Thuở đi học, có nhiều bài vở học tới học lui cả chục lần vẫn chưa thuộc, đôi khi vài câu thơ, câu nói chỉ nghe qua một lần suốt đời không quên, ví dụ như “Ai ơi dìa ăng cum! Cum ai nấu mà ăng”. Chắc do sự đơn giản thành thật của chính từ câu nói, câu hò? Hay là mình có sự liên hệ vô hình nào đó từ trong suy nghĩ về những câu dân gian này? Có thể là cả hai? Xa quê Nẫu lâu ngày, thỉnh thoảng chúng tôi có cơ hội nghe, nói trở lại tiếng Nẫu cảm thấy như âm ỉ bắt nguồn từ trong thâm tâm cuả mình, chỉ chờ có dịp là bộc ra một cách tự nhiên.
Tiếng Nẫu rất độc đáo, nghe qua là không thể nhầm lẫn vào đâu được, ví dụ: nẫu (người ta, họ), bậu (anh, em), dẫy ngheng (vậy nhé), dẫy á (vậy đó), dẫy na (vậy à), chui cha (trời ơi), dià quãy (về ngoài đó), thâu ngheng (thôi nhé), hầu nào (hồi nào), óng (xa quá, vượt quá giới hạn, xa dữ vậy)… Người xứ khác đến Qui Nhơn, Bình Định mà nghe nẫu nói dẫy ngheng, dẫy á là có khi quên đường về!
Tiếng Nẫu xuất phát từ đâu và có từ bao giờ? Hầu hết mấy bài viết thâu lượm được đều nói giống nhau rằng vùng đất Bình Định có sự thay đổi lớn vào những năm khoảng giữa thế kỷ mười lăm (1450-1470). Bắt đầu thời gian này, nước Đại Việt mở mang bờ cõi về phía Nam, người Việt phía đàng ngoài, đa số là từ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, vào khai hoang lập ấp đến vùng Bình Định, Phú Yên ngày nay thì dừng lại. Thêm vào đó một số người Chiêm Thành ở lại. Rồi người Minh Hương bên Trung Hoa vì điều kiện chính trị, họ bỏ xứ di cư sang buôn bán trên vùng đất của người Việt, đã dừng chân lập nghiệp trên vùng này. Sự tập hợp của những giòng người nói trên ở vùng đất mới với những điều kiện sinh hoạt khác biệt với quê hương gốc của họ, đã tạo thành một cuộc hợp lưu, pha trộn từ cách ăn cách mặc, các sinh hoạt hàng ngày, cho đến lễ nghi thờ cúng… và dĩ nhiên trong đó có tiếng nói mà ngày nay đã hình thành một cách độc đáo là tiếng Nẫu. Nhưng tại sao tiếng Nẫu chỉ có ở vùng Nam Bình Định và Phú Yên, trong khi đó phía Bắc Bình Định lại mang nhiều âm sắc của tiếng Quảng Ngãi? Điều này không tìm thấy được câu trả lời hay sự giải thích một cách thích hợp.

Một bài khác nghiên cứu về ngôn ngữ giải thích rằng “Nậu” tiếng Hán có nghĩa là làm cỏ ruộng, sau dùng để chỉ đám đông người làm ruộng, rồi chỉ làng xóm. Dần dà do phong thổ địa lý, cung cách sinh hoạt, cách ăn nói nhanh chậm lâu ngày mà biến hóa thành chữ “Nẫu” có nghĩa là họ, người ta, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba. Lúc còn nhỏ những ngày còn ở quê, tôi thường hay nghe mẹ tôi nói những tiếng như nậu nguồn, nậu tràu, nậu rẩu, nậu dũng, để chỉ nhóm người miền núi, miền biển, như vậy giải thích vừa rồi quả là thích đáng. Chữ “Bậu”, trong câu ví dụ “bậu thì ở lại…” đoạn dưới đây, có lẽ cũng là một biến thể từ chữ “Nậu” nhưng ở dạng số ít?
Người trong nước Việt, mỗi xứ mỗi nơi suy nghĩ và quan niệm tùy vùng có khác. Có người cho rằng tiếng Huế nghe rất ngọt ngào êm tai, tiếng Bắc lịch sự và rất chuẩn của tiếng Việt, tiếng Nghệ thì thân thương… Đó là tiếng miền khác, riêng tiếng Nẫu với chất giọng nghe nằng nặng thô thô không thể không trên gió cuả vùng biển nhưng đâu có thiếu tính mộc mạc chân thật. Những câu bà, mẹ, ru cháu, ru con như “Ai dìa ai ở mặc ai, bậu thì ở lại sáng mai hãy dìa”, hay mẹ dặn dò “túi thui túi thít, đi đứng cẩn thận ngheng con”… có lẽ nghe ra cũng ngọt ngào, thiết tha, trìu mến, mát lòng lắm giống như người đang đi giữa trưa hè nóng bức oi ả mà có được ly chè đậu xanh đá đường ngọt lịm, mát rượi! Người Bình Định, Phú Yên được người các miền khác gọi là người Nẫu. Xứ Nẫu có đặc sản riêng là tiếng Nẫu đặc biệt lắm chứ, không thể tìm thấy trong tiếng miền Nam, miền Bắc hay tiếng Huế, tiếng Nghệ… Để chứng tỏ điều vừa nêu ra, chúng tôi xin được kể hầu qúi vị vài chuyện với chính kinh nghiệm hoặc là góp nhặt từ các tác giả khác.
Một mùa hè, tôi và một người bạn đi xe đò từ Sài Gòn về Qui Nhơn. Khoảng nửa đêm xe đang ở quảng đường Tuy Hòa – Sông Cầu, hầu hết mọi hành khách đang lim dim, bỗng tất cả đều nghe “bác tài! bác tài! ghé! ghé!”. Một hành khách muốn xuống xe, anh là một trung niêm vẻ chân chất trạc 35-40 tuổi. Trong lúc xe đang chạy chầm chậm chuẩn bị ngừng, người hành khách này nhìn ra bên ngoài thấy xe đi quá lố nơi muốn ngừng, anh ta càu nhàu cộc lốc “đi óng đâu tuốt quãy dữ”. Ai nấy trên xe đều tỉnh ngủ, bạn tôi và một số đông hành khách khác cười ngặc ngẽo và nếu không phải là người địa phương sẽ không hiểu anh ta muốn nói gì. Tuy lúc đó chữ “óng” nghe rất quen nhưng cũng làm tôi tỉnh ngủ hẳn cho đến khi về tới bến xe Qui Nhơn.
Một chuyện tình cảm động chúng tôi đọc được kể về một cặp vợ chồng trẻ ở vùng ven biển Phù Mỹ, xảy ra khoảng tám, chín năm trước. Anh một người với đôi chân khuyết tật, hàng ngày ở bến cá để xin nhặt cá rơi vãi mỗi buổi thuyền về. Chị một thôn nữ hiền lành chấp nhận về nâng khăn sửa túi không những cho anh mà còn cưu mang một bà mẹ chồng lọm khọm tuổi xế chiều. Cả hai bên đều nghèo khổ, tật nguyền nương tựu vào nhau để sống. Một lần được hỏi tại sao chị can đảm chấp nhận một cuộc tình duyên với người chồng khuyết tật như vậy. Chị giải thích một đôi ba câu rồi thẹn thùng kết luận một cách mau lẹ “dẫy á!”. Chui cha hai chữ “dẫy á” ngắn gọn không cần nói dài dòng mà tự nó đã giải thích bao nhiêu điều sâu thẳm trong lòng chị, vì yêu mà hy sinh và chấp nhận. Tiếng Nẫu có đặt điểm mạnh ở chỗ đó.
Đã đề cập đến “tiếng Nẫu” mà không nhắc gì về “giọng Nẫu” e còn thiếu chăng? Nghe người Bình Định phát âm dấu hỏi (?), dấu ngã (~) phân biệt thật rõ ràng, xin quí vị tự phát âm mấy chữ như sửa chữa, bởi vì, cái cửa… thử xem sao. Dấu hỏi dấu ngã thì rõ ràng, nhưng những nguyên âm như a, ă, â, e, ê, i, o, ơ, ô thì người Bình Định tùy tiện, tùm lum, tà la mỗi thôn, huyện phát âm mỗi khác, chúng tôi không dám viết ví dụ ra đây nhiều, sợ rằng sẽ có chỗ bị lệch lạc vì hiểu nhưng chưa tường tận lắm. Ngoại trừ một số giao thiệp mua bán, đi làm ăn nơi xa có nhiều tiếp xúc với tiếng nói vùng khác, còn hầu hết người Bình Định phát âm một cách rất khó khăn vần “V” và thay vào đó là vần “D” như thay vì nói về, vô thì nẫu nói đi dìa, dìa quãy, dô trỏng… Vần “ơi” còn ngộ hơn, đứng riêng một mình không được mà nẫu phải tìm “qu” ghép thêm vô như trời ơi, anh ơi được nẫu nói là trời quơi, anh quơi; Ngược lại “ơi” mà có thêm vần phía trước thì nẫu cũng không chịu luôn, ví dụ như người Nẫu, số mười hai, con đười ươi thì bị cụt đuôi ngay chỉ còn lại ngừ Nẫu, số mừ hai, con đừ ư! Tóm lại, giọng Nẫu giống như người miệt Cần Thơ, Châu Đốc nói cá “gô” thay vì cá “rô”, hay “mô tê” của Huế, quả thật đây là một đặc sản chỉ riêng có ở Bình Định.
Còn nhiều lắm, người viết bài này không có tham vọng làm một bài nghiên cứu tỉ mỉ đầy đủ về tiếng Nẫu, chỉ có tấm lòng của người xứ Nẫu mà góp nhặt chút chỗ này, chút chỗ kia không mạch lạc, có chỗ mượn ý, có chỗ tự biện theo cảm nghĩ riêng có thể bị sai lệch chút ít, có chỗ lấy nguyên văn của các bài khác, có chỗ quí vị đọc thấy trùng ý đâu đó của tác giả khác… Bất luận thế nào, bài này chỉ mong được đón nhận như một bài tạp ghi, với tấm lòng đau đáu của người con xa quê lúc nào cũng ngoảnh nhìn về mồ mảông bà tổ tiên mà chưa lúc nào quay về được. Đau xót ghi, vội vàng ghi vì sợ thời gian chất chồng trên mái đầu làm những kỉ niệm cứ mờ mịt dần như khói sương, để rồi con cháu cũng chỉ còn biết về quê hương qua những cái tên lạ lẫm. Mong lắm thay!
PHAN NGỌC QUYẾN
(st)
Tiếng Nẫu rất độc đáo, nghe qua là không thể nhầm lẫn vào đâu được, ví dụ: nẫu (người ta, họ), bậu (anh, em), dẫy ngheng (vậy nhé), dẫy á (vậy đó), dẫy na (vậy à), chui cha (trời ơi), dià quãy (về ngoài đó), thâu ngheng (thôi nhé), hầu nào (hồi nào), óng (xa quá, vượt quá giới hạn, xa dữ vậy)… Người xứ khác đến Qui Nhơn, Bình Định mà nghe nẫu nói dẫy ngheng, dẫy á là có khi quên đường về!
Tiếng Nẫu xuất phát từ đâu và có từ bao giờ? Hầu hết mấy bài viết thâu lượm được đều nói giống nhau rằng vùng đất Bình Định có sự thay đổi lớn vào những năm khoảng giữa thế kỷ mười lăm (1450-1470). Bắt đầu thời gian này, nước Đại Việt mở mang bờ cõi về phía Nam, người Việt phía đàng ngoài, đa số là từ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, vào khai hoang lập ấp đến vùng Bình Định, Phú Yên ngày nay thì dừng lại. Thêm vào đó một số người Chiêm Thành ở lại. Rồi người Minh Hương bên Trung Hoa vì điều kiện chính trị, họ bỏ xứ di cư sang buôn bán trên vùng đất của người Việt, đã dừng chân lập nghiệp trên vùng này. Sự tập hợp của những giòng người nói trên ở vùng đất mới với những điều kiện sinh hoạt khác biệt với quê hương gốc của họ, đã tạo thành một cuộc hợp lưu, pha trộn từ cách ăn cách mặc, các sinh hoạt hàng ngày, cho đến lễ nghi thờ cúng… và dĩ nhiên trong đó có tiếng nói mà ngày nay đã hình thành một cách độc đáo là tiếng Nẫu. Nhưng tại sao tiếng Nẫu chỉ có ở vùng Nam Bình Định và Phú Yên, trong khi đó phía Bắc Bình Định lại mang nhiều âm sắc của tiếng Quảng Ngãi? Điều này không tìm thấy được câu trả lời hay sự giải thích một cách thích hợp.

Một bài khác nghiên cứu về ngôn ngữ giải thích rằng “Nậu” tiếng Hán có nghĩa là làm cỏ ruộng, sau dùng để chỉ đám đông người làm ruộng, rồi chỉ làng xóm. Dần dà do phong thổ địa lý, cung cách sinh hoạt, cách ăn nói nhanh chậm lâu ngày mà biến hóa thành chữ “Nẫu” có nghĩa là họ, người ta, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba. Lúc còn nhỏ những ngày còn ở quê, tôi thường hay nghe mẹ tôi nói những tiếng như nậu nguồn, nậu tràu, nậu rẩu, nậu dũng, để chỉ nhóm người miền núi, miền biển, như vậy giải thích vừa rồi quả là thích đáng. Chữ “Bậu”, trong câu ví dụ “bậu thì ở lại…” đoạn dưới đây, có lẽ cũng là một biến thể từ chữ “Nậu” nhưng ở dạng số ít?
Người trong nước Việt, mỗi xứ mỗi nơi suy nghĩ và quan niệm tùy vùng có khác. Có người cho rằng tiếng Huế nghe rất ngọt ngào êm tai, tiếng Bắc lịch sự và rất chuẩn của tiếng Việt, tiếng Nghệ thì thân thương… Đó là tiếng miền khác, riêng tiếng Nẫu với chất giọng nghe nằng nặng thô thô không thể không trên gió cuả vùng biển nhưng đâu có thiếu tính mộc mạc chân thật. Những câu bà, mẹ, ru cháu, ru con như “Ai dìa ai ở mặc ai, bậu thì ở lại sáng mai hãy dìa”, hay mẹ dặn dò “túi thui túi thít, đi đứng cẩn thận ngheng con”… có lẽ nghe ra cũng ngọt ngào, thiết tha, trìu mến, mát lòng lắm giống như người đang đi giữa trưa hè nóng bức oi ả mà có được ly chè đậu xanh đá đường ngọt lịm, mát rượi! Người Bình Định, Phú Yên được người các miền khác gọi là người Nẫu. Xứ Nẫu có đặc sản riêng là tiếng Nẫu đặc biệt lắm chứ, không thể tìm thấy trong tiếng miền Nam, miền Bắc hay tiếng Huế, tiếng Nghệ… Để chứng tỏ điều vừa nêu ra, chúng tôi xin được kể hầu qúi vị vài chuyện với chính kinh nghiệm hoặc là góp nhặt từ các tác giả khác.
Một mùa hè, tôi và một người bạn đi xe đò từ Sài Gòn về Qui Nhơn. Khoảng nửa đêm xe đang ở quảng đường Tuy Hòa – Sông Cầu, hầu hết mọi hành khách đang lim dim, bỗng tất cả đều nghe “bác tài! bác tài! ghé! ghé!”. Một hành khách muốn xuống xe, anh là một trung niêm vẻ chân chất trạc 35-40 tuổi. Trong lúc xe đang chạy chầm chậm chuẩn bị ngừng, người hành khách này nhìn ra bên ngoài thấy xe đi quá lố nơi muốn ngừng, anh ta càu nhàu cộc lốc “đi óng đâu tuốt quãy dữ”. Ai nấy trên xe đều tỉnh ngủ, bạn tôi và một số đông hành khách khác cười ngặc ngẽo và nếu không phải là người địa phương sẽ không hiểu anh ta muốn nói gì. Tuy lúc đó chữ “óng” nghe rất quen nhưng cũng làm tôi tỉnh ngủ hẳn cho đến khi về tới bến xe Qui Nhơn.
Một chuyện tình cảm động chúng tôi đọc được kể về một cặp vợ chồng trẻ ở vùng ven biển Phù Mỹ, xảy ra khoảng tám, chín năm trước. Anh một người với đôi chân khuyết tật, hàng ngày ở bến cá để xin nhặt cá rơi vãi mỗi buổi thuyền về. Chị một thôn nữ hiền lành chấp nhận về nâng khăn sửa túi không những cho anh mà còn cưu mang một bà mẹ chồng lọm khọm tuổi xế chiều. Cả hai bên đều nghèo khổ, tật nguyền nương tựu vào nhau để sống. Một lần được hỏi tại sao chị can đảm chấp nhận một cuộc tình duyên với người chồng khuyết tật như vậy. Chị giải thích một đôi ba câu rồi thẹn thùng kết luận một cách mau lẹ “dẫy á!”. Chui cha hai chữ “dẫy á” ngắn gọn không cần nói dài dòng mà tự nó đã giải thích bao nhiêu điều sâu thẳm trong lòng chị, vì yêu mà hy sinh và chấp nhận. Tiếng Nẫu có đặt điểm mạnh ở chỗ đó.
Đã đề cập đến “tiếng Nẫu” mà không nhắc gì về “giọng Nẫu” e còn thiếu chăng? Nghe người Bình Định phát âm dấu hỏi (?), dấu ngã (~) phân biệt thật rõ ràng, xin quí vị tự phát âm mấy chữ như sửa chữa, bởi vì, cái cửa… thử xem sao. Dấu hỏi dấu ngã thì rõ ràng, nhưng những nguyên âm như a, ă, â, e, ê, i, o, ơ, ô thì người Bình Định tùy tiện, tùm lum, tà la mỗi thôn, huyện phát âm mỗi khác, chúng tôi không dám viết ví dụ ra đây nhiều, sợ rằng sẽ có chỗ bị lệch lạc vì hiểu nhưng chưa tường tận lắm. Ngoại trừ một số giao thiệp mua bán, đi làm ăn nơi xa có nhiều tiếp xúc với tiếng nói vùng khác, còn hầu hết người Bình Định phát âm một cách rất khó khăn vần “V” và thay vào đó là vần “D” như thay vì nói về, vô thì nẫu nói đi dìa, dìa quãy, dô trỏng… Vần “ơi” còn ngộ hơn, đứng riêng một mình không được mà nẫu phải tìm “qu” ghép thêm vô như trời ơi, anh ơi được nẫu nói là trời quơi, anh quơi; Ngược lại “ơi” mà có thêm vần phía trước thì nẫu cũng không chịu luôn, ví dụ như người Nẫu, số mười hai, con đười ươi thì bị cụt đuôi ngay chỉ còn lại ngừ Nẫu, số mừ hai, con đừ ư! Tóm lại, giọng Nẫu giống như người miệt Cần Thơ, Châu Đốc nói cá “gô” thay vì cá “rô”, hay “mô tê” của Huế, quả thật đây là một đặc sản chỉ riêng có ở Bình Định.
Còn nhiều lắm, người viết bài này không có tham vọng làm một bài nghiên cứu tỉ mỉ đầy đủ về tiếng Nẫu, chỉ có tấm lòng của người xứ Nẫu mà góp nhặt chút chỗ này, chút chỗ kia không mạch lạc, có chỗ mượn ý, có chỗ tự biện theo cảm nghĩ riêng có thể bị sai lệch chút ít, có chỗ lấy nguyên văn của các bài khác, có chỗ quí vị đọc thấy trùng ý đâu đó của tác giả khác… Bất luận thế nào, bài này chỉ mong được đón nhận như một bài tạp ghi, với tấm lòng đau đáu của người con xa quê lúc nào cũng ngoảnh nhìn về mồ mảông bà tổ tiên mà chưa lúc nào quay về được. Đau xót ghi, vội vàng ghi vì sợ thời gian chất chồng trên mái đầu làm những kỉ niệm cứ mờ mịt dần như khói sương, để rồi con cháu cũng chỉ còn biết về quê hương qua những cái tên lạ lẫm. Mong lắm thay!
PHAN NGỌC QUYẾN
(st)