Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Kiếp Đi Ở - Octave Mirbeau 🔒

13 trả lời, 8.245 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.10.2013 17:09:10 bởi Ct.Ly>
Kiếp Đi Ở
 
Tác giả: Octave Mirbeau
Dịch giả: Phạm Văn Vịnh
 
 
Nhờ các hiệp sĩ cùng phụ một tay đánh máy truyện này nhé
 
Muốn nhận bản scan, xin vui lòng để lại email ,
 
Chương I:  huethvc  hoàn tất
Chương 2 huetnvc hoàn tất
Chương 3: huetncv hoàn tất

Chương 4 :  huethcv hoàn tất
Chương 5: huetncv hoàn tất
Chương 6: Đặng Minh Toàn  hoàn tất
Chương 7 : Trangct đã gửi
Chương 8:
Chương 9: Đặng Minh Toàn hoàn tất
Chương :10 Trangct hoàn tất
Chương 11 : Trangct hoàn tất
Chương 12: Trangct hoàn tất
Chương 13: wild hoàn tất
Chương 14:
Chương 15: trangct hoàn tât
 
Chương 16:





0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.08.2013 10:39:04 bởi Ct.Ly>
Chap I
 
---
- I -
14 tháng Chín
 
Hôm nay, 14 tháng Chín, lúc ba giờ chiều, trời êm ả, hơi lất phất mưa, tôi đến nhận việc ở một chỗ mói. Đây là chỗ làm thứ mười hai trong hai năm qua. Tất nhiên tôi không nói về những chỗ làm của những năm trước nữa, vì nhiều chuyện lắm, không sao kể được. Tôi có thể tự hào là mình đã thấy được nơi sâu thẳm các bộ mặt và những cái xấu xa của nhiều tâm hồn... Tôi đã lặn lội khắp nơi, từ nhà này đến nhà khác, từ khu rừng Boulogne đến nhà ngục Bastille; từ Đài quan sát đến Đồi Monmartre, từ Ternes đến Gobelin, chẳng đâu ở lâu, vì vậy mà được biết nhiều ông chủ bà chủ. Rồi lại đến chỗ này nữa. Nhiều chuyện không thể ngờ được.
Tôi đến làm ở chỗ này là do tôi xem mục nhắn tin trên báo Figaro, chứ không phải do tịếp xúc vói bà chủ nhà. Và mãi sau giữa bà và tôi mới viết thư hợp đồng với nhau. Thư bà viết rõ ràng, rành mạch nhưng biểu lộ tính keo kiệt. Giấy viết thư là loại giấy xấu, không ai dùng. Nghèo như tôi, mà tôi cũng chả dùng loại giấy ấy. Giấy tôi dùng là loại giấy tốt màu hồng hoặc xanh phơn phớt, lại xức nước hoa, ngoài ra tờ giấy nào cũng in các cành hoa thật đẹp...
Vậy là tôi đã đến Normandie, ở Mesnil-Roy. Dinh cơ của bà chủ nhà cách đấy không xa và có tên gọi là Lâu đài Prieuré... Đấy là nơi từ nay tôi đến để sinh sống.
Tôi không khỏi vừa buồn vừa tiếc sao lại thiếu suy nghĩ đem thân mình chôn vùi vào nơi hang cùng ngõ hẻm này! Chỉ thoáng qua tôi đã thấy ngao ngán và tự hỏi không biết rồi đây sẽ ra sao? Rõ ràng là chẳng có gì hay ho và rất nhiều cái phiền.
*
*        *
Đây không phải là lần đầu tiên tôi đến làm việc ở một tỉnh lẻ. Bốn năm trước đây đã có một lần rồi, và trong hoàn cảnh rất đặc biệt.
Câu chuyện tôi kể dưới đây có nhiều chi tiết rất kinh, tuy thê tôi vẫn muốn kể. Ý định của tôi khi viết bản nhật ký này là không lấp lửng với người đọc và với cả chính mình. Khi cần, tôi sẽ nói hết sự thật, dù rằng đó là sự thật tàn nhẫn, dù rằng khi lột cái vỏ bề ngoài, một sự thật thối tha sẽ phải phơi bày.
Chuyện là như thê này:
Tôi đã đến "Phòng xếp việc làm". Tiếp tôi là một chị người to béo. Chị là người hầu phòng của ông Robour nào đấy ở Touraine. Hợp đồng xong rồi, tôi phải lên tàu vào một ngày, một giờ, đến một ga, đúng như kế hoạch.
Tàu đỗ, tôi trả vé cho người kiểm soát rồi đi ra. Một người đánh xe mặt to bự, dáng phục phịch, gọi tôi:
-     Có phải chị là người hầu phòng mới đến làm cho nhà ông Robour không?
-     Phải, chính tôi đây.
-     Chị có hòm xiểng gì không?
-     Có một cái hòm.
-     Chị đưa phiếu gửi cho tôi rồi đứng đây đợi.
Nói rồi anh ta vào sân ga; nhân viên nhà ga gọi tên anh ta một cách trìu mến: "Anh Louis". Louis tìm chiếc hòm của tôi trong một đống ngổn ngang những hành lý và bảo chở trên một chiếc xe bò ra xe của anh ta đang đậu gần rào chắn:
-     Chị lên đi! - Anh Louis bảo tôi.
Tôi trèo lên xe, ngồi cạnh anh. Xe chạy.
Anh đánh xe liếc nhìn tôi. Tôi cũng nhìn anh và nhận ra ngay rằng anh là một người quê mùa, thô kệch, chưa bao giờ làm việc ở một nhà quyền quí. Tôi thấy buồn lòng, vì tôi quen sống với những gia nhân mang đồng phục đẹp đẽ. Tôi không ghét gì bằng nhìn thấy những người mặc chiếc quần bằng da bạc phếch bó sát đùi. Cái anh Louis này lại còn cục mịch ở đôi găng tay để giữ dây cương đánh xe, với bộ quần áo rộng thùng thình, bằng vải nhuộm màu xám xịt và cái mũ cát-két bằng da quét vec-ni kẻ hai vạch vàng. Nét mặt anh ta cau có, giọng nói thì cục cằn. Không phải người hung ác. Tôi biết những hạng người như thế này lắm. Mới gặp nhau thế nào cũng dở trò quái quỉ. Nhưng rồi dần dần dấu dịu và yên ổn. Nhiều khi yên ổn đến không ngờ.
Chúng tôi ngồi yên như thế lúc lâu, chẳng ai nói với ai. Anh ta làm ra bộ mặt người đánh xe có cỡ, kéo cao dây cương, roi ngựa ngoáy tròn. Trông thật buồn cười.. Còn tôi, tôi cứ giữ vẻ đàng hoàng nhìn phong cảnh, tuy phong cảnh chẳng có gì đặc biệt, vẫn đồng ruộng, cây cối, nhà cửa, như mọi nơi khác. Anh ta cho ngựa đi bước một để xe lên dốc. Và bỗng dưng với vẻ đùa giỡn anh ta hỏi tôi:
-      Chị có mang nhiều giầy như thế này không?
-      Nhiều! - Tôi trả lời, ngạc nhiên thấy câu hỏi chẳng ăn nhập gì, và nhất là thấy cách hỏi kỳ lạ của anh ta. - Sao anh hỏi thế! Hỏi thế là bất nhã, anh già ạ.
Anh ta khẽ lấy cùi tay hích tay tôi và nhìn tôi với con mắt khác lạ vừa như có ý châm chọc lại vừa thích thú, rồi hỏi:
-    Đi giầy để làm trò!
Rồi anh tắc lưỡi ra hiệu cho ngựa đi nhanh. Tôi thấy bứt rứt! Anh ta nói thế nghĩa là thế nào nhỉ. Tôi cho là anh ta ngốc nghếc không biết gì, ai lại gợi chuyện với phụ nữ bằng một câu hỏi ngây ngô như thế!
Cơ ngơi của ông Robour khá đẹp và to. Một ngôi nhà xinh xắn, quét vôi ve nhạt, chung quanh có thảm cỏ và vườn hoa, có rừng thông toả hương thơm ngát. Tôi thích cảnh nông thôn nhưng, cũng thật buồn cười, chả biết thế nào, tôi lại thấy u uẩn và chỉ muốn ngủ.
Bước chân vào tiền sảnh tôi thấy nghi nghi hoặc hoặc. Người đợi tôi ở đấy lại chính là chị hầu phòng, người đã nhận tôi vào làm hôm tôi đến "phòng xếp việc làm" ở Paris. Hôm ấy chị ta lục vấn tôi chả biết bao nhiêu chuyện, nào hỏi tôi có những thói quen gì, nào tôi ưa thích những gì... Vì vậy mà hôm nay gặp chị, tôi có ngay cảm giác không thích chị và ghét chị. Người chị ta to béo phục phịch, đầy những mỡ, cái ngực thì đồ sộ, đi cứ nẩy lên chồm chồm, hai bàn tay nhũn nhẽo, ướt chượt. Mắt trông có vẻ ác, lạnh nhạt, xấu tính. Chị ta nhìn cứ như xoáy mắt vào da thịt và đầu tóc người ta, khiến người ta thấy khó chịu.
Chị hầu phòng đưa tôi vào phòng khách, bảo tôi đợi đấy để chị đi báo ông chủ. Theo chị ta nói thì ông chủ muốn gặp tôi trước khi tôi bắt tay vào công việc. Chị bảo:
-      Tôi nhận chị vào làm. Nhưng ông chủ còn chưa nhìn thấy chị. Ông chủ cần phải biết chị đã, để xem ông chủ có ưng ý chị không.
Trong lúc chờ đợi, tôi ngước mắt nhìn gian phòng, thấy rất sạch sẽ ngăn nắp. Đồ đồng đồ gỗ, sàn gác, các cửa lớn nhỏ đều đánh xi bóng lộn, có thể soi gương được. Ở đây không có những bức thảm, những bức rèm thếu thùa tỉ mỉ như ở nhiều nhà ngoài Paris nhưng đồ đạc đều trang nhã, tiện nghi, hợp với khung cảnh yên tĩnh, ôn hoà nơi tỉnh nhỏ.
Giữa lúc này, ông chủ bước vào. Mới nhìn tôi đã thấy ngồ ngộ. Một ông già loắt choắt, râu ria nhẵn nhụi, trông như con búp bê. Cử chỉ nhanh nhẹn, hoạt bát. Chân đi lắp tắp như cào cào nhảy ngoài đồng cỏ. Ông chào tôi rất lễ độ và nói:
-      Cô tên gì, cô bé?
-      Célestine, thưa ông.
-      Célistine à? Đẹp đấy. Nhưng dài quá, cô ạ. Tôi gọi tắt là Marie, được không? Cũng đẹp mà lại ngắn gọn... Tất cả hầu phòng của nhà tôi tôi đều gọi là Marie cả. Đây là một tập tục đã nhiều năm. Thà thôi không mướn, chứ không muốn gọi khác.
Các ông chủ nhà đều như thế cả. Họ không muốn gọi người hầu phòng bằng tên chính. Vì vậy tôi chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Các ông chủ trước đã đặt cho tôi đủ mọi thứ tên gọi các thánh ghi trên lịch.
Ông gặng lại:
-    Cô đồng ý cho tôi gọi cô là Marie chứ, cô bé?
-    Vâng, thưa ông.
Ông nói, giọng vui vẻ, rất lịch thiệp. Trong lúc nói, ông không nhìn mặt tôi, cũng không nhìn quần áo tôi như những người đàn ông khác. Nhưng từ lúc vào phòng, mắt ông không rời khỏi đôi giầy trên chân tôi. Rồi đột nhiên ông hỏi:
-    Cô còn những cái khác không?
-    Cái tên khác ấy ạ, thưa ông? - Tôi hỏi lại.
-    Không. Tôi muốn hỏi những đôi giầy khác kìa, ông nói và đưa lưỡi liếm môi như kiểu mèo liếm mép.
Tôi không trả lời ngay. Tôi nghĩ chắc đôi giầy tôi đang đi có chuyện gì đấy. Chả vậy mà, dọc đường, anh đánh xe cũng đã nhạo tôi. Cuối cùng, với nét mặt không được vui và giọng nói hơi gắt, tôi trả lời:
-     Có, thưa ông. Tôi còn những đôi khác nữa.
-     Cũng đánh xi à?
-     Cũng đánh xi, thưa ông.
-     Cũng đánh rất bóng à?
-     Vâng, thưa ông.
-     Tốt. Bằng da màu vàng, có không?
-     Giầy da vàng thì tôi không có. Nhưng sao, thưa ông?
-     Cần phải có. Tôi sẽ cho cô.
-     Cảm ơn ông.
-     Đủ rồi! Đủ rồi! Không có gì!
Tôi thấy sợ. Mắt ông vẩn lên những nét bấn loạn và mờ đi như có làn sương che phủ. Trán ông thánh thót mồ hôi. Sợ ông ngất, tôi đã định kêu lên và gọi cấp cứu. Nhưng thấy cơn khủng hoảng của ông qua đi, giọng nói đã trở lại bình thường, khoé môi thấy có chút nước bọt.
Ông nói: "Không sao, qua rồi. Ở vào tuổi tôi là như thế. Nhưng để một phụ nữ phải đánh xi lấy giầy mình, không được. Tôi rất kính trọng phụ nữ, cô Marie ạ, tôi không muốn để như thế. Từ nay, cô để tôi đánh xi giầy cho cô. Tôi sẽ làm việc giữ gìn, bảo quản giầy dép của cô. Tối đến, trước khi đi ngủ, cô mang giầy đến phòng tôi, để cạnh giường, trên mặt bàn con. Sáng ra, khi đến mở cửa sổ phòng tôi, cô lại lấy giầy đem về".
Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, ông nói thêm: "Tôi yêu cầu cô như thế, có gì lớn lao đâu. Một việc rất tự nhiên. Cô nghe tôi nhé...".
Rồi ông rút từ túi áo ra hai đồng tiền vàng và nói:
-     Nếu cô biết vâng theo lời tôi thì thỉnh thoảng tôi lại cho cô như thế này. Tiền công của cô thì hàng tháng bà quản gia sẽ trả. Còn tôi, cô Marie ạ, thỉnh thoảng tôi có quà riêng cho cô và tôi chỉ yêu cầu cô có thế thôi. Có gì là lạ đâu!
Rồi tự nhiên ông khùng lên, chân tay vung vẩy người rung lên như lá cây rung lên trong giông bão. Ồng hỏi như quát:
-     Sao không nói gì, cô Marie? Phải nói đi chứ! Sao cô đứng ngay ra vậy? Phải bước đi để tôi xem đôi giầy của cô vận động thế nào.
Rồi ông quì xuống, hôn đôi giầy của tôi, cầm lên tay run run, vuốt ve, phụng phịu như trẻ con, ông nói:
-     Chao ôi! Marie, cô đưa ngay đôi giầy cho tôi, đưa ngay, đưa ngay, đưa ngay!
Tôi vô cùng ngạc nhiên. Không còn biết đây là thật hay đang mơ... Hai mắt ông lồi trố, trắng dã, đầy những tia đỏ, mồm ông nhầy nhụa nước bọt như nước xà phòng.
Rồi ông mang đôi giầy của tôi đi. Suốt hai tiếng đồng hồ ông đóng cửa ngồi trong phòng.
- Ông chủ thích cô lắm, cứ tiếp tục như thế. Chỗ làm này tốt đấy! - Bà quản gia bảo tôi.
Bốn hôm sau, như thường lệ, buổi sáng tôi đến mở cửa sổ phòng ông chủ. Tôi sợ chết ngất được, bạn ạ. Tôi thấy ông chủ chết rồi. Ông nằm duỗi thẳng cẳng trên giường, mình trần trùng trục, cơ thể cứng đơ. Trước khi chết ông không vùng vẫy. Chăn chiếu không bị xô lệch, cũng không có dấu hiệu chống chọi vối cái chết, dấu hiệu hấp hối cũng không. Trông ông như người nằm ngủ, nhưng mặt ông tím bầm, trông rất sợ. Nhưng sợ hơn nữa là cảnh tượng này: Răng ông cắn chặt lấy một chiếc giầy của tôi. Tôi đã cô giằng ra mà không được. Sau cùng tôi phải lấy dao cắt đứt bỏ lại miếng da ông ngậm trong mồm.
Tôi cũng biết là trong đám đàn ông có những kể có hành động điên loạn, nhưng điên loạn đến như ông chủ tôi thì tôi chưa thấy bao giờ.
*
* *
Đến chỗ làm mới này chắc là sẽ không giống như thế, sẽ khác đi. Nhưng khác thế nào, tốt hơn hay xấu hơn, thì tôi cũng không biết. Qua kinh nghiệm đi làm nhiều năm thì tôi có thể khẳng định rằng cái nghề hầu phòng ít phần tốt, nhiều phần xấu.
Các bạn sẽ hỏi tôi đã biết như vậy mà sao lại cứ làm, sao không bắt chước như nhiều chị em khác đi lang bang một thời gian, rồi cố công may ra kiếm được một tấm chồng, để có cuộc sống ổn định đỡ phải sống kiếp tôi đòi.
Các bạn nghĩ như vậy cũng đúng. Tôi chẳng phải sắc nước hương giời nhưng có thể nói là hơn hẳn các chị em khác. Nhiều các bà mệnh phụ, nhiều chị ở lầu son gác tía còn phải ghen vói tôi. Tôi tuy cao lớn nhưng mềm mại, óng ả, cân đối, mái tóc của tôi mướt một màu hung, đôi mắt xanh biếc khêu gợi và nghịch ngợm; cái miệng mang vẻ táo tợn, thách thức; cử chỉ độc đáo, tác phong vừa linh lợi vừa dịu dàng, rất hợp với ý thích của đàn ông. Chẳng dám tự phụ, với hình thức như vậy, tôi có nhiều ưu thế để "thành đạt" lắm chứ! Nhưng tôi đã bỏ lỡ nhiều cơ hội; có những cơ hội thật tuyệt vời, và chẳng bao giờ trở lại. Nhưng cái chính là tôi sợ, sợ không biết làm như thế tình hình sẽ ra sao, sự việc sẽ dẫn tôi đến đâu. Tôi từng biết rằng người ta sẽ nói đủ thứ lời đường mật để mua chuộc khi mình đã bị sập bẫy rồi thì mọi thứ khổ cực sẽ đến với mình, bệnh tật, ốm đau, chết chóc, cả tù đầy, xỉ nhục. Cứ nghĩ đến đã sợ chết được. Vì vậy mà tôi không dám, tôi sợ.
Còn một điều này nữa. Mặc dầu cuộc đời của tôi phóng túng thật, nhưng tôi có cái may mắn là tôi vẫn giữ được tấm lòng mộ đạo, rất thành tâm. Vì thế mà tôi không rơi xuống vực thẳm. Chà! Nếu không có đức tin, không có cầu khấn, không có Chúa tròi, không có Đức Mẹ đồng trinh, thì người ta sẽ vô cùng khổ cực, cuộc đời chỉ là một chuỗi dài những đêm tối u buồn.
Còn một điều nữa nghiêm trọng hơn tất cả là tôi không biết giữ mình trước sự sàm sỡ của đàn ông. Tôi không tránh khỏi là nạn nhân của tính vô tư của tôi và lòng ham mê lạc thú của họ. Tôi là một người đa tình, khao khát yêu đương. Tôi không bao giờ cầu mong tiền bạc để đổi lấy hạnh phúc, đổi lấy những giây phút ngây ngất họ đem lại cho tôi. Khi những con quái vật ấy thủ thỉ bên tai tôi, quệt bộ râu lên gáy tôi, phả hơi nóng lên da thịt tôi, những lúc ấy tôi chỉ còn là một cục xi để bàn tay họ tha hổ nhào nặn, tôi hoàn toàn thuộc về họ, muốn làm gì tuỳ ý.
Vì vậy mà tôi không thể làm theo các chị em kia và vẫn cứ bám bíu lây cái nghề hầu phòng, và vẫn đến làm việc ở lâu đài Prieuré chẳng với ước vọng gì, đến đâu thì đến, ra sao thì ra. Tôi cứ liều nhắm mắt đưa chân... Như thế có khi lại hay... Miễn là bà chủ đừng ngày một ngày hai đuổi tôi đi, để tôi khỏi rơi vào tình cảnh thất nghiệp.
Thời gian gần đây tôi cũng bệnh nọ bệnh kia. Hiện giờ đang đau thận và đau bụng, suy nhược toàn thân đau cả dạ dày, rồi trí nhớ kém... trong người lúc nào cũng bứt rứt. Lúc nãy tôi nhìn vào gương thấy nét mặt võ vàng, nước da trước trong như ngọc, vậy mà bây giờ xám xịt như chì. Trông thấy rõ ràng là già đi, mà tôi thì chưa muốn già.
Ở Paris tôi không có điều kiện chữa, không có thì giờ. Cuộc sống ở đấy hối hả quá, nhộn nhạo quá... Lúc nào cũng đối mặt với người, với chuyện nọ chuyện kia, nhiều cám dỗ, nhiều bất ngờ. Từ sáng sớm đến tối mịt đầu óc lúc nào củng quay cuồng như chong chóng.
Vì vậy mà tôi cứ phải ra đi... về đây yên tĩnh và thanh bình. Được thở không khí trong lành được tĩnh dưỡng, được nghỉ ngơi.
Bây giờ tôi nói về bà chủ. Lúc đầu tôi thấy bà dễ mến. Bà khen tôi ăn mặc lịch sự và tỏ ra hài lòng với những thông tin bà biết về tôi. Lúc đầu bao giờ chả thế, cái gì cũng thấy đẹp. Nhưng chỉ ngày hôm sau đã khác hẳn... Tôi thấy đôi mắt của bà lạnh, rất dữ, mắt của một người keo kiệt, lúc nào cũng nghi ngờ, cũng soi mói. Tôi không thích đôi môi của bà, nó mỏng dính, khô cong, như có một lớp vẩy trắng. Tiếng nói của bà cộc lốc, sắc lẹm, như sẵn sàng phun ra một câu chửi rủa. Khi hỏi tôi việc này, việc kia, đôi mắt bà soi mói như mắt một nhân viên hải quan. Tôi tự nhủ: Không còn nghi ngờ gì nữa. Đây nhất định là một người riết róng, đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành. Không khác được.
Tuy vậy, phải theo dõi, không nên vội vàng có ấn tượng. Biết đâu những nét khắc nghiệt ấy chỉ là vẻ bề ngoài. Còn bên trong lại là một người rộng rãi, nhân từ. Cứ hi vọng như thế có mất vốn mất lãi gì.
Vừa đến nơi, chưa hết bàng hoàng, sau bốn tiếng ngồi tàu hoả, bụng chưa có mẩu bánh, bà chủ đã dẫn tôi đi khắp nhà, xuống hầm, lên kho, để chỉ dẫn công việc. Nhà cửa mới rộng làm sao chứ! Ngóc ngách thật lắm chỗ. Phải ít nhất bốn người làm mới xuể. Nhà có hai tầng gác, leo lên leo xuống mỏi chân, tầng trệt lại có hai gian nối vào hai đầu. Bà chủ ngồi ở phòng khách, cạnh phòng ăn. Phòng quần áo là chỗ tôi làm việc, kề sát phòng bà. Chung quanh tường, nào tủ, nào kệ, nào giá, đủ loại, đi vào khó tìm được lối ra...
Mỗi khi đến một căn phòng, bà lại nhắc: Phải chú ý cái này, cô gái ạ. Đẹp lắm đấy... Quí hiếm lắm đấy,.. Đắt tiền lắm đấy.
Bà không gọi tôi bằng tên, trước sau chỉ mỗi câu "cô gái ạ". Đi lôi này, cô gái, rẽ lối kia, cô gái, một cách gọi trịch thượng nghe phát bực. Bà luôn luôn nói: đắt lắm đấy! Cả những cái vứt đi cũng đắt lắm đấy! Bà bảo tôi cách vặn bấc một cái đèn dầu hoả giống như mọi cái đèn khác, chẳng có gì đặc biệt, vậy mà bà cũng dặn: Đèn này đắt lắm đấy, con gái ạ. Hỏng phải đem sang nước Anh mới chữa được kia đấy. Phải giữ cẩn thận như giữ con mắt mình.
Tôi những muôn trả lời bà:
- Vâng, cả cái bô đi giải của bà cũng đắt lắm và phải đem sang Luân Đôn mới chữa được.
Căn hộ của bà bề ngoài trông rất đàng hoàng. Chung quanh có cây cối xanh tốt, có núi giả, có vườn hoa, cây cảnh, chạy thoai thoải xuống bờ sông... Nhưng bên trong thật là buồn. Không biết sao người ta lại có thể sống ở đấy. Chỉ thấy toàn ổ chuột. Cầu thang gác ọp ẹp, những bậc lên xuống rung lên mỗi khi đặt chân. Hành lang thì tối om, gạch lát lổng chổng chẳng hòn nào khớp với hòn nào, hòn đỏ, hòn xanh, hòn vàng, không ra hàng lối gì cả. Rào chung quanh là những tấm ván khô cong, bước đi đến đâu rung lên đến đây. Ở tỉnh lẻ mà, sao lịch sự được như ở Paris. Phòng nào đồ đạc củng cũ nát, thảm che tường thủng lỗ chỗ, bạc phếch, bàn ghế long mộng, lắc lư như đánh võng, ngồi chỉ muốn ngã nhào xuống đất. Tôi quen nhìn những tấm rèm màu sáng sủa, những chiếc đi-văng rộng trải mút êm, có thể duỗi thẳng chân và đặt đầu lên một chồng gối cao, chung quanh là những trang thiết bị hiện đại, đắt tiền, vui tươi. Tôi thấy căn hộ của ông bà chủ ở đây buồn lắm. Tôi sợ không biết có thích nghi với chỗ sinh sống thế này được không, thiếu tiện nghi, thiếu lịch sự, chỗ nào cũng đầy bụi là bụi.
Bà chủ ăn mặc không như người ở Paris. Xộc xệch, nhếch nhác, luộm thuộm, lạc hậu hàng chục năm so với thành phố. Trông bà chẳng gợi lên một tình cảm gì cả. Nhưng người bà cân đối, mái tóc có làn sóng tự nhiên, mướt một màu hung, nước da trắng hồng, nhưng có vẻ đau ốm gì đó. Tôi biết các bà phụ nữ có nước da như thế này, không mấy khi nhầm. Bên ngoài thì hồng, nhưng bên trong thì mỏng. Kiểu ấy là khó sống; muốn đứng vững phải nhiều thuốc men, mà cũng được lúc nào biết lúc ấy, đang ngồi ngã vật ra lúc nào không hay. Những bà như vậy trong thì giòn giã, đỏm dáng, nhưng phục vụ thì mệt lắm.
Bà luôn miệng hỏi: "Cô có biết làm cái này không?" - "Cô có biết làm cái kia không?" hay là: "Cô có cẩn thận không" "Cô có ngăn nắp không?" Chưa hết. Nhiều lúc bà còn hỏi: "Cô có sạch sẽ không? Tôi là một người rất sạch sẽ. Tôi có thể bỏ qua nhiều cái, nhưng bẩn thỉu thì không chịu được". Cũng thật là buồn cười. Bà sợ tôi không sạch sẽ, nhưng thử vào buồng toa-let của bà mà xem, bồn tắm, chậu giặt, giá vắt khăn mặt, quần áo, khai mù mịt, đứng năm phút có thể chết ngất.
Buổi tối, tôi đang xếp bàn ăn thì ông chủ đến. Ông vừa đi săn về. Ông người to lớn, hai vai rộng, bộ ria đen nhánh, nước da mờ đục, dáng đi chậm chạp, vụng về, nhưng có vẻ tốt bụng. Tất nhiên ông không phải là một kỳ tài như ông Jules Lemaitre ở phố Christophe Colomb mà tôi đã nhiều lần hầu hạ, cũng không là người thanh nhã như ông Janzé. Nhưng ông có vẻ đáng mến. Mái tóc ông cứng và quăn, cổ ông như cổ bò tót, hai bắp chân như bắp chân đô vật, môi ông thay lảy những thịt, đỏ chót và tươi, chứng tỏ một người khoẻ mạnh, vui tính. Tôi cam đoan rằng ông này là một người hiếu sắc. Cứ trông cái mủi phập phồng luôn luôn hếch lên như tìm kiếm, đôi mắt lúc nào cũng sáng rực, lẳng lơ... thì biết. Tôi chưa bao giờ gặp một người đàn ông có bộ lông mà dày và thô, hai tay đầy lông lá như ông. Giống như mọi người đàn ông kém thông minh, mình đầy bắp thịt, trông ông lúc nào cũng có vẻ rụt rè, thiếu tự tin.
Ông nhìn tôi một cách ngộ nghĩnh, vừa có vẻ nhân hậu, vừa tỏ ra hài lòng, lại vừa có ý ngạc nhiên. Nét nhìn của ông có vẻ tếu táo, nhưng không trơ tráo, không tàn ác. Rõ ràng là ông không quen với những người hầu phòng như tôi. Tôi đã làm ông phải sững sờ và ngay từ phút đầu gây cho ông một ấn tượng mạnh.
Giọng nói có vẻ lúng túng, ông hỏi tôi:
-     Cô là người hầu phòng mới à?
Tôi khẽ ngả đầu về đằng trước và hoi cúp mắt xuống trả lời một cách dịu dàng, ngắn gọn:
-     Vâng, thưa ông.
Nghe tôi trả lời vậy, ông lẩm nhẩm:
-     Vậy là cô đến rồi đấy... Tốt lắm... Tốt lắm.
Ông còn muốn nói thêm gì nữa, nhưng vốn không phải là người hoạt bát và không tháo vát nên ông chẳng tìm ra được câu nào. Trông ông lúc ấy thật buồn cười. Sau một lúc mới thấy ông hỏi:
-     Cô đến từ Paris à?
-     Thưa ông vâng.
-     Tốt lắm... Tốt lắm...
Rồi mạnh dạn hơn, ông hỏi:
-     Cô tên gì?
-     Célestine, thưa ông.
Ông xoa tay và nói:
-             Célestine!... Tốt lắm! Một cái tên hay lắm, đẹp lắm! Bà chủ phải đừng đổi tên khác kia. Bà ấy cứ hay như thế đấy.
-    Việc ấy xin để tuỳ bà chủ ạ, - tôi lễ phép trả lời.
-    Có thế! Có thế! Nhưng cái tên đẹp lắm.
Tôi suýt bật cười. Ông chủ ngồi phịch xuống ghế, sau khi đã đi đi lại lại mấy vòng trong nhà. Rồi ông duỗi thẳng hai chân, với ánh mắt như xin lỗi, với giọng nói như van lơn, ông bảo tôi:
-    Cô Célestine, từ nay trở đi tôi cứ gọi cô là Célestine, cô giúp tôi cởi đôi giày ra. Cô có thây điều ấy làm cô bực không?
-    Thưa ông, không ạ.
-    Đôi giầy này khó cởi lắm, cô ạ, nó cứ giữ chặt lấy chân.
Trong một động tác vừa uyển chuyển, mềm mại, lại vừa khêu gợi, tôi quì xuống trước mặt ông. Trong lúc tôi giúp ông rút giầy ở chân ra, tôi thấy ông hít mùi nước hoa ở gáy tôi, mắt ông theo dõi những đường cong trên yếm tôi và tất cả những gì trong cơ thể tôi lộ qua tấm áo. Bỗng ông thì thào:
-    Célestine! Cô thơm ghê!
Không ngửng lên nhìn, tôi làm ra vẻ ngây ngô hỏi:
-    Tôi ấy ạ, thưa ông?
-      Cô ấy, Célestine ạ, chứ chả nhẽ chân tôi à?
-      Ôi chao, thưa ông!
Mấy tiếng "Ôi chao, thưa ông" vừa là lời phản kháng hộ cho đôi chân của ông, lại vừa là lời mắng yêu đối với thái độ sỗ sàng của ông (mắng nhưng lại là xúi giục ông làm thêm). Chắc ông hiểu như vậy nên bằng một giọng mạnh mẽ hơn và run run tình tứ, ông nhắc lại:
-      Célestine!... Cô thơm ghê... thơm ghê!
Tôi im lặng, giả vờ như bất bình với mấy tiếng ông vừa nhắc lại. Vốn thiếu tự tin, lại không hiểu gì về mánh lới của phụ nữ, ông chủ tôi bối rối. Ông sợ mình đã đi quá xa, ông bỗng lảng sang chuyện khác:
-      Célestine, ở đây cô có quen không?
Sao ông chủ tôi lại hỏi thế nhỉ? Ở đây có quen không? Tôi mới đến đây được ba tiếng đồng hồ... Tôi phải cắn môi để khỏi bật ra tiếng cười... Ông già cũng ngộ thật... và có phần lẩn thẩn.
Nhưng không sao. Tôi không vì thế mà bất mãn. Trái lại tôi thấy ông có khí thế, đầy vẻ hùng dũng của giống đực, một hơi thở hoang dã, sâu thẳm và nồng ấm. Tôi không hề khó chịu.
Rút được đôi giầy ra khỏi chân ông rồi, để ông có ân tượng tốt về tôi, tôi hỏi ông:
-    Ông chủ đi săn ạ? Hôm nay có bắn được nhiều không?
-    Tôi săn chẳng bao giờ tốt cả, Célestine ạ, - ông lắc đầu nói, - tôi đi để mà đi, để mà dạo chơi, để khỏi phải ở nhà, ở nhà tôi thấy buồn...
-    Sao ở nhà ông chủ lại thấy buồn?
-    Trước đây thì thế, còn bây giờ thì...
Rồi ông mỉm cười ngốc nghếch, thiểu não và nói tiếp:
-    Célestine...
-    Thưa ông.
-    Làm ơn đưa tôi đôi giầy vải. Tôi xin lỗi cô.
-    Thưa ông, đấy là việc của tôi...
-    Nhất trí. Giầy ở dưới gầm cầu thang, trong phòng nhỏ bên trái...
Tôi cho là rồi ra tôi muốn cái gì là ông ấy sẽ phải chiều. Ông ấy không láu, mới đầu đã nộp mình ngay. Tôi sẽ dắt ông ấy đi xa...
Bữa ăn đạm bạc, gồm toàn những món còn thừa để lại từ hôm trước, lặng lẽ đi qua. Hai ông bà mỗi người có một kiểu ăn, ông ăn nghiến ngấu, bà ăn nhỏ nhẹ, nhưng cả hai cử chỉ đều buồn, nét mặt đều chán, người nào cũng khinh khỉnh... Trên bàn, trước mặt bà, để sẵn bốn năm loại thuốc, vừa thuốc viên, vừa thuốc nước. Thứ thì uống trước lúc ăn, thứ thì sau lúc ăn, lại có thứ đang lúc ăn, bữa nào cũng vậy. Hai ông bà ít nói, cả bữa chỉ vài câu, mà toàn những chuyện về người và việc ở địa phương, tôi nghe chẳng hiểu gì cả.
Qua những câu chuyện của hai ông bà thi biết được gia đình ít có khách khứa qua lại. Ông bà mỗi người đối với tôi một khác. Bà thi nghiêm khắc, cứng rắn, khinh khi, mỗi ngày một thù nghịch, đã nghĩ đến những trò ác đốỉ với tôi. Còn ông thì nháy mắt rất ý nghĩa, mặc dầu che giấu song lộ rõ nét nhìn vụng trộm nơi bàn tay tôi: qua việc ngắm nhìn đôi bàn tay phụ nữ tự kích thích mình... Nhưng tôi giả vờ như không nhận thấy trò của ông. Tôi cứ chạy đi chạy lại, giữ vẻ kín đáo, khôn khéo như không quan tâm gi đến hiện trạng đương diễn ra trước mắt tôi trên bàn ăn của hai ông bà. Chẳng hiểu ông bà có thấu suốt được tâm trạng của tôi lúc ấy không? Còn tôi, tôi cũng phần nào thấy được, nghe được, tâm trạng của ông bà qua buổi phục vụ trong bữa ăn của ông bà hôm ấy.
Tôi rất khoái được phục vụ trong bữa ăn. Chính lúc ấy, mà tôi thấy được những nét xấu xa, thấp hèn trong tính cách của họ. Lúc đầu, họ cũng giữ gìn, cũng dè dặt, nhưng sớm muộn họ sẽ phơi bày những khuyết tật những cái bướu, ung nhọt của đời họ, những mong ước nhỏ nhen, những mơ tưởng ti tiện mà những tâm hồn cao thượng không nên có. Nhặt nhạnh lấy những điều tự thú của họ, sắp xếp lại, ghi khắc vào trí nhớ chúng ta, chờ khi cần thiết sẽ đem ra sử dụng như một vũ khí lợi hại để đấu tranh, để phục thù, để tính sổ. Đó là cái thú của nghề hầu phòng.
Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên ây, tôi chưa thu lượm được gì thật chính xác... Nhưng tôi cảm thấy rằng gia đình này không mấy êm ấm, ông chủ không là gì ở nhà này, bà chủ là tất cả, trước mặt bà, ông run sợ như một đứa trẻ. Con người tội nghiệp ấy ít khi được cười. Ông đã phải nghe, phải thấy, phải chịu đựng đủ mọi thứ. Tôi đã biết trước rồi đây sẽ có lúc được thấy những cái đó.
Đến lúc ăn tráng miệng, bà chủ từ đầu bữa, đã luôn hít hơi bàn tay, cánh tay, áo sống của tôi, đã nói một câu rành mạch sắc lẹm:
-     Tôi không thích người ta xức nước hoa.
Tôi không trả lời, vờ như không biết là câu ấy bà nói với tôi.
Thấy vậy, bà gặng hỏi tôi:
-     Cô có nghe thấy tôi nói không, Célestine?
-     Có, thưa bà.
Bấy giờ tôi mới nhìn trộm ông chủ, xem ông thế nào, vì ông lại ưa mùi nước hoa mà. Tôi thấy ông để hai cùi tay trên bàn, bề ngoài như có vẻ bàng quan nhưng thâm tâm ông xấu hổ và ngao ngán, ông nhìn theo một con ruồi còn vo ve trên đĩa món ăn đã hết. Phòng ăn lúc này âm u trong bóng tối của hoàng hôn, có dáng buồn khó hiểu và cái gì thật khó nói đè nặng lên hai con người đang trong đó. Tôi tự hỏi sự có mặt của họ trên trái đất này là để làm gì, có ích gi.
-     Thắp đèn lên, Célestine! Tiếng bà chủ chua loét phát từ trong bóng tối làm tôi giật mình.
-     Cô không thấy giờ tối rồi à? Thấy tối thì phải thắp đèn lên chứ! Lần sau đừng để tôi phải bảo nhé, cô nhớ chưa?
Tôi thắp đèn, cái đèn mà hỏng phải đem sang nước Anh mới chữa được, tôi muốn quát lên với ông chủ nhà:
-     Đợi đã ông chủ, đừng sợ gì... Ông khỏi lo. Tôi sẽ cho ông ăn và uống nước hoa đến thoải mái, không còn sợ thiếu thốn, vì tôi biết ông rất khoái nước hoa... ông sẽ được hít thở nước hoa một cách đầy đủ trên mái tóc tôi, trong miệng tôi, họng tôi, trên khắp da thịt tôi. Hai chúng ta sẽ làm cho con người ngu đần ấy biết tay. Tôi bảo đảm với ông, như thế.
Để vật chất hoá lời nói của tôi, khi tôi để cái đèn lên bàn, tôi khẽ chạm tay tôi vào cánh tay ông rồi tôi đi khỏi.
Cảnh nhà này không mấy vui vẻ. Ngoài tôi có hai người giúp việc, một chị nấu bếp, suốt ngày kêu ca, một anh làm vườn kiêm đánh xe, suốt ngày chẳng nói một lời. Chị nấu bếp tên là Marianne, anh làm vườn tên là Joseph. Cả hai là những người nhà quê đần độn, chị nấu bếp béo tròn, nhũn nhẽo, cổ thành ba thớt, quấn trong tấm khăn bẩn chắc là nhiều lúc để lau nồi; hai vú như hai cái giỏ, chảy dài trên ngực, nhảy chồm chồm mỗi lúc chị bước đi, chiếc váy ngắn quá để hở những cái mắt cá chân to xù, những bàn chân to bè đi trong bít tất đen; chiếc áo ngắn tay, chiếc tạp dề và đôi guốc, một cái sẹo chạy dài trên má, hai chân đi khoành khoèo. Đấy là hai bạn đồng sự với tôi.
Trong nhà không có phòng ăn riêng cho những người giúp việc. Chúng tôi ăn tại nhà bếp, ngay trên cái bàn chị Marianna làm cá, thái thịt, nhặt rau, với những ngón tay to như những quả chuối mắn. Ngồi ăn như vậy không ổn. Bếp lò lửa cháy đùng đùng làm cho không khí ngột ngạt. Rồi mùi mỡ sôi, hoa quả, nước mắm dở mùi. Trong lúc chúng tôi ngồi ăn, trên bếp đang nấu nồi súp cho chó, mùi thối từ trong nồi bốc lên phát lộn mửa. Tù nhân cũng không đến nỗi phải ăn thế này.
Ăn thì có thịt thiu, phó mát hôi, và uống thì nước hoa quả đã chua. Ngoài ra, không có gì nửa. Bát đĩa bằng sành đã sứt mẻ, thìa dĩa bằng sắt tây gỉ.
Vì mới đến, nên tôi không tiện kêu ca. Nhưng ăn thì chịu. Ăn làm gì cho hại dạ dày.
-     Cô không ăn à? - Chị bếp hỏi tôi.
-     Tôi không đói.
Nghe tôi nói vậy, chị bếp càu nhàu:
-     Để phải làm món nấm cho cô ăn.
Không tỏ ra bực mình, nhưng giữ vẻ trang nghiêm, tôi cãi lại:
-     Tôi cũng đã từng ăn nấm... không ai được phép nói như thế ở đây...
Thấy tôi nói vậy, chị bếp im.
Trong khi đó, anh làm vườn cứ gắp thịt ăn từng miếng to, thỉnh thoảng liếc nhìn tôi. Không hiểu thế nào, cái nhìn của anh làm tôi khó chịu, lúc anh im lặng tôi thấy bối rối. Tuy anh không còn trẻ, nhưng mềm mại, dẻo dai, mình uốn lượn như loài rắn. Anh có bộ tóc cứng đã hoa râm, vầng trán thấp, đôi mắt xếch, lưỡng quyền cao, cằm bạnh, và khoẻ, gương mặt ngồ ngộ khó xác định... Anh ta đần độn chăng? Hay ngớ ngẩn? Cũng không biết nữa. Nhưng anh ta làm tôi phải chú ý. Nhưng rồi nỗi ám ảnh qua đi và mờ dần. Tôi cũng hiểu ra rằng do trí tưởng tượng của tôi quá lớn, quá mức, trở thành hoang đường nên tôi nhìn người và vật có lúc quá đẹp, lại có lúc quá xấu, nên tôi đã vẽ ra một Joseph cao cả hơn một chân quê cục mịch.
Sau bữa ăn Joseph lôi từ túi áo ra một quyển sách tên đề "Lời nói phóng túng" và chăm chú đọc, còn chị bếp Marianne uống hai cốc rượu đầy ngà ngà say, trở nên ngoan ngoãn. Chị nằm vắt trên ghế tựa, tay áo trễ ra, mũ lệch sang một bên để lộ bộ tóc rối bù. Chị hỏi tôi trước ở đâu? Trước làm gì? Chỗ làm có tốt không? Có phải lang thang như người Do Thái không? Chúng tôi đã trò chuyện thân mật với nhau một lúc... Tôi cũng hỏi chị về nhà này, có người ra vào luôn không. Thường là những người như thế nào? Ông chủ có quan tâm đến các chị hầu phòng không? Bà chủ có nhân tình không?...
Tôi cũng muốn thăm dò xem đầu óc chị ta và anh Joseph thế nào... Nhưng xem ra họ lạc hậu lắm... Họ chả biết gì cả,... chả hiểu gì cả... Chả nghe thấy gì cả... Cả những chuyện rất bình thường họ cũng chả quan tâm gì... Dân ở tỉnh lẻ mà! Song tôi vẫn yên trí rằng cái anh có cử chỉ cục mịch và đáng kính và cái chị có tác phong luộm thuộm và đạo đức ấy, không khỏi sẽ ngủ với nhau...
-   Cô đúng là một người từ Paris đến. - Chị bếp đã nói tôi như thế.
- Nhất định rồi! - anh làm vườn lúc lắc cái đầu, hưởng ứng.
Nói rồi, anh lại nằm xuống tiếp tục đọc quyển "Lời nói phóng túng" còn chị bếp thì ì ạch bê nồi xúp của chó để xuống đất. Mọi người thôi trò chuyện.
*
* *
Lúc này tôi lại nhớ đến chỗ làm việc trước, nhớ đến anh Jean của tôi, người hầu phòng, rất đặc biệt với bộ ria đen nhánh, với nước da trắng mịn như da con gái. Chà! Thật là một trang thanh niên tuấn tú. Anh vui tính, xinh trai, tế nhị, khéo tay, tối đến đọc truyện "Cuối thế kỷ" cho chúng tôi nghe, kể nhiều chuyện cảm động, nói lại cho chúng tôi biết các bức thư của ông chủ... Bây giờ thì khác rồi! Sao tôi lại sa lầy vào đây nhỉ! Giữa những con người như thế! Xa tất cả những gì tôi yêu, tôi quí! Nghĩ đến những muốn khóc được.
*
* *
Tôi viết những dòng này trong phòng của tôi, một căn phòng nhỏ tí, bẩn thỉu, dưới mái nhà, bốn mùa gió lộng, mùa đông thì rét thấu xương, mùa hè thì nắng như đổ lửa. Đồ đạc chả có gì ngoài một chiếc giường sắt gỉ và một cái tủ gỗ tạp mọt, không có cánh, để trống hoác không có chỗ xếp đồ đạc quần áo. Tôi đến chỉ có một ngọn nến leo lét. Thật là chán ngán! Nếu tôi muốn viết nhật ký hoặc đọc truyện tôi phải bỏ tiền mua nến, còn nến của bà chủ thì... như cách anh Jean nói... khoá chặt.
Ngày mai tôi sẽ sắp xếp lại... Trên đầu giường tôi sẽ đóng đinh treo cây thánh giá nhỏ bằng đồng, tôi sẽ đặt trên lò sưởi bức tượng Đức mẹ bằng sứ vẽ hoa, cùng với những tấm ảnh của anh Jean để gây cho chỗ ở có một không khí vui tươi giữa đống bề bộn ngổn ngang.
Phòng của chị Mariane ở cạnh phòng tôi. Giữa chỉ có một tấm vách mỏng, nói gì, làm gì ở bên đây, bên kia cũng biết... Tôi cứ tưởng anh đánh xe Joseph sẽ mò sang đấy với chị bếp Marianne... Nhưng không... Tôi nằm bên đây cứ thấy chị bếp ho khan, khạc nhổ, rồi kéo ghế và lôi hết cái nọ đến cái kia ra sắp xếp mãi... Lúc lâu sau thấy chị ngáy... Chắc họ làm việc ấy ban ngày rồi...
Xa xa, trong làng có tiếng chó sủa... Lúc ấy đã hai giờ đêm... Ngọn nến của tôi sắp tàn... Tôi cũng phải đi ngủ... Nhưng tôi biết trước là cũng khó mà ngủ đi được.
Chà! Như thế này thì chả mấy chốc mà già!
 
0
Chap 2
---
II
 
15 tháng Chín
 
Tôi chưa lần nào viết tên ông bà chủ tôi. Tên ông bà thật buồn cười và rất hài hước: Lanlaire... Ông bà Lanlaire... các bạn ạ. Nghe nó thế nào ấy! Và làm người nghe nghĩ đến những chuyện buồn cười. Tên đã thế, họ lại còn buồn cười hơn. Họ của ông là Isidore, họ của bà là Euphrasie. Thật là ngộ nghĩnh.
Chị bán tạp hoá thỉnh thoảng tôi đến mua lụa, đã cho tôi biết nhiều chuyện về gia đình này. Cứ như chị kể thì xem ra không đẹp lắm. Nhưng công bằng mà nói thì chị hàng tạp hoá này cũng là người ác khẩu và ba hoa. Chị là người cung cấp hàng cho ông bà mà còn nói vậy, giá không thì chị còn nói đến thế nào. Giọng lưỡi người tỉnh lẻ thật quá đáng!
Bố của ông chủ trước đây là một nhà sản xuất vải da kiêm chủ ngân hàng ở Louviers. Ông ta gian lận vét sạch túi của nhiều người nên bị vào tù mười năm, và chết ở trong tù. Nhưng trước đấy ông đã để ra được bốn trăm năm mươi nghìn franc vẫn giữ kín. Số tiền ấy khi ông chết thuộc về ông con tức là ông chủ tôi bây giờ.
Bố của bà chủ thì còn tệ hại hơn. Ông làm nghề mộ lính. Chị hàng tạp hoá kể rằng việc đi lính thời Napoléon III khác bây giờ. Không phải tất cả mọi người phải đi, gắp thăm trúng ai thì người ấy đi. Những ai không muốn đi thì bỏ tiền thuê người đi thay, thòi gian bẩy năm, nếu gặp lúc chiến tranh thì chết thay. Ai cần thuê người đi thay mình thì đến một nhà chuyên làm việc mộ lính, đưa một số tiền từ một nghìn đến hai nghìn franc tuỳ theo sự hy sinh nhiều hay ít vào thời điểm bấy giờ. Như vậy ở ngay nước Pháp lúc bấy giờ cũng có nghề buôn người da trắng giống như ở châu Phi buôn người da đen. Người ta thiết lập chợ bán thịt người như mở quầy bán thịt lợn... Điều đó cũng chẳng lấy gì làm lạ. Ngày nay chẳng đang còn sở mộ phu và nhà chứa cũng là cửa hàng bán thịt người đó sao?
Theo chị hàng tạp hoá thì nghề tuyển người là một nghề rất béo bở nên bố bà chủ kiếm được nhiều. Ông ta rất khôn khéo, chạy chọt đút lót để nắm độc quyền việc mộ lính... Ông làm nghề gian giảo vậy lại khéo luồn lọt chẳng bị tù đày giam cầm gì cả, còn được trọng vọng nữa chứ. Ông còn được cử làm thị trưởng thị trấn Mesnil Roy, làm quyền Chánh án, làm giám đốc xí nghiệp, làm thủ quỹ hội từ thiện, được thưởng huân chương, và ngoài lâu đài Prieuré tậu không mất tiền còn để lại một triệu hai trăm nghìn franc. Bà chủ tôi được một nửa là sáu trăm nghìn, còn một nửa là phần người anh. Bố bà chủ chết đã mười năm rồi. Vậy là hai ông bà có hơn một triệu franc, không phải làm gì, cứ gửi tiết kiệm lấy lãi ăn tiêu củng chỉ hết độ một phần ba. Nhưng ông bà keo kiệt, bủn xỉn hết chỗ nói: bớt xén của người khác và bớt xén cả của chính mình, khấu đầu khấu đuôi các tiền ghi trên hoá đơn, chối phắt những họp đồng miệng, chỉ thừa nhận những hợp đồng bằng văn bản có chữ ký, lật lọng đối với những người cung câp nhỏ không có đủ tiền chịu án phí và những người thấp cổ bé họng... Không bao giờ quyên góp trừ quyên góp cho nhà thờ vì ông bà sùng đạo. Còn đối với người nghèo, có nằm chết ngay trước cửa nhà họ củng mặc, tha hồ cho van xin, cửa vẫn đóng chặt.
Chị hàng tạp hoá còn nói giá họ có vét bị của ăn mày được họ cũng không từ, không ân hận, vẫn vui vẻ một cách dã man.
Chúng ta chẳng giàu có gì - cũng vẫn lời chị bán hàng tạp hoá - nhưng có mua bánh chúng ta cũng mua bánh sữa. Điều đó là để giữ thể diện và vì lòng tự trọng. Còn ông bà ấy chỉ cho ăn bánh loại bột đen, bánh cho thợ thuyền. Chị bảo vậy có keo kiệt không chứ! Thật là xấu hổ. Giàu có mà vậy! Bà Paumier vợ người thợ gò đã kể lại có lần nghe linh mục trách bà chủ tôi keo kiệt, bà chủ tôi đã trả lời: Thưa cha, cho những người ấy ăn như thế là đủ lắm rồi.
Người ta ca thán về bà chủ nhiều. Nhưng về ông chủ thì người ta không nói gì... Người ta không ghét ông... Ai cũng cho rằng nếu ông được phép thì ông sẵn sàng làm phúc, ông sẽ rộng rãi với mọi người. Khốn nỗi ông không có thể làm như thế. Trong nhà ông không có quyền gì cả. Ông không hơn gi những người ở, còn bị ngược đãi là khác, kém cả con mèo, con mèo còn được chiều... Dần dần để được yên thân, ông khước từ mọi quyền làm chủ gia đình, mọi giá trị của người đàn ông chuyển vào bà... Bà cai quản mọi việc, chuồng bò, chuồng ngựa, kho củi, vườn tược, và bà có ý kiến đối với mọi việc. Bà thấy cái gì cũng không vừa ý và luôn luôn cho rằng người ta ăn trộm của bà... Thật không tưởng tượng được. Không ai bắt nạt được bà, bà biết mọi mánh khoé. Bà tự tay trả tiền các hoá đơn, tự thu lợi nhuận, tự chi tiền chợ. Bà biết thủ đoạn như một kế toán già đời, có thể sừng sỏ như một mõ toà, tính toán như một kẻ cho vay nặng lãi. Thật ít ai ngờ. Bà là người giữ lõi, ít khi mở túi để chi, chỉ mở túi để thu vào... Bà không để cho ông tí tiền nào, ngoài một ít đủ để mua thuốc hút. Tội nghiệp cho ông! Sống trên tiền bạc mà ông trắng tay, hơn mọi người ở đâỵ. Vậy mà ông chẳng bao giờ làm khác. Ông nhất nhất tuân theo, không chống đối... Khi bà đi vắng, nếu có người đến đòi tiền hàng, hay người đến xin bố thí, hay người giúp việc xin tiền boa, những lúc ấy ông buồn cười lắm. Ông thọc tay vào túi tìm, rồí đỏ mặt lên xin lỗi. Ông nói, mặt thiểu não:
-     Tôi không có tiền lẻ. Chỉ có giấy một nghìn franc. Anh có tiền lẻ khổng? Không hả? Vậy lúc khác quay lại nhé.
Ông nói giấy nghìn francs! Ông nói vậy thôi, chứ một xu dính túi cũng không có. Đến giấy viết thư bà cất trong tủ khoá kỹ, ông cần củng phải hỏi xin. Mỗi lần bà chỉ đưa tờ một mà còn cằn nhằn:
-     Sao ông dùng tốn giấy thế? Viết cho ai mà hết lắm vậy?
Điều đáng trách ở ông là tính nhu nhược. Sao ông lại để cho một mụ nội trợ như thế điều khiển. Nhiều lúc bà quát ông cả xóm biết. Chẳng còn ra thể thống gì cả. Bà có bệnh, không thể có con, nên không muốn nghe nói về chuyện ấy. Ông kêu ca lắm... Nhân việc này, người ta phao tin: Một lần xưng tội, bà trình bày với linh mục trường hợp của bà và hỏi linh mục xem bà có thể làm giả với chồng bà được không...
-          Con nói làm giả nghĩa là thế nào? Linh mục hỏi.
-          Con không hiểu rõ lắm, thưa cha, bà lúng túng trả lời... Thủ dâm hay sao ấy mà...
-              Thủ dâm à! Con không biết đó ... là một tội chết người sao?
- Chính vì vậy mà con muốn xin phép nhà thờ...
-          Vậy hả!... Vậy hả!... Nhưng để xem nào.,, có luôn không?...
-          Chồng con là một người khoẻ mạnh... Có lẽ phải hai lượt một tuần...
-              Hai lượt một tuần?... Nhiều đấy... nhịều quá... Quá lạm đấy... Dù khoẻ thế nào cũng không cần đến một tuần hai lượt...
Linh mục lưỡng lự một lúc. Cuối cùng ông nói:
-              Thôi cũng được... ta cho phép... một tuần hai lượt... thủ... thủ... dâm. Với điều kiện một là: các con không được coi việc đó là một khoái lạc...
-      Vâng, con xin hứa, thưa cha...
- Hai là... con phải cúng mỗi năm một số tiền là hai trăm francs vào tiền dầu nến để lễ Đức mẹ đồng trinh.
-      Hai trăm francs kia ạ! Bà giẫy nảy: Vậy thôi!
Bà kêu lên rồi bỏ về, để mặc linh mục chưng hửng đi dạo một mình.
Chị hàng tạp hoá kết thúc câu chuyện ở đấy... Nhưng tại sao ông chủ lại hiền lành đến thế, lại nhu nhược với một người đàn bà không những keo kiệt về tiền tài mà keo kiệt cả về lạc thú? Chị hứa sẽ có lúc nói rõ việc này cho tôi biết.
*
*     *
Đây là một câu chụyện khác về ông bà chủ tôi: Ông chủ cũng có khi muốn là kẻ mạnh, thỉnh thoảng cũng muốn tìm tí thú vui, lại cũng có khi muôn bố thí cho người nghèo, gặp những lúc như thế ông phải có những mưu mẹo rất buồn cười, có khi phải làm chuyện lừa gạt thô bạo và cả chuyện vay mượn liều lĩnh. Nhưng rồi bà chủ phát hiện được, bà đã làm rày rà ông hàng tháng... Những lúc ấy ông ra cánh đồng đi lung tung, khoa chân múa tay như thể điên, rồi bẻ đất ném khắp mọi chỗ, rồi nói lảm nhảm một mình, tối về với vẻ buồn phiền, e lệ, run sợ, mặt cứ cúi gằm xuống đất.
Tôi thấy rất buồn, rất lạ là tại sao chị hàng tạp hoá nói nhiều vè những chuyện xâu xa bỉ ổi của gia đình ông bà Lanlaire như vậy, rồi dư luận xôn xao từ người này đến người khác từ nhà này đến nhà khác, từ cửa hàng này đến cửa hàng khác, nhưng ở thành phố này người ta xa lánh ông bà thì ít mà ghen tị với ông bà thì nhiều. Mặc dầu sự giàu có của ông bà là tội lỗi, sự lắm của của ông bà là xấu xa, nhưng lại chính sự giàu có ấy, sự có của ấy đã đem lại cho ông bà sự trọng vọng, sự vênh vang. Gặp ông bà người ta cúi rạp chào, sốt sắng tiếp đón ông bà hơn là đối với những người khác. Người ta đề cao, gọi cái nhà nhơ nhớp hôi hám, bé bằng cái mũi bò của ông bà là "Toà lâu đài". Tôi chắc người nơi khác đến đây để sưu tầm những chuyện lạ của địa phương sẽ được nghe chị hàng tạp hoá trả lời: Vùng chúng tôi có một nhà thờ lộng lẫy, một giếng ăn khang trang và một thứ đặc biệt đẹp đó là gia đình ông bà Lanlaire, một nhà triệu phú, có một toà lâu đài to đẹp. Chúng tôi rất tự hào về những con người đáng yêu ấy...
Lòng ngưỡng mộ đồng tiền, tuy là một tư tưởng thấp hèn, nhưng có không chỉ ở tầng lớp thị dân, mà ở cả mọi người chúng ta là những người nghèo hèn, những người kiết xác. Cả tôi đây nữa, vói vẻ bề ngoài ra phết đấy, trông lúc nào cũng như kênh kiệu, hậm hoẹ, tôi cũng không tránh khỏi được điều đó... Tôi là người đã từng bị bọn giàu sang đè nén, áp bức, gây cho tôi nhiều đau khổ, đắng cay, sỉ nhục, ấy vậy mà khi đứng trước một kẻ giàu có, tôi không thể không nhìn hắn ta như một nhân vật đặc biệt, một kỳ tài, trong lòng tôi trào lên một sự sùng bái đối với cái tên trọc phú ngu ngốc, bỉ ổi, vô nhân đạo, vô liêm sỉ ấy... Thê có dở không chứ! Tại sao lại thế?
Rời khỏi cửa hàng tạp hoá bẩn thỉu ấy. Tôi cứ nghĩ mãi về cái người đàn bà đã kể cho tôi nghe chuyện về ông bà chủ tôi. Mưa lâm thâm. Da trời vẩn đục như tâm hồn của người đàn bà buôn chuyện ấy. Tôi trượt chân trên gạch lát nhầy nhụa của đường phố. Tôi buồn bực với chị hàng tạp hoá, buồn bực cả mảng trời của tỉnh lẻ, với cả con đường lầy lội đầy bùn mà đôi chân tôi và cả con tim tôi đang lóp ngóp, với cả nỗi buồn khó chữa của cái thành phố bé nhỏ này. Tôi không ngớt lẩm nhẩm một mình: Giờ thì ta đang sạch sẽ... Nhưng ta sẽ ngã..
Đây lại một chuyện nữa:
Bà chủ tôi mặc quần áo một mình và chải lấy đầu tóc. Bà vào phòng trang điểm đóng kín cửa không cho tôi vào. Chẳng biết bà làm gì trong đó hàng tiếng đồng hồ... Chiều hôm ấy, tôi cứ gõ cửa. Sau đây là cuộc đối thoại giữa bà và tôi.
- Tốc, tốc!
- Ai đấy?
Giọng bà chua loét, những muốn đấm cho một cái vào họng...
-  Tôi ạ, thưa bà...
-  Có việc gì?
-  Tôi vào dọn dẹp ạ...
-    Dọn rồi... Đi đi... Bao giờ gọi hãy đến...
Hoá ra tôi không phải là người hầu phòng ở đây... Vậy thì tôi là gì chứ?... Nhiệm vụ của tôi là gì chứ? Nếu không phải là mặc quần áo, cởi quần áo, chải đầu, chính những việc ấy làm tôi vui với nghề... Tôi cứ muốn mầy mò vào cái áo mặc đêm, cái khăn lau, cái dải mũ, mân mê cái mũ, cái khăn quàng, lau cho bà chủ khi tắm xong thoa phấn, xức nước hoa cho bà, chải tóc, rẽ ngôi, cài trâm cho bà... Bằng những công việc ấy, tôi đã biến bà chủ thành người bạn, người đồng loã, người nô lệ của tôi... bà sẽ trở thành người thân có gì củng thổ lộ hết từ những nỗi vất vả, đắng cay của cuộc đời, những nỗi thất vọng trên đường tình ái, những chuyện thầm kín trong gia đình, những ốm đau bệnh tật... Nếu khéo ra, còn moi được cả những bí mật mà chính bà không ngờ. Vừa có lợi, vừa thích thú. Tôi quan niệm nghề hầu phòng là như thế.
Trong số những bà có tiếng là đúng mực là nghiêm túc, là đức hạnh, không hiếm những người khùng điên, sỗ sàng... Thật không ngờ... Cứ vào phòng trang điểm là các mặt nạ sẽ rơi ra, để lộ hết những kẽ hở, những vết nứt...
Tôi biết có một bà như thế... Cứ sáng ra, trước khi mặc áo, cứ mỗi chiều bỏ áo ra rồi, bà trần truồng ngắm mình hàng giờ trong gương, ngó trước, nhìn sau... Rồi giương ngực ra đằng trước, quay về đằng sau, giơ bật cánh tay lên trời để cho hai vú chảy dài như hai cái chày... Rồi bà bảo tôi:
-    Célestine, thử nhìn xem. Có còn rắn chắc không?
Thật là buồn cười... Cơ thể của bà chủ điêu tàn lắm rồi!... Khi bỏ chiếc áo ra, cởi tấm xu chiêng và những chiếc vú giả, cơ thể của bà như muốn chảy dài thành một chất lỏng nhão nhoét... Bụng bà, mông bà, vú bà đã trống rỗng chỉ còn lại những nắm dăn deo bập bềnh và đầy mỡ... Mông đít như một nắm bọt biển tóp tọp và lỗ chỗ lồi lõm... Tuy vậy trong cái suy sụp của hình hài vẫn còn vương lại vẻ mỹ miều của người phụ nữ đã có thời xinh đẹp và suốt đời sống trong tình ái... Trong cái mù quáng của người phụ nữ đang già đi, bà không nhận ra sự suy tàn không cơ cứu chữa... Bà ra sức trau chuốt, làm đẹp để mời gọi Ái tình và Ái tình đã đến theo tiếng gọi lần chót...
Một đôi lần, bà đi về đúng lúc sát bữa ăn, thở hổn hển, vẻ xâu hổ:
-    Mau lên! Mau lên! Muộn rồi! Cởi quần áo cho ta! - bà vội giục tôi.
Bà đi đâu về mà nét mặt phờ phạc, hai mắt quầng sâu, đi lảo đảo chỉ muốn ngã rồi đổ vật như một khôi lên chiếc đi văng trong phòng trang điểm. Quần áo trên người bà xốc xếch, bẩn thỉu, chiếc váy quấn vội, chiếc coóc xê mặc trái, bít tất tụt xuống mắt cá chân, nịt tuột. Mái tóc bà rối bù, còn oisnh bông ở gối rơi ra. Phấn trên má, trên miệng long ra từng mảng để lộ những nếp nhăn và những vết xước do hôn...
Để đánh tan sự nghi ngờ của tôi, bà ca cẩm:
-        Chả biết thế nào mà lúc ở nhà chị thợ may, ta bị ngất... họ phải cởi quần áo cho ta... Bây giờ vẫn còn thấy mệt...
Tôi đã phải giả vờ tin lời bà phân trần và tỏ ra ái ngại.
Một buổi sáng tôi đang cùng bà trong phòng thì nghe tiếng gõ cửa. Anh hầu phòng đi vắng nên tôi phải ra mở... Một gã trung tuổi bước vào, dáng điệu thiếu đàng hoàng, vẻ mặt tối tăm, lâng láo, nửa như thợ thuyền, nửa như lưu manh, thường gặp ở xóm Dourlans, chuyên sống nghề chém giết hay làm ma-cô... Trên khuôn mặt xanh nhợt của gã, có bộ ria đen. cổ thắt cavát đỏ. Hai vai nhô lên trong chiếc áo vét rộng thùng thình. Bước đi lạch bạch. Lọt vào khỏi cửa rồi, hắn ta đảo đôi mắt ngơ ngáo trước cảnh giàu có, nhìn khắp căn phòng, dừng lại trên các tấm gương, các bức vẽ, các tấm thảm căng tường... Rồi hắn chìa một bức thư cho tôi để đưa cho bà chủ và bảo tôi giọng lè nhè hông hách:
-    Trả lại luôn đấy nhé!
Hắn ta đến vì việc của chính hắn hay do người khác sai? Tôi tự hỏi và loại trừ giả thiết thứ hai. Những người đến vì việc của người khác không có thái độ và kiểu ăn nói hách dịch...
-    Để tôi vào xem bà chủ có ở nhà không, - tôi trả lời một cách khôn khéo như thế và xoay bức thư trong tay.
Hắn nói giọng gắt gỏng:
-    Bà ấy có ở nhà đấy, tôi biết. Đừng nói linh tinh! Nhanh lên!
Bà chủ cầm lây lá thư đọc... Mặt bà xám ngoét. Với vẻ lo sợ bà lẩm bẩm:
-    Nó đến tận nhà mình?... Có lẽ nó ở phòng chờ à?... Sao nó lại biết địa chỉ của ta thế chứ?
Nhưng bà bình tĩnh lại ngay, nói:
-    Cũng chẳng sao... ta không quen biết nó... Một người túng thiếu đấy thôi mà... Mẹ nó sắp chết...
Rồi bà mở ngắn kéo, tay run run, lấy ra một tờ một trăm francs và bảo tôi:
-    Đưa luôn ra cho nó... Rõ tội nghiệp!
-    Lạy Chúa! - Tôi nói lí nhí, hôm nay bà chủ rộng rãi với người nghèo quá! - Anh ta gặp vận may thật!
-    Thôi đi đi, - bà quát tôi và đứng bật dậy...
Khi tôi quay vào thì thấy bức thư bà chủ xé nhỏ vứt vào lò sưởi đã cháy gần hết...
Tôi không biết rỏ thằng cha ấy là ai... Và cũng không bao giờ gạp lại hắn nữa... Nhưng tôi thấy rằng sáng hôm ấy, trước khi mặc áo bà không vào phòng trang điểm và không giơ vú hỏi tôi như mọi khi: cô xem nó có còn rắn chắc không? Suốt ngày hôm ấy bà thơ thẩn một mình, vẻ lo buồn, bực dọc, và sợ hãi.
Từ hôm ấy hễ thấy bà về muộn. Tôi lại lo bà bị hại ở một cái quán nào đấy... Cũng có lần tôi nói với ông quản gia đã già và lỏm cỏm, nỗi lo sợ của tôi, ông cằn nhằn:
-    Nhất định rồi củng có ngày!... Nhưng muốn thì sao bà ấy không bảo cánh đàn ông của nhà ta đây, lại đi nhờ bọn macô?..
-    Hay là nhờ luôn ông chăng? - Tôi nửa đùa nửa thật.
Ông già cười ngặt nghẽo nói:
-    Cũng được chứ sao, chỉ một cốc bia thôi.
*
*     *
Bà chủ trước nữa của tôi chuyện lại khác...
Chồng bà là một nhà bác học gì đấy, thành viên của một viện hàn lâm nào đó, tôi không được biết. Ông rất chểnh mảng đối với bà... không phải bà xấu, mà trái lại rất xinh, cũng không phải ông theo đuổi các bà khác, ông rất đứng đắn... ông cũng còn rất trẻ, nhưng ít nghĩ đến chuyện ấy... Có khi hàng tháng, hàng mấy tháng chẳng đến với bà... Bà thấy chán ngán. Đêm nào tôi củng phải chải chuốt cho bà thật diêm dúa... áo quần mỏng tang, nước hoa, ngào ngạt... Bà bảo tôi:
-         Đêm nay chắc ông ấy đến, Célestine nhỉ... Cô có biết bây giờ ông ây đang làm gì không?
-         Ông đương ở trong thư viện... Ông đương nghiên cứu...
Bà thở dài:
-         Lúc nào cũng ở thư viện, hả trời!...
Nhưng bà lại nói:
-         Thế nào đêm nay ông ấy cũng sẽ lại...
Trang điểm cho bà xong, tôi thấy bà rất xinh, tôi cũng tự hào cho kỹ thuật làm đẹp của mình. Tôi ngắm bà và nói:
-         Như thế này mà ông không đến thì thật là sai lầm! Chỉ nhìn bà thôi, ông đã thấy mê rồi.
-         Im đi mày! Im đi, tao van! - Bà nói giọng run run.
Nhưng ngày hôm sau lại thấy bà buồn, bà khóc, bà than thở.
-    Célestine ơi! Đêm qua ông ấy vẫn không đến... Cả đêm ta đợi ông ấy, mà ông ấy không đến... Như vậy là chẳng bao giờ ông ấy đến nữa...
Tôi cô gắng an ủi bà:
-    Ông bận nghiên cứu nên mệt... Các nhà khoa học thường để đầu óc vào chuyện gì kia... không để ý đến chuyện ấy đâu... Bà thử dùng các hình ảnh với ông xem.. Có những bức ảnh mà người đàn ông lạnh nhạt nhất cũng không cưỡng lại được...
-    Không... không... Không làm thế...
-    Hay là những bữa ăn tối, bà chuẩn bị cho ông những món kích thích...
-    Không.... Không...
Bà lắc đầu nguầy nguậy...
-    Ông ấy không yêu ta nữa.. Ta khổ quá!...
Rồi bà rụt rè và không chút oán ghét, bà hỏi tôi, giọng khẩn khoản:
-    Célestine, em nói thật với ta nhé... Có bao giờ ông ấn em vào góc nhà không?... Ông có ôm hôn em lần nào không? Có lần nào không? Nói thật đi, Célestine!
Tôi kêu lên:
-    Không bao giờ, thưa bà. Ông không bao giờ như thế đâu... Tôi lòng dạ nào lại làm cho bà buồn phiền...
-       Em cứ nói thật đi, - bà nói như van nài tôi. - Em là một cô gái xinh đẹp.. Em có đôi mắt tình tứ lắm... Cơ thể em cũng hài hoà lắm..
Bà bắt tôi nắn chân bà, đùi bà, tay bà, ngực bà, hông bà. Bà so sánh từng bộ phận cơ thể bà với từng bộ phận cơ thể tôi. Rồi bà rên rỉ:
-       Trời ơi! Tôi đã già đâu chứ!... Tôi cũng không xấu... Bụng tôi có sồ sề đâu nào... Da thịt tôi vẫn rắn chắc, mềm mại thế này kia mà... Tôi cũng tình tứ lắm chứ!...
Rồi bà khóc nấc lên... nằm vật xuống đivăng, vùi đầu vào gối để che tiếng khóc. Rồi bà phụng phịu:
-       Em không yêu ta, Célestine ạ. Em chẳng yêu ta tí nào... Ta khổ quá...
Thấy bà khóc nức nở, tôi buột miệng nói:
-       Vào địa vị bà, tôi đi cặp bồ bà ạ. Bà xinh lắm, có duyên lắm... Sao cứ ở vậy!...
Bà hoảng sợ vì câu nói của tôi:
-       Mày im đi! Im đi! - bà quát.
-       Bạn bà đều thế cả kia mà! - Tôi nói tiếp. - Chả ai không có tình nhân...
-       Em im đi! Đừng bao giờ nói với ta như thế!
-       Tôi thấy bà cũng đa tình lắm.
Với giọng bình tĩnh và trơ tráo tôi gợi lên một người trẻ tuổi rất phong nhã thường đến nhà và nói thêm:
-    Người ấy tình tứ lắm bà ạ... Anh ta rất tế nhị với phụ nữ.
-    Im đi! Đứng nói linh tinh!
-    Thôi tuỳ bà... Tôi nói đây là vi lợi ích của bà...
Rồi vẫn kiên trì theo đuổi giấc mơ của mình trong khi ông chủ viết những dãy số dài và vẽ những đường tròn bằng compa dưới ngọn đèn trong phòng thư viện, bà lẩm bẩm:
-    Thế nào đêm nay ông ấy cũng sẽ đến!
Ngày nào cũng vậy, trong bữa ăn sáng, câu chuyện thường xuyên giữa bà với tôi là chuyện ấy. Chung quanh họ hỏi tôi:
-    Thế nào? Ông chủ có đến không?
-    Vẫn không...
Họ bàn bạc, họ pha trò, họ bông đùa, họ chế giễu, họ cười... Họ còn đánh cuộc nhau bao giờ ông đến...
Rồi một ngày kia do một chuyện bất hòa, tôi đã từ giã bà trong điều kiện chẳng hay ho mấy. Tôi lại còn ném vào mặt bà những câu mỉa mai, bêu giếu, những chuyện kín đáo bà nói với tôi, những chuyện thèm khát yêu đương. Tôi còn bịa ra những chuyện sa đoạ mà thật ra bà không có.
Ra khỏi nhà bà được mấy hôm tôi đã viết vào một tấm bưu ảnh những dòng sau đây định gửi cho bà:
"Tôi báo để bà biết tôi sẽ gửi qua bưu điện những tặng phẩm bà đã trao cho tôi. Tôi nghèo thật nhưng tôi biết tự trọng. Tôi không giữ làm gì mớ giẻ rách hôi hám mà bà đã thải ra. Bà đừng tưởng tôi nghèo thì cho là tôi sẽ mang trên người những tấm váy chỉ đáng vứt ra hố rác. Tôi hân hạnh chào bà..."
Nhưng tôi đã không gửi trả lại bà mà đem bán cho chị hàng quần áo cũ.
Tôi thật vô ơn và nhẫn tâm. Tôi đã đối đãi tệ bạc với một bà chủ nhà nhân hậu đại lượng, quí mến và giúp đỡ tôi nhiều, một bà chủ rất tốt, tôi khó lòng gặp được một người thứ hai.
Bây giờ đến với bà chủ mới, một người đàn bà quá đáng ở một xó tỉnh lẻ này, tôi còn có thể làm ăn gì, có hi vọng gì nữa... Mỗi lúc nghĩ đến những bà chủ cũ, tôi lại thấy tiếc, thấy buồn, những muốn đi khỏi nơi đây cho xong.
Có lần đi lên cầu thang gác tôi gặp ông chủ. Hình như ông sắp đi săn. Ông nhìn tôi và hỏi:
-      Thế nào, Célestine? Chị có quen được không?
Tôi trả lời:
-      Tôi chưa được biết, thưa ông.
Và tôi liều hỏi:
-    Thế còn ông chủ có quen được không?
Ông cười. Ông pha trò. Y như trẻ con:
-    Chị phải quen đi, Célestine ạ. Phải quen đi...
Đang đà hăng hái, tôi trả lời:
-    Tôi sẽ cố gắng, thưa ông, với sự giúp đỡ của ông.
Ông đang định nói thêm gì với tôi. Đôi mắt ông rực sáng như hai hòn than hồng... Vừa lúc ấy bà chủ ở trên đầu cầu thang... Ông chủ chạy đằng ông chủ, tôi chạy đằng tôi... Thật tiếc...
Tối hôm ấy, qua khe cửa phòng khách tôi thấy bà chủ nói với ông chủ, giọng thân mật:
"Tôi không muốn ông suồng sã với người ở của tôi như thế..."
Sao lại "người ở của tôi..." Người ở của bà há chẳng phải là người ở của ông sao?... Kể cũng lạ!
 
0
III
 
18 tháng Chín
Sáng nay chủ nhật, tôi đi lễ nhà thờ.
Tôi không sùng đạo, nhưng tôi là người có đạo... Người ta muốn nói thế nào thì nói, nhưng tôn giáo vẫn là tôn giáo... Người giàu có thể không cần tôn giáo, nhưng người như chúng tôi thì rất cần... Tôi biết có nhiều kẻ lợi dụng tôn giáo một cách quái đản và có các linh mục, các bà sơ không làm vẻ vang cho tôn giáo. Mặc họ... Chúng tôi là những người khốn khổ, để làm dịu nỗi khổ của mình, chúng tôi chỉ còn có tôn giáo... và tình yêu... nhưng tình yêu lại là một nguồn an ủi khác... Cho nên ngay khi đi làm ở các gia đình vô đạo, tôi vẫn đi lễ nhà thờ... Trước hết, đi lễ là một dịp để đi ra bên ngoài, để được giải trí, để bớt được thời gian làm những công việc buồn chán hàng ngày ở trong nhà... Cũng là dịp để được gặp bè bạn, được biết chuyện nọ chuyện kia, để làm quen, để được nghe các cụ già đọc thánh thi...
Hôm nay trời quang mây tạnh. Mặt trời hắt qua lớp sựơng mù những tia nắng dịu dàng. Người người tung tăng bước đi vui vẻ. Buổi sớm hôm ấy do có thời tiết đẹp nên tôi thấy trong lòng phấn khởi...
Chỗ ở của chúng tôi cách nhà thờ một cây số rưỡi... Con đường rợp bóng cây, hai bên rập rờn biển lúa... Đang giữa tiết xuân, cánh đồng đầy hoa, những cây xơ-ri dại những cây hoa gai trắng toả hương ngào ngạt... Tôi rất thích những cây hoa gai... Nó gợi tôi nhớ lại những chuyện thời con gái... Trừ những cái đó ra, còn thì nông thôn ở đây cũng như nông thôn ở nhiều nơi khác... Không có gì hấp dẫn, xóm làng nằm giữa một thung lũng rộng chung quanh là những ngọn đồi. Giữa thung lũng có một con sông chảy qua và một khu rừng... Tất cả bao bọc trong lớp sương mù trong suốt và vàng xỉn, che khuất cảnh trí xóm làng.
Tôi luôn giữ trong lòng cảnh thiên nhiên xứ Bretagne quê hương. Thiên nhiên Bretagne đã thấm vào máu của tôi. Không đâu đẹp hơn, thắm thiết hơn thiên nhiên nơi ây. Sống giữa những miền quê màu mỡ, giàu có xứ Normandie, tôi vẫn nhớ về miền quê, về những trảng cỏ, về miền biển dữ dội và huy hoàng nơi tôi đã sinh ra... Nghĩ đến những kỷ niệm ấy, tôi thấy trong lòng vẩn lên nỗi u uất làm tiêu tan niềm phấn khởi giữa buổi sáng đẹp trời hôm ấy...
Trên đường tôi gặp nhiều phụ nữ... Các bà ấy cũng đi lễ như tôi... Họ là người nấu bếp, hầu phòng, chăn nuôi gà vịt, cục mịch, quê mùa, đi đứng chậm chạp, ục ịch. Quần áo người nào cũng mộc mạc, trông như những bó vải... Rõ ràng là dân tỉnh lẻ, không hề ở thành phố bao giờ... Họ nhìn tôi vói vẻ lạ lùng nhưng có thiện cảm... Họ chăm chú nhìn mũ, nhìn áo, nhìn chiếc ô lụa màu xanh tôi cầm... Quần áo của tôi, nhất là cách ăn mặc làm họ ngạc nhiên. Họ hích cùi tay vào nhau, mở to mắt, há rộng miệng ra hiệu với nhau về cách phục sức sang trọng lịch sự của tôi. Tôi bước đi thoăn thoắt, giầy nhọn mũi bóng nhoáng, vén cao tấm áo khoác để lộ chiếc váy kêu sột soạt mỗi bước đi... Tôi không thấy ngượng ngập chút nào, mà trái lại rất hài lòng được họ ngắm nhìn...
Khi đi cạnh tôi, thấy họ thì thào với nhau:
-      Người hầu phòng mới của gia đình Prieuré đấy.
Một chị người thấp lùn, bục bịch, mặt đỏ ửng, bụng to kểnh, hai chân chệnh chạng, giọng khò khè, lại gần tôi, vẻ già nua hỏi:
-      Có phải chị là người hầu phòng mới đến làm ở gia đình Prieuré không? Chị tên là Célestine hả. Chị ở Paris đến đây được mấy hôm rồi?...
Vậy là chị ta đã biết tất cả... đã hiểu về tôi như chính bản thân tôi... Cái hình dáng bề ngoài của chị làm tôi mất cảm tình ngay: người ngợm lủn củn, bụng phệ như cái hũ lăn trên đường, mũ như mũ lính ngự lâm rộng vành, đen kịt, phất phơ mấy cái lông dài...
Chị ta nói tiếp:
-       Tôi tên là Rose, cô Rose; Tôi ở nhà ông Manger... ngay cạnh nhà chị... trước là đại uý... chị đã thấy ông ấy chưa?
-       Chưa, cô ạ.
-       Tưởng chị thấy rồi. Cứ nhìn qua hàng rào giữa hai nhà sẽ thấy... lúc nào ông ấy cũng ở ngoài vườn, trồng cây, nhổ cỏ, tưới tắm. Trông ông còn tráng kiện lắm.
Chúng tôi bước đi chầm chậm vì cô Rose cứ vừa đi vừa thở. Cô thở o o trong cổ như thổi sáo... Mỗi lần thở, ngực cô nhô lên rồi lại xẹp xuống, và cứ như thế...
Cô nói nhát gừng:
-       Hôm nay trở giời, tôi thấy mệt...
Cô vừa thở vừa nói:
-       Chị nên lại chỗ tôi luôn... Nếu chị cần gì... một lời khuyên chẳng hạn... hoặc bất cứ cái gì... đừng ngại... Tôi thích người trẻ tuổi... Đến đây nói chuyện uống chén nước... Nhiều cô cũng hay đến với tôi đấy...
Cô ngừng lại để thở, rồi với giọng thầm kín cô nói:
-      Nếu có thư đến, cô nên bảo gửi về đây, đừng gửi về nhà bà Lanlaire... Bà ấy hay xem thư lắm. Hễ thấy thư của ai cũng mở ra xem... Bà ấy đã bị người ta kiện đấy... Cứ lại với tôi nhé... Đừng ngại...
Tôi cảm ơn cô. Chúng tôi đi tiếp. Tuy đi ục ịch và lảo đảo như con tàu giữa lúc sóng gió nhưng bây giờ cô Rose thở dễ dàng hơn. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện:
-      Ở đây nhiều cái khác đấy, - cô Rose nói. - Gia đình Prieuré mướn người không lâu bao giờ... nếu không bị bà chủ đuổi thì lại bị ông chủ làm cho to bụng... Ông Lanlaire là một người đàn ông tệ lắm... Già, trẻ, xấu, đẹp, chẳng từ một ai... mỗi cú là một đứa con... Ai cũng biết tiếng nhà này... sớm muộn chị cũng được nghe những điều tôi vừa nói vói chị... Ở đấy họ cho ăn khổ, bắt làm nhiều, rất gò bó... Rồi luôn luôn bị kêu ca, mắng chửi... sống ở đấy chẳng khác sống ở địa ngục... Trông chị xinh thế này lại có phong cách, chắc khó ở lâu được với những con người đê tiện như họ...
Tất cả những điều chị hàng tạp hoá đã kể với tôi, bây giờ cô Rose lại kể lại và chuyện nào cũng nặng hơn. Cô thích kê lể đến nỗi quên cả đau. Cô kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, chuyện nhà chủ đan xen với chuyện ở địa phương. Nghe chị hàng tạp hoá kể, tôi đã thấy chán, đến bây giờ nghe cô Rose kể tôi lại chán thêm. Tôi nghĩ bụng tình hình thế này thì chả biết có nên đi khỏi không? Chưa qua thử thách mà đã thấy thất bại thế này rồi!
Các bà phụ nữ khác cũng đến với chúng tôi để nghe nói chuyện. Mỗi khi nghe cô Rose kể một điều gì mới lạ, họ lại ồ lên kêu: Thế à!
Tuy mệt rồi nhưng cô Rose vẫn không thôi câu chuyện:
-    Anh Manger là người tốt, lại chỉ có một mình. Về với anh ấy, tôi được làm chủ... Tôi cai quản mọi việc... Anh ấy có biết gì việc nội trợ... Anh ấy chỉ cần được chăm chút, quần áo giặt giũ sạch sẽ, ăn uống ngon lành... Nếu không có một người ở cạnh, anh ấy sẽ bị người ta bòn rút hết... Ở đây thiếu gì lưu manh trộm cắp...
Cứ nghe lời cô Rose kể và những cái nháy mắt của cô, tôi đã hiểu vị thế của cô ở nhà ông đại uý Manger như thế nào rồi.
-    Chị xem, - cô Rose nói như tóm tắt và tổng kết câu chuyện dài dòng vừa kể, - một người độc thân, còn trẻ. Có nhà cửa, có công ăn việc làm. Chúng tôi sẽ mướn thêm người giúp việc.
Vậy là cô ta gặp may... Nhiều lúc tôi cũng đã có ý định kiếm một người già, không thích lắm đâu, nhưng yên ổn và có tương lai... Miễn rằng người ấy không khó tính...
Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Làng xóm nơi đây không đẹp... chẳng giông phố xá ở Paris tí nào. Đường xá bẩn thỉu, ngoằn ngoèo, hẹp bằng gang tay, nhà cửa xiêu vẹo, như sắp đổ, cái nọ nhô ra, cái kia thụt vào, đa số làm bằng gỗ đã mối mọt sơn hắc ín đen ngòm... Người ở đây trông ai cũng gớm guốc, con trai chẳng có người nào đẹp... Nghề thủ công ở đây là làm giầy dép. Đa số làm không kịp giao cho khách, phải làm cả chủ nhật... Trông người nào cũng gầy yếu, võ vàng, lưng còng xuống, hai bàn tay đen xạm, đập búa lên đế giầy chan chát... Cảnh tượng ấy càng làm tăng thêm nỗi buồn nơi này. Đến đây cứ như đến một nhà tù...
Tôi lại gặp chị hàng tạp hoá đang đứng ở cửa. Thấy chúng tôi chị mỉm cười...
-      Các chị đi lễ buổi tám giờ à? Tôi đi buổi bảy giờ... Hãy còn sớm, các chị vào chơi một lúc rồi hãy đi...
Cô Rose cảm ơn... Cô ngăn tôi bảo đừng vào... chị ta là người không tốt, ai củng nói xấu... Rồi cô tiếp tục khoe về người đàn ông của cô, nào là anh ấy hiền lành, nào là anh ấy có đạo đức... Tôi bỗng hỏi cô:
-     Ông đại uý có họ hàng không?
-     Có chứ sao lại không? - Cô Rose nói. - Hàng lô anh chị em họ nhưng chẳng ai làm gì, nghèo rớt mồng tơi, chỉ tìm cách bòn rút, ăn cắp của anh ấy... Thật là tồi tệ. Tôi đã mất nhiều công sức mới chấn chỉnh được tình hình, đưa một việc vào nề nếp, loại trừ được lũ sâu bọ ấy đi... Không có tôi thì anh ấy cái bát ăn cũng không còn. Bây giờ anh ấy thoả mãn lắm...
-     Ông đại uý sẽ để lại chúc thư cho cô chứ? - Tôi hỏi trêu cô Rose.
-     Tuỳ anh ấy muốn làm thế nào thì làm, - cô Rose trả lời một cách khôn khéo, - anh ấy hoàn toàn tự do... Tôi không xui, cũng không yêu cầu... Ngay cả cam đoan cũng không... Tôi đến với anh ấy chỉ vì nhiệt tình... Nhưng anh ấy là người biết người biết của... Anh ấy cũng hiểu rằng tôi yêu anh ấy, chăm lo cho anh ấy không vụ lợi... Đừng cho rằng anh ấy ngốc nghếch như bà Lanlaire nghĩ đâu... Trái lại, anh ấy ranh lắm, cô Célestine ạ... Anh ây có tư cách, có ý chí, có bản lĩnh...
Cô Rose ca ngợi ông Manger hết lời. Vừa lúc này chúng tôi cũng đến nhà thờ...
Cô Rose không rời khỏi tôi. Cô bảo tôi mang ghế lại ngồi cạnh cô. Cô cầu kinh, quì lễ và làm dấu... Nhà thờ ở đây không được đẹp, y như một nhà kho.
Rầm nhà, kèo cột đã lung lay như sắp đổ sụp đến nơi. Con chiên vừa đọc kinh vừa ho vừa khạc, kéo bàn, kéo ghế xoàn xoạt. Người ta có cảm tưởng như vào một quán rượu. Nét mặt người nào cũng dốt nát, đần độn, miệng trông có vẻ ngoa ngoắt... Họ chỉ đến cầu Chúa để được trả thù nhau... Tôi không sao tĩnh tâm và chỉ thấy lạnh lẽo tràn ngập vào lòng... Có lẽ vì trong nhà thờ không có đàn oócgan. Thật là kỳ lạ... Tôi không quen cầu kinh mà không có đàn oócgan. Đàn oócgan như thấm vào tâm can người ta... Nếu được luôn nghe tiếng đàn ấy người ta sẽ tránh được lỗi lầm... Ở đây lại là một bà già thay cho đàn oócgan một bà mang kính mắt xanh, quàng khăn san màu đen trùm kín vai, gõ mệt nhọc lên cây đàn pianô lạc cả giọng điệu... Bên ngoài vẫn liên tục khạc nhổ ho hen át cả tiếng các nhi đồng hát thánh ca và tiếng đọc kinh của linh mục... Rồi lại còn nồng nặc mùi phân bò, mùi rạ ải, mùi bùn nhão, mùi da ướt, mùi hương mất chất... Đúng là ở một tỉnh lẻ... thiếu văn hoá.
Buổi lễ kéo dài lê thê đến phát chán... Tôi thấy bực phải sống giữa đám người tầm thường, xấu xí, họ chẳng chú ý gì đến tôi. Chẳng có cảnh nào đẹp, chẳng có bộ quần áo nào đáng nhìn... Chẳng có chút nào gọi là lịch sự, là thanh nhã... Chẳng thấy gì phơi phới trong lòng như ở Paris... Trái lại chỉ thấy buồn, thấy chán... Để khuây khoả đôi chút tôi nhìn xem linh mục làm lễ. Đó là một người trẻ tuổi, khoẻ mạnh, nét mặt bình thường, nước da màu gạch hồng. Mái tóc ông rối bù, hai hàm bạnh ra, hai mắt xếch, mi mắt quầng đen. Cứ nhìn có thể đoán được là người thế nào... Thấy tôi chăm chú nhìn ông, cô Rose ghé xuống thì thầm:
- Ông ấy là một trợ tế mới về. Ông ấy mà để cho phụ nữ xưng tội không hợp. Cha xứ cũ là một bậc thánh nhưng người nghiêm khắc quá... Còn ông trợ tế mới về thì lại...
Nói đến đấy, cô tặc lưỡi, rồi cúi đầu tiếp tục cầu kinh...
Ông trợ tế tôi thấy không thích. Ông ấy trông nhơ nhớp và ác. Dáng dấp như người đánh xe bò, không có vẻ một linh mục... Tôi thích người tế nhị, hào hoa, phong nhã, có đôi bàn tay trắng trẻo. Tôi thích những người đàn ông hiền hậu lịch sự, như anh Jean ấy...
Lễ nhà thờ xong, cô Rose đưa tôi về nhà một bà hàng hương liệu. Cô bảo tôi phải đối đãi tử tế vói bà này, các cô giúp việc thường hay đến đây với chị ta...
Bà hàng hương liệu củng là một người to béo, mặt đầy tàn nhang, tóc màu hung và thưa để lộ từng mảng trơ sọ, trên đỉnh đầu là một túm tóc giống như một cái chổi nhỏ. Mỗi bước đi của bà ta lại làm bộ ngực rung lên bần bật, chảy dài, nhũn nhẽo, như chất lỏng lúc lắc trong chai. Đôi mắt thâm quầng dọc ngang đầy tia máu. Miệng cười mà hoá ra mếu. Cô Rose giới thiệu tôi:
-      Bà Gouin, đây là chị hầu phòng mới của gia đình Prieuré...
Bà bán hàng hương liệu hau háu đôi mắt hết nhìn người tôi, lại nhìn bụng tôi, làm tôi ngượng. Rồi bà nói:
-      Cô cứ tự nhiên như ở nhà... Trông cô xinh lắm... Đúng là gái Paris...
-      Vâng, thưa bà, tôi từ Paris đến...
-      Trông biết ngay, không phải nhìn đến hai lần. Tôi thích con gái Paris lắm... Họ thạo đời... Tôi cũng đã đi làm ở Paris ngày còn trẻ... Tôi làm cho một bà đỡ ở phố Guénégand. Bà ấy tên là Tripier... Cô có quen bà ấy không?
-      Không ạ.
-      Thế hả... lâu lắm rồi... nhưng vào nhà đi chứ, cô Célestine!
Bà mời tôi vào gian trong cửa hàng, ở đấy đã thấy bốn chị đi ở ngồi quây quần chung quanh một cái bàn...
- Cô làm ở đấy cũng ngại đấy, - bà hàng hương liệu nói và đưa tôi cái ghế. - Không phải ở đấy người ta không mua gi cho tôi nữa mà tôi nói xấu đâu, nhưng phải công nhận nhà ấy là một địa ngục... Có đúng không các cô?
-        Đúng thê! - Cả bôn cô gái cùng nhăn mặt đồng thanh trả lời...
Bà Gouin nói tiếp:
-        Cảm ơn thôi! Thà không bán thì thôi chứ bán cho những người cứ cò kè không thích. Họ đi mua đâu thì đi...
-        Đúng, họ muốn đi đâu thì đi, - bốn cô gái lại đồng thanh đế vào...
Rồi bằng một giọng chắc nịch, bà Gouin quay sang nói với cô Rose:
-        Chả cần theo đuổi họ, phải không cô Rose?
Cô Rose chỉ nhún vai không nói. Song qua cái cử chỉ đơn giản ấy có thể thấy cô Rose biểu lộ nỗi cay đắng, lòng căm tức và sự khinh bỉ của mình... Trên chiếc mủ lính ngự lâm rộng vành của cô, mấy chiếc lông chim màu đen rung lên để biểu lộ sự đồng tinh.
Sau một phút im lặng, cô nói:
-        Chả nói về những con người ấy nữa. Mỗi lần nói đến họ, tôi lại thấy buồn lòng...
Bỗng một cô gái da đen nhẻm, mồm như mõm chuột, trán đầy những mụn, nói như hét lên:
-        Tội gì mà thôi, cứ nói cho vui.
Thế là những chuyện xấu xa bẩn thỉu từ mấy cái miệng thi nhau tuôn ra, như tuôn từ miệng cống... Gian nhà sau cửa hàng như ong vỡ tổ. Bốn cái miệng tranh nhau mà nói... Tôi thấy căn phòng ngột ngạt, cửa lại ít, tối om, người cứ nôn nao, váng vất, bộ mặt của mấy cô gái, cứ như mặt lũ quỉ... Vuông sân kề sát cửa sổ ẩm ướt, nhầy nhụa như một miệng giếng chung quanh là bốn bức tường nham nhở đầy rêu. Mùi rau thối, cá ươn, nước sốt dở mùi xông lên nồng nặc ngấm cả vào quần áo... Mấy cô con gái cứ bám chặt lấy ghế, thi nhau tuôn ra hết chuyện nọ đến chuyện kia. Tôi miễn cưỡng thỉnh thoảng phải nhoẻn miệng cười, tán thành vói họ, nhưng thâm tâm chán ngán vô cùng... Một cảm giác buồn nôn nhộn nhạo, ứ lên đến cổ làm nhạt cả miệng, buốt hai thái dương. Không thể bỏ đi được, tôi cũng cứ ngồi bệt trên ghế, động tác như họ, để cho mọi lời nói bỉ ổi của họ tuôn vào trong tai minh, như nước rửa bát đĩa tuôn vào lỗ cống.
Tôi biết rằng phải đề phòng đối với những ông bà chủ, song tôi vẫn thấy bọn này là những người xấu, thiếu giáo dục, không có văn hoá. Không biết gì là lịch sự, là tế nhị, khác rất xa với những cô gái xinh đẹp vui tươi ở Paris.
Tôi ra về với cô Rose. Trên đường, cô lại kể tiếp "cuốn biên niên sử của địa phương". Tôi tưởng chuyện của cô đã cạn, nhưng mà không... Cô vẫn kể, về đến lâu đài Prieuré rồi mà vẫn chưa muốn rời khỏi tôi, vẫn cứ kể, kể mãi không thôi; còn tôi cái đầu muốn vỡ ra vì nghe những chuyện của cô, khi nhìn thấy nhà của vợ chồng ông bà chủ Lanlaire, tôi chán phát ngấy... Những thảm cỏ mênh mông chẳng có lấy một bông hoa; ngôi nhà dài dằng dặc như một trại lính hay một nhà tù, sau mỗi khung cửa sổ đang có một con mắt dõi nhìn tôi...
Mặt trời nóng hừng hực, sương sớm đã tan, quang cảnh hiện ra rõ nét... Xa xa, trên những ngọn đồi ẩn hiện những mái ngói đỏ tươi dưới ánh nắng. Con sông uốn khúc, chỗ vàng chỗ xanh giửa bình nguyên nép mình dưới bóng cây. Trên trời lơ lửng những đám mây mỏng như để trang điểm thêm cho khung cảnh. Nhưng tôi không cảm thấy hào hứng chút nào trước cảnh thiên nhiên. Tôi chỉ còn mỗi mong muốn là mau chạy khỏi mặt trời ấy, dải bình nguyên ấy, những ngọn đồi ấy, căn nhà ấy vói người phụ nữ có giọng nói quái ác đã làm tôi kinh sợ.
Cuối cùng thì cô Rose cũng đã phải chia tay với tôi. Cô ôm hôn tôi thắm thiết và bảo:
-      Bà Gouin là một người tốt, đáng quí... Em phải năng đến thăm...
Và như muốn thổ lộ bí mật, cô nói tiếp:
-     Bà ấy đã giúp đỡ cho nhiều cô gái ở đây. Hễ có việc gì cứ đến. Có thể tin tưởng bà ấy. Một người hiểu biết nhiều...
Đôi mắt sáng rực cứ dán chặt vào tôi, cô Rose nhắc lại:
-     Hiểu biết nhiểu, lại rất khôn, rất khéo, rất kín đáo. Một bậc thánh của vùng này đấy... Thôi nhé. Đừng quên lại thăm chúng tôi, cô gái nhé... Phải đến với bà Gouin luôn. Đừng quên mà rồi ân hận. Thôi nhé. Sẽ gặp lại một ngày không xa.
Cô Rose đã bước đi... Cô xa dần, men theo hàng rào, qua bức tường thấp rồi khuất sau một khúc ngoặt.
Tôi đi qua trước mặt anh Joseph, người làm vườn kiêm đánh xe đang cào cỏ. Tôi tưởng anh sẽ hỏi tôi, nhưng không, anh vẫn im lặng. Anh liếc nhìn tôi làm tôi phát sợ.
-     Hôm nay, trời đẹp, anh Joseph nhỉ...
Nghe tôi hỏi anh Joseph làu bàu trong miệng... có lẽ vì tôi lại giẫm lên con đường anh đang dẫy dọn.
Anh này thật cục mịch, chẳng hiểu biết gì... sao lại không nói với tôi bao giờ? Cứ im thít! hỏi cũng không trả lời... Thật kỳ lạ cho con người!
Về đến nhà, tôi thấy bà chủ có ý không bằng lòng. Bà hờ hững lạnh nhạt lại còn lấy tay đẩy tôi:
-     Từ nay cô không được đi lâu như thế nhé.
Tôi bực quá muôn cãi. Nhưng tôi đã kịp ghìm lại. Tôi chỉ nói:
-     Bà nói thế nào?
-     Không nói gì cả... Tôi cấm cô từ nay không đến chơi với con mụ Manger. Mụ ta là một người xấu... ở nhà sáng nay mọi việc nhỡ là vì cô..
Tôi nghĩ thầm trong bụng: "Tôi đi đâu mặc tôi... Tôi trò chuyện với ai, mặc tôi... Việc gì đến bà... Bà không có quyền cấm tôi...".
Giá được nói thẳng vào mặt bà ta những câu ấy thì hả hê biết mấy!
Chỉ nghe giọng nói chua loét và những lời độc đoán hách dịch của bà, tôi đã quên ngay những ý nghĩ xấu xa về bà bán hương liệu và về cô Rose... Hai người này nói đúng. Cả chị bán hàng tạp hoá cũng nói đúng... Tôi tự nhủ sẽ đến chơi luôn với cô Rose, với bà bán hương liệu... kết bạn với cả chị bán tạp hoá... bởi vì bà chủ đã ngăn cấm tôi... Tôi ngầm nguyền rủa bà:
-     Đồ ngu như lợn ! Ngu như lợn!
Hôm ấy, ăn sáng xong, ông bà chủ lên xe đi. Phòng trang điểm của bà, bàn giấy của ông, tất cả các tủ, các ngăn kéo, các xích đông... tất cả đều đóng khoá... Vậy là không thể xem trộm thư, không thể mó máy vào bất cứ cái gì...
Bây giờ tôi ngồi viết thư cho mẹ tôi, cho anh Jean rồi tôi ngồi đọc quyển "Giữa gia đình". Một quyển truyện viết hay quá. Tôi rất thích đọc những quyển truyện nghe muốn khóc. Đến bữa tối phải nhóm lò sưởi, vì ông bà rét. Ăn xong ông ngồi đọc báo, vừa đọc vừa gật gù. Ồng giở giấy sang trang, mắt nhấp nháy trông có vẻ hiền. Ngay lúc giận dữ mắt ông vẫn cứ hiền. Và bẽn lẽn. Một lúc ông quay sang nói vói bà, mắt vẫn nhìn vào trang báo:
- Lại một phụ nữ bị chặt làm nhiều mảnh!
Bà không trả lời. Bà ngồi ngay đơ, trán cau lạị, mắt nhìn dữ, vẻ suy nghĩ.
Bà nghĩ gì?
Có lẽ vì tôi mà bà giận ông chăng...
0
Đặng Minh Toàn đánh máy
 
 
VI
1 tháng Mười

Tội nghiệp ông chủ! Hôm trước ở ngoài vườn, tôi đã đối xử quá nghiệt ngã với ông. Ông cho là mình đã ngốc nghếch và xúc phạm nặng nề đến tôi, ông còn cho rằng tôi là người khó lay chuyển… Đôi mắt ông tỏ ra bị tổn thương và muốn tha thứ…
Mặc dầu tôi đã ra bộ kháu khỉnh và có lúc lẳng lơ, nhưng ông vẫn không dám nói đến chuyện ấy nữa và cũng không dám gạ gẫm tôi nữa.
Nhưng rõ ràng là ông vẫn khao khát lắm, khao khát đến chết đi được… Qua lời nói của ông, tôi thấy rõ sự tự thú ấy… tự thú lòng khát khao cháy bỏng… nhưng ông rụt rè, không dám quyết định, chỉ sợ đổ vỡ hoàn toàn, không tin vào nét nhìn động viên khuyến khích của tôi…
Một hôm ông mon men lại gần tôi, nét mặt ngơ ngác, đôi mắt lạc đi, ông rọ rẹ:
- Cô Céslestine!... cô… cô… đánh xi giầy cho tôi đẹp lắm… rất… rất đẹp… Chưa bao giờ giầy tôi đẹp như thế này…
Tôi đã tưởng ông sắp gạ tôi… nhưng không… Tôi thấy ông thở dồn dập, bọt mép sùi ra… như ăn một quả lê to quá, lắm nước quá…
Rồi ông huýt chó… và ra đi…
Nhưng chuyện sau đây mới gay…
Hôm qua bà chủ đi chợ. Bà thường đi chợ lấy mà. Ông chủ cũng ra đi từ sáng sớm cùng con chó và khẩu súng… Nửa buổi thấy ông đã về, bắn được ba con chim giẻ quạt. Về đến nhà, ông lên buồng tắm ngay để tắm và thay quần áo. Tính ông rất sạch sẽ, ông không sợ nước. Tôi nghĩ đây là lúc tạo ra cơ hội để ông thôi “mặc cảm” đối với tôi. Tôi bỏ đồ khâu, đi đến buồng tắm… Tôi đứng ngoài, dán tai vào cánh cửa nghe… thấy ông bước đi bước lại ở bên trong, rồi lại thấy ông rủ rỉ hát. Cứ mấy câu hát đi hát lại mãi…
Tôi nghe thấy tiếng kéo ghế, tiếng mở ô kéo, đóng ô kéo, rồi tiếng ồ, tiếng à, tiếng ối… tiếng nước chảy… Bất thình lình, tôi mở cửa…
Ông đứng trước tôi, quay mặt ra, mình dính nước, rét run… Ông đứng ngây ra, nét mặt ngơ ngác, tôi chưa một lần trông thấy như thế… Không có áo khoác để che người, ông vội lấy khăn tắm thay cho chiếc lá nho. Tôi cố ghìm mình để khỏi bật ra tiếng cười trước cảnh tượng kỳ cục của ông. Tôi thấy trên vai ông có một túm lông và cả ở ngực nữa, như một con gấu… Nhưng cơ thể ông vẫn đẹp…
Tất nhiên tôi phải kêu ré lên cho đúng cách rồi tôi khép cửa lại… Ra ngoài rồi, tôi nghĩ bụng thế nào ông cũng sẽ lại gọi tôi… nhưng không thấy động tĩnh gì… chắc là ông đang đắn đo… Thế nào ông ấy cũng sẽ gọi, tôi nghĩ bụng và chờ đợi… nhưng vẫn không thấy ông ấy gọi. Rồi lại thấy nước chảy, thấy tiếng kỳ cọ, tiếng kéo ghế, rồi tiếng ông ấy rủ rỉ hát…
Ông ấy ngốc thật! Tôi lẩm bẩm một mình, bực tức. Tôi quay về phòng tự nhủ sẽ không bao giờ cho ông ấy được hưởng khoái lạc như có lúc vì thương ông tôi đã nghĩ như thế…
Buổi chiều, tôi thấy ông cứ loanh quanh bên tôi. Thấy tôi ra sân gà vịt ông cũng ra theo… Để cho có chuyện, tôi xin ông tha lỗi, về chuyện buổi sáng.
- Không sao! Không sao! - ông nói. - Trái lại…
Ông muốn giữ tôi lại, ông ấp úng nói gì đó… nhưng tôi ngắt lời ông:
- Xin lỗi ông chủ. Tôi không có thì giờ để nói chuyện với ông chủ. Bà chủ đang đợi tôi…
- Một tí thôi mà, cô Célestine!
- Không được, ông chủ ạ…
Tôi nói rồi đi. Đến góc tường quay lại, tôi thấy ông vẫn đứng yên tại chỗ, đầu cúi gằm, chân khuỵu xuống, mắt vẫn nhìn chỗ tôi đứng lúc trước.
Sau bữa ăn trưa hôm ấy, ông bà chủ tôi có một cuộc cãi nhau kịch liệt.
Bà chủ tôi nói:
- Anh lại để ý đến con ấy đấy!
Ông chủ tôi trả lời:
- Sao lại nói thế em yêu? Anh thèm gì để ý đến nó! Một đứa con gái nhếch nhác, có khi lại đầy bệnh tật! Em đừng nói thế oan anh!
- Tôi còn lạ gì anh! Tính nết thế nào tôi còn chả biết sao!
- Đừng, em yêu!
- Xấu đẹp, bẩn sạch, anh có từ một ai! Anh mò vào cả những đứa ở ngoài đồng!
Tôi thấy ván gác kêu lên rầm rầm dưới bước chân ông chủ.
- Em nói linh tinh! Em thấy những chuyện ấy ở đâu? Ai nói với em chứ?
- Lại còn không à? Chuyện con Jézureau anh đã quên rồi sao? Tôi đã phải đền nó năm trăm francs, không thì anh đã ngồi tù rồi! Cũng như bố anh phải giam vì đi ăn trộm ấy!
Ồng chủ tôi không đi đi lại lại nữa. Ông ngồi phịch xuống ghế… Ông im lặng…
Bà chủ tôi nói thêm:
- Nhưng tôi cũng mặc kệ anh… Tôi không thèm ghen tuông gì cả… Anh muốn ngủ với con Célestine cũng được. Miễn là đừng để tôi phải bồi thường cho nó…
Tôi không biết ông chủ có ra ngoài đồng mò gái như bà chủ nói không… nhưng nếu thật như thế thì ông ấy cũng không có gì là sai… Ông ấy là người khỏe mạnh, tẩm bổ nhiều… Ông ấy có nhu cầu… Mà bà ta lại không cho thì ông ấy phải đi mò chứ… Tôi là hầu phòng tôi biết chứ… Cứ để ý phòng ngủ, phòng tắm, quần áo và nhiều thứ khác, là cũng có thể biết được.
Có một điều rất khó giải thích là bà chủ cũng có nhu cầu, bà phải giải quyết bằng phương pháp trá hình trong khi bà vẫn một mực không chịu đáp ứng đòi hỏi của ông. Tôi kể lại các bạn nghe câu chuyện dưới đây:
Ông bà chủ tôi có một chuyến đi sang vương quốc Bỉ. Dọc đường xe phải dừng lại kiểm soát của hải quan ở Feignes. Lúc ấy trời đã tối. Ông chủ tôi buồn ngủ nên nằm lại trên xe. Bà chủ và tôi mang hành lý đến cho nhân viên hải quan tiến hành việc kiểm soát…
- Bà có đồ vật gì cần khai báo? - Nhân viên hải quan hỏi bà chủ tôi. Ông ta thấy bà chủ có vẻ xinh đẹp và sang trọng tin chắc là bà có nhiều thứ cần khai báo.
- Không, - bà chủ tôi nói, - tôi không có gì cần khai báo.
- Vậy yêu cầu bà mở hòm…
Trong số sáu chiếc hòm chúng tôi mang theo, ông ta chọn chiếc to nhất, nặng nhất, một chiếc hòm bọc bằng da, bên ngoài có túi bằng vải màu xanh.
- Không có gì đâu ông ạ.
- Bà cứ vui lòng mở ra cho chúng tôi kiểm tra.
Bà chủ tôi mở chiếc túi sách lấy ra chùm chìa khóa để mở hòm… Nhân viên hải quan lật giở các tệp quần áo, khăn mũ… rũ tung mọi thứ từ trên xuống dưới… Bà chủ tôi phải kêu lên, tỏ vẻ bực tức. Lục đến đáy hòm thì nhân viên hải quan lôi ra một sắc tay bằng nhung đỏ và hỏi:
- Cái này là cái gì?
- Tư trang, - bà chủ tôi bình tĩnh trả lời.
- Bà mở ra cho xem…
- Tôi đã nói là tư trang. Mở làm gì!
- Bà cứ mở ra…
- Không, tôi không mở. Ông làm thế là quá quyền hạn. Tôi không mở. Mà cũng không có chìa khóa…
Bà chủ rất bối rối. Bà muốn giật lại cái sắc từ tay nhân viên hải quan… Nhưng nhân viên hải quan rụt cái túi lại và dọa:
- Nếu bà không mở ra tôi sẽ mời thanh tra đến.
- Ông làm thế không đúng… Tôi không mở. Không có chìa khóa.
- Nếu bà không có chìa khóa. tôi sẽ phá túi ra…
Bà chủ tôi tức quá kêu lên:
- Ông không có quyền… Tôi sẽ kêu lên đại sứ quán, kêu lên nhà vua. Ông sẽ bị bắt, bị giam, bị tù…
Những lời bực tức của bà chủ chả có tác dụng gì… Nhân viên hải quan vẫn yêu cầu:
- Bà mở ra…
Bà chủ tôi mặt mũi nhợt nhạt, hai bàn tay vặn vào nhau.
- Không, - bà nói, - tôi không mở… Tôi không muốn… tôi không thể mở được…
Nhân viên hải quan vẫn khăng khăng:
- Bà cứ mở ra.
Thấy to tiếng nhiều người xúm lại xem. Cả tôi cũng muốn xem cái túi ấy đựng cái gì, tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Chắc bà chủ đã để vào hòm lúc tôi không có mặt ở đấy.
Bỗng bà chủ tôi thay đổi chiến thuật. Bà làm ra vẻ hiền lành, ngọt nhạt, lại gần nhân viên hải quan như để thôi miên ông ta bằng hơi thở và mùi nước hoa của mình, bà nói khẽ:
- Ông bảo những người đứng chung quanh đi chỗ khác, tôi sẽ mở cái túi…
Nhân viên hải quan sợ bà chủ tôi định giăng bẫy gì chăng nên lắc đầu nói:
- Bà đừng giở trò vờ vĩnh nữa! Cứ mở ra.
Bà chủ tôi không làm sao được đành phải lấy trong ví một chìa khóa bằng vàng nhỏ xíu để mở. Nhân viên hải quan vẫn giữ chặt một đầu sắc, còn bà chủ tôi vừa mở sắc vừa che cho người chung quanh không nhìn thấy.
Chiếc sắc vừa mở ra, nhân viên hải quan vội giật lùi như bị rắn cắn. Hốt hoảng kêu lên:
- Thế ra bà góa chồng!...
… Rồi vội vàng đóng nắp lại, song những người đứng chung quanh vẫn kịp nhìn thấy “tư trang” của bà là cái gì, họ phá lên cười, bàn tán xôn xao.
Bà chủ tôi ngượng quá… Song cũng phải thừa nhận rằng trong giờ phút khó khăn vậy mà bà đã tỏ ra vững vàng, vững vàng đến trơ trẽn cũng giỏi thật…
Tôi giúp bà xếp lại hòm rồi mang hòm lên xe… Đi được mấy bước bà dừng lại bảo tôi:
- Mình cũng ngốc thật! Giá cứ khai là cái túi tư trang ấy của cô có được không.
Tôi đã trả lời:
- Cảm ơn bà chủ nhiều… Bà chủ tốt với tôi quá!... Nhưng tôi thích loại “tư trang” tự nhiên hơn.
- Cô ngốc lắm! Thôi im đi!
Nói rồi bà tiếp tục bước đi lên xe với “Thằng Dừa” của bà. Lúc này “Thằng Dừa” vẫn ngủ say chẳng hề biết chuyện gì đã xảy ra…
Bà chủ tôi là người không ngăn nắp nên thường để trước quên sau, nên xảy ra nhiều chuyện giống hoặc tương tự như trên đây. Bà giấu vào ngăn kéo tủ một chục quyển sách nhỏ bìa màu vàng gáy kim nhũ. Một lần bà lấy sách ra xem rồi bỏ quên trên bàn, cạnh giường nằm. Sách vẽ đầy những hình ảnh tục tĩu, chỉ nghĩ đến đã nóng ran người lên rồi… chị Mathilde, hầu phòng thứ nhất thó một quyển giấu đi, yên trí là bà chủ không biết và không đòi… nhưng bà đã đòi. Sau khi tìm khắp mọi chỗ không thấy, bà chủ hỏi chị Mathilde:
- Chị có thấy một quyển sách ở trong phòng không?
- Sách gì, thưa bà?
- Quyển sách màu vàng.
- Sách kinh chăng thưa bà?
Chị hầu phòng hỏi và nhìn vào mặt bà chủ rồi nói thêm:
- Hình như có một quyển sách bìa vàng gáy kim nhũ, để trên bàn cạnh giường trong phòng bà chủ.
- Thế đâu?
- Tôi trông thấy thôi.
- Chị có cầm đi không?
- Không ạ. Tôi đọc làm gì quyển sách ấy?
Bà chủ thôi không hỏi gì thêm nữa.
Từ hôm ấy trở đi, ngày nào chị Mathilde cũng lôi quyển sách ra và gióng giả:
- Các bạn chú ý, chúng ta đọc kinh đây!
Rồi chị mở từng trang đọc sang sảng, khiến bà quản gia phải quát lên:
- Có thôi không nào! Các cô tai quái quá!
Bà ta quát chị Mathilde như vậy nhưng chị đọc bà vẫn lắng tai nghe và dán mắt nhìn các tấm ảnh.
 




0
Wild wild đánh máy
 
 
XIII
13 tháng Mười Một
Cô Rose chết rồi. Tai họa giáng xuống  nhà ông đại úy. Tội nghiệp cho ông …Đầu tiên là con chồn chết…Tiếp đến là nhím Bourbaki…Rồi bây giờ đến cô Rose…Cô ốm đã mấy hôm nay…Đến hôm kia thì lên cơn sưng phổi rồi chết…Vừa chon sáng nay…Tôi đứng trong cửa sổ nhìn đám tang đi ngoài đường. Sáu người khiêng quan tài trên phủ kín vòng hoa và những bông hoa trắng như đám ma con gái…Cả làng Menil Roy đi đưa, người nào cũng mặc đồ đen, xếp thành một hàng dài, đi đầu là ông đại úy Manger, mặc áo khoác ngoài màu đen, dáng cứng đơ. Chuông nhà thờ buông từng hồi! Bà chủ cấm tôi không được đi đưa đám. Tôi cũng không thích đi. Cô Rose là người độc ác. Đám tang của cô cũng không làm tôi động lòng chút nào. Tuy vậy, cũng có lúc tôi thấy thiếu cô, nhất là những lúc tôi ra đường…
Tôi muốn biết cảm nghĩ của ông đại úy trước cái chết đột ngột của cô Rose thế nào. Vì ông bà chủ đi vắng, nên chiều nay tôi đi dạo ven hàng rào, thấy vườn ông đại úy không có người. Chơ chỏng một cái mai cám xuống đất. Tôi nghĩ bụng, hôm nay ông đại úy không ra vườn, chắc ông đang khóc ở trong nhà, nhớ lại những kỉ niệm cũ. Nhưng ông bỗng đi ra. Áo khoác đã bỏ, trên người chỉ có quần áo lao động, đầu đội chiếc mũ lính cũ. Ông xe phân ra vườn, vừa đi vừa rủ rỉ hát một điệu quân hành. Thấy ông, tôi đặt xe xuống chạy lại, chiếc cào trên vai.
-         Thấy cô tôi mừng, cô Célestine , - ông nói.
Tôi muốn tìm lời an ủi ông
-         Một tổn thất lớn cho ông! Tội nghiệp cô Rose!
-         Vâng, vâng, - Ông trả lời, giọng thản nhiên, trên mặt chẳng lộ ý tứ gì, cử chỉ hờ hững.
Rồi cắm cái sào xuống luống đất gần hàng rào, ông nói thêm:
-         Tôi không thể sống một mình thế này mãi được.
-         Khó mà tìm được người như cô Rose đấy ông ạ
Tôi nói vậy nhưng thấy ông vẫn thản nhiên, không những thế còn như có vẻ vừa trút được gánh nặng
-         Sao chả tìm được, - ông nói sau một lúc im lặng.
-         Nhưng cô Rose đã biết được tính nết ông, những thị hiếu, những sở trường của ông. Cô Rose tận tụy với ông.
-         Chả tận tụy tí nào cô ạ. Từ ngày thuê được thằng bé, cô ấy chả chịu làm gì cả. Rồi cứ nhang nhác suốt ngày. Tôi tiêu mấy xu mà cô ấy gào lên…Hễ thấy tôi nói chuyện với cô nhue bây giờ là cô ấy ghen…
Ông đại úy thở một cách khoan khoái. Rồi như một người mới đi xa lâu về, ông nhìn trời, nhìn đất, nhìn cỏ cây.
Ông thật sự là một người vô tâm, vô tâm đến mức buồn cười, nhất là người đàn bà sống với ông vừa chết, ông vừa mới đi đưa đám về được một lúc.
-         Ông đối xử bất công với cô Rose đấy! – tôi nói để khích ông thổ lộ tâm tình
-         Tôi đâu  có bất công, - ông cãi lại, - từ ngày đưa cô ấy về đâu, tôi mất hết quyền hành ở trong nhà này. Cái gì cũng như là của cô ấy. Việc gì cũng do cô ấy quyết định. Còn tôi ăn không được ăn, nói không được nói. Cô ấy chết đi cho được việc…Tôi cứ tưởng tôi chết trước nên đã làm chúc thư để tài sản lại cho cô ấy. không ngờ cô ấy lại chết trước, không thì bao nhiêu tài sản của tôi cô ấy vơ hết…
-         Thế bây giờ thì sao, - tôi hỏi
-         Tùy cô, - ông trả lời
-         Sao lại tùy tôi
Một phút im lặng,. Bắp chân ông căng ra, người ông thẳng đừ, râu ông nhọn hoắt, hai mắt chằm chằm nhìn thẳng vào mặt tôi, ông hỏi:
-         Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật, cô có thể thay thế được cô Rose không?
Tôi đã lường trước được tình huống nên khi nghe ông nói tôi chẳng lấy gì ngạc nhiên. Tôi lấy giọng nghiêm trang hỏi ông:
-         Thế còn chúc thư thì sao?
-         Tôi xé đi rồi
-         Nhưng tôi không biết làm bếp đâu, - tôi nửa đùa nửa thật
-         Không sao, - ông đại úy rối lên, - tôi làm, tôi làm cả việc sắp xếp giường chiếu nữa, cô không phải làm gì
Giọng ông sôi nổi, nịnh nọt, xoắn xuýt; may mà có hàng rào chứ không thifoong đã nhẩy xô vào ôm lấy tôi
Tôi giơ ngón tay như dọa một đứa trẻ:
-         Ông là con lợn con đấy!
-         Lợn già chứ! Và còn những cái khác nữa!...- ông phấn khởi đế thêm. Rồi vươn cổ qua hàng rào, - Nếu cô về với tôi thì…
-         Thì sao?
-         Thì nhà Lanlaire sợ lắm đấy!
Tôi im lặng, vờ như suy tính. Còn ông đại úy thì đứng di di ngón chân xuống nền đường vẻ chờ đợi. Thấy tôi mãi không trả lời, ông nhắc lại:
-         Được không, cô Célestine? Trả lời đi chứ
-         Để xem đã, ông hãy cứ tìm người khác!...- Tôi nói và bỏ chạy để khỏi phá lên cười trước mặt ông
Tôi lung túng trong việc lựa chọn giữa một bên là ông đại úy, với một bên là anh Joseph
Ông đại úy là một người cục cằn thô lỗ. Nếu một ngày nào đấy ông lại ôm lấy tôi mà hôn thì buồn cười đến chết và nếu lại cùng giường với ông, khi ông đặt môi trên môi tôi để hôn thì tiếng cười từ trong miệng tôi bật ra sẽ đẩy miệng ông và cả người ông ra khỏi giường.
Còn anh Joseph thì lại khác. Anh cũng xấu chứ chẳng đẹp, xấu ghê gớm, xấu kinh khủng. Nhưng nếu mổ xẻ cái xấu ấy  ra thì lại thấy là đẹp, trên cả đẹp. Mỗi khi nghĩ đến, tôi lại thấy như có một sức mạnh kéo tôi về với anh, mạnh đến chóng mặt, không thể cưỡng lại được; gần anh tôi thấy thần kinh của mình rung lên, da thịt của mình sôi lên. Lúc ông bà chủ đi vắng tôi thơ thẩn ngoài đường, lúc ông bà về tôi muốn lao vào công việc khâu vá để gỡ lại nhưng không được. Tư tưởng của tôi bị anh chiếm đoạt. Tôi chỉ nghĩ đến anh, chỉ thấy có anh. Bây giờ tôi mới thấy đừng bao giờ đùa với tình yêu.
Anh Joseph xin phép bà chủ cho  nghỉ sáu ngày với lí do đi Cherbuorg để giải quyết công việc nhà. Vậy là anh đã quyết định mua cái quán giải khát. Nhưng trước mặt còn nhờ một người bạn trông nom.
-         Còn phải quét vôi, sơn lại cửa, làm biển hàng cho đẹp đã, - anh bảo tôi, -hơn nữa tôi còn phải làm ở đây, chưa bỏ đi ngay được.
-         Sao vậy? – tôi hỏi
-         Chưa đi ngay được
-         Thế bao giờ đi?
Anh gãi tai trả lời:
-         Chưa biết được. Có thể sáu tháng, hoặc hơn, hoặc kém, tùy theo.
-         Tùy gì? – tôi hỏi lại
Anh do dự mãi rồi nói:
-         Tùy theo một việc rất quan trọng
-         Nhưng việc gì chứ?
-         Một việc …- anh Joseph bỏ lửng không chịu nói thêm
Anh cũng không nói đến tôi, làm tôi thắc mắc. Hay anh đã thay đổi ý kiến rồi chăng? Hay tại tôi tò mò, tại tôi do dự làm anh chán. Hay tại vì tôi nghi anh đã hạị Claire nên anh cắt đứt quan hệ với tôi? Phải chăng thế là tan mộng? Tôi buồn rầu nói với Joseph:
-         Nếu anh đi khỏi thì tôi cũng không ở đây nữa, tôi sẽ quay về Paris.
Anh Joseph không phản đối, không kêu ca, cũng không nài tôi ở lại, cứ thọc tay vào túi quần đi đi lại lại trong phòng. Không biết sao lại thế? Anh chấp nhận sự chia li ấy à? Anh cũng muốn thế chăng? Lòng tin của anh đối với tôi, tình yêu của anh đối với tôi, mất rồi chăng?  Hay chỉ vì anh sợ tôi không kín đáo, hay hỏi? Tôi run sợ hỏi anh:
-         Sự chia tay không làm anh buồn à?
Anh vẫn đi đi lại lại, không ngẩn lên nhìn tôi, chỉ đủng đỉnh nói:
-         Biết làm sao được. Người ta đã không muốn thì bắt buột làm sao được
-         Tôi có ngăn cản anh đâu?
-         Cô cứ có ý nghĩ xấu về tôi, tôi hỏi không trả lời.
-         Sao anh nói thế?
-         Vì rằng…
-         Vì rằng anh không yêu tôi nữa. Chứ tôi có từ chối gì đâu, có ngăn cản gì đâu. Tôi chỉ suy nghĩ cho chín chắn thôi. Một việc hệ  trọng cho cả cuộc đời không thể không suy nghĩ cho kĩ. Đáng nhẽ anh phải khen tôi là người chín chắn mới phải.
Lúc này Joseph mới đứng lại, nhìn thẳng vào tôi và nói, tuy còn dè dặt nhưng dịu giọng hơn:
-         Không phải thế đâu, cô Célestine ạ. Tôi không cấm cô suy nghĩ. Cô cứ suy nghĩ cho chín chắn. Chúng ta còn thì giờ. Tôi đi rồi về tôi sẽ nói. Cái tôi không muốn là cô cứ hay tò mò. Có những việc phụ nữ không cần biết…Có những việc…
Joseph không nói hết câu, chỉ lắc đầu…sau một lúc im lặng anh nói tiếp:
-         Tôi chỉ nghĩ đến cô. Tôi muốn cô thôi. Tôi đã có lần nói thế. Bây giờ tôi nhắc lại như thế. Chúng ta sẽ bàn chuyện này nữa. Nhưng đừng tò mò. Việc tôi tôi làm. Việc cô cô làm. Thế là hơn.
Rồi bước lại gần tôi, nắm lấy tay tôi anh nói:
-         Tôi là người cứng đầu, nhưng trong đầu có những điều lương thiện. Tôi mơ về cô, Célestine ạ. Sẽ về cả cái quán giải khát.
Tay áo anh xoắn lên làm tụ máu, những bắp thị nổi lên rắn chắc, co vào duỗi ra mạnh mẽ, dẻo dai dưới lớp da trắng trẻo. Trên cổ tay xăm hình trái tim rực lửa, hai dao găm bắt chéo trên bình hoa, mùi thơm giống được bốc lên từ bộ ngực nở căng như một lá chắn. Cả cậu Xavier lẫn anh Jean và tất cả những chàng trai trẻ khác tôi đã tiếp xúc từ trước đến nay, không có ai có được cái sức mạnh và cái hơi thơm đàn ông như anh Joseph. Tôi bám vào tay anh và nói:
-         Anh Joseph, phải ở cùng với nhau đi, ngay bây giờ đi…Tôi cũng mơ về anh.
Nhưng Joseph trả lời:
-         Chưa thể ngay được. Célestine ạ
-         Ngay đi anh Joseph, Joseph yêu quý của em
Joseph khẽ gỡ tôi ra
-         Nếu như chỉ là giăng gió thôi thì ngay được, - Joseph ôn tồn,- nhưng nếu là chuyện lâu dài thì phải chín chắn. Không thể làm trước khi linh mục dẫn đến nhà thờ
Chúng tôi ngồi lại trước mặt nhau. Joseph hai mắt sáng rực, hơi thở gấp. Còn tôi hai tay bải hoải, on gong trong đầu, người nóng ran.




0
Đánh máy: trangct
 
CHƯƠNG X
10 tháng Mười một
 
Bây giờ không ai nói đến con bé Clarie nữa. Đúng như dự đoán, vụ việc đã bị bỏ qua. Cánh rừng Raillon và anh Joseph giữ yên bí mật của mình mãi mãi.
Người ta nói đến xác một người xấu số chỉ như nói đến xác một con chim chết rục ở trong rừng rậm. Bố con bé coi như không có vấn đề gì tiếp tục đập đá trên đường, và thành phố xôn xao vì vụ giết người sau một thời gian đã trở lại hoạt động như bình thường. Không khí có vẻ u buồn do mùa đông đến, mọi người ở tịt trong nhà, qua cửa kính thoáng thấy những bộ mặt xanh xao, ngủ gà ngủ gật, còn ở ngoài phố chỉ lác đác một vài người rách rưới và những con chó rét run.
Bà chủ sai tôi đến cửa hàng thịt. Tôi đã gọi 2 con chó đi theo. Trong lúc tôi đang ở đấy thì thấy một bà già vào mua ít thịt để nấu canh cho đứa con trai đang ốm… Người nhà hàng nhặt cho mấy miếng vụn nửa mỡ, nửa xương, cân rồi nói:
- Mười lăm xu.
- Mười lăm xu kia à! – bà già kêu lên – Sao đắt thế.
- Tùy bà, người nhà hàng nói và nhặt lại mấy miếng thịt.
- Thôi, đưa đây vậy! – bà vội giữ chỗ thịt lại.
Bà già đi rồi, ông hàng thịt quay lại bảo tôi.
- Phải có những người nghèo như thế mới đẩy được những miếng thịt loại xấu đi… Nhưng bây giờ họ cũng canh lắm rồi.
Ở lâu đài Prieuré cuộc sống vẫn chảy trôi. Hết chuyện buồn lại đến chuyện vui. Bực với ông đại úy hay gây sự, ông chủ đã theo lời bà chủ mang sự việc đi kiện. Ông chủ đòi ông đại úy bồi thường kính vỡ, rau nát. Tất nhiên là ông đại úy chối, nói không bao giờ ném đá sang nhà ông Lanlaire bao giờ, và còn khẳng định chính ông Lanlaire ném vào vườn nhà mình.
- Ông có chứng cớ gì không? Người làm chứng đâu? – Ông đại úy hỏi.
- Chứng cớ à? Những hòn đá là chứng cớ. Ông không ngớt ném sang nhà tôi… rồi mũ củ, giày cũ, ai cũng biết là của ông.
- Ông bịa đặt.
- Ông là đồ đê tiện…
Vì không có chứng cớ cụ thể, ông thẩm phán, vốn là chỗ quen thân với ông đại úy, khuyên ông Lanlaire rút đơn kiện.
- Hơn nữa, - ông thẩm phán nói – chả có lẻ ông Manger là một quân nhân đã có nhiều chiến tích, đã được phong quân hàm ngoài mặt trận lại làm chuyện trẻ con ném đất đá sang nhà ông.
- Ông ấy đã vu khống, đã bịa đặt bôi nhọ, nói xấu quân đội.
- Tôi hả…
- Ông ấy! Đồ Do Thái bẩn thỉu. Ông đã mạt sát quân đội… Quân đội vạn tuế…
Họ đã túm tóc nhau. Ông phẩm phán phải vất vả lắm mới gỡ họ ra được… Từ đấy, ông chủ tôi đặt ở ngoài vườn một bốt gác ghép bằng ván cao ngang đầu người trỗ bốn lỗ đứng trong nhìn ra để rình. Nhưng ông đại úy biết thế nên thôi ném, thành ra ông chủ tốn tiền thêm.
Nhiều lần nhìn qua hàng rào, tôi thấy ông đại úy, bất kể giá rét, lúc nào cũng ở ngoài vườn. Ông làm quần quật suốt ngày… Cô Rose hen suyễn, ho suốt đêm… Bourbaki chết rồi, bị sưng phổi do uống nhiều rượu cônhắc. Cũng không may cho nó.
- Cô phải kiện, cô Célestine ạ. Cô trình tòa là lão Lanlaire bờm xờm cô. Làm cho ra nhẽ.
- Nhưng ông ấy có làm gì tôi đâu!
- Lão lại không làm gì cô à!
- Vâng. Như vậy tôi không thể…
- Có khó gì, cô! Cô cứ làm đơn, trong đơn viết rằng có tôi và cô Rose làm chứng. Chúng tôi sẽ đến xác nhận là có trông thấy… Lời nói của một quân nhân người ta sẽ tin ngay… Lúc ấy sấm sét, búa rìu sẽ giáng xuống đầu lão Lanlaire ngay. Cứ làm đi cô ạ.
Lúc này tôi có nhiều việc phải suy nghĩ… Anh Joseph giục tôi phải quyết định ngay, không chần chừ được nữa… Anh ấy đã được tin tuần sau người ta bán các quán rượu. Tôi cứ lưỡng lự, vừa muốn lại vừa không muốn… Hôm nay thì thấy thích… mai lại không thích nữa. Tôi chỉ sợ Joseph dẫn tôi đến chỗ nguy hiểm, nên không quyết định được. Anh ấy hứa hẹn cho tôi được hoàn toàn tự do ăn mặc, sinh sống, sung sướng bảo đảm…
- Thế nào tôi cũng phải mua cái quán ấy. Không thể bỏ lỡ… Lợi lắm cô Célestine ạ… Nếu cách mạng nổ ra cái quán ấy là nhất đấy…
- Vậy thì anh cứ mua đi. Không tôi thì có người khác…
- Không được. Chỉ có cô thôi. Tôi khoái cô lắm. Ngoài cô, không thể ai được… Cô ngại tôi à?
- Không phải thế đâu.
- Nếu cô có ý nghĩ không tốt về tôi thì…
Không biết sao lúc ấy tôi lại dám liều hỏi anh:
- Có phải đúng anh đã hại con bé Claire ở trong rừng không?
Joseph nghe hỏi vậy mà vẫn giữ được bình tĩnh. Anh chỉ hơi nhún vai, lúc lắc cái đầu, trả lời một cách tự nhiên:
- Cô hỏi là tôi đã biết cô đang nghĩ gì rồi…
Anh ấy nói dịu dàng nhưng đôi mắt ghê sợ lắm, làm tôi không nói được gì.
- Cô hỏi không phải là muốn biết về con bé Claire mà hỏi vì cô đấy.
Rồi cũng như hôm trước, Joseph ôm chặt lấy tôi, hỏi:
- Cô đi với tôi nhé… Đến cái quán nhỏ nhé!
- Tôi sợ anh lắm, anh Joseph ạ… Sợ lắm.
Anh ấy đu đưa tôi trong tay như người đưa võng. Và như dỗ dành, anh ấy nói:
- Đi nhé, Célestine! Đi với tôi…
Trong thành phố đang lan truyền một tin đăng trên báo Rouen. Bài báo nói về một chuyện có thật, rất kỳ lạ, xảy ra ở Port-Lancon, cách đây 3 kilomét, có phong cảnh đẹp. Nhân vật trong truyện ai cũng biết rành rọt. Người thành phố lại được mấy ngày bàn tán xôn xao… Marianne đã mang tờ báo ngoài phố về. Sau bữa ăn tối, tôi đem ra đọc. Mới được mấy dòng, anh Joseph nhỏm dật quát:
- Có thôi không nào! Đọc làm gì những chuyện rởm tai ấy! Những chuyện ấy phạm đến Chúa. Làm vậy không hay đâu, cô Célestine ạ…
Nói rồi Joseph bỏ đi ngủ.
Tôi tóm tắt dưới đây nội dung bài báo để giữ lại vì thấy câu chuyện cũng có ý nghĩa.
Câu chuyện thế này.
Giáo trưởng khu Port-Lancon là một linh mục năng động có tiếng hoạt bát ở quanh vùng. Nhiều người chủ nhật đến nhà thờ chỉ cốt để nghe ông ấy thuyết giáo. Có người nói thật:
- Tôi không đồng tình với quan điểm của ông ấy nhưng nghe cũng thấy hay.
Giáo trưởng hay can thiệp vào công việc nội bộ của thành phố làm ông Thị Trưởng khó chịu nhưng giáo trưởng dùng lời lẽ bóng bẩy nên cũng muốn nghe. Một vấn đề ông hay đề cập là trường học không dạy được gì cho trẻ con. Khi hỏi chúng, chúng chả hiểu gì cả. Ông quy trách nhiệm cho Voltaire, cho cách mạng, cho chính phủ. Tất nhiên là ông chỉ nói trong những người thân cận, vì ông biết cách ứng xử. Cứ thứ ba và thứ năm hàng tuần, ông tập trung bọn trẻ trong làng lại nhà thờ truyền thụ cho những kiến thức kỳ lạ mà các trường bên ngoài không dạy.
- Các con có biết, - ông hỏi – ngày xưa Thiên đường trên mặt đất ở đâu không? Con nào biết giơ tay nào!
Không một bàn tay nào giơ lên. Thắc mắc trên mọi khuôn mặt. Ông giáo trưởng nhún vai kêu lên:
- Gay thật! Không biết thầy giáo các con dạy dỗ thế nào. Ta sẽ nói để các con biết Thiên đường trên mặt đất ở đâu.
Và ông nói:
- Thiên đường trên mặt đất không có ở làng Port-Lancon, không có ở Tổng Saine Inférieure, cũng không có ở Paris, không ở nước Pháp. Ở Châu Âu cũng không. Cả Châu Phi, Châu Mỹ cũng không. Và Châu Úc cũng không nốt. Đã có người bảo thiên đường mặt đất ở Ý, ở Tây Ban Nha, vì ở các nước này có trồng cam…, sai. Rất sai! Ở các nước ấy ngày trước chỉ có táo thôi. Vậy ở đâu, ai biết giơ tay!
Vẫn không ai giơ tay, ông nói tiếp:
- Ở Châu Á nhé! Vì ở Châu Á ngày trước không có mưa đá, không có sấm sét, ở Châu Á ngày trước chỉ có hoa. Hoa cao như cái cây to. Nhưng ngày nay ở Châu Á không có gì. Vì chúng ta phạm nhiều sai lầm ở đấy, nên ở đấy những con người giết các giáo sĩ và xuống địa ngục. Thế còn đức tin là gì? – ông lại hỏi
Một trẻ em nói:
- Đức tin là một trong ba đạo đức của nhà thờ dạy cho người ta ạ.
- Tôi không hỏi vậy. Tôi hỏi Đức tin là thế nào? Các con cũng không biết à? – Và ông giải thích:
- Đức tin là chỉ tin lời linh mục nói, không tin lời thầy giáo. Thầy giáo chỉ biết gì cả.
Nhà thờ Port-Lancon được các nhà khảo cổ và khách du lịch biết tiếng. Đấy là một trong những nhà thờ đẹp nhất ở phần đất Normandie này… Ở mặt phía tây của nhà thờ dưới vòm cửa chính có đắp một bông hồng đang nở… Bông hồng mảnh mai, diêm dúa. Đầu phía bắc của giáo đường cây cối um tùm. Ở đấy có nhiều bức trạm nổi các nhân vật kỳ dị, mặt quỉ. Nhưng nhiều bức tượng bị chặt đầu hay mất tay chân. Nhiều bức đã rêu phong và sắp đổ. Công trình chia làm hai phần, phần nào cũng sáng sủa, rực rỡ dưới ánh chiều mùa thu. Phòng của giáo trưởng ăn thông với con đường rợp bóng cây đi vào cửa chính giáo đường. Cạnh đấy là phòng của bà xơ Angèle. Bà vừa là chị vừa là cố vấn của giáo trưởng. Hai người vẫn hàng ngày trao đổi những việc cơ mật của thành phố và bàn bạc những chuyện của giáo khu.
Thứ năm trước giáo trưởng truyền thụ cho bọn trẻ những kiến thức về sấm sét, mưa đá, gió.
- Các con có biết mưa là gì không? – Giáo trưởng hỏi – Mưa từ đâu ra? Ai làm ra mưa? Các nhà bác học sẽ bảo mưa là do hơi nước đọng lại… Vậy là họ nói dối… Mưa là do Chúa giận, các con ạ… Chúa bất mãn với cha mẹ các con! Cha mẹ các con không vâng theo lời dạy của Chúa. Chúa bảo: các người đã bỏ mặc linh mục, coi thường linh mục, không tôn kính, không nghe lời linh mục. Các người coi chừng, hãy xem mùa màng của các người sẽ ra sao… Chúa đã ra lệnh cho mưa… Mưa là như thế… Nếu cha mẹ các con biết nghe lời Chúa, trung thành với Chúa thì Chúa không làm mưa nữa.
Giữa lúc ấy bà xơ Angèle xuất hiện ở cửa xép giáo đường. Bà xanh lướt hơn mọi lúc và có vẻ bối rối. Mũ lệch đi một bên, quần áo xộc xệch. Thoáng thấy lũ trẻ quây chung quanh giáo trưởng, bà vội lùi xuống mấy bậc thềm và đóng vội cánh cửa. Nhưng thấy diện mạo bà khác thường, giáo trưởng đã chạy vội ra đón.
- Giáo trưởng hãy đuổi bọn trẻ đi chỗ khác. Tôi có chuyện muốn nói.
- Lạy Chúa! Có chuyện gì mà xơ hốt hoảng thế?
- Cứ đuổi bọn trẻ đi! Đuổi ngay! Có việc quan trọng, rất quan trọng!
Bọn trẻ học sinh đi rồi, bà xơ thả mình đánh phịch xuống ghế. Tay mân mê cây thánh giá bằng đồng treo trên bộ ngực lép xẹp. Ông giáo trưởng nóng ruột hỏi giọng đứt quãng:
- Nói, mau đi! Xơ! Có… chuyện gì?
Bấy giờ bà xơ mới nói gọn thon lỏn một câu:
- Lúc nãy tôi thấy trên nhà thờ một người cởi truồng.
Giáo trưởng há hốc mồm, mở to mắt, ấp úng:
- Một người cởi truồng? Xơ trông thấy thật à? Có chắc không?
- Chính mắt tôi trông thấy.
Thế nào mà trong giáo đường lại có một kẻ trơ tráo đến thế! Dám cởi truồng đi trong nhà thờ! Không thể tin được!
Giáo trưởng giận tím mặt lại. Ông lẩm bẩm:
- Cởi truồng trong nhà thờ! Thời nay sao lại thế được nhỉ? Mà nó như thế để làm gì chứ? Hay nó định… thông dâm? Nó…
- Giáo trưởng không hiểu rồi! – Bà xơ vội ngắt lời giáo trưởng – Tôi không nói cái người cởi truồng ấy là người thật. Đấy là người bằng đá…
- Thế nào? Bằng đá hả? – ông giáo trưởng thở phào – Thế mà xơ làm tôi sợ quá.
Bà xơ nói như gắt:
- Bằng đá cở truồng cũng vẫn là cởi truồng chứ sao!
- Nhưng có khác xơ ạ.
- Khác thế nào? Nó cũng để ra một cái to tưởng ngỏng thẳng lên kinh tởm. Sợ chết được! Bẩn!... bẩn! bẩn!...
Bà xơ đứng lên, lảo đảo muốn ngã. Ông giáo trưởng sợ hãi. Phát hiện của bà xơ làm ông khủng hoảng, đầu óc rồi bời. Ông lẩm bẩm:
- Một cái to tướng! Ngỏng thẳng lên! Kinh tởm quá! Sợ chết được! Nhưng có đúng là xơ đã nhìn thấy không chứ? Xơ có chắc không? Không đùa đấy chứ.
Bà xơ giậm chân bồ bồ
- Đã hàng trăm năm nay nó làm ô uế giáo đường mà giáo trưởng không biết! Giáo trưởng lại để cho tôi, một nữ tu sĩ, một người muốn tránh mọi trần tục, phải nói lên điều ấy, phải kêu lên: “Giáo trưởng ơi! Ma quỷ ở trong giáo đường của ông đấy!”.
Trước lời lẽ đanh thép của bà xơ, giáo trưởng phải vội tuyên bố:
- Chúng ta không tha thứ việc bỉ ổi ấy. Chúng ta phải chôn vùi ma quỷ… Tôi lo việc này… Nửa đêm khi mọi người ngủ rồi, xơ lại đây. Xơ dẫn đường cho tôi… Tôi báo cho người giữ sách kinh để tìm một cái thang. Có cao không xơ?
- Rất cao
- Xơ tìm được chỗ ấy chứ?
- Nhắm mắt tôi cũng tìm được… Nửa đêm giáo trưởng nhé.
- Cầu Chúa giúp đỡ xơ…
Bà xơ Angèle làm dấu, bước ra cửa đi khỏi.
Đêm tối như mực, không trăng không sao. Những tia sáng cuối cùng đã tắt từ lâu. Đèn đường lờ mờ, chao đảo. Vạn vật im lìm…
- Đấy! đấy! – bà xơ nói.
Người giữ sách dựa thang vào tường, gần một khuôn cửa, bên trong le lói một ngọn đèn trên bàn thờ. Giáo trưởng tay cầm búa, đục và trèo thang lên, theo sau là bà xơ mặc áo chùng đen. Lên đến đầu thang hai người dừng lại.
- Đấy! đấy! Bên trái giáo trưởng ấy.
Giáo trưởng soi đèn vào các ngách tường, gương mặt ma quỷ của các bức tượng lộ ra.
Bỗng ông kêu lên. Cái vật ô uế chĩa thẳng vào mặt ông.
Bà xơ gập người trên nấc thang nhắm nghiền mắt lại.
Ông giáo trưởng nguyền rủa: Đồ con lợn!
Ông vung búa trong khi bà xơ Angèle ở bên dưới đọc kinh cầu khấn Đức mẹ, còn người thủ thư ở dưới chân thang lẩm nhẩm lời cầu nguyện. Những mẫu đá vụn bắn vào mặt người thủ thư và một vật rắn từ mái nhà lăn qua ống máng rơi đánh bịch xuống đất.
Hôm sau ở nhà thờ ra, cô Robineau, một phụ nữ thánh thiện nhìn thấy ở dưới đất một vật không có hình thù rõ rệt, đường nét kỳ quái giống như xá lị. Cô nhặt lên ngắm nghía.
- Đúng là xá lị rồi, - cô lẩm bẩm – quí giá và từ một nơi linh thiêng nào đã đến đây.
Cô định đem đến tặng giáo trưởng. Nhưng cô lại nghĩ đây là bùa hộ mệnh cho cô và gia đình, nên cô giữ lại.
Về đến nhà, cô vào phòng đóng tịt cửa. Cô trải một tấm khăn gấm thuê lên bàn, rón rén đặt thánh tích lên. Sau cùng cô úp lên trên một bóng thủy tinh trạm hoa rất đẹp. Rồi cô quỳ trước bàn thờ cô vừa tự tạo, cảm ơn vị thần nào đấy đã mang đến cho cô một vật tối thiêng.
Nhưng bỗng cô thấy trong lòng bối rối. Có đúng cái vật kia là xá lị không?
Cô tự hỏi.
Cô Robineau tội nghiệp! Người ta đã nói để cô biết cái vật bằng đá ấy tượng trưng cho cái gì. Cô xấu hổ đến chết được, lẩm bẩm một mình:
- Vậy mà ta đã hôn hít mãi chứ!
 
*
*         *
Hôm nay ngày 10 tháng mười một, chúng tôi để cả một ngày để lau chùi các đồ dùng bằng bạc. Đây là một ngày trọng đại của mỗi năm gia đình ông bà chủ có những đồ bằng bạc rất quí. Những đồ dùng này là của bà chủ kế thừa từ ông thân sinh ra bà. Nếu bà hàng hương liệu không nói sai thì những đồ này có nguồn gốc không rõ ràng, nếu không phải là lấy cắp thì cũng là lừa đảo.
Tất nhiên là không bao giờ gia đình bà Lanlaire đem những đồ bằng bạc này ra dùng. Bà luôn cất kín trong một góc phòng, để ở ba cái hòm lớn, khóa trong khóa ngoài cẩn thận, xích vào tường. Mỗi năm cứ đến ngày 10 tháng mười một, bà lại cho đem những dụng cụ bằng bạc ấy ra để lau chùi và bà đích thân trông coi. Xong rồi lại đóng gói, cất vào hòm xích kỹ vào tường. Và đến ngày 10 tháng mười một năm sau mới lại đem ra để lau chùi. Nếu có thì giờ các bạn hãy quan sát đôi mắt bà chủ khi bà đứng trông coi người lau chùi dụng cụ bằng bạc của bà. Nó sáng rực, đảo đi đảo lại liên hồi, chỉ sợ người ta ăn trộm của bà.
Nghĩ cũng kỳ thật! Có những người thừa sức sống đầy đủ, nhưng lại chịu giấu giếm chô vùi đồ đạc và chịu sống so đo nhếch nhác.
Xong mọi việc, các hòm đồ đạc được khóa lại cẩn thận cất vào kho rồi, bà chủ mới đi, yên trí là không còn sót gì trong tay chúng tôi. Joseph mỉm cười bảo tôi:
- Những đồ bằng bạc này là loại quý, sản xuất từ thời Louis XVI. Đắt tiền lắm đấy. Phải đến hai mươi nhăm nghìn francs là ít, cô Célestine ạ. Có khi còn hơn là khác…
Rồi nhìn tôi, Joseph nói:
- Cô đi với tôi về quán giải khát nhé.
Không biết giữa các dụng cụ bằng bạc của bà chủ và các quán rượu ở Cherbourg có liên quan gì với nhau… Phải nói thật là những câu nói của anh Joseph làm tôi run sợ.




0
Đánh máy: trangct
 
CHƯƠNG XI
 
12 tháng Mười một
Một lần tôi vào làm ở nhà bà Tarves, phố Varennes. Một căn hộ rất xinh, lịch sự, nhiều hứa hẹn… Mỗi tháng trăm francs tiền công, ăn uống tha hồ… Tôi thấy phấn khởi chỗ làm này… Bà chủ gọi tôi vào phòng trang điểm. Căn phòng xinh xắn, căn vải màu hồng. Bà chủ cao ráo, trang điểm, da trắng, môi hồng, mái tóc hung, trẻ trung, lịch sự, không còn chỗ nói…
Có kinh nghiệm rồi, cứ thoáng qua quang cảnh trong nhà, tôi có thể biết được ngay phong tục, tập quán của gia đình, ít khi nhầm… Mặc dầu bề ngoài lộng lẫy, huy hoàng, nhưng tôi thấy rằng gia đình này có cuộc sống lộn xộn, quan hệ giữa các thành viên trong nhà không bền vững, không đầm ấm. Xem cung cách của kẻ ăn người ở trong nhà cũng hiểu được nội bộ gia đình. Cũng như ở các chỗ làm khác, những người ở cũ thường ghen ghét người ở mới… Tôi cũng thế. Tuy rất dễ tính nhưng cũng bị những người ở cũ ghen tức nhất là những chị phụ nữ thấy tôi có nhan sắc họ tức điên lên. Nhưng các người ở nam thì lại tiếp đón tôi niềm nở. Phải nói thế cho công bằng…
Nhìn vào mắt anh hầu phòng nhà bà Tarves khi ra mở cửa cho tôi, tôi thấy như đôi mắt anh muốn nói: “Đây là một hộp đêm cho cả người cao lẫn người thấp, ở đây ít an toàn. Nhưng vẫn sống được. Chị vào đi!” Tôi bước vào phòng trang điểm. Chẳng có gì hứa hẹn.
Bà chủ đang ngồi viết trước một bàn nhỏ xinh xinh. Một tấm da Astraklan màu trắng trải trên nền nhà. Trên tường căng thảm lụa màu kem có những bức vẽ thế kỷ XVIII minh họa các vụ việc tôn giáo… Trong tủ kính bày nhiều đồ mỹ nghệ bằng ngà voi mỏng mảnh, diêm dúa. Trên bàn là những đồ dùng trang điểm bằng bạc và vàng. Một con chó nhỏ lông óng như tơ, nằm trên ghế dài giữa hai cái gối lụa.
Bà chủ hỏi tôi:
- Célestine hả? Nhưng tôi không thích gọi cái tên ấy… Tôi muốn gọi cô là Mary. Cô đồng ý không? Phù hợp chứ?
- Được ạ, thưa bà. – Tôi trả lời
- Cô có biết tiếng Anh không, Mary?
- Không, thưa bà.
- Đáng tiếc… Cô quay đi xem nào!
Bà chủ ngắm nhìn tôi mọi phía, trước mặt, sau lưng, nhìn nghiêng. Vừa nhìn vừa nói:
- Được đấy, không tồi đâu.
- Này Mary, cô có xinh không?
Câu hỏi của bà làm tôi ngạc nhiên và bối rối.
Tôi không hiểu giữa việc làm của tôi ở trong nhà này và cơ thể của tôi có liên quan gì. Nhưng không đợi tôi trả lời, bà nhìn tôi từ đầu đến chân, lẩm bẩm một mình:
- Ừ, xinh đấy!
Rồi bà bảo tôi: “Tôi chỉ thích những phụ nữ xinh xắn, ở cạnh tôi thôi… Như vậy phù hợp!”.
Tôi chưa hết ngạc nhiên thì bà chủ lại nói như sửng sốt lên:
- Mái tóc cô! Tôi muốn cô làm đầu kiểu khác. Làm kiểu này không thanh lịch. Tóc cô đẹp, phải làm cho nó diêm dúa kia… Phải làm thế này…
Bà kéo tóc tôi lòa xòa xuống trán và nhắc lại:
- Như thế này mới duyên dáng. Đây cô nhìn gương mà xem! Duyên dáng không? Thế mới phù hợp.
Xong chuyện mái tóc của tôi rồi lại đến váy áo. Bà hỏi:
- Cái áo này là đẹp nhất của cô à?
- Vâng, thưa bà.
- Áo này không được. Tôi cho cô mấy cái chữa lại mà mặc… Còn quần áo trong?
Bà tốc váy tôi lên và nói:
- Để tôi xem nào. Xem có phù hợp không?
Tôi hơi khó chịu, hỏi bà:
- Tôi không hiểu bà chủ nói phù hợp là thế nào?
- Cho tôi xem quần áo lót của cô… Đi tìm lại đây… Cô bước đi xem nào!... Quay lại!... Dáng đi đẹp đấy.
Vừa nhìn thấy quần áo lót của tôi, bà nhăn mặt.
- Vải này xấu lắm… Áo này ghê lắm…Yếm này không coi được… Đừng mặc những thứ này ở nhà tôi… Cất đi, Mary…
Bà mở chiếc hòm sơn đỏ, rút ra một mớ áo cũ, nước hoa nồng nặc, đổ lộn xộn ra nền nhà.
- Cầm lấy cái này, Mary, cái này nữa… Đẹp đấy!
Có đủ mọi thứ… Yếm lụa, tất lụa, áo lụa, rồi quần, rồi váy ngắn, váy dài. Mùi hắc như mùi da thuộc, đủ màu sắc nhạt, thẫm, phơn phớt, một đống đầy như một lẵng hoa trong vườn.
- Tôi muốn những cô hầu phòng của tôi phải diêm dúa, phải thanh tao, phải thơm tho. Da cô nâu, mặc chiếc váy đỏ này rất phù hợp. Mà cô cứ nhận tất cả đi.
Tôi rất ngỡ ngàng không biết nói thế nào. Cuối cùng tôi nói:
- Cảm ơn bà! Bà tốt bụng quá! Cảm ơn bà…
Nhưng bà không để cho tôi nói hết ý. Bà nói, lúc thì xuề xòa, lúc thì nghiêm nghị, lúc thì như mẹ dạy con:
- Phải sạch sẽ, Mary ạ. Cơ thể sạch sẽ, quần áo sạch sẽ. Ta rất quan tâm vấn đề này, rất nghiêm khắc.
Bà nói kỹ lưỡng, chi tiết tỉ mỉ và luôn nhắc lại hai chữ “phù hợp”. Chọn xong cái mớ giẻ rách rồi, bà bảo tôi:
- Một phụ nữ, bất kể thế nào, phải ăn mặc tươm tất, người ngợm phải sạch sẽ. Đấy là điều cơ bản. Ngay hôm nay cô phải tắm, tôi bảo cho cô.
Rồi bà chỉ cho tôi phòng tắm, chỗ mắc quần áo, khăn mặc, chỗ để xà phòng… nhiều chi tiết buồn cười, thừa.
- Bây giờ đến chỗ cậu Xavier, - bà nói – cô phục vụ cả cậu Xavier. Nó là con trai tôi.
- Thưa bà vâng.
Phòng cậu Xavier ở đầu nhà đằng kia, là một căn phòng đẹp, căng thảm dạ màu xanh điểm vàng. Trên tường treo các bức tranh màu vẻ cảnh săn bắn, cảnh lâu đài, rừng núi, đồng cỏ. Trên lò sưởi giữa các mỹ phẩm, các hộp thuốc, các tẩu hút thuốc là tấm ảnh một người trẻ tuổi đẹp trai, chưa có râu, nét mặt như mặt con gái, trông rất ưa nhìn.
- Đấy là ảnh cậu Xavier, - bà chủ giới thiệu.
Tôi không kìm được vội kêu lên
- Cậu chủ đẹp trai làm sao chứ!
- Đừng! Đừng! – Bà chủ nói giọng vui vẻ - Đừng khen vội. Cậu Xavier tính cũng đểnh đoảng như nhiều thanh niên khác. Không thứ tự. Không ngăn nắp. Cô giúp đỡ cậu ấy, để cho căn phòng được gọn ghẽ nhé. Sáng nào cô cũng đến vào lúc chín giờ. Cô đem nước chè cho cậu ấy, lúc chín giờ nghe, Mary!
Đêm ấy tôi nằm mãi không ngủ được, cứ nóng lòng muốn biết cậu Xavier. Anh bồi phòng nói cũng đúng. Thật là một cái hộp đêm.
Ông chủ đang đi trảy hội, là chủ tịch hay giám đốc gì đó, tôi không rõ… Mỗi năm một lần, ông đưa các tín đồ Tin lành, đạo Cơ đốc, những người Do thái và cả những dân du cư đi La Mã, đi Lourdes, đi Paray… Ông chủ còn phụ trách cả việc từ thiện, việc chính trị: Liên đoàn chống giáo dục vô đạo, Liên đoàn chống quảng cáo nhảm nhí, Hội thư viện giải trí và tôn giáo… và nhiều hội gì gì nữa mà tôi không biết hết. Ông còn là chủ nhiệm các câu lạc bộ, các công ty, là giám đốc sở xếp việc… Sao là lắm việc thế, lắm nghề thế! Ông là một người năng động, hoạt bát, tác phong vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, như một linh mục vui tính, hóm hỉnh. Báo chí nói nhiều về ông và các tác phẩm của ông. Cũng có ý kiến khen, cũng có ý kiến chê. Chúng tôi thích đọc những cuộc tranh luận về ông.
Tuần nào ông chủ cũng mở tiệc chiêu đãi một lần. Dự tiệc là những nhân vật nổi tiếng: các viện sĩ, các nghị sĩ, các đại biểu cơ đốc giáo, các linh mục đạo Tin lành, các giám mục… Đặc biệt có một vị khách được tôn sùng hơn cả là Giáo hoàng. Phòng nào cũng thấy treo ảnh của người.
Ông chủ vẫn chưa thấy về. Ông còn bận nhiều việc. Những việc gì thì người ta không biết hết. Ông cũng quý người. Nhưng là ai thì cũng không rõ nữa.
Hôm sau ông chủ về. Tôi đến giúp ông mặc áo khoác.
- Chị có phải người của hội tôi không? – ông hỏi, - hội những nô bộc của Chúa?
- Không phải, thưa ông.
- Cần đấy – ông nói, - tôi ghi tên chị vào hội nhé.
- Cảm ơn ông. Nhưng hội ấy là hội gì cơ ạ?
- Mội hội đáng quý, nó tiếp nhận và giáo dục các bà mẹ trẻ.
- Nhưng tôi không phải là mẹ trẻ ạ.
- Cũng không sao… Nó kết nạp cả những phụ nữ mới ở tù ra… Có cả gái mãi dâm… Tôi ghi tên chị nhé…
Ông chủ rút trong túi ra mấy tờ báo đưa tôi và nói:
- Chị giấu đi mà đọc… Bí hiểm lắm đấy. Đọc một mình thôi…
Rồi tay nâng cằm tôi, ông nói:
- Trông chị ngộ nghĩnh đấy…
Ông đi rồi, tôi mở báo ra xem. Có những báo cuối thế kỷ… Phụ nữ Paris… Kẻ ngộ nghĩnh…
Chà! Đám thị dân! Họ luôn đóng kịch. Tôi đã gặp khá nhiều. Họ đều một kiểu như nhau. Tôi đã giúp việc một nghị sĩ Cộng hòa. Ông ta cứ gây gổ với linh mục suốt đi. Một người bướng bỉnh. Ông ta không muốn nghe nói về tôn giáo, về linh mục, về các bà xơ. Cứ theo ông nói, thì phải đập tất cả các nhà thờ, phá tất cả các tu viện. Nhưng chủ nhật ông đi lễ vụng tại các nhà thờ ở xa… Hơi xây sứt là ông mời cha xứ. Con cái ông đều học ở trường dòng. Ông tránh không muốn gặp người anh ông đã từ chối làm phép cưới ở nhà thờ…
Bà Tarves cũng lắm việc. Bà là hội trưởng hội những người Công giáo, hội từ thiện, hội giúp trẻ mồ côi. Bà chẳng mấy khi ở nhà, bỏ mặc nhà cửa, muốn sao thì sao… Thường thường bà về muộn, chẳng biết là đi đâu. Bà cởi quần áo ra, sặc những mùi lạ. Nhưng tôi biết bà đi đâu về, tôi biết bà bận về những việc gì… Nhưng bà đối tốt với tôi. Không bao giờ mắng. Không bao giờ nói nặng. Bà đối với tôi rất xuề xòa, rất thân mật. Có lúc nói với nhau cả những chuyện bù khú, những chuyện nhảm nhí… Bà còn xoa phấn, tô môi cho tôi, dậy tôi cách làm dáng. Bà bảo:
- Phụ nữ là phải diêm dúa, Mary ạ. Da dẻ phải trắng trẻo, mềm mại. Cô có nét mặt xinh thì phải biết giữ gìn… Cổ cô cũng đẹp, phải chăm nom… Chân cô cũng đẹp, phải biết phô ra… Thế mới phù hợp…
Tôi thấy vừa lòng. Nhưng thâm tâm vẫn có cái gì lo ngại… Tôi không quen những chuyện mờ ám người ta đã kể về nhà này… Khi tôi khen bà chủ, chị bếp bảo:
- Vâng! Rồi cuối cùng chị sẽ biết. Bà ấy muốn cô ngủ với con trai bà ấy… để giữ nó ở nhà nhiều hơn… để đỡ tốn tiền. Nhiều cô khác đã qua thử thách như thế… Bà ấy còn kéo các bạn gái đến, những người đã có chồng và những người chưa chồng. Nhưng con trai bà ấy không chịu. Nó vẫn cứ đi mò ở ngoài nữa. Đấy rồi cô xem. – Và chị nói thầm – Tôi như cô, tôi không nghe.
Những lời nói của chị bếp làm tôi xấu hổ với những người trong nhà. Để yên lòng, tôi cứ cho rằng đây là chị bếp ghen tị với tôi về sự đối xử ưu ái của bà chủ.
Sáng nào tôi cũng lên mở rèm và đưa nước chè đến cho cậu Xavier… Buồn cười quá. Lần nào đến phòng cậu, tôi cũng thấy tim mình rộn lên và lo ngại. Lâu mãi mà không thấy cậu chú ý đến tôi. Tôi cứ chạy đi chạy lại, xếp dọn cái này cái kia, cố tỏ ra lanh lẹn, nhẹ nhàng. Nếu cậu có lên tiếng thì chỉ là để cằn nhằn sao lại không để cho cậu ngủ. Tôi không chú ý đến sự thờ ơ của cậu và tăng cường làm duyên. Ngày nào tôi cũng chờ đợi một cái gì mà không được. Sự lạnh nhạt và khinh rẻ của cậu Xavier đối với tôi làm tôi bực quá. Nếu cứ mãi thế này thì sẽ sao đây?
Cậu Xavier xinh trai thật, xinh hơn tấm ảnh của cậu để trên lò sưởi. Bộ ria màu hung cong vút như hai vành cung nổi rõ trên khuôn mặt, đôi môi đỏ mọng như chìa ra để đón một nụ hôn. Hai mắt xanh phớt vàng có sức thôi miên kỳ lạ, những cử chỉ mềm mại như con gái. Người cậu cao to, thanh nhã, có sức lôi cuốn mạng mẽ. Ngay từ lần gặp đầu tiên tôi đã thấy mến cậu, vẻ lạnh lùng của cậu lại làm tôi quấn quýt thêm.
Một buổi sáng, đến nơi, tôi đã thấy cậu Xavier thức dậy rồi, ra khỏi giường, chân đi đất, trên người mặt chiếc áo ngủ trắng đốm xanh. Một chân cậu gác lên giường, chân kia để dưới đất, trông không kín đáo. Tôi xấu hổ định đi ra thì cậu gọi lại, bảo:
- Sao lại ra, cô! Vào đi chứ! Chưa trông thấy đàn ông bao giờ hay sao?
Cậu kéo áo lên đầu gối, hai bàn tay đan vào nhau, người khẽ đung đưa, cậu nhìn tôi trân trân một lúc. Tôi thấy ngượng đặt chiếc khay lên bàn cạnh lò sưởi. Rồi như mới trông thấy tôi lần đầu, cậu nói:
- Cô xinh thật đấy! Cô đến đây từ bao giờ?
- Ba tuần rồi, cậu ạ.
- Thế mà bây giờ tôi mới để ý. Cô xinh thật đấy.
Cậu kéo hai chân duỗi dài trên thảm, vỗ tay lên hai đùi trắng lốp như đùi phụ nữ…
- Lại đây, cô! – Cậu Xavier nói.
Tôi lại gần, hơi run. Không nói năng gì, cậu ôm lấy tôi, kéo tôi ngồi xuống cạnh cậu.
- Đừng thế cậu Xavier, - tôi nói và khẽ giằng ra – Đừng làm thế, ông bà trông thấy…
- Bố mẹ tôi à? Sợ gì cô? – Cậu Xavier cười, trả lời.
Cậu ấy hay nói hai tiếng “sợ gì”. Hễ ai nói gì, cậu lại bảo “sợ gì”. Mà cậu không sợ thật.
Để làm chậm lại thời điểm chiến đấu quyết liệt, vì tôi đã thấy cậu Xavier đặt tay lên yếm tôi như sắp xâm chiếm. Tôi hỏi:
- Tôi có một điều băn khoăn muốn hỏi, tại sao cậu ít khi cùng ngồi ăn với bà?
- Tôi không thích cô ạ. Bữa ăn của bà tôi ngán lắm.
- Tại sao ở nhà này chỉ riêng phòng cậu không có ảnh của giám mục?
Nhận xét của tôi làm cậu thích thú. Cậu trả lời:
- Tôi là người vô chính phủ, cô bé ạ… Tôn giáo… thầy tu… linh mục… tôi chán lắm… Tôi sợ gì… Một xã hội mà nguyên những người như bố mẹ tôi thì… Thôi, thôi…
Bây giờ tôi đã thấy thoải mái trong tiếp xúc với cậu Xavier… Ở cậu tôi thấy cũng là những thói xấu nhưng bọn lang thang ở Paris mà tôi đã gặp trong nhiều năm nay. Lúc này cậu hỏi tôi:
- Cô có đi với bố tôi không?
- Ông nhà ấy ạ? Ông là một người thánh thiện.
Cậu Xavier cười ré lên:
- Bố tôi ngủ với mọi con sen trong nhà, không sót con nào… Vậy cô chưa đi với bố tôi à? Lạ đấy nhỉ…
- Chưa, - tôi cười – nhưng ông đưa tôi mấy quyển sách: Cuối thế kỷ, Kẻ ngộ nghĩnh, Những thiếu phụ Paris…
Nghe tôi nói vậy, cậu Xavier phá lên cười:
- Bố tôi thế thì lạ nhỉ?
Rồi với giọng hài hước, cậu nói:
- Mẹ tôi cũng thế… Tôi đã nói: nếu mẹ thôi bồ bịch thì con mới thôi trai gái. Vậy là mẹ im. Cô có biết Fumeau không?
- Không cậu ạ.
- Có chứ… Anthinne Fumeau ấy mà.
- Không biết thật đấy, cậu ạ.
- Một anh chàng mặt đỏ lức ấy mà… Diện nhất ở Paris… Có ba nghìn lợi nhuận… Cô phải biết chứ nhỉ…
- Không biết thật đấy.
- Cô không biết nó thì cũng lạ! Nó tổ chức một hội tư vấn cách đây hai tháng… Cô có đến dự không?
- Không, cậu ạ. Tôi bảo đảm mà…
- Cũng không sao. Năm ngoái tôi có chơi Fumeau một quả, cô ạ, một quả đậm. Cô đoán xem quả gì.
- Tôi đoán sao được cậu? Tôi có biết anh Fumeau đâu.
- Thế này nhé, - Xavier nói – tôi đã đưa hắn đến gặp mẹ tôi. Chỉ trong hai tháng, bà đã làm cho hắn lõm ba trăm nghìn francs. May có vụ ấy chứ không thì gia đình mất nhà rồi, vì gia đình tôi nợ đìa.
- Tôi thấy cậu cư xử với gia đình không thỏa đáng.
- Tôi đã nói tôi vô chính phủ mà, gia đình, tôi có sợ gì!
Trong lúc này Xavier đã cởi cúc yếm tôi.
- Đừng làm thế cậu, làm thế không hay! – Tôi nói và kéo tay Xavier ra.
Xavier bịt tay vào mồm tôi và vật tôi xuống giường.
- Cô thơm lắm, – Xavier nịnh tôi…
Một buổi tối, trước lúc ăn cơm, cậu Xavier vào phòng trang điểm để mặc quần áo. Cậu hỏi tôi:
- Cô có năm đồng vàng không? Tôi đang cần năm đồng vàng (bằng một trăm francs) để tiêu tối nay. Cô cho tôi vay ngày mai tôi trả.
Sáng nay bà chủ vừa trả công cho tôi chín mươi francs… Hay cậu ấy biết chăng?
- Tôi chỉ có chín chục francs, - tôi trả lời, hơi xấu hổ vì mình không có đủ số tiền cậu ấy cần.
- Cũng được, - cậu Xavier nói – cô đi lấy lại đây. Mai tôi trả.
Xavier cầm tiền nói “Tốt”. Rồi giơ chân cho tôi buộc dây giầy – “nhanh lên, tôi đang vội!”
Tôi nhìn cậu hỏi:
- Tối nay cậu lại không ăn cơm ở nhà?
- Không! Tôi ăn ở ngoài phố! Mau lên!
- Cậu lại đi với bồ rồi. Đêm nay lại không về, - tôi nói giọng chê trách.
Xavier bỗng sừng sộ:
- Có phải cô cho tôi vay để nói tôi thế không? Có phải thế thì cô cầm lại.
- Không… không… - tôi đấu dịu, - không phải thế!
- Vậy thì để cho tôi yên.
Cậu Xavier mặc vội quần áo rồi ra đi.
Hôm sau không thấy Xavier đem tiền trả. Tôi cũng chẳng muốn đòi.
Bà chủ bỗng trở nên khó tính. Luôn luôn cau có gắt gỏng. Luôn luôn mắng chửi. Tôi đã nhiều lúc cãi lại.
Một hôm tự nhiên ông chủ văng tục ra với tôi. Tôi tức quá đã nói lại. Bà chủ từ đâu đến can thiệp. Một cuộc cãi lộn tay ba đã diễn ra giữa hai ông bà và tôi. Chẳng còn thiếu một danh từ bỉ ổi nào. Tôi cũng hết cả nể nang. Rồi tôi đòi tiền Xavier vay tôi. Họ không chịu trả. Tôi đã cầm chiếc gối ném vào đầu ông chủ.
- Cút đi, - bà chủ quát, - ra khỏi đây ngay.
- Tao gạch tên mày khỏi danh sách hội viên câu lạc bộ, - ông chủ phồng mang trợn mắt – đồ đĩ!
Bà chủ quịt cả tiền công mấy ngày về cuối và đòi lại những quần áo bà đã cho tôi dạo trước.
- Các người là những tên ăn cướp, là đồ xỏ lá, ba que. – tôi nói và bỏ ra đi.




0
V
28 tháng Chín
Mẹ tôi chết. Tôi nhận được tin sáng nay qua một bức thư gửi từ quê nhà. Tuy rằng lúc bé tôi bị mẹ đánh đòn nhiều, nhưng nhận được tin này tôi buồn lắm, tôi cứ khóc suốt đi. Thấy tôi khóc, bà chủ hỏi:
-    Sao lại khóc?
Tôi trả lời:
-    Mẹ tôi chết.
Với vẻ thản nhiên, bà nói:
-    Buồn đấy... Nhưng tôi cũng chẳng thể làm gì được. Dù sao cũng đừng để ảnh hưởng đến công việc.
Thế đấy! Không biết lòng nhân từ của bà ấy để đâu cả! Tắt ngấm rồi chăng?
Điều làm tôi đau khổ là sự trùng hợp giữa cái chết của mẹ tôi và việc giết hại con chồn. Tôi cứ nghĩ đấy là sự trừng phạt của Trời, nếu tôi không ép ông đại uý giết con chồn thì mẹ tôi đã không chết. Tôi cũng đã cố ý cho rằng mẹ tôi chết trước khi con chồn bị ông Manger quật chết. Song ý nghĩ về sự quả báo vẫn theo đuổi tôi suốt cả ngày, làm tôi ân hận vô cùng...
Tôi muốn về ngay... Nhưng quê tôi, Audierne xa lắm, mãi cùng trời kia, tôi lại không có tiền... Hễ lĩnh lương tháng đầu tiên, tôi còn phải trả tiền giới thiệu chỗ làm cho sở xếp việc; rồi lại còn phải trả mấy món nợ vay tạm các nơi trong thời gian tôi thất nghiệp...
Mà về quê cũng chẳng có ích gì... Anh tôi thì đi làm ở con tàu của nhà nước, tận bên Trung Quốc, đã lâu lắm không có tin tức... Còn chị Louise của tôi bây giờ ở đâu tôi cũng không biết. Từ ngày chị ấy bỏ nhà đi theo Jean le Duff đến giờ chẳng nghe ai nói về chị ấy cả... Không biết bây giờ chị ấy lưu lạc ở đâu... Có thể chị ấy đang ở nhà... Mà cũng có thể chị ấy chết rồi... Cả anh tôi cũng vậy...
Vậy thì sao lại về đây? Về đấy có ích gì? Ở đấy còn có ai đâu?... Mẹ tôi chắc cũng chả có gì mà để lại... Một ít quần áo cũ và mấy cái đồ đạc của mẹ cũng không đủ trả nợ tiền rượu rồi...
Kể cũng lạ... Lúc mẹ còn sống, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến mẹ, chẳng mấy khi muốn về thăm. Thư thì chỉ khi nào tôi đổi chỗ làm mới viết về để báo địa chỉ... Mẹ tôi cũng hay đánh tôi vì mẹ luôn say rượu... Vậy mà khi nghe tin mẹ chết tôi thấy lòng buồn rượi, thấy mình cô đơn quá...
Rồi tôi hồi tưởng lại thời thơ ấu... Tôi nhớ đến mọi người, mọi đồ vật thuở tôi chập chững vào đời... Nghĩ đến lúc bấy giờ tôi thấy sao mà hạnh phúc thế! Còn bây giờ thì sao mà khổ cực thế! Đời thật bất công!...
Tôi nhớ ngày còn bé, một đêm đang nằm ngủ thì có tiếng còi tàu cứu nạn làm thức dậy. Chao ôi! Tiếng còi cứu nạn nổi lên giữa ban đêm mới buồn làm sao! Ngay từ hôm trước giờ bão đã nổi lên, sóng bạc đầu cồn lên trắng xoá cảng biển, chỉ có một số ít tàu vào được bến, còn đa số khó tránh khỏi gặp nạn.
Biết rằng bố tôi đánh cá ở vùng biển Ile de Saint mẹ tôi không lo lắm... Mẹ tôi hy vọng rằng bố trú ẩn được vào cảng như nhiều lần trước đây. Nhưng khi nghe tiếng còi tàu báo nạn thì mẹ tôi cảm thấy lo sợ, chân tay run bần bật, mặt tái nhợt, vội tung chăn ngồi dậy... Mẹ quấn tôi vào một khăn len to rồi bê tôi chạy lên đập chắn sóng... Chị Louis và anh tôi chạy theo mẹ. Hai người vừa chạy vừa cầu Chúa Jésus và Đức mẹ đồng trinh... Cả mẹ tôi cũng cầu.
Phố nào cũng đông nghịt người: người già, phụ nữ, trẻ em. Trên bến cảng nhiều bóng đen đang hối hả... Nhưng mẹ tôi không trụ lại đập chắn sóng vì gió to, sóng lớn ào vào quét tất cả những gì ở trên mặt đê. Mẹ tôi phải đi theo con đường hẻm để chạy ra cửa sông đến mãi cột đèn biển. Trời tối đen như mực, chẳng nhìn thấy gì. Thỉnh thoảng từ phía biển xa, một con sóng bạc đầu sáng lên dưới ánh đèn biển. Tuy sóng gió ầm ầm, nằm trong tay mẹ, tôi run bần bật nhưng tôi vẫn thiếp đi... Mãi lúc lâu tôi mới thức dậy và thấy mình đang ở trong một căn phòng thấp. Giữa những bóng đen, những khuôn mặt rầu rĩ, những cánh tay vung vẩy, tôi nhìn ở trên tấm phản một xác người, có hai đèn nến rọi sáng... một xác người dài đuỗn đuột và trần truồng, cứng đờ, mặt nát ra, chân tay sây sát những vết thương. Đấy là bố tôi...
Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Tóc bố tôi dán chặt vào sọ, rêu rong bám đầy mặt. Mấy người đang cúi xuống bố tôi cầm những miếng dạ sát vào người cho nóng lên, hà hơi vào mồm... Tôi thấy trong đám đông có cả ông xã trưởng, có cả ông lục sự, ông đại uý hải quan, và ông cảnh sát biển... Tôi sợ quá, tôi tụt chiếc khăn quàng trên người, chạy đến đứng lọt vào háng những người ấy và tôi gào lên "bố ơi... bố ơi..." rồi một bà hàng xóm bế vội tôi đi chỗ khác. ..
Từ ngày ấy trở đi mẹ tôi uống rượu, lâu rồi thành nghiện... Mẹ uống nhiều lắm, nhiều phát khiếp được... Thời gian đầu mẹ tôi đi làm ở xí nghiệp cá hộp, nhưng mẹ say rượu luôn nên người ta không mướn nữa. Không đi làm ở nhà mẹ tôi lại càng có điều kiện rượu chè, ủ rũ, rồi đánh chúng tôi.
Sợ quá, tôi bỏ nhà đi lang thang, suốt ngày ở ngoài bến tàu, không thì lại vào các vườn ăn trộm hay lội hàng giờ ở ngoài bờ biển lúc triều xuông. Cũng nhiều lúc tôi đi dong trên đường Plogoff, đến một trảng cỏ, chung quanh cây cối rậm rạp, kín gió, để đùa nghịch với bọn con trai... Có một hôm đi chơi về, tôi thấy mẹ tôi nằm vật trên nền nhà ngay ở ngưỡng cửa, nôn mửa nhầy nhụa, trong tay đang cầm một cái chai vỡ... Tôi phải bước qua mẹ mà vào, không dám làm mẹ thức. dậy; mẹ tôi mà thức dậy thì sợ lắm.... đập phá lung tung, rồi lôi tôi ra khỏi giường, đuổi đánh, đấm đá, dập đầu tôi vào tường, rồi quát:
- Tao phải giết mày mới được! Tao phải giết mày.
Tôi đã tưởng chết mất.
Rồi mẹ tôi bê tha, truy lạc, để có tiền rượu chè... Đêm nào ỡung có tiếng gõ cửa... Một thuỷ thủ vào,  đem theo mùi cá, mùi mắm tanh tưởi... Ngủ lại một tiếng rồi đi... Người ấy đi, một người khác lại đến, lại ngủ một tiếng rồi lại đi... Cũng có lần thấy có tiếng người cãi nhau, đánh nhau, lục đục trong đêm tối, nhiều lần cảnh sát phải đến can thiệp...
Nhiều năm trôi qua như thế... chẳng ai muốn cưu mang tôi, cả anh tôi, chị tôi cũng vậy... Thấy chúng tôi đi ngoài đường mọi người tránh xa... Thấy chúng tôi lân la vào vườn ăn trộm hay đến nhà xin ăn, họ lấy đá ném chúng tôi... Một hôm chị Louise tôi chẳng chớ với một anh lính thuỷ rồi bỏ nhà đi... Tiếp theo là anh trai tôi vào lính rồi cũng biệt tăm... Thế là còn lại mình tôi với mẹ. Hơn mười tuổi, tôi đã mất trinh.... theo gương xấu của mẹ, tôi cũng sa vào con đường tình ái với bọn trẻ con con trai... người tôi đẫy đà ra... Tuy đói ăn, lại bị đòn vọt luôn, nhưng sống giữa nơi thoáng đãng của vùng biển, được tự do thoải mái, tôi lớn như thổi, mới mười một tuổi, tôi đã dậy thì, trông tôi đã ra vẻ một phụ nữ tuy vẫn còn là một thiếu niên.
Đến mười hai tuổi, tôi đã thành một phụ nữ hẳn hoi, đồng thời cũng không còn trinh trắng... Có phải tôi bị cưỡng dâm không?... Không hoàn toàn như thế... Hay là thông dâm? ... Gần như thế. Một ngày chủ nhật, sau buổi lễ, ông đốc công già của nhà máy cá hộp, người đầy lông lá, râu tóc lồm xồm như một bụi rậm, mùi hăng như mùi dê đực, kéo tôi ra bãi biển Saint Jean, dẫn tôi vào một cái hốc đá tối om, nơi cho chim cú làm tổ và thuỷ thủ giấu những vật vớt được ở ngoài biên. Đến đấy, ông đặt tôi nằm trên một cái ổ bằng rong biển đã thối rửa. Ông cho tôi một quả cam và chiếm lấy tôi... Tôi chẳng chống cự, cũng chẳng quẫy đạp... Ông đôc công già ấy có cái tên kỳ cục là Cléophas Biscouille...
Thật là một điều khó hiểu tôi chưa từng đọc ở các tiểu thuyết. Ông Biscouille vừa già vừa xấu lại có vẻ tàn bạo rất ghê tởm. Bốn năm lần ông đưa tôi vào hang đá tối om nằm trên ổ rong biển thối, chẳng có chút gì gọi là thích thú, trái lại rất tởm lợm. Vậy mà sao cứ mỗi lần nghĩ đến ông - mà tôi nghĩ đến luôn - tôi không bao giờ có ý nghĩ khinh ghét và nguyền rủa. Trái lại tôi chỉ thấy biết ơn ông và tiếc rằng chẳng bao giờ còn gặp lại ông, con người ghê tởm ấy nữa...
Nhân dịp, xin cho phép tôi được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào tiểu sử các vĩ nhân. Ông Paul Bourget là bạn thân đồng thời là người hướng dẫn của bà bá tước Fardin, bà chủ cũ của tôi năm ngoái. Tôi có nghe nói ông là người duy nhất biết được thấu, đáo tâm hồn phức tạp của phụ nữ. Đã nhiều lần tôi muốn viết thư hỏi ông về trạng thái tâm lý này. Nhưng rồi tôi không dám... Các bạn đừng ngạc nhiên thấy tôi quá bận tâm như thế. Tôi cũng biết rằng đối với những kẻ làm đầy tớ như vậy là không hợp. Nhưng ở thính phòng của bà bá tước, người ta chỉ rặt thảo luận về mỗi vấn đề tâm lý... Nên trí lực của bọn tôi cũng rập khuôn trí lực của chủ, ở thính phòng thảo luận cái gì thì ở sau nhà cũng thảo luận cái ấy. Chỉ buồn một điều ở nhà chúng tôi không có một người như ông Paul Bourget có khả năng làm sáng tỏ những vấn đề về tâm lý phụ nữ mà chúng tôi bàn bạc... Ngay cả những lời giải đáp của anh Jean cũng không làm chúng tôi thoả mãn...
Một hôm bà chủ tôi bảo tôi mang một bức thư khẩn cho ông thầy trứ danh của bà. Tôi củng được giao nhận thư ông trả lời... Tôi nhân dịp mạnh dạn nêu vấn đề đã từng làm tôi băn khoăn để hỏi ông. Tôi cũng nói thác đi đây là của một cô bạn tôi... Ông Paul Bourget hỏi tôi:
-    Bạn cô làm gì? Một dân thường hay một người nghèo?
-    Một người hầu phòng cũng như tôi, thưa ông.
Ông Bourget nhăn mặt, bĩu môi, vẻ tự cao, khinh người. Ông ghét người nghèo mà!
-    Tôi không quan tâm đến những người ấy. Họ không phải, không đáng, là người để môn tâm lý học của tôi nghiên cứu.
Tôi hiểu rằng trong giới khoa học của ông chỉ nghiên cứu những người, có từ một trăm nghìn francs lợi tức trở lên.
Khác hẳn với ông, ông Jules Lemaitre, một bạn quen, tính xuề xoà của gia đình. Cũng được hỏi về vấn đề ấy, ông bẹo tôi và vui vẻ trả lời:
-    Cô Célestine ạ, bạn cô là một người tốt bụng. Nếu cô cũng giống như cô bạn ấy thì tôi chỉ trả lời hai tiếng: Hay! Hay!
Người ông xấu xí, lưng gù, mặt choắt, nhưng giản dị, chẳng làm bộ làm tịch gì, trông y như một đứa trẻ... Tiếc rằng ông lại rơi vào hàng ngũ những linh mục...
Nếu các bà xơ ở Ponteroix thấy tôi thông minh và kháu khỉnh lại nhặt tôi về thì không biết tôi sẽ thế nào ở cái địa ngục Audierne ấy!
Tôi đã gặp mấy đứa cũng bằng tuổi tôi, cũng nghèo túng, nhưng trong trắng, nhân hậu. Chúng không chịu ngửa tay đi xin ở dọc đường hay đến các nhà. Chúng tìm cách này hay cách khác để sống lương thiện. Mặc dầu hoàn cảnh khó khăn nhưng chúng vẫn vui vẻ vẫn hát như những con hoạ mi.
Bọn chúng dạy tôi học đọc, học viết, học khâu vá, làm nội trợ, rồi đưa tôi vào làm con sen tại nhà một ông đại tá về hưu. Mùa hè nào ông cũng đưa vợ và hai con gái đến nghỉ ở một lâu đài cũ kỹ gần thị trấn Confort... Họ là những người tốt nhưng lúc nào cũng thấy buồn rười rượi... và bị ám ảnh. Không bao giờ thấy họ cười... Quần áo toàn một màu đen. Ông đại tá suốt ngày ngồi ở phòng sát nóc, loay hoay một mình vói những quân cờ và bàn cờ. Bà thì hết vá cái nọ lại khíu cái kia, nhiều lúc khâu vào rồi lại tháo ra. Còn hai cô con gái có một luống đất nhưng cào chả có, cuốc thì không, muốn tưới cũng không có nước. Tôi làm với ông bà được vừa vặn tám tháng rồi thôi...
*
* *
Sau bữa ăn tối, thấy tôi buồn, chị bếp Marianne lại gần an ủi. Chị vào tủ buýtphê lấy ra một chai nước quả, hai cái cốc, rót đưa tôi một cốc. Nhắp một ngụm rồi đặt cốc xuống giường, chị chậm rải nói:
-     Đừng buồn chị Célestine. Cố gắng nén chịu. Đời là thế đấy. Nhiều nỗi gian truân, chẳng mấy ai tránh khỏi.
Suốt trong gần tiếng đồng hồ, vừa uống vừa trò chuyện, chị Marianne đã kể cho tôi nghe nhiều nỗi buồn phiền của đời chị: ốm đau bệnh tật, sinh con đẻ cái, bố mẹ chết, các em chết... Giọng chị mỗi lúc buồn thêm, vừa nói vừa khóc.
-     Đừng buồn chị Célestine ạ, - chị Marianne lau nước mắt bảo tôi, - mẹ chị mất là một tổn thất lớn... nhưng biết làm thế nào... Người ta ai cũng phải chết... Gắng chịu đựng...
Rồi tự nhiên chị khóc nức lên, vừa khóc vừa rên rỉ.
-    Đừng buồn.... đừng buồn...
Trước chị rên rỉ se sẽ, sau rống lên thảm thiết. Cái bụng to kềnh của chị, cái ngực đồ sộ của chị, cái cằm ba ngấn của chị, rung lên bần bật, nổi thành từng cục...
-    Khẽ chứ chị Marianne, - tôi khuyên, - không bà chủ nghe thấy lại đến...
Nhưng chị Marianne không thôi, chị vẫn rên rỉ vẫn kêu gào to hơn...
-    Ôi chao đau xót quá! Đau xót quá!...
Thế là tôi xúc động trước những tiếng than vãn của chị bếp, tôi cũng nức nở lên...
Tôi buồn quá. Những muốn chuyển đi làm chỗ khác để may ra có khuây khoả được chăng.
0
trangct đánh máy
 
CHƯƠNG XII
 
13 tháng Mười một

Tôi trở lại Neuilly với các bà xơ của “nhà thờ Đức mẹ ba mươi sáu nỗi bất hạnh”, một ẩn cư kiêm sở xếp việc cho các bà vú. Đấy là một ngôi nhà xinh xắn, mặt tiền quét vôi trắng xây ở cuối một khu vườn rộng. Trong vườn cứ năm chục bước lại dựng một tượng Đức mẹ đồng trinh, có một gác chuông lộng lẫy xây bằng tiền công đức. Chung quanh là những gốc cây to. Cứ mỗi giờ chuông lại gióng lên, nghe thật vui, khô, dậy trong lòng người những ký ức xa xăm,cổ kính. Mỗi khi tiếng chuông vang lên, tôi lại nhắm mắt để nghe và hình dung ra những phong cảnh đẹp đẽ, êm đềm từ tuổi ấu thơ và niên thiếu những cảnh ngày lễ hội và những đám rước!Binh boong… binh boong… Tiếng chuông không vui mà buồn, nhưng tôi vẫn thấy thích. Ở Paris chỉ được nghe tiếng tù và của những thợ máy nước và tiếng leng keng của tàu điện.
Ở nhà thờ “Đức mẹ ba mươi sáu nỗi bất hạnh” với các bà xơ, ngủ thì ở các gác xép sát mái nhà, ăn thì cá ươn rau già, vậy mà phải trả mỗi ngày hai mươi nhăm xu. Ngoài ra còn phải làm việc từ sáu giờ sáng đến chín giờ tối như những người tù khổ sai… Không bao giờ được ra ngoài. Bữa ăn và hành lễ thay cho giải lao.
Khi tôi đến đây thì đã có bốn chục chị đang đợi xin việc. Họ từ xa đến, có người từ Bretagne, Alsace, có người từ các tỉnh miền nam. Có người chưa làm ở đâu, cử chỉ còn vụng về, mặt mũi còn ngơ ngác, chân tay da dẻ còn xạm nắng. Cũng có người đang làm muốn đổi chỗ như tôi.
Các bà xơ hỏi tôi từ đâu đến, biết làm gì, có chứng chỉ tốt không, trong người còn tiền không. Tôi đã kể sự mình để các bà nghe. Các bà không hỏi thêm gì nữa và nói:
-         Ta sẽ tìm cho con bé này một chỗ làm tốt.
Với chị vú nào các bà xơ cũng bảo “ta sẽ tìm cho con bé này chỗ làm tốt”. Trong khi chờ đợi, mỗi người được giao làm một việc tùy theo sở trường của mình. Người này làm bếp, dọn dẹp nhà cửa, người kia làm vườn, cuốc đất tưới cây. Tôi được phân công khâu vá, bà xơ bảo tôi có những ngón tay mềm mại, người thanh tao nhỏ nhắn. Tôi bắt đầu vá quần dài cho một giáo sĩ và quần đùi cho một tu sĩ. Quần áo của họ mới chán làm sao! Kém xa quần áo của cậu Xavier. Sau đấy họ lại giao cho tôi may những quần áo không phải của giới tu hành, mà quần áo dân thường như quần áo cưới, quần áo trẻ sơ sinh của các nhà từ thiện đặt các bà xơ may.
Tuy ăn uống kham khổ, làm lụng vất vả, nhưng tôi thấy cuộc sống yên ổn, phẳng lặng… Rồi tôi thấy nảy ra ý muốn cầu khấn và xưng tội. Một hôm tôi đã xưng tội với giáo sĩ, chính là người tôi đã vá quần giúp. Đó là một người béo tròn, mặt đỏ lựng, cử chỉ và ngôn ngữ thô kệch, sặc mùi cừu già. Ông ta hỏi tôi nhiều về các sách tôi thường đọc.
Tôi đã kể tên một số quyển. Ông câng câng bảo:
-         Armand Silvestre à? Loại sách con lợn đấy, nhưng không nguy hiểm. Tránh đọc những sách báng bổ, chống lại tôn giáo, như sách của Voltaire, của Renan, của Anatole France. Những sách này nguy hiểm.
-         Thế còn sách của Paul Bourget thì sao, thưa cha?
-         Paul Bourget à? Cũng được. Nhưng Paul Bourget thì lộn xộn. Sách của Paul Bourget như một chậu nước người ta giặt mọi thứ vào đấy.
Công việc ở đây làm tôi chán ngán. Nhiều lúc tôi nhớ nghề cũ của tôi. Tôi muốn thoát mau ra cái nhà giam này quay về với các phòng trang điểm thân quen… Cũng đã nhiều lúc tôi phải thở dài sau cái tủ chất đầy quần áo sặc mùi nước hoa, những cái mắc áo treo đầy áo nhung quần lụa sờ vào mát cả tay, những cuộc tắm gội trên da thịt đầy bọt xà phòng nhờn nhụa. Rồi những vụ việc không ngờ xảy đến trong nhà, những lần gặp không hẹn trước trên cầu thang gác và trong phòng ngủ… Nghĩ cũng lạ… Khi đang làm những công việc ấy thì cảm thấy chán ngán, nhưng khi xa thì lại nhớ… Tôi cũng chán những món ăn ở đây do các bà xơ mua mớ ở chợ về, những thứ có thể vất đi được.
Tôi ngán nhất là cái mưu mẹo ở đây người ta bóc lột chúng tôi. Người ta chỉ xếp việc cho những người kém khả năng, không lợi gì cho họ. Còn người nào có thể lợi dụng được như những người có tài, có sức khỏe thì họ giữ lại, không giới thiệu đi đâu. Họ giả danh làm việc từ thiện, nhưng thật ra là để cho có người giúp việc mà còn được thu lợi nữa.
Tôi cũng đã có lần phàn nàn thì họ khuyên khéo:
-         Hãy kiên tâm chờ đợi, con ạ. Ta vẫn chú ý đến con. Vẫn đang tìm cho con một chỗ xứng đáng, một chỗ đặc biệt. Cứ yên tâm.
Ngày tháng trôi qua. Chỗ đặc biệt, chỗ xứng đáng chẳng thấy đâu… Họ vẫn thu lợi.
Ở tu viện tuy có một bà giám thị, nhưng tối đến hễ bà đi hết một vòng quay về là lập tức các bóng đen lẻn vào các giường. Rồi những tiếng thì thầm, những tiếng cười, tiếng hôn nhau, lại nổi lên từ giường nọ đến giường kia. Các bà xơ cũng biết nhưng phải bịt tai vì nếu phát giác ra thì lại mất nguồn lợi.
Không thể nói hết được những nỗi lầm than, cực nhọc mà những người đi ở phải chịu đựng. Họ bị bóc lột có khi là bởi nhà chủ, có khi là do những người xếp việc, có khi là những “bạn bè” (bọn này nhiều khi cũng bớt xén). Nhiều kẻ sống trên sự đau khổ của họ: Màn kịch tuy có thay đổi tùy theo môi trường xã hội, song vẫn là bóc lột, vẫn là gọt đẽo. Dù trong lâu đài nguy nga của các lãnh chúa, hay trong biệt thự huy hoàng của đám thị dân, thủ đoạn bóc lột vẫn là một. Kết quả là một người con gái như tôi vẫn là thua bất kể làm việc gì, bất kể là làm ở đâu.
Có lần chủ nhà nơi tôi ở làm đám cưới con gái. Khách đến cho nhiều tặng phẩm chở đầy một ôtô. Tôi đùa hỏi anh bếp:
-         Này anh Batiste, tặng phẩm của anh là cái gì?
-         Tặng phẩm của tôi à? Một can dầu đốt dưới gầm giường chúng nó. Còn tặng phẩm của cô? – Anh Batiste hỏi tôi.
Tôi giơ hai bàn tay quằm quằm nói:
-         Tôi móc mắt chúng.
Ông quản gia cũng đang có mặt ở đấy đủng đỉnh tham gia:
-         Còn tôi, tôi cho một lọ axit đặc.
Nói vậy thì nói thôi chứ thực ra cũng chẳng ai làm thế. Căm thù thì có căm thù thật đấy, nhưng không ai nở làm chuyện vô nhân đạo như thế.
Một chị nấu bếp nắm trong tay tính mạng của cả một gia đình. Chị ấy chỉ cần bỏ vào nồi thức ăn một thìa thuốc chuột là cả nhà đi đời nhà ma. Nhưng thực tế có ai làm thế đâu.
Tôi báo cho bà xơ trưởng biết ý định tôi muốn thôi và đi chỗ khác.
-         Sao lại đi chỗ khác, con? Ta sắp tìm được cho con một chỗ làm đặc biệt, chỉ riêng con thôi.
Tôi biết thừa là bà ta chỉ dỗ tôi thôi chứ đến sang năm cũng chẳng có.
-         Tôi đi thôi, - tôi cương quyết trả lời – tôi đi ngay.
-         Đi ngay thế nào được! – bà xơ nói
-         Sao lại không? – tôi hỏi
-         Cô còn nợ bảy mươi france, trả đã rồi mới đi được.
-         Tôi làm gì có tiền! Bà khám xem!
Bà xơ nhìn tôi hằn học:
-         Vậy là ăn cắp, - bà xơ quát tiếng, - ăn cắp của những người nghèo như chúng tôi là hèn hạ.
Tôi tức quá:
-         Ai ăn cắp? Tôi hay là bà?
-         Tôi cấm cô không được nói như thế!
-         Người ta làm việc quần quật cho bà suốt ngày đem lại cho bà nguồn lợi lớn, bà cho người ta ăn như cho chó ăn. Thế mà lại còn phải trả tiền cho bà… Bà đã thấy chưa?
Bà xơ mặt xám ngoét. Tôi đã tưởng bà sẽ lao vào tôi mà cấu xé hay ít ra cũng văng ra mọi thứ tục tĩu. Nhưng không. Bà chỉ ấp úng:
-         Cô im đi! Cô không biết xấu hổ, cô vô đạo. Chúa sẽ trừng trị cô. Cô đi đi. Tôi giữ lại cái hòm.
Tôi đứng thẳng trước mặt bà và với giọng thách thức, tôi nói:
-         Tôi thách bà đấy. Nếu bà giữ hòm tôi, tôi báo cảnh sát đến ngay. Đêm nào cũng có những cảnh con lợn diễn ra ở khu phòng ngủ. Bà có biết những chuyện ấy không? Bà khuyến khích những việc làm đồi bại để chia lợi. Bà nói đến đạo. Thế là đạo à? Đạo gì đạo thế? Đưa trả hòm tôi ngay, không thì bảo?
Bà xơ sợ
-         Tôi không thèm nói với con người bỏ đi. Cô đi đi.
-         Hòm tôi đâu?
-         Đấy.
Tôi đi khỏi ngay chiều hôm ấy.




0
CHƯƠNG VII
6 tháng Mười
 
Mùa thu đã về. Ngoài vườn, những bông hoa cuối cùng đang tàn đi trong sương gió. Những bông thược dược cảnh héo đi như gặp lửa. Cả những bông hoa loa kèn cũng héo quăn, dây khô buông thông trước cửa bếp. Trên các luống đất trơ trọ chỉ còn sót lại mấy bông mỏ hạt gầy guộc và đây đó năm sáu bụi cúc sao cành lá rũ xuống trước khi tàn hẵn và thối rữa. Qua hàng rào nhìn sang vườn ông đại úy Manger, các luống hoa cũng tiêu điều, một màu xám xịt.
Ngoài đồng, cây cối vàng úa, lá lả tả rơi, da trời ảm đạm. Suốt bốn ngày liền, chúng tôi sống trong màn sương dày đặc, khét như mùi bồ hóng, quá trưa vẫn không tan… Đến lúc này trời lại đổ mưa, cứ như quất vào mặt, một luồng gió từ hướng tây bắc thổi về…
Ngồi trong phòng mà cứ rét run như cầy sấy. Gió lùa qua khe cửa; nước mưa từ nóc nhà đổ xuống, ánh sáng lợt lạt từ bên ngoài rọi vào chỉ đủ làm căn buồng mờ mờ ảo ảo. Những tấm đá lợp nhà rung lên bần bật, cả mái nhà chao đảo. Khung nhà kêu răng rắc, những tấm bản lề cót ca cót két… Việc sửa chửa khẩn cấp, nhưng nói mãi bà chủ mới chịu cho đi tìm thợ mà cũng mãi sáng ngày mai mới đến. Ấy là tôi chưa dám đòi một chiếc bếp lò tuy tôi thấy khó chịu nổi cái rét cắt da cắt thịt này… Tối nay tôi phải lấy quần áo cũ nhét vào các khe cửa để cho nước mưa và gió khỏi luồn vào trong phòng… Con quay gió trên đầu không ngớt quay quanh cái trục gỉ, thỉnh thoảng lại rít lên lảnh lót y như tiếng bà chủ rít lên trong các vụ việc diễn ra ở hành lang…
Sau những ngày sôi động của buổi ban đầu, cuộc sống trôi đi một cách đơn điệu, tôi cũng dần dần quen, không đến nỗi buồn phiền quá. Ngày nào cũng giống ngày nào, cũng những công việc ấy, cũng những con người ấy. Ngoài những sự việc lặt vặt trong nhà, không có việc gì khác. Lắm lúc buồn đến chết. Nhưng rồi tôi cũng thích nghi, coi như đấy là tự nhiên. Ngay việc thiếu tình cảm, tôi cũng thấy khó chịu lắm, vẫn chịu đựng được… và cũng phải chịu đựng thôi bởi vì tự tôi đã khước từ ông chủ… Nhưng phiền một điều là ông chủ vẫn xun xoe bên tôi, mắt cứ trợn tròn, miệng vẫn sùi nước bọt, ông vẫn dắt những con “lợn lòng” đến với cái “lải” của tôi, theo cách nói mà tôi đã có lần đọc thấy trong một quyển sách.
Dạo này ngày ngắn. Trước bữa ăn, ông thường ngồi trong phòng giở những giấy tờ cũ, đánh dấu những danh mục và quảng cáo thuốc, mở những quyển sách về săn bắn… Tôi vào phòng ông để đóng các cửa chớp và nhóm bếp lò. Thấy tôi, ông đứng dậy ho, hắt hơi, va chạm vào cái này cái kia để làm tôi chú ý. Nhưng tôi giả vờ như không nghe thấy gì, không hiểu biết gì về những trò khỉ của ông, và tôi đi thẳng, vẻ thản nhiên, cao quý, như không trông thấy ông ở đấy…
Nhưng chiều hôn qua, giữa ông và tôi có một cuộc đối thoại ngắn như sau:
- Cô Célestine này!
- Ông chủ muốn hỏi gì kia ạ?
- Cô Célestine cô ác với tôi! Sao cô lại thế?
- Ông chủ bảo tôi là đồ điếm.
- Ô hay!
- Là đồ nhơ nhớp.
- Ô hay!
- Là tôi đầy bệnh tật.
- Ô hay! Cô Célestine, hãy nghe tôi nói này!
- Thôi đi, ông.
Ở đây tôi chẳng có gì thích thú. Không khí bẩn thỉu, làng xóm đìu hiu, ăn uống bỗ bã, trong người lúc nào cũng uể oải, tính nhạy cảm bị trơ lỳ, không còn biết gì là mơ mộng. Buổi tối chỉ còn biết kéo dài cuộc trò chuyện với chị bếp Marianne và anh đánh xe Joseph. Anh Joseph cũng không muốn đi đâu nữa, cứ muốn ở nhà với chúng tôi. Tôi thấy như anh phải lòng tôi: Nghĩ vậy tôi cũng thấy phấn khởi… Tôi chỉ ở nhà chẳng đi đâu… Tối nào cũng đem tiểu thuyết ra đọc. Cứ quyển truyện của Paul Bourget đọc mãi. Tiểu thuyết của ông không làm tôi say mê như trước đây. Trái lại tôi thấy chán, sách không thật. Đọc không thấy xúc động. Tôi biết hơn ông những gì đã có đằng sau cánh cửa phòng khách và dưới tấm áo bô-đê…
Tôi cứ khắc khoải vì sao không nhận được thư ở Paris, sáng nào người đưa thư cũng đến nhưng chẳng có gì cho tôi, tôi thấy buồn lòng như bị mọi người bỏ rơi, thấy lẻ loi đơn độc quá. Tôi cứ viết hoài gửi đi, nhất là gửi cho anh Jean những lá thư khẩn cấp, đầy buồn tủi. Tôi cầu mong họ hãy quan tâm đến tôi, kéo tôi ra khỏi địa ngục, tìm cho tôi ở Paris một việc làm, tầm thường thôi cũng được… Nhưng không một ai trả lời, kể cả bạn trai lẫn bạn gái. Tôi không ngờ họ lại thờ ơ, lạnh nhạt, vô tình đến thế…
Trong tình trạng ấy tôi phải bấu víu lấy những gì còn đọng lại trong tôi. Tôi bấu víu lấy những kỷ niệm và quá khứ: dù sao những kỷ niệm vui cũng nhiều hơn buồn; quá khứ đem lại niềm hi vọng rằng không phải tôi đã mất tất cả, thất bại chỉ là nhất thời. Vì vậy, nằm một mình trong phòng, nghe chị Marianne ngáy sôi lên ở bên kia vách, những tiếng ngáy tượng trưng cho hiện tại ảm đạm của tôi, tôi lại nhặt nhạnh những mảnh rời rạc của quá khứ, những mảnh đẹp đẽ, chắp vá lại để có viễn tưởng huy hoàng của tương lai.
Hôm nay là ngày 6 tháng mười, một ngày đầy kỷ niệm… Đã qua năm năm nhưng kỷ niệm vẫn còn như mới, vẫn sống mãnh liệt trong tôi. Ngày của một hồn ma ít tuổi, xinh đẹp, hiền lành chết vì tôi đã muốn cho hưởng quá nhiều vui sướng. Nó chết đã năm năm, chết vì tôi. Hôm nay ngày 6 tháng mười, là lần đầu tiên, từ năm năm nay, tôi không đem hoa đến mộ nó, như thường lệ. Nhưng tôi làm một bó hoa bền hơn, ngát hơn là những bông hoa tôi thường đặt ở mộ nó trước đây. Bó hoa ấy tôi kết bằng những bông hái từ trong tim tôi, ở đó chỉ nở những bông huệ trắng của tình yêu…
Tôi còn nhớ hôm ấy là một ngày thứ bảy… liền trong tám ngày, hôm nào tôi cũng đến phòng xếp việc Colisée. Mãi đến sáng hôm ấy người ta mới giới thiệu tôi với một bà già vận đồ tang… Cho đến bây giờ tôi chưa hề gặp người nào có nét mặt dễ thương như thế, có mắt hiền hậu, có cử chỉ giản dị và lời nói hấp dẫn như thế… Bà già tiếp đón tôi rất lịch sự khiến tôi ấm lòng:
- Con gái ơi, - bà già nói, - bà xếp việc rất khen ngợi con. Con xứng đáng với những lời khen ấy vì trông nét mặt thông minh, chân thật, vui vẻ của con, ta thấy phấn khởi lắm… Ta cần một người tin cẩn và tận tâm… Nhất là tận tâm… Ta biết rằng yêu cầu ấy là khó khăn đấy, vì con không quen biết ta thì làm sao mà tận tâm với ta được… ta sẽ nói để con thông cảm ta đang ở trong tình cảnh thế nào… Nhưng đừng đứng vậy con, ngồi xuống đây với ta đi.
Chỉ cần người ta nói với tôi một cách dịu dàng, chỉ cần người ta đừng coi tôi là một thực thể ở ngoài xã hội, ở bên lề cuộc sống, như một vật trung gian giữa con chó và con vẹt, là tôi xúc động ngay, là sống dậy trong tôi tâm hồn một đứa trẻ… là tôi quên ngay tất cả những mối hận thù, những ác cảm, là tôi có ngay lòng hỉ xả và tình yêu thương đối với những ai nói năng với giọng nhân hậu.
Chỉ ngồi bên cạnh bà, tôi đã thấy quí mến, kính trọng bà ngay… quí mến kính trọng thật sự…
Bà nói thêm:
- Chỗ làm này không thích thú gì lắm đâu con ạ.
- Không sao bà ạ… tôi làm được. Bà yêu cầu gì tôi cũng sẵn sàng.
Bà nhìn tôi trìu mến, tỏ vẻ cảm ơn và nói tiếp:
- Con cháu ta lần lượt chết gần hết. Bây giờ ta chỉ còn mỗi thằng cháu cũng đang ốm nặng không biết có qua được không.
Ngại không muốn gọi tên căn bệnh ghê gớm ấy, bà già đặt bàn tay đeo găng đen lên ngực vẻ mặt đau khổ… Bà nói:
- Tội nghiệp cho thằng bé! Rất ngoan, thật là quí, ta đặt cả hi vọng vào nó… Sau nó ta không còn ai nữa. Ta sẽ trơ trọi. Chẳng biết làm sao được nữa…
Mắt đã nhòa đi ứa lệ, bà lấy mùi soa lau và nói tiếp:
- Thầy thuốc nói chắc chắn rằng nó có thể khỏi được, chưa nặng lắm… Họ đề ra một chế độ có nhiều triển vọng… Cứ chiều đến Georges phải đi tắm biển một lần, nói đúng ra là nhúng người xuống nước biển, sau đó lấy khăn lau khô sát mạnh khắp cơ thể cho máu lưu thông, xong rồi uống một cốc rượu vang lâu năm, rồi nằm duỗi thẳng ít nhất một tiếng trên giường ấm… Điều ta muốn yêu cầu con trước tiên là thế… Nhưng quan trọng hơn cả là tính nết vui vẻ, trẻ trung, yêu đời… Ở nhà ta, những điều ấy hoàn toàn thiếu… Hai người giúp việc ta rất tận tâm nhưng lại già quá, buồn rượi và mặc cảm… Georges không thích họ. Cả ta đây nữa, đầu trắng xóa, quần áo tang đen, ta chỉ làm cho nó buồn thêm… Tệ hơn nữa là nhiều lúc ta không giữ được sự lo ngại của mình… Ta cũng biết rằng đây không phải là công việc của một cô gái như con, phải trông nom một đứa trẻ như thằng Georges đã mười chín tuổi… Người ngoài có khi bàn tán đấy… Nhưng ta không quan tâm đến họ. Ta chỉ quan tâm đến thằng cháu đang ốm của ta thôi… Ta tin tưởng ở con… Con là một người lương thiện, ta chắc thế…
- Vâng, thưa bà, - tôi trả lời, tin rằng bà già cho tôi là bậc thánh bà vừa tìm được để đến cứu thằng cháu bà.
- Còn thằng bé, - bà nói tiếp, - hơn cả tắm biển, nó muốn không lúc nào bị lẻ loi, nó cần có một gương mặt vui vẻ, tươi cười, luôn ở cạnh nó để xua đi khỏi đầu óc hình ảnh chết chóc, nó cần một người gây cho nó lòng tin tưởng ở sự sống…
- Tôi chấp nhận, thưa bà, - tôi xúc động trả lời – Bà cứ tin là tôi sẽ chăm nom thật tốt cho cậu Georges.
Đã thống nhất là ngay chiều hôm ấy tôi vào nhận việc và hôm sau nữa sẽ đi Houlgate, bà già đã thuê ở đấy một biệt thự đẹp bên bờ biển.
Bà già đã nói đúng. Georges là một đứa trẻ xinh xắn, đáng quí. Mặt nhẵn nhịn, không có râu, trông như mặt đàn bà… Cả cử chỉ của nó cũng vậy, hai bàn tay trắng trẻo, mềm mại, nổi gân xanh… Đôi mắt sáng rực… mi mắt quầng xanh như bị ánh mắt làm cháy xém… hố mắt như đầy ắp suy tư, đam mê, nhạy cảm, thông minh, có đời sống nội tâm phong phú. Đôi gò má như đã bị những bông hoa đỏ của cái chết xâm chiếm. Cái chết đến không phải vì bệnh tật mà vì sự sung mãn của sức sống đang gặm nhấm cơ thể bị héo mòn da thịt. Trông thằng bé vừa xinh đẹp vừa tội nghiệp. Khi bà lão dẫn tôi lại gần nó thì thấy nó đang nằm trên tấm ghế dài, trong tay cầm một bông hoa không có hương thơm. Nó đón tôi không như đón một người đầy tớ mà như một người bạn thân nó đang mong chờ… Còn tôi, tôi cũng đến với nó với sự yêu thương hết mình.
Trong lúc đi đường cũng như khi về đến Houlgate mọi việc suôn sẻ. Chúng tôi về đến nơi thì ở đấy đã sắp xếp xong. Tòa lâu đài ở đây rộng, đẹp, sáng sủa, vui tươi, trước mặt có sân thoáng mát, có ghế mây, bên trên có tấm bạt nhiều màu che nắng, phía ngoài là bờ biển. Một cầu thang xây bằng đá dẫn từ bờ đê xuống biển. Mỗi khi nước thủy triều lên, sóng lại tràn lên các bậc trên cùng của cầu thang. Ở tầng trệt, phòng của Georges mở nhiều cửa nhìn ra biển. Đối diện phòng Georges là phòng của tôi, một phòng rộng, tường căng thảm màu nhạt, quay mặt xuống vạt vườn nhỏ trồng mấy luống hoa. Tôi cảm thấy sung sướng tự hào được bà cụ chủ coi như một mệnh phụ, được chia sẻ một cuộc sống phong lưu, sang trọng, lịch sự. Tôi thấy như có chiếc đũa thần đã làm tôi đổi đời từ cuộc sống gian truân tủi nhục, bỗng được hưởng hạnh phúc, được chiều chuộng, quí mến, chẳng những tôi có một diện mạo đẹp đẽ ra mà trong lòng cũng thấy có những cái đổi mới. Đáp lại sự đối xử đặc biệt, sự tin tưởng tuyệt đối của bà cụ chủ nhà, tôi sẽ đem hết khả năng, tài tháo vát, trí thông minh vào việc chăm sóc thằng cháu của cụ. Tôi sẽ cứu nó ra khỏi bệnh tật, thoát khỏi cái chết. Tôi sẽ nói với bà cụ như sau để bà yên tâm:
- Bà đừng buồn, đừng lo, tôi hứa sẽ cứu khỏi cho cậu Georges, bà cứ tin tưởng ở tôi.
Đúng như thế. Chỉ sau mười lăm ngày, tôi thấy Georges khá lên nhiều. Tình trạng sức khỏe có nhiều tiến bộ. Những cơn ho thưa ra, nhẹ đi. Ăn được, ngủ được. Đêm nằm không ra mồ hôi như trước. Sáng dậy không uể oải… Georges đã có thể ngồi xe đi chơi những chặng đường dài. Cũng có những lần đi bộ dạo quanh nơi ở, mà không mệt… Sức khỏe đã phục hồi, những hôm đẹp trời, không nóng bức quá, chúng tôi ra sân ngồi thật lâu để hóng mát, xem phong cảnh chung quanh và đợi giờ đi tắm biển. Georges thấy vui, không nói đến ốm đau bệnh tật nữa… Cũng không nói đến chết chóc… Georges thích nghe tôi nói chuyện. Nó luôn bảo tôi: Kể chuyện đi, chị Célestine. Thấy nó có vẻ tin tưởng nên tôi đã kể cho nó nghe mọi chuyện của tôi, cả những chuyện điên rồ, đú đởn của tôi. Tôi kể cho nó nghe cả những chuyện thời niên thiếu của tôi, những ước mơ, nhưng khao khát của tôi, những nỗi bất hạnh và những cuộc bùng lên của tôi, những chặng đường làm người hầu phòng tôi đã đi qua, những tủi nhục tôi đã phải chịu. Tôi đã kể tất cả không giấu diếm gì, vì tuy nó còn ít tuổi, nhưng vì có tri thức và tài đoán trước như những người ốm thường có nên nó hiểu biết tất cả. Tôi tin rằng giữa nó và tôi sẽ mua có sự gần gũi thân mật, vì nó là đứa tốt nết và cũng mong mỏi có người gần kề cho đỡ hiu quạnh… Phần tôi, tôi cũng rất sung sướng nhờ sự tiếp xúc với nó mà đầu óc tôi có thể mở mang thêm.
Georges thích thơ lắm. Nhiều ngày ngồi trên sân trước cửa trong tiếng dạt dào sóng vỗ, hay những buổi tối, trong tĩnh mịch của căn phòng, nó bảo tôi đọc thơ Victor Hugo, thơ Baudelaine, thơ Verlaine, thơ Macterlinck cho nó nghe. Nhiều lúc thấy nó nhắm hai mắt, ngồi im, vòng tay trước ngực, tôi tưởng nó ngủ, tôi thôi đọc. Nó mỉm cười bảo tôi:
- Đọc nữa đi, chị. Tôi không ngủ đâu… Nhắm mắt để nghe chị đọc cho rõ hơn. Giọng chị hay lắm…
Thỉnh thoảng nó cũng bảo tôi dừng lại. Nó đọc thong thả những vần thơ nó thấy thích thú và giải thích cho tôi thấy cái hay…
Một hôm nó bảo tôi – và tôi coi những lời nói ấy của nó như thánh tích:
- Cái tuyệt vời của thơ là không cần là một người thông thái mới hiểu và thích… mà trái lại… Những người thông thái lại không hiểu, nhiều khi họ coi khinh, vì họ tự kiêu… Muốn yêu thơ, cần phải có tâm hồn, một tâm hồn nhỏ bé trong trắng như bông hoa… Nhà thơ nói với tâm hồn những người giản dị, những người buồn phiền, những người đau ốm… Họ bất tử chính vì thế… Khi người ta nhạy cảm là người ta đã là thi sĩ một tí… Chị Célestine, chị đã nhiều lúc nói cho tôi nghe những cái đẹp của thơ đấy…
- Trời! Cậu Georges, cậu nói gì vậy?
- Thật đấy, chị Célestine ạ. Chị nói nhiều cái hay mà chị không biết đấy thôi… Tuyệt lắm chị ạ…
Đấy là những giờ phút có một không hai trong đời tôi được thấy con tim mình rộn lên. Tôi thấy mình đã trở thành một con người mới, đã phát hiện ra cái gì mới có trong con người mình mà thật ra lại vốn là của mình… Ngày nay nếu tôi còn giữ cái thú đọc sách để vươn lên cái cao đẹp là nhờ có cậu Georges. Và ngày nay tôi viết được tập nhật ký này cũng là nhờ có cậu Georges.
Tôi sung sướng quá, sung sướng vì thấy cậu chủ dần dần phục hồi, da dẻ căng mịn lại, nét mặt hồng hào ra, sung sướng vì thấy gia đình cậu phấn khởi, tin tưởng vào sự phục hồi chắc chắn và mau chóng của cậu mà tác nhân của những biến chuyển thần kỳ ấy là tôi, một nàng tiên, một nữ hoàng… Họ quy cái thành công kỳ diệu ấy vào tinh thần tận tụy vô song, vào trí thông minh mẫn tiệp của tôi nhất là vào thái độ vui tươi, vào tác phong trẻ trung của tôi. Người ta cảm ơn tôi, quí công trạng của tôi, chúc phúc cho tôi, cho tôi nhiều tặng phẩm, họ đối đãi với tôi như đối đãi với một nhũ mẫu đã có công bú mớm cho một đứa trẻ ốm yếu sài đẹn để đứa trẻ sống được, khỏe mạnh lên.
Đôi khi bà già đã quên đi sự cách biệt về đẳng cấp thân mật nắm lấy tay tôi hôn, sướt mướt khóc và nói:
- Ngay khi mới gặp con ta đã biết.
Rồi bà bàn tính những cuộc tham quan, những buổi đi dạo ở ngoài ruộng hoa.
- Con ở lại đây mãi nhé. Con đừng đi đâu! – Bà bảo tôi
Lắm lúc được khen ngợi tôi thấy ngượng; nhưng nghĩ cho cùng thì cũng phải thôi. Giá người khác làm được như thế tôi cũng phải khen.
Nhưng rủi thay! Tình hình đã không tốt đẹp mãi như tôi tưởng.
Hôm ấy trời nóng nực, không khí nặng trĩu, sắp gió bão gì đây. Trên mặt biển nước đục màu chì xám xịt, những tảng mây đen đuổi nhau như những đoàn xe lọc cọc lăn bánh. Georges không muốn đi đâu, cũng không muốn ra sân ngồi như mọi ngày, chỉ muốn ở lại trong phòng. Do thời tiết, Georges có vẻ bứt rứt hơn mọi ngày, ngay nghe đọc thơ như mọi khi cũng không muốn nữa.
- Nghe đọc mệt lắm, tôi không muốn. Mà chị đọc hôm nay cũng không hay…
Georges sang phòng khách định dạo đàn, nhưng được vài nhịp không thích, lại bỏ quay về. Nó lại lấy giấy bút ra vẽ một lúc. Trên giấy thấy mấy hình phụ nữ. Nhưng rồi cũng lại bỏ giấy bút, đứng dậy, miệng càu nhàu:
- Không vẽ được. Tay cứ run lên. Mà chị hôm nay cũng thế nào ấy. Chị không ngồi im một chỗ…
Cuối cùng Georges nằm dài lên ghế, cạnh cửa lớn nhìn ra biển. Xa xa những chiếc thuyền đánh cá đang hối hả chạy về cảng Trouville để tránh bão… Georges lơ đãng nhìn theo những con thuyền lướt nhanh trên mặt biển…
Georges nói đúng. Tôi cũng thấy trong người bứt rứt không yên, cứ muốn chạy đi chạy lại, tìm việc gì làm để khuây khỏa cho Georges, nhưng chẳng tìm ra việc gì…
- Sao chị cứ loay hoay như thế, - Georges hỏi tôi. - Ngồi im có được không nào? Lại đây ngồi với tôi đi.
Tôi hỏi Georges:
- Cậu có thích đi chơi trên những con thuyền kia không? Tôi thích đi lắm!
- Chị nói làm gì chuyện ấy! Nói chuyện ấy có ích gì! Chị lại đây ngồi với tôi!
Tôi đến ngồi cạnh Georges. Nó thấy không muốn xem cảnh biển nữa, bảo tôi hạ rèm xuống…
- Hôm nay tôi thấy bứt rứt thế nào ấy, - Georges nói. – Cảnh biển cũng không thấy thích. Trông sợ lắm. Tôi chỉ muốn nhìn chị thôi…
- Hôm nay cậu không ngoan rồi! – Tôi tỏ ý không bằng lòng. – Cậu làm vậy không tốt. Bà đến thấy cậu vậy bà lại khóc mất.
- Nhưng sao chị cứ gọi tôi là “cậu”? Tôi không thích thế đâu.
- Tôi không thể gọi khác được… không thể…
- Chị cứ gọi tôi là Georges ngắn gọn vậy thôi…
- Không được. Không được, cậu ạ…
Nghe tôi nói vậy, nó thở dài:
- Kỳ lạ nhỉ! Vậy ra chị cứ mãi là kẻ tôi đòi à.
Rồi Georges im lặng. Suốt cả buổi chiều hôm ấy nó lì xì, chẳng nói chẳng rằng.
Sau bữa ăn trưa, gió bão nổi lên. Sóng biển tràn vào mãi bờ đê, vỗ ầm ầm… Georges không muốn đi nằm. Nó không sao ngủ được. Đêm thấy dài quá… nó nằm trên ghế dài. Tôi ngồi cạnh một bàn nhỏ. Trên bàn một ngọn đèn dầu đỏ quạch. Chúng tôi không trò chuyện gì. Georges vẫn im lặng. Ánh đèn làm tăng thêm nét hồng hào trên khuôn mặt xinh xắn, tinh tế của nó. Trong lúc đó tôi vẫn ngôi khâu…
Bỗng nó bảo tôi:
- Chị đừng khâu nữa, Célestine. Chị lại gần đây với tôi…
Tôi chiều ý nó. Tôi thấy nó dạt dào hân hoan. Tôi cho là nó muốn tỏ ra biết ơn.
- Chị lại gần đây… gần nữa… Chị đưa tay cho tôi.
Tôi không chút nghi ngờ cứ đưa tay. Nó cầm lấy tay tôi vuốt ve và nói.
- Tay chị xinh lắm… Mắt chị cũng xinh lắm… cả người chị đều xinh… Tất cả đều xinh…
Nó luôn khen tôi tốt… Nhưng chưa bao giờ khen tôi xinh. Tôi thấy ngạc nhiên trước câu nói chưa một lần nghe. Giọng nó lại hổn hển, tôi bất giác ngồi lùi ra.
- Đừng đi chị Célestine! Ở lại đây với tôi! Lại gần đây! – Nó vội vàng bảo tôi. – Gần chị tôi thấy sung sướng lắm… - Rồi ôm lấy tôi, kéo tôi lại gần nó, trên ghế dài. Nó hỏi tôi: - Thế này có “sao” không?
Tôi thấy trong lòng không yên. Mắt Georges rực sáng. Giọng nói run run – giọng nói của những người đàn ông khi ham muốn. Tôi thấy ngại, đầu óc quay cuồng. Để đề phòng cho tôi và cho cả nó, tôi trả lời:
- “Sao” lắm! Cậu Georges ạ. Để cho tôi đứng dậy.
Georges vẫn ôm chặt lấy tôi.
- Đừng chị, đừng đi, ở lại đây. Chị sợ à? Có gì mà sợ?
Rồi nó áp mặt vào mặt tôi. Tôi cảm thấy hơi nóng phả vào mặt… có cái gì lạnh lẽo, như tử khí…
Tôi thấy lo sợ quá phải kêu lên:
- Cậu Georges! Bỏ tôi ra! Cậu đừng làm vậy mà ốm đấy! Tôi van cậu! Bỏ tôi ra!...
Tôi chỉ kêu, không dám vùng vẫy sợ chân tay Georges yếu quá lại sao. Tôi khẽ gỡ tay nó ra. Nó cứ bám chặt lấy tôi, luồn tay vào dưới yếm tôi và sờ vú… Tôi lại nhắc:
- Bỏ tôi ra, cậu Georges! Làm vậy không tốt. Bỏ tôi ra!...
Cứ ra sức giữ tôi nên Georges mệt. Nó thở hổn hển, rồi ho khan…
- Đấy, cậu thấy chưa? – Tôi dịu dàng nói với Georges – Tôi đã bảo mà cậu không chịu nghe. Vậy là cậu ốm lại đấy! Bây giờ cậu nghe tôi. Nằm xuống, ngủ đi!
Georges bỏ tôi ra… Nằm xuống ghế… Tôi đặt cái gối xuống đầu nó… Nó thở dài, buồn bã:
- Tôi xin lỗi chị.
- Không phải xin lỗi cậu Georges ạ… Cậu cứ nằm im ngủ đi.
- Vâng, - Georges nói và nhìn lên cái vòng tròn ngọn đèn in trên trần nhà – Tôi điên đấy chị ạ. Tôi cứ tưởng chị có thể yêu tôi. Tôi chưa bao giờ được yêu, chị ạ… Tôi thấy xót xa lắm… Giá chị yêu tôi nhỉ… Thì tôi sẽ khỏi… Từ ngày chị về đây… Được gần chị… sự trẻ trung của chị… sự dịu dàng của chị… Đôi mắt chị… Bàn tay chị… những bàn tay xinh đẹp, mềm mại như nhung… vuốt ve tôi… tôi thấy trong người tôi… trong tâm hồn tôi… những nguồn lực mới trào lên… Và tôi nghĩ đến cái ấy… và bây giờ… Tôi điên dại…
Nghe Georges nói, tôi thấy bối rối… Tôi không biết nói thế nào… không biết làm gì… Những ý nghĩ mãnh liệt và trái ngược giằng xé hai đầu. Một đằng muốn nhào lại với nó, một đằng vì nhiệm vụ thiêng liêng lại muốn lánh xa. Tôi không dám để lộ hết nỗi lòng của mình. Tôi nói với nó:
- Đừng nghĩ những chuyện xấu, cậu Georges. Như vậy ốm đấy. Đừng thế, cậu nhé…
Nhưng Georges bảo tôi:
- Chị nghĩ thế cũng đúng. Chị thấy tôi ốm. Chị sợ mồm tôi đầu độc sang mồm chị. Rồi chị ốm. Chị chết, vì cái hôn của tôi… Chị nghĩ thế cũng đúng!
Những lời nói không đúng với ý nghĩ của tôi mà Georges vừa than thở làm tôi xúc động quá.
- Cậu đừng nói như thế, cậu Georges! – Tôi kêu lên – Nói vậy không đúng đâu, cậu ạ! Nói vậy làm tôi buồn lắm…
Tôi nắm lấy bàn tay nó. Hai bàn tay nóng hầm hập, dính nhém nhép. Hơi thở của nó ồ ồ như bễ thợ rèn.
Sợ quá! Sợ lắm!
Nó nói tiếp:
- Được chị hôn, tôi sẽ hồi sức, tôi sẽ sống lại… Chị cứ tưởng tôi khỏe lại là nhờ tắm biển và rượu vang. Nhưng không phải đâu. Đấy là nhờ được tắm trong tình yêu của chị, được uống tình yêu của chị. Chính là tình yêu của chị đã động viên dòng máu của tôi lưu thông trở lại. Chính là cái hôn của chị - một cái hôn mà tôi vô cùng khao khát, vô cùng mong muốn, vô cùng hy vọng, vô cùng chờ đợi, sẽ làm cho tôi khỏe ra, sống lại… Nhưng không được chị hôn, tôi cũng không giận chị đâu. Chị làm thế là đúng… Tôi hiểu lắm. Chị là một con chim nhỏ đậu bên một cành rồi lại bay đi đến một cành khác, vù…
- Buồn lắm cậu Georges ạ. Những lời cậu nói làm tôi buồn lắm…
Georges vẫn còn nói nữa:
- Sao mà buồn, chị? Không có gì đáng buồn… Vậy là đúng thôi. Chị tưởng tôi ốm vì tôi khát khao yêu đương… Chị không biết rằng yêu là sống… là sống mãi mãi… Vâng tôi hiểu… Tôi biết rằng cái hôn của chị đem lại nguồn sống cho tôi, còn đối với chị là cái chết… Thôi chẳng nói làm gì nữa!...
Phải chăng đấy là những lời trách móc đay nghiến của Georges hay chỉ là sự điên cuồng của tình yêu đang bùng lên? Tôi cũng không biết nữa. Chỉ biết rằng sau những lời nói ấy của Georges, tôi đã đổ người xuống chiếc ghế dài cạnh nó…
Tôi gắn mồm tôi vào mồm nó, chạm răng tôi vào răng nó với một sự hăm hở chưa từng có. Georges giang hai tay ghì chặt lấy tôi.
Hành động của tôi lúc đầu là muốn để thanh minh với Georges rằng không phải vì sợ lây, sợ chết mà tôi khước từ. Tôi có sợ gì đâu, tôi đã hôn nó, kề hẳn miệng tôi vào miệng nó. Tôi muốn bảo vệ nó nên đã không chiều theo ý nó    …
Nhưng tôi đã không lường trước được hậu quả của cái hôn đầu tiên ấy. Khi đã nằm trong vòng tay Georges tôi không sao bứt ra được nữa… Khi phút say sưa qua đi thấy Georges thở hổn hển, nằm cuộn tròn trong lòng tôi, tôi đã thấy hối hận vô cùng, tôi thấy tôi đã phạm tội giết người…
Nhưng Georges chẳng hề tỏ ra lo lắng, vẫn cuộn tròn trong lòng tôi, với vẻ biết ơn, đôi mắt ngây ngất nó nỏi:
- Tôi sung sướng quá! Bây giờ chết đi cũng được.
Ngừng một tí nó nói thêm:
- Chị đừng đi! Chị cứ ở đây với tôi suốt đêm…
Rồi một cơn ho nổi lên… Tôi thấy trong lòng bị giày vò, không cầm được nước mắt.
- Chị đừng khóc! Đừng lo! Tôi sung sướng thế này kia mà…
Những đêm tiếp theo cũng giống như cái đêm không thể nào quên được ấy.
Georges sút đi trông thấy. Nó gầy tọp đi, hai mắt lồi thố… Nó ho ra máu, ngất nhiều lần. Người như một bộ xương trong phòng thí nghiệm. Cả nhà lo buồn. Bà nó suốt ngày ngồi trong phòng, khóc lóc, cầu kinh lắng nghe từng tiếng động, theo dõi từng phút từng giây cái “hy vọng cuối cùng” của bà. Mỗi khi thấy tôi đi ra, bà lại chạy theo hỏi:
- Thế nào rồi? Triển vọng ra sao?
Thầy thuốc tìm đến xem bệnh chỉ kê đơn cho uống thuốc giảm đau.
Nhưng Georges vẫn vui, vẫn dạt dào tình cảm. Có lúc nó bảo tôi:
- Việc gì chị buồn? Tôi vẫn vui, vẫn sung sướng thế này kia mà! Nếu tôi có chết cũng không phải là quá đắt giá so với niềm hạnh phúc chị đã đem lại. Cảm ơn chị…
Hôm ấy đúng vào ngày 6 tháng mười… Mùa thu êm ả và ấm áp. Thầy thuốc khuyên nên kéo dài thêm thời gian an dưỡng ở bờ biển để đợi lúc chuyển về phương nam. Cả ngày hôm ấy Georges bình tĩnh. Tôi mở rộng cửa phòng cho thoáng. Nó đắp chăn cho đỡ gió và nằm thở không khí có lẫn iôt suốt bốn tiếng, có vẻ khoan khoái thoải mái. Chưa bao giờ thấy nó vui như thế. Nhưng nét mặt nó võ vàng quá, da dán đến xương, trông thảm thương quá. Nhiều lúc tôi phải đi ra ngoài khóc thầm. Tôi muốn đọc thơ cho nó nghe, nhưng nó gạt đi bảo:
- Đừng chị! Chị là cả một bài thơ rồi. Chị còn đẹp hơn thơ kia…
Đêm ngày 6 tháng mười ấy, Georges như không còn đau đớn gì. Nằm duỗi dài trên giường, đầu đặt cao trên gối, nó lấy tay mân mê bức rèm, miệng mỉm cười, nhìn tôi đi đi lại lại, mắt sáng như hai ngọn đèn.
Người ra cũng đặt trong phòng chiếc giường đơn để tôi nằm coi người ốm. Nhưng tôi không mấy khi nằm đấy, vì Georges cứ muốn tôi nằm cạnh nó.
Ngủ được hai tiếng, Georges thức dậy. Mở mắt ra, nhìn thấy tôi, nó hỏi:
- Chị lại khóc rồi! Chị khóc làm tôi buồn đấy. Chị lại nằm cạnh tôi đi!
Tôi không muốn trái ý nó. Mỗi khi không vừa lòng nó lại lên cơn, lại ngất đi. Tôi vừa đặt lưng xuống giường nó đã ôm chầm lấy tôi, dán môi vào môi tôi… Nó rên rỉ… Tôi nghe tiếng xương nó kêu lắc rắc…
Bỗng tay nó rời khỏi người tôi, rơi phịch xuống giường, môi nó rời khỏi môi tôi, máu ộc từ mồm nó ra khắp mặt tôi… Tôi bật dậy định kêu cứu. Nhưng nghĩ lại thấy không được… Tôi vội mở cửa phòng khách, mở cửa phòng ngủ, rồi lắng nghe… Không thấy động tĩnh gì. Mọi người trong nhà đang ngủ… Tôi quay vào giường bế Georges lên. Người nó nhẹ tọp. Máu trong miệng nó vẫn chảy ra ồng ộc như nước chảy từ miệng chai. Hai mắt nó lạc đi… quầng mắt đỏ ngầu. Tôi gọi: “Cậu Georges! Cậu Georges!”
Không thấy trả lời.
Tôi lại đặt nó xuống giường, đặt tay lên ngực nó. Tim nó thôi đập. Tôi sợ hãi quá, ngất đi.
Sau bao nhiêu lâu không biết, tôi tỉnh lại. Chỉnh đốn lại quần áo, sắp xếp lại giường chiếu, tôi chạy đi đánh thức người nhà, báo tin dữ…
Ôi chao! Cái đêm ấy mới khủng khiếp làm sao!
Hôm nay, ngày 6 tháng mười, tôi lại nhớ đến cái đêm ấy. Nằm nghe tiếng gió gào, tôi lại như nghe thấy tiếng gió gào từ ngoài biển xô sóng ập vào con đê ở tòa biệt thự Houlgate.
Đám tang của Georges xong, tôi không muốn ở lại nữa, tuy bà cụ chủ nhà khẩn khoản giữ tôi ở lại giúp việc cho bà… Tôi muốn đi khỏi cho nhanh, để không phải nhìn nét mặt sướt mướt của bà, không phải nghe những lời nức nở xé ruột của bà… Tôi muốn đi khỏi nhất là để không phải nghe những lời bà cụ cảm ơn tôi về sự tận tâm, về lòng dũng cảm, những lời bà gọi tôi là “con gái yêu quí” và ôm hôn tôi với tình thương dạt dào… Trong mười lăm ngày còn ở nán lại theo yêu cầu của bà, tôi đã nhiều lần muốn tự thú, tự xưng tội, tự tố cáo những lỗi lầm đã đè nặng lòng tôi… Nhưng nghĩ lại có ích gì? Có làm cho bà cụ nhẹ đi được chút nào đâu? Hay lại làm cho bà đau đớn thêm, xót xa thêm… Hơn nữa tôi cũng không có đủ can đảm để thú thật. Tôi đành đi khỏi, mang theo bí mật của riêng mình cùng với nhiều món quà bà tặng tôi…
Trong nhiều tháng tiếp theo có lúc tôi đã tưởng chết. Tôi sợ bị lây qua những cái hôn của cậu Georges. Hơi ươn người một tí, hơi đau gì đấy một tí là tôi lại thấy lo sợ. Nhiều đêm, tôi bỗng thức dậy mồ hôi trút trát nghẹt thở.
Tôi sờ ngực thấy tưng tức, thấy đau đau, nhiều lúc khạc ra tôi nhìn như trông thấy những tia máu, sỡ vào huyết quản thấy nẩy nẩy tôi cho là mình bị sốt. Nhìn vào gương tôi thấy như mắt mình sâu trũng xuống, gò má mình nhô lên, má mình ửng đỏ như má cậu Georges. Một hôm ở sàn khiêu vũ ra, tôi bị cảm và ho suốt một tuần, đã tưởng là hết đời… Tôi đã phải xông, phải đánh cảm, phải uống mọi thứ thuốc và cả đi lễ, đi cầu ở nhà thờ Antoine de Padoue… Rồi tôi khỏi, tôi lại dẻo dai trong công việc. Mọi cái qua đi…
Ngày sáu tháng mười năm ngoái cũng như những năm trước, tôi đi viếng mộ cậu Georges. Trên đường đi, tôi nhìn thấy bà cụ chủ nhà năm trước. Bà cũng đi thăm mộ cháu. Tôi thấy bà già đi nhiều rồi, phải có hai người đầy tớ dìu hai bên. Hai người cũng già, cũng yếu như bà. Lưng bà đã còng, bước chân lảo đảo, hai người dìu bà cũng lưng còng, cũng đi lảo đảo như bà… Tôi lùi lại và ẩn sau một ngôi mộ sợ bà nhận ra tôi… Tôi đứng đấy đợi cho bà già tội nghiệp rắc hoa lên mộ, lần tràng hạt và tưới hết nước mắt lên phần mộ của đứa cháu. Xong mọi việc, cả ba người dìu nhau ra về, vẫn bước đi mệt nhọc lảo đảo, lưng rạp xuống sát đất… Thấy bà cụ lại gần tôi phải nép lùi vào để khỏi nhìn thấy bà. Tôi cứ thấy sờ sợ, như có những bóng ma ẩn hiện diễu qua trước mặt mình… Không biết các cụ có trông thấy tôi? Chắc là không vì cụ cứ cúi mặt xuống đi, không nhìn xung quanh, cũng chẳng trò chuyện nói năng gì. Người ta có cảm tưởng đấy là ba xác chết hay là ba linh hồn chết đang đi tìm phần mộ của mình.
Tôi lại nhớ đến cái đêm khủng khiếp ấy, mặt tôi be bết máu, máu từ miệng Georges ộc ra. Tim tôi bỗng lạnh toát.
Ba cái bóng ma ấy giờ đây đang ở đâu? Có lẽ đã chết, không nữa thì cũng đang chết… Sau khi lang thang mãi trong nghĩa địa, ba cái bóng ấy cuối cùng đã tìm thấy cái hố của mình, nơi yên nghỉ giấc ngủ cuối cùng.
Kỳ lạ thay! Sao bà cụ lại lựa chọn tôi làm người trông nom đứa cháu ốm đau của cụ, một đứa trai xinh đẹp, trẻ trung như cậu Georges… Cụ đã không biết gì, không thấy gì, đã quá tin tưởng. Tôi thật sự ngạc nhiên…
Tôi đã gặp lại ông Đại úy Manger, từ bên đây hàng rào nhìn sang. Ngồi trước một luống đất vừa xới xong, ông đang trồng hoa păng-xê và hoa mặt trời. Thấy tôi đến, ông ngừng tay đến nói chuyện, ông không giận tôi về chuyện con chồn hôm trước. Ông còn tỏ ra vui vẻ. Ông khoe với tôi sáng nay ông vừa bóp cổ con mèo trắng của ông Lanlaire. Chắc là để trả thù cho con chồn.
- Đấy là lần thứ mười tôi bóp cổ nó, - ông nói vẻ hể hả vỗ tay vào đùi đen đét.  – Vậy là nó hết đến cào cửa sổ nhà tôi… Không bới các luống hoa nhà tôi nữa…
Ông nói và cười ngất… Rồi ông hỏi:
- Cô có biết con chồn hôm trước tôi làm thế nào không. Rồi ông tự trả lời: - Tôi hầm, nhưng ăn chả ra thế nào cả.
Ông còn kể cho tôi nghe tuần trước ông thấy ở dưới đống củi một con nhím. Ông đang dạy nó. Ông gọi nó là Bourbaki. Một con vật thông minh, hay đùa nghịch và ăn tất cả.
- Trong một ngày nó ăn năm sáu thứ, bít tết, đậu Hà Lan, thịt mỡ, phó mát, mứt. Ăn không biết no. Ăn tất cả như tôi…
Giữa lúc này thằng bé giúp việc chở qua một xe gạch ngói vỡ và các vỏ đồ hộp để đổ ra hố rác.
- Đem lại đây! – ông gọi thằng bé
Thấy ông hỏi, tôi đã trả lời rằng ông chủ tôi đi săn, còn bà chủ thì ra thành phố, Joseph chạy rông. Ông đã nhặt trong xe những hòn đá và những vỏ hộp ném sang vườn nhà ông chủ tôi, vừa ném vừa kêu lên:
- Này đồ con lợn, này đồ chó!
Gạch đá ném đầy lên mặt luống Joseph vừa cuốc xong hôm trước và đã gieo đậu.
Ông Manger sung sướng múa tay lên. Rồi ông quay lại bảo tôi:
- Cô Célestine, cô xinh lắm! Hôm nào Rose đi vắng, cô sang đây nhé.
 
 
 
Có những nổi buồn của tình yêu mà thời gian không thể xoá nhoà, nó để lại trong nụ cười những vết sẹo không bao giờ lành hẳn.
0
Chap 4
 
IV
26 tháng Chín
Đã một tuần nay tôi không viết thêm được dòng nào vào quyển nhật ký... Tối đến tôi thấy người mệt nhoài, mình mẩy đau nhừ... chỉ còn muốn đi ngủ, chẳng muốn làm gì nữa... Ước gì được ngủ suốt ngày!..
Làm việc ở nhà này mệt quá!... Cứ suốt ngày gọi... Vừa ngồi xuống, chuông đã lại kêu reng reng... lại trèo lên hai tầng thang gác... Không còn thở được nữa... Chuông không mấy lúc không reng reng... Chân cứ mỏi nhừ, chạy còn thiếu mà khụy xuống... Lưng đau, bụng đau... Reng reng, tai lúc nào các thấy o o... Chậm một tí là kêu:
-    Làm gì ở dưới ấy mà gọi không thấy lên ngay! Tai điếc à? Gọi cứ hàng tiếng đồng hồ mới thấy ló mặt lên! Lấy cho tôi cái kim!
Tôi vào rổ khâu lấy cái kim.
-    Cả sợi chỉ nữa!
Tôi lại quay lại lấy cuộn chỉ.
-   Tìm cho tôi cái khuy.
Tôi đi lấy khuy.
-   Khuy này không được! Khuy màu trắng số 4 kia! Mau lên!...
Tôi lại đi tìm chiếc khuy trắng số 4...
Tôi những phát điên lên được. Cứ đi lên đi xuống, đi ra đi vào suốt đi như vậy.
Rồi bà ấy lại thay đổi ý kiến nữa chứ!
-   Thôi cất kim và khuy áo đi! Không cần nữa!
Lưng tôi cứ muốn gẫy gập xuống... Hai chân mỏi nhừ... Không còn bước được nữa... Thế này chắc bà ấy hả hê lắm... Đối vối súc vật cũng không đến nỗi thế!
Tối đến, vào phòng tôi, bà ấy làm như sấm sét:
-   Thế nào! Mày không dọn dẹp gì à?... Tao thuê mày không phải để mày giong ra giong vào suốt ngày, nghe không!...
Tôi tức quá, cãi lại:
-   Tại bà cứ sai tôi suốt ngày, còn thì giờ đâu mà dọn dẹp.
-   Tao sai suốt ngày à? Mà cấm mày không được cãi, nghe chưa!... Tao nói, cứ nghe thôi, không được phép có ý kiến lại!... Tao nói thế chưa đúng hay sao?
Thê rồi bà ấy sập cửa ầm ầm! Quăng cái nọ, ném cái kia! Trong nhà, ngoài vườn, dưới bếp, cứ ầm ầm tiếng bà quát tháo... Bà ta mới lắm điều làm sao chứ!...
Không hiểu trong người bà có cái gi mà lúc nào bà cũng như điên thế! Không mây khi thấy bà có câu nói dịu dàng!
Có một lần tôi mệt quá!... Trong người như có con sâu con bọ gì nó gậm nhấm, nó cấu xé... sáng ra không còn muốn dậy nữa, người thấy choáng váng. Nhưng tôi vẫn cố ngồi dậy đi làm. Bước lên cầu thang gác tôi thấy mặt mũi tối sầm, phải bám vội vào tay vịn cầu thang cho khỏi ngã... Cũng vừa lúc bà chủ đi đến. Thấy tôi vậy bà hỏi:
-    Cô sao thế?
Tính tôi không muốn để cho ông bà chủ nghe những lời rên rỉ, nên tôi trả lòi:
-    Tôi không sao.
-    Không sao thì sao lại thế? - bà nói. - Tôi không muốn ai có bộ mặt như đưa đám đâu nhé. Cô làm tôi khó chịu lắm!
Tôi những muốn tát cho bà ta mấy cái!...
Gặp những lúc như thế, tôi lại nhớ đến những chỗ làm cũ... Nhất là nhà ông bà chủ ở phố Lincoln... Tôi là người hầu phòng thứ hai nên chẳng phải làm gì nhiều... Cả ngày bọn tôi ngồi với nhau ở trong phòng để quần áo, một căn phòng đẹp, tường căng vải phớt hồng trong phòng có những tủ lớn bằng gỗ đào hoa tâm, các ổ khoá sáng choang. Chúng tôi chỉ có việc đọc sách báo, trò chuyện bù khú với nhau, chế giễu trêu chọc chị này anh kia. Bà quản gia, là một bà người Anh, cho chúng tôi uống nước chè bà chủ gửi mua từ Anh quốc. Ông đầu bếp cũng mang đến cho chúng tôi bánh ngọt, rượu, giăm bông, xúc xích và nhiều món ăn khác, toàn loại cực ngon...
Tôi còn nhớ một hôm trong lúc vui đùa, bọn họ còn bắt tôi mặc quần áo của ông chủ, một bộ đồ bằng vải rất đẹp... Người ta làm đủ mọi trò. Bắt tôi đi đứng, nói năng như ông chủ, chết cười được. Tôi làm bắn cả nước bọt vào chiếc quần hộp của ông chủ...
Một chỗ làm việc thật dễ chịu!
Dần dần tôi hiểu ông chủ chỗ tôi đang làm bây giờ. Ông là người tốt bụng, đại lượng, đúng như người ta nhận định. Nhưng vì muốn làm điều tốt lành nhân hậu nên cũng có khi ông phạm sai lầm... Ông có ý định làm điều hay nhưng có khi lại quay ngược và phản tác dụng. Sau đây là một ví dụ:
Thứ ba trước, một ông lão hiền lành chất phác đem đến cho ông chủ mình mấy cây tầm xuân do ông chủ đặt mua, nhưng mua giấu bà chủ... Lúc ấy đã muộn, tôi xuống lấy nước nóng để giặt mớ quần áo vừa thay... Bà chủ lên phố vẫn chưa về... Tôi đang ngồi nói chuyện với chị Marianne ở trong nhà bếp, thì ông chủ dáng điệu vui vẻ, thân mật, cởi mở, dẫn ông già bán tầm xuân vào, bảo sắp rượu, bánh và phó mát cho ông già ăn. Ông chủ cũng ngồi cạnh nói chuyện...
Ông Pantois (tên ông bán tầm xuân) già yếu, gầy gò, ăn mặc cũ kỹ, trông tội nghiệp. Quần của ông già như cái giẻ lau, mũ thì nhàu nát, rách lỗ chỗ, áo mất cả cúc để hở bộ ngực lép kẹp giơ cả xương. Ông ăn ngấu nghiên.
-     Ông Pantois này! - ông chủ tôi miệng nở nụ. cười-, hai bàn tay xoa vào nhau, hỏi: - ông ăn thế được không? 
Ông già, miệng vẫn đang nhai, trả lời:
-     Được lắm ạ, cảm ơn ông chủ. Tôi đi ở nhà đến đây hết bốn giờ, chưa ăn uống gì. Trong bụng chưa có hạt bột nào. 
-     Ông cứ ăn nữa đi, ăn cho thật no! 
-     Ông tốt quá, ông Lanlaire ạ! Ông cho phép tôi.
Ông già Pantois nói, tay xắt từng nhát bánh to, nhai bỏm bẻm. Vì ông không còn nhiều răng...
Thấy ông già ăn đã no, đặt dao, dĩa xuống, ông Lanlaire mới hỏi:
-      Tầm xuân đẹp đấy ông Pantois nhỉ? Giá tiền thế nào?
-      Cũng có cây đẹp, có cây không được đẹp, đủ loại đấy ông Lanlaire ạ... Tôi cứ nhổ bừa, không kịp chọn. Ông Poreellet không muốn trồng những cây này nên tôi phải đem đi xa đây... Cách những năm dặm...
Ông Lanlaire thân mật ngồi xuông cạnh ông Pantois, vỗ vai ông và nói vui:
-      Năm dặm kia à? Khoẻ đấy. Xem ra còn trẻ lắm.
-      Cũng không khoẻ đâu, ông ạ...
-      Vậy là khoẻ chứ! Khoẻ như con trai mười bẩy... Lại vui tính nữa... Tôi khó mà được như ông đấy.
Ông già lắc cái đầu gầy gò, da mốc như cục gỗ mục, nói:
-      Trông vậy thôi, nhưng ọp ẹp lắm rồi... Chân yếu, tay mỏi, lưng còng, ông Lanlaire ạ... Bà vợ tôi lại ốm, nằm liệt giường... Bao nhiêu tiền vào thuốc men hết cả... Vất vả lắm ông ạ... Tôi lại cũng già yếu rồi, thế mói gay, ông ạ...
Ông chủ tôi thở dài... và nói như tóm tắt một cách triết lý:
-      Đời là thế ông ạ... Không khác được...
-      Vâng cũng phải xác định như thế thôi.
-      Ông công nhận chứ?
-   Vâng. Được đến đâu hay đến đây, ông Lanlaire ạ.
Ngừng một lúc, ông Lanlaire giọng u buồn nói thêm:
-   Mỗi người có một nỗi buồn riêng, ông ạ.
-   Đúng thế...
Rồi hai người im lặng. Trong căn phòng nhà bếp chỉ còn nghe tiếng chị Marianne thái rau xoàn xoạt. Bên ngoài trời đã tối. Bóng hai cây kim tước ngoài vườn mờ dần. Ông già Pantois vẫn tiếp tục ăn... Cốc rượu của ông đã cạn... Ông Lanlaire lại rót cho đầy. Rồi ông bỗng hỏi ông già Pantois:
-   Tầm xuân năm nay giá bao nhiêu ôrig Pantois.
-   Tầm xuân à ông Lanlaire... Đổ đồng hai mươi hai francs. Hơi đắt đấy. Tôi cũng biết thế nhưng không thể kém được...
Ông Lanlaire vốn rộng rải, không hay mặc cả, ngắt lòi ông già Pantois:
-   Nhất trí, ông Pantois ạ... nhất trí... Không chỉ hai mươi hai francs, mà tôi trả cho ông hai mươi nhăm francs.
-   Vậy thì ông tốt quá, ông Lanlaire ạ.
-   Không đâu. Tôi trả đúng công sức của ông thôi.
Ông Lanlaire vỗ nhẹ lên mặt bàn nói tiếp:
- Không phải hai mươi nhăm francs mà ba mươi francs đây... Ba mươi francs, ông nghe rõ chưa, ông Pantois?
Ông lão hiền lành chất phác ngước đôi mắt ngạc nhiên nhìn ông Lanlaire, tỏ vẻ biết ơn, và ấp úng:
-      Tôi nghe rõ rồi. Làm ăn với ông tôi thấy thích lắm. Ông biết người biết của.
Ông chủ tôi ngắt lời ông Pantois:
-      Tôi sẽ trả cho ông... Hôm nay là thứ ba nhỉ... Tôi sẽ trả cho ông hôm chủ nhật tới, được không? Hôm ấy cũng là ngày tôi đi săn... nhất trí chứ?
Những ánh sáng của lòng biết ơn trong đôi mắt ông già Pantois bỗng vụt tắt. Ông có vẻ ngần ngại, không ăn nữa...
-      Giá ông, - ông Pantois rụt rè nói, - giá ông trả luôn hôm nay cho, có được không? Ông cứ trả cho hai mươi hai francs thôi... Ông tha lỗi...
-      Sao lại hai mươi hai francs? - ông Lanlaire làm ra vẻ ngạc nhiên: - Cứ ba mươi francs. Và trả ngay. Lúc nãy tôi nói chủ nhật là đùa ông đấy thôi.
Ông Lanlaire nói và móc hết túi quần đến túi áo rồi làm ra vẻ ngạc nhiên ông nói:
-      Nhưng tôi lại không có tiền lẻ, chỉ có nguyên giấy năm nghìn francs thôi...
Và ông làm như cười gượng nói tiếp:
-     Chắc ông củng không có tiền lẻ một nghìn francs để trả lại rồi nhỉ...
Thấy ông chủ tôi cười, ông Pantois cũng phải cười theo cho phải phép và nói:
-     Tôi chưa bao giờ nhìn thấy đồng tiền to như thế ạ.
-     Vậy thì chủ nhật nhé! - ông Lanlaire nói để chấm dứt câu chuyện.
Ông chủ tôi rót một cốc rượu để chạm cốc với ông Pantois. Giữa lúc ấy bà chủ tôi đột ngột bước vào như một luồng gió... Bà trông thấy ông ngồi cùng bàn với ông lão nghèo và đang chạm cốc với ông ấy.
-     Ông làm gì vậy? - Bà chủ tôi đôi môi nhợt nhạt hỏi chồng.
Ông chủ tôi ấp ủng trả lời:
-     Những cây tầm xuân đấy mà... Ông Pantois đem tầm xuân đến... Hoa hồng rét chết cóng hết cả rồi...
-     Tôi có đặt mua tầm xuân đâu! Không cần tầm xuân...
Bà nói riết róng mấy tiếng như thế rồi quay lưng đi ngay, đóng cửa đánh sầm, miệng lẩm bẩm những gì nghe không rõ... Tôi đang ở đây nhưng bà đang tức nên không nhìn thấy...
Ông chủ tôi và ông hàng tầm xuân cùng đứng dậy.. Hai người ngượng nghịu nhìn theo bà chủ rồi họ nhìn nhau không dám nói năng gì. Một lúc lâu ông chủ tôi mói cất tiếng:
-    Chủ nhật, ông Pantois nhé.
-    Vâng, chủ nhật, thưa ông Lanlaire.
-    Chúc ông mạnh khoẻ, ông Pantois.
-    Tôi cũng chúc ông như thế, ông Lanlaire.
-    Ba mươi francs. Tôi không nói khác.
-    Ồng tốt lắm...
Ông già chân lẩy bẩy, cúi lom khom bước đi lẩn vào trong bóng đêm...
Một buổi sáng nọ, tôi đem quần áo ra hàng rào phơi. Tôi thấy ông chủ đang ở ngoài vườn... Trong đêm gió thổi làm những cây thược dược đổ rạp xuống, ông phải lấy dây buộc lên những cột chống.
Thường thường, hễ sáng nào không đi đâu thì ông lại ra làm vườn, hay ít nhất ông cũng làm gì đó trên các luống đất, để tránh khỏi những chuyên bực dọc trong nhà, để người ta khỏi làm rầy ông... Hễ xa bà chủ thì thấy ông khác hẳn, mặt ông rạng rạ, mắt ông sáng lên, tính tình của ông vốn vui vẻ lại càng vui vẻ... Ông không phải là người khó chịu... Ở trong nhà, ông không nói chuyện với tôi mấy, có khi lại còn làm như không để ý đến tôi nữa... Nhưng ra ngoài bao giờ ông cũng tìm được câu gì nói cho tôi vui, nhưng phải biết chắc chắn là bà chủ không rình bắt... Còn khi nào không nói được vói tôi thì ông nhìn tôi... nhìn một cách tình tứ... Còn tôi, tôi cũng khêu gợi ông bằng mọi cách...
Lúc đi ngang qua chỗ ông đang cúi xuống buộc lại các cây hoa, tôi vừa đi vừa nói:
-       Chà! Sáng nay ông chủ lại ra làm vườn?
-       Phải, - ông nói... - những cây thược dược này... cô thấy đấy...
Ông bảo tôi hãy dừng lại một lúc và hỏi:
-       Cô Célestine, cô quen ở đây rồi chứ?
Ông chỉ nói mấy tiếng thế thôi. Để cho ông vui lòng, tôi trả lòi:
-       Vâng, tôi quen được ạ.
-       Thế thì hay quá! Đỡ khổ cô ạ... Đỡ khổ....
Ông đứng thẳng lên, nhìn tôi âu yếm nhắc lại: "Vậy là đỡ khổ". Và tìm câu gì để nói thêm với tôi...
Ông buộc nốt chiếc lạt vào cây hoa, rồi đứng giạng chân chèo, hai tay chống nạnh, ông nói:
-       Tôi chắc là ngày còn ở Paris cô cũng hay đi chơi bời lắm, phải không, cô Célestine?
Tôi không nghĩ rằng ông lại hỏi như thế... Tôi buồn cười quá... Tôi cúp mắt xuống, làm ra vẻ bực tức và xấu hổ và hỏi ông với giọng trách móc.
-    Ô hay! Sao ông lại hỏi như thế?
-    Một người con gái đẹp như cô... đôi mắt xinh như thế... chắc là phải chơi bời chứ sao nữa...
Ông hứng lên một cách lạ lùng. Trên cơ thể vạm vỡ của ông những bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Nhìn ông tôi biết là ông đang khao khát ái ân. Lửa tình ngùn ngụt trong hai đồng tử mắt ông. Tôi những muốn dội vào một gáo nước để dập tắt. Với giọng rất đanh nhưng rất đĩnh đạc tôi nói:
-    Ồng nhầm rồi! Ông tưởng tôi cũng như những người hầu phòng khác à? Tôi là một người đứng đắn...
Và để ông thây tôi đã bị ông xúc phạm tôi nói thêm:
-    Tôi phải đi mách ngay cho bà chủ biết, - và tôi làm như đi thật.
Ông vội nắm lấy tay tôi và ấp úng:
-    Thôi! thôi! Đừng, cô Célestine.
Tôi đã phải bấm bụng để khỏi bật ra tiếng cười.
Ông há hốc mồm, mặt xám ngoét, vừa lo sợ vừa thẹn thò, lấy ngón tay gãi gãi gáy.
Một cây lê già oằn mình gần chỗ chúng tôi đứng, cành lá bám đầy rêu, một vài quả còn sót lại đung đưa trước gió, sát tầm tay... Trên cây sồi cạnh đấy một con ác là vừa rỉa lông vừa kêu như chão choẹt. Trong khi đó, ngay sát chỗ chúng tôi, một con mèo mướp giơ chân tát liên hồi để bắt một con nhặng bay vo ve... Không gian thật tĩnh lặng. Ông chủ nét mặt méo mó, đôi môi mấp máy, hỏi tôi:
-       Cô có thích ăn lê không, Célestine?
-       Có, ông ạ... - Tôi trả lời, vẫn giữ thái độ cao quý, không nhượng bộ.
Ông lâm lét nhìn về phía lâu đài, rồi vội vàng đưa tay bứt một quả, hai chân run bần bật, y như đứa trẻ vào vườn ăn trộm, giúi cho tôi và nói:
-       Cầm lấy này, Célestine. Giấu vào tạp dề kia. Dưới bếp không được ăn quả này phải không?
-       Không, thưa ông.
-       Vậy thì thỉnh thoảng tôi sẽ cho cô một quả mà ăn.
Thấy ông thật thà nhiệt tình, rồi lại thấy cử chỉ vụng về, chân tay lóng ngóng, lời nói đầy vẻ sợ hãi, lại thêm sức mạnh của giống đực, tất cả những cái ấy làm tôi xúc động... Tôi dịu nét mặt, tươi lại nét nhìn, nửa giễu cợt, nửa đe doạ, tôi nói:
-       Nhưng bà biết thì sao?
Ông hơi lúng túng, nhưng vì chỗ chúng tôi đứng còn cách nhà một bờ rào đầy những cây lật hơn nửa lại thấy tôi không còn nghiêm khắc như lúc đầu, ông chủ tôi dõng dạc tuyên bố:
-    Bà ấy à? Ta bất cần bà ấy! Bà ấy làm gì được ta?
Với giọng nghiêm chỉnh tôi nói:
-    Ông nói vậy không đúng. Bà chủ là người tốt, đáng mến.
Ông giẫy nẩy:
-    Đáng mến gì bà ấy! Cô không biết chứ bà ấy làm tôi khổ lắm. Suốt cả một đời tôi khổ vì bà ấy. Bà ấy làm cho tôi không còn mặt mũi nào nữa. Đến đâu người ta cũng khinh bỉ tôi! Vợ gì mà lại thế! Con bò cái chứ vợ gì? Con bò cái! Con bò cái! Con bò cái!
Tôi can ông. Tôi giả vờ ca ngợi tài năng, đức hạnh của bà. Nhưng mỗi câu tôi nói lại làm ông tức sôi lên.
-    Không đâu! Không đâu! Bà ấy chỉ là một con bò cái! Con bò cái! Con bò cái!
Nhưng rồi tôi đã làm ông dịu đi. Tôi đã dỗ được ông. Đang nóng như lửa mà ông dịu hẳn đi. Ông ấp úng:
-    Cô hiền hậu lắm! Cô xinh đẹp lắm! Cô tốt bụng lắm! Con bò cái ấy thì...
-    Thôi! Đừng ông! Đừng nói vậy!
Ông chủ tôi nhắc lại:
-    Cô hiền hậu lắm! Mà cô chỉ là một người hầu phòng thôi đấy!
Một lúc sau, ông sán lại bên tôi và thủ thỉ:
-    Cô có muôn không, cô Célestine?
-    Muốn gì kia?
-    Muốn... muốn... muốn gì thì cô đã biết...
-    Ông muốn tôi phản bội bà chủ à? Ồng muốn tôi làm trò con lợn với ông à?
-    A... ừ... Có thế... - ông ngập ngừng nói.
-    Sao ông lại nghĩ như thế?
-    Ta nghĩ thế... Célestine... Ta muốn... vì... vì... ta thấy... Célestine đẹp, ta mất ngủ... ta ốm... Đừng sợ ta... Ta không làm cho có con đâu... Ta hứa... Tôi... tôi... chúng ta...
-    Ông còn nói nữa thì tôi đi mách bà chủ ngay! Ông không sợ người ta trông thấy à?
Ông thấy tôi có vẻ gắt nên ngừng lại, lúng túng, xấu hổ. Rồi ông nhìn xuống đất, nhìn cây lê già, nhìn khoảnh vườn... Rồi ông đưa tay, quờ quạng, lóng ngóng, cởi dây buộc cây thược dược, cúi xuống một bông hoa, giọng run run, nói như cầu khẩn:
-    Lúc nãy, Célestine ạ, ta đã nói linh tinh, ta đã lẩm cẩm... Đừng giận ta... nhất là... đừng mách bà... chỉ sợ có ai trông thấy...
Tôi vội chạy đi chỗ khác để khỏi bật cười... Tôi muốn phá lên cười thật, nhưng trong lòng lại thấy... gì nhỉ?... thương thương. Mặc dầu tôi biết rằng chẳng thích thú gì ngủ với ông, nhưng thêm một lần hay bớt một lần có sao đâu... Tôi có thể đem lại một chút lạc thú cho ông già tội nghiệp bị thiếu thốn ấy, mà bản thân tôi, cũng thấy vui, bởi vì trong lĩnh vực tình ái, người ta thấy đem hạnh phúc đến người khác sung sướng hơn là được người khác đem hạnh phúc đến cho mình... Dù cho rằng da thịt tôi chẳng chút rung động trước cái vuốt ve của ông ta nhưng tôi vẫn thấy một cảm giác ngọt ngào, lành mạnh khi con người tội nghiệp ấy, đôi mắt sáng lên, đảo tròn bám lấy tay mình... và như thế là vì bà chủ... Sau này ta sẽ thấy. ..
Cả buổi sáng hôm ấy, ông không đi đâu chỉ ở ngoài vườn để dựng những cây thược dược lên... Còn buổi chiều ông xuống nhà kho bổ củi suốt bốn tiếng đồng hồ. Tôi ngồi trong phòng gần đấy cứ nghe tiếng bổ huỳnh huỵch...
Chiều hôm qua, cả hai ông bà đi vắng. Tôi tranh thủ sang thăm cô Rose. Từ hôm chủ nhật ấy đến bây giờ, tôi chưa gặp lại cô. Đến nhà cô hôm nay tôi lại được biết ông đại uý Manger...
Ông tính tuềnh toàng, đầu như đầu cá chép, râu như râu dê. Người ông khô khốc, hăng hái, hiếu động, chẳng mấy lúc ngồi yên chân yên tay, không làm việc nọ thì làm việc kia, có lúc ra vườn trồng tỉa, có lúc vào xưởng mộc đục đẽo, vừa làm vừa hát nhưng bài quân nhạc, bắt chước tiêng kèn tom-pét.
Mảnh vườn của ông khá đẹp, chia làm nhiều luống, trồng những loài hoa từ ngày xưa chỉ còn thấy ở các làng cổ và những giáo xứ lâu đời...
Lúc tôi đến thấy cô Rose đang ngồi dưới bóng một cây đỗ quyên, trước mặt là một cái bàn, trên để rổ khâu, cô đang khâu đôi bít tất. Còn ông đại uý ngồi xồm trên bãi cỏ, đầu đội chiếc mủ lính cũ, đang chít những lỗ thủng ở bình tưới...
Tôi được đón tiếp niềm nở... Cô Rose bảo chú bé giúp việc lúc ấy đang cào cỏ luống hoa huệ đi lấy chai nước quả và bộ cốc...
Sau mấy lời thăm hỏi, ông đại uý mỉm cười:
-    Thế nào, cô làm việc ở đấy có dễ chịu không? Cô thấy gia đình Lanlaire thế nào? Cũng ngại cho cô đấy!
Ông kể rằng trước đây ông và ông Lanlaire là hàng xóm tốt, là bạn thân với nhau nhưng có một lần cãi nhau về việc cô Rose nên hai người trở thành thù địch. Ông Lanlaire đã chê ông đại uý không biết giữ tư cách, lại ngồi ăn cùng bàn với người ở gái... Cô thấy ngồi cùng bàn đã sao! Ông nhìn tôi, nói. Ngay cùng giường cũng vẫn được nữa là!... Cái ấy liên quan gì đến lão!
-    Đúng thế, ông ạ...
Cô Rose chân thật thở dài:
-     Một người độc thân. Cái đó là tự nhiên.
Từ sau lần va chạm ấy, va chạm đến suýt đánh nhau, hai người quay ra kiện nhau suốt đi. Họ căm thù nhau ghê gớm.
-     Tất cả gạch đá trong vườn tôi, - ông đại uý nói, - tôi ném sang vườn nhà lão Lanlaire, muốn rơi vào đâu thì rơi, cửa kính, cửa chớp....Nó là đồ chó... Cô ở đấy lâu rồi biết...
Nhìn thấy hòn đá trên lối đi, ông đại uý chạy lại vồ ngay lấy, giang thẳng cánh tay ném sang vườn ông chủ nhà tôi, kêu đánh choang. Phấn khởi vì thắng thế, ông đại uý quay lại cười như nắc nẻ, tuyên bố:
-     Vậy là một ô kính đi đời!
Cô Rose nhìn ông ta vẻ hiền lành và quay lại tôi, nói:
-     Chị xem như vậy có trẻ con không?
Uống xong cốc nước quả, ông Manger mời tôi đi xem vườn... Cô Rose xin kiếu vì đang nhức đầu và dặn chúng tôi mau về.
-     Đừng ở ngoài ấy lâu, tôi theo dõi đấy! - Cô Rose cười, nói vui.
Ông đại uý dẫn tôi đi qua các luống dài, các ô vuông đầy hoa. Ông kể tên từng cây thỉnh thoảng nói thêm: Loại hoa này nhà lão Lanlaire không có... Bỗng ông ngắt một bông màu vàng, mùi rất thơm, xoay xoay trong tay hỏi:
-     Cô đã ăn hoa này chưa?
Tôi ngạc nhiên khi nghe ông hỏi. Sao lại ăn hoa! Thấy tôi im lặng, ông nói:
-     Tôi đã ăn đấy. Ngon lắm!... Tôi đã ăn tất cả các loại hoa ở đây... Có loại ngon. Có loại kém ngon. Có loại không ra gì... Nhưng tôi đều ăn tất cả.
Nói rồi ông nháy mắt, tắc lưỡi, vỗ bụng, nhắc lại vẻ tự hào:
-     Tôi ăn tất cả!
Nghe ông nói, tôi thấy cái tự hào nhất trong lời ông là ông đã ăn tất cả...
-     Ông tài thật đấy! - tôi ca tụng.
-     Tài quá đi chứ, ông nói, không những tôi ăn các loài cây mà còn ăn các loài con nữa kia... ăn cả những con mà không ai dám ăn... Có những con không ai biết là loài gì, tôi cũng ăn... Tôi ăn tất cả...
Chúng tôi tiếp tục đi dạo qua các luống hoa, luống nào cũng đầy những hoa trắng, đỏ, tím, vàng... Loại nào cũng đẹp. Tôi có cảm tưởng bụng ông đại uý nẩy lên mỗi khi ông nhìn thấy một bông hoa đẹp, còn lưỡi ông thì tôi thấy luôn luôn đưa ra để liếm môi chép chép...
Ông còn nói:
-    Không có con sâu, con bọ nào, không có con chim, con chuột nào, tôi không ăn. Tôi ăn cả rắn, cả rít cả những con dế, con giun. Tôi ăn tất cả... Cả làng đều biết đấy... Hễ người ta thấy một con gì bất kể sống hay chết, một con không biết tên gọi là gì, người ta bảo: mang lại cho ông đại uý Manger... Rồi người ta đem đến cho tôi. Và tôi ăn... Nhất là về mùa đông, trời rét, có những con chim lạ bay từ châu Mỹ sang hay xa hơn nữa... Người ta đem đến cho tôi tôi đã ăn... Dám chắc trên đời này không có người nào ăn nhiều thứ nhất như tôi... Tôi ăn tất cả...
Đi dạo về, chúng tôi lại ngồi dưới cây đỗ quyên nghỉ. Ông đại uý bảo tôi:
-    Tôi phải cho cô xem cái này rất bí mật chắc cô chưa thấy bao giờ.
Nói rồi ông huýt sáo gọi vang:
-    Kléber!... Kléber!...
Ông giải thích: "Kléber là tên tôi đặt cho một con chồn. Kỳ lạ lắm rồi cô xem".
Ông gọi tiếp:
-    Kléber!... Kléber!...
Bấy giờ trên một cành cây trên chỗ chúng tôi ngồi, giữa chòm lá vừa xanh vừa vàng, ló ra một cái mõm màu đỏ, hai mắt đen láy, rất nhanh, rất linh hoạt.
-     Biết mà! - ông Manger nói vẻ thích thú, - gọi là nó về ngay. Lại đây Kléber!...
Kléber bò rạp trên cành, bám vào thân cây, thận trọng tụt xuống. Con vật trông như một lọn bông màu trắng đốm đỏ uyển chuyển trườn đi, nhô lên, xẹp xuống như sóng lượn, bò ngoằn ngoèo như rắn.
Xuống đến đất, con chồn nhảy phốc lên đầu gối ông đại uý, lấy chân gãi gãi, dáng điệu thật vui...
-     Chà! Kléber đẹp quá! Xinh quá! Ngoan quá.
Rồi quay lại tôi, ông hỏi:
-     Cô đã bao giờ thấy một con chồn khôn thế này chưa? Nó theo tôi đi khắp mọi noi như chó ấy... Cứ gọi là thấy nó đến ngay, đầu ngẩng lên nhìn, đuôi ngoáy tít... Nó ăn cùng với chúng tôi, ngủ cùng với chúng tôi... Tôi quý nó như người, người ta trả ba trăm francs mà tôi không bán đấy... một nghìn francs cũng không bán... hai nghìn cũng không... Lại đây, Kléber!...
Con chồn ngửng đầu nhìn chủ rồi trèo lên vai ông, lây móng chân gãi gãi, lấy mõm dụi vào đầu, cuối cùng nằm cuộn tròn vào cổ ông đại uý như một cái phu-la bằng lông thú.
Cô Rose không nói gì. Hình như cô ấy bực bực.
Tự nhiên trong đầu óc tôi nảy ra một ý nghĩ quái quỉ:
-     Tôi thách ông dám ăn con chồn này đây, ông đại uý ạ, - tôi nói.
Ông đại uý nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên và buồn vô hạn. Rồi hai mắt trợn tròn, môi run lên.
-     Ăn con Kléber à!... Ăn con Kléber!... - ông lẩm bẩm một mình.
-     Tôi thách ông ăn con Kléber! - Tôi nhắc lại lần nữa. - Tôi chắc là ông không dám đâu.
Vừa buồn, vừa lo, lại như có một thôi thúc gì từ trong lòng, ông đại uý đứng phắt lên trên ghế và bảo tôi:
-     Cô nhắc lại xem nào?
Tôi nhắc lại rành rọt từng tiếng:
-     Tôi thách ông ăn thịt con chồn. Ông không dám ăn đâu!
-     Tôi không dám ăn con chồn à? Có phải cô nói là tôi không dám ăn chồn không? Được, cô sẽ thấy. Tôi ăn tất cả...
Ông nắm cổ con chồn vặn ngoéo như bẻ cái bánh, rồi vất xuống bãi cát. Con chồn nằm ngay đứ đừ không cựa quậy. Rồi quay lại chỗ cô Rose ông gọi:
-     Chiều nay làm cho tôi món hầm!
Nói rồi ông chạy vào trong nhà đóng kín cửa.
Tôi hoảng sợ quá. Ân hận về việc làm tệ hại vừa xong của mình, tôi đứng dậy ra về.
Cô Rose tiễn tôi ra cổng và mỉm cười nói:
-    Tôi không giận về việc vừa rồi đâu. Tôi thấy anh ấy quí con chổn quá. Tôi không muốn anh ấy quí quá cái gì. Anh ấy cũng đã quí hoa quá mức độ...
Ngừng một tí cô Rose nói,tiếp:
-    Nhưng đừng bao giờ thách đố anh ấy. Máu nhà binh mà!
Đi được mấy bước cô bảo tôi:
-    Nhưng phải coi chừng. Người làng đã bắt đầu bàn tán về chị đấy. Hình như người ta trông thấy chị với ông Lanlaire ở trong vườn hôm nọ đấy... Nguy hiểm đấy... Tôi nói thật đấy... Nếu chưa thì may. Nếu đã rồi thì tai hoạ đấy... Đối với ông ta, chỉ cần một phát, là... "pằng"... một đứa con!...
Cô đóng cổng.
-    Về nhé, cô nói, bây giờ tôi phải làm món hầm đây.
Suốt ngày hôm ấy tôi thây xác con chồn vẫn nằm mãi trên cái.
Đến bữa tối, bà chủ bảo tôi giọng gay gắt:
-    Nếu cô muốn ăn mận cứ bảo tôi, tôi sẽ cho nhưng cấm không được tự ý lấy.
-    Tôi có lấy đâu, tôi trả lời, tôi không thích ăn mận.
Bà giằng đĩa mận trong tay tôi và nói: "Cả đĩa có ba mươi hai quả. Sáng nay ông ăn năm quả. Bây giờ chỉ còn hăm nhăm. Thiếu hai quả".
Tôi nghĩ bụng: Vậy ra bà ấy đếm! Trần đời có một.
 
 
0
Đánh máy: Đặng Minh Toàn
 
IX
Tôi cứ thấy băn khoăn khi nghĩ đến Joseph. Thái độ của anh ta có vẻ bí hiểm thế nào ấy. Không hiểu trong tư tưởng anh ta có chuyện gì âm thầm kín đáo. Nhưng chắc chắn phải có cái gì đó không bình thường đây. Nét nhìn của anh ta có vẻ u uẩn làm tôi nhiều lúc phải quay đi. Bước đi của anh ta lệt xệt trông phát sợ. Y như chân của tù nhân đeo gông trong trại giam hay chân của tu sĩ đeo hòn trong nhà tu kín. Cái lưng anh ta cũng làm tôi khiếp. Cả cái cổ dài ngoẵng và cái gáy xám xịt vì nắng gió nổi cục lên chằng chịt như quấn thừng, to phình như con thú tha miếng mồi nặng trĩu.
Trừ thái độ hung hãn khát máu đối với người Do Thái ra, Joseph dè dặt đối với mọi chuyện ở đời. Anh ta không ba hoa khoác lác, không kêu ca chê trách chủ nhà. Anh rất kính trọng và rất tận tâm với chủ. Anh không giận dỗi không ca thán. Anh khéo tay biết làm mọi việc kể cả những việc khó nhất và những việc không phải nhiệm vụ của anh. Anh coi căn hộ của chủ như của mình, chăm nom, coi sóc, giữ gìn. Thấy kẻ nào khả nghi mon men đến là anh đuổi. Thật là một viên ngọc quí. Nhiều nhà khác vời anh đến làm trả lương hậu hơn nhưng anh từ chối không đi. Anh ở đây đã mười lăm năm, coi nhà chủ là nhà mình. Bà chủ nghi ngờ mọi người nhưng Joseph thì bà rất tin tưởng. Bà không tin ai nhưng Joseph thì bà tin tuyệt đối. Bà tin vào tính thật thà và lòng tận tụy của Joseph. “Thật là viên ngọc quí. Có bảo nó nhảy vào lửa nó cũng nhảy”, bà thường nói như thế.
Tuy là người keo kiệt nhưng bà thường cho quà anh, thường giúp đỡ việc này việc khác.
Nhưng tôi vẫn cảnh giác với con người này. Anh ta làm cho tôi lúc nào cũng lo ngại. Tôi vẫn thấy trong mắt anh ta có cái gì vẩn đục, tôi không được yên tâm lúc nào với anh ta. Từ khi tôi chú ý đến anh ta tôi thấy anh ta không phải như lúc đầu tôi phán đoán khi tôi bắt đầu vào làm ở nhà này. Lúc ấy tôi cho rằng anh ta là một nông dân cục mịch, ngây ngô. Bây giờ tôi thấy anh ta rất tinh tế, rất quỉ quyệt… không biết hay là tại nhìn anh ta hàng ngày nên thế chăng. Bây giờ tôi không thấy anh già và xấu nữa. Thói quen như đám mây mù che lấp vạn vật, làm mờ dần, rồi xóa đi bộ mặt và hình thù làm cho người gù thấy không còn gù nữa… Nhưng tôi lại thấy hạnh phúc ở những cái khác, những cái mới khiến tôi hoang mang: không phải là sự hài hòa và trong trẻo của đường nét tạo nên vẻ đẹp của người đàn ông đối với đàn bà đâu. Nó là cái gì không thật rõ ràng, không thật xác định một cái gì thật tinh tế, một không gian gợi cảm dữ dội, say mê. Khiến người phụ nữ không cưỡng lại được. Joseph đã lan tỏa ra chung quanh mình cái không gian ấy. Đã có một lần tôi nhìn Joseph nâng một thùng rượu vang. Anh nâng một vật nặng thế mà chỉ như đứa trẻ nhấc một quả bóng cao su! Bằng động tác của hai tay, của đôi vai và cái mình, như kiểu một lực sĩ, Joseph đã nâng bổng thùng rượu vang lên, rất dẻo, rất mềm, thật nhẹ nhàng.
Tôi cảm thấy giữa anh Joseph và tôi có mối giao lưu mỗi ngày khăng khít thêm…
Tôi đứng trong phòng nhìn qua cửa sổ xuống khu vườn. Anh Joseph đang cúi xuống nhặt cỏ bón cây, có lúc quì hẳn xuống đất… Bỗng anh biến đâu mất. Hay là anh chui xuống đất? Hay là anh vọt qua tường. Có lúc tôi ra vườn để truyền đạt ý kiến bà chủ. Không thấy anh đâu, tôi gọi:
- Anh Joseph ơi! Anh Joseph! Anh ở đâu vậy?
Không thấy trả lời, tôi lại gọi:
- Anh Joseph ơi! Anh Joseph! Anh ở đâu vậy?
Bỗng Joseph xuất hiện sau một gốc cây, sau một luống đất, hoặc trước mặt tôi, tóc bết vào sọ, áo hở ngực… Anh từ đâu đến? Ở đâu ra?
- Chà! Anh làm tôi sợ quá, anh Joseph ạ.
Joseph thoáng mỉm cười, nhanh như một nhát dao, làm tôi hoảng. Tôi nghĩ hay anh là ma hiện hình…
Vụ hiếp dâm con bé Claire gây bàn tán xôn xao trong làng. Người ta giằng nhau các tờ báo trung ương và địa phương để xem… Nhân viên tòa án về điều tra, hỏi nhiều người… nhưng chẳng ai biết gì. Cảnh sát đã bắt giữ một phu khuân vác nhưng anh ta đã chứng minh rằng anh không có mặt ở đấy khi xảy ra sự việc. Cha xứ nghe tin cũng than vãn. Người ta vẫn không tìm ra thủ phạm… Chúng tinh vi quá, không để lại dấu vết. Có thể là những tay nhà nghề… Ông biện lý cũng chỉ làm cho đủ lệ… Giết hại một con bé nghèo khổ, việc chả có gì quan trọng?! Chắc rồi vụ này cũng xếp một chỗ thôi.
Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên khi bà chủ nghi cho ông chủ là thủ phạm vụ giết người này… Từ khi có chuyện này, bà nhìn ông một cách khác lạ. Tôi nhận thấy trong lúc đang bữa ăn hễ có chuông reo bà lại giật nảy người.
Sau bữa ăn sáng nay, thấy ông chủ định ra đi, bà chủ gàn:
- Anh lại muốn đi à? Đi làm gì mà đi suốt ngày vậy?
Bà còn đi dạo hàng giờ với ông ở ngoài vườn. Ông thấy cũng chẳng sao. Bữa ăn có kém đi miếng thịt nào đâu, điếu thuốc của ông có kém đi mồi nào đâu. Rõ thật là con người cục mịch.
Tôi cũng muốn lắng nghe xem ông bà nói riêng gì với nhau. Hôm qua tôi đã đứng nép ngoài cửa đến hai chục phút. Tôi nghe thấy ông mở báo đọc, còn bà ngồi ở bàn đang ghi sổ chi tiêu:
- Hôm qua tôi đưa anh bao nhiêu? - bà hỏi.
- Hai francs, - ông trả lời.
- Có thật không?
- Lại không thật!
- Sao lại thiếu ba mươi tám xu?
- Em bảo là anh lấy à?
- Không. Con mèo lấy.
Họ không nói chuyện gì khác.
Joseph không thích người ta nói đến chuyện con bé Claire. Hễ thấy tôi hoặc Marianne gợi chuyện này là Joseph lại đánh trống lảng hoặc lờ đi.
Không hiểu tại sao tôi vẫn đinh ninh rằng chính Joseph đã gây ra vụ này. Tôi không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ như thế, nhưng cái lần đến nhà bà bán hương liệu về, tôi kể chuyện con bé Claire thì thấy Joseph hơi kinh ngạc, thế là từ lúc ấy tôi nghi Joseph. Mặc dầu tôi đã tự nhủ rằng sự suy nghĩ của mình là không có căn cứ, là võ đoán, song tôi vẫn không sao bỏ được cái ý nghĩ cho rằng Joseph là thủ phạm vụ này. Đã có lúc tôi muốn hỏi Joseph:
- Có phải anh đã gây ra vụ con Claire không? Có đúng là anh không, con dê già?
Vụ giết người này đã xảy ra hôm thứ bảy. Tôi nhớ mang máng rằng Joseph cũng đánh xe vào rừng chở đất ngày thứ bảy. Anh ta đã vắng nhà suốt ngày hôm ấy, mãi muộn mới chở đất về. Vậy là tôi tin có thật. Rồi tôi nhớ lại cử chỉ của Joseph, mắt nhìn của Joseph, thấy khác thường. Khi ở rừng về lúc ấy thì tôi không để ý gì. Nhưng hôm nay thì những chi tiết ấy tôi thấy rành rọt… Nhưng có đúng Joseph vào rừng chở đất cái ngày thứ bảy xảy ra vụ việc không? Những dấu hiệu mà tôi nhận thấy ở Joseph có thật là khác thường không? Biên bản điều tra cũng không nói rằng thấy vết bánh xe mới đi trên cỏ, trên lá khô. Thủ phạm rất quỉ quyệt, đã xóa đi mọi dấu vết. Và lập tức tôi cho rằng tên quỉ quyệt ấy chính là Joseph.
Và tôi đã liều lĩnh hỏi Joseph:
- Anh vào rừng xe đất hôm nào nhỉ? Anh còn nhớ không?
Joseph buông tờ báo, chậm rãi nói:
- Để làm gì vậy?
- Để biết thôi…
Joseph đưa mắt nhìn tôi, rồi như để lục tìm trong trí nhớ, anh trả lời:
- Lâu rồi cũng quên. Hình như thứ bảy.
- Có phải thứ bảy hôm người ta phát hiện xác con bé Claire ở trong rừng không? - Câu hỏi của tôi có vẻ thóc mách khiến Joseph khó chịu. Anh nhìn tôi, mắt cau cau, khiến tôi phải quay mặt đi.
- Đúng là thứ bảy đấy, - Joseph nhắc lại vẻ chắc chắn, - đúng vậy.
Anh còn nói thêm:
- Chà, quan tâm làm gì đến chuyện vặt ấy, cô? Trong báo người ta còn kể ở Alger thường xuyên xảy ra những vụ giết người Do Thái ấy chứ!
Chỉ có cái nhìn của anh ấy vậy thôi, chứ còn thì anh ấy vẫn bình thường, vẫn bình tĩnh. Không run rẩy. Rồi anh ấy lại cầm tờ báo lên đọc tiếp.
Tôi ngồi suy nghĩ để nhớ lại xem từ ngày tôi đến đây, Joseph đã có những việc làm gì có tính chất tàn ác; những việc sẵn có, chứ tôi không có bịa đặt, tô vẽ, cường điệu… Tôi thấy anh ấy căm thù những người Do Thái, lúc nào cũng đe giết, đe thui chết, nhưng cũng chỉ là khuếch khoác vậy thôi. Tôi muốn tìm ra cái gì chính xác, có thật, chứng tỏ là Joseph thật sự phạm pháp. Nhưng chỉ là tôi có cảm tưởng, tôi giả định, chứ không thể khẳng định là có thật…
Có chăng thì chỉ có việc sau đây. Một hôm chủ nhà sai anh làm thịt vịt. Anh đã làm theo cách cũ của người Normandie là thọc một đinh ghim vào đầu con vịt… trong khi người ta có thể giết ngay bằng một nhát để cho con vật khỏi đau đớn. Nhưng Joseph lại cứ muốn kéo dài cuộc hành hình con vật, anh ấy cứ thích nhìn con vật run rẩy, thấy tim nó đập trong tay anh. Anh ấy thích ngồi đếm xem con vịt như thế trong bao nhiêu lâu thì chết hẳn… Đầu tiên, anh ấy kẹp con vịt vào giữa hai đầu gối, thọc một đinh ghim vào sọ rồi ngoáy tròn như người ta xay cà phê. Joseph tay ngoáy, miệng nói một cách thật vui vẻ:
- Phải làm cho nó đau khổ, nó càng đau khổ thì tiết nó càng ngon.
Giọng nói thật tàn nhẫn.
Con vịt tuột khỏi hai đầu gối Joseph, vẫy cánh, cổ ngoẹo đi, quay tròn, lông xù ra, giẫy chết… Joseph quẳng con vịt xuống nền nhà, chống cằm vào hai bàn tay ngồi nhìn con vịt nhảy nhảy, kéo lê hai cẳng trên mặt đất. Tôi vội kêu lên:
- Đừng làm thế anh, khổ nó! Trông ghê quá!
Joseph thản nhiên trả lời:
- Tôi thích thế!
Tôi nhớ lại chuyện ấy và muốn hét lên:
- Chính anh đã hiếp con Claire ở trong rừng. Tôi tin là như thế. Không sai được. Đồ dê già!
Bây giờ thì tôi, không còn băn khoăn gì nữa, vì tôi đã tin chắc rằng chính Joseph. Không gì làm tôi nghĩ khác được.
Ít lâu nay, tôi thấy Joseph đối xử với tôi có khác trước. Gặp tôi, anh ta niềm nở, thái độ lặng lẽ của anh ta không làm tôi lo ngại nữa, lời nói cộc lốc của anh ta, tôi thấy có cái gì dịu dàng. Đôi mắt anh ta không có vẻ hằn học, tuy đôi lúc còn dữ tợn, có lẽ đấy là để thử thách tôi, để hiểu tôi hơn. Cũng như đa số nông dân, anh ấy vẫn có tính đa nghi, vẫn cảnh giác, vì sợ mắc lừa. Chắc là anh ấy có nhiều điều bí ẩn vẫn phải giấu kín như người ta giấu của trong hòm sắt, khóa trong khóa ngoài cẩn thận. Nhưng tôi thấy anh ấy dần dần bớt nghi ngờ tôi… Và dần dần thấy dễ mến. Anh ấy cố gắng làm cho tôi  vui lòng để gây cảm tình với tôi. Việc gì nặng nhọc khó khăn anh ấy nhận lấy hết và làm một cách tự nhiên không phải để mua chuộc tôi, không nịnh nọt, không có ẩn ý, cũng không phải để tôi mang ơn anh ấy hay để trục lợi. Về phần tôi tôi xếp dọn đồ đạc giúp anh ấy, vá giúp bít tất, quần áo, xếp tủ cho gọn ghẽ, dễ coi hơn tủ của bà chủ. Nhiều lần anh ấy khen tôi.
- Cô Célestine, cô đảm đang lắm. Cô thật ngăn nắp. Ngăn nắp là vốn quí. Một người phụ nữ đảm đang ngăn nắp không gì quí bằng.
Cho đến bây giờ những trao đổi giữa anh Joseph và tôi chỉ là chung chung. Buổi tối, ngồi nói chuyện với nhau ở trong nhà bếp có mặt chị Marianne, chúng tôi chỉ nói những gì thông thường, không thể nói những chuyện thân mật giữa hai người. Còn khi chỉ có anh và tôi thì lại khó nói, anh ấy chẳng muốn nói gì. Anh ấy không muốn nói nhiều. Chỉ đủng đỉnh vài câu, vừa nói vừa đi, thế thôi. Nhưng hai mắt anh ấy nói nhiều. Anh ấy nhìn tôi, đôi mắt như cắm sâu vào trong tôi, nét nhìn như thấm vào tận tâm hồn tôi và làm tôi xáo động.
Mãi ngày hôm qua chúng tôi mới nói chuyện lâu với nhau. Buổi tối, ông bà chủ đi ngủ, chị Marianne cũng về phòng sớm hơn mọi ngày.
- Chào Célestine, - Joseph nói.
Người giữ sách định giấu bọc sách đi nhưng Joseph vội ngăn lại. Anh nói:
- Không sao đâu! Célestine là chỗ quen thuộc đảm đang ngăn nắp, kín đáo. Cứ đem sách về.
Người giữ sách đi rồi, Joseph nói với tôi:
- Hôm nay cô lại có nhã ý đến đây. Cảm ơn cô.
Tôi chưa bao giờ thấy anh dễ thương và hoạt bát như thế. Tôi nói:
- Anh ăn cơm xong phải đi ngay chưa kịp nhặt thóc. Anh có muốn tôi nhặt giúp không?
- Cảm ơn Célestine, nhặt xong rồi…
Joseph đứng dậy dẫn tôi vào trong phòng. Tôi thấy hơi lo… Chuyện con bé Claire lâu đã quên đi, tôi bỗng lại nhớ đến. Nhưng đôi mắt Joseph không có vẻ dữ tợn, trái lại, lại bẽn lẽn. Trong phòng chỉ có ánh lửa ngọn đèn lờ mờ. Tiếng nói của Joseph đang run run bỗng trở nên tự tin và dõng dạc.
- Tôi định thổ lộ chuyện này với cô, Célestine ạ. - Joseph nói, - tôi thấy cô là người phụ nữ đảm đang ngăn nắp, kín đáo. Tôi có thiện cảm. Bây giờ tôi hiểu cô rồi…
Tôi mỉm cười nói:
- Anh cẩn thận nhỉ. Sao trước đây anh tỏ ra khó chịu thế. Không trò chuyện với tôi bao giờ lại còn hắt hủi nữa chứ. Anh còn nhớ cái lần tôi giẫm lên luống đất của anh không. Anh gườm gườm sợ quá!
Joseph mỉm cười, nhún vai.
- Lúc đầu chưa hiểu nhau. Cô lại mới ở Paris đến… Bây giờ thì hiểu nhau rồi.
- Nếu anh đã hiểu tôi rồi thì anh thử nói xem tôi là người thế nào.
Miệng chúm chím mắt nghiêm nghị, Joseph nói:
- Cô ấy à, cô cũng như tôi…
- Tôi cũng như anh à?
- Tất nhiên không phải khuôn mặt giống nhau, nhưng tâm hồn giống nhau…
Joseph im lặng một chút, rồi nói tiếp:
- Tôi có cảm tình với cô Célestine ạ, và…
- Và sao?
- Tôi cũng có tiền… một ít tiền…
- Thế hả…
- Một ít tiền… làm cho các nhà chủ hàng chục năm chả để dành được ít tiền hay sao? Phải không?
- Đúng. - Tôi ngạc nhiên thấy cách nói năng và cử chỉ của Joseph…, - thế anh có nhiều tiền không?
- Ít thôi.
- Cho tôi xem nào!
Joseph mỉm cười:
- Không có ở đây. Đang để ở chỗ…
- Ừ, nhưng bao nhiêu?
- Có lẽ mười lăm nghìn francs… có lẽ hơn…
- Khá đấy.
- Có lẽ ít hơn…
Bỗng hai con chó ngỏng cổ nhảy ra cửa sủa inh. Tôi giật mình:
- Không sao đâu, - Joseph nói và đá cho mỗi con một cái vào hông… - Chả là có người đi ngoài đường mà… Cô Rose đi về nhà, tôi nghe tiếng bước chân thì biết.
Đúng như thế. Chỉ lúc sau, tôi nghe rõ tiếng kéo lê chân trên mặt đường, rồi tiếng đóng cổng… chó thôi sủa.
Tôi ngồi xuống ghế ở góc phòng. Joseph hai tay thọc túi quần đi đi lại lại. Tôi ngồi im không nói gì. Lát sau Joseph cất tiếng:
- Tôi phải nói riêng với cô điều này: Tôi ở Cherbourg, là một thành phố có nhiều thủy thủ và binh lính. Buôn bán ở đấy kiếm được. Mở ở đấy một quán rượu, sẽ bán được… Cái gì chứ nghìn francs thì dễ như chơi. Nhưng cần phải có một phụ nữ… một phụ nữ xinh xắn, ngăn nắp, đảm đang. Binh lính và thủy thủ vui nhộn, hay quấy, nhưng cơ bản tốt. Họ chịu tiêu… cô thấy thế nào?
- Tôi ấy à?
- Ừ, cô có làm được không?
- Tôi à?
Tôi chưa biết ý định Joseph thế nào. Anh ấy định dẫn dắt vấn đề đến đâu. Tôi thấy hoang mang chưa biết trả lời thế nào thì anh ấy hỏi lại:
- Không cô thì còn ai đến đây được nữa? Cô là người đảm đang, ngăn nắp. Cô lại xinh xắn. Với đôi mắt bồ câu cô có thể làm chết mệt cả cái trại lính. Từ khi tôi biết cô và thấy cô có khả năng tôi đã nghĩ đến chuyện này.
- Thế còn anh?
- Cả tôi nữa. Chúng ta hợp tác.
- Vậy ra anh lợi dụng tôi để kiếm tiền, để làm giàu?
Joseph nhún vai, đủng đỉnh nói:
- Cũng được chứ sao!
Rồi lại gần nắm lấy tay tôi, Joseph ấp úng:
- Tôi ước mong có cô ở quán rượu ấy, Célestine ạ.
Rồi thấy tôi ngỡ ngàng, Joseph nói thêm:
- Có thể kiếm được từ mười lăm đến mười tám nghìn francs… tha hồ mà tiêu. Rồi còn các đồ tư trang nữa. Sung sướng lắm, cô ạ…
Joseph ôm chặt người tôi. Tôi thấy người anh run lên… Tôi như chết ngạt đến nơi. Rồi anh tiếp tục mô tả:
- Một quán rượu nho nhỏ, xinh xinh, sạch sẽ, sáng sủa… Sau quầy hàng một phụ nữ duyên dáng, ăn mặc theo kiểu Alsace-Lorraine, tấm áo dài lụa với những dải băng nhung… Célestine nhỉ. Chúng ta sẽ bàn thêm một hôm khác…
Tôi không còn biết nói gì thêm… Tôi lấy làm ngạc nhiên, chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này… nhưng tôi cũng không buồn, không giận… Joseph đã nhắc lại bằng chính cái mồm đã hút máu mủ các vết thương trên người con bé Claire và ôm lấy tôi bằng chính bàn tay đã ôm, đã bóp đã giết con Claire trong rừng.
- Chúng ta sẽ bàn chuyện này. Tôi già, tôi xấu thật. Nhưng tìm được người cai quản cái quán rượu ấy thì không ai bằng cô, Célestine ạ. Chúng ta sẽ bàn sau.
Tìm một phụ nữ! Joseph định thế thật à? Hay là chỉ dọa ta? hay là hứa hẹn?
Hôm nay Joseph lại âm thầm như trước. Tưởng như không có vấn đề gì giữa anh, và tôi những ngày vừa qua. Anh lại làm việc, lại đọc báo như mọi ngày… Tôi nhìn anh, tôi ghét anh chăng? Không. Tôi ghê sợ nhưng không ghét. Vì anh đã hãm hiếp con bé Claire ở trong rừng!




0
Truyện đã hoàn tất
 
Thành thật các hiệp sĩ huethvc, Trangct, Đặng Minh Toàn, Wil wil
 
Hy vọng sẽ được các hiệp sĩ hộ trợ cho cuốn tiếp theo [8D]
 

 

[&lt;font] 
📎 thank you




0