Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Truyện LE FILS DE LA BALEINE

1 trả lời, 22 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-25 07:34:17hai1957>
Thầy Cung Giũ Nguyên và Truyện Le Fils de la Baleine

Nguyễn Phụng


Trong bài viết này tôi xin ghi lại một kỷ niệm về thầy Cung Giũ Nguyên và vài cảm tưởng của tôi về truyện Le Fils de la Baleine (Người Con Trai của Ngài Cá Ông) của thầy. Kỷ niệm về thầy Nguyên là một điều rất tình cờ vì tôi không ở Nha Trang, không phải là học trò của thầy. Tôi sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, học trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng từ đệ-thất tới đệ-nhị rồi học Quốc Học Huế vì lúc bấy giờ (1960) trường Phan Châu Trinh chưa có đệ-nhất. Tôi học ban toán nhưng rất thích môn Pháp văn. Những giờ rảnh rổi, tôi ưa học môn này; mơ ước của tôi là một ngày nào đó tôi sẽ đọc trôi chảy chuyện La Guerre et la Paix (Chiến Tranh và Hòa Bình) của Leo N. Tolstoi hay La Porte Étroite (Khung Cửa Hẹp) của André Gide mà không cần phải hì hục tra tự điển cả ngày. Học Pháp văn vì thế gần như là một thú vui nho nhỏ của tôi; ngày nào tôi cũng mân mê ít nhất một lần quyển Est-ce À ou De (À hay là De), Analyse Grammaticale et Logique (Phân Tích Văn Phạm và Mệnh Đề), hay Sens et Emploi des Verbes (Nghĩa và Cách Dùng Các Động Từ).

Cuối năm đệ-nhất tôi vào thi vấn đáp môn Pháp văn với thầy Nguyên. Tôi không biết thầy, tôi không biết tên thầy. Tuy vậy, dù với sự hồi hộp lo âu của một thí sinh, tôi vẫn ghi nhận ngay một điều là thầy nói tiếng Pháp rất dễ dàng, nói như thở; trong tất cả thầy Pháp văn tôi học từ nhỏ đến lớn, không ai nói tiếng Pháp như thầy. Một người bạn cùng vào thi với tôi, có anh chị dạy ở trường Hàm Nghi và Nguyễn Tri Phương, nói cho tôi biết tên thầy. Tôi chưa biết hay quen người nào có họ Cung; tôi thấy tên thầy lạ và hay và có lẽ vì thế tôi nhớ tên thầy.

Tôi rời Huế và chẳng nhớ gì ngoài mái tóc thề tung bay của mấy nàng học trò trường Đồng Khánh; Huế mờ nhạt mau chóng trong trí nhớ tôi vì sự náo nhiệt của Sài Gòn. Một hôm, có lẽ vào đầu năm 1963, tôi tình cờ đọc một bài báo trong tạp chí Bách Khoa bàn về văn chương và triết học mà tác giả là Cung Giũ Nguyên. Bài báo có tầm vóc của những bài đăng trên tạp chí Đại-Học do giáo sư Nguyễn Văn Trung, Đại Học Huế, chủ trương, hay tạp chí Quê-Hương của các giáo sư Nguyễn Cao Hách, Vũ Quốc Thông, Vũ Quốc Thúc, Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Tôi nghĩ đến vị thầy chất vấn tôi trong kỳ thi vấn đáp ở Huế. Tên trùng tên, họ trùng họ. Tuy có rất nhiều Nguyễn Nam , Lê văn An và Trần Anh Dũng nhưng chắc không có nhiều Cung Giũ Nguyên; biết đâu chỉ có một Cung Giũ Nguyên. Và nếu điều đó là sự thật thì vị giáo sư trung học này quả là một bậc kỳ tài, nói tiếng Pháp như gió vi vu và bàn chuyện văn chương và triết học rất là ý vị.

Vì vẫn còn thích tiếng Pháp và vì hay la cà tại nhà sách Khai Trí và Xuân Thu để mua tiểu thuyết Pháp loại bỏ túi, tôi quen một người bạn rất thông thạo văn chương Pháp. Người này đọc nhiều, hiểu rộng và thích nói chuyện nên tôi học hỏi ở anh ta rất nhiều. Anh nói cho tôi nghe về Marcel Proust, Francoise Sagan, rồi Phạm Duy Khiêm và hai tác phẩm Légendes des Terres Sereines (Huyền Thoại của Những Xứ Yên Bình) và Nam et Sylvie (Nam và Sylvie). Sau Phạm Duy Khiêm là Cung Giũ Nguyên với tác phẩm Le Fils de la Baleine (Người Con Trai của Ngài Cá Ông). Tôi ngạc nhiên đến sửng sốt. Tôi đoán đúng, chỉ có một Cung Giũ Nguyên đang dạy Pháp văn ở Nha Trang, và bấy giờ tôi hiểu rõ ràng tại sao vị thầy tôi vào thi vấn đáp nói tiếng Pháp quá hay ho và am hiểu nhiều chuyện văn chương triết học.

Người bạn tóm lược truyện Le Fils de la Baleine cho tôi nghe và nói rất nhiều về sự mê tín dị đoan và sự cố chấp của các hương chức trong làng. Ngư dân thờ cúng cá ông, gọi cá ông là Ngài; khi cá ông chết và tấp vào bờ, họ làm lễ chôn cất rất long trọng và để tang như để tang cha mẹ. Họ thờ cúng cá ông vì tin rằng khi thuyền họ sắp chìm ngoài khơi vì bão tố, Ngài sẽ đưa thuyền họ vào bờ. Quanh Đà Nẵng là mấy làng chài Nam Ô, Thanh Khê, Hà Khê, Mỹ Khê với rất nhiều chuyện "ông lụy" hay xác cá ông tấp vào bờ nên tôi hiểu và nhớ ngay câu chuyện bạn tôi tóm lược.

Tôi hỏi mượn Le Fils de la Baleine nhưng lúc đó quyển sách này bạn tôi không để nơi anh đang trọ nên tôi đành phải đọc mấy truyện của Phạm Duy Khiêm. Quyển Légendes des Terres Sereines hay, thơ mộng, ý nghĩa thâm thúy nhưng thiếu sáng tạo vì đó chỉ là những bài dịch cực kỳ trong sáng và nhẹ nhàng của những chuyện quen thuộc như Trương Chi, Từ Thức, Chử Đồng Tử. . . Nam et Sylvie chỉ là một quyển tiểu thuyết tình cảm bình thường. Chàng trai Việt , Nam , và một cô gái Pháp, Sylvie, yêu nhau tha thiết; trong thời gian yêu thương, Nam thường kể chuyện Việt Nam cho Slysvie nghe. Nhưng rồi, vì nhiều cản trở (Sylvie có bầu, phải phá thai, Nam thi rớt, Nam quyết định về nước) họ phải ngậm ngùi chia tay và Sylvie đi lấy chồng.

Sau đó không lâu bạn tôi du học Pháp và vì thế tôi mất cơ hội để đọc Le Fils de la Baleine. Cuối năm 1963 hay đầu năm 1964 tôi nhớ không rõ, tôi tình cờ đọc một bài báo tường thuật lại cuộc phỏng vấn nhà văn kiêm giáo sư thạc-sĩ văn-phạm Phạm Duy Khiêm. Bài viết này thuật rằng giáo sư Khiêm cho rằng tiếng Việt không đủ bén nhọn để diễn tả những điều cần diễn tả. Tôi bực tức và oán trách giáo sư Khiêm. Tôi tự hỏi không biết giáo sư Khiêm đã đọc hết mấy truyện ngắn của nhà văn Phạm Duy Tốn, thân sinh của giáo sư Khiêm hay chưa. Thời đó, 1920, tuy quốc ngữ còn phôi thai và vì Phạm Duy Tốn chưa thoát ra khỏi khuôn sáo diễn đạt cổ điển Trung Hoa nhưng tiếng Việt vẫn đủ để nhà văn này nói lên những điều ông ta muốn nói. Tôi cũng tự hỏi không biết có bao giờ giáo sư Khiêm ngâm nga Truyện Kiều hay nghe Thái Thanh hát bài Tình Ca của Phạm Duy, em ruột của giáo sư Khiêm: "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời . . . Tiếng nước tôi bốn ngàn năm rộn rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi . . ."

Tôi nghĩ đến Le Fils de la Baleine. Tuy không quả quyết, vì tôi chỉ mới được nghe kể và bình luận chứ chưa đọc truyện này, nhưng tôi tin rằng Nam et Slyvie kém hẳn Le Fils de la Baleine. Làm việc so sánh này tôi đã quên mất lời ba tôi dặn, khi bực tức không nên viết hay nói gì. Nếu sự so sánh này là một việc không nên làm, xin độc giả hiểu cho rằng đó chỉ là một biểu hiện của tinh thần quốc gia cực đoan của một người trẻ tuổi thời nào.

Năm 1968 tôi quen và yêu thương một học trò cũ của thầy Nguyên, Nguyễn Thị Như Ý, Đệ-Nhất C Võ Tánh, Nha Trang, 1965-1966. Một buổi chiều trong sân trường Văn Khoa Sài Gòn, Ý kể cho tôi nghe chuyện học Pháp văn và thầy Nguyên với nhiều kính mến. Khi yêu, người ta yêu cả con đường người yêu đi về. Kể từ buổi chiều đó, tình yêu của người học trò cũ của thầy Nguyên như một cơn mưa nhẹ làm tươi mát mấy cảm nghĩ sẵn có trong tôi về thầy.

Mấy chục năm trên xứ Mỹ, chuyện Nha Trang, Đà Nẵng, Sài Gòn lúc thật tươi thắm, lúc thật mờ nhạt. Nhiều lần tôi nghe Ý nhắc chuyện ngày xưa, bạn cũ, thầy cũ. Có lần tôi nghe tên Cung Giũ Nguyên, nhưng tên thầy không còn gây cho tôi một háo hức nào; thú vui nhỏ ngày xưa, mua và đọc truyện Pháp, không còn nữa. Nơi tôi ở, chẳng ai dùng tiếng Pháp; mấy người quanh tôi ai cũng bận học "good morning" "good evening" để kiếm sống; chữ Pháp ở đây cũng như chữ Nho ở nước ta một thời nào, người săm se ba quyển sách Pháp chẳng khác gì cụ đồ gìa sắp lại mấy chồng Tứ Thư, Ngũ Kinh. Nhưng một đêm nhớ nhà, cách đây sáu bảy năm, tôi bổng nhiên nghĩ đến một làng đánh cá nghèo nàn tăm tối ngày xưa; có lẽ là một làng ở Thanh Khê Đà Nẵng hay Cửa Đại gần Hội An. Làng xơ xác vì bão tố liên tiếp, rồi "ông lụy" vào bờ, rồi lễ tang ông. Tôi nghĩ đến sự chậm tiến của đất nước, sự nghèo khó của dân chài ngày xưa và sự khốn khổ hiện tại; tôi nghĩ đến mấy chiếc tàu đánh cá Nhật Bản, tàu trang bị với máy móc tối tân, tàu săn cá ông. Đó là lần tôi nghĩ đến Le Fils de la Baleine và sự đóng góp của cuốn truyện vào sự trình bày tình trạng xã hội Việt Nam.

Tháng 9 năm 2000 cựu học sinh Đệ-Nhất C Võ Tánh niên khóa 1965-66 và thân hữu họp mặt tại Greensboro, North Carolina(1). Hầu hết những người này là học trò của thầy Nguyên; qua câu chuyện của họ và nhất là tài liệu của Trung Tâm Cung Giũ Nguyên(2) tôi biết thêm rất nhiều về thầy. Thầy là một nhà văn lớn, được trọng vọng nơi xứ người nhưng ít biết đến tại nước nhà; dù sao thầy là một hãnh diện lớn cho mọi người Việt Nam. Tôi quyết định sẽ tìm đọc Le Fils de la Baleine. Lúc đó, tình cờ tôi đang đọc quyển l’Alchimiste (Người Giả Kim) của Paulo Coelho(3), một nhà văn Ba Tây. Quyển này kể chuyện một người biết biến kim loại thành vàng, đi tìm một kho tàng dưới chân Kim Tự Tháp, và được độc gỉa Pháp đón nhận nồng nhiệt. Theo tôi, sự đón nhận này hơi có tính cách thời trang, tương tự một phần nào sự đón nhận Bonjour Tristesse (Buồn Ơi, Chào Mi) của Francoise Sagan thời nào. Qua tài liệu của Trung Tâm Cung Giũ Nguyên, tôi nghĩ rằng Le Fils de la Baleine được đón nhận rộng rãi không kém gì l’Alchimiste, nhưng sự đón nhận này không bộc phát và ngắn hạn, mà trầm lắng và lâu dài, vì giá trị nhân bản và văn chương của nó.

II

Le Fils de la Baleine là câu chuyện của một làng chài cá miền Trung Việt, một làng tiêu biểu, dân chúng mê tín dị đoan, hương chức thủ cựu, không tôn trọng công bằng lẽ phải. Một hôm dân chài trong khi kéo lưới, vớt lên được một người, thân phủ đầy rong rêu và hơi thở chỉ còn thoi thóp. Người này được cứu sống, nhưng vì bị thương ở đầu nên mất hết trí nhớ, không biết mình tên họ là gì, từ đâu đến, việc gì đã xảy ra. Làng đặt cho anh ta một tên mới, Mô(4).

Vì là người từ xa đến, không có hộ tịch trong làng, nên Mô không được chấp nhận làm dân làng. Vì sự kỳ thị đó và bị mất trí nhớ nên Mô bị mọi người khinh rẻ. Làng thờ cá ông, gọi cá ông là Ngài và mong Ngài đưa thuyền họ vào bờ khi thuyền gặp gió bão ngoài khơi. Theo tục lệ làng, người nào thấy xác Ngài trước tiên người đó là con của Ngài, và phải để tang cho Ngài đúng ba năm như để tang cho cha mẹ. Một hôm Mô phát giác một xác cá ông tấp vào bờ và đi báo làng. Mô tuy đã trở thành con trai của Ngài và dân làng thờ cúng Ngài nhưng họ vẫn khinh rẻ Mô, không chấp nhận cho Mô sinh hoạt trong làng.

Trí nhớ Mô bắt đầu bình phục; Mô nhớ ra tên mình là Nguyễn văn Hoàng, một sinh viên du học trên đường về nước rồi bị đắm tàu. Biết không có cơ hội để làm dân làng, Mô xin làng cấp một giấy tùy thân để đi khỏi làng; làng từ chối, vì lý do Mô không có tên trong sổ hộ tịch. Mô bực tức và xin viết đơn khiếu nại lên thượng cấp. Các vị chức sắc tin rằng Mô không biết viết và nói láo về lai lịch nên đồng ý cho viết. Khi Mô viết gần xong, một chức sắc chộp lá đơn, tên lý trưởng la hét và tiến về phía Mô, Mô vớ bình mực và ném vào mặt hắn; Mô bị đánh bất tỉnh và tống giam ba tháng.

Bản tính thông minh và vì trí nhớ bình phục thêm nhiều, Mô được Liên, cô gái chăn dê, và Hoa, cô gái của một chủ ghe, yêu thương. Một lần đi đánh cá Mô lạc vào một hòn đảo và gặp một ẩn sĩ. Vị ẩn sĩ này nguyên là một chức sắc có công lớn với làng nhưng vì chống đối sự hủ bại của làng nên bị khai trừ và phải trốn ra đảo. Hiểu rõ tình trạng trong làng, vị này cho Mô một chiếc ghe để sinh sống. Mô vừa đem ghe về làng thì ghe bị đập nát vì dân làng nghi đó là chiếc ghe Mô ăn trộm.

Mô trở lại thăm vị ẩn sĩ thì vị này đã chết. Mô yêu cầu làng làm đám tang cho vị ẩn sĩ vì vị này là một cựu chức sắc và có công lớn đối với làng. Làng từ chối; Mô làm reo, lý luận rằng làng làm đám tang và để tang cho cá ông tại sao lại không làm đám tang cho một cựu chức sắc mà để oan hồn ông ta bơ vơ ngoài biển khơi. Mô bị đánh và tống giam vì xúc phạm đến Ngài.

Mấy hôm sau vụ Mô làm reo, biển nổi sóng gió và nhiều thuyền chài bị chìm; làng cho đó là hậu quả của những lời xúc phạm của Mô và quyết định trừng phạt Mô thích đáng. Biết được điều đó, Liên tìm cách giải thoát Mô. Trên đường đến nhà tù, Liên gặp lão Mạnh và nhờ lão giúp đỡ. Vì không ưa các chức sắc trong làng và vì có cảm tình với Mô, và vì lè nhè vì men rượu, lão Mạnh nhận lời. Lão dặn Liên lên chòi canh chờ Mô, rồi xách rựa đến phá nhà tù. Ra khỏi nhà tù, Mô đến đập phá tan tành đền thờ Ngài. Phá xong, Mô không chạy trốn vì muốn ở lại để chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Lão Mạnh hối Mô chạy lên chòi canh để gặp Liên và trốn gấp vì lão cho rằng ở làng chài này chẳng có trách nhiệm lẽ phải gì hết. Trên đường đến chòi canh, Mô gặp Hoa, Hoa xin đi theo, Mô từ chối và nói chỉ yêu Liên, Hoa nổi cơn ghen, chạy về báo với làng, cả làng đuổi theo Mô. Thấy tình thế nguy ngập, lão Mạnh đốt nhà mình; lửa cháy to, dân làng quay lại để chữa lửa và vì thế Mô và Liên trốn thoát.

Truyện Le Fils de la Baleine được nhà xuất bản Artheme Fayard, Paris, Pháp, xuất bản lần đầu vào năm 1956 và nhà xuất bản Naaman Sherbrooke, Québec, Canada, tái bản vào năm 1978. Bài viết này dựa vào ấn bản 1978, Canada . Vừa mới ra mắt, Le Fils de la Baleine đã được đón nhận rộng rãi ở Pháp, chỉ trong một năm đã được in lại mười lần và được dịch sang tiếng Đức, dưới tựa đề Der Sohn Des Walfishs, do nhà xuất bản Helmut Kossodo xuất bản ở Francfort và Genève. Trên bìa sau của tác phẩm, dưới hai chữ Nha-Trang Việt-Nam, là những lời khen ngợi nồng nhiệt của những nhà phê bình Pháp và Âu Châu, đặc biệt nhất là lời khen của Daniel Rops, một hội viên của Hàn Lâm Viện Pháp: "Đây là một cuốn tiểu thuyết hay ho, viết bằng ngôn ngữ thuần nhất, thanh lịch, khước từ những tác dụng dễ dãi, nhưng tràn đầy những âm vang tế nhị . . . Một sự hòa hợp giữa thực-tại miền thôn dã với mộng mơ. Ẩn tàng trong truyện éo le nhẹ nhàng và dễ thương này là sự khôn ngoan và nhân ái. Cung Giũ Nguyên có thể sánh vai với Purrat, Ramuz, Giono . . . đó là điều mới lạ." [Un roman au goũt savoureux, écrit dans une langue pure, élégante, qui se refuse aux effets faciles mais est pleine de subtiles résonances . . . Un mélange de réalisme paysan et de rêve. Avec tout le temps, sous-jacente, cette ironie légère et tendre faite de beaucoup de sagesse et aussi de sympathy humaine. . . Qu’un Cung Giu Nguyen puisse rivaliser avec un Pourrat, un Ramuz, un Giono . . . , voilà qui est nouveau. . . ]

Le Fils de la Baleine được phân tích và khen ngợi trên hầu hết các tạp chí văn chương nổi tiếng như Livres de France, Bulletin de l’Académie des Sciences Coloniales, La Dordogne libre, Les Nouvelles litéraires, La Nouvelle Gazette de Bruxelles và Les Oeuvres libres(5). Đặc biệt hơn nữa là sự tán thưởng này bao trùm đủ mọi mặt, từ bút pháp cho đến sự sáng tạo, thơ mộng và tâm tình người của các nhân vật. Armand Rio, trong Livres de France viết rằng Le Fils de la Baleine là một tác phẩm "với nhiều duyên dáng cá nhân và giá trị văn chương tuyệt vời." ["Oeuvre d'un charme très personnel et d'une excellente qualité litéraire."] Pierre Paret của La Dordogne Libre nhận xét tương tự Armand Rio nhưng nhấn mạnh đến một khía cạnh khác và cho rằng Le Fils de la Baleine là một truyện có giá trị vì tính cách nên thơ và sự duyên dáng ngoại lai của nó. ["un récit d'une valeur certaine tant par ses qualités poétiques que par le charme de son exotisme."] Kết luận của Henry Jacony trong một bài viết đăng trên Bulletin de l’Académie des Sciences Coloniales có lẽ tóm lược được tất cả ý kiến của các nhà phê bình đương thời: Le Fils de la Baleine là một kiệt tác nhỏ nhỏ. ["un petit chef-d'oeuvre".] (6) Đó quả là một vinh dự lớn cho một nhà văn Việt Nam và là ước mơ của bất cứ nhà văn nào trên đất Pháp.

III

Vì diễn biến của cuộc sống như sự ngẫu nhiên, bất ngờ, trùng hợp, éo le, bí ẩn . . . là nguồn gốc của thương yêu, vui sướng, oán hận, đau khổ nên chúng là nguyên liệu chính yếu của truyện dài và truyện ngắn. Chọn lựa, sắp xếp và diễn tả các diễn biến đó là tài năng của nhà văn vì các diễn biến đó khác nhau về sự hữu lý và vai trò trong câu chuyện. Sự hữu lý của một diễn biến là điều kiện (cần và đủ) để diễn biến đó xảy ra và sự thường xuyên hay hiếm hoi của diễn biến đó. Điều kiện cần để một cô gái trẻ trở nên hư hỏng là sự chung đụng với những người hư hỏng, nhưng sự chung đụng đó chưa đủ để xô cô vào con đường hư hỏng nếu cô có ý chí kháng đối lại sự cám dổ. Ở thôn quê, việc một em bé chăn trâu bị sét đánh xảy ra ít thường xuyên hơn việc một em bé bị đỉa đeo vào chân khi xuống ruộng bắt cá. Một hồn ma bất ngờ xuất hiện để cứu nguy cho một nhân vật chính đang bị vây hãm trong tình trạng khó khăn là một diễn biến không hữu lý vì nhà văn khó có thể thiết lập các điều kiện cần có để diễn biến đó xảy ra. Dùng những diễn biến không hữu lý là dấu hiệu của sự yếu kém của nhà văn. Sự yếu kém càng rõ ràng hơn nếu diễn biến không hữu lý lại là một diễn biến chủ yếu của câu chuyện hay xảy ra vào hồi chót của câu chuyện; nếu một diễn biến không hữu lý nhưng được dùng để kết thúc câu chuyện, thì toàn thể câu chuyện sẽ sụp đổ.

Sự hữu lý của diễn biến tuy quan trọng nhưng không quan trọng bằng phần vụ thích nghi của diễn biến đó trong câu chuyện. Một diễn biến có thế rất hữu lý nhưng không đóng góp được gì vào sự diễn đạt câu chuyện. Trong trường hợp này, diễn biến đó đứng bơ vơ một mình hoặc đi ngược lại các diễn biến khác, và hậu quả là không thích nghi cho câu chuyện. Diễn biến này trở nên thừa thãi, vô vị, giả tạo; tác giả viết để mà viết, viết cho đầy trang giấy, viết vu vơ.

Khung cảnh của Le Fils de la Baleine là một làng chài lưới với đình làng, ruộng lúa và đồi núi trong làng; cuối làng là một chòi canh trông ra cửa sông; cửa sông nối liền với biển Đông; ven bờ biển là các đồi cát trắng nối tiếp nhau và ngoài khơi là dãy hải đảo, ẩn hiện tùy theo từng mùa mưa nắng. Khung cảnh thiên nhiên bao la, nên thơ và bí ẩn này tạo điều kiện hữu lý cho các diễn biến xảy ra. Đồi núi trong làng là nơi thuận tiện để chăn dê; cô gái chăn dê vì phải lo đi kiếm củi khô để nấu cơm nên để dê bị lạc. Hải đảo ngoài khơi, với nhiều hang động mịt mờ trong khói đá và sương mù, là nơi thuận tiện để vị chức sắc bị làng khai trừ ra ẩn trốn, và đó cũng là nơi dung thân yên ổn của mấy tên trộm cướp.

Diễn biến trong Le Fils de la Baleine không những hợp lý mà còn có ý nghĩa vì có phần vụ rõ ràng trong câu chuyện. Mỗi diễn biến là một bức tranh nhỏ với nhiều màu sắc riêng nhưng đều quy về mục tiêu của câu chuyện. Mỗi diễn biến là một dòng sông nhỏ, chảy qua nhiều vùng đất đá cây cỏ khác nhau, nhưng cùng chảy về một hướng và cùng đổ vào giòng sông lớn. Con dê bị mất là một diễn biến nhỏ nhưng có ít nhất là bốn phần vụ rất rõ ràng. Tin con dê bị mất vừa loan ra, đã có người nghi Mô là thủ phạm và vì thế càng khinh ghét Mô. Vì để con dê lạc mất nên Liên, một con gái nuôi, bị cha mẹ nuôi đánh đòn nặng nề. Liên bị đánh đập hàng ngày, nhưng lần này, vì con dê là một tài sản lớn, nên trận đòn kéo dài đêm ngày; trận đòn rát da này gieo vào đầu Liên ý nghĩ thoát ly. Con dê không bị lạc mà bị một tên cướp bắt trộm với ý định làm một bữa thịt rượu, nhưng hắn là tên cướp có lương tâm nên trả lại vì không muốn cô bé chăn dê bị đánh đập hoài; hắn chỉ thích hành hạ và cướp các chức sắc trong làng. Sau cùng, việc tìm dê là một cơ hội để Liên biết hương vị của tình thương và sự che chở của một người đàn ông. Mô giúp Liên tìm dê. Tìm suốt cả đêm nhưng Liên và Mô vẫn không thấy dấu vết gì của con dê; trời sắp sáng Mô đưa Liên về nhà, Mô khuyên Liên cố lấy can đảm. Vừa thấy Mô, mẹ nuôi Liên đã lồng lên và hỏi Mô đến nhà mụ ta có việc gì; Mô trả lời rằng Mô gặp Liên đang muốn nhảy xuống nước để tự tử nên dẫn Liên về nhà và xin mụ ta tha thứ cho Liên và đừng đẩy Liên vào con đường tuyệt vọng. [ . . . L’épicière sursauta en le voyant. "Que venez-vous faire ici, à cette heure?" "J’ai rencontré votre fille qui allait se jeter à l’eau. Je vous la ramène. Il faut lui pardonner et ne pas la pousser au désespoir." (trang 88)] Phút giây hạnh phúc vì sự che chở giữa những trận đòn không thương tiếc vì con dê bị mất là điểm khởi đầu của một diễn tiến quyết định quan trọng nhất trong đời Liên: bỏ nhà trốn theo Mô.

Chọn diễn biến có lý và có ý nghĩa là điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ để làm cho câu chuyện hay ho, hấp dẫn, nếu các diễn biến không được diễn tả linh hoạt. Các nhà văn kém tài năng thường diễn tả các diễn biến bằng cách tường trình chúng (như tường trình một sự việc hành chánh) và lắm lúc lại thêm vào lời giải thích dài dòng (vì sợ độc giả không hiểu) hay phụ đề bằng biện chứng luân lý, triết học (để chứng tỏ rằng sự việc đa diện, cao siêu). Nhưng làm như vậy những nhà văn này chỉ đến với độc giả bằng một con đường, con đường trí tuệ -- tường trình và giải thích diễn biến cho độc giả hiểu -- và đó là một thất bại lớn lao. Một nhà văn lão luyện không những chỉ làm cho độc giả hiểu mà còn thấy, nghe và rung cảm theo các diễn biến. Điều này giải thích tại sao bài tóm lược của một truyện dài bất hủ như Madame Bovary (Bà Bovary) của Gustave Flaubert hay Wuthering Heights (Đỉnh Gió Hú) của Emily Bronte, chỉ là một truyện ngắn rất tồi vì thiếu hẳn hình ảnh, âm thanh, sự nuôi dưỡng óc tưởng tượng và sự khơi động tình cảm vui buồn nơi độc giả. Và đó cũng là lý do tại sao những trang dài "diễn tả" các diễn biến trong các tiểu thuyết rẻ tiền với những ngôn từ hoa mỹ, tên của triết gia, tài tử điện ảnh, ca sĩ, nước hoa đắt tiền, rượu qúy, xe đua tân thời . . . chỉ là những liệt kê, nghèo nàn, nhạt nhẽo. Đọc bài tóm lược của một truyện dài nổi tiếng cũng như đọc một kịch bản viết để trình diễn trên sân khấu. Người đọc có thể hiểu được các diễn biến của câu chuyện nhưng không thấy được hình ảnh đẹp mơ màng hay bi thảm, không nghe được tiếng cười vui tươi hay tiếng khóc nức nở, không có phương tiện hay chất liệu để khơi dậy óc tưởng tượng hay cảm xúc. Viết một tiểu thuyết có giá trị, một nhà văn tài ba không những chỉ cho độc giả đọc kịch bản mà còn cho họ xem kịch bản trình diễn trên sân khấu, bằng cách cho diễn biến trải ra với hoạt động của nhân vật trong một bối cảnh thích hợp.

Truyện Le Fils de la Baleine tương tự như là một kịch bản nghệ thuật, gồm nhiều màn có ý nghĩa, diễn tả bởi các hành động của nhân vật với nhiều cá tính trong một bối cảnh nên thơ, đầy hương vị quê hương. Biết không có cơ hội để làm dân làng, Mô xin làng cấp một giấy chứng nhận để đi khỏi làng; các chức sắc chửi Mô ào ào rồi từ chối, vì lý do Mô không phải là người thật, người thật phải có tên trong sổ hộ tịch. Mô bực tức và xin viết đơn khiếu nại lên thượng cấp. Các chức sắc tin rằng Mô không biết viết nên đồng ý cho viết. Khi Mô viết gần xong, một chức sắc biết họ đoán sai nên chạy lại chộp lá đơn, Mô phản đối, tên lý trưởng nạt nộ và tiến về phía Mô, Mô vớ bình mực và ném vào mặt hắn. Toàn thể chức sắc ùa vào đánh Mô. Mô bất tỉnh, nằm dài giữa đình như một xác chết. Hoảng sợ, các chức sắc lay người Mô cho hồi tỉnh. Vì bị lay mạnh nên mấy đồng bạc trong túi Mô rớt ra. Nhìn thấy mấy đồng bạc, tên lý trưởng đứng dậy, mặt dính đầy mực, dõng dạc ra lệnh cho một chức sắc làm biên bản là Mô ăn cắp tiền, vì tiền rớt ra từ túi Mô; và vì tội ăn cắp đó, Mô phải vào tù ba tháng. Sợ các chức sắc không hiểu, tên lý trưởng nói thêm rằng nếu ghi vào biên bản việc Mô ném bình mực vào mặt hắn, làng sẽ mất mặt, vì Mô ném vào mặt hắn là ném vào mặt tất cả chức sắc. Nói xong, hắn nhìn các chức sắc bằng một cái nhìn hăm dọa rồi ra lệnh mọi người không được kể chuyện này cho ai nghe vì nó chỉ làm cho những đầu óc xấu xa thêm phấn khởi vì hành động của tên Mô điên này. [. . . Le maire regarda d'un air menaẫant chacun des notables puis . . . il ajouta: ". . . je vous ordonne de ne pas raconter cette histoire. Elle ne fera qu’exciter les mauvaises têtes, qui verraient dans le geste de ce fou un dangereux encouragement." (trang 129)]

Hầu hết các diễn biến trong tiểu thuyết đều là những hư cấu, nhưng với một cây bút tài năng, những hư cấu này còn thật hơn sự thật ngoài đời. Điều này có vẻ nghịch lý nhưng có thể giải thích dễ dàng. Sự việc ngoài đời bề bộn, xảy ra khắp nơi, vào nhiều lúc khác nhau, bằng nhiều sự nối tiếp hay kết hợp tình cờ, tối nghĩa, bí ẩn. Sự bề bộn này là một thử thách cho nhà văn. Nhà văn tài ba chỉ chọn những diễn biến có lý và ý nghĩa, sắp xếp chúng theo một thứ tự không gian hoặc thời gian nào đó rồi diễn tả chúng bằng những hành động trong một khung cảnh dễ cảm nhận. Với sự lựa chọn, sắp xếp và diễn tả đó, các diễn biến, dù là hư cấu, thành dễ hiểu, gây được xúc động cho người đọc, nên trở nên rất thật. Xa hơn chút nữa, các tường trình trong xã hội, dù dựa vào sự thật nhưng nhiều khi không thật lắm vì ngụy tạo, biến chế hay láo khoét, nhưng những hư cấu của một cuốn tiểu thuyết có giá trị trường cữu lại rất thật. Loại sự thật đặc biệt này là sự đóng góp của nhà văn vào sự hiểu biết và phát triển xã hội. Đọc Le Fils de la Baleine độc giả sẽ nhận diện được nhiều sự thật thuộc loại này.

IV

Le Fils de la Baleine là một chuyện rất hấp dẫn vì xây dựng trên một sự xung đột. Nhận xét này đúng nhưng quá tổng quát vì hầu hết các truyện dài (và truyện ngắn) có giá trị đều dựa vào một hình thức xung đột nào đó. Sự hấp dẫn của những chuyện này tùy thuộc rất nhiều vào bản chất của sự xung đột -- đơn thuần hay đa diện -- và kết thúc của sự xung đột.

Xung đột đa diện được cấu thành bởi nhiều xung đột nhỏ, tức là xung đột phần tử; các xung đột phần tử này chồng chất lên nhau, hổ trợ nhau, tương phản nhau để tạo thành một sắc thái của sự xung đột và làm cho sự xung đột tăng gia và rồi đạt cực điểm. Sự xung đột có thể bắt đầu bằng một ngẫu nhiên nào đó nhưng các xung đột phần tử phải là những diễn biến nội tại (nghiã là có cội rễ trong khung cảnh của sự xung đột), hợp lý và có ý nghĩa. Nếu không hội đủ các điều kiện đó, sự xung đột sẽ giả tạo, thiếu sức sống, và không thể hấp dẫn người đọc.

Nhìn từ một khía cạnh khác, sự xung đột đa diện là một tranh chấp giữa hai lực lượng trên nhiều mặt trận khác nhau, những mặt trận này liên hệ nhau và xác định tốc độ gia tăng và sự quyết liệt của sự tranh chấp. Muốn chiến thắng, vị tướng chỉ huy phải điều động các mặt trận theo một chiến lược thích hợp; để câu chuyện hấp dẫn, nhà văn phải phối hợp các xung đột phần tử một cách hợp lý.

Sự xung đột càng gay cấn bao nhiêu thì sự kết thúc cần phải có ý nghĩa bấy nhiêu; nếu không đạt được điều kiện đó, sự xung đột sẽ sụp đổ, gây nên sự chán nản cho người đọc. Nếu sự xung đột kết thúc bằng một xung đột phần tử vô lý chẳng hạn, sự xung đột chỉ là một câu chuyện có đầu nhưng không đuôi. Chọn một xung đột phần tử (hay một diễn biến) để kết thúc một xung đột là điểm son của tài nghệ của tác gỉa. Thông thường, xung đột phần tử này phải khác với các xung đột phần tử cấu thành sự xung đột; nó là lực lượng đối nghịch, một lực lượng thứ ba, nhưng phải có cội rễ sâu xa trong khung cảnh của sự xung đột.

Lão Mạnh là lực lượng thứ ba của cuộc xung đột trong Le Fils de la Baleine. Lão không phải là một ngư dân mà là một người bán san hô, nên suy nghĩ có đôi phần khác với dân chài. Lão chán sự hủ bại của các chức sắc trong làng; lão không ưa cách họ đối xử với Mô; lão có cảm tình với Mô. Lão là người cô đơn, thường uống rượu và ca hát một mình, vu vơ: "Tình ta chỉ có một mùa . . . " [Notre amour n’a duré qu’une saison . . . (trang 52)] Từ ngày vợ lão chết lão càng cô đơn hơn; lão thường giả giọng nói của vợ để diễn lại cuộc đối thoại giữa lão và vợ lão những ngày vợ lão còn sống: "Khi tui chết rồi bà sẽ được tự do tái giá." "Được rồi, nhưng mà ông đâu có chịu chết. Cả mười năm rồi ông chỉ nói đi nói lại với tui chừng đó. Thôi ông đi nghỉ đi; chiều này ông uống nhiều quá." ["Dis donc, ma veille, quand je mourrai, tu seras libre de te remarier." "D'accord, mais tu ne presses pas se mourir. Depuis dix ans, tu me répètes la même chose. Repose-toi. Tu as trop bu ce soir." (trang 206)] Cuộc sống của lão Mạnh là một cuộc chiến đấu nội tâm, cuộc chiến đấu chống sự trống không, buồn nản; lão thích làm việc gì đó để bớt chán chường. Khi lão cứu Mô ra khỏi nhà tù, Mô cảm ơn và hỏi lý do, lão nói với Mô điều đó. [Je fais ca pour tromper l’ennui de mon existence." (trang 210)]

Sự xung đột trong Le Fils de la Baleine bắt đầu bằng một ngẫu nhiên (dân chài vớt Mô trong khi kéo lưới) nhưng tăng trưởng và đạt đến cực điểm bằng những xung đột phần tử hữu lý, có ý nghĩa, ăn khớp với nhau và xuất phát từ khung cảnh của cuộc xung đột. Ngoài ra, Mỗi xung đột phần tử đều có một đặc tính riêng, như bất thường (Mô phục hồi trí nhớ), bí ẩn (vị ẩn sĩ sống rồi chết ngoài đảo), tình cờ (tên cướp viếng thăm các chức sắc trong làng), và tất yếu (Hoa ghen với Liên). Sau cùng, sự xung đột được kết thúc bằng một lực lượng thứ ba, được chuẩn bị một cách rất cẩn thận và kín đáo từ lâu trước khi xuất hiện. Ba yếu tố đó cấu thành sự hấp dẫn của câu chuyện, sự hấp dẫn rất ý vị, sự hẫp dẫn của một bức tranh nghệ thuật, của một khúc nhạc bất hủ, người xem và nghe nhiều lần vẫn không thấy nhàm chán.

V

Từ trang đầu đến trang cuối, Le Fils de la Baleine là sự thể hiện của một lối văn trong sáng, giản dị và trung thật, clarté, simplicité et authenticité. Độc giả ham chuộng lối viết của các nhà văn Pháp thuộc phong trào tiểu thuyết mới chắc không ca ngợi đặc điểm này của Le Fils de la Baleine. Phong trào tiểu thuyết mới chối bỏ lối viết trong sáng giản dị và trung thực này. Các nhà văn thuộc phong trào này chủ trương nhân vật không cần được mô tả bằng những đường đậm nét, hành động của nhân vật không cần thúc đẩy bởi một chiều hướng tâm lý rõ rệt. Nhân vật thường trôi giạt giữa thực tại và mộng tưởng, hành động trong một khung cảnh cấu thành bởi nhiều mảnh vỡ của quá khứ và tương lai, và suy tư bằng những độc thoại nội tâm dài lê thê giữa bản thể và tha nhân. Nếu con người sống bơ vơ, trôi nổi, vô vọng thì văn chương chẳng cần phải theo một khuôn phép nào để diễn tả tình trạng đó. Sự hỗn độn, quay cuồng, trôi nổi của lời văn tự chúng diễn tả trình trạng nội tâm hỗn độn, quay cuồng, trôi nổi của nhân vật. Phong trào tiểu thuyết mới chắc chắn có nhiều điều mới lạ và một nhà văn của phong trào này, Claude Simon, đã được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1985(8). Sư bơ vơ và vô vọng của con người, nếu có thể diễn tả bằng một lối văn bơ vơ và vô vọng, thì chắc chắn cũng có thể diễn tả bằng lối văn trong sáng gọn gàng như lối văn của Le Fils de la Baleine. Phong trào tiểu thuyết mới rồi sẽ đi qua nhưng lối văn trong sáng gọn gàng sẽ vẫn là khuôn phép vàng ngọc, và Le Fils de la Baleine vẫn sẽ mãi là một trong những thành công rực rỡ của khuôn phép này.

Cũng như nhiều nhà văn khác, thầy Nguyên dùng nhiều kỹ thuật thông thường như ấn tượng, thậm xưng, đảo ngữ . . . để diễn đạt ý tưởng; điều đặc biệt là những kỹ thuật này được dùng rất gọn gàng, đúng lúc và không gượng ép nên gây được nhiều thú vị cho người đọc. Việc Mô không có tên và muốn có tên được diễn tả bằng mấy sự phi lý, mỉa mai, tương đồng và tương phản một cách rất nhẹ nhàng thâm thúy. Vì biết không có cơ hội để làm dân làng, Mô xin làng cấp một giấy tùy thân để đi khỏi làng; lý trưởng cười và nói với Mô rằng hắn không phải là người thật vì không có tên trong sổ hộ tịch. Mô phản đối, cho đó là một sự phi lý vì Mô là một người thật, bằng xương bằng thịt, và đang đứng trước mặt lý trưởng. [. . . "Cest insensé ce que tu nous demandes!" cria le maire . . . "Je ne peux pas établir une autorisation pour un personnage fictif." . . . "Mai je suis là, devant vous, monsieur le Maire." (trang 80)]

Trí nhớ Mô bình phục, Mô nhớ lại tên Mô là Nguyễn văn Hoàng và gốc gác của Mô. Mô nhờ lão Trân, một chủ ghe cho Mô tá túc, nói với làng điều đó để Mô được sinh hoạt trong làng. Lão Trân từ chối và mỉa mai Mô rằng ai cũng có thể nói mình là dòng dõi của một vua chúa nào. [ . . . "vous auriez pu . . . bien prétendre que vous descendez de quelque roi . . . (trang 112)] Lời mỉa mai của lão Trân làm Mô đau đớn, nhưng hắn cũng cố đi đến nói với làng. Vừa nghe xong, một chức sắc chế nhạo Mô rằng ai cũng có thể kể lại rằng tên mình là Khổng Phu Tử rồi các chức sắc cùng cười khảy với nhau. ["Alors, moi, je peux raconter que je mỔappelle Confucius." Les notables rirent doucement. (trang 114)]

Sau lần bị mỉa mai đó Mô bỏ cuộc, nhận mình là người không tên. Buổi chiều Mô giúp Liên tìm con dê bị lạc, Mô hỏi Liên tên con dê để gọi to với hy vọng con dê nghe tên và quay về. Liên nói con dê không có tên; Mô nghĩ đến thân phận mình và thì thầm một mình, con dê đó cũng như Mô, Mô không có tên. [ . . . "A-t-elle un nom, cette bête?" demanda Mo. "Non, malheureusement!". "Comme moi," murmura le jeune homme. (trang 87)]

Mô bị một tên cướp uy hiếp và lấy hết cá. Tên cướp bảo Mô nói tên và lai lịch; Mô trả lời Mô không có tên và không nhớ quá khứ của mình; tên cướp khen Mô rất thông minh vì biết dấu tên và che đậy quá khứ của mình với lý do mất trí nhớ và vì thế hắn thích Mô; hắn thích những gã không có quá khứ mà chỉ có hiện tại để phô trương và sống. ["Tu es très intelligent", confia l’inconnu. "Tu sais cacher ton passé sous une défaillance de mémoire. JỔaime les gars comme toi, qui nỔont que leur présent à étaler et à vivre." (trang 97)]

VI

Le Fils de la Baleine rất nên thơ vì khung cảnh non nước bao la của làng chài và nhất là vì mối tình tay ba thơ mộng giữa Mô, Hoa và Liên. Tuy ngây ngô và hành động bất thường, Mô là người lãng mạn, đa tình và rất biết lấy lòng người đẹp. Một hôm Hoa kể rằng ngày dân chài vớt Mô lên trong khi kéo lưới, Mô trần truồng, Hoa phải lấy khăn trùm đầu đưa cho dân chài che thân Mô. Để tỏ lòng biết ơn, Mô kể cho Hoa nghe câu chuyện của một anh học trò nghèo và ví mình như anh học trò đó: Thuở xưa, có một người học trò nghèo lắm đến nổi không có áo quần để mặc; một hôm một đám con gái đi đến gần chổ anh ở, anh học trò phải nhảy xuống giếng để trốn. Lũ con gái chế nhạo anh rồi bỏ đi nhưng một cô trong đám muốn cứu giúp anh, cho anh một chiếc khăn quàng cổ. Sau đó người học trò nghèo này đổ đạt, ra làm quan và trở về cái giếng ngày xưa để tìm ân nhân. Ân nhân vẫn còn sống chổ cũ nhưng mới thành một góa phụ, vị quan xin cưới nàng làm vợ, nàng từ chối, không muốn nghe chuyện cưới hỏi. Vị quan cảm thấy buồn và lạc loài như ngày xưa, ngày người học trò nghèo không biết lấy gì để báo đáp người con gái. ["J’étais donc cet étudiant qui, faute de ne pouvoir se vêtir décemment, se réfugia au fond d'un puits en voyant des jeunes filles approcher près de lui. On s'enfuyait en se moquant du malheureux. Une seule eut l’idée de lui faire aumône de son écharpe. Plus tard, l’étudiant pauvre ayant réussi . . . à obtenir ses grades et à devenir mandarin, revint à l’endroit du puits afin de chercher sa bienfaitrice. Celle-ci vivait encore dans les environs et venait de perdre son mari. Le jeune mandarin fit connaitre ses intentions, mais la veuve ne voulut plus entendre parler de mariage, et notre étudiant se sentit aussi triste et abandonné que le jour où il n'avait pas de quoi se payer une belle apparence." (trang 48-49)] Nghe xong câu chuyện, Hoa rất ngạc nhiên; và đó là bước đầu của cảm tình rồi tình yêu của Hoa đối với Mô.

Đối với Liên, Mô là người yêu cuồng nhiệt nhưng rất mộng mơ. Sau ba tháng tù, Mô gặp lại Liên, Liên muốn biết đầu đuôi câu chuyện, Mô nói rằng Mô bị tù vì ném lọ mực vào mặt tên lý trưởng vì tên này không chịu tin lời Mô nói. Liên hỏi lại rằng nếu sau này Liên không tin lời Mô nói thì Mô sẽ lấy gì để ném vào mặt Liên. Mô trả lời rằng nếu Liên không nghe lời Mô thì Mô sẽ leo lên ghềnh đá cao và lao đầu xuống biển. ["Et, si je ne croyais pas à vos paroles, que me lanceriez-vous au visage?" plaisanta Liên. "Je me jetterais dans la mer du haut d'un rocher." (trang 147)]

Mô là chàng trai đào hoa, có trái tim mang được cả hai trái tim; đã có lúc Mô ước mơ "thân này ví xẻ làm hai được" và cảm thấy sự rối rắm của con tim và lý trí, của tình yêu và sự chọn lựa. Một lần Mô tự hỏi tại sao trí nhớ của Mô không mất hẳn đi để Mô có thể tận hưởng hương vị của mỗi sự việc thoáng qua như là tận hưởng một điều tốt đẹp độc nhất mà không phải ân hận chút nào. Mô có thể yêu Hoa không một chút ngần ngại, vì có lẽ Hoa yêu Mô hết lòng. Mô có thể quên đi cô gái bé nhỏ Liên hay chỉ xem nàng như tất cả các cô gái khác trong làng buồn thảm này. ["Pourquoi ma perte de mémoire ne serait-elle pas totale, pour que je puisse sans remords gouter la saveur de chaque chose fugitive comme un bien unique? J’aurais pu aimer sans hésitation Hoa qui, peut-être, m'aime sincerement. J’aurais pu oublier la petite Liên ou ne la voir que comme toute autre fille de ce triste village." (trang 188-189)] Nhưng đó không phải là việc dễ làm, và bây giờ Mô chỉ còn biết ước mơ. Mô ước mơ mình là viên đá cuội lấp lánh dưới ánh nắng rực rỡ hay là dòng nước ấp ủ sự e ấp của những cành san hô còn non. ["Comme je voudrais être simplement ce caillou qui luit sous les reflets irisés du soleil ou cette nappe d'eau qui abrite la pudeur de jeunes coraux!" (trang 189)]

Vì mất trí nhớ nên nhiều khi Mô hành động rất bốc đồng, ngây ngô và vụng về. Mô chơi nhảy cò cò với lũ trẻ và chơi không rành. ["Montrez-moi comment vous jouer, d'abord, dit Mô." (trang 56)] Mô thích chơi cái lung tung, một thứ đồ chơi của con nít, giống như một cái trống nhỏ, khi quây tròn gây ra hai tiếng "lung" "tung" liên tiếp nhau. ["Ici le yin, là le yang. Un coup de yin, un coup de yang. Yin yang. Yin yang. Mô faisait sa rentrée au village en agitant ses tambourings . . . (trang 140)] Vì bị mất trí nhớ, Mô hành động bốc đồng, ngây ngô, nhưng yêu đương rất mặn mà, nồng thắm. Sự bốc đồng này làm cho sự xung đột giữa Mô và các chức sắc thêm sống động, tình yêu nồng thắm làm cho câu chuyện nên thơ, nhưng sự bốc đồng của lý trí và sự nồng thắm của con tim chắc khó đi đôi với nhau; nếu hai trạng thái này hòa hợp với nhau như trường hợp Mô thì đây là một điều rất khó giải thích, quá hy hữu.

Mối tình bộ ba Mô, Hoa và Liên là một sự xung đột, xung đột trong chính Mô và giữa Hoa và Liên. Hoa, con gái của một chủ ghe giàu có, đến với Mô bằng cách ban bố sự che chở và phương tiện vật chất cho Mô sinh sống. Liên, con gái nuôi của một gia đình bán tạp hóa nghèo, bị đánh đập và mắng chửi hàng ngày, đến với Mô để được che chở và an ủi. Con đường vào tình yêu của hai nàng cũng khác nhau. Hoa đến với Mô rất bạo dạn và nồng cháy. Hoa đưa Mô đi chơi suốt đêm, chạy đuổi trên đồi cát rồi ra bãi biển. Hoa rủ Mô tắm, Mô từ chối. Hoa cởi hết áo quần và nhảy xuống nước, thân hình Hoa trở thành một vệt sáng hòa lẫn với sóng nước. Hoa bơi, đứng dậy gọi Mô xuống tắm, rồi tiếp tục vẫy vùng. Tắm xong, Hoa đến bên Mô và kéo Mô, vì Hoa quá mạnh nên hai người té nhào và lăn tròn xuống chân đồi cát, Mô cảm thấy ngực trần của Hoa áp vào ngực Mô. Trăng xế, đêm mát rượi; hai người nằm bên nhau, đầu Hoa tựa trên ngực Mô. ["Vous me suivez" cria Hoa. "Oui", toujours, répondit joyeusement Mô. Enfin ils gravirent les collins de sable et, parvenus à là crête, découvrirent la mer étale dans une large baie silencieuse . . . "Je vais me baigner, dit Hoa. L’eau n’est pas profonde. Venez si vous le désirez. Mô ne bouga pas . . . Bientôt, il la vit se jeter dans les vagues, son corps dévêtu formait une tache claire qui se confondait parfois avec les reflets de l’eau qu’il agitait. Un moment, Hoa se tint debout, poussa des cris d'appel à Mô, puis elle remit à nager vigoureusement . . . À pas lents, Hoa était remontée au somet de la dune, s'était approchée de Mô, . . . Elle le tira les bras, de toutes ses forces, et ils roulèrent tous les deux sur la pente . . . Mô découvrit . . . le contact d'une poitrine nue se pressait contre la sienne . . . La lune s'était eteinte. La nuit devenait fraiche. Les deux jeunes gens resterènt pendant des heures, étendus côte à côte . . . La tête de Hoa pesait sur sa poitrine. (trang 181-184)]

Liên đến với Mô bằng tình yêu thật kín đáo nhẹ nhàng. Mệt mỏi vì phải chạy khắp nơi để tìm dê nên Liên bị vấp ngã hoài, sau cùng Liên được Mô bồng trên tay. Liên lặng yên trong cánh tay của Mô. Liên cảm thấy bắp thịt Mô rắn chắc, tiếng thở hổn hển trong lồng ngực nhễ nhại mồ hôi; bước chân lắc lư của Mô là sự che chở dịu dàng đối với Liên. Liên ôm cổ Mô và nhắm mắt. Niềm vui sướng chế ngự n’i lo âu. [Liên se calait dans les bras du jeunne homme. Elle sentait la dureté des muscles, le halètement de la poitrine moite de sueur et trouvait dans le bercement de la marche le réconfort d'une douce protection. Elle enroulait ses bras autour du cou de Mô et fermait les yeux. Une joie dominait son angoisse. (trang 86)] Trước khi trốn thoát, Mô nhờ Liên giữ trong người Liên cuốn sách vị ẩn sĩ cho Mô. Khi thuyền đã ra xa, cảm thấy an toàn và hạnh phúc bên nhau, Mô hỏi Liên quyển sách, Liên mở áo cánh đen để lấy quyển sách và Mô thoáng thấy làn da hồng của cái vú nho nhỏ. ["Vous avez pensé à mon livre, Liên?" dit-il doucement. La jeune fille avait ouvert sa veste de calicot noir. Mô vit en un éclair la chair rose d'un petit sein. (trang 218)] Liên rất ngây thơ và hồn nhiên.

Sự khác biệt giữa Hoa và Liên làm cho mối tình Mô-Hoa-Liên thêm gay cấn và Le Fils de la Baleine thêm hấp dẫn. Tuy sự gay cấn này có vai trò khá quan trọng trong màn kết thúc câu chuyện -- Hoa nổi cơn ghen, chỉ chổ trốn của Mô cho chức sắc trong làng đi bắt Mô -- nhưng sự khác biệt này quá đáng, Hoa bạo dạn quá. Dù Hoa không làm điều "nguyệt nọ hoa kia" nhưng trong đêm trăng tàn, trên biển vắng, Hoa cỡi bỏ hết áo quần, đùa dỡn với sóng nước, để Mô thấy mơ hồ "dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên"(9) là một điều cô gái Việt Nam không ai dám làm; Hoa giống như một cô gái tây phương trên màn ảnh. Và một điểm nữa, không hiểu tại sao Mô có thể bồng Liên chạy ngược lên đồi. Mô không mạnh và không khéo léo, vì chỉ chơi cò cò với lũ trẻ, Mô cũng bị té hoài. [Malhabile à sauter à cloche-pied, il tomba plusieurs fois. (trang 56)] Tình yêu của Liên có thể làm cho Mô phấn khởi nhưng chắc không biến một thư sinh rất vụng về như Mô thành một tay trèo núi dẻo dai. Hình ảnh Mô nắm tay Liên chạy lên đồi chắc đẹp hơn và Việt Nam hơn nhiều.

VII

Trong khi tìm kiếm tài liệu để viết bài này tôi có hỏi vài vị giáo sư chuyên về bộ môn tiểu thuyết Pháp mà tác giả không phải là người Pháp; mấy vị này dạy ở đây đã nhiều năm nhưng không biết thầy Nguyên. Ngoài ra, qua mạng lưới Internet, tôi thấy chương trình giảng dạy của bộ môn này tại nhiều đại học Mỹ cũng không ghi Le Fils de la Baleine là tác phẩm mà sinh viên cần phải đọc. Hầu hết các chương trình này đều có ghi các tác giả Bắc Phi, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Hữu Châu (anh rể của bà Ngô Đình Nhu) và vài người khác.(10) Những tác giả Việt Nam có ghi trong các chương trình này đều là những văn tài lổi lạc nhưng theo tôi sinh viên Mỹ cần phải đọc Le Fils de la Baleine. Không đọc Le Fils de la Baleine là một thua thiệt cho họ; và họ sẽ không bao giờ biết họ thiếu sót gì về văn chương Việt Nam viết bằng tiếng Pháp nếu họ không đọc Le Fils de la Baleine. Mới đây, một người học trò cũ của thầy Nguyên(11) gởi tặng tôi một cuốn Le Fils de la Baleine (ấn bản 1978, Canada), tôi định sau này tôi sẽ tặng bản đó cho thư viện của một trường đại học, chắc là trường Duke University ở Durham, North Carolina, để sinh viên có dịp thưởng thức kiệt tác này.

Nguyễn Phụng

Greensboro , North Carolina 4/2002



GHI CHÚ

1. Cựu học sinh Đệ-Nhất C Võ Tánh Nha Trang niên khóa 1965-66: Nguyễn thị Hoàng Anh, Nguyễn Bá Dĩnh, Vũ thị Minh Dung, Ngô văn Hóa, Võ thị Xuân Hương, Trương thị Bích Khuê, Phạm Khắc Long, Từ thị Tuyết Nga, Nguyễn văn Quang, Trần thị Cảnh Tịnh, Ông thị Cẩm Vân, Nguyễn thị Bạch Võ, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn thị Như Ý. Cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang: Nguyễn thị Kim Cúc, Dương Đức Ngọc, Phùng văn Nguyên, Nguyễn Lương Thuật, Nguyễn Đăng Tuấn. Cựu học sinh Nữ Trung Học Nha Trang: Nguyễn Hữu thị Ngọc Tài.

2. Trung Tâm Cung Giũ Nguyên: Website: [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] Email:[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]. Tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Công Thuần đã có nhã ý cho tôi mượn truyện Le Fils de la Baleine (ấn bản 1978, Québec, Canada) và cho tôi nhiều ý kiến rất qúy báu. Tôi cũng xin cảm ơn anh Trần Văn Thung đã góp ý về những bài báo thầy Cung Giũ Nguyên đăng trên các tạp chí xuất bản ở Sài Gòn.

3. Éditions Anne Carrière, Paris , France , 1994.

4. Tên "Mô" trong nguyên bản tiếng Pháp không bỏ dấu nên có thể là Mồ, Mộ, Mố, Mổ, hay M’. Vì đối với người Việt tên của một người là một ấn tượng và vì các chức sắc trong làng ghét Mô, nên chắc họ đặt cho anh một tên rất xấu; Mố hay M’ là hai tên xấu nhất, và có thể là tên của Mô.

5. Jack A. Yeager, The Vietnamese Novel in French: A Literary Response to Colonialism, Hanover and London : University Press of New England , 1987, pp. 216-217. Xin xem thêm, Cung Giũ Nguyên, Thái Huyền, tập I nhà xuất bản Đại Nam , California , USA , 1994, bìa sau.

6. Yeager, sách đã dẫn, trang 216-217.

7. Nouveau Roman et Nouveaux Romanciers, Université d'Ottawa: Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute, Claude Simon, [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]. Ngoài ra, bộ bách khoa tự điển của nhà xuất bản Hachette, Pháp, cung cấp nhiều tại liệu hữu ích: [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ].

8. "Et Je Pouvais Voir" Oeuvres de Claude Simon. Élements pour une biographie littéraire. Bibliographic sélective et commentée, [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]. Và xin xem thêm La République des Lettres: Littérature Franẫaise/ Nouveau Roman/ Alain Robbe-Grillet, [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ].

9. Lời Kiều dặn Kim Trọng khi hai người bên nhau: "Đừng điều nguyệt nọ hoa kia, Ngoài ra ai có tiếc gì với ai." Thúc Sinh ngắm Kiều tắm: "Rõ màu trong ngọc, trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên."

10. Đại học ở Mỹ như Hobart and Williams Smith College chẳng hạn, có chương trình này, [Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ].

11. Huỳnh Tự Tân, cựu học sinh Đệ-Nhất C Võ Tánh, Nha Trang, niên khóa 1965-66.
Đăng nhập để trả lời
0
TRUYỆN LE DOMAINE MAUDIT (Miền Đất Dữ) Của CUNG GIŨ NGUYÊN

Nguyễn Phụng


Cung Giũ Nguyên là một nhà văn và nhà báo lớn với hơn năm mươi tác phẩm viết bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Anh. Cung Giũ Nguyên được rất nhiều nhà phê bình văn chương và độc giả Âu Châu biết tên và tán thưởng, đó là một hãnh diện lớn cho văn học Việt-Nam. Tuy vậy, chẳng bao nhiêu độc giả Việt-Nam biết và có cơ hội thưởng thức văn tài của tác giả; đó là một điều đáng tiếc. Bài “Nhà văn Giũ Nguyên và Truyện Le Fils de la Baleine hay Người Con Trai của Ngài Cá Ông” đăng trong Hành Chánh Miền Đông (số 5 tháng 7 2003) [1] là một cố gắng nhỏ của chúng tôi để giới thiệu tác phẩm của Cung Giũ Nguyên với độc giả. Để tiếp tục công việc đó, chúng tôi xin giới thiệu một tác phẩm nỗi tiếng khác của tác giả, Le Domaine Maudit (Miền Đất Dữ). Le Domaine Maudi, xuất bản tại Paris vào năm 1961, dày 350 trang, là một tiểu thuyết lịch sử, xã hội và tình cảm đa diện. Trong bài này, chúng tôi xin tóm lược cốt truyện, đúc kết một số ghi nhận của các nhà phê bình văn chương về tác phẩm đó và trình bày vài cảm nghĩ của chúng tôi về tác phẩm. [2]

I.
Le Domaine Maudit (Miền Đất Dữ) của Cung Giũ Nguyên là câu chuyện của một gia đình thượng lưu Việt-Nam tan vỡ vì sự xung đột giữa hai ý thức hệ — giá trị luân lý cổ truyền Khổng-Mạnh và ý thức hệ cộng sản — vào khoảng thời gian từ 1930 cho đến 1955.
Loan là con gái của một gia đình giàu có và thân thế ở Sài Gòn. Ba Loan, ông Quang, là một luật sư thành công; mẹ Loan là con gái của một điền chủ giàu có ở Lục Tỉnh. Loan học lớp đệ-nhất tại một trường trung học Pháp ở Sài Gòn và đương chuẩn bị thi tú tài toàn phần. Gia đình Loan tuy giàu có nhưng không êm ấm; mẹ Loan, vì ảnh hưởng của nếp sống điền chủ giàu có, thiếu hẳn bổn phận làm vợ, làm mẹ và nhất là không trung thành với ông Quang. Ngoài ra, em trai của Loan, Minh, vì sẵn tiền của và được sự nuông chiều quá đáng của mẹ Loan, nên chơi bời, hư hỏng. Loan khốn khổ, mất hết niềm tin vào giá trị luân lý gia đình; Loan bỏ đạo thờ cúng ông bà và trở thành một tín đồ Thiên Chúa Giáo.
Sau lễ rữa tội, Loan dồn hết nỗ lực vào việc học thi, nhưng ngày Loan thi đậu chẳng ai hỏi han hay chia xẻ niềm vui với Loan vì mẹ Loan đã bỏ nhà đi theo tình nhân và chết thảm thương trong một tai nạn xe hơi trên đường Sài Gòn Vũng Tàu; ba Loan vì quá đau thương nên chẳng ngó ngàng gì đến con cái.
Trong hoàn cảnh trống vắng đó Loan gặp Trường, sinh viên năm thứ ba trường luật. Hai người yêu nhau và được hai gia đình chấp thuận cho làm lễ thành hôn. Ước mơ của Loan là Trường tốt nghiệp trường luật, hành nghề luật sư như ông Quang và xây dựng một gia đình êm ấm, nhưng ước mơ đó chẳng bao giờ thành tựu vì Trường bỏ học để họat động chính trị. Trường gia nhập đảng Cộng Sản (lúc đó lực lượng chính trị này chưa dùng chiêu bài cộng sản vì còn muốn ẩn danh để tiện sinh hoạt với các đảng phái Quốc Gia) để thực hiện một cuộc cách mạng vô sản trên toàn lãnh thổ Việt-Nam. Từ ngày đó, Loan cảm thấy một sự ngăn cách lớn lao giữa hai người vì quan niệm hạnh phúc và gia đình của Trường khác hẳn những điều Loan hằng mơ ước. Tuy vậy, như bao nhiêu người vợ hiền Việt-Nam khác, Loan vẫn cố gắng yêu thương và chiều chuộng chồng và hy vọng có ngày Loan sẽ là một mẹ hiền, chỉ biết hy sinh cho con cái và mái ấm gia đình. Loan cố nhẫn nhục và chịu đựng; Loan tự nguyện làm thư ký riêng cho Trường trong những phiên họp. Nhưng sự chịu đựng có giới hạn, càng đi sâu vào hoạt động cách mạng vô sản của Trường, Loan càng thấy xa cách Trường và chán ghét những người bạn của Trường. Những người này dơ dáy, cử chỉ lố bịch, ăn nói thô bỉ, không chút lịch sự tối thiểu, họ thường bỏ cả hai chân trên ghế sa-lông hay hỉ mủi và khạc nhổ ngay xuống sàn nhà. Loan phàn nàn và Trường cố chống chế; Trường giải thích với Loan họ là những người có kiến thức sâu xa về cuộc cách mạng vô sản và là những đại diện xứng đáng của dân chúng Việt-Nam và nhân loại thế giới.

Trường tiếp tục rút tỉa tiền của gia đình để giúp sinh hoạt chính trị. Đã nhiều lần Trường nêu lên câu hỏi về sứ mạng của mình nhưng chẳng biết còn cách gì khác hơn ngoài cách đi tới và đi tới. Càng bâng khuâng, Trường càng tiến sâu vào cuộc phiêu lưu, càng làm ra vẻ hăng say, để tự dối mình và dối kẻ khác.
Mẹ Trường không muốn Trường bỏ học để làm chính trị nên gởi Trường ra trường luật Hà Nội. Tại Hà Nội, Trường chẳng học hành như mẹ mong muốn mà chỉ tiếp tục hoạt động chính trị và rồi mắc bệnh lao phổi. Loan từ Sài Gòn ra Hà Nội chăm sóc chồng. Loan chăm lo cho Trường với tất cả sự thương yêu như ngày nào và cố khuyên can Trường tỉnh dưỡng nhưng chẳng lay chuyển được Trường. Nằm trên giường bệnh, với chứng lao phổi ở thời kỳ thứ ba, Trường vẫn tiếp tục sinh hoạt với bạn bè, những người cũng dơ bẩn, ăn nói thô tục, thiếu lịch sự như những người Loan đã gặp tại Sài Gòn. Loan chán nãn, thất vọng. Trong thời gian chăm sóc Trường ở bệnh viện, Loan quen với một sinh viên y khoa, Khánh. Khánh si mê Loan và đưa Loan đi ngắm mấy thắng cảnh Hà Thành. Bệnh trở nặng; Trường qua đời. Loan oán trách cách mạng về cái chết của Trường và sự đau khổ của Loan. Loan lấy tàu hỏa xuôi Nam. Trên tàu, Loan mơ màng nghĩ đến Khánh.
Về Sài Gòn, Loan cố sống bình lặng cuộc sống của một góa phụ nhưng cuộc sống bình lặng ấy lại bị xáo trộn. Minh, đứa em trai chơi bời phóng đãng của Loan, dan díu với một cô gái và có một đứa con với cô gái đó; gia đình cô gái nhất định không cho Minh cuới cô gái làm vợ và đem đứa con giao cho gia đình Minh nuôi. Loan nhận đứa con đó — một bé gái — làm con nuôi và đặt tên là Xuyến.
Quân đội Nhật bành trướng thế lực ở Thái Bình Dương và dòm ngó Đông Dương. Ông Quang bỏ nghề luật sư và đem gia đình lên cao nguyên, gần Đà Lạt, lập đồn điền trồng trà. Minh bỏ học, lêu lông khắp nơi, và rồi làm cách mạng như Trường. Loan hoảng hốt, lo âu. Minh, cũng như Trường, đang được ru ngủ bằng một mớ lý thuyết, nhưng rồi chẳng đi tới đâu; Loan đã mất chồng vì mớ lý thuyết đó, Loan sợ mất thêm Minh.
Để xây dựng lại cuộc sống bình thường, Loan đi học và trở thành y tá. Loan chăm sóc Xuyến với tình thương của một người mẹ và đôi lần nghĩ đến Khánh, người con trai Hà Thành một thời nào, nhưng Khánh mất liên lạc với Loan. Một biến cố trong cuộc sống bình lặng của cô y tá Loan là sự gặp gỡ Tùng, một thương gia, lớn tuổi, thành công vì biết lựa gió phất cờ và lợi dụng thời cơ, một người bạn của gia đình. Loan gặp Tùng trong một hội chợ từ thiện; Tùng si mê Loan, cố chiếm ngự trái tim Loan nhưng kết quả chưa đi tới đâu.
Nhật đầu hàng đồng minh, Việt Minh lên nắm chính quyền. Đó là ngày xáo trộn nhất trong đời Loan. Bị một số người giật giây và xúi dục, đám nhân công trong đồn điền nỗi dậy làm cách mạng, chiếm hữu đồn điền và giết chết ba Loan. Loan đau khổ, chán chường vì sự bất công của cách mạng đối với ba Loan. Ba Loan, trong bao nhiêu năm với sự hiểu biết, suy tính chín chắn và làm việc cực nhọc, biến đất hoang thành đồn điền phì nhiêu, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, lại được đền bù bằng cái chết thê thảm.
Chiến tranh bùng nỗ. Như bao nhiêu người khác, Loan tản cư rồi hồi cư và vào làm trong một bệnh viện ở Đà Lạt. Cuộc sống lêu lỗng và cách mạng của Minh tạo thêm một gánh nặng khác cho Loan: Minh đem về một đứa bé trai và giao cho Loan nuôi. Loan đặt tên đứa bé là Thạch và nuôi nấng nó cùng với Xuyến.
Cuộc sống buồn nản lặng lẽ trôi qua. Ngày Xuyến lên tám thì Thạch được năm tuổi. Pháp tái chiếm Nam Kỳ. Một biến đổi khá đặc biệt xảy ra trong bệnh viện Loan đang làm việc: vị tân giám đốc là bác sĩ Khánh, chàng sinh viên y khoa hào hoa si mê nàng ngày nào, nhưng lúc đó vì thương chồng (dù Trường đã từ lâu hết để ý đến ân tình vợ chồng) và giữ đạo lý nên Loan phải quay mặt làm ngơ. Sự hiện diện của Khánh khơi lại đau buồn miên mang trong lòng Loan.
Tùng vẫn theo đuổi Loan. Loan muốn lập lại đồn điền để thực hiện nguyện ước của cha Loan. Loan tâm sự với Tùng; Tùng hăng hái giúp đỡ tiền bạc; Loan nhận sự giúp đỡ và nhắc Tùng đó chỉ là một món vay muợn và Loan sẽ hoàn trả đầy đủ. Loan xin nghỉ việc trong bệnh viện để tránh sự lãnh đạm của Khánh (lãnh đạm vì bổn phận, Khánh vẫn còn nhiều cảm tình với Loan dù bây giờ Khánh đã lập gia đình) và dồn hết thời giờ vào việc khôi phục đồn điền.

Hiệp định Genève ký kết; đất nuớc Việt-Nam chia đôi; nhiều người miền Nam tập kết ra Bắc; cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam; đồn điền của Loan phồn thịnh hơn bao giờ hết nhờ tiếp nhận một số người dân di cư này. Loan nghĩ đến Minh và đinh ninh rằng Minh là một trong những người tập kết ra Bắc. Thế cũng hay vì Loan chỉ còn lo cho đồn điền và hai đứa bé, Xuyến và Thạch.
Minh không tập kết ra Bắc như Loan tưởng, Minh len lõi trở về đồn điền. Và ngày Minh trở về là ngày đám mây đen tối phủ xuống đồn điền. Loan muốn giao hết đồn điền cho Minh quản trị để nối nghiệp gia đình, nhưng Minh bây giờ chỉ là một người đàn ông lầm lì, quái lạ. Trong mấy năm theo cách mạng sống trong bưng, Minh đã học được một mớ lý thuyết và rất hảnh diện đem nó ra để bài bác mọi chuyện. Trong mắt Minh, Loan hiện thân của nếp sống trưởng giả; Xuyến và Thạch là sự nối tiếp của hạt giống trưởng giả, chúng sẽ là những kẻ phản động; chúng học khoa học, ngôn ngữ, nhưng chúng sẽ xa lìa quần chúng. Nhà cửa, đồn điền, quản trị, kinh doanh, lợi tức, tất cả theo Minh chỉ là một hình thức bóc lột sức lao động và chúng sẽ bị càn quét hết bởi làn sóng cách mạng. Minh công nhận rằng Loan là người đàn bà đảm đang nhưng đã đi lầm đường.
Với hy vọng thay đổi Minh và nêu rõ cho Minh thấy trách nhiệm của Minh đối với đồn điền — cơ nghiệp do ông Quang để lại — và bổn phận của người cha đối với con cái, Loan nói cho Xuyến và Thạch biết cha của chúng là Minh và Loan không phải mẹ của chúng như chúng đã nghĩ bấy lâu nay. Minh chẳng thay đổi chút nào; ngoài ra, vì lý do đó và vì do ảnh hưởng của Minh, Xuyến và Thạch không còn thương mến Loan với tình mẹ con nồng ấm như trước đây; Loan thấy đau buồn.
Một hôm, sau khi gặp lại một đồng chí sống trong vùng gần đồn điền, Minh về nhà dẫn Thạch đi theo người đó và hẹn một ngày khác sẽ về đem Xuyến ra khỏi nhà. Loan đau buồn, không muốn xa hai đứa trẻ mà Loan thương yêu như con từ bao nhiêu năm. Xuyến lên mười hai và vì đã bớt thương Loan, nên chỉ coi Loan như một người cô không hơn không kém. Minh và Thạch ra đi, Xuyến càng thấy lạc lỏng và quyết định đi theo cha dù Loan hết lời khuyên nhủ. Một hôm, vì chạy vào rừng suốt ngày để tìm cha và em, Xuyến bị cảm nặng rồi bị thương hàn. Trong cơn mê sản, Xuyến nằng nặc đòi theo cha, oán trách Loan không cho Xuyến sum họp với gia đình. Loan cố khuyên giải và nhịn nhục. Nửa đêm, Xuyến lại ôm áo quần định trốn vào rừng tìm cha. Loan giật gói áo quần, giữ Xuyến lại và cố nói cho Xuyến nghe mối nguy hiểm nơi rừng sâu nước độc; Xuyến cắn vào tay Loan, gọi Loan bằng “bà” (thay vì tiếng “me” êm đềm như trước đây), tuyên bố không thừa nhận Loan, kết tội Loan cố chia rẽ gia đình, và cải tay đôi với Loan bằng những lời ngang ngược. Không dằn được cơn đau lòng và sự nóng giận, Loan điên cuồng và tát Xuyến liên hồi. Vì bị đau, tinh thần căng thẳng và bị đánh đòn khá nhiều, Xuyến ngã qụy và nằm dài trên sàn nhà. Loan hoảng hốt, chạy đến tủ thuốc tìm thuốc cho Xuyến uống. Trong cơn bấn loạn, Loan cho Xuyến uống lầm thuốc và Xuyến qua đời.
Loan trơ trọi một mình. Loan chỉ còn hai lối thoát và phải chọn một để giải quyết cuộc sống: nhận lời cầu hôn của Tùng và theo Tùng sang Pháp hay vào nương thân trong một tu viện. Loan viết thư mời Tùng và linh mục Joseph đến đồn điền. Nếu Tùng đến trước, Loan sẽ là vợ Tùng; nếu linh mục Joseph đến trước, Loan sẽ dâng hiến cuộc sống còn lại cho Thiên Chúa. Tùng không đến vì bị bắt trong một cuộc buôn lậu ngoại tệ; linh mục Joseph không thể lên Đà Lạt vì bận việc.
Loan, đau thương, cô độc, lạc vào bước đường cùng, đen tối; nhưng may thay, chẳng bao lâu, Loan lại tìm được một tia sáng. Một người đến nhờ Loan săn sóc một bệnh nhân trong xóm dân di cư. Loan tận tình cứu chữa người bệnh và nhận ra rằng hy sinh cho niềm an vui của người khác là lối thoát duy nhất của đời Loan.

II.
Le Domaine Maudit là một thành công lớn, được xuất bản trong năm 1961 bởi một nhà xuất bản danh tiếng, Arthème Fayard, Paris và là một trong ba tác phẩm được vào chung kết trong số bốn mươi tác phẩm do ban giám khảo giải thưởng văn chương Prix Rivarol tuyển chọn trong năm 1962. Prix Rivarol là giải thưởng văn chương nhằm vào sự phổ cập của Pháp ngữ trên toàn thế giới. [Jeudi dernier le Prix Rivarol -- Prix de l'Universalité de la langue française -- a été décerné pour la onzième fois. Quarante oeuvres s'affrontent, dont les auteurs appartenaient à seize nations différentes. Finalement ce fut "Le Sang du Ciel", le premier roman écrit en français par l'Ukrainien Rawicj qui fut choisi. Mais deux autres romans auraient été aussi très bien remarqués par le jury: Comme l'ombre qui passe de la Polonaise Sophie Bodhau et Le Domaine maudit du Vietnamien Cung Giu Nguyên. Les Nouvelles Litteraires, Paris, 24 mai 1962]
Cũng như Volontés d’Existence (Ý Chí Trường Tồn), Le Fils de la Baleine (Đứa Con Trai của Ngài Cá Ông) và các tác phẩm khác, Le Domaine Maudit được các nhà phê bình nhiệt liệt ngợi khen. Nhà văn Nguyễn Vỹ trong tạp chí Phổ Thông, Sài Gòn, số ngày 7 tháng 9 năm 1961 hết lời ca ngợi tác giả và tác phẩm: “Cung Giũ Nguyên viết rất hấp dẫn, diễn tả nhiều ý tưởng đặc biệt Việt Nam bằng câu văn đặc biệt Pháp. Sự dung hòa tài tình của hai yếu tố nghệ thuật Ðông Tây cấu tạo thành một tác phẩm thi vị khả ái, duyên dáng, thỉnh thoảng điểm một tí xíu hoạt kê kín đáo, thanh thú, tế nhị vô cùng.”
Nhà văn Võ Hồng, trong một bài viết đăng trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn, ngày 15 tháng 6 năm 1962, khen ngợi sự khách quan của tác giả trong việc trình bày sự xung đột khắc nghiệt giữa hai ý thức hệ luân lý cổ truyền và chủ nghĩa cộng sản. Một điểm khác được nhà văn Võ Hồng nêu lên là sự hấp dẫn của câu chuyện qua các diễn biến sống động, khéo chọn lọc, như cảnh đồn điền ông Quang bị đốt cháy, đồng bào Thượng trong đồn điền dọa nạt Loan, Xuyến chống cự lại Loan, Loan đánh Xuyến quá tay, và Loan hôn mê nghĩ đến Tùng và linh mục Joseph lên Đà Lạt sau ngày Xuyến chết. Sau cùng, nhà văn Võ Hồng thích thú lối viết đơn giản và tự nhiên trong việc trình bày sự xung đột của hai ý thức hệ (về tình yêu, hạnh phúc, gia đình) và diễn đạt những tình cảm mãnh liệt (từ giai đoạn đè nén cho đến giai đoạn bùng phát dữ dội) của các nhân vật.
Le Domaine Maudit được hầu hết các tạp chí văn chương và nhà phê bình văn học Pháp giới thiệu và tán thưởng. Sau đây là mấy trích dẫn tiêu biểu nhất. Nhà phê bình Jacques Toury trên Les Fiches Bibliographiques, Paris ngày 8 tháng 8 năm 1961, tóm lược giá trị của lối diễn đạt và nội dung của Le Domaine Maudit trong mấy giòng ngắn gọn nhưng rất đầy đủ: “Truyện viết bằng lối văn rất đúng với ngữ pháp, đơn giản, chính xác và với ý tưởng luân lý cao thượng. Người đọc không thể không thương cảm cho cô gái trẻ Loan phải đớn đau giằng kéo lấy nền nếp luân lý gia đình trong khi đó bao nhiêu xáo trộn lại xảy ra trên khắp đất nước. . . Nhân vật được gây dựng rất cẩn thận, mang nhiều cá tính hấp dẫn và đầy tình người. Truyện viết rất trôi chảy, cảnh tượng xảy ra nhiều khi thật đau thương vì đưa đến sự chết chóc nhưng không bao giờ là những cảnh tượng ô nhục.” [Ce long roman est fort correctement écrit d'une langue simple, précise, d'une pensée morale de qualité. Il n'est pas possible de ne pas prendre de profonde sympathie pour cette jeune Loan en qui se heurtent la tradition familiale et la foi nouvelle, alors qu'autour d'elle le Viêt Nam connaît les bouleversements que l'on sait . . . Les personnages sont dessinés avec soin, attachants, humains, et dont la trame historique vivifie l'action. . . Le roman se lit sans effort, le drame est parfois pénible car les morts violentes s'y succèdent, il émeut toujours sans scandaliser jamais. Jacques Toury, Les Fiches Bibliographiques, Paris, 8 août 1961]

Theo Le Journal d’Extrême-Orient, tài năng của tác giả Cung Giũ Nguyên là sự khách quan trong việc trình bày các biến cố . . . Khung cảnh thương yêu ngoài Hà Nội giữa Loan và người sinh viên trẻ tên Khánh và khung cảnh đối diện giữa Loan và em trai trong đồn điền gần Đà Lạt được dàn dựng vô cùng linh hoạt. Nhân vật sống động; diễn biến khơi dậy rung cảm. Ngôn từ của các nhân vật làm người đọc nghĩ ngợi miên man. Lời nói sau đây của Loan được bài báo trích dẫn làm bằng chứng cho sự sâu sắc của ngôn từ của các nhân vật: “nếu chúng ta đem một chút ít tình thương yêu bản thân vào tình thương yêu kẻ khác, tình thương yêu kẻ khác sẽ mãi mãi ngự trị trong chúng ta.” [Le mérite de M. Cung Giu Nguyên dans cet ouvrage, c'est l'objectivité constante qui surimpressionne le déroulement des événements . . . Les personnages de M. Cung Giu Nguyên sont vivants, l'action prenante . . . Les scènes d'amour à Hanoi, avec le jeune étudiant Khanh, celles qui dressent face à face la soeur et le frère dans le domaine familial, non loin de Dalat, sont vivement conduites. Les paroles qui portent à méditer abondent. En exergue à une oeuvre qui se voulait laisser indifférent, on pourrait inscrire cette parole de Loan, l'héroîne attachante: "On met toujours un peu d'amour de soi-même dans ce qu'on appelle l'amour d'autrui, et l'on finit par être esclave de cet amour." A. R. Le Journal d'Extrême-Orient, Saigon, 12 août 1961]
Một cuốn truyện hay là một cuốn truyện khó tóm lược; đây là trường hợp của Le Domaine Maudit. Đó là câu kết luận của một bài báo dài và sâu sắc của nhà phê bình Pierre Meillier. Ông Meillier viết thêm rằng tất cả những người yêu mến Việt-Nam sẽ thích thú đặc biệt khi đọc Cung Giũ Nguyên và số độc giả sẽ đông đảo hơn. [Un bon roman est toujours difficile à résumer. C'est ici le cas . . . Tous ceux qui aiment le Viêt Nam prendront un plaisir particulier à le lire, mais elle aura certainement un auditoire plus large. Pierre Meillier, Bulletin Trimestriel De L'association des Français D'indochine, Paris, Octobre 1961]
Ông Nguyễn Vỹ (trong tạp chí Phổ Thông nêu trên) và nhật báo Sài Gòn Mới (trong số ngày 20 tháng 4 năm 1964) sau khi khen ngợi Le Domaine Maudit, nêu lên thắc mắc tại sao nhà giáo Cung Giũ Nguyên, tác giả của các truyện Một Người Vô Dụng, Nhân Tình Thế Thái, Nợ Văn Chương, người chủ trương tạp chí Tương Lai, một cây bút khá quen thuộc của báo chí Việt-Nam, lại không trước tác bằng tiếng Việt mà bằng tiếng Pháp. Nếu thắc mắc này đuợc nêu lên trong thập niên 1930 và 1940 (thời của Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng), đó là điều thừa thãi vì trước tác bằng tiếng Pháp trong thời đó là một trong những khí cụ sắc bén nhất để chống lại chế độ thực dân Pháp, sự tuyên truyền của chế độ này về sự thấp kém của dân bị trị và vai trò khai phá của văn minh Pháp (thể hiện qua cuộc triễn lảm Exposition Coloniale Internationale, Paris, 1931, chẳng hạn). Nhưng thắc mắc này được nêu lên trong đầu thập niên 1960. Nếu ông Nguyễn Vỹ và nhật báo Sài Gòn Mới tiếc rằng Le Domaine Maudit là tác phẩm có giá trị (vì phản ảnh sống động nguyên nhân và hậu quả đau thương của những xáo trộn xã hội và chính trị trên đất nước Việt-Nam gây ra bởi ý thức hệ cộng sản) nhưng chẳng bao nhiêu người Việt có cơ hội thưởng thức giá trị đó vì trở ngại ngôn ngữ thì đó là một quan tâm chính đáng.
Mới đây độc giả lại có cơ hội thưởng thức văn tài của tác giả Cung Giũ Nguyên qua một tác phẩm viết bằng tiếng Anh, The Yuyung Papers: Letters from Hung Yuyung to His Grandson. Tại sao tác giả Cung Giũ Nguyên lại viết bằng tiếng Anh? The Yuyung Papers là mười lá thư tâm sự của một người ông ở Việt-Nam sau năm 1975 gởi cho một người cháu đang sống tại Úc Châu. Thế hệ người Việt trẻ đang sống lưu lạc khắp nơi trên thế giới, vì nhu cầu của cuộc sống nên rất thông thạo tiếng xứ người nhưng lại kém cõi tiếng mẹ đẽ, có lẽ vì vậy tác giả Cung Giũ Nguyên viết bằng tiếng Anh. The Yuyung Papers có nhắc đến thời chí sĩ Phan Châu Trinh, gương anh hùng Nguyễn Thái Học, thời cuộc biến đổi, tranh đấu, chữ hiếu và tình người, nhất là tình người giữa người lớn giới trẻ. Tuy nói đến nhiều biến cố lịch sử, The Yuyung Papers thiếu hẳn sự chua chát, cay đắng của Le Domaine Maudit. Lời tâm tình về ý niệm lẽ phải và tình người của người ông là lời nhắn gởi người cháu trẻ tuổi, dù sao đi nữa, hãy cố gắng hiểu và ghi nhớ lịch sử nước nhà.
Le Domaine Maudit là một tiểu thuyết lịch sử, nếu tiểu thuyết lịch sử được hiểu là tiểu thuyết lấy lịch sử làm bối cảnh cho câu chuyện hay nhân vật lịch sử làm nhân vật của câu chuyện. Viết tiểu thuyết lịch sử người viết phải hiểu lịch sử sâu rộng và phải dùng dữ kiện lịch sử một cách chính xác nhưng không cần phải đem hết tất cả các biến cố lịch sử vào bối cảnh hay nhân vật lịch sử vào cốt chuyện. Đối tượng của một tiểu thuyết lịch sử là một cảnh tượng đặc biệt nào đó của cuộc sống (như yêu thương, oán hận, sum họp, chia lìa, chết chóc của cá nhân, gia đình, xã hội); người viết tiểu thuyết lịch sử không phải là một sử gia hay là một triết gia lịch sử. Đó là điều hợp lý và dễ hiểu nhưng một số độc giả và nhà phê bình vẫn không nhận ra. Ông Nguyễn Tạo Lâm, trong một bài báo đăng trên tạp chí Luận Đàm, Sài Gòn, số 8, tháng 8 năm 1962, viết rằng ông ta đọc Le Domaine Maudit với nhiều kính mến và khâm phục, nhưng theo ông, tác phẩm này mắc một khuyết điểm lớn là không mô tả đầy đủ các biến cố lịch sử trong thời kỳ 1930-1955. Ông Nguyễn Tạo Lâm không thấu hiểu tiểu thuyết lịch sử và lầm lẫn khung cảnh với nội dung của một cuốn tiểu thuyết. Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng, bộ tiểu thuyết lịch sử thành công nhất của nền văn học Việt-Nam, lấy sự chống đối triều đình Tây Sơn (của con cháu các cựu thần nhà Lê) để dựng lại nhà Lê làm khung cảnh cho câu chuyện. Tiêu Sơn Tráng Sĩ không hề đi sâu vào các chi tiết của thời Lê mạt Nguyễn sơ nhưng thành công lớn trong việc diễn tả sống động ý chí anh hùng của những người đấu tranh vì lý tưởng, cuộc tình trong sáng như trăng rằm của hai chiến sĩ cách mạng Quang Ngọc và Nhị Nương, và mối tình thiết tha nồng thắm của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, tương hợp vì sự rung động của hai tâm hồn văn thơ và kết thúc bằng cái chết bi thảm của người tài hoa bạc mệnh Quỳnh Như. Người đọc Tiêu Sơn Tráng Sĩ có lẽ chỉ ghi nhớ rõ ràng rằng khi vua Quang Trung băng hà thì Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, nhưng xúc động nhiều vì sự hy sinh cho lý tưởng của các chiến sĩ Tiêu Sơn và mối tình đau thương của nàng Quỳnh Như. Dư âm của tình cảnh đau thương này đã thành một nét nhạc trầm buồn trong nhạc khúc Hương Xưa, một nhạc khúc vượt thời gian của nhạc sĩ Cung Tiến: “. . . vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó.” Trong Le Domaine Maudit, các biến cố lịch sử chỉ là những điểm địa hình đáng ghi nhớ như một khúc quanh hay ngã rẽ trên con đường Loan đi qua, con đường với bao xáo trộn đau thương, liên tiếp nhau như giòng thác lũ, xô đẩy vùi dập Loan. Một khúc quanh là một điểm khởi đầu hay kết thúc cho một biến cố, một ngã rẽ là một chọn lựa đau thương gây xao xuyến và rung động trong lòng người đọc. Lịch sử trong Le Domaine Maudit ẩn hiện mờ nhạt xa xa nhưng luôn luôn hòa vào niềm đau của Loan để biến niềm đau riêng tư đó thành niềm đau thời cuộc, niềm đau đất nước, và đó là một thành công lớn của tác giả.

III.
Sự xung đột giữa nếp sống cổ truyền và ý thức hệ cộng sản trong Le Domaine Maudit (Miền Đất Dữ) được tác giả trình bày rất khách quan, bằng cách chú trọng vào kinh nghiệm cá nhân hơn là nêu lên các quan điểm xã hội hay chính trị rộng lớn; đó là ưu điểm đáng ghi nhận. Sự xung đột được trình bày bằng những diễn biến hợp lý, hấp dẫn, khéo chọn lọc, trong hai khung cảnh tiểu gia đình của Loan và đồn điền của ba Loan. Diễn biến được được mô tả bằng lối văn trong sáng với nhiều ý tưởng sâu sắc, liên kết với nhau một cách tự nhiên bằng những cảm nghĩ của Loan về thời cuộc, và kết thúc một cách tất yếu bằng sự đổ vỡ hoàn toàn.
Sau ngày cưới, Loan đã thấy Trường khác hẳn với Trường ngày Loan mới quen. Trường không hiểu hay không muốn hiểu tình yêu và hạnh phúc gia đình như Loan hằng mong ước; mối quan tâm chính của Trường là đám thợ thuyền. Trường giải thích cho Loan rằng đám thợ thuyền này đang bị bóc lột đến tận xương tủy, nếu họ bạo động thì đó không phải là chuyện sai quấy và những ai biết suy tư phải cộng nhận rằng đối với hiện tình, cách mạng là con đường tất yếu. [Les pauvres travailleurs, exploités jusqu'au sang, n'ont pas tort de recourir à la violence. Tout esprit sensé doit admettre qu'en l'état actuel de notre régime, il n'y a d'autre issue que la révolté. (p. 197)]
Loan thương yêu chồng, cố chiều chồng nhưng sự cách biệt giữa vợ chồng càng ngày càng sâu rộng và rồi họ phải sống hai nơi, Trường ngoài Hà Nội, Loan trong Sài Gòn. Và ngày Trường sắp từ giã cuộc sống và dù với sự săn sóc tận tụy của Loan, Trường vẫn không tỏ một chút trìu mến của tình vợ chồng mà chỉ dành chút tàn lực để hàn huyên với các bạn đồng chí. Loan thiếu hẳn tình thương yêu vợ chồng; sự hiện diện của Khánh, người sinh viên say mê Loan, chỉ làm sự thiếu vắng đó thêm to lớn, nặng nề.
Trường qua đời nhưng sự xung đột không vùi chôn theo Trường mà vẫn mãi đeo đẵng Loan; ba Loan bị cách mạng giết và đồn điền bị đốt phá; lịch sử xung đột đã thật sự đi vào cuộc sống của gia đình Loan và cuộc sống riêng tư của Loan. [Maintenant, l'histoire entrait dans la vie de sa famille, dans sa propre vie. (p. 126)] Và từ đó sự xung đột mang đến thêm nhiều đau thương và rồi chết chóc trong gia đình.
Sau ngày đình chiến, Minh từ ngày từ chiến khu trở về đồn điền; và từ ngày trở về, Minh không bao giờ cảm thấy thoải mái và hội nhập vào cuộc sống của Loan. [Depuis son retour, il ne s'était jamais senti à l'aise. Il s'adaptait mal au genre de vie de sa soeur. (p. 231)]. Trong thâm tâm, Minh nghĩ rằng Loan là hiện thân của một cái vực thẳm ngăn cách giữa những người sống trong vùng yên ổn và những người đấu tranh và chịu khổ nhọc như Minh. Loan chưa vượt qua trạng thái tinh thần của thời tiền chiến. Loan sống bên lề của các diễn biến lịch sử và chẳng hề quan tâm đến các xáo trộn trong quần chúng. Vì còn quá nhiều tinh thần tiểu tư sản nên mọi việc đối với Loan đều là phản động. [Au fond, il songeait que Loan montrait l'abîme séparant ceux qui étaient restés dans la zone de paix et ceux qui, comme lui, avait lutté et souffert. Sa soeur n’avait pas dépassé l'état d'esprit d'avant-guerre. Elle avait vécu en marge des évènements et comptait pour rien le bouleversement de tout le peuple. (pp. 212- 213)]. Vì thế, Minh bỏ nhà đi vào bưng, đem theo Thạch, và đó là màn đầu của đoạn kết bi thảm: Xuyến chết và Loan sống một mình trơ trọi.

IV.
Thế kỷ 20 là thế kỷ của ý thức hệ, ý thức hệ dân chủ, xã hội, tư bản, cộng sản, phát-xít, vân vân. Ý thức hệ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân, sinh hoạt xã hội và tổ chức quốc gia. Trong nhiệm vụ này, ý thức hệ giống như cái bản đồ cho người đi đường hay cái địa bàn cho người đi biển. Nhờ ý thức hệ, quyết định cá nhân, sinh hoạt xã hội và cơ cấu chính quyền dễ tổ chức hơn và nhiều khi mang nhiều ý nghĩa hơn. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, ý thức hệ lại là một mối tác hại khó lường. Nguy hại chính yếu nhất là khi ý thức hệ bao gồm cả những điều tốt đẹp không tưởng và những điều tồi tệ không lường. Những điều tốt đẹp không tưởng giúp người chủ trương đưa ra những hứa hẹn hoa mỹ, rạng rỡ để thuyết phục, lôi kéo những người dễ tin hay ít hiểu biết nhập cuộc; những điều tồi tệ không lường được dùng để biện hộ cho những hành động không nhân tính, u mê, cuồng lọan của người chủ trương. Sinh hoạt trong hai thái cực tốt đẹp không tưởng và tồi tệ không lường đó, con người chỉ suy nghĩ một chiều, chỉ nghe điều gì muốn nghe, chỉ thấy điều muốn thấy, từ chối sự thật, tù đày hay hảm hại những ai dám nói lên sự dù sự thật đã phô bày rõ ràng trước mắt. Hậu quả tất yếu của thái độ và hành động đó là sự tan rã của các giá trị nhân bản căn bản cho gia đình và xã hội.
Thế kỷ 20 là thế kỷ của sự xung đột ý thức hệ, nhất là những ý thức hệ mang đặc tính vừa nói ở trên. Người ta ghét nhau, thù hận nhau, xa lánh nhau, từ bỏ nhau, hành hạ nhau, giết nhau, chỉ vì một danh từ, một định nghĩa, một lời giải thích hay một chiêu bài; số người bị thảm hại vì xung đột ý thức hệ trong thế kỷ vừa qua quá lớn lao so với số người bị chết vì đau ốm, dịch, bệnh truyền nhiễm hay thiên tai. Lịch sử nhân loại quả đúng là lịch sử của những thảm kịch.
Giai đoạn lịch sử mô tả trong Le Domaine Maudit là một thảm kịch, một thảm kịch vì sự xung khắc ý thức hệ, một thảm kịch bi đát cho đất nước Việt-Nam do ý thức hệ cộng sản gây ra. Trường, một trí thức tiêu biểu của xã hội Việt-Nam bấy giờ nhưng sau khi thánh người sùng bái lý thuyết vô-sản, anh hành động máy móc, một chiều, giống như con ngựa bị đóng cương và che mắt, thụ động. Trường bỏ hết tất cả kiến thức và suy tư về sự việc và thay vào đó bằng một mớ niềm tin không cần bằng chứng, không cần nghi vấn. Trường không hiểu tình yêu, hạnh phúc gia đình; anh chối bỏ sự tương quan giữa cá nhân và gia đình và giữa gia đình và xã hội. Ước vọng xây dựng một xã hội toàn hảo bằng cách giản lược rồi triệt tiêu tình thương yêu cá nhân trong việc gầy dựng gia đình và vai trò của gia đình trong việc phat triển xã hội là một điều lầm lẫn lớn. Vì ước vọng không tưởng đó nên Trường không hiểu nỗi lời khuyên ý nghĩa và đầy tình người của Loan: “Nếu chúng ta đem một chút ít tình thương yêu bản thân vào tình thương yêu kẻ khác, tình thương yêu kẻ khác sẽ mãi mãi ngự trị trong chúng ta.” ["On met toujours un peu d'amour de soi-même dans ce qu'on appelle l'amour d'autrui, et l'on finit par être esclave de cet amour." (p. 43)]
Minh là một hiện thân của sự bi thảm cùng cực: ăn chơi, bỏ học, lêu lỗng, sống bám vào gia đình, nhưng lại ba hoa về mớ lý thuyết về công lý, tội ác, bổn phận gia đình, giáo dục con cái … do các đồng chí cộng sản truyền thụ trong những ngày sống ở bưng. Trước hết, Minh là một “lý thuyết gia” say sưa với chính sách cứu cánh biện minh cho phương tiện, cứ giết người, giết bao nhiêu cũng được, vì giết người vì cách mạng thì không sao. Theo Minh, tội ác có nhiều loại khác nhau, nghĩa là có loại tội ác cao quý, tội ác đáng được biện minh; vì lẽ đó, bàn tay dính máu không phải là bàn tay dơ bẩn, và tuy màu đỏ của máu là màu của sự khắc nghiệt nhưng sứ mạng đầy máu là sứ mạng huy hoàng. [Des crimes nobles, des crimes justifiés. Des mains tachées de sang, non des mains sales. Le rouge de rigeur, mais la tâche était glorieuse. (p. 240)].
Tiếp theo, Minh là người đàn ông vô trách nhiệm (bỏ học, ăn chơi, phung phí tiền bạc của gia đình, mèo chuột, sinh con rơi con rớt rồi mang về giao cho người khác nuôi dưỡng) nhưng, đối với Minh, việc đó không quan hệ gì vì Minh là con người của cách mạng, con người của những việc quốc gia trong đại. Khi Loan (có lẽ với ý niệm tề gia rồi mới trị quốc) trách Minh về sự thiếu ý thức gia đình [“Tu n'as aucun esprit de famille.” (p. 100)], Minh đem lý thuyết cách mạng vô sản ra chống chế: “Nói thật với chị, không phải chỉ có mấy chuyện đó thôi, mà còn nhiều chuyện khác quan trọng nữa . . . Đối với chuyện tương lai của đất nước chúng ta chẳng hạn, nụ cười của đứa trẻ thơ có đáng là bao.” [“Pour te dire la verité, il n'y a pas que les affaires, il y a encore d'autres questions importantes . . . L'avenir de notre pays, par exemple, à côté desquelles le sourire d'un enfant compte si peu.” (p. 100)]
Sau cùng, lý thuyết cách mạng vô sản có thể bào chữa cho bất cứ hành động nào của Minh: hành động của Minh luôn luôn phải (vì hợp lý) và đúng (vì hợp với mục tiêu cao đẹp của xã hội vô sản). Theo lý thuyết cách mạng, hai đứa con rơi của Minh, hai đứa con ra đời vì những giây phút cuồng loạn vô trách nhiệm của người lớn, là thành quả của những hạt giống tiểu tư sản. Hơn nữa, theo lý thuyết đó, việc giáo dục của chúng, với việc học ngôn ngữ và khoa học, là điều tệ hại vì chúng sẽ xa lìa quần chúng. [Ses enfants . . . n'étaient que de la graine de bourgeois . . . ils apprenaient des langues et des sciences, loin des masses populaires. (p. 231)]. Có lẽ vì chê bai lối giáo dục dựa vào ngôn ngữ và khoa học đó nên Minh đem đứa con trai của mình, Thạch, vào rừng để được hấp thụ một nền giáo dục thích hợp hơn.
Đọc Le Domaine Maudit (Miền Đất Dữ) trong thập niên 1960, độc giả cảm thương cho Loan và đất nước với bao xáo trộn và đau thương vì sự xung đột ý thức hệ. Tuy vậy, độc giả có thể tự an ủi rằng sự xung đột đó có thể xảy ra bất cứ nơi nào chứ không riêng gì cho Việt-Nam (và trong thực tế, đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới). Đọc Le Domaine Maudit cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, khi ý thức hệ cộng sản hoàn toàn sụp đổ, phô bày hết những điều toàn thiện không tưởng và những điều tồi tệ không lường, độc giả thấy xót thương cho mình và số phận điêu linh của đất nước. Nỗi xót thương của độc giả có thể ngắn ngủi nhưng sự điêu linh của đất nước chắc còn dài dằng dặc.

V.
Miền đất hình chữ S Việt-Nam thân yêu là miền đất dữ? Không. Đất mãi mãi lành, vì nắng vẫn sưởi ấm lòng đất và mưa vẫn thấm vào lòng đất thành giòng nước mát ngọt ngào. Nhưng miền đất ấy chỉ lành khi người sống trong lòng đất thấu hiểu sự gắn bó giữa người và đất, nguồn sống bao la do đất cung cấp và sự ấm lạnh của mạch đất theo vần xoay chuyển của bốn mùa mưa nắng. Miền đất chỉ lành khi con người bước đi trên khắp nẽo đường, ruộng vườn, đồi núi biết thương yêu mình, thương yêu kẻ khác và đem tình thương yêu ấy hòa vào nỗ lực đào sông, xây đập, khai rẫy, làm đường để miền đất thêm phì nhiêu và tương lai thêm no ấm. Miền đất chỉ lành khi con người biết đem lẽ phải và công bằng vào việc phân chia mãnh vườn, thữa ruộng và hoa quả xanh tươi cho mọi người có công và biết tình nghĩa xóm làng. Và sau cùng, miền đất chỉ lành khi con người nhìn thấy được sự hy sinh cao cả của tổ tiên trong từng mạch đất và cố gắng noi gương tổ tiên trước khi vĩnh viễn trở về với lòng đất.

Nguyễn Phụng
________________________________________
Ghi Chú:
[1] Hành Chánh Miền Đông, tiếng nói của Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ, Falls Church, Virginia, USA.
[2] Bài viết này dựa rất nhiều vào tài liệu của Trung Tâm Cung Giũ Nguyên. Tôi xin chân thành cảm ơn anh Trần văn Thung, một trong những sáng lập viên của Trung Tâm Cung Giũ Nguyên, đã cung cấp cho tôi rất nhiều tài liệu hữu ích. Ngoài ra, tôi ghi nhận lời nhắc nhở và khuyến khích của nhiều anh chị học trò cũ của giáo sư Cung Giũ Nguyên. Nhân tiện, anh chị nào muốn có tác phẩm mới nhất viết bằng tiếng Pháp của tác giả Cung Giũ Nguyên, LE BOUJOUM, dày 654 trang, Cung Giu Nguyen Center xuất bản, năm 2002, xin liên lạc với Cung Giu Nguyen Center, Dallas, Texas.
________________________________________
Tài Liệu Tham Khảo:
Tài liệu của Trung Tâm Cung Giũ Nguyên.
John C. Schafer. “The Yuyung Papers: Letters from Hung Yuyung to His Grandson.” The Vietnam Review, No. 3 Autumn-Winter 1987, pp. 357-387.
Jane Bradley Winston & Leakthina Chau-Peck Ollier, eds. Of Vietnam: Identities in Dialogue. New York, NY: Palgrave Macmillan, 2001.
Jack A. Yeager. The Vietnamese Novels in French: A Literary Response to Coloniasm. Hanover and London: University Press of New England, 1987.
Đăng nhập để trả lời
0