Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thuyền Trưởng Tuổi Mười Lăm - JULES VERNE - Hết 🔒

35 trả lời, 2.142 lượt xem — Trang 2 / 2
CHƯƠNG 14 – MỘT THẦY PHÁP CAO TAY
 
Hôm đó là 17 tháng sáu. Khi bà Uynxton không thấy Binđác về ăn cơm chiều như thường lệ, bà hoảng hốt chờ đợi. Rồi bà đi quanh vườn nhưng chẳng thấy tăm hơi. Bà đoán có lẽ Angve đã bắt Binđác rồi. Nhưng bà thấy Angve rất tức giận khi được tin Binđác mất tích nên bà biết ngay là bà đã nghĩ sai. Thế thì ông đã tự thoát thân. Nhưng sao ông lại không nói riêng cho bà biết.
Angve lập tức sai giai nhân tìm Binđác, chúng khám phá ra chỗ thông với khu rừng. Angve biết anh chàng bắt sâu bọ đã vượt quá lối đó. Y buồn quá, vì mất Binđác thì số tiền chuộc sẽ giảm đi. Ngay hôm đó, Angve ra lệnh cho gia nhân canh phòng cẩn mật cả trong lẫn ngoài trại. Thế là bà Uynxton cùng con không còn tự do dạo vườn như trước.
Sau đó, một tai biến bất thường xảy ra trong hạt. Từ ngày 19, những trận mưa như thác bắt đầu trút xuống và làm ngập lụt cả miến Cadôngđê. Trong trại, bà Uynxton chỉ thấy khó chịu chứ ở bên ngoài dân rất cực khổ. Những cánh đồng lúa chín, những mảng rau xanh tốt đều bị nước mưa bao phủ hoặc cuốn hết. Nhân dân mất mùa, sự đói kém báy ra trước mắt. Nữ hoàng Môna và các triều thần ngơ ngác không biết làm cách gì để chống thủy tai.
Người ta liều cầu cứu thầy bùa. Không phải là các thầy bùa tầm thường chuyên lên đồng chữa bệnh hay chuyên nghề bói toán kiếm ăn, mà là những thấy phù thủy cao tay có phép hôn phong hoán vũ.
VÌ thế, các danh sư xa gần đều được mời đến. Có thầy đọc kinh đọc kệ, trống phách inh ỏi; có thầy luyện bùa và các thứ vỏ cây “bí truyền” cho vào một cái sừng trâu có ba lỗ nhỏ ở đầu, rồi phùng má trợn mắt thổi vọt ra những viên đạn nhão để bắn tà ma; có thầy lại niệm thần chút khạc nhổ vào mặt các quan to nhất trong triều, cho rằng sự hiện diện của các vị này đã là “xui” cho xứ sở. Nhưng tất cả công sức, tất cả phù phép đó đều vô hiệu. Mưa vẫn hoàn mưa.
May sao có người mách nữ hoàng: ở miền núi phía Bắc Angola có một pháp sư danh tiếng có phép thần thông biến hóa và đã từng dùng âm binh đầy lui các giống hùm, bao, sư tử tác hại. Nữ hoàng cả mừng, liền sai người thỉnh cầu pháp sư.
Sáng ngày 25 tháng sáu, dân chúng xôn xao được tin pháp sư đã đến Cadôngđê. Pháp sư tiến thẳng vào kinh thành, dân chúng lũ lượt đổ ra xem. Lúc đó, trời bỗng ngớt mưa, gió như sắp đổi chiều. Sự thay đổi bất thần đó phù hợp với việc giáng lâm của pháp sư như báo một điềm lành làm cho muôn người xúc động.
Mỗi khi thầy phù thủy về các làng trừ tà chữa bệnh thì thường đi từng bọn từ ba đến năm người, nhưng lần này pháp sư có một mình. Pháp sư người da đen, thân hình cao lớn vạm vỡ, mình trần, trên ngực vạch những vạch trắng bằng đất cao lanh, ngang lưng mặt một tấm xiêm kết bằng cỏ, cổ đeo một chuỗi sọ chim khô. Đầu ông đội một thứ mụ dạ nạm hạt trai, chung quanh cắm những chiếc lông dài màu xanh biếc đốm trắng. lưn gông thắt một dải băng đồng sáng loáng, chung quanh đeo hàng trăm cái chuông nhỏ kêu leng keng, vang hơn tiếng nhạc của những con lừa Tây Ban Nha. Đó là kiểu ăn mặc trang trọng nhất của các thầy pháp Trung Phi.
Pháp sư chỉ ra hiệu và không nói năng gì. Người ta khám phá ra là pháp sư câm. Nhưng quý tướng đó càng làm tăng phần trọng vọng của đám người mê tín. Trước hết, pháp sư đi vòng quanh khu đất rộng, khoa tay giậm chân hình như ra hiệu với trời. Dân chúng nối đuôi theo sau, bắt chước hệt cử chỉ của pháp sư khiến người ta có cảm tưởng là một đoàn khỉ con đang theo sau một con khỉ lớn diễn trò. Thình lình, pháp sư rẽ vào phố chính, đến thẳng sinh nữ hoàng.
Được báo trước, nữ hoàng Môna cùng các quan tùy tùng đã ra trước dinh đón tiếp. Pháp sư uốn lưng cúi rạp xuống tận đất và ngẩng đầu lên một cách nghiêm trang cung kính. Thi lệ xong, pháp sư giơ tay trỏ những đám mây đen kéo ngang trời, đưa tay từ đông sang tây, xong từ tây sang đông và quay tít mấy vòng. Đoạn ôn gúp hai bàn tay như ấn xuống đất và ra chiều thất vọng. Lớp kịch câm đó ngụ ý rằng những đám mây đen kia sẽ từ đông sang tây ùn ùn kéo đến vô tận, khó trấn áp nổi. Nữ hoàng thấy thế mất cả hồn vìa, bất giác giơ tay lặp đi lặp lại những cử chỉ của pháp sư. Đình thần thấy vậy cũng bắt chước khoắng tay lên trời múa may bắt quyết. Dân chúng hồi hộp chờ đợi phép mầu. Bỗng mưa lại đổ xuống dữ dội hơn trước. Dân chúng la ó ầm ĩ, cho rằng thầy bùa này cũng chẳng hay ho gì hơn các thầy bùa trước. Họ chạy ra vây chặt lấy thầy phù thủy câm, miệng rủa, tay giơ nấm đấm tua tủa.
 Pháp sư bình tĩnh nhìn quanh bãi rộng một lượt. Thốt nhiên, pháp sư giơ tay từ từ trỏ về một góc làm cho mọi người im bặt. Họ quay cả nhìn về phía đó: có hai mẹ con người da trắng đứng xem. Đó là bà Uynxton và Giắc, nghe có pháp sư làm lễ liền theo người gác trại đến xem. Pháp sư trỏ vào chỗ người da trắng rồi trỏ lên trời. Thôi đúng rồi! Chính vì họ mà sinh ra nạn mưa lụt này!
Nữ hoàng tức giận trợn mắt giơ tay dọa dân bản xứ vừa nguyền rủa, vừa xông vào chỗ bà Uynxton. Bà hết hồn, ôm chặt lấy con, luông cuống không biết chạy đi đâu. Pháp sư cũng sấn lại chỗ đó. Mọi người giạt ra hai bên đường, nhường lối cho pháp sư có cách trừng trị. Angve cũng có mặt ở đó, hẳn xám mặt lo sợ cho số phận nhưng “con tin” rất quý giá đối với hắn, nhưng không biết là thế nào. Pháp sư hùng hổ giật lấy đứa bé trong cánh tay người mẹ ra rồi cầm giơ cao lên trời như sắp quật xuống đất để làm hả lòng hả dạ những hung thần ác quỷ. Bà Uynxton rú lên một tiếng và lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự. Trong khi đó, pháp sư quay lại ra hiệu cho nữ hoàng yên trí để mình ra aty giải độc, rồi một tay siết chặt đứa bé, một tay xốc người mẹ lên vai, chạy quanh bãi rộng khác nào như con cọp đang cõng hai con nai tha đi. Pháp sư chạy đều đều, lúc ngửa mặt lên trời, lúc đá chân về phía trước, có vẻ giận dữ muốn quật hai nạn nhân xuống đất. Công chúng rầm rập chạy theo sau, tiến ghò hét chấn động cả kinh thành.
Pháp sư chạy mỗi lúc một nhanh. Công chúng theo sau đã thấy mệt, chợt pháp sư ra thẳng đường cái, vào một cánh rừng rậm, đường dài hơn ba dặm mà không tỏ ra mỏi mệt. Dân chúng chạy sau cứ ít dần đi và không theo kịp. Cuối cùng, nghoảnh lại chẳng còn ai cả. Pháp sư vác hai nạn nhân đến bờ một con sông, dòng nước chảy cuồn cuộn về phía bắc. Ở đây, sau một bụi cây um tùm, một chiếc thuyền gỗ phủ đầy cỏ tranh đã neo tại đó. Pháp sư vác vật nặng bước xuống thuyền, lấy chân đẩy thuyền theo dòng nước trôi đi vùn vụt.
Sau đó, pháp sư câm lên tiếng:
-  Thưa thuyền trưởng, xin trình thuyền trưởng, tôi đã đưa bà Uynxton và em Giắc về đây! Chúng ta khởi hành! Bây giờ tha hồ cho mưa dội xuống đầu bọn khờ dại thành Cadôngđê.
 
0
15 – TRÔI THEO DÒNG NƯỚC
 
Vị pháp sư câm đó chính là Ecquyn và người mà anh gọi là thuyền trưởng chính là Đíchsơn.
Bà Uynxton hồi tỉnh. Bà mở mắt kinh ngạc, không biết thực hay mơ?
- Ô kìa, Đíchsơn, con?!
- Dạ, chính con đây!
Đíchsơn vừa nói vừa chạy lại. Bà ôm lấy chú, mừng mừng tủi tủi, nước mắt trào ra.
Em Giắc cũng reo lên:
- A! Anh Đích! Anh Đích!
Rồi em quay nhìn người đội mũ pháp sư lông ngựa vằn và nói:
- Ai! Em không biết!
Ecquyn liền bỏ mũ lông chim ra, xoa hết phấn trắng ở ngực và cười.
Bà Uynxton kêu lên:
- Ủa, Ecquyn!
Rồi bà nắm tay Ecquyn và nói:
- Anh làm tôi hết hồn!... Bây giờ đã thoát trại giam rồi!... cám ơn anh!
Em Giắc ôm chầm lấy Ecquyn kêu lên:
- Ecquyn! Ecquyn!
Đíchsơn nói với Giắc;
- Chính Ecquyn đã cứu mẹ và em, cũng như đã cải tử hoàn sinh cho Đíchsơn đấy!
Binđác đang hỏi chuyện bà Uynxton cũng quay ra nói:
- Cứu cả tôi nữa chứ!
Ecquyn đáp lời Binđác:
- Không phải! Chính ông đã cứu bà Uynxton và em Giắc!
Binđác nói:
- Sao lạ vậy?
Ecquyn đáp:
- Vì nếu không có ông cho biết bà Uynxton và em Giắc ở đâu thì tôi cũng đến chịu.
Thực vậy, năm hôm trước, Ecquyn đã ở trong bụi nhảy ra bắt Binđác khi đang mải đuổi sâu trong rừng. ông cho biết nơi đó cách trại Angve chừng hai dặm.
Trong khi thuyền xuôi dòng. Ecquyn kể lại cho mọi người nghe những chuyện xảy ra sau khi Ecquyn trốn thoát khỏi đồn Quanđa, chuyện Ecquyn lén lút theo dõi đòn phu cáng bà Uynxton và em Giắc, chuyện Ecquyn tìm thấy con Đinhgô bị thương rồi cả hai đều đến ẩn nấp ở ngoại thành Cadôngđê; chuyện con Đinhgô đem thư báo cho Đíchsơn biết bà Uynxton và em Giắc đang bị giam lỏng ở trai Angve. Cuối cùng là tấn bi kịch hạ màn vào chính hôm nay… Nguyên là được tìn một pháp sư danh tiếng xuống cứu nạn lụt, Ecquyn đón đường bắt pháp sư đó lấy dây bìm trói chặt vào một gốc cây, lột hết y phục, mũ mão và đồ nghề. Anh mặc các thứ đó lại theo kiểu mẫu và vẽ thêm những đường vằn trên ngực bằng đất sét trắng giả làm pháp sư. Rồi Ecquyn về thẳng kinh thành Cadôngđê giả câm và lập mưu cướp bà Uynxton và em Giắc.
Trong các chuyện thuật lại, không thấy ai nói đến Đíchsơn, bà Uynxton liền hỏi.
- Thế còn Đíchsơn, làm sao mà thoát nạn?
Đíchsơn đáp:
- Lúc đầu con cũng không biết làm sao mà thoát nạn được. Trước giờ bị hành hình, con phẫn uất, vùng vẫy muốn đứt tung dây trói. Nước ầm ầm chảy đến, rồi dâng lên, con lịm dần… Khi còn hồi tỉinh, con thấy mình nằm trên ổ cỏ, dưới lùm cây ven bờ sông này. Ecquyn đang qùy bên cạnh chăm sóc con…
Bà Uynxton hỏi Ecquyn:
- Anh cứu Đích thế nào? Kể lại cho tôi nghe.
Ecquyn cười đáp:
- Thưa bà, đâu cần phải tôi cứu! Chính dòng nước mạnh đã nhổ cây cột trói thuyến trưởng của ta rồi cuốn qua đây. Tôi tình cờ vớt được Đíchsơn còn thòi thóp.
Uynxton thấy chuyện đơn giản quá, hỏi:
- Làm gì có chuyện lạ thế?
Ecquyn đáp:
- Thưa bà, đêm hôm đó trời tối đen như mực, tôi liền xuống dòng sông, ngồi lẫn với đám nạn nhân dùng làm vật hy sinh đang gào khóc lăn lội đợi chết. Chờ lúc họ phá đập cho nước dâng lên, tôi lội ra. Chỉ cần khỏa cánh tay một cái là nhổ phăng được cây cột lẫn Đíchsơn. Tôi ôm lấy và theo dòng nước bơi về đây. Thưa bà, việc đó không có gì là khó cả.
Bà Uynxton nói:
- Không, anh đã làm một việc phi thường.
Xong bà kể lại từ chuyện hôm bị giam trong trại Angve đến hôm Nego bắt bà viết thư nhắn chồng phải đem tiến đến chuộc. Bà đã đưa thư cho Nego, hắn đang khởi hành đi tìm chồng bà rồi.
Nghe đến đây, Ecquyn bỗng kêu lên:
- Thôi chết rồi! Tôi đã làm hỏng việc của bà!
Bà Uynxton nói:
- Không phải thế. Tôi sợ chúng đánh lừa nên đắn đo mãi, sau cùng phải đánh liều viết và chỉ thuận cho chồng tôi đến bến Môsamêdét ở phía nam bờ biển Angola mà thôi.
Đíchsơn nói:
- Bọn chúng xảo trá lắm. Biết đâu khi ông đến bến Môsa, chúng lại không tìm cớ lừa ông về Cadôngđê, sào huyệt của bọn chúng.
Bà Uynxton nói:
- Xem giọng lưỡi thằng Nego, rất có thể nó sẽ gài bẫy. Vả lại nếu sự việc đó trôi chảy chăng nữa thì biết bao giờ mới lại được gặp mặt những người thân yêu này?
Đíchsơn nói:
- Bây giờ chúng ta phải đến bờ biển trước khi Nego trở về bến Môsa. Ở đó, những nhà chức trách Bồ Đào Nha sẽ giúp đỡ và che chở cho chúng ta. Khi nào Angve thò ra lấy một trăm ngàn đồng, tức thì chúng ta…
- Chúng ta quất một trăm ngàn gậy vào sọ tên cáo già!
Ecquyn nghe chuyện nổi giận xen vào.
Từ trước, Đíchsơn vẫn có ý định tìm ra bờ biển bằng cách theo sông. Giờ đã ở sông này. Còn phương tiện đi thì một hôm Ecquyn tình cờ kiếm được một chiếc thuyền gỗ cũ bị giạt vào một bãi cỏ rậm đã lâu ngày, anh liền kéo về sửa chữa. Để ngụy trang, Ecquyn lấy cỏ phủ lên mui thuyền giống hệt như những lùm cỏ xanh thường trôi trên các sông châu Phi mà người ta thường gọi là “những cù lao nổi”. Con thuyền của Ecquyn bây giờ cũng là một cù lao cỏ trôi trên sông. Nó không những đánh lứa được những con mắt tò mò của thổ dân mà còn quyến rũ được các giống chim thường đến đậu trên nóc rỉa lông rỉa cánh và ca hát véo von.
Dưới mái cỏ xanh ngắt, mọi người được nghỉ ngơi thoải mái, và tránh được cái nắng gay gắt của mặt trời. tuy nhiên, hành trình còn dài và chưa hết khó khăn, nguy hiểm. Theo con sông này thì đoàn Đíchsơn sẽ ra phía bắc bờ biển Angola mà bến Môsa, nơi Nego hẹn gặp lại ở về phía Nam. Nhưng hãy ra thới bờ biển đã. Con sông này sẽ đưa tới đất có người Bồn Đào Nha đóng, nên sẽ yên ổn.
Thuyền êm ả xuôi dòng, hai bên cây rừng rậm rạp. Đíchsơn ước lượng con thuyền có thể đi hơn hai dặm một giờ. Mấy ngày đầu đã có lương thực do Ecquyn dự trữ. Những hôm sau, Ecquyn và Binđác phải đánh cá để ăn. Thỉnh thoảng Đíchsơn lại lên bờ săn bắn với cây súng độc nhất do Ecquyn đem theo. Thuyền đi suốt ngày, ban đêm chỉ dừng lại một vài giờ để mọi người nghỉ ngơi lấy sức. Bước đầu của chuyến đi trên sông lạ này trôi chảy, không gặp khó khăn gì. Hai bên bờ vắng tanh không một túp lều, không một bóng người. Dân xứ Cadôngđê ít khi đặt chân tới nơi hoang địa này. Một hôm đêm đã khuya, thuyền đang đi bỗng nhiên dừng lại, Ecquyn ở đằng lái hỏi:
- Sao thế?
- Một bờ đập tự nhiên.
Ecquyn nói:
- Thế thì phá đi!
Đích sơn đáp;
-Anh đem búa lại đây.
Ecquyn xách búa nhảy sang bờ đáp:
- Để tôi phá cho.
Vật ngáng đường này là một đám cỏ nước, rễ, lá giao nhau, kết thành một bè cỏ dầy từ bờ bên này sang bờ bên kia, rất chắc và dai, lá cao và xanh bóng. Dân bản xứ gọi dải cỏ này là “cầu cỏ” hay “tikatika”. Người ta có thể dúng cầu đó qua sông được nếu không sợ thụt chân xuống gần đầu gối.
Khỏe và nhanh như Ecquyn, cũng phải gần một tiếng đồng hồ, dòng nước mới thông. Thuyền lại bắt đầu đi.
Chợt vẳng nghe xa xa về bờ bên phải có tiến ồn ào, tiếp theo những tiếng xì xụp đều đều như tiếng bễ thợ rèn. Khi thuyền đền gần thì ra một đàn voi hàng mấy trăm con đang đứng xếp hàng trên bờ uống nước. Ban ngày chúng kiếm ăn trong rừng, ban đêm vắng vẻ, chúng kéo nhau ra sông giải khát. Hàng trăm cái vòi đưa xuống đưa lên một loạt như máy. Nếu khúc sông này là một cái hồ thì không mấy lúc sẽ cạn hết nước.
 
0
16 – NHỮNG CHUYỆN BẤT NGỜ
 
Suốt tám ngày thuyền đi trót lọt, không xảy ra chuyện gì quan trọng. Trong ngày mồng chín tháng 7, Đíchsơn đã tỏ ra gan dạ phi thường. Lúc đó một mình Đíchsơn ở trên bộ, đang rình một con nai. Đíchsơn vừa bấm cò thì một con vật to lớn ở đâu nhảy vọt ra, chỉ cách độ ba mươi bước. Đó là một con mãnh sư, thứ sư tử to lớn dữ tợn, mà thổ dân gọi là “Karamốt”, một giống vật ghê gớm nhất trong các loài ác thú. Con mãnh sư đã nhảy đúng vào con nai vừa bị đạn ngã quỵ, đang giẫy giụa và kêu la. Đíchsơn không kịp lên đạn lần thứ hai. Con sư tử, khi nhảy đến đã trông thấy ngay Đíchsơn nhưng nó chỉ đứng nhìn thôi. Đíchsơn đứng im, không động đậy, cậu nhớ rằng trong trường hợp này chỉ có đứng im may ra thoát chết. Vì vậy mà Đíchsơn không nạp đạn cũng không chạy trốn. Sư tử vẫn trừng trừng nhìn chú bằng đôi mắt đỏ ngầu và sáng lóe. Nó ngập ngừng giữa hai con mồi, một con cử động, một con bất động. Nếu con nai không nằm trong móng vuốt của con sư tử rồi thì thế nào Đíchsơn cũng mất mạng.
Hai phát trôi qua như thế, sư tử giương mắt nhìn, Đíchsơn cũng nhìn lại sư tử không chớp mắt. Thế rồi, sư tử đớp vào thân con nai còn giãy dụa, tha đi như một con chó săn tha con thỏ rồi nhảy vọt vào rừng, cái đuôi xù quất rạp cả những cành cây sau lối nó đi. Đích sơn đứng yên lặng một lúc chờ cho ác thú đi xa rồi mới trở về thuyền, chú bình thản như thường, không kể lại cơn nguy hiểm vừa trải qua với ai cả. Rõ ràng, nếu đoàn Đíchsơn không chọn con đường thủy mà băng qua rừng, thì có lẽ bây giờ không còn ai sống sót với loài ác thú đầy rẫy ở miền này.
Suốt dải đất mà con thuyền đã qua, không thấy chỗ nào có người ở. Nhưng ngày xưa chắc đã có người cư trú vì trên một vài nơi đất thấp có vết tích các làng mạc cũ. Một nhà thám hiểm trước đây qua vùng này đã có nhận xét như thế. Nhìn những hàng rào cao làm bằng các cây giáo nhọn còn sót lại và một vài cây vả cổ thụ, “cây vả thần” đứng trơ trọi giữa vùng đất, người ta biết ngay là xưa kia đã có một làng nhỏ ở đây. Theo cổ tục, sau cái chết của người đầu mục, dân làng phải rời bỏ nơi bất an nàn, kéo nhau đến một nơi khác lập nghiệp.
Ngoài dân du mục này, đây có lẽ còn có những bộ lạc sống ở hang dưới đất như người ta tìm thấy ở nhiều chỗ tại Châu Phi. Những người này chỉ lên mặt đất ban đêm để kiếm mồi và ăn cả thịt sống.
Chiều ngày 10 tháng bảy, đoàn Đíchsơn một phen hết hồn. Xa xa, đằng trước mặt về bờ bên phải, có một làng ở trên mặt nước. Khúc sông này phình ra thành một vũng nhỏ, bờ bên trái đá mọc lởm chởm, bờ bên phải là những nhà sàn trên mặt nước, ước chừng ba mươi nóc. Thuyền phải theo dòng nước chui qua dưới lớp nhà sàn. Làng này có người ở. Ánh lửa thấp thoáng dưới những mái tranh.
Đíchsơn ngồi ở mũi thuyền, vừa lựa thế đi vừa nói nhỏ báo cho Ecquyn lái để khỏi chạm vào chân những cây cột mọt của các nhà sàn. Đêm sáng, trong thuyền nhìn ra khá rõ bên ngoài nhưng bên ngoài cũng nhìn khá rõ trong thuyền. Đây là giây phút nguy kịch nhất. Có hai người ngồi trên một thân cây gần sát nước, đang nói chuyện với nhau. thuyền phải trôi qua dưới chân họ. Chỉ còn vài chục thước nữa thì tới chỗ họ rồi. Đíchsơn trông thấy người nọ trỏ cho người kia biết “đống cỏ” sắp trôi đến làm đứt tấm lưới bằng dây leo mà họ đang chăng bắt cá. Rồi hai người vội vàng kéo lưới lên và hò người ra giúp đỡ. 
Năm, sáu người da đen chạy và đi trên những cây sà ngang nối giữa hai dãy nhà sàn. Họ càu nhàu nguyền rủa ầm ĩ. Trong thuyền, im lặng, không một tiếng động.
Mỗi người một tay, họ hì hục kéo tấm lưới dài và nặng lên. Nếu họ kéo kịp, thuyền sẽ trôi qua không sao. Trái lại, nếu thuyền vướng vào lưới thì chết. Vì thế, nước càng chảy mạnh bao nhiêu, Đíchsơn và Ecquyn càng cố giữ cho thuyền trôi chậm bấy nhiêu.
Trong nửa phút, thuyền len qua giữa hai hàng cột. rất may tấm lưới được kéo lên kịp. Thuyền trôi tọt nhưng bị tróc mất một mảng cỏ ở sườn bên phải. Một người kêu lên. Anh ta đã thoáng nhìn thấy những gì ẩn dưới mảng cỏ chăng? Con thuyền đã trôi quá tầm rồi. ỉ trong giây lát, do sức nước chảy như thác, nhìn lại, khu nhà sàn đã mất dạng. Đíchsơn bảo:
- Đi sang bờ bên trái. Lòng sông chỗ này đã hết đá rồi.
Ecquyn vừa lái vừa nói:
- Bên trái.
Trăng đã lên cao, dưới anh trăng vằng vặc, Đíchsơn nhìn xa trên mặt sông không thấy gì khả nghi nữa, nhưng thuyền vẫn cẩn thận đi về bên trái.
Bốn ngày tiếp theo, từ 11 đến 14 tháng bảy, quang cảnh vùng đất con thuyền đi qua thay đổi hẳn.
Không phải là một “hoang địa” mà là một vung cằn khô, có thể so sánh với sa mạc “Katahati” ở nam bộ châu Phi mà bác sĩ Livinhxton đã khám phá ra trong chuyến thám hiểm đầu tiên. Con sông con kéo dài vô tận, có lẽ nó cứ thế bò ra đến Đại Tây Dương. Vấn đề thực phẩm ở miền đất khô cằn này trở nên nan giải. săn bắn không được, trong thuyền có ít lương thực dự trữ phải đem ra dùng.
Bình nguyên ờ hai bên sông trơ trụi không có cây cối gì, chỉ có những ngọn đồi trọc xa tít tắp ở phía đông cũng như phía tây. Lương thực cạn rồi, Đíchsơn không biết xoay sở ra sao. Chợt Ecquyn nhớ rằng những dân miền rừng núi thường dùng búp cây dương xỉ và ruột cây chỉ thảo để ăn. May quá, ven hai bờ sông, hai thứ cây này không hiếm. Búp dương xỉ được luộn lên ăn, và ruột cây chỉ thảo lấy ra ăn ngay rất ngọt. Giắc rất thích các thứ này. Tuy nhiên, hai thứ đó chỉ dùng tạm thời cho qua cơn đói. Hôm sau nhờ có Binđác mà mọi người được một bữa mát lòng.
Hôm đó, Đíchsơn đem súng sục sạo các đám cỏ tranh trên bờ sông chợt một con chim nhỏ bây vụt lên, Đíchsơn giơ súng toan bắn thì có tiến kêu:
- Đừng bắn! Con chim nhỏ nấu đủ ăn cho năm người à?
Đó la tiếng kêu của Binđác, Đíchsơn đap:
- Thế thì dành cho Giắc vậy.
Nói xong, Đíchsơn lại chĩa súng vào con chim còn đậu yên đó. Binđác lại kêu:
- Đó là một tên chỉ điểm có ích. Nó sẽ đưa chúng ta đến kho mật ong.
Đíchsơn hạ súng, ngẫm nghĩ. Hai người liền theo sau con chim. Nó bay, nó đậu, nó nhảy đến chỗ mấy khúc cây mọt nằm dài trong một bụi mận gai, chung quanh có hàng ngàn con ong đang bay lượn vo ve.
Hai người liền nhặt cỏ khô hun tổ. Đàn ong káo đi hết, họ lấy được rất nhiều mật và để phần lại cho con chim những nắm sáp ong.
Hai người đem mật về thuyền, mọi người mừng rỡ. Nhưng khi mật đã hết, họ chỉ còn nước lã cầm hơi. Mọi người sẽ không khỏi chết đói, nếu trong ngày 12 tháng bảy, con thuyền không qua một vùng cứu sinh. Nơi đây, bờ cỏ xanh tốt, có hàng triệu con cào cào thấy động bay rào rào như mưa. Đíchsơn và Ecquyn tha hồ bắt và bỏ đầy thuyền. cào cào rang lên ấm thơm và bùi, có thể dùng làm lương thực trong nhiều ngày.
Thuyền cứ đi mãi không biết bao giờ đến đích. Nỗi lo buồn hiện ra trên nét mặt mọi người. Ngày 14 tháng bảy, Giắc đang ngồi ở mũi thuyền chơi, nhìn phía chân trời trước mặt, có một vũng nước bạc loang loáng, em liền kêu lên:
- A! Biển kia rồi!
Đíchsơn giật mình, chạy ra xem rồi nói:
- Đó la một con sông cái chảy về phía tây. Con sông nhỏ ta đang đi chỉ là một phụ lưu của con sông cái đó.
Bà Uynxton nói:
- Cầu trời cho ta chóng đến nơi!
Đíchsơn nói:
- Có lẽ đúng. Nấu là sông Giai hay sông Congo thực thì chỉ còn ít ngày nữa là đến miền hạ lưu. Nơi đây không vắng vẻ nữa mà có các thị trấn của người bồ Đào Nha.
Trong những  ngày 15, 16, 17 và 18 tháng bảy, thoát ra khỏi con sông nhỏ và miến đất cằn khô, con thuyền đã ra được dòng nước bạc thênh thang. Không còn mấy ngày nữa là những người sốt sót của thuyền Hải âu sẽ chấm dứt cuộc đời phiêu lưu của họ. Nhưng trong đêm 17 tháng tám, một biến cố xảy ra suýt làm thiệt mạng cả đoàn.
Lúc đó, vào khoảng ba giờ sáng, có tiếng ầm ĩ ở phía tây đưa lại. Không hiểu là tiếng gì, Đíchsơn gọi Ecquyn đến nghe kỹ xem tiếng động ở đâu phát ra. Đêm yên lặng, tĩnh gió.
Ecquyan lắng tai một lúc rồi mừng rỡ:
- Đó là tiếng biển động.
Đíchsơn lắc đầu, đáp:
- Không phải!
Ecquyn nói:
- Đúng là tiếng biển!
- Chúng ta đợi đến sáng xem mới biết được.
Ecquyn trở lại chỗ lái thuyền, Đíchsơn vẫn ngồi ở đầu thuyền nghe ngóng. Mỗi lúc tiếng động càng to làm cho chú thêm nóng ruột.
Trời sáng nhanh, gần như không có bình minh. Đằng trước thuyền, cách chừng nửa dặm trên mặt sông nổi lên một đám xanh xanh như mây. Nhưng không phải là mây, có lẽ là hơi nước chăng? Đúng vậy, vì khi mặt trời bắt đầu hiện ra, những tia sáng xuyên qua đám hạt nước nhỏ đó phản chiếu thành một vòng rất đẹp, mọc từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Đíchsơn kêu:
- Ecquyn, lái thuyền vào bờ mau, có thác lớn! Những đám xanh xanh kia là do nước trên cao đổ xuống mạnh quá tan thành vụn bụi nước bay vọt lên không. Vào bờ mau.
Đíchsơn không nhầm. Cách đó độ nữa dặm, dòng sông đang chảy trên cao bỗng đổ xuống chỗ thấp chừng bốn mươi thước thành một thác nước hùng vĩ. Thế là chỉ còn một quãng nửa dặm nửa là con thuyền sẽ bị cuốn xuống vực sâu!
 
0
17 – S.V.
 
Ecquyn gạt mạnh tay lái cho thuyền vào bờ bên trái, Đíchsơn không khỏi lo sợ khi thấy bờ bên này toàn là rừng rậm, thuộc miền hạ lưu sông Congo. Bây giờ đoàn Đíchsơn bắt buộc phải đi xuyên qua khu rừng nguy hiểm đó vì đường thủy không thể đi được nữa. Một lát sau, thuyền tiến vào bờ. Thuyền càng vào gần bờ, con Đinhgô càng rối rít và kêu lên những tiếng nghe rất thê thảm. Giắc ôm lấy con chó và nói:
- Lạ quá! Hình như nó khóc!
Khi thuyền còn cách bờ sáu thước, nó tuột khỏi tay Giắc nhảy ùm xuống nước, bơi vào bờ rồi chạy biến vào trong cỏ rậm. Mọi người đều ngạc nhiên không hiểu ra sao. Thuyền áp bến, Ecquyn buộc thuyền vào bờ cẩn thận rồi cùng mọi người lên bờ.
Ven rừng không có một con đường mòn nào. Tuy nhiên, những vết mới dẫm trên đám rêu xanh chứng tỏ có người hoặc vật vửa qua đây. Đíchsơn nạp súng sẵn, Ecquyn cầm búa, hai người đi chưa được mười bước thì gặp Đinhgô đi rạp mũi xuống đất, bắt hơi theo dấu vết gì. Đíchsơn liền bào bà Uynxton, ông Binđác và Giắc:
- Hãy đi sát với chúng tôi, đừng cách quãng! Ecquyn, coi chừng nhé!
Trong khi đó, Đinhgô đã ngẩng đầu lên, nhảy từng quãng ngắn, thỉnh thoảng lại ngoái cổ như để mọi người đi theo, một lúc lâu, nó dừng lại bên một cây vả cổ thụ mọc giữa khu rưng rậm rạp. Rồi nó chạy đến trước một căn lều đã nát dựng bên gốc cây và sủa vang.
- Ai ở trong đó?
Đíchsơn vừa hỏi vừa tiến vào lều, bà Uynxton và những người khác theo sau. Họ thấy rải rác trên nền một đám xương trắng. Bà Uynxton nói:
- Có người đã chết ở đây!
Đíchsơn tiếp lời:
- Hình như con Đinhgô biết người ấy, có lẽ là chủ nó. Kìa, ta hãy nhìn xem!
Đíchsơn trỏ vào thân cây đã tróc da ở lưng lều.
Hai chữ đỏ đã pahi màu hiện ra ở thân cây, nhưng vẫn còn đọc được. Con Đinhgô giơ chân phải lên quệt quệt vào hai chữ màu đỏ chỉ cho mọi người biết. Đíchsơn kêu:
- A! S.V.! Hai chữ này con Đinhgô thuộc nên hễ thấy hai chữ đó ở đâu là nó nhận ra. Hai chữ đó cũng là hai chữ đã ghi ở vòng cổ của nó.
Đíchsơn chưa nói hết chợt cúi nhặt lên một hộp nhỏ bằng đồng đã gỉ để ở mộ xó lều. Cậy nắp, một mẩu giấy bắn ra, Đíchsơn cầm giấy đọc:
Bị tên dẫn đường Nego giết và lấy hết tiền… ngày hai tháng chạp 1871… chỗ này cách bờ biển 120 dặm… Đinhgô ơi! Lại đây với ta!
SAMUEN VECNÔNG
Mẩu giấy đó đã nói lên cả. Ông Samuen Vecnông đi với con Đinhgô thám hiểm miền trung châu Phi do tên Nego dẫn đường. Sô tiền lớn ông mang theo đã gợi lòng tham của tên bất nhân, nó rắp tâm chiếm đoạt số tiền đo. Nhà thám hiểm Pháp đii đến địa điểm bên bờ sông Congo này và dựng lều để quan sát. Chính nơi đây ông bị giết, bị đoạt hết tiền của. Hạ thủ xong, Nego bỏ trốn. Khi đi qua thuộc địa Bồ Đào Nha, y lại bị bắt vì các nhà chức trách ở đây biết Nego là tay sai đắc lực của trùm buôn nô lệ Angve. Y bị xử tù chung thân và bị giam ở nhà lao Luanđa. Được ít ngày, y vượt ngục và trốn sang New Zealand. Sau đó, y được đưa vào làm đầu bếp cho thuyền Hải âu và đã gieo tai hoạc cho những người ở trên thuyền này.
Còn ông Vecnông bị giết nhưng chưa chết hẳn, torng khi hấp hối, ông cố thu hết hơi tàn để ghi lại ngày tháng, động cơ sự ám sát và tên kẻ sát nhân vào một mảnh giấy. Mảnh giấy đó, ông bỏ vào cái hộp, có lẽ là cái hộp ông đã đựng tiền. Cuối cùng ông lại lấy ngón tay và máu vạch vào thân cây hai chữ viết tắt của tên ông như để ghi lại lý lịch của người bạc phận. Con Đinhgô có lẽ nhiều ngày đã nằm trước hai chữ đỏ ấy, nên hình ảnh chữ này đã in sâu vào óc nó mà nó không quên được. Rồi nó lang thang ra bờ biển, được thuyền trưởng tàu Anđát đưa về nuôi. Sang đó, nó lại lạc lõng sang thuyền Hải âu và chạm trán với kẻ giết chủ nó. Trong thời gian này, xương của nhà thám hiểm bất hạnh trắng dần ra trong túp lều cô quạnh giữa rừng sâu. Thân thể người quá cố chỉ còn sống lại trong ký ức của con chó trung thành.
Đứng trước di hài nhà thám hiểm, Đíchsơn và Ecquyan định mai táng cho ông Vecnông, chợt con Đinhgô quay ra sủa lên rất dữ. Lẩn này nó chạy thẳng ra ngoài lều một quãng không xa, tiếng ăng ẳng và gầm gừ nổi lên rất gấp, chắc con vật đang đánh nhau với một người hay một vật nào. Ecquyn nhảy xổ ra, Đíchsơn, bà Uynxton, Giắc, binđác cũng chạy theo. Họ nhìn thấy Đinhgô xông vào một người đàn ông ngã lăn ra đất, con chó đang ngoặc chặt lấy cổ người đó. Đó chính là Nego!
Thì ra, trước khi ra cửa sông để đi châu Mỹ, Nego để những người da đen hộ vệ ở ngoài. Một mình hắn vào nơi đã giết ông Vecnông. Cứ trông một nắm tiền vàng lấp lánh mới đào lên ở một gốc cây kia, người ta sẽ hiểu mục đích của Nego đến đây để làm gì. Như vậy sau khi hạ sát ông Vecnông và trước khi bị sa vào tay các nhà chức trách Bồ Đào Nha, Nego đã khôn ngoan chôn số tiền cướp được vào một chỗ để sau này sẽ trở ra lấy. và khi hắn đang bới số tiền vàng, bất ngờ con Đinhgô chộp được nhảy vào cắn họng hắn. Tên sát nhân vội rút dao đâm con chó giữa lúc Ecquynh nhảy vào và thét.
- Đồ phản bội! Tao phải giết mày!
Nhưng Ecquyn không cần phải giết, vì Nego đã thở hơi cuối cùng. Kẻ sát nhân đã đền tội đúng ngay nơi hắn đã giết người. Chỉ thương con nghĩa khuyển, bị một nhát dao quá nặng, nó cố lê vào trong lều và nằm vật ra ngay bên cạnh nắm xương tàn của chủ nó.
Trước cảnh đó, mọi người đều ứa nước mắt. Đíchsơn và Ecquyn đào sâu một huyệt ngay dưới gốc cây và chôn thi hài ông Vecnông và con chó có nghĩ ở bên cạnh. Nấm mồ đắp xong, đã có sẵn hai chữ “S.V.” ở thân cây là mộ chí. Nego không còn nữa, nhưng bọn hộ vệ đi theo hắn chắc cũng không xa. Khi không thấy chủ, tất hắn sẽ theo bờ sông để tìm. Đó là một điều rất nguy hiểm cho đoàn Đíchsơn.
Đíchsơn cùng bà Uynxton bàn tínhnên đi thế nào cho xa bọn chúng. Một điều đươc biết chắc chắn là con sông này đúng là sông Congo. Thì giấy của ông Vecnông thì chỗ này chỉ còn cách bờ biển 120 dặm thôi. Tuy nhiên, khúc sông này lại có thác lớn. Có lẽ là thác “Tamô” như người ta vẫn nói đến. Thác này đổ thẳng xuống như một bức tường. Như vậy tất phải đi bộ theo bờ trái, hoặc bờ phải một quãng chừng một hay hai dặm cho qua thác rồi sẽ đóng bè để xuôi ra biển. Đíchsơn kết luận.
- Bây giờ có hai điều để chọn: một là cứ theo bờ bên trái, hai là sang bờ bên phải. Theo bờ bên nào cũng nguy hiểm cả. Tuy nhiên, nếu cứ đi bờ bên trái này thì dễ bị bọn hộ vệ của nego đuổi kịp.
Bà Uynxton nói:
- Thế thì đi theo bờ bên phải.
Đíchsơn đáp:
- Không biết bên đó có dễ đi không? Bờ bên náy chắc đi được vì chính Nego đã chọn đường này. Vây tôi thử sang trước để thăm dò xem sao.
Nói xong, Đíchsơn làm ngay. Khúc sông này không rộng lắm, độ hơn trăm thước thôi, sang không khó khăn mấy, nhất là đối với Đíchsơn. Thuyền được tháo dây, Đíchsơn bơi sang bờ bên phải của con sông.
Bà Uynxton, Ecquyn ngồi dưới lùm cây chỉ thảo đợi và nhìn ra sông theo dõi thuyền Đíchsơn. Lát sau, thuyền ra giữa dòng, nước chảy khá nhanh do đà nước trôi về thác, cách đó độ hơn trăm thước. Tiếng ầm ầm át cả không gian. Những bụi nước ở đầu thác theo chiều gió bay tới, phủ cả con thuyền. Đíchsơn nghĩ: “Giá đêm trước không để ý ghé mau vào bờ thì hôm nay cả thuyền lẫn người đã bị cuốn chìm dưới vực sâu”.
Thuyền như bị kéo theo dòng, Đíchsơn bơi chéo sang bờ bên kia. Mười lăm phút sau, thuyền đã cập bờ, Đíchsơn sửa soạn nhảy lên… Ngay lúc đó, những tiếng hò hét nổi lên, đồng thời một chục người da đen nhảy ùa lên thuyền. Đó là đám người ăn thịt sống ở xóm nhà sàn làm trên sông mà đoàn Đíchsơn đã tránh thoát. Đêm đó, nhìn thoáng thấy có người ngồi dưới đùm cỏ, họ rượt theo bờ bên phải, ròng rã tám ngày thì vừa vặn đến đây. Đíchsơn thấy chết đến nơi rồi và nghĩ: “Liệu một mình mình hy sinh có thể cứu thoát những người còn lại không?” Tin ở mình, không bối rối, Đíchsơn đứng vững trên mũi thuyền, chĩa mũi súng, khiến bọn chúng không dám lại gần.
Tuy nhiên, mấy đứa rứt hết cỏ trên mui thuyền để tìm những người còn nấp trong đó. Khi cỏ đã dỡ hết, chẳng nhìn thấy ai, chúng thất vọng chửi bới lẫn nhau. Chợt một đứa tinh mắt trỏ sang bờ bên kia.
Lúc đó, bà Uynxton và các bạn ở bờ này đang đứng nhìn. Họ lo sợ cho Đíchsơn nhưng không biết làm thế nào. Bọn ăn thịt sống thấy bóng người lố nhố bên kia sông liền reo ầm lên. Một tên lấy chân đạp vào bờ cho thuyền ra sông. Đíchsơn không nghĩ đến mình, chỉ mong cho những người thân yêu thoát nạn.
Trước mũi súng, bọn chúng không dám đến gần Đíchsơn, tuy nhiên, một đứa đã vớ lấy mái chèo và chèo sang bờ bên kia. Tên này lái rất giỏi và đưa con thuyền đi chéo vào bờ. Một lúc, con thuyền đã ra giữa sông và rồi chỉ còn độ ba mươi thước nữa là đến bờ. Đíchsơn ra hiệu cho bà Uynxton và kêu lên:
- Trốn đi! Chạy trốn cả đi!
Nhưng trốn làm sao kịp và chạy đâu bây giờ? Bà Uynxton ôm em Giắc vội nép vào bụi cây. Còn Ecquyn tiến lên phía trước hình như để che chở cho mọi người. Nhưng chống làm sao với bọn hung ác có đủ giáo mác này?
Một ý nghĩ nảy ra trong đầu Đíchsơn: phải hy sinh để cứu những người thân yêu. Đíchsơn không ngần ngại, quyết thực hiện ý nghĩ đó.
Chú quay sang bắn tan mái chèo bằng gỗ của chúng. Bọn ăn thịt người nhốn nháo, la thét ầm ĩ. Còn thuyền quay trở ra và bị dòng nước cuốn đi phăng phăng. Trong giây phút, con thuyền chì còn cách đầu thác vài chục thước. Thấy thế, bà Uynxton, Ecquyn hiểu rằng vì họ mà Đíchsơn quyết kéo luôn bọn đó qua thác để cùng chết. Bà Uynxton và em Giắc quỳ xuống giơ tay với Đíchsơn, chào vĩnh biệt! Ecquyn thất vọng, run run giơ tay lên trời, mắt nhìn theo Đíchsơn. Trong lúc đó, mười tên ăn thịt người nhảy ùm cả xuống sông để bơi vào bờ, làm cho thuyền mất thăng bằng lật úp.
Không bối rối, Đíchsơn nhanh trí dùng ngay cái vỏ thuyền lật úp đó làm cái đỡ để qua thác. Đíchsơn bám chặt vào cái gióng ngang nối hai mạn thuyền, đầu nhô trên mặt nước. Vỏ thuyền úp trôi phăng phăng và sắp đến chỗ quyết liệt… Tiếng nước đổ ầm ầm. Vỏ thuyền nhào xuống, đâm sâu vào lòng vực, rồi mới vọt lên mặt nước, cách xa chân thác chừng hơn chục thước. Đíchsơn thoát chết. Vốn bơi lội giỏi, độ 15 phút sau, Đíchsơn đã vào được bờ. Thấy thế, bà Uynxton cùng mọi người mừng rỡ, reo lên và chạy đến đón Đíchsơn.
Trong lúc đó, bọn hung ác bơi không kịp vì gần đầu ngọc thác, nước chảy xiết. Cúng bị nước kéo xuống chân thác đầy đá nhọn lại không được vỏ thuyền che chở như Đíchsơn, nên bị tan xác và chìm xuống đáy vực.
 
0
18 – KẾT THÚC
 
Hai hôm sau – tức là 20 tháng bảy, đoàn Đíchsơn gặp một thượng đội đi thị trấn Embôm ở cửa biển Congo. Họ không phải là bọn buôn nô lệ mà là những thương gia lương thiện người Bồ Đào Nha, đi buôn ngà voi. Đoàn Đíchsơn được tiếp đã tử tế, nên phần chót của cuộc lũ hành được êm đẹp.
Gặp thương đội này thực là một dịp may hiếm có, nếu không thì đoàn Đíchsơn không sao đi bằng đường thủy được. Từ chỗ này đến biển, dòng sông là một chuỗi thác liên tiếp nhau, mà đi đường bộ, thế nào cũng bị những người ăn thịt sống bắt. Chứng cớ là bốn năm sau, một nhà thám hiểm đến vùng này đã đếm được sáu hai cái thác lớn nhỏ và ông cùng đoàn hộ vệ phải giao chiến với ba hai bọn người ở ven sông.
Ngày 11 tháng tám, bà Uynxton, Đíchsơn, Giắc, Ecquyn và Binđác về đến thị trấn Embôm. Nhân có chuyến tàu đi Panama, bà Uynxton và gia nhân xuống tàu và chẳng bao lâu thì tới địa phận Mỹ châu.
Một điện tín được gửi đi báo tin cho ông Uynxton biết.
Ngày 25 tháng tám, một chuyến xe lửa tốc hành đã đưa những người sống sót về. Ông Uynxton đã đứng sẵn ở sân ga. Tả làm sao được những nỗi vui mừng của gia đình Uynxton gặp nhau sau bao ngày nhớ thương lo lắng. Giá mà lúc này già Tôm cùng mấy người bạn của già cũng có ở đây thì vui biết mấy!
Ông Uynxton đã rõ những điều mà ông phải chịu ơn người da đen dũng cảm.
Trở về, Đíchsơn đi học ngay. Em Giắc đã được tám tuổi.
Đíchsơn hăng hái học tập, đến năm mười tám tuổi thì đỗ tốt nghiệp hạng ưu ở trường hàng hải. Đíchsơn được tập sự để sau này điều khiển hải thuyền Uynxton.
Mặc dù còn ít tuổi, Đíchsơn được mọi người yêu mến và có thể nói là kính trọng.
Chỉ có một điều làm Đíchsơn nghĩ đến luôn là già Tôm và các bạn da đen. Đó cũng là mối lo buồn của bà Uynxton.
Vì thế, bà Uynxton, Đíchsơn, và Ecquyn dùng đủ mọi cách để tìm cho ra tung tích của họ. Sau cùng, nhờ những bạn hàng của hãng hải thuyến Uynxton, họ được biết nhóm già Tôm đã bị bán sang tân đảo. Đíchsơn định bỏ ra số tiền dành dụm của mình để chuộc họ, nhưng bà Uynxton đã nhờ một người bạn hàng ở đó điều đình giúp và ngày 15 tháng mười một 1877, bốn người da đen gõ cửa nhà bà.
Đó là già Tôm, Pát, Antôn và Ốttanh. Bốn người bị nghẹt thở trong vòng tay thân yêu của những người bạn bấy lâu thương nhớ.
Chỉ còn thiếu có u già Năng và con Đinhgô, nhưng biết làm sao được!
Ngày hôm đó, nhà ông Uynxton mở tiệc linh đình. Ly rượu thứ nhất bà Uynxton thay mặt cho đoàn thủy thủ và hành khách chúc mừng Đíchsơn “thuyền trưởng mười lăm tuổi” của thuyền Hải âu, trong những tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô nồng nhiệt của mọi người.
 
HẾT
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2013 01:04:45 bởi Ct.Ly>
Truyện đã được đăng vào thư viện ở địa chỉ:
 http://vnthuquan.net/truy...31n343tq83a3q3m3237nvn
Xin chân thành cám ơn!
Chúc bạn luôn vui vẻ và thành công[:D]
Có gì đâu và có gì đâu chứ!
0
«« « 1 2 » »»