Lê Tùng cười xòa:
        -      Huyền Nhung của các anh đẹp ghê!
        Bùi Vinh nhún vai:
        -      Còn nhiều người đẹp hơn nữa. Tôi sẽ biếu Huyền Nhưng cho anh nếu anh chịu giúp tôi.
        -      Hiện tôi đang giúp các anh.
        -      Không. Tôi muốn anh giúp một việc khác.
 
124
 
        -      Việc gì, xin anh cho biết.
        -      Thong thả. Mai cũng chưa muộn. Nếu anh chưa mệt, tôi xin phép nói đến vụ Trần Hiệp. Căn cứ vào đâu, ông Hoàng biết rằng Trần Hiệp sa cơ ở sông Bến Hải vì nội phản?
        -      Ông Hoàng không cho tôi biết rõ chi tiết.
        -      Còn Z.309?
        -      Về trường hợp này, tôi có thể giúp anh được nhiều. Vì tôi đã sống với Z.309 một thời gian. Hắn là một trong các cán bộ cao cấp nhất của Đảng và của ngành an ninh tại Liên khu IV, nghĩa là trong khu vực Cựu kim Sơn do tôi trực tiếp điều khiển. Tên thật hẳn là Lý Hòa.
        -      Lý Hòa... Tôi đã gặp hẳn nhiều lần. Không ngờ hẳn là nhân viên của ông Hoàng... Thú thật với anh, tôi không hiểu sao hắn bị bắn chết.
        -      Vì hắn dại dột vượt sông Bến Hải ở khu được canh phòng chặt chẽ nhất.
        -      Đó là điều làm tôi băn khoăn. Thanh tra Công an Liên khu, chủ tịch phân hội Việt-Sô hữu nghị, tỉnh ủy. Lý Hòa không phải là một viên chức tầm thường. Hẳn phải biết khúc sông này được canh phòng nghiêm mật. Trừ phi người ta cố tình đưa hắn vào bẫy...
        -      Đúng... Hắn chết vì nội phản.
        -      Nghĩa là một người đóng vai trò nhị trùng lừa giết hắn? 
        -      Có lẽ.
        -      Còn có lẽ gì nữa. Người giết Lý Hòa một cách gián tiếp này phải là cán bộ cao cấp. 
        -      Tôi cũng nghĩ như anh.
        -      Chúng ta đã tiến bỏ rất nhiều trong việc
 
125
 
tìm hiểu lẫn nhau. Tôi hy vọng anh cứ tiếp tục như thế. Anh đừng quên rằng lời khai của anh được thu thanh.
        -      Thu thanh?
        -      Phải. Máy ghi âm được đặt dưới mặt bàn.
        -      Ghi âm để làm gì?
        -      Thứ nhất để làm hồ sơ. Thứ hai... ồ, sau này anh sẽ biết. Còn vụ Z.308 ra sao?
        -      Cho đến nay, tôi vẫn còn điên đầu. Một nhân viên mang số hiệu Z. bị loại trừ đã nguy rồi, đằng này hai nhân viên cùng bị loại trừ trong một thời gian ngắn ngủi. 308 chỉ giữ chức vụ phó trưởng ty công an duyên hải Thanh hóa, song lại giúp chúng tôi được nhiều việc quan trọng. Bờ biển Thanh hóa dài nhất, so với các tỉnh khác ở Trung Việt. Thanh hóa còn là nơi tập trung các căn cứ hải quân, như Hòn Nẹ, căn cứ tiềm thủy đĩnh, Sầm Sơn, căn cứ khinh hậm, Lạch Trường, căn cứ thủy cơ, Ba Làng căn cứ cơ giới thủy chiến.
        -      Hầu hết các vụ phục kích đường biển do ông Hoàng tổ chức ở Liên khu IV đều do 308 cung cấp tin tức và tài liệu. Điều này, chúng tôi đã biết. Nhưng chỉ biết sau khi hắn tử thương trên bãi biển Cửa Tùng. Nếu là gián điệp Phản gián, anh sẽ đối phó với 308 ra sao?
        -      Tôi chưa bao giờ nghĩ đến giả thuyết này. Vì dầu sao 308 là thuộc viên thân tín của tôi. 
        -      Anh là cán bộ chỉ huy giàu kinh nghiệm nên tôi mới hỏi ý kiến. Đặt vào địa vị tôi, anh có ra lệnh giết 308 không?
        -      Cái đó còn tùy hoàn cảnh. Tuy nhiên, theo nguyên tắc nghề nghiệp, giết điệp viên của đối
 
126
 
phương là điều bất lợi. Kẻ địch còn sống có ích hơn là kẻ địch chết. 
        -      Hừ, vậy mà Phan Thiện lại giết 308!
        -      Nghĩa là Phan Thiện còn ngây thơ trong nghề. Nhưng thôi, tôi không dám lạm bàn về năng lực của một nhân vật Phản gián cao cấp. Phan Thiện là cấp chỉ huy trực tiếp của anh. 
        -      Xin anh cứ tự do.
        -      Tôi không dám.
        -      Vậy thì thôi. Nếu có thể, xin anh cho tôi biết thêm chi tiết về vụ Cửa Tùng. 
        -      Tôi không còn nhớ rõ lắm. Xin phép anh được suy nghĩ đêm nay rồi sáng mai...
        -      Không sao. Tôi đã đọc kỹ báo cáo của Công an duyên hải. Anh quên đoạn nào, tôi sẽ nhắc. Vì tôi chỉ biết những việc xảy ra về phía Công an mà thôi. Tại sao Z.308 biết bị lộ?
        -      Trong mật điện gửi cho ông Hoàng, hắn chỉ nói là bị lộ, và xin được thuyên chuyển cấp tốc vào Nam mà thôi. Ngoài ra, hắn không nói thêm gì nữa.
        -      Còn ý kiến của ông Hoàng?
        -      Ông tổng giám đốc ít khi bàn về chi tiết với tôi. Mỗi lần gọi tôi, ông chỉ ra lệnh cho tôi thi hành. 
        -      Mỗi lần đón nhân viên, anh dùng phương tiện nào?
        -      Trong quá khứ,  nhân viên bị cháy có thể được xuất nhập (1), theo 4 phương pháp cổ điển, nghiã
 
(1) Xuất nhập (exfiltration): nhân viên điệp báo hoạt động trong vùng địch bị bại lộ (danh từ chuyên môn: bị cháy), được bố trí thoát thân, giới chuyên nghiệp gọi là exfiltration.

 
127
 
là cơ quan điệp báo nào cũng áp dụng; đó là bằng đường hàng không chính thức, phi cơ bí mật, vượt biên giới lậu, và tiềm thủy đĩnh. Phương pháp dùng đường hàng không chính thức đã được bãi bỏ sau khi tình hình Nam-Bắc căng thẳng cực độ, nhà cầm quyền Hà nội đình chỉ việc cấp chiếu khán xuất ngoại.
        -      Trong 3 phương pháp còn lại, phương pháp nào được coi là tương đối an toàn nhất?
        -      Cũng tùy trường hợp. Vượt biên giới Lào thường dễ hơn vượt sông Bến Hải vì khu vực giáp tuyến được phòng vệ cẩn mật. Trong quá khứ, một số nhân viên dưới quyền tôi, hoạt động trong ba tỉnh, Thanh, Nghệ, Tỉnh, đã rút vào Nam bằng đường Ai lao, sau khi vượt biên giới được phi cơ nhẹ đáp xuống, đưa về căn cứ gần nhất.
        -      Tại sao anh lại ra lệnh cho Trần Hiệp dùng đường Bến Hải?
        -      Tôi không ra lệnh. Nếu muốn, tôi cũng không có quyền. Việc định đoạt lộ trình xuất nhập hoàn toàn do văn phòng bí thư của ông Hoàng đảm trách, tôi chỉ có nhiệm vụ thi hành.
        -      Giả sử anh là người ra lệnh, anh có ra lệnh cho Trần Hiệp vượt tuyến không?
        -      Trần Hiệp quen thuộc vùng giáp tuyến, như lối đi trong nhà. Vả lại, thiếu tá Phan Lộ, chỉ huy Phản gián địa phương là bạn thân...
        -      Vậy mà hắn bị bắt. Anh biết tại sao không?
        -      Không. Xin anh hỏi Phan Lộ tiện hơn.
        -      Hừ, nếu Phan Lộ còn sống, tôi đã không hỏi anh.
 
128
 
        -      Trời ơi! Hắn chết rồi ư?
        -      Rồi. Chết giữa lúc hắn cần sống nhất. Giữa lúc hắn cần sống để giúp tôi phanh ra đầu mối.
        -      Nghĩa là anh ngờ vực.
        -      Có lẽ.
        -      Phan Lộ chết ra sao?
        -      Hắn cũng chết như mọi người chết khác nghĩa là nằm thẳng cẳng trên đất, không dậy nữa. 
        -      A, nếu anh ưa khôi hài thì tôi sẽ kể truyện tiếu lâm cho anh nghe. Không lẽ các anh tốn bạc triệu để mời tôi ra Hà nội kể truyện tiếu lâm.
        -      Xin lỗi anh, tính tôi vẫn lố bịch như vậy. Nhưng bản tâm tôi rất hiền lành. Ở lâu với tôi, anh sẽ thấy. Sở dĩ tôi dùng giọng trào lộng là vì tôi quá đau khổ. Phan Lộ là cộng sự viên thân tín của tôi.
        -      Cộng sự viên thân tín của sở Phản gián, hay của riêng anh?
        -      Của riêng tôi. Nhờ hắn, tôi đã phăng ra nhiều chi tiết quan trọng. Cái bẫy của tôi đã được trương lên, cho con thú ngoạm mồi là xập xuống, nhưng kẻ kéo bẫy lại chết rồi. Phan Lộ bị chết bất thình lình. Chết vì ly rượu. Hắn là bợm rượu khét tiếng.
        -      Cũng như tôi đa mang bacadi của thủ tướng Castro. 
        -      Anh khôn hơn hắn nhiều. Bằng chứng là anh còn sống. Còn Phan Lộ uống lầm rượu mạc-ten pha thuốc độc nên chết đứ đừ.
        -      Ai đâu độc hắn?
        -      Cuộc điều tra bị sa lầy. Tuy nhiên, tôi không tin thủ phạm là ông Hoàng, hoặc là tôi...
 
129
 
        -      Vậy, thủ phạm là ai?
        -      Suy nghĩ một lát, anh sẽ thấy.
        -      Óc tôi mệt lắm rồi, tôi không thích suy nghĩ nữa. Vả lại, tìm ra kẻ giết Phan Lộ không phải là việc của tôi.
        -      Anh nói đúng. Nhưng nếu anh chịu giúp tôi một tay, anh sẽ được trọng dụng.
        -      Việc làm ư?
        -      Anh sẽ có một cái anh muốn. Tiền, chức vụ, gái đẹp... tất cả tôi đều có.
        -      Ha, ha, với tiền, chức vụ, gái đẹp, tôi sẵn sàng nhảy vào lửa nếu anh hạ lệnh.
        -      Cám ơn sự thành thật của anh. Tôi muốn hỏi anh một câu nữa về vụ 308 vì nó liên quan đến cái chết của Trần Hiệp và của Phan Lộ. Tại sao 308 không về Nam bằng phi cơ bí mật?
        -      Như tôi đã nói với anh, việc này do ông Hoàng bố trí.
        -      Xuất nhập bằng phi cơ bí mật như thế nào?
        -      Đó là phương pháp dễ thực hiện nhất trong hiện tình. Trong mọi khu vực hoạt động, điệp viên đều định sẵn một số sân bay bí mật. Gọi là sân bay e không đúng, vì trên thực tế, đó chỉ là những khoảnh đất nhỏ xíu, chẳng hạn một khu vườn rau, một cây cầu trên quốc lộ... tóm lại, một miếng đất bằng phẳng không ở quá xa địa chỉ của điệp viên để việc di chuyển được nhậm lẹ, dễ dàng, và không ở quá gần vị trí phòng thủ, để phi cơ có thể đáp xuống một cách kín đáo.
        Loại phi vụ này không dùng trực thăng vì tốc độ trực thăng quá chậm, dễ bị bắn hạ. Chúng tôi
 
130
 
thường dùng máy bay VTOL (1) gắn động cơ phản lực, bay rất nhanh, và đáp xuống cũng rất êm ái. Nhiều khi máy bay VTOL hạ cánh xuống sân sau một tòa nhà, và bay lên mà không ai biết.
        Gần đây, phi cơ VTOL được trang bị một dụng cụ đặc biệt, tới địa điểm chỉ ném xuống một sợi giây, buộc sẵn cái ghế, điệp viên trèo lên và được rút lên phi cơ.
        -      Các anh đã mất bao nhiêu điệp viên xuất nhập bằng VTOL?
        -      Theo chỗ tôi biết, thì phương pháp này đã đạt mức an toàn trăm phần trăm. Có lần, chúng tôi đáp VTOL xuống sát Hà nội, ngay tại Kim Liên, hoặc Làng.
        -      Tại sao ông Hoàng không xuất nhập 308 bằng VTOL?
        -      Ồ, anh cứ hỏi tôi một điều tôi không trả lời được.
        -      Trên nguyên tắc, khi nào áp dụng phương pháp xuất nhập bằng tàu ngầm?
        -      Khi tải thương, hoặc khi cần xuất nhập nhiều nhân viên, đặc biệt là đàn bà, trẻ con thuốc gia đình nhân viên.
        -      308 vào Nam có bị thương không?
        -      Không.
        -      Hắn có mang theo vợ con không?
        -      Không. Hắn còn độc thân.

(1) tức là Vertical Take-off and Landing. Loại phi cơ này hiện được các cơ quan điệp báo thế giới dùng để xuất nhập điệp viên ra khỏi vùng địch.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
131
 
        -      Hừ, xuất nhập một nhân viên khỏe mạnh, độc thân mà ông Hoàng lại phái một chiếc tàu từ Đà nẵng ra Cửa Tùng... thú thật với anh là tôi không tài nào hiểu nổi.
        -      Anh nghĩ sao?
        -      Tôi nghĩ rằng ông Hoàng cố tình bố trí cho 308 bị giết. 
        -      Hừ, đó chỉ là giả thuyết thuần túy. Ở trong nghề đã lâu, tôi rất ghét giả thuyết, nhất là giả thuyết thuần túy. 
        -      Ở trong nghề đã lâu, tôi lại cho rằng giả thuyết thuần túy thường là đầu mối dẫn tới sự thật. 
        Lê Tùng liếm mép ra vẽ thèm rượu. Bùi Vinh khoát tay: 
        -      Thong thả. Tôi cũng khát cháy họng như anh. Nhưng chúng ta cần thảo luận thêm vài phút nữa. Đêm ấy, anh đón 308 trên loại tàu ngầm nào?
        Lê Tùng đáp, cặp mắt mơ màng:
        -      Tàu ngầm xì-gà. Loại tối tân nhất. 
        -      Tại sao không dùng tàu ngầm thông thường?
        -      Loại này chạy chậm, lại không ghé được vào bờ. Tàu ngầm xì-gà chỉ cần 5 thủy thủ, tốc lực không thua khinh đĩnh là bao. Bại lộ, nó có thể chạy trốn dễ dàng, không tàu nào theo kịp. Nó lại vào đến bãi cát. 
        -      Chi tiết này rất quan trọng. Vì theo kế hoạch, 308 phải chèo thuyền khỏi bãi biển 500 thước để lên tàu. Tại sao tàu không ghé bờ lại bắt 308 ra khơi?
        -      Tôi chưa tìm ra lý do.
        -      Nhưng tôi, tôi đã tìm ra. Anh chờ 308 trong bao lâu ngoài khơi?

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:16:13 bởi Ct.Ly>
132
 
        -      Theo kế hoạch, tôi phải chờ 308 trong 10 phút. Nếu y không ra, tôi phải cho tàu lặn xuống, ra hải phận quốc tế, đêm sau vào lại. Nhưng tôi đã nóng lòng, bơi xuồng vào.
        -      Và lọt ổ phục kích.
        -      Tôi muốn biết rõ chi tiết của cuộc phục kích. Anh lên bờ rồi bị bắn phải không?
        -      Mục đích của tôi là đổ bộ lên rừng phi lao, cách vọng canh 500 thước. Đêm ấy, trời tối như đêm củ mật, cách nhau một thước, không thấy rõ mặt. Xuồng cao su còn cách bờ 100 thước thì súng nổ. Khi ấy, tôi mới sực nhớ rằng công an duyên hải được võ trang súng riêng, gắn ống nhắm hồng ngoại tuyến.
        -      Rồi viên thiếu úy hải quân làm vệ sĩ cho anh bị trúng đạn?
        -      Vâng. Y bị đạn vào cánh tay. Tôi ra lệnh cho y nhảy ùm xuống biển. Tôi cũng nhảy theo. Chúng tôi là những tay bơi lội cừ khôi nên một lát sau đã ra tới tiềm thủy đĩnh.
        -      Lạ thật! Tôi có cảm tưởng là bên trong vụ này có điểm trục trặc. Trong vòng 100 thước, súng gắn ống nhắm hồng ngoại tuyến bắn rất chính xác. 
        -      Con người không phải là cái máy, trong khi xúc động có thể bắn trật ra ngoài. Vả lại, trong phút đầu tiên,  nhân viên của tôi đã trúng đạn.
        -      Ừ, thì công an duyên hải bị xúc động... Nhưng trừ phi là trẻ con mới khai hỏa trước khi xuồng vào bờ. Tại sao không chờ anh lên bờ rồi ập bắt? Hoặc nếu lỡ bắn rồi tại sao không bắn hỏa châu soi sáng để tàu ngầm xì-gà phải lặn xuống và cho khinh đĩnh ra khơi bắt anh lại?
 
133
 
        -      Xin anh cật vấn công an duyên hải.
        -      Ôi chao, vụ này đã làm tôi nhức đầu hàng tuần lễ. Tôi đánh điện kêu viên đội trưởng duyên hải về Hà nội báo cáo thị dọc đường hắn chết. 
        -      Lại chết?
        -      Phải. Chết vì đau bụng. Chẳng hiểu hắn ăn uống thứ gì để đến nỗi tắt thở trong vòng ba phút đồng hồ. Chở vào bệnh viện, hắn đã chết cứng rồi.
        -      Hắn bị đầu độc?
        -      Dĩ nhiên. Người ta đã đầu độc hắn. Cũng như đã đầu độc Phan Lộ.
        -      Người ta là ai?
        -      Mai hay mốt, anh sẽ biết.
        -      Tôi có ấn tượng là đang được anh lôi vào mê hồn trận, tối tăm mắt mũi, không tìm thấy lối ra. 
        -      Anh yên tâm. Đúng là anh được đưa vào mê hồn trận, nhưng tôi luôn luôn đứng bên để cứu anh. Miễn hồ anh tiếp tục thành thật như thế này mãi.
        -      Bao giờ tôi cũng thành thật. Vì tôi muốn được cộng tác với các anh.
        -      Nhưng tôi không tin là Phan Thiện bằng lòng.
        -      Vậy thì thôi. Lấy tiền xong, tôi sẽ tếch đi Thụy sĩ.
        -      Phan Thiện sẽ giữ anh lại.
        -      Không có quyền.
        -      Hừ, hắn có rất nhiều quyền. 
        -      Nhưng hắn sẽ làm những người muốn về hợp tác sau này chán nản và ngờ vực. Sớm muộn, người ta sẽ biết Phan Thiện phản phé, Phan Thiện
 
134
 
dụ tôi về rồi phủ ước. Tôi không tin một thủ lãnh Phản gián cừ khôi như Phan Thiện lại cận thị một cách xuẩn động như vậy. 
        -      Hừ, hẳn là một thủ lãnh Phản gián cừ khôi... Anh quen Phan Thiện không?
        -      Không. Chỉ quen trong ảnh thôi.
        -      Theo anh, hẳn ra sao?
        -      Tôi chưa thể phê phán vì chưa gặp. À, xin lỗi anh... Tôi đã lỡ lời gọi Phan Thiện là hắn.
        -      Cũng chẳng sao. Chính tôi đã gọi trước.
        -      Nếu tôi không lầm, anh và Phan Thiện không hợp nhau.
        -      Anh không lầm chút nào. Tôi ghét cay, ghét đắng Phan Thiện. Và ghét nhất những mánh khóe gian manh của hắn. Anh sà vào tay hắn thì nguy. Hắn sẽ hứa trên trời, dưới biển với anh, để rồi rốt cuộc chẳng có gì hết. Bọn nghiện bao giờ cũng vậy.
        -      Phan Thiện hút thuốc phiện ư?
        -      Phải. Hắn đa mang ả phù dung từ nhiều năm nay. Song hắn hút toàn thuốc thuợng hạng nên môi không thâm, da không bủng, trái lại, hắn mỗi ngày một khỏe ra. 
        -      Tôi nghe nói hắn mắc bệnh mê gái rất nặng. Nếu anh muốn hắn chết non thì biếu hắn một cô gái tơ bản lãnh là đủ. Chẳng hạn, cô Cẩm Phượng ở Hồng kông.
        -      À, anh đã nếm mùi Cẩm Phượng rồi ư? Con bé kinh khủng ghê. Nó như cái thùng không đáy, bao nhiêu cũng chưa đầy. Lắm cậu đã mất mạng vì Cẩm Phượng. Nhưng Phan Thiện khôn dốc tổ, anh ạ. Mỹ nhân kế không hạ được hắn. Hắn khỏe như trâu. Hồi xưa, hắn đã khét tiếng trong
 
135
 
giới nữ nhân viên: đàn bà đầu hàng hắn, chứ hắn không bao giờ đầu hàng đàn bà. Phuơng chi ngày nay hắn có hàng tạ sâm nhung trong phòng... Tuy nhiên, tôi đã có cách chơi hắn... Và anh sẽ giúp tôi thành công.
        -      Anh thua hắn thì chết tôi.
        -      Thua sao được... À, sau ngày chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, anh ở đâu?
        -      Anh muốn nói sau ngày 19-12-1946 phải không?
        -      Phải.
        -      Tôi ở lại Hà nội.
        -      Anh thấy chưa? Tôi chọn anh rất đúng. Chọn anh vì biết anh không ra khu sau tháng 12-1946. Chọn anh vì biết anh là cựu nhân viên của Bureau Historique, cơ quan Phản gián của Pháp, tọa lạc tại Hà nội. 
        -      Các anh tài thật. Khoảng thời gian này của đời tôi, ít người được biết.
        -      Nhưng anh đã viết ra giấy.
        -      Vâng, tôi chỉ viết trong bản tự thuật khi gia nhập tổ chức của ông Hoàng.
        -      Tôi đã lấy hồ sơ của anh trong thư khố Sài gòn. Anh làm cho Phản gián Pháp bao lâu?
        -      Anh đã có hồ sơ thì còn hỏi làm gì nữa?
        -      Thủ tục thường lệ, chắc anh đã biết.
        -      Từ 1945 đến 1949, nhân viên di động.
        -      Dưới quyền ai?
        -      Đại tá Dupré.
        -      Sau năm 1949, anh đi đâu?
        -      Giải nghệ. Lang thang một thời gian, tôi đầu quân cho ông Hoàng. Rồi xuất ngoại, tham dự nhiều khóa huấn luyện trung cấp.
 
136
 
        -      Trong thời gian phục vụ cho Pháp, anh nghe nói đến Phan Thiện không?
        -      Không.
        -      Anh không biết là đúng. Vì nếu anh nói là biết, tất anh chưa thành thật. Sau chiến tranh Việt-Pháp,  Phan Thiện cũng ở lại Hà nội, và cũng làm việc Bureau Historique như anh. Song lại khác anh hai điểm: thứ nhất, hắn là nhân viên cao cấp, được Pháp quý như vàng mười; thứ hai, hắn là nhân viên nhị trùng. 
        -      Nhưng trung thành với ai?
        -      Hễ nói đến nhân viên nhị trùng là người ta phải đặt ngay vấn đề trung thành. Trên nguyên tắc, Phan Thiện được lệnh của Trung ương đảng bộ ở lại Hà nội, giả vờ cộng tác với Pháp, nhưng là để ám trợ cho kháng chiến.
        -      Điều này, tôi nghe một số anh em nói lại. Họ cho rằng Phan Thiện được Trung ương đảng bộ trọng dụng sau Hiệp định Giơ-neo là do những thành tích vẻ vang đạt được của hắn trong thời gian ở nội thành. Hắn đã giúp đắc lực các cơ sở quyết tử nội thành. Mãi đến năm 1954, vai trò nhị trùng mới bại lộ...
        -      Hừ, bại lộ! Anh mới biết một mà chưa biết hai... Theo hồ sơ, Phan Thiện phải bỏ Hà nội, trốn lên Thái Nguyên ngày 15-2-1954. Tại Thái Nguyên, trước mặt Phan trọng Tuệ, Lê Giản và Trần quốc Hoàn, hắn báo cáo là phải rút ra khu vì nội phản.
        -      Nhưng sự thật không hẳn thế. Tháng 2-1954, trận đánh Điện biên Phủ đang tới giai đoạn quyết liệt, bề ngoài, quân đội viễn chinh huênh hoang, nhưng bên trong, họ biết trước sẽ thua. Một hội
 
137
 
nghị tình báo cao cấp được triệu tập tại Ba Lê, với sự hiện diện của các đại diện Phòng Nhì, CIA và Intelligence Service trong tháng 1-1954, quyết định tăng cường hoạt động tình báo, nhất là tăng cường hoạt động nhị trùng và nội tuyến. Phan Thiện bại lộ, bỏ trốn lên Việt-Bắc chẳng qua chỉ là lớp lang do tình báo Tây phương sắp xếp.
        -      Tôi không tin. Nếu Phan Thiện phản thùng, không đời nào ba yếu nhân điệp báo Tuệ, Giản và Hoàn lại đưa hắn sang Nga sô và Trung quốc, và đề bạt vào chức vụ quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất nhì trong guồng máy an ninh Bắc Việt.
        -      Anh không tin là lẽ tự nhiên. Vì một số người cũng không tin như anh. Nên Phan Thiện mới dương dương, tự đắc đến ngày nay. Tuy nhiên, hắn đã hết thời, hoàn toàn hết thời... Để tôi cho anh biết một tin quan trọng ghê gớm.
        -      Trong thời gian anh tòng sự tại ban H-4, anh xuất ngoại 3 lần: Vạn Tượng, Hồng kông và Nam vang. Vâng lệnh ông Hoàng anh đã chuyển ngân hoặc mang theo 45.000 đô la Mỹ, chưa kể một số hạt soàn đáng giá.
        -      Tôi đã khai hết với Chu Nghị ở Hồng kông, thiết tưởng chẳng có gì là quan trọng cả. 
        -      Hừ, anh nóng như Trương Phi. Số tiền 45.000 đô la và mớ kim cương này được trả cho ai?
        -      Nêlô, Sambát và Phumê. Có lẽ là một người mang 3 tên khác nhau. 
        -      Đúng. Một người mang 3 tên khác nhau. Tôi đã truy nguyên ra người ấy. Một người mà anh không ngờ tới. Hắn là Phan Thiện.
        -      Phan Thiện?
 
138
 
        -      Phải. Phan Thiện, phó Vụ trưởng vụ Lễ Tân tại Thủ tướng phủ, chỉ huy Phản gián của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa... kẻ thù bất cộng đái thiên của tôi... ha, ha...
        Đại tá Bùi Vinh phá lên cười. Tiếng cười đắc thắng của Bùi Vinh vang dội trong căn phòng vắng. Tiếng cười đắc thắng của Bùi Vinh lan rộng vào đêm khuya mù mịt.
        Ha, ha...
        Ha... ha...
 
 
 
      Đêm ấy...
        Huệ Lan ngồi như tượng đá trong căn nhà nhỏ của nàng gần cầu Thị Nghè. 
        Ngoại ô Sài gòn đã bắt đầu đi ngủ. Quán phở đầu đường đã tắt ngọn đèn ống màu hồng, hai vợ chồng sửa soạn đẩy xe về. Tiếng máy may rào rào như mưa rơi trên máng kẽm ở nhà bên cũng vừa tắt. 
        Trong cảnh thanh vắng, Huệ Lan cảm thấy cô đơn và buồn bã lạ lùng. Lệ thường, mỗi khi ngồi một mình, nàng mang hoa ni-lông ra cắm, mỗi ngày nàng thay một kiểu. Nàng cắm hoa rất giỏi, một phần vì nàng tốt nghiệp lớp cắm hoa trung cấp ở Động kinh, phần khác vì nàng khéo tay.
        Nàng yêu hoa say mê, còn say mê hơn cụ đồ già kính cẩn gọt củ thủy tiên để nở kịp đêm giao thừa, và nâng lên bàn thờ khói hương nghi ngút. Song đêm nay, nàng chẳng buồn nghĩ đến hoa. Nàng cũng chẳng buồn thay áo để mặc cái áo ngủ may chẽn bằng hàng ni-lông trắng, hoa tím phơn phớt, vắt trên ghế. 
        Vì cái áo khả ái này bắt nàng phải nhớ đến chàng. Nhớ đến Lê Tùng. Đêm nay, tâm trí nàng hoàn toàn dành cho Lê Tùng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:29:51 bởi Ct.Ly>
X
 
Cận vệ chiến.
 
Đêm ấy …
 
Huệ Lan ngồi như tượng đá trong căn nhà nhỏ của nàng gần cầu Thị Nghè.
 
Ngoại ô Sài Gòn đã bắt đầu đi ngủ. Quán phở đầu đường đã tắt ngọn đèn ống màu hồng, hai vợ chồng sửa soạn đẩy xe về. Tiếng máy may rào rào như mưa rơi trên máng kẽm ở nhà bên cũng vừa tắt.
 
Trong cảnh thanh vắng. Huệ Lan cảm thấy cô đơn và buồn bã lạ lùng. Lệ thường, mỗi khi ngồi một mình, nàng mang hoa ni lông ra cắm, mỗi ngày nàng thay một kiểu. Nàng cắm hoa rất giỏi, một phần vì nàng tốt nghiệp lớp cắm hoa trung cấp ở Đông kinh, phần khác vì nàng khéo tay.
 
Nàng yêu hoa say mê, còn say mê hơn cụ đồ già kính cẩn gọt củ thủy tiên để nở kịp đêm giao thừa, và nâng lên bàn thờ khói hương nghi ngút. Song đêm nay, nàng chẳng buồn nghĩ đến hoa. Nàng cũng chẳng buồn thay áo để mặc cái áo ngủ may chẽn bằng hàng ni lông trắng, hoa tím phơn phớt, vắt trên ghế.
 
Vì cái áo khả ái này, bắt nàng phải nhớ đến chàng. Nhớ đến Lê Tùng. Đêm nay, tâm trí nàng hoàn toàn dành cho Lê Tùng.


 

 
        Huệ Lan thở dài chua sót...
        Những việc xảy ra hồi chiều tại văn phòng rồn rạp trở lại trí nàng, nàng muốn quên, cần quên mà không được. 
        Lần thứ hai, nàng bị gọi lên lầu, ban tổng thanh tra. Thời hạn 24 giờ mà tổng thanh tra Văn Bình cho nàng suy nghĩ về Lê Tùng đã hết. Nàng phải đối diện Văn Bình...
        Lần trước, nàng không để ý đến bức tranh thiếu phụ khỏa thân treo chễm chệ trên tường. Nhưng lần này, nàng lại đỏ mặt. Nàng có cảm tưởng rằng người đàn bà lõa lồ ấy là nàng. Thật vậy Văn Bình sắp bắt nàng phải lộ bỏ bề ngoài của tâm tư, và trình bày sự thật trần truồng, sự thật giữa nàng và Lê Tùng.
        Văn Bình ra lệnh cho Quỳnh Bích sửa soạn máy tốc ký:
        -      Cô ghi cẩn thận, để rồi đêm nay còn trình lên ông Hoàng.
        Rồi nghiêm giọng:
        -      Chào cô Huệ Lan. Cô nghĩ chín chưa?
        Huệ Lan khép tà áo trên đùi:
        -      Thưa rồi.
        -      Công cuộc tìm kiếm Lê Tùng vẫn tiếp tục, nhưng theo chỗ tôi biết, Lê Tùng không còn ở Nam Việt nữa. Tuy chưa nắm được bằng chứng cụ thể, tôi có thể nói là hắn đã trốn ra Bắc. 
        Huệ Lan lặng người.
        Nàng lặng người, không phải vì nghe tin Lê Tùng ra Bắc, vì trước khi đi, chàng đã thổ lộ với nàng. Nàng lặng người vì thấy Văn Bình đang đóng vai trò bịp bợm, ghê tởm nhất. Hơn ai hết,
 
141
 
Văn Bình đã biết người yêu kiêm chồng chưa cưới của nàng ra Bắc để mưu sát Phan Thiện, sau gần một năm trường khổ nhục kế. 
        Gần một năm trường, Lê Tùng bị bạn bè, gia đình và dư luận khinh rẻ. Chàng đã đi rồi - đi với rất ít hy vọng trở về - Văn Bình còn muốn vị hôn thê của chàng phải khinh rẻ chàng. Không... Huệ Lan không thể sống trong cảnh giả dối này nữa...
        Nàng muốn mắng át Văn Bình, song lại lo sợ. Văn Bình được coi là hung thần của Sở. Phản đối ông tổng thanh tra sẽ vào tù sớm. Sau khi Lê Tùng đi, người ta lại muốn bỏ tù nàng. Bỏ tù nàng để ở bên kia giới tuyến Lê Tùng dễ tiếp tục vai tuồng khổ nhục kế.    
        Giọng nói của tổng thanh tra Văn Bình mạnh mẽ như nhát búa tạ:
        -      Cô Huệ Lan... dầu sao cô cũng là nhân viên thâm niên của Sở. Hồ sơ của cô là hồ sơ của một nhân viên gương mẫu. Ông tổng giám đốc đã cứu xét việc thăng thưởng cho cô. Trong tương lai, cô sẽ trở thành một yếu nhân của Sở...
        Nhưng từ khi... từ khi cô nặng lòng vì hắn... hy vọng của chúng tôi bắt đầu suy giảm.
        Huệ Lan rùng mình như bị cảm hàn. Một hơi lạnh buôn buốt từ xương sống tỏa ra ngoài, đâm vào tạng phủ, khiến nàng choáng váng trong giây phút.
        Văn Bình đã chạm vào đời tư của nàng một cách quá đáng. Văn Bình lại gọi Lê Tùng bằng hắn, một điều không thể chấp nhận được... Mỉa may thay, tàn nhẫn thay... Lê Tùng đang hoạt động tại Hà nội theo lệnh của Văn Bình, trung thành tuyệt
 
142
 
đối với Sở. Ít ra Văn Bình cũng phải mời nàng đến, nói nhỏ vào tai nàng rằng Lê Tùng là anh hùng...
        Văn Bình nói tiếp:
        -      Phải, hy vọng của chúng tôi bắt đầu suy giảm.
        Riêng tôi, tôi cứu vớt hẳn ra khỏi vũng bùn sa đọa, nhưng con ngựa trụy lạc vẫn nằng nặc chạy theo đường cũ. Nếu Lê Tùng ra Bắc, hợp tác với địch. Sở sẽ bị thiệt hại nặng nề. Vì, như cô đã biết, hắn từng chỉ huy hệ thống điệp báo tại phía bắc vĩ tuyến 17 một thời gian khá lâu. Sau khi bị hạ tầng công tác, hắn lại phụ trách tài chính, trả lương cho điệp viên bí mật của Sở ở ngoại quốc...
        Giờ đây, Sở đối phố vẫn còn kịp. Nếu cô cung cấp cho tôi đầy đủ tin tức. Tôi sẽ tìm cách ly gián Lê Tùng với địch. Tôi sẽ mượn tay địch loại trừ Lê Tùng. 
        Huệ Lan lí nhí:
        -      Không... Không thể thế được.
        Văn Bình dằn giọng:
        -      Cô đừng nghe lời hắn. Nếu trước khi bỏ đi, hắn nói gì với cô, chẳng qua chỉ là láo khoét. Huệ Lan... cô ráng bình tĩnh để thuật lại với tôi những lời nói khả nghi của Lê Tùng... cô Huệ Lan... 
        Nàng nghiến răng, nước mắt trào xuống má. Nhất định, nàng không nói.
        Văn Bình nổi nóng đập bàn:
        -      Cô Huệ Lan... té ra cô toa rập với Lê Tùng... Cô không chịu giúp Sở lột mặt nạ kẻ phản phé... 
Cô không chịu giúp Sở phá hỏng kế hoạch lợi dụng Lê Tùng của địch... Theo nội quy, cô có thể bị đưa ra tòa. Tôi nói có thể vì thật ra, Sở chưa muốn nặng tay đối với một nữ nhân viên hẩm hiu về hạnh phúc
 
143
 
lừa dối như cô... Tôi biết rằng đàn bà như bông hoa, không thể chờ mãi. Cô không yêu hẳn lắm, nhưng cô đã gần ba mươi, bắt buộc cô phải lập gia đình...
        Huệ Lan thét lên:
        -      Im đi!
        Nàng không biết sợ nữa. Tính nhút nhát cố hữu của nàng đã biến đâu mất. Nàng trở thành con gà mái, công đuôi, xoè cánh, bảo về bầy con, chống lại diều hâu bách chiến, bách thắng.
        Huệ Lan xô ghế, đứng dậy, mắt đỏ ngầu:
        Tôi không thể ngồi nghe ông hạ nhục chồng tôi, chà đạp danh dự tôi. Một lần cuối cùng, tôi báo ông biết ông không được quyền khinh Lê Tùng vì Lê Tùng còn cao cả hơn ông nữa.
        Như người điên, nàng thét lên:
        -      Tôi rất ghét những người xảo quyệt... Trời, ông đã xô Lê Tùng...
        Văn Bình quát lớn:
        -      Cấm cô không được làm ồn trong văn phòng tôi. Vệ sĩ... 
        Hai vệ sĩ to lớn lù lù tiến ra. Văn Bình ra lệnh:
        -      Các anh đưa cô Huệ Lan ra khỏi phòng.
        Rồi ngoảnh về phía Huệ Lan:
        Tôi dành cho cô một cơ hội nữa, cơ hội cuối cùng. Có lẽ Lê Tùng đã tâm sự với cô trước giờ từ biệt. Cô đừng tin hắn mà mang tội Sáng mai, cô sẽ gặp tôi lần nữa, lần cuối cùng. Nếu cô tiếp tục che chở cho Lê Tùng, miễn cưỡng tôi phải bắt cô. Dĩ nhiên, cô sẽ không được cái vinh dự ra tòa, vì ra tòa, bí mật sẽ bại lộ, địch sẽ phăng ra. Tôi sẽ đưa cô tới một nơi xa Sài gòn, 3 năm 5 năm, tình hình lắng động mới tha về...
 
144
 
        Huệ Lan gieo mình lên đệm xe, thân thể rã rượi.
        Về nhà, nàng lầm lì để nguyên quần áo, ngồi một mình trong phòng khách, để nghĩ tới Lê Tùng.
        Mẹ nàng và lũ em nhỏ nghịch ngợm xuống phố chưa về. Một mình trong phòng khách... Huệ Lan thường ở nhà một mình, bọn trẻ đi chơi luôn luôn, mẹ nàng lại hay về tỉnh thăm con cháu. Tuy nhiên, đêm nay, nàng cảm thấy căn nhà rộng gấp trăm, gấp ngàn lần, rộng mênh mông như tòa lâu đài cổ, đúng hơn, như trại giam. Trong khoảng rộng mênh mông này, nàng lại nghe rõ mọi âm thanh, từ tiếng muỗi đói vo ve bên ngọn đèn vàng ệch đến tiếng chắt lưỡi tiếc nuối của con thạch sùng trên trần nhà.
        Lời nói trắng trợn – quá trắng trợn đến nỗi thành thô bỉ – của tổng thanh tra Văn Bình đã vượt qua mức nhẫn nhục của nàng. Nàng không thể chịu đựng thêm nữa. Nàng phải tìm mọi cách bảo vệ thanh danh của Lê Tùng. Người ta đã dùng chàng làm con cờ. Một con cờ vô tri giác. Bây giờ, người ta lại dùng nàng làm con cờ. Dầu kết quả ra sao, nàng cũng không lùi. Nàng phải cứu chàng. Nàng phải giữ vững hạnh phúc của hai người.
        Mắt rực sáng, Huệ Lan đứng dậy.
        Thì tiếng gõ cửa lốc cốc nổi lên.
        Nàng cất tiếng hỏi:
        -      Ai?
        Bên ngoài, tiếng trả lời vọng vào:
        -      Tôi. Tôi cần gặp cô Huệ Lan.
        -      Ông là ai?
        -      Bạn thân nhất đời của Lê Tùng.
 
145
 
        Như người bị thôi miên, nàng vội vã mở cửa. Khách khoan thai bước vào, ném điếu thuốc lá cháy dở ra hiên. Tuy trời không mưa, khách vẫn kè kè trong nách cái dù đen sì.
        Nàng đưa tay:
        -      Mời ông ngồi chơi. Tôi là Huệ Lan.
        Khách nghiêng đầu :
        -      Vâng, tôi biết rồi. Còn tôi là Nguyễn Biên.
        -      Nguyễn Biên... Xin lỗi ông, tôi chưa đuoc hân hạnh quen ông.
        -      Vâng. Vì tôi chỉ quen ông Lê Tùng mà thôi. Ông Lê Tùng đã nói nhiều với tôi về cô. 
        Huệ Lan nín lặng.
        Nguyễn Biên rút thuốc lá:
        -      Xin lỗi, tôi hút được không?
        Nàng gật đầu:
        -      Mời ông tự nhiên.
        Nguyễn Biên đằng hắng một tiếng rồi nói:
        -      Chuyện tôi sắp trình bày với cô rất quan hệ. Nó liên quan đến cuộc đời của cô và Lê Tùng. Nhưng trước khi vào đề, tôi muốn cô cho biết một chi tiết: chiều nay, cô cãi lộn với tổng thanh tra Văn Bình phải không?
        Huệ Lan hơi tái mặt. Nàng bắt đầu đoán ra người lạ là ai. Song nàng vẫn ngồi yên.
        Nguyễn Biên mỉm cười:
        -      Trước khi đến đây, tôi biết cô sẽ im lặng. Nhưng cô chỉ có thể im lặng nếu người ta kính trong sự im lặng của cô, đằng này...
        Huệ Lan cau mặt:
        -      Ông không được quyền can thiệp vào chuyện riêng của tôi.
 
146
 
        Nguyễn Biên cười to hơn :
        -      Cô đã nói câu ấy với tổng thanh tra Văn Bình, và hắn đã bắt cô nghe theo. 
        Huệ Lan giật mình:
        -      Té ra ông...
        -      Vâng, tôi đã biết rõ nội dung cuộc nói chuyện giữa Văn Bình và cô tại văn phòng tống thanh tra. Vì vậy, tôi muốn giúp cô. Dầu sao cô cũng là người chân thành và đáng thương. Vả lại, tôi là bạn thân của anh Lê Tùng. Tôi chỉ muốn giúp Lê Tùng.
        -      Anh Lê Tùng hiện ở đâu?
        -      Ở một nơi an toàn.
        -      Ông nói dối.
        -      Cô không tin thì thôi. Song ở vào địa vị cô, tôi sẽ tin. Vì cô đang bị dồn vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nang. Người ta rình rập cô đêm ngày, người ta sẽ bắt cô...
        -      Tôi vô tôi, hoàn toàn vô tội.
        -      Không, cô có tội. Vì cô đã yêu Lê Tùng. Ngày mai, hoặc chậm lắm ngày mốt, nhân viên mật vụ sẽ tới đây, xích tay cô, đưa tới trại tập trung. Cô sẽ không tài nào thoát khỏi màng lưới của ông Hoàng. Nếu cô nghe tôi, cô sẽ được gặp Lê Tùng.
        -      Gặp Lê Tùng?
        -      Vâng, gặp lại, và tính chuyện hôn nhân như hai người đã hứa với nhau.
        -      Thú thật với ông, tôi đang bối rối. Tôi đã đau khổ nhiều về Lê Tùng. Tôi đã đau khổ nhiều về cuộc sống trói buộc trong sở Mật vụ. Song, thưa ông, tôi không thể phản bội.
        -      Chúng tôi không yêu cầu cô phản bội. Lê Tùng cũng không phản bội.
 
147
 
        -      Anh Lê Tùng hiện đang ở đâu?
        -      Cô vừa hỏi tôi xông, và tôi đã trả lời là Lê Tùng đang sống tại một nơi an toàn. 
        -      Ở Hà nội?
        -      Không phải.
        -      Trong khu?
        -      Cũng không phải.
        -      Vậy thì ở đâu?
        -      Nam vang.
        Huệ Lan buột miệng:
        -      Lạ nhỉ, anh ấy...

        Song nàng ngừng lại kịp thời. Dầu sao nàng không thể tiết lộ cho Nguyễn Biên biết. Nàng biết hắn là nhân viên của địch. Nàng không thể theo địch. Nàng cũng không thể ở lại vì Văn Bình sẽ tống nàng vào khám.

        Trong một phần trăm tích tắc đồng hồ, Huệ Lan nhớ lại những điều chàng tâm sự với nàng. 

        ...em ơi, giá chúng mình đừng quen nhau, đừng yêu nhau. Em lấy chồng, anh cũng không giận, trái lại anh còn mừng cho em nữa...

        Và nàng đáp:
        ...Nếu anh là tráng sĩ Kinh Kha, một đi không quay lại, thì em sẽ đợi anh suốt đời trên bờ sông Dịch thủy...

        Có lẽ nàng phải đợi chàng suốt đời... không phải trên bờ sông Dịch thủy mà là trong nhà giam. Như Lê Tùng đã thổ lộ trong đêm từ biệt, nghề này là nghề chuyên môn giấu giếm và lường gạt, tổng thanh tra Văn Bình sẽ hy sinh Lê Tùng, hy sinh nàng, hy sinh hạnh phúc của hai người để đạt mục đích tối hậu: hạ bệ Phan Thiện.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.04.2014 19:22:58 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Letrangthanhlan
 
 
Trang 40

tỏ tài liệu này từ sứ quán Bắc Việt ra. Vì K-25 là bí hiệu của trú sứ tình báo trong tòa đại sứ Bắc Việt ở thủ đô Ai lao.
-    Anh có báo cáo cho ông đại sứ không?
-    Không. Trong các sứ quán cộng sản, ông đại sứ thường không liên quan đến hoạt động tình báo, nhưng lại là nhân vật cao cấp nhất của đảng đoàn, nên mọi việc, từ nhỏ đến lớn, đều được phúc trình lên. Trái lại, trong sứ quán của chúng tôi, ông đại sứ là viên chức ngoại giao chuyên nghiệp, chúng tôi chỉ chịu trách nhiệm với ông Hoàng, và ông Hoàng chỉ chịu trách nhiệm với thủ tướng. Ông đại sứ Việt Nam đinh ninh tôi là tham vụ kinh tế, không biết tôi là giám đốc trú sứ gián điệp của ông Hoàng. Sau khi thảo luận với Phi Sơn, tôi gửi thư về trình ông Hoàng, và ông Hoàng ra lệnh cho tôi tiếp tục.
-    Khi nào anh nhận được cuộn phim thứ hai?
-    Đúng một tuần sau. Cũng vào tối thứ Bảy, trước rạp xi-nê. Lần này, tôi để sẵn một cái hộp cạc tông, đựng 500 đô la Mỹ.
-    Chà, món tiền quá nhiều, thảo nào thiên hạ tối mắt!
-    Anh dám trả tôi gần 10 triệu bạc thì 500 đô la Mỹ, vị chi 80 ngàn bạc Việt Nam đâu phải là nhiều! Cùng với số bạc, tôi kèm thêm một tờ giấy viết mấy chữ “cảm ơn, xin tiếp tục”. Xem chiếu bóng ra, tôi không thấy gói bạc nữa, và thay vào đó là gói thuốc lá Benson màu vàng óng ánh quen thuộc. Mở ra lại một cuộn phim.

(Sang Trang 41)

 Cuộn này dài hơn, và chụp một tài liệu quan trọng hơn. Tài liệu liên quan đến mối liên lạc giữa tòa đại sứ Bắc Việt và các phần tử trung lập thiên tả sinh sống tại Vạn Tượng. Không giấu gì anh, tài liệu này trị giá 20.000 đô la. Vì nó giúp chúng tôi khám phá ra tổ chức địa hạ quân của cộng sản ở thủ đô Lào. Tôi đề nghị với Sài Gòn xin 10.000 đô la, và ông Hoàng đã chấp thuận.
-    Trừ phi là tiền mã, ông Hoàng mới dám xuất ra 10.000 đô la để mua một cuộn phim, dầu là tài liệu tối mật.
-    Hừ, chỉ có KGB mới in bạc giả, còn chúng tôi bao giờ cũng trả tiền thật.
-    Tôi cấm anh đả kích KGB.
-    Là nhân viên tình báo chuyên nghiệp mà anh cũng mắc bệnh mẹ hát con khen hay à? Bệnh này rất nguy hại, nhiều người đã mất mạng vì nó.
-    Anh đừng dạy luân lý nữa.
-    Vậy, anh cũng đừng lên mặt thầy đời với tôi.
-    Lạ nhỉ! Anh bị ông Hoàng ghét bỏ, và anh đã về với tôi. Không lẽ anh lại bênh vực ông Hoàng.
-    Tôi bỏ ông Hoàng, đồng ý, song điều này không có nghĩa là anh được quyền nói xấu một cách vô cớ. Mặt khác, tôi chưa phải là thuộc viên của anh. Tôi bán hang, anh bỏ tiền ra mua, thế thôi, giữa chúng ta không có mối liên quan tha thiết nào hết.
-    Vâng. Tôi rút lại lời phê bình lúc nãy.

Trang 42


-    Cảm ơn anh. Tôi xin nói tiếp. Ông Hoàng chấp thuận cho tôi dung 10.000 đô la, tuy nhiên món tiền này được trả làm hai kỳ, mỗi kỹ 5.000. Ngoài ra, ông Hoàng còn ra lệnh dứt khoát: trú sứ Vạn Tượng phải tìm ra căn cước của kẻ bán tài liệu, và móc nối thường trực.

Nhận được chỉ thị, tôi bèn mở cuộc điều tra về các nhân viên trong sứ quán Bắc Việt. Sứ quán này gồm 30 nhân viên nam nữ, cư ngụ tại một tòa nhà lớn trên đường từ thành phố đến phi trường Vạt Chai. Cuộc điều tra này kéo dài 2 tuần lễ mà chưa có kết quả. Tối thứ bảy sau, tôi cũng đi xem xi-nê, song khi trở ra không nhận được tài liệu. Tôi đoán được ngay lý do vì Phi Sơn núp trong một tiệm ăn kế cận để canh chừng xe hơi.

Một tuần nữa trôi qua. Tôi dự tiếp tân tại sứ quán Pháp, và khi ra về nhận được một bức thư ngắn trong xe, vẻn vẹn mấy chữ: yêu cầu dừng theo dõi. Nếu thỏa thuận, hãy vẽ một vòng tròn bằng phấn màu đỏ vào sau xe Mercédes trong buổi sang ngày 15-9, từ 7 giờ đến 10 giờ.

Nhờ chi tiết này, tôi đã khám phá ra căn cước của người lạ. Vì buổi sáng 1-9 có một cuộc diễn binh ở Vạn Tượng, đặt dưới quyền chủ tọa của hoàng than thủ tướng, với sự tham dự của nhân viên ngoại giao đoàn. Từ 6 rưỡi đến 10 rưỡi, tôi phải có mặt trên khan đài danh dự. Dĩ nhiên, tại đó cũng có mặt phái đoàn Bắc Việt. Một nữ nhân viên sứ quán được tôi giao nhiệm vụ chụp hình khán đài danh dự, đặc biệt khu vực dành riêng cho ngoại giao đoàn Trung cộng và Bắc Việt.


Trang 43


Nhân viên sứ quán Bắc Việt đến sau tôi nửa giờ, khi buổi lễ đã bắt đầu. Đậu xe xong, họ đi vòng phía sau đến khán đài. Và một người đã về trước khi cuộc diễu binh chấm dứt 10 phút. Người này là Trần Hiệp, thong tin viên của báo Nhân dân tại Vạn Tượng.
Vì chưa biết chắc Trần Hiệp là người bán tài liệu – có thể là một tài xế Bắc Việt đậu xe tại khu danh dự - tôi phải dung phương pháp chụp hình lén lút để thử lại đáp số. Tài liệu thường được bỏ vào xe ban đêm, nên tôi dùng phim hồng ngoại tuyến. Bằng va li ngoại giao, ông Hoàng gửi lên cho tôi một cái máy ảnh đặc biệt, lắp dưới táp-lô, ống ảnh ở gần vô lăng. Hễ cửa xe được mở ra, máy ảnh sẽ chụp tự động.
Tối hôm ấy, tôi lại nhận được một cuộn phim, và người lạ đã lấy 5.000 đô la.
Và tôi đã phăng ra con người bí mật là Trần Hiệp.
-    Tôi muốn hỏi anh một chi tiết kỹ thuật: loại máy ảnh đặc biệt này ông Hoàng mua ở đâu?
-    Tôi không biết.
-    Loại gì? Minox B, Minolta 16-E, Minolta 16-P, Mamiya 16, Edixa 16 hay là Echo 8? (I)
-    Những loại này rất rẻ tiền, Đắt nhất Minox B, độ 150 đô la, rẻ nhất là Minolta, 27 đô la. Máy ảnh tôi dùng đêm ấy là Gami-16 gần 300 đô la một cái. Máy Gami chụp nhạy hơn và rõ nét hơn trong bóng tối. Nó dùng


(I)    – Đây là loại máy ảnh nhỏ thông dụng trong nghề tình báo.


Trang 44


phim 6 li, chụp được 30 lần, và có ống kính đặc biệt 4X và 8X, làm hình lớn lên 4 và 8 lần.
-    Chạy bằng pin hay ắc qui xe hơi?
-    Bằng bình điện trong xe.
-    Cảm ơn anh. Phiền anh tiếp tục nói về Trần Hiệp.
-    Khát quá. Xin anh một ly giải khát.
-    Rượu nhé?
-    Cổ họng tôi bị khô đét. Giá có ly nước cam thì hay quá.
-    Để tôi gọi cô Phượng.
Một phút sau, Cẩm Phượng ưỡn ẹo đứng trên ngưỡng cửa. Nàng nhoẻn miệng cười với Lê Tùng.
Giọng nàng ỏn ẻn:
-    Anh dùng cam vắt nhé?
Lê Tùng đơ người:
-    Vâng.
Chu Nghị phê bình:
-    Cẩm Phượng chỉ có cái eo đẹp, còn mặt thì tầm thường. Tối nay, tôi sẽ đưa đến phòng anh một cô bé đẹp gấp hai.
-    Sau này chắc anh làm chủ nhà chứa.
-    Bây giờ, tôi đang làm nghề này. Nghề cung cấp gái đẹp cho giới thượng lưu ở Hồng Kông.
-    Sướng thật! Món nào ngon, anh đã nếm trước.
-    Không đâu. Anh lầm to rồi. Không tin, anh hỏi Cẩm Phượng. Tôi làm nghề cung cấp gái đẹp, song lại rất ghét gái đẹp. Nói chung, tôi rất ghét đàn bà.



Trang 45


-    Nguyên nhân?
-    Tôi không thích, thế thôi. Có lẽ vì nhìn quá phát ngấy. Ngấy muốn lộn mửa.
Cẩm Phượng bưng khay giải khát vào. Nàng lại cười với Lê Tùng lần nữa.
Lê Tùng không cười lại. Chàng nhớ lại đêm mưa gió lạnh lùng trên bờ sông Bến Hải. Chỉ còn tuần lễ nữa là Tết Nguyên Đán. Trời tối như hũ nút. Như thường lệ, chàng đợi Trần Hiệp trên bờ nam, ở địa điểm AQ-19. Trần Hiệp, mang số hiệu 307, là nhân viên tình báo của ông Hoàng ở phía bắc vĩ tuyến 17.

Vượt sông Bến Hải là công việc cơm bữa của nhân viên tình báo. Trần Hiệp biết rõ họa đồ phòng thủ của Cộng sản dọc bờ bắc nên chàng qua sông như đi chợ. Hơn nữa, Hiệp lại là bạn thân của thiếu tá Phan Lộ, chỉ huy phản gián giáp tuyến.

Thế mà đêm ấy Trần Hiệp bị bắt. Bị bắt trong khi sửa soạn sang sông gặp Lê Tùng. Bị bắt vì nội phản. Vì địch đã biết trước. Hoạt động với Trần Hiệp đã lâu, chàng không quên được nếp sống giản dị, say sưa với nghề nghiệp của người thanh niên khả ái và nhũn nhặn ấy. Hiệp là nhân viên của ông Hoàng trước hiệp định Giơ neo. Sauk hi Sở rút vào Nam, Hiệp ở lại Hà Nội, núp sau một chức vụ quan trọng trong thành bộ đảng Lao động, chờ cơ hội hoạt động tình báo.

Theo kế hoạch, chàng sẽ liên lạc với trú sứ ẩn tế của Sở tại Hà Nội, khi có cơ hội hoạt động. Chàng được thu dụng làm phóng viên


 (sang trang 46)


báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng Lao động. Chàng thu thập được nhiều tin tức, song không thể gửi cho ông Hoàng vì bị mất liên lạc với trú sứ ẩn tế. Nhân viên giao liên của trú sứ đã bị tử thương trong một chuyến công tác dọc bờ biển.

Trần Hiệp được phái qua Lào để làm phóng sự về tình hình chiến sự và chính trị. Và chàng đã tìm cách liên lạc với Lê Tùng.
Chu Nghị hỏi:
-    Trần Hiệp có chân trong tổ chức của ông Hoàng từ 1950 phải không?
Lê Tùng đáp:
-    Phải. Cuối năm 1950. Sau khi biết chắc căn cước của người bán tài liệu, tôi liền phúc trình về Sài Gòn.
-    Chỉ thị của ông Hoàng về việc tiếp xúc với Trần Hiệp ra sao?
-    Tôi luôn luôn để trong xe một cuốn Tuyển tập Mao Trạch Đông, do nhà Văn học ở Hà Nội xuất bản, bìa gáy da màu đỏ, bên trong găm một cái khăn tay màu vàng rơm. Trên mù soa mật lệnh liên lạc được viết bằng mực bí mật. Theo mật lệnh này, Trần Hiệp phải gặp tôi đúng 3 ngày, sau khi nhận được, tại công trường xế cửa phòng Thông tin Vạn Tượng, vào lúc 8 giờ tối. Và Hiệp đã y hẹn.
-    Những tài liệu gửi cho ông Hoàng, Trần Hiệp đã lấy ở đâu?
-    Trong tủ sắt của tòa đại sứ Bắc Việt.


Trang 47


-    Ai lấy? Trần Hiệp phải không?
-    Không, Hiệp kết nạp được viên đệ nhị tham vụ.
-    Tên hắn là gì?
-    Hồ Vân, Đảng viên trung kiên của đảng Cộng sản Đông dương. Từng thụ huấn tại Mạc Tư Khoa, tốt nghiệp trường Ngoại ngữ Tình báo Sô Viết.
-    Tại sao hắn phản?
-    Vì chán ghét chế độ cộng sản một phần, phần khác vì tiền. Qua trung gian của Trần Hiệp, tôi đã trả trên 20.000 đô la cho Hồ Vân. Và tôi đã nhận được 10 cuộn phim cả thảy. Nhờ thế tôi đã phăng ra toàn bộ tổ chức tình báo của tòa đại sứ Bắc Việt trên đất Lào. Một phái đoàn đặc biệt được gửi từ Sài Gòn lên, lần lượt hạ sát những chuyên viên do thám cao cấp của Bắc Việt. Đại sứ Lê Văn Hiến mở cuộc điều tra, song không tìm ra manh mối. Trong khi đó, tham vụ Hồ Vân được triệu hồi.
-    Hắn bị ngờ vực ư?
-    Không. Vì lẽ giản di, hắn có họ gần với Lê Thị Xuyến, vợ đại sứ Lê Văn Hiến, và là ủy viên trung ương Đảng. Đại sứ Lê Văn Hiến tin cậy hắn triệt để, và còn ủy cho hắn điều tra nội vụ.
-    Trời!
-    Hồ Vân bị gọi về vì y mắc bệnh đau gan nặng. Có lẽ vì trác táng quá nhiều. Sợ bị ung thư gan, hắn xin về Hà Nội điều trị. Để bảo vệ an ninh cho hắn, ông Hoàng đã lập kế ly gián, đổ tội cho một nhân viên của ban Mật mã trong tòa đại sứ Bắc Việt, Trần Hiệp bí mật giết người này, rồi ngụy trang vụ ám sát thành tự sát, kèm theo một tờ thú tội. Kế hoạch ly gián hoàn toàn thành công.


Hồ Vân chữa bệnh tại nhà thương Bạch Mai từ tháng 11-1964 đến tháng 3-1965 mới bình phục. Để tiếp tục móc nối với Hồ Vân, tôi được phái lần nữa ra Hà Nội, điều khiển trú sứ ẩn tế ở đó. Nhưng…
-    Hắn bị bắt?
-    Không. Hắn không bị bắt. Tôi hoạt động với hắn được đúng 3 tháng. Hầu hết các tài liệu mật của Bộ ngoại giao Hà Nội đều được chuyển cho tôi và gửi về Sài Gòn. Đột nhiên, hắn từ trần vì bệnh đau tim.
-    Bệnh đau tim? Anh chắc không?
-    Sau khi hắn chết, tôi hỏi người nhà, và họ cho biết là hắn đang ngồi trên ghế thì gục xuống tắt thở. Nhật báo Thời Mới cũng loan tin trong mục phân ưu là Hồ Vân thất lộc vì bệnh tim.

Cặp mắt của Chu Nghị bỗng quắc lên một cách dữ tợn. Hắn gập cuốn sổ tay lại, đứng lên, giọng cộc lốc:
-    Hôm nay, tạm xong. Hẹn anh đến sáng mai.
Lê Tùng hỏi:
-    Tôi ra phố chơi được không?
-    Được. Song phải có nhân viên của tôi đi theo. Vả lại, lát nữa anh phải đến lấy phòng tại lữ quán. Tôi đã làm sẵn thông hành giả cho anh, ngân hàng Tổng hạt ở Thụy Sĩ sẽ chuyển  tiền về lữ quán. Tôi đã giữ phòng trước cho anh tại lữ quán Quốc tế (I).

Ra phòng ngoài, Lê Tùng gặp hai gã đàn ông mặc sơ mi bỏ ngoài quần. Nhìn lưng chúng cồm cộm, chàng biết chúng đeo sung. Chàng quay về phía Chu Nghị:
-    Yêu cầu anh minh xác: tôi là đồng minh hay là tù nhân của anh?
Chu Nghị nhìn chàng, vẻ ngạc nhiên:
-    Anh hỏi lạ. Tôi coi anh là thượng khách. Tại sao anh lại có ý nghĩ là tù nhân của tôi?
Lê Tùng buông thong:
-    Hừ, nếu không là tù nhân, tại sao nhân viên của anh lại đeo súng trong áo?
Mặt Chu Nghị tỏ ra ngượng ngập:
-    Họ đeo súng để bảo vệ an ninh cho anh.
-    Cám ơn., Tôi không phải là cô gái dậy thì, sợ cao bồi chọc ghẹo dọc đường.
-    Biết đâu người ta chẳng tìm cách hạ sát anh!
-    Đồng ý. Nhưng tôi không tin hai chú bị thịt, giá áo túi cơm này đủ tài làm vệ sĩ.

Một tên trợn mắt:
-    Phiền anh giữ miệng. Bản tính tôi rất nóng nảy.
Lê Tùng cười khẩy:
-    Tôi cũng vậy. Hạng người dài lưng tốn vải như anh chỉ ăn một quả đấm là xụm xương.
Hắn nhảy xổ lại. Chu Nghị gạt ra:
-    Đừng thất lễ với khách.

(I)    – International Hotel, 33 đại lộ Cameron, Kowloon.



Lê Tùng cười khanh khách:
-    Không sao. Xin phép anh Chu Nghị cho tôi được múa may vài phút cho khỏi ngứa ngáy.

Vừa nói, chàng vừa đấm dứ một cái. Tên vệ sĩ né sang bên, giáng bàn tay kếch sù xuống. Hắn đã mắc mưu chàng như đứa trẻ. Chờ bàn tay của hắn gần chạm vai, chàng nghiêng người tóm lấy, giật lui thật mạnh. Hắn húc đầu vào tường, rồi nằm quay lơ trên nền nhà. Tên thứ hai hùng hổ xông vào. Lê Tùng khoèo chân nhẹ nhàng như đùa bỡn, hắn chổng bốn vó lên trời. Chu Nghị vỗ tay khen ngợi:
-    Anh giỏi thật. Đáng tiếc anh không là nhân viên của tôi.
Lê Tùng nghiêm mặt:
-    Anh thừa hiểu tôi không bao giờ làm nhân viên cho anh. Nhân tiện, cũng báo anh rõ, tôi không thích đi cặp kè với hai của nợ này. Nếu anh muốn, anh cứ cho chúng theo sau. Còn tôi, tôi chỉ bằng lòng đi với Cẩm Phượng.
Chu Nghị gượng cười:
-    Vâng, tôi chiều ý anh. Cẩm Phượng sẽ lái xe đưa anh xuống lữ quán. Còn hai vệ sĩ đi xe khác.
Cẩm Phượng run rẩy bước ra, thân thể tròn lẳn trong cái áo dài Tàu bằng tơ tằm, may sát vào thịt. Phục sức khêu gợi đến thế là cùng! Nàng cầm tay chàng, cử chỉ thân mật như vợ với chồng:
-    Mời anh ra xe với em.
Xe của Cẩm Phượng là một chiếc Moretti nhỏ xíu, mui trần, sơn màu mát tích dịu mắt. Nàng buộc cái băng đô lên đầu cho khỏi bay tóc rồi lái ra khỏi ga-ra. Chiếc Mercedes của hai vệ sĩ lừ lừ chạy theo. Chàng ngồi sát vào người nàng, gợi chuyện:
-    Cô Phượng ơi!
Nàng phá lên cười:
-    Anh muốn gì, cứ nói đi. Em không ngờ một người như anh lại tán gái một cách văn vẻ như thế!
-    Tôi cũng không ngờ. Không ngờ một người như cô lại làm đầu bếp và con sen cho Chu Nghị.
Bản tâm của chàng là chọc tức Cẩm Phượng. Song nàng vẫn thản nhiên:
-    Tài xế của tùy viên quân sự Xô Viết tại Hoa Thịnh Đốn là một trung tá. Một sĩ quan KGB đã đóng vai gác cửa. Cho nên, em làm con sen không phải là chuyện lạ.
-    Em là thuộc viên của Chu Nghị?
-    Không.
-    Hay em là thượng cấp?
-    Cũng không.
-    Em bí mật ghê.
-    Dĩ nhiên. Anh cũng đừng hỏi tò mò nữa. Vì em không trả lời đâu. Cũng như anh, em được huấn luyện trong trường tình báo và em ở trong nghề đã lâu. Nếu anh cần an ủi, em xin sẵn sang. Luôn luôn sẵn sang. Vả lại, được thương yêu một thanh niên đẹp trai và lịch thiệp như anh là điều hân hạnh.
-    Giả sử anh là một lão già khọm khẹm và thô bỉ?
-    Nhiệm vụ mà anh. Tuy nhiên, em được quyền lựa chọn. Trong quá khứ, em đã thẳng tay từ chối nhiều lần. Lần này, vừa nghe Chu Nghị yêu cầu, em nhận lời liền. Và em muốn kéo dài thời kỳ hạnh phúc này mãi.

Cẩm Phượng lái qua đại lộ Carnarvon. Đột nhiên, Lê Tùng nói:
-    Em cho anh xuống một chút.
-    Anh đi đâu? Chu Nghị dặn đưa anh đến lữ quán Quốc tế kia mà…
-    Anh muốn vào Trung tâm Ngọc Thạch (1) mua tặng em cái nhẫn.
-    Sợ Chu Nghị phàn nàn. Thôi, tuần sau xong việc mua cũng được.
-    Mặc kệ Chu Nghị. Người đàn ông văn minh không thể quên được cảm tình đặc biệt của em đêm qua.

Cẩm Phượng lặng thinh. Lê Tùng xuống xe. Chiếc Mercedes đậu xịch phía sau. Hai tên vệ sĩ kèm sát Lê Tùng. Chàng thản nhiên tiến lại quầy hàng. Chàng chăm chú quan sát người bán hàng: mắt đeo kính râm Nylor gọng vàng, giây ni lông, miệng ngậm tẩu Falcon - loại tẩu cán sắt – màu nâu, mặc sơ mi ngắn tay kiểu Mỹ màu đỏ ca rô, cổ áo gài 2 nút.
Người bán hàng cũng chăm chú quan sát chàng: sơ mi dài trắng, xắn tay, để lộ ở cổ tay trái một cái đồng hồ Seiko của Nhật tự động, đeo ngược, bàn tay phải để lên mặt kính, ở móng tay cái có một vết đen, trên miệng phì phèo điếu Benson mới đốt, và cũng ngược đầu. Hắn hỏi chàng:
-    Ngài mua gì?
Chàng đáp:

(1)    Hongkong Jade Center.


-    Tôi muốn tìm một cái nhẫn.
-    Hạt soàn hay ngọc thạch?
-    Hạt soàn. Từ 5 đến 7 li.
-    Vâng. Xin ông đợi một phút.
Hai tên vệ sĩ đứng sát Lê Tùng, mặt lầm lầm. Cẩm Phượng rút thuốc lá ra hút. Người bán bày ba cái hộp nhung đỏ lên bàn. Lê Tùng cầm cái nhẫn ở giữa lên coi trước. Chàng nheo mắt, lấy kính lúp soi cẩn thận. Xong xuôi, chàng soi cái bên trái. Rồi chàng đặt xuống, nhún vai:
-    Cái nào cũng bị than.
Người bán xoa tay:
-    Vâng. Chúng tôi chưa cắt kịp. Xin ông cho địa chỉ, tối nay chúng tôi mang lại tận khách sạn.
Cẩm Phượng nói:
-    Thôi, cám ơn ông, khi khác chúng tôi sẽ quay lại.
Lê Tùng chào người bán, rồi quay ra. Đến cửa, chàng nhác thấy một con bướm vàng tây, nạm ngọc thạch tuyệt đẹp. Chàng hỏi giá. 95 đô la Mỹ. Lê Tùng lại két, xỉa tờ trăm mỹ kim, trong khi người bán gói cái hộp xin xắn, kính cẩn đưa tận tay cho Cẩm Phượng.

Trèo lên xe, Lê Tùng khoan khoái lạ thường. Công việc khó khan nhất của chàng trong thời gian lưu lại Hồng Kông đã hoàn tất. Chàng vừa thông tin được với ông Hoàng. Người bán hàng phục sức kì dị này là nhân viên của Sở, có nhiệm vụ chờ chàng. Trong khi hai tên vệ sĩ hối hả nổ máy, người bán hàng tiến ra ngoài, nhìn số xe. Một phút sau, y quay vào trong nhà, gọi điện thoại.

Người ở đầu dây nghe y nói, không đặt câu hỏi,  cũng không ngắt quãng. Y nói xong, người này mới cất tiếng:
-    Cảm ơn. Tôi đã biết xe của ai rồi. Anh không cần bố trí rượt theo nữa.
Cẩm Phượng cười vang như đứa trẻ. Lê Tùng nhẹ hôn vào má nàng. Trời Hồng Kông trong và cao như ở bãi biển Nha Trang một ngày mùa hè rực nắng.

……..
……..

9 giờ sáng hôm sau. Khác lần trước, Chu Nghị giữ vẻ mặt lầm lì khi bắt tay Lê Tùng. Cùng đi với hắn là một người đàn ông đeo kính đen to tướng, cằm vuông, tay xách cặp da, mặc com lê chỉnh tề. Vào phòng, người lạ ngồi xuống ghế.
Chu Nghị nói:
-    Giới thiệu với anh đây là một đặc phái viên từ Trung ương tới.
Không cần đợi Lê Tùng đáp, người lạ mở cặp lấy một xấp giấy đánh máy đặt lên bàn, rồi nói giọng đều đều:
-    Tôi đã nghiên cứu lời khai của anh. Sở dĩ tôi đến đây là để hỏi thêm một vài chi tiết. Những lời anh nói hôm qua đã chứng tỏ sự thành thật của anh.
Lê Tùng cướp lời:
-    Ăn cây nào, rào cây ấy vẫn là phương châm hành động của tôi. Các anh thỏa thuận trả giá cao, tất tôi phải cố gắng bán những món hàng thật tốt.
Người lạ mặt, giọng nghiêm nghị:
-    Anh hiểu được thế thì còn gì bằng. Tuy nhiên,  anh chỉ mới thành thật một nửa.
-    Hừ, tôi không muốn ai ngờ vực thiện chí của tôi.
-    Tôi cũng không thích những lời bào chữa liều lĩnh. Lời khai của anh đã được ghi lại, không thiếu một dấu chấm, phết. Anh đã khai nhiều chi tiết, song những chi tiết này đều vô dụng, hoàn toàn vô dụng. Tôi hy vọng đây không phải là sự cố ý.
-    Dẫn chứng?
-    Không thiếu gì. Lời khai của anh hoàn toàn vô dụng vì anh chỉ nói đến những điều chúng tôi đã biết và những người đã chết. Về vụ nhảy dù xuống Quỳ Châu, anh nói được YS. 74 đón dưới đất, và YS. 82 phụ tá tại Cầu Giát, tôi đã phối kiểm với Trung ương, và được biết hai người này đã thiệt mạng. Anh có ba nhân viên nòng cốt ở Vạn Tượng là cô Quỳnh Thái, Phi Sơn và Tấn Lạc thì Quỳnh Thái chết rồi, Phi Sơn bị triệu về Sài Gòn, Tấn Lạc từ chức.

Làm nghề này, đã vào rồi, ra không được nữa, trừ phi là nhân viên cấp dưới, hoặc bị trục xuất, như anh chẳng hạn. Tấn Lạc là nhân viên cấp dưới, sẽ chẳng giúp chúng tôi được gì. Trần Hiệp cũng bị giết. Nghĩa là anh nói sao, chúng tôi phải tin vậy, không có phương pháp nào xác định là sai hay đúng.
-    Hoài nghi nhau thì thôi. Tôi sẵn sang trả lại tiền.
-    Tôi không ngờ vực anh. Song ở vào địa vị tôi, anh cũng phải đặt ra nghi vấn. Vả lại, chúng tôi cần anh cung cấp một vài tin tức đặc biệt, ngoài  các tin tức chúng tôi đã có. Chẳng hạn về trường hợp tham vụ sứ quán Hồ Vân. Theo hồ sơ của sở Phản gián, y không chết vì bệnh tim mà là bị ám sát. Hồ Vân bị ám sát để bảo toàn bí mật. Trong thời gian ở Hà Nội anh gặp y mấy lần?
-    Hai lần.
-    Còn Trần Hiệp?
-    Tôi gặp Trần Hiệp ba lần.
-    Chúng cung cấp cho anh những tài liệu gì?
-    Tài liệu liên quan đến bộ Ngoại giao, tổ chức tâm lý chiến, bộ Quốc phòng và các phiên nhóm mật của ủy ban Trung ương Đảng.
-    Cảm ơn anh đã nói thật. Hồ Vân là nhân viên ngoại giao. Trần Hiệp tòng sự tại tòa soạn Nhân Dân, thì tài liệu của chúng chỉ có thể liên quan đến bộ Ngoại giao và tâm lý chiến. Tại sao chúng có tài liệu liên quan đến Bộ Quốc phòng và ủy ban Trung ương Đảng.
-    Tôi hỏi thì họ trả lời là móc nối được một số viên chức của Bộ Quốc phòng và ủy ban Trung ương.
-    Các viên chức này là ai?
-    Hồ Vân không cho tôi biết. Theo sự cam kết bằng miệng, tôi không được quyền hỏi y về xuất xứ của các tin tức. Sau đó, y từ trần.
-    Ông Hoàng có ra lệnh cho anh tìm hiểu xuất xứ tin tức hay không?
-    Không.
-    Tại sao anh không hỏi Trần Hiệp?
-    Y hoạt động riêng, không nằm trong hệ thống của tôi. Tôi chỉ có nhiệm vụ chuyển giao tài  liệu và tin tức do y thu thật về Sài Gòn mà thôi.
Người lạ mặt cười nhạt:
-    Ông Hoàng không ra lệnh cho anh căn vặn Hồ Vân và Trần Hiệp vì lẽ giản dị ông ta đã biết rõ. Và chúng tôi cũng muốn biết rõ ai đã trao tài liệu cho Vân và Hiệp. Anh đoán được ai không?
Lê Tùng đáp:
-    Việc này ngoài phạm vi của tôi.
Người lạ mặt nín lặng, đưa ngón tay ra hiệu cho Chu Nghị lên tiếng.
-    Anh về Sài Gòn khi nào?
Lê Tùng đáp:
-    Tháng 6-1965.
-    Tại sao anh về?
-    Dường như tôi bị lộ. Nhận được chỉ thị hỏa tốc của ông Hoàng, tôi phải lên đường ngay.
-    Bị lộ như thế nào?
-    Hồi ở Bắc Việt, tôi đội lốt thiếu tá quân đội, có đủ giấy tờ cần thiết, và đi lại tự do. Tôi không lưu lại nơi nào lâu, một tuần ở Hà Nội, một tuần ở Thanh Hóa, một tuần ở Vinh. Đêm ấy, tôi đi bộ đến chợ Hôm để gặp một nhân viên liên lạc. Giờ hẹn được định là 9 giờ. Từ ga xe điện Bờ Hồ xuống chợ Hôm, tôi biết là bị theo, tôi bèn đổi xe lên Cầu Giấy, nhưng vẫn bị bám sát. Tôi đành phải bỏ cuộc hẹn, và sáng sớm trốn vào Thanh Hóa. 4 ngày sau, tôi quay lại Hà Nội thì được tin nhân viên liên lạc của tôi đã bị bắt. Người này chỉ biết tôi, không biết nhân viên nào khác trong tổ chức, nên tôi phải trốn vào Nam để bảo vệ tổ chức.
-    Đêm bị bắt ở vĩ tuyến 17, Trần Hiệp vượt song Bến Hải làm gì?

-    Để trao những tài liệu về hệ thống bố phòng tại Liên khu IV, bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
-    Nghĩa là khu vực Cựu kim sơn.
Lê Tùng chột dạ. Nếu không giàu nghị lực, chàng đã giật mình, tái mặt. Vì Cựu kim sơn là danh từ bí mật chỉ Liên khu IV. Biết được danh từ này, đối phương không nhiều thì ít đã phăng ra hệ thống điệp báo của ông Hoàng ở phía Bắc cầu Hiền Lương, ngăn đôi hai miền Nam, Bắc. Chàng gắng đáp bình thản:
-    Vâng. Cựu kim sơn. Sau khi về Sài Gòn, tôi được phụ trách hệ thống Cựu kim sơn.
-    Tại sao Trần Hiệp bị bắt?
-    Ông Hoàng cho biết có nội phản.
-    Z309 bị bắn chết trong khi vượt sông Bến Hải cũng vì nội phản?
-    Vâng. Điều này làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Z 309 là thanh tra công an, có uy tín và thế lực tại Liên khu IV, lại là người đồng hương và bạn thân của chủ tịch Ủy ban Hành chánh liên khu. Về hoạt động đoàn thể, y đã trèo lên tới cấp tỉnh ủy, và chủ tịch phân hội Việt Sô hữu nghị, hội Đoàn kết Á Phi.

Cách hai tháng một lần, y được chính quyền khu cử đi thanh tra các đơn vị công an nhân dân đồn trú tại vùng giáp tuyến. Đêm ấy, y dự liên hoan tại trụ sở công an, rồi lấy xe dip nói là đi tuần một vòng dọc bờ song. Y vẫn đi tuần như vậy là thường. Đến chỗ hẹn, y đậu xe, sửa soạn băng qua song. Vào giờ ấy, nước sông chỉ mấp mé đầu gối. Y mới xa bờ được 3 thước thì bị một tràng tiểu liên quét gục.

-    Còn vụ Cửa Tùng?
-    Vụ này xảy ra đúng một tuần sau khi Z 309 bị hạ sát trên sông Bến Hải. Z 308 là một nhân viên trong đội công an duyên hải. Chức vụ chính thức của y rất lợi cho chúng tôi vì y đã cung cấp họa đồ bờ biển Liên khu IV, và nhất là hệ thống phòng vệ duyên hải của nhà cầm quyền Bắc Việt. Nhờ Z 308, ông Hoàng đã có thể chở người nhái bằng tàu ngầm đến ngoài khơi Sầm Sơn, Du Xuyên, Bến Thủy, Cầu Giát, và Cửa Tùng, thả họ lên bờ phá hoại.

Z 308 điện vào cho ông Hoàng, báo cáo là đã bị lộ. Tôi được lệnh đến đón y ngoài khơi Cửa Tùng trên một tiềm thủy dĩnh xì gà. Theo chương trình, 308 phải chèo thuyền khỏi bãi biển nửa cây số để xuống tàu ngầm. Chờ y mãi không thấy tăm hơi, tôi đành bơi xuồng cao su vào bãi cát.
-    Rồi lọt vào ổ phục kích.
-    Vâng. Suýt nữa tôi mất mạng. Một toán công an duyên hải đã chờ tôi trong rừng phi lao. Nhờ trời tối, tôi thoát được ra khơi, tuy nhiên một thiếu úy hải quân làm vệ sĩ cho tôi đã bị trọng thương.
-    Z 308 bị bắt hay bị giết?
-    Bị giết.
-    Kỳ quặc thật? Theo nguyên tắc nghề nghiệp, phải bắt sống, không bao giờ bắn chết điệp viên của địch. Vì phải bắt sống để khai thác tin tức. Đằng này, toàn thể đều bị giết. Anh có cho lạ không?
-    Theo tôi, sở dĩ họ bị giết vì đã kháng cự lại quyết liệt. Trần Hiệp lợi dụng một phút lơ đễnh  của công an để tự sát. 309 đã bắn vào nhân viên tuần phòng trên bờ bắc song Bến Hải, 308 cũng vật lộng với công an duyên hải gần 10 phút trước khi bị bắt.
Chu Nghị từ tốn nâng ly rượu lên môi. Người lạ mặt đứng dậy ra lệnh:
-    Tôi đi đây. Anh tiếp tục hỏi về công tác tài chính H-4, chiều nay cho tôi biết kết quả.
Chu Nghị đưa người lạ mặt ra cửa. Người lạ mặt đi thẳng, thái độ lạnh lung, pha vẻ hợm hĩnh, không cáo từ Lê Tùng, cũng như không bắt tay Chu Nghị.
Chờ Chu Nghị ngồi xuống, Lê Tùng phê bình:
-    Anh chàng này phách lối quá! Nếu không nể anh, tôi đã nhổ nước bọt vào mặt hắn.
Chu Nghị buột miệng:
-    Sao anh dám đả kích đại tá?
-    Hắn là đại tá? Đại tá nào?
Chu Nghị tái mặt:
-    Lẽ ra tôi không được quyền tiết lộ. Tuy nhiên, tôi không nói thì trước sau anh cũng biết. Đó là đại tá Tú, phụ tá cho Bùi Vinh. Đã hoạt động tại Bắc Việt, anh phải biết Bùi Vinh.
-    Vâng, Bùi Vinh là cánh tay phải của Phan Thiện, con hùm xám phản gián ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Tuy đại tá Tú là phụ tá của Bùi Vinh, tôi vẫn không ngửi hắn được. Trong nghề tình báo này, chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào. Vả lại, tôi rất ghét những kẻ lên giọng cha chú.
-    Thôi, đồng chí. Bớt giận làm lành. Mấy ngày nữa, anh sẽ khỏi phải thấy mặt tôi và mặt đại tá Tú. Với 10 triệu bạc, anh tha hồ tiêu xài.

Nhìn đồng hồ, Chu Nghị giật mình:
-    Chết rồi. Đã 12 giờ trưa. Chúng ta chỉ còn một giờ nữa thôi. Phiền anh nói về tổ chức H-4

Lê Tùng nói:
-    Sở H-4 trong Tổng nha Mật vụ chuyên về tài chính. Đúng ra, nó là H-4869, và chia làm 4 ban: ban H-4, ban H-8, và ban H-69. Ban H-69 phụ trách quản trị và kinh tài, ban H-8 phụ trách nghiên cứu kỹ thuât. Còn ban H-4 do tôi điều khiển, phụ trách chuyển ngân cho nhân viên ở hải ngoại.
-    Anh được cử làm trưởng ban H-4 khi nào?
-    Ngay sau khi Trần Hiệp thiệt mạng tại bờ sông Bến Hải. Tôi bị Văn Bình, đại diện ông Hoàng, khiển trách nặng nề. Tôi bị mất chức R. và giáng xuống làm trưởng ban H-4. Ban này gồm toàn nhân viên già, sắp đến tuổi hưu trí, và một số phụ nữ trông coi sổ sách.
-    Nó được liệt vào hạng tối mật không?
-    Trên nguyên tắc, mọi cơ quan trong tổng nha Mật vụ đều được coi là bí mật. Ban H-4 không có gì là bí mật cả.
-    Tại sao trong văn phòng có đến 6 cái tủ sắt lớn?
-    Để chứa hồ sơ chuyển ngân.
-    Thể thức gửi tiền ra sao?
-    Như anh đã biết, ông Hoàng có nhiều nhân viên rải rác trên khắp thế giới, đặc biệt tại Đông Nam Á. Số tiền hàng tháng gửi ra ngoại quốc lên tới hàng trăm triệu bạc Việt Nam. Thường thường, chúng tôi dùng đô la Mỹ làm bản vị. Tiền lương cho nhân viên ẩn tế đều được trả bằng mỹ kim.

Ông Hoàng có trương mục tại hầu hết các ngân hàng ở Sài Gòn, thường là ngân hàng do người ngoại quốc điều khiển. Vì vậy, chúng tôi không giao dịch với nhà băng Việt Nam như Công thương Ngân hàng, Việt nam Thương tín… vân vân. sợ nghiệp vụ tình báo bị bại lộ. Mặt khác khi cần chuyển tiền, chúng tôi giao dịch với các ngân hàng nhỏ.
-    Chẳng hạn?
-    Chi nhánh của Ngân hàng Vọng các, và Ngân hàng Đông kinh tại Sài Gòn.
-    Ai ra lệnh chuyển ngân?
-    Về lương tháng hoặc công tác phí của các trú sứ ở hải ngoại, thì ban H-69 phụ trách quản trị và kinh tài quyết định. Còn những món tiền đặc biệt phải do văn phòng riêng của ông Hoàng ra lệnh. Trên nguyên tắc cô Nguyên Hương, bí thư của ông Hoàng, gửi công văn xuống ban H-69 và ban này ra lệnh cho tôi làm chi phiếu. Tôi đích thân liên lạc với sở Hối đoái. Theo lệnh của phủ Thủ tướng, tất cả những nghiệp vụ chuyển ngân do tôi yêu cầu đều được thực hiện ngay, không cần điều tra. Chẳng hạn, H-69 yêu cầu tôi gửi 10.000 đô la qua Vọng các, tôi liền nhờ Ngân hàng Vọng các ở Sài Gòn làm trung gian, sau khi được sở Hối đoái cho phép.
-    Cô Huệ Lan giữ phần hành gì trong H-4?
-    Tiếp nhận công văn, và sửa soạn chi phiếu. Tôi đích thân ký vào chi phiếu và mang ra ngân hàng.
-    Chúng ta đang tới điểm quan trọng nhất: anh đích thân ký chi phiếu trả tiền, tất phải biết tên người nhận tiền. Phiền anh cho biết những người này là ai?
-    Tôi chỉ biết phần nào. Phần nhiều các chi phiếu đều để trống chỗ ghi tên người thụ hưởng. Chi phiếu được chuyển lên phòng cô Nguyễn Hương, và trên ấy sẽ điền tên người nhận vào.
-    Anh nói là biết được một số. Lát nữa, xin anh viết lên giấy.
-    Vâng. Tuy nhiên, tôi sợ anh không sử dụng được. Vì toàn thể đều là tên giả.
-    Không sao. Chúng tôi đã có phương pháp phối kiểm. Trong thời gian anh tòng sự tại ban H-4, anh được lệnh thực hiện mấy vụ chuyển ngân đặc biệt?
-    Ba vụ cả thảy. Mỗi vụ cách nhau chừng 4, 5 tuần lễ. Và mỗi vụ được gọi bằng tên riêng. Theo thứ tự, đó là vụ Thái Phiên, vụ Phan Đình Phùng và vụ Lê Quí Đôn.
-    Chuyển ngân đi đâu?
-    Vụ Thái Phiên chuyển ngân qua Vạn Tượng, Phan Đình Phùng qua Hồng kông, còn Lê Quí Đôn qua Nam Van.
-    Gửi cho ai?
-    Việc chuyển ngân được thực hiện theo thể thức như sau: tiền được chuyển cho tôi, dĩ nhiên tôi đội tên giả. Tôi thân chinh đến tận nơi, gặp giám đốc ngân hàng và nói là tôi ủy quyền cho một người khác. Khi nào người này mang giấy tờ căn cước đến, thì ngân hàng sẽ cho rút tiền ra.
-    Ở Vạn Tượng, tên giả của anh là gì?
-    Mita, quốc tịch Phi luật tân.

-    Còn người được ủy quyền?
-    Nêlô, cũng quốc tịch Phi luật tân. Y là nhân viên bí mật của ông Hoàng. Tôi không biết tên thật, cũng như tướng mạo của y. Tôi chỉ biết y từ nước ngoài đến Vạn Tượng bằng thông hành thật, đến nơi, y lại ngân hàng, xuất trình thông hành giả để lãnh tiền.
-    Kẻ lãnh tiền ở Hồng Kông và Nam vang cũng là Nêlô hay là người khác?
-    Thú thật với anh, tôi hoàn toàn không biết. Việc chuyển tiền ở Hồng Kông và Nam vang khác hơn. Tại đó, tôi đích thân lãnh tiền rồi mướn tủ sắt trong nhà băng, bỏ vào. Nhân viên bí mật của ông Hoàng đến sau, mở tủ sắt ra lấy tiền.
-    Theo chỗ tôi biết, muốn thuê tủ sắt trong ngân hàng, phải làm đơn, kẽm chữ ký và ảnh. Về phần anh, không nói làm gì, song còn người kia? Y phải nộp ảnh cho ngân hàng, và như vậy ta chỉ cần phái người đến ngân hàng là phăng ra.
-    Sự việc không quá giản dị như anh tưởng. Cả tôi lẫn người ấy đều không nộp ảnh mà chỉ lưu lại mẫu chữ ký, và giấy thông hành.
-    Kẻ rút tiền tại Hồng Kông là ai?
-    Sambái , quốc tịch Cao mien.
-    Tại Nam vang?
-    Phumê. quốc tịch Ai lao.
-    Tại sao không gửi tiền bằng va li ngoại giao cho tòa đại sứ hoặc lãnh sự rồi giao cho giám đốc trú sứ thanh toán?
-    Thể thức này rất nguy hiểm. Thứ nhất, ông Hoàng sợ giám đốc trú sứ tại Vạn Tượng, Hồng Kông và Nam Vang bị nhận diện mỗi khi đến lãnh tiền tại ngân hàng. Thứ hai, ông Hoàng không muốn giám đốc trú sứ biết mặt và truy ra tong tích của nhân viên bí mật. Thứ ba, chúng tôi không có đại diện ngoại giao, hoặc lãnh sự tại Nam Vang. Thứ tư, chúng tôi vửa trả tiền bằng đô la Mỹ, vừa bằng kim cương. Về tiền, có thể chuyển ngân được, nhưng còn kim cương, tôi phải đích thân mang đi.
-    Anh giấu vào đâu?
-    Tôi bỏ vào bót phơi, chẳng cần giấu. Vì lẽ tôi dùng thông hành ngoại giao.
-    Những món tiền và hạt soàn ở Vạn Tượng, Hồng Kông, Nam Vang đã được lấy khỏi ngân hàng chưa?
-    Tôi không biết. Vì tôi chỉ đến các nhà băng này một lần mà thôi. Lần sau, nếu cần chuyển ngân, tôi phải qua ngân hàng khác.
-    Theo ý anh, Nê lô, Sam bát, Phu mê là ba người hay một người?
-    Tôi không thể nào biết được. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng đó chỉ là một người.
-    Và người này ở trong vùng cộng sản.
-    Tôi cũng nghĩ như anh, song tôi không đưa ra được bằng cớ cụ thể nào.
-    Nếu tôi không lầm, kẻ nhận tiền và hạt soàn là một nhân viên cao cấp ở Bắc Việt hoặc Trung Hoa. Tiền và hạt soàn được cất trong ngân hàng để khi nào y trốn đi, có thể rút ra sử dụng. Toàn thể các cơ quan tình báo trên thế giới đều theo thể thức trả tiền này. Song  còn vấn đề thông hành giả? Nếu y sinh sống ở Bắc Việt hoặc Trung Hoa, tôi không tin là y dám giữ thông hành giả trong người. Chẳng may bại lộ, y có thể bị tử hình.
-    Tôi không hoàn toàn đồng ý với anh. Hầu hết nhân viên của ông Hoàng hoạt động tại phía Bắc vĩ tuyến 17 đều có ít nhất hai thông hành, thông hành thật do nhà chức trách địa phuong cấp, và thông hành giả do Sài Gòn làm ra. Khi gặp biến, đương sự sẽ dùng thông hành giả để vượt biên giới hoặc rút vào nơi an toàn.
-    Anh đã chuyển ngân bao nhiên?
-    Qua Vạn Tượng, 12.000 đô la. Hồng Kông, 15.000 đô la. Nam Vang, 18.000 đô la. Tổng cộng 45.000 đô la trong vòng 3 tháng.
-    Anh tới Vạn Tượng ngày nào?
-    Không nhớ rõ. Dường như vào thượng tuần tháng 8.
-    Cố nhớ lại đi. Vì chúng tôi cần biết ngày tháng đích xác để phối kiểm lại.
Lê Tùng bóp trán suy nghĩ. Một tia sáng lóe ra trong óc, chàng bật lên.
-    Nhớ ra rồi. Ngày 14-8. Bằng phi cơ hàng không Việt Nam.
-    Ngụ tại khách sạn nào?
-    Vieng Vila y, ở đường Nokeo Koumane.
-    Ngày nào đến ngân hàng?
-    Sàng 15. Đúng 8g30, tôi có mặt tại ngân hàng Đông Kinh. Tôi giả làm Mita, nhà báo Phi luật tân.
-    Còn Nê lô?
-    Y đội lốt thương gia.

-    Ngày nào anh đến Hồng Kông?
-    4 tuần sau. Vào ngày 10-9. Ngụ tại lữ quán Vanda, số 3 đường College Road, 9 giờ sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng Anh quốc. Tôi được ông Hoàng cho ở lại Hồng Kông 2 tuần rồi về Sài Gòn, sửa soạn qua Cao miên. Tôi có mặt ở Nam Vang ngày 4-10.
Chu Nghị đứng dậy:
-    Cảm ơn anh. Tạm đủ rồi.
Lê Tùng hỏi:
-    Mấy giờ mai chúng ta gặp nhau?
-    Anh hỏi làm gì?
-    Để hú hóa một đêm cho sướng.
-    Hừ, chết anh cũng không chừa tật mê gái.
-    Đàn bà đối với tôi là món ăn cần thiết. Cũng như mỗi đêm anh phải uống tách cà phê đen. Sáng mai, tôi dậy trưa được không?
-    Sáng mai, có lẽ tôi không đến.
-    Anh còn đợi lệnh Trung ương?
-    Phải. Đợi nhân viên ở Trung ương nghiên cứu xong bản khai của anh.
-    Và sau đó tôi vù.
-    Dĩ nhiên. Nghe anh nói tôi thèm rệu nước miếng.
-    Vậy anh móc nối với trú sứ CIA ở đây, kiếm chút tiền còm. Tôi tin rằng ít ra CIA phải trả anh một trăm ngàn mỹ kim.
-    Tôi không ưa những kẻ nói bậy.
-    Tính tôi lại khoái nói đùa.
Chu Nghị bước ra phòng ngoài. Hai vệ sĩ đã chực sẵn. Hắn dõng dạc:
-    Các chú trông nom cho ông khách được đầy đủ tiện nghi. Cần gì phải lo liệu ngay. Tuy  nhiên, ông khách không được đi đâu hết. Cho phép các chú dùng sung nếu ông khách cứng đầu.
Lê Tùng vẫn ngồi điềm nhiên trong ghế, hai chân gác nghênh ngang lên bàn. Chàng không thèm quan tâm đến lời dặn hách dịch của Chu Nghị. Vì chàng đang nghĩ tới đàn bà.



VIII

CHIM VỀ TỔ CŨ


Huệ Lan xây xẩm mặt mày sau khi nghe điện thoại. Văn Bình, tổng thanh tra của Sở, vừa ra lệnh gọi nàng.

Nàng ngồi rất lâu trước máy chữ. Trống ngực nàng đập thình thịch. Từ ngày làm việc tại ban tài chính H-4, chưa bao giờ nàng được gọi lên tầng lầu của ban thanh tra. Ban này có trách nhiệm thanh sát và kiểm tra nhân viên của Sở ở trong và ngoài nước.

Nàng được nghe nhiều tin đồn về Văn Bình. Chàng rất lịch thiệp với phụ nữ. Tuy nhiên nhiều khi đã tỏ ra cứng rắn, vô cùng cứng rắn. Các nữ đồng nghiệp trong ban Biệt vụ thuật lại nhiều khi Văn Bình xả sung bắn vào phụ nữ, hoặc bóp nát cuống họng những người đàn bà yếu đuối.

Văn Bình gọi nàng lên văn phòng làm gì? Dĩ nhiên, không phải để nhìn nàng bằng cặp mắt đắm đuối. Vả lại, bộ ngực phẳng lì và tấm thân gầy gò của nàng khó thể mê hoặc một người đàn ông kinh nghiệm và chiến thắng về sắc đẹp như Văn Bình. Chỉ có một lý do: Lê Tùng. Trước ngày từ giã Sài Gòn, chàng đã gặp nàng và hai người đã tâm sự với nhau trong nụ cười và nước mắt.
 
Trang 68 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:36:50 bởi Ct.Ly>

148
 
        Huệ Lan không thể khoanh tay làm thinh. Vì hạ bệ xong Phan Thiện, người ta sẽ loại trừ luôn Lê Tùng. Hồi chiều, Văn Bình vừa dụ dỗ nàng dọn đường loại trừ chàng...
        Nàng ngẩng phắt, giọng chắc nịch :
        -      Ông có bằng cớ gì về việc chồng tôi ở Nam Vang?
        Nguyễn Biên chìa một mảnh giấy viết tay nguệch ngoạc:

        ...Em thân mến,
        Em nên nghe lời anh Nguyễn Biên. Anh đang ở Nam vang. Tuần sau, sẽ lên đường qua Âu châu. Anh chờ em... Anh chờ em từng giây, từng phút.
        Anh của em,
        L.T.

        Huệ Lan vò nát miếng giấy trong tay, vẻ mặt băng khuân. Đúng là tuồng chữ quen thuộc của chàng. Nàng không thể biết được đây là một công trình của Nguyễn Biên.
        Nàng nhìn bình hoa lê-dơn trên bàn:
        -      Ông muốn tôi đi Nam vang ư?
        Nguyễn Biên gật đầu:
        -      Muốn.
        -      Đi bằng cách nào?
        -      Xe hơi.
        Tôi không có thông hành. Lại còn chiếu khán nữa. Trong hoàn cảnh này, người ta sẽ không cho tôi xuất ngoại. Dầu tôi được phép của công an, tôi cũng không có hy vọng xin được dấu nhập nội của chính phủ Cao miên. Vì ông còn lạ gì, tôi là nhân viên chính thức của ông Hoàng. 
        -      Cô yên tâm. Tôi đã lo xong đủ giấy tờ.
 
149
 
        -      Bao giờ đi?
        -      Ngay bây giờ.
        -      Trời, tôi chưa sửa soạn gì cả.
        -      Cô sửa soạn, người ta sẽ nghi ngờ.
        -      Tôi phải báo cho mẹ và em tôi biết.
        -      Lại càng nguy hơn. Ở trong nghề, cô phải biết rằng, tình cảm gia đình thường tai hai. Tôi biết cô nhớ cụ và các em. Ở vào hoàn cảnh cô, tôi cũng nhớ quay quắt, vì đầu sao chúng ta cũng là con người, mà đối với con người thì tình yêu là trên hết. Cô nên đặt tình yêu với Lê Tùng lên trên hết... Trong tương lai, cô giải thích cho gia đình hiểu cũng chưa muộn.
        -      Sợ ra đi lần này tôi không về nữa.
        -      Ở lại, cô sẽ bị bắt. Bị bắt một cách xuẩn động và phi lý. Ra đi, cô sẽ ở gần Lê Tùng, như cô hằng mong ước.
        Nguyễn Biên coi đồng hồ:
        -      Muộn rồi. Yêu cầu cô quyết định.
        Huệ Lan thở dài:
        -      Thưa ông, ruột gan tôi rối như tơ vò... tôi không thể nào quyết định được. 
        Giọng Nguyễn Biên đanh lại:
        -      Vậy, nhân danh Lê Tùng, nhân danh tình yêu thiêng liêng giữa hai người, tôi quyết định giùm cô. Yêu cầu cô theo tôi...
        -      Xin phép ông để tôi viết lại mấy chữ?
        -      Cho ai?
        -      Cho mẹ tôi.
        -      Không nên. Việc xuất ngoại của cô cần được giữ kín.
        -      Tôi chỉ viết mày giống từ biệt.
 
150
 
        -      Cũng không nên. Tôi không muốn người thân của cô biết cô tự ý ra đi.
        -      Vâng, tôi xin lãnh ý ông. Nhưng ít ra ông cũng cho tôi 5, 7 phút để sửa soạn quần áo.
        Mục đích của Huệ Lan là kéo dài thời giờ. Nàng cảm thấy mọi giây đồng hồ được ở lại trong căn nhà chật hẹp này là một giờ hạnh phúc. Nàng cảm thấy nhớ tất cả: nhớ khuôn mặt hiền từ của mẹ nàng, nhớ tiếng cười trong trẻo của bầy em ngây thơ, nhớ những đóa hoa ni-lông nàng sắp xếp trong bình, nhớ cả con chó Nhật lùn, lông trắng như bông, mắt đen láy, nằm ngoan ngoãn dưới gầm giường, không bao giờ sủa lớn. Thậm chí Huệ Lan còn nhớ cả rặng hoa dâm bụt ở xế cửa nhà, những chiếc lá xanh biết nô rỡn với tia nắng mặt trời buổi sáng, trước giờ nàng ăn điểm tâm, sửa soạn đi làm.
        Gần như thói quen, trước giờ ăn điểm tâm, Huệ Lan thường mở cửa cho gió sáng ùa vào, và để ngắm rặng dâm bụt thân thuộc. Nàng còn thấy rõ trong trí những cái lỗ tròn, được dùng làm lối ra vào cho đàn bẹt-giê nghịch ngợm. Đôi khi mấy đứa trẻ hàng xóm cũng mượn lối đi này của chó để chơi trò ú tim với nhau. 
        Những kỷ niệm ấy đang lùi dần về quá khứ... Huệ Lan muốn nán lại để chào mẹ, chào các em. Song nàng cũng muốn đi để gặp Lê Tùng. Nàng biến thành người máy, mặc cho ngoại cảnh quyết định. 
        Hiểu rõ nội tâm của nàng, Nguyễn Biên lắc đầu, giọng nghiêm nghị :
        -      Càng không nên nữa. Cô mang quần áo theo, người ta sẽ biết là cô dụng ý bỏ đi. Tốt hơn là đi người không. Người ta sẽ mù tịt.
 
151
 
        -      Khổ quá, tôi lấy gì thay đổi?
        -      Cô đừng ngại. Nam vang nhỏ hơn Sài gòn thật đấy,  nhưng về đồ ngoại hóa, không thua, có lẽ còn vượt Sài gòn. Cô có thể mua sắm đủ thứ, miễn hồ có tiền. 
        -      Tiền dành dụm của tôi đang ở trong quỹ Tiết kiệm.
        -      Tôi đã bảo cô đừng ngại mà... Lê Tùng đã có đủ tiền. 
        Huệ Lan đặt tay vào nắm cửa :
        -      Vâng.
        Con đường trước nhà vắng ngắt. Tiếng chìa khóa quay trong ổ reo lên một âm thanh não nùng. 
        Như người mất hồn, Huệ Lan trèo lên xe hơi. Cửa xe vừa đóng, nàng nhận ra bóng dáng quen thuộc của đàn em trên xích lô máy đậu xịch trước nhà. Nàng rú lên:
        -      Ông ơi!
        Nguyễn Biên lạnh lùng:
        -      Các em cô về rồi. Cô muốn quay lại gặp chúng, phải không?
        Nàng lắp bắp:
        -      Vâng... ông cho phép tôi về một lát.
        -      Một lát là bao lâu?
        -      5 phút.
        -      Hừ, cô xin 5 phút, chứ 5 sao tôi cũng không cho phép. An ninh của cô và của Lê Tùng nằm trong tay tôi, và tùy thuộc phần nào vào thái độ của cô đêm nay.
        -      Tôi chỉ giã từ các em rồi đi ngay.
        -      Cô đừng bắt tôi phải to tiếng.
        -      Ông cũng đừng bắt tôi phải la lên.
 
152
 
        -      À, cô không muốn đi thì thôi, tôi không cưỡng ép. Tôi đến đây với tư cách bè bạn. Với tư cách ân nhân cứu cô ra khỏi màng lưới tàn nhẫn của ông Hoàng, đưa cô tới gặp người yêu. Tôi đến đây không phải để quyến rũ cô làm điều phi nghĩa, hoặc bức bách cô theo tôi qua Nam vang. Vâng, tôi đã hết lời rồi, xin mời cô xuống. Và từ nay, xin cô đừng nghĩ tới việc tái ngộ Lê Tùng nữa...
        Trong khoảnh khắc, tình ruột thịt mạnh hơn tình xác thịt. Huệ Lan nhổm dậy trên băng, sửa soạn mở cửa. Nàng vừa có cảm giác như vừa được phóng thích khỏi nhà giam sau nhiều ngày mất tự do. Mẹ nàng, đàn em của nàng là một phần cần yếu của đời nàng. Nàng sẽ quên tất cả, bỏ tất cả... Nàng sẽ gánh chịu sự trừng phạt bất công của ông Hoàng...
        Nhưng Huệ Lan lại thấy Lê Tùng... Hình bóng Lê Tùng lửng lơ trong không gian mù mịt... Giọng nói Lê Tùng phảng phất trong đêm khuya thầm lặng...
        Hơn một lần, chàng đã ôm nàng. Hơn một lần, hai người nằm bên nhau trong bóng tối của gian phòng kín đáo, da thịt cọ sát, hơi thở quyện nhau. Mỗi khi nhớ lại, Huệ Lan bần thần hàng giờ. Tạo hóa không phú cho nàng những đường công diễm ảo để lôi cuốn đàn ông nên nàng dễ rung động hơn mọi phụ nữ khác trước sự mơn trớn của nam giới.
        Nàng phải gặp Lê Tùng. Nàng cần sống lại những thời khắc thần tiên trong phòng riêng với chàng. Tình xác thịt vùng dậy mạnh mẽ, ắt hẳn tình ruột thịt.
 
153
 
        Huệ Lan lắc đầu, giọng ngao ngán:
        -      Xin lỗi ông, tôi lỡ lời. Tôi bằng lòng theo ông. Ông mang tôi đến chân trời, tôi cũng đi. Lê Tùng là tất cả đời tôi. Vì Lê Tùng, tôi sẵn sàng bỏ hết.
        Nguyễn Biên nhếch mép cười bí mật. Trong bóng tối, Huệ Lan không thể nhìn thấy nụ cười lạ lùng của hắn. 
        Xe hơi phóng qua cầu Thị Nghè về Sài gòn.
***
        Tuy trời giữa trưa, bên ngoài nắng như thiêu đốt, phòng của Văn Bình lại chìm trong bóng tối.
        Các cửa sổ đều che riềm kín mít. Riềm bằng nhung xanh ngăn không cho ánh nắng lọt vào. Đồ đạc giản dị, nhưng đắc tiền và tối tân. Ngoài bộ xa lông lùn bằng gỗ bạch đàn – loại gỗ dắt tiền nhất nhì thế giới – gồm hai cái ghế lót da báo, và cái bàn gắn thủy tinh trong suốt, chế tạo bên Pháp, căn phòng chỉ gồm một cái giường lớn, kê sát tường, bấm nút điện thì biến thành ghế số-pha hoặc bàn viết. 
        Đặc điểm của cái giường là nằm ở góc, giữa hai tấm gương lớn, loại giường thường thấy trong các lâu dài yên hoa ở Âu châu. Ở đầu giường, người ta thấy một cái hộp chữ nhật, bên trên có nhiều đồng hồ tròn và nút bấm khác nhau. 
        Nằm trên giường, người ta có thể bấm nút để mở cửa, đóng cửa, mở máy thu thanh, vô tuyến truyền hình và máy ghi âm, máy hát âm thanh nổi. Cái nút màu trắng ở giữa hộp được dùng để mở tủ lạnh, gắn ngầm vào giường: tủ lạnh từ từ hé mờ,
 
154
 
chủ nhân có thể tự tay lấy rượu uống, khỏi phải cất công xuống đất.
        Loại giường này do Văn Bình đích thân vẽ kiểu và đôn đốc cho một công ty đồ gỗ trứ danh ở đường Hồng thập tự thực hiện. Nó có thể nhấc đầu lên, hoặc hạ đầu xuống 60 độ, nó lại có thể rung chuyển nhè nhẹ như ngồi trên lò so. 
        Tấm nệm là kỳ công của kỹ nghệ đồ gỗ phụng sự cho tình yêu: nó dầy đúng 30 phân, vô cùng êm ái, chứa một hệ thống điện riêng, trời nóng nó toát ra hơi lạnh, trời lạnh nó toát ra hơi nóng, giống như máy điều hòa khí hậu nóng lạnh, chủ nhân lại có thể ấn định mức nóng lạnh theo ý thích.
        Một ngọn đèn cực mạnh treo trên trần chiếu giữa giường, khi mọi ánh sáng trong phòng tắt hết. Ngọn đèn này được bật lên, người ta có cảm tưởng đang ở trên sân khấu thoát y vũ. Lạ lùng hơn nữa là đèn rất sáng mà không nóng, cũng không làm người nằm trên giường nhức đầu. Nếu không dùng đèn trên trần, chủ nhân có thể mở một loạt đèn riêng chung quanh giường, gồm hàng chục bóng đèn nhỏ xíu, nhiều mầu khác nhau, tạo ra một khung cảnh thiên thai...
        Văn Bình sửa soạn căn phòng khác thường này để đón Quỳnh Bích. Vừa bước vào, nàng giật mình.
        Nàng nghe nói nhiều về nghệ thuật hưởng lạc của Văn Bình, nhưng không thể ngờ óc sáng kiến của chàng lại phong phú đến thế. Với sự thỏa thuận của ông tổng giám đốc, Văn Bình thiết lập một khu thiên đường trên nóc một bin-đinh đồ sộ trên đại lộ Hồng thập tự. Chàng chiếm trọn tầng
 
155
 
cao nhất, gồm 10 phòng, một sân lộ thiên trồng cỏ non nhập cảng từ Anh quốc để chơi gôn, một bể bơi tường bằng thủy tinh trong suốt cho người đẹp biểu diễn đường công nguyên tử và hai thang máy riêng, một để chàng lên xuống, một để đưa xe hơi lên ga-ra hoặc mang xuống đường. 
        10 phút trước, xe hơi do Văn Bình lái từ từ vào sân sau bin-đinh. Cửa sân sau được điều khiển bằng điện. Cửa vào thang máy cũng được điều khiển bằng điện. Quỳnh Bich chờ cho chiếc xe đua xinh xẻo chui gọn vào thang máy mới hỏi :
        -      Trời ơi, anh thuê căn nhà này bao giờ?
        Văn Bình quàng vai nàng, giọng âu yếm:
        -      Không, đây là phòng riêng của anh, anh bỏ tiền ra xây cất. Bin-đinh phía trước là của một công ty địa ốc.
        Cửa vào phòng cũng được điều khiển bằng điện. Văn Bình mở đèn trong phòng rồi kéo ghế cho nàng ngồi :
        -      Bên ngoài nóng lắm, em cởi áo cho mát.
        Không biết chàng vô tình hay cố ý vì nàng chỉ mặc cái áo sơ-mi hở tay. Nàng nhìn chàng trân trân, chàng ôm ghì lấy, hôn môi thật lâu.
        Đột nhiên, nàng xô chàng ra, bưng mặt khóc rưng rức. Chàng vỗ về:
        -      Tại sao đang vui em lại khóc?
        Nàng đáp trong nước mắt:
        -      Hễ gần anh, em lại khóc. Những lần trước, em chỉ dám khóc mà không dám thổ lộ tâm tình, lần này...
        -      Anh biết em yêu anh, em yêu anh tha thiết... Như vậy đủ rồi, anh không đòi hỏi gì thêm nữa.
 
156
 
        -      Không, anh ạ... Em chưa yêu anh thành thật. 
        -      Hừ, em đừng nói nhảm.
        -      Thật đấy, em đã lợi dụng tình yêu và lòng tin cậy của anh.
        Văn Bình nheo mắt:
        -      Lợi dụng như thế nào?
        Quỳnh Bích đáp nhanh, sợ rụt rè có thể thay đổi ý kiến:
        -      Lợi dụng những phút ôm ấp anh để đánh cắp tin tức, tài liệu, trao cho địch. Anh ơi, em đã làm điệp viên cho địch, em không xứng đáng với tình yêu của anh nữa. Sau nhiều đêm suy nghĩ, đắn đo, em quyết thú tội với anh. Em không dám xin sự khoan hồng, vả lại, tội của em cũng không đáng được hưởng khoan hồng...
        Đang hồng hào, mặt Văn Bình trở nên tái nhợt. Chàng thừ người, ném điếu Salem mới đốt vào đĩa đựng tàn. Tuy nhiên, chàng không nói gì hết.
        Quỳnh Bích quỳ xuống, gục đầu vào đùi chàng, giọng đau đớn :
        -      Anh giết em đi! Anh gọi điện thoại cho ông Hoàng đưa em vào khám đi! Sự yên lặng của anh còn làm cho em chua xót gấp trăm lần. Thà em bị ra tòa, em bị hành quyết... thà anh chửi mắng, đánh đập em...
        Văn Bình thở dài:
        -      Những điều anh không ngờ đã xảy ra. Nhân viên của Sở bị dịch đe dọa mua chuộc là việc thường, song anh không ngờ kẻ bị lôi cuốn vào vòng phản bội lại là em, em là người anh tin nhất. Sở dĩ anh yên lặng vị đang nghĩ tới những tin tức
 
157
 
 quan trọng mà với tư cách thư ký riêng của anh em đã nộp cho địch. Em nhớ lại xem: em đã nộp cho địch những gì?
        -      Mọi tin tức, tài liệu liên quan đến Lê Tùng.
        -      Thảo nào! Bao giờ em gặp lại họ?
        -      Nội ngày nay. Sau khi hò hẹn với anh để lấy thêm tin tức về vụ Lê Tùng. Em xin đặt tính mạng em dưới quyền xử dụng của anh. Em sẵn sàng giết hẳn rồi trở về cho anh đưa ra tòa án quân sự. 
        -      Em có quan niệm khá hời hợt về nghề nghiệp. Giết nhân viên của địch không phải là nhiệm vụ thông thường của ta. Dầu em đã phản bội, Sở cũng không muốn truy tố hoặc hạ sát em. Vì như vậy vô ích, hoàn toàn vô ích.
        Em đừng quên rằng theo nội quy anh là người chịu trách nhiệm. Vì anh đã mềm lòng trước sắc đẹp của em. Anh đã thiếu thận trọng để tài liệu mật lọt vào tay em, cũng như đã thiếu thận trọng để địch tổ chức được em là nhị trùng.
        -      Trời ơi, bây giờ biết làm sao?
        Dầu em là Trời cũng không thay đổi được tình thế. Cả em và anh đang ở vào tình thế nguy nan nhất. Nếu em tận tình giúp anh, chúng ta sẽ có thể dành lại quyền chủ động. 
        -      Anh bảo em tự sát ngay em cũng tuân theo không từ chối.
        -      Hừ, em là người cực đoan và nóng nẩy, không hiểu sao lại lạc lõng vào nghề tình báo. Kẻ thường gặp em là ai?
        -      Nguyễn Biên. Đó là tên giả. Em không biết hắn ở đâu. Khi nào muốn tiếp xúc, em phải dùng hệ thống hộp thư chết, hoặc đăng báo...
 
 
DEN DAY, TRANG 158 VA 159 THIEU THIEU.... (Chapter X)
CUNG TRANG 158 VA 159  TRONG BATH15 (Chapter IV) GUI SAU, KHONG TIEP THEO CAU CHUYEN O DAY, LY A...





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:41:38 bởi Ct.Ly>
Thiếu trang 158 & 159
160
 
        Lê Tùng phát ngố trước cái bàn bầu dục đầy ắp thức ăn và rượu đắt tiền. Tôm, cá, thịt, bào ngư, vây yến,  tất cả những món hiếm có ở Hà nội đều góp mặt, bên cạnh hai giỏ trái cây nhập cảng, và hơn 10 chai rượu.
        Từ sáng đến tối, chàng ăn đúng 6 bữa. Nghĩa là ăn như người Hoa Lan. Đại tá Bùi Vinh muốn chàng khỏe mạnh nên chàng không từ chối. Chàng uống trong nửa ngày một chai rom bacadi, loại đặc biệt. Cũng trong nửa ngày, chàng gọi Huyền Nhung ba lần. Huyền Nhung mệt nhoài, dựa lưng vào tường để thở còn Lê Tùng vẫn thản nhiên ngồi uống bacadi.
        Đúng 9 giờ tối, xe hơi của Bùi Vinh bóp kèn ngoài sân. Đó là một khu vườn rộng bát ngát ở xa đường cái quan, có sân quần vợt, sân gôn tí hon, sân bóng chuyền, bóng rổ và hồ bơi.
        Bùi Vinh xuống xe, đi qua sân bóng rổ vào nhà, vẻ mặt hân hoan. Hắn nheo mắt với Lê Tùng. Khác thường lệ, Bùi Vinh mặc âu phục bằng hàng xám nhạt, giầy mũi nhọn, sơ mi lụa trắng toát, cà-vạt đen sọc kim tuyến. Hắn ngồi xuống ghế, đánh diêm châm xì-gà. Cái nhẫn hạt xoàn gần 15 cara ống ánh trên ngón tay thô tháp và cụt lủn của hắn.  
        Hắn nhìn Lê Tùng, gật gù:
        -      Huyền Nhung làm anh vừa ý không?
        Lê Tùng đáp:
        -      Cám ơn anh, nàng rất chu đáo.
        Bùi Vinh nhăn răng cười:
        -      Tôi biết anh có nhã ý bào chữa cho Huyền Nhưng. Anh yên tâm, một vài ngày nữa anh sẽ
 
161
 
được lên Hà nội, ở đó tha hồ... Tuy nhiên, công việc của tôi phải thành công mỹ mãn.
        -      Công việc với Phan Thiện?
        -      Phải. Trong rừng, không thể có hai cọp chúa. Hoặc tôi, hoặc Phan Thiện là chúa sơn lâm. Nếu hắn làm, tôi phải đi nơi khác. Tôi không muốn đi, nên người đi phải là hắn.
        -      Anh làm cách nào để loại trừ Phan Thiện?
        -      Tôi đã gửi báo cáo lên Trung ương Đảng. Phan Thiện sẽ bị mất chức, bị bắt, bị giam về tội gián điệp hai mang. 
        -      Và anh dùng tôi làm tay sai.
        -      Ồ, danh từ tay sai không đúng. Anh là đồng minh của tôi. Tôi sẽ không quen thưởng công cho anh.
        Lê Tùng định nói «cám ơn» thì cửa phòng xịch mở. Người bước vào là Huyền Nhung. Mặt nàng không đượm vẻ nhí nhảnh và tươi tắn như thường lệ. 
        Nàng cúi xuống, nói thầm vào tai Bùi Vinh. Lê Tùng nhận thấy bàn tay Bùi Vinh hơi run. 
        Bùi Vinh nhún vai nói:
        -      Tôi có việc gấp, phải đi ngay. Đêm nay, Huyền Nhung sẽ ở lại với anh.
        Thường lệ Bùi Vinh mỉm cười khi bước ra khỏi phòng, cái cười đắc chí của kẻ luôn luôn thành công trong đời. Song lần này miệng hắn mím chặt. Lê Tùng thoáng thấy một giọt bồ hôi trên trán hắn.
        Huyền Nhung thoăn thoắt theo sau Bùi Vinh. Còn lại một mình trong phòng, Lê Tùng mở cửa sổ nhìn ra sân. Tuy trời tối, chàng vẫn thấy một
 
 
162
 
cái xe hòm đen nằm giữa hai cái xe díp đầy nhóc người, có lẽ là nhân viên An ninh mặc thường phục. 
        Một người cao lớn đưa cho Bùi Vinh coi giấy, chắc là sự vụ lệnh. Đọc xong, Bùi Vinh hoa chân múa tay, ra vẻ phản đối kịch liệt. Song của sau cửa xe hòm đen được mở ra, Bùi Vinh lặng lẽ trèo lên. 
        Rồi toàn khu trại chìm vào bầu không khí rùng rợn.
        Lê Tùng nghe tiếng quạ kêu ngoài vườn. Chàng bâng khuâng đứng bên cửa sổ, da mặt xanh tái, tưởng như đàn quạ đen tới báo hiệu cho chàng.
        Như người máy, chàng bước ra hành lang.
        Khu trại được canh phòng nghiêm mật, tuy nhiên người gác chỉ ở vòng ngoài và núp kín đáo. Lê Tùng được tự do hoàn toàn ở vòng trong. Nghĩa là chàng bị giam lỏng. Chàng được ăn uống, giải trí sang trọng song không được rời trung tâm chiêu đãi.
        Bất giác, chàng nhớ đến Huệ Lan.
        Trước khi lên phi cơ ở Tân sơn nhất, chàng đã dặn Lê Diệp là đặt Huệ Lan ra ngoài nội vụ. Nhưng chàng linh tính là Huệ Lan đã bị kéo vào vòng. Nàng cũng bị giam lỏng ở Sài gòn. Giam lỏng cho tới khi Lê Tùng trở về. Nhưng liệu chàng có hy vọng trở về không?
        Kế hoạch của ông Hoàng đã được thực hiện không sai một li. Đại tá Bùi Vinh đã khờ khạo đút đầu vào thòng lọng. Sớm muộn, Phan Thiện sẽ bị sa bẫy.
        Khi ấy...
 
163
 
        Lê Tùng nhún vai cười một mình. Với hai bàn tay không, và ba tấc lưỡi, chàng sắp hoàn thành một việc mà nhiều nhân viên ưu tú của Sở không hoàn thành nổi: loại trừ Phan Thiện ra khỏi guồng máy Phản gián Bắc Việt.
        Bỗng Lê Tùng khựng người.
        Một hồi chuông báo nguy vô hình reo vang trong óc chàng. Chàng thấy phía trước người đứng lố nhố.
        Vội vàng, chàng quay vào phòng. Có tiếng người kêu phía sau:
        -      Lê Tùng.
        Chàng nghe tiếng thét thất thanh của Huyền Nhung ở cuối hành lang. Vụt hiểu, chàng chạy vào phòng tắm, mở cửa sổ, nhảy ra sân sau. Cũng may, khoảng đất này tối om. Suốt ngày, ngồi trên ghế xích đu quan sát địa thế, Lê Tùng đã thuộc lòng lối đi độc đáo từ sân sau ra vọng gác. Nếu phản ứng thật nhanh, chàng có thể ra tới vọng gác trong vòng một phút, dùng võ lực quật ngã hai tên cảnh vệ, rồi nhảy qua tường, đoạt xe đạp, lên Hà nội. Ông Hoàng đã bố trí cho chàng một địa điểm ẩn náu trong trường hợp kế hoạch bại lộ.
        Đèn hành lang ra sân sau bật sáng.
        Lê Tùng biết là nhân viên mật vụ ập vào bắt chàng. Tại sao bắt chàng? Tại sao Huyền Nhung kêu cứu? Tại sao đại tá Bùi Vinh tất tả lên xe?
        Chàng không tin đây là lớp lang do Bùi Vinh đặt ra. Dầu sao chăng nữa, chàng cũng phải tìm cách thoát thân trước khi phăng ra sự thật.
        Một dãy đèn nữa lại bật sáng.
        Rồi tiếng gọi chát chúa:
 
164
 
        -      Lê Tùng. Lê Tùng đâu rồi.
        Chàng nằm sát đất, bò bằng cánh tay. Với lối bò khôn ngoan này, nhiều lần chàng đã chui qua hàng rào kẽm gai truyền điện, thoát khỏi đèn pha lùng kiếm của vọng gác ở vùng duyên hải và giáp tuyến.
        Trong nháy mắt, chàng đã biến vào bóng tối lờ mờ của khu trại rộng mênh mông. 
        Chàng rẽ sang bên trái, chạy nhanh đến ngôi nhà lớn lợp tôn. Huyền Nhung cho biết đó là nhà bếp và nhà kho dụng cụ. Một tiếng hô nổi lên:
        -      Ai đó, đứng lại?
        Giật mình, chàng ngồi thụp xuống. Qua màn tối, chàng thấy thấp thoáng một khẩu súng cắm lưỡi lê sáng ngời.
        Nhanh như cắt, chàng vụt dậy, hạ atémi vao cườm tay cầm súng. Khẩu súng trường rơi xuống nền đất, không gây ra tiếng động. Một khối thịt nặng nề lao vào người chàng. Chàng ôm lấy, vật nhào xuống cỏ.
        Tên cảnh vệ chưa phải là đối thủ của chàng nên trong vòng một giây đồng hồ ngắn ngủi chàng đã chẹn được cuống họng và giáng đòn chí tử.
        Nạn nhân rú ằng ặc rồi câm lịm.
        Lê Tùng xoa tay đứng lên.
        Thì một ngọn đèn sáng quắc chìa vào mặt chàng. Kèm theo tiếng quát:
        -      Lê Tùng, đầu hàng đi!
        Chàng co chân định chạy nhưng một tràng tiểu liên đã nổ tacata, tacata... chặn hết lối thoát. 
        -      Lê Tùng, đầu hàng kẻo chết!
        Chàng thở dài, đưa hai tay lên đầu. Ba quân
 
 
165
 
nhân võ trang tiểu liên Trung cộng từ trong bóng tối ùa ra. Tên thứ nhất quật báng súng vào đầu chàng. Chàng né tránh. Báng súng thứ hai vèo tới, chàng ngã vật vào tường.
        Lê Tùng nghe tiếng cách quen thuộc. 
        Chàng đã nghe tiếng «cách»  này nhiều lần trong thời gian đóng vai khổ nhục kế ở Sài gòn. Đó là tiếng «cách» của còng sắt. Vòng thép lạnh buốt khép chặt cườm tay chàng. Một trái đấm rơi giữa mắt làm chàng nổ đom đóm mắt. Rồi nhiều trái đấm khác tiếp theo. 
 
        Mặt mày sưng húp, Lê Tùng nằm thiếp trên nền cỏ ướt.
 
***
        Lê Tùng tỉnh dậy trong một gian phòng rộng, trần thiệt sang trọng, gắn máy điều hòa khí hậu.
        Tuy nhiên, trong những giây đồng hồ đầu tiên, chàng không nhìn thấy cái máy lạnh 3 ngựa hiệu Fedders của Mỹ, những cái tủ sắt kiên cố sơn xanh kê sát tường, cái bàn làm việc to lớn đầy ắp điện thoại và dụng cụ vô tuyến. Chàng cũng không nhìn thấy chai rom bacadi, món uống tri kỷ của chàng, cũng như điếu xì-gà Havan chính hiệu đang nhả khói trên cái đĩa đựng tàn bằng vàng khói 18 cara, chạm trổ hình luỡng long triệu nguyệt.
        Chàng chỉ nhìn thấy một khuôn mặt quen thuộc đang cúi xuống. Khuôn mặt quen thuộc mà xa lạ. Khuôn mặt hiền lành mà gớm ghiếc. 
        Khuôn mặt của Phan Thiện.
        Giám đốc Phản gián Bắc Việt. Một trong
 
 
166
 
những kẻ thù đáng sợ của nhân viên điệp báo Miền Nam. 
        Cũng như đối với Bùi Vinh, Lê Tùng mới gặp Phan Thiện bằng xương bằng thịt lần đầu trong đời. Song chàng đã quen hắn trong ảnh. Giống hệt trong ảnh, hắn có khuôn mặt vương vấn của người giàu nghị lực, cái miệng hay cười, hàm răng đều và trắng, và giống nhất là đôi mắt. 
        Mắt hắn sáng quắc như truyền điện. Khi nhìn ai, mắt Phan Thiện có thể đào sâu vào tâm tư, nếu cần có thể biến thành lưỡi dao sắc bén cắt đứt da thịt người lạ.
        Cặp mắt kinh khủng ấy đang hướng vào Lê Tùng. Thấy chàng tỉnh dậy, Phan Thiện ra lệnh cho thuộc viên đỡ chàng ngồi lên ghế. Toàn thân Lê Tùng đau nhừ, cổ chàng dường như bị trật khớp, khiến chàng không thể quay đi, quay lại như thường lệ.
        Chàng cảm thấy nôn nôn ở cuống họng. Điều này chứng tỏ chàng đã bị đánh mạnh vào gáy. Chàng giương mắt thản nhiên nhìn Phan Thiện.
        Hắn đút điếu xì-gà cháy dở vào miệng, giọng ôn tồn:
        -      Anh khát không?
        Sau khi tỉnh dậy, kẻ bị ngất thường đòi uống. Phan Thiện phải biết rõ nhu cầu đặc biệt ấy. Thế mà hắn vẫn hỏi. Trong một tích tắc đồng hồ ngắn ngủi. Lê Tùng biết Phan Thiện đang lôi chàng vào tấn trò mèo vờn chuột. Đã được huấn luyện chu đáo, chàng hy vọng có đủ nghị lực chống trả lại kỹ thuật thẩm cung điêu luyện của con cáo già Phản gián.
        Chàng bèn gật đầu:
 
167
 
        -      Khát.
        Phan Thiện nhếch mép.
        -      Anh uống gì?
        Lê Tùng nhìn chung quanh, vẻ ngơ ngác:
        -      Nếu có thể, xin anh một ly rom. Rom bacadi pha với côca-côla. 
        -      Tôi đã ra lệnh mang bacadi tới cho anh. Đúng ra, anh không được hưởng sự đối xử tử tế. May mà người anh rắp tâm hãm hại lại là tôi – Phan Thiện. Vô phúc cho anh, nếu nạn nhân không phải là tôi. Anh đã bị băm vằm ra hàng trăm mảnh trước khi ra tòa, ra pháp trường đền tội. 
        -      Tội gì?
        -      Đóng kịch làm gì nữa. Vô ích. Bùi Vinh đã bị bắt rồi.
        -      Anh nói đùa. Hồi nãy, Bùi Vinh vừa gặp tôi. Chúng tôi trò chuyện rất lâu. Vì có chuyện quan trọng nên Bùi Vinh phải lên xe về Hà nội. Lợi dụng lúc hắn vắng mặt, anh sai người bắt tôi và hành hạ tôi. Tôi sẽ khiếu nại với Bùi Vinh. 
        -      Ha, ha... anh nói sai một vài điểm, tôi cần giải thích cho anh hiểu. Thứ nhất, anh không gặp Bùi Vinh hồi nãy mà là đêm qua. Anh ngất đúng 16 giờ đồng hồ. Thứ hai, Bùi Vinh là phụ tá của tôi, anh khiếu nại vô ích. Vả lại, tôi ra lệnh bắt hắn, giờ này hắn đang nằm trong khám. Đây này, anh coi... 
        Phan Thiện ném trước mặt Lê Tùng một tấm hình lớn. Trong hình, Bùi Vinh đứng giữa hai nhân viên an ninh, tay bị còng tréo, vẻ mặt thảm hại.
 
168
 
        Phan Thiện vẫn nói bằng giọng ngọt ngào:
        -      Anh đã tin chưa?
        Lê Tùng làm thinh. Phan Thiện tiếp:
        -      Hắn bị bắt về tội toa rập với mật vụ đế quốc để hãm hại một thủ lãnh Phản gián được tin cậy của nước Việt nam dân chủ cộng hòa. 
        Lê Tùng đáp:
        -      Nói dễ hiểu hơn. Anh bắt Bùi Vinh về tội đồng lõa với tôi.
        -      Đúng. Ông Hoàng, Văn Bình và anh là nòng cốt của một kế hoạch đại quy mô nhằm loại tôi ra khỏi guồng máy phản gián. Tôi bị triệt tiêu, các anh sẽ tha hồ hoạt động, tha hồ tác hại. Các anh lầm rồi. Tôi là một chuyên viên già dặn, có tai mắt khắp nơi. Tôi lại có bạn bè có thế lực trong Trung ương đảng bộ, tôi còn có bằng chứng cụ thể.  Bùi Vinh lợi dụng anh, lợi dụng lời khai hoàn toàn xuyên tạc của anh để tạo một bản cáo trạng láo khoét nộp lên Trung ương Đảng, yêu cầu bắt tôi. 
        -      Hắn không hề bàn bạc với tôi.
        -      Dĩ nhiên, vì anh chỉ là tay sai rẻ tiền không hơn không kém. Giết tôi trước mặt không nổi, hắn bèn bố trí đâm sau lưng. Bằng cách mượn tay ông Hoàng, đổ vấy cho tôi là nhị trùng của miền Nam.
        -      Anh là người giàu óc tưởng tượng. Tôi bị ông Hoàng trù ếm nên tự đặt dưới quyền xử dụng của các anh. Tôi chẳng yêu thương các anh. Chẳng qua tôi cần tiền.
        -      Đóng kịch tài lắm. Tôi còn bận nhiều việc, không có thời giờ ở đây coi anh thủ vở. Vụ này
 
169
 
sẽ được đưa ra tòa án. Tòa án đặc biệt của Trung ương Đảng, anh sẽ ra tòa làm chứng. 
        -      Tôi chẳng biết gì hết.
        -      Không sao. Tòa chỉ hỏi những điều anh biết. Tòa ủy thác cho tôi thẩm cung anh. Anh nên khai thành thật, đừng bắt tôi phải dùng sức mạnh Phản gián trên khắp thế giới đều tàn nhẫn trong khi thẩm cung, chắc anh đã biết. Bây giờ, tôi bắt đầu. Anh nghe cho kỹ. Anh ra Hà nội lần này với sự đồng ý của ông Hoàng phải không?
        -      Đặt ra câu hỏi này, anh đã cố tình xô tôi vào thế kẹt. Hơn ai hết, anh thừa hiểu tôi phải trả lời không. Không, vì lẽ ông Hoàng đã tống khứ tôi ra khỏi Sở, tôi sống lang thang một thời gian dài, đến nỗi phải tống tiền giữa sòng bạc và hành hung nhân viên công lực.
        -      Nghĩa là anh tự ý ra Hà nội, ông Hoàng không hay biết.
        -      Đúng. Trên thực tế, tôi không tự ý đi đâu hết. Ra khỏi khám Chí Hòa, tôi đang thất nghiệp thì nhân viên của anh đến tìm. Tự ý họ đến tìm, không phải tự ý tôi. Nhân viên của anh ngã giá và tôi ưng thuận. Theo sự dàn xếp từ trước, tôi đi Hồng kông, ở đó một thời gian cho các anh khai thác, rồi lên đường qua Âu châu. Tình thế biến chuyển đột ngột ở Sài gòn bắt tôi phải thay đổi chương trình. Vả lại, chính các anh ép buộc tôi đi Hà nội. Nếu vụ này có bàn tay của ông Hoàng, tôi phải năn nỉ xin đi cho bằng được. Đằng này thì không.
        -      Ồ, họa là trẻ con anh mới dại dột lậy ông tôi ở bụi này. Anh không năn nỉ xin đi, song đã

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:43:10 bởi Ct.Ly>

170
 
gián tiếp xin đi. Hơn thế nữa, anh còn có đồng lõa. Đại tá Bùi Vinh là đồng lõa của anh. Từ nhiều năm nay, Bùi Vinh là nhân viên bí mật của ông Hoàng. Anh được phái ra Bắc, giả vờ đầu hàng, để giúp Bùi Vinh cũng cố ngôi vị, loại bỏ tôi ra hàng ngũ lãnh đạo... Anh khôn ngoan lắm, nhưng anh ơi, tôi còn khôn ngoan hơn anh nhiều...
        -      Đó chỉ là giả thuyết. Giả thuyết đó anh tưởng tượng ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao các anh bố trí đưa tôi ra Hà nội. Chẳng qua các anh muốn hạ nhau nên muợn tay tôi. Các anh muốn giết nhau, tuỳ ý, nhưng xin đừng kéo tôi vào.
        Phan Thiện quắc mắt:
        -      Anh là can phạm, không có quyền bướng bỉnh và láo xược.
        Lê Tùng bĩu môi:
        -      Thủ đoạn của anh quá tầm thường... Trước kia, hoạt động tại miền Bắc, tôi đinh ninh anh là tinh hoa Phản gián, giờ đây mới thấy rõ sự thật... Anh còn thua đại tá Bùi Vinh một vực, một trời...
        Vẻ mặt giận dữ, Phan Thiện đứng dậy, tay vói lấy cái roi da để trên bàn.
        Song cửa phòng đã mở toang. 
        Người bước vào đầu tiên là Bùi Vinh. Đại tá Bùi Vinh. Bùi Vinh không hề bị bắt, bị còng. Bùi Vinh với nụ cười đắc thắng trên môi. Cùng đi với Bùi Vinh là một quân nhân đeo lon đại tướng. 
        Lê Tùng quay lại, lẩm bẩm :
        -      Nguyễn chí Thanh.
        Phải, người cùng đi với Bùi Vinh là đại tướng Tổng cục Chính trị Nguyễn chí Thanh.
 
171
 
        Mặt Phan Thiện tái mét như gà cắt tiết. Nguyễn chí Thanh đứng trên ngưỡng cửa, nói giọng khô khan, và hách dịch:
        -      Nhân danh Hội đồng An ninh trong Trung ương Đảng bộ, tôi đến đây báo cho đồng chí một tin quan trọng. Sáng nay, hồi 8 giờ, Trung ương đã họp phiên thu hẹp bất thường, với sự hiện diện của toàn thể uỷ viên trong Hội đồng An ninh.
        Phan Thiện kéo ghế, cử chỉ cung kính :
        -      Xin mời đại tướng ngồi.
        Nguyễn chí Thanh rút trong túi ra một tờ giấy gập tư rồi nói :
        -      Cám ơn, tôi không cần ngồi. Yêu cầu đồng chí nghe quyết nghị của Trung ương Đảng bộ:
        «Trong phiên họp thu hẹp từ 8 giờ đến 12 giờ sáng, Trung ương Đảng đã cứu xét báo cáo của đồng chí Phan Thiện, phó Vụ trưởng Vụ Lễ Tân, và là ủy viên dự khuyết Trung ương, về việc bắt giữ đồng chí đại tá Bùi Vinh về tội tư thông với gián điệp địch.
        « Đồng thời, Trung ương Đảng cũng cứu xét báo cáo của đồng chí Bùi Vinh, được đệ trình 24 giờ trước. 
        «Sau khi thảo luận kỹ càng, và cân nhấc các chứng cớ được nêu ra trong báo cáo của đồng chí Bùi Vinh, Trung ương Đảng quyết định:
        1-    hạ lệnh phóng thích ngay đồng chí Bùi Vinh vì xét ra vô tội.
        2-    hạ lệnh bắt giữ ngay đồng chí Phan Thiện vì xét ra có tội. 
        3-    hạ lệnh thành lập ngay một phiên tòa
 
 
172
 
đặc biệt, với đại tướng Nguyễn chí Thanh, chủ tịch Hội đồng An ninh, làm chánh thẩm, đồng chí Lê Giản và đồng chí Nguyễn hữu Khiếu, uỷ viên Hội đồng An ninh, đồng thời là uỷ viên Trung ương Đảng làm bối thẳm để xét xử đồng chí Phan Thiện, căn cứ vào chứng cớ cụ thể do đồng chí Bùi Vinh đệ nạp. Bản án của tòa sẽ được thi hành ngay.
        Bàn tay Phan Thiện run bần bật. Nguyễn chí Thanh nghiêm giọng gọi:
        -      Cảnh vệ.
        Nhiều tiếng dạ ran. Nguyễn chí Thanh khoát tay. 
        -      Bắt bị can Phan Thiện giải về khám.
        Phan Thiện đứng yên, bồ hôi lấm tấm trên vừng trán rộng. Trong phút sa cơ, hắn vẫn giữ được bình tĩnh.
        Bùi Vinh tiến lại gần Lê Tùng:
        -      Chào anh. Phiên tòa sẽ họp ngay. Theo đề nghị của tôi, anh sẽ được mời làm nhân chứng.
        Lê Tùng nhổ bẹt nước bọt xuống tấm thảm Ba tư đắt tiền: 
        -      Các anh làm tôi ghê tởm.
        Phan Thiện lạnh lùng bước ra cửa, hai tay bị còng. Nguyễn chí Thanh dặn Bùi Vinh:
        -      Giao tên Lê Tùng cho đại tá.
        Bùi Vinh đứng nghiêm chào. Căn phòng rộng mênh mông trở nên vắng tanh và nóng rực như bãi sa mạc Phi châu. Lê Tùng nhìn Bùi Vinh. Bùi Vinh nhìn Lê Tùng. Rồi hắn phá lên cười ha ha, ha ha...
 
***
ĐOẠN KẾT
Bản án Tử hình
        Đường Tuyên Quang là một trong những con đường êm ả nhất của thành phố Hà nội. Trước hiệp định Giơ-neo, người ta chỉ thấy một dãy nhà nhỏ, buồn bã, cũ kỹ, châu đầu vào nhau, như sợ tiếng ồn chói tai của đường xe lửa Hải Phòng làm sụp đổ. Sau hiệp định Giơ-neo, đường Tuyên Quang càng nhỏ hơn, buồn bã hơn, cũ kỹ hơn, với những cánh cửa đóng kín ngày đêm, những bức tường loang lổ dán bích chương trắng chữ đen, những vỉa hè đầy ổ gà, vô ý có thể bị gẫy mắt cá chân.       
        Con đường cô đơn và ủ dột này đột nhiên mang một bộ mặt quan trọng.
        Màn tối vừa buông xuống, nhiều toán cảnh sát mặc sắc phục đã đậu xe chặn hai đầu đường, cấm dân chúng ra vào. Toàn khu bị cô lập trong chớp mắt, nhân viên an ninh xét giấy tờ ráo riết trên đường Hàng Bông, cửa Nam, cửa Đông kề cận đường Tuyên Quang.
        Những biện pháp phòng vệ đặc biệt cũng được áp dụng tại các yếu điểm trong thành phố. Hai xe bọc sắc án ngữ trước sân sở Công an Hàng Cỏ. Một trung đội võ trang súng nặng được chở tới canh gác văn phòng vụ Lễ Tân trong Thủ tướng phủ.
 
174
 
        Giữa đường Tuyên Quang, một tòa biệt thự lớn đứng sừng sững, đèn sáng như sao sa. Nhân viên an ninh gác vòng trong, vòng ngoài, trùng trùng, điệp điệp.
        Vì đây là trụ sở của Hội đồng An ninh, thuộc Trung ương đảng Lao động.
        Vì đêm nay, phiên tòa đặc biệt được nhóm tại trụ sở của Hội đồng An ninh.
        Phòng xử ở trên lầu nhất. Một căn phòng lớn, bề thế, bề dài cũng như bề ngang còn lớn hơn rạp chiếu bóng Đại Nam ở Chợ Hôm. Trên trần, treo lủng lẳng 3 bộ đèn pha lê, tổng cộng 90 ngọn, mỗi ngọn 100 vát, ban phát ánh sáng rực rỡ xuống những hàng ghế gỗ bọc da đỏ, những bức tường sơn màu vàng rơm, và tấm thảm cốt ngăn tiếng động đỏ chói.
        Phiên xử bắt đầu.
         Sau hồi chuông reng reng, mọi cánh cửa được đóng chặt. Lính gác ngoài hành lang dùng giầy đế cao su bước nhè nhẹ trên nền gạch hoa đánh xi bóng loáng có thể soi gương được. 
        Thẩm phán ngồi sau cái bàn dài, kê cao, gần sát tường. Ngồi giữa là đại tướng Nguyễn chí Thanh. Lê Giản và Nguyễn Hữu Khiếu, thủ lãnh tình báo cao cấp, kiêm uỷ viên Trung ương Đảng, ngồi hai bên. Bộ ba đều mặc áo 4 túi, kín cổ, bằng vải kaki vàng, giống nhau như giọt nước.
        Bên dưới, đại tá Bùi Vinh và Phan Thiện ngồi ngang nhau, vẻ mặt đăm chiêu. Riêng Phan Thiện bị kẹp giữa hai người gác đeo súng lục. 
        Reng, reng, reng, reng...
        Hồi chuông vừa dứt.
 
175
 
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh đeo kính trắng vào mắt, trịnh trọng lên tiếng:
        -      Phiên tòa được họp đêm nay tại đây, theo lệnh của Trung ương Đảng và Hội đồng An ninh. Phan Thiện, phó Vụ trưởng Lễ Tân tại Thủ tướng phủ, phụ trách Phản gián điệp trên toàn quốc là bị can.
        Nguyên nhân nội vụ như sau : Trung ương Đảng nhận được một bản báo cáo mật của đại tá Bùi Vinh, đưa ra bằng chứng cụ thể về việc Phan Thiện tư thông với gián điệp địch. Trung ương Đảng đang cứu xét bản báo cáo thì Phan Thiện bắt giam đại tá Bùi Vinh, cũng về tội tư thông với gián điệp địch.
        Vì chứng cớ quá rõ rệt nên Trung ương đã hạ lệnh trả tự do cho Bùi Vinh và tống giam Phan Thiện. Phiên tòa này sẽ quyết định Phan Thiện thật sự phạm tội hay không. Bị can Phan Thiện được quyền bào chữa. Một số người sẽ được mời tới làm nhân chứng.
        Bản án sẽ có tánh cách chung thẩm và được thi hành ngay. Vì tính cách quốc phòng nên phiên xử được cử hành bí mật. Do đó bản án sẽ không được công bố.
        Mở đầu, tòa trao lời cho đại tá Bùi Vinh.
        Bùi Vinh nghiêm trang đứng dậy, nhìn đảo một vòng, rồi nói bằng giọng dõng dạc:
        -      Trước hết, tôi xin thành kính tri ân Trung ương Đảng và Hội đồng An Ninh đã triệu tập phiên tòa nội bộ này. Nó chứng tỏ tinh thần dân chủ và công minh của chế độ ta. Nó còn là trận đòn chí tử giáng vào âm mưu ly gian hàng ngũ của địch.
 
176
 
        -      Vâng, thưa quý Tòa, việc Phan Thiện phải ra trước vành móng ngựa hôm nay là một thất bại nặng nề cho gián điệp địch. Vì Phan Thiện chính là nhân viên bí mật của địch, gài trong hàng ngũ ta từ nhiều năm nay.
        Bồi thẩm Lê Giản xua tay :
        -      Yêu cầu nhân chứng giữ thái độ vô tư. Căn cứ vào đâu, nhân chứng kết luận Phan Thiện là nhân viên bí mật của địch?
        -      Thưa, nếu Tòa cho phép, tôi xin trình bày ngọn ngành. Tôi xin đưa ra bằng cớ cụ thể về sự toa rập của Phan Thiện với địch. Bắt đầu từ ngày toàn quốc Kháng chiến 1946.
        Giở lại chồng hồ sơ cũ, người ta thấy Phan Thiện là nhân viên nhị trùng trung thành với kháng chiến mặc dầu được Phản gián Pháp tin cậy. Tuy nhiên, sự trung thành này chỉ là tấm bình phong che đậy âm mưu phản bội tinh vi và ghê gớm của con chó ghẻ Phan Thiện.
        -      Yêu cầu nhân chứng không được dùng những danh từ nhục mạ.
        Thành thật xin lỗi quý Tòa. Trong lúc hăng say phục vụ cho Đảng, và cho tinh thần đấu tranh giai cấp, tôi đã quên giữ gìn lời nói. Tháng 8-1944, vâng lệnh Hồ chủ tịch, đồng chí Văn (1) biệt phái đồng chí Phan Trọng Tuệ về nội thành Hà nội, móc nối với nhân viên tình báo đế quốc, đặc biệt là nhân viên người Việt, để đặt cơ sở tin tức. 
        Phan Trọng Tuệ lập tổng hành doanh trong
 
(1) đồng chí Văn là bí danh của Võ-nguyên-Giáp
 
177
 
tiệm kim hoàn Đức Thắng ở Giốc Hàng Kèn. Hoạt động đến cuối năm 1944, thì một bộ phận của cơ sở bị đổ bể vì nội tuyến, Kiều Liên, một nhân viên giao liên nồng cốt bị sa lưới Phòng Nhì Pháp. Hồi ấy, Phan Thiện làm việc trong phòng thẩm cung chính trị của Phòng Nhì, dưới quyền thiếu tá Paul, và được Paul tín nhiệm triệt để.
        Kiều Liên được giao cho Phan Thiện khai thác. Vì xuất thân từ thành phần tiểu tư sản trí thức, người nữ nhân viên giao liên này đã đầu hàng dễ dàng sau khi bị nhận nước và hiếp dâm. Kết quả là Kiểu Liên cung khai hết cho địch.
        Nếu đem nộp hồ sơ cho thiếu tá Paul, Phan Thiện sẽ giúp Pháp triệt hạ được toàn bộ cơ sở của ta ở nội thành. Song hắn đã im đi. Hắn im đi, không phải vì yêu nước. Là con cáo già trong nghề, hắn đánh hơi từ lâu thấy sự sụp đổ tất nhiên của chính quyền thuộc địa, cho nên hắn dùng lời khai phản bội của Kiều Liên làm món quà sơ kiến với Phan Trọng Tuệ.
        Nửa đêm, hắn ập vào căn nhà 18 Hàng Bún, nơi Phan Trọng Tuệ ẩn náu. Đồng chí Tuệ trở tay không kịp nên bị bắt. Như quý Tòa đã biết, Phan Thiện không bắt, Phan Thiện chỉ quăng lên bàn tập hồ sợ mật, và để lại một địa chỉ ở phố Cầu Gỗ.
        Trưa hôm sau, đồng chí Tuệ tới Cầu Gỗ gặp Phan Thiện, và từ đó Phan Thiện hoạt động cho chúng ta. 
        Tôi công nhân là Phan Thiện đã giúp chúng ta rất nhiều, nhưng đó chẳng qua là thủ đoạn để chiếm đoạt lòng tin mà thôi. Năm 1947, đại tá Dupré điều khiển các cơ quan Phản gián của Pháp, và dùng
 
 
178
 
Phan Thiện để thâm nhập ngược lại kháng chiến. Phan Thiện bị lộ vì một người đàn bà, tình nhân cũ của hắn, sau làm vợ lẽ cho Dupré. Tôi chưa tìm ra nguyên nhân Phan Thiện bị lộ, song điều tôi biết chắc chắn là Dupré yêu cô vợ bản xứ si mê, phần khác vì kỹ thuật nghề nghiệp cần thiết, nên làm ngơ cho Phan Thiện tiếp tục liên lạc với kháng chiến. 
        -      Nhân chứng lấy tin này ở đâu?
        -      Thưa, ở trong thư khố Trung ương. Mãi đến năm 1959, nhân vụ một cựu nhân viên Phòng nhì hoạt động lén lút ở Miền Bắc bị bắt, và cung khai, vài trò hăng hái của Phan Thiện mới bị chọc thủng. 
        -      Yêu cầu nhân chứng đưa thêm chị tiết cụ thể. 
        -      Thưa, ngày 7-6-1959, Thái Hiền bị Công an tóm cổ tại Gia lâm về tội hoạt động cho gián điệp miền Nam. Trước đây, hắn là mật báo viên kiêm tay sai đưa gái cho Dupré. Hắn đã nghe lỏm câu chuyện dàn xếp giữa Phan Thiện và đại tá Dupré.
        -      Thái Hiền quen Phan Thiện không?
        -      Thưa không.
        -      Thái Hiền có thù hằn Phan Thiện không?
        -      Thưa không.
        -      Ai thẩm cung hắn?
        -      Thưa, Công an Hàng Cỏ. Xin nói rõ là không phải tôi. Hồi ấy, tôi còn là trung tá quân đội, tòng sự tại bộ Tổng tư lệnh, chưa được biệt phái qua vụ Lễ Tân. Điều này chứng tỏ rằng tôi không dính dấp đến nội vụ, khiến Phan Thiện có thể bào chữa rằng tôi ghét hắn nên bịa đặt.
 
 
179
 
        -      Hồ sơ vụ Thái Hiền được trình lên ai?
        -      Thưa, một bản được gửi qua Tổng cục Chính trị. Song, theo chỗ tôi biết thì Trung ương Đảng không tin vào lời khai của Thái Hiền. 
        -      Hắn khai ra sao?
        -      Thua, hắn khai rằng trong cuộc nói chuyện giữa hai người tại nhà riêng của Dupré, Phan Thiện thú nhận vì bị mỹ nhân kế nên buộc lòng phải theo phe kháng chiến, vì hắn xin lập công chuộc tội. Thoạt tiên, Dupré không bằng lòng.
        -      Không bằng lòng?
        -      Vâng. Dupré bấm chuông gọi vệ sĩ vào, định tống giảm Phan Thiện, song cô vợ bản xứ quỳ gối, khóc lóc xin tha. Dupré ngồi yên suy nghĩ đến gần 15 phút. Rồi y bắt Phan Thiện viết tờ cam kết. 
        -      Nhân chứng có tờ cam kết trong tay không?
        -      Thưa không. Vì hồ sơ của Dupré đã được chở về Ba lê ngay sau ngày y hồi hương.
        -      Tại sao Trung ương không chấp lời khai của Thái Hiền?
        -      Thưa, vì Trung ương cho rằng đó có thể là thủ đoạn ly gián của mật thám đế quốc. 
        -      Nghĩa là Trung ương đã phán đoán sai lầm?
        -      Thưa, tôi không dám hoài nghi sự sáng suốt của Trung ương. Đứng trên cao, Trung ương bao trùm mọi người, mọi việc, nghe hết, biết hết, suy xét và quyết định không bao giờ lệch lạc. 
        -      Vậy thì nhân chứng đã sai lầm?
        -      Thưa quý Tòa, tôi xin nhận lỗi nếu không xảy ra vụ ám sát lạ lùng ngày 9-5-1961.
        -      Ai bị ám sát?
        -      Thưa, đêm ấy, Thái Hiền bị giết trong nhà pha Hoả Lò, trong khi chờ ngày ra tòa. Y bị một

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2014 15:49:04 bởi Ct.Ly>

180
 
phạm nhân tử hình dùng đũa sắt vót nhọn đâm vào yết hầu, chết không kịp trối.
        -      Lý do?
        -      Thưa, không có lý do nào cả. Hung thủ khai là không thích thái độ kênh kiệu của Thái Hiền. 
        -      Công an tìm ra nguyên nhân thầm kín của vụ án mạng kia không?
        -      Thưa, hôm sau hung thủ được chở bằng xe bít bùng từ khám đường trung ương ra Công an Hàng Cỏ để thẩm vấn thì dọc đường xe bị chết máy, hung thủ dùng súng hăm dọa nhân viên an ninh và tẩu thoát.
        -      Hừ, dùng súng! Hung thủ có súng! Hung thủ lấy súng ở đâu?
        -      Thưa, lẽ thường phạm nhân bị khám xét cẩn mật. Trước khi lên xe, hung thủ đã qua phòng lục soát 15 phút đồng hồ, thế mà y vẫn giấu được khẩu côn 9.
        -      Thưa, côn 9 là loại súng trần cồng kềnh, điều này chứng tỏ là y được đồng lõa hỗ trợ.
        -      Công an khám phá ra bọn đồng lõa không?
        -      Thưa không. Vì lẽ dễ hiểu, Công an phải nghe lệnh Phan Thiện. Quản đốc khám đường là đàn em của Phan Thiện. Tên tài xế lái xe đưa hung thủ ra công an cũng là đàn em của Phan Thiện. Kết quả là hai nhân viên bị đưa ra tòa lãnh án 5 năm khổ sai, thế thôi. Rồi nội vụ được dập tắt.
        -      Theo nhân chứng, kẻ chủ mưu là ai?
        -      Phan Thiện. Thưa, chỉ có thể là Phan Thiện. Hung thủ là cán bộ biệt kích của ông Hoàng ở Sài gòn. Theo tin mật, hung thủ đang ung dung sống ở Sài gòn, tòng sự trong nha Chuyên môn của sở Mật
 
 
181
 
vụ. Phi Phan Thiện, không ai có thể bố trí cho hung thủ trốn vào Nam. Tẩu thoát đã khó, ẩn náu ở Hà nội càng khó hơn vì chính sách hộ khẩu của ta rất chặt chẽ. Trốn qua vĩ tuyến 17, lại khó hơn trăm lần. Phan Thiện đã toa rập với gián điệp miền Nam cứu hung thủ và thủ tiêu tang chứng quan trọng của sự phản phé.
        -      Trong báo cáo gửi lên Trung ương Đảng, nhân chứng nói rằng tháng 1-1954, hội nghị tình báo Tây phương được triệu tập tại Ba lê, quyết định đưa nhân viên nhị trùng vào khu kháng chiến và Phan Thiện là một trong những nhân viên này, vậy nhân chứng đưa thêm chi tiết.
        -      Thưa, theo hồ sơ, Phan Thiện lên tới tiền đồn công an của ta ở Thái Nguyên, đúng 9 giờ sáng 15-2-1954 và hắn rời Hà nội hồi 10 giờ đêm 14-2. Theo hồ sơ do KGB lấy được trong thư khố Phản gián Ba lê thì nội trong năm 1954, Tây phương đã gửi ra khu 5 cán bộ nhị trùng, trong đó có 2 nhân viên cao cấp. Trong 2 nhân viên cao cấp này, người thứ nhất mang bí hiệu G-6 từ Huế lẻn ra chiến khu Dương hòa, với nhiệm vụ hoạt động trong liên khu IV, còn người thứ nhì từ Hà nội lên Thái nguyên.
        -      Nhân chứng còn thêm chi tiết quan trọng nào nữa không?
        -      Thưa, hắn đổi tên G-7. Tôi không biết tên thật của hắn là gì, chỉ biết rõ ràng là hắn được lệnh rời Hà nội hồi 10 giờ đêm 14-2-1954. Nghĩa là cùng ngày, cùng giờ với Phan Thiện, và hắn cũng lên Thái nguyên như Phan Thiện. Trong ngày 15-2-1954 tiền đồn công an Thái nguyên chỉ tiếp
 
 
182
 
nhận một nhân viên từ nội thành ra. Xin thưa, chỉ tiếp một nhân viên duy nhất. Phan Thiện. Ngoài ra, không còn ai nữa. Ai muốn vào khu phải qua trạm công an. Nhân viên nhị trùng G-7 của địch chỉ có thể là Phan Thiện. Nhờ miệng lưỡi xảo quyệt, hắn đã phỉnh gạt được đồng chí Trần quốc Hoàn và được giữ chức cố vấn điệp báo, đặc khu Nội thành, trước khi xuất ngoại sang Liên sô và Trung quốc để tu nghiệp cao cấp. Dĩ nhiên là trong thời gian ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Phan Thiện đã cung cấp tin tức cho gián điệp địch.
        Đại tá Bùi Vinh nín lặng, nhìn sang bên một cách kiêu hãnh. Mặt hơi tái, Phan Thiện ngước mặt lên bàn chánh thẩm.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh dõng dạc :
        -      Bị can Phan Thiện. Nhân chứng Bùi Vinh vừa đưa ra hai bằng chứng quan trọng, tạm đủ để đưa bị can lên đoạn đầu đài. Vụ Thái Hiền và vụ G-7. Nếu là tòa án nhân dân, hoặc tòa án quân sự thi sau khi nghe nhân chứng tố cáo cụ thể, Tòa chỉ hỏi bị can qua loa rồi tuyên án, và tuyên án tối đa. Vì đó là những chứng cớ quá rõ ràng. Song, đây là tòa án của Đảng, bị can là uỷ viên dự khuyết Trung ương lại là phó Vụ trưởng Lễ Tân chỉ huy ngành Phản gián nên Tòa cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Tòa cần nghe nhiều tiếng chuông cùng một lúc. Tòa cho phép bị can bào chữa. Bị can nghĩ ra sao về hai vụ Thái Hiền và G-7?
        Phan Thiện đứng dậy, giọng đều đều như học trò trả bài:
        -      Thưa quý Tòa, trước khi ra trước vành
 
183
 
móng ngựa này, tôi đã quyết định sẽ nói rất ít, để dành cho đại tá Bùi Vinh nói thật nhiều. Tôi chỉ trả lời ngắn ngủi. Lấy cớ quản đốc khám đường và tài xế xe chở phạm nhân là nhân viên của tôi mà kết tội tôi toa rập với hung thủ, cũng như với gián điệp địch là hoàn toàn phi lý. Sau nội chiến Tây ban Nha, Orlov nhân viên điều khiển công an Liên sô, bạn thân của thống chế Sit ta lin, tư lệnh lữ đoàn giải phóng quân Tây ban Nha, nghĩa là nhân vật hàng đầu của điện Cẩm linh, đã phản bội chế độ xã hội chủ nghĩa, trốn sang Hoa kỳ, đầu hàng kẻ thù. Nhưng sau đó bằng hữu của Orlov còn ở lại Liên sô, có ai bị buộc tội toa rập không? Xin thưa là không, trăm lần không. Tội ai làm, người nấy chịu. Tôi điều khiển cả trăm cả ngàn nhân viên, không thể chịu trách nhiệm về lỗi cá nhân.
        Bùi Vinh nói rằng kẻ giết Thái Hiền đang ở Sài gòn. Vậy xin hỏi tại sao Bùi Vinh không bố trí đưa hắn ra đây để đối chất? Chẳng qua Bùi Vinh mới là tay sai chính cống của gián điệp miền Nam.
        Vụ G-7 không khác vụ Thái Hiền là bao. Tôi là còng bộc trung thành và đắc lực của chế độ xã hội chủ nghĩa, địch không thể tha tôi sống. Tôi lại phá hỏng bộ máy tình báo của địch. Thế tất địch dùng phương pháp «cách sơn đả ngưu» gài tin tức sai lầm vào thư khố Ba lê, cho nhân viên nhị trùng lấy, để rồi từ KGB tới Hà nội.
        -      Bị can muốn kết luận rằng KGB còn ấu trĩ ư?
        -      Thưa, trong nghề điệp báo, không ai được nhận là già dặn cả. Hoạt động đã mấy chục năm
 
 
184
 
nay, tôi vẫn tự thấy còn ấu trĩ. Vả lại, dùng tin tức giả, tài liệu giả, hình ảnh giả, nhân viên giả để đánh lừa, hoặc để chia rẽ hàng ngũ đối phương là kỹ thuật thông thường, cơ quan điệp báo nào trên thế giới cũng có. Riêng vụ Lễ Tân do tôi điều khiển cũng có một ban riêng, được mệnh danh là ban 2Đ, nghĩa là đầu độc bằng tin tức. Trong quá khứ, tôi đã bố trí cho tài liệu giả lọt vào tay nhân viên miền Nam hoạt động tại Hà nội. Trong quá khứ, tôi đã cho nhân viên của tôi trá hàng, vào Nam, tiết lộ một số bí mật của tôi. Mục đích là hy sinh còn săn sắt để bắt con cá rô. Và trong quá khứ, tôi đã thành công. Những sự thành công của tôi đã được tường trình đầy đủ lên Hội đồng An ninh và Ủy ban Trung ương, sợ quý Tòa nhàm tai, tôi không dám nhắc lại nữa. Và chính vì những sự thành công này mà tôi được Ủy ban Trung ương đồng thanh cử làm ủy viên dự khuyết, để rồi trong tháng tới, tôi sẽ thành ủy viên thật thụ.
        Tôi không dám lạm bàn vì biết quý Tòa hoàn toàn vô tư, hoàn toàn sáng suốt. Nếu quý Tòa cho phép, tôi xin nói rõ rằng chúng ta đã mất bao tâm huyết và xương máu để ngăn chặn khuynh hướng Sit ta lin trong hàng ngũ chúng ta, vậy chúng ta không thể dung tha cho kẻ học đòi Sit ta lin là Bùi Vinh dùng chứng cớ giả tạo để triệt hạ những đứa con trung thành của Đảng.
        Thưa quý Tòa, muốn giết đồng chí, Sit ta lin sai một nhân viên khai láo là y đã gặp con trai của Tờrốtky tại khách sạn Bristol, bàn mưu hạ sát các yếu nhân Sô viết. Kết quả là nhiều đồng chí bị hành hình oan uổng. Trên thực tế, khách sạn Bris-
 
185
 
tol đã thành đống gạch vụn khi nhân viên của Sit ta lin nói láo là gặp con trai của Tờrốtky tại đó (1). Thống chế Toukhachevsky và 7 tổng tư lệnh Hồng quân bị hành quyết năm 1937 và bị kết tội là tư thông với Hit le. Sau này, người ta mới khám phá ra là Hit le đầu độc Phản gián Sô Viết bằng tài liệu giả, để mượn tay Sit ta lin hạ sát những người hữu công. Thưa quý Tòa, tôi không dám tự so sánh với thống chế Toukhachevsky, mà chỉ xin quý tòa xét lại. Xét lại để lột mặt nạ Bùi Vinh, nhân viên nhị trùng của địch, bịa đặt chứng cớ để thủ tiêu một nhân viên hữu công.
        Bùi Vinh chồm trên ghế, mặt đỏ vì giận dữ :
        -      Đồ ngụy biện.
        Chánh thẩm xua tay:
        -      Thong thả. Thôi, cho bị can ngồi xuống, Đại tá Bùi Vinh còn bằng chừng nào nữa?
        Bùi Vinh đứng nghiêm, giọng trịnh trọng:
        -      Thưa, bị can đã chối tội một cách khôn ngoan, nhưng đó là sự khôn ngoan dại dột. Vì thưa quý Tòa, đó mới là những bằng chứng sơ khởi. Tôi xin trình thêm bằng chứng rõ rệt hơn nữa. Những bằng chứng rõ rệt này được ghi trong bản báo cáo tôi vừa nộp lên quý Tòa xong. Trân trọng xin quý Tòa gọi nhân chứng Lê Tùng để đối chất. 
        Chánh thẩm nhìn xuống :
        -      Lê Tùng.
 

(1) Nhân viên NKVD Sô viết này là Goltsman. Vâng lệnh Sit ta lin, y khai là gặp Sedov, con trai của Trotsky năm 1922 tại khách sạn Bristol, Copenhague, Đan Mạch. Sự thật là năm 1917, khách sạn này đã bị phá hủy.
 
186
 
        Lê Tùng dạ một tiếng khô khan, mặt xanh như tàu lá. Chánh thẩm đặt mục kính xuống bàn :
        -      Anh là Lê Tùng.
        -      Dạ.
        -      Anh biết tới đây làm gì chưa?
        -      Thưa chưa.
        -      Lẽ ra, đại tá Bùi Vinh phải nói anh biết. Anh là nhân viên điệp báo Miền Nam tình nguyện ra đây phục vụ. Nếu quả thật anh tình nguyện, anh sẽ được trọng đại. Nhưng nếu anh giả vờ tình nguyện, chúng tôi sẽ không tha thứ. Tuy nhiên, phiên tòa nội bộ này là cơ hội duy nhất, cũng là cơ hội cuối cùng cho anh trở về con đường chính. Anh nên khai thật, chỉ khai sự thật. Nhân danh Ủy ban Trung ương và Hội đồng An ninh, tôi hứa châm chước nếu quả thật anh là nhị trùng có nhiệm vụ ly gián.
        -      Thưa quý Tòa, tôi hoàn toàn thành thật từ trước đến nay.
        -      Nói tóm lại, anh không phải là nhị trùng.
        -      Không. Ngàn lần không.
        -      Anh coi chừng. Chúng tôi còn một số nhân chứng khác nữa, có thể phối kiểm lời khai của anh. Một lần nữa, Tòa hỏi anh: anh đã khai đúng hay sai?
        -      Khai hoàn toàn đúng.
        -      Được, thế là xong thủ tục đầu tiên. Tòa trao lời cho đại tá Bùi Vinh.
        Bùi Vinh nhìn giữa mặt Lê Tùng:
        -      Hầu hết nhân viên của anh tại Bắc Việt, đều bị thiệt mạng trong khi tìm cách xuất nhập. Tại sao?
 
187
 
        Lê Tùng nhún vai :
        -      Tôi đã giải thích đến lần thứ mấy rồi?
        -      Giờ đây, anh phải giải thích trước Tòa. Nguyên nhân có phải là bất cẩn không?
        -      Nói chung, nguyên nhân quan trọng nhất là bất cẩn. Bất cẩn trong việc sửa soạn kế hoạch. Bất cẩn trong việc thực hiện kế hoạch.
        -      Yêu cầu anh nói rõ hơn. Họ chết vì bất cẩn phải không?
        -      Không. Họ chết, có lẽ vì do người khác bất cẩn. 
        -      Người khác là ai?
        -      Điều này tôi không biết. Họ thường vâng theo lệnh trên, hoặc là lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp ở Bắc Việt, hoặc là lệnh của ông Hoàng. Họ chỉ được biết giờ nào tới địa điểm để đáp tàu, đáp bằng cách nào, trong những điều kiện nào. Nghĩa là họ như cái máy. Sau khi họ thiệt mạng, tôi mở cuộc điều tra thì thấy họ đều răng rắc tuân theo chỉ thị. 
        -      Của ai?
        -      Của ông Hoàng.
        -      Vậy tại sao họ thiệt mạng?
        -      Vì nội tuyến.
        -      Theo anh, nội tuyến là ai?
        -      Riêng ông Hoàng được biết rõ tên các nội tuyến ở phía Bắc. Tôi chỉ là nhân viên thừa hành.
        -      Cả thấy có bao nhiêu nội tuyến?
        -      Con số này được giữ hoàn toàn bí mật.
        -      Anh nghi ngờ ai không?
        -      Nghi ngờ là truyền thống của ngành điệp báo. Tuy nhiên, trong trường hợp 3 nhân viên của
 
 
188
 
tôi là 307, 308, 309 bị giết, tôi khó thể có thái độ rõ rệt vì ông Hoàng không cho tôi biết họ liên lạc với Sài gòn theo thể thức QSZ hay QFR. 
        -      QSZ và QFR?
        -      QSZ là liên lạc trực tiếp với văn phòng vô tuyến của ông Hoàng bằng điện đài cá nhân. Mỗi tổ tình báo ở phía bắc giới tuyến được trang bị một điện đài cá nhân. 307, 308 và 309 hoạt động lẻ loi nên tôi không rõ họ có điện đài cá nhân hay không. Còn QFR là liên lạc qua trung gian. Nếu là liên lạc QFR thì nội tuyến phải ở trong hệ thống giao liên. 
        -      Trong hành trang của 3 nhân viên bị giết, công an đã tìm thấy điện đài.
        -      Như vậy, nghĩa là họ liên lạc theo thể thức QSZ. 
        -      Nghĩa là không thể có nội tuyến?
        -      Có chứ. Trong trường hợp này, có hai hình thức nội tuyến: nội tuyến ở tổng hành doanh Sài gòn, và nội tuyến ở Hà nội. Theo tôi, nội tuyển khó thể hoạt động tại Sài gòn, vì ban nhận điện khác với ban mật điện. Ban nhận điện tọa lạc trong trung tâm tầm đài D-Fing (1) ở Phú Lâm. Những bức điện nhận được đều được chuyển trong va li khóa 3 nấc tới ban mật điện. Tại đó, điện được trao tận tay cho phòng dịch điện. Mật điện của điệp viên ở Miền Bắc đều được đưa cho phòng dịch điện bằng máy điện tử của ông Hoàng do nữ bí thư Nguyên Hương đích thân phụ trách. Theo chỗ tôi biết, ngoài Nguyên Hương, Văn Bình
 

(1) vấn để D-Fing đã được giải thích cặn kẽ trong bộ tiểu thuyết Gián điệp Siêu hình, đã xuất bản.
 
189
 
và ông Hoàng ra, không ai được bén mảng tới phòng dịch điện đặc biệt. Cho nên, tôi có đủ lý do tin tưởng là sự tiết lậu không phải ở Sài gòn. 
        -      Tất sự tiết lậu phải ở Hà nội.
        -      Tôi cũng suy diễn như vậy song không có đủ điều kiện khám phá.
        -      Theo anh, nội tuyến này phải ở cấp nào?
        -      Phải ở cấp điều khiển trong guồng máy chính quyền. Có thể ông Hoàng hy sinh 3 nhân viên để bảo về nội tuyến. 3 nhân viên Z là vật báu của Sở. Ông Hoàng không thể hy sinh 3 nhân viên Z để bảo vệ một nội tuyến trung cấp. Tôi có cảm tưởng rằng người nào thường có liên lạc mật thiết với 307, 308 và 309 chính là nội tuyến.
        -      Hoàn toàn đồng ý với kết luận của anh. 307, 308 và 309 đều ăn lương của Phản gián. Mà người chỉ huy Phản gián thường gặp họ là bị can Phan Thiện hiện có mặt trong phòng này. Anh có đồng ý với tôi rằng Phan Thiện là người ấy không?
        -      Tôi không thể xía vào nội bộ của các anh.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh ngắt lời :
        -      Lê Tùng, anh cần suy nghĩ chín chắn trước khi trả lời. Anh có đồng ý rằng nội tuyển trong vụ này là bị can Phan Thiện không?
        Lê Tùng lắc đầu:
        -      Tôi không thể nói không hoặc nói có. Tôi bán tin cho các ông, thế thôi, ngoài ra, tôi không có quyền, và không thích kết luận.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh nói:
        -      Anh không kết luận là phải. Thôi được, đại tá Bùi Vinh tiếp tục. 
        Bùi Vinh lại quay về phía Lê Tùng:
 
 
Thiếu 210 - 234
Đăng nhập để trả lời
0

190
 
        -      Tôi muốn anh trình với Tòa về mối tình giữa anh và nữ nhân viên giao liên Y.43.
        Lê Tùng thở dài, giọng buồn xa xăm :
        -      Hơn một lần, tôi đã xin anh để cho nàng yên. Dầu sao, nàng đã thành người thiên cổ. Tôi không được phép quật mồ xác chết. Tôi van anh lần nữa...
        -      Anh quen nàng trong trường hợp nào?
        -      Ra Bắc, tôi được lệnh tiếp xúc với nhân viên giao liên Y.43. Đến khi gặp gỡ, tôi mới biết Y.43 là phụ nữ.
        -      Khá đẹp.
        -      Vâng.
        -      Bao nhiêu tuổi?
        -      22.
        -      Nàng yêu anh, hay anh yêu nàng trước?
        -      Tôi không nhớ rõ. Theo nội quy, tôi không được thân mật với nhân viên phụ nữ. Nàng cũng vậy. Song không hiểu sao chúng tôi lại thân mật với nhau. Tôi không hề tỏ tình với nàng, nàng cũng không hề nói với tôi là nàng yêu tôi. Nhưng trên thực tế, chúng tôi yêu nhau đắm đuối. Thoạt đầu, chỉ là những cuộc hẹn hò tầm thường... song, anh còn lạ gì, nghề tình báo là nghề ban đêm, chúng tôi lại phải gặp nhau trong phòng vắng, tại nơi kín đáo.
        -      Ở đâu?
        -      Đau lòng tôi lắm, anh ơi!
        -      Anh phải nói. Nói hết. Vì cuộc tình duyên giữa anh và Y.43 là bố đuốc soi sáng sự thật. 
        -      Ở Hàng Buồm. Tôi có một căn phòng bí mật ở lầu ba cuối phố Hàng Buồm. Tôi thuê của một
 
 
191
 
cặp vợ chồng Minh hương. Mỗi khi rỗi rãi, tôi thường hẹn nàng tới đấy.
        -      Còn tới đâu nữa?
        -      Một căn phòng khác ở gần trạm xe điện Kim liên.
        -      Anh biết đời tư của nàng không?
        -      Không.
        -      Anh nói dối.
        -      Dĩ nhiên, trong những phút đầu gối, tay ấp, nàng đã tâm sự với tôi, song chưa bao giờ nàng nói rõ gia cảnh.
        -      Hừ, để tôi nói anh nghe cho đỡ ấm ức. Nàng cao 1th55, nặng 41 kí lô, mắt to và đen, mũi dọc dừa, da trắng như trứng gà bóc, môi trái tim, hai răng chó xinh xắn, một nút ruồi thiên nhiên ở má trái, hai nút ruồi đỏ ở... vú.
        -      Té ra anh là...
        -      Đừng hỗn xược. Con người vô sản thuần túy như tôi không sống mèo mả gà đồng như giai cấp tiểu tư sản các anh. Không, nàng không phải là người yêu của tôi. Mà là nhân viên. Phải, nhân viên nhị trùng. Nàng yêu anh thật đấy, song nàng vẫn phải làm tròn bổn phận do tôi giao phó. Đêm ấy, tôi dự định bắt anh thì Phan Thiện đã ra tay trước. Hắn bắt nàng trước khi nàng dẫn tôi đến chỗ hẹn. Phan Thiện bắt Y.43 là để cứu anh. Phan Thiện cứu anh vì hắn cũng là nhân viên của ông Hoàng. 
        Lê Tùng bàng hoàng, bồ hôi lấm tấm trên trán. Không thèm để ý tới chàng, Bùi Vinh hướng lên bàn chánh thẩm, giọng sang sảng :
        -      Thưa, xuyên qua những bằng chứng vừa
 
 
192
 
được trình bày, quý Tòa đã thấy rõ vai trò của Phan Thiện. Tôi còn thêm nhiều bằng chứng khác nữa. Bộ Tổng tư Lệnh biệt phái tôi sang vụ Lễ Tân sau khi phủ Chủ tịch nhận được một số tin tức cho biết Phan Thiện là tai sai nằm lì của địch. Âm thầm nhưng kiên nhẫn, tôi gài người tôi một vài nơi quan trọng, với ý định bắt Phan Thiện quả tang. 
        Nhưng hắn là con cáo thành tinh. Thiếu tá Phan Lộ, cộng sự viên của tôi, bắt được 307 tại Bến Hải, và nắm được một số bí mật thì bị đầu độc chết trên đường về Hà nội. Hắn sai giết Phan Lộ vì sợ tôi khám phá ra sự thật.
        Hắn lại sai giết viên đội trưởng duyên hải ở Cửa Tùng mặc dầu nạn nhân là đàn em trung thành của hắn. Vì sợ tôi biết rằng cuộc phục kích ngoài bãi biển mang tính chất hoàn toản giả tạo.
        Thưa quý Tòa, rõ ràng Phan Thiện là tay sai của gián điệp miền Nam. Đáng lý ra dùng phi cơ đưa 307 và 308 về Miền Nam thì ông Hoàng lại bắt họ vượt sông Bến Hải, và 308 lại bị ông Hoàng lừa vượt khúc sông được chúng ta canh phòng nghiêm mật nhất. Đáng lý ra tàu ngầm xì gà phải vào sát bờ đón 309 thì lại đậu ngoài khơi, cho xuồng cao su vào, điều này chứng tỏ rằng ông Hoàng biết trước cuộc phục kích. Cuộc phục kích đó ông Hoàng ra lệnh cho Phan Thiện tổ chức để giết 309. 
        3 nhân viên ưu tú 307, 308, 309 bị hy sinh là để gia tang uy thế của Phan Thiện trong guồng máy phản gián Miền Bắc. Nếu bộ Tổng tư lệnh thiếu sáng suốt, không cử tôi sang phụ tá Phan Thiện để coi chừng hắn từng giây, từng phút, thì ngày nay Miền
 
 
193
 
Bắc thân yêu của chúng ta đã biến thành giang sơn của ông Hoàng.
        Phan Thiện xảo quyệt lắm! Nghe phong phanh tôi gửi báo cáo lên Trung ương, hắn lạm quyền chỉ huy bắt giam tôi. May nhờ sự phán xét sáng suốt của Trung ương, tôi được trả tự do và Phan Thiện tạm thời vào khám. Hắn vào khám chưa đủ đền tội. Hắn phải bị tử hình. Từ hình vì đã ăn lương của địch để phá hoại nước Việt nam dân chủ cộng hòa...
        Chánh thẩm ngắt lời :
        -      Đại tá vừa nói là bị can ăn lương của địch?
        Mặt đại tá Bùi Vinh sáng rực :
        -      Vâng, bị can Phan Thiện đã ngửa tay nhận lương của địch. Nếu tôi không khám phá ra kịp thời, Phan Thiện còn tác hại gớm ghê hơn nữa. Sự phản bội hèn hạ của hắn có thể xô đẩy hệ thống an ninh của ta vào vòng suy sụp...
        Chánh thẩm lại khoát tay:
        Tòa muốn đại tá đưa bằng cớ. Bị can Phan Thiện nhận tiền của ai, và nhận cả thảy bao nhiêu tiền?
        Bùi Vinh nói với Lê Tùng:
        -      Anh hãy khai sự thật với Tòa.
        Lê Tùng tỏ vẻ ngạc nhiên :
        -      Tôi chưa hề khai rằng Phan Thiện lãnh tiền của ông Hoàng.
        -      Vậy anh vâng lệnh ông Hoàng chuyển ngân qua Vạn tượng, Hồng kông và Nam vang bao nhiêu? 
        -      Tôi đã nói rồi.
        -      Bây giờ, phiền anh nhắc lại.
        -      45.000 đô la Mỹ trong vòng 3 tháng.
 
194
 
        -      Có hột soàn không? 
        -      Có. 8 hột, trị giá tổng cộng 22.000 đô la nữa.
        -      Nghĩa là cả đô la và hột soàn là 67.000 đô la.
        -      Phải.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh đập tay xuống bàn :
        -      Lê Tùng! Anh trao tiền và kim cường cho bị can Phan Thiện phải không?
        Lê Tùng đáp:
        -      Không.
        -      Hừ, vậy anh trao cho ai?
        -      Cho Nêlô, Sambát và Phumê.
        -      Ba người này là ai?
        -      Có lẽ là một người.
        Phan Thiện chồm dậy phản đối :
        -      Trân trọng lưu ý quý Tòa. Bùi Vinh sẽ tìm cách kết luận rằng Nêlô, Sambát và Phumê là tôi. Kỳ thật...
        Chánh thẩm lớn tiếng :
        -      Yêu cầu bị can ngồi xuống và giữ thái độ kính trọng tòa án. Khi nào Tòa cho phép, bị can mới được phép nói. Lần sau, nếu còn tự tiện sẽ bị đuổi ra ngoài, không còn dịp nào bào chữa nữa. Lê Tùng! Căn cứ vào đâu anh dám nói Nêlô, Sambát và Phumê là một?
        -      Trong cuộc thẩm vấn đầu tiên tại Hồng kông, tôi chưa dám kết luận rằng ba người này là một, nhưng mấy ngày gần đây, lục lại trí nhớ, tôi nhận thấy có lẽ đúng. Vì cô Huệ Lan, nhân viên ban H-4, được lệnh xếp chung ba vụ trả lương này vào một hồ sơ.
 
195
 
        -      Việc sắp xếp hồ sơ trả lương ra sao? 
        -      Thưa trên nguyên tắc, mọi nhân viên được đánh một hồ sơ riêng.
        -      Nhân viên được mang nhiều tên khác nhau hay chỉ được mang một tên thôi? 
        -      Trên nguyên tắc, họ phải mang nhiều tên giả. Nhất là nhân viên nhị trùng hoạt động tại Bắc Việt.
        Chánh thẩm ngoảnh sang Bùi Vinh:
        -      Đại tá có bằng chứng nào về việc Nêlô, Sambát và Phumê là bị can Phan Thiện?
        -      Thưa, Lê Tùng gửi tiền tại ngân hàng Đông kinh ở Vạn tượng ngày 15-8, tại ngân hàng Anh quốc ở Hồng kông ngày 11-9, tại ngân hàng Pháp-Hoa ở Nam vang ngày 5-10. Và tiền đã được rút ra hai, hoặc ba ngày sau. Thưa quý Tòa, tôi đã yêu cầu Lê Tùng, viết thư cho các ngân hàng kể trên, và họ đã trả lời. Bản chính của thư trả lời đang được để trước mặt quý Tòa.
        Tôi xin mạn phép quý Tòa để đọc một bức thư do Lê Tùng gửi cho ngân hàng Đông kinh và thư trả lời của ngân hàng này. 
        Mani ngày...
        Kính gởi ông Giám đốc Ngân hàng Đông kinh
        Vạn tượng
        Lào quốc
Thưa ông Giám đốc,
        Cách đây 15 ngày, tôi viết thư cho quý ngân hàng để hỏi về kế toán trương mục của tôi. Có lẽ vì thư bị thất lạc nên không thấy quý ngân hàng phúc đáp. 
        Sáng mai, tôi đi Hồng kông va sẽ lưu lại đó
 
 
196
 
một tháng. Tôi trân trọng yêu cầu quý ngân hàng gởi tới khách sạn Vanda, số 3 đường College Road, phòng 215, cho tôi biết số kết toàn kể trên.
        Trân trọng, 
        Mita.
        Và sau đây là thư trả lời.
        Vạn tượng ngày...
        Kính gởi ông Mita.
        Chúng tôi rất tiếc là không nhận được quý thư đầu tiên nên không thể trả lời đúng kỳ hạn. Thể theo lời quý ông yêu cầu, chúng tôi xin gửi đến khách sạn Vanda : 
        Ngày 18-8, ông Nêlô đã tới ngân hàng, rút 12.000 đô la. Hiện nay, trương mục số AZ . 3452 của quý ông còn lại 765 đô la. 
        Tin tưởng đã làm quý ông vừa lòng.
        Trân trọng.
        Ấn ký: Giám đốc Ngân hàng Đông kinh.
        Thưa quý Tòa, 2 phúc thư kế tiếp của ngân hàng Anh quốc và Pháp-Hoa cũng được viết theo lề lối tương tự. Những phúc thư này chứng tỏ 45.000 đô la và 8 viên kim cương đã được lấy khỏi các ngân hàng ngày 18-8, 12-9 và 8-10.
        -      Phan Thiện đích thân tới ngân hàng?
        -      Thưa vâng. Phan Thiện xuất ngoại từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 10, qua các nước Ai lao, Căm pu chia, Mã lai á, Ấn độ, Pa kít tăng, Nêpan, Miến điện, Hồng kông, Nhật Bản, Triều tiên và trước khi hồi hương, ghé lại Trung quốc và Căm pu chia. Mục đích của chuyến đi này là thanh tra hệ thống điệp báo của ta.
        Phan Thiện đã lợi dụng một công đôi việc. Lợi
 
 
197
 
dụng chuyện thanh tra để lãnh lương của ông Hoàng. Theo báo cáo của các cơ sở ngoại giao công khai và tiểu tổ tình báo bí mật của ta gửi về thì Phan Thiện đã cáo ốm để ở lại khách sạn ngày 18-8 tại Vạn tượng, ngày 12-9 tại Hồng kông và ngày 8-10 tại Nam vang. Hắn cáo ốm để lén ra ngân hàng...
        Một sự yên lặng ghê gớm đè nặng xuống phiên tòa. Mặt chánh thẩm đang hồng hào bỗng đỏ gay. Phan Thiện cúi đầu giữa hai người gác đeo súng lục.   
        Chánh thẩm cất tiếng:
        -      Bị can Phan Thiện? Chứng cớ đưa ra đã quá đầy đủ, Tòa không muốn kéo dài thêm nữa. Bị can còn muốn nói điều gì nữa không? Nếu không, Tòa sẽ gọi thêm nhân chứng.
        Giọng Phan Thiện run run:
        -      Một lần nữa, xin các đồng chí xét lại cho tôi nhờ. Oan tôi lắm, các đồng chí ơi... Gián điệp đế quốc đã bịa đặt chứng cớ để diệt tôi. Thật là tình ngay lý gian...
        Chánh thẩm sẵng giọng :
        -      Bị can không được phép gọi Tòa là đồng chí. Cảnh vệ đâu? Đưa nhân chứng vào. 
        Mọi người đều quay lại cánh cửa hong.
        Lê Tùng bàng hoàng như bị đánh vào gáy.
        Chàng không ngờ.
        Thật vậy, chàng không thể ngờ nàng lại là nhân chứng. Chàng không thể ngờ nàng có mặt tại Hà nội.
        Trước khi rời Tân sơn Nhất, chàng đã khẩn khoản yêu cầu Lê Diệp trình lại với ông Hoàng là  
 
198
 
chàng sẵn sàng hy sinh cho đại cuộc, song nàng phải được để ở ngoài nội vụ. Vì nàng là người đàn bà đáng thương. Vì nàng là người đàn bà vô tội.
        Lê Diệp đã cam kết với chàng. Song sự thật bằng xương bằng thịt trước mắt đã xác nhận một cách hùng hồn rằng Lê Diệp đã lừa chàng. 
        Văn Bình đã lừa chàng.
        Ông Hoàng, tổng giám đốc Mật vụ, đã lừa chàng. Mọi người chỉ nghĩ đến công việc, mà quên tình cảm. Quên lời hứa. Quên danh dự. Quên tất cả.
        Lê Tùng không thể chịu đựng được nữa. Mặt chàng tái dần, tái dần, gân tay chàng run run, run run...
        Nàng mặc đồ đen bằng hàng nội hóa, đầu cũng thắt băng-đô màu đen. Không hiểu vô tình hay cố ý nàng mặc đồ đen. Đồ đen là đồ tang phục. Có lẽ nàng đến đây để tang cho chàng. Có lẽ nàng đoán biết chàng sẽ chết. Chết vì sự phản bội cửa sở Mật vụ mà chàng tin tưởng, tin tưởng thành tâm và sắt đá. Sự kính nể và thương yêu đối với ông Hoàng đã tan biến trong lòng Lê Tùng. Chàng bỗng thấy căm ghét nghề tình báo thậm tệ.
        Nàng từ từ bước vào phòng xử.
        Thường ngày nàng đã gầy, hôm nay nàng lại gầy hơn. Đôi vài xương xương của nàng như tóp hẳn lại. Đôi mắt nghịch ngợm và làn môi cong cong nũng nịu đượm vẻ buồn phảng phất. Dường như từ nhiều ngày nay, nàng quên trang điểm khiến quầng mắt sâu hoắm, và làn môi nhợt nhạt. Nàng mới 25 tuổi, cái tuổi dệt mộng thần tiên, thế mà Lê Tùng tưởng nàng trên 30.
 
199
 
        Trời! Xa chàng hơn một tuần, Huệ Lan đã già hơn 5 tuổi... Như bị điện giật, Lê Tùng kêu lên :
        -      Lan. Em Huệ Lan.
        Nghe chàng kêu, nàng đứng khựng lại. Trong nháy mắt, nàng nhận ra chàng. Vẻ mặt nàng tươi hẳn lại: 
        -      Anh Lê Tùng!
        Chánh thẩm quắc mắt:
        -      Yêu cầu các nhân chứng giữ trật tự. Cô Huệ Lan?
        Huệ Lan lí nhí :
        -      Dạ.
        Yêu cầu cô lại gần Tòa.
        Huệ Lan bước qua ghế Lê Tùng. Bị cáo Phan Thiện lặng lẽ nhìn nàng, mắt không lộ một nét thay đổi nào. 
        -      Tên thật của cô là Huệ Lan?
        -      Vâng.
        -      Họ?
        -      Trần. Trần thị Huệ Lan.
        -      Chức vụ?
        -      Nhân viên ban H-4, cơ sở Mật vụ Miền Nam. 
        -      Cô ra đây từ bao giờ?
        -      Mới. Phi cơ hạ cánh xuống Gia Lâm cách đây 5 giờ đồng hồ. Tôi về lữ quán thay quần áo rồi tới đây ngay.
        -      Cô ra Hà nội vì tự ý hay bắt buộc?
        Huệ Lan định trả lời «bắt buộc», nhưng sực nhớ lời dặn của Nguyễn Biên lại nín thinh. 
        Nguyễn Biên cùng đi với nàng qua Nam vang. Nàng từ giã phi trường Tân sơn Nhất một cách bình thường. Nhân viên công an và quan thuế xét





Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN THỨ BA
 
Xuất Quỷ Nhập Thần
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TRANG ĐỂ TRỐNG
 
 
 
 
141                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
        1.  Từ 3Z đến 3T
 
        Tiếng Ấn Độ có ba chữ Zan, Zar, Zamen tức là tình ái, tiền bạc và đất ruộng, viết tắt là 3Z. Người Ấn  cho rằng tội ác con người đều do 3Z mà ra. Tiếng Việt lại có ba chữ Tình, Tiền, Tham, viết vắn tắt là 3T. Vì tình, tiền và tham, một số người đã làm gián điệp cho địch. Oái oăm thay, cũng vì tình, tiền và tham mà đa số điệp viên hữu hạng từ đông sang tây, từ thế chiến thứ nhứt đến thế chiến thứ hai, bị lột mặt nạ, kẻ vào tù, người ra pháp trường đền tội. Trong 3T, tình là yếu tố nguy hiểm nhứt. Bác sĩ Sót, bực thày gián điệp cộng sản, từng cứu sống Sít ta lin trong thế chiến vừa qua, người đã yêu không biết bao nhiêu đàn bà, tàn cuộc lại chết vì đàn bà. Kế mỹ nhân đã làm xụp đổ hai tổ chức do thám lớn nhứt của Nga sô trong thời gian chống Hít le, Giàn nhạc đỏ, và Rote Drei.
                Chữ tình là cái chi chi! Dưới mắt nhà điệp báo, đàn ông và đàn bà yêu nhau mới là một hình thái của tình yêu. Còn một hình thái khác, gọi là đồng tình ái. Vì mang bệnh đồng tình ái, nhiều người đã trở thành phản quốc. Đối với người Việt, sống trong khung cảnh lễ giáo, đồng tình ái là một danh từ mới lạ. Đàn ông thích ân ái với đàn ông, đàn bà thích ân ái với đàn bà,như vậy là đồng tình ái. Tại Âu châu, bệnh này rất phổ biến. Phổ biến rộng nhất là tại nhưng nơi không có đàn bà, như nhà giam, trại lính. Một số quốc gia coi đồng tình ái là hình tội. Luật nước Pháp bảo vệ thanh niên cho tới tuổi 21, chống lại bọn đồng tình ái. Kẻ mắc chứng này thường bị xã hội khinh rẻ, không được làm công chức cao cấp, nên do thám cộng sản đã lợi dụng để kết nạp. Nếu không làm việc cho Nga sô thì bị phanh phui, mất hết danh dự và địa vị, bởi vậy người mắc bệnh đồng tình ái thường nhắm mắt bước vào vũng bùn gián điệp. 
                Mít-tin và Mát-seo là trường hợp điển hình.
 
 
 
 
142                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Hai nhà toán học Mỹ hữu danh này đã trốn sang Nga sô, mang theo những bí mật của Quốc an Xã. Là nam giới mà họ yêu nhau như tình nhân, cũng ghen tuông, cũng chung chạ như chồng vợ. Năm lên mười chín, Mít-seo thí nghiệm đồng tình ái với gà và mèo. Ở trường, Mít-seo ghét cay ghét đắng con gái. Mít-seo và Mát-tin còn chụp ảnh trần truồng với nhau. Cuộc ra đi của Mít-seo và Mát-tin làm các cơ quan điệp báo tây phương giật mình, đề cao cảnh giác với những nhân viên đồng tình ái.
                Rét (1) giám đốc Phản gián Áo quốc, bị lột mặt nạ năm 1913 là gián điệp cho Nga, đã mang lại một bằng chứng ghê gớm của bệnh đồng tình ái. Đại tá Rét đã bán cho Mạc tư khoa chương trình động viên, kế hoạch bố phòng và tấn công của Áo. Rét còn tố giác những người Áo do thám trên đất Nga và những người Nga làm việc cho Phản gián Áo. Y là con thứ chín của một viên chức hỏa xa. Gia đình nghèo,  nhưng Rét là cậu bé thông mình nên năm 17 tuổi đã trúng tuyển vào trường quân sự. Tại đó thanh niên xa nhà, xa phụ nữ, thường mắc bệnh đồng tình ái. Và y dại dột bắt chước để rồi không bỏ được. Năm 23, y tốt nghiệp sĩ quan. Sì-tê-phan (2) con trai một viên chức ngân hàng, được cha giới thiệu với Rét để xin nhập ngũ. Sắc đẹp trai tráng của gã thiếu niên 17 tuổi làm y say mê. Y đỡ đầu cho Sì-tê-phan, cho tiền, cho đồ đạc, cưng như trứng mỏng. Ít lâu sau, Rét bắt ý cam kết không được lấy vợ. Mối tình ngang trái tiếp tục, y tiêu tốn không biết bao nhiêu là tiền.
                Riêng cái đức ăn diện và xài tiền như nước của y cũng đủ nguy rồi, phương chi còn đèo thêm chàng nhân tình Sì-tê-phan nữa. Nợ như chúa Trổm y bị rơi vào cạm bẫy 3T của gián điệp Nga. Lẽ nào thượng cấp của y không biết y mắc bệnh đồng tình ái? Vào nhà y nhìn cách trang trí sặc mùi đàn bà,
 
-----------------------
(1)    Alfred Redl. (2) Stefan.
 
 
 
 
143                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
ai cũng thấy. Phải chăng người ta cố tình làm ngơ, sợ làm hỏng binh nghiệp của viên đại tá tình báo lỗi lạc? Sự làm ngơ này, nếu có, đã làm thương tổn tới nền an ninh nước Áo. 
                Phương ngôn có câu «Cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm». Thật vậy, nếu không vì đen đỏ thì đại úy Phờ-ren (3) không lao đầu vào đường phản quốc, thì người hùng của đại chiến thứ hai, từng tham dự 32 phi vụ chiến đấu tại Anh quốc, được thưởng huy chương, từng dự chiến tại Cao ly không đến nỗi bị phạt 10 năm khổ sai. Phờ-ren có cái tật mỗi tuần phải đỏ đen hai, ba lần. Vì thế, y mắc nợ cả chục ngàn đô la. Đánh bạc thua chừng nào, đại úy Phờ-ren uống rượu say chừng nấy. Sau một cơn say hai ngày, y chợt nghĩ ra một phương kế kiếm tiền thơ mộng. Nửa đêm, y tới tòa đại sứ Sô viết tại Hoa thịnh đốn, ném vào sân một bức thư sau đây:
                (Gởi cho người liên hệ)
        Tôi có thể cung cấp cho quí ông những tin tức hệ trọng, đó là họa đồ các võ khí, và nhiều tin tức khác. Tôi muốn lấy tiền mặt 25.000 đô la. Yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối, vì tôi là nhân viên Không quân Hoa kỳ. Quí ông hãy đến gặp tôi tại phòng 1877, khách sạn Nu-Ot-kơ (4) thị trấn Nữu ước. Quí ông hãy cử một người quen thuộc với các khí giới tối tân của không quân Hoa kỳ để thương lượng với tôi. Khi tới, hãy mang theo thư này để tự giới thiệu. Lần nữa, tôi yêu cầu quí ông giữ bí mật kẻo tôi có thể bị tội nặng. 
                Một sĩ quan không quân Hoa kỳ»
        Như Phờ-ren dự tính, một người lạ mặt tìm đến phòng 1877 với lá thư giới thiệu. Y mang tài liệu ra hăng say giải thích, và kỳ kèo bớt một thêm hai không chịu bán rẻ. Nhưng y không nhận được đô la nào.
 
--------------------------------
(3)    George H. French. (4) New Yorker.
 
 
 
 
144                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Người lạ mặt chìa chứng minh thư ra làm y tái mét không còn hột máu. Chứng minh thư FBI. Cơ quan an ninh theo dõi Phờ-ren từ lâu, khi thấy y rượu chè, bài bạc quá độ. Khi y ném lá thư vào sân sứ quán, nhân viên công an liên bang đã tới nhặt lấy. Ra tòa y bị lên án chung thân khổ sai. Sau đó được giảm còn mười năm. Mười năm cho kẻ tập sự gián điệp cũng không phải là ít vậy. 
        Đại úy Phờ-ren muốn làm gián điệp nên bị ngồi tù. Trong đời, còn có những kẻ thích ngồi tù vì tội gián điệp mặc dầu chưa hề làm gián điệp. Đó là O-gờ-ra-đi (5) người đàn bà duy nhất ở Anh quốc bị kêu án tử hình về tội gián điệp trong thế chiến thứ hai. Bị tử hình, chắc nàng phải là điệp viên cừ khôi, hoặc có nhan sắc kinh hồn làm cho đàn ông say mê đến chết. Sự thật nàng là một thiếu phụ đứng tuổi, kết hôn với một viên chức «sớm vác ô đi, tối vác về», và chưa từng dính líu tới công tác gián điệp. Đảo Oai-tờ (6) là một căn cứ quân sự đuoc cạnh phòng chặt chẽ. Lính gác bắt gặp nàng vượt qua hàng rào kẽm gai. Nàng đi tới đâu, rắc hình chữ Vạn – cờ Đức quốc xã – bằng giấy tới đấy. Cảnh binh hỏi thì nàng ca ngợi Hít le như thần thánh. Phản gián bèn theo dõi nàng. Bỗng nàng cắt đứt đường điện thoại liên lạc đảo Oai-tờ với Anh quốc. Khám nhà, người ta thấy bản đồ đảo Oai-tờ, với các vị trí phòng thủ. Đúng rồi, nàng là gián điệp Đức. Ra tòa nàng không chối, nàng còn khai là có liên lạc với một điệp viện quốc xã đổ bộ lên bờ bằng xuồng cao su.
        Dĩ nhiên, nàng bị tử hình, vì Anh đang đánh nhau với Đức. Sau đó, nàng được giảm còn 14 năm tù. Ngồi tù quá lâu, đâm buồn, nàng viết thư tâm tình với chồng. Đọc thư, sở Kiểm duyệt giựt mình như ngồi trên giây điện. Thì ra, nàng chẳng liên lạc với điệp viên nào hết. Nàng vượt kẽm gai để mang chó đi tắm. Bị tình nghi, nàng bịa chuyện ra cho oai, thế thôi. Nàng không ngờ một phút «làm le» lại bị
 
----------------------------
(5)    Dorothy Pamela O’Grady. (6) Wight.
 
 
 
145                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
lên án tử hình. Nhưng dù sao trò đùa của nàng đã làm chánh phủ Anh mất một số tiền lớn để thay đổi hệ thống bảo vệ đảo Oai-tờ. Mãi đến năm 1949, nàng mới được trả tự do. Tòa án Anh nói tiếng trên thế giới là sáng suốt mà cũng bị O-gờ-ra-đi đánh lừa một cách tai hại. May là nàng chưa bị bắn. 
        Sì-tích (7) làm tới đại tá mà muốn làm hơn nữa, nên lòng tham - một trong 3T - đã xô y vào cạm bẫy do thám Sô viết và lãnh án tù chung thân. Nếu đại tá Rét cộng tác trên mười năm với tình báo Nga mới đổ bế thì đại tá Sì-tích, người Thụy Điển kéo dài cuộc sống đi khuya về tắt tới mười lăm năm. Y không chơi bời, không rượu chè, không tiêu tiền như phá, song có hai yếu điểm : muốn làm giầu hơn nữa, muốn làm to hơn nữa.
        Nắm được thóp y, Nga sô trả thật nhiều tiền, nửa triệu cu ron, đồng bạc Thụy điển. Nga sô lai phong y làm trung tướng Hồng quân. Sì-tích là sĩ quan không quân cao cấp, từng làm tùy viên quân sự tại Mạc tư khoa và Hoa thịnh đốn. Trong năm năm ở Mỹ, y lãnh hàng tháng 750 đô la của gián điệp Sô viết. Y đã bán cho Nga sô hầu hết các bí mật quốc phòng của Thụy điển. Y bị bắt vì tỏ ra quá hiếu kỳ đối với hồ sơ mật. Phản gián dùng Rô-sen, tớ gái của y, để điều tra ngầm. Vợ Sì-tích, được chồng yêu tha thiết, còn ngạc nhiên không hiểu sao chồng lại làm gián điệp cho Cộng sản. 
 
        2.  Kế hoạch tuyển mộ 
 
        Tuyển mộ nhân viên điệp báo không phải là chuyện hú họa kéo bà con vào cho đông, hoặc treo bảng «cầu hiền» ngoài cửa. Hoa kỳ đã áp dụng một chương trình tuyển mộ vô cùng khoa học. Trong thế chiến thứ hai, hồi C.I.A. còn là OSS, vì thời giờ eo hẹp và cấp bách nên người ta gởi thông tư cho các binh chủng để tìm người tình nguyện.
 
------------------------------------------
(7)    Wennerstrom.
 




Đăng nhập để trả lời
0

146                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Sau thế chiến, việc tuyển mộ đã đổi khác. CIA có một cơ quan chuyên tìm mầm non. Cơ quan này, nghiên cứu hồ sơ học sinh, sinh viên trên toàn nước Mỹ. Phải là sinh viên ưu tú ở trong số mười phần trăm đầu lớp, mới được để ý. Sinh viên được chọn lựa phải thi trắc nghiệm tại trường đại học Phờ-rin-xơ-ton (1). Tuy nhiên, không phải học giỏi, hạnh kiểm tốt là trúng tuyển. Có ứng viên bị loại vì bản tánh nghiêm nghị, không thích bị đùa cợt. Lương bổng CIA không lấy gì làm nhiều, bắt đầu năm ngàn đô la một năm, sau này lên tới mức tối đa 14.000, ít hơn lương bỗng RU và KGB.
        Kể ra, cũng có nhiều đơn xin vào CIA, nhưng chỉ hai phần mười được cứu xét. 2/10 phải qua nhiều đợt sàng sẩy nữa. Một nửa sẽ bị gạt bỏ vì nghiện rượu, ăn nói ba hoa, hoặc có thân nhân trong vùng cộng sản, dễ bị địch bắt chẹt. Toàn thể nhân viên đều đeo máy khám phá nói dối (2) để xem có thành thật không. Máy này gồm ba bộ phận, để đo nhịp thở, đo áp lực máu ở tim, và đo phản ứng ngoài da. Các nhà khoa học nhận thấy nói dối thường thay đổi sắc mặt, tay run run, hơi thở mạnh và tìm đập nhanh. Máy khám phá nói dối được coi là hữu hiệu ba mươi phần trăm.
        Việc lựa chọn điệp viên để hoạt động ở Nga sô tuân theo một thể thức riêng. Trong số một ngàn qua kỳ sơ tuyển, chỉ chừng một trăm ứng viên được đưa đi huấn luyện. Đầu tiên là học tiếng Nga, trong vòng sáu hay tám tuần lễ, phải đọc trơn tru tờ Sự Thật. Đồng thời phải học một hoặc nhiều trong sáu mươi tám ngoại ngữ trên thế giới. Mười trong số một trăm ứng viên kể trên sẽ được tham dự khóa huấn luyện trung cấp (3). Có giỏi ngoại ngữ mới hoạt động được ở ngoại quốc. Nga sô không lo ngại về vấn
 
--------------------------------
 
(1)    Princeton. (2) tiếng Anh : lie detector, polygraph. Tiếng Pháp: machine à détecter le mensonge. Máy này do nhà bác học Keeler chế ra. (3) Junior Officer Training Program.
 
147                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
đề nào vì đất Nga rộng mênh mông, dân Nga đông, nói nhiều thứ tiếng khác nhau, họ còn có đảng viên Cộng sản bản xứ, ở đâu cũng có. Pháp và Anh, đất hẹp, người ít, nên phải tổ chức cho sinh viên xuất dương từ trẻ. Về phần người Nhựt cũng như các dân tộc Á châu khác không thể sống trà trộn với người tây phương, vì sức vóc, màu da, màu mắt, sống mũi nên hệ thống gián điệp Phù tang chỉ dùng công dân Nhựt làm trưởng ban tổ chức, cộng tác viên phải là người địa phương.
         Nga sô bắt nhân viên gián điệp đọc sách như ngốn. Các ấn phẩm trên thế giới đều được tập trung về Mạc tư khoa, rồi đưa tới trường dạy gián điệp. Hoa kỳ là quốc gia thứ nhứt tuyển mộ nhân viên do thám bằng trắc nghiệm (4). Phương pháp này đặt ra trong thế chiến thứ hai do một Ủy ban đặc biệt của OSS tại tiểu bang Vớt-di-nia (5). Ứng viên được đưa tới một khu trại riêng trong ba ngày để thi trắc nghiệm. Trắc nghiệm lý thú nhứt là bi-lon-gin tét (6), nghĩa là trắc nghiệm để xem đồ đạc của ai. Ứng viên bước vào phòng ngủ có người ở mấy ngày trước. Khi đi, người này để lại một số vật tùy thân, gồm 26 món trong vòng bốn phút phải mô tả tướng mạo, tính tình của đương sự. Ngày thứ ba, ứng viên phải thi «chịu đựng». Người ta giả ra một vụ bị bắt, khoá sinh bị giải xuống hầm, trước mặt đặt ngọn đèn pha chói mắt, toàn căn phòng chìm trong bóng tối ghê rợn. Nhiều giọng nói dữ dằn nổi lên, tìm cách làm ứng viên mất tinh thần. Ứng viên giữ vững nghị lực mới được chấm đậu.
        Theo huyền sử, điệp viên Đức thời chiến đều là những tay thượng thặng. Sự thật lại khác. Phải công nhận người Đức huấn luyện rất kỹ, song sự tuyển mộ lại quá lỏng lẻo, nhất là lúc gần bại trận, mở toang nhà tù, vơ quàng vơ xiên. Kết quả là bốn nhân viên bất đắc dĩ rủ nhau qui thuận đồng
 
------------------------------
 
(4) test. (5) Virginia. (6) belonging test.
 
 
148                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đồng mình sau khi rời đất Đức. Trong thế chiến, Anh quốc có ba Trung tâm lớn để tuyển mộ và sát hạch. Ứng viên được dẫn tới một cái ao không sâu, chứa đầy nước cường toan. Y phải vượt qua ao mà không ngã xuống nước. Tìm quanh quẩn trên bờ, ứng viên sẽ thấy ba thanh gỗ lớn. Nếu y nhanh trí, y sẽ có thể ném hai miếng gỗ xuống ao – vì gỗ không chìm xuống axit – đặt chân lên trên, rồi ném thanh gỗ thứ ba. Rồi cụ thể, y để chân lên, ném thanh gỗ thứ nhứt ra đằng trước, dần dần bước sang bờ bên kia. Sau đó, ứng viên tới một bờ rào cao ngất, ngăn giây kẽm gai trông rùng mình. Chịu khó lục lạo, y sẽ khám phá ra một sợi giây thừng. Dễ lắm, y chỉ cần buộc giây thừng vào một thân cây gần đấy, rồi thản nhiên đu vọt qua.
        Đó mới là thi sáng kiến. Rồi đến thi tâm lý và kỹ thuật. Ứng viên phải giải đáp hàng trăm câu hỏi hóc búa, làm thương tổn tới tự ái. Chẳng hạn : ứng viên có mắc bệnh đồng tình ái không? Người yêu của ứng viên là ai, ở đâu, làm gì? Trong một cuộc sát hạch, giám khảo hỏi : 
        -      Ứng viên có sẵn sàng nói dối, sẵn sàng ăn cắp, sẵn sàng giết người không tiếc thương, khi cần không?
        Ứng viên ngần ngừ. Y là người đạo đức, chưa bao giờ nghĩ tới làm bậy, dầu làm bậy để phục vụ chính nghĩa. Ứng viên đã bị đánh hỏng. Còn đa mang nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trước mặt kẻ thù thì không thể nào thành công trong nghề gián điệp. Đặc điểm của nghề gián điệp là tàn nhẫn, hết sức tàn nhẫn. Chẳng may bị bắt, điệp viên chỉ còn có cách tự tử, hoặc ngậm miệng, chịu tra tấn, tù đày hoặc đầu hàng một cách hèn hạ. Nếu khai ra, chánh phủ đã trả lương cho y sẽ không nhìn nhận y. Trong thế chiến điệp viên hoạt động ở hậu dịch thường được phát hai viên thuốc đặc biệt: viên thứ nhất là thuốc độc, chất xi-a-nuya, hoặc số-rich-nin (7), uống vào chết trong
 
-------------------------------
(7) cyanure, strychnine.
 
 
149                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
vòng mấy phút, viên thứ nhì là thuộc giả chết, uống vào tim sẽ đập rất khẽ, ngất đi độ một ngày. Còn một thứ nữa, gọi là thuốc khỏe, chế bằng ben-dê-đờ-rin (8) uống vào được thêm sáng suốt, dẻo dai và bền bỉ. 
        Việc tuyển mộ nhân viên, vì thế, cũng hết sức tàn nhẫn. Sau đây là những thủ đoạn thông thường của Cộng sản, ngoài thủ đoạn dùng tiền bạc và sắc đẹp: 
        phỉnh phờ, hoặc đe dọa các đảng viên cộng sản địa phương:
        Hồ sơ đảng viên và cảm tình viên ở ngoại quốc đều tập trung về Mạc tư khoa. Mật vụ Sô viết cho người theo dõi nhiều tháng trước khi kết nạp. Sau thời kỳ thử lửa, đương sự mới được đưa vào một tiểu tổ. Tiểu tổ hoạt động biệt lập, gồm năm đến bảy tổ viên. Tổ viên chỉ biết có tổ trưởng mà không biết nhau. Như vậy để khỏi bại lộ, tổ chức không bị tan rã. Nga sô phỉnh phờ đảng viên địa phương rằng họ lấy tin để phụng sự hòa bình, làm giảm tình hình căng thẳng quốc tế, nên phần lớn đã làm gián điệp vì lý tưởng, ít khi lãnh lương. Nhưng Nga sô thường bắt nhận tiền, gọi là để chi tiêu vặt vãnh. Nhân tiện tất phải ký tên vào biên lai, và Nga sô nắm được đầu cán. Bác sĩ Phút, nhà khoa học nổi tiếng, đánh cập bí mật nguyên tử trao cho Nga sô, đã dại dột nhận một trăm bảng Anh. Một trăm bảng nghĩa là hai chục ngàn bạc Việt Nam, món tiền vô nghĩa đối với một khoa học giả, song người ta chỉ cần chữ ký của Phút để gây áp lực. Sau nầy lương tâm cắn rứt, Phút muốn quay về con đường chính. Nga sô bèn bố trí cho việc làm của Phút lọt vào tay Phản gián tây phương. Và Phút bị bắt. 
        Nhiều khi đảng viên Cộng sản địa phương không chịu làm gián điệp. Gần đây hai nhà ngoại giao Sô
 
----------------------------------------
(8) benzédrine.
 
 
150                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
viết bị trục xuất khỏi Ái nhĩ lan do lời tố giác của Gu-nát-son (9), một đảng viên Cộng sản trung kiên. Năm 22 tuổi, Gu-nát-son được mời qua Nga sô du lịch trong ba tuần. Mười năm sau, y được yêu cầu lấy tin về căn cứ không quân của Minh ước Bắc Đại tây dương tại Kê-phờ-la-vich (10). Y phản đối kịch liệt. Y ở lại đảng Cộng sản, song không chịu phản bội xứ sở. Trước Gu-nát-son, một số đảng viên có tiếng ở Hoa kỳ như Chem-bớt (11) và Ben-tờ-li đã xuất thú năm 1945 và tiết lộ âm mưu của Nga sô. 
          dùng người có tội:
        Rep-pin (12) ngụ tại Đông Bá linh song lại mở tiệm chụp hình ở Tây Bá linh. Một thiếu nữ có thân hình nẩy lửa, tới tiệm hình, dáng điệu thẹn thò. Nàng thổ lộ với y là tình nhân bị đổi đi xa, nàng muốn chụp hình khỏa thân để tặng. Rep-pin do dự, vì do dự là thói quen của người dân Bá linh bị kẹt vào mê hồn trận đông tây, song thiếu nữ xỉa ra một đống tiền làm y choáng mắt. Y bấm lia lịa một hơi. Mấy ngày sau, mật vụ Đông Đức vào nhà, bắt y về tội chụp ảnh trần truồng. Ở phía tây, đó là chuyện thường, nhưng ở phía đông, mọi sợi tóc là một tội. Mật vụ cho y biết sẽ ngồi tù rục xương. Muốn được khoan hồng, phải làm gián điệp cho họ. Y lãnh thông hành giả, dưới tên là Lan-dơ (13), đi khắp liên bang Tây Đức để chụp hình. Y đã chụp sáu mươi hai căn cứ, và gởi hình về cho Cộng sản Đông Đức. Rồi y bị bắt. Trường hợp Rep-pin là người vô tội bị Công sản đổ tội để sai khiến. Cộng sản còn dùng tù nhân và trộm cướp nữa. Một chánh trị phạm bị án tám năm được đưa từ trại giam Lít-ten-be của Nga sô (14) tới một trại nghề do Đông Đức điều khiển. Mật vụ cộng sản hứa phóng thích y nếu y chịu làm gián điệp tại Tây Đức. Dĩ nhiên là y nhận lời. Mật vụ bố trí cho y vượt ngục.
 
----------------------
(9) Gunnarson. (10) Keflavik. (11) Whittaker Chambers. (12) Reppin. (13) Kurt Lange. (14) Lichtenberg.
 
 
151                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
        Ngày 22-12-1952, một nhựt báo Mỹ loan tin trên ba ngàn tội phạm nguy hiểm nhứt thế giới đang hoạt động cho Nga sô trong hàng ngũ mật vụ (15). Nguyên năm 1945, tiến vào Bá linh, Hồng quân đã chợp hết hồ sơ của Tổ chức Quốc tế Cảnh sát (16). Nhờ các hồ sơ này, Nga sô đã truy tầm ra và kết nạp ba ngàn tội phạm quốc tế, để in bạc giả, ám sát, tổ chức đình công phi pháp. Riêng tại thị trấn Tây Bá linh, đạo quân trọng phạm này đã bắt cóc hàng trăm người mang sang bên kia bức màn sắt. Tây phương cũng dùng hạng người này vào lãnh vực gián điệp. Tại một phiên tòa, ông thẩm phán Tây Đức Gút-đờ (17) đã phàn nàn năm 1954 về việc phản gián Tây Đức xử dụng thường phạm. CIA cũng có một cơ quan gọi là Ban Hoạt động Mật (18). Ban này kết nạp một số thường phạm làm điệp viên. 
           dùng thân nhân ở sau bức màn sắt làm áp lực:
        Pôn (19), nữ gia nhân, làm việc tại Tây Đức. Một ngày kia, cô khóc đỏ mắt vì có điện tín từ phía đông gởi tới cho biết mẹ nàng đau nặng. Nàng tất tưởi lên xe hỏa đi Ko-lô-châu (20), một thị trấn nhỏ trong vùng cộng sản, cách Đờ-rét-đen 100 cây số. Đến nơi, nàng vẫn thấy mẹ khỏe mạnh như thường. Nàng không thể ngờ được đó chỉ là mưu kế của mật vụ. Nhân tiện, nàng lưu lại chơi vài ngày với mẹ. Đêm sau, mật vụ ập tới, lôi nàng về trụ sở để thẩm vấn. Nàng từ chối, không chịu làm gián điệp. Mật vụ bèn nói : 
        -      Cái đó là quyền ở cô. Song cô đừng quên là mẹ cô sống hay chết là quyền ở chúng tôi. 
        Sợ toát mồ hôi, Pôn đành nhận lời. 
          hăm dọa cá nhân:
        Nu-mi-ơ (21), nhân viên quan thuế Tây Bá linh,
 
---------------------------
(15) tờ New York Daily News. Nữu ước Tin tức Hàng ngày. (16) Interpol. (17) Max Guede.
(18) Department of Covert Activity. (19) Ilse Pohl. (20) Klauchau. (21) Hans Noumier.
 
 
152                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
lái xe sang phía đông trong một cuộc đi chơi trăng mật. Mật vụ cộng sản chận xe lại, nói rằng vợ chồng y sẽ được tiếp tục trăng mật nếu y chịu làm gián điệp cho họ. Y không nghe theo. 15 tháng sau, vợ y nhận được một bức thư nặc danh tổ cáo y ngoại tình. Bức thư kèm theo tấm ảnh một phụ nữ trần truồng.                                 Gián điệp Ba lan đã kiên nhẫn chờ 5 năm liền mới dở trò hăm dọa. Năm 1953, I-na (22) một nhà ngoại giao Đan mạch, sang Vạc-sô-vi để thương nghị về một thỏa ước kinh tế với cộng sản Ba lan. Trước kia, đã thụt kết của bộ Ngoại giao một lần, y vẫn không bỏ được nếp sống vung tay quá trán. Ban đêm quên cả thể thống, y la cà vào quán rượu, rồi từ quán rượu... tới giường ngủ của một vũ nữ hộp đêm. Phải dốc sạch túi để trả tiền ân ái, y không còn một xu nhỏ để trả tiền phòng.
        Sực nhớ tới một người bạn làm tại bộ Ngoại giao Ba lan, y mò đến vay tiền. Y ký giấy nợ và được vay tức khắc một ngàn bạc Đan mạch. Vài tháng sau, nhà ngoại giao Ba lan tới Cô-pen-ha-gờ, thủ đô Đan mạch. Y xin được trả một phần ba tiền nợ. Người bạn tốt này gạt đi, và rút ví cho y thêm bốn ngàn nữa. Mùa hè 1953, y định trả năm trăm cho bạn, rốt cuộc lại vay thêm bốn ngàn.
        Năm 1956, y được cử làm cố vấn tòa đại sứ Đan mạch tại Bon. Năm 1958, một người mang tên Bôm-gát -ten (23) tới xin gặp y tại sứ quán. Mục đích của Bôm-gát-ten là được giới thiệu với các xí nghiệp làm máy ảnh Đức. I-na không thèm tiếp. Đêm đó, Bôm-gát-ten điện thoại cho y tại nhà, nhắc khéo món nợ bảy ngàn năm xưa của nhà ngoại giao Ba lan. Hoảng hốt, y bằng lòng tiếp Bôm-gát-ten ngay. Bôm-gát-ten đòi được xem sáu tài liệu mật cất trong sứ quán. I-na nói dối là không được phép lấy. Bôm-gát-ten mỉm cười cáo từ.
 
-----------------------
(22) Einar Blechingberg. (23) Baumgarten.
 
 
153                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
        Tháng 12-1957, trên đường đi Bá linh, thuong thuyết về thương mãi, I-na nhận được mật lệnh. Theo lệnh này, y phải gặp một điệp viên Ba lan, y không tuân theo. Ngày 5-5-1958, một phiên nhóm quan trọng của Minh ước Bắc Đại Tây dương diễn ra tại Cô-pen-ha-gờ. Bôm-gát-ten tái hiện, hăm dọa I-na, đòi xem một số tài liệu mật, nếu không sẽ tổ giác với chính phủ Đan mạch về đời tư của I-na, nhứt là việc I-na vay tiền của tình báo Ba lan. Nuốt lệ, I-na đành nghe lời. Rồi bị bắt. Ra tòa lãnh tám năm tù, dầu I-na đã 63 tuổi.
        Già chơi trống bỏi như I-na thì mất việc đáng đời, chỉ tội nghiệp cho một ông bạn già khác, vì nể cố tri I-na, nể... con vịt quay béo ngậy, mà mang lụy vào thân. Số là I-na bỏ tài liệu mật vào túi về nhà bị cô thư ký trong sứ quán nhìn thấy. Một lát sau, viên cố vấn sứ quán hỏi y mang tài liệu đi đâu, y đáp liều là cho Bờ-rô-te-rút (24), tổng lãnh sự Phần lan mượn. Viên cố vấn bèn nói: 
        -      Nếu cho tổng lãnh sự Phần lan mượn thì chẳng sao. Tuy nhiên ông hãy đưa tôi tới Bờ-rô-te-rút.            Y lái xe cho viên cố vấn tới nhà bạn. Vào bếp, y thấy Bờ-rô-te-rút đang hau háu nhìn con vịt quay vàng rộm kêu sèo sèo trong chảo mỡ. Bờ-rô-te-rút nổi tiếng trong giới ngoại giao là vua tham ăn. I-na khẩn cầu Bờ-rô-te-rút nhận dùm là đang mượn tài liệu. Nể bạn, tổng lãnh sự Phần lan bằng lòng. Nhưng viên cố vấn Đan mạch nằng nặc đòi trả lập tức. Dĩ nhiên Bờ-rô-te-rút không sao có được, vì những tài liệu này đang nằm trong tay Bôm-gát-ten. Bực mình vì con vịt quay bị nguội, kém dòn, Bờ-rô-te-rút tống khứ hai người ra cửa. Rồi trở vào nhậu nhẹt một mình.
 
-------------------------------
(24) Broterut.
 
 
154                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Mấy ngày sau, Bờ-rô-te-rút bị triệu hồi về nước. 
        «Săng ta», như trong trường hợp I-na, là phương pháp Cộng sản dùng nhiều nhứt. Vụ gián điệp sô viết tại hải cảng Pót-tờ-len (25), vụ lớn nhứt sau thế chiến tại Anh quốc, đã mang thêm một dẫn chứng mới về kỹ thuật «săng ta» thiên hình vạn trạng này.
        Năm 1961, Hô-ton (26), cựu nhân viên hải quân Anh, và nhân tình E-li-da-bét (27) bị lên án 15 năm tù về tội do thám. Sự phản quốc của y đã được Cộng sản chuẩn bị 15 năm trước. Năm 1945 giải ngũ, y nhập ngạch hành chính và sang Ba lan tòng sự trong văn phòng tùy viên hải quân Anh. Y có tật nghiện rượu và mê gái. Thiếu tiền tiêu y lao đầu vào chợ đen, nhứt là chợ đen thuốc trụ sinh hồi đó đắt như vàng ở Vạc-sô-vi. Trong một cuộc tiếp tân của sứ quán, Hô-ton mềm người như bún trước cái nhìn khêu gợi của một thiếu phụ Ba lan trẻ đẹp, mặc áo màu lục, tên là Cờ-rít-ti-na (28). Vợ y vừa bỏ về nước sau một trận cãi lớn nên y cảm thấy trống trải lạ lùng. Y bèn giao du với người đẹp. Hai người lén lút gặp nhau như kẻ trộm. Nàng thủ thỉ:
        -      Em yêu anh lắm, nhưng nếu mật vụ thấy em đến nhà anh, đến nhà một người ngoại quốc thì chết. 
        Nghe tình nhân nói, y tê tái cả lòng. Mỗi lần nàng tới nhà ân ái, đặt cây đèn ngủ dưới cửa sổ làm hiệu cho nàng biết là không có người lạ. Nàng giới thiệu y với một số người Ba lan sống
------------------------------
(25) Portland. (26) Harry Haughton. (27) Elizabeth Bunty Geer. (28) Christina.
 
 
155                                                                                                                                                         TỪ 3Z ĐẾN 3T
 
bằng nghề buôn lậu. Lợi dụng va-li ngoại giao của sứ quán, y đưa trụ sinh từ Luân đôn về Vạc-so-vi bán. Từ 1949 đến 1951, tuy tiêu pha rộng rãi y vẫn còn ở ngân hàng bốn ngàn bảng Anh, nghĩa là gần một triệu bạc Việt nam.
        Đến khi hồi hương, y vẫn không quên đuoc mối tình thơ mộng. Thỉnh thoảng y gởi son phấn biếu nàng. Tội nghiệp, một người trên ngũ tuần hai thứ tóc trên đầu như Hô-ton mà còn dại. Dại vì nàng là nhân viên mật vụ Ba lan. Mối tình xác thịt, vụ buôn bán chợ đen chỉ là sợi giây thòng lọng để y chui đầu vào. Và bây giờ thì nút giây dần dần thắt lại. Hô-ton được thuyên chuyển tới trung tâm thí nghiệm hải quân Pốt-tờ-len, nơi do thám địch đêm ngày dòm ngó. Y vẫn nghiện rượu, vẫn trai lơ, cho nên tại sở làm y bắt bồ với E-li-da-bét, một cô gái lỡ thời gần 40 tuổi. Vợ Hô-ton đòi ly dị sau hơn hai chục năm chăn gối. Từ 1951 đến 1957, tình báo Ba lan để yên cho Hô-ton vui cuộc đời mới. Đột nhiên, một người lạ gọi giây nói, báo tin của Cờ-rít-ti-na. Y tưởng tình nhân đã trốn khỏi Ba lan, ngờ đâu y chỉ gặp nhân viên Z-2, cơ quan điệp báo Ba lan. Nhân viên Ba lan nhắc lại cuộc sống chợ đen và yêu đương phạm pháp của Hô-ton ngày trước tại Vạc-sô-vi, hăm doạ nếu y không nghe, thì sẽ tố cáo hết.
        Trót đâm lao phải theo lao, y đành nhận lời làm gián điệp cho Z-2. Lần đầu, y không mang tin tức đến, nhân viên Z-2 lớn tiếng hăm doạ và nhiếc mắng. Lần sau y không tới chỗ hẹn. Tức thì gián điệp Cộng sản thuê côn đồ đánh y một trận thừa sống thiếu chết. 
        Sáu tháng sau, Z-2 lại bắt y trao tài liệu. Người tới gặp y tự xưng là Ních-ky (29), y than
 
--------------------------------
(29) Nicky.
 
 
156                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
phiền là bị hành hung thì Ních-ky cười nhạt: 
        -      Chắc họ lầm đấy. Tôi rất buồn là họ xử sự không khéo với anh. Thiếu gì cách ngọt ngào hơn, chẳng hạn treo lựu đạn ngoài cửa nhà anh, hoặc gởi biếu anh một gói đồ để anh mở ra và ăn bom. Hoặc mời anh dùng tạm chén trà bên trong có thuốc độc.
        Y rợn tóc gáy. Y ngoan ngoãn nhận bao quẹt hai đáy bên trong có chỉ thị cho những cuộc gặp gỡ tương lai. Khi y muốn gặp Ních-ky thì lấy phấn viết chữ OX lên cửa một công viên. OX gạc hai cái ở dưới có nghĩa là y muốn gặp ở tửu quán Mê-pôn (30) vào thứ bẩy đầu tháng, đúng tám giờ tối. Nếu không gặp thì hoãn tới chủ nhựt, trong tay y phải cầm tờ tạp chí Pôn-chờ (31) làm ám hiệu. Y lại bị hành hung vì không chịu cung cấp tin tức. Bọn họ vào tận nhà, đánh y nhừ tử, ngoài ra còn đòi trị tội vợ cũ của y và cô nhân tình mới Ê-li-da-bét. Sau đó, y gặp một người xưng là Dôn (32). Dôn chính là đệ nhị bí thư sứ quán Ba lan tại Luân đôn. Một thời gian sau, tình báo Ba lan chuyển Hô-ton lại cho nhân viên Sô viết do Lon-đen điều khiển. Tuy Lon-đen là tay tổ gián điệp, y vẫn bị sa lưới. Và toàn bộ tổ chức lấy tin của Cộng sản ở hải cảng Pốt-tờ-len bị phá vỡ.
 
          Hai trăm trường gián điệp Cộng sản
 
        Ít người biết hiện nay Nga sô có chừng hai trăm học hiệu và phân khoa đại học đặc biệt dạy về điệp báo. Chương trình giảng dạy gồm bốn điểm lớn: 
a -   Chánh trị đại cương: chủ nghĩa Mác, và
 
-----------------------------
(30) Maypole.  (31) Punch.  (32) John. Tên thật của y là Dojdalao.
 
 
157                                                                                                         HAI TRĂM TRƯỜNG GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN
 
lịch sử chính trị của Liên bang Sô viết. Sinh viên phải tin tưởng sắc đá là phe Cộng thắng, phe tư bản tây phương bại, thì mới được nhập học và có hy vọng tốt nghiệp. 
        b -   Tổ chức chánh tri, hành chánh, kỹ nghệ, kinh tế, quân sự của các quốc gia tự do, mà Cộng sản gọi là «phản động». 
        c -   Kỹ thuật gây rối như đình công, nổi loạn, du kích chiến núp dưới chiêu bài đấu tranh giải phóng, tuyên truyền và phản tuyên truyền. 
        d -   Kiến thức thực hành: địa lý, đồ đạc, mật mã, truyền tin, đánh mã tự, đánh máy, tốc ký máy, chụp hình, rọi hình, làm phim vi-ti, làm giấy tờ giả, học ngoại ngữ. Sinh viên còn học cách đối phó khi bị xét nhà, khi bị theo sau, và nhứt là cách phòng thân và giết người.
                Hai trường gián điệp lớn nhứt của Nga sô tọa lạc tại Ku-si-nô (1) và Lê-nin-gờ-rát (2). Mỗi trường có chừng một ngàn học viên. Trường Ku-si-nô ở gần thủ đô Mạc tư khoa, còn trường thứ hai ở vùng Sê-lô (3), trong tỉnh Lê-nin-gờ-rát. Nhiều trường trung cấp được thiếp lập tại ngoại ô thành phố Ki-ép, Kác-kốp, Gọt-ki, Ti-phờ-lít và Kờ-su-ry (4). Trường Ti-phờ-lít và Kờ-su-ry thường thu nhận học viên từ châu Á và châu Phi tới. Các điệp viên Cộng sản Bắc Việt đều thụ huấn tại Ti-phờ-lít và Kờ-su-ry. Trường Si-gun-đa (5), gần Ri-ga, xứ Lét-tô-ni (6), một nước chư hầu bị sát nhập vào lãnh thổ Sô viết, chuyên đào tạo điệp viên hoạt động tại Anh Mỹ. Còn trường Mi-khai-lô-vô thì dạy riêng về phương pháp truyền tin vô tuyến điện.
 
-----------------------------
(1)    Kuchino. (2) Leningrad. (3) Desikeye-Selo. (4) Kiev, Kharkov, Gorki, Tiflis, Khoury. (5) Sigulda.
(6) Letionie.





Đăng nhập để trả lời
0

170                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
 
giúp, cũng do nhà trường cử ra. Rất ít sinh viên ráp xong được, vì lẽ dễ hiểu hai người phụ giúp có nhiệm vụ phá bĩnh. Dặn họ lấy gỗ tròn thì họ mang gỗ vuông lại, xếp gần xong thì họ giả vờ vấp phải, đổ lung tung. Mục đích của cuộc trắc nghiệm là để đo lường mức kiên nhẫn và sức chịu đựng của sinh viên. Nhiều sinh viên đã nổi cáu khi thấy bị châm chọc. Lại có sinh viên phát khùng đánh luôn hai người phụ giúp.                                                                           
        Cuộc huấn luyện diễn ra suốt ngày. Ban đêm sinh viên mệt nhoài, định nằm xuống ngủ cho lại sức thì bị dựng dậy và lôi lên phòng. Đề tài huấn luyện : học cách bào chữa trước tòa sau khi bị bắt quả tang ăn trộm tài liệu tối mật của bộ Chiến Tranh. Sinh viên chỉ có ba phút để chuẩn bị. Bị cáo không được cãi là mắc bệnh thần kinh. Đứng trước vành móng ngựa, bị cáo phải nói, không được giữ im lặng. Trung úy Hô-lờ (1) bí danh Cốp-bơ (2), tức tràn hông, khi nghe «quan tòa tuyên như sau:
        -      Anh là người vô tích sự. Anh không có đủ khả năng ở trong OSS.
        Sau đó, y được dẫn ra một phòng vắng. Một huấn luyện viên mà y rất có cảm tình mở cửa bước vào, đon đả : 
        -      Thế nào, Cốp-bơ, thi đậu rồi chứ?
        Trung úy Hô-lờ thở dài:
        -      Hỏng, tuột rồi. 
        Huấn luyện viên mời hút thuốc rồi gợi chuyện con cà, con kê. Rồi nói giọng ái ngại : 
        -      Chắc anh sẽ được xung vào một binh chủng khác và đi mặt trận. Chẳng qua tại số cả. Vả lại
 
--------------------------
(1) Roger Hall. (2) Cobber.
 
 
 
171                                                                                                                                                         HUẤN LUYỆN O.S.S.
 
cuộc chiến tranh này theo tôi, không còn kéo dài lâu nữa đâu. Về phần tôi, tôi sẽ thi đậu hết phần cử nhân, còn anh? Anh trở về học đường chứ?
        -      Vâng, tôi cũng mong sống đề về học lại. 
        -      Anh học trường nào?
        -      Trường đại học...
        Hô-lờ giựt mình đánh thót. Các sinh viên gián điệp được lệnh giữ kín lý lịch của mình. Bị lộ, thường bị đuổi khỏi trường. Y bèn nói: 
        -      Thôi đi bồ. Đừng thủ đoạn nữa. 
        Huấn luyện viên cười:
        -      Anh khá lắm. Tấn kịch ra tòa hồi nãy cốt làm thần kinh anh căng thẳng. Sau đó, chúng tôi áp dụng chiến thuật tâm sự ngọt ngào. Mềm lòng, nhiều sinh viên đã nói hết sự thật. 
        Những cuộc nhậu nhẹt trong trường cũng là cơ hội sát hạch sinh viên. Người ta mang đến thật nhiều rượu, sinh viên tha hồ uống, uống đến say bí tỉ, trong khi đó, huấn luyện viên vẫn tỉnh khô. Rượu vào lời ra, một số sinh viên đã bị đánh hỏng. Trong trường, sinh viên phải thận trọng lời ăn tiếng nói đến nỗi khi có người hỏi : 
        -      Mấy giờ rồi anh?
        Thì trả lời: 
        -      Anh thử nhìn đồng hồ anh coi.
         Thư từ do gia đình gởi tới, sở Kiểm duyệt bôi bỏ hết tên thật và địa chỉ. Có những nơi riêng dùng để đọc thư nhà, không ai được tới phá đám. Song phải cẩn thận, đọc xong nên đốt đi, nếu không sẽ bị mất cắp. Học xong kỳ thứ nhứt, sinh viên phải thực tập trong một ngày. Mỗi sinh viên phải tìm cách lẻn vào một xí nghiệp hoặc một cơ quan quốc phòng nào trong vùng Bôn-ti-mo (3) để ăn trộm bí mật. Sau đó đến kỳ thi ba ngày, hai đêm, sinh viên phải tới một
 
----------------------------
(3) Baltimore.
 
 
172                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
máy được chỉ định trước, tìm mọi cách lấy tin tức dầu phải bẻ khóa, mở tủ kết... Nếu bị bắt, sinh viên gọi giây nói về tổng hành doanh sẽ có người can thiệp. Huấn luyện viên đi kèm, đóng vài tổ trưởng do thám. Sinh viên phải áp dụng đúng thể thức bí mật để liên lạc với thày, như là hoạt động trong vùng địch. 
 
          Phương pháp huấn luyện của I. S.
 
        Một số nhân viên I.S. đã thuật lại phương pháp huấn luyện trong thế chiến thứ hai của Anh quốc. Mặc dầu hai mươi lăm năm đã qua, phương pháp này vẫn còn được áp dụng. Sau đây là những sự việc xảy ra trong một trường tại miền tây bắc E-cốt (1) vào năm 1940:
        Ban giáo sư gồm toàn những nhân vật lạ lùng. Giáo sư dạy cách giả chữ ký, giả dấu son, giả chi  phiếu, là một đại bợm có nhiều tiền án quốc tế, được đưa từ nhà tù ra. Người này dạy sinh viên dùng quả trứng để giả chữ ký, cách làm giả các con dấu nhà Nước, cách thay chữ số trên tấm séc. Sinh viên còn học cách rút thư ra đọc trộm không cần mở phong bì, cách đọc thư không đụng tới phong bì, đọc bằng một thứ ánh sáng riêng, hoặc làm bì thư trong suốt trong giây lát. Phong bì gắn xi tưởng là bất khả xâm phạm, thật ra chỉ là trò chơi đối với nhà chuyên môn. Môn học quan trọng là cận vệ chiến. Sinh viên phải biết xiết cổ địch bằng chiếc phu la, hoặc làm địch ngạt thở mà không cần xiết cổ. Học nhảy từ xe hỏa xuống đường khi tàu đang chạy cũng là một môn cần thiết. Học xong mới đi thực tập. Đa số điệp viên đều phải học nhảy dù. Phương pháp huấn luyện của OSS hơi khác phương pháp của IS. Biệt kích Mỹ thường nhảy qua cửa phi cơ bên hông, còn biệt kích Anh lại tuột xuống
 
---------------------------
(1)    Ecosse.
 
173                                                                                                                         PHUƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN CỦA I.S.
 
bằng một cái lỗ ở sàn phi cơ. Tại đồn Ben-ninh (2), trung tâm nhảy dù Mỹ, sinh viên phải học ba tuần. Song tại Anh quốc, thời gian huấn luyện chỉ có năm ngày. Sinh viên học lý thuyết trong một ngày, còn bốn ngày tập nhảy. Tại đồn Ben-ninh, sinh viên đeo dù mở sẵn, được cần trục kéo lên một cái tháp bằng sắt cách mặt đất 80 thước, rồi được thả xuống. Trường 51 cách Luân đôn 120 cây số, tuy chỉ dạy mỗi lớp năm ngày nhưng vẫn khá đầy đủ: sinh viên học nhảy dưới đất, học lăn, học rời phi cơ, học hãm dù, học gấp dù, chôn dù...
        Trước khi lên đường, sinh viên tốt nghiệp phải tới sát hạch lần chót với sĩ quan Phản gián. Đại tá Phản gián Pin-tô (3) thuật lại có lần ba điệp viên sửa soạn nhảy dù xuống đất Bỉ, phải phục sức như người Bỉ, mà lại đeo cà vạt mang tên hiệu ở Luân đôn. Pin-tô bên trả họ về trường học lại. Trong một cuộc sát hạch, Pin-tô hỏi một sinh viên đội lốt nông gia nhảy xuống Âu châu: 
        -      Anh làm nghề gì?
        -      Thưa đại tá, nghề cày ruộng. 
        Pin-tô hất hàm :
        -      Chìa tay tôi xem.
        Pin-tô thở dài. Hai bàn tay mềm mại, trơn tru, không có chai sạn, móng tay được gọt sửa tươm tất, không có cái nào bị gẫy hoac đổi màu. Đó là bàn tay thư ký văn phòng, không phải bàn tay cày ruộng. Sinh viên này bị đánh hỏng. Có một sinh viên đóng kịch rất khéo làm Pin-tô khen ngợi. Tên y là Đu-phua (4). Y bước vào. Pin-tô trố mắt kinh ngạc, vị y không ra người, không ra ngợm, cặp mắt khờ khạo, ngu si, nước bọt xì ra mép bẩn thỉu
 
--------------------------
(2)    Fort Benning. (3) Oreste Pinto. (4) Jean Dufour.
 
174                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
và kinh tởm. Đu-phua ré lên cười, khinh miệt. Pin-tô nghiêm sắt mặt: 
        -      Anh làm trò gì thế? Anh rỡn với tôi phải không?
        Đu-phua vẫn cười ngạo nghễ. Pin-tô hỏi : 
        -      Bao nhiêu tuổi?
        -      Tuổi tớ ấy à? Ha, ha... 
        Y đập tay vào vai Pin-tô, miệng trễ ra: 
        -      Ha, ha, làm sao tớ biết bao nhiêu tuổi được. 
        -      Sinh ở đâu?
        -      Thiên lôi mới biết. 
        -      Ở đâu?
        -      Tớ ấy à? Tớ chẳng ở đâu cả. 
        -      Cha làm nghề gì?
        Đu-phua ngạo nghễ hơn bao giờ hết. Y phun nước miếng vào bàn giấy và vào bộ quân phục sạch sẽ của Pin-tô:
        -      Cha tớ là thằng điên. Thằng ma bùn.
        -      Tại sao cha anh điên? 
        -      Vì hắn làm việc. 
        -      Anh ghét làm việc à?
        -      Dĩ nhiên. Làm việc chán lắm, ngài ạ. Tớ thích lang thang ngoài đồng. Muốn uống sữa thì vào trại mà vắt. Cần nhậu thịt gà thì bẻ cổ gà rồi nhét vào nồi. 
        Cuộc sát hạch kéo dài. Đu-phua cứ ỡm ờ như thế. Rốt cuộc, giám khảo chịu thua. Đu-phua nhảy dù xuống Bỉ nhiều lần, mang tiền và mật lệnh cho gián điệp đồng minh. Lần nào y cũng thành công. 
 
          Kỹ thuật cải trang
       
        Sự thành công của Đu-phua chứng tỏ người gián điệp cần biết đóng kịch thật giỏi, biết cải trang
 
 
175                                                                                                                                                         KỸ THUẬT CẢI TRANG
 
thật giỏi. Người Anh nổi tiếng trên thế giới về phép cải trang. Ba-đen-Pao oeo (1) ông tổ hướng đạo kiêm sĩ quan gián điệp Anh, có biệt tài về môn này. Có lần quan sát những ổ súng ở đồn Cát-ta-rô của Đức (2), Pao-oeo cải trang làm chuyên viên về côn trùng học. Ông lên đường với một hộp thuốc vẽ, bút giấy, và một cuốn an-bom dán hình bươm bướm. Ông đến gần đồn Cát-ta-rô, đặt giá vẽ, rồi thản nhiên quan sát. Lính Đức tưởng Pao-oeo là họa sĩ vẽ bướm, ngờ đâu trên mỗi cánh bướm là vị trí súng máy. Lần khác, tới gần một công thự bí mật của địch, Pao-oeo bỏ vào túi chai rượu cỏ nhác. Lính gác nhìn thấy, sửa soạn tới bắt, ông bèn dốc rượu đầy mình, và chân nam đá chân xiêu, vừa đi vừa nói lảm nhảm. Thấy một anh chàng say bí tỉ, bọn lính bèn xách cổ ném ra chỗ khác. Pao-oeo thoát nạn. Một lần khác, ông bị bắt. Ông xin phép hút thuốc lá. Bọn gác bằng lòng. Họ không thể ngờ được Pao-oeo đã hút luôn bản địa đồ bí mật, giấu trong điếu thuốc.
        Điệp viên Anh Pôn Đúc-kờ (3) đã khiến đời sau khâm phục về tài hóa trang và đóng kịch siêu phàm. Hoạt động trước thế chiến thứ nhứt tại Nga, giữa lúc Lê-nin lên như sóng cồn. Đúc-kờ phải khôn ngoan lắm mới khỏi rơi vào tay mật vụ. Đúc-kờ bí danh ST 25 (4), không thích đeo râu giả mà cứ để râu cằm mọc tua tủa. Đúc-kờ rụng một cái răng cửa nên móm miệng. Mật vụ Sê-ka (5) biết rõ chuyện này nên ra lệnh lùng bắt một người mất răng cửa. Đúc-kờ giấu răng trong áo, thỉnh thoảng lại lắp vào miệng. Một chân bị đau vì nhiễm lạnh. Đúc-kờ bèn giả vờ thọt, trước dùng một cây gậy, sau dùng hai cây. Đúc-kờ lại giả vờ mắc bệnh kinh phong, tứ chi run bần bật, phì bọt mép, lưỡi líu lại, khiến công an Nga không sao tìm ra. Đúc-kờ còn giả vờ nói lắp. Trong người có nhiều vết thẹo do nghề gián điệp mà ra. Đúc-kờ lại
 
---------------------------------
(1) Baden Powell. (2) Cattaro. (3) Paul Dukes. (4) ST nghĩa là Stockholm, thủ đô Thụy điển. (5) Tchéka.
 
176                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
khoe là ở tù tại các nước tư bản, bị đánh đập. Cộng sản là kẻ thù của tư bản, nên Đúc-kờ được coi là anh hùng vô sản. Hồi đó, phần lớn dân Nga còn mù chữ nên Đúc-kờ làm chứng minh thư giả, tự phong làm nhân viên mật vụ, nghênh ngang đi lại khắp nơi. Đúc-kờ còn ghi tên vào đảng Cộng sản. Khoác binh phục vào người, Đúc-kờ trở thành sĩ quan Hồng quân, và tới phục vụ tại một trung đoàn. Thành tích thú vị nhứt của Đúc-kờ là được các bạn đồng ngũ kính phục và bầu làm đại diện trung đoàn tại Sô viết Pê-tô Gờ-rát (6).
        Di-sơn (7), một thiếu tá già Ba lan, đã làm phản gián Đức điên đầu trong thế chiến thứ hai. Trong Di-sơn cà lơ thất thểu, ăn mặc bẩn thỉu, miệng nói ba hoa, đố ai dám bảo y là sĩ quan tính báo chứ đừng nói là thủ lãnh tình báo nữa. Sự thật y là một trong những điệp viên giỏi trên thế giới. Đặc điểm của Di-sơn là lúc nào cũng say bí tỉ, song người ta không biết y say thật hay giả. Y nói huyên thuyên, song không biết đó là vô tình hay cố ý. Tưởng Di-sơn là đồ bỏ, phản gián Đức cho người trà trộn vào tổ chức do thám Ba lan, những lần nào cũng bị bại lộ.
        Muốn thành công, người làm gián điệp phải biết điên như Đu-phua, biết say như Di-sơn, biết đóng trò như Pao-oeo và Đúc-kờ. Bằng không, nên chọn nghề khác kẻo mất mạng. Bởi vậy, một trong các môn học trong trường gián điệp là cải trang. Đeo tóc giả, gắn râu giả không phải là cải trang vì ai cũng thấy. Điệp viên có thể lùn xuống năm phân bằng cách còng lưng như gù. Cũng có thể cao hơn năm phân với đôi giày gắn đế đặc biệt. Sít-ta-lin cao 1th64, nghĩa là hạng lùn ở tây phương, phải đi ủng riêng, lập đế giả năm phân. Mỗi khi duyệt
 
--------------------------
(6) Petrograd. (7) Zychon.
 
 
177                                                                                                                                                         KỸ THUẬT CẢI TRANG
 
binh tại Công trường đỏ, Sít ta lin phải đứng trên một cái bục mười phân, khiến dân Nga tưởng lầm nhà độc tài cao trên một thước bảy. 
        Lan-dơ-lan (8), điệp viện Anh, đã hoàn toàn thay đổi khuôn mặt khi nhảy dù xuống Pháp, trong đại chiến thứ hai. Sở dĩ phải thay hình đổi dạng vì sợ gặp người quen. Nằm trên bàn giải phẫu, Lan-dơ-lan được sửa vành tay, y sĩ đập vỡ xương hàm lấy xương ống chân vá vào, biến cằm tròn thành cằm bạnh. Lan-dơ-lan bị mổ hai lần, trong thời gian ba tuần lễ, dưỡng sức một tháng mới khỏe. Nửa năm sau, các vết thẹo giải phẫu biến hẳn. Tám đêm liền sau cuộc giải phẫu thứ nhì, Lan-dơ-lan không chợp được mắt, vì chỉ được nằm xắp. Hai tháng sau, để ria, đeo kiếng mát, chải tóc lại, Lan-dơ-lan bắt đầu đi ra ngoài. Từ khi ấy, y trở thành người khác.
        Tới Pháp, Lan-dơ-lan ngụ nhiều ngày trong khách sạn Công-ti-năn-tan ở Pô (9), mà chủ nhân là bạn. Hàng ngày, Lan-dơ-lan qua mặt chủ nhân nhiều lần, song người này chỉ cúi chào lễ phép như đối với khách. Sửa khuôn mặt như Lan-dơ-lan, gọi là giải phẫu chỉnh hình. Đành rằng ra nước ngoài hoạt động, điệp viên có giấy tờ giả, song bạch diện thư sinh không thể đội lốt công nhân, nghề nghiệp nào phải có bộ mặt ấy. Cơ quan gián điệp nào cũng có phòng chỉnh hình với sự hợp tác của những kỳ tài về nghệ thuật giải phẫu sắc đẹp. Đàn bà có mũi cà chua, vú trái mướp có thể đổi thành mũi dọc dừa, vú tuyết lê tại phòng giải phẫu thẩm mỹ, ngược lại, con dao mổ xẻ ít khi làm cho điệp viên khôi ngô hơn trước.
        Trước khi giải phẫu, phải chọn bộ mặt thích hợp trong số hàng trăm tấm ảnh khác nhau. Nếu điệp viên đóng vai thanh niên ăn chơi thì phải để tóc dài, chải bồng và láng, đàn anh chị bến tàu thì làm giả cái thẹo trên má, một hàm răng vàng chóe, và những con rồng uốn khúc, mỹ nữ trần truồng xâm trên ngực. Nếu phải
 
------------------------------
(8) George Langelaan. (9) Continental, Pau.
 
 
178                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
bắt chước mặt người khác, thì y sĩ nặn hai cái khuôn bằng đất sét trắng, khuôn mặt của điệp viện định sửa đổi, và khuôn mặt mới. Sau đó, y sĩ nghiên cứu kỹ lưỡng trên hai khuôn, nét nào nên thay, nét nào giữ lại. Xong xuôi, người ta mới đưa điệp viên vào phòng lạnh, chụp thuốc mê.
        Hàm răng của điệp viên cũng là một vấn để quan trọng. Lẽ thường, ai cũng có răng bịt vàng hoặc bị trám nơi sâu. Vàng bịt răng ở Hoa kỳ không giống vàng bịt răng ở Nga sô. Cách chữa răng, trám sâu và bịt vàng bên Nga khác bên Mỹ. Giả người Nga mà có răng vàng kiểu Mỹ thời sớm muộn phải ra pháp trường ăn đạn. Cho nên, nhiều khi người ta nhổ hết răng tốt của điệp viên để trồng răng mới. Hoặc cũng có khi người ta lắp cho điệp viên một cái răng giả, bên trong đựng thuốc độc, cắn mạnh vào là tắt thở trong vòng mấy giây đồng hồ. Tuy nhiên, thời giờ gấp rút điệp viên không thể chờ năm, bảy tháng, người ta đã nghĩ ra cách cải trang chớp nhoáng và giản dị. Khuôn mặt có thể méo xệch, hoặc bầu bĩnh nếu chích chất pa-ráp-phin (10) vào dưới da, hoặc chèn dưới má những miếng táo, hoặc khoai. Có thể xức thuốc cho tóc mọc thưa, hoac đổi màu tóc. Có thể làm cho da xạm đi hoặc trắng ra. Thay đổi cà vạt, mũ, kiếng mắt, cũng có thể làm khác khuôn mặt.
        Trường dạy gián điệp Đức rất quan tâm tới nghệ thuật cải trang. Sinh viên phải học chải đầu nhiều kiểu khác nhau, rẽ bên mặt, rẽ bên trái, rẽ giữa, chải lật, chải bồng. Tóc được cắt ngắn, hoặc dài, nhiều lối, lông mày cũng được gọt sửa, có khi người ta còn vẽ nốt ruồi, in vết tràm lên mặt. Có điệp viên đúc lò so bằng sắt vào lỗ mũi cho mũi phồng lên thành mũi cà chua. Lại có điệp viên dùng bút chì đen bôi răng cho đen, giống người nghiện thuốc lá nặng. Tại Đức, trong thế chiến thứ hai, sinh viên gián điệp thường học từng người, nếu cần học chung thì phải đeo mặt nạ. Tuy vậy, cũng có
 
-----------------------------
(10) paraffine.
 
 
179                                                                                                                                                         KỸ THUẬT CẢI TRANG
 
trường học chung để sinh viên dễ nhận ra nhau khi hoạt động trong vùng địch. Khi tới trung tâm huấn luyện, khoá sinh được đưa bất thần vào một căn phòng, khám bịnh từng li từng tí. Sau đó, y ra ngoài trường bắn. Đột ngột, một ổ đại liên nhả đạn, nhiều người trúng đạn ngã xuống. Y sĩ lập tức đặt ống nghe vào ngực khóa sinh xem y xúc cảm đến mực nào. Nếu tim đập quá mạnh, y sẽ bị loại ngay. Đoạn khóa sinh phải ngồi trên một cái ghế quay phải, quay trái, quay lung tung, như ghế phi công, xem y có hồi hộp không. Y được mặt áo riêng bằng cao su, bên trong bơm hơi, đội mũ phi công, ngồi vào một ghế quay thứ hai. Ghế quay tít, hất y ngã xuống. Nhờ áo bơm hơi, y không bị thương. Y phải trèo lên, ngã xuống như thế nhiều lần. Đến khi không mặc áo, không đội mũ mà té vô sự thì mới chấm dứt tập dượt. Mục đích của sự huấn luyện này là tập cho khóa sinh nhảy tàu, nhảy xe đang chạy không bị thương.
        Trong thế chiến vừa qua, một số điệp viên bị bắt vì không thận trọng trong việc cải trang. Điệp viên phải nhớ sự cải trang của mình từng giây từng phút. Nếu y nhuộm tóc thì đừng quên nhuộm nhạt, hoặc đậm hơn. Có lần một điệp viên đi qua biên giới, chân khập khà khập khiễng nên không bị để ý. Song y quên không cà nhót khi vượt khỏi trạm gác. Lính gác nghi ngờ, rượt theo, bắt lại. Đôi khi, để khỏi quen, người ta để sỏi vào giây để đi cà nhót. Hoặc bàn chân 41 thì đi giày 38, hoặc làm một giày cao, một giày thấp. 
          Kỹ thuật liên lạc
       
        Cuối năm 1938, một thanh niên người Anh, cổ quấn phu la trắng, tay cầm giây lưng da, đứng trước sở bưu điện Giơ-neo chờ một thiếu phụ, tay trái xách túi, bên trong có một cái gói màu lục và tay phải cầm quả cam.
 
 
180                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Thiếu phụ, một người cao đẹp, đều đặn, tiến thẳng về phía thanh niên, miệng nói : 
        -      Xin lỗi, thắt lưng này ông mua ở đâu?
        Thanh niên đáp:
        -      Tại một tiệm đồ sắt ở Ba lê. Còn cam của cô mua ở đâu?
        -      Ồ, tôi có thể nhường lại cho ông với một đồng pen-ny (1). 
        Phu la trắng, giây lưng da, gói màu lục, trái cam là ám hiệu. Còn những câu chuyện mua giây lưng, và mua cam, cũng đều là ám hiệu liên lạc giữa hai điệp viên Sô viết, chàng là Phút (2) bí danh Dim (3), nàng là Suyn-dờ (4) bí danh Sô-nia. Mọi cuộc liên lạc giữa nhân viên gián điệp đều được bố trí như trên.
        Trung tá Sô viết Hay-ha-nen hoạt động năm năm tại Mỹ, sau đó xuất thú với cơ quan an ninh, đã tiết lộ các thủ đoạn liên lạc của do thám cộng sản. Gặp Sờ-vi-rin (5), nhân viên Sô viết, để nhận chỉ thị, y phải thắc cà vạt xanh, sọc đỏ, và hút ống điếu, tuy y không nghiện thuốc. Khi tôi gặp nhà bác học nguyên tử Kờ-lốt Phút (6), nhân viên giao liên Gôn (7) đeo găng tay, tay trái cầm một đôi găng, nách cặp sách, còn Phút cầm quả banh tơ nít. Nga sô thường bắt điệp viên gặp nhau cách nơi họ ở rất xa, có khi xa cả ngàn cây số. Bác sĩ Sót, trùm gián điệp Sô viết tại Nhựt, đã phải rời Đông kinh đi Hương cảng để gặp một nhân viên liên lạc.
        Sót vào một tiệm ăn, ngồi xuống bàn. Đúng giờ đã định, nhân viên liên lạc Sô viết rút trong túi ra
 
--------------------------------
(1) Penny, tiền Anh. (2) Alexander Foote. (3) Jim. (4) Ursula Maria Hamburger Schulz. (5) Svirin.
(6) Klaus Fuchs. (7) Harry Gold.
 
 
181                                                                                                                                                         KỸ THUẬT LIÊN LẠC
 
một điếu xì gà Ma-ni to tướng nhưng không châm lửa. Sót bèn đứng dậy, lại quầy két, lấy ống điếu ra cầm tay và cũng không hút. Khi hai người đã nhận ra nhau, nhân viên Sô viết đốt xì gà và Sót châm ống điếu. Nhân viên liên lạc ra trước, Sót theo sau tới một công viên. Người thứ nhứt chào : 
        -      Kát-su (8) gởi lời thăm bạn. 
        Người thứ nhì đáp : 
        -      Gút-ta-vờ (9) chào bạn.
        Đôi khi, gián điệp hẹn nhau bằng điện thoại. Nhưng họ đều nói bằng ám hiệu. Có hai phương pháp cộng và trừ. Hẹn gặp năm giờ, có thể là sáu hoặc bốn giờ. Hẹn thứ ba, có thể là thứ tư hoặc thứ hai. Hoặc gởi cho nhau một tờ báo. Hô-tôn, nhân viên trong tổ chức gián điệp Sô viết tại Pót-tờ-len (1), phải tới gặp cấp trên tại một quán giải khát, mỗi khi nhận được một phong bì trắng, bên trong đựng tờ quảng cáo của một hãng làm máy hút bụi. Gián điệp Sô viết và Mỹ còn một phương pháp gặp nhau khác nữa, đó là xé tờ giấy bạc làm hai, mỗi người giữ một nửa. Đem ráp lại thấy đúng là được. Năm 1960, trước khi cất cánh trên chiếc phi cơ trinh sát U-2 tại Pa-kít-tăng để bay trên vùng trời Nga sô, phi công Mỹ Gary Pao-ớt đã nhận từ tay đại tá Senton (10), nửa miếng vải đen, cắt hình răng cưa. Nửa miếng kia được cất ở căn cứ Bô-đô (11), Na-uy. Khi đáp xuống Na-uy, Pao-ớt phải nộp mảnh của mình để làm ám hiệu nhận diện. Sở dĩ CIA thận trọng như vậy vì sợ gián điệp địch mạo nhận làm Gary Pao-ớt.
        Trung ương Mạc tư khoa kiểm soát từng li từng tí mỗi cuộc gặp gỡ giữa điệp viên hải ngoại. Một nhân viên Sô viết có nhiệm vụ gặp bác sĩ A-lăn May tại Luân đôn để lấy tài liệu. Đại tá Da-bô-tin điện về Mạc tư khoa, đề nghị thể thức gặp gỡ. Mạc tư khoa
 
--------------------------
(8) Katcha. (9) Gustave. (10) Shenton. (11) Bodoe.
 
 
182                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
bác bỏ đề nghị của Da-bô-tin, và đưa ra những chỉ thị khác. Muốn hiểu rõ sự tỉ mỉ này tưởng cần đọc hết nguyên văn những bức điện trao đổi dưới đây giữa đại tá Da-bô-tin, phụ trách gián điệp tại Gia-nã-đại, và giám đốc điệp báo tại Mạc tư khoa (tài liệu trích trong hồ sơ Nga sô) :
                                                                                                                                Số 10458
Gởi Gờ-ran (12) tham chiếu số 218
Hãy hoàn bị và điện trình những sửa soạn về ám hiệu và cuộc gặp của A-lếch (13) và nhân viên ta tại Luân đôn. 
        Giám đốc. 
18-7-1945. Số 244. 
Kính gởi Giám đốc, 
        Chúng tôi đã hoàn bị những điều kiện về cuộc gặp gỡ với A-lếch tại Luân đôn. A-lếch sẽ làm việc tại trường Kinh (14). Có thể tìm y trong điện thoại niên giám. 
        Gặp gỡ ngày 7-17 và 27-10 ngoài đường trước viện Bảo Tàng Anh quốc. Giờ: hai mươi ba giờ. Dấu hiệu nhận nhau: một tờ báo dưới tay trái. Ám ngữ: có nhiều điều cần nói về Mi-ken (15). A-lếch không thể lưu lại Gia-nã-đại. Đầu tháng chín, y sẽ phải về Luân đôn bằng phi cơ. Trước khi đi, y sẽ tới nhà máy uyraniom ở quán Pê-ta-oa-oa (16) và lưu lại chừng hai tuần. Y hứa gặp ta trước khi khởi hành. Y nói sang năm sẽ trở lại Gia-nã-đại, ở một tháng. Chúng tôi đã đưa hơn năm trăm đô la cho A-lếch. 
                                                                                                                                Gờ-ran
 
--------------------------------------
(12) Grant, bí danh của đại tá Da-bô-tin.  (13) Alek, bí danh của nhà bác học Allan Nunn May.
(14) King’s College Strand. (15) Mikel. (16) Petawawa.
 
 
183                                                                                                                                                         KỸ THUẬT LIÊN LẠC
 
8-8-1945                                                                                                               Số 11955
Gởi Gờ-ran, tham chiếu số 244.
        Những sửa soạn cho cuộc gặp gỡ không được thích hợp. Yêu cầu theo chỉ thị sau đây: 
1-    địa điểm: trước viện Bảo Tàng Anh quốc ở Luân đôn, trên đường Rớt-seo (17), phía bên kia đường, cạnh đường Muydiom (18), từ phía đường Tốt-ten-ham (19) đi lại. Tôi nhắc lại. Tốt-ten-ham. Còn nhân viên của ta thì đi ngược chiều từ Sao-tam-Ton (20) tới. 
2-    giờ: như đồng chí định. Tuy nhiên, thực tiễn hơn là gặp vào lúc hai mươi giờ, nếu A-lếch bằng lòng, vì gặp hai mươi ba giờ, trời đã khuya. Hãy định giờ với A-lếch và điện về báo cáo quyết định của A-lếch. Nếu cuộc gặp gỡ không thể diễn ra trong tháng mười, hãy hoãn tới những tháng kế tiếp, cùng ngày cùng giờ.
3-    dấu hiệu nhận nhau: A-lếch cầm tay trái tờ Thời báo (21), còn nhân viên ta cầm trong tay trái tạp chí Pít-chơ Pốt (22). 
4-    ám ngữ: nhân viên ta nói: đường gần nhứt tới Sơ-tờ-ran (23) là đường nào? A-lếch đáp: ông hãy theo tôi. Tôi đang đi tới đó. Bắt đầu câu chuyện, A-lếch sẽ nói: có nhiều điều cần nói về Mi-ken. 
        Yêu cầu làm tờ trình về việc chuyển chỉ thị trên cho A-lếch. 
                                                                                                                                Giám đốc.
        Sự tỉ mỉ của Trung ương Mạc tư khoa nhiều khi trở thành vô ích và lố bịch. Một nhân viên gián điệp ở Úc châu xin phép sắm xe hơi, Mạc tư khoa buộc y phải làm báo cáo về hình dáng chiếc xe hơi.
 
------------------------------------
(17) Great Russell. (18) Museum Road. (19) Tottenham Court. (20) Southampton Road. (21) The Times.
(22) Picture Post. (23) Strand.
 
184                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Pa-kô-mốp (24) đại diện thông tấn Tát tại Úc đã bị khiển trách vì không tuân theo chỉ thị về sửa xe hơi, do Mạc tư khoa ấn định.
        Hầu hết các cuộc gặp gỡ đều diễn ra ngoài công lộ, nên gián điệp phải tuyệt đối đúng giờ, không được tới sớm, cũng như không được tới chậm. Chờ nhau nhiều nhứt là năm phút. Eô-tô-mát (25), điệp viên lỗi lạc của Anh trong thế chiến thứ hai, được biết tiếng dưới bí danh Con thỏ trắng, đã sa lưới Dét-ta-pô trong khi đứng đợi một thuộc viên ở Ba lê. Có hai loại gặp, gặp thường và gặp cấp cứu (26). Chỉ khi nào có việc tối quan trọng, điệp viên mới áp dụng lối gặp cấp cứu. Đôi khi, điệp viên gặp nhau trong một căn phòng bảo đảm an ninh (27). Có thể đó là nhà riêng của một nhân viên không bị cảnh sát nghi ngờ. Có thể đó là một phòng thuê trong bin-đinh, dưới tên giả, không có người ở, làm ổ uyên ương. Cảnh sát Hoa kỳ đã có một tổ chức tân kỳ để theo dõi và chộp bắt quả tang điệp viên địch. Hai mươi bảy nhân viên FBI và sáu xe ca vô tuyến đã được bí mật huy động để theo sau thiếu phụ Mỹ Cốp-lơn và gián điệp Sô viết Gu-bít-sép (28). Cặp tình nhân do thám này dùng mọi phương pháp khoa học để thoát hiểm, song vẫn bị bám sát. Họ thay xe buýt, lên xe họ ngồi riêng mỗi người một nơi. Trong xe có 15 hành khách thì năm đã là nhân viên FBI. Chờ xe chạy, cửa đóng lại bằng điện, đôi tình nhân mới nhảy xuống đường, làm nhân viên FBI bị kẹt. Thế mà rốt cuộc họ vẫn bị bắt.
       
          Kỹ thuật chuyển tin
 
        Dầu hoạt động ở đâu, điệp viên vẫn phải liên lạc với bộ chỉ huy để gởi tin, nhận chỉ thị, và nhận tiền, nên vấn đề giao liên và chuyển tin là công tác quan trọng bực nhứt của nghề do thám. Truyền tin phải thật nhanh, thật kín. Thật nhanh vì tin tức bị
----------------------------
(24) Pakhomon. (25) Yéo-Thomas. (26) tiếng Anh là emergency meeting. (27) tiếng Anh là safe house.
 
 
185                                                                                                                                                         KỸ THUẬT CHUYỂN TIN
 
chậm sẽ mất thời gian tính. Thật kín, vì nếu lọt vào tai đối phương, toàn bộ tổ chức sẽ bị phá vỡ.
        Phương pháp chuyển tin tiện nhứt và kín nhứt là bằng miệng. Ngoài ra, còn có 15 cách chuyển tin khác : bưu điện, nhân viên giao liên, điện đài, điện thoại bí mật, điện thoại thường, điện tín, chim bồ câu, phi cơ, người chạy tin, chó đưa tin, dấu hiệu bằng cờ, dấu hiệu bằng đèn, dấu hiệu bằng ánh sáng, hỏa tiễn và pháo bông. Còn nhiều phương pháp khác, thay đổi, ứng biến theo hoàn cảnh. Người ta đã chuyển tin bằng cách đốt lửa trên núi, hoặc thắp và tắt đèn sau cửa sổ để ráp thành mã tự. Ngày xưa ở bên Tàu nước lớn bị ngoại xâm thường đốt ụ lửa để các nước chư hầu tới cứu. Người ta còn nhớ chuyện U vương sai đốt chín ụ lửa để mua vui cho Bao Tự để rồi mất nước. Tháng 9-1914, quân đội Áo-Hung thất trận tại Ba lan vì nhân dân nước này báo hiệu các ổ trọng pháo bằng khói ban ngày, và đèn ban đêm. Trong cuộc chiến tranh Bô-ơ (28), điệp viên bản xứ hoạt động cho Anh quốc đã vạch đường tiến quân bằng cách đẽo vỏ cây, hoặc kéo nghiêng ngọn cây, hoặc bỏ cỏ xanh dưới đất làm hiệu. Trong thế chiến thứ hai đã xảy ra trường hợp kim đồng hồ nhà thờ được vặn theo một hướng riêng để báo hiệu nơi địch đóng quân.
        Điệp viên không gởi báo cáo thẳng cho bộ chỉ huy ở nhà mà gởi qua trung gian, gọi là hộp thư. Có hai loại hộp thư, sống và chết. Điệp viên Đức ở Anh và Mỹ gởi thư tới một số địa chỉ ở các quốc gia trung lập, trong thế chiến, như vậy là hộp thư sống. Giấu tài liệu vào kẽ hở trong tường, hốc cây, cầu tiêu... cho người khác tới lấy, như vậy là hộp thư chết. Dùng hộp thư chết có cái lợi là người gởi không thể biết mặt người nhận. 
        Hệ thống gián điệp do đại tá A-ben điều khiển tại Mỹ thường chuyển tin bằng hộp thư chết. Có ba
 
----------------------
(28) Boers.

Đăng nhập để trả lời
0

186                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
hộp thư chết trong vùng Nữu ước, một cái lỗ dưới hàng rào sắt, cái lỗ dưới cây đèn điện, và một cái lỗ trong bực tam cấp xi măng của vườn hoa. Trung tá Sô viết Hayhanen, đầu thú cơ quan an ninh Mỹ, đã dẫn FBI tới bực tam cấp trong công viên Triển vọng (28) ở Nữu ước. Hai năm trước, y giấu trong lỗ một cây đinh rỗng ruột, trong đựng mảnh giấy. Nhân viên vệ sinh Mỹ đã vô tình trét kín lại bằng xi măng. Lần đầu tới Nữu ước bằng tàu thủy, Hayhanen báo tin cho bộ chỉ huy gián điệp Sô viết biết mình tới nơi bằng cách găm kim vào một tấm bảng giao thông. Hàng ngày, y quay lại chỗ găm kim xem cây kim được rút ra chưa. Rút ra rồi có nghĩa là bộ chỉ huy đã biết. Cũng theo Hayhanen, lấy phấn màu xanh vạch đường ngang có nghĩa là tài liệu bí mật đã được bỏ vào hộp thư chết, vạch đường dọc tức là tài liệu trong hộp thư được lấy ra rồi.
        Trước thế chiến, Đức quốc xã có hai hệ thống do thám ở Anh. Cả hai hệ thống đều dùng tiệm uốn tóc làm hộp thư. Bà Dót-đăn (29) chủ tiệm, một góa phụ ở Đơn-đi (30) nhận chỉ thị của tình báo Đức trá hình làm thư từ, từ các nước trung lập gởi tới, để chuyển lại cho các điệp viên ở Anh. Bà Dót-đăn nhận được quá nhiều thư, lại quá hào phóng với bưu tá nên Phản gián Anh để ý. Đại tá Cúc (31) đặt văn phòng tại phòng 505 bộ Chiến tranh tức là trụ sở M15 ra lệnh mở thư của bà Dót-đăn để kiểm duyệt ngầm. Kết cuộc: hộp thư Dót-đăn bị bốn năm tù, hệ thống do thám quốc xã tan vỡ.
        Đại tá Áo Rét (32) làm gián điệp cho Nga trước thế chiến thứ nhứt đã dùng bưu điện để liên lạc với Mạc tư khoa. Nga gởi tiền cho Rét bằng thư dán kín, theo thể thức lưu trữ tại bưu điện. Và Rét mất mạng. Phúc trình của đại tá Sô viết A-ben gởi từ Mỹ về Mạc tư khoa, được giấu trong các tờ báo gởi tới một thùng thư lưu trữ ở Ba lê.
 
-------------------------
(28) Prospect Park. (29) Jessie Jordan. (30) Dundee. (31) Cooke. (32) Alfred Redl.
 
 
 
187                                                                                                                                                         KỸ THUẬT CHUYỂN TIN
 
                Chuẩn bị tấn công Trân châu cảng, gián điệp Nhựt tại Honolulu đã chuyển tin một cách tài tình. Ku-en (33) dùng hai căn nhà mát dọc bờ biển để gởi tin. Ban đêm, y thông tin cho hạm đội Nhựt ngoài khơi bằng cách thắp đèn trong nhà. Tùy theo nơi để đèn, giờ thắp, Ku-en có thể báo cáo mọi việc xảy ra tại Trân châu cảng. Chẳng hạn, thắp đèn từ nửa đêm tới một giờ sáng ở cửa sổ phía đông, nghĩa là các hàng không mẫu hạm Mỹ đã rời bến. Thắp đèn trên nóc từ bảy đến tám giờ tối là các tuần dương hạm đã cập bến. Gián điệp Nhựt còn đốt lửa tại một vài hòn đảo nhỏ gần Trân châu cảng làm ám hiệu. 
 
                   Chuyển tin bằng vỏ trứng, mực bí mật, chim bồ câu và ám hiệu
 
        Hộp thư chết là phương pháp chuyển tin chắc chắn nhứt, nhưng nếu «bưu tá» nghĩa là người tới lấy tài liệu để mang đi, phản thùng thì toàn bộ tổ chức bị bại lộ. E-min (1) là điệp viên Tiệp khắc cừ khôi, hoạt động hết sức khôn ngoan, mà vẫn bị tóm cổ vì «bưu tá» phản thùng. E-min gởi từ Đức về Tiệp nhiều tin tức quan trọng, giúp phe cộng khám phá ra một số nhân viên gián điệp tây phương trà trộn phía sau bức màn sắt. Mọi tin tức y đều bỏ vào hộp thư chết. Chẳng may cho y, tên bưu tá là một tay buôn lậu quốc tế, ăn lương Tiệp khắc lại muốn ăn cả lương Tây phương. Phản gián Mỹ phăng ra các hộp thư chết, lấy tài liệu ra chụp hình, rồi bủa vây chung quanh. E-min vừa ló mặt ra, đã bị còng tay, ra tòa, lãnh mười hai năm tù.
        Vì hộp thư chết chưa được hoàn toàn an ninh, người ta đã nghĩ ra nhiều cách chuyển tin khác. Một trong những cách thường dùng là chuyển tin bằng vỏ trứng. Do thám quốc xã phát minh một cách viết
 
----------------------------
(33) Kuehn. (1) Emil Sziwierinia.
 
 
188                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
trên trứng rất tiện lợi : họ viết bằng a xít a-xê-tít (2) lên vỏ trứng sống, khi nước cường toan khô đi, họ luộc chín trứng, chữ viết được in vào trong, không để lại vết tích trên vỏ, dầu là quan sát bằng kính hiển vi. Năm 1916, Pháp Đức lâm chiến trên mặt trận sông Som (3). Nửa làng bên này do quân Pháp đóng, nửa làng bên kia là khu phi chiến. Khi hai bên ngưng bắn, nông dân vượt qua khu phi chiến để buôn bán. Một thiếu phụ ở vùng Đức hàng ngày sang vùng Pháp thăm em trai. Lần nào, thị cũng bị phản gián Pháp hỏi cung và lục soát, song cũng như mọi nông dân chất phác khác, thị không có điểm nào khả nghi. Một ngày kia, thăm em xong, thị vượt qua đồn canh cuối cùng, mang bên hông cái rổ đựng đồ ăn trưa gồm bánh phết bơ và trứng luộc. Viện sĩ quan Phản gián quen mặt tiếp đón niềm nở. Ông chỉ hỏi qua loa vài câu cho đúng thủ tục rồi cho đi. Trong khi hỏi chuyện, ông táy máy lục đồ trong rổ, cầm một quả trứng luộc tung lên. Đột nhiên, nét mặt thiếu phụ biến đổi. Viên sĩ quan Phản gián tiếp tục đùa với quả trứng, thiếu phụ không giấu được niềm lo sợ. Sinh nghi, viên sĩ quan bèn khám kỹ quả trứng. Vỏ trứng trắng hồng không có gì đáng ngờ. Bóc vỏ ra, trên lòng trắng trứng hiện ra những giòng chữ nhỏ lí tí, và những cái dấu màu hung hung. Dưới kiến hiển vi, người ta khám phá ra họa đồ khu hành quân của quân đội Anh, với cả tên sư đoàn, tiểu đoàn tham chiến. Thì ra, thiếu phụ chất phác này là gián điệp Đức. Thị bị đưa ra tòa án quân sự và xử bắn.
        Un-uy-be, trùm do thám và phá hoại Sô viết (4) tới Bá linh sáu tuần lễ trước khi Hồng quân kéo vào. Y mang theo một số điệp viên để tổ chức do thám, dọn đường chiếm đóng của Hồng quân. Từ Bá linh, Un-uy-be gởi ra ngoài bản họa đồ đầy đủ về 12 khu vực trong thành phố, các hầm cố thủ về bê tông cốt sắt, và các ổ súng của quân đổi quốc xã. Một
 
----------------------------
(2) acide acétide. (3) Somme. (4) Ernst Wellocber.
 
 
189                                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG VỎ TRỨNG
 
người thợ khắc giỏi, nhân viên của Un-uy-be, khắc lên trên trứng từng mảnh của bản họa đồ, rồi giao cho một nữ cán bộ giao liên tên là Su-le (5) cải trang làm người bán trứng, vượt phòng tuyến Đức. Nhờ trứng của Un-uy-be, Hồng quân biết rõ hệ thống bố phòng Bá linh, và tiết kiệm được nhân mạng trong cuộc tấn công để chiếm đóng thành phố.
        Người ta còn dùng mực bí mật trong việc chuyển tin. Hồi nhỏ, chúng ta viết thư cho nhau bằng xà bông hòa nước, đem hơ lửa, chữ màu nâu hiện ra. Ngày nay, bất cứ sinh viên hóa học nào cũng chế được mực bí mật. Chẳng hạn a-xít cờ-lo-rid-rích(6), trộn với dăm bào sắt, pha nước, sẽ ra một thứ mực đặc biệt. Muốn đọc, chỉ cần nhúng bông vào nước phê-rô xi-a-nuya pô-tát-sium (7), quét lên trên là nhìn thấy chữ màu xanh rực rỡ, như mực xanh da trời Oe-tét-man (8) bán trong tiệm sách. Đề phòng tài liệu viết bằng mực bí mật bị đọc lén, người ta chế tạo một loại giấy riêng, hễ phủ một hóa chất lạ nào lên là tờ giấy nhão nhoẹt không đọc ra chữ nữa. Các tòa đại sứ lại có phương pháp riêng để kiểm soát xem tài liệu mật cất trong va li ngoại giao có bị mở trộm không. Người ta bôi vào mép giấy một thứ thuốc, đụng tay vào là giấy đổi màu, hoặc in vân ngón tay vào giấy Truy dấu tay, người ta có thể biết ai đọc trộm. Ngày nay đã có hàng trăm thứ mực và hàng trăm cách khám phá khác nhau. Trong thế chiến, Đức quốc xã chế được một thứ mực riêng, pha với máu người, viết thành màu đỏ tươi, trong ba phút biến mất, khi hiện lên là màu lục thật đẹp. Điệp viên Đức hoạt động tại Ái nhĩ lan, trong thế chiến đều mang trong người một thứ mực bí mật. Mực này thấm vào bông, thành màu vàng, may vào vai áo vét-tông, như đệm vải thường. Khi cần thì dúng bông vàng vào nước, lấy que diêm bọc bông ở đầu, viết lên giấy. Muốn đọc thành chữ thì hơ bức thư lên ngọn lửa.
 
---------------------------------
(5) Frieda Schueler. (6) acide chlorhydrique. (7) ferro cyanure-de-potassium. (8) Waterman.
 
 
190                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Trong thế chiến, một điệp viên Đức quá cẩn thận về việc dùng mực bí mật nên bị lột mặt nạ. Tim-mơ-man (9), người Bỉ, vượt qua Pháp, tới Tay-ban-nha. Y bị giam tại Bác-xơ-lon (10) tới khi lãnh sự Bỉ can thiệp cho y đuoc phóng thích. Đội lốt người Bỉ chóng Đức, y được di cư sang Anh. Năm 1943, Tim-mơ-man đặt chân lên Luân đôn. Khám bót phơi, Phản gián tìm thấy mấy que tăm, một gói bột trắng và một miếng bông gòn. Ba thư này ở đâu chẳng mua được. Tim-mơ-man cẩn thận quá nên bỏ mạng. Bột trắng là pyrami-đông (11) hòa với nuớc, và rượu, thành mực bí mật. Que tăm bằng gỗ cam, bọc bông ở đầu để viết khỏi rách giấy. Bao nhiêu công trình sửa soạn của mật vụ quốc xã tan thành mây khói. Điệp viên Tim-mơ-man bị xử giảo ngày 7-7-1942 tai nhà giam Oan-oắt (12).
        Một thiếu nữ Pháp làm giao liên cho kháng chiến, mang trong người nhiều tin tức bí mật mà phản gián Đức không sao tìm ra. Nàng áp dụng một thủ đoạn giản dị : viết tin vào người. Mỗi khi lãnh nhiệm vụ, nàng cởi áo ra, rồi một người bạn gái dùng mực bí mật viết lên lưng trắng toát của nàng. Mực khô rồi, nàng mặc áo lại. Tới nơi, nàng cởi áo ra, quay lưng lại lò sưởi. Hơi nóng làm chữ nổi lên. Sĩ quan tình báo đồng minh chỉ việc thản nhiên chép lại. Nữ giao liên này có một thân hình rất đẹp nên các sĩ quan đồng mình tranh nhau tiếp nàng. Có một điều lạ: sĩ quan nào cũng nắn nót chữ viết, cố kéo dài thời giờ. Dĩ nhiên mỗi khi chép tin, các sĩ quan trẻ tuổi thường giả vờ đứng dậy, hút thuốc, đi vòng ra phía trước để ngắm tấm thân ngà ngọc.
        Từ nhiều năm nay, người ta đã chuyển tin bằng chim bồ câu. Đu-cờ-lốt (13) và Bê-rét ni-kốp là nhân viên Phòng Nhì đầu tiên của tướng Đờ-gôn đặt chân lên đất Pháp bị Đức chiếm đóng, có nhiệm vụ tổ chức
 
--------------------------
(9) Timmermans. (10) Barcelone. (11) pyramidon. (12) Wandsworth. (13) Duclos, Beresnikoff.
 
 
191                                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG BỒ CÂU
 
tình báo cho Kháng chiến, trên miền duyên hải tây bắc. Hai điệp viên này mang theo một rổ chim bồ câu. Trong sương mù rạng đông lạnh buốt, họ giấu rổ chim vào hốc đá dọc bờ biển. Đó là những con bồ câu đầu tiên được đưa qua nước Pháp để lấy tin cho kháng chiến. Sau đó, không quân Anh thả bồ câu xuống vùng bắc Pháp, theo lời yêu cầu của đại tá Đờ-oa-rin (14) bí danh Pát-sy (15), chỉ huy Phòng Nhì của tướng Đờ-Gôn. Đại tá Pát-sy ra lệnh cho nhân dân Pháp, hễ ai muốn chuyển tin cho kháng chiến, thì viết vào mảnh giấy, nhét vào vòng đeo ở cẳng chim, rồi sáng sớm thả chim bay đi. Nếu bắt được chim mà không có tin thì chuyển cho người khác. Một thời gian sau, Đức phá hỏng kế hoạch này bằng cách thiết lập một trung tâm nuôi và săn chim bồ câu trong vùng Xanh-lô (16).
        Người Pháp còn nhớ nhiều giai thoại về việc gởi tin bằng chim bồ câu. Dân làng bị Đức bắt đi làm xâu, mang về cho ba Vô-cờ-lin, nhân viên kháng chiến một con chim. Chỉ nghĩ đến việc chuyển tin đi, bà quên bẵng là giữ chim bồ câu trong nhà có thể bị quân Đức phạt tử hình. Năm giờ sáng, còn một giờ rưỡi nữa mới hết giới nghiêm, bà Vô-cờ-lin tung bồ câu qua cửa sổ lên nền trời tranh tối, tranh sáng. Không dè chim vướng phải dây kẽm phơi quần áo, ngã lăn cù xuống đường. Quân đội Đức thấy được thì ca sớm sẽ bị khủng bố. Con chim quái ác lại bay lên đầu ở nóc nhà, nơi đồn trú của một số binh sĩ quốc xã. Mãi đến sáu giờ rưỡi, nó mới chiu vỗ cánh bay đi. Đêm ấy, tin tức của gia đình Vô-cờ-lin đến tay tình báo đồng minh (17).
        Một thiếu phụ ở đảo Cót-sờ (18) đã nghĩ ra một lối thông tin độc đáo. Nàng phải liên lạc với một điệp viên đồng minh, song người này bị theo dõi gắt gao nên không dám đến nhà nàng. Nàng bèn chuyển tin bằng cây sào phơi quần áo. Đường phố ở Cót-sờ
 
-------------------------------
(14) Dewavrin. (15) Passy. (16) Saint-Lo. (17) Vauclin. (18) Corse.
 
 
192                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
vốn chật hẹp, nhà sửa san sát như bát úp, quần áo giặt xong thường phơi trên cây sào gác qua đường, từ nhà này sang nhà kia. Thiếu phụ vắt quần áo ướt lên sào, lát sau lấy xuống, thay quần áo khác. Điệp viên đồng minh ở xa, nhìn ống viễn kính, chỉ cần xem cách phơi áo, phơi bao nhiêu cái, phơi màu áo nào, căn cứ vào những định lệ từ trước thì biết tin tức ra sao.
        Một thiếu phụ làm việc cho Nga sô thường đến phòng nha y, lấy cớ vào cầu tiêu, giấu tài liệu trong cái giựt nước. Một giờ sau, viên nha sĩ có hẹn chữa răng cho bác tài của sứ quán Sô viết. Bác tài thản nhiên vào cầu tiêu, lấy tài liệu bỏ túi.
        Một thiếu nữ Thụy sĩ, làm giao liên cho Đức quốc xã, có nhiệm vụ tới gặp điệp viên Đức hoạt động tại Pháp, lấy tin về khu vực tiến quân của Anh. Nàng phải ghi nhớ tên các đơn vị tham chiến, song nàng không thể viết lên giấy. Nàng bèn mang theo một va li quần áo lót. Nàng thêu vào đồ lót nhiều bông hồng. Nhánh các bông hồng hợp lại thành bản đồ khu vực, sư đoàn mang số bao nhiêu thì bông hồng được thêu ngần ấy mũi kim. Chẳng hạn đó là sư đoàn hai mươi mốt, bông hồng mang hai mươi mốt mũi chỉ. Vết kim song hàng là các sư đoàn đóng gần nhau. Vết kim xa nhau là sư đoan trừ bị. Sư đoàn Úc, Gia-nã-đại, hoặc sư đoàn khinh binh được thêu bằng chỉ màu, mọi màu tượng trưng cho một quốc tịch, hoặc một binh chủng. Thiếu nữ qua lại biên giới như đi chợ, phản gián đồng minh không biết gì hết. Nàng bền dạy lại cho một người bạn gái, và người này bắt chước. Tai hại là cô gái giao liên này có tính tiết kiệm, không muốn dùng đồ lót đắt tiền. Vì hà tiện mà nàng mất mạng. Một ngày kia, tại trạm gác ở Ba-lờ (19), nàng bị khám xét. Nữ cảnh sát Pháp ngạc nhiên vì đồ lót rẻ tiền mà đồ thêu lại quá đắt. 
        Phản gián đưa nàng đi thẩm vấn. Nàng đành thú nhận và ra pháp trường đền tội.
 
------------------------------
(19) Bâle.
 
 
193                                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG ÁM HIỆU
 
        Tuy nhiên, lối chuyển tin tân kỳ nhứt có lẽ là của gián điệp Anh trong thế chiến thứ hai tại Ý. Nữ bá tước Môn-tarini, người Anh, kết hôn với một bá tước Ý, có nhiệm vụ chuyển tin cho một nhân viên đồng minh để đánh về Luân đôn. Nàng mở tiệm sửa sắc đẹp để thu lượm tin tức. Mỗi buổi sáng, trên đường từ nhà tới mỹ viện, nàng rẽ vào nhà thờ Tờ-rini-tê-đê-Mông (20) để cầu nguyện. Người Ý nào cũng ngoan đạo nên hành động của nữ bá tước không bị để ý. Phụ nữ Ý nào cũng có tính mơ màng nên phản gián quốc xã không nghi ngờ khi thấy nàng mơ màng dừng trên bực cấp nhà thờ, nhìn từ phía đường như muốn chiêm ngưỡng cho thỏa thích vẻ đẹp của một trăm ba mươi tám bậc dẫn xuống công trường, dưới ánh mặt trời ban mai rực rỡ. Thỉnh thoảng nàng gặp một thanh niên cũng mơ màng đứng trên bậc cấp như nàng. Thật ra, hai người không mơ màng vì họ có thể bị bắt, bị giết bất cứ lúc nào. Họ giả vờ mơ màng để đưa tin cho nhau. Nhà thờ có một trăm ba mươi tám bực cấp, gián điệp Anh bèn đặt ra một trăm ba mươi tám ám hiệu. Tính từ trên xuống, cũng một trăm ba mươi tám ám hiệu nữa. Vị chi hai trăm bảy mươi sáu ám hiệu, đủ thành một ngữ vựng nhỏ để truyền tin. Ví dụ nữ bá tước từ dưới đi lên, dừng lại bực thứ hai mươi, mơ màng... Như vậy, có nghĩa là một sư đoàn Đức vừa tới. Từ trên bước xuống, nàng dừng ở bực hai mươi, có nghĩa là một phi cơ địch vừa bị nạn... Thanh niên kia còn có thể liên lạc với nàng bằng nhiều cách thầm lặng khác, như châm thuốc hút, rút khăn mặt ra hỉ mũi, đưa tay lên trán... 
 
           Kiểm duyệt và vi ảnh
 
        Vì sợ bị kiểm duyệt nên điệp viên gởi tin đi thường viết thư thường, như hỏi thăm sức khỏe, thư mua bán. Có hai lối viết: hoặc viết bằng ám hiểu, người ngoài tưởng là thư thường, hoặc dùng mực bí
 
---------------------------------
(20) Trinité-des-Monts.
 
 
194                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
mật viết đè lên trên. 
        Vụ Đích-kin-sơn bại lộ trong năm 1943 tại Hoa kỳ có thể được coi là điển hình cho kỹ thuật viết thư bằng ám hiệu. Mùa thu năm ấy, cô Mari (1) nhận được một bức thư do bưu điện trả lại người gởi, địa chỉ và tên họ của một người không quen ở Buơ -nốt-E (2). Bức thư làm Mari sửng sốt: tuy ngoài bì đề tên nàng gởi đi, song nàng không hề làm việc ấy. Sở dĩ bức thư được trả lại, vì người nhận thư đã đổi địa chỉ. Đọc thư nàng còn sửng sốt thêm nữa. Bức thư ký tên nàng, viết trên giấy nàng thường dùng, song lại đánh máy mà nàng lại chỉ viết tay, những chi tiết trong thư về gia đình cũng hoàn toàn bịa đặt. Bức thư gồm những đoạn như sau:
        «Chị Lô-pê (3) thân mến, 
        Chắc chị thường hỏi hiện giờ em ra sao, vì từ lâu em không viết thư cho chị. Em vừa gặp một hồi đen đủi, đứa cháu nhỏ mà em rất thương đã bị ung thư óc, không chắc qua khỏi được không, chúng em đau đớn đến nỗi không biết phải làm việc gì nữa...
        ... Tháng trước, chị hỏi em về búp bê của em. Em xin đáp là em đã nói chuyện tại câu lạc bộ nghệ thuật, mà đề tài là những con búp bê của em. Về búp bê mới mua, em chỉ có ba con Ái nhĩ lan mà thôi. Một trong ba con này là một lão thợ chài Ái nhĩ lan trên lưng có cái lưới, con thứ nhì là bà già mang củi sau lưng, còn con thứ ba là một đứa trẻ.
        ... Chị đã báo cho em biết là chị đã gởi thư cho ông Sô (4). Thư chị, ông ấy đã hủy rồi. Chị hẳn biết ông ta đau. Xe ông bị hỏng, nhưng bây giờ đang sửa lại. Em đã gặp một vài thân nhân của ông Sô. Ai cũng nói là ông Sô sắp làm việc lại... 
        Thân mến,
        Mari.»
 
--------------------------
(1) Mary Wallace. (2) Buenos-Aires, ở Á căn đình. (3) Lopez. (4) Shaw.
 
 
195                                                                                                                                                         KIỂM DUYỆT VÀ VI ẢNH
 
        Mari toát mồ hôi. Cháu nàng không hề bị ung thư óc. Nàng có nói chuyện về búp bê tại một câu lạc bộ, song nàng chưa có búp bê Ái nhĩ lan. Nàng cũng không biết ông Sô là ai. Bức thư lạ lùng này được chuyển tới bưu điện và từ bưu điện qua cảnh sát liên bang Mỹ. Nhân viên Phản gián khám phá ra đó là một thủ đoạn của gián điệp địch, lợi dụng tên họ, địa chỉ và thú chơi búp bê của cô Mari để chuyển tin đi Á căn đình. Lão thợ chài đeo lưới trên lưng là ám ngữ để chỉ hàng không mẫu hạm vì loại tàu này thường ngụy trang bằng lưới trên boong. Bà già gánh củi là chiến hạm, còn đứa trẻ là khu trục hạm. Ông Sô, tức là chiến hạm Sô của Hoa kỳ, bị hư tại Trân châu cảng trong cuộc tấn công bất ngờ của Nhựt, được kéo về sửa chữa. Mari khai với FBI rằng nàng từng mua búp bê tại nhà hàng bà Đích-kin-sơn (5), và có lần tâm sự về chuyện gia đình. FBI bèn cho theo dõi. Thấy động, Đích-kin-sơn, một thiếu phụ góa chồng trạc ngũ tuần, tìm cách lẩn trốn. Một ngày kia, bà Đích-kin-sơn tới kết sắt riêng trong ngân hàng ở Nữu ước để rút mười tám ngàn đô la. Bà định tẩu thoát ra ngoại quốc. Không ngờ FBI chờ từ lâu, và bà bị bắt tại ngân hàng. Bà thú nhận là trong nhiều năm đã làm gián điệp cho Nhựt bản, và được trả công chừng sáu chục ngàn đô la. Nếu nhân viên Nhựt ở Á căn đình cho Đích-kin-sơn hay trước khi đổi chỗ ở đâu đến nỗi bị mười năm tù. Bức thư của Đích-kin-sơn đã giải thích lý do thiết lập chế độ kiểm duyệt thư tín. Tại các quốc gia tự do, việc kiểm duyệt chỉ được thiết lập trong thời chiến, ngược lại, ở các quốc gia độc tài, thì chiến cũng như bình.
        Di-oe (6) phụ trách kiểm duyệt bí mật dưới triều đại Nga hoàng. Chế độ Cộng sản ở Nga sô ngày nay còn kiểm duyệt thư tín gắt gao hơn thời Di-oe nữa. Di-oe phát minh ra nhiều phương pháp ngày nay còn dùng. Nhân viên kiểm duyệt của
 
-------------------------
(5) Velvalee Dickinson. (6) Ziewert.
 
 
196                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
thế kỷ 20 có nhiều dụng cụ tối tân, khả dĩ mở bì thư ra mà không để lại dấu vết, dấu si có thể mở bằng lưỡi dao hoặc bằng sợi thép nóng, hoặc bằng một thứ máy riêng do Di-oe sáng chế. Thư tư tình nghi được gởi tới phòng thí nghiệm để xem xét bằng hoá chất.
        Kiểm duyệt là một phần việc quan trọng của ngành phản gián. Trong thế chiến thứ nhứt, sở kiểm duyệt quân sự Mỹ tại Âu châu đã xem xét 6 triệu trong số 30.846.630 thư từ của đạo quân viễn chinh. Một phòng thí nghiệm để khám phá mực bí mật được lập ra tại Pháp, ba tháng trước khi đại chiến chấm dứt. Phòng thí nghiệm này đã nghiên cứu 53.658 bức thư do sở kiểm duyệt chuyển tới. Trong thế chiến thứ hai, sở kiểm duyệt Anh quốc nhận được tám trăm triệu thư từ, trong đó hai triệu được đưa qua phòng thí nghiệm. Anh quốc có 5000 kiểm duyệt viên trong thế chiến thứ nhứt và trên 10.000 trong thế chiến thứ hai.
        Sin-bơ (7) có thể coi là điệp viên thành công nhứt trong đại chiến thứ hai về việc chuyển tin bằng bưu điện. Là người Đức, Sin-bơ chẳng biết xoay sở thế nào mà rời Mỹ qua Anh làm việc trong sở kiểm duyệt. Sin-bơ chuyển tin trong những bức thư gởi cho một tù binh tưởng tượng bị giam ở Đức. Khi tới Đức, thư của Sin-bơ được nộp ngay cho sở tình báo quốc xã. Sin-bơ rất khôn ngoan, không bao giờ y ghi lên giấy những tin tức quan trọng. Y chỉ ghi vào trí nhớ. Y thuê một phòng riêng làm công tác gián điệp. Y vắng nhà luôn để tới phòng riêng, sợ mọi người nghi ngờ nên mua vé xem hát, vứt cuống giấy bừa bãi trên bàn, gây ra ấn tượng là y giải trí ban đêm, nên không có nhà. 
 
-----------------------------
(7) J. C. Silber.
 
 
197                                                                                                                                                         KIỂM DUYỆT VÀ VI ẢNH
 
        Từ thế chiến thứ hai, công việc kiểm duyệt thư tín trở nên vô cùng khó khăn và phức tạp, vì một phương pháp chuyển tin được phát minh: vi ti nhiếp ảnh (8), gọi tắt là vi ảnh. Nhân viên gián điệp chụp tài liệu vào phim nhựa 35 ly rồi dùng một thứ kiếng và ánh sáng riêng thu nhỏ lại bằng cái dấu trên chữ i, gọi là vi-điểm (9). Xong xuôi chỉ cần dán dấu chấm tí hon này vào đầu chữ i của một bức thư, một tờ báo, hoặc đặt dưới con tem, gởi đi. Người nhận thư có kính hiển vi riêng làm vi-điểm lớn lên mấy trăm lần để có thể đọc được dễ dàng. Các điệp viên Sô viết bị bắt đều dùng vi-điểm. Đại tá A-ben lập phòng ảnh riêng tại Nữu ước để làm vi-điểm. Thư từ của vợ con A-ben từ Mạc tư khoa gởi cho y, cũng như của y từ Mỹ gởi về, đều được thu nhỏ thành vi-điểm. Nhân viên giao liên có thể giấu vi-điểm trong người không sợ bị khám phá, như giấu trong tóc, trong răng. Đàn bà thường giấu vào nốt ruồi, nhứt là nốt ruồi ở chỗ kín. Kín nhứt là bọc vi-điểm bằng một chất không thể tiêu hóa được, nuốt vào bụng, rồi khi cần sẽ uống thuốc xổ. Trước khi thế chiến chấm dứt, biết chế độ quốc xã khó tồn tại, thủ lãnh phản gián Senlenbe (10) cho chụp tất cả hồ sơ vào phim nhựa vi ti, bỏ vào hai hộp sắt nhỏ, giấu trong một thùng thư. Mỗi hộp được gắn động cơ riêng, người lạ tìm cách mở sẽ nổ tung, phá hủy hết tài liệu. Kết quả là hai hộp sắt này bị tan ra như cám. Trong cuộc chiến tranh Pháp-An-dê-ri, Phản gián Pháp khám phá ra một hệ thống chuyển tin của kháng chiến An-dê-ri bằng vi-điểm. Hàng tháng công nhân Bắc phi làm việc tại Pháp mua măng-đa gởi tiền về nước cho thân nhân. Gián điệp An-dê-ri chuyển tin cho bộ tư lệnh kháng chiến bằng cách dán vi-điểm vào đầu chữ i, trong khoảng trắng của ngân  
 
-----------------------------
(8) micro-photographie. (9) microdot. (10) Walter Schellenberg.
 
 
198                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
phiếu dành cho người viết. Khi nội vụ bại lộ, kháng chiến An-dê-ri đã nắm được rất nhiều tin tức bí mật của chánh phủ Pháp. 
 
           Chuyển tin bằng vô tuyến điện
 
        Vô tuyến điện đóng vài trò quan trọng trong việc chuyển tin. Điện đài dùng trong thế chiến thứ hai thường là những máy rất nhỏ, dễ tháo ráp, có thể cất giấu trong bếp, trong cầu tiêu. Hệ thống điện đài của bác sĩ Sót tại Đông kinh đều được tháo ra từng mảnh mỗi khi đánh tin xong. Nói cho đúng, trong những ngày đầu đại chiến, điệp viên đồng mình còn phải xử dụng một loại điện đài cồng kềnh gần ba chục kí lô, nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, kỹ thuật chế tạo đã tiến nhanh ngoài sức tưởng tượng. Do thám Đức tại Ý trong thế chiến được cấp một điện đài đặc biệt. Nó chỉ lớn bằng hộp xì gà, bên trên cũng để xì gà, hoặc xúc cù là, có một cái đĩa quay số, như điện thoại, và ba cái nút. Điệp viên cắm điện ở tường, vặn nút thứ nhứt, và quay đĩa viết bằng bức điện. Bức điện này liền được thu vào một cái băng kim khí từ thạch ở trong máy. Một băng có thể ghi được hai trang đánh máy. Thu bức điện xong, điệp viên vặn nút thứ hai, một ngọn đèn xanh bật lên. Khi nào đèn sáng rõ thì vặn nút thứ ba, bức điện sẽ được chuyển qua Đức quốc. Trong vòng ba mươi lăm giây là xong, Phản gián không thể nào tìm ra. Tại Đức, bức điện được thu nhận và dịch ra bằng máy điện tử. Loại điện đài tối tân này có một bất tiện, đó là phải cần ăn-ten dài từ 9 đến 10 thước. Bất tiện thứ hai là chỉ có thể truyền tin mà không nhận tin. Từ ít năm nay, các cơ sở điệp báo đem dùng một loại điện đài hoàn hảo. Điện đài này rất nhỏ, vừa đánh, vừa thu, không cần ăn-ten dài, lại phát tin rất nhanh, đối phương có máy móc tinh xảo cũng không thể tìm ra địa điểm.
 
 
199                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
 
        Gián điệp thường truyền tin bằng mã tự (1), không truyền tin bằng tiếng nói (2) vì mã tự dễ giữ bí mật hơn. Vả lại, đánh mọt-sờ chỉ cần một băng 1 ki-lô-xích, còn nói bằng vô tuyến phải cần băng từ 6 đến 7 ki-lô-xích, dễ bại lộ.
        Phản gián tìm chỗ đặt điện đài bí mật của địch bằng phép trắc giác, hoặc đo gốc (3). Chỉ cần một hai lần là có thể phăng ra vị trí. Trong thế chiến, đồng minh đã khám phá ra nhiều nơi đánh điện bí mật bằng một loại máy nhỏ cầm tay. Tổ chức OSS được lệnh tìm ra một điện đài do Đức quốc xã giấu trong thành phố Casa-bờ-lăn-ca (4), Bắc Phi, sau ngày đồng minh đổ bộ. Hai nhân viên OSS bản xứ, đeo máy đo gốc, giấu trong áo dài rộng thùng thình của người Ma-rốc, len lỏi vào các đường phố chật chội, bẩn thỉu. Sau cùng, họ bước vào khu hồng lâu. Dụng cụ họ đeo ở người chỉ nhỏ bằng hộp thuốc lá, bỏ trong túi, có một sợi dây nhỏ xíu chuyền lên tai, trông như máy nghe của người điếc. Cuộc lùng kiếm dẫn họ vào một căn nhà lá lụp xụp, trong đó có một thiếu phụ béo mập và một cô ả bán dâm. Thiếu phụ béo mập khép hai chân lại. Đàn bà thường có cử chỉ giữ gìn này trước mặt đàn ông lạ. Song hai điệp viên OSS không bị lừa. Một cuộc đánh lộn âm thầm diễn ra: hai người đàn bà bị giết chết. Điện đài của Đức được giấu trong váy của thiếu phụ. Hai cái vú to tướng là bộ phận của điện đài. Giây ăn-ten đuoc bôi đen để ngụy trang. Có lẽ đó là điện đài kỳ khôi nhứt của gián điệp quốc xã.
        Thế chiến thứ hai đã lưu lại nhiều giai thoại về liên lạc vô tuyến điện. Năm 1939, trùm gián điệp
 
 
---------------------------------
(1) Morse, phiên âm là mọt-sờ. (2) Radio-phonie. (3) Radio goniométrie. (4) Casablanca.
 

Đăng nhập để trả lời
0

200                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Đức, đô đốc Canari, lưu trú tại Tây ban nha dưới tên giả, để ám trợ tướng Phờ-răn-cô (5) đánh bại phe cộng hòa thân Cộng. Cảnh sát phe cộng hòa phăng ra Canari, và nghe trộm điện đàm giữa Canari với Bá linh. Có lần cảnh sát nghe Canari nhắc tới một con chó bị bệnh và Bá linh cho Canari nghe một bản báo cáo trường giang đại hải về việc con chó đau bao tử. Cảnh sát đinh ninh Canari dùm ám hiệu để thông tin. Sự thật Canari có rất nhiều bạn bốn chân. Trong phòng làm việc, y treo bức hình con Sép, con chó mà y thương mến. Canari gọi vô tuyến về Bá linh là để hỏi thăm sức khỏe của con chó bằng xương bằng thịt.
        Năm 1939, Hít le ra lệnh cho đô đốc Canari bắt giữ hoàng hậu Hòa lan Uyn-len-min (6), vì trước đó vua Ha-côn (7) của Na uy đã trốn khỏi hoàng cung khi quân đội Đức tấn công. Sự lưu vong của vua Ha-côn đã nâng cao tinh thần chiến đấu của quân dân Na uy. Hít le sợ hoàng hậu Uyn-len-min trốn thoát, nhân dân Hòa lan sẽ không đầu hàng. Canari lập kế, sửa soạn bắt, song hoàng hậu đã xuống tàu sang Anh trước. Đúng ra, sự xuất ngoại của hoàng hậu Hòa lan chỉ là kết quả của một lầm lẫn về truyền tin. Hoàng hậu điện cho người Anh, yêu cầu gởi khu trực cơ để chống với máy bay Đức, bức điện này bị dịch sai nghĩa, làm chánh phủ Anh tưởng bà hoàng muốn sang Luan đôn bằng phi cơ. Khi ấy, phi cơ không sẵn, chánh phủ Anh phái một khu trục hạm tới. Hoàng hậu xuống tàu ra lệnh chở tới một hải cảng khác ở Hòa lan, song hạm trưởng không cặp bến được. Miễn cưỡng, bà hoảng phải đi thẳng sang Anh quốc. 
        Phản gián quốc xã đã có những dụng cụ tinh xảo để nghe trộm đường điện thoại ngầm dưới biển
 
----------------------------
(5) Franco. (6) Wilhelmine. (7) Hoakon.
 
 
201                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
 
giữa Anh và Mỹ. Đầu 1944, tình cờ họ chộp được một cuộc thảo luận giữa tổng thống Ru-dơ-veo và thủ tướng Sớt-sin. Trung tâm nghe trộm của Đức đặt tại Hòa lan. Mặc dầu đường giây ngầm được gắn máy móc riêng để ngăn cản sự nghe trộm, Đức vẫn ghi âm được. Cuộc điện đàm quan hệ này kéo dài năm phút tiết lộ sự chuẩn bị quân sự lớn lao của đồng minh.
        Cuối 1954, CIA cho đào một con đường hầm ăn thông qua Đông Bá linh để nghe trộm đài điện thoại của Nga sô. Thoạt tiên, Mỹ lập một đài ra-đar dọc biên giới để đánh lừa đối phương, rồi mới đào hầm. Hàng ngàn tấn đất đào lên được đưa vào giấu trong căn cứ ra-đar, đóng lại thành thùng lớn, chở ra ngoài. Bốn tháng sau, đường hầm được hoàn thành, đường kính rộng gần hai thước, tường bộc tôn uốn và bao cát. Bên trong có máy điều hòa không khí để cho khỏi lạnh, có máy bơm điện để rút nước ngấm vào mỗi khi mưa lớn. Ngoài ra, còn có nhiều tổng đài điện thoại, và 432 máy khuếch âm để nghe mọi đường giây trong vùng Nga sô chiếm đóng. Biệt tài của CIA là bắt máy nghe vào điện thoại mà Nga sô không biết. Trong gần một năm, nhà chức trách Hoa kỳ dùng bốn trăm ba mươi hai máy ghi âm thu vào băng nhựa mọi cuộc điện đàm, phăng ra nhiều điều quan trọng. Vì đường hầm có máy sưởi nên một ngày kia sức nóng làm chảy tuyết bên trên. Vội vàng CIA khóa máy nóng trong hầm và mở máy lạnh cho tuyết đông lại. Không hiểu sao Phản gián Sô viết vẫn mù tịt. Nhưng rồi cái gì phải đến đã đến. Nga sô khám phá ra đường hầm, may thay nhân viên CIA tẩu thoát kịp trước khi công an cộng sản xuống bắt. Ngày 22-4-1956, Nga sô biến đường hầm thành cuộc triển lãm để tố cáo đồng mình muốn do thám phe Cộng nên không chịu giải quyết vấn đề Bá linh. Cạnh mép hầm, một trạm giải lao được đặt ra, bán nước ngọt cho du khách. Nhưng ngày 9-6, Nga sô phải đóng cuộc triển lãm vì người Đông Đức tới xem đều thán phục tài ba của CIA.
        Một trận giặc lạ lùng – trận giặc nghe trộm
 
 
202                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
lẫn nhau – đang diễn ra giữa điệp báo Tây và Đông Đức. Vụ án năm 1956 của bà Uôn-bờ-rúc, một thiếu phụ thất tuần, chủ khách sạn Ham-mờ (8), gần thủ đô Bon, Tây Đức, đã nói nhiều về kỹ thuật nghe trộm của Cộng sản. Nhân vật Tây phương tới Đức thường ngụ tại khách sạn Ham-mờ, Uyn-uy-be, trùm gián điệp Đông Đức, sai nhân viên tới gặp nữ chủ nhân, trả một số tiền lớn để được gắn dụng cụ ghi âm trong khách sạn. Từ đó, khách sạn Ham-mờ biến thành ổ do thám bằng tai của Đông Đức. Hàng tuần, bà Uôn-bờ-rúc bỏ băng ghi âm vào hộp đồ ăn rồi mang đi giao cho nhân viên công sản. Vụ này lọt vào tai tướng Ghê-len, chỉ huy điệp báo Tây Đức. Bà Uôn-bờ-rúc bị bắt quả tang. Khám khách sạn, Phản gián tìm thấy mọi phòng đều có loa ghi âm bí mật.
        Ngữ vựng do thám của Đức có một danh từ khó dịch. Đó là funkspiel, nghĩa đen của funkspiel là trò chơi vô tuyến điện. Trong thế chiến, nhiều nhân viên vô tuyến đồng minh bị bắt cùng với điện đài và mật mã, Phản gián quốc xã bèn lợi dụng nhân viên và điện đài có sẵn để chuyển qua Anh và Mạc tư khoa những tin tức sai lầm, như vậy gọi là trò chơi vô tuyến điện Funkspiel. Đồng minh, nhất là Anh quốc, đã áp dụng chiến thuật funkspiel nhiều lần thắng lợi. Cuối 1941, phản gián Đức bắt trọn ổ tình báo Liên đồng minh của Anh tại Ba lê do sự phản bội của Ma-tin Ca-rê, một người đàn bà lạ lùng được gọi là con mèo cái (9). Con mèo cái đã tiếp tay cho phản gián quốc xã trong việc giả mạo ổ Liên đồng mình chuyển tin láo khoét qua Luân đôn. Trong một thời gian, Luân đôn bị phỉnh gạt. Luân đôn còn gởi tiền cả cho Ma-tin nữa.  Mãi sau này, con mèo cái bị một điệp viên lỗi lạc lừa qua Anh, chiến thuật funkspiel mới bị lật tẩy. 
        Trước thế chiến, phản gián M15 đã càn quét hết
 
----------------------------
(8) Charlotte Wallbruck, Hammes. (9) Mathilde Carré, La Chatte.
 
 
 203                                                                                                                        CHUYỂN TIN BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
 
điệp viên Đức tại Anh. Gậy ông đập lưng ông. M15 dùng nhân viên Đức chuyển tin về Bá linh cho đô đốc Canari. Trò chơi vô tuyến này kéo dài suốt mười lăm tháng, có ngày gởi tới mười lăm mật điện, mà đô đốc Canari vẫn không hay biết. Canari còn nói với bá tước Xia-nô (10) ngoại trưởng Ý, rằng hệ thống do thám của Đức tại Anh rất đắc lực. Trong thời gian này, một người Anh nghe đài BBC chín giờ tối ở Luân đôn thường lộn với một làn sóng lạ. Sự kiện này kéo dài mỗi lần bảy phút bốn tối liên tiếp. Y báo cho công an, và công an phăng ra một điện dài tối tân của Đức tên là A-phu (11), nặng bốn kí lô. Phản gián bèn giả làm điệp viên Đức, điện cho đô đốc Canari, xin gởi tàu ngầm sang Anh, chở y về để báo cáo một tin tối mật.
        Canari trình với Hít-le, và một tiềm thủy đỉnh được gởi tới, đúng ngày giờ, đúng địa điểm. Hỡi ơi, hạm trưởng không bao giờ gặp điệp viên của đô đốc Canari để chở về Đức mà chỉ gặp khu trục hạm Anh phục kích trong đêm tối. Sau mấy phút, tàu ngầm bị bắn chìm. Có điều lạ là ở bên kia Đại Tây dương, đô đốc Canari vẫn tưởng là tàu bị nạn ngoài khơi, chớ không hề biết bị phản gián M15 xỏ ngọt.
        Đô đốc Canari còn bị một vố không kém chua cay ở Mỹ. Một nhân viên phản gián Mỹ, số hiệu ND 98, được tình báo kết nạp tại Hăm-bua, được đưa qua Hoa kỳ hoạt động. Ngày 20-2-1942, ND 98 điện từ Nữu ước về Đức. Trong thời gian đánh lừa đô đốc Canari, ND 98 lại được trả lương 54.000 đô la. Trước ngày đồng minh đổ bộ lên Bắc Pháp, ND 98 phỉnh Đức rằng kế hoạch đổ bộ bị hoãn lại vì tàu đổ bộ chưa sản xuất kịp, và binh sĩ Mỹ xuống tàu đi Địa trung hải chớ không tới Anh tham gia đổ bộ. Mãi đến 2-5-1945, quân đội Anh chiếm Hăm-bua, trò chơi vô tuyến của ND 98 mới ngưng.
 
 
----------------------------
(10) Ciano. (11) Afu.
 
 
 204                                                                                                                                                        GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Tự điển do thám còn một danh từ khác, umdrehen, nghĩa là khi bị bắt, nhân viên gián điệp nhận làm việc cho địch để phản lại. Pháp gọi là retourner, trở cờ. Sự tan rả của hệ thống gián điệp Sô viết tại Âu châu trừ Thụy sĩ trong những năm đầu thế chiến đều do umdrehen mà ra. Lần lượt các đảng viên cộng sản trung kiên qui thuận phản gián quốc xã, tham dự trò chơi vô tuyến funkspiel.
        Trung tá Đức Bôi-sen (12), tòng sự tại bộ tham mưu không quân quốc xã, là đầu não của gián điệp Sô viết tại Đức. Bôi-sen hoạt động ráo riết, và có nhiều thủ đoạn truyền tin tài tình. Có đêm, điện đài bí mật được mang tới phòng quang tuyến của một nữ y sĩ, sinh sống tại một khu sang trọng ở Bá linh, đêm sau, nhân viên của Bôi-sen cải trang làm thợ sửa ống cống, nhắc tấm sắt ở đường lên che lều vải lục lộ, và thản nhiên đánh điện. Bôi-sen bị bắt vì phản gián quốc xã đọc được mật mã của Nga sô do sự trở cờ của một số điệp viên cộng sản. Mạc tư khoa ra lệnh cho đại diện gián điệp tại Bỉ sang Bá linh chữa điện đài bị hư tại ba địa điểm khác nhau. Một trong những người được ghi trong lệnh của Mạc tư khoa là Cô-rô, tức trung tá Bôi-sen. Tối 30-8-1942, Bôi-sen sa lưới. Tổng cộng một trăm người sộ khám. Đời gián điệp là một sự lừa dối không ngừng nên Bôi-sen lập mưu lừa dối phản gián Đức. Y nói là đã giấu được một số tài liệu quan trọng tại Thụy điển mà sự công bố rất có hại cho Hít le. Bôi-sen mặc cả : y sẽ chỉ nơi giấu với điều kiện hoãn lại ngày hành hình một năm. Tiết lộ của Bôi-sen làm chánh quyển quốc xã lo ngại. Đó có thể là bí mật kinh khủng  
 
----------------------------
(12) Schulze Boysen.
 
 
205                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
 
về các trại giết người, thiêu xác, mà Quốc xã cố che đậy. Đó cũng có thể là bí mật về cuộc điều đình với ngoại bang để chấm dứt chiến tranh sau lưng Hít le. Him-le bèn ra lệnh cho Dét-ta-pô chấp nhận đề nghị của Bôi-sen. Té ra Him-le bị lỡm. Bôi-sen muốn kéo dài thời gian, chờ hết chiến tranh để mong ân xá. Và nhóm Bôi-sen đã bị hành hình bằng lưỡi búa.
        Chúng ta đã theo dõi phương pháp chuyển tin bằng thư tín, vỏ trứng, mực bí mật, chim bồ câu, ám hiệu, vi ảnh và vô tuyến điện. Thực tế đã chứng minh là không phương pháp nào bất khả xâm phạm. Ngoại trừ một phương pháp cổ điển: đó là giấu tin trong đầu. Trong thế chiến thứ nhứt, Phản gián Đức nghi ngờ một số phụ nữ Pháp làm giao liên, song đành phải bó tay. Một thiếu phụ bị bắt, dẫn vào phòng kín, khám xét cẩn thận. Mọi quần áo đều bị lột bỏ, nữ cảnh sát nắn từng gấu áo, xé xú chiêng, xì líp ra, thậm chí còn móc tay vào lỗ mũi, xõa hết tóc ra nữa. Vì thiếu phụ này đã giấu tin tức trong trí nhớ.
        Thói quen bắt đàn bà cổi truồng ra khám của Phản gián Đức đã dẫn tới một mẫu chuyện khôi hài đáng nhớ trong thế chiến thứ hai tại Pháp. Tướng Đô-nô-van, tổng giám đốc OSS, đã cười nôn ruột khi nghe chính người trong cuộc kể lại sau ngày thủ đô Ba lê được giải phóng. Người trong cuộc là một thiếu phụ Mỹ, học rộng, quí phái, lấy chồng Pháp, và đã ở lại Pháp khi quân Đức tiến đánh. OSS mời bà gia nhập tổ chức giao liên. Khi ấy bà đã góa chồng và xấp xỉ thất tuần. Bà giúp OSS được nhiều việc quan trọng. Một hôm, bà đi xe hỏa lên Ba lê về việc riêng. Xe hỏa thời chiến trường bẩn thỉu, cầu tiêu trong xe hỏa còn bẩn thỉu hơn nhiều, nên cực chẳng đã phải vào cầu tiêu, bà bèn nghĩ cách lót tờ báo mới mua xuống đít cho sạch. Lát sau, trở về toa, bà bỗng thấy lính Đức la hét bắt tàu phải ngừng lại, và đuổi hành
 
 
206                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
khách xuống hết. Nữ hành khách bị dồn vào một phòng, có hai nữ nhân viên Đức chứng kiến. Ai nấy đều phải cởi bỏ hết quần áo. Thoạt tiên, người nào cũng thẹn thò. Nhưng nữ binh quốc xã quắc mắt bắt phải... thoát y cho đến khi nào không còn một sợi chỉ trên mình. Đột nhiên, hai nữ binh la lên trong sự khoái trá. Họ ra lệnh cho thiếu phụ Mỹ quay lưng lại, chổng mông cho họ nhìn. Trên cái đít răng reo nhưng trắng toát, những giòng chữ nhỏ màu đen mọc chi chít. Đúng là gián điệp đồng minh! Hai nữ binh quát to, khiến thiếu phụ không dám nhúc nhích. Một nữ binh hối hả chạy vào nhà ga lấy một tấm gương trong câu tiều ra, để vào sau đít thiếu phụ rồi quì xuống đánh vần từng chữ vẻ mặt hớn hở và nghiêm trang. Mặc dầu góa phụ nói là tờ báo in vào mông, chứ không phải mật thư, hai nữ binh vẫn không nghe. Góa phụ đành cởi truồng tô hô, chổng mông đúng một giờ đồng hồ. Đọc xong, hai nữ binh ra trình với thượng cấp. May thay thiếu phụ không bị gì hết. Có lẽ đó là giai đoạn vui nhứt về giao liên trong thế chiến.
        Đàn bà quả là vũ trụ chứa đầy bí mật, như một nhà thơ đã nói. Có người đưa lưng ra để viết mực bí mật. Có người hiến cả thân thể của mình. Tuy vậy, ít ai nghĩ rằng cái váy của phụ nữ lại cần thiết trong nghề gián điệp. Sự cần thiết của váy đàn bà được chứng minh tại Bát-he-tô (13) cách đây 50 năm. Những ai nghiện thuốc lá Mỹ thường chứng kiến cái cảnh sau đây trong hành lang Eden, ở đường Tự do, Sài Gòn. Nhìn trước, ngó sau, không thấy bóng thầy cảnh sát, cô bán hàng bèn cúi xuống, cho tay vào ống quần đen rút ra tút thuốc lá Mỹ được bó vào chân bằng những sợi cao su. Phụ nữ ở Bát-he-tô đã làm như thế, duy khác ở chỗ họ mặc váy và họ mang lậu ít xăng. Bát-he-tô thuộc Bỉ, song phân nửa lại
 
-----------------------------------
(13) Baarle-Hertog
 
 
207                                                                                                                         CHUYỂN TIN BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
 
nằm trên lãnh thổ Hòa lan. Quân Đức chiếm Bỉ, không thể chiếm trọn làng Bát-He-tô sợ vi phạm nền trung lập của Hòa lan. Tình báo Anh bèn dùng Bát-He-tô làm trung tâm truyền tin vô tuyến. Người Đức gọi Bát-He-tô là thành phố do thám (14), và tìm mọi cách ngăn chặn hoạt động của đồng minh. Họ đòi Hòa lan phải kiểm soát chặt chẽ. Et xăng không được đưa vào làng, để làm tê liệt máy điện nhỏ dùng để truyền tin. Tuy vậy, máy điện này vẫn chạy điều hoà, vì phụ nữ trong làng đảm nhiệm việc tiếp tế xăng cho tình báo Anh. Phương pháp mang lấy xăng rất giản dị mà khôn ngoan: đàn bà Bát-He-tô thường mặc váy, rộng thùng thình và kéo dài chấm đất, mỗi khi về làng, họ đều buộc vào mỗi ống chân một thùng xăng. Có lần thùng xăng buộc sát nhau kêu leng keng. Sau đó, họ chế ra một loại thùng riêng, ép chặt vào bụng dưới, lính Đức tưởng là đàn bà chửa. Nhờ vậy, ét xăng được đưa về đầy đủ cho trung tâm truyền tin. Lính Đức không bao giờ nghĩ tới việc vén váy phụ nữ để nhìn bên trong. Vì nếu trong đó không có ét xăng thì khốn.
 
           Từ cái chết của Yamamoto tới bí mật Phòng đen
 
        Trong các giấy tờ gởi đi, gián điệp đều dùng mật mã để khỏi bị tiết lộ. Có nhiều hình thức mật mã, thông dụng nhất là dùng tự vị riêng, phép cộng, phép trừ và phép đảo lộn. Dùng tự vị riêng, nghĩa là đặt hẳn một cuốn tự vị dùng những chữ thường dùng. Chẳng hạn «phi cơ oanh tạc» thì gọi là «thời tiết», «ném bom xăng đặc» gọi là «buổi sáng», «thành phố Thanh hoá» gọi là «vùng quê»,  
 
---------------------------
(14) spionedorf.
 
 
208                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
nếu muốn đánh điện nói là «phi cơ oanh tạc đã dội bơm xăng đặc xuống thành phố Thanh hoá» thì đánh điện như sau : «thời tiết buổi sáng ở vùng quê rất tốt». 
        Hoạt động trong vùng địch, dùng tự vị mật mã có cái lợi là người ngoài không thể đọc nổi, nhưng có cái hại – vả lại hại kinh khủng – đó là cuốn mật mã dễ rơi vào tay địch. Mật mã có thể là chữ, hoặc số (1). Nguyên tắc căn bản của mật mã là viết theo lối riêng, không cho người ngoài đọc. Chẳng hạn, chữ c hoặc số 3 có thể là a... sự biến hoá có thể diễn ra vô cùng.
        Bác sĩ Sót, trùm gián điệp Sô viết tại Nhựt, đã đặt ra mật mã để hẹn ngày gặp cho nhân viên dưới quyền. Mật mã này dựa vào câu Morgenstund hat Gold im Munde, tiếng Đức, nghĩa là «người nào dậy sớm thì giàu có». Sót xử dụng như sau:
        Thứ hai         M            T              T
        Thứ ba          O             U             G
        Thứ tư          R             N             O
        Thứ năm      G             D             L
        Thứ sáu        E              E              D
        Thứ bảy        N             H             I
        Chủ nhật      S              A             M
        Như vậy, gặp nhau ngày thứ bảy là NHI. Ngày xưa, bạo tướng Xê-đa (2) sính dùng mật mã. Chữ a ông viết là d, b viết là ê, c viết là f, cứ tình lùi ba chữ. Ngày nay, có nhiều hình thức tân tiếng như mật mã Bô-pho (3) của Anh, mật mã Xanh Xia (4) của Pháp. 
        Các quốc gia trên thế giới đều tìm cách đọc mật mã của nhau. Nga sô nắm được bộ mật mã ngoại
 
------------------------------
(1) tác giả không đi sâu vào vấn đề này vì nó có tính cách chuyên môn thuần túy, một vài trang giấy không sao giải thích được.  (2) Jules César.  (3) Francis Beaufort, tên một vị đô đốc.  (4) Saint-Cyr, tên một trường đại học quân sự Pháp.
 
 
209                                                                                                                                         CÁI CHẾT CỦA YAMAMOTO
 
giao của Anh bằng cách kết nạp một nhân viên mật mã Anh làm gián điệp. Phe Trục cũng tóm được mật mã Hoa kỳ, nhờ Ken (5) một nhà ngoại giao Mỹ phục vụ tại Luân đôn. Trong thế chiến thứ nhứt, Nga và Anh đã tìm thấy trong xác tàu ngầm Đức bị đắm nhiều bộ mật mã hải quân của đối phương. Năm 1917, hai khinh khí cầu Đức ném bom xuống Anh trở về bị bão rớt xuống đất Pháp. Trong số tài liệu, đồng minh tịch thâu được bộ mật mã mà tiềm thủy đĩnh Đức xử dụng trên Đại tây dương. Ngày 4-6-1944, tầm ngầm U-505 bị hải quân Mỹ bắt được nguyên vẹn ngoài khơi tây bộ Phi châu, khiến toàn bộ mật mã rơi vào tay đồng minh mà bộ tư lệnh hải quân Đức không biết. Thấu đáo sự quan trọng của mật mã, ngay khi thế chiến thứ nhứt bùng nổ, đô đốc Hô-lờ (6), trưởng Phòng Nhì Hải quân Anh, đã cho ghi âm mối liên lạc vô tuyến của Đức.  Nói tới chiến tranh mật mã, không thể không nhắc tới phòng 40-0B, phòng kiểm duyệt hải quân Anh. Phòng này đã đọc trộm được nhiều mặt diện của Đức trong thế chiến thứ nhứt. Đáng kể nhứt là bức điện do ngoại trưởng Đức Dim-mơ-man (7) gởi cho bá tước Bơn-tốp (8), đại sứ Đức tại Hoa thịnh đốn. Dim-mơ-mận ra lệnh cho Bơn-tốp giữ Hoa kỳ trong vòng trung lập. Nếu thất bại, Bơn-tốp hãy kéo Mễ-tây-cơ liên mình với Đức, bằng cách hứa cắt đất của Mỹ để đền ơn. Anh báo cho Mỹ biết. Dư luận Mỹ sôi sùng sục. Chánh phủ Mỹ lao đầu vào vòng chiến, đè bẹp Đức.
        Năm 1943, hải quân Mỹ đọc được một bức điện tối mật do bộ tổng tư lệnh Nhựt gởi cho các đơn vị tại Trung quốc và nam bộ Thái bình dương. Bức điện này báo tin đô đốc Yama-mô-tô (9), tổng tư lệnh, sửa soạn thanh tra các mặt trận. Bức điện còn nói rõ lộ trình của Yama-mô-tô. Tin này được trình ngay
 
-----------------------
(5) Kent. (6) Sir Regis H. (7) Zimmermann. (8) Bernstoff. (9) Isoroku Yamomoto.
 
 
210                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
cho bộ trưởng hải quân Mỹ Nốc (10) rồi ông Nốc trình tổng thống Ru-dơ-veo. Tổng thống hạ lệnh phục kích đoàn phi cơ chở Yama-mô-tô. Trong thế chiến, đó là chuyện thường. Một tàu ngầm Đức đã tìm cách bắn đắm chiến hạm chở tổng thống Mỹ đi phó hội. Trong trận At-den (11), Đức âm mưu giết tướng Ay-sen-hao (12). Phi cơ chở thủ tướng Sớt-sin từ Địa trung hải về Luân đôn đã bị Đức phục kích, song họ bắn lầm phi cơ chở tài tử điện ảnh Hao-oa (13). Ngày 17-4-1943, hai thiếu tá phi công Mít-seo (14) và Lan-phia (15) được triệu gấp tới phòng ba Hải quân tại Ga-đan-cana (16), nam bộ Thái bình dương, để nhận lệnh phục kích đô đốc Yama-mô-tô. Sáng 18-4, hai phi đội Mỹ cất cánh, câm lặng không dùng vô tuyến điện, và bay vòng 435 dặm để tránh căn cứ Nhựt. Máy bay Mỹ tới điểm đã định năm chục giây đồng hồ trước khi Yama-mô-tô tới. Đoàn phi cơ của Yama-mô-tô gồm hai oanh tạc cơ Mít-su-bít-si (17) và sáu hộ tống Dê-rô (18). Một phi đội Lai-ninh (19) Mỹ bay cao 6000 thước để điệu hổ ly sơn. Toán hộ tống mắc lừa xả ga đuổi theo. Khi ấy, thiếu tá Lan-phia bất ngờ từ phía dưới vọt lên, đâm vào phi cơ của Yama-mô-tô. Toán Dê-rô vội quay lại nhưng đã muộn. Động cơ và cánh phải của phi cơ chở đô đốc tổng tư lệnh Nhựt bốc cháy dưới họng súng của thiếu tá Lan-phia. Một tràng đại liên nữa, phi cơ Mít-su-bít-si rớt xuống đất. Chiếc thứ hai chở toàn bộ tham mưu của Yama-mô-tô cũng tử nạn. Công tác phục kích được thành công mỹ mãn. Sở kiểm duyệt Hải quân Mỹ tại Trân châu cảng ngăn chặn kịp thời, không cho tin Yama-mô-tô chết lọt ra ngoài, nếu không các thông tín viên đã loan đi khắp thế giới. Chánh phủ Nhựt không tìm ra được nguyên do Yama-mô-tô tử nạn. Nếu họ biết là vụ phục kích thì đã đổi mật mã, và có thể cuộc chiến tranh ở Viễn đông sẽ chuyển theo một chiều hướng khác.
 
----------------------
(10) Frank Knox. (11) Bataille des Ardennes. (12) Dwight Eisenhower. (13) Leslie Howard. (14) John W. Mitshell. (15) Thomas J. Lanthier. (16) Guadalcanal. (17) Mitsubishi. (18) Zero. (19) Lightning.
 
 
211                                                                                                                                         CÁI CHẾT CỦA YAMAMOTO
 
        Quốc An Xã là cơ quan khám phá mật mã của Hoa kỳ, được liệt vào bực nhứt thế giới. Tuy nhiên, từ sau thế chiến thứ nhứt, Hoa kỳ đã có một tổ chức riêng, chuyên đọc trộm mật mã nước ngoài. Năm 1922, người Nhựt tới Hoa thịnh đốn, phó hội Hải quân, lòng tràn trề hy vọng, nhưng phải ra về hai bàn tay trắng. Nhựt phải ngừng hoạt động hải quân trong mười năm, và sau đó hạn chế trọng tải xuống ba trăm mười lăm ngàn tấn, trong khi hải quân Anh, Mỹ, Pháp trọng tải chừng một triệu hai trăm năm chục ngàn tấn. Nhựt phải bằng lòng vì từ đầu đến cuối đại hội, phái đoàn Mỹ như ma xó đọc được trong óc phái đoàn Nhựt. Thật ra, Mỹ đã đọc trộm được những bức điện của chánh phủ Đông kinh dành cho phái đoàn thương thuyết Nhựt. Năm 1930, bí mật ghê gớm này được tiết lộ lần đầu trong cuốn sách tựa đề là «Phòng đen Mỹ», dưới ngòi bút của thiếu tá At-li (20), cựu nhân viên mật mã ở Hoa thịnh đốn. «Phòng đen» là danh từ mà người Pháp dùng để chỉ cơ quan đọc lén thư tư của phe đối lập dưới thời quân chủ. Thiếu tá At-li cho biết nhân viên «Phòng đen» đã cung cấp cho phái đoàn Mỹ trước mỗi phiên họp bản sao các chị thị mà bộ Ngoại giao Nhựt gởi cho các đại biểu của họ. Sự tiết lộ của At-li làm Nhựt phẫn nộ, tự ý xé bỏ thoả ước đã ký và sửa soạn phục thù. Năm 1929, «Phòng đen» bị giải tán vì ngoại trưởng Sờ-tim-sơn (21) không tán thành việc «đọc lén thứ tư của người khác». Quyết định của Sờ-tim-sơn làm At-li cáu tức, và viết sách không hỏi ý kiến ai hết. Sự bép sép của một chuyên viên và thái độ quân tử tàu của một bộ trưởng, không ít thì nhiều, đã dẫn tới thảm bại Trân châu cảng sau này. Trước khi súng nổ ở Thái bình Dương, sở Mật mã của Mỹ bắt được một bức điện do viên chỉ huy gián điệp Nhựt tại Mãn châu gởi về cho chánh phủ Đông kinh nói về việc sửa soạn đánh Mỹ. Ngày 2-12-1941, một
 
---------------------------
(20) Herbert Yardley. (21) Henry Stimson.
 
 
212                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
 bức điện từ Đông kinh đánh tới cho sứ quán Nhựt ở Hoa thịnh đốn lại lọt vào tay Mỹ. Bức điện này ra lệnh tiêu diệt các bộ mật mã. Người ta chỉ tiêu diệt các bộ mật mã trong tòa đại sứ, khi sắp khai chiến. Trong tháng 11, cơ quan mật mã Mỹ nhận thấy hải quân Nhựt tăng cường hệ thống truyền tin vô tuyến, chuẩn bị cho một cuộc hành quân lớn. Tại sao tòa Bạch ốc không biết phòng bị kịp thời để hạm đội Hoa kỳ tan nát tại Trân châu cảng? Nguyên do là tổng thống Ru-dơ-veo không tin vào tin tức điệp báo.
        Phải thẳng thắn nhìn nhận là đồng minh đánh sai nhiều nước cờ trước ngày đại chiến thứ hai chấm dứt. Đó không phải vì thiếu tin tức, mà chính vì không biết, hoặc không chịu khai thác kịp thời. Tháng 10-1939, tùy viên quân sự Anh tại Ót-lô (22) nhận được một bức thư nặc danh. Từ bức thư này, sứ quán Anh nhận được một bản báo cáo về các khí giới bí mật của Hít-le. Báo cáo này nói tới nhiều loại radar mới, bom vô tuyến điều khiển, hỏa tiễn xa tầm, bom phóng bằng hỏa tiễn hay là phi cơ không người lái, và một loại đèn pha cực mạnh. Tưởng là địch đánh lừa, Phản gián Anh cất bản phúc trình xuống đáy ô kéo. Mãi sau người ta mới biết là đúng. Sau chiến tranh, một nguồn tin cho biết tác giả của bức thư nặc danh là đô đốc Canari, trùm điệp báo quốc xã, người muốn thủ hòa với tây phương.
        Tháng 12-1944, các lãnh tụ chánh trị đồng minh cho rằng Nhựt quyết không đầu hàng, nên phải đổ bộ lên quần đảo Phù tang, và chiến tranh còn kéo dài tới 1948 hoặc 1949. Do đó, những cuộc đổ bộ vào
 
--------------------
(22) Oslo.
 
 
213                                                                                                                                         CÁI CHẾT CỦA YAMAMOTO
 
đảo I-vô-di-ma (23) và Ô-ki-na-oa làm tốn bao xương máu. Đồng minh còn định đổ bộ vào Ki-u-su (24), dự liệu hy sinh một triệu người. Mặt khác các bộ tham mưu còn cho rằng phải có Nga sô tham chiến mới đánh bại được Nhựt, và để trả công, đồng minh phải nhượng bộ một phần ở Âu châu. Trong khi ấy, tòa thánh La Mã, và đại diện một số quốc gia trung lập tại Đông kinh loan tin Thiên hoàng quyết định đầu hàng, với sự ủng hộ của nhiều sĩ quan cao cấp. Đại tá hải quân Mỹ Da-sa-ri-át (25) đệ một tờ trình 12 điểm lên tòa Bạch Ốc, nhấn mạnh tới điểm không cần đổ bộ lên đất Nhựt mà vẫn đưa Nhựt tới đầu hàng, chấm dứt chiến tranh. Tờ trình của Da-sa-ri-át không được tổng thống Ru-dơ-veo chấp thuận. Tổng thống Tờ-ru-man lên kế chức, đã nghe theo Da-sa-ri-át, nhưng khi ấy đã muộn. Sít-ta-lin không thích nghe ai nói ngược lại ý kiến của mình nên nhiều báo cáo rất đúng do điệp viên ở nước ngoài gởi về đã bị xếp xó. Một sĩ quan gián điệp Sô viết tị nạn tại tây phương cho biết lỗi lầm lớn nhứt của Nga sô là dùng lý thuyết một chiều Mác-Lê để đánh giá tin tức. Tin tức nào không đúng với chủ nghĩa Cộng sản mặc nhiên bị ném vào sọt rác.
 
           Làm căn cước giả
 
        Điệp viên hoạt động ở hải ngoại phải mang tên giả. Có hai cách, hoặc là tên bịa đặt, hoặc là tên của một người đã chết. Lan-dơ-lan (1), điệp viên Anh, mang tên là Phu-sê (2) trong khi hoạt động ở Pháp. Lan-dơ-lan cất trong người đầy đủ giấy tờ chứng tỏ mình là Phu-sê. Ảnh gia đình thì được ủi bằng bàn là nóng cho vàng và cũ đi. Lan-dơ-lan con bỏ trong bọt phơi tấm hình một bác bưu tá mà y nhận là anh ruột».
 
--------------------------------
(23) Iwojima. (24) Kioushou. (25) Zacharias.
(1) George Langelaan. (2) Gérard Fouché.

Đăng nhập để trả lời
0

214                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Điệp viên phải học nhiều giờ, nhiều ngày mới thuộc lòng lý lịch mới. Vì có phải một tên giả của mình là xong đâu, còn phải nhớ cả tên cha mẹ, tên ông bà, tên anh chị em, nhớ ngày sinh, tháng đẻ, thậm chí còn đặt ra những mối tình vụn với thiếu nữ địa phương nữa. Mọi nhân viên trong Phòng Bốn Sô viết, dầu là nhân viên ngoại giao, đều phải đổi tên giả. Nga sô đã mất nhiều ngày để lập căn cước giả cho Gu-sen-kô, nhân viên mật mã của sứ quán Sô viết tại Gia-nã-đại. Sau này, trốn sang tây phương, Gu-sen-kô đã tiết lộ hết bí mật. Ngoài tên giả ghi trong căn cước, điệp viên còn mang thêm một hay nhiều bí danh khác nhau. Bí danh thường được chọn hú họa, hoặc theo một nguyên tắc nào đó. Lục quân thường dùng một danh từ kỷ hạ học, sĩ quan không quân thì dùng danh hiệu quí phái như bá tước, hầu tước, còn bí danh nên thơ như OSS117 (3), 007 (4) hoặc Z.28. Nếu có, thì phần nhiều là con số hành chánh ghi số hiệu của điệp viên, căn cứ vào hồ sơ ở trung ương. Số điệp báo nào cũng có cơ quan làm giấy tờ giả. Tháng 12-1961, trung úy Ma-en-nen (5), trốn sang tây phương đã phanh phui những thủ đoạn động trời của bộ Nội An Đông Đức. Thông hành của du khách từ phía đông sang phía tây đều bị chụp hình lén tại các đồn biên giới. Phòng Kỹ thuật của điệp báo Đông Đức lấy những bức hình này làm mẫu để chế tạo thông hành giả.
        Mật vụ Sô viết đã tìm ra cách làm thông hành giả của Anh một cách giản dị: dùng cái cũ để sửa lại. Thông hành Anh là loại rất khó làm giả. Trong trận nội chiến Tây ban nha, nhiều chí nguyện quân người Anh đứng về phe thân Cộng, chống Phờ-răn-cô. Trước khi lên đường ra tiền tuyến, họ phải nộp thông hành cho một chánh trị viên người Nga. Bề ngoài, phải thu thông hành cất đi, đề phòng đương sự bị bắt lộ hành tung. Nhưng thật ra Nga sô đã ỉm luôn. Không một người Anh nào sống sót tại mặt trận Tây ban
 
-----------------------------
(3) tức Hubert Bonisseur de la Bath, vai chính trong các bộ truyện gián điệp của Jean Bruce. (4) tức James Bond trong các truyện của Ian Fleming. (5) Guenther Maennel.
 
 
215                                                                                                                                                         LÀM CĂN CƯỚC GIẢ
 
nha đòi được thông hành. Mãi đến nay, những thông hành cũ mới xuất hiện trong tay các điệp viên Sô viết, sau khi đã được sửa sang lại rất khéo.
        Cơ quan quân báo VFK của Đông Đức (6), có nhiệm vụ do thám quân đội đồng minh ở Tây Đức đã thiết lập nhiều phòng thí nghiệm để chế tạo tài liệu giả và mực bí mật. Bộ Nội An Đông Đức (7) còn mở một trung tâm kỹ thuật đại qui mô, để phục vụ cho công tác gián điệp. Đúng ra, đó là một trại giam trong đó tù nhân phần lớn là các nhà khoa học và chuyên viên tây phương bị xung vào ban chế tạo thiết bị gián điệp. Trung tâm này sản xuất mực bí mật, máy ảnh nhỏ xíu, máy ghi âm tí hon, dụng cụ nghe trộm điện thoại, thuốc mê, thuốc độc, căn cước, thông hành và con dấu giả. Điều khiển trung tâm là những sĩ quan mật vụ chuyên nghiệp từ Nga sô tới. Quát (8), đảng viên Cộng sản cao niên, đứng đầu ban chế tạo tài liệu giả. Năm 1932, Hít-le chuẩn bị cướp chánh quyền, 600 thủ lãnh Đức cộng rút vào bí mật, trong số đó có Quát. Với bảy nhân viên, Quát chế tạo thông hành giả. Cơ sở của Quát rải rác khắp châu Âu và riêng tại Đức, chừng ba chục chi nhánh. Vào hồi cực thịnh, cơ sở làm đồ giả ở Đức có tới một ngàn đảng viên Cộng sản tham dự. Năm 1932, cảnh sát đã tìm thấy tại xưởng chính của tổ chức giả này 2000 con dấu cao su, 600 thông hành chưa đề tên, 807 tấm ảnh để dán vào thông hành, và 700 tờ khai xin thông hành để nộp cho cảnh sát. Quát trốn qua Pờ-ra-gờ, Tiệp khắc, sau đó tới Ba-lê, Mễ-tây-cơ. Năm 1947, Quát trở về Đông Đức làm lại nghề cũ. Những đảng viên Cộng sản quen sống lén lút từ ba chục năm nay như Quát đã góp kinh nghiệm cho gián điệp Đông Đức thêm nguy hiểm. Gần đây, một chiếc xe chở hàng nhỏ trên mui, có quạt tròn, đậu trước trụ sở đảng Dân chủ Xã hội tại Bá linh. Xe đậu quá lâu, làm cảnh sát hồ nghi. Và khám phá ra một máy ảnh tối tân giấu trong quạt tròn. Máy ảnh chuyên chụp
 
-------------------------
(6) Verwaltung fur Kvordinterung. (7) tọa lạc tại số 12, đường Freinwaiderstrasse, Đông Bá linh.
(8) Richard Quaist.
 
 
216                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
hình người ra vào trụ sở đảng Dân chủ xã hội. Máy này là một trong các sản phẩm của trung tâm chế tạo đồ giả. Tại đó, còn được chế tạo dụng cụ giết người nữa. Một điệp viên bị chộp ở Tây Bá linh mang trong người một khẩu súng lục đặc biệt, bề ngoài trông như bật lửa. Khẩu súng này chứa ba ống thuốc độc cu ra (9) mà chỉ cần 0,025 gờ ram là toi một mạng người. Một điệp viên khác có một hộp kẹo, đựng hai chục thỏi súc cu la thơm ngon bọc giấy bạc. Chỉ một cái là kẹo thật, mười chín cái kia là kẹo thuốc độc. Muốn giết ai, chỉ cần mở hộp kẹo ra, mời ăn một cái, và để khỏi nghi ngờ, mình cũng lấy một cái, dĩ nhiên là cái kẹo không có độc được.
 
           AMT – F4: Sở in giấy bạc giả
 
        Cách đây không lâu, chánh phủ Việt Nam cộng hòa cấp tóc cho đổi giấy năm trăm cũ lấy giấy mới. Một trong những mục đích của chiến dịch đổi bạc chớp nhoáng này là dành cho Việt cộng một đòn đau điếng trên thị trường ngoại tệ Hương cảng. Số là gián điệp Việt cộng mua bạc Việt nam tại Hương cảng, đặc biệt là bạc năm trăm vì đó là giấy bạc lớn nhứt, dễ mang. Thay bạc mới, chánh phủ Sài gòn làm Việt cộng mất một món tiền khổng lồ mà họ vừa mua để cung cấp cho hệ thống quân sự và do thám ở phía nam vĩ tuyến mười bảy.
        OSS của Mỹ đã có một cơ quan đặc trách ngoại tệ trong thế chiến thứ hai. Phải có đồng bạc Đức, điệp viên đồng minh mới hoạt động được trong vùng Đức tạm chiếm, nên Hít-le đã ra lệnh kiểm soát đồng mã khắc một cách hết sức gắt gao.  Lệ thường, OSS mua bạc tại các quốc gia trung lập. Cũng có khi mua bạc Đức ở Pháp, do người Pháp bị huy động làm nhân công từ Đức trở về bán lại theo giá chợ đen.
 
---------------------------
(9) curare.
 
 
217                                                                                                                                         AMT – F4: SỞ IN GIẤY BẠC GIẢ
 
Còn bạc Pháp thì mua thẳng ở ngân hàng Pháp, nhiều khi là giấy mới, số này liên tiếp số kia. Việc đầu tiên của OSS là kiểm lại xem có lẫn lộn những tờ bạc khả nghi không. Bạc khả nghi nghĩa là bạc đã bị địch bí mật biên số từ trước, điệp viên đồng minh nào đem xài trong vùng địch sẽ bị tóm cổ dễ dàng. Biết OSS mua ngoại tệ, Phản gián Đức cho in một loạt bạc mới, ghi số, rồi cho lưu hành tại các quốc gia trung lập. Phát hành xong, Đức ra thông cáo cho các ngân hàng và bưu điện nói rằng một số giấy bạc mới bị mất trộm. Kèm theo danh sách những loại giấy mất trộm. Tưởng thật, nhiều ngân hàng và bưu điện ở Âu châu trong vùng Đức đã làm công không cho mật vụ quốc xã trong việc khám phá điệp viên đồng minh.
         Trước khi chiến tranh Nga Đức bùng nổ, Sít-ta-lin xỏ Hít-le một vố khá đau. Lượm được một tin theo đó, thống chế Tu-kha-sét-ky (1) âm mưu với bộ tổng tư lệnh Sô viết lật đổ Sít-ta-lin, mật vụ Dét-ta-pô bèn thi hành một kế hoạch thâm độc: mượn tay Sít-ta-lin giết bớt tướng tài, cốt làm cho Hồng quân suy yếu. Dét-ta-pô bố trí ăn trộm tài liệu cất trong tủ sắt của Phòng Nhì Đức, vốn có cảm tình với Tu-kha-sét-ky, làm thêm một mớ tài liệu giả, đem bán cho Sít-ta-lin lấy ba triệu đồng rúp. Năm 1937, Tu-kha-sét-ky bị đưa ra tòa và hành quyết. Mật vụ quốc xã hí hửng, đem tiền rúp ra tiêu, không ngờ Nga sô đã cho ghi số, khiến điệp viên Đức nào tới Nga cũng bị tóm cổ. Rốt cuộc, Đức phải cho đốt sạch số tiền còn lại.
        Vỏ quít dày, gặp móng tay nhọn, OSS đã gài được một số nhân viên quan trọng trong hệ thống hối đoái ở Đức, nên đã phăng ra kịp thời những kế hoạch kiểm soát tiền tệ của Hít-le. Một nhân viên đã mang danh sách những loại bác bị ghi số đưa tận tay cho tổng hành doanh OSS ở Luân đôn. Phản gián
 
------------------------------
(1) Toukhatchevsky.
 
 
218                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Đức không tài nào tìm ra vì danh sách này được thu lại thành vi điểm, dán vào nốt ruồi của nhân viên đồng minh. Mỗi khi mua được giấy bạc mới, OSS phải làm cho cũ trước khi dùng. Cửa phòng được khóa lại, năm triệu phạt lăng trải trên sân nhà, rồi mọi người cùng làm việc trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Giấy bạc bị chà đạp sẽ trở thành cũ. Bạc mới thường chưa có dấu kim. OSS phải găm lại từng tập cho tờ nào cũng có ít nhất hai vết kim, nếu không phản gián địch sẽ tìm ra người lưu hành là điệp viên đồng minh.
        Một số cơ quan gián điệp nghĩ rằng mua ngoại tệ tốn tiền nên đã in bạc giả. Tướng Kờ-ri-vít-ky (2), cựu chỉ huy trưởng mật vụ Sô viết, tiết lộ rằng nhà độc tài đỏ Sít-ta-lin đã cho in đô la giả để lấy tiền thực hiện kế hoạch kinh tế ngũ niên 1928-1932. Kờ-ri-vít-ky cho biết hồi đó Nga sô in mười triệu mỹ kim giả. Máy in được cất trong văn phòng mật vụ và nhân viên mật vụ có nhiệm vụ lưu hành bạc giả. Hiện nay, Nga sô vẫn tiếp tục in bạc giả với sự trợ giúp của hai chư hầu tiến bộ về kỹ thuật là Tiệp khắc và Đông Đức. Trong thế chiến, Nhựt cũng in nhiều mỹ kim giả để chuẩn bị tấn công vào lực địa Hoa kỳ. Tuy nhiên, người in bạc giả nhiều nhứt từ xưa đến nay phải là Hít-le. Nhà độc tài quốc xã hạ lệnh cho Him-le, trùm Dét-ta-pô, thành lập ban AMT – F4, tức là ban chế tạo bạc giả, và việc chế tạo bạc giả được mệnh danh là chiến dịch Bét-ha (3). Khởi đầu từ 1939, chiến dịch Bét-ha phải mất đúng hai năm mới chế được giấy, do hai xưởng tại Đức cấp, để in đồng bảng Anh. Nhà in đầu tiên được đặt giấu trong trại tập trung Sát-sen-hô-sen (4) gần Bá linh do thiếu tá Kờ-ru-de (5) chỉ huy. Nhân viên đều là tù nhân chuyên môn về vẽ, khắc và in, trong số có Sì-mô-lis-nốp (6), đại bợm quốc tế, người Nga lai Do thái, trạc ngũ tuần, nổi
 
------------------------------
(2) Krivitsky. (3) Bernhard. (4) Sacksenhosen. (5) Bernhard Kruger. (6) Smolianoff.
 
 
219                                                                                                                                         AMT – F4: SỞ IN GIẤY BẠC GIẢ
 
tiếng nhứt thế giới về tài khắc bản kẽm bạc giả. Nhân viên chia làm hai toán, làm việc ngày đêm. Ngoài giấy bạc, AMT – F4 còn in giấy tờ giả để cấp cho gián điệp quốc xã hoạt động trong vùng đồng minh. Năm 1944, việc in đồng bảng được đình chỉ vì sợ in quá nhiều. Tù nhân bắt tay vào việc in mỹ kim. Tháng 3-1945, quân đội đồng mình tiến tới gần Sát-sen-hô-sen, xưởng in phải rời tới trại giam Mô-tô-sen (7). Cuối tháng ba, toàn bộ được chuyển tới Rét-Díp (8), Áo quốc, dưới hầm núi đá. Quân đội đồng mình tới sát nách. Him-le đành phải ra lệnh đốt bỏ giấy bạc và dụng cụ ấn loát. Đốt mãi không hết, trong tháng 5-45, mật vụ chở đầy xe giấy bạc, ném từng thùng xuống hồ Tô-bờ-lít (9). Song một thùng bạc vỡ tung, mặt hồ ngổn ngang mỹ kim, dân chúng địa phương vớt lấy đem về cất giấu. Một đoàn xe khác, ném các thùng bạc xuống sông En (10), nhiều thùng bị vỡ, dân chúng lại được dịp thu lượm và sau đó tiêu xài thả cửa. Mục đích của Him-le là làm phi tang, hầu đồng minh không thể biết Đức in bạc giả. Thủ tiêu xong giấy bạc, mật vụ sửa soạn thủ tiêu tù nhân, nhưng trước đà tiến quân của Mỹ, bọn lính gác đã bỏ trốn. Một binh nhì người Áo được lệnh cho cam nhông giấy bạc đổ xuống sông, đã đem giấu và nộp cho quân đội Mỹ. Khi ấy, sự thật mới được tiết lộ. Riêng chuyến xe này chở trên 100 triệu bảng Anh. Người ta ước lượng Hít-le đã in chừng 500 triệu Mỹ kim. Bạc giả của Đức được chia làm năm loại: thứ nhứt, loại khó phân biệt thật giả, được dùng để mua quân dụng tại các nước trung lập, thứ hai, loại có một vài khuyết điểm nhỏ, để phát cho điệp viên quốc xã hoạt động ở hải ngoại, thứ ba dùng để trả tiền cho ngoại nhân hợp tác với tình báo Đức, thứ tư, loại xấu để ném xuống đất Anh phá hoại kinh tế, tài chánh, còn thứ
 
-------------------------
(7) Mauthausen. (8) Redl-Zipf. (9) Toplitz. (10) Enns.
 
 
220                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
năm là loại không xài được, phải huy đi để chế giấy in. Xi-xê-ron (11) bí danh của một người Thổ đánh cắp tài liệu mật của sứ quán Anh bán cho Đức, đã được trả 300.000 Anh kim tiền giả. Đại chiến chấm dứt, Xi-xê-ron đem tiền ra tiêu mới biết là bị lỡm. Sau đại chiến, Anh quốc phải thay giấy bạc mới để tránh sự lũng đoạn của chiến dịch Bét-ha.
        Nói cho đúng, việc Nga, Đức, Nhật chế tạo bạc giả không phải là vấn đề mới lạ. Hoàng đế Nã phá luân đã lập một xưởng in bạc Nga giả tại Ba lê để lấy tiền chuẩn bị xâm lược nước Nga. Trong cuộc cách mạng Mỹ người Anh đã tung hàng tấn giấy bạc giả vào tây bán cầu. Trong trận nội chiến Mỹ, một phần ba giấy bạc lưu hành trong xứ là bạc giả. Năm 1945-46, Việt nam Quốc dân đảng và Đại Việt đã làm giấy bạc Đông dương giả. Đảng viên Quốc dân đảng gọi bạc giả là «bơ», in rất đẹp, và được lưu hành rộng rãi. Một số người chủ trương và lưu hành «bơ» mà QDĐ dùng để bành trướng lực lượng chống thực và đả cộng, hiện còn sống ở Sài Gòn.
 
           Bắt cóc và ám sát
 
        Nhân viên Do thái đã sang tận Nam Mỹ bắt cóc Ách man (1), yếu nhân quốc xã đã giết hại hàng triệu người Do thái trong thế chiến. Ách man bị đưa về Do thái, ra tòa và hành quyết. Ngày 21-11-1964, xảy ra tại trường bay La-mã một vụ bắt cóc mà nạn nhân là Đa-han (2), nhân viên Sin-bét (3), cơ quan điệp báo Do thái. Hôm đó, hai nhân viên ngoại giao Ai-cập Say-ét (4) và Nếch-lao (5), chở tới phi trường một cái rương lớn, để mang lên máy bay về Lơ-ke (6). 
        Lúc cái rương được cần trục đưa lên, bên trong có tiếng người kêu cứu. Phản gián Ý khám phá ra Đa-han, tức Lu-ki (7), bị trói chặt trong rương. Do thái và Ai cập coi nhau như kẻ thù không đội trời chung. Do thái thường bắt cóc các nhà bác học Đức sang làm việc. Ai cập bắt điệp viên Do thái. Sở Sin-bét tại
 
------------------------------------
(11) Cicéron, tức Elyesa Bazna, bồi phòng của đại sứ Anh tại Ankara.
(1) Adolf Eichmann. (2) Dahan. (3) Shinbet. (4) Sayed. (5) Neklaouy. (6) Le Caire. (7) Mordekhai Louki.
 
 
221                                                                                                                                                         BẮT CÓC VÀ ÁM SÁT
 
Do thái được đặt dưới sự điều khiển của tướng A-mét. 
        Bắt cóc và ám sát là công tác thường ngày của gián điệp Cộng sản. Từ 1942 đến 1958, Cộng sản đã bắt cóc 63 người tại Tây Bá linh, trong số đó bốn người mang đi bằng thuốc mê. Vụ bắt cóc bác sĩ Lin-sờ (8) có thể coi là điển hình cho chiến thuật tàn bạo của gián điệp Cộng sản. Ngày 8-7-1952, ông Lin-sờ rời nhà riêng, để đi xe buýt tới trụ sở Liên đoàn các Luật gia Tự do mà ông là một nhân vật lãnh đạo. Một toán côn đồ chặn bắt ông giữa đường, kéo ông lên xe, chạy thẳng qua Đông Bá linh. Một người bán sữa thấy chuyện khả nghi, lái xe theo sau, bị bọn côn đồ xả súng bắn. Bác sĩ Lin-sờ biệt tích. Bốn tháng sau, một tên du đãng báo tin với cảnh sát là Kờ-nô bờ-lốc (9) đã đúng tay vào vụ bắt cóc, theo lệnh cộng sản. Kờ-nô bờ-lốc bị gài bẫy bắt giữa lúc y vượt biên giới để ăn cướp. Cộng sản đã thuê bọn đầu trộm đuôi cướp bắt cóc bác sĩ Lin-sờ. Kờ-nô bờ-lốc qua Đông Bá linh, được thưởng tiền, lại được mật vụ kiếm cho một cô bạn gái, hú hí cho quên ngày tháng. Một thời gian sau, y bị bỏ rơi, phải trở lại nghề đào tường, khoét vách và sa lưới công an Tây Bá linh. Bác sĩ Lin-sờ bị đẩy qua Nga sô và từ trần trong một trại lao công cưỡng bách.
        Tướng Kuti-ê-pốp (10) là một trong những cựu tư lệnh Bạch Nga chống lại phe bôn sơ vích ở Nga sô. Thất bại, ông sang Pháp tị nạn. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục hoạt động chống Cộng. Gián điệp Sô viết bèn âm mưu bắt cóc ông. Một buổi trưa tháng 1-1930, ông từ nhà ra đi, và không bao giờ trở lại. 7 năm sau, ngày 23-9-1937, người kể tục công việc của Kuti-ê-pốp là tướng Mi-le (11) cũng bị Công sản bắt cóc tại Ba lê. Người ta khám phá ra tướng Si-kốp-lin (12), trong bộ tham mưu Bạch Nga lưu vong, là gián điệp
 
--------------------------------
(8) Walter Linse. (9) Knoblock. (10) Koutiepof. (11) Miller. (12) Skopline.
 
 
222                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đôi của Nga sô. Bại lộ, Si-kốp-lin bỏ trốn. Vợ y bi tòa án Pháp phạt hai mươi năm tù. 
        Rơ-bê (13) và Ban-đê-ra (14), hai lãnh tụ Uy-cờ-ren tự do, từ trần tại Âu châu. Thoạt tiên, người ta tưởng hai ông chết vì bệnh tim nhưng sau đó mới biết là bị Cộng sản hạ sát. Hung thủ là Sita Sinky (15), nhân viên KGB, bị bắt trong khi vượt qua bức tường ngăn đôi Bá linh. Y gia nhập KGB sau đại chiến và được huấn luyện gián điệp tại một trung tâm đặc biệt. Y đã giết hai nhà cách mạng Uy-cờ-ren bằng một khẩu súng lục hơi ép, chứa đạn cy-a-nuya. Những vụ ám sát đều không để lại vết tích.
        Rết (16), gián điệp cộng sản nổi tiếng, chán chường sau cuộc thanh trừng đẫm máu năm 1936, trốn sang tây phương, đổi tên họ, sống tại Thụy sĩ. Nhân viên KGB vẫn tìm ra Rết để hạ sát. KGB đưa cho Sin-bác (17), một phụ nữ quen thân với gia đình Rết, một hộp xúc cù là tẩm độc. Nàng được lệnh đầu độc toàn gia Rết. Nhưng đến phút chót, Sin-bác từ chối không chịu giết vợ con vô tội của Rết. Tay đã dúng chàm, Sin-bác đành phải dẫn đường cho gián điệp Sô viết giết Rết. Sê-đốp, con trai của lãnh tụ đệ tứ Tờ-rốt-ky (18), một thanh niên cường tráng, đã chết trong bệnh viện tại Ba lê sau một vụ giải phẫu tầm thường. Người ta được tin KGB đã giết Sê-đốp. Chưa giết được cha, Sít-ta-lin hạ lệnh cho KGB giết con để tuyệt tự. Năm 1936, Tờ-rốt-ky lánh nạn tại Mễ-tây-cơ, đinh ninh đường sá xa xôi làm Sít-ta-lin quên đi. Nhà chức trách địa phương canh phòng ngôi nhà của Tờ-rốt-ky, khi ấy biến thành một pháo đài nhỏ. Tờ-rốt-ky đã thoát khỏi nhiều vụ mưu sát. Sau cùng một điệp viên Sô viết giả làm người thân, dùng một cái búa nhỏ giết Tờ-rốt-ky.
 
-------------------------
(13) Lew Rebet. (14) Stepan Bandera. (15) Bogdan Nicolaievitch Stechinsky. (16) Ignace Reiss.
(17) Gertrude Schildbach. (18) Léon Sedov. Léon Trotsky.
 
 
223                                                                                                                                                         BẮT CÓC VÀ ÁM SÁT
 
        Đại úy Khốt-lốp (19), tá túc chánh trị tại Mỹ năm 1954, đã phanh phui nhiều thủ đoạn giết người kinh hoàng của gián điệp Sô viết. Năm 1943, Khốt-lốp nhảy dù xuống vùng Đức tạm chiếm, tổ chức giết Kube, thống đốc quốc xã tại Min-kờ (20). Một trái mìn từ thạch nhỏ xíu được gắn vào lò so giường Kube. Mìn nổ, Kube tan xác. Năm 1952, tướng mật vụ Su-đô pờ-la-tốp (21) sai Khốt-lốp sang Ba lê hạ sát một lãnh tụ chống Cộng người Nga, song ý thoái thác. Năm 1953, y được lệnh sang Tây Đức giết lãnh tụ NTS Ô-kô-lô-vích. Sau đó, y qua Mỹ tị nạn, vợ con đành bỏ lại sau bức màn sắt. Trong cuốn hồi ký xuất bản năm 1958, đại úy Khốt-lốp tiết lộ Nga sô có một tổ chức tối mật, gọi là Phòng thí nghiệm 12, chuyên phát minh các phương pháp đầu độc, và Phòng thí nghiệm 13, chuyên chế tạo súng hãm thanh và bom lửa ngụy trang thành đồ thiết dụng.
 
----------------------------------
(19) Nicolai Khokhlov. (20) Minsk. (21) Sudeplatov.
 

Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN THỨ TƯ
Bảng Phong Thần
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
226                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        1.  15.000 vụ gián điệp
 
        Sinh ư nghệ, tử ư nghệ, đa số nhân viên gián điệp đều bị bại lộ, bị bắt, bị tù, bị giết trong hai trận thế chiến vừa qua. Tuy nhiên, trên vòm trời do thám, còn có những ngôi sao sáng mãi không bao giờ tắt. Năm 1939, toàn thể điệp viên Đức ở Anh quốc bị xộ khám, trừ một người, một kẻ siêu quần bạt chúng ngày nay chưa ai biết tên họ, còn sống hay chết. Báo cáo tối mật của bộ Ngoại giao hoàng gia chỉ in ra bốn bản, thì y đánh cắp được một. Y lại hướng dẫn phi cơ Đức đội bom xuống các trường bay gần Luân đôn và các trung tâm kỹ nghệ chiến tranh. Đại tá Cúc (1), ông thần Phản gián Anh quốc cũng phải khen ngợi tài ba xuất quỉ nhập thần của y. Phải chăng y đã chết tại một nơi vắng vẻ, đầu bị bắn thủng, bên cạnh một khẩu súng lục, trong túi có giấy thông hành Hòa lan mang tên Bờ-rắc (2)? Trong phòng nạn nhân, người ta tìm thấy một điện đài Đức cực mạnh. Phải chang y là Đích-ken-hốp (3), mắc bệnh lú lấp, hiện chữa bệnh trong một trại điên ở Anh quốc? Nếu quả thật là y, thì y điên thật, hay điên giả?
        Trong thế chiến thứ hai, hệ thống gián điệp của Nga sô tại Giơ-neo đã lấy tin một sĩ quan cao cấp trong bộ tổng tham mưu Đức. Sĩ quan này là ai. Không một sở gián điệp nào tìm ra, hoặc cố tình nín lặng. 
        Sun-mét-tơ (4) không hổ thẹn với danh hiệu ông «vua do thám» mà hoàng đế Nã-phá-luân ban cho. Là điệp viên của Nã-phá-luân, Sun-mét-tơ lại lọt vào nước Áo, để thống chế Mắc (5), tổng tư lệnh, cử làm giám đốc tình báo. Kết quả là Sun-mét-tơ tạo tài liệu giả, đánh lừa thống chế Mắc, dọn đường cho Nã-phá-luân thắng trận Ốt-tét-lít (6). Nã-phá-luân bị lật đổ, Sun-mét-tơ mất chức nhưng không chết. Mãi
 
--------------------------
(1) Cooke. (2) Willem Ter Braak. (3) Karl Dickenhoff. (4) Karl Shulmeister. (5) Mack. (6) Austerlitz.
 
 
 
 
227                                                                                                                                                         15.000 VỤ GIÁN ĐỊÊP
 
đến 83 tuổi, Sun-mét-tơ mới thở hơi cuối cùng. Năm 1830, vua Nã-phá-luân đệ tam, khi đó còn là thái tử, đã ghé thăm ông vua do thám đang dưỡng già, và bán... thuốc lá lẻ tại An-dát (7). 
        Sờ-ti-be (8) xứng đáng được tôn làm bậc thầy trong làng gián điệp. Nhờ Sờ-ti-be, Đức đã thắng Pháp năm 1870. Sờ-ti-be lập ra đạo cảnh sát bí mật trong quân đội đầu tiên tại Âu châu. Sờ-ti-be cũng là người thứ nhứt ở Âu châu tổ chức phản gián điệp và tâm lý chiến. Sờ-ti-be đã tung bốn ngàn điệp viên vào đất Pháp, và cải trang làm bồi phòng cho bộ trưởng Pháp Pha-vờ-rơ (9), đánh cấp các tài liệu cơ mật. Sờ-ti-be mở tại Bá linh một cơ sở du hí, gọi là «nhà màu lục», để lấy tin tức. Nhân viên đều được huấn luyện tình báo, một phần là phụ nữ trẻ đẹp, có nhiệm vụ nuông chiều các quan khách đặc biệt. «Nhà màu lục» cung cấp mọi thú vui, từ khoái lạc xác thịt tới á phiện, bạch phiến. Nhân viên cao cấp chánh quyền và phe chống chánh phủ đều được mời tới hưởng lạc. Năm 1892, tổng trưởng Công an kiêm giám đốc điệp báo Đức Sờ-ti-be từ trần. Nhiều người sợ Sờ-ti-be giả chết, phải đến tận linh cữu để nhìn tận mắt.
        Tờ-rê-bít Lin-côn (10) cũng là một điệp viên thượng thặng. Đặc điểm của Lin-côn là đi tới đâu, có biến loạn tới đấy, song trời chẳng chiều người, Lin-côn đành phải chết già ở xa cố hương hàng vạn dặm. Người Áo nhập Anh tịch. Lin-côn đắc cử nghị sĩ năm 1910. Trong thế chiến thứ nhứt, y đánh lừa Phản gián Anh, bị bại lộ, phải cuốn gói sang Hoa kỳ hoạt động cho Đức quốc. Bị dẫn độ về Anh về tôi giả mạo chứng thư, Lin-côn trốn thoát. Song y bị bắt lại và ở tù ba năm. Bị trục xuất năm 1919, y qua Đức dính vào một cuộc đảo chánh hụt, trốn sang Bu-đa-pét (11), phục vụ cho do thám Pháp. Sau đó, Lin-côn đi
 
----------------------------
(7) Alsace. (8) Wilhelm Stieber. (9) Jules Favre. (10) Trebiish, Lincoln. (11) Budapest, thủ đô Hung-gia-lợi.
 
 
 
 
228                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Trung hoa làm cố vấn quân sự tối cao. Rối loạn, thất bại, Lin-côn lẻn qua Tích-lan về nước, rồi sang Tàu lần thứ hai, rớt tóc đi tu. Phản gián tây phương theo sát, Lin-côn lại bỏ trốn và đi Bá linh. Chánh phủ Đức sợ y gây đảo chánh nên tống qua Bỉ, Bỉ cũng không nhận, Lin-côn đành quay lại đất Tàu. Lần nầy chán ngấy, Lin-côn xuất gia đầu Phật thật sự. Một thời gian sau, ngựa quen đường cũ, y mò về Anh rồi bị đuổi. Hết đường hoạt động, Lin-côn ngậm ngùi về Trung hoa, đến năm 1943 thì tạ thế.
        Trong vòng hai chục năm nay, Nga sô đã tổ chức 15.000 vụ gián điệp, với sự tham dự của từ 250.000 đến 400.000 nhân viên các loại. Phe tự do không tha lại còn hơn Nga sô là khác. Tuy nhiên, một bức màn đen luôn luôn che kín các hoạt động điệp báo, người ngoài không thể biết được. Khôn sống, mống chết, lịch sử hai trận thế chiến chứng tỏ điệp viên nào thận trọng thì sống, cẩu thả thì chết. Năm 1930, một điệp viên Sô viết đưa quần cho thợ giặt. Trong quần còn để lại một xấp tài liệu lấy trong sở tình báo hải quân Mỹ. Đống giấy làm cộm túi quần, không ủi được, người thợ phải rút ra, và tình cờ khám phá được một tổ chức của địch. Anh chàng bừa bãi này tên là Go-rin. Y bị gọi về Nga sô và chắc là bị hành quyết.
        Si-ta-ta-pu-lốt (12), người Hy-lạp, từ trần tại Gia-nã-đại, sau một con đau dai dẳng, hưởng thọ 62 tuổi. Cảnh sát phải lục soát căn nhà tầm thường, gồm hai phòng nhỏ của lão già cô độc ở Mon-tờ-rê-an (13) để tìm địa chỉ người thân. Tình cờ phăng ra bốn cái hộp sắt đựng giấy tờ mật mã, văn thư giả và phim ảnh vi ti. Té ra Si-ta-ta-pu-lốt là điệp viên Sô viết. Sự cẩu thả của kẻ chết đã làm nhiều người sống liên lụy. 
        Trung ương Mạc-tư-khoa luôn luôn nhắc nhở nhân viên ở hải ngoại phải thận trọng. Tuy nhiên, bệnh
 
--------------------------------
(12) Constantin Siathapoulos. (13) Montréal.
 
 
 
 
229                                                                                                                                                         15.000 VỤ GIÁN ĐỊÊP
 
quan liêu của Nga sô đã làm một số nhân viên xộ khám. Mỗi điệp viên phải giữ một cuốn sổ công tác. Nát-so (14), cơ quan kiểm trả ở Mạc-tư-khoa, thỉnh thoảng phái người tới xét nét công việc. Nhân viên phải trình sổ công tác cho kiểm tra viên. Mỗi lần thuyên chuyển, cuốn sổ được giao lại cho người kể tiếp. Nếu Phản gián tây phương tóm được một cuốn sổ, cả một hệ thống do thám sẽ bị phá vỡ. Bút sa, gà chết, trung tướng Gờ-rô (15) có thói quen viết nhựt ký, mặc dầu làm việc sau bức màn sắt, nên phải ra tòa án quân sự về tội bất cẩn. Tướng Gờ-rô làm tùy viên quân sự tòa đại sứ Mỹ trong hai năm tại Mạc-tư-khoa. Khi Gờ-rô dự hội nghị quân sự ở Đức, ngụ tại khách sạn, bị hai nhân viên khách sạn làm việc cho cộng sản, lén chụp hình cuốn nhựt ký, chứa đựng nhiều bí mật quan trọng. Một thời gian sau, Cộng sản công bố những đoạn nhựt ký của Gờ-rô. Trong thế chiến, bộ tư lệnh Nhựt thường bất cẩn như tướng Gờ-rô. Tháng 8-1942, hai tàu ngầm Mỹ At-gô-nót (16) và No-ti-lớt (17) cho các toán xung kích tới đảo Ma-kin ở Thái bình dương. Trong vòng 48 tiếng đồng hồ, quân Mỹ phá hủy một đài bá âm, đốt kho xăng máy bay, chiếm kho lương thực. Song vật quan trọng nhứt đã được tìm thấy trong tư thất viên tư lệnh Nhựt. Một tủ tài liệu mật. Nhờ thế, Mỹ khám phá ra kế hoạch hành quân của Nhựt. Khi Mỹ đổ bộ lên Sai-pan, người Nhựt cũng bỏ lại rất nhiều tài liệu mật.
         Một gián điệp đôi Đức suýt mất mạng vì cẩu thả trong bữa ăn với A-len Đơ-lớt, đại diện OSS tại Thụy sĩ. Y là nhân viên của đô đốc Canari, song lại liên lạc với OSS để chống Hit-le. Trong khi Đơ-lớt trò chuyện với y, người nữ đầu bếp – mật báo viên của tòa lãnh sự Đức – lẻn ra ngoài phòng, xem cái mũ của khách. Khách đã dại dột ghi tên tắc của mình vào trong mũ. Y liền bị Phản gián Đức trong tòa lãnh sự
 
-------------------------
(14) Nadsor. (15) Robert W. Grow. (16) Argonaut. (17) Nautilus.
 
 
 
 
230                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
kết tội phản quốc. Y bèn lớn tiếng bịp rằng Đơ-lớt cung cấp nhiều tin quan trọng cho đô đốc Canari, và y được Hít-le cho phép liên lạc với OSS. Hai nhân viên Phản gián tưởng thật, không dám ho he. Nữ đầu bếp của ông Đơ-lớt bị bắt, nhưng từ đấy người bạn OSS không dám để tên vào mũ nữa.
        Vụ Ghi-e (18), nhân viên tình báo thuộc tổ 9592 của tướng Ghê-len, Tây Đức, là một tài liệu sống về sự cẩu thả. Sinh kế chật vật, nhà văn ngũ tuần Ghi-e gia nhập tổ chức Ghê-len. Cơ sở 9592 phạm nhiều lỗi lầm căn bản khi kết nạp Ghi-e: gia đình y còn ở lại Đông Bá linh, dễ bị Cộng sản bắt chẹt, số nhân viên lại quá đông, 36 người, lẽ ra chỉ được lập tiểu tổ 5, 7 người là cùng, mặt khác, tài liệu quan trọng, như danh sách nhân viên, mật mã, lại cất trong một cái tủ gỗ tầm thường. Ba khuyết điểm này bị Cộng sản lợi dụng triệt để. Ghi-e được đưa vào hàng ngũ Đông Đức, ban đêm Ghi-e chụp các tài liệu trong tủ gỗ và gởi qua phía đông. Một ngày kia, Ghi-e đăng báo tìm thư ký. Chẳng hiểu y ăn nói ra sao mà một thiếu nữ Đức đa nghi, tưởng y là con yêu râu xanh, tuyển con gái đưa vào thanh lâu, nên tố cáo với cảnh sát. Ngày 29-10-1952, cảnh sát kiểm tục tới nhà Ghi-e. Khi ấy, y đi vắng. Nghe nói có cảnh sát, y đinh ninh vai trò nhị trùng bại lộ, nên hốt hoảng phóc qua cửa sổ trốn biệt tăm sang bên kia biên giới. 63 nhân viên của tướng Ghê-len bị Cộng sản phăng ra vì sự phản thừng của Ghi-e. Tuy nhiên, nếu tướng Ghê-len thiệt thòi thì Đông Đức cũng thiệt thòi không kém. Vụ Ghi-e đáng được tình báo Đông Tây Đức rút đúc kinh nghiệm.
        Lệ thường, gián điệp phải lập phòng rửa phim riêng để giữ bí mật. Trong thế chiến, điệp viên Ken (19) mang phim cho tiệm ảnh rửa nên mới bị bắt. Dầu sao, sự phản bội của Kent cũng suýt làm Anh quốc
 
---------------------------
(18) Hans Geger. (19) Tyler Kent.
 
 
 
 
231                                                                                                                                                         15.000 VỤ GIÁN ĐỊÊP
 
thất trận. Anna (20) lớn hơn Ken 14 tuổi, lại chẳng lấy gì làm đẹp, không hiểu sao Ken lại mê nàng. Phụ trách phòng mật mã trong tòa đại sứ Hoa kỳ, tai Luân đôn, Ken làm gián điệp cho Đức, vì bản tính ghét người Do thái mà Đức lại là kẻ thù của Do thái. Ken dùng va li ngoại giao của sứ quán Mỹ để chuyển tài liệu của Anna. Y còn chụp trộm nhiều văn kiện tối mật. Riêng trong mùa đông 1939-40, trên 1.500 văn kiện quan trọng đã lọt vào tay Hít-le. Cặp Ken - Anna còn có thể tiếp tục phụng sự cho nghĩa quốc xã nếu họ không bừa bãi. Chụp hình xong rửa phim mất nhiều thì giờ, họ bèn mang tới một hiệu chuyên môn. Phản gián Anh theo dõi Anna từ lâu. Từ Anna, người ta phăng ra Ken, và tiệm chụp hình. Phản gián vào tiệm giữa lúc thợ ảnh đang rửa một cuộn phim đặc biệt. Người thợ ảnh đinh ninh Ken là nhân viên ngoại giao Mỹ nên không ngờ vực. Ken bị 7 năm tù, còn Anna, 10 năm khổ sai.  Sở dĩ Ken không bị tử hình vì Hoa kỳ chưa khai chiến với Đức. Hồi đó, đại sứ Mỹ tại Luân đôn là thân sinh cố tổng thống Ken-nơ-đi (21).
        Ken bất cẩn, bị bắt, chỉ là chuyện dễ hiểu, vì y là gián điệp tài tử. Còn Rét (22), cựu trưởng ban Phản gián Áo, một tay tổ gián điệp, tại sao có thể bất cẩn đến nỗi quên túi đựng dao nhíp trên tắc xi để rồi bị lột mặt nạ và mất mạng? Từ 1900 đến 1905, Rét là phụ tá giám đốc do thám và phản gián Áo, và năm 1908 thì lên làm giám đốc. Rét là người phát minh ra những phương pháp tân kỳ hiện nay còn dùng. Như đặt mấy ảnh và máy ghi âm lén lút trong phòng để chụp hình và thâu thanh tiếng nói của khách. Như lấy dấu tay bằng cách chìa hộp thuốc lá bằng bạc, bôi chất miniom (23), mời khách rút một điếu. Vân ngón tay của khách được in vào hộp bạc. Rét còn đặt ra kiểm duyệt thư tín. Rét đuoc thuyên
 
----------------------------
(20) Anna Wlokoff. (21) Kennedy. (22) Alfred Redl. (23) minium.
 
 
 
 
232                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
chuyển, thiếu tá Ron dờ (24) lên thay tiếp tục công việc kiểm duyệt của Rét. Năm 1913, tình cờ sở kiểm duyệt đọc được hai bức thư từ một thị trấn dọc biên giới Nga gởi cho thùng thư số 13, bưu điện Viên (25), người nhận mang tên là Khiêu vũ Hí viện (26), trong thư có số tiền 14.000 bạc Áo, khoảng 200.000 bạc ta. Kon dờ lập kế, tóm người nhận thư. Một nút chuông ăn thông với Ty cảnh sát, được gắn dưới bàn chân nhân viên phụ trách hộp thư lưu trữ tại bưu điện. Khi người lạ tới lãnh thư, nhân viên bưu điện bấm chuông cảnh sát sẽ tới lập tức. 12 tuần lễ sau ngày gắn chuông, đại tá Rét lò dò tới. Rét làm gián điệp cho Nga từ lâu. Cảnh sát đã ập tới, nhưng Rét đã trèo tắc xi đi mất. May thay hồi ấy tắc xi ở Viên chỉ có rất ít, nên một lát sau tài xế quay lại bưu điện. Cảnh sát biết người lạ tới một tiệm cà phê. Y bỏ quên trên xe cái túi nhỏ bằng da đựng dao nhíp. Gặp y, tài xế tắc xi hỏi:
        -      Thưa, có phải cái túi này của ông không?
        Rét gật đầu. Y đã ký tên vào án tử hình mà không biết. Tuy nhiên, Cảnh sát chỉ theo sau chứ chưa bắt. Đêm ấy, Rét về nhà. Bốn nhân viên Phản gián bước vào. Rét nói:
        -      Tôi biết rồi. Đời tôi đã tận. Xin các ông vài phút để viết thư tuyệt mạng. 
        Nhân viên Phản gián hỏi :
        -      Thượng cấp muốn biết đại tá đã cung cấp những bí mật quốc phòng nào cho địch?
        Rét thở dài:
        -      Giấy tờ liên lạc với Nga, tôi cất trong nhà riêng của tôi ở Pờ-ra-gờ (27). Bây giờ, hãy cho tôi mượn khẩu súng. 
        Mọi người đi ra. Rét bật đèn viết thư: «Sự nhẹ dạ và sự đam mê đã đưa tôi tới cái chết. Hãy cầu
 
---------------------------
(24) Maximilien Ronge. (25) Vienne. (26) Poste restante, 13, Bal de l’Opéra. (27) Prague.
 
 
 
 
233                                                                                                                                                         15.000 VỤ GIÁN ĐỊÊP
 
nguyện cho tôi. Tôi xin đền tội. Đã một giờ mười lăm sáng rồi. Bây giờ, tôi chết đây. Tôi yêu cầu đừng giải phẫu xác tôi sau khi tôi chết. Hãy cầu nguyện cho tôi. Rét. Những tài liệu giấu trong căn nhà ở Pờ-ra-gờ chứng tỏ Rét làm gián điệp cho Nga đã mười năm, nghĩa là trong thời gian Rét chỉ huy ngành điệp báo Áo quốc. Rét đã gây ra cái chết của trên nửa triệu người Áo.
        Sau thế chiến thứ hai, tuy được tổ chức lại, gián điệp Sô viết vẫn còn cẩu thả một cách tai hại. Ya-kô-lếp (28), chỉ huy do thám tại Mỹ, ra lệnh cho nữ thư ký gởi cho Gôn (29) hai cái vé đi xem quyền Anh ám hiệu cho một cuộc gặp gỡ. Đáng lẽ gởi tới 1823 đường Kin-đờ-rứt (30), cô thư ký lại đề ngoài bì 6328. Vì thế, mọi việc đều hỏng bét. Nga sô ra lệnh cho bác sĩ Phút, điệp viên nguyên tử (31), tiếp xúc một nhân viên để trao tài liệu. Nơi hẹn là nhà ga xe điện ở Pát-đin-tơn (32). Trên thực tế, thành phố Luân đôn không có nhà ga xe điện nào mang tên là Pát-đin-tơn.
        Sự bất cẩn của đại tá A-ben đã làm tổ chức gián điệp Sô viết ở Hoa kỳ bị bại lộ. Một hôm, tình cờ A-ben gặp trung tá Hayhanen, nhân viên phụ tá, tại một vườn hoa. Hayhanen xin A-ben phim ảnh để chụp tài liệu. Từ trước đến nay, Hayhanen không hề biết A-ben ở đâu. Hôm đó, A-ben đưa bạn về Bờ-rúc-lin. A-ben vào tiệm hình, lấy phim ra, đưa cho Hayhanen (33). Ít lâu sao, Hayhanen qui thuận Phản gián Mỹ, và tố cáo địa chỉ kín đáo của A-ben. Có lẽ vì ở Mỹ quá lâu, sinh ra tự mãn. A-ben đã cẩu thả một cách lạ lùng. Trong phòng ảnh của y, người ta tìm thấy những giấy tờ viết tay quan trọng mà không điệp viên chuyên nghiệp nào dám giữ lại. Nhờ tài liệu này, Phản gián tóm được trọn ổ, và đưa vợ chồng Rô-den-bơ (34) lên ghế điện.
 
-----------------------------
(28) Yakolev. (29) Harry Gold. (30) Kindred Street. (31) Klaus Fuchs. (32) Paddington Crescent.
(33) Hayhanen. (34) Rosenberg.
 
 
 
 
234                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Tháng 11-1959, đại tá điệp báo Ba lan Mô-na (35), tá túc chánh trị tại Hoa kỳ, tiết lộ là Nga sô có một tiểu tổ do thám tại Pốt-tờ-len (36), trung tâm khảo cứu và phát minh võ khí hải quân của Anh quốc. Phản gián M15 bèn bí mật điều tra. Nếu Hô-tơn (37) không ăn xài như công tử Bạc liêu thì chưa chắc đã sa lưới, đằng này y mua xe hơi, tậu nhà, lương có sáu mươi bảng một tháng mà khi nào cũng sẵn tiền đãi bạn. Hô-tơn bắt tình với một cô gái về già, nhân viên trong ban họa đồ võ khí. Theo dõi đôi nhân tình, người ta bắt được Lon-đên (38), điệp viên Sô viết quan trọng, và phá tan hệ thống lấy tin ở Pốt-tờ-len của Nga sô. Lon-đên ra tòa bị 25 năm tù. Hẳn y là tai tổ nên Nga sô mới chịu trao đổi, như đã trao đổi Gary Pao-ớt, phi công U-2 với đại tá A-ben. Tên thật của Lon-đên là thiếu tá Mô-lo-đy (39). Năm 1954, từ Nga qua Gia-nã-đại, ở đó một thời gian để đội lột Lon-đên : y qua Luân-đôn buôn bán. Khi Lon-đên và đồng bọn sa lưới, công an khám nhà, tìm thấy vi ảnh chụp thư từ của vợ con y từ Mạc tư khoa gởi tới. Lon-đên rời Anh nhiều lần để ra nước ngoài, nhận chỉ thị và chuyển tài liệu. Mỗi lần đi về, y thường mang lậu máy ảnh, bán kiếm lời. Lon-đên quên rằng tiền lời một chiếc máy ảnh có thể làm tổ chức gián điệp đổ vỡ. Lon-đên còn mắc một bệnh nguy hại, bệnh đa tình. Phải chăng Nga sô bắt y xa gia đình quá lâu, những tám năm đằng đẵng? Dưới quyền Lon-đên có Hô-tơn, E-li-da-bét (40), cô gái già của Hô-tơn, và vợ chồng Kờ-rô-dơ (41). Cặp vợ chồng này là bộ phận rường cột của tổ chức, lẽ ra Lon-đên phải bảo về bí mật, y lại tới nhà thường xuyên, khiến Phản gián phăng ra dễ dàng.  Phòng của Lon-đên là cái kho đựng dụng cụ do thám tối tân. Trong giây lưng quần, y giấu một món tiền lớn. Bản tín hiệu truyền tin được cất trong bin đèn rỗng ruột, và kiếng hiển vi để đọc vi ảnh, trong hộp phấn rôm. Đôi liễn tàu cũng
 
------------------------------
(35) Pavel Monat. (36) Portland. (37) Harry Houghton. (38) Arthur Gordon Lonsdale. (39) Conon Molody. (40) Elisabeth Bunty Gee. (41) Kroger.
 
 
 
 
235                                                                                                                                                         15.000 VỤ GIÁN ĐỊÊP
 
là nói Lon-đên cất tiền. Lúc công an tới bắt vợ chồng Kờ-rô-dơ, người vợ đang cầm cái túi. Trong túi, có một bức thư do Lon-đên viết bằng tiếng Nga cho vợ ở Mạc-tư-khoa, mà Kờ-rô-dơ sắp thu nhỏ thành vi ảnh, bỏ vào một cuốn sách, gởi qua Pháp. Sau chín ngay lục soát tỉ mỉ, Phản gián còn tìm thấy kiếng hiển vi, thông hành giả, bình thủy giả đựng hoá chất, đèn bin rỗng, phim tài liệu, tín hiệu truyền tin bên trong cái quẹt máy Ron-sơn (42), cùng một tự vị mật mã tẩm thuốc pô-tát-siom pét-măn-ga-nát, để có thể đốt ra than nếu để gần lửa (43). Trong bếp có một cái hầm nhỏ, bên dưới đặt một điện đài đặc biệt, liên lạc thẳng với Nga sô, và truyền tin chớp nhoáng, máy móc tối tân không thể tìm ra. Vợ chồng Kờ-rô-dơ bị 20 năm tù. Căn cứ vào dấu tay công an biết họ không phải là Kờ-rô-dơ mà là Cô-hen (44). Cô-hen tiêm nhiễm tư tưởng Cộng sản từ nhỏ. Lớn lên, y qua Tây-ban-nha, đầu quân chống Phờ-răn-cô. Năm 1948, vợ chồng Cô-hen hoạt động gián điệp tại Mỹ, dưới quyền đại tá A-ben. Hai năm sau, bại lộ, hai vợ chồng phải trốn khỏi Hoa kỳ. Cảnh sát FBI gởi dấu tay sang Anh, và mười năm sau, đôi vợ chồng bị bắt. Nếu gián điệp Sô viết biết sự đắc lực của Phản gián Anh, chắc họ không dám cẩu thả đến thế. Năm điệp viên, Hô-tơn, E-li-da-bét, Lon-đên và đôi Kờ-rô-dơ đều bị theo dõi ngày đêm trước khi bị bắt. Quán rượu Hô-tơn thường lui tới đã bị kiểm soát sáu tháng trường mà không ai biết. Công an giả làm du đãng, bẻ khoá vào nhà Kờ-rô-dơ ăn trộm hai lần. 
 
        2-  Trời ơi, em sướng quá!
 
        Sự đời thường vẫn oái oăm, gián điệp Đức cẩn thận quá mức lại thành bất cẩn. Mỗi khi nhảy dù xuống đất Anh, gián điệp quốc xã bao giờ cũng mang theo một khẩu súng tự động và đạn, năm trăm bảng Anh bằng giấy một đồng, một cái xẻn nhỏ để đào đất chôn dù, một tờ căn cước giả, một địa đồ,
 
------------------------
(42) Ronson. (43) permanganate de potassium. (44) Cohen.
 
 
 
 
236                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
một cuốn sổ để mua thực phẩm, áo quần, thức ăn, và đặc biệt là một cái dồi Phờ-răn-pho (1). Dồi Phờ-răn-pho là món ăn khoái khẩu của người Đức. Kết quả của sự khoái khẩu này là Phản gián Anh bắt giữ những ai mang dồi Phờ-răn-pho trong hành lý, và lần nào cũng chộp đúng điệp viện quốc xã. Một điệp viên học tại trường về tâm lý người Anh, được biết người Anh nào có gởi tiền quỹ tiết kiệm thường được xóm giềng quý trọng. Áp đúng lý thuyết vào thực hành, y mang năm trăm Anh kim tới quỹ tiết kiệm ngay sau khi mới đến. Chẳng may số tiền của y gồm bạc mới toanh, số nầy tiếp tục số kia, nên y bị tóm về tội...  chợ đen. Lục soát hành trang, lòi ra miếng dồi Phờ-răn-pho.
        Dan-sen (2), và Rốt (3) tới Anh năm 1915, chuyên về do thám hải quân. Giả là đại diện một hãng xì gà Hòa lan, họ đi khắp xứ lấy tin tức. Tới cảng Pót-mớt (4), họ điện về Hòa lan, yêu cầu gởi ba ngàn xì gà Cô-rô-nát (5), năm trăm xì gà Ha-van (6). Bức điện này có nghĩa là ba chiến hạm và năm tuần dương hạm đang bỏ neo tại hải cảng. Cứ mày ngày họ đánh điện một lần, khiến sở kiểm duyệt hoảng hồn, tưởng dân chúng Pót-mớt tự tử vì xì gà. Dĩ nhiên, cái lối truyền tin ấu trĩ này không đánh lừa nổi cáo già Anh quốc. Vì cả hai chàng lái buôn xì gà đều bị bắt.
        Trong số điệp viên Đức, ít có người nào bình tĩnh và thận trọng bằng Đờ-ron-kớt (7). Là người Hòa lan, y vượt biển sang Anh tị nạn. Và muốn gia nhập hàng ngũ chống xâm lăng Đức. Đại tá Phản gián Pin-tô thẩm vấn Đờ-ron-kớt (8) trong gần hai tuần mà không tìm ra manh mối. Tuy nhiên, linh tính báo Pin-tô rằng Đờ-ron-kớt là nhân viên của địch. Pin-tô đem đồ đạc tùy thân của Đờ-ron-kớt xem xét bằng
 
-----------------------------
(1) Francfort. (2) Janssen. (3) Ross. (4) Portsmouth. (5) Coronas. (6) Havane. (7) Dronkers. (8) Oreste Pinto.
 
 
 
 
237                                                                                                                                         TRỜI ƠI, EM SƯỚNG QUÁ
 
kiếng hiển vi và hóa chất. Chiếc đồng hồ tay được tháo ra từng mảnh, kể cả lò so và đinh vít. Gói thuốc lá cũng bóc ra từng điếu, dốc hết thuốc ra, song vẫn không thấy gì khả nghi. Đêm thứ mười hai, Pin-tô phăng ra mấy vết kim trong cuốn tự điển Anh - Hòa của Đờ-ron-kớt. Cuốn tự vị dày bảy trăm trang. Pin-tô phải dở từng trang, nghiên cứu kỹ lưỡng. Những vết kim li ti hiện ra ở trang 432, và nhiều trang kế tiếp. Mỗi vết kim là một chữ, hợp lại thành ba địa chỉ. Đó là địa chỉ mà Đờ-ron-kớt sẽ phải gởi tin tới. Đờ-ron-kớt bị treo cổ tại nhà giam Oan-ót (9).
        Bu-lan-dê (10) bình tĩnh và thận trọng hơn Đờ-ron-kớt một bực. Nhưng chỉ trong một phần mười giây đồng hồ, mắt y vụt sáng. Bao nhiêu tháng sửa soạn, bao nhiêu ngày đóng kịch tài tình của Bu-lan-dê bỗng tan ra mây khói. Quân Đức thất trận tại Bỉ. Bu-lan-dê bị bắt như trăm ngàn người khác. Y khai là tá điền. Ngón tay thợ, to, đầy chai, chứng tỏ y quen làm ruộng. Về cách trồng trọt, y rất thông thạo. Nhưng Phản gián đồng mình vẫn kiên nhẫn theo dõi y từng ngày, từng giờ. Y được giam trong phòng riêng, sĩ quan phản gián núp bên ngoài xem y có lộ vẻ khả nghi không. Bu-lan-dê vẫn ăn ngũ, như thường. Người ta bèn đốt phòng giam coi y cầu cứu bằng tiếng Bỉ hay tiếng Đức. Một lần nữa, y được kêu lên phòng thẩm vấn. Hai sĩ quan đồng minh nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức. Họ nói rằng Bu-lan-dê sắp bị đem bắn. Nét mặt Bu-lan-dê vẫn thản nhiên. Điều nầy chứng tỏ y không phải là người Đức cải trang. Đồng mình định phóng thích Bu-lan-dê. Phản gián xin được thử y lần chót, Bu-lan-dê được gọi lên, sĩ quan Phản gián cúi đầu trên đống giấy tờ, nói bằng tiếng Đức, giọng thản nhiên:
        -      Thế là xong. Chúng tôi trả tự do cho anh. 
        Một sĩ quan khác núp rình phản ứng của Bu-lan-dê. Đột nhiên, mắt y sáng lên trong vẻ ngạo nghễ. Y
 
-------------------------
(9) Wandsworth. (10) Emile Boulanger.
 
 
 
 
238                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
cảm thấy khoái trá vì Phản gián đồng minh đã bị đánh lừa. Thật ra, Phản gián khôn ngoan hơn Bu-lan-dê nhiều. Bại lộ, Bu-lan-dê đành thú tội, và ra pháp trường. 
        Cũng như Bu-lan-dê, một người Ý tên là Vét-xe-li-nô (11) chỉ chớp mắt một cái, vẻ mặt hơi tái, đã bị sĩ quan Phản gián nhìn thấy và thộp cổ. Vét-xe-li-nô đội lốt du khách từ Thụy sĩ tới, chờ vượt biên giới sang Pháp. Nhân viên quan thuế khám xét gắt gao những người qua trước. Bàn tay Vét-xe-li-nô bỗng run run, trên mặt y hiện ra nỗi lo sợ. Cử chỉ thiếu bình tĩnh này đã tố giác y. Hành lý của y được lục soát tỉ mỉ, lòi ra một số tài liệu mật. Vét-xe-li-nô là nhân viên giao liên của gián điệp Sô viết.
        Làm gián điệp mà bất cẩn để rồi bị bắt, bị xử tử là chuyện thường trong thời chiến, không ai có thừa thời giờ thương tiếc. Nhưng ít ai đọc câu chuyện dưới đây mà không chua xót ngậm ngùi. Chàng là sĩ quan Phòng Nhì, mệt mỏi sau những ngày săn đuổi gián điệp Đức, được phép về miền quê dưỡng sức mấy hôm. Trong một quán ăn đồng ruộng, chàng gặp nàng. Nàng đắm đuối nhìn chàng. Chàng nhìn lại, tâm hồn ngây ngất trước khuôn mặt tuyệt vời, thân hình căng cứng, như muốn phá toang cái áo màu xanh rực rỡ mà nhảy ra. Chàng lân la làm quen. Hai người dắt tay nhau ra cánh đồng lộng gió, tưởng như vợ chồng mới cưới, đang tuần trăng mật. Nàng nói là sinh viên, từ Ba-lê tới. Đêm ấy, một đêm chàng không tài nào quên được, đôi tình nhân ân ái với nhau trong quán trọ. Bỗng nhiên, trong cơn khoái lạc vô biên, nang rú lên bằng tiếng... Đức : 
        -      Trời ơi, em sướng quá! 
        Chàng giựt mình, vùng dậy. Trong khi ấy, nàng đưa tay ôm mặt, như muốn che dấu sự thật phũ phàng. Lát sau, chàng thở dài, giọng đau đớn:
 
--------------------
(11) Vercellino.
 
 
 
 
239                                                                                                                                         TRỜI ƠI, EM SƯỚNG QUÁ
 
        -      Anh yêu em lắm. Và mai kia, anh vẫn yêu em. Nhưng em ơi giữa chúng ta, còn có tổ quốc, còn bổn phận. Em không phải là sinh viên Pháp mà là gián điệp Đức. Còn anh, anh là sĩ quan Phòng Nhì có trách nhiệm bắt gián điệp. Bây giờ, anh không thể bắt em, vì em là người yêu của anh. Nửa giờ nữa, anh sẽ quay lại. Chào em, anh đi đây. Chàng mặc quần áo, ra đi trong đêm tối. Đúng nửa giờ sau, chàng quay lại. Như chàng đoán trước, người đẹp đã bỏ trốn. Buồn rầu, chàng tìm vui trong công việc thường ngày. Hai ngày sau, binh sĩ tóm được một nữ điệp viên Đức, gởi tới văn phòng. Éo le thay, nữ điệp viên này là nàng. Nàng xin tha mạng, nhưng chàng không thể nào chấp thuận. Oái oăm hơn nữa, chàng lại phải ngồi ghế chánh thẩm để xử nàng. Và nàng bị kết án tử hình. Trước giờ thọ hình, nàng xin một ân huệ. Đó là một gói thuốc lá, thứ thuốc mà chàng thích hút. Đêm ân ái, sau khi nghe nàng rên lên bằng tiếng Đức, chàng đã viện cớ rời nhà trọ để mua thuốc lá mặc dầu gói thuốc còn đầy.
        Tử tội mỉm cười một cách bi thảm: 
        -      Em xin một gói thuốc để hút trước khi chết để nhớ lại một ngày hạnh phúc nhứt đời, và nhớ lại người bạn lòng mà em mang theo hình ảnh xuống tuyền đài. Người bạn ấy đã cho em một cơ hội làm cuộc đời. Nhưng chỉ một lần mà thôi.
        Sáng tinh sương, nàng gục ngã trước tiểu đội hành quyết, dáng điệu vô cùng can đảm. 
 
        3 - Số đen... số đỏ
 
        Mưu sự tại nhân... thành sự tại thiên, nhiều công tác do thám được sửa soạn chu đáo mà vẫn thất bại thảm thương. Hơn mọi nghề nào khác, nghề gián điệp là nghề may rủi, hên thì sống, rủi thì chết.
Đăng nhập để trả lời
0
 
240                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Tháng 3-1941, đại úy Ót-ten (1) tới Nữu ước để điều khiển hệ thống gián điệp Đức tại Mỹ. Chân ướt, chân ráo, chưa làm nên chuyện gì, Ót-ten đã bị tắc xi cán chết trong khi vượt qua đại lộ Bờ-rốt-uê (2). Một đồng lõa nhanh trí đoạt cặp đa của Ót-ten bỏ trốn. Song những tài liệu tìm thấy trên người và trong phòng nạn nhân đã tổ cáo y không phải người Tây ban nha mà là sĩ quan điệp báo quốc xã. Vì một trớ trêu của định mạng, Ót-ten tử thương, toàn bộ tổ chức bị sa lưới.
        Trước khi thả dù, Phản gián đồng minh đã nghiên cứu kỹ lưỡng. Nhưng không ai ngờ được đêm ấy gió thổi nhiều đến thế. Một điệp viên nhảy xuống đất Pháp, để liên lạc với Kháng chiến, không rơi vào cánh đồng có nhiều người chực sẵn, mà lại rơi đúng vào rạp chiếu bóng lộ thiên mà khán giả đều là binh sĩ SS của Đức.
        Điệp viên Đức không may nhứt trong thế chiến thứ hai có lẽ là Rô-sen-tan (3), một tay bợm, được đưa khỏi nhà giam, gia nhập vào hàng ngũ do thám. Y qua Đan mạch, trên đường sang Anh quốc. Từ thủ đô Đan mạch, y viết thư cho bạn ở Đức, nói là y sang Luân đôn làm gián điệp, đội lốt đại diện một công ty bán đèn. Bưu điện trung ương Đan mạch có nhiều cái giỏ đựng thư, để tên nhiều nước khác nhau, thư gởi tới nước nào thì bỏ vào giỏ ấy. Hai giỏ đựng thư Đức và Anh được kề bên nhau. Vô phúc cho Rô-sen-tan, nhân viên lựa thư ngồi xa, ném thư của y vào giỏ Đức lại rớt vào giỏ Anh. Tới Anh, như thường lệ, bức thư được kiểm duyệt. Và Phản gián phì phèo hút thuốc lá đợi người đại diện hãng bán đèn từ Đan mạch tới là còng tay dẫn vào khám.
        Trong số điệp viên kháng chiến do Rémy (4) điều khiển, vợ chồng Ti-li-ê (5) gặp nhiều rủi ro nhứt. Bị
 
--------------------
(1) Ludwig von der Osten. (2) Broadway. (3) Robert Rosenthal. (4) Rémy, tức Gilbert, chỉ huy tổ tình báo Confrérie de Notre-Dame ca Kháng chiến. (5) Tillier.
 
 
 
 
241                                                                                                                                                         SỐ ĐEN... SỐ ĐỎ
 
mật vụ quốc xã lùng bắt, hai vợ chồng Ti-li-ê và Bô-ri (6) được kháng chiến bố trí để đưa sang Luân đôn bằng phi cơ. Lẽ ra hai phi cơ nhỏ được gởi tới cho ba người đi, nhưng phút chót chỉ có một chiếc Ly-san-đơ (7). Ông Ti-li-ê mập mạp, giá gày gò thì ba người đã có thể ngồi chung. Bà vợ không muốn đi trước, nên chiếc Ly-san-đơ cất cánh với một mình Bô-ri. Vợ chồng Ti-li-ê được đáp thuyền bí mật đi sau. Hai lần con thuyền ra khơi, hai lần phải quay về Pháp vì không gặp tàu Anh. Vợ chồng Ti-li-ê đành trở lại Ba-lê ẩn náu. Chẳng bao lâu họ sa lưới Dét-ta-pô, chồng bị lưu đày ở Bu-ke-nôn (8), chết vì sưng phổi, vợ bị giết trong phòng hơi ngạt ở trại giam Raven bờ-rúc (9). Lạ lùng thay! Người gặp rủi thì gặp mãi, còn Bô-ri đã hên, lại hên hoài. Trước đó, Bô-ri bị bắt, song được tha vì Dét-ta-pô không biết Bô-ri là nhân viên kháng chiến quan trọng. Trốn ở Ba-lê, Bô-ri lại bị mật vụ chiếu cố lần nữa, và lần này thì chết. May cho Bô-ri, y trốn trong nhà 25 ter thì mật vụ lại khám nhà 25. Và Bô-ri đã thoát sang Anh.
        Khi bom bay rơi xuống đất Anh, đồng minh ra lệnh cho các điệp viên len lỏi vào vùng Đức chiếm đóng, khám phá ra bí mật của thứ vỏ khí này. Nhờ một sự may mắn không ngờ, một trái bom bay nguyên vẹn lọt vào tay đồng minh. chở từ Ba lan về Anh quốc. Trung tâm thí nghiệm bom bay của Đức được di chuyển về miền nam Ba lan. Thị trấn nhỏ Dít-kô (10), trên bờ sông Búc (11) nằm trên đường thử bom bay. Một ngày kia, bom bay rớt trong vùng mà không nổ. Quân Đức tìm không ra vì dân chúng Ba lan, vốn theo đồng minh, đã đẩy bom xuống sông. Kháng chiến báo cho đồng minh biết. Gần đó, chỉ có một phi trường nhỏ thỉnh thoảng quân Đức mới đứng. Một phi cơ Đa-kô-ta của Anh từ Ý bay tới nam bộ Ba lan để chở trái bom. Chẳng may mấy giờ trước khi chiếc Đa-kô-ta tới, một phi đội khu trục cơ Đức lại
 
-----------------------
(6) Henri Boris. (7) Lysander. (8) Buchenwald. (9) Ravenbruck. (10) Wyszkow. (11) Bug.
 
 
 
 
242                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
bất thần đáp xuống sân bay. Một lát sau, phi đội Đức cất cánh. Nông dân Ba lan kéo tới, thắp đuốc làm hiệu cho máy bay đồng minh hạ cánh. Trời mưa tầm tã, bánh phi cơ bị lún xuống bùn. Tay xẻng, tay cuốc, dân chúng hì hục đào đất, nhưng phi cơ vẫn sa lầy. Tiếng máy rú từng hồi vẳng đến tai bốn ngàn binh sĩ Đức đóng cách đó một cây số. Phi hành đoàn sợ máy bay rơi vào tay địch, đã sửa soạn phá hủy động cơ. Bom bay được tháo gỡ ra và khiêng xuống đất. Bỗng phi cơ chuyển mình ra khỏi vũng bùn. Mọi người vội vã khuân bom lên. Phi công lên đường, thoát nạn.
        Nếu không gặp số đỏ thị vị tất nửa triệu binh sĩ Anh kẹt lại Đon-két (12) trong thế chiến thứ hai có thể xuống tàu hồi hương để mấy năm sau lật ngược thế cờ. Số đỏ này là mật lệnh của tướng Run-tét (13) năm 1940 bị rơi vào tay tình báo Anh. Hồi ấy, tính mạng quân đội Anh tại Âu châu bị coi như trứng để đầu đẳng. Quân đội Đức có thiết giáp và phi cơ yểm hộ sắp quét hết ra biển. Chỉ còn một lối thoát: rút lui bằng đường biển Đon-két. Theo sự trù liệu, chỉ có ba chục ngàn binh sĩ có hy vọng thoát hiểm vì chiến xa Đức chỉ cách nơi xuống tàu hai mươi lăm cây số. Đột nhiên, Hít-le ra lệnh thiết giáp rời vùng Đon-két tiến về Ba-lê. Rạng đông 25-5-1940, đại tá Tờ-rét-kô (14) mang lệnh này tới các đơn vị thiết giáp tại Bê-tun (15) và Xanh O-me (16). Xe díp của Tờ-rét-kô chẳng may bị trúng đạn. Tờ-rét-kô bỏ chạy vì xe hơi bốc cháy, tài xế tử nạn. Trong lúc hốt hoảng, Tờ-rét-kô vứt cặp da tài liệu trên xe. Về đến hành doanh Đức, Tờ-rét-kô thề danh dự là cặp da đã cháy ra than. Thật ra, chiếc cặp da đã bị Phản gián Anh đoạt lấy. Nắm được mật lệnh của Hít-le, tướng Gót (17) mới dám triệt thoái toàn bộ quân đội viễn chinh
ra khỏi Đon-két.
 
----------------------
(12) Dunkerque. (13) Gerd von Rundstedt. (14) Von Treeckow. (15) Béthune. (16) Saint-Omer. (17) Lord Gort.
 
 
 
 
243                                                                                                                                                         SỐ ĐEN... SỐ ĐỎ
 
Lịch sử đã xác nhận năm 1916 Pháp thắng Đức tại Vẹt-đon (18) phần nào cũng do may mắn. Mỹ còn giữ chánh sách trung lập, một thương gia Mỹ hồi đó tới thăm nhiều nước châu Âu, tại Vạc-sô-vi, thủ đô Ba lan, ông được mời dự tiệc, và ngồi cạnh một sĩ quan cao cấp Đức. Trong bữa ăn, vị sĩ quan này nặng lời chỉ trích Hoa kỳ đã giúp đỡ Anh và cho biết sự ủng hộ này sẽ vô ích, vì ngày 20-2-1916 quân đội Đức sẽ tổng tấn công Vẹt-đon, đè bẹp đồng minh Anh-Pháp. Thương gia Mỹ qua Luân đôn thuật chuyện cho sứ quán biết, rồi sau đó được gặp nhân viên tình báo Anh. Đại tá Xanh xen (19), tùy viên hải quân Pháp, vội về Ba-lê, trình diện đại tướng Dốp (20) vào sáng 11-1-1916. Thoạt đầu, Dốp hoài nghi, nhưng đến khi được tin Đức mở thêm đường tiến quân, và điều động thêm năm sư đoàn tới Vẹt-đon mới tin là đúng. Ngày 21-2, quân đội Đức ồ ạt đánh vào Vẹt-đon. Tướng Dốp có đủ thời giờ chuẩn bị nên ca khúc khải hoàn.
Vận xui cho Đức, năm 1940 chiếm đóng Đan mạch, cờ đã tới tay mà Hít-le không biết phất. Nguyên tại Đan mạch, giáo sư Bo (21) giải thưởng vật lý Nô-ben (22) có một thí nghiệm về nước nặng (23), vật liệu cần thiết để nổ bom nguyên tử. Suốt trong bốn năm, ông Bo đóng vai trò ngu si hưởng thái bình nên không bị mật vụ quốc xã dòm ngó. Ông giấu nước nặng trong một chai la ve lớn, để lẫn lộn với la ve thật trong tủ lạnh. Năm 1944, một con thuyền của tình báo Anh chở giáo sư Bo qua Thụy điển, ông Bo thản nhiên cặp chai bia vào nách ra đi. Đến Thụy điển, mọi người mới ngã ngửa. Chai la ve ông Bo mang theo lại là chai la ve thật trăm phần trăm của dân nhậu. Còn chai nước nặng còn trong tủ lạnh ở Cô-pen-ha-gờ. Trong vòng hai mươi bốn giờ sau, đồng minh huy động toàn bộ điệp viên và du kích Đan mạch để
 
----------------------
(18) Verdun. (19) Saint-Seine. (20) Joffre. (21) Niels Bohr. (22) Nobel. (23) eau lourde.
 
 
 
 
244                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
chiếm chai la ve. Một đơn vị kháng chiến lẻn vào biệt thự của ông Bo, và đã hộ tống chai rượu ra biên giới. 
 
        4-  Nguy hiểm chết người
 
        Nhiều điệp viên đã lập được kỳ công, đánh lừa cả tử thần, nhờ hai đức tính căn bản : can đảm và bình tĩnh. Trong thế chiến thứ hai, một số phi cơ đồng minh ném bom ở Âu châu đã bị cao xạ bắn rơi ban đêm vì Đức có một hệ thống bố phòng bằng đèn pha cực sáng. Anh quốc bèn ra lệnh cho điệp viên khám phá ra các ổ đèn pha của địch. Một số điệp viên len lỏi vào phòng tuyến Đức đề vẽ họa đồ hoặc chụp hình. Nhưng có một người Bỉ can đảm đã đi thẳng vào nhà viên tư lệnh Đức, đánh cắp luôn tấm địa đồ về các cơ sở radar và đèn pha phòng thủ. Một điệp viên Pháp tìm ra một lối ăn trộm tài liệu nhẹ nhõm và khoái trá hơn. Y liên lạc với bà chủ ngôi nhà mà quân Đức xung công làm tổng hành doanh. Ban đêm, chú lính gác đòi uống cà phê, bà già bỏ thuốc xổ cực mạnh vào cho uống, chú lính đau bụng suốt đêm. Mỗi lần bị Tào Tháo đuổi, chú lính phải ra tận cuối vườn xa tít, bỏ trống văn phòng, tha hồ cho điệp viên đồng mình chụp tài liệu. Lại có một điệp viên không cần đi đâu, chỉ đắp chăn nằm nhà cũng thu lượm được những tin tức vô cùng quí báu. Không quân Đức đặt trụ sở trong một tòa nhà lớn ở Ba lê trong thời kỳ chiếm đóng nước Pháp. Vợ chồng người gác bin đinh nhận một điệp viên OSS làm bà con, và đưa tới ở, nói là nhà cửa ở quê đã bị phá hủy vì bom đạn. Điệp viên OSS được dẫn tới gặp viên sĩ quan quản lý, trình giấy tờ chứng tỏ là công dân lương thiện, và được chấp thuận. Trong những ngày mới đến, y đi làm chăm chỉ ở ngoài, sáng đi, tối về. Đột nhiên, y đau cúm. Cúm là bệnh truyền nhiễm, bắt buộc y phải đắp chăn nằm trong phòng một mình. Y lén đặt máy ghi âm trong văn phòng địch, nối ống nghe vào giường, và giấu dưới mền một điện đài nhỏ xíu. Suốt ngày, y nằm liệt giường, lắng tai nghe
 
 
 
245                                                                                                                                         NGUY HIỂM CHẾT NGƯỜI
 
hết mọi cuộc nói chuyện trong tổng hành doanh. Đêm đến, y dùng làn sóng ngắn truyền tin về Luân đôn. Trong ba tháng ròng rã, điệp viên OSS nằm trên giường để lấy tin cho đồng minh. 
        OSS lại đặt máy thu thanh trong một bộ tham mưu hành quân quốc xã ở Ý nhờ sự can đảm của hai người điệp viên biệt kích OSS và bà hầu tước sáu mươi tuổi. Nữ hầu tước có một trang trại lớn bị Đức trưng dụng làm văn phòng. Bà có con trai làm phi công cho phe Trục nên được người Đức tin cậy. Một đêm kia, bà săn sóc cho một biệt bích Mỹ nhảy dù xuống bị thương và bị lùng bắt. Từ đó, trang trại của bà hầu tước vừa là bộ tham mưu Đức, vừa là trung tâm lấy tin của OSS. Nhờ một dụng cụ tân kỳ đặt phía ngoài có thể nghe hết những lời nói bên trong, OSS đã thu thanh được mọi sự bàn bạc của bộ tham mưu Đức. Khi đồng minh đổ bộ lên đất Ý, bà hầu tước đã yêu cầu phi cơ Anh - Mỹ dội bom xuống trại, làm tê liệt cuộc chỉ huy hành quân của địch.
        Ở vùng quê nước Pháp, nhứt là tại các tỉnh ly, thường có người bán rượu chát dạo. Rượu vang đựng trong những thùng lớn, chở trên xe hai bánh, khi bán thì mở vòi cho rượu chảy xuống. Hai điệp viên OSS giả làm người bạn rượu chát dạo để truyền tin về Luân đôn. Ho chế thùng riêng hai ngăn, ngăn dưới chứa rượu, ngăn trên để trống, ở trong có một điện đài sóng ngắn liên lạc với tổng hành doanh OSS, nắp thùng được ngụy trang tài tình, người ngoài không sao biết được. Khi đánh điện, một điệp viên mở nắp chui vào, đóng lại bằng một cái khoá bên trong. Điệp viên ở ngoài chuyển tin cho bạn ở trong, và người ở trong điện đi. Cặp bài trùng này đã gởi về những tin sốt dẻo, thu thập tại chỗ. Nhà chức trách Đức không thể khám phá ra điện đài bí mật ở đâu. 
        In-gờ-lích (24), chỉ huy gián điệp đồng minh tại Thụy điển trong thời chiến, đã thoát chết trong một
 
-----------------------------------------
(1) Kurt Englich.
 
 
 
 
246                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
trường hợp hãn hữu. Văn phòng tùy viên không quân Đức tại Sì-tốc-khôm (2) là trung tâm gián điệp quốc xã. Sau một thời gian theo dõi, In-gờ-lích nhận thấy ban đêm văn phòng này không làm việc và chỉ có một người gác bản xứ. In-gờ-lích thuyết phục người gác đứng về phe đồng minh và, từ đó, mỗi đêm, In-gờ-lích thản nhiên vào văn phòng gián điệp Đức chụp tài liệu mật. Một đêm kia, suýt nữa In-gờ-lích toi mang. Một nhân viên Đức đột nhiên vào phòng. Nếu là người khác thì đã bại lộ, song In-gờ-lích vẫn bình tĩnh như thường. Viện đại úy không quân mở két sắt lấy ra một chai rượu huýt-ky. Y tưởng In-gờ-lích là một đồng nghiệp.
        Hoạt động trong vùng địch, nguy nhứt là gặp người quen làm tay sai cho địch. Phải can đảm và bình tĩnh hết sức mới có hy vọng thoát chết. Trong đại chiến thứ hai, E-rích-sơn (2), thương gia Mỹ gia nhập quốc tịch Thụy điển, lấy tin cho tình báo Anh – Mỹ về kỹ nghệ lọc dầu của Đức. E-rích-sơn lân la làm quen với phe quốc xã và sau đó được tín nhiệm. Him-le, trùm mật vụ Đức, cấp thông hành riêng cho E-rích-sơn đi khắp nước Đức, thăm các xưởng lọc dầu. Về đến Sì-tốc-khôm, E-rích-sơn báo cáo những điều tai nghe mắt thấy cho tình báo đồng minh. Căn cứ vào báo cáo của E-rích-sơn, không quân đồng minh oanh tạc các trung tâm lọc dầu của Đức, làm tê liệt phần lớn kỹ nghệ nhiên liệu mà Hít-le mất bao cơ mưu mới thiết lập được. Một hôm đang nhàn tản trên đường phố Lép-đít (3), E-rích-sơn chạm trán Sì-rô-đơ (4), đảng viên quốc xã cuồng tín từng biết rõ quá khứ chống quốc xã của E-rích-sơn. E-rích-sơn giả vờ mỉm cười bắt tay bạn, rồi thân mật kéo vào quán rượu. E-rích-sơn biết là không đánh lừa nổi Sì-rô-đơ. Lát sau, Sì-rô-đơ xô ghế đứng dậy. Biết kẻ thù đi báo Dét-ta-pô, E-rích-sơn bí mật đi theo. Sì-rô-đơ vào phòng điện thoại công cộng, đang quay số cho mật vụ thì E-rích-sơn rút dao ra. Cây thit nặng nề của Sì-rô-đơ vừa nặng nề ngã phịch xuống thì một cảnh sát viên ló đầu ra hỏi, E-rích-sơn bình tĩnh trả lời là
 
-------------------------
(2) Eric Erickson. (3) Leipzeig. (4) Franz Schrocder.
 
 
 
247                                                                                                                                         NGUY HIỂM CHẾT NGƯỜI
 
hai anh em nhậu nhẹt về khuya nên cãi lộn nhau. Đêm ấy, E-rích-sơn hụt chết. 
        Mùa hè 1944, điệp viên Đức Gim-pen (5), vừa đáp tàu ngầm sang Mỹ, xô cửa một tiệm ăn ở Nữu ước. Y cúi đầu xuống đĩa bít tết khoai, ăn đúng lối Mỹ đã học được trong trường, nghĩa là cầm dao tay mặt, ngón để dưới, cườm tay ở trên, cắt thịt ra làm nhiều miếng nhỏ, rồi đặt dao xuống bàn, cầm nĩa bằng tay mặt, xóc thịt đưa lên miệng. Đang nhai đột nhiên y có cảm giác như bị mũi tên đâm vào gáy. Ngoảnh sang bên, y nhìn thấy Lu-ten (6), người Hoa Lan, gián điệp đôi cho Mỹ, cũng tốt nghiệp khóa do thám ở Hăm-bua với y. Gim-pen không lộ ra vẻ sợ sệt, tuy thần trí bàng hoàng như bị sét đánh. Lu-ten từ từ bước qua chỗ Gim-pen ngồi. Người Lu-ten cao, to. Gim-pen đánh ngã y không phải dễ, y lại quen các thế vỏ của Gim-pen. Cẩn tắc vô áy náy. Gim-pen theo Lu-ten ra ngoài. Một xe cảnh sát chạy phía sau. Lu-ten chỉ cần dơ ngón tay lên là Gim-pen sa lưới. Đến đầu đường, Lu-ten rẽ trái. Gim-pen rẽ mặt. Thoát nạn. Vì Gim-pen bình tĩnh. Và sự bình tĩnh này làm Lu-ten sởn tóc gáy.
        Năm 1940, En-man (7), sĩ quan điệp báo Anh, đáp trực thăng bí mật tới Đức, cải trang làm đại tá quốc xã, ngang nhiên vào bộ tham mưu địch ở Phờ-răn-pho, liên lạc với một điệp viên, để lấy tài liệu. Lúc ra về, En-man bị Dét-ta-pô đi theo, song lập mưu trốn thoát. Ban đêm, vào câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm, En-man đụng đầu với mật báo viên Đức quen mặt. Trong lúc bị dẫn tới văn phòng một viên tướng lãnh để kiểm tra căn cước, En-man lẻn vào cầu tiêu, nhảy cửa sổ ra đường, nhưng trước khi bỏ chạy, En-man không quên khiển trách một binh nhì gác cửa vô lễ. Một lần khác, En-man giả làm trung úy SS của
 
--------------------------
(5) Eric Gimpel. (6) Henry Louten. (7) E.G. Edlmann.
 
 
 
 
248                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Đức, vào tận nhà giam, trình chứng minh thư và lệnh công tác giả, để giải cứu một điệp viên Anh quan trọng. Chiến tranh gần chấm dứt. En-man nhảy dù xuống Đức để mua một tài liệu mật. Khi trở về, ông phải vượt qua khu phi chiến, cùng với một điệp viên Anh, cải trang làm đại tá tham mưu. Bị bại lộ, cả hai vẫn đoạt được một chiếc quân xa, lái tới đồn tiền tuyến, đánh lừa quân Đức là đi thanh sát mặt trận. Xuất kỳ, bất ý, hai người bò qua hàng rào kẽm gai, trốn sang phòng tuyến đồng minh. 
 
        5 - Cạm bẫy
 
        Đánh lừa đối phương là một trong những thủ đoạn cổ điển mà lợi hại nhứt của nghề điệp báo. Trong đại chiến thứ hai, đô đốc Đức Von Sờ-pe (1) phá hủy một hạm đội của Anh ngoài khơi đảo Cô-rô-nen (2). Bộ tư lệnh Anh bèn nghĩ một cách phục thù. Một điệp viện Anh đang giữ chức nhỏ tại bộ tư lệnh hải quân Đức, có sẵn trong tay một bộ mật mã Đức, kèm theo cách dùng. Y mạo một bức điện của bộ tư lệnh, gởi cho Von Sờ-pe, ra lệnh tiến về quần đảo Phô-kờ-len (2). Trước đó, hai tuần dương hạm Anh đã chờ sẵn. Von Sờ-pe lọt vào ổ phục kích và tan nát. Anh đã làm hai tuần dương hạm bằng cạt-tông, đậu ở Địa trung hải để đánh lừa gián điệp Đức.
        Năm 1943, sau khi quân đội Đức bị hất ra khỏi Bắc Phi, ai cũng đoán biết đồng minh sẽ đổ bộ vào Âu châu. Đảo Sixin (4) nằm trên đường chiến lược vào Âu châu, và là mục phiêu tấn công của đồng minh, nên Hít-le ra lệnh phòng thủ mạnh mẽ. Phản gián Anh lập kế đánh lừa Hít-le là đồng minh không tấn công Sixin mà là Xác-đen (5). Nhiệm vụ gài bẫy này được giao cho một xác chết. Tháng 5-1943, thi thể một thiếu tá Anh đắm tàu bị dạt vào bờ biển tây nam Tây-ban-nha, gần thị trấn Huenva (6), giữa biên
 
-------------------------
(1) Von Spee. (2) Coronel. (3) Falkland. (4) Sicile. (5) Sardaigne.
 
 
 
 
249                                                                                                                                                                     CẠM BẪY
 
giới Bồ-đào-nha và căn cứ hải quân Di-bờ-ran-ta (7) của Anh. Ở tay xác chết, còn có giây xích buộc vào một cái cặp đựng giấy tờ mật do bộ tư lệnh Anh gởi cho tướng A-lếch-san-đơ (8), đồn trú tại Tuy-ni-di. Những giấy tờ này đề cập đến vụ đồng minh sửa soạn tấn công nam bộ Âu châu bằng đường qua đảo Xác-đen và Hy lạp. Xác chết kể trên là của một thường dân, mặc quần phục thiếu tá, kèm theo đủ giấy tờ căn cước, hình ảnh gia đình, thư tình và đồ đạc tùy thân. Thi thể được bỏ trong thùng kín, chở bằng tiềm thủy đĩnh đến gần bờ biển Tây ban nha thì tung ra cho dạt vào bờ. Kế hoạch phỉnh gạt của đồng minh diễn ra đúng với sự mong muốn. Tây ban nha là nước trung lập, song lại âm thầm nghiêng về phía Đức quốc xã. Vùng Huenva có nhiều điệp viên Đức, thế nào những tài liệu trong cặp da cũng đuoc chụp hình và gởi về Bá linh. Trên thực tế, gián điệp Đức đã theo dõi xác chết ngay sau khi dạt vào bãi cát. Các tài liệu được bộ tổng tư lệnh nghiên cứu tỉ mỉ, và sau đó Hít-le tin đó là sự thật. Hí hửng, Hít-le vội vàng chuyển một sự đoàn thiết giáp tới Hy lạp, chặn đường tấn công (tưởng tượng) của đồng minh, còn lực lượng ở Sixin thì không được tăng cường. Nhờ vậy, Anh-Mỹ chiếm đóng Sixin dễ như trở bàn tay.
        Trước khi đổ bộ lên Nót-măn-đi (9), đồng minh cũng dùng mưu đánh lừa Đức. Và Đức đã bị lừa một cách đau đớn. Biết gián điệp Đức trà trộn khắp nơi, đồng mình bèn loan truyền tin thất thiệt trong quân đội. Đồng minh lại ra chỉ thị cho một số tổ chức tình báo trên đất Pháp sửa soạn làm nội ứng cho liên quân Anh – Mỹ đổ bộ lên miền trung nước Pháp. Dĩ nhiên, nhưng chỉ thị này đã lọt vào tay Phản gián quốc xã. Nhiều điệp viên đồng minh được lệnh gia tăng hoạt động trong vùng Ha-vơ-rờ (10), vùng tấn 
 
---------------------------
(6) Huelva. (7) Gibraltar. (8) Alexander. (9) Normandie. (10) Havre.
 
 
 
 
250                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
công giả vờ. Máy bay trinh sát bay san sát trên khu vực Ha-vơ-rờ để chụp hình. Mặt khác, đồng minh lại tung ra tin đồn có một cuộc tổng tấn công nghi binh vào Na-uy để làm phân tán lực lượng Đức ở Pháp, dọn đường cho chiến dịch đổ bộ lên Hà-vơ-rờ. Rốt cuộc, Anh - Mỹ không đổ bộ lên Ha-vơ-rờ, mà là Nót-măn-đi, nơi khó đổ bộ nhứt, và đổ bộ trong một ngày biển động nhứt.
        Trước thế chiến thứ hai, tình báo Anh đã bị Đức chơi một vố đau điếng. Bét (11) và Sì-tê-vân (12) là hai nhân viên điều khiển sở Mật vụ Lục địa đóng trụ sở tại La-he (13), Hòa lan. Trong số công tác viên của Bét, có một người tên là bác sĩ Phờ-răn (14). Bét tưởng Phờ-răn chống chế độ Hít-le, sang tây phương lánh nạn, ngờ đâu y lại là F-479, điệp viên Đức. Vâng lệnh Hê-đờ-rích (15), phụ trách mật vụ Đức, Phờ-răn phỉnh Bét rằng y mốc nối được với một tổ chức trong quân đội Đức âm mưu lật đổ Hít-le và thương thuyết với tây phương. Trưởng ban Phản gián Se-lăn-be (16) mạo nhận là thiếu tá Semmen, một nhân viên của tổ chức chống Hít-le tới gặp Bét. Sau nhiều lần gặp gỡ tại Hòa lan, Bét đinh ninh Se-lăn-be là phần tử chống Hít-le thật thụ nên báo cáo về Luân đôn. Lần cuối, Se-lăn-be hẹn Bét và Sì- tê-vân tới Ven-lô (17), một thị trấn sát biên giới Đức – Hòa lan để gặp tướng lãnh đối lập Đức. Vị tướng này không bao giờ tới, còn đại úy Bét và thiếu tá Sì-tê-vân bị lọt vào ổ phục kích của Dét-ta-pô. Cả hai bị bắt cóc, đưa sang đức, trung úy Cốp-pen (18), thuộc Phản gián Hòa lan, bị hạ sát tại trận. Trước đó, Bét đã khờ khạo trao cho Se-lăn-be một máy truyền tin, tín hiệu ON4, đánh thẳng cho Luân đôn, nhờ chuyển lại cho Bét. Tóm được Bét, Se-lăn-be dùng điện đài ON4, đánh về Anh bức điện trọc tức như sau: «Làm việc
 
------------------------
(10) Havre. (11) Best. (12) Stevens. (13) La Haye. (14) Frank. (15) Heydrich. (16) Walter Schellenberg.
(17) Venlo. (18) Coppens.
 
 
 
 
251                                                                                                                                                                     CẠM BẪY
 
với những kẻ ngu đần mà hợm hĩnh mất thời giờ nhiều quá, nên chúng tôi đành phải cắt đứt. Phe đối lập tại Đức mà quí ông rất khoái, trân trọng kính chào thân mật. Ký tên: Dét-ta-pô.»
        Bức điện này đã tới Luân đôn. Nhận xong, nhân viên tình báo Anh phớt tỉnh trả lời: Cám ơn. Sau vụ Ven-lô, một thảm bại não nề, Anh quốc vội vã cải tổ guồng máy điệp báo. 
        Tháng 7-1955, Nga sô đánh lừa Tây phương, nhưng bị lật tẩy. Mưu kế của Nga sô nằm trong việc mời đại diện các nước tự do tham dự Ngày Hội Không quân tại Mạc tư khoa, để chứng kiến cuộc biểu diễn của phi cơ oanh tạc hạng nặng vừa được chế tạo. Phóng pháo cơ bay mù trời hết đội này sang đoàn khác. Tình báo Sô viết chắc mẫm các tùy viên quân sự Tây phương lắc đầu le lưỡi trước lực lượng ghê gớm đuoc phô bay trên không phận. Song mọi người vẫn thản nhiên vì đã phăng ra sự thật. Sự thật là Nga sô chỉ có một số rất ít phi cơ ném bom hạng nặng, cùng cất cánh và bay đi lượn lại nhiều lần. Sở dĩ Nga sô cần phỉnh phờ Tây phương vì điện Cẩm linh bắt đầu đặt nhẹ chương trình sản xuất oanh tạc cơ cỡ lớn, như họ từng la lối, để tập trung năng lực vào công cuộc chế tạo hoả tiễn.
        Nga sô có một cơ quan riêng, chuyên về việc ăn gian nói dối, gọi là Phòng Ngụy Tin tức, nằm trong trung ương KGB. Nhiệm vụ của cơ quan này là sản xuất tài liệu giả, để bóp méo đường lối của phe tự do và ly gián hàng ngũ tây phương. Hem (19), nhân viên cao cấp CIA, đã tố cáo trước dư luận thế giới 32 tài liệu giả do Nga sô làm ra trong thời gian từ 1957 đến 1960. Năm 1957, một tờ báo Đông Đức (20) công bố một bức thư (giả) của thống đốc Nữu ước Rốc-kơ-phe-lơ (21) gởi Tổng thống Ay-den-hao về việc thống trị thế giới. Lại còn bản mật ước (giả) giữa Thủ tướng Nhựt Kisi (22) và Ngoại trưởng Hoa kỳ cho
 
---------------------
(19) Richard Helms. (20) News Deutschland. (23) Nelson Rockefeller.
 
 
 
 
252                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
phép xử dụng quân đội Nhựt trên toàn Đông nam á. Thậm chí Nga sô còn in tài liệu giả nói là Hoa kỳ âm mưu ám sát thống chế Tưởng giới Thạch, mạ lị quốc vương Ba tư, và lật đổ tổng thống Nát se nữa. Năm 1958, giữa lúc loạn quân tấn công ở Nam Dương, sứ quán Sô viết tại Ngưỡng Quang cho đăng trên tờ Mi-rơ (23) tại Diến Điện một bức thư (giả) của thủ lãnh loạn quân Sam-sút-đin (24) gởi cựu đại sứ Mắc-At-tơ tại Nhựt cầu viện, và một bức khác của đô đốc Phờ-rốt (25) gởi cho loạn quân, khuyên họ tiếp tục chiến đấu và Hoa kỳ sẽ tiếp tục trợ giúp. Năm 1959, tình báo Sô viết đăng trên tờ Botatsung một bài báo bịa đặt ông Đờ-sai (26), bộ trưởng Tài chính Ấn độ, một nhân vật chống Cộng, là ăn hối lộ một triệu đô la của Mỹ. Hai tháng sau, Mạc tư khoa lại cho đăng trên tờ Tân Đề-li thời báo (27) ở Ấn độ một tin vịt theo đó ba tờ báo lớn nhứt Diến Điện, tờ Quốc gia (28), tờ Thông tín viên (29) và tờ Người Gác (30), đã ăn tiền của Hoa kỳ. Năm 1960, tờ Bờ-lít (31) ở Ấn độ công bố một bức thư (giả) của lãnh tụ Cao miên đối lập Sam Sary gởi cho viên đệ nhị bí thư sứ quán Mỹ tại Nam vang, tỏ ý cám ơn Mỹ đã ủng hộ. Sau này, chính hoàng thân Si-ha-núc cũng nhìn nhận đó là thư giả. Tình báo Sô viết giả tuồng chữ của Sam Sary rất vụng, mặt khác, viên bí thư sứ quán đã rời đất Miên ba tháng trước ngày mà bức thư nói ông tiếp xúc với Sam Sary. Theo sự tiết lộ của Kat-na-sếp (32), nhân viên Sô viết chọn tự do tại Ngưỡng Quang, thì các tờ báo sau đây đã cộng tác với tình báo Sô viết để đăng tài liệu giả: Bintang Tirmur tại Nam Dương, Tổ quốc (33) tại Thái Lan, Amrita Bazar, Patrika, Bờ-lít và Tân Đề-li thời báo tại Ẩn độ, Mi-rơ, Botatsung và Nhân dân nhựt báo tại Diến Điện.
 
----------------------
(22) Kishi. (23) Mirror. (24) Sjamsuddin. (25) Frost. (26) Morajt Desai. (27) New Delhi Times. (28) Nation. (29) Reporter. (30) The Guardian. (31) Blitz. (32) Alesander Keznacheyev. (33) La patrie.
 
 
 
 
253                                                                                                                                                                     CẠM BẪY
 
        Sự lẫn lộn giữa thật và giả đã làm nhiều cơ quan điệp báo hụt cẳng. Sít-ta-lin là nhà độc tài, không cho ai bằng mình, không tin ai bằng tin mình, là chuyện dĩ nhiên, đến như tổng thống Ru-dơ-veo, một lãnh tụ dân chủ hữu danh, mà cũng không tin vào khả năng điệp báo mới lạ. Hai lần trong nửa thế kỷ, tình báo Đức đã phạm hai lỗi lầm to lớn: năm 1914 và năm 1939 đều tiên đoán là Anh không tham chiến. Trên thực tế, Anh quốc đã có mặt trong hai trận thế chiến và đè bẹp nước Đức. Ngày 3-4-1940, trước ngày Hít-le tung quân nuốt chửng Na-uy, Đan-mạch, Hòa-lan và Pháp, ngoại trưởng Anh Sam-bơ-lên (34) tuyên bố quả quyết rằng Đức «bị lỡ tàu». Trong khi tình báo Nhựt đoán chắc Hoa kỳ sẽ sụp đổ sau vụ Trân châu cảng, tình báo Mỹ lại không biết trước Nhựt chuẩn bị đánh úp Trân châu cảng. Mút-sôlini (35) có lẽ là người lầm lẫn nhiều nhứt về tình báo. Vì điếc không sợ súng, Mút-sôlini mới gây chiến lung tung để rồi bị giết, hai chân treo ngược vào cái móc sắt ngoài chợ. Thống chế Rommen (36) đổ bộ một sư đoàn chiến xa lên Phi châu mà I.S. nổi tiếng nhứt nhì thế giới lại mù tịt. Hít-le ăn tươi nuốt sống Ba-lan với hai mươi ba sư đoàn, thế mà một trăm mười sư đoàn Tây Âu không dám ho hoen. Phải chăng tình báo đồng minh không biết rõ lực lượng quốc xã? Hai ngày trước khi Cộng quân xâm lược Nam cao, đô đốc Hilen-kô-ét-tờ (37), giám đốc CIA, khai trước tiểu ban Ngoại giao Hạ nghị viện Mỹ trong tương lai gần sẽ không có sự rối rắm nào. Đúng ba mươi giờ sau, đại chiến xảy ra... 
 
        6 – Gián điệp ngoại giao
 
        Không nhiều thì ít, tòa đại sứ ở các nước đều làm gián điệp. Mỹ, Anh và Pháp đều có một cơ quan
 
----------------------------
(34) Neville Chamberlain. (35) Benito Mussolini. (36) Rommel. (37) Roscoe Hillenkoetter.
 
 
 
 
254                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tình báo riêng trong Bộ ngoại giao. Hầu hết, nếu không nói là toàn thể, nhân viên sứ quán Sô viết là sĩ quan RU hoặc nhân viên KGB. Đại tá Nga Dét-ni-sép (1), tùy viên quân sự tại triều hoàng đế Nã phá luân, đã bị đưa ra tòa, kết án về tội mưu toan mua chuộc một viên chức của bộ Quốc phòng Pháp. Năm 1890, đại úy Bơ-rốp (2), tùy viên hải quân Mỹ tại Ba lê, bị bắt trong khi mua tài liệu quốc phòng. Hai vụ kể trên chứng tỏ rằng không phải đến bây giờ nhân viên ngoại giao mới làm gián điệp. Sứ quán Nga sô ở nước ngoài gồm toàn người Nga, từ đại sứ xuống tới đàn bà hầu phòng. Còn Hoa kỳ thì các chức vụ phụ thuộc đều giao cho người bản xứ. Tài liệu mật của sứ quán Mỹ ở Mạc tư khoa được cất giữ trong ba tầng lầu trên. Các tầng lầu này đã được nhân công Mỹ sửa chữa lại, lính hải quân đeo súng gác ngoài hành lang, người bản xứ không được léo hánh tới.
                Nga sô đặt ra một cơ quan, gọi là Burôbin, phụ trách nhà cửa và gia nhân cho các nhà ngoại giao tây phương. Et-soi-ăn (3), phóng viên hãng thông tấn Mỹ Liên xã (4) – người rất quen tên với Phật tử Việt nam – thuật lại hồi ông phục vụ ở Mạc tư khoa, điện thoại bị hỏng ba ngày mà bưu điện không dám chữa vì công an chưa cấp giấy phép. Người Nga làm việc với ngoại kiều đều bị cơ quan Burôbin khảo thí chặt chẽ, và huấn luyện gián điệp. Bác sĩ Nyara-đi, bộ trưởng Tài chính không cộng sản ở Hung gia lợi, qua thăm Nga sô, tới dự cơm tối với đại sứ Mỹ Sì-mít (6), một tướng lãnh từng làm giám đốc CIA. Hôm sau, mật vụ Sô viết đã cho bác sĩ Nyara-đi nghe đầy đủ chi tiết về bữa ăn, thực khách có những ai, ai mặc y phục nào, ai nói gì... Nếu không có đầy tớ nghe trộm, nhìn trộm, Nga sô dùng máy ghi âm và chụp hình
 
------------------------
(1) Czernitcheff. (2) Borup. (3) Roy Essoyen. (4) Associated Press. (5) Nicholas Nyaradi. (6) Walter Bedell Smith.
 
 
 
 
255                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP NGỌAI GIAO
 
lén lút. Phó đô đốc Sì-tê-vân (7), tùy viên hải quân Mỹ từ 1944 đến 1949 tại Mạc tư khoa viết trong hồi ký rằng muốn khỏi bị nghe trộm chỉ còn nước nói chuyện ngoài đường. Đại sứ Ca-bốt Lốt, trong một chuyến du hành Nga sô, phải kéo đại sứ Tôm-Sơn (8) ra giữa Công trường Đỏ để nói chuyện riêng còn ở trong tòa đại sứ thì hai ông nói chuyện tầm phào cốt cho máy ghi âm nghe. Người ta được biết các cuộn băng nhựa thu lén trong sứ quán Mỹ đều được in thành sáu bản, đề chữ «tối mật» ở ngoài rồi gởi tới điện Cấm linh. Các đường điện thoại của sứ quán tây phương đều bị kiểm duyệt. Thông tín viên Lam-bơ (9) của nhựt báo Nữu ước Diễn đàn gọi giây nói cho tòa báo ở Mỹ và đọc bài ông viết. Mới đọc được mười chữ, điện đàm bị cắt, rồi một giọng đàn bà ngọt ngào như mật rót vào tai Lam-bơ:
        -      Ông Lam-bơ, hẳn ông thừa biết ông không được quyền gởi tin bằng điện thoại.
        Dưới thời Sít-ta-lin, hễ một nhân viên ngoại giao tây phương rời sứ quán là có ba nhân viên KGB đi theo. Muốn mua vé xem hát, ngọai kiều phải qua một phòng riêng, phòng này trình lên KGB đề cử nhân viên chứng kiến lúc mua vé, và theo dõi người đi xem. Muốn thăm vùng quê, nhà ngoại giao tây phương phải xin phép nhiều nơi, phải làm tờ trình sẽ ngủ khách sạn nào, ăn tại đâu, cần bao nhiêu ét xăng. Ở Nga sô, mua ét xăng phải được công an cho phép. Nếu có xe hơi riêng, phải thuê tài xế Sô viết. Không có tiền thuê tài xế thì đừng đi xe vì sở Công chánh sẽ chẳng bao giờ cấp bằng lái cho sở ngọai kiều. Thi lấy bằng lái xe phải biết tháo ráp bộ phận trong xe và thuộc lòng hàng trăm danh từ chuyên môn của Nga. Chịu khó dùi mài thì nhà ngoại giao có thể thuộc lòng, nhưng thi đi, thi lại, thí sinh vẫn bị đánh rớt như
 
------------------------
(7) Leslie Stevens. (8) Llewellyn Thompson. (9) Tom Lambert.
 
 
 
 
256                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
thường. Niên giám điện thoại chỉ được in một số rất ít, số giây nói các sứ quán không được ghi. Trung ương đảng Cộng sản là một đại cơ quan, gồm cả trăm văn phòng mà trong niên giám chỉ có một số điện thoại mà thôi. Muốn tìm địa chỉ, điện thoại, người ta phải tới các ki-ốt tin tức, biên câu hỏi lên giấy và trả tiền. Tại nhà ga, đố ai tìm ra bản ghi giờ tàu tới và đi. Nhân viên hỏa xa viết bằng phấn rồi xóa đi. Những sự kiện này chứng tỏ rằng lấy tin ở phía sau bức màn sắt rất khó. Trong khi ấy, Nga sô có thể lấy 90% tin tức cần thiết bằng cách viết thư xin chánh phú Mỹ. Thật vậy, sở Ấn loát của chánh phủ Mỹ đã in và bán với giá tượng trưng rất nhiều tài liệu về hải cảng, phi trường, tài nguyên, danh sách sĩ quan hồi hưu. Sở Địa chất sẵn sàng cung cấp họa đồ, còn các tạp chí chuyên môn như Tuần báo Không quân (10), Tạp chí của các khoa học gia nguyên tử (11) thì chứa đầy tin tức bí mật. Hai nhà «ngoại giao» Sô viết tham dự một hội nghị điện khí ở Lốt An-dơ-lét năm 1959 đã mang về 125 kilô tài liệu, phải thuê xe hơi lớn mới chở hết. Tháng 4-1960, phó đô đốc Rích kô-vơ (12) than phiền rằng một công ty đồ chơi đã chế tạo một hỏa tiễn Pôla-rít tí hon, bán ba đô-la, giống đúc hỏa tiễn thật, theo tỷ lệ 1/300. Một nhà «ngoai giao» Sô viết đã mua được 33 tấm hình Bạch cung và bộ Quốc Phòng Mỹ chụp bằng máy bay. Lần sau, y bị lột mặt nạ vì đặt mua 8000 đô-la tiền hình chụp thành phố Sicagô. Gián điệp cộng sản thường đọc cuốn Niên lịch Thế giới (13) của Mỹ, Niên lịch Huy-tếch-kơ (14) và Niên lịch của Chánh trị gia (15) của Anh, cuốn tự vị La-rút của Pháp, để sưu tầm tin tức. Chẳng hạn trang 724 và 734 cuốn Niên lịch Thế giới 1954 đã chứa những bí mật về quân lực Mỹ. Mỗi tháng CIA mua 200 000 sách báo Cộng sản. CIA đã có máy điện tử để
 
--------------------------
(10) Aviation Week. (11) Bulletin of Atomic Scientists. (12) Hyman G. Rickover. (13) World Almanac.
(14) Whitaker’s Almanac. (15) The Stateman’s Yearbook.
 
 
 
 
257                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP NGỌAI GIAO
 
dịch tiếng Nga mỗi giờ được 30 000 chữ. 
 
        7 - Gián điệp nghị sĩ
 
        Trong thế chiến thứ hai, thủ tướng Anh Sớt-sin đọc năm bài diễn văn tối quan trọng tại các phiên họp mật của Nghị viện. Những diễn văn này liên quan tới sự thất trận của Pháp, các vụ oanh tạc, trận đánh trên Đại tây dương, sự thất thủ Tân gia ba và cuộc đổ bộ của đồng minh lên Bắc Phi. Đức quốc xã chỉ nghe lỏm được vài ba đoạn, trong khi đó Nga sô lại có nguyên văn của 5 bài diễn văn. Sự kiện này chứng tỏ trong số nghị sĩ Anh hồi đó đã có ít ra là một điệp viên Sô viết, tuy nhiên, người ta chưa tìm ra bằng cờ. Gần đây, đã có bằng cớ cụ thể hai dân biểu Tây Đức do thám cho Nga sô. Phờ-răn-den (1) gia nhập không quân đồng minh trong thời chiến. Sau chiến tranh, y đắc cử nghị sĩ của Đảng Xã hội Dân chủ tại Nghị viện liên bang. Phờ-răn-den có chân trong hai ủy ban quan trọng, Phục hưng và Quốc phòng. Ngày 28-10-1960, Phờ-răn-den bị bắt. Phản gián Đức khám phá ra y gởi nhiều tài liệu mật cho Cộng sản Tiệp khắc. Trước đó, hai sĩ quan Tiệp bị tóm cổ trong lúc sắp lên phi cơ về nước. Trong hành lý, công an tìm thấy cuộn phim chụp một tài liệu hải quân Đức. Tài liệu này chỉ in ra một số rất ít, và đánh số hẳn hòi, cất trong kết sắt của ủy ban quốc phòng. Trên phim nhựa, người ta đọc được con số ghi tài liệu của Phờ-răn-den. Trước tòa, y thú nhận đã lãnh hai mươi bảy ngàn mã khắc và bị phạt mười lăm năm khổ sai. Kể ra, Phờ-răn-den cũng là tay cừ khôi : vốn đã lục tuần, y giả vờ chơi trống bỏi, cặp kè một phụ nữ trẻ mang tới một khách sạn nhỏ trên bờ sông Ranh (2) mỗi khi gặp nhân viên Cộng sản. Đòn phép của Cộng sản cũng kinh khủng không kém: sợ Phờ-răn-den không thật lòng, họ chỉ trả một nửa tiền cho y tại một ngân hàng Thụy sĩ, còn một nửa kia tạm cất tại Tiệp khắc. Vụ Phờ-răn-den
 
-------------------------
(1) Alfred Frenzel. (2) Rhin.
Đăng nhập để trả lời
0

Thiếu trang 258 và 259...
 
 
 
 
260                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
(11) trong một cuộc thao dượt. Nhờ thế, gián điệp Sô viết mới phăng ra Anh tập trận tại Địa trung hải, với sự yểm trợ của phi cơ đồn trú trên lục địa. 
                Sờ-ni-pe (12), nhân viên gián điệp Tiệp khắc từ 1947 đến 1953, là một nhà báo Thụy sĩ. Y là cánh tay phải của Rớt-lơ (13) gián điệp kỳ tài trong đại chiến, người đã cung cấp cho Nga sô những tin tức quan trọng về Đức, với sự thỏa thuận của Phản gián Thụy sĩ. Trong sáu năm lãnh lương của Tiệp khắc, Sờ-ni-pe đã gởi đi một trăm sáu mươi bản báo cáo, thu nhỏ vào phim vi ti và giấu trong những bình mật ong. 
                Kỳ giả kiêm gián điệp nổi tiếng nhứt trên thế giới là bác sĩ Sót (14). Trong chín năm hoạt động tại Nhựt, Sót đã đoạt được rất nhiều tin tức bí mật. Sót sinh ngày 4-10-1895 tại nam bộ nước Nga, cha là kỹ sư Đức, mẹ người Nga, ông nội là thư ký của Các Mác, thủy tổ phong trào cộng sản thế giới. Tốt nghiệp tiến sĩ chánh trị học tại Đức, Sót gia nhập cộng sản Hăm-bua. Năm 1930, đội lốt thông tín viên một tờ báo tây phương, Sót qua Thuợng hải, tổ chức do thám cho Nga sô. Ba năm sau, Sót về Bá linh rồi qua Nhựt, núp dưới tư cách thông tín viên một nhựt báo Đức (15). Sót đặt chân lên bến Hoành Tân ngày 6-9-1933, Nga sô gởi thêm hai nhân viên để giúp Sót, đó là Vu-kê-lích (16) cũng đội lốt ký giả và Yôtôku, đảng viên cộng sản, từ Mỹ hồi hương. Vu-kê-lích, người Pháp, thông tín viên cho tuần báo Nhìn (17) xin vào làm cho hãng quảng cáo và thông tin Ha-vát (18), bắt liên lạc với sứ quán Pháp và đánh cắp được khá nhiều tin tức. Sau này xộ khám, y bị kết án chung thân, song đã chết trong tù vào đầu năm 1945. Cánh tay phải của Sót là Hôdumi (19), một ký giả Nhựt. Sinh năm 1901, con một ký giả, Hôdumi là cố vấn
 
--------------------
(11) Malte. (12) Xavier Schnieber. (13) Rocastler. (14) Richard Sorge. (15) to Frankfurter Zeitung.
(16) Brank de Voukelitch. (17) Vu. (18) Havas. (19) Ozaki Hozumi.
 
 
261                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP KÝ GIẢ
 
riêng cho hoàng thân Kônôi (20), người đã nắm chánh quyền ba lần. Ngày 15-10-1941, Sót chuyển về Mạc tư khoa bức điện đáng giá nhứt của đại chiến thứ hai, gồm những chữ như sau : «Nhựt bản sẽ không khi nào tấn công Liên sô». Nắm được bí quyết này, Sít-ta-lin đã đưa hết lực lượng từ phía đông sang tây, để rồi tiến tới phản công, đánh bại quân đội quốc xã. Hôdumi không hề lãnh lương. Hầu hết cộng sự viên của Sót đều không lãnh lương. Hôdumi bị bắt ngày 18-10-1941 và bị hành hình ngày 7-11-1941. Trước khi đút đầu vào thòng lọng, Hôdumi xin được mặc quần áo mới, xin quì trước tượng Phật, lắng nghe nhà sư tụng kinh, cảm tạ các viên chức hiện diện một cách bình tĩnh.
        Sót lấy tin rất khôn ngoan: nhân viên dưới quyền y thỉnh thoảng mới gặp nhau, mọi người có một số cộng sự viên riêng, phần lớn tưởng họ là ký giả, không phải là gián điệp, Sót còn cấm nhân viên giao du với đảng viên và cảm tình viên cộng sản, sợ bại lộ. Mặt khác, Sót gia nhập đảng Quốc xã, và với tư cách này, kết thân với sứ quán Đức, thậm chí trở thành một yếu nhân trong tòa đại sứ. Các cuộc gặp gỡ đều diễn ra hết sức bí mật. Sót và các cộng sự viên thường thay đổi tắc xi nhiều lần trước khi tới chỗ hẹn. Tiền bạc và tài liệu thường giấu trong bao thuốc lá. Có lần, Kờ-lô-sen, trưởng ban truyền tin, gặp Vu-kê-lích. Kờ-lô-sen hỏi:
        -      Anh hút thuốc không?
        Vu-kê-lích đáp: 
        -      Có, xin anh một điếu. 
        Kờ-lô-sen cười: 
        -      Đây, anh giữ lấy cả gói mà hút. 
        Từ 1939, không thể lấy tiền qua các ngân hàng Mỹ, Sót phải liên lạc trực tiếp với sứ quán Sô viết tại Đông kinh. Kờ-lô-sen vào rạp hát, trao cho người ngồi bên ba mươi tám cuộn phim vi ti và nhận năm
 
----------------------
(20) Konoye.
 
 
262                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
ngàn đô la. Người đưa tiền cho Kờ-lô-sen là lãnh sự Sô viết Vutôkê-vích (21). Kờ-lô-sen đội lốt thợ máy trong xưởng chữa xe hơi. Sau này, y mở một hãng kỹ nghệ rất phát đạt. Đến khi có tiền, kề vai người đẹp, Kờ-lô-sen quên mất chủ nghĩa vô sản, rồi trở nên bừa bãi và ươn hèn. Sót ra lệnh cho Kờ-lô-sen báo tin cho Mạc tư khoa không xin được rời đất Nhựt, vì được tin Phản gián đang điều tra. Kờ-lô-sen vứt bỏ bức điện không đánh. Ba ngày sau, cả Sót lẫn Kờ-lô-sen bị bắt. Vào tù, Kờ-lô-sen phản thùng, nên chỉ bị chung thân. Năm 1945, đại chiến chấm dứt, y được nhà đương cuộc Mỹ trả tự do. 
 
        Gián điệp du khách
       
        Các cơ quan điệp báo đều dùng du khách để lấy tin. Trong địa hạt này, KGB được thuận tiện hơn CIA, vì lẽ người Nga nào muốn xuất ngoại đều phải tuân lệnh KGB, còn người Mỹ có quyền bác bỏ đề nghị của CIA. Tháng 8-1960, Bơ-lin (1) một kỹ nghệ gia định sang thăm Nga sô mười ngày. CIA yêu cầu ông lấy tin tức. Bơ-lin từ chối. Không những thế, Bơ-lin còn tuyên bố lên mặt báo. Nếu là người Nga thì Bơ-lin đã bị xử bắn, hoặc ít ra cũng tù rục xương tại Tây bá lợi á. Mùa hè 1960, sinh viên Mỹ Kaminky (2) bị tòa án Sô viết kêu bảy năm tù về tội đột nhập vùng cấm địa. Sau đó, Kaminky bị trục xuất. Makinen (3) ra tòa ngày 5-9-1961 cũng bị 8 năm tù. Makinen bị bắt tại Kiép (4), đang du lịch thì bị còng tay giải về khám, trong người có tám cuộn phim và một cuốn sổ tay. Makinen có nhiệm vụ quan sát một số căn cứ quân sự ở Nga sô, khi thấy binh sĩ thì viết trong sổ tay là thấy nông dân, trại binh thì viết là trời mưa, xe nhà binh nhiều thì viết là dân cư đông đảo. Kờ-lê-mốp (5), uỷ viên công tố, đã nói trước tòa án rằng
 
----------------------
(21) Helga Leondvich Vetokevitch.
(1) Robert Berlin. (2) Mark I. Kaminsky. (3) Marvin William Makinen. (4) Kiev. (5) G. Z. Klemov.
 
 
263                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP DU KHÁCH
 
Makinen, sinh viên hai mươi hai tuổi của đại học đường Pensinvania (5), đã được CIA dạy trong sáu tuần lễ cách chụp hình, vẽ họa đồ và dùng mật mã. 
        Một trong các thủ đoạn của Nga sô là cho gián điệp chuyên nghiệp trà trộn vào những đoàn du khách thường dân, hoặc phái đoàn văn hoá xuất ngoại. Rát-tô-rốp (6), một người Nga chọn tự do, tiết lộ trong một cuộc điều trần trước Thượng viện Mỹ rằng một đại tá mật vụ Sô viết đã có mặt trong đoàn lực sĩ Sô viết trượt tuyết tới Nhựt tranh tài. Đại tá này tự nhận là lực sĩ trượt tuyết, song chẳng biết gì hết, ngoài việc làm mật thám. Tại Thế vận hội La mã, người ta đã gặp một thiếu phụ trẻ tuổi, cao thon, khả ái, mặc đồng phục lực sĩ mà không ném nổi một cái đĩa. Người ta còn nhớ cuộc trình diễn của đoàn nông vũ Moi-sơ-ép (7) của Nga sô tại Nữu ước. Đoàn được hoan nghênh nhiệt liệt. Tuy nhiên, khán giả đều kinh ngạc khi thấy một vũ nam biểu diễn quá vụng về. Đêriabin (8), sĩ quan tình báo Sô viết chọn tự do, cho biết vũ nam vụng về này là đại tá Ku-đờ-ri-át-sép (9), con cáo già của KGB. Nhân viên KGB đều đi theo các phái đoàn thăm hội chợ Bờ-rúc-xen (10), thăm đấu xảo Nữu ước, thăm cơ sở nguyên tử Hoa kỳ và các trường đại học. Nhân viên này có nhiệm vụ lấy tin và ngăn cản công dân Sô viết nào định bỏ trốn. Vụ Nurêép (11) bỏ trốn tại Ba lê đã gây ra một tiếng vang lớn trên thế giới, mùa hè 1961. Nurêép là vũ nam nổi danh của đoàn vũ Lênin-gờ-rát. Đoàn vũ bị đặt dưới sự theo dõi đêm ngày của hai sĩ quan mật vụ KGB. Nurêép phải khôn ngoan lắm mới thoát khỏi nanh vuốt KGB, và tại phi trường Ót-ly (12) mấy phút trước khi máy bay cất cánh, Nurêép đã xin tá túc chánh trị. Đoàn vũ bị tống lên phi cơ, bay một mạch về Mạc tư khoa. 
        Nga sô thường lợi dụng chương trình trao đổi du khách để huấn luyện gián điệp. Bétty gia nhập
 
---------------------
 (5) Pennsylvania. (6) Yuri Rastorov. (7) Moiseyev. (8) Peter Deriabin. (9) Alecksrandr A. Kudryatsev.
(10) Bruxelles. (11) Rudolf Nureev. (12) Orly.
 
 
264                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đảng Cộng sản Anh tại Lan-cát-sia (13) nơi nàng là một công nhân xí nghiệp dệt vải. Nàng được cử đi phó hội hòa bình của Thanh niên Cộng sản nhóm tại Pờ-ra-gờ, Tiệp khắc. Cùng các đại biểu khác, Bétty sang Tiệp. Khi đến gần Pờ-ra-gờ, nàng bị đau bụng nặng. Y sĩ được mời đến. Dĩ nhiên, đó là y sĩ Tiệp, có chân trong sở mật vụ. Y cho biết nàng bị trúng độc đồ ăn, phải tới bệnh viện điều trị một thời gian. Nàng được mang đi, song không phải tới nhà thương mà là tới một trung tâm huấn luyện gián điệp. Nàng đã uống một viên thuốc, uống vào thì gây ra triệu chứng đau bao tử. Tới trường, nàng uống một viên thuốc khác, căn bệnh mất ngay. Nàng được dạy cách phá hoại xưởng dệt mà nàng là công nhân. Trong trường, nàng gặp một thiếu nữ Hoa kỳ. Người này giả vờ đi du lịch Âu châu, nhưng khi tới Áo quốc thì được bí mật đưa vào Tiệp khắc. Chương trình học sáu tuần, song Bétty chỉ học cấp tốc trong vòng mười ngày. Sau đó, nàng được trả về khách sạn, và về Anh. Ai cũng tưởng Bétty tham dự hội nghị hòa bình.
        Nga sô còn bịa ra bằng cớ, bắt du khách hoặc nhân viên ngoại giao tây phương làm gián điệp, nếu không sẽ bỏ tù hoặc trục xuất. Trường hợp được bình luận nhiều nhứt xảy ra năm 1959, nạn nhân là Landen (14), phụ trách an ninh tại sứ quán Mỹ. Landen đã khám phá ra nhiều mưu toan của KGB về việc mua chuộc nhân viên và cài người trong sứ quán. Trước ngày phó tổng thống Ních-xơn sang Mạc tư khoa, Landen lại chặn đứng một âm mưu gắn máy ghi âm bí mật trong tòa đại sứ. KGB liền bố trí bắt cóc Landen, dùng áp lực bắt buộc ông làm gián điệp. Công an bịa ra một cuốn sổ tay viết bằng mực bí mật, nói là của Landen. Ông không chịu làm cho KGB nên bị trục xuất. Thiếu tướng Hiu-tơn (15) bị công an bắt
 
-----------------------
(13) Lancashire. (14) Russell A. Langelle. (15) Richard Hilton.
 
 
265                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP DU KHÁCH
 
giữ tại Công viên Gọt-ki (16) về tội mưu toan chụp ảnh một xí nghiệp quốc phòng. Tuy nhiên, ông Hiu-tơn khong có máy ảnh trong người. Sở dĩ có vụ này là vì Nga sô không muốn một người như thiếu tướng Hiu-tơn làm tùy viên quân sự sứ quán Mỹ tại Mạc tư khoa. Một nhà ngoại giao Mỹ lái xe về vùng quê đổi gió chiều chủ nhựt với gia đình. Trước khi đi, ông báo cho nhà cầm quyền cộng sản biết lộ trình. Cộng sản bèn chơi một vố. Xe hơi chạy được nửa đường thì gặp bảng cấm. Ông đành phải lái xe vào một đường khác, theo mũi tên chỉ, ông đi mãi. Ngờ đâu, con đường dẫn tới một phi trường quân sự. Nhân viên KGB chực sẵn ngoài cổng, tóm lấy nhà ngoại giao, lôi tới gần một chiếc máy bay để bọn gác chụp hình lia lịa. Hết đường bào chữa, những tấm hình này chứng tỏ nhà ngoại giao tới phi trường để làm gián điệp. Sau đó, ông bị trục xuất. 
 
             Gián điệp biệt kích
 
        Dưới thời ông Diệm, tuy bí mật được giữ kín, người ta cũng biết một chuyện một phi cơ chở biệt kích ra Bắc việt, do một đại úy không quân tên Vân lái, bị cao xạ bắn hạ gần Ninh bình. Đại úy Vân bị đưa ra tòa án cộng sản Hà nội và bị kết mười lăm năm tù. Thật ra, trên thế giới, những chuyện như thế rất nhiều. Hai biệt kích CIA, Đao-ni (1) và Phét-tô (2) đã bị bắn rơi như đại úy Vân trên vùng trời Trung cộng. Đao-ni bị kết án chung thân, và ở tù đã trên mười năm tại một lao thất gần Bắc kinh (3). Tốt nghiệp đại học đường I-ên (4), Đao-ni gia nhập CIA trong trận chiến tranh Triều tiên. Sau một thời gian huấn luyện tại Hoa thịnh đốn, Đao-ni lên đường đi Át-sudi (5), một thị trấn nhỏ cách Đông kinh chín mươi cây số về phía tây nam. Trung tâm Át-sudi mở cửa năm 1952, với sự thỏa thuận của chánh phủ Nhựt. Tại đó, CIA
 
----------------------
(16) Gorki.
(1) John T. Downey. (2) Richard Fecteau. (3) nhà lao Tsao Lan Tse. (4) Yale. (5) Atsugi.
 
 
266                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
huấn luyện người Trung hoa quốc gia để nhảy dù xuống Mãn châu, hoạt động trong vùng hậu địch. Phi cơ Hoa kỳ được trang bị một dụng cụ riêng, không cần đáp xuống mà vẫn «câu» người và đồ từ dưới đất lên được. Cất cánh từ Hán thành, phi cơ thả biệt kích xuống lãnh thổ cộng sản. Chiếc phi cơ chở Đao-ni, Phét-tô và chín du kích Trung hoa quốc gia rời thủ đô Nam cao ngày 29-11-1952 đã bị bắn rơi. Cũng trong thời gian này, một chiếc B-29 của Mỹ bị hạ trên không phận Mãn châu, trong một phi vụ tiếp tế, và tiếp cứu nhân viên biệt kích. Đao-ni và Phét-tô là trường hợp đặc biệt, còn thường là CIA dùng người địa phương làm biệt kích. Từ 1949, CIA tung một số lớn biệt kích vào phía sau bức màn sắt, đa số là đoàn viên NTS, một tổ chức cách mạng gồm toàn người Nga tị nạn, thề lật đổ chế độ cộng sản Sô viết.
        Khi Cộng sản chưa ngăn đôi thành phố Bá linh bằng bức tường bê tông và kẽm gai, thì biệt kích NTS vượt sang Đông Đức, rồi từ đó thâm nhập vào một nước chư hầu cộng sản. Biệt kích thường lỏn vào Nga sô bằng cách nhảy dù, hoặc đổ bộ bằng tàu ngầm, hoặc vượt qua những nơi canh phong chểnh mảng dọc biên giới Ba lan, Tiệp khắc, Ba tư và A phú hãn sát với Nga sô.
        Chánh phủ Sô viết công bố một bạch thư cho biết từ 1951 đến 1961 có 63 Tây phương bị bắt trong khi trà trộn vào đất Nga. Vì còn rất nhiều biệt kích tự do nên tháng 1-1960, Nga sô yêu cầu họ ra qui thuận. Tuy nhiên, chiến dịch mua chuộc này bị thất bại.
        Đành rằng hoạt động tại Nga sô rất khó, song lãnh thổ Nga sô quá rộng, hàng vạn người hồi hương, hàng triệu người di cư từ vùng này sang vùng kia, đó là chưa nói tới hàng vạn người khác được phóng thích từ các trại lao công cưỡng bách, phải tha phương cầu thực. 
        Gián điệp NTS từ Đức quốc tới thường có đủ giấy tờ cần thiết, như thẻ đoàn viên Thanh niên Cộng
 
267                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP BỊÊT KÍCH
 
sản, giấy tờ di chuyển, thẻ trưng binh, giấy tờ làm ăn. Họ được trang bị nhiều dụng cụ tối tân như máy thu phát thanh, phát tia sáng làm hiệu cho phi cơ đáp xuống xe đạp gấp, y phục người nhái, địa bàn, họa đồ...
        Nhiệm vụ của biệt kích là phá hoại hậu tuyến của địch. Trong thế chiến thứ hai, mọi quốc gia có một đoàn quân phá hoại riêng, Đức thì sư đoàn Bờ-răn-đơ-bua (6), Anh thì com-măn-đô, Mỹ thì ren-dơ (7), còn Nga thì du kích. Nổ bom, ném lựu đạn vào xí nghiệp địch là phá hoại, song xúi dục công nhân bê trễ đình công, cũng là phá hoại. Không cứ dùng chất nổ mới là phá hoại, người ta có thể làm hỏng một trung tâm sản xuất bằng mấy cái đinh, một gói dăm bào sắt, một nắm cát...
        Trong thời gian Tiệp khắc bị Đức chiếm đóng, phong trào kháng chiến đã tổ chức tẩy chay báo chí. Tại các nước chư hầu Cộng sản, người ta đã rủ nhau cười vào lúc không nên cười, vỗ tay lúc nên huýt sáo để phá hoại việc chiếu phim Sô viết. Trong thế chiến, điệp viên Đức đã tìm cách phá hoại công cuộc sản xuất ở Mỹ bằng những cú điện thoại cho các nhà máy nói là bên trong có bom nổ chậm.
        Thế chiến vừa qua đã chứng minh tác dụng quan trọng của biệt kích phá hoại. Phi cơ Anh oanh tạc một cây cầu nhiều lần mà không gây nhiều thiệt hại bằng hai biệt kích chôn mìn làm nổ cầu. Biệt kích Sô viết hoạt động sau phòng tuyến Đức 900 cây số, trong 26 tháng đã phá hủy được 52 toa tàu, 256 cây cầu, 96 kho đạn dược, 2 nhà máy lọc, 20 xe tăng, 225 cây số đường rầy, giết trên một ngàn lính Đức. Sau đại chiến, cộng sản gây rối ở Hy lạp, tập trung nổ lực vào việc phá hoại, làm trật bánh 91 toa tàu, phá 153 nhà ga, 21 xưởng máy, riêng trong tháng 8-1948.
 
--------------------------
(6) division Brandebourg. (7) rangers.
 
 
268                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Vụ phá hoại của đồng minh được ca ngợi nhiều nhứt trong thế chiến đã xảy ra tại Na uy năm 1942. Với ý định ngăn cản Đức quốc xã chế bom nguyên tử, một đội biệt kích Na uy được lệnh phá hủy nhà máy nước nặng Nót-hy-đờ-rô (8). Sau mười một tháng chuẩn bị, ngày 27-2-1943, đội biệt kích chia làm hai toán, thâm nhập vào nhà máy, dùng chất nổ phá hỏng một tấn rưởi nước nặng. Họ dùng xe trượt tuyết chạy bốn trăm cây số mới về tới khu an toàn, để rồi lên phi cơ về Anh. Tháng 11-43, Đức mở lại nhà máy, tiếp tục sản xuất nước nặng. Hoa kỳ tung một phi đoàn oanh tạc cơ hạng nặng, song chỉ phá được sáu chục ki lô nước nặng. Hít-le ra lệnh tháo gỡ máy móc, chở lên tàu Hy-đờ-rô mang về Đức. Một toán biệt kích lẻn lên boong tàu, đặt chất nổ. Tàu nổ tung, toàn thể máy móc bị tan tành, cùng mười tám ngàn lít nước nặng.
        Tháng 5-1952, kỷ niệm ngày Hồng quân chiếm đóng Hung gia lợi, Cộng sản tổ chức đại lễ, mời các yếu nhân trong thế giới cộng sản tới ăn mừng tại Bu-đa-pét. Phong trào chống Cộng bèn đón tiếp thống chế Sô viết Vôrôsi-lốp (9) bằng một vụ phá hoại. Đoàn tàu chở Vôrôsi-lốp tới biên giới, ngày 20-4, đúng tám giờ sáng. Quân nhạc trỗi quốc thiều cộng sản, các viên chức Hung sửa soạn nghênh đón thượng khách, đột nhiên ga hàng hoá phát hỏa dữ dội. Trong khi ấy, đoàn tàu chở phái đoàn cộng sản Pháp tới thị trấn Ghi-o (10) cũng gặp một đám cháy táng đỏm kinh hồn. Phe chống cộng lại đốt nhà ga trung ương để chào phái đoàn Tiệp khắc, Đông đức, và đốt nhà máy thuốc lá Si-dét (11) để chào phái đoàn Bảo và Lỗ. Khi đoàn tàu của thống chế Vôrôsi-lốp tới thị trấn Đơ-bờ-rét-den (12), một vụ cháy lại phát ra trong nhà máy lớn nhứt. Vôrôsi-lốp tới Bu-đa-pét, chứng kiến một hỏa hoạn khổng lồ, thiêu hủy xí
 
--------------------------------
(8) Norsk-Hydro. (9) Vorosilov. (10) Gyor. (11) Seayad. (12) Debrecsen.
 
 
269                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP BỊÊT KÍCH
 
nghiệp thuộc da lớn nhứt châu Âu. Các đại biểu ngoại quốc không thể chợp mắt vì còi hụ suốt đêm, xe cứu hỏa chạy rầm rập. Giữa lúc đám cháy lan rộng, phe chống Cộng lại phá hủy nhà máy nước. Chiến dịch phá hoại này được mệnh danh là chiến dịch «bó đuốc». Bó đuốc được thắp sáng để chứng tỏ cho Cộng sản biết là nhân dân Hung không đầu hàng. Người chỉ huy chiến dịch «bó đuốc», một công nhân Hung, đã vượt biên giới qua Tiệp và Áo, trước sự tức giận của mật vụ cộng sản. 
 
         
        Lấy tin, hoạt động trong vùng địch là làm gián điệp.  Song lại có những người làm gián điệp mà không khi nào ra khỏi văn phòng. Loại người này, CIA gọi là nhân viên phân tích. Alen Do-lot chia ra ba loại điệp viên : hành động, phân tích và yểm trợ. Yểm trợ là những nhân viên phụ trách kỹ thuật, còn hành động là nhân viên đi ra ngoài. 
        Trong đại chiến thứ hai, Si-mít (1) cô gái mắt xanh dễ thương đã khám phá ra một bí mật kinh khủng bằng cách nghiên cứu tài liệu trong văn phòng đóng kín. Nhờ nàng, Anh quốc tìm ra Pi-nơ-mơn (2) trung tâm thí nghiệm bom bay bí mật của Hít-le. Cô Si-mít ở trong ban nghiên cứu các tấm hình do phi cơ chụp được trên đất Đức. Một ngày trong năm 1943, qua kiếng hiển vi, cô Si-mít nhận ra một giàn hỏa tiễn. Đó là Pi-nơ-mơn. Gần đây, chuyên viên Mỹ đã khám phá ra các giàn hỏa tiễn địa không Sam 2 do Nga sô đặt lén tại Cuba. Trước sự cương quyết của tổng thống Ken-nơ-đi, Kút-sếp phải tháo gỡ hết. 
        Mấy chục năm trước, văn phòng Nữu ước Thời báo tại Bá linh hàng ngày bán hình cho độc giả Đức. Hàng ngày có một người tên là Go-ét (3) tới xem những tấm hình vừa được gởi tới, thường là mấy trăm
 
------------------------
(1) Constance Rabington-Smith. (2) Peenemande. (3) Goetz.
 
 
270                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tấm. Xem xong, Go-ét chọn mua vài ba tấm, mỗi tấm năm mã kim, nói là để dán an-bom. Mãi sau người ta mới biết Go-ét là thiếu tá tình báo Đức. Go-ét mua hình để khám phá những bí mật quân sự tây phương. Trong thế chiến thứ hai, đồng minh đã yêu cầu tư nhân gởi tới trụ sở tình báo mọi bức ảnh chụp hoặc mua được ở ngoại quốc. Năm 1942, hải quân Mỹ đổ bộ ở Ga-đan-canan (4), nhờ bảy tấm hình do một người tới thăm đảo thời bình chụp được. Cũng nhờ ảnh tư nhân mà không quân đồng minh đã oanh tạc thắng lợi khu lọc dầu Pờ-lô-ét-ti của Đức ở Lỗ-mã-ni.
        Một sĩ quan Phản gián Mỹ, ngồi trong văn phòng tại Hoa thịnh đốn, dùng mưu nói khích một tù binh Đức mà biết được những bí mật về khí giới mới của phe quốc xã. Cuối 1942, tàu ngầm Đức gây thiệt hại nặng cho hải quân và thương thuyền Anh-Mỹ. May thay, một tiềm thủy đĩnh Đức bị đánh chìm trong Đại tây dương, thủy thủ sống sót được đưa về Hoa thịnh đốn. Người ta được biết trong số có một sĩ quan từng phục vụ tại cảng Ki-en (15), nơi Đức chế tạo một võ khí nguy hiểm gọi là «thủy lôi tiếng động» (6). Dùng biện pháp mạnh, hay vuốt ve cũng không làm sĩ quan này hé miệng, người ta bèn lập mưu. Một nhân viên Phản gián Mỹ lui tới trò chuyện thân mật với y trong nhiều ngày, rồi đột nhiên chê bai «thủy lôi tiếng động», cho đó là một trò chơi trẻ con tốn tiền. Chạm tự ái, sĩ quan Đức cãi lại. Và để chứng minh cho lập luận của mình, y lấy bút giấy vẽ luôn cái thủy lôi, vừa vẽ vừa giải thích. Thế là đồng minh nắm được bí mật của «thủy lôi tiếng động». Khi Đức đem dùng, tàu bè đồng minh đã biết cách chống đỡ hiệu quả. Tính gộp lại, cả tiền cứu thủy thủ, nuôi tù binh, chỉ tốn một ngàn đô la. Bí mật kể trên trị giá hàng trăm triệu đô la.
 
---------------------
(4) Guadalcanal. (5) Kiel. (6) torpille acoustique.
 
 
271                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP VĂN PHÒNG
 
        Việc thẩm vấn tù binh đã mang lại nhiều tin tức quan trọng. Trong thế chiến thứ hai, việc này đã được khoa học hóa. Thống chế Mongômêri (7) bắt được tướng Tôma (8), cộng sự viên của thống chế Đức Romen (9). Tôma không bị thẩm vấn như tù binh thường. Thống chế Mongômêri lịch sự mời Tôma lên phòng trò chuyện như bản thân. Cảm kích về sự đối đãi quân tử, Tôma không giấu giếm gì hết. Tại Anh quốc, tướng tá Đức bị bắt được tập trung vào một trại riêng, đối xử hết sức tử tế. Khi tóm được toàn bộ tham mưu của thống chế Đức Pô-lút (10) tại Sít-talin-gờ-rát (11), Nga sô cũng áp dụng phương pháp khôn ngoan này.
        Quả thật nghề ký giả là anh em của nghề tình báo. Năm 1935, một nhà báo Thụy sĩ đã làm Hít-le thất điên bát đảo. Da-cốp (12) xuất bản một cuốn sách nói về công cuộc võ trang của quân đội Đức. Cuốn sách dày 172 trang này tiết lộ tổ chức của bộ tổng tư lệnh Đức, và danh tính các sĩ quan cao cấp mà chế độ quốc xã cố tình giữ kín. Hít-le nổi cơn thịnh nộ khi đọc xong cuốn sách. Nhà độc tài áo nâu gọi đại tá tình báo Nicôlai (13) đập bàn quát mắng tại sao gián điệp ngoại quốc lại am tường nội bộ Đức đến thế. Nicôlai cứng họng không biết đối đáp ra sao. Y bèn bố trí bắt cóc Da-cốp để hỏi ra lẽ. Theo lệnh Nicôlai, điệp viên Uyseman (14) đánh lừa Da-cốp từ Anh qua Thụy sĩ để bàn về việc in sách. Da-cốp đáp phi cơ tới với vợ. Ông đưa vợ tới khách sạn và đi ăn với Uyseman. Ngày 20-3-1935, Da-cốp bị bắt sau khi uống phải ly rượu có thuốc mê. Thuốc ngấm, Da-cốp say lảo đảo. Uyseman nói là Da-cốp say rượu, dìu ra xe, vượt biên giới. Nửa đêm tới Bá linh, Da-cốp được đưa thẳng tới tổng hành doanh Dét-ta-pô. Đại tá Nicôlai hỏi Da-cốp :
 
--------------------
(7) Montgomery. (8) Ritter von Thoma. (9) Rommel. (10) Paulus. (11) Stalingrad. (12) Berthold Jacob.
(13) Walter Nicolai. (14) Hans Wiseman.
 
 
272                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        -      Chúng tôi cần khai thật điều này. Ai cung cấp bí mật cho ông viết cuốn sách về quân đội Đức?
        Da-cốp thản nhiên đáp: 
        -      Ông lầm rồi, tôi không hề dính líu tới việc do thám. Mọi điều viết trong sách, tôi đã rút trong báo chí Đức đã xuất bản. Chẳng hạn, tôi biết tướng Ha-dờ (15) là tư lệnh sư đoàn 17 tại Nurambe (16) vì một bản cáo phó loan tin ông này vừa nhậm chức và tham dự một đám táng. Trong một tờ báo khác, tôi đọc thấy lễ thành hôn giữa ái nữ của đại tá Viê-rốp (17), chỉ huy trung đoàn 36 thuộc sư đoàn 25, với thiếu tá Sì-tem-ma-men (18), chỉ huy truyền tin. Tham dự lễ cưới còn có trung tướng San-le (19) từ Sì-tuga (20), nơi đồn trú của sư đoàn, tới.
        Đại tá Nicôlai giựt mình đánh thót. Điều này chứng tỏ Da-cốp làm nổi công việc của một cơ quan gián điệp chuyên nghiệp. Nicôlai phải khâm phục là trong ba mươi lăm năm làm tình báo, y chưa gặp người nào thông mình bằng ký giả Da-cốp. 
        Vợ Da-cốp làm rung beng ở Thụy sĩ. Chánh phủ Thụy sĩ đòi Đức phóng thích Da-cốp lập tức. Buộc lòng, bộ Ngoại giao Đức phải can thiệp với Dét-ta-pô. 
 
         
        Lột mặt nạ gián điệp địch là Phản gián điệp. Công tác phản gián bên kia bức màn sắt dễ hơn trong thế giới tự do, vì mọi hoạt động của nhà nước cộng sản được giữ bí mật tuyệt đối, cơ quan an ninh bành trướng rộng rãi, có quyền hành ghê gớm, nhân quyền không được tôn trọng.
 
---------------------
(15) Haase. (16) Nuremberg. (17) Vierov. (18) Stemmerman. (19) Schaller. (20) Stuttgart.
 
 
273                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
        Trước đại chiến thứ hai, công tác phản gián ở Hoa kỳ gặp nhiều thiếu sót. Trên nguyên tắc, có hai mươi lăm cơ quan nội an, song trên thực tế, mức hữu hiệu quá thấp vì dẫm chân lên nhau. Khi chiến tranh bắt đầu, cảnh sát FBI gắn máy ghi âm bí mật tại một tiệm ăn ở Cựu kim sơn để theo dõi cuộc trò chuyện khả nghi giữa một nhà khoa học Mỹ và hai lãnh sự Nga sô. Tới nơi, nhân viên FBI đụng đầu với nhân viên Phản gián của quân đội.
        Anh quốc có sáu cơ quan Phản gián, và sự tranh chấp cũng phiền toái không kém. Trong thế chiến, một tam đầu chế được lập ra để phối hợp các hoạt động phản gián, và dường như do ông Sin-li-tu (1) điều khiển. Hoa kỳ cũng đặt hai cơ quan phối hợp, phụ thuộc vào Hội đồng An ninh Quốc gia, gọi là IIC, Hội nghị Tình báo Liên bộ (2) và ICIS, Ủy ban Nội an Liên bộ (3).
        Tổ chức Phản gián thứ nhứt của Âu châu ra đời vào thế kỷ mười sáu tại Anh quốc. Trong nội chiến Mỹ, trùm Phản gián Pin-kơ-tơn (4) đội tên giả, trà trộn vào hàng ngũ đối phương, và ngăn chặn được một âm mưu ám sát tổng thống Lin-côn (5). Năm 1883, Anh quốc đặt ra Ngành Đặc Vụ (6) bên trong Tổng nha Công an (7). Sau khi bại trận năm 1870, Pháp mới nghĩ tới việc thiết lập một cơ sở Phản gián thường trực.
        Phòng Nhì được khai sinh, nhưng tai hại thay, đã trở thành một ổ âm mưu bẩn thỉu. Đại úy Đờ-rê-phuýt (8) nhân viên Phòng Nhì, bị đối thủ dùng thủ đoạn phản gián để buộc tội, lôi ra tòa, tạo nên vụ án nổi tiếng sau bao thế kỷ. Luxiêtô (9) đoạt được nhiều thắng lợi về cho Pháp. Đến khi tưởng thưởng, người ta lại lật lọng, bắt Luxiêtô, kết án tù, để khỏi phải trả tiền.
 
--------------------
(1) Sir Percy Sillitoe. (2) Interdepartmental Intelligence Conference. (3) Interdepartmental Committee on Internal Security. (4) Allan Pinkerton. (5) Abraham Lincoln. (6) Special Branch. (7) Scotland Yard.
(8) Alfred Dreyfus. (9) Charles Lucieto.
 

Đăng nhập để trả lời
0

 
274                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Đầu thế kỷ hai mươi, Đức đặt một hệ thống do thám ở Anh do Sờ-tin-hao (10) điều khiển, gồm hai mươi hai điệp viên. Đức hoàng qua Luân đôn dự đám táng vua E-đu-a đệ thất (11). Viên chỉ huy tình báo hải quân cũng đi theo. Phản gián Anh bố trí kiểm soát, và khám phá ra người này lén gặp một bác thợ hớt tóc tên là Cát (12). Cát là «hộp thư» của gián điệp Đức. Phản gián Anh phân ra toàn bộ tổ chức, song vẫn để đấy, chưa thèm bắt. Phương pháp này được mệnh danh là phương pháp «giây thừng dài» ta thường gọi là «nuôi». Sở dĩ phải «nuôi», chưa nên bắt, vì bắt gián điệp này, gián điệp khác sẽ xuất hiện. Thượng sách là «nuôi» rồi bắt trọn ổ. 
        Sau đại chiến, các tổ chức Phản gián trên thế giới đã được hoàn bị. Tại Nga sô, bộ Nội vụ phụ trách Phản gián, ngoài ra còn có một cơ quan chuyên ám sát gọi là Si-mốt (13). Tại Pháp, Phòng Nhì vẫn tiếp tục công tác Phản gián. Bộ tổng tham mưu còn có Phòng 5, chuyên về các vụ phiến động trong nước và lãnh thổ hải ngoại. Số nhân viên quá ít nên hoạt động không đắc lực. Sở cảnh sát Pháp chỉ có năm mươi thẩm sát viên trong ban Phản gián. Liên bang Tây Đức có một ban Phản gián trong sở Hình pháp Liên bang (14), nhân viên tuy ít, song được trang bị tối tân, có nhiệm vụ bài trừ do thám, và bảo vệ các yếu nhân. Tại Anh quốc, công tác Phản gián nằm dưới sự điều khiển của M15 và Ngành Đặc vụ trong Tổng nha Cảnh sát. Năm 1939, Ngành Đặc vụ có 156 nhân viên, còn M15 vỏn vẹn một dúm người do ông Pê-tờ-ri (15) đứng đầu. Trong thời chiến, M15 bành trướng mạnh mẽ, song ngành Đặc vụ chưa bao giờ có trên tám trăm nhân viên. Ngày nay, M15 trở lại hoạt động bình thời với hai trăm nhân viên. Cảnh sát FBI
 
--------------------
(10) Gustav Steinheyer. (11) Edouard VII. (12) Karl Gustav Ernst. (13) Smarch. (14) Bundeckriminalami.
(15) Sir David Petri.
 
 
 
275                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
hiện có những cơ sở Phản gián tân tiến và hữu hiệu nhứt nhì thế giới. 
        Đại tá Pintô (16), thiên tài Phản gián của Anh quốc trong đại chiến thứ hai, đã nêu ra mười đức tính cần thiết của một cán bộ Phản gián, bảy đức tính là do thiên phú, còn ba do mình tạo ra. Thứ nhứt, là có trí nhớ phi thường. Nhân viên Phản gián phải nhớ mặt mọi người, nhớ các địa điểm, nhớ mọi chi tiết. Trí nhớ này rất cần để thẩm vấn người tình nghi trong nhiều ngày liên tiếp mà không cần ghi chép. Đang hỏi cung, đột nhiên ngừng lại, lấy giấy bút ghi chép, bị can sẽ lợi dụng vài ba phút xả hơi để phục hồi tinh thần, hoặc đâm ra hoảng sợ, không chịu khai nữa. Nhân viên thẩm vấn phải đóng trò cách nào cho bị can tin cậy. Pintô có một trí nhớ xuất chúng. Ông có thể kể vanh vách những món quà người ta cho ông ngày ông lên ba. Ông còn nhớ ai cho, và cho vào giờ nào nữa. Thân phụ ông có điện thoại trong nhà, những số thường gọi được viết trên một mẫu bìa cứng treo ở bên, năm mươi năm trôi qua, Pintô vẫn chưa quên số nào.
        Thứ hai, là phải kiên nhẫn và đừng bỏ qua những chi tiết vụn vặt. Khi bị sa lưới, điệp viên địch thường tìm cách chối tội và hết sức kiên nhẫn. Muốn thắng, ta phải khôn ngoan hơn địch, kiên nhẫn hơn địch. Gián điệp địch thường học thuộc lòng một bản lý lịch giả mạo, nhưng nhiều khi họ có thể lầm lẫn. Phải biết cách khai thác triệt để sự lầm lẫn ấy. 
        Thứ ba, là giỏi ngoại ngữ. Thẩm vấn gián điệp ngoại quốc mà phải nhờ thông dịch thì mất uy tín. Khám xét đồ đoàn của địch mà không biết ngoại ngữ thì cũng như người mù. Đại tá Pintô nói thạo tiếng Hòa lan, Anh, Pháp, Đức và Ý, ngoài ra còn biết tiếng Y pha nho, Bồ đào nha, Đan mạch, Thụy điển, Na uy, Lỗ mã ni, và cả tiếng Ấn độ nữa. Trong thời chien, sở kiểm duyệt Anh quốc có một thiên tài về ngoại
 
----------------------
(16) Oreste Pinto.
 
 
276                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
ngữ, bí danh Bờ-rao (17). Bờ-rao đọc, nói và viết thạo năm mươi sáu ngoại ngữ. Trên thực tế, ông biết gần tám mươi ngoại ngữ, chưa kể những thứ tiếng không dùng nữa. Điện thoại của ông được gắn vào tổng đài kiểm duyệt điện thoại. Mỗi khi kiểm duyệt viên không hiểu là tiếng nước nào, họ liền chuyển cho ông nghe. Ông Bờ-rao còn biết mười bốn phương pháp tốc ký khác nhau. Thời bình, Bờ-rao là nhân viên bưu điện. Điều rất lạ là trong đời ông chỉ xuất ngoại có một lần sang Ba lê mà thôi. Ở Việt nam, liệu có người nào như ông Bờ-rao chưa?
        Thứ tư, nhân viên Phản gián phải sành tâm lý học. Phải biết rõ tính tình bị can mới có thể đặt câu hỏi đúng. Gián điệp thường kiêu căng, bị đánh trúng chỗ yếu là phun ra hết. Thẩm vấn địch mà không biết nội tâm của địch khác nào võ sĩ đeo găng lên đài mà bịt kín hai mắt.
        Thứ năm, là can đảm. Có thể người ta cho rằng kẻ bị hỏi cung cần can đảm hơn người hỏi cung. Quan niệm này đúng, song le ai lại không biết làm gián điệp phải có can đảm. Thiếu can đảm thì làm sao lẻn được vào quốc gia thù nghịch, hoạt động một mình, xa bè bạn, anh, em cấp chỉ huy, không biết sống chết lúc nào. Những người thẩm cung cũng phải có can đảm, thứ can đảm tinh thần, hầu đánh ngã gục địch, không phải đánh bằng khí giới, mà đánh bằng tâm lý chiến.
        Thứ sáu, là am tưởng địa lý, và biết rõ các thị trấn lớn trên thế giới. Biết tên các đường phố chính, tên các dinh thự cũng chưa đủ, phải biết cả tên tiệm ăn, khách sạn và phong tục địa phương nữa. Tháng 3-1942, Pintô đang ngồi trong phòng thì một người tình nghi tên là Hân (18) được giải tới. Hân cho biết y là người Đức, song đã trốn sang Đan mạch, từ 1936 sau khi bị Hít-le khủng bố. Tại Cô-pen-ha-gờ, y mở
 
--------------------
(17) Brown. (18) Hans.
 
 
277                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
văn phòng luật sư và kiếm được khá tiền. Năm 1940, quân đội quốc xã xâm lăng Đan mạch, y trở lại trắng tay như cũ. Y bèn quay về Đức, vượt biên giới sang Thụy sĩ, vào Pháp rồi đi Tây ban nha. Pintô cắn vặn Hân, thấy y hiểu rõ thành phố Cô-pen-ha-gờ tỏ rõ y sống nhiều năm tại đó. Trong câu chuyện, y thường chêm vào danh từ luật pháp, chứng tỏ y là luật sư. Y còn tả cho Pintô nghe phong cảnh những nơi y đi qua, phong cảnh mà có luật sư tới thăm mới thuật lại được. Pintô đốt thuốc lá, lơ đãng : 
        -      Anh tới thành phố Bác-xơ-lôn (19) vào lúc mấy giờ?  
        Bác-xơ-lôn là một thị trấn ở Tây ban nha. Những người tị nạn sang Anh quốc đều tới Tây ban nha rồi xuống tàu thủy. Hân thản nhiên đáp: 
        -      Tôi đến đó khi trời đã tối. Vào khoảng mười giờ đêm. 
        -      Đêm đó, anh nghỉ tại đâu?
        -      Tại khách sạn Lục địa (20).
        -      Tôi đã biết khách sạn này. Anh còn nhớ nhà ăn ở tầng thứ mấy không?
        Hân ngập ngừng một giây rồi mỉm cười:
        -      Thưa, tôi nhớ không rõ. Tôi tới Bác-xơ-lôn thì đã tối mịt. Phòng ăn của khách sạn đã đóng, người ta bưng lên phòng cho tôi một bữa ăn nguội.  
        Pintô gật đầu: 
        -      À, ra thế. 
        Hít một hơi thuốc lá, Pintô hỏi :
        -      Sáng hôm sau, anh làm gì?
        -      Tôi dùng điểm tâm trong phòng rồi giã từ khách sạn. Từ đó, tôi đi tới sở Thông hành của Anh quốc.
 
-------------------------
(19) Barcelone. (20) Continental.
 
 
278                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        -      Anh đến sở Thông hành bằng gì? Tắc xi hay đi bộ?
        -      Thưa đi bộ.
        -      Điều này hơi lạ, anh không quen thành phố Bác-xơ-lôn mà lại đi bộ chớ không kêu tắc xi. 
        -      Tôi sợ không dám đi xe. Tây ban nha liên lạc mật thiết với Đức quốc xã, nhân viên mật vụ Đức nhan nhản trong thành phố, trong số có tài xế tắc xi. Tôi đi tắc xi, họ sẽ nhận ra tôi. 
        Pintô gật gù: 
        -      Từ khách sạn tới sở Thông hành, anh đi mất bao nhiêu lâu?
        -      Chừng hai mươi phút. 
        Pintô cười, cái cười đắc thắng:
        -      Hân, anh là thằng nói láo. Anh khôn ngoan thật đấy, song anh bị lộ tẩy rồi. Tôi nói cho anh biết anh là điệp viên của Đức. 
        Hân đỏ mặt, đứng dậy : 
        -      Ông không có quyền vu cáo như thế. Tôi là công dân vô tội. 
        Pintô gõ ngón tay xuống bàn : 
        -      Hân, hãy bình tĩnh xem nào. Có hai điều tôi suy luận anh không phải là công dân vô tội. Khách sạn Lục địa là một trong số rất ít khách sạn ở châu Âu có hàng ăn trên lầu. Lúc tôi hỏi anh, anh biết là tôi muốn chụp anh nên anh đánh trống lảng, nói là anh tới khách sạn lúc mười giờ đêm, phòng ăn đã đóng. Ở Bá linh, hay Cô-pen-ha-gờ thì trả lời như thế là đúng nhưng anh Hân ơi, anh quên rằng tại Tây ban nha cũng như tại các quốc gia ven bờ Địa trung hải, dân chúng sống ban đêm nhiều hơn ban ngày. Tại xứ nóng, người ta ăn cơm trưa xong thì đi nghỉ. Ban đêm mới có gió mát nên rạp chiếu bóng và tiệm ăn mười một giờ bắt đầu. Tiệm ăn ở khách sạn Lục địa không thể đóng cửa vào lúc mười giờ được, trái lại,
 
 
279                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
đó là lúc đông khách nhứt. Sự kiện này chứng tỏ anh chưa đặt chân tới. 
        Hân định cãi, song Pintô cướp lời: 
        -      Anh đừng chận lời nói của tôi. Vì đó chưa phải là lỗi lầm độc nhứt. Anh còn phạm thêm lỗi lầm này nữa, và là lỗi lầm quan trọng. 
        Pintô lấy bút vẽ lên tờ giấy trắng trước mặt : 
        -      Đây này, anh mở to mắt ra mà xem. Sở Thông hành Anh quốc chỉ cách khách sạn Lục địa năm phút đồng hồ đi bộ. Một thanh niên khỏe mạnh như anh không thể nào đi mất hai mươi phút. 
        Trước khi Hân bị dẫn đi, Pintô nói tiếp : 
        -      Nếu quả thật anh trọ ở khách sạn Luc địa thì từ cửa sổ, anh đã nhìn thấy sở Thông hành Anh quốc. Bây giờ, anh hãy thú nhận đi. Anh đến sở Thông hành bằng xe riêng của mật vụ Đức phải không?
        Gián điệp Hân phải ra tòa lãnh án.
        Thứ bảy, theo Pintô, là phải am tường luật lệ quốc tế. Dầu theo quốc tịch nào, bị can vẫn được quốc tế công pháp dành cho một số quyền lợi. Bị can chỉ có thể bị giam giữ trong một thời gian nào đó, được hưởng một sự đối xử nào đó, chứ không phải là muốn làm gì cũng được. Một gián điệp thông minh có thể dựa vào hiệp ước La-he về tù binh để đánh lừa nhân viễn thẩm cung, xin được trọng đãi. 
        Thứ tám, là đóng kịch thật giỏi, biết giả vờ giận dữ, nôn nóng, điềm đạm, vui vẻ, buồn rầu mà địch tin là thật. Phải đóng kịch thật giỏi, vì đóng vụng địch sẽ biết ngay. Thẩm vấn một bị can có khi kéo dài cả tuần, ngày nào cũng nghe những lời khai cũ. Nhân viên thẩm vấn phải giữ vững tinh thần, đừng lộ vẻ khó chịu. 
        Thứ chín, là giỏi phân tích. Gián điệp địch sa lưới đều khai láo, bổn phận của phản gián là căn cứ vào cái láo ấy để tìm ra cái thật.
 
 
280                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Thứ mười, là nắm vững thủ đoạn nhà nghề, như cách dùng mực bí mật, cách xử dụng điện đài... Chuyên môn phải thật giỏi, mới không bị phỉnh gạt trong khi lục soát hành lý và thân thể người tình nghi. 
        Người tình nghi thường được dẫn tới một máy khám riêng. Nặng độ ngàn kí lô, máy điện tử này do một kỹ sư ở Cựu kim sơn sáng chế gồm hai phòng nhỏ, kẻ tình nghi vào một phòng, những con mắt điện bí mật phăng ra tất cả những đồ vật nào giấu trong người, kể cả nhét vào chỗ kín, vào miệng, hoặc nuốt vào ruột. Đôi khi, người ta còn quét lên lưng, ngực, tay kẻ tình nghi một hóa chất đặc biệt để tìm mực bí mật, hoặc dùng kiếng hiển vi nhìn nốt ruồi, hầu khám phá vi điểm. Ngoài ra, còn phải lưu ý xem có rương hai đáy, giày đế rỗng, kiếng mắt hai lớp bên trong giấu phim, và nhứt là khám kỹ cán dù, xà bông, bót đánh răng, đồ trang sức...
        Trong thế chiến thứ hai, Phản gián khám đồ đã tìm thấy nhiều tang chứng gián điệp. Tuy nhiên, có người bị bắt, có người lại được để tự do. Có hai loại điệp viên được để tự do, loại thứ nhứt, sau một thời gian hoạt động sẽ bắt, loại thứ nhì, để mặc cho hoạt động rồi về nước. 
        Khi quân đội viễn chinh Anh rút khỏi cảng Đon-két trong thế chiến vừa qua, Đức liền cử một điệp viên sang Luân đôn để quan sát tình hình. Là công dân một nước trung lập, lại giữ một chức vụ quan trọng trong Hội Hồng thập tự quốc tế, y đáp phi cơ từ Lít-bon (21) tới, nói là để tiếp xúc với các tổ chức thanh niên Anh quốc. Lẽ thường phải đợi nhiều tuần lễ mới được cấp chiếu khán nhập nội, y chỉ phải đợi mấy ngày, vì Phản gián Anh biết y là gián điệp Đức. Y được đón tiếp trọng thể tại Luân đôn và được mời đi thăm viếng nhiều nơi trong xứ. Phản gián đã thu xếp cho y được quan sát một số căn cứ chất đầy
---------------------
(21) Lisbonne.
 
 
281                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
chiến xa, phi cơ, súng đại bác và chiến hạm. Y không bao giờ ngờ rằng những căn cứ y tới thăm chỉ là căn cứ tưởng tượng, nơi nào y sắp viếng Phản gián mang chiến cụ tới trưng bày, rồi lại chở đi nơi khác cho y được thấy nhiều lần nữa. 
        Nói tới Phản gián điệp, người ta không thể quên gián điệp đôi, hoặc nhị trùng điệp viên. Gián điệp đôi là gián điệp ăn lương của hai hoặc nhiều chánh phủ một lúc, song chỉ trung thành với một, hoặc không trung thành với chánh phủ nào cả. Dùng nhị trùng khó ở chỗ không biết y có trung thành với mình không, hoặc trung thành đến mức độ nào.
        Từ thế chiến thứ nhứt đến nay, có hàng trăm gián điệp đôi, song chỉ có hai người được nhắc tới nhiều nhứt, đó là đại úy kỵ binh Sốt-nôki (22) và Bờ-lếch-kờ (23). Năm 1925,  Sốt-nôki được Ba lan phái sang Đức để tổ chức gián điệp. Nhờ tài quyến rũ phái yếu, Sốt-nôki kết nạp được một số nữ điệp viên, trong số có nữ bá tước Bớt (24) va Nát-me (25). Những tin tức do Bớt và Nát-me cung cấp, Sốt-nôki đều chuyển về Ba lan. Đột nhiên, Sốt-nôki bị bắt. Tin tức hồi đó cho biết Sốt-nôki bại lộ vì ăn tiêu quá trớn. Năm 1934, y tặng cho nàng Nát-me những bộ áo lông đắt tiền. Mẹ nàng tới thăm thì nàng nói là một tướng lãnh, bạn thân của cha, đã tìm cho nàng một việc nhiều tiền. Tình cờ bà mẹ gặp vị tướng và thốt lời cảm ơn. Vị tướng mở cuộc điều tra và phăng ra vụ gián điệp. Sốt-nôki bị án chung thân, còn hai người đẹp bị chém đầu. Tuy nhiên, sự thật lại khác. Nữ bá tước Bớt và Nát-me là nhân viên tình báo Đức, được lệnh trà trộn vào tổ chức Sốt-nôki, rồi lôi kéo chàng đại úy đa tình làm việc luôn cho Hít-le. Chẳng ngờ một gián điệp đôi khác người Ba lan, Gờ-rip (26) bị hành quyết tại Vạc-sôvi, biết Gờ-rip đã tố cáo Sốt-nôki nên Hít-le ra lệnh bắt y, trong mục đích dàn cảnh cho Ba lan tin Sốt-nôki không phải là nhị trùng. Và
 
------------------------
(22) Sasnowski. (23) Blake. (24) Benita von Berg. (25) Renata von Namtzer. (26) Gryf Tachaikowski.
 
 
282                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
để Ba lan tin thêm, Hít-le không ngần ngại cho hành quyết hai nữ điệp viên quốc xã. Sau đó, Đức và Ba lan trao đổi điệp viên, Sốt-nôki được hồi hương. Nhưng y vẫn bị Ba lan bắt. Năm 1939, Đức tấn công Ba lan, định đưa Sốt-nôki vào sở điệp báo, song y đã bị giải về phía đông. Dọc đường, y tẩu thoát, bị bắn trọng thương, và sa vào tay Hồng quân. Có tin Sốt-nôki còn ở trong nhà tù cộng sản, nhưng cũng có tin y làm gián điệp cho Nga sô.
        Bờ-lếch-kờ là nhị trùng nổi tiếng nhứt sau thế chiến. Trong thời chiến, Bờ-lếch-kờ là điệp viên tài ba, can trường và đắc lực. Hòa bình vãn hồi, y tiếp tục hoạt động điệp báo và được cử làm phó lãnh sự Anh ở Hán thành. Năm 1948, Cộng quân tràn qua vĩ tuyến 38, Bờ-lếch-kờ bị bắt. Sau đó, được Cộng sản trả tự do, y về Luân đôn, được phái sang Đức và Li-băng. Một ngày kia, Bờ-lếch-kờ bị triệu hồi và ra tòa lãnh bốn mươi hai năm tù về tội làm gián điệp cho Nga sô. Phiên tòa nhóm có năm mươi phút, cửa tòa đóng kín. Đó là bản án nặng nhứt kể từ ngày hòa bình. Theo tài liệu được công bố, Bờ-lếch-kờ làm nhị trùng cho Nga sô từ năm 1951. Y đã bán cho Nga sô danh sách các điệp viên Anh hoạt động phía sau bức màn sắt, và những bí mật của M15. Bờ-lếch-kờ thú nhận trong thời gian bị giam tại Bắc cao đã theo Cộng sản. Điều đáng chú ý là Bờ-lếch-kờ làm cho Nga sô không lãnh lương.
        Theo nguồn tin khác, Bờ-lếch-kờ không làm gián điệp cho Nga sô mà là làm gián điệp đôi cho Anh, đúng với kế hoạch của M16. Bằng chứng là M16 cho Bờ-lếch-kờ học tiếng Nga. Phiên tòa xử Bờ-lếch-kờ được giữ bí mật, tin tức liên quan đến vụ án cũng bị kiểm duyệt gắt gao. Người ta cho rằng Bờ-lếch-kờ cung cấp cho Nga sô khá nhiều tài liệu (giả) nên bắt buộc phải hy sinh y để Nga sô tin. Bốn mươi hai năm tù đối với một thanh niên ba mươi tám tuổi là quá nhiều, song có thể một thời gian ngắn sau, Bờ-lếch-kờ bí mật ra khỏi nhà giam, đổi tên họ, sống cuộc đời ẩn dật với tiền thưởng của Phản gián. Hít-le dám
 
 
283                                                                                                         TỪ PHẢN GIÁN ĐỊÊP ĐẾN GIÁN ĐỊÊP ĐÔI
 
hy sinh hai mỹ nhân để phỉnh Ba lan thì việc Anh quốc hy sinh Bờ-lếch-kờ không phải là chuyện không xảy ra được.
 
         
        Tôn Tử đã nói : Việc binh là quỷ đạo. Nghề gián điệp còn hơn quỷ đạo một bậc. Dở cả trăm hồ sơ điệp báo từ nửa thế kỷ nay, người ta không thấy vụ nào hoàn toàn giống nhau, và vụ nào cũng làm điên đầu. 
        Còn nơi nào được bảo vệ bí mật hơn trường huấn luyện gián điệp? Thế mà đại tá Cúc (1) đã bố trí cho một gián điệp Anh vào làm huấn luyện viên trong một trường dạy do thám Đức. Xí nghiệp Nót-đen (2) ở Long Ailân (3), Nữu Ước, chế tạo dụng cụ chiến tranh bí mật nên được canh phòng chặt chẽ. Năm 1938, Đức quốc xã đưa Lang (4), một điệp viên quyền biến, lọt vào xí nghiệp. Lang là người Đức, gia nhập quốc tịch Mỹ. Sau khi biết hết bí mật, Lang về Đức, báo cáo với thống chế không quân Gờ-rinh, lúc ấy Phản gián Hoa kỳ mới bật ngửa. Bác sĩ Bếch (5) sang Hoa kỳ tị nạn, nói là chán ghét chánh sách đàn áp của Hít-le. Nói tha thiết như vậy, ai lại không tin? Kết quả là Bếch được tiếp rước nồng hậu, và được mời dạy học tại một đại học đường Mỹ. Có ai ngờ rằng Bếch là điệp viên của Hít-le.
        Trời gần khuya, khách nhậu của quán rượu đã vơi gần hết. Còn lại năm người : hai tửu khách quen thuộc đang chơi ném tên, hai người khác tì tay vào quầy rượu nét mặt đăm chiêu, một người nửa ngồi
 
---------------------
(1) Cooke. (2) Norden. (3) Long Island. (4) Hermann Lang. (5) Beck.
 
 
284                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
một mình ở góc phòng, chúi mũi vào một tờ báo để chơi ô chữ. Cửa mở ra nhè nhẹ, hai người tiến vào, ngồi xuống một bàn trống. Một gã còn trẻ, tóc rậm rì. Gã thứ hai lớn tuổi hơn, đầu hói gần như hòn bi. Một lát sau, người thứ ba tới. Gã hói đầu trao cho y một cái phong bì. Y cũng trao cho gã hói đầu một cái phong bì. Hai người ném tên, hai người tì tay vào quầy rượu, người chơi ô chữ, đột nhiên đứng phắt dậy. Họ đều là nhân viên Phản gián Anh quốc. Ba người lạ bị vây kín. Họ là thiếu tá Pupisép 6) và đại úy Gu-kốp (7), phụ tá tùy viên quân sự Nga sô tại Luân đôn. Còn người lạ thứ ba, hỡi ôi, lại là nhân viên Phản gián M16. Thiếu tá Pupisép bị bắt quả tang đang cầm cái phong bì đựng họa đồ một loại hỏa tiễn không địa (8). Dĩ nhiên, đó là tài liệu giả. Phong bì thứ hai đựng hai ngàn bảng Anh, nghĩa là nửa triệu bạc Việt Nam. Pupisép và Gu-kốp bị trục xuất.
        Tối 5-2-1955, ba người ngồi ở góc phòng một quán ăn sang trọng ở thành phố Viên (9), nằm trong khu vực quốc tế. Đó là hai sĩ quan Phản gián Mỹ và Nalivaikô, lãnh sự Nga sô, đứng đầu tổ chức gián điệp cộng sản hoạt động tại Tây đức. Hai sĩ quan Mỹ đang bàn những chi tiết cuối cùng về việc đưa Nalivaikô sang Tây phương. Đột nhiên, Nalivaikô đứng dậy, hất ly rượu bia vào mặt một sĩ quân Mỹ, rồi thét lên: 
        -      Hừ, các anh định súi tôi phản quốc phải không?
        Một sĩ quan Nga tiến vào. Hai sĩ quan Mỹ chạy ra phía sau, nhảy qua cửa sổ, đi mất hút. Số là Nalivaikô định chọn tự do, bị Nga sô biết được, nên bắt y phải đóng kịch để bắt quả tang hai sĩ quan Phản gián Mỹ.
 
----------------------
(6) Ivan Pupyshev. (7) Audrey Gudkov. (8) hỏa tiễn De Havilland Firesteak. (9) Vienne, thủ đô Áo quốc. Hồi đó, Áo còn ở trong sự kiểm soát quốc tế.
 
 
285                                                                                                                         TỪ ĐẠI TÁ ABEN ĐẾN PHI CƠ U-2
 
        Một người Anh làm trong sở Báo chí tại Nghị viện. Trong một cuộc tiếp tân, y gặp một người lạ tự xưng là đại diện một công ty hàng hải Hy lạp. Tiếp theo là những cuộc nhậu nhẹt chơi bời «chết thôi». Việc phải đến đã đến. Nhà doanh thương Hy lạp muốn có hệ đồ tổ chức của bộ Chiến tranh Anh quốc. Chàng nhà báo rỉ tai bạn: 
        -      Anh yên tâm, tôi sẽ kiếm cho anh.
        Rồi cả hai cụng ly. Mấy ngày sau, chàng nhà báo mang tài liệu cho nhà doanh thương. Nhân lễ Nô-ên, chàng nhà báo nhận được một gói quà lớn trong có mười hai chai rượu mùi, năm trăm điếu thuốc lá và một trăm điếu xì gà. Chàng nhà báo bèn viết thư cám ơn, lời lẽ đoạn cuối như sau : 
        «Tôi rất cảm động khi nhận được món quà hậu hĩ của bạn, song tôi nhận thấy không xứng đáng để bạn đối xử như thế. Vì thưa ông bạn quí, những tin tức mật tôi đưa cho bạn, tôi đã chép trong cuốn Niên lịch, bạn có thể mua ở ngoài phố hoặc đọc trong thư viện.»
        Lịch sử gián điệp đã có hàng ngàn, hàng vạn giai thoại như trên. Nếu không có trái tim và khối óc vững vàng thì các thủ lãnh điệp báo đã trở thành con bệnh của nhà thương điên từ lâu rồi. Trên thực tế, nghề điệp báo là nghề có thể làm con người mất trí nhứt. Nhiều điệp viên cộng sản đã tự tử sau một công tác khó khăn. Một nhân viên CIA bị bắt về tôi ăn cắp... con dao thái thịt của một bà già. Gần đây, vợ chồng một nhân viên CIA đã quyên sinh sau hai năm phục vụ ở Đức về. Người chồng, Út-beri (10) dắt vợ là Đô-rôty (11) nhảy xuống sông Pôtô-mắc (12) và cả hai đều chết. Trong thư tuyệt mạng, Út-beri viết là công việc làm thần kinh căng thẳng. Trước đó, CIA dự định đưa Út-beri vào một dưỡng trí viện.
 
-----------------------
(10) James A. Woodbury. (11) Dorothy.
 
 
Thiếu trang 286 và 287...
 
 
 
 
 
 
288                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Oép-tơ mê một nữ bồi bàn tên là Vêra. Tuần trăng mật kéo dài một năm. Năm 1960, chán nản, Oép-tơ viết thư cho vợ con ở Mỹ. Năm 1961, y xin chiếu khán để về. Sứ quán Hoa kỳ trả lời y đã từ bỏ quốc tịch Mỹ, nên muốn qua Mỹ phải chờ sở Di trú Ngọai kiều chấp thuận. Và đến nay Oép-tơ vẫn mỏi mắt chờ đợi. 
        Vụ ly khai của Ottô chứa nhiều bí mật đến nay chưa ai tìm ra được hết. Ottô là lãnh tụ điệp báo Tây Đức. Tháng 7-1954, Ottô trốn sang Đông Bá linh, cùng đi là bác sĩ On-dơ-mút (20), một người tình nghi làm gián điệp cho Cộng sản. Ottô họp báo tại miền đông, tuyên bố chán chường chánh sách của thủ tướng A-đê-nao-ơ và tự ý bỏ đi. Trong thời chiến, Ottô tham gia phe đối lập chống Hít-le và cộng tác với gián điệp Anh. Vụ mưu sát Hít-le ngày 20-7-1944 bất thành, Ottô trốn qua Luân đôn, làm việc trong sở Tuyên truyền. Chế độ Quốc xã xụp đổ. Ottô được Anh quốc giới thiệu nên được giữ chức giám đốc điệp báo Tây Đức. Ottô kèn cựa với tướng Ghê-len, người được CIA và thủ tướng A-đê-nao-ơ ủng hộ, nên sinh ra buồn nản. Mười tám tháng sau, Ottô trở về và bị đưa ra tòa, Ottô khai là bị uống thuốc mất trí và bắt cóc. Tòa phạt bốn năm tù. Một năm rưỡi sau, Ottô được ân xá.
                Trong số những vụ ly khai từ đông sang tây, nổi bật là bốn vụ Ốt-lốp (21), Kờ-rasenkô (22), Pê-tờ-rốp (23) và Kanasép (24). 
        Ốt-lốp, cựu sĩ quan Hồng quân trong thế chiến thứ nhứt, thẩm phán tòa án tối cao và nhân viên cao cấp sở mật vụ, đã đoạn tuyệt với Nga sô năm 1938. Năm 1938, Ốt-lốp được phái qua Tây ban nha làm cố vấn Phản gián cho phe thân Cộng chống tướng Phờ-răn-cô. Trong khi đó ở Mạc tư khoa, Sít-ta-lin phát
-------------------------
(20) Wohlgemuth. (21) Alexander Orlov. (22) Victor A. Krauchenko. (23) Vladimir Petrov. (24) Alexander Kaznocheyev.
 
 
289                                                                                                                         TỪ ĐẠI TÁ ABEN ĐẾN PHI CƠ U-2
 
động cuộc thanh trừng đẫm máu. Ốt-lốp nhận lệnh hồi hương, nhưng trốn qua Pháp, và mang vợ con đi Gia nã đại. Ốt-lốp sống tại Nga sô mot thời gian dài, biết nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều, nhứt là quá quen với thủ đoạn đen tối của Sít-ta-lin nên biết là bị triệu hồi để giết. Khôn ngoan, Ốt-lốp đã mang lén được nhiều hồ sơ đen của Sít-ta-lin ra ngoại quốc và giấu kín một nơi. Mẹ ruột và mẹ vợ còn ở lại nên từ Kê-bếch (25) Ốt-lốp viết thư cho Sít-ta-lin mà y quen thân từ 1924, nói toạc ra rằng nếu thân nhân hoặc bản thân Ốt-lốp bị hại thì tập hồ sơ tội ác mà Ốt-lốp đã giao cho luật sư sẽ được công bố. Ốt-lốp sang Mỹ và được hưởng quyền tá túc. Bọn mật vụ Sô viết bám sát Ốt-lốp song không hạ nổi. Mười bốn năm sau, được tin mẹ ruột và bà nhạc từ trần, Ốt-lốp cho ấn hành tập hồi ký. Cuối 1953, tập hồi ký này ra đời với tựa đề «Truyện bí mật về tội ác của Sít-ta-lin».
        Kờ-rasenkô gia nhập đảng Cộng sản từ hồi còn trẻ. Là kỹ sư, Kờ-rasenkô được cử sang Mỹ trong phái đoàn thương mại Sô viết. Định chọn tự do từ lâu, y không bỏ lỡ cơ hội. Đến Mỹ năm 1933, Kờ-rasenkô xin tị nạn. Một thời gian sau, Kờ-rasenkô viết cuốn sách «Tôi đã chọn tự do». Tác phẩm này được đọc say mê trên toàn thế giới. 
        Vụ ra đi của vợ chồng Pê-tờ-rốp là ngón đòn đau điếng giáng vào hệ thống gián điệp Sô viết ở hải ngoại. Pê-tờ-rốp thuộc thành phần bần nông nên được Cộng sản trọng dụng. Năm 1933, Pê-tờ-rốp gia nhập mật vụ, tòng sự trong ban mật mã rồi sang công cán tại Trung hoa. Năm 1942, Pê-tớ-rốp và vợ cũng là sĩ quan mật vụ được cử đi Sì-tốc-khôm làm việc trong sứ quán. Nhiệm vụ của Pê-tờ-rốp là kiểm soát nhân viên trong sứ quán, kể cả đại sứ là bà Kôlontai (26). Bà Kôlontai, bán thân bất toại, cả ngày
 
-------------------------
(25) Québec. (26) Kollontal.
 
 
290                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
ngồi trên xe đẩy, đã hơn thất tuần mà vẫn bị Nga sô ngờ vực. Vợ chồng Pê-tờ-rốp được lệnh lẻn vào phòng riêng bà Kôlontai, chụp trộm tập hồi ký. Năm 1947, hai vợ chồng bị gọi về Mạc tư khoa. Cuối 1950, họ được đi Úc châu. Trong thời gian Pê-tờ-rốp ở Úc thì Bêria chỉ huy mật vụ Sô viết, bị hạ sát. Nhân viên sứ quán ganh tị với vợ chồng Pê-tờ-rốp vì chồng là đại tá, vợ đại úy, lương bổng lớn, quyền hành nhiều. Họ bèn lập mưu báo cáo với Mạc tư khoa Pê-tờ-rốp ủng hộ Bêria. Mạc tư khoa gọi Pê-tờ-rốp về. Y bỏ hết tài liệu mật vào cặp da rồi bỏ trốn. Nhân viên Phản gián Úc tặng Pê-tờ-rốp năm ngàn bảng Anh, tức là một triệu bạc Việt nam để tạm sinh sống. Nửa tháng sau, vợ Pê-tờ-rốp bị sứ quán Sô viết áp giải về nước, đã đòi ở lại với chồng.
        Năm 1959, Diến điện, một quốc gia trung lập, chứng kiến hai vụ chọn tự do sôi nổi. Vụ thứ nhứt : thất bại thảm thương. Vụ thứ hai : thành công rạng rỡ. Đại tá Sờ-tighin (27) tùy viên quân sự Sô viết tại Ngưỡng quang, là quân nhân chuyên nghiệp, năm ba mươi mốt tuổi được thăng đại tá sau nhiều thành tích chiến trận vẻ vang. Ông tới Diến đã hai năm mà vợ và con gái mười bốn tuổi vẫn bị giữ tại Mạc tư khoa. Xa nhà, đâm ra thờ thẫn, bê trễ, Sờ-tighin bị khiển trách nặng nề trong một hội nghị Đảng trong sứ quán. Ba giờ sau phiên họp, ông uống thuốc tự tử. Nhân viên sứ quán đưa ông đi bệnh viện rửa ruột. Khi tỉnh dậy, ông muốn xin tá túc chánh trị, song ông đã bị cô lập. Ban đêm, thừa lúc hai tên vệ sĩ ra ngoài, ông nhảy qua cửa sổ, dùng tiếng Anh yêu cầu người gác mời Phản gián của quân đối Diến tới. Ông bị bọn vệ sĩ giữ lại rồi bị tiêm thuốc mê, chở về sứ quán. Bảy ngày sau, một phi cơ thương mại Trung cộng hạ cánh xuống Ngưỡng quang. Chín chiếc xe hơi Nga phóng tới, bao vây phi cơ. Bốn mươi người bước xuống xe, Sờ-tighin bị đưa lên phi cơ như một xác chết. Phóng viên định chụp hình đều bị bọn vệ sĩ Sô
 
-----------------------------
(27) Mikhati Strygulm.
 
 
291                                                                                                                         TỪ ĐẠI TÁ ABEN ĐẾN PHI CƠ U-2
 
viết hành hung. Tùy viên quân sự Trung cộng cùng đi với Sờ-tighin lên phi cơ. Người ta không rõ số phận Sờ-tighin ra sao nữa.
        Trái lại, sự ra đi của Kanasép lại thành công mỹ mãn. Một tháng sau vụ Sờ-tighin, Kanasép rời sứ quán Sô viết, xin tị nạn với người Mỹ, Kanasép sinh trưởng trong một gia đình thoải mái, cha là chuyên viên điện tử, mẹ tốt nghiệp y sĩ song không hành nghề. Là con một, ông học tại trường ngoại ngữ và được cử đi Diến điện làm trưởng ban thông tin sứ quán, và hoạt động gián điệp. Kanasép bố trí cuộc ra đi một cách khôn ngoan và bình tĩnh. Ngày 23-6, ông lái xe tới phòng đọc sách Hoa kỳ và nhờ liên lạc với sứ quán Mỹ. Hôm sau, ông đi luôn.
        Đến nay, nhiều người tự hỏi đại tá Aben (28) hoạt động do thám trong tám năm tại Mỹ không chọn tự do phải chăng vì trung thành với chủ nghĩa Cộng sản? Sở dĩ Aben không bỏ trốn vì ông là điệp viên chuyên nghiệp, không khi nào luận bàn chánh trị. Gần mười năm sau ngày Aben bị sa lưới, người ta vẫn chưa tìm thấy ai bằng Aben. Có lẽ Aben là điệp viên Sô viết lỗi lạc nhứt. Năm 1948, Aben từ Gia nã đại lẻn vào Mỹ, dưới tên Kiô-tít (29). Đổi tên là Gôn-phút (30), ông thuê nhà để làm thợ ảnh tại Nữu ước. Khi gặp thuộc viên, ông lấy tên là Mác (31). Trước ngày bị bắt, ông tên là Côlin (32). Tên thật của Aben là gì, chỉ Nga sô mới biết, vì Aben cũng là tên giả.
        Aben sống cuộc đời bình lặng, khả ái, khiến mọi người không thể tưởng tượng ông là trùm gián điệp. Điều khiển tổ chức do thám cộng sản trên đất Mỹ, trong lưng có nhiều tiền, song không bao giờ Aben chơi bời, tiêu pha quá trớn để bị tình nghi. Cảnh sát khám nhà Aben thấy một điện đài tối tân, có thể
 
--------------------------
(28) Rudolph Abel. (29) Andrew Kagotis. (30) Etall Goldfus. (31) Mark. (32) Martin Collins.
 
 
292                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
liên lạc với Mạc tư khoa, đầy đủ dụng cụ làm phim vi ti, tài liệu bí mật, và đặc biệt là khuy áo, bút chì,  đinh, bin đèn rỗng ruột. Năm 1952, một đồng xu kền của Aben vô tình lọt vào tay Phản gián Mỹ, thế mà năm năm sau người ta mới biết chủ nhân của nó. Bô-dát (33) một em bán báo mười bốn tuổi, ngạc nhiên vì tiếng kêu khác thường của một đồng xu kền rớt trên vỉa hè. Mở ra, trong đó có một cuộn phim vi ti. Phản gián Mỹ biết đồng xu là của gián điệp cộng sản, nhưng không đọc được những bí mật của phim nhựa. Năm 1957, tình cờ trung tá Hayhanen, phụ tá của Aben, xuất thú tại Ba lê với Mỹ. Hayhanen giúp phản gián đọc những bí mật trong đồng xu kền và dẫn đường bắt Aben. Hayhanen xuất thú vị sợ Nga sô thanh trừng. Trong năm năm hoạt động tại Mỹ, Hayhanen có cái xấu là thích đàn bà, thích rượu và thích tiền.
        Công an ập đến giữa lúc Aben đang ngủ. Aben bị bắt sau ba chục năm làm gián điệp chuyên nghiệp, vừa chẵn năm mươi bảy tuổi. Nhà đương cuộc Mỹ muốn Aben qui thuận song Aben từ chối. Ra tòa ngày 20-10-1957, Aben không nói nữa lời để bào chữa. Tòa án phạt Aben ba mươi năm tù. Trước vành móng ngựa, Aben luôn luôn giữ vẻ thản nhiên, nhưng đến khi tòa đọc thư từ do vợ con gởi, người ta nhận thấy Aben rơm rớm nước mắt. Thư từ này được thu nhỏ thành phim vi ti gởi qua Pháp, rồi từ Pháp qua Mỹ dưới hình thức sách báo thông thường. Aben trở thành một phạm nhân gương mẫu và hiếu học dưới đính bài 80016-A tại khám đường At-lăn-ta. Ai cũng đinh ninh còn lâu Aben mới ra khỏi nhà tù. Bất ngờ xảy ra vụ phi cơ trinh sát U-2 bị hạ trên vùng trời Nga sô.
        Ngày 1-5-1960, giữa lúc hội nghị thượng đỉnh sửa soạn nhóm tại Ba lê để nghiên cứu các biện pháp làm giảm tình hình căng thẳng quốc tế, thì tại trường bay Pétsaon (34), Pa-kít-tăng, đại úy Pa-sớt (35)
 
------------------------
(33) Jim Bozert. (34) Bezhawar. (35) Gary Powen.
 
 
 
293                                                                                                                         TỪ ĐẠI TÁ ABEN ĐẾN PHI CƠ U-2
 
trèo lên phi cơ thám thính U-2, bay chụp hình bí mật lãnh thổ Nga sô. 
                U-2, một loại máy bay đặc biệt do hãng Lốc-kít (36) sản xuất, thân hình thuôn nhỏ dài mười hai mét, cánh lớn mỏng dính, có thể bay cao trên ba mươi cây số, chạy bằng ét xăng riêng. Phi cơ có bảy cửa sổ nhỏ, mỗi cửa sổ gắn một ống ảnh hồng ngoại tuyến. Giá tiền bảy máy ảnh lạ kỳ này trên mười triệu đô la. Đặc điểm của máy ảnh là từ trên cao có thể chụp hết mọi vật phía dưới, kể cả những vật tí xíu. Phi cơ U-2 còn được trang bị một loại máy ghi âm, khả dĩ thu được hết những tín hiệu do đài radar Sô viết phát đi. Tóm lại, U-2 là một phi cơ trinh sát tối tân, từ xưa đến này chưa từng có.
        Pao- ớt, một sĩ quan chuyên nghiệp, chưa hề làm tình báo, được lệnh rời không quân, gia nhập CIA, trong đoàn 10.10. Ông không phải là điệp viên nhà nghề như Aben, ông cũng chưa bao giờ được huấn luyện về kỹ thuật do thám. Với Pao-ớt, con người bước vào giai đoạn mới, giai đoạn do thám điện tử, con người chỉ là phụ thuộc. Trong hành trang, Pao-ớt có đủ đồ dùng cần thiết, đề phòng lâm nạn, thức ăn khô, tiền ngoại quốc, đồng hồ vàng, nhẫn vàng. Lại có một bộ phận riêng, đụng vào là phi cơ nổ tung sáu mươi giây đồng hồ sau. Về võ khí, Pao-ớt có một con dao, một khẩu súng gắn ống hãm thanh, và một cây kim tẩm thuốc độc, chích vào hai phút thì chết. Đến gần thị trấn Svét-lốc (37), phi cơ trúng hỏa tiễn địa không Sô viết, ở độ cao hai mươi hai cây số. Pao-ớt bất tỉnh trong giây phút rồi nhảy dù xuống, và bị bắt giữ. Tổng thống Âydenhao lên tiếng nhìn nhận U-2 là máy bay do thám. Đó là một thái độ vô tiền khoáng hậu trong thế kỷ hai mươi. Aben bị bắt, Nga sô làm thinh, mặc dù Aben là đại tá mật vụ. Sự nhìn nhận công khai của tổng thống Hoa kỳ gây ra dư luận trên thế giới. Và hội nghị thượng đỉnh tan vỡ.
 
--------------------------
(36) Lockheed. (37) Sverdlovsk.
 
 
294                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Phiên tòa xử Pao-ớt diễn ra tại Mạc tư khoa, ngày 17-8-1960, đúng vào ngày sinh nhật của Pao-ớt. Mục đích của Nga sô là tung ra một đòn tuyên truyền cực mạnh, lấy Pao-ớt làm lợi khí phát động. Bản án làm dư luận kinh ngạc: mười năm tù. Ở Nga sô, chỉ lảng vảng qua trụ sở mật vụ cũng đủ để tử hình. Phải chăng Nga sô đã nghĩ tới Aben ở Mỹ. Đô-navan (38) là luật sự của Aben. Bào chữa cho Aben, Đô-navan lãnh số tiền thù kim kếch xù là mười ngàn đô la, song ông đã tặng hết cho cơ quan từ thiện. Vợ Aben, do sự vận động của Đô-navan, viết thư cho tổng thống Mỹ xin ân xá. Với sự thoả thuận của Bạch Cung, Đô-navan mở cuộc thương thuyết với Nga sô, đổi Aben lấy đại úy Pao-ớt và sinh viên Pờ-rio (39), học tại Tây Bá linh, bị bắt và phạt tù về tôi giận điệp. 
        Tháng 1-1962, Đô-navan bí mật đi Đông Bá linh. Ông bàn bạc với Sích-kiu (40) đệ nhị bí thư sứ quán Sô viết về thể thức trao đổi. Ngày 10-2, đại tá Aben từ nhà tù ở Mỹ được đưa tới cầu Gờ-si-ních (41), sát ranh giới hai khu Nga-Mỹ. Trong khi ấy, sinh viên Pờ-rio được phóng thích cách cây cầu ba mươi cây số. Đúng tám giờ năm mười hai phút, Aben qua vùng Nga sô. Pao-ớt trở về đất Mỹ. Điều đáng lưu ý là Nga sô chỉ loan tin thả Pao-ớt, không đá động tới Aben. Ngày 22-4-1964, đến lượt Anh quốc trao đổi điệp viên với Nga sô. Hôm đó, tại Bá linh, Anh quốc trả tự do cho Lon-đên (41), đổi lấy kỹ nghệ gia Uyn (42). Lon-đên là trùm do thám, còn Uyn chỉ là nhân viên giao liên, có nhiệm vụ bắt liên lạc với gián điệp Anh hoạt động phía sau bức màn sắt. Uyn bị bắt tại Bu-đa-pét, chuyển về Mạc tư khoa, và năm 1963, bị lên án tám năm tù.
 
-----------------------------
(38) Donavan. (39) Frederick Pryor. (40) Ivag Chlekine. (41) Arthur Gordon Landsdale, tên thật là thiếu tá Conon Molody. (42) Greville Wynne.
 
 
295                                                                                                                         TỪ ĐẠI TÁ ABEN ĐẾN PHI CƠ U-2
 
        Ai lời, ai lỗ trong hai cuộc trao đổi này, chỉ có các sở gián điệp mới có thể trả lời dứt khoát. 
        Và trong khi ấy, nghiệp chướng gián điệp vẫn tiếp tục, tiếp tục cho đến ngày tận thế. 
       
 
NGƯỜI THỨ TÁM
 





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.10.2014 23:25:46 bởi Ct.Ly>
Huệ Lan thở phào:
-    Đến nơi rồi.
Nàng hảm thắng, cho chạy chậm lại, rồi rẻ vào con đường đất. Lê Tùng dựa vào vai nàng:
-    Ai đến thả em ra?
Nàng nhúng vai:
-    Phan Thiện.
-    Hắn nói gì với em?
-    Không. Hắn chỉ nghiêng đầu chào rồi mở cửa sà lim ra hiệu cho em theo hắn. Em có linh tính lạ lắm anh ạ. Thấy hắn, em hiểu liền. Hắn không nói nên em cũng chẳng buôn hỏi. Khỏi khu tử hình, em mới hỏi hắn một câu: Lê Tùng đâu. Hắn đáp: cô ra trước, 10 phút nữa, tôi sẽ thả Lê Tùng. Rồi hắn chỉ dẫn lộ trình cho em.
- Ừ, em ...

Huệ Lan rạp mình xuống vô -lăng. Trong giây đồng hồ hoảng hốt, nàng đạp chân mạnh vào ga xăng. Chiếc Simca nhỏ xíu lồng lộn trên con đường gồ ghề và quanh co. Lê Tùng có cảm tưởng như chiếc xe đang tung mình xuống ruộng đầy nước lấp lánh ánh sáng.

Huệ Lan mất tinh thần vì một chiếc phi cơ áng ánh bạc vừa bay vụt qua, thấp hơn bụi tre. Vội vàng, Lê Tùng xoạc chân hãm thắng. Xe hơi từ từ bớt tốc độ. Giọng Huệ Lan còn run rẩy:
- Hú vía. Em cứ tưởng phi cơ bắn chúng mình.

Lê Tùng cười gượng:
- Em lầm rồi. Phi cơ bay thấp để tránh ra đa. Có lẽ hoa tiêu đang dùng viễn kính hồng ngoại tuyến để tìm xe hơi. Phan Thiện dặn cách liên lạc với phi cơ ra sao?
- Đến nơi em sẽ đậu xe mở máy vô tuyến, riêng trong xe để liên lạc với phi cơ. Phan Thiện đã dặn em những mật ngữ cần thiết.

Nhìn đồng táp lô, Huệ Lan tiếp:
- Trong vòng 5 phút nữa, phi cơ của Sở sẽ bay trên bãi đất trồng này. Anh ơi, ngày mai chúng mình đã có mặt ở Sài gòn. Em không ngờ ... Rạp Rex đang chiếu một phim tình hay lắm, anh ạ. Một phim mầu của nử tài từ Marilyn Monrore.

Nghe Huệ Lan nói đột nhiên Lê Tùng cảm thấy trái tim đau nhói như bị đâm mũi dùi. Marilyn Monrore đã quyên sinh vì cuộc đời đen bạc...

Trong bóng tối mờ mờ, chàng liếc nhìn người bạn đồng hành. Huệ Lan dịu dàng, xinh xắn hơn bao giờ hết. Chàng muốn ôm nàng vào lòng, song lại rụt rè. Một niềm lo sợ vô biên tràn ngập lòng nàng.

Ầm, ầm ... tacata ...tacata ...

Hai chiếc phi cơ đen sì từ hướng đông tới, bay là là thành hình vòng tròn trên đầu hai người. Huệ Lan mở luồng sóng liên lạc. Tiếng xè xè vẳng ra rồi tiếng nói rõ mồn một của phi công:
- Alô, alô. Cẩn Phả gọi Hòn Gay ... Cẩn phả gọi Hòn gay ...

Mặt hơi tái, Huệ Lan:
- Alô, alô, Hòn gay đang nghe, Hòn gay đang nghe ... Vĩnh yên được mùa lúa ... xin hết.
- Cám ơn Hòn gay ... Nam định đang gặp bão.
- Chúng tôi chờ trong xe hơi. Yêu cầu cho biết chỉ thị.
- Ba phút nữa, phi cơ sẽ đáp xuống. Bạn nhờ phương pháp làm hiệu cho chúng tôi chưa?
- Nhớ.

Điệu đàm ngưng bặt.

Huệ Lan mở cửa nhảy xuống. Lê Tùng đang vươn vai, thở hít không khí trong lành của miền quê thì bỗng nghe tiếng kêu "trời ơi" của Huệ Lan.

Chàng vội vàng chạy lại. Nàng bước hụt chân, ngã xuống cái hố đầy nước. Hoảng hốt, Lê Tùng nắm chân nàng đang chơi vơi trên miệng hố, giật lại.

Trên nền trời láng mượt, mảnh trăng lưỡi liềm vừa ra khỏi đám mây đen kịt. Quang cảnh hoàn toàn quạnh quẽ. Tuy phi cơ bay rầm trời. Lê Tùng lại có cảm tưởng là từ phía yên lặng. Chàng chỉ nghe tiếng đập của tim chàng, và tiếng rên cắt quãng của Huệ Lan.

Nàng nằm dài trên nậm cỏ ướt, giọng yếu ớt:
- Anhơi!

Lê Tùng quỳ xuống:
- Em không sao chứ?
- Khổ quá dưới hố toàn chông nhọn. Em bị ... đầy máu. Chàng luống cuống cởi sơ mi để lau cho nàng. Tuy thường ngày bình tĩnh, chàng vẫn run lẩy bẩy quên mỏ nút nên mãi vẫn chưa cởi đước áo.

Huệ Lan lại gọi:
- Anh ơi, phi cơ đang đáp xuống, anh vặn đèn báo hiệu đi.

Lê Tùng ngẩng đầu lên:
- Ừ, để anh xem vết thương của em ra sao đã. Chắc em không hề gì đâu. Lên phi cơ, người ta sẽ băng bó cho em. Về Sài gòn, em chỉ nằm bệnh viện một tuần là bình phục. Chúng mình sẽ rủ nhau lên Đà lạt đổi gió.
- Anh nói đúng. Mau lên anh, em đã nghe tiếng phi cơ chạm đất rồi ...
- Chưa, em ạ. Họ đang bay vòng tròn.
-Ừ nhì, em quên khuấy. Anh chưa mở đèn ra hiệu thì họ xuống sao được.

Lê Tùng cúi xuống xốc Huệ Lan dậy. Nàng rú lên một tiếng đau đớn. Chàng vội buông nàng ra. Dưới ánh trăng xuông, da mặt nàng đỏ lòm. Mắt nàng đã lờ đờ.
- Mở đèn pha chưa anh?
- Chưa.
- Khổ quá, họ không đợi lâu đâu. Phan Thiện nói là phi cơ chỉ ở trên bãi này 3 phút. Quá 3 phút, họ sẽ bay ra biển.
- Để anh cõng em lên lưng.
- Không được. Chân em bắt đầu lạnh rồi.
- Trời ơi, thế ra ...
- Vâng, có lẽ em gặp phải chông tẩm thuốc độc ... Hơi lạnh đang dâng lên bụng.

Lê Tùng nâng chân Huệ Lan lên. nàng nằm cứng đờ như khúc gỗ. Chàng rú lên:
- Em ráng cử động chân xem.

Huệ Lan lắc đầu.
- Hết rồi, anh ạ? Kìa, bụng em bắt đầu lạnh. Em thấy rõ lắm, hơi lạnh cuồn cuộn như nước thủy triều. Nó đang ở ruột non ...
- Nói bậy.
- Em biết mà ... Năm ngoái, em vào nhà thương Đồn đất để chữa ruột non. Người ta bỏ vào miệng em cái ống cao su nhỏ li ti, luồn qua cuốn họng xuống dạ dầy ... dường như để bơm vào ruột một hơi lạnh đặc biệt. Chắc anh còn nhớ em đau ruột non ... hơi lạnh đặc biệt. Chắc anh còn nhớ em đau ruột non ... hơi lạnh được bơm vào để hàn vết thương lại. Phương pháp điều trị này rất tối tân ... em khỏi liền ... và ... Xin lỗi anh, em cứ nói chuyện bâng quơ mãi, mất thời giờ ... Hồi ấy, hơi lạnh bơm vào đến đâu, em biết đến đấy, cũng như đêm nay ... chà ... ruột lạnh ghê, còn lạnh hơn là nằm trong thùng nước đá nữa ... Lê Tùng ơi, em không có diễm phúc được ở lại trên đời với anh ...
- Không, em bị xúc động nên tưởng tượng đấy thôi. Chỉ một lát là hết lạnh. Để anh đắp sơ mi cho em. À, có lẽ vì trời nhiều sương. Mùa này, gần sáng sương lạnh kinh khủng. Chúng mình đang ở miền Bắc ...
- Em lạnh đến bao tử rồi.
- Thật không, Huệ Lan?

Khi ấy Lê Tùng giống như kẻ sát nhân, ngoan cố đứng trước vành móng ngựa đại hình. Giết người tất phải trả bằng tội chết, điều ấy bị cáo đã biết. Tuy nhiên, hắn cố gắng chối tội. Hắn cố gắng bào chữa với Tòa rằng hắn không giết người. Đến khi chứng cớ được trình bầy rành rành, Không chối tội được nữa, hắn bèn bám lấy hy vọng vu vơ và vô lý cuối cùng: hy vọng là hắn không bị hành quyết.

Tai nạn xảy ra cho Huệ Lan quá đột ngột nên Lê Tùng không dám tin là sự thật. Giá là sự thật nữa, chàng cũng không dám tin. Từ một năm nay, chàng đã gặp sự thật phũ phàng, phũ phàng đến nỗi chàng chỉ muốn lánh xa, và chui vào tháp ngà cô độc. Huệ Lan là cuộc đời của chàng. Chàng muốn sống nên chàng không muốn nàng chết.
- Em lạnh đến bao tử rồi ...
 
Dầu không muốn, Lê Tùng vẫn phải đụng đầu với sự thật phũ phàng. Hơi lạnh đã xâm chiếm bao tử nàng. Hơi lạnh này báo hiệu cho sự đột nhập của tử thần. Chàng đờ người một phút, quên cả thân thể đầy máu, và giọng nói yếu ớt gần như thì thào của Huệ Lan nằm sóng soãi trên cỏ ướt. Chàng quên cả hai phi cơ đen sì lượn xuống thấp dần, và nhất là ngọn đèn xanh vẫn sáng trong máy vô - tuyến đặc biệt của xe Simca , với tiếng kêu gấp gáp đầy lo ngại của hoa tiêu: alô, alô, Cẩm phả gọi Hòn gay, Cẩm phả gọi Hòn gay ...
- Anh ơi, em lạnh đến ngực ... Trời, tim em lạnh quá ... lạnh quá ...  anh nắm tay em đi ... anh hôn em đi ... hôn em lần chót đi ... anh Lê Tùng yêu quý nhất đời của em ...
 Lê Tùng vẫn ngồi im như pho tượng. Dường như chàng đã thoát khỏi thực tại, bay vào không gian mù mịt. Tai chàng không còn nghe tiếng nói của loài người nữa, mà chỉ nghe tiếng nói của quá khứ chứa đầy kỷ niện.

Vì nhiệm vụ, chàng phải đóng trò khổ nhục kế. Tại câu lạc bộ của Sở, chàng đã quỵt tiền rượu và gây sự với nhân viên quản lý. Huệ Lan rút súng can thiệp giùm chàng. Nàng đinh ninh chàng bị đau thần kinh sau chuỗi thất bại liên miên ở phía bắc vĩ tuyến 17 ...

Huệ Lan bắt đầu yêu chàng, yêu một cách trọn vẹn ... Rồi nàng bắt gặp một thiếu phụ lạ trong phòng chàng. Rủ đàn bà bê tha về phòng riêng, cờ bạc hoang đàng là một phần công tác. Chàng đành nuốt tủi, chịu cho nàng khinh biệt.

Song nàng vẫn không rẻ rúng chàng. Vì nàng có linh tính chàng là người đàn ông quân tử, chàng là người yêu xứng đáng ...
- Anh ơi, em đã líu, ... Llllưưưỡỡỡiii ... Vĩnhhh biệttt ... anh ...
Huệ Lan thở hắt ra rồi ngoẹo đầu sang bên.

Lê Tùng vẫn say sưa với kỷ niệm, không biết người yêu đã thở hơi cuồi cùng. Chàng ngơ ngác nhìn lên nền trời cao, thấp thoáng trăng xuông. Chiếc phi cơ xuất nhập đã bay lên khỏi ngọn tre. Sau nhiều lần liên lạc thất bại, hoa tiêu quyết định bay thêm một vòng nữa, trước khi rút lui.
Một loạt súng cao xạ nổ ầm ầm ... Đó là giàn đại bác phòng không đặt ở ngoại ô thị trấn Hà đông.
Tiếng súng inh tai nhức óc lôi Lê Tùng ra khỏi giấc mộng. Chàng sực nhớ đến thực tại. Sực nhớ đến phi cơ. Sực nhớ đến Huệ Lan.
Nhưng nàng đã chết.

Hoảng hốt, chàng lay nàng, kêu gọi thất thanh:
- Huệ Lan !

Không nghe nàng trả lời. Lê Tùng cuống cuồng lật mí mắt, và giật tóc nàng. Nàng vẫn nằm im.
Những giọt mưa rạng đông hòa lẫn sương muối bắt đầu rơi xuống cánh đồng rộng mênh mông. Lê Tùng òa lên khóc như đứa trẻ. Rồi chàng lảo đảo đứng dậy, giọng đau đớn:
- Huệ Lan chết rồi. Chết thật rồi ...

Một tia sáng lóe trong óc. Như người điên chàng quay lại xe hơi. Khẩu súng ru - lô nằm ngoan ngoãn trong hộc táp - lô. Mắt trợn trừng, chàng nhìn họng súng đen ngòm.

Dựa lưng vào cửa xe, chàng nhìn người yêu nằm co quắp dưới đất, rồi từ từ dúi nòng súng vào miệng.

Ầm ầm ... tacata ... tacata ...

Những giọt mưa rạng đông hòa lẫn sương muối bắt đầu rơi xuống. Tiếng ồn của súng cao xạ và liên thanh trùm lấp tiếng đoàng khô khan, và bé nhỏ của khẩu súng ru - lô.

Lê Tùng ngã vật xuống.

Tuy vậy, chàng chưa chết hẵn. Trong giây đồng hồ cuối cùng, chàng khoẻ dội lên, và dường như chắp cánh, chàng bò nhanh lại gần Huệ Lan.

Môi chàng đặt lên môi nàng. Đôi môi của Huệ Lan thường cong lên như nũng nịu và mời mọc. Trước khi chết. Lê Tùng vẫn còn nước mắt. hai giọt lệ lạnh ngắt rớt xuống môi nàng.

Lê Tùng khóc Huệ Lan. Chàng khóc cho chàng. Chàng khóc cho mối tình đoản mệnh của hai người.

Và có lẽ chàng khóc cả cho cuộc đời điệp báo chứa đầy bạc bẽo nữa


Người Thứ Tám
KD số 2170 TBTTCHJBC3 XB ngày 12- 7 - 1967




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.08.2014 00:26:54 bởi Ct.Ly>
Bản án tử hình
 
quyển hạ
 
Bờ sông Dịch thủy
 
VI
Vừa đóng cửa phòng, Lê Tùng ngửi thấy mùi thuốc lá thơm ngát. Chàng nhận ra mùi thuốc Cherry, một trong các thứ thuốc hút tẩu ngon dịu nhất thế giới do Mỹ chế tạo.
 
Phạm Huề đang dọc bao mỉm cười chào chàng, dáng điệu thân mật. Hắn ngồi chểm chệ trong ghế bành, miệng phì phèo tấu thuốc Dunhill, trông như chủ nhà. Cửa phòng của Lê Tùng được lắp một loại khóa Yale cực tốt, không có chìa không thể nào mở được. Thế mà Phạm Huề đã nghênh ngang vào phòng và khóa lại cẩn thận.
 
Lê Tùng tỏ vẻ khó chịu:
-          Anh lấy chìa khóa ở đâu?
Phạm Huề đập cái tẩu vào long bàn tay cho tàn thuốc trắng xóa rơi ra:
-          Tôi mở bằng sợi thép.
Lê Tùng nhăn mặt:
-          Người ta biết thì hỏng bét.
-          Người ta là ai?
-          Là ai, thì anh đã biết.
-          Anh yên tâm. Không ái dám nghi ngờ tôi đâu. Vả lại, lúc tôi lên lầu không có ai hết.
Lê Tùng rót một ly rượu rum :
-          Anh gặp tôi về chuyện gì ?
 
 Phạm Huề chậm rãi châm lửa vào tẩu thuốc mới nhồi.
-          Mời anh sửa soạn va ly.
-          Đi đâu ?
-          Đi gặp cấp chỉ huy của tôi.
-          Nếu vậy cần gì phải mang hành lý ?
-          Có lẽ anh sẽ rời Sài Gòn.
Lê Tùng buông hai tiếng “thế à’’, rồi ngồi phịch xuống ghế. Phạm Huề rót thêm một ly bacađi cho chàng giọng ngọt ngào :
-          Sợ anh về muộn, tôi đã thu xếp quần áo vào va li cho anh rồi.
-          Anh tự tiện quá.
-          Xin anh tha lỗi. Tôi và anh đã trở thành đồng nghiệp. Tôi có bổn phận bảo vệ anh.
-          Tôi không phải là đứa trẻ lúc nào cũng đòi mẹ đi kèm.
-          Anh lầm rồi. Ông Hoàng cho người theo anh từng giờ từng phút. Nếu anh chần chờ, sợ không kịp nữa.
Lê Tùng ấn cái mũ lên đầu:
-          Ừ, thì đi.
 
Chàng xách cái va li đặt lên bàn lại. Lần nữa sẽ có người mang tới cho anh. Anh xách va li kè kè trong tay, thiên hạ sẽ ngờ vực.
 
Ra hành lang, Phạm Huề chỉ sang bên trái:
-          Chúng mình xuống bằng lối này.
Lê Tùng chột dạ. Phạm Huề am hiểu đường đi trong bin đinh, như người ở đó đã lâu. Sự kiện này chứng tỏ đối phương có một tổ chức theo dõi, và điều tra hùng hậu. 
 
 
Cầu thang cấp cứy dẫn xuống một cái sân nhỏ, dành riêng cho nhân viên chửa lửa. Từ nhiều năm nay, tòa nhà không bị hỏa họan lần nào nên cầu thang cấp cứu mọc đầy rêu xanh. Sân gạch bên dưới cũng đầy rêu. Lê Tùng phải bặm chân để khỏi trượt.
 
Hai người đi qua một hẻm tối rồi ra đại lộ Trần Hưng Đạo. Một cái taxi đậu sẵn không biết từ bao giờ. Phạm Huề mở cửa sau, nhường Lê Tùng lên. Tài xế sang số, phóng về Sài Gòn.
 
Người lạ mặt gác cây dù vào ghế, rồi ngồi xuống, rút thuốc lá Bát Tốt xanh ra hút. Phạm Huề đứng bên, vẻ mặt hiền lành, pha lẫn sợ sệt như cậu học trò lên bảng đọc bài. Lê Tùng cũng không nói gì hết. Chàng thản nhiên nhìn cặp mắt sâu ròm, và cái miệng nhỏ xíu, điểm đôi môi thâm sì của người lạ.
 
Hắn lên tiếng:
-          Huýt ky nhé?
Lê Tùng xua tay:
-          Cảm ơn. Tôi thích rum.
Người lạ quay sang Phạm Huề:
-          Công việc của anh xong rồi. Anh có thể rời Sài Gòn được.
Phạm Huề lí nhí hai tiếng “chào ông” rồi đi ra ngoài. Trong căn phòng rộng còn lại hai người đối diện, trước ly rượu sủi bọt. lê Tùng phê bình:
-          Ông có một thuộc viên trung thành ghê.
Người lạ đáp:
-          Hắn có tính ba hoa, còn thua anh nhiều. À, chúng ta là bạn, gọi nhau bằng anh thân mật hơn. Tôi là Biên. Nguyễn văn Biên. Anh gọi tôi là Nguyễn Biên cho tiện.
Lê Tùng cười:
-          Chào anh Biên. Anh mang tên Biên từ bao giờ ?
-          Anh tò mò quá ! Tôi hoạt động ở đây đã lâu.
-          Anh từ Hà Nội tới ?
-          Không. Tôi không phải là nhân viên của Hà Nội.
-          Vậy anh là nhân viên của Bắc Kinh ?
-          Cũng không phải. Vì điều kiện an ninh, Tôi chưa thể nói anh biết rõ. Tuy nhiên, khi ra đến ngoài, anh sẽ biết.
Lê Tùng mường tượng đến một bờ biển vắng vẻ, gần Long Hải, một tia đèn bấm lóe lên xanh lè nhiều lần làm hiệu, một cái xuồng cao su nhỏ xíu rẽ sóng vào bờ, một người mặt đồ đen, đeo dao găm, cầm tiểu liên, mời chàng ra khơi. Trong đời hoạt động , chàng đón tàu ngầm ban đêm ở đất địch nhiều lần, song đây là lần đầu chàng lên tàu ngầm của địch, với sự thỏa thuận của ông Hoàng.
 
Nguyễn Biên tiếp :
-          Vả lại, tổ chức của tôi là GRU, KGB, IS, MI-5, CIA, Phòng NHì … hay là gì nữa, cũng không quan hệ ? Làm nghề tình báo này, không ai là đồng minh của ai. Hai quốc gia có thể là đồng minh, song về phương diện trình báo sự đồng minh này chỉ có gia trị trên giấy tờ. Trong đại chiến thứ hai, Liên bang Sô viết là đồng minh với Anh, Pháp, Mỹ, thế mà khi Đức quốc xã bị thua, OSS  của Mỹ, Phòng Nhì của Pháp và IS của Anh đánh nhau quyết liệt ; để cướp các nhà bác học Đức ! lấy ví dụ cụ thể nhất : Trung Hoa Cộng sản và Liên sô. Từ nhiều năm nay, GRU và KBC vẫn hoạt động bí mật tại Trung hoa lục địa.
Điều quan hệ là thỏa thuận với nhau trên một vài nguyên tắc nào đó. Anh bị ông Hoàng bỏ rơi, chúng tôi muốn dùng anh, và sẵn sàng trả tiền hậu hĩ, thế thôi.
-          Một lần nữa, tôi cần minh xác là tôi không bao giờ nhận lời chống lại tổ quốc.
-          Ha ha, tổ quốc là một vấn đề trừu tượng . Mỗi cá nhân có một quan niệm riêng về tổ quốc. Tuy nhiên, tôi cũng minh xác là không ép anh làm điều gì ngược lại quyền lợi của nước Việt Nam.
-          Có hai nước Việt Nam, miền Nam và miền Bắc. Tôi muốn biết rõ hơn nữa.
-          Ồ, anh lại đề cập tới chánh trị rồi. Chánh trị là điều tối kỵ trong nghề trình báo.
Lê Tùng nín lặng. Nguyễn Biên lại nói :
-          Giờ đây, đến vấn đề thù lao. Như Phạm Huề đã nói với anh, xong việc anh sẽ được trả hai triệu.
-          Khi Phạm Huề đề nghị, tôi không có phản ứng vì tôi biết hắn là nhân viên cấp dưới. Tôi muốn đặt lại vấn đề này với anh.
-          Anh đã ký tên vào tờ cam kết và chịu nhận hai triệu.
-          Vâng. Song số tiền hai triệu này chỉ là món quà các anh tặng tôi, đúng hơn số tiền thưởng sau khi tôi về với các anh. Những danh ca như Thanh Nga, Út Trà Ôn, Kim Cương còn được thưởng bạc triệu khi rời đoàn này gia nhập đoàn khác, huống hồ là tôi, một nhân viên tình báo cao cấp.
-          Anh đòi bao nhiêu ?
-          Hai triệu tiền thưởng  ‘‘ đầu quân’’. Còn thù lao sẽ định sau, tùy theo công việc.
-          Thú thật với anh, tôi chưa biết nội dung công việc của anh ra sao ?
-          Được . Vấn đề này tạm gác lại. Còn số tiền hai triệu, bao giờ tôi có ?
-          Khi anh rời Sài Gòn.
-          Không. Tôi muốn có ngay.
-          Hiện tôi không đủ hai triệu.
-          Không đủ thì thôi.
-          Anh đừng bắt bí. Tôi chỉ nhấc điện thoại lên là anh sẽ vào khám Chí Hòa, và lần này là tù rục xương.
-          Hừ, anh chẳng dại gì tố giác tôi. Dầu sao, tôi cũng là cái mỏ tin tức của anh. Vả Lại, nếu anh tố giác tôi, tôi sẽ lập công chuộc tội bằng cách phản tỉnh với ông Hoàng. Dĩ nhiên tôi sẽ vào tù, nhưng chỉ 5, 10 tháng là được phóng thích. Còn anh, anh sẽ mất Lệ Thanh, mất Phạm Huề, và biết đâu cả anh cũng bị xộ khám. Và một nhân viên quan trọng như anh không thể ở tù 5, 10 tháng như tội tôi đâu.
-          Anh là kẻ hám tiền.
-          Vì hám tiền tôi mới hợp tác với anh.
-          Anh còn là thằng đểu.
-          Ha, ha, cũng chưa đểu bằng anh. Anh thiếu gì tiền ? Nếu tôi không lầm, anh đã có hai triệu trong ngăn kéo.
Nguyễn Biên hừ một tiếng rồi nói :
-          Giỏi như anh mà lão Hoàng không biết trọng dụng ! Uổng thật ! Đây, anh cầm lấy hai triệu.
Hắn mở ô kéo, rút ra một bó giấy bạc to tướng. Lê Tùng cười :
-          Cám ơn anh.
Nguyễn Biên hỏi :
-          Chúng ta sắp đi rồi, anh định cất tiền ở đâu ?
-          Tôi có một tủ sắt trong Giao thông ngân hàng. Chỉ cần ba phút là xong.
Nguyễn Biên nhìn đồng hồ tay :
-          Mời anh ra xe.
-          Đi đâu ?
-          Lên phi trường.
-          Tân sơn nhất ấy à ?
-          Không lẽ đáp máy bay quân sự ở Biên Hòa
Lê Tùng thở phào ra :
-          Tôi cứ đinh ninh mình xuống tàu ngầm hoặc vượt biên giới Cao miên.
Nguyễn Biên cười :
-          Anh yên tâm. Lên phi cơ phản lực của hãng hàng không Pháp, có vé, có thông hành hẵn hoi.
Hắn vứt trước mặt Lê Tùng một cuốn sổ thông hành màu xanh lá mạ. Thông hành này do nha Tổng Giám Đốc công an cấp phát cho công dân Nam Việt. Mở ra, Lê Tùng ngạc nhiên - người xử dụng thông hành là đàn bà.
-          Sao lại thông hành này ?
Nguyễn Biên đáp :
-          Tôi muốn cho anh thấy tổ chức làm giấy tờ giả của tôi. Thế nào, có không không ?
-          Rất giống. Là nhân viên chuyên môn, tôi cũng tưởng là thông hành thật. Tuy nhiên …
-          Tôi đoán anh muốn nói gì rồi. Dùng thông hành này ít hy vọng thoát khỏi hàng rào cảnh sát phi trường , vì lẽ người Việt nào xuất ngoại cũng phải ghi tên và ngày đi tại trụ sở hàng không, phù hợp với giấy thông hành. Cảnh sát phi trường đã có bản danh sách hành khách trước giờ máy bay cất cánh. Song đối với người ngoại quốc, thủ tục này được giản dị hóa đến triệt để. Vì thế, tôi đã xoay cho anh một tờ giấy thông hành Phi luật Tân. Anh là công dân Phi đi Hồng Kông, trên đường về nước.
-          Còn anh ?
-          Tôi chỉ đưa anh lên Tân sơn Nhất rồi ở lại. Một người khác sẽ đi với anh.
-          Người này là ai ?
-          Bí mật. Tôi không thể tiết lộ được, vì điều kiện an ninh ? Đến Hồng Kông, sẽ có người đón anh. Mật hiệu là : Ông từ Vọng Các đến phải không ? Và anh đáp : Không. Tôi từ Tân gia ba tới. Người đón anh sẽ mặt bộ com lê tréo, màu hung hung, sơ mi vàng, và vạt đỏ nhạt, gài cây kim bằng vàng, giữa có hột ngọc thạch xanh, đi giày mũi nhọn, tay trái cầm một cái dù đàn bà. Thôi, mời anh ra xe.
Xe hơi của Nguyễn Biên là một cái Peugeot sơn màu mát – tích. hắn ngồi trước vô lăng, mở đề ma rơ. Lê Tùng hỏi :
-          Va li của tôi đâu ?
Nguyễn Biên đáp :
-          Đã cất vào thùng xe rồi.
Chiếc Peugeot từ từ lẩn vào đám đông. Nguyễn Biên lái từ từ, điếu Bát tốt xanh ngất ngưởng trên môi. Lê tùng thản nhiên nhìn sang hai bên đường.
 
Những cây cổ thụ dọc đại lộ Pasteur đã úa vàng, lá rụng lả tả. Mặt trời buổi sáng chưa đủ sức đẩy lui màn sương mù trắng xóa. Bỗng nhiên Lê Tùng nhớ nhung vô tận. Hình dáng thân yêu của Huệ Lan quay cuồng trong óc chàng, song dần dần Huệ Lan chỉ còn là cái bóng mờ. Tình yêu nhiệm vụ đã vùng ldậy.
 
Nguyên Biên đậu xe ngoài phi cảng. Lê Tùng xách va li bước vào phòng kiểm vé. Nguyễn Biên dặn chàng lần chót :
-          Đừng quên đấy. Anh là người Phi luật Tân. Ai hỏi gì phải trả lời bằng tiếng Anh.
Nguyễn Biên ngồi xuống ở cái băng sát tường, hai mắt không rời Lê Tùng. Tuy trời còn sớm, phi cảng đã đông nghẹt. Quày kiểm vé hành khách Hồng kông đã có một đoàn người xếp hàng. Chàng không dám nhìn chung quanh, sợ gặp người quen. Nguy nhất là gặp nhân viên của sở Mật vụ. Một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên có thể làm kế hoạch của ông Hoàng thất bại. Chàng tin chắc Lê Diệp hay Văn Bình đang có mặt ở đâu đây, theo dõi từng giây, từng phút.
 
Cô chiêu đãi mỉm cười hỏi chàng một câu lấy lệ. Chàng cũng mỉm cười đáp lại. Còn 15 phút nữa, máy bay cất cánh : nhân viên công an và quan thuế kiểm soát một cách nhanh chóng. Chàng không biết là họ được lệnh riêng của ông Hoàng hay họ bị lừa. Tuy nhiên, chàng nhận thấy sổ thông hành của chàng giống như thật.
 
Chàng xô cửa kính vào nhà hàng gắn máy điều hòa khí hậu của phi cảng. Một người bồi thắt nơ đen tiến lại. Lê Tùng khựng lại một giây đồng hồ. Gã bồi là Lê Diệp. Tuy Lê Diệp gắn trên mép bộ râu lún phún, và đeo kính cận thị. Lê Tùng vẫn nhận ra ngay.
-          Thưa ông dùng gì ? Lê Diệp hỏi:
Lê Tùng đáp:
-          Cà phê đen, bánh mì.
Lê Diệp hỏi giọng nho nhỏ:
-          Đi đâu?
-          Hồng Kông.
-          Thưa, ông dùng đường không?
-          Không.
-          Chỉ còn xăng úych gà. Hết bánh mì dăm bông rồi.
-          Xăng uých gà cũng được.
5 phút sau, Lê Diệp trở lại, bưng tách cà phê bốc khói nghi ngút. Chàng nói:
-          Anh cẩn thận. Thằng đi theo anh đang nhìn vào trong này.
-          Anh dặn gì không?
-          Không.
Giọng Lê Tùng bỗng đổi khác:
-          Này anh, tôi nhờ anh trình với ông Hoàng điều này. Xin ông đừng để Huệ Lan dính vào. Nàng là một cô gái ngây thơ.
-          Lạ nhỉ, tôi không nghe ông Hoàng nói tới Huệ Lan.
-          Tôi có cảm tưởng Huệ Lan, cũng như tôi, sẽ là con cờ. Riêng tôi, điều đó là thường. Nhưng còn nàng … Tôi có thể chết vì nàng được.
-          Vâng, tôi sẽ trình với ông Hoàng.
-          Chào anh.
Lê Tùng cúi xuống tách cà phê. Chợt máy phóng thanh kêu oang oang:
-          Yêu cầu  … yêu cầu …
Nhân viên hàng không mời khách hàng lên máy bay. Lê Tùng quăng tờ bạc một trăm xuống bàn. Một cô chiêu đãi mặc áo dài xanh, cổ thêu con rồng, đon đả chào chàng bằng tiếng Anh:
-          Chúc ông thượng lộ bình an.
Miệng nàng xinh xắn như trái táo chin đỏ. Chàng muốn ôm ghì lấy mà hôn. Song chàng cố kềm hãm những cảm giác phiến loạn thức dậy trong long.
 
Trời đang nắng bỗng tối sầm. Lê Tùng đang dấn vào cuộc phiêu lưu đầy bóng tối, rùng rợn.
 
  • *   *  *
  •  
Phi cơ đáp nhẹ như lá rụng xuống trường bay Kaitak. Suốt chuyến bay, Lê Tùng lim dim, ngủ gà, ngủ gật. Thật ra, chàng muốn kéo một giấc ngủ say sưa, nhưng cứ 5, 10 phút, chàng lại choàng dậy, dường như nghe chuông reo trong đầu .
 
Chàng quan sát kỹ các hành khách trong phi cơ, song không tìm được bộ mặt nào khả nghi. Hầu hết là người ngoại quốc  ghé Cảng Thơm để nghỉ mát và mua sắm. Ngồi cạnh chàng, là một thiếu phụ khá sạch sẽ, miệng cười duyên dáng, ngực nở tròn trĩnh, song lại ăn vặt như đứa trẻ, thân thể sặc mùi súc cô la. Bình sinh, chàng vốn ghét đàn bà ăn súc cô la, vì nó làm cho phụ nữ béo mập thù lù, mất hết đường cong gợi cảm ở eo, mông và ngực.
 
Thiếu phụ chìa kẹo mời chàng:
-          Ông dùng một cái.
Chàng lắc đầu. Rồi chàng phì cười. Mặt thiếu phụ đỏ ửng:
-          Ông ghét đàn bà ăn súc cô là phải không?
Lê Tùng vội nghiêm mặt:
-          Xin lỗi bà. Tôi có tật hay cười.
Sỡ dĩ chàng phì cười vì nhớ lại mẩu chuyện xảy ra cách đây hai năm. Lần ấy, chàng đang ngồi ăn ở Đông kinh. Ở bàn bên, hai thanh niên uống rượu sa kê và ăn gỏi cá với bốn cô gái “đợi sống mới”. Một cậu chìa súc cô la, giọng thân mật:
-          Ngon lắm, đàng ấy cắn một miếng.
Một cô gái cầm lấy, đưa lên mũi ngửi rồi ném xuống bàn:
-          Đồ xỏ lá!
Thanh niên trợn tròn mắt:
-          Không ăn thì thôi, việc gì lại nói tục?
Thiếu nữ dí miếng súc cù là vào mặt thanh niên, giọng chua như dấm thanh:
-          Thử nhìn xem súc cù là nào?
Từ lâu, Lê Tùng đã biết có loại súc cô la riêng chế tại Nhật, ăn vào cơ thể sẽ bị kích thích cực độ. Bọn thanh niên ngổ ngáo và ông già tóc muối tiêu thường mời gái tơ ăn súc cô la là giả để thỏa mãn xác thịt. Tuy nhiên, lần đầu tiên Lê Tùng thấy tận mắt loại súc cù là ân ái này. Được mụ đàn bà béo nung núc mời ăn, chàng sực nhớ đến bữa ăn ngày trước và phá lên cười vì thế.
 
Thủ tục, kiểm soát tại Kaitak rất giản dị và chóng vánh. Lê Tùng xách cái va li nhỏ, vẻ mặt trầm ngâm, từ chỗ phi cơ đậu đến phòng quan thuế. Một nhân viên phi trường liếc nhìn va li và sổ thông hành của Lê Tùng, rồi nói giọng lơ đãng:
-          Chúc ông nhiều ngày vui ở Hồng Kông.
Lê Tùng nhún vai:
-          Trân trọng cám ơn.
Nhân viên liên lạc mặc com lê tréo, màu hung hung, sơ mi vàng, cà vát đỏ nhạt, gài cây kim bằng vàng, có hột ngọc thạch xanh, đi giày mũi nhọn, tay trái cầm dù đàn bà đã hiện ra bằng xương bằng thịt. Hắn trạc ba mươi, mắt một mí, hao hao như người Cao ly. Hai người chỉ cần một phút để trao mật hiệu.
 
Một cái xe Rolls cao tồng ngồng đã mở cửa sẵn bên ngoài. Lê Tùng trèo lên, tài xế rú ga phóng một mạch. Dọc đường, người lạ mặt không thèm quay về phía chàng, và chàng cũng không nói nửa lời.
 
Chạy một lát; tài xế lài vào đường hẻm. Một tòa nhà quét vôi trắng, nằm thỗn thện dưới ánh nắng gần trưa. Lê Tùng được đưa vào phòng khách.
 
Một người đàn ông trạc ngũ tuần đợi chàng bên chai sâm banh Mum, nét mặt hoan hỉ:
-          Anh đi máy bay có mệt không?
Lê Tùng đáp cộc lốc:
-          Không, Cám ơn.
 
Khi bắt tay, chàng nhận thấy bàn tay hắn mềm nhũn, ngón được gọt tỉa cẩn thận, móng trắng toát. Chỉ tiết này, chứng tỏ hắn không phải là điệp viên hành động. Chàng sực nhớ bàn tay của ông Hoàng cũng mềm nhũn như bàn tay đàn bà.
 
Hắn nói:
-          Tên tôi là Nghị. Chu Nghị.
Rồi quay sang nhân viên liên lạc đứng chờ :
-          Cho chú về. Tôi có chuyện quan trọng bàn bạc với ông khách. Anh bảo tài xế đánh xe về ga ra trên kia. À, dặn cô Phượng dọn phòng cho ông khách, và bưng cơm trưa lên phòng.
Nhân viên liên lạc, nghiêm mình :
-          Thưa ông, vâng.
Chu Nghị xoa hai bàn tay :
-          Mời ông bạn vào phòng làm việc. Chúng ta nói chuyện được kín đáo hơn.
Phòng làm việc ở gần cầu thang. Đồ đạc gồm một cái bàn sắt, ba cái ghế quay, một xích đu và cái tủ vuông đựng hồ sơ. Lê Tùng vừa an vị, cửa phòng mở ra, một thiếu phụ rún rẩy bước vào, bưng khay rượu. Chu Nghị giới thiệu :
-          Đây là cô Phượng. Ông bạn của tôi từ xa tới, yêu cầu cô săn sóc chu đáo.
Chu Nghị nhấn mạnh hai tiếng ‘‘săn sóc’’. Thiếu phụ mỉm cười :
-          Vâng.
Lê Tùng bắt gặp cái nhìn khêu gợi của nàng. Mặt nàng không đẹp lắm, nhưng sau làn áo mỏng, chàng nhận ra một thân thể cân đối, căng cứng, tròn trịa, đặc biệt là cặp giò dài, thuôn, trắng muốt. Loại đàn bà ‘‘trường túc bất chi tao’’ thường là sở thích hạng nhất của Lê Tùng. Chàng nhìn Chu Nghị :
-          Nhân viên của ông đẹp thật.
Chu Nghị cười hà hà :
-          Nếu ông thành thật cộng tác, ông còn gặp nhiều người đẹp gấp ba, gấp bốn cô Phượng. Tôi có sẵn một cuốn anbum mỹ nhân, ông cần ai, tôi sẵn sàng cung cấp.
Lê Tùng lẳng lặng nhìn Chu Nghị đánh diêm hút thuốc lá. Cử chỉ cầm thuốc bằng hai ngón tay nhẹ nhàng, và đánh diêm khoan thai, chứng tỏ hắn đã sống lâu năm ở phương Tây. Không úp mở, chàng vào vấn đề :
-          Giữa chúng ta, có lẽ chẳng cần rào đón, lôi thôi nữa, phải không ông ? Vì cũng như ông, tôi là nhân viên tình báo  ởlâu năm trong nghề.
-          Vâng. Tôi biết thế nên mới mất bao công phu mời ông sang đây. Tôi rất sung sướng được hợp tác với người thẳng thắn như ông.
-          Nói toạc ra, ông là người mua, tôi là người bán. Trả đúng giá, thì tôi bằng lòng bán. Và bán xong, mỗi người sẽ đi một ngả. Vì tôi không tin ông mến tôi vì tôi có cặp mắt dĩ trai và giọng nói ru ngủ đàn bà.
-          Ông nói có duyên quá ! Cô Phượng rồi sẽ chết mê, chết mệt vì ông.
-          Mỹ nhân kế là kế xưa như trái đất. Ông đãi khách thì tôi xin nhận một cách chân thành. Ông đừng hòng mang đàn bà đẹp ra quyến rũ tôi.
-          Ông quá nặng lời. Không phải lần đầu tôi đón tiếp một nhân viên tình báo cao cấp như ông. Trước ông, nhiều người đã vào phòng này, và ngồi trên cái ghế ông đang ngồi. Tôi không đòi hỏi nhiều : bản tâm của tôi  là hai ta đều lợi. Tôi có tin tức, còn ông, ông có tiền có thật nhiều tiền.
-          Hai triệu bạc tiền thưởng không phải là món tiền lớn.
-          Ồ, ông đừng băn khoăn đến vấn đề tiền bạc. Phạm Huề chỉ được phép chi tiêu hai triệu là tối đa. Về phần tôi, bao nhiêu tiền tôi cũng có quyền quyết định.
-          Vậy ông trả bao nhiêu ?
-          Phàm đi mua hàng, phải coi đi, coi lại xem hàng thật, hay giả, hàng tốt hay hàng xấu. Dĩ nhiên, hàng ông bán phải tốt, nên chúng tôi mới chịu đặt cọc trước hai triệu đồng. Ông thấy chưa ? Mới ký khế ước, chưa coi hàng mà chúng tôi đã trả hai triệu. Tùy giá trị món hàng, chúng tôi còn trả nhiều nữa.
-          Vậy ông muốn gì ?
-          Mọi tin tức liên quan đến hệ thống tình báo do ông chủ chỉ huy theo lệnh ông Hoàng ở phía Bắc vĩ tuyến 17.
-          Ông Hoàng đã mất gần 20 triệu đồng mới lập được tổ chức này.
-          Ông đòi 20 triệu phải không ?
-          Số tiền này quá lớn. Tôi không muốn bắt bí.
-          Ông nói đúng. Trên thế giới, không tổ chức tình báo nào chịu trả cho ông 20 triệu bạc. Mua những tài liệu tối mật như bom kinh khí, bom trung hoa tử, vệ tinh dọ thám, cũng mất một phần ba số tiền này là cùng. Huống hồ ….
-          Ông lầm rồi. Những tài liệu liên quan đến phát minh khoa học giết người nếu không đánh cắp được, các ông cũng sẽ tìm ra, sau một thời gian nghiên cứu. Còn về hệ thống tình báo như thủ cấp Phạm Nhan, chặt cái này, cái khác mọc lên. Trừ khi nắm được đầu mối thì không dễ nào.
-          Ông định đòi bao nhiêu ?
-          Một nửa mà thôi.
-          Nghĩa là 10 triệu bạc ?
-          Vâng.
-          Còn nhiều quá.
-          Nếu thế, tôi xin hoàn lại hai triệu cho ông.
-          Ông nóng nảy ghê ! Mua bán phải mặc cả, không ai xỉa tiền ra lấy tiền liền. Tôi thành thật khuyên ông, không nên đòi nhiều, vì già néo đứt dây. Ông Hoàng sẽ không buông tha ông đâu.
-          Ồ, tôi đến nước liều rồi.
-          5 triệu, ông chịu không ?
-          Trời, tôi có cảm tưởng là mua tôm cá ngoài chợ. Thôi thì mỗi bên chịu một nửa. Giá nhất định và cũng là giá cuối cùng : 7 triệu rưỡi. Tôi không nhượng bộ nữa. Đúng 7 triệu rưỡi, không thiếu một xu.
Chu Nghị thở dài :
-          Ông áp bức tôi quá.
Lê Tùng cười :
-          Tôi đâu dám. Bây giờ, xin đề cập đến phương thức trả tiền.
-          Đề nghị với ông : số tiền 7 triệu rưỡi sẽ được gửi vào một ngân hàng Thụy sĩ, khi nào xong việc ông sẽ đến tận nơi rút ra.
-          Chấp nhận.
-          Tuy nhiên, chúng tôi sẽ ra chỉ thị cho nhà băng trả làm ba lần. Hoặc ông muốn làm hai lần. lần đầu, 1 triệu để ông tiêu pha trong thời gian ở Hồng Kông. Lần sau 6 triệu rưỡi.
-          Tại sao phải thanh toán làm hai lần ?
-          Vì chúng tôi cần một thời gian để phối kiểm tin tức. Ông sẽ ở lại với tôi một năm. Hết thời gian này, ông muốn đi đâu tùy ý.
Lê Tùng lắc đầu :
-          Tôi cương quyết từ chối. Tôi cung cấp tin tức, ông trả tiền hết, và tôi chuồn liền. Trước tôi, một số người đã bị lừa. Rất tiếc phải nói thật, vì sự thật mất lòng. Tôi không hề có định kiến là ông lừa tôi, nhưng thưa ông, làm nghề này thì đánh lừa và bị lừa là chuyện thường. Phương châm của nghề tình báo là đánh lừa và bị lừa phải không không ?
-          Ông chắc lép ghê .
-          Đặt vào hoàn cảnh tôi, ông cũng phải chắc lép. Tôi đưa tin tức cho ông, toàn bộ hệ thống dọ thám của ông Hoàng ở phía Bắc sông Bến Hải sẽ bị bại lộ, phản giác Bắc việt quét sạch họ trong vòng 48 giờ đồng hồ. Ông Hoàng không phải là một lãnh tụ tầm thường : trong vòng 12 giờ. Ông Hoàng sẽ biết kẻ bán tin là tôi. Vả lại, nhân viên trường bay Tân Sơn Nhất sớm muộn sẽ phăng ra tôi đội lốt công dân Phi luật tân đi Hồng kông. Tôi không hy vọng sống sót nếu ở lì tại đây với ông.
Chu Nghị nói :
-          Tôi hiểu. Tôi hiểu. Nếu ông chấp thuận, tôi xin đưa ông đến một nơi an toàn.
-          Ở đâu ?
-          Tùy ông. Chẳng hạn ở Hà Nội, hay Bắc kinh.
-          Muôn ngàn lời cảm tạ. Thú thật với ông tôi không thích cái chế độ của ông Mao và ông Hồ chút nào. Tôi mê rượu rom, lại thích chơi bời, tiêu xài như ông hoàng, về Hà nội được một tuần, tôi sẽ già thêm 10 tuổi.
-          Nhân dân ở Hà Nội sống thiếu thốn, nhưng riêng ông, ông về sẽ hưởng đủ mọi tiện nghi vật chất. Đủ thứ rượu Tây, Tàu, nếu ông muốn, Mạc ten 3 ngôi sao, sâm banh Mum thượng hạng, hoặc vốt ka Sô Viết … Đàn bà đẹp Hồng kông, hay đàn bà da trắng …
-          Thôi, thôi, ông đừng nói nữa, làm tôi rệu nước miếng. Cách đây một năm, một nhân viên của ông Hoàng đã bùi tai về Hà Nội. Họ cũng hứa nhiều tiền, nhiều rượu, nhiều gái, rốt cuộc chẳng có gì hết. Múi chanh vắt kiệt nước thì đem ném vào sọt rác. Anh chàng dại dột này đang mục xác trong một nhà tù ở Lai châu.
Chu Nghị cười gượng :
-          Nghĩa là anh chỉ bằng lòng ở lại đây một tuần.
-          Một tuần là nhiều nhất.
-          Và đòi luôn 7 triệu rưỡi.
-          Vâng.
-          Phiền anh đợi tôi đến chiều. Tôi cần xin sự chấp thuận của Trung ương. Trong khi chờ đợi, xin anh coi nhà này là nhà riêng của anh. Cô Phượng sẽ chăm sóc anh. Và anh cần gì xin cho biết, tôi sẽ lo liệu đầy đủ.
Lê Tùng nhận thấy Chu Nghị bắt dầu gọi chàng bằng ‘‘anh’’. Chàng đáp lại, thân mật :
-          Vâng. Chắc tôi sẽ phiền anh nhiều.
Chu Nghị, mở cửa phòng gọi :
-          Cẩm Phượng.
Thiếu phụ hối hả chạy tới. Chu Nghị ra lệnh :
-          Cô đưa anh Lê Tùng lên phòng.
Chu Nghị giơ tay chào Lê Tùng rồi đi thẳng ra cửa. Cẩm Phượng mời Lê Tùng :
-          Em đã dọn cơm sẵn. Mời anh lên tắm rửa rồi dùng cơm.
Lê Tùng nheo một con mắt :
-          Có nhiều món không ?
-          Nhiều. Vịt nướng, thịt bò nấu sốt, cá hấp, tôm chiên chua ngọt, vây cá gạch cua, bào ngư đầu hào … rượu mai quế lộ hảo hạng.
-          Chỉ có thế thôi à ?
-          Em xin mua thêm. Thức ăn này em đặt nhà hàng Bắc kinh, một trong các tiệm ăn ngon nhất Hồng kông. Anh cần món nào nữa.
-          Tùy em định liệu.
-          Món sò nướng ngon lắm. À, còn cua rang muối nữa.
-          Không. Tôi không thích sò nướng và cua rang muối.
Cẩm Phượng cắn môi suy nghĩ :
-          Lạ nhỉ ! Hay là anh dùng món rắn bát bửu.
-          Cũng không.
Cẩm Phượng nhìn chàng bằng thái độ ngạc nhiên. Lê Tùng mỉm cười :
-          Về tráng miệng, có những gì ?
-          Đủ loại phó mát Tây phương. Đồ trái thì có cam Mỹ, táo Úc châu và nho Pháp.
-          Tôi không ưa những món này. Cô có lê không ?
-          Có.
-          Ngọt không ?
-          Ngọt lắm.
-          Tôi ưa thứ lê nhiều nước. Vâng, thứ lê này có rất nhiều nước.
-          Có mấy trái ?
-          Em mới mua 2 trái.
-          Tôi chỉ cần 2 trái.
-          2 trái ? Anh là người kỳ dị nhất mà em được gặp.
-          Chẳng có gì là kỳ dị cả. Vì loại lê đặc biệt này bao giờ cũng gồm 2 trái.
Vứa nói, chàng vừa nhìn vào bộ ngực vĩ đại của nàng. Xấu hổ, nàng cúi mặt xuống. Lê Tùng nâng cằm nàng lên, hôn nhè nhẹ vào môi. Nàng đứng yên, đôi vai rung rung.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
VII
Tấn trò phản bội
 
Chu Nghị ném tờ báo xuống bàn, cất tiếng chào Lê Tùng:
-          Đêm qua, anh ngủ ngon chứ ?
Lê Tùng ngồi xuống ghế :
-          Dễ chịu lắm.
-          Anh bằng lòng Cẩm Phượng không ? Nếu không, tôi sẽ đổi người khác.
-          Cám ơn anh. Nàng được rồi.
Chu Nghị cười hô hố :
-          Tôi nghe nói đêm qua anh thức đến gần 4 giờ. Anh ở đây một tuần thì có lẽ gày đét như con mắm. Để tôi dặn cô Phượng mua sâm cho anh anh. Sâm Cao ly tốt lắm, tha hồ thức đêm.
Ngừng một phút, hắn tiếp :
-          Nào, chúng ta bắt tay vào việc. Trung ương vừa ra chỉ thị cho tôi chấp thuận các đề nghị của anh về tiền bạc và thời gian lưu trú. Anh sẽ lưu lại đây một tuần, sau đó, anh muốn đi đâu tùy ý. Mua thông hành giả rất dễ, chỉ cần 100 Mỹ kim là có thứ thông hành hảo hạng. Một vài lãnh sự ở đây sẵn sàng cung cấp thông hành thật trăm phần trăm với giá tiền từ 150 đến 200 Mỹ kim.
-          Điều này tôi đã biết. Tôi chỉ quan tâm đến thể thức trả tiền.
-          Vào giờ này số tiền tương đương với 7 triệu rưỡi Việt Nam đã được gửi vào ngân hàng. Tổng hạt ở Thụy Sĩ, theo điều kiện anh đưa ra. 1 triệu có thể rút ra trước, còn 6 triệu rưỡi, 8 ngày sau. Anh còn điểm nào phản đối nữa không ?
-          Không.
-          Như vậy, ta ngồi vào bàn giấy được rồi. Nhưng trước hết, tồi cần ra một vài chỉ thị cho Cẩm Phượng.
Chu NGị vỗ tay ba cái. Cô gái khiêu gợi hiện ra như hồ ly tinh. Hắn ra lệnh:
-          Phiền cô cho một phích cà phê đen. Cô bỏ điện thoại xuống bàn để để không ai kêu được nữa. Cô lại dặn mấy đứa dưiớ nhà khóa cổng, không tiếp ai hết và tăng gia canh phòng trong vườn.
Rồi quay về phía Lê Tùng:
-          Trước hết, yêu cầu anh thuật lại tiểu sử. Nguyên tắc làm việc của chúng ta như sau: mới đầu, anh đưa ra những nét sơ lược, tôi sẽ nghiên cứu và đặt ra các câu hỏi chi tiết.
-          Vâng, tôi xin bắt đầu. Tôi sinh ngày 8 -8- 1939 tại huyện Thanh chương, tỉnh Nghệ an. Tôi đậu bằng tiểu học ở trường huyện rồi xuống thị xã Vinh, theo chương trình Trung học. Năm 14 tuổi, tôi gia nhập lực lượng xung kích của Quốc dân Đảng Nghệ an, rồi làm nhân viên giao lien cho đến ngày hiệp định Giơ –neo được ký kết.
 
Gia đình tôi di cư vào Nam năm 1951. Cha tôi là công chức, mẹ tôi là con của một điền chủ có nhiều ruộng đất ở vùng Nam dân, Thanh chương. Ông tôi bị đấu tố mà chết. Cha mẹ tôi trốn kịp nên không bị bắt. vào Sài Gòn, tôi đậu tú tài toàn phần năm 1957, và vào Văn khoa đại học. Học đến năm thứ hai, tôi bỏ trường, gia nhập tổ chức của ông Hoàng.
 
N°= 129




Đăng nhập để trả lời
0
ĐOẠN KẾT
Bản án Tử hình
 
        Đường Tuyên Quang là một trong những con đường êm ả nhất của thành phố Hà nội. Trước hiệp định Giơ-neo, người ta chỉ thấy một dãy nhà nhỏ, buồn bã, cũ kỹ, châu đầu vào nhau, như sợ tiếng ồn chói tai của đường xe lửa Hải Phòng làm sụp đổ. Sau hiệp định Giơ-neo, đường Tuyên Quang càng nhỏ hơn, buồn bã hơn, cũ kỹ hơn, với những cánh cửa đóng kín ngày đêm, những bức tường loang lổ dán bích chương trắng chữ đen, những vỉa hè đầy ổ gà, vô ý có thể bị gẫy mắt cá chân.      
        Con đường cô đơn và ủ dột này đột nhiên mang một bộ mặt quan trọng.
        Màn tối vừa buông xuống, nhiều toán cảnh sát mặc sắc phục đã đậu xe chặn hai đầu đường, cấm dân chúng ra vào. Toàn khu bị cô lập trong chớp mắt, nhân viên an ninh xét giấy tờ ráo riết trên đường Hàng Bông, cửa Nam, cửa Đông kề cận đường Tuyên Quang.
        Những biện pháp phòng vệ đặc biệt cũng được áp dụng tại các yếu điểm trong thành phố. Hai xe bọc sắc án ngữ trước sân sở Công an Hàng Cỏ. Một trung đội võ trang súng nặng được chở tới canh gác văn phòng vụ Lễ Tân trong Thủ tướng phủ.
 
174
 
        Giữa đường Tuyên Quang, một tòa biệt thự lớn đứng sừng sững, đèn sáng như sao sa. Nhân viên an ninh gác vòng trong, vòng ngoài, trùng trùng, điệp điệp.
        Vì đây là trụ sở của Hội đồng An ninh, thuộc Trung ương đảng Lao động.
        Vì đêm nay, phiên tòa đặc biệt được nhóm tại trụ sở của Hội đồng An ninh.
        Phòng xử ở trên lầu nhất. Một căn phòng lớn, bề thế, bề dài cũng như bề ngang còn lớn hơn rạp chiếu bóng Đại Nam ở Chợ Hôm. Trên trần, treo lủng lẳng 3 bộ đèn pha lê, tổng cộng 90 ngọn, mỗi ngọn 100 vát, ban phát ánh sáng rực rỡ xuống những hàng ghế gỗ bọc da đỏ, những bức tường sơn màu vàng rơm, và tấm thảm cốt ngăn tiếng động đỏ chói.
        Phiên xử bắt đầu.
         Sau hồi chuông reng reng, mọi cánh cửa được đóng chặt. Lính gác ngoài hành lang dùng giầy đế cao su bước nhè nhẹ trên nền gạch hoa đánh xi bóng loáng có thể soi gương được.
        Thẩm phán ngồi sau cái bàn dài, kê cao, gần sát tường. Ngồi giữa là đại tướng Nguyễn chí Thanh. Lê Giản và Nguyễn Hữu Khiếu, thủ lãnh tình báo cao cấp, kiêm uỷ viên Trung ương Đảng, ngồi hai bên. Bộ ba đều mặc áo 4 túi, kín cổ, bằng vải kaki vàng, giống nhau như giọt nước.
        Bên dưới, đại tá Bùi Vinh và Phan Thiện ngồi ngang nhau, vẻ mặt đăm chiêu. Riêng Phan Thiện bị kẹp giữa hai người gác đeo súng lục.
        Reng, reng, reng, reng...
        Hồi chuông vừa dứt.
 
175
 
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh đeo kính trắng vào mắt, trịnh trọng lên tiếng:
        -      Phiên tòa được họp đêm nay tại đây, theo lệnh của Trung ương Đảng và Hội đồng An ninh. Phan Thiện, phó Vụ trưởng Lễ Tân tại Thủ tướng phủ, phụ trách Phản gián điệp trên toàn quốc là bị can.
        Nguyên nhân nội vụ như sau : Trung ương Đảng nhận được một bản báo cáo mật của đại tá Bùi Vinh, đưa ra bằng chứng cụ thể về việc Phan Thiện tư thông với gián điệp địch. Trung ương Đảng đang cứu xét bản báo cáo thì Phan Thiện bắt giam đại tá Bùi Vinh, cũng về tội tư thông với gián điệp địch.
        Vì chứng cớ quá rõ rệt nên Trung ương đã hạ lệnh trả tự do cho Bùi Vinh và tống giam Phan Thiện. Phiên tòa này sẽ quyết định Phan Thiện thật sự phạm tội hay không. Bị can Phan Thiện được quyền bào chữa. Một số người sẽ được mời tới làm nhân chứng.
        Bản án sẽ có tánh cách chung thẩm và được thi hành ngay. Vì tính cách quốc phòng nên phiên xử được cử hành bí mật. Do đó bản án sẽ không được công bố.
        Mở đầu, tòa trao lời cho đại tá Bùi Vinh.
        Bùi Vinh nghiêm trang đứng dậy, nhìn đảo một vòng, rồi nói bằng giọng dõng dạc:
        -      Trước hết, tôi xin thành kính tri ân Trung ương Đảng và Hội đồng An Ninh đã triệu tập phiên tòa nội bộ này. Nó chứng tỏ tinh thần dân chủ và công minh của chế độ ta. Nó còn là trận đòn chí tử giáng vào âm mưu ly gian hàng ngũ của địch.
 
176
 
        -      Vâng, thưa quý Tòa, việc Phan Thiện phải ra trước vành móng ngựa hôm nay là một thất bại nặng nề cho gián điệp địch. Vì Phan Thiện chính là nhân viên bí mật của địch, gài trong hàng ngũ ta từ nhiều năm nay.
        Bồi thẩm Lê Giản xua tay :
        -      Yêu cầu nhân chứng giữ thái độ vô tư. Căn cứ vào đâu, nhân chứng kết luận Phan Thiện là nhân viên bí mật của địch?
        -      Thưa, nếu Tòa cho phép, tôi xin trình bày ngọn ngành. Tôi xin đưa ra bằng cớ cụ thể về sự toa rập của Phan Thiện với địch. Bắt đầu từ ngày toàn quốc Kháng chiến 1946.
        Giở lại chồng hồ sơ cũ, người ta thấy Phan Thiện là nhân viên nhị trùng trung thành với kháng chiến mặc dầu được Phản gián Pháp tin cậy. Tuy nhiên, sự trung thành này chỉ là tấm bình phong che đậy âm mưu phản bội tinh vi và ghê gớm của con chó ghẻ Phan Thiện.
        -      Yêu cầu nhân chứng không được dùng những danh từ nhục mạ.
        Thành thật xin lỗi quý Tòa. Trong lúc hăng say phục vụ cho Đảng, và cho tinh thần đấu tranh giai cấp, tôi đã quên giữ gìn lời nói. Tháng 8-1944, vâng lệnh Hồ chủ tịch, đồng chí Văn (1) biệt phái đồng chí Phan Trọng Tuệ về nội thành Hà nội, móc nối với nhân viên tình báo đế quốc, đặc biệt là nhân viên người Việt, để đặt cơ sở tin tức.
        Phan Trọng Tuệ lập tổng hành doanh trong
 
 
177
 
tiệm kim hoàn Đức Thắng ở Giốc Hàng Kèn. Hoạt động đến cuối năm 1944, thì một bộ phận của cơ sở bị đổ bể vì nội tuyến, Kiều Liên, một nhân viên giao liên nồng cốt bị sa lưới Phòng Nhì Pháp. Hồi ấy, Phan Thiện làm việc trong phòng thẩm cung chính trị của Phòng Nhì, dưới quyền thiếu tá Paul, và được Paul tín nhiệm triệt để.
        Kiều Liên được giao cho Phan Thiện khai thác. Vì xuất thân từ thành phần tiểu tư sản trí thức, người nữ nhân viên giao liên này đã đầu hàng dễ dàng sau khi bị nhận nước và hiếp dâm. Kết quả là Kiểu Liên cung khai hết cho địch.
        Nếu đem nộp hồ sơ cho thiếu tá Paul, Phan Thiện sẽ giúp Pháp triệt hạ được toàn bộ cơ sở của ta ở nội thành. Song hắn đã im đi. Hắn im đi, không phải vì yêu nước. Là con cáo già trong nghề, hắn đánh hơi từ lâu thấy sự sụp đổ tất nhiên của chính quyền thuộc địa, cho nên hắn dùng lời khai phản bội của Kiều Liên làm món quà sơ kiến với Phan Trọng Tuệ.
        Nửa đêm, hắn ập vào căn nhà 18 Hàng Bún, nơi Phan Trọng Tuệ ẩn náu. Đồng chí Tuệ trở tay không kịp nên bị bắt. Như quý Tòa đã biết, Phan Thiện không bắt, Phan Thiện chỉ quăng lên bàn tập hồ sợ mật, và để lại một địa chỉ ở phố Cầu Gỗ.
        Trưa hôm sau, đồng chí Tuệ tới Cầu Gỗ gặp Phan Thiện, và từ đó Phan Thiện hoạt động cho chúng ta.
        Tôi công nhân là Phan Thiện đã giúp chúng ta rất nhiều, nhưng đó chẳng qua là thủ đoạn để chiếm đoạt lòng tin mà thôi. Năm 1947, đại tá Dupré điều khiển các cơ quan Phản gián của Pháp, và dùng
 
 
178
 
Phan Thiện để thâm nhập ngược lại kháng chiến. Phan Thiện bị lộ vì một người đàn bà, tình nhân cũ của hắn, sau làm vợ lẽ cho Dupré. Tôi chưa tìm ra nguyên nhân Phan Thiện bị lộ, song điều tôi biết chắc chắn là Dupré yêu cô vợ bản xứ si mê, phần khác vì kỹ thuật nghề nghiệp cần thiết, nên làm ngơ cho Phan Thiện tiếp tục liên lạc với kháng chiến.
        -      Nhân chứng lấy tin này ở đâu?
        -      Thưa, ở trong thư khố Trung ương. Mãi đến năm 1959, nhân vụ một cựu nhân viên Phòng nhì hoạt động lén lút ở Miền Bắc bị bắt, và cung khai, vài trò hăng hái của Phan Thiện mới bị chọc thủng.
        -      Yêu cầu nhân chứng đưa thêm chị tiết cụ thể.
        -      Thưa, ngày 7-6-1959, Thái Hiền bị Công an tóm cổ tại Gia lâm về tội hoạt động cho gián điệp miền Nam. Trước đây, hắn là mật báo viên kiêm tay sai đưa gái cho Dupré. Hắn đã nghe lỏm câu chuyện dàn xếp giữa Phan Thiện và đại tá Dupré.
        -      Thái Hiền quen Phan Thiện không?
        -      Thưa không.
        -      Thái Hiền có thù hằn Phan Thiện không?
        -      Thưa không.
        -      Ai thẩm cung hắn?
        -      Thưa, Công an Hàng Cỏ. Xin nói rõ là không phải tôi. Hồi ấy, tôi còn là trung tá quân đội, tòng sự tại bộ Tổng tư lệnh, chưa được biệt phái qua vụ Lễ Tân. Điều này chứng tỏ rằng tôi không dính dấp đến nội vụ, khiến Phan Thiện có thể bào chữa rằng tôi ghét hắn nên bịa đặt.
 
 
179
 
        -      Hồ sơ vụ Thái Hiền được trình lên ai?
        -      Thưa, một bản được gửi qua Tổng cục Chính trị. Song, theo chỗ tôi biết thì Trung ương Đảng không tin vào lời khai của Thái Hiền.
        -      Hắn khai ra sao?
        -      Thua, hắn khai rằng trong cuộc nói chuyện giữa hai người tại nhà riêng của Dupré, Phan Thiện thú nhận vì bị mỹ nhân kế nên buộc lòng phải theo phe kháng chiến, vì hắn xin lập công chuộc tội. Thoạt tiên, Dupré không bằng lòng.
        -      Không bằng lòng?
        -      Vâng. Dupré bấm chuông gọi vệ sĩ vào, định tống giảm Phan Thiện, song cô vợ bản xứ quỳ gối, khóc lóc xin tha. Dupré ngồi yên suy nghĩ đến gần 15 phút. Rồi y bắt Phan Thiện viết tờ cam kết.
        -      Nhân chứng có tờ cam kết trong tay không?
        -      Thưa không. Vì hồ sơ của Dupré đã được chở về Ba lê ngay sau ngày y hồi hương.
        -      Tại sao Trung ương không chấp lời khai của Thái Hiền?
        -      Thưa, vì Trung ương cho rằng đó có thể là thủ đoạn ly gián của mật thám đế quốc.
        -      Nghĩa là Trung ương đã phán đoán sai lầm?
        -      Thưa, tôi không dám hoài nghi sự sáng suốt của Trung ương. Đứng trên cao, Trung ương bao trùm mọi người, mọi việc, nghe hết, biết hết, suy xét và quyết định không bao giờ lệch lạc.
        -      Vậy thì nhân chứng đã sai lầm?
        -      Thưa quý Tòa, tôi xin nhận lỗi nếu không xảy ra vụ ám sát lạ lùng ngày 9-5-1961.
        -      Ai bị ám sát?
        -      Thưa, đêm ấy, Thái Hiền bị giết trong nhà pha Hoả Lò, trong khi chờ ngày ra tòa. Y bị một 180
 
phạm nhân tử hình dùng đũa sắt vót nhọn đâm vào yết hầu, chết không kịp trối.
        -      Lý do?
        -      Thưa, không có lý do nào cả. Hung thủ khai là không thích thái độ kênh kiệu của Thái Hiền.
        -      Công an tìm ra nguyên nhân thầm kín của vụ án mạng kia không?
        -      Thưa, hôm sau hung thủ được chở bằng xe bít bùng từ khám đường trung ương ra Công an Hàng Cỏ để thẩm vấn thì dọc đường xe bị chết máy, hung thủ dùng súng hăm dọa nhân viên an ninh và tẩu thoát.
        -      Hừ, dùng súng! Hung thủ có súng! Hung thủ lấy súng ở đâu?
        -      Thưa, lẽ thường phạm nhân bị khám xét cẩn mật. Trước khi lên xe, hung thủ đã qua phòng lục soát 15 phút đồng hồ, thế mà y vẫn giấu được khẩu côn 9.
        -      Thưa, côn 9 là loại súng trần cồng kềnh, điều này chứng tỏ là y được đồng lõa hỗ trợ.
        -      Công an khám phá ra bọn đồng lõa không?
        -      Thưa không. Vì lẽ dễ hiểu, Công an phải nghe lệnh Phan Thiện. Quản đốc khám đường là đàn em của Phan Thiện. Tên tài xế lái xe đưa hung thủ ra công an cũng là đàn em của Phan Thiện. Kết quả là hai nhân viên bị đưa ra tòa lãnh án 5 năm khổ sai, thế thôi. Rồi nội vụ được dập tắt.
        -      Theo nhân chứng, kẻ chủ mưu là ai?
        -      Phan Thiện. Thưa, chỉ có thể là Phan Thiện. Hung thủ là cán bộ biệt kích của ông Hoàng ở Sài gòn. Theo tin mật, hung thủ đang ung dung sống ở Sài gòn, tòng sự trong nha Chuyên môn của sở Mật
 
 
181
 
vụ. Phi Phan Thiện, không ai có thể bố trí cho hung thủ trốn vào Nam. Tẩu thoát đã khó, ẩn náu ở Hà nội càng khó hơn vì chính sách hộ khẩu của ta rất chặt chẽ. Trốn qua vĩ tuyến 17, lại khó hơn trăm lần. Phan Thiện đã toa rập với gián điệp miền Nam cứu hung thủ và thủ tiêu tang chứng quan trọng của sự phản phé.
        -      Trong báo cáo gửi lên Trung ương Đảng, nhân chứng nói rằng tháng 1-1954, hội nghị tình báo Tây phương được triệu tập tại Ba lê, quyết định đưa nhân viên nhị trùng vào khu kháng chiến và Phan Thiện là một trong những nhân viên này, vậy nhân chứng đưa thêm chi tiết.
        -      Thưa, theo hồ sơ, Phan Thiện lên tới tiền đồn công an của ta ở Thái Nguyên, đúng 9 giờ sáng 15-2-1954 và hắn rời Hà nội hồi 10 giờ đêm 14-2. Theo hồ sơ do KGB lấy được trong thư khố Phản gián Ba lê thì nội trong năm 1954, Tây phương đã gửi ra khu 5 cán bộ nhị trùng, trong đó có 2 nhân viên cao cấp. Trong 2 nhân viên cao cấp này, người thứ nhất mang bí hiệu G-6 từ Huế lẻn ra chiến khu Dương hòa, với nhiệm vụ hoạt động trong liên khu IV, còn người thứ nhì từ Hà nội lên Thái nguyên.
        -      Nhân chứng còn thêm chi tiết quan trọng nào nữa không?
        -      Thưa, hắn đổi tên G-7. Tôi không biết tên thật của hắn là gì, chỉ biết rõ ràng là hắn được lệnh rời Hà nội hồi 10 giờ đêm 14-2-1954. Nghĩa là cùng ngày, cùng giờ với Phan Thiện, và hắn cũng lên Thái nguyên như Phan Thiện. Trong ngày 15-2-1954 tiền đồn công an Thái nguyên chỉ tiếp
 
 
182
 
nhận một nhân viên từ nội thành ra. Xin thưa, chỉ tiếp một nhân viên duy nhất. Phan Thiện. Ngoài ra, không còn ai nữa. Ai muốn vào khu phải qua trạm công an. Nhân viên nhị trùng G-7 của địch chỉ có thể là Phan Thiện. Nhờ miệng lưỡi xảo quyệt, hắn đã phỉnh gạt được đồng chí Trần quốc Hoàn và được giữ chức cố vấn điệp báo, đặc khu Nội thành, trước khi xuất ngoại sang Liên sô và Trung quốc để tu nghiệp cao cấp. Dĩ nhiên là trong thời gian ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Phan Thiện đã cung cấp tin tức cho gián điệp địch.
        Đại tá Bùi Vinh nín lặng, nhìn sang bên một cách kiêu hãnh. Mặt hơi tái, Phan Thiện ngước mặt lên bàn chánh thẩm.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh dõng dạc :
        -      Bị can Phan Thiện. Nhân chứng Bùi Vinh vừa đưa ra hai bằng chứng quan trọng, tạm đủ để đưa bị can lên đoạn đầu đài. Vụ Thái Hiền và vụ G-7. Nếu là tòa án nhân dân, hoặc tòa án quân sự thi sau khi nghe nhân chứng tố cáo cụ thể, Tòa chỉ hỏi bị can qua loa rồi tuyên án, và tuyên án tối đa. Vì đó là những chứng cớ quá rõ ràng. Song, đây là tòa án của Đảng, bị can là uỷ viên dự khuyết Trung ương lại là phó Vụ trưởng Lễ Tân chỉ huy ngành Phản gián nên Tòa cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Tòa cần nghe nhiều tiếng chuông cùng một lúc. Tòa cho phép bị can bào chữa. Bị can nghĩ ra sao về hai vụ Thái Hiền và G-7?
        Phan Thiện đứng dậy, giọng đều đều như học trò trả bài:
        -      Thưa quý Tòa, trước khi ra trước vành
 
183
 
móng ngựa này, tôi đã quyết định sẽ nói rất ít, để dành cho đại tá Bùi Vinh nói thật nhiều. Tôi chỉ trả lời ngắn ngủi. Lấy cớ quản đốc khám đường và tài xế xe chở phạm nhân là nhân viên của tôi mà kết tội tôi toa rập với hung thủ, cũng như với gián điệp địch là hoàn toàn phi lý. Sau nội chiến Tây ban Nha, Orlov nhân viên điều khiển công an Liên sô, bạn thân của thống chế Sit ta lin, tư lệnh lữ đoàn giải phóng quân Tây ban Nha, nghĩa là nhân vật hàng đầu của điện Cẩm linh, đã phản bội chế độ xã hội chủ nghĩa, trốn sang Hoa kỳ, đầu hàng kẻ thù. Nhưng sau đó bằng hữu của Orlov còn ở lại Liên sô, có ai bị buộc tội toa rập không? Xin thưa là không, trăm lần không. Tội ai làm, người nấy chịu. Tôi điều khiển cả trăm cả ngàn nhân viên, không thể chịu trách nhiệm về lỗi cá nhân.
        Bùi Vinh nói rằng kẻ giết Thái Hiền đang ở Sài gòn. Vậy xin hỏi tại sao Bùi Vinh không bố trí đưa hắn ra đây để đối chất? Chẳng qua Bùi Vinh mới là tay sai chính cống của gián điệp miền Nam.
        Vụ G-7 không khác vụ Thái Hiền là bao. Tôi là còng bộc trung thành và đắc lực của chế độ xã hội chủ nghĩa, địch không thể tha tôi sống. Tôi lại phá hỏng bộ máy tình báo của địch. Thế tất địch dùng phương pháp «cách sơn đả ngưu» gài tin tức sai lầm vào thư khố Ba lê, cho nhân viên nhị trùng lấy, để rồi từ KGB tới Hà nội.
        -      Bị can muốn kết luận rằng KGB còn ấu trĩ ư?
        -      Thưa, trong nghề điệp báo, không ai được nhận là già dặn cả. Hoạt động đã mấy chục năm
 
 
184
 
nay, tôi vẫn tự thấy còn ấu trĩ. Vả lại, dùng tin tức giả, tài liệu giả, hình ảnh giả, nhân viên giả để đánh lừa, hoặc để chia rẽ hàng ngũ đối phương là kỹ thuật thông thường, cơ quan điệp báo nào trên thế giới cũng có. Riêng vụ Lễ Tân do tôi điều khiển cũng có một ban riêng, được mệnh danh là ban 2Đ, nghĩa là đầu độc bằng tin tức. Trong quá khứ, tôi đã bố trí cho tài liệu giả lọt vào tay nhân viên miền Nam hoạt động tại Hà nội. Trong quá khứ, tôi đã cho nhân viên của tôi trá hàng, vào Nam, tiết lộ một số bí mật của tôi. Mục đích là hy sinh còn săn sắt để bắt con cá rô. Và trong quá khứ, tôi đã thành công. Những sự thành công của tôi đã được tường trình đầy đủ lên Hội đồng An ninh và Ủy ban Trung ương, sợ quý Tòa nhàm tai, tôi không dám nhắc lại nữa. Và chính vì những sự thành công này mà tôi được Ủy ban Trung ương đồng thanh cử làm ủy viên dự khuyết, để rồi trong tháng tới, tôi sẽ thành ủy viên thật thụ.
        Tôi không dám lạm bàn vì biết quý Tòa hoàn toàn vô tư, hoàn toàn sáng suốt. Nếu quý Tòa cho phép, tôi xin nói rõ rằng chúng ta đã mất bao tâm huyết và xương máu để ngăn chặn khuynh hướng Sit ta lin trong hàng ngũ chúng ta, vậy chúng ta không thể dung tha cho kẻ học đòi Sit ta lin là Bùi Vinh dùng chứng cớ giả tạo để triệt hạ những đứa con trung thành của Đảng.
        Thưa quý Tòa, muốn giết đồng chí, Sit ta lin sai một nhân viên khai láo là y đã gặp con trai của Tờrốtky tại khách sạn Bristol, bàn mưu hạ sát các yếu nhân Sô viết. Kết quả là nhiều đồng chí bị hành hình oan uổng. Trên thực tế, khách sạn Bris-
 
185
 
tol đã thành đống gạch vụn khi nhân viên của Sit ta lin nói láo là gặp con trai của Tờrốtky tại đó (1). Thống chế Toukhachevsky và 7 tổng tư lệnh Hồng quân bị hành quyết năm 1937 và bị kết tội là tư thông với Hit le. Sau này, người ta mới khám phá ra là Hit le đầu độc Phản gián Sô Viết bằng tài liệu giả, để mượn tay Sit ta lin hạ sát những người hữu công. Thưa quý Tòa, tôi không dám tự so sánh với thống chế Toukhachevsky, mà chỉ xin quý tòa xét lại. Xét lại để lột mặt nạ Bùi Vinh, nhân viên nhị trùng của địch, bịa đặt chứng cớ để thủ tiêu một nhân viên hữu công.
        Bùi Vinh chồm trên ghế, mặt đỏ vì giận dữ :
        -      Đồ ngụy biện.
        Chánh thẩm xua tay:
        -      Thong thả. Thôi, cho bị can ngồi xuống, Đại tá Bùi Vinh còn bằng chừng nào nữa?
        Bùi Vinh đứng nghiêm, giọng trịnh trọng:
        -      Thưa, bị can đã chối tội một cách khôn ngoan, nhưng đó là sự khôn ngoan dại dột. Vì thưa quý Tòa, đó mới là những bằng chứng sơ khởi. Tôi xin trình thêm bằng chứng rõ rệt hơn nữa. Những bằng chứng rõ rệt này được ghi trong bản báo cáo tôi vừa nộp lên quý Tòa xong. Trân trọng xin quý Tòa gọi nhân chứng Lê Tùng để đối chất.
        Chánh thẩm nhìn xuống :
        -      Lê Tùng.
 
Chú thích:
(1) Nhân viên NKVD Sô viết này là Goltsman. Vâng lệnh Sit ta lin, y khai là gặp Sedov, con trai của Trotsky năm 1922 tại khách sạn Bristol, Copenhague, Đan Mạch. Sự thật là năm 1917, khách sạn này đã bị phá hủy.
 
186
 
        Lê Tùng dạ một tiếng khô khan, mặt xanh như tàu lá. Chánh thẩm đặt mục kính xuống bàn :
        -      Anh là Lê Tùng.
        -      Dạ.
        -      Anh biết tới đây làm gì chưa?
        -      Thưa chưa.
        -      Lẽ ra, đại tá Bùi Vinh phải nói anh biết. Anh là nhân viên điệp báo Miền Nam tình nguyện ra đây phục vụ. Nếu quả thật anh tình nguyện, anh sẽ được trọng đại. Nhưng nếu anh giả vờ tình nguyện, chúng tôi sẽ không tha thứ. Tuy nhiên, phiên tòa nội bộ này là cơ hội duy nhất, cũng là cơ hội cuối cùng cho anh trở về con đường chính. Anh nên khai thật, chỉ khai sự thật. Nhân danh Ủy ban Trung ương và Hội đồng An ninh, tôi hứa châm chước nếu quả thật anh là nhị trùng có nhiệm vụ ly gián.
        -      Thưa quý Tòa, tôi hoàn toàn thành thật từ trước đến nay.
        -      Nói tóm lại, anh không phải là nhị trùng.
        -      Không. Ngàn lần không.
        -      Anh coi chừng. Chúng tôi còn một số nhân chứng khác nữa, có thể phối kiểm lời khai của anh. Một lần nữa, Tòa hỏi anh: anh đã khai đúng hay sai?
        -      Khai hoàn toàn đúng.
        -      Được, thế là xong thủ tục đầu tiên. Tòa trao lời cho đại tá Bùi Vinh.
        Bùi Vinh nhìn giữa mặt Lê Tùng:
        -      Hầu hết nhân viên của anh tại Bắc Việt, đều bị thiệt mạng trong khi tìm cách xuất nhập. Tại sao?
 
187
 
        Lê Tùng nhún vai :
        -      Tôi đã giải thích đến lần thứ mấy rồi?
        -      Giờ đây, anh phải giải thích trước Tòa. Nguyên nhân có phải là bất cẩn không?
        -      Nói chung, nguyên nhân quan trọng nhất là bất cẩn. Bất cẩn trong việc sửa soạn kế hoạch. Bất cẩn trong việc thực hiện kế hoạch.
        -      Yêu cầu anh nói rõ hơn. Họ chết vì bất cẩn phải không?
        -      Không. Họ chết, có lẽ vì do người khác bất cẩn.
        -      Người khác là ai?
        -      Điều này tôi không biết. Họ thường vâng theo lệnh trên, hoặc là lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp ở Bắc Việt, hoặc là lệnh của ông Hoàng. Họ chỉ được biết giờ nào tới địa điểm để đáp tàu, đáp bằng cách nào, trong những điều kiện nào. Nghĩa là họ như cái máy. Sau khi họ thiệt mạng, tôi mở cuộc điều tra thì thấy họ đều răng rắc tuân theo chỉ thị.
        -      Của ai?
        -      Của ông Hoàng.
        -      Vậy tại sao họ thiệt mạng?
        -      Vì nội tuyến.
        -      Theo anh, nội tuyến là ai?
        -      Riêng ông Hoàng được biết rõ tên các nội tuyến ở phía Bắc. Tôi chỉ là nhân viên thừa hành.
        -      Cả thấy có bao nhiêu nội tuyến?
        -      Con số này được giữ hoàn toàn bí mật.
        -      Anh nghi ngờ ai không?
        -      Nghi ngờ là truyền thống của ngành điệp báo. Tuy nhiên, trong trường hợp 3 nhân viên của
 
 
188
 
tôi là 307, 308, 309 bị giết, tôi khó thể có thái độ rõ rệt vì ông Hoàng không cho tôi biết họ liên lạc với Sài gòn theo thể thức QSZ hay QFR.
        -      QSZ và QFR?
        -      QSZ là liên lạc trực tiếp với văn phòng vô tuyến của ông Hoàng bằng điện đài cá nhân. Mỗi tổ tình báo ở phía bắc giới tuyến được trang bị một điện đài cá nhân. 307, 308 và 309 hoạt động lẻ loi nên tôi không rõ họ có điện đài cá nhân hay không. Còn QFR là liên lạc qua trung gian. Nếu là liên lạc QFR thì nội tuyến phải ở trong hệ thống giao liên.
        -      Trong hành trang của 3 nhân viên bị giết, công an đã tìm thấy điện đài.
        -      Như vậy, nghĩa là họ liên lạc theo thể thức QSZ.
        -      Nghĩa là không thể có nội tuyến?
        -      Có chứ. Trong trường hợp này, có hai hình thức nội tuyến: nội tuyến ở tổng hành doanh Sài gòn, và nội tuyến ở Hà nội. Theo tôi, nội tuyển khó thể hoạt động tại Sài gòn, vì ban nhận điện khác với ban mật điện. Ban nhận điện tọa lạc trong trung tâm tầm đài D-Fing (1) ở Phú Lâm. Những bức điện nhận được đều được chuyển trong va li khóa 3 nấc tới ban mật điện. Tại đó, điện được trao tận tay cho phòng dịch điện. Mật điện của điệp viên ở Miền Bắc đều được đưa cho phòng dịch điện bằng máy điện tử của ông Hoàng do nữ bí thư Nguyên Hương đích thân phụ trách. Theo chỗ tôi biết, ngoài Nguyên Hương, Văn Bình
 
 
(1) vấn để D-Fing đã được giải thích cặn kẽ trong bộ tiểu thuyết Gián điệp Siêu hình, đã xuất bản.
 
189
 
và ông Hoàng ra, không ai được bén mảng tới phòng dịch điện đặc biệt. Cho nên, tôi có đủ lý do tin tưởng là sự tiết lậu không phải ở Sài gòn.
        -      Tất sự tiết lậu phải ở Hà nội.
        -      Tôi cũng suy diễn như vậy song không có đủ điều kiện khám phá.
        -      Theo anh, nội tuyến này phải ở cấp nào?
        -      Phải ở cấp điều khiển trong guồng máy chính quyền. Có thể ông Hoàng hy sinh 3 nhân viên để bảo về nội tuyến. 3 nhân viên Z là vật báu của Sở. Ông Hoàng không thể hy sinh 3 nhân viên Z để bảo vệ một nội tuyến trung cấp. Tôi có cảm tưởng rằng người nào thường có liên lạc mật thiết với 307, 308 và 309 chính là nội tuyến.
        -      Hoàn toàn đồng ý với kết luận của anh. 307, 308 và 309 đều ăn lương của Phản gián. Mà người chỉ huy Phản gián thường gặp họ là bị can Phan Thiện hiện có mặt trong phòng này. Anh có đồng ý với tôi rằng Phan Thiện là người ấy không?
        -      Tôi không thể xía vào nội bộ của các anh.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh ngắt lời :
        -      Lê Tùng, anh cần suy nghĩ chín chắn trước khi trả lời. Anh có đồng ý rằng nội tuyển trong vụ này là bị can Phan Thiện không?
        Lê Tùng lắc đầu:
        -      Tôi không thể nói không hoặc nói có. Tôi bán tin cho các ông, thế thôi, ngoài ra, tôi không có quyền, và không thích kết luận.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh nói:
        -      Anh không kết luận là phải. Thôi được, đại tá Bùi Vinh tiếp tục.
        Bùi Vinh lại quay về phía Lê Tùng:
 
 
Thiếu 210 - 234
 
190
 
        -      Tôi muốn anh trình với Tòa về mối tình giữa anh và nữ nhân viên giao liên Y.43.
        Lê Tùng thở dài, giọng buồn xa xăm :
        -      Hơn một lần, tôi đã xin anh để cho nàng yên. Dầu sao, nàng đã thành người thiên cổ. Tôi không được phép quật mồ xác chết. Tôi van anh lần nữa...
        -      Anh quen nàng trong trường hợp nào?
        -      Ra Bắc, tôi được lệnh tiếp xúc với nhân viên giao liên Y.43. Đến khi gặp gỡ, tôi mới biết Y.43 là phụ nữ.
        -      Khá đẹp.
        -      Vâng.
        -      Bao nhiêu tuổi?
        -      22.
        -      Nàng yêu anh, hay anh yêu nàng trước?
        -      Tôi không nhớ rõ. Theo nội quy, tôi không được thân mật với nhân viên phụ nữ. Nàng cũng vậy. Song không hiểu sao chúng tôi lại thân mật với nhau. Tôi không hề tỏ tình với nàng, nàng cũng không hề nói với tôi là nàng yêu tôi. Nhưng trên thực tế, chúng tôi yêu nhau đắm đuối. Thoạt đầu, chỉ là những cuộc hẹn hò tầm thường... song, anh còn lạ gì, nghề tình báo là nghề ban đêm, chúng tôi lại phải gặp nhau trong phòng vắng, tại nơi kín đáo.
        -      Ở đâu?
        -      Đau lòng tôi lắm, anh ơi!
        -      Anh phải nói. Nói hết. Vì cuộc tình duyên giữa anh và Y.43 là bố đuốc soi sáng sự thật.
        -      Ở Hàng Buồm. Tôi có một căn phòng bí mật ở lầu ba cuối phố Hàng Buồm. Tôi thuê của một
 
 
191
 
cặp vợ chồng Minh hương. Mỗi khi rỗi rãi, tôi thường hẹn nàng tới đấy.
        -      Còn tới đâu nữa?
        -      Một căn phòng khác ở gần trạm xe điện Kim liên.
        -      Anh biết đời tư của nàng không?
        -      Không.
        -      Anh nói dối.
        -      Dĩ nhiên, trong những phút đầu gối, tay ấp, nàng đã tâm sự với tôi, song chưa bao giờ nàng nói rõ gia cảnh.
        -      Hừ, để tôi nói anh nghe cho đỡ ấm ức. Nàng cao 1th55, nặng 41 kí lô, mắt to và đen, mũi dọc dừa, da trắng như trứng gà bóc, môi trái tim, hai răng chó xinh xắn, một nút ruồi thiên nhiên ở má trái, hai nút ruồi đỏ ở... vú.
        -      Té ra anh là...
        -      Đừng hỗn xược. Con người vô sản thuần túy như tôi không sống mèo mả gà đồng như giai cấp tiểu tư sản các anh. Không, nàng không phải là người yêu của tôi. Mà là nhân viên. Phải, nhân viên nhị trùng. Nàng yêu anh thật đấy, song nàng vẫn phải làm tròn bổn phận do tôi giao phó. Đêm ấy, tôi dự định bắt anh thì Phan Thiện đã ra tay trước. Hắn bắt nàng trước khi nàng dẫn tôi đến chỗ hẹn. Phan Thiện bắt Y.43 là để cứu anh. Phan Thiện cứu anh vì hắn cũng là nhân viên của ông Hoàng.
        Lê Tùng bàng hoàng, bồ hôi lấm tấm trên trán. Không thèm để ý tới chàng, Bùi Vinh hướng lên bàn chánh thẩm, giọng sang sảng :
        -      Thưa, xuyên qua những bằng chứng vừa
 
 
192
 
được trình bày, quý Tòa đã thấy rõ vai trò của Phan Thiện. Tôi còn thêm nhiều bằng chứng khác nữa. Bộ Tổng tư Lệnh biệt phái tôi sang vụ Lễ Tân sau khi phủ Chủ tịch nhận được một số tin tức cho biết Phan Thiện là tai sai nằm lì của địch. Âm thầm nhưng kiên nhẫn, tôi gài người tôi một vài nơi quan trọng, với ý định bắt Phan Thiện quả tang.
        Nhưng hắn là con cáo thành tinh. Thiếu tá Phan Lộ, cộng sự viên của tôi, bắt được 307 tại Bến Hải, và nắm được một số bí mật thì bị đầu độc chết trên đường về Hà nội. Hắn sai giết Phan Lộ vì sợ tôi khám phá ra sự thật.
        Hắn lại sai giết viên đội trưởng duyên hải ở Cửa Tùng mặc dầu nạn nhân là đàn em trung thành của hắn. Vì sợ tôi biết rằng cuộc phục kích ngoài bãi biển mang tính chất hoàn toản giả tạo.
        Thưa quý Tòa, rõ ràng Phan Thiện là tay sai của gián điệp miền Nam. Đáng lý ra dùng phi cơ đưa 307 và 308 về Miền Nam thì ông Hoàng lại bắt họ vượt sông Bến Hải, và 308 lại bị ông Hoàng lừa vượt khúc sông được chúng ta canh phòng nghiêm mật nhất. Đáng lý ra tàu ngầm xì gà phải vào sát bờ đón 309 thì lại đậu ngoài khơi, cho xuồng cao su vào, điều này chứng tỏ rằng ông Hoàng biết trước cuộc phục kích. Cuộc phục kích đó ông Hoàng ra lệnh cho Phan Thiện tổ chức để giết 309.
        3 nhân viên ưu tú 307, 308, 309 bị hy sinh là để gia tang uy thế của Phan Thiện trong guồng máy phản gián Miền Bắc. Nếu bộ Tổng tư lệnh thiếu sáng suốt, không cử tôi sang phụ tá Phan Thiện để coi chừng hắn từng giây, từng phút, thì ngày nay Miền
 
 
193
 
Bắc thân yêu của chúng ta đã biến thành giang sơn của ông Hoàng.
        Phan Thiện xảo quyệt lắm! Nghe phong phanh tôi gửi báo cáo lên Trung ương, hắn lạm quyền chỉ huy bắt giam tôi. May nhờ sự phán xét sáng suốt của Trung ương, tôi được trả tự do và Phan Thiện tạm thời vào khám. Hắn vào khám chưa đủ đền tội. Hắn phải bị tử hình. Từ hình vì đã ăn lương của địch để phá hoại nước Việt nam dân chủ cộng hòa...
        Chánh thẩm ngắt lời :
        -      Đại tá vừa nói là bị can ăn lương của địch?
        Mặt đại tá Bùi Vinh sáng rực :
        -      Vâng, bị can Phan Thiện đã ngửa tay nhận lương của địch. Nếu tôi không khám phá ra kịp thời, Phan Thiện còn tác hại gớm ghê hơn nữa. Sự phản bội hèn hạ của hắn có thể xô đẩy hệ thống an ninh của ta vào vòng suy sụp...
        Chánh thẩm lại khoát tay:
        Tòa muốn đại tá đưa bằng cớ. Bị can Phan Thiện nhận tiền của ai, và nhận cả thảy bao nhiêu tiền?
        Bùi Vinh nói với Lê Tùng:
        -      Anh hãy khai sự thật với Tòa.
        Lê Tùng tỏ vẻ ngạc nhiên :
        -      Tôi chưa hề khai rằng Phan Thiện lãnh tiền của ông Hoàng.
        -      Vậy anh vâng lệnh ông Hoàng chuyển ngân qua Vạn tượng, Hồng kông và Nam vang bao nhiêu?
        -      Tôi đã nói rồi.
        -      Bây giờ, phiền anh nhắc lại.
        -      45.000 đô la Mỹ trong vòng 3 tháng.
 
194
 
        -      Có hột soàn không?
        -      Có. 8 hột, trị giá tổng cộng 22.000 đô la nữa.
        -      Nghĩa là cả đô la và hột soàn là 67.000 đô la.
        -      Phải.
        Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh đập tay xuống bàn :
        -      Lê Tùng! Anh trao tiền và kim cường cho bị can Phan Thiện phải không?
        Lê Tùng đáp:
        -      Không.
        -      Hừ, vậy anh trao cho ai?
        -      Cho Nêlô, Sambát và Phumê.
        -      Ba người này là ai?
        -      Có lẽ là một người.
        Phan Thiện chồm dậy phản đối :
        -      Trân trọng lưu ý quý Tòa. Bùi Vinh sẽ tìm cách kết luận rằng Nêlô, Sambát và Phumê là tôi. Kỳ thật...
        Chánh thẩm lớn tiếng :
        -      Yêu cầu bị can ngồi xuống và giữ thái độ kính trọng tòa án. Khi nào Tòa cho phép, bị can mới được phép nói. Lần sau, nếu còn tự tiện sẽ bị đuổi ra ngoài, không còn dịp nào bào chữa nữa. Lê Tùng! Căn cứ vào đâu anh dám nói Nêlô, Sambát và Phumê là một?
        -      Trong cuộc thẩm vấn đầu tiên tại Hồng kông, tôi chưa dám kết luận rằng ba người này là một, nhưng mấy ngày gần đây, lục lại trí nhớ, tôi nhận thấy có lẽ đúng. Vì cô Huệ Lan, nhân viên ban H-4, được lệnh xếp chung ba vụ trả lương này vào một hồ sơ.
 
195
 
        -      Việc sắp xếp hồ sơ trả lương ra sao?
        -      Thưa trên nguyên tắc, mọi nhân viên được đánh một hồ sơ riêng.
        -      Nhân viên được mang nhiều tên khác nhau hay chỉ được mang một tên thôi?
        -      Trên nguyên tắc, họ phải mang nhiều tên giả. Nhất là nhân viên nhị trùng hoạt động tại Bắc Việt.
        Chánh thẩm ngoảnh sang Bùi Vinh:
        -      Đại tá có bằng chứng nào về việc Nêlô, Sambát và Phumê là bị can Phan Thiện?
        -      Thưa, Lê Tùng gửi tiền tại ngân hàng Đông kinh ở Vạn tượng ngày 15-8, tại ngân hàng Anh quốc ở Hồng kông ngày 11-9, tại ngân hàng Pháp-Hoa ở Nam vang ngày 5-10. Và tiền đã được rút ra hai, hoặc ba ngày sau. Thưa quý Tòa, tôi đã yêu cầu Lê Tùng, viết thư cho các ngân hàng kể trên, và họ đã trả lời. Bản chính của thư trả lời đang được để trước mặt quý Tòa.
        Tôi xin mạn phép quý Tòa để đọc một bức thư do Lê Tùng gửi cho ngân hàng Đông kinh và thư trả lời của ngân hàng này.
        Mani ngày...
        Kính gởi ông Giám đốc Ngân hàng Đông kinh
        Vạn tượng
        Lào quốc
Thưa ông Giám đốc,
        Cách đây 15 ngày, tôi viết thư cho quý ngân hàng để hỏi về kế toán trương mục của tôi. Có lẽ vì thư bị thất lạc nên không thấy quý ngân hàng phúc đáp.
        Sáng mai, tôi đi Hồng kông va sẽ lưu lại đó
 
 
196
 
một tháng. Tôi trân trọng yêu cầu quý ngân hàng gởi tới khách sạn Vanda, số 3 đường College Road, phòng 215, cho tôi biết số kết toàn kể trên.
        Trân trọng,
        Mita.
        Và sau đây là thư trả lời.
        Vạn tượng ngày...
        Kính gởi ông Mita.
        Chúng tôi rất tiếc là không nhận được quý thư đầu tiên nên không thể trả lời đúng kỳ hạn. Thể theo lời quý ông yêu cầu, chúng tôi xin gửi đến khách sạn Vanda :
        Ngày 18-8, ông Nêlô đã tới ngân hàng, rút 12.000 đô la. Hiện nay, trương mục số AZ . 3452 của quý ông còn lại 765 đô la.
        Tin tưởng đã làm quý ông vừa lòng.
        Trân trọng.
        Ấn ký: Giám đốc Ngân hàng Đông kinh.
        Thưa quý Tòa, 2 phúc thư kế tiếp của ngân hàng Anh quốc và Pháp-Hoa cũng được viết theo lề lối tương tự. Những phúc thư này chứng tỏ 45.000 đô la và 8 viên kim cương đã được lấy khỏi các ngân hàng ngày 18-8, 12-9 và 8-10.
        -      Phan Thiện đích thân tới ngân hàng?
        -      Thưa vâng. Phan Thiện xuất ngoại từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 10, qua các nước Ai lao, Căm pu chia, Mã lai á, Ấn độ, Pa kít tăng, Nêpan, Miến điện, Hồng kông, Nhật Bản, Triều tiên và trước khi hồi hương, ghé lại Trung quốc và Căm pu chia. Mục đích của chuyến đi này là thanh tra hệ thống điệp báo của ta.
        Phan Thiện đã lợi dụng một công đôi việc. Lợi
 
 
197
 
dụng chuyện thanh tra để lãnh lương của ông Hoàng. Theo báo cáo của các cơ sở ngoại giao công khai và tiểu tổ tình báo bí mật của ta gửi về thì Phan Thiện đã cáo ốm để ở lại khách sạn ngày 18-8 tại Vạn tượng, ngày 12-9 tại Hồng kông và ngày 8-10 tại Nam vang. Hắn cáo ốm để lén ra ngân hàng...
        Một sự yên lặng ghê gớm đè nặng xuống phiên tòa. Mặt chánh thẩm đang hồng hào bỗng đỏ gay. Phan Thiện cúi đầu giữa hai người gác đeo súng lục.  
        Chánh thẩm cất tiếng:
        -      Bị can Phan Thiện? Chứng cớ đưa ra đã quá đầy đủ, Tòa không muốn kéo dài thêm nữa. Bị can còn muốn nói điều gì nữa không? Nếu không, Tòa sẽ gọi thêm nhân chứng.
        Giọng Phan Thiện run run:
        -      Một lần nữa, xin các đồng chí xét lại cho tôi nhờ. Oan tôi lắm, các đồng chí ơi... Gián điệp đế quốc đã bịa đặt chứng cớ để diệt tôi. Thật là tình ngay lý gian...
        Chánh thẩm sẵng giọng :
        -      Bị can không được phép gọi Tòa là đồng chí. Cảnh vệ đâu? Đưa nhân chứng vào.
        Mọi người đều quay lại cánh cửa hong.
        Lê Tùng bàng hoàng như bị đánh vào gáy.
        Chàng không ngờ.
        Thật vậy, chàng không thể ngờ nàng lại là nhân chứng. Chàng không thể ngờ nàng có mặt tại Hà nội.
        Trước khi rời Tân sơn Nhất, chàng đã khẩn khoản yêu cầu Lê Diệp trình lại với ông Hoàng là 
 
198
 
chàng sẵn sàng hy sinh cho đại cuộc, song nàng phải được để ở ngoài nội vụ. Vì nàng là người đàn bà đáng thương. Vì nàng là người đàn bà vô tội.
        Lê Diệp đã cam kết với chàng. Song sự thật bằng xương bằng thịt trước mắt đã xác nhận một cách hùng hồn rằng Lê Diệp đã lừa chàng.
        Văn Bình đã lừa chàng.
        Ông Hoàng, tổng giám đốc Mật vụ, đã lừa chàng. Mọi người chỉ nghĩ đến công việc, mà quên tình cảm. Quên lời hứa. Quên danh dự. Quên tất cả.
        Lê Tùng không thể chịu đựng được nữa. Mặt chàng tái dần, tái dần, gân tay chàng run run, run run...
        Nàng mặc đồ đen bằng hàng nội hóa, đầu cũng thắt băng-đô màu đen. Không hiểu vô tình hay cố ý nàng mặc đồ đen. Đồ đen là đồ tang phục. Có lẽ nàng đến đây để tang cho chàng. Có lẽ nàng đoán biết chàng sẽ chết. Chết vì sự phản bội cửa sở Mật vụ mà chàng tin tưởng, tin tưởng thành tâm và sắt đá. Sự kính nể và thương yêu đối với ông Hoàng đã tan biến trong lòng Lê Tùng. Chàng bỗng thấy căm ghét nghề tình báo thậm tệ.
        Nàng từ từ bước vào phòng xử.
        Thường ngày nàng đã gầy, hôm nay nàng lại gầy hơn. Đôi vài xương xương của nàng như tóp hẳn lại. Đôi mắt nghịch ngợm và làn môi cong cong nũng nịu đượm vẻ buồn phảng phất. Dường như từ nhiều ngày nay, nàng quên trang điểm khiến quầng mắt sâu hoắm, và làn môi nhợt nhạt. Nàng mới 25 tuổi, cái tuổi dệt mộng thần tiên, thế mà Lê Tùng tưởng nàng trên 30.
 
199
 
        Trời! Xa chàng hơn một tuần, Huệ Lan đã già hơn 5 tuổi... Như bị điện giật, Lê Tùng kêu lên:
        -      Lan. Em Huệ Lan.
        Nghe chàng kêu, nàng đứng khựng lại. Trong nháy mắt, nàng nhận ra chàng. Vẻ mặt nàng tươi hẳn lại:
        -      Anh Lê Tùng!
        Chánh thẩm quắc mắt:
        -      Yêu cầu các nhân chứng giữ trật tự. Cô Huệ Lan?
        Huệ Lan lí nhí :
        -      Dạ.
        Yêu cầu cô lại gần Tòa.
        Huệ Lan bước qua ghế Lê Tùng. Bị cáo Phan Thiện lặng lẽ nhìn nàng, mắt không lộ một nét thay đổi nào.
        -      Tên thật của cô là Huệ Lan?
        -      Vâng.
        -      Họ?
        -      Trần. Trần thị Huệ Lan.
        -      Chức vụ?
        -      Nhân viên ban H-4, cơ sở Mật vụ Miền Nam.
        -      Cô ra đây từ bao giờ?
        -      Mới. Phi cơ hạ cánh xuống Gia Lâm cách đây 5 giờ đồng hồ. Tôi về lữ quán thay quần áo rồi tới đây ngay.
        -      Cô ra Hà nội vì tự ý hay bắt buộc?
        Huệ Lan định trả lời «bắt buộc», nhưng sực nhớ lời dặn của Nguyễn Biên lại nín thinh.
        Nguyễn Biên cùng đi với nàng qua Nam vang. Nàng từ giã phi trường Tân sơn Nhất một cách bình thường. Nhân viên công an và quan thuế xét 
 
 
***
 
Trang 200
hỏi giấy tờ và hành trang lấy lệ. Ngồi trên phi cơ, Nguyễn Biên đã tỏ vẻ kiêu ngạo. Hắn bảo nàng:
- Cô thấy chưa? Với giấy tờ do tôi cung cấp, cô có thể rời Sài Gòn bất cứ lúc nào và ung dung như người đi chợ. Nhân viên của tôi đáp máy bay đi và đến thản nhiên, giống như ở nhà. Điều này chứng tỏ rằng cơ quan của ông Hoàng gồm toàn người mù. Người mà mà dám khoe khoang là sáng mắt.
 
Huệ Lan ngồi im không đáp. Tâm trí nàng còn bận nghĩ đến Lê Tùng. Vì chàng, vì tình yêu không bờ bến, nàng sẵn sàng quên tất cả, bỏ tất cả.
 
Nàng tiếp tục ngồi im cho đến Nam Vang.
 
Nguyễn Biên đưa nàng tới một biệt thự quạnh quẽ ở ngoại ô, rồi dặn nàng chờ đợi. Nàng mỏi mắt chờ đợi. Lê Tùngvẫn không tới.
 
Rồi một người lạ trao cho Nguyễn Biên một phong thư niêm kín. Bên trong là những giòng chữ của Lê Tùng.
 
Em Huệ Lan yêu dấu …
 
Anh đang đợi em thì được lệnh đáp máy bay ra Hà nội. Thành thật xin lỗi em. Có lẽ ở tại Hà nội một thời gian dài, từ 3 đến 6 tháng. Anh nóng lòng muốn gặp em.
Người bạn cùng đi với em từ Sài gòn sẽ đưa em ra Hà nội ở với anh. Sang năm, chúng mình sẽ rời Hà nội đi Âu Châu.
Hôn em ngàn lần.
Lê Tùng suốt đời của em.
 
Đọc thư xong, Huệ Lan tái mặt? Chết rồi, nàng bị đẩy vào mê hồn trận. Nàng không muốn ra Bắc. Song nàng cũng không thể trở về Sài gòn. Nàng đành lều …
 
Cũng liều nhắm mắt, đưa chân
Thử xem con Tạo xoay vần đến đâu.
 
Như có pháp thuật, Nguyễn Biên nhấc điện thoại lên là phi cơ đợi sẵn ở trường bay. Tới Hà nội, Huệ Lan lên xe về trạm chiêu đãi của Phản gián.
 
Tại đó, nàng gặp một người đàn ông nghiêm nghị và lạnh lùng. Nhìn đôi kính mát to tướng, và đen sì của hắn, Huệ Lan giật mình.
 
Hắn kéo ghế cho nàng ngồi, tự giới thiệu:
-         Tôi là đại tá Tú.
Nàng xoắn lấy :
-         Bao giờ tôi được gặp Lê Tùng ?
-         Lát nữa. May cho Lê Tùng là cô có mặt ở đây. Hiện Lê Tùng đang dự phiên tòa.
-         Phiên tòa? Trời ơi, anh ấy bị xử án ư?
-         Không. Ra tòa với tư cách nhân chứng. Nhưng nếu tòa khám phá ra rằng y thiếu thành thật thì sẽ kêu án nặng, thật nặng. Tưởng cô nên rõ điều này: tòa án của chúng tôi thường tuyên hai bản án mà thôi, đó là miễn nghị hoặc tử hình. Chứ không nhì nhằng 5, 3 tháng, 5, 3 năm như tòa án ở miền nam.
-         Các ông đưa tôi ra đây làm gì?
-         Khai sự thật. Góp phần vào việc tìm hiểu sự thật. Lê Tùng ăn lương của chúng tôi, cô là vợ chưa cưới của y, cô phải tiếp sức với y.
-         Tôi không biết gì hết.
-         Chúng tôi tin là cô biết nhiều. Rất nhiều. Lê Tùng đã tâm sự với cô những gì ?
-         Trước khi …
Huệ Lan nín bặt.
 
202
 
Nàng nhớ lại lời Lê Tùng. Hiện nay chàng ra sao, nàng chưa biết. Nàng chỉ hé răng sau khi gặp chàng. Sau khi biết rõ chàng được trọng dụng hay chỉ là mùi chanh vắt hết nước rồi vứt bỏ ?
-         Lê Tùng đã tâm sự với cô những gì?
Đại tá Tú nhắc lại câu hỏi : Huệ Lan lắc đầu.
 
-         Ông đừng hỏi tôi vô ích tôi không nói đâu.
Giọng đại tá Tú rít the thé:
-         Rồi cô sẽ hối hận. E khi ấy không kịp nữa.
Huệ Lan tái mặt:
-         Tôi ra đây vì Lê Tùng. Tôi phản bội ông Hoàng vì Lê Tùng. Vì Lê Tùng, tôi sẵn sàng làm mọi sự. Các ông giết tôi, tôi xin cám ơn. Tôi phải gặp Lê Tùng đã.
Đại tá Tú đứng dậy:
-         Được. Tôi chiều ý cô. Tuy nhiên, tôi cần dặn cô điều này: cô phải khai thật trước tòa …
Khuôn mặt của Nguyễn Biên và của đại tá Tú đè chận lên nhau trong trí Huệ Lan.
 
Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh nhìn thẳng vào mắt nàng, giọng nghiêm nghị:
-         Cô ra Hà nội vì tự ý hay bắt buộc?
Sau một phút ngần ngại, Huệ Lan đáp:
-         Trong cơn bối rối vì xa Lê Tùng, tôi cũng không biết là tự ý hay bắt buộc nữa.
-         Cô là vị hôn thê của Lê Tùng?
-         Vâng. Chúng tôi sắp làm lễ thành hôn.
-         Nếu Lê Tùng chết, cô sẽ có thái độ nào?
-         Tôi sẽ chết theo.
-         Tính mạng của Lê Tùng đang nằm trong tay cô. Tòa có cảm tưởng là Lê Tùng còn giấu nhiều điều. Cô nên giúp Tòa tìm ra sự thật
203
 
-         Sự thật về vụ nào?
-         Vụ Lê Tùng ra Bắc.
-         Yêu cầu ông hỏi Lê Tùng.
-         Cô Huệ Lan, đây là tòa án đặc biệt của Trung ương ảng. Dầu cô vô tội. Tòa có thể ra lệnh xử bắn ngay. Kể từ phút này, cô hãy kính trọng Tòa.
-         Xin Tòa cho tôi nói chuyện riêng với Lê Tùng.
-         Không chấp thuận. Sau phiên tòa, hai người được tha hồ nói chuyện. Yêu cầu cô tường trình lại với Tòa những hoạt động của Lê Tùng kể từ khi bị thất bại và bị giáng chức xuống phòng H-4.
-         Tinh thần tôi đang bấn loạn, tôi chẳng nhờ gì cả.
-         Nhưng ít ra cô cũng nhớ một vài lời tâm sự của Lê Tùng trước ngày hắn lên đường.
-         Thưa … anh ấy bảo rằng …
Lê Tùng nói lớn:
-         Các ông tàn nhẫn quá!
Chánh thẩm mắng át:
-         Lê Tùng, lần này là lần cuối cùng. Nếu anh cố tình phá rối trật tự. Tòa sẽ đuổi ra ngoài, và sẽ không khoan hồng đối với anh nữa như đã hứa.
-         Tôi phạm tội gì mà phải xin khoan hồng?
-         Tội gián điệp.
-         Té ra các ông lật lọng.
-         Cảnh vệ, lôi cổ y ra ngoài.
Hai nhân viên an ninh lực lưỡng nắm tay Lê Tùng kéo sềnh sệch. Huệ Lan đứng dậy, rưng rưng nước mắt, mếu máo:
 
204
 
-         Anh.
Chánh thẩm lại quát:
-         Cô Huệ Lan. Tòa không có thời giờ chờ đợi nữa. Cô được mời ra đây để giúp Tòa khám phá một âm mưu quan trọng. Cô có nhiệm vụ cất giữ hồ sơ thanh ngân cho nhân viên ở ngoại quốc phải không?
Nàng đáp cụt lủn:
-         Phải.
-         Cô còn nhớ 3 vụ chuyển ngân 45.000 đô la qua Vạn tượng. Hồng kông và Nam vang không?
-         Còn.
-         Kẻ thụ hưởng là ai?
-         Tôi không biết.
-         Cô bỏ giấy tờ liên quan đến các vụ chuyển ngân này vào mấy hồ sơ ?
Huệ Lan cắn môi suy nghĩ. Câu hỏi bất thần này làm nàng bàng hoàng. Không biết nên trả lời ra sao, nàng bèn đáp lưỡng :
-         Tôi không nhớ nữa.
Giọng chánh thẩm đổi sang ôn tồn :
-         Cô ráng nhớ lại xem.
Huệ Lan đáp như máy :
-         Mỗi vụ xếp riêng một hồ sơ.
Chánh thẩm xoa tay, giọng đắc thắng :
-         Cám ơn cô. Cô vừa khai một chi tiết quan trọng, vô cùng quan trọng. Chi tiết này chứng tỏ là Lê Tùng, vị hôn phu của cô, vừa khai láo trước tòa.
-         Trời ơi !
-         Lê Tùng có thể bị tội tử hình. Tuy nhiên, Tòa sẽ xét lại trường hợp của y nếu cô khai thật, không giấu diếm. Nói rõ hơn, Tòa miễn nghị Lê Tùng.
-         Miễn nghị ?
-         Nghĩa là cho Lê Tùng được hoàn toàn tự do. Lê Tùng sẽ được phép ở lại miền Bắc phục vụ trong ngành an ninh hoặc sang Âu châu tùy ý. Trước khi lên đường, Lê Tùng nói với cô những gì ?
-         Thưa, thoạt đầu chỉ bàn tán vẩn vơ … rồi …
-         Lê Tùng đã nói với cô nhiều điều kín đáo. Vì vậy, tổng thanh tra Văn Bình kêu cô hai lần lên văn phòng hăm dọa. Cô hãy cho Tòa biết.
-         Xin Tòa cho tôi được nói chuyện riêng với Lê Tùng một phút.
-         Không được. Cô hãy trả lời câu hỏi này bằng không hay cô : Lê Tùng ra Bắc với sự thỏa thuận của ông Hoàng phải không ?
Câu hỏi đột ngột của chánh thẩm làm Huệ Lan luống cuống. Lê Tùng đã tiết lộ cho nàng biết nội dung cuộc gặp gỡ của ông Hoàng. Lê Tùng thi hành khổ nhục kế của ông Hoàng để được gián điệp Bắc việt đưa ra Hà nội.
 
Nàng không thể trả lời dứy khoát. Trả lời không là thiếu thành thật, có thể phương hại đến tự do và tính mạng của Lê Tùng. Trả lời có sợ ngược với lời khai của chàng.
 
Chánh thẩm lại giục :
-         Có hay không, cô trả lời đi.
Huệ Lan thở dài :
-         Có.
Tiếng có ngắn ngủi của Huệ Lan kêu vang như
206
 
sấm sét bên tai mọi người, tuy nàng nói lí nhí trong miệng. Tiếng có của Huệ Lan đã lật ngược thế cờ.
 
Giọng chánh thẩm trở nên ngọt ngào và thân mật :
-         Cô Huệ Lan, Tòa thành thật khen ngợi cô. Lê Tùng được ông Hoàng sai ra Bắc với mục đích gì ?
-         Thưa …
Thấy nàng ngập ngừng, chánh thẩm bèn khôn ngoan đổi đề tài :
-         Trước khi lên đường, Lê Tùng có gặp ông Hoàng không ?
Huệ Lan đáp, giọng thờ thẩn :
-         Có.
-         Ông Hoàng dặn Lê Tùng làm gì ?
-         Ly gián.
Chánh thẩm vụt đứng dậy trên ghế.
-         Ly gián. Ly gián giữa ai với ai?
Huệ Lan đáp đều đều như người bị thôi miên.
-         Giữa Phan Thiện và cơ quan an ninh miền Bắc. Với mục đích loại trừ Phan Thiện.
Im lặng ghê gớm lại đè xuống gian phòng. Đại Bùi Vinh há miệng toan phản đối thì bị một anh vệ hộ pháp đặt bàn tay chuối mắn trước ống họng. Đúng là thế cờ đang lật ngược …
 
Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh ra lệnh cho anh hộ vệ:
-         Tăng cường canh phòng, không cho ai ra khỏi Tòa. Tòa ngưng nhóm để bàn luận.
Toàn thể đều đứng dậy tiễn bộ ba Nguyễn chí Thanh, Lê Giản. Nguyễn hữu Khiếu ra khỏi phòng. Cánh cửa lim đầy bong nhẫy sang phòng bên nặng đóng lại.
 
207
 
 
Không khí trong ngôi nhà rộng ngột ngạt như chứa đầy thuốc sung.
 
Trong vòng 15 phút đồng hồ, bộ ba ngồi châu đầu vào nhau bàn bạc. Giọng nói của họ rất nhỏ, căn phòng lại gắn máy điều hòa khí hậu, cửa đóng kín mít nên bên ngoài không nghe được gì hết.
 
Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh bấm chuông điện. Nhân viên cảnh vệ hiện ra hiện ra ở ngưỡng cửa Chánh thẩm hất hàm:
-         Nguyễn Biên đến chưa?
Cảnh vệ cung kính:
-         Thưa rồi, đang đợi ở phòng bên.
-         Đưa vào.
Nguyễn Biên không còn vẻ hách dịch lì lợm như khi điều khiển tổ chức gián điệp ở Sài gòn nữa. Bước vào gian phòng rộng, trần thiết lạnh lùng, hắn bỗng rợn tóc gáy. Hắn không dám ngồi xuống cái ghế bành bọc nỉ xám kê trước bàn.
-         Anh là đại uý Nguyễn Biên?
-         Thưa vâng. Cấp bậc của tôi trong Công an là đại úy hiệc dịch. Nguyễn Biên là tên giả trong thời gian công tác ở hậu dịch. Tên thật tôi là Nguyễn đình hậu.
-         Được. Cứ dùng tên Nguyễn Biên cho tiện. Anh làm giám đốc trú sứ KC phải không?
-         Thưa phải. Khu vực hoạt động của trú sứ KC gồm Sài gòn, Chợ lớn, Vũng tàu, Biên hòa và Long an.
-         Anh ở KC được bao lâu rồi?
-         Thưa, 22 tháng.
-         Khi nào mãn hạn?
208
 
-         Trong 24 tháng nữa.
-         Anh chỉ huy vụ Lê Tùng phải không?
-         Thưa phải.
-         Theo lệnh ai?
-         ại tá Tú, phụ tá của đại tá Bùi Vinh.
-         Anh biết tại sao Trung ương gọi anh về không?
-         Thưa không. Về đến Hà nội tôi mới được tin. Bức điện cuối cùng tôi nhận được ở Sài gòn là do ban Đặc vụ bên Chủ tịch phủ đánh vào, không phải của đại tá Tú.
-         Đúng. Vì có sự tranh chấp giữa Phan Thiện và đại tá Bùi Vinh nên Trung ươg Đảng ra lệnh cho ban ặc vụ đích thân chỉ huy công tác ở KC. Anh là đại tá Công an có bổn phận phục vụ cho chế độ ta, không có bổn phận phục vụ cho cá nhân nào, dầu đó là Bùi Vinh. Anh có nhiệm vụ giúp Tòa khám phá ra sự thật. Nghĩa là anh phải khai thật, không được giấu diếm mảy may. Nếu Tòa nhận thấy anh gian trá, bắt buộc Tòa phải yêu cầu chính phủ huyền chức anh và truy tố thẳng tay. Anh đã nghe rõ chưa?
-         Thưa, tôi không bao giờ dám gian trá.
-         Vậy, anh cho Tòa biết ai đưa anh vào Sài gòn.
-         Thưa, đại tá Tú. Theo lệnh của đại tá Bùi Vinh. Gần đây, đại tá Tú yêu cầu tôi thu thập mọi tài liệu, tin tức liên quan đến Lê Tùng, và bố trí đưa hẳn ra Bắc.
-         Còn về cô Huệ Lan?
209
 
-         Sau khi được tin Huệ Lan bị tình báo miền Nam làm khó dễ, tôi liền báo cáo với Trung ương, và Trung ương chỉ thị cho tôi mang Huệ Lan ra Hà nội bằng đường Nam vang.
-         Đưa Huệ Lan ra ngoài này làm gì?
-         Thưa, tôi không biết. Tôi đinh ninh là ra để khai thác.
-         Huệ Lan có gặp Lê Tùng trước khi hắn rời Sài gòn không?
-         Thưa có.
-         Hai người nói với nhau những gì?
-         Tôi hỏi Huệ Lan thì nàng không nói. Nàng cũng không nói gì với đại tá Tú.
-         Theo lý luận của anh, tại sao Lê Tùng ra Bắc?
-         Thưa vì hắn căm thù ông Hoàng và Văn Bình. Chỉ vì mất 3 nhân viên mà Lê Tùng bị ông Hoàng cất chức và hạ nhục.
Chánh thẩm Nguyễn chí Thanh lặng lẽ nhìn hai bồi thẩm. Đột nhiên, Nguyễn Biên toát bồ hôi lạnh.
 
Giọng Nguyễn chí Thanh cũng lạnh như nước đá:
-         Thôi, cho anh về.
Nguyễn Biên vừa ra thì đại tá Tú vào. Hắn rập gót chân chào theo lối quân cách. Cuộc thẩm vấn bắt đầu.
-         Đại tá Tú! Bùi Vinh ra lệnh cho anh bố trí đưa Lê Tùng ra Bắc phải không?
-         Thưa phải.
-         Tại sao?
-         Sauk hi được một số tin tức lien quan đến Lê Tùng
210
 
-         Tin tức này như thế nào?
-         Thưa tin tức này nói rằng Lê Tùng bị tình báo miền nam làm nhục nên có thể trở cờ.
-         Anh lấy tin tức này ở đâu?
-         Thưa, do khu hộ KC từ Sài gòn điện ra.
-         Không, tôi muốn hỏi đích danh mật báo viên đã cung cấp cho trú sứ KC tin tức ấy. Người này là ai?
-         Thưa, một nữ nhân viên thân tín của tổng Thanh tra Văn Bình, trong tổng hành doanh tình báo miền Nam. Tên Quỳnh Bích.
-         Tại sao Quỳnh Bích cộng tác với trú sứ KC.
-         Thưa, vì gia đình nàng còn ở lại miền Bắc vĩ tuyến 17. Trong tỉnh Thanh Hóa. Chúng tôi áp dụng chiến thuật thường lệ; dùng thân nhân ở lại miền Bắc để gây áp lực với cộng sự viên ở miền Nam.
-         Quỳnh Bích thật làm cộng tác không?
-         Thưa, trong nghề điệp báo chúng tôi không cần đương sự hợp tác thật tâm hay vì bị cưỡng bách. Mà chỉ nghĩ đến kết quả. Vì Trung ương có đủ phương tiện để phối điểm tin tức.
-         Cám ơn, Đại tá đã dạy Tòa một bài học quý giá về tình báo.
Đại tá Tú sợ tái mặt. Trong phút say sưa, hắn quên bẵng mặt trời đang chói lòa trước mặt. Nguyễn chí Thanh, Lê Giản và Nguyễn Hữu Khiếu là ba mặt trời điệp báo của chế độ Bắc Việt. Hắn vội đáp, giọng run run:
-         Xin quý Tòa tha lỗi, tôi trot lỡ miệng.
Nguyễn chí Thanh nhếch mép:
 
211
 
-         Lần sau, đề nghị anh nên thận trọng hơn nữa. Tòa kêu anh tới chỉ để hỏi một câu mà thôi. Nhưng đó là câu rất quan hệ. Anh cần suy nghĩ trước khi trả lời. Tin tức và tài liệu do Quỳnh Bích cung cấp là sai hay đúng?
Đại tá Tú trố mắt kinh ngạc. Nghi vấn này chưa hề nảy ra trong đầu hắn. Theo lệnh Bùi Vinh, hắn đích thân lôi Quỳnh Bích vào trông.  Nguyễn Biên là  nhân viên ruột thịt của hắn. Nguyễn Biên đã bảo đảm trăm. Không thể nào có chuyện đối phương xen vào vụ Quỳnh Bích.
 
Hắn ưỡn ngực đáp, giọng nghiêm trọng:
-         Thưa đúng. Hoàn toàn đúng. Trú sứ KC xác nhận là đúng trăm phần trăm. Sau khi phối kiểm, Trung ương cũng xác nhận như vậy. Quỳnh Bích tuyệt đối trung thành với chế độ ta.
Giọng Nguyễn Chí Thanh sắc như dao:
-         Cảm ơn. Yêu cầu đại tá ra ngoài đợi.
Chuông điện thoại trên bàn reo vang.
 
Lê Giản cầm lên nghe rồi trao cho chánh phẩm. Nghe xong, Nguyễn chí Thanh lặng lẽ nhìn Lê Giản.
 
Một phút sau, hắn mới chép miệng:
-         Thảo nào.
Cửa phòng lại mở. Một quân nhân đeo cấp hiệu trung tá tiến vào, xách một cái va li nhỏ màu đen. Hắn đặt va li xuống ghế bành, mở ra, lấy đưa cho Nguyễn Chí Thanh một cái phong bì đỏ, gắn nhiều dấu si bên ngoài, đoạn cáo từ. Dáng điệu đăm chiêu. Nguyễn chí Thanh cắt đầu phong bì. Bên trong còn hai phong bì khác nhỏ hơn.
 
212
 
Trong phong bì thứ ba là một tờ giấy vàng đánh máy chữ chi chít. Nội dung như sau:
“Ban ạc vụ. Chủ tịch Phủ.
“Tối mật và Hoả tốc.
“Nơi nhận: Hội đồng An ninh.
“Ủy ban Trung ương Đảng.
“Trân trọng lưu ý: đọc xong, xin đốt ngay.
“Trích yếu: tin tức quan trọng liên quan đến Quỳnh Bích.
 
Từ lâu, ban Đạc vụ của Phủ Chủ tịch bố trí thực hiện kế hoạch Thiên Thai nhằm ám sát một số yếu nhân của tổ chức điệp báo miền Nam. Một trong các yếu nhân cần được loại trừ trước tiên là Tống văn Bình, tức Z.28.
 
Trong khuôn khổ của kế hoạch này, ban Đặc vụ đã cho nhân viên theo sát Văn Bình. Cách đây hai tháng. Ban Đặc vụ đặt được một hệ thống ghi âm tối tân trong nhà riêng của hắn. Vừa rồi, băng nhựa đã thu được một mẩu chuyện quan trọng giữa Văn Bình và Quỳnh Bích mà đại tá Bùi Vinh nói là nhân viên nhị trùng của ta.
 
Tóm lược mẩu chuyện này như sau: trong cuộc ân ái, Quỳnh Bích thú nhận với Văn Bình rằng y thị liên lạc thường xuyên với Nguyễn Biên (trú sứ KC). Y thị đã thú nhận bí mật vì quá yêu Văn Bình. Y thị thú nhận để xin Văn Bình tha thứ. Song Văn Bình nói cho y thị biết là việc y thị hoạt động cho Nguyễn Biên là một phần của âm mưu do ông Hoàng đặt, với mục đích vu tội cho Phan Thiện, ly gián hàng ngũ Phản gián của ta.
 
Sau đó, Văn Bình ra lệnh cho y thị gặp
 
213
 
Nguyễn Biên để trao một số tài liệu liên quan đến vụ Lê Tùng, do sở Mật vụ tạo ra.
 
Nhận thức được tính chất quan trọng của biến cố này, nhân viên Đặc vụ đã điện ngay cho Phủ Chủ tịch, đồng thời gửi cuộn băng ghi âm về trung ương bằng đường hoả tốc. Cuộc băng đang được giữ tại văn phòng giám đốc ạc vụ, sẵn sàng được đặt dưới sự xử dụng của Hội đồng An ninh.
 
Trân trọng
Giám đốc Ban Đặc vụ
Chủ tịch Phủ.
 
Đọc xong tờ giấy vàng, Nguyễn chí Thanh lặng người. Đang hút dở điếu thuốc. Lê Giản lại bật lửa châm lần nữa, ngọn lửa liếm vào râu mép rậm rì mà hắn không biết. Nguyễn hữu Khiếu đứng vụt dậy, miệng thốt một tiếng chua chát:
-         Trời ơi!
Nguyễn chí Thanh gấp hồ sơ trên bàn, giọng rắn rỏi:
-         Có lẽ chúng ta không cần bàn cãi thêm nữa. Sự thật đã rõ như ban ngày. Nếu hai đồng chí bồi Phẩm không phản đối, tôi xin tuyên án như sau:
 
1 – Trung ương đảng bộ tiếp tục tín nhiệm đồng chí Phan Thiện ở chức vụ chỉ huy Phản gián toàn quốc. Trung ương đảng bộ thành thật xin lỗi đồng chí Phan Thiện suýt bị địch dùng âm mưu xảo quyệt để loại trừ. Hội đồng An ninh trân trọng đề nghiọ Trung ương đảng bộ ban cấp huy chương Lam động hạng nhất cho đồng chí Phan Thiện, và bổ nhiệm đồng chí Phan Thiện làm ủy viên Trung ương thật thụ kể từ ngày hôm nay.
2 - Việc Bùi Vinh cố tình buộc tội đồng chí Phan Thiện với bằng cớ giả tạo chứng tỏ rằng y là tay sai đê hèn của gián điệp đế quốc. Vì vậy, Hội đồng An ninh tuyên y án tử hình, tước đoạt bản quyền và tịch thu toàn bộ gia sản. Bản án sẽ được thi hành ngay. Những nhân viên lien hệ đến vụ này như đại tá Tú, đại úy Nguyễn Biên, Lê Tùng và Huệ Lan … được Hội đồng An ninh giao hoàn cho đồng chí Phan Thiện với trọn quyền quyết định.
 
3- Việc xử tử chó săn Bùi Vinh và minh oan cho đồng chí Phan Thiện được coi là:
a - một thất bại nặng nề - đúng ra là thật bại nặng nề nhất - của địch, trong âm mưu ly gián hàng ngũ ta.
b - một thành công vẻ vang của Công an nhân dân cũng như của chế độ ta.
c- một bằng cớ cụ thể và hùng hồn về sự tất thắng của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đọc xong bản án, chánh thẩm Nguyễn chí Thanh cầm ly nước lọc đưa lên miệng. Từ nãy đến giờ, cổ họng hắn khô rát mà chưa được uống. Hắn có cảm giác thỏai mái như người vừa được tắm gội, trút bỏ hết bụi bặm của một chuyến đi xa.
Bồi thẩm Nguyễn hữu Khiếu gật đầu.
Bồi thẩm Lê Giản gật đầu.
 
  •  *   *   *
 
Nửa giờ sau, đại tá Bùi Vinh bị hai cảnh vệ lực lưỡng trói giật cánh khủy vào một cây cọc.
 
 
216
 
mới trồng giữa sân. Sauk hi nghe tuyên án, hắn hét lên một tiếng.
-         Oan quá, các đồng chí ơi!
Song hắn đã bị lôi sềnh sệch ra ngoài. Bùi Vinh vùng vẫy một vài phút  rồi ngoan ngoãn dựa lưng vào cọc. Vì hắn nhận thấy phản đối vô ích.
 
Trong quá khứ, đích thân hắn đã mang hàng chục, hàng trăm người ra sân, trói vào cọc. Đa số đều oan. Đa số đều kêu than. Nhưng chẳng ai them nghe.
 
Giờ đây đến lượt hắn. Nhân viên cảnh vệ sửa soạn buộc khăn trắng vào mắt Bùi Vinh. Hắn lắc đầu, giọng hơi run:
-         Cám ơn. Tôi không thích bịt mắt.
Nhân viên cảnh vệ đáp:
-         Lệnh trên, tôi không dám trái.
Hừ, lệnh trên, lệnh trên … Trong đời, Bùi Vinh đã giết nhiều người sau khi nói câu “lệnh trên bắt tôi phải …”.
 
Hắn bèn thở dài:
-         Vậy, xin anh nhìn trời, nhìn đất một phút trước khi chết.
Trước khi chết … chao ôi. Bùi Vinh không bao giờ tin lại bị vắn số như vậy. Xuất thân làm nghề chăn trâu được, các đồng chí trong Đảng coi là thành phần trung kiên hạng nhất, hắn thênh thang bước lên đường hoàn lộ, từ binh nhì nhảy lên đại tá, từ mù chữ trở thành phụ tá tổng giám đốc. Phản gián miền Bắc, với quyền tiền trảm hậu tấu, với sự tín nhiệm sắt đá của Ủy ban Trung ương Đảng.
 
Hắn chuẩn bị vụ Lê Tùng – Phan Thiện đã lâu. Khi được tin ông Hoàng rẻ rung Lê Tùng, hắn vội vàng lôi Phan Thiện vào bẫy. Thật ra, cái bẫy ghê gớm này đã được trương ra trong 5 năm trời, 5 năm trời đằng đẳng, 5 năm trời bố trí, 5 năm trời rình rập … Bùi Vinh được thuyên chuyển về vụ Lê Tân làm phụ tá cho Phan Thiện là để dẽ dàng điều khiển cái bẫy đại quy mô …
 
Phan Thiện khôn như ranh. Hắn ăn vụng luôn, song chùi mép rất giỏi. Thiếu phương tiện và kỹ thuật chuyên môn, Bùi Vinh không thể nào tìm thấy vết mỡ trên miệng Phan Thiện.
 
Cho đến khi vụ Lê Tùng xảy ra … Bùi Vinh đinh ninh mượn tay ông Hoàng để loại trừ Phan Thiện rồi nghênh ngang nắm giữ guồng máy Phản gián trong nước, ngờ đâu …
 
Ngờ đâu, hắn bị lừa.
Bị lừa một cách đau đớn.
 
Ủy ban trung ương Đảng và Hội đồng An ninh đã bị lừa. Bị lừa như đứa trẻ mà không biết.
 
Kẻ lập kế phỉnh gạt này là Phan Thiện.
 
Bùi Vinh thờ thẫn nhìn lên cánh cửa rộng hoác dẫn vào phòng xử. Ngọn đèn hành lang bấp bấy như buồn ngủ. Giờ này, thủ đô Hà nội đã lên giường hết. Lệ thường hắn đi ngủ với một người đàn bà. Đêm nay, hắn phải vĩnh biệt cuộc sống đầy khoái lạc.
 
Một dãy đèn sang quắc được bật lên.
 
Phan Thiện từ phòng xử bước ra đứng cạnh đại tướng Nguyễn Chí Thanh, chánh thẩm và hai bồi thẩm Lê Giản và Nguyễn hữu Khiếu.
 
Tuy đứng xa, và trời tối, đại tá tử tội Bùi Vinh vẫn thấy rõ gương mặt
 
217
 
của giám đốc Phản gián Phan Thiện, là kẻ toàn thắng, đáng lý ra Phan Thiện phải tỏ vẻ hân hoan, nếu không cười đắc ý thì ít ra cũng nhếch mép cười khinh miệt. Nhưng không Phan Thiện vẫn giữ dung mạo lầm lì cố hữu.
 
Bùi Vinh không thể đoán được kẻ thù vui hay buồn, thỏa mãn hay bất đắc ý. Sự lầm lì này là võ khí vô song của Phan Thiện. Dường như một phép lạ đã biến đổi giác quan của tử tội Bùi Vinh, vì khi ấy đột nhiên hắn thấy chớp xẹt trong bầu trời tối, quang cảnh trước mặt hắn rực sang, hắn đọc rõ gan ruột của Phan Thiện. Hừ, trong thâm tâm, Phan Thiện đang cười, cười sằng sặc, cười một cách ngạo nghễ …
 
Bùi Vinh thở dài nhắm mắt lại.
 
Trước đó một phút, cấp hiệu đại tá đầy vinh dự đã được rứt khỏi cầu vai. Đại tá Bùi Vinh trở thành tử tội Bùi Vinh. Hắn bị đưa ra pháp trường mà không được phép gặp mặt vợ con lần cuối. Vợ con hắn đinh ninh đêm nay hắn về muộn như mọi đêm..
 
Trước mắt hắn hiện ra một tòa nhà lớn gần đường Cột Cờ, đường dành riêng cho nhân vật cao cấp của chế độ. Phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách được gắn máy điều hòa khí hậu. Phòng ngủ được trải thảm len Ba tư sặc sỡ, buýp phê ở phòng khách chứa toàn sâm banh và huýt ky. Trong ga ra lúc nào cũng có hai xe hơi thường trực sơn đen bóng loáng. Mỗi ngày hai lần, hắn đi làm bằng xe ZIS đồ sộ, và dài ngoằng, với hai vệ sĩ khổng lồ. Nhân viên của vụ Lê Tân trên khắp thế giới gửi về
 
218
 
biếu  hắn của ngon, vật lạ, và nhất là đồ vật đáng giá.
 
Những hoan lạc ấy Bùi Vinh không còn được hưởng nữa. Hắn không còn được ôm hôn hai đứa con trai mũm mĩm, nguồn hạnh phúc của gia đình. Vợ hắn, một nữ sinh viên trường Thuốc kết hôn với hắn sau trận Điện biên, sắp trở thành góa bụa.
 
Chung quy vì Phan Thiện.
-         Vì ông Hoàng.
Bộ máy điệp báo miền Bắc đã bị ông Hoàng chơi một vố đau điếng.
 
Đoàng, đoàng, đoàng …
 
Bùi Vinh chỉ thoáng nghe tiếng sung nổ. Hắn không cảm thấy đau mặc dầu 6 viên đạn đều găm vào ngực. Hắn chỉ cảm thấy ran rát ở da thịt.
 
Rồi nước bọt nhuộm mùi mằn mặn. Mùi muối. Mùi máu.
 
Đoàng, đoàng , đoàng …
 
Cựu đại tá Bùi Vinh ngoẹo đầu bên cọc. Những viên đạn cuối cùng làm hắn chồm dậy, suýt giật phăng giây trói.
Thế là hết
 
*
 
Tuy nhiên, ông Hoàng, tổng giám đốc Mật vụ ở Sài gòn, vẫn chưa cho là hết.
 
Đêm ấy – cũng như nhiều đêm khác – đèn còn sang trong văn phòng đặc biệt của ông tổng giám đốc, trên lầu Công ty Điện tử, nơi đóng trụ sở.
 
Như thường lệ, hồ sơ đầy ấp trên bàn, dĩa đu-(ng tàn đầy ấp mẩu xì gà Ha van. Như thường lệ,
 
219
 
mẩu bánh mì khô rắn - bữa ăn tối của ông Hoàng còn nằm yên trên cái khay nhựa, trong khi phích cà phê đặc đã cạn.
 
Từ chập tối, ông Hoàng ngồi lì trong văn phòng chờ đợi tin tức từ Hà nội chuyển về. Văn Bình đã lái xe ra bờ Sông từ nãy. Tuy chàng nói là ra bờ sông đổi gió, ông Hoàng dư biết chàng lấy cớ để tới Mỹ Phụng. Mỗi đêm điệp viên Z.28 cần tập rượt hai chân cho dẻo.
 
Ở phòng bí thư chỉ còn Nguyên Hương. Tình thế khẩn trương đã mặt nàng xanh tái vì thức khuya lien tiếp, và làm việc không nghỉ.
 
Cạnh bàn giấy, nhân viên của Sở vừa kê cho nàng một cái máy lạ lùng. Máy này lớn bằng hai cái máy bán kem Mỹ ở đường Lê Lợi, bề ngoài cũng gần giống như vậy. Duy khác là bên có một loại đồng hồ tròn và nhiều nút bấm.
 
Đó là máy nhận điện và dịch điện tối tân do một công ty điện tử ở Tây Đức chế tạo cho Sở. Không cần nhân viên  chuyên môn, máy này tự động nhận mật điện của điệp viên từ ngoại quốc đánh về, đồng thời dịch ngay ra. Công việc phiên dịch mật mã sang ngôn ngữ thường chỉ mất 30 giây đồng hồ, một thời gian kỷ lục. Phiên dịch xong, máy viết ra giấy.
 
Tiếng chuông trong máy kêu reng reng. Một ngọn đèn xanh tự động bật lên.
 
Nguyên Hương mừng rú, xô ghế đứng dậy. Ông tổng giám đốc đã hiện ra trên ngưỡng cửa không biết từ lúc nào, trên môi nở một nụ cười thoải mái.
 
 
220
 
Trên băng giấy trắng, going chữ mực đen sau đây nổi lên:
“Bùi Vinh bị hành quyết hồi 9g45p, giờ Hà nội. Phan Thiện được vinh thăng ủy viên Trung ương thực thụ, tiếp tục giữ chức vụ giám đốc Phản gián.
“Trân trọng yêu cầu thực hiện phần chót của kế hoạch.
 
Ông Hoàng xé mảnh giấy ném vào máy hủy tài liệu ở góc. Trong nháy mắt, tờ giấy được nghiền thành bột, và theo một ống riêng chảy tuột xuống hầm.
 
Đoạn ông nhấc điện thoại,
Đầu dây có tiếng người đáp:
-         Kính chào cụ. Tôi không dám ngủ sợ cụ gọi.
Ông Hoàng cười:
-         Xin lỗi thiếu tướng. Mai là chủ nhật, thiếu tướng sẽ được ngủ bù. Như tôi đã yêu cầu thiếu tướng cách đây hai hôm, xin thiếu tướng thực hiện phi vụ Bình minh để chúng tôi xuất nhập (2) nhân viên.
-         Cụ muốn phi cơ của tôi có mặt trên không phận Hà nội vào hồi mấy giờ ?
-         Từ 4 giờ đến 4g15p.
-         Vâng, Đúng hẹn chúng tôi sẽ có mặt.
-         Cám ơn thiếu tướng.
-         Thế nào cụ Hoàng ! Cụ chỉ yêu cầu chúng tôi xuất nhập nam nhân viên, buồn chết đi được.
221
 
Lần sau, nếu không có nữ nhân viên, tôi sẽ từ chối thẳng tay.
-         Ồ, lần này tôi tin thiếu tướng bằng lòng. Vì một trong các hành khách là đàn bà.
-         Hừ, đàn bà, cám ơn cụ rất nhiều. Đàn bà xấu như Chung vô Diệm cụ mới cho chúng tôi thấy mặt. Còn đàn bà đẹp như Tây Thi thì trời đất ơi, họ đều đai đen nhu đạo, đụng vào mất mạng.
-         Như vậy tốt hơn. À, tôi có lời hỏi thăm bà nhà.
-         Đa tạ cụ. Tôi xin chừa rồi, cụ ơi, cụ mách nhà tôi thì khốn.
Ông Hoàng mỉm cười, gác điện thoại. Thỉnh thoảng ông cần đùa bỡn như cậu thiếu niên, còn trong trắng trước ngõ nghách sâu thẳm của cuộc đời. Lâu lắm, ông không được cười. Người bạn không quân đã biết tính ông.
 
Nguyên Hương vặn thêm ngọn đèn trên bàn giấy. Ông Hoàng xua tay :
-         Thôi, đêm nay cô không phải thức nữa.
Nguyên Hương gạt mái tóc sang bên, giọng ngạc nhiên :
-         Thưa hồi tối ông dặn nhân viên thường trực ở lại chở lệnh.
-         Vì tôi sợ vào phút chót có chuyện trục trặc. Hiện thời, mọi việc đều thông suốt, đúng như tôi dự tính. Chúng ta có thể ăn no, ngủ kỹ một thời gian khá lâu nữa, ít ra là hai, ba năm. Hai, ba năm đã đủ cho chúng ta thực hiện toàn bộ chương trình ở miền Bắc.
Ra đến cửa, ông Hoàng bổng quay lại :
-         À, còn Lê Diệp. Mấy giờ Lê Diệp tới ?
222
 
Nguyên Hương cúi nhìn sổ tay :
-         Thưa, 3 giờ sáng.
-         Bây giờ, tôi về ngủ đây. Cô dặn Lê Diệp bắt không sót người nào của địch. Toàn bộ trú sứ KC phải được thanh toán nội đêm nay.
Cửa sắt từ từ đóng lại.
 
Dưới ánh đèn đêm, Nguyên Hương bỗng liên tưởng đến Lê Tùng. Người gián điệp trung thành của sở đang đóng nốt vai trò ở phía Bắc vĩ tuyến 17
 
*
 
Theo kế hoạch đã định. Lê Tùng đã đóng xong vai trò tại phiên tòa đặc biệt của Hội đồng An ninh. Theo kế hoạch đã định, chàng tiếp tay với đại tá Bùi Vinh để trút tội lên đầu Phan Thiện.
 
Và chàng đã làm tròn nhiệm vụ.
 
Chàng không ngờ sự thật lại xảy ra khác hẳn. Khác hẳn lời ông Hoàng dặn. Khác hẳn dự tính của chàng. Trước ngày lên đường, chàng đinh ninh mục tiêu của chàng là Phan Thiện. Ra tòa chàng đinh ninh Phan Thiện sẽ bị lôi ra pháp trường.
 
Song tử tội lại không phải là Phan Thiện.
Mà là đại tá Bùi Vinh.
 
Chàng được đưa về khám trung ương, trong sự tức giận và buồn bã. Như cái máy, chàng lùi lũi vào sà lim, và buông mình xuống phản gỗ, không quan tâm đến hàng trăm con rệp đen sì bò lổn nhổn khắp nơi. Chàng cũng không để ý tới đàn muỗi bay vo ve quanh ngọn đèn nê – ông ám bụi
 
223
 
gắn trên tường đối diện sà lim và cửa sắt chấn song kiên cố.
 
Không phải lần đầu Lê Tùng phải nằm sà lim. Trong thời gian hoạt động hơn một lần chàng đã bị sanh cầm. Hơn một lần, tính mạng của chàng như sợi chỉ mành treo chuông. Song chàng, không hề lo sợ. Bước chân vào nghề điệp báo, chàng đã nắm chắc cái chết.
 
Đêm nay, chàng lại lo sợ. Lo sợ một cách khắc khoải. Lo sợ một cách bâng quơ …
 
Đột nhiên, chàng cảm thấy đắng miệng. Giá được ly rom bacadi với coca cola, thức uống tri kỷ … Lê Tùng se sẽ thở dài …
 
Tiếng xích sắt rỏn rẻn làm chàng giật mình. Có lẽ chàng đang bị giam trong khu tử hình. Vì chung quanh có hơn 10 cái sà lim, cái nào cũng bỏ trống. Chàng là phạm nhân duy nhất.
 
Tiếng giầy bước nhẹ trên nền xi măng. Lê Tùng lắng tai nghe. Người lạ cất bước khoan thai, chắc hẳn là cai ngục.
 
Chàng không sửng sốt khi nhận ra Phan Thiện. Phan Thiện phó vụ trưởng Lê Tân, giám đốc Phản gián, người mà ông Hoàng ra lệnh thủ tiêu một cách khéo léo.
 
Phan Thiện tra chìa khóa vào ổ thản nhiên mở. Ngẩng đầu lên, thấy chàng nhìn bằng cặp mắt lạnh lùng, hắn cất tiếng :
-         Chào anh.
Lê Tùng buông thõng :
-         Không dám. Bây giờ anh đưa tôi đi đâu ?
-         Theo ý anh, tôi sẽ đưa anh đi đâu ?
 
224
 
-         Tôi không có tài đọc tư tưởng của thiên hạ. Nhưng anh yên tâm, giá anh mang tôi đi bắn, tôi cũng không run chân đâu.
-         Anh rất đáng khen. Tôi sẽ báo cáo với ông tổng giám đốc.
-         …
-         Phải tôi sẽ báo cáo ngay với ông Hoàng ở Sài gòn. Trừ phi anh tiếp tục đóng kịch cả với tôi hoặc giả anh là một con cờ ngốc nghếch, nếu không, anh đã biết tôi là nhân viên của ông Hoàng.
-         Trời ơi !
-         Nghĩa là anh không biết. Anh không đóng kịch.
-         Vâng.
-         Hừ, ông già đáo để đã dùng anh làm con rời. Ông ấy ra lệnh cho anh làm khổ nhục kể để ra ngoài này thủ tiêu tôi phải không ?
-         Phải.
-         Gớm thật. Song như vậy hay hơn. Chúng tôi bố trí vụ này đã lâu. Từ mấy năm nay, tôi cho cơ hội mà chưa tìm ra. Bùi Vinh dại dột chui đầu vào rọ.
-         Té ra anh là Z.345.
-         Đích thị. Z.345 bằng xương bằng thịt. Đúng như Bùi Vinh tố cáo trước tòa. Tôi hoạt động từ lâu cho tình báo Tây phương. Từ lâu, tôi nhân viên nhị trùng là tin cậy của ông Hoàng.
-         Khổ quá, tôi chẳng hiểu gì hết. Nếu anh là cộng sự viên tin cậy, tại sao ông Hoàng lại bầy ra tấn trò khổ nhục kế, dùng tôi để tố cáo anh ?
 
225
 
-         Vì tôi bị lộ. Phòng Nhì trong bộ Tổng tư lệnh phong phanh khám phá ra tôi. Anh còn nhớ đại tá Tú không ?
-         Còn. Hắn là phụ tá của Bùi Vinh.
-         Trước kia, hắn là trưởng ban Sưu tầm của Phòng nHì. Chẳng rõ vì sao một báo cáo về tôi được chuyển đến nhân vật chỉ huy Phòng Nhì, một thiếu tướng. Nhân vật này cho người bí mật theo dõi tôi. May thay tôi có tai mắt bên trong Phòng Nhì. Sau khi nghe tin, tôi bố trí ám sát nhân vật Phòng Nhì Ám sát một cách khôn ngoan. Tôi đục ống dẫn dầu thắng khiến cho xe hắn lao đầu xuống vực thẳm. Khi ấy, hắn đang kinh lý vùng rừng núi Cao Bắc Lạng. Tôi đánh cấp luôn hồ sơ điều tra.
Như vậy là ăn chắc rồi phải không anh? Ngờ đâu, còn một người nữa biết chuyện. Bùi Vinh. Hắn cầy cục với thượng cấp, xin đổi sang ban Phản gián với nhiệm vụ điều tra ráo riết. Hắn không nắm được tài liệu cụ thể nào nên chưa hại nổi tôi. Thời gian trôi qua, tôi đánh hơi thấy mưu mô của Bùi Vinh, định phản công lại thì đã muộn. Vì một trong các nhân viên thân tín của tôi đã làm nhị trùng cho Bùi Vinh.
Y 43?
Phải, Y 43. Anh bắt đầu sang suốt rồi đấy. Đàn bà, đàn bà muôn thuở thường làm hỏng việc lớn. Chắc anh không biết tên nàng. Nàng có cái tên đẹp lắm … Tên là Thủy. Chung Thủy. Tôi gặp nàng một đêm rằm trên hồ Hoàn kiếm. Đêm ấy, trời đầy trăng, nàng ngã vào long tôi trên ghế đá đối diện sở Bưu điện.
 
Anh Lê Tùng ơi, trong đời tôi đã khét tiếng là có trái tim sắt đá với phụ nữ, thế mà tôi lại sa vào cạm bẩy tình ái. Tôi yêu nàng … yêu tha thiết. Sau một thời gian thử thách, tôi kết nạp nàng vào hàng ngũ phản gián trước khi dùng nàng liên lạc riêng với anh.
-         Chung Thủy yêu tôi, anh biết không?
-         Biết.
-         Anh tha lỗi cho tôi.
-         Tôi không hề giận anh. Yêu nàng được ba tháng, tôi khám phá ra nàng mắc bệnh sinh lý lạ lùng, nàng cần yêu cũng như con người cần dưỡng khí để sống. Nàng yêu anh cũng như đã yêu nhiều người đàn ông khác, nàng gặp trong cuộc sống âm thầm vậy. Khám phá thêm bí mật khác quan trọng hơn nhiều. Nàng là tình nhân của đại tá Bùi Vinh. Hơn thế nữa, nàng còn là nhị trùng của Bùi Vinh.
-         Lạ nhỉ? Bùi Vinh không phải là kẻ hào hoa, phong nhã … không lẽ nàng yêu hắn …
-         Tôi đã nói rõ mà anh cứ quên … Nhiều kẻ xấu hơn nàng còn yêu, huống hồ Bùi Vinh. Riêng Bùi Vinh, nàng yêu nhiều hơn vì hắn là tay cừ khôi về nghệ thuật ân ái. Nàng bị Bùi Vinh lôi cuốn vào vòng phản bội. Nàng cho Bùi Vinh biết một số tin tức quan trọng. Bắt đầu là tin tức về anh …
-         Trời ơi!
 
227
 
-         Miễn cưỡng tôi phải loại trừ nàng. Song Bùi Vinh đã nắm được bằng cớ. Tôi bèn báo cáo cho ông Hoàng. Tuân lệnh ông Hoàng, tôi áp dụng thủ đoạn làm cho Bùi Vinh bội thực.
-         Bội thực?
-         Phải. Làm tình báo đôi khi cũng như ăn vậy. Con người ai cũng khoái cao lương mỹ vị. Bùi Vinh háu ăn, tôi đút vào miệng hắn nào nem công, nào chả phượng, ngày nào cũng đánh chén thật nhiều. Nem công, chả phượng ăn ít thì tuyệt ngon, nhưng ăn nhiều thì bội thực. Nói cách khác, tôi biết Bùi Vinh muốn tìm ra bằng cớ tôi hoạt động cho ông Hoàng nên lại đưa ra thật nhiều bằng cớ tương tự … thật nhiều để nhồi tọng cho hắn bội thực. Và trên thực tế hắn đã bị bội thực.
-         Có đúng anh lãnh tiền tôi gửi tại ngân hàng Vạn Tượng, Hồng Kông và Nam Vang không?
-         Đúng. Không sai một li. Bùi Vinh đã biết rõ. Suýt nữa, hắn chụp được tôi.
-         Hừ Chung Thủy đã mang anh bán cho Bùi Vinh.
-         Tội nghiệp nàng. Nàng không biết gì về vụ lãnh tiền. Có lẽ vì tôi quên nói với nàng, chứ không phải vì tôi giấu nàng.
-         Vậy tại sao Bùi Vinh lại biết?
-         Bùi Vinh đã thâm nhập được cơ sở của ông Hoàng ở trung ương. Nhờ vụ này ông Hoàng có thể thộp được thủ phạm.
-         Song còn 307, 308, 309 và những người khác bị chết? Anh bố trí giết họ phải không?
-         Phải.
-         Trời ơi, anh tàn nhẫn quá!
 
228
 
 
-         Tôi xin thú nhận là tàn nhẫn, nhưng anh ơi, nếu tôi không tat ay họ cũng chết. Thà là tôi giết họ. Cái chết của họ được êm ả và nhanh lẹ hơn … 307 vượt sông Bến Hải để gặp anh thì Bùi Vinh ra lệnh cho Thiếu tá Phan Lộ giả vờ ngủ để đánh lừa. Còn 308 …
-         Anh có thể cứu 307, nếu bố trí cho hắn xuất nhập bằng đường hàng không.
-         Đúng. Nhưng lại gặp bất lợi lớn. Nếu 307 vào Nam bằng phi cơ riêng, tôi lại không thể khám phá ra cơ sở bí mật của Bùi Vinh ở giáp ranh Bến Hải. Bắt buộc tôi phải dùng 307 làm mồi để nhử Bùi Vinh. Và Phan Lộ đã ra mặt. Như anh đã biết, tôi đã sai hạ sát Phan Lộ và một số tay chân của hắn. Vụ 308 và 309 cũng vậy. Mục đích của tôi là thúc đẩy tổ chức Bùi Vinh xuất đầu lộ diện. Bùi Vinh giết nhân viên của tôi thì tôi giết lại nhân viên của hắn, thế là huề.
-         Anh quên rồi. Không phải Bùi Vinh giết 308 và 309. Mà kẻ giết là anh.
-         Ồ, anh vẫn oán giận tôi một cách hời hợt và thiên lệch. Tôi giết, hoặc Bùi Vinh giết, chẳng qua chỉ là một cách diễn tả. Nhân viên của tôi và của Bùi Vinh đều có hai mặt trong khi 308 và 309 xuất nhập. Tôi không giết 308 và 309 xuất nhập. Tôi không giết thì 308 và 309 sẽ bị bắt sống, đưa về Hà nội. Cơ sở của Bùi Vinh khá kiên cố dọc sông Bến Hải và ở phía sau Liên khu IV. Đó là là địa bàn hoạt động của ta. Nên tôi phải hy sinh 3 nhân viên 307, 308 và 309. Mất 3 nhân viên đổi lấy hệ thống phản gián của Bùi Vinh ở Liên khu IV cũng không phải đắt. Rẻ lắm anh ạ. Ông Hoàng cho biết sẵn sàng hy sinh nhiều gấp 5 gấp 10 …
Lê Tùng thở dài chua chát :
-         Giờ đây đến lượt tôi bị ông Hoàng hy sinh.
Phan Thiện lắc đầu :
-         Anh không nên hờn trách ông tổng giám đốc. Vì đại cuộc, chúng ta đều là những kẻ có thể bị hy sinh bất cứ lúc nào. Vả lại ông Hoàng không nghĩ đến bỏ rơi anh. Lẽ ra, trên nguyên tắc, công việc xong xuôi, ông Hoàng cần ra lệnh cho tôi thủ tiêu anh để bảo bệ bí mật tuyệt đối. Nhưng làm như vậy là bá đạo. Ông Hoàng vừa gửi chỉ thị rõ rệt : xuất nhập anh ra khỏi miền Bắc.
-         Còn … nàng ?
-         Huệ Lan.
-         Vâng … Huệ Lan vợ chưa cưới của tôi.
-         Nàng, đang chờ anh ngoài đường. Từ nãy đến giờ, tôi tâm sự với anh hơi nhiều. Trước khi từ biệt, tôi xin nói thêm một vài lời vắn tắt nữa. Phi cơ sẽ đưa anh về Sài gòn, và nội ngày mai anh và cô Huệ Lan sẽ lên đường qua Nam - Mỹ, ở một thời gian. Nhân viên điệp báo cộng sản chắc chắn sẽ bám sát anh từng giây, từng phút, vì anh là đầu mối quan trọng của nội vụ.
-         Vâng, tôi xin lãnh ý. Nhưng anh sẽ giải thích cách nào cho Hội đồng An ninh được về sự vắng mặt của chúng tôi ?
-         Hội đồng An ninh cho phép tôi được toàn quyền giải quyết về trường hợp của anh. Nghĩa là tôi có thể mang ra xử bắn, hoặc giam giữ bao lâutùy ý, hoặc dùng làm nhân viên nhị trùng …Xong xuôi, tôi mới phải báo cáo lên Hội đồng. Đêm nay, phi cơ miền Nam sẽ bay trên không phận Hà Nội. Chỉ bay chứ không oanh tạc … Nếu tôi không lầm, họ sẽ oanh tạc trong vùng phụ cận Hà đông. Phi tuần bay trên Hà nội có nhiệm vụ yêm hộ anh xuất nhập.
 
 
230
 
-         Dĩ nhiên, với anh giúp đỡ, tôi sẽ thoát khỏi khám đường trung ương dễ như trở bàn tay. Nhưng …
-         Tôi đã hiểu sự thắc mắc của anh. Đây này … trong vòng 5 phút nữa. 30 phản lực cơ siêu thanh sẽ bay rầm trời Hà nội. Phút này, toàn thể thành phố đã được đặt trong tình trạng báo động … Khi phi cơ siêu thanh bắt đầu tới, một toán biệt kích của ông Hoàng sẽ nổ mìn làm sập một góc tường khám đường. Với sự toa rập của nội tuyến, họ sẽ độp nhập khu Tử hình B, để cứu đại tá Tú, đại úy Nguyễn Biên, sau đó họ vào khu Tử hình A, để cứu anh và cô Huệ Lan.
-         Cả đại tá Tú Nguyễn Biên sẽ vào Sài gòn ?
-         Không. Chỉ có cô Huệ Lan và anh. Xuất nhập ở ngoại ô Hà nội là một công tác khá nguy hiểm. Anh đừng quên rằng Hà nội có hàng trăm ổ súng cao xạ, và hàng chục giàn hỏa tiễn địa không Sam. Có thể một số phi công ưu tú sẽ thiệt mạng đêm nay để hoàn thành công tác xuất  nhập. Họ sẽ hy sinh như 307, 308 và 309 và như nhiều người khác đã hy sinh.
Nghe Phan Thiện nói, Lê Tùng nín lặng. Lòng chàng đột nhiên tràn ngập đau buồn và hối hận.
 
Tiếng súng bắt đầu nổ ran. Nhìn đồng hồ Phan Thiện nói:
-         Họ đã đến rồi, 3 phút nữa, đội biệt kích sẽ cho nổ mìn. Mời anh ra ngay.
 
231
 
Ngoan ngoãn, Lê Tùng theo chân Phan Thiện ra khỏi hành lang sâu hun hút. Trong nháy mắt hai người đã mở cửa sắt cuối cùng vào khu giám thị.
 
Phan Thiện vỗ vai Lê Tùng:
-         Anh yên tâm, giám thị gác khu tử hình đêm nay là nhân viên của Bùi Vinh. Tôi sẽ giết hắn rồi.
-         Tôi phục anh sát đất. Có lẽ anh sẽ giết luôn toán biệt kích.
-         Không, lần này anh đoán trật lất. Tôi không biết gì về họ. Tôi không phải là nhà thầu làm đủ mọi việc. Vả lại, nếu làm được tôi cũng không làm? Sợ lộ. Toán biệt kích này của một cơ sở đặc biệt do ông Hoàng thiết lập tại Hà nội từ một năm rưỡi nay. Họ đột nhập nhà lao dễ dàng như chơi vì họa đồ được tôi vẽ, tôi lại cung cấp cả chìa khóa cho họ nữa.
-         Họ mang đại tá Tú và Nguyễn Biên đi đâu?
-         Vụ đột kích này là màn chót của vở kịch. Bùi Vinh đã bị bắn, song đàn em của hắn vẫn còn. Sauk hi vụ đột kích xảy ra, ai cũng nghi đàn em Bùi Vinh toa rập với ông Hoàng nhúng tay vào. Nhúng tay vào để cứu đại tá Tú và Nguyễn Biên. Nghĩa là cả hai là nhân viên gián điệp miền Nam …
-         Trên thực tế, họ trung thành với miền Bắc.
-         Dĩ nhiên, song họ chết mất rồi không thể nào cải chính được nữa.
-         Chết mất rồi?
-         Phải. Họ chỉ ra đến ngoài đường thì bị phục kích. Nghĩa là tôi chỉ cho toán biệt kích biết ¾ của họa đồ phòng thủ. Phần cuối cùng, tôi cố tình giấu họ, cốt đẩy họ vào vòng phục kích. Họ gồm 3 người, cộng với đại tá Tú và đại úy Nguyễn Biên là 5. Chắc chắn Tú Và Biên sẽ bị chết, 3 nhân viên biệt kích có nhiều hy vọng thoát nạn vì họ được trang bị sung tự động tối tân và mặc áo giáp ni – lông cản đạn. Vả lại, tôi đã bố trí cho Tú và Biên lọt vào ổ phục kích, còn 3 nhân viên biệt kích đi sau … như vậy để họ có thời giờ rút lui. Huệ Lan và anh lái xe hơi đi Hà đông. À, toán biệt kích mang tới 2 xe hơi … bị phục kích, họ sẽ bỏ xe hơi mà rút lui bằng đường bộ. Tóm lại, ông Hoàng đã sắp xếp hết sức chu đáo để không ai nghi ngờ được tôi. Đồng thời loại bỏ hết tay chân Bùi Vinh. Thôi đến giờ rồi, chúc anh may mắn … Phiền anh chuyển lời của tôi hỏi thăm sức khoẻ ông Hoàng. Và sức khoẻ Văn Bình Z.28.
-         Anh cũng quen Z.28.
-         Hừ, hắn với tôi là bạn học hồi nhỏ. Trước khi đặt kế hoạch, lôi bọn Bùi Vinh vào tròng, tôi đã mời Z.28 ra Hà nội bàn bạc. Chúng tôi trò chuyện với nhau trong hai đêm lien tiếp.
 
Ầm … ầm … tacata …tacata …*
*Phan Thiện giục:
- Cửa mở rồi, anh chạy sang bên kia đường hiệ Lan đợi anh trong xe. Cái xe màu đen kiểu Simca ấy.
Phi cơ đợi chúng tôi ở đâu?
Tôi đã dặn cô Huệ Lan.
Đoàng … đoàng … Tacata … tacata …
 
Cửa sắt đóng sầm. Phan Thiện đã biến vào bong đêm mù mịt. Quang cảnh hỗn độn bắt đầu diễn ra. Trên trời, tiếng phản lực cơ siêu thanh réo điếc tai. Phi cơ bay gần sát nóc nhà làm cát bụi trên đường bay mù mịt. Trong khám đường, tiếng sung nổ ròn.
 
Lê Tùng co chân chạy qua đường.
 
Huệ Lan mở cửa xe, Lê Tùng nhảy vọt lên. Chiếc Simca rướn mình, phóng trong đêm khuya. Huệ Lan ngoảnh sang nhìn tình nhân:
-         Anh, Em chờ anh đã lâu.
-         Chờ trên xe hơi này ư?
-         Không. Xe hơi mới đến. Họ đã nổ mìn xập một góc tường rồi. Em cho động cơ chạy sẵn chờ anh ra.
-         Đi ban đêm trong giờ phòng thủ, gặp tuần cảnh thì chết.
-         Không sao anh ạ. Xe hơi mang số riêng của ban kiểm tra, phòng thủ của bộ Tổng tư lệnh . Em cũng có chứng minh thư đầy đủ.
-         Chúng mình đi đâu?
-         Theo kế hoạch, em sẽ lái về Hà đông. Đến nửa đường, quẹo vào bên trái. Phi cơ sẽ đáp xuống cánh đồng trống, kéo hai đứa mình lên.
-         Em đã hiểu rõ đầu đuôi chưa?
-         Thú thật với anh, em chẳng hiểu gì hết. Vả lại, em cũng chẳng muốn hiểu làm hì. Em chỉ cần được gặp anh. Em đã được gặp. Thế là đủ rồi. Dẩu chết, em cũng mãn nguyện.
-         Ông Hoàng tệ thật. Trước khi đi, anh đã dặn Lê Diệp trình với ông Hoàng là đừng để em dính vào. Họ không đếm xỉa tới lời yêu cầu tha thiết của anh. May em còn sống, chứ nếu em chết …
-         Em sẵn sang chết cho anh sống…
-         Nói gỡ làm gì hở em … Em chết thì anh cũng chết. Chúng mình không thể chết được đâu, trừ phi …
-         Trừ phi chúng mình gặp tai nạn.
Huệ Lan vừa nói vừa cười. Tiếng cười hồn nhiên của nàng lại làm Lê Tùng rợn tóc gáy. Chàng ngồi sát bên nàng:
-         Thôi, em để anh lái cho. Ở Sài gòn, em nổi tiếng lái xe tồi nhất Sở. Anh không muốn chúng mình bị trục trặc vào phút chót.
-         Sài gòn xe cộ như mắc cửi, em lái kém là chuyện dĩ nhiên. Không lẽ ở đây, đường sá thẳng băng lại vắng tanh,em lại đâm vào gốc cây? Ồ, nếu gặp tai nạn cũng chẳng sao … miễn hồ chúng mình cùng chết với nhau là được.
-         Anh không thích em nhắc tới toàn chuyện gở. Một lần nữa, anh nói lại là không muốn chết. Dầu sao anh còn món nợ phải trả với ông Hoàng. Anh chấp nhận mọi sự hy sinh, nhưng không bằng long cho họ hy sinh luôn cả em.
-         Em đang sống nhăn ra đây. Làm gì có chuyện hy sinh như anh có thành kiến.
-         Anh chưa thể giải thích cho em hiểu được. Về Sài gòn, em sẽ thấy rõ sự thật. Sự thật vô cùng phũ phàng … em ạ.
-         Dĩ nhiên. Trong đời, ít khi sự thật lại không phũ phàng.
Lê Tùng toan phản đối, song lại nín lặng. Trước mặt, hỏa châu sang rực một góc trời. Phi cơ thả trái sang xuống ngoại ô ở Hà đông. Bên trái, đạn súng phòng không xẹt ngang dọc trên trời, kết thành mạng nhện khổng lồ bằng lân tinh.
 
235 (228)
 
 
 
 
 
 
 
Chú thích:
(1)             đồng chí Văn là bí danh của Võ-nguyên-Giáp
(2)             danh từ chuyên môn xuất nhập đã được giở bích tường tận ở đoạn trên




Đăng nhập để trả lời
0