Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tác Giả - Tác Phẩm - Tin Tức - Bình Luận XH

2 trả lời, 1.167 lượt xem — Trang 1 / 1
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939)

I. Vài nét tiểu sử
Ông sinh ngày 20-4 năm Kỷ Sửu tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ – làng nhỏ, ven sông Đà, cách núi Tản Viên một cánh đồng – nay thuộc xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, Hà Tây.

Ông vốn dòng dõi khoa bảng - Nguyễn Công Thể, tổ sáu đời Tản Đà, được phong đến Thượng thư bộ Lễ, Thái bảo Thái phó Kiều quận công. ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân, làm đến Án sát Ninh Bình. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Tích, đỗ Phó bảng, ra giáo thụ. Chính Tản Đà đã được tập ấm và cũng đã hai lần thi Hương không đậu.

Thân mẫu Tản Đà là bà Nhữ Thị Nghiêm, một đào nương tài sắc ở Nam Định, bà là vợ ba, cũng là vợ cuối cùng của Nguyễn Danh Kế. Bà sinh được bốn người con, Tản Đà là thứ tư và cũng là con trai út (trai thứ 11) trong nhà. Năm Tản Đà lên ba tuổi, cha mất. Năm sau, mẹ trở lại nghề đàn ca. Từ đó, cậu ấm Hiếu được Nguyễn Tái Tích nuôi dạy. Sau khi hỏng thi trường Nam năm Nhân Tý (1912), được anh rể là nhà thơ trào phúng Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế giới thiệu tân thư của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu; lại đọc G.G. Rút-xô, Môngtétxkiơ …ông xoay ra làm văn, làm thơ, viết báo, in sách, đoạn tuyệt với cử nghiệp.

Từ 1915 ông đã viết cho Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh. Năm 1921, chủ bút báo Hữu thanh của Trung - Bắc Kỳ Nông Công Thương tương tế. Tháng 8-1922 lập Tản Đà thư điếm, sau thành Tản Đà tu thư cục. Năm 1926, ông chủ trương An Nam tạp chí. Sau nhiều lần gián đoạn, năm 1933, tạp chí này đình bản hẳn. Từ đó trở đi, ông đành làm trợ bút cho các báo khác, dịch thơ Đường cho báo Ngày nay, dịch Liêu trai chí dị cho Nhà xuất bản Tân dân và chú giải Truyện Kiều.

Ngày 20-4, năm Kỷ Mão, tức ngày 7-6-1939, ông chết trong nghèo khổ, tại nhà số 71 đường Cầu Mới (nay là số 47 đường Nguyễn Trãi).

Tản Đà cũng là nhân vật của nhiều giai thoại, cả trong đời sống và văn học. Thuở còn là nho sinh trường Quy Thức (Hà Nội) anh khoá Hiếu đã có mối tình đầu với cô gái họ Đỗ phố Hàng Bồ. Người này hẳn chỉ mong cái cảnh “võng anh đi trước, võng nàng theo sau” thôi, cho nên khi Tản Đà hỏng thi, về đến phố nhà nàng, thì đã thấy giai nhân lên xe hoa về nhà người khác mất rồi!… Và, anh khoá thất tình bèn tìm vào Hương Sơn lên núi Tiên Sơn tiêu dao để xoa dịu con tim đang vò xé.

Khi ở nhờ nhà người bạn ở Quảng Yên, nhân lúc chủ vắng nhà, ông lấy thuổng cậy cả gạch hoa lát nền làm chỗ “trồng một ít húng Láng”! Lại còn cười hề hề mà bảo với chủ nhà: “Ăn uống thiếu rau cỏ, nhiều khi bực đến chết. Chén rượu nào cũng cứ nhạt phào”.

Lại nữa, đang khi toà báo không có tiền trả tiền nhà, ông cất công xuống Nam Định vay tiền và trở về toà soạn với … ôm thịt chó và một chai rượu!…

Người ta còn kể, ông học múa kiếm ở ông Tư Đạt, con ông Đô Thống Thuật, và đánh kiếm rất hay. Nhiều người cũng đã biết nguyên do về hai bài thơ xướng, hoạ của Tản Đà và Đỗ Tang nữ (tức Hằng Phương nữ sĩ) quanh gói Rau sắng chùa Hương nổi tiếng, và khối người còn rung đùi thú vị khi ngâm bài thơ Tản Đà trả lời ông Mai Lâm - người nghe tin thất thiệt là Tản Đà đã chết và làm thơ viếng ông: Nực cười cho bác Mai Lâm – Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau …


II. Con người qua tác phẩm
Đó là người dám tự nhận mà không sợ sai rằng mình là “trích tiên” (tiên bị đày xuống trần gian) – như Đông Phương Sóc đời Hán – ông tổ nghể hài, như Lý Thái Bạch đời Đường – ông vua thơ rượu Trung Hoa.

Tản Đà bảo ông bị đày xuống hạ giới về tội ngông. Kể cũng chẳng ngoa, Không “ngông”, ai dám gánh văn lên bán chợ Trời, dám gửi thư lên Thiên đình cầu hôn, dám vào Hương Sơn tìm hổ quỷ, lập đàn tế Chiêu Quân ở Tiên Sơn, tịch cốc (nhịn cơm để chết) ở ấp Cổ Đằng …

Ông mượn miệng Trời mà khen văn mình: Nhời văn chuốt đẹp như sao băng – Khí văn hùng mạnh như mây chuyển – Êm như gió thoảng, tinh như sương - Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết.

Ông có ngôn ngữ đẹp, mát mẻ của ngôn ngữ Nguyễn Khuyến, lại có ngôn ngữ nói chát chúa, cay chua của Trần Tế Xương. Về cốt cách, khẩu khí, ông cũng chẳng nhường Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ.

Nhưng Tản Đà không chỉ có “ngông” và giàu văn chương, con mắt ông nhìn rõ những điều làm trái tim ông đau. Ông sống ở cái thời “Vứt bút lông đi, giắt bút chì”, cái thời lổn nhổn đủ các hạng người trong một rọ: ông Tây, bà đầm, Nhật Bản, Khách, phán, ký, làng nho, bồi, bếp, vú. Nhìn tấm địa đồ Tổ quốc, ông xót xa: Biết bao lúc mới công vờn vẽ - Sao đến bây giờ rách tả tơi! Ông kêu lên: Đốt đuốc đố ai tìm khắp nước - Kiếm đâu cho thấy mặt anh hùng? Cốt cách và tài năng của ông là thế, mà rồi: Khi làm chủ báo, lúc viết mướn – Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng. Trong lúc đó: Ngày xanh như ngựa, đầu xanh bạc thì làm gì chẳng có lúc ông thốt lên: Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán.

Nhưng, con người nghệ sĩ trong ông thì mãi “còn chơi”, “chịu chơi”: Trăm năm nặng gánh tang bồng - Lửa than càng đốt cho lòng càng son; Người đời có ai chơi như tớ - Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi; chơi đến cùng: Chắc có một phen đời khóc tớ - Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi. Chính ông tự tổng kết đời mình, vừa xót xa vừa kiêu hãnh: Trời sinh ra bác Tản Đà – Quê hương thời có, cửa nhà thời không - Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông - Bạn bè xum họp, vợ chồng biệt ly – Túi thơ đeo khắp ba kỳ - Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng.

Một sở đắc khác của ông là sự làu thông ngôn ngữ cao dao, dân ca. Ông làm ca dao, dân ca tuyệt hay. Hay đến mức nhiều bài, nhiều câu có thể dứng vững như những tác phẩm khuyết danh.

Không thể chỉ nhìn vào việc có nhiều yếu tố biền ngẫu, nhiều hình tượng ước lệ cổ, nhiều điển cố … trong thơ văn ông, mà dứt khoát xếp ông lùi xa hơn, cũ hơn giá trị thực của ông. ông thuộc kiểu nhà thơ khó bị hình thức và thời gian kiềm toả. Dọc ông, dễ dàng nhận thấy rằng “phổ” đề tài, “phổ” tình cảm của ông rộng lớn, và do đó, ông phản ánh, ông bộc lộ cái mà sau này các nhà thơ Thơ mới hay nói, cái cá nhân ở tầm lớn hơn. Tư tưởng nghệ thuật và năng lực thực hiện tư tưởng ấy ở ông, nhiều người đương thời khó sánh kịp. Ở tất cả các thể loại – thơ Đường luật, thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói - dạng ca trù, hoặc những điệu mà ông đặt ra, trong việc dịch thơ Đường, và ngay cả ở thơ không vần – ông đều đạt tới những thành tựu mà thi sĩ nào cũng thèm muốn. Ông góp phần cực lớn đẩy nghệ thuật thi ca truyền thống về phía hiện đại. Trong các tác phẩm của ông, có cái cốt cách, cái tầm cỡ mà không mấy người với tới, vì bẩm sinh, rất ít người có cái phẩm chất ấy.

Nhưng cũng giống như mọi tài năng lớn, ông rất cô đơn. Thật khó mà cầm lòng khi đọc hai câu này của ông:
Phòng văn ai kẻ vào ra
Sương thu bốn giậu, trăng tà nửa hiên.


ST
Đăng nhập để trả lời
0
NGUYỄN KHUYẾN (1835-1909)

Nguyễn Khuyến hồi nhỏ tên là Nguyễn Thắng. Khi ông sinh ra, ông ngoại của ông vốn là một nhà nho đã đặt tên ông là “Thắng” vì trong chữ “Thắng” có chữ “lực”, với mong muốn ông sẽ nỗ lực học hành. Sau nhiều năm khoa cử lận đận, ông mới đổi tên là “Khuyến” vì chữ “lực” trong chữ “Khuyến” lớn hơn chữ “lực” trong chữ “Thắng”, muốn “đại lực” chứ không là “tiểu lực”. Ông sinh năm Ất Mùi (1835) tại làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Cha là ông đồ Nguyễn Khải. Từ nhỏ tư chất thông minh, hiếu học, mới 17 tuổi đã đi thi cùng với cha.

Nhà nghèo, Nguyễn Khuyến vừa dạy học kiếm sống nuôi mẹ vừa sôi kinh nấu sử. Khi Nguyễn Khuyến đi thi, bà vợ phải bán cái yếm được năm quan tiền mới tạm đủ cho ông lên đường. Ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình, Nguyễn Khuyến đỗ đầu nên được mệnh danh là Tam Nguyên Yên Đổ . Khi ông Nghè Khuyến vinh quy về làng thì vợ còn cấy mướn ở đồng xa.

Ông Tam Nguyên được bổ làm quan ở Huế, một năm sau đổi ra làm Đốc học Thanh Hoá rồi Án sát Nghệ An. Sau một thời gian nghỉ tang mẹ rồi được điều vào kinh làm Biện lý bộ Hộ, một năm sau bổ Bố chánh Quảng Ngãi. Đến năm 1879, ông bị điều về Huế sung chức Trực học sĩ và làm Toản tu Quốc tử Giám. Ông còn được thăng Thương biện Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên.

Sau đấy, phần đau buồn vì vận nước, phần không muốn cộng tác với Pháp, Nguyễn Khuyến xin từ quan. Biết nhà thơ là người có uy tín, địch dùng cả người thân quen đến mời ông trở lại làm quan nhưng ông đều từ chối. Để quản chế ông, Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải mời ông đến dạy học trong nhà. Để tránh ngờ vực, Nguyễn Khuyến đành chấp nhận.

Nguyễn Khuyến để lại khoảng 200 bài thơ chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ Nôm, tập hợp lại trong Quế Sơn thi tập .

Tam Nguyên Yên Đổ nổi tiếng là một nhà thơ châm biếm. Một tên toàn quyền Pháp có tượng dựng gần hồ Hoàn Kiếm, nhà thơ đã hạ một câu rất mỉa mai:

Đáng thương văn vật trăm năm ấy
Còn sót bên hồ một đá trơ

(dịch)

Tại dinh công sứ Hà Nam, có lần Nguyễn Khuyến được đưa vào để chào, cụ giả bộ sửa soạn áo khăn tề chỉnh, rồi đáng nhẽ phải vái chào hắn, cụ lại giả bộ loà mắt không nhìn rõ, hướng vào một cái cột vái và nói: “Lạy cụ lớn ạ”

Bài văn tế Hăngri Rivie, theo truyền tụng, do Nguyễn Khuyến làm đã đả kích hắn rất chua cay:
Ông ăn cho no, ông nằm cho yên
Khốn nạn thận ông, đéo mẹ cha nó.

Bọn me Tây, như Tư Hồng, cũng không thoát khỏi ngòi bút sắc sảo của cụ Yên Đổ.
Tư Hồng về làng ăn khao, đến xin cụ đôi câu đối và bức đại tự. Cụ cho ba chữ “chi chi dã”, Tư Hồng sung sướng lắm, treo lên ngay, may sao có người giải thích cho rằng cụ chửi đấy, vì “chi chi dã” nghĩa là “cha cha đĩ”. Còn đôi câu đối là:
Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, dang tiếng lẫy lừng băm sáu tỉnh
Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người
Tư Hồng không biết rằng tục ngữ Việt Nam có câu “Làm đĩ có tàn, có tán, có hương án thờ vua”…

Nguyễn Khuyến phê phán chế độ vua quan đương thời qua lời nhân vật hát chèo:
Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề


Toàn bộ bọn quan lại từ Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thân đến Hoàng Cao Khải, Lê Hoan cũng như lũ Tuần phủ, Án sát… đều bị những đòn bút của cụ đả kích thâm trầm. Đó là những “ông phỗng đá” không còn nghĩ gì đến Tổ quốc, vô liêm sỉ trước sự nguyền rủa của nhân dân:
Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?

Hồi còn dạy học cho con Hoàng Cao Khải, ông đã viết đôi câu đối dán lên tường nhà học:
Hàng ngày, mổ bụng con nhét chữ
Cuối năm, bổ đầu bố lấy tiền

Cùng với việc châm biếm, tố cáo, ông luôn thổ lộ niềm đau xót, một tâm sự u hoài trước cảnh nước mất nhà tan:
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm
Nước độc ma thiêng mấy vạn người
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả
Phá tung phên dậu hạ di rồi!


Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến khác nào một ngọn đuốc soi đường cho lương tri của dân tộc trong một thời đêm tối, giúp mọi người thấy rõ phải quấy, chính tà.

Mặc dù đã dự phần “bảng vàng bia đá nghìn thu”, nhưng Nguyễn Khuyến lúc nào cũng giữ nguyên vẹn phong cách một ông già của xứ làng quê ấy, sống chan hoà với những người chân quê giữa đồng đất quê hương. Hình ảnh những người dân quê dược miêu tả vừa sinh động, vừa như đượm trìu mến sau nụ cười dí dỏm:
Hàng quán người về nghe xao xác
Nợ nần năm trước hỏi lung tung…

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học nước nhà, một bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ, đúng như Từ điển văn học đã viết: ”Trong khuynh hướng tố cáo hiện thực của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19, ông và Tú Xương là hai nhà thơ tiêu biểu hơn cả.”


(Tổng hợp từ nhiều tư liệu)
Đăng nhập để trả lời
0
Chế Lan Viên - Cõi ẩn hình của thơ cần khám phá


Suốt một đời tận tụy với thơ, với cuộc đời và lý tưởng, Chế Lan Viên mất đi còn để lại hàng ngàn bài thơ “Di cảo” làm chấn động thi đàn. Suốt đời ông băn khoăn tìm tòi sáng tạo để đạt tới những đỉnh cao của thi ca.

Ông đã đọc, nghiền ngẫm tất cả các nền thơ cổ kim đông tây của nhân loại: từ thơ Đường đến thơ Pháp, thơ Tây Ban Nha, Nga...; đọc kinh Phật, kinh Thánh, kinh Coran và dĩ nhiên thấm nhuần chủ nghĩa Mác và “nhận vào mình phẩm chất Hồ Chí Minh”..., và tất cả là để cho chiều sâu triết học của thơ.

Ông phát hiện ra Tổ quốc của thời chiến đấu “tâm hồn ta khi Tổ quốc soi vào - thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ”... và đặc biệt, ông phát hiện ra nhân dân - một nhân dân khí phách, kiên cường gánh chịu hy sinh, thương đau để đất nước sống còn: “Con về với nhân dân như nai về suối cũ. Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa…”.

Khi đã đi cùng Tổ quốc, nhân dân; ông đã đem hết tâm huyết ngợi ca cuộc đời chiến đấu, tầm vĩ đại - tầm cao nhân văn của cuộc chiến đấu cho Tổ quốc ấy: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm - Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Chưa đâu - và ngay cả trong những ngày đẹp nhất… Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả. Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn”.

Một nhà thơ “sử thi”, đúng vậy! Nhưng phải chăng chỉ có ngợi ca, sử thi mà quên mất những chuyện tình yêu, khổ đau, những chuyện xiết bao “văn xuôi” của đời thường. Không. Chế Lan Viên đem thơ mình làm “nhiệm vụ” - cũng như bất cứ ai thời ấy - kẻ ra chiến trường, người chiến đấu, công tác ở hậu phương cũng đồng thời là chiến trường chống chiến tranh phá hoại... Chế Lan Viên tự lương tâm mình cảm thấy và tự giác gánh lấy trách nhiệm làm người phát ngôn bằng thơ cho cuộc chiến đấu.

Nhưng thơ ông không quên “hoa ngày thường” khi làm “chim báo bão”, không quên chú ong bay trong nhà Tỉnh ủy Hưng Yên, một cánh cò trong giấc mơ đứa con gái nhỏ, hoa súng hồ Tây được anh “yêu thương suốt cả một ngày”, “trời xanh của sông Hàn nay đã vỡ”, “người mang lại ái tình không ở cùng anh nữa”, nỗi nhớ người yêu như nhớ nắng và tình yêu “tuổi năm mươi lòng yêu như lửa đỏ, nhưng bên ngoài vẫn cứ trắng như không”...
Chế Lan Viên là một nhà thơ toàn diện, một nhà thơ theo đúng nghĩa kiểu loại nhà thơ lớn của bất cứ thời nào. Chế Lan Viên trải rộng trang thơ để đón lấy tất cả cuộc đời. Chúng ta đã từng đọc Maiakovski, Aragon, Eluard, Neruda, Nazim Hikmet, Nezval... những nhà thơ lớn thế kỷ 20... Chúng ta thử đo Chế Lan Viên theo kích tấc ấy, thì thấy Chế Lan Viên lúc sắp mất còn dồi dào sức sáng tác, sức mở rộng các thi pháp, các đường biên của thơ, kiêm toàn đông tây kim cổ, nghĩ sâu sắc về thơ, về đời, về dân tộc và nhân loại hơn lúc nào hết. Chỉ có điều Chế Lan Viên viết tiếng Việt, ở tận châu Á và gặp lúc thế giới bao nhiêu diễn biến; nếu không, Chế Lan Viên xứng đáng đại diện cho thơ Việt Nam đối thoại ngang tầm cùng thơ thế giới.

Thi ca và cuộc đời Chế Lan Viên là cả một thế giới mà chúng ta còn phải khám phá lâu dài (sau hàng ngàn trang viết sau khi ông mất cũng như các luận văn tiến sĩ về thơ ông, vẫn còn lại bao nhiêu điều phải nghĩ...). Nhưng cuộc đời ấy gởi cho tất cả những người yêu ông, đọc ông một lời nhắn: hãy yêu và dựng xây, chiến đấu cho cuộc đời “như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng”, vì “những ngày ta sống là những ngày đẹp hơn tất cả”...
Đăng nhập để trả lời
0