Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Chén trà sương và phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

0 trả lời, 7 lượt xem — Trang 1 / 1
“Không biết chừng nào mới có một nhà văn như thế, một nhà văn mà khi ta gọi là một bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng”. Nhận xét về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, nhà văn Anh Đức đã không tiếc lời ca ngợi sự độc đáo của nhà văn “có một không hai” trong nền văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX ấy. Nói về Nguyễn, người ta chỉ biết nói rằng Nguyễn “ngông”, nhưng cái “ngông” ấy khi viết về Chén trà sương lại trở thành một sự tỉ mỉ tuyệt diệu, một phong cách làm say đắm lòng người.
Chén trà sương nằm trong tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, nhà văn luôn ham mê cái đẹp và xê dịch trước Cách mạng. Nói là truyện ngắn, nhưng kỳ thực Chén trà sương rất gần với tuỳ bút, phóng túng và không có cốt truyện rõ ràng. Truyện chỉ kể lại một buổi uống trà sớm của cụ Ấm cùng anh con trai cả của cụ. Nhưng cái thần của truyện lại ở trong cách thưởng thức trà rất nghệ thuật và văn hoá của cha con cụ Ấm.   
Nói đến phong cách nghệ thuật là nói đến “một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn hoá dân tộc” (Từ điển thuật ngữ văn học). Với Nguyễn Tuân, ông đã xây dựng cho mình một phong cách riêng. Phong cách ấy được người đương thời gói gọn trong một chữ “ngông”. Ngông là gì? Đó là một hành động khác người, bất bình thường một cách tài hoa, là cái vẻ khinh đời, ngạo đời. Người “ngông” không chỉ có tài hoa, mà còn phải có nhân cách. Đó là ý nghĩa chữ “ngông” trong phong cách của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân chơi ngông bằng văn chương, bằng sự khác lạ. Đó là điều ông luôn trăn trở trước khi viết, không độc đáo thì không thành Nguyễn rồi.
Cái ngông của Nguyễn Tuân có từ trong truyền thống chơi “ngông”, khoe tài của dân tộc. Từ Nguyễn Công Trứ, tới Tú Xương, Tản Đà..., những con người “thị tài, đa tình” ấy đều chơi “ngông” và khoe tài trong văn chương. Nguyễn Công Trứ từng viết:
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Hay:
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông
            (Bài ca ngất ngưởng)
Đến Nguyễn Tuân, cái “ngông” ấy đã trở thành sự khẳng định văn cách, cá tính một cách triệt để, đồng thời đối lập lại với môi trường thị dân tầm thường đương thời.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân thể hiện trước hết ở sự tài hoa, uyên bác trong lối hành văn của bậc thầy về ngôn ngữ. Nhà văn luôn tiếp cận đối tượng được miêu tả ở phương diện văn hoá, thẩm mỹ. Với bất kỳ nghề nghiệp nào, nếu con người biết nâng công việc của mình lên một cách phi thường, siêu phàm, độc đáo, thì trong con mắt Nguyễn Tuân, người ấy cũng là người nghệ sỹ và được ông ca ngợi trong tác phẩm. Như thế, Nguyễn Tuân đã mở rộng khái niệm về người nghệ sỹ. Nhân vật chính trong Chén trà sương là cụ Ấm, một nhà nho ngày trước. Văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng vậy, hay đi tìm những ngọn nguồn, những gốc tích văn hoá xưa. Dù lúc bấy giờ, chế độ phong kiến đã hết thời, chữ nho đã mạt vận, nhưng hình ảnh nhà nho vẫn còn vương lại sự thanh cao, khác hẳn những kẻ tầm thường, phàm tục trong mắt văn sỹ. Cụ Ấm được miêu tả trong tác phẩm vừa giống như một nhà hiền triết, lại vừa giống như một tiên ông thoát tục ngay giữa chốn trần gian. Ngay cả đến thói quen của con người này cũng khác lạ, khiến cho chúng ta cảm phục. “Trời rét quá. Không kể tiểu hàn, không kể cả đến đại hàn, buổi sớm mùa đông nào, cụ Ấm cũng dậy từ lúc còn tối đất”. Cái thú này không phải là của người phải bươn trải hôm sớm để làm ăn, quanh năm đầu tắt mặt tối. Đó là thói quen của người muốn thưởng thức một giá trị tinh thần, một món quà tặng của tạo hoá: cái thú tĩnh lặng của buổi sớm mai. Hình ảnh cụ Ấm trong làn khói hư ảo lại càng hiện lên rõ ràng: “Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống nạnh bên gối xếp, cặp mắt lim dim như một nhà sư nhập định. Vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả khói trắng biến động đang trôi trong không khí gian nhà gạch. Ba gian nhà, chỉ có một người thức”. Những câu văn dài ngắn đan xen nhau, làm nổi bật vẻ đẹp của một cụ già quắc thước, nghiêm trang và thành kính trước giây phút thiêng liêng của buổi sáng sớm. Thậm chí, cụ còn không dám ho, sợ làm động đến không khí tĩnh lặng đẹp đẽ ấy. Chỉ qua vài nét miêu tả, Nguyễn Tuân đã làm hiện lên một con người ung dung, thần tiên thuở trước.
Cụ Ấm là một người luôn biết trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống. Cho dù chỉ là một chiếc ấm đất, một giá trị vật chất rất nhỏ, cũng được cụ ngắm nghía, nâng niu rất đỗi thành kính. “Cụ ngắm nghía mãi chiếc ấm màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn (…). Cụ Ấm thử mãi da lòng tay mình vào mình cái ấm độc ẩm, hình như cố tìm tòi một chút gợn trên đất nung để được sung sướng thêm hơn nữa sau khi nhận thấy cái ấm độc ẩm kia là nhẵn nhụi quá”. Đến cả người thợ làm ấm đất, với Nguyễn Tuân, cũng là một người có “hoa tay”, một người đã để hết tâm hồn của mình vào đấy. Cụ Ấm trong mắt Nguyễn Tuân là người “sợ nhất cái ấm trà tàu pha hỏng lúc sớm mai”. Cụ Ấm luôn coi thường hạng người phàm phu, tục tử. Cụ giễu đám quan lại bên Bảo Hộ đến nhốn nháo và cũng không biết thưởng thức trà, nếu pha trà tàu mà mời họ cũng phí đi: “có lẽ tôi phải mua ít chén có đĩa ở hiệu Tây, để mỗi khi có mấy thầy làm việc bên Bảo Hộ tới thì đem ra mà chế nước pha sẵn trong bình tích (…). Lối giao du của cổ nhân đạm bạc chứ không huyên náo như bây giờ”. Chén trà với cụ Ấm cũng giống như một nghi lễ. Khi uống cụ còn ngâm thơ và bình văn với con trai. Cũng nhờ nghệ thuật pha trà, mà cụ được thầy dạy thương yêu, chỉ cho phép cụ pha trà cho riêng mình.
Cái “tạng” của Nguyễn Tuân là vậy, luôn tiếp cận con người và mọi vật dưới góc độ văn hoá, nghệ thuật. Ông nâng niu, ca ngợi những con người luôn biết làm đẹp cho cuộc sống của mình bằng những hành động trân trọng văn hoá của dân tộc. Cái uyên bác của Nguyễn Tuân là ở chỗ am hiểu tường tận tới mọi ngóc ngách của từng đối tượng. Ngay đến kỹ thuật pha trà cũng được Nguyễn miêu tả dụng công. “Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm” và “trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý”. Ta thấy Nguyễn miêu tả một cuộc pha trà đầy đủ thứ tự, lớp lang. Đầu tiên là các loại dụng cụ để pha trà: khay trà, ấm đồng, hoả lò đất. Khay trà là “gỗ trắc có chân quỳ”, chiếc ấm “màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn”. Pha trà cũng là một thứ nghệ thuật. Nước phải sôi già. Và cụ Ấm cẩn thận đến nỗi còn “rót thử một chút nước xuống đất xem có thực sự là sôi không” mặc dù ấm nước trên hoả lò đã sôi lắm rồi. Nước pha trà “không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm”. Không những thế, trà còn được ướp với hoa thuỷ tiên, nhưng phải là thuỷ tiên ở “củ nào ra hoa kép”. Sự uyên bác ấy ở Nguyễn Tuân còn được thể hiện qua những nghệ thuật khác như: đánh thơ, thả thơ, cách làm đèn lồng, cho chữ…
Một đặc điểm nữa ở Nguyễn Tuân là cảm quan sắc nhọn, phong phú. Nguyễn có hứng thú đặc biệt trước những cảnh tượng gây ấn tượng mạnh với giác quan nghệ sỹ. Nguyễn không chấp nhận thứ gì phẳng lặng, dễ dãi, chung chung, đơn chiều. Người luôn miêu tả những cảm giác mạnh, hứng thú với những cái đẹp tuyệt đỉnh hoặc vẻ đẹp dữ dội. Nhưng ngay cả khi không miêu tả vẻ kỳ vĩ của thiên nhiên, Nguyễn cũng tìm cho mình một cách viết riêng trong khi khắc hoạ cái giản dị, thường ngày. Viết về hòn than vô tri vô giác, Nguyễn cũng dùng những từ ngữ không giống ai: “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoáng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm áp trong một cái vỏ tàn tro dầy và trắng xốp”. Ông không dùng hòn than đang cháy mà là “hòn than tự tiêu diệt”, “sống hết một đời khoáng chất”. Và “than hoa không nổ lép bép như than tàu; nhưng từ ruột ấm đồng nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể”. Phép nhân hoá, so sánh ở đây đã được nhà văn sử dụng một cách đắc địa, thể hiện cái tài bậc thầy về ngôn từ của Nguyễn Tuân trong văn học Việt Nam thế kỷ XX.
Chữ nghĩa của Nguyễn Tuân rất đỗi giàu có. Ông như muốn dốc cạn kho tàng chữ nghĩa để chạy đua cùng tạo hoá. “Cuộc chạy đua” ấy thể hiện trong những sáng tạo từ ngữ, hình ảnh mới lạ, giàu ấn tượng và biểu cảm. Đặc biệt, Nguyễn Tuân có biệt tài cá biệt hoá sắc độ của các sự vật, hiện tượng. Ngọn lửa than trong trang văn Nguyễn Tuân lúc là hòn lửa, lúc lại là “một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng thổi chảy”. Còn giọt nước đọng lại trên lá sen buổi sớm mai là “những giọt thuỷ ngân” của đất trời dành tặng cho người pha trà. Câu văn Nguyễn Tuân cũng co duỗi hết sức nhịp nhàng, giàu nhạc điệu. Truyện ngắn Chén trà sương có cái phóng túng, điêu luyện giống như một bài thơ.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám có thể tóm lại trong những chữ: tài hoa, uyên bác, tiếp cận con người và sự vật ở góc độ tài hoa, nghệ sỹ, cảm quan sắc nhọn, phong phú, chữ nghĩa độc đáo, khác lạ… Chén trà sương đã phần nào thể hiện được những đặc điểm nghệ thuật ấy trong văn Nguyễn Tuân, một phong cách độc đáo “có một không hai” trong văn chương Việt Nam. Đương thời, Nguyễn Tuân được xem là “cái định nghĩa đẹp nhất về người nghệ sỹ” và văn chương của người cũng là một cái đẹp ấn tượng khác.       
 
Đăng nhập để trả lời
0