Diễn Đàn » Tác giả người Việt

CUNG GIŨ NGUYÊN

4 trả lời, 478 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-28 03:54:47hai1957>



Cung Giũ Nguyên (20 tháng 11 năm 1909 – 7 tháng 11 năm 2008)

Ông là một nhà giáo, nhà văn, nhà báo Việt Nam gốc Hoa được biết đến với những tác phẩm tiếng Pháp. Về mặt văn chương, tên tuổi ông ít được người Việt biết đến vì các tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Pháp. Về mặt hoạt động xã hội, ông là một huynh trưởng nổi bật thuộc thế hệ sáng lập ra phong trào Hướng đạo Việt Nam.
Phần lớn cuộc đời ông cư ngụ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà và mất tại đây.

Tiểu sử:

Ông sinh tại Huế, họ thật là họ Hồng. Tổ tiên của ông, người Phúc Kiến, đã qua lập nghiệp tại Việt Nam từ giữa thế kỷ 19. Thân phụ là ông Cung Quang Bào, một Đốc học. Thân mẫu là Nguyễn Phúc Thị Bút, trưởng nữ của Quận công Hồng Ngọc và cháu nội của An Thành Vương Nguyễn Phúc Miên Lịch (con út vua Minh Mạng).
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo và đông con, học xong trung học tại trường Quốc học Huế những năm 1922-27, ông phải từ bỏ giấc mộng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội để đi làm việc. Năm 1928 ông được bổ làm trợ giáo tập sự tại trường Nam Tiểu học Nha Trang, nhưng đến đầu năm 1930 bị bãi chức, vì lý do chính trị. Sau đó ông phiêu lưu vào Sài Gòn, Đà lạt, Huế, Nha Trang.
Năm 1936 cha của ông mất. Vì trách nhiệm đối với gia đình, ông về lại Nha Trang và năm 1941 trở lại nghề dạy học. Ông đã dạy các môn Việt văn, Hán văn, La tinh, Pháp văn, Anh văn, sử địa, kinh tế học, triết học, văn học... ở các trường Kim Yến, Trường Dòng Thánh Giuse Bình Tân, La San, Phanxicô, Collège de Nha Trang, Võ Tánh, Lê Quý Đôn... Từ năm 1955 đến 1975, ông làm hiệu trưởng trường Trung học bán công Lê Quý Đôn, Nha Trang. Cũng trong thời gian trước 1975, ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Cộng đồng duyên hải, Nha Trang.
Sau thời gian gián đoạn, từ 1989 đến 1999, ông là giáo sư thỉnh giảng môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp văn, Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang.

Hoạt động Hướng đạo:

Năm 1944, ông đảm nhiệm khoá huấn luyện chót ở Trại trường Bạch Mã thay thế Trưởng Tạ Quang Bửu vì bận việc riêng.
Năm 1958, Trại trường Quốc gia Tùng Nguyên được thành lập tại Ðà Lạt dưới quyền điều khiển của ông. Đây là nơi đào tạo hầu hết các trưởng của thế hệ 1958-1975.
Ông từng làm phụ tá Trại trưởng Trại Huấn luyện Hướng đạo quốc tế Gilwell, Anh Quốc. Đây là nơi huấn luyện các huynh trưởng Hướng đạo.
Cho đến năm 2007, ông đã 98 tuổi nhưng vẫn còn gắn bó với phong trào Hướng đạo tại Việt Nam; hướng dẫn Toán Alpha và Bêta Hướng đạo Việt Nam tại Nha Trang.

Tác phẩm:

Một người vô dụng (1930)
Nợ văn chương (1931)
Volontés d'existence (NXB France-Asie, Saigon, 1954)
Le Fils de La Baleine (NXB Arthène Fayard, Paris, 1956) bản dịch tiếng Việt "Kẻ thừa tự của ông Nam Hải" của Nguyễn Thành Thống (NXB Văn học, Hà Nội, 1980).
Le domaine maudit (NXB Arthène Fayard, Paris, 1961)
Le Boujoum (1980)

(Nguồn: Wikipedia)

Có thể nói thầy Cung Giũ Nguyên là một trong những cây đại thụ của ngành giáo dục miền Nam trước 1975. Tài liệu trích dẫn đây chắc chắn chưa nói hết được những uyên bác của thầy trong suốt một đời tận tụy. Rất mong các anh chị, nhất là những người đã từng học qua trường trung học bán công Lê Quí Đôn Nha Trang cung cấp thêm những tư liệu, bài viết, kỷ niệm về thầy... bởi thân xác thì qua đi nhưng anh linh là còn mãi...

Sài Gòn cuối tháng 10 năm 2012
hai1957
Đăng nhập để trả lời
0
Cung Giũ Nguyên, nhà giáo dục, nhà báo, nhà văn



Tôi không phải là học trò của ông, càng không phải là người rành rẽ tiếng Pháp lắm để có thể đọc được những tác phẩm văn học viết bằng tiếng Pháp của ông. Thế nhưng, là một người Nha Trang và theo thiển nghĩ của cá nhân tôi - ông là người biết rõ về Nha Trang nhất. Vâng, tôi tự tin khi viết lên điều này vì, từ năm 1920 ông đã đến Nha Trang và đã chọn nơi đây làm chốn đi - về (những kỳ nghỉ hè, đi dạy học và cả những khi phải tha phương và cuối cùng Nha Trang là bến đậu cho đến cuối đời).

Đã từ lâu tôi rất muốn viết về ông, biết rằng đây là một việc rất khó vì - Ông, một nhà văn Việt Nam viết văn thuần thục 3 ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh; một nhà báo từng cộng tác với nhiều báo chí trong và ngoài nước; một người có 70 năm đi dạy học thì có một số lượng học sinh nhiều đến thế nào…; khối lượng và giá trị những tác phẩm ông đã viết; tuổi đời của tôi chưa bằng một nửa tuổi đời của ông…. Thôi thì, xin làm một người kể chuyện về một người qua tiếp xúc, trao đổi và qua những tài liệu thu thập được về ông.

Từ điển văn học (bộ mới) - NXB Thế giới (trang 330), Hà Nội vừa mới phát hành có tên ông: Cung Giũ Nguyên. (Sinh 1909). Nhà giáo dục, nhà báo, nhà văn Việt Nam. Khi đọc gần hai trang tiểu sử và tác phẩm của ông, tôi đã điện thoại cho báo cho ông và một ngày đầu tháng 4/2005 tôi có dịp đến thăm ông tại nhà riêng ở số 60 Hoàng văn Thụ, Nha Trang.

Hôm ấy, trong căn phòng khách nhỏ bài trí đơn sơ nhưng trang trọng - trên tất cả các mặt bàn đều có những bình hoa; tôi được biết, cách đó vài ngày, những ông Alain Freynet - Tham tán thứ hai, Giám đốc Trung Tâm văn hóa và hợp tác, Đại sứ quán Pháp Hà nội, ông Nicolas Warnerey - Tổng lãnh sự Pháp tại Tp Hồ chí Minh, và ông Christian Nererm - Tùy viên hợp tác văn hóa Tp Hồ chí Minh, cùng ông Lanig Martin, đặc trách hợp tác thuộc Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, đã đến thăm ông Cung giũ Nguyên, nhân Hội thảo các Vịnh đẹp nhất thế giới và Festival biển Nha Trang 2005.

Câu chuyện giữa tôi và ông đã bắt đầu bằng những điều chưa rõ về ông trong Từ điển văn học (bộ mới). Ông tỏ ý tiếc là việc biên tập có vài sai sót: “Trước tiên về việc chuyển họ Hồng thành họ Cung không phải vì cùng họ với Hồng Tú Toàn mà do là khi Vua Tự Đức lên ngôi, vì ngài húy Hồng Nhậm, nên những ai có họ Hồng phải sửa lại. Sau này có những người đã bỏ họ Cung để trở lại họ Hồng, nhưng cũng có những người để tránh việc sửa chữa những giấy tờ hộ tịch phiền phức cứ để họ Cung, dù vẫn biết mình họ Hồng. Việc sửa họ ấy, tôi ngạc nhiên là thợ sắp chữ ở Trung Hoa cũng biết; trên mấy tờ báo ở Hương Cảng, trong bài đăng tên những người từ Việt Nam qua hội kiến với Cựu Hoàng Bảo Đại. Dựa theo danh sách viết chữ La Mã họ tên hành khách chuyến máy bay, tên của tôi đã không viết CUNG, mà viết đúng HỒNG (= không có nghĩa là đỏ, mà với bộ Thủy bên trái, có nghĩa là Lớn). Một điều đáng tiếc khác là: trong Từ điển văn học có viết: “Le fils de la Balaine (tiểu thuyết, Paris, 1956) – cuốn này được Đe Xôn Đa Oanfisơ (De Sohn das Walfischs) dịch ra tiếng Việt với nhan đề Người con của Cá Ông hay Kẻ thừa tự ông Nam Hải (Nxb Văn học, Hà Nội, 1999)”. Có sự sai lạc về phiên âm nhan đề và hành văn, nên ghi lại cho rõ là: quyển Le Fils de la Baleine ra mắt ở Pháp năm 1956, đã được nhà văn Đức dịch ra tiếng Đức với nhan đề DER SOHN DAS WALFISCHS và được xuất bản năm 1957 tại (Nxb) Helmut Kossodo Verlag, Frankfurt & Genf (Genève). Điều thứ ba ông có ý tiếc là quyển Tự điển không nói đến những tác phẩm quan trọng của ông như THÁI HUYỀN, LE BOUJOUM, tập thơ TEXTE PROFANE (Bản văn trần tục) v.v hay bỏ sót những quyển đã có từ lâu, như tiểu luận: Volontés d’existence (Những ý chí sinh tồn) - (NXB France-Asie, Sài Gòn 1954).

***

Cung Giũ Nguyên sinh ngày 20/11/1909, tại Huế, họ thật là họ Hồng cùng họ với Hồng Tú Toàn người khởi xướng cuộc cách mạng nông dân miền Nam Trung Hoa và lập Thái Bình Thiên Quốc, trị vì ở Nam Kinh từ 1851 đến 1863. Vì lý do chính trị hay kinh tế – tổ tiên của ông, người Phúc Kiến đã kiều cư qua lập nghiệp tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX. Tại đây, họ Hồng cùng với nhiều họ Trung Hoa khác lập ở Bao Vinh, Thừa Thiên, phố Thanh Hà sau thành làng Minh Hương, và sau đó đều được xem là người Việt Nam. Thân phụ Cung Giũ Nguyên là ông Cung Quang Bào, một Đốc học. Thân mẫu là Nguyễn Phước thị Bút, trưởng nữ quận công Hồng Ngọc và cháu nội Ngài Nguyễn Phước Miên Lịch, An Thành Vương, con út Vua Minh Mạng, có lần làm Nhiếp chánh Thân thần.

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo và đông con, học xong trung học tại trường Quốc học Huế những năm 1922-27, ông phải từ bỏ giấc mộng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội để đi làm việc. Ông nói: “Về vẽ thì tôi đã may mắn gặp hai thầy rất tốt là thầy Tôn Thất Sa và thầy Georges Leloup…”. Những bức tranh hiện treo trong phòng khách nhà ông đều do ông vẽ từ bức chân dung của mẹ ông cho đến bức chân dung của ông, của vợ ông… Căn nhà ông đang ở hiện nay là căn nhà của cha ông mua ban đầu là nhà tranh và được xây thành nhà gạch từ năm 1929 cho đến bây giờ.

Năm 1928 ông được bổ làm trợ giáo tập sự tại trường Nam tiểu học Nha Trang, nhưng đến đầu năm 1930 bị bãi chức, vì lý do chính trị. Đó là năm đánh đấu khúc quanh cuộc đời của ông; sau đó ông phiêu lưu vào Sài gòn, Đà lạt, Huế, Nha Trang… “Trong thời gian bốn năm mà tôi làm hơn bảy nghề. Tôi viết báo, viết sách, làm gia sư, làm kế toán cho một hãng sửa xe của người Pháp, làm thư ký cho một đồn điền cao su ở Xuân Lộc, bán hàng, đã có lúc tôi định đi theo gánh cải lương nhưng bị từ chối vì khi nghe tôi ca thử một bài Tứ Đại Oán, nghệ sĩ Năm Châu đã thành thật khuyên tôi nên chuyển nghề khác, tôi cũng đã làm thợ sửa ảnh….”

Năm 1936, người cha mất (cho đến giờ ông vẫn tiếc là cha ông đã ra đi quá sớm không để cho ông có thì giờ chứng minh ông đã trở lại nối nghiệp thầy giáo ), vì trách nhiệm đối với gia đình, ông về lại Nha Trang và năm 1941 trở lại nghề dạy học. Ông đã dạy các môn Việt văn, Hán văn, La tinh, Pháp văn, Anh văn, Sử địa, Kinh tế học, Triết học, Văn học… ở các trường Kim Yến, Trường Dòng Thánh Giuse Bình Tân, La San, Phanxicô… Collège de Nha Trang, Võ Tánh, Lê Quý Đôn…. Từ năm 1955-75, ông làm Hiệu trưởng trường Trung học bán công Lê Quý Đôn, Nha Trang. Từ 1972-75, Giáo sư thỉnh giảng Viện đại học Cộng đồng duyên hải, Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, ông là Giáo sư thỉnh giảng môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp văn, Trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang. Ông còn tham gia nhiều công tác xã hội ở Nha Trang, Sài gòn; đã từng làm Deputy Camp Chief of Gilwel, London, phụ tá Trại trưởng Trại Huấn luyện Hướng đạo quốc tế, Gilwell, Anh quốc, để làm Trại trưởng Hướng Đạo Việt Nam,v.v…..

Cuộc đời viết văn của ông đánh dấu bằng tác phẩm đầu tay là một truyện ngắn nhan đề là Tình ái myõ đăng trên tờ Đông Pháp thời báo, Sài gòn năm 1928. Ông đã viết hàng ngàn bài báo cộng tác với các báo: Đông Pháp thời báo, Sài gòn mới (Sài gòn), Nam Phong ( Hà Nội), Đông Dương mới (L’Indochine Nouvelle, Sài gòn), Pháp Việt (France – An nam), Nhật báo Huế (La Gazette de Huế), Tân văn (Sài gòn), Hội thảo (Symposium, Syracuse), Sách báo nước ngoài (Book Abroad, Oklahoma, Hoa Kỳ), Pháp Á (France-Asie, Sài gòn), Bách Khoa (Sài gòn), Sự hiện diện Pháp ngữ (Présence Francophone, Sherbrook – Canada), Đại học Huế, Tri thức (Đà Lạt), Diễn đàn (La Tribune, Sài gòn)….

Năm 1938-40 cùng với Raoul Serène - Tiến sĩ khoa học đã từng làm Giám đốc Viện Hải dương học Đông Dương chủ trương nguyệt san Tạp chí Tuổi trẻ (Le Cahiers de la Jeunesse) ở Nha Trang. Năm 1939, ông làm Chủ bút nguyệt san song ngữ Tương lai tạp chí, Nha Trang. Năm 1939 – 42, làm Chủ bút Nhật báo Châu Á buổi chiều (Le Soir d’Asie, Sài gòn). Từ 1954, Chủ bút tuần báo Báo chí viễn Đông (La Presse d’Extrême – Orient, Sài gòn).

Trong thư mục tác phẩm đã in và chưa in của ông có đến gần trăm cuốn; có thể kể đến như, về tiếng Việt: Một người vô dụng (Tín Đức thư xã, Sài gòn, 1930); Nhân tình thế thái (tập truyện ngắn, Phổ thông văn xã, Gia Định, 1931); Nợ văn chương (Nhà in Châu Tịnh, Vinh, 1934); Những ngày phiêu bạt (ký), Nửa gánh tang bồng, Một chuyến về…; về tiếng Pháp ông được thế giới biết đến nhiều vào những năm 50 – 60 với các tác phẩm Le fils de la Balaine (tiểu thuyết, Paris, 1956), Le Domaine Maudit (tiểu thuyết, Fayard, Paris, 1961), Volontés d’existence (France-Asie, Sài gòn 1954)…; riêng Le Boujoum (roman Dallas, Tesax, USA, 2002 – tái bản) ông viết sau này ….

Le fils de la Balaine đã được nhiều nhà phê bình văn học nổi tiếng trong và ngoài nước đánh giá cao. Daniel-Rops, viện sĩ Hàn Lâm Pháp nhận xét: “Với một Cung Giũ Nguyên, có thể cạnh tranh với một Pourrat, một Ramuz, một Giono, một Monique Saint-Hélier…, đó là điều mới lạ”. Le fils de la Balaine được tái bản ở Canada năm 1978 và được Nguyễn Thành Thống dịch sang tiếng Việt với tựa đề Kẻ thừa tự của ông Nam Hải (NXB Văn học, Hà Nội 1995).

Le Domaine Maudit (Đất dữ) cũng được nhiều nhà phê bình chú ý; nhà văn Võ Hồng đã viết về cuốn sách (đăng trên Bách Khoa, Sài gòn ngày 15-6-1962) như sau: “Văn của tác giả viết tự nhiên mà có nhiều thú vị… Những triết lý nhân sinh cũng được trình bày dưới hình thức đơn giản nhưng thầm kín… Le Domaine Maudit lấy khung cảnhViệt Nam nhưng câu chuyện có thể xảy ra ở bất cứ nước nào có sự tranh chấp giữa các ý thức hệ, nghĩa là giữa những quan niệm khác nhau về hạnh phúc và tình yêu”.

Volontés d’existence (Những ý chí sinh tồn) thuộc về loại tiểu luận gồm ba bài. Bài thứ nhất trình bày căn nguyên giải phóng cá nhân và dân tộc Việt Nam. Bài thứ hai trình bày nền văn chương Việt Nam và bài thứ ba bàn đến nỗi lòng bi đát của Nguyễn Du. Ba bài quy tụ chung quanh một ý chính: những ý chí sinh tồn của con người Việt Nam và dân tộc Việt.

Trong Volontés d’existence, mới thấy xuất xứ một câu mà website EL CANDIL (ngọn nến của Tây ban Nha), xem là danh ngôn, liệt kê vào Danh ngôn về Tự Do (frases de Libertad, đăng cùng một trang với danh ngôn của những nhà tư tưởng lớn tiền bối như Max Steiner,Carla B.Gonzalez, Mikail Bakounin (1814-1876)vv.

Tác phẩm Le Boujoum, dày 756 trang, một tác phẩm đầy triết lý ông viết từ năm 1976 đến năm 1980 và chính ông đã dịch sang tiếng Việt với tựa đề là Thái Huyền (NXB Đại Nam, California, 1994). Ông viết Le Boujoum để tặng người bạn thân suốt gần nửa thế kỷ của ông là Raoul Serène (đã nói ở trên), mà ông gọi tên là Sếu. Trong lời tựa cuốn sách, ông viết: “Cũng như với những người bạn thân khác, khi xa cách và nhất là trong những năm sau này thiếu những gặp gỡ thường xuyên và cuộc chuyện trò hữu ích, tôi có những bức thư dài cho Sếu và kèm theo thư, cũng có những trang trích các sách tôi đã hoàn thành hay đang soạn thảo, để cho bạn theo dõi đời sống cụ thể của mình và cũng để thăm dò phản ứng của bạn về những tác phẩm mình, sợ thói tự phụ, chủ quan khiến mình có nhận định sai lầm về giá trị của chúng. Tình thân hữu thật sự cho phép, và khuyến khích, những phê phán thẳng thắn, dù cho có khi là tàn nhẫn, không chỉ về công việc và cả về những phương diện khác. Đây không phải là dấu hiệu của sự đố kỵ ganh ghét, mà là của sự thương yêu thật sự, một ước muốn xây dựng lẫn nhau theo đường dáng đi, hay ít ra cũng tránh cho nhau những ảo giác về bản thân cũng như về sự nghiệp”.

Le Boujoum hay Thái Huyền cũng đã được nhiều nhà phê bình văn học ngoài nước chú ý, người ta đánh giá: từ Le fils de la Balaine đến Le Boujoum là một khoảng cách lớn, kể về văn phong lẫn chiều sâu tác phẩm.

Ông có tên trong danh sách các nhà văn trên thế giới viết văn bằng tiếng Pháp (Tác phẩm Riveneuve (Bến mới), in những tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn trên thế giới viết văn bằng tiếng Pháp - Tháng 11.2004 có trích một tập thơ của ông).

Cả cuộc đời ông là sự một phấn đấu rèn luyện, tìm và trao tặng tri thức, chủ yếu là tự học, và học mãi. Ông nói:
- Đọc sách, đối với tôi, là một lối tránh mệt nhọc, khỏi phấn đấu, vì bẩm sinh yếu đuối. Từ cái bắt buộc, tôi tìm ra thích thú với sách. Tôi đã gặp nhiều may mắn, có cơ hội làm bạn với sách, có lẽ may mắn ấy không đến với tôi nếu tôi không "đầu tư" làm bạn với sách, làm thân với "hiểu biết", hay bồi dưỡng trí tuệ. Thời học Quốc học, tôi may mắn có được những bạn gương mẫu về học tập, luôn luôn đi tìm kiến thức, kể cả trong những trò chơi. Tôi may mắn có những thầy cô (người Pháp) có trình độ truyền đạt tốt và vốn kiến thức cao. Ngoài những sách giáo khoa và tác phẩm văn học ghi trong chương trình mỗi niên khóa chúng tôi cũng được khuyên đọc sách giải trí. Sách ở thư viện trường rất phong phú, và để học sinh toàn quyền sử dụng, không phải trả tiền thuê, hay không chỉ cho đọc tại chỗ. Vì không được đi học tiếp đaị học, và do đó không có được những thầy hướng dẫn, tôi phải tự vạch đường học vấn với những phương tiện nghèo nàn của mình, gặp được một sách cũ báo cũ nào, cũng tìm được trong đó đôi điều gì mình chưa biết đến. Năm 1940, từ Saigon, tôi lên Dalat để "cấm phòng" trong mười ngày tại Tu Viện Dòng Thánh Benoit. Tu viện lúc ấy đang còn nghèo, không có phòng cho người ngoài. Tôi được cho một cái giường bố đặt ngay trong thư viện của dòng. Thế là, sách đã đến với tôi, những sách thuộc một phạm vi bấy lâu xa lạ với tôi, những sách siêu hình học, thần học, ngày và đêm, tôi đã cố đọc và ghi chép, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, với những tên tác giả, sách, nhà xuất bản nào, để có thể tìm lại sau nầy. Có vậy, tôi mới có thể, hai mươi năm sau, giảng triết cho lớp kinh viện của một dòng tu.

Năm 75, được lưu dung tại Đại học Duyên Hải, và vì không còn lớp Pháp để dạy, tôi được giao cho việc bảo quản thư viện. Tôi có dịp trong mấy năm đọc đươc biết bao sách bổ ích cho tôi. Cũng trong thời gian ấy tôi viết đươc cuốn JOURNAL DU KAUTHARA (Nhật ký Khánh Hòa). Đến năm 1979, tôi đã thất tuần, bệnh viện Tỉnh mời tôi dạy tiếng Pháp cho các y bác sĩ, và đồng thời phụ trách thư viện, lập lại danh mục, giúp tìm tài liệu cho những bác sĩ cần đến. Trong thời gian làm việc cho bệnh viện, tôi cũng học hỏi khá nhiều, qua những sách phải đọc qua để xếp loại. Tôi làm quen với những báo như The Lancet hay Nature… mà chắc hẳn tôi sẽ không bao giờ biết nếu tôi không may mắn đến nơi đây. Chính thư viện nầy đã cho tôi cơ hội tiếp xúc với những sách lý thuyết về inforatique (thông tin học) trước khi thấy máy vi tính, và có máy để dùng.

Một điều may mắn khác cho việc học hỏi của tôi, là được ngao du đó đây, đến nhiều nước, có dịp biết nhiều thư viện, viện bảo tàng lớn, những nơi thờ phụng nhiều tôn giáo, tiếp xúc với nhiều giới, từ thượng lưu đến giới chai chén dân bụi đời chỉ xài tiếng lóng (argot)….

Năm nay, ông đã bước sang tuổi 97 (theo thời điểm tác giả viết bài này - hai1957) và vẫn còn miệt mài làm việc với chiếc máy vi tính mỗi ngày mà không cần người phụ giúp. Hoàn thiện những bản thảo đang dang dở, hệ thống lại toàn bộ tác phẩm, dịch ra tiếng Việt những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp… Khối lượng công việc thì đồ sộ mà quỹ thời gian còn quá ít. Thế nhưng, “Không viết nữa thì làm gì!”, ông đã nói với tôi như vậy. “Đời người như một miếng da lừa, mỗi ngày nó teo tóp đi một chút. Dân gian thường nói cá ươn, ươn từ cái đầu. Con người cũng vậy, phải bắt cái đầu nó làm việc đừng để nó hư. Nên sống lạc quan và biết cười”.

Nói về việc sống thọ, ông kể câu chuyện vui:

- Tôi đươc biết, theo lời mẹ kể lại sau nầy, tôi sinh ra không tốt tướng, gầy yếu, thầy thuốc, thầy bói cho biết trước là không thọ. Tôi ngủ hay giật mình vì một tiếng động nhẹ. Nghe theo thầy, mẹ tôi tìm mua một cái "búa thiên lôi" là một miếng nham thạch màu xanh tím, hình lưỡi búa, mẹ làm một bọc cho búa và để dưới cái gối của tôi. Phương thuốc của "thầy" quả là linh nghiệm, từ đó tôi hết giật mình khi ngủ, kể cả những khi có giông tố và sấm sét. Nhưng có điều đáng buồn là đầu tôi mãi mãi bị lép như đầu cá chai. Đó là giá con người thường phải trả, nhân vô thập toàn, được cái nầy phải mất cái kia….

Gần trọn một thế kỷ dành cho các việc tự học, đi, viết và dạy học. Phương châm sống của ông gói gọn trong 4 từ nguyên hanh lợi trinh. Ông giải thích với tôi: “Nguyên là nguồn gốc - bất kỳ một việc gì cũng phải truy tìm cho được nguồn gốc và giải thích câu hỏi tại sao. Hanh là hanh thông - vượt lên những khó khăn; khi gặp khó khăn ta chia vấn đề ra thành những vấn đề nhỏ, từ vấn đề nhỏ chia thành những vấn đề nhỏ nữa và giải quyết từ từ. Lợi là lợi ích, lợi ích của mình phải gắn liền với lợi ích của người khác, những điều viết ra làm sao cho nhiều người trên thế giới đọc được. Trinh là hòa hợp - hòa hợp ở đây có 3 ý: hòa hợp với thượng tôn, hòa hợp với tha nhân và hòa hợp với chính mình. Trong mỗi con người đều tồn tại ông thiện và ông ác, nhờ thượng tôn và những người xung quanh giúp đỡ để hòa hợp với chính mình “.

Tôi hỏi ông câu hỏi cuối cùng về nhận định của ông khi giới trẻ bây giờ không thích đọc sách, ông trả lời bằng cách nói về dấu “…” bắt đầu và kết thúc trong Le Boujoum: “Cuộc đời không có chấm dứt, từ không đến có, rồi lại từ có đến không, qua những giai đoạn thành, thịnh, suy, hủy, rồi thành, từ khôn đến càn, rồi lại từ càn đến khôn, qua những giai đoạn thiếu âm, thái dương, thái âm, thiếu dương, mà vật lý học cho thấy qua điển hình của vòng Mobius… - một ngày kia người ta sẽ trở lại việc đọc sách”. Đó là câu nói khẳng định rất tự tin của ông - một người sống và viết gần một thế kỷ có rất nhiều biến động với một cuộc đời sôi nổi và đầy sáng tạo.

Đào Thị Thanh Tuyền
(Nguồn:http://www.nhituongsite.com)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-23 16:02:12hai1957>


Le « gouffre » dans Le Boujoum
ou
l’abîme d’un destin


A la mémoire de l’écrivain Cung Giu Nguyen- une grande figure de la littérature francophone vietnamienne


PHAM VAN QUANG

« Et s’il faut connaître une nouvelle expérience, eh bien, tant pis, rien ne me surprend plus, même le mariage du ciel et de l’enfer, […], même la hantise du Boujoum, de ce qui se sent et ne s’explique pas, de cette obsession du sens tissé de non-sens »

(Le Boujoum, p. 653)

Dans le concert des littératures vietnamiennes, la littérature d’expression française semble se dérober à l’attention du lecteur. Les raisons peuvent être diverses : le désastre des guerres, la domination de plus en plus large du quốc ngữ (l’écriture vietnamienne) et le problème de l’utilisation actuelle du français au Vietnam, etc. Cependant, ce n’est pas parce que les productions de cette littérature ne sont pas abondantes que leur qualité de créativité est mal appréciée. L’objectif de cet article n’est pas de couvrir le champ entier de la littérature francophone vietnamienne, ni tous les messages transmis dans le contenu des œuvres, mais de concentrer les observations sur le système original du vocabulaire employé pour constituer la poétique du destin dans le roman Le Boujoum de Cung Giu Nguyên.

1. Quelques réflexions sur le langage du Boujoum

La lecture du Boujoum est différente de celle du Domaine maudit, de Le Fils de la Baleine , ou d’autres romans de Cung Giu Nguyên, parce que le langage utilisé dans ce roman parait beaucoup plus compliqué, et apparemment, il s’avère un peu monotone. En effet, à la première lecture, on se sent fatigué par les phrases très longues et très sinueuses, qui entraînent parfois à un style rocailleux. Si un lecteur quelconque veut y chercher une simple distraction ou détente, Le Boujoum deviendra sans doute un roman ennuyeux et fastidieux. Pour ceux qui s’intéressent à ce roman comme objet de recherche qui a besoin d’une lecture professionnelle, il faudrait être prêt à la patience. Il est vrai que Le Boujoum conduit le lecteur à « un jeu de patience ou un jeu d’apprentissage de la lecture ». C’est un jeu mais non pas pour jouer ! Peut-être l’auteur prenait-il conscience de cette perspective quand il utilisait dans son œuvre une sorte de langage ainsi codé, pour que le lecteur puisse recourir à une clef quelconque qui pourrait permettre de le décoder ainsi que de dévoiler l’arrière-pensée. Ainsi, le romancier se heurte-t-il, par mégarde ou par volonté, à un échec dans la transmission de ses idées, alors que le langage est considéré comme une condition de transmettre et de réaliser les idées et les pensées (cf. Benveniste 1966 : 64). A ce propos, nous n’avons que le droit d’examiner ou d’observer et non pas le droit d’affirmer ou d’imposer un principe au langage littéraire, parce que, dans une certaine mesure, la littérature étant comme un message, est quelquefois un signe mystérieux ou ésotérique. Sans entrer dans le détail de ce problème, nous revenons au système du vocabulaire présenté par ce romancier. Il est en fait incontestable que, à côté de son langage difficile à interpréter, Le Boujoum est tissé par contre d’un ensemble très riche de types de tournures phrastiques, de vocabulaire très moderne mais aussi parfois très archaïque. Sont également parsemés dans le roman des termes philosophique, psychologiques, des jeux d’intertextualité et des figures de rhétorique. C’est grâce à cette diversité que nous pouvons constater que ce roman a l’ambition d’être à la fois « l’écriture d’une aventure et l’aventure d’un écriture » (Argod-Dutard 1998 : 31).

2. La poétique du destin

2.1. Le gouffre et son environnement

Dans Le Boujoum , nous pouvons remarquer que Cung Giu Nguyen développe différents thèmes tels que l’humanité, la fraternité, le « je » de l’écrivain, etc. Mais, au-dessus de toute chose, l’auteur médite sur l’existence et sur le destin manqué de l’homme comme passant sur la terre. L’amalgame de ces deux thèmes est impliqué très nettement par l’incipit qui est aussi la dernière phrase du roman :

[l’homme comme un] objet retenu au-dessus d’un gouffre par les fils abstraits de l’espérance.

Dans cette phrase, l’auteur insère le mot gouffre en lui conférant son juste poids de désespoir. La perspective exacte de ce mot éclaire plus ou moins l’œuvre. Son usage montre l’expérience poétique que Cung Giu Nguyen veut mettre à jour dans son œuvre, et c’est un des traits singuliers qui s’étendent sur la totalité du champ de valeurs qu’endosse ce mot. L’ensemble de ces valeurs qu’il attribue à toute l’œuvre s’exprime, soit dans les limites de d’une signification immédiate, soit dans sa corrélation étroite avec d’autres champs de mots qui sont susceptibles d’exprimer tout un destin ou toute une existence. Voici un extrait où nous pouvons trouver les champs de mots liés au thème de destin :

« … objet retenu au-dessus d’ un gouffre par les fils abstraits de l’espérance. Espérance en qui, en quoi et pour quelles raisons, à la faveur de quel exception, cette sustentation pour une durée dont les termes sont certains et qu’on voudrait inexistants, ou tout au moins lointains , car la persuasion de l’imminence est flagrante, un bout attend toujours son répondant logique de l’autre extrémité, encore que l’oubli des lois réelles est compagnon des chimères. En bas, un gouffre noir tournoyant, et tout autour du maëlstrom, un plus vaste tourbillon qui procède, on se l’imagine, du mouvement curieux et arbitraire de l’expansion de l’univers. Apesanteur, banalité dans un monde où les trouvailles newtoniennes deviennent absurdes et ridicules. Mais chez cet illuminé qui ouvrit une ère d’éclairs de génie la pomme échappée de la branche se refuser à choir. Pomme d’Adam qui ne chute que pour être jetée dans une autre sphère où tous les corps doivent nécessairement tomber . Quelqu’un ne remonte-t-il pas la pendule pour que le temps ensorcelé ne se dévide plus ?
La terre et le ciel ne se distinguent pas. Impossible de situer en pensée la crête des collines familières, maintenant défuntes . D’épais nuages dansent sur un sol mal défini, tiraillent de la voûte basse la crêpe de suie à étaler partout la couleur de grand deuil. La nuit n’est pas différente du jour . Une démarcation semble vaine. Une trouée de durée éphémère du côté de ce qui est supposé être l’Ouest donne l’illusion d’un réveil lunaire. L’heure ? N’en parlons pas. Un Big Ben qui sonnerait en ce lieu ne signifierait plus rien. Ainsi le temps s’en est allé ailleurs pour que les gens qui auraient soif de plus d’être à chaque perte de souffle le réaniment. Ici , il n’y a plus d’hommes. La matière élémentale a pris leur place et les silhouettes un peu différentes de celles des bêtes ne subsistent que par accident. La terre bien travaillée ou retournée des entrailles devient traîtresse ; on s’imaginait heurter des blocs durs, piétiner des institutions, des civilisations, on découvre de moins en moins une assise stable où poser tranquillement un dernier humain. La déception est rapide, mais pas autant que l’effondrement. L’enlisement semble m’épargner […]. Vomi par la terre, sans raison, refusé, proclamé inapte au service de la légion infernale , classé ordure ou rebut, le corps cherche un axe » (les gras sont de nous). ( pp. 11-12 ).

Sans doute beaucoup d’écrivains développent-ils le thème de destin. Baudelaire, par exemple, l’a largement exploité dans ses Fleurs du Mal (1857) et l’a mis dans un poème entier intitulé Le Gouffre pour symboliser la tragédie d’un exil où l’amour doit céder sa place au pathétique. Chez Cung Giu Nguyen, cette image se trouve encore plus dramatique quand l’auteur exprime le thème de destin.

Avant d’entrer dans l’examen de ce thème, il faut signaler tout de suite que, si l’explication de la poétique selon le mode de lecture linéaire qui consiste à examiner chaque mot dans ses actualisations isolées, le thème ou les valeurs dégagées du mot sont très difficilement impliqués. Il faut donc mettre en œuvre le mode de lecture verticale. Cette dernière permet de rétablir le champ du mot, comme le gouffre en se basant sur l’ensemble de ses apparitions ainsi que sur les contextes où il se trouve.

Selon ces principes, nous reconnaissons que le gouffre de Cung Giu Nguyen est pris dans son sens très abstrait lors de sa première apparition. Il semble qu’il fait ressortir une certaine valeur métaphorique, et son champ stylistique très fort repose sur le fait qu’il se réfère à un monde d’horreur et de peur. Mais il est en bas, tout proche de l’homme et provoque un univers noir comme la nuit qui s’oppose au jour , comme la terre qui s’oppose au ciel. Dans cette perspective, le gouffre laisse penser à un autre sens dérivé, celui de l’imagination qui procède d’une âme solitaire et fragile au seuil du mal, au seuil de l’ abîme . Ce sont donc les caractères du gouffre qui rendent plus originale l’image du destin. Ainsi le gouffre ou l’abîme , en ce sens, symbolise l’âme qui est tombée dans un profond silence.

Avec le gouffre et l’abîme , nous voyons apparaître dans le texte d’autres signes qui participent à la construction du thème du destin, tels que terre, ciel, légion infernale. Ces derniers deviennent un ensemble très structuré et constituent des degrés de valeurs non seulement au niveau esthétique du roman, mais aussi au niveau d’une valeur morale. Ils esquissent devant nous l’image d’un cercle dont le centre ou l’ axe est la présence du destin de l’homme, qui se tient « au summum de son désespoir et à la cime de sa peur de mourir », et qui, encerclé d’un monde mystérieux, est en train de lancer ses appels au secours : « Sauvez mon âme ! » Mais le ciel est très loin, la terre est déserte et il n’y a plus d’hommes, il n’existe qu’ un profond silence, et enfin, la légion infernale (symbole de l’enfer) n’accepte pas une âme inapte au service . Les réponses se font donc toujours attendre. L’homme ne trouve finalement aucun abri, aucune assise stable , le destin continue alors à rouler.

2.2. La roulette du destin sur toutes les routes de vie

Les procédés poétiques et stylistiques continuent à s’appliquer pour s’interroger sur le thème du destin. Cung Giu Nguyen amène encore le lecteur, grâce à la force suggestive du vocabulaire, à partager le destin qui étreint toujours l’homme. En effet, le destin flâne tout au long du roman, dans chaque type de textes. L’auteur a emprunté, par exemple, le chant du personnage Pergorain pour exprimer ce thème au milieu de son œuvre. Persistant dans les figures de rhétorique très impressionnantes, Cung Giu Nguyen a repris quelques signes déjà employés dans les premières pages, tels que ciel, abîme dans :

Le ciel avec ses nuages sombres se nie

Et dans :

L’arsenic du pouvoir donne une force provisoire
Qui permet de sauter, les yeux ouverts, dans l’ abîme .

Mais, il est encore plus impressionnant de voir apparaître largement d’autres mots, qui créent une atmosphère lourde et angoissante, présageant le destin manqué. Voici une métaphore qui exprime un contraste entre deux notions coexistantes :

Mille routes du monde ne furent pour moi que routes de haine

Plus l’apparition des mots est dense, plus on voit approcher l’image de destin. La résonance des mots est donc un prélude aux signes tragiques qui vont survenir. Écoutons maintenant la lamentation de Pergorain acceptant les choses comme déjà réglées :

Malheur à l’homme seul, dit-on ; à l’homme seul, déshonneur ,
Mais à moi seul aussi mission sur terre est donnée,
Avec peu de joies et beaucoup de pleurs. (p.527).

Ce leitmotiv est encore repris en écho tragique dans un autre lieu du roman, comme un discours librement improvisé, qui traduit une nuance solitaire, souffrante, douloureuse :

A l’homme seul, malheur, malheur , au mort seul.
Dans la marche funèbre solitaire , j’accompagne aux sons de ma flûte Ma victime, mon ami, mon délivré,
Dans notre plongée commune dans le néant où nos solitudes s’éternisent,
Dans cet enfer ou ces cieux aux étages divers
[…]
Que jamais ne rejoindront les litanies des vivants. (p. 530).

L’idée de destin est sans doute un thème fondamental dans Le Boujoum . La description linguistique du champ de vocabulaire du destin se révèle variée. L’expérience de l’écrivain sur cette notion l’aide à introduire de manière spécifique dans son écriture un ensemble de mots, qui sont relativement nombreux et permettent de créer un « champ conceptuel » et donc un champ du vocabulaire du thème de destin. Écoutons de nouveau les expressions chagrines de Cung Giu Nguyen sur ses expériences vécues, à travers les paroles d’Amdo, le personnage principal :

J’appris cependant comment peut être profonde la solitude qui sépare les hommes que ne lie plus ni l’affection ni la rancune. (p. 527).

Ou bien une autre vérité de la contagion du destin est dévoilée très poétiquement dans le chant de Pergorain :

Que pouvaient faire éclore nos derniers souffles,
Le baiser de ma flûte annonçant une chute du point d’orgue.
Destin de soi en contrepoint au destin d’autrui ! (p. 528).

Dans tous les cas, nous pouvons insister sur la signification du gouffre , de la terre , du ciel ou de l’enfer , etc. que l’auteur explicite dans le roman. A travers ce système du vocabulaire, Cung Giu Nguyen a élaboré une philosophie de l'existence, une philosophie où la littérature est la méthode, parce que l’auteur croit toujours qu’il en est de la littérature, comme du reste et, que, lors qu’elle s’affiche, elle « se veut communicative ». En effet, quoique le gouffre vécu soit noir et que l’homme cherche en vain à l’évacuer, car le destin est en marche et il existe dans toutes les routes de vie, l’homme est toujours retenu par les fils abstraits de l’espérance . Ainsi, la littérature est-elle la seule espérance grâce à laquelle l’auteur peut épancher ses pensées et témoigne de sa volonté d’existence? En effet, avec le langage littéraire, Cung Giu Nguyên a commencé à construire une nouvelle vision du monde, une vision qui devrait rendre possible l'évasion d’un silence terrible, de l’ « ici » ou de « ce lieu ». C'est pour cela qu'il a essayé de conceptualiser la notion de gouffre sous une autre formule : le gouffre, c’est un reflet des changements successifs des états psychologiques de l’homme : depuis la subconscience, la préconscience, l’inconscience individuelle, familiale et collective, jusqu’à la conscience.

3. Conclusion

La littérature est donc au centre de communication, mais une communication très particulière, parce que son langage s’établit sur le principe esthétique. Le système du vocabulaire fait intervenir un grand nombre de composantes qui peuvent s’interpréter selon différents contextes et différentes approches. Les quelques linges ci-dessus, qui reposent sur le champ stylistique ou sur la poétique du Boujoum, ne sauraient présenter exhaustivement tous les procédés littéraires ou tous les modes de compositions utilisés par Cung Giu Nguyen dans cette œuvre ou dans toutes ses productions littéraires. Ce que nous venons de présenter n’est que quelques traits expressifs qui nous ont le plus impressionné. En déployant le cadre de la poétique du roman, nous constatons qu’il est très intéressant et aussi nécessaire de découvrir, de plus, les œuvres de Cung Giu Nguyen ainsi que ceux des autres auteurs d’expression française ; il faudrait également redonner en même temps à cette littérature sa place, car elle représente une créativité originale non seulement sur le plan des idées, mais encore sur le plan du langage.

Références bibliographiques

. ARGOD-DUTATD. F. (1998) : La linguistique littéraire , Armand Colin, Paris.
. BENVENISTE. É. (1966) : Problème de linguistique générale 1 , Gallimard, Paris.
. Carnets du Viet Nam (2003), La littérature au XXe siècle , 1, Printemps.
. FIPF (Fédération internationale des Professeurs de français), (1976) : Littératures de langue française hors de France. Anthologie didactique , Duffiseur Editions J. Duculot.
. JOUVE. V. (1999) : La poétique du roman , SEDES.


Bien Hoa, le 08 novembre 2008


PHAM VAN QUANG

Professeur Langue et Littérature Francaise
Université des Sciences Humaines et Sociales - Hồ Chí Minh ville.






© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải lần đầu tiên trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 09.11.2008.
Đăng nhập để trả lời
0
Nhớ Thầy Cung Giũ Nguyên



Vietsciences- Nguyễn Thành Thống 12/11/2008

Vĩnh biệt Thầy Cung Giũ Nguyên


Tôi không phải là học trò của thầy. Nhưng tôi vẫn gọi thầy xưng con với thầy vì sự uyên bác và tuổi tác của thầy. Tôi đã từng nghe danh của thầy từ rất lâu, nhưng mãi đến năm 1987 tên của tôi mới được vinh dự đặt bên cạnh tên của thầy khi tôi dịch cuốn Autour de la lune (Bay quanh mặt trăng) của Jules Verne, in ở Nhà xuất bản Tổng Hợp Phú Khánh. Thế rồi mãi đến những năm đầu của thập niên 90 tôi mới được gặp thầy. Câu chuyện như thế này.
Đầu năm 1990, lúc đó tôi đang là biên tập viên của Nhà xuất bản Khánh Hòa, tôi được phân công biên tập một cuốn sách dịch của tác giả Cung Giũ Nguyên. Đó là cuốn Le Fils de la Baleine, người dịch là Nguyễn Văn Hùng, tức Cung Giũ Hốt, em ruột của tác giả Cung Giũ Nguyên. Tôi đã đọc nguyên bản tiếng Pháp trước, sau mới đọc đến bản dịch. Tôi thấy khoảng cách giữa nguyên bản với bản dịch quá xa, nên tôi đã yêu cầu người dịch dịch lại, nhưng người dịch không đồng ý và đã rút bản thảo về. Một tuần sau tôi có dịp đến làm việc với một cộng tác viên rất nổi tiếng của Nhà xuất bản Khánh Hòa. Đó là Thầy Cung Giũ Nguyên.

Tôi còn nhớ rất rõ. Khi tôi gõ cửa nhà số 60 Hoàng Văn Thụ Nha Trang, một ông cụ trông rất khỏe mạnh, ở trần, mặt quần pijama, chân mang vớ. Tôi nghĩ trong đầu cây cổ thụ đây, nhưng tôi thắc mắc vì sao ở trần mà lại mang vớ. Về sau ông cụ mới cho biết: ở trần là để cho mát, nhưng phải mang vớ là để khỏi bị muỗi cắn chân khi ngồi làm việc. Ngay từ đầu tôi đã thoáng thấy cái nét hài hước của ông cụ, một đặc điểm mà ít người nhận ra, vì khi nói đến Cung Giũ Nguyên thì thường người ta nghĩ ngay đến một ông trưởng giả khó tính hút píp xách ba-tông đi giày tây. Ông cụ hỏi tôi: Cái gì vậy? Thưa: Con ở bên Nhà xuất bản muốn gặp thầy. Ông cụ nhìn bộ dạng của tôi rồi phán: Năm phút thôi!

Đúng là cao đạo. Nhưng không phải thế. Hôm đó tôi đã được hầu chuyện ông cụ gần hai tiếng đồng hồ. Cuối buổi ông cụ cho tôi biết sở dĩ có cái lệnh năm phút thôi kia là vì ông cụ thấy rằng quỹ thời gian của mình còn ít quá, chứ không rỗi rãi như tôi. Khi biết được danh tính của tôi, ông cụ hỏi: Có phải anh là người đã chê bản dịch của Nguyễn Văn Hùng không? Thưa: Dạ phải. Hỏi tiếp: Chê người khác mà mình có làm được không? Tôi biết mình đã nhảy lên lưng cọp rồi. Vốn có máu hung hăng của bọn trẻ tôi thưa ngay: Dạ thưa, nếu thầy đồng ý thì để con làm thử. Lệnh tiếp: Thế thì về làm đi! Đến lúc này thì tôi mới thấy mình đã lỡ dại rồi. Thì giờ đâu? Cả ngày tôi làm việc và ở lại luôn tại Nhà xuất bản, chiều mới đạp xe đạp mười cây số về Trường Trung Học Phổ Thông Hoàng Hoa Thám Diên Khánh, nơi tôi tạm trú cùng với vợ con tôi; ở đó lúc bấy giờ ban đêm điện đóm không ổn định chút nào. Thế nhưng tôi đã cố gắng tốc hành trong vòng một tháng để dịch cho xong cuốn sách của ông cụ. Và tôi đã dịch tựa sách Le Fils de la Baleine thành Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải thay vì dịch sát chữ là Người Con Trai của Cá Ông. Tôi rất hài lòng về cái tên mới này của bản dịch.

Ngoài ra tôi cũng rất khổ công nhưng hài lòng khi chuyển được những câu ca dao miền Trung cũng như những phần trích bài ca bả trạo, mà cụ đã lược dịch sang tiếng Pháp, trở lại tiếng Việt đúng với nguyên bản. Khi đến trình cho cụ bản dịch, cụ bảo hai tuần nữa quay trở lại. Nhưng một tuần sau tôi lại có dịp đến làm việc với cụ. Cụ bảo: Xem xong rồi. Thưa: Có được không ạ? Trả lời: Được. Thưa: In được không ạ? Trả lời: Được chớ!

Thế là tôi về lo thủ tục xuất bản. Đối với Nhà xuất bản của chúng tôi thì không có gì khó khăn. Nhưng khi trình lên Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, thì tôi được biết qua Trưởng phòng biên tập, "Hay dở không cần biết sách của Cung Giũ Nguyên không được in ở Nhà xuất bản Khánh Hòa!".

Tôi vốn tánh liều mạng nên gửi bản thảo thẳng ra Nhà xuất bản Văn Học Hà Nội. Giám đốc Nhà Xuất bản Văn Học lúc bấy giờ, nhà thơ Lữ Huy Nguyên, không những đã đồng ý cho phép xuất bản mà còn viết lời giới thiệu. Còn một việc hy hữu khác nữa là ở trang bìa 3 tôi có ghi ở đầu trang: VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM. Bên dưới hàng tít này tôi ghi: CUNG GIŨ NGUYÊN. Giám đốc Nhà xuất bản Văn Học vẫn duyệt. Thế có nghĩa là CUNG GIŨ NGUYÊN được công nhận là nhà văn Việt Nam và tác phẩm Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải được thừa nhận là Văn Học Hiện Đại Việt Nam. Một kết quả ngoài dự định của cụ, vì sau 1975 cụ không được công nhận là nhà văn Việt Nam, trong khi thế giới vẫn công nhận cụ là một nhà văn học giả Việt Nam. Còn một mắc mứu khác đó là phần lớn các tác phẩm của cụ được viết bằng tiếng Pháp cho nên nhiều người cho rằng những tác phẩm đó không được xem là thuộc Văn Học Việt Nam. Tôi có đem việc này hỏi ý kiến của cụ thì cụ cho biết tiếng Pháp chỉ là một phương tiện diễn đạt còn nội dung vẫn là bản chất và bản sắc Việt Nam. Phần tôi thì tôi cho rằng nếu sách của cụ mà viết bằng tiếng Anh thì có lẽ Việt Nam ta đã đoạt giải Nobel về Văn Học từ lâu rồi. Tuy đã có giấy phép xuất bản từ năm 1991 nhưng mãi đến năm 1995 cuốn sách mới được in và phát hành. Lý do là vì lúc bấy giờ các cơ sở hợp tác xuất bản mà bây giờ được gọi là các công ty văn hóa không biết Cung Giũ Nguyên là ai cả; người ta lại còn thấy ngại một cuốn tiểu thuyết do một người Việt viết bằng tiếng Pháp lại được dịch trở ngược lại sang tiếng Việt. Một chuyện thấy sao lạ đời, mà lạ đời thì không ai dám mạo hiểm; ôm vào chắc là khó bán ra.

Ít ai biết được rằng tác phẩm Le Fils de la Baleine suýt được giải Goncourt của Pháp nếu không có cuộc ganh đua của các Nhà xuất bản ở Pháp. Và học giả nổi tiếng người Pháp Daniel Rops đã từng ca ngợi tác phẩm này. Phần cụ thì sau khi bản dịch được xuất bản cụ đã có lời cám ơn tôi vì theo lời cụ, tôi đã có công đưa thằng Mỗ (nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết) sau bao năm trời phiêu bạt bên Pháp bên Canada về lại Việt Nam.
Sau khi bản dịch có mặt để độc giả Việt Nam có thể đọc và biết thêm một tí về tác giả Cung Giũ Nguyên thì thầy tin tưởng khả năng của tôi hơn và thầy đã dành cho tôi một tình cảm đặc biệt. Tôi đã từng nói chuyện với thầy hàng giờ về nhiều vấn đề, và tôi cũng đã từng ngồi hàng giờ nghe thầy nói những suy nghĩ, những công việc thầy đã làm đang làm và sẽ làm. Tôi có thể lục tung tủ sách của thầy, một việc không ai được phép làm ngoài tôi. Thầy đã từng muốn tôi dịch cuốn Le Fils de la Baleine sang tiếng Anh. Tôi có thưa rằng tôi vốn là người cầu toàn cho nên tác phẩm đó phải do chính một dịch giả người Mỹ hoặc người Anh biết tiếng Pháp dịch thì tốt hơn.

Gần đây yêu cầu đó đã được đáp ứng. Tôi đã giới thiệu với thầy anh bạn của tôi cũng là thầy dạy Aikido của tôi, Âu Dương Di, một Việt kiều Mỹ biết tiếng Pháp đã từng sống ở Mỹ 30 năm rất quen thuộc với việc viết lách dịch thuật; ngoài ra Âu Dương Di còn là học trò cũ của thầy. Bản dịch đã hoàn thành. Nhưng rất tiếc bản dịch tài hoa và chính xác này chưa được xuất bản trước khi thầy mất. Cũng xin nói thêm tác phẩm Le Fils de la Baleine đã được dịch sang tiếng Đức từ rất sớm.
Theo tôi, công trình trước tác của Thầy Cung Giũ Nguyên thật đặc sắc và đa dạng. Le Fils de la Baleine chỉ là một tác phẩm đã được xuất bản, cho nên có ưu thế được nhiều độc giả biết tiếng Pháp thưởng thức. Có thể nói đó là một tác phẩm dễ đọc. Thầy còn có những cuốn tiểu thuyết rất Việt Nam và dễ đọc khác nhưng tiếc là chưa được chuyển sang tiếng Việt. Một cuốn khảo luận đã được xuất bản và rất nổi tiếng nhưng độc giả Việt Nam chưa có dịp đọc, đó là cuốn Volontés d'existence.

Những năm sau 1975 thầy đã tốn rất nhiều thời giờ và công sức để nhập vào máy vi tính của mình những trước tác trước đây của thầy. Ngoài ra thầy vẫn tiếp tục sáng tác. Chúng ta hãy tưởng tượng một cụ già trên chín mươi ngày đêm vẫn cặm cụi bên máy vi tính thì mới thấy được sức làm việc và gương làm việc của thầy. Đa số những tác phẩm viết sau 1975 là những trước tác viết bằng tiếng Việt, nhưng chưa được xuất bản. Có một số người đã có dịp đọc những tác phẩm này qua hình thức in photocopy lưu hành nội bộ. Nhân đây tôi cũng xin lưu ý. Có thể nói, đại tác phẩm của thầy là cuốn Le Boujoum. Theo thiển ý của tôi thì đây mới là đỉnh cao sự nghiệp của thầy. Đó là một cuốn tiểu thuyết dày hơn sáu trăm trang viết bằng tiếng Pháp sau 1975. Ban đầu thầy đã nhờ một người Pháp đánh máy, nhưng sau mấy mươi trang thì người này đã bỏ cuộc vì đọc không hiểu gì. Sau đó thầy đã tự đánh máy, khi đánh máy xong thầy đã gửi cho tôi một bản với ý muốn nhờ tôi sửa lỗi chính tả và thực tế thầy đã nhờ tôi chuyển sang tiếng Việt. Nhưng rất tiếc vì quá bận công việc, tôi đã không làm được việc này. Về sau chính thầy đã chuyển sang tiếng Việt và tác phẩm có tên là Thái Huyền đã được xuất bản ở Mỹ, nhưng chỉ được một phần. Có lẽ vì không bán được nên việc xuất bản phần hai phải dừng lại. Nguyên bản tiếng Pháp Le Boujoum đã được Cung Giũ Nguyên Center ở Mỹ xuất bản nhưng theo tôi vẫn dưới hình thức lưu hành nội bộ. Tôi đã có lần thổ lộ với thầy không biết mươi năm nữa người ta có thể đọc hiểu cuốn sách của thầy không. Nói lên điều đó tôi muốn liên tưởng đến hai tác phẩm Ulysses và Finnegans Wake của James Joyce, một thần tượng văn học của tôi. Thực tế thì lối viết của James Joyce và của Thầy Cung Giũ Nguyên rất giống nhau. Đương nhiên một bên là mộng một bên là thực có khác nhau nhưng cái thực của thầy được viết như thể là mộng.


Thưa thầy, con vẫn tin rằng bây giờ thầy vẫn có thể đọc được những hàng chữ này của con. Hơn hai năm nay con đã quyết tâm giảm bớt lui tới nhà thầy để rồi một năm nay con đã ngưng hẳn việc lui tới nhà thầy. Con đã nói với thầy quyết tâm này rồi. Con là một mẫu người sentimental. Con sẽ rất đau khổ khi đi ngang nhà thầy mà không còn thầy ở đó. Thế nên con phải giảm bớt đi chuyện lui tới này để may ra tình cảm của con đối với thầy sẽ xuống thang từ từ và phần nào, ngõ hầu khi thầy không còn ở nhà số 60 Hoàng Văn Thụ Nha Trang đó nữa thì con bớt đau khổ hơn. Hôm nay quả thực con đã thấy suy nghĩ và quyết định của con là đúng. Bài viết hôm nay chỉ có tính chất thời sự chưa phải điều con đã từng hứa với thầy là con sẽ viết một cuốn sách dày về thầy để cho người ta thấy tính chất uyên bác, nhân văn, nhân bản, sâu sắc, tài hoa, và nhất là hài hước trong tác phẩm và trong con người của thầy. Con biết người ta ngộ nhận về thầy nhiều lắm. Thầy cũng biết rằng có rất nhiều tác giả văn hoc tài ba đã không nhận được giải Nobel Văn Học. Bây giờ thì CCC (Chim Cánh Cụt cũng có nghĩa là Chưa Chịu Chết) đã chịu chết. Requiescat In Pace.

NGUYỄN THÀNH THỐNG
(Nha Trang ngày 8/11/2008. Sau cơn mưa trời lại sáng.)

© http://vietsciences.org và http://vietsciences.free.fr- B
Đăng nhập để trả lời
0
CUNG GIŨ NGUYÊN, NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI

(Tưởng Niệm 4 năm ngày mất Nhà Văn Hóa Cung Giũ Nguyên - 7 tháng 11 năm 2008 - 7 tháng 11 năm 2012)

Trần minh Hiền - Orlando ngày 6 tháng 11 năm 2012



Thấm thoát mà 4 năm đã trôi qua từ ngày nhà văn hóa, người thầy, nhà văn vĩ đại của Việt Nam, cụ Cung Giũ Nguyên đã ra đi vĩnh viễn lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 7 tháng 11 năm 2008. Cuộc đời của 1 nhà văn hóa, 1 nhà văn, 1 thầy giáo, 1 huynh trưởng vĩ đại mà cuộc đời suốt gần 1 thế kỷ đã làm tấm gương sáng và ảnh hưởng sâu đậm đến biết bao thế hệ học trò. Người viết bài này (TMH) có may mắn được học với thầy. Gia đình tôi có rất nhiều người học với thầy: Ba tôi ông Trần Điền, bản thân tôi Trần Minh Hiền, em gái tôi Trần Thục Quyên, các người thân của tôi đều học với thầy. Kỷ niệm về thầy rất nhiều và cũng như nhiều câu chuyện tưởng như là huyền thoại. Thầy là 1 nhà giáo dạy biết bao thế hệ học trò và lúc nào cũng đam mê, say mê trong công việc của mình. Chúng tôi còn nhớ ngày học với thầy, thầy lúc nào cũng chỉnh tề vừa nghiêm túc vừa hóm hỉnh, dí dỏm. Thầy là 1 cuốn tự điển sống, chỉ 1 từ le temps mà thầy có thể giảng hai tiếng đồng hồ còn hơn cả quyển la rouse, kiến thức rộng mênh mông và luôn luôn học hỏi tìm tòi. Ông viết bằng tiếng Việt, tiếng Anh và nhất là tiếng Pháp, quyển Le Fils de la baleine là quyển được đề cử giải Goncourt năm 1959.

Nhà văn hóa Cung Giũ Nguyên sinh tại Huế vào ngày 28-4-1909, nếu tính theo tuổi ta thì ông “trụ thế” được 100 tuổi. Theo Từ điển văn học (bộ mới, NXB Thế Giới 2004) thì Cung Giũ Nguyên là một nhà giáo dục, nhà báo, nhà văn Việt Nam. Ngoài ra ông còn có tên trong danh sách các nhà văn thế giới viết văn bằng tiếng Pháp.
Cả cuộc đời nhà văn hóa Cung Giũ Nguyên có khoảng 70 năm trực tiếp dạy học. Ông được bổ làm trợ giáo tập sự tại Trường Nam tiểu học Nha Trang vào năm 1928.
Từ 1975 về trước nhà giáo Cung Giũ Nguyên đã dạy các môn Việt văn, Hán văn, Latin, Pháp văn, Anh văn, sử địa, kinh tế học, triết học, văn học tại các trường ở Nha Trang như: Kim Yến, Trường dòng Thánh Giuse Bình Tân, La San, Phanxicô, Collège de Nha Trang, Võ Tánh, Lê Quý Đôn. Đồng thời ông đã 20 năm làm hiệu trưởng Trường trung học đệ nhị cấp Lê Quý Đôn (Nha Trang,1955-1975) và làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học cộng đồng Duyên Hải, Nha Trang trước đây và giảng dạy môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp văn Trường cao đẳng Sư phạm Nha Trang (1989-1999).

Về văn chương, Cung Giũ Nguyên được đánh giá là có “đóng góp lớn cho văn học Việt Nam”. Ông là một nhà văn viết thuần thục nhiều thứ tiếng, đặc biệt là tiếng Pháp; viết nhiều thể loại khác nhau (tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, tản văn, khảo luận...). Tác phẩm của ông đã được các nhà xuất bản ở Pháp, Đức, Canada, Hoa Kỳ, Việt Nam phát hành. Trong đó có những tác phẩm được chú ý nhiều như, về tiếng Việt: Một người vô dụng (Tín Đức Thư Xã, Sài Gòn, 1930); Nhân tình thế thái (tập truyện ngắn, Phổ Thông Văn Xã, Gia Định, 1931); Nợ văn chương (Nhà in Châu Tịnh, Vinh, 1934), Những ngày phiêu bạt (ký), Nửa gánh tang bồng, Một chuyến về

Về tiếng Pháp, Cung Giũ Nguyên có những tác phẩm nổi tiếng được thế giới biết đến nhiều vào những năm 1950-1960 như: Le fils de la Balaine (tiểu thuyết, Paris, 1956 - dịch sang tiếng Việt là Kẻ thừa tự ông Nam Hải, NXB Văn Học, Hà Nội 1995), LeDomaine Maudit (tiểu thuyết, Fayard, Paris, 1961); tiểu luận Volontés d’existence (France-Asie, Sài Gòn 1954; dịch sang tiếng Việt là Những ý chí sinh tồn); Le Boujoum (do roman Dallas, Tesax, USA, tái bản 2002; dịch sang tiếng Việt là Thái huyền); tập thơ Texte Profane (Bản văn trần tục)…

Cung Giũ Nguyên còn là nhà báo đã viết hàng ngàn bài cộng tác trên nhiều tờ báo trong, ngoài nước. Ông đã cùng với Raoul Serène - tiến sĩ khoa học từng làm giám đốc Viện Hải dương học Đông Dương - chủ trương ra nguyệt san Tạp Chí Tuổi Trẻ (Le Cahiers de la Jeunesse; 1938-1940) ở Nha Trang; làm chủ bút nguyệt san song ngữ Tương Lai Tạp Chí, Nha Trang (1939) và làm chủ bút nhật báo Châu Á Buổi Chiều (Le Soir d’Asie, Sài gòn; 1939-1942) và chủ bút tuần báo Báo Chí Viễn Đông (La Presse d’Extrême - Orient, Sài Gòn; 1954)…

Về mặt văn chương, tên tuổi ông được ít người Việt biết đến vì các tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Pháp. Tuy nhiên về mặt hoạt động xã hội, ông là một huynh trưởng nổi bật thuộc thế hệ sáng lập ra phong trào Hướng đạo Việt Nam.
Cuối đời, ông cư ngụ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà và mất tại đây ( 60 Hoàng Văn Thụ Nha Trang)

Ông sinh tại Huế, họ thật là họ Hồng. Tổ tiên của ông, người Phúc Kiến, đã qua lập nghiệp tại Việt Nam từ giữa thế kỷ 19. Thân phụ là ông Cung Quang Bào, một Đốc học. Thân mẫu là Nguyễn Phúc Thị Bút, trưởng nữ của Quận công Hồng Ngọc và cháu nội của An Thành Vương Nguyễn Phúc Miên Lịch (con út vua Minh Mạng).
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo và đông con, học xong trung học tại trường Quốc học Huế những năm 1922-27, ông phải từ bỏ giấc mộng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội để đi làm việc. Năm 1928 ông được bổ làm trợ giáo tập sự tại trường Nam Tiểu học Nha Trang, nhưng đến đầu năm 1930 bị bãi chức, vì lý do chính trị. Sau đó ông phiêu lưu vào Sài Gòn, Đà lạt, Huế, Nha Trang.
Năm 1936 cha của ông mất. Vì trách nhiệm đối với gia đình, ông về lại Nha Trang và năm 1941 trở lại nghề dạy học. Ông đã dạy các môn Việt văn, Hán văn, La tinh, Pháp văn, Anh văn, sử địa, kinh tế học, triết học, văn học... ở các trường Kim Yến, Trường Dòng Thánh Giuse Bình Tân, La San, Phanxicô, Collège de Nha Trang, Võ Tánh, Lê Quý Đôn... Trong khoảng 1955-75, ông làm hiệu trưởng trường Trung học bán công Lê Quý Đôn, Nha Trang. Trong thời gian 1972-1975 ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Cộng đồng duyên hải, Nha Trang.
Từ 1989 đến 1999, ông là giáo sư thỉnh giảng môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp văn, Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang.

Về hoạt động hướng đạo:
Năm 1944, ông đảm nhiệm khoá huấn luyện chót ở Trại trường Bạch Mã thay thế Trưởng Tạ Quang Bửu vì bận việc riêng.
Năm 1958, Trại trường Quốc gia Tùng Nguyên được thành lập tại Ðà Lạt dưới quyền điều khiển của ông. Đây là nơi đào tạo hầu hết các trưởng của thế hệ 1958-1975.
Ông từng làm phụ tá Trại trưởng Trại Huấn luyện Hướng đạo quốc tế Gilwell, Anh Quốc. Đây là nơi huấn luyện các huynh trưởng Hướng đạo.
Cho đến năm 2007, ông đã 98 tuổi nhưng vẫn còn gắn bó với phong trào Hướng đạo tại Việt Nam; hướng dẫn Toán Alpha và Bêta Hướng đạo Việt Nam tại Nha Trang.

Về hoạt động báo chí:

- Cung Giũ Nguyên viết văn từ năm 1928 và từ đó, đã cộng tác với nhiều báo chí trong nước và ngoài nước, trong số có : Đông pháp thời báo (Sài Gòn), Sài Gòn-Mới Nam Phong (Hà nội) , L’Indochine Nouvelle (Sài Gòn), France-Annam. La Gazette de Huế, Tân Văn (Sài Gòn) Symposium (Syracuse) Books Abroad (Oklahoma, Hoa Kỳ) France-Asie (Sài Gòn). Bách Khoa (Sài Gòn), Présence Francophone (Sherbrooke, Canada) Đại Học (Huế), Tri Thức (Đà Lạt). La Tribune (Sài Gòn) .v.v.

- 1938-1940 - Cùng với Raoul Serène, sau nầy là Giám đốc Hải Học Viện Đông dương, chủ trương nguyệt san Les cahiers de la jeunesse, Nha Trang.

- 1939 - Chủ bút Nguyệt san song ngữ Tương Lai tạp chí, Nha Trang

- 1940-1942 - Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie, Sài Gòn.

- 1954 - Chủ bút tuần báo La Presse d'Extrême Orient, Saigon


Về Giáo dục:
Tại Nha Trang, ông đã dạy (các môn, tùy theo trường : Việt văn, Hán văn, Latinh, Pháp văn, Anh văn , Sử địa. Kinh tế học, Văn học, Triết học...) ở các trường Kim Yến, Collège Français de Nha Trang, Võ Tánh, Lê quý Đôn, các Trường Dòng Phanxicô, Lasan, Giuse, Lớp Tu Muộn Địa phận , Lớp Kỹ thuật viên Viện Pasteur. Lớp Anh văn Trung Học Y tế v.v..

- Từ 1955 đến 1975 : Hiệu trưởng trường trung học bán công Lê quý Đôn, Nha Trang,
- 1972-1975 - Giáo sư thỉnh giảng Viện Đại học Cộng đồng Duyên Hải Nha Trang, trưởng phòng Pháp văn, phụ trách nội san Duyên Hải.
- 1990-1999 - Giáo sư thỉnh giảng (Ngôn ngữ và văn chương Pháp), Khoa Pháp văn, Trường Cao đẳng Sư Phạm Nha Trang.


Về Công tác xã hội:
- Phó hội trưởng Hội Khuyến Học Nam kỳ (Société d’Enseignement Mutuel de Cochinchine), Sài Gòn 1940-1942
- Hội trưởng Hội Vinh Sơn (Conférence de Saint Vincent de Paul) Nha Trang. 1950-1952. Hội trưởng Hội Kiến Hương, Nha Trang, 1950.
- Uỷ viên Đạo trưởng Đạo Nam Hội Hướng Đạo Trung Kỳ, 1938-1944.
- Deputy Camp Chief of Gilwell. Phụ tá Trại trưởng Gilwell. Thành viên Ban Huấn luyện Trại trường Hướng đạo thế giới, London Anh quốc, 1957. Uỷ viên Huấn luyện Hội Hướng đạo Việt Nam, Trại trưởng Việt Nam 1958-1963.
- 1950-1954. Nghị viên Hội đồng quốc gia lâm thời.
- 1972 - Hội viên Hội Nhà Văn Tiếng Pháp, Association des Ecrivains de langue francaise (ADELF), Paris .



OEUVRES -TÁC PHẨM
1. TRUYỆN ( Một người vô dụng (Tin đức thư xã, đường Sabourain, Saigon, 1930)- Nhân tình thế thái ( Phổ thông văn xã, Gia định, 1931 ) - Nợ văn chương ( Nhà in Châu Tịnh, Vinh, 1934)
2 NHỮNG NGÀY PHIÊU BẠT, ký.
3 ĐỌC THOREAU - Kèm bản dịch Walden, Đời phóng khoáng.
4 ĐỌC BERTOLT BRECHT - Kèm theo bản dịch Cơn Khát.
5 NOUVELLES ( Le génie en fuite - Les eaux noires - Le pseudonyme, etc)
6 TRUYỆN NGẮN ( Ngàn đời nhớ anh - Nung lửa thử vàng - t.v.v.)
7 VOLONTÉS D’EXISTENCE, essai. Ed. France-Asie, Saigon 1954.
8 LE FILS DE LA BALEINE, roman. Ed. Arthème Fayard Paris 1956- Antoine Naaman, Sherbrooke, Québec, Canada, 1978. DER SOHN DAS WALFISCHS - Helmut Kossodo Verlag, Genf & Frankfurt, 1958 - KẺ THỪA TỰ ÔNG NAM HẢI, tiểu thuyết. (Nxb Văn Học, Hanoi 1995)
9 LE DOMAINE MAUDIT, roman. - Fayard, Paris 1961
10 MỘT CHUYẾN VỀ ( Duyên nợ miền Nam - Nhớ lại Bạch Mã)
11 NỬA GÁNH TANG BỒNG ( Từ rê sang rẽ - Huế 52 - Ri mô tê - )
12 DANH VÀ LÝ Phiếm luận về ngôn ngữ
13 LE SERPENT ET LA COURONNE, roman
14 UN CERTAIN TSOU CHEN roman
15 BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC
16 PHIẾM LUẬN VỀ TOÁN VÀ SỐ
17 TRÒ CHƠI TRÒ THIỆT
18 TRIẾT LÝ ĐÔI MẮT
19 JOURNAL DU KAUTHARA suivi de L’ÉTERNITÉ D’UN JOUR, L’ACTUALITÉ VIEILLIT VITE
20 NOTES MARGINALES chroniques
21 CHUYỆN MỘT NGÔI TRƯƠNG
22. LA ROBE DE PAPIER ( Une ville entre deux nom
23 LE BOUJOUM roman - Ed. Cunggiunguyen Center Publications Dallas,Texas, USA, THÁI HUYỀN truyện. Tập I (Nxb Đại Nam, Glendale,Cali, HKụ, 1991)
24 CORRESPONDANCE AVEC RAOUL SERÈNE ( 1976-1989)
25 QUÂN VI KHINH Phiếm luận về chính trị
26 -TEXTE PROFANE, suivi de Poèmes du Boujo
27 THE YUYUN PAPERS Letters from Hung Yuyun to his grandson in Sydney.
28 DANH TỪ TRIẾT HỌC TIẾNG PHẠN
29 LA TACHE DE VERMILLON roman
30 NHẬT KÝ ( Anh quốc, Aán độ, Miến điện...)
31 ĐỌC SIMONE WEIL - Kèm bản dịch Aùp bức và tự do
32 ĐỌC KAFKA - Kèm bản dịch Biến hình
33 CÂU CHUYỆN HƯỚNG ĐẠO
34 ĐỌC BERDIAEFF - Kèm bản dịch Năm suy gẫm về cuộc sống
35 TÂM LINH KỲ BÍ - Quyển 1 - ĐỜI SỐNG TÂM LINH VÀ NHỮNG ĐẠI TÔNG SƯ.
36 Q2 MA THUẬT
37 Q3 HIỆN TƯỢNG DI THƯỜNG CỦA TÂM LINH
38 Q4 MỘNG - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA MỘNG.
39 Q5 BIỂU TƯỢNG
40 Q6 DỊ THƯỜNG VÀ TÔN GIÁO
41 Q7 TÂM LÝ HỌC VỀ DỊ THƯỜNG
42 Q8 DỊ THƯỜNG VÀ KHOA HỌC
43 NHATRANG, NGÀY....
44 RỨA CHƯ RĂNG, ký
45 PHIẾM LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC
46 MESDAMES MESSIEURS Discours et Causeries.
47 CÂU CHUYỆN NGÀNH TRÁNG Nxb , : CunggiunguyenCenter Publications, Dallas, Texas, USA. 2002:
48 TIN NGƯỞNG TRUYỀN THỐNG NGƯỜI TÂY NGUYÊNù
49 TẠP LỤC...
50 MỘT CỌNG CÕ THI, Phiếm luận về Kinh Dịch.
51 VĂN HỌC PHÁP GIẢN LƯỢC. Q.1.THỜI TRUNG CỎ.
53 U VÁ U
54 BIA MIỆNG
55 CÓ NHỮNG BỨC THƯ



Cung giũ Nguyên suy-tư nhiều về giá-trị nhân-bản nói chung, đặt trong khung-cảnh thuộc-địa và cuộc tranh-đấu cho tự-do của dân ta nói riêng.
Tả về cuộc tranh-đấu đau-khổ và anh-dũng của dân-tộc ta, ông đã mượn lời kêu của 13 chí-sĩ Yên-bái và dùng lời thơ thô-bạo baroque khiến ta nhớ lại giọng thơ tương-tự của dAubigné trong Les Tragiques tả cảnh máu-trôi-thành-sông và xương-rắc-đầy-đồng trong buổi chiến-tranh tông-giáo thế-kỷ 16 và 17 ở Pháp:

Des tais de condamnez et coupables sans couples
Ils parent leurs buffets et font tourner leurs coupes
Des os plus blancs et netz leurs meubles marquetez
Resjouissent leurs yeux de fines cruautez;
Ils hument à longs traits dans leurs coupes dorees
Suc, laict, sang et sueurs des vefves esplorees.

Bài thơ Le Mot nhắc đến hai-tiếng Việt-Nam từ miệng của Nguyễn thái Học và các liệt-sĩ Yên-bái vang lên đã được in trong France-Asie năm 1948.

Chúng tôi xin giới-thiệu hai đoạn trích-diễn sau.

Việt-Nam (Le Mot)

C'est à ce mot qu’il y a dix-huit ans
Moururent treize personnes dans une petite ville.
Seulement pour que sonne haut un doux mot
Elles tombèrent sur l'échafaud de fortune
Dressé devant la force rangée et le triste silence
Des foules sans nom, victimes, complices et bourreaux.

Le sang chaque année repeint la bannière
Sous laquelle fleurissent l'espérance et la colère
D'enfants écartelés entre une sagesse et la liberté
La chaleur du sang éclate les vaisseaux et les cœurs,
La vue du sang échauffe les cervelles sœurs.
Destins des têtes dures, cruel destin, têtes brisées!

Montagnes blanchies d'os, fleuves rougis, broderies de style
Allongent la tapisserie dont les menus fils
Défient les ravages du temps comme les affronts des hommes.
Dans la nuit de maints siècles brillait ce tracé de feu
Envers et contre toutes malchances et maldonnes.
Les sacrifices sans fin ont de quoi plaire aux dieux.

Au loin, de bien loin, quand tintent ses syllabes chantantes,
Le mot apaise les morts, agite les indignes vivants:
Vingt millions d'êtres assoiffés tendus vers le même ciboire
Ensemble, de leurs vux, vallons et coteaux se renvoient l'écho,
Sur le visage des lacs, dans les eaux des yeux, se mire le ciel de gloire
Aux mille et une splendeurs qu'annonce et bâtit le mot.

"“Le Mot", France-Asie, juillet 1948

Valeur spirituelle et humaniste de la révolte

A faire cet examen de la révolte de l'individu vietnamien, qui a coincidé avec la révolte du peuple entier, nous ne méconnaissons pas les difficultés qui assaillent ce double effort vers une existence pleine et entière...l'issue de la crise actuelle du Việt-Nam, notre peuple aura exprimé sans ambiguïé, mais non sans douleur, sa volonté d'être...

Nous estimons enfin que l'essentiel de la vie ne réside pas tant dans les oeuvres que dans l'esprit qui les suscite, dans les moyens qui les réalisent; il n'est pas tant dans les activités que dans la valeur de ces activités; l'essentiel n'est pas l'ordre social (le confucianisme autant que le nazisme établissaient un ordre), mais la place et la dignité des hommes dans la communauté. Avec Nicolas Berdiaeff, nous pensons que chaque génération est une fin en soi, porte en elle la justification et le sens de sa propre vie par les valeurs qu'elle crée et les élans spirituels qui la font se rapprocher de Dieu, et non par le fait quelle sert de moyen aux suivantes, mais il conviendrait d'ajouter, et moins encore aux générations défuntes ou au mythe dont elles sont auréolées.

Volontés d'existence 1948

(Tài-liệu: Marc Laurent trong Présence Francophone, #5: Automne 72; Nguyễn xuân Hoàng trong Văn, #39: 3-2000; Nguyễn Vỹ trong Văn-thi-sĩ tiền-chiến )

Résumé Cung giũ Nguyên (1909-) étudiait au Collège national de Huế. Il enseignait la philosophie et le français dans un lycée du Việt-Nam Central. Il servait comme éditeur à plusieurs journaux et périodiques. Il écrivait en vietnamien aussi bien en français. Ses titres en français sont: Aperçu sur la littérature au Việt-Nam, Volonté d'existence, Le fils de la baleine, Le domaine maudit. Un certain Tsou Chen, Le Serpent et la Couronne, et Le Bonjoum.

Il associa la lutte pour l'indépendance nationale avec la demande pour la liberté individuelle et il proclama que chaque génération est un fin en soi, rejetant l'emprise absolue des traditions et le control excessif de la famille sur l'individu.
Summary Cung giũ Nguyên (1909-) graduated from the National College of Hue and taught philosophy and French in a coastal city of Central Viet-Nam. He was the editor of several French newspapers and periodicals. He writes in both Vietnamese and French. Among his French titles were Volonté d'existence, Le fils de la baleine (translated into German as Der Sohn des Walfischs), Le domaine maudit, Un certain Tsou Chen, Le Serpent et la Couronne, et Le Bonjoum.

He associated the struggle for national independence with the quest for individual freedom, saying that each generation has its own raison-d’être, therefore rejecting the powerful ascendance of traditions and the excessive control of the family over the individual in Orient.

***


Nói tóm lại, thầy Cung Giũ Nguyên là 1 nhà văn hóa lớn, 1 nhà văn tài ba, và 1 nhà giáo vĩ đại. Những cống hiến của thầy cho nhân loại nói chung và cho Việt Nam nói riêng là vô cùng to lớn, sâu rộng và ý nghĩa. Chúng ta những bậc hậu duệ mang ơn ông cho những lời dạy quý giá, cho những tác phẩm để đời và cho những hoạt động hướng đạo, hoạt động xã hội vì mọi người ...
Một lần nữa xin cảm ơn thầy, người thầy vĩ đại của tất cả chúng ta.

Trần minh Hiền - Orlando ngày 6 tháng 11 năm 2012
Đăng nhập để trả lời
0