Trạng Quỳnh: Làm thơ ăn xin
Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành.
Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê. Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục.
Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.
Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo:
- Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo!
Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo:
- Gã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa!
Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to:
Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua.
Nắng cực cho nên phải mất mùa, lại đứng đầu bờ xin xỏ chị.
Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho.
Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê.
Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là Trạng Quỳnh. Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa.
Truyện Trạng Quỳnh: Mẹo trẩy kinh
Mùa đông năm ấy, Quỳnh có việc đi gặp người bà con đang sinh sống ở Thăng Long. Đường về kinh thì xa, cuốc bộ phải mất cả tuần, mà Quỳnh vẻn vẹn có một quan tiền giắt lưng. Mới ngày thứ ba túi đã hết nhẵn tiền, chiều xuống, trời âm u, lại điểm mưa lâm thâm, gió bấc. Đến đầu làng kia, bụng đói cồn cào, vừa may gặp một đứa bé mục đồng dắt trâu về xóm, Quỳnh mừng rỡ hỏi thăm lối vào nhà ấp trưởng.
Ấp trưởng làng này vừa giàu sụ, vừa nổi tiếng quỷ quyệt. Qua vài lời chuyện trò với người lỡ độ đường, hắn đoán thầm khách không phải là hạng tầm thường, bèn vồn vã mời nghỉ lại và sai giai nhân làm mâm cơm thịnh soạn để thết đãi. Nhưng mấy ngày liền, khách cứ đi đi lại lại, rồi đến bữa nằm dài đợi cơm rượu hỏi đến chức danh công vụ thì cứ ậm ậm ờ ờ. Chủ nhà sốt ruột, sinh nghi. Như thường lệ, tối hôm ấy ăn xong một lúc, Quỳnh cáo lui về phòng riêng giáp với phòng ngủ của chủ nhân. Được một chập, Quỳnh tắt đèn lên giường nằm. Biết ở phòng bên có người vẫn thức rình mò mọi hành vi của mình, lát sau Quỳnh vờ thức dậy rón rén thắp đèn, sau đó cẩn thận lần dưới vạt áo, lấy ra một bọc nho nhỏ bên trong có ba gói vuông, bản bằng nhau. Khách cầm bút long chấm chấm, mút mút đầu ngòi, hí hoái viết vào từng gói như để đánh dấu cho khỏi nhầm lẫn (thực ra chẳng viết gì cả), miệng lẩm nhẩm đọc, cố ý cho kẻ đang rình bên kia khe vách vừa đủ lắng nghe: Độc dược của nhà chúa… Độc dược của bà chính cung… Độc dược của thái tử. Làm như vậy, đoạn Quỳnh đem gói chung thành một bọc như cũ, giắt vào lưng áo. Xong rồi tắt đèn, lên giường nằm trở lại. Khi phòng bên này bắt đầu tiếng ngáy đều đều, thì phòng bên vọng sang tiếng động khe khẽ. Tên ấp trưởng bí mật mở chốt cửa ra ngoài, lẻn đến chuồng ngựa… Hộc tốc lao đi trong đêm.
Sáng hôm sau, mới hửng sáng, quan quân từ đâu ập tới nhà ấp trưởng đông nghịt, gươm giáo tua tủa vây kín mọi phía. Quỳnh mở mắt, chưa kịp búi tóc đã bị trói nghiền lại, quẵng lên một chiếc xe có bốn ngựa kéo, trẩy về kinh.
Trước phủ chúa, Quỳnh bị điệu ra xét xử với nhân chứng và vật chứng rành rành. Chúa đích thân tự tay mở tang vật. Té ra chẳng có gì ghê gớm! Chiếc bọc được gói kỹ lưỡng trong mấy lần mo cau, phủ ngoài bằng một vuông vải điều là chiếc bọc chứa ở bên trong mấy gói cơm khô nhỏ, Chúa lấy mũi hài đá té nắm cơm về phía Quỳnh, hất hàm tỏ vẻ khinh miệt:
– Ta tưởng thế nào… Tài giỏi như Trạng mà cũng ăn cả cái vứt đi này à?
– Khải chúa.
– Quỳnh đáp lại không chút ngần ngừ, nhà chúa thừa thãi mới gọi đó là của vứt đi. Còn thần dân bên dưới đâu dám phung phí một hạt, họ gọi cơm gạo là ngọc thực.
Nói rồi, Quỳnh trân trọng nhặt lấy mấy hạt cơm khô bỏ vào mồm nhai rào rạo. Chúa biết mình lở lời, đỏ bừng mặt, lại thêm một phen mắc lỡm, tức lộn ruột. Không có cớ gì buộc tội Quỳnh, chúa truyền nọc tên ấp trưởng ra, bắt lính đánh ba chục trượng vì tội nói láo và báo sai.
Trước cảnh tượng ấy, Trạng chỉ biết mỉm cười. Mặc dầu đã được tha bổng, trước khi bái biệt bề trên, Quỳnh vẫn không quên giễu chúa bằng những câu khéo:
– Xin chúa rộng lượng tha thứ cho ấp trưởng. Và cho thần được cảm ơn hắn cùng quan quân triều đình.
Truyện Trạng Quỳnh: Bà Chúa mắc lỡm
Một bà Chúa nhan sắc mặn mà nhưng tính kiêu ngạo, hễ đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt liền. Một lần, Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa. Gần đấy có cái ao bèo, Quỳnh vội vàng chạy xuống cầu ao đá nước chơi.
Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:
– Ông làm gì đó?
Quỳnh ngẩn lên thưa:
– Tôi ở nhà buồn quá, ra “đá bèo” chơi!
Bà Chúa đỏ mặt tía tai, tức lắm nhưng chẳng dám nói gì.
Truyện Xiển Bột: Xin đất
Nghe nói vùng Yên Lược, thuộc huyện Thọ Xuân, gần rừng núi, có nhiều đất hoang, Xiển di cư lên đấy ở. Theo lệ làng, Xiển phải biện trầu rượu xin làng cho trú ngụ, rồi lại phải biện trầu rượu một lần nữa xin làng một mảnh đất lấy chỗ dựng túp lều tạm thời làm nơi ăn ở. Lý trưởng đánh trống họp làng, nhưng thực ra “làng” chỉ là bọn chức sắc, cường hào thôi. Thấy họ hay hạch sách, kênh kiệu, Xiển ghét lắm. Lần thứ
hai mang trầu rượu ra đình, Xiển gãi đầu gãi tai thưa:
- Dạ, trình các cụ, con mới đến đây, ơn nhờ các cụ cho ở để hầu hạ các cụ, nhưng chưa có nhà cửa gì cả, muốn xin miếng đất đầu làng chó ỉa
xin các cụ xét cho.
Lý trưởng thấy rượu thì tít mắt, liền nói:
- Tưởng gì chứ miếng đất đầu làng chó ỉa ấy thì được, nào xin mời các cụ ta chén đi thôi!
Truyện cười xiển bột: Quan thanh tra
Một lần Xiển về thăm quê cũ , qua dinh tổng đốc Thanh Hóa , nghe tiếng đàn hát văng vẳng bên trong rất vui , bèn dừng lai , nghĩ bụng : ” Nhà vua mới chết mấy tháng nay , việc nước đang rối ren , thế mà lão này dám mở tiệc đàn hát vui chơi , phải trị cho một trận mới được “
Xiển nhờ người lính gác cổng vào bẩm với quan tổng đốc là có người học trò nghèo lỡ độ đường xin ngài bố thí cho ít tiền gạo . Đang lúc cao hứng , tổng đốc liền cho vào hầu , bắt phải làm một bài thơ xem có thật là học trò không . Xiển vờ khúm núm thưa :
- Bẩm quan lớn . Con có thói quen là hễ tửu có nhập thì văn mới xuất được , xin quan rộng lượng cho .
Tổng đốc sai đem ra một be rượu , một tờ giấy và nghiên bút . Xiển ngồi rung đùi , uống hết cả be rượu mới viết bốn chữ : ” Ô hô ! Ô hô ! ”
Uống hết be thứ hai , Xiển viết thêm được ba chữ ” Ô hô thiên ” , rồi xin thêm rượu . Tổng đốc nổi cáu :
- Làm được mấy câu rồi mà cứ đòi rượu nhặng lên thế ?
Xiển giả vờ sợ hãi :
-Dạ bẩm . Mới được một câu ạ .
Tổng đốc đòi xem . Xem xong , ông mắng :
- Thơ với thẩn gì thế này ? Liệu hồn ! Tao cho thêm một be nữa mà làm không xong thì chết đừng kêu oan !
Xiển uống xong be thứ ba , cắm đầu viết một mạch ba câu tiếp , thành một bài thơ tứ tuyệt :
Ô hô ! Ô hô ! Ô hô thiên !
Hoàng đế băng hà vị đế niên .
Thảo mộc quần sinh giai tự khuất
Thang châu đô đốc xướng ca huyên !
Đọc xong , mặt quan tổng đốc tái xanh như chàm đổ . Y tưởng Xiển là quan thanh tra của triều đình Huế , và mấy câu thơ đó là lời kết tội , liền quỳ rạp xuống lạy như tế sao . Xiển cố nhịn cười sai lính nọc tổng đốc đánh một trăm roi .
Các quan hàng tỉnh nghe nói có quan thanh tra của triều đình mới ra , lục tục kéo đến hầu . Các quan hỏi tình hình triều đình bây giờ ra sao . Xiển không trả lời chỉ viết vào giấy hai câu :
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
Nhị nguyệt tan vương triệu bất tường .
Rồi lẳng lặng ra đi , các quan nhìn theo , ai cũng lắc đầu , lè lưỡi
Nguồn: Truyện cười dân gian
Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành.
Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê. Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục.
Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.
Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo:
- Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo!
Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo:
- Gã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa!
Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to:
Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua.
Nắng cực cho nên phải mất mùa, lại đứng đầu bờ xin xỏ chị.
Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho.
Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê.
Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là Trạng Quỳnh. Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa.
Truyện Trạng Quỳnh: Mẹo trẩy kinh
Mùa đông năm ấy, Quỳnh có việc đi gặp người bà con đang sinh sống ở Thăng Long. Đường về kinh thì xa, cuốc bộ phải mất cả tuần, mà Quỳnh vẻn vẹn có một quan tiền giắt lưng. Mới ngày thứ ba túi đã hết nhẵn tiền, chiều xuống, trời âm u, lại điểm mưa lâm thâm, gió bấc. Đến đầu làng kia, bụng đói cồn cào, vừa may gặp một đứa bé mục đồng dắt trâu về xóm, Quỳnh mừng rỡ hỏi thăm lối vào nhà ấp trưởng.
Ấp trưởng làng này vừa giàu sụ, vừa nổi tiếng quỷ quyệt. Qua vài lời chuyện trò với người lỡ độ đường, hắn đoán thầm khách không phải là hạng tầm thường, bèn vồn vã mời nghỉ lại và sai giai nhân làm mâm cơm thịnh soạn để thết đãi. Nhưng mấy ngày liền, khách cứ đi đi lại lại, rồi đến bữa nằm dài đợi cơm rượu hỏi đến chức danh công vụ thì cứ ậm ậm ờ ờ. Chủ nhà sốt ruột, sinh nghi. Như thường lệ, tối hôm ấy ăn xong một lúc, Quỳnh cáo lui về phòng riêng giáp với phòng ngủ của chủ nhân. Được một chập, Quỳnh tắt đèn lên giường nằm. Biết ở phòng bên có người vẫn thức rình mò mọi hành vi của mình, lát sau Quỳnh vờ thức dậy rón rén thắp đèn, sau đó cẩn thận lần dưới vạt áo, lấy ra một bọc nho nhỏ bên trong có ba gói vuông, bản bằng nhau. Khách cầm bút long chấm chấm, mút mút đầu ngòi, hí hoái viết vào từng gói như để đánh dấu cho khỏi nhầm lẫn (thực ra chẳng viết gì cả), miệng lẩm nhẩm đọc, cố ý cho kẻ đang rình bên kia khe vách vừa đủ lắng nghe: Độc dược của nhà chúa… Độc dược của bà chính cung… Độc dược của thái tử. Làm như vậy, đoạn Quỳnh đem gói chung thành một bọc như cũ, giắt vào lưng áo. Xong rồi tắt đèn, lên giường nằm trở lại. Khi phòng bên này bắt đầu tiếng ngáy đều đều, thì phòng bên vọng sang tiếng động khe khẽ. Tên ấp trưởng bí mật mở chốt cửa ra ngoài, lẻn đến chuồng ngựa… Hộc tốc lao đi trong đêm.
Sáng hôm sau, mới hửng sáng, quan quân từ đâu ập tới nhà ấp trưởng đông nghịt, gươm giáo tua tủa vây kín mọi phía. Quỳnh mở mắt, chưa kịp búi tóc đã bị trói nghiền lại, quẵng lên một chiếc xe có bốn ngựa kéo, trẩy về kinh.
Trước phủ chúa, Quỳnh bị điệu ra xét xử với nhân chứng và vật chứng rành rành. Chúa đích thân tự tay mở tang vật. Té ra chẳng có gì ghê gớm! Chiếc bọc được gói kỹ lưỡng trong mấy lần mo cau, phủ ngoài bằng một vuông vải điều là chiếc bọc chứa ở bên trong mấy gói cơm khô nhỏ, Chúa lấy mũi hài đá té nắm cơm về phía Quỳnh, hất hàm tỏ vẻ khinh miệt:
– Ta tưởng thế nào… Tài giỏi như Trạng mà cũng ăn cả cái vứt đi này à?
– Khải chúa.
– Quỳnh đáp lại không chút ngần ngừ, nhà chúa thừa thãi mới gọi đó là của vứt đi. Còn thần dân bên dưới đâu dám phung phí một hạt, họ gọi cơm gạo là ngọc thực.
Nói rồi, Quỳnh trân trọng nhặt lấy mấy hạt cơm khô bỏ vào mồm nhai rào rạo. Chúa biết mình lở lời, đỏ bừng mặt, lại thêm một phen mắc lỡm, tức lộn ruột. Không có cớ gì buộc tội Quỳnh, chúa truyền nọc tên ấp trưởng ra, bắt lính đánh ba chục trượng vì tội nói láo và báo sai.
Trước cảnh tượng ấy, Trạng chỉ biết mỉm cười. Mặc dầu đã được tha bổng, trước khi bái biệt bề trên, Quỳnh vẫn không quên giễu chúa bằng những câu khéo:
– Xin chúa rộng lượng tha thứ cho ấp trưởng. Và cho thần được cảm ơn hắn cùng quan quân triều đình.
Truyện Trạng Quỳnh: Bà Chúa mắc lỡm
Một bà Chúa nhan sắc mặn mà nhưng tính kiêu ngạo, hễ đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt liền. Một lần, Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa. Gần đấy có cái ao bèo, Quỳnh vội vàng chạy xuống cầu ao đá nước chơi.
Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:
– Ông làm gì đó?
Quỳnh ngẩn lên thưa:
– Tôi ở nhà buồn quá, ra “đá bèo” chơi!
Bà Chúa đỏ mặt tía tai, tức lắm nhưng chẳng dám nói gì.
Truyện Xiển Bột: Xin đất
Nghe nói vùng Yên Lược, thuộc huyện Thọ Xuân, gần rừng núi, có nhiều đất hoang, Xiển di cư lên đấy ở. Theo lệ làng, Xiển phải biện trầu rượu xin làng cho trú ngụ, rồi lại phải biện trầu rượu một lần nữa xin làng một mảnh đất lấy chỗ dựng túp lều tạm thời làm nơi ăn ở. Lý trưởng đánh trống họp làng, nhưng thực ra “làng” chỉ là bọn chức sắc, cường hào thôi. Thấy họ hay hạch sách, kênh kiệu, Xiển ghét lắm. Lần thứ
hai mang trầu rượu ra đình, Xiển gãi đầu gãi tai thưa:
- Dạ, trình các cụ, con mới đến đây, ơn nhờ các cụ cho ở để hầu hạ các cụ, nhưng chưa có nhà cửa gì cả, muốn xin miếng đất đầu làng chó ỉa
xin các cụ xét cho.
Lý trưởng thấy rượu thì tít mắt, liền nói:
- Tưởng gì chứ miếng đất đầu làng chó ỉa ấy thì được, nào xin mời các cụ ta chén đi thôi!
Truyện cười xiển bột: Quan thanh tra
Một lần Xiển về thăm quê cũ , qua dinh tổng đốc Thanh Hóa , nghe tiếng đàn hát văng vẳng bên trong rất vui , bèn dừng lai , nghĩ bụng : ” Nhà vua mới chết mấy tháng nay , việc nước đang rối ren , thế mà lão này dám mở tiệc đàn hát vui chơi , phải trị cho một trận mới được “
Xiển nhờ người lính gác cổng vào bẩm với quan tổng đốc là có người học trò nghèo lỡ độ đường xin ngài bố thí cho ít tiền gạo . Đang lúc cao hứng , tổng đốc liền cho vào hầu , bắt phải làm một bài thơ xem có thật là học trò không . Xiển vờ khúm núm thưa :
- Bẩm quan lớn . Con có thói quen là hễ tửu có nhập thì văn mới xuất được , xin quan rộng lượng cho .
Tổng đốc sai đem ra một be rượu , một tờ giấy và nghiên bút . Xiển ngồi rung đùi , uống hết cả be rượu mới viết bốn chữ : ” Ô hô ! Ô hô ! ”
Uống hết be thứ hai , Xiển viết thêm được ba chữ ” Ô hô thiên ” , rồi xin thêm rượu . Tổng đốc nổi cáu :
- Làm được mấy câu rồi mà cứ đòi rượu nhặng lên thế ?
Xiển giả vờ sợ hãi :
-Dạ bẩm . Mới được một câu ạ .
Tổng đốc đòi xem . Xem xong , ông mắng :
- Thơ với thẩn gì thế này ? Liệu hồn ! Tao cho thêm một be nữa mà làm không xong thì chết đừng kêu oan !
Xiển uống xong be thứ ba , cắm đầu viết một mạch ba câu tiếp , thành một bài thơ tứ tuyệt :
Ô hô ! Ô hô ! Ô hô thiên !
Hoàng đế băng hà vị đế niên .
Thảo mộc quần sinh giai tự khuất
Thang châu đô đốc xướng ca huyên !
Đọc xong , mặt quan tổng đốc tái xanh như chàm đổ . Y tưởng Xiển là quan thanh tra của triều đình Huế , và mấy câu thơ đó là lời kết tội , liền quỳ rạp xuống lạy như tế sao . Xiển cố nhịn cười sai lính nọc tổng đốc đánh một trăm roi .
Các quan hàng tỉnh nghe nói có quan thanh tra của triều đình mới ra , lục tục kéo đến hầu . Các quan hỏi tình hình triều đình bây giờ ra sao . Xiển không trả lời chỉ viết vào giấy hai câu :
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
Nhị nguyệt tan vương triệu bất tường .
Rồi lẳng lặng ra đi , các quan nhìn theo , ai cũng lắc đầu , lè lưỡi
Nguồn: Truyện cười dân gian