Chương 11
TIẾNG ĐÀN DU DƯƠNG
1
Thứ hai, ngày hai muơi tư tháng bảy, Chung Đào kết thúc chuyến công tác, trở về nhà.
Hôm nay tròn một tháng kể từ ngày Hồ Quốc Hào xảy ra chuyện.
Tòa nhà Địa Hào nghễu nghện vươn cao, các tấm kính ốp bên ngoài phản chiếu màu xanh đen âm u, lạnh lẽo.
Chung Đào bước ra khỏi thang máy tầng thứ hai mươi tư, anh có cảm giác không khí trong toà nhà có gì đó kỳ lạ. Hôm nay, Chung Đào mặc chiếc áo sơ mi cộc tay, đeo cà vạt đỏ, làn da đen nhẻm đầy vẻ phong trần bụi bặm sau chuyến công tác dài ngày. Bước vào khu văn phòng, phòng làm việc của thư ký chủ tịch HĐQT vắng lặng không có lấy một bóng người. Trên cửa văn phòng chủ tịch dán dấu niêm phong có con dấu đỏ chót.
Ngay trong thời gian tham dự hội thảo ở vùng tây nam, Chung Đào đã nhận được điện thoại của tổng giám đốc Châu và biết tin Mã Tuyết Anh đã chết bởi tai nạn xe hơi. Khi nghe tin đó anh đã lặng cả người. Châu Chính Hưng còn hỏi: “Anh có nghe tôi nói không?” Lúc ấy Chung Đào chỉ buột miệng một câu “Cô ta chết thật vô ích”.
Đi dọc hành lang đám nhân viên nhìn anh với con mắt kỳ lạ, có người gật đầu chào anh.
“Phó tổng giám đốc Chung về ạ!".
“Vâng”.
Ngoài câu nói đầy khách sáo, Chung Đào có cảm giác tất cả đang xa lánh anh.
Chung Đào tiến vào phòng làm việc của tổng giám đốc báo cáo tình hình hội nghị địa ốc Trùng Khánh.
Châu Chính Hưng ngồi phía sau bàn làm việc, khuôn mặt mệt mỏi, auh ra chỉ hỏi qua vài câu chiếu lệ về nội dung chuyến công tác. Những điều còn lại tập trung xoay quanh những phiền toái gần đây của Địa Hào.
“Nguyên nhân cái chết của A Anh đã được điều tra đến đâu rồi hả anh?”.
“Bên cảnh sát nhận định có người cố tình gây ra chuyện đó”. Châu Chính Hưng đáp, anh ra cố tránh không dùng hai từ “giết hại”.
“Tại sao phòng chủ tịch Chu Mỹ Phượng lại bị niêm phong vậy?”.
“Đã bảy ngày nay không liên lạc được với cô ấy, bên cảnh sát nói cần bảo vệ hiện trường...”.
“À!”. Khuôn mặt Chung Đào lộ rõ vẻ dường như đã hiểu ra tất cả.
Trên thực tế cảnh sát đã gửi công văn truy nã Chu Mỹ Phượng đến cảnh sát quốc tế.
Sau khi Mã Tuyết Anh bị giết chết bằng việc ngụy tạo tai nạn xe hơi, từ nhật ký cuộc gọi của Chu Mỹ Phượng do cục bưu điện cung cấp cảnh sát đã phát hiện một chi tiết vô cùng quan trọng: Nửa giờ trước khi Mã Tuyết Anh xảy ra chuyện, Chu Mỹ Phượng đã nhiều lần liên lạc với một số điện thoại lạ, năm phút sau khi Mã Tuyết Anh chết, Chu Mỹ Phượng lại nhận được cuộc gọi của số điện thoại lạ đó, thời gian thông máy chỉ có bốn giây. Kể từ đó Chu Mỹ Phượng tắt máy, cảnh sát đã xác định được chủ nhân của số điện thoại bí mật là một kẻ du thủ du thực có đầy tiền án ngoại hiệu Đại Hồ Tử. Ba ngày sau đó tại một nhà trọ cao cấp họ bắt được hắn ta. Đối chiếu dấu vân tay của kẻ tình nghi với dấu vân tay thu được trên vô lăng chiếc Nissan màu đen gây tai nạn thu được kết quả hoàn toàn trùng khớp. Trước chứng cứ cực kỳ vững chắc, Đại Hồ Tử đã khai ra: Chu Mỹ Phượng chi hai mươi nghìn tệ để thuê hắn giết Mã Tuyết Anh. Số tiền giao trước một nửa sau khi hoàn thành công việc sẽ nhận nốt số còn lại.
Tất cả những việc đó có thể Châu Chính Hưng thật sự không biết.
Vị lãnh đạo mới của tập đoàn Địa Hào ngay lập tức điều chỉnh thái độ.
Anh ta nói cho Chung Đào hay, những chuyện xảy ra gần đây ở Địa Hào có ảnh hưởng rất lớn tới thương hiệu và uy tín tập đoàn, mấy ngày nay các phương tiện truyền thông luôn tìm đến quấy rầy, làm cho cả Bằng Thành đồn thổi tin tức không hay. Các công ty khác cùng ngành cũng hết sức chú ý, họ cũng đang chờ có dịp để hả hê vui sướng .
“Cho nên hiện nay việc quan trọng nhất của Địa Hào là phải ngay lập tức ổn định tình hình, không để xảy ra thêm bất cứ chuyện gì gây ảnh hưởng đến công ty. Tập trung lực lượng cao nhất nhằm làm giảm tổn thất đến mức tối đa”.
Thái độ của Châu Chính Hưng biểu thị rõ vẻ cùng hội cùng thuyền.
“Ngoài ra cảnh sát cũng đang dò hỏi về anh đấy!". Châu Chính Hưng nhắc khẽ Chung Hào.
“Thật ạ?".
Chung Đào dường như không mấy quan tâm.
Quán nướng Mông cổ Cửu Cửu Long
Buổi tối, Đinh Lam tiếp đón Chung Đào tại nhà hàng chuyên món nướng tự phục vụ lớn nhất Thâm Quyến.
Cửu Cửu Long có hơn một nghìn chỗ ngồi, mỗi khách tính giá ba mươi tám tệ, đồ nướng miễn phí. Do giá cả hợp lý, đồ ăn ngon nên chiều tối nào nơi đây cũng rất đông thực khách. Ở giữa nhà hàng đặt một dãy dài đồ tươi ngon mắt, phân ra thành từng khu, khu thịt nướng, khu lò nướng, khu đồ ăn nóng, khu hoa quả, các loại hải sản hết sức phong phú, cua bể, thịt bò béo, thịt dê, cá, và các loại rau quả...
Chỉ cần bỏ ra thêm mười tệ là có thêm món kem và các loại đồ ngọt.
Hai người ngồi cùng một bàn, lò nướng bốc khói nghi ngút, mùi thơm cũng kích thích vị giác.
“Vị thịt dê nướng ngon lắm đấy em!”.
Chung Đào lấy một miếng thịt nướng chấm vào bát nước trong rồi đưa lên miệng.
Đinh Lam nheo mắt nhìn anh bật cười: “Dáng anh ăn xấu quá".
“Thật hả".
Mấy cậu công nhân còn rất trẻ ngồi bàn bên nói chuyện ầm ĩ ăn uống nhồm nhoàm, trong chiếc đĩa to để đầy vỏ và chân cua.
“Về Tứ Xuyên lần này anh có gặp dì không?”.
“Anh gặp cụ rồi, chỉ là bây giờ sức khỏe không được như trước”.
“Còn gặp ai nữa không anh?”.
“Cô chủ nhiệm lớp thời trung học”.
“Là cô ‘Euclid’ ạ”.
Cô chủ nhiệm lớp từ bộ đội chuyển ngành, họ Âu, tận tâm với nghề, yêu thương học trò, giọng phổ thông lại cực kỳ truyền cảm, nên lũ học trò đặt cho ngoại hiệu là “Euclid”.
“Ern vẫn còn nhớ đến cô ‘Euclid’ cơ à?'Tóc cô giờ đã bạc trắng cả rồi".
“Năm tháng trôi đi như nước chảy... Năm đó cô giáo thật trẻ. Lúc nào cũng mặc bộ quân phục màu cỏ úa...".
“Nhưng trí nhớ của cô thì thật tuyệt vời, dường như cô nhớ hết tất cả mọi thành viên trong lớp anh”.
“Vậy ạ!”.
“Rất nhiều bạn học rời xa quê làm ăn khi về Tứ Xuyên đều tìm đến thăm cô”.
“Anh có hỏi thăm có lần chị Hạ Vũ Hồng về nước đến gặp cô không?”. Đinh Lam nói rất nhanh.
Chung Đào bật cười: “Anh hỏi rồi. Cô Euclid cho anh địa chỉ email của Vũ Hồng".
Theo lời cô giáo chủ nhiệm kể lại, Hạ Vũ Hồng đang là giảng viên của trường Đại học Penn Stacc, Hoa Kỳ. Mùa xuân năm ngoái đã có lần trở về Tứ Xuyên, cô ấy là một giáo sư xã hội học nổi tiếng trong trường.Tuy nhiên chuyện tình cảm không được như ý, hiện vẫn còn sống độc thân.
“Anh liên hệ được với chị ấy chưa?".
“Anh gửi thư điện tử rồi”.
Chung Đào nói cho Đinh Lam hay, anh khá bất ngờ khi nhận được email trả lời của Hạ Vũ Hồng, cô ấy không hề nhắc đến những chuyện thời thanh niên trí thức trước kia chỉ nói là hy vọng có dịp gặp lại anh.
“Hai anh chị cuối cùng cũng có dịp trùng phùng rồi".
Thái độ của Đinh Lam khá phức tạp, dường như vừa vui mừng, lại vừa đau khổ.
“Bọn anh không thể trở lại ngày xưa nữa...”. Chung Đào rất bình tĩnh.
Đinh Lam chuyển sang đề tài khác: “Khi nào anh đi?”.
“Còn đợi đóng dấu thị thực, thông qua đoàn tham quan du lịch Bắc Mỹ, trước tiên anh sẽ đến Canada”.
“Anh cần phải nhanh lên mới được”.
“Anh biết rồi, còn em thì thế nào?”.
“Không phải lo cho em đâu, em sẽ không sao đâu...”.
“Vẫn cần thận trọng một chút, nhớ bảo trọng nhé!”.
“Cho em gửi lời hỏi thăm chị Hồng”. Đinh Lam lệ nhòe ướt mi.
2
Sân bay Côn Minh.
Nhiếp Phong chuẩn bị hành lý, anh bước vội vào phòng xuất cảnh.
Nhiếp Phong sẽ đáp chuyến bay CA-4415 vào lúc tám giờ kém năm phút sáng, hành trình bay bảy mươi phút, sẽ hạ cánh ở sân bay vào lúc chín giờ năm. Đây là chuyến bay sớm nhất trong ngày, giá vé khuyến mại ba trăm hai mươi tệ.
Nhiếp Phong ngước nhìn, tấm biển đồng hồ ở bãi đỗ xe chạy ngang dòng chữ Thứ hai, ngày 24 tháng 7.9:25.
Anh thầm nghĩ. Vậy là đã tròn một tháng kể từ kki xảy ra vụ án Hồ Quốc Hào.
Khách sạn được đặt từ trước, nhà hàng Dương Quang, ngày nghỉ giá hội viên một trăm ba mươi tệ một ngày. Để giảm bớt thời gian Nhiếp Phong đã gọi điện đến khách sạn làm thủ tục lấy phòng từ trước sau đó anh nhanh chóng tìm đến nơi lấy tư liệu viết bài, cứ ứng phó tạm thời nhiệm vụ mà tổng biên tập giao cho cái đã. Chụp ảnh, viết xong bài báo dài năm nghìn chữ Nhiếp Phong thở phào, sau một ngày một đêm làm việc hết tốc lực cuối cùng công việc đã hoàn thành.
Buổi chiều ngày thứ hai, không ngơi nghỉ lấy một phút anh tìm đến cơ quan hữu quan của binh đoàn xây dựng Vân Nam.
Trong suy nghĩ của anh nhất thiết cần phải tìm đến nơi Chung Đào và các thanh niên trí thức Thành Đô đã từng công tác và sinh hoạt.
Nông trường binh đoàn xây dựng Vân Nam giờ thuộc tổng cục khai hoang nông nghiệp của tỉnh, lật tìm tài liệu tại bộ phận thông tin thống kê của tổng cục, một phụ nữ họ Bàng, trước kia cũng là thanh niên trí thức cho anh hay. Tất cả hồ sơ về thanh niên trí thức trước năm 1995 đều đã được sắp xếp giao cho phòng lưu trữ hồ sơ Vân Nam.
Trung tâm lưu trữ hồ sơ Vân Nam, một tòa nhà cổ kính tọa lạc ở số 59 đường Tây Viên.
Người bảo vệ sau khi xem giấy giới thiệu đã cho Nhiếp Phong vào. Vừa vào bên trong tòa nhà ngay lập tức ta đã cảm nhận được không khí cổ kính trang trọng. Trên bức tường chính diện treo một bức phù điêu miêu tả phong tục cập quán dân tộc, xung quanh tường cầu thang treo các bức ảnh do người nước ngoài chụp miêu tả cảnh các dân tộc thiểu số Vân Nam cuối đời Thanh. Phòng tra cứu tư liệu nội bộ nằm trên tầng ba, nơi đây khá rộng rãi và yên tĩnh, có gần bốn mươi cái bàn gỗ màu vâng nhạt, trên bàn bày năm bộ máy tính dựa vào sát tường. Một người đàn ông và một cô gái tóc dài còn rất trẻ ngồi trước máy vi tính kiểm tra tư liệu.
Trong gian ca bin ngăn bằng kính mà một ô cửa nơi tiếp nhận khách đến trả và mượn tài liệu, có ba nữ nhân viên đang làm việc.
"Tôi là phóng viên tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’, tôi muốn tìm một số tài liệu có liên quan đến thời kỳ thanh niên trí thức”. Nhiếp Phong đến bên ô cửa cabin tự giới thiệu.
“Ồ, thật đáng tiếc”. Một cô nhân viên tóc ngắn đeo kính trắng lịch sự nói “Mấy ngày hôm nay chúng tôi đang chỉnh lý tư liệu cũ, ngày mai anh đến nhé”.
“Ngày mai ạ?”. Nhiếp Phong chần chừ một lúc rồi anh cố gắng thuyết phục. “Tôi từ xa đến đây, thời gian không có nhiều, có thể linh động một chút được không ạ?”.
“Đợi tôi thử hỏi chủ nhiệm xem sao”. Nữ nhân viên tóc ngắn đeo kính trắng đi vào bên trong.
Một lúc sau cô gái đi ra rồi giải thích với Nhiếp Phong: "Tất cả tư liệu cũ đều đang được sắp xếp trong kho, ngày hôm nay quả là không thể được”.
“Rất cảm ơn cô”.
Nhiếp Phong bước ra khỏi trung tâm lưu trữ hồ sơ, anh quyết định thay đổi kế hoạch, trước hết cứ đi vùng biên giới Vân Nam cái đã.
Trước khi xuất phát, anh tìm đến Tổng cục khai khẩn nông nghiệp tỉnh Vân Nam để hỏi cụ thể đường đến đội hai, phân khu bốn nông trường Lam Giang. Tại bộ phận hành chính tầng ba, mội người đàn ông mặc áo sơ mi đeo cà vạt màu vâng lá cọ tiếp đón anh rất nhiệt tình.
Người cán bộ hành chính này thừa nhận anh ta cũng chưa bao giờ đến nông trường Lam Giang. Điều đấy cũng dễ thông cảm, tại Vân Nam có rất nhiều nông trường lớn nhỏ khác nhau, một người khó có thể đi hết tất cả các nông trường. Anh ta lật giở một cuốn sổ in nhỏ, có lẽ đó là quyển sổ ghi số liên lạc nội bộ của từng đơn vị rồi tra ra hai số điện thoại của nông trường Lam Giang, một là số của văn phòng nông trường, số kia là của bộ phận hành chính, sau này anh cũng đưa cho Nhiếp Phong cả số điện thoại của giám đốc nông trường. Có được tất cả số điện thoại Nhiếp Phong nói lời cảm ơn rồi rời khỏi Tổng cục khai khấn nông nghiệp, anh đáp chuyến tàu hỏa hướng về phía nam.
Khi còn ở Thành Đô, chị Lê đã nói cho anh cách đi nhanh nhất, từ Côn Minh bắt tàu hỏa đến Quảng Thông, sau đó lên xe đường dài tuyến cao tốc tới huyện Lam Giang. Nông trường Lam Giang nằm trong huyện, đại đội hai cách trung tâm huyện không xa lắm, hiện nay nó được mang tên đội hai. Thế nhưng tra trên tất cả các tấm bản đồ Vân Nam, Nhiếp Phong không hề tìm thấy địa danh nào có tên “Quảng Thông”.
Rất may có một trạm trung chuyển hành khách nằm bên cạnh nhà ga tàu hỏa, Nhiếp Phong quyết định mua một vé xe khách đường dài từ Côn Minh thẳng tới huyện Lam Giang, giá vé một trăm bảy mươi tám tệ. Qua ở cửa bán vé bé tý Nhiếp Phong cúi thấp đầu hỏi cô bán vé mặc đồng phục màu xanh, xe đường dài từ đây đến Lam Giang mất bao nhiêu thời gian. Cô nhân viên bán vé có vẻ khó chịu đáp cộc lốc "không biết” như thể là cô ta bán vé lên mặt trăng vậy.
Nhiếp Phong lắc đầu ngán ngấm, thôi đành phó mặc cho ông trời vậy.
3.
Bảy giờ tối, chiếc xe đường dài màu vàng khởi hành, trang thiết bị trong xe hết sức bình thường, có hai giường nằm phía trên và dưới, chăn gối hoa, đệm lò xo. Xe nhét kín người, Nhiếp Phong đếm thử tổng cộng là ba mươi hai giường nằm, tất cả chỗ trống đều được lấp đầy, mỗi người chỉ có một khoảng không gian chật hẹp bức bối. Nghe bác tài trung tuổi dáng người gầy gò nói sớm mai sẽ đến Lam Giang, tính ra phải đến mười hai, mười ba tiếng đồng hồ. Nhiếp Phong nằm co quắp trên chiếc giường sát cửa giữa xe, đi một đoạn xe lắc lư chồm lên hạ xuống, anh vội thắt chiếc dây an toàn bắt ngang qua người, bất cứ lúc nào cũng trong tư thế sợ xe xảy ra tai nạn. Đành phải cùng chung số mệnh với chiếc xe này thôi.
Phía đầu và cuối xe treo hai chiếc ti vi, nhưng dường như treo để làm vì, từ đầu chí cuối đều không thấy người ta bật lên.
Lần đầu tiên đến ngoại thành Côn Minh, nghiêng người trên chiếc gối Nhiếp Phong nhìn qua cửa kính xe, các dãy núi, hàng cây, bầu trời sao, những ánh đèn lập lòe trong bóng rối lờ mờ lướt qua, có chút gì đó thật lãng mạn. Ánh sao lấp lánh, dải Ngân Hà rực rỡ, tất cả như đồng hành cùng anh trong chuyến đi này. Chiếc xe lắc mạnh khiến Nhiếp Phong không thể chợp mắt. Lúc đầu anh nghĩ đơn giản, ngủ một giấc là sẽ đến Lam Giang. Kết quả là lần tỉnh giấc thứ nhất nhìn đồng hồ mới chỉ một giờ đêm, tỉnh lần thứ hai mới có ba rưỡi sáng. Từng đợt rung lắc, lộn lên lộn xuống không ngừng. Anh có cảm giác chiếc xe này không có điểm dừng, như chạy trong vòng tròn khép kín vậy.
Sáu giờ sáng, trời vẫn còn mờ mờ tối, xe vừa chạy qua một thì trấn đông đúc, nhiều người bán hàng rong chạy đến chào mời mua hàng, trời vẫn chưa sáng hẳn không thể nhìn rõ mặt họ.
Xe vẫn chòng chành nghiêng ngả tiến về phía trước. Mở mắt ra nhìn bên ngoài cửa sổ khói sương mù mịt, ngẩng đầu lên trong đám mây đen lộ ra nửa vầng trăng non nhàn nhạt.
Mọi người chìm vào giấc ngủ chập chờn, khi mở mắt lần nữa, trời đã sáng bạch.
Sáu rưỡi sáng xe dừng lại ở Bảo Sơn, đèn bật sáng.
Bác tài hô to: “Đến Bảo Sơn rồi, có vị nào xuống không nhỉ”.
Không có tiếng ai đáp, xe tiếp tục lăn bánh về hướng tây.
Bảy giờ trời đã sáng hẳn, có thể nhìn thấy xe đang đi vào đường núi, người lái xe giữ tay lái rất cẩn thận vượt qua dãy núi cao, ngó xuống dưới là sườn dốc. Một dòng sông đổ nặng phù sa cuồn cuộn chảy, trong lòng Nhiếp Phong thầm nghĩ chắc đây là Lam Giang rồi, nhưng khi hỏi bác tài mới biết còn xa mới tới nơi. Lại thêm đoạn đường nữa, xe đỗ lại quán nhỏ ven đường, chẳng biết đây là quán gì. Bác tài cuối cùng cũng đánh thức một vị khách đến Bảo Sơn xuống xe ở địa điểm này.
Vượt con đường núi, xe rẽ vòng cua tay áo qua một dãy dài quán ăn biển hiệu treo trên cao “Quán bình dân Đằng Sung”, “Gà hầm”, có lẽ đã đến địa bàn Đằng Sung. Lại chợp mắt thêm lúc nữa, tỉnh dậy thấy cửa kính xe ướt đẫm nước mưa, bên ngoài mưa rơỉ bay bay.
Lại đi tiếp, xe chạy trên lưng chừng núi, lẩn khuất trong làn mây mờ.
Bên ngoài cửa xe mưa tạo thành một tấm rèm nước, ông trời có lẽ cũng đang than khóc.
Nhìn đồng hồ đã chín giờ rưỡi sáng, cậu thanh niên nằm giường bên cạnh Nhiếp Phong buột miệng “Tới được Lam Giang chắc phải đến trưa mất”. Những gì người lái xe cho biết quả là không sai.
Hai bên đường là thảm thực vật phong phú, cây gỗ tạp, vườn chuối tiêu, ruộng ngô, vườn mía, cánh đồng lúa xanh rì thấp thoáng bóng các căn nhà của cư dân địa phương, cái thì tường đất, cái thì tường gạch đỏ mái ngói xanh, bên cạnh mỗi ngôi nhà có một đống củi to đã chẻ xếp cẩn thận, một vài ngôi phía trên mái lắp chảo thu truyền hình vệ tinh.
Chín giờ năm mươi xe đến thành phố Đằng Sung, không biết tại sao xe dừng ở bến tới bốn mươi phút, liệu có phải là tiếp nước cho đầu máy hay còn làm chuyện gì khác. Bác tài cũng không thèm nói nửa lời giải thích. Lại tiếp tục lên đường, xe vẫn chưa ra khỏi thành phố nhưng lái xe đã đuổi hết mọi người xuống đường. Lúc này Nhiếp Phong mới phát hiện trên xe chỉ còn ba, bốn hành khách đều đã được "bán" sang xe bus như lợn béo vậy, sau này mới biết mỗi khách được “bán” với giá mười lăm tệ, lại tiếp tục tiến về phía tây. Chiếc xe buýt khá cũ nát, chiếc đài trên xe phát liên tục các ca khúc “Đêm quân cảng”, "Bài thơ san hô”, “Núi đỏ nở hoa đẹp”. Cửa kính xe xập xệ lắc lư tạo ra khe hở, gió miền sơn cước thổi vào mát lạnh đem theo mùi hương lúa thơm nồng.
Đến được nông trường Lam Giang e rằng phải đến giữa trưa. Nhiếp Phong lấy máy di động gọi đến nông trường, văn phòng không có người nhấc máy. Rất may khi anh gọi đến phòng giám đốc người nhận điện thoại là một cô gái họ Dương.
“A lô! Tôi là Nhiếp Phong phóng viên của tạp chí ‘Tây Bộ Dương Quang’ trưa nay sẽ có mặt ở huyện Lam Giang, sau đó sẽ đến làm việc ở đội hai, phân khu bốn. Vâng! Không biết trước năm giờ chiều liệu có thể quay trở lại trung tâm huyện không ạ?”. Nhiếp Phong vội vã hỏi.
“Có thể, cách có hơn chục cây số thôi anh ạ”, cô gái đáp.
Cô Dương còn hướng dẫn cho Nhiếp Phong, trên đường có thể bắt xe bus cỡ nhỏ, rất thuận tiện.
“Chỉ cần anh bảo người lái xe là đến đội hai, phân khu bốn là người ta sẽ đưa anh tới nơi”. Tại đó anh cứ gặp trực tiếp đội trưởng đội sản xuất họ Hỷ.
"Vâng, rất cảm ơn chị". Nhiếp Phong trong lòng mừng thầm.
Lúc này trời xanh, mây trắng. Ngoài cửa kính hiện ra rừng trúc xanh tốt rậm rạp, rừng trúc ở Vân Nam cao và dày hơm hẳn ở Tứ Xuyên, chí ít cũng phải cao tới căn nhà ba, bốn tầng.
Mười một rưỡi, xe đến Mang Tây.
Qua Mang Tây, lại đi vào đường núi.
Cuối cùng xe cũng xuống bến xe khách huyện Lam Giang. Bây giờ đã là một rưỡi chiều.
Trước tiên để chắc chắn anh hỏi vé chiều quay về, họ nói vé xe bus chuyến lúc bảy giờ tối đã bán hết vé, chỉ còn lại một vé chuyến lúc bốn rưỡi chiều. Do thời gian quá gấp, Nhiếp Phong không dám đi chuyến đó. Huyện Lam Giang rất nghèo song trên đường phố xe chạy thuê lại rất nhiều, hơn nữa lái xe là nữ giới chiếm số lượng không nhỏ. Để tranh thủ thời gian Nhiếp Phong bỏ bữa trưa, anh thuê một chiếc xe taxi, trên xe không lắp đồng hồ tính cước, chạy trong nội thị vé đồng loạt năm tệ. Trên đường cái đỗ vài chiếc xe Mi- anbao cỡ nhỏ, hỏi lái xe họ đều trả lời không biết vị trí chính xác của đội hai. Thời gian quá gấp, Nhiếp Phong gọi một chiếc taxi Iieli màu xanh nhạt mặc cả giá tiền cả đi lẫn về bảy mươi tệ, theo người lái xe đoạn đường đó đường đã gập ghềnh rất khó đi.
Tài xế cũng là rnộr cô gái mắt một mí, áo phông cổ tròn, nom rất trẻ trung, trước cửa xe treo một con gấu bông nhỏ. Nghe thấy Nhiếp Phong muốn đi đội hai phân khu bốn, cô tài xế cảm thán: “Năm đó có mười bảy thanh niên trí thức bị lửa thiêu chết ở đấy!”.
Nhiếp Phong cải chính: “Mười người chết và bảy người bị thương”.
Có thể nhận ra tấm thảm kịch đó tác động thật mạnh, hai mươi tám năm sau vẫn có người còn nhắc đến nó.
Chiếc xe lăn bánh về hướng tây, chạy qua một đoạn đường xi măng, qua một cây cầu bắc ngang dòng Lam Giang. Không lâu sau đến đường quốc lộ Thạch Đầu, mặt đường lởm chởm, chỗ nào cũng có đá răm. Xe chạy thêm một đoạn bốn bánh xe nhuốm đầy bùn đất. Nữ tài xế đánh xe vào ven đường, cô nói gia đình mình trước kia cũng ở phân khu bốn, bố mẹ đều làm công nhân nông trường, nhưng cũng đã lâu lắm rồi có không đi qua đội hai. Cô mở máy di dộng gọi cho một người quen hỏi đến đoạn nào thì rẽ, sau đó lại hỏi nơi đặt mười ngôi mộ nữ thanh niên trí thức, người kia nói “nằm ven đường cái”.
Hai bên quốc lộ Thạch Đầu là con đập Lam Giang khá rộng, phía trên đập là ruộng lúa, rừng trúc và vườn mía, xa xa một chút là núi xanh thẫm mây trắng bồng bềnh bay. Cô tài xế nói, đất trồng trên con đập là của nông dân địa phương, đất phù sa rất màu mỡ. Đất của nông trường đều nằm trên núi, năm đó được thanh niên trí thức khai hoang mới tạo thành, nghe bố mẹ có kể lại thời kỳ ấy vô cùng khổ cực.
Lúc này mặt trời đã lên cao, chiếu ánh nắng gay gắt, ngồi trong xe như ngồi trong lò rang. Đi khoảng bảy, tám kilômét chiếc xe rẽ vào một lối nhỏ bên phải. Đường rất hẹp, chỉ xe nhỏ mới có thể đi lọt, hai bên đường cây dại mọc chên chúc, những cánh hoa màu đỏ tía nở rộ trong đám cỏ, có nét gì đó thật đặc biệt.
Cô lái xe nói: “Nơi này gọi là Mã Anh Đơn (cây dạ hợp), đây cũng chính là tên loài cây được trồng ven đường để làm hàng rào’’.
Nhiếp Phong hỏi cô: “Làm thế nào để đến được chỗ có rừng cao su”.
Cô lái xe đưa tay chỉ về phía xa: “Rừng cao su nằm ở đằng sau cánh rừng nguyên sinh phía đằng kia”.
Phía trước có ba người dân địa phương đang đi đến, hai già một trẻ. Chiếc xe tiến lại gần rồi dừng lại. Nữ tài xế hỏi họ đường đi.
Người trẻ tuổi trả lời: “Anh chị đi sai đường rồi, đây không phải là đội hai, phải rẽ lối phía trước mặt”.
Chiếc xe quay đầu trở lại quốc lộ Thạch Đầu tiếp tục đi về phía trước, qua cây cầu nhỏ bằng xi măng, người nữ lái xe nghĩ ra điều gì đó, càng đi vào sâu càng cảm thấy lối rẽ vừa rồi không phải qua cây cầu nhỏ, hỏi mấy người phụ nữ đang lao động bên đường mới nhận ra lại đi sai lối. Xe vòng trở lại lối rẽ vừa rồi, đi sâu vào trong mất mười phút rồi đánh tay lái rẽ sang bên trái, đó là một sườn núi dốc dựng đứng, một người đàn ông cởi trần, da đỏ au đang chẻ củi, cô lái xe hỏi anh ta bằng giọng Vân Nam “'Đi lối này có đến đội hai không?”. Người đàn ông gật đầu.
Xe lắc lư tiến về phía trước, hai bên đường toàn là màu đất đỏ bazan. Nhiếp Phong trầm ngâm không lên tiếng. Anh suy nghĩ về những lời đề từ trên tấm lụa ở khu kỷ niệm thanh niên trí thức Thành Đô. Những lời gan ruột thành kính mà mọi người viết ra. Đó chính là mảnh đất này.
"... Đã từng nguyền rủa, càng khó quên hồi ức.
Mãi mãi không quên những cây cao su!”.
“Thời thanh xuân không hối hận nhưng sao cái giá phải trả lại lớn quá”
Chiếc xe tiếp tục leo lên dốc.
“Sắp đến đội hai rồi anh! Nó nằm phía sau ngọn núi Lam Tước Lĩnh” này”. Cô lái xe nói.
"Lam Tước Lĩnh, cái tên thật là đẹp...”.
Xe lại lao về phía trước, thấp thoáng bóng người trên đường đi qua, vài ngôi nhà tường đất, mái ngói xanh nằm rải rác hai bên đường, mấy người địa phương ngồi trước cửa nhà nhìn xe chạy qua bằng con mắt hiếu kỳ. Cô lái xe bảo: “Họ đều là nông dân song cuộc sống còn khá hơn rất nhiều so với công nhân của nông trường”.
Chiếc xe nhích cùng bước trên con dốc nghiêng, đến một lối rẽ khác cô lái xe dừng hẳn lại để Nhiếp Phong bước xuống, rồi đánh xe quay đầu lại.
“Phía trước xe không vào được”. Cô nói.
Hai người để xe lại rồi đi bộ khoảng hơn mười mét thì nhìn thấy một cây đa cổ thụ cao vút chọc trời, vòng gốc cây bốn, năm người ôm không xuể, người địa phương còn gọi đó là cây đại thanh, cô lái xe đi trước dẫn đường. Nhiếp Phong bám ngay đằng sau. Phía sau cây đa là một con đường nhỏ uốn lượn gấp khúc. Vài ngôi nhà gạch cũ kỹ bám sát lưng chừng đồi, mái hiên rất rộng tường ngoài phơi mấy bộ quần áo lao động. Trước và sau nhà trồng mấy cây gỗ tạp, gốc tre và chuối tiêu, nghe bước chân người lạ, mấy con chó nhà sủa lên ăng ẳng.
Bên ngoài hàng ràng tre bao quanh ngôi nhà, hai người gặp một ông lão mặc áo lam dân tộc, họ bước lên cất lời chào. Ông lão dáng người gầy gò thấp nhỏ mắt bên trái hơi lòa, khuôn mặt nhăn nheo đầy vết chân chim song thái độ rất hồ hởi mến khách.
Nhiếp Phong nói rõ ý định đến đây, ông lão bảo đội trưởng Hỷ không có nhà, tuy nhiên ông đồng ý dẫn anh đi thăm mười ngôi mộ nữ thanh niên trí thức.
“Mười ngôi mộ đó nằm trên Lam Tước Lĩnh”.
Khi anh hỏi hiện nay trong đội còn ai năm đó làm công nhân ở đây.
Ông lão trả lời: “Còn ông Phó".
Ông lão họ Lý vốn là công nhân ở đây song ngày thứ hai sau khi xảy ra vụ hoả hoạn kinh hoàng ông mới về đại đội hai công tác. Nguời biết rõ nhất về vụ cháy hôm đó là ông Phó.
“Cậu cứ đợi một lát là có thể gặp được ông ấy".
“Vâng ạ!”.
Ông Lý dẫn họ ra khỏi thôn rồi đi theo một lối mòn nhỏ, cả đại đội hai đều nằm bên sườn núi, sâu vào bên trong là một ngọn núi cao. Do trời vừa mưa nên chân mọi người bê bết bùn đất. Chưa đi được bao xa đôi giày thể thao của Nhiếp Phong đã bám đầy bùn nhão nặng trình trịch, bên đường các bông hoa dạ hợp khoe sắc màu đỏ tía, trông giống như những giọt máu nhỏ vương vãi. Trên đường đi họ gặp một ông già đang dắt trâu, ông già nhường đường cho họ. Hai bên đường trồng đầy tre trúc, chuối tiêu và mấy bụi mía cao hơn đầu người, men theo con đường núi quanh co đi bộ khoảng hơn mười phút, ông Lý đột nhiên dừng bước. Bên trái con đường nhỏ là đám cây dại um tùm và vài cây cao su thưa thớt. Sườn dốc bên phải là vườn mía non cao chưa quá đỉnh đầu.
Ông lão chỉ tay về phía vườn mía nói: “Trong này là Lam Tước Lĩnh”.
Nhiếp Phong và cô lái xe cảm thấy kỳ lạ, phía trước mắt họ ngoài đám mía ken dày đặc không còn gì khác.
Không đợi họ hỏi ông Lý dùng tay gạt đám mía sang hai bên lấy đường đi, hai người bám theo leo lên sườn dốc, lá mía sắc nhọn cứa vào tay vào da mặt ran rát, leo lên phía trên khoảng mười mét chui qua vườn mía, phía trước mặt là đám lau lách cỏ dại cao nửa chân người.
“Chính là chỗ này”. Ông Lý nói.
Nhìn kỹ trong đám cỏ lộ ra một phiến đá nhuốm màu thời gian. Nhiếp Phong cẩn thận dùng tay gạt đám cỏ dại sang một bên, đó là tấm bia mộ khắc dòng chữ đã mờ nhưng vẫn còn đọc được, “Mộ Đồng chí Vạn Tiểu Dung”. Anh lại nhẹ nhàng vạt đám cỏ bên cạnh, một tấm bia màu hồng nhạt hiện ra trên đó có sáu chữ sơn màu trắng nét còn khá mới “Mộ Đồng chí Chung Hạnh”, bên phải là hàng chữ nhỏ ghi vắn tắt ngày tháng người chết tử nạn, trên đỉnh là một ngôi sao năm cánh màu đỏ, một khoảng trống nhỏ trước tấm bia còn vương vãi dấu tích nhúm tro vàng mã được đốt, sát liền kề là nhiều tấm bia mộ khác nhau xếp một dãy dài bị cỏ dại phủ kín.
Nhiếp Phong đứng lặng người, anh cảm thấy vô cùng xúc động.
Trên đường đến Lam Giang anh đã từng tưởng tượng cảnh mình sẽ viếng mộ như thế nào.
Hoặc là dưới ráng chiều đỏ bầm màu máu, hoặc là trong cơn mưa nặng hạt, những hạt mưa như roi quất vào da mặt buốt lạnh...
Nhưng anh không hề nghĩ rằng mười ngôi mộ thanh niên trí thức gặp nạn lại lạnh lẽo hoang tàn đến vậy, tất cả đều bị cỏ dại phủ kín.
Mười ngôi mộ nằm sát bên nhau thẳng hàng, Nhiếp Phong đứng lên phía trước anh lặng lẽ cúi đầu tưởng niệm.
Bốn phía cỏ dại mọc um tùm, đằng sau là rừng cây hạnh, mùa hoa nở đã sớm đi qua.
Nhiếp Phong thấy mắt mình nhòe đi, dường như anh cảm nhận được tiếng đàn acmonica vượt qua không gian, vượt qua thời gian du dương vọng đến.
Đó là khúc ca bi ai Mưa hoa hạnh...
Anh ngẩng đầu lên, mặt trời đang xuống thấp, khuất sau những rặng núi, anh chợt nhận ra tất cả mười ngôi mộ đều quay đầu về hướng đông bắc. Đó là hướng quê nhà Thành Đô! Có lẽ đây cũng là tâm nguyện cuối cùng của mười nữ thanh niên trí thức trước khi nhắm mắt.
Nhiếp Phong đứng lên bậc đá, chụp mấy bức ảnh làm tư liệu.
Có thể do một ngày vất vả dưới cái nóng oi bức, cũng có thể do tình cảm bị kích động quá mạnh Nhiếp Phong cảm thấy cơ thể mỏi rã rời, anh nhếch nhác buông người ngồi phịch xuống đám cỏ dại. Ồng Lý khẽ nhắc nhở “Cẩn thận kẻo vắt nó đốt đấy!”.
Ồng Lý nói cho Nhiếp Phong biết những năm qua đều có những người từng trải qua thời kỳ thanh niên trí thức đến đây thăm mộ, trước khi đến họ đều thông báo cho nông trường do đó nông trường có sự chuẩn bị cho người dọn sạch cỏ dại xung quanh. Lần này Nhiếp Phong đến đây đột xuất nên được chứng kiến những gì chân thực nhất.
Mười linh hồn trinh nguyên lặng lẽ an nghỉ trong đám cỏ dại nơi miền sơn cước. Đột nhiên Nhiếp Phong có một cảm giác kỳ lạ, khi anh rẽ đám cỏ, anh tưởng như mình đang rẽ những mái tóc dài xanh mướt để lộ ra những khuôn mặt thanh xuân tạc trên nền đá trắng.
Họ mới chỉ là những thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi, tuổi xuân đang còn phơi phới thật trẻ trung, thật xinh đẹp. Mười người giống như những nụ hoa hạnh mong manh, rực rỡ trong tiết tháng ba chưa đến khi tàn thì đã bị giật tung khỏi cành lá.
Những thiếu nữ thành thị bằng tuổi họ năm xưa giờ vẫn còn nằm trong vòng tay ôm ấp của gia đình và xã hội. Họ ăn hamburger, đi giày Nike, sùng bái các ngôi sao ca nhạc, điện ảnh, phát cuồng lên vì những thứ không đâu, ngày ngày lên mạng chat với các “Bạch mã hoàng tử”... Họ liệu có biết những thiếu nữ thanh niên trí thức cũng tầm tuổi như họ năm xưa đã phải gánh chịu những chuyện bi thảm như thế này chăng...
Không, có lẽ họ không vô tâm đến vậy đâu, hãy nghe những gì họ đã nói: “Con đã xem triển lãm, không thể quên rừng cao su xanh xanh, hạt cà phê tim tím. Con là thế hệ sau của thanh niên trí thức, con ngưỡng mộ tuổi thanh xuân của bố mẹ mình.”
Bất giác khóe mắt Nhiếp Phong nhòe lệ, phía sau lưng anh là rừng cao su được trồng bởi máu và nước mắt của thanh niên trí thức. Cho đến hôm nay chỉ còn sót lại vài cây đơn lẻ, thân cây với những vết sẹo chằng chịt ứa ra dòng nhựa trắng nhỏ xuống chiếc bát hứng phía dưới.
Ông Lý nói rằng: “Vài năm trước mỗi cây mỗi ngày cũng cho được cân rưỡi mủ, hiện nay chỉ còn thu được có nửa cân thôi”.
Xem ra cây cũng giống như người, hai mươi tám năm nhỏ nước mắt, giờ sắp cạn khô mất rồi.
Nhiếp Phong cùng ông Lý và cô lái xe quay trở về nhà ông nghỉ ngơi.
Đó là một ngôi nhà mái tranh, tường bằng gạch.
Họ ngồi xuống ghế cùng nhau trò chuyện, phía trước mặt là chiếc bàn gỗ. Bà vợ ông lão mặc chiếc áo cánh màu phấn hồng, mái tóc bạc trắng. Bà nhiệt tình mang trà ra mời Nhiếp Phong và cô lái xe, loại trà này do nhà tự làm, được sao trong chảo gang mùi vị của nó giống như trà Thiết Quan Âm.
Ông Lý thân chinh đi mời ông Phó, đi một lúc quay về bảo: “Ông ấy không có nhà, chắc lại chạy đâu đó rồi”.
Bà vợ nói: “Vừa xong tôi còn nhìn thấy ông ấy mà”.
Đây là người công nhân lão thành của đại đội hai, là người duy nhất còn lại ở đây chứng kiến từ đầu chí cuối vụ hỏa hoạn, rất có thể cũng là nhân chứng quan trọng của vụ kỳ án trước kia. Nhiếp Phong khẩn khoản cậy nhờ, ông Lý lại đi tìm lần nữa, lần này về cũng nói “Không có nhà”.
Nhiếp Phong thấp thỏm chờ đợi, bỗng nhiên một bà già dáng người béo tròn chạy ào đến, vừa chạy vừa lớn tiếng: “Trước kia thì chẳng điều tra, bây giờ còn muốn điều tra cái gì nữa?”.
Bà già béo mặc chiếc áo ba lỗ, tai đeo khuyên vâng, hỏi ra mới hay bà là vợ ông Phó.
Nhiếp Phong giải thích mình là phóng viên của tạp chí “Tây Bộ Dương Quang” lần này về đây không phải là điều tra gì cả, chỉ muốn được trò chuyện với ông Phó. Nhắc đến vụ hoả hoạn khủng khiếp năm xưa bà Phó nói lúc ấy cũng biết, có tất cả tám căn nhà tranh thì lửa thiêu trụi mất bốn căn, những căn còn lại sau này bà đã sửa lại cho các con của mình ở. Nhiếp Phong đề cập đến nội dung bài viết mà anh từng đọc đuợc, có một người công nhân lớn tuổi nhìn thấy có lửa xanh bốc lên, ông nghi ngờ đó là lửa cháy mỡ động vật.
Bà gật đầu: “Đó là ông Đống, hiện ông ấy không còn ở đây nữa”.
Nhiếp Phong lại hỏi một điểm mấu chốt khác, sau khi lửa tắt có người nhìn thấy gian nhà thứ ba cửa bằng tre bị buộc chặt bằng dày thép nên không mở được. Bà không hề phản đối còn bổ sung thêm: “Cũng giống như buộc cái cửa này này".
Bà chỉ tay vào cánh cửa nhà ông Lý, Nhiếp Phong phát hiện cảnh cửa đó được buộc bằng búi dây thép rất to rối rắm khó gỡ.
Cô lái xe hỏi bà Phó những người bị chết cháy trông như thế nào, khuôn mặt bà trở nên khó coi, bà dùng tay khoanh một vòng: “Bị cháy đen co rút hết cả!”.
Theo yêu cầu của Nhiếp Phong, ông Lý và bà Phó dẫn anh đến hiện trường hỏa hoạn năm xưa. Đó là một khoảnh đất cỏ dại mọc um tùm, ước chừng hơn trăm mét vuông. Căn nhà gạch nằm sát bên giờ là nhà của ông bà Phó. Gần ba mươi năm nay nơi này chẳng có ai đến dựng thêm nhà.
Trong lòng Nhiếp Phong đầy mối suy tư, anh lấy máy ảnh ra chụp lấy vài kiểu, cáo biệt những người dân hiếu khách có gì đó lưu luyến không rời. Bà Lý gói cho anh một bọc trà lớn.
Khi Nhiếp Phong và cô lái xe xuống núi, vừa đến nút đường có cây đa cổ thụ họ bất ngờ gặp một ông già ngồi dưới bóng đa râm mát. Ông mặc chiếc áo màu tro, khuôn mặt chằng chịt những vết chân chim, khiến người ta liên tưởng đến bức họa “Người cha” của La Trung.
“Anh là nhà báo hả?”.
Nhiếp Phong mừng rỡ: “Vâng ạ! Bác là bác Phó?”.
“Bà nhà tôi không cho tôi nhắc lại chuyện đó”. Ông già móm mém cười.
Thì ra là ông cố ý ngồi ở đây để đợi Nhiếp Phong.
Nhiếp Phong cũng ngồi phệt xuống đất sát bên cạnh ông để trò chuyện.
Trong cái đêm hỏa hoạn kinh hoàng đó ông Phó luôn có mặt ở hiện trường để cứu người và tài sản. Nhiếp Phong lắng tai nghe không bỏ sót bất cứ chi tiết nào dù là nhỏ nhất.
Vào giờ khắc cuối cùng, theo lời ông già nhiệt tâm kể lại, sau khi Chung Hạnh và những nữ thanh niên trí thức cùng ở trong gian nhà tranh thứ ba bị lửa thiêu sống, người ta phát hiện trên khung cửa đã cháy thành than những mẩu dày thép còng queo. Không hoàn toàn giống như trong bài viết mà Nhiếp Phong đã đọc mười thiếu nữ ôm lấy nhau cùng chết cháy. Ông Phó là người trực tiếp đi thu nhặt tử thi. Trên thực tế thì có tám cô gái ôm chặt lấy nhau, hai người còn lại nằm trên bậu cửa. Rõ ràng hai người đó đang cố gắng để mở cửa. Căn cứ vào chiều cao và hình dạng còn sót lại người thấp hơn một chút là Chung Hạnh, người kia là Vạn Tiểu Dung. Theo lời của những nữ thanh niên may mắn sống sót, khi còn sống trên khuôn mặt của cô gái họ Vạn có nốt ruồi lớn. Trên chuyến tàu hành quân đến Lam Giang cô Vạn còn nói với người ngồi bên cạnh là Hạ Vũ Hồng: “Nốt ruồi của mình tẩy hết cả, chỉ duy cái nốt ruồi ở lông mày thì không được tẩy. Đó là nốt ruồi son, nốt ruồi tiền đồ của mình", thế nhưng cho dù có cố giữ nốt ruồi đó cô gái vẫn không thoát được cái số yểu mệnh của mình.
Ông Phó còn kể với Nhiếp Phong, hai giờ trước khi vụ hỏa hoạn xảy ra, trong đêm khuya thanh vắng ông đang ở trong phòng thì nghe thấy có tiếng gõ cửa gian nhà bên cạnh để gọi Chung Hạnh ra ngoài, nói là có chuyện gấp tìm cô. Trong gian nhà tranh thứ ba nổi lên tiếng rì rầm hoảng loạn, tiếng dây thép xiết chặt vào cửa, nhiều tiếng kêu của nữ thanh niên trí thức “Tên phỉ mặt cười đến rồi!". Ông Phó ngó đầu ra ngoài cửa sổ. Trong bóng tối lờ mờ một dáng người giống như đại đội trưởng với cái lưng ngắn củn.
Cửa vẫn đóng chặt, người đàn ông đó buột miệng chửi thề: “Con mẹ nó chứ!” rồi hậm hực bỏ đi.
Đúng là đi vẹt giầy sắt cuối cùng cũng bõ công.
Nhiếp Phong lấy trong chiếc túi vải màu trắng đeo bên mình một cuốn tạp chí "Tây Bộ Dương Quang” kính cẩn mời ông già xem qua. Trên bìa tạp chí in hình Hồ Quốc Hào một cách rõ nét.
“Cũng có nét giống, đặc biệt là cái mũi, còn cả đôi mắt chuột nhỏ mà tròn nữa”. Ồng phó rít một hơi thuốc sâu kèn rồi nói.
Nhiếp Phong lại đem ra một bức ảnh khác khá cũ, đây là bức ảnh chụp Hồ Quốc Hào mặc bộ đồ vải siu đăng trên báo chỉ Hải Nam đã lâu.
“A, đúng là nó, đại đội trưởng Hồ Tử Hạo”.
“Bác nói ông ta là Hồ Tử Hạo”.
Nhiếp Phong cực kỳ phấn kích.
Thì ra Hồ Quốc Hào vốn có tên là Hồ Tử Hạo năm đó giữ chức đại đội trưởng đại đội hai.
Nhiếp Phong hỏi ông Phó vì sao anh có hỏi vài người họ đều trả lời không thấy nghe nói về chuyện chiếc dây thép buộc cửa.
“Là do đại đội trưởng Hồ không cho mọi người có mặt ở hiện trường nói ra”.
“Sao lại thế được”.
“Ở đại đội hai Hồ Tử Hạo là một tên chúa đất, đám thanh niên trí thức đặt cho ông ta cái biệt hiệu ‘Tên phỉ mặt cười’”.
Ông Phó kể hết những việc xấu xa mà Hồ Tử Hạo đã làm, tất cả những việc đó người trong đại đội đều biết tường tận. Đã có không biết bao nhiêu thiếu nữ xinh đẹp trong đại đội bị hắn cưỡng bức làm hại, chỉ có những người dung mạo xấu xí mới may mắn thoát khỏi bàn tay hắn. Hồ Tử Hạo giở trò cố ý bố trí nữ thanh niên trí thức mà hắn để mắt rồi đứng gác một mình, đợi đêm xuống hắn lấy xe đạp đi một vòng nói là để kiểm tra gác, thừa cơ hội dùng sức mạnh hãm hiếp người ta. Hắn còn thưòng xuyên lấy cớ điểm danh, trong đêm tối mò vào các gian nhà có nữ thanh niên trí thức ngủ lật màn thò tay vào sờ soạng lung tung, khiến đám thiếu nữ sợ hãi không dám kêu la. Hắn còn có sở thích quái dị, trước mặt đông người động chân động tay với nữ thanh niên trí thức, sau đó còn mặt dày vô sỉ tuyên bố: “Có như vậy mới tiêu trừ sự ngăn cách về tư tưởng khiến mọi người thân thiết như một nhà, tạo thuận lợi cho công tác”.
Đại đội hai vốn là một đại đội tiên tiến. Nhưng do Hồ Tử Hạo làm xằng làm bậy khiến lòng người hoang mang. Có nữ thanh niên tri thức nửa đêm nghe tiếng chuột chạy cũng ngỡ tiếng bước chân Hồ Tử Hạo, giật mình kinh hãi la toáng lên.
“Bác có biết người có tên là Hồng Diệc Minh không ạ?”. Nhiếp Phong hỏi ông Phó về người bạn chí cốt luôn ở bên Hồ Quốc Hào ngay cả khi sống và chết.
Ồng Phó hỏi lại: “Nhà báo cũng biết người này hả?”.
“Cháu đã từng gặp”.
“Ông ta là chính trị viên đại đội hai, đồng hương của Hồ Tử Hạo”.
“Thì ra là vậy...”. Nhiếp Phong đã lờ mờ hiểu ra tất cả.
Anh tiếp tục hổi ông Phó về tình hình sau đó của Hồ Tử Hạo.
Theo lời ông Phó kể sau này toàn bộ sự việc cán bộ binh đoàn làm nhục các nữ thanh niên trí thức bị bại lộ. Nghe nói đích thân thủ tướng Chu Ân Lai giám sát việc điều tra. Mười mấy quân nhân đại đội mười tám trung đoàn mười sáu sư đoàn bốn huyện Hà Khẩu bị tuyên án tù. Bảy tội phạm trong đó có ba tên bị xử tử hình, hai tên án tử chờ thi hành, hai tên tù chung thân, thuộc sư đoàn một huyện Cảnh Hồng. Thanh niên trí thức đại đội hai đứng lên tố cáo Hồ Tử Hạo khiến hắn bị bãi miễn mọi chức vụ chờ thẩm tra. Sau khi nghe tin tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn độc lập thuộc sư đoàn một giả..., đại đội trưởng đại đội một Trương bị xử bắn, Hồ Tử Hạo dự cảm số phận của mình cũng sẽ như vậy ngay đêm hôm đó hắn tìm cách trốn qua biên giới, đào tẩu sang đất Myanmar. Căn cứ vào những tội ác do thanh niên trí thức tố cáo nếu bị đưa ra xét xử Hồ Tử Hạo ít nhất cũng lãnh án tử chờ ngày thi hành. Người báo án này cho hắn chính là chính trị viên đại đội Hồng Diệc Minh. Ông ta và Hồ Tử Hạo vừa là đồng hương vừa là chiến hữu, trong chiến tranh đã có lần Hồ Tử Hạo cứu ông ta thoát chết.
Hồng Diệc Minh do làm việc này nên cũng bị xử lý điều chuyển công tác đến địa phương khác. Mãi đến sau này thanh niên trí thức đại đội hai mới biết được anh trai của "cô em ngốc” Đinh Lam, Cường Tử mất tích hai năm về trước cũng là do bị hai tên Hồ Tử Hạo và Hồng Diệc Minh ám hại.
Tất cả mọi việc đều trở nên rõ ràng.
Ông Phó còn nói cho Nhiếp Phong biết. Sau khi vụ hỏa hoạn xảy ra tiếng kêu khóc gào thét vang vọng khắp nơi. Anh trai Hạnh Nhi, Hắc Oa đang bị điều đi gác ở bên ngoài thôn nhìn thấy lửa cháy ngút trời hướng Lam Tước Lĩnh, một nửa khoảng trời rực cháy. Anh biết đã xảy ra chuyện vội vàng chạy trở về đại đội. Nhưng khi chạy đến nơi gian nhà tranh thứ ba nơi Hạnh Nhi ở đã trở thành đống tro tàn chỉ còn những ngọn lửa xanh leo lét khét lẹt. Hác Oa sững sờ đứng như tượng gỗ, đôi môi mím chặt muốn khóc mà không có giọt nước mắt nào trào ra. Anh liều mạng xông đến đống tro tàn quỳ xuống hai tay cào bới tìm kiếm trong đống tro leo lét chỉ còn lại chiếc đàn acmonica cháy đen...
Chia tay ông Phó dưới tán lá cây đa tỏa bóng râm mát, ông già nói với Nhiếp Phong, mấy ngày trước có một người đàn ông trung niên lạ mặt đến mặc niệm trước các ngôi mộ, còn mang đồ cúng vào động Sư Tử nằm trong núi để làm lễ tế vong, nghe ông già tả lại hình dáng người đó thì đúng là Chung Đào.
Nhiếp Phong ngẩng đầu lên nhìn trời xanh, trong lòng anh như có hàng vạn cơn sóng vỗ.
Bên tai dường như vọng lại tiếng gào thét uất hận gào xé tâm can.
Mọi thứ đều có thể quên đi
Duy có mối tình đầu ở Vân Nam
Tình yêu của tôi, huyết hải thâm thù của tôi
Tên phỉ mặt cười cho dù ngươi có chạy đến chân trời góc bể
Ta nhất định sẽ tìm thấy ngươi.
Chương 12
HỒN ĐOẠN LAM TƯỚC LĨNH
Sườn núi Lam Tước Lĩnh, Chung Đào dọn đám cỏ dại xung quanh, tấm bia mộ Chung Hạnh dần dần hiện ra trước mắt anh.
Hai mươi tám năm về trước, cũng vào mùa hoa hạnh nở đẹp rực rỡ, tất cả mọi việc như mới vừa xảy ra ngày hôm qua.
Màu phấn hồng của những cành hoa hạnh nở rộ đầu cành nhuộm kín cả một vạt núi Lam Tước Lĩnh. Cơn gió mạnh thổi qua, dưới ánh nắng mặt trời sắc hoa biến thành màu hồng thắm bay bay trong gió rồi rơi là tả xuống đất, cả bầu trời rợp đầy sắc hoa vần vũ.
“A! Mưa hoa hạnh, mưa hoa hạnh”.
Những chàng trai, cô gái căng đầy nhựa sống tuổi xuân, đẹp như những bông hoa hạnh. Trong vất vả gian lao họ luôn thắp lên ngọn lửa hy vọng về một ngày mai tươi sáng, cũng giống như bài hát Bài ca thanh niên tri thức mà họ đang hát, réo rắt, réo rắt lay động lòng người... Mỗi khi mọi người cất lên tiếng ca bài hát đó Chung Hạnh lại lấy chiếc kèn acmonica ra đệm. Hai tay cô giữ chặt chiếc kèn màu hồng thổi một cách say sưa, đôi mắt nai tơ xinh đẹp ngước nhìn rừng hoa hạnh mọc đầy bên sườn núi.
Vẻ ngây thơ trong trắng của cô như vẫn còn lẩn quất đâu đây...
Chung Đào quỳ xuống trước tấm bia, anh bật lửa châm nến, đốt tiền vàng, những ngọn lửa màu vàng nhạt cuộn lên nhảy múa trong gió.
Xen lẫn trong đó là ngọn lửa màu xanh ma quái ẩn hiện giống như cơn ác mộng đeo đẳng mãi không thôi, hai mươi tám năm nay ngọn lửa đó luôn hiện hữu thiêu cháy lòng anh.
Chung Đào thả từng tờ tiền vàng vào trong lửa, lửa cháy bập bùng khiến khuôn mặt anh trở lên hồng rực.
Khóe mắt Chung Đào ứa lệ, giọng anh thầm thì như muốn nói vào lòng đất: “Hạnh Nhi, anh đến thăm em đây. mối hận và nỗi nhục của hai mươi tám năm về trước anh đã thay em và Vũ Hồng trả hết rồi".
Một vòng khói lam theo tàn giấy tan dần vào trong không trung.
“Bây giờ ern có thể yên tâm mà nhắm mắt".
Chung Đào ngắm nhìn ngôi sao màu đỏ trên tấm bia.
Cho đến tận hôm nay anh cũng không dám nghĩ rằng buổi chiều của hai mươi tám năm về trước, một tội ác khủng khiếp đã xảy ra trong cánh rừng cao su, con quỷ đội lốt người trong bộ quân phục màu xanh đã làm vấy bẩn mối tình đầu, mối tình lớn nhất của anh, hủy hoại hạnh phúc của cả đời anh.
Ngày hôm đó Hạnh Nhi bị điều đi cạo mủ ở cánh rừng xa nhất đằng sau núi Lam Tước Lĩnh. Hồ Tử Hạo từ lâu đã thèm khát Chung Hạnh hắn đã tạo ra cơ hội để cưỡng bức cô. Với thủ đoạn bỉ ổi này hắn đã từng cướp mất đời con gái của bảy, tám thiếu nữ trong đại đội. Nhìn thấy con sói đói Hồ Tử Hạo, Chung Hạnh vội vã vứt bỏ thùng đựng mủ cao su bỏ chạy. Thú tính nổi lên, Hồ Tử Hạo đuổi theo cô, chỉ một vài bước chân hắn đã ôm được Chung Hạnh vật cô xuống đất, bàn tay bẩn thỉu bật tung cúc quần rồi lần vào quần lót của cô, Chung Hạnh liều mạng cố vẫy vùng miệng gào thét vang núi.
Đúng lúc ấy Hạ Vũ Hồng đang trên đường thu mủ cao su nghe thấy tiếng kêu thất thanh của Chung Hạnh liền chạy vội tới, chứng kiến cảnh tượng đó cô thét lên hù dọa Hồ Tử Hạo.
Hồ Tử Hạo mặt dày vò sỉ đuổi cô: “Không phải việc của mày, mau cút đi".
Hạnh Nhi thảm thiết cầu xin: "Chị Hồng ơi cứu em với”.
Hạ Vũ Hồng can đảm dùng hết sức lực giằng Hồ Tử Hạo ra tạo cơ hội cho Hạnh Nhi chạy thoát.
“Ông không được hại nó, nó vẫn còn là một đứa trẻ”. Hạ Vũ Hồng van xin Hồ Tử Hạo, mặt khác cô quay đầu về phía Chung Hạnh quát lên. “Hạnh Nhi, mau chạy đi!”.
Chung Hạnh giống như một con hươu non hoảng sợ, cô run lẩy bẩy không nhấc nổi chân.
“Đừng lo cho chị, chạy đi! Nhanh lên!".
Chung Hạnh mặt trắng bệch, thất thần lao một mạch xuống núi
“Cũng được, cô em thay Chung Hạnh vậy nhé!”. Hồ Tử Hạo chuyển từ bực bội sang mừng rỡ, đôi mắt nhỏ của gã lóe lên tia nhìn thèm khát.
Hạ Vũ Hồng nhận ra nguy hiểm đang sát kề bên mình, cô sợ hãi lùi về phía sau.
Hồ Tử Hạo nở nụ cười dâm đãng từ từ tiến lại gần thò một tay túm lấy Hạ Vũ Hồng, tay kia bịt miệng cô mồm còn thốt lên những câu hạ lưu: “Không ngờ cô em xinh tươi non tơ lại tự đưa đến tận cửa! Hôm nay ta có thể thưởng thức được cô em rồi... Ha ha”.
Hạ Vũ Hồng dùng hết sức lực chống cự, Hồ Tử Hạo ghé sát cái mồm hôi hám hôn cô, đầu lưỡi của hắn xộc thẳng vào miệng cô. Cô nghiến mạnh răng cắn vào cái lưỡi, máu mồm hắn ứa ra. Cơn điên nổi lên, Hồ Tử Hạo rút khẩu súng lục đeo bên hông đập mạnh vào đầu Hạ Vũ Hồng, cô ngất lịm đi không còn biết gì nữa...
Hạnh Nhi chạy về đại đội, cô kể cho anh trai câu được câu mất trong tiếng nấc nghẹn ngào. Hắc Oa và Cường Tử vội vàng vớ lấy mấy cây gậy gỗ lao nhanh lên núi cứu Hạ Vũ Hồng. Nhung khi họ đến nơi mọi việc đã quá muộn, Hồ Tử Hạo biến mất không để lại dấu tích, Hạ Vũ Hồng nằm bất tỉnh dưới gốc cây cao su, phía thân dưới nhuộm đỏ máu, dưới đất chỉ còn vài giọt máu tím đen vương vãi.
Hắc Oa bật khóc, anh cõng Hạ Vũ Hồng về phòng y tế của đại đội, lúc này cô mới hồi tỉnh trở lại.
Hạ Vũ Hồng bị thương rất nặng, sau khi tỉnh lại cô khóc rấm rứt.
Không hiểu rõ mọi chuyện Hắc Oa còn gào lên trách móc cô: “Tại sao? Tại sao lúc đó em không chống lại? Tại sao hả?”.
Hạ Vũ Hồng lặng người không nói khuôn mặt trắng bệch của cô hằn lên vết đau khổ và bị sỉ nhục.
“Vì sao em không nói? Em nói đi, nói đi". Hắc Oa lại thêm lần nữa xát muối vào vết thương trong lòng cô.
Hạ Vũ Hồng tuyệt vọng, cô vung cánh tay chẳng còn sức lực của mình tát thẳng vào mặt Hắc Oa. Khuôn mặt ướt đẫm nước mắt.
Lúc này Hắc Oa mới nhận ra không hiểu tại sao mình lại có thể nói ra những câu vô tình vô nghĩa đến vậy, anh hối hận vô cùng, nhung không thể lấy lại. Từ giờ khắc đó trở đi tình yêu của hai người vĩnh viễn bị ngăn cách bởi hàng rào vô hình. Sau này, dù cho Hắc Oa có cố gắng tìm cách nối lại tình cảm với cô, Hạ Vũ Hồng vẫn không thể tha thứ. Trái tim cô đã bị tổn thương sâu sắc. Cô hoàn toàn biến thành một con người héo hắt luôn sống khép mình. Hai năm sau cô được giới thiệu đi học ở một trường đại học ở Quảng Đông. Khi tốt nghiệp được giữ lại trường học tiếng Anh tiếp theo đó là đi Mỹ.
Bi kịch của cả đời người vẫn còn đeo đẳng cô mãi.
Hai ngày sau khi Hạ Vũ Hồng xảy ra chuyện Hồ Tử Hạo và Hồng Diệc Minh đi họp một ngày trên tiểu đoàn.
Tối hôm đó, Hắc Oa và Cường Tử ẩn mình mai phục trên quãng đường mòn mà bọn chúng sẽ phải đi qua, sau khi trở về từ tiểu đoàn. Họ căng mắt ra chờ đợi, đằng sau lưng là động Sư Tử sâu hun hút đen ngòm. Cả bầu trời bao phủ bởi màn đêm, không gian tĩnh lặng bị đánh thức bởi giọng nói đặc sệt vùng Hà Nam của tên phỉ mặt cười, phía sau hắn là bóng một người cao lớn, đó là chính trị viên Hồng Diệc Minh (thanh niên trí thức đại đội đặt cho Hồng Diệc Minh biệt hiệu Hồng hồ ly bởi ông ta là một con người nham hiểm bụng chứa đầy mưu kế thâm độc, song ngoài miệng luôn nói đạo đức).
Hắc Oa và Cường Tử huyết quản sôi lên sùng sục. Đợi tên phỉ mặt cười đi đến sát nút đường, hai người cùng nhảy ra, Hắc Oa đối mặt với tên giặc mặt cười, anh lấy gậy phang vào chân hắn. Hồ Tử Hạo lảo đảo nhưng vẫn kịp tóm trúng đầu gậy. Hắc Oa dù sao cũng chỉ là cậu bé mười bảy tuổi chiếc gậy bị văng bật đi xa vài mét. Trong cơn giận dữ anh liều mạng ôm chặt lấy tên giặc mặt cười bằng hai tay. Hắn định thò tay xuống rút kkẩu súng lục song không thoát ra được. Cường Tử dùng gậy bổ thẳng xuống đầu hắn. Tên phỉ mặt cười la lên oai oái. Trong bóng đêm đen kịt không biết vẻ mặt hắn như thế nào. Hắn cũng không nhận ra Hắc Oa và Cường Tử
Ba bóng người quấn chặt lấy nhau loạn đả giống như hai con sói non đọ sức vật lộn với con báo dữ. Hồng Diệc Minh - Hồng hồ ly chạy xung quanh không biết làm cách nào xuống tay để trợ giúp đại đội trưởng.
Tên phỉ mặt cười cuối cùng cũng thể hiện sức mạnh của mình, hắn gào lên một tiếng thoát khỏi tay Hắc Oa rồi rút khẩu súng đeo bên hông. Trong giờ phút ngàn cân treo sợi tóc, Cường Tử phản ứng cực kỳ mau lẹ rút con dao cạo mủ dắt dưới chân, con dao dài khoảng bảy, tám phân, thân dao rất hẹp, hai bên đỉnh uốn vòng như lưỡi rắn ở giữa rất sắc.
Tên phỉ mặt cười rút súng bật chốt bảo hiểm, Cường Tử bổ con dao cạo mủ hướng về phía mặt hắn. Tên giặc mặt cười theo bản năng né mặt tránh, hắn chỉ cảm thấy cổ mình bỏng rát, dùng tay sờ thứ thấy ươn ướt máu thì ra đã dính một dao của đối phương. Vết sẹo này vĩnh viễn lưu lại trên cổ hắn, thừa cơ hội đó Hắc Oa vung nắm đấm làm bay khẩu súng.
Trong giây phút ngắn ngủi, Hồng Diệc Minh ôm lấy vai Cường Tử.
“A! Là mày, Cường Tử”. Ông ta kinh hãi kêu lên.
Cường Tử không thèm chú ý, anh liều mạng thoát ra khỏi bàn tay Hồng Diệc Minh.
“Mau ngăn thằng điên này lại! Mau lên!”. Tên phỉ mặt cười gào khản giọng
Hồng Diệc Minh do dự một lát rồi từ sau lưng dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh Cường Tử.
A a a...!!!
Trong đêm đen như mực Cường Tử lảo đảo, lỡ chân rớt xuống động sâu. Thanh âm thảm thiết từ lớn rồi nhỏ dần mất hút trong cái hố đen ngòm. Hắc Oa sững sờ, anh có cảm giác thanh âm đó chìm sâu vào địa ngục.
Tên phỉ mặt cười một tay đưa tay lên ôm lấy vết thương, tay kia dựa vào Hồng Diệc Minh lê bước tháo chạy bỏ lại đằng sau cánh rừng đen thẫm.
Tất cả xảy ra trong vòng tích tắc, rừng trở lại tĩnh mịch, sự tĩnh mịch đến đáng sợ.
"Cường Tử... Cường Tử...”.
Ngày thứ hai sau đêm đó thì xảy ra vụ hỏa hoạn kinh hoảng ở khu nhà ở của thanh niên trí thức.
Sau vụ hoả hoạn, người ta phát hiện cả một ngày trời không nhìn thấy mặt Cường Tử, trong đống xác chết cháy cũng không tìm thấy thi thể của anh, liên tục suốt ba ngày ba đêm thanh niên trí thức đại đội đã bủa đi tìm kiếm Cường Tử ở khắp mọi nơi nhưng không thu được kết quả. Duy chỉ có động Sư Tử là mọi người không dám xuống bởi nó quá sâu không biết là độ sâu lên đến bao nhiêu, nghe một số người già địa phương nói nếu có người rớt xuống đó thì ngay cả xác cũng không thể lấy được.
Từ đó có tin đồn, nhiều khả năng Cường Tử đã bỏ trốn sang đất Myanmar.
Mọi người vẫn bán tín bán nghi về điều này.
Trong đại đội chỉ có ba người biết Cường Tử thật sự không còn sống trên thế gian, đó là Chung Đào, tên phỉ mặt cười và một người nữa là chính trị viên Hồng, tuy nhiên cả ba đều không để lộ bí mật này.
Một ngày sau sự việc đó, tên phỉ mặt cười cho gọi Hắc Oa đến văn phòng của hắn nằm ngang lưng đồi.
“Hắc Oa, mày có biết nguyên nhân Cường Tử mất tích không?”. Hắn trừng trừng nhìn anh bằng đôi mắt chuột nham hiểm.
“Tôi không biết”. Hắc Oa trả lời mặt không biến sắc.
Hồ Tử Hạo nhếch mép cười: "Bọn mày là anh em tốt của nhau cơ mà, nó rơi ở đâu mày cũng không biết thật hả?”.
Hắc Oa biết rằng Hồ Tử Hạo đang cố thử xem buổi tối phục kích hôm đó anh có mặt ở đó hay không.
“Ông là đại đội trưởng của cậu ấy còn không biết thì tôi làm sao mà biết được". Anh lắc đầu chối đây đẩy.
Tên phỉ mặt cười không bắt thóp được Hắc Oa, hắn cười hì hì.
“Bất cứ kẻ nào muốn tính chuyện với Hồ Tử Hạo ta thì đã tính nhầm rồi đấy”.
Thanh niên trí thức đều hiểu rõ tính cách của con người đại đội trưởng Hồ Tử Hạo: Ham thích quyền lực, luôn có cái cười đầy giả tạo. Dáng người hắn không cao, khuôn mặt to bè, cái mũi hổ, làn da đen thô kệch, giọng nói rin rít như có cát trong cổ họng. Chửi mắng người khác đối với hắn là chuyện cơm bữa, hơn nữa vừa chửi vừa hềnh hệch cười. Tiếng cười của hắn khiến người ta sợ hãi đến tận tâm can. Thích cười ngay cả những lúc làm việc bại hoại là đặc điểm nổi trội của tên quỷ đội lốt người này. Khi nhìn cái gì đôi mắt hắn híp lại, đôi mắt tròn mà nhỏ, nhưng cái khiến người ta nổi da gà, lạnh hết sóng lưng là gặp phải ánh mắt thèm thuồng như hổ đói của hắn. Toàn bộ số mệnh của thanh niên trí thức trong đại đội đều nằm trong tay đại đội trưỏng Hạo, hắn biến đại đội hai trở thành một vương quốc tách biệt, một bộ lạc nguyên thủy, một người có quyền sinh quyền sát tất cả những người còn lại, không có pháp luật, không có quỷ thần. Lúc đầu mọi người đặt cho hắn cái tên sau lưng “Trùm phỉ” sau là “Trùm phỉ mặt cười” và cuối cùng là “Tên phỉ mặt cười”.
Những dục vọng của tên ác quỷ này tổng hợp lại ở mấy điểm: Hoang dâm vô độ, ham thích quyền lực, khi không chinh phục được thì giở trò cưỡng bức để đáp ứng nhu cầu đồi bại của mình.Tất cả nữ thanh niên mười sáu, mười bảy tuổi trong đại đội đều khó thoát khỏi việc bị hắn làm nhục, giày vò xâm phạm thân thể.
Hắc Oa rất rõ mọi người trong đại đội căm giận tên phỉ mặt cười đến tận xương tủy nhưng không làm gì được hắn.
Anh nghiến chặt hàm răng, mắt nhìn chăm chăm vào vết thương nơi quai hàm bên trái của tên phỉ mặt cười do con dao cạo mủ gây ra. Trái tim anh như đang rỉ máu "Cường Tử, cậu chết thật oan ức quá!”.
“Không còn việc gì nữa, mày có thể đi được rồi”. Tên phỉ mặt cười tắt ngấm nụ cười, đuổi anh đi.
Rời khỏi phòng làm việc của hắn Hắc Oa quay người bước đi, khuôn mặt đanh lại, một giọt nước mắt trào ra trên khóe mắt, anh cố kiềm chế nỗi uất hận và sự bi thương trào dâng trong lòng.
Ráng chiều bầm đỏ như máu từ từ xuống thấp bên sườn núi.
Hắc Oa cảm thấy toàn thân sục sôi huyết quản, một thanh âm đáng sợ vọng lên từ đáy lòng anh "Sẽ có một ngày ta tóm được ngươi, tên quỷ khốn kiếp...”.
Hắc Oa thề sẽ giết chết tên phỉ mặt cười để báo thù cho Hạnh Nhi, Hạ Vũ Hồng và Cường Tử, trừ đi mối họa lớn cho mọi người, anh gằn từng bước mạnh như đạp vào đất rồi xuống núi.
***
Chung Đào rót rượu xuống động Sư Tử, nước mắt anh trào ra
Anh khẽ thì thầm "Cường Tử, cuối cùng mình đã báo được thù cho cậu, cho Vũ Hồng và cho Hạnh Nhi rồi!”.
Rượu tiếp nối rượu cho đến khi trong bình không còn một giọt, anh vung tay quăng mạnh chiếc bình lên tận không trung, nó rạch một vệt dài lên trời xanh rồi rớt xuống động sâu hun hút không để lại chút âm thanh nào. Sau đó anh rút máy di động gọi cho Đinh Lam
"Tiểu Lam à! Là anh Chung Đào đây, anh đang đứng trên động Sư Tử, làm lễ tế vong anh trai của em".
“A! Anh đấy ư?”. Giọng nói của Đinh Lam nghẹn ngào.
“Em có muốn nói mấy câu với anh trai không?". Chung Đào như một người anh lớn ôn tồn hỏi cô, giọng nói có chút xúc động.
Không có tiếng đáp của Đinh Lam.
“A lô! Em có đang nghe anh nói không? Đinh Lam”.
Trong điện thoại chỉ có tiếng thút thít.
“Được rồi, để anh nói thay em...”.
Chung Đào đưa máy điện thoại ra khỏi tai giơ lên cao: "Anh... Tên phỉ mặt cười đã chết rồi! Nó chết một cách khốn khổ!”.
Đinh Lam nấc nghẹn, dường như tiếng nấc vang vọng khắp cả bầu trời Vân Nam.
“Hồng hồ ly cũng chết rồi, bọn chúng đều phải đền mạng bởi những tội ác mà chúng đã gây ra... Anh, anh có nghe thấy em nói không?... Em và mẹ đang sống rất tốt, anh không phải lo lắng đâu. Hai mươi tám năm, giờ anh có thể yên tâm nhắm mắt được rồi...”.
2
Tiểu Xuyên và Đào Lợi đến ban quản lý đường bộ điều tra kỹ những cung đường của Tiểu Mai Sa, họ thu được một đầu mối quan trọng, từ trong nội thành Thâm Quyến đến Tiểu Mai Sa bằng xe bus có các tuyến số 103, 360, 364 và 368. Trong đó tuyến số 364 chạy qua Tiểu Mai Sa đến thị trấn Đại Bàng. Những chuyến xe bus này thông thường chạy đến khoảng mười giờ tối thì nghỉ. Vào mùa nghỉ mát, khách lên xe đông, thời gian chạy xe có thể kéo dài đến ba, bốn giờ sáng.
Tìm đến một tài xế chạy tuyến số 380, tuyến này xe bus có máy lạnh, tài xế là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đã có nhiều năm trong nghề, ông mang họ Tạ. Buổi tối ngày hai mươi tư tháng sáu là ngày ông làm việc, cho đến tận ba rưỡi sáng ngày hai mươi lăm ông mới nghỉ, đó là chuyến xe bus cuối cùng đến Tiểu Mai Sa, khi đánh tay lái qua một vòng cua dưới chân núi, người tài xế vô tình phát hiện một chiếc xe hơi màu trắng đỗ bên vệ đuờng, cửa đóng chặt, đèn tắt, không thấy người lái đâu. Do chỉ vô tình đi ngang qua nên người tàải xế cũng không lưu ý tới biển số xe, nhưng ông nhìn rõ chiếc xe đó là loại xe Fukang.
Nửa giờ sau khi đã trả khách tại bến xe Tiểu Mai Sa ông lái xe quay về qua quãng đường cũ thì không còn thấy chiếc xe ấy ở đó nữa.
Người tài xế xe bus đã chỉ cho cảnh sát vị trí chiếc xe đã đỗ sáng hôm đó. Từ vị trí này vượt qua hàng rào lưới sắt, phía dưới là trung tâm du lịch Tiểu Mai Sa, sát cạnh đó là một cây đa cổ thụ. Hàng rào lưới sắt có một lỗ thủng lớn vừa vặn thân người chui lọt. Do xung quanh cỏ dại mọc um tùm từ bên ngoài nhìn vào không thể nhận ra lỗ thủng. Thuận theo bậc đá phủ đầy lá rụng đi xuống mươi bước là đến con đường “lối nhỏ tình yêu". Tại hàng rào lưới sắt cảnh sát thu được vài sợi vải màu hồng, qua xét nghiệm hóa học trùng hợp với sợi vải chiếc quần bơi nhãn hiệu cá sấu mà Hồ Quốc Hào mặc lúc chết.
Bí ẩn những vết cào trên chiếc quần bơi của Hồ Quốc Hào cuối cùng đã được giải mã.
Rất có khả năng trong lúc di chuyển xác chết, do Hồ Quốc Hào quá nặng nên bị vướng vào lỗ thủng hàng rào lưới thép.
Tiểu Xuyên gọi điện cho Nhiếp Phong thông báo phát hiện này.
Nhiếp Phong nghe xong thì nói một câu “Thế thì đúng rồi!"
Anh nhắc Tiểu Xuyên nhớ lại chi tiết những con cò kêu vang chứng thực chuyện này là chuẩn xác, thời gian hơn ba giờ sáng cũng rất phù hợp.
Anh đề xuất: “Các cậu nên ngay lập tức kiểm tra chiếc xe Fukang của Đinh Lam, cũng cần trở lại Nam Áo một lần nữa, tìm kiếm dấu vết để lại của Chung Đào.
“Cục trưởng Ngũ đã giao cho bọn em làm rồi”.
“Tốt quá, khi điều tra cần đặc biệt chú ý bên ngoài bức tường bao quanh trường tiểu học Nam Áo”.
“Vì sao ạ?”
“Trước khi rời Thâm Quyến mình đã đến đó, gần nơi phát hiện ra chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào, ngay bên ngoài tường một con đường cái, cậu thử dò hỏi người dân xung quanh biết đâu họ lại nhìn thấy chiếc xe Fukang đỗ gần đấy”.
“Em hiểu rồi!”.
***
Tiểu Xuyên, Đào Lợi bí mật điều tra chiếc xe Fukang của Đinh Lam.
Lấy mẫu đất cát ở rãnh lốp và gầm xe qua xét nghiệm không có gì đặc biệt, sau đó kiểm tra bên trong xe thu được một lượng nhỏ bùn đất, đó là loại bùn đó rất hiếm gặp, qua phân tích nguyên tố vi lượng thì trùng khớp với thổ nhưỡng vùng Tây Xung nằm ở phía nam thị trấn Nam Áo. Điều ấy chứng minh chiếc xe Fukang đã từng đi qua vùng đất này, rất có thể Chung Đào đã đến đây để lấy nước biển ô nhiễm xích triều.
Tiểu Xuyên và Đào Lợi lái xe xuống Nam Áo, trước tiên hai người thẩm tra xung quanh trường tiểu học Nam Áo. Nơi phát hiện chiếc túi xách của Hồ Quốc Hào là một góc của sân thể thao cách tường bao chưa đến hai mét. Tường bao được xây bằng xi măng cát, cao một mét bảy mươi tám, phía trên để các ô thoáng. Bên ngoài bức tường là đường cái lớn, người qua lại không đông lắm, đối diện với con đường là một dãy nhà xây sát sườn dốc. Tiểu Xuyên và Đào Lợi đi từng nhà để dò hỏi, khi họ đến một gia đình nhà nằm trên sườn dốc cao nhất, nguời lớn đã đi làm hết, trong nhà chỉ còn một bé gái bị tật ở chân trái, cô bé kể lại khoảng hơn một tháng trước lúc trời nhá nhem tối cô bé đang ngồi trước hiên nhà thì thấy một chiếc xe con màu trắng ghé vào đỗ trên con đường cái, vị trí đúng với góc tường bên ngoài trường tiểu học, một người đàn ông từ trong xe bước xuống, điều lạ là ông ta lại trèo qua tường vào bên trong trường, dường như đang tìm kiếm cái gì đó, xe đỗ trong khoảng thời gian rất ngắn rồi đi mất. Do từ khoảng cách khá xa nên cô bé không nhìn thay biển số xe, nhưng qua lời mô tả hình dáng, người đàn ông đó rất giống với Chung Đào, ngày giờ cụ thể cô bé không thể nhớ rõ, chỉ biết ngày hôm trước mình vừa mới đi bệnh viện để điều trị. Đợi bố mẹ cô bé trở về hai vị cảnh sát cuối cùng cũng có câu trả lời chính xác ngày cô bé đi viện là ngày hai mươi chín tháng sáu.
Đó là ngày thứ tư sau khi Hồ Quốc Hào bị sát hại; hai ngày sau ngày cô bé đi viện người ta tìm thấy chiếc túi của Hồ Quốc Hào ở sân thể thao của trường tiểu học Nam Áo. Điều này hết sức trùng hợp.
Thừa thắng xông lên, Tiểu Xuyên và Đào Lợi lái xe xuống Tây Xung. Đây là một thị trấn làng chài nhỏ đón sóng đầu nam, bãi biển Tây Xung cũng được coi là một danh thắng nghỉ mát nổi tiếng không thua kém Đại, Tiểu Mai Sa, nước biển ở đây rất xanh và sâu, bãi cát, lều cỏ, hàng dừa... tất cả tạo nên một khung cảnh vô cùng thơ mộng và đẹp đẽ, nhưng khi được hỏi những người tắm biển ở đây đều lắc đầu, hai cảnh sát trẻ không hề phát hiện được dấu tích nào để lại của Chung Đào hay Đinh Lam.
Vậy chiếc xe Fukang của Đinh Lam đến đây để làm gì?
Đào Lợi vừa ngắm biển vừa phán đoán: “Có lẽ khi xe đến gần làng chài, người lái chiếc xe này đã cố ý cải trang để không ai nhận ra”.
“Tóm lại phải có nguyên nhân chứ”. Tiểu Xuyên lên tiếng.
“Nguyên nhân...”. Đào Lợi suy nghĩ giây lát “Khả năng thứ nhất là do hiện tượng xích triều di chuyển lên hướng bắc vì vậy nước biển ở đây không thể dùng cho mục đích của họ. Khả năng thứ hai là đối tượng gây án cố tình làm thế để “dương đông kích tây” gây khó khăn cho công tác điều tra”.
“Đúng lắm! Cậu tiến bộ nhanh thật!”. Tiểu Xuyên thực lòng khen ngợi Đào Lợi.
Họ điều chỉnh lại suy luận của mình, đánh xe quay trở về con đường cũ, phía sau bụi đất cuộn bay lên mù mịt...
Kiểm tra cầu tàu ở vịnh Nam Áo. Đây là một cảng cá nhỏ, trong vịnh có tới hàng trăm chiếc thuyền máy đang hoạt động, thân thuyền được sơn màu xanh nhạt hoặc màu xanh đậm, nom có vẻ rất giống thuyền gỗ, sau khi hỏi những ngư dân trong cảng cho hay những chiếc thuyền đó đều làm bằng sợi nhựa cacbon, Tiểu Xuyên và Đào Lợi đứng ở ven bờ nhìn xuống dưới, nước biển rất bẩn, trên bề mặt nổi đầy rác thải, túi nilon, giấy vụn, vỏ hoa quả... màu nước đục ngầu. Xem ra Chung Đào không thể đến đây lấy nước, hơn nữa nếu lấy nước ở đây cũng sẽ gây sự chú ý của mọi người.
Tiểu Xuyên hỏi người phụ nữ, vợ của một ngư phủ mặc chiếc áo hoa, đầu đội nón rơm.
“U ơi, thuê thuyền ở đây giá bao nhiêu nhỉ?”.
“Đi trong phạm vi gần thì hết một trăm tệ”.
“Xa hơn một chút thì bao nhiêu ạ?”
“Khoảng một trăm năm mươi tệ”
“Chỗ đằng kia là gì vậy u?” Tiểu Xuyên chỉ tay về phía hòn đảo rất dài nằm đối diện.
“À, đó là đảo Bình Châu thuộc đất Hồng Kông, thuyền không được phép đến đấy”.
Tiểu Xuyên ra dấu cho Đào Lợi, cô cầm tấm ảnh Chung Đào và Đinh Lam đưa cho người phụ nữ đó rồi hỏi.
“U cho con hỏi hơn một tháng trước có thấy hai người giống trong ảnh đến đây thuê thuyền không ạ?”.
Người phụ nữ soi kỹ các bức ảnh lắc đầu: “Để tôi thử hỏi mấy người nữa xem sao”.
Bà cầm hai bức ảnh đưa cho những ngư dân khác, nhưng tất cả đều trả lời không thấy hai người này.
Tiểu Xuyên và Đào Lợi lộ rõ vẻ thất vọng.
“Cô cậu thử đi hỏi mấy chú biên phòng xem sao”.
Theo hướng bà chỉ là dãy nhà hai tầng sơn màu vàng gần đấy.
Sau khi nói lời cảm ơn, hai cảnh sát tiến về trạm biên phòng, một chiến sĩ trẻ mặc quân phục màu xanh, biển tên đeo trước ngực, khuôn mặt còn tròn hơn cả Tiểu Xuyên đón tiếp họ, kiểm tra giấy tờ của hai người xong cậu ta khách khí trả lời. Theo như cậu ta nói để thuê được thuyền, cần phải có các giấy tờ liên quan hoặc chỉ cần thông báo một câu cũng được. Nói như vậy bất cứ ai đến thuê thuyền trạm vũ trang biên phòng đều nắm được, ngoài cậu ta ra còn một người khác nữa đang trực ở đây.
Tiểu Xuyên và Đào Lợi hết sức vui mừng.
Cậu mặt tròn đi vào trong phòng gọi người đồng đội lớn tuổi hơn. Sau khi xem rất kỹ bức ảnh chụp Chung Đào và Đinh Lam họ đều trả lời không hề thấy hai người trong ảnh đến đây thuê thuyền.
Hai nhân viên cảnh sát trẻ nói mấy câu cảm ơn rồi quay về xe, cả hai đều cảm thấy mệt mỏi và uể oải. Chẳng ngờ chuyến đi Nam Áo lần này lại không thu được kết quả gì.
“Mình báo cáo cho đội trưởng chứ?". Đào Lợi hỏi Tiểu Xuyên.
“Đợi một chút...”.
Tiếu Xuyên ngẫm nghĩ trong giây lát rồi quyết định gọi điện thoại di động cho Nhiếp Phong.
“Anh Nhiếp ạ! Em Tiểu Xuyên đây, em đang cùng Đào Lợi xuống Nam Áo điều tra”.
“Ồ, vậy hả, các cậu có tiến triển gì không?”.
“Có người nhìn thấy vào chạng vạng tối ngày hai mươi chín tháng sáu có một chiếc xe màu trắng đỗ bên ngoài tường rào trường tiểu học, hơn nữa người đàn ông lái chiếc xe đó còn trèo tường vào bên trong trường”.
“Thật là tốt, xin chúc mừng”. Nhiếp Phong vui lây.
“Thế nhưng...". Đào Lợi giành lấy máy di động nói với Nhiếp Phong “Bọn em vẫn chưa tìm ra địa điểm Chung Đào lấy nước biển“.
“Các cậu đã kiểm tra ở những nơi nào rồi?”.
“Bến cảng Nam Áo, còn cả đầu mũi nam Tây Xung nữa ạ”.
“Thế đã qua thôn Thủy Đầu chưa?”.
“Thôn Thủy Đầu...? Chưa ạ!”. Đào Lợi có đôi chút ngạc nhiên.
Tiểu Xuyên lại giằng lấy điện thoại khỏi tay cô, đặt sát vào tai, cậu nghe rõ từng lời giải thích của Nhiếp Phong: “Đó là quê của Châu Chính Hưng, cách Nam Áo về hướng bắc khoảng năm, sáu kilômét, các cậu thử đến đó xem”.
“Bọn em hiểu rồi”.
Năm phút sau chiếc xe cảnh sát đã đỗ trước bãi tắm thôn Thủy Đầu. Thôn Thủy Đầu là một thị trấn nhỏ nằm sát bờ biển, cách bãi biển chỉ có gần cây số.
Bước ở trong xe ra, vừa đặt chân xuống đây Tiểu Xuyên đã có một dự cảm. Nơi này thật đặc biệt.
Đứng từ con đê ngăn biển nhìn xuống, nước ở đây có nhiều màu sắc khác nhau, sát với bờ là màu vàng (sóng đánh làm cho cát cuộn lên), xa hơn một chút là màu xanh lục, xa hơn nữa là màu lam thẫm, dưới ánh nắng ban ngày nó gần giống với màu đen. Sóng liền sóng vỗ vào bờ tạo thành những cột sóng lớn khiến người ta cảm thấy lay động tâm can.
Vài chiếc thuyền đạp nước, rẽ sóng lao ra khơi như những con thoi.
“Biển quê hương Châu Chính Hưng có chút gì đó thật dữ dằn”. Đào Lợi bất giác cảm thán.
“Từ trước đến nay tớ cũng chưa từng nhìn thấy cảnh biển nào hùng vĩ như thế này”.
Trên bãi biển có không ít du khách ngồi dưới tán ô che nắng nghỉ ngơi, cũng có một số người liều lĩnh xuống tắm biển.
Hai cảnh sát trẻ tìm đến người quản lý khu du lịch để hỏi về Chung Đào và Đinh Lam. Người đó cho gọi hai nhân viên cứu hộ, một người trong đó sau khi xem ảnh đã nhận ra Chung Đào và Đinh Lam.
“Hai người này đã từng đến đây tắm biển”.
“Anh nhớ có chính xác không?”. Hơi bị kích động, giọng nói của Tiểu Xuyên có vẻ thay đổi.
"Không thể nhầm được vì người đàn ông này bơi rất giỏi, còn chị phụ nữ dường như chỉ ngồi trên bãi cát mà không xuống nước”.
“Anh có nhớ được chính xác ngày họ đến đây không?”.
“Ngày cụ thể thì tôi không nhớ được, đã hơn một tháng rồi... thời gian là vào lúc ban trưa”.
“Anh có thấy hai người này có biểu hiện gì đặc biệt không?”. Đào Lợi hỏi.
“Không có gì đặc biệt cả...”. Người cứu hộ hồi tưởng “A, tôi nghĩ ra rồi người đàn ông trước khi ra về trong tay còn xách một chiếc can nhựa”.
“Can nhựa? Thế nó màu gì?”.
“Màu trắng, trông cũng giống như những chiếc can nhựa bình thường khác”.
Người cứu hộ không biết anh vừa giúp cho cảnh sát giải quyếr một vấn đề cực kỳ lớn.
Sau khi nghe báo cáo cụ thể của hai người, cục trưởng Ngũ và đội trưởng Thôi rất mừng rỡ.
Tất cả thành viên trong tổ chuyên án đều cảm nhận được thắng lợi đang đến rất gần.
Trong cuộc họp toàn tổ, cục trưởng Ngũ phát biểu: “Xem ra quá trình điều tra vụ án đang tiến đến những bước cuối cùng, bản thân tôi và các đồng chí đều rất vui mừng. Thế nhưng chúng ra không được quên, điều cốt lõi khi làm án là phải dựa vào chứng cớ, chỉ có chứng cớ vững chắc mới buộc đối tượng khai nhận”.
Đội trưởng Thôi tiếp lời: “Tất cả những gì cục trưởng Ngũ vừa nói cho chúng ta thấy mặc dù biết rất rõ Chung Đào vứt chiếc túi xách ở sân trường tiểu học song anh ta hoàn toàn có thể phủ nhận, bé gái không nhìn thấy biển số xe, cũng không một ai bắt quả tang anh ta trèo tường. Người cứu hộ ở bãi cắm Thủy Đầu là nhân chứng rất quan trọng, cái mà chúng ta thiếu hiện nay là vật chứng”.
Cục trưởng Ngũ thở dài: “Xét nghiệm những mảnh vụn vi tảo biển còn lưu lại trong chiếc can nhựa, dù đã gửi đến trung tâm kỹ thuật hình sự bộ công an nhưng cũng không thu được kết quả. Đối với chứng cứ này trong nước chưa có tiền lệ”
“Thưa đồng chí cục trưởng!”. Trịnh Dũng đề xuất: “Tôi có một kiến nghị, ta nên nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia hình sự Lý Xương Ngọc, nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa”.
Cục trưởng Ngũ ngợi khen: “Đó cũng là một phương án hay, việc hợp tác quốc tế có thể được cho phép...”. Ông nói tiếp “Còn một điểm cho đến nay chúng ta vẫn chưa làm rõ, động cơ gây án của Chung Đào là gì?”.
Tiểu Xuyên tranh thủ nói ra nhận định của Nhiếp Phong: “Về việc này nhà báo Nhiếp đã có kết quả điều tra, đây là vụ án giết người hàng loạt để báo thù...”.
“Cái tay ‘Tây Bộ Thái Dương’ đó khẳng định?”. Đội trưởng Thôi tỏ ý nghi ngờ “Phá án không thể chỉ dựa vào suy luận mà phải có bằng chứng”.
Cục trưởng Ngũ hỏi Tiểu Xuyên: “Nhà báo Nhiếp bây giờ đang ở đâu”.
“Anh ấy đang ở Vân Nam ạ”.
***
Khi Nhiếp Phong quay về Côn Minh, tranh thủ thời gian đợi mua vé tàu, anh trở lại Trung tâm lưu trữ hồ sơ để tìm kiếm tài liệu có liên quan đến thời kỳ thanh niên trí thức.
Tiếp đón anh vẫn là cô nhân viên tóc cắt ngắn, đeo kính trắng. Hoàn tất thủ tục kiểm tra giấy giới thiệu và thẻ nhà báo của anh, cô đưa cho anh một tờ giấy rồi bảo khai vào đó.
Trên tờ giấy có ghi: Họ tên, trình độ văn hóa, chức vụ, phương thức liên lạc, nội dung tra cứu... Tất cả thông tin đều phải điền đầy đủ.
Đợi Nhiếp Phong hoàn thành bản kê khai cô đeo kính nói gì đó với đồng nghiệp mặc áo hoa ngồi bên cạnh, giọng nói mang âm sắc vùng Vân Nam, Nhiếp Phong nghe không hiểu. Cô áo hoa đưa cho Nhiếp Phong một quyển sổ, trên đó có in dòng chữ màu đỏ “Hồ sơ điều tra lưu trữ Vân Nam”, trong quyển sổ phân ra làm các mục: số quyển, niên đại, tiêu đề bản lưu,... Nhờ sự hướng dẫn của cô áo hoa, rà soát trong phần tổng mục lục anh tìm thấy dòng chữ có nội dung "Mục lục hồ sơ phòng công tác thanh niên trí thức về miền núi, nông thôn, hội đồng ủy viên cách mạng tỉnh Vân Nam”.
Mở phần đó ra, dòng chữ đầu tiên viết bằng bút sắt “Hướng dẫn khái quát toàn bộ tư liệu” bao gồm các mục nhỏ: nội dung, thời gian bàn giao, người từng lưu trữ, người nhận... Lật sang trang bên là dòng chữ “Hướng dẫn tra cứu mục lục”. Quyển đầu tiên đánh số một viết bằng bút sắt mực xanh.
Nhiếp Phong giỏ từng trang tìm kiếm, đến trang thứ tư anh dừng lại nhìn vào phần tiêu đề "Báo cáo của ủy ban cách mạng tỉnh, công an tỉnh về việc tiếp nhận đơn thư phản ảnh của thanh niên trí thức Tứ Xuyên".
Phía dưới có các nội dung sau:
“Tài liệu phản ảnh tình hình thanh niên trí thức binh đoàn bị bức hại, hãm hiếp và phản ánh tình hình của Thượng Hải, Bắc Kinh, Tứ Xuyên và các cơ quan hữu quan trong tỉnh”
“Tài liệu báo cáo và xét xử của Trung ương, tỉnh, tổ công tác quân khu Côn Minh về việc điều tra, xử lý cán bộ trung đoàn..., binh đoàn... đàn áp bức hại thanh niên trí thức do thủ tướng Chu Ân Lai và các đồng chí lãnh đạo trung ương phê chuẩn".
“Báo cáo của ủy ban cách mạng tỉnh, tổ công tác quân khu, tòa án về việc điều tra phán ảnh tình hình vụ việc cán bộ binh đoàn 1- 3 bức hại thanh niên trí thức, tài liệu điều tra xét xử Giả Tiếu Sơn, Trương Quốc Lượng...”.
Suốt bốn giờ đồng hồ Nhiếp Phong ngồi đọc hết tập hồ sơ phủ đầy bụi, trong đó anh vô tình tìm được một bản ghi chép khiến người đọc kinh hãi, đó là vụ án “Sự kiện Hà Khẩu” do đích thân thủ tướng chỉ đạo điều tra mà ông Phó từng kể cho anh nghe.
Khi đoàn thăm hỏi động viên thanh niên trí thức Tứ Xuyên đến thăm trung đoàn mười tám, binh đoàn xây dựng Vân Nam, các nhà báo của tỉnh đi cùng đã thu thập đơn thư phản ảnh những vụ việc như bức hại thanh niên tri thức, hãm hiếp nữ thanh niên trí thức...
★
★
★
★
★
0