Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tiểu thuyết trinh thám LỬA THIÊU RỪNG HẠNH - Tùng Ưng 🔒

12 trả lời, 7.876 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-12 17:56:33Ct.Ly>
LỬA THIÊU RỪNG HẠNH

Tác giả: TÙNG ƯNG

NGUYỄN HẢI BẰNG dịch







Hai đại gia bất động sản Lĩnh Nam lần lượt chết một cách kì bí. Trước khi chết hai người lần lượt nhận được "Giấy báo tử", trong đó có một dãy số và một hình vẽ kì quái... Từ đó đã hé mở một vụ án lớn kinh thiên động địa từ hai mươi tám năm trước, bức rèm lịch sử cuối cùng đã được vén lên!

Cả cuốn sách tràn đầy bí ẩn, sôi sục sóng ngậm Tác giả xây dựng kết cấu "án trong án", thời gian từ cuối thế kỉ trước đến đầu thế kỉ này, không gian từ bờ biển phía nam Trung Quốc đến biên thùy Vân Nam, từng bước kéo người đọc vào một vòng xoáy kì lạ.

Cuốn tiểu thuyết đã đề cập rất sâu rộng đến nhiều vấn đề xã hội, khiến chính bản thân nó vượt qua ranh giới của một cuốn tiểu thuyết trinh thám bình thường.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-09-05 09:54:28Ct.Ly>
Nhờ các bạn phụ đánh máy truyện Trinh thám

Lửa Thiêu Rừng Hạnh

Tác giả: Tùng Ưng

Dịch giả: NGUYỄN HẢI BẰNG


Trang - 5 - 49 = chuot_meo_heo = hoàn tất

Trang 50 - 91: haklynjp đánh máy

92 - 127

128 - 157
158 - 185
186 - 229
230 - 271
272 - 299

300 - 353 = mrroman hoàn tất

354 - 393 = mrroman hoàn tất


394 - 443 = mrroman : hoàn tất
444 - 478 = mrroman : hoàn tất
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-20 14:59:46chuot_meo_heo>
LỜI DẪN
Trong phút chốc, Hồ Quốc Hào có cảm giác như đầu mình bị ấn mạnh xuống nước mà không cưỡng lại được. Ông ta uống phải một ngụm nước biển lớn, vị mặn chát kèm theo mùi tanh nồng. Bình thường, bơi liên tục dưới biển hai giờ đồng hồ với ông ta thường như cơm bữa. Nhưng hôm nay sao người lại chẳng có chút sức lực nào cả.
Màu trắng phía chân trời không phải là tấm lưới ngăn cá sao? Chỉ cần bơi tới đó là sống rồi!
Hồ Quốc Hào chân tay khua loạn xạ cổ trồi lên khỏi mặt nước. Nhưng đầu óc ông ta cứ ù đi, một ngụm nước biển nữa lại ùa vào miệng. Ý thức bắt đầu trở nên mơ hồ… Con mẹ nó! Mình đang ở đâu thế này, lẽ nào đây thực sự là địa ngục?
Trong cõi mông lung, ông ta chợt nhìn thấy một con cá mập lớn có cái bụng trắng toát từ phía sau đuổi đến, nó giương cặp mắt man dại nhìn ông ta rồi từ từ ngoác miệng. Hồ Quốc Hào liều mạng vung mạnh hai tay cố bơi thẳng về phía trước. Nhưng giống như các pha hành động trong phim trường mọi động tác đều không chứa đựng sức mạnh nào cả. Càng quẫy mạnh thì ông ta lại càng chìm sâu. Ký ức xa xưa bỗng chợt quay về, mười mấy gương mặt thiếu niên nam nữ biểu hiện, trong cõi huyền ảo, họ nở nụ cười tươi đẹp song thật lạnh lùng…
Ông ta dường như nhìn thấy ngọn lửa, lửa cháy rừng rực lan ra khắp nơi nhập nhòa ánh sáng ma quái.
Một làn khói lam nhạt lãng đãng bay lên, giống như màu mực đẹp tan trong nước biển.
Những hình ảnh dần trở nên nhập nhòa…
Hồ Quốc Hào muốn mở to mắt để nhìn nhưng trước mắt chỉ thấy một màu trắng lờ mờ, không thể nhìn rõ là vật gì. Đám bụi đó phất phơ trước mắt ông ta không rời, bỗng nhiên nó biến thành vực sâu hun hút đen ngòm, khiến cho con người ta phải run lên vì sợ.
Ông ta cảm nhận được thần chết đang tiến sát bên mình, sau một cơn choáng váng, dường như có tiếng nói từ trên trời vọng xuống: “Nó tắt thở rồi!”.
Hồ Quốc Hào chỉ kịp cảm thấy tim mình đột ngột co giật dữ dội. Cuối cùng, ông ta chìm hẳn xuống.
Đó là chút ý thức ít ỏi cuối cùng còn lại của ông ta.

CHƯƠNG 1
BÍ ẨN TIỂU MAI SA
1.

Tiểu Mai Sa, bãi biển đắm say lòng người.
Đây là khu tắm biển nổi tiếng khắp Thâm Quyến, được mệnh danh là “Hawaii của phương Đông”. Cứ tới cuối tuần là các đoàn du khách lũ lượt kéo đến đây nghỉ dưỡng ngâm mình trong làn nước mát.
Vào lúc chiều tối, những căn lều dã ngoại được dựng dọc bãi cát, tạo thành tuyến đường đầy màu sắc của Tiểu Mai Sa. Lều ở đây, với đủ kích cỡ, hình dạng, có chiếc hình cong, chiếc khác hình tam giác, các đỉnh nối tiếp nhau, này màu hồng, kia màu xanh, đây màu vàng. Từ xa nhìn lại chẳng khác nào những đóa hoa tươi nở rộ, rực rỡ sắc màu trong ánh nắng chiều. Du khách chỉ cần bỏ ra tám mươi tệ là có thể thuê được một chiếc lều, so với việc bỏ ra bốn, năm trăm tệ để ở một đêm trong khách sạn thì rẻ hơn rất nhiều, hơn nữa lại còn rất lãng mạn. Đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi và các cặp tình nhân. Khi mặt trời dần dần hạ xuống ở phía tây, du khách lần lượt dựng lều của mình, tận hưởng gió biển lồng lộng hoặc cùng nhau ca hát nhảy múa, hay gối đầu lên cát ngắm sóng vỗ bờ, tất cả tạo nên khung cảnh vui vẻ, náo nhiệt.
Buổi sáng ngày hai mươi lăm tháng sáu vào khoảng sáu giờ, khi ánh mặt trời vừa phá tan sương mù. Một đôi nam nữ có vẻ như tình nhân của nhau từ chiếc lều màu xanh bước ra. Người đàn ông đeo kính, mặc quần bò, bụng hơi phệ do uống nhiều bia rượu. Cô gái mặc chiếc áo sơ mi màu vàng, quần soóc màu trắng, mặt mũi không được xinh đẹp cho lắm nhưng nom còn rất trẻ. Vừa ra khỏi lều người đàn ông đã suồng sã ôm lấy eo cô gái. Khuôn mặt hiện rõ vẻ mãn nguyện sau một đêm hoan lạc. Cô gái khẽ đẩy tay anh ta ra, khóe miệng nở nụ cười ngượng nghịu, bối rối. Hai người kết đôi và vừa mới đến Tiểu Mai Sa chiều tối ngàyhôm qua. Người đàn ông bụng bia hiện là giám đốc của một công ty máy tính, còn cô gái là nhân viên văn phòng của một công ty khác. Nói theo cách thời thượng của cánh đàn ông hiện nay thì đó là một bí mật ngọt ngào "nho nhỏ". Sau đêm phong tình, dư vị vẫn còn đọng lại. Dưới ánh ban mai mờ mờ hơi sương, họ dính chặt lấy nhau, tay trong tay sóng bước trên bãi biển. Vết chân hằn trên cát mềm mát dịu, một cảm giác sung sướng thỏa nguyện. Sóng biển nhẹ nhàng vỗ về hôn vào bờ cát, để lại những vòng bọt trắng xóa lấp lánh.
Biển yên tĩnh đến kỳ lạ, phía xa xa xuất hiện một cồn cát với những mỏm đá nhô lên ẩn mình trong làn sương mỏng.
"Vịnh Đại Bàng thật là đẹp!". Cô gái chợt thốt lên.
"Xin chúc mừng em, biển lớn vĩnh hằng.Tiếng sóng của em giống thanh âm quê hương ta...". Người đàn ông dang rộng đôi tay, giọng nói vút lên như đang ngâm một câu thơ.
"Anh điên à?".Cô gái nhìn anh ta một cái rồi bật cười chọc quê.
"Ấy! Là thơ của Heine đấy".
"Heine là aivậy?".
"Là con trai của Long Vương, cưng không biết thật à?". Người đàn ông bụng bia nheo mắt cười bông lơn.
"Đáng ghét! Anh chẳng lúc nào nghiêm chỉnh cả".
"Ông ấy là nhà thơ lớn người Đức, em đã đọc qua tập thơ Ca tụng biểnchưa?".
"Chưa từng...".
"Lần sau anh sẽ mang đến cho em đọc".
“Em không đọc”. Cô gái làm bộ giận dỗi.
“Em đừng suốt ngày chỉ đọc sách của Haruki Murakami nữa… Thật chán chết đi được”.
“Nhưng em thích ông ấy, ông ấy viết cuốn Nhảy, nhảy, nhảy mới tuyệt vời làm sao”.
“Lại là cái gã “người cừu ” cổ quái kì dị đó”.
“Nhưng em vẫn thích đấy!”.
“Này, nhìn xem…”. Người đàn ông bụng bia chợt chỉ lên phía bầu trời.
Cô gái ngẩng mặt lên, chỉ có mấy con chim màu trắng lặng lẽ bay lướt qua đỉnh đầu.
“Những con hải âu thật đẹp”. Cô nhắm nghiền đôi mắt nhỏ mơ màng.
“Mở mắt ra đi! Cưng nhìn kỹ xem… là cò đấy”.
Những con cò trắng bay thật chậm, đôi chân dài của chúng duỗi thẳng về phía đuôi.
“Đàn cò làm sao bay tới biển được nhỉ?”.
“Chúng cũng muốn nhảy, nhảy, nhảy đó!”. Người đàn ông tinh nghịch nhại lại cô gái.
“Anh thật đáng ghét!”.
“Trên cái cây đằng kia có tổ của chúng đấy!”. Người đàn ông chỉ hướng gần đầu bãi biển, ở đó nhô lên một dãy núi nhấp nhô cao tới hàng trăm mét, cây cỏ rậm rạp, xanh tốt.
Đàn có kêu lên mấy tiếng rồi hướng về phía đỉnh núi bay lên.
Dưới chân núi có một con đường, gọi là “lối nhỏ tình yêu”. Men theo con đường một bên dựa vào biển, một bên dựa vào núi, rồi đi qua cây đa cổ thụ cao vút tận trời xanh là có thể thong dong leo lên đỉnh Quan Âm, từ vách đá Quan Âm đi xuống mươi bước băng qua cây cầu gỗ nhỏ là có thể quan sát rõ cồn cát nổi giữa biển.
Hai người bọn họ đi theo hướng đàn cò bay về phía tây, bỏ lại phía sau một dãy dài những dấu chân còn mới nguyên in hằn trên cát.
Cồn cát nhấp nhô, các mỏm đá trong vịnh Đại Bàng dần dần hiện ra trong làn sương mờ.
Khi bước nhanh đến bãi biển, họ chợt đứng sững lại.
Từ xa nhìn lại, phía dưới, cách chiếc cầu đá ở bến thuyền không xa, dường như có một người đàn ông lõa thể đang nằm sấp, thân hình đỏ sẫm, đầu hướng về phía bờ, bên cạnh là bãi đá ngầm lởm chởm, tiếp đó là con đập bằng đá ngăn sóng, cách bãi biển rất gần, phía trên là con đường “lối nhỏ tình yêu”.
Người đàn ông bụng bia và bạn gái vội vàng chạy tới gần cầu đá, họ phát hiện ra có điều rất lạ.
Người đàn ông nằm trên cát chỉ mặc độc chiếc quần bơi màu hồng, hai chân dạng ra ửng đỏ, dường như cơ thể theo thủy triều bị sóng đánh dạt vào bờ. Do ông ta gối đầu lên tay, mặt úp xuống dưới nên không thể nhìn rõ mặt.
Người đàn ông bụng bia lật ngửa thân người đó, đưa tay thử vào mũi không thấy có hơi thở, anh ta tiếp tục sờ nắn khắp cánh tay song cơ thể ấy đã lạnh cóng từ bao giờ.
“Ông ta… chết rồi!”. Anh ta hoảng hốt nói.
“…”. Cô gái mặt trắng bệch, lặng đi không thốt lên lời. Người đàn ông nhìn khắp bốn phía, xung quanh tĩnh lặng như tờ.
“Mình báo cảnh sát chứ?”. Anh ta quay sang hỏi bạn gái.
“Anh bảo gì cơ?”. Cô gái hỏi lại với vẻ thất thần.
Nếu cảnh sát yêu cầu họ làm nhân chứng, chuyện tình bí mật của họ sẽ không thể giữ kín được nữa.
“Phải đi báo án thôi!”. Người đàn ông quyết định.
Cô gái do dự gật đầu.
Hai người vội vã quay trở lại, họ tìm đến căn phòng sơn trắng có gắn biển “Trung tâm quản lý du lịch Tiểu Mai Sa” đánh thức nhân viên trực ban.
“Này, này tối qua có người chết đuối ở bãi biển”. Người đàn ông bụng bia giật giọng gọi lớn.
“Cái gì…? Có người chết đuối sao?”. Người quản lý vội vã đưa tay dụi mắt, giọng nói thất kinh.
Để bảo đảm an toàn cho những người đi bơi, người ta đã đặt mấy vọng quan sát dọc theo bãi tắm Tiểu Mai Sa, trên đó luôn có nhân viên cứu hộ thường trực theo dõi. Đương nhiên điều ấy cũng không thể đảm bảo an toàn đến mức tuyệt đối, đôi khi cũng có những sự cố nằm ngoài dự liệu. Đặc biệt là vào thời điểm người tắm biển quá đông, hỗn loạn như nồi bánh sủi cảo, thì người cứu hộ cũng khó mà quản lý được hết. Hơn nữa, số nhân viên này cũng không thể bao quát được cả hai mươi tư giờ trong ngày, đối với những người thích tắm đêm thì mức độ nguy hiểm càng lớn hơn. Ngoại trừ những tay bơi lội cừ khôi hay những người thích tắm tiên, thì chẳng mấy ai hứng thú với việc đêm hôm khuya khoắt bơi lội trên biển.
Người quản lý vội vã gọi điện đến đồn cảnh sát báo cáo sự việc.
Sau mười lăm phút hai đồng chí công an địa phương mặc cảnh phục được cử đến hiện trường.
Do vị trí xác chết được phát hiện trên bãi biển, sát với cầu đá ở bến thuyền, nằm ngoài phạm vi quy định được phép tắm biển nên họ lập tức báo cáo lên cấp trên. Nửa giờ sau, đội trưởng đội hình sự khu Y Thôi Đại Cân dẫn theo vài cộng sự và cán bộ điều tra đến đó. Vừa đến nơi, cảnh sát đã nhanh chóng đêm dây vàng khoanh vùng hiện trường. Chiếc xe cảnh sát đỗ ngoài lan can trên con đường “lối nhỏ tình yêu”.
Lúc này trời đã hửng sáng, song sương mù vẫn còn lẩn quất chưa tan hết. Lều dã ngoại của những người tắm biển lờ mờ hiện ra trong ánh nắng ban mai. Trên bãi biển, từ phía xa thấp thoáng bóng du khách dậy sớm nhặt vỏ ốc.
Thôi Đại Cân khoảng ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, áo jacket mở tung để lộ chiếc sơ mi màu trắng bên trong. Anh cao chưa đầy một mét bảy mươi song đôi mắt cực kỳ sắc bén, uy nghi, khiến người khác nể phục, e ngại. Anh hướng về phía người đàn ông bụng bia và cô bạn gái của anh ta thẩm vấn vài câu liên quan đến tử thi do họ phát hiện, đồng thời gọi người cấp dưới còn rất trẻ của mình là Vương Tiểu Xuyên ghi lại lời khai. Nữ cảnh sát trẻ Đào Lợi đứng lặng im bên cạnh, đôi mắt của cô không ngừng quan sát hai người làm chứng. Hai người cảnh sát có mặt đầu tiên đứng vòng ngoài dây vàng đảm nhiệm việc giữ nguyên hiện trường.
Sau khi đội trưởng Thôi hỏi xong, Tiểu Xuyên bảo người đàn ông bụng bia và cô gái cùng ký tên vào bản khai báo.
“Nếu như sau này cần đến, chúng tôi sẽ liên hệ với anh chị”.
Hai người đó cùng gật đầu đồng ý.
Hiện trường cơ bản đã được điều tra, cảnh sát cho chụp ảnh xác chết dưới nhiều góc độ.
Người chết ước chừng năm mươi bảy, năm mươi tám tuổi. Ông ta mặc chiếc quần bơi màu hồng khá bắt mắt, dáng người tầm thước, thể trạng hơi béo, nằm sấp trên cát, bên cạnh là bãi đá ngầm rất gần mép đường “lối nhỏ tình yêu”. Sóng biển tung bọt trắng xóa cách hai chân tử thị khoảng bốn, năm mét.
Trên mặt cát, ngoài vết chân còn mới của hai người làm chứng thì không còn phát hiện thêm dấu vết nào khác. Nếu có chắc cũng đã bị sóng biển xóa sạch đi rồi. Xung quanh vùng gần xác chết không tìm thấy quần áo hay vật dụng cá nhân của người chết. Xa hơn một chút là chiếc cầu đá dài hướng ra biển, sóng biển cuộn trào lên gần mặt cầu, sóng đập vào các mỏm đá tạo nên tiếng ầm ì vang vọng.
Nhân viên pháp y Điền Thanh ngồi xổm xuống, mắt nhìn vào kính lúp tỉ mỉ quan sát phần lưng và sau gáy tử thi rồi lấy ngón tay ấn nhẹ lên trên. Khi anh lật ngửa cái xác ra, chợt có người phát hiện gương mặt đó có gì đó rất quen.
Khuôn mặt to bè, lấm lem đầy cát, sắc mặt xám ngoét sưng phù, cặp môi cũng tương tự như vậy.
“Có nhiều nét giống Hồ Quốc Hào, chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) của tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp”. Người cảnh sát trẻ béo lùn Vương Tiểu Xuyên lẩm nhẩm nói trong miệng.
“Cậu nhận ra người này hả?”. Đội trưởng Thôi nghi hoặc đưa mắt nhìn Tiểu Xuyên.
“Trên ti vi trong chương trình “Nhân vật nổi tiếng trong giới bất động sản” phát sóng tối qua còn quay rõ mặt và dòng chữ ghi tên tuổi và chức vụ ông ta ở dưới”. Chàng cảnh sát trẻ khẳng định.
Người cảnh sát cao lớn đưa máy ảnh chụp lại toàn bộ gương mặc xác chết.
“Em hình như cũng nhìn thấy ảnh người này rồi!”. Nữ cảnh sát Đào Lợi ngoảnh đầu lại góp lời.
Đội trưởng Thôi nhìn kỹ một lần nữa, trong lòng pha chút kinh ngạc.
“Quả thật cũng rất giống! Có lẽ nào là ông ta?”.

2.
Hồ Quốc Hào là con cá lớn rất nổi danh trong lĩnh vực bất động sản Thâm Quyến, ông ta là người đứng đầu công ty TNHH Địa Hào Trí Nghiệp, một tập đoàn thâu tóm giới đầu tư bất động sản phương nam. Là nhân vật có tầm ảnh hưởng mạnh đến nhiều công ty và giới kinh doanh, nên mọi hành vi, cử chỉ của ông ta đều thu hút sự chú ý của công chúng. Hồ Quốc Hào là ủy viên chính trị hiệp thương thành phố Thâm Quyến, doanh nhân ưu tú tỉnh Quảng Đông. Từng được bầu là một trong mười nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn tới hoạt động bất động sản phía nam Trung Quốc.
Nếu như người chết là Hồ Quốc Hào thì đây sẽ là một tin nóng gây chấn động Thâm Quyến.
Đội trưởng Thôi rút máy di động, anh bấm số 114 gọi cho tổng đài.
“A lô, cho tôi xin số điện thoại của công ty TNHH Địa Hào Trí Nghiệp!... Vâng! Xin cám ơn!”.
Anh lập tức bấm số máy điện thoại vừa nhận được, tiếng chuông đổ dồn liên tục nhưng không có người nhấc máy. Bấm lại lần nữa, kết quả vẫn như cũ.
Đến lần thứ ba gọi điện, đầu dây bên kia mới có người lên tiếng.
“Ai đó…?”. Một giọng nữ cất lên như còn ngái ngủ.
“A lô, đây có phải là công ty Địa Hào Trí Nghiệp? Xin cho tôi gặp Chủ tịch HĐQT”.
“Xin lỗi ông, hôm nay là ngày nghỉ, văn phòng không có người làm việc”.
Đối phương trả lời nhã nhặn nhưng khuôn mặt đội trưởng Thôi lại trở nên khó coi, giọng nói đầy vẻ bực dọc.
“Công ty các chị là một tập đoàn lớn, chủ nhật mà không có người trực ban là sao?”.
“Dạ… Phiền ông đợi cho một phút”.
Dường như điện thoại được chuyển đến phòng trực ban, một giọng nam tiếp nhận.
“Xin hỏi, ông có việc gì ạ?”.
“Tôi ở cục công an khu Y, có việc gấy muốn liên hệ với ông Hồ Quốc Hào”. Đội trưởng Thôi thử thăm dò.
“Ồ, hôm nay là chủ nhật, chủ tịch không có mặt ở công ty”.
“Vậy làm thế nào để tôi liên lạc được với ông ấy?”.
“Chuyện này…”. Người kia có vẻ khá do dự, nghi hoặc. “Tôi đọc cho anh số di động lái xe riêng của ông chủ”.
Khoảng hai phút sau Thôi Đại Cân liên lạc được với lái xe Tiểu Lưu.
“Phải anh Lưu không? Bây giờ anh đang ở đâu?”.
“Ai đó? Tôi đang ở nhà riêng ở Bội Lĩnh”.
“Tôi là Thôi Đại Cân, đội trưởng đội hình sự cục công an khu vực Y, có việc gấp muốn tìm ông Hồ Quốc Hào”.
“Ồ! Hôm qua, ông chủ đã đi Đại Mai Sa rồi!”.
“Đại Mai Sa? Đi từ khi nào vậy?”.
Quả nhiên đúng là Hồ Quốc Hào, đội trưởng Thôi và Tiểu Xuyên đưa mắt trao đổi nhanh với nhau, biểu lộ vẻ căng thẳng.
“Buổi chiều hôm qua, là chính tôi lái xe đưa ông ấy đi…”.
Đại Mai Sa là bãi tắm khác trong vịnh Đại Bàng, nó nằm khá gần Tiểu Mai Sa.
Theo tin tức mà người lái xe cung cấp. Buổi chiều ngày hai mươi tư Hồ Quốc Hào đi bơi ở Đại Mai Sa. Vào các ngày thứ bảy hàng tuần ông ta thường đến đây tắm biển, có khi hẹn gặp vài người bạn làm ăn, cũng có lúc chỉ đi một mình. Thường là sau đó sẽ qua đêm tại tổ hợp khách sạn nhà hàng Hào Cảnh ở Đại Mai Sa. Nhưng chiều qua cũng là ngày thứ bảy thì ngược lại, khoảng ba giờ mười lăm phút Hồ Quốc Hào đến Đại Mai Sa trên chiếc xe BMW màu đen do Tiểu Lưu lái. Một phòng ăn sang trọng ở Hào Cảnh đã được đặt sẵn. Tiểu Lưu được ông chủ cho phép lái xe một mình về thành phố, hẹn bốn giờ chiều ngày hôm nay đến đó để đón ông ta.
“Ông chủ các anh có khả năng đã xảy ra chuyện rồi, hãy đến ngay Tiểu Mai Sa!”.
“Tiểu Mai Sa?”. Người lái xe không tin hỏi lại.
“Đúng, bãi tắm Tiểu Mai Sa”. Nói đoạn, đội trưởng Thôi cúp máy, chỉ thị cho Tiểu Xuyên và Đào Lợi.
“Hai người đến ngay khách sạn Hào Cảnh ở Đại Mai Sa để kiểm tra thử xem”.
“Rõ!”. Xuyên, Đào quay lưng bước đi.
Lúc này trời đã sáng bảnh mắt. Trên bãi biển người đã đông hơn. Một số du khách hiếu kỳ chạy tới bên sợi dây màu vàng được hai người cảnh sát giăng ra để ngăn những người không liên quan đến gần.
Đội trưởng Thôi nhìn vào đồng hồ đeo tay thầm nghĩ: “Chưa đầy nửa ngày, cái tin có người chết ở đây sẽ lan ra khắp thành phố”.
Nửa giờ đồng hồ trôi qua, lái xe Tiểu Lưu hấp tấp chạy đến Tiểu Mai Sa với khuôn mặt trắng bệch, thần kinh căng thẳng, anh ta mặc chiếc áo sơ mi cổ bẻ màu đỏ, có vẻ không hợp với không khí tang tóc tại hiện trường.
Qua lời khai của Tiểu Lưu, người chết đúng là Hồ Quốc Hào. Anh ta lắp bắp: “Ông chủ rất thích bơi đêm, ông ấy nói vào đêm tối, nước biển thật mát mẻ…”.
Đội trưởng Thôi căn vặn: “Khả năng bơi lội của ông Hồ Quốc Hào thế nào?”.
“Ông ấy bơi rất giỏi, có thể bơi liền một mạch năm, sáu kilomet trên biển là chuyện thường”.
“Nói như vậy, ông ta hoàn toàn có thể bơi từ Đại Mai Sa đến Tiểu Mai Sa?”.
“Chắc cũng không khó lắm”. Một nhân viên pháp y chen lời phỏng đoán.
“Hay là ông ấy bị đuối nước?”.
“Có thể lắm”. Tiểu Lưu vẫn chưa hết bàng hoàng. “Hơn nữa…, ông chủ còn có tiền sử bệnh tim”.
“Tiền sử bệnh tim?”. Thôi Đại Cân cật vấn.
Đúng lúc này Tiểu Xuyên lái chiếc xe cảnh sát chở Đào Lợi từ Đại Mai Sa quay về.
Chiếc xe vừa đỗ lại trên con đường “lối nhỏ tình yêu” cậu đã vội mở cửa vọt qua lan can hấp tấp báo cáo với đội trưởng Thôi.
“Sếp Thôi! Tại khách sạn Hào Cảnh, bọn em đã kiểm tra sổ đăng ký phòng và thu thập một số tình tiết quan trọng”.
“Được. Cậu nói ngay đi”.
Thôi Đại Cân ra dấu cho hai người cảnh sát trẻ lại gần. Theo báo cáo của Tiểu Xuyên, căn cứ vào lời khai của nhân viên phục vụ, Hồ Quốc Hào đã đặt phòng 204 từ ngày thứ sáu, nhưng mãi đến ba rưỡi chiều ngày thứ bảy ông ta mới đến ở. Khách sạn Hào Cảnh cách bãi tắm chỉ một đoạn ngắn. Là nơi rất lý tưởng để ngắm và tắm biển, tuy nhiên giá thuê phòng thì cực kỳ đắt đỏ. Hồ Quốc Hào là khách quen VIP quen thuộc của khách sạn này, hơn nữa ông ta hay trêu đùa, bỡn cợt đám nữ nhân viên, nên nhiều người làm ở đây quen mặt ông ta. Vào thời điểm đó, cũng có người nhìn thấy Hồ Quốc Hào bước vào Hào Cảnh, sau đó đi lên tầng hai, ngoài ra, một nhân viên phục vụ có tên là A Ngọc cung cấp thêm đầu mối, chiều tối, khoảng trên dưới bảy giờ, Hồ Quốc Hào cùng một người bạn dáng cao lớn đến đây dùng bữa tối. Họ nói chuyện rất lâu, sau đó ông ta đi trước, người bạn ngồi lại tới hơn mười phút rồi cũng đi luôn.
“Đã điều tra người đàn ông cao lớn đó là ai chưa?”. Đội trưởng Thôi đăm chiêu.
“Điều tra rồi ạ”. Khuôn mặt Tiểu Xuyên giãn ra đầy đắc ý. “Ông ta là Hồng Diệc Minh, ông chủ của công ty kinh doanh nhà đất Đại Đông”.
“Có chắc không?”. Đội trưởng Thôi gặng hỏi.
“Chắc chắn”. Đào Lợi bổ sung. “Cô Bạch phụ trách tiếp tân ở đó cho biết Hồng Diệc Minh và Hồ Quốc Hào đều là khách VIP quen thuộc của nhà hàng”.
“Rất tốt!”. Thôi Đại Cân ngợi khen thuộc cấp của mình và hỏi tiếp: “Có người nào nhìn thấy Hồ Quốc Hào đi bơi ở Đại Mai Sa vào quãng bảy giờ tối ngày hôm qua không?”.
“Ban đêm có rất nhiều người đi bơi ở Đại Mai Sa nên chẳng mấy ai chú ý”. Tiểu Xuyên đáp lời. “Bọn em đã kiểm tra ở quầy gửi đồ nhưng không tìm thấy trang phục của ông ta, cũng như không phát hiện có bộ quần áo nào để quên cả”.
Đội trưởng Thôi trở nên hưng phấn.
“Điều này cho thấy có thể Hồng Diệc Minh là người cuối cùng tiếp xúc với Hồ Quốc Hào trước khi ông ta chết, phải nhanh chóng tìm Hồng Diệc Minh để tìm hiểu cụ thể”.
“Tuân lệnh!”. Trước khi “thúc quân” Thôi Đại Cân còn nói một câu: “Nhưng nhiều khả năng, đơn thuần đây chỉ là do không may chết đuối”.
Tuy nói vậy song trong lòng anh vẫn thấy có gì đó gờn gợn.
Bãi tắm Đại Mai Sa cách trung tâm quản lí du lịch Tiểu Mai Sa khoảng bốn cây số rưỡi. Điều khiến người khác khó hiểu là tại sao thi thể của Hồ Quốc Hào lại dạt đến bờ biển Tiểu Mai Sa. Hơn nữa xung quanh khu vực tìm thấy xác chết cũng như tại Đại Mai Sa nơi Hồ Quốc Hào được nhìn thấy lần cuối cùng không phát hiện thấy bất cứ vật dụng cá nhân cũng như quần áo nào của ông ta.
Chỉ có một cách lý giải duy nhất là Hồ Quốc Hào bơi từ bãi biển Đại Mai Sa vượt qua tấm lưới ngăn cá, bệnh tim đột ngột tái phát dẫn đến đuối nước gây tử vong. Sau đó thi thể bị sóng đánh dạt vào bãi cát Tiểu Mai Sa.
Rời khỏi hiện trường, đội trưởng Thôi chợt nhìn thấy chiếc cầu đá vươn ra tới biển, trong đầu anh lóe lên ý nghĩ “Vì sao tử thi lại nằm gần bến thuyền đến vậy?”.

3.
Khách sạn Bạch Vân, Quảng Châu. Phòng 707.
Tám giờ sáng ngày thứ hai Nhiếp Phong vẫn chìm trong giấc ngủ thì bị tiếng chuông điện thoại đánh thức.
“Thưa ông, ông có yêu cầu gọi điện để đánh thức dậy buổi sáng”.
“Ồ vâng, xin cám ơn anh!”. Nhiếp Phong che miệng ngáp rồi bước vội khỏi giường.
Nhiếp Phong là phóng viên giỏi của tạp chí “Tây Bộ Dương Quang” (Ánh nắng miền tây), năm nay anh mới ngoài ba mươi tuổi, làn da đen bóng, dáng vẻ nhanh nhẹn như một vận động viên thể thao, mái tóc húi cua, khuôn mặt luôn nở nụ cười đôn hậu. Nhiếp Phong từng là sinh viên giỏi của khoa truyền thông đại học C Tứ Xuyên, đồng thời cũng đã có bằng thạc sĩ tâm lý. Tổng biên tập tạp chí rất quý mến và trân trọng tài năng của anh.
Tối qua, Nhiếp Phong đã làm việc tới tận đêm khuya, mãi đến ba rưỡi sáng mới viết xong bản thảo để gửi về tòa soạn. Nhiệm vụ được giao đã hoàn thành, anh cảm thấy nhẹ cả người, ngày hôm nay anh có dự định đi Chu Hải một chuyến để gặp một người bạn ở nhà xuất bản, đồng thời cũng kết hợp tìm hiểu tình hình phát hành tạp chí ở đây. “Tây Bộ Dương Quang” là tập san tổng hợp có nhiều bài viết sắc sảo về vùng Tây Nam, phát hành cả trong và ngoài nước, nó có tầm ảnh hưởng khá mạnh. Tổng biên tập Ngô là một nhà báo kỳ cựu và có tiếng tăm trong làng báo cả nước. Đối với bài vở, ông yêu cầu rất cao. Tạp chí thực hiện đúng phương châm mà ông đề ra “Cái nhìn độc đáo, quan niệm đổi mới, tìm kiếm phong thái nhân văn miền tây Trung Quốc”.
Nhiếp Phong vội vàng làm vệ sinh cá nhân rồi xuống tầng một thưởng thức trà sáng ở phòng ăn khách sạn Bạch Vân.
Người Quảng Châu rất thích uống trà vào buổi sáng, còn gọi là tảo trà, trên thực tế là dùng bữa sáng. Một nữ phục vụ khuôn mặt tươi cười đẩy chiếc xe nhỏ, phía trên đặt các vỉ lồng hấp trông rất xinh xắn bắt mắt, bát thủy tinh màu ngọc biếc chứa các món tôm giảo hoàng, bánh chân ngựa, mã lạp quyền… đến cho thực khách lựa chọn. Đương nhiên giá thành các món đó chẳng rẻ chút nào.
Bữa sáng ở Thành Đô thường gồm hai chiếc bánh nhân thịt, một bát cháo nóng, một đĩa rau trộn. Tổng cộng mới có một tệ rưỡi. Tảo trà của Quảng Châu thường là một bát cháo, hai đĩa rau hấp, một suất đồ ngọt. Ăn sáng ít nhất cũng phải chi mất ba, bốn chục tệ. Tiền thuê phòng trong khách sạn Bạch Vân không bao gồm bữa sáng. Sau khi vào đây ở để hoàn tất bản thảo, Nhiếp Phong thỉnh thoảng lắm mới đến đây xa xỉ một chút.
Anh tiến vào nhà ăn, các bàn đã đầy khách, những vị thực khách sang trọng, quần áo là lượt, họ vừa hút thuốc, vừa gọi điện thoại di động hay nói chuyện phiếm với nhau. Tại một chiếc bàn lớn, một đại gia đình đủ cả nam nữ già trẻ đang cùng nhau dùng bữa sáng vô cùng thân thiết, đầm ấm. Họ nói tiếng Quảng Đông, giọng tuy dễ nghe nhưng rất khó để hiểu được nội dung.
Nhiếp Phong ngồi vào chiếc ghế vải màu đỏ ở phòng ngoài, người nữ phục vụ mặc đồng phục khá đẹp đưa cho anh tờ thực đơn.
“Thưa, ông dùng loại trà nào ạ?”.
Nhiếp Phong mở thực đơn đưa mắt đọc.
Kim bài thiết quan âm: 138 tệ/ suất.
Nhân sâm thiết quan âm: 60 tệ/ suất.
Thế kỷ hoàng trà: 38 tệ/ suất.

Nhiếp Phong không nói gì thêm, lật sang trang bên anh chỉ vào loại trà phổ thông nhất “Cao sơn thiết quan âm: 10 tệ/ suất”. Sau này anh mới biết ở đây không bắt buộc phải dùng trà. Trà được mang ra, cô phục vụ đặt quyển thực đơn mỏng màu vàng lên bàn, các hình in trên đó rất đẹp và bắt mắt kèm theo giá cả rõ ràng. Nhiếp Phong lấy bút bi đánh dấu móc vào mấy món điểm tâm, cháo trứng muối, thịt nạc, chân gà hấp tiêu, sườn hấp…
Một lát sau, bữa sáng được mang ra, Nhiếp Phong ăn uống rất ngon miệng. Món chân gà hấp tiêu thật tuyệt. Nhà hàng để một giá báo sát chân tường, trên đó đặt các loại báo chí của Hồng Kông, Ma Cao và địa phương.
Nhiếp Phong húp một miếng cháo, tiện tay với lấy tờ báo buổi sáng của Quảng Đông xem lướt qua.
Báo chí phương nam có chất lượng cao hơn trong nội địa, đặc biệt là mảnh văn hóa và kinh tế. Từ trước đến nay đều không hề dựa vào tin tức giật gân để thu hút độc giả. Điều này làm Nhiếp Phong rất thích.
Các tin tức nổi bật trong ngày hôm nay gồm có:
Trung Quốc đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
Vệ tinh “Phong Vân” được phóng thành công lên quỹ đạo.
Ngoài ra còn có bài viết về “Bản đồ gene con người”, bài báo dựa vào tin tức của báo chí Mỹ, hai tổ chức khoa học đã liên kết nghiên cứu với nhau cùng công bố hoàn thành bản đồ gene của con người…
Lật sang trang thứ hai trong mục “Tin tức Thâm Quyến” một dòng tiêu đề in chữ đậm nổi bật.
“Chủ tịch HĐQT tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp, Hồ Quốc Hào chết đuối”.
Nhiếp Phong lập tức chú ý. Trên mặt báo đưa thông tin về cái chết của Hồ Quốc Hào khiến anh cảm thấy bất ngờ, thậm chí còn chưa tin hẳn. Mới bốn ngày trước anh còn có buổi phỏng vấn trực tiếp ông ta.
Bỏ dở bát cháo, buông tờ báo trả vào chỗ cũ, Nhiếp Phong vội vã gọi người phục vụ.
“Cô ơi, tính tiền giúp tôi!”.
Người phục vụ đem hóa đơn ra tổng cộng hết bốn mươi sáu tệ. Anh nhanh chóng thanh toán rồi bước nhanh ra khỏi đó. Trên đường đi, đối diện với cửa hàng Hữu Nghị có sạp báo nhỏ, Nhiếp Phong mua lấy vài tờ nhật báo của Thâm Quyến và Quảng Châu, vội vã nhặt thông tin về cái chết của Hồ Quốc Hào. Hầu hết các báo đều giật tít:
Hồ Quốc Hào, ông chủ lớn của Thâm Quyến đột tử ở Tiểu Mai Sa, nhiều khả năng là do bệnh tim tái phát.
Hồ Quốc Hào mất đi, ai sẽ là người thay thế?
Cái chết của Chủ tịch tập đoàn Địa Hào ở Tiểu Mai Sa để lại nhiều nghi vấn.
Trên một tờ báo còn ra thông cáo: Buổi chiều ngày hôm qua, trợ lý Chủ tịch Địa Hào Trí Nghiệp, ông Chung đã chính thức xác nhận cái chết của chủ tịch Hồ Quốc Hào vào ngày 24 – 6, hưởng dương năm mươi tám tuổi. Đây là điều không may xảy ra khi chủ tịch Hồ Quốc Hào tắm biển ở ngoài phạm vi cho phép của bãi biển Tiểu Mai Sa. Nguyên nhân cái chết có thể là do đuối nước hoặc bệnh tim tái phát. Tuy nhiên, hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đã quyết định mở cuộc điều tra và chưa có kết luận chính thức.
Có tờ báo còn cho đăng bức ảnh Hồ Quốc Hào mặc complet, khuôn mặt hồng hào, nụ cười tươi rói.
Khuôn mặt mãn nguyện kèm theo vẻ tinh quái của kẻ kinh doanh lọc lõi, Nhiếp Phong không thể nhầm lẫn được. Buổi sáng ngày hai mươi hai tháng sáu anh còn phỏng vấn ông ta liên tục suốt ba giờ đồng hồ. Tập bản thảo bài phỏng vấn đó mãi tới tận sáng nay mới hoàn thành. Bài báo của anh có tiêu đề “Chiến lược miền tây rộng lớn của giới địa ốc nam Trung Quốc”. Trong buổi hôm đó, trên tấm bản đồ lớn mà Hồ Quốc Hào cho mua về, ông ta từng bước chỉ ra cho anh những kiến giải độc đáo về việc khai thác, mở rộng tài nguyên bất động sản vùng miền tây, tỏ rõ khí thế của ông chủ địa ốc cỡ bự, hình ảnh ấy như vẫn còn hiện rõ trước mắt anh. Một nhân vật quan trọng như thế làm sao có thể sơ sẩy ra đi đột ngột và đơn giản như vậy?
Trong buổi phỏng vấn, Hồ Quốc Hào nói cười đầy vẻ tự tin, ông ta khẳng định tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp sẽ mở rộng khai thác vùng đất Diêm Điền ven biển. Tuy nhiên Nhiếp Phong cũng cảm thấy ngoài tham vọng bản thân, ở Hồ Quốc Hào có gì đó mệt mỏi, căng thẳng song anh không cảm thấy có điềm gì không lành.
Lẽ nào một ông chủ lớn, mỗi cử chỉ hành động đều rất cẩn trọng lại đi mạo hiểm cả tính mạng của mình bơi bên ngoài vùng cho phép để cuối cùng bị sóng biển Tiểu Mai Sa cướp đi mạng sống?
Hay là theo thói quen của những người làm báo, ở Nhiếp Phong luôn tồn tại cảm giác nghi ngờ.
Bữa sáng mới chỉ dùng nửa chừng, Nhiếp Phong đã vội quay về phòng khách sạn. Mang trong lòng những nghi vấn cá nhân anh quay số máy phòng làm việc của Chủ tịch HĐQT Địa Hào Trí Nghiệp.
“Đây là tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp! Xin hỏi ai ở đầu dây đấy ạ?”.
Giọng nói qua điện thoại rất giống A Anh, nữ thư ký riêng của Hồ Quốc Hào.
“Xin chào, tôi là Nhiếp Phong”.
“Ồ, chào anh”. Giọng nói của A Anh có vẻ khá miễn cưỡng.
“Trên các báo hôm nay đều cho đăng chuyện không may xảy ra với ông Hồ Quốc Hào, tin tức ấy đúng không ạ?”.
“Là… đúng ạ!”.
“Làm sao chủ tịch lại chết đuối đột ngột như vậy?”. Nhiếp Phong thắc mắc.
“Chúng tôi đều cảm thấy bất ngờ. Hình như… cảnh sát…”.
Cái tin Hồ Quốc Hào chết đuối đã được xác nhận, nhưng cách trả lời úp úp mở mở của A Anh khiến anh cảm thấy cô ta đang sốc nặng trước cái chết của ông chủ mình.
“Phía công an đã có kết luận chính thức gì chưa cô?”. Nhiếp Phong dò xét.
“Hình như…”.
Lại là “hình như”, rốt cuộc vẫn chỉ là sự nghi hoặc hay còn bí mật nào ẩn chứa đằng sau mà không thể nói ra. Anh dập máy điện thoại, có hỏi nữa cũng sẽ vô ích. Trầm tư một lúc anh quyết định phải đi Thâm Quyến ngay lập tức. Anh gọi điện cho người bạn ở nhà xuất bản Chu Hải.
“Ông bạn, thật xin lỗi, có việc đột xuất, ngày mai tôi không thể đến Chu Hải được”.
“Chuyện gì mà vội vậy?”.
“Trong điện thoại không nói hết được, sau này tôi sẽ giải thích”.
“Lại có tin nóng phải không?”.
“Có cũng đúng, mà không cũng đúng, nhưng liên quan đến bản thảo bài báo của tôi”.
Ngay sau đó Nhiếp Phong gọi điện cho tổng biên tập Ngô báo cáo bản thảo đã hoàn thành vào tối hôm qua và đã gửi qua email.
Qua điện thoại giọng của tổng biên tập rất vui vẻ, ông động viên anh.
“Rất tốt! Vừa đúng thời gian để đăng vào kỳ này, khi nào về tôi sẽ đãi cậu một bữa ra trò”.
Nhiếp Phong nửa đùa nửa thật nói: “Bữa đó xin miễn cũng được, chỉ cần anh tăng tiền nhuận bút là được rồi”.
“Điều ấy không thành vấn đề, bài tốt tiền tốt! Khi nào cậu về?”.
“Em đã định mua vé tàu vào ngày mai, thế nhưng hiện nay tình hinh có chút thay đổi”.
“Có sự vụ gì mới hả?”. Tổng biên tập Ngô cảnh giác.
“Bây giờ vẫn chưa thể nói rõ được, ngày mai em sẽ báo cáo anh cụ thể”.
Nhiếp Phong đặt điện thoại xuống, chuẩn bị hành lý trả phòng. Ra khỏi khách sạn, anh gọi một chiếc taxi đi đến nhà ga phía đông Quảng Châu, nửa giờ sau Nhiếp Phong đã ngồi lên chuyến tàu T575 đi Thâm Quyến.
Những khối kiến trúc màu xám, những cảnh vật nhấp nhô lướt nhanh ngoài khung cửa sổ. Trong tiếng xình xịch ầm ĩ, tiếng bánh tàu nghiến trên đường ray, Nhiếp Phong chợt nhớ lại những gì đã diễn ra trong buổi phỏng vấn ở công ty Địa Hào bốn ngày trước đây. Anh cẩn thận lục lại trí nhớ, văn phòng làm việc của Hồ Quốc Hào cực kỳ sang trọng, rộng đến hơn hai trăm mét vuông. Vừa bước vào phòng anh có cảm giác như tiến vào cung điện của các vị hoàng đế thời xưa. Trong đại lục, e rằng phòng làm việc của chủ tịch tỉnh cũng khó có thể sánh bằng.
Một tấm thảm lớn trang trí hoa văn sặc sỡ trải rộng trên nền nhà, khắp bốn bức tường treo đầy đồ xa xỉ, lộng lẫy. Hồ Quốc Hào ngồi trên chiếc ghế bằng da thật, phía trước là chiếc bàn làm việc lớn. Ông ta rất thoải mái, tự tin nhận lời phỏng vấn của Nhiếp Phong.
Hồ Quốc Hào mặc bộ complet màu xanh thẫm không đeo cà vạt, khuôn mặt bạnh ra thô kệch và chiếc mũi hổ có chút áp chế đe dọa người khác. Nhưng khi trò chuyện ông ta lại tỏ ra rất hào sảng không hề chấp nhặt tiểu tiết. Điều này khiến người đối diện mang hai trạng thái đối nghịch, vừa e dè sợ hãi, vừa thân thiết hòa đồng. Sau lưng Hồ Quốc Hào treo một bức ảnh lớn chụp toàn cảnh tòa nhà Địa Hào, hai bên trái và phải đặt hai chiếc tủ kính, lưu giữ đầy những cúp lưu niệm, giải thưởng và sách. Trên bàn làm việc đặt giá bút bằng kim loại quý, lịch bàn, điện thoại kết nối nội bộ, phía trước để một con cá sấu Châu Phi bằng gỗ, màu đen bóng loáng đang ngoác cái miệng lởm chởm răng nhọn trông sinh động y như thật. Hồ Quốc Hào giới thiệu với Nhiếp Phong về quy mô tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp cũng như con đường đi đến thành công của nó. Tiền thân tập đoàn chỉ là một công ty nhỏ của vùng Hải Nam, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường, trải qua nhiều phong ba bão tố mới có thể đạt được quy mô như ngày nay. Đề cập tới tốc độ phát triển nhà đất của Hải Nam trong năm nay Hồ Quốc Hào tự tin khẳng định: “Mười năm trước, khi tôi và bạn bè có hơn mười lăm nghìn công ty địa ốc. Mẹ kiếp! Tình cảnh lúc ấy giống như là ngoài chợ vậy, trên trời rơi xuống một cái bánh là các ông chủ địa ốc đánh nhau chí chết để giành lấy”.
Giọng nói của Hồ Quốc Hào mang âm sắc vùng địa phương Hà Nam. Ông ta khoa chân múa tay như thể muốn quăng “cái bánh” đi thật xa.
“Thế nhưng sau này chỉ còn vài trăm công ty là sống sót. Chúng tôi ở vào số vài trăm công ty đó. Ha ha… mạng tôi còn lớn lắm!”. Hồ Quốc Hào cười lớn đầy đắc ý, nói đến việc phát triển địa ốc vùng phía tây ông ta nhận định hiện giờ là cơ hội tốt nhất để đầu tư vào đây. Thị trường bất động sản Trung Quốc đã trải qua mười năm phát triển mạnh và đang bước vào giai đoạn hoàn thiện quy mô kinh doanh. Các công ty nước ngoài cũng sẽ thâm nhập thị trường này. Vì vậy người nào đi trước thì sẽ thu được lợi trước. Để giành được thắng lợi khi đầu tư vào vùng phía tây cần có hai điểm quan trọng: Một là tiềm năng tài chính hùng hầu, hai là thương hiệu. Ông ta không hề giấu giếm tham vọng bước thứ nhất là nắm được dự án “Điền Đông Bối” ở khu “Diêm Điền” sát bờ biển.
“Miếng đất đó chắc chắn sẽ còn lên giá nữa”. Đôi mắt ti hí của ông ta lóe lên những tia sáng khao khát tham lam.
Bước thứ hai là nhắm đến phát triển cả vùng phía tây rộng lớn.
“Cậu chẳng đã bảo Thành Đô (thuộc tỉnh Tứ Xuyên) không có công trình kiến trúc tiêu biểu hay sao? Tôi sẽ cho xây dựng tòa nhà Địa Hào ở quảng trường Nhân Dân Nam Lộ. Được đấy chứ?”.
Đây là lần đầu tiên Nhiếp Phong thấy rõ được tư thế và tác phong của một ông chủ cỡ lớn. Điều đó lý giải tại sao ông ta có thể nắm giữ và điều hành cả một tập đoàn hùng mạnh đến như vậy.
Khi được hỏi sở thích cá nhân, Hồ Quốc Hào nói rằng ông ta thích bơi lội, chạy bộ nhưng từ trước đến nay chưa thử chơi golf lần nào.
“Đó là trò của những người nho nhã”.
Buổi phỏng vấn sắp kết thúc thì nữ thư kí riêng Tuyết Anh bước vào. Cô đưa cho ông chủ của mình cốc nước lọc và khẽ nhắc: “Chủ tịch, ông uống thuốc đi ạ!”.
Hồ Quốc Hào mở cái lọ nhỏ trên bàn lấy ra hai viên thuốc màu trắng đưa lên miệng, sau đó đón cốc nước từ tay Tuyết Anh uống ực một ngụm.
“Aspirin, chữa được bách bệnh”. Ông ta nói vẻ tự trào.
“Ngài bị cảm sao ạ?”. Nhiếp Phong quan tâm.
“Không phải, chủ tịch chúng tôi mắc bệnh tim”. Tuyết Anh trả lời.
“Bác sĩ nói tôi bị bệnh tim, cậu xem có giống vậy không?”.
“Không hề giống”. Nhiếp Phong thành thật đáp.

Chương 2
TÒA NHÀ ĐỊA HÀO
1.

Tòa cao ốc Địa Hào Trí Nghiệp có hai mươi tư tầng, mặt ngoài là những tấm kính màu xanh thẫm. Ánh nắng mặt trời chiếu vào toát lên vẻ thần bí kỳ lạ. Nhiếp Phong ráo chân bước nhanh vào đại sảnh, chợt nhận thấy ở đây đã có hơn hai mươi nhà báo đến từ bao giờ, họ cố chen lấn để tiến lên phía trước.
Có điều những vị “hoàng đế không vương miện” này đều bị chặn lại bởi dải dây màu vàng, hiển nhiên họ đang không thể nhẫn nại thêm được nữa.
Một anh chàng quay phim của đài truyền hình dáng người cao lớn vừa lia máy quay vừa bực bội hét lên: “Chẳng phải là khu quân sự bí mật, sao không cho người ta tác nghiệp chứ?”. Cô phóng viên tóc ngang vai đứng bên cạnh anh ta đang ra sức thuyết phục những người bảo vệ.
Cái chết đầy bất ngờ của Hồ Quốc Hào đã gây chấn động mạnh trong giới đầu tư bất động sản. Chỉ trong vòng một ngày, chuyện liên quan đến cái chết của ông ta được mọi người xôn xao bàn tán đưa ra dự đoán này nọ với nhiều lí giải khác nhau. Và dĩ nhiên các phương tiện truyền thông không thể đứng ngoài cuộc, ai cũng muốn mình sẽ là người có thông tin đầu tiên. Trong bối cảnh như vậy tập đoàn Địa Hào vẫn giữ được bình tĩnh, không hề bấn loạn, tất cả mọi công việc có vẻ vẫn diễn ra như bình thường.
Hai nhân viên mặc cảnh phục đứng trong vòng bảo vệ, thái độ rất lạnh lùng.
Các kí giả đến đây gồm nhiều loại hình truyền thông. Ngoài báo viết, báo nói, báo hình của địa phương ra còn có các cơ quan thông tấn tỉnh ngoài đến đưa tin. Tập đoàn Địa Hào dường như khá dị ứng với giới truyền thông, tất cả mọi nhân viên được hỏi đều từ chối trả lời phỏng vấn.
Đúng lúc nhốn nháo như vậy, cửa thang máy phía bên trái mở ra, một người đàn ông trung niên vóc dáng tầm thước mặc bộ complet màu cà phê, cà vạt đen bước ra. Phía sau là một người khác dáng vẻ như là lái xe riêng. Có người nhận ra, đó là Châu Chính Hưng phó tổng giám đốc tập đoàn Địa Hào. Đám nhà báo vội vàng chuyển hướng vây lấy anh ta.
“Ông Châu, nguyên nhân cái chết của chủ tịch có phải là do không may đuối nước không?”.
“Tin tức bên ngoài cho rằng cái chết của ông Hào rất kỳ lạ, xin hỏi điều ấy có đúng không?”.
“Xin hỏi ông Hồ Quốc Hào mất đi, ai sẽ là người thay thế?”.
Khuôn mặt Châu Chính Hưng vẫn rất bình tĩnh, anh ta khẽ mỉm cười lịch thiệp gật đầu tỏ ý xin lỗi không thể trả lời, mặt khác rảo bước ra khỏi tòa nhà.
Nhiếp Phong và Châu Chính Hưng đã từng có lần tiếp xúc với nhau.
Ấn tượng đầu tiên của anh đối với Châu Chính Hưng đó là một con người tính tình bộc trực, thẳng thắn. Nhưng cũng là bậc “Trí giả nhược ngu” .
“Phó tổng giám đốc Châu, tại sao ông Hồ Quốc Hào nửa đêm lại đi bơi ở Tiểu Mai Sa?...”.
Cô phóng viên truyền hình lúc nãy cố chạy lại hỏi.
Châu Chính Hưng đứng cạnh chiếc Audi đen bóng giơ hai tay lên tỏ ý không biết, người lái xe mở cửa để Châu Chính Hưng ngồi vào rồi vội đóng ngay cửa xe, chiếc xe sang trọng lao vút đi.
Thái độ của Châu Chính Hưng rất vội vã song Nhiếp Phong có cảm giác anh ta hoàn toàn không hề lúng túng và ngược lại còn có vẻ ung dung tự tại nữa là đằng khác.
Trong đại sảnh tạm thời yên ắng.
Đám nhà báo cố nhẫn nại đợi chờ bên ngoài vòng dây vàng, đâu đó tiếng than vãn lại nổi lên.
Bỗng nhiên, trong tòa nhà có tiếng kèn acmonica văng vẳng. Tiếng kèn này nghe rất quen thuộc, dường như anh đã từng được nghe ở đâu đó, giai điệu thật hay song đầy bi thương ai oán. Nhiếp Phong nhìn trước ngó sau nhưng không phát hiện ra là do ai đó thổi hay nhạc đang bật. Anh thấy thật lạ kỳ.
Lúc này, trợ lý chủ tịch HĐQT Địa Hào Trí Nghiệp, Chung Đào cùng hai nhân viên văn phòng xuất hiện trong đại sảnh. Anh ta mặc bộ complet màu muội sắt, thắt cà vạt hoa nhỏ thẫm màu. Người nhân viên trẻ đi ngay sau cầm một cuộn giấy màu vàng khá cẩn thận.
Cánh nhà báo vội quây lấy, họ lấy micro và máy ghi âm đưa về phía Chung Đào. Chung Đào đứng trước dải dây màu vàng, giọng nói nhã nhặn trả lời từng câu hỏi mà báo chí đưa ra. Chung Đào khoảng ngoài bốn mươi tuổi, thân hình còn rất tráng kiện, đôi lông mày sắc hình lưỡi kiếm, mũi sư tử, đôi mắt sáng đen trắng phân minh, râu quai nón xanh rì bao quanh quai hàm. Vẻ bề ngoài mang đến cho người ta ấn tượng đây là một con người nhân hậu, đáng tin cậy.
Thái độ của Chung Đào trước những câu hỏi khá thân thiện, anh giải thích: Tập đoàn vừa có cuộc họp cổ đông khẩn cấp, trước mắt việc kinh doanh vẫn diễn ra bình thường. Song do công ty đang ở trong thời kỳ đặc biệt, tất cả đều bận rộn vì chuyện của chủ tịch HĐQT Hồ Quốc Hào, nên có chút khiếm nhã, mong mọi người thông cảm và thứ lỗi.
Hai người nhân viên trải tấm giấy màu vàng dán lên bức tường đá hoa cương bên trong đại sảnh. Tất cả nhà báo có mặt đều chăm chú nhìn vào đó. Màu mực đen in trên nền giấy vàng chưa khô hết mực.

CÁO PHÓ
Ông HỒ QUỐC HÀO chủ tịch HĐQT tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp tạ thế ngày 24 tháng 6 do không may bệnh tim tái phát trong khi đi bơi, hưởng dương năm mươi tám tuổi. Toàn thể cán bộ công nhân viên của tập đoàn vô cùng thương tiếc và đau buồn trước hung tin này.
Ông Hồ Quốc Hào mất đi là tổn thất lớn của công ty. Nhưng không vì thế mà chiến lược phát triển của công ty thay đổi. Trước mắt việc vận hành kinh doanh vẫn tiến hành như bình thường. Hội đồng quản trị sẽ nhanh chóng lựa chọn người phù hợp vào chức vụ của ông Hồ Quốc Hào, người được lựa chọn sẽ do đại hội cổ đông và hội đồng quản trị quyết định.
Lễ truy điệu ông Hồ Quốc Hào sẽ diễn ra vào buổi sáng ngày 2 tháng 7 tại nhà tang lễ Thâm Quyến.
Văn phòng HĐQT Địa Hào Trí Nghiệp.
Ngày 26 tháng 6.

“Ngày hai tháng bảy sẽ cử hành tang lễ ư?”.
“Đó là chủ nhật tuần này đấy!”.
Đám nhà báo xôn xao bàn tán đầy nghi hoặc, mọi người rõ ràng cảm thấy thời gian ấn định tang lễ thật vội vàng, liệu có phải còn nguyên nhân nào khác không thể cho người ngoài biết?
Nhiếp Phong cũng cảm thấy kỳ lạ, dường như Địa Hào Trí Nghiệp muốn nhanh chóng kết thúc vụ việc của Hồ Quốc Hào. Xét trên phương diện lợi ích của công ty, việc làm đó là để giảm tới mức thấp nhất hậu quả và ảnh hưởng từ cái chết đầy bất ngờ của ông ta, thế nhưng cái chết này vẫn còn nhiều uẩn khúc, sao lại phải tổ chức lễ truy điệu sớm vậy. Theo tiết lộ của báo chí, nguyên nhân cái chết là do đuối nước hay bệnh tim tái phát vẫn chưa có kết luận chính thức. Nhưng trong “cáo phó” lại nêu rõ nguyên nhân tử vong là bệnh tim tái phát. Nội dung của các bài báo sáng nay cũng có một vài chi tiết kỳ quặc. Chẳng hạn Hồ Quốc Hào rõ ràng đi bơi ở bãi biển Đại Mai Sa, vì sao cái xác lại xuất hiện ở bãi biển Tiểu Mai Sa nơi cách đó bốn, năm kilômét?
Còn nữa, gần nơi phát hiện ra xác ông ta hoàn toàn không tìm thấy bất cứ vật dụng cá nhân nào khác. Tại phòng 204 khách sạn Hào Cảnh và nơi gửi đồ khu bãi tắm cũng không tìm thấy quần áo của Hồ Quốc Hào…
“Tập đoàn chúng tôi rất hoan nghênh các nhà báo có mặt ngày hôm nay tham dự lễ tang chủ tịch HĐQT Hồ Quốc Hào”. Chung Đảo lên tiếng tuyên bố. Có kí giả rời đi.
Lúc này Nhiếp Phong mới tiến lại phía anh ta chào hỏi.
“Trợ lý Chung. Chào anh!”.
“Ồ! Là nhà báo Nhiếp”.
Chung Đào bắt tay anh.
Buổi phỏng vấn của Nhiếp Phong với Hồ Quốc Hào hôm trước là do Chung Đào bố trí nên hai người có quen biết nhau.
“Bài phỏng vấn đó đã làm xong bản thảo, tổng biên tập yêu cầu tôi đối chiếu một số dữ liệu”.
Nhiếp Phong tìm ra một lý do khiến anh có mặt ở đây.
“Ấy, việc đó không có vấn đề gì”.
Chung Đào nói.
Anh ta dặn dò người bảo vệ mấy câu rồi đưa Nhiếp Phong cùng mình vào thang máy. Họ đi lên đến tầng thứ hai mươi tư, tầng cao nhất trong tòa nhà.
Bước ra ngoài thang máy Chung Đào dẫn Nhiếp Phong vào phòng khách sang trọng của tập đoàn.
Hai người cùng ngồi trên chiếc ghế sofa màu nâu bằng da thật. Dùng xong tuần trà Chung Đào sơ lược nói qua tình hình. Anh ta nói không nhiều lắm.
Qua khám nghiệm pháp y, nguyên nhân cái chết của ông Hồ Quốc Hào là bởi bệnh tim tái phát trong quá trình bơi dẫn đến ngạt nước. Thời gian tử vong vào khoảng chiều tối ngày hai mươi tư tháng sáu. Bên ngực trái cơ thể có một vết rách dài khoảng ba, bốn centimet, có phần giống như bị mảnh đá cứa vào. Phía cảnh sát sơ bộ xác định trong lúc đi bơi cơ tim co giật đột ngột dẫn đến tử vong sau đó khi thủy triều lên, có thể bị sóng đánh giạt vào bờ biển Tiểu Mai Sa.
Nhiếp Phong hỏi anh ta thêm vài câu.
“Chủ tịch hh có thường tắm biển ở Đại Mai Sa không ạ?”.
“Thường xuyên”.
“Khả năng bơi lội của ông ấy thế nào?”.
“Mọi người trong tập đoàn đều biết ông ấy bơi lội rất giỏi”.
“Vậy có thể nói, trong điều kiện bình thường, ông ấy không dễ chết đuối?”.
“Có thể nhận định như vậy”.
“Trước đó vài ngày chủ tịch có biểu hiện gì thất thường không anh?”.
“Biểu hiện thất thường?”.
Chung Đào nhìn Nhiếp Phong ngờ vực. “Ý nhà báo Nhiếp là…”.
“Ví dụ như ưu tư chẳng hạn,” Nhiếp Phong giải thích, “Hoặc là có gặp mặt một người đặc biệt nào đó…”.
Chung Đào khẳng định: “Hoàn toàn không hề có chuyện ấy”.
Nhiếp Phong gật đầu.
Đúng lúc này có tiếng gõ cửa phòng khách.
Chung Đào ra mở cửa, người đó là A Anh, nữ thư ký riêng của Hồ Quốc Hào. Cô gái mặc đồng phục màu tro, tinh thần có chút ảm đạm. Cô liếc mắt về phía Nhiếp Phong rồi nói với Chung Đào.
“Cảnh sát lại đến để điều tra”.
Nhiếp Phong hướng về phía A Anh gật đầu chào hỏi.
“Chào cô!”.
“Ôi! Anh đến đây nhanh vậy à?”. Cô buột miệng thốt lên một câu.
Chung Đào bước ra bên ngoài, mời mấy người cảnh sát đó vào phòng khách.
Người đứng đầu nhóm cảnh sát là đội trưởng đội cảnh sát hình sự Thôi Đại Cân, thái đọ lúc nào cũng có vẻ nghiêm khắc, ánh mắt luôn lóe lên những tia nhìn sắc sảo, dò xét, hai người cảnh sát một nam, một nữ đi cùng anh còn rất trẻ, người nam khá béo khuôn mặt non tơ có vẻ mới bước vào nghề, cô gái dáng dấp nho nhã, thân hình nhỏ nhắn xinh xắn.
A Anh đem đến cho ba người ba tách trà nóng.
“Chúng tôi cần làm rõ một số vấn đề”, Đội trưởng Thôi hỏi Chung Đào, “Hiện nay công việc của tập đoàn do ai phụ trách?”.
“Là phó tổng giám đốc Châu, nhưng anh ấy mới vừa lên ủy ban thành phố có công chuyện”, Chung Đào trả lời, “Sáng nay tập đoàn đã mở cuộc họp hội đồng quản trị và có mời cô Chu tham gia, hiện nay cô ấy đang ở đây”.
“Cô Chu?”. Đội trưởng Thôi lần đầu tiên nghe thấy cái tên này.
“Đó là vợ của chủ tịch HĐQT Hồ Quốc Hào, Chu Mỹ Phượng. Khi ông ấy còn sống cô Chu rất ít khi đến tòa nhà này và cũng không mấy khi tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty”. A Anh giải thích cho đội trưởng Thôi rõ.
Đội trưởng Thôi lúc này mới chú ý tới Nhiếp Phong đang ngồi đó, anh đưa ánh mắt hỏi Chung Đào: “Vị này là…?”.
“Đây là nhà báo Nhiếp Phong của tạp chí “Tây Bộ Dương Quang”. Chung Đào giới thiệu.
“Tôi là Nhiếp Phong”. Nhiếp Phong nở nụ cười thân thiện đưa tay về phía Thôi Đại Cân.
Khuôn mặt đội trưởng Thôi lạnh nhạt, anh bắt tay Nhiếp Phong một cách chiếu lệ, tỏ vẻ không mấy thiện cảm.
“Đối với giới truyền thông chúng tôi hoàn toàn không thể tiết lộ thông tin”.
Nhiếp Phong đưa ngón tay trỏ gãi gãi quai hàm, khuôn mặt tươi tỉnh dường như không quan tâm đến câu nói đó.
Chung Đào thay Nhiếp Phong xoa dịu hai bên.
“Tuần trước nhà báo Nhiếp mới có buổi phỏng vấn chủ tịch Hồ Quốc Hào, anh ấy chỉ đến đây để đối chiếu một vài số liệu”.
“Ồ! Ra vậy”.
Đội trưởng Thôi vẫn giữ nguyên thái độ có chút cao ngạo.
Nam cảnh sát trẻ ngồi bên trái anh, khuôn mặt tròn trịa đưa ánh mắt ý tứ nhìn Nhiếp Phong.
Nhiếp Phong khẽ gật đầu hiểu ý cậu ta.
“Anh là người Tứ Xuyên phải không?”. Cậu cảnh sát béo tròn nhẹ nhàng hỏi.
Nghe thấy giọng nói của người cảnh sát trẻ đúng âm sắc vùng Tứ Xuyên. Nhiếp Phong mỉm cười.
“Chúng ta là đồng hương rồi!”.
“Tôi tên là Vương Tiểu Xuyên, người Trùng Khánh”.
“Đừng nói chuyện tào lao nữa!”. Đội trưởng Thôi lừ mắt, ngắt lời Tiểu Xuyên sau đó quay sang nói với Chung Đào: “Chúng tôi muốn gặp mặt cô Chu Mỹ Phượng”.

2.
Vợ Hồ Quốc Hào, Chu Mỹ Phượng hiện là giám đốc của một thẩm mỹ viện tư nhân, cô khoảng ngoài ba mươi tuổi, cực kỳ xinh đẹp, rất có khí chất, ăn mặc hợp mốt. Người trong công ty đều gọi cô là “cô Chu”.
Trong phòng làm việc của chủ tịch HĐQT có một khu tiếp khách. Cô tiếp đón nhóm cảnh sát ở đó, ghế sofa da màu vàng, chiếc bàn thủy tinh trên đó đặt mấy tách trà, bên cạnh đặt một cây phát tài, lối trang trí thường thấy trong các văn phòng làm việc ở Quảng Đông.
Chu Mỹ Phượng ngồi chính giữa chiếc ghế dài. Đội trưởng Thôi và người nữ cảnh sát ngồi đối diện với cô. Bên cạnh những tách trà là chiếc gạt tàn thủy tinh long lanh, hàng nhập khẩu từ nước ngoài.
Tiểu Xuyên cầm quyển sổ lấy bút ghi chép. Cậu ngồi trên chiếc ghế đơn phía bên cạnh.
Đội trưởng Thôi khách khí nói: “Chúng tôi muốn tìm hiểu đôi chút về ông Hồ Quốc Hào trước lúc mất, không biết có làm phiền cô không?”.
“Có điều gì cần tìm hiểu, xin các anh cứ nói”. Chu Mỹ Phượng mỉm cười tỏ vẻ rất hợp tác.
“Nghe nói ông Hồ Quốc Hào có tiền sử bệnh tim, chuyện đó đúng chứ? Ông ấy bình thường dùng loại thuốc gì?”.
“Mọi người trong công ty đều biết ông nhà tôi mắc bệnh tim. Chẳng qua ông ấy không để ý việc đó…”.
“Không để ý” là sao?”, Tiểu Xuyên ngồi bên đưa ra câu hỏi.
“Ông ấy nói bản thân mình “mình đồng da sắt”.
Chu Mỹ Phượng liếc mắt về phía Tiểu Xuyên, nhếch mép giọng nói có vẻ giễu cợt. “Lần này, “mình đồng da sắt” cũng ngã vật ra”.
Nghe cô ta nói bằng cái giọng đó khiến người ta cảm thấy người đàn bà này thật lạnh lùng, vô cảm. Dường như trước cái chết của chồng, cô ta hoàn toàn không có chút bi thương, đau khổ nào, có lẽ trong gia đình Hồ Quốc Hào cũng là một người cứng rắn.
Người nữ cảnh sát cất tiếng hỏi, thái đội khá khó chịu: “Ông ấy thường dùng loại thuốc nào?”.
“Aspirin, mỗi ngày bốn viên, còn có hai loại thuốc nữa là “Axit Tartaric” và cái gì như “Lạc khắc”, tên của nó tôi quên mất rồi… mấy loại này ông ấy uống chưa được mấy ngày thì đã dừng hẳn”.
Tiểu Xuyên vội ghi thông tin vào quyển sổ nhỏ.
Aspirin là loại thuốc thông dụng làm thông mạch máu, dùng lâm sàng cho dự phòng tắc mạch máu, hay thiếu máu lên não.
Đội trưởng Thôi tỏ vẻ đã hiểu.
Nữ cảnh sát họ Đào lại hỏi: “Ông Hồ Quốc Hào có bị mắc bệnh mất ngủ không?”.
“Việc đó có liên quan đến cái chết của chồng tôi hay sao?”. Chu Mỹ Phượng nhướn cặp mắt xinh đẹp chăm chút nhìn nữ cảnh sát Đào Lợi.
Đội trưởng Thôi giải thích: “Là thế này, bên pháp y chúng tôi cho biết khám nghiệm dạ dày và trong máu ông Hào có thành phần aspirin và thuốc ngủ. Thành phần aspirin như cô nói thì không sai, song lượng thuốc ngủ thì rõ ràng vượt quá liều lượng cho phép”.
“Thuốc đó ông ấy cũng có dùng, vào buổi tối trước khi đi ngủ”, Chu Mỹ Phượng đáp với giọng bình thảnh, “Đêm mất ngủ tinh thần lo lắng uống vài viên cũng là chuyện bình thường”.
“Ông Hồ Quốc Hào thường dùng loại thuốc ngủ nào?”. Người nữ cảnh sát hỏi.
“Trước đây từng dùng “Lợi miên linh” sau đó được khuyên không nên sử dụng nên đổi sang dùng “Đông miên linh”.
Đào Lợi và Thôi Đại Cân đưa mắt trao đổi với nhau.
“Như vậy là được rồi”.
“Cô Chu này…!”. Tiểu Xuyên vẫn còn muốn hỏi nữa song đội trưởng Thôi đã gạt đi, ngăn cậu ta lại.
“Cảm ơn sự hợp tác của cô”. Đội trưởng Thôi khách khí nói với Chu Mỹ Phượng. “Chúng tôi rất lấy làm tiếc trước cái chết của ông Hồ Quốc Hào. Sau này cần tìm hiểu gì thêm chúng tôi sẽ lại đến tìm cô”.
“Vâng, không thành vấn đề, nếu như không còn việc gì nữa tôi xin phép đi trước”.
Chu Mỹ Phượng duyên dáng gật đầu, quay người rời khỏi phòng chủ tịch HĐQT.
Chu Mỹ Phượng ra khỏi phòng, Tiểu Xuyên khẽ giọng hỏi nhỏ.
“Đội trưởng, sao lại không cho em hỏi tiếp?”.
“Hỏi cái gì nữa? Người chết rõ ràng là do bệnh tim tái phát”. Đội trưởng Thôi tiếp tục huấn thị cho đồ đệ của mình. “Gã tiểu tử nhà người cần gì phải ham hố lập công to biến cái đơn giản thành phức tạp!”.
Tiểu Xuyên dường như vẫn còn ấm ức: “Em thấy cô ta trước cái chết của chồng chẳng có tí xót thương nào cả”.
“Cô ta xót thương hay không xót thương cần phải nói hẳn ra cho cậu thấy à. Vợ ông chủ lớn thì tầm suy nghĩ cũng phải khác người”. Đội trưởng Thôi tiếp tục lên lớp, thái độ khá nghiêm túc “Cậu có biết ở Thâm Quyến tầng lớp đại gia có bao nhiêu mệnh phụ u uất và bao nhiêu cô vợ hai không?”.
Tiểu Xuyên thành thật đáp: “Em không biết”.
“Tôi cũng không biết nhưng Chu Mỹ Phượng rõ ràng là một trong số đó, điều ấy khỏi phải bàn”.
“Anh nói cô ta là ‘mệnh phụ u uất’?”.
“Thế chẳng nhẽ là ‘vợ hai’ hay sao? Cái đầu của tiểu tử nhà ngươi sao mà thiếu nhanh nhậy thế”. Thôi Đại Cân nói thẳng.
“Dạ!”. Tiểu Xuyên đưa tay gãi đầu, vẫn tỏ vẻ chưa hiểu ngay được
Nữ cảnh sát Đào Lợi bật cười: “Em nhận thấy, căn cứ vào những chi tiết ta nắm được hiện tại, về cơ bản có thể loại trừ khả năng “Hồ Quốc Hào chết do đuối nước’”.
Đội trưởng Thôi trầm ngâm: “Trừ phi…”.
“Trừ phi phát hiện thêm tình tiết mới”. Đào Lợi nhanh miệng đáp thay.
Đội trưởng Thôi không lên tiếng.
Tiểu Xuyên bừng tỉnh “Hiểu rồi, mình ngốc quá!”.

3
Sau khi đám cảnh sát rời khỏi tòa nhà Địa Hào, Nhiếp Phong ngồi lại với A Anh tại phòng khách của công ty để tìm hiểu kỹ những nội tình bên trong.
Tên đầy đủ của A Anh là Mã Tuyết Anh, một cô gái trẻ xinh đẹp. Đã tốt nghiệp chuyên ngành quan hệ công chúng trường đại học J, Quảng Châu, chưa kết hôn, làm thư ký riêng cho Hồ Quốc Hào được chừng bốn năm nay. Ngay cả bây giờ, mắt của cô vẫn còn mọng đỏ, sắc mặt trắng bệch thẫn thờ. Xem ra cô thực sự đau buồn và sốc nặng trước cái chết bất ngờ của Hồ Quốc Hào. Điều này không lọt qua cặp mắt nhà nghề của một chuyên gia tâm lý giỏi như Nhiếp Phong. Phải là người cực kỳ thân cận bên cạnh Hồ Quốc Hào mới có thể biết được những ẩn tình bên trong.
Điểm mấu chốt ở đây là cần khéo khai thác để đối phương tiết lộ tâm tư tình cảm của mình. Một người trong lúc đau khổ và cô đơn, thất vọng nhất luôn luôn muốn có người để chia sẻ về suy nghĩ của mình. Nhưng A Anh thì lại không thể nói cho người thân những gì cô đang chịu đựng thậm chí ngay cả với người ruột thịt. Tuy nhiên, đôi khi với người lạ thì ngược lại, nếu người đó sẵn sàng đồng cảm với cô. Và đó cũng là phương cách an toàn nhất để có thể nói hết những gì muốn nói.
Đánh trúng tâm lý đối tượng, Nhiếp Phong bắt đầu khơi gợi từ việc nói lên cảm nghĩ của mình đối với Hồ Quốc Hào.
“Những kiến giải, phát hiện của chủ tịch Hồ Quốc Hào đối với thị trường bất động sản miền tây khiến người nghe có cảm giác hoàn toàn mới mẻ thế nhưng lại có tính thực tiễn cao, không khỏi không khâm phục. Tôi đã từng phỏng vấn rất nhiều doanh nhân có tên tuổi song người có cá tính và sức thu hút như ông ấy thì không nhiều”.
A Anh ngước cặp mắt xinh đẹp nhìn anh.
Nhiếp Phong buột miệng cảm thán.
“Trong kỳ này tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’ của chúng tôi đã chuẩn bị đăng ảnh ông Hồ Quốc Hào lên trang bìa. Đáng tiếc không bao giờ còn được gặp lại ông ấy nữa! Chẳng ngờ đời người lại ngắn ngủi như vậy…”.
Có lẽ những lời nói chân thành của Nhiếp Phong đã tác động đến A Anh, chí ít cũng tạo thiện cảm với cô. Vì thế A Anh đã kể rất nhiều về Hồ Quốc Hào cho Nhiếp Phong nghe, trong đó cũng bộc lộ những nghi ngờ về nguyên nhân gây ra cái chết của ông ta.
“Tôi có linh cảm, cái chết của ông chủ có chút kỳ lạ”.
“Tại sao vậy?”.
“Chỉ là linh cảm thôi”.
Cuộc trò chuyện ngày càng trở nên thân tình, A Anh vô tình tiết lộ.
Nhiếp Phong hỏi : “Mấy ngày trước khi chủ tịch Hồ Quốc Hào mất có chuyện gì không bình thường không?”.
“Có một việc”. A Anh nhớ lại.
Chuyện đó xảy ra vào buổi sáng một ngày trước đó. Khi A Anh mang tập tài liệu đến cho chủ tịch Hồ Quốc Hào, cô phát hiện trên bàn làm việc có một tờ giấy. Trên đó có một ký hiệu màu đỏ, hình dáng giống chữ U nhưng cũng có chút gì đó giống hình “thỏi vàng”, nét bút khá thô. Phía dưới ký hiệu đó là một dãy số được đánh máy. Chủ tịch lúc đó đang ngồi trên ghế, tay mân mê tờ giấy trên mặt bàn mắt chăm chú nhìn vào ký hiệu, lộ rõ vẻ trầm tư, ông nhắm nghiền cặp mắt lại, đăm chiêu suy nghĩ, đột nhiên nét mặt trở nên khó coi, ông vội vã lập tức thu gọn tờ giấy lại.
“Tờ giấy đó như thế nào?”.
“Một tờ giấy bình thường, giống như khổ giấy A4 đánh máy”. A Anh đáp.
Nhiếp Phong vội hỏi: “Cô còn nhớ dãy số đó chứ?”.
“Tôi chỉ liếc qua nên không nhớ hết được, hình như ba số cuối cùng là 791”.
“791?”. Nhiếp Phong trầm ngâm “Cô nhận thấy ông Hồ Quốc Hào lúc đó có tâm sự gì không?”.
A Anh thẫn thờ: “Tôi không rõ, chỉ cảm thấy ông chủ có chút khác thường, dường như gặp phải một lời nguyền đáng sợ…”.
“Động cơ gây án nằm ở đây?”. Trong đầu Nhiếp Phong chợt lướt qua ý nghĩ đó.
“Cô đã báo cho cảnh sát việc này chưa?”. Anh hỏi.
“Chưa?”.
“Vì sao vậy?”.
“Họ đâu có hỏi tôi”, A Anh đáp: “Tôi cũng chẳng biết có nên nói hay không. Bởi vì…”.
“Tờ giấy đó không còn ở đây!”. Nhiếp Phong đỡ lời.
“Đúng vậy. Sau khi xảy ra chuyện với ông chủ, tôi đã tìm kỹ phòng làm việc của ông ấy nhưng không tìm thấy tờ giấy đó”.
“Ngay cả trong ngăn kéo bàn làm việc của ông Hồ Quốc Hào?”.
“Tất cả các ngăn kéo tôi đều đã tìm song không thấy”.
“Trong phòng làm việc của chủ tịch HĐQT có két an toàn nào không?”.
“Không có”.
Nhiếp Phong có cảm giác như giọng nói của Tuyết Anh hơi do dự.
Song cô ngay lập tức bổ sung thêm.
“Tất cả những nơi cần tìm, tôi đã tìm hết rồi”.
Xem ra, lời nói này là thật. Nhiếp Phong thầm nghĩ, trong câu nói vừa rồi “Tất cả những nơi cần tìm” dường như ám chỉ nơi bí mật nào đó, song mới chỉ là cảm giác, anh không muốn căn vặn thêm nữa. Bên cạnh đó, Nhiếp Phong cũng cảm nhận được giọng nói và cách thể hiện của A Anh chứa đầy đau khổ. Tuy nhiên ngoài sự đau khỏ dường như còn có chút… nhưng là cái gì thì thật khó nói cho chuẩn xác.
“Tôi có thể vào xem phòng chủ tịch được không?”.
“Được chứ”.
A Anh dẫn Nhiếp Phong vào phòng làm việc của Hồ Quốc Hào, phòng của A Anh ở ngay bên cạnh.
Các bức tường trang hoàng lộng lẫy, chiếc thảm sang trọng, con cá sấu bằng gỗ, chiếc gạt tàn thủy tinh cao cấp. Tất cả đều được giữ nguyên như cũ, chỉ có điều vật còn người đã mất. Chiếc ghế uy quyền đặt phía sau bàn làm việc lớn không có người ngồi. Bức ảnh chụp toàn cảnh tòa nhà Địa Hào treo trên cao trống trải, im lìm.
Xem xét kỹ khắp phòng quả nhiên không nhìn thấy bất cứ chiếc két an toàn nào cả.
Qua tấm kính cửa sổ rộng có thể nhìn bao quát ra một vùng rộng lớn, những tòa cao ốc đan xen nhấp nhô, cả thành phố dường như được thu nhỏ trong tầm tay.
Buổi phỏng vấn Hồ Quốc Hào bốn ngày trước đây như vừa mới xảy ra. Lúc đó phía ngoài đại sảnh có tới bốn, năm người chầu chực chờ được gặp mặt Hồ Quốc Hào hay để báo cáo công việc. Điều để lại ấn tượng sâu sắc đối với Nhiếp Phong đó là cả con thuyền lớn Địa Hào đều nắm dưới sự điều khiển tài tình của một con người. Cho đến hôm nay Hồ Quốc Hào đã đi sang thế giới bên kia, bước vào phòng làm việc của ông ta, phía ngoài không lấy một bóng người, vẻ hào nhoáng chỉ còn là giấc mơ, tạo cho người ta cảm giác trống rỗng vô thường.
Ngay đêm đó, Nhiếp Phong gọi điện cho tổng biên tập Ngô để báo cáo tình hình.
“Chào anh, là em Nhiếp Phong đây”.
“A, tình hình thế nào rồi?”. Giọng nói ngắn gọn dứt khoát.
“Mọi việc hiện giờ vẫn chưa có kết luận, em cần phải điều tra kỹ thêm”.
“Thế thì không được, ở nhà đang rất bận”. Tổng biên tập Ngô tỏ rõ thái độ không đồng ý.
“Cái chết của Hồ Quốc Hào hiển nhiên không bình thường”. Nhiếp Phong cố hết sức giải thích. “Đằng sau ẩn chứa một bí mật rất lớn. Anh xem… một đại gia bất động sản chết đột ngột như vậy mà chân tướng sự việc vẫn chưa rõ ràng. Đây là đề tài mà tất cả các phương tiện truyền thông đâu dễ gì bỏ qua”.
Trong điện thoại tiếng tổng biên tập Ngô thở dài do dự.
“Em đã tìm ra được một vài manh mối…”. Nhiếp Phong nói thêm.
“Thôi được, tôi sẽ cho cậu thêm một tuần, hãy viết bài điều tra đi”.
“Một tuần thì không đủ, như thế quá nhanh để làm mọi chuyện trở nên rõ ràng”.
“Vậy… mười ngày nhé?”. Tổng biên tập Ngô nhượng bộ.
“Cám ơn sếp, em gửi bài phỏng vấn anh nhận được chưa ạ?”.
“Tôi xem rồi, không tồi! Sẽ cho đăng vào ngày mai”.
“Em đề xuất nên thay tiêu đề mới”.
“Thay tiêu đề? Vì sao vậy?”.
“Tốt nhất là đưa thêm dòng tít phụ ‘Bài phỏng vấn cuối cùng của ông Hồ Quốc Hào lúc sinh thời’”.
“Tuyệt, điều ấy sẽ thu hút sự chú ý của độc giả”.
Thảo nào Nhiếp Phong lại nhận được sự coi trọng của tổng biên tập đến vậy.




Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-14 08:04:28mrroman>
Mình gõ từ trang 300 đến hết nha. email: chucamtu@gmail.com
0
300-353
“Thế thì anh ấy mới nhanh chóng trở thành Cổ Thiên Lạc chứ ạ!”. Tiểu Cúc nói đùa.
Bà nội ngạc nhiên hỏi.
“Cổ Thiên Lạc là cái gì?”.
“Bà ơi! Anh ta là tài tử đẹp trai của điện ảnh Hồng Kông thích bơi ở biển, làn da bị cháy nắng thành màu đồng cổ, hơn nữa ngày (Thiên) nào cũng lạc quan yêu đời”. Nhiếp Phong ghé sát vào tai bà lão thì thầm giải thích rồi nhoẻn miệng cười.
“Tiểu Phong nhà ta đúng là tài tử đẹp trai”.
“Được thế cơ ạ! Bà ơi! Cháu từ nhỏ đã rất xấu mà”.
Tiểu Cúc bụm miệng cười, đôi má ửng đỏ như quá táo.
Nhiếp Phong rút quà trong túi tặng cho mọi người trong gia đình. Anh biếu bà nội bánh “bà xã bé nhỏ”. Bà lão rất thích ăn đồ ngọt. Lại tặng Tiểu Cúc dây chuyền làm bằng vỏ sò biển.
"Ôi, đẹp quá!”. Tiểu Cúc mân mê nó trong tay.
“Còn đây là quà của bác Đào, giám đốc sở biếu bố cháu”.
Nhiếp Phong cầm chiếc hộp giấy gói rất đẹp. Trong đó là hai túi cà phê Lam Sơn Jamaica chính hiệu.
“Bố cháu đi Bắc Kinh họp rồi!”. Bà nội bảo Nhiếp Phong.
"Còn quà của dì và chị Nhiếp nữa đâu ạ?”. Tiểu Cúc ngước đôi mắt nhỏ lên khẽ nhắc.
Mẹ Nhiếp Phong là bác sĩ phụ sản, chị gái làm phát thanh viên ở đài truyền hình, nên cuối tuần mới về nhà.
“Thật không phải, lần này bận rộn quá, lần sau tôi tặng bù vậy".
Nghỉ ngơi một chút, Nhiếp Phong rút điện thoại gọi cho tổng biên tập: “Báo cáo sếp, em về rồi ạ!”.
Trong điện thoại tổng biên tập Ngô biểu dương tinh thần làm việc của Nhiếp Phong, lần đi phỏng vấn này thật quá vất vả... Sau đó ông còn vỗ về anh mấy câu.
"Sếp ra mười hai lệnh kim bài triệu hồi, không phải là đi du lịch nước ngoài sao?”. Nhiếp Phong châm chọc.
“Tôi biết dăm bữa nửa tháng thì phá án thế quái nào được, trừ phi là thần thám”. Tổng biên tập Ngô bình thản đáp lại.
“Có việc gì sai bảo sếp cứ nói thẳng ra đi”. Nhiếp Phong biết tỏng tổng biên tập đang làm trò gì.
“Phỏng vấn độc quyền ông vua ti vi màu ở Miên Dương cậu chuẩn bị viết bài phỏng vấn về ông ấy cho mục nhân vật nổi tiếng của tạp chí ra cuối kỳ này nhé”.
“Thế nhưng công tác phí em tiêu sạch rồi”.
“Trước khi lên đường sang bên tài vụ nhận dự chi, tôi duyệt rồi”.
“Thật tốt quá, ngày mai em có thể đi được rồi”.
“Cậu vừa mới về, tôi cho hai ngày nghỉ phép, cứ nghỉ ngơi thoải mái đi”.
“Ok! Cảm ơn sếp”.
***
Buổi tối ngày hôm sau, Nhiếp Phong nhận được điện thoại của Tiểu Xuyên.
Trong điện thoại Tiểu Xuyên nói với Nhiếp Phong, bà vợ Hồng Diệc Minh đã từ Canada về nước để lo toan hậu sự cho chồng. Khi cảnh sát thẩm vấn bà ta về các mối quan hệ xã hội và tình hình kinh doanh của Hồng Diệc Minh, vô tình được biết Hồng Diệc Minh và Hồ Quốc Hào không chỉ là người cùng quê huyện Ngu, tỉnh Hà Nam mà còn là chiến hữu của nhau từ thời trong quân ngũ. Trong lý lịch cả hai cùng có thời gian công tác ở binh đoàn xây dựng Vân Nam. Chuyện này bà vợ Hồng Diệc Minh có một lần nghe Hồng Diệc Minh nhắc đến.
Tiểu Xuyên nói: "Em nghĩ, việc điều tra mối quan hệ giữa Hồ Quốc Hào và Hồng Diệc Minh sẽ có tác dụng nhất định"
Nhiếp Phong phấn chấn.
“Đầu mối này rất quan trọng".
Nói xong câu đó anh lại trầm tư.
Trong phần lý lịch của Hồ Quốc Hào tra trên mạng không hề nhắc tới giai đoạn này.
Chuyện đó liệu có điểm liên kết gì giữa hai người này?
Nhiếp Phong lấy ra chiếc bút dạ viết lên tờ giấy nhỏ.
Đồng hương - Bạn hữu - Đối tác - Đối thủ cạnh tranh - Cùng ở...
Anh nghĩ đi nghĩ lại rồi viết thêm phần “đối tác” hai chữ “hàng đầu”. Cuối cùng sau một hồi suy tư anh thêm đằng sau chữ “Cùng ở” dòng chữ “Binh đoàn xây dựng Vân Nam".
Rốt cuộc là ở trung đoàn nào, sư đoàn nào của Binh đoàn xây dựng Vân Nam? Đóng quân trên địa bàn nào của tỉnh Vân Nam?
Anh còn muốn biết, Chung Đào lúc đó cũng ở binh đoàn xây dựng Vân Nam, liệu Hồ Quốc Hào, Hồng Diệc Minh và Chung Đào có quen biết nhau? Họ có mối liên quan gì đến nhau? Song các tư liệu có liên quan đến thanh niên trí thức thời kỳ đó, cách đây đã gần ba mươi năm, một quãng thời gian dài nên rất khó tìm hiểu.
Sáng hôm sau Nhiếp Phong gọi điện thoại đến thư viện Đại học C, kết quả khiến anh rất thất vọng. Người nữ thủ thư cho anh hay thư viện Đại học C không lưu trữ tư liệu thời kỳ "cách mạng văn hóa”.
Xem ra phải tìm đến thư viện Ba Thục của tỉnh xem sao. Nhiếp Phong vội vã dùng bữa sáng, lấy xe đạp guồng hết tốc lực.
Ngày thường, công việc làm báo của anh rất bận, nên hiếm có dịp đến thư viện.
Nhiếp Phong đạp xe qua một nhà hàng nhộn nhịp, một dãy các ki ốt bán quần áo và mỹ phẩm, nào là “Lạc Muội”; “Nửa sườn dốc’’, “Gia viên người lưu lạc"... các biển hiệu đều rất bắt mắt, rực rỡ ánh đèn. Đạp thêm vài vòng xe nữa là qua một cửa hàng thời trang có mặt tiền rất rộng, anh chợt nhìn thấy thư viện tỉnh nằm khiêm tốn trong khuôn đất nhỏ, không gian chật hẹp.
Cửa ra vào cũng hẹp, tường thấp sơn màu vàng cũ kỹ, mái nhà lợp ngói lưu ly rêu phong, Chính điện đặt một phiến đá đại lý khắc tên thư viện, nét chữ đỏ sẫm, phủ đầy bụi và lá rụng. Bên cửa ra vào có một chỗ để xe đạp có người trông coi.
Dựa chiếc xe cẩn thận vào sát tường, anh bước vào bên trong, không ngờ nơi đây lại cũ kỹ đến vậy, đại sảnh yên tĩnh lạnh lẽo. Men theo từng bậc cầu thang lát đá loang lổ, Nhiếp Phong có cảm giác như lạc vào cánh đồng hoang không bóng người qua lại. Xem ra ngôi nhà này dễ đến hơn ba mươi năm chưa được tu sửa.
Anh thầm nghĩ hàng triệu người của cái thành phố này sẵn sàng bỏ hàng trăm hàng vạn tệ dành cho việc hút thuốc, uống rượu... nhưng sao nỡ bủn xỉn để cho thánh đường văn hóa tàn tạ xuống cấp đến thế này?
Tìm đến tầng ba, nơi lưu trữ các ấn phẩm đặc biệt. Có lẽ đây là phòng đọc tốt nhất trong thư viện, khá cổ kính và cũ kỹ là cảm nhận đầu tiên khi Nhiếp Phong bước vào. Hàng loạt các dãy bàn cỡ vừa và nhỏ màu vàng rơm xếp thành ba dãy, mối dãy có mười chiếc. Khoảng bảy, tám độc giả đang chăm chủ đọc sách, tiếng lật giấy sột soạt.
Nhiếp Phong đi đến một góc phòng, anh ngồi xuống, tìm kiếm tư liệu mình quan tâm.
Hai người nữ thủ thư ngồi trong chiếc quầy ô vuông. Một người tầm trung tuổi, đeo kính trắng, người kia trẻ hơn ngồi trước màn hình máy vi tính. Cả hai tỏ ra khá chuyên nghiệp, phục vụ mọi người hết sức chu đáo. Độc giả muốn tìm quyển sách nào, họ đều tận tình giúp đỡ.
Tiêu phí hơn một giờ đồng hồ, thật không dễ tìm thấy mấy quyển tạp chí nội bộ thời kỳ cách mạng văn hóa, chỉ có mấy cuốn “Văn thơ thanh niên trí thức”, giấy đã ố vàng, khi lật trang phải hết sức cẩn chận.
Khi mở một quyển tuyển tập ảnh “Thượng sơn hạ hương” (lên núi xuống vùng nông thôn) anh chăm chú nhìn rất lâu.
Trong đó có hàng trăm các bức ảnh đen trắng, đều là hình kỷ niệm về cuộc sống của thanh niên trí thức thành thị thời đó, gánh củi, dựng nhà, cạo mủ cao su, thu dọn rác thải, khiêu vũ, tuyên thệ, tình nguyện... rất rất nhiều việc khác nữa. Có một tấm ảnh lớn chụp cảnh thanh niên trí thức Dung Thành (tên khác của thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) xuất phát từ đường Nhân Dân Nam Lộ lên đường xây dựng tổ quốc. Một đội thiếu nữ tóc tết đuôi sam, lưng đeo ba lô tay nâng là quốc kỳ, tay kia nâng ảnh lãnh tụ, khí thế hừng hực, phía sau là nét mờ mờ dòng chữ “Bảo tàng tưởng niệm" và tượng chủ tịch Mao Trạch Đông, khuôn mặt của họ nhìn không được rõ song từ toàn cảnh bức ảnh có thể tưởng tượng ra không khí hào hùng tràn đầy sức trẻ thời ấy...
Từ năm 1971 đến năm 1972, khoảng mấy vạn thanh niên tri thức Thành Đô trong đó có cả Chung Đào, theo hướng chỉ của bức tượng Mao chủ tịch thẳng tiến đến vùng biên giới Vân Nam, khai phá và xây dựng nơi biên cương tổ quốc.
Nhiếp Phong lật tìm những quyển sách khác. Trong một quyển sách nhỏ bìa màu xanh có in dòng chữ "Hồn thanh niên trí thức” tình cờ phát hiện một bài viết với tiêu đề “Lam Tước Lĩnh, nơi đặt mười ngôi mộ".
Đọc xong bài viết đó, Nhiếp Phong lặng người xúc động.
Bài báo đã thuật lại tấn thảm kịch xảy ra hai mươi tám năm về trước tại vùng Lam Giang, Vân Nam, mười nữ thanh niên trí thức đã bị thiêu chết.
Đó là vào một đêm trăng không Mây, một thanh niên tri thức Thượng Hải xem trộm cuốn sách “Bài ca thanh xuân”. Thời kỳ ấy cuốn sách này thuộc thể loại tiểu thuyết ái tình hoàn toàn bị cấm, chỉ có thể xem trộm. Trời càng về tối anh ta nhíu hai mắt lại vì buồn ngủ, trước khi đi ngủ anh định ra ngoài đi vệ sinh khi quay người vô tình làm đổ chiếc đèn dầu trong màn, ngọn lửa gặp màn bốc cháy, tất cả mọi người bừng tỉnh hoảng hốt ra sức dập lửa.
Song chỉ trong phút chốc ngọn lửa lan sang các vật dụng dễ cháy như quần áo, sách vở...
Chưa đầy một phút cả căn nhà là bốc cháy dữ dội chỉ nhìn thấy khỏi lửa ngút lên tận trời xanh mù mịt, cuồn cuộn. Những nam thanh niên đứng bên ngoài ngây dại gào thẻt. Cháy! Cháy! Cháy!
Có nữ thanh niên chỉ mặc độc đồ lót chạy từ trong ra bên ngoài hét lên cầu cứu.
Dãy nhà đại đội thanh niên trí thức ở nối liền với nhau, đều được ghép từ tre trúc và rơm, cỏ khô, trong phòng toàn đồ dễ cháy. Khi ngọn lửa bùng lên từ một gian nhà lan sang cả dãy nên hoàn toàn không thể dập lửa được. Hơn nửa lửa mạnh lại gặp gió to lên càng trở nên hung dữ, tiếng tre trúc nổ lép bép, khắp nơi nơi ánh lửa nhập nhòa.
Mọi người hoảng loạn thất kinh nhảy ra khỏi lửa. Khi người cuối cùng thoát ra những ngôi nhà đã biến thành một biển lửa.
Đúng lúc này một người công nhân lớn tuổi phát hiện ra điều dị thường.
“Đại đội trưởng, anh nhìn xem nơi kia sao lại có lửa xanh nhỉ?”.
Theo hướng tay ông chỉ là gian nhà thứ ba khỏi bốc lên đậm đặc. Ngọn lửa cháy ở gỗ, tre... đều là màu đỏ, chỉ có cháy ở dầu mỡ xác động vật mới có màu xanh.
Đại đội trưởng dường như không hề chú ý. Anh ra vội vã cứu lấy những thứ "vật dụng linh tinh” còn lại trong căn phòng của riêng mình.
Qua hai, ba phút, lửa đã thiêu trụi tất cả những gian nhà lá, chỉ còn lại đống tro âm ỉ cháy. Lửa nhỏ dần song trong làn khói đen đậm đặc vẫn có một nơi lửa xanh leo lét.
“Đại đội trưởng, anh không để ý sao?".
Người công nhân già lại một lần nữa nhắc nhớ.
Lúc này đại đội trưởng mới lên tiếng gọi vài cậu trai trẻ lấy gậy gạt gạt đống tro.
Trong bài báo ấy có viết:
“Cảnh tượng diễn ra trước mắt mọi người thật hãi hùng. Mười nữ thanh niên nằm phủ phục dưới đất toàn thân co quắp, ôm chặt lấy nhau, họ đã bị lửa thiêu cháy đen, cơ thể rút lại chỉ còn chưa đầy một mét. Mặt mũi không còn nhận ra ai với ai, trông rất thảm thương, khi tách từng người, chỉ có phần da ở ngực là còn nguyên vẹn.
Vì sao họ lại không chạy thoát?
Phân tích tại hiện trường phát hiện nguyên nhân khiến họ không thể chạy được là do buổi tối họ đã lấy dây thép buộc chặt cánh cửa. Trong lúc hoảng loạn không có cách nào gỡ ra được. Những chiếc dây thép đen sì còn buộc nguyên ở cửa.
Họ đều sợ nửa đêm có người lẻn vào, mười người thiếu nữ ở chung một phòng sao lại phải sợ có kẻ lẻn vào, kẻ đó là ai?
Họ không báo cáo sự việc lên trung đoàn, bởi vì họ không có cơ hội để báo cáo”.
Nhiếp Phong gặp cuốn sách lại, trong lòng trào lên nỗi niềm cảm thương.
Lịch sử dường như ngưng đọng trong giây lát.
Không gian phòng đọc trở nên yên ắng kỳ lạ chỉ có tiếng thở dài khe khẽ ở góc phòng.
Đột nhiên Nhiếp Phong có cảm giác như khuôn mặt Chung Đào hiện ra – Một khuôn mặt thất thần.
Đám mây màu đỏ rực đó ám chỉ điều gì?
Nhiếp Phong lật lại cuốn sách, anh tiếp tục tìm hiểu, ở trang cuối cùng anh tìm thấy địa điểm xảy ra tấn thảm kịch, nó được gọi bằng cái tên Lam Tước Lĩnh, thuộc đại đội hai tiểu đoàn bốn trung đoàn.... binh đoàn xây dựng Vân Nam. Thời gian xảy ra sự việc kinh hoàng là năm 1972, ngày 24 tháng 6.
Nhiếp Phong lẩm nhẩm trong miệng: 19/2... trong lòng anh hơi rung động.
- 1972... 06... 24.
Nhiếp Phong đọc lại lần nữa.
Nối liền các số năm, tháng, ngày chẳng phải tạo thành dãy số 19720624 sao.
Dãy số này nhìn rất quen? Dường như đã nhìn thấy ở đâu đó thì phải.
“Anh ơi! Thư viện sắp đóng cửa rồi”, cô thủ thư trẻ ngồi trong quầy nói vọng ra với Nhiếp Phong.
“Ồ! Buổi trưa ở đây cũng đóng cửa ạ?”.
"Buổi trưa là giờ nghỉ trưa”.
Nhiếp Phong thu dọn lại những quyển sách, đứng dậy, trong lúc trả sách anh vô tình để quyển sách quay đầu ngược lại. Bất giác Nhiếp Phong chấn động tâm can, tám chữ số trên “Giấy chiêu hồn" là 42602791. Nếu đão lại chẳng phải là 1972062-4 sao?
Trên đường trở về nhà, khi đạp xe qua con đường Nhân Dân Nam Lộ, anh ngẩng đầu nhìn lên bức tượng Mao chủ tịch bằng đá trắng đại lý đặt trước cửa bảo tàng...
Hai mươi tá năm về trước cũng tại con đường này hàng nghìn hàng vạn thanh niên trí thức Thành Đô vừa mới tốt nghiệp cấp ba đã lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc xây dựng vùng đất Vân Nam hoang vu hẻo lành.
Gần ba mươi năm sau, khi đi qua đây, con đường Nhân Dân Nam Lộ ngựa xe nườm nượp, biểu tượng của thành phố hiện đại đổi thay từng ngày. Khó tìm thấy dấu vết xưa kia. Bức tượng lớn vẫn còn, cánh tay vẫn chỉ về hướng Vân Nam nhưng mộng tưởng của thanh thiếu niên nam nữ ngày nay nằm ở đâu? Một vị tiền bối trong tòa soạn đã có lần kể: Từng có một vị ủy viên chinh hiệp kiến nghị dỡ bỏ bức tượng đó để tránh cho Người ngày nắng khỏi bị thiêu đốt, ngày mưa khỏi bị ưởt mình. Nghe đồn cơ quan hữu quan cũng đồng ý với phương án đó song đưa ra yêu cầu trong vòng một đêm phải di chuyển được bức tượng. Dùng bộc phá thì không được phép, dùng xe kéo thì cũng không xong. Sau này cuối cùng đành từ bỏ ý định đó. Chính vì vậy nên bức tượng còn được bảo tồn cho đến nay. Không biết việc ấy có phải là thật hay chỉ là lời đồn nhảm?
2
Nhiếp Phong ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, anh đang đợi điện thoại.
Con Nhã Hổ lúc lắc cái đầu, chạy đến gần giá sách, nó đứng bằng hai chân sau, cái mũi hếch lên đánh hơi.
“Anh Nhiếp! Con Nhã Hổ đang tìm cái gì kìa!”
Tiểu Cúc cầm cái giẻ lau đi qua nói.
Nhiếp Phong vừa mua về bốn quả bóng tennis, còn để túi nhựa giấu ở tầng cao nhất của giá sách, cửa giá sách đóng kín, chẳng hiểu sao con vật này lại phát hiện ra được!
Nhiếp Phong xoa xoa đầu nó: “Cho mày đến trường cảnh khuyển để huấn luyện bắt kẻ xấu nhé!”
Nhã Hổ ngoáy tít đuôi, có vẻ mừng rỡ lắm.
Tiếng chuông điện thoại đổ dồn, Nhiếp Phong nhấc ống nghe lên, là một người bạn, anh Trung làm ở hội nhà văn thành phố gọi đến.
“Có một nữ đồng chí tên là Trình Hiểu Văn làm ở cục Lao động thành phố trước đây cũng từng là thanh niên trí thức Thành Đô đi xây dựng Lam Giang, chị ấy là một người rất nhiệt tình tham gia công tác xã hội”.
Nhiếp Phong ghi lại số điện thoại của người đó trong cuốn sổ ghi chép rồi nói lời cảm ơn. Anh cần phải tìm hiểu sự việc "Mười nữ thanh niên tử nạn” qua những người có mặt tại hiện trường lúc ấy.
Nhiếp Phong bấm số máy vừa nhận được song chỉ có tiếng nhạc chờ, không có người nhấc máy. Buổi chiều tối trong lúc anh đang lên mạng thì nhận được điện thoại của người phụ nữ đó. Trong tiếng điện thoại xen lẫn tiếng trẻ nhỏ, chắc chị ta đang ở nhà. Người phụ nữ nhận mình là Trình Hiểu Văn. Chị hỏi Nhiếp Phong mục đích muốn tìm hiểu điều gì, thái độ khá thoải mái.
“Tôi muốn tìm hiểu thời kỳ thanh niên trí thức xây dựng vùng Lam Giang”.
“Không vấn đề gì, sáng mai hẹn sau đi”.
Hôm sau, Nhiếp Phong gọi lại cho người phụ nữ ấy. Máy di động vẫn thông nhưng không có người nhận cuộc gọi.
Nhiếp Phong bấm số 114 hỏi tổng đài số điện thoại của cục Lao động thành phố họ cho anh số điện thoại phòng làm việc của Trình Hiểu Văn. Anh gọi vào số đó, người nhận điện là chị ta, giọng nói vẫn khá nhiệt tình.
“Ai giới thiệu tôi với anh?”.
“Một người bạn của tôi, là anh Trung Bình làm ở hội nhà văn thành phố”.
“Tôi không quen Trung Bình”.
“Anh ấy cũng là thanh niên trí thức, anh ấy nói chị rất nhiệt tình”.
“Anh muốn tìm hiểu việc gì?”.
“Tôi là phóng viên của tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’ muốn viết về thời kỳ ấy”.
“Cậu không trái qua cuộc sống của thanh niên trí thức e rằng sẽ khó viết”. Người phụ nữ rất thẳng thắn.
“Tôi không phải viết một cuốn sách về thanh niên trí thức mà chỉ muốn lấy tư liệu bối cảnh để viết một bài báo...”. Nhiếp Phong giải thích thêm “Chủ yếu là muốn tìm hiểu về sự kiện mười nữ thanh niên trí thức ở đại đội hai, tiểu đoàn bốn".
“Họ đều bị thiêu sống, chết rất thảm thương. Tôi cũng là người của tiểu đoàn bốn".
“Chị xem lúc nào chúng ta có thể gặp nhau”. Nhiếp Phong vội vàng hỏi.
“Tôi có gợi ý thế này, trước hết cậu cứ đi Tiêu Lam sơn trang núi Phượng Hoàng. Bắt chuyển xe 99 tới bến cuối cùng, bỏ ra thêm hai tệ đi xe máy kéo ba bánh đến một nơi gọi là “Trung tâm hoạt động của thanh niên trí thức’”. Trình Hiểu Văn giới thiệu.
“Cậu cứ đến đó tham quan để có được cảm xúc chân thật".
“Nếu tiện, tôi xin gặp chị trước đã được không?”.
"Thế cũng được, mười rưỡi trưa nay nhé? Tôi hẹn cậu ở phòng làm việc”.
“Rất cám ơn chị!”.
Tiểu Cúc thấy Nhiếp Phong có vẻ rất vui bèn hỏi: “Anh Nhiếp hẹn gặp ai mà hởn hở vậy?”.
“Một người phụ nữ”.
“Lại là phụ nữ”. Tiểu bảo mẫu bĩu môi.
Đến mười giờ, điện thoại trong phòng khách đổ chuông.
Tiểu Cúc nhấc điện thoại lên, cô hướng về phòng đọc sách lớn tiếng gọi: “Anh Nhiếp, người ‘phụ nữ' của anh gọi này”.
Nhiếp Phong vừa nhận điện thoại vừa khẽ nhắc Tiểu Cúc: “Làm gì mà gọi to thế!”.
Quả nhiên đó đúng là điện thoại của Trình Hiểu Văn.
“Anh Nhiếp hả, tôi chuẩn bị có cuộc họp nên e là hôm nay không thể gặp anh được”. Nhiếp Phong khá thất vọng.
“Vậy ngày mai hẹn chị lại vậy”.
“Cũng được”. Người đầu dây bên kia ngắt máy.
“Á”. Tiểu Cúc vui mừng như mở cờ trong bụng '“Phụ nữ’ lại thất hẹn hả anh?”.
“Cái cô này! Đi chỗ khác đi”.
Nhiếp Phong tạm thời quyết định trước tiên cứ đến Tiêu Lâmsơn trang, núi Phượng Hoàng cái đã.
Anh gọi một chiếc taxi.
“Anh đi đâu?”. Người lài taxi hỏi.
“Cho tôi đến núi Phượng Hoàng”.
Chiếc xe lăn bánh vượt qua vùng quê nửa nông thôn nửa thành thị. Xe cộ đi lại như mắc cửi, có chút hơi hỗn loạn. Nhiếp Phong nhìn ra ngoài cửa kính, hai bên đường là hiệu sửa xe đạp, cửa hàng bán tạp hóa, sạp trái cây… Phía trước cánh đồng trồng cải dầu đang vụ thu hoạch, là rau da bò phủ đầy trên mặt đất.
Tri Viên nằm phía bắc thành phố nên cách đường lên núi Phượng Hoàng không xa.
Đi hết mười bảy tệ tiền taxi là đã tới nơi.
Người lài xe theo bảng chỉ dẫn bên đường đỗ xe lại trước cổng Tiêu Lâm sơn trang.
Cột trụ cổng bằng xi măng màu tro sẫm, bên trái treo một tấm biển có ghi dòng chữ “Trung tâm hoạt động thanh niên tri thức Duy Thành đi xây dựng Vân Nam".
Đường vào lát đá phiến, một bên là rừng chuối tây, một bên là hồ nước.
Theo lời giới thiệu của nữ giám đốc quản lý sơn trang, những người lập nên trung tâm này đều là thanh niên trí thức hiện đang còn công tác. Bình thường họ không ở đây nhưng vào định kỳ tổ thức hoạt động, trung tâm rất náo nhiệt. Ông chủ của Tiêu Lâm sơn trang cũng là một thanh niên trí thức. Vì vậy đã bỏ tiền túi ra xây dựng một tòa nhà nhỏ làm nơi tụ họp của những người đã từng trái qua thời kỳ thanh niên trí thức. Ngày thường sơn trang kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng. Làm ăn cũng khá tốt.
Nữ giám đốc đưa Nhiếp Phong tham quan ngôi nhà, trong đó có một căn phòng rộng chừng mười lăm mét vuông dành để trưng bày những tư liệu liên quan đến thanh niên trí thức. Nhiếp Phong một mình đi một vòng quanh căn phòng, những vật trưng bày ở đây có những thứ rất bình thường nhưng lại vô cùng quý giá. Có một bức ảnh đen trắng chụp cảnh lao động của những thanh niên trí thức thời ấy, bức ảnh được cắt ra từ một tờ báo cũ, giấy đã ố vàng, ở giữa căn phòng để hai chiếc tủ kính, tủ bên trái bày các loại ấn phẩm xuất bản phản ánh đời sống của thanh niên trí thức, tủ bên phải để các cuốn “Sổ lưu niệm thanh niên trí thức đi xây dựng vùng Điều” (Điều: tên gọi khác của Vân Nam), "Thông tin nội bộ"... Còn có một bộ quân phục màu xanh đã cũ, bên cạnh có in dòng chữ “Kỷ niệm thanh niên trí thức Lam Giang trở về quê hương”.
Sau khi tham quan hết căn nhà, vị nữ giám đốc giao cho một chàng trai trẻ mặc áo xanh công nhân dẫn Nhiếp Phong đến quán trà Trúc Bằng.
Vượt qua hai cái hồ là đến quán trà, đó là một dãy nhà khá dài, xung quanh người ta trồng rất nhiều chuối tây, ven hồ là hàng liễu rủ. Hai bên đường là những đóa hoa hồng khoe sắc rực rỡ. Có lẽ ngày hôm nay không phải là ngày tổ thức gặp mặt, dưới bóng cây si già vài du khách quây quanh chiếc bàn nhỏ đánh mạt chược. Cả sơn trang không khí thật yên tĩnh, bên tai có thể nghe thấy tiếng tôm búng nước, xa xa có tiếng máy kéo từ bên kia đường vọng lại.
Người thanh niên đi cùng nói với Nhiếp Phong: “Đây là quán trà Trúc Bằng, các sản phẩm ở đây cũng do thanh niên trí thức tạo ra”.
Bàn ghế đều được làm từ trúc, có nét đặc sắc riêng đặc biệt. Nhiếp Phong ngồi xuống ghế, anh gọi một cốc Hoa Mao Phong giá mười tệ.
Bốn mặt quán dán, treo khá nhiều tranh ảnh, đều miêu tả những hoạt động của thanh niên trí thức Thành Đô khai phá, xây dựng vùng đất biên cương Vân Nam. Một dải lụa màu xanh nhạt, rộng trên dưới một mét dài khoảng ba mươi mét bao quanh bốn bức tường quán Trúc Bằng, tạo ra nét khác biệt.
Nhiếp Phong đứng dậy chậm rãi dạo bước, cảm giác như đang đến một ngã ba sông vắng lặng.
Trên tấm lụa chi chít những lời đề tự viết bằng bút dạ, màu mực khác nhau, màu xanh, màu đen, màu đỏ... Các dòng chữ, bút tích chen chúc nhau, nhiều chữ màu mực đã nhòa hay mờ đi. Đây là tấm lụa được những thanh niên trí thức lưu lại trong buổi lễ meeting kỷ niệm thanh niên trí thức Thành Đô tại quảng trường Nhân Dân Nam Lộ chín năm về trước. Tấm lụa là nơi để họ bộc bạch những tâm tư tình cảm của một thời thanh niên sôi nổi đã qua cũng là nơi để lớp hậu sinh nói lên cảm nghĩ của mình.
Nhiếp Phong lấy chiếc bút mang theo bên mình vừa xem vừa ghi lại.
Đập vào mắt anh đầu tiên là hàng chữ nhỏ nhắn.
"Mẹ của cháu là thanh niên tri thức Vân Nam, bà tên là Trương Yên - ngày 9 tháng 6 Khang Khang”.
"Cháu là con gái của thanh niên tri thức, bố cháu tên là Lưu Vệ Đông - Lưu Vy”
"Bố mẹ tôi năm đó ở tiểu đoàn ba trung đoàn bảy. Tôi rất thích nghe mợ kể về những câu chuyện ở Vân Nam - Châu Tiểu Băng”.
Viền trên tấm lụa lưu lại dòng chữ khá lưu loát.
Những năm tháng đó trong giây phút này như ngưng đọng lại.
Nó kể cho lớp hậu thế chúng tôi một câu chuyện chân thực.
Bên dưới là hàng chữ màu xanh thẫm, do một cô bé tiểu học có tên Kim viết rất có cảm xúc.
Con đã xem triển lãm không thể quên rừng cao su xanh xanh, hạt cà phê tim tím.
Con là lớp hậu sinh, con rất ngưỡng mộ thời thanh xuân của cha mẹ mình.
Bên cạnh đi cùng có dòng chữ, nét bút rất thô.
Tôi nguyền rủa thời kỳ đó!
Tôi ngưỡng mộ các bạn.
Nguyên đoàn viên thanh niên chi đoàn cảnh mã Thành Đô, hiện vẫn ở Vân Nam.
Nhiếp Phong dịch chuyển vài bước chân, nhìn thấy bên trái có vài nét chữ rắn rỏi, không ký tên. Nhưng nội dung dường như là những tiếng kêu gào thảm thiết.
Là lý tưởng? Là chí nguyện?
Là đầy ải? Là dối trá?
Xin để lịch sử trả lời!
Thời gian, lịch sử, những câu chuyện về thanh niên tri thức Trung Quốc sẽ truyền mãi cho đời sau, ai có thể trả lời những oan ức, đau khổ thét gào của người lưu lại dòng chữ đó.
Nhiếp Phong xem xét dòng chữ ở bên trái tấm lụa, khi anh vòng sang bên cạnh chợt nhìn thấy dòng chữ của một thanh niên trí thức ở trung đoàn...
Hồn gắn Lam Giang, còn sống thì không bao giờ quên.
... đại đội hai, tiểu đoàn bốn, trung đoàn...
Lối viết theo kiểu chữ thảo, nét bút khá cứng cỏi.
Nhiếp Phong chăm chú nhìn vào dòng chữ đó, phía trái bên dưới có một dòng chữ khác nhưng nét bút đã bị nhòe đi chỉ có thể đọc được “Thanh xuân... hổ thẹn...”, phía dưới nữa có dòng khẩu hiệu viết bằng bút mực xanh: “Tinh thần thanh niên trí thức vạn tuế”...
Hai mắt Nhiếp Phong tiếp tục lướt trên tấm vài, dường như có một dự cảm đặc biệt thúc giục anh làm như vậy.
Những dòng chữ chen chúc nhau như những thanh âm từ ngàn xưa vọng về, có thể nghe thấy tiếng hào hùng, tiếng căm hận ai oán từ đáy lòng, cũng có cả lời tâm sự ngây thơ thánh thiện. Tất cả âm thanh đó rung động lương tri của mỗi người dân Trung Quốc.
Hàng chữ thiêu đốt tâm can lướt qua
Tám năm gió và mưa, máu và nước mắt.
Đã từng nguyền rủa. Càng khó quên hồi ức xa xưa.
Không bao giờ quên được cây cao su.
Hàng chữ cuối cùng viết bằng mực đỏ, nét bút mảnh mai giống như ngọn lửa đang bừng bừng cháy.
Thời thanh xuân không hối hận nhưng cái giá phải trả sao lớn quá
Nhiếp Phong chợt nhớ ra dường như những câu này Chung Đào đã từng nói với anh. Đi sang góc khác, đó là những lời tâm sự về tình yêu đôi lứa của những thanh niên trí thức thời đó. Vô tình Nhiếp Phong nhìn thấy một dòng chữ màu đen, nét bút khá to.
Mọi thứ đều có thể quên đi.
Duy có mối tình đầu của tôi ở Vân Nam.
Tình yêu của tôi, huyết hải thâm thù của tôi.
Tên phỉ mặt cười, cho dù ngươi có chạy đến chân trời,
Ta cũng sẽ tìm thấy ngươi.
Phía dưới đề tên: Hắc Oa
Đọc đoạn văn đó vừa giống như bài hịch vừa giống như lời thề khiến Nhiếp Phong không khỏi chấn động.
Chợt nhớ đến điều gì Nhiếp Phong quay lại ngôi nhà có căn phòng lưu niệm, anh nhìn bà giám đốc mở tủ kính lấy cho quyển “Ghi chép thông tin".
Nhiếp Phong tra trong đó và tìm thấy danh sách thành viên đại đội hai, tiểu đoàn bốn, trung đoàn...
Trong một trang khác anh tìm thấy cái tên “Chung Đào”, địa chỉ liên lạc chung cư... đường Thắng Lợi khu Đông thành phố. Ngay dưới tên Chung Đào là tên của Đinh Lam.
Thật không ngờ thì ra Đinh Lam cũng là thanh niên trí thức. Hơn nữa bọn họ lại ở cùng đại đội.
***
Buổi sáng ngày hôm sau, Nhiếp Phong gặp Trình Hiểu Văn, đó là một phụ nữ khoảng bốn lăm, bốn sáu tuổi, mái tóc cắt ngắn, khuôn mặt hơi béo, mặc một chiếc váy hoa sẫm màu, dáng người khá nhanh nhẹn. Phòng làm việc của chị không được rộng, trên tường treo hai câu đối, tủ tài liệu sơn màu nhũ bạc dựng sát các vách tường, không gian điển hình cho phong cách công sở.
Nhiếp Phong vào ngay việc Chính: “Hôm qua tôi đã đi Tiêu Lâmsơn trang".
“Thế nào, cậu có thu hoạch được gì không?”. Trình Hiếu Văn nhiệt tình hỏi.
“Cũng có thể nói là được, song còn một số việc chưa được hiểu rõ”.
“Là việc gì?”
“Chị có quen Đinh Lam không ạ?”.
“Có, chung tôi cùng ở đại đội hai, tiểu đoàn bốn".
“Thế còn Chung Đào?”.
“Cũng không quen lắm, thời trung học anh ấy không học cùng cấp với chúng tôi".
Nhiếp Phong lại hỏi về trận hỏa hoạn năm đó, theo lời kể lại của Trình Hiểu Văn, người đầu tiên phát hiện và báo động cho mọi người là chú Hai Đống, lúc ấy ông là trưởng thôn. Nguyên nhân gây ra hỏa hoạn là do một thanh niên tri thức người Thượng Hải buổi tối xem trộm sách song là loại sách nào thì mỗi người nói một kiểu. Có người bảo anh ta xem quyển “Bài ca thanh xuân", có người thì nói là quyển "Jennie Gethardr”, người khác lại nói là "Trái tim thiếu nữ”. Song dù là quyển sách gì đi chăng nữa thì cũng đều là sách cấm. Điều ấy thì rất rõ ràng.
“Tôi đã xem qua một cuốn sách trong đó có nhắc đến sự việc cánh cửa được buộc chặt bằng dây thép, sao lại phải làm vậy?".
Người phụ nữ đã từng làm cán bộ tuyên truyền thanh niên tri thức nhớ lại lúc xảy ra vụ hỏa hoạn chỉ không có mặt ở Lam Tước Lĩnh, mà đang là người của đội tuyên truyền ở tiểu đoàn bốn, ngày hôm sau mới đến hiện trường và không hề nghe nói đến việc cánh cửa bị buộc bằng dây thép.
“Sự việc mà cậu kể chắc chỉ là lời đồn đại".
"Liệu có phải lúc ấy có người phong tỏa tin tức không?”.
“E là không phải”.
“Hiện có thể tìm được người có mặt tại hiện trường lúc đó không hả chị?”
“Việc này rất khó, vụ hỏa hoạn đã xảy ra gần ba mươi năm rồi còn gì”
Được biết những thanh niên trí thức Thành Đô ở Lam Giang sau khi về thành phố một số ít may mắn thi đỗ đại học, còn chủ yếu đi làm công nhân hay làm những công việc lặt vặt khác. Tám năm, thanh niên trí thức đã tước đi tuổi xuân quý báu của họ cũng như lấy đi biết bao cơ hội phát triển. Trở về thành phố đại đa số họ sống dưới đáy xã hội, cho đến hôm nay có thể lại gặp phải cảnh thất nghiệp. Những người chứng kiến tấm thảm kịch ở Lam Tước Lĩnh liệu còn được mấy người.
“Tôi rất hy vọng tìm được một người có mặt ở đó vào chính thời điểm ấy”.
Trình Hiểu Văn suy nghĩ một lát rồi đưa cho Nhiếp Phong một cái tên: “Chị ấy tên là Hà Tiểu Quỳnh, năm đó làm văn thư ở đại đội hai, tiểu đoàn bốn. Khi xảy ra vụ hỏa hoạn, chị ấy là người chứng kiến từ đầu đến cuối. Sau khi về thành phố làm công nhân A xưởng giày da Tiên Tiến nhưng nhiều năm nay mọi người không liên lạc được”.
Sau hôm gặp Trình Hiếu Văn, Nhiếp Phong đi Miên Dương để thực hiện bài phỏng vấn ông vua ti vi màu. Thời gian còn lại anh đều cất công tìm kiếm người có tên Hà Tiểu Quỳnh.
Anh đã gọi đến tổng đài 114, người nhân viên rất lịch sự trả lời “Xin lỗi, số điện thoại của xưởng giày da Tiên Tiến không được đăng ký”. Nhiếp Phong phải gọi tới tổng đài 106 mới có được một số điện thoại. Nhưng khi anh gọi theo số đó lúc thì liên lạc không thông, lúc thì chỉ nghe thấy tiếng chuông đổ dài mà không có người nhấc máy. Lần nào cũng đều như vậy cả.
Sau này Nhiếp Phong mới nghĩ ra cách tìm đến địa chỉ nơi đặt xưởng. Nó nằm ở số nhà... ngõ Bắc Tam, đường Nhị Hoàn. Nhiếp Phong lấy xe đạp lên đường, sau hai giờ lòng vòng, qua đầm sen, ngõ Bắc Tam, ngõ Bắc Tứ. Lẽ nào “số nhà… ngõ Bắc Tam” và công xưởng giày da Tiên Tiến đều mọc cánh mà bay?
Không chịu chấp nhận. Nhiếp Phong gọi điện thoại đến đồn công an khu Đầm Sen.
Người nhận điện thoại trả lời: “Chúng tôi chỉ quản lý khu vực nội thành, anh thử hỏi đồn công an thôn Tiên Gia xem sao"
Nhiếp Phong theo lời chỉ dẫn gọi đến đồn công an thôn Tiên Gia. Người trực ban có vẻ khá dứt khoát: “Số nhà... ngõ Bắc Tam hả? Không biết được đâu. ở đây chúng tôi có hơn hai trăm số nhà cơ".
Ngay cả “Thần thổ địa” nơi này cũng còn không biết, sợ rằng không thể tìm được nơi anh cần tìm.
Buổi tối, Nhiếp Phong lên mạng tra cứu trong mục các xí nghiệp bị đóng cửa của cục quản lý hành Chính công thương thàhh phố, cuối cùng anh cũng tìm ra cái tên “Xưởng giày da Tiên Tiến". Thì ra vài năm trước đây xưởng này đã bị đóng cửa, nơi đặt xưởng trước kia nay Chính là dãy ki ốt bán đồ sành sứ gia dụng.
Bỏ ra bao nhiêu công sức cuối cùng anh vẫn không tìm được Hà Tiểu Quỳnh.
Vài ngày nữa trôi qua, trong lúc Nhiếp Phong hoàn toàn mất hết hy vọng đành buông xuôi thì vô tình anh đọc được một bài báo nói về đôi vợ chồng công nhân thât nghiệp đã có nhiều cố gắng tự lực tự cường phát huy sở trường cắt giấy, tạo ra những sản phẩm thủ công tinh xảo thu hút được nhiều khách hàng trong và ngoài nước. Trong bài báo có đề cập đến chi tiết người chồng trước đây vốn là công nhân của xưởng giày da Tiên Tiến. Nhiếp Phong mừng rỡ ngay lập tức gọi điện đến tòa soạn của tờ báo đó, liên lạc với tác giả và hỏi được số điện thoại của gia đình người công nhân thất nghiệp kia.
Trời không phụ người có lòng. Hai ngày sau, căn cứ vào địa chỉ được cung cấp. Nhiếp Phong cuối cùng đã gặp được Hà Tiểu Quỳnh, hiện chị đang làm công việc thu phát của một chung cư nằm trên đường Hỗ Trợ.
“Cậu có phải là người tìm tôi hôm trước không?”.
“Vâng, là do chị Trình Hiếu Văn giới thiệu”.
Chị Hà đeo kính trắng, mặc áo hoa cổ tròn, giọng nói rất nhẹ nhâng. Sau khi nghỉ việc ở xưởng nhận công tác ở đây, cũng có thể nói là người bận rộn.
“Ồ, thì ra là ‘Vịt con’”.
“Vịt con” hình như là biệt hiệu của Trình Hiểu Văn, nghe nói mỗi thanh niên trí thức thời đó đều có một biệt hiệu riêng, có người còn bị quên luôn cả tên thật.
Phòng thu phát rộng chừng năm, sáu mét vuông, rất nhỏ. Cuộc trò chuyện giữa họ khá cới mở. Khi nhắc đến vụ hỏa hoạn kinh hoàng năm đó khuôn mặt chị Hà lộ rõ vẻ bi thương,
“Cảnh tượng lúc đó thật đáng sợ”.
Vẻ nguyên nhân gây hỏa hoạn và những gì xảy ra sau đó, những gì Hà Tiểu Quỳnh biết không khác so với thông tin mà Trình Hiểu Văn cung cấp. Hà Tiểu Quỳnh nói lúc đó ở trong căn nhà là thứ hai, tất cả có bảy nữ thanh niên tri thức. Mười nữ thanh niên trí thức bị chết cháy đều ở gian nhà là thứ ba, căn nhà đó rộng hơn một chút. Khi ngọn lửa hung bạo lan ra khắp nơi, không phá được cửa cuối cùng gây ra tấm thảm kịch lớn.
Nhiếp Phong dò hỏi: “Chị có nghe ai nói về việc cửa không mở được là do bị buộc chặt bằng dây thép không?".
“Không, hình như không ai nhắc đến dây thép...”. Theo hồi ức của chị Hà, tối đó chị đi ngủ từ sớm vì cả ngày đã lao động rất vất và, đầu vùi trong gối không còn biết gì nữa. Đến nửa đêm chợt thấy rất nóng, mở mắt ra đã thấy lửa xung quanh nhà, lan lên cả nóc nhà. Lửa gặp tranh tre, nứa, lá nên bốc lên rất nhanh. Bên ngoài tiếng gào thẻt, khóc lóc vang trời. Khung cảnh cực kỳ hỗn loạn, người công nhân già và mọi người vội vã cứu người và cứu tài sản. Trước tiên mọi người tìm cách cứu các bạn nữ, chẳng mấy ai nghĩ đến vật dụng khác. Chị Hà còn nhìn thấy có bạn cùng phòng tên là Hoàng đang xô đẩy hàng rào tre, một vài cô bạn khác chạy ra rồi lại chạy vào bởi vì trên thân thể họ lúc đó chỉ mặc có mỗi áo ngực và quần lót nên rất xấu hổ. Các bạn trai thì đều cới trần, khản giọng kêu gào các bạn nữ nhanh chạy ra ngoài. Lửa còn tiếp tục cháy đến nửa tiếng sau mới tắt, lúc đó ai cứu được ai cũng không thể nhớ rõ.
“Vì sao những người ở gian nhà thứ ba đều bị chết cháy?’’.
"Có lẽ là do dùng ghế chặn cửa, trong lúc hỏa hoạn đẩy cửa ra không được”.
“Sao lại phải chống cửa chặt vậy?".
“Như thế mới an toàn được”.
“Có phải các chị sợ nửa đêm có kẻ mò vào”. Nhiếp Phong nhìn thẳng vào mắt Hà Tiểu Quỳnh và hỏi “Rốt cuộc đó là kẻ nào?".
Hà Tiểu Quỳnh do dự một lát rồi nói: “Tất cả đều đã qua nhiều năm rồi, có những việc không nên nói ra...".
Chị dường như không muốn kể lại chuyện đó.
Về nguyên nhân gây ra vụ hỏa hoạn, những gì Hà Tiểu Quỳnh nói về cơ bản cũng giống như thông tin Trình Hiểu Văn cung cấp. Chỉ có cuốn sách mà người thanh niên Thượng Hải xem không phải là “Bài ca thanh xuân" cũng không phải là “Trái tim thiếu nữ” mà là “Jennie Gethardt’’, ngày hôm trước khi xảy ra sự việc Hà Tiểu Quỳnh còn bắt gặp cậu ta xem trộm quyển sách này.
Đúng lúc đó có hai hộ gia đình nộp tiền truyền hình cáp.
Cuộc trò chuyện dừng lại vài phút. Đợi hai người khách đi khỏi, Nhiếp Phong hỏi Hà Tiểu Quỳnh.
“Chị Hà có quen Đinh Lam không?”.
“Có, chúng tôi là bạn học cùng lớp, ngoại hiệu của cô ấy là ‘cô em ngốc’”.
Chị cười rồi nói tiếp “Cô ấy cũng ở trong gian nhà thứ tư, cũng là người cuối cùng chạy ra khỏi đám lửa”.
“Chị ấy có bị thương không?”.
“Không, có câu “Người ngốc, mệnh lớn”
“Thế còn Chung Đào ạ?”.
“Cũng là người của đại đội hai, Tiểu đoàn bốn. Tại sao cậu lại hỏi đến anh ấy?".
“Nghe nói Đinh Lam là bạn gái của Chung Đào". Nhiếp Phong vờ hỏi.
“Không phải, bạn gái của Chung Đào là Hạ Vũ Hồng, là một mỹ nhân của đại đội tôi, cũng có thể nói là người đẹp nhất và tài năng nhất trong đại đội. Tình cảm giữa hai người hết sức sâu nặng song không hiểu vì sao sau này hai người ấy lại chia tay, tất cả mọi người đều tiếc cho một tình yêu đẹp”.
Từ Hà Tiểu Quỳnh, Nhiếp Phong biết được khá nhiều thông tin về Chung Đào, bố anh mất sớm, mẹ là giáo viên tiểu học, bà ở vậy vất và nuôi dưỡng hai anh em Chung Đào lớn lên. Khi Chung Đào vào trung học, mẹ anh vì lao lực cũng mất đi. Anh em họ trở thành cô nhi, một người dì nhà cửa rộng rãi nhận họ về nuôi. Hạ Vũ Hồng và Chung Đào học cùng lớp với nhau. Hai người là học sinh của trường trung học Miên Thành, Thành Đô. Lớp chín niên khóa 72, em gái anh, Chung Hạnh học cùng lớp với Đinh Lam dưới họ hai lớp. Thanh niên trí thức Thành Đô đi Vân Nam hồi ấy đa số là người tuổi rắn, mười bảy tuổi, cũng có một số tuổi ngựa mười sáu tuổi, ít tuổi nhất là Chung Hạnh, cô tuổi dê. Chung Đào hết mực yêu thương em gái mình. Trong trường Chung Đào là người khá nổi tiếng, có chút bướng bỉnh không sợ trời cũng chẳng sợ đất, bất cứ ai trêu chọc Chung Hạnh anh đều không bỏ qua.
“Chung Đào có đặc điểm gì đặc biệt không chị?”. Nhiếp Phong hỏi.
“Da anh ấy rất đen nên mọi người thường gọi là Hắc Oa”.
“Chị nói ngoại hiệu của anh ấy là Hắc Oa?!”. Nhiếp Phong giật mình.
“Đúng vậy”. Chị Hà gật đầu.
Vậy ra người mang trong mình “huyếr hải thâm thù" chính là Chung Đào.
“Trong số mười nữ thanh niên trí thức chết cháy hôm đó người ít tuổi nhất là Chung Hạnh, cô ấy mới chỉ có mười lăm tuổi”. Chị Hà cảm thán.
“Thì ra là vậy”. Nhiếp Phong cảm thấy trong lòng dấy lên một nỗi xót xa.
Hà Tiểu Quỳnh còn cho biết, Đinh Lam luôn che giấu tình yêu thầm kín của mình dành cho Chung Đào. Anh trai của Đinh Lam là Đinh Cường học chung với Chung Đào từ thời tiểu học, họ là những người bạn vô cùng thân thiết. Một ngày trước khi vụ hỏa hoạn khủng khiếp đó xảy ra, Cường Tử đột nhiên biến mất không để lại dấu vết gì.
“Đại đội trưởng đại đội hai, Tiểu đoàn bốn tên là gì hả chị?”.
“Hồ Tử Hạo”.
***
Buổi tối Nhiếp Phong gửi một bức thư điện tử cho Tiểu Xuyên, thông báo về những phát hiện của anh:
Tiểu Xuyên thân mến!
Hai vụ án "6.25" và "7.6"có bước tiến triển như nào rồi?Báo cho mình biết với nhé.
Sau khi về Tứ Xuyên mình đã có một số điều tra, hiện nay đã phát hiện ra một số điều: Hai mươi tám năm về trước tại đại đội hai, tiểu đoàn bốn thuộc binh đoàn xây dựng Vân Nam đóng quân trên địa bàn Lam Giang xảy ra một vụ hỏa hoạn lớn. Mười nữ thanh niên trí thức Thành Đô bị lửa thiêu chết, em gái Chung Đào là Chung Hạnh là một trong số những người tử nạn. Điều ấy có thể giải thích vì sao khi anh ta nhìn thấy những đám Mây đỏ rực luân chuyển lại thất thần đến vậy. Có lẽ chữ “Hỏa " trên hai tờ giấy khổ A4 có liên quan đến việc này… Ngoài ra, Đinh Lam và Chung Đào thời kỳ đó ở cùng một đại đội thanh niên trí thức. Anh trai chị ta là Đinh Cường (biệt hiệu Cường Tử) và Chung Đào là những người bạn sống chết có nhau. Đinh Lam luôn chôn giấu mối tình đơn phương với Chung Đào, việc Đinh Lam làm chứng cho chứng cớ ngoại phạm của Chung Đào cũng có thể là điều dễ hiểu. Vì vậy hai mươi lăm phút bọn họ không có mặt trong bữa tiệc rất đáng khả nghi. Giải mã một trong những bí ẩn đó là điểm mấu chốt để phá giải toàn bộ vụ án này.
Tất cả những điều này, xin hãy chuyển đến cục trưởng Ngũ và đội trưởng Thôi, dãy số bí ẩn cũng đã được làm rõ, đó là thời điểm xảy ra vụ hỏa hoạn kinh hoàng: ngày 24 tháng 6 năm 1972.
Nhưng có một việc mình vẫn chưa thể làm rõ. Hồ Quốc Hào có liên quan như thế nào tới vụ hỏa hoạn? Hồng Diệc Minh đóng vai trò gì trong toàn bộ câu chuyện? Nếu như có cơ hội, có lẽ mình sẽ tự đến Vân Nam một chuyển.
Bắt tay thắng lợi! Cho mình gửi lời hỏi thăm đến cảnh sát Đào Lợi nhé.
Thành Đô, ngày 5 tháng 7
Nhiếp Phong
3
Hai ngày trước khi Nhiếp Phong gửi email cho Tiểu Xuyên, nhân vật đáng nghi thứ năm xuất hiện.
Thẩm mỹ viện Mỹ Phượng. Buổi sáng ánh nắng đã chiếu sáng khắp nơi.
Chu Mỹ Phượng bước vào phòng giám đốc, cô ngồi xuống chiếc ghế da, tuy đã thừa kế gia sản khổng lồ của Hồ Quốc Hào, đảm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT Địa Hào song hàng ngày Chu Mỹ Phượng vẫn đến thẩm mỹ viện để làm việc, cô thích không khí nơi này, nơi đây còn có rất nhiều chị em gắn bó lâu năm.
A Lan, nữ nhân viên mặc bộ đồng phục màu phấn hồng mang lên cho cô một tách cà phê nóng.
“Chào giám đốc ạ!”.
“Cám ơn cô”.
Chu Mỹ Phượng gật đầu, tiện tay nhặt một tờ báo số ra trong ngày để trên bàn lên xem. Lật qua vài trang, đều là thông tin về chính trị, có vài trang quảng cáo mỹ phẩm, bên dưới tờ báo là một phong bì thư dán kín.
Chu Mỹ Phượng hờ hững nhặt chiếc phong bì thư lên. Bất chợt cô có cảm giác như bị điện giật. Chiếc phong bì màu trắng chỉ to hơn miếng đậu phụ. Phía trên có in địa chỉ thẩm mỹ viện và dòng chữ “Trao tận tay bà Chu Mỹ Phượng” không hiểu có chuyện gì kỳ quặc ở đây, trên đó không hề có thông tin về người gửi.
Chu Mỹ Phượng xé phong thư ra, bèn trong là tập ảnh, khi rút chúng ra khỏi phong bì cô bất giác kinh hãi.
Những bức ảnh đều chụp cận cảnh khuôn mặt vui vẻ của cô và Châu Chính Hưng, có bức chụp hai người tay trong tay trên bãi biển Nam Áo, có bức hai người ăn tối tại nhà hàng Tiên Điệp, lại có bức chụp cô đang trao cho Châu Chính Hưng nụ hôn nồng thắm trong một căn phòng của khách sạn Hoàng Đế. Nhưng trong số đó những bức hình nhạy cảm nhất là những bức chụp rõ cảnh hai người đang làm tình trên chiếc giường trong khách sạn, cảnh mây mưa được chụp rất chi tiết...
Chu Mỹ Phượng cảm thấy có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng trong phút chốc cô hoang mang cực độ, nỗi sợ hãi vô hình trùm lên khắp thân thể.
Kẻ nào chụp trộm những bức ảnh riêng tư này? Lẽ nào ông trời có mắt, luôn giám sát cô.
Việc cô cùng Châu Chính Hưng tắm biển ở Nam Áo, dùng bữa tối tại nhà hàng Tiên Điệp đều là những việc xảy ra sau khi Hồ Quốc Hào vong mạng và diễn ra trước mắt bàn dân thiên hạ có người chụp trộm cũng không gì lấy làm lạ. Song những lần hai người vui vẻ trong khách sạn Hoàng Đế đều rất kín đáo. Làm sao lại có kẻ chụp ảnh giường chiếu này nhỉ? Mỗi lần đến đó cô đều kiểm tra kỹ từng ngóc ngách trong phòng, cửa đã khóa kỹ, rèm cửa đều được buông xuống, đèn cũng được khống chế ở mức nhỏ nhất. Những bức ảnh đó có vẻ như được chụp ở vị trí vuông góc. Cô đột nhiên nghĩ tới phía trần nhà chiếu thẳng xuống chiếc giường ốp vòm gỗ tự nhiên rất dày, rất có thể ở giữa đã được gắn một chiếc camera thu nhỏ. Thật đáng sợ! Nhưng là kẻ nào làm chuyện này cơ chứ?
Chu Mỹ Phượng run rẩy giật tung chiếc phong bì, trong đó rơi ra một mẩu giấy nhỏ, mở tờ giấy ra trên đó là những dãy chữ được đánh máy.
"Tôi đang thiếu tiền, nội nhật trong vòng ba ngày chuyển hai mươi vạn tệ (một số tiền chỉ bằng cái móng tay của chị) qua thẻ ATM của ngân hàng "Chiêu Thương'' vào tài khoản mang tên: Mã Nhân số thẻ 00200…1238
Nếu như không đúng thời gian hoặc báo cảnh sát, hậu quả tự gánh chịu. Tôi tin chị không hề muốn những bức ảnh này được đưa cho giới truyền thông”
Rõ ràng đây là những lời đe dọa tống tiền. “Mã Nhân” là kẻ nào nhỉ? Làm sao lại có được những bức ảnh này? Mỹ Phượng ý thức được tính chất nghiêm trọng của sự việc. Phản ứng đầu tiên của cô là gọi điện thoại cho Châu Chính Hưng.
Nhưng vừa mới bấm số, không đợi anh nhấc điện thoại cô quyết định dập máy. Không thể. Ít nhất là tạm thời không cho Châu Chính Hưng biết. Cô không muốn anh rơi vào vòng xoáy nguy hiểm này.
Vụ tống tiền này không thể báo cho cảnh sát, cũng không thể để thông tin lọt ra ngoài. Kẻ tống tiền có lẽ cũng là có sự chuẩn bị, kể cả số tiền đưa ra cũng có sự tính toán nhất định, hai mươi vạn tệ đối với số tài sản Chu Mỹ Phượng được thừa kế quả thật chẳng thấm vào đâu.
Suy đi tính lại, Chu Mỹ Phượng đưa ra quyết định cuối cùng là chấp nhận. Cổ nhân đã có câu “Lỗ chút tiền, thoát tai họa”. Buổi sáng ngày thứ ba theo hạn định cô lấy số tiền mà cảnh sát tìm thấy trong két sắt Hồ Quốc Hào, rút ra hai mươi vạn tệ sau đó lài xe đến chi nhánh ngân hàng Chiêu Thương, nằm trên đường Địa Vương lấy một cái tên rồi chuyển khoản theo đúng yêu cầu của kẻ tống tiền.
Trước khi đến bàn làm thủ tục cô hỏi người nhân viên ngân hàng: "Cô ơi, tra hộ tôi cái tên Mã Nhân có số thẻ này địa chỉ ở đâu?”.
“Chị chuyển khoản cho người ấy mà lại không biết à?”
Người nhân viên nhìn Chu Mỹ Phượng với ánh mắt khó hiểu: “Không phải. Đây là tôi làm giúp một người bạn”.
Cô nhân viên gõ lên bàn phím: “Số thẻ này ở Quảng Châu, ngoài ra không có thông tin gì khác”.
Khuôn mặt Mỹ Phượng lộ rõ vẻ ưu tư. Cô nhân viên tiếp tục giải thích: “Thẻ này được lập vào tháng ba, hiện nay lập thẻ không cần phải dùng tên thật, địa chỉ thật”.
"A, tôi hiểu rồi”.
Trước khi lập một số tài khoản, người lập không cần phải có giấy chứng minh thư cho nên cái tên "Mã Nhân” là nam hay nữ rất khó để xác định và đó cũng có thể là một cái tên giả. Khi rời khỏi ngân hàng, trong lòng Chu Mỹ Phượng vẫn có chút lo lắng.
Cô hoàn toàn không hề biết rằng vào cái ngày cô nhận được chiếc phong bì tống tiền thì cũng có hai người khác nhận được những chiếc phong bì giống như vậy, một là Châu Chính Hưng và người kia là Chung Đào.
Nội dung của mẩu giấy đó như sau:
"Tôi đang thiếu tiền. Trong vòng nội nhật ba ngày chuyển hai mươi vạn tệ (một số tiền rất nhỏ đối với ông) qua thẻ ATM của ngân hàng "Chiêu Thương" vào tài khoản mang tên: Mã Nhân số thẻ 00200…1238.
Nếu như không đúng thời gian hoặc báo cảnh sát, hậu quả tự gánh chịu.
Tôi tin tổng giám đốc Châu không muốn những bức ảnh này được chuyển cho người vợ đang bệnh tật của ông".
Vợ Châu Chính Hưng là một người phụ nữ hết sức hiền thục, trước đây chị là cô giáo mầm non. Vì để tăng thêm thu nhập, ủng hộ cho công ty của chồng, ngoài thời gian làm việc ở nhà trẻ, chị vất và ngược xuôi, tranh thủ làm thêm. Tất cả số tiền kiếm được đều giao hết cho chồng. Những thành công ngày hôm nay của Châu Chính Hưng đều có phần công sức không nhỏ của người vợ. Sau này chị không may bị tai nạn xe hơi phải ngồi xe lăn. Song Châu Chính Hưng vẫn đối xử với vợ rất tốt, chăm sóc rất chu đáo. Nếu như vợ anh biết được mối quan hệ giữa anh và Chu Mỹ Phượng thì không biết sự việc sẽ đi đến đâu, hậu quả chắc sẽ không thể tưởng tượng được. Châu Chính Hưng không nhẫn tâm làm tổn thương người vợ hiền của mình. Đó là điều khiến anh lo lắng nhất.
Kẻ tống tiền dường như hiểu rất rõ điểm yếu chí mạng này của anh.
Do dự một hồi, cân nhắc giữa cái được và mất. Châu Chính Hưng quyết định rút từ tài khoản cá nhân hai mươi vạn tệ để chuyển đến địa chỉ ghi trong bức thư.
Chung Đào cũng nhận được một bức thư, gồm sáu bức ảnh trong đó có ba bức chụp lễ tang Hồ Quốc Hào, một bức là chụp cảnh vòng hoa kỳ dị phóng to, hàng chữ những câu đối nhìn rất rõ. Hai bức chụp có hình ảnh của Đinh Lam, một bức toàn thân, một bức bán thân. Khuôn mặt cô lộ rõ vẻ khác lạ. Hôm đó cô mặc chiếc áo cộc tay xanh thẫm, vị trí đứng hình như ở cửa ngách phía đằng sau quan tài, phía trước là vòng hoa và hình ảnh những người khác nữa. Ba bức còn lại là ảnh chụp trộm. Bối cảnh là quán cà phê Mi Lan nơi Chung Đào và Đinh Lam gặp gỡ, không gian bó hẹp ánh sáng đủ nên bức ảnh nhìn rất rõ nét. Có vẻ người chụp trộm rất chuyên nghiệp.
Nội dung của mẩu giấy tống tiền khá giống với mẩu giấy mà Chu Mỹ Phượng và Châu Chính Hưng nhận được.
Tôi đang thiếu tiền, nội nhật trong vòng ba ngày chuyển hai mươi vạn tệ (cũng giống như ông bỏ ra một chút máu) qua thẻ ATM của ngân hàng “Chiêu Thương" vào tài khoản mang tên Mã Nhân số thẻ 00200…1238.
Nếu như quá thời hạn hoặc báo cảnh sát, hãy nghĩ đến hậu quả. Tôi tin, tiên sinh sẽ không để "hồng nhan tri kỷ" Đinh Lam phải dính dáng đến những bí ẩn liên quan tới cái chết của ông Hồ Quốc Hào.
Phản ứng của Chung Đào có lẽ nằm ngoài dự kiến của kẻ tống tiền. Ba ngày sau khi nhận được phong thư "Xin tiền” anh vẫn hoàn toàn không có bất cứ động thái cụ thể gì.
Sang buổi sáng ngày thứ tư, Chung Đào nhận được một cú điện thoại nặc danh, người gọi là phụ nữ.
"Có phải tiên sinh Chung Đào đó không ạ?”.
Âm thanh giọng nói nghèn nghẹn có thể là người nói cố tình bịt mũi hay bị cảm cúm.
‘'Vâng, tôi đây xin hỏi có chuyện gì?”.
“Hạn định ba ngày đã qua sao vẫn chưa thấy Chung tiên sinh chuyển khoản”.
"ồ! Thì ra chị là người có tên Mã Nhân đó hả?”.
"Chung tiên sinh là người hiểu chuyện, ông chắc không hề muốn những bức ảnh này rơi vào tay công an đấy chứ!”.
“Chị muốn tống tiền tôi sao?”. Chung Đào bình tĩnh đối đáp.
“Tôi cần gấp số tiền đó, mong tiên sinh giúp cho”.
“Thật đáng tiếc, tôi không thể giúp chị được”. Chung Đào có vẻ rất dứt khoát.
“Chung tiên sinh không nghĩ tới hậu quả à?”.
“Hậu quả gì cơ? Lễ tang ông Hồ Quốc Hào là công khai, ai cũng có thể đến viếng. Những bức ảnh đó thì nói lên điều gì?”.
“Không đơn giản thế đâu! Ba bức ảnh đó ít ra cũng cho thấy chị Đinh rất có hứng thú với cái chết của ông Hồ Quốc Hào”.
“Đó chỉ là suy đoán của chị".
“Không chỉ là suy đoán, tôi còn biết Chung tiên sinh còn có liên quan đến cái chết của ông Hồ Quốc Hào”.
“Thật hả. Rốt cuộc chị là ai?". Chung Đào có vẻ cảnh giác.
“Tôi là ai không quan trọng, cốt yếu là số tiền hai mươi vạn tệ phải được chuyển ngay".
Có vẻ như tất cả những cố gắng giải thích của kẻ tống tiền không mang lại kết quả.
“Điều ấy thì lại khiến chị thất vọng rồi!". Chung Đào lạnh lùng trả lời.
“Tôi khuyên cô Mã (Mã Tuyết Anh) nên dừng tay lại, những kẻ tống tiền từ trước đến nay đều chẳng mấy có kết cục tốt đẹp”.
Phía đầu dây bên kia đột ngột úp máy, chỉ còn lại những tiếng “tút tút” kéo dài.
4
Cục tống an khu Y, đội trưởng Thôi đang ở trong phòng làm việc.
Tiểu Xuyên bước vào phòng lập tức báo cáo: “Anh Thôi, bọn em vừa phát hiện Chu Mỹ Phượng có những hành động khác lạ".
“Đừng có úp úp mở mở nữa, hành động khác lạ gì nói ngay đi”.
“Cô ta vừa gửi hai mươi vạn tệ qua tài khoản".
‘‘Việc ấy thì có gì là lạ".
“Bọn em đã nhờ bên ngân hàng kiểm tra giúp thứ nhất tài khoản đó không phải của Chu Mỹ Phượng. Thứ hai cùng thời gian đó cũng có một khoản tiền hai mươi vạn tệ được gửi vào tài khoản này người gửi là Châu Chính Hưng”.
“A, thật là khéo!”.
Đội trưởng Thôi ngạc nhiên truy hỏi tiếp: "Chủ nhân của tài khoản đó là ai?”.
“Một người mang tên Mã Nhân, nhưng không có thông tin cụ thể”
“Như vậy có thể nói đó là một tài khoản nặc danh”.
“Dạ, đúng ạ!”. Tiểu Xuyên đáp "Anh Thôi, có cần đóng băng tài khoản này không?”.
“Chưa phải lúc”.
“Ở đây rõ ràng là có vấn đề”.
“Thế này nhé, giám sát chặt chẽ số tài khoản đó”. Đội trưởng Thôi chỉ thị.
“Rõ!”.
***
Vào buổi trưa hai ngày sau, một người phụ nữ gọi điện đến phòng giám đốc thẩm mỹ viện Mỹ Phượng.
Trên bàn làm việc của Chu Mỹ Phượng đặt một chiếc điện thoại mang phong cách châu Âu cổ điển, màu hồng, hình dáng rất đẹp, lúc đó Chu Mỹ Phượng vừa dùng xong bữa trưa ngay tại văn phòng.
"A lô, ai đấy ạ?”. Chu Mỹ Phượng nhấc ống nghe lên.
“Có phải chủ tịch Chu không ạ?”.
Đầu dây bên kia là giọng nói của một người phụ nữ, thanh âm rất lạ có vẻ đang cố tình đổi giọng nên rất khó đoán tuổi.
“Vâng tôi đây, xin hỏi ai đấy ạ?”
“Tôi là Mã Nhân, bà biết cái tên này đấy.”
Chu Mỹ Phượng như bị điện giật, khuôn mặt trở nên trắng bệch.
“Rất cám ơn bà chủ tịch, hai mươi vạn lệ tôi đã nhận được rồi”.
Đối phương có vẻ khá lịch sự.
“Cô còn muốn cái gì nữa?”.
Chu Mỹ Phượng cảm thấy cực kỳ căng thẳng.
“Chủ tịch Chu là người thông minh”. Đối phương nhất nhất một hai đều gọi chủ tịch thái độ nhã nhặn “Mong bà gửi tiếp cho hai mươi vạn nữa, tôi xin hứa mọi việc sẽ kết thúc ở đây.”
“Cô còn muốn hai mươi vạn nữa sao...?”. Chu Mỹ Phượng thấy đắng nghét trong cổ, không thốt lên lời.
“Chủ tịch Chu đã nghe rõ cả rồi đấy!”. Giọng nói của đối phương khá cương quyết.
“Làm sao tôi biết tất cả sẽ kết thúc?”.
“Trong ba ngày tới hai mươi vạn được chuyển đi, bà sẽ nhận được toàn bộ phim âm bản”.
"Tôi là ai không quan trọng, quan trọng là hình ảnh và danh tiếng của chủ tịch Chu trước mắt công chúng”.
“Ai có thể tin là cô sẽ không còn tiếp tục tống tiền?”.
“Tôi chỉ là phụ nữ chân yếu tay mềm, sẽ không nuốt lời đâu. Song bà nên nhớ chỉ trong hạn định ba ngày thôi nhé”.
Nói xong cô ta ngắt máy ngay lập tức.
Đặt điện thoại xuống, Chu Mỹ Phượng như vừa tỉnh giấc sau cơn ác mộng, cô thẫn thờ buông mình xuống ghế, càng nghĩ càng thấy sợ. Cuối cùng cô quyết định lấy máy điện thoại gọi vào số đi động của Châu Chính Hưng.
“Anh Châu ạ, là em, em có chuyện gấp muốn gặp anh ngay”.
“Ồ! Anh đang trên đường đến ủy ban, có chuyện gì mà gấp vậy?”.
“Gặp nhau rồi hãy nói, hẹn anh ở quán trà Đường Vận”.
"Gặp nhau bên ngoài không tiện”. Châu Chính Hưng đưa tay lên nhìn đồng hồ, “Hai tiếng rưỡi nữa chúng ta gặp nhau ở công ty".
“Ở Địa Hào ạ?”.
“ừ”.
“Thế cũng được".
Châu Chính Hưng tắt máy, bảo người lái xe; “Cậu cho tôi quay về công ty”.
Từ lúc bị cảnh sát theo dõi, Châu Chính Hưng và Chu Mỹ Phượng trở nên hết sức cảnh giác. Anh ta biết rằng bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng bị bám đuổi. Chỉ có cách hẹn gặp Chu Mỹ Phượng ở trụ sở Địa Hào là an toàn nhất. Thân phận hợp pháp của hai người là chiếc ô che lấp mọi lời thị phi. Chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc bàn công việc, rất quang minh chính đại, chẳng ai có thể dị nghị.
Hai tiếng mười phút sau Châu Chính Hưng về đến tòa nhà Địa Hào.
Hai mươi phút sau Chu Mỹ Phượng lái chiếc BWM màu hồng cũng đến nơi.
Phòng làm việc chủ tịch HĐQT nằm trên tầng thứ hai mươi tư, thư ký riêng của Châu Chính Hưng, A Mai vừa gặp Chu Mỹ Phượng đã đon đả chào.
“Chị Chu, chị tới ạ!”.
“Pha giúp tôi tách cà phê”.
“Vâng, tổng giám đốc Châu vừa nói công ty có chút việc muốn xin ý kiến chị”.
“À, có bảo ông ấy đến phòng làm việc của tôi".
“Vâng”.
Sau vài phút, Châu Chính Hưng khoan thai đi dọc hành lang rồi bước vào hẳn phòng làm việc của chủ tịch HĐQT. Sau khi đóng chặt cửa hai người bàn tính kế hoạch đối phó.
Chu Mỹ Phượng lấy từ trong chiếc túi xách nhỏ lấy ra một mẩu giấy đưa cho Châu Chính Hưng.
“Đây là bức thư tống tiền mà em nhận được năm hôm trước”.
Điều cô không ngờ tới là Châu Chính Hưng cũng đưa ra tờ giấy có nội dung tương tự.
“Mẩu giấy tống tiền này anh cũng nhận được, trong đó còn một tập ảnh chụp những lúc chúng ta ân ái bên nhau”.
“Thật sao?”. Chu Mỹ Phượng thốt lên kinh ngạc.
Hai người đưa mắt nhìn nhau.
Châu Chính Hưng hỏi cô: “Em đã chuyển tiền chưa?”.
Chu Mỹ Phượng gật đầu.
"Em vốn nghĩ là bỏ chút tiền thoát tai họa... nào ngờ, cái kẻ lời Mã Nhân đó trưa nay lại gọi điện thoại tới thẩm mỹ viện, ả muốn hai mươi vạn tệ nữa".
"Nói như vậy bốn mươi vạn tệ vẫn chưa làm chị hài lòng". Chu Mỹ Phượng biết Châu Chính Hưng cũng đã chuyển tiền, thế nhưng, nỗi bất an vẫn còn hiện hữu.
Châu Chính Hưng bực tức buột miệng chửi thề: “Mẹ kiếp, ả cũng tham lam quá”.
“Hay là mình cứ cho ả thêm hai mươi vạn nữa, ả nói trong điện thoại là sẽ giao hết phim âm bản...”.
“Không được”, Châu Chính Hưng lắc đầu, “Những bức ảnh đó có thể lưu lại, cho dù ai đó giao cho chúng ta phim âm bản cũng không thể bảo đảm không copy. Nhận được hai mươi vạn ả còn muốn bốn mươi vạn, thậm chí là sáu mươi vạn...”.
Chu Mỹ Phượng cảm thấy vô cùng sợ hãi.
“Vậy chúng ta phải làm thế nào đây?”.
Châu Chính Hưng khẽ nói nhỏ: “Biện pháp tối ưu nhất là làm cho ả ta vĩnh viễn ngậm miệng lại...”.
Chu Mỹ Phượng ngăn cản lại, giọng đầy vẻ lo lắng cho Châu Chính Hưng: “Anh không thể làm chuyện nguy hiểm đó được”.
Châu Chính Hưng vỗ về cô: “Đương nhiên đó là biện pháp vạn bất đắc dĩ. Cô ả chưa hẳn là vì tiền đâu, trước tiên cứ đợi hai ngày nữa xem ả có động tĩnh gì không”.
“Nếu như chúng ta báo chuyện này cho cảnh sát”.
"Thân phận ả ta mù mờ, báo cảnh sát thế nào đây”.
“Nghe giọng nói có vẻ là ngoài ba mươi tuổi”.
Như vậy là...
Châu Chính Hưng suy nghĩ một lát rồi khẽ nhắc Chu Mỹ Phượng: "Điện thoại ở thẩm mỹ viện em đã sử dụng dịch vụ báo số chưa?".
“A em biết rồi, em sẽ làm ngay”. Chu Mỹ Phượng hiểu được ý của Châu Chính Hưng. Cuối cùng thì con hồ ly cũng phải lòi đuôi ra.
Kẻ tống tiền có hai loại người. Một là thuộc loại tham lam vô độ, loại người này đại đa số văn hóa rất thấp, tính cách cục cằn, thiếu hiểu biết, nên ngay lần đầu tiên có được tiền thì sẽ không bao giờ chịu buông tha nạn nhân, hết lần này đến lần khác vòi vĩnh giống như việc xẻo từng miếng thịt con mồi vậy. Việc đó khiến người bị hại vừa căm giận vừa sợ hãi. Loại thứ hai là loại thuộc dạng khôn ngoan biết độ dừng. Những kẻ này thường có nền tảng giáo dục tốt, trí tuệ tương đối mẫn tiệp, gã (hoặc ả) tính toán kỹ số tiền định lấy một là để nạn nhân đủ sức chi trả hai là đạt được mục đích của mình, một khi kế hoạch tống tiền thành công có tiền trong tay sẽ ngay lập tức cao chạy xa bay hoặc xóa bỏ hoàn toàn mọi dấu tích.
Kẻ tống tiền Chu Mỹ Phượng và Châu Chính Hưng thuộc loại thứ hai. Mục đích của ả là có đủ số tiền sáu mươi vạn, hơn nữa ả có lý do để thực hiện tốt việc ấy. Kế hoạch tổng tiền phân ra làm ba phần (mỗi người sẽ phải đưa cho ả hai mươi vạn tệ) hai phần trong kế hoạch đều dễ dàng thực hiện, nhưng việc tống tiền Chung Đào không thuận lợi nên ả phải tìm cách bổ sung thêm, do đó buộc phải sử dụng hạ sách là gọi điện thoại đến chỗ Chu Mỹ Phượng để vòi thêm tiền.
Đáng tiếc là Châu Chính Hưng và Chu Mỹ Phượng không hiểu rõ điều đó. Nếu không đã không xảy ra những bi kịch sau này. Ân oán, họa phúc trên thế gian đều song hành với nhau. Liên tiếp trong vòng hai ngày Chu Mỹ Phượng phải trái qua giờ phút căng thăng và hồi hộp. Cô đã sử dụng dịch vụ hiển thị số điện thoại gọi đến. Ngày nào cô cũng đến thẩm mỹ viện từ sáng sớm cho đến tận năm rưỡi chiều mới rời khỏi đó.
Nhưng chưa hề có sự bất thường nào xảy ra.
Đến buổi trưa ngày thứ ba, cuối cùng ả tống tiền cũng gọi điện đến.
“Bà là bà Chu, chủ tịch HĐQT phải không ạ?”.
Thanh âm vẫn giống như những lần trước, có chút bực bội.
“Vâng, cô là Mã Nhân?".
“Đúng, tôi xin nhắc chủ tịch Chu, hôm nay là hạn cuối cùng tiền vẫn chưa được chuyển tới tài khoản của tôi”.
Chu Mỹ Phượng liếc mắt nhìn vào số điện thoại hiển thị trên máy để bàn, cô cực kỳ kinh hãi không dám tin vào mắt mình.
“Tôi, tôi biết rồi...". Chu Mỹ Phượng cố che giấu nỗi hoảng sợ của mình.
“Chủ tịch Chu chắc không muốn quỵt nợ đâu nhỉ!”.
Ả nói kháy.
“Không phải, không phải, xuất một luợng tiền mặt lớn như vậy có chút vấn đề.
Chu Mỹ Phượng mượn cớ kéo dài thời gian, cô một lần nữa nhìn vào số máy hiển thị, số điện thoại đó chắc chắn là đúng không còn nghi ngờ gì nữa.
Kẻ tống tiền đúng là mặt dày mày dạn.
“Bà giàu có như vậy, lại thiếu một chút tiền mọn đó ư?”.
Chu Mỹ Phượng mềm mỏng, thái độ hết sức nhún nhường.
"Đó đều là thật, xin cô cho tôi thêm hai ngày nữa được không?”.
“Bà chủ tịch không phải muốn chơi tôi đấy chứ?’’
“Tôi đâu dám! Tôi sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của cô, nhất định tiền sẽ được chuyển đến.” Chu Mỹ Phượng đáp bằng giọng nói nghe rất thật.
“Thôi được. Tôi sẽ tin cô một lần nữa”.
Đối phương có vẻ do dự một lát rồi đồng ý, nhưng vẫn đưa ra tối hậu thư. “Nên nhớ trước mười hai giờ trưa hôm sau, nếu như tiền vẫn chưa được chuyển, tất cả thông tin cá nhân của bà sẽ bị phơi bày trước công chúng”.
Nói xong ả ta dập máy.
Chu Mỹ Phượng toàn thân bủn rủn, toát hết mồ hôi. Cô cố gắng chấn tĩnh một lát lập tức gọi vào số máy bàn phòng làm việc Châu Chính Hưng.
“Anh Châu, em đây, anh kiểm tra xem vừa rồi ai ở trong Văn phòng chủ tịch HĐQT”.
"Sao cơ?”. Châu Chấn Hưng không hiểu gì
"Mã Nhân vừa gọi điện cho em, số điện thoại cô ra sử dụng là số điện thoại của văn phòng Địa Hào”.
“Thật hả?”
Châu Chính Hưng cũng kinh ngạc.
Anh từ từ hé cửa. Đây là giờ nghỉ trưa nên ngoài hành lang khá vắng lặng, anh bước ra ngoài chậm rãi vừa đi vừa quan sát. Cánh cửa phòng chủ tịch HĐQT khép hờ, phòng thư ký bên ngoài không có người.
Châu Chính Hưng dường như dự cảm được điều gì đó, anh ta mở rộng hai cánh cửa sải chân bước vào.
Căn phòng rộng hai trăm mét vuông hoàn toàn vắng vẻ không có lấy bóng người. Ánh nắng rực rỡ qua cửa sổ hắt những tia sáng chói chang lên trên chiếc bàn làm việc. Châu Chính Hưng chăm chú nhìn chiếc điện thoại màu đen để trên đó.
Chỉ có hai người trong công ty mới có thể mở được cửa căn phòng này. Đó là Chu Mỹ Phượng và Mã Tuyết Anh.
Châu Chính Hưng đi ra, đóng cửa lại, đột nhiên đằng sau anh có tiếng người gọi.
“Tổng giám đốc, ông tìm chị Chu ạ?”.
Anh quay người nhìn lại thì ra là cô Mai, cô thư ký riêng của anh.
“Hai ngày hôm nay chị ấy không đến đây rồi ạ”.
“Vừa rồi cô có thấy ai vào trong phòng này không?”
“Là cô Tuyết Anh, cô ấy nói chị Chu bảo vào sắp xếp tài liệu”
“Ừm".
Châu Chính Hưng đã hiểu ra tất cả.
“Cô ấy đâu rồi”.
“Dạ, vừa mới xuống tầng ăn cơm trưa”.
“Tôi biết rồi”. Châu Chính Hưng dặn dò “Đừng kể chuyện này với ai đấy nhé”.
“Vâng ạ!”.
5
Tiểu Xuyên phấn chấn báo cáo với đội trưởng Thôi: “Anh Thôi, đã phát hiện ra Mã Nhân đến ngân hàng rút tiền”.
“Là ngân hàng nào?”.
“Chi nhánh ngân hàng Chiêu Bối Lĩnh”.
“Rút ra bao nhiêu tiền”.
“Bốn vạn. Lúc đầu cô ta định rút hai mươi vạn nhưng nhân viên ngân hàng không đồng ý nói số tiền vượt quá năm vạn cần phải thông báo trước hai ngày”.
“Cô gái đó hình dáng như thế nào?".
“Bọn em đã đến đấy, được biết đó là một cô gái đeo kính đen, khá trẻ. Kiểm tra băng hình camera lưu trữ, cô gái này rất giống một người trong tập đoàn Địa Hào”.
“Giống ai?”
“Mã Tuyết Anh".
“Thì ra là cô ta... Mình phải sớm nghĩ đến chứ!”. Đội trưởng Thôi trầm ngâm. Tòa nhà Địa Hào giống như hang động âm u khó dò!
"Lập tức điều tra kỹ về Mã Tuyết Anh, bao gồm lý lịch, những hoạt động gần đây và tất cả các mối quan hệ xã hội”.
"Rõ!”.
***
Trong khi cảnh sát đang tiến hành điều tra Mã Tuyết Anh, thì đột ngột xảy ra chuyện nằm ngoài dự liệu.
Ngày hai mươi tháng bảy cũng là buổi tối ngày thứ hai, trên quãng đường vắng vẻ của tiểu khu Bối Lĩnh xảy ra một vụ tai nạn xe hơi, một cô gái trẻ bị xe tông mạnh. Chết ngay tại chỗ, máu vương vãi khắp nơi, chiếc xe gây ra tai nạn là loại xe Nissan, nó chạy rất nhanh đâm thẳng từ phía sau cô gái rồi rồ máy chạy trốn theo hướng tây bắc
Xe tuần tra trinh sát 110 nhanh chóng đến nơi xảy ra tai nạn,kiểm tra chiếc túi cô gái đem theo bên mình tìm thấy danh thiếp và chứng minh thư. Người tử nạn là Mã Tuyết Anh, nghề nghiệp thư ký riêng chủ tịch HĐQT Địa Hào Trí Nghiệp.
Hai mươi phút sau đội trưởng Thôi, Tiểu Xuyên, Tiểu Đào và một số trinh sát đã có mặt tại hiện trường cùng với đội cảnh sát giao thống thành phố. Điều tra cho thấy lòng đường rất rộng, đèn rất sáng, xác Mã Tuyết Anh nằm trên vỉa hè, máu trên đầu không ngừng chảy, cả khuôn mặt nhuộm đỏ máu trông rất thương tâm, khám nghiệm pháp y sơ bộ nhận định xương ống chân bên phải giập nát, bốn ré xương sườn gãy từ đó phán đoán tốc độ của chiếc xe đó cũng phải trên sáu mươi kilômét một giờ, mới có gây ra lực va chạm mạnh đến như vậy. Xung quanh người xấu số vương vãi rất nhiều vụn kính vỡ, đó đều là mẩu vụn kính chắn gió của chiếc xe gây tai nạn. Theo người chứng kiến vụ tai nạn, lúc đó đường đã lên đèn, người đi lại không nhiều lắm, một chiếc xe Nissan màu đen xuất hiện bất ngờ đi khá chậm ngay trước mặt khi cách xa khoảng mười mét, nó đột ngột tăng tốc và mở đèn pha đâm sầm từ phía sau cô gái, giống như là cố ý vậy. Trong lúc hoảng hốt ông ta vẫn cố nhìn biển số xe. Biển xe có chữ đầu là “Việt” ba số cuối là 114(*).
Cảnh sát lập tức ra lệnh phong tỏa các con đường hướng tây bắc, kiểm tra tất cả các xe hiệu Nissan màu đen.
Trong chiếc túi xách của Mã Tuyết Anh ngoài đồ mỹ phẩm, chìa khóa còn phát hiện thẻ tín dụng của ngân hàng Chiêu Thương và một cuộn băng cát xét, ngoài ra còn có một chiếc khẩu trang đã qua sử dụng.
Trở về đội cảnh sát hình sự, đội trưởng Thôi bảo Đào Lợi lấy cuốn băng cát xét thu được trong túi xách Mã Anh. Đó là một cuốn băng Sanyo, to chưa bằng bàn tay, băng rộng bốn milimét.
Đội trưởng Thôi bỏ cuốn băng vào máy cát xét bấm nút “play”, trong đó phát ra những âm thanh rất nhỏ, ba người đội trưởng Thôi, Tiểu Xuyên và Đào Lợi chăm chú lắng nghe.
Tiếp sau đó vang lên đoạn hội thoại giữa một người đàn ông và một cô gái. Việc tống tiền của Mã Tuyết Anh hoàn toàn được phơi bày.
- Có phải tiên sinh Chung Đào đó không ạ?
- Vâng, tôi đây xin hỏi có chuyện gì?
- Hạn định ba ngày đã qua sao vẫn chưa thấy Chung tiên sinh chuyển khoản.
- Ồ! Thì ra cô là người có tên Mã Nhân đó hả?
Tiểu Xuyên và Đào Lợi đưa mắt nhìn nhau. Đào Lợi khẽ hỏi: “Giọng nói của người phụ nữ sao nghèn nghẹn vậy, không giống giọng của A Anh”.
Đội trưởng Thôi khoát tay cho cô tiếp tục lắng nghe.
- Chung tiên sinh là người hiểu chuyện, ông chắc không hề muốn những bức ảnh này rơi vào tay công an đấy chứ!
- Cô muốn tống tiền tôi sao?
- Tôi cần gấp số tiền đó, mong tiên sinh giúp cho.
- Thật đáng tiếc, tôi không thế giúp cô được.
- Chung tiên sinh không nghĩ tới hậu quả à?
- Hậu quả gì cơ? Lễ tang ông Hồ Quốc Hào là công khai, ai cũng có thể đến viếng. Những bức ảnh đó thì nói lên điều gì?
- Không đơn giản thế đâu! Ba bức ảnh đó ít ra cũng cho thấy chị Đinh rất có hứng thú với cái chết của ông Hồ Quốc Hào.
- Đó chỉ là suy đoán của cô.
- Không chỉ là suy đoán, tôi còn biết Chung tiên sinh còn có liên quan đến cái chết của ông Hồ Quốc Hào.
- Thật hả. Rốt cuộc cô là ai?
- Tôi là ai không quan trọng, cốt yếu là số tiền hai mươi vạn tệ phải được chuyển ngay.
- Điều ấy thì lại khiến cô thất vọng rồi. Tôi khuyên cô Mã nên dừng tay lại, những kẻ tống tiền từ trước đến nay đều chẳng mấy có kết cục tốt đẹp.
Đoạn hội thoại đến đây kết thúc, tiếp sau đó là tiếng băng chạy rè rè.
Đội trưởng Thôi nói: “Giọng của người này thật không giống giọng của Mã Tuyết Anh".
Tiểu Xuyên phán đoán: "Em khẳng định đối tượng đã có thay đổi giọng, em nhìn thấy chiếc khẩu trang có trong túi A Anh, nếu đeo khẩu trang nói qua điện thoại thanh âm chắc chắn biến đổi, người nghe sẽ không biết đó là ai…”
Trong khi Tiểu Xuyên chưa nói hết, đội ttưởng Thôi ra dấu cho cậu ngừng lại. Lúc này trong cuốn băng lại phát ra những âm thanh khác; đây là cuộc hội thoại giữa hai người phụ nữ.
- Có phải chủ tịch Chu không ạ?
- Vâng tôi đây, xin hỏi ai đấy ạ?
- Tôi là Mã Nhân, bà biết cái tên này đấy!
Nghe tiếp giọng trầm thấp, rõ ràng người này cố ý đeo khẩu trang để thay đổi giọng nói, đội trưởng Thôi đưa ngón tay cái về phía Tiểu Xuyên, Tiểu Xuyên gật đầu hiểu ý.
A...
Giọng nói chuyển qua Chu Mỹ Phượng.
- Rất cảm ơn bà chủ tịch, hai mươi vạn tệ tôi đã nhận được rồi.
- Cô còn muốn cái gì nữa?
- Chủ tịch Chu là người thông minh, mong bà gửi tiếp cho hai mươi vạn nữa, tôi xin hứa mọi việc sẽ kết thúc ở đây.
- Cô còn muốn hai mươi vạn nữa sao…?
- Chủ tịch Chu đã nghe rõ cả rồi đấy!
- Làm sao biết tất cả sẽ kết thúc?
- Trong ba ngày tới hai mươi vạn được chuyển đi, bà sẽ nhận được toàn bộ phim âm bản.
- Rốt cuộc thì cô là ai.
- Tôi là ai không quan trọng, quan trọng là hình ảnh và danh tiếng của chủ tịch Chu trước mắt công chúng.
- Ai có thể tin là cô sẽ không còn tiếp tục tống tiền?
- Tôi chỉ là phụ nữ chân yếu tay mềm, sẽ không nuốt lời đâu. Song bà nên nhớ chỉ trong hạn định ba ngày thôi nhé.
Đội trưởng Thôi nhấn nút dừng lại.
“Mọi việc đều đã rõ”. Anh hưng phấn nhận định "Mã Tuyết Anh tống tiền hai người Chung Đào và Chu Mỹ Phượng. Cuối cùng lãnh kết cục vong mạng. Từ đó có thể suy ra, đây là vụ án giết người diệt khẩu, hung thủ là một trong hai nghi can Chung Đào và Chu Mỹ Phượng…”
Tiểu Xuyên phán đoán: “Nghe qua giọng nói của Chung Đào tương đối bình tĩnh, phản ứng của anh ra không hề giống người bị dồn đến bước đường cùng”.
Đào Lợi phản bác lại: “Nhưng cậu đừng quên anh ta đã đưa ra lời cảnh cáo Mã Tuyết Anh: ‘Những kẻ tống tiền từ trước đến nay đều chẳng có mấy kết cục tốt đẹp’.
Tiểu Xuyên trầm ngâm: “Mình cảm thấy câu nói đó rất giống một lời khuyên bảo chân thành…”
Đội trưởng Thôi dừng cuộc tranh luận giữa hai bên: “Cho dù là cảnh cáo hay khuyên bảo, Chung Đào không thể thoát được việc có liên quan”. Anh trầm giọng nói tiếp: “Mã Tuyết Anh chắc chắn đã nắm được bí mật nào đó của Chung Đào có liên quan đến cái chết của Hồ Quốc Hào”.
Tiểu Xuyên tán thành: "Nếu không cô ta đã không tìm cách đòi Chung Đào hai mươi vạn tệ”.
Đội trưởng Thôi thừa nhận: “Xem ra chúng ta đã xem thường con người này”.
Đào Lợi tỏ ý nghi ngờ: “Giọng nói của Chu Mỹ Phượng trong cuốn băng nghe có vẻ rất yếu đuối sợ hãi, hoảng loạn. Cô ta cũng không chắc đã dám làm việc đó”.
Đội trưởng Thôi không trả lời, tiếp cục ấn nút “play”: “Để nghe thêm còn gì nữa không".
Sau tiếng rè rè, cuốn băng chuyển sang đoạn nói chuyện khác giữa hai người.
- Bà là bà Chu, chủ tịch HĐQT phải không ạ?
- Vâng, cô là Mã Nhân?
- Đúng, tôi xin nhắc chủ tịch Chu, hôm nay là hạn cuối cùng, tiền vẫn chưa được chuyển vào tài khoản của tôi.
Vụ án giết người diệt khẩu dần dần hé lộ.
-... Xin cô cho tôi thêm hai ngày nữa được không?
- Bà chủ tịch không muốn 'chơi' tôi đấy chứ?
- Tôi đâu dám, tôi sẽ đáp ứng yêu cầu của cô, nhất định tiền sẽ được chuyển đến.
- Thôi được tôi sẽ tin bà một lần nữa, nên nhớ trước mười hai giờ trưa hôm sau, nếu như tiền vẫn chưa được chuyển đến. Tất cả thông tin cá nhân của bà sẽ bị phơi bày trước công chúng.
***
Cảnh sát quyết định khám xét phòng làm việc của A Anh, họ tìm thấy một quyển nhật ký của cô ta.
Trong đó ghi lại toàn bộ những thay đổi tâm lý của cô ta.
Mã Tuyết Anh là bồ nhí của Hồ Quốc Hào, đồng thời cũng giống như một con chó hết sức trung thành với chủ. Cô ta không chỉ dâng hiến cả thể xác lẫn tâm hồn mà còn là tai mắt của Hồ Quốc Hào. Giống như đầu tượng nhân sư phủ phục bên ngoài kim tự tháp, cô ta theo dõi toàn bộ diễn biến nội tình công ty. Trong bốn năm cung phụng Hồ Quốc Hào hết lòng, dành hết cả tuổi thanh xuân và tình cảm, Hồ Quốc Hào đã từng hứa, sau khi dự án Điền Đông Bối thành công sẽ cho cô ta tấm ngân phiếu trị giá sáu mươi vạn nhân dân tệ để đi du học ở Châu Âu. Không ngờ khi tấm ngân phiếu còn chưa kịp đến tay, ông ta đột ngột tử nạn. Mã Tuyết Anh đã lật tung phòng làm việc và mọi ngóc ngách kể cả căn mật thất nhưng không tìm thấy tấm ngân phiếu đó.
Cô ta hoàn toàn không cam tâm quyết định lợi dụng bí mật đời tư của những nhân vật cốt cán trong công ty để tống tiền.
Mỗi một đối tượng cô ta tìm ra điểm yếu cốt tử khiến họ không thể báo cảnh sát. Khi có được số tiền đó trong tay cô ta sẽ từ chức và thực hiện giấc mộng du học mà Hồ Quốc Hào đã hứa cho mình.
Trong tác phẩm "Hồng Lâu Mộng” có câu “Mọi thứ tính toán thông minh quá lại phản tác dụng gây hại đến tính mạng”. Âm mưu quỷ kế của cô ta chính là thứ hủy diệt cô ta.
Tiểu Xuyên cảm thán: “A Anh chỉ là thứ đồ chơi của Hồ Quốc Hào, không ngờ cuối cùng lại thành ra người theo ông ta xuống mồ”.



0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-16 12:57:28Ct.Ly>
354-393
Chương 10
TRỞ LẠI HIỆN TRƯỜNG
1
Vụ án dần dần tiến đến hồi kết.

Cảnh sát điều tra ra chiếc xe đâm vào Mã Tuyết Anh là xe ăn trộm.a
Vào ngày thứ hai sau khi án mạng xảy ra, người ta phát hiện một chiếc xe Nissan màu đen bị phá hủy nằm ở bãi rác, ngoại vi phía bắc thành phố, biển số xe hoàn toàn trùng khớp với biển số mà nhân chứng cung cấp. Đầu xe bị lõm một vệt sâu, xung quanh bám những mảng máu đen kịt.

Cửa kính hoàn toàn vỡ vụn, xét nghiệm mẫu máu dính trên chiếc xe trùng với mẫu máu của Mã Tuyết Anh. Chủ nhân của chiếc xe là giám đốc của một công ty máy tính. Buổi trưa ngày hai mươi tháng bảy ông đỗ xe trước nhà hàng Cánh Diều. Sau khi dùng bữa xong ra lấy xe thì không thấy còn ở đấy nữa, ngay lúc đó ông ta đã báo cảnh sát. Kiểm tra toàn bộ chiếc xe không phát hiện manh mối đặc biệt nào, các trinh sát chỉ tìm được vài dấu vân tay khả mờ ở vô lăng.

Mã Tuyết Anh chết bởi tai nạn xe, hiển nhiên đó là âm mưu có người cố ý tạo ra.

Căn cứ vào nội dung cuốn băng xoay quanh cuộc đối thoại giữa ba người Mã Tuyết Anh, Chung Đào và Chu Mỹ Phượng, bên cạnh đó lại lần ra đầu mối trong vụ án Hồng Diệc Mình, trước khi ông ta bị hạ độc có gặp mặt hai người Chung Đào và Chu Mỹ Phượng tại văn phòng công ty Đại Đông (Cả hai người đều có đủ điều kiện và thời gian thực hiện việc đầu độc). Cảnh sát nhận định ngoại trừ Châu Chính Hưng, Chung, Chu là hai nghỉ can lớn nhất trong vụ án giết người hàng loạt này.

Cục công an khu Y lập tức triệu tập Chu Mỹ Phượng và Chung Đào.

Buổi tối ngày Mã Tuyết Anh gặp chuyện, Chu Mỹ Phượng đã đáp tàu hỏa từ cửa khẩu La Hồ nhập cảnh vào Hồng Kông. Theo nhân viên trong Văn phòng tập đoàn Địa Hào, khoảng năm giờ chiều Chu Mỹ Phượng nhận được điện thoại của tổng giám đốc Châu thông báo mẹ của có ca đang bệnh muốn có ta nghỉ mấy ngày về chăm sóc.

Từ đó công ty hoàn toàn không thể liên lạc với Chu Mỹ Phượng, gọi vào máy di động thì máy đã tắt. Điều lạ là khi liên lạc trực tiếp với gia đình thì bà mẹ không hề bị bệnh và cũng không biết việc con gái đã trở về Hồng Kông. Đội trưởng Thôi dẫn theo Tiểu Xuyên và Đào Lợi đến ngay trụ sở Địa Hào tìm gặp tổng giám đốc Châu nhưng cũng không có tin tức gì của Chu Mỹ Phuợng.

Bà quả phụ Hồ Quốc Hào, người tình của Châu Chính Hưng, chủ tịch HĐQT Địa Hào biển mất một cách kỳ lạ.

Trong cùng một ngày Chung Đào cũng đáp chuyến bay của hãng hàng không Tử Xuyên đi Trùng Khánh. Theo những gì mà Châu Chính Hưng cung cấp, chuyến đi lần này của Chung Đào là để tham gia một cuộc họp bàn về bất động sản miền tây Trung Quốc, việc này đã được Châu Chính Hưng phê chuẩn, thời gian công tác là một tuần.

Tại văn phòng tổng giám đốc Địa Hào, khi đội trưởng Thôi thẩm vấn Châu Chính Hưng đã nắm được cụ thế nội dung vụ việc tống tiền. Đó là đầu mối vô cùng quan trọng trong quá trình phân tích án.
Ngồi đối diện với Châu Chính Hưng, đội trưởng Thôi đưa ra câu hỏi: “Theo những gì chúng tôi có được, mục tiêu tống tiền của Mã Tuyết Anh không chỉ dừng lại ở hai người Chung Đào và Chu Mỹ Phượng”.

“Đúng vậy”. Châu Chính Hưng thừa nhận “Còn có tôi nữa”.

“Cho nên anh cũng chuyển khoản cho có ta số tiền hai mươi vạn tệ”.

“Đúng”.

“Vì sao anh không báo cảnh sát”.

Châu Chính Hưng rút từ trong ngân kéo một mẫu giấy đánh máy đưa cho đội trưởng.

“Nói thẳng là tôi không muốn cho vợ mình dính vào chuyện này”.

Đội trưởng Thôi đọc kỹ tờ giấy, khóe miệng khẽ nhếch nụ cười mỉa mai, quá thật kẻ tống tiền nắm thật rõ điểm chí mạng của Châu Chính Hưng.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi cũng đưa mắt nhìn vào tờ giấy.

“Thôi được, chúng tôi sẽ thu tờ giấy này lại, hy vọng tổng giám đốc Chu tiếp tục hợp tác”. Trước khi rời khỏi Địa Hào, đội trưởng Thôi còn nói chêm một câu.

***

Lắng nghe báo cáo của đội trưởng Thôi, cục trưởng Ngũ không biểu lộ thái độ vội vã.

Vị cảnh sát già giàu kinh nghiệm châm một điếu thuốc rồi rít một hơi dài. Từ khi điều tra hai chuyên án “6.25” và “7.6” ông đã từ bỏ ý định cai thuốc.

Xem xét nội dung bức thư tống tiền mà Mã Tuyết Anh gửi cho Châu Chính Hưng có thể nhận thấy có ta đã nắm được bí mật của Châu và Chu. Chỉ cần dựa vào chuyện tư thông giữa hai người là đã có thể tiên hệ đến chuyện Hồ Quốc Hào bị sát hại. Vì vậy, hai khả năng hoàn toàn có thể xảy ra: Một là Châu và Chu không hề mưu sát Hồ Quốc Hào. Hai là hai người ấy đã thực hiện vụ mưu sát song Mã Tuyết Anh không hề biết nội tình bên trong. Đương nhiên không thể loại trừ khả năng thứ ba Mã Tuyết Anh nghĩ rằng chỉ cần công bố những bức ảnh nhạy cảm giữa Châu Chính Hưng và Chu Mỹ Phượng là đã đủ uy lực và sức mạnh dồn ép con mồi thực hiện theo ý mình.

Cục trưởng Ngũ hỏi đội trưởng Thôi và hai viên cảnh sát trẻ: “Các cậu nghĩ thế nào?".

Đội trưởng Thôi phân tích.

“Mã Tuyết Anh có mối quan hệ đặc biệt với Hồ Quốc Hào, bốn năm làm thư ký riêng cho ông ta lại vừa là tình nhân rõ ràng có ta nắm được rất nhiều nội tình bên trong. Có ta gọi điện thoại uy hiếp Chung Đào, nói rằng biết được chuyện Chung Đào có liên quan đến cái chết Hồ Quốc Hào không thể chỉ là những lời suy diễn bừa bãi...".

Cục trưởng Ngũ gật đầu: “Từ đó cho thấy trong vụ án cái chết ly kỳ của Hồ Quốc Hào, Chung Đào rất có khả năng là nghỉ can lớn nhất”.

Tiểu Xuyên góp lời: “Nhà báo Nhiếp sớm đã nhắc nhà chúng ta không nên bỏ qua nhân vật này”.

Đội trưởng Thôi lầm bầm trong miệng: “Lại là tay nhà báo 'Tây Bộ Thái Dương”.

Đào Lợi bụm miệng cười trộm.

Cục trưởng Ngũ rít một hơi thuốc, tiếp tục suy nghĩ. Những làn khói trắng mỏng bay lên tan vào không khí. Mối nghỉ ngờ đối với Chung Đào ngày một tăng lên. Song rốt cuộc Chung Đào và Hồ Quốc Hào có mối quan hệ như thế nào? Mã Tuyết Anh bây giờ không thể mở miệng được nữa. Bên cảnh sát lại hoàn toàn không nắm được bất cứ chứng cứ nào. Đằng sau những bí mật này ẩn chứa điều gì...

Ông dập điếu thuốc vào gạt tàn.

“Nào! Chúng ta phân tích lại chứng cứ ngoại phạm mà Chung Đào có".

Tiểu Xuyên và Đào Lợi đều đưa ra ý kiến của mình. Song hai mươi lăm phút “vắng mặt" của Chung Đào vẫn chưa tìm ra lời giải đáp.

“Xem ra trong vụ án cái chết của Hồ Quốc Hào, hung thủ đáng nghỉ nhất là Chung Đào, chỉ có điều ngoài chứng cớ ngoại phạm hai mươi lăm phút cho đến nay vẫn không phát hiện được vấn đề gì, có thể nói không hề để sơ hở một chút nào”.

Quả thật những điẻu Đào Lợi nói đều là sự thật.

Trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa có hai cửa kiểm soát về, một cửa chính và một cửa phụ nằm ở phía Đông, có người trông coi 24/24 giờ. Đào Lợi và Tiểu Xuyên đã dò hỏi trong cái đêm hai mươi tư tháng sáu có bốn nhân viên trực ban. Đưa cho họ tấm ảnh Chung Đào và Đinh Lam để nhận diện, sau mười một giờ tối lượng người ra vào trung tâm không nhiều, thông thường sẽ để lại ấn tượng rất rõ, tuy nhiên tất cả họ đều không nhận ra hai người trong ảnh. Nhà nghỉ luôn mở rộng cửa, chìa khóa đều giao hết cho khách vì vậy việc Đinh Lam có hay không đưa Chung Đào về phòng nghỉ thay quần áo, nhân viên phục vụ cũng không được rõ. Hành tung hai mươi lăm phút Chung Đào vắng mặt chỉ duy nhất Đinh Lam mới biết.

Cục trưởng Ngũ lấy ngón tay gõ lên mặt bàn: “Đây là ‘điểm mù’ lớn nhất trong vụ án Hồ Quốc Hào”.

Đội trưởng Thôi gật đầu: “Việc Đinh Lam có mặt trong lễ tang Hồ Quốc Hào rõ ràng là không bình thường, hơn nữa chị ta lại là người làm chứng duy nhất cho chứng cớ ngoại phạm của Chung Đào. Chuyện này rất kỳ lạ...”.

Lúc này Tiểu Xuyên mới ngẩng đầu lên nói bằng giọng có vẻ khả trịnh trọng phát biểu: “Mấy ngày trước nhà báo Nhiếp có gửi email cho em, trong đó nói anh ấy đã điều tra rõ Đinh Lam và Chung Đào có thời kỳ ở cùng đại đội thanh niên trí thức binh đoàn xây dựng Vân Nam, hơn nữa Đinh Lam có mối tình đơn phương với Chung Đào. Nhà báo Nhiếp gợi ý: Việc Đinh Lam làm chứng cho Chung Đào rất có thể là giả. Anh ấy còn chuyển lời đến cục trưởng và anh Thôi ‘hai mươi lăm phút vắng mặt của Chung Đào cực kỳ khả nghỉ’, giải mã được bí mật này là khâu then chốt phá toàn bộ vụ án”.
Cục trường Ngủ có vẻ hài lòng: “Phân tích của nhà báo Nhiếp rất có lý".

Đội trưởng Thôi khẽ lườm đệ tử “Tại sao cậu không nói sớm”.

“Chẳng phải anh bảo em không có thời gian nghe tay nhà báo đó nóỉ linh tinh còn gì?".

Đội trưởng Thôi không đôi co tiếp với cấp dưới, anh tiếp tục nói: “Vậy chúng ta đặt ra giả thuyết: Nếu Đinh Lam làm chứng giả thì trong hai mươi lăm phút đó bọn họ đi đâu? Có khả năng làm gì? Tôi đã làm thực nghiệm trong thời gian hai mươi lăm phút, từ vườn nướng nghìn người đi bộ đến cửa soát về chính mất ba phút, về nhà nghỉ mất bốn, năm phút cả đi và về mất mười phút. Giả sử thời gian dừng lại ở những nơi đó hết năm, sáu phút, thì thời gian còn lại chỉ có mười phút, trong những thời gian ngắn ngủi đó bọn họ không thể mọc cánh mà bay đến Nam Áo được”.

Không có ai cười, không khí căn phòng trở nên nghiêm túc thậm chí là chùng hẳn xuống. Đây là ẩn sổ lớn nhất mà mọi người chưa có lời giải.

***

Phòng đọc sách gia đình Nhiếp Phong, ảnh đèn bàn leo lét, trời mùa hè khả nóng nực.

Nhiếp Phong mặc áo may ô, ngón tay anh lướt nhẹ trên bàn phím máy tính. Anh vừa hoàn thành bài phỏng vấn ông vua ti vi màu ở Miên Dương, cảm giác rất hài lòng. Đúng lúc này, trên hộp thư yahoo báo có thư đến, mở hộp thư điện tử anh chăm chú nhìn vào. Đó là email của Tiêu Xuyên.

Nhiếp Phong gõ phím “enter”, trên màn hình tinh thể lỏng hiện ra toàn bộ nội dung bức thư. Tiểu Xuyên thông báo cho anh tiến triển và điểm còn chưa có lời giải trong toàn bộ vụ án:

Anh Nhiếp thân mến!

Chào anh! Nhận được email của anh em rất vui. Vụ án xuất hiện tình huống mới: Ngày hai mươi tháng bảy vừa qua Mã Tuyết Anh bất ngờ bị giết chết. Nguyên nhân trực tiếp là tai nạn xe hơi. Căn cứ vào điều tra tại hiện trường khẳng định là do có người rắp tâm sắp đặt.

Phát hiện trong cuốn băng trong túi xách của Mã Tuyết Anh có ghi lại nội dung cuộc đối thoại giữa cô ta và Chung Đào, Chu Mỹ Phượng. Liên hệ với vụ án Hồng Diệc Mình trước khi ông ta xảy ra chuyện có tiếp xúc với Chung Đào, Chu Mỹ Phượng, hai người ấy hoàn toàn có đủ thời gian và điều kiện hạ độc. Đội cảnh sát hình sự nhận định, Chung Đào và Chu Mỹ Phượng là những nghỉ can lớn nhất cho hàng loạt vụ giết người vừa rồi.

Chu Mỹ Phượng hiện bỏ trốn đến Hồng Kông, bọn em đang ra lệnh truy nã. Điều khó lý giải lớn nhất đó là chứng cớ ngoại phạm của Chung Đào. Bọn em đã cẩn thận làm thực nghiệm hai mươi lăm phút vắng mặt của anh ta song cho đến nay vẫn chưa tìm ra đáp án. Trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa có hai cửa kiwrm soát về, cửa chính nằm ở phía tây, cửa còn lại năm ở phía đông. 24/24 giờ đều có người trực ban. Sau mười một giờ đêm du khách ra vào nơi đó số lượng có hạn. Nếu Chung Đào và Đinh Lam từ mười một giờ năm phút đến mười một giờ rưỡi đi qua đây nhân viên soát về nhất định sẽ nhận ra. Nhưng khi đưa bức ảnh của Chung Đào và Đinh Lam cho họ xem họ đều khẳng định không hề nhận ra hai người này.

Kiểm tra tại nhà nghỉ cũng không phát hiện được điều gì khác thường. Chính vì vậy việc điều tra Chung Đào trên thực tế đi vào ngõ cụt. Cục trưởng Ngũ cũng nhận định hai mươi năm phút vắng mặt của Chung Đào là điểm mù lớn nhất trong vụ án Hồ Quốc Hào. Kể cả em và Đào Lợi cũng như tất cả mọi người đều có chung cảm giác bất lực bó tay. Thật không biết đến khi nào mới có thể làm rõ vụ án này.

Thôi, em dừng bút đây.

Cho em gửi lời hỏi thăm đến thầy hiệu trưởng Nhiếp.

Ký túc cục công an, đêm 22 tháng 7

Tiểu Xuyên

Nhiếp Phong trầm tư nhìn lên màn hình máy tính.

Không khí thật oi bức, ngoài cửa sổ vọng vào tiếng ca hát ồn ào.

Nhiếp Phong chau mày suy nghĩ làm thế nào để giải mã chứng cớ ngoại phạm của Chung Đào. Cục trưởng Ngũ nói thật đúng, hai mươi lăm phút Chung Đào vắng mặt là điểm mù lớn nhất trong vụ án Hồ Quốc Hào, nếu như tìm được điểm mù này thì có thể tìm ra chìa khóa phá án.

Anh lật giở một trang trong quyển sổ ghi chép phỏng vấn của mình, ảnh mắt dừng lại trước hình tam giác tấm sơ đồ vịnh Đại Bàng. Đó là hình anh đã vẽ trong lần tham gia cuộc họp phân tích án tại cục công an khu Y. Mỗi đỉnh trong hình tam giác được đánh dấu lần lượt Đại Mai Sa, Tiểu Mai Sa, Nam Áo. Nối hai điểm Tiểu, Đại Mai Sa đứng gần nhau tạo thành nét ngắn. Kéo dài hai điểm về bên phải theo hướng đông nam liền lập thành góc nhọn trực chỉ thị trấn Nam Áo.

Nhiếp Phong nhìn đi nhìn lại tấm sơ đồ mà mình lập ra, anh cảm thấy hình tam giác đó thật kỳ lạ, hoặc có thể nói là bất bình thường. Rốt cuộc điểm nào không phù hợp logic, trong chốc lát không thể nói cho đúng. Chỉ biết trông nó rất mất tự nhiên, có cảm giác cố ý sắp đặt. Trên sơ đồ các điểm hình tam giác đó, đoạn ngắn thì quá ngắn, góc nhọn lại quá nhọn, vừa giống như miếng kính vỡ lại giống như mũi giáo đâm xuống phía dưới. Tất cả đường như ẩn chứa huyền cơ nào đó.

Nhiếp Phong lấy bút bí viết lên trên tấm sơ đồ vài điểm cần chú ý.

Điểm thứ nhất: Đại Mai Sa (khoảng bảy giờ tối ngày hai mươi tư tháng sáu Hồ Quốc Hào biển mất trước của nhà hàng Hào Cảnh).

Điểm thứ hai: Tiểu Mai Sa (sáu giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng sáu phát hiện di thể Hồ Quốc Hào ở cầu tàu).

Điểm thứ ba: Thị trấn Nam Áo (buổi chiều ngày ba mươi tháng sáu tìm thấy chiếc túi xách, đây cũng là nơi xảy ra hiện tượng xích triều và cũng là nơi Hồ Quốc Hào chết đuối)

Đúng lúc này Tiểu Cúc mang lên cho anh một ly cà phê thơm nức mũi.

“Anh Nhiếp, cà phê Moca này anh mang về pha ngon lắm!”.

“Ấy! Cảm ơn nhé!”.

Nhiếp Phong không hề ngẩng đầu lên, anh đang chăm chú nhìn vào đoạn ngắn nhất của hình tam giác trên tấm sơ đồ.

Tiểu Cúc đặt ly cà phê xuống, ghé sát khuôn mặt tròn trịa của mình liếc trộm: “Anh Nhiếp đang vẽ sơ đồ à?”.

“Đừng có quấy rầy!”.

Nhiếp Phong vẫn đang tập trung suy nghĩ cao độ.

“Bà bảo anh đừng làm việc khuya quá”.

Nhiếp Phong gật đầu, không hề lên tiếng.

Tiểu Cúc rón rén rời khỏi phòng đọc sách, ra đến cửa cô bé còn ngoái đầu lại nói: “Cà phê Moca nguội nhạnh lắm!”.

Nhiếp Phong nhất ly cà phê lên, nhấp một ngụm, chẳng có cảm giác gì, tiện tay anh lật sang trang bên đọc lại những ghi chép trong buổi phân tích án hôm đó.

“Buổi chiều ngày ba mươi tháng sáu tại phòng làm việc đội cảnh sát hình sự cục công an khu Y.

Buổi phân tích án xoay quanh những dấu vết để lại trong vu án Hồ Quốc Hào, có những điểm nghỉ ngờ sau:

Thứ nhất: Tại sao Hồ Quốc Hào lại đến Nam Áo? Cuộc điện thoại bí hiểm dẫn dụ hay là ông ta muốn đến đó tắm biển? – Nghiêng về khả năng đầu tiên nhiều hơn.

Thứ hai: Hồ Quốc Hào đến đó bằng phương tiện gì? Xe bus, taxi hay do Châu Chính Hưng điều xe đến Đại Mai Sa đón ông ta? - Đội điều tra tìm chứng cứ.

Thứ ba: Vì sao Hồ Quốc Hào chết đuối tại Nam Áo? Tại trong lúc đi bơi bệnh tìm tái phát dẫn đến đuối nước mất mạng? Tại trong lúc đi bơi cùng Châu Chính Hưng bị anh ta ra tay sát hại?

Thứ tư: Di thể Hồ Quốc Hào vì sao lại xuất hiện ở góc cầu tàu thuộc bãi biển Tiểu Mai Sa? Nếu như ông ta không may chết đuối trong lúc tắm biển ở Nam Áo, di thể không thể trong quãng thời gian ngắn trôi dạt đến vùng biển Tiểu Mai Sa, nơi cách đó hơn hai mươi kilomét. Hồ Quốc Hào cũng không thể nảy sinh ý nghĩ điên rồ bơi qua vịnh Đại Bang để khi tới Tiểu Mai Sa thì đuối nước tử nạn.

Vậy thì thể ông ta được chuyển đến Tiểu Mai Sa bằng cách nào? Xe hay thuyền? Đi xe từ Tiểu Mai Sa đến thị trấn Nam Áo chỉ có duy nhất một con đường quốc lộ men theo núi. Ít nhất cũng phải mất một giờ đồng hồ. Trong vòng hai mươi lăm phút từ Tiểu Mai Sa đến đó và quay trở lại về cơ bản là không thể được. Nếu đi bằng xuồng cao tốc cả đi và về nhanh nhất cũng cần một tiếng rưỡi. Chính vì vậy đối tượng nghỉ vấn Chung Đào bị loại bỏ. Châu Chính Hưng trở thành kẻ đáng nghỉ nhất.

Nhiếp Phong ngẩng đầu lên đưa ảnh mắt ra ngoài cửa sổ, những ảnh sao trong đêm hè thật sáng.

Anh chợt phát hiện ra một vấn đề, mắt sáng lên.

Tất cả những phân tích trong buổi họp phá án (bao gồm cả bốn điểm nghỉ vấn) đều có chung một tiền đề: Hồ Quốc Hào đi Nam Áo, bị chết đuối ở Nam Áo.

Nhưng dựa trên tiền đề đó có hai chứng cớ vô cùng vững chắc: Một là khám nghiệm trong tử thì Hồ Quốc Hào có nước biển ô nhiễm xích triều. Hai là chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào được phát hiện tại trường tiểu học Nam Áo.

Tuy nhiên khi cảnh sát tiến hành điều tra theo hướng đó, vụ án đi vào mê cung.

Thôi Đại Cân và các cộng sự của mình gặp phải “nút chết” không thể tháo gỡ. Vì sao di thể Hồ Quốc Hào lại ở gần cầu tàu, Tiểu Mai Sa? Hơn nữa từ chạng vạng cho đến đêm khuya ngày hai mươi tư tháng sáu không hề có một ai tại Nam Áo nhìn thấy Hồ Quốc Hào, trường tiểu học Nam Áo, cảng cả Nam Áo, các nhà hàng, bãi biển ở đó. Tất cả các địa điểm Hồ Quốc Hào có khả năng đến cảnh sát đều đã kiểm tra.

Nhiếp Phong điểm danh lại toàn bộ, không hề có bất cứ nhân chứng nào.

Ở đấy rốt cuộc ẩn chứa những bí mật gì đây.

Dường như dự cảm có điều khác lạ, anh lật lại trang vừa đọc trong cuốn sổ ghi chép tỉ mỉ xem xét hình tam giác hẹp.


Đột nhiên anh chợt nhận ra hình tam giác như cố ý dẫn dụ chỉ về một hướng đó là Nam Áo.

Trong đầu Nhiếp Phong luẩn quẩn mối nghỉ ngờ chưa rõ, dần dần lộ ra manh mối.

Anh trải rộng tấm bản đồ thành phố Thâm Quyến, ảnh mắt dừng lại ở khu vực vịnh Đại Bàng.

Nếu như hiện trường đầu tiên là Nam Áo (các loại tảo đặc biệt của vùng có trong dạ dày và phổi Hồ Quốc Hào, chiếc túi xách của ông ta được phát hiện ở đây. Tất cả những thứ đó đều “cố ý” chỉ đến một địa chỉ duy nhất - Nam Áo). Giả sử Chung Đào đi chuyển từ Tiểu Mai Sa đến Nam Áo và ngược lại để gây án thì trong vòng hai mươi lăm phút là không thể... Do đó anh ta hoàn toàn có được chứng cớ ngoại phạm cực kỳ vững chắc.

Một ý nghĩ xẹt qua đầu Nhiếp Phong, thứ “tư duy nghịch hướng” xem sao? Trừ phi... hiện trường đầu tiên không phải ở Nam Áo mà là một nơi có thể cả đi và về trong vòng hai mươi lăm phút. Địa điểm đó chắc chắn là Tiểu Mai Sa! Hơn nữa phải là nơi bí mật rất gần vườn nướng.

Thủ phạm vụ án có thể là Chung Đào.

Vậy lý giải thế nào về việc khám nghiệm phổi Hồ Quốc Hào có chứa tảo xi câu, tảo hoàn câu và tảo đa giáp?

“Căn cứ vào khám nghiệm nội tạng nạn nhân xuất hiện một số loài tảo đặc trưng, có thể khẳng định địa điểm chết đuối” - Đó là nguyên tác kinh điển trong xét nghiệm pháp y. Do đó khi phát hiện tảo xi câu, tảo hoàn câu, tảo đa giáp vốn là những loại tảo chỉ có ở vùng biển Nam Áo trong phổi Hồ Quốc Hào, cảnh sát đã dựa trên phán đoán thông thường cho rằng địa điểm Hồ Quốc Hào tử nạn phải là tại Nam Áo. Kỳ thực "phát hiện tảo xi câu, tảo hoàn câu, tảo đa giáp có trong phổi Hồ Quốc Hào chỉ cho thấy “Phổi nạn nhân có chứa nước biển vùng Nam Áo bị ô nhiễm xích triều”. Rốt cuộc làm sao trong nội tạng người chết lại có nước biển Nam Áo, chỉ có thể tồn tại hai khả năng.

- Bị chết đuối ở Nam Áo.

- Không bị chết ở Nam Áo mà là một địa điểm K nào đó. Nhưng lại chết bởi nước biển Nam Áo. Vậy nước biển Nam Áo không thể có cánh mà bay đến chui tọt vào trong bụng nạn nhân. Tất nhiên phải có người vận chuyển đến địa điểm K...

Vì vậy có thể nói nếu hung chủ đã có sự chuẩn bị từ trước lấy nước biển Nam Áo, rồi vận chuyển đến địa điểm gây án. Chuyện này hoàn toàn nằm trong khả năng. Đó là một kế hoạch giết người hoàn Hào! Kế hoạch đó cần phải hội tụ những điều sau đây.

1. Kẻ gây án biết rất rõ thông tin hiện tượng xích triều ở vùng biên Nam Áo.

2. Kẻ gây án có thời gian và cơ hội đi Nam Áo lấy nước biển.

3. Kẻ gây án có cách thức dẫn dụ Hồ Quốc Hào tự dẫn xác đến địa điểm mà mình muốn.

Nhiếp Phong kiểm tra các tờ báo của Thâm Quyến trước và sau ngày hai mươi tư tháng sáu, anh phát hiện có một mẩu tin đăng về hiện tượng xích triều. Nếu muốn người ta dễ dàng xem được thông tin này. Chung Đào là một người rất thông mình, không khó để anh ta nắm bắt cơ hội trời cho. Điéu thứ hai nếu Chung Đào muốn thực hiện việc ấy thì cũng dễ như lấy đồ trong túi vậy. Từ ngày hai mươi hai đến bảy giờ tối ngày hai mươi tư tháng sáu, trưóc thời điểm Chung Đào và bạn bè tổ chức tụ tập tại vườn nướng, vùng biển Nam Áo xuất hiện hiện tượng xích triều khá nghiêm trọng. Ít nhất trong vòng bốn mươi giờ đồng hồ bất cứ lúc nào anh ta cũng có thể đến đó lấy nước biển.

Căn cứ vào lời Hồng Diệc Mình cung cấp và điều tra sau này, trước khi Hồ Quốc Hào rời khỏi nhà hàng có nhận được một cuộc điện thoại đặc biệt. Có thể khẳng định người gọi điện cho ông ta phải là một người hết sức thân thuộc và tin cẩn thì mới điều được Hồ Quốc Hào rời khỏi bàn tiệc. Trên góc độ này Chung Đào hoàn toàn phù hợp với điều kiện thứ ba.

Chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào cũng là do kẻ gây án cố ý đem vứt ở trường tiểu học Nam Áo mục đích là tập trung thu hút hướng điều tra của cảnh sát về phía Nam Áo. Trên thực tế năm ngày sau khi vụ án xảy ra người ta mới phát hiện được vật chứng này tại đây, mọi sự thật hiển nhiên hoàn toàn không được mọi người lưu ý đó là: Cậu bé phát hiện chiếc túi xách tại sân thể thao của trường. Buổi chiều ba ngày trước cũng đi qua vị trí này không hề nhìn thấy có chiếc túi lấm lem bùn đất nào cả. Trong lần đến Nam Áo, Nhiếp Phong đã hỏi cậu học sinh tiểu học đó rất kỹ.
Nghĩ đến đây Nhiếp Phong rung động toàn thân, phấn chấn vô cùng.

Anh cầm ly cà phê đã nguội lạnh từ bao giờ đưa lên miệng uống ực một ngụm hết sạch.

Từ những phản đoán trên có thể suy ra: Hiện trường đầu tiên phải là nơi rất gần vườn nướng Tiểu Mai Sa.

Nơi phát hiện di thể Hồ Quốc Hào ở bãi cát gần cầu tàu ở Tiểu Mai Sa là hiện trường thứ hai.

Thị trấn Nam Áo (sân trường Tiểu học, vùng biển Nam Áo) là hiện trường gỉả.

Vì vậy dẫn đến kết luận: Hung thủ đã sử dụng phương pháp "dùng không gian hoán đổi thời gian" để tạo ra chứng cứ ngoại phạm vững chắc.

Nhiếp Phong lấy máy di động bấm số gọi cho Tiểu Xuyên.

“A, anh Nhiếp ạ". Giọng của cậu còn ngái ngủ như vừa bị đánh thức, “Mới ba giờ sáng mà, có chuyện gì quan trọng không anh?”.

Nhiếp Phong hào hứng: “Mình tìm ra ‘điểm mù’ của vụ án Hồ Quốc Hào rồi!”.

Tiểu Xuyên tỉnh giấc hẳn bật ra khỏi giường: “Thật thế ạ!”.

Nhiếp Phong tóm tắt khái lược kết luận và lý do suy luận của mình cho Tiểu Xuyên: “Hung thú đã ngụy tạo thị trấn Nam Áo là hiện trường đầu tiên, thực chất hiện trường đầu tiên phải là Tiểu Mai Sa!”.
Anh quả quyết đưa ra lời khuyên: “Cậu hãy lập tức báo cáo với lãnh đạo kiến nghị cho điều tra lại trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa"

“Phạm vi bên ngoài làng nghỉ mát cũng kiểm tra ạ?”.

“Đúng thế, bao gồm tất cả các khu vực lấy điểm trung tâm là vườn nướng trong vòng bán kính cách đó mười phút đi bộ”.
“Em hiểu rồi".

3

Nghe Tiểu Xuyên báo cáo, đội trưởng Thôi vẫn còn bán tín bán nghỉ.

Anh chau mày: “Cái gã ‘Tây Bộ Thái Dương’ là thần thám sao?”.

Đào Lợi ngồi bên cạnh Tiểu Xuyên góp lời: “Những suy luận của nhà báo Nhiếp xem ra rất có căn cứ”.

Đúng lúc này cục trưởng Ngũ mặc cảnh phục bước vào.

Đội trưởng Thôi khẽ nói: “Anh ạ, Tiểu Xuyên có một vài thông tin mới”.

Cục trưởng Ngũ ngồi xuống ghế: “Cậu nói đi”.

Tiểu Xuyên báo cáo tất cả suy luận của Nhiếp Phong cho cục trưởng Ngũ nghe.

Đội trưởng Thôi hưởng về phía cục trưởng Ngũ xin ý kiến chỉ đạo.

“Chúng tôi đã từng kiểm tra rất kỹ Tiểu Mai Sa, liệu có phải tiến hành lại lần nữa không anh?”.

Cục trưởng Ngũ nghiêm nét mặt, đập tay lên bàn: “Thà tin là có còn hơn là không, ngay lập tức tập trung lực lượng tiến hành rà soát toàn bộ vùng phụ cận trung tâm vườn nướng Tiểu Mai Sa, theo đúng lời nhà báo Nhiếp đã nói, lấy đó làm tâm trong vòng bán kính mười phút đi bộ, ngay cả một con thỏ cũng không bỏ sót”.

“Rõ!”.

Khu vực mà Nhiếp Phong khoanh vùng mặt nam dựa vào vịnh Tiểu Mai Sa, phần đất liền trên thực tế gần giống như hình nửa cánh quạt. Nó chia làm ba khu. Khu thứ nhất là trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa giống hình trăng non, kẻo từ tây sang đông khoảng bốn, năm trăm mét, phân bố lần lượt, góc Đôn Châu con đường “lối nhỏ tình yêu", vườn nướng nghìn người, bãi cát tắm nắng, phòng trọ, nhà nghỉ Hải Đình, lầu ngắm biển, quán trà Bích Hải, vườn mai... Khu thứ hai là con phố nằm đối diện cửa chính trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa với một dãy cửa hàng, nhà khách cơ quan, khu vui chơi giải trí và nhà dân... Khu thứ ba là quần thể kiến trúc khách sạn Tiểu Mai Sa bao quanh cửa chính phía đông trung tâm bơi lội.

Cục công an khu Y đã điều động gần một trăm cán bộ chiến sĩ triển khai đội hình răng bừa bí mật rà soát trên cả ba khu. Tất cả đều đã lật nhào “ba tấc đất” mong muốn tìm kiếm cho được dấu vết chứng minh hiện trường đầu tiên nơi Hồ Quốc Hào tử nạn.

Công tác kiểm tra được tiến hành hết sức chu đáo, ngay cả cánh rừng phía tây nằm sau lưng vườn nướng, hang sâu dưới cây cầu gỗ nhỏ góc Đôn Châu cũng không bị bỏ qua. Thế nhưng vẫn chưa tìm thấy bất cứ manh mối nào có giá trị.

Buổi tối ngày hai mươi tư tháng sáu, bảy người Chung Đào và bạn bè ở nhà nghỉ Hải Đình, đó là dãy nhà sơn màu vàng nhạt,tường bao thấp. Theo nhân viên ở quầy lễ tân cung cấp, hôm đó bọn họ thuê bốn phòng đôi, mỗi giường nằm có giá một trăm sáu mươi tám tệ, bao thêm vé tắm biển, bữa tối ăn đồ nướng thì tự lo, giá cả như vậy là khả ưu đãi, chìa khóa phòng nghỉ giao trực tiếp cho khách giữ, đi về lúc nào cũng được.

Chính vì vậy qua mười một giờ đêm ngày hai mươi tư tháng sáu việc Chung Đào và Đinh Lam có quay về phòng nghỉ hay không? Thậm chí là quay về làm việc gì thì đám nhân viên đều không được biết. Hơn nữa sự việc đã xảy ra cách đây hơn một tháng, có rất nhiều du khách ra vào nơi này, giả sử còn dấu vết gì đi chăng nữa thì cũng khó có thể giữ nguyên hiện trạng. Việc tìm kiếm ở nhà nghỉ hoàn toàn không thu được kết quả.

Quán trà Bích Hải là dãy nhà xép nhỏ được làm từ vật liệu tre trúc màu xanh, bên cạnh là con đường với hàng dừa hai bên phủ bóng tâm mát, kiến trúc quán khá độc đáo, mỗi gian xép rộng hơn mười mét vuông, kết hợp với ghế trúc. Phía trước là bàn trà và giường nằm tạo không gian thoải mái cho khách uổng trà hoặc nghỉ ngơi.

Buổi tối gian xép có thể biển thành phòng nghỉ, các nữ nhân viên phục vụ mặc váy ngắn in hình hoa lan chạy đi chạy lại rót trà cho khách. Trịnh Dũng dẫn theo một vài cộng sự đi từng gian phòng kiểm tra tỉ mỉ, dò hỏi mọi nhân viên. Họ đều nói đêm ngày hai mươi tư tháng sáu Chung Đào và Đinh Lam không hề có mặt ở đây, đồng thời cũng không phát hiện dấu tích nào để lại của Hồ Quốc Hào.

Sau lưng quán trà Bích Hải là vườn mai, nằm ở phía tây vườn mai là lầu ngắm biển, nhà trọ. Cảnh sát kiểm tra tất cả những nơi đó, mọi ngóc ngách của trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa đều được rà soát kỹ càng.

Nhưng kết quả vẫn là con số không tròn trĩnh.

Điều ấy cho thấy rất có thể trong hai mươi lăm phút vắng mặt Chung Đào và Đinh Lam đã đi ra ngoài khu vực trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa. Cho dù trong quyển sổ ghi chép lưu lại ở cửa chính và cửa đông đều không có ghi tên hai người đó. Cũng không thể loại trừ khả năng bọn họ đã đi bằng con đường khác...

Quả đúng như vậy, sau khi kiểm tra phạm vi hai vùng còn lại, lập tức cảnh sát có thêm phát hiện mới.

Khi Tiểu Xuyên và Đào Lợi vào khách sạn Tiểu Mai Sa kiểm tra đã thu được kết quả không ngờ.

Từ vườn nướng đi bộ đến cửa đông trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa mất năm phút, ra khỏi cửa đông là sân tennis có mái che của khách sạn Tiểu Mai Sa. Tiểu Xuyên và Đào Lợi vượt qua sân tennis, đi qua bãi đỗ xe thẳng tiến vào cửa ngách khách sạn. Sau khi qua cửa ngách, vào hẳn bên trong đi men theo đường bên trái, qua câu tạc bộ thể dục thẩm mỹ là đến đại sảnh khách sạn.

Nền đại sảnh khách sạn được lát bằng đá Đại Lý sáng bóng, sạch sẽ, các cột trụ lừng lững bóng lộn.

Đây là lần thứ hai Tiểu Xuyên cùng Đào Lợi đến đây điều tra, hai ngày sau khi Hồ Quốc Hào tử nạn ở bãi biển, họ được phân công nhiệm vụ nắm bắt thông tin tại khách sạn sang trọng này, trọng điểm vẫn là tìm kiếm dấu tích cũng như quần áo của Hồ Quốc Hào... Khi họ đưa bức ảnh Hồ Quốc Hào, tất cả nhân viên trực đều nói buổi chiều ngày hai mươi tư tháng sáu không có vị khách nào giống người trong ảnh đến đây.

Người phụ trảch nhân viên phục vụ đón tiếp Tiểu Xuyên và Đào Lợi vẫn là cô gái hôm trước, hôm nay lại cũng là ca có trực.

“Ồ, là hai vị cảnh sát lần trước!”.

“Chúng tôi muốn tìm hiểu lại một số việc diễn ra vào ngày hai mươi tư tháng sáu”.

“Chuyện đã qua một tháng...". Người phụ trách có vẻ khó xử.

Đào Lợi hỏi: “Chị thử nghĩ lại xem, ca làm việc buối tối ngày hôm đó còn có ai trực nữa?”.

“Vâng”.

Người phụ trách quay lại giao cho một nhân viên phục vụ đi ngang qua: “Cô gọi A Phần đến gặp tôi”.

Chưa đầy một phút, người nhân viên có tên A Phần đi đến, đó là một có gái hơi béo, khuôn mật đầy vết tàn nhang.

Tiểu Xuyên rút từ trong túi áo bức ảnh Hồ Quốc Hào đưa cho cô gái.

“Ngày hai mươi tư tháng sáu chị có gặp qua người này không .

A Phần chăm chúnhin vào bức ảnh lắc đầu

“Người này nữa". Tiểu Xuyên lấy ra một bức ảnh khác, chụp bán thân Chung Đào.

Nhìn vào ảnh, A Phần nhận ra Chung Đào: “Có chút giống một vị khách hôm đó”.

“Thật không?”.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi cực kỳ hưng phấn.

A Phần đưa tay chỉ về góc quán trà trên hành lang: “Ông ta ngồi ở chiếc bàn cạnh cột trụ hành lang và gọi một cốc trà sữa”.

Tiểu Xuyên nhìn qua đó, chiếc bàn bị cột trụ che khuất nên chỉ có thể thấy một góc ghế mây, mặt bàn bằng đá hoa cương.

“Vì sao chị lại có ấn tượng sâu sắc đối với vị khách này”.

“Thái độ của ông ấy có chút khác lạ, giống như đang đợi người nào đó”, A Phần nhớ lại “Ngoài ra còn có một người phụ nữ”.

Theo những gì A Phần kể, lúc ấy cô vô tình hỏi người phụ nữ đó: “Quý ông ở đây đi đâu ạ?", người phụ nữ còn trả lời “Anh ấy đi vệ sinh".

“Có phải người phụ nữ này không?” Tiểu Xuyên lấy một bức ảnh khác, đó là ảnh chụp Đinh Lam đưa cho cô gái.

“Ôi, đúng là người phụ nữ này”. Vừa mới nhìn A Phấn đã nhận ra ngaỵ.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi đưa mắc hội ý với nhau.

“Lúc đó là mấy giờ?".

"Khoảng trên dưới bảy rưỡi tối”.

Thời gian này rất sát với lúc Hồ Quốc Hào nhận được cuộc điện thoại bí ẩn.

Tiểu Xuyên một lần nữa đưa bức ảnh Hồ Quốc Hào cho A Phần: “Chị xác nhận lại hộ tôi, lúc đó có nhìn thấy người đàn ông này không?”.

Có gái lắc đầu khẳng định: “Không ạ".

Phár hiện Chung Đào và Đinh Lam buổi chiều ngày hai mươi tư tháng sáu xuất hiện tại khách sạn Tiểu Mai Sa là một manh mối nằm ngoài dự liệu. Nhận được báo cáo của Tiểu Xuyên và Đào Lợi toàn đội phấn chấn hẳn lên. Một tháng nay mọi người đã phải kìm nén ức chế vì chưa tìm được đầu mối phá án. Lập tức người người hứng khởi bắt tay vào làm việc.

Tiêu điểm chính của cuộc điều tra bắt đầu tập trung vào vùng cuối cùng của Tiểu Mai Sa: Khu phố và các nhà dân xung quanh.

Phía dưới con đường dốc thoai thoải đối điện với trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa là một dãy dài quán rượu, đồn công an, trung tâm vui chơi giải trí, tiệm làm đầu... nối liền nhau san sát như vảy cá. Từ vườn nướng đi bộ ra khỏi của chính trung tâm du lịch, rảo chân bước nhanh tới khu phố đó cần khoảng sáu, bảy phút.

Quán rượu, quầy đăng ký nhà khách cơ quan, ông chủ nhà hàng, giám đốc trung tâm giải trí, nhân viên tiệm làm đầu... tất tần tật địa điểm và cư dân ở khu phố trên đều được cảnh sát hỏi thăm song đều không tìm được dấu vết gì dù là nhỏ nhất. Mục tiêu cuối cùng là các tụ điểm cư dân tương đối phức tạp. Đây là nơi đứng chân của các căn nhà trọ rẻ tiền tồi tàn.

Trực tại đồn công an là một cậu cảnh sát trẻ, đội trưởng Thôi dẫn Tiểu Xuyên và Đào Lợi đến đây. Đồn nằm ở phía sau khu dân cư, trước mặt tiền có một cây đa rất to, sát cạnh cây đa là một ngôi miếu, bậc thềm bằng đá, tường sơn màu phấn hồng, ngói lưu ly màu vàng, đi qua cửa ngôi miếu bên cạnh có một cái rãnh nhỏ, khá hẹp chỉ rộng khoảng một mét, hai bên có hơn mười căn phòng thấp lè tè, ngói xanh, cửa sổ sắt, tường trát tróc lở, trước cửa đều treo tấm biển “cho thuê nhà".

Đội trưởngThôi và mọi người kiểm tra sổ ghi chép theo dõi địa bàn. Ở đây có tất cả chín mươi căn nhà cho thuê, trong đó có bốn căn nhà cũ nát bỏ không hai tháng nay không có người hỏi đến, ngoài ra có mười ba căn do những người Hồ Nam đến đây làm thuê đang ở, số còn lại đều được các công nhân của một công ty xây dựng gần đó thuê, duy còn lại hai căn nhà để đầy gạch ngói, vôi cát có lẽ chủ nhân chuẩn bị sửa chữa.

Cậu cảnh sát khu vực của đồn đã hỏi chủ của tất cả căn nhà để tìm hiểu, họ đều nói không nhìn thấy Chung Đào và Đinh Lam, cũng không tìm thấy dấu vết nào của Hồ Quốc Hào để lại. Vùng này vẫn còn mang tính chất nông thôn nên bất cứ người lạ nào ra vào đây đều gây sự chú ý của mọi người.

Có thể khẳng định cuộc rà soát hoàn toàn thất bại, không thu đưọc kết quả gì. Vụ án lại một lần nữa rơi vào ngõ cục.

Tất cả các thành viên trong đội lộ rõ về thất vọng chán chường.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi cũng cùng chung tâm lý ái ngại.

Đội trường Thôi mặt mũi hằm hằm nóng nảy: “Tôi đã sớm nói rồi, không ngờ lại bị gã ‘Tây Bộ Thái Dương’ dắt mũi”.

Anh dường như đang giận chính mình.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi im lặng không dám lên tiếng.

Buổi tối ngày hôm đó, khi Nhiếp Phong bật máy vi tính anh nhận được email của Tiểu Xuyên:

Anh Nhiếp thân mến!

Em chào anh! Cục trưởng Ngũ đã tiếp nhận ý kiến của anh, hai ngày nay bọn em đã tổ thức gần một trăm người của cục tiến hành điều tra theo phương pháp rải thảm trên cả ba khu của Tiểu Mai Sa, thực tế chính là tất cả các khu vực “lấy vườn nướng làm tâm xoay quanh bán kính mười phút đi bộ”, phạm vi kiểm tra từ góc phố, khu dân cư cho đến tổ hợp kiến trúc khách sạn bên ngoài trung tâm du lịch, có thể nói đội cảnh sát hình sự đã lật từng miếng đất Tiểu Mai Sa lên để kiểm tra...

Mọi người đều mệt bở hơi tai, nhưng cuối cùng vẫn không tìm thấy chứng cứ “hiện trường đầu tiên” nơi Hồ Quốc Hào tử nạn.


Kết quả khiến tất cả thất vọng nản chí.
Khi em và Đào Lợi điều tra ở khách sạn Tiểu Mai Sa có phát hiện một chi tiết nhỏ. Buổi chiều ngày hai mươi tư tháng sáu, Chung Đào và Đinh Lam đã ngồi ở đại sảnh khách sạn uống trà. Ngoài chuyện đó ra không thu hoạch được gì thêm nữa.

Thôi, em tạm thông báo dến đây nhé!

Tiểu Xuyên

22 tcháng 7, viết tại phòng làm việc của đội

Rốt cuộc sai lệch ở địa điểm nào đây?

Nhiếp Phong chăm chú nhìn lên màn hình tinh thể lỏng cười khổ, góc trái màn hình biểu tượng “yahoo” màu hồng nhấp nháy như chọc thẳng vào mắt anh, như cười chê nhạo anh.

“Anh Nhiếp, có điện thoại này”. Tiểu Cúc thò cái mũi củ tỏi vào phòng.

“Ai gọi điện cho tôi đấy?”.

“Là tổng biên tập của anh, ‘lão sếp già’”

Nhiếp Phong trừng mắt với Tiểu Cúc rồi đứng dậy đi sang phòng khách.

“Vô lễ, cái tên, “lão sếp già” cô cũng gọi được sao?”.

Tiểu Cúc chu môi làm mặt xấu.

“Ồ! Tổng biên tập Ngô! Sếp có chỉ thị gì ạ?”.

“Bài điều tra theo sát vụ án, cậu đã hoàn thành bán thảo chưa?”. Sếp Ngô thúc giục.

“Sẽ nhanh thôi ạ! Bây giờ đã bắt đầu ‘thu lưới’...”.

“Cậu đánh cả ở biển sao? Thu lưới gì thế?". Tổng biên tập nói vui.

“Ôi! Em đang nhảy vào lửa đây này! Chỉ thu được mỗi cái đuôi cá”. Nhiếp Phong bật cười.

“Ngày mai tại Quảng Hàn có cuộc ‘Hội thảo nghiên cứu học thuật quốc tế muốn cử cậu đến đó để viết bài cậu đi nhé!”.

Thì ra tổng biên tập Ngô không hề thúc hoàn thành bản thảo điều tra mà là giao nhiệm vụ khác.

“Em đang bận bở hơi tai để hoàn thành bản thảo...”. Nhiếp Phong tìm cớ thoái thác.

“Người ta đặc biệt mời đích danh cậu". Sếp Ngô nói rõ “Có cần tôi đưa xe đến đón không?’’.

Nhiếp Phong ngạc nhiên: “Đưa xe... đón em?”.

“Nhất định là thế đấy nhé!”. Sếp Ngô không lôi thôi dài dòng dập máy điện thoại.

Nhiếp Phong có cảm giác như bị điện giật, anh chấn động tâm can, trong khoảnh khắc ngắn anh chợt nhớ ra đã có lần Tiểu Xuyên nói với anh: “Đinh Lam có xe ô tô”.

Nhiếp Phong bừng tỉnh ngộ, buông điện thoại xuống anh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về phòng đọc sách.

Mở rộng tấm bản đồ thành phố Thâm Quyến chăm chú nhìn vào đó, ánh mắt dừng lại ở vị trí eo biển Tiểu Mai Sa.

Nhiếp Phong hồi tưởng lần anh đến đó bơi vào ngày bốn tháng bảy.

Đầu tận cùng bãi biển phía đông Tiểu Mai Sa có Hồ nước xoáy, sóng biển tràn vào sóng ở đó vỗ cao hơn sóng ngoài biển.

Khi Nhiếp Phong quay lại chợt phát hiện bên trong con đê có một thảm thực vật tươi tốt.

Dưới vòm trời lồ lộ các loài cây cối và hoa cỏ của vùng ở nhiệt đới, màu sắc rực rỡ, phong phú. Anh hiếu kỳ đưa hai tay lên bám vào sườn đê thấp, ngực áp vào nó nhướn người ngó qua, bên kia con đê có một vườn ươm, sát lối vào những hang động tự nhiên, giáp với vườn ươrn là bãi cỏ khách sạn Tiểu Mai Sa.

Chỉ cần nhảy nhẹ qua đó là có thể đến được khách sạn. Cạnh bãi cỏ là khu để xe ô tô.

Chiếc xe Fukang màu trắng của Đinh Lam bất cứ lúc nào cũng có thểđỗ được ở đấy...

Buổi sáng hôm sau ngay sau ngày đi bơi ở Tiểu Mai Sa trong lúc trú mưa ở quán trà Vui Vẻ tình cờ Nhiếp Phong nghe được một người khách kể lại cuối tuần trước anh ta đưa mấy người bạn đi chơi đến nửa đêm mới về lều ngủ và nghe thấy tiếng chim kêu tảo tác phía con đường "lối nhỏ tình yêu”.

Nhiếp Phong đã đi trên con đường này để đến góc Đôn Châu, phía bên trái là con đê ngăn biển, bên phải tựa vào chân núi, hàng cây xanh mát chạy dọc hai bên. Mỗi đoạn ngắn tầm ba đến năm bước chân là một chiếc ghế đã để du khách dừng chân nghỉ ngơi. Cách vị trí cầu tàu không xa là cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi, cành lá xanh um, ánh mặt trời cũng khó xuyên qua, trên thân cây treo một tấm biển đề "Đa núi trăm năm”.

Nhiếp Phong dừng bước đứng dưới gốc cây, ngước mắt lên trên quả nhiên nhìn thấy có rất nhiều tổ chim. Những con có trắng đậu đầy trên các nhánh, chạc cây to nhỏ, đếm thử phải đến hai, ba chục con. Vào nửa đêm nhất định phải có tiếng động đánh thức thì chúng mới kêu loạn lên như vậy.

Phía sau cây đa có một lối mòn bậc đá khấp khểnh uốn lượn phủ đầy lá rụng.

Nhiếp Phong lách người gạt các cành cây lòa xòa sang một bên, anh bước từng bước lên thềm đá leo lên đến đỉnh, đây là địa giới cuối cùng của trung tâm du lịch. Trong đám cỏ lau rậm rạp lẫn với hàng rào lưới sắt lộ ra một căn nhà gạch nhỏ giống như phế tích lô cốt bỏ hoang.

Đứng ở đường “lối nhỏ tình yêu” đưa mắt ngước lên trên có thể nhìn thấy chóp của những chiếc xe bus vô tình đi ngang qua.

Nhiếp Phong dừng tại đó một lúc khá lâu, anh chợt hiểu ra: Phía trên là con đường quốc lộ chạy qua Tiểu Mai Sa.

Vào lúc nửa đêm rạng sáng ngày hai mươi lăm tháng sáu nơi đây rất yên tĩnh, nếu như có một chiếc xe nhẹ nhàng dừng trên đường quốc lộ, kẻ gây án lôi từ sau xe thi thể Hồ Quốc Hào chui qua hàng rào sắt, rồi men theo sườn dốc xuống cầu tàu. Đó là con đường ngắn nhất.

Tiếng cò kêu trong đêm khuya thanh vắng đã minh chứng đêm đó ở đây ắt phải có tiếng động đặc biệt.

Nhiếp Phong lập tức gọi điện thoại cho Tiểu Xuyên, anh xin được số điện thoại của cục trưởng Ngũ, tiếp đó anh liên lạc với vị cục trưởng công an giàu kinh nghiệm này.

"Cục trưởng Ngũ! Tôi là Nhiếp Phong”.

“Ồ, nhà báo Nhiếp đó hả?”. Cục trưởng Ngũ lên tiếng, giọng nói có chút ngái ngủ

“Đêm hôm khuya khuắt thế này đánh thức sếp dậy thật ngại quá. Tôi có một số việc quan trọng muốn báo cáo”.

“Cậu nói đi”. Cục trưởng Ngũ hết sức thoải mái.

“Việc phán đoán Tiểu Mai Sa là ‘hiện trường đầu tiên’ mắc phải sai lầm, theo suy luận của tôi chuyện đó sự thật là...”.

“Sự thật là gì?”.

“Đinh Lam có một chiếc ô tô nhãn hiệu Fukang màu trắng”.

“Fukang màu trắng?”, Cục trưởng Ngũ lẩm nhẩm trong miệng

"Đúng!". Nhiếp Phong nhấn mạnh, có phần khẳng định chắc chắn “Cho nên vị trí hiện trường đầu tiên phải là trong phạm vi trên dưới năm đến bảy phút lái xe! Tôi đã làm qua thực nghiệm từ vườn nướng đi bộ đến vườn ươm phía đông bãi biển, sau do vượt qua bức tường để ra ngoài khách sạn Tiểu Mai Sa mất khoảng năm phút, quay ngược trở lại cả đi và về mất mười phút. Giả thiết đến vị trí tìm thấy xác Hồ Quốc Hào hết năm phút thì vẫn còn thừa mười phút, đó là khi sử dụng phương tiện xe ô tô... Nếu như từ hướng con đường “lối nhỏ tình yêu” vượt qua hàng rào trung tâm du lịch chỉ cần có ba phút cả đi và về vị chi sáu phút, cộng thêm thời gian di chuyển xác Hồ Quốc Hào năm phút. Nếu dùng ô tô cả đi lẫn về có thể dưới mười bốn phút, đi một chiều chỉ mất khoảng bảy phút”.
“Hành trình di chuyển bằng xe hơi mất từ năm đến bảy phút. Nói như vậy vị trí hiện trường đầu tiên sẽ phải xa hơn?”.

“Đúng ạ! Phạm vi này bao gồm cả những vùng trước đây ta coi nhẹ…”

“Là Đại Mai Sa?”. Cục trưởng Ngủ sửng sốt thốt lên.

“Vâng, chính là Đại Mai Sa”. Nhiếp Phong thêm lần nữa khẳng định.

“Rất cảm ơn cậu, nhà báo Nhiếp!”.

Cục trưởng Ngũ vui mừng hiểu ra.

Hiện trường đầu tiên đó chính là Đại Mai Sa.

***

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cục trưởng Ngũ, cục công an khu Y lần thứ hai triển khai điều tra trên diện rộng.

Giữa Đại Mai Sa và Tiểu Mai Sa được ngăn cách bởi dãy núi Hoãn Khâu nhấp nhô. Khoảng cách giữa hai nơi chừng sáu, bảy kilômét, phạm vi hành trình bằng xe hơi từ Tiểu Mai Sa theo hướng tây khoảng năm đến bảy phút, có thể đến phạm vi toàn bộ vùng đông Đại Mai Sa bao gồm bãi tắm phía đông, làng nghỉ mát Đại Mai Sa, nhà hàng Hải Châu, khách sạn Mai Sa, phòng khám đa khoa, chợ Mai Sa. Ngoải ra còn có hai khu dân cư là thôn Thượng Bình và thôn Thành Khanh. Dân số ở hai thôn không nhiều chỉ cỡ vài chục nóc nhà.

Đội trưởng Thôi dẫn đội hình sự phân ra thành nhiều nhóm nhỏ kiểm tra khắp hiện trường, đi kèm là các chú chó nghiệp vụ tinh khôn. Để chắc chắn phạm vi rà soát trên thực tế còn vượt quá hành trình bảy phút đi bằng xe hơi. Cảnh sát khu vực của sở công an cũng được huy động để phối hợp truy tìm.

Bên cạnh nhà hàng Minh Châu là một nhà trọ cao tầng sơn màu trắng, phía đằng sau có hai ngôi nhà nhỏ trần rất thấp, tường ốp gạch tráng men, tường bao bên ngoài cũng thấp, điển hình phong cách nhà ở của cư dân vùng Quảng Đông.

Qua nơi đó, họ phát hiện một ngôi nhà thờ tổ, phía trước cũng trồng một cây đa rất to, dưới gốc cây đặt một chiếc bàn tròn và tám chiếc đôn bằng đã. Tường ốp gạch men vàng, mái lợp ngói lưu ly. Từ cửa nhìn vào nó giống như một giếng trời nhỏ xíu, bên trái đắp nổi dòng chữ “Phúc Lộc Thọ Hỉ”, phía bên phải "Ngô Phúc Cộng Thọ”.

Nằm phía sau nhà thờ tổ là sáu, bảy gian nhà cũ nát, tất cả đều lợp ngói màu xanh hình vẩy cá, cửa gỗ cũ kỹ, tường nhà tróc vữa nham nhở, có lẽ đã rất laau rồi không được tu sửa. Phía trước cửa không đề biển hiệu, chỉ có dòng chữ, số sơn màu đỏ nhem nhuốc “Cho thuê tạm, số 13”. Ba gian cuối cùng bên phải san sát nhau Đội trưởng Thôi dẫn nhóm của mình đến đó, anh như có một dự cảm đặc biệt, khung cảnh hoang tàn đổ nát không dấu chân người, bốn phía đều thấp thoáng không khí mờ ám thật là nơi lý tuởng cho các hoạt động phạm pháp.

Cảnh sát kiểm tra từng gian nhà, đến gian cuối cùng cửa đ.ã bị khoá chặt.

Người cảnh sát khu vực trong nhóm đi tìm chủ nhà, đó là một phụ nữ hơn sáu mươi tuổi, mỉ mắt sùm sụp, mái tóc cắt ngắn điểm nhiều sợi bạc.

Đội trưởng Thôi hỏi.

“Bà là chủ nhân gian nhà này?”.

“Vâng...”. Người phụ nữ luống tuổi gật đầu.

Anh bảo bà ta mở cửa, gian phòng tối om, nền nhà bụi bặm ẩm mốc, bên phải bức tường gạch nung ngăn ra thành một không gian nhỏ, cảm giác thật lạnh lẽo, tường trát vôi, góc trong đắp kệ bếp bằng đất, nằm trên là chiếc lò than, sát đó là hộp chứa than, cạnh cửa ra vào để thùng, chai nhựa và vài thứ lặt vặt khác.

Bậc thềm một cấp bằng đá, ngay bên vòi nước, mặt đất ấm thấp mọc đầy rêu.

Chạy dọc cả dãy nhà cũ là một cái sàn lát đá chiều rộng cỡ ba, bốn mét, việc đỗ xe ở đây không khó.

“Gian nhà này tháng trước có ai thuê không?”. Đội trưởng Thôi hỏi bà chủ.

“Có ạ, là một người phụ nữ”.

“Tên của người đó là gì?”.

“Có ấy nói tên là Ngô Lệ, khoảng bốn mươi tuổi”.

Tiểu Xuyên lấy ra vài tấm ảnh, đưa cho bà chủ nhà.

Lật qua từng bức ảnh bà ta chỉ vào tấm ảnh chụp Đinh Lam.

“Ngô Lệ? Bà có kiểm tra chứng minh thư không?”.

“Chúng tôi chỉ cho thuê tạm thời nên tất cả đều không hỏi chứng minh thư làm gì”. Bà chủ thành thật đáp.

Đội trưởng Thôi nhướn mắt nghiêm khắc nhìn anh cảnh sát khu vực, anh ta có vẻ ngượng ngùng. Rõ ràng việc quản lý địa bàn ở đây rất lỏng lẻo. Người cho thuê nhà chỉ cần thu được tiền chứ không cần kiểm tra đó là ai, từ đâu đến, cũng không thông báo cho đồn cảnh sát.

“Chị ta thuê gian nhà này từ bao giở?”.

"Đầu tháng trước ạ, dường như là cuối tuần. Tôi nghĩ... khoảng trước đó hai, ba ngày gì đấy. Chị ta nói là thuê cho hai người lao động ở cùng quê, trước tiên cứ thuê một tháng, đã đặt cọc ba trăm tệ”.
"Sau này gian nhà có ai đến ở không?”.

“Tôi không rõ”.

“Cho thuê phòng mà không quản lý hả?”. Anh cảnh sát khu vực bực bội trách.

“Chúng tôi không tiện hỏi việc riêng cá nhân người đến thuê’’.

“Chị Ngô Lệ trả phòng từ khi nào?”.

“Cuối tháng trước đã trả phòng rồi ạ”.

“Hiện tại vẫn chưa có ai thuê mới chứ?”.

“Không có ai ạ!”.

Hiện trường ngay lập tức được phong tỏa, cảnh sát kiểm tra tỉ mỉ toàn bộ gian nhà, một cây sào tre bắc ngang gian phòng trên đó treo vài chiếc khăn len bẩn. Dựa vào bức tường bên phải là cầu thang gỗ không có tay vịn, leo lên trên cảm thấy nó rất ọp ẹp, đó là một gác xép nhỏ, dường như là nơi để ngủ, phía trên lợp ngói cũ tránh mưa, ánh sáng trong gian xép rất ít, vật dụng sơ sài song rất sạch sẽ. Đồ đạc chỉ có một chiếc giường, một chiếc bàn, hai cái ghế tựa, nền lát vật liệu phổ thông. Tiểu Xuyên lật thang giường lên phát hiện một chiếc can nhựa, dung tích hai mươi lăm lít, bên trong vẫn còn gần nửa thùng dung dịch chất lỏng đục ngầu chuyển sang màu đen xì, mùi rất tanh.

Đội trưởng Thôi bấm điện thoại, chưa đầy vài phút hai trinh sát mặc cảnh phục bước vào. Đội trưởng chỉ thị: “Đây là nơi có rất nhiều vật chứng quan trọng, các cậu hãy lấy mẫu đi”.

Hai người đó đeo găng tay, một người lấy máy ảnh chụp mọi góc độ, người kia mở chiếc hộp sắt mang theo, đó là hộp chứa bột lấy dấu vân tay. Sau đó anh cầm chiếc chổi lông cẩn thận chấm vào bột phết lên tay nắm cửa, cạnh bàn và chiếc can nhựa để lấy dấu vân tay.

Tiểu Xuyên tỉ mỉ lục soát khắp gian nhà, đằng sau cửa sổ cậu tìm thấy một búi băng dính màu vàng, kiểm tra dấu vân tay còn lưu lại là vân tay ngón cái. Can nhựa và tất cả vật chứng quan trọng đều được chuyển đến cục công an khu Y.

Buổi sáng ngày thứ hai, phòng kỹ thuật đã có kết quả dấu vân tay trên các vật chứng đưa về. Dấu vân tay trên tay nắm cửa, trên thành giường và đồ gia dụng xung quanh hết sức hỗn tạp không thể đưa ra kết luận chính xác. Trên chiếc can nhựa màu trắng lấy được hai dấu vân tay rõ nét, một ở ngón chỏ, một ở ngón cái so sánh với dấu vân tay lưu lại trên búi băng dính là cùng của một người. Đối chiếu dấu vân tay Chung Đào hoàn toàn trùng khớp.

Tất cả mọi người đều phấn chấn hẳn lên.

Trải qua một tháng mất ăn mất ngủ vất vả khổ cực truy lùng dấu vết, cuối cùng cũng tóm được vật chứng. Sự vui mừng hoan hỉ của mọi người cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng dung dịch chứa trong chiếc can nhựa khi đem đi hóa nghiệm chỉ thu được kết quả là nước biển có nồng độ mặn cao, hoàn toàn không tìm thấy tảo xi câu, tảo hoàn câu, tảo đa giáp hay bất cứ thành phần tảo nào. Thành phần ba loại tảo đó là vật chứng cực kỳ quan trọng.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi lại được giao nhiệm vụ đi Quảng Châu nhờ các chuyên gia của trung tâm giám định môi trường Nam Hải giúp đỡ.

Khi đi họ mang theo dung dịch mẫu vật, dưới kính hiển vi siêu cấp chỉ nhìn thấy một mớ hỗn độn và các mảnh vụn.

Chủ nhiệm trung tâm giải thích cho hai người rồi, tuổi thọ của tảo giáp rất ngắn, thông thường chỉ có vài giờ đồng hồ là một thế hệ mới ra đời. Cho nên còn gọi là sinh sản bạo phát. Trong điều kiện môi trường thuận lợi cũng chỉ sống được tối đa hai ngày. Trong can nhựa thiếu không khí và ánh sáng, tảo giáp chết càng nhanh. Sau một, hai ngày từ khi tảo chết, dưới kính hiển vi siêu cấp vẫn có thể nhìn rõ. Song nếu để lâu hơn, các tổ chức tế bào sẽ bị phá vỡ biến thành các mảnh vụn, không thể nhìn rõ, cho nên không thể phân biệt được.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi ra về mang theo nỗi thất vọng và sự bất lực.

Đội trường Thôi cũng có cảm giác khó khăn. Tuy chỉ là lỡ một bước nhỏ song ảnh huởng cực kỳ lớn tới công sức bao ngày của mọi người, việc phá án tưởng chừng như sắp đi đến thắng lợi cuối cùng lại dễ đổ xuống sông xuống biển, quả là đắp một ngọn núi chỉ có thiếu sọt đất mà không thể hoàn thành.

Nếu xét nghiệm được dung dịch trong chiếc can nhựa là nước biển chứa tảo ở Nam Áo thì sẽ chứng minh được căn phòng này là hiện trường đầu tiên nơi Hồ Quốc Hào bị ám hại. Trên búi băng dính màu vàng phát hiện một vệt hình dấu môi, rất có thể đây là vật bịt miệng Hồ Quốc Hào. Song hiện nay thi hài Hồ Quốc Hào đã bị hóa thiêu. Dấu môi in trên đó có phải là của ông ta hay không không thể kiểm chứng được. Ngoài ra trong đó không hề phát hiện bất cứ dấu vết nào của Hồ Quốc Hào (bao gồm điện thoại đi động, quần áo, dấu vân tay...). Chung Đào và Đinh Lam có thể hoàn toàn phủ nhận, cùng lắm là thừa nhận hai người thuê phòng để quan hệ tình cảm riêng tư.

Cuối cùng cục trưởng Ngũ quyết định: “Lập tức giám sát mọi hành động của Chung Đào và Đinh Lam".

5

Viện bảo tàng Tam Tinh.

Trong phòng triễn lãm trang trí thật rực rỡ, nơi đây tập trung đông đảo các học giả nổi tiếng. Một chiếc mặt nạ cực lớn bằng đồng xanh được đặt ở tủ kính trưng bày, có hướng dẫn viên bảo tàng nhiệt tình giới thiệu với mọi người: “Đây là chiếc mặt nạ bằng đồng xanh nổi tiếng, nó còn đươc gọi là mặt nạ ánh sáng mặt trời, rộng một mét ba mươi tám, cao sáu mươi lăm centimét, có thể coi là chiếc mặt nạ nổi tiếng nhất thế giới. Xin quý vị hãy nhìn vào đây, mắt của nó lồi hẳn lên. Đó chính là biểu tượng của nhà Thục cổ. Trong văn giáp cốt của chữ “Thục”, phía trên chỉ có một con mắt lớn...”.
Những người tham quan và các học giả thích thú lắng nghe, có người cười thầm trong bụng. Chiếc mặt nạ đó có gì đó giống hình cái thớt lớn. Miệng rộng ngoác, mắt lồi, mũi cao, đôi tai hệt như cặp binh khí phương thiên họa kích. Tất cả tạo nên một hình thù kỳ dị lạ mắt, lại có vẻ thần bí khó đoán khiến cho người ta phải bàn tán khồng dứt.

Nhiếp Phong đeo trước ngực tấm thẻ đại biểu hội nghị, anh đứng phía sau đoàn người tham quan, dường như tai lắng nghe người hướng dẫn giải thích song có chút gì đó bồn chồn, chốc chốc lại đưa tay lên xem đồng hồ.

Anh đang chờ đợi tin tức cuộc bủa lưới của cảnh sát cách xa đây cả nghìn kilômét.

Bốn giờ mười lăm phút chiều, máy điện thoại di động của Nhiếp Phong rung lên, là Tiểu Xuyên gọi cho anh, anh vội vã bước ra khỏi phòng triển lãm nghe điện thoại.

Cậu cảnh sát trẻ báo tin vui: “Anh Nhiếp ạ, có tin rất vui, dựa trên suy đoán của anh, tại mấy gian nhà cho thuê ở Đại Mai Sa cuối cùng bọn em cũng tìm thấy cái tổ “tò vò” gây án của Chung Đào và Đinh Lam. Rất có thể đây là “hiện trường đầu tiên” nơi Hồ Quốc Hào vong mạng”.

“Quả nhiên đúng như mình suy luận". Nhiếp Phong cũng không giấu được niềm hưng phấn.

“Cực kỳ chính xác, bọn em đang thừa thắng xông lên. Anh Nhiếp, anh thật là quá giỏi".

Qua điện thoại Tiểu Xuyên đã tiết lộ kết quả quá trình truy lùng dấu vết.

Việc phát hiện ra chiếc can chứa nước biển hoàn toàn không làm Nhiếp Phong bất ngờ. Anh chỉ có chút không hiểu vì sao Chung Đào lại để dấu vân tay lưu trên chiếc can nhựa? Kế hoạch gây án rất hoàn hảo cho thấy hung thủ là người vô cùng thông minh. Mỗi nước đi đều có tính toán cẩn trọng, hoàn toàn là kẻ tội phạm có trí thức. Anh ta nhất thời sơ suất hay không có đủ thời gian xóa dấu vết hoặc còn nguyên nhân nào khác nữa?

Nhiếp Phong hỏi Tiểu Xuyên: “Tại hiện trường không tìm thấy dấu vân tay Hồ Quốc Hào?”.

“Đúng ạ! Bên ngoài cửa sổ em phát hiện một búi băng dính màu vàng, trên đó cũng chi có duy nhất dấu vân tay Chung Đào”.

“Ồ, vậy có tìm thấy quần áo của Hồ Quốc Hào không?”.

“Cũng không thấy”.

“Xem ra hiện trường đã được xử lý một cách rất sạch sẽ...”. Anh lẩm bẩm trong miệng.

Buổi chiều cùng ngày, Nhiếp Phong hoàn thành chuyến phỏng vấn, chỉnh lý lại một chút tài liệu, ngay tối hôm đó anh quay về Thành Đô.

Từ Quảng Hán về Thành Đô theo đường cao tốc khoảng ba mươi tám kilomét, chừng nửa giờ xe chạy là đến nơi. Nhiếp Phong ngả người ra hàng ghế sau nhắm nghiền đôi mắt, sau giây phút hưng phấn giờ anh lại trầm tư.

Cảnh sắc về đêm, những cánh đồng màu vàng xanh hai bên đường hòa vào nhau vùn vục lướt qua.

Một tháng đã trôi đi, tất cả mọi việc ly kỳ như vừa mới diễn ra hôm qua.

Trong đầu Nhiếp Phong mường tượng ra kế hoạch và phương thức thực hiện cực kỳ tỉ mỉ của đối tượng gây án.

Buổi tối ngày hai mươi tư tháng sáu từ mười một giờ năm phút đến mười một giờ ba mươi phút, Chung Đào và Đinh Lam phối hợp cùng nhau hành động.

Mười một giờ mười phút, hai người bọn họ vượt qua bức tường thấp khu cấm phía đông để đến bãi đỗ xe của khách sạn Tiểu Mai Sa. Sau khi lái chiếc Fukang đến gian nhà đã thuê sẵn mất năm phút, tức là mười một giờ mười lăm phút.

Trong năm phút ấy, Đinh Lam đã giúp Chung Đào di chuyển thân hình bị ngấm thuốc ngủ của Hồ Quốc Hào vào gian nhà thuê, sau khi xử lý xong Hồ Quốc Hào, mười một giờ hai mươi lăm phút họ lái xe quay trở lại bãi đỗ xe và đi theo con đường cũ trở về.

Khi Chung Đào và Đinh Lam quay trở lại vườn nướng là đúng mười một rưỡi.

Ba giờ sáng Chung Đào nhẹ nhàng mở cửa phòng trọ bước ra lại đi theo tuyến đường cũ, vượt qua bức tường thấp lên xe đến Đại Mai Sa. Trong bóng đêm, cái xác Hồ Quốc Hào được đưa lên xe đi theo con đường "lối nhỏ tình yêu”, lên đến đỉnh tới đường quốc lộ, anh ta bật đèn pha, thi thể Hồ Quốc Hào được hạ xuống, vượt qua hàng rào lưới, theo những bậc thang bằng đá, cuối cùng cái xác được vứt lại một góc của bãi biển Tiểu Mai Sa. Khi vượt qua hàng rào lưới đã gây tiếng động khiến cho những con cò đậu trên cây đa cổ thụ giật mình dáo dác kêu lên.

Hồ Quốc Hào đã bị dìm chết trong thứ nước biển mà anh ta lấy từ Nam Áo vận chuyển bằng xe hơi đến từ trước.

Nhưng, vì sao Chung Đào lại muốn giết chết Hồ Quốc Hào?

Động cơ gây án của Chung Đào là gì?

Tất cả những điều đó vẫn còn nằm trong bóng tối.

Nhiếp Phong cảm thấy mình phải đi Vân Nam một chuyến, ngồi trên xe anh lấy máy di động gọi cho tổng biên tập Ngô theo số nhà riêng: “Anh Ngô ạ, công việc phỏng vấn ở Tam Tinh em đã hoàn thành rồi!”.

“Ồ nhanh vậy à!". Tổng biên tập rất hài lòng.

“Anh cho em xin nghỉ ba ngày". Nhiếp Phong dừng lại một lát “Em có công chuyện phải đi Vân Nam”.

“Đi Vân Nam? Đến đó ngắm cảnh thật tuyệt”.

“Không ạ”.

“Nếu không thì đến hồ Lô Cô cướp vợ hả?”. Sếp Ngô bật cười nói vui.

Nhiếp Phong tiết lộ một chút: “Việc này có liên quan đến những phát hiện mới trong vụ án Hồ Quốc Hào”.

Tổng biên tập Ngô nghiêm túc hỏi lại: “Vụ án xuất hiện nhiều tình tiết mới?”.

“Đang đợi điều tra cho rõ ạ”. Nhiếp Phong tiếp lời “Nhưng em có trực giác chìa khóa khám phá vụ án này nằm ở Vân Nam”.

“Khi nào cậu đi?”.

“Em định vào ngày mai”.

“Được rồi”. Không ngờ tổng biên tập lại đồng ý nhanh chóng đến vậy, “Tớ cho cậu bốn ngày nghỉ, nhưng chỉ có một điều kiện nhân chuyến đi này tổng hợp viết bài về ‘Hội chợ hoa miền tây’”.

Thì ra là ông yêu cầu anh đi lấy tư liệu viết bài, quá thật là sớm thành “cái máy viết" của tổng biên tập mất thôi.

“Vâng, kinh phí chuyến đi cũng nhân tiện lấy ở chỗ sếp chứ ạ?”.

“Ha ha, không thành vấn đề! Quân tử nhất ngôn”.
[/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size]
0

Chương 11

TIẾNG ĐÀN DU DƯƠNG

1

Thứ hai, ngày hai muơi tư tháng bảy, Chung Đào kết thúc chuyến công tác, trở về nhà.

Hôm nay tròn một tháng kể từ ngày Hồ Quốc Hào xảy ra chuyện.

Tòa nhà Địa Hào nghễu nghện vươn cao, các tấm kính ốp bên ngoài phản chiếu màu xanh đen âm u, lạnh lẽo.

Chung Đào bước ra khỏi thang máy tầng thứ hai mươi tư, anh có cảm giác không khí trong toà nhà có gì đó kỳ lạ. Hôm nay, Chung Đào mặc chiếc áo sơ mi cộc tay, đeo cà vạt đỏ, làn da đen nhẻm đầy vẻ phong trần bụi bặm sau chuyến công tác dài ngày. Bước vào khu văn phòng, phòng làm việc của thư ký chủ tịch HĐQT vắng lặng không có lấy một bóng người. Trên cửa văn phòng chủ tịch dán dấu niêm phong có con dấu đỏ chót.

Ngay trong thời gian tham dự hội thảo ở vùng tây nam, Chung Đào đã nhận được điện thoại của tổng giám đốc Châu và biết tin Mã Tuyết Anh đã chết bởi tai nạn xe hơi. Khi nghe tin đó anh đã lặng cả người. Châu Chính Hưng còn hỏi: “Anh có nghe tôi nói không?” Lúc ấy Chung Đào chỉ buột miệng một câu “Cô ta chết thật vô ích”.

Đi dọc hành lang đám nhân viên nhìn anh với con mắt kỳ lạ, có người gật đầu chào anh.

“Phó tổng giám đốc Chung về ạ!".

“Vâng”.

Ngoài câu nói đầy khách sáo, Chung Đào có cảm giác tất cả đang xa lánh anh.

Chung Đào tiến vào phòng làm việc của tổng giám đốc báo cáo tình hình hội nghị địa ốc Trùng Khánh.

Châu Chính Hưng ngồi phía sau bàn làm việc, khuôn mặt mệt mỏi, auh ra chỉ hỏi qua vài câu chiếu lệ về nội dung chuyến công tác. Những điều còn lại tập trung xoay quanh những phiền toái gần đây của Địa Hào.

“Nguyên nhân cái chết của A Anh đã được điều tra đến đâu rồi hả anh?”.

“Bên cảnh sát nhận định có người cố tình gây ra chuyện đó”. Châu Chính Hưng đáp, anh ra cố tránh không dùng hai từ “giết hại”.

“Tại sao phòng chủ tịch Chu Mỹ Phượng lại bị niêm phong vậy?”.

“Đã bảy ngày nay không liên lạc được với cô ấy, bên cảnh sát nói cần bảo vệ hiện trường...”.

“À!”. Khuôn mặt Chung Đào lộ rõ vẻ dường như đã hiểu ra tất cả.

Trên thực tế cảnh sát đã gửi công văn truy nã Chu Mỹ Phượng đến cảnh sát quốc tế.

Sau khi Mã Tuyết Anh bị giết chết bằng việc ngụy tạo tai nạn xe hơi, từ nhật ký cuộc gọi của Chu Mỹ Phượng do cục bưu điện cung cấp cảnh sát đã phát hiện một chi tiết vô cùng quan trọng: Nửa giờ trước khi Mã Tuyết Anh xảy ra chuyện, Chu Mỹ Phượng đã nhiều lần liên lạc với một số điện thoại lạ, năm phút sau khi Mã Tuyết Anh chết, Chu Mỹ Phượng lại nhận được cuộc gọi của số điện thoại lạ đó, thời gian thông máy chỉ có bốn giây. Kể từ đó Chu Mỹ Phượng tắt máy, cảnh sát đã xác định được chủ nhân của số điện thoại bí mật là một kẻ du thủ du thực có đầy tiền án ngoại hiệu Đại Hồ Tử. Ba ngày sau đó tại một nhà trọ cao cấp họ bắt được hắn ta. Đối chiếu dấu vân tay của kẻ tình nghi với dấu vân tay thu được trên vô lăng chiếc Nissan màu đen gây tai nạn thu được kết quả hoàn toàn trùng khớp. Trước chứng cứ cực kỳ vững chắc, Đại Hồ Tử đã khai ra: Chu Mỹ Phượng chi hai mươi nghìn tệ để thuê hắn giết Mã Tuyết Anh. Số tiền giao trước một nửa sau khi hoàn thành công việc sẽ nhận nốt số còn lại.

Tất cả những việc đó có thể Châu Chính Hưng thật sự không biết.

Vị lãnh đạo mới của tập đoàn Địa Hào ngay lập tức điều chỉnh thái độ.

Anh ta nói cho Chung Đào hay, những chuyện xảy ra gần đây ở Địa Hào có ảnh hưởng rất lớn tới thương hiệu và uy tín tập đoàn, mấy ngày nay các phương tiện truyền thông luôn tìm đến quấy rầy, làm cho cả Bằng Thành đồn thổi tin tức không hay. Các công ty khác cùng ngành cũng hết sức chú ý, họ cũng đang chờ có dịp để hả hê vui sướng .

“Cho nên hiện nay việc quan trọng nhất của Địa Hào là phải ngay lập tức ổn định tình hình, không để xảy ra thêm bất cứ chuyện gì gây ảnh hưởng đến công ty. Tập trung lực lượng cao nhất nhằm làm giảm tổn thất đến mức tối đa”.

Thái độ của Châu Chính Hưng biểu thị rõ vẻ cùng hội cùng thuyền.

“Ngoài ra cảnh sát cũng đang dò hỏi về anh đấy!". Châu Chính Hưng nhắc khẽ Chung Hào.

“Thật ạ?".

Chung Đào dường như không mấy quan tâm.

Quán nướng Mông cổ Cửu Cửu Long

Buổi tối, Đinh Lam tiếp đón Chung Đào tại nhà hàng chuyên món nướng tự phục vụ lớn nhất Thâm Quyến.

Cửu Cửu Long có hơn một nghìn chỗ ngồi, mỗi khách tính giá ba mươi tám tệ, đồ nướng miễn phí. Do giá cả hợp lý, đồ ăn ngon nên chiều tối nào nơi đây cũng rất đông thực khách. Ở giữa nhà hàng đặt một dãy dài đồ tươi ngon mắt, phân ra thành từng khu, khu thịt nướng, khu lò nướng, khu đồ ăn nóng, khu hoa quả, các loại hải sản hết sức phong phú, cua bể, thịt bò béo, thịt dê, cá, và các loại rau quả...

Chỉ cần bỏ ra thêm mười tệ là có thêm món kem và các loại đồ ngọt.

Hai người ngồi cùng một bàn, lò nướng bốc khói nghi ngút, mùi thơm cũng kích thích vị giác.

“Vị thịt dê nướng ngon lắm đấy em!”.

Chung Đào lấy một miếng thịt nướng chấm vào bát nước trong rồi đưa lên miệng.

Đinh Lam nheo mắt nhìn anh bật cười: “Dáng anh ăn xấu quá".

“Thật hả".

Mấy cậu công nhân còn rất trẻ ngồi bàn bên nói chuyện ầm ĩ ăn uống nhồm nhoàm, trong chiếc đĩa to để đầy vỏ và chân cua.

“Về Tứ Xuyên lần này anh có gặp dì không?”.

“Anh gặp cụ rồi, chỉ là bây giờ sức khỏe không được như trước”.

“Còn gặp ai nữa không anh?”.

“Cô chủ nhiệm lớp thời trung học”.

“Là cô ‘Euclid’ ạ”.

Cô chủ nhiệm lớp từ bộ đội chuyển ngành, họ Âu, tận tâm với nghề, yêu thương học trò, giọng phổ thông lại cực kỳ truyền cảm, nên lũ học trò đặt cho ngoại hiệu là “Euclid”.

“Ern vẫn còn nhớ đến cô ‘Euclid’ cơ à?'Tóc cô giờ đã bạc trắng cả rồi".

“Năm tháng trôi đi như nước chảy... Năm đó cô giáo thật trẻ. Lúc nào cũng mặc bộ quân phục màu cỏ úa...".

“Nhưng trí nhớ của cô thì thật tuyệt vời, dường như cô nhớ hết tất cả mọi thành viên trong lớp anh”.

“Vậy ạ!”.

“Rất nhiều bạn học rời xa quê làm ăn khi về Tứ Xuyên đều tìm đến thăm cô”.

“Anh có hỏi thăm có lần chị Hạ Vũ Hồng về nước đến gặp cô không?”. Đinh Lam nói rất nhanh.

Chung Đào bật cười: “Anh hỏi rồi. Cô Euclid cho anh địa chỉ email của Vũ Hồng".

Theo lời cô giáo chủ nhiệm kể lại, Hạ Vũ Hồng đang là giảng viên của trường Đại học Penn Stacc, Hoa Kỳ. Mùa xuân năm ngoái đã có lần trở về Tứ Xuyên, cô ấy là một giáo sư xã hội học nổi tiếng trong trường.Tuy nhiên chuyện tình cảm không được như ý, hiện vẫn còn sống độc thân.

“Anh liên hệ được với chị ấy chưa?".

“Anh gửi thư điện tử rồi”.

Chung Đào nói cho Đinh Lam hay, anh khá bất ngờ khi nhận được email trả lời của Hạ Vũ Hồng, cô ấy không hề nhắc đến những chuyện thời thanh niên trí thức trước kia chỉ nói là hy vọng có dịp gặp lại anh.

“Hai anh chị cuối cùng cũng có dịp trùng phùng rồi".

Thái độ của Đinh Lam khá phức tạp, dường như vừa vui mừng, lại vừa đau khổ.

“Bọn anh không thể trở lại ngày xưa nữa...”. Chung Đào rất bình tĩnh.

Đinh Lam chuyển sang đề tài khác: “Khi nào anh đi?”.

“Còn đợi đóng dấu thị thực, thông qua đoàn tham quan du lịch Bắc Mỹ, trước tiên anh sẽ đến Canada”.

“Anh cần phải nhanh lên mới được”.

“Anh biết rồi, còn em thì thế nào?”.

“Không phải lo cho em đâu, em sẽ không sao đâu...”.

“Vẫn cần thận trọng một chút, nhớ bảo trọng nhé!”.

“Cho em gửi lời hỏi thăm chị Hồng”. Đinh Lam lệ nhòe ướt mi.

2

Sân bay Côn Minh.

Nhiếp Phong chuẩn bị hành lý, anh bước vội vào phòng xuất cảnh.

Nhiếp Phong sẽ đáp chuyến bay CA-4415 vào lúc tám giờ kém năm phút sáng, hành trình bay bảy mươi phút, sẽ hạ cánh ở sân bay vào lúc chín giờ năm. Đây là chuyến bay sớm nhất trong ngày, giá vé khuyến mại ba trăm hai mươi tệ.

Nhiếp Phong ngước nhìn, tấm biển đồng hồ ở bãi đỗ xe chạy ngang dòng chữ Thứ hai, ngày 24 tháng 7.9:25.

Anh thầm nghĩ. Vậy là đã tròn một tháng kể từ kki xảy ra vụ án Hồ Quốc Hào.

Khách sạn được đặt từ trước, nhà hàng Dương Quang, ngày nghỉ giá hội viên một trăm ba mươi tệ một ngày. Để giảm bớt thời gian Nhiếp Phong đã gọi điện đến khách sạn làm thủ tục lấy phòng từ trước sau đó anh nhanh chóng tìm đến nơi lấy tư liệu viết bài, cứ ứng phó tạm thời nhiệm vụ mà tổng biên tập giao cho cái đã. Chụp ảnh, viết xong bài báo dài năm nghìn chữ Nhiếp Phong thở phào, sau một ngày một đêm làm việc hết tốc lực cuối cùng công việc đã hoàn thành.

Buổi chiều ngày thứ hai, không ngơi nghỉ lấy một phút anh tìm đến cơ quan hữu quan của binh đoàn xây dựng Vân Nam.

Trong suy nghĩ của anh nhất thiết cần phải tìm đến nơi Chung Đào và các thanh niên trí thức Thành Đô đã từng công tác và sinh hoạt.

Nông trường binh đoàn xây dựng Vân Nam giờ thuộc tổng cục khai hoang nông nghiệp của tỉnh, lật tìm tài liệu tại bộ phận thông tin thống kê của tổng cục, một phụ nữ họ Bàng, trước kia cũng là thanh niên trí thức cho anh hay. Tất cả hồ sơ về thanh niên trí thức trước năm 1995 đều đã được sắp xếp giao cho phòng lưu trữ hồ sơ Vân Nam.

Trung tâm lưu trữ hồ sơ Vân Nam, một tòa nhà cổ kính tọa lạc ở số 59 đường Tây Viên.

Người bảo vệ sau khi xem giấy giới thiệu đã cho Nhiếp Phong vào. Vừa vào bên trong tòa nhà ngay lập tức ta đã cảm nhận được không khí cổ kính trang trọng. Trên bức tường chính diện treo một bức phù điêu miêu tả phong tục cập quán dân tộc, xung quanh tường cầu thang treo các bức ảnh do người nước ngoài chụp miêu tả cảnh các dân tộc thiểu số Vân Nam cuối đời Thanh. Phòng tra cứu tư liệu nội bộ nằm trên tầng ba, nơi đây khá rộng rãi và yên tĩnh, có gần bốn mươi cái bàn gỗ màu vâng nhạt, trên bàn bày năm bộ máy tính dựa vào sát tường. Một người đàn ông và một cô gái tóc dài còn rất trẻ ngồi trước máy vi tính kiểm tra tư liệu.

Trong gian ca bin ngăn bằng kính mà một ô cửa nơi tiếp nhận khách đến trả và mượn tài liệu, có ba nữ nhân viên đang làm việc.

"Tôi là phóng viên tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’, tôi muốn tìm một số tài liệu có liên quan đến thời kỳ thanh niên trí thức”. Nhiếp Phong đến bên ô cửa cabin tự giới thiệu.

“Ồ, thật đáng tiếc”. Một cô nhân viên tóc ngắn đeo kính trắng lịch sự nói “Mấy ngày hôm nay chúng tôi đang chỉnh lý tư liệu cũ, ngày mai anh đến nhé”.

“Ngày mai ạ?”. Nhiếp Phong chần chừ một lúc rồi anh cố gắng thuyết phục. “Tôi từ xa đến đây, thời gian không có nhiều, có thể linh động một chút được không ạ?”.

“Đợi tôi thử hỏi chủ nhiệm xem sao”. Nữ nhân viên tóc ngắn đeo kính trắng đi vào bên trong.

Một lúc sau cô gái đi ra rồi giải thích với Nhiếp Phong: "Tất cả tư liệu cũ đều đang được sắp xếp trong kho, ngày hôm nay quả là không thể được”.

“Rất cảm ơn cô”.

Nhiếp Phong bước ra khỏi trung tâm lưu trữ hồ sơ, anh quyết định thay đổi kế hoạch, trước hết cứ đi vùng biên giới Vân Nam cái đã.

Trước khi xuất phát, anh tìm đến Tổng cục khai khẩn nông nghiệp tỉnh Vân Nam để hỏi cụ thể đường đến đội hai, phân khu bốn nông trường Lam Giang. Tại bộ phận hành chính tầng ba, mội người đàn ông mặc áo sơ mi đeo cà vạt màu vâng lá cọ tiếp đón anh rất nhiệt tình.

Người cán bộ hành chính này thừa nhận anh ta cũng chưa bao giờ đến nông trường Lam Giang. Điều đấy cũng dễ thông cảm, tại Vân Nam có rất nhiều nông trường lớn nhỏ khác nhau, một người khó có thể đi hết tất cả các nông trường. Anh ta lật giở một cuốn sổ in nhỏ, có lẽ đó là quyển sổ ghi số liên lạc nội bộ của từng đơn vị rồi tra ra hai số điện thoại của nông trường Lam Giang, một là số của văn phòng nông trường, số kia là của bộ phận hành chính, sau này anh cũng đưa cho Nhiếp Phong cả số điện thoại của giám đốc nông trường. Có được tất cả số điện thoại Nhiếp Phong nói lời cảm ơn rồi rời khỏi Tổng cục khai khấn nông nghiệp, anh đáp chuyến tàu hỏa hướng về phía nam.

Khi còn ở Thành Đô, chị Lê đã nói cho anh cách đi nhanh nhất, từ Côn Minh bắt tàu hỏa đến Quảng Thông, sau đó lên xe đường dài tuyến cao tốc tới huyện Lam Giang. Nông trường Lam Giang nằm trong huyện, đại đội hai cách trung tâm huyện không xa lắm, hiện nay nó được mang tên đội hai. Thế nhưng tra trên tất cả các tấm bản đồ Vân Nam, Nhiếp Phong không hề tìm thấy địa danh nào có tên “Quảng Thông”.

Rất may có một trạm trung chuyển hành khách nằm bên cạnh nhà ga tàu hỏa, Nhiếp Phong quyết định mua một vé xe khách đường dài từ Côn Minh thẳng tới huyện Lam Giang, giá vé một trăm bảy mươi tám tệ. Qua ở cửa bán vé bé tý Nhiếp Phong cúi thấp đầu hỏi cô bán vé mặc đồng phục màu xanh, xe đường dài từ đây đến Lam Giang mất bao nhiêu thời gian. Cô nhân viên bán vé có vẻ khó chịu đáp cộc lốc "không biết” như thể là cô ta bán vé lên mặt trăng vậy.

Nhiếp Phong lắc đầu ngán ngấm, thôi đành phó mặc cho ông trời vậy.

3.

Bảy giờ tối, chiếc xe đường dài màu vàng khởi hành, trang thiết bị trong xe hết sức bình thường, có hai giường nằm phía trên và dưới, chăn gối hoa, đệm lò xo. Xe nhét kín người, Nhiếp Phong đếm thử tổng cộng là ba mươi hai giường nằm, tất cả chỗ trống đều được lấp đầy, mỗi người chỉ có một khoảng không gian chật hẹp bức bối. Nghe bác tài trung tuổi dáng người gầy gò nói sớm mai sẽ đến Lam Giang, tính ra phải đến mười hai, mười ba tiếng đồng hồ. Nhiếp Phong nằm co quắp trên chiếc giường sát cửa giữa xe, đi một đoạn xe lắc lư chồm lên hạ xuống, anh vội thắt chiếc dây an toàn bắt ngang qua người, bất cứ lúc nào cũng trong tư thế sợ xe xảy ra tai nạn. Đành phải cùng chung số mệnh với chiếc xe này thôi.

Phía đầu và cuối xe treo hai chiếc ti vi, nhưng dường như treo để làm vì, từ đầu chí cuối đều không thấy người ta bật lên.

Lần đầu tiên đến ngoại thành Côn Minh, nghiêng người trên chiếc gối Nhiếp Phong nhìn qua cửa kính xe, các dãy núi, hàng cây, bầu trời sao, những ánh đèn lập lòe trong bóng rối lờ mờ lướt qua, có chút gì đó thật lãng mạn. Ánh sao lấp lánh, dải Ngân Hà rực rỡ, tất cả như đồng hành cùng anh trong chuyến đi này. Chiếc xe lắc mạnh khiến Nhiếp Phong không thể chợp mắt. Lúc đầu anh nghĩ đơn giản, ngủ một giấc là sẽ đến Lam Giang. Kết quả là lần tỉnh giấc thứ nhất nhìn đồng hồ mới chỉ một giờ đêm, tỉnh lần thứ hai mới có ba rưỡi sáng. Từng đợt rung lắc, lộn lên lộn xuống không ngừng. Anh có cảm giác chiếc xe này không có điểm dừng, như chạy trong vòng tròn khép kín vậy.

Sáu giờ sáng, trời vẫn còn mờ mờ tối, xe vừa chạy qua một thì trấn đông đúc, nhiều người bán hàng rong chạy đến chào mời mua hàng, trời vẫn chưa sáng hẳn không thể nhìn rõ mặt họ.

Xe vẫn chòng chành nghiêng ngả tiến về phía trước. Mở mắt ra nhìn bên ngoài cửa sổ khói sương mù mịt, ngẩng đầu lên trong đám mây đen lộ ra nửa vầng trăng non nhàn nhạt.

Mọi người chìm vào giấc ngủ chập chờn, khi mở mắt lần nữa, trời đã sáng bạch.

Sáu rưỡi sáng xe dừng lại ở Bảo Sơn, đèn bật sáng.

Bác tài hô to: “Đến Bảo Sơn rồi, có vị nào xuống không nhỉ”.

Không có tiếng ai đáp, xe tiếp tục lăn bánh về hướng tây.

Bảy giờ trời đã sáng hẳn, có thể nhìn thấy xe đang đi vào đường núi, người lái xe giữ tay lái rất cẩn thận vượt qua dãy núi cao, ngó xuống dưới là sườn dốc. Một dòng sông đổ nặng phù sa cuồn cuộn chảy, trong lòng Nhiếp Phong thầm nghĩ chắc đây là Lam Giang rồi, nhưng khi hỏi bác tài mới biết còn xa mới tới nơi. Lại thêm đoạn đường nữa, xe đỗ lại quán nhỏ ven đường, chẳng biết đây là quán gì. Bác tài cuối cùng cũng đánh thức một vị khách đến Bảo Sơn xuống xe ở địa điểm này.

Vượt con đường núi, xe rẽ vòng cua tay áo qua một dãy dài quán ăn biển hiệu treo trên cao “Quán bình dân Đằng Sung”, “Gà hầm”, có lẽ đã đến địa bàn Đằng Sung. Lại chợp mắt thêm lúc nữa, tỉnh dậy thấy cửa kính xe ướt đẫm nước mưa, bên ngoài mưa rơỉ bay bay.

Lại đi tiếp, xe chạy trên lưng chừng núi, lẩn khuất trong làn mây mờ.

Bên ngoài cửa xe mưa tạo thành một tấm rèm nước, ông trời có lẽ cũng đang than khóc.

Nhìn đồng hồ đã chín giờ rưỡi sáng, cậu thanh niên nằm giường bên cạnh Nhiếp Phong buột miệng “Tới được Lam Giang chắc phải đến trưa mất”. Những gì người lái xe cho biết quả là không sai.

Hai bên đường là thảm thực vật phong phú, cây gỗ tạp, vườn chuối tiêu, ruộng ngô, vườn mía, cánh đồng lúa xanh rì thấp thoáng bóng các căn nhà của cư dân địa phương, cái thì tường đất, cái thì tường gạch đỏ mái ngói xanh, bên cạnh mỗi ngôi nhà có một đống củi to đã chẻ xếp cẩn thận, một vài ngôi phía trên mái lắp chảo thu truyền hình vệ tinh.

Chín giờ năm mươi xe đến thành phố Đằng Sung, không biết tại sao xe dừng ở bến tới bốn mươi phút, liệu có phải là tiếp nước cho đầu máy hay còn làm chuyện gì khác. Bác tài cũng không thèm nói nửa lời giải thích. Lại tiếp tục lên đường, xe vẫn chưa ra khỏi thành phố nhưng lái xe đã đuổi hết mọi người xuống đường. Lúc này Nhiếp Phong mới phát hiện trên xe chỉ còn ba, bốn hành khách đều đã được "bán" sang xe bus như lợn béo vậy, sau này mới biết mỗi khách được “bán” với giá mười lăm tệ, lại tiếp tục tiến về phía tây. Chiếc xe buýt khá cũ nát, chiếc đài trên xe phát liên tục các ca khúc “Đêm quân cảng”, "Bài thơ san hô”, “Núi đỏ nở hoa đẹp”. Cửa kính xe xập xệ lắc lư tạo ra khe hở, gió miền sơn cước thổi vào mát lạnh đem theo mùi hương lúa thơm nồng.

Đến được nông trường Lam Giang e rằng phải đến giữa trưa. Nhiếp Phong lấy máy di động gọi đến nông trường, văn phòng không có người nhấc máy. Rất may khi anh gọi đến phòng giám đốc người nhận điện thoại là một cô gái họ Dương.

“A lô! Tôi là Nhiếp Phong phóng viên của tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’ trưa nay sẽ có mặt ở huyện Lam Giang, sau đó sẽ đến làm việc ở đội hai, phân khu bốn. Vâng! Không biết trước năm giờ chiều liệu có thể quay trở lại trung tâm huyện không ạ?”. Nhiếp Phong vội vã hỏi.

“Có thể, cách có hơn chục cây số thôi anh ạ”, cô gái đáp.

Cô Dương còn hướng dẫn cho Nhiếp Phong, trên đường có thể bắt xe bus cỡ nhỏ, rất thuận tiện.

“Chỉ cần anh bảo người lái xe là đến đội hai, phân khu bốn là người ta sẽ đưa anh tới nơi”. Tại đó anh cứ gặp trực tiếp đội trưởng đội sản xuất họ Hỷ.

"Vâng, rất cảm ơn chị". Nhiếp Phong trong lòng mừng thầm.

Lúc này trời xanh, mây trắng. Ngoài cửa kính hiện ra rừng trúc xanh tốt rậm rạp, rừng trúc ở Vân Nam cao và dày hơm hẳn ở Tứ Xuyên, chí ít cũng phải cao tới căn nhà ba, bốn tầng.

Mười một rưỡi, xe đến Mang Tây.

Qua Mang Tây, lại đi vào đường núi.

Cuối cùng xe cũng xuống bến xe khách huyện Lam Giang. Bây giờ đã là một rưỡi chiều.

Trước tiên để chắc chắn anh hỏi vé chiều quay về, họ nói vé xe bus chuyến lúc bảy giờ tối đã bán hết vé, chỉ còn lại một vé chuyến lúc bốn rưỡi chiều. Do thời gian quá gấp, Nhiếp Phong không dám đi chuyến đó. Huyện Lam Giang rất nghèo song trên đường phố xe chạy thuê lại rất nhiều, hơn nữa lái xe là nữ giới chiếm số lượng không nhỏ. Để tranh thủ thời gian Nhiếp Phong bỏ bữa trưa, anh thuê một chiếc xe taxi, trên xe không lắp đồng hồ tính cước, chạy trong nội thị vé đồng loạt năm tệ. Trên đường cái đỗ vài chiếc xe Mi- anbao cỡ nhỏ, hỏi lái xe họ đều trả lời không biết vị trí chính xác của đội hai. Thời gian quá gấp, Nhiếp Phong gọi một chiếc taxi Iieli màu xanh nhạt mặc cả giá tiền cả đi lẫn về bảy mươi tệ, theo người lái xe đoạn đường đó đường đã gập ghềnh rất khó đi.

Tài xế cũng là rnộr cô gái mắt một mí, áo phông cổ tròn, nom rất trẻ trung, trước cửa xe treo một con gấu bông nhỏ. Nghe thấy Nhiếp Phong muốn đi đội hai phân khu bốn, cô tài xế cảm thán: “Năm đó có mười bảy thanh niên trí thức bị lửa thiêu chết ở đấy!”.

Nhiếp Phong cải chính: “Mười người chết và bảy người bị thương”.

Có thể nhận ra tấm thảm kịch đó tác động thật mạnh, hai mươi tám năm sau vẫn có người còn nhắc đến nó.

Chiếc xe lăn bánh về hướng tây, chạy qua một đoạn đường xi măng, qua một cây cầu bắc ngang dòng Lam Giang. Không lâu sau đến đường quốc lộ Thạch Đầu, mặt đường lởm chởm, chỗ nào cũng có đá răm. Xe chạy thêm một đoạn bốn bánh xe nhuốm đầy bùn đất. Nữ tài xế đánh xe vào ven đường, cô nói gia đình mình trước kia cũng ở phân khu bốn, bố mẹ đều làm công nhân nông trường, nhưng cũng đã lâu lắm rồi có không đi qua đội hai. Cô mở máy di dộng gọi cho một người quen hỏi đến đoạn nào thì rẽ, sau đó lại hỏi nơi đặt mười ngôi mộ nữ thanh niên trí thức, người kia nói “nằm ven đường cái”.

Hai bên quốc lộ Thạch Đầu là con đập Lam Giang khá rộng, phía trên đập là ruộng lúa, rừng trúc và vườn mía, xa xa một chút là núi xanh thẫm mây trắng bồng bềnh bay. Cô tài xế nói, đất trồng trên con đập là của nông dân địa phương, đất phù sa rất màu mỡ. Đất của nông trường đều nằm trên núi, năm đó được thanh niên trí thức khai hoang mới tạo thành, nghe bố mẹ có kể lại thời kỳ ấy vô cùng khổ cực.

Lúc này mặt trời đã lên cao, chiếu ánh nắng gay gắt, ngồi trong xe như ngồi trong lò rang. Đi khoảng bảy, tám kilômét chiếc xe rẽ vào một lối nhỏ bên phải. Đường rất hẹp, chỉ xe nhỏ mới có thể đi lọt, hai bên đường cây dại mọc chên chúc, những cánh hoa màu đỏ tía nở rộ trong đám cỏ, có nét gì đó thật đặc biệt.

Cô lái xe nói: “Nơi này gọi là Mã Anh Đơn (cây dạ hợp), đây cũng chính là tên loài cây được trồng ven đường để làm hàng rào’’.
Nhiếp Phong hỏi cô: “Làm thế nào để đến được chỗ có rừng cao su”.

Cô lái xe đưa tay chỉ về phía xa: “Rừng cao su nằm ở đằng sau cánh rừng nguyên sinh phía đằng kia”.

Phía trước có ba người dân địa phương đang đi đến, hai già một trẻ. Chiếc xe tiến lại gần rồi dừng lại. Nữ tài xế hỏi họ đường đi.

Người trẻ tuổi trả lời: “Anh chị đi sai đường rồi, đây không phải là đội hai, phải rẽ lối phía trước mặt”.

Chiếc xe quay đầu trở lại quốc lộ Thạch Đầu tiếp tục đi về phía trước, qua cây cầu nhỏ bằng xi măng, người nữ lái xe nghĩ ra điều gì đó, càng đi vào sâu càng cảm thấy lối rẽ vừa rồi không phải qua cây cầu nhỏ, hỏi mấy người phụ nữ đang lao động bên đường mới nhận ra lại đi sai lối. Xe vòng trở lại lối rẽ vừa rồi, đi sâu vào trong mất mười phút rồi đánh tay lái rẽ sang bên trái, đó là một sườn núi dốc dựng đứng, một người đàn ông cởi trần, da đỏ au đang chẻ củi, cô lái xe hỏi anh ta bằng giọng Vân Nam “'Đi lối này có đến đội hai không?”. Người đàn ông gật đầu.

Xe lắc lư tiến về phía trước, hai bên đường toàn là màu đất đỏ bazan. Nhiếp Phong trầm ngâm không lên tiếng. Anh suy nghĩ về những lời đề từ trên tấm lụa ở khu kỷ niệm thanh niên trí thức Thành Đô. Những lời gan ruột thành kính mà mọi người viết ra. Đó chính là mảnh đất này.

"... Đã từng nguyền rủa, càng khó quên hồi ức.
Mãi mãi không quên những cây cao su!”.
“Thời thanh xuân không hối hận nhưng sao cái giá phải trả lại lớn quá”

Chiếc xe tiếp tục leo lên dốc.

“Sắp đến đội hai rồi anh! Nó nằm phía sau ngọn núi Lam Tước Lĩnh” này”. Cô lái xe nói.

"Lam Tước Lĩnh, cái tên thật là đẹp...”.

Xe lại lao về phía trước, thấp thoáng bóng người trên đường đi qua, vài ngôi nhà tường đất, mái ngói xanh nằm rải rác hai bên đường, mấy người địa phương ngồi trước cửa nhà nhìn xe chạy qua bằng con mắt hiếu kỳ. Cô lái xe bảo: “Họ đều là nông dân song cuộc sống còn khá hơn rất nhiều so với công nhân của nông trường”.

Chiếc xe nhích cùng bước trên con dốc nghiêng, đến một lối rẽ khác cô lái xe dừng hẳn lại để Nhiếp Phong bước xuống, rồi đánh xe quay đầu lại.

“Phía trước xe không vào được”. Cô nói.

Hai người để xe lại rồi đi bộ khoảng hơn mười mét thì nhìn thấy một cây đa cổ thụ cao vút chọc trời, vòng gốc cây bốn, năm người ôm không xuể, người địa phương còn gọi đó là cây đại thanh, cô lái xe đi trước dẫn đường. Nhiếp Phong bám ngay đằng sau. Phía sau cây đa là một con đường nhỏ uốn lượn gấp khúc. Vài ngôi nhà gạch cũ kỹ bám sát lưng chừng đồi, mái hiên rất rộng tường ngoài phơi mấy bộ quần áo lao động. Trước và sau nhà trồng mấy cây gỗ tạp, gốc tre và chuối tiêu, nghe bước chân người lạ, mấy con chó nhà sủa lên ăng ẳng.

Bên ngoài hàng ràng tre bao quanh ngôi nhà, hai người gặp một ông lão mặc áo lam dân tộc, họ bước lên cất lời chào. Ông lão dáng người gầy gò thấp nhỏ mắt bên trái hơi lòa, khuôn mặt nhăn nheo đầy vết chân chim song thái độ rất hồ hởi mến khách.

Nhiếp Phong nói rõ ý định đến đây, ông lão bảo đội trưởng Hỷ không có nhà, tuy nhiên ông đồng ý dẫn anh đi thăm mười ngôi mộ nữ thanh niên trí thức.

“Mười ngôi mộ đó nằm trên Lam Tước Lĩnh”.

Khi anh hỏi hiện nay trong đội còn ai năm đó làm công nhân ở đây.

Ông lão trả lời: “Còn ông Phó".

Ông lão họ Lý vốn là công nhân ở đây song ngày thứ hai sau khi xảy ra vụ hoả hoạn kinh hoàng ông mới về đại đội hai công tác. Nguời biết rõ nhất về vụ cháy hôm đó là ông Phó.

“Cậu cứ đợi một lát là có thể gặp được ông ấy".

“Vâng ạ!”.

Ông Lý dẫn họ ra khỏi thôn rồi đi theo một lối mòn nhỏ, cả đại đội hai đều nằm bên sườn núi, sâu vào bên trong là một ngọn núi cao. Do trời vừa mưa nên chân mọi người bê bết bùn đất. Chưa đi được bao xa đôi giày thể thao của Nhiếp Phong đã bám đầy bùn nhão nặng trình trịch, bên đường các bông hoa dạ hợp khoe sắc màu đỏ tía, trông giống như những giọt máu nhỏ vương vãi. Trên đường đi họ gặp một ông già đang dắt trâu, ông già nhường đường cho họ. Hai bên đường trồng đầy tre trúc, chuối tiêu và mấy bụi mía cao hơn đầu người, men theo con đường núi quanh co đi bộ khoảng hơn mười phút, ông Lý đột nhiên dừng bước. Bên trái con đường nhỏ là đám cây dại um tùm và vài cây cao su thưa thớt. Sườn dốc bên phải là vườn mía non cao chưa quá đỉnh đầu.

Ông lão chỉ tay về phía vườn mía nói: “Trong này là Lam Tước Lĩnh”.

Nhiếp Phong và cô lái xe cảm thấy kỳ lạ, phía trước mắt họ ngoài đám mía ken dày đặc không còn gì khác.

Không đợi họ hỏi ông Lý dùng tay gạt đám mía sang hai bên lấy đường đi, hai người bám theo leo lên sườn dốc, lá mía sắc nhọn cứa vào tay vào da mặt ran rát, leo lên phía trên khoảng mười mét chui qua vườn mía, phía trước mặt là đám lau lách cỏ dại cao nửa chân người.

“Chính là chỗ này”. Ông Lý nói.

Nhìn kỹ trong đám cỏ lộ ra một phiến đá nhuốm màu thời gian. Nhiếp Phong cẩn thận dùng tay gạt đám cỏ dại sang một bên, đó là tấm bia mộ khắc dòng chữ đã mờ nhưng vẫn còn đọc được, “Mộ Đồng chí Vạn Tiểu Dung”. Anh lại nhẹ nhàng vạt đám cỏ bên cạnh, một tấm bia màu hồng nhạt hiện ra trên đó có sáu chữ sơn màu trắng nét còn khá mới “Mộ Đồng chí Chung Hạnh”, bên phải là hàng chữ nhỏ ghi vắn tắt ngày tháng người chết tử nạn, trên đỉnh là một ngôi sao năm cánh màu đỏ, một khoảng trống nhỏ trước tấm bia còn vương vãi dấu tích nhúm tro vàng mã được đốt, sát liền kề là nhiều tấm bia mộ khác nhau xếp một dãy dài bị cỏ dại phủ kín.

Nhiếp Phong đứng lặng người, anh cảm thấy vô cùng xúc động.

Trên đường đến Lam Giang anh đã từng tưởng tượng cảnh mình sẽ viếng mộ như thế nào.

Hoặc là dưới ráng chiều đỏ bầm màu máu, hoặc là trong cơn mưa nặng hạt, những hạt mưa như roi quất vào da mặt buốt lạnh...

Nhưng anh không hề nghĩ rằng mười ngôi mộ thanh niên trí thức gặp nạn lại lạnh lẽo hoang tàn đến vậy, tất cả đều bị cỏ dại phủ kín.

Mười ngôi mộ nằm sát bên nhau thẳng hàng, Nhiếp Phong đứng lên phía trước anh lặng lẽ cúi đầu tưởng niệm.

Bốn phía cỏ dại mọc um tùm, đằng sau là rừng cây hạnh, mùa hoa nở đã sớm đi qua.

Nhiếp Phong thấy mắt mình nhòe đi, dường như anh cảm nhận được tiếng đàn acmonica vượt qua không gian, vượt qua thời gian du dương vọng đến.

Đó là khúc ca bi ai Mưa hoa hạnh...

Anh ngẩng đầu lên, mặt trời đang xuống thấp, khuất sau những rặng núi, anh chợt nhận ra tất cả mười ngôi mộ đều quay đầu về hướng đông bắc. Đó là hướng quê nhà Thành Đô! Có lẽ đây cũng là tâm nguyện cuối cùng của mười nữ thanh niên trí thức trước khi nhắm mắt.

Nhiếp Phong đứng lên bậc đá, chụp mấy bức ảnh làm tư liệu.

Có thể do một ngày vất vả dưới cái nóng oi bức, cũng có thể do tình cảm bị kích động quá mạnh Nhiếp Phong cảm thấy cơ thể mỏi rã rời, anh nhếch nhác buông người ngồi phịch xuống đám cỏ dại. Ồng Lý khẽ nhắc nhở “Cẩn thận kẻo vắt nó đốt đấy!”.

Ồng Lý nói cho Nhiếp Phong biết những năm qua đều có những người từng trải qua thời kỳ thanh niên trí thức đến đây thăm mộ, trước khi đến họ đều thông báo cho nông trường do đó nông trường có sự chuẩn bị cho người dọn sạch cỏ dại xung quanh. Lần này Nhiếp Phong đến đây đột xuất nên được chứng kiến những gì chân thực nhất.

Mười linh hồn trinh nguyên lặng lẽ an nghỉ trong đám cỏ dại nơi miền sơn cước. Đột nhiên Nhiếp Phong có một cảm giác kỳ lạ, khi anh rẽ đám cỏ, anh tưởng như mình đang rẽ những mái tóc dài xanh mướt để lộ ra những khuôn mặt thanh xuân tạc trên nền đá trắng.

Họ mới chỉ là những thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi, tuổi xuân đang còn phơi phới thật trẻ trung, thật xinh đẹp. Mười người giống như những nụ hoa hạnh mong manh, rực rỡ trong tiết tháng ba chưa đến khi tàn thì đã bị giật tung khỏi cành lá.

Những thiếu nữ thành thị bằng tuổi họ năm xưa giờ vẫn còn nằm trong vòng tay ôm ấp của gia đình và xã hội. Họ ăn hamburger, đi giày Nike, sùng bái các ngôi sao ca nhạc, điện ảnh, phát cuồng lên vì những thứ không đâu, ngày ngày lên mạng chat với các “Bạch mã hoàng tử”... Họ liệu có biết những thiếu nữ thanh niên trí thức cũng tầm tuổi như họ năm xưa đã phải gánh chịu những chuyện bi thảm như thế này chăng...

Không, có lẽ họ không vô tâm đến vậy đâu, hãy nghe những gì họ đã nói: “Con đã xem triển lãm, không thể quên rừng cao su xanh xanh, hạt cà phê tim tím. Con là thế hệ sau của thanh niên trí thức, con ngưỡng mộ tuổi thanh xuân của bố mẹ mình.”

Bất giác khóe mắt Nhiếp Phong nhòe lệ, phía sau lưng anh là rừng cao su được trồng bởi máu và nước mắt của thanh niên trí thức. Cho đến hôm nay chỉ còn sót lại vài cây đơn lẻ, thân cây với những vết sẹo chằng chịt ứa ra dòng nhựa trắng nhỏ xuống chiếc bát hứng phía dưới.

Ông Lý nói rằng: “Vài năm trước mỗi cây mỗi ngày cũng cho được cân rưỡi mủ, hiện nay chỉ còn thu được có nửa cân thôi”.

Xem ra cây cũng giống như người, hai mươi tám năm nhỏ nước mắt, giờ sắp cạn khô mất rồi.

Nhiếp Phong cùng ông Lý và cô lái xe quay trở về nhà ông nghỉ ngơi.

Đó là một ngôi nhà mái tranh, tường bằng gạch.

Họ ngồi xuống ghế cùng nhau trò chuyện, phía trước mặt là chiếc bàn gỗ. Bà vợ ông lão mặc chiếc áo cánh màu phấn hồng, mái tóc bạc trắng. Bà nhiệt tình mang trà ra mời Nhiếp Phong và cô lái xe, loại trà này do nhà tự làm, được sao trong chảo gang mùi vị của nó giống như trà Thiết Quan Âm.

Ông Lý thân chinh đi mời ông Phó, đi một lúc quay về bảo: “Ông ấy không có nhà, chắc lại chạy đâu đó rồi”.

Bà vợ nói: “Vừa xong tôi còn nhìn thấy ông ấy mà”.

Đây là người công nhân lão thành của đại đội hai, là người duy nhất còn lại ở đây chứng kiến từ đầu chí cuối vụ hỏa hoạn, rất có thể cũng là nhân chứng quan trọng của vụ kỳ án trước kia. Nhiếp Phong khẩn khoản cậy nhờ, ông Lý lại đi tìm lần nữa, lần này về cũng nói “Không có nhà”.

Nhiếp Phong thấp thỏm chờ đợi, bỗng nhiên một bà già dáng người béo tròn chạy ào đến, vừa chạy vừa lớn tiếng: “Trước kia thì chẳng điều tra, bây giờ còn muốn điều tra cái gì nữa?”.

Bà già béo mặc chiếc áo ba lỗ, tai đeo khuyên vâng, hỏi ra mới hay bà là vợ ông Phó.

Nhiếp Phong giải thích mình là phóng viên của tạp chí “Tây Bộ Dương Quang” lần này về đây không phải là điều tra gì cả, chỉ muốn được trò chuyện với ông Phó. Nhắc đến vụ hoả hoạn khủng khiếp năm xưa bà Phó nói lúc ấy cũng biết, có tất cả tám căn nhà tranh thì lửa thiêu trụi mất bốn căn, những căn còn lại sau này bà đã sửa lại cho các con của mình ở. Nhiếp Phong đề cập đến nội dung bài viết mà anh từng đọc đuợc, có một người công nhân lớn tuổi nhìn thấy có lửa xanh bốc lên, ông nghi ngờ đó là lửa cháy mỡ động vật.

Bà gật đầu: “Đó là ông Đống, hiện ông ấy không còn ở đây nữa”.

Nhiếp Phong lại hỏi một điểm mấu chốt khác, sau khi lửa tắt có người nhìn thấy gian nhà thứ ba cửa bằng tre bị buộc chặt bằng dày thép nên không mở được. Bà không hề phản đối còn bổ sung thêm: “Cũng giống như buộc cái cửa này này".

Bà chỉ tay vào cánh cửa nhà ông Lý, Nhiếp Phong phát hiện cảnh cửa đó được buộc bằng búi dây thép rất to rối rắm khó gỡ.

Cô lái xe hỏi bà Phó những người bị chết cháy trông như thế nào, khuôn mặt bà trở nên khó coi, bà dùng tay khoanh một vòng: “Bị cháy đen co rút hết cả!”.

Theo yêu cầu của Nhiếp Phong, ông Lý và bà Phó dẫn anh đến hiện trường hỏa hoạn năm xưa. Đó là một khoảnh đất cỏ dại mọc um tùm, ước chừng hơn trăm mét vuông. Căn nhà gạch nằm sát bên giờ là nhà của ông bà Phó. Gần ba mươi năm nay nơi này chẳng có ai đến dựng thêm nhà.

Trong lòng Nhiếp Phong đầy mối suy tư, anh lấy máy ảnh ra chụp lấy vài kiểu, cáo biệt những người dân hiếu khách có gì đó lưu luyến không rời. Bà Lý gói cho anh một bọc trà lớn.

Khi Nhiếp Phong và cô lái xe xuống núi, vừa đến nút đường có cây đa cổ thụ họ bất ngờ gặp một ông già ngồi dưới bóng đa râm mát. Ông mặc chiếc áo màu tro, khuôn mặt chằng chịt những vết chân chim, khiến người ta liên tưởng đến bức họa “Người cha” của La Trung.

“Anh là nhà báo hả?”.

Nhiếp Phong mừng rỡ: “Vâng ạ! Bác là bác Phó?”.

“Bà nhà tôi không cho tôi nhắc lại chuyện đó”. Ông già móm mém cười.

Thì ra là ông cố ý ngồi ở đây để đợi Nhiếp Phong.

Nhiếp Phong cũng ngồi phệt xuống đất sát bên cạnh ông để trò chuyện.

Trong cái đêm hỏa hoạn kinh hoàng đó ông Phó luôn có mặt ở hiện trường để cứu người và tài sản. Nhiếp Phong lắng tai nghe không bỏ sót bất cứ chi tiết nào dù là nhỏ nhất.

Vào giờ khắc cuối cùng, theo lời ông già nhiệt tâm kể lại, sau khi Chung Hạnh và những nữ thanh niên trí thức cùng ở trong gian nhà tranh thứ ba bị lửa thiêu sống, người ta phát hiện trên khung cửa đã cháy thành than những mẩu dày thép còng queo. Không hoàn toàn giống như trong bài viết mà Nhiếp Phong đã đọc mười thiếu nữ ôm lấy nhau cùng chết cháy. Ông Phó là người trực tiếp đi thu nhặt tử thi. Trên thực tế thì có tám cô gái ôm chặt lấy nhau, hai người còn lại nằm trên bậu cửa. Rõ ràng hai người đó đang cố gắng để mở cửa. Căn cứ vào chiều cao và hình dạng còn sót lại người thấp hơn một chút là Chung Hạnh, người kia là Vạn Tiểu Dung. Theo lời của những nữ thanh niên may mắn sống sót, khi còn sống trên khuôn mặt của cô gái họ Vạn có nốt ruồi lớn. Trên chuyến tàu hành quân đến Lam Giang cô Vạn còn nói với người ngồi bên cạnh là Hạ Vũ Hồng: “Nốt ruồi của mình tẩy hết cả, chỉ duy cái nốt ruồi ở lông mày thì không được tẩy. Đó là nốt ruồi son, nốt ruồi tiền đồ của mình", thế nhưng cho dù có cố giữ nốt ruồi đó cô gái vẫn không thoát được cái số yểu mệnh của mình.

Ông Phó còn kể với Nhiếp Phong, hai giờ trước khi vụ hỏa hoạn xảy ra, trong đêm khuya thanh vắng ông đang ở trong phòng thì nghe thấy có tiếng gõ cửa gian nhà bên cạnh để gọi Chung Hạnh ra ngoài, nói là có chuyện gấp tìm cô. Trong gian nhà tranh thứ ba nổi lên tiếng rì rầm hoảng loạn, tiếng dây thép xiết chặt vào cửa, nhiều tiếng kêu của nữ thanh niên trí thức “Tên phỉ mặt cười đến rồi!". Ông Phó ngó đầu ra ngoài cửa sổ. Trong bóng tối lờ mờ một dáng người giống như đại đội trưởng với cái lưng ngắn củn.

Cửa vẫn đóng chặt, người đàn ông đó buột miệng chửi thề: “Con mẹ nó chứ!” rồi hậm hực bỏ đi.

Đúng là đi vẹt giầy sắt cuối cùng cũng bõ công.

Nhiếp Phong lấy trong chiếc túi vải màu trắng đeo bên mình một cuốn tạp chí "Tây Bộ Dương Quang” kính cẩn mời ông già xem qua. Trên bìa tạp chí in hình Hồ Quốc Hào một cách rõ nét.

“Cũng có nét giống, đặc biệt là cái mũi, còn cả đôi mắt chuột nhỏ mà tròn nữa”. Ồng phó rít một hơi thuốc sâu kèn rồi nói.

Nhiếp Phong lại đem ra một bức ảnh khác khá cũ, đây là bức ảnh chụp Hồ Quốc Hào mặc bộ đồ vải siu đăng trên báo chỉ Hải Nam đã lâu.

“A, đúng là nó, đại đội trưởng Hồ Tử Hạo”.

“Bác nói ông ta là Hồ Tử Hạo”.

Nhiếp Phong cực kỳ phấn kích.

Thì ra Hồ Quốc Hào vốn có tên là Hồ Tử Hạo năm đó giữ chức đại đội trưởng đại đội hai.

Nhiếp Phong hỏi ông Phó vì sao anh có hỏi vài người họ đều trả lời không thấy nghe nói về chuyện chiếc dây thép buộc cửa.

“Là do đại đội trưởng Hồ không cho mọi người có mặt ở hiện trường nói ra”.

“Sao lại thế được”.

“Ở đại đội hai Hồ Tử Hạo là một tên chúa đất, đám thanh niên trí thức đặt cho ông ta cái biệt hiệu ‘Tên phỉ mặt cười’”.

Ông Phó kể hết những việc xấu xa mà Hồ Tử Hạo đã làm, tất cả những việc đó người trong đại đội đều biết tường tận. Đã có không biết bao nhiêu thiếu nữ xinh đẹp trong đại đội bị hắn cưỡng bức làm hại, chỉ có những người dung mạo xấu xí mới may mắn thoát khỏi bàn tay hắn. Hồ Tử Hạo giở trò cố ý bố trí nữ thanh niên trí thức mà hắn để mắt rồi đứng gác một mình, đợi đêm xuống hắn lấy xe đạp đi một vòng nói là để kiểm tra gác, thừa cơ hội dùng sức mạnh hãm hiếp người ta. Hắn còn thưòng xuyên lấy cớ điểm danh, trong đêm tối mò vào các gian nhà có nữ thanh niên trí thức ngủ lật màn thò tay vào sờ soạng lung tung, khiến đám thiếu nữ sợ hãi không dám kêu la. Hắn còn có sở thích quái dị, trước mặt đông người động chân động tay với nữ thanh niên trí thức, sau đó còn mặt dày vô sỉ tuyên bố: “Có như vậy mới tiêu trừ sự ngăn cách về tư tưởng khiến mọi người thân thiết như một nhà, tạo thuận lợi cho công tác”.

Đại đội hai vốn là một đại đội tiên tiến. Nhưng do Hồ Tử Hạo làm xằng làm bậy khiến lòng người hoang mang. Có nữ thanh niên tri thức nửa đêm nghe tiếng chuột chạy cũng ngỡ tiếng bước chân Hồ Tử Hạo, giật mình kinh hãi la toáng lên.

“Bác có biết người có tên là Hồng Diệc Minh không ạ?”. Nhiếp Phong hỏi ông Phó về người bạn chí cốt luôn ở bên Hồ Quốc Hào ngay cả khi sống và chết.

Ồng Phó hỏi lại: “Nhà báo cũng biết người này hả?”.

“Cháu đã từng gặp”.

“Ông ta là chính trị viên đại đội hai, đồng hương của Hồ Tử Hạo”.

“Thì ra là vậy...”. Nhiếp Phong đã lờ mờ hiểu ra tất cả.

Anh tiếp tục hổi ông Phó về tình hình sau đó của Hồ Tử Hạo.

Theo lời ông Phó kể sau này toàn bộ sự việc cán bộ binh đoàn làm nhục các nữ thanh niên trí thức bị bại lộ. Nghe nói đích thân thủ tướng Chu Ân Lai giám sát việc điều tra. Mười mấy quân nhân đại đội mười tám trung đoàn mười sáu sư đoàn bốn huyện Hà Khẩu bị tuyên án tù. Bảy tội phạm trong đó có ba tên bị xử tử hình, hai tên án tử chờ thi hành, hai tên tù chung thân, thuộc sư đoàn một huyện Cảnh Hồng. Thanh niên trí thức đại đội hai đứng lên tố cáo Hồ Tử Hạo khiến hắn bị bãi miễn mọi chức vụ chờ thẩm tra. Sau khi nghe tin tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn độc lập thuộc sư đoàn một giả..., đại đội trưởng đại đội một Trương bị xử bắn, Hồ Tử Hạo dự cảm số phận của mình cũng sẽ như vậy ngay đêm hôm đó hắn tìm cách trốn qua biên giới, đào tẩu sang đất Myanmar. Căn cứ vào những tội ác do thanh niên trí thức tố cáo nếu bị đưa ra xét xử Hồ Tử Hạo ít nhất cũng lãnh án tử chờ ngày thi hành. Người báo án này cho hắn chính là chính trị viên đại đội Hồng Diệc Minh. Ông ta và Hồ Tử Hạo vừa là đồng hương vừa là chiến hữu, trong chiến tranh đã có lần Hồ Tử Hạo cứu ông ta thoát chết.

Hồng Diệc Minh do làm việc này nên cũng bị xử lý điều chuyển công tác đến địa phương khác. Mãi đến sau này thanh niên trí thức đại đội hai mới biết được anh trai của "cô em ngốc” Đinh Lam, Cường Tử mất tích hai năm về trước cũng là do bị hai tên Hồ Tử Hạo và Hồng Diệc Minh ám hại.

Tất cả mọi việc đều trở nên rõ ràng.

Ông Phó còn nói cho Nhiếp Phong biết. Sau khi vụ hỏa hoạn xảy ra tiếng kêu khóc gào thét vang vọng khắp nơi. Anh trai Hạnh Nhi, Hắc Oa đang bị điều đi gác ở bên ngoài thôn nhìn thấy lửa cháy ngút trời hướng Lam Tước Lĩnh, một nửa khoảng trời rực cháy. Anh biết đã xảy ra chuyện vội vàng chạy trở về đại đội. Nhưng khi chạy đến nơi gian nhà tranh thứ ba nơi Hạnh Nhi ở đã trở thành đống tro tàn chỉ còn những ngọn lửa xanh leo lét khét lẹt. Hác Oa sững sờ đứng như tượng gỗ, đôi môi mím chặt muốn khóc mà không có giọt nước mắt nào trào ra. Anh liều mạng xông đến đống tro tàn quỳ xuống hai tay cào bới tìm kiếm trong đống tro leo lét chỉ còn lại chiếc đàn acmonica cháy đen...

Chia tay ông Phó dưới tán lá cây đa tỏa bóng râm mát, ông già nói với Nhiếp Phong, mấy ngày trước có một người đàn ông trung niên lạ mặt đến mặc niệm trước các ngôi mộ, còn mang đồ cúng vào động Sư Tử nằm trong núi để làm lễ tế vong, nghe ông già tả lại hình dáng người đó thì đúng là Chung Đào.

Nhiếp Phong ngẩng đầu lên nhìn trời xanh, trong lòng anh như có hàng vạn cơn sóng vỗ.

Bên tai dường như vọng lại tiếng gào thét uất hận gào xé tâm can.

Mọi thứ đều có thể quên đi
Duy có mối tình đầu ở Vân Nam
Tình yêu của tôi, huyết hải thâm thù của tôi
Tên phỉ mặt cười cho dù ngươi có chạy đến chân trời góc bể
Ta nhất định sẽ tìm thấy ngươi.

Chương 12

HỒN ĐOẠN LAM TƯỚC LĨNH

Sườn núi Lam Tước Lĩnh, Chung Đào dọn đám cỏ dại xung quanh, tấm bia mộ Chung Hạnh dần dần hiện ra trước mắt anh.

Hai mươi tám năm về trước, cũng vào mùa hoa hạnh nở đẹp rực rỡ, tất cả mọi việc như mới vừa xảy ra ngày hôm qua.

Màu phấn hồng của những cành hoa hạnh nở rộ đầu cành nhuộm kín cả một vạt núi Lam Tước Lĩnh. Cơn gió mạnh thổi qua, dưới ánh nắng mặt trời sắc hoa biến thành màu hồng thắm bay bay trong gió rồi rơi là tả xuống đất, cả bầu trời rợp đầy sắc hoa vần vũ.

“A! Mưa hoa hạnh, mưa hoa hạnh”.

Những chàng trai, cô gái căng đầy nhựa sống tuổi xuân, đẹp như những bông hoa hạnh. Trong vất vả gian lao họ luôn thắp lên ngọn lửa hy vọng về một ngày mai tươi sáng, cũng giống như bài hát Bài ca thanh niên tri thức mà họ đang hát, réo rắt, réo rắt lay động lòng người... Mỗi khi mọi người cất lên tiếng ca bài hát đó Chung Hạnh lại lấy chiếc kèn acmonica ra đệm. Hai tay cô giữ chặt chiếc kèn màu hồng thổi một cách say sưa, đôi mắt nai tơ xinh đẹp ngước nhìn rừng hoa hạnh mọc đầy bên sườn núi.
Vẻ ngây thơ trong trắng của cô như vẫn còn lẩn quất đâu đây...

Chung Đào quỳ xuống trước tấm bia, anh bật lửa châm nến, đốt tiền vàng, những ngọn lửa màu vàng nhạt cuộn lên nhảy múa trong gió.

Xen lẫn trong đó là ngọn lửa màu xanh ma quái ẩn hiện giống như cơn ác mộng đeo đẳng mãi không thôi, hai mươi tám năm nay ngọn lửa đó luôn hiện hữu thiêu cháy lòng anh.

Chung Đào thả từng tờ tiền vàng vào trong lửa, lửa cháy bập bùng khiến khuôn mặt anh trở lên hồng rực.

Khóe mắt Chung Đào ứa lệ, giọng anh thầm thì như muốn nói vào lòng đất: “Hạnh Nhi, anh đến thăm em đây. mối hận và nỗi nhục của hai mươi tám năm về trước anh đã thay em và Vũ Hồng trả hết rồi".

Một vòng khói lam theo tàn giấy tan dần vào trong không trung.

“Bây giờ ern có thể yên tâm mà nhắm mắt".

Chung Đào ngắm nhìn ngôi sao màu đỏ trên tấm bia.

Cho đến tận hôm nay anh cũng không dám nghĩ rằng buổi chiều của hai mươi tám năm về trước, một tội ác khủng khiếp đã xảy ra trong cánh rừng cao su, con quỷ đội lốt người trong bộ quân phục màu xanh đã làm vấy bẩn mối tình đầu, mối tình lớn nhất của anh, hủy hoại hạnh phúc của cả đời anh.

Ngày hôm đó Hạnh Nhi bị điều đi cạo mủ ở cánh rừng xa nhất đằng sau núi Lam Tước Lĩnh. Hồ Tử Hạo từ lâu đã thèm khát Chung Hạnh hắn đã tạo ra cơ hội để cưỡng bức cô. Với thủ đoạn bỉ ổi này hắn đã từng cướp mất đời con gái của bảy, tám thiếu nữ trong đại đội. Nhìn thấy con sói đói Hồ Tử Hạo, Chung Hạnh vội vã vứt bỏ thùng đựng mủ cao su bỏ chạy. Thú tính nổi lên, Hồ Tử Hạo đuổi theo cô, chỉ một vài bước chân hắn đã ôm được Chung Hạnh vật cô xuống đất, bàn tay bẩn thỉu bật tung cúc quần rồi lần vào quần lót của cô, Chung Hạnh liều mạng cố vẫy vùng miệng gào thét vang núi.

Đúng lúc ấy Hạ Vũ Hồng đang trên đường thu mủ cao su nghe thấy tiếng kêu thất thanh của Chung Hạnh liền chạy vội tới, chứng kiến cảnh tượng đó cô thét lên hù dọa Hồ Tử Hạo.

Hồ Tử Hạo mặt dày vò sỉ đuổi cô: “Không phải việc của mày, mau cút đi".

Hạnh Nhi thảm thiết cầu xin: "Chị Hồng ơi cứu em với”.

Hạ Vũ Hồng can đảm dùng hết sức lực giằng Hồ Tử Hạo ra tạo cơ hội cho Hạnh Nhi chạy thoát.

“Ông không được hại nó, nó vẫn còn là một đứa trẻ”. Hạ Vũ Hồng van xin Hồ Tử Hạo, mặt khác cô quay đầu về phía Chung Hạnh quát lên. “Hạnh Nhi, mau chạy đi!”.

Chung Hạnh giống như một con hươu non hoảng sợ, cô run lẩy bẩy không nhấc nổi chân.

“Đừng lo cho chị, chạy đi! Nhanh lên!".

Chung Hạnh mặt trắng bệch, thất thần lao một mạch xuống núi

“Cũng được, cô em thay Chung Hạnh vậy nhé!”. Hồ Tử Hạo chuyển từ bực bội sang mừng rỡ, đôi mắt nhỏ của gã lóe lên tia nhìn thèm khát.

Hạ Vũ Hồng nhận ra nguy hiểm đang sát kề bên mình, cô sợ hãi lùi về phía sau.

Hồ Tử Hạo nở nụ cười dâm đãng từ từ tiến lại gần thò một tay túm lấy Hạ Vũ Hồng, tay kia bịt miệng cô mồm còn thốt lên những câu hạ lưu: “Không ngờ cô em xinh tươi non tơ lại tự đưa đến tận cửa! Hôm nay ta có thể thưởng thức được cô em rồi... Ha ha”.
Hạ Vũ Hồng dùng hết sức lực chống cự, Hồ Tử Hạo ghé sát cái mồm hôi hám hôn cô, đầu lưỡi của hắn xộc thẳng vào miệng cô. Cô nghiến mạnh răng cắn vào cái lưỡi, máu mồm hắn ứa ra. Cơn điên nổi lên, Hồ Tử Hạo rút khẩu súng lục đeo bên hông đập mạnh vào đầu Hạ Vũ Hồng, cô ngất lịm đi không còn biết gì nữa...

Hạnh Nhi chạy về đại đội, cô kể cho anh trai câu được câu mất trong tiếng nấc nghẹn ngào. Hắc Oa và Cường Tử vội vàng vớ lấy mấy cây gậy gỗ lao nhanh lên núi cứu Hạ Vũ Hồng. Nhung khi họ đến nơi mọi việc đã quá muộn, Hồ Tử Hạo biến mất không để lại dấu tích, Hạ Vũ Hồng nằm bất tỉnh dưới gốc cây cao su, phía thân dưới nhuộm đỏ máu, dưới đất chỉ còn vài giọt máu tím đen vương vãi.

Hắc Oa bật khóc, anh cõng Hạ Vũ Hồng về phòng y tế của đại đội, lúc này cô mới hồi tỉnh trở lại.

Hạ Vũ Hồng bị thương rất nặng, sau khi tỉnh lại cô khóc rấm rứt.

Không hiểu rõ mọi chuyện Hắc Oa còn gào lên trách móc cô: “Tại sao? Tại sao lúc đó em không chống lại? Tại sao hả?”.

Hạ Vũ Hồng lặng người không nói khuôn mặt trắng bệch của cô hằn lên vết đau khổ và bị sỉ nhục.

“Vì sao em không nói? Em nói đi, nói đi". Hắc Oa lại thêm lần nữa xát muối vào vết thương trong lòng cô.

Hạ Vũ Hồng tuyệt vọng, cô vung cánh tay chẳng còn sức lực của mình tát thẳng vào mặt Hắc Oa. Khuôn mặt ướt đẫm nước mắt.

Lúc này Hắc Oa mới nhận ra không hiểu tại sao mình lại có thể nói ra những câu vô tình vô nghĩa đến vậy, anh hối hận vô cùng, nhung không thể lấy lại. Từ giờ khắc đó trở đi tình yêu của hai người vĩnh viễn bị ngăn cách bởi hàng rào vô hình. Sau này, dù cho Hắc Oa có cố gắng tìm cách nối lại tình cảm với cô, Hạ Vũ Hồng vẫn không thể tha thứ. Trái tim cô đã bị tổn thương sâu sắc. Cô hoàn toàn biến thành một con người héo hắt luôn sống khép mình. Hai năm sau cô được giới thiệu đi học ở một trường đại học ở Quảng Đông. Khi tốt nghiệp được giữ lại trường học tiếng Anh tiếp theo đó là đi Mỹ.

Bi kịch của cả đời người vẫn còn đeo đẳng cô mãi.

Hai ngày sau khi Hạ Vũ Hồng xảy ra chuyện Hồ Tử Hạo và Hồng Diệc Minh đi họp một ngày trên tiểu đoàn.

Tối hôm đó, Hắc Oa và Cường Tử ẩn mình mai phục trên quãng đường mòn mà bọn chúng sẽ phải đi qua, sau khi trở về từ tiểu đoàn. Họ căng mắt ra chờ đợi, đằng sau lưng là động Sư Tử sâu hun hút đen ngòm. Cả bầu trời bao phủ bởi màn đêm, không gian tĩnh lặng bị đánh thức bởi giọng nói đặc sệt vùng Hà Nam của tên phỉ mặt cười, phía sau hắn là bóng một người cao lớn, đó là chính trị viên Hồng Diệc Minh (thanh niên trí thức đại đội đặt cho Hồng Diệc Minh biệt hiệu Hồng hồ ly bởi ông ta là một con người nham hiểm bụng chứa đầy mưu kế thâm độc, song ngoài miệng luôn nói đạo đức).

Hắc Oa và Cường Tử huyết quản sôi lên sùng sục. Đợi tên phỉ mặt cười đi đến sát nút đường, hai người cùng nhảy ra, Hắc Oa đối mặt với tên giặc mặt cười, anh lấy gậy phang vào chân hắn. Hồ Tử Hạo lảo đảo nhưng vẫn kịp tóm trúng đầu gậy. Hắc Oa dù sao cũng chỉ là cậu bé mười bảy tuổi chiếc gậy bị văng bật đi xa vài mét. Trong cơn giận dữ anh liều mạng ôm chặt lấy tên giặc mặt cười bằng hai tay. Hắn định thò tay xuống rút kkẩu súng lục song không thoát ra được. Cường Tử dùng gậy bổ thẳng xuống đầu hắn. Tên phỉ mặt cười la lên oai oái. Trong bóng đêm đen kịt không biết vẻ mặt hắn như thế nào. Hắn cũng không nhận ra Hắc Oa và Cường Tử

Ba bóng người quấn chặt lấy nhau loạn đả giống như hai con sói non đọ sức vật lộn với con báo dữ. Hồng Diệc Minh - Hồng hồ ly chạy xung quanh không biết làm cách nào xuống tay để trợ giúp đại đội trưởng.

Tên phỉ mặt cười cuối cùng cũng thể hiện sức mạnh của mình, hắn gào lên một tiếng thoát khỏi tay Hắc Oa rồi rút khẩu súng đeo bên hông. Trong giờ phút ngàn cân treo sợi tóc, Cường Tử phản ứng cực kỳ mau lẹ rút con dao cạo mủ dắt dưới chân, con dao dài khoảng bảy, tám phân, thân dao rất hẹp, hai bên đỉnh uốn vòng như lưỡi rắn ở giữa rất sắc.
Tên phỉ mặt cười rút súng bật chốt bảo hiểm, Cường Tử bổ con dao cạo mủ hướng về phía mặt hắn. Tên giặc mặt cười theo bản năng né mặt tránh, hắn chỉ cảm thấy cổ mình bỏng rát, dùng tay sờ thứ thấy ươn ướt máu thì ra đã dính một dao của đối phương. Vết sẹo này vĩnh viễn lưu lại trên cổ hắn, thừa cơ hội đó Hắc Oa vung nắm đấm làm bay khẩu súng.

Trong giây phút ngắn ngủi, Hồng Diệc Minh ôm lấy vai Cường Tử.

“A! Là mày, Cường Tử”. Ông ta kinh hãi kêu lên.

Cường Tử không thèm chú ý, anh liều mạng thoát ra khỏi bàn tay Hồng Diệc Minh.

“Mau ngăn thằng điên này lại! Mau lên!”. Tên phỉ mặt cười gào khản giọng

Hồng Diệc Minh do dự một lát rồi từ sau lưng dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh Cường Tử.

A a a...!!!

Trong đêm đen như mực Cường Tử lảo đảo, lỡ chân rớt xuống động sâu. Thanh âm thảm thiết từ lớn rồi nhỏ dần mất hút trong cái hố đen ngòm. Hắc Oa sững sờ, anh có cảm giác thanh âm đó chìm sâu vào địa ngục.

Tên phỉ mặt cười một tay đưa tay lên ôm lấy vết thương, tay kia dựa vào Hồng Diệc Minh lê bước tháo chạy bỏ lại đằng sau cánh rừng đen thẫm.

Tất cả xảy ra trong vòng tích tắc, rừng trở lại tĩnh mịch, sự tĩnh mịch đến đáng sợ.

"Cường Tử... Cường Tử...”.

Ngày thứ hai sau đêm đó thì xảy ra vụ hỏa hoạn kinh hoảng ở khu nhà ở của thanh niên trí thức.

Sau vụ hoả hoạn, người ta phát hiện cả một ngày trời không nhìn thấy mặt Cường Tử, trong đống xác chết cháy cũng không tìm thấy thi thể của anh, liên tục suốt ba ngày ba đêm thanh niên trí thức đại đội đã bủa đi tìm kiếm Cường Tử ở khắp mọi nơi nhưng không thu được kết quả. Duy chỉ có động Sư Tử là mọi người không dám xuống bởi nó quá sâu không biết là độ sâu lên đến bao nhiêu, nghe một số người già địa phương nói nếu có người rớt xuống đó thì ngay cả xác cũng không thể lấy được.

Từ đó có tin đồn, nhiều khả năng Cường Tử đã bỏ trốn sang đất Myanmar.

Mọi người vẫn bán tín bán nghi về điều này.

Trong đại đội chỉ có ba người biết Cường Tử thật sự không còn sống trên thế gian, đó là Chung Đào, tên phỉ mặt cười và một người nữa là chính trị viên Hồng, tuy nhiên cả ba đều không để lộ bí mật này.

Một ngày sau sự việc đó, tên phỉ mặt cười cho gọi Hắc Oa đến văn phòng của hắn nằm ngang lưng đồi.

“Hắc Oa, mày có biết nguyên nhân Cường Tử mất tích không?”. Hắn trừng trừng nhìn anh bằng đôi mắt chuột nham hiểm.

“Tôi không biết”. Hắc Oa trả lời mặt không biến sắc.

Hồ Tử Hạo nhếch mép cười: "Bọn mày là anh em tốt của nhau cơ mà, nó rơi ở đâu mày cũng không biết thật hả?”.

Hắc Oa biết rằng Hồ Tử Hạo đang cố thử xem buổi tối phục kích hôm đó anh có mặt ở đó hay không.

“Ông là đại đội trưởng của cậu ấy còn không biết thì tôi làm sao mà biết được". Anh lắc đầu chối đây đẩy.

Tên phỉ mặt cười không bắt thóp được Hắc Oa, hắn cười hì hì.

“Bất cứ kẻ nào muốn tính chuyện với Hồ Tử Hạo ta thì đã tính nhầm rồi đấy”.

Thanh niên trí thức đều hiểu rõ tính cách của con người đại đội trưởng Hồ Tử Hạo: Ham thích quyền lực, luôn có cái cười đầy giả tạo. Dáng người hắn không cao, khuôn mặt to bè, cái mũi hổ, làn da đen thô kệch, giọng nói rin rít như có cát trong cổ họng. Chửi mắng người khác đối với hắn là chuyện cơm bữa, hơn nữa vừa chửi vừa hềnh hệch cười. Tiếng cười của hắn khiến người ta sợ hãi đến tận tâm can. Thích cười ngay cả những lúc làm việc bại hoại là đặc điểm nổi trội của tên quỷ đội lốt người này. Khi nhìn cái gì đôi mắt hắn híp lại, đôi mắt tròn mà nhỏ, nhưng cái khiến người ta nổi da gà, lạnh hết sóng lưng là gặp phải ánh mắt thèm thuồng như hổ đói của hắn. Toàn bộ số mệnh của thanh niên trí thức trong đại đội đều nằm trong tay đại đội trưỏng Hạo, hắn biến đại đội hai trở thành một vương quốc tách biệt, một bộ lạc nguyên thủy, một người có quyền sinh quyền sát tất cả những người còn lại, không có pháp luật, không có quỷ thần. Lúc đầu mọi người đặt cho hắn cái tên sau lưng “Trùm phỉ” sau là “Trùm phỉ mặt cười” và cuối cùng là “Tên phỉ mặt cười”.

Những dục vọng của tên ác quỷ này tổng hợp lại ở mấy điểm: Hoang dâm vô độ, ham thích quyền lực, khi không chinh phục được thì giở trò cưỡng bức để đáp ứng nhu cầu đồi bại của mình.Tất cả nữ thanh niên mười sáu, mười bảy tuổi trong đại đội đều khó thoát khỏi việc bị hắn làm nhục, giày vò xâm phạm thân thể.

Hắc Oa rất rõ mọi người trong đại đội căm giận tên phỉ mặt cười đến tận xương tủy nhưng không làm gì được hắn.

Anh nghiến chặt hàm răng, mắt nhìn chăm chăm vào vết thương nơi quai hàm bên trái của tên phỉ mặt cười do con dao cạo mủ gây ra. Trái tim anh như đang rỉ máu "Cường Tử, cậu chết thật oan ức quá!”.

“Không còn việc gì nữa, mày có thể đi được rồi”. Tên phỉ mặt cười tắt ngấm nụ cười, đuổi anh đi.

Rời khỏi phòng làm việc của hắn Hắc Oa quay người bước đi, khuôn mặt đanh lại, một giọt nước mắt trào ra trên khóe mắt, anh cố kiềm chế nỗi uất hận và sự bi thương trào dâng trong lòng.

Ráng chiều bầm đỏ như máu từ từ xuống thấp bên sườn núi.

Hắc Oa cảm thấy toàn thân sục sôi huyết quản, một thanh âm đáng sợ vọng lên từ đáy lòng anh "Sẽ có một ngày ta tóm được ngươi, tên quỷ khốn kiếp...”.

Hắc Oa thề sẽ giết chết tên phỉ mặt cười để báo thù cho Hạnh Nhi, Hạ Vũ Hồng và Cường Tử, trừ đi mối họa lớn cho mọi người, anh gằn từng bước mạnh như đạp vào đất rồi xuống núi.

***

Chung Đào rót rượu xuống động Sư Tử, nước mắt anh trào ra

Anh khẽ thì thầm "Cường Tử, cuối cùng mình đã báo được thù cho cậu, cho Vũ Hồng và cho Hạnh Nhi rồi!”.

Rượu tiếp nối rượu cho đến khi trong bình không còn một giọt, anh vung tay quăng mạnh chiếc bình lên tận không trung, nó rạch một vệt dài lên trời xanh rồi rớt xuống động sâu hun hút không để lại chút âm thanh nào. Sau đó anh rút máy di động gọi cho Đinh Lam

"Tiểu Lam à! Là anh Chung Đào đây, anh đang đứng trên động Sư Tử, làm lễ tế vong anh trai của em".

“A! Anh đấy ư?”. Giọng nói của Đinh Lam nghẹn ngào.

“Em có muốn nói mấy câu với anh trai không?". Chung Đào như một người anh lớn ôn tồn hỏi cô, giọng nói có chút xúc động.

Không có tiếng đáp của Đinh Lam.

“A lô! Em có đang nghe anh nói không? Đinh Lam”.

Trong điện thoại chỉ có tiếng thút thít.

“Được rồi, để anh nói thay em...”.

Chung Đào đưa máy điện thoại ra khỏi tai giơ lên cao: "Anh... Tên phỉ mặt cười đã chết rồi! Nó chết một cách khốn khổ!”.

Đinh Lam nấc nghẹn, dường như tiếng nấc vang vọng khắp cả bầu trời Vân Nam.

“Hồng hồ ly cũng chết rồi, bọn chúng đều phải đền mạng bởi những tội ác mà chúng đã gây ra... Anh, anh có nghe thấy em nói không?... Em và mẹ đang sống rất tốt, anh không phải lo lắng đâu. Hai mươi tám năm, giờ anh có thể yên tâm nhắm mắt được rồi...”.

2

Tiểu Xuyên và Đào Lợi đến ban quản lý đường bộ điều tra kỹ những cung đường của Tiểu Mai Sa, họ thu được một đầu mối quan trọng, từ trong nội thành Thâm Quyến đến Tiểu Mai Sa bằng xe bus có các tuyến số 103, 360, 364 và 368. Trong đó tuyến số 364 chạy qua Tiểu Mai Sa đến thị trấn Đại Bàng. Những chuyến xe bus này thông thường chạy đến khoảng mười giờ tối thì nghỉ. Vào mùa nghỉ mát, khách lên xe đông, thời gian chạy xe có thể kéo dài đến ba, bốn giờ sáng.

Tìm đến một tài xế chạy tuyến số 380, tuyến này xe bus có máy lạnh, tài xế là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đã có nhiều năm trong nghề, ông mang họ Tạ. Buổi tối ngày hai mươi tư tháng sáu là ngày ông làm việc, cho đến tận ba rưỡi sáng ngày hai mươi lăm ông mới nghỉ, đó là chuyến xe bus cuối cùng đến Tiểu Mai Sa, khi đánh tay lái qua một vòng cua dưới chân núi, người tài xế vô tình phát hiện một chiếc xe hơi màu trắng đỗ bên vệ đuờng, cửa đóng chặt, đèn tắt, không thấy người lái đâu. Do chỉ vô tình đi ngang qua nên người tàải xế cũng không lưu ý tới biển số xe, nhưng ông nhìn rõ chiếc xe đó là loại xe Fukang.

Nửa giờ sau khi đã trả khách tại bến xe Tiểu Mai Sa ông lái xe quay về qua quãng đường cũ thì không còn thấy chiếc xe ấy ở đó nữa.

Người tài xế xe bus đã chỉ cho cảnh sát vị trí chiếc xe đã đỗ sáng hôm đó. Từ vị trí này vượt qua hàng rào lưới sắt, phía dưới là trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa, sát cạnh đó là một cây đa cổ thụ. Hàng rào lưới sắt có một lỗ thủng lớn vừa vặn thân người chui lọt. Do xung quanh cỏ dại mọc um tùm từ bên ngoài nhìn vào không thể nhận ra lỗ thủng. Thuận theo bậc đá phủ đầy lá rụng đi xuống mươi bước là đến con đường “lối nhỏ tình yêu". Tại hàng rào lưới sắt cảnh sát thu được vài sợi vải màu hồng, qua xét nghiệm hóa học trùng hợp với sợi vải chiếc quần bơi nhãn hiệu cá sấu mà Hồ Quốc Hào mặc lúc chết.

Bí ẩn những vết cào trên chiếc quần bơi của Hồ Quốc Hào cuối cùng đã được giải mã.

Rất có khả năng trong lúc di chuyển xác chết, do Hồ Quốc Hào quá nặng nên bị vướng vào lỗ thủng hàng rào lưới thép.

Tiểu Xuyên gọi điện cho Nhiếp Phong thông báo phát hiện này.

Nhiếp Phong nghe xong thì nói một câu “Thế thì đúng rồi!"

Anh nhắc Tiểu Xuyên nhớ lại chi tiết những con cò kêu vang chứng thực chuyện này là chuẩn xác, thời gian hơn ba giờ sáng cũng rất phù hợp.

Anh đề xuất: “Các cậu nên ngay lập tức kiểm tra chiếc xe Fukang của Đinh Lam, cũng cần trở lại Nam Áo một lần nữa, tìm kiếm dấu vết để lại của Chung Đào.

“Cục trưởng Ngũ đã giao cho bọn em làm rồi”.

“Tốt quá, khi điều tra cần đặc biệt chú ý bên ngoài bức tường bao quanh trường tiểu học Nam Áo”.

“Vì sao ạ?”

“Trước khi rời Thâm Quyến mình đã đến đó, gần nơi phát hiện ra chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào, ngay bên ngoài tường một con đường cái, cậu thử dò hỏi người dân xung quanh biết đâu họ lại nhìn thấy chiếc xe Fukang đỗ gần đấy”.

“Em hiểu rồi!”.

***

Tiểu Xuyên, Đào Lợi bí mật điều tra chiếc xe Fukang của Đinh Lam.

Lấy mẫu đất cát ở rãnh lốp và gầm xe qua xét nghiệm không có gì đặc biệt, sau đó kiểm tra bên trong xe thu được một lượng nhỏ bùn đất, đó là loại bùn đó rất hiếm gặp, qua phân tích nguyên tố vi lượng thì trùng khớp với thổ nhưỡng vùng Tây Xung nằm ở phía nam thị trấn Nam Áo. Điều ấy chứng minh chiếc xe Fukang đã từng đi qua vùng đất này, rất có thể Chung Đào đã đến đây để lấy nước biển ô nhiễm xích triều.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi lái xe xuống Nam Áo, trước tiên hai người thẩm tra xung quanh trường tiểu học Nam Áo. Nơi phát hiện chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào là một góc của sân thể thao cách tường bao chưa đến hai mét. Tường bao được xây bằng xi măng cát, cao một mét bảy mươi tám, phía trên để các ô thoáng. Bên ngoài bức tường là đường cái lớn, người qua lại không đông lắm, đối diện với con đường là một dãy nhà xây sát sườn dốc. Tiểu Xuyên và Đào Lợi đi từng nhà để dò hỏi, khi họ đến một gia đình nhà nằm trên sườn dốc cao nhất, nguời lớn đã đi làm hết, trong nhà chỉ còn một bé gái bị tật ở chân trái, cô bé kể lại khoảng hơn một tháng trước lúc trời nhá nhem tối cô bé đang ngồi trước hiên nhà thì thấy một chiếc xe con màu trắng ghé vào đỗ trên con đường cái, vị trí đúng với góc tường bên ngoài trường tiểu học, một người đàn ông từ trong xe bước xuống, điều lạ là ông ta lại trèo qua tường vào bên trong trường, dường như đang tìm kiếm cái gì đó, xe đỗ trong khoảng thời gian rất ngắn rồi đi mất. Do từ khoảng cách khá xa nên cô bé không nhìn thay biển số xe, nhưng qua lời mô tả hình dáng, người đàn ông đó rất giống với Chung Đào, ngày giờ cụ thể cô bé không thể nhớ rõ, chỉ biết ngày hôm trước mình vừa mới đi bệnh viện để điều trị. Đợi bố mẹ cô bé trở về hai vị cảnh sát cuối cùng cũng có câu trả lời chính xác ngày cô bé đi viện là ngày hai mươi chín tháng sáu.

Đó là ngày thứ tư sau khi Hồ Quốc Hào bị sát hại; hai ngày sau ngày cô bé đi viện người ta tìm thấy chiếc túi của Hồ Quốc Hào ở sân thể thao của trường tiểu học Nam Áo. Điều này hết sức trùng hợp.
Thừa thắng xông lên, Tiểu Xuyên và Đào Lợi lái xe xuống Tây Xung. Đây là một thị trấn làng chài nhỏ đón sóng đầu nam, bãi biển Tây Xung cũng được coi là một danh thắng nghỉ mát nổi tiếng không thua kém Đại, Tiểu Mai Sa, nước biển ở đây rất xanh và sâu, bãi cát, lều cỏ, hàng dừa... tất cả tạo nên một khung cảnh vô cùng thơ mộng và đẹp đẽ, nhưng khi được hỏi những người tắm biển ở đây đều lắc đầu, hai cảnh sát trẻ không hề phát hiện được dấu tích nào để lại của Chung Đào hay Đinh Lam.

Vậy chiếc xe Fukang của Đinh Lam đến đây để làm gì?

Đào Lợi vừa ngắm biển vừa phán đoán: “Có lẽ khi xe đến gần làng chài, người lái chiếc xe này đã cố ý cải trang để không ai nhận ra”.

“Tóm lại phải có nguyên nhân chứ”. Tiểu Xuyên lên tiếng.

“Nguyên nhân...”. Đào Lợi suy nghĩ giây lát “Khả năng thứ nhất là do hiện tượng xích triều di chuyển lên hướng bắc vì vậy nước biển ở đây không thể dùng cho mục đích của họ. Khả năng thứ hai là đối tượng gây án cố tình làm thế để “dương đông kích tây” gây khó khăn cho công tác điều tra”.

“Đúng lắm! Cậu tiến bộ nhanh thật!”. Tiểu Xuyên thực lòng khen ngợi Đào Lợi.

Họ điều chỉnh lại suy luận của mình, đánh xe quay trở về con đường cũ, phía sau bụi đất cuộn bay lên mù mịt...

Kiểm tra cầu tàu ở vịnh Nam Áo. Đây là một cảng cá nhỏ, trong vịnh có tới hàng trăm chiếc thuyền máy đang hoạt động, thân thuyền được sơn màu xanh nhạt hoặc màu xanh đậm, nom có vẻ rất giống thuyền gỗ, sau khi hỏi những ngư dân trong cảng cho hay những chiếc thuyền đó đều làm bằng sợi nhựa cacbon, Tiểu Xuyên và Đào Lợi đứng ở ven bờ nhìn xuống dưới, nước biển rất bẩn, trên bề mặt nổi đầy rác thải, túi nilon, giấy vụn, vỏ hoa quả... màu nước đục ngầu. Xem ra Chung Đào không thể đến đây lấy nước, hơn nữa nếu lấy nước ở đây cũng sẽ gây sự chú ý của mọi người.

Tiểu Xuyên hỏi người phụ nữ, vợ của một ngư phủ mặc chiếc áo hoa, đầu đội nón rơm.

“U ơi, thuê thuyền ở đây giá bao nhiêu nhỉ?”.

“Đi trong phạm vi gần thì hết một trăm tệ”.

“Xa hơn một chút thì bao nhiêu ạ?”

“Khoảng một trăm năm mươi tệ”

“Chỗ đằng kia là gì vậy u?” Tiểu Xuyên chỉ tay về phía hòn đảo rất dài nằm đối diện.

“À, đó là đảo Bình Châu thuộc đất Hồng Kông, thuyền không được phép đến đấy”.

Tiểu Xuyên ra dấu cho Đào Lợi, cô cầm tấm ảnh Chung Đào và Đinh Lam đưa cho người phụ nữ đó rồi hỏi.

“U cho con hỏi hơn một tháng trước có thấy hai người giống trong ảnh đến đây thuê thuyền không ạ?”.

Người phụ nữ soi kỹ các bức ảnh lắc đầu: “Để tôi thử hỏi mấy người nữa xem sao”.

Bà cầm hai bức ảnh đưa cho những ngư dân khác, nhưng tất cả đều trả lời không thấy hai người này.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi lộ rõ vẻ thất vọng.

“Cô cậu thử đi hỏi mấy chú biên phòng xem sao”.

Theo hướng bà chỉ là dãy nhà hai tầng sơn màu vàng gần đấy.

Sau khi nói lời cảm ơn, hai cảnh sát tiến về trạm biên phòng, một chiến sĩ trẻ mặc quân phục màu xanh, biển tên đeo trước ngực, khuôn mặt còn tròn hơn cả Tiểu Xuyên đón tiếp họ, kiểm tra giấy tờ của hai người xong cậu ta khách khí trả lời. Theo như cậu ta nói để thuê được thuyền, cần phải có các giấy tờ liên quan hoặc chỉ cần thông báo một câu cũng được. Nói như vậy bất cứ ai đến thuê thuyền trạm vũ trang biên phòng đều nắm được, ngoài cậu ta ra còn một người khác nữa đang trực ở đây.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi hết sức vui mừng.

Cậu mặt tròn đi vào trong phòng gọi người đồng đội lớn tuổi hơn. Sau khi xem rất kỹ bức ảnh chụp Chung Đào và Đinh Lam họ đều trả lời không hề thấy hai người trong ảnh đến đây thuê thuyền.

Hai nhân viên cảnh sát trẻ nói mấy câu cảm ơn rồi quay về xe, cả hai đều cảm thấy mệt mỏi và uể oải. Chẳng ngờ chuyến đi Nam Áo lần này lại không thu được kết quả gì.

“Mình báo cáo cho đội trưởng chứ?". Đào Lợi hỏi Tiểu Xuyên.

“Đợi một chút...”.

Tiếu Xuyên ngẫm nghĩ trong giây lát rồi quyết định gọi điện thoại di động cho Nhiếp Phong.

“Anh Nhiếp ạ! Em Tiểu Xuyên đây, em đang cùng Đào Lợi xuống Nam Áo điều tra”.

“Ồ, vậy hả, các cậu có tiến triển gì không?”.

“Có người nhìn thấy vào chạng vạng tối ngày hai mươi chín tháng sáu có một chiếc xe màu trắng đỗ bên ngoài tường rào trường tiểu học, hơn nữa người đàn ông lái chiếc xe đó còn trèo tường vào bên trong trường”.

“Thật là tốt, xin chúc mừng”. Nhiếp Phong vui lây.

“Thế nhưng...". Đào Lợi giành lấy máy di động nói với Nhiếp Phong “Bọn em vẫn chưa tìm ra địa điểm Chung Đào lấy nước biển“.

“Các cậu đã kiểm tra ở những nơi nào rồi?”.

“Bến cảng Nam Áo, còn cả đầu mũi nam Tây Xung nữa ạ”.

“Thế đã qua thôn Thủy Đầu chưa?”.

“Thôn Thủy Đầu...? Chưa ạ!”. Đào Lợi có đôi chút ngạc nhiên.

Tiểu Xuyên lại giằng lấy điện thoại khỏi tay cô, đặt sát vào tai, cậu nghe rõ từng lời giải thích của Nhiếp Phong: “Đó là quê của Châu Chính Hưng, cách Nam Áo về hướng bắc khoảng năm, sáu kilômét, các cậu thử đến đó xem”.

“Bọn em hiểu rồi”.

Năm phút sau chiếc xe cảnh sát đã đỗ trước bãi tắm thôn Thủy Đầu. Thôn Thủy Đầu là một thị trấn nhỏ nằm sát bờ biển, cách bãi biển chỉ có gần cây số.

Bước ở trong xe ra, vừa đặt chân xuống đây Tiểu Xuyên đã có một dự cảm. Nơi này thật đặc biệt.

Đứng từ con đê ngăn biển nhìn xuống, nước ở đây có nhiều màu sắc khác nhau, sát với bờ là màu vàng (sóng đánh làm cho cát cuộn lên), xa hơn một chút là màu xanh lục, xa hơn nữa là màu lam thẫm, dưới ánh nắng ban ngày nó gần giống với màu đen. Sóng liền sóng vỗ vào bờ tạo thành những cột sóng lớn khiến người ta cảm thấy lay động tâm can.

Vài chiếc thuyền đạp nước, rẽ sóng lao ra khơi như những con thoi.

“Biển quê hương Châu Chính Hưng có chút gì đó thật dữ dằn”. Đào Lợi bất giác cảm thán.

“Từ trước đến nay tớ cũng chưa từng nhìn thấy cảnh biển nào hùng vĩ như thế này”.

Trên bãi biển có không ít du khách ngồi dưới tán ô che nắng nghỉ ngơi, cũng có một số người liều lĩnh xuống tắm biển.

Hai cảnh sát trẻ tìm đến người quản lý khu du lịch để hỏi về Chung Đào và Đinh Lam. Người đó cho gọi hai nhân viên cứu hộ, một người trong đó sau khi xem ảnh đã nhận ra Chung Đào và Đinh Lam.

“Hai người này đã từng đến đây tắm biển”.

“Anh nhớ có chính xác không?”. Hơi bị kích động, giọng nói của Tiểu Xuyên có vẻ thay đổi.

"Không thể nhầm được vì người đàn ông này bơi rất giỏi, còn chị phụ nữ dường như chỉ ngồi trên bãi cát mà không xuống nước”.

“Anh có nhớ được chính xác ngày họ đến đây không?”.

“Ngày cụ thể thì tôi không nhớ được, đã hơn một tháng rồi... thời gian là vào lúc ban trưa”.

“Anh có thấy hai người này có biểu hiện gì đặc biệt không?”. Đào Lợi hỏi.

“Không có gì đặc biệt cả...”. Người cứu hộ hồi tưởng “A, tôi nghĩ ra rồi người đàn ông trước khi ra về trong tay còn xách một chiếc can nhựa”.

“Can nhựa? Thế nó màu gì?”.

“Màu trắng, trông cũng giống như những chiếc can nhựa bình thường khác”.

Người cứu hộ không biết anh vừa giúp cho cảnh sát giải quyếr một vấn đề cực kỳ lớn.

Sau khi nghe báo cáo cụ thể của hai người, cục trưởng Ngũ và đội trưởng Thôi rất mừng rỡ.

Tất cả thành viên trong tổ chuyên án đều cảm nhận được thắng lợi đang đến rất gần.

Trong cuộc họp toàn tổ, cục trưởng Ngũ phát biểu: “Xem ra quá trình điều tra vụ án đang tiến đến những bước cuối cùng, bản thân tôi và các đồng chí đều rất vui mừng. Thế nhưng chúng ra không được quên, điều cốt lõi khi làm án là phải dựa vào chứng cớ, chỉ có chứng cớ vững chắc mới buộc đối tượng khai nhận”.

Đội trưởng Thôi tiếp lời: “Tất cả những gì cục trưởng Ngũ vừa nói cho chúng ta thấy mặc dù biết rất rõ Chung Đào vứt chiếc túi xách ở sân trường tiểu học song anh ta hoàn toàn có thể phủ nhận, bé gái không nhìn thấy biển số xe, cũng không một ai bắt quả tang anh ta trèo tường. Người cứu hộ ở bãi cắm Thủy Đầu là nhân chứng rất quan trọng, cái mà chúng ta thiếu hiện nay là vật chứng”.

Cục trưởng Ngũ thở dài: “Xét nghiệm những mảnh vụn vi tảo biển còn lưu lại trong chiếc can nhựa, dù đã gửi đến trung tâm kỹ thuật hình sự bộ công an nhưng cũng không thu được kết quả. Đối với chứng cứ này trong nước chưa có tiền lệ”

“Thưa đồng chí cục trưởng!”. Trịnh Dũng đề xuất: “Tôi có một kiến nghị, ta nên nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia hình sự Lý Xương Ngọc, nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa”.

Cục trưởng Ngũ ngợi khen: “Đó cũng là một phương án hay, việc hợp tác quốc tế có thể được cho phép...”. Ông nói tiếp “Còn một điểm cho đến nay chúng ta vẫn chưa làm rõ, động cơ gây án của Chung Đào là gì?”.

Tiểu Xuyên tranh thủ nói ra nhận định của Nhiếp Phong: “Về việc này nhà báo Nhiếp đã có kết quả điều tra, đây là vụ án giết người hàng loạt để báo thù...”.

“Cái tay ‘Tây Bộ Thái Dương’ đó khẳng định?”. Đội trưởng Thôi tỏ ý nghi ngờ “Phá án không thể chỉ dựa vào suy luận mà phải có bằng chứng”.

Cục trưởng Ngũ hỏi Tiểu Xuyên: “Nhà báo Nhiếp bây giờ đang ở đâu”.

“Anh ấy đang ở Vân Nam ạ”.

***

Khi Nhiếp Phong quay về Côn Minh, tranh thủ thời gian đợi mua vé tàu, anh trở lại Trung tâm lưu trữ hồ sơ để tìm kiếm tài liệu có liên quan đến thời kỳ thanh niên trí thức.

Tiếp đón anh vẫn là cô nhân viên tóc cắt ngắn, đeo kính trắng. Hoàn tất thủ tục kiểm tra giấy giới thiệu và thẻ nhà báo của anh, cô đưa cho anh một tờ giấy rồi bảo khai vào đó.

Trên tờ giấy có ghi: Họ tên, trình độ văn hóa, chức vụ, phương thức liên lạc, nội dung tra cứu... Tất cả thông tin đều phải điền đầy đủ.

Đợi Nhiếp Phong hoàn thành bản kê khai cô đeo kính nói gì đó với đồng nghiệp mặc áo hoa ngồi bên cạnh, giọng nói mang âm sắc vùng Vân Nam, Nhiếp Phong nghe không hiểu. Cô áo hoa đưa cho Nhiếp Phong một quyển sổ, trên đó có in dòng chữ màu đỏ “Hồ sơ điều tra lưu trữ Vân Nam”, trong quyển sổ phân ra làm các mục: số quyển, niên đại, tiêu đề bản lưu,... Nhờ sự hướng dẫn của cô áo hoa, rà soát trong phần tổng mục lục anh tìm thấy dòng chữ có nội dung "Mục lục hồ sơ phòng công tác thanh niên trí thức về miền núi, nông thôn, hội đồng ủy viên cách mạng tỉnh Vân Nam”.

Mở phần đó ra, dòng chữ đầu tiên viết bằng bút sắt “Hướng dẫn khái quát toàn bộ tư liệu” bao gồm các mục nhỏ: nội dung, thời gian bàn giao, người từng lưu trữ, người nhận... Lật sang trang bên là dòng chữ “Hướng dẫn tra cứu mục lục”. Quyển đầu tiên đánh số một viết bằng bút sắt mực xanh.

Nhiếp Phong giỏ từng trang tìm kiếm, đến trang thứ tư anh dừng lại nhìn vào phần tiêu đề "Báo cáo của ủy ban cách mạng tỉnh, công an tỉnh về việc tiếp nhận đơn thư phản ảnh của thanh niên trí thức Tứ Xuyên".

Phía dưới có các nội dung sau:

“Tài liệu phản ảnh tình hình thanh niên trí thức binh đoàn bị bức hại, hãm hiếp và phản ánh tình hình của Thượng Hải, Bắc Kinh, Tứ Xuyên và các cơ quan hữu quan trong tỉnh”

“Tài liệu báo cáo và xét xử của Trung ương, tỉnh, tổ công tác quân khu Côn Minh về việc điều tra, xử lý cán bộ trung đoàn..., binh đoàn... đàn áp bức hại thanh niên trí thức do thủ tướng Chu Ân Lai và các đồng chí lãnh đạo trung ương phê chuẩn".

“Báo cáo của ủy ban cách mạng tỉnh, tổ công tác quân khu, tòa án về việc điều tra phán ảnh tình hình vụ việc cán bộ binh đoàn 1- 3 bức hại thanh niên trí thức, tài liệu điều tra xét xử Giả Tiếu Sơn, Trương Quốc Lượng...”.

Suốt bốn giờ đồng hồ Nhiếp Phong ngồi đọc hết tập hồ sơ phủ đầy bụi, trong đó anh vô tình tìm được một bản ghi chép khiến người đọc kinh hãi, đó là vụ án “Sự kiện Hà Khẩu” do đích thân thủ tướng chỉ đạo điều tra mà ông Phó từng kể cho anh nghe.

Khi đoàn thăm hỏi động viên thanh niên trí thức Tứ Xuyên đến thăm trung đoàn mười tám, binh đoàn xây dựng Vân Nam, các nhà báo của tỉnh đi cùng đã thu thập đơn thư phản ảnh những vụ việc như bức hại thanh niên tri thức, hãm hiếp nữ thanh niên trí thức...

0

Hai phóng viên của Tân Hoa Xã thường trú tại phân xã Vân Nam với lương tri và trách nhiệm trước nhân dân của người làm báo đã điều tra kỹ càng hơn một trăm nạn nhân là thanh niên trí thức và người địa phương, ở những nơi này thanh niên trí thức bị coi là thành phần cần “cải tạo lao động”.

Một bộ phận cán bộ binh đoàn đã lợi dụng chức vụ đánh đập, cưỡng hiếp và làm nhục thanh niên trí thức. Sự thật phơi bày gây phẫn nộ mạnh mẽ trong công luận. Mọi người đều kính phục tinh thần vì nhân dân của hai nhà báo dũng cảm.

Ngày 4 tháng 7 năm 1973 trong mục “Nội san”, tạp chí “Tình hình trong nước” (số 241) của Tân Hoa Xã được đặt trên bàn làm việc của các đồng chí lãnh đạo trung ương, đã cho đăng bài báo “Thực trạng thanh niên trí thức bị đàn áp, bức hại ở trung đoàn mười tám, sư đoàn bốn, binh đoàn xây dựng Vân Nam".

... Trung đoàn mười tám có ba mươi mốt đơn vị thì có tới hai mươi ba đơn vị để xảy ra hiện tượng đánh đập, bắt trói thanh niên trí thức với nhiều mức độ khác nhau, bao gồm trên hai mươi lăm kiểu tra tấn dã man như: Treo ngang bụng lợn, khỉ mò trăng, quỳ chẻ củi, quỳ trên gạch đập vụn, trâu vặn cọc, treo lên cao rồi đập vào tường(còn gọi là gõ chuông), phạt thiêu dưới nắng gắt, mùa đông bắt ngâm trong nước lạnh... (sơ lược)

Những tài liệu khiến các Đồng chílãnh đạo trung ương hết sức quan tâm và tức giận, ngay lập tức ra chỉ thị:

Thủ tướng Chu Ân Lai phê chuẩn
Đồng chí Tiên Niệm, Đăng Khuê, Quốc Phong, Hồng Văn, Đông Hưng
Các hành vi này không thể không xử lý
Đồng chí Đăng Khuê gọi điện yêu cầu Đồng chí Châu Hưng bảo vệ an toàn cho hai nhà báo phân xã Vân Nam
Chu Ân Lai
Ngày 6 tháng 7 năm 1973

Đồng chí Diệp Kiếm Anh phê chuẩn
Sự việc rất nghiêm trọng, yêu cầu điện thoại xuống quân khu Côn Minh cho người điều tra báo cáo…
Diệp Kiếm Anh
Ngày 5 tháng 7 năm 1973

Phó thủ tướng Lý phê chuẩn
Gửi cho Đồng chí Quốc Phong đọc. Những kẻ trong bài báo này không phải là đảng viên đảng cộng sản mà là bọn Quốc Dân Đảng, ít nhất cũng là hành vi của bọn Quốc Dân Đảng. Vì sao không được uốn nắn kịp thời? Ủy ban cách mạng tỉnh, quân khu lẽ nào nói không biết?
Tiên Niệm
Ngày 6 tháng 7 năm 1973

Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ thị thành lập tổ điều tra liên ngành bao gồm người của các cơ quan hữu quan trung ương, ủy ban cách mạng tỉnh Vân Nam và bộ chính trị quân khu điều tra cụ thể những vấn đề trong mục “Nội san’’ của tạp chí đã nêu. Căn cứ vào kết quả điều tra thông báo rộng rãi.

“Báo cáo điều tra của tổ điều tra liên ngành về việc trung đoàn mười tám, binh đoàn xây dựng Vân Nam đàn áp bức hại thanh niên tri thức”.

«Trích»

... Danh sách 48 cán bộ vi phạm nêu ở trên, đã có 110 thanh niên trí thức bị tra tấn đánh đập bằng nhiều hình thức khác nhau, một số bị tra tấn đến chết, một số mang thương tích trầm trọng, một số hoảng loạn tinh thần không ổn định, một số tự sát (không chết)...

Đội trưởng đội y tế trung đoàn mười tám, Tôn..., 45 tuổi người huyện Hà Gian, Hà Bắc. Nhập ngũ năm 1945, tháng 3 năm 1970 được điều về trung đoàn mười tám đảm nhiệm thức vụ đội trưởng đội y tế, cấp tiểu đoàn phó, hãm hiếp 11 nữ thanh niên trí thức, khiến 3 người có thai, chiếm trên một nửa quân số nữ thanh niên trí thức của đội y tế...

Lý..., 30 tuổi, người huyện Thạch Thiên, Quý Châu, chính trị viên đại đội 20, cấp bí thư đại đội, hãm hiếp, quấy rối, dâm loạn 15 nữ thanh niên trí thức, khiến hai người nhảy xuống sông tự tử được cứu sống...

Trên thực tế vết nhơ nhuốc của trung đoàn mười tám huyện Hà Khẩu mới chỉ là một phần của sự thật. Tổ điều tra liên ngành phát hiện những vụ việc cưỡng hiếp, bức hại thanh niên trí thức tương tự như vậy tồn tại khá phổ biến ở binh đoàn này. Rất nhiều cán bộ phạm tội đã từng là những anh hùng trong chiến đấu, lập nhiều chiến công trong quân đội, được tặng thưởng huân huy chương, nhưng sau khi về binh đoàn xây dựng Vân Nam họ đã biến đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn nằm phân tán trong các khu vực rừng núi hẻo lánh thành những “vương quốc độc lập” mà mình là tên độc tài cai trị. Do thiếu sự giám sát của luật pháp lại có quyền lực tuyệt đối trong tay, họ đã dần biến chất để cho dục vọng thấp hèn lấn át lý trí, trở thành những tên “chúa đất” hung bạo cát cứ một phương.

Trong bước ngoặt thời đại và điều kiện đặc thù, dưới khẩu hiệu sai lầm “tiếp thu giáo dục lại”. Các nữ thanh niên trí thức không được gia đình, pháp luật bảo vệ. Họ như những con “dê non” đứng trước miệng hổ đói, làm sao có thể thoát khỏi nanh vuốt của những “con thú săn mồi” đầy rẫy dục vọng và quyền lực tuyệt đối trong tay.

“Phản ánh tình hình” xử lý những vụ án có liên quan đến thanh niên trí thức Vân Nam

«Kỳ thứ 14»

... Xử lý các vụ án có liên quan đến việc bức hại thanh niên trí thức về nông thôn, miền núi tại binh đoàn xây dựng Vân Nam.

Theo thống kê chưa đầy đủ kể từ năm 1969 đến nay tại binh đoàn xây dựng sản xuất Vân Nam đã xảy ra 411 vụ án bức hại thanh niên trí thức. Trong đó có 207 vụ cưỡng hiếp, 98 vụ bắt trói người trái pháp luật, 2 vụ giết người, 3 vụ cưỡng hôn, 5 vụ trả thù, 1 vụ trốn ra nước ngoài, 3 vụ chết không rõ nguyên nhân, 83 vụ dâm loạn, 9 vụ cưỡng hiếp không thành. Số tội phạm là quân nhân 116 tên (cán bộ cấp sư đoàn: 4 tên, cấp trung đoàn: 9 tên, cấp tiểu đoàn: 31 tên, cấp đại đội: 105 tên, cán bộ tham mưu: 10 tên, các cấp khác: 7 tên), số tội phạm là cán bộ dân sự: 245 tên.

Đã xử lý 179 vụ, chiếm 43.6%.

4 vụ xử tử hình, 2 vụ xử tử chờ ngày thì hành án, 3 vụ phạt tù chung thân, 4 vụ phạt tù trên 10 năm, 13 vụ xử tù dưới 9 năm, 138 vụ xử lý hành chính, 13 vụ kỷ luật ở các cấp độ khác nhau...

Chưa xử lý 232 vụ, chiếm 56.4%...

Số lượng cán bộ quân đội trong binh đoàn phạm tội chỉ là thiểu số, đại đa số còn lại đều là những người triệt để chấp hành kỷ luật, thực hiện nghiêm pháp luật, trung thành với đảng, ưu tú gương mẫu trong lao động sản xuất. Tuy nhiên thiểu số những kẻ phạm tội giống như vết ung nhọt nằm trong cơ thể binh đoàn nếu không được cắt bỏ sẽ gây ra mối hại lớn, khiến quần chúng nhân dân mất lòng tin, tạo ra dư luận xấu ảnh hưởng đến uy tín của đảng.

Ngọn cờ chính nghĩa cuối cùng cũng được giương lên.

Ngày 28 tháng 11 năm 1973 tại sân vận động Cảnh Hồng đã diễn ra “Đại hội xét xử đã kích những tội phạm bức hại thanh niên trí thức về nông thôn, miền núi”. Đại hội đã quyết định tuyên án xử tử hình 3 tên: Giả...., Trương...., Trang.,, lập tức thi hành án, xử tử hình chờ ngày thi hành án 2 tên: Đỗ...., Lan...

Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn độc lập, Giả...., 43 tuổi. Từ tháng 7 năm 1970 đến tháng 1 năm 1973 lợi dụng chức vụ quyền hạn hãm hiếp hơn 20 nữ thanh niên trí thức, lập mưu giết người diệt khẩu khiến dư luận căm phẫn... Đại đội trưởng đại đội hai tiểu đoàn sáu, trung đoàn hai, sư đoàn một, Trương..., 38 tuổi, lưu manh hung hãn, từ tháng 3 năm 1970 đến tháng 4 năm 1971 đã hãm hiếp 4 nữ thanh niên trí thức, quấy rối làm nhục 17 nữ thanh niên trí thức, nghiêm trọng hơn nữa ngay cả nữ thanh niên đang ốm hắn cũng cưỡng hiếp khiến người đó khủng hoảng tinh thần phát điên. Công nhân trồng cao su thuộc trung đoàn một sư đoàn một từng giữ chức đội phó đội bảo vệ từ tháng 8 năm 1968 đến tháng 8 năm 1973 đã hãm hiếp nhiều nữ thanh niên trí thức và trẻ em gái, hành động bỉ ổi của hắn khiến quần chúng căm phẫn. Ba tên tội phạm trên cần phải bị loại khỏi đời sống xã hội mới có thể làm giảm phần nào sự tức giận của nhân dân.

Buổi xét xử hôm ấy có tới 23.000 người tham gia, các đơn vị trong trung đoàn từ cấp tiểu đoàn trở lên đều cử đại biểu đến dự. Khoảng 143.000 người nghe tường thuật trực tiếp phán quyết trên sóng radio, thanh niên trí thức đều rất phấn khởi vui mừng.

Lần tuyên án công khai và hình phạt nghiêm minh dành cho các đối tượng vi phạm khiến toàn bộ hệ thống binh đoàn và địa phương nơi đóng quân chấn động mạnh mẽ.

Trong bản “Báo cáo tình hình” của tổ công tác liên ngành đã nêu rõ việc xử lý công khai bảy tên tội phạm.

Khi đại hội kết thúc, phản ứng của thanh niên trí thức là rất mãnh liệt, đại đội trưởng đại đội tám, trung đoàn một, sư đoàn một, binh đoàn xây dựng Vân Nam nói “Đại hội lần này đã trừng trị đích đáng những kẻ có tội, phản ánh được yêu cầu của chúng tôi; nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của chúng tôi. Thanh niên trí thức vô cùng cảm ơn Đảng, cảm ơn Chính phủ đã lấy lại công bằng...”. Dựa vào đó sau đại hội một số thanh niên trí thức bị hại đã mạnh dạn đứng lên tố cáo hành vi tội ác cưỡng hiếp, bức hại họ trước các cấp lãnh đạo.

Phó tiểu đoàn trưởng, trung đoàn một, sư đoàn một, Trương nói: “Truớc đây tôi đã phạm phải sai lầm quan hệ nam nữ bất chính, cho rằng đó là vấn đề nhỏ, là chuyện tình cảm riêng tư. Đại hội lần này đã tác động mạnh mẽ, giáo dục sâu sắc đến bản thân tôi, tôi nhận thức được rằng ‘vấn đề nhỏ’ mà mình mắc phải vô cùng nguy hại...”.

Phạm tội cưỡng hiếp nữ thanh niên trí thức hiện bị đình chỉ mọi chức vụ chờ xử lý, tên Lý nói: “Hiện nay muốn thành khẩn khai báo, mong được khoan dung giảm tội, được thoát thai đổi cốt để lại làm người...".

Ngoài ra sau đại hội lần này đã phát hiện một số tội phạm cá biệt, tư tưởng hoảng loạn nảy sinh ý định trốn tội, huyện Cảnh Hồng có năm tên bỏ trốn, một tên đào tẩu đến Lan Thương thì bị bắt lại, huyện Lam Giang có một đại đội trưởng vượt biên sang Myanmar không để lại dấu tích.

Tên đại đội trưởng đề cập ở đây rất có thể là Hồ Tử Hạo.

Nhiếp Phong gập cuốn sổ lại trầm tư suy nghĩ.

Những kẻ như Giả..., Trương... mãi mãi bị người đời phỉ nhổ, một vết nhơ trong lịch sử. Hồ Tử Hạo may mắn không bị tòa án quân sự xét xử nhưng cuối cùng cũng không thoát khỏi trừng phạt của “ông trời”.

Bọn họ đều đã từng là những cán bộ chỉ huy anh dũng của quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Trên người khoác bộ quân phục màu xanh, đầu đội mũ vải gắn sao đỏ, trong chiến đấu luôn xung phong nơi tuyến đầu, lập được nhiều chiến công hiển hách. Nhưng khi về các đơn vị thanh niên trí thức vùng biên giới Vân Nam họ lại sa ngã để cho dục vọng tầm thường lấn át lý trí, tự biến mình thành những tên “chúa đất”, những “tên phỉ mặt cười”, kết cục cuối cùng là trở thành tội phạm lịch sử bẩn thỉu.

Chuyện đó vì sao lại xảy ra? Lẽ nào chỉ là vấn đề suy đồi đạo đức và tác phong sinh hoạt cá nhân?

Hồ Tử Hạo hoàn toàn không phải là một tên lưu manh đơn thuần, hắn có tham vọng, có tố chất của một người chỉ huy, trong màu áo xanh trên chiến trường không phải là không trải qua những tháng ngày huy hoàng. Sinh ra trong một gia đình nhiều đời bần nông, bố mẹ mất sớm, mười bảy tuổi vào quân đội, mười chín tuổi được kết nạp đảng, trực tiếp cầm súng tham gia chiến đấu, lập nhiều công trạng. Khi gặp “điều kiện thuận lợi” ở đại đội hai đóng quân trên địa bàn Lam Tước Lĩnh, bản tính hung ác và dục vọng thấp hèn của hắn có cơ hội lộ rõ, cũng có thể do bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh đặc thù trong thời kỳ đó đã tạo cơ hội cho hắn, làm cho phần con hung ác trong con người hắn bộc lộ hoàn toàn. Xét trên phương diện này, đó cũng là bị kịch của một đời người. Căn nguyên bị kịch ấy chính là sự chuyển ngoặt của thời đại.

Vậy ai thật sự là mới là kẻ tội đồ lớn nhất?

Chắc có lẽ chỉ có quỷ Sa tăng.

Nhiếp Phong chợt nhớ đến một người, đó là Hạ Vũ Hồng, nguời thiếu nữ vì cứu Hạnh Nhi mà rơi vào bàn tay hung bạo của Hồ Tử Hạo.

Không biết giờ này chị ấy đang ở đâu?

Rốt cuộc có bao nhiêu nữ thanh niên trí thức chịu nỗi nhục ô uế trong thời kỳ đó, thật khó có thể thống kê cho đầy đủ. Trên thực tế nhiều nữ thanh niên bị làm hại vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã không dám nói ra sự thật, chỉ tự mình ôm hận trong lòng. Theo luân lý đạo đức truyền thống Trung Quốc, người con gái mất đi trinh tiết cho dù là lý do gì đi chăng nữa cũng gặp phải sự kỳ thị, soi xét của cộng đồng, điều ấy đã tạo lên áp lực rất lớn cho họ.

Hạ Vũ Hồng có lẽ cả cuộc đời sống trong đau khổ - không người thân thích, hoặc có lẽ cơn ác mộng đeo đẳng mãi mãi - ngọn lửa màu xanh ma quái lúc nào cũng hiển hiện trước mắt, hay đang có cuộc sống lặng lẽ ở một nơi nào đó không ai hay, chẳng ai biết?


4


Chung Đào quyết định gửi email cho Hạ Vũ Hồng

Hồng Hồng!

Anh vừa từ Vân Nam trở về, trên đường đi có ghé qua quê nhà Thành Đô, tiện thể vào thăm cô chủ nhiệm Euclid, cô đã cho anh địa chỉ hòm thư điện tử của em, nghe cô nói khi em về Thành Đô có hỏi thăm anh và những sự việc năm đó. Cảm ơn em vẫn còn nhớ đến Hắc Oa này - một kẻ khốn nạn không xứng đáng là bạn của em...

Mọi việc đã qua không thể quay đầu lại. Vụ hỏa hoạn khủng khiếp và cơn ác mộng trong rừng cao su của hai mươi tám năm về trước đã hủy diệt tình yêu của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta. Người xưa có câu "ác giả ác báo ", tên phỉ mặt cười - con quỷ dâm dục cuối cùng cũng đã bị báo ứng!

Em còn nhớ chính trị viên, kẻ thích đồ ngọt mà chúng ta gọi là Hồng hồ ly không? Chính là kẻ "nối giáo cho giặc " thường giúp đỡ tên ác quỷ làm hại nữ thanh niên, anh đã tặng hắn hai viên kẹo chocolate nhân rượu giúp cho hắn đi gặp bạn của mình.


Nói đến đây cũng đã khá nhiều rồi.

Hy vọng có cơ hội được gặp em, anh có thể tự mình nói với em tất cả.
Hắc Oa

Trong hai mươi tám năm qua không lúc nào Chung Đào từ bỏ ý định truy tìm tông tích tên phỉ mặt cười.

Lại nói về Hồ Tử Hạo sau khi trốn sang Myanmar, không để lại bất cứ dấu tích gì. Sau này có người bắt gặp hắn ở vùng biên giới Trung Quốc - Myanmar, có vẻ hắn sống khá phong lưu.

Hai mươi tám năm sau Hồ Tử Hạo thay đổi biến thành một nhà kinh doanh tầm cỡ, tên cũng đuợc đổi thành Hồ Quốc Hào, không ai biết rõ lai lịch của hắn, nghe nói thời ở Myanmar hắn đi buôn thuốc bắc, sau này lại buôn lậu heroin kiếm được bộn tiền. Ước chừng thời gian đủ lâu để mọi nguời không còn quan tâm đến mình, Hồ Tử Hạo bí mật trở về Trung Quốc, lưu lạc ở vùng Bắc Hải, Hải Nam kiếm sống chủ yếu bằng nghề bất động sản. Hồng Diệc Minh cũng chuyển ngành đến Hải Nam cùng làm ăn với Hồ Tử Hạo, bọn họ có thừa mạo hiểm, có thừa khả năng cạnh tranh cùng nhau ngồi trên “một chuyến xe”, chẳng bao lâu đã trở thành những người giàu có. Sau này khi thị trường nhà đất ở Hải Nam gặp khủng hoảng, hai tên chuyển về Thâm Quyến kinh doanh, việc làm ăn ngày một phát triển, tiền cũng kiếm được nhiều hơn, Hồng Diệc Minh tách ra tự mình mở công ty riêng. Vài năm sau, khi đó Hồ Quốc Hào đã trở thành doanh nhân thành đạt, ông chủ của một tập đoàn hùng mạnh.

Trong một lần, một người bạn Chung Đào tình cờ cho anh biết có gặp mặt Hồ Tử Hạo, giờ đây đã là ông chủ công ty kinh doanh bất động sản nhưng không còn mang cái tên Hồ Tử Hạo mà đã đổi thành Hồ Quốc Hào, tên của công ty do hắn lập ra là “Công ty TNHH địa ốc Quốc Hào Hải Nam”.

Chung Đào truy đuổi đến Hải Khẩu nhưng không tìm thấy Hồ Tử Hạo, đúng lúc này thị trường nhà đất Hải Nam vỡ bong bóng, theo thống kê của cơ quan hữu quan đã có khoảng vài chục tỷ nhân dân tệ bị rút khỏi Hải Nam, nhiều công ty bất động sản phá sản. Theo nhiều cách thức khác nhau Chung Đào có được thông tin công ty Quốc Hào Hải Nam đã đóng cửa, Hồ Tử Hạo không biết đi đâu. Nhưng có người nói hắn có thể đến Thâm Quyến đầu tư, Chung Đào bí mật nhờ một người bạn đang làm ăn ở đây giúp đỡ, anh giống như một con chó săn truy tìm dấu vết Hồ Tử Hạo.

Thâm Quyến là một thành phố đang cựa mình thức giấc, nơi đó đem đến cho người ta không ít cơ hội, những người có năng lực và các công ty nhiều tham vọng đều có thể dễ dàng phát triển.

Chung Đào vô tình phát hiện Hồ Tử Hạo trong một lần hắn trả lời phỏng vấn trên truyền hình. Nơi diễn ra phỏng vấn dường như là văn phòng công ty, nội thất hết sức sang trọng, ống kính máy quay lướt qua chiếc bàn làm việc nơi đặt con cá sấu châu Phi bằng gỗ đang ngoác miệng nom sống động y như thật. Chung Đào nhận ra khuôn mặt của người đang trả lời phỏng vấn rất giống Hồ Tử Hạo, một khuôn mặt to bè, cái mũi hổ, nước da đen thô kệch, còn có cả đôi rnắt chuột nhỏ tí xíu, tuy nhiên so với năm đó hắn béo lên nhiều, nhưng cho dù có thay đổi cỡ nào thì khuôn mặt nhàu nhĩ mà không ít chị em thanh niên trí thức gọi là “mặt cười” của hắn Chung Đào không bao giờ có thể quên được. Chỉ duy nhất một điểm khiến anh phân vân là không nhìn thấy vết sẹo trên cổ hắn.

Khi cô phóng viên xinh đẹp hỏi Hồ Quốc Hào có cái nhìn như thế nào về “Ngôi nhà sinh thái”, ống kính máy quay chĩa thẳng vào mặt Hồ Quốc Hào.

Chung Đào nhìn chằm chặp vào khuôn mặt đó không rời, nó hiện lên rõ nét trên màn hình ti vi.

"Ha ha... ‘Ngôi nhà sinh thái’ là xu thế phát triển của bất động sản, cũng là mục tiêu mà Địa Hào chúng tôi đang theo đuổi”.

Hồ Quốc Hào trả lời đầy tự tin, ống kính chiếu thẳng làm khuôn mặt hắn lồ lộ hiện lên, nhưng phía cổ bên trái không nhìn được rõ lắm. Sau đó góc máy quay thay đổi, phần bên trái khuôn mặt lộ ra, sát với cổ có một vết sẹo màu hồng nhạt mờ mờ dài khoảng bốn, năm centimét, có lẽ gần ba mươi năm trôi đi mọi thứ đều thay đổi, song cũng có thể vết sẹo đó đã được thẩm mỹ để không còn ai nhận ra nó đã từng tồn tại.

Chung Đào cảm thấy toàn thân chấn động mạnh “Là nó, chính là nó", anh vội vã bấm số điện thoại: “Tiểu Lam, anh Chung Đào đây, em mau bật ti vi lên đi, chuyển sang kênh Kinh tế... Đúng, em có nhìn rõ không? Đó là ai?”.

“A...! Có chút giống Hồ Tử Hạo".

"Chính là nó đấy, tên phỉ mặt cười”.

Từ giờ khắc đó trở đi Chung Đào luôn dõi theo tin tức về tập đoàn Địa Hào, tình cờ một ngày anh nhìn thấy trên báo đăng quảng cáo tuyển dụng chức danh trợ lý chủ tịch HĐQT tập đoàn Địa Hào, quả đúng là một cơ hội trời cho.

Anh gọi điện đến văn phòng tập đoàn liên lạc trực tiếp với Hồ Quốc Hào, tự giới thiệu mình là chuyên gia chứng khoán rất mong ứng cử vào chức danh trợ lý chủ tịch HĐQT.

“Đã có rất nhiều nhân vật ưu tú đến đây dự tuyển rồi”. Hồ Quốc Hào hờ hững tỏ vẻ không mấy quan tâm.

“Có lẽ tôi còn ưu tú hơn họ". Chung Đào cười đáp.


“A, thực sự như thế hả?”. Câu nói đầy tự tin của anh làm cho Hồ Quốc Hào cảm thấy hứng thú “Vậy sáng mai anh hãy đến Địa Hào”.

Mười giờ sáng ngày hôm sau Chung Đào bước vào tòa nhà Địa Hào, phong cách ăn mặc của anh khá bình dị song thái độ cử chỉ lại hết sức thoải mái, tự tin. Bên ngoài phòng chủ tịch HĐQT đã có bốn, năm người ngồi đợi từ trước, dường như họ đang chờ để được tiếp kiến Hồ Tử Hạo. Chung Đào tìm gặp A Anh nói rõ ý định đến đây, A Anh bảo anh đợi ở đó rồi nhấc máy điện thoại thông báo.

“Chủ tịch mời anh vào”. A Anh nở nụ cười xinh đẹp nói với anh.

Chung Đào gõ cửa phòng bước vào bên trong, có hai nhân viên dường như là người của công ty đang báo cáo chuyện gì đó với Hồ Quốc Hào, Hồ Quốc Hào bảo mấy người nhân viên đi khỏi đó, hắn ra dấu mời anh ngồi xuống.

“Anh là Chung Đào?”. Hắn ngước cặp mắt nhỏ lên thầm đánh giá.

“Vâng!".

Chung Đào giữ thái độ hết sức bình thường nhưng trong lòng anh như có hàng vạn cơn sóng dữ dâng trào, ánh mắt anh quét thẳng về phía kẻ thù bấy lâu khổ công tìm kiếm, tên phỉ mặt cười ở rất gần anh, chỉ một cái với tay là anh có thể tóm được hắn. Tuy bây giờ hắn béo hơn trước kia rất nhiều nhưng nước da thô kệch, cái mũi hổ thở phì phì, cả đôi mắt chuột bé tin hin, cho dù có đốt cháy thành than thì anh vẫn nhận ra.

Hồ Quốc Hào cất giọng nói khàn khàn y như trước kia.

“Anh thử đưa ra cách nhìn nhận công việc cho tôi xem nào?”.

Chung Đào bắt đầu trình bày những gì mình đã chuẩn bị kỹ từ trước, anh nói qua về quá trình học tại Đại học C, kinh nghiệm làm việc của mình cũng như những đánh giá về lĩnh vực nhà đất.

Sau những câu hỏi thông thường và vài câu xã giao, chủ tịch Hào đi thẳng vào những vấn đề hóc búa, những câu hỏi này mới là phần quan trọng của buổi xét tuyển, một số ứng viên đã từng tốt nghiệp ở nước ngoài về cũng không trả lời đầy đủ và bị loại ngay sau khi vừa trả lời xong.

“Anh nhận thấy đối với tập đoàn Địa Hào, trước mắt điều gì là quan trọng nhất?". Hồ Quốc Hào hỏi.

Chung Đào đáp: “Điều quan trọng thứ nhất là đảm bảo cho nguồn vốn của Địa Hào không bị gián đoạn...”.

"Thật thế sao?”.

“Tôi đã nghiên cứu qua về tình hình kinh doanh của Địa Hào, cái mà Địa Hào thiếu nhất hiện nay đó chính là nguồn vốn”.

Những lời Chung Đào nói ra khiến Hồ Quốc Hào kinh ngạc: "Làm sao anh biết?”.

“Tôi có một số bạn bè làm việc trong giới tài chính tiền tệ, trên thực tế mức vay vốn của Địa Hào đã tiến gần ngưỡng nguy hiểm?".

“Tiên sinh Chung Đào có cách nào giải quyết vấn đề nguồn vốn không?”. Hồ Quốc Hào thay đổi cách xưng hô

“Chuyện đó không thành vấn đề”. Chung Đào tự tin “Tôi đã có nhiều năm lăn lộn trong thị trường chứng khoán, việc huy động nguồn vốn cỡ hai trăm triệu thì không khó lắm”.

Khuôn mặt Hồ Quốc Hào lộ rõ vẻ vui mừng; “Thế việc quan trọng thứ hai là gì?".

“Theo tôi đó là việc nắm được miếng đất Điền Đông Bối”.

Đôi mắt chuột của Hồ Quốc Hào sáng lên: "Anh cũng hứng thú với Điền Đông Bối?”.

“Miếng đất này thoạt nhìn có vẻ là miếng ức gà khó gặm, nhưng trên thực tế nó là miếng thịt béo, một trăm sáu mươi mẫu đất giá cao nhất cũng không vượt quá một triệu tệ, chỉ cần giải quyết trở ngại giao thông, giá sẽ lên vùn vụt...”.

Câu nói này đánh trúng tâm lý Hồ Quốc Hào: "Một năm lương làm việc ở công ty chứng khoán của tiên sinh Chung là bao nhiêu?”.

“Cỡ khoảng bốn, năm vạn tệ”. Chung Đào đưa ra mức lương thấp hơn rất nhiều so với thực tế anh nhận được.

“Rất vui mừng được đón tiên sinh Chung đến với Địa Hào, trở thành trợ thủ giúp đỡ cho tôi”. Hồ Quốc Hào công bố ngay lập tức chế độ đãi ngộ đối với anh “Tiền lương của tiên sinh là ba mươi vạn tệ một năm cộng thêm 2% cổ phần của Địa Hào, tiên sinh thấy thế nào?”.

“Rất cảm ơn chủ tịch”.

"Coi như chúng ta đã thỏa thuận xong”.

Chung Đào đã khéo léo lọt sâu vào bên trong cơ chế Địa Hào, trở thành quả bom nổ chậm kề sát cạnh Hồ Quốc Hào .

Trong lần tuyển dụng này Chung Đào đã sử dụng hai thứ vũ khí: Một là “Biết người biết ta” (Nhu cầu và thực tế Địa Hào đang cần và ưu thế hiểu biết sâu rộng của bản thân về giới tài chính tiền tệ), hai là "Đánh trúng sở thích” (Hồ Quốc Hào đang rất hứng thú với dự án Điền Đông Bối).

Cái mà Hồ Quốc Hào nhìn thấy ở Chung Đào chính là năng lực và các mối quan hệ của anh đối với lĩnh vực chứng khoán tiền tệ, thực sự thì cũng đúng như điều ông ta nghĩ, Chung Đào đã phát huy rất tốt sở trường của mình, chỉ trong vòng hai tháng đảm nhiệm chức vụ mới anh đã giải quyết ổn thỏa vấn đề tiền vốn của Địa Hào, từ đó trở đi Chung Đào ngày càng nhận được sự tín nhiệm của ông chủ, trở thành cánh tay phải thân cận bên cạnh ông ta.

Trong một lần cùng đi tiếp khách với Hồ Quốc Hào, Chung Đào tình cờ giáp mặt Hồng Diệc Minh, tổng giám đốc công ty địa ốc Đại Đông.

Hồng Diệc Minh hơi ngờ ngợ, ông ta có cảm giác đã từng quen biết con người này nhưng không thể nào nghĩ ra, chuyện đó cũng là điều dễ hiểu, gần ba mươi năm trôi qua diện mạo của anh đã thay đổi rất nhiều hơn nữa bây giờ còn để râu quai nón xanh rì.

Lúc ban đầu Chung Đào cũng giật nảy mình nhưng anh nhanh chóng trấn tĩnh lại ngay.

“Tổng giám đốc Hồng rất có phong cách quân nhân”.

“Thật sao, trợ lý Chung cũng đã từng trải qua đời lính?”. Hồng Diệc Minh thân mật hỏi.

“Tôi cả đời mơ ước trở thành cường quân Paccon(*),nhưng đáng tiếc là không có được cơ hội đó". Chung Đào khéo léo vừa cười vừa nói.

‘'Ông đừng có coi thường, trợ lý Chung của tôi là một nhân vật kiệt xuất trong giới tài chính đó”. Hồ Quốc Hào nói với Hồng Diệc Minh.

(*) Vị tướng nổi tiếng người Mỹ trong đại chiến thế giới lần thứ nhất

“Ồ, tôi nhớ ra rồi!". Hồng Diệc Minh mỉm cười “Tôi đã gặp anh ở sàn chứng khoán, thảo nào có chút quen quen, hy vọng có dịp đến Đại Đông chúng tôi chỉ giáo”.

“Ông không phải là muốn ‘khoét chân tường’ công ty của tôi đây chứ?”. Hồ Quốc Hào nói vui.

“Không dám, ai mà có thể ‘khoét chân tường’ ông anh được cơ chứ!”.

Hồ Quốc Hào bật cười lớn: “Ha ha...”.

Từ lần đó Chung Đào trở nên thân quen Hồng Diệc Minh, bất cứ lúc nào anh cũng có thể ra vào Đại Đông. Ông trời đã tạo cơ hội cho anh cùng lúc tìm thấy hai kẻ thù khắc cốt ghi tâm, đúng là việc vui nối tiếp việc vui.

Đối diện với kẻ thù không đội trời chung, anh như hổ ngồi rình mồi, kiên nhẫn chờ đợi cơ hội, từng bước từng bước lên kế hoạch báo thù. Cuối cùng ngày đó cũng đến, đó chính là ngày hai mươi tư tháng sáu, cái ngày xảy ra vụ hỏa hoạn khủng khiếp của hai mươi tám năm về trước.

Tất cả đều được lên kế hoạch một cách chi tiết.

Thói quen và sở thích của Hồ Quốc Hào, ngay cả những chi tiết rất nhỏ như việc sử dụng thuốc ngủ của ông ta... anh đều nắm rõ như lòng bàn tay. Chung Đào thường tháp tùng Hồ Quốc Hào đến Tiểu Mai Sa bằng xe hơi, đó là điểm mà anh có thể lợi dụng được. Địa hình xung quanh Đại, Tiểu Mai Sa, cách bố trí khu đại sảnh khách sạn Tiểu Mai Sa, vùng biển Nam Ao anh đều đã điều tra nghiên cứu rất kỹ, vô tình nắm được thống tin hiện tượng xích triều ở biển Nam Áo được đăng tải trên báo, Chung Đào mừng rỡ thầm nghĩ: “Thật là trời đã giúp mình rồi”.

Bảy giờ tối ngày hai mươi tư tháng sáu, Chung Đào gọi điện thoại di động cho Hồ Quốc Hào, lúc này anh đang ở trong đại sảnh khách sạn Tiểu Mai Sa, loại sim anh sử dụng là sim của nhà cung cấp Thần Châu, đúng lúc đó Hồ Quốc Hào và Hồng Diệc Minh cũng đang chén thù chén tạc tại nhà hàng Hào Cảnh.

“Ổ, là cậu hả?”. Hồ Quốc Hào ngạc nhiên hỏi.

“Điện thoại của tôi hết pin, đây là điện thoại của một người bạn". Chung Đào đáp.

“Có chuyện gì vậy?”.

“Tôi vừa gặp cục trưởng Hách, cục nhà đất thành phố, ông ấy và vợ cũng đến đây nghỉ cuối tuần, muốn hẹn chủ tịch qua đây nói chuyện, tại khách sạn Tiểu Mai Sa ạ!”.

“Tôi biết rồi”.

Hồ Quốc Hào tắt máy di động, ông ta vội vã cáo từ Hồng Diệc Minh, đương nhiên không thể tiết lộ nội dung cuộc điện thoại này được.

Chung Đào đã khôn khéo dùng “miếng mồi lớn” nhử Hồ Quốc Hào tự dẫn xác đến khách sạn Tiểu Mai Sa.

Hồ Quốc Hào không ngờ rằng cú điện thoại cuối cùng mà ông ta nhận chính là cú điện thoại tử thần.

Chung Đào lặng lẽ chờ “con mồi” ở quán trà bên ngoài hành lang đại sảnh khách sạn, trên chiếc bàn tròn thủy tinh nhỏ đặt một ấm trà, hai chiếc cốc mầu trắng ngà, một lọ nhỏ chứa sữa, ấm trà đã được pha sẵn một lượng thuốc ngủ Đông Miên Linh vừa đủ.

Khách khứa ra vào nơi đó rất đông, có người còn mặc nguyên cả quần bơi, có người dắt theo trẻ nhỏ...

Năm phút sau Hồ Quốc Hào bước vào cửa bên đại sảnh khách sạn, có lẽ ông ta tự bắt xe đến đây.

Chung Đào đón Hồ Quốc Hào vào nơi anh đã bố trí sắp xếp từ trước, đó là một góc khuất ít người để ý lại nằm gần cửa phía sau, nếu đứng ở quầy bar nhìn xuống thì không thấy gì hết.

“Cục trưởng Hách mời chủ tịch ngồi đợi ở đây ạ! Ông ấy sẽ xuống ngay bây giờ”. Chung Đào nói.

Hồ Quốc Hào ngồi xuống chiếc ghế mây hào hứng hỏi: “Cục trưởng Hách có đề cập đến dự án Điền Đông Bối không?”.

“Có ạ! Ông ấy nói muốn tham vấn ý kiến của chủ tịch”.

Chung Đào vừa trả lời vừa nhấc chiếc ấm rót hồng trà vào trong cốc đặt trước mặt Hồ Quốc Hào, sau đó anh cho thêm chút sữa.

"Đây là loại trà sữa mà chủ tịch ưa dùng, còn rất nóng đấy ạ!”

"Ừm". Hồ Quốc Hào gật gật đầu tỏ ý hài lòng rồi mở lọ tra thêm sữa, lấy thìa khuấy mạnh đưa lên miệng uống ừng ực.

“Chà! Trà sữa ở đây không tồi”.

"Đó là sữa tươi đấy ạ”. Chung Đào nói.

“Thảo nào”.

Hồ Quốc Hào tiếp cục nâng cốc lên uống thêm mấy ngụm. Ước chừng hai phút sau, một phụ nữ tầm trung tuổi đeo vòng trân châu màu đen đi đến, chị ngồi xuống chiếc ghế còn trống.

“Đây là người bạn của tôi Đinh Lam'’. Chung Đào giới thiệu "Còn đây là chủ tịch Hào”.

Đinh Lam nhìn Hồ Quốc Hào cười nhẹ.

Hồ Quốc Hào muốn nói một câu nịnh đầm "Chiếc vòng trân châu cô đeo đẹp lắm" nhưng lưỡi ông ra cứng lại, đầu óc mơ màng.

“Tôi bị làm sao thế...".

Ông ta chưa kịp nói hết câu thì đã mê man, mất đi cảm giác

Chung Đào xốc nách Hồ Quốc Hào nhanh chóng đi ra cửa hậu, do cột trụ hành lang che bớt tầm nhìn nên từ quầy bar không thể trông thấy họ, chiếc xe Fukang màu trắng của Đinh Lam đã được giấu kỹ đỗ ngay sát cửa.

Khi Hồ Quốc Hào tỉnh dậy ông ta đã ở trong một căn phòng tối đen như mực, hai tay bị trói quặt đằng sau, mồm bịt kín băng dính. Ông ta chỉ có cảm giác thân thể mệt mỏi rã rời, đầu đau như búa bổ. Hồ Quốc Hào cố xác định vị trí mình đang ở, hình như là đang dưới vực sâu thăm thẳm, bốn phía... chỉ có một màu đen cô đặc. Ông ta bất giác sợ hãi rồi lại mơ hồ mất đi cảm giác.

Không biết thời gian trôi đi bao lâu, Hồ Quốc Hào cảm thấy tim mình nhói đau, ông ta bừng tỉnh. Trong bóng đèn điện vàng vọt lờ mờ ông ta nhìn thấy một khuôn mặt đáng sợ, đó chính là người trợ lý của mình, anh lấy tay bóc miếng băng đính dính miệng ông ta, đúng ngay bên cạnh là người phụ nữ đeo chiếc vòng trân châu màu đen đang chăm chú nhìn ông ta cười nhạt.

“Tên phỉ mặt cười mày nhìn kỹ xem tao là ai đây”. Chung Đào rít lên qua kẽ răng.

“Cậu... cậu không phải trợ lý Chung sao?".

“Đồ chó chết! Mày nhìn kỹ đi, tao Hắc Oa đây”.

“A... cậu là Hắc Oa".

Hồ Quốc Hào nghi hoặc ngẩng đầu lên, trong phút chốc đôi mắt ông ta chứa đầy sự sợ hãi.

“Còn cô này...?”.

“Cô ấy là em gái Cường Tử - em gái ngốc”.

"Cường Tử?”.

Hồ Quốc Hào hiểu ra, toàn thân ông ra run lên bần bật.

Chung Đào cầm trong tay một vật màu đen bằng kim loại, vật đó hình dạng như một con dao, anh dùng sức khắc mạnh vào ngực Hồ Quốc Hào, thứ đó chính là chiếc kèn acmonica, từng giọt máu. nhỏ xuống rơi trên nền nhà.

"Đây là chữ ‘Hỏa’ nhuốm máu thù”. Chung Đào chậm rãi nhắc từng câu từng chữ “Đã đến lúc phải trả hết nghiệp ác mà mày gây ra”.

Hồ Quốc Hào dừng hết sức còn lại thều thào: “Cậu, cậu... muốn trả thù".

Chung Đào nghiến răng gằn giọng.

“Đúng! Cũng ngày này hai mươi tám năm về trước mười thiếu nữ của đại đội hai đã tử nạn trong tay mày, Hạ Vũ Hồng bị mày cưỡng bức, Cường Tử... cũng do mày hại chết? Và còn biết bao nữ thanh niên trí thức bị mày làm nhục... tên phỉ mặt cười, tội của mày đáng chết vạn lần".

Đinh Lam căm giận thốt lên: “Tên phỉ mặt cuời, tội ác do mày gây ra nhiều lắm, cái chết của mày sẽ không bằng một con chó".

Khuôn mặt Hồ Quốc Hào tái xạm lại, đôi mắt hiện ra những tia nhìn hoảng loạn. Ông ta tuyệt vọng muốn gào lên cầu cứu nhưng miệng không thể mở được.

Chung Đào nhổ một bãi nước bọt, lấy ra một chiếc can nhựa màu trắng đổ đầy vào trong chậu thứ nước biển xanh thẫm.

Hồ Quốc Hào trợn mắt khiếp hãi, đợi cho nước tiến sát tới mép chậu Chung Đào dùng hết sức ấn mạnh đầu Hồ Quốc Hào vào trong đó.

Hồ Quốc Hào giẫy giụa vài cái rồi dần dần mất sự phản kháng, ý thức ông ta trở lên hỗn loạn...

Trong phút chốc, Hồ Quốc Hào có cảm giác như đầu mình bị ấn mạnh xuống nước mà không cưỡng lại được. Ông ta uống phải một ngụm nước biển lớn, vị mặn chát kèm theo mùi tanh nồng.

Bình thường, bơi trong biển liên tục hai giờ đồng hồ đối với ông ta dễ như chuyện cơm bữa. Nhưng hôm nay sao lại chẳng có chút sức lực nào cả, màu trắng phía chân trời không phải là tấm lưới ngăn cá sao?

Chỉ cần bơi được tới đó là sống rồi!

Hồ Quốc Hào vung chân tay loạn xạ cố trồi lên khỏi mặt nước. Nhưng đầu óc ông ta cứ ù đi, một ngụm nước biển nữa lại ùa vào miệng. Ý thức bắt đầu trở nên mơ hồ... Con mẹ nó! Mình đang ở đâu thế này, lẽ nào đây thực sự là địa ngục? Trong cõi mông lung, ông ta chợt nhìn thấy thấy một con cá mập lớn, có cái bụng trắng toát từ phía sau đuổi đến, nó giương cặp mắt man dại nhìn ông ta, rồi từ từ ngoác miệng. Hồ Quốc Hào liều mạng vung mạnh hai tay nhằm bơi thẳng về phía trước. Nhưng giống như các pha hành động trong phim trường mọi động tác đều không chứa đựng sức mạnh nào cả.

Càng quẫy mạnh thì ông ta lại càng chìm sâu. Ký ức xa xưa bỗng chợt quay về, mười mấy gương mặt trang thiếu niên nam nữ hiển hiện, trong cõi huyền ảo, họ nở nụ cười tươi đẹp song thật lạnh lùng.

Ông ta như nhìn thấy lửa, lửa cháy hừng hực lan ra khắp nơi nhập nhòa ánh sáng ma quái.

Một làn khói lam nhạt lãng đãng bay lên, giống như màu mực đen tan trong nước biển.

Những hình ảnh dần trở nên nhập nhòa...

Hồ Quốc Hào muốn mở to mắt để nhìn nhưng chỉ thấy một màu trắng lờ mờ không thể định dạng rõ là vật gì. Đám bụi đó phất phơ trước mắt ông ta không rời, bỗng nhiên nó biến thành vực sâu hun hút đen ngòm, khiến cho người ta phải run lên vì sợ.

Ông ta cảm nhận được thần chết đang tiến sát bên mình, sau một cơn choáng váng dường như có tiếng nói từ trên trời vọng xuống.

“Nó tắt thở rồi!”.

Hồ Quốc Hào chỉ kịp cảm thấy tim mình đột ngột co giật dữ dội. Cuối cùng ông ta chìm hẳn xuống.

Đó là chút ý thức ít ỏi cuối cùng còn lại của ông ta.

5

Tại sân bay Côn Minh, Nhiếp Phong gọi điện thoại cho cục trưởng Ngũ thông báo những gì mình đã điều tra được.

“Xin chào cục trưởng, tôi Nhiếp Phong đây ạ!”.

"Ồ, nhà báo Nhiếp, cậu có khỏe không?”.

“Tôi đang ở sân bay Côn Minh. Ngày hôm qua mới ở một nơi gọi là Lam Giang, vùng biên giới Vân Nam. Đó là nơi Chung Đào từng trải qua thời kỳ thanh niên trí thức... Động cơ gây án của Chung Đào cuối cùng đã được tìm ra”.

“Ồ, tốt quá. Vậy động cơ đó là gì?”.

"Chung Đào mưu sát Hồ Quốc Hào mục đích là để báo thù! Đúng, đây là vụ giết người hàng loạt để báo thù. Hồ Quốc Hào là đại đội trưởng đại đội thanh niên trí thức, biệt hiệu ‘tên phỉ mặt cười’, Hồng Diệc Minh là chính trị viên, kẻ trợ giúp ông ta làm việc ác rất nhiều cho nên cũng mất mạng theo... chuyện này có thể khẳng định, Hồ Quốc Hào dù có chết mười lần cũng không trả hết tội”.

Đầu đuôi câu chuyện là như thế này...

Cục trưởng Ngũ vô cùng kinh ngạc.

Qua điện thoại Nhiếp Phong đã nói cho cục trưởng Ngũ mối thù sâu đậm của Chung Đào đối với Hồ Quốc Hào.

“Mối tình đầu của Chung Đào đã bị Hồ Quốc Hào hủy diệt, giai đoạn này ông ta có tên là Hồ Tử Hạo, người bạn gái thanh mai trúc mã của Chung Đào là Hạ Vũ Hồng bị ông ta cưỡng hiếp. Thêm nữa trong vụ cháy khủng khiếp khiến mười nữ thanh niên trí thức cử nạn có người em gái mà Chung Đào hết mực thương yêu Chung Hạnh, nguyên nhân cũng là do trước khi đi ngủ họ đã buộc chặt cửa bằng dây thép vì sợ Hồ Quốc Hào giờ trò đồi bại. Hồ Quốc Hào để mắt đến Chung Hạnh nên Hạ Vũ Hồng vì cứu cô bé lại rơi vào tay tên quỷ dâm dục Hồ Quốc Hào. Đáng thương cho Chung Hạnh tuy bảo toàn được trình tiết nhưng lại không giữ được mạng sống của chính mình”.

“Có thể nói Hồ Quốc Hào đã hủy diệt hai người thân yêu nhất của Chung Đào”. Cục trưởng Ngũ cảm thán.

“Không chỉ có vậy, tôi được nghe một công nhân lão thành họ Phó kể lại người anh trai của Đinh Lam cũng là người bạn thân thiết sống chết có nhau của Chung Đào tên là Đinh Cường bị Hồ Quốc Hào và Hồng Diệc Minh đẩy xuống động sâu chết mất xác trong lần bọn họ đánh nhau. Ba vết thương đó Chung Đào vĩnh viễn không bao giờ quên được, anh ta hoàn toàn biến thành con người đầy hận thù. Hai mươi tám năm nay mối thù đó chưa khi nào nguôi ngoai. Mục đích và niềm tin duy nhất để sống là tìm Hồ Quốc Hào kẻ đồi bại lọt lưới pháp luật.

“Vụ án này chắc sẽ phá được, quả nhiên là trời không phụ công người. Tôi thay mặt cho cục công an khu Y cảm ơn nhà báo Nhiếp”. Giọng nói của cục trưởng Ngũ qua điện thoại rất phấn khỏi.

"Không có gì đâu ạ. Tôi chẳng qua cũng là muốn tìm hiểu rõ chân tướng sự việc...".

Nhưng sự thật quá là tàn khốc. Nhiếp Phong chưa bao giờ từng nghĩ đến cuối cùng tất cả mọi việc đều trở nên hết sức rõ ràng. Ai sẽ là người công bố lịch sử đầy máu và nước mắt bị chôn giấu bấy lâu nay. Dưới góc độ của một nhà báo: Cách mạng Văn hóa đã coi rẻ tuổi xuân của hàng nghìn, hàng vạn nữ thanh niên trí thức. Thời đại tạo nên bi kịch. Đó cũng là vết thương của cả một dân tộc.

Nhiếp Phong than thay cho số phận Chung Đào.

Dập máy điện thoại, lòng anh chưa bao giờ cảm thấy xót xa như lúc này.

Nhiếp Phong lại bấm số gọi điện cho Tiểu Xuyên. Cậu đang thực thi nhiệm vụ ở bên ngoài. Nhiếp Phong kể lại cho cậu nghe những thu hoạch mà mình có được ở Vân Nam và cũng nói mình vừa gọi điện cho cục trưởng Ngũ.

“Anh Nhiếp, em chúc mừng anh đã lập công lớn phá vụ án này”.

“Ồ, mình có công lao gì đâu, vinh quang phải thuộc về những người cảnh sát như các cậu”.

“À, anh ạ em có một nghi vấn muốn hỏi: vì sao Chung Đào không sử dụng biện pháp báo cho cơ quan chức năng, để pháp luật trừng trị Hồ Quốc Hào?”. Tiểu Xuyên không hiểu, hỏi.

“Mình cũng từng nghĩ qua chuyện này...”. Nhiếp Phong trầm tư. “Nhưng mình nghĩ vụ việc đã xảy ra quá lâu, hai mươi tám năm rồi còn gì, tội ác của Hồ Quổc Hào cũng đã quá thời hạn xử lý. Một người thông minh như Chung Đào phải hiểu rõ điều ấy. Theo quy định của pháp luật những vụ án quá hai mươi năm đều hết liệu lực thi hành. Nếu như sau hai mươi năm thì bắt buộc phải do tòa án nhân dân tối cao quyết định. Cho đến nay Hồ Quốc Hào đã trở thành doanh nhân nổi tiếng, quen biết rộng rãi, có vị thế nhất định trong xã hội, tiền lắm của nhiều muốn đưa ông ta đi đòi công lý là chuyện không hề đơn giản”.

“Ồ!”. Tiểu Xuyên tán đồng cách phân tích logic của Nhiếp Phong.

“Có lẽ còn một nguyên nhân quan trọng nữa”. Nhiếp Phong tiếp cục nói “Đó chính là Chung Đào muốn tự tay trừng phạt Hồ Quốc Hào. Anh ấy tin là mình có thể thay trời hành đạo, có như vậy những linh hồn oan uổng mới được an ủi phần nào. Đó là tâm nguyện của một đời nam nhi cũng là tâm lý chung của những người báo thù. Cậu thử nghĩ lại mà xem tất cả những thứ như ‘Giấy chiêu hồn’, biểu tượng “Hỏa” và cả vòng hoa gan rồng thảo nguyên dị thường chẳng đều phải là kiệt tác xuất sắc của kẻ báo thù hay sao...”.

“Anh Nhiếp nói rất đúng”. Tiểu Xuyên hoàn toàn khâm phục, cậu hỏi tiếp “Anh có nhớ cô gái họ Bạch không?”.

“Cô phụ trách ca trưa ở nhà hàng Hào Cảnh, mình có nhớ.

“Cô ấy đã rời khỏi đó, việc quan hệ bất chính giữa cô ấy và Hồ Quốc Hào bị phát giác nên đã bị đuổi việc, cũng chẳng biết ai tiết lộ chuyện này. Sau khi sự việc xảy ra bọn em qua một người chị em tốt của cô ấy và một nhân viên phục vụ ở đấy được biết cô ấy thất thân với Hồ Quốc Hào trên thực tế là hoàn toàn bị cưỡng ép. Vào một tối cuối tuần, Hồ Quốc Hào cho gọi cô vào trong phòng, rồi dùng sức mạnh cưỡng bức. Cô Bạch lúc đầu có thiện cảm với Hồ Quốc Hào, chẳng ngờ được ông ta, một ông chủ lớn lại có hành động bỉ ổi như vậy, trong phòng của khách sạn nên không dám kêu la, cuối cùng là bị Hồ Quốc Hào làm nhục”.

Tiểu Xuyên cho Nhiếp Phong hay tuy mọi người đều biết khách sạn tuyệt đối cấm nhân viên phục vụ có hành vi thân mật với khách, đặc biệt là quan hệ xác thịt, cô Bạch vẫn không thể thoát khỏi bàn tay Hồ Quốc Hào trở thành thứ "đồ chơi” của ông ta. Cô nhẫn nhục chịu đựng lại càng không dám báo án. Sau việc đó Hồ Quốc Hào cũng nhanh trí đền bù cho cô khoản tiền lớn, lại còn tặng thêm đồ trang sức quý, làm cho cô Bạch dần dần trở thành “gái bao” của ông ta.

“Chính vì vậy trên thực tế cô Bạch cũng là người bị hại”. Tiểu Xuyên tổng kết lại.

“Nghĩ ra ngay cả việc Mã Tuyết Anh tống tiền không thành còn kết cục mất cả mạng sống, thực chất cũng là ‘món đồ’ tuẫn táng theo Hồ Quốc Hào”.

“Chu Mỹ Phượng đã bị bắt chưa?”. Nhiếp Phong quan tâm hỏi.

“Nghe nói cô ra đã trốn sang Canada, cảnh sát đã phát lệnh truy nã quốc tế”.

Dừng lại một lát Tiểu Xuyên buột miệng cảm thán: “Vợ Hồ Quốc Hào cứ nghĩ bỏ ra cùng một cái giá hai mươi vạn tệ là vĩnh viễn tránh được Mã Tuyết Anh uy hiếp cống tiền. Thế nhưng vì sao cô ta lại không nghĩ đến bản thân mình cũng phải trả một cái giá quá đắt...”.

Nhiếp Phong thầm nghĩ "Xem ra Chu Mỹ Phượng, con thiên nga xinh đẹp cũng là nạn nhân của Hồ Quốc Hào, cô tranh đấu với Mã Tuyết Anh, cô bảo vệ Châu Chính Hưng. Cuối cùng là mang trên người cái án giết người không còn đường để quay về”.

Vậy là bất cứ người phụ nữ nào: cô Bạch, Mã Tuyết Anh, Chu Mỹ Phượng... có liên quan đến Hồ Quốc Hào đều không có được kết cục tốt đẹp.

Trong đầu Nhiếp Phong thoáng qua ý nghĩ: Con quỷ Hồ Quốc Hào bị kẻ thù giết chết không phải là chuyện gì đáng tiếc, cái chết của hắn thật đáng đời, việc ấy càng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Phải chăng đây chính là “ý trời”.

***

Trở lại Thành Đô.

Nhiếp Phong vừa bước vào cửa thì nhìn thấy con Nhã Hổ tha dép của anh chạy lung tung.

“Suỵt, Nhã Hổ, đem dép lại đây”.

Con vật cưng ngoáy tít đuôi tha chiếc dép đặt dưới chân Nhiếp Phong.

Anh xỏ chân đi vào thì nghe tiếng Tiểu Cúc mừng rỡ thông báo: “Anh Nhiếp về rồi ạ! Có fax mời anh đấy”
“Ở đâu vậy?”.

“Là của cục công an Thâm Quyến, hình như là mời anh tham gia đại hội mừng công”. Tiểu Cúc cười híp hai mắt lại.

“Nha đầu này, đừng có mà kích động".

Nhiếp Phong lại gần máy fax, lấy tờ giấy ra anh đưa mắt nhìn và chẳng có chữ nào là “Đại hội mừng công” cả, đây là thư của cục trưởng Ngũ mời anh tham gia công tác tổng kết vụ án, chi phí đi lại và ăn ở do cục công an chi trả.

Nhiếp Phong đặt túi hành lý xuống, anh gọi điện lại cho cục trưởng Ngũ.

“Tôi Nhiếp Phong đây ạ, vừa về đến nhà thì nhận được fax, cảm ơn lời mời của các anh. Thời gian tôi xin tổng biên tập Ngô nghỉ phép chỉ còn mỗi ngày mai thôi ạ”.

“Cậu không cần nghỉ phép, tổng biên tập của các cậu đã đồng ý cho cậu đi rồi”.

Thì ra cục trưởng Ngũ đã điện thoại trực tiếp cho tổng biên tập Ngô. Chỉ cần không mất chi phí công tác là “lão sếp già” gật đầu cái rụp, thậm chí còn vui mừng nữa là đằng khác. Chẳng gì Nhiếp Phong cũng là phóng viên duy nhất được phép theo dõi toàn bộ vụ án.

"Nhà báo Nhiếp này, công việc điều tra còn một điều mấu chốt. Tìm được động cơ gây án không hẳn đã buộc tội được anh ra. Cái hiện thiếu là vật chứng, trước mắt chứng cứ chưa đầy đủ. Đúng, là do thời gian lâu quá thứ nước biển được phát hiện trong căn phòng Chung Đào thuê ở Đại Mai Sa đã biến chất. Không thể xét nghiệm thành phần...”.

"A, vấn dề khó đó có thể giải quyết được, tôi đang chuẩn bị báo cáo với cục trưởng Ngũ đây ạ”.

“Thật không, cậu thử nói đi”. Cục trưởng Ngũ nửa tin nửa ngờ.

“Là thế này trong lúc đợi mua vé máy bay ở Côn Minh tôi có lên mạng và vô tình phát hiện trang ‘Cửa sổ Thâm Quyến’ có thông tin ngắn đề cập đến xích triều. Có nhắc đến một người là thạc sĩ Châu hiện công tác ở trạm giám sát môi trường biển Thâm Quyến”.

Nhiếp Phong lập tức liên lạc với vị thạc sĩ đó, anh tìm hiểu một số vấn đề về thời gian sống của vi tảo xích triều, qua điện thoại thạc sĩ Châu cho hay, thời gian sống của vi tảo biển rất ngắn, trong điều kiện thời tiết bình thường cũng chỉ sống được một đến hai ngày. Trong điều kiện thiếu ánh sáng và dưỡng khí như đựng trong can nhựa thì thời gian tồn tại cũng ngắn hơn.

Nhiếp Phong hỏi anh: Sau khi vi tảo biến đổi thành mảnh vụn làm thế nào để xác định được chính xác đó là loại tảo nào. Vị thạc sĩ đó nói có thể sử dụng xét nghiệm chuỗi DNA của các mảnh vụn. Mặc dù nó không phải là các tế bào hoàn chỉnh song từ các mảnh vụn có thể làm thí nghiệm DNA, chỉ có điều mức độ làm thí nghiệm đó khó khăn hơn nhiều, trước tiên phải tìm hiểu đó là loại tảo nào (Nhiếp Phong lập tức nói tên ba loại tảo giáp). Sau đó mới tiến hành so sánh chuỗi DNA. Đây là ngành khoa học mũi nhọn trên thế giới hiện nay, nó có liên quan đến sinh vật học phân tử. Ở nước ngoài đã có những nhà khoa học đang đi theo hướng nghiên cứu ngành khoa học này. Như vậy có thể thông qua phương pháp đó để xác định chính xác ba loại tảo giáp từ những mảnh vụn sót lại. Hiện nay ở Trung Quốc có hay không chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực này thì chưa được rõ. Vị thạc sĩ đó còn giải thích: Đối với việc so sánh, vấn đề lớn nhất là phải thu thập được lượng lớn tiêu bản tảo giáp, như vậy chuỗi DNA mới có thể đáng tin cậy.

Nghe giọng nói của thạc sĩ Châu rất trẻ, hỏi ra mới biết anh mới ngoài ba mươi tuổi, tầm tuổi của Nhiếp Phong, anh là học trò giỏi của giáo sư Kỳ, một chuyên gia nổi tiếng về xích triều ở Thâm Quyến.

Nhiếp Phong còn nói với cục trưởng Ngũ: “Sau khi nói lời cảm ơn thạc sĩ Châu tôi lập tức vào google đánh từ khóa ‘Giám định DNA tảo giáp’, ‘Chuỗi DNA sinh vật’, ‘Bản mẫu DNA sinh vật’ kho tư liệu về DNA tảo giáp”... song không tìm được tin tức cần dùng”.

“Thế thì thật sự hết hy vọng rồi”.

“Tôi chuẩn bị tắt máy tính thì chợt nhớ thạc sĩ Châu có nhắc đến từ ‘Sinh vật học phân tử’ nên tiện tay gõ luôn từ khóa ‘Sinh vật học phân tử xích triều’, kết quả hiển thị trong vòng chưa đầy một giây là 998 thông tin, tra đến hàng thứ 347 tình cờ đã phát hiện hai đề mục cực kỳ có giá trị: Một là 'Nghiên cứu giám định phân tử tảo giáp xích triều Nam Hải’, còn đầu mục kia là “Kết quả DNA thu được trong tế bào đơn tảo giáp và ứng dụng trong giám định phân tử vi tảo xích triều”, đây là thành quả nghiên cứu mới nhất từ nguồn ngân sách nhà nước, hai nhà sinh vật học là chủ công trình nghiên cứu này, cục trưởng Ngũ có thể nhớ tên của họ, một người tên là Trình Cần người kia tên tà Lương Hạo Bằng”.

"Hai nhà khoa học đó hiện nay đang sinh sống ở đâu?".

“Đều ở Quảng Châu cả”. Nhiếp Phong nói tiếp “Họ đang công tác tại trung tâm nghiên cứu sinh vật Đại học Z”.

“Rất cảm ơn cậu, nhà báo Nhiếp, thông tin này cực kỳ quý báu”. Cục trưởng Ngũ phấn khởi “Tôi sẽ cho người đến Đại học Z nhờ xét nghiệm giúp đỡ”.

Ngày thứ ba khi Nhiếp Phong bay đến Thâm Quyến theo lời mời của cục công an khu Y thì đã có kết quả giám định từ trung tâm nghiên cứu sinh vật Đại học Z, đối chiếu chuỗi DNA của các mảnh vụn vi tảo có trong nưóc biển chứa trong chiếc can nhựa thu ở hiện trường hoàn tòan trùng khớp với chuỗi DNA tảo giáp Hải Nam, xác định đó lá ba loài tảo: tảo đa giáp, tảo xi câu và tảo hoàn câu.

Ngay ngày hôm sau cánh sát ra lệnh bắt giữ Chung Đào.


VĨ THANH

Sân bay quốc tế Bạch Vân.

Chung Đào kéo chiếc va li du lịch màu hồng nhập vào đoàn khách du lịch. Khi gần đến cửa kiểm soát anh quay đầu hướng về phía Đinh Lam vẫy tay chào từ biệt, trong lòng thầm nói “Em gái ngốc, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!”.

Đinh Lam cũng hướng về phía anh vẫy tay, mắt cô nhòe lệ.

Hai mươi nhăm phút nữa thôi Chung Đào sẽ ngồi trên chuyến máy bay quốc tế đến Bắc Mỹ, đến vùng đất lạ anh sẽ tìm được mộng tưởng ngày xưa, từ đáy trái tim mình Đinh Lam cầu chúc cho anh được hạnh phúc.

Cửa kiểm soát màu xanh thẫm.

Chung Đào dừng bước, anh xuất trình vé máy bay và giấy tờ liên quan, cô tiếp viên mặt bộ đồ đồng phục hàng không dân dụng cúi xuống nhìn vào bức ảnh trong hộ chiếu, trong phiếu đăng ký du lịch rồi ngẩng đầu lên quan sát anh.

“Xin lỗi, thưa ông hộ chiếu của ông có vấn đề ạ”. Cô lịch sự thu giữ hộ chiếu của Chung Đào.

Hai người bảo vệ sân bay dáng người cao lớn đưa Chung Đào vào một căn phòng.

Chứng kiến cảnh đó bất chấp tất cả Đinh Lam lao về phía anh.

Hai nhân viên cảnh sát mặt thường phục giữ cô lại.

Đinh Lam đau khổ thét lên tắc nghẹn: “Chung Đào ...! Chung Đào...!”, thanh âm đó như xé ruột đứt gan.

Đội trưởng Thôi chỉ huy điều hành tổ bắt phạm, thái độ của anh biểu hiện ra bên ngoài khá quyết đoán, uy phong lẫm liệt.

Tiểu Xuyên và Đào Lợi cũng có mặt ở hiện trường, họ có vẻ trầm tư, án đã được phá nhưng không hiểu tại sao trong lòng hai người không có được sự vui mừng trước thắng lợi. Nhiếp Phong và cục trưởng Ngũ chứng kiến từ đầu đến cuối quá trình bắt Chung Đào. Khi hai nguời cảnh sát mặc thường phục áp giải Chung Đào bước xuống cầu thang anh khẽ mỉm cười với Nhiếp Phong vẻ mặt như muốn nói '‘Tôi không còn gì tiếc nuối”.

Nhiếp Phong nhìn anh, ánh mắt hàm chứa xót xa và có sự kính phục.

Thời gian vào giữa mùa hạ, Chung Đào ngước mắt lên nhìn qua cửa sổ kính, nơi ấy hắt ra một màu phấn hồng, gió thổi qua làm những cánh hoa rớt xuống như mưa.

Bất chợt anh khe khẽ hát một đoạn trong bài Mưa hoa hạnh thanh âm rất nhỏ giống như một giấc mộng thoáng qua “Gió lớn nổi lên, hoa rơi lả tả... cái còn lại chỉ là ánh mặt trời chiếu rọi, những cánh hoa bay bay trong gió như mưa...".

Những du khách đi ngang qua liếc mắt hiếu kỳ nhìn theo.

Thái độ Nhiếp Phong rất phức tạp.

Đinh Lam lệ nhòe khuôn mặt.

Bên tai chợt vọng lại thanh âm bài hát Bài ca thanh niên trí thức của dàn hợp xướng thiếu niên nam nữ vang vọng trong phòng chờ sân bay

“Từ biệt mẹ yêu, từ biệt quê hương
Thời học sinh vàng son đã ghi vào sử sách, một đi không bao giờ trở lại.
A, con đường phía trước biết bao khó khăn, vừa khúc khuỷu lại dài xa lắm.
Dưới chân sự sống in hình lên những vùng đất hoang vu xa lạ
Đi cùng vầng thái dương, về cùng ánh trăng tỏ.
Vận mệnh của chúng ta là làm thay đổi thế giới, một thiên chức vinh quang và thần thánh
A, hãy dùng đôi tay nhuộm hồng địa cầu, nhuộm hồng khắp vũ trụ bao la!
Hãy tin rằng một ngày mai tươi sáng nhất định sẽ tới”

0
sao mình ko post bài được nhỉ????
lyn
0
Chương 3
NHỮNG NGƯỜI HƯỞNG LỢI

1
Buổi chiều ngày hôm sau, tại tầng sáu phòng làm việc của đội cảnh sát hình sự cục công an khu Y.
Buổi họp phá án diễn ra trong không khí tĩnh lặng, hơn mười đội viên mặc thường phục quay xung quanh chiếc bàn dài do đội trưởng Thôi chủ trì.
Sát hai bên mép tường, bên trái đặt chiếc bàn có để năm bộ máy vi tính, bên phải là chiếc tủ sắt chứa tài liệu và thiết bị chuên dùng. Trên tường treo một tấm bản đồ lớn chi tiết toàn thành phố, góc nhà để một bình nước nóng lạnh.
Đội trưởng Thôi thấy mọi người đã đông đủ liền lên tiếng tuyên bố lý do cuộc họp: “ Chúng ta hiện nay đã bắt đầu điều tra về cái chết của Hồ Quốc Hào, đề nghị mọi người tích cực phát biểu ý kiến. Căn cứ vào những gì thu thập tại hiện trường vào ngày hôm qua, có thể sơ bộ nhận định nguyên nhân tử vong là do ‘đuối nước’. Nhưng hiện đang tồn tại một số nghi ngờ, trước mắt không loại trừ khả năng đây là vụ án giết người. Vì Hồ Quốc Hào là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội, lãnh đạo cục công an chỉ thị tiến hành điều tra, yêu cầu chúng ta nhanh chóng tìm ra chân tướng sự việc, từ đó đi đến kết luận cuối cùng”.
Thái độ những người có mặt trong cuộc họp rất nghiêm túc.
“Công tác điều tra ban đầu do tôi phụ trách, thành viên chủ yếu là Đào Lợi và Tiểu Xuyên”.
Đội trưởng Thôi châm một điếu thuốc, rít một hơi dài.
“Trước hết mời bác sĩ pháp y Tiểu Điền nói qua việc khám nghiệm tử thi”.
Điền Thanh chuyên viên pháp y ngồi bên cạnh Thôi Đại Cân, anh mặc chiếc áo sơ mi màu xanh, đeo cặp kính cận, khuôn mặt nho nhã trí thức. Điền Thanh mở cặp hồ sơ màu tro, ngẩng mặt nhìn mọi người.
“Người chết cao một mét sáu mươi tám, đầu hướng vào bờ, nằm sấp trên cát, kiểm tra vùng ngực thấy có nhiều vết chẩm, sắc đỏ thẫm, đầu ngón tay co rút, giác mạc đục, hai đồng tử giãn ra khoảng 0,5 centimet, kết mạc xung huyết, có thể nhìn thấy điểm xuất huyết. Ngoài ra khí quản và phổi chứa lượng nước biển lớn, trong mũi có bọt hình nấm, bọt hình nấm là một loại phản ứng sự sống. Nó là triệu chứng điển hình của việc đuối nước trước khi chết”.
Tất cả điều tra viên chăm chú nghe.
Điền Thanh đã tốt nghiệp Đại học Y khoa Thượng Hải. Anh làm công tác pháp y đã được năm năm và có khá nhiều kinh nghiệm.
Anh tiếp tục phân tích kỹ thêm.
“Căn cứ khám nghiệm tử thi có thể sơ bộ khẳng định Hồ Quốc Hào chết do đuối nước. Thời gian chết khoảng từ hơn mười một giờ tối ngày hai mươi tư đến một giờ sáng ngày hai mươi lăm. Bên cạnh nguyên nhân chết đuối, khả năng cao nhất còn do trong lúc đi bơi bệnh tim đột ngột tái phát. Sắc mặt người chết tím tái, môi thâm đen, móng tay xanh nhạt. Tất cả đều là triệu chứng điển hình của việc cơ tim tắc nghẽn. Dựa vào điều tra của đội trường và mọi người, Hồ Quốc Hào lúc còn sống có tiền sử bệnh tim, việc này đã được chứng minh. Cho nên có thể giải thích như sau: Trong khi đi bơi do cơ tim tắc nghẽn dẫn đến đuối nước gây tử vong, lý giải như vậy hoàn toàn hợp lý. Hơn nữa toàn thân không phát hiện bất cứ tổn thương nào, chỉ ở phía dưới ngực trái có một vết xước dài khoảng ba centimet giống như do vật kim loại sắc tạo nên. Trên thân thể người chết chỉ mặc duy nhất một chiếc quần bơi, mông bên trái có vết móc xước rất nhỏ, soi dưới kính hiển vi thì thấy nó còn rất mới. Trên đây là tất cả nội dung khám nghiệm, ngoài ra không phát hiện thêm điều gì khác thường”.
Đội trưởng Thôi hỏi: “Vết móc đó liệu có phải là do tấm lưới ngăn cá tạo ra không?”
“Không phải” Điền Thanh trả lời: “Tôi đã hỏi trung tâm quản lí du lịch Tiểu Mai Sa, chất liệu của tấm lưới ngăn cá là loại vật liệu dây dù thông thường, không phải bằng sắt”.
“Vậy à!” Đội trưởng Thôi gật đầu.
Viên cảnh sát trẻ Tiểu Xuyên là người phát biểu tiếp theo. Cậu mặc chiếc áo phông màu trắng đục, vừa cúi thấp đầu đọc biên bản ghi chép vừa phân tích.
“Trên góc độ kiểm tra hiện trường, nguyên nhân gây ra cái chết của Hồ Quốc Hào giống như bên pháp y phân tích. Tuy nhiên tôi và Đào Lợi đều đã đến Đại Mai Sa và Tiểu Mai Sa thẩm vấn những người có liên quan, phát hiện một số nghi ngờ”.
Cậu tóm tắt sơ lược quá trình diễn ra tại hai địa điểm đó và nêu lên vài điểm nghi vấn:
Trang phục của Hồ Quốc Hào hiện nằm ở đâu?
“Theo lời khai của nhân viên phục vụ tại khách sạn – nhà hàng Hào Cảnh. Khi dùng cơm tại phòng ăn Hồ Quốc Hào mặc áo sơ mi cổ bé màu quả tram, quần âu màu trắng. Nếu như ông ta đi bơi từ bãi tắm Đại Mai Sa thì quần áo để ở đâu? Chắc chắn phải là một trong hai nơi là phòng nghỉ ở Hào Cảnh hoặc khu thay đồ trên bãi tắm. Thế nhưng đã kiểm tra kỹ cả hai nơi đó đều không thấy y phục của ông ta”.
Tiểu Xuyên đưa ánh mắt hoài nghi nhìn mọi người, nói ra phán đoán của mình.
“Như vậy chỉ có hai khả năng: Thứ nhất, quần áo của ông ta bị người khác lấy mất.Thứ hai, Hồ Quốc Hào hoàn toàn không tắm biển ở Đại Mai Sa”.
“Điều ấy không hẳn không có lý, cái xác của ông ta được phát hiện ở bãi tắm Tiểu Mai Sa, nên có thể lắm chứ”. Một người cảnh sát khác tên Trịnh Dũng đưa ra nhận xét.
“Giả thiết đó cũng có khả năng”. Đội trưởng Thôi tỏ vẻ đồng tình.
Người đối diện với Tiểu Xuyên, nữ cảnh sát Đào Lợi nêu ra ý kiến: “Điều khiến người ta cảm thấy kỳ lạ là vì sao tại Tiểu Mai Sa cũng không tìm thấy trang phục của ông ta”.
Ngày hôm nay Đào Lợi mặc chiếc áo cảnh mỏng màu hồng và quần bò trông rất nữ tính nhưng cũng không kém phần rắn rỏi.
“Đúng thế”. Trĩnh Dũng tán đồng quan điểm.
“Đầy là điều đáng ngờ lớn nhất ở vụ án này”.
Đội trưởng Thôi nói: “Quần áo của Hồ Quốc Hào không thể tự mọc cánh mà bay được”.
Tất cả mọi người bật cười. Đội trưởng Thôi lại châm một điếu thuốc nữa nói tiếp: “Ngoài ra, nguyên nhân cái chết của Hồ Quốc Hào cũng có điểm cần xem xét trên góc độ phân tích tử thi. Tiểu Điền, cậu hãy nói nghi vấn của mình”.
Điền Thanh chỉnh lại cặp kính, rồi phát biểu: “Căn cứ vào công tác khám nghiệm, chúng tôi phát hiện ra hai chi tiết chưa giải thích được”. Anh nhìn vào bản báo cáo trong cặp tài liệu của mình. “Đầu tiên tôi muốn nói tới loại thuốc aspirin, khám nghiệm tử thi và chụp động mạch vành lâm sang (uống hoặc tiêm thuốc cảm quan để chụp X quang) phát hiện, rất nhiều bệnh nhân nghẽn cơ tim mãn tính bị tắc động mạch vành. Điều này khẳng định rõ việc hình thành tắc động mạch là do nhân tố nghẽn cơ tim gây ra. Aspirin trước tiên được dùng để điều trị bệnh cảm, nó cũng có công dụng chẩn trị bệnh phong thấp viêm khớp. Sau này khi lưu hành rỗng rãi đã phát hiện bệnh nhân phong thấp viêm khớp dùng thuốc aspirin trong thời gian dài giảm hẳn nguy cơ mắc phải bệnh tim. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã phát hiện ra thuốc aspirin có tác dụng phụ ức chế tiểu cầu. Vì vậy sau này trở thành loại thuốc thường dùng điều trị bệnh tim mạch. Chúng tôi đã tới bệnh viện thành phố để kiểm tra bệnh án của Hồ Quốc Hào và phát hiện ông ta đã chụp động mạch vành, cũng có thể nói như thế này, bệnh tim của ông ta hình thành bởi tắc động mạch. Điều ấy không còn phải nghi ngờ gì nữa. Song vấn đề là ở chỗ, trong dạ dày Hồ Quốc Hào có thành phần loại thuốc này, chứng tỏ ông ta thường xuyên dùng aspirin, nhưng aspirin điều trị rất có hiệu quả ức chế tiểu cầu, vậy vì sao Hồ Quốc Hào lại bị tắc nghẽn cơ tim đột ngột?.

Buổi họp trở nên yên tĩnh lạ thường.
Đào Lợi lên tiếng phá tan không khí trầm lắng: “Vấn đề đó hiển nhiên phải có nguyên nhân”.
Dường như cô đã có phát hiện mới, dừng lại mấy giây, quan sát khắp phòng sau đó cô đưa ra phán đoán của mình: “Tôi nhận thấy tồn tại hai khả năng: Một là Hồ Quốc Hào trong khi bơi vận động nhiều dẫn đến quá mệt, nghẽn cơ tim đột ngột. Ngoài ra còn khả năng nữa là ông ta gặp phải một điều khủng khiếp”.
“Ồ?”
Mọi người xôn xao.
“Ví dụ như…”, Đào Lợi đưa tay lên vuốt lại mái tóc lòa xòa trước mặt, sau đó nói tiếp: “Bị cá mập tấn công”.
“Vậy vết xước ở ngực ông ta là vết rang của loài cá mập nào vậy?” Trịnh Dũng điềm nhiên châm chọc.
Mọi người cười ầm cả lên.
“Nghiêm túc, nghiêm túc đi. Đây là cuộc họp phân tích vụ án”. Đội trưởng Thôi vỗ tay quát lên.
“Đương nhiên”. Nữ cảnh sát Đào Lợi không hề thay đổi sắc mặt tiếp tục nói “Cũng không thể loại trừ khả năng bị người khác ám hại. Người ám hại chính là hung thủ. Tôi nói đến đây là hết rồi”.
Cô chăm chú nhìn đội trưởng Thôi, nhẹ nhàng dịch ghế ngồi xuống.
“Ai nói tiếp đây? Tiểu Xuyên cậu nhận định thế nào?” Đội trưởng Thôi chỉ đích danh.
Tiểu Xuyên láy tay xoay xoay cốc trà. “Cách phân tích của Đào Lợi cũng có phần hợp lý. Có ba giả thiết: Mệt mỏi, cá mập, hung thủ… Song tôi nghiêng về giả thiết do hung thủ gây án”.
“Vì sao?” Đội trưởng Thôi căn vặn
“Tôi cũng không nói rõ được, chỉ là nghi ngờ thôi”.
“Hoài nghi không được coi là lời kết tội, cần phải có bằng chứng”.
“Trong dịch vị dạ dày Hồ Quốc Hào còn lưu lại lượng thuốc an thần vượt quá ngưỡng cho phép, đó là một điểm nghi vấn”.
“Tiểu Điền, cậu hãy giải thích qua về vấn đề thuốc an thần đi”. Đội trưởng Thôi vỗ nhẹ vòa vai nhân viên pháp y Điền Thanh.
Điền Thanh đưa mắt nhìn mọi người sau đó giải thích.
“Xét nghiệm dịch vị dạ dày và máu tồn tại lượng thuốc an thần vượt quá ngưỡng cho phép. Thành phần có chưa chất chlorpromazine, chất này có trong loại thuốc ngủ có tên ‘đông miên linh’. Trong khoảng hơn mười năm gần đây, đây là loại thuốc an thần Phenobarbital được sử dụng rộng rãi”. Điền Thanh nói đến tên loại thuốc an thần mạnh, tác dụng chủ yếu là ức chế trung khu thần kinh, người trúng độc cấp tính ban đầu hưng phấn tạm thời, tiếp theo là thèm ngủ sau đó mất điều khiển, co giật hôn mê, khó thở thậm chí gây sốc nặng hoặc ngạt thở do ngất… Trúng độc chlorpromazine nồng độ thông thường trong mỗi mililit trên năm milligram trở lên, khi nghiêm trọng có thể làm cho hệ hô hấp, hệ tuần hoàn suy kiệt dẫn đến tử vong. Trong máu của Hồ Quốc Hào nồng độ chất chlorpromazine mỗi mililit trên bốn phảy hai milligram rõ rang vượt quá liều lượng thường dùng. Tuy chưa đến mức trúng độc song có thể làm cho ông ta buồn ngủ, hôn mê”.
Đội trưởng Thôi nói: “Tuy nhiên căn cứ vào thông tin do vợ ông ta cung cấp Hồ Quốc Hào có thói quen dùng quá liều lượng thuốc an thần, thư ký riêng của ông ta, A Anh cũng xác thực điều này. Cho nên chỉ dựa vào đó chưa đủ nói lên điều gì”.
“Vậy cần phải giải phẫu tử thi”. Tiểu Xuyên đề nghị.
Cuộc họp trở nên sôi động.
Đội trưởng Thôi ngay lập tức gạt phắt đi: “Hồ Quốc Hào là một nhân vật có vị thế lớn ở Thâm Quyến. Cậu muốn giải phẫu là có thể giải phẫu được chắc?”.
“Anh Thôi, em thấy ý kiến của Tiểu Xuyên cần được xem xét”. Đào Lợi ủng hộ Tiểu Xuyên.
“Điều ấy tôi đã sớm nghĩ đến rồi”. Thôi Đại Cân thở dài tiếp lời. “Song vợ Hồ Quốc Hào không đồng ý cho giải phẫu”.
Theo quy định của pháp luật, nếu không có chứng cớ án mạng khi giải phẫu cần được sự đồng ý của gia quyến”.
“Cô ta không đồng ý? Nguyên nhân gì đây?”
“Chu Mỹ Phượng nói: Ông Hào đã chết rồi, hy vọng ông ấy ra đi một cách toàn thây, không nhẫn tâm để thi thể bị mổ xẻ. Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp tâm lý thông thường”.
“Trừ phi cô ta cũng cho rằng cái chết của chồng mình là do sơ ý đuối nước”. Tiểu Xuyên chen ngang.
“Nếu nói ‘cho rằng’ chi bằng nói cô ta ‘tin là’…”. Đội trưởng Thôi lẩm nhẩm như tự nói với chính mình.
“Ý của anh là sao?” Tiểu Xuyên không hiểu.
“Cậu động não mà nghĩ xem?” Đội trưởng Thôi đưa bao thuốc cho mọi người trong phòng họp chẳng mấy chốc cả căn phòng tràn ngập những làn khói trắng mỏng.
“Anh nói cô ta cứ thà tin rằng chồng mình ‘chết do sơ ý đuối nước’…”. Tiểu Xuyên phán đoán.
“Đúng, tôi có cảm giác này”.
Đó là trực giác của đội trưởng khi anh tiến hành thẩm vấn bà quả phụ Chu Mỹ Phượng. Anh nhận ra khi cô ta nói câu ‘Ông ấy luôn nói mình mình đồng da sắt’ thái độ như thể phải kìm nén uất ức bấy lâu nay.
“Vì sao vậy?”
“Chúng ta cần phân tích kỹ”. Ánh mắt đội trưởng Thôi sáng long lanh nhìn mọi người.
“Hồ Quốc Hào chết đi, ai là người được hưởng lợi nhiều nhất?”.
“…”.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau kinh hãi.
“Vợ ông ta”. Có người kêu lên.
Mọi người trong phòng họp chợt hiểu ra.
“Đúng. Hồ Quốc Hào chiếm 54% cổ phần trong tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp, ông ta không có con cái, vợ trước đã ly hôn, cha mẹ sớm mất vì vậy khi ông ta chết, dưới góc độ pháp luật tất cả cổ phần đều sẽ thuộc về Chu Mỹ Phượng”.
“Ồ!”.
Tất cả mọi người đều tán đồng.
“Cho nên, dù Hồ Quốc Hào chết không phải vì ‘sơ ý đuối nước’ thì lợi ích của cô ta cũng không hề thay đổi”.
“Nếu như Hồ Quốc Hào chết không phải do ‘tai nạn’, hoặc nói chính xác hơn là có người ám hại thì Chu Mỹ Phượng là nghi can số một. Con người thông mình như cô ta đâu dễ đồng ý cho giải phẫu tử thi”.
Đội trưởng Thôi phân tích tiếp: “Nếu như đúng là Hồ Quốc Hào chết do sơ ý đuối nước thì cô ta đương nhiên nhận thấy giải phẫu tử thi hoàn toàn không cần thiết”.
“Ngoài ra còn hai người nữa được hưởng lợi”. Thôi Đại Cân tiếp tục nói.
Tất cả chăm chú lắng nghe.
“Một là Châu Chính Hưng, phó tổng giám đốc Địa Hào Trí Nghiệp”. Anh hắng giọng.
“Ông ta là người thứ hai có cổ đông lớn nhất trong công ty, theo đám nhân viên phản ánh, nhân vật này có uy tín, tham vọng lớn, luôn hy vọng được ngồi vào cái ghế của Hồ Quốc Hào. Hơn nữa hiện nay ông ta đang có khúc mắc với Hồ Quốc Hào trên phương diện kinh doanh. Kiên quyết phản đối đầu tư vào dự án “Điền Đông Bối”.
Kế tiếp Tiểu Xuyên nói qua về việc điều tra những nhân vật trong tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp.
Được biết “Điền Đông Bối” là mảnh đất rộng một trăm sáu mươi mẫu. Trước đây là Viện an dưỡng Diêm Điền (ruộng muối), chỉ cách bờ biển vài trăm mét. Một mảnh đất phong thủy đắc địa, giá cả lại rất rẻ song cũng đầy mạo hiểm. Bởi vì giao thông vùng Diêm Điền rất khó khăn, đây là điểm mà năm nào người dân cũng đưa ra kiến nghị với hội đồng thành phố song chưa được giải quyết. Vấn đề giao thông không được giải quyết, trực tiếp ảnh hưởng đến bất động sản bờ đông Thâm Quyến. Diêm Điền và Liên Đường (bờ đê Hoa Sen) chỉ cách nhau một đoạn đường hầm nhưng trị giá mỗi mét vuông lại chênh lệch gần một nghìn tệ. Hồ Quốc Hào có ý định biến mảnh đất này trở thành khu biệt thự ven biển xa hoa.
Mấy ngày trước khi sự việc xảy ra, Châu Chính Hưng còn tranh luận kịch liệt với Hồ Quốc Hào. Trong công ty Hồ Quốc Hào là người chuyên quyền, độc đoán, ưa mạo hiểm. Châu Chính Hưng lại trầm tính, làm việc tương đối thận trọng. Bình thường hai người bọn họ luôn bằng mặt chứ không bằng long. Nhưng lần này có lẽ là do chiến lược kinh doanh cực kỳ ảnh hưởng đến sự tồn vong của công ty nên mới công khai xung đột như vậy.
Có người còn nghe lỏm bọn họ cãi nhau. Châu Chính Hưng nói: “’Điền Đông Bối’ thoạt nhìn tưởng là miếng thịt béo, kỳ thực là miếng xương ức gà khó gặm nuốt không trôi, bỏ đi thì tiếc”.
“Đừng nói là xương ức gà, ngay cả chân gà tôi cũng dám gặm! Không có bản lĩnh, bao giờ mới thành công được”.
“Tôi không tán thành với việc mạo hiểm sự tồn vong của công ty”.
“Không mạo hiểm làm sao có được Địa Hào như ngày hôm nay”.
“Dù thế nào tôi cũng không tán thành việc mua ‘Điền Đông Bối’”. Châu Chính Hưng kiên quyết.
“Được rồi, việc này sẽ đưa ra HĐQT quyết định”. Hồ Quốc Hào lạnh lung nói.
Sau khi tranh cãi, Châu Chính Hưng đóng sập cửa phòng rồi đi ra ngoài, đúng lúc đó giáp mặt trưởng phòng kinh doanh Hoàng Hồng Lợi, Hoàng Hồng Lợi nhìn thấy khuôn mặt Châu Chính Hưng tím đen còn giật nẩy cả mình. Vài ngày sau tin tức về cuộc tranh cãi giữa hai người lan khắp công ty.
Tiểu Xuyên giải thích: “Dựa trên phân tích tình hình tập đoàn Địa Hào Trí Nghiệp, sau cái chết bất ngời của Hồ Quốc Hào, người có khả năng cao nhất nắm giữ ghế tổng giám đốc là Châu Chính Hưng”.
Đội trưởng Thôi đưa ra cái tên người thứ ba hưởng lợi: Hồ Quốc Hào chết đi còn có một người nữa được hưởng lợi, đó là Hồng Diệc Minh, tổng giám đốc công ty địa ốc Đại Đông, căn cứ vào thông tin tôi nắm được. Vào tối ngày hai mươi tư, người cuối cùng gặp Hồ Quốc Hào chính là ông ta. Một nguyên nhân quan trọng là Đại Đông đang là đối thủ cạnh tranh trực tiếp dự án ‘Điền Đông Bối’. Theo nhận định của giới đầu tư bất động sản chỉ có hai công ty với tiềm lực tài chính hung hậu là Địa Hào và Đại Đông mới có thể thực hiện dự án lớn này. Hồ Quốc Hào chết đi ‘Điền Đông Bối’ càng có cơ hội rơi vào tay Đại Đông, việc đó dễ như lấy đồ trong túi”.
Không khí cuộc họp sôi động hẳn lên.
Buổi phân tích vụ án sơ bộ kết luận: Nếu như cái chết của Hồ Quốc Hào không phải do ‘tai nạn’, thì những người đáng nghi nhất là ba người: thứ nhất là vợ Hồ Quốc Hào, Chu Mỹ Phượng, thứ hai là phó tổng giám đốc Châu Chính Minh, thứ ba là đối thủ cạnh tranh, ông chủ công ty Đại Đồng, Hồng Diệc Minh.
Cuối buổi họp đội trưởng Thôi tổng kết và bố trí từng người triển khai các bước điều tra cụ thể tiếp theo.
“Để tăng cường công tác điều tra, tôi sẽ ngay lập tức báo cáo xin chỉ thị cấp trên cho phép giải phẫu thi hài Hồ Quốc Hào.” Anh đóng quyển sổ ghi chép lại, giao nhiệm vụ. “Tiểu Xuyên và Tiểu Đào kiểm tra Chu Mỹ Phượng, Châu Chính Hưng, Hồng Diệc Minh làm gì trong quãng thời gian từ mười một giờ đêm ngày hai mươi tư đến một giờ sáng ngày hai mươi lăm, xác minh họ có chứng cứ ngoại phạm hay không?”
“Rõ!”. Hai người đồng thanh đáp.
0
(Chương 3 - tiếp)
2
Quán trà – cà phê Nam Viên Danh Điển có không gian xanh mướt, mặt tiền của quán không được rộng lắm song bên trong trang trí rất thanh lịch. Nhiếp Phong ngồi trên tầng hai bàn kê sát cửa sổ, người nữ phục vụ mặc váy ngắn màu lục, buộc tóc đuôi ngựa mang đến cho anh một cốc nước lọc.
“Xin hỏi anh dùng gì ạ?” Giọng nói của cô nhẹ nhàng mến khách.
“Cho tôi một tách cà phê”.
“Ở đây chúng tôi có cà phê Lam Sơn rất ngon”.
“Vậy cho tôi loại đó”.
Nhiếp Phong không mấy khi uống cà phê song nghe người ta nói cà phê Lam Sơn có thương hiệu nên anh cũng muốn nếm thử hương vị của nó. Cô phục vụ quay lại mang cho anh một tách cà phê nóng, tách sứ màu trắng ngọc, mùi thơm thoang thoảng bay lên. Nhiếp Phong mở lọ đường bên cạnh lấy một viên sau đó cho thêm ít sữa, anh dùng chiếc thìa nhỏ khuấy nhẹ.
Cô phục vụ đứng bên cạnh Nhiếp Phong đong đưa ánh mắt nhìn anh, khuôn mặt tròn, mắt một mí, mũi củ tỏi hình dáng giống hệt “Tiểu bảo mẫu” ở nhà. Nhiếp Phong liếc cô bé rồi khẽ mỉm cười.
“Anh chỉ đi có một mình thôi sao?”.
“Không, tôi còn có một người bạn nữa”.
“Là phụ nữ?”.
“Một cảnh sát”.
“À”.
Nhiếp Phong nâng tách cà phê lên uống một ngụm, hương vị nơi đầu lưỡi thơm nhẹ, hơi chua. Có chút giống với cà phê tự chọn ở Thiên Phủ Hỉ mà anh đã thưởng thức qua. Cà phê Lam Sơn mang thương hiệu “Cà phê quý tộc” chẳng qua cũng như vậy cả thôi.
“Có vị chua”. Anh nói.
“Cà phê Lam Sơn luôn có một chut vị chua”. Cô gái tóc đuôi ngựa nói, vừa như giải thích vừa như ca tụng loại cà phê này.
Đúng lúc đó cậu cảnh sát trẻ Tiểu Xuyên mặc thường phục chạy vội tới, Nhiếp Phong dịch ghế mời cậu ta ngồi.
“Thật không phải, chiều nay mở cuộc họp phân tích vụ án nên tôi đến muộn”.
“Không sao tôi cũng vừa mới đến thôi!”.
“Thưa anh, bạn của anh dùng gì ạ?”. Cô phục vụ tóc đuôi ngựa cười tươi khẽ hỏi.
“Cũng cho tôi một tách cà phê đi”. Tiểu Xuyên đáp.
“Anh dùng loại Lam Sơn hay Thán Thiên?” Cô gái quay sang hỏi lại.
Tiểu Xuyên mở quyển thực đơn, đưa mắt lướt qua sau đó chỉ vào loại có giá rẻ nhất: “Cho tôi một cà phê nóng Danh Điển đi!”.
Khi cô phục vụ rời khỏi đó, Tiểu Xuyên thật thà hỏi: “Nhà báo Nhiếp đang ở khách sạn nào?”
“Tôi ở nhà khách cục xuất bản, nơi đó rẻ hơn so với khách sạn”.
“Nơi đấy cũng không tồi”.
Tiểu Xuyên đưa mắt quan sát xung quanh.
Biển hiệu bắt mắt, âm nhạc du dương, phục vụ chu đáo, tất cả những cái đó tạo thành thương hiệu danh tiếng của quán, chỉ cần vén nhẹ rèm cửa bằng sợi đay, qua tấm kính cửa sổ là có thể quan sát dòng xe đi lại đông đúc trên đường.
“Tôi rất thích nơi này”. Nhiếp Phong nói.
“Hẹn tôi đến đây chắc không phải là chỉ để uống cà phê Danh Điển”.
“Cà phê đương nhiên là chủ đề chính, chủ đề phụ là nếu thuận tiện thì nói cho tôi biết sơ qua tình hình vụ án Hồ Quốc Hào”.
“Ngày hôm qua tại tòa nhà Địa Hào tôi đã nhận ra nhà báo Nhiếp rất chú ý tới cái chết của ông Hồ Quốc Hào”.
“Cứ gọi tôi là Nhiếp Phong được rồi”. Nhiếp Phong trầm ngâm một lát rồi vào đề luôn.
“Nói như thế này nhé, có lẽ cũng là theo thói quen nghề nghiệp, tôi cảm thấy nguyên nhân cái chết của Hồ Quốc Hào không hề đơn giản… thêm nữa nhân vật trang bìa trong tập san cuối tháng của báo chúng tôi là Hồ Quốc Hào, bài phỏng vấn do tôi thực hiện. Ông ta mất đột ngột, tôi buộc phải thông tin rõ cho tập san và mười mấy vạn độc giả biết”.
“Với cái chết của Hồ Quốc Hào tôi cũng có cảm giác như vậy”. Tiểu Xuyên hơi phấn chấn.
“Nhưng hiện nay vẫn chưa có manh mối nào cả”.
Nhiếp Phong nhìn Tiểu Xuyên buột miệng hỏi: “Cái đẹp nơi nào cũng có, không phải đôi mắt chúng ta không nhìn thấy cái đẹp mà chỉ là không phát hiện được cái đẹp” manh mối vụ án cũng giống như vậy”.
“Đó là câu nói nổi tiếng của Rodin(*). Tiểu Xuyên tỏ vẻ khâm phục. “Nghe rất có lý”.
------
(*) Auguste Rodin (1840-1917): Nhà điêu khắc nổi tiếng người Pháp.
------
“Cậu tốt nghiệp trường cảnh sát nào vậy?” Nhiếp Phong hỏi.
“Trường Đại học Cảnh sát Cao cấp Tây Nam. Tôi tốt nghiệp năm ngoái và được điều về Thâm Quyến”.
“Trường cảnh sát cao cấp Tây Nam?” Khóe mắt Nhiếp Phong chợt lộ ra tia nhìn ấm áp thân thiết kỳ lạ.
“Anh đã từng đến trường tôi rồi hả?”.
“Đâu chỉ đã đến”. Nhiếp Phong bồi hồi “Nơi đó đối với tôi còn rất thân thuộc nữa cơ! Cả thời niên thiếu của tôi diễn ra ở đó. Lầu quốc tự, bãi tập bắn, phòng luyện thể lực, chẳng nơi nào không có dấu chân Nhiếp Phong này…”.
“Nói như thế, gia đình anh ở trong trường?”.
Đúng lúc đó cô phục vụ tóc đuôi ngựa mang cà phê đến: “Cà phê của anh đây ạ!”.
“Cảm ơn!”. Tiểu Xuyên ra dấu cho cô gái đặt cà phê xuống, ánh mắt cô gái nhìn Nhiếp Phong không rời.
Cô phục vụ đặt cà phê xuống, ném cái nhìn lúng liếng về phía Nhiếp Phong rồi mới quay người bước đi.
“Cậu đoán đúng đấy, sau này tôi thi vào trường truyền thông Đại học C Tứ Xuyên nên đã rời khỏi nơi đó”. Nhiếp Phong nói: “Sauk hi tốt nghiệp trở thành nhà báo, nhà văn tự so chưa có thành công gì gọi là đáng kể, thoắt cái đã mười năm trôi qua”.
“Tôi nghĩ ra rồi”. Tiểu Xuyên thốt lên kinh ngạc, hai mắt sáng rực như nhà thám hiểm phát hiện ra lục địa mới. “Thảo nào ngay lần gặp đầu tiên tôi đã cảm thấy gương mặt anh có gì rất quen. Anh có biết… thầy hiệu trưởng Nhiếp Đông Hải không?”.
“Có chứ”. Nhiếp Phong gật đầu, nói rất từ tốn: “Là một ông già bảo thủ. Bố tôi”.
Tiểu Xuyên đứng bật dậy, thi lễ theo nghi thức quân nhân. “Chúc hiệu trưởng Nhiếp khỏe!”.
Những vị khách xung quanh giật mình nhìn họ một cách kỳ lạ.
Nhiếp Phong đưa mắt sang hai bên bật cười gượng, “Ngồi xuống đi, tôi không đại diện cho bố tôi được đâu”.
“Vâng, vâng”. Tiểu Xuyên thẹn đỏ mặt ngồi xuống.
“Tôi cần phải làm rõ một điều: tôi là tôi, bố tôi là bố tôi. Cậu phải giữ bí mật này cho tôi đấy nhé”.
“Vâng, vâng!”. Tiểu Xuyên gật đầu lia lịa. Nhiếp Đông Hải hiệu trưởng trường Đại học cảnh sát cao cấp Tây Nam là một chuyên gia cảnh sát nổi tiếng khắp toàn quốc, ông mang quân hàm cao, luôn nhận được sự kính trọng ngưỡng mộ của cán bộ trong ngành và tất cả học viên.
Từ giây phút đó, giữa Nhiếp Phong và Tiểu Xuyên không còn khoảng cách, giữa họ nảy sinh cảm giác đặc biệt vừa là đồng hương vừa là an hem. Hai người cùng thay đổi cách xưng hô.
“Thế thật thì tốt, anh Nhiếp có gì muốn tìm hiểu xin cứ hỏi em.”
“Mình cũng biết bên cảnh sát có quy định riêng, những việc bảo mật thì cậu có thể không nhất thiết phải nói. Mục đích của mình cũng chỉ là tìm ra chân tướng sự việc, đó cũng là nhiệm vụ của một nhà báo, cho dù nguyên nhân nào đi nữa thì cái chết của Hồ Quốc Hào cũng rõ rang rất đột ngột…”
“Em cũng có nhận định như vậy” Tiểu Xuyên phụ họa.
“Bên cậu chắc đã có cuộc họp phân tích vụ án, đúng không?” Nhiếp Phong nâng tách lên có ý bảo Tiểu Xuyên uống cà phê, sau đó tự thưởng thức một ngụm.
“Nếu như Hồ Quốc Hào chết do ‘bị sát hại’ thì ba người đáng nghi nhất đó là: Châu Chính Hưng, Chu Mỹ Phượng, Hồng Diệc Minh đúng không?”
Tiểu Xuyên kinh ngạc, đặt vội tách cà phê định uống xuống, “Làm sao anh lại biết nhỉ?”
“Cứ uống đi.” Nhiếp Phong hướng về phía cậu ta gật đầu giải thích tiếp. “Đó là cách suy luận thông thường, không quá khó khăn bởi ba người Châu, Chu, Hồng đều là những người sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ cái chết của Hồ Quốc Hào. Châu Chính Hưng, phó tổng giám đốc Địa Hào Trí Nghiệp là người có cổ phần đứng thứ hai trong tập đoàn. Theo tài liệu của cơ quan hữu quan, Hồ Quốc Hào chiếm 54% cổ phần, Châu Chính Hưng có 36%, 10% còn lại thuộc về một số cổ đông khác trong công ty. Địa Hào Trí Nghiệp được thành lập tại Thâm Quyến, Hồ Quốc Hào bỏ ra số vốn ba phảy sáu triệu tệ, Châu Chính Hưng góp một miếng đất. Việc kinh doanh ngày càng phất lên, đó là dựa vào tính quyết đoán và dám nghĩ dám làm của Hồ Quốc Hào, cộng thêm các mối quan hệ và hiểu biết thị hiếu người dân địa phương của Châu Chính Hưng. Song Châu Chính Hưng vốn là người cẩn thận lại hiền lành nên không thể quản được thói hách dịch liều lĩnh của Hồ Quốc Hào. Và anh ta cũng là người kiên quyết nhất không tán thành chiến lược kinh doanh đầy mạo hiểm của Hồ Quốc Hào. Do đó hai người nảy sinh nhiều mâu thuẫn, sau này lại càng không thể hòa hợp được…”
“Anh Nhiếp làm sao có thể điều tra cụ thể như thế được?” Tiểu Xuyên tỏ ra rất khâm phục.
“Chuyện ấy không có gì khó, trước khi phỏng vấn Hồ Quốc Hào mình đã thu thập rất nhiều thông tin liên quan đến Địa Hào Trí Ngiệp.” Nhiếp Phong tiếp lời: “Một nhà báo giỏi cần phải có cái mũi của loài chó săn.”
Viên cảnh sát trẻ Tiểu Xuyên thầm nghĩ “là người cảnh sát giỏi cũng cần khả năng đó” song cậu không nói ra mà chỉ hỏi: “Tại sao anh lại coi Chu Mỹ Phượng là nghi can số hai?”
“Gì cơ? Mình đâu có nói Chu Mỹ Phượng là nghi can số hai.” Nhiếp Phong khẽ mỉm cười.
“Đương nhiên khi Hồ Quốc Hào chết 54% cổ phần đó sẽ rơi vào tay cô ta và cô ta mới là người được hưởng lợi nhiều nhất. Qua tiết lộ của đám nhân viên trong công ty, Mỹ Phượng kết hôn với Hồ Quốc Hào sáu năm về trước, cô ta vốn là nhân viên trong một quán karaoke lớn nhất Thâm Quyến. Giọng hát rất hay, vóc dáng lại cực kỳ xinh đẹp quyến rũ nên rất nhiều đại gia săn đón song cũng là người biết giữ mình, không để điều tiếng gì. Sau này kết hôn với Hồ Quốc Hào được ông ta bỏ vốn mở một thẩm mỹ viện giao cho quản lý. Bình thường cô ta không bao giờ hỏi đến công việc kinh doanh của chồng, cũng hiếm khi đến công ty, chồng mình rốt cuộc có bao nhiêu tài sản, e là cô ta cũng không nắm rõ.”
“Ồ, thì ra là như vậy!” Tiểu Xuyên trầm tư.
“Về Hồng Diệc Minh, ông chủ Đại Đông các cậu cũng biết đó là đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với Địa Hào Trí Nghiệp, hơn nữa ông ta cũng là người cuối cùng tiếp xúc với Hồ Quốc Hào vào buổi tối ngày hai mươi tư tháng sau.” Nhiếp Phong tiếp tục phân tích: “Nghi ngờ ông ta là điều hoàn toàn phù hợp với logic”.
Tiểu Xuyên có chút không hiểu: “Phù hợp logic?”
“Đúng”, Nhiếp Phong trả lời và chỉ ra cho Tiểu Xuyên rõ
“Mình nghĩ trong bữa ăn cuối cùng của Hồ Quốc Hào tại Đại Mai Sa, những gì mà bọn họ nói với nhau là đầu mối vô cùng quan trọng”.
“Rất cảm ơn anh đã chỉ bảo thêm”
Tiểu Xuyên dường như hiểu được tầm quan trọng đầu mối mà Nhiếp Phong nhắc đến, đồng thời cậu cũng có phần tự trách mình, nội tình vụ án Nhiếp Phong nắm rõ như long bàn tay, bản thân mình là người phá án thì lại có những điều không nghĩ tới.
“Cậu uống cà phê đi, cà phê nguội nhanh lắm” Nhiếp Phong khéo léo chuyển chủ đề, vừa cười vừa hỏi
“Đội trưởng Thôi của các cậu là người như thế nào?”
“Là một cảnh sát rất tốt, có nhiều kinh nghiệm, phá được nhiều vụ án lớn. Chỉ có điều tính tình hơi nóng…”
“Thích giáo huấn người khác có đúng không? Còn có chút khó chịu với mình nữa chứ!” Nhiếp Phong mỉm cười chế giễu.
“Đội trưởng Thôi tính tình thật ra rất tốt, chẳng qua…”
“Cậu đừng bảo vệ sếp của các cậu nữa, mình nói chơi vậy thôi! Khi nào về nhắn giúp với đội trưởng Thôi là mình hy vọng được tham gia theo sát quá trình phá án.”
“Được ạ, chuyện đó thì không thành vấn đề.”
“Ngoài ra, cậu có thể giúp mình một chuyện nhỏ được không?”
“Vâng ạ, anh cứ nói đi”
“Mình muốn được xem di thể Hồ Quốc Hào, tuy nhiên chuyện này đừng để đội trưởng Thôi biết nhé”
“Vâng, hiện nay thi thể Hồ Quốc Hào được bảo quản tại nhà tang lễ Đan Trúc Đầu”
“Nơi đó có xa đây không?”
“Khá xa, phải đi bằng xe hơi. Bây giờ em sẽ đưa anh đi, để lâu có thể thi hài sẽ được đưa về bệnh viện công an để giải phẫu”
“Thế thì tốt quá,” Nhiếp Phong gật đầu.
Tiểu Xuyên không nghe ra ý của anh là chỉ việc xem thi thể hay là chỉ việc giải phẫu.
Hai người nói chuyện phiếm một lúc nữa, Nhiếp Phong chỉ vào biểu tượng hình bầu dục của nhãn hiệu quán trên miếng giấy lót cốc cà phê,
“Cái logo này thật có ý nghĩa”
“Thật ạ?”
Tiêu Xuyên di miếng lót sang bên chăm chú nhìn vào khung hình bầu dục màu xanh, vệt sọc hai bên cũng màu xanh, dáng hơi nghiêng, bên trái là hình bầu dục nhỏ ở giữa để rỗng.
Cậu ngẫm nghĩ một lát rồi nói hai vệt dọc bên trái giống hình lá trà, hình rỗng bầu dục nhỏ bên trái giống hạt cà phê.
“Cậu thật thông minh!” Nhiếp Phong tán thưởng, song hai mắt lộ rõ vẻ nghịch ngợm “Cậu thử xem lại đi.”
Tiểu Xuyên ngắm kỹ biểu tượng, lông mày nhíu lại giống như đứa trẻ đang cố giải bài toán khó
“Đã nhận ra cái gì chưa?”
“Em xin chịu.”
Anh chàng cảnh sát trẻ lắc đầu.
“Số 110” (số điện thoại của cảnh sát Trung Quốc, giống như số điện thoại 113 ở ta), Nhiếp Phong giảng giải.
“Ái dà, quả là giống thật.”
“Các cậu bình thường phá án rất vất vả, có thời gian rảnh cứ đến đây tụ họp, có thể tạo thành câu lạc bộ cảnh sát đấy.”
“Nói như vậy em có cảm giác nơi này cực kỳ thân thiết với anh,” Tiểu Xuyên tỏ vẻ nghi ngờ.
“Được rồi, cô ơi tính tiền giúp tôi.” Nhiếp Phong vẫy tay về phía cô phục vụ đứng cạnh.
Cô gái hiểu ý bước đến.
“Còn có một người nữa,” Nhiếp Phong chợt nhớ ra, anh dùng tay gõ gõ lên mặt bàn, “Cần phải tìm hiểu người này.”
“Người nào cơ ạ?” Tiểu Xuyên hỏi.
Cô bé tóc đuôi ngựa vừa cười vừa đưa tờ hóa đưn thanh toán cho anh.
Nhiếp Phong liếc qua hóa đơn hai tách cà phê Lam Sơn bốn mươi đồng, Danh Điển hai mươi đồng tổng cộng hết sáu mươi đồng, đúng là “tiêu chuẩn” Thâm Quyến. Hai người đứng dậy, cô phục vụ tóc đuôi ngựa lịch sự nói
“Rất mong hai anh lần sau lại đến.”
Nhiếp Phong bước xuống lầu, ra đến cửa anh nói với Tiểu Xuyên
“Người đó là trợ lý của Hồ Quốc Hào, Chung Đào.”
“Nhân vật này để lại cho mình ấn tượng khá sâu sắc, ngày Hồ Quốc Hào xảy ra chuyện, anh ta cũng có mặt ở Tiểu Mai Sa.”
“Thật hả? Sao bọn em lại không biết nhỉ?” Tiểu Xuyên cảm thấy ngạc nhiên.
“Là chính Chung Đào nói cho mình hay, buổi chiều ngày hai mươi tư tháng sáu anh ta cũng đi cùng xe với Hồ Quốc Hào khi xe đến nhà hàng Hào Cảnh, Hồ Quốc Hào xuống trước. Tiếp đó lái xe đưa Chung Đào tới Tiểu Mai Sa sau đó mới lái xe về thành phố. Hôm đó anh ta có buổi họp lớp, tất cả bảy người đồng môn đều đang công tác tại Thâm Quyến, họ đã tổ chức bữa họp mặt thâu đêm suốt sáng tại vườn nướng trung tâm bãi biển Tiểu Mai Sa.”
“Tại sao lái xe của Hồ Quốc Hào lại không nhắc đến việc này?” Tiểu Xuyên bồn chồn.
“Mình đã hỏi lái xe Tiểu Lưu, cậu ta nói, Chung Đào thường xuyên đi chung xe với Hồ Quốc Hào, nên cũng coi là chuyện thường, hơn nữa cảnh sát lại không hỏi đến.”
Tiểu Xuyên chợt nghĩ đến hiện trường hôm đó, đội trưởng Thôi chỉ hỏi Tiểu Lưu nhận diện người chết có phải là Hồ Quốc Hào hay không? Chẳng ai để ý hay nghĩ tới việc ngồi chung xe với Hồ Quốc Hào còn có người khác nữa.
“Anh ta có nói tên của bảy người bạn học không anh?”
“Đó là chuyện của cảnh sát các cậu, việc này đâu có khó.”
“Em sẽ báo cáo với đội trưởng Thôi chi tiết này.”
“Không cần nói là mình kể đâu nhé!”
“Em hiểu rồi”
Tiểu Xuyên mở cửa xe ô tô cảnh sát, hai người cùng vào. Cậu nổ máy chiếc xe lao vút về hướng đông.
*
* *
Dan Trúc Đầu nằm ở phía Bắc thị trấn Bố Cát, phía sau là một dãy núi nhỏ, khi xe đến nhà tang lễ trời đã chạng vạng chiều.
Tiểu Xuyên lái xe thẳng vào cổng lớn, đi qua con đường bê tong nhỏ rồi đỗ lại trước phòng làm việc ban quản lý nhà tang lễ. Cậu xuất trình thẻ cảnh sát cho một người đàn ông trung niên đeo kính trắng, nhân viên quản lý.
“Vị này là nhà báo, chúng tôi muốn kiểm tra lại di hài ông Hồ Quốc Hào ở ngăn số mười hai.”
“Buổi chiều chúng tôi thường không làm việc.” Người quản lý nhìn Nhiếp Phong qua đôi kính trắng.
“Ngày mai chúng tôi phải về Thâm Quyến, thật làm phiền bác quá,” Nhiếp Phong mỉm cười khiêm tốn.
“A, vậy tôi già lắm sao?” người nhân viên nét mặt lập tức trở nên khó chịu, thì ra anh ta chưa đến bốn mươi tuổi
“Ấy ấy, gọi như vậy chẳng qua để tôn trọng anh thôi!” Tiểu Xuyên đỡ lời.
“Đi theo tôi”, người đàn ông bớt bực dọc, anh ta dẫn hai người đi qua rừng tùng, bách um tùm rồi đến một ngôi nhà tầng mái màu xanh, tường trắng.
Khi anh ta lấy chìa khóa mở chiếc cửa sắt, khí lạnh từ bên trong phả vào mặt, trong đó là nhà lạnh lưu giữ thi hài người chết, bầu không khí thật u ám tang tóc. Bức tường đối diện cnahs cửa sắt xếp từng tủ ô vuông bằng sắt. Dưới ánh đèn trắng xanh chiếu xuống, phát ra những tia lạnh ảm đạm. Ở nơi này không có sự sống.
Người đàn ông đeo kính dừng lại bên khu ô vuông số mười hai, anh ta đeo găng tay vào, dùng hết sức kéo chiếc ngăn kéo sắt dài đến hai mét ra, sau đó lật tấm vải bố màu trắng lên.
Nhờ khí lạnh bảo quản nên thi hài Hồ Quốc Hào vẫn còn khá nguyên vẹn.
Thi thể Hồ Quốc Hào nằm thẳng đuỗn trong chiếc ngăn kéo. Một nhân vật đã từng “hô phong hoán vũ” trong giới bất động sản, chỉ mới vài ngày trước đây thôi còn oai phong bệ vệ trên chiếc ghế quyền uy tại tòa nhà Địa Hào hai mươi tư tầng lầu, khoát tay chỉ đạo công việc, hào khí hừng hực khiến người khác phải khâm phục. Thế nhưng, giờ đây ông ta nằm cô đơn lạnh lẽo trong chiếc ngăn kéo sắt, thứ còn lại chỉ là cái xác vô hồn câm lặng. Trong phút chốc Nhiếp Phong chợt nhớ đến mấy câu thơ:
“Tôi gặp được một du khách đến từ xa xưa
Ông kể về bức tượng với đôi chân bằng đá sụt lún dưới sa mạc bao la
Cả thân chôn vùi trong cát
Chỉ còn nửa khuôn mặt vỡ nát
Này thì chau mày, khinh miệt lạnh lung, này thì nhíu mắt, này là uy nghiêm
Nhà điêu khắc thật tài hoa
Cho đến ngày nay vẫn ocnf lưu lại dục vọng trên nền đá lạnh”

“Nhà báo Nhiếp, anh đang nghĩ gì vậy?”, Tiểu Xuyên nhìn anh bằng con mắt tò mò
“Ồ! Không có gì.”
Nhiếp Phong trấn tĩnh trở lại, cúi đầu quan sát cái xác.
Có lẽ do thời gian và bảo quản lâu trong phòng lạnh nên da của Hồ Quốc Hào có màu trắng nhợt, hơi phù thũng, cái mũi hổ, chiếc cằm bạnh vẫn lồ lộ như khi còn sống, chỉ có đôi mắt gian xảo và dã tâm thì vĩnh viễn không bao giờ còn mở ra được nữa.
Nhiếp Phong chăm chú quan sát toàn bộ xác chết, anh dừng mắt lại trước má bên trái, sau đó lại nhìn vào phần ngực bên trái, phía dưới núm vú có vài vết xước còn như mới, quan sát kỹ nó có hình dáng giống chữ “Sơn” nhưng lại hoàn toàn không giống hẳn. Có lẽ vết đó do tử thi va vào đá khi bị song đánh dạt vào bờ, miệng vết thương không có vết máu, dưới da chỉ lưu lại vết thâm sẫm màu.
Nhiếp Phong rất chú ý soi kỹ nét xước kỳ lạ đó trong long thầm nghĩ “Có chút gì đó thật kỳ lạ.”
Tiểu Xuyên phán đoán, “Liệu có phải do sứa biển gây ra không?”
Nhiếp Phong chưa từng gặp qua chuyện này, anh hỏi lại: “Cậu có thấy giống với vết do sứa biển gây ra không?”
“Em cũng không dám chắc”, Tiểu Xuyên đáp.
Khi đi bơi ở vịnh Đại Bàng, Nhiếp Phong cũng có gặp sứa biển, đó là một loài động vật thân mềm không xương sống, khi chạm phải nó cảm giác rất ngứa. Song trên thực thế vết thương trên ngực Hồ Quốc Hào gần như không giống do loài nhuyễn thể này gây ra. Vết thương do sứa gây ra là một đám mụn nước nhỏ trên da nhưng vết trên ngực Hồ Quốc Hào lại giống như do vật sắc nhọn tạo thành.
“Những người chết đuối, trên thi thể thường để lại nhiều vết bầm dập”, người đàn ông đeo kính bằng kinh nghiệm của mình góp lời, “có lẽ do trước khi chết bị va vào các mỏm đá ven biển”.
“Cảm ơn anh đã chỉ bảo”, Nhiếp Phong khiêm tốn đáp lời, nhân lúc người đàn ông đeo kính không để ý, Nhiếp Phong đưa chiếc máy ảnh luôn mang theo bên mình chụp trộm lấy vài kiểu, trong đó có cả bức chụp kỹ vết thương.
“Ồ, máy ảnh của nhà báo thật là đồ cao cấp.”
“Cũng là loại bình thường thôi!” Nhiếp Phong cố tình khiêm nhường, cười một cách ngốc nghếch.
“Cái đồ vớ vẩn này khi chụp không chớp đèn”, Tiểu Xuyên mỉm cười ý nhị.
Nhiếp Phong ngoái cổ lại hỏi: “Cảnh sát Tiểu Xuyên, cậu thấy được chưa?”
“Được rồi ạ”, cậu nghiêm túc trả lời.
Ba người rời khỏi nhà lạnh, Nhiếp Phong hỏi người đàn ông đeo kính: “khi nào cái xác ở ô số mười hai sẽ được hỏa tang hả anh?”
“Dự định là ngày mùng hai tháng bảy, song bây giờ cũng chưa biết liệu có thay đổi hay không.”
“Điều ấy có phải do gia đình đề xuất không?”
“Chiều nay chúng tôi vừa nhận được công văn của bên công an các anh yêu cầu chú ý bảo quản thi hài, có thể sẽ tiến hành giải phẫu tử thi.”
Nhiếp Phong và Tiểu Xuyên đưa mắt hội ý với nhau.
“Người cũng đã chết rồi, sao lại còn động dao kéo vào làm chi, thật là chẳng ra sao cả” người đàn ông đeo kính cảm than mấy câu.
Trong cảnh chiều hôm âm u, vài con quạ đứng trên đầu cành cây bách cất lên tiếng kêu thê lương.
lyn
0
(Chương 3 - tiếp)

3
Thẩm mỹ viện Mỹ Phượng, một chiếc xe BMW màu hồng sang trọng lẵng lẽ đỗ trước cửa chính.
Cửa xe bật mở, Chu Mỹ Phượng bước ra, cô mặc chiếc áo gió màu trắng, tay cầm chiếc túi xách nhỏ màu tím than.
Tiểu Xuyên và Đào Lợi vội bước đến,
“Xin chào bà Hồ”, Tiểu Xuyên khá lịch sự lên tiếng, “chúng tôi có một số chi tiết liên quan đến cái chết của ông nhà cần bà giúp.”
“Xin các vị cứ hỏi” Chu Mỹ Phượng chẳng tỏ thái độ gì.
“Bà Hồ ạ, nói ở đây không tiện lắm” Đào Lợi ra hiệu.
“Ồ, vâng” Chu Mỹ Phượng vừa cười vừa nói, sau đó mời hai người đi cùng cô ta vào bên trong.
“Xin chào giám đốc!”
Hai cô gái mặc đồng phục màu phấn hồng đang chăm sóc khách hàng ngẩng đầu cất tiếng chào.
Chu Mỹ Phượng khẽ gật đầu, dẫn hai cảnh sát vào phòng làm việc của mình.
Phòng giám đốc chỉ rộng chừng mười mét vuông, chiếc bàn gỗ tự nhiên, ghế sofa phong cách Châu Âu, màu sắc và cách sắp xếp đồ đạc trong phòng cho thấy nữ chủ nhân của nó rất có óc thẩm mỹ.
“Mời quý vị ngồi”
Chu Mỹ Phượng ra hiệu mời Tiểu Xuyên và Đào Lợi ngồi vào ghế sofa, còn mình ngồi sau chiếc bàn, phía sau lung cô ta là chiếc tủ kính, trong đó bày các loại mỹ phẩm nước ngoài.
“Là thế này” Tiểu Xuyên mở đầu câu chuyện,
“Chúng tôi muốn tìm hiểu vào khoảng mười một giờ tối ngày hai mươi tư đến một giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng sáu bà có mặt ở đâu”
“Điều tra ‘chứng cứ ngoại phạm’ của tôi phải không?” Chu Mỹ Phượng phản ứng rất bình tĩnh.
“Đó là việc phải làm theo thông lệ của cảnh sát mong bà hiểu cho.”
Đúng lúc này, một cô nhân viên mặt tròn đẩy cửa bước vào đem hai cốc hồng trà mời khách, sau đó ý tứ quay người bước ra và khép cửa lại.
“Ngày hôm đó ông nhà tôi đi một mình đến Đại Mai Sa, không có tôi đi cùng.”
“Tại sao ông Hồ Quốc Hào đi nghỉ cuối tuần ở Đại Mai Sa mà bà lại không đi cùng?” Đào Lợi căn vặn.
“Đã lâu lắm rồi tôi không đến đó, tôi không hề thích tắm biển” Chu Mỹ Phượng giải thích.
“Ngày hai mươi tư hôm đó, mẹ tôi không được khỏe, bà mắc bệnh phong thấp, bố tôi ở Hong Kong có gọi điện bảo tôi về thăm mẹ.”
“Nói như vậy là bà đi HongKong?”
“Vâng, mười hai giờ hai mươi trưa tôi đáp chuyến xe bus của công ty Trung Khí từ Văn Cẩm Độ đến Cửu Long. Hơn tám giờ sáng ngày hôm sau tôi đột ngột nhận được điện thoại của Tiểu Lưu thông báo ông Hào xảy ra chuyện nên vội vã quay trở lại Văn Cẩm Độ cũng lại đi bằng xe bus của công ty đó.”
“Chuyến lúc mấy giờ?”
“Khoảng mười giờ hai mươi phút”
“Có gì để chứng minh những điều bà nói không ạ?”
“Có chứ”
Chu Mỹ Phượng mở chiếc túi màu tím than lấy quyển hộ chiếu đưa cho Tiểu Xuyên.
Trong quyển hộ chiếu lưu lại cuống hai tấm vé xe bus, Tiểu Xuyên cầm lên nhìn kỹ đó là vé đi và về từ Văn Cẩm Độ, Thâm Quyến và vé bến xe Cửu Long, Hongkong. Cậu thuận tay đưa cho Đào Lợi, cô lấy bút ghi lại thời gian ngày giờ in trên đó.
Tiểu Xuyên mở từng mục trong hộ chiếu của Chu Mỹ Phượng kiểm tra kỹ. Trong phần đóng dấu xuất nhập cảnh thời gian rất rõ rang. Hai cảnh sát hội ý với nhau bằng ánh mắt. Tiểu Xuyên đưa hộ chiếu trả lại cho Chu Mỹ Phượng,
“Cảm ơn bà đã cung cấp thông tin”
“Không có gì”
Hai nhân viên cảnh sát cáo từ ra về, ngồi trong xe Đào Lợi nói với Tiểu Xuyên,
“Xem ra những chứng cứ ngoại phạm mà Chu Mỹ Phượng cung cấp đều là thật”
“Rõ ràng chúng ta không tìm thấy điểm khả nghi nào” Tiểu Xuyên như vẫn còn vẻ ấm ức.
“Chỉ có điều mọi việc diễn ra thật quá khéo, thời gian đều trùng khớp không chệch đi đâu được”
“Không biết cậu có chú ý tới điều này không, phản ứng của người đàn bà này như quá lạnh lùng”
“Tớ cảm thấy không đơn thuần là lạnh lung mà còn… vô cảm nữa”
“Vô cảm?”
“Đúng, vô cảm. Mục tiêu tiếp theo là ai đây?”
“Chúng ta tìm Châu Chính Hưng”
“Được, phó tổng giám đốc Châu” Tiểu Xuyên nhấn ga, chiếc xe chuyển hướng đường Đông Nam.
*
* *
Tòa nhà Địa Hào Trí Nghiệp hai mươi tầng lầu sang trọng rưc rỡ hiện ra.
Tiểu Xuyên và Đào Lợi rảo bước vào bên trong đại sảnh, hai người xuất trình thẻ cảnh sát cho người bảo vệ rồi đi đến thang máy.
Tầng trên cùng là phòng làm việc của chủ tịch HĐQT. A Anh tiếp đón hai người ở phòng thư ký bên ngoài. Cô chu đáo đặt hai tách hồng trà lên bàn mời họ.
Tiểu Xuyên nói rõ ý định đến đây: “Chúng tôi muốn tìm phó tổng giám đốc Châu có chút công chuyện”
“Phó tổng giám đốc Châu đi công tác rồi ạ”
“Đi công tác?” Tiểu Xuyên thất vọng
“Ông ấy đi đâu?” Đào Lợi hỏi lại
A Anh nhấc chiếc điện thoại màu đỏ để trên bàn gọi mạng nội bộ: “Cô Mai hả, có biết tổng giám đốc Châu đi công tác ở đâu không? Ồ! Tôi biết rồi, cảm ơn nhé! Không có gì…”
“Phó tổng giám đốc đi Thượng Hải vào chuyến bay buổi sáng ngày hôm nay”
Tiểu Xuyên và Đào Lợi cảm thấy hơi ngạc nhiên. A Anh bổ sung thêm
“Thư ký riêng của ông ấy nói phó tổng có việc gấp cần giải quyết, lúc đi cũng rất vội, đại thể là công việc kinh doanh. Nhưng không biết là ông ấy đi gặp ai…”.
“Bây giờ có thể liên lạc được với ông ấy không?”
“Để tôi thử xem”
A Anh gọi theo số máy di động của Châu Chính HƯng, tiếng chuông đổ dài song không có người nghe máy, một lúc sau có giọng tổng đài tự động “Cuộc gọi của quý khách đã chuyển sang hộp thư thoại…”
“Thế này vậy,” Tiểu Xuyên nói với A Anh “nhờ cô tiếp tục liên lạc với phó tổng giám đốc Châu, có hồi âm hoặc tin tức của ông ấy hãy báo ngay cho chúng tôi.”
“Vâng, tôi nhất định sẽ thông báo” A Anh ngước đôi mắt xinh đẹp phảng phất vẻ buồn bã, quanh mắt cô là những quầng đen mờ mờ.
Đào lợi thầm nghĩ, trước cái chết của ông chủ cô gái này rất đau lòng.
“Hoạt động của công ty trong giai đoạn này vẫn diễn ra bình thường chứ?” Đào Lợi tỏ ra đồng cảm
“Không được tốt lắm, lòng người ly tán, bên ngoài bàn tán rất xôn xao…” A Anh buồn rầu đáp.
Có một vị đô đốc hải quân nổi tiếng từng nói, đại ý khi người thuyền trưởng chết đột ngột, chiếc thuyền đó dù có to lớn và được trang bị tốt đến đâu cũng xảy ra hỗn loạn và sẽ càng hỗn loạn hơn nữa khi cái chết đó diễn ra không rõ ràng. Giờ đây không ai có thể nói chắc con thuyền Địa Hào sẽ đi về đâu trước phong ba bão táp?
“Hai vị cảnh sát, còn có việc gì cần tôi giúp nữa không ạ?” A Anh hỏi
“Ồ! Chúng tôi rất cảm ơn cô đã hợp tác” Tiểu Xuyên tỏ thái độ đầy thiện ý, cậu nói tiếp: “Xin hỏi, trợ lý Chung hiện có ở đây không?”
“Có ạ, anh ấy đang tiếp khách”
Phòng làm việc của Chung Đào nằm đối diện hành lang cửa đóng kín, có lẽ anh ta đang tiếp khách.
“Vị khách nào vậy?”
“Ông Lục, tổng giám đốc ngân hàng hình như là đến để đòi khoản cho vay. Chủ tịch Hồ Quốc Hào vừa mới chết bọn họ đã quay ngoắt trở mặt ngay được” lời nói của A Anh đầy vẻ bất mãn.
Tiểu Xuyên nhìn đồng hồ, năm giờ hai mươi phút, cậu nói: “Chúng tôi đợi một chút cũng được”
“Ở đây có báo đấy ạ!” A Anh đưa cho họ mấy tờ báo của đặc khu sau đó đóng cửa đi ra.
“Cảm ơn cô!” Đào Lợi khẽ đáp
Hai người ngồi lặng lẽ trong phòng làm việc, Đào Lợi hờ hững lật từng trang báo.
Thời gian chầm chậm trôi qua.
Bỗng nhiên có tiếng kèn acmonica ở rất gần văng vẳng vang lên, thanh âm của nó dường như đã từng nghe ở đâu đó, tuy nhiên không thể nhớ được tên khúc nhạc, chỉ có điều giai điệu rất buồn, thậm chí là thê lương.
Tiểu Xuyên nhìn tứ phía nhưng không thể phát hiện ra âm thanh đó xuất phát từ đâu.
“Cậu có nghe thấy tiếng nhạc không?” cậu hỏi Đào Lợi, cô lắc đầu.
Khuôn mặt Tiểu Xuyên trở nên đăm chiêu.
Khoảng hai mươi phút sau cửa phòng trợ lý Chung bật mở, anh tiễn hai người đàn ông trung niên mặc âu phục sang trọng ra ngoài, người đi sau béo tốt, khuôn mặt phương phi.
“Xin giám đốc Lục cứ yên tâm” Chung Đào mềm mỏng thuyết phục “đợi phó tổng giám đốc Châu trở về, tôi sẽ truyền đạt lại ý kiến của ngài với ông ấy”
“Đừng để lâu quá, muộn nhất là qua trung tuần tháng này” người đàn ông béo tốt phẩy tay đầy quyền uy.
“Điều đó thì xin ngài cứ yên tâm” Chung Đào đáp lời và tiễn ông chủ nhà bang tới tận cửa cầu thang máy, khi anh quay người thì gặp Tiểu Xuyên và Đào Lợi.
“Trợ lý Chung, chúng tôi muốn gặp anh có chút chuyện”
Chung Đào lịch sự mời hai cảnh sát vào trong phòng
Căn phòng trợ lý chủ tịch HĐQT không lớn song trang trí rất trang nhã, thiết bị đầy đủ. Trên bàn làm việc là chiếc máy tính màu đen, màn hình tinh thể lỏng đời mới nhất.
“Những vị khách vừa rồi là…”
“Đến để đòi nợ”
Chung Đào nói thẳng không hề giấu giếm, anh vừa đưa cà phê mời hai người vừa sắp xếp lại tập tài liệu để trên bàn.
“Chủ tịch HĐQT Hồ Quốc Hào mất đi, Địa Hào Trí Nghiệp cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, ngân hàng sợ khoản cho vay của họ trở thành nợ xấu”
“Địa Hào nợ khoảng bao nhiêu?” Tiểu Xuyên hiếu kỳ hỏi.
“Chẳng ai biết được khoản nợ của Địa Hào là bao nhiêu cũng như không thể nắm được Địa Hào có bao nhiêu tài sản. Bên ngoài đồn đại khoản nợ đó là không hề nhỏ.”
Tiểu Xuyên hỏi: “Điều ấy là sự thật?”
“Hoặc giả có chút tung tin giật gân, Địa Hào là công ty lớn có thương hiệu mạnh trên thương trường” Chung Đào nửa thừa nhận, nửa phủ nhận “người xưa có câu ‘Lạc đà ốm còn hơn ngựa khỏe’”.
“Vậy hiện nay trợ lý Chung là người đại diện cho công ty.” Đào Lợi phỏng đoán.
“Ấy, tôi làm sao có được tư cách đó” Chung Đào khiêm nhường trả lời.
“Chủ tịch Hồ Quốc Hào mất đi, người có khả năng nhất thay thế là phó tổng Châu, phụ trách kinh doanh là phó tổng giám đốc Lý, tầng lớp quản lý chúng tôi là những người làm công cao cấp chẳng làm được gì cả…”
Mọi người trong công ty đều biết Chung Đào là trợ lý, là cánh tay phải của Hồ Quốc Hào. Những lời nói của anh ta có lẽ ít nhiều cũng có căn cứ, giữa bọn họ có mối quan hệ cực kỳ thân thiết, anh ta là một trong số ít những người có quyền lực thực sụ trong tập đoàn. Nội bộ tập đoàn đều cho rằng Hồ Quốc Hào có cái ơn tri ngộ với Chung Đào, trọng thị và giao cho anh ta những việc cơ mật, là người thân tín của Hồ Quốc Hào, anh ta nhất định phải có năng lực song muốn thâu tóm quyền lãnh đạo trong tập đoàn thì rõ ràng thực lực không thể sánh bằng Châu Chính Hưng. Trừ phi anh ta giành được 54% cổ phần từ tay vợ góa Hồ Quốc Hào, cô Chu hoặc Hồ Quốc Hào để lại chức thư giao toàn bộ tài sản cho anh ta.
“Là thế này, chúng tôi muốn tìm hiểu một vài vấn đề trong ngày hai mươi tư tháng sau” Tiểu Xuyên mở quyển sổ công tác đi thẳng vào việc.
“Về vấn đề gì?”
“Nghe nói buổi chiều ngày hai mươi tư hôm đó, anh đi cùng với Hồ Quốc Hào đến Đại Mai Sa?”
“Đúng vậy, tôi đi cùng xe với chủ tịch, ông ấy xuống Đại Mai Sa, còn tôi thì xuống Tiểu Mai Sa”
“Anh làm gì ở Tiểu Mai Sa?’ Tiểu Xuyên xoáy vào câu hỏi
“Là bữa liên hoan bạn bè” Chung Đào gật gật đầu tiếp lời “Đều là những người học cùng tôi ở Đại học C hiện làm việc ở Thâm Quyến, mọi người ít có dịp tụ tập với nhau nên đếm đó chúng tôi thức trọn cả đêm.”
Đào Lợi hỏi: “Một bữa tiệc ở biển, có tất cả bao nhiêu người cùng tham gia?”
“Bảy người!” Chung Đào đáp với vẻ bình thản.
“Các anh tổ chức tiệc đêm ở chỗ nào của Tiểu Mai Sa?”
“Không phải là đang thẩm vấn tôi đấy chứ?” Chung Đào mỉm cười
“Thật không phải, đó là điều tra theo thông lệ của cảnh sát, bất cứ ai có liên quan đến ông Hồ Quốc Hào đều phải điều tra kỹ càng.” Đào Lợi mềm mỏng giải thích.
“Chúng tôi đặt tiệc ở vườn nướng, mọi người vui chơi từ tám giờ tối cho đến trên hai giờ sáng”
Đào Lợi đã từng cùng bạn bè đến vườn nướng Tiểu Mai Sa, nơi đó chuyên về các món nướng. Mỗi lò có thể phục vụ từ bảy đến mười thực khách. Nó còn được người ta gọi là vườn nướng nghìn người với các món từ thịt bò, thịt dê, thịt lớn cho đến các loại hải sản tươi sống như tôm hùm, mực cá ngân tuyết… đồ uống, thực phẩm đa dạng, phong phú. Cô rất thích món mực nướng và cá tiểu hoàng rán ở đây. Khi ánh mặt trời tắt dần, màn đêm buông xuống càng làm nổi bật màu khói lam của vườn nướng, nơi nơi rộn lên tiếng nói cười ồn ã, ánh lửa bập bùng, khung cảnh vườn nướng trở nên hoành tráng.
“Nửa đêm anh có rời khỏi đó lúc nào không?”
“Có một lần”
“Thời gian cụ thể”
“Quãng mười một giờ, tôi uống quá nhiều nên bị nôn”
Tiểu Xuyên hỏi: “Trợ lý Chung, có thể cho tôi biết tên của bảy người hôm đó được không?”
“Được”
Chung Đào rút ra từ ngăn kéo một quyển sổ ghi chép màu lá cọ, lật qua vài trang rồi lấy một mẩu giấy nhỏ ghi tên và số điện thoại lên đó.
Tiểu Xuyên nhận từ tay anh ta tờ giấy, trên đó ghi họ tên đầy đủ của sáu người: Phó Đồng, Trương Tuấn Sinh, Tề Hiểu Huy, Đới Chí Cường, Đinh Lam và La Vi.
Tiểu Xuyên thắc mắc: “Mới chỉ có sáu người?”
“Thêm ‘Chung Đào’ chẳng phải là bảy người sao?” Chung Đào nheo nheo mắt nhìn Tiểu Xuyên.
Cậu chợt tỉnh ra, không nhịn được bật cười.
Nghe tiếng nói của Chung Đào đúng giọng ‘Tứ Xuyên’ chuẩn, cậu bất chợt nhớ đến một câu nói trong tạp chí nào đó “Cho dù bạn có đi đến nơi đâu, trong mênh mang biển người đều có thể tìm được đồng hương hay bạn hữu khi cất lên tiếng nói của người Tứ Xuyên.”
“Trợ lý Chung cũng là người Tứ Xuyên?”
“Đúng vậy” Chung Đào đáp.
“Vậy chúng ta là đồng hương rồi”
“Quê tôi ở Thành Đô”
“Tôi là người Trùng Khánh”
“Ồ, ra cậu là chàng trai Trùng Khánh” giọng nói của Chung Đào trở nên thân thiết.
Tiểu Xuyên bất chợt cảm thấy ở Chung Đào toát lên sức hút của một trang nam tử hán. Đó là vẻ hóm hỉnh và hào khí vốn là đặc trưng của người Tứ Xuyên.
Tiểu Xuyên quay trở lại chủ đề chính, giọng nói đã trở nên thân mật: “Chúng tôi nghe nói phó tổng Châu đi công tác, sao phải vội vã vậy?”
“Tôi cũng vừa mới biết từ chỗ thư lý riêng của ông ấy, có vẻ đi cũng hơi đột ngột” Chung Đào dường như cũng không biết mục đích chuyến đi lần này của Châu Chính Hưng.
“Liệu có phải là chuyện nằm ngoài kế hoạch không?”
“E là không phải như vậy”
Tiểu Xuyên nhìn vào đồng hồ đeo tay.
Đúng lúc này cậu nghe thấy tiếng kèn acmonica ở rất gần vọng đến, thanh âm trầm ấm như hát, như kể, như có làn nước suối mát lạnh chảy qua lòng người.
Tiểu Xuyên lắng tai nghe, cậu khép chặt hai mí mắt, dường như nhìn thấy những ngọn lửa xanh nhập nhòa nhảy múa trước mắt.
Khúc nhạc này mình đã từng nghe ở đâu đó, Tiểu Xuyên thầm nghĩ, tuy nhiên cậu không thể nhớ được tên, giai điệu bi thương ai oán khiến người ta phải rung động cõi lòng.
Cậu đưa mắt sang nhìn Đào Lợi: “Ôi! Thời gian cũng không còn sớm nữa, tôi và Đào Lợi xin phép cáo từ.”
“Lúc nào rảnh, tôi sẽ mới hai vị đến Cửu Long ăn đồ nướng” vẻ mặt Chung Đào rất thật lòng.
“Xin cảm ơn anh”
Chung Đào đứng dậy chuẩn bị tiễn khách, bỗng trong giây lát Tiểu Xuyên thấy Chung Đào ngồi sững lại, hai mắt nhó trân trân ra ngoài cửa sổ, vẻ mặt đầy kỳ lạ, các cơ trên miệng anh ta co giật liên hồi, ngón tay run lẩy bẩy, tách cà phê trên bàn đổ ụp xuống. Khuôn mặt thô kệch dưới ánh ráng chiều từ cửa sổ chiếu vào trông như hình tượng gỗ totem của người Phi Châu, trong khóe mắt anh hai dòng lệ nhỏ ứa ra.
Tiểu Xuyên dõi theo cái nhìn thất thần của Chung Đào.
Đi kèm với tiếng nổ động cơ rền vang trên đỉnh đầu, qua cánh cửa kính màu lam có thể thấy rõ chiếc máy bay Boeing xuyên ánh nắng chiều thẳng hướng tây nam bay đi, hai đầu cánh chớp lóa ánh đèn xanh đỏ. Do nó bay rất thấp nên không thể nhìn được biểu tượng của hãng hàng không nào. Song phần bụng máy bay khi bay ngang qua đã tạo nên lực xung kích cực mạnh.
Đào Lợi ngờ ngợ trước vẻ đờ đẫn của Chung Đào, trong lòng cảm thấy thật kỳ lạ.
Chung Đào ngay lập tức kìm chế cảm xúc của mình, anh ta hướng về phía hai người cảnh sát trẻ tuổi, gật gật đầu tỏ vẻ xin lỗi về hành động vụng về của mình vừa rồi. Sau đó anh ta vội vàng nhặt tách cà phê lên, rất may cà phê trong tách đã được uống hết nếu không mặt bàn sẽ rất bừa bộn.
Sự việc đó chỉ xảy ra trong vòng mười giây song để lại ấn tượng cực kỳ sâu sắc đối với Tiểu Xuyên và Đào Lợi. Trong thang máy, Tiểu Xuyên nói với Đào Lợi: “Hành động của Chung Đào vừa rồi thật khác thường”
“Tớ cũng có cảm giác như vậy, dường như anh ta nhìn thấy một cái gì đó…”
“Là chiếc Boeing 747, bay đến sân bay Hoàng Điền”
“Máy bay Boeing?”
“Đúng vậy”
Đào Lợi lắc đầu, khuôn mặt lộ rõ vẻ ưu tư.
lyn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-02 19:34:35Ct.Ly>
Lửa Thiêu Rừng Hạnh

Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn hoalacocay, haklynjp, welcome1985, chuot_meo_heo, mrroman



📎 thank you
0