CHƯƠNG XI.
Có thể nào một kẻ vô tội mà phải bị cách biệt với thế giới bên ngoài suốt mười lăm năm?
Tâm trí hoang mang, Paul gần như không dám nêu câu hỏi ghê gớm đó với mình. Swann không nói gì và cũng không đem đến điều gì cụ thể, chỉ toàn các nhận xét thôi. Thật không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng chỉ riêng việc có thể xảy ra một chuyện bất công khủng khiếp như thế cũng đủ làm cho Paul muốn điên lên. Không nên nghĩ đến nó nữa. Paul cương quyết đè nén những xúc động của mình, phải bình tĩnh, sáng suốt và đầy đủ nghị lực. Chàng viết thư về nhà xin thêm quần áo, và tìm một chỗ ở khác để dễ hoạt động hơn.
Cuối cùng chàng thuê được một căn phòng sát mái trên tầng lầu 5 của một ngôi nhà tại đường Poole, một khu phố khá nghèo nhưng đứng đắn nằm về phía Nam đại lộ Ware đông đúc và ồn ào, Paul phải trả trước tiền nhà, nên gần như sạch túi. Sau khi tắm rửa xong, chàng chạy đi tìm việc làm để có tiền chi tiêu.
Wortley là một thành phố rất hoạt động, nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn phì nhiêu. Nhưng, cũng giống như thành phố Coventry và Northampton lân cận, nền kỹ nghệ nơi đây có tính cách chuyên môn, chỉ chuyên sản xuất các loại đồ gốm, sứ, dao kéo và đồ da. Những nghề đó Paul đều mù tịt. Paul không có thẻ nghiệp đoàn, giấy tờ chứng nhận và các bằng cấp của Paul chưa cho phép Paul được chính thức dạy học. Sau hai ngày tìm việc không kết quả, Paul bắt đầu lo âu, tìm đọc những mục “cần người” trên các nhật báo.
Nhưng sáng hôm sau, cái may mắn đã đến với Paul. Trong khi đi qua đường Ware chật ních để đến một quán nhỏ, - nơi mà chỉ tốn vài xu người ta có thể ăn bữa trưa gồm một cái xúc xích với một tách cà phê – chàng tình cờ nhìn thấy một tờ giấy rao vặt dán trên cửa kính của nhà hàng Bonanza.
CẦN MỘT NHẠC SĨ DƯƠNG CẦM
Hỏi ông giám đốc Victor Harris
Paul ngần ngại bước vào. Đây là một cửa hàng bán đủ thứ, từ nồi niêu soong chảo đến đồ chơi trẻ em, từ vật dụng bằng sắt đến quần áo, mũ nón của phụ nữ tất cả được trưng bày trên những quầy hàng dài theo kiểu ở các tiệm “giá nhất định” bên bờ sông Thammes.
Ông giám đốc – trạc ba mươi tuổi, tóc uốn, mang chiếc cà vạt phất phơ theo làn gió quạt máy, thật đúng điệu “chủ tiệm” – nhìn Paul từ đầu đến chân rồi đưa chàng đến một góc cửa hàng. Ở đây, chiếc dương cầm được đặt trên một cái bục, chung quanh có những kệ chứa rất nhiều bản nhạc. Ông ta rút hú họa một bản, đặt lên chiếc dương cầm và nói vắn tắt:
- Đánh bản này.
Paul ngồi xuống, cho hai bàn tay lướt nhanh trên phím đàn. Paul có thể đánh những bản nhạc thật khó, cho nên khúc luân vũ bình dân này có đáng kể gì. Chàng dạo lại khúc nhạc một lần nữa, và biến đổi nó theo ý chàng, rồi tự tay lấy những bản nhạc khác chơi tiếp. Chung quanh Paul, các nhân viên nam nữ bán hàng lắng tai nghe. Ông giám đốc Harris rất đỗi hài lòng, đánh nhịp trên quầy hàng bằng chiếc nhẫn kim cương giả đeo trên tay.
- Được rồi, tôi bằng lòng nhận anh. Ba đồng mỗi tuần và một bữa ăn trưa nguội. Nhưng không được chán nản, phải hăng say nhé! Sử dụng cả các bàn đạp chân. Khách hàng thích vậy đó.
Ông ta nhìn Paul, nở một nụ cười che chở để lộ hàm răng bịt vàng, cau mày liếc các nữ nhân viên xao lãng công việc, rồi bỏ đi.
Paul đánh đàn suốt ngày. Đây không phải là một công việc an nhàn. Đàn hàng giờ liên tiếp gây ra mệt mỏi, ban đầu là tê cóng rồi sau đó là đau nhức. Cửa hàng không được thoáng khí và đầy nghẹt người ồn ào. Paul cảm thấy khách hàng thở trên cổ mình; họ đi ngang qua, thúc cùi chỏ vào người chàng và thiếu điều muốn ngồi luôn lên chiếc dương cầm. Paul thấy nghẹt thở, đầu óc quay cuồng với những ý tưởng, những dự định, những kế hoạch mơ hồ. Phải cứu lấy mình... nhưng bằng cách nào?
Khoảng một giờ trưa, chàng được phép gọi ăn. Chỉ trong vòng vài phút đồng hồ một nữ nhân viên mang đến cho chàng một tách cà phê và một đĩa xăng-uých. Sung sướng được nghỉ trong giây lát, Paul đứng dậy vươn vai cho giãn gân cốt và mỉm cười hỏi tên người thiếu nữ. Nàng đáp không chút ngần ngại, nhưng liền đó lại tránh đi chỗ khác. Lena Andersen. Sự e dè của nàng không có gì là bất lịch sự, nhưng dưới thái độ hơi lạnh lùng này, Paul cảm thấy có một cái gì cượng ép, gợi tánh tò mò của chàng. Một lát sau, khi nàng đi ngang qua để trở vào phòng ăn, chàng không thể không nhìn theo trước khi tiếp tục đàn.
Trông nàng không quá hai mươi tuổi. Vóc dáng rất Bắc Âu: cao, tóc vàng, chân dài. Nét mặc đều đặn mặc dầu có một vết sẹo phớt ngang trên má. Nàng sẽ rất quyến rũ nếu không có vầng trán nhăn nhíu vì một nỗi buồn triền miên. Trong giờ nghỉ, gương mặt nàng có một vẻ gì buồn xa vắng. Nhiều lần trong buổi chiều Paul đưa mắt nhìn về phía cô gái.
Dù hình như vẫn thuận thảo với các bạn. Lena lại luôn luôn đứng riêng một mình và tỏ ra rất dè dặt đối với khách. “Một cô gái kỳ lạ”, Paul nghĩ. Chàng tìm cách làm cho Lena nhìn mình, nhưng vô ích. Nàng vội cúi mặt quay đi.
Buổi chiều trôi qua chầm chậm, Paul nhắm mắt dạo một khúc nhạc đã đánh đi đánh lại nhiều lần đến phát ngấy. Đồng hồ điểm sáu giờ, chàng được tự do. Paul chạy đến bệnh viện và phải khó khăn lắm mới được vào. Swann có vẻ mệt hơn và không muốn nói chuyện. Có thể nào ông ta đang tiếc rằng bữa trước đã tâm sự nhiều quá không?
Nhưng khi thấy Paul ngồi yên ở đầu giường, không một lời thúc giúc. Swann tỏ ra thoải mái hơn. Ông quay về phía chàng với ánh mắt thương hại.
- Cậu trở lại thăm tôi...
- Vâng. – Paul thì thầm.
- Tôi đã nói trước với cậu... Nếu cậu tiếp tục giữ vững ý định, thì cuộc đời cậu sẽ bị thay đổi... sẽ khốn khổ như cuộc đời tôi.Và cậu sẽ không có đường lui đâu.
- Tôi sẽ không lùi bước.
- Trước hết cậu sẽ làm gì?
- Tôi viết một biên bản về những lời phát biểu của ông, do chính tay ông ký tên, rồi đem trình lên các nhà chức trách...
Swann không còn đủ sức để cười, nhưng đôi môi nhợt nhạt mím lại và một vẻ nhạo báng chua chát hiện ra trong mắt ông:
- Các nhà chức trách? Công lý? Ối cha! Các ông ấy biết hết, biết từng chi tiết, và họ hoàn toàn hài lòng về tình hình hiện tại. Ông biện lý, Sir Matthew Sprott? Tôi biết ông ta quá rõ và tôi khuyên cậu không nên đến gần ông ta.
Một cơn ho dài ngắt lời ông.
- Không. Chỉ có ông Tổng trưởng Tư pháp mới có quyền xét lại bản án và cậu sẽ không thể nào đến gần ông ấy được. Cậu sẽ đưa ra được những gì? Những lời lảm nhảm điên khùng – người ta sẽ gọi chúng như vậy – của một cựu nhân viên cảnh sát mất uy tín, bị đuổi vì hạnh kiểm xấu xa. Người ta sẽ coi như không có. Người ta sẽ cười cậu, chỉ có thế thôi.
- Nhưng ông tin vào sự vô tội của cha tôi?
- Tôi không tin, tôi chắc chắn như thế - Swann đáp, vẻ hơi gay gắt một chút- Trong lời trình bày với bồi thẩm đoàn, ông chánh án đã cho đây là một tội ác xấu xa, ghê tởm, mà pháp luật không có hình phạt nào đủ nghiêm khắc để trừng trị. Thế mà, người ta lại ân giảm cho Marthry. Tại sao? Tôi hỏi cậu. Có lẽ người ta không chắc chắn mấy về sự có tội của Mathry. Và theo lòng tốt của mình, các bồi thẫm đã tránh cho tội nhân khỏi bị chết treo cổ, để bắt anh ta phải chịu một cái chết từ từ: án tù chung thân ở Stoneheath.
Paul vẫn lặng lẽ nghẹn thở trong lúc Swann cố gắng lấy lại hơi sức. Sau cùng ông nói, bằng một giọng đổi khác, chắc nịch:
- Không, cậu chỉ có một cách để cứu cha, tìm ra thủ phạm thật sự.
Ý kiến bất ngờ của Swann làm Paul rùng mình, lạnh xương sống. Cho tới lúc đó, chàng chỉ nghĩ đến sự vô tội của cha, không hề nghĩ đến kẻ sát nhân thật sự. Một bóng đen khổng lồ thình lình xuất hiện chặn trước mặt chàng.
- Rocca. Có lẽ chính là ông ấy. – Chàng nói phóng chừng sau một hồi lâu im lặng.
- “Rocca không dính líu gì đến án mạng cả”. Swann ngắt ngang vừa lắc đầu với một vẻ khinh bỉ. “Hắn hèn quá, không đủ sức giết người, thứ người đó chỉ nghĩ đến việc cứu lấy thân xác mình mà thôi. À, nhân nói đến thân xác”, ông mỉm cười, mặt nhăn lại “chúng ta hãy nhớ đến cái túi da tìm thấy bên cạnh tử thi.Chẳng ai rõ nó từ đâu đến… Một thứ da tuyệt đẹp, rất mịn…. Đó là da người”.
Một lúc im lặng hoàn toàn. Swann tiếp, giọng cay đắng.
- Cậu hiểu điều tôi nói không? Cậu chỉ cần tìm ra con người mất hết nhân tính đến mức độ dám mang trên mình một món đồ như thế. Chỉ cần nêu lên một số chi tiết bị người ta bỏ rơi lúc điều tra và lúc xử án là cậu sẽ biết được thủ phạm.
Một lần nữa, trên đôi môi nhợt nhạt của Swann nở một nụ cười chua chát:
- Sau mười lăm năm… điều đó tương đối dễ.
- Tôi sẽ cần đến ông, đến sự giúp đỡ của ông.
Vẻ mặt của Swann bỗng thay đổi, đôi mắt trở nên mơ hồ:
- Nếu cần… Bây giờ ta hãy nói về hai nhân chứng đã chỉ ra thủ phạm: Edward Collins và Louisa Burt.
Burt và Collins đến đòi tiền thưởng lúc tôi đang trực. Như đã nói với cậu, tôi có những lý do chính đáng để nghi ngờ hai người đó. Chẳng phải là Collins có hảo ý nhưng yếu đuối, mà là Louisa Burt: một cô gái chỉ mới mười bảy tuổi nhưng cần phải được theo dõi kỹ. Tôi đưa họ vào phòng đợi; bàn làm việc của tôi ở phòng bên và tôi theo dõi cuộc nói chuyện của họ qua ống nghe. Tôi ghi lại cuộc nói chuyện của họ. Lúc đầu không có gì đáng kể. Sau đó Collins có vẻ lo lắng, hỏi:
- Cô tin là chúng ta được lãnh tiền thưởng không?
Burt đáp, giọng rất tự tin:
- Anh đừng lo chuyện đó.
Và cô lại nói tiếp:
- Chúng ta còn có thể được nhiều hơn nữa.
- Cô muốn nói gì?
Burt cười nho nhỏ và thấp giọng nói:
- Tôi dành cho anh một ngạc nhiên nhỏ.
Collins có vẻ rất lo âu và sau một hồi im lặng, anh ta lại hỏi, giọng hơi run run:
- Đúng Marthry là thủ phạm phải không, Louisa?
- Câm mồm đi cậu bé, bây giờ lùi lại thì quá trễ rồi. Trước hết chúng ta không làm hại ai; Dầu không có chúng ta, Marthry cũng vẫn bị kết tội, không sao cứu nổi. Hơn nữa, người ta cũng đâu có treo cổ anh ta. Bộ anh muốn chống lại cảnh sát sao, đồ ngu? Tốt hơn hết nên làm theo ý họ. Việc này sẽ còn mang đến cho chúng ta nhiều cái lợi to lớn hơn nữa. Những ngày vừa qua, tôi đã nảy ra một ý nghĩ, - cô ta,mơ mộng nói tiếp – tôi sẽ sống như một bà quý phái, như một bà hoàng, với những gia nhân hầu hạ, rửa chén bát.Nếu tôi có thể nắm lấy dịp may này, tôi thề với anh là cái bàn ủi và tôi, chúng tôi sẽ không còn gặp lại nhau nữa.
Mệt hết hơi, S lại dừng và nhìn thẳng vào mắt Paul. Rồi ông tiếp tục kể:
- Chỉ bao nhiêu đó thôi, nhưng cũng quá đủ. Điều tôi ngờ vực là đúng. Burt vừa để lộ chân tướng qua vài câu, cô ta đã thấy kẻ sát nhân thật sự đi ra khỏi nhà và lời mô tả đầu tiên của cô phù hợp với hình dạng của kẻ ấy. Về sau, cô ta liền thay đổi lại cho đúng với hình dáng của Marthry, và tất cả mọi người dồn lại buộc tội Marthry là thủ phạm.
Ý muốn duy nhất của cô là được nổi bật lên hàng đầu với hy vọng lãnh một số tiền thưởng. Còn Collins, vốn người nhu nhược, bị Burt lôi cuốn dễ dàng. Và có lẽ sau cùng, Burt đã tự thuyết phục cả chính mình tin rằng Marthry đúng là kẻ cô ta trông thấy chạy ra khỏi nhà vào đêm hôm đó, chuyện như thế là thường ở loại người làm chứng đó.
Rốt cuộc trình diễn chấm dứt, sau khi tên tuổi được in bằng những hàng chữ được mọi người nhắc nhở, khen tặng, cô ta suy nghĩ lại,ngạc nhiên về những thiếu sót của vụ án, và tự hỏi người mà cô thấy trong đêm đó phải chăng một kẻ nào khác, mọt hình bóng quen thuộc mà cô đã từng gặp nhiều lần ở Eldon, trên đường đi đến nhà giặt ủi. Bỗng nhiên một toan tính xuất hiện trong đầu óc cô ta… Burt thấy rõ một dịp may có thể giúp cô thực hiện được giấc mộng giàu sang…
Đáng lẽ tôi nên đi gặp ông Cò để nói chuyện, nhưng tôi suy nghĩ rồi lại thôi… Tôi cãi với ông ấy quá nhiều lần lúc bắt đầu cuộc điều tra, ông ấy không chịu nghe tôi đâu. Vài hôm trước đó, tôi bị rầy vì một lỗi nhỏ trong khi làm việc, và chúng tôi không ưa nhau nữa. Tôi sũy nghĩ kỹ và sau cùng, tôi đi hỏi ý kiến của luật sư Walter Gillet, một người mà tôi rất tin tưởng và ông ấy cũng rất thương tôi. Cậu đoán xem ông ấy đã khuyên tôi những gì? Ông ấy biết tôi không được cấp chỉ huy thích. Và chắc cũng biết tôi hay uống rượu, cho nên ông không hoàn toàn tin tưởng những điều tôi vừa nêu ra. Ông bảo tôi: “Jimmie đừng dây vào cái tổ ong vò vẽ đó nữa”. Và tôi, tôi đã làm gì.Tôi đã nhậu một bữa cho “đã”,để quên luôn những chuyện đó. Nhưng tôi gián tiếp gây ra một tai nạn lưu thông… kết quả ra sao, cậu đã biết rồi. Ra khỏi tù, tôi không còn nghĩ đến vụ án ấy nữa…
Giọng Swann yếu dần. Một cơn ho dài ngắt lời ông,làm ông kiệt sức. Ông ra dấu không muốn nói nữa. Paul tê cứng người, không cử động được gì cả, chỉ mở miệng hỏi, phá tan sự im lặng:
- Burt và Collins vẫn còn ở đây không?
- Cậu không thể gặp Collins, hắn đã lấy vợ và di cư sang Tân Tây Lan rồi, Burt thì vẫn còn sống ở đây… Phải, Burt… cô bé Louisa Burt, một cô gái đặc biệt… Chính cô ta nắm giữ chìa khóa bí mật.
Swann dừng lại một chút.
- Tôi không chắc cậu có thể moi được gì nơi cô ta.
- Tôi có thể tìm gặp cô ta ở đâu?
- Cô ta giúp việc cho một gia đình rất được nể trọng… Swann rút ra từ dưới gối nằm một mảnh giấy trên đó ông ta đã ghi nguệch ngoạc đầy chữ và trao cho Paul, lẩm bẩm:
- Cậu cầm lấy đi, nếu cái này có thể giúp ích cậu khá nhiều. Tôi cảm thấy rất mệt, tôi muốn ngủ.
Ông quay người nằm nghiêng.kéo tấm chăn lên tận cằm, chấm dứt cuộc nói chuyện. Paul đứng dậy:
- Cám ơn ông, - chàng nói bằng một giọng xúc động. – Tôi sẽ trở lại sớm.
Sau khi nhìn lại người bệnh đáng thương một lần nữa, chàng bước ra khỏi phòng, lòng hồi hộp, nhen nhúm một niềm hy vọng mới. Sự giúp đỡ của Swann rất quý báu. Tuy vậy, chàng vẫn có cảm giác người cựu cảnh sát còn giữ một bí mật mà ông sợ không dám tiết lộ. Paul thề lần viếng thăm sau sẽ khám phá cho bằng được.