Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nguyễn Lệ Uyên - Bình luận văn học

12 trả lời, 65 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-01 04:01:37hai1957>
Võ Hồng, người luôn nặng lòng với quê hương

Posted: 17/09/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Nguyễn Lệ Uyên




Nửa thế kỷ cầm bút, Võ Hồng viết trên 30 tập truyện ngắn, truyện dài, thơ… không kể đến một số bài báo có tính cách nghiên cứu… Suốt chừng ấy năm với chừng ấy đầu sách, người ta biết nhiều đến ông, báo chí viết nhiều về ông, bạn đọc tìm đến ông như người thân yêu, bởi nhân cách của ông trong cuộc sống và trên những trang giấy. Có những độc giả, sau khi đọc truyện ông bỗng nhớ đến da diết về chốn quê hương cỏ lá, có người “dám cả gan” vào thư viện xé vài trang truyện (ông mô tả một làng quê với viên cốm đầu năm mới) mang về để thấy quê hương thật gần gũi bên mình, để tận hưởng hương vị ngày tết cổ truyền dân tộc như thể mình đang sống trên mảnh đất còn đầy khốn khó này (trường hợp một nữ độc giả ở Úc khoảng năm 87-88). Và có lẽ ông cũng là nhà văn duy nhất sau năm 1975 được nhiều độc giả mến mộ, thư từ, thăm viếng; được các thế hệ sau luôn gọi ông bằng Thầy mỗi khi tiếp xúc. Nhân cách sống và viết của Võ Hồng làm cho độc giả cảm thấy luôn được gần gũi với ông, sách vở của ông để ông trở thành nhà văn của tất cả mọi người. Trong tận cùng sâu thẳm suy nghĩ của độc giả mọi lứa tuổi, ông là người ông, người bác, người chú, người cha, người anh, người thầy đáng kính, vì trải qua bao cuộc bể dâu, nhân cách ông vẫn giữ nguyên vẹn sự kính trọng đó.

Thế hệ trước và sau Võ Hồng đều sống trong một xã hội chập chững tập làm quen với dân chủ, có những ông mặc áo dài khăn đóng, đi guốc mộc che dù đứng ra hô hào cải cách, pha trộn một ít chữ Hán, chữ Tây, chữ Mỹ vừa nhổ toèn toẹt bãi cổ trầu đỏ xuống gầm bàn trước mắt các cử toạ vừa trích cú những Trung Dung, Luận Ngữ, Đại Học … để kết án đám trị vì phong kiến giam hãm sự phát triển chung của đất nước. Rồi những anh Tây học áo vét, cà vạt lên tàu về nước mang theo bao điều lạ hoắc, những chủ nghĩa ngu dân cùng những nôn mửa, buồn chán, xộc xệch máy móc dựng lên một rào chắn kiên cố mà họ gọi là thiên đường… xổ toẹt cả nền văn hoá văn minh đất nước. Tất cả trộn lại thành vòng xoáy cùng với vòng xoáy của chiến tranh nghi ngút khói lửa đẩy người dân đi hết ngẩn ngơ này đến những ê chề, đau khổ khác, không biết số phận sẽ “đi đâu, về đâu”?.

Võ Hồng đã sống trong một bối cảnh bi thương như vậy, nhưng ông đã vượt lên trên để nhìn ngắm quan sát rồi bắt chữ nghĩa cõng chúng ra nơi quang đãng cho mọi người thưởng lãm và tự ngắm lại mình, cảnh sống quanh mình. Ông sống và viết. Viết bằng những kinh nghiệm có thật của cuộc đời có thật, xảy ra chung quanh ông bằng một giọng văn dung dị đến mộc mạc như quê hương ông nghèo khó vậy. Những năm ông đi theo kháng chiến chống Pháp làm công tác bình dân giáo dục, rồi làm hiệu trưởng một trường trung học luôn phải di chuyển, người dân gồng gánh tản cư tránh giặc, ngôi trường kia cũng chạy theo, học trò ôm sách vở, mang ruột nghé gạo chạy theo, ông cũng chạy theo ngôi trường, chạy theo học trò để làm tròn thiên sứ một nhà giáo. Những năm tháng xuôi ngược này, ông cùng sống với những người dân lam lũ, quan sát cảnh đời cơ cực của họ, quan sát những hành động, tìm hiểu suy nghĩ của những trí thức trẻ đi theo kháng chiến. Gom góp, tích lũy làm vốn sống cho mình. Chính với vốn sống phong phú đó, hàng loạt tác phẩm ông viết ra được đón nhận như đón nhận những người thân yêu lưu lạc, nay được trở về nơi chốn bình yên.

Tất cả những điều này được các nhà phê bình văn học lớn nhỏ phân tích mổ xẻ khá là căn kẽ. Chỉ tội thân ông, một ông cụ già trong sáng, hồn nhiên, bỗng sau năm 1975 bị giới phê bình VC gán cho cái vòng kim cô : “nhà văn tiến bộ trong vùng đô thị tạm chiếm”. Đọc những dòng viết tràng giang này, ông chỉ mỉm cười mà không bộc lộ một thái độ nào, coi đó như những lời nhàn đàm trong buổi trà dư tửu hậu, mà thông qua những câu chuyên vui, ông thường dùng từ “bá xàm, bá láp” để chỉ cho những nhận xét, kết luận vội vàng dưới bất kỳ hình thức nào. Ông không quan tâm những gì người ta nói về Võ Hồng theo kiểu cách “bần cố nông đấu tố địa chủ phong kiến”. Cuộc đời của ông là ngòi bút và trang giấy để trả nợ quê hương từng nuôi dưỡng ông. Và ông tiếp tục viết. Viết vì những cảm xúc không thể dằn lòng, viết vì trách nhiệm trước ngòi bút như ông đã từng viết và người đọc đã từng khóc với những trang sách của ông (Một Bông Hồng Cho Cha, Áo Em Cài Hoa Trắng…) chứ không vì cái xảo ngôn “tiến bộ” kia. Những lần được hầu chuyện ông trên căn gác nhỏ bừa bộn sách báo, mền gối, bút mực, chén đũa, bàn ủi, lược gương, kim chỉ… bày la liệt, tứ tung như gánh hàng xén trong phiên chợ quê cuối ngày (ông ngồi trên chiếc ghế đẩu long chân, khách tự tìm chỗ ngồi), bình thản nhắc lại “khu Xóm Mới hồi đó toàn cát, gai bàn chải, lộn xộn mà êm”, hỏi thăm Lò Gốm quê ông còn hay mất. Và rồi ông nhắm mắt lại:“Suốt cuộc đời tôi, chỉ có một tâm niệm duy nhất là trả được Hiếu cho quê hương qua từng trang sách. Tôi còn nợ quá nhiều, tôi sẽ cố gắng ”. Ông nhẫn nại làm công việc đó bằng thứ ngôn ngữ đặc sệt nhà quê của quê hương ông. Lấy bối cảnh cho một cốt truyện, ông cũng đưa vào tên làng tên xóm nơi ông từng sinh ra và lớn lên và rời xa nó; chọn tên một nhân vật, ông cũng tìm những cái tên chơn chất cha mẹ đặt cho bạn bè ông thời thơ ấu. Ông mang tất cả vào những trang sách với niềm vui tột cùng, bởi Nha Trang-Tuy Hoà chỉ cách một ngọn đèo nhưng với ông nó thăm thẳm, khiến tâm can luôn cồn cào, nao nao để hoài nhớ, để thổn thức…

Ta hãy nghe những dòng chữ mang nỗi lòng của ông: “Từ quê tôi ở Tuy Hoà, tôi mang ruột nghé gạo đi ra Tuy An để theo học trường Lương Văn Chánh. Đi bộ bốn mươi cây số, từ nhà ra tới Định Trung, xã An Định, nơi mở trường. Khi ra đi, tiền túi còn đầy, có hồi tôi cao hứng leo ngồi xe ngựa. Lọc cọc… Lọc cọc… Vút!… Trót!… Rầm rầm… Lịch kịch. Đường cái bị phá hoại, đồng bào được huy động đào xới, có đoạn vết đào chạy xiên xiên, sóng sóng nhau, rất ngay ngắn, rất mỹ thuật, như cái xương cá. Có đoạn thì hăng quá, hốt gọn luôn một quãng, phi tang biến mất tiêu, khiến lòng đường còn sâu hơn mặt ruộng xung quanh. Và nước đọng thành ao. Cỏ gấu, cỏ mực, cỏ may, cỏ chỉ… rau chóc, rau sam, móc mèo, móc ó… vội vàng xâm chiếm, xây dựng thành an toàn khu. Và khi hoàng hôn xuống thì biến thành hội trường cho ễnh ương toàn vùng hoà tấu” (Những Ngày Lương Văn Chánh).

Trong truyện ngắn Bên Đập Đồng Cháy (được cả độc giả và giới phê bình thời bấy giờ đánh giá là truyện ngắn đặc sắc nhất, cảm động nhất) mô tả cảnh những người dân quê lam lũ, nghèo khó gồng gánh nhau chạy giặc ở quê ông trong cuộc chiến khốc liệt trước năm 1975, mà nghe chừng như chính ông cùng gồng gánh chạy theo những bà Xự, trùm Đẹt, bà thủ Hai…. Những hoảng loạn của họ chính là nỗi hoảng loạn của bản thân ông: “Đã đến nước cùng rồi, đã đến mức chót rồi, không còn trì hoãn được nữa. Bà con lối xóm đi đâu hết. Vơ vét gạo củi, đùm túm quần áo đi hết. Lùa bò, dắt trâu đi hết. Quẩy lúa gánh đường đi hết. Trên xóm Dương không còn tiếng người nói. Dưới Đồng Dài không có tiếng gà gáy trưa.
Bà Xự ngồi yên trên ngạch cửa, hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má
”.

Cái làng quê thất thần giữa sự sống và cái chết mà ông mô tả, dường như người đọc có thể bất gặp bất kỳ nơi làng quê nào trong cảnh chiến tranh tương tàn trước đây. Nhưng khi đọc đoạn mở đầu của truyện, người đọc dễ nhận ra những giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má của bà Xự, đấy chính là giọt nước mắt tủi cực của ông. Rồi ông lại để cho nhân vật bà Xự thay ông làm cái việc mà ông không thể làm được, luôn có mặc cảm như người quay lưng lại với quê nhà, một thứ mặc cảm luôn dày vò ông mỗi khi có dịp thố lộ với người quen thân: “Tôi không còn đủ sức để chống chọi. Cho tôi an nghỉ. Tôi sẽ không về ở trên xóm, tôi sẽ về ở cái chòi tranh giữ bắp nhỏ trên doi đất này, nơi đó tôi đã gặp chồng tôi, ngày xưa. Tôi sẽ sống lây lất với củ lang củ mì, với rau má rau dền, với hến với ốc. Thôi, bà con đi đi. Chúc bà con mạnh giỏi. Cho tôi ở lại. Không, xin cho tôi ở lại. Tội nghiệp thân tôi. Tôi đã…” (Bên Đập Đồng Cháy).

Trong hầu hết các tác phẩm của mình, Võ Hồng luôn nhắc đến quê hương Phú Yên, lúc thì tan nát khói lửa, khi thì trong trẻo tuổi thơ. Ông luôn hoài nhớ với nhiều tâm trạng khác nhau, như cái cớ để được giải bày, thương nhớ xa gần. Lùi chút xíu về quá khứ thuở thanh bình, thì vùng quê Tuy An, Phú Yên, của ông là những cánh đồng trải dài, nước lấp xấp, là những ngọn núi xanh lơ, là những dòng sông, chiếc thuyền nan cùng cái xóm nghèo nàn với những bà con nghèo đến xác xơ: “Tôi thương yêu cái xóm nhỏ của tôi, con đò bằng nan tre chèo qua lại trên dòng sông, những người láng giềng nghèo nàn. Tôi thương yêu những đứa trẻ chăn bò vốn là bạn chơi đáo, chơi bi…” (Hoa Bươm Bướm).

Ông luôn nghĩ về họ, những số phận hẩm hiu, bị trói buộc trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của thời chiến, và điều đó khiến ông day dứt, bắt ông phải nghĩ về họ, làm được điều gì đó để mọi người bớt cảnh cơ cực. Tuy nhiên ông không phải là triệu phú theo nghĩa thông thường để ra tay cứu vớt, ông chỉ có tấm lòng và triệu phú chữ nghĩa để nghĩ về họ, những thân phận bọt bèo trong guồng máy chiến tranh phi nghĩa, bạo tàn đè nghiến đến xác xơ, vật vờ: “Biết bao nhiêu bà con khác ở quê tôi phân tán đi đến miền nào tôi chưa biết hết. Giống như những mảnh giấy vụn bị gió lốc cuốn đi, có mảnh bay xa, có mảnh tấp gần, trên các chặng đường ra vô lên xuống họ đều hiện diện. Và xơ xác như những mảnh giấy” (Khoảng Mát).

Tại sao nhà văn lại thiết tha với quê hương đến như vậy? Phải chăng là chữ Hiếu phải đền đáp như ông vẫn thường tâm sự, hay đó là một khoảng trống của sự mất mát quá lâu, quá dài để cảm thấy mình là người ngoại cuộc, không có mặt để sẻ chia những đau khổ với đồng bào từng là bạn ông thời nhỏ? Bốn mươi ba năm trước đây, trả lời phỏng vấn của tạp chí Văn, ông đã hé lộ những dằn vặt xót xa không cùng của mình đối với Phú Yên, với Tuy An, An Thạch, với Gò Duối, Đồng Dài, Phong Thăng, Long Hoà, Đồng Miếu… và nhiều nơi khác nữa: “Nếp sống của quê tôi chưa hề được một nhà văn nào nhắc đến… Thế hệ của chúng tôi bị chiến tranh tàn phá quá nhiều, một số lớn đã chết, những nếp sống cũ bị lần lượt xoá đi, thay thế bằng nếp sống mới. Tôi nghĩ rằng nếu tôi dâng trọn cả cuộc đời của tôi để dựng lại cái Dĩ vãng đó cũng vẫn còn chưa đủ… Vậy viết về những kỷ niệm Dĩ vãng tôi nhằm vào việc lấp một cái hố trống. Tôi muốn các thế hệ đàn em có dịp thiết tha gắn bó với quê hương hơn,,,” (tạp chí Văn số 299 ngày 1.9.1972).

Sau năm 1975, có 14 đầu sách của ông được các nhà xuất bản ấn hành, gồm truyện ngắn, truyện thiếu nhi, thơ và tiểu thuyết…, nhưng hầu hết, hoặc ông đã viết trước kia như tiểu thuyết Thiên Đường Ở Trên Cao (đã được tạp chí Văn trích đăng trước 75), hay các tập truyện Vẫy Tay Ngậm Ngùi, Trong Vùng Rêu Im Lặng, Chia Tay Người Bạn Nhỏ… Những truyện viết mới hầu hết là những phác thảo được sửa chữa viết lại, kể cả tập Chúng Tôi Có Mặt (khởi viết từ 1972) và Trầm Tư là gom lại những suy nghĩ nhận xét của ông về các vấn đề quanh cuộc sống thường ngày. Duy nhất chỉ có tập tuỳ bút Một Bông Hồng Cho Cha và tập thơ cho thiếu nhi Hồn Nhiên Tuổi Ngọc là viết mới hoàn toàn. Đây cũng là trường hợp chung của hầu hết các nhà văn Miền Nam còn ở lại trong nước, ngoại trừ một số nhà văn mà Viên Linh gọi là “tập đoàn” là “cán bộ” thì họ xoay ra hướng “mới”, bắt nhịp, thích nghi một cách nhanh chóng với loại văn chương “cung đình” một cách loè loẹt, sàm sỡ, nồng nặc mùi tính đảng, tính nhân dân, tính nịnh hót, chỉ điểm, đấu tố nhau…

Riêng với Võ Hồng thì không. Tuyệt nhiên không hề thấy ông có những trang viết nào “véo von” (chữ ông thường hay dùng để ám chỉ sự xu nịnh) theo kiểu gió chiều nào ngã theo chiều ấy. Ông vẫn bình thản viết, tiếp tục viết như xưa nay vẫn viết. Ông viết vì những tình cảm chân thành, gắn bó; ông viết vì những cảm xúc trước mọi sự, mọi vật xảy ra quanh ông, không vồ vập mời chào, không chớn chở se sua, không xum xoe vẫy cánh vẫy đuôi quanh cây cột cháy đen thui để sờ nắm như người khiếm thị xem voi…

Trong số 14 tác phẩm sau này ông viết bằng nỗi niềm hoài nhớ quê hương, viết về người cha, người thầy, về các em nhỏ, về cây mãng cầu, bụi ớt… mà không mở rộng ra như Hoài Cố Nhân, Vết Hằn Năm Tháng, Con Suối Mùa Xuân, Như Cánh Chim Bay, Người Về Đầu Non… trước 75.
Trong tất cả những đầu sách này (XB sau 75) đều “dễ thương”, bởi người đọc sau khi gấp sách lại, hình như cảm thấy trong truyện có bóng dáng mình, bạn bè, người thân của mình thấp thoáng đâu đó, có mái trường mà hồi xưa, ngày còn trẻ thơ đã thênh thang cắp sách vở đi về ngày hai buổi… và mỉm cười thích thú với những hồi tưởng mang mang… trải bay nhẹ theo cơn gió nồm chiều.

Nhưng trong số ấy, tôi chú ý nhất vẫn là quyển Chúng Tôi Có Mặt, một tập truyện không có bóng dáng con người, con người bị đẩy xuống hàng thứ yếu, bị đẩy qua bên kia chiến lũy, bị lên án… để cho loài vật hiện diện, làm chủ cái tập thể gia súc, gia cầm, chồn, cáo, beo, gấu, niềng niễng, bọ chét, rệp… Ngay Lời Mở Đầu của tập truyện, ông nói:“Tôi viết tập truyện nhỏ này với niềm say mê thích thú chưa từng có. Một mình trên căn gác, suốt ngày tâm hồn đắm vào thế giới loài vật những cọp, những beo, cáo, gấu, chìa vôi, bìm bịp, chèo bẻo… tôi tưởng như chúng đang chạy nhảy và đối thoại quanh tôi. Thật là những giờ phút kỳ diệu.
Viết xong từng đoạn, đọc lại, cười. Như đọc văn của ai. Thích hơn khi viết vê Người, bởi nghĩ rằng viết về Người đã có nhiều ngòi bút khác viết rồi. Đằng này do mình tưởng tượng dựng ra thì hy vọng chúng mang trọn vẹn bản sắc của tâm hồn mình.

Đến tác giả mà thú nhận viết xong đọc lại thấy thích thú, thì chắn chắn độc giả sẽ được tăng lên gấp bội phần niềm thích thú đó sau khi đọc xong? Vậy, trong Chúng Tôi Có Mặt, ông viết, kể lại những gì?

Ngay truyện đầu tiên Cố Vấn Luôn Luôn Có Lý, viết về con bò Cộ ghen bóng gió với vợ. Truyện khởi đầu bằng mẫu đối thoại hết sức duyên dáng: “..Về chuồng mắng vợ lẳng lơ, nó nạt lại:
- Vô duyên. Ghen lảng xẹt!
- Lảng cái chỗ nào? Rõ ràng nó chụp ôm lưng mày.
- Chụp đâu? Ôm đâu? Chỗ đường chật, mạnh ai nấy lấn chớ chụp cái gi?


Tuy được vợ giải thích, nhưng bò Cộ vẫn cất công tìm đủ mọi cách để hạ thằng tình địch bò Bĩnh, bằng cách hỏi ý kiến của các cố vấn Dê, Heo, Cò nhằm thay đổi nhân dạng, lấy bớt cái mình có thay vào bằng những thứ của người chỉ cốt để loại thằng tình địch, nhưng khốn thay, kết quả không đi tới đâu mà còn bị cả tập thể các loài thú khinh bỉ, xa lánh…

Hình ảnh của bò Cộ dường như ta cũng bắt gặp đâu đó trong cuộc đời thật, cuộc đời có những con người luôn nghi ngờ người khác và cũng chẳng tin ở bản thân mình, trở thành thuộc tính yếu đuối trong bản chất của họ.

Trong một truyện khác Tinh Thần Ái Hữu, Võ Hồng mô tả một cảnh tranh luận trong sân nuôi gà vịt, mà đầu dây mối nhợ cũng do anh Cồ Chuối bày ra, đứng ra kêu gọi mọi vật “sống kề cận nhau phải thương yêu nhau”, ý tưởng đó được Cồ Chuối giải thích: “Ý tôi muốn nói là các loài thương yêu nhau. Đừng có gây sự cãi cọ, cắn đá nhau. Chẳng hạn gà đá vịt, bò húc heo, ngỗng mổ bồ câu…”. Cả sân bắt đầu tranh luận khá sôi nổi về tinh thần đoàn kết thương yêu nhau, và mặc dù có khá nhiều ý kiến không mấy thuận thảo với những đề nghị của Cồ Chuối, song cuối cùng cũng lập ra được cái hội “Ái hữu gia súc gia cầm ở số nhà 51 Hồng Bàng” với Ban Chấp Hành gồm Hội trưởng Cồ Chuối, Hội phó Bò, Tổng thư ký Ngỗng. Thừa lúc Hội chưa kịp ra mắt, các con vật tranh thủ giải quyết những mâu thuẫn nội bộ từ rất lâu: gà Tre nhảy đá vào đầu Bò; Dê thò chân đá lén vào hông Thỏ; Vịt cồ xoạc cánh thanh toán thằng vịt Xiêm ve vợ nó; gà Tía trả thù thằng Cồ Chuối ức hiếp mình. Cả sân náo loạn cả lên, xông vào nhau ẩu đả, cắn xé: “Vậy là nhen lên những lò lửa chiến tranh mới: Cãi cọ, chửi bới, giằng xé. Khắp sân rộn rịp. Lũ gà Giò hăng máu cũng sẵn sàng nhớ lại những mối bất hoà cũ, những vụ tranh chấp chưa ngã ngũ… và vậy là những cuộc đọ sức nổ rải rác đó đây. Khắp sân rộn rịp trong không khí đấm đá tưng bừng. Không còn ai đứng ra tuyên bố Hội Ái hữu gia cầm và gia súc ở số 51 Hồng Bàng sẽ tái nhóm vào ngày nào.”

Có thật là Võ Hồng trong tình thế hiện tại, không thể xoay trở, không thể viết theo ý mình, từ những cảm xúc chân thật, những nhìn ngắm khách quan đang diễn ra trước mắt… theo như dòng văn chương ông viết trước đây, nên ngán ngẩm, xoay ra đùa giỡn chơi với trẻ con (Hồn Nhiên Tuổi Ngọc), đùa giỡn với chính mình và nhân thế trong một giới hạn được hạn định, rào đón trước? Dẫu ông nói gì, phân bua những gì gì chăng nữa trong lời tựa đầu sách, và cho dẫu những hàm ý được che giấu dưới lớp giấy mực gây chút ngạc nhiên, chút cười thú vị qua từng cử chỉ, ngôn ngữ của các con vật, với tôi, tôi vẫn thấy ẩn hiện đâu đó nỗi lòng quặn thắt của người cầm bút trong rất nhiều truyện trong tập Chúng Tôi Có Mặt này. Ví như trong truyện Lâu Đài Trên Cát , Võ Hồng mở đầu bằng một kiểu “trích ngang lý lịch” về mối quan hệ giữa Khỉ và Người: “Không còn nhớ rõ vào trường hợp nào và do miệng ai nói mà Khỉ Thọt có ý niệm “Khỉ là Tổ tiên của loài Người”. Từ những ý niệm ban đầu cho đến những suy nghĩ đeo bám, riết thành nỗi ám ảnh khiến Khỉ Thọt phải lục tìm, tra cứu các thư tịch có liên quan tới loài Linh trưởng, cùng với sự giúp đỡ của mụ Két, Khỉ Thọt đã bới tìm được một số thông tin ban đầu, rằng “tụi nó không lót ổ… tụi nó chun vô chun ra những cái hộp có khoét lỗ… Lông nó ít hơn ông… Mình nó nhiều màu, hoặc trên trắng dưới đen, hoặc trên vàng dưới nâu… (tụi nó giống ông) y như đúc khuôn…”. Vậy là Khỉ Thọt quyết tâm lên đường đi tìm lũ cháu chắc là lũ người và cuối cùng cũng tìm thấy chúng, có cả thảy bốn đứa. Thay vì nhận họ hàng của nhau, bốn thằng người kia hết ném đá xua đuổi ông Tổ, rồi lại lấy súng bóp cò: “Khỉ Thọt quay lên nhìn mấy đứa cháu, ngơ ngác không hiểu. Chợt một tiếng “đoàng” nữa. Lũ chồn, thỏ, cáo, hưu đi tiễn cất tiếng la hoảng hốt và co chân chạy rầm rập. Mụ khỉ vợ nhảy thót lên cành cây, tay chân siết cổ, lão gần nghẹt thở. Cái chân bên mặt sao bỗng nhức buốt như xé. Khỉ Thọt nhăn mặt. Đau rát đến nỗi không khóc mà sao nước mắt cứ chảy tuôn thành dòng.
Khỉ Thọt thẫn thờ nhìn bốn loài Người. Nhìn chăm chăm. Rồi chầm chậm quay lưng, bước lảo đảo trên những lối cũ. Những giọt máu rơi lộp độp trên tầng lá, màu đỏ tươi, như đánh dấu con đường trở về…
” Đoàn ông Tổ khỉ Thọt trên đường hành hương tìm lại cội nguồn con cháu thằng Người đã bị lũ con cháu đón tiếp bằng cách thẳng tay xua đuổi, chối từ mối quan hệ có thật trên sách vở!

Đọc đến đoạn cuối của truyện này (LĐTC), bỗng dưng nghe như toàn thân đau nhói bởi những liên tưởng vu vơ (xin lỗi nhà văn Võ Hồng kính mến): Tôi liên tưởng đến lời kêu gọi 10 điểm man trá, đến cái gọi là đoàn kết, hòa hợp, ái hữu điêu ngoa. Tôi nhớ đến những bàn chân chạy thất thần trên bãi cát mặn chát muối, mồ hôi, nước mắt và cả máu; đêm tối ngằn ngặt những tiếng khóc trẻ con bịt kín miệng bằng chiếc nùi giẻ; tiếng súng nổ, tiếng la thất thanh. Chiếc thuyền tách bãi len qua vực lách, nhận chìm trong dòng nước xoáy. Những con thuyền nan lênh đênh, dòng người lênh đênh trôi giạt như phận rong rêu, mong manh không bờ bến, lang thang suốt một kiếp nhân sinh cùng những đắng cay tủi nhục. Những lang thang, tủi nhục này sẽ còn tiếp diễn khi mà những giả trá, xảo ngôn, lộng hành không thiếu chỗ hở để chen chân vào chốn lương thiện, khi mà những kẻ đầu cơ, những tên lừa lọc, lừa đảo vẫn nguỵ biện bằng những vầng hư danh “tổ tiên”, vẫn cúi dựa vào cái xác chết thúi rữa hôi tanh mà bóp hầu bóp họng lũ con cháu anh Khỉ Thọt ngu ngơ, kéo theo “những giọt máu đỏ tươi, như đánh dấu con đường trở về”, cho đến khi nào triệt tiêu hết lũ con cháu theo lý thuyết số học và sự hiển nhiên cơ học thì lũ “con cháu Tổ tiên” mới hài lòng, hả dạ? (Hình như đi hơi xa vấn đề, xin quay trở lại).

Mặc dầu trong lời tựa, ông cất công giải thích rằng: “Những truyện loại này người ta quen gọi là Ngụ ngôn. Với tôi thì không hẳn đúng bởi tôi không có hậu ý dạy điều khôn dại mà chỉ muốn người chơi vui với một thế giới hồn nhiên dễ thương…”. Những dè dặt, rào đón này xem chừng không thừa đối với các nhà văn còn giữ được chút ít trong sạch cho tâm hồn, giữa thời buổi VIẾT LÁCH này, nếu không muốn tự trói tay đi vào chỗ bị bóp méo, bị quy chụp, kết án này nọ… ít hơn là bị mòn xói theo đà trượt dài của những ngoa ngữ hàm hồ… đã từng xảy ra với đám nhà văn “theo đóm ăn tàn”.

Quay sang một cách viết khác, chọn lựa đề tài khác cũng là một thái độ của người cầm bút, để người đọc thấy được anh Hương Quản Bọ Hung hành xử ra sao sau khi toàn thể đám côn trùng khu Đầm Lác được anh Bọ Hung đứng ra bảo vệ, giữ gìn trật tự trị an… : “Thấy rồi! Thấy vì sao rồi. Mùi hôi không phải do chị Bọ Xít mà do những ngón chân của Bọ Hung dính đầy phân heo. Tôi mới lén bò lại gần coi rõ. Ngửi kỹ nữa. Mùi phân heo rõ ràng mà. Do phân heo nơi chân của ổng mới hôi nồng nặc cỡ đó” (Hãy Tìm Cái Xấu Nơi Mình Trước).

Không cố công cào xới, không vạch tìm ám chỉ, nhưng khi khép trang sách lại trên môi vẫn nở nụ cười, nhưng là nụ cười méo xệch với một chút thẫn thờ, một chút nhói đau trên suốt 30 truyện của Võ Hồng trong tập Chúng Tôi Có Mặt, lẫn lộn những tâm sự và tâm trạng chồng chất.

Cảm ơn ông, nhà văn Võ Hồng với tấm lòng nhân ái, những chất phác quê mùa thơm mùi bùn non, cứt trâu, cứt bò ngào ngạt trong cơn mưa lất phất cuối đông, làm ấm lên chút tình người mong manh, để lũ con cháu lang thang này còn nơi chốn mà nhớ về, tưởng đến với chút ngậm ngùi hè xưa nát lòng.

Tháng 8.2005

Nguyễn Lệ Uyên

Trích Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay Tập I (Thư Ấn Quán 2010)

Đăng nhập để trả lời
0


Lê Văn Trung…

Ta Đau Lòng Nhận Ra Hắn Là Ai!



NGUYỄN LỆ UYÊN



Ngày trước, nhiều người kêu lên “thơ Lê Văn Trung hiền, mượt mà”. Tôi cũng đọc thơ anh, phần lớn trên Bách Khoa nhưng chưa khi nào tìm được chất hiền, mượt mà trong đó, ngược lại, ẩn giấu đằng sau là những u uất bất tận, những u uất nhuốm mầm, những u uất tròn bóng, những cảm hoài về quá khứ xa xôi, và tâm cảm dằn xé đến nát lòng. Thơ anh như kẻ cô đơn trong tận cùng nỗi đau, như con thú hoang trong cánh rừng già không bóng thú, muôn năm là kẻ lữ hành cô độc trong cõi nhân sinh, trong chốn tình yêu không lối thoát, luôn là những tìm kiếm trên những con đường đi hoài không đến, phía trước là là mây bụi mịt mờ xa, thấp thoáng phận người heo hắt!

Hơn nửa đời người, anh gom những bài thơ cũ mới trong suốt cuộc hành trình cô đơn để in thành tập. 62 bài thơ trong Cát bụi phận người (*) mỏng và gập ghềnh như cuộc đời anh có nhiều đoạn gãy khúc, xương xẩu từ căn hầm kín, từ những vòng xích, từ những tra vấn bổ xuống đời như cơn lốc xoáy, khiến ngôn ngữ thơ, mỗi khi đọc, vang lên những tiếng nấc thầm.

Anh cũng như nhiều người viết văn, làm thơ khác…luôn ngẩn ngơ tự hỏi “mình là ai”, kiểu lật tung não cốt con người của các triết gia. Họ luôn tra hỏi chính mình, cái cách tra hỏi của Mounier, Camus, của Sartre, cái cách mà hầu hết trí thức Miền Nam thời bấy giờ luôn tự vấn, tra khảo bản thân trước những nhiễu nhương cuộc sống.

Nói theo cách nói của Alain Robbe Grillet thì chức năng của nghệ thuật là mang đến cho thế giới những tra vấn và trả lời. Đó cũng chính là chức năng của những người viết văn làm thơ. Và trong suốt cuộc hành trình dằng dặc “tra khảo” đó, Lê Văn Trung đã nhận ra Hắn là ai?

Hắn là ai mà đau đáu một đời thơ
Dù em nhẫn tâm quên mất nẻo về
Hắn vẫn đứng nhìn dòng sông nước chảy
Giọt nước mắt rơi buồn em có thấy
Ta bỗng đau lòng nhận ra hắn là ai.


Chân dung hắn được vẽ ra liên tục: Hắn ngồi giữa đất trời cười ứa lệ; hắn xác xơ cùng số phận, hắn muộn phiền trăn trở mấy mươi năm; hắn héo khô xơ xác đời tằm; hắn quanh quẩn trong những vòng tìm kiếm; hắn băng qua sa mạc cuộc đời mình.v.v. và v.v. Chân dung hắn hơi kỳ khôi, nhưng coi lại, trên đời này cũng lắm kẻ kỳ khôi đồng hành với hắn, bởi hắn luôn cứ đuổi theo những điều không thật, những cái thế gian cho là trật lất. Điều không thật để thế gian cho là trật lất kia chính là cái Đẹp mà chúng ta mãi kiếm tìm. Nó là hệ luỵ văn chương, hết thế hệ văn chương này qua thế hệ khác, mà chưa ai tìm ra nó hay tự hài lòng khi mới chỉ tìm thấy một phần từ những cảm nghiệm nhân sinh?

Nhưng đó cũng chỉ là cách nói hơi quá, kiểu nói tròn chữ tròn câu; chứ hình như, và thật ra là hắn tự hành xác mình khi một bên kia là Em như một cuộc trốn tìm, để cuối cùng hắn luôn nhận phần thua thiệt, may mà anh chưa thốt lên những lời chua chát, cay đắng như Nguyễn Tất Nhiên: “Nghe nói em vừa thi rớt Luật/ Môi trâm anh tàn héo nụ xa vời/ Mắt công nương thầm kép mộng chân trời/ Xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!/ (Dù sự thật cũng đáng đời em lắm/ Rớt đi Duyên rớt để thương người!)/ Ta - thằng ôm hận Tú Tài đôi/Không biết tìm ai mà kể lể? (Duyên tình con gái Bắc).

Một bên, Em của Nguyễn Tất Nhiên có hình hài, có tên tuổi, địa chỉ, kiêu sa… Còn với Lê Văn Trung, Em là mẫu số chung của chàng thi sĩ nòi tình. Em khuất dạng biến lấp đâu đó. Em ở chân mây. Em ở cuối gềnh. Em sau luỹ tre làng. Em xênh xang đường phố. Người tình thương nhớ trong mất mát không với chụp được của anh đưa đẩy qua lời thơ như những lời cam chịu được phô bày. Phơi bày để vơi đi nỗi buồn, u uất về mối tình lỡ, tình si?

Tôi tìm em đứt mòn hơi
Hai mươi năm dấu chân người mờ phai
Tìm em suốt cuộc tình dài
(…)còn gì sau cuộc phù vân
Lệ tình em ướt đẫm phần mộ tôi

(Phương trời hiu quạnh)

Từ nhận biết Hắn đến mãi mê tìm Em, loay hoay trong vòng xoay không lối ra cuối cùng chính là thận phận làm người:

Hắn đứng giữa một vòng tròn tưởng tượng
Bước chân ra sợ hụt giữa vô cùng
Hắn chăm chút ươm trồng mầm ảo vọng
Có điều gì hiện hữu giữa hư không

(Cát bụi phận người 1)

Những Em kia hoá ra chỉ là cái cớ cho cuộc kiếm tìm phận Tôi. Cái Tôi của anh nhọc nhằn giữa cuộc phù sinh là những tràng dài dấu hỏi. Hết hỏi chính mình đến hỏi đời, hỏi mãi những câu hỏi bẹp nát trí não:

Hai mươi năm mẹ chờ ai
Chiều nay mưa ướt vườn xưa mẹ già

(Mẹ chờ hai mươi năm)

Này ta hỡi tên lính già thất trận
Súng gươm đâu tơi tả cả hồn người?

(Say tỉnh cùng em)

Đi hoài, đi mãi, chạy lung tung, để cuối cùng hắn bắt gặp chính Hắn:

Tôi gặp hắn trong khu nhà vĩnh biệt
Đôi mắt trừng nhìn tận máu xương khô
Hắn không thể tin vào ngày sau hết
Sẽ thoát đi cho khỏi kiếp con người

(Cát bụi phận người 2)

Chấm hết Hắn. Chấm hết Em. Chấm hết thân phận con người.

Và cũng chấm hết mấy dòng ngắn ngủi với thơ Lê Văn Trung.

_____________________

(*) Lê Văn Trung - Cát bụi phận người, nxb Văn Nghệ, SG 12.2006.

___________________________

Tiểu Sử Tác Giả :

Sinh năm 1947. Quê quán Quảng Nam. Hiện sinh sống tại vùng rừng núi heo hút ở một xã nhỏ của tỉnh Đồng Nai.
Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm Qui Nhơn năm 1969. Dạy học tại Quảng Ngãi. Có thơ đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời tập…
Sau năm 1975, Lê Văn Trung cùng gia đình về Huế, sau đó bị tù tội nhiều năm trong các nhà tù ở Việt Nam .
Tập thơ đầu tay Cát bụi phận người và tập mới nhất Tịnh khúc.
Đăng nhập để trả lời
0
Thương Người Không Thể Cầm Trong Tay
Một Chút Kỷ Niệm…



NGUYỄN LỆ UYÊN



Từ Láng Me, Lê Văn Trung gọi điện, e-mail báo tin Từ Thế Mộng qua đời. Dù đã biết trước, nhưng vẫn cứ đột ngột, vẫn chút sững sờ, thảng thốt. Một người bạn văn nữa lại từ biệt chúng ta để bay vào miền vĩnh hằng, vào cõi vô hình tướng, có và không.

Và một chút kỷ niệm nhỏ ùa đến: biết và quen anh khi tôi, Nguyễn Phương Loan và HĐHQ làm tờ Sóng ở Tuy Hoà. Anh đến với chúng tôi không phải chỉ bằng những bài thơ góp sức (mà đều đều gặp nhau mỗi khi có phép, lúc đó anh là sĩ quan Trung đoàn 47 BB đóng tại Phú Yên) cùng với Y Uyên, Đỗ Tiến Đức, Lôi Tam, Phương Tấn, Luân Hoán, Cung Tích Biền… Cuối năm 1970, từ Cần Thơ ghé Phan Rí thăm anh em trước khi về quê ăn Tết. Gặp đủ cả: Tư Đình, Phạm Cao Hoàng, Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Lê Tuân. Lại rủ nhau xuống tận Liên Hương tìm Tô Duy Thạch. Tư Đình đèo tôi bằng chiếc 67 màu đỏ, chỉ cho tôi cầu sông Luỹ trong thơ NBS, chỉ cho tôi chân núi Tà Dôn, nơi Y Uyên ngã xuống, chỉ ngã ba Duồn với công nương Bạch trong thơ Phạm Cao Hoàng. Những đêm thức trắng với rượu khan khoa ngôn vá trời lấp biển bằng chữ nghĩa. Rồi chia tay. Sau đó chiến tranh ngày càng khốc liệt. Thư từ thưa thớt. Đến ngày chia lìa tan tác, ăn bo bo, củ mì, cầm tem phiếu chen lấn để mua kỳ được lạng thịt bầy nhầy về cho con đã hết hơi sức, bảo sao còn nhớ đến ai?

Lần gặp thứ ba là khi tôi và Mang Viên Long vào SG nhờ người đắp lại 2 lỗ tai trên tượng đồng Y Uyên (theo yêu cầu của thân hữu TQBT). Xe đến Phan Thiết đúng 12 giờ khuya. Hai anh em nằm dài dưới chân tượng Trần Hưng Đạo bên sông Cà Ty chờ sáng. 3 rưỡi lội bộ qua đã thấy anh ngồi viết sau ô cửa sổ mở toang. Nghe tiếng tôi gọi cổng, bộ ria cá trê của anh vểnh ngược mừng rỡ, vội vã gọi NBS. Kéo nhau ra biển uống cà phê nhìn mặt trời đỏ ối nhô lên đầu chân biển xanh. Nguyễn Như Mây đọc thơ, anh nói chuyện tếu, đọc thơ tếu. Lại kéo nhau ra bờ sông Cà Ty ăn ốc, uống rượu bông phèng chuyện văn chương và chia tay.

Và lần cuối cùng là sau tết Đinh Hợi này, từ SG ra. Mờ sáng sớm tôi gõ cửa. Anh đón tôi nơi phòng khách. Tôi dìu anh ra ngồi nơi hiên thềm để anh có thể dõi nhìn về hướng biển, để: “Anh xí được/ màu áo đỏ và con mắt em liếc/ em chưa tắm/ anh trăm năm đã đầy”. Da anh ngã sang vàng chứ không còn màu đồng sáng trước kia. Tôi lo sợ vu vơ, thì anh lại trấn an: moi có đứa học trò là vợ docteur Trần Đông A. Toi không lo. Lũy nói không sao. Đấy là anh trấn an tôi, rồi quay sang nói chuyện tiếu lâm, làm như thân thể anh không bị hề hấn gì. Nửa tháng trước khi anh mất, tôi gọi điện nhiều lần, nhưng không ai bắt máy. Tôi biết tình hình chắc xấu lắm rồi… cho đến khi nghe Lê Văn Trung báo tin.

Một đời thơ

Tôi đánh stencil bài thơ anh cho tạp chí Sóng số 2. Hơn nửa thế kỷ. Chỉ còn nhớ lõm bõm câu thơ rất ngộ (thời đó): Ước chi là chiếc cặp da/ để em ôm siết nõn nà tay nương. Cái cách anh dắt nõn nà tay nương vào thơ cứ ám ảnh tôi mãi cho đến lúc đọc Ngà Cánh Tay Nương của anh sau này. Không được gần anh nhiều lắm để hiểu về niềm hạnh phúc gia đình tròn đầy của anh, về tuổi thơ khốn khó của anh, về mối tình đẹp như mơ sau này là nghĩa tào khang tấm mẳn, khi anh dạy học ở B’Lao, trông ngóng đến cuối tuần để về Phan Thiết đứng bên này đường nhìn sang nhà nàng thơ lòng. Cuộc đời và tấm lòng chân thật dường như anh mang cả vào những trang viết của mình. Tập văn Dáng Mẹ Trăm Chiều (nxb Thanh Niên, 6.2003) là những lời thầm thì hiếu nghĩa với người mẹ nghèo khó luôn chăm sóc con cái, mong chúng nên người. Đọc các truyện Tiếng Roi, Dáng Mẹ Trăm Chiều, Tiếng Guốc Đêm… có lẽ anh không dụng công làm văn chương mà, mượn văn chương như một cái cớ để tuôn hết nỗi lòng của mình về người Mẹ anh hằng luôn kính trọng, biết ơn; cùng tuổi thơ cơ cực của mình. Lúc nhận được sách tặng, tôi đọc vèo trong buổi sáng, gọi anh : “Tôi nghĩ, tập văn này có thể xếp vào loại sách quốc văn giáo khoa thư, rất bổ ích cho thế hệ trẻ hôm nay”. Anh cười sảng khoái trong máy “toi cho moi lên mây rồi đó. Moi viết trước hết là để tạ lỗi với mẹ, sau là cho các con moi”. Và suốt cả trang văn, hình bóng người mẹ của anh luôn thấp thoáng trên bóng chữ bời bời cảm xúc; “Má lầm lũi nuôi con, cánh xoè khói súng. Không phải một lần, mà biết bao nhiêu lần như vậy, má lao vào cõi tơi bời đó, không chần chừ, e ngại. Má kiệt sức!... Má như trườn, như lết, chịu tủi, chịu nhục… chỉ để ra Nha Trang thăm em” (sđd, trg 8).

Dường như sự dàn trải nỗi lòng trên trang văn chưa đủ, anh viết tiếp Trường Ca Má Thương Yêu (Hội VN Bình Thuận xb 2005) để tạ ơn tấm lòng người mẹ cao cả, một đời hy sinh cho đàn con: “Má đi củi rừng dương/ Mỗi ngày hai buổi/ Rừng dương xa, lòng má thêm xa” (sđd, trg 44), và: “ Má trên đầu con dập dồn hơi thở rối/ Vuốt tóc con gầy một Má xanh xao/ Má run rẩy trong tay con/ tóc Má đã thưa nhiều/ Ô Má, sao con cầm nước mắt!” (sđd trg 109). Khép lại tập trường ca, anh đặt chỉ một câu, nhưng trang trọng, trên bệ thờ tâm khảm: “Má thương yêu, dẫu mất cũng như còn!”, cũng chỉ vì: “Mẹ xưa vốn ở trên trời/ Thương con mẹ xuống làm người trần gian” .

Trên một trăm trang là một cõi lòng riêng, chân thành nghiêng trọn về người má thương yêu, suốt đời hy sinh vì con. Má của anh luôn sáng rực rỡ trong mắt anh, từ thuở ấu thơ kéo tận mãi bây giờ! Cả ngàn câu thơ ấy là những thầm thì tự vấn, phơi bày cuộc đời đầy nước mắt và niềm hạnh phúc nhỏ bé mà rực rỡ đến vô cùng, như khối mặt trời nhô lên khỏi biển xanh mỗi sáng anh nhìn ngắm.

Và những khổ luỵ

Rất nhiều người giả danh chân tánh nhà tu để lừa phỉnh cõi nhân gian làm điều không đẹp. Riêng Tư Đình, không hề giả danh thánh hiền, Phật Chúa… không vẽ vời, hí ngôn, lộng ngữ trong thơ ca. Ngoài đời thường anh vẫn nói: “Tính moi rất mê gái. Hễ thấy gái đẹp là mắt sáng rỡ lên!”. Điều này anh không hề giấu giếm, mà còn tương ngay trên bìa 4 tập Lẽo Đẽo Một Phương Quỳ (Thư Ấn Quán xb tại Hoa Kỳ 2002): “…Bạn bè thường gọi thân mật là Tư Đình. Tính rất mê gái, thấy gái đẹp là mắt sáng rỡ…”. Có điều, chớ có tin vào những gì Tư Đình tuyên bố. Bởi anh luôn là người chồng, người cha, người anh em rất mẫu mực. Anh không hề có tánh mê gái loại nhân vật truyện tàu Tây Môn Khánh. Thuộc tính mê gái của anh = chiêm ngưỡng vẻ đẹp =&gt; sử dụng ngôn ngữ chấm phá những bức tranh “thuỷ mặc”. Ở đó có biển xanh, áo đỏ, gót chân hồng, mắt biếc, môi thơm cùng những vệt cát hằn lõm dấu chân em…

Vẻ đẹp ấy, trong thơ anh cứ như ca dao, như một bông hoa dại rung rinh bên ao nước ruộng mùa khô. Rất mộc mạc và đơn sơ. Không hoa mỹ, trau chuốt, dụng công. Chẳng hạn:

Nhiều râu cho mặt bớt đù
tóc thưa từ độ mê thu võ vàng
mắt to to đến mơ màng
ai xui em tắm để quàng xiên tôi?

(Và tôi, LĐMPQ, trg 41)

Và biển được anh ngắm nhìn rồi đồng hoá thành Em:

Biển trắng muốt em
hây hây màu gái
tháng giêng đã kề
em bất chợt cong mùa xuân mềm mại

(Bất chợt em. Sđd, trg 42)

Đó mới chỉ là cái nhìn của chàng thi sĩ mê gái, nhìn biển cũng thành em, nhìn tàu lá dừa phơ phất cũng thành suối tóc em “…Quấn một đời anh muộn màng” ?

Anh nhìn đồi cao, biển rộng thảy đều nhấp nhô hình hài thiếu nữ, chỉ thiếu chút nữa là đụng tới Nguyễn Đức Sơn Em chưa đái mà hồn anh đã ướt. Tư Đình không thế. Anh không đẩy ngôn ngữ tới chỗ đỉnh điểm tận cùng cảm xúc; chỉ lưng lửng dẫn đường, cảm nhận lưng lửng, dường như để “khiêu khích” người đọc:

Tà Dôn/ có gái ngủ ngày/ ngực non tơ/ nhú/ xanh đầy áo hoa/ Bồi hồi/ Thương Chánh bay mưa/ mưa không ướt/ ướt nơi vừa/ ướt em! (Quê nhà lẩn thẩn, Sđd, trg 65).

Làm thơ và mê gái là hai mệnh đề song hành trong suốt cuộc nhàn du của Tư Đình: thấy gái là mắt chớp, râu rung để sau đó bật ra ngôn ngữ thơ đến vô cùng hồn nhiên, vô cùng dễ thương, được anh dàn kín khắp tập Thơ Từ Thế Mộng (nxb Văn Nghệ, 2007). Bắt đầu là: Mê làm thơ còn hơn mê gái/ Nên gái hành đeo mãi mấy mươi năm. Và, với cách nói như vậy, với anh Thơ &lt;=&gt; Gái, cả hai cứ hiển hiện lung linh, giang đôi cánh bay tận tít trời cao mây trắng:

Biển đang xanh
bổng dưng vàng rực đến
em bổng dưng vàng
áo mỏng manh
(…)Gót chân son
em qua triền cát lún
sao dấu chân
in tận trái tim mình!

(Biển màu hoa vàng, sđd, trg 37)

Vẻ đẹp thuần khiết non tơ xuân nữ đã đẩy anh lao trượt vào cõi mông huyền giữa hai bờ hư thực, có không. Lao đi mà không hề ngoái lại. Lao hết vào em để giắt vào lưng chiếc gương em:

Bao nhiêu vẻ sáng đều nghiêng hết về phương em
khi anh quay lại bắt gặp mắt em nhìn
anh lận vào lưng
làm chiếc gương soi…

(Chiếc gương soi, sđd, trg 39)

Có lẽ, nói không ngoa rằng: trong Từ thế Mộng có một cõi mộng mị Tư Đình (cũng có thể là ngược lại). Mộng mị đến trong suốt vô lường, vô lượng:

Biết mình trên năm mươi
mới hay già chút ít
(…)Sáng ngửa người trong xanh
bơi một vòng thoả thích
có em và có anh
bơi hoài không biết mệt

(Khúc ca người yêu đời, sđd, trg 80)

Hay là:

Ban mai
Cõng áo hoa cà
ngó em anh ngó sa đà ngó em

(Cõng em ban mai, sđd, trg 125)

Cả đời Tư Đình là cuộc dạo chơi trong vắt em. Mê miết em. Hồn nhiên em. Anh nghiêng cả vì cái đẹp thánh thiện. Đến cả khi anh khóc người bạn trẻ vừa nằm xuống cũng trong veo như thế.

Còn bây giờ, chúng tôi, những người bạn nhỏ còn lại của anh đang khóc anh bằng chímh những câu thơ xưa cua anh ngày nào:

Mấy trùng sâu cách ngươi nằm xuống
Nora còn chùng bông cỏ may
Nora chùng lòng dăm đứa bạn
thương ngươi không thể cầm trong tay

Thương ngươi lũ bạn quây quần lại
Đánh phé vui ràn suốt cả đêm
vui quá nên vui tràn nước mắt
hồn buồn không thấy mộng Y Uyên!

(Thương người không thể cầm trong tay, sđd, trg 16)

Viết những dòng cuối này như để thắp một nén nhang, tưởng nhớ đến anh, một người anh, người bạn thơ khả kính, sống hồn nhiên dung dị.


Sài Gòn mùa Vu Lan, 2007

__________

Tiểu sử tác giả:

Tên thật Nguyễn Đình Tư. Trong giới bạn bè văn nghệ thường gọi là Tư Đình.
Sinh năm 1937 tại Huế, sinh sống tại Phan Thiết.
Là giáo sư trung học, dạy tại Phan Rí, sĩ quan bộ binh Trung Đoàn 47 thuộc SĐ 22/BB .
Mất ngày 13.5.2007 tại Phan Thiết.

Tác phẩm đã xuất bản:

-Lẽo đẽo một phương quỳ
-Dáng mẹ trăm chiều
-Thơ Từ Thế Mộng
-Trường ca má thân yêu


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-01 04:23:47hai1957>
NHÀ THƠ TRẦN HUIỀN ÂN
Có phải cuối đời là… vậy vậy!?


NGUYỄN ĐÔNG NHẬT

12.8.2012



Trần Huiền Ân


Hơn 40 năm từ khi nghe bài thơ Thuyền giấy của ông, được đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn (cũ), vẫn không thể quên nét trong trẻo này: “Bàn tay bé em thả con thuyền giấy / Xếp vụng về góc giấy chực xòe ra / Không có gió nên thuyền trôi rất nhẹ / Em dõi theo và hát khẽ: dô ta”. Bốn mươi năm, những câu thơ như thế không mờ mà lại càng thêm nét đằm thắm, pha một chút bùi ngùi. Bởi vì, thế giới thơ của Trần Huiền Ân là một thế giới đã mất - đang mất, đối với tất cả chúng ta…


Từ bài thơ đầu tiên in báo vào năm 1957 đến nay, đã 55 năm Trần Huiền Ân (T.H.Â) gắn bó cùng chữ nghĩa. Với nhiều thơ và truyện ngắn đã in báo, với hai tập thơ, hai tập truyện ngắn và 11 tác phẩm biên khảo (trong đó, 10 năm liền được giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam), sẽ phải “gọi tên” ông là gì? Trong một số bài viết, ông được gọi là nhà Phú Yên học, không biết có phải do căn cứ vào số lượng đầu sách của ông trong lĩnh vực này? (Nhân thể, xin được nói “lạc đề” về cái chữ “học” này). Cách gọi mang tính chất… cổ vũ như thế (về mặt tình cảm thì có thể tạm chấp nhận) dường như đã dẫn đến sự… lạm phát: Quảng Nam học, Huế học, Hà Nội học, Kontum học…; trong khi về mặt học thuật, có lẽ… “chưa nên” chấp nhận (?). T.H. chỉ nhận mình là một nhà giáo viết văn. Thiết nghĩ, đây là nét đáng quý trong phẩm chất của ông: sự khiêm tốn đúng mực do đã đi qua bao nhiêu trải nghiệm để “thấm tận” những giá trị hư ảo và những giá trị thực của cuộc đời,

***


Trong “Lời nói đầu” của tập sách Đất trời Phú Yên, T.H. cho rằng, ông không viết địa chí theo qui phạm thông thường mà “chỉ ghi lại những gì mình tìm hiểu được… Chuyện gì biết nhiều thì nói nhiều, biết ít thì nói ít”. Nhận xét về tác phẩm biên khảo này, GS.TSKH Tô Ngọc Thanh, chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã nhắc lại lời của cố GS Trần Quốc Vượng vào năm 1996 khi đánh giá công trình: “Trong nghề nghiên cứu của chúng ta, để viết được một, phải biết mười hay hơn thế nữa… Công trình này phải là kết quả của nhiều năm tháng điền dã, đọc tư liệu cổ kim đông tây, của một tư duy tổng hợp liên ngành và chắc chắn không thể thiếu một tình yêu sâu đậm đối với quê hương ruột thịt”. Nhận xét này cũng là kết luận của Hội đồng khoa học khi xét trao giải nhì cho công trình này.

Dù không nhận mình là nhà biên khảo chuyên nghiệp về Phú Yên, nhưng các đoàn làm phim tư liệu và những ai muốn tìm hiểu về địa phương này đều đến gặp ông để nhờ tham vấn và hướng dẫn tiếp cận thực tế. Tất nhiên có nhiều “lai do” đưa T.H. đến với lĩnh vực này, có phần bởi tình cờ, một phần có duyên cớ, nhưng sâu xa, điều này phải xuất phát từ tình yêu, để rồi lại trở thành một phương cách tìm ra lẽ sống cho mình: “Sưu tầm, nghiên cứu là để tìm hiểu xem người xưa sống thế nào, suy nghĩ thế nào”.

Với sáu công trình biên khảo đã xuất bản và 19 tác phẩm nghiên cứu đã hoàn chỉnh (chưa in) về đất và người Phú Yên, hẳn nhiên, T.H. đã xây được nền móng vững chắc cho những người đi sau ông trong lĩnh vực này. Chợt nhớ câu thơ của Đỗ Phủ mô tả công tích của một người có công với bản quán mình: “Vô nhân lập bi kiệt / Duy hữu ấp nhân tri” (Không có ai lập bia để thờ ông ấy / Nhưng người trong làng xóm đều biết cả). Thiết nghĩ, cái từ “ấp nhân” ấy, với trường hợp T.H.Â, không chỉ giới hạn trong tỉnh Phú Yên, mà đã được mở rộng hơn nhiều, trong mối quan hệ giũa những đặc điểm của một địa phương đối với cả nước, trong lĩnh vực địa chí học.

***


Nhưng trước khi đến với công việc nghiên cứu, T.H. viết song song cả thơ và truyện. Từ truyện ngắn đầu tiên có nhan đề Dáng dấp in trên báo Văn Nghệ Tiền Phong, mãi đến 40 năm sau, ông mới in thành tập đầu tiên (Tiếng hát nhân ngư - 1997). Ở tập truyện này, “có những truyện thích mà phải bỏ ra, thay vào những truyện không được như ý”. Trong mảng truyện viết trước năm 1975, ở nhiều truyện, sự kiện và tình tiết lấy bối cảnh là đất và người của huyện miền núi Sơn Hòa thân thương của tác giả. Ở một số truyện ngắn khác có tính chất phê phán thực trạng xã hội miền Nam, (cũng được viết trong giai đoạn này), cách miêu tả hiện thực dưới nhiều góc nhìn khác nhau nhằm tạo nên sự đa dạng được nhà văn chọn làm “chỗ dựa” đã được phát triển hơn nữa trên những trang viết trong khoảng 30 năm trở lại đây. Phải chăng, vì vậy mà nhà thơ Thanh Quế đã cho rằng, ông thích văn xuôi hơn là thơ của T.H.Â. Còn nhà văn tiêu biểu của Phú Yên là Võ Hồng thì nhận xét về văn xuôi của T.H. là “bình dị, viết không hoa hòe tô điểm nên người đọc tin đây là chuyện thật. Kỹ thuật quan sát, ghi nhận, nghệ thuật chọn chữ đặt câu có thể làm mẫu cho học sinh”. Đọc hai tập truyện của ông gửi tặng, tôi nghĩ, ông đã khắc họa đậm nét đôi phần lịch sử, huyền sử, phong tục một thời của tỉnh Phú Yên bằng tình - yêu - điềm - đạm của một nhà thơ.

***

Nhưng tôi vẫn cho rằng, sự nghiệp của ông chính là ở Thơ. Hơn 40 năm từ khi nghe bài thơ Thuyền giấy của ông, được đọc trên đài phát thanh Sài Gòn (cũ), vẫn không thể quên nét trong trẻo này:

Bàn tay bé em thả con thuyền giấy
Xếp vụng về góc giấy chực xòe ra
Không có gió nên thuyền trôi rất nhẹ
Em dõi theo và hát khẽ : dô ta
”.

Bốn mươi năm, những câu thơ như thế không mờ mà lại càng thêm nét đằm thắm, pha một chút bùi ngùi. Bởi vì, thế giới thơ của T.H. là một thế giới đã mất - đang mất, đối với tất cả chúng ta. Những hình ảnh, những con người của Phú Yên trong thơ ông cũng là những gì của một nông thôn Việt đang dần dần lùi xa trong ký ức. Cái vốn hiểu biết về văn hóa nông thôn, tâm hồn mơ - mộng - cổ - điển và ít nhiều nỗi thất vọng của con người trong một đời sống ngày càng hiện đại đã tạo nên cái “hợp chất” để làm thành giọng thơ riêng.

Em nhớ. . . chiều chiều vây quanh giếng Trạm
bàn tay tròn cô gái vuốt dây gàu
chuỗi khúc khích bỗng nhiên dừng - cả đám
ngơ ngác nhìn - vườn rớt chiếc mo cau
”.

Cái thế giới có nhiều tiếng động của quá khứ ấy, giờ đây, còn chăng chỉ là những “giọng Mường xa lạ” giữa xô bồ của mênh mông phố người. Thanh âm trong thơ T.H. là những tiếng vọng của cuộc đời đã được chưng cất qua tâm thức thi sĩ để trở thành một thực thể song trùng: Đời đục - Thơ trong. Như thế, Thơ đã vượt khỏi phạm trù nghệ thuật để trở thành mục tiêu lý tưởng của con người. Lý tưởng ấy chỉ có thể được nhận biết sau khi đã “chạm mặt” với hư vô. Để làm gì, nếu không là để trở lại với phận làm người trong niềm - đau - vinh - dự:

Tiếng vượn hú sầu thấu động tầng mây
Ba tiếng vừa nghe đủ sa nước mắt
”.

Ấy là chỗ “vậy vậy” của cuộc đời:

Và mỗi buổi chiều, chân guốc gỗ
Tay cắp sau lưng dạo chợ tàn
Ơ, cuối cuộc đời là vậy vậy
Dãy lều trống vắng nắng dần tan
”.

Nhưng, đó cũng chính là niềm vui thầm lặng trong nỗi cô đơn muôn đời của thi sĩ. Chính vì hạnh phúc này mà con người đã sống và không ngừng vượt qua chính mình. Cho nên, sẽ không có gì lạ khi hầu hết những nghệ sĩ chân chính, về cuối đời, đều nhận ra rằng, cuộc sống, ở đâu và vào thời nào cũng không khác nhau. Nguyễn Du thì “mua vui cũng được một vài trống canh; Bùi Giáng thì nói “vui thôi mà”; T.H. thì “sống như là để giỡn chơi”… Nhưng tất cả đều có chung một tình yêu: “Cuộc đời ơi hỡi thương nhau lắm”. Đấy là hạnh phúc, đồng thời là sự bất hạnh của thi sĩ, hạng người luôn luôn bất hòa với đời sống trong một mối liên hệ gần - gụi - chia - xa.




NHÀ VĂN TRẦN HUIỀN ÂN:
“Tôi đâu dám cho mình là người nhà quê”


TRẦN NHÃ THUỴ

27.11.2011



Đá trong đời sống văn hoá dân gian ở Phú Yên (NXB Lao Động), Lễ tục vòng đời, Trăm năm trong cõi người ta (NXB Văn Hoá Thông Tin),Văn hoá sông nước Phú YênViệc làm nhà quê tại Phú Yên (NXB ĐH Quốc Gia) là bốn cuốn sách biên khảo của Trần Sĩ Huệ đều do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam thẩm định và tài trợ kinh phí in ấn, vừa ra mắt bạn đọc.

Trần Sĩ Huệ là tên thật của nhà văn Trần Huiền Ân - tên tuổi rất quen thuộc với nhiều thế hệ bạn đọc yêu văn chương.

“Làm người nhà quê khó lắm”

* Thưa ông, Trần Huiền Ân là bút danh ký trên những tác phẩm sáng tác, còn Trần Sĩ Huệ lại ký ở những tác phẩm biên khảo, vì sao có sự “phân khúc” ấy?

- Qua những năm sáng tác, tôi ký Trần Huiền Ân thành quen, nhiều người không biết tên thật của tôi. Ngay ở Trường trung học Bồ Đề Hiếu Xương - nơi tôi dạy học từ năm 1970, mãi sau tháng 4.1975 học sinh mới biết tên thật của tôi là Trần Sĩ Huệ.
Khi viết nghiên cứu, tôi muốn có sự “cân bằng tên tuổi”. Trần Sĩ Huệ (chữ Huệ không có bộ thảo đầu, tức là ơn huệ chứ không phải hoa huệ) là tên cha tôi đặt cho, được viết vào “Bổn trích lục bộ khai sinh”, được thầy giáo khi khen thưởng, khi nhắc nhở, được bạn bè, bà con trong làng xóm gọi hằng ngày, sao tôi có thể bỏ quên.

Sáng tác là viết những điều do tôi nghĩ ra, lắm lúc phịa, nói chữ nghĩa là “hư cấu”, ký cái tên do tôi phịa: Trần Huiền Ân. Nghiên cứu là đi tìm sự thật đang có, đang còn hoặc đã mất, sắp mất, tôi ký tên thật do cha tôi đặt: Trần Sĩ Huệ cũng là để biết ơn cha mẹ, thầy giáo, cụ thể hơn là ba vị thầy suốt đời tôi tôn là “danh sư”: thầy Bùi Bình Hiếu dạy về thơ, thầy Võ Hồng dạy về văn và thầy Bửu Thọ dạy nghị luận cùng lịch sử, địa lý nước nhà. Chính ba vị “danh sư” ấy định hướng cho tôi ngay từ bậc trung học.

* Từng đi dạy học rồi sáng tác, làm nghiên cứu... Nhưng dường như trong sâu thẳm ông tự cho mình là một người nhà quê và suốt đời làm bổn sự của một người nhà quê?

- Tôi đâu dám cho mình là một người nhà quê. Làm người nhà quê khó lắm, hiểu biết mọi chuyện về nhà quê đã khó, có cái tâm của người nhà quê càng khó hơn.
Khi còn trong bụng mẹ, tôi là dân thành thị, chào đời tại thành thị, rồi về nhà quê ở đến năm 20 tuổi mới chính thức giã từ bổn kiểng nhà quê, cứ tưởng là mình sẽ bay cao, bay xa, nói như thi hữu Tường Linh: Thuở ấy ta say mộng hải hồ. Mơ hoa trời lạ, bướm thành đô... Thế nhưng hồn quê, chất quê đã thấm đậm từ thuở ấu thơ, thành ra lúc nào tôi cũng mường tượng những sông suối ruộng đồng núi non, vẫn mang tâm sự con chim xa rừng lúc nào cũng thương cây nhớ cội.
Lẩn thẩn đi tìm từng chi tiết nhỏ như tên nôm na của con chim họa mi là gì? Chim sơn ca là chim chiền chiện, chim hoàng oanh là chim nghệ vàng, hoa hoàng hậu là bông móng bò, ai cũng biết, thế nhưng tên dân gian của con họa mi đâu dễ có kẻ nói cho thông? May mắn là 20 năm sau, chiến tranh chấm dứt, tôi có dịp đi đi về về...

* Viết về việc làm nhà quê tại Phú Yên hẳn ông phải đi nhiều, khảo sát và ghi chép nhiều. Sự tích lũy này bắt đầu từ đâu, thưa ông?

- 20 năm sống ở nhà quê cho tôi một số vốn sống. Mặc dù làm việc chẳng ra sao, tay chân học trò lèo khèo, tôi cũng tập được sơ sơ việc cày đất thổ, làm cỏ thổ, vác củi, biết gánh, biết gùi, biết cưỡi ngựa... Dưới ruộng thì chịu thua, không cày bừa được, không cắt lúa được. Nhưng mà hay hỏi, hay tìm tòi, gần gũi với bà con, nghe họ giảng giải và may mắn là trời cho tôi trí nhớ kha khá, nhớ nhiều, nhớ lâu, hồi nhỏ học bài mau thuộc, cả trang văn xuôi, cả những bài thơ thật dài.
Thời ấy chỉ đi bộ, trên những đoạn đường núi tôi cũng như bao người nhà quê thuộc lòng từng trảng bằng, từng khúc quanh, từng gốc đa, biết chỗ nào có chẹt đá, chỗ nào có hụp đất...
Viết về việc làm nhà quê tất nhiên phải đi nhiều, khảo sát kỹ và ghi chép chi tiết. Về lại làng quê hỏi những chuyện ấy bà con vui vẻ bỏ cả ngày dẫn đi chỗ này chỗ kia nói chuyện, chỉ bảo. Khi viết Chân dung làng Vân Hòa (tác phẩm đang in, sắp xuất bản) tôi về gặp mấy người lớn tuổi, ngồi nhớ lại từng xóm, trong xóm có bao nhiêu nhà, nhà ai, rồi nhớ từng nhà, nhà nào ở chỗ nào, có mấy người, lớn nhỏ, tên gì, thế là tôi có một bảng thống kê dân số thời điểm nào đó rất chính xác.
Khi viết Về một xóm quê: ấp Đá Bàn (tác phẩm đã được nghiệm thu) tôi cũng về tận nơi trò chuyện với bà con. Một bà chị nói: “Ba cái chuyện cây rừng đá núi đó mà cũng viết thành bài văn, bài thơ sao cậu Tám?”.

“Tập tục thay đổi, nghệ thuật triệt tiêu”

* Đến hôm nay, ông thấy có những việc làm nhà quê nào hay phong tục văn hóa nhà quê nào chỉ còn trong sách vở của chính ông?

- Bây giờ cách làm nhà quê có khác, dùng máy cày thì không cần nuôi trâu cả bầy, dùng thuốc trừ cỏ thì khỏi khom lưng dang nắng làm cỏ, rổ rá bằng nhựa bán khắp nơi, giá rẻ, đâu cần tập đan tập lát; đường sá tốt, xe máy, xe tải khắp nơi thì không cần nuôi ngựa cưỡi, ngựa chở; công việc thay đổi dẫn theo tập tục thay đổi, nghệ thuật triệt tiêu, chẳng hạn không còn việc làm cỏ thì không còn điệu hát rập. Nhưng tôi chỉ là người nghiên cứu, ghi chép sự kiện, không đề nghị một biện pháp bảo tồn hay một khuyến cáo nào.

Tôi hiểu rằng xã hội mỗi ngày một tiến hóa, cất chòi đánh bài (bài chòi) thì được mấy người hưởng ứng, tham gia; xem hò khoan trên tivi, trên sân khấu chứ có ai hò dưới sân trăng, chuyện lực điền đứng xếp thành đập lúa như quý vị trong Tự lực văn đoàn tả có còn đâu nữa! Làm sao có thể bắt thanh niên nam nữ ngày nay ưa thích những sinh hoạt ngày xưa? Đọc các sách nghiên cứu phong tục tập quán, may lắm là người ta nói một câu: “Té ra hồi xưa là như vậy... như vậy!”.

* Đọc trong cuốn Văn hóa vật chất nông thôn Phú Yên(Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản năm 2001) của ông thấy nhắc nhiều chuyện xưa thú vị. Chẳng hạn chuyện cái chòi mòng dùng canh trộm cắp, mọi người thay phiên nhau gác, mang lại giấc ngủ ngon cho cả làng... Ngày nay nông thôn không được thanh bình như xưa. Phải chăng có nhiều cái mới hôm nay không hợp với nông thôn?

- Cái chòi mòng có thể nói là tượng trưng cho một hình thức tự quản ở nhà quê. Những tráng đinh hằng đêm đến đó canh gác bảo vệ sự bình yên của dân làng, thời ấy không lo ngại việc có người xa đến tạm trú, không cần trình báo làng xóm vì mỗi chủ gia đình chịu trách nhiệm khi có khách tạm trú. Ai lại đi trình báo, như vậy thiếu tế nhị, bạn bè hết muốn thăm nhau. Chỉ lo ngại cái anh đi ngoài đường ngay hay gian, do đó chỉ cần kiểm soát ngoài đường là đủ.
Ngày xưa, tinh thần cộng đồng ở nông thôn rất cao, những hội hè đình đám cũng vậy. Cả những cuộc đi săn nai, đi thuốc cá, cùng nhau dốc sức cho công việc, không lảng tránh, không nạnh hẹ. Những nơi thờ phụng thần linh, dinh Ông, miếu Bà được tôn trọng. Người dân nông thôn hay nói: Nhờ ơn đất nước/xứ sở/ông bà... Đất nước là Tổ quốc, quốc gia, xứ sở là địa phương, làng xóm, ông bà là tổ tiên... mỗi con người sống dưới sự bảo trợ và có nghĩa vụ với đất nước/xứ sở/ông bà.

* Được biết khi làm biên khảo, không chỉ một mình ông mà cả nhà cùng... xúm vào làm. Phải chăng mọi người trong nhà đều thích công việc này?

- Đúng là vậy. Gia đình tôi có nếp quen là ai làm gì cả nhà đều biết và cùng làm cho vui. Trong các con thì con út thường đi với tôi, làm tài xế và nhiếp ảnh vì ở gần. Hai cha con ra Gành Đỏ tìm hiểu nghề làm mắm, ra Trung Trinh tìm hiểu nghề làm muối, ra Hòn Nần giữa vịnh Cù Mông tìm dấu vết miếu Biểu Trung. Tư liệu về nông nghiệp, thủy lợi, giao thông do con gái và con rể cung cấp.
Lúc tôi đi làm công trình “Chợ ở Phú Yên” có vợ tôi cùng đi khắp các chợ trong tỉnh. Đến nơi vợ tôi hỏi chuyện người mua, kẻ bán để tôi ghi chép, có khi chụp ảnh, nhiều chuyện mình không phải là phụ nữ, không biết gợi ý, nếu không có vợ tôi thì thành thiếu sót. Hoặc là làm đủ loại mắm, rồi múc vào từng đĩa, thêm rau, thêm cà... (thức ăn của “bữa cơm rau mắm”) để tôi chụp ảnh minh họa công trình “Chất biển trong văn hóa ẩm thực”. Cũng chịu khó lên tận dấu tích đồn Trà Kê nơi huyện miền núi.
Năm ngoái tôi viết về dây rừng, vợ tôi cũng góp nhiều công, nay đang viết về nghề đan lát, vợ chồng già lại về quê tìm hiểu từ cách chặt tre, chẻ nan đến các kiểu đan từ long mốt đến long năm. Cũng vui.

* Xin cảm ơn ông.

Theo Tuổi Trẻ cuối tuần

Đăng nhập để trả lời
0
Trần Huiền Ân và 3 mối duyên văn nghệ



Liên tục trong 10 năm qua, nhà văn – nhà nghiên cứu Trần Huiền Ân đều đoạt giải thưởng hàng năm của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, mới đây nhất là công trình nghiên cứu Văn hóa trồng trọt ở vùng thôn quê Phú Yên vừa được trao giải thưởng năm 2003. Thanh Niên có cuộc trò chuyện với ông nhân sự kiện này.

- Để tự giới thiệu đôi nét về mình, ông sẽ nói gì?

- Tôi sinh ngày 15/7/1937 (Đinh Sửu), quê quán làng Vân Hòa, tổng Sơn Xuân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Xuất thân từ một gia đình nhà nho nông thôn cuối thời, theo nghề dạy học gần 20 năm. Trước 1975 có thơ văn đăng trên một số báo chí Sài Gòn. Sau 1975 từng phải làm rất nhiều việc khác nhau để sống và sáng tác thơ văn, nghiên cứu văn hóa, lịch sử… Hiện nay là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Yên, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản : Thuyền giấy (tập thơ, 1967); Năm năm dòng sông thơ (tập thơ, 1973); Phú Yên, dọc đường…ca dao (biên khảo, Sở VHTT Phú Yên, 1995); Tiếng hát nhân ngư (tập truyện ngắn, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1997); Lời trên lá (tập thơ, NXB Trẻ, 1997); Một nửa chân trời (truyện, NXB Trẻ 1997); Văn hóa vật chất nông thôn Phú Yên (biên khảo, Hội VNDG VN,2001); Mùa hè quê ngoại (truyện, NXB Trẻ 2002); Khói của ngày xưa (tập truyện ngắn, Hội LHVHNT Phú Yên, 2003); Huyền thoại mở đất (tập truyện ngắn, NXB Trẻ 2003); Phú Yên miền đất ước vọng (biên khảo, NXB Trẻ, 2004).

- Những tác phẩm đầu tiên của ông đã ra đời như thế nào?

- 3 tác phẩm đầu tay của tôi đều đăng ở tuần báo Văn nghệ Tiền phong năm 1957. Nhận được bài của tôi họ nhắn trên hộp thư là sẽ đăng và đề nghị gửi tiếp. Khi đã có 5-6 truyện họ đăng liên tiếp trong 5-6 tuần, nhờ vậy tạo được một ấn tượng, độc giả biết đến mình nhanh hơn. Sau này cộng tác với tạp chí Bách Khoa, tôi quen được nhiều bạn văn nghệ, kể cả những người lớn tuổi và có uy tín. Hồi ấy tôi thuộc loại trẻ, cả tuổi đời lẫn tuổi văn. Năm 1960 (23 tuổi), sau 3 năm dạy học tôi cộng tác với các nhà giáo viết phần học thuộc lòng cho sách giáo khoa 5 lớp bậc tiểu học: Quốc văn toàn tập, Việt ngữ tân thư. Năm 1963 tham gia soạn bộ Tân Việt văn. Nhiều người cứ nghĩ phải “già” mới soạn được sách giáo khoa, tôi cho là không đúng.

10 năm sau khi có thơ đăng báo tôi mới in Thuyền giấy, tập thơ này bị chế độ Sài Gòn kiểm duyệt cắt bỏ nhiều đoạn dài, thành ra có những bài rất ngô nghê. 40 năm sau khi có truyện đăng báo tôi mới in tập truyện Tiếng hát nhân ngư. Cuốn này thì có những truyện mình thích mà phải bỏ ra, thay vào những truyện không được như ý...

- Về công trình mới đoạt giải năm 2003 của ông, Văn hóa trồng trọt ở vùng nông thôn Phú Yên...

- Đây là phần đầu trong một công trình tương đối dài hơi mang tên Việc làm nhà quê ở Phú Yên. Việc làm nhà quê không phải chỉ là làm ruộng. Làm ruộng chỉ là một phần của làm nông và làm nông chỉ là một phần của làm nhà quê. Làm nhà quê là bức tranh "Canh Mục Ngư Tiều" theo cách gọi của người xưa. Tôi chia "Việc làm nhà quê..." ra nhiều tập và đã hoàn thành 2 phần đầu: Văn hóa trồng trọt... là phần Canh, Văn hóa chăn nuôi... là phần Mục. Năm 2004 tôi sẽ tiếp tục hoàn thành phần Ngư và Tiều. Còn cuốn sách mới của tôi mà NXB Trẻ vừa cho ra mắt mang tựa Phú Yên miền đất ước vọng là để nhắc lại cái ước vọng của Chúa Nguyễn Hoàng khi mở mang bờ cõi đến đây và đặt tên cho vùng đất mới này.

- Thơ, văn xuôi, sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian – ba mối duyên tình ấy có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời cầm bút của ông?

- Tôi làm thơ và viết văn đồng thời, về sau mới sưu tầm nghiên cứu - ban đầu là để giải quyết những truyện có liên quan đến dân gian, lịch sử rồi thấy hứng thú hơn khi đi sâu vào ngành này. Chất dân gian và lịch sử làm cho truyện huyền ảo hơn, nó giúp tôi giải tỏa những bế tắc không giải quyết được bằng sự đời thường tình. Chất thơ, chất truyện thì làm cho văn sưu tầm nghiên cứu mượt hơn, bớt khô khan. Làm thơ thường là nói lên tâm sự của mình, những vui buồn, thương ghét, bâng khuâng cám cảnh của mình trước bao biến thiên. Viết truyện là nói chuyện thiên hạ, chuyện cuộc đời muôn vẻ muôn mặt, cố gắng vẽ lại bức tranh xã hội. Và sưu tầm nghiên cứu là tìm hiểu xem người xưa sống thế nào, suy nghĩ thế nào. Mỗi bên mỗi vẻ, bổ sung cho nhau, khiến cho sự hướng nội và hướng ngoại trong lòng ta được đầy đủ hơn.

- Ông có đọc các tác giả hiện nay? Các cây bút trẻ có tạo cho ông ấn tượng gì không?

- Tôi không được đọc đều và nhiều nhưng vẫn có đọc. Thấy có tác giả viết rất hay, đọc rất thích vì hợp với suy nghĩ của mình. Các tác giả trẻ có những suy nghĩ rất mới, có cách nhìn đời lạc quan mà tôi không có. Tôi thuộc lớp già, ngựa nản chân bon, không còn thấy ở cuộc đời bao nhiêu hứng thú. Tôi phục họ. Tuy nhiên đáng tiếc có tác giả trẻ sớm huênh hoang, viết không đúng ngữ pháp, dùng chữ bừa bãi, sính dùng chữ Pháp chữ Anh mà dùng sai. Nhiều tác giả trẻ sớm bị sáo mòn, đọc một truyện thì hay, những cái sau na ná như cái trước, từ ngữ mượt mà, câu văn chải chuốt nhưng sáo rỗng !

- Hoạt động sáng tác ở một tỉnh lẻ, xa các trung tâm lớn của cả nước theo ông có những khó khăn, thuận lợi gì?

- Tỉnh nhỏ chớ sao lại là tỉnh lẻ? Tôi cũng thấy sống xa các trung tâm lớn của đất nước bất tiện đủ thứ. Ở tỉnh nhỏ ta không bắt kịp các thông tin mới, bạn bè cũng chậm chạp, thiếu thời sự thì mất luôn sự hoạt động năng nổ. Ở tỉnh nhỏ dễ bị người có quyền chức, kể cả quyền chức văn nghệ ăn hiếp. Nhưng bù lại mình không bị cuốn hút theo thời sự, cách xa được những tranh chấp này nọ, lòng thanh thản hơn. Truyện của tôi viết không theo sát thời sự, không hẳn là chuyện của người hôm nay nên cũng không bị ảnh hưởng nhiều. Viết, gửi… đăng được thì tốt, không thì cũng không sao. Không có điều kiện để chạy sô nên không bị việc chạy sô làm ảnh hưởng. Ở chỗ nào cũng có cái tiện và bất tiện, ăn thua là mình thích nghi được.

- Xin cám ơn ông.

Hà Phan(thực hiện)

(Theo Thanh Niên)

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-06 04:58:23hai1957>


]Nhà văn Trần Huiền Ân

Tôi là nhà giáo viết văn




AT - Nhưng nhắc đến Trần Huiền Trân thì phải nói đến văn chương và nghiên cứu văn hóa dân gian. Hai lĩnh vực chữ nghĩa này mang đến cho đời ông nhiều phút ấm lòng nhưng cũng đôi phen "bực bội". Ông trò chuyện cùng bạn đọc Áo Trắng.

* Đầu tiên xin ông cho biết đôi chút về bút danh của mình, tại sao là Trần Huiền Ân "i" mà không phải "y" trong khi tên thật ông là Trần Sĩ Huệ, tên cụ thân sinh là Trần Huyền Đoan?

- Bây giờ gọi là bút danh. Thời trước gọi là bút hiệu. Những người thuộc gia đình Nho học thường có thêm tên tự và tên hiệu. Một trong những cách đặt các tên này là có sự liên hệ với tên chính, bằng một câu sách chẳng hạn. Như bút hiệu Quán Chi của ông Đào Trinh Nhất do câu Ngô đạo nhất dĩ quán chi. Chữ Huệ trong tên tôi không có bộ thảo đầu, không phải hoa huệ mà là ơn huệ.

Đọc câu Trí huệ chi sĩ thị huyền ân dã (trí huệ của kẻ sĩ có được là nhờ ơn mầu nhiệm vậy) tôi nghĩ phải có một ơn mầu nhiệm ban cho chừng nào, ta mới có một trí huệ chừng ấy. Dùng bút hiệu này để nói lên lòng tôn kính với một đấng vô minh tôi chưa được biết.

Thuở bắt đầu quốc ngữ, người ta đánh giá rằng y = 2i, y đọc là i Grec (Grec = Hi Lạp). Y nằm ở vị trí cuối trong bảng chữ cái, chúng tôi thường đọc là i cà-rết, diễu thành i cà-lết. Y có giá trị 2i nên dùng ở các âm về cuối như hay, tay, huy, tuy... để phân biệt với hai, tai, hui, tui... Tác giả viết tên ông là Huình Tịnh Của, dùng i trong các chữ huình, huiền, tuiền... Sau này, Nguyễn Hữu Ngư với bút hiệu Nguiễn Ngu Í đồng tình với chính tả như trên và có thư đề nghị bộ trưởng quốc gia giáo dục đương thời. Nguyễn Nho Bửu cũng dùng i trong bút hiệu Nguiễn Nho Sa Mạc.

Nói thêm là Huình Tịnh Của viết quấc âm thay vì quốc âm, vì người miền Nam viết quốc mà vẫn nói là quấc, khi đọc thì đôi khi mới đọc quốc. Chi mà rắc rối vậy!

* Được biết ông từng là nhà giáo, vậy nên gọi ông là nhà giáo viết văn hay nhà văn đi "gõ đầu trẻ”? Giữa hai nghề và nghiệp này, ông cân bằng ra sao?

- Dạy học là nghề, viết văn là nghiệp, vậy có thể nói tôi là nhà giáo viết văn. Tôi không nghĩ mình là nhà văn, nhưng cái chức danh nhà giáo cũng không đi được trọn đời. Những năm dạy học và viết văn, đâu có gì phải đặt vấn đề cân bằng, tự nó cân bằng trong tâm trí ta rồi.
Dạy học, gần với lớp trẻ, ta có thêm nhiều đề tài, nhiều ý tưởng để viết. Có những bài thơ, đoạn truyện được viết ngay tại lớp học, khi học sinh chăm chú làm bài, trong một khung cảnh không phải hoàn toàn yên lặng nhưng là sự yên lặng tuyệt vời. Những bài thơ tôi viết sau này có già dặn hơn, sâu sắc hơn, nhưng mất đi sự trong trắng hồn nhiên của thời 1962 về trước. Tôi rất yêu mến những truyện ngắn viết lúc đó, không bị sóng gió thời cuộc lôi kéo nghiêng ngả.

* Trong danh thiếp của mình, ông ghi chức danh là "thường dân hạng bét". Có phải do "tai nạn" trong bài thơ Khúc hát ngày vềNgọn cỏ tịch điền nên ông nhận mình "hạng bét" không?

- Không đâu. Những chuyện đó chỉ làm bực mình, có lúc thấy buồn cười, đâu đến nỗi phải ghi vào danh thiếp. Suốt đời tôi chỉ làm dân. Hồi năm 1963, trong một bài thơ (in tập Thuyền giấy - 1967) tôi đã nhận chức dân rồi. Năm 1985, khi bị bệnh nhập viện, cán bộ y tế cũng ghi tôi là dân. Người ta hay nói "phó thường dân", đó là nói giỡn, cũng như nói "binh 3", "đi vùng 5"... Thực tế chỉ có thường dân chứ không có phó thường dân.
Thường dân như tôi không có nhà cao cửa rộng, không có công danh chức tước, không vào hội người cao tuổi để khi chết có kèn trống í e thì đúng là hạng bét, đâu dám xưng thường dân hạng nhất, hạng nhì, hạng ba... vì đâu có tiêu chuẩn nào phân định.

* Ông làm thơ, viết văn rồi biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân gian vùng đất Phú Yên, Nam Trung bộ... Xem danh mục đầu sách ông đã xuất bản, thấy rằng phần nghiên cứu, biên khảo chiếm phần nhiều. Phải chăng do nghiền ngẫm "ngày xưa" nhiều quá nên thơ văn của ông cũng hoài cổ, cụ thể là cách dùng từ như "ngọn cỏ tịch điền"?

- Tôi sống một cuộc sống buồn từ nhỏ, yêu thương và trân trọng nỗi buồn, hơn nữa yếu tính của nghệ thuật là cái buồn nên viết ra điều gì cũng có chút buồn phảng phất. Kể cả sưu tầm nghiên cứu. Đi đây đi đó tôi chú ý tìm hiểu các di tích hơn, quí mến cái không gian u tịch, dấu vết rêu phong nơi đền xưa tháp cổ, đồng thời là nét hùng vĩ của núi cao vực thẳm, trời rộng sông dài... ít ham cái mới lạ của những công trình hiện đại. Còn chuyện sách đã in, biên khảo nghiên cứu đâu chiếm phần nhiều hơn. Mỗi bài thơ, truyện ngắn, cuốn sách... đều có số phận của nó, có cuốn muốn in mà gặp trục trặc này nọ chưa in được, có cuốn chưa định in tự nhiên có cơ duyên được in. Thôi thì cứ tự an ủi là vậy.

* Ông có câu thơ "Xóm nghèo quán cóc cũng xa sao". Vậy bây giờ cái xóm nghèo của ông đã hội nhập toàn cầu tới đâu rồi?

- Cái xóm nghèo của tôi có khá hơn trước nhưng vẫn còn nghèo so với toàn cảnh. Ngày xưa nó gần trung tâm thành phố, có đình, có chùa, có chợ, có nhà hộ sinh, có bến sông, có đường lên núi… bây giờ nó nằm ngoài rìa nên số phận như thế. Người dân trong xóm vẫn chờ mong và hi vọng một ngày nào đó kè Bạch Đằng hoàn thành, con đường ven sông thành phong cảnh xinh đẹp để xóm nghèo thay da đổi thịt. Riêng tôi không hề nghĩ gì, mong gì, và nếu không có câu hỏi này tôi cũng quên là mình vẫn sống trong xóm nghèo.

* Ở tuổi xưa nay hiếm, cầm bút gần trọn đời người... ông có thể đúc kết, rút ra niềm vui và nỗi buồn của mình trong vài dòng không?

- Tuổi ngoài 70 bây giờ loạn ra đấy, hiếm gì! Tôi chưa sơ kết, tổng kết chi cả, sống tới đâu hay tới đó nên không có nỗi niềm để rút ra! Viết lách là một phần của cuộc sống, mà cuộc sống thì có vui có buồn. Đáng nói là những nỗi niềm do viết lách đem lại hình như vui nhiều hơn, bởi vì gặp nhau trong nỗi buồn cũng là một điều vui rồi. Vui vì có sự thông cảm giữa người đọc và người viết. Trên đời còn có gì quí hơn tri âm tri kỷ? Buồn là khi có những cảm nghĩ, nhận định sai vội vàng đưa vào, không thể nào xóa bỏ được, nó vẫn còn đó trên mực đen giấy trắng, cho dẫu bao nhiêu năm tháng trôi qua, mỗi lần nhớ lại đầy những xót xa.

TRẦN HOÀNG NHÂN thực hiện[/color]
Đăng nhập để trả lời
0
TRẦN HUIỀN ÂN và bài thơ BÀI HÁT NGÀY VỀ


Trần Huiền Ân, nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo, là một tác giả quen thuộc đối với độc giả trong nước. Trước 1975 ông nổi tiếng với những bài thơ viết về tình tự quê hương xuất hiện trên tạp chí Bách Khoa. Thơ ông còn xuất hiện trong nhiều bộ sách giáo khoa dùng trong trường học. Một trong những bài thơ hay của ông là bài BÀI HÁT NGÀY VỀ, viết vào năm 1999, mà theo lời của ông:
"Bài thơ này tôi làm vào một chiều cuối năm, thấy buồn buồn, nghĩ đến làng quê, chạnh lòng...". Là một người giản dị, hiền hoà và khiêm tốn, trong bài thơ này ông tự nhận mình là một "kẻ hèn". Âu cũng là một điều đáng để cho người đời suy ngẫm:

Ta, một kẻ hèn- kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nối
Sao còn vất vả đua chen?


BÀI HÁT NGÀY VỀ

Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay

Giá như người xưa...gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời

Ta, một kẻ hèn- kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen

Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già toả mát trăm năm
Giá như người xưa- cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm

Ta còn gì chăng? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhoà nhạt giữa đồng

Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây


Trần Huiền Ân
Đăng nhập để trả lời
0
THƯ VỀ HOÀNG HOA TRANG


Hai mươi năm ?
Ừ, hai mươi năm …
Tháng ngày chớp mắt !
Hoàng Hoa trang còn chăng
Những gót chân gõ giòn sạn đạo ?

Ai về qua Cửa Đông ?
Ai về qua Cửa Tây ?
Hồi chuông trên mái giáo đường rêu xám
Em chải tóc dưới tàn cây mượt nắng
Nụ cười tuổi Huế mười lăm …

Hỡi Thành xưa u uẩn trăm năm
Có nhớ hoa vàng áo khăn Tôn nữ ?
Ta đốt hết cả năm xe khuyết sử
Tìm áo khăn em trong biển lửa vàng…

Mùa Thu qua cầu Sông Nước mênh mang
Em chợt thức hay vừa thiếp giấc ?
Ôi giữa Phương Nam ngựa xe tấp nập
Không căn duyên hồ dễ trùng phùng ?

Vẫn một Hoàng Hoa lộng lẫy nghi dung …






TỰ HIỂU


Nửa khuya thức giấc
Bãi sông dài nắng trắng cánh buồm trôi
Trái bảy thưa mở hồng bên suối
Tiếng ngưa bò văng vẳng xa xôi

Nửa khuya thức giấc
Viên bi xanh lăn dọc bậc thềm
Con vịt buồn lim dim ngái ngủ
Nét chữ chìm trong vết mực lem

Nửa khuya thức giấc
Chuyện thời trẻ con rời rạc hiện về
Tự hiểu đến tuổi già
Biết thương mình và biết nhớ quê…


(Ghi chú: Bảy thưa = một lọai cây rừng. Tiếng ngưa bò: tiếng trẻ chăn gọi những con bò nghe đi lạc, ngưa = không có dấu nặng)



VỀ TRƯỜNG CAN


Rêu biếc trải dày sân
Vườn sau tràn cỏ dại
Chưa một lần trở lại
Trường Can có còn ai?

Trường Can không còn ai…
Đâu buồn mưa vui nắng
Ngọt ngào và cay đắng
Như lòng em ngày xưa

Bây giờ rừng đã thưa
Ngẩn ngơ dòng suối cạn
Con chào mào lẻ bạn
Nhớ bơng bí đầu mùa

Ta một mình hơn thua
Ta một mình lăn lộn
Ta một mình khôn lớn
Ta một mình già nua

Ta một mình tóc bạc
Lấm chấm vệt da mồi…
Đâu còn ai để nhớ
Về Trường Can xa xôi?!

Đăng nhập để trả lời
0
QUA BẾN TANG CÀN


Em cứ tưởng như thuở nào trở lại
Dòng sông sâu mờ khuất lũy tre làng
Con thuyền nhỏ bên kia bờ dầu dãi
Người xưa đâu? Ai hát
Độ Tang Càn *

Độ Tang Càn… Độ Tang Càn…


Giọng người nổi trôi trên cánh gió
Ào ào nước cuốn dưới cầu
Trúc đào se se lòng môi đỏ
Mười lăm năm bây giờ gặp nhau

Mười lăm năm tha phương lưu lạc
Tang Càn thác trắng mây cao
Em đứng lặng giữa bãi cồn ngơ ngác
Lối về nhà cũ hướng nào?

Em hỏi lá cành, lá cành xào xạc
Em hỏi con chim, con chim vù bay
Chợt nghe mơ hồ trong gió thoảng
Hồi chuông chánh ngọ vơi đầy

Xanh xanh một màu xa thẳm
Chân trời chiều bụi xóa nhòa
Độ Tang Càn… Độ Tang Càn…
Có phải cây rừng thương đời phiêu lãng
Tiết xuân dồn nở bốn mùa hoa?


* Độ Tang Càn: Một bài thơ tứ tuyệt của Giả Đảo (khoảng 793-865), đời Trung Đường, tâm sự một người tha hương khi đi qua sông Tang Càn nhớ về cố quận.



THƯ VỀ DĨ AN ĐÔNG


Em cầm tay ta – những hoa đồi mồi lấm tấm
Ta cầm tay em – úa gầy mười búp Hoàng Lan
Tàu ngược xuôi qua ga còi kéo chậm
Dĩ An Đông mùa gió gọi mây ngàn

Ta thuở ấy áo xanh màu cỏ mật
Chiều loanh quanh hồn bách thảo ngẩn ngơ
Em trong trắng cô học trò chủ nhật
Yêu thần tiên và chữ nghĩa dại khờ

Ta mải nói về chim bay cá lượn
Con hổ nằm mơ thác suối non cao
Em thánh thiện nửa nụ cười mộng tưởng
Ta ba hoa như một chú chào mào

Rồi lạc mất em, ta trở nên trầm mặc
Bát mồ hôi cháy khét miếng cơm đời
Ngùn ngụt lửa và mưa dầm nắng gắt
Tờ thư xưa mòn dấu xếp dần rơi

Tạ ơn lòng hôm nay còn gặp lại
Nói năng chi bóng đã ngã ven đồng
Giữa im lặng là muôn lời khả ái
Tiếng thì thầm ai nhắc … Dĩ An Đông.




THƠ VIẾT BUỔI CHIỀU THU PHÂN


Chiều nay vợ đi vắng con đi vắng
Thu phân lất phất mưa phùn
Một ve củ tỏi một chén hột mít
Một mình ta ngồi nhắm sương sương

Tuổi tác bộn rồi đô xuống dốc
Sương sương không biết xỉn hồi nào
Ta thấy hai bên hai vầng nhật nguyệt
Dưới chân đất rộng trên đầu trời cao

Nhịp đôi guốc cùn nghêu ngao ta hát
Bài ca người thuỷ thủ nơi đảo hoang
Ôi gió biển mặn gan mát phổi
Chung quanh ta đầy châu báu bạc vàng

Trắc trắc bằng bằng sắp hàng chữ nghĩa
Này niêm này đối này vần
Bẻ đôi luật đường chẻ tư lục bát
Hỏi rằng trị giá mấy đồng cân?

Ta không phải là nhà văn nhà vẻ
Ta không phải là nhà thẩn nhà thơ
Gạt phăng trắc bằng ta làm thi sĩ
Nghênh ngang giữa đời dại dột ngu ngơ

Xa rồi cố nhân...em A em Z
Xa rồi bằng hữu... anh X anh Y
Vẫn trong lòng ta thị thường bất diệt
Vẫn trong lòng ta thiên tải nhất thì

Kính chào cuộc đời- các hiền sĩ tiểu tử
Kính chào cuộc đời- các ti tiện đại nhân
Rồi cũng phải nghe hò xang xế xự
Qua sông Nại Hà nước đục hay trong?

Trời cao trên đầu không che riêng ai
Đất rộng dưới chân không chở riêng ai
Hai vầng nhật nguyệt không soi sáng riêng ai
Thì có hề chi mưa nắng đường dài...

Đăng nhập để trả lời
0
MUỜI NỤ CHI LAN


Hỡi những người xưa từng khốn ngoạ
Mười tuần cây cỏ có còn vui
Đất trời xa cách quen hay lạ
Khi lại nhìn nhau có ngậm ngùi

Ta trải qua cơn rầu thúi ruột
Mười ngày trong hẻm vắng nằm im
Vẫn hay lời tục ngàn năm đúng
Dạ dày không thay được con tim

Dạ dày không chuyển lưu dòng máu
Máu xuống thành đen đẫm ruột mềm
Máu đọng tràn lên bùng nôn mửa
Trả lại cho đời những vụn cơm

Sáng nay mười nụ chi lan nở
Năm cánh xinh tròn nhỏ móng tay
Một chút hồng nhung chừng bỡ ngỡ
Xoè trên nếp lá khẳng khiu gầy

Ta lại ra thăm đường phố cũ
Vội vàng kẻ lại giục người qua
Ta muốn đem tình yêu bất hủ
Yêu đời như chính thực yêu ta

Ô kìa, thiên hạ toàn ngơ ngác
Mắt trắng phường tuồng buổi chợ ma
Ta lại đem tấc lòng kiêu bạc
Khinh đời như sẵn tự khinh ta

Muốn đến nhà ai tay gõ cửa
Lạm bàn phù phiếm mộng văn chương
Hương trà khói thuốc vài giây phút
Cũng đủ phôi pha nỗi chán chường

Chợt nghĩ riêng mình thơ với thẩn
Không đổi người ta một nụ cười *
Chữ nghĩa không khô hàng nước mắt
Tội tình giấy mực lắm ai ơi

Thì đốt hay đừng - trang sách cũ
Ngọn lửa phần thư mát ruột tằm
Những vết thương sâu hằng nhức buốt
Đâu chịu lành - dâu biển bao năm

Và chính người xưa từng khốn ngoạ
Đường lên ải bắc trải hai kinh
Gập ghềnh trăng khuyết theo chân ngựa
Vườn Thuý xem còn vẹn tiết trinh

Mộtchữ trinh ba đường bảy nẻo
Giữa cuộc đời ba nổi bảy chìm
Máu khướt say rồi theo rượu dẫn
Chảy lạc dòng quên nẻo về tim

Chân cứ vô tình mê mải bước
Ta quay về hẻm vắng nào hay
Quanh sân rộn tiếng cười con trẻ
Chung cuộc vui đùa tay nắm tay

Mười nụ chi lan tròn sắc nắng
Đỉnh trời mây trắng nõn giăng thưa
Mùa thu lộc nhỏ hoe cành lựu
Một tiếng gà xa gợi bóng trưa


(Viết sau cơn đau xuất huyết dạ dày,
khi bình phục thấy hàng chi lan trước cửa nở mười đoá hoa xinh)

* Thơ Mạc Phong Luân




THÁNG CHẠP


Tháng chạp đầy sân hoa cúc nở
Như vườn Lão Phố trải vang tươi
Bâng khuâng nghe chút gì thương nhớ
Ký ức long lanh những nụ cười

Tháng chạp mưa bay mờ dáng núi
Cánh cò bé bỏng giữa đồng xanh
Đường quê áo vải hoen màu bụi
Ai hát nghêu ngao khúc độc hành

Tháng chạp phương đông trời đổi gió
Hong bàn tay nhỏ giữa bao la
Mênh mang thế sự tình trăm họ
Gạn lấy cho nhau chút đậm đà

Tháng chạp hồn nhiên như cỏ dại
Trăng sao. Nắng sớm với nương chiều
Người xưa chợt thoáng quay nhìn lại
Đủ ấm lòng ta bóng tịch liêu...





VỀ XÓM NHỎ


Ta về quê cũ theo chân bạn
Như hồi tuổi trẻ dắt tay nhau
Sáu mươi năm bấy nhiêu ngày tháng
Ruộng vẫn đơm xanh lúa một màu

Ta về lỡ vấp nơi triền dốc
Giọt máu hồng rơi xuống đất mềm
Có phải người xưa ai khẽ nhắc
Đường đi nước bước... lẽ nào quên?

Ta về dưới gốc đa trăm nhánh
Khóm đá rêu mòn trải cuộc chơi
Bàn cờ kẻ đậm lằn than vạch
Sỏi sạn bày quân tướng sẵn rồi

Ta về lưng ngả trên nền cỏ
Nghe mùi lá ủ thoảng hăng hăng
Con bướm bay vòng vòng khóm đế
Giữa chiều thung lũng vệt mây giăng

Ta về đêm lạnh ngồi quanh bếp
Củi gộc bùng lên ngọn lửa cười
Tiếng vạc canh khuya chừng đếm nhịp
Tiếng gà thưa thớt gáy đôi nơi

Ta về xóm nhỏ chào xuân mới
Vàng bông vạn thọ nắng thêm vàng
Bâng khuâng... tựa thuở nào mong đợi
Trong lòng thương nhớ những mang mang


Đăng nhập để trả lời
0
VỀ ĐẤT SỞ


Anh có về không?
Đất Sở xanh trời mưa bụi
Con chìa-vôi mướt cánh ngọn măng vòi
*
Anh có về không?
Trời tháng sáu con tu-hú rộn ràng gọi nắng
Con thương-cô-áo-cụt bồi hồi
Con thua-tuốt ngậm ngùi xa vắng
Rừng trâm-trâu chín tím đôi môi
*
Anh có về không?
Dóng dả tiếng chim vườn kín lá
Mây nhả-bừa kéo mỏng trên đầu
Đường trải dẽ lưng trần sỏi đá
Ngựa hồng ngựa hởi trước sau
*
Anh phải về
Với trang thư giấy vở
Thành câu thơ: Gởi S. như còn
Trưa mùa nam đỉnh đồi hơi thở ngút
Áp vàng gió nhuốm mờ son
Trưa lòng nón trong ngần nước giếng
Gò nghiêng tóc xỏa cánh tay tròn
*
S. vẫn như còn
Dù em không còn nữa
Anh phải về Đất Sở
Trong hoa thuốc hăng nồng mật nhựa
Viết cho em:
Gởi S. như còn…





VỀ THỦY XÁ



Chiếc bè tre đưa em về Thủy Xá
Chân mây ngọn thác một dòng
Ông già điếc mái đầu bạc trắng
Nghiêng người chống khách sang sông
*
Buổi sáng chở sương
Buổi trưa chở nắng
Những ngày gió mưa
Thân bè trĩu nặng
Khách năm khi mới gặp một người
Lạ đường khản giọng gọi : Đò ơi!
*
Chiếc bè tre đưa em về Thủy Xá
Nẻo rừng rụng đỏ lá hồng-quang
Đôi quai guốc của thời xưa nhỏ bé
Chiều lên cuối lũng đầu ngàn
*
Em trở về con nhen buồn thơ thẩn
Trái bảy-thưa khô mở tự bao giờ
Con nai lạc trời khuya trăng lặn
Mùi tranh-săn cháy thoảng trong mơ
*
Em trở về ngỡ ngàng truông dốc nhỏ
Ngỡ ngàng vạt áo trung châu
Tiếng vượn hú gọi bầy thảng thốt
Hoàng hôn lạnh nứt dáng khe sâu
*
Em trở về
Và ông già đã chết
Chiếc bè tre giữa vực quay cuồng…





VỀ HOẢ XÁ



Về Hỏa Xá tiếng cồng vang gọi lửa
Mùi củi tươi ngây ngất khói rừng
Em trở lại lòng sơn man một thuở
Gởi cát lầm hạ bạn sau lưng
*
Gởi cát lầm cho kinh kỳ kẻ chợ
Rèm buông - Võng tía - Lọng đào
Dấu ơn nghĩa đêm nằm năm ở
Huống ngàn vàng trong trắng đã trao
*
Về Hỏa Xá đắm xin nguồn suối lạnh
Cuốn theo dòng ngày tháng phấn son
Em là em – con lòng-tong bé nhỏ
Chiều hôm qua còn giữa hạt trứng tròn
*
Đất vẫn hương nồng nụ nhím
Trời vàng chóp mũ hoa găng
Mùa xuân núi ba từng sắc lá
Lời chim gọi sáng sương giăng
*
Về Hỏa Xá một ngày cây trổ lộc
Xuống bành voi trăm họ trao cần
Nhìn xiêm áo đã nhàu chăn gối lạ…
*
Nhìn xiêm áo đã nhàu chăn gối lạ
Hai bàn tay nhỏ phân vân…/-

Đăng nhập để trả lời
0
BÀN TAY BẺ NÚI


(Năm ấy bạn Lê Phương Nguyên về làm rẫy,
ta chưa đến thăm được nên gởi thơ)


Tưởng tượng… bạn không nhìn ra ta
Má cóp làm như đã quá già
Trán thấp đôi lằn nhăn hiện rõ
Rối bù mái tóc bụi đường xa

Tưởng tượng… ta không nhìn ra bạn
Râu hùm tua tủa mày chuôi dao
Bàn tay bẻ núi căng gân thép
Áo khoác hờ phanh ngực tự hào

Tưởng tượng… một giây chìm lặng lẽ
Mắt nhòa tâm trí gọi ngày xưa
Rồi "A' một tiếng cùng vui sướng
Quên hết ngàn năm chuyện nắng mưa

Không thể, cho dù trong tưởng tượng
Chìm chìm một phút lỡ quên nhau
Không thể cho dù trong tưởng tượng
Cầm dao cắt ruột chẳng nghe đau

Tưởng tượng… hôm nào ta đến bạn
Chiều xanh xanh đẹp nắng gay gay
Dưới này củi rẫy đen lem luốc
Trên ấy mây trời trắng nõn bay

Đêm đến gọi đàn sao mọc sớm
Vẫn sừng trăng cũ bạc cong cong
Ta ngồi đốt lửa hong tâm sự
Ếch nhái kêu inh phía mặt đầm

Tưởng tượng… ta cùng say quá đỗi
Dăm vò rượu vục bát sành to
Nghiêng nghiêng… mặt đất nghiêng nghiêng nhỉ
Tiếng sóng xa như lắc mũi đò

Ta lặng im nghe trời đất nói
Ô kìa… trời đất cũng im nghe
Con nhà ai khóc vu vơ đó
Con cuốc thương thân gọi chớm hè

Ta ngã mình trên sương cỏ ướt
Dưới giàn hoa mướp dịu dàng thơm
Sáng mai bạn sẽ đem ra chợ
Quả bí quả cà đổi gạo cơm

Ta ngủ vùi khi men rượu thấm
Đầu non trăng đã lặn phương nào
Những linh hồn nhỏ chung đau khổ
Nhấp nháy trên ngàn vạn chấm sao

Tỉnh dậy canh tàn chong lạnh buốt
Soi mình klhơi bếp lửa tàn tro
Thảm thương ta chỉ vì mươi đấu
Con kiến loanh quanh miệng chén bò

Muốn thét to mà nghe cổ khát
Ta thèm giọt nước giếng trong veo
Ta thèm như bạn cười khinh bạc
Bình thản yên xem ngọn lá vèo

Tưởng tượng… cho dù trong tưởng tượng
Đã thành có bạn ở bên ta
Ta dẫu nay lời hươu tiếng vượn
Chút lòng… riêng bạn hiểu riêng ta






LAU SẬY MÙA THU



Và như thế em đành lòng ở lại
Dòng sông xưa lau sậy trắng đôi bờ
Từ đánh mất tuổi hồn nhiên con gái
Em mỏi mòn nhìn ngõ nhỏ tiêu sơ
*
Anh biết đây tuổi mười lăm mười tám
Những chân trời không đỏ lá trạng nguyên
Hoàng hôn rợp màu mây chì ảm đạm
Đêm chong đèn xin chút bóng bình yên
*
Ngày cứ vậy sáng trưa chiều quạnh vắng
Gọi tên mình em khẽ bật cơn ho
Dòng sông rẽ hai bờ lau sậy trắng
Lạc loài bay xa hút một thân cò
*
Trời không nắng cho áo hồng sát nách
Trời không mưa cho dù biếc nghiêng đầu
Trời không lạnh để quàng khăn nguyệt bạch
Mây nặng nề trôi gấp gấp về đâu
*
Mây nặng nề đuổi thân cò xa hút
Em chỉ còn lau sậy trắng đìu hiu
Con ngõ nhỏ tự ngàn năm côi cút
Vẫn khép hờ đôi mắt rắn liu điu…


Đăng nhập để trả lời
0
MỘT THỜI XUÂN THU


"Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi…"*
Ta đọc cho người câu thơ mấy thuở
Một thời xuân thu ngút trời khói lửa
Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà

*
Đêm đưa dòng sông trôi xa trôi xa
Người dẫn trăng đi thuyền chao sóng mắt
Những ngọn đèn khuya võ vàng cúi mặt

"Hữu tình áp má bông lau" **

*
Ta tự hỏi thầm: Về đâu? Về đâu?
Người như Phương Cơ chân trần tóc xỏa
Đường bỗng nhiên buồn, bỗng nhiên khác lạ
Tiếng cuồng ca gió hút canh dài

*
Ta đã thề không uống rượu ai
Đêm nay rượu người lại uống
Lại chợt hiện nỗi niềm phiền muộn
Một thời ảo ảnh hoàng hoa
Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà
Cánh bướm cuộn tròn nếp kén

*
Xin lỗi hẹn. Thôi thì đành lỗi hẹn
Cầm bằng rượu nói thay lòng
Ngỡ ngàng có có không không
Đâu còn tuổi mày ai trăng mới
Nếu trót thức trắng đêm trường mệt mỏi
Mang kính râm mà giấu bụi lề đường…

*
Một chút buồn
Một chút khói sương
Môt chút ngày xưa
Một chút ngày mai nữa
Ta một nửa có người trong một nửa
Chiều nào thoảng giọng cuồng ca…


* Thơ trong Xuân Thu nhã tập
** Thơ Đinh Hùng




DỰ PHÓNG


Hôm nay bỏ rượu, mai bỏ thuốc
Mốt bỏ cà phê, tiếp bỏ trà
Quán cóc bên đường bè bạn gọi
Vẫy chào xin phép được đi qua

Sách vở người xưa từng đã dạy
Gạo hẩm lưng nồi, nước giếng trong
Co tay làm gối bình yên ngủ
Vẫn có niềm vui thật với lòng

Cứ thế rồi ta thành ông lão
Tóc búi, râu dài cũng bạc phơ
Chẳng phải lụy phiền đôi mắt kính
Mỗi bình minh đọc một câu thơ

Và mỗi buổi chiều chân guốc gỗ
Tay cắp sau lưng dạo chợ tàn
Ơ, cuối cuộc đời là vậy vậy
Dãy lều trống vắng nắng dần tan

Dăm đứa trẻ đùa tung cát bụi
Bảo rằng: Cụ giống vị tiên ông
Muốn mua cho chúng đôi bì kẹo
Sờ túi thì ra… lão tiên khồng!




NHỮNG CƠN MƯA


Đã từng có những cơn mưa
Còn trong trí nhớ những trưa xa vời
Bốn bề sầm sập mưa rơi
Lòng vui thư thái thấy đời nhẹ tênh

*
Năm nào còn tuổi thiếu niên
Nhà tranh vách đất một miền núi xa
Trưa mưa ngon giấc cả nhà
Còn riêng thức một mình ta trên thềm
Giơ tay vốc chuỗi mưa mềm
Giơ chân giọt nước êm đềm theo chân
Mưa tràn đám thổ qua sân
Gà trưa thưa thớt nhắc chừng thời gian
Trăm ngàn mộng ước lan man
Từng cơn mưa nối lại càng lê thê

*
Năm nào dạy học vùng quê
Có hôm chủ nhật dầm dề mưa rơi
Buổi trưa nhà trọ vắng người
Một mình ta với một trời đổ mưa
Ngâm tràn lớp lớp thơ xưa
Mưa chan tiếng đục còn chừa tiếng trong
Lời thơ lẩn quất trong phòng
Nửa vòng yên tĩnh, nửa vòng yêu thương
Mưa ngời trắng mặt nước mương
Mưa giăng trắng cả con đường cái quan

*
Nỗi vui vui rất nhẹ nhàng
Nỗi buồn như cũng dễ dàng thành vui
Những cơn mưa của một thời
Tuổi mười lăm, tuổi hai mươi thuở nào

*
Vốn đời lãng phí tiêu hao
Bỗng nhiên gặp lại ào ào cơn mưa
Giật mình nhớ tiếng gà trưa
Vần thơ năm ấy như vừa mới đây
Ngoài hiên mưa chắn song dày
Nằm ôn lại chuỗi tháng ngày trải qua
Chưa năm mươi tuổi, chưa già
Áo cơm nhẫn nhục tài hoa mỏi mòn
Hỏi còn chăng chút lòng son
Rằng không, bóp bẹp vo tròn ra chi!
Hỡi người tương thức tương tri
Mai sau nào biết có gì mà mong!
Say xem, rượu chẳng khuây lòng
Tỉnh xem, đâu thoát khỏi vòng linh đinh

*
Lật tờ báo cũ xem hình
Thấy bài thơ hợp ý tình cũng hay

"Làm gì đây để giải khuây
Ngắm tay mới biết mình gầy hơn xưa" *


*Thơ Tô Thùy Yên –Trời mưa đêm xa nhà

Đăng nhập để trả lời
0