<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2014 12:10:40 bởi Ct.Ly>
LỜI NÓI ĐẦU
“ Crossbow” là chiến dịch do người Anh đề xướng cùng sự hợp tác của người Mỹ, cốt để tìm cách truy tầm tung tích các vũ khí bí mật của Đức như Phi cơ không người lái( tức bom bay V1), phi đạn xuyên lục địa( tức hỏa tiễn V2) và phi đạn phòng không vô tuyến điều khiển Wasserfall(tức hỏa tiễn V2 cải biến), vv… hầu đối phó và hủy diệt tiềm năng các loại vũ khí này, đặc biệt nhất là loại V2, để mong tránh mối đe dọa cho thành phố Luân Đôn đông dân cư thoát khỏi tầm sát hại của các loại vũ khí V.
“ Overcast” là chiến dịch do người Mỹ chủ trương để tìm cách chiếm hữu các nhà bác học hàng đầu Von Braun cùng với hàng trăm chuyên viên thông thái nhất của Đức, đã khai sáng ra hỏa tiễn có tầm hoạt động xa(V2) mà nguyên tắc của nó lại là bước mở đầu hay căn nguyên của việc khai sáng ra nền khoa học không gian hiện nay, và còn đang khai triển mãi trong tương lai…
Ngoài ra cuốn sách này còn giải thích tại sao, người Mỹ đã thành công trong chiến dịch Overcast nói trên, mà người Nga lại là những người đầu tiên phóng chiếc “ SPOUTNICK và NGƯỜI” lên ngoại tầng không khí và làm thế nào họ lại vượt bước trong cuộc chinh phục không gian.
J.Mc Gover là nhân viên tình báo Mỹ, hoạt động ở Đức trong thời kì hậu chiến, đã sử dụng các tài liệu chưa được công bố và còn giữ bí mật cho đến lúc bấy giờ, cũng như các văn từ và hình ảnh riêng tư, được truyền đạt với các nhân vật mà tác giả đã xếp đặt các cuộc giao tiếp với họ.
Là tài liệu mật đầu tiên được viết ra, vừa bi hài vừa quyến rũ, sẽ tạo nên cho quyển sách này một giá trị ngoại hạng.
PHẦN I
KẾ HOẠCH “CROSSBOW”
1
SỨ MẠNG CỦA DUCAN - SMITH
Vào ngày 4 tháng 4 năm 1945 thì các toán quân Mỹ ở cách đó 45 cây số. Họ đang tiếp tục tiến quân một cách vô cùng vất vả. Tuy nhiên Dornten vẫn nằm trong tay người Đức và mỗi khi có báo động tất cả đèn đóm đều phải tắt. Tình trạng giới nghiêm ở đây thật khắt khe: không được thắp đèn, không được mở cửa sổ, không được ra đường.
Trời vừa sụp tối thì một chiếc xe vận tải, nặng nề tiến vào làng này, tiếng bánh xe gập ghềnh dằn lền sụp xuống trên mặt đường lồi lõm phá tan sự yên lặng của đêm trường. Tắt đèn hiệu, xe từ từ lăn bánh về khu hầm mỏ hoang vu nằm tiếp giáp chân đồi.
Nếu có ai trông thấy cảnh ấy, họ không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: tại sao lại có một chiếc xe chạy đến đây? Cái mỏ này không biểu hiện được một lợi ích chiến lược nào cả. Thật vậy, khu mỏ này đã bị bỏ hoang từ 5 năm trước đây với lý do phẩm chất của mỏ rất kém. Ngoài đôi vợ chồng già người gac dan, không còn ai sống ở vùng này nữa. Tuy nhiên, bây giờ những người trên xe đang hoạt động một cách vội vã. Hình như họ có một công tác khẩn cấp phải hoàn thành, một công tác không thể nào chậm chễ được.
Người lái xe thắng lại trước một con đường hầm, trước miệng hầm có đặt một đường ray sắt đưa sâu vào sườn đồi. Bảy người lính Đức và hai kỹ sư dân sự tên là Bernhard Tessmann và Dieter Huzel vội vàng nhảy xuống đất. Họ bắt tay vào việc liền: họ đang cố gắng cất giấu những tài liệu quý báu nhất của Đức Quốc Xã đang lâm vào cảnh đường cùng mạt vận.
Họ tải xuống xe những thùng cây có đánh số cẩn thận, bên trong chữa toàn những tài liệu( sẽ có hai chiếc xe khác, cũng chở những thùng cây như vậy, đến nữa vào lúc giữa khuya). Tất cả là 14 tấn tài liệu. Họ chất các thung ấy lên những toa xe nhỏ và một đầu máy sẽ kéo đến một đường hầm nhánh khác. Rồi tại đó chín người lại hung hục vận chuyển chúng đến một kho tồn trữ chất nổ cũ kỹ. Kho này là một căn phòng nhỏ nhưng thật khô ráo được đặt ở cuối hầm .
Hôm sau, vào 11h sáng, lúc mà các oanh tạc cơ của Mỹ đang gầm gừ trên không phận làng Dornten thì những thùng tài liệu cuối cùng cũng được cất giấu xong. Bây giờ họ đóng cánh cửa bọc sắt của gian phòng lại. Rồi họ chôn những cốt mìn được ngụy trang dưới đống gạch vụn, chặn đường từ hành lang dẫn tới gian phòng.
Tessmann, Huzel và 7 người lính tùy tùng ra về. Họ có vẻ tự mãn lắm vì cho rằng không đời nào địch quân tìm ra được chỗ này. Tuy nhiên trong 9 người, chỉ có 2 viên kỹ sư biết đích xác chỗ cất và tính chất của tài liệu thuộc loại gì. Tối hôm trước khi gần đến làng Dornten thì chính hai người kỹ sư này đã thay phiên nhau tự lái lấy xe, sau khi đã giữ 7 tên lính trong thùng xe bịt bùng phía sau. Họ cũng làm như vậy trong bận về, để không cho những người lính biết chỗ. Bởi vậy 7 người lính này dẫu có muốn biết cũng không tài nào phát giác tọa độ của khu hầm mỏ. Phần người gác cửa, tuy chính ông ta đã cung cấp nón và đèn của thợ mỏ cho nhóm người này và cũng dẫn đường cho họ, nhưng họ cũng chỉ nói với ông ta vỏn vẹn mấy tiếng: “ đây là tài liệu mật quân sự”.
Thật vậy, những “ tài liệu mật quân sự” kia là cả một kho tàng khoa học vô tiền khoáng hậu mà phe Đồng Minh đang nỗ lực truy tìm. Những tài liệu trong thùng cây chính là những chương trình và những kỹ thuật chế tạo đặc biệt về “ khí giới bí mật của Hitler”. Đó là những hỏa tiễn đầu tiên có tầm sát hại rộng lớn hiện có trên thế giới: hỏa tiễn V2. Nếu trước kia vị Quốc trưởng nước Đức đã tin tưởng nơi sự phát triển của khí giới này, thì có lẽ kết quả cuộc chiến đã đổi khác. Sau này, hơn 1000 quả V2 đã được phóng qua Anh Quốc nhưng cũng không cứu được nước Đức đã đứng trên bờ thảm bại. Tuy nhiên, đối với một toán kỹ thuật gia người Đức thì hỏa tiễn V2 không hẳn là một sự thất bại hoàn toàn. Nó đã thay đổi cả chiến lược cổ truyền và gợi ra một hình ảnh kinh hoàng của cuộc chiến sắp tới.
Chỉ trong một tháng nữa thì Đức Quốc Xã sẽ hết tồn tại. Nhưng bây giờ các cơ quan tình báo của Nga, Mỹ, Anh đều bắt đầu hoạt động ráo riết. Ai cũng muốn chiếm được về quốc gia mình những tài liệu về hỏa tiễn V2 và bắt cho được những chuyên viên Đức, cha đẻ của thứ khí giới khủng khiếp đó. Kết quả còn nằm trong vòng bí mật. Ai chiếm đoạt được sẽ mang về cho quốc gia mình hai sự tiến bộ hiển nhiên. Đó là sự tiến bộ về khí giới xạ thuật liên lục địa và những hỏa tiễn vĩ đại có thể đưa con người vào quỹ đạo vòng quanh trái đất. Sau đó hỏa tiễn này có thể đưa con người lên đến cung trăng, rồi đến cả những hành tinh xa xôi hơn nữa.
Cuộc tranh giành âm thầm đó đã mở ra ba trận tuyến mà kết quả tự nhiên sẽ ảnh hưởng lớn đến số phận của thế hệ mai sau. Vào tháng 5 năm 1954, người Anh đã đạt được thắng lợi rõ ràng đối với các Đồng minh của họ. Mặc dù lúc ấy lực lượng của Mỹ đã tiến đến núi Harz, nơi cất giấu tài liệu về V2 và cũng là nơi tập trung phần đông các chuyên viên về hỏa tiễn của Đức. Sở tình báo Anh đã biết từ lâu Nga và Mỹ đang cạnh tranh để tìm tài liệu về vũ khí V2 và tìm những người đã thực hiện hỏa tiễn duy nhất có tầm hoạt động xa, hiện đang có trên thế giới.
Huzel, Tessmann và 7 người lính đã giúp họ đang rời làng Dornten. Họ đang vượt qua một nước Đức hỗn độn và nguy khốn như đang ở trên bờ vực thẳm. Tuy nhiên 2 năm trước đây tình thế hoàn toàn khác hẳn. Trong lúc chính phủ Anh tin chắc chắn thắng lợi đã nằm trong tay mình thì đùng một cái quân Đồng Minh thất trận một cách đau thương. Tất nhiên chính phủ Anh phải lập tức điều tra cho ra lý do cuộc thất bại này. Vì quyền lợi của nước Anh, nói riêng và quỳnh lợi của phe Đồng Minh nói chung, chính phủ Anh nỗ lực tìm cho được những tin tức liên quan đến những việc bắt giữ những chuyên viên V2 và việc khám phá nơi chôn giấu tài liệu ở Dornten. Chính Ducan Sandys được ủy thác nhiệm vụ này
* * *
Đó là một người cao lớn, nở nang, tóc nâu dợn song. Vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười đầy thiện cảm. Tuy nhiên chân lại đi cà thọt một cách rõ ràng. Anh ta là một người trẻ tuổi thuộc nhóm bảo thủ mà tương lai đang lên như diều gặp gió. Anh ta là chồng của Diana, ái nữ của Tổng thống Winston Churchill. Đó là vào khoảng tháng 4 năm 1943, mới 34 tuổi Sandys đã được đề cử một loạt công tác đòi hỏi nhiều tế nhị. Chính những công tác này, về sau đã đưa Sandys giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền ( Sandys lần lượt giữ chức Bộ trưởng Không quân, Bộ trưởng Quốc phòng, tháng 6 năm 1964, Bộ trưởng Bộ thuộc địa và Liên hiệp Anh).
Các vị chỉ huy tham mưu Anh quốc điên đầu về những báo cáo tới tấp nói về những thí nghiệm về vũ khí bí mật của người Đức. Họ yêu cầu thủ tướng Churchill giao cho Sandys cứu xét vấn đề này. Sau một tháng vùi đầu trong việc nghiên cứu, Sandys đang sửa soạn đệ trình bản báo cáo đầu tiên lên văn phòng Bộ Chiến tranh.
Cuộc nghiên cứu này không mấy gì hào hứng. Tuy nhiên anh ta hy vọng rằng văn phòng Bộ sẽ chia sẻ với anh ta những điều cấp báo để cho hành động có hiệu quả. Các vị chỉ huy phe Đồng Minh không phải là những người chỉ biết lạc quan, nhưng họ tin chắc rằng chiến thắng sắp về tay họ. Quân Đức đã mất Bắc phi, thua trận Stalingrad, không kiểm soát được không phận. Tiếp đó phe Đồng Minh lại đổ bộ lên đảo Cicile ( thuộc Ý). Sau cuộc điều tra vất vả này, Sandys đã đi đến những kết luận lạ kỳ, khó tin. Những kết luận này ly kỳ đến nỗi chúng có thể làm đề tài cho tiểu thuyết trinh thám. Cuộc điều tra đã xác minh được rằng ở nước Đức đã thực hiện được những vũ khí có khả năng đảo ngược tình thế và nghiêng thắng lợi hiển nhiên về phía địch.
Khi bắt tay vào việc điều tra, trước tiên Sandys chú ý đến các “bức thư từ Oslo” do Sở tình báo nhận được từ tháng 11 năm 1939. Những bức thư nặc danh này chắc chắn do một nhân vật cao cấp người Đức thuộc nhóm chống lại bọn Quốc Xã. Chúng cho biết từng chi tiết rõ ràng về từng giai đoạn của loại khí giới mới đang nghiên cứu tại Đức. Trong đó có cả việc thử hỏa tiễn có tầm hoạt động xa đang thực hiện tại một hoang đảo trên biển Baltique. Các “bức thư từ Oslo” có sắc thái mơ màng như văn của Jules Verne, nên người ta xếp chúng lại và không để ý đến nữa.
Tiếp đến, Sandys quan sát những bức hình do D. W. Stevenson chụp ngày 15 tháng 5 năm 1942. Vị Trung úy này có nhiệm vụ chụp hình những chiếc khu trục hạm Đức đang nằm trên vịnh Swinemunde từ trên cao độ, từ chiếc phóng pháo cơ của ông ta. Sau khi hoàn tất công việc, ông ta lại bay quần trên một làng nhỏ cạnh Peenemunde, nằm trên phía Bắc đảo Usedom. Ở đó, tình cờ ông ta khám phá ra một phi trường mới của người Đức. Vì trong máy ông ta còn vài phim ảnh nên ông ta bấm nốt cho xong. Không ngờ khi quan sát những bức hình đó, người ta lại phát giác ra một vùng đất được bao bọc bởi những cái băng nhỏ hình tròn và những dãy nhà kiến trúc kì lạ. Tuy nhiên, sau rốt thì những bức ảnh cũng không hơn số phận của “ bức thư từ Oslo”. Họ cũng dẹp chúng qua một bên và không thèm nhớ đến nữa. Nhưng Sandys lại muốn có những bức hình chi tiết về đảo Usedom.
Rồi Sandys lại nghiên cứu đến những báo cáo từ Đan Mạch, Thụy Điển, Nauy và Ba Lan gửi sang trong sáu tháng qua, kèm theo nỗi lo sợ thường xuyên. Những phúc trình này thường mơ hồ, phần nhiều chỉ nói đến những lời đồn đãi của dân chúng, rồi chúng lại thình lình đứt quãng nên rất khó hiểu. Thí dụ như những tin tức do cơ quan tình báo Đan Mạch gửi sang. Họ cho biết những ngư phủ đã trông thấy ngoài khơi đảo Bornholm những vật lạ xẹt lên trời với một vệt lửa sáng. Những vật này dường như xuất phát từ Peenemunde, một địa phương thuộc một hòn đảo gần bên đảo Usedom. Cụ thể hơn hết là các bằng cớ do cơ quan đặc biệt của lực lượng bí mật Ba Lan gửi đến. Họ quả quyết rằng người Đức đã thiết lập một cơ sở nghiên cứu ở Peenemunde. Những người tù Ba Lan đã bị đày ra đây. Người ta giam họ ở Trassenheide, đây là trại tập trung tất cả những người lao động ngoại quốc ở Usedom. Trời đã xui khiến nên hai tội đồ Ba Lan vốn là quân kháng chiến có kiến thức kỹ thuật đã tìm ra được nơi bí mật của người Đức. Một hôm, nhân khi làm công tác tạp dịch nhà vệ sinh, họ đã len lỏi vào được một nơi có thể gọi là vùng cấm địa: Xưởng chế tạo bí mật của người Đức. Khi đi ngang qua một nhà kho, thấy cửa kho hé mở, một trong hai người đã nhìn vào trong. Y phát giác được trong kho có một loại vũ khí hình dáng giống như một chiếc thủy lôi không có cánh. Nó tương tự như một chiếc máy bay thu nhỏ lại, nhưng máy bay này lại không có chỗ ngồi cho phi công, cũng không có cả buồng lái. Người Ba Lan này thông báo từng chi tiết tỉ mỉ về Luân Đôn. Y lại gửi kèm theo cả một bản đồ nguệch ngoạc về căn cứ ở Peenemunde.
Sandys nghĩ rằng: tất cả tin tức nhận được đều quy về một điểm: Peenemunde có liên quan đặc biệt đến loại vũ khí mới bí mật của người Đức. Đây là một thị trấn nhỏ, hẻo lánh, hay đúng hơn là một làng chài lưới tầm thường, ít thông thương với những bãi tắm thanh lịch của miền duyên hải Baltique. Muốn tìm hiểu được điều bí mật ở đây thì phải làm sao tìm cách cho một vài nhân viên am tường khoa học len lỏi đến tận nơi được. Vấn đề này thật khó mà thực hiện nổi, mặc dù cơ quan tình báo đã sử dụng cả một hệ thống gián điệp bủa giăng khắp Âu châu.Khi cuộc chiến có vẻ bất lực cho Đức, thì cơ quan cảnh sát của họ đã lo tăng cường biện pháp phòng thủ an ninh và thiết lập một vành đai bất khả xâm nhập xung quanh Peenemunde. Sự phòng thủ nghiêm ngặt này chính nó lại là sự tố cáo. Thật không có gì vô lý cho bằng người Đức nỗ lực canh phòng một cơ sở nghiên cứu tầm thường như bao nhiêu cơ sở nghiên cứu khác.
Sandys tin chắc rằng Peenemunde phải là nơi hoạt động đặc biệt lắm. Nhưng hoạt động thuộc loại gì thì không thể biết chính xác được. Bây giờ ông ta lại áp dụng biện pháp nghe ngóng qua đài phát thanh Đức. Đài này càng ngày càng nói nhiều về một loại vũ khí mới, một “ khí giới thần diệu” sẽ đem về chiến thắng cho “ Đế quốc Đức”. Nhưng người ta không đưa ra một bằng cớ đích xác nào về “khí giới thần diệu” này. Có lẽ đây chỉ là một sự tuyên truyền bịa đặt thông thường nhằm mục đích phấn khởi tinh thần dân chúng Đức, sau trận thảm bại ở Starlingrad, sau những cuộc oanh tạc rùng rợn của không lực Đồng Minh. Nhưng đối với Sandys, điều này cũng đúng một phần nào nhưng không phải là tất cả những điều mà ông ta muốn biết.
Giả sử như thứ vũ khí mới này có thật thì nó ra thế nào? Đó là những khẩu đại bác có tầm xa? Nếu vậy, có phải chăng đây là thành quả mà lý thuyết gia Grosse Bertha đã đưa ra trong cuộc chiến năm 1914. Hay đó là những phi cơ không người lái? Người Mỹ đã thí nghiệm và thành công về loại này trong trận chiến tranh trước.
Hoặc những hỏa tiễn có tầm sát hại lớn? giả thuyết sau cùng này có vẻ kì dị , nhưng với Sandys thì hữu lý hơn cả.
Thật là không dễ dàng mà đánh lửa Sandys! Ông ta đúng là người thích hợp với loại công tác này. Ông nhạc của ông ta, Thủ tướng Churchill cũng hài lòng khi thấy ông ta được đề nghị sứ mạng ấy. Hơn nữa rể của ông cũng không phải dốt về loại hỏa tiễn. Tháng 11 năm 1940, là sĩ quan pháo binh, Sandys được chỉ định chỉ huy pháo đội Z, đơn vị về hỏa tiễn đầu tiên của quân lực Anh. Mặc dù do đơn vị này chỉ sử dụng những súng cao xạ phòng không, nhưng Sandys cũng rất thích và để ý đến khả năng có thể đạt đến những vũ khí to lớn hơn nữa.Tất cả những gì liên quan tới vũ khí này đều được Sandys tìm hiểu một cách thấu đáo. Nhưng sự nghiệp binh bị của ông ta thình lình bị gãy đổ một cách phũ phàng. Một đêm nọ trên chuyến xe mở hết tốc lực hướng về Cardiff, tên tài xế của ông ta đã ngủ gục và lao đầu vào một bức tường nhẹp nạt. Ông ta bị thương ở hai chân và phải chịu tàn tật. Và giờ đây, với chức vụ Thứ trưởng Bộ Tiếp vận, ông ta lại nghiên cứu đến vấn đề hỏa tiễn. Nhưng lần này, không phải với tấm lòng thích thú nữa.
Theo hiểu biết của ông ta, hỏa tiễn thật ra không phải là loại vũ khí mới mẻ gì. Vào năm 1323, người Trung Hoa đã đã dùng những “ phi hỏa tiễn” tức là những mũi tên lửa để đánh đuổi giặc Mông Cổ. Năm 1807, William Congreve đã san bằng một phần lớn thủ đô Copenhague của Đan Mạch với những hỏa tiễn dùng nguyên liệu đặc. Người ta còn tìm thấy trong bài quốc ca của Mỹ những lời bóng bẩy nói về “ ánh hồng của hỏa tiễn” . Một giáo viên người Nga tên Tsiolkopsky đã xuất bản năm 1903 một quyển sách nhắc người ta nhớ đến việc có thể nhờ “ hỏa tiễn” đưa người ta đi du lịch trong không gian. Năm 1926, lần đầu tiên trong lịch sử một người Mỹ tên Robert Goddard đã phóng hỏa tiễn bằng nhiên liệu lỏng và đã thành công.
Còn người Đức, có thật họ đã thành công, họ đã vượt qua những bước đầu chập chững rồi chăng?Họ đã tiến tới một giai đoạn đủ để đe dọa người khác rồi chăng? Năm 1923, có một giáo sư tên là Hermann Oberth đã xuất bản một cuốn sách nhan đề “ Hỏa tiễn liên hành tinh trong không gian”. Tuy chỉ là quyển sách nhỏ nhưng rất đáng chú ý. Trong sách đó tác giả đưa ra những căn bản kỹ thuật rất quan hệ cho những cuộc nghiên cứu sau này. Những điều nghi ngờ của Sandys khiến cho ông ta thêm cương quyết hơn nữa. Ông ta nhờ Cơ quan tình báo điều tra những nhà bác học Đức và nghiên cứu tỉ mỉ những tác phẩm quân sự xưa cũng như về thương mãi của người Đức. Công tác này đã đem về cho ông ta một vài tin tức nhưng không có điều gì thật sự khác thường cả. khoảng 30 năm trước đây, có một toán người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết đã thành lập một hội “ du lịch không gian” . Họ đã phóng những hỏa tiễn còn thô lậu ở Raketenfluplatz, một bãi đất trống ở Bá Linh. Danh tính của những người này cũng không giúp được gì cho các cố vấn khoa học của Sandys. Những chuyên viên này đã am tường từng chi tiết lý lịch của tất cả các nhà khoa học Đức có khả năng đẩy mạnh cuộc nghiên cứu vũ khí mới. Nhưng không có người nào có vẻ chú trọng đặc biệt về hỏa tiễn.
Tuy nhiên trong lúc ấy có một vị tướng người Đức bị bắt và khi bị điều tra, như trăm ngàn tù binh khác đã thừa nhận có trông thấy những hỏa tiễn thật to lớn. Lúc ấy, ông ta không để ý gì đến chúng cả, nhưng có nghe nói là chung dùng để đem chiến thắng về cho nước Đức. Một vị tướng khác, cũng là tù binh xác nhận điều trên rất đúng. Cả 2 người đều không cho biết những chi tiết cần thiết, nên Sandys lại cầu cứu đến cả Sở tình báo. Sở này trả lời một cách vô hy vọng: không thể nào cho người đột nhập vào Peenemunde được, dù là hoạt động gì đi nữa vẫn hoàn toàn nằm trong vòng bí mật. Chỉ có những người đang hoạt động tại đó và vài người có chức tước thuộc cơ quan đầu não của Đức Quốc xã mới biết.
Sandys lại quay về hỏi ý kiến những cố vấn khoa học của ông. Họ xác nhận với ông rằng nay cả người Mỹ và người Nga cũng chỉ chế tạo được những hỏa tiễn có tầm tác xạ ngắn mà thôi. Rồi dường như sợ rằng mình đã đánh giá quá thấp khả năng kỹ thuật của người Đức, những chuyên viên Anh lại nói rằng: người Đức có cố gắng hết sức để thực hiện một hỏa tiễn có tầm sát hại rộng lớn đi nữa thì họ cũng không thể nào sản xuất hàng loạt đủ sức để đe dọa chúng ta trong một thời gian ngắn gần đây. Nhưng đối với Sandys, ngay cả việc người Đức sắp sửa hoàn tất được một loại vũ khí mới cũng là một điều nguy hiểm không nên khing thường.
Còn nếu vũ khí bí mật này lại chính là những hỏa tiễn khổng lồ thì tình thế thật là trầm trọng. Nhưng đối phó với vấn đề này không phải là sứ mạng mà người ta đã ủy thác cho ông. Ông còn một vấn đề nữa, vấn đề này đã làm các vị chỉ huy Đồng Minh phải lo lắng vô cùng nhưng dân chúng thì hoàn toàn không hay biết gì cả. Từ mùa hè năm 1942, tại Hoa Kỳ người ta nỗ lực nghiên cứu một dự án về bom nguyên tử. Nhưng từ tháng chạp năm 1938, 2 người Đức là Otto Hahn và Fritz Strassmann đã tìm ra nguyên lý phân thể của chất Uranium, chất căn bản để chế tạo vũ khí hạch tâm. Không biết người Đức đã dùng nguyên lý này để thực hiện những gì? Điều này không ai biết, nhưng có điều chắc chắn: họ đã nghiên cứu về nguyên tử năng. Nghĩ đến việc Hitler có thể sử dụng một hỏa tiễn tầm xa hay một phi cơ không người lái, người ta thấy lạnh cả xương sống. Đối với Sandys thật không có gì rùng rợn hơn nếu những vũ khí này được trang bị thêm bằng một lực lượng nguyên tử.
Sau khi xem xét lại những tài liệu li ti, rời rạc, hỗn độn có khi khủng khiếp nữa mà ông ta đã thu thập được, Sandys bắt đầu thảo phúc trình. Các nhân viên của văn phòng Bộ Chiến tranh đã trích ra một đoạn khá quan trọng:
“ Dường như từ lâu rồi, người Đức đã tìm cách thực hiện một hỏa tiễn khổng lồ có khả năng phóng tới một vị trí thật xa. Công việc này được thực hiện song song với việc phát triển phản lực cơ và hỏa tiễn phi lôi. Hiện chúng ta có rất ít tài liệu để biết thực trạng những cuộc nghiên cứu này. Tuy nhiên, một vài sự kiện hiếm hoi đang có, khiến chúng ta có thể nghĩ rằng, các cuộc nghiên cứu trên rất tiến bộ. Vì nằm trong tầm tác xạ, nên Luân Đôn có thể là mục tiêu được nhắm đến”.
Đúng vậy, theo các điều xác nhận trên thì các hỏa tiễn và phi lôi tiễn đầu tiên sẽ không có hiệu lực gì đối với những mục tiêu quân sự đặc biệt. Họ chỉ phóng liều chúng xuống những thành phố đông dân mà thôi. Văn phòng Bộ Chiến tranh đồng ý với Sandys là Luân Đôn đang bị đe dọa nặng nề, nhưng biện pháp phòng thủ thì chưa ai đồng ý với ai cả. Vào tháng 2 năm 1943, nhóm đặc công đã làm nổ tung một cơ xưởng ở Nauy sau khi phát giác ra việc nó cung cấp nhiên liệu cho người Đức. Nhưng người Anh không thể áp dụng biện pháp này ở Peenemunde, vị trí này được canh phòng cẩn mật và lại nằm trong lãnh thổ nước Đức.
Người ta lại thảo luận về đề nghị của Sandys: oanh tạch Peenemunde. Các phi công không đồng ý biện pháp này, họ cho rằng Peenemunde ở quá xa phạm vi oanh kích thường xuyên của phóng pháo cơ. Hơn nữa những cuộc tấn công như thế này rất nguy hiểm và quân Đồng Minh phải trả bằng một giá rất đắt. Vả lại chưa có bằng cớ rõ ràng xác định rằng người Đức đang thực hiện chế tạo hỏa tiễn hay vũ khí bí mật nào đó ở Peenemunde.
Sau rốt, Sandys nhận được chỉ thị phải gia tăng việc tìm kiếm những tài liệu cụ thể và áp dụng phương tiện gián điệp một cách tối đa. Hình như chỉ có phương tiện này là biện pháp duy nhất có thể vén được bức màn bí mật đang bao trùm đảo Usedom.
Gián điệp ở dưới đất thì không dùng được rồi, bây giờ chỉ do thám bằng đường hàng không. Những chiếc spilfire và Mosquitoes vần vũ trên không phận biển Baltique, từ trên cao độ, họ chụp không biết bao nhiêu là hình, mong tìm cho được một dấu hiệu, để xác định nghi ngờ của Sandys là đúng.
Không bao lâu người ta tìm được ngay những bằng cớ xác đáng. Ngày 22 tháng 6 năm 1943, một trung sĩ hoa tiêu tên Peek đã rửa được những tấm ảnh thực rõ. Y chuyển chúng đến viên sĩ quan nữ trợ tá Không quân Constance Babington Smith. Trước đây cô Constance cũng hay tò mò quan sát kỹ lưỡng từng tấm hình. Công việc của cô là tìm kiếm “ một cái gì bất thường”. Mặc dầu không biết cái bất thường đó là cái gì. Cái bất thường mà cô ấy tìm được là: bốn chiếc phi cơ nhỏ không giống bất kì chiếc phi cơ nào mà cô đã từng thấy. Chúng không có đuôi và để lại đằng sau chúng một làn khói lạ đen đen.
Các vị đại úy Andre Kenny và Trung tá Hugh Hamshaw Thomas cũng đã tìm thấy những chi tiết khác lạ trong cùng bức hình ấy. Ống kính của họ cũng đồng thời cũng thâu nhận được hai vật lạ giống như chiếc thủy lôi, dài độ 12 thước, đặt lên một loại xe “rờ mọt” đang chiếu lấp lánh dưới ánh mặt trời. Người Anh chứng nhận chúng đích thực là loại hỏa tiễn mà tầm hoạt động có thể xa đến 200km. Về phần các máy bay cụt đuôi mà Constance Babington Smith đã nhận thấy thì những nhà nghiên cứu cho rằng đó là các bộ máy phản lực. Về sau cô Constance lại phát hiện ra các “ phi lôi tiễn” trong các bức hình khác.
Người ta càng gia tăng thêm công việc quan sát và nhờ đó mới khám phá ra các căn cứ đang được thiết lập trên toàn thể phía Bắc nước Pháp. Đây thật là một tin động trời!Người ta tự hỏi tất cả các kiến trúc kỳ lạ đang chĩa thẳng vào thành phố Luân Đôn có phải chăng là những căn cứ để phóng loại vũ khí bí mật. Những vũ khí bí mật này thật chất là vũ khí gì? Vẫn chưa có câu trả lời nào thỏa đáng. Các tấm ảnh xác nhận một cách khá chắc chắn rằng ba loại vũ khí tối tân khác nhau. Tuy nhiên không thể biết được bằng cách nào, bao giờ và theo lệnh nào chúng sẽ được sử dụng.
Các điểm nghi vấn này đã gây ra không biết bao nhiêu cuộc tranh luận sôi nổi giữa các cố vấn khoa học của thủ tướng Churchill. Một nhóm thì ủng hộ lập trường của Sandys. Nhóm này nghĩ rằng mối nguy cơ trầm trọng nhất là mối nguy cơ của một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn có tầm xa. Nhóm thứ 2, cũng là nhóm rất có thế lực, lại tin rằng loại hỏa tiễn tác động còn lâu mới hoạt động được. Cái họa trước mắt là loại phi cơ không người lái. Nhóm sau hết thì lại cho rằng tất cả chỉ là một sự quấy phá nhằm mục đích chi phối lực lượng Đồng Minh hầu làm suy giảm hiệu năng chiến đấu của họ. Theo nhóm họ, tất cả những bức không ảnh chụp được không phát giác được điều gì cả. Đó chẳng qua là những bức họa tuyệt xảo mà thôi. Constance đã mô tả giai đoạn đầy lo âu và rối trí này như “ một thời gian hỗn độn vô vọng” lúc đó người ta mò mẫm trong đêm tối để xây những nền móng trên một bãi sình.
Sau rốt, đa số các cố vấn khoa học đã đứng về phía lập trường của Sandys, người luôn luôn nỗ lực để làm sáng tỏ quan điểm của mình: đó là Luân Đôn đã được chọn làm mục tiêu cho một cuộc không kích mới lạ xưa nay chưa từng có. Tổng trưởng Bộ An ninh lãnh thổ, ông Herbert Morrison đã bắt đầu nghĩ đến viễn cảnh một cuộc tản cư toàn thể dân chúng thủ đô. Bây giờ chính quyền phải làm gấp một cái gì mới được.
Ngày 29 tháng 6 năm 1943, theo lời khuyến cáo của Ủy ban quốc phòng , thủ tướng Winston Churchill quyết định: Oanh tạc Peenemunde ngay cơ hội thuận tiện đầu tiên. Cuộc tấn công này sẽ là một công tác hoàn toàn của người Anh. Người Mỹ sẽ được thông báo cho biết về những kết luận của bản phúc trình do Sandys đúc kết, khi nào có lệnh mời.
Những phi công chuẩn bị kế hoạch rất tỉ mỉ, nhưng lòng họ thì không hăng hái chút nào vì họ biết rằng công tác này có vẻ mơ hồ lắm. Họ đã bác bỏ đề nghị ban đầu đưa ra. Đó là tấn công ba đợt bằng phóng pháo cơ xuống mục tiêu, họ viện lý do: bất ngờ là yếu tố then chốt của cuộc không kích này.
* * *
2
VÀO MỘT ĐÊM TRĂNG
Tướng Walter Dornberger là giám đốc phân đội “ hỏa tiễn” của quân đội Đức. Sau khi đưa tay gạt tàn điếu xì gà nhỏ, ông đứng lên ra khỏi câu lạc bộ Peenemunde, trở về căn cứ. Đó là ngày 17 tháng 8 năm 1943, ông đã trải qua một ngày mệt nhọc. Những tia sáng mặt trời chiếu rọi lên mặt cát trắng và biến mặt đất cằn cỗi ở đảo Usedom thành một vạc dầu sôi. Hơi nóng đầy ẩm ướt này làm cho mọi người khó chịu, thần kinh như căng thẳng. Có lẽ vì vậy nên lúc xế chiều mới xảy ra một cuộc xung đột giữa nhóm nghiên cứu và nhóm sản xuất. Thật là một cuộc xung đột dữ dội, nó đe dọa làm đảo lộn cả chương trình thực hiện hỏa tiễn. Dornberger bị đặt vào giữa thế tấn công cả hai mặt. Ông phải tìm cách để giải tỏa sự nghẹt thở đã đè lên nhóm sản xuất đồng thời phải xoa dịu cơn phẫn nộ của nhóm nghiên cứu. Ông đã dùng bữa với Dr. Wernher Von Braun, vị kỹ sư đầu não của ông, cùng Dr. Ernest Steinhoff đang chịu trách nhiệm về hệ thống điều khiển và kiểm soát ở Peenemunde. Có cả nữ hoa tiêu tập sự tên là Hanna Reistch, hôm nay đến làm khách quý tại căn cứ Peenemunde. Hồi chiều, quay quần giữa đám bạn bè ông đã thấy dễ chịu một chút . Nhưng, bây giờ bách bộ một mình trong đêm tối ngột ngạt, ông cảm thấy mệt trở lại. Ông chợt nhớ đến việc mấy hôm trước đây vị Tổng trưởng Bộ không quân đã thông báo với ông rất có thể quân địch đang chuẩn bị không kích vào căn cứ Peenemunde. Văn phòng của ông đặt tại Bá Linh, khi đến thanh tra ở Peenemunde, ông tạm trú ở chỗ tòa nhà riêng cho khách. Vừa về đến nhà, ông chợt nghe một hồi còi báo động hiệp nhất rít lên lanh lảnh.
Đây không phải lần đầu ông được nghe báo động ở Peenemunde. Thông thường trên đường tiến đến Bá Linh, các phóng pháo cơ của Anh thường quần tụ trên không phận biển Baltique, nghĩa là ngay trên đầu Peenemunde. Hơn nữa ông vốn không sợ còi báo động chút nào cả. Peenemunde chưa bao giờ bị tấn công vì nó là mục tiêu không đáng kể. Nó chỉ là mảnh đất dài, hẹp và bị cắt thành từng mảnh rời rạc, được sự bảo vệ của các phi cơ tuần thám, các đại bác hạng nặng và các trái khói.
Còn một lý do nữa, là nó ở ngoài tầm của các khu trục hộ tống và các đợt tấn công chỉ định. Nói một cách khác, phóng pháo cơ muốn đột kích Peenemunde phải đến một mình, không có lực lượng hộ tống và phải chọn vào những đêm trăng thật sáng.
Như thường lệ, khi có báo động thì tất cả đèn đuốc đều phải tắt, làm sao cho chỉ còn một màn tối dày đặc mà thôi. Nhưng Dornberger lại chú ý thấy trời không hoàn toàn tối hẳn vì một ánh sáng nhợt nhạt, lờ mờ đang tỏa lên nóc dãy nhà đã được ngụy trang. Đó là ánh sáng của vầng trăng vừa ló dạng. Ông phóng nhanh vào phòng và gọi về Bộ chỉ huy phòng không. Bộ chỉ huy trả lời:
- Địch quân đang tập trung trên không phận khoảng giữa biển Baltique.
- Chúng nhằm hướng nào?
- Chưa biết được.
Dornberger nghĩ: lại một cuộc oanh tạch Bá Linh nữa chứ gì, dầu oanh tạc ở đâu nữa, Ông ta cũng không làm gì khác hơn được. Nghĩ ngợi lan mạn, đoạn ông ta sửa soạn đi ngủ.
Nếu Ducan Sandys biết được ý nghĩ của Dornberger hay Sở tình báo Anh cho ông ta tiểu sử của vị tướng vô danh tiểu tốt của cơ quan “ Wa Prueff 11” tức “ văn phòng các vũ khí xạ kích đặc biệt”, thì màn bí mật ở Peenemunde được vén lên tức khắc. Nó sẽ làm cho nỗi lo lắng của Sandys đã nặng nề lại càng nặng nề lên gấp bội.
Dornberger sinh trưởng ở Giessen, một ngôi làng nhở cạnh Francfort. Cha là một dược sĩ. Thuở nhở, cậu bé Walter thường mong mỏi sẽ trở thành một kiến trúc sư. Nhưng đến tháng 8 năm 1914, cậu phải nhập ngũ. Tháng 10 năm 1918 khi là trung úy pháo binh thì bị sư đoàn 2 thủy quân lục chiến Mỹ bắt làm tù binh. Rồi người Mỹ lại giao Dornberger cho người Pháp. Suốt hai năm dài trong nhà giam, không lúc nào Dornberger không nghĩ tới việc tháo cũi sổ lồng.
Được trả tự do, Dornberger trở về một nước Đức đang làm mồi cho lạm phát và thất nghiệp. Không ai cần dùng tới những vị Trung úy trẻ chưa có kinh nghiệm gì cả. Ông ta cho rằng có thể ở lại trong quân đội Đức nhỏ bé là điều diễm phúc. Quân đội này được giới hạn ở con số 100.000 người theo hiệp ước Versailles.
Sau năm năm theo đuổi việc học ở Đại học Bá Linh, Dornberger tốt nghiệp với bằng kỹ sư. Rồi ông được bổ về bộ phận “ xạ thuật” thuộc văn phòng vũ trang. Hiệp ước Versailles cấm người Đức tạo đại bác dài quá 3 inches, nhưng không đả động gì đến loại hỏa tiễn cả. Đến năm 1930, với cấp bậc Đại úy, Dornberger được đề cử một công tác mà phần đông sĩ quan chuyên nghiệp và đầy tham vọng chê là tầm thường, vô vị và có vẻ khôi hài nữa. Đó là công tác bắt đầu xây dựng chương trình chế tạo hỏa tiễn phục vụ quân đội.
Dornberger thiết lập một cơ sở thí nghiệm ở Kummersdorf West, cách Bá Linh ba trăm cây số. Ông kêu gọi sự hợp tác của các thanh niên trẻ tuổi nhưng đầy nhiệt thành. Những người này đã không tìm được một chỗ đứng ở ngân hàng cũng như xí nghiệp tư nhân. Ngày mồng 1 tháng 10 năm 1932, ông đã thâu nhận một sinh viên 21 tuổi tên Wernher Von Braun, sau này là phụ tá kỹ thuật của ông.
Hitler lên cầm quyền năm 1933, ông ta rất say mê vũ khí, bất kể loại gì, nhưng rất hờ hững với hỏa tiễn. Ông ta chỉ đến thăm cơ sở thí nghiệm tiễn ở Kummersdorf có một lần, nhưng cũng rất vội vã.
Tuy nhiên năm sau , 1934 Tư lệnh quân lực Đức là tướng Von Fritsch có đến tham dự cuộc thí nghiệm phóng hỏa tiễn một lần và lần ấy lại thành công hoàn toàn. Ông tự nhận đỡ đầu cho Dornberger. Người kế nghiệp ông là Von Brauchitsh đã tặng cho Dornberger và toàn thể cộng sự viên gồm 90 người, một căn cứ trang bị hoàn hảo hơn đặt tại Peenemunde. Chính ở đây, người ta đã theo đuổi rất phấn khởi về hỏa tiễn loại A( loại A gồm có A1 nặng 22.5kg, dài 1.33m hoàn tất năm 1933, còn A4 là kiểu thứ 4).
Mãi cho đến tháng 3 năm 1939 vào một buổi sáng giá buốt và ẩm ướt, Hitler mới trở lại thăm Dornberger, coi ông này đã làm được gì. Nhưng căn cứ ông đến vẫn là căn cứ ở Kummersdorf chứ không phải ở Peenemunde. Von Braun muốn trình bày với Hitler về những hỏa tiễn sau này có thể dùng trong việc du hành trong vũ trụ, nhưng Dornberger lại khuyên Von Braun chớ hở môi về viễn cảnh ấy. Dornberger và Von Braun đưa Quốc trưởng đi kinh lý toàn thể căn cứ, nhấn mạnh về tiềm thế chiến lược của loại hỏa tiễn tầm xa hiện đang còn ở thời kì ấu trĩ. Hitler lắng nghe một cách rất lịch sự, nhưng Dornberger biết ông ta không đặc biệt chú ý đến loại vũ khí này. Ông chỉ quan tâm đến loại khí giới dùng được ngay tức khắc, chứ không phải trong một tương lại mơ hồ.
Sau khi chiến thắng bằng cuộc tấn công chớp nhoáng ở Ba La, ở Pháp vào những năm 1939-1940, Hitler lại loại bỏ những ưu tiên tuyệt đối dành cho Peenemunde. Ông phải trả giá rất đắt về quyết định này: ông có thể bại trận.
Mỗi khi nghĩ đến việc trên, Dornberger nghiến răng tức tối. Rồi bây giờ vào năm 1943 khi mà những vũ khí cổ điển đã trở nên bất lực thì người ta lại quấy rầy ông, bắt ông phải nỗ lực gấp đôi để bù lại thời gian đã bỏ lỡ. Nếu năm 1940 Quốc Trưởng đừng hủy bỏ quyền ưu tiên của Peenemunde thì bây giờ hỏa tiễn sắp hoàn tất rồi. Tuy nhiên những kỉ niệm của Dornberger không hoàn toàn là những kỉ niệm buồn như trên mà thôi. Ông nhớ lại một ngày thật tươi sáng , đó là ngày 3 tháng 10 năm 1942 vào khoảng giữa trưa, ánh sáng mặt trời chiếu lấp lánh. Đứng trên nóc tòa nhà thí nghiệm, tay cầm máy vi âm ông hét to: “ Start Frei”. Sau 2 lần phóng vô hiệu quả, một trái A4 đã được phóng lên với cao độ gần 100km để rơi xuống với tốc độ 6.600km/h và cách điểm xuất phát 20km.
Chiều hôm đó Dornberger tổ chức một bữa tiệc nhỏ mời Dr, Waler Thiel, Von Braun, Steinhoff, Oberth và vài người trong nhóm đến tham dự. Tất cả đều uống quá chén nhưng điều này không đáng trách vì họ ăn mừng cho cuộc thí nghiệm chứng minh rằng việc phóng hỏa tiễn tầm xa đã thành tựu.
Hỏa tiễn A4 là vật chế tạo đầu tiên mà quỹ đạo của nó lướt qua tầng thượng khí quyển, nên nó cũng chứng tỏ rằng sức đẩy bởi hỏa tiễn có thể giúp cho việc thực hiện cuộc thám hiểm liên hành tinh.
Dornberger ứng khẩu đọc một bài diễn văn ngắn: “ hôm nay là ngày khai sinh của phi thuyền không gian”. Rồi ông nhắc các cộng sự viên của ông rằng công việc của họ là phải cải tiến chiếc hỏa tiễn cho thành một vũ khí chiến tranh. Hướng về Von Braun, người đang cao hứng tột độ ông nói thêm: “tôi báo trước với anh, chứng “bịnh nhức đầu” của anh chưa hẳn hết đâu, nó chỉ mới bắt đầu mà thôi”!. Tuy nhiên đêm đó khi nằm trên giường, Dornberger đã nghĩ: mình sẽ có tất cả những gì mình cần đến để xúc tiến việc sản xuất hàng loạt A4.
Dornberger đã không nhầm khi tiên đoán với Von Braun chứng nhức đầu chỉ mới bắt đầu: chính phủ đã cúp quyền ưu tiên cho chương trình hỏa tiễn của ông. Người ta chỉ cung cấp vật liệu và kỹ thuật gia cần thiết một cách nhỏ giọt. Thêm chế độ bàn giấy của phe phái càng làm cho công việc chậm chế hơn.
May mắn cho Dornberger là ông đã có một người bạn thân là Albert Speer làm Tổng trưởng Bộ quân lực. Ông này ủng hộ Dornberger hết lòng. Dornberger nhờ ông can thiệp với Hitler, người duy nhất có khả năng làm A4 thành hình một vũ khí tác chiến. Speer liền đi yết kiến Hitler. Khi trở về Speer cho Dornberger biết: Fuhrer không quan tâm đến chương trình hỏa tiễn. Lý do đưa ra làm dornberger giận run người: Hitler nghĩ rằng không có một trái hỏa tiễn nào có thể phóng tới Anh Quốc.
Tuy nhiên, không phải là Fuhrer không có những giấc mộng khác, vì ngày 07 tháng 7 năm 1943, Speer đã lệnh cho Dornberger, Von Braun và Steinhoff phải lên ngay một chiếc máy bay để đến Tổng hành dinh của Hitler ở Đông Phổ, nơi được mệnh danh là “ Hang sói”. Họ phải mang theo tài liệu để chứng minh A4 sắp thành tựu, trong đó có cả cuốn phim quay cuộc phóng hỏa tiễn ngày 03 tháng 10 năm 1942.
Họ chiếu cuốn phim cho Fuhrer xem cùng với lời diễn giải của Von Braun. Khác với lần trước, lần này Fuhrer tỏ ra xúc động vô cùng. Ông thật không giống chút nào với con người mà họ gặp hồi tháng 3 năm 1939. Đó là con người có vẻ mệt mỏi, vai buông xụi xuống, lưng hơi còng, da nhăn nheo và nhợt nhạt. Nhưng trong đôi mắt luôn luôn ngời sáng lại chiếu lên một cái nhìn đầy ảo giác một cách lạ lùng. Khi hình ảnh cuối cùng vừa dứt, ông chồm ngay đến Dornberger, bắt tay ông một cách cuồng nhiệt và kêu lên:
“ Tại sao tôi đã không tin vào thành công của ông,? Nếu chúng ta có hỏa tiễn này vào năm 1939 thì chúng ta không bao giờ lâm vào cuộc chiến ngày nay!”
Ngưng một phút ông nói tiếp:
“ Trong suốt cuộc đời tôi, tôi chỉ tạ lỗi với hai người, người thứ nhất là Thống chế Von Brauchitsch, tôi đã không nghe ông ta, khi ông ta nói đi nói lại với tôi hàng chục lần là việc làm của quý ông thật quan trọng. Người thứ 2 là ông đó, ông Dorberger ạ. Tôi chưa bao giờ nghĩ sự nỗ lực của quý ông thành công đến như vậy”.
Sau đó cơ sở thí nghiệm ở Peenemunde được hưởng quyền ưu tiên tối thượng. Nhưng niềm vui của Dornberger có pha lẫn ít nhiều bực bội. Ngay ngày hôm sau người ta ra lệnh cho ông phải bắt lại cho kịp thời gian đã mất và phải thực hiện một kì công về khoa học vô tiền khoáng hậu. Bây giờ nước Đức chiến tranh, lại ở trong tình trạng thiêu thốn đủ thứ, mà lực lượng Đồng Minh tiến đến gần kề và mối đe dọa thường trực của những cuộc oanh tạc ồ ạt không lúc nào ngớt. Ngay cả trong thời bình, trong những phòng thí nghiệm im lìm trang bị đầy đủ , Dornberger còn ngại ngần khi nhận lời hứa với Fuhrer. Ông tưởng tượng ngay bây giờ ông đã có thể sử dụng loại vũ khí đó, loại vũ khí mà Tổng trưởng Bộ Tuyên truyền đã long trọng đặt tên là “ vũ khí nhiệm màu”.
Là một chuyên viên về hỏa tiễn, một kỹ sư tốt nghiệp hẳn hoi, hơn nữa là một quân nhân chuyên nghiệp, Dornberger có cái nhìn thực tế hơn nhiều. Với ông, một khí giới có khả năng tống đi một tấn thuốc nổ xa đến 250km cũng không thể nào thay đổi hoàn toàn được tình thế. Tuy nhiên nếu cách đây 1 năm hay 6 tháng, người Đức sản xuất được hàng loạt A4 thì họ có hy vọng căn bằng được cán cân. Họ có thể chặn đứng được cuộc tấn công xuất phát từ hải cảng Anh Quốc. Tướng Dornberger quyết tâm thực hiện hai mục tiêu trên, tất nhiên với điều kiện người ta để yên cho ông làm.
Tháng 4 năm 1943, có một vị khách đến thăm Peenemunde. Đó là Heinrich Himmler, lãnh tụ S.S. Mặc dù trung tâm thí nghiệm này thuộc quyền quân đội và không quân. Những người S.S không có trách nhiệm gì với trung tâm này cả, ngoài trách nhiệm bảo vệ an ninh. Trái ngược hẳn với những người khác, Dornberger cảm thấy khá thoải mái trược mặt vị lãnh tụ S.S. Khi Dornberger nói, ông này lắng tai nghe một cách chăm chú. Với chiếc kính cặp mũi, với đôi môi mỏng, Himmler có dáng điệu của một ông giáo làng nhã nhặn. Khi Dornberger trình bày, ông chỉ nhìn mọi vật một cách lặng lẽ. Cho tới khi cáo biệt, ông chỉ nói:
- “ Việc làm của ông hay lắm. Tôi có thể giúp đỡ ông, tôi sẽ trở lại!”
Và ông đã trở lại thật, ngày 29 tháng 6 năm đó tự lái chiếc xe nhỏ riêng, có bọc sắt. Sau bữa ăn tối, ông đã dành cho Dorberger, Von Braun và một vài người trong nhóm một màn độc thoại suốt năm tiếng đồng hồ. Ông trình bày cho họ nghe lịch sử là gì, triết học là gì, chiến tranh là gì. Sáng hôm sau ông tham dự 2 cuộc thí nghiệm phóng hỏa tiễn A4, hỏa tiễn đầu tiên bị hỏng, nhưng chiếc thứ 2 được điều hành một cách hoàn toàn. Himmler tự nguyện sẽ tham gia vào việc giúp đỡ chương trình này, bên cạnh Hitler. Bởi vậy, Dornberger vẫn tiếp tục nhìn Himmler như người đối thoại khả ái, dù có chút lạnh lùng.
Tuy nhiên, khoảng thời gian giữa 2 cuộc viếng thăm của Himmler, Dornberger đã khám phá ra một câu chuyện khá rắc rối, bạn thân với ông, Đại tá Leo Zanssen, một sĩ quan chuyên nghiệp mà trong quá khứ không có gì đáng chê trách, đảm nhiệm việc chỉ huy quân sự ở Peenemunde trong nhiều năm trời đã bị cách chức vì tội chống lại Himmler. Hơn nữa, có vài vị sĩ quan S.S , những người không biết gì về hỏa tiễn, đã quả quyết rằng chính Dornberger phải chịu trách nhiệm về sự chậm chễ này, chương trình mà ông đã phát động và điều khiển suốt 13 năm qua.
Vậy thì Himmler, lãnh tụ S.S đã suy tính gì? Cuộc tiếp xúc khó hiểu của ông ta, có ẩn chứa gì? Chương trình A4 là kế hoạch dự trù của văn phòng xạ thuật quân đội, và với tư cách sĩ quan quân lực Đức quốc, Dornberger mới được đề cử chỉ huy. Nhưng Dornberger đã không biết rằng, cơ quan S.S cũng có riêng văn phòng xạ thuật và khắp nơi trên lãnh thổ Đức Quốc Xã họ đã tước đoạt dần dần những đặc quyền truyền thống của quân đội.
Nếu Himmler có những mưu đồ gì liên quan đến chương trình ở Peenemunde, ông ta sẽ thấy ở Dornberger một đối thủ quyết liệt sẽ phản kháng đến cùng. Đã 48 tuổi, dáng người mập mạp, không cao lớn lắm, mày râu nhẵn nhụi, mặt mày hồng hào, tóc lơ thơ màu xám bạc, chỉ có những cộng sự viên thân cận với ông mới biết bên trong cái trán hói, cái gương mặt mịn màng kia là một tâm hồn quả cảm, là một trí óc tinh nhuệ của những người tiên phong trong ngành hỏa tiễn.
Một ngày kia, câu chuyện xảy ra ở trung tâm Kummersdorf, Dornberger đã làm một lỗi nhỏ. Vì thói quen lúc nào cũng gấp rút, nên khi tháo một chiếc hỏa tiễn chứa toàn bột đen, ông đã dùng một cái búa và một cây kéo bằng thép, thay vì phải đi lấy cái bằng đồng. Một tia lửa xẹt ra đã bắt cháy bột thuốc và hỏa tiễn đã nổ ngay vào mặt ông.
Các y sĩ của quân y viện Bá Linh khám bệnh và cho rằng, ông khó có thể sống sót vì những vết thương này. Ai cũng tin vậy, vì ông đã bị phỏng một cách rùng rợn. Khoa giải phẫu chỉnh hình thời đó còn kém nên cũng không giúp gì được cho ông. Ông nằm điều trị một năm trong quân y viện, một mình với người tùy dịch. Hai người đã tự chế lấy một miếng nhựa thơm trị phỏng. Mỗi ngày, trong suốt 10h liền, sau khi thoa một lớp kem lên khắp mình Dornberger, người tùy dịch phải gắp từng hạt, từng hạt bụi đã dính vào và làm loang lổ mặt và tứ chi của ông. Và Dornberger đã thoát chết. Nhìn cái trán và đôi gò má không một nếp nhăn của ông, người nào mới gặp lần đầu cũng lầm tưởng rằng ông là người không hề biết ưu tư. Có lẽ Dornberger phải nghĩ rằng: một người thoát chết vì hỏa tiễn thì có khả năng để sống dai hơn Himmler.
Năm phút sau khi về tới phòng, Dornberger đã nằm ngủ say sưa, mặc chiếc còi báo động hiệp đầu đang rít lên lanh lảnh bên ngoài. Trời đã quá khuya.
* * *
Lúc ấy, Vonbraun cũng đang ngủ. Hồi chiều ông ta đã vào câu lạc bộ với Hanna Reitsch và Dr. Ernst Steinhoff. Ông này chịu trách nhiệm về hệ thống điều khiển và kiểm soát của trung tâm, nên là một trong những nhân vật trọng yếu ở Peenemunde. Sau khi chia tay, Dr. Ernst Steinhoff về tòa nhà gia đình ông đang trú ngụ. Còn Von Braun thì độc thân. Ông ta tiễn cô Hanna Reitsch ra tận xe, cô nữ phi công này phải lái xe về ngôi nhà tiếp tân của trung tâm thí nghiệm, cách xa đến 5km, nàng là người dân chính duy nhất được tặng huy chương Thập tự sắt đệ nhất hạng. Ngày hôm sau, nàng phải lái thử chiếc máy bay phản lực cải tiến, tức là chiếc phóng pháo cơ Messerschmitt 163. Braun đã biết nàng từ năm 1932, lúc hai người còn đang thụ huấn ở một trung tâm huấn luyện phi hành. Sau khi chúc nàng “may mắn”, Von Braun đi vội về nhà, ông ta cũng có nghe tiếng còi báo động nhưng không quan tâm lắm. Ông là một dân chính và những biện pháp áp dụng chống lại những cuộc không kích không nằm trong thẩm quyền của ông ta. Lúc đó ông ta mới có 31 tuổi và đang đảm nhận chức giám đốc kỹ thuật trung tâm thí nghiệm quân đội ở Peenemunde. Ông ta cũng có những mối lo lắng riêng, khá đủ để không còn thì giờ bận tâm đến việc người khác.
Cách phòng của Von Braun non một cây số là cư xá của bốn nàng chuyên viên Đức và gia đình. Hai nhà bác học Dr. Steinhoff và Dr. Thiel cũng ở đó. Dr. Thiel cùng gia đình gồm 1 vợ, 4 con đã ngủ say hơn 3 tiếng đồng hồ rồi. 7h sáng đã làm việc nên Dr. Thiel rất cần một giấc ngủ ngon. Ông lãnh một nhiệm vụ thiết yếu: người phụ trách về sức đẩy. Ông đã điều chỉnh máy móc của A4 và hiện đang cải tiến nó. Trong ngôi biệt thự 2 tầng đủ tiện nghi và trông ra biển Baltique cả gia đình Thiel đang say trong giấc ngủ. Không có một tiếng động nào ngoài tiếng gió lay rèm cửa.
Phía nam của cư xá này là một rừng thông. Trong rừng có lập 1 trại tù binh gồm 500 tù binh người Nga. Tù binh này dùng vào việc xây đắp đường sá và các công việc nặng nhọc khác. Những người tù này cũng đã ngủ. Họ ngủ từ 21h khuya, tức là giờ giới nghiêm. Xa hơn nữa, cũng về phía nam, là căn lều lụp xụp trong trại giam Trassenheiden, 600 tù dân chính người Ba Lan bị giam trong đó để đưa đi làm dân công. Trong tù, có ít nhất là 2 người còn thức. Đó là 2 người đã thành công trong việc chuyển về Sở tình báo Đồng Minh những họa đồ vẽ cơ xưởng ở Peenemunde đêm đó. Nhưng mà trại Trassenheiden đã được bọn S.S canh phòng thật nghiêm ngặt với những khẩu liên thanh và bầy chó dữ. Mưu tính một cuộc vượt ngục hay ngay cả thông báo với những tù nhân khác đã không lợi ích gì mà chỉ tổ chọc giận bọn S.S
* * *
Bộ tham mưu của Ngành Không Quân chiến lược Anh Quốc đã được lệnh tiêu diệt nơi mà người ta nghĩ là căn cứ quân sự bí mật của Đức ngay dịp thuận tiện đầu tiên. Cơ hội đó đã đến vào ngày 17 tháng 3 năm 1943. Đêm đó vào lúc 21h50, Trung tá J.H. Searby và 6 cộng sự viên cất cánh từ căn cứ Norfolk. Theo sau ông là 597 chiếc phi cơ thuộc R.A.F ( Không lực Hoàng gia Anh) đó là những chiếc phóng pháo cơ hạng nặng Halifax và Lancaster. Theo một chương trình đã được nhắc đi nhắc lại một cách tỉ mỉ, Searby lướt nhanh trên cao độ. Đến không phận Đan Mạch, ông hạ thấp xuống. Thấp đến độ ông phân biệt được cả những đợt sóng nhấp nhô. Sau này, ông nhớ lại những ý nghĩ của ông lúc ấy: “ Phi cơ bay rà rà mặt biển, ngay cả khi trời có trăng, rất khó mà nhận ra mục tiêu. Nhưng mà chúng tôi phải bay thật thấp, thật thấp để cho những radars lớn ven biển không rò ra được chúng tôi”. Trước nửa đêm một chút, ông đã thấy vùng bán đảo hẹp, Phía Bắc đó là Peenemunde.
Đó là một đêm trăng đẹp, trời trong veo, chỉ có vài áng mây bây lờ lững. Searby biết rằng mục tiêu của ông đã được các phi cơ tuần đêm và các pháo đội phòng không D.C.A bảo vệ. Ông tự nhủ rằng: phải là một công tác tối ưu quan trọng nên người ta mới phái ông đi xa thế này mà không có hộ tống. Trước giờ khởi hành một chút, ông có nghe nói về một cuộc đột kích của quân đội Mỹ sau vào Regensburg Schweinfurt ngay sáng hôm nay. Không được yểm trợ, những bình chứa của phi cơ hộ tống không đựng đủ nhiên liệu, nên 60 chiếc phóng pháo cơ đã đi không trở lại.
Thống chế Không quân, Sir Arthur Harris, cũng là tư lệnh Bộ chỉ huy phi cơ chiến lược đã nói thẳng với ông rằng: “ Cuộc hành quân liều lĩnh để tiêu diệt Peenemunde này rất quan trọng. Quan trọng đến nỗi nếu nó không được trả giá bằng sự thành công hoàn toàn, thì nó sẽ phải làm lại cho đến khi nào mục tiêu bị san bằng như bình địa”. “Bomber Harris” hiểu rõ ý nghĩa của những lời trên nhưng sự thật vẫn không được tiết lộ. Đối với những phi công được chỉ định để hủy diệt Peenemunde người ta chỉ nói giản dị rằng người Đức đã chế tạo ở đó “ dụng cụ về radar đặt biệt”
Searby là một Master Bomber, nghĩa là vị chỉ huy về oanh tạc. Nhiệm vụ của ông là bay vòng vòng trên mục tiêu và điều khiển cuộc hành quân bằng âm thanh. Ba vị Master Bomber khác lúc nào cũng sẵn sàng thế chỗ ông nếu “ chúng ta không đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ diệt địch”. Ông nhớ những lời này một cách bình thản.
Phía trước Searby là một phi đội Mosquitoes đang bay trên không phận Peenemunde, nhưng chúng không ném bom mà chỉ chờn vờn về phía Bá Linh như sắp tấn công thành phố này. Các phi cơ tuần đêm của cơ quan phòng không Luftwaffe bị trúng kế, chúng vội vàng đuổi theo các chiếc Mosquitoes để ngăn chặn phi đội này lại, không cho tiến gần thủ đô. Và chúng đã bỏ trống Peenemunde! Những chiếc Mouchards có nhiệm vụ soi sáng mục tiêu và đánh dấu các điểm tác xạ. Chúng thả những hỏa pháo màu xanh, trắng, đỏ và vàng.
Searby bay một vòng rộng, rồi quay trở lại và nhắm ngay đầu não của căn cứ. Ông thấy màn khói bắt đầu tỏa trùm lên Peenemunde. Những quả đạn cao xạ phòng không nổ tung chung quanh chiếc Lancaster của ông. Sau hết, quân Đức đã biết rõ cái gì đang xảy ra.
Ông đọc trong bản báo cáo “ chúng tôi đã bắt đầu để sẵn sàng hành động”
* * *
Tướng Dornberger choàng dậy vì một tiếng nổ kinh hoàng. Giường của ông bị ghim đầy mảnh chai. Kính cửa sổ đã bể nát. Lực lượng phòng không đã khai hỏa, ông chụp lấy chiếc điện thoại trên bàn nhở ở đầu giường và gọi về hầm trú ẩn. Đường dây bị bận, ông nhảy xuống đất, choàng chiếc áo ngoài lên bộ đồ ngủ, xỏ đôi dép vào chân, giẫm lên những mảnh kính vỡ phủ đầy mặt đất. Bên ngoài, cảnh tượng “đẹp một cách hãi hùng, rùng rợn” đang chờ đợi ông( về sau ông dùng những chữ này để ghi lại cảm xúc của ông).
Những chùm tia sáng của chiếc máy rọi lục lạo trong đêm lấp lánh ánh sao. Các trái khác được bắn lên một cách muộn màng nhưng cũng khá công hiệu. Những làn khói mịt mù trôi bồng bềnh dưới ánh trăng và những trái sáng thì chiếu lấp lánh một màu ngũ sắc. Những vòi lửa vọt lên cuồn cuộn và gầm thét vang rền khắp nơi. Tiếng đại bác phòng không của quân đội Đức bắn lên, tiếng của Không lực Anh dội xuống hòa cùng tiếng kêu vù vù của những chiếc máy bay bốn động cơ của R.A.F tạo lên một âm hiệu đinh tai nhức óc. Mọi người chạy ùa về phía hầm núp, Dornberger lầm bầm tức tối: “ không biết những chiếc tuần không của Luftwaffe đang làm gì?”.
Ông chợt thấy Von Braun trước tháp canh, mái tóc hung hung bám đầy tro, đầu vẫn ngẩng lên. Một trái bom lửa bùng nổ, rít lên trong không trung. Hai người phóng vội vào nơi ẩn núp làm bằng bê tông. Đây là một cái hầm dài, sáng trưng và chứa đầy những người đang bất động vì khiếp sợ. Dornberger gọi điện thoại về bộ chỉ huy phòng bị. Báo cáo trả lời xác nhận mối nghi ngờ của ông là đúng. Ông bắt đầu ra lệnh với giọng khàn khàn:
“ Von Braun đến văn phòng của cơ sở, động viên tất cả mọi người. Tập họp tất cả các nhóm nhân công của Luftwaffe lại. Hãy nỗ lực dập tắt lửa, nhưng nếu không dập tắt được lửa, thì cố giữ lấy đồ án và tài liệu cho an toàn. Nhanh lên!”.
Von Braun biết rõ tầm quan trọng của những tài liệu ở đó, nên không ngần ngại lao mình vào trong bóng đêm đang biến thành biển lửa hừng hực. Ông ta cắm đầu chạy, mặt đầm đìa mồ hôi. Đôi khi hơi bom mạnh quá, xô ông ta té xuống đất. Vòng quanh những hố bom, né tránh những mảnh sắt vụn văng tung tóe khắp nơi, ông ta cố chạy tới bảo vệ những chồng hồ sơ, kết quả của 13 năm trời miệt mài nghiên cứu. Đàng sau ông, hàng chục rồi hàng nhân viên cấp cứu đang len lỏi hoạt động trong lớp sương mù đen kịt tạo bởi hỏa pháo và các tầng khói dày đặc của đám cháy. Mặt mũi họ đen thui dày bồ hóng, không làm sao nhìn ra được ai là ai.
Sau khi Von Braun đi rồi, Dornberger cũng rời khỏi hầm núp để làm một cuộc thanh sát gấp rút. Ông chạy lại phòng đo đạc, rồi xưởng ráp, rồi kho chứa đồ phụ tùng. Sau hết ông chạy đến tòa nhà tiếp tân hiện đang làm mồi cho ngọn lửa, một giờ trước ông còn ngủ say sưa trong đó. Ông chợt nhớ ra ông đã mang theo từ Bá Linh về đây những giấy tờ về gia đình, bộ sưu tầm tem, và những khẩu súng đi săn rất quý giá ( với ý định bảo toàn cho chúng, vì sợ Bá Linh bị oanh tạc). Theo lối cửa sổ ông chạy vào phòng tắm, ông mò mẫm tìm đường băng qua phòng khách. Phòng ngủ của ông bị những cây xà nhà gãy chẵn ngang. Vào phòng quơ tất cả những gì ông nắm được và ném ra ngoài. Ông cặp mấy khẩu súng và những thành tích săn bắn của ông vào nách. Thình lình một cánh cửa đổ ầm xuống, những tàn lửa đỏ cháy lan tới chân ông. Buông xuống tất cả, ông giật một tấm chăn phủ lên người, vượt qua vòng lửa, rồi phóng mình qua cửa sổ đã mở sẵn.
* * *
Searby tự hỏi bao giờ các phi cơ tuần đêm của Đức, vừa bị mắc bẫy sẽ trở lại phản công. Ông không khỏi hứng chí khi nghĩ rằng: nhờ trăng sáng, nhờ bay thấp -8.000 pieds – nên phóng pháo cơ mặc swcstung hoành, sau đó cơ quan phòng không Luftwaffe tha hồ lập thành tích. Ông vẽ liền tay những vòng tròn trên mục tiêu, ban hành chỉ thị, ước định kết quả, thực hiện các sửa chữa cần thiết. Bây giờ là nửa đêm giờ H theo lệnh người điểm chỉ bằng một tia sáng đỏ, các hỏa pháo vàng đầu tiên được thả xuống, Searby nhìn theo và nghĩ: “ Chúng đanglàm công việc dọ tháp”. Trong khi đạn phòng không nổ chung quanh “William”, tên chiếc Lancaster của ông ta, thì Searby lại quan sát thấy bom nổ và bom lửa rơi rất tập trung. Vài đám cháy đã bùng lên và bắt đầu lan rộng.
* * *
Dr. Walther Thiel, vợ và bốn đứa con của ông không bao giờ thấy được đám cháy này. Một quả bom đã nghiền nát ngôi nhà bằng cây của ông ta. Nó đang bùng cháy như một ngọt đuốc. Còn Dr Ernst Steinhoff, giám đốc văn phòng điều hành và kiểm soát, cùng vợ và 3 con chạy nào vào hầm ẩn núp, vừa chui vào xong, thì tòa nhà của họ lãnh đủ một quả bom, đổ ầm ngay phía trên đầu họ, sặc sụa vì ho, ngột ngạt vì ngạt thở, nhưng họ vẫn bình an dưới hầm sâu.
Hàng trăm chuyên viên khác và gia đình họ đã nhào xuống hố sâu được đào trước nhà. Có người thì ẩn núp trong những đụn cát, dưới những trận mưa bom, bom nổ một tấn hay bom lân tinh.
* * *
Khu gia cư dành cho chuyên viên Đức, rồi khu kỹ thuật lần lượt bị oanh tạc. Những đám cháy và những tần khói dày đặc bốc cao lên, che khuất mục tiêu, việc quan sát trở lên khó khăn. 50 phút sau giờ H, Searby thấy xung quanh mình những chiếc Halifax; và Lancaster nổ tung, nhào lộn và bùng cháy ông hiểu ngay: những chiếc tuần đêm của Luftwaffe đã trở về, sau khi bị lừa vì thủ đoạn điệu hổ ly sơn của Searby. Đã đến lúc phải ra lệnh thu quân trở về. Searby vạch một đường tròn cuối cùng theo chiều thẳng đứng với mục tiêu, đây là lần thứ 14 – và hướng ra khơi. Một chiếc Me-110 nghinh chiến với “William”, nhưng vì nó quá cổ lỗ nên bị khẩu đại liên sau đuổi “ William” bắn hạ. Than ôi! Không phải tất cả các oanh tạc cơ đều có cái may mắn đó. Những khẩu phòng không trên chiến hạm nằm trên hải cảng Peenemunde đã có đủ thì giờ điều chỉnh tác xạ và bắn lên hàng loạt đạn. Ánh trăng sáng đã giúp cho lực lượng Không quân Anh dễ dàng hoạt đông, bây giờ nó lại đem thuận lợi về cho đội phi cơ tuần đêm của Luftwaffe. Những chiếc máy bay bốn động cơ chậm chạp hơn hết, lại chỉ có súng đại bác gắn bên hông để tự vệ, nên sau khi Searby về đến Anh thì 10 chiếc oanh tạc cơ và 240 phi công đã bị hạ trên đất của địch, vì phi cơ tuần đêm hoặc súng phòng không.
Người ta đã biết trước cuộc đột kích ở Peenemunde sẽ đầy nguy hiểm và trả bằng một giá rất đắt. Sự việc xảy ra đã chứng minh điều tiên đoán đó không sai lầm chút nào. Đối với những người còn sống sót trở về, họ vẫn cho đây là cuộc đột kích thành công và họ tán dương tài điều khiển của vị Master Bomber, tức Searby. Huntley Wood, trưởng đoàn 207, về sau đã nói: khó mà biết được đích xác những thành quả cá nhân mà anh đã đạt được vì “ cường độ oanh tạc quá mạnh”. Nhưng anh ta có cảm giác rằng: “ Nhìn bên ngoài, thì mục tiêu đã đạt được một cách tốt đẹp”.
Fitzgerald, sĩ quan hoa tiêu cùng đoàn với Huntley Wood cũng rất lạc quan. Sau khi tường trình những diễn tiến xảy ra trên đầu của mục tiêu, ông ta quả quyết: “ không cần phải viếng Peenemunde một lần nữa”. Có lẽ chỉ trung úy Mac Michelmore, thuộc không đoàn 44, mới làm được một bản tóm tắt đầy đủ nhất về cảm tưởng chung của những phi công đã tham dự cuộc hành quân: “ chúng ta đã dự một buổi tiệc linh đình”.
* * *
3
CROSSBOW
Chính phủ Anh phân tích ngay thành quả của cuộc tấn công. Kết luận của họ khá lạc quan, Thống chế Sir Charles Portal, Tham mưu trưởng Không quân đã ước lượng rằng: công việc đang thực hiện ở Peenemunde sẽ bị đình trệ ít nhất 6 tháng. Đó cũng là quan điểm của những vị chỉ huy Đồng Minh, cho mãi đến khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Ở Peenemunde, tướng Dornberger cũng có cuộc kiểm tra về phần ông. Dưới mắt của một người đầy kinh nghiệm như ông, cuộc tấn công bất thần này quả là một đòn rất nặng. Sau khi nhìn những con đường đầy gạch vụn, những dãy nhà cháy đen trống trải, những đống sườn nhà gãy ngổn ngang, ông ghi nhận: “ Cái chết ở đây tạo nên một sự thu hoạch phong phú”. Nhưng có điều công việc không đến nỗi bị chậm chễ tới 6 tháng, thoáng nhìn, ông phỏng chừng phải mất 6 tuần mới bắt kịp công việc. Von Braun cũng không mệnh hệ nào và chính ông đã bảo toàn được tất cả những đồ án trọng yếu. Một vài nơi quan trọng chưa hề bị hư hại như giản thử, máy thổi, phòng đo. Dornberger viêt: “ Trái với cảm nhận ban đầu, thật là lạ lùng, những tổn thất về vật chất rất nhẹ”.
Chỉ có khu cư xá của 4000 chuyên viên và gia đình thì hoàn toàn đổ nát, còn chăng là một đống gạch vụn mà thôi.
Tuy nhiên, không phải Dornberger đánh giá thấp cuộc không kích. Ông biết rằng còn nhiều liên lụy nữa: tuy người Anh không biết chính xác những việc làm ở Peenemunde, nhưng họ đã hiểu một cách đầy đủ để quyết định phá hủy căn cứ, nhưng một khi chưa đạt được mục tiêu của họ, thì họ còn trở lại oanh tạc nữa.
Vì vậy, Chính phủ đã quyết định không chế tạo hỏa tiễn ở Peenemunde nữa. Các xưởng ráp dây chuyền được di chuyển vào trong núi Harz ở miền Trung nước Đức. Máy thổi siêu thành thì dời về Kochel, trong rặng Alpes. Từ đó về sau, những cuộc phóng hỏa tiễn và cơ sở huấn luyện chuyên viên về hỏa pháo đều đặt ở miền Nam Ba Lan. Đó là vị trí nằm ngoài tầm hoạt động của Phóng pháo cơ địch. Một vài cuộc trắc nghiệm cần thiết sẽ được tiến hành ở Peenemunde. Văn phòng nghiên cứu cũng còn điều hành ở đây. Chỉ có khu gia cư là bỏ hoang luôn, các chuyên viên thì ở rải rác khắp đảo Usedom. Người ta chỉ sửa chữa lại những dãy nhà cần thiết, và những hoạt động chỉ được thực hiện vào ban ngày để tránh khám phá của các phi cơ trinh sát địch và tất cả đều phải ngụy trang. Người ta phải làm sao để cho quân Anh tưởng rằng Peenemunde đã bị tiêu diệt. Sự dàn cảnh này khéo léo đến nỗi suốt 9 tháng liều không hề có một cuộc đột kích nào xảy ra ở Peenemunde.
Nhưng chương trình của Dornberger không phải là dự án duy nhất đang thực hiện bên bờ Baltique. Sở tình báo Anh đã không biết được sự thật về Peenemunde mãi cho đến ngày J và chỉ khi chiến tranh chấm dứt, màn bí mật bao trùm Peenemunde mới được vén lên. Ducan Sandys đã không lầm khi quả quyết rằng đó là căn cứ đầu não để chế tạo những vũ khí mới. Nhưng ở đây không phải chỉ có một mà đến hai trung tâm tự trị khác nhau đang hoạt động.
Ở phía tây Peenemunde, cách căn cứ do Dornberger điều khiển 5 cây số là căn cứ do cơ quan Luftwaffe chỉ huy. Ở đấy người ta chuyên nghiên cứu về những máy bay phản lực, có hoặc không người lái. Loại Me-163 và vài loại tương tự tối tấn hơn các phi cơ Đồng Minh hiện đang có. Tuy nhiên, thành thật mà nói chúng không phải loại vũ khí bí mật. Loại Fi-103 của không quân cũng không phải là loại vũ khí bí mật nốt. Đó chỉ là loại máy bay nhỏ, không người lái, sẽ đi vào lịch sử với cái tên bom bay V1. Căn cứ của loại Fi-103 cũng hoàn toàn thoát khỏi sức tàn phá của cuộc đột kích ngày 17 tháng 8.
Phần đất còn lại của Peenemunde thì do cơ sở thí nghiệm của quân đội chiếm. Ở đó Von Braun và Dornberger đang nghiên cứu một loại vũ khí khác hẳn và phức tạp hơn , loại V2. Đó là hỏa tiễn không cánh, có tầm hoạt động xa. Cơ quan tình báo Anh sẽ mệnh danh nó là “ Big – ben”, còn quần chúng thì biết nó với tên V2. Loại V2 không liên quan gì tới loại V1 cả. Nếu có chăng thì chỉ là: nó nằm ở vị trí thứ 2, trên cùng bảng danh sách các vergentugswaffen( Vũ khí phục thù của Hitler). Hitler mơ rằng danh sách này sẽ dài ra mãi. Chính Goebbels. Tổng trưởng tuyên truyền của ông đã bày đặt ra những danh từ ấy.
Chiếc V1 của Luftwaffe không gì khác hơn là chiếc phi lôi tinh xảo có gắn cánh. Chiếc V2 của quân đội, trái lại thật sự là chiếc phi đạn điều khiển đầu tiên. Là một vũ khí vô tiền khoáng hậu, một vũ khí kinh hoàng.
Trái với chiếc V1, V2 là một vũ khí siêu thanh, khi được phóng đi, nó tiến về mục tiêu một cách im lặng, vô hình và không hề có một sự “ trình diễn” nào cả.
Một cuộc cạnh tranh kịch liệt và nông nổi xảy ra giữa Luftwaffe( Không quân Đức) và Quân đội, đằng nào cũng tán dương công trình của mình về vũ khí bí mật. Reichsmarschall Goering, vị tư lệnh tối cao Không quân đòi quyền ưu tiên cho loại V1, viện lẽ nó có tầm hoạt động gần bằng V2, nó cũng có thể mang một khối thuốc nổ có sức mạnh tương đương V2 bởi vì máy móc của nó rất giản dị. Vả lại mức sản xuất hàng loạt của nó rất rẻ, chỉ bằng 1/10 sự tốn kém của V2. Quan điểm của Goering không hề đả động đến những ưu điểm của V2, tuy nhiên lý luận của ông rất vững
Ngày 26 tháng 5 năm 1943, một “ Ủy ban oanh tạc tầm xa” đã mở phiên họp ở Peenemunde để chọn V1 hoặc V2. Vì vật liệu ngày càng khan hiếm, không đủ chuyên viên đặc biệt, nên nếu chiếc này được hưởng quyền ưu tiên thì chiếc kia phải bị loại. Đây là một ngày đầy hồi hộp của Dornberger, nếu không được chọn thì tất cả chương trình của ông có thể bị tiêu ma lập tức. Nhưng khi trình diễn những thí nghiệm so sánh thì chiếc V1 lại bị trở ngại kỹ thuật. Còn chiếc V2 được phóng đi 2 lần đều được thành công mỹ mãn. Ủy ban quyết định là sản xuất hàng loạt cả 2 loại và nếu có thể thì cùng sử dụng cả 2.
Sở tình báo Anh ko biết gì về những chi tiết trên cho mãi đến mùa thu năm 1943. Nhưng họ cũng hiểu lờ mờ về sự thực hiện của những vũ khí loại V nên cho rằng một cuộc chạy đua, một trận chiến âm thầm bắt đầu. Cuộc tương tranh này còn là điều bí mật đối với quần chúng Anh. Đối với người Nga, người Pháp đang đuổi giặc Đức bằng những vũ khí cổ điển, đối với những viên hoa tiêu ngày ngày đã dội hàng ngàn quả bom lên trên thành phố, lên trên những trung tâm kỹ nghệ của Đức. Chỉ một nhóm người lãnh đạo mới biết nước Đức đang có những loại vũ khí mới, vũ khí của ác mộng. Nếu người Đức tiến tới chỗ sử dụng được những loại vũ khí này một cách đại quy mô thì cuộc chiến đã hoàn toàn biến đổi.
Ducan Sandys đã đoán trúng và được cuộc. Ông giữ chức giám sát về loại hỏa tiễn, nhưng trách nhiệm của ông lại chuyển về lực lượng Không quân(R.A.F) với quyền ưu tiên tuyệt đối.Bây giờ chính những phi công phụ trách việc thu nhập tin tức và tìm những biện pháp đề kháng cần thiết.
Không ai biết đích xác tính chất của sự đe dọa. Có phải đó là một cuộc oanh kích với những hỏa tiễn hay những quả bom bay?hay cả hai?Mức độ chính xác của những phi đạn này ra sao?Cường độ hủy diệt của chúng đến đâu?Bao giờ chúng được sử dụng?với số lượng bao nhiêu? Peenemunde đã bị oanh tạc rồi, vậy có thể nào xác định được vị trí, rồi triệt hạ các cơ sở phóng hỏa tiễn trước ngày J được không? Nếu không, người ta có cách nào để bảo vệ nước Anh và dân chúng thoát khỏi loại vũ khí bí mật này?
Ngày 25 tháng 9 năm 1943, Dr Jones, chỉ huy trưởng ngành tin tức khoa học của quân đội, đang cố gắng trả lời vài vấn đề trong bản báo cáo gửi thủ tướng Winston Churchill:
“ Đã thu nhặt được nhiều tin tức, căn cứ vào những báo cáo cá nhân thường xuyên là mơ hồ, chúng ta có thể đúc kết lại một hình ảnh khá phù hợp để giải thích rằng: Ở Peenemunde, người Đức đã theo đuổi một cuộc nghiên cứu tiến bộ về loại hỏa tiễn có tầm xa. Dĩ nhiên những cuộc thí nghiệm này đã gặp nhiều khó khăn, ngăn trở việc sản xuất. Mặc dầu Hitler đã thúc bách sự hoàn tất và sử dụng hỏa tiễn càng sớm càng tốt, nhưng phải đợi vài tháng nữa mới thực hiện được.
Một tháng sau, ngày 25 tháng 10 năm 1943, Thủ tướng Churchill bày tỏ lo lắng với Tổng thống Roosevelt:
“ Tôi phải thông báo với ngài rằng: trong 6 tháng qua, những dữ kiện do các nguồn tin tới tấp gửi về đều quy định là: Người Đức đang chuẩn bị tấn công Anh Quốc, đặc biệt là Luân Đôn với hỏa tiễn có tầm hoạt động thật xa, mà người ta đoán nặng khoảng 60 tấn. Đó là lý do chúng tôi đã oanh tạc Peenemunde, trung tâm thí nghiệm trọng yếu…
Những nhà bác học đều tham dự vào việc tìm hiểu coi việc chế tạo hỏa tiễn như vậy có thể thực hiện được không. Riêng cá nhân tôi, tôi tin rằng việc ấy có thật. Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với người của các ngài…. và chúng ta cùng làm tất cả những gì có thể làm. Ủy ban chuyên viên theo dõi vấn đề này tin rằng một cuộc tấn công tàn khốc, dù quá sớm và ngắn ngủi sẽ xảy ra vào trung tuần tháng 11. Một cuộc đột kích chính thức sẽ phải diễn ra vào năm tới (1944)…”
Ông Thủ tướng càng lo sợ hơn nữa khi nhận được nguồn tin của các điệp viên Anh hoạt động trên đất Pháp và của các trận kháng chiến Pháp. Họ cho rằng, mặc dù Peenemunde bị oanh kích dữ dội, những kiến trúc kì lạ vẫn tiếp tục xây cất ở Pas de Calais ( đất Pháp). Đó là những “ công trình thuộc loại không thể cắt nghĩa” mà trước đây những tấm không ảnh đã phát giác ra được.
Chúng gồm có 2 loại. Loại “ Large sites” là một công trình kiến trúc dị thường, phần lớn nằm sâu dưới đất, tường Bê tông cốt thép dày 9 thước, loại “ski sites” nhỏ hơn, thấp và dài giống hình những chiếc ski ( guốc dài để trượt tuyết) khổng lồ nằm lật ngửa. Bên cạnh mỗi loại đều dựng 3 dãy nhà hình chữ nhật, nóc bằng, dài chín thước, ngang ba thước rưỡi. Chúng giống như hình một chiếc thang nằm nghiêng chĩa thẳng vào Luân Đôn. “ Large sites” và “ski sites” đều là những xạ trường: điều này ngày nay thiệt là rành rành. Sau, tướng Lewis Lebreton của Không lực Mỹ đã ghi vào nhật ký: “ Chúng được ngụy trang rất khéo, khó mà nhận ra. Chúng tôi phải cố hết sức để giữ bí mật tuyệt đối về tất cả những tin tức liên quan đến những mục tiêu này hầu đừng gây kinh hoàng cho dân chúng. Chính Thủ tướng đã đích thân ra lệnh, chỉ dùng chữ “ mục tiêu quân sự” trong báo chí để chỉ mục tiêu trên, với mục đích giữ điều bí mật kia lại”
Winston Churchill giao cho Sir Stafford Crips, Tổng trưởng Bộ Phát triển Hàng không, việc nghiên cứu tường tận vũ khí bí mật và đề nghị một giải pháp. Ngày 17 tháng 11 năm 1943, Sir Stafford Crips đệ trình Thủ tướng những đúc kết:
“ Theo quan điểm thuần thực nghiệm, thì dường như các ước lượng theo thứ tự như sau:
1- Những quả bom bay lớn
2- Một phi cơ không người lái
3- Những hỏa tiễn nhỏ tầm xa
4- Những hỏa tiễn tầm xa
Trận đột kích của lực lượng R.A.F trên Peenemunde có một giá trị thật lớn, nó đã làm đình trệ những cuộc thí nghiệm vũ khí tấn công có tầm cỡ.
Phải nhìn nhận người Đức đang tận lực hoàn thành những phi đạn tầm xa và những kiến trúc mới không thể cắt nghĩa ở phía Bắc nước Pháp. Đó là những sự vật đáng nghi ngờ, trừ trường hợp chúng ta có thể quy định cho chúng những công dụng khác. Trong những điều kiện này, tôi nghĩ rằng chúng ta phải làm tất cả những gì để chuẩn bị một cách lý hậu quả cuộc tấn công bất thần. Dù không có gì cho phép chúng ta tiên đoán nó sẽ thực hiện khá sớm vào năm tới (1944)…”
Churchill tìm thấy trong bản báo cáo này còn vài điều tối nghĩa.
Khi xem xét những tấm không ảnh chụp ở Peenemunde vào ngày 28 tháng 11 năm 1943. Constance Babington Smith đã phát giác ra “ Bốn vật nhỏ hình chữ thập được đặt phía trong những đường ray nằm nghiêng, thật vậy một chiếc máy bay nhỏ nhỏ đang ở vị trí phóng đi”. Những hoài nghi biến mất dần: “ Những đường ray nghiêng ở Peenemunde phù hợp với những “Ski sites” của Pas de Calais. Ấy là những giàn phóng hướng về Anh Quốc, dùng để bắn đi chiếc bom bay V1. Những dãy nhà giống hình chiếc Ski là những kho tồn trữ. Hình như cuộc tấn công mở đầu bằng máy bay ro bots (không người lái), vì cho tới bấy giờ người ta chưa khám phá một cách đích xác những giàn phóng hỏa tiễn tầm xa. Có thể những “ Large sites” được xây cất để dùng cho mục đích đó. Dù sao thì cũng mới có tám “ Large sites” trong khi giữa tháng chạp đã có đến 69 “Ski sites” theo sự quan sát từ trên không.
Từ tháng 4, đã có kế hoạch Sandys chống lại những vũ khí bí mật Đức Quốc. Nhưng mãi đến tháng chạp, kế hoạch này mới chính thức được phát động với bí danh Crossbow. Đây là ám hiệu dùng để chỉ những hoạt động của liên quân Anh – Mỹ chống lại chương trình của người Đức về vũ khí tầm xa trong mọi giai đoạn, như lúc mới ở trung tâm nghiên cứu, lúc thí nghiệm, lắp ráp các bộ phận lại, lúc xây dựng sàn bắn, lúc di chuyển, lúc hoàn thành và lúc được bắn đi, họ cũng chống lại hỏa tiễn đang bay nữa, một khi nó được phóng lên. Một ủy ban kế hoạch Crossbow được thành lập để đương đầu với vấn đề này. Nhiệm vụ của Ủy ban được coi là rất nghiêm trọng, quan trọng đến nỗi chính Thủ tướng đảm trách việc chủ tọa.
Từ khi những “ căn cứ phóng” bị phi cơ trinh sát và lực lượng kháng chiến pháp nhận ra thì những “ Large sites” và “Ski sites” bị dội bom dữ dội, khi thì do phóng pháo cơ của lực lượng R.A.F ( của Anh), khi thì do Không lực Mỹ (phi đoàn 8 và 9). Đoàn người được lệnh oanh tạc nước Pháp lấy làm ngạc nhiên lắm vì nhiệm vụ của họ là bắn phá nước Đức, nhưng người ta trả lời với họ: đó là những “căn cứ quân sự đặc biệt”. Người ta lo tổ chức việc phòng thủ miền Nam nước Anh bằng hàng rào khí cầu, những đại bác phòng không có gắn radar và những phi cơ săn giặc. Hebert Morrison, Tổng trưởng An ninh lãnh thổ, lại một lần nữa đối diện với vấn đề cấp bách. Chuẩn bị di tản tức tốc 1 triệu dân Luân Đôn. Bộ tham mưu Anh – Mỹ dưới quyền điều khiển của tướng Morgan đã chuẩn bị xong xuôi kế hoạch Overlord ( tức là xâm nhập đất Pháp), bây giờ lại bị đặt trước một viễn ảnh khá phiền phức nữa.
Khoảng tháng 12 năm 1943, bất cứ một người tỉnh trí nào cũng không thể nghĩ đến việc quân Đức có thể chiến thắng. Hai lực lượng Đồng Minh đang đổ bộ từng bước lên bán đảo Ý. Còn người Nga luôn luôn phải đương đầu với lực lượng bộ binh hùng hậu của Đức, cũng đang tận diệt địch quân. Sắp đến lúc phải siết địch theo thế gọng kìm.Gọng thứ 2 sẽ là mặt trận Normandie. Nhưng Morgan nghĩ rằng , làm thế nào để thực hiện kế hoạch Overlord, nếu bất thình lình những hải cảng, những điểm tập trung quân ở miền nam nước Anh bị oanh tạc nặng nề vào mùa xuân?
Các cuộc không kích, nằm trong khuôn khổ Crossbow, càng ngày thâu được nhiều thắng lợi. Hơn 4000 tấn bom đã được trút xuống mục tiêu ở phía Bắc nước pháp vào tháng 3 năm 1944.Nhưng các kiến trúc kỳ lạ ở đó vừa bị tiêu hủy, lại được tái thiết ngay. Cơ quan tình báo Đồng Minh thật không biết địch quân đã xoay xở thế nào.Họ chỉ còn lặp lại những lời đồn đãi khác nhau. Nào là người Đức sắp phóng đi những thùng chứa khổng lồ đựng hơi độc để hủy diệt toàn dân Anh Quốc, nào là họ sắp oanh tạc Luân Đôn bằng những ống nghiệm vĩ đại đầy chất tử thần, gọi là “ Mort Rouge”, nào là những kiến trúc kì dị dọc theo bờ biển Pháp là những nhà máy sinh hàn, chúng sẽ nhả những cụm mây đá lên Anh quốc để làm tê liệt những phóng pháo cơ ở dưới đất, nào là người Đức có những phóng pháo cơ phóng từ Bá Linh đến Nữu Ước. Ít lâu sau, những lời đồn đãi kia hiện nguyên hình chỉ là những điều tưởng tượng. Trừ lời đồn đãi sau cùng về hỏa tiễn phóng từ Bá Linh đến Nữu Ước, vì “ người ta đang nghiên cứu ở Peenemunde một phi đạn liên lục địa, đó là hỏa tiễn A9, tuy nhiên vào cuối năm 1943, nó mới chỉ hiện lên trên bản đồ hình.
Cái không khí đầy giả tưởng và đầy những sự kiện nguy ngập dường như chưa đủ khả năng làm điên đầu những vị chỉ huy Đồng Minh. Một điều bí mật khác lại quấy rầy họ nữa. Họ đã nắm được những tin tức sơ khởi về sự tiến bộ của hỏa tiễn và bom bay, nhưng họ không rõ tất cả những gì mà người Đức thu hoạch được trên lĩnh vực nghiên cứu nguyên tử. Lĩnh vực mà phe Đồng Minh đã tiến khá xa, từ lúc đầu. Tướng Leslie Groves, giám đốc kế hoạch Manhattan(nghiên cứu bom A), tin rằng sắp đến giờ chọc thủng màn bí mật. Ông tổ chức các đoàn nghiên cứu khoa học, trong kế hoạch Alsos, rồi gửi họ sang Ý trước, kế đến là sang những nước còn lại ở Âu châu theo chân quân đội giải phóng(của Đồng Minh)
Trái với thái độ của quần chúng, những nhà bác học ý thức rất rõ ràng về hiểm họa do khoa học hạch tâm của người Đức gây ra. Tưởng tượng một phi đạn tầm xa thuộc loại mới, được gắn thêm đầu đạn nguyên tử, là một cái gì làm mất ngủ tất cả những người Anh đã được biết ít nhiều về tin tức trên. Sự khủng bố cũng không chừa cả những người Mỹ: Ông Samuel Goudsmit, giáo sư vật lý trường Northwestern University, chịu trách nhiệm về khoa học của kế hoạch Alsos, cho biết một số chuyên viên của kế hoạch Manhattan ở đại học Chicago đã lo sợ đến nỗi bắt đầu cho gia đình họ di tản về quê. Ông còn trở lại vấn đề: “ các dụng cụ khoa học đã được bố trí quanh Chicago đã dò chất phóng xạ trong trường hợp quân Đức tấn công”.
Sẽ có việc đình hoãn từ 6 tháng đến 1 năm, trước khi kế hoạch Alsos tiến tới Pháp và Đức, để quyết định coi nỗi lo sợ về bom nguyên tử Đức có đủ căn cứ hay không. Còn loại vũ khí có tầm sát hại rộng lớn thì hiển nhiên là có thật rồi. Sự đe dọa của nó rất rõ ràng, nên những vị chỉ huy Đồng Minh luôn luôn bị ám ảnh, mặc dầu họ đã đoạt hết chiến thắng này đến chiến thắng khác.
Winston Churchill hiểu rằng ông cần phải biết hỏa tiễn hay bom bay có thể tác động gì trong tương lai gần đây vì những đợt không kích theo kế hoạch Crossbow không đủ. Vì vậy, Sở tình báo mới chủ định một công tác gián điệp rất khó khăn. Đó là việc tìm hiểu lý lịch của một trong những nhà bác học ở Peenemunde, bắt cóc và thuyết phục người ấy nói ra tất cả những gì người ấy đã biết trước mặt những đại diện Bộ không quân. Nếu việc này không thực hiện được, thì mục tiêu tối thiểu là chiếm cho được một trong những vũ khí bí mật, tìm cách đưa nó về Anh để phân tích.
Lần này, cơ quan tình báo ưu tú nhất thế giới, cơ quan đã từng có được nhiều “nguồn tin” trong cơ quan Abwehr( cơ quan tình báo quân sự) và ngay cả trong lòng Bộ tổng tham mưu Đức, đã phải chào thua. Việc bố trí An ninh của bọn S.S tại Peenemunde rất chặt chẽ, nên tất cả nỗ lực của họ đều trở nên vô hiệu. Cơ quan tình báo Anh không xác định được chỗ ở, không bắt cóc được một nhà khoa học hay chiếm đoạt được bất cứ một vũ khí mới mẻ nào. Vẻ im lìm bên ngoài của Peenemunde đã khiến cho những người lạc quan nghĩ rằng cuộc đột kích tháng 8 vừa qua đã làm tê liệt hoàn toàn các công trình bí mật. Mãi cho đến gần lễ giáng sinh, một tia sáng mờ nhạt mới xuất hiện trong đêm trường vô vọng.
Trong phân bộ tình báo Cracovie của lực lượng bí mật Ba Lan đã bí mật chuyển về Luân Đôn một nguồn tin ngắn sốt dẻo: những biện pháp an ninh đã được tăng cường tại trung tâm huấn luyện S.S ở Blizna Putskow, cách thủ đô Varsovie 270km. Tất cả dân Ba Lan cư trú trong vùng đều bị trục xuất. Họ đã đặt một đường sắt chạy tới trung tâm và thiết lập một phi trường, nhiều nhà kho, một cơ xưởng. Tất cả đều được ngụy trang và cao xạ phòng không (D.C.A) bảo vệ.
Việc khuếch trương một hoạt động đặc biệt ở một vị trí đất đai tầm thường làm lực lượng kháng chiến Ba Lan chú ý. Họ tiếp tục theo dõi những gì xảy ra ở Blizna Putskow và loan tin đều đặn về Luân Đôn. Cơ quan tình báo đã lưu ý Churchill về một cuộc tấn công vào tháng 1 năm 1944 có thể bằng hỏa tiễn. Tháng giêng đã trôi qua một cách bình thường. Cho đến đầu tháng 3 khi những kế hoạch xâm nhập Normandi sắp hoàn tất, thì một bản phúc trình của người Ba Lan, đã làm cho Bộ tham mưu của Sở tình báo phải một phen xúc động mãnh liệt: một dân kháng chiến có bí danh là “ Makary” đã bạo gan trườn đến đường ray của căn cứ huấn luyện S.S với quan phục tác chiến, gác chung quanh, “ một vật được phủ kín, trông giống như một trái thủy lôi quái dị”.
* * *
Sở tình báo Anh tức khắc nghi rằng “ trái thủy lôi quái dị” kia chính là một hỏa tiễn và Blizna chính là một xạ trường mới. Nhưng những điều nghi ngờ này chỉ được xác nhận trước ngày J một tháng thôi. Căn cứ Blizna nhờ ở xa nên thoát được tầm hoạt động của phóng pháo cơ hạng nặng và của những phi cơ trinh sát. Nó cũng tránh được sự tò mò của lực lượng kháng chiến nhờ có bọn lính tuần S.S Nên Dornberger, Von Braun và những kỹ sư của họ, trong suốt mùa đông 1943-1944 đã làm việc miệt mài cho vũ khí A4( Tổng trưởng Bộ tuyên truyền đã đặt tên nó là V2, sau này quân Đồng Minh gọi nó là “Big – ben”; những người chế tạo ra nó thì chỉ gọi nó là A4). Mặc dù Sở tình báo Anh chưa kịp khám phá ra, nhưng công việc ở Blizna cũng bị đình trệ vì chạm phải những vấn đề ghê gớm.. Những vấn đề này đã chặn đứng A4 đang ở trên đường thực hiện. Một trong những vấn đề trở ngại trên là tai nạn của Von Braun, tai nạn nguy hiểm có thể giết chết người trong phòng thí nghiệm. Ở phòng thí nghiệm Blizna vào khoảng tháng 4 năm 1944, Von Braun đang đứng sau một hầm núp thô sơ bằng gạch dùng để quan sát. Cách ông 300 thước là hỏa tiễn sẵn sàng để phóng đi. Lệnh khai hỏa đã ban, hỏa tiễn vừa cất lên được vài thước thì nổ bùng ra giữa đám khói màu cam. Von Braun nhảy xuống đất, vùi mặt dưới tuyết nằm chịu trận dưới cơn mưa, miểng, lửa.
Dornberger chạy ngay lại hỏi thăm Von Braun và kiểm điểm lại với một thái độ mệt mỏi pha lẫn chán nản. Vô số lý do có thể là nguồn gốc cho cuộc thất bại này. Hơn nữa thất bại này chỉ là một trong trăm ngàn thất bại khác. Từ khi trung tâm thí nghiệm di chuyển về Ba Lan thì bao nhiêu là buồn phiền cứ chồng chất mãi lên. Dornberger ghi nhận: “ những cuộc thí nghiệm cứ tiếp tục thất bại, hết cái này đến cái khác và chúng tôi đứng trước những vấn đề hầu như nan giải”.
Theo chỉ thị của vị chỉ huy, Von Braun lại đi Peenemunde khám phá cho ra lý do của những cuộc thất bại, tại sao khi thí nghiệm ở Peenemunde trên bờ Baltique thì hoàn toàn thành công, nhưng khi làm ở Ba Lan thì chỉ thành công 20%. ? Sauk hi Von Braun đi rồi thì Dornberger vội lên xe của ông để đi dự một phiên họp mới. Không được chậm trễ vì có vài nhân vật quan trọng đến viếng trung tâm Blizna để nhìn thấy tận mắt nơi thực hiện A4, hỏa tiễn đang được quyền ưu tiên tuyệt đối.
Thật khó mà giải thích với những vị quan sát “ tài tử” này ngọn nguồn của phần lớn những thất bại. Tại sao vài hỏa tiễn lại nổ tung lên khi vừa được phóng ra? Hay tại sao chúng lại vỡ toang ra ngay lúc chúng sắp tới được mục tiêu? Không mấy người hiểu được rằng A4 là một công cụ khoa học phức tạp. Thực hiện nó trong thời bình, giữa sự lặng im của một viện nghiên cứu đã là việc khó, huống hồ gì lại thực hiện trong những điều kiện bất lợi hiện tại. Và, tức khắc Dornberger biết ngay nguyên do của thất bại: họ không đủ thì giờ. Người Nga đang tiến đến Smolenks và Kiev. Chừng 2 tháng nữa họ có thể chọc thủng những phòng tuyến đó và xuất hiện ở ngay tầm súng đại bác của Blizna: vài nguồn tin đã quả quyết, lực lượng liên quân Anh – Mỹ sắp vượt qua biển Manche vào mùa xuân hay mùa hè gì đó. Về sau, Dornberger có nói: “ Chính quyền đã quấy rầy chúng tôi, chúng tôi đã phải làm việc ngày đêm, nhưng những người của Tổng hành dinh, người nào cũng vậy, khi ra về đều làm cái bộ mặt dài đến một thước. Tôi cảm thấy quá mệt mỏi để trấn an họ”. Tuy nhiên, Dornberger tin rằng những khó khăn về kỹ thuật có thể giải quyết kịp thời, với điều kiện những người của bàn giấy hãy để yên công việc cho những người đã phó thác cả đời vào công cuộc nghiên cứu hỏa tiến, tự điều chỉnh lấy. Còn họ, họ chỉ là tượng trưng của sự tranh giành bè phái, những bè phái đang sinh sôi nảy nở “nhiều như nấm sau mưa”.
Một trong những người đang tìm cách chen vào việc của Dornberger là Dr, Hans Kammler, người đã gây cho Dornberger nhiều nỗi buồn phiền nhất. Ông ta là một S.S Brigadefuhrer (tương đương với cấp bậc thiếu tướng), giữ chức vụ Giám đốc phân bộ “ kiến trúc” của văn phòng Trung ương lực lượng S.S. Ông ta được giao cho công việc thì sát tất cả các công việc xây cất trong khuôn khổ chương trình thực hiện A4, vào khoảng tháng 9 năm 1943. Chính Himmler đã đề cử ông ta vào vai trò này, trong khi đáng lý ra nó thuộc thẩm quyền của quân đội, và bây giờ thì lực lượng S.S bằng một cửa nhỏ, đã len lỏi vào địa hạt thuộc văn phòng xạ thuật của quân đội, Tướng Dornberger nghi ngờ rằng những người S.S này sẽ không giới hạn tham vọng của họ trong phạm vi kiến trúc mà thôi. Không bao lâu, những nghi ngờ của ông được xác nhận ngay.
* * *
Sau cuộc thí nghiệm thất bại, theo lệnh của Dornberger, Von Braun quay về Peenemunde, tự lái chiếc phi cơ Messerschmit 108 Typhon của ông ta. Thật là một cuộc du ngoạn không hào hứng chút nào. Máy bay chòng chành, dao động không ngừng, mắt khó nhìn mọi vật bên ngoài vì bầu trời đầy tuyết và sương giá. Bẩu trời đen kịt khi Von Braun về tới văn phòng của ông. Đã ba giờ khuya, ông nhờ cô thư ký pha cho ông café và bánh sandwiches mềm, rồi triệu tập tất cả những trưởng toán để họp từ bây giờ cho đến sáng. Sau một phút do dự, cô thư ký đưa cho Von Braun một bức điện mà cô nhận cách đấy 2h Bức điện do Himmler gửi: ông yêu cầu vị giám đốc kỹ thuật của quân đội đến gặp ông tại bộ tham mưu của ông. Von Braun ngạc nhiên và bối rối. Cho mãi đến bây giờ ông luôn luôn tìm cách đứng ngoài cuộc xung đội giữa Quân đội và lực lượng S.S và Đảng ( Quốc Xã). Dù sao, ông vẫn hiểu rõ dẫu Himmler nói là “ước mong” nhưng thật ra ông ta đã ra lệnh. Thế là Von Braun phải gác lại tất cả những việc khẩn cấp phải làm của ông để đến gặp Himmler.
Reichsfuhrer S.S Himmler là Tổng trưởng nội vụ, là Tổng tư lệnh quân đội trừ bị, là chúa trùm cơ quan mật vụ (Gestapo) và tất cả lực lượng cảnh sát Đức, là người có quyền lực nhất của Đức, sau Hitler. Ông ta vừa dẹp bỏ văn phòng Trung ương ở Bá Linh ( Prinz Albrecht Strasses) để thiết lập bộ chỉ huy chiến dịch ở Hochwald ở Đông Phổ, để theo dõi mặt trận ở Miền Đông. Thế là khuya hôm trước vừa đến Peenemunde, sáng hôm sau Von Braun phải đi ngay Hochwald. Ông ta vẫn thắc mắc không hiểu tại sao Himmler muốn nói chuyện với ông. Lực lượng S.S chịu trách nhiệm về vấn đề an ninh ở Peenemunde và Blizna, nhưng họ không có liên hệ gì với trương trình hỏa tiễn, không kể hành động bổ nhiệm Kammler vừa rồi.
Sau này Von Braun thú thật rằng, ông ta khá xúc động khi bước chân vào văn phòng của Himmler Reichsfuhrer S.S ngồi trước cái bàn mộc mạc bằng cây, đang chùi kiếng bằng chiếc khắn tay nhà binh.Tuy nhiên viên kỹ sư này thấy lòng mình bình tĩnh một cách lạ thường khi đối diện với con người có vẻ như “ một ông giáo làng” vậy. Thật khó mà tin những câu chuyện thiên hạ đã kể cho ông nghe về con người này. Nhìn Himmler, ông không cảm thấy sợ sệt hay hãi hùng một chút nào cả. Tuy nhiên, Von Braun hơi ngại ngùng khi vị này nhã nhặn mời ông ngồi và đàm luận. Một câu chuyện mà về sau, Von Braun có nhiều lý do để nhớ lại.
- Tôi rất sung sướng được gặp ông, Dr Von Braun. Rất tiếc đã làm trễ nải công việc của ông. Tôi không vời ông đến đây nếu không phải là vấn đề khẩn cấp. Tôi nghe nói ông gặp nhiều trở ngại về hỏa tiễn A4.
- Thưa ngài, không có gì đáng kể, chỉ vì chúng tôi có ít thì giờ.
- Đó chính là vấn đề, thì giờ ở đây rất đáng kể. Chắc ông cũng biết chiếc A4 bây giờ không còn là trò chơi nữa và tất cả công dân Đức đều nóng lòng chờ đợi thứ khí giới kì diệu này. Về phần ông, nếu tôi nhớ không nhầm thì cái chế độ bàn giấy đã làm phiền ông lắm. Tại sao ông không đến với chúng tôi? Chắc ông cũng biết không có nhân vật nào thân cận để thuyết phục Fuhrer hơn tôi. Tôi hứa sẽ giúp đỡ ông một cách hữu hiệu hơn những gì bọn võ biền đã cho ông. Hiện nay Fuhrer không còn tín nhiệm quân đội nữa.
- Tôi không hề mong ước gì hơn được làm việc dưới quyền tướng Dornberger, thưa ngài. Những chậm chễ ngày nay không phải vì chế độ bàn giấy mà vì những khó khăn kỹ thuật. Có thể coi A4 như một đóa hoa nhỏ bé muốn cho nó nở, phải có ánh sáng mặt trời, phải có một số lượng phân bón vừa đủ và phải có một người làm vườn khéo léo. Chắc ngài không định dùng một vòi lớn đựng phân lỏng để tưới vào nó. Như vậy chỉ làm héo đóa hoa nhỏ của chúng ta mà thôi!
Von Braun cảm thấy an tâm khi nhìn Himmler cười. Nụ cười phảng phất vị chua cay, nhưng ông không thốt một lời khẩn khoản. Hai người lại tiếp tục đàm luận nhạt nhẽo vài phút nữa, rồi Himmler chào vị khách, không tỏ vẻ gì thù hằn, mà bằng một thái độ “ lịch sự kiểu cách”.
Von Braun trở về Peenemunde và vùi đầu vào những vấn đề kỹ thuật. Dần dần những lý do tại sao các hỏa tiễn lại phát nổ khi vừa mới khai hỏa được giải thích rõ và các phúc trình ở Blizna bắt đầu làm phấn khởi tinh thần ông hơn.
Ngày chủ nhật đầu tháng 9 năm 1944, Von Braun cảm thấy cần được nghỉ xả hơi vì đã quá mệt mỏi trong công việc lao tâm tổn trí, nên mới đến dự một buổi tiếp tân ở Zinnowitz, nơi thanh lịch nhất đảo Usedom. Đã có đông người tụ họp ở đó: những vị sĩ quan, vài người dân chính và rất nhiều viên kỹ sư của trung tâm thí nghiệm quân đội. Braun uống một chút rượu, chơi dương cầm rồi cùng họp bọn với 2 cộng sự viên: Klaus Riedel và Helmut Grottrup. Cả ba bắt đầu bàn luận về đời sống của dân ở Peenemunde, sau khi từ dịch ( hay mãn nhiệm) họ sẽ làm gì? Can quan chấm dứt, họ sẽ dùng hỏa tiễn để chinh phục không gian. Von Braun cũng vừa nhận được tin của gia đình. Cha mẹ ông đã tản cư về quê nhà thuộc Haute Silesie để tránh nạn oanh tạc rùng rợn ở Bá Linh. “ Cuộc chiến càng ngày càng bất lợi trong khi hỏa tiễn đã thực hiện được nhiều tiến bộ”. Von Braun tuyên bố như vậy. Ông ta lại còn dám phát biểu ý kiến: “ Dù sao tất cả đều là anh em” . Không có bọn S.S xung quanh và cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Himmler cũng vụt thoát ra khỏi trí nhớ của ông.
* * *
Ngày 15 tháng 3 năm 1944, tướng Dornberger đang nằm trên giường. Ông đang ở trong ngôi nhà mới của ông ở Schwedt, trên bờ sông Oder, cách Peenemunde 60km về phía nam. Ông không ngủ được. Ông nằm triền miên trong những ý nghĩ đen tối, đen như màn đêm giá buốt đang phủ vây ông. Von Braun và những trưởng toán công tác làm ông bối rối. Họ chủ trương rằng những hầm trú ẩn bằng bê tông cố định là phương tiện duy nhất để thực hiện nhanh chóng hỏa tiễn A4. Hỏa tiễn sẽ được di chuyển trên những toa xe đến xạ trường vài phút trước khi được phóng đi. Hitler cũng có vẻ thích dùng đến những hầm công sự phòng thủ vĩ đại này. Nhưng Dornberger đã không dối lòng khi nghĩ rằng: bây giờ quân Đồng Minh đã chế ngự cả không gian. Họ đã hủy diệt phần lớn những xạ trường xây dựng ở miền Bắc nước Pháp. Họ sẽ dò ra và nghiền nát những “ căn cứ phóng” cố định trước khi bê tông có thời gian để khô cứng lại.
Hình như chỉ có một mình Dornberger chủ trương dùng xạ trường di động: A4 đặt trên một mặt bằng, chuyển đến địa điểm đã định, được khai hỏa bởi những toán cơ giới đặc biệt thành lập. Những người này sẽ biến mất trước khi phi cơ địch định được vị trí tấn công. Dù sao những điều trên không phải là mối suy tư duy nhất đã khiến Dornberger mất ngủ.
Hans Kammler đã hăng say lăn mình trong công vụ mới. Phụ trách kiến trúc trong khuôn khổ chương trình A4 rất hợp với kinh nghiệm nghề nghiệp của ông ta, vì ông ta từng điều khiển biết bao nhiêu trại tập trung. Ông được đưa vào những trại đó để sung dụng 20.000 tù nhân ở Mittel Werke, một nhà máy ngầm dưới đất trong quần sơn Harz. Nhà máy này đang sản xuất hàng tháng gần 300 hỏa tiễn. Dĩ nhiên là hầu hết các hỏa tiễn đó đều chế tạo không đúng cách, không còn cái nào có thể dùng được, trừ cái công dụng đề cao cá nhân, Kammler sản xuất được hỏa tiễn!
Tuy nhiên, sự thật rõ ràng ông ta không hề bám vào đó. Người ta thấy ông ta xuất đầu lộ diện ở Blizna mà không cần tự báo trước. Không cần được mời tham dự vào các cuộc thí nghiệm. Ông ta trò chuyện thân mật với các sĩ quan và các kỹ sư không thuộc quyền điều khiển của ông ta. Ông ta lại hay “ chống báng người này người kia”, đó là điều làm Dornberger bất mãn nhất. Có một lần Kammler đã làm Dornberger nổi cơn thịnh nộ khi hắn nói Von Braun là người “ quá trẻ, quá ẫu trĩ, quá ngạo mạn và quá vênh váo để được làm giám đốc kỹ thuật”.
Đối với Dornberger điều này chứng tỏ lực lượng S.S đang chuẩn bị loại bỏ quân đội và chặn đứng chương trình thực hiện A4. Là một kiến trúc sư trong đời sống dân chính, Kammler hầu như không biết tí gì về hỏa tiễn. Đó cũng là trường hợp của tất cả những nhân viên văn phòng xạ thuật S.S.
Thình lình chuông điện thoại reo vang. Vừa nghe tiếng chuông, trong một thoáng, Dornberger cảm thấy bằng lòng vô cùng vì nó sẽ giúp ông cắt được dòng tư tưởng. Nhưng ông chợt sửng sốt khi nghe nói chính Tổng hành dinh của Hitler gọi ông. Họ ra lệnh cho ông phải đến Berchtesgaden ngay, không được trì hoãn để họp với thống chế Keitel, vị chỉ huy O.K.W., Tổng tham mưu trưởng Quân lực.
Tám giờ sáng, Dornberger ra đi. Ông lái xe chạy trên những con đường đóng băng, vì cơn bão tuyết vừa lướt qua. Ông băng ngang thành phố Munich đổ nát còn bốc khói vì trận oanh tạc đêm qua và đến Berchtesgaden khi trời vừa sụp tối. Trong phòng khách sạn, ông gọi điện thoại cho tướng Buhle, Tham mưu trưởng Lục quân. Vị này đến gặp ông ngay để thông báo với ông là Wernher Von Braun và hai kỹ sư Klaus Riedel, Helmut Grottrup đều bị Gestapo bắt. Họ bị kết tội phá hoại chương trình A4 và đang bị giải về lao xá của lực lượng S.S. ở Stettin.
Sau này Dornberger có ghi: “ Tôi không tin ở lỗ tai tôi. Von Braun, người phụ tá đắc lực của tôi, người đã hợp tác chặt chẽ với tôi từ mười năm qua, người mà tôi đã hiểu rõ hơn bất kì ai, người đã dâng hiến đời mình, ngày đêm làm việc không biết mệt cho A4, lại bị tù vì phá hoại A4! Thật là khó tin. Con Riedel, người đã có công thiết lập tất cả nền móng dưới đất với sự nhiệt thành bền bỉ, người rất am tường những mệnh lệnh quân sự, người được coi như một trong những kỹ sư tận tụy nhất của tôi, lại bị bắt về tội phá hoại! Sau hết là Grottrup, vị phụ tá của Dr. Steinhoff đã chịu trách nhiệm về hệ thống hướng dẫn và kiểm soát, cũng bị kết tội phá hoại! Thật là một trò hề rẻ tiền!”
Dornberger muốn điều tra coi với lý do nào người ta đã bắt họ. Nhưng tướng Buhle chỉ đáp với ông rằng: chính thống chế Keitel sẽ cho ông biết vào sáng mai. Ông đã thức trắng đêm để chờ trời sáng. 9h ông đã trình diện Keitel. Vị này tuyên bố: tội trạng của các cộng sự viên của ông rất nặng. Chính đầu óc của họ là đầu dây mối nhợ tất cả. Dornberger kêu lên rằng: Ông xin đảm bảo họ trên chính sinh mạng của ông. Vị Tổng tham mưu trưởng gay gắt đáp:
- Ông có biết các “ bạn đồng nghiệp thân cận của ông” tuyên bố công khai ở Zinnowizt rằng không bao giờ họ có ý tạo chiếc hỏa tiễn thành một loại vũ khí chiến lược, rằng họ không làm cho sự phát triển vũ khí này mà chỉ hành động dưới sự kềm tỏa của ông, hầu có được một số vốn để thực hiện các cuộc thí nghiệm riêng cho chính họ, và chứng nghiệm lại các lý thuyết của họ? Rằng, ngay từ khi bắt đầu, mục tiêu duy nhất của họ là cuộc du hành trong không gian?
Dornberger bẻ lại:
- Dù vậy, tôi vẫn xin chịu trách nhiệm về họ. Ngay chính tôi cũng thường lặp đi lặp lại, khi việc chứng minh được thực hiện ở Peenemunde là A4 chỉ là bước đầu trong kỷ nguyên tân kỹ thuật học mà thôi. Đó là kỷ nguyên của hỏa tiễn. Bao nhiêu lần rồi tôi đã không nói rằng lịch sử của loại người đã đi đên một khúc quanh sao? Chúng tôi mở đường cho các cuộc thám hiểm không gian. Chúng tôi đã chứng tỏ việc thám hiểm này sẽ thực hiện được. Nếu mấy người kia là những kẻ phá hoại vì đã cùng chủ trương như tôi, thì tôi cũng phải bị bắt như họ.
Keitel trả lời:
- Phá hoại, phủ hoại nằm trong sự kiện cái tư tưởng thầm kín của họ hướng về các cuộc du hành trong không gian. Vì vậy nên họ đã không đem tất cả cố gắng và khả năng để biến A4 thành một vũ khí chiến tranh.
Lời buộc tội xuất phát từ đâu? Keitel không biết tí nào về điều này. Dornberger nói tiếp:
- Việc bắt bớ trên là tai biến cho toàn bộ chương trình. Nhất là người ta đã dự liệu các hỏa tiễn phải được sử dụng ngay, trong khi chúng tôi hãy còn chưa điều chỉnh được những khó khăn. Đây thật là một hiểu lầm tai hại, hay là một sự lầm lạc lớn lao.
Keitel nhún vai:
- Tôi không làm gì được. Có Himmler đàng sau! Thật vậy, Reichsfuhrer S.S đã quyết định theo kiểu riêng ai không bắt chước được.
Dornberger đã khẩn khoản với con người được coi là đại diện quyền lực của quân đội. bên bộ tham mưu của Fuhrer để vận động các cộng sự viên của ông ta được thả ra:
- Thưa Thống chế, tôi chính thức lên tiếng với Ngài rằng nếu các việc bắt bớ kia vẫn được duy trì thì nó sẽ gây khó khăn cho việc hoàn tất những công trình hiện tại và lam chậm chễ việc thực hiện hỏa tiễn..
Để giữ vững chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân lực của mình, Keitel đã có một nguyên tắc để hành động. Ấy là né tránh tất cả những cuộc xung đột với S.S và không đệ trình những vấn đề bất lợi với Fuhrer. Vì vậy ông bảo với Dornberger, hãy tự chứng minh là mình hữu lý. Ông nói:
- Tôi không thể thả họ ra nếu không có sự đồng ý của Himmler. Không nên để họ nghi ngờ, dù là một tí thôi, rằng tôi kém nhiệt thành hơn họ và bọn mật vụ trong loại công việc này. Ông cũng hiểu là tôi đang ở tình trạng thế nào rồi. Người ta đang canh chừng tôi. Người ta chỉ chờ tôi lộ một chút sơ hở mà thôi. Nếu tôi phải ra đi, giới sĩ quan sẽ mất liên lạc với Fuhrer, mất cơ hội cuối cùng để gây vài ảnh hưởng. Bây giờ, chỉ còn lại công việc của bọn an ninh và Himmler.
Biết rằng Keitel sẽ không làm được việc gì, Dornberger quyết định một sáng kiến mà vào năm 1944 ít ai dám tình nguyện làm: ông yêu cầu Keitel sắp xếp cho ông được hội kiến với Himmler. Thống chế điện thoại về Bá Linh. Lát sau, ông nhận được trả lời của người tùy viên của Himmler: Reichsfuhrer S.S từ chối gặp Dornberger. Tuy nhiên, Dornberger có thể biện hộ với tướng S.S là Kaltenbrunner, chỉ huy trưởng ngành An ninh.
Trước khi tiễn Dornberger ra về, Keitel đã yêu cầu vị khách hãy coi buổi nói chuyện hôm nay như một cuộc tâm tình thân mật mà thôi. Giận run người, Dornberger bước ra về.
* * *
Đến tháng 3 năm 1944 các Cơ quan Tình báo Anh cũng chưa thể cung cấp cho Thủ tướng Churchill và Ủy ban Crossbow các điều xác nhận về hỏa tiễn có tầm hoạt động xa của Đức. Và không có một tin tức nào cho phép tiên đoán là sẽ đến bao giờ hỏa tiễn mới được sử dụng. Chỉ sau cuộc chiến, người ta mới biết rằng, trong giờ quyết định đưa hỏa tiễn đến xạ trường, thì viên giám đốc kỹ thuật ( Von Braun) của Trung tâm thí nghiệm quân đội ở Peenemunde lại không có mặt để điều hành cho A4. Ngày 13 tháng 3 năm 1944, lúc 3h sáng, 3 nhân viên mật vụ (Gestapo) đã đến gõ cửa ngôi biệt thự bằng gỗ mà Von Braun dùng làm nơi trú ngụ ở Peenemunde. Họ yêu cầu ông sửa soạn và theo họ về Sở cảnh sát ở Stettin. Vị kỹ sư phản đổi mãnh liệt: chắc chắn đây là một sự lầm lẫn…Lịch sự nhưng quả quyết, những người lính này không cần lời cãi lý: họ đã được lệnh và không thể lầm lẫn được, họ phải đưa ông về Stettin, với lý do là để bảo vệ cho ông.
Trong thời gian lưu ngục, Von Braun không bị đe dọa, cũng không hề bị ngược đãi.Nhưng người ta không giải thích cho ông về việc “ bảo vệ” này. Ông nói: tôi đã trải qua 2 tuần lễ hay ho, trong ngục thất S.S ở Stettin, không giới quyền nào cho tôi được giải thích tối thiểu về việc bắt giữ tôi.
Cuối cùng, một ngày nọ, những người lính cảnh vệ tới tìm ông trong nhà giam tối lạnh, và dẫn đến một gian phòng nhỏ, mà ông cứ là phòng luận tội của tòa án. Nhưng ở đây không có quan tòa, không có luật sư, không có cả công chúng. Các quan tòa - nếu đấy là các vị quan tòa – mặc, không phải áo dài của Pháp quan, mà là đồng phục S.S. Các người này kết tội Von Braun đã nói rằng ông không có ý định tạo hỏa tiễn A4 thành một thứ vũ khí, rằng ông chỉ nghĩ đến cuộc du hành trong không gian, rằng ông phàn nàn việc sử dụng hỏa tiễn vào mục đích quân sự. Von Braun nói: “ Đấy là một thái độ trí thức khá phổ biến ở Peenemunde. Thế nên nếu họ không có bằng cớ phạm tội nào khác đổ lên tôi, thì tôi đã yên lặng một cách tương đối. Nhưng đằng này họ đã đi quá xa: họ cho rằng tôi có chiếc phi cơ, sẵn sàng để mang tôi đến Anh quốc với số tài liệu quan trọng về hỏa tiễn. Đây là yếu tố chính để buộc tội mà tôi gặp khó khăn để chứng tỏ sự sai lạc của lời cáo buộc vì tôi có thói quen tự lái chiếc phi cơ vận tải của Chính phủ, dùng để xê dịch trong xứ”.
Trong bản án này, chỉ có một cái gì không đúng sự thật, mà Von Braun, vị kỹ sư quen làm việc trong những điều kiện cụ thể cảm thấy sợ hãi và bối rối. Nếu bọn S.S thật sự quyết tình muốn hạ ông bởi các lý do mà ông quên khuấy đi, thì ông sẽ chứng tỏ sự vô tội của ông như thế nào?
Sau đó là một tình cờ lạ lùng hơn hết trong sự trùng hợp của cuộc xét xử này: Tướng Dornberger bước vào phòng, tiến vào viên chức S.S đang chủ tọa phiên xử và trình lên hắn ta “ một hồ sơ có vẻ chính thức”. Khi vừa đọc qua tài liệu, thì lệnh phóng thích tôi được ban ra và tôi cùng về với Dornberger.
Việc phóng thích bất ngờ này là kết quả 2 tuần cố gắng của Dornberger. Trước hết ông đến văn phòng S.S ở Bá Linh (nơi đây người ta báo cho ông biết có một hồ sơ dày cộp, đầy ắp những bằng cớ, liên quan đến cả chính ông nữa). Sau đó ông đến Sở phản gián của quân đội để rồi đem lại được sự tự do cho Von Braun, Riedel và Grottrup. Dornberger can thiệp: “ Tôi xin thề mà khai rằng, các tội nhân rất cần thiết cho sự thực hiện chương trình A4, và họ phải được tự do trong 3 tháng…”.
Nhưng, việc thắng lợi của Dornberger không có nghĩa là bọn S.S từ bỏ các mục tiêu của họ. Vào thời kỳ này, Himmler(chúa trùm S.S) không đủ mạnh để loại bỏ trọn vẹn quân đội ra khỏi chương trình A4. Nhưng cơ hội sẽ đến, khi nào họ có thể hành động được. Vào tháng 3 năm 1944, có phải luôn luôn là Himmler bị bắt buộc phải trông cậy vào các thủ thuật mà ông quen dùng và thường được thành công. Sau khi Von Braun đã từ chối sự khuyến dụ của bọn S.S, Himmler đã chuẩn bị một hồ sơ, giáng lên đầu vị Giám đốc kỹ thuật của Trung tâm Peenemunde, hầu chứng minh rằng, Von Braun đã tính sai trong quyết định từ chối.
Nhưng, thật rõ ràng là khó tìm cách buộc tội một con người như Von Braun: bản chất trong sạch của ông đã là tất cả chứng cứ. Hơn nữa trong quá khứ ông không dính dáng gì đến chính trị. Các tên mật thám nhà nghề của Gestapo được gửi tới Peenemunde đã hoài công, cho đến một ngày có một viên chức, một nữ nha sĩ nghe được những lời mỉa mai của vị kỹ sư ở Zinnowitz. Trích nguyên văn của lời này, nghe như lời của một kẻ phản nghịch – việc ra hầu của Von Braun trước tòa án S.S không phải chuyện để xác định điều vô tội hay phạm tội của ông: mục đích của họ là để thị uy Von Braun, hầu làm cho ông chấp nhận đem tài năng mình phục vụ cho S.S. Cuộc mưu toan đã thất bại, nhất là nhờ có sự can thiệp tích cực của Dornberger. Nhưng sự kiện trên đã đem lại 3 hậu quả tai hại như sau: tạo một bầu không khí sợ hãi cho những người dân chính đang phục vụ chương trình A4, gây oán hận của Von Braun với bọn Quốc Xã và tất cả các người mật vụ, và sau hết làm chậm trễ việc đem hỏa tiễn A4 lên xạ trường thí nghiệm.
Sở tình báo Anh, hiển nhiên không hay biết gì về các ganh đua rối loạn và phức tạp đã bủa giăng quanh khí giới bí mật của Đức.Họ chỉ biết qua các phúc trình đều đặn của lực lượng kháng chiến Ba Lan là người Đức rất chuyên chú vào các cuộc thí nghiệm ở miền Nam Ba Lan khi các phúc trình này được chuyển từ Blizna về Benson, căn cứ của đơn vị nghiên cứu tài liệu không ảnh cách Blizna 1500km thì nơi này lại ở ngoài tầm hoạt động của phi cơ trình sát. Nhưng, vào tháng 4, không có trường hợp nào hơn là: Sở Tình báo Nga ( P.R.U) đã đặt cơ sở ở San Severo, Ý Đại Lợi. Và các điều kiện thời tiết cũng khá thuận lợi.
Ngày 5 tháng 4 năm 1944 – Von Braun đã trở về với chức vụ của ông – có một chiếc Mosquito cất cánh từ San Severo và chụp hình các vùng khả nghi ở Blizna: các bức ảnh không khám phá được gì ngoài một khoảng rừng thưa rộng lớn và một chỗ che kín dày đặc. Ngày 5 tháng 5, tin tức mới và bức ảnh chụp cũng tương tự như trước nhưng trong lần này, các nhà chuyên môn về giải thích không ảnh khám phá có một sự bất thường: một vật và chỉ một vật thôi. Đấy là chiếc hỏa tiễn, không ngụy trang ở nơi nào cả giống như các hỏa tiễn ở Peenemunde. Bây giờ đã cận đến ngày J, các vị chỉ huy Đồng Minh mới có được bằng chứng là người Đức vẫn tiếp tục phát triển vũ khí bí mật của họ. Trong suốt tháng 5, các giàn phóng được xem như của hỏa tiễn và bom bay bị tấn công dữ dội trong khuôn khổ của kế hoạch Crossbow, mà vị thống chế không quân, Sir Roderic Hill có thể nói rằng phần lớn các giàn phóng trên “ đã bị vô hiệu hóa”. Nhưng ít nhất cũng có một việc đáng ngại: mặc dầu tất cả những cố gắng của các hoa tiêu trinh sát, tât cả những hy sinh và mạng sống của lực lượng kháng chiến Pháp và Ba Lan để cung cấp cho người Anh các tin tức về tân vũ khí và các căn cứ phóng hỏa tiễn, “ chưa có một người nào, trong hàng ngũ Đồng Minh, dù ở cấp bậc nào biết rõ được ( đến cuối mùa xuân năm 1944) việc mà các vũ khí mới của Đức có khả năng làm được”. Không một người nào hết, kể cả con người chịu trách nhiệm nặng nề khi ra lệnh cho các lực lượng kết hợp vượt biển Manche qua tấn công quân Đức: Dwight Eisenhower.