Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

HÀ VỸ - LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

11 trả lời, 10.077 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-20 17:56:27huytran>
PHẠM MINH TÙNG
(Sưu tầm và biên soạn)



















HÀ VỸ -
LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA



















NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN




LỜI NHÀ XUẤT BẢN



Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng. Mỗi một vùng quê trên dải đất hình chữ S này đều mang trong mình những giá trị lịch sử và văn hóa trường tồn, sinh thành và nuôi dưỡng những người con bất khuất và kiên cường trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hà vỹ - một miền quê có bề dày truyền thống, đang khát khao vươn lên từng ngày – cũng nằm trong bối cảnh và ‎‎ ý nghĩa đó. Tuy nhiên, ngay từ buổi lập đất, lập làng, quê hương và con người Hà Vỹ có điểm không giống so với các địa phương khác trong toàn quốc. Đó là đức hy sinh của người dân Hà Vỹ với đất nước Việt Nam với vua Thục Phán liên quan đến sự tích xây đắp thành Cổ Loa vào cuối thế kỷ thứ III TCN. Trải qua hơn 2 200 năm lịch sử người dân Hà Hào (tên làng khi mới lập nghiệp) – Hà Vỹ luôn cần cù chịu khó , đoàn kết chống thiên tai giặc giã đến nay vẫn tồn tại và ngày càng phát triển. Từ một nơi đất trũng sình lầy biến thành một làng quê trù phú như ngày hôm nay, đó cũng là một kỳ tích của các thế hệ nhân dân làng Hà Vỹ .

Kỹ sư Phạm Minh Tùng là một cán bộ khoa học kỹ thuật, không phải là nhà nghiên cứu lịch sử, không phải là nhà văn, song với tài năng và tâm huyết với quê hương Hà Vỹ, tác giả đã kỳ công nghiên cứu sưu tầm nhiều tài liệu, tự học tự khám phá, tích lũy được nhiều tư liệu quí để tổng hợp khái quát quá trình lịch sử và văn hóa của quê hương và con người Hà Vỹ hơn 2 200 năm qua

Trước thềm Xuân mới Kỷ Sửu 2009, hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, phát huy truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” , việc xuất bản cuốn sách “Hà Vỹ - Lịch sử và văn hóa” mang một giá trị to lớn trong việc giáo dục, khơi dậy lòng tự hào với muôn đời con cháu hôm nay và mai sau

Nhà xuất bản Thanh niên trân trọng giới thiệu tới đông đảo bạn đọc cả nước cuốn sách quí chứa đựng đầy ý nghĩa truyền thống lịch sử và văn hóa này !

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN


LỜI TÁC GIẢ

Làng Hà Vỹ (xưa là Hà Hào, tục gọi là Quậy) được hình thành cách ngày nay hơn 2 200 năm. Việc lập làng có liên quan đến sự tích xây đắp thành Cổ Loa, đến Vua Thục Phán dựng Kinh đô.

Khoảng năm 208 trước công nguyên (TCN), sau khi đánh thắng 50 vạn quân Tần xâm lược, Thục Phán lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương đã chuyển Kinh đô Văn Lang từ Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ) xuống Phong Khê rồi chọn Cổ Loa (Đông Anh) làm Kinh đô mới.

Để có đất xây dựng Hoàng cung và đắp Loa thành, Thục Phán đã ra lệnh cho dân Cổ Loa xưa phải rời đi nơi khác ở.

Theo lệnh của Vua, dân Cổ Loa ngày ấy đã phải bỏ quê cha đất tổ, xuống vùng đất trũng ở phía Đông - Bắc Cổ Loa cùng với dân gốc ở ngõ Nguyên Hương lập trang trại Hà Hào – sau gọi là Hà Vỹ. Đó là sự hy sinh cao cả của người dân Cổ Loa ngày ấy cũng là Tổ tiên của làng Quậy ngày nay

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, người dân Hà Hào - Hà Vỹ vẫn cần cù chịu khó làm ăn, luôn luôn đoàn kết đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, đến nay vẫn tồn tại và ngày càng phát triển như các làng quê khác trong vùng.

Từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân Hà Vỹ luôn một lòng đi theo Đảng làm cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người dân Hà Vỹ cũng đã đóng góp nhiều công sức vào thắng lợi chung của dân tộc. Nước ta đã hoàn toàn độc lập thống nhất và đang xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông đã dày công xây dựng và bảo vệ quê hương, trên cơ sở những tư liệu sưu tầm được với tinh thần trách nhiệm cao và hết sức trung thực, khách quan, với mong muốn mọi người và con cháu sau này hiểu được về quá trình hình thành và phát triển quê hương, tôi đã sưu tầm và biên soạn cuốn sách này.

Trong quá trình biên soạn, tôi đã được các bậc cao niên, đại diện cho các dòng họ lớn, có trình độ học vấn và am hiểu về lịch sử trong làng đóng góp nhiều ý kiến quý báu .

Viết về lịch sử là điều rất khó, vì tư liệu thành văn không có mà nhận thức mỗi người một khác, cùng một sự việc người ta có thể đánh giá nhận xét theo nhiều cách khác nhau, vì vậy cuốn sách xuất bản lần đầu khó tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của bạn đọc và nhân dân .

Nhân dịp cuốn sách xuất bản, tác giả xin chân thành cám ơn các vị cao niên cùng các bạn đã cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quí báu, đặc biệt cảm ơn anh Nguyễn Đức Gia - cán bộ nhà xuất bản Thanh niên đã đóng góp công sức và anh Phạm Huy Thanh đã tài trợ một phần đáng kể về kinh phí để cuốn sách được hoàn thành./.


Hà Vỹ, ngày 5 tháng 01 năm 2009

PHẠM MINH TÙNG
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-20 17:59:26huytran>
Chương 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG HÀ VỸ

1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ DÂN SỐ

Làng Hà Vỹ, khi mới thành lập có tên là trang Hà Hào (tục gọi là Quậy), làng có ba thôn: Đại Vỹ (Quậy Cả), Châu Phong (Quậy Sau) và Giao Tác (Quậy Rào). Cả ba thôn đều ở phía nam xã Liên Hà, cách di tích Cổ Loa về phía Tây - Nam chừng 5 km, cách thị trấn Từ Sơn về phía Đông 8 km và cách trung tâm thủ đô Hà Nội về phía Nam khoảng 15 km.

Làng có vị trí như sau:
- Đông giáp thôn Hà Khê và Thiết Úng (xã Vân Hà);
- Tây giáp thôn Dục Nội (xã Việt Hùng);
- Nam giáp xã Dục Tú;
- Bắc giáp các thôn Hà Hương, Hà Lỗ và Thù Lỗ (xã Liên Hà).

Làng Hà Vỹ có địa thế vào loại trũng so với các làng lân cận, ở độ cao trên mặt nước biển từ 3 đến 6 m

Dân số cả làng hiện nay có 8146 người (1)
Trong đó :

- Đại Vỹ: 2131 người
- Châu Phong: 3373 người
- Giao Tác: 2209 người

2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Làng Hà Vỹ được hình thành cách ngày nay khoảng hơn 2 200 năm do những người dân bản địa ở ngõ Nguyên Hương cùng với dân Cổ Loa xưa (sau có tên nôm là Chạ Chủ) di chuyển về lập ra.

Theo sử sách, Thần tích và truyền thuyết: Khoảng năm 208 TCN (2), sau khi đánh thắng 50 vạn quân Tần xâm lược, Thục Phán lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương, dựng nước Âu Lạc, đã chọn Cổ Loa (Đông Anh) làm Kinh đô mới.

Để có đất xây dựng Hoàng cung và đắp Loa thành, nhà Vua đã ra lệnh cho dân sở tại phải dời đi nơi khác ở. Dân không muốn đi nhưng vẫn phải tuân theo “phép nước” nên đã tâu với Vua: “Cứ cho dân chúng tôi xuống khu đất trũng kia ở, dù khổ mấy cũng cam lòng".

Do thái độ “ấm ức” của dân khi tâu, Vua bảo “Đó là dân Cả Quẫy” và chấp nhận cho họ đến nơi đất trũng ở phía Đông - Bắc Cổ Loa cùng với dân bản địa ở ngõ Nguyên Hương lập trang trại Hà Hào. Từ lời nói của Vua nên dân quanh vùng gọi trang Hà Hào là “Cả Quẫy”, dần lâu ngày gọi chệch ra là Quậy .

Vì dân Quậy là người gốc Cổ Loa xưa, nên hàng năm vào ngày mồng Sáu tháng Giêng (ngày lễ đăng quang đức Vua An Dương Vương) nhân dân Cổ Loa mở hội bao giờ cũng mời "Anh Cả Quậy" về để khấn Vua và được làm lễ ở chiếu trên .

Theo lưu truyền dân gian: Trước khi dân Cổ Loa đến định cư đã có vài gia đình họ Vũ đến ở trước tại ngõ Nguyên Hương (thuộc thôn Đại Vỹ ngày nay) .

Nhà thờ họ Vũ trước đây có đôi câu đối :

天位財培陽我武
世傳作業自原鄉

Phiên âm: Thiên vị tài bồi dương ngã Vũ,
Thế truyền tác nghiệp tự Nguyên Hương. .

Dịch : Phú quí Trời ban họ Vũ ta,
Đời truyền lập nghiệp từ xóm nhà (3)

Các dòng họ Lê, Phạm, Nguyễn, Ngô, Dương, Trần … từ Cổ Loa cùng về đoàn tụ chung sống lập thành cụm dân cư mang tên là Quậy Cả (tên chữ là Đại Vỹ).

Một thời gian sau, do Quậy Cả “đất chật, người đông” khi đó (khoảng đầu công nguyên) ở phía Tây - Nam cách Quậy Cả một cánh đồng (chừng một cây số) có một bãi đất bồi có thể ở được, vì vậy họ Phạm đã sang khai phá dựng nhà lập một xóm mới ở đó gọi là Quậy Sau (tên chữ là Châu Phong). Như vậy người họ Phạm là người lập ra thôn Châu Phong, nhà thờ cũ họ Phạm (con cháu cụ Lựu đang ở) là nơi cao nhất thôn

Theo dòng thời gian, (khoảng 100 năm sau) dân Quậy Cả lại đông dần lên, một số gia đình họ Lê cũng sang lập Trại ở phía Nam sát Quậy Cả, sau phát triển thành Quậy Rào – Rào cho Đại Vỹ (tên chữ là Giao Tác)

Đến năm Mậu Thân (1428) của thế kỷ XV (sau khoảng 1500 năm ) đời vua Lê Thái Tổ tức Lê Lợi, một gia đình họ Đỗ từ Thanh Hoá chuyển cư đến ở vườn Trên (đất Chùa xưa phía Nam Quậy Rào - nay là khu giãn dân thôn Giao Tác) lập ra trại Tác - Vỹ. (4)

Năm Mậu Dần đời Lê Chiêu Tông niên hiệu Quang Thuận (1518) cụ Đỗ Túc Khang (đời thứ 4) do đỗ Đại khoa (Tiến sĩ) được bổ làm quan và được cấp ruộng đất nên đã chuyển trại Tác - Vỹ vào khu vực ngõ Ba của Quậy Rào. Năm Canh Tuất (1790) cụ Đỗ Trác Lý chi thứ tư cành trưởng lập ra xóm Trại (tên chữ là An Bài- thuộc Quậy Rào).

Theo Thần tích và địa chí hành chính : đến thế kỷ XIII trang Hà Hào đổi thành làng Hà Vỹ (5 ) sau nâng lên thành xã Hà Vỹ

Như vậy, làng Quậy (trang Hà Hào – làng Hà Vỹ) do những người dân bản địa ở ngõ Nguyên Hương cùng với dân Cổ Loa xưa di chuyển về lập ra, sau phát triển thành ba thôn là Quậy Cả (Đại Vỹ), Quậy Sau (Châu Phong ) và Quậy Rào (Giao Tác)

3. ĐỊA CHÍ HÀNH CHÍNH QUA CÁC THỜI KỲ

- Thời Hai Bà Trưng và trong suốt thời gian gần 1000 năm Bắc thuộc, trang Hà Hào thuộc quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu

- Thời nhà Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) thuộc châu Cổ Pháp đạo Bắc Giang

- Thời Lý (1010-1225) thuộc phủ Thiên Đức, lộ Kinh Bắc

- Thời Trần (1226-1400) thuộc huyện Đông Ngàn, lộ Kinh Bắc

- Thời Lê (1428-1788) thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc

- Thời Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1830, Hà Vỹ thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) thuộc tỉnh Bắc Ninh (6). Thời Đồng Khánh (1886), Hà Vỹ thuộc tổng Hà Lỗ (7), huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Thời Vua Khải Định (1916-1925) có ra đạo dụ qui định cấp phủ ngang cấp huyện (xoá một cấp trung gian) thì huyện Đông Ngàn thành phủ Từ Sơn (8), từ đó xã Hà Vỹ thuộc tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho đến cách mạng tháng 8 năm 1945

- Sau tháng 8 năm 1945, xã Hà Vỹ thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Tháng 4 năm 1949, xã Hà Vỹ hợp nhất với xã Ngũ Hà (gồm 5 làng Giỗ) thành xã Liên Hà thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Từ tháng 5 năm 1961 đến nay, cả ba thôn: Đại Vỹ, Châu Phong và Giao Tác, thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Chú thích:
(1) Theo số liệu năm 2008
(2) Theo “Thế thứ các Triều Vua Việt Nam” của Nguyễn Khắc Thuần. Nhà xuất bản Giáo dục - Tái bản 1993
(3) ) Dịch sát nghĩa phải là: Trời bồi đắp (ban) cho họ Vũ ta một ngôi dương (chỗ ở tốt - theo phong thuỷ - nhờ đó mới giầu có thịnh vượng) việc này được truyền lại cho các đời sau về sự lập nghiệp, lập làng là từ xóm gốc (nguyên hương)
(4)Theo gia phả gốc họ Đỗ ở Bồng Lai xã Bồng Trung (sau là Bồng Sơn) , huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, chuyển cư ra Bắc đến ở vườn Trên (đất chùa xưa) đã có thôn Giao Tác. Gia phả ghi “ chuyển cư vào vùng Giao Tác” nên mới đặt tên cho trại mình là Tác – Vỹ. (Các cụ cho biết Tác-Vỹ là tên ghép của hai thôn Giao Tác và Đại Vỹ mà thành). Việc lập làng đã được Ban quản lý di tích đình Hà Vỹ thống nhất và đã khắc bia năm 2003 đặt ở sân đình. Trong cuốn “ Liên Hà- truyền thống lịch sử văn hoá và cách mạng “ - 2004 cũng viết như vậy
(5) Chữ Vỹ (洧), là do chữ Hào (淆) mất hai nét ở trên mà thành
(6) Năm 1831, Vua Minh Mạng bỏ các trấn, chia cả nước thành 31 tỉnh, xã Hà Vỹ thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
(7) Tổng Hà Lỗ gồm có 9 xã là: Xã Hà Lỗ ( Đông, Hương, Phong) , xã Thiết Úng (Ống), xã Cổ Châu (Dâu), xã Ngô Khê (Hà Khê - làng Ngò), xã Thù Lỗ, xã Thiết Bình (làng Ngườm), xã Vân Điềm (làng Đóm ), xã Lỗ Khê và xã Hà Vỹ (Quậy gồm ba thôn Đại Vỹ, Châu Phong, Giao Tác,)
(8) Phủ Từ Sơn trước đó gồm 5 huyện là Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du, Yên Phong, và Đông Ngàn. Sau đó phủ Từ Sơn chỉ còn huyện Đông Ngàn
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2

CƠ SỞ KINH TẾ, ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN
VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG GIẶC
NGOẠI XÂM PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC

1. KINH TẾ
1.1. Nông nghiệp
Cánh đồng Hà Vỹ so với các cánh đồng lân cận là nơi trũng nhất, quanh năm úng lụt, ruộng đất ít lại xấu. Trước cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, nạn lụt luôn luôn đe doạ, nhân dân Hà Vỹ đã sớm hình thành tinh thần cộng đồng của cả “họ hàng làng mạc”. Từ ngày lập làng, người dân Hà Hào đã phải khai phá những bãi bồi và những vùng đất hoang vu rậm rạp để canh tác, đồng thời cải tạo đồng ruộng và chống úng lụt, nên ruộng đất vẫn là nguồn sinh sống chính của người dân. Do đồng trũng nên nhân dân chỉ chuyên trồng lúa nước, một năm hai vụ, chủ yếu là vụ chiêm. Ruộng đất thời xa xưa không thống kê được nhưng theo tài liệu “Hà Vỹ xã địa bạ” thời Gia Long năm thứ 4 (1805) đầu thế kỷ XIX ruộng đất của Hà Vỹ gồm cả ruộng công và ruộng tư có: 607 mẫu, 2 sào, 3 thước, 5 tấc ).
1.1.1.Ruộng đất công
Ruộng đất công là loại ruộng đất thuộc quyền sở hữu
của nhà nước phong kiến. Ruộng đất loại này thuộc làng nào thì làng đó được quyền sử dụng. Cũng theo tài liệu trên, ruộng đất công thời Gia Long (1805) của Hà Vỹ chỉ có 27 mẫu, 8 thước, 5 tấc, chiếm khoảng 4,5 % trong tổng số
ruộng đất của làng. Ruộng đất công có hai loại :
Một là ruộng binh điền. Ruộng này dùng để cấp cho những người đi lính hàng năm (từ 2 - 4 người), số ruộng này có tới 10 mẫu, chiếm 37% .
Hai là ruộng dùng để sửa lễ đình, có khoảng 3 - 4 mẫu. Số ruộng đất còn lại thì chia cho dân làng theo suất đinh cầy cấy và phải nộp thuế cho trên.
1.1.2. Ruộng đất tư
Ruộng đất tư ở Hà Vỹ thời Gia Long có 506 mẫu, 3 sào 10 thước 4 tấc, chiếm tới 84% ruộng đất của làng. Ruộng đất có ở khắp các cánh đồng, mới đầu thường rất lớn có thửa tới hơn 5 mẫu nhưng sau này do chia cho các con, cháu nên đã nhỏ đi dần.
1.1.3. Ruộng đất của các tập thể nhỏ
Ruộng đất của các tập thể nhỏ ra đời khá sớm và tồn tại khá lâu. Ruộng đất này có những loại sau:
1) Ruộng họ (tộc điền hay hương hoả). Các họ trong làng đều có một số ruộng để lấy hoa lợi dùng vào việc thờ cúng tổ tiên, ngày giỗ Tổ hàng năm, ngày sóc vọng hàng tháng và hương khói trong những ngày lễ tết hay sửa nhà thờ… Ruộng đất này do con cháu trong họ đóng góp, những người có nhiều ruộng hoặc những người có lòng hảo tâm với họ hoặc những người không có con, muốn cung tiến vào họ, để nhờ họ khói nhang ngày giỗ .
Số ruộng này có chừng 50 mẫu, dòng họ có nhiều nhất tới 10 mẫu, họ có ít cũng phải một mẫu. Ruộng họ thường do tộc trưởng, chi trưởng sử dụng và phải có trách nhiệm
thờ cúng tổ tiên hay các việc chung của họ.


2) Ruộng chùa.
Ruộng chùa có rất sớm. Đầu tiên là ruộng đất công bớt ra trước khi chia cho dân. Thứ hai là do nhân dân có lòng hảo tâm cung đức để lấy phúc hoặc có một số gia đình vợ chồng không có con thờ tự, mà hiến cho chùa để nhà chùa hương khói lúc qua đời.
Ruộng đất nhà chùa có hai loại: Loại thuộc phạm vi trong chùa do nhà sư cầy cấy và thu hoa lợi, phục vụ cuộc sống của các nhà sư và đèn hương trong chùa, còn loại ruộng đất thuộc phạm vi ngoài chùa thì do các bà vãi thay phiên nhau cầy cấy, phần hoa lợi dùng để cúng lễ hàng năm (một năm bốn kỳ). Loại ruộng này có khoảng 5 mẫu.
3) Ruộng tư văn. Ruộng tư văn xuất hiện muộn hơn có khoảng 4 mẫu, ruộng này do các hội viên tư văn đóng góp. Hoa lợi của ruộng này dùng để chi phí trong các buổi cúng tế, hội họp ăn uống hay sinh hoạt của hội.
4) Ruộng hậu.
Ruộng hậu có nhiều loại. Đó là ruộng của những cặp vợ chồng không có con trai hoặc không có con, họ muốn khi chết có người cúng giỗ hương khói nên đã lập ruộng hậu để cúng giỗ. Nếu cung tiến ruộng vào nhà thờ họ thì ông tộc trưởng cúng giỗ, nếu cung tiến vào đình thì do các hương chức quan viên cúng giỗ, nếu cung tiến vào chùa thì do nhà sư cúng giỗ, còn cung tiến vào ngõ thì do ông trưởng ngõ cúng giỗ. Tuỳ theo giầu nghèo có quyền chức hay không mà tự tâm cung tiến vào các nơi đình chùa, họ, ngõ…Ruộng hậu đều là ruộng tư đem cung tiến. Ruộng hậu rất phổ biến và kéo dài, có người cung tiến tới 7 sào. Ruộng hậu có tới 6 -7 mẫu

5) Ruộng đồng môn.
Ruộng đồng môn có từ thời hậu Lê và kéo dài tới năm 1945 mới giải thể
Ruộng đồng môn là do các môn sinh đóng góp, hoa lợi dùng để chi cho việc học hành, nuôi thày, chăm sóc thày khi đau ốm hoặc khi thày qua đời, lo ma và cúng giỗ cho thày. ở Hà Vỹ, việc học chữ Nho khá phát triển, ngay từ thời hậu Lê làng đã có nhiều người học hành đỗ đạt. Số môn sinh ở thời nào cũng có. Ruộng đồng môn cũng được truyền lại cho con cháu đi học để tiếp tục làm nghĩa vụ với thày. Ruộng đồng môn có tới 5 mẫu
6) Ruộng hàng hiệu.
Ruộng loại này có từ rất sớm. Đó là ruộng của các cánh thợ trong làng góp tiền mua để chi dùng trong ngày cúng ông Tổ nghề và chi phí trong những ngày hội họp ăn uống. Ruộng này thay phiên nhau canh tác và không được “cha truyền con nối”. Ruộng hàng hiệu có tới 10 mẫu. Trong đó nghề mộc có 3 mẫu 5 sào, nghề nề có 1 mẫu 5 sào, nghề sơn 2 mẫu và nghề chạm 3 mẫu
7) Ruộng ngõ.
Mỗi ngõ của làng đều có một số ruộng, ruộng ngõ có hai loại: Một loại dùng để cúng Thần kỳ do dân trong ngõ cung tiến và một loại dùng để cúng hậu do những người không có con lại nghèo, muốn sau khi chết nhờ ngõ cúng giỗ, cho nên để cho ngõ một ít ruộng. Ruộng ngõ cũng có khoảng 3 - 4 mẫu, mỗi ngõ chừng 3 - 4 sào
8) Ruộng các phường
Ruộng phường có từ thời Lý-Trần. Ở Hà Vỹ có
phường Chim, phường Vật và phường Hát (tuồng). Tổng số ruộng của các phường cũng tới 1,6 mẫu. Ruộng các phường dùng để duy trì và phát triển các phường. Nó là cơ sở để tạo ra đời sống tinh thần ở xóm làng từ xưa
9) Ruộng đất bán uỷ vụ và xâm canh.
Ruộng đất bán uỷ vụ ở Hà Vỹ phát triển khá sớm Những ruộng đất bán uỷ vụ có cả ruộng công và ruộng tư. Đó là do chủ nhân không có người làm hoặc không thuận tiện trong canh tác hoặc cần gấp một số tiền để chi tiêu nên họ đã bán uỷ quyền cho người có khả năng sản xuất. Thời gian bán có thể một vụ hoặc vài năm. Người mua phải chịu thuế nộp cho chính quyền địa phương. Ngoài ruộng bán uỷ vụ còn một loại ruộng “xâm canh” hay “ phụ canh” giữa làng xã này với làng xã khác. Hiện tượng xâm canh (thuê ruộng) ở Hà Vỹ xuất hiện sớm, vì ở đây ruộng đất ít hơn các làng xã khác. Theo các cụ cho biết Hà Vỹ xâm canh sang Hà Hương tới 100 mẫu, sang Thù Lỗ tới 50 mẫu. Ruộng xâm canh chủ yếu là ruộng tư. Cũng có trường hợp người xâm canh là tư nhân với tập thể làng xã
Sau cải cách ruộng đất (1956) tất cả các loại ruộng đất ở Hà Vỹ đã được thu lại để chia cho các gia đình nông dân canh tác, sau đó đưa vào HTX …Do HTX làm ăn không hiệu quả nên lại phải giao cho từng hộ xã viên sản xuất theo chủ trương khoán 10 như hiện nay
1.2. Công việc trị thuỷ
1.2.1 Đặc điểm địa hình
Hà Vỹ là vùng đất trũng nên quanh năm úng lụt, về mùa mưa ở xa nhìn về cánh đồng Hà Vỹ như một hồ nước mênh mông bởi nơi đây có “ 36 ngọn nước” đổ về từ các vùng cao như Việt Hùng, Dục Tú, Vân Hà … Đó là chưa kể những năm vỡ đê sông Đuống hay sông Cà Lồ.
Trước đây chưa làm thuỷ lợi thì ruộng đồng ở Hà Vỹ hầu như không cấy cầy được, năm được mùa cũng chỉ “10 phần được 3, 4” vì “chiêm khê, mùa thối”. Trong dân gian có câu “ Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc” ) để nói nên đặc điểm của cánh đồng làng Quậy
Từ đặc điểm đó, mà đời sống nhân dân rất khổ cực, mọi người không thể chỉ dựa vào nghề nông được. Để duy trì và phát triển, người dân phải làm thêm đủ các nghề phụ như chài lưới, câu cá, kéo vó, đơm tôm, chợ búa hàng xay hàng xáo và các nghề thủ công khác như mộc, nề, sơn, chạm khắc…
Hiện nay cảnh úng lụt không còn như xưa nữa do ta biết làm thuỷ lợi, có hệ thống mương máng tưới tiêu, nhưng các địa danh còn để lại như cánh đồng Láng Mây, Láng Sen, Ao Cá, đồng Trùng, Mạch Ban ... cũng gợi cho ta thấy trước đây đều là nơi chứa nước. Trong bản “Mục lục” ở đình làng cũng có câu "Nước cuồn cuộn nghìn tầm" đủ thấy làng ta trước đây như thế nào.
1.2.2. Hà Vỹ làm thuỷ lợi
Để ngăn chặn nạn úng lụt ở Hà Vỹ, những người có chức sắc và có kiến thức trong làng phải biết nguyên nhân vì sao gây ra úng lụt? Đó là do con sông Thiếp (còn gọi là Hoàng Giang hay sông Ngũ Huyện Khê - một nhánh của sông Hồng, nay là ngòi Ngũ Huyện Khê) bắt nguồn từ Đầm Vạc (Vĩnh Phúc) là con sông tự nhiên lâu đời. Dòng sông ấy chảy qua các xã Dục Nội, Gia Lộc, Lương Quán, Đồng Dầu, Song Tháp, rồi xuôi về Quả Cảm (Yên Phong, Bắc Ninh). Khi đến đoạn Thạc Quả dòng sông ấy có một nhánh chảy về Hà Vỹ. Do đó cánh đồng Hà Vỹ biến thành nơi chứa nước. Đến mùa mưa, nước ở cánh đồng Hà Vỹ lên cao, nó lại chảy qua Lỗ Khê, Hà Phong xuống Vân Điềm rồi nhập vào dòng chính của sông Ngũ Huyện Khê cùng đổ về Quả Cảm
Muốn tiêu được nước ở cánh đồng Hà Vỹ thì phải khơi thông đoạn Ba Lăng (gần cầu Bài). Vì vậy nhân dân Hà Vỹ cùng với Lỗ Khê đã tập trung khơi thông ở đoạn này. Việc làm thuỷ lợi chống úng đó đã được ông Nguyễn Tuấn Ngạn người Lỗ Khê đang làm quan khi đó đứng ra tổ chức.
Theo các cụ cao tuổi (nay đã qua đời) cho biết, nhân dân Hà Vỹ đã phải mua đất của Lỗ Khê để lấy đất đắp bờ ngòi và phải xây cống cầu Bài - nơi có dòng chảy duy nhất chảy qua - để tiêu nước cho Hà Vỹ. Cống này còn có tác dụng giữ nước khi xẩy ra hạn hán.
Việc khơi dòng đoạn Ba Lăng đã giải quyết được một phần nạn úng lụt cho Hà Vỹ. Nhưng do quyền lợi cục bộ của các xã dọc theo dòng chảy, họ đã đắp chặn để ngăn nước không cho chảy vào đồng mình, nước không tiêu được nên ngập úng vẫn cứ xẩy ra ở Hà Vỹ và các xã lân cận.
Đứng trước tình hình ấy, ông Nguyễn Thực (người Vân Điềm - thường gọi là Nghè Đóm) đang làm quan Tả thị Lang bộ Hộ đã tâu lên Vua, xin cho các xã khơi ngòi ở địa phận của mình để khỏi bị nạn lụt thường xuyên. Lời tâu ấy đã được Vua chấp nhận. Ông đã đứng ra tổ chức huy động dân các xã Hà Vỹ, Hà Lỗ, Lỗ Khê, Vân Điềm khơi ngòi và đào một đoạn mương mới từ Hà Phong tới Cầu Đất.
Nhân dân Hà Vỹ phải cho nước chảy từ Ao Cá qua cửa Đình, đồng Bầu, đồng Rùa, Thù Lỗ rồi đổ sang Vân Điềm. Vì vậy phải đào một đoạn mương dài tới 150 m để nước từ Hà Vỹ qua Vân Điềm rồi đổ về cầu Lợn
Song song với việc đào mương tiêu nước sang Vân Điềm là việc đắp “bờ Cái” để ngăn không cho nước chảy ngược từ cánh đồng Việt Hùng và Lỗ Khê lại
Để bảo vệ cho con mương mới làm được lưu thông nước ở cánh đồng Hà Vỹ, nhân dân Hà Vỹ phải cử người thay phiên nhau canh phòng ở cống cầu Lợn, cầu Bài và bờ Cái
Tuy Hà Vỹ đỡ ngập úng nhưng các cánh đồng ở các xã Vân Điềm, Ông Mạc (nay là Hương Mạc) và Man Xá (Mịn- nay là Mẫn Xá) lại xẩy ra ngập úng. Vì vậy các xã đó đã đắp chặn nhiều đoạn ngòi, nên nước bị ứ đọng làm tràn sang hai bên bờ rồi chảy ngang làm cho các cánh đồng của Hà Lỗ, Lỗ Khê, Hà Vỹ, Vân Điềm, Gia Lộc lại bị ngập úng. Cảnh ấy cứ diễn ra cho đến thế kỷ thứ XVIII
Gần một trăm năm sau (năm Cảnh Hưng thứ 14 - 1759) do lời tâu của dân ở các xã Hà Vỹ, Hà Lỗ, Lỗ Khê, Vân Điềm, Gia Lộc, Vua Lê Hiển Tông mới phái quan đến các địa phương xem xét và đã lệnh cho trấn Kinh Bắc. Trấn Kinh Bắc lệnh xuống huyện Đông Ngàn, các quan nha của huyện đã đôn đốc các xã khơi thông ngòi từ Hà Vỹ, Lỗ Khê tới địa phận Đặng Xá huyện Yên Phong, Bắc Ninh (dân ta thường nói thượng Ba Lăng, hạ Quả Cảm). Nhờ cách giải quyết triệt để đó mà nước đã thông và không làm ngập úng cánh đồng các xã của huyện Đông Ngàn và Yên Phong, nên không xẩy ra mất đoàn kết như trước nữa
Việc làm thuỷ lợi lần này đã góp phần quan trọng trong việc mở mang sản xuất, tăng được diện tích canh tác của Hà Vỹ. Trước đây những cánh đồng như Láng Mây, Láng Sen, Ao Cá đều bỏ hoang nay đã cấy cầy được. Những cánh đồng có một vụ như đồng Chàng nay đã làm được hai vụ lúa. Việc đó đã tạo điều kiện cho nhân dân Hà Vỹ ổn định làm ăn ngay trên mảnh đất cánh đồng của quê hương mình
1.3. Các ngành nghề thủ công
Do đặc điểm của làng, ruộng đất thường ngập úng lại không có nhiều, nếu chỉ trông vào nghề làm ruộng thì đời sống không thể đủ ăn. Để tồn tại và phát triển, nhân dân Hà Vỹ phải làm thêm nhiều nghề phụ và nghề thủ công như chài lưới đánh cá, kéo vó, đơm tôm, buôn bán, đan lát, hàng xáo, nấu rượu (rượu Quậy cũng rất nổi tiếng), làm lò, nghề mộc, nghề nề, nghề sơn, chạm khắc v.v.
Nhờ những nghề đó nên đã đảm bảo được đời sống của đại đa số người dân trong làng
Một số nghề thủ công đã “cha truyền con nối” càng về sau càng phát triển như các nghề sau đây:
1) Nghề mộc
Nghề mộc ở Hà Vỹ rất phổ biến và đã có từ lâu. Họ thường làm nhà, làm đình chùa và đóng đồ như bàn ghế giường tủ. Hiện nay trong nhà thờ họ Đỗ còn thờ ông tổ nghề mộc là Lý Lâu (người Tầu). Nghề mộc ở Hà Vỹ cũng rất nổi tiếng. Nhiều cánh thợ ở làng đã đi làm đình chùa, nhà cửa khắp nơi trong vùng, có nhiều người được giải thưởng, nhân dân tôn sùng đưa lên kiệu rước. Tài năng của thợ làng Quậy còn thể hiện trong việc xây dựng hai công trình rất bề thế uy nghi là đình và chùa của làng. Ngày nay cứ xem lại các hoa văn và điêu khắc trang trí trên cửa võng hay án gian ở đình Hà Vỹ thì thấy rõ tài năng khéo léo của các cụ thợ mộc trước kia. Nghề mộc ngày nay vẫn đang tồn tại và phát triển nhưng theo một công nghệ khác: làm đồ gỗ phun sơn. Cả ba thôn Đại Vỹ, Giao Tác và Châu Phong đều có nhiều gia đình làm đồ gỗ phun sơn, nhờ vậy kinh tế của làng phát triển rất nhanh, nhiều gia đình “đổi đời” giầu lên cũng nhờ có nghề mộc phun sơn này. Nghề mộc ở Hà Vỹ, nay đã trở thành một làng nghề truyền thống ở ngoại thành Hà Nội, hiện nay đang xây dựng hai khu làng nghề ở ngoài đồng thuộc đất Châu Phong và Giao Tác
2) Nghề nề
Cùng với nghề mộc thì nghề nề ở Hà Vỹ cũng phát triển - vì làm nhà ngói, làm đình chùa, không thể không xây trát, lát sân, lợp ngói… ở Hà Vỹ hầu hết gia đình nào cũng có con em biết làm thợ nề hoặc thợ mộc. Cũng như nghề mộc, ngày nay nghề nề ở Hà Vỹ vẫn tồn tại và phát triển nhưng theo chiều hướng bê tông hoá, làm nhà cao tầng hiện đại với hình thức kiến trúc đa dạng phong phú
Việc tổ chức các cánh thợ mộc hay nề ở các thôn thường theo các hiệp thợ. Mỗi hiệp thợ có từ 5 đến 12 người, trong đó có một thợ cả (có tay nghề cao) một số thợ bạn và vài người học việc. Họ thường là những con em trong gia đình hoặc họ hàng dòng tộc. Tuỳ theo tay nghề và sự đóng góp vào công việc chung của mỗi người mà thợ cả trả công cho họ
3) Nghề sơn, chạm khắc
Do nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi, khi đã có nhà cửa
cần phải có các đồ dùng để trong nhà như tủ chè, sập gụ, bàn ghế, đồ thờ, còn đình chùa, đền miếu phải có hoành phi câu đối nên nghề chạm khắc và sơn ra đời
Nghề sơn ra đời và phát triển tập trung ở dòng họ Phạm thôn Châu Phong. Theo các cụ cao tuổi cho biết: Phải đến cuối thế kỷ XIX, nghề sơn mới phát triển mạnh, cụ Qui ở Châu Phong được coi là cụ tổ của nghề sơn. Cụ Qui học nghề này ở Bình Cầu, Bắc Ninh. Sau 5 năm khi đã biết nghề, cụ về Châu Phong truyền nghề cho con cháu trong làng. Đầu tiên sơn những đồ thờ, đồ dùng trong gia đình sau đó là sơn các đồ thờ ở đình và chùa như các bức hoành phi câu đối, tượng phật … Mới đầu sơn một mầu sau tiến tới sơn son thiếp vàng
Nghề sơn cũng chia làm hai loại: Sơn dầu và sơn mài. Tuỳ theo sự tín ngưỡng, đời sống nhân dân mà nghề sơn phát triển theo nhịp độ khác nhau, có thời kỳ ở Châu Phong đã xây dựng Hợp tác xã Sơn mài nhưng sau đã giải thể
Hiện nay nghề sơn vẫn còn duy trì ở một số gia đình, họ làm các câu đối, hoành phi, cửa võng, án gian cho các
gia đình, nhà thờ, đình chùa, đền miếu ….có yêu cầu
2. HÀ VỸ THAM GIA CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC
Trang Hà Hào (sau là Hà Vỹ) nằm ở vùng đồng bằng sát Kinh đô Âu Lạc, trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, cùng với nhân dân trong quận, người dân Hà Hào cũng phải chịu cực khổ lầm than bị áp bức bóc lột, chứng kiến cảnh khói lửa chiến tranh của bao thời kỳ do bọn ngoại bang xâm lược. Vì vậy nhân dân Hà Hào rất căm thù giặc, sẫn sàng tham gia các phong trào kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương đất nước. Dưới đây là những sự kiện được ghi trong Thần tích:
2.1. Thời Hai Bà Trưng (40-43 SCN ) thế kỷ I
Những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ thứ nhất, nước ta bị nhà Đông Hán (Trung Quốc) đô hộ, trang Hà Hào khi đó thuộc quận Giao Chỉ, dưới sự cai trị của tên Thái thú Tô Định - một tên quan tham tàn, hà khắc khét tiếng- nhân dân trong quận phải sống trong cảnh lầm than thống khổ. Hắn đã giết chết Thi Sách (con quan Lạc tướng Chu Dương) là chồng của Trưng Trắc (con quan Lạc tướng Mê Linh). Để “trả thù cho chồng đền nợ nước”, Bà Trưng đã cùng em là Trưng Nhị đứng lên “phất cờ khởi nghĩa ” .
Hưởng ứng lời kêu gọi của hai bà Trưng, hai chàng trai Thuỷ Hải và Đăng Giang là người ở trang Hà Hào đã chiêu mộ được 500 trai tráng trong vùng rồi đem quân đến dinh của hai bà. Bà Trưng thấy hai ông có chí lớn lại giỏi văn, tài võ liền tuyển dụng hai ông và phong tước:
- Thuỷ Hải làm Tả tướng quân Đô chỉ huy sứ
- Đăng Giang làm Hữu tướng quân Đô chỉ huy sứ
Nhận nhiệm vụ được giao, hai ông đã tuyển thêm quân ở vùng Hà Hào được 3 000 người rồi tiến đánh đồn Tô Định. Cùng với quân của hai bà Trưng, quân của hai ông đã đánh tan quân giặc và giết được tên Thái thú Tô Định gian ác. Sau đó hai ông lại đem quân cùng với hai bà đi đánh các đồn khác và diệt được 65 đồn giặc, giải phóng được đất nước khôi phục lại giang sơn
Bà Trưng lên ngôi, xưng là Trưng Nữ Vương, phong cho hai ông là “Đô chỉ huy sứ kiêm điện tiền phụ chính”.
Đất nước yên bình được ba năm thì nhà Đông Hán lại sai tướng Mã Viện đem hai vạn quân và hai ngàn thuyền xe theo đường thuỷ bộ tiến vào xâm lược nước ta. Trưng Nữ Vương lại giao cho hai ông cầm quân chặn đánh giặc Mã Viện. Thời ấy ở trang Hà Hào có ông Khổng Chúng cũng có tài thao lược và sức lực như thần, đã tham gia chống giặc và được bà Trưng phong cho chức “Tiền lộ tướng quân”
Quân của hai bà Trưng do ba ông chỉ huy đã đem quân lên vùng biên giới chống lại quân giặc, quân của Mã Viện rất hung hãn, quân ta đã anh dũng chiến đấu, các trận chiến ác liệt đã diễn ra ở vùng Lãng Bạc, Đông Triều, Bắc Giang, Yên Phong… Vì tướng sĩ của Mã Viện rất hùng mạnh, Mã Viện lại là một tên tướng giỏi có nhiều kinh nghiệm chiến tranh, do đó quân của hai bà không địch nổi. Bà bèn thu quân về vùng Cẩm Khê, Thạch Thất, sau khi đã chiến đấu đến người cuối cùng, hết quân, hai Bà đã gieo mình xuống dòng Hát Giang (nay thuộc huyện Đan Phượng Hà Tây cũ) tuẫn tiết. Hai ông Thuỷ Hải và Đăng Giang chạy đến cửa biển không chịu để giặc bắt đã gieo mình hy sinh vào ngày 10 tháng 7 năm Quý Mão (năm 43 sau công nguyên - SCN)
Còn Khổng Chúng thu được 50 quân sĩ trở về trang Hà Hào (Quậy Sau). Quân Mã Viện đuổi theo, Khổng Chúng cùng quân sĩ chống cự không nổi, thúc ngựa chạy trên đường, chẳng may ngã ngựa và đã anh dũng hy sinh ngày 12 tháng 9 cùng năm. Mộ Ngài đặt tại khu đồng Sứ, Quần Trùng thôn Châu Phong ngày nay )
2.2. Thời Lý Nam Đế - Triệu Quang Phục thế kỷ thứ VI
Vào nửa đầu thế kỷ thứ VI, nước ta chịu sự đô hộ của nhà Lương Trung Quốc. Thứ sử nhà Lương ở quận
Giao Chỉ bấy giờ là Tiêu Tư rất tàn ác. Ông Lý Bí quê ở Long Hưng (Thái Bình) đã khởi binh đánh đuổi Tiêu Tư . Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Lý Nam Đế dựng lên nước Vạn Xuân đóng đô ở Long Biên. Đến đầu năm 545 nhà Lương lại cử Dương Phiên làm Thái sử Giao Châu cùng với tên tướng Trần Bá Tiên đem quân xâm lược nước ta. Quân Bá Tiên rất mạnh, Lý Nam Đế không sao chống nổi phải rút về động Khuất Liêu (thường gọi là Khuất Lão) Vĩnh Phúc. Anh họ Vua là Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử đem một cánh quân lui vào giữ Thanh Hoá.
Ở động Khuất Lão, Lý Nam Đế bị ốm nặng đã trao quyền cho Triệu Quang Phục. Ngày 20 tháng 3 năm Mậu Thìn (13-4-548), Lý Nam Đế mất. Triệu Quang Phục cầm quân chống cự với quân Lương cũng không thắng được đành phải rút về đầm Dạ Trạch, Hưng Yên xây dựng căn cứ để chiến đấu lâu dài. ở đây, ông đã truyền hịch tuyển chọn nhân tài giúp nước. Khi ấy ông Tam Giang nghe tin chiếu chỉ bèn chiêu mộ quân sĩ rồi dẫn quân đến đầm Dạ Trạch giúp Triệu Quang Phục. Thấy Tam Giang có tài võ nghệ lại hết lòng vì nước nên Triệu Quang Phục phong cho ông là “Chỉ huy sứ, dư tả tướng quân”. Ông Tam Giang đã chỉ huy các đạo quân để đánh giặc, ông đã hội tụ đóng quân tại trang Hà Hào vì thấy địa thế ở đây quanh co “ rồng hổ ôm ấp” liền thiết lập đồn trại ở đây để đối phó với quân của Trần Bá Tiên. Nhân dân Hà Hào đều hưởng ứng theo ông. Ông đã chọn được 30 trai tráng của trang để làm “gia thần nội thủ” và canh giữ đồn trại theo ông đánh giặc. Ông cùng với Triệu Quang Phục dùng chiến thuật lấy ít đánh nhiều theo kiểu chiến tranh du kích. Đến năm 550 do nhà Lương có loạn to, Trần Bá Tiên phải rút quân về nước chỉ để tướng Dương Sàn ở lại cai quản nước ta. Nhân thời cơ đó nghĩa quân của hai ông chuyển thế phản công đánh quân Lương và đã giết được Dương Sàn chiếm lại thành Long Biên giành lại nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Triệu Quang Phục lên ngôi Vua, xưng là Triệu Việt Vương.
Hơn 20 năm sau, năm Tân Mão (571), Lý Phật Tử phản trắc đánh úp bất ngờ, vì không phòng bị, Triệu Việt Vương thua phải chạy đến cửa biển Đại Nha, cùng đường, Vua phải nhảy xuống biển tuẫn tiết. Nhân dân vô cùng thương tiếc đã lập đền thờ ông ở đây.
Trước tình hình ấy, ông Tam Giang không muốn "phò" Lý Phật Tử mà trở về huyện An Phú (sau đổi là An Phong nay là huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh) trang Hương La đến đầu bến Giang Tân sông Như Nguyệt (sông Cầu) ở chỗ ngã Ba Xà rồi gieo mình xuống dòng sông vào ngày 10 tháng 4 năm 571. Dân Hà Hào cùng với dân Hương La tế lễ ông và đón Thần về thờ ở đình làng
2.3. Thời hậu Lê (Lê Thái Tổ)
Vào đầu thế kỷ thứ XV nước ta lại bị Nhà Minh cai trị.
Chúng bắt dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề nên
dân ta vô cùng điêu đứng.
Năm Mậu Tuất (1418) Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hoá có Nguyễn Trãi dâng “Bình ngô sách” nhằm thu phục lòng ngươì. Cuộc kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn kéo dài mười năm vô cùng gian khổ, có lúc nghĩa quân bị bao vây phải đào cả củ chuối để ăn . Do tài thao lược của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, quân của hai ông đã mạnh dần lên, đánh thắng nhiều trận để rồi vây thành Đông Quan (Hà Nội). Khi đó Lê Lợi đã đóng quân ở làng Hà Vỹ ). Để cứu nguy cho quân Minh bị vây ở Đông Quan, vua Minh đã sai tướng Liễu Thăng dẫn mười vạn quân sang nước ta cứu viện. Lê Lợi đã cử tướng Trần Lưu đem quân tiến lên ải Chi Lăng phục kích và đánh chặn. Quân Minh thua to, Liễu Thăng bị chém đầu. Vương Thông khi biết Liễu Thăng bị chết, hết hy vọng đành xin đầu hàng quân ta.
Năm sau 1428 Lê Lợi lên ngôi Vua (tức Lê Thái Tổ) rồi sắc phong cho các tướng sĩ và những thần giúp sức. Người bảo rằng: “ Đánh thắng giặc Minh cũng là nhờ các
thần âm phù ” giúp đỡ bèn phong cho:
- Thuỷ Hải và Đông Hải là “ Linh ứng Đại vuơng” còn
- Đăng Giang là “Hiệu ứng Đại vương ” )
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3
CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG XÓM
1. CƠ CẤU LÀNG XÓM DÒNG HỌ
Trang Hà Hào (sau là Hà Vỹ) mới đầu chỉ có xóm Nguyên Hương, dần dần do dân cư phát triển từ đấy lan rộng mãi ra thành Quậy Cả (Đại Vỹ). Do đất chật người đông, họ Phạm đã sang lập xóm mới ở phía Tây Nam Quậy Cả gọi là Quậy Sau (Châu Phong), một số gia đình họ Lê cũng sang cắm Trại ở phía nam sát Quậy Cả sau thành xóm Quậy Rào (Giao Tác). Năm 1428 gia đình cụ Đỗ Chấn từ Thanh Hoá chuyển cư đến ở vườn Trên (đất chùa xưa - phía nam Quậy Rào nay là khu giãn dân thôn Giao Tác) và lập ra trại Tác–Vỹ ). Từ đó Quậy Rào có thêm họ Đỗ mới đến. Đến đời thứ tư, ông Đỗ Túc Khang do đỗ Đại khoa (Tiến sĩ) được bổ làm quan, nên đã chuyển trại Tác-Vỹ của gia đình mình vào khu vực ngõ ba của Quậy Rào. Họ Đỗ đến sau nhưng phát triển rất nhanh, chỉ vài trăm năm sau (1790) con cháu cụ Đỗ Túc Khang là Đỗ Trác Lý (chi thứ tư cành trưởng) lại lập thêm xóm Trại (An Bài) - Trại này thuộc Quậy Rào.
Việc lập làng thường là: ai đến trước sẽ lấy chỗ đất cao, bằng phẳng nhất, những người đến sau đành phải lấy chỗ xấu hơn rồi mở rộng mãi ra, sự mở rộng làng theo kiểu “lấn ruộng” về mọi phía. Vì vậy đường cái làng và các ngõ không theo qui cách nào (rất lộn xộn - nên mới gọi là Hà Hào ). Ở Đại Vỹ cả thôn có một đường chính chạy từ cổng Cầu Mới đến đình làng, còn các ngõ từ đường trục chính lan toả khắp thôn. Ở Giao Tác cũng vậy, cả thôn chỉ có con đường chính đi vòng vèo từ đầu làng (ngõ Đương) ra đình rồi từ đình qua ngõ Tây (Tầng) về ngõ Ba. Các ngõ được nối với đường chính theo từng cụm dân cư. Đường cái quanh co tuy đi lại khó khăn nhưng lại rất thuận lợi cho việc “bài binh bố trận” để đánh giặc. Chính vì vậy mà trang Hà Hào khi xưa được Tam Giang, Đông Hải, Lê Đại Hành và Lê Lợi đóng quân và chọn làm căn cứ
Mỗi thôn của làng đều có một số ngõ tạo thành: ở Đại Vỹ có ngõ Nguyên Hương, ngõ Đình, ngõ Trung (Giữa), ngõ Giếng. ở Giao Tác có ngõ Đương, ngõ Tây Từng và ngõ Ba, còn Châu Phong có ngõ Đương, ngõ Tây, ngõ Nam, ngõ Bắc và ngõ Trong. Mỗi ngõ ngày xưa đều có một điếm canh, Giao Tác có ba ngõ nên có ba cái điếm, đó là điếm ngõ Đương (trước nhà bà Năm Dạt), điếm ngõ Từng (cạnh nhà ông Ô) và điếm ngõ Ba (cạnh nhà ông Tuyền) nhưng ngày nay đều không còn nữa.
Về dòng họ, làng Hà Vỹ có rất nhiều họ đến định cư, lập nghiệp. Ở Đại Vỹ có họ Vũ, Lê, Nguyễn, Ngô, Dương, Phạm, Đỗ, Trần… Họ Nguyễn có tới bốn nhà thờ và là họ có số dân đông nhất còn họ Vũ tuy đến ở trước nhưng số dân lại không nhiều. ở Giao Tác có các họ: Lê, Ngô. Nguyễn, Phạm, Đỗ. Họ Đỗ tuy đến sau nhưng đông nhất chiếm tới 2/3 dân số của thôn, cả xóm Trại (An Bài) đều là người họ Đỗ đều do con cháu của cụ Đỗ Trác Lý sinh ra. Còn ở Châu Phong cũng có tới 12 dòng tộc đó là họ Phạm, Đỗ, Nguyễn, Trần, Trịnh, Ngô, họ Phạm có hai nhà thờ là Phạm Quí Công (Phạm Xuân) và Phạm Ngân, hai họ Phạm này chiếm số dân đông nhất. Họ Đỗ ở Châu Phong là từ Giao Tác sang đến nay mới được 12 đời ) , họ Nguyễn từ Đại Vỹ sang cũng mới có 8 đời, họ Trần, Trịnh, Ngô đến Châu Phong còn sau họ Đỗ
2. TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CỦA LÀNG
Mỗi làng là một đơn vị kinh tế hành chính có phong tục tập quán riêng, có bộ máy chính quyền để điều hành
công việc của làng. Bộ máy chính quyền ở làng là cầu nối hay nói đúng hơn là tay sai đắc lực phục vụ cho bọn quan lại cấp trên thời phong kiến. Dựa vào bộ máy này, cấp trên mới bóc lột và “cai trị ” được dân.
Thời Gia Long (1804) tổ chức bộ máy chính quyền xã gồm có một Xã trưởng, một Khán thủ còn ở thôn có một Thôn trưởng. Để điều hành mọi việc trong làng còn có các Giáp trưởng và các Tộc trưởng. Việc bầu các chức sắc chính quyền thôn xã , phần nhiều là do dân cử. Người được chọn bầu phải có một số tiêu chuẩn nhất định như phải giầu có biết chữ và phải “tận tuỵ” có uy tín với dân. Sau khi bầu xong, danh sách những người trúng cử phải trình lên cấp trên xem xét sau khi phê duyệt mới được ra làm. Nếu cấp trên không ưng thuận thì có quyền bổ nhiệm thay dân
Nhiệm vụ của bộ máy chính quyền làng xã là thừa hành chính quyền Nhà nước phong kiến “ lãnh đạo ” toàn dân, thực hiện mọi chiếu chỉ của Vua ban ra như thu thuế, đi phu, đi lính … hoặc điều hành công việc của làng xã…
Khi có việc chung cần bàn thì bộ máy chính quyền triệu tập các quan viên, trưởng lão sắc mục, xã trưởng, thôn
trưởng đến chốn đình chung để họp bàn quyết định.
Bộ máy làng xã như trên tồn tại mãi cho tới năm 1841 thì thay đổi cơ cấu cho thích hợp. Từ năm 1841 cho đến năm 1907 bộ máy hành chính ở Hà Vỹ cấp xã gồm có một Lý trưởng, ba Phó lý (vì có ba thôn, mỗi thôn một Phó lý) một Khán thủ, một Trương tuần cùng với Giáp trưởng, Tộc trưởng. ở mỗi làng đều có Hội đồng Kỳ mục và Hội đồng Lý dịch. Hai hội đồng này đại diện cho dân, hầu như quyết định mọi vấn đề của làng xã. Nhưng từ năm 1921, thực dân Pháp đã đặt ra “Hội đồng Tộc biểu” để thay thế cho “Hội đồng Kỳ mục”. Người nào được cử vào Hội đồng này phải biết chữ Quốc ngữ có tài sản và phải được dòng họ hay nhiều dòng họ tín nhiệm cử vào. Đứng đầu Hội đồng này là Chánh hương Hội, giúp việc có Phó hương Hội. Trong hội đồng còn có một Thư ký, một Chưởng bạ và một Thủ quỹ. Hội đồng Lý dịch vẫn giữ nguyên nhưng quyền lực của Lý trưởng được tăng lên. Ngoài ra còn có chức Tiên chỉ để trông nom việc thờ cúng ở đình, nhưng chỉ là chức “hữu danh vô thực”
Việc bầu Lý trưởng và Phó lý phần lớn đều do dân cử, điều kiện phải biết chữ, có tài sản có tinh thần trách nhiệm và không có can án gì. Về quyền lợi kinh tế của Lý trưởng và Phó lý do dân cấp. Lý trưởng “mỗi năm hai vụ, đông và hạ, mỗi vụ được 40 quan tiền ’’ được miễn tất cả sưu sai tạp dịch trong làng xã, ngôi thứ v.v’’ 1)
Lý trưởng ở Hà Vỹ có quyền quyết định những công việc quản lý hành chính do cấp trên chỉ đạo, còn việc làng việc xã thì theo hương ước qui định và do tập thể các cụ hương lão cùng với các vị chức sắc trong làng …họp bàn quyết định. Phó lý quyền lợi về kinh tế chỉ được mỗi vụ “10 quan tiền” , việc giải quyết các công việc trong làng chỉ là người tham gia giúp việc cho Lý trưởng. Chức danh chính quyền thời phong kiến được dân làng gọi gắn với tên
Hội tư văn. Hội tư văn (quan viên) được tổ chức theo từng thôn, việc chứa tư văn (làm cỗ để ăn uống) tại đình và nghè theo lứa tuổi phải sửa. Hội tư văn thời Gia Long (1804) là những người có học, tổ chức ra Hội để thờ cúng Khổng Tử, nhưng tới năm 1889 thì việc thờ cúng Khổng Tử bị phai nhạt đi và thay vào đó là tế lễ ở chốn đình chung với quyền lợi là “đánh chén nhiều”. Vì vậy thành phần trong Hội có cả những người không biết chữ cũng được vào, miễn là có tiền mua chức “tư văn”. Những người được bầu vào chức Tư văn trưởng nhất thiết phải biết chữ, tuổi cao đức tính “thuận hoà”
Tuy nhiên Hội tư văn không mang tính chất chính quyền nhưng ở chốn đình chung họ lại là người có quyền nhất, tiếng nói có trọng lượng nhất
Giáp. Giáp (còn gọi là phe) là tổ chức của nam giới trong làng, giáp chia theo dòng họ, nhưng một giáp thường có hai dòng họ của hai thôn tham gia, vì thế quan hệ mọi mặt giữa ba thôn rất khăng khít không thể tách rời nhau.
Thời xa xưa cả làng có tám giáp (bát giáp) về sau rút lại còn sáu giáp (lục giáp). Đó là :
1. Giáp Kim Toàn (gọi tắt là giáp Kiêm) gồm trai đinh của họ Ngô và họ Nguyễn ở cả Đại Vỹ và Giao Tác
2. Giáp Tây Tiền (gọi tắt là giáp Tây) gồm trai đinh của ba họ Lê, Nguyễn, Phạm ở cả Đại Vỹ và Giao Tác
3. Giáp Tây Trung (gọi tắt là giáp Giữa ) gồm trai đinh của họ Lê, họ Nguyễn ở Đại Vỹ và Châu Phong
4. Giáp Rao Chính (phe Rào) gồm trai đinh của họ Đỗ, họ Lê ở Giao Tác và Châu Phong
5. Giáp Rào Thịnh (phe Thịnh ) gồm trai đinh của họ Đỗ, họ Nguyễn và họ Phạm ở Giao Tác và Châu Phong
6. Giáp Châu Hưng (phe Sau) chỉ gồm những trai đinh của họ Phạm và họ Đỗ ở Châu Phong tham gia
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-18 04:31:04huytran>
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
1. CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1. Đình làng
Đình Hà Vỹ hiện thờ năm vị Thánh có công giúp nước cứu dân. Đó là Thuỷ Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng, Tam Giang và Đông Hải Đoàn của ba thời kỳ lịch sử khác nhau
Trên thượng lương của đình còn ghi rõ :
Đình được xây dựng lần đầu vào năm Canh Thìn (1520), trên nền miếu (hoặc đền) xưa (1), sửa chữa năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), và làm lại to, rộng hơn vào niên hiệu Thành Thái thứ 12 năm Canh Tý (1900) (2)
Kiến trúc ngôi đình Hà Vỹ theo bố cục chữ công (工) bề thế to lớn uy nghi. Toà đại đình có bẩy gian hai dĩ (đình cũ có năm gian hai dĩ) với chiều dài cả hiên là 29,7 m, rộng 14,5 m, cao hơn 6,5 m với tổng diện tích là 432 m2..
Hậu cung có chiều dài 10,8 m, rộng 7,5 m, gồm ba gian. Diện tích sử dụng là 81 m2. Các gian của đình bố trí không đều nhau: Gian giữa rộng 4 m, gian cạnh 3,4 m và 3 m, cân xứng sang hai bên, dĩ 1,85m và hiên 1,2 m. Vì kèo của toà đại đình được thiết kế theo kiểu tứ trụ, kẻ chồng, cốn đội hoành, một kiến trúc chắc khoẻ với kết cấu lục hàng châu. Hệ thống các cột của đình khá lớn và bố trí không đều, cột cái to nhất với đường kính 0,85m và các cột con đường kính từ 0,65 đến 0,75m. Các chân cột đều có tảng đá kê khít với chân và làm chìm xuống nền đình.
Xung quanh làm hiên thoáng, trên làm đao cong, dưới thả kẻ tạo sự cân bằng và vững chắc cho ngôi đình.
Mái đình do độ cong của bốn đao, bốn góc và trang trí nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" trên bờ nóc, cho ta cảm thấy như chiếc thuyền rồng, phần mái của hậu cung trổ cao thoáng, cân xứng với toà đại đình phía trước.
Nghệ thuật điêu khắc trong đình được sử dụng trang trí chủ yếu trên các bức cốn và đầu dư. Cốn mặt tiền gian giữa được chạm bằng “rồng phun nước”, mặt bên chạm “phượng vờn mây”; Các cốn hậu gian giữa chạm trang trí với nhiều hoa tiết đẹp mắt. Các đầu dư đều chạm lồng các hình đầu rồng với nhiều vẻ nhiều kiểu dạng, thể hiện tài nghệ kiến trúc chạm khắc: Hoa, xoắn rau trơn... Hai đầu kẻ gian giữa chạm lân hoá, các tầu được chạm nổi lên. Trước giường hành trong cung được chạm nổi lên bức "Thiều châu trương nhĩ", chạm nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" sơn son thiếp vàng. Hai diềm dọc theo cột hậu chạm "Rồng phun nước", ngoài cửa vào cung cấm cũng là một bức "Thiều châu trương nhĩ". Chạm "lưỡng Long chầu Nguyệt", diềm hai bên chạm "Rồng phun nước", trên bức "thiều châu" là cốn chạm "Nạ đội nóc", hai bên cửa cấm có cốn chạm "Rồng ngậm hoành", dưới cốn cửa cấm là bức gỗ chạm "Lan đằng", chính giữa chạm nổi thiếp vàng ba chữ: " Tối linh từ ". Hai bên cửa vào cung đều chạm rồng hoá, chân đạp long mã và chạm "tứ quí" trên một khung gỗ. Gian chính giữa được bưng kín với màn giếng sơn son. Các góc và cạnh đều trang trí các hình hoa, hài hoà và trang nhã. Đặc biệt cửa võng của đình Hà Vỹ làm rất kỳ công, được sơn son thiếp vàng miêu tả "tứ linh, tứ quí", các hình khắc sống động hiên chuyết lấy nhau. Ngoài hệ "tứ linh, tứ quí", cửa võng còn có chạm "Lan đằng", hoa lá, long mã. Trên cửa võng chạm nổi bốn chữ “Thánh cung vạn tuế”
Sân đình rất rộng (khoảng 450 m2) xây toàn bằng gạch vuông to do làng Bát Tràng sản xuất, hai bên sân có trồng hai cây bàng (nay vẫn còn) trước sân là ao đình có bờ xây gạch, sát bờ là bệ vàng dùng để đốt vàng mã hoá chân hương, hai góc sân có bến rửa chân (ao đình đã lấp cùng với ao cổng Sứ để làm chợ Quậy như ngày nay).
Cạnh đình còn có Văn Chỉ nơi thờ đức Khổng Tử do các nho sĩ Hà Vỹ xây dựng (nay không còn)
Đình Hà Vỹ hiện nay còn lưu giữ được nhiều đồ thờ quí làm bằng gỗ, sứ và đồng đặt ở các ban thờ trong đình
Trong cửa cấm (hậu cung) có :
- Trên ban thờ có 5 long ngai bằng gỗ, tay đầu rồng sơn son thiếp vàng, biểu tượng cho chỗ ngồi của 5 vị thần, trước mỗi ngai là một hòm sắc phong của các triều Vua trước đây.
Hiện nay ở đình còn lưu được 42 đạo sắc phong của 10 triều đại Vua nước ta phong tặng 15 lần cho các Thánh ở đình. Đạo sớm nhất vào năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), đạo gần đây nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924) (xem phụ lục 1- chỉ lấy 10/42 sắc phong, tác giả đã phiên âm và phỏng dịch)
- Thần tích: 2 quyển - làm năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), sao lại năm Thành Thái thứ 19 (1907) và các tài liệu như hương ước, mục lục …
- Sập hội đồng hình chữ nhật kích thước: 2m x 1,8m x 0,55m, chân quỳ, chiện, bốn mặt chạm dạ cá, mặt sập 4 góc bao lan hình chiện.
- Một số đồ thờ: Mâm bồng bằng đồng, mâm bồng bằng gỗ hình vuông, hình tròn, sơn son thiếp vàng, chân quỳ dạ cá, choé sứ, lục bình, đài nến, hạc đồng, nồi hương v.v..
- Bàn thờ bệ hạ có mâm bồng bằng gỗ hình bầu dục, mâm bồng bằng đồng, nồi hương.
- Hoành phi trong hậu cung ghi bốn chữ: "Ngũ nhạc giáng thần"
Ngoài cửa cấm có:
- Sập hội đồng chân quỳ bằng gỗ hình chữ nhật có cổ chạm lan đằng dạ cá, chân quỳ;
- Giá gỗ sơn son thiếp vàng có 9 thanh kiếm gỗ liền bao cũng sơn son thiếp vàng
- Hương án đặt chính giữa dưới cửa võng được sơn son thiếp vàng có kích thước lớn: 2,3 m x 1,11m x 2m, chạm trổ bốn mặt công phu, trên mặt bốn góc có 4 bao lan chạm lưỡng long, ô cổ chạm cúc, trúc, thông, mai tiếp đến là rồng chầu nạ. Hai bên là nạ đội bệ, xà dưới bệ chạm chiện lá, ô giữa chạm rồng chầu nguyệt, qui vờn mây, bộ tứ linh và chạm nạ, các ô bên chạm long mã, phượng lân hý cầu, hai bên chạm thất sự, ô giữa chạm rồng quấn, hai bên chạm long, mã rồi đến các ô cạnh phần dưới chạm trúc mai, nạ đội ô giữa và lèo chạm mây tan.
- Nồi hương sành da lươn lớn đặt trên hương án.
- Trước hương án có giá đèn bằng sắt như một cây hoa. Hai bên là hai con hạc bằng gỗ cao to đứng trên lưng con rùa.
- Hiên án có 6 bức hoành phi sơn then chữ vàng.
- Xưa có tới hơn 30 đôi câu đối treo ở các cột đình.
Đình Hà Vỹ trước đây có cửa bức bàn bưng kín xung quanh và có sàn gỗ lim nhiều bậc lát khắp các gian (trừ ba gian giữa lòng đình). Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, người ta đã dỡ sàn, dỡ cửa và các câu đối của đình để lấy gỗ làm hầm.
Năm 1951 đình được xây bao quanh bằng gạch, khi không còn sàn đình, nhân dân đã lát nền đình bằng gạch lục, có thời kỳ một bên đình (phía Đại Vỹ) còn là nơi thờ Phật. Năm 1961 do thiếu chỗ học, đình còn được ngăn ra làm hai lớp học của trường cấp II Liên Hà (chỉ để gian giữa làm nơi lễ Thánh).
Sau ngày thống nhất đất nước nhiều gia đình, dòng họ và các hội đồng niên của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác đã cung tiến nhiều hiện vật vào đình như câu đối, hoành phi, cờ Tổ quốc, cờ Thần, trống, nồi hương…
Năm 2000 Ban quản lý di tích đình Hà Vỹ và chính quyền hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác đã xây bức tường Bạch mã bằng tiền ủng hộ của nhân dân hai thôn
Năm 2004 Lãnh đạo hai thôn lại huy động tiền cung tiến của các hội đồng niên và một số gia đình hảo tâm cho lát lại sân đình bằng gạch ép xi măng mầu
Năm 2005 nền trong đình được lát lại bằng gạch nung vuông (30x30) do gia đình ông Ngô Văn Ninh thôn Đại Vỹ cung tiến
Năm 2007:
- Hội đồng niên Canh Tuất (sinh1970) cung tiến 01 bộ lư hương bằng đồng
- Hội đồng niên Mậu Thân (sinh 1968) cung tiến 01 bộ đỉnh hương bằng đồng
- Hội đồng niên Canh Tý (sinh 1960) cung tiến kinh phí để làm cửa gỗ ở hai đầu hồi đình
Cuối năm 2007, Ban quản lý di tích cho cải tạo ao đình, xây gạch bờ ao, làm đường xung quanh…
Đầu năm 2008 sân đình (ngoài tường Bạch mã) được lát lại bằng gạch ép xi măng mầu do gia đình ông Lê Văn Vĩnh thôn Giao Tác cung tiến
Tháng 10 năm 2008 Hội đồng niên ất Tý (sinh năm 1965) cung tiến bộ gươm trường bát bửu bằng gỗ sơn son thiếp vàng …
Đình Hà Vỹ ở vào vị trí trung độ của ba thôn nằm giữa hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác, nên thời nào cũng là trung tâm văn hoá của cả làng. Đình là nơi hội họp bàn định các công việc của làng, nơi sinh hoạt văn hoá, tổ chức lễ hội, mít tinh, bầu cử, thi đấu thể thao, biểu diễn văn nghệ, hội thả chim, nơi đón các anh bộ đội về làng và tiễn đưa các chàng trai lên đường giết giặc cứu nước. Đình là nơi chứng kiến các sự kiện lịch sử thăng trầm của nhân dân Hà Vỹ…
Với kiến trúc đồ sộ theo dáng dấp cuối Lê đầu Nguyễn, đình Hà Vỹ là một công trình kiến trúc đặc sắc của quê hương là sản phẩm chứng minh cho nghề nghiệp truyền thống đất thợ của dân làng Quậy
Đình Hà Vỹ đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1989 (Quyết định số 100 VHQĐ ngày 21 tháng 01 năm 1989 )
Đình Hà Vỹ hiện thờ năm vị thánh có công với dân với nước. Đó là:
1) Ba vị Thánh thời hai bà Trưng: Thuỷ Hải, Đăng Giang và Khổng Chúng.
Thuỷ Hải và Đăng Giang là hai anh em sinh đôi cùng
Sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Thìn (năm 20 SCN). Thân mẫu của hai ông là bà họ Phùng, thân phụ là ông Trương Long quê ở Đường Lâm Sơn Tây. Trong khoảng thời gian ấy ông bà Trương Long đến trang Hà Hào dậy học và sinh ra Thuỷ Hải và Đăng Giang. Hai ông sinh ra có tư chất khác thường. Đến năm 16 tuổi hai ông đã có vóc người to lớn và sức lực hơn người lại thông minh tài giỏi võ nghệ cao cường .
Khi hai ông được 18 tuổi thì cha mẹ đều mất, hai ông chọn đất tốt để mai táng cha mẹ
Ba năm tang hết cũng là lúc Tô Định mang quân sang xâm lược nước ta, giết người tàn bạo. Thi Sách - chồng của bà Trưng Trắc - cũng bị chúng giết hại. Để trả thù cho chồng đền nợ nước, bà Trưng cùng em là Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa kêu gọi muôn dân chống giặc
Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của hai bà Trưng, hai ông (Thuỷ Hải và Đăng Giang) nghe chiếu chỉ của Thiên tử bốn bể động lòng hưởng ứng; Ngay hôm ấy hai ông đã chiêu mộ được 500 binh sĩ rồi đem quân đến thẳng đồn bà Trưng. Bà Trưng thấy hai ông tài văn, giỏi võ bèn tuyển dụng và phong tước cho hai ông :
- Thuỷ Hải làm Tả tướng quân đô chỉ huy sứ;
- Đăng Giang làm Hữu tướng quân đô chỉ huy sứ
Sau đó hai ông về trang Hà Hào truyền lệnh cho binh
sĩ giữ trại lập đồn đóng quân, sửa sang Miếu thờ và mở tiệc khao quân một ngày, mời cả các cụ trong làng đến dự, hai ông bảo rằng:" Ngày trước Mẹ ta thường nói với anh em ta: làng này phải thờ các thần linh ra đời"
Các cụ nghe thấy rất mừng, bèn làm lễ bái giá, sau đó thấy sứ giả mang tờ chiếu lệnh cho hai ông đi đánh giặc Tô Định. Hai ông Thuỷ Hải và Đăng Giang cùng với quân của hai bà Trưng đồng loạt đánh giặc, giặc thua to, Tô Định bị giết. Bà Trưng lên ngôi, xưng là Trưng Nữ Vương, phong cho hai ông là "Đô chỉ huy sứ kiêm điện tiền phụ chính "
Đất nước yên bình được ba năm thì nhà Hán lại sai Mã Viện sang xâm chiếm nước ta, Bà Trưng lại giao cho hai ông cầm quân đánh giặc Mã Viện
Trong thời gian ấy ở trang Hà Hào có ông Khổng Chúng cũng có tài thao lược và sức lực hơn người theo hai bà Trưng và được bà Trưng phong là “Tiền lộ tướng quân”
Quân Mã Viện, tướng sĩ hùng mạnh, không ai địch nổi, Khổng Chúng đem quân đánh thẳng vào đồn Mã Viện nhưng bị thua, quân của hai bà Trưng và của hai ông Thuỷ Hải, Đăng Giang đã chiến đấu kiên cường nhưng không thắng nổi phải rút lui, cuối cùng đã hy sinh anh dũng vào ngày 10 tháng 7 năm 43 SCN, còn Khổng Chúng thu được 50 binh sĩ trở về trang Hà Hào để cố thủ. Quân Mã Viện đuổi theo, ông cùng các quân sĩ - có sự giúp sức của nhân dân Hà Hào - chiến đấu đến cùng. Khổng Chúng không may bị ngã ngựa và đã hy sinh ngày 12 tháng 9 cùng năm (năm 43 SCN). Mộ ngài được đặt ở khu đồng Sứ, Quần Trùng thôn Châu Phong
Vua Đinh Tiên Hoàng (968 - 979) đã phong cho hai ông Thuỷ Hải và Đăng Giang là Thượng đẳng thần
Đến thời Tiền Lê (980 -1009), Vua Lê Đại Hành lại phong cho ba ông đều là Đại Vương:
- Thuỷ Hải và Đăng Giang: Hiển ứng linh thông Đại vương
- Khổng Chúng: Linh ứng sáng triết Đại vương
Đến các thời đại vua sau đều sắc phong cho các ông là Thần và chuẩn y cho dân làng Hà Vỹ phải thờ ba vị Thần trên (xem thêm phần Hà Vỹ tham gia chống giặc ngoại xâm phong kiến phương Bắc chương 2, mục 2 )
2) Vị Thánh thứ tư : Tam Giang thời Lý Nam Đế - Triệu Quang Phục (thế kỷ thứ VI)
Ông Tam Giang sinh ngày 5 tháng Giêng năm 522 cha là người họ Trương, mẹ là người họ Đào ở trang Văn Mẫu huyện Quế Lương lộ Kinh Bắc (nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Khi Triệu Quang Phục thay Lý Nam Đế đóng quân ở đầm Dạ Trạch. Ông Tam Giang nghe theo chiếu chỉ bèn chiêu mộ quân rồi đến đầm Dạ Trạch giúp Triệu Quang Phục và được Triệu Quang Phục cử làm “ Chỉ huy sứ dư tả tướng quân”
Ông Tam Giang đã về trang Hà Hào đóng quân, thiết lập đồn trại để đối phó với quân của Trần Bá Tiên. Đến năm 550 nhân nhà Lương có loạn to ông đã cùng với Triệu Quang Phục đánh thắng quân nhà Lương. Triệu Quang Phục lên ngôi Vua, xưng là Triệu Việt Vương. Hai mươi năm sau, (năm 571) Lý Phật Tử phản trắc đoạt quyền, Triệu Việt Vương phải chạy ra cửa biển tuẫn tiết
Ông Tam Giang không theo Lý Phật Tử mà trở về An Phú, Hương La trang đến đầu bến Giang Tân gần ngã Ba Xà sông Như Nguyệt (sông Cầu) gieo mình xuống dòng sông tự vẫn ngày 10 tháng 4 năm 571 vì không muốn “hai lòng” thờ hai Vua
Dân Hà Hào đã tế lễ đón thần về thờ ở đình làng
Thánh Tam Giang là người tài giỏi có khí tiết nên các
đời vua sau đều sắc phong cho ông là “Phổ trạch Đại vương” và “Thượng đẳng thần”

3) Vị Thánh thứ 5: Đông Hải - đầu thế kỷ thứ XIII (cuối Lý đầu Trần).
Ông Đông Hải sinh ngày 12 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1210), cha là Đoàn Thượng (làm quan to nhà Lý), mẹ là Phùng Thị Chinh người làng Hồng Thị, Châu Giang, Hải Dương. Khi mới sinh, Đông Hải đã khôi ngô tuấn tú, khi lớn lên đi học lại thông minh, mới 16 tuổi đã hiểu rộng, đọc kỹ binh thư và có võ nghệ cao cường. Khi ông 21 tuổi thì nhà Lý đã suy. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi được hai năm thì nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh dưới sự xếp đặt của Trần Thủ Độ (năm ất - Dậu -1225)
ông Đông Hải thấy nước nhà chuyển sang triều Trần không quang minh chính đại nên ông đã bất đồng căm phẫn có trí phục thù. Năm Canh Dần 1230 ông chiêu dụ các triều thần đồng quan điểm và xây dựng lực lượng luyện tập binh mã chờ cơ hội để giành lại ngôi Vua cho họ Lý
Ông đã chiêu mộ được 5 vạn quân sĩ rồi tiến quân sang đạo Kinh Bắc phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn làng Hà
Vỹ (tên cũ là Hà Hào)
Đến Hà Vỹ, ông thấy ở đây “non nước quanh co, địa thế hiểm trở ” rất tốt cho việc xây dựng căn cứ để đánh lại nhà Trần. Nhân dân Hà Vỹ đã giúp đỡ nghĩa quân và ủng hộ ông. Ông Đông Hải đã đem quân đánh Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Thái Tông không đánh mà đưa thư giảng hoà và phong tước cho ông rồi ông tự xưng là Đông Hải Vương chiếm giữ vùng Đông Ngàn nhưng chỉ được ba
năm thì mất (ngày 10 tháng 11 năm Nhâm Thìn -1232).
Năm 1427 Lê Lợi đã đóng quân ở làng Hà Vỹ, đêm ngủ mộng thấy các thần âm phù đánh giặc “xuất quân chiến đấu là thắng to”
Hôm sau Lê Lợi cử tướng Trần Lưu đem quân đi đánh giặc Minh xâm lược. Quân Minh đã thua to, Liễu Thăng bị chém đầu ở ải Chi Lăng
Năm Mậu Tý (1428) Lê Lợi lên ngôi tức là Vua Lê Thái Tổ đã gia phong cho tướng sĩ. Ngài bảo rằng “ Đánh thắng giặc Minh cũng là nhờ các thần âm phù hộ” giúp sức bèn phong: Đông Hải, Thuỷ Hải là linh ứng Đại Vương còn Đăng Giang là hiệu ứng Đại Vương (3)





Đình Hà Vỹ

1.2. Nghè làng
Nghè làng được nhân dân Châu Phong xây dựng năm Đinh Tỵ (1917). Trước đó các cụ ở thôn Châu Phong vẫn phải sang đình cùng với các cụ hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác làm nhiệm vụ thờ cúng các ngày giỗ Thánh, tế lễ các ngày hội và làm sóc vọng hàng tháng… ở đình.
Do đường đi lại từ thôn Châu Phong sang đình hơi xa (nhiều khi phải lội), để khỏi phải đi lại vất vả nhiều lần trong năm, các cụ thôn Châu Phong đã đề nghị làng cho xây dựng ngôi nghè riêng để thờ vọng (4 ) năm vị Thánh ở đình. Từ đó những ngày sóc vọng hay giỗ Thánh, các cụ ở thôn Châu Phong cúng ở nghè mà không phải sang đình nữa.
Kiến trúc nghè theo kiểu chuôi giuộc là kiến trúc phổ biến ở thời cuối Lê đầu Nguyễn, nghè hiện nay có năm gian hai dĩ đằng sau là hậu cung (hai gian) tổng diện tích khoảng gần 150 m2. Trong nghè có nhiều hoành phi, câu đối, đa số câu đối đều mới làm, do các gia đình trong thôn cung tiến
Sát hậu cung là ba chữ Hán “Tối linh từ ”, trên cửa võng là bốn chữ “Vạn cổ anh linh” các chữ Hán được chạm nổi sơn son thiếp vàng
Nghè ở Châu Phong nằm trong quần thể khu di tích của đình Hà Vỹ. Trước đây nghè còn có nhà Tiền tế ở trước, tảo xá ở hai bên và tường Bạch mã có ba cổng lớn, cổng giữa để rước kiệu, hai cổng bên là để người ra vào hàng ngày, cổng tường Bạch mã được trang trí rất cầu kỳ tiếc là nay không còn nữa. Năm 2004, nghè làng đã được Bộ Văn hoá cấp bằng Di tích Quốc gia (Quyết định số 20 ngày18 tháng 2 năm 2004)



Nghè làng

1.3. Chùa Làng
Theo các cụ cao tuổi truyền lại: Khi đạo Phật từ Trung Quốc truyền bá sang nước ta thì làng Quậy cũng làm chùa để thờ Phật. Mới đầu chùa được làm ở vườn Trên thôn Giao Tác. Chùa cách đình khoảng 300 m có đường nối với nhau, đứng ở đình có thể nhìn thấy chùa vì dân cư lúc bấy giờ rất thưa thớt. Vì ở vườn Trên đất trũng việc đến lễ chùa, nhất là vào mùa mưa rất khó khăn vì phải lội, nên sau đó nhân dân làng Quậy đã chuyển Chùa đến xứ đồng Lều sát làng ống (Thiết úng) vì nơi đây đất cao mà vẫn thuộc cánh đồng làng Quậy .
Mãi đến năm Canh Tý 1900 cụ Sư Lã đã cho xây dựng
một ngôi chùa mới tại đồng Rùa đầu thôn Đại Vỹ có tên là Đại Bi Tự.
Cụ Sư Lã tên là Phạm Quí Dận, người họ Phạm Quí Công thôn Châu Phong (vì tu ở Chùa Lã nên gọi là Sư Lã). Cụ đi tu từ nhỏ, bản tính thông minh chịu khó học tập tu luyện nên đã đắc đạo đỗ tới Pháp sư. Với cương vị và học vấn uyên thâm như vậy, cụ được quyền xây dựng một ngôi chùa tại quê hương (gọi là chùa Chốn Tổ). Cụ lại là người thày “giỏi địa lý, bùa cao tay” nên cụ đã đặt ngôi chùa mới trên đất “con Rùa” để cho cả làng Quậy được thịnh vượng.
Chùa Đại Bi có diện tích khuôn viên khoảng 3,2 mẫu đất, chùa có gần 100 gian, 11 nóc, kiến trúc của chùa rất cổ kính, mái chùa theo kiểu cổ diêm, các nhà san sát nhau có hành lang ngang dọc, đi lại thuận tiện không sợ nắng mưa. Xung quanh chùa có thành bao bọc, vườn chùa có rất nhiều cây cổ thụ và cây ăn trái nên rất mát mẻ và yên tĩnh
Cổng chùa cũng rất đồ sộ uy nghi, gác chuông xây rất cao, chuông chùa to, mỗi khi thỉnh chuông cả vùng nghe tiếng. Chùa Quậy Chốn Tổ đã có 72 ngôi chùa thuộc bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Ninh (Hải Dương) về theo cụ tổ Sư Lã, theo chùa chốn tổ Đại Bi . Chùa Chốn Tổ còn là nơi đào tạo các tăng ni phật tử để bổ sung trụ trì các chùa quanh vùng. Hàng năm các sư về “ hạ” ở chùa Quậy rất đông. Chủ trì chùa Đại Bi sau khi cụ sư Lã qua đời là cụ sư Giám, sư Thụ và người cuối cùng trông nom chùa là sư Trang (còn gọi là sư Ba), ba vị sư này đều là môn đệ của cụ sư Lã và được cụ Lã đào tạo tin cậy.
Năm 1945 chùa này còn lập ra quán Bảo Anh (do cụ sư Trang phụ trách) để cưu mang những con em nghèo khổ cơ nhỡ cô đơn. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa Quậy lại là nơi ẩn náu, hội họp, làm việc, huấn luyện cán bộ và là trạm liên lạc của Việt Minh vì nơi đây hẻo lánh cây cối um tùm rất thuận tiện cho việc hoạt động bí mật của các cán bộ cách mạng địa phương.
Tháng 4 năm 1949 chùa Quậy là địa điểm họp đại hội bí mật thành lập chi bộ Đảng xã Liên Hà do hai chi bộ của hai xã Ngũ Hà và Hà Vỹ sáp nhập
Vì chùa Quậy khá to lại có vị trí hẻo lánh cây cối um tùm, sợ giặc Pháp lấy đó để xây bốt làm đồn, không có lợi cho việc hoạt động của du kích và bộ đội địa phương. Vì vậy năm 1951 theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, chúng ta đành hy sinh ngôi chùa cổ kính đẹp nhất vùng này, khi đó tượng Phật của chùa phải di chuyển về Tảo Mạc sau đưa lên một bên đình làng để thờ cúng. Tượng Phật của chùa Quậy rất nhiều, lại lâu năm nên rất giá trị. Khi di chuyển có một số tượng bằng đất bị vỡ đành phải bỏ đi. Hiện nay vẫn còn các pho Tượng Phật được nhân dân rước về chùa mới (làm năm 1998) cũng trên khu đất chùa xưa. Chùa Quậy trước đây là một công trình kiến trúc độc đáo và là nơi danh thắng của quê hương Hà Vỹ và trong vùng.
Năm 1998 (sau gần 50 năm không có chùa) nhân dân làng Quậy đã khôi phục xây dựng lại ngôi chùa Chốn tổ Đại bi vẫn trên đất chùa xưa. Khi làm chùa, mọi người đã tìm thấy mộ sư Tổ Lã ở ngay trước chùa mới, thế là mọi người xây lăng luôn cho cụ. Chùa tuy còn nhỏ (mới đầu chỉ có nhà Tam bảo nhà thờ mẫu, lăng sư Tổ và gác chuông) nhưng cũng đáp ứng được lòng mong mỏi của toàn dân, chùa xây xong dân làng đã rước Phật từ đình trở về chùa để thờ cúng. Từ đó tới nay đất chùa được mở rộng, cây cối trồng nhiều, đang lên xanh tốt làm cho cảnh chùa yên tĩnh tôn nghiêm, không khí trong lành thoáng mát ai cũng muốn vào thăm quan, lễ Phật. Hàng năm vào những ngày lễ hội do nhân dân cung đức tiền của nên đã làm thêm được nhà thờ Tổ, nhà dẫy, mở rộng sân và tường bao quanh cùng với công trình phụ. Trong chùa Tượng Phật và hoành phi câu đối các đồ dùng nội thất cũng được nhân dân cung đức khá nhiều
Để nhớ công ơn của sư Tổ, hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 8 ÂL các Phật tử của làng đều tổ chức cúng giỗ cho cụ tổ Sư Lã ở chùa, ngày đó mọi người về dự rất đông
Năm 2006, chùa Đại bi đã được Hội Phật giáo Hà Nội quản lý do Thượng toạ Thích Bảo Nghiêm trụ trì, nay giao cho Đại đức Thích Quảng Đại trụ trì trông nom hàng ngày, do đó việc thờ cúng ở chùa đã đi vào nề nếp và theo đúng nghi lễ của đạo Phật, vì vậy các Phật tử đi lễ ngày càng đông, nhiều gia đình có người mất đã đưa lên chùa để cầu cho linh hồn được an lạc siêu thoát.



Chùa làng



1.4. Nhà thờ họ
Làng Hà Vỹ có nhiều họ, mỗi họ đều có nhà thờ Tổ họ (hoặc Tổ chi) riêng. Trước đây các họ đều có tổ chức sóc vọng vào ngày Một hoặc ngày Rằm hàng tháng âm lịch. Trải qua bao nhiêu năm biến đổi, một số nhà thờ họ phải di chuyển nơi thờ cúng có những nhà thờ vẫn giữ được từ đường và gia phả như họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác.
Nhà thờ họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1990 (Quyết định số 84 ngày 02 tháng 3 năm 1990).
Đây là nơi thờ cúng của một dòng họ lớn từ Bồng Sơn Thanh Hoá ra, đến đời thứ ba là ông Đỗ Hoan lấy hai bà vợ, bà cả là Phạm Quý Thị , bà hai là người họ Vũ, cả hai bà đã sinh được năm người con trai thì bốn người đỗ Đại khoa (ba người đỗ Tiến sĩ, một người đỗ Thám hoa - trên Tiến sĩ) và một người là “Phục tướng quân” trong đó có Tiến sĩ Đỗ Túc Khang - Nghè Rào (con thứ nhất), Đỗ Viên Nghị (con thứ 2 là một vị tướng), Tiến sĩ Đỗ Đại Uyên - Nghè Me (con thứ 3). Thám hoa Đỗ Túc Khiêm (con thứ 4) và Tiến sĩ Đỗ Danh (Đỗ Vinh - con thứ 5).
Ngay cạnh nhà thờ họ Đỗ Đại tôn là điện Bà Cô thờ bà Đỗ Thị Mỹ Mai
Theo gia phả họ Đỗ thì: Đỗ Thị Mỹ Mai sinh năm Đinh Mão (1507) là con gái út của ông Đỗ Túc Khang. Từ nhỏ cô Mai rất ham học, văn hay chữ tốt lại giỏi võ nghệ. Tháng Mười năm Đinh Hợi (1527) tại Phổ Yên Phú Bình (xứ Thái Nguyên) có nhiều dư đảng trộm cướp nổi lên quẫy nhiễu cuộc sống dân lành. Trước đó Đỗ Túc Khang (đã giữ chức Tán trị Thừa chính sứ Kinh Bắc, Thái Nguyên). Để giúp vua, con gái Đỗ Túc Khang - Đỗ Thị Mỹ Mai - đã xin đi dẹp giặc . Cô đã cải nam trang thành một tướng nam nhi, với tài võ nghệ lại giỏi cầm quân cô đã đánh tan được nhiều dư đảng, đem lại cuộc sống yên bình cho nhiều vùng quê. Sau đó trong một trận giao tranh chẳng may gió thổi tung giải yếm đào vì thế giặc biết là tướng đàn bà. Chúng bèn dùng kế đê hèn cho quân lính cởi hết quần áo "khoả thân" xông vào trận, vốn là gái chưa chồng cô "xấu hổ, e thẹn " buộc phải lui quân, giặc đuổi theo đến cầu sông Trấn Giang (sông Công), thế cùng cô phải nhảy xuống sông tự vẫn. Hôm đó là ngày mồng Tám tháng Sáu năm Mậu Tý (1528) khi đó cô còn rất trẻ mới có 21 tuổi đời. Thương tiếc và nhớ ơn cô, nhân dân quanh vùng đã lập đền thờ ở nhiều nơi. Đến năm Duy Tân thứ 5 (1911), Vua Duy Tân đã sắc phong cho cô là "Diên Bình công chúa " cho phép xã Thượng Dã, phủ Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên lập đền thờ bà cô.
Nhớ công ơn của bà nhiều nơi cũng lập đền thờ. ở đền Đồng Thụ xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã tôn bà là “Anh linh thần nữ”. Ngày 12 tháng 11 năm 2004 , Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã cấp bằng cho đền Đồng Thụ là Di tích Lịch sử Văn hoá
2. PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI
2.1. Các phong tục tập quán
Các làng xã Việt Nam nói chung và làng Hà Vỹ nói riêng cùng với nhà nước phong kiến là một khối thống nhất và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mọi chủ trương của nhà nước đặt ra như thế nào là các làng phải theo đúng như vậy, nhưng làng Hà Vỹ đã chuyển hoá chủ trương của nhà nước ra thành cái của riêng mình cho phù hợp với địa phương mình ở. Đó là những “Hương ước” phong tục riêng được các vị có chức sắc trong làng soạn ra để duy trì kỷ cương của làng. Trong bản “Hương ước” của làng đều thể hiện phong cách riêng có tính nguyên tắc “pháp luật” của nhân dân Hà Vỹ. Chẳng hạn như cách phân phối ruộng đất khác với thời Gia Long hoặc bỏ thuế của nhà nước cũng được địa phương biến hoá thành của mình, việc lấy vợ gả chồng trong và ngoài làng, cách bầu bán nhiêu, tư văn ngôi thứ ở đình làng… Điều đó đã được qui định trong bản “Hương ước” một cách đầy đủ, chặt chẽ. Do phong tục của làng có nhiều nét tốt đẹp nên Vua Tự Đức khi về làng Hà Vỹ đã ban tặng cho làng bốn chữ “ Mỹ tục khả phong” nhân một lần nhà Vua đi kinh lý các tỉnh phía Bắc (năm Tự Đức thứ 22 -1869. Làng Đình Sấm và làng Trang Liệt (Sặt) cũng được vua Tự Đức ban cho bốn chữ trên) .
Những phong tục của làng được mọi người tuân theo đó là :
2.1.1. Việc cưới xin. Phần lớn trai gái ở Hà Vỹ thời phong kiến đều cưới tảo hôn (kết hôn sớm).
Cưới thường qua ba bước sau đây:
- Lễ ăn hỏi. Khi nhà trai “ướm” được cô nào ưng ý, muốn lấy cho con trai mình đều nhờ ông hoặc bà mối đến nói chuyện với nhà gái trước. Khi được nhà gái chấp nhận thì nhà trai tiến hành lễ ăn hỏi. Lễ ăn hỏi thường có một buồng cau độ 200 quả, đủ lá trầu và vỏ cùng với 0,5 kg chè ngon. Những thứ đó đem đến nhà gái. Nhà trai đi ăn hỏi gồm có ông hoặc bà mối và một số ông bà có tuổi trong họ. Khi đến nhà gái ông (bà) mối là người đảm nhiệm “đối ngoại” mọi việc. Khi lễ ăn hỏi xong thì người con gái coi như đã “có nơi có chốn ” không ai dám “đặt vấn đề ” nữa, còn “chàng rể tương lai” được đi lại công khai không sợ ai xì xào bàn tán. Thời gian tổ chức đám cưới thường sau vài tháng hoặc vài ba năm tuỳ theo hoàn cảnh gia đình hoặc tuổi tác
Trong quá trình chờ cưới có khi “cô dâu tương lai” lại chê người con trai mà thay đổi ý kiến, nếu gia đình nhà gái “chiều” con thì người con gái phải tự mình đem trầu cau tới nhà trai xin trả lại. Sau khi trả cau thì người con gái lại được “tự do” coi như chưa có gì
- Lễ xin cưới. Khi nhà trai muốn tổ chức đám cưới cho con thì ông (bà) mối và một số người có tuổi gần nhất trong họ nhà trai đi đến nhà gái xin cưới. Khi nhà gái nhất trí thì cả hai bên bàn bạc chọn “ngày lành tháng tốt” rồi nhà gái “thách cưới”. Lễ cưới thường gồm có: thịt lợn 50 kg, gạo tẻ 100 kg, gạo nếp một nồi (13 kg), rượu trắng 5 lít, gà quả, tiền mặt tuỳ theo từng nhà và từng thời kỳ
- Lễ cưới. Ngày “Đại lễ” ở cả hai bên nhà trai và nhà gái đều rất tưng bừng nhộn nhịp đông vui người ra kẻ vào, người tiếp khách, người làm cỗ nấu nướng… Khi cưới, nhà trai không phải đi mời họ hàng nội ngoại, bà con hàng xóm láng giềng ai có lòng thì đến giúp và mừng. Còn nhà gái phải đi mời, họ mới đến ăn. Đi ăn cỗ ở nhà gái không phải mừng (vì cỗ là do nhà trai lo)
Hôm cưới, nhà trai chọn giờ tốt đi đón dâu. Đoàn nhà trai thường có đủ thành phần ông bà, chú bác, cô dì nội ngoại “song toàn” và không có “bụi” cùng chú rể và phù rể đến nhà gái đón dâu. Khi đoàn nhà trai đến gần cổng nhà gái thì bị chặn lại vì cổng nhà gái đóng (gọi là đóng cổng rể). Khi nhà trai đưa cho ít tiền lẻ, thì nhà gái mới mở cổng cho vào. Đoàn đón dâu vào nhà, được nhà gái mời vào các vị trí định sẫn, sau đó chàng rể đến bàn thờ để lễ tổ tiên gọi là “lễ gia tiên”. Trường hợp nhà gái là trưởng họ thì lễ tại nhà, nếu trưởng họ ở nhà khác thì cả hai vợ chồng đều phải đến nhà ông trưởng họ để lễ. Làm lễ xong, hai họ mới ăn uống chuyện trò vui vẻ. Khi ăn xong, nhà trai cùng đại diện nhà gái đưa dâu về nhà trai. Trong đoàn nhà gái có một cụ cao tuổi người phúc hậu con cháu đông đủ được nhà gái chọn, cụ đó cầm ba nén hương chập lại với tờ giấy hồng ra tới đầu ngõ châm lửa đốt. Đến nhà trai, đầu tiên phải làm lễ tơ hồng, sau đó lễ tổ tiên cuối cùng là ăn uống hát xướng tuỳ theo khả năng từng nhà. Nói chung cưới xin thời phong kiến ăn uống, thách cưới thường tốn kém. Dù nhà giầu hay nhà nghèo đều phải theo phong tục chung của địa phương. Tuỳ theo giầu nghèo mà mức độ ăn uống to hay nhỏ. Nhiều gia đình vì quá nghèo nên lấy vợ cho con rất khó khăn.
Cũng có gia đình vì biến cố đột ngột cha hoặc mẹ sắp chết, người mối phải đến nhà gái để xin cưới gấp gọi là cưới “chạy tang”. Cưới “chạy tang” thường tiến hành theo bước cuối cùng nhưng việc ăn uống thì đơn giản hơn.
Ngoài hai loại cưới trên còn có loại “cưới chui”, cưới “kế mẫu” và cưới “lấy lẽ”
Cưới chui (không hợp pháp) cũng phải tiến hành ba bước như trên nhưng về hình thức có đơn giản hơn nhưng việc thách cưới cũng không phải ít
Cưới “kế mẫu” là trường hợp người vợ cả đã có con nhưng còn nhỏ lại ốm sắp chết (hoặc đã chết còn đắp chiếu nằm trên giường). Nhà trai nhờ người mối đi dạm hỏi một người đàn bà đã được chọn. Khi nhà gái chấp thuận thì tiến hành cưới ngay với nghi lễ giản đơn. Sau khi làm lễ “tơ hồng” xong, hai vợ chồng cùng với họ hàng đưa thi hài người vợ cả vào áo quan. Người vợ kế phải đội khăn tang đưa ma vợ cả ra đồng
Còn cưới “lấy lẽ” là do vợ chồng lấy nhau lâu ngày mà không có con hoặc chỉ có con gái. Gia đình nhà chồng muốn có con trai để “nối dõi tông đường” khi đó người vợ cả lấy vợ lẽ cho chồng. Cũng có trường hợp vợ chồng tuy đã có con trai con gái nhưng nhà giầu cần có người làm nên người chồng phải lấy thêm vợ lẽ hoặc trong quá trình chung sống với người vợ cả không hạnh phúc không hợp nhau hoặc do già do xâú v.v người chồng lại có máu “giăng hoa” muốn thoả mãn nhu cầu dục vọng của mình nên đã cưới thêm vợ lẽ dù cho vợ cả có đồng ý hay không. Lấy vợ lẽ, thách cưới cũng cao, có tổ chức cưới nhưng đơn giản hơn.
Cưới xin dù giầu dù nghèo dù hình thức nào đều phải nộp “cheo” cho làng. Nếu lấy vợ lấy chồng trong xã thì “phải nộp cho làng 8 quan tiền, nếu lấy ngoài xã phải nộp 20 quan” (một quan là 60 đồng)
Dưới chế độ phong kiến, trai gái không có quyền tự do yêu đương mà thường do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, trai gái con nhà giầu, nghèo thường không lấy được nhau dù có yêu nhau tha thiết chỉ vì hai bên không “môn đăng hộ đối”. Vì vậy đã làm cho bao mối tình tan vỡ hoặc cam chịu suốt đời. Việc cưới xin tốn kém đã gây cho bao gia đình sau khi cưới vợ cho con đã khốn khổ túng thiếu phải “kéo cầy” trả nợ
Kể từ khi hoà bình lập lại (1954), việc cưới xin ở Hà Vỹ đã thay đổi rất nhiều. Trai gái được tự do tìm hiểu và phải đến tuổi trưởng thành (nam 20, nữ 18 tuổi theo Dương lịch) mới được kết hôn và thực hiện theo luật hôn nhân qui định, một vợ một chồng, phải đăng ký kết hôn trước chính quyền địa phương mới là hợp pháp. Việc cưới xin cũng đơn giản hơn - cưới theo lối đời sống mới- chỉ có trầu cau, nước chè, thuốc lá cuốn, cỗ bàn đơn bạc lại hạn chế nên rất tiết kiệm, có thời kỳ vài đám còn cưới tập thể ở đình
Ngày nay do đời sống người dân khá giả, nên việc cưới xin ở Hà Vỹ lại linh đình tốn kém hơn trước rất nhiều. Để tổ chức cho ngày cưới, cả hai gia đình nhà trai cũng như nhà gái đều dựng rạp có phông màn trang trí cầu kỳ, nhà nào cũng thuê bàn ghế, bát đĩa, ấm chén, khăn trải bàn, trên bầy hoa tươi… rất lịch sự, trang trọng, trước ngày cưới, họ hàng ruột thịt đã đến ăn “dựng rạp” hàng vài chục mâm… Buổi chiều và tối có nhiều người hàng xóm láng giềng, họ hàng bạn bè thân thích trong làng… đến chơi ăn trầu uống nước, có bánh kẹo, hạt dưa, hạt bí tiếp đãi… Ngày đại lễ ngoài họ hàng còn có bạn bè khách khứa đến dự rất đông, cỗ bàn ăn ở nhiều nhà, từ vài chục đến hàng trăm mâm với nhiều món ăn ngon … Người đến ăn cưới thường mừng cho bố mẹ cô dâu, chú rể khá nhiều (tuỳ theo quan hệ) có khi bố mẹ chẳng phải chi ra là mấy vì “ăn bồ giả đấu” nên việc cưới cho con hay cháu cũng dễ dàng chẳng phải lo lắng như xưa. Mặc dù ăn uống hai ba ngày, cả họ no say, chỉ có điều người thân vô cùng vất vả… Có lẽ sau này, con cháu chúng ta sẽ không tổ chức cưới xin như ngày nay nữa… mà theo mốt cưới của các nước châu Âu, châu Mỹ mới là tiến bộ văn minh
2.1.2 Việc ma chay
Dưới chế độ phong kiến, ở Hà Vỹ việc tổ chức ma chay thường là: Gia đình nào có người “hấp hối” thì phải lo chuẩn bị việc “hậu sự “ cho người quá cố. Tuỳ theo hoàn cảnh gia đình mà đóng hay mua quan tài, vải liệm, khăn trắng, áo xô, gạo thịt, trầu cau v.v. Khi người ốm đã tắt thở, gia đình phải bàn với họ nội để lo tổ chức lễ tang với các việc như là: khi nào vào quan, cho khăn những ai, từ năm tháng hay ba tháng (việc chở người mất - khăn trắng, khăn vàng, khăn đỏ …đều theo qui định của Thọ Mai Gia Lễ) ... hình thức tổ chức ra sao, chôn cất ở đâu, ai đi đào huyệt, ai làm cỗ v.v. Người chết được quàn ở trong nhà ba ngày để mọi người đến phúng viếng cúng tế.
Nếu người mất là nam từ 50 tuổi trở lên được hưởng chữ “Phúc” viết hai chữ Hán “Công bố” còn dưới 50 tuổi viết hai chữ “Trung tín”, nữ giới khi đã xây dựng gia đình được viết hai chữ “Trinh thuận”, nếu ai không đạt được “Trinh thuận” (lấy hai đời chồng…) thì viết hai chữ “Nghĩa mẫu” hoặc “Nghĩa mẹ” (nay vẫn theo như vậy)
Việc tế lễ gồm có :
- Đại hành (người đại diện cho họ đứng ra)
- Thăng du (chuyển linh cứu lên nhà táng)
- Đạo lộ ( tế giữa đường và ném vàng)
- Thanh phân hậu thờ (người đào mộ chứng kiến cho vong hồn)
- Ngũ lễ (gồm tám ngũ hoặc tại ngũ)
- An sang ( khi công việc đã yên ổn )
Cách đưa đám thường là:
- Đi trước là cờ phướn, câu đối của con cháu
- Sau đó là bộ phận khênh bình hương, tiếp đó là các cụ lão rồi đến phường kèn trống
- Quan tài (do hàng bàn khênh). Khi khênh từ trong nhà ra cổng con cháu phải ngồi quỳ gù để bắc cầu cho linh cữu của bố (hoặc mẹ) đi qua
- Đi trước quan tài là con trai trưởng hoặc cháu đích tôn (nếu con trưởng không còn hoặc đi vắng) chống gậy, (bố gậy tre, mẹ gậy vông) áo xô trắng thắt lưng dây chuối hoặc dây rơm. Khi tới huyệt mọi người giãn ra hai bên để hạ huyệt và tổ chức việc lấp mồ đắp mả
Việc khênh quan tài người chết ra đồng là do từng Giáp đảm nhiệm, trong mỗi Giáp (phe) có các ông Lềnh và ban hàng Bàn (ban chân khiêng) làm nhiệm vụ khiêng rước và chôn cất. Ông Lềnh Cả cầm lệnh đánh làm hiệu lệnh, hàng bàn khiêng quan tài. Có một cụ cao tuổi nhất của Giáp làm nhiệm vụ cầm bó đuốc nắm hương đang cháy đi trước linh cữu cho đến nơi chôn cất
Nhà nghèo thì việc tổ chức đám tang thường đơn giản, Nếu thày dậy học chết thì các môn sinh phải đi đưa đám. Nếu thày dậy thợ chết thì hàng hiệu phải đi đưa đám.
Gia đình có tang thường phải làm cỗ để mời họ hàng nội ngoại khách khứa xa gần, bà con hàng xóm đến ăn, tuỳ theo giầu nghèo hay sang hèn, họ hàng đông hay ít mà ăn to hay ăn nhỏ, cỗ đám ma thường đơn giản hơn cỗ đám cưới nói chung đều theo phong tục địa phương. Sau ba ngày chôn cất, gia đình con cháu phải cúng cơm hàng ngày. Đến 49 ngày (tuần tứ cửu) và 100 ngày con cháu lại phải tổ chức cúng cho người chết và mời họ hàng thân thích đến ăn.
Gia đình có người chết cũng phải thực hiện “lễ nộp ma” cho làng. Nếu người lớn chết thì phải nộp cho Giáp Tư văn, hạng nhất 40 quan tiền, hạng nhì 30 quan, hạng ba 20 quan. Nếu trẻ nhỏ mất cũng phải nộp theo mức hạng nhất 6 đồng, hạng nhì 4 đồng, hạng ba 2 đồng nếu nghèo quá thì làng miễn cho (5)
Ngày nay việc ma chay cũng khác xưa. Gia đình nào có người quá cố phải báo tử cho chính quyền xã biết. Người chết thường không được để quá 24 tiếng trong nhà. Gia đình nội tộc gần, phải họp bàn để phân công cho mọi người trong họ làm những việc cần. Các nghi lễ điếu phúng người quá cố cũng rất trang trọng tôn nghiêm. Suốt từ lúc phát tang cho tới 10 giờ đêm, trước linh cữu người quá cố có nhiều đoàn đến viếng trong tiếng nhạc hiếu rất bi thương. Đám ma cụ nào cũng có vòng hoa của chính quyền địa phương, hội người cao tuổi và các đoàn thể cơ quan đến viếng (nếu con cháu người quá cố là cán bộ cơ quan Nhà nước). Việc tổ chức lễ tang thường do Ban Lễ tang của địa phương lo liệu. Mọi nghi thức tang lễ đều được thống nhất cho tất cả mọi người trong làng, không phân biệt giầu nghèo hay sang hèn. Cũng như trước đây, khênh quan tài đều do ban lềnh (hàng bàn) đảm nhiệm. Quan tài trước đây ban lềnh phải khiêng trên vai, nay đã có xe chở từ cổng nhà ra đến tận huyệt ngày nay con cháu không phải ngồi quì để cho quan tài đi qua như trước nữa . Những cụ mất có tuổi thọ cao từ 70 trở lên, khi đưa đám được nghỉ giữa đường (từ 70 đến 79 nghỉ 1 lần, từ 80 đến 89 nghỉ 2 lần và trên 90 tuổi nghỉ 3 lần). Từ khi Hà Nội có nhà thiêu xác Hoàn Vũ đã có một số gia đình đem người quá cố đi thiêu rồi lấy tro xương đem về xây luôn mả tròn, việc thiêu xác là một sự tiến bộ vì không phải cải táng, lại rất vệ sinh gọn nhẹ, không tốn đất để mả dài, không phiền hà đến họ hàng, tốn kém cho con cháu, việc này nên khuyến khích các gia đình làm theo
Ngày nay cũng do kinh tế khá giả, đời sống được nâng cao nên việc tổ chức ma chay thường rất tốn kém. Đối tượng cho khăn đều mở rộng từ ba tháng trở lên, có gia đình cho khăn không theo qui định như ngày xưa nữa ( tức không theo Thọ Mai Gia Lễ) .
Sau khi đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng, do lời mời của gia đình tang chủ, họ hàng nội ngoại, khách khứa gần xa, gia đình thông gia, bà con hàng xóm, bạn bè thân hữu … thường trở lại gia đình có tang ăn uống để chia buồn với gia đình tang chủ. Cỗ bàn đã được ban “hậu cần” của họ chuẩn bị suốt đêm khá chu đáo từ vài chục đến hàng trăm mâm (tuỳ theo từng gia đình) cũng vô cùng vất vả tốn kém, thiết nghĩ việc ma chay nên giảm bớt thì hơn
2.1.3. Tục trọng xỉ (trọng tuổi)
Trong làng xã, người được trọng vọng nhất là các cụ già. Trong nhà, ngoài đường gập các cụ già phải chào hỏi thưa bẩm tử tế dù là quan tước cấp cao hay Lý trưởng, Chánh tổng cũng vậy
Những buổi cần họp ở chốn đình chung để bàn và giải quyết một số công việc của làng xã như lấy lính, sửa đình xây cầu cống hoặc phạt vạ người nào đó có tội v.v. thì Lý trưởng đều phải cho mõ tới tận nhà các cụ mời. Khi có đình đám hội hè ăn uống, các cụ phải được ngồi “chiếu cao cỗ đầy”. Nếu cụ nào không đi được thì phải sai mõ mang phần đến tận nhà cho các cụ chu đáo. ) Đứng đầu các cụ lão là Trùm trưởng. Trùm trưởng là người cao tuổi nhất và phải có uy tín đối với mọi người trong thôn xóm. Người nào trúng chức ngôi Trùm trưởng người đó phải nộp 10 quan tiền để khao làng. Trong một làng chỉ có một Trùm trưởng, nhưng khi làng cần tiền để chi tiêu vào việc công, thì làng bàn định có thể bán từ 2 đến 4 ngôi Trùm trưởng nữa với số tiền mỗi ngôi là 50 quan. Các ngôi Trùm trưởng này đều được hưởng đầy đủ các quyền lợi như ngôi Trùm trưởng chính
Người 50 tuổi (tuổi mụ) mới được lên lão và phải nộp lễ lên lão, hạng nhất nộp 15 quan, hạng nhì 10 quan, hạng ba 5 quan, ngoài ra còn phải sửa lễ xôi gà ra đình thờ. ở chốn đình chung vị trí chỗ ngồi cũng phân biệt ngôi thứ rất rõ ràng, người cao tuổi hoặc có chức sắc trong làng phải được ngồi chiếu trên
Tục trọng xỉ là một truyền thống lâu đời của nhân dân Hà Vỹ, là đặc điểm của công xã nông thôn còn được lưu truyền mãi về sau. Kính lão là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta, ai nhiều tuổi đều được tôn trọng không phân biệt giầu nghèo sang hèn.
Ngày nay việc trọng xỉ không còn được như xưa nữa, các cháu ra đường gập người nhiều tuổi thường không chào hỏi, dù người đó có họ hàng xa. Thật đáng buồn cho lớp trẻ con cháu chúng ta, tuy có học mà không biết tục trọng xỉ là gì. Các ông bà, cha mẹ, các thày cô giáo cần quan tâm giáo dục các cháu hơn để tục trọng xỉ được duy trì mãi mãi cho các thế hệ mai sau vì đó là nét đẹp văn hoá của quê hương
2.1.4 Mua nhiêu
Dưới thời phong kiến, ở Hà Vỹ, việc mua nhiêu và quan viên rất phổ biến. Mua nhiêu là sự tự nguyện của người dân, ai có tiền đều mua được. Nhưng mua được “chức nhiêu” cũng rất tốn kém. Chỉ có những người giầu có mới mua được. Việc mua nhiêu ở Hà Vỹ vào cuối thế kỷ XIX thường là: Trong làng có ông Lềnh đi vận động những nhà “có máu mặt” và phải là “hiền lành tử tế, ba bốn đời không có dấu vết gì”. Nhiêu cũng có hai loại : Nhiêu hàng thôn và nhiêu hàng xã. Nhiêu hàng thôn thì chỉ khao trong thôn, còn nhiêu hàng xã thì phải khao cả xã tốn kém hơn nhiều. Người được mua nhiêu phải là đàn ông tuổi từ 18 trở lên và phải nộp cho làng 70 quan tiền và phải khao làng ba lần mất 150 mâm cỗ .
Lần thứ nhất gọi là lễ “dập bút” lần này mời các ông nhiêu, Lý trưởng, Phó lý trong làng đến ăn uống ở nhà
Lần thứ hai gọi là “khao” mời dân làng các cụ ông từ 50 tuổi trở lên có cả Lý trưởng, Phó lý các vị chức sắc trong làng ra đình ăn uống linh đình
Lần thứ ba gọi là “vọng” để mời những người có chân sóc vọng, nhiêu hàng thôn, nhiêu hàng xã có cả tân và cựu Lý trưởng, Phó lý cũng ra đình ăn uống
Nhiêu hàng xã tuy rất tốn kém nhưng vẫn có nhiều người mua và cố để mua vì một chức nhiêu ngoài sự hãnh diện “vinh dự “ ra còn được hưởng nhiều quyền lợi như: Miễn các loại phu phen tạp dịch trong thôn xã, được đi ăn uống nhiều ở chốn đình chung trong những lần người khác mua nhiêu. Quyền lợi của ông nhiêu về mặt nào đó cũng ngang với Lý trưởng, Phó lý như việc ăn uống ở đình đều được mõ đi mời tận nhà, được chia phần khi vắng mặt, được mọi người tôn trọng kính nể dù là còn ít tuổi, ngay cả vợ cũng được thơm lây gọi là “bà nhiêu”
Việc mua nhiêu là một sự bầy vẽ của chế độ phong kiến đặt ra nhằm để chè chén ăn uống, một tai hoạ trong xã hội phong kiến, tuy làng có được một ít tiền để làm việc công như sửa đình, xây cống, lát đường …nhưng là một gánh nặng của người dân lao động. Chức “nhiêu” thời phong kiến được dân làng gọi gắn với tên và tồn tại mãi cho đến ngày nay.
Phong tục tập quán của Hà Vỹ còn biểu hiện trong cách bố trí chỗ ngồi ở chốn đình chung. Đó là cách chia đặt ra tổ chức :
- Nóc hàng xã
- Nóc hàng thôn, và
- Nóc hàng giáp
Hàng năm có một bữa ăn ở đình vào ngày 3 tháng 3 âm lịch (ÂL) gọi là lễ Vân Can. Ngày đó, đối tượng được ăn là các ông nhiêu hàng xã và các tân cựu Lý trưởng, Phó lý. Nóc hàng xã tuy phần nhiều là những người trong bộ máy chính quyền thôn xã nhưng về ngôi thứ vẫn phải tôn trọng theo lệ làng. Ai là người nhiều tuổi nhất vẫn được ngồi mâm trên cỗ đầy. Trong ngôi đình kể cả khi ăn uống hay họp bàn thì vẫn phải tôn trọng qui định “cứ vai vế mà ngồi”. Nóc hàng thôn tập trung ở ngôi đình làng, hàng năm làm một bữa ăn vào rằm tháng Tám (15/8 ÂL)
Trong nóc hàng thôn chia chỗ ngồi trong đình theo góc đình, thôn nào ở góc đình nào thì thôn đó được ngồi ở góc đình đó. Chẳng hạn thôn Đại Vỹ ngồi góc đình phía Bắc, thôn Giao Tác ngồi góc đình phía Nam …
Trong nóc hàng thôn tuy ngồi trong nửa ngôi đình hoặc ngồi ghé nhưng vẫn phải theo thứ tự qui định: Nhiều tuổi ngồi trên ít tuổi ngồi dưới
Nóc hàng Giáp. Khi ăn uống họp hành đều tiến hành ở đình làng có thể nói nóc hàng Giáp sử dụng ngôi đình làng thường xuyên
Giáp chia theo dòng họ, một giáp có thể có hai, ba dòng họ và ở hai hoặc cả ba thôn tham gia
Giáp Rào Thịnh (thôn Giao Tác) có một số gia đình họ Đỗ chuyển cư từ Giao Tác sang Châu Phong ở đã nhiều đời, nhưng mỗi khi Giáp có công việc thì những gia đình họ Đỗ đó vẫn phải trở về Giáp mình ở Giao Tác gánh vác
Cả làng có sáu Giáp: Trong đó thôn Đại Vỹ có ba giáp, Giao Tác có hai giáp còn Châu Phong chỉ có một giáp vì Châu Phong có nhiều người tham gia các giáp của Đại Vỹ và Giao Tác
Kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay việc mua nhiêu, mua quan viên đã không còn nữa vì đó là những hủ tục chẳng tốt đẹp gì của chế độ phong kiến đặt ra. Việc bãi bỏ các hủ tục là một sự tiến bộ của làng quê tránh được sự tốn kém gánh nặng cho dân.
2.1.5 Tín ngưỡng
Lòng tin vào tôn giáo tạo ra sức mạnh vô hình đã chi
phối tâm hồn tư tưởng của con người. Ngoài tôn giáo còn có tục thờ cúng tổ tiên, thờ các vị Thành hoàng, thờ các vị có công với làng hay dậy học truyền nghề ...
a) Thờ cúng tổ tiên.
Đây là phong tục cổ truyền của người Việt Nam. Việc thờ cúng là biểu hiện lòng hiếu thảo của đạo làm con làm cháu đối với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qua đời. Đây là việc làm có ý thức của nhân dân Hà Vỹ đối với tổ tông sinh thành và nuôi dưỡng con cháu, là hiện tượng phổ biến trong làng xã Hà Vỹ vẫn còn in đậm và tồn tại cho tới ngày nay. Việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống dân tộc” có lịch sử lâu đời truyền từ đời này đến đời khác ở nước ta, nó còn là một đạo lý làm người “uống nước nhớ nguồn, ăn qủa nhớ người trồng cây”…
b) Giỗ họ.
Hàng năm các họ đều có tổ chức ngày giỗ Tổ họ hoặc Tổ chi (khi phân chi có nhà thờ riêng). Giỗ được tổ chức tại nhà thờ họ. Ông trưởng họ đứng ra làm cỗ vì ông trưởng họ được cấy số ruộng họ, phần hoa lợi lấy ra dùng để chi phí đèn hương và cỗ bàn trong ngày giỗ tết. Số ruộng đất dùng để chi phí hương hoả không được bán hoặc chuyển nhượng cho ai. Ngày giỗ tổ chỉ có các con cháu của các cụ trong chi và phân chi được đến ăn họ. Trong những ngày như vậy họ có thể mời phường hát về “phục vụ” cho vui. Ngày giỗ họ là một ngày họp mặt đông đủ các con cháu trong họ, các cụ nhiều tuổi thường kể cho con cháu nghe những thành tích hoặc truyền thống tốt đẹp của họ mình, ông trưởng họ có thể nhắc lại những điều chúc thư của ông Tổ căn dặn con cháu làm những điều tốt cho làng cho nước để giáo dục các thế hệ con cháu cần học tập noi theo
Ngày nay các họ ở Hà Vỹ vẫn cúng giỗ Tổ họ (hay Tổ chi) như trước đây, giỗ vẫn được tổ chức tại nhà thờ họ, nhưng kinh phí để làm giỗ họ là do các thành viên tham gia ăn họ đóng góp (vì ruộng đất của họ không còn)
c) Giỗ hậu.
Những người không có con trai hoặc không có ai cúng giỗ thì làng cúng giỗ cho. Những người ấy khi sống, họ đã để một số ruộng đất cho các nơi họ định nhờ cúng giỗ sau khi chết. Nếu nhờ Chùa thì sư cúng, nếu nhờ họ thì trưởng họ cúng nếu nhờ ngõ thì trưởng ngõ cúng nếu nhờ đình (thường là những người có chức sắc và giầu có) thì làng cúng . Ngày nay giỗ hậu không ai cúng nữa vì không ai có ruộng cung tiến cho họ, cho ngõ, cho làng, hay đình chùa như trước
2.2. Lễ Hội
Ở đình làng Hà Vỹ trước đây hàng năm thường tổ chức Lễ Hội từ ngày 12 đến ngày 30 tháng Giêng. Theo lệ từ ngày 1 Tết Nguyên đán, cụ thủ Điện làm lễ động thổ ở đình. Ngày 10 tháng Giêng, các ông chạ làm lễ mộc dục (rửa đồ thờ)
Ngày 12 bắt đầu Lễ Hội. Xa xưa khi Châu Phong chưa làm nghè thì sáng sớm ngày hôm đó mọi thành viên tham gia Lễ Hội phải sang tập trung ở đình làng để cùng hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác tổ chức Lễ Hội. Sau năm 1917 khi Châu Phong có nghè thì sáng hôm 12, Châu Phong tổ chức rước kiệu trên có bát hương sang đình. Khi kiệu sang đến sân đình thì hai ông thủ Điện, thủ Bạ ở đình nhận bát hương rồi đặt lên hương án trong đình. Sau đó các quan viên kỳ mục trong làng làm lễ nhập tịch bằng cỗ xôi gà. Lễ xong thì tổ chức rước Thần ra Cầu Đê theo qui định: Thôn Châu Phong rước Thần, thôn Đại Vỹ rước Văn còn thôn Giao Tác rước Mã. Cũng ngày 12 tháng Giêng làng làm lễ lên lão cho những người đến tuổi 50 (tuổi mụ)
Từ ngày 13 đến ngày 29, hàng ngày đều có tế lễ với lễ vật được qui định và phân cho các Giáp phải làm. Trong những ngày đó đều có các chầu hát (hát chầu văn, ca trù…) phục vụ các cụ bô lão, các vị chức sắc và quan viên của làng ăn uống tại đình rất tốn kém.
Ngày 30 mãn tịch đóng cửa đình. Châu Phong lại rước kiệu trên đặt nồi hương khi rước sang về nghè và thường tổ chức hội tiếp đến ngày mồng 6 tháng Hai mới hết
Ngoài kỳ hội chính còn có các ngày lễ (theo âm lịch) sau đây:
- Giỗ các vị Thánh vào các ngày 10 tháng Tư (giỗ Tam Giang), 10 tháng Bẩy (giỗ Thuỷ Hải và Đăng Giang), 12 tháng Chín (giỗ Khổng Chúng) và 10 tháng Một - tháng 11 (giỗ Đông Hải)
- Xuân tế và Thu tế vào ngày 13 tháng Hai và tháng Tám tế tại Văn Chỉ của làng để cầu mong cho làng có nhiều người đỗ đạt
- Thanh minh (mồng 3 tháng Ba) do các Giáp làm, cỗ có xôi và bánh chay
- Trung thu (rằm tháng Tám) cũng do các Giáp biện lễ như lễ Xuân tế
Để lo liệu mọi công việc trong những ngày Lễ Hội,
làng phải cử Cai đám từ phe giáp các thôn. Cai đám lấy từ tuổi 49 là những người khoẻ mạnh không dị tật không tang chở … Cai đám phải ăn ở tại đình trong những ngày Lễ Hội.
Ngày Lễ Hội ở đình Hà Vỹ thường rất vui, ngoài tế lễ hát chầu văn, ca trù còn có hát tuồng (thường do đoàn tuồng cổ của Châu Phong diễn), chọi gà, cướp chài, đấu vật… có năm còn đốt pháo bông. Trong những ngày hội hè người dân thường nghỉ công việc đồng áng mà đi xem hội, nhiều người còn chơi cờ bạc (tổ tôm, sóc đĩa, thò lò, tam cúc…) cả làng ăn uống lu bù.... tốn kém. Vì thế dân ta thường có câu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi…”. Cũng vì lệ làng mà “đứng mất ngôi, ngồi mất nghiệp” nên nhiều người đã phải bỏ quê hương “tha phương cầu thực” để khỏi phải gánh vác ngôi thứ việc làng.
Trong ngày Hội còn có một nghi thức độc đáo là đọc Mục Lục vào ngày 14 tháng Giêng. Bản Mục lục của đình làng Hà Vỹ làm vào thời hậu Lê (thế kỷ XVI)
Để mọi người biết được toàn văn bản Mục lục của đình làng, xin in ra đây bản Mục lục (đánh máy vi tính lại) bằng chữ Hán và chữ Nôm cùng bản dịch và phiên âm của tác giả từ bản chép tay của gia đình cụ Đỗ Duy Lục thôn Giao Tác còn giữ được
Bản mục lục này là một áng văn tuyệt tác nói về quê hương Hà Vỹ một thời rực rỡ, đồng thời là những lời giáo huấn của ông cha để lại cho con cháu muôn đời về đạo lý làm người. Tuy đã mấy trăm năm rồi nhưng ngồi ngẫm lại mới thấy những lời dậy bảo của cha ông thật là thâm thuý, nó vẫn còn giữ nguyên giá trị, nhất là trong thời buổi hội nhập và kinh tế thị trường này - đạo đức có phần coi nhẹ, thật đáng lo ngại. Rất mong các cấp chính quyền, ông bà cha mẹ, các bậc bề trên, các thày cô giáo … hãy quan tâm giáo dục các thế hệ con cháu chúng ta và phải có biện pháp cứng rắn ngăn chặn kịp thời nhưng trước hết mình phải là người gương mẫu.




BẢN “MỤC LỤC “ Ở ĐÌNH HÀ VỸ










Bản dịch và phiên âm Hán - Việt
Bản Xã “Mục lục”
Hoàng Thượng vạn vạn niên
Thánh Chúa vạn vạn tuế.
Vua tôi mừng hội hợp long vân,
Trên dưới thoả duyên lành ngư thuỷ.
Bể trầm tăm ngạc, sân hạ vầy, ngọc bạch rẫy tuôn,
Rừng tắt khói lan, kho Chu thấy, can qua xếp để,
Dân Nghiêu Thuấn xem tầy
Thói Đường Ngu khá ví.
Gió êm mưa giặt, muôn dân điều phúc hưởng thái bình,
Nhà đủ người no, tám cõi khắp ca dâng Thạng Thuỵ.
***
Mừng nay giữa huyện Đông Ngàn,
Đội Một xã trong Hà Vỹ,
Phong cương ổn đã xiêu quần,
Hình thế đương nên thắng địa,
Mái tả có rồng xanh cuốn khúc, nước cuồn cuộn nghìn tầm ,
Biên hữu thêm hùm trắng trương vây, núi đùn đùn muôn trĩ,
Trâu đen phù mái ất lạ nhường,
Sẻ đỏ trấn phương Tân ỷ dị,
Đất thực cấu thanh linh,
Tài giỏi sinh tuấn vỹ.
Nghề văn học cha truyền con nối, nghiệp hằng thìn mã sử lân kinh.
Đám khoa danh anh trước em sau, đời rõi thấy Hàn, Đồng, Đậu quế.
Bề sĩ tử khá khen,
Đường nông phu siết kể,
Nghiệp công lưu, nghề hậu tắc, ruộng nương làm khẩn khẩn cần cần,
Sương Hán Đế, đụn Đường Hoàng, thóc tiền chứa trần trần luỹ luỹ.
Nghề khéo léo chẳng nhặt mỏ tơ,
Đường công tiện nào sai mũi chỉ.
Dây Li Lâu khéo đặt so tày, Chu Đại Lục Công.
Phép quản thị xoay vần xá kể, Hán Triều tam tỷ (tử).
Bốn dân nghiệp đã an nhàn,
Một đám đoàn vầy vui vẻ.
Xướng ca noi lề cũ, kính sự thần minh,
Phép tắc dùng nhời nghiêm khuyên răn cả bé.
Tế tự lấy lòng tin làm trước, chớ còn vin thói huyên hoa,
Khởi cư giữ chữ kính làm đầu, chẳng được ra bề ngạo nghễ.
Gái trai giữ chữ trung trinh,
Trên dưới thời lòng lễ nghĩa.
Miệng đọc chữ “Thượng hoà hạ mục”, chớ lấy bàn dưới mà lấn bàn trên,
Phép hằng thời thiếu, hậu trường tiên, chớ cậy tuổi già mà khinh tuổi trẻ.
Khảo quan tu mực nẩy cân cầm, tế đám chớ áo chày vai trễ.
Khảo quan tu miệng giữ như bình, hoà làng cùng lòng khoan tựa bể
Đào nương lấy thanh âm làm trước, chớ còn theo thói phồn hoa,
Quản giáp tu nghề nghiệp làm xưa, chẳng được ra bề sống xỉ.
Vậy mới nên chúc Thánh một trường,
Vậy mới cẩn thờ Thần tám lễ,
Nhời răn nhiều ít, trên dưới cùng giữ trọn xưa sau.
Phúc hưởng dài lâu, già trẻ thoả vui vầy phú quí.
Nay ước !


2.3. Văn hoá giáo dục
2.3.1. Nho học
Nho học được truyền bá vào nước ta rất sớm, mạnh nhất là thời Sĩ Nhiếp (187-226). Làng Hà Vỹ thuộc huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc (một thời gian gần 700 năm) là nơi có “một đống ông Đồ, một bồ Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”. Truyền thống hiếu học, khoa bảng đó thế nào cũng có tác động đến việc học tập của con em Hà Vỹ. Trong các khoa thi thời Phong kiến, Hà Vỹ cũng có những vị đỗ Thám hoa như Đỗ Túc Khiêm, Hoàng Giáp như Ngô Tòng Củ, Tiến sĩ như Đỗ Túc Khang, Nguyễn Trác... Đặc biệt theo giả phả họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác có gia đình cụ Đỗ Hoan (con của Đỗ Tử Lỗi ) đã sinh được năm người con trai thì bốn con đều đỗ Đại khoa một con là “Phục tướng quân” dưới thời hậu Lê, đó là :
1. Đỗ Túc Khang (con trưởng) đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ năm Bính Thìn (1496) thường gọi là Nghè Rào, làm quan đến chức Thừa chính sứ (có khắc tên trên bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội)
2. Đỗ Viên Nghị (con thứ 2) là một vị tướng nhà Lê, được Vua phong tước là “ Phục tướng quân bắc quản đô đốc, chánh quản thần vũ vệ xuyên đình quang hầu” hiện nay con cháu cụ ở Bồng Sơn, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá (quê gốc của cụ nội Đỗ Chấn)
3. Đỗ Đại Uyên con thứ 3 đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Mùi (1499) thường gọi là Nghè Me (cụ sinh và lớn lên đi học ở Giao Tác (Quậy Rào) nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở quê vợ - làng Me thuộc xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
4. Đỗ Túc Khiêm con thứ 4 đỗ Thám Hoa (trên Tiến sĩ) năm Kỷ Mùi (1499 đỗ cùng năm với Đỗ Đại Uyên) cụ sinh và lớn lên đi học ở Giao Tác nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở Thư Trì, Thái Bình, hiện nay con cháu cụ sinh sống ở Mỹ Đình, Phú Mỹ, Từ Liêm, Hà Nội
5. Đỗ Danh (Đỗ Vinh) - con thứ 5 - đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn (1508) làm quan Thượng Thư đời Lê, cụ sinh trưởng và đi học ở Giao Tác nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở Thư trì Thái Bình hiện nay con cháu của cụ ở làng Tức Mạc xã Lộc Vượng, Nam Định.
Trong bản Mục Lục ở đình làng có những câu:
“Bề văn học cha truyền con nối
Nghiệp hằng thìn mã sử lân kinh
Đám khoa danh anh trước em sau
Đời dõi thấy Hàn, Đồng, Đậu, quế ”
Để ca ngợi gia đình cụ Đỗ Hoan có thể sánh với mấy gia đình họ Đậu, họ Đồng và họ Hàn bên Trung Quốc (ba gia đình này cũng có 5 con trai đỗ Tiến sĩ)
Ở nhà thờ họ Đỗ Đại tôn (nhà ông Đỗ Văn Nghiệp thôn Giao Tác) có câu đối còn ghi: “Thời Trung đại cửu tử bát đồng triều” nghĩa là thời Trung đại họ Đỗ có gia đình sinh được chín người con trai thì có tới tám người con đỗ đạt được ra làm quan cùng một triều đại (đó là con của Giám sinh Đỗ Túc Độ )
Khi đạo Nho thịnh hành ở nước ta, nhà Vua dựng Văn miếu thì các địa phương cũng xây Văn chỉ để thờ Đức Khổng Tử, các nho sinh của Hà Vỹ cũng xây Văn chỉ ngay ở cạnh đình để thờ đức Khổng Tử và ghi tên những người đỗ đạt của làng. (Văn chỉ xưa đặt ở cạnh sân trường Mẫu giáo thôn Đại Vỹ ngày nay). Trong suốt chặng đường 843 năm cử nghiệp Hán học, Hà Vỹ có 84 người đã đỗ từ Tú tài đến Thám hoa trong đó có 1 Thám hoa và 5 Tiến sĩ đó là không kể Tiến sĩ Ngô Chấp Chung quê gốc ở Đại Vỹ, trú quán ở Hà Lỗ, Tiến sĩ Đồng Nhân Phái sinh ở Thiết Úng là con nuôi cụ Đỗ Túc Khang được bố nuôi cho ăn học ở Giao Tác
2.3.2. Đạo Phật
Đạo Phật thâm nhập vào vùng Kinh Bắc từ thế kỷ thứ VI. Đạo Phật có hai dòng: Dòng Nam Phương và dòng Quan Bích. Chùa Quậy theo dòng Quan Bích. Dòng này do Vô Ngôn Thông Thiền sư đưa vào chùa Kiến sơ (Phù Đổng) đầu thế kỷ thứ IX được nhà sư Cẩm Thành quê ở Tiên Du trụ trì, tại đây tiếp nhận. Hai dòng thiền Nam Phương và Quan Bích là cơ sở chủ yếu của Phật giáo nước ta, sau này góp phần đào tạo nhiều cao tăng danh tiếng
Ở triều Lý, Trần, đạo Phật rất thịnh hành. Chùa chiền phần lớn do vua quan quý tộc lập ra, chùa nào cũng rất đông tăng ni phật tử. Chùa Trùng Quang ở Tiên Du học trò có tới hàng ngàn người. ở triều Lý, Trần, Phật giáo chính là Quốc giáo của nước Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông và Trần Nhân Tông là hai vị Vua rất mộ đạo Phật, các vị đã từ bỏ ngai vàng nơi giầu sang phú quí để đi tu. Chính Lý Thánh Tông là người sáng lập ra dòng Thảo Đường (dòng thứ ba của đạo Phật Việt Nam) còn Trần Nhân Tông là vị Thuỷ tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. ở vùng Kinh Bắc thời Lý, Trần, chùa chiền xây dựng khắp nơi, hầu như làng nào cũng có chùa, nhiều người đi tu đắc đạo am tường đạo Phật.
Theo Gia phả họ Phạm Quí Công (Phạm Xuân) ở thôn Châu Phong có cụ Phạm Quí Công (tôn là Tổ họ) hiệu Phúc Khê là người đạt tới đỉnh cao của đạo Phật được Nhà Vua phong tước là Tả Quốc sư Ngự Sử Đài, Thái bảo yến Quận Công, khi về hưu được Vua ban là Vinh lộc Đại trượng phu, mộ ngài vẫn còn ở nhà thờ họ Phạm mới xây ở Châu Phong. Năm 2004 mộ cụ Phạm Quí Công được con cháu họ Phạm xây lại và khắc bia cùng với nhà thờ mới. Đến đầu thế kỷ thứ XIX hậu duệ của cụ Phạm Quí Công (khoảng đời thứ 19) chính là Phạm Quí Dận (thường gọi là Sư Lã), cụ đã đứng ra tổ chức xây chùa Chốn tổ Đại Bi ở đồng Rùa (đầu thôn Đại Vỹ) và chính cụ Sư Lã cũng đã chủ trì xây dựng lại đình làng Hà Vỹ năm Canh Tý 1900 đến nay vẫn còn và được Bộ Văn hoá nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá
2.3.3 Văn học dân gian.
Trong suốt quá trình lịch sử, trải qua hàng ngàn năm, từ trang Hà Hào đến làng Hà Vỹ đời nối đời, con người vẫn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay. Cũng như các làng quê khác, người dân Hà Hào - Hã Vỹ trong khi lao động sản xuất vui chơi họ đã “sáng tác” được nhiều câu ca dao hò vè, ví von còn truyền lại mà nhiều người có tuổi bây giờ vẫn thuộc
Để nêu đặc điểm của từng cánh đồng, từng khu vực đã xuất hiện các câu như “Cua bờ Cái, gái bên Sau” (để chỉ cua bờ Cái béo, gái bên Sau - Châu Phong - đẹp) “Cau bên Rào, ao bên Quậy”…hoặc “một mẫu đồng Rào không bằng một sào đồng Quậy” “Mạ đồng Tróc, thóc đồng Kênh” v.v
Để chỉ những người có nhiều tiền, nhiều ruộng, hay làm, ở Giao Tác còn truyền lại câu “ Lắm tiền cụ Vượng,
lắm ruộng cụ Hàm, hay làm cụ Mật (cụ Cót)…”
Chợ Sa ở Cổ Loa họp vào ngày mồng Sáu hàng tháng, là chợ của “quê cha đất tổ” không được bỏ chợ Sa, các cụ thường truyền lại câu:
“Về nhà bảo con bảo cháu
Chớ bỏ mồng Sáu chợ Sa”
Làng Quậy có nghề thợ mộc, con trai làng lại có tay nghề rất khéo, cô nào lấy được chồng biết làm nghề thợ mộc giỏi thường rất hài lòng mãn nguyện, họ biểu lộ niềm vui bằng các câu:
Lấy chồng thợ mộc sướng sao,
Mạt cưa rấm lửa phon bào nấu cơm,
Phon bào lại nỏ hơn rơm,
Mạt cưa rấm lửa thơm hơn hương trầm.
Hình ảnh các chàng trai thợ mộc ở làng Quậy khi đi làm thợ nơi xa thường phải vác đục xách bào cũng là mơ ước của bao cô gái các làng lân cận, họ muốn làm quen:
Hỡi anh làm thợ nơi nao,
Để em vác đục xách bào tiễn đưa.
Giao Tác có nghề thợ mộc giỏi thường dễ lấy vợ đẹp, nên con gái Châu Phong hay lấy chồng Giao Tác, vì vậy các chàng trai Châu Phong đã “sáng tác” các câu:
Nước giếng Châu Phong vừa trong vừa mát,
Đường Châu Phong lắm cát dễ đi,
Ai về Giao Tác làm chi,
Nước giếng thì đục đường đi thì lầy.
Để nhắn nhủ các cô gái Châu Phong “đừng có dại” lấy chồng Giao Tác
Thợ nề ở Hà Vỹ cũng rất khéo tay lại hết lòng vì tình
yêu đôi lứa, để được yêu, có lẽ họ đã sáng tác ra các câu
hứa hẹn sau đây:
ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây,
Xây dọc anh lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân …
Gạch Bát Tràng nổi tiếng khi xưa cũng ở Đông Ngàn chẳng xa làng ta là mấy, vì tình yêu, anh thợ nề làng Quậy chắc là mua được, vì làm nghề thợ nề lại khéo tay nên anh có thể “xây dọc” “xây ngang” “xây hồ bán nguyệt” rất dễ dàng chứ đi thuê thì phiền mà tốn lắm.
Tuy nhiên ở Hà Vỹ ngoài thợ mộc, thợ nề, còn có cả thợ lò nhưng thợ nề thợ lò vất vả, khi làm lại bẩn hơn, vì vậy có những câu chê các cô gái lấy chồng thợ nề, thợ lò như:
Vô duyên lấy phải thợ nề,
Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm , hoặc:
Vô duyên lấy phải thợ lò,
Vầy đất, vầy cát, vầy tro cả ngày v.v.
Vì Hà Vỹ ở vùng đất khoa bảng “Dốt Đông Ngàn còn hơn sang (ngoan) nơi khác” nên số người theo học chữ Nho (Hán- Nôm) cũng nhiều, trong đó cũng có người đỗ đạt rất cao được Triều đình trọng dụng. Hẳn hình ảnh “vinh qui bái tổ” của các vị Tiến sĩ, ông Nghè ngày xưa đã gây ấn tượng mơ ước của bao cô gái trong làng muốn lấy chồng theo học chữ Nho để sau này chồng được vinh hiển làm quan, mình cũng được “võng anh đi trước, võng nàng theo sau” mà không muốn lấy những anh chồng nhà giầu nhưng vô học, nên có những câu:
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên ông Đồ.
Lấy chồng rồi, người vợ trẻ còn “sáng tác” ra những câu ca dao để phê phán chê bai những anh chàng không chịu “dùi mài kinh sử” chỉ thích giong chơi, học chỉ là hình thức như:
Ngày thì cắp sách đi giong
Tối về lại thắp đèn trong đèn ngoài.
Quan niệm của các cô vợ ngày xưa đã đi học thì phải siêng năng, chăm chỉ để học giỏi thành tài như thế mới có tương lai, còn không thì nên về đi cày làm ruộng để có cái nghề trong tay còn hơn :
Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong v.v.
Hà Vỹ trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh là quê hương quan họ nên ít nhiều cũng ảnh hưởng những lời ca tiếng hát của quan họ Bắc Ninh. Dưới thời phong kiến, vào những đêm gió mát trăng thanh, mùa thu tháng 8, nhân khi nhàn rỗi (do lúa đang lên đòng) trai gái thường tụ tập tổ chức hát ví hoặc hát trống quân giữa ngõ này với ngõ khác, giữa làng này với làng khác rất vui, trong bài hát có những câu mang dáng rấp của làn quan họ Bắc Ninh như là:
Còn duyên yếm thắm dải đào,
Hết duyên yếm rách dải nào cũng vơ,
Còn duyên kén những trai tơ,
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng…
Trên đây chỉ là một số câu được các cụ truyền lại mà tôi biết, nếu chịu khó sưu tầm chắc còn phong phú hơn nhiều.

(1) Trước khi xây đình, dân làng Quậy đã làm một cái miếu (hoặc đền) để thờ ba vị Thánh của làng và gọi là miếu (hoặc đền) thờ Thành Hoàng để che mắt bọn xâm lược Phương Bắc phá huỷ vì ba vị Thành Hoàng đó đều là ba vị tướng của hai bà Trưng đánh quân xâm lược
(2) Đình hiện nay xây dựng năm Canh Tý (1900) do Pháp sư Phạm Quí Dận (Sư Lã) người họ Phạm Quí Công (Phạm Xuân) thôn Châu Phong chủ trì xây dựng (làm sau chùa Chốn tổ Đại Bi - chùa cũ nay không còn)
(3)Theo Thần tích ở đình Hà Vỹ (làm năm Vĩnh Hựu thứ 6 -1740) do cụ Đỗ Duy Lục thôn Giao Tác dịch tử bản chữ Hán
(4)Thờ vọng là: Dùng một nồi hương mới rồi lấy một ít cát và chân hương ở nồi hương của đình mang về nghè thờ. Ngày Lễ Hội (12 tháng Giêng) Châu Phong đưa nồi hương đó lên kiệu, rồi rước sang đình, hết Lễ Hội lại rước về nghè (vọng nghiã là hướng về)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-18 04:37:30huytran>
Chương 5
HÀ VỸ DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
NĂM1945 Ở ĐỊA PHƯƠNG
1. HÀ VỸ DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP
VÀ TAY SAI
Năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta. Sau gần 30 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1884 Triều đình nhà Nguyễn đã phải ký hiệp ước (Patơnốt) bán nước, công nhận sự đô hộ của Thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam
Khi thực dân Pháp thiết lập được ách thống trị trên đất nước ta, chúng thi hành chính sách cai trị áp bức bóc lột đối với nhân dân ta nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Về chính trị: Thực dân Pháp bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, chúng sử dụng bộ máy hành chính phong kiến và giữ các tục lệ làng xã để áp bức bóc lột nhân dân buộc người nông dân phải thực hiện nghĩa vụ sưu thuế nặng nề với nhà nước thực dân
Về kinh tế: Thực dân Pháp đặt ra hàng trăm thứ thuế như thuế đinh (thân), thuế điền thổ và hàng năm lại tăng thêm …(năm 1897 mỗi suất đinh một năm phải nộp 2,5 đ đến năm 1908 đã tăng lên 4,8 đ bằng 16 lần so với thời Nguyễn…) Bọn địa chủ phong kiến dựa vào thế lực của thực dân Pháp đã phát canh thu tô cho vay nặng lãi để bóc lột nông dân. Khi người nông dân túng quẫn chúng đã mua rẻ ruộng đất làm cho người nông dân không còn ruộng để canh tác phải làm thuê cho chúng khiến người nông dân phải bần cùng hoá. Ngoài thuế, người nông dân còn phải chịu nỗi khổ cực vì các hủ tục và các tệ nạn xã hội như ngôi thứ, ma chay, cưới xin, nghiện hút, cờ bạc …
Do nền kinh tế nông nghiệp làm một vụ lại bấp bênh, năng suất thấp cộng với sưu cao thuế nặng nên đời sống đa
phần người dân Hà Vỹ (cũng như các làng khác quanh vùng ) vô cùng cực khổ đói nghèo.
Đại bộ phận các gia đình trong thôn có đời sống rất thấp, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà gianh vách đất, cả ngõ Đương ở Giao Tác chỉ có bốn gia đình có nhà ngói sân gạch, ngõ Ba giầu có hơn nên số nhà ngói sân gạch nhiều hơn, gia đình nào gọi là giầu cũng chỉ có vài ba cái nhà ngói, mấy mẫu ruộng, có trâu cày, thóc vài tấn thừa ăn ... tiện nghi sinh hoạt cũng chẳng có gì đáng giá, cả làng cũng chỉ có hai cái nhà gác hai tầng lợp ngói bình thường, đường làng ngõ xóm chật hẹp, phần lớn là đường đất, vào mùa mưa lầy lội bẩn thỉu đi lại khó khăn
Đời sống dân ta càng khổ hơn từ khi phát xít Nhật nhẩy vào xâm chiếm Đông Dương (T9-1940). Khi vào Hà Nội, ở nông thôn chúng bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu để cung ứng cho chiến tranh, chúng vơ vét thóc lúa để nuôi quân lính, thế là dân ta lại phải chịu sự áp bức bóc lột của đế quốc Nhật vì phải chịu "một cổ ba tròng" nên dân ta lại càng vô cùng điêu đứng. Đã thế lại còn phải chịu thiên tai lũ lụt như năm 1943, 1945 vỡ sông làm cho bao nhiêu người chết đói và chết bệnh. Sau trận lụt sông năm 1945 ở Hà Vỹ rất nhiều gia đình cực khổ, cơm chẳng có mà ăn mọi người phải ăn cháo hoặc độn ngô khoai sắn, có gia đình phải đào cả củ rợ, củ chuối để ăn … quần áo rách rưới vá chằng vá đụp, anh chị mặc chặt, em phải lấy dùng, trời rét chăn không có phải đắp bằng chiếu hoặc mền bông cũ, khố tải hay bằng các quần áo đụp nên rất bẩn thỉu sinh ra ghẻ lở bệnh tật và có nhiều chấy rận …
Đời sống vật chất thiếu thốn kéo theo đời sống tinh thần cũng nghèo nàn lạc hậu, 90% người dân không biết chữ chỉ có một số con em gia đình khá giả mới có điều kiện đi học chữ Nho, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX ở đình làng mới mở lớp dậy chữ Quốc ngữ. Tình trạng vệ sinh ở làng xóm cũng rất tồi tàn lạc hậu, mỗi thôn chỉ có một cái giếng xây gạch để lấy nước ăn, mọi việc tắm rửa giặt rũ đều dùng nước ao, nước ngòi. Người ốm không có thuốc điều trị chỉ chữa bằng các loại thuốc Nam thuốc Bắc hoặc các loại thuốc lá dân gian do các ông Lang bắt mạch bốc thuốc chữa cho. Phụ nữ mang thai không được ăn uống nghỉ ngơi đầy đủ, phải kiêng khem vô lý, khi sinh đẻ lại do các bà đỡ dùng liềm cắt rốn (nhau) mất vệ sinh, nên đứa trẻ sinh ra dễ bị nhiễm trùng hay ươn sài khó nuôi, tình trạng "hữu sinh vô dưỡng” - có đẻ mà không nuôi- thường diễn ra phổ biến
Ngoài ra tệ mê tín dị đoan với việc lập điện thờ lên đồng, bói toán, đội bát hương ở thôn nào cũng có. Do dân trí thấp nên nhiều người bị chết oan, tuổi thọ bình quân dân làng không quá 45.
2. Hà Vỹ trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, nhân dân ta không cam chịu nô lệ đã liên tiếp đứng lên chống thực dân Pháp trên phạm vi toàn quốc, tiêu biểu là các phong trào Đông du, Đông kinh Nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội đặc biệt là Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương) đã có ảnh hưởng rất lớn đến các làng xã của huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong đó có Hà Vỹ
Khoảng tháng 5 năm 1928 do tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, đồng chí (đ/c) Nguyễn Văn Cừ (sau này là Tổng bí thư của Đảng) đang học ở trường Bưởi Hà Nội phải bỏ học , đ/c Cừ đã về Giao Tác dậy học để lẩn tránh bọn mật thám truy tìm. Ở đây đ/c ấy đã được gia đình cụ Tổng Đản giúp đỡ che chở. Do công giúp đỡ đ/c Cừ trong những tháng ngày hoạt động cách mạng, nên gia đình cụ Đản đã được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen
Sau khi đ/c Cừ đi "vô sản hoá" ở Hòn Gai nên điều kiện để bắt nối liên lạc với các cán bộ cách mạng của Hà Vỹ bị gián đoạn.
Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Đảng đã thống nhất các tổ chức cách mạng ở Việt Nam. Từ đó cách mạng Việt nam đã có một Đảng Mác xít thống nhất lãnh đạo. Hà Vỹ vốn là một làng quê có nhiều thanh niên đi làm thợ khắp nơi lại rất gần Đình Bảng và chùa Dận (nơi có nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng về ở và hoạt động) nên những tư tưởng cách mạng và những sách báo tài liệu tin tức thời sự trong nước cũng được lan truyền về Hà Vỹ kịp thời. Một số thanh niên tiến bộ trong làng nhờ đọc các báo Cờ giải phóng của Đảng đã tiếp thu được ánh sáng cách mạng chỉ chờ thời cơ có người về giác ngộ là sẫn sàng tham gia phong trào Việt Minh
Từ cuối năm 1942 phong trào cách mạng ở vùng Từ Sơn, Tiên Du sau một thời gian bị địch khủng bố bắt đầu
hồi phục, nhiều cơ sở cách mạng được gây dựng lại.
Đầu tháng 3 năm 1943 ông Nguyễn Trọng Tỉnh người Đình Bảng là cán bộ hoạt động cách mạng (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản) đã về Hà Vỹ phát triển phong trào và đã thành lập tiểu tổ Việt Minh đầu tiên ở Giao Tác gồm hai thành viên là Đỗ Nguyên Tỷu (tức Hoàng Viết Phục - Tỷu theo tên lý lịch), Đỗ Văn Đỉnh (tức Khôi) và sau phát triển thêm một số thanh niên giác ngộ như Đỗ Văn Thiền (tức Thành), Phạm Văn Uyển (tức Công), ghép tên của bốn người là “ Khôi Phục Thành Công” sau có thêm Đỗ Văn Thể (tức Khoa), Đỗ Nguyên Sướng (tức Hải), Đỗ Văn Hữu (tức Sơn) và Lê Văn Soang v.v. Từ Giao Tác các thành viên đã tuyên truyền sang Đại Vỹ và đã kết nạp thêm được Dương Văn Phách, Lê Liêm, Nguyễn Văn Tám (Thiều) và Nguyễn Văn Thiết tham gia phong trào Việt Minh. Đến cuối năm 1943, Hà Vỹ đã có 15 hội viên Cứu quốc. Trên cơ sở các tổ Việt Minh của hai thôn, Uỷ ban Việt Minh xã Hà Vỹ được thành lập do Đỗ Nguyên Tỷu làm Chủ nhiệm.
Hoạt động của các tổ Việt Minh lúc đó là rải truyền đơn, dán áp phích ở các chợ, các nơi công cộng, đọc sách báo tài liệu cách mạng để biết được đường lối chủ trương của Đảng mà tuyên truyền quần chúng hiểu được kẻ thù của cách mạng mà tham gia và ủng hộ Việt Minh …
Từ đầu năm 1944 phong trào Việt Minh ở Hà Vỹ phát triển khá mạnh và đều khắp, thu hút được nhiều quần chúng tiến bộ tham gia.
Ngày 15 tháng 3 năm 1944 ông Lê Đình Thiệp (thay ông Nguyễn Trọng Tỉnh) thuộc đội công tác của Trung ương Đảng được cấp trên cử về Giao Tác tổ chức lễ kết nạp (tại nhà anh Tỷu) cho ba thanh niên là Đỗ Nguyên Tỷu, Đỗ Văn Đỉnh và Đỗ Văn Thiền vào Đảng Cộng sản Đông Dương và lập ra chi bộ Đảng đầu tiên ở Hà Vỹ, đồng chí Đỗ Nguyên Tỷu được bầu làm Bí thư chi bộ. Ngày hôm đó đã đánh dấu một sự kiện quan trọng nên mọi người đã gọi ngày 15 tháng 3 là ngày “mốc son lịch sử”. Đến tháng 7 năm 1944, chi bộ được công nhận chính thức (cũng do ông Thiệp thay mặt Đảng tuyên bố và công nhận). Tháng 9 năm 1945 chi bộ lại kết nạp thêm anh Đỗ Văn Hữu (tức Sơn) vào Đảng và công nhận Đỗ Nguyên Sướng (tức Hải) là cảm tình của Đảng.
Do đội công tác của An toàn khu Trung ương rút khỏi khu vực Từ Sơn đã không kịp giới thiệu chi bộ Hà Vỹ với Ban Cán sự huyện Từ Sơn, trong khi đó đ/c Tỷu lại đi thoát ly nên chi bộ Hà Vỹ không hoạt động rồi mất liên lạc với cấp trên, vì thế tổ chức đã không biết đến chi bộ Hà Vỹ mà giao nhiệm vụ. Điều đó đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương. (Ông Lê Đinh Thiệp đã nhận lỗi thiếu sót trong lời xác nhận của mình)
Việc kết nạp đảng viên và thành lập chi bộ Đảng là điều hết sức bí mật không thể công khai hoặc cho nhiều người biết được, chỉ có người trong cuộc mới biết, nay cả ba đ/c ấy đều đã mất nhưng năm 1965 đ/c Đỗ Nguyên Tỷu (khi đó mới có 45 tuổi) đã viết tài liệu “Tóm tắt lịch sử cán bộ Đảng Hà Vỹ” và đã được ông Lê Đình Thiệp (đang là Thứ trưởng bộ Nội vụ) trực tiếp về kết nạp xác nhận thì điều đó là hoàn toàn đáng tin cậy.
Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, các cơ sở Việt Minh được mở rộng sang hai thôn Đại Vỹ và Châu Phong. ở Giao Tác đã thành lập được các đoàn thể Cứu quốc (CQ) của Mặt trận Việt Minh:
- Đoàn Thanh niên CQ do anh Đỗ Văn Đỉnh làm bí thư
- Đội Tự vệ chiến đấu do anh Đỗ Văn Thiền làm đội trưởng
- Hội Phụ nữ CQ do chị Đỗ Thị Tịnh phụ trách
- Tổ Phụ lão CQ do ông Đỗ Văn Thìn làm Tổ trưởng
- Đội Thiếu niên CQ do Đỗ Văn Phái (em anh Tỷu) làm đội trưởng có Lê Văn Kiên và Đỗ Nguyên Lãng tham gia )
Những ngày tháng của năm 1944 ở Hà Vỹ có nhiều cán bộ cấp trên về hoạt động cách mạng, ngoài ông Nguyễn Trọng Tỉnh và Lê Đình Thiệp còn có một số cán bộ khác như các đ/c Thịnh, Cao, Can... Hai ông Tỉnh và Thiệp đã ở nhà cụ Điện Trung (bố ông Đỉnh), gia đình ông Tỷu, còn các đ/c khác ở nhà Cụ Thìn và bà Năm Đội. Đó là những cơ sở rất an toàn tin cậy, làm nơi hội họp đi lại ăn ở và làm việc của các cán bộ về hoạt động cách mạng ở địa phương Hà Vỹ
Trong những ngày về hoạt động ở Giao Tác, các ông ấy đã được các gia đình trên che chở giúp đỡ, bảo vệ, chính vì vậy mà gia đình cụ Điện Trung và bà Đỗ Thị Tịnh (vợ ông Tỷu) ở Giao Tác mới được Nhà nước tặng bằng có công với nước.
Vào cuối năm 1944 đầu 1945, tổ chức Việt Minh và các đoàn thể CQ lần lượt được hình thành ở các thôn Đại Vỹ và Châu Phong .
Các đoàn thể này rất tích cực hoạt động như tuyên tuyền cho Việt Minh, rải truyền đơn, rán áp phích, bảo vệ và giúp đỡ cán bộ cấp trên về hoạt động, tham gia các cuộc mít tinh bí mật trong vùng do Việt Minh tổ chức v.v..
Những ngày tháng đó có nhiều người truyền cho nhau bài thơ khóc anh Hoàng Văn Thụ - một lãnh tụ của Đảng- bị thực dân Pháp bắt được do không chịu khuất phục chúng đã xử bắn anh ở Hà Nội. Bài thơ đó không rõ ai sáng tác nhưng đã gây xúc động lòng người có anh đã chép vào sổ tay để phổ biến, trong đó có những đoạn như sau:
…Mắt anh đã say mầu lý tưởng,
Đường anh đi không lượng gần xa,
Tám năm xa nước xa nhà,
Đời anh đã trải phong ba dạn dày,
Cùng đồng chí ra tay chèo chống,
Lái con thuyền vượt sóng trùng dương......
...Anh Thụ ơi! Kìa xem muôn vạn,
Lớp hùng binh ngạo mạn tưng bừng,
Tuốt gươm thề thốt vang lừng,
Gương Hoàng Văn Thụ ta cùng noi theo,
Cờ khởi nghĩa bay vèo trước gió,
Đoàn quân đi cây đổ núi rung,
Xông pha rửa nhục non sông,
Và cùng rửa hận anh hùng Việt Nam.
Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng đã ra chỉ thị lịch sử "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Được gần nơi ra chỉ thị cùng với các địa phương khác, Hà
Vỹ đã tiếp nhận được ngay tinh thần chỉ đạo của Trung ương. Cán bộ Việt Minh đã nói chuyện và tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ kẻ thù chính của dân tộc ta lúc bấy giờ là phát xít Nhật, kêu gọi người dân không nộp thuế bán thóc cho Nhật và chính quyền tay sai. Vụ thuế năm 1945 cán bộ

Việt Minh đã chỉ đạo quần chúng đấu tranh không chịu nộp thuế cho Nhật. Mọi việc thu thuế ở địa phương thực tế là do cán bộ Việt Minh điều hành. Việt Minh cùng Lý trưởng xã Hà Vỹ đã đưa 10 tấn thóc mới thu của dân giao cho “Quán Bảo anh” - là một tổ chức cứu tế của Việt Minh đặt tại chùa Quậy. Số thóc này sau được đem phân phát cho những người bị đói do trận lụt năm năm 45 ở địa phương, nên đã cứu được nhiều người không bị chết đói lúc bấy giờ.
Phong trào cách mạng cả xã lên cao, tháng 6 năm 1945 cán bộ Việt Minh đã tổ chức mít tinh tại đồng Tróc được quần chúng hăng hái tham gia, chính quyền phong kiến hoàn toàn rệu rã không đảm đương được các chức năng của một chính quyền cơ sở về các mặt như đời sống, bảo vệ trị an, đắp đê chống lụt… Trong tình hình đó các đoàn thể Việt Minh đã đứng ra giải quyết như một chính quyền thực thụ .
Đầu tháng 8 -1945 lực lượng cách mạng đã phát triển đều khắp ở các thôn, khí thế sôi sục đánh đuổi phát xít Nhật giành lại độc lập tự do cho đất nước trong quần chúng nhân dân Hà Vỹ lên rất cao, chỉ chờ lệnh khởi nghĩa là vùng lên cướp lấy chính quyền
3. Hà Vỹ khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng (tháng 8 năm 1945)
Tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu Trung Quốc, Nhật đầu hàng phe đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương hoàn toàn tan rã, chớp thời cơ đó, Đảng ta đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Tin đó được truyền về Hà Vỹ đã gây được không khí phấn khởi sôi động chưa từng có. Dưới sự chỉ đạo của cán bộ Việt Minh, đội tự vệ đã tổ chức tốt việc chống cướp giữ làng, bảo vệ tài sản cho nhân dân, giữ vững trật tự an ninh cho thôn xóm và chuẩn bị sẫn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu khi có lệnh khởi nghĩa, các tổ phụ nữ tham gia may cờ, thanh niên tham gia luyện tập quân sự, cắt khẩu hiệu v. v.
Sau khi có lệnh tổng khởi nghĩa, Uỷ ban nhân dân Lâm thời xã Hà Vỹ được thành lập. Uỷ ban do ông Đỗ Văn Hối (Đại Vỹ) làm Chủ tịch, ông Đỗ Văn Hưởng (Châu Phong) làm Phó Chủ tịch và anh Đỗ Văn Đỉnh (Giao Tác) làm uỷ viên. Để điều hành công việc, mỗi thôn bầu thêm một Chủ tịch thôn (trưởng thôn). Đại Vỹ là ông Nguyễn Văn Kiên, Châu Phong là ông Phạm Văn Ngân, Giao Tác là ông Đỗ Văn Chỉnh.
Uỷ ban nhân dân Lâm thời đã tiến hành tịch thu triện bạ, sổ sách giấy tờ khế ước c ủa Lý tr ưởng x ã H à V ỹ v à tổ chức một cuộc mít tinh tại đình làng rồi tuyên bố giải tán chính quyền phong kiến tay sai ở tất cả các thôn trong xã .Từ đó chính quyền cơ sở đã thực sự thuộc về nhân dân lao động. Hà Vỹ đã bước sang một trang sử mới.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 6
HÀ VỸ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI VÀ KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
1. XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI , CHUẨN BỊ BƯỚC VÀO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(Từ T9-1945 đến T4-1949)
Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân dân cả nước trong đó có nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Tuy cách mạng thành công nhưng Chính phủ Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo lại phải đương đầu với vô vàn khó khăn thử thách, chống chọi với thù trong giặc ngoài, tình thế tưởng chừng như "ngàn cân treo sợi tóc"
Trong bối cảnh chung của cả nước, chính quyền nhân dân xã Hà Vỹ cũng phải đối phó với không ít khó khăn ác liệt
Ngày 22 tháng 8 (rằm tháng Bẩy năm ất-Dậu ) vỡ đê sông Cà Lồ làm ngập lụt một vùng rộng lớn trong đó có Hà Vỹ, đồng ruộng ngập chìm làm cho toàn bộ lúa mùa và hoa mầu mất trắng. Trong làng, nhiều gia đình nước cũng ngập đến tận mái gianh (vì Hà Vỹ là nơi trũng nhất) cây cối ăn trái trong nhà đều chết cả do bị ngập nước lâu ngày
Sau hơn một tháng, nước mới rút hết, để ổn định nơi ăn chốn ở, mọi người phải tu sửa lại nhà cửa, nhiều nhà phải làm lại vì tường bị đổ, nhà bị xiêu, công việc rất nhiều và bề bộn. Lụt đã để lại những hậu quả vô cùng khó khăn, nhiều gia đình lương thực không còn phải ăn cháo loãng cầm hơi hoặc đào củ chuối củ rợ để ăn, có người đã chết vì đói. Lụt sông đã làm cho môi trường và nước ăn nhiễm bẩn nên ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, do đó bệnh dịch tả, đậu mùa, sốt định kỳ…đã phát sinh, thuốc thang lại không có, đã làm cho nhiều người chết thêm vì bệnh.
Trước tình hình đó, chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả do trận lụt gây ra, mọi người giúp nhau dựng lại nhà cửa, ổn định đời sống. Chính quyền đã phát động phong trào cứu đói, lập quĩ "hũ gạo chống đói" hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Hồ
Để chống đói lâu dài, chính quyền đã triển khai ngay chiến dịch tăng gia sản xuất. Vận động mọi người cấy tái giá các diện tích lúa mùa và trồng thêm khoai lang, rau mầu ngắn ngày trên các chân ruộng cao.
Do tinh thần hưởng ứng tích cực của người dân, tuy khó khăn vất vả nhưng kết quả đã cứu được nhân dân khỏi tai hoạ chết người do trận lụt gây ra
Nhằm xây dựng đời sống mới, chính quyền các thôn đã quyết định bãi bỏ mọi hủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến để lại như mua nhiêu, chứa quan viên, giảm bớt các lễ thức gây tốn kém trong tang ma, cưới xin ...và kêu gọi mọi người dân thực hiện triệt để quyết định này. Trên các tường ở đường làng thanh niên viết khẩu hiệu kêu gọi mọi người thực hiện "đời sống mới" “ bài trừ mê tín dị đoan”…
Hưởng ứng phong trào "diệt giặc dốt " của Chính phủ Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi " một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", chính quyền các thôn đã phát động phong trào Bình dân học vụ (BDHV) để dậy chữ Quốc ngữ cho toàn dân.
Các thôn Đại Vỹ, Giao Tác, Châu Phong đều đã thành lập các Ban BDHV. Ban này có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo các lớp học, vận động người đi học và cử người ra dậy với tinh thần "người biết chữ dậy người chưa biết chữ, người biết nhiều dậy người biết ít". Các lớp học được tổ chức theo từng ngõ, không phân biệt trẻ già trai gái, ai muốn học lớp nào thấy phù hợp đều được học. Với nhận thức "diệt giặc dốt, diệt giặc đói cũng như diệt giặc ngoại xâm" nên mọi người đều hăng hái tham gia. Việc tuyên truyền cổ động cho phong trào BDHV rất đa dạng phong phú bằng nhiều hình thức như "đố chữ" đặt ở cổng chợ, cổng làng ai đọc được thì được vào, ai không đọc được thì phải chui v.v. Ngày ấy thường có câu ca:
“ Lấy chồng biết chữ là tiên,
Lấy chồng mù chữ là duyên con bò”
để động viên mọi người nhất là con trai phải cố mà học bình dân cho biết chữ không thì ế vợ như chơi. Để dễ phân biệt hai chữ cái giống nhau, người dậy thường đặt ra các câu thơ lục bát như là:
“o, ơ hai chữ khác nhau,
ơ thì có dấu móc câu trên đầu" v.v
Nhờ tinh thần tích cực vận động của Ban chỉ đạo và sự cố gắng tham gia học tập của toàn dân, nên chỉ sau vài tháng, phong trào BDHV đã thu được kết quả khá, hàng trăm người từ chỗ không biết chữ nay đã biết đọc biết viết, nạn mù chữ ở Hà Vỹ đã xoá được một phần. Do kết quả của phong trào BDHV mà ngày tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, tổ chức vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, đa số các cử tri đi bầu đã tự tay viết vào lá phiếu - thực hiện quyền công dân thiêng liêng của mình.
Để xây dựng cuộc sống mới, chính quyền các thôn đã phát động phong trào làm vệ sinh làng xóm nhà cửa, tuyên truyền mọi người giữ vệ sinh ăn sạch, uống sạch, ở sạch để hạn chế những tác hại do dịch bệnh gây ra
Nhằm bảo vệ cuộc sống yên lành cho nhân dân và giữ ổn định trật tự trong thôn xóm, chính quyền các thôn đều thành lập đơn vị tự vệ, ban đêm ngủ tập trung ở các điếm làng để làm nhiệm vụ tuần tra, ban ngày canh gác kiểm tra giấy tờ của người lạ mặt vào làng để bảo vệ thôn xóm và tài sản của nhân dân
Sau bốn tháng lãnh đạo và quản lý các mặt công tác ở Hà Vỹ dưới chế độ mới trong điều kiện đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng với lòng nhiệt tình cách mạng vì nhân dân phục vụ, các cán bộ Việt Minh và chính quyền lâm thời cơ sở đã làm được khá nhiều việc tốt, được quần chúng nhân dân trong thôn rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền mới.
Cùng với kỳ tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, xã Hà Vỹ còn tổ chức cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã. Đây là sự kiện quan trong trong đời sống chính trị của nhân dân, lần đầu tiên người dân Hà Vỹ được thực hiện quyền công dân là tự tay bầu ra những đại biểu ưu tú vào cơ quan chính quyền ở địa phương mình.
Sau cuộc bầu cử dân chủ, Uỷ ban hành chính (UBHC) xã Hà Vỹ được thành lập cùng với các bộ phận giúp việc
UBHC đầu tiên của xã Hà Vỹ gồm các ông:
1. Đỗ Văn Chù (1) (thôn Châu Phong) : Chủ tịch
2. Nguyễn Văn Chuyền (thôn Châu Phong): Phó Chủ tịch
3. Nguyễn Văn Kiên (thôn Đại Vỹ): Uỷ viên
4. Lê Văn Tít (thôn Đại Vỹ): Uỷ viên
Sau khi chính quyền xã được thành lập, đội ngũ cán bộ các thôn cũng được kiện toàn. Các đại biểu trong Hội đồng nhân dân (HĐND) ở từng thôn cũng là những cán bộ chủ chốt lãnh đạo các đoàn thể và chỉ đạo các hoạt động ở thôn. Công tác trọng tâm nhất trong giai đoạn bấy giờ vẫn là tăng gia sản xuất để đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, củng cố lực lượng vũ trang, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở từng thôn xóm, tiếp tục và duy trì phong trào BDHV, ra sức xây dựng đời sống mới làm cho làng xóm có một khí thế phấn khởi hồ hởi khác hẳn với chế độ thực dân phong kiến thối nát trước đây.
Cùng với việc xây dựng chính quyền mới, thúc đẩy phong trào hoạt động cách mạng ở các thôn, nhân dân Hà Vỹ còn tích cực đóng góp sức người sức của vào công việc chung của cả nước
Những ngày đầu tháng 9 năm 1945 chính quyền xã Hà Vỹ đã huy động hàng trăm lượt dân công, đóng góp hàng nghìn cây tre để hàn khẩu chỗ đê sông vỡ, đồng thời phối hợp với các địa phương khác trong huyện tôn cao các đoạn đê bị vỡ, góp phần bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống nhân dân
Tháng 1 năm 1946 nhân dân Hà Vỹ sôi nổi hưởng ứng "Tuần lễ vàng" do Chính phủ kêu gọi. Nhiều người giầu có trong làng đã ủng hộ các hiện vật quí giá bằng vàng, bạc như hoa tai, nhẫn, xà tích, vòng cổ …cho Nhà nước.
Sau hơn một năm, dưới sự lãnh đạo của Chính quyền mới, nhân dân Hà Vỹ từng bước thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống, hình thành được cơ sở chính trị - xã hội của chế độ mới tạo được lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới và thắng lợi của Cách mạng.
Chính phủ do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã sáng suốt chèo lái con thuyền Việt Nam không bị nguy cơ tiêu diệt mà vẫn giữ vững được những thành quả của Cách mạng, đặc biệt là đã tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử trong toàn quốc (1-6-1946), ra bản Tuyên ngôn Độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945) để công bố với thế giới rằng "Nước Việt Nam là một nước độc lập...". Nếu nước ta không bị bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược thì nhất định dân ta đã được sung sướng ấm no chẳng kém gì các nước trong khu vực và trên thế giới.
Song, dã tâm của bọn thực dân Pháp rất tham lam, muốn chiếm nước ta một lần nữa, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp và đã ký Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946. Đây là bước nhân nhượng cuối cùng của ta nhưng bọn thực dân càng thể hiện thái độ ngoan cố và hiếu chiến, nguy cơ chiến tranh không thể nào tránh khỏi
Ngày 23 tháng 9 năm 1945 giặc Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta ở miền Nam. Nam bộ đã bắt đầu kháng chiến, đầu tháng 12 -1946 quân Pháp liên tiếp gây hấn ở Hải Phòng và Hà Nội, buộc quân ta phải tự vệ chiến đấu. Ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến:
“ Hỡi đồng bào cả nước…Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên.. ". Thế là từ đó cả nước ta bắt đầu bước vào một cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt với bọn thực dân Pháp hiếu chiến
Cùng với cả nước, nhân dân Hà Vỹ sẫn sàng đứng lên chiến đấu bảo vệ quê hương làng xóm theo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình là chính với tinh thần " Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ....." như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều thanh niên Hà Vỹ đã xung phong ra nhập quân đội để chiến đấu với kẻ thù xâm lược như các anh Dương Văn Bách (Ba), Lê Văn Bẩy, Lê Quốc Trọng, Ngô Văn Năm (Hỗ), (Đại Vỹ), Đỗ Đức Khôi (Đỉnh), Đỗ Bàng Hiệp, Đỗ Tùng Sơn (Hữu), Đỗ Đức Bốn (Hổ) (Giao Tác)... Trong đó có một số anh đã tham gia đội quân Nam tiến
Do vị trí của Hà Vỹ xa các thị trấn huyện lỵ và xa đường quốc lộ số 1, số 3 nên Hà Vỹ còn được yên ổn vài ba năm. Vì vậy những năm đầu của cuộc kháng chiến, Hà Vỹ là nơi đón nhận nhiều gia đình ở nam phần Bắc Ninh như Thượng Cát, Lệ Mật… (bên kia sông Đuống về phía Hà Nội) và các vùng ven đô, sát đường quốc lộ như Yên Viên, Mai Lâm, Đông Hội…về tản cư
Mặc dầu chiến sự chưa lan tới quê hương, nhưng các hoạt động chuẩn bị chiến đấu vẫn được triển khai tích cực. Để chuẩn bị chiến đấu, từ đầu tháng 11 năm 1946 Hà Vỹ bắt đầu rào làng, đào hầm hào để xây dựng làng chiến đấu. Lực lượng tự vệ ở các thôn được củng cố, tăng cường và thường xuyên luyện tập.
Theo quyết định của trên, UBHC Hà Vỹ được đổi
thành Uỷ Ban kháng chiến hành chính (UBKC-HC) cho phù hợp với tình hình. Uỷ ban này vẫn do các ông Đỗ Văn Chù và Nguyễn Văn Chuyền (thôn Châu Phong) làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch
UBKC-HC lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị mọi mặt để chiến đấu lâu dài, lực lượng tự vệ được chuyển thành dân quân du kích và được bổ sung quân số đồng thời cũng tăng cường trang bị thêm vũ khí đạn dược.
Việc xây dựng làng chiến đấu vẫn tiếp tục được củng cố, rào làng vững chắc, đào thêm hệ thống giao thông hào (nhà nọ sang nhà kia dài hàng trăm mét lan toả khắp ngõ) để tránh máy bay oanh tạc và cất dấu lương thực đồ dùng ...
Về sản xuất vẫn phải huy động nhân dân cấy hết diện tích và theo đúng thời vụ để đảm bảo lương thực lâu dài cho dân
Về văn hoá-xã hội, các thôn đều tổ chức các lớp học bổ túc văn hoá, thu hút đông đảo thanh niên phụ nữ tham gia, thực hiện cưới xin theo đời sống mới, đơn giản hoá các nghi thức việc tang, kêu gọi mọi người giữ gìn vệ sinh ...tạo thành một nếp sống mới trong nhân dân.
Do chiến sự chưa lan tới Hà Vỹ, quê hương vẫn còn yên ổn, nên các đoàn thể thanh thiếu niên phụ nữ hoạt động rất sôi nổi, dân quân du kích hàng ngày luyện tập, đêm ngủ tập trung hăng hái tham gia các cuộc mít tinh biểu tình do Việt Minh tổ chức. Phong trào văn hoá văn nghệ cũng phát triển rất mạnh nhiều bài hát cách mạng như Tiến quân ca, Du kích ca, Diệt phát xít, Bao chiến sĩ anh hùng… được phổ biến rộng rãi và được hát tập thể trong các cuộc mít tinh hay những đêm biểu diễn văn nghệ ở địa phương.
Nhiều lời ca như: “ Cùng nhau đi hồng binh, liều thân cho nòi giống, cho thế giới đại đồng, tiến lên quân hồng” hoặc “ Tiến lên đường, tới xa trường , ta xứng danh là cảm tử quân ”… tạo ra một khí thế hào hùng cách mạng làm nô nức phấn chấn lòng người.
Từ đầu năm 1948 Hà Vỹ là nơi đóng quân của bộ đội
Từ Sơn và là trụ sở làm việc của một số cơ quan huyện (2).
Nhân dân Hà Vỹ nhất là thôn Châu Phong đã giúp đỡ hàng tấn lương thực, hơn 100 bộ quần áo cho bộ đội địa phương đóng tại thôn
Ngoài ra, nhân dân Hà Vỹ đã hoàn thành nhiệm vụ nộp thuế cho cấp trên, mua tín phiếu kháng chiến, hưởng ứng phong trào "gửi áo mùa đông binh sĩ" ...
Thực hiện các nhiệm vụ cho kháng chiến, công tác xây dựng Đảng cũng được tiến hành đồng bộ.
Ngày 06 tháng 01 năm 1948 các đồng chi Đỗ Văn Thiền (3) (Giao Tác) Dương Văn Phách và Lê Liêm (Đại Vỹ) được kết nạp vào Đảng, sinh hoạt ở Chi bộ ghép Thiết-Hà-Châu (Thiết Bình, Hà Khê và Cổ Châu). Sau khi được xét chuyển đảng chính thức, ba đồng chí được tách ra để thành lập Chi bộ Hà Vỹ, sau đó chi bộ kết nạp thêm Nguyễn Văn Thân, Lê Thị Lễ và Nguyễn Văn Bẩy (Châu Phong) vào Đảng để cùng trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến ở địa phương (4)
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chi bộ Hà Vỹ đã phân công các đảng viên đi sâu đi sát các phong trào của quần chúng và lựa chọn một số quần chúng tích cực có giác ngộ cách mạng có năng lực và thành tích công tác để bồi dưỡng xét kết nạp vào đảng, nên số lượng đảng viên của ba thôn được tăng lên nhờ đó mà công tác ở cơ sở cũng tốt hơn
2. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG VÀ THAM GIA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(TỪT4-1949 ĐẾN T10 -1954)
2.1. Hà Vỹ hợp nhất với xã Ngũ Hà thành xã Liên Hà
Hà Vỹ và Ngũ Hà trước đây đều thuộc tổng Hà Lỗ huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nên có những phong tục tập quán khá giống nhau, vị trí địa lý lại gần nhau, do đó nhân dân hai xã đã từ lâu có những mối quan hệ khăng khít về nhiều mặt
Để hình thành thế liên hoàn giữa các thôn làng cũng như yêu cầu chỉ đạo kịp thời thống nhất trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp ở địa phương, tháng 4 năm 1949 theo quyết định của trên, hai xã Hà Vỹ và Ngũ Hà được nhập thành một xã mang tên Liên Hà. Từ đó chính quyền và chi bộ của hai xã cũng phải sáp nhập làm một
Hội nghị hợp nhất hai chi bộ được tổ chức tại chùa Quậy. Cả hai chi bộ khi đó có 91 đảng viên, hội nghị đã bầu ra Chi uỷ Đảng xã Liên Hà, trong đó Hà Vỹ chỉ có hai đ/c tham gia Chi uỷ đó là: Dương Văn Phách - phụ trách Dân vận và Lê Liêm - phụ trách Tuyên huấn (cả hai đ/c đều ở thôn Đại Vỹ)
Ngoài Chi uỷ còn có bốn ban là: Tuyên huấn, Tuyên truyền, Đảng vụ và Kinh tế, mỗi ban có ba đảng viên phụ trách. Chi bộ chia thành tám tổ Đảng theo đơn vị thôn do các tổ trưởng Đảng phụ trách trực tiếp
Hội nghị đã ra Nghị quyết và xác định nhiệm vụ của
quân và dân Liên Hà trong giai đoạn trước mắt để các tổ Đảng và chính quyền các thôn theo đó thực hiện
Ngay sau hội nghị, chính quyền và các đoàn thể đã hợp thành một mối. Mỗi thôn có một cán bộ phụ trách hành chính và một cán bộ phụ trách quân sự. Chi uỷ chỉ đạo các tổ Đảng, phân công từng đảng viên phụ trách các mặt công tác ở thôn
Cũng như các thôn ở bán xã phía Bắc các thôn của Hà Vỹ cần tập trung vào một số việc sau:
a) Củng cố lực lượng vũ trang, huy động nhân dân đào thêm hầm trú ẩn, hào giao thông và hầm bí mật, rào làng đắp luỹ nhằm xây dựng mỗi thôn là một làng chiến đấu; tăng cường tuần tra canh gác, bảo đảm an toàn cho nhân dân kể cả dân đến tản cư …
b) Tiếp tục vận động nhân dân tranh thủ thời gian tăng gia sản xuất khi giặc chưa tới, giao số ruộng công điền công thổ còn lại cho những gia đình nghèo thiếu ruộng cấy
Thực hiện Sắc lệnh 78SL ngày 14/7/1949 của Chính phủ về giảm tô. Chi bộ đã chỉ đạo các tổ Đảng vận động nông dân đòi các chủ ruộng phải giảm tô cho những người nông dân thuê ruộng. Nói chung ở cả ba thôn các chủ ruộng đều chấp nhận yêu cầu này
2.2. Chiến đấu bảo vệ quê hương và tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(từ T4/1949 đến T10/1954)
Từ khi xã Liên Hà được thành lập thì các mặt công tác trong toàn xã đều do Chi uỷ Đảng và UBKC-HC chỉ đạo thống nhất. Tổ đảng và Chính quyền các thôn ở Hà Vỹ chỉ việc triển khai thực hiện các chủ trương do Chi uỷ đề ra. Vì mới sáp nhập, công việc rất nhiều, Chi uỷ đang triển khai thì giặc Pháp bắt đầu tấn công Liên Hà. Thế là quân và dân Liên Hà chính thức bước vào cuộc chiến đấu ác liệt đầy hy sinh gian khổ cho tới ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954)
Ngày 6-8-1949 (12 tháng Bẩy năm Kỷ Sửu) quân Pháp bắt đầu tiến vào càn quét các thôn bán xã phía Bắc Liên Hà, còn các thôn của Hà Vỹ chúng không tới, nhưng chúng đã bắn đại bác vào khu đồng Trùng, Châu Phong, làm cho một số người dân thiệt mạng. Cuộc chiến đấu giữa dân quân du kích và bộ đội địa phương với quân địch rất quyết liệt, nhưng địch đông, võ khí tốt, quân ta phải vừa đánh vừa rút để bảo toàn lực lượng, cốt sao cản bước tiến của quân địch để cho đồng bào chạy thoát
Ngay đêm hôm đó một số gia đình trong làng đã đi tản cư lên vùng tự do ở Đông Lâm, Hiệp Hoà Bắc Giang lánh nạn.
Ngày 9-11-1949 (19 tháng Chín năm Kỷ Sửu) giặc Pháp lại dùng một lực lượng khá đông (tới 4 tiểu đoàn tinh nhuệ ) ở các bốt Cầu Đuống, Từ Sơn, Đông Anh và Phù Lỗ tấn công vào các thôn của Hà Vỹ. Chúng tiến theo ba mũi đều bị quân ta đánh chặn lại: Phía tây vào thôn Châu Phong theo đường cầu Rợ, du kích thôn Châu Phong và bộ đội địa phương Từ Sơn đã chặn đánh địch ở đầu làng. Phía Đông dân quân du kích thôn Đại Vỹ cũng chặn đánh địch ở đường cổng cầu Mới còn dân quân du kích thôn Giao Tác chặn đánh địch ở đường đồng Rạnh từ phía Thiết úng sang. Cuộc chiến đấu đã diễn ra hết sức quyết liệt suốt từ sáng đến chiều tại các chốt điểm do quân ta bố trí ở ria làng. Quân ta chiến đấu rất dũng cảm kiên cường song vì quân địch đông lại vô cùng hung hãn, đến khi quân ta hết đạn đành phải bỏ chốt rút lui xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Khi địch chưa vào được làng, chúng đã dùng các loại súng bắn xối xả ra các cánh đồng Châu Phong và Giao Tác làm cho nhiều người dân chạy ra cánh đồng bị chết và bị thương. Khi quân ta ngừng chiến đấu, quân địch mới tiến được vào làng, khi chúng vào được làng chúng đã điên cuồng tàn phá nhà cửa bắt người đánh đập dã man. Trận càn hôm đó dân ta chết nhiều. Riêng Châu Phong đã chết 30 người trong đó có cả Chủ tịch Đỗ Văn Chù và Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Chuyền
Trận càn hôm đó cả ba thôn chết hơn 70 người, 20 cán bộ và du kích bị bắt. Ngoài ra chúng ta còn thiệt hại rất nhiều về kinh tế.
Về phía địch cũng có 43 tên phải đền mạng và nhiều tên bị thương
Ngày 19 tháng 9 năm ấy là một ngày tang tóc đau thương, mãi mãi ghi nhớ trong ký ức của người dân Hà Vỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Để giải quyết hậu quả, các tổ Đảng cùng với lãnh đạo thôn đã lo mai táng những người bị chết, tổ chức giúp đỡ những gia đình bị thiệt hại nhiều về của cải, dựng lại nhà cửa cho những gia đình bị đốt do địch gây ra .
Sau trận càn đó, đại bộ phận nhân dân rất hoang mang lo sợ, nhiều gia đình đã phải bỏ làng đi tản cư lên Đông Lâm, Trung Định…(huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang) và Phố Giá (Thái Nguyên) để tránh giặc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, dân quân du kích cũng bắt đầu dao động, một số bỏ công tác theo gia đình lên vùng tự do hoặc ra Hà Nội lánh nạn..
Đến cuối năm, địch còn hai lần càn vào Hà Vỹ nhưng cán bộ du kích của ta không chặn đánh mà rút hết xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng, mặc cho địch tự do vào làng bắt bớ cướp bóc của cải. Khi biết địch quây làng, nhân dân đã tập trung tại đình, nghè và một số nhà để địch không làm gì được. Đó cũng là hình thức đoàn kết đấu tranh với địch
Năm 1950 là năm thứ hai mà nhân dân Hà Vỹ bước vào cuộc chiến đấu với địch. Để kiểm soát toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ, địch đã tăng cường càn quét các xã trong huyện. Đoạn đường quốc lộ số 1 thuộc địa phận huyện Từ Sơn, địch cho sửa lại để phục vụ các cuộc hành quân nhằm đàn áp lực lượng kháng chiến và mở rộng vùng chiếm đóng
Tại Hà Vỹ, chúng cũng tăng cường đàn áp, bắt các làng phải vào tề, ở phía đông có làng Đồng Kỵ, phía Tây có làng Dục Nội, Giỗ Giao (xã Việt Hùng), phía Nam, chúng xây bốt Cầu Tây gần làng Dục Tú, tạo thành một thế bao vây hai xã Liên, Vân Hà. Địch tăng cường hoạt động quây càn dựa vào những tên phản động ở các làng tề để chỉ điểm và trấn áp phong trào kháng chiến của ta.
Ngày 13 - 3 -1950 (25 tháng Giêng năm Canh Dần) địch quây Hà Vỹ gây thiệt hại rất nhiều. Chúng bắt được một thanh niên Đại Vỹ rồi tra tấn rất dã man, bắt phải chỉ hầm bí mật. Do không chịu được đòn tra tấn dã man của địch, thanh niên này đã phải chỉ hai hầm bí mật làm cho 7 đồng chí cán bộ và du kích phải hy sinh. (trong đó có các anh Nguyễn Văn Bẩy, Nguyễn Văn Tậu, Dương Văn Hữu, Lê Văn Bồn và đ/c An (con nuôi cụ Mặc Đại Vỹ - là đại đội trưởng bộ đội Từ Sơn). Trong hầm đó còn có đ/c Nguyễn Văn Quí (Đại Vỹ) đang là Xã đội trưởng cũng bị chúng bắt và tra tấn dã man, chúng dong đi khắp các ngõ trong thôn, bắt phải chỉ hầm, song đ/c ấy quyết không khai để giữ vững khí tiết của người đảng viên cộng sản. Lợi dụng lúc địch sơ hở đ/c đã bỏ chạy để thoát thân, địch đuổi theo và bắn đ/c chết ở ao nhà cụ Nhiêu La gần nhà, khi đó còn rất trẻ mới có 33 tuổi đời.
Ngoài cán bộ du kích hy sinh còn có nhiều người dân cũng bị chúng bắn chết, nhiều người bị bắt bị đánh đập rất dã man. Ngày hôm đó cũng là ngày tang tóc đau thương cho nhiều gia đình của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác.
Ngày 23-3-1950, địch càn vào thôn Châu Phong bắt được anh Phạm Văn Ba là du kích, chúng đem đi biệt tích rồi thủ tiêu
Ngày 19-4-1950, địch lại quây thôn Châu Phong, do cán bộ du kích chúi hầm, chúng không bắt được ai nên đã điên cuồng đánh đập nhiều người dân rồi đốt nhà cướp của gây bao thiệt hại cho thôn
Để cắt đứt đường dây liên lạc từ vùng tạm chiếm lên vùng tự do, tháng 3 năm 1950, địch xây thêm bốt Chờ và bốt chợ Núi (huyện Yên Phong, Bắc Ninh), nên việc đi lại của cán bộ và nhân dân xã ta gập rất nhiều khó khăn nguy hiểm
Trước sức o ép của địch, nhân dân rất hoang mang lo sợ, được sự đồng ý của Huyện uỷ và chỉ đạo của Chi uỷ, các thôn của Hà Vỹ cũng phải lập tề nhưng chỉ là tề giả hiệu nghĩa là về hình thức là có Ban tề nhưng việc hoạt động lại theo chỉ đạo của ta
Cuối tháng 5 năm 1950 bộ máy tề ở các thôn Đại Vỹ, Giao Tác, Châu Phong lần lượt được hình thành. Các Ban tề này đều có cán bộ của ta tham gia hoặc quần chúng tốt của ta đưa vào. Mọi hoạt động của các Ban tề đều do ta chỉ đạo.
Thấy các Ban tề không giúp được gì cho chúng, địch sinh ra nghi ngờ. Chúng đã lập mưu ở Ban tề thôn Châu Phong để bắt các ông Đỗ Văn Hưởng và Đỗ Xuân Sam nhưng do cảnh giác đề phòng nên hai ông ấy đã không bị bắt. Tức tối, chúng đã cho lính đến dỡ nhà ông Sam để phá hoại kinh tế gia đình
Việc lập tề của địch không theo ý chúng nên chúng vẫn tiếp tục khủng bố, quây càn lùng sục, bắt cán bộ du kích nằm vùng, do ta có hầm bí mật và kinh nghiệm đối phó với địch nên cũng ít tổn thất hơn
Đầu năm 1951 sau thất bại ở chiến dịch Biên giới, địch lâm vào thế bị động, chúng co về giữ chắc vùng đồng bằng, bằng cách thiết lập một hệ thống đồn bốt dày đặc đồng thời củng cố lại bộ máy tề ngụy, tăng cường càn quét uy hiếp các làng để vây bắt cán bộ du kích. Địch tập trung vào các xã chúng chưa kiểm soát được (trong đó có Liên Hà) gây cho ta không ít khó khăn.
Trong sáu tháng đầu năm 1951 địch nhiều lần vây càn vào Hà Vỹ làm cho nhiều người bị bắt, bị đánh đập, tra tấn hãm hiếp rất dã man
Ngày 9 - 7 (mồng 6 tháng Sáu năm Tân Mão) địch vây thôn Châu Phong, anh Phạm Văn Phái là Trưởng ban tuyên truyền của xã bị bắt vì lộ hầm, chúng đem lên bốt Phù Lỗ tra tấn rồi bắn chết anh. Cũng hôm đó chúng còn bắt 21 cán bộ du kích thôn Châu Phong, trong đó có anh Phạm Thược (tức Ha) đang là Trưởng thôn, và Phạm Văn Phan em ruột Phạm Văn Phái.
Ngày 28-7 (25 tháng Sáu năm Tân Mão) địch lại vây thôn Châu Phong. Chúng bắt được anh Phạm Văn Hưu là huyện uỷ viên ở một hầm bí mật. Chúng nghi anh là cán bộ lãnh đạo nên tra tấn rất dã man. Mặc dầu vậy anh vẫn không chịu khai báo, biết không thể lay chuyển được khí phách của người đảng viên cộng sản, tối hôm đó chúng đã bắn anh ở bãi Trám xã Việt Hùng
Để tăng cường đàn áp các lực lượng du kích và trấn an được dân chúng trong vùng, tháng 11-1951 địch cho xây bốt Thiết Bình xã Vân Hà để cùng với bốt Cầu Tây (Dục Tú) và bọn tề phản động làng Dục Nội làm thành thế gòng kìm bao vây xã Liên Hà.
Trong thời gian này địch bắt dân ta phải làm thẻ căn cước để quản lý nhân khẩu, ai đi đâu đều phải mang theo thẻ nếu không có thẻ, chúng sẽ bắt vì cho đó là người nơi khác về hoạt động nằm vùng
Sau khi tạm trấn an được bốn xã Minh Đức, Châu Khê, Nghĩa Khê, Vân Hà, địch tập trung quyết phá cơ sở kháng chiến của Liên Hà trong đó có Hà Vỹ. Chúng củng cố Ban tề, thanh lọc những người chúng còn nghi vấn (cho là của ta cài vào). Lập Ban tề mới theo ý đồ của chúng, trong thời gian đó Ngô Văn Vũ ở thôn Giao Tác đã ra làm Lý trưởng cho địch, Lý Vũ đã bắt dân xây bốt ở đình Hà Vỹ và lấy một số thanh niên trong thôn (gọi là lính bảo an) để làm bảo vệ, ban ngày về làng lùng sục, tra xét khủng bố những gia đình có nuôi dưỡng giúp đỡ du kích bộ đội, còn tối thì lên bốt ở, vì sợ ta bắt. Lý Vũ không phải thuộc thành phần lớp trên, bản thân chỉ làm nghề chài lưới kéo vó kiếm ăn, không có hằn thù gì với cách mạng, chính con trai duy nhất của ông (Ngô Văn Tôn) cũng tham gia du kích và bị địch phục kích bắn chết trong lần đi lên vùng tự do. Lý Vũ theo địch có lẽ do hoang mang sợ hãi, cũng muốn yên thân, giúp dân yên ổn làm ăn nên đã đứng ra làm Lý trưởng, nhưng rồi bị địch o ép bắt phải làm theo ý chúng, do đó đã mắc phải lỗi lầm. Vì thế mà Lý Vũ đã phải đền mạng do bộ đội Từ Sơn và du kích xã ta đột nhập vào làng Thiết Bình bắn chết cùng với tám tên phản động khác vào đêm 19-1-1952 (23 tháng Chạp năm Tân Mão) trong khi đang đánh bạc với nhau.
Bốt Hà Vỹ và Châu Phong xây chưa được bao lâu đã bị bộ đội và du kích địa phương đặt bộc phá. Chỉ một tiếng nổ rung trời chuyển đất, bốt đã tan tành. Bốt không còn, địch rất tức tối nhưng không làm gì được dân ta
Mặc dù địch càn đi quét lại nhưng phong trào chống địch của quân dân Hà Vỹ vẫn được giữ vững và ngày càng phát triển, đội ngũ cán bộ đảng viên và lực lượng dân quân du kích của ba thôn vẫn kiên cường bám đất bám dân giữ vững cơ sở. Tuy cũng có người ban đầu tham gia hoạt động rất tích cực nhưng sau bị bắt hoặc vì hoàn cảnh gia đình đã thôi công tác, chạy ra Hà Nội cầu an hoặc lên vùng tự do làm ăn sinh sống. Có kẻ lại phản bội nhân dân làm tay chân cho địch đã chỉ điểm để bắt cán bộ của ta và làm hại phong trào kháng chiến nhưng trong suốt thời gian tạm chiếm không có một thanh niên nào của làng đi lính cho địch. . Hầu hết cán bộ đảng viên của các thôn luôn vững vàng kiên định, đồng chí này bị bắt hoặc hy sinh đã có đồng chí khác thay thế. Nhiều đồng chí là tấm gương sáng để cho cán bộ và quần chúng noi theo như bà Nguyễn Thị Thuyết (vợ ông Lê Liêm thôn Đại Vỹ) hai lần bị địch bắt và tra tấn rất dã man, trong đó có lần đang mang thai cháu đầu lòng (cô Chính). Mặc dầu bị tra tấn bằng cách đổ nước vào mũi cho sặc sụa ngạt thở giữa mùa đông giá rét, nhưng bà vẫn giữ vững khí tiết của người đảng viên cộng sản quyết không khai để bảo vệ an toàn cho cán bộ đang ở dưới hầm bí mật
Ngoài những tấm gương hy sinh oanh liệt của các đ/c cán bộ đảng viên trên mảnh đất quê hương, còn có những tấm gương dũng cảm hy sinh chiến đấu ở các nơi khác tiêu biểu nhất là anh Nguyễn Văn Phàn thôn Châu Phong .
Anh Nguyễn Văn Phàn tham gia bộ đội Từ Sơn năm 1949 khi mới 17 tuổi, anh được đơn vị phân công làm giao liên. Ngày 10-2-1950 Huyện uỷ và UBKC-HC huyện Từ Sơn họp ở xã Văn Môn (nay thuộc huyện Yên Phong Bắc Ninh) anh được giao nhiệm vụ canh gác và bảo vệ một cuộc họp quan trọng, thì bất ngờ địch vây càn. Hơn 30 cán bộ huyện đang họp phải chạy vào một hầm bí mật để ẩn náu. Anh bị địch bắt, và bị tra tấn rất dã man tàn bạo nhưng anh vẫn không khai nơi có hầm bí mật, cuối cùng chúng đã dùng dao xẻo từng miếng thịt cho tới chết. Anh đã hy sinh khi còn rất trẻ, song đã bảo vệ được tính mạng cho 30 cán bộ đảng viên của huyện Từ Sơn trong đó có cả các đồng chí là cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
Tấm gương hy sinh dũng cảm của anh Phàn luôn khắc sâu trong trí nhớ của người dân Hà Vỹ
Để ca ngợi tinh thần dũng cảm và khí phách anh hùng bất khuất của anh, sau khi anh hy sinh đã có người sáng tác một bài hát về anh trong đó có những câu:
“Anh Phàn quê ở Châu Phong... ú Châu Phong mà Châu Phong
Tham gia hàng ngũ ....ú dân quân mà dân quân
Quan Đình nổ súng ....ú bao vây mà bao vây....”
55 Năm sau, anh Phàn đã được Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh hùng các lực lượng vũ trang - người duy nhất được phong anh hùng ở Hà Vỹ (Quyết định số 496 QĐCTN ngày 2 tháng 5 năm 2005)-
Trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, ngoài đội ngũ cán bộ đảng viên, dân quân du kích dũng cảm kiên cường giữ vững phong trào, trong các đoàn thể và quần chúng nhân dân còn xuất hiện những tấm gương dũng cảm, sẫn sàng hy sinh tính mạng và tài sản để bảo vệ và giúp đỡ cán bộ làm xúc động lòng người, đó là:
Ông Phạm Văn Cường ở Châu Phong: Một lần địch quây thôn, ông vừa đậy xong nắp hầm bí mật cho anh Phạm Văn Hưu đang là huyện uỷ viên và một số cán bộ khác thì bọn địch ập tới. Chúng bắt ông và tra tấn dã man song ông vẫn kiên quyết không khai nơi có hầm bí mật và bảo vệ an toàn cho anh Hưu và một số cán bộ nữa. Vì địch tra tấn rất tàn bạo độc ác nên sau đó ít ngày, ông đã hy sinh, ông đã được công nhận ngay là liệt sĩ
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Hà Vỹ có rất nhiều gia đình đã giúp đỡ nuôi dưỡng và bảo vệ bộ đội, các gia đình này đã được nhà nước tặng bằng khen hoặc huy chương kháng chiến (xem phụ lục 3)
Ngoài ra còn rất nhiều tấm gương hy sinh của nhiều gia đình và cá nhân đã tích cực hoạt động cách mạng nhiều người bị địch tra tấn đánh đập rất dã man hoặc tù đầy khốn khổ như ông Lê Văn Tồn, bà Đỗ Thị Hai (bà Bùi), bà Dương Thị Bẩy (Hồng), và các chị Đỗ Thị Năm (Cảnh), Đỗ Thị Bốn (Quang), Ngô Thị Nhẫn (Bảo), Lê Thị Mây …(Đại Vỹ), bà Đỗ Thị Ba (bà Thát), chị Đỗ Thị May, Phạm Thị Minh (Hịch) chị Đỗ Thị Sánh…(Giao Tác), ông Phạm Văn Lĩnh, ông Đỗ Văn Nghĩa, chị Phạm Thị Thoi, Phạm Thị Phận…(Châu Phong)
Cuối năm 1951 quân ta mở chiến dịch Hoà Bình đến cuối tháng 2 năm 1952 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Do ta thắng lớn ở chiến dịch này đã tạo thuận lợi cho phong trào chống địch ở vùng địch hậu. Huyện uỷ Từ Sơn quyết định mở khu du kích liên hoàn gồm các xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Châu Khê nối với khu du kích Đông Anh. Việc lập khu du kích này đã làm thay đổi thế và lực giữa ta và địch. Trước đây địch muốn làm gì chúng đều làm được, nay thì không thể, vì ta có lực lượng khá hùng mạnh làm cho địch phải dè chừng
Để đối phó với phong trào kháng chiến của ta, ngày 20 - 01-1952 (24 tháng Chạp năm Tân Mão) địch dùng một lực lượng lớn bao vây thôn Châu Phong sau đó chúng tiến vào thôn lùng sục rồi phát hiện được một hầm bí mật tại nhà ông Đỗ Văn Nghĩa. Dưới hầm có ông Nghĩa cùng hai du kích thôn và hai bộ đội Từ Sơn. Cả năm người không chịu đầu hàng đã cố thủ chiến đấu rồi đều bị hy sinh
Hai tháng sau, ngày 30-3-1952 (24 tháng Hai năm Nhâm Thìn) địch lại càn vào thôn Châu Phong và tìm thấy một hầm bí mật, dưới hầm có hai nữ du kích là chị Phạm Thị Phận và Đỗ Thị Nhấp. Chúng gọi không chịu lên vẫn cố thủ dưới hầm để chiến đấu, vì vậy chúng đã ném lựu đạn xuống hầm làm cả hai chị đều phải hy sinh trong khi còn rất trẻ.
Những thắng lợi đầu tiên của đợt phá tề diệt bốt ngăn chặn địch quây càn đã mở ra một cục diện mới cho phong trào chống địch của xã ta. Từ đó sự o ép của địch đã giảm bớt. Ta chủ trương xây dựng các thôn thành một vùng du kích mạnh, làm cơ sở tin cậy cho nhiều xã quanh vùng
Vì vậy cơ quan của xã và huyện đã lấy thôn Châu Phong làm địa điểm đóng trụ sở. Đội giao liên làm nhiệm vụ đón cán bộ các địa phương tới, rồi đưa lên vùng tự do và ngược lại. Đội giao liên này phần lớn là do các chị em phụ nữ đảm nhiệm trong đó ở Hà Vỹ có các chị Phạm Thị Thoi Đỗ Thị May...tham gia. Các chị em này đã đưa nhiều cán bộ các xã và huyện lên vùng tự do đi về an toàn
Phong trào kháng chiến của Liên Hà phát triển mạnh đã tác động tích cực đến phong trào các xã trong vùng. Địch lo sợ và tìm cách đối phó, chúng đem quân lập lại bốt Thiết Bình và từ bốt này hàng ngày đem quân lùng sục các làng. Để loại bỏ sức ép của bốt này, ngày 16 tháng 6, bộ đội Từ Sơn phối hợp với du kích các xã (có sự trợ giúp của nội ứng) đã đánh bốt Thiết Bình, diệt hai trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng, từ đó đã phá bỏ được thế kìm kẹp của địch trong vùng.
Du kích Hà Vỹ còn tham gia phục kích ở làng Dục Nội phá huỷ hai xe cơ giới, diệt 25 tên, trong đó có hai tên ác ôn khét tiếng là đội Hồng và đội Liên.
Bị thua đau, địch càng điên cuồng quyết trấn áp bằng được các lực lượng kháng chiến trong vùng trong đó có Hà Vỹ. Chúng lập lại bốt Thiết Bình tăng cường lực lượng để chốt tới cùng, hàng ngày chúng cho lùng sục bao vây các làng xung quanh.
Ngày 27-12-1952 (ngày 11 tháng Một (T11) năm Nhâm Thìn) địch quây hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác. Sáng sớm hôm đó, tất cả trẻ già, trai gái hai thôn đều phải ra đình tập trung, địch vào làng lùng sục bắt người tra tấn dã man bắt phải chỉ hầm bí mật. Hôm đó chúng ở suốt ngày đêm trong làng. Một số cán bộ và du kích của hai thôn đều phải chúi ở dưới hầm bí mật. ở Đại Vỹ anh Ngô Văn Lục và anh Nguyễn Hữu Cảnh chúi chung một hầm, đến tối các anh đã phải đội nắp hầm lên, trước khi chạy ra cánh đồng, hai anh còn đến mở nắp hầm cho anh Thảng (người Vân Điềm đang là Phó Chủ tịch huyện Từ Sơn), Phạm Văn Nho và chị Phạm Thị Thu ở hầm nhà ông Liêm sau đó sang mở nắp hầm cho ông Mão (một cán bộ địch vận của tỉnh) rồi cùng nhau đi ra cánh đồng chạy sang làng Hà Hương nên thoát nạn. Cũng trong ngày hôm đó chị Đỗ Thị Năm - Cảnh) bị địch bắt và bị tra tấn rất dã man bằng cách lấy nước đái đổ vào mũi, mặc rầu chị biết hầm bí mật ở đâu song quyết không khai nên đã bảo vệ được tính mạng của nhiều đồng chí. Cũng đêm đó ở Giao Tác anh Đỗ Văn Sưu (anh Hai Cận) chúi ở dưới hầm, đến tối anh đội nắp hầm lên để chạy ra cánh đồng nhưng không may bị địch phục kích bắn chết rồi chúng chôn anh ở ven đường cái rìa làng
Sang năm 1953 cục diện chiến trường giữa ta và địch đã hoàn toàn thay đổi, địch bị thất bại trên chiến trường Tây Bắc chúng càng lún sâu vào thế bị động.
ở vùng hậu địch, chúng cũng bị quân ta đánh liên tiếp làm cho chúng “ăn không ngon, ngủ không yên”. Tại Từ Sơn phong trào chiến tranh du kích tiếp tục lên cao, khu du kích được mở rộng ra nhiều xã, quân ta đã có thể chủ động đánh phá các đồn bốt của địch ở trên địa bàn Từ Sơn. Địch không còn có thể hoành hành như trước nữa, lực lượng nghiêng hẳn về phía ta. Nhiều ban Tề ở các thôn không còn hoạt động, không giúp được gì cho địch, đã phải tự tan rã
Đêm 30 tết Quí Tỵ (13-2-1953), bộ đội ta đánh bốt Cổ Loa, du kích Hà Vỹ đã hỗ trợ, giúp cho trận đánh thắng lợi nhanh chóng mà lại ít tổn thương, nghè Châu Phong là nơi đón thương binh liệt sĩ.
Tháng 4-1953, Liên Hà được cử ba nữ du kích (Hà Vỹ có một là chị Đỗ Thị May) có thành tích xuất sắc đi dự Hội nghị thi đua của Quân khu Ba và được bầu là chiến sĩ thi đua trong các lực lượng du kích
Từ năm 1953 tương quan lực lượng giữa ta và địch đã có sự thay đổi, địch càng ngày càng yếu, ta càng ngày càng mạnh. Tuy Liên Hà nằm trong vùng địch hậu, song địch không thể nào kiểm soát nổi. Dân quân du kích và bộ đội ta hoạt động công khai, chúng muốn vây càn vào làng cũng khó.
Không tiến được vào làng chúng đã dùng đại bác từ các bốt bắn vào làng để uy hiếp tinh thần và làm thiệt hại tài sản của nhân dân
Ngày 5 tháng Chín năm Quí Tỵ (1953) địch đã bắn đại bác từ bốt Phù Lỗ vào hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác làm cho nhiều người chết và bị thương, nhiều nhà bị đổ gây cho dân ta thiệt hại nặng nề. Hôm đó nhiều người dân của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác phải chạy vào bốt Thiết Bình để lánh nạn
Do có phong trào du kích mạnh, lại nằm trên đường giao liên đi lên vùng tự do, vì vậy Huyện uỷ Từ Sơn đã giao nhiệm vụ cho Liên Hà đưa đón cán bộ thương binh từ Nam phần Bắc Ninh lên vùng tự do. Lúc đầu đi theo đường từ Liên Hà qua Thuỵ Lâm, Quan Đình rồi theo đường 16 vượt sông Cầu đến vùng tự do Hiệp Hoà Bắc Giang. Về sau đi theo đường Nhạn Tái qua sông Cà Lồ vượt vành đai trắng Núi Đôi rồi đến vùng tự do
Ngoài ra giao liên Hà Vỹ còn đưa đón, bảo vệ các đoàn dân công chuyển lương thực lên vùng tự do và tiếp nhận hàng binh, tù binh rồi đưa chúng ra vùng tự do an toàn .
Trong khi làm nhiệm vụ đưa đón và bảo vệ các đoàn dân công, một số du kích đã hy sinh như anh Đỗ Văn Thoái (thôn Châu Phong) hy sinh khi dẫn đường cho dân công đưa gạo lên Hiệp Hoà (đầu năm 1951)
Cùng với việc che trở bảo vệ giúp đỡ cán bộ, bộ đội du kích, nhân dân Hà Vỹ còn tích cực đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Các nghĩa vụ thuế, mua công phiếu kháng chiến "Hũ gạo nuôi quân" v.v. đều được nhân dân tích cực tham gia .
Đóng góp đáng kể nhất của nhân dân Hà Vỹ là đi dân công phục vụ các chiến dịch lớn như Hồng Quảng, Hà Nam Ninh, Hoàng Hoa Thám (1951), Tây Bắc (1952) và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ (đầu năm 1954). Phong trào tòng quân của thanh niên Hà Vỹ sôi nổi trong suốt những năm kháng chiến, cả Hà Vỹ đã có hàng trăm thanh niên tham gia quân đội chiến đấu ở khắp các chiến trường trong đó có nhiều anh đã hy sinh vì Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
3. PHONG TRÀO HỌC TẬP VĂN HOÁ CỦA HÀ VỸ
Hà Vỹ là một làng quê trước đây thuộc huyện Đông Ngàn, nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng, truyền thống đó đã có ảnh hưởng tốt đến việc học tập của con em Hà Vỹ. Thời Phong kiến cả làng đã có 84 người học cao trong đó có 6 vị đỗ Đại khoa (Thám hoa, Tiến sĩ). Đình làng có Văn chỉ thờ đức Khổng Tử có văn bia ghi tên những người đỗ đạt cao từ Giám sinh, Tú tài, đến Tiến sĩ, Thám hoa của làng. Với truyền thống hiếu học của cha ông, nên con em Hà Vỹ thời nào cũng có nhiều người đi học, việc học là nhu cầu cần thiết là mơ ước của mọi người.
Khi Hán học xâm nhập vào nước ta, thì làng đón thày Đồ về dậy chữ Hán - Nôm cho các thanh niên con nhà khá giả trong làng và lập thành hội Tư Văn và hội Đồng môn. Dậy học là một nghề cao quí được mọi người tôn vinh nên nhiều người đi học dù không được bổ làm quan cũng về làm thày Đồ mở lớp dậy học cho các con em trong vùng
Trước cách mạng tháng Tám, ở Hà Vỹ có thày Đồ Phi (Lê Hồng Phi - Đại Vỹ) đã mở lớp dậy chữ Hán-Nôm cho một số con em trong làng, trong kháng chiến chống Pháp khi mà chữ Hán - Nôm không còn thông dụng nữa, thày Phi chuyển sang dạy chữ Quốc ngữ. Dậy chữ Quốc ngữ còn có thày Đồ Nghi (Ngô Văn Nghi - Đại Vỹ). Thày Nghi dậy lớp ba lớp bốn, thày Phi dậy lớp nhì, lớp nhất, (lớp nhất là lớp cuối bậc tiểu học, tương đương với lớp 5 bây giờ). Lớp học đặt tại Táo Trù của đình làng. Hầu hết những người biết chữ Quốc ngữ ở làng thời đó đều qua hai thày ấy dậy cả. Khi học xong lớp nhất (tức là hết bậc Tiểu học) ai muốn học cao hơn (lên bậc Thành chung) thì học trường Hoàng Hữu Nam (ở Me) hoặc ra Hà Nội hay lên vùng tự do học tiếp
Năm 1953 UBKC-HC và ty Giáo dục tỉnh Bắc Ninh đã có quyết định cho xã Liên Hà đựơc mở trường Phổ thông cấp I Âu Lạc với 16 giáo viên, Hà Vỹ có 5 giáo viên là các anh Nguyễn Văn Sáng( Khải), Nguyễn Hữu Cảnh (Đại Vỹ) Đỗ Văn Lượng, Đỗ Văn Bảng và Trịnh Xuân Quang (Châu Phong). Các giáo viên này đã được đi bồi dưỡng kiến thức rồi trở thành các giáo viên và cán bộ trong ngành giáo dục
Thày Sáng là Hiệu trưởng trường cấp II Đại Phúc, Bắc
Ninh, thày Cảnh được đi học ở trường Nguyễn ái Quốc và trở thành Phó Giám đốc, Bí thư Đảng uỷ trường Đảng tỉnh Hà Bắc. Thày Bảng là Hiệu trưởng trường THCS Liên Hà và thày Quang là Hiệu trưởng kiêm Bí thư Chi bộ trường Tiểu học Liên Hà; cả bốn Thày này đều công tác liên tục cho đến tuổi về hưu
Cuối năm 1953 quân ta mở chiến dịch Đông Xuân tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ở vùng hậu địch, quân và dân Hà Vỹ cũng đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh du kích.
Ngày 19-3-1954 (24 tháng Hai năm Giáp Ngọ) địch quây thôn Châu Phong, anh Phạm Cao Tiến chết vì trúng đạn ở đồng Móc.
Để chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ, nhiều đợt dân công Hà Vỹ được huy động đi phục vụ chiến dịch. Ngày mồng Hai tết Giáp Ngọ (5-2-1954), Hà Vỹ đã đưa hàng chục dân công đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ trong đó có các anh Phạm Văn Nga (Tỵ), Phạm Văn Dân, (Châu Phong) chị Đỗ Thị Sửu (Giao Tác) có thành tích và được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua Điện Biên.
Để tăng cường lực lượng chiến đấu, trong những năm 1953-1954, nhiều thanh niên ở vùng tự do Thái Nguyên đang đi học đã "xếp bút nghiên lên đường tranh đấu" xung phong tòng quân như các anh Nguyễn Bá Tước, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Đính… (Đại Vỹ), Phạm Huy Thông, Đỗ Ngọc Tiến, Đỗ Văn Bảng… (Giao tác) Phạm Thanh Long, Nguyễn Thanh Lâm, Phạm Văn Tuân… (Châu Phong). Sau này một số anh đã trở thành những sĩ quan trung, cao cấp trong các lực lượng vũ trang hoặc cán bộ chuyên môn trong các ngành khoa học và kinh tế.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho phái đoàn của ta ở bàn Hội nghị Giơ-ne -vơ
Điện Biên Phủ thất thủ, địch phải rút quân ở các bốt vùng đồng bằng Bắc Bộ về Hà Nội để chuẩn bị cho cuộc rút quân khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơ -ne- vơ
Ngày 10-10-1954 địch rút khỏi Từ Sơn thế là quê hương Hà Vỹ được hoàn toàn giải phóng, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi
Trong 8 năm kháng chiến với hơn 5 năm trực diện chiến đấu với kẻ thù, quân và dân Hà Vỹ đã chịu đựng vô vàn hy sinh gian khổ nhưng cũng vô cùng oanh liệt vẻ vang
“Kể từ tháng 9 năm 1949 đến tháng 10 năm 1954 địch đã vây càn vào xã Liên Hà tất cả hơn 100 lần, giết và bắt tù đầy hơn 150 cán bộ, du kích, bắt đưa đi mất tích gần 50 người khác; giết hại gần 200 dân thường, nhiều người bị tra tấn đánh đập hãm hiếp rất dã man, chúng đã phá và đốt trên 500 ngôi nhà, bắn và cướp đi trên 200 con trâu bò, cùng nhiều tài sản quí giá khác…”
Đặc biệt thiệt hại không gì bù đắp được, đó là do Thực dân Pháp xâm lược mà Hà Vỹ phải mất đi ngôi chùa chốn Tổ gần 100 gian do tiêu thổ kháng chiến. Đình làng cũng vì giặc Pháp mà phải dỡ đi bao nhiêu câu đối, cánh cửa, ván sàn để làm nắp hầm trú ẩn cho du kích bộ đội, cũng vì giặc Pháp xâm lược mà đình bị xiêu do phá bốt gần đình đến nay vẫn chưa chữa được…
“Cũng trong 5 năm trực diện đương đầu với địch, quân dân xã ta đã chiến đấu trên 50 trận lớn nhỏ, diệt trên 100 tên địch, bắt và gọi hàng 20 tên, thu hàng trăm súng các loại, cùng nhiều quân trang quân dụng và các chiến lợi phẩm khác
Cùng với chống địch vây càn, nhân dân xã ta còn tích cực đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến: 556 người tham gia quân đội, hàng trăm người tham gia dân công ở các chiến trường
Ngoài ra nhân dân ta còn giúp đỡ chỗ ăn chỗ ở nơi làm việc và bảo vệ an toàn cho các cơ quan huyện Từ Sơn và các cơ quan huyện Tiên Du, Gia Lâm cùng cán bộ, du kích nhiều xã trong huyện…”
“Có được những thành tích trên đây, trước hết là do sự chỉ đạo sáng suốt của Chi uỷ Đảng và các cán bộ, đảng viên trong các thôn đã biết vận dụng đường lối kháng chiến sáng suốt của Đảng và Chính phủ vào điều kiện và hoàn cảnh thực tế của địa phương
Có được những thắng lợi trên đây còn do lòng yêu nước thiết tha, chí căm thù giặc sâu sắc, một lòng một dạ tin tưởng vào đường lối kháng chiến, sẫn sàng hy sinh tính mạng, tài sản… của toàn thể nhân dân trong xã
Những thành tích trên đây còn có sự hỗ trợ giúp đỡ của các đơn vị bộ đội, cán bộ du kích và nhân dân trong vùng, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ Từ Sơn
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, ngày 15 tháng 8 năm 2003, Chủ Tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 522/KT- CTN phong tặng nhân dân và lực lượng vũ trang xã Liên Hà (trong đó
có Hà Vỹ) danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp.” (5)

(1) Lúc đầu, ông Đỗ Văn Hưởng được bầu làm Chủ tịch, ông Đỗ Văn Chù làm Phó Chủ tịch song do ông Hưởng tổ chức ăn mừng trong khi nhân dân còn đói vì vậy cấp trên không đồng ý mà cử ông Đỗ Văn Chù làm Chủ tịch
(2) Cơ quan Huyện uỷ ở nhà ông Ngô Văn Hồng, ông Nguyễn Văn Xướng (thôn Đạị Vỹ). Bộ phận in ở nhà ông Bẩy Bắc, bà Năm Đồn (Trại). Cơ quan UBKC-HC huyện Từ Sơn và các Đ/c Chủ tịch và phó Chủ tịch ở nhà ông Phạm Văn Ngân. Cơ quan Huyện Đội ở nhà cụ Nghĩa, cơ quan Giao Thông- Bưu điện ở nhà cụ Nhâm cụ Nhã. Bộ phận quân giới ở nhà cụ Cừu, (các cơ quan này đều đóng ở Châu Phong)
(3)Đ/c Thiền đã được kết nạp vào Đảng từ khi thành lập chi bộ đầu tiên ở Hà Vỹ, do vì mất liên lạc nên phải kết nạp lại, cũng do mất liên lạc nên Hà Vỹ lại thành lập chi bộ mới.

(4) (5) Theo “Liên Hà - truyền thống Lịch sử văn hoá và cách mạng”
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 7
HÀ VỸ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CƯỚC NƯỚC
(T10/1954 – T4/1975) (1)
1 CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT , KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - VĂN HOÁ (TỪ T10/1954 ĐẾN T12/1960)
Sau chín năm kháng chiến, quân và dân ta chịu bao nhiêu hy sinh gian khổ, hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, hoà bình đã được lập lại trên nửa nước ta, trong đó có quê hương Hà Vỹ. Đó là một thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam đem lại niềm hân hoan vui sướng cho toàn thể nhân dân miền Bắc.
Song chiến tranh cũng để lại bao hậu quả nặng nề do kẻ địch gây ra: Làng xóm bị tiêu điều xơ xác, nhiều thửa ruộng trũng xa làng bị bỏ hoang lâu ngày, cỏ ngập ngang người, trâu bò bị giết, thiếu sức kéo nghiêm trọng. Đội ngũ cán bộ thôn xã có năng lực cũng thiếu vì một số đồng chí đã hy sinh, số còn lại vì nhiều lý do khác nhau đã không nhiệt tình hăng hái nữa, một số do khó khăn kinh tế nên phải lo giúp cho gia đình vợ con .
Đầu tháng 10-1954, dưới sự chỉ đạo của Chi uỷ, các tổ Đảng và lãnh đạo các thôn ở Hà Vỹ được củng cố lại, trước mắt cần ổn định tổ chức và thống nhất tư tưởng trong đảng viên. Sau nhiều cuộc họp ở các tổ Đảng, đã phân tích thẳng thắn những mặt mạnh mặt yếu, nêu ra những ưu khuyết điểm của từng đồng chí đảng viên, chỉ ra hướng giải quyết như bồi dưỡng và bố trí công tác cụ thể. Đến tháng 12-1954, các tổ Đảng đã được củng cố lại với sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của các đảng viên. Cùng với tổ Đảng, lãnh đạo và các đoàn thể quần chúng của các thôn cũng được củng cố lại.
Trong thời gian mới hoà bình, tổ Đảng và lãnh đạo các thôn ở Hà Vỹ phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ cấp bách đặt ra, trước hết là đẩy mạnh sản xuất để ổn định đời sống nhân dân vì vụ mùa năm 1954 bị hạn hán nặng gây thất thu nên nhiều gia đình lâm vào cảnh thiếu ăn. Dưới sự chỉ đạo của Chi uỷ, các tổ Đảng ở các thôn đã đi vận động nhân dân giúp đỡ nhau xây dựng hoặc tu bổ lại nhà cửa, giúp nhau lương thực để chống đói, hỗ trợ nhau thóc giống để sản xuất vụ chiêm, đặc biệt phát động toàn dân trồng rau màu và cây ngắn ngày để chống đói. Nhờ đó mà sau một thời gian đã hạn chế được một phần tình trạng thiếu lương thực và tránh được nạn đói cho nhân dân.
Tháng 4 -1955 Hà Vỹ thực hiện chính sách giảm tô giảm tức, nhờ vậy người nông dân đã giảm được phần lớn gánh nặng tô tức. Thắng lợi của cuộc vận động giảm tô và việc giúp nhau chống đói làm cho nông dân phấn khởi tích cực triển khai sản xuất vụ mùa năm 1955
Tháng 11-1955 Hà Vỹ cùng với nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ tiến hành cải cách ruộng đất (CCRĐ) nhằm đánh đổ giai cấp địa chủ ở nông thôn hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Bắc. Các cán bộ CCRĐ được phân công về các làng xã để “bắt dễ, ba cùng” với những thành phần cốt cán, tổ chức các cuộc họp để nông dân “ôn nghèo kể khổ”, học tập chính sách CCRĐ của Đảng rồi phát động quần chúng nông dân “đứng lên đấu tranh vạch rõ những thủ đoạn bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến”.
Sau gần sáu tháng tiến hành cải cách - một cuộc cách mạng “Long trời lở đất”- đã thu được thắng lợi to lớn: Toàn bộ ruộng đất, nhà cửa, trâu bò, nông cụ… của địa chủ và phú nông được tịch thu hoặc trưng thu, trưng mua cùng số ruộng công điền bao gồm ruộng binh điền, ruộng đình chùa, ruộng phe giáp, ruộng họ, ruộng hậu, do nông dân được tạm giao hoặc do chính quyền kháng chiến quản lý trước đây đều thu lại để chia cho nông dân trong toàn xã theo tiêu chuẩn bình quân 2 sào 12 thước cho một nhân khẩu
“CCRĐ đã đánh đổ hoàn toàn uy thế chính trị - kinh tế của giai cấp địa chủ phong kiến, thủ tiêu phương thức bóc lột địa tô từ ngàn năm diễn ra ở nông thôn. Mục đích của cách mạng và ước nguyện lâu đời có ruộng để cầy cấy của người nông dân đến nay mới được thực hiện. Ngày nhận ruộng từ trong làng ra các cánh đồng “cờ giong trống mở” cả làng tưng bừng như ngày hội lớn, mọi người nông dân già trẻ gái trai, nét mặt ai cũng hân hoan vui sướng” .
Nhưng CCRĐ đã mắc phải những sai lầm đáng tiếc. “Nguyên nhân chủ yếu của những sai lầm này là không nắm vững đường lối độc lập tự chủ, áp dụng máy móc cách làm của nước ngoài, cường điệu tính đấu tranh giai cấp, không nắm sát những biến đổi về sở hữu ruộng đất về giai cấp địa chủ và về chế độ địa tô phong kiến ở nông thôn từ sau cách mạng tháng Tám thành công. Hệ quả là: đã đánh nhầm vào tổ chức Đảng và chính quyền, vào nội bộ nhân dân. ở Liên Hà (trong đó có Hà Vỹ) sai lầm của CCRĐ còn thể hiện ở chỗ: cán bộ CCRĐ không thấy được đặc điểm nổi bật của xã là có chi bộ Đảng vững mạnh được tôi luyện qua 5 năm chiến đấu đầy hy sinh gian khổ, nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; sau hoà bình, thế và lực của cách mạng ở địa phương đã hơn hẳn giai cấp địa chủ phong kiến, chúng ta hoàn toàn có thể đấu tranh với giai cấp địa chủ phong kiến một cách ôn hoà mà vẫn đạt được kết quả và mục đích đề ra. Hậu quả sai lầm của CCRĐ thực hiện ở Liên Hà rất lớn: Phần lớn các đảng viên của chi bộ từng lăn lộn trong kháng chiến bị coi là “đảng viên loại kém” một số bị khai trừ hoặc không được bố trí công tác và sinh hoạt Đảng, chỉ còn ba người “đủ tiêu chuẩn”. Nhiều cán bộ và quần chúng có đóng góp cho kháng chiến bị nghi oan về chính trị, dẫn đến xử oan trong đó có cả án tử hình”, có người vì oan ức mà tự vẫn.
“Chi bộ Đảng, chính quyền và các đoàn thể đang lãnh đạo điều hành bị thay thế bằng chi bộ và các tổ chức do đội CCRĐ lập ra gồm hầu hết các thành viên thuộc thành phần cơ bản bần cố nông, trình độ văn hoá thấp”, năng lực kinh nghiệm công tác lại kém nên không đáp ứng được yêu cầu của thực tế đòi hỏi
Việc áp dụng cứng nhắc phần trăm chỉ tiêu “số lượng” địa chủ làm nhiều người bị qui sai, qui oan không đúng với thực tế sở hữu .
Do CCRĐ có vấn đề, Đảng ta đã phát hiện ra sai lầm. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khoá II) họp tháng 9-1956 đã đề ra chủ trương “ kiên quyết sửa chữa sai lầm trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức”. Cũng do cải cách sai lầm mà một số cán bộ cao cấp của Đảng phải từ chức hoặc kỷ luật
Chấp hành chính sách sửa sai của Đảng, tháng 11-
1956, Hà Vỹ cùng với các nơi khác trong tỉnh tiến hành công tác sửa sai để ổn định tình hình. Các cán bộ sửa sai và cán bộ địa phương đã cùng nhau phối hợp, kiên trì tiến hành theo phương châm: “Đoàn kết nông thôn, đoàn kết giai cấp, xoá bỏ hận thù, ổn định tư tưởng của cán bộ và nhân dân, thấy sai đâu thì sửa đấy, rõ đến đâu giải quyết đến đó, không để sai lầm tiếp diễn, không để xẩy ra trả thù người tố cáo, đoàn kết, tập hợp động viên và dựa vào các cán bộ đảng viên bị oan sai để sửa”
Sau khi xác minh tường tận từng trường hợp, đội sửa sai đã minh oan và phục hồi về mặt chính trị cho nhiều cán bộ đảng viên và nhân dân bị qui oan do tố cáo sai trong CCRĐ.
Nhờ vậy mà “hầu hết các đồng chí bị qui oan sau khi minh oan đã thấy được trách nhiệm của mình trong việc giúp Đảng sửa sai, nên đã vui vẻ nhận công tác trở lại, chính các cán bộ này lại đi giải thích cho người thân, gia đình, họ hàng bị thiệt hại do cải cách gây ra để người dân tin vào sự công minh sáng suốt của Đảng. Do các cán bộ, đảng viên đi giải thích tuyên truyền mà người dân bị qui oan đã nghe theo không đòi lại tài sản, đã độ lượng xoá bỏ hận thù vì vậy làng xóm đã trở lại yên bình hoà thuận”.
“Gắn với sửa sai là việc chỉnh đốn tổ chức. Trong thời kỳ CCRĐ một số cán bộ là thành phần cốt cán có thành tích được đội CCRĐ bồi dưỡng kết nạp vào Đảng rồi cất nhắc giao cho nắm giữ các chức vụ chủ chốt của Đảng, chính quyền và đoàn thể của xã, nhưng trên thực tế do trình độ văn hoá và nhận thức hạn chế nên không thể đảm đương được nhiệm vụ. Để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, đội sửa sai đã phải vận động số cán bộ đảng viên được cất nhắc trong CCRĐ tự nguyện rút lui công tác vì trình độ và năng lực quá yếu không đảm đương được nhiệm vụ, điều đó không những làm trì trệ công tác mà còn làm mất uy tín của Đảng trước nhân dân.
Ngày 19-11-1956, UBND xã họp hội nghị bàn về việc chấn chỉnh công tác và nhân sự. Kết quả là: đã có “4/9 thành viên của Uỷ ban (gồm Chủ tịch, phó Chủ tịch, uỷ viên Tư pháp và Văn hoá) tự thấy không đủ năng lực đã tự nguyện xin rút khỏi chức vụ”. Để đảm nhiệm công việc, ủy ban đã bổ sung thêm 6 thành viên mới. Họ là những cán bộ cũ có trình độ, từng bị nghi oan được phục hồi. Đồng thời các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, thiếu niên cũng được củng cố lại
Kết quả sửa sai đã giảm số địa chủ ở Hà Vỹ chỉ còn lại rất ít (Đại Vỹ:1, Giao Tác:1, Châu Phong:3 ). Nhiều người bị qui oan là phú nông cũng được xuống thành phần trung nông, họ được trả lại một phần ruộng đất và tài sản. Do chính sách sửa sai kịp thời của Đảng nên đã an ủi một phần oan ức của những gia đình bị qui oan đem lại niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, làng quê trở lại thanh bình yên ả như khi mới hoà bình lập lại. Đến giữa năm 1957 việc sửa sai đã cơ bản được hoàn thành
Trong thời kỳ CCRĐ và sửa sai, “việc sản xuất vẫn được duy trì nhằm ổn định đời sống. ở giai đoạn này, thời tiết khô hạn, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của lúa và hoa mầu, các tổ Đảng và lãnh đạo thôn phải huy động toàn dân đào và khơi thêm hàng chục ao chuôm ở các cánh đồng, đào mương vét máng để lấy nước chống hạn với khẩu hiệu “ Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” để lấy nước cho lúa, nhờ vậy mà vụ chiêm năm ấy cũng được mùa
Sản xuất nông nghiệp thời kỳ phục hồi kinh tế ở Hà Vỹ gập rất nhiều khó khăn, do đặc điểm địa hình thấp, nên đồng ruộng có lúc bị hạn, lúc lại bị úng lụt, thiên tai gây ra thiệt hại rất nhiều. Trận bão năm 1955 gây thất thu lớn, nhân dân chưa hồi phục, lại tiếp đến trận lụt tháng 8 năm 1957 do vỡ cống Mai Lâm đã làm cho đồng ruộng Hà Vỹ ngập chìm trong biển nước, cây cối hoa mầu mất hết đã làm cho nhân dân lâm vào cảnh thiếu ăn trầm trọng. Lãnh đạo các thôn phải huy động mọi người khắc phục khó khăn sau khi nước rút, cấy tái giá ở những chân ruộng có thể cấy được, trồng thêm các loại rau màu để chống đói. Để giúp nhau sản xuất, năm 1957 ở thôn Châu Phong đã xây dựng tổ đổi công hợp tác. Đây là một trong hai địa phương làm thí điểm của tỉnh Bắc Ninh. Tổ đổi công này gồm có 10 gia đình nông dân tự nguyện tham gia do ông Phạm Văn Hàn làm tổ trưởng. Do làm ăn tốt, có hiệu quả thiết thực nên ngày 11-7-1958 ông Hàn được thưởng huy hiệu Bác Hồ.
Sau ba năm khôi phục kinh tế, Hà Vỹ tuy gập nhiều khó khăn do thiên tai gây ra nhưng với tính cần cù vốn có, nhân dân Hà Vỹ đã vượt mọi khó khăn nên đã ổn định được đời sống, tuy còn thiếu thốn nhưng không ai chết đói
Năm 1958 là năm mở đầu kế hoạch ba năm phát triển kinh tế-xã hội (1958-1960) nhưng tình hình sản xuất nông nghiệp ở Hà Vỹ vẫn gập nhiều khó khăn. Hạn hán kéo dài từ cuối năm 1957 vẫn tiếp diễn, làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Nhưng với tinh thần chống thiên tai, nhân dân Hà Vỹ đã quyết tâm chống hạn cứu lúa.
Để tập trung lực lượng cho sản xuất, các thôn Đại Vỹ và Giao Tác đã lập thêm nhiều tổ đổi công. Đến giữa năm 1958 cả ba thôn đã có 65% số hộ nông dân vào tổ đổi công. Thời tiết vụ mùa vẫn khắc nghiệt, đầu vụ bị hạn phải huy động nhân dân chống hạn, khi lúa lên đòng lại bị những trận mưa lớn làm ngập úng các cánh đồng, nhân dân lại phải dùng các phương tiện tát nước để chống úng với tinh thần “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”. Nhờ tinh thần nỗ lực của toàn dân, sản xuất trong hai vụ của năm 1958 vẫn đạt mức khá hơn so với các năm trước, do đó đời sống nhân dân cũng bớt khó khăn hơn”
“Giữa tháng 11 -1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khoá II mở rộng) đề ra nhiệm vụ kế hoạch ba năm (1958-1960) trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp lấy nông nghiệp làm khâu chính, ra sức cải tạo công nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh, khâu chính là đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp, trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao một bước đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của nhân dân. Hội nghị Trung ương lần thứ 14 được coi là Hội nghị về hợp tác hoá nông nghiệp”.
Thực hiện nghị quyết về hợp tác hoá nông nghiệp của Trung ương và “từ kết quả hoạt động của HTX thí điểm đầu tiên ở Lỗ Khê, sau vụ mùa năm 1958, chi bộ Liên Hà chủ trương thành lập HTX ở tất cả các thôn. Tuy nhiên việc vận động vào HTX cũng khó khăn vì phần đông nông dân chưa hiểu về cách làm của HTX, nhiều người sợ vào HTX là mất phần tài sản của mình, sợ bị gò bó hoặc sợ cảnh “cha chung không ai khóc” sợ ăn chia không công bằng, sợ tham ô, lãng phí… có thôn họp tới hai, ba lần mà vẫn không nhận được một lá đơn nào. Các tổ Đảng đã phải phân công từng đảng viên đi vào từng nhà vận động, phân tích và thuyết phục để nông dân hiểu được đường lối chính sách của Đảng, đồng thời đề cao tinh thần xung phong gương mẫu của cán bộ đảng viên trong việc vào HTX. Trước hành động gương mẫu và việc làm hăng hái vì phong trào của các đảng viên nên một số hộ nông dân còn lưỡng lự đã tự nguyện viết đơn vào HTX.
Đến giữa tháng 7 -1959 Hà Vỹ đã thành lập được bốn HTXNN” (2 )
Để tuyên truyền thắng lợi của phong trào hợp tác hoá, tháng 6-1959 xã Liên Hà tổ chức trưng bày nông cụ, gia súc, nông phẩm của các HTX và các hoạt động của ban ngành trong xã, đã được nhiều người đến thăm quan. Kết quả việc tổ chức trưng bày này đã có tác dụng lớn trong việc thuyết phục các hộ nông dân chưa vào HTX và trong việc triển khai vụ mùa năm 1959. Vụ mùa này nhờ thời tiết khá thuận lợi nên đã được mùa. Năng suất bình quân cả xã đạt 93,2 kg một sào, tăng 13,3% so với vụ mùa năm trước. Giá trị ngày công của hầu hết các HTX đều cao vì chi phí gián tiếp ít, nếu kể cả phần chia hoa lợi theo ruộng đất và các khoản đóng góp khác thì thu nhập của các xã viên tương đối cao. Nhờ vậy mà đời sống của xã viên đã được cải thiện một phần. Kết quả này có sức lôi cuốn mạnh đối với các gia đình đang còn làm ăn cá thể. Đến tháng 5 -1960 đã có 86,44% số hộ nông dân vào HTX trong đó có xóm Trại (An Bài) đạt tới 100%. Đến cuối năm 1960 Hà Vỹ đã cơ bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp.
Năm 1960 tình hình thời tiết lại không thuận cho sản xuất nông nghiệp, vụ chiêm bị nắng hạn, vụ mùa lại mưa lớn gây ra úng lụt. Để khắc phục thời tiết khắc nghiệt, nhân dân Hà Vỹ lại phải huy động lực lượng chống hạn chống úng. Tháng 3 -1960 lãnh đạo xã chỉ đạo tập trung lực lượng đào hồ lớn ở thôn Đại Vỹ để giữ nước, phòng khi bị hạn. Ngoài công trình đào hồ này, xã còn huy động lực lượng thanh niên làm một con mương nổi từ Trạm bơm Cống Thôn qua làng Nghĩa Vũ, Thạc Quả về cánh đồng Giao Tác để lấy nước tưới cho vụ chiêm, cũng trong thời gian này, xã cho mở rộng và tôn cao con đường liên thôn từ Châu Phong sang Hà Lỗ để phục vụ cho sản xuất và giao thông, nhờ vậy việc đi lại của người dân trong xã thuận tiện hơn.
Cùng với việc làm thuỷ lợi, các biện pháp khoa học kỹ thuật cũng được đưa vào áp dụng trên đồng ruộng Hà Vỹ như : Xếp đất phơi ải (vụ chiêm) làm phân xanh bằng bèo hoa dâu, ủ phân bằng bùn ao, dùng cày 51, cào cải tiến, cấy thẳng hàng, ủ thóc giống theo phương pháp “ba sôi, hai lạnh”… Một số giống lúa mới có năng suất cao như Nam Ninh, Tám thơm.. được đưa vào gieo cấy phổ biến. Nhờ các biện pháp tổng hợp này mà hai vụ lúa trong năm đều cho
thu hoạch khá.
Cùng với các HTX Nông nghiệp, HTX Mua bán của xã cũng được thành lập để khai thác các nguồn hàng nhu yếu phẩm về bán cho nhân dân (có các cửa hàng ở các thôn) đồng thời thu mua nông sản thực phẩm thừa của nông dân đem đi bán hoặc trao đổi với các nơi khác
HTX Tín dụng cũng được thành lập để làm nhiệm vụ thu hút số tiền nhàn rỗi trong dân rồi ai cần phát triển sản xuất thì cho vay theo phương châm hai bên cùng có lợi. Trên đà phục hồi kinh tế, sự nghiệp văn hoá - giáo dục, y tế cũng có những chuyển biến rõ rệt:
Ngay sau khi hoà bình lập lại, tháng 9 năm 1954 trường cấp I Liên Hà khai giảng do thày giáo Phạm Huy Căn làm Hiệu trưởng, hai lớp 4 được dậy ở đình làng Lỗ Khê, các lớp 3,2,1 được dậy ở đình làng các thôn, đáp ứng được số học sinh trong xã do đến tuổi đi học và từ vùng tự do trở về. Phong trào bổ túc văn hoá cũng phát triển mạnh, tháng 11-1954, Ban BDHV của xã được lập lại, các thôn đều tổ chức các lớp bổ túc văn hoá cho những người lớn tuổi theo học. Năm 1958 Hà Vỹ hoàn thành chỉ tiêu thanh toán nạn mù chữ. Phong trào xoá bỏ mọi hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện tổ chức cưới theo đời sống mới, việc ma chay tang lễ cũng giảm bớt hủ tục để tránh lãng phí tốn kém cho dân . Công tác thông tin, tuyên truyền và văn nghệ cũng vẫn được duy trì như trước. Riêng công tác y tế có những chuyển biến tích cực, tháng 11 -1960, Trạm Y tế xã đã được thành lập, trụ sở đặt tại Cầu Đê thôn Châu Phong, đến năm 1963 chuyển về địa điểm hiện nay với qui mô lớn hơn. Trạm Y tế xã có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ, bán thuốc và chữa bệnh thông thường cho nhân dân. Các phong trào, đào giếng khơi, xây nhà tắm, làm hố xí hai ngăn “sạch làng tốt ruộng” “phòng bệnh hơn chữa bệnh, ở sạch, ăn chín, uống chín” được tuyên truyền và thực hiện đến từng ngõ xóm và gia đình ở cả ba thôn.
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương, cán bộ, đảng viên còn phải vận động nhân dân các thôn tham gia tích cực và hưởng ứng các phong trào cách mạng ở miền Bắc, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế, đi dân công, tham gia xây dựng các công trình quan trọng như làm đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn (đầu năm 1955), hàn khẩu cống Mai Lâm (tháng 9-1957), thi hành Luật nghĩa vụ quân sự do Quốc hội ban hành (tháng 12-1959)...
Trong thời gian này, địa phương còn có phong trào nhận đỡ đầu và nuôi thương binh miền Nam tập kết, ở Hà Vỹ nhận 4 người thương binh về nuôi.
Tháng 3 -1959 nhân dân Hà Vỹ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã đầu tiên, 36 đại biểu trúng cử, UBHC xã gồm 11 thành viên do ông Dương Văn Thung (thôn Hà Hương) làm Chủ tịch
Tháng 3 năm 1960, Hà Vỹ tiến hành tổng điều tra dân số theo chỉ thị của Chính phủ. Qua điều tra, cấp trên mới nắm được số dân của từng thôn, tỷ lệ nam nữ, số người ở độ tuổi lao động … để có căn cứ làm kế hoạch hàng năm…
Đầu năm 1960 do yêu cầu của phong trào cách mạng địa phương và do số lượng đảng viên tăng (105), chi bộ Liên Hà được Huyện uỷ Từ Sơn chấp thuận nâng thành Đảng bộ. Đảng bộ có 3 chi bộ, Hà Vỹ là một chi bộ gồm 43 đảng viên. Việc thành lập Đảng bộ đánh dấu bước trưởng thành của công tác xây dựng Đảng, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho việc tổ chức các phong trào cách mạng của địa phương.
Năm 1959 (được sự đồng ý của xã Xuân Nộn) một số gia đình ở Châu Phong lên khai hoang trên cánh đồng Kim rồi lập một ấp mới gọi là ấp Liên Phong. Thấy đất đai ở cánh đồng Kim còn rộng một số gia đình ở Đại Vỹ và Giao Tác sau đó cũng lên ấp Liên Phong định cư làm thành một cụm dân cư mới và lấy tên là ấp Hà Lâm. Hiện nay ấp Hà Lâm thuộc đơn vị hành chính của xã Thuỵ Lâm
Sau sáu năm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá - giáo dục, từ những làng quê bị chiến tranh tàn phá, bộ mặt thôn xóm của làng Hà Vỹ từng bước thay da đổi thịt. Nền kinh tế tập thể mới được hình thành, đời sống nhân dân bắt đầu ổn định và có phần được cải thiện. Không khí phấn khởi hồ hởi tin tưởng bao trùm lên khắp xóm làng, mở đầu cho một giai đoạn cách mạng mới: Giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
2. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT
(1961-1965)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (họp tháng 9 -1960 tại thủ đô Hà Nội) đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng Việt Nam là: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc - trọng tâm là thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) đồng thời tiếp tục đấu tranh nhằm giải phóng niềm Nam tiến tới thống nhất đất nước”.
Tháng 7-1961 Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V đề ra nhiệm vụ phát triển nông nghiệp làm cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp.
Bước vào giai đoạn này có một sự kiện quan trọng đối với nhân dân Hà Vỹ đó là: Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và theo Quyết định số 78 CP ngày 30-5-1961 của Hội đồng Chính phủ về việc tổ chức hành chính của Thủ đô Hà Nội, Liên Hà cùng bốn xã (Vân Hà, Dục Tú, Mai Lâm và Đông Hội) của huyện Từ Sơn được chuyển về huyện Đông Anh – là một trong bốn huyện ngoại thành (cùng với Gia Lâm, Thanh Trì , Từ Liêm) của thành phố Hà Nội. Kể từ đó nhân dân Hà Vỹ đã thuộc về một huyện của ngoại thành Hà Nội. Được về Hà Nội, Thủ đô của một nước, là một điều vinh dự may mắn, nhất định sẽ được Trung ương quan tâm chú ý hơn, vì vậy cán bộ và nhân dân Hà Vỹ rất phấn khởi trước sự thay đổi này.
Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, Đảng bộ xã được tổ chức lại thành tám chi bộ theo các thôn để chỉ đạo tốt hơn các mặt công tác.
Nhiệm vụ đầu tiên và trọng tâm của thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là: Tiến hành cải tiến quản lý HTX nông nghiệp đợt một. Theo chỉ đạo của Thành uỷ, việc cải tiến này là: Xoá bỏ phần hoa lợi của xã viên chia theo ruộng đất và trâu bò nông cụ đóng góp khi vào HTX, thay thế lao động công nhật bằng việc bình công chấm điểm.
Việc xoá bỏ hoa lợi, làm cho thu nhập của xã viên ít đi, không khuyến khích người lao động, do đó xã viên có phần chán nản, cộng thêm việc quản lý rườm rà phức tạp thiếu công bằng nên đã có một số hộ xã viên muốn xin ra HTX. Để ngăn chặn hiện tượng này chi bộ phải phân công đảng viên đi thuyết phục, động viên tư tưởng, có khi dùng cả biện pháp hành chính cản trở để làm cho xã viên không ra được HTX
Để củng cố HTX, ổn định tinh thần xã viên, nâng cao năng suất và thu nhập của người lao động điều quyết định phải là đẩy mạnh sản xuất bằng cách cải tạo đồng ruộng, khoanh vùng nhằm biến đồng ruộng trước đây cấy một vụ với năng suất thấp lại bấp bênh thành hai vụ lúa có năng suất cao. Muốn vậy phải đẩy mạnh làm thuỷ lợi, đào thêm
mương máng để có nước tưới tiêu, không thể để tình trạng hạn hán hay úng lụt như trước nữa
Thực hiện chủ trương cải tạo đồng ruộng, thôn Đại Vỹ đã khoanh một vùng hồ rộng 28 mẫu và cùng với Giao Tác khoanh vùng đồng Ván; Giao Tác khoanh vùng Khúc Lân, Châu Phong khoanh các vùng đồng Rành (42 mẫu), đồng Bến (7 mẫu) đồng Trùng và Ao Cá
Khoanh vùng xong, những nơi có chứa nước đều cho nuôi cá, nhờ đó mà giá trị ngày công của xã viên lại được nâng cao
Kết hợp với việc khoanh vùng đào đắp các mương, các con đường đã được hình thành trên những cánh đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đi lại. Để dẫn nước vào ruộng, giải phóng sức người, một số Trạm bơm dầu cơ động cũng đã được trang bị đặt tại cầu Đỏ (Giao Tác), đồng Rợ, Ao Bớ (Châu Phong)… Đến năm 1965 các trạm bơm này bắt đầu hoạt động nhờ điện lưới từ trạm biến thế điện Đông Anh
Từ giữa năm 1963 thực hiện chủ trương đẩy mạnh sản xuất thực phẩm đi đôi với sản xuất lương thực, các HTX bắt đầu xây dựng chuồng trại để chăn nuôi lợn tập thể. Bước đầu cũng có khó khăn về giống, vốn cũng như kỹ thuật và kinh nghiệm chăn nuôi nhưng do quyết tâm của cán bộ nên chuồng trại lần lượt được xây dựng ở các thôn, lợn giống được mua về, mỗi HTX đã có vài chục rồi đến vài trăm con. Để quản lý và chăn nuôi số lợn này, mỗi HTX phải cử ra một tổ chăn nuôi riêng. Sau gần một năm chăn nuôi, lứa lợn đầu tiên đã được xuất chuồng với khối lượng trung bình từ 60 đến70 kg. Lợn nuôi được, phần lớn bán cho Nhà nước để làm nghĩa vụ, số còn lại được giết chia cho xã viên bồi dưỡng vào những dịp Lễ, Tết hoặc liên hoan mừng công…Ngoài chăn nuôi lợn, một số HTX còn nuôi cả trâu để làm sức kéo phục vụ việc cầy bừa cho kịp thời vụ
Cùng với việc phát triển sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công cũng được tổ chức lại thành các HTX tiểu thủ công. Những người làm nghề thợ mộc, thợ nề cũng được đưa vào HTX để quản lý. Năm 1961 thành lập HTX Sơn Mài có trụ sở đặt tại Cầu Đê thôn Châu Phong do ông Nguyễn Văn Ngỗi làm Chủ nhiệm. Năm 1964 thành lập HTX sản xuất bánh kẹo, thu hút nhân công của cả Đại Vỹ và Giao tác, địa điểm sản xuất cũng ở thôn Châu Phong. HTX này chỉ duy trì được 3 năm thì giải thể vì làm ăn kém hiệu quả
Trong thời kỳ này, các HTX đều phải xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật như làm nhà kho, sân phơi, chuồng trại chăn nuôi. Để có gạch ngói xây dựng, HTX còn tổ chức đun cả lò gạch để cung cấp gạch ngói cho ngay HTX của mình
Trong thời kỳ thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất, các mặt văn hoá , giáo dục, y tế cũng được chú ý phát triển ngang tầm với phát triển kinh tế.
Năm học 1961-1962 trường phổ thông (PT) cấp I được mở rộng, cùng năm đó trường PT cấp I - II xã Liên Hà được thành lập (mới đầu chỉ có hai lớp 5) sang năm học 1962 -1963 và 1963-1964 số học sinh cả hai khối đều tăng.
Năm 1964 Liên Hà còn thành lập thêm trường Mẫu giáo - Vỡ lòng với ba lớp (Đại Vỹ có một lớp). Các cô giáo được chia công điểm, các cháu được HTX hỗ trợ một phần cho bữa ăn.
Để nâng cao trình độ cho cán bộ đảng viên, phong trào học bổ túc văn hoá vẫn được duy trì đều đặn, các mặt văn nghệ, thông tin- tuyên truyền cũng được đẩy mạnh hơn. Chính quyền nhân dân xã được củng cố, lực lượng dân quân du kích vẫn thực hiện tốt các kỳ huấn luyện hàng năm, cùng với công an tuần tra giữ gìn trật tự trị an bảo vệ an toàn thôn xóm, các thôn lập tổ hoà giải để kịp thời giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân.
Từ năm 1961 đến đầu năm 1965, Hà Vỹ luôn luôn hoàn thành các nghĩa vụ như thuế nông nghiệp, thuỷ lợi phí, bán thực phẩm, tuyển quân…đối với Nhà nước
Sau ngày 5 - 8 -1964 (Sự kiện Vịnh Bắc Bộ), theo sự chỉ đạo của Đảng uỷ, các chi bộ ở Hà Vỹ đã rà soát lại lực lượng chiến đấu chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cũng từ thời điểm này, phong trào tái ngũ trong số các quân nhân phục viên của các thôn được tiến hành
Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất cũng có những bước tiến mới, nhằm làm cho chi bộ xứng tầm với nhiệm vụ là vai trò lãnh đạo toàn dân. Chi bộ coi trọng nâng cao chất lượng đảng viên, thông qua các đợt sinh hoạt chính trị và phong trào phấn đấu thành “Chi bộ bốn tốt”
Bước sang năm 1965 (năm cuối của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất), đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Những kết quả lao động quên mình của cán bộ và nhân dân Hà Vỹ trong 10 năm khôi phục và phát triển kinh tế đã làm cho quê hương đổi thay cơ bản. Dù đời sống vật chất còn có khó khăn nhưng không khí làng xóm rất yên vui phấn khởi, lòng dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đó là nhân tố vững chắc để cán bộ và nhân dân Hà Vỹ sẫn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy thử thách hy sinh
3. Hà Vỹ cùng cả nước kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975)
Sau những thất bại thảm hại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” trên chiến trường miền Nam, tháng 2 năm 1965 đế quốc Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”. Để ngăn chặn sự tiếp viện của quân dân miền Bắc, chúng đã dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc đồng thời đưa một lực lượng lớn quân đội Mỹ vào tham chiến ở chiến trường miền Nam. Kể từ tháng 4 năm 1965 chiến tranh đã lan rộng trên phạm vi cả nước. Trước tình hình cả nước có chiến tranh, Đảng ta đã xác định: Chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc, của nhân dân từ Bắc chí Nam. Đảng kêu gọi cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Thực hiện lời kêu gọi của Đảng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ xã Liên Hà, các chi bộ ở Hà Vỹ đã kịp thời phổ biến các nghị quyết của Trung ương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thôn đồng thời thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ là: Động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, toàn dân phải chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, sẫn sàng chiến đấu cùng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên đất nước chúng ta.
Đầu tháng 4 năm 1965, máy bay Mỹ lần đầu tiên xuất hiện trên bầu trời Hà Nội. Để bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của tập thể và nhân dân, theo sự chỉ đạo của Ban phòng không sơ tán xã, các lớp Mẫu giáo, Vỡ lòng, cấp I và cấp II đều phải sơ tán vào các địa điểm hẻo lánh ven làng để tránh máy bay địch bắn phá. Mỗi thôn đều thành lập các đội cứu thương, cứu sập hầm, cứu hoả và được tập huấn nghiệp vụ để có thể xử lý tốt khi giải quyết hậu quả xẩy ra. Tất cả các nơi công cộng, nơi tập trung đông người như trụ sở, chợ búa, trường học… và từng nhà dân, đều phải đào hầm (hố cá nhân, hầm chữ A - hầm kèo tre…) để trú ẩn khi máy bay địch bắn phá. Để sẫn sàng đối phó với chiến tranh phá hoại của địch, lực lượng dân quân du kích các thôn được củng cố và tăng cường cả về quân số và trang bị kỹ thuật. Để trực chiến bắn máy bay địch, xã đã bố trí hai trận địa ở cầu Rợ (Châu Phong) và vườn Trên (Giao Tác). Mỗi trận địa có một tiểu đội được trang bị một trung liên cùng với một số súng trường để bắn máy bay tầm thấp. Ngoài ra mỗi thôn có một đại đội dân quân gồm cả nam lẫn nữ, để sẫn sàng làm các nhiệm vụ khi cần đến
Nhằm bảo vệ phía bắc Thủ đô Hà Nội, quân đội đã xây dựng một trận địa pháo và rađa ở đồng Rành thôn Châu Phong, các đội viên dân quân du kích của ba thôn Hà Vỹ cũng phải tham gia trực chiến trên trận địa này.
Do vị trí địa lý của Hà Vỹ (cách xa các trung tâm thị trấn, nhà máy ) nên nhiều cơ quan, xí nghiệp và nhân dân đã chọn về sơ tán. Để giúp đỡ họ, chính quyền và nhân dân địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi về chỗ ăn chỗ ở cho những bà con về sơ tán.
Năm 1966 chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan rộng khắp miền Bắc. Ngày 29-6-1966 máy bay Mỹ bắt đầu ném bom vào địa phận Hà Nội mà điểm đầu tiên là kho xăng Đức Giang gây cho ta khá nhiều thiệt hại.
Năm 1967 chiến sự lại càng ác liệt, có thời kỳ máy bay địch liên tục đánh phá Hà Nội, ngày nào cũng có báo động hai ba lần, làm cho tinh thần nhân dân hết sức căng thẳng, mệt mỏi. Các đội trực chiến túc trực ngày đêm để sẫn sàng chiến đấu. Các đội cứu sập hầm, chữa cháy, tải thương của các thôn hàng ngày đều phải trực chiến 24/24 giờ
Tuy thời kỳ này, máy bay Mỹ vẫn chưa đánh phá vào địa bàn Hà Vỹ nhưng đã có một bộ phận lực lượng chiến đấu của Hà Vỹ được điều đi tăng cường giúp đỡ các xã trong huyện như Uy Nỗ, Xuân Canh, Cổ Loa…(là trọng điểm đánh phá của địch), anh chị em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Ngày 7-12-1967, máy bay Mỹ bắn phá xã Xuân Canh, chúng đã ném xuống hàng loạt bom nổ chậm. Lực lượng xung kích của Hà Vỹ được điều lên cùng bộ đội giúp xã bạn khắc phục hậu quả. Trong trận này một người con của Hà Vỹ là anh Phạm Hồng Thập (thôn Châu Phong) là bộ đội đã hy sinh khi tháo bom nổ chậm
Cùng với việc tổ chức phòng tránh và trực chiến hàng ngày, công tác tuyển quân cũng được coi là nhiệm vụ trọng tâm của xã. Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, và phong trào “Ba sẫn sàng” (3 ), thanh niên Hà Vỹ hăng hái viết đơn tình nguyện tham gia nhập ngũ vào bộ đội và thanh niên xung phong có anh chưa đến tuổi 18 đã xin đi bộ đội để được cầm súng ra chiến trường tiêu diệt kẻ thù. Ngay trong năm 1965 Hà Vỹ đã có vài chục thanh niên lên đường tham gia chiến đấu
Cùng với nhiệm vụ phòng tránh, phục vụ chiến đấu và tuyển quân, các chi bộ còn chỉ đạo các HTX đẩy mạnh sản xuất nhằm đảm bảo đủ lương thực thực phẩm tại chỗ đồng thời chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Do yêu cầu sản xuất thời chiến, đầu năm 1965 hai HTX Đại Vỹ và Giao Tác nhập thành một HTX lấy tên là HTX Hà Vỹ. Việc sáp nhập thành các HTX lớn có mặt tích cực là: Tập trung được nguồn vốn, nhân lực, thống nhất kế hoạch sản xuất giảm bớt số cán bộ gián tiếp … song lại bộc lộ nhiều bất cập như việc điều hành sản xuất thiếu đồng bộ kịp thời, nhiều khi chồng chéo lẫn nhau gây lãng phí lớn… Sản xuất gập nhiều khó khăn do năng lực cán bộ yếu, nguồn nhân lực phải dàn trải vì một bộ phận lớn lao động trẻ khoẻ đi bộ đội và thanh niên xung phong. Ngay năm đầu tiên (1965) một số chân ruộng sâu không cấy cầy được hoặc cấy không đúng thời vụ, nên cho năng suất thấp.
Để khắc phục nhược điểm do cách “bình công chấm điểm” và để tăng thời gian và năng xuất lao động của xã viên, các HTX đã thực hiện cải tiến quản lý vòng hai. Các công việc trên đồng ruộng đã áp dụng chế độ khoán. Nhờ cách khoán này mà các HTX đã cấy hết diện tích đúng thời vụ nên có nơi đã cho thu hoạch khá.
Công tác thuỷ lợi tiếp tục được đầu tư. Giữa năm 1965 điện lưới Quốc gia đã về đến thôn. Nhờ có điện, các trạm bơm điện Láng Mây, đồng Rợ được thay thế cho trạm bơm dầu. Năm 1966 đào mương K4 để dẫn nước tưới tiêu cho các cánh đồng thôn Châu Phong và Đại Vỹ. Nhờ có nước mà năm 1966 máy cầy đã làm việc được trên một số chân ruộng của An Bài và Giao Tác. Cũng năm 1965 trạm bơm Trịnh Xá hoàn thành, bắt đầu phát huy tác dụng, cung cấp đủ nước cho cánh đồng các xã. Hệ thống mương máng đã hình thành, các đường bờ vùng, bờ thửa hoặc đường liên thôn được mở rộng và tôn cao như đường từ Châu Phong sang Hà Lỗ (do XN Thi công cơ giới sơ tán tại địa phương trợ giúp). Cũng trong thời gian này, huyện đã cho đắp con đường nối từ Dục Nội đến Ngọc Lôi gọi là đường Nam Hà (do thợ đấu ở tỉnh Nam Hà làm, cũng là phía Nam xã Liên Hà). Đó là con đường quan trọng trong chiến tranh để vận chuyển đi lại từ Đông Anh sang Từ Sơn mà không phải đi theo đường quốc lộ số 3 qua Yên Viên vừa xa vừa không an toàn như trước nữa. Đường liên thôn phía đông từ Đại Vỹ qua Giao Tác nối với đường Nam Hà cũng được đắp trong thời gian ấy.
Cùng với hệ thống mương máng, các trạm bơm điện được nâng cấp và ổn định vị trí như trạm bơm đồng Bài tưới tiêu cho cánh đồng Đại Vỹ, trạm cầu Đá tưới tiêu cho cánh đồng Giao Tác, trạm đồng Rợ, đồng Mìn đồng Chiền tưới tiêu cho cánh đồng Châu Phong
Đến năm 1967, hệ thống mương máng trạm bơm của Hà Vỹ tương đối hoàn chỉnh làm cho đồng ruộng các thôn chủ động được tưới tiêu nên nhiều cánh đồng các thôn đã cấy được hai vụ lúa mà còn làm thêm một vụ đông, trồng khoai tây, khoai lang tăng thêm nguồn lương thực.
Cùng với sản xuất lương thực, chăn nuôi tập thể tiếp tục được đẩy mạnh do đó đã đóng góp cho Nhà nước một khối lượng thực phẩm vượt mức nghĩa vụ.
Tuy nhiên, sản lượng lương thực, thực phẩm trong những năm đầu chiến tranh phá hoại tăng không đáng kể vì thời tiết không thuận, lại thêm trình độ canh tác chăn nuôi còn nhiều yếu kém trong khi yêu cầu phân phối thời chiến phải chia thành nhiều phần: phần nộp thuế và nghĩa vụ với Nhà nước, phần để lại địa phương phục vụ cho chiến đấu, tái sản xuất, lập quỹ công ích nên phần để chia cho xã viên còn lại rất ít, do vậy đời sống xã viên còn gập nhiều khó khăn thiếu thốn. Mức ăn theo chỉ đạo chung chỉ được từ 13 đến 18 kg thóc một người một tháng. Với mức lương thực như vậy mà thức ăn chất đạm (thịt cá) lại ít thì sao đủ chất. Nhưng với tinh thần “vì tiền tuyến lớn” vì “đồng bào miền Nam ruột thịt” nhân dân Hà Vỹ vẫn chịu đựng và khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, luôn tin tưởng vào ngày toàn thắng của dân tộc.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm Mậu Thân (1968) ở miền Nam đã làm rung chuyển chế độ Mỹ Nguỵ, nội bộ chính phủ Mỹ hoang mang và mâu thuẫn gay gắt, nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh kịch liệt, đẩy bọn xâm lược Mỹ và Nguỵ quyền tay sai vào thế bị động buộc chúng phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vỹ tuyến 20 trở ra và phải cùng với ta ngồi vào bàn hội nghị ở Pari. Để chi viện cho chiến trường miền Nam nhanh chóng thắng lợi, miền Bắc phải huy động cả lực lượng quân dự bị vào chiến trường. Trong năm 1968 Hà Vỹ đã huy động một lực lượng thanh niên nhập ngũ, để có đủ quân số, đã lấy cả những người tái ngũ, những người con độc nhất. Nhiều người tuy có bố mẹ già hoặc đông con, gia đình lại khó khăn nhưng khi có lệnh vẫn sẫn sàng hăng hái lên đường nhập ngũ.
Đêm ngày 30-8-1968 một máy bay Mỹ bị lực lượng phòng không của ta bắn cháy đã rơi xuống cánh đồng Láng Mây Giao Tác. Hai tên giặc lái đã phải đền mạng (một tên tan xác) trên mảnh đất quê ta. Dân quân du kích đã kịp thời giải quyết hậu quả, thu nhặt các chiến lợi phẩm nộp lên trên, còn xác tên giặc lái, ta đem chôn ở bãi tha ma đồng Tróc (sau này ta đã trao trả hài cốt tên giặc lái ấy cho phía Mỹ)
Sau gần bốn năm, đế quốc Mỹ dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc nhưng không lay chuyển nổi ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam của nhân dân ta mà còn bị thiệt hại rất nhiều (hàng nghìn chiếc máy bay hiện đại của Mỹ bị quân ta bắn rơi cùng với nhiều phi công Mỹ chết và bị bắt), nhân dân thế giới (kể cả nhân dân Mỹ) thì phản đối quyết liệt…Vì thế tháng 11-1968 chúng buộc phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, thế là nhân dân Hà Vỹ lại được sống trong bầu không khí yên bình.
Để phát triển nông nghiệp, công tác thuỷ lợi tiếp tục được đầu tư, mương M7 từ Láng Giỗ đến cánh đồng Giao Tác hoàn thành, phong trào làm bèo hoa dâu, trồng điền thanh để làm phân xanh được nhân rộng, các giống lúa mới có năng suất cao như nông nghiệp 5, nông nghiệp 8, bao thai lùn… được đưa vào gieo cấy. Vụ cấy thử nghiệm đầu tiên là vụ chiêm xuân năm 1970-1971, mặc dù lúc đầu chưa có kinh nghiệm chăm sóc nhưng vẫn cho năng suất cao, hơn hẳn các giống lúa cũ. Đến vụ mùa, các giống lúa mới này được cấy đại trà. Rất tiếc là khi lúa đang lên xanh tốt, hứa hẹn một vụ mùa bội thu, thì những trận mưa lớn kéo dài làm cho đồng ruộng Hà Vỹ bị ngập úng. Cũng vì mưa lớn trên diện rộng nước thượng nguồn đổ về làm nước sông Hồng, sông Đuống lên cao, do đó đê Cống Thôn sông Đuống bị vỡ gây ra trận lụt sông cho cả vùng bắc Đuống. Hà Vỹ lại một lần nữa ngập chìm trong biển nước. Hơn một nửa số dân Hà Vỹ phải đi sơ tán đến ở nhờ các xã có địa thế cao như Vân Hà, Việt Hùng, Uy Nỗ, Cổ Loa.
Trận lụt năm 1971 làm cho mùa màng mất trắng, nhà cửa, tài sản của dân bị thiệt hại nặng nề. Do đó đời sống nhân dân càng khó khăn hơn, nhà nước phải cứu trợ một phần lương thực cùng quần áo thuốc men. Để ổn định đời sống nhân dân, chi bộ đã chỉ đạo chính quyền, HTX tiếp nhận và phân phối nguồn lương thực và hàng cứu trợ của Nhà nước cho dân, dùng quỹ phúc lợi xã hội trợ cấp thêm cho những gia đình chính sách, gia đình có khó khăn quyết không để người dân bị chết đói do không có cái ăn
Để chống đói, chi bộ cùng với chính quyền các thôn thực hiện phong trào cấy tái giá và đẩy mạnh sản xuất vụ đông ngay sau khi nước rút, đồng thời huy động toàn dân trồng nhiều loại rau mầu ngắn ngày, như khoai lang, khoai tây để bổ sung phần lương thực bị thiếu
Tháng 4 -1972 sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ bị phá sản, chúng lại dùng không quân và hải quân đánh phá trở lại miền Bắc nước ta với cường độ ác liệt và bằng kỹ thuật hiện đại hơn nhằm ép ta ở hội nghị Pari. Thế là Hà Vỹ cùng với nhân dân miền Bắc lại bước vào cuộc sống thời chiến. Sau hơn ba năm được sống trong cảnh yên bình, hàng ngày không phải nghe còi báo động có máy bay, giờ đây mọi người lại phải đào hầm (hố cá nhân, hầm kèo tre) đi đâu cũng phải mang theo mũ rơm tránh đạn. Cảnh thời chiến, mọi sinh hoạt đều phải hết sức khẩn trương con người tất bật hơn nhiều, ngoài công việc gia đình còn phải tham gia các công tác đoàn thể …ngày đi làm hợp tác, tối đi làm dân quân không lúc nào nghỉ cả
Tuy vất vả khó khăn nhưng đồng ruộng lại được lớp phù xa bồi thêm do lụt sông, thời tiết thuận hoà nên cả hai vụ lúa năm 1972 đều được mùa khá.
Trong cả hai lần đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc kể cả cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm dùng B52 đánh vào Hà Nội, xã Liên Hà chúng ta chỉ có thôn Lỗ Khê là thiệt hại nhất (27 người chết, 12 người bị thương, gần 100 ngôi nhà bị sập hoặc hư hỏng nặng) ngoài thôn Lỗ Khê, Hà Phong cũng là thôn bị hại do một quả bom hơi rơi vào làng làm cho 88 căn nhà bị bốc mái có gia đình bay cả nhà, còn các thôn khác của xã trong đó có Hà Vỹ rất may là không bị một quả bom nào rơi vào làng nên không thiệt hại gì về người và của.
Sau khi bom Mỹ trút xuống Lỗ Khê đêm ngày18-12-1972 (13 tháng Một năm Nhâm Tý), các lực lượng xung kích của tất cả các thôn trong xã đã tới Lỗ Khê, lực lượng này đã cứu được 36 người đang ở dưới hầm bị kẹt hoặc dưới các đống gạch, chuyển 10 người bị thương đến Trạm Y tế xã cấp cứu.
Trước những đau thương mất mát của một thôn trong xã, nhân dân cả xã đã dấy lên phong trào giúp đỡ Lỗ Khê: 38 ngôi nhà đổ sập được dựng lại, gần 100 ngôi nhà bị hư hại được sửa chữa. Các gia đình bị thiệt hại còn được nhân dân các thôn trong xã giúp nhiều lương thực, thực phẩm, quần áo đồ dùng thường ngày…
Thất bại trong chiến dịch dùng máy bay chiến lược B.52 (con chủ bài của không lực Hoa Kỳ) đánh phá Hà Nội 12 ngày đêm cuối tháng 12 -1972 đã làm phá sản cố gắng cuối cùng của đế quốc Mỹ trong mưu đồ cứu vãn chiến tranh, buộc chúng phải ngừng ném bom miền Bắc và ngồi lại bàn đàm phán với ta tại hội nghị Pari, chấp nhận các điều kiện của ta, cuối cùng đã phải ký với ta hiệp định Pari ngày 27-01-1973.
Theo Hiệp định Pari, Mỹ phải công nhận độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và phải rút hết quân đội Mỹ về nước. Hiệp định Pari được ký kết, đó là thắng lợi rất lớn của nhân dân ta, mở ra một cục diện mới cho cách mạng Việt Nam. Cùng với cả nước, nhân dân Hà Vỹ vô cùng hân hoan phấn khởi, từ nay mới có điều kiện tập trung công sức đẩy mạnh sản xuất với qui mô lớn trong điều kiện hoà bình
Năm 1973, được huyện hỗ trợ kinh phí, các HTX dùng cơ giới kết hợp với lao động thủ công đã tiến hành san lấp các ao chuôm kể cả các hố bom do máy bay Mỹ gây nên, chia lại lô, xoá thửa nhỏ, đắp lại bờ vùng làm thành những thửa ruộng lớn để cải tạo đồng ruộng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hoạt động. Đầu năm 1975, Hà Vỹ đã cơ bản hoàn chỉnh hệ thống thuỷ nông. Được như vậy là kết quả của một qúa trình lao động đầy gian khổ hàng chục năm trời vì chủ yếu là làm thủ công, nguồn vốn lại thiếu, HTX phải thắt lưng buộc bụng để đầu tư cho thuỷ lợi.
Tuy nhiên trong thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp của HTX các thôn còn chưa ổn định còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên: Vụ Đông-Xuân 1972-1973 cho thu hoạch khá nhưng đến vụ mùa do mưa nhiều ngập úng nên toàn bộ diện tích trũng bị mất, làm cho sản lượng lúa giảm, ảnh hưởng lớn đến đời sống của xã viên
Sang năm 1974, 1975 tình hình sản xuất có khả quan hơn do thời tiết thuận, cả hai năm đều được mùa. Vì vậy sản lượng lương thực đạt khá cao (cả xã đạt trên 3200 tấn) nhờ vậy mà giá trị ngày công của xã viên cũng đạt mức cao nhất từ trước tới nay (2,1kg) việc chăn nuôi tập thể vẫn được duy trì và phát triển
Sau hội nghị Pari, tuy miền Bắc đã được hoà bình song miền Nam vẫn còn chiến tranh, sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của bọn tay sai vẫn còn tiếp diễn, nhân dân miền Bắc vẫn còn phải chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Trong thời gian này, chi bộ và lãnh đạo các thôn đã huy động lương thực thực phẩm để chi viện cho miền Nam ruột thịt, số lượng đều vượt mức kế hoạch trên giao. Sự chi viện của nhân dân Hà Vỹ đã góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc: Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập tự do , cả nước được hoà bình thống nhất
Trong điều kiện khắc nghiệt của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc do đế quốc Mỹ gây ra, sự nghiệp văn hoá giáo dục y tế ở địa phương vẫn được duy trì và phát triển. Từ năm học 1966 -1967 xã có hai trường cấp I, hai trường cấp II, trường Bổ túc văn hoá, trường Mẫu giáo - Vỡ lòng, đặc biệt huyện mở thêm trường cấp III đặt ở Liên Hà thu hút gần 500 con em trong xã và các xã lân cận. Năm học 1968-1969 các trường sáp nhập thành một trường cấp I và một trường cấp II. Tổng số học sinh các cấp hàng năm đạt từ 3000 đến 3200 em, số giáo viên cũng tới 100 người. Tập thể giáo viên khối lớp 3 và lớp 4 nhiều năm là tổ Lao động XHCN.
Năm 1971 các trường phổ thông đã đưa lao động vào chương trình đào tạo, trường Mẫu giáo - Vỡ lòng được mở rộng lên 14 lớp, liên tục được công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc, tập thể giáo viên luôn là tổ Lao động XHCN.
Phong trào bổ túc văn hoá vẫn được duy trì và phát triển. Đến năm 1968, Liên Hà hoàn thành phổ cập cấp I cho tất cả cán bộ và nhân dân. Năm 1969, Phòng Giáo dục Đông Anh xây dựng Liên Hà thành điển hình theo mô hình giáo dục của Cẩm Bình - lá cờ đầu của ngành giáo dục lúc đó
Công tác văn hoá, văn nghệ, có phần sôi nổi hơn thời kỳ trước, thôn nào cũng có đội văn nghệ, thường xuyên biểu diễn phục vụ bà con xã viên, các đơn vị bộ đội, dân quân du kích trên các trận địa bắn máy bay địch. Việc cưới xin, ma chay, cải táng …đều hết sức tiết kiệm
Công tác thông tin bằng hệ thống truyền thanh của các thôn cũng hoạt động đều đặn, hàng ngày đưa các tin chiến thắng từ tiền tuyến lớn miền Nam cũng như số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc cho nhân dân biết. Các tin về sản xuất và thi đua trong xã cũng được tuyên truyền cổ vũ kịp thời. Công tác y tế, vẫn làm tốt việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, Trạm Y tế luôn được túc trực để kịp thời giải quyết các tình huống do máy bay địch bắn phá gây ra.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã huy động được sức mạnh tổng hợp của các bộ phận ban ngành đoàn thể trong xã. Mỗi ban ngành đều có các phong trào riêng để góp vào thành tích chung của xã
Ngoài phong trào “Ba sẫn sàng” của thanh niên, “ Ba đảm đang” của phụ nữ còn nổi lên phong trào “Thi đua quyết thắng” của dân quân du kích. Những phong trào này là những lực lượng xung kích chủ lực luôn có mặt ở những nơi gian khổ và nguy hiểm nhất trong tất cả các mặt công tác của thôn
Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cán bộ và nhân dân Hà Vỹ đã khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu huy động nguồn lực toàn dân để thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn để giải phóng niềm Nam thống nhất đất nước. “ Xã đã huy động 712 thanh niên ra nhập quân đội, 150 người tham gia TNXP và dân quân hoả tuyến, đóng góp cho Nhà nước hơn 3000 tấn lương thực, 903 tấn thực phẩm, hàng trăm ngàn ngày công tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, 129 con em Liên Hà đã hy sinh vì tổ quốc, 42 chiến sĩ đã để lại một phần xương máu tại các chiến trường ... Đảng Bộ và nhân dân xã Liên Hà đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975)
“Với những thành tích đóng góp đó, cán bộ và nhân dân Liên Hà (trong đó có Hà Vỹ) đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quí như:
- 01 Huân chương kháng chiến hạng ba (1974)
- 01 Huân chương Lao động hạng ba
- 5 Huân chương quận công
- 33 Huân chương chiến công (9 hạng nhất, 12 hạng nhì, 12 hạng ba)
- 433 Huân chương chiến sĩ vẻ vang (80 hạng nhất, 144 hạng nhì, 208 hạng ba)
- 60 Huy chương chiến sĩ vẻ vang
- 80 Huân chương chiến sĩ giải phóng (10 hạng nhất, 33
hạng nhì, 37 hạng ba)
- 20 Huy chương chiến sĩ giải phóng
- 14 Huân Huy chương do Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Lào tặng (4 )


(1) Nội dung trong chương này được trích dẫn một phần trong cuốn “ Liên Hà - Truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng”
(2) Chủ nhiệm HTX ở Đại Vỹ là ông Ngô Văn Lục; Châu Phong là ông Phạm Văn Lĩnh ; Giao Tác là ông Đỗ Việt Dũng, còn An Bài (xóm Trại - Giao Tác ) là ông Đỗ Văn Cự
(3) Sẫn sàng chiến đấu dũng cảm, sãn sàng ra nhập quân đội, sẫn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất…, sẫn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi tổ quốc cần đến
(4) Theo “ Liên Hà - Truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng”
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8
HÀ VỸ TỪ KHI NƯỚC NHÀ THỐNG NHẤT ĐẾN NAY (T5/1975-2008) (1 )
1. KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI SAU CHIẾN TRANH (1975-1985)
Giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, mở ra một trang sử mới cho cách mạng Việt Nam. Từ nay chúng ta có điều kiện tập trung lực lượng để phát triển kinh tế, văn hoá và xây dựng đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá. Cùng với cả nước, cán bộ và nhân dân Hà Vỹ bắt tay xây dựng quê hương với một khí thế hồ hởi, phấn khởi, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Trong gần một năm đầu, sau khi thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ và chính quyền xã Liên Hà, nhân dân Hà Vỹ phải tập trung giải quyết những hậu quả của chiến tranh: Tổ chức việc báo tử, động viên tư tưởng tinh thần và giúp đỡ vật chất cho các gia đình có người thân hy sinh, bố trí công ăn việc làm cho một số bộ đội, thương binh từ chiến trường trở về sau khi xuất ngũ….
Tuy HTX toàn thôn vẫn tồn tại, song cơ chế quan liêu bao cấp đã làm cho sản xuất không phát triển được, năng suất thấp, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân. Khó khăn càng tăng thêm khi vào đầu tháng 12-1975 một đợt rét đậm kéo dài làm ảnh hưởng lớn đến vụ lúa Đông - Xuân năm 1975 -1976
Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ, các cán bộ phụ trách sản xuất các đội đã huy động xã viên tập trung lao động, phương tiện để chống rét cho mạ, cho lúa và trâu bò, các đội sản xuất đã áp dụng kỹ thuật gieo mạ trên sân, nhờ vậy mà có đủ mạ cấy hết diện tích và kịp thời vụ. Qua đợt rét, thời tiết trở lại bình thường nên cả hai vụ lúa năm 1976 đều được mùa, năng suất lúa cả năm đạt 66 tạ/ha, sản lượng lương thực cả năm của các HTX đạt tới 3510 tấn - là mức cao nhất so với những năm trước đó. Đàn lợn tập thể vẫn được duy trì với 770 con, nhờ vậy đời sống nhân dân được cải thiện một phần.
Tháng 5-1976 thực hiện Chỉ thị 208 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về ”Tổ chức lại sản xuất, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”, Đảng bộ xã đã quyết định bốn HTX Hà Vỹ, Châu Phong, Hà Lỗ và Lỗ Khê thành một HTX với qui mô toàn xã do anh Nguyễn Công Chí (thôn Lỗ Khê) làm chủ nhiệm.
Từ bốn HTX ở bốn khu vực theo địa lý thôn làng trước đây, nay sáp nhập lại thành một HTX lớn, nên không tránh khỏi những suy bì hơn thiệt trong một bộ phận cán bộ xã viên vì mỗi HTX đều có vốn liếng tài sản ruộng đất thu nhập khác nhau. Để chấp hành chủ trương của Đảng, các chi bộ ở các thôn phải đả thông tư tưởng và phải chỉ đạo các đội sản xuất quản lý tốt các nguồn vốn tài sản, không được xẩy ra thất thoát do tư tưởng cục bộ, bè phái gây ra trước khi tập trung vào một HTX lớn
Nhằm đẩy mạnh sản xuất, phát huy thế mạnh của HTX mới này, theo sự chỉ đạo của Đảng uỷ, phương hướng sản xuất của HTX lúc mới thành lập là: “Tập trung thâm canh, chủ yếu là cây lúa, khuyến khích xã viên tự sản xuất các loại hoa mầu để tăng thêm thu nhập; giữ vững đàn lợn tập thể trên 500 con; khuyến khích các gia đình xã viên nuôi lợn gia công cho Nhà nước; phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống là sơn mài, mộc, nề, phát triển mạnh làm gạch và dệt thảm“
Thực hiện phương hướng sản xuất trên, các chi bộ Hà Vỹ đã chỉ đạo các đội sản xuất kịp thời sâu sát. Trước mắt phải tập trung nhân lực và phương tiện để hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi trên các cánh đồng của địa phương mình. Trong 5 năm (1976-1980), Hà Vỹ đã huy động hàng trăm ngày công để tôn cao các bờ vùng, bờ thửa nhằm chống úng cho các cánh đồng của thôn Châu Phong, đồng thời dùng phương tiện cơ giới tiến hành cải tạo đồng ruộng số diện tích còn lại ở chân ruộng cao của thôn Đại Vỹ (khu nền Chùa). Đội chuyên trách dân công thường xuyên tu bổ các mương máng tưới tiêu, đặt các cống để lưu thông nước. Đến cuối năm 1978 toàn bộ mặt bằng đồng ruộng của Hà Vỹ đã được cải tạo, máy cày có thể chạy được trên 70% diện tích, hệ thống thuỷ nông tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi để chống úng chống hạn. Để chống được úng cục bộ, hỗ trợ cho các trạm bơm điện khi lượng mưa lớn và nguồn điện khó khăn, được sự chỉ đạo của Ban chủ nhiệm HTX trong những năm 1978 -1980 các đội sản xuất đã đầu tư thêm các trạm bơm dã chiến bằng máy kéo
Để tăng sản lượng lương thực, các giống lúa mới có năng xuất cao như nông nghiệp 8 thuần chủng, nông nghiệp 22, bao thai lùn… lần lượt được đưa vào gieo cấy đại trà trên cánh đồng Hà Vỹ
Từ vụ Đông năm 1978, các đội sản xuất của Hà Vỹ đã huy động xã viên trồng thêm các cây thực phẩm như khoai lang, khoai tây ở các nơi đồng mầu. Năm 1980 lần đầu tiên, cây ngô lai được đưa vào trồng trên cánh đồng đất trũng của Hà Vỹ. Do trồng ngô lai có kết quả nên cây này đã trở thành loại cây chính của vụ Đông - Xuân với năng suất bình quân 30 tạ/ha đem lại nguồn lương thực đáng kể cho xã viên. Ngoài ra xã viên còn trồng thêm dược liệu để bán và cung cấp cho Trạm xá làm thuốc chữa bệnh, phục vụ nhân dân
Về chăn nuôi: Trước khi sáp nhập, ở Hà Vỹ có hai trại chăn nuôi, nay tập trung vào một trại với qui mô khá lớn nên việc chỉ đạo điều hành là do Ban Chủ nhiệm HTX quyết định, nhân dân Hà Vỹ chỉ còn các gia đình xã viên tự chăn nuôi và chăn nuôi theo phương thức gia công cho Nhà nước.
Về thủ công nghiệp: Trong thời kỳ 1976-1980 khá phát triển, HTX Dệt thảm, HTX Thêu, HTX Xây dựng lần lượt được thành lập.
HTX Dệt thảm, dệt gia công cho Nhà nước, có trụ sở ở Châu Phong với 30 gian nhà xưởng thu hút trên 1000 lao động
HTX Thêu (thành lập năm 1978) do anh Đỗ Ngọc Tuân (Giao Tác ) làm Chủ nhiệm đã giải quyết việc làm cho gần 1000 lao động của xã
HTX Xây dựng do ông Phạm Văn Miên (Châu Phong) làm Chủ nhiệm đã tập hợp các ông thợ nề thợ mộc của các thôn để xây dựng các công trình công cộng của xã và nhà ở của xã viên
Các HTX trên đã thu hút hàng ngàn nhân công nhàn rỗi, giải quyết được công ăn việc làm nên đời sống của nhiều gia đình xã viên vẫn còn được đảm bảo .
Mặc dù cán bộ và xã viên đã rất cố gắng, nhưng HTX nông nghiệp vẫn gập nhiều khó khăn, năng suất lúa không tăng lên được, do đó đời sống của người xã viên càng ngày càng giảm sút. Nguyên nhân cơ bản là do cơ chế HTX theo lối tập trung quan liêu bao cấp, giờ đây không còn phù hợp nữa, nó là vật cản đối với sản xuất. Cơ chế bao cấp chỉ thích hợp với qui mô nhỏ nay đưa lên qui mô lớn toàn xã càng bộc lộ sự không tương xứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất (cao) với lực lượng sản xuất (thấp) sẽ dẫn đến sản xuất không phát triển được là điều tất yếu, nó thể hiện ở trình độ cán bộ quản lý còn yếu kém trong việc lập kế hoạch và điều hành sản xuất như việc cấy và chăm sóc lúa không kịp thời vụ và bảo đảm kỹ thuật, làm ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa. Tình trạng “dong công phóng điểm” diễn ra phổ biến ở tất cả các đội sản xuất dẫn đến làm ăn gian dối và thiếu công bằng… Bộ máy quản lý sản xuất cồng kềnh, bộ phận gián tiếp lại đông, ý thức trách nhiệm kém, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận không được phân định rõ ràng, dẫn đến chồng chéo lãng phí. Trong khi đó thời tiết mấy năm lại khắc nghiệt, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, cũng làm cho các đội sản xuất đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Vì vậy sản lượng lúa hàng năm từ khi sáp nhập HTX đều không bằng năm 1975 (riêng năm 1977 cả xã đã giảm gần 1000 tấn lương thực so với năm 1976)
Sản lượng lương thực giảm đã ảnh hưởng đến chăn nuôi, đàn lợn của tập thể giảm dần mà số lợn của xã viên cũng không tăng lên được
Sản lượng lương thực đã giảm mà chi phí sản xuất lại tăng, nên giá trị ngày công của các đội sản xuất tất phải ít
Do đó thu nhập bình quân của xã viên cũng thấp dần, thấp hơn cả mức trong chiến tranh (có vụ chỉ được vài lạng thóc). Bình quân mức ăn mỗi khẩu chỉ đạt xấp xỉ 12,5 kg thóc (hơn 8 kg gạo) mỗi tháng. Do làm hợp tác không đủ ăn, nên hầu hết xã viên chán nản không thiết tha với công việc của đội sản xuất và tập thể, họ tập trung công sức vào việc chăm sóc phần ruộng cá thể 5% (vì chỉ có 5% ruộng đất mà lại đảm bảo được lương thực tới 50% cho gia đình) một số người đã bỏ HTX để đi làm thợ ngoài hoặc đi buôn kiếm sống
Tình hình chung nông thôn miền Bắc khi đó chỗ nào cũng có khó khăn (do chính sách ở đâu cũng thế), nhiều nơi xẩy ra nạn đói, nhất là lúc giáp hạt.
Tình hình càng khó khăn hơn khi chiến tranh biên giới lại xẩy ra ở Tây Nam (1977) và phía Bắc (1979), rồi các nước phương Tây cấm vận, sản xuất công nghiệp cũng trì trệ làm cho hàng tiêu dùng thiết yếu rất khan hiếm…
Mặc dù khó khăn như vậy, song cán bộ và nhân dân Hà Vỹ vẫn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, các chi bộ ở Hà Vỹ vẫn động viên nhân dân thi đua lao động sản xuất để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xẩy ra, các chi bộ Hà Vỹ đã tham gia các đợt sinh hoạt chính trị do Đảng bộ tổ chức, các cán bộ đảng viên và nhân dân Hà Vỹ đã nhận thức được tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng mà chuẩn bị tinh thần để đối phó. Trong tình hình mới, công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được coi trọng hơn trước.
Để chuẩn bị đối phó với chiến tranh, các thôn xóm Hà Vỹ đã tiến hành đào lại giao thông hào, xây dựng làng chiến đấu như những năm kháng chiến chống Pháp. Lực lượng dân quân du kích được biên chế lại và tổ chức diễn tập chiến đấu để sẫn sàng đánh địch khi chiến sự xẩy ra.
Phong trào tòng quân của thanh niên Hà Vỹ vẫn sôi nổi như những năm chống Mỹ. Dân công Hà Vỹ còn tham gia xây dựng phòng tuyến chiến đấu ở huỵên Sóc Sơn. Các thanh niên Hà Vỹ tham gia chiến đấu trên các mặt trận biên giới Tây Nam và phía Bắc, đã có 8 chiến sĩ hy sinh trên mảnh đất biên cương. Ngoài ra còn có nhiều con em Hà Vỹ đi thanh niên xung phong, đi xây dựng vùng kinh tế mới… Năm 1978 đã có 30 hộ dân ở ấp Hà Lâm và một số gia đình của Hà Vỹ đi xây dựng vùng kinh tế mới tại tỉnh Lâm Đồng
Sang năm 1981 tình hình kinh tế của Hà Vỹ có khá hơn, sản lượng lương thực qui thóc đã tăng đáng kể (cả xã đạt 3167 tấn - cao nhất trong ba năm trước đó).
Để khuyến khích người lao động và khắc phục những nhược điểm của lối làm ăn “dong công chấm điểm”, đầu năm 1982, Hà Vỹ triển khai thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương về “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”. Theo Đảng uỷ xã chỉ đạo, các đội sản xuất các thôn thống nhất lấy hộ gia đình làm đơn vị nhận khoán. Mỗi hộ được nhận một số ruộng, ưu tiên các gia đình chính sách. Chỉ thị 100 giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa xã viên, tập thể và Nhà nước, đã khơi dậy sự nhiệt tình gắn bó với đồng ruộng và tính chủ động trong sản xuất của người nông dân, động viên được các gia đình xã viên đầu tư thời gian, công sức, vốn liếng vào sản xuất.
Nhờ chính sách mới, mà sản lượng lương thực qui thóc năm 1982 ở các thôn đã tăng, vượt cả mức năm 1976 (là năm cao nhất trong 5 năm 1976-1980). Hầu hết các hộ nhận khoán đều vượt mức khoán từ 20 đến 60 %.
Đây là bước chuyển biến quan trọng trong việc giải quyết vấn đề lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Cơ chế khoán đã tạo ra một động lực thúc đẩy sản xuất mạnh mẽ, giúp cho sản xuất nông nghiệp của xã tiếp tục đi lên trong những năm tiếp theo mặc dù thời tiết khắc nghiệt do thiên tai liên tiếp gây ra. Để việc khoán tốt hơn, các chi bộ đã kịp thời chấn chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chế độ khoán. Các đội sản xuất phải đảm nhiệm tốt năm khâu: Làm đất, thuỷ lợi, giống, bảo vệ thực vật và bảo vệ đồng ruộng, còn xã viên nhận khoán phải thực hiện tốt ba khâu: Gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch. Có như vậy năng suất lúa và thu nhập mới cao.
Nhờ sản xuất phát triển nên mức đóng góp lương thực và thực phẩm của Hà Vỹ trong 5 năm (1981-1985) cũng tăng hơn.
Các ngành nghề thủ công vẫn được duy trì tốt, xã viên làm thủ công được bán đối lưu lương thực, thực phẩm do đó cũng yên tâm
Trong 10 năm khôi phục và phát triển kinh tế, công tác xây dựng và củng cố Đảng luôn được coi trọng. Khi mới thành lập HTX toàn xã, Đảng bộ phân thành 28 chi bộ, bố trí theo các đội sản xuất, nhưng đến năm 1979-1981 lại chia thành 8 chi bộ thôn trong khối nông nghiệp và 5 chi bộ chuyên ngành để giảm số chi bộ và để việc chỉ đạo sâu sát các mặt hơn.
Tuy tình hình kinh tế đất nước còn rất nhiều khó khăn do những sai lầm trong chính sách kinh tế kế họach hoá quan liêu bao cấp kéo dài… lại chịu hậu quả của hai cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam và phía Bắc, các nước phương Tây cấm vận … nhưng các đảng viên và nhân dân Hà Vỹ vẫn kiên trì phấn đấu và đã đạt được một số thành tích nhất định về kinh tế - văn hoá, tình hình chính trị - xã hội trong địa bàn vẫn được ổn định. Ngoài ra còn đóng góp nhiều sức lực và tiền của vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong bối cảnh của đất nước giữa thập kỷ 80: Khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lạm phát gia tăng với tốc độ phi mã, cùng với tác động của chính sách Giá - Lương -Tiền đã làm cho cán bộ và nhân dân Hà Vỹ dao động, lo lắng, hoang mang.
Chính lúc đó tháng 12 năm 1986, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, tạo ra bước đột phá mạnh mẽ đưa đất nước từng bước thoát khỏi sự trì trệ, mở ra một thời kỳ mới phát triển đất nước theo một hướng mới đầy triển vọng

2. THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI KINH TẾ - XÃ HỘI
(1986- 2008)
Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” phân tích sâu sắc những sai lầm trong chính sách kinh tế kế họach hoá quan liêu bao cấp … nên đã đề ra được những quyết sách đúng đắn cho nền kinh tế nước ta. Trong đó có ba chương trình với mục tiêu kinh tế là đẩy mạnh sản xuất lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đối với nông nghiệp, các biện pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán, giảm mức giao nộp sản phẩm, tăng thu nhập cho nông dân được ban hành. Các biện pháp này đã giúp cho nông dân cải thiện được đời sống đáng kể. Nhưng vụ mùa năm 1987 lại thất thu, nên tháng 3 và tháng 4 năm 1988, Hà Vỹ lâm vào cảnh thiếu lương thực trầm trọng, giá gạo tăng vọt chưa từng có, làm cho đời sống của người nông dân hết sức khó khăn.
Trước tình hình đó, với tinh thần đổi mới, lấy nông nghiệp làm khâu đột phá, tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 về tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp. Nghị quyết này đánh dấu sự đổi mới căn bản với việc ổn định mức khoán 5 năm . Hộ gia đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Đến tháng 6 năm 1993 tại Hội nghị Trung ương lần thứ V (khoá VII) lại khảng định sự đúng đắn của Nghị quyết 10 và còn chủ trương giao ruộng đất lâu dài cho nông dân để ổn định sản xuất. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời đã giải quyết những bế tắc về cơ chế góp phần điều hoà các lợi ích kinh tế của Nhà nước, tập thể và hộ gia đình
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng uỷ xã Liên Hà đã chỉ đạo kịp thời các chi bộ và cán bộ các đội sản xuất của Hà Vỹ lên phương án và giao ruộng đất cho từng hộ xã viên theo từng thôn với mức bình quân như chỉ thị 100.
Kết quả là: Sản lượng lương thực tăng lên rõ rệt, cả xã nhiều năm đạt mức 5100 - 5300 tấn (năm cao nhất thời kỳ HTX chỉ đạt 3510 tấn).
Nghị quyết 10 (khoán 10) đã đưa đến sự thần kỳ trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng, nó đã thực sự khơi dậy tính năng động, tự chủ của các hộ gia đình nông dân, đáp ứng lòng mong mỏi của người nông dân nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp phát triển khá nhanh
Nhờ vậy mà đời sống của người nông dân đã được nâng cao rõ rệt, nhiều gia đình đã có thóc dự trữ và còn thừa để bán, không còn lo cái đói đe doạ trong những tháng giáp hạt như trước đây nữa.
Có lương thực dư thừa, nên chăn nuôi cá thể của các hộ nông dân cũng phát triển theo (nhiều gia đình nuôi từ 15-20 con lợn theo lối công nghiệp) mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn thịt lợn, đàn gia cầm cũng tăng hàng trăm ngàn con, có gia đình nuôi tới vài ngàn con gà theo lối công nghiệp.
Nhờ chính sách đổi mới của Đại hội VI và các Đại hội tiếp theo (VII,VIII,IX,X) mà đất nước dần dần khởi sắc, kinh tế phát triển, từ chỗ nước ta thiếu ăn, chúng ta đã xuất khẩu được lương thực (đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo), kinh tế tăng trưởng cao, bộ mặt đất nước từ thành thị đến nông thôn thay đổi nhanh chóng, hàng hoá dư thừa không còn cảnh xếp hàng như thời bao cấp nữa, lòng dân vô cùng hân hoan vui sướng, nước ta đã có vị thế trên trường Quốc tế (là thành viên tổ chức Thương mại Thế giới -WTO, uỷ viên không thường trực tại HĐ bảo an LHQ), tuy vẫn còn là nước thu nhập bình quân thấp và là nước đang phát triển nhưng các chỉ số về tăng trưởng kinh tế, về văn hoá - giáo dục, tuổi thọ, xoá đói giảm nghèo, ngày càng tăng …
Năm 1995 thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, chính quyền xã chỉ đạo các thôn ở Hà Vỹ lập qui hoạch tổng thể về sử dụng ruộng đất, ngoài đất nông nghiệp giao cho các hộ gia đình canh tác lâu dài còn có 5% đất công ích, đất giãn dân, đất nghĩa địa và đất cho giao thông thuỷ lợi - do tập thể quản lý
Năm 1997 chính quyền xã đã tiến hành cấp sổ chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho phần lớn các hộ nông dân ở Hà Vỹ.
Bên cạnh những thành tích và thuận lợi, song nông nghiệp của Hà Vỹ hiện đang gập một số khó khăn. Đó là bình quân ruộng đất thấp lại phân tán manh mún, do chia ruộng cho các hộ gia đình sản xuất nên việc áp dụng cơ giới vào nông nghiệp không thuận lợi, hơn nữa chất đất ở cánh đồng Hà Vỹ là đất thịt không thích hợp để chuyển đổi sang trồng các loại cây có giá trị cao. Do hiệu quả của sản xuất nông nghiệp quá thấp so với làm thủ công hay buôn bán, nên hiện nay ở Hà Vỹ chỉ còn khoảng 60% số hộ được giao đất là làm nông nghiệp, 10% số hộ để lại ruộng đất cho người khác làm và khoảng 30% cho thuê ruộng.
Do chính sách cởi mở theo hướng kinh tế thị trường nên các ngành nghề thủ công của Hà Vỹ phát triển rất mạnh .
Năm 1987, Châu Phong học được kỹ thuật phun sơn từ miền Nam. Từ những tốp thợ ban đầu này đã đào tạo thêm nhiều tốp thợ khác. Do nhu cầu tiêu dùng rất lớn, làm ăn có lãi, hiệu quả cao nên nhiều người thợ mộc ở Giao Tác và Đại Vỹ cũng đua nhau làm nghề mộc phun sơn. Nhiều gia đình ở Hà Vỹ đã đầu tư mua thiết bị, làm lán trại, thuê thêm thợ về để sản xuất hàng loạt các đồ dùng nội thất như tủ, bàn ghế, giường các loại …bằng gỗ ép phun sơn. Đồ gỗ ép phun sơn tuy không bền bằng gỗ cây nhưng cũng đẹp mà lại rẻ, sản xuất nhanh, người thợ làm không cần đòi hỏi kỹ thuật cao, không mất công đào tạo, do ban đầu ít người làm, nhiều người mua, nên lợi nhuận rất lớn.
Các sản phẩm đồ gỗ của Hà Vỹ đã trở thành hàng hoá cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, miền Trung ngày một nhiều. Cũng do đời sống được nâng cao, nhiều gia đình ở Hà Vỹ cũng như các nơi khác đã phá nhà cấp bốn do bố mẹ để lại làm nhà mới hai ba tầng bằng bê tông cốt thép nên thợ nề của Hà Vỹ có rất nhiều việc, họ không những xây dựng cho dân trong xã mà còn đi nhận nhiều công trình tư và công ở khắp mọi nơi.
Ngành nghề phát triển không chỉ giải quyết việc làm cho số lao động của địa phương mà còn thu hút một nguồn lao động khá lớn từ các nơi khác đến. Làm nghề phụ phun sơn (đánh giấy nháp, bả ma tít…) tuy có độc hại song thu nhập hơn hẳn làm ruộng vì vậy nhiều người nông dân ở Hà Vỹ đã không thiết tha với đồng ruộng, họ vẫn giữ ruộng làm nhưng phần lớn đều thuê nguời ở nơi khác đến làm thay để khỏi bỏ ruộng hoang
Cũng nhờ có nghề phun sơn mà nhiều người trong làng đã giầu lên nhanh chóng, nhiều người làm được nhà bê tông hai ba tầng, một số còn mua được xe ô tô du lịch và vận tải, nhiều nhà sắm được tiện nghi đắt tiền (tivi, tủ lạnh, máy giặt, điều hoà nhiệt độ, điện thoại di động, máy tính và nối mạng Internet…). Hiện nay ở Hà Vỹ số hộ giầu tăng lên rõ rệt, số hộ nghèo chỉ còn rất ít (chỉ khoảng 3-4%)
Ngành nghề phát triển đã hình thành hệ thống dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm, đồ ăn thức uống rất phong phú… Chợ Châu Phong và chợ Quậy là hai nơi cung cấp hàng hoá thực phẩm rau quả và đồ dùng sinh hoạt rất thuận tiện cho nhân dân trong vùng, đời sống đại bộ phận người dân đã được cải thiện đáng kể và ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên việc phát triển ngành nghề đang đặt ra cho chính quyền địa phương nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Đó là mặt bằng sản xuất hiện nay quá chật hẹp ở hầu hết các cơ sở làm nghề, nhiều hộ mới kinh doanh đều thiếu vốn trong khi đó việc vay vốn của ngân hàng, tín dụng lại khó khăn (chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu vay). Thị trường tiêu thụ nhiều lúc cạnh tranh không lành mạnh, gần đây có phần chững lại, sản xuất nhiều nhưng không tiêu thụ được giá nguyên liệu lại cao nên nhiều gia đình cũng rất lo lắng. Làm nghề mộc phun sơn tuy có lãi, song để lại môi trường rất ô nhiễm do phun sơn (ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và rác thải..). Môi trường ở nhiều gia đình không còn trong lành nữa, rất đáng lo ngại do chặt hết cây xanh để làm lán trại… Nếu không quyết tâm giải quyết sớm và triệt để sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và tuổi thọ của người dân.
Lao động ở các nơi khác đến làm thuê với số lượng đông đã nẩy sinh những tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, trai gái, gây rối…đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh và văn hoá nếp sống cho thôn xóm làng nghề
Để giải quyết những bức xúc trên đây, lãnh đạo chính quyền xã đã làm thủ tục cho dự án làng nghề ở thôn Châu Phong và Giao Tác. Các dự án này đã được thành phố phê duyệt và đang triển khai ở giai đoạn cuối (dự án làng nghề ở Giao Tác đã san nền và cho thuê đất, một số hộ đã tiến hành xây dựng cơ sở để kinh doanh) nếu làm xong sẽ giải quyết được một phần tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn lao động, chống cháy nổ trong khu dân cư mà còn giới thiệu sản phẩm và xây dựng thị trường trao đổi hàng hoá tập trung… Dự án làng nghề cũng chỉ giải quyết được một phần ô nhiễm, muốn hạn chế ô nhiễm ở trong làng, lãnh đạo các thôn của Hà Vỹ phải thực hiện triệt để qui chế: Những hộ phun sơn phải làm ống phun thoát khí cao (&gt;5 m), không được làm và phun sơn ra đường, cử người thu gom rác phế thải, làm cống thoát nước làm vệ sinh hàng tuần để đường làng ngõ xóm sạch sẽ, thực hiện qui chế “Làng văn hoá”…đồng thời có biện pháp quản lý các người làm thuê từ nơi khác đến để hạn chế những tệ nạn xã hội do họ gây ra
Với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế trong hơn 20 năm đổi mới, việc xây dựng cơ bản của Hà Vỹ cũng đạt được nhiều thành tích khả quan. Các mương máng trên cánh đồng Hà Vỹ đã được xây lại, hệ thống các cột điện và đường dây cung cấp điện, cả đồng hồ đo điện cũng đã được thay thế, một số trạm biến thế cũng được xây thêm để đáp ứng nhu cầu dùng điện của nhân dân.
Đến nay (2008) đã có hơn 90% đường làng ngõ xóm ở Hà Vỹ được bê tông hoá hoặc lát gạch, đường ô tô từ trụ sở Uỷ ban xã qua Châu Phong về đình Hà Vỹ đã được đổ bê tông nhựa , đặc biệt con đường trục bê tông liên thôn phía đông từ Đại Vỹ qua Giao Tác đến đường Nam Hà và đường từ Cầu Đa (Đại Vỹ) nối với đường xã đã hoàn thành năm 2004 tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại và cho ô tô vận chuyển hàng hoá đi từ Đại Vỹ, Giao Tác đến các nơi . Cuối năm 2008 thôn Đại Vỹ đã làm đường bê tông nối từ đường phía đông ra sau chùa Chốn Tổ và đường từ Cầu Đa ra nghĩa địa và vào chùa của thôn.
Theo đà phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hoá - giáo dục của Hà Vỹ tiếp tục đạt được những thành tích rất đáng khích lệ: Các trường Mầm non, trường Mẫu giáo, trường Tiểu học và Trung học cơ sở ở địa bàn Hà Vỹ đều được nâng cấp và xây dựng thêm, đảm bảo đủ chỗ học cho con em Hà Vỹ
Về chất lượng học tập của học sinh cũng ngày một nâng cao, tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh lên lớp và tốt nghiệp cũng tăng theo các năm. Các học sinh của Hà Vỹ sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, phần lớn được tiếp tục lên học tại trường Trung học phổ thông Liên Hà.
Phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, trong nhiều năm qua, năm nào cũng có hàng chục em thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng. Đến nay Hà Vỹ có gần 200 người tốt nghiệp Đại học và trên Đại học một số người có học hàm Giáo sư và phó Giáo sư. Tuy số Tiến sĩ còn hạn chế (hiện chỉ có 5 người) nhưng số gia đình có trình độ văn hoá cao lại nhiều, có gia đình cả nhà 5 người thì 4 người là Cử nhân một người là Tiến sĩ, có gia đình 5 người thì 3 người là Thạc sĩ và một người là Giáo sư, Tiến sĩ, cả làng hiện có 31 gia đình có 3 người tốt nghiệp Đại học trở lên. Nếu không có cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ kéo dài hơn 30 năm thì việc học tập của con em Hà Vỹ chắc chắn còn có nhiều thành tích hơn nữa.
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục- thể thao cũng phát triển đồng đều ở tất cả các thôn
Khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, người dân lại hướng tới cội nguồn dân tộc, họ sẫn sàng cung đức và tham gia đóng góp xây dựng, tôn tạo lại đình chùa, đền miếu.
Năm 1998 chùa Chốn tổ Đại bi của làng đã được xây dựng lại trên đất chùa xưa rồi chùa Táo Trù thôn Giao Tác cũng mọc lên ngay cạnh đình làng, năm 2006 Châu Phong cũng làm thêm chùa mới ở cạnh nghè…
Để đáp ứng nguyện vọng của người dân, các lễ hội của làng cũng được phục hồi, song việc tổ chức đều theo qui chế của Bộ Văn hoá -Thông tin hướng dẫn. Ngày 12 đến 14 tháng Giêng năm Nhâm - Ngọ (2002), nhân dân Hà Vỹ đã tổ chức lễ hội truyền thống rước kiệu từ nghè sang đình (sau gần 60 năm gián đoạn). Năm năm sau cũng từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng năm Đinh Hợi (2007), nhân dân Hà Vỹ vào đám lại tổ chức lễ hội rước kiệu như năm 2002. Trong những ngày lễ hội, ngoài việc tế lễ hàng ngày ở đình và nghè theo nghi thức trước đây, Ban lễ hội còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi giải trí như hát quan họ, tuồng chèo, vật, chọi gà, kéo co, bóng chuyền hơi, cầu lông nam nữ …buổi tối có văn nghệ do các đoàn ở Trung ương và địa phương biểu diễn, do đó đã đáp ứng được yêu cầu về tâm linh và sinh hoạt văn hoá của nhân dân .
Công tác thông tin tuyên truyền vẫn đảm bảo thông suốt, thôn nào cũng có hệ thống loa truyền thanh, hàng ngày nghe bản tin của xã và các thông báo của thôn. Hà Vỹ hiện nay có đủ các loại báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới do xã cung cấp cho các chi bộ và lãnh đạo thôn, đình làng Hà Vỹ cũng có một tủ sách với hàng trăm đầu sách đủ các thể loại phục vụ bạn đọc, hàng tuần cho mọi người có nhu cậu đến mượn để nâng cao hiểu biết và phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân.
Vốn là một miền quê có truyền thống văn hoá, nên nhiều người rất yêu thơ. Năm 1998 khi xây lại chùa chốn Tổ của làng mà đã có hàng trăm bài thơ do quần chúng sáng tác. Ban Xây dựng chùa đã chọn lọc những bài thơ tiêu biểu và in thành tập “Thơ phục hồi chùa Quậy” tặng cho mọi người yêu mến chùa quê hương.
Để đáp ứng yêu cầu thơ ca, lãnh đạo xã Liên Hà đã thành lập “Câu lạc bộ hưu trí – người cao tuổi ” trong đó có xuất bản định kỳ tập thơ “Hương cau” được nhiều người yêu thơ của Hà Vỹ tham gia hưởng ứng. Hiện nay một số người có năng khiếu làm thơ còn tham gia câu lạc bộ Thơ Đường, có cụ còn được giải về thơ do huyện Đông Anh tổ chức. Làm thơ và bình thơ là nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ thôn làng - một hình thức văn hoá thật đáng khen
Ngoài thơ ca, các cụ còn tham gia Hội sinh vật cảnh của xã cũng là một thú vui tao nhã của người già
Phong trào thể dục thể thao của Hà Vỹ cũng rất sôi nổi. Sáng nào cũng có nhiều người tập thể dục, một số các cụ già thường xuyên đi bộ để rèn luyện thân thể. Thôn nào cũng có câu lạc bộ bóng chuyền hơi, hàng ngày luyện tập đông vui, thỉnh thoảng lại tổ chức đấu giao hữu hoặc thi tranh giải trong những ngày lễ hội, làm cho không khí làng xóm sống động hẳn lên.
Ba thôn ở Hà Vỹ đều thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và đăng ký danh hiệu “Khu dân cư văn hoá, khu dân cư tiên tiến” …
Công tác vệ sinh y tế cũng được chú trọng hơn, các thôn đều có cán bộ y tế để chăm lo theo dõi sức khoẻ của nhân dân và tổ chức tiêm chủng các loại vắc xin để phòng chống các bệnh lao, sởi, bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B ... cho trẻ em trong độ tuổi và tiêm phòng dại cho gia súc …
Đặc biệt từ năm 1997 nhân dân thôn Đại Vỹ (và một số gia đình thôn Giao Tác) đã được sử dụng nước sạch từ dự án cung cấp nước sạch cho nông thôn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa về
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, tuy đã cố gắng tuyên truyền quyết làm triệt để, song tỷ lệ tăng dân số vẫn chưa đạt yêu cầu (1,7%) .
Để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở cơ sở, dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, vấn đề xây dựng hệ thống chính trị, cũng như công tác xây dựng Đảng là một khâu quan trọng, nhằm đảm bảo cho chi bộ đảm đương được nhiệm vụ lãnh đạo ở địa phương.
Theo sự chỉ đạo của Đảng uỷ, các chi bộ của các thôn thuộc Hà Vỹ, luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng đảng viên, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu của đảng viên, coi đó là yếu tố quyết định của công tác xây
dựng chi bộ vững mạnh. Từ cuối nhiệm kỳ 1994-1996, Hà Vỹ đã không còn chi bộ yêú kém.
Được Đảng bộ tổ chức, các Chi bộ ở Hà Vỹ đã tham gia học tập đầy đủ Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương và tham gia tích cực nhiều đợt sinh hoạt chính trị nhằm củng cố tổ chức Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên
Qua các đợt học tập và sinh hoạt chính trị đó, đảng viên đã thấy rõ trách nhiệm của mình mà phải rèn luyện phẩm chất đạo đức, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy số đảng viên ở Hà Vỹ thuộc diện yếu kém giảm dần, số đảng viên tích cực gương mẫu tăng lên qua các nhiệm kỳ. Hàng năm các chi bộ đều tiến hành phân loại đánh giá đảng viên, những đảng viên thoái hoá biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước, những đảng viên không đủ tiêu chuẩn làm hoen ố thanh danh của Đảng đều bị xử lý với những mức độ từ khiển trách đến khai trừ xóa tên khỏi Đảng. Những đảng viên cao tuổi, già yếu ở các Chi bộ đã được Đảng bộ xét cho các đồng chí ấy miễn sinh hoạt, những đảng viên đủ 40, 50, 60 năm tuổi Đảng cũng được Đảng bộ xét đề nghị tặng thưởng huy hiệu cho các đồng chí đủ tiêu chuẩn (từ năm 2007 xét tặng cả các đồng chí đủ 30 năm tuổi Đảng)
Công tác giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được coi trọng, đảm bảo được cuộc sống yên bình cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho làm ăn phát triển kinh tế. Những năm gần đây do mặt trái của kinh tế thị trường tác động nên tệ nạn xã hội gia tăng, điều đó ở Hà Vỹ cũng không thể nào tránh được, song tình hình an ninh ở địa phương vẫn giữ được ổn định, đó là do lực lượng công an, dân quân tự vệ vẫn làm tốt nhiệm vụ được giao.
Trong hơn 20 năm qua, Chi uỷ và lãnh đạo thôn có nhiều cố gắng, đã làm tốt vai trò quản lý, tạo điều kiện thuận lợi để các hộ gia đình phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Khoán 10 đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân phát huy được vai trò làm chủ trong sản xuất nông nghiệp, HTX chỉ làm nhiệm vụ cung cấp giống, phân bón, tưới tiêu, kỹ thuật…
Cuối năm 1990 theo chủ trương của Thành uỷ, Hà Vỹ bắt đầu thực hiện chế độ quản lý do Trưởng thôn phụ trách (đến năm 1998 có thêm Phó thôn). Lãnh đạo thôn cùng với Chi ủy có nhiệm vụ chỉ đạo và quản lý toàn bộ các mặt công tác trong địa bàn mình phụ trách.
Tóm lại, trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ và Uỷ ban Nhân dân xã Liên Hà, các cán bộ, đảng viên và nhân dân các thôn của Hà Vỹ đã nỗ lực phấn đấu giành được nhiều thành tích to lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa xã hội, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng no ấm yên vui.
Tuy nhiên vẫn còn một số tệ nạn cờ bạc, đề đóm và môi trường còn ô nhiễm nặng ở tất cả các thôn, một số thanh thiếu niên (phần lớn là con nhà mới giầu lên) còn đua đòi ăn chơi sống thiếu lý tưởng không chịu phấn đấu tu dưỡng, ý thức chính trị còn rất kém … Tất cả những việc đó đặt ra cho các chi bộ đảng và lãnh đạo các thôn ở Hà Vỹ phải có biện pháp ngăn chặn giáo dục làm sao cho con cháu chúng ta hiểu được vì đâu có cuộc sống hôm nay. Đó là nhờ sự hy sinh phấn đấu của bao nhiêu thế hệ cha anh đi trước, các con cháu cần phải hiểu lẽ đời “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” phải sống sao cho xứng đáng với ông cha và cùng nhau phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giầu đẹp văn minh

Biểu 1. Tình hình thu nhập của nhân dân Hà Vỹ
(Theo điều tra năm 2008)

Thôn Số hộ Mức thu nhập (triệu đồng /hộ/năm)
&lt; 1 2-5 6-9 10-15 16-30 31-50 &gt;50
Đại Vỹ 473 0 12 23 102 120 43 18
Giao Tác 593 0 10 43 153 112 47 20
Châu Phong 806 0 18 14 235 189 62 45




Biểu 2. Nhà ở và tiện nghi của nhân dân Hà Vỹ
(Theo điều tra năm 2008)

Thôn
Số hộ Loại hộ Các tiện nghi
Giầu Nghèo Xe máy Ô tô Tủ lạnh Điện thoại Điều hoà Nhà
Bê tông
Đại Vỹ 473 116 10 416 27 292 452 58 418
Giao Tác 593 146 13 578 31 345 537 67 562
Châu Phong 806 228 20 765 53 520 718 84 715

KẾT LUẬN
Từ cuối thế kỷ thứ III TCN, những người dân Cổ Loa xưa đã tự nguyện rời bỏ quê cha đất tổ của mình xuống vùng đất trũng ven sông Hà (một nhánh của Nhị Hà – tức sông Hồng) sinh cơ lập nghiệp để cho Vua Thục lấy đất dựng đô trị vì .
Trải qua hơn 2200 năm, các thế hệ người dân Hà Hào - Hà Vỹ đã lao động cần cù, khai phá mở mang xây dựng xóm làng. Từ một xóm Nguyên Hương sau phát triển thành ba cụm dân cư là Quậy Cả (Đại Vỹ), Quậy Sau (Châu Phong) và Quậy Rào (Giao Tác).
Trong suốt quá trình đó, cha ông chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu mồ hôi nước mắt và công sức luôn phải chống chọi với bão lụt, bệnh tật, chiến tranh để tồn tại và phát triển, từ một nơi đất trũng sình lầy nghèo đói do quanh năm úng lụt nay thành một làng mới trù phú như ngày hôm nay. Đó là một kỳ tích của các thế hệ người dân Hà Hào - Hà Vỹ
Trên cơ sở tổ chức xóm làng với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước kết hợp với nghề phụ thủ công đã duy trì các hoạt động cộng đồng và hình thành một thiết chế văn hoá làng xóm với hệ thống đình chùa, nhà thờ, văn chỉ, tổ chức các ngày sắc vọng, ngày giỗ và lễ hội để thờ và ghi nhớ công lao của các vị Thánh ở đình có công với dân với nước
Hà Vỹ dưới thời phong kiến còn là một làng khoa bảng với 6 người đỗ đại khoa (Tiến sĩ, Thám hoa) và 24 người đỗ trung khoa (Hương cống – Cử nhân) trong các kỳ thi của nhà nước phong kiến
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, đa số người dân Hà Vỹ sống rất nghèo khổ vì bị áp bức bóc lột do sưu cao thuế nặng và các hủ tục làng xã nặng nề, bị bóp nghẹt về chính trị và không có quyền tự do dân chủ.
Từ cuối thập kỷ 30 của thế kỷ XX, những thanh niên tiến bộ của Hà Vỹ, đã tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng và được sự giác ngộ của cán bộ hoạt động cách mạng đã hình thành tổ chức yêu nước rồi phát triển thành phong trào cách mạng, đã thành lập được chi bộ Đảng ở địa phương, dưới sự chỉ đạo của chi bộ, chớp lấy thời cơ đã đứng lên giành lấy chính quyền vào mùa thu tháng 8 năm 1945 thành lập chính quyền nhân dân ở Hà Vỹ.
Sau hơn ba năm xây dựng chế độ mới, nhân dân Hà Vỹ từng bước khắc phục khó khăn do chế độ cũ để lại, chuẩn bị những điều kiện cơ bản để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài do Đảng ta lãnh đạo.
Tháng 4 -1949, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến xã Hà Vỹ sáp nhập với xã Ngũ Hà thành xã Liên Hà
Trong hơn 5 năm (từ T9/1949 đến T10/1954) đối diện trực tiếp với kẻ thù, quân và dân Hà Vỹ đã phải chịu vô vàn hy sinh gian khổ do kẻ địch khủng bố, càn quét, bắn giết…gây ra, song quân dân ta đã đoàn kết chiến đấu chống càn, phục kích tiêu hao sinh lực địch, phá tề trừ gian… đồng thời tích cực đóng góp sức người sức của vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Do những thành tích chiến đấu và đóng góp đó, Đảng bộ và nhân dân xã Liên Hà (trong đó có Hà Vỹ) đã được Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng phần thưởng cao quí: Danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp”
Hoà bình lập lại, nhân dân Hà Vỹ phấn khởi bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện cải cách ruộng đất, khôi phục và phát triển kinh tế- văn hoá - xã hội, từng bước làm thay đổi bộ mặt xóm làng, tạo ra những nhân tố chính trị, tinh thần và vật chất để tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa sản xuất vừa chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc: Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Sau bao nhiêu năm phấn đấu gian khổ, nhân dân và cán bộ Hà Vỹ đã giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc bộ mặt quê hương. Thành tựu lớn nhất là tiến hành công cuộc thuỷ lợi và cải tạo đồng ruộng. Từ chỗ ruộng đồng “chiêm khê, mùa thối” chỉ cấy được một vụ với năng suất thấp nay đã cấy được hai vụ lúa nhờ có hệ thống mương máng dẫn nước tưới tiêu. Từ chỗ “10 phần chỉ được 3, 4” nay đã chắc ăn cả hai vụ, năng suất lại cao, vì vậy vấn đề lương thực cơ bản đã giải quyết được không còn lo thiếu nữa. Cùng với nông nghiệp, các nghề thủ công cũng phát triển mạnh, tiếp thu được công nghệ mới đã hình thành các làng nghề tạo điều kiện để các loại hình dịch vụ đa dạng phát triển, giải quyết được công ăn việc làm cho nhân dân địa phương có thu nhập khá, nhờ vậy mà cuộc sống của đại bộ phận người dân Hà Vỹ đã trở lên giầu có ấm no.
Kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao đã tạo điều kiện cho nhân dân và tập thể kiến thiết cơ bản. Làng quê Hà Vỹ trước đây đa phần là nhà cấp bốn hoặc nhà tranh vách đất thì ngày nay được phá đi làm lại nhà hai, ba tầng bằng bê tông cốt sắt kiên cố khang trang, còn lại rất ít nhà cấp bốn (nhà tranh vách đất thì hoàn toàn vắng bóng).
Trước đây đường làng ngõ xóm thường bị lầy lội về mùa mưa, ngày nay thì toàn bộ hệ thống đường cái chính đã được bê tông hoá hoặc lát gạch rộng rãi sạch sẽ, có hệ thống thoát nước, ô tô có thể đi được quanh làng và vào được các ngõ chính rất thuận tiện. Các công trình phục vụ dân sinh, văn hoá lần lượt được mọc lên. Điện toả sáng các nơi công cộng và dọc theo đường làng, điện vào tất cả các nhà, không còn cảnh tối tăm như trước nữa. Các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền như ti vi, tủ lạnh, điện thoại, xe máy, điều hoà… đang trở lên phổ biến ở nhiều gia đình Hà Vỹ.
Từ chỗ gần 90% dân số thất học không biết chữ, nay Hà Vỹ đã phổ cập được cấp II , các trường Mẫu giáo Mầm non, trường Tiểu học và Trung học cơ sở được xây dựng kiên cố, khang trang rộng rãi đủ lớp cho các con em Hà Vỹ đến học. Trước đây thời phong kiến, cả làng chỉ có 84 người học cao từ Tú tài đến Tiến sĩ, Thám hoa còn ngày nay (sau hơn 60 năm) chỉ tính số cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ của làng đã lên tới gần 200 người
Đời sống văn hoá tinh thần, trình độ dân trí cũng được nâng cao ngang tầm với đời sống vật chất. Bệnh tật bị đẩy lùi, tuổi thọ được nâng cao…
Trong hơn 60 năm đấu tranh cách mạng đầy gian khổ hy sinh, tổ chức Đảng của Hà Vỹ sớm ra đời và phát triển, từ chỗ chi bộ chỉ có ba người đến nay đã có hơn trăm đảng viên luôn là lực lượng nòng cốt, tổ chức và lãnh đạo các mặt công tác ở địa phương qua các thời kỳ
Trên bước đường thực hiện công cuộc đổi mới với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, Hà Vỹ có những mặt thuận lợi cơ bản. Đó là có hệ thống chính trị vững mạnh, nhân dân có truyền thống cần cù sáng tạo tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tạo dựng được những yếu tố cơ sở ban đầu cho một nền sản xuất hàng hoá, việc nhận thức của người dân cũng đã được nâng cao… Song Hà Vỹ cũng đang đứng trước những khó khăn thách thức như là: Nền sản xuất hàng hoá mới hình thành và còn ở trình độ thấp, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hoá, ý thức của người dân, nhất là thế hệ trẻ còn chưa theo kịp yêu cầu, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế…
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, chi bộ Đảng, lãnh đạo thôn và nhân dân Hà Vỹ sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, phát huy những mặt thuận lợi, khai thác và tận dụng triệt để các thế mạnh và tiềm năng của địa phương, khắc phục những khó khăn và yếu kém, chúng ta nhất định xây dựng Hà Vỹ thành một làng quê giầu đẹp văn minh xứng đáng với cha ông và bề dày lịch sử văn hoá hơn 2200 năm của mình./.

(1) Nội dung trong chương này được trích dẫn một phần trong cuốn “ Liên Hà - Truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng”
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-18 04:37:56huytran>
PHẦN PHỤ LỤC
1. SẮC PHONG CỦA VUA NƯỚC TA, BAN CHO CÁC THÁNH Ở ĐÌNH LÀNG HÀ VỸ (CHỈ LẤY 10/42 SP).
Chú thích : Sắc phong viết bằng chữ Hán theo cách viết cổ, không có dấu chấm, dấu phẩy ngắt câu, cách đọc từ trái sang phải và từ trên xuống dưới, tác giả đã chụp nguyên bản sắc phong hiện vẫn lưu giữ ở đình làng Hà Vỹ, tất cả có 42 sắc phong nhưng chỉ đưa vào sách 10 bản của 9 vị Vua ban cho 5 vị thánh ở đình làng. Các sắc phong này đã được Tác giả in mầu và phóng to cỡ 90x65cm cho vào khung kính rồi treo ở trong đình Hà Vỹ để nhân dân trong làng và khách thập phương xem )
1.1. Sắc phong của vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng) ban cho Thánh Thuỷ Hải năm 1783





Bản phiên âm Hán Việt :
SẮC THỦY HẢI ĐẠI VƯƠNG NAM THIÊN DỤC TÚ BẮC NHẠC TRUNG ANH TÍCH HỒNG HY NHI HUỆ NHẤT PHƯƠNG DÂN THẤT GIA TƯ KHÁNH THẦN HUYỀN HÓA NHI DỰC TRỌNG HI VẬN MIẾU XÃ ĐIỆN AN MẶC PHÙ KỲ TRỨ ANH THANH HIỂN TẶNG HẠP LONG HUY HIỆU VI
TỰ VƯƠNG TIẾN PHONG VƯƠNG VỊ LÂM CƯ CHÍNH PHỦ LỄ HỮU ĐĂNG TRẬT ỨNG GIA PHONG MỸ TỰ TAM TỰ KHẢ GIA PHONG THỦY HẢI TẬP PHÚC HƯNG BÌNH TÁN TRỊ ĐẠI VƯƠNG CỐ SẮC
CẢNH HƯNG TỨ THẬP TỨ NIÊN THẤT NGUYỆT THẬP NHỊ LỤC NHẤT
Bản phỏng dịch:
Sắc phong: Ban cho Thủy Hải Đại vương. Trời Nam sáng đẹp, núi Bắc linh thiêng , ban cho phúc lớn, ơn khắp một phương, dân chúng mọi nhà mừng vui. Thần huyền hóa giúp ơn lớn để cho lăng miếu xã tắc được thờ cúng bình yên, mặc nhiên danh thơm tỏa khắp . Vậy hiển tặng để mở vận tốt lành. Kế tục được tiến phong Vương. Ở ngôi Vua từ trên xem xét làm lễ gia phong hạng bậc cho các tôn Thần thấy ứng gia phong với ba chữ đẹp, xứng được phong thêm: Thủy Hải tập phúc, hưng bình, tán trị Đại vương . Nay ban sắc này.
Ngày 26 tháng 7 năm thứ 44 niên hiệu Cảnh Hưng tức năm Quí Mão 1783
Chú thích : Vua Lê Hiển Tông (1717- 1786) ở ngôi (1740-1786) lấy niên hiệu là Cảnh Hưng

1.2 Sắc phong của Vua Nguyễn Huệ - Quang Trung ban cho Thánh Đăng Giang năm 1792




Bản phiên âm Hán Việt :
SẮC ĐĂNG GIANG DỤ HUỐNG TUY KHÁNH HIỂN LINH PHÙ CẢM THÔNG MẪN ĐẶC ĐẠT ĐẠI VƯƠNG TAM QUANG DỰNG TÚ TỨ CẢNH PHÂN PHÙ LIÊM NGŨ KHÁNH DĨ TÍCH DÂN TRƯỜNG HƯỞNG THIÊN VẠN THẾ XUÂN TỰ THU THƯỜNG CHI BÁO DIỆP BÁCH LINH NHI PHÙ VẬN THỊ BỒI ỨC VẠN NIÊN BÀN AN HỎA XÍ CHI CƠ BANG PHÙ NẪM TRỨ HUYỀN CÔNG BIỂU HIỆN HẠP GIA HUY HIỆU VI
HOÀNG GIA DƯ ĐỒ HỖN NHẤT LỄ ĐƯƠNG GIA TRẬT ỨNG GIA PHONG MỸ TỰ TAM TỰ KHẢ GIA PHONG ĐĂNG GIANG DỤ HUỐNG TUY KHÁNH HIỂN LINH PHÙ CẢM THÔNG MẪN ĐẶC ĐẠT ANH NGHỊ CƯƠNG ĐOÁN CHÍNH TRỰC ĐẠI VƯƠNG CỐ SẮC
QUANG TRUNG NGŨ NIÊN LỤC NGUYỆT NHỊ THẬP NGŨ NHẬT

Bản phỏng dịch:
Sắc phong. Ban cho Đăng Giang dụ huống, tuy khánh, hiển linh, phù cảm, thông mẫn, đặc đạt, Đại vương . Ánh tam quang rực rỡ, Bốn cõi phân đều hoà hợp. Năm phúc tốt lành ban khắp muôn dân để được hưởng lâu dài nghìn vạn đời xuân thu cúng tế, báo đáp ơn sâu. Thâu góp khí thiêng, giúp cho thời vận, đắp bồi cơ nghiệp muôn vạn năm như bàn thạch vững bền. Vốn từ lâu huyền công hiển đạt đã được phong thêm danh hiệu. Nay Hoàng gia nước nhà đã thu về một mối . Lễ gia phong hạng bậc cho các tôn Thần thấy ứng gia phong với ba chữ đẹp. Vậy xứng được phong thêm: Đăng Giang dụ huống, tuy khánh, hiển linh, phù cảm, thông mẫn, đặc đạt, anh nghị, cương đoán, chính trực Đại vương. Nay ban sắc này
Ngày 26 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Quang Trung - tức năm Nhâm Tý 1792

Chú thích : Nguyễn Huệ (1752-1792) ở ngôi (1788- 1792) lấy niên hiệu là Quang Trung





1.3 Sắc phong của Vua Nguyễn Quang Toản (niên hiệu Cảnh Thịnh) ban cho Thánh Khổng Chúng năm 1796




Bản phiên âm Hán Việt :
SẮC. KHỔNG CHÚNG TRÍ NHÂN THỊNH ĐỨC TUẤN TRIẾT SẢNG LINH DỰC VẬN PHÙ NGHĨA ĐẠI VƯƠNG LĨNH ĐỘC CHUNG ANH CÀN KHÔN DỰNG TÚ TƯƠNG HỮU PHỔ THÍ THÁNH TRẠCH BẤT TỂ PHÂN ĐÌNH ĐỘC CHI CÔNG KHUÔNG PHÙ DIỆU VẬN THẦN UY VÔ CƯƠNG DIỄN THÁI BÀN CHI TỘ LỊCH ĐẠI KÝ GIA HIỂN HIỆU ĐƯƠNG KIM ĐÁI BÁ HUY XƯNG VI TỰ VỊ TẠI SƠ LỄ HỮU ĐĂNG TRẬT ỨNG GIA PHONG MỸ TỰ NHỊ TỰ KHẢ GIA PHONG KHỔNG CHÚNG TRÍ NHÂN, THỊNH ĐỨC TUẤN TRIẾT SẢNG LINH DỰC VẬN PHÙ NGHĨA , PHÙ HƯU DIỄN KHÁNH ĐẠI VƯƠNG CỐ SẮC
CẢNH THỊNH TỨ NIÊN NGŨ NGUYỆT NHỊ THẬP NHẤT NHẬT

Bản phỏng dịch: Sắc phong. Ban cho Khổng Chúng trí nhân, thịnh đức, tuấn triết, sảng linh, dực vận, phù nghĩa Đại vương. Sông núi linh thiêng, đất trời rực rỡ, ơn của Thánh thấm khắp mọi nơi, giúp cho Thần uy danh không cùng làm cho vận nước nối đời thịnh trị vững bền. Trải qua các triều đại đã được phong hiệu tôn kính vẻ vang, Buổi đầu nối ngôi làm lễ phong bậc cho các tôn thần, thấy ứng gia phong với hai chữ đẹp, vậy xứng được phong thêm: Khổng Chúng trí nhân, thịnh đức, tuấn triết, sảng linh, dực vận, phù nghĩa, phù hưu, diễn khánh, Đại vương. Nay ban sắc này.
Ngày 21 tháng 5 năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Thịnh – tức năm Bính Thìn 1796

Chú thích : Nguyễn Quang Toản (1783-1802) con trưởng của Nguyễn Huệ ở ngôi (1793-1802) lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh




1.4. Sắc phong của Vua Minh Mạng ban cho Thánh Tam Giang năm 1824













Bản phiên âm Hán Việt :
SẮC TAM GIANG KHƯỚC ĐỊCH TÔN THẦN HỘ QUỐC TÝ DÂN NẪM TRỨ CÔNG ĐỨC KINH HỮU LỊCH TRIỀU PHONG TẶNG PHỤNG NGÃ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ ĐẠI CHẤN ANH UY KHAI THÁC CƯƠNG THỔ TỨ KIM PHI ỨNG CẢNH MỆNH QUANG THIỆU HỒNG ĐỒ DIỄN NIỆM THẦN HỮU NGHI LONG ÂN ĐIỂN KHẢ GIA TẶNG AN NGHĨA CHIÊU LINH HIỂN LIỆT THƯỢNG ĐẲNG THẦN CHUẨN HỨA ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ Y CỰU PHỤNG SỰ THẦN KỲ TƯƠNG HỮU BẢO NGÃ LÊ DÂN KHÂM TAI
MINH MẠNG NGŨ NIÊN NHỊ NGUYỆT THẬP NHẤT NHẬT

Bản phỏng dịch:
Sắc phong. Ban cho Tam Giang khước địch tôn thần vì Ngài đã giúp nước che chở dân công đức lâu năm đã được nhiều Triều đại phong tặng . Vâng lệnh Thế tổ Cao Hoàng đế uy danh hiển hách mở mang bờ cõi. Theo lệnh (sáng suốt) đó mà gánh vác việc lớn để nối nghiệp vẻ vang , nghĩ đến công Thần báo đáp ơn sâu . Vậy xứng được tặng thêm: An nghĩa, chiêu linh, hiển liệt Thượng đẳng thần. Chuẩn y cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn theo đó phụng thờ với nghi lễ như xưa. Thần ban phúc cứu giúp bảo vệ dân lành. Khâm lệnh.
Ngày 11 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Minh Mạng - tức năm Giáp Thân 1824

Chú thích: Nguyễn Phúc Đảm (1789- 1840) là con thứ của Nguyễn Ánh ở ngôi (1820-1840) lấy niên hiệu là Minh Mạng




5. Sắc phong của Vua Thiệu Trị ban cho Thánh Đông Hải Đoàn năm 1844





Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC KIẾN NGHĨA BỈNH TRUNG PHÙ CHÍNH ĐÔNG HẢI ĐOÀN THƯỢNG ĐẲNG THẦN HỘ QUỐC TÝ DÂN NẪM TRỨ LINH ỨNG TIẾT MÔN BAN CẤP TẶNG SẮC CHUẨN HỨA PHỤNG SỰ MINH MẠNG NHỊ THẬP NHẤT NIÊN TRỊ NGÃ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ NGŨ TUẦN ĐẠI KHÁNH TIẾT KHÂM PHỤNG BẢO CHIẾU ÂN LỄ LONG ĐĂNG TRẬT TỨ KIM PHI ỨNG CẢNH MỆNH DIỄN NIỆM THẦN HƯU KHẢ GIA TẶNG : KIẾN NGHĨA BỈNH TRUNG PHÙ CHÍNH PHỈ ANH THƯỢNG ĐẲNG THẦN NHƯNG CHUẨN HỨA ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ Y CỰU PHỤNG SỰ THẦN KỲ TƯƠNG HỮU BẢO NGÃ LÊ DÂN KHÂM TAI
THIỆU TRỊ TỨ NIÊN BÁT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT.

Bản phỏng dịch :
Sắc phong. Ban cho Đông Hải Đoàn kiến nghĩa, bỉnh trung, phù chính: Thượng đẳng thần vì Ngài đã giúp nước, che chở dân linh ứng lâu năm, nhờ công ơn của Thần nay ban tặng sắc phong để chuẩn việc phụng sự Vua Minh Mạng năm thứ 21 trị vì và nhân ngày đại lễ mừng thọ Thánh tổ Hoàng đế 50 tuổi .Cung kính vâng theo chiếu báo ân saauveef việc làm lễ phong bậc cho các Tôn Thần . Phụng lệnh sáng suốt gánh vác việc lớn vẫn mãi ơn Thần. Vậy xứng được tặng thêm: Kiến nghĩa, bỉnh trung , phù chính, phỉ anh Thượng đẳng thần . Chuẩn y cho xã hà Vỹ huyện Đông Ngàn theo đó phụng thờ với nghi lễ như xưa. Thần ban phúc cứu giúp bảo vệ dân lành . Khâm lệnh
Ngày 1 tháng 8 năm thứ 4 niên hiệu Thiệu Trị - tức năm Giáp Thìn 1844

Chú thích: Minh Tông (1807-1847) là con trưởng của Minh Mạng, ở ngôi (1841-1847) lấy niên hiệu là Thiệu Trị



1.6. Sắc phong của Vua Tự Đức ban cho các Thánh năm 1880




Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC CHỈ BẮC NINH TỈNH ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ TÒNG TIỀN PHỤNG SỰ KIẾN NGHĨA BỈNH TRUNG PHÙ CHÍNH PHỈ ANH HIỂN LIỆT TRÁC VỸ ĐÔNG HẢI ĐOÀN: THƯỢNG ĐẲNG THẦN AN NGHĨA CHIÊU LINH HIỂN LIỆT CHIÊU TRUNG KIỆT TIẾT TRÁC VỸ TAM GIANG KHƯỚC ĐỊCH THƯỢNG ĐẲNG THẦN. PHỔ ĐỘ HOẰNG TẾ PHỔ HIỆP TRỪNG TRẠM ĐĂNG GIANG DỤ PHÚC CHI THẦN UYÊN NHUẬN TĨNH MỤC HOẰNG LỢI TRỪNG TRẠM THỦY HẢI CHI THẦN TIẾT KINH BAN CẤP SẮC PHONG CHUẨN KỲ PHỤNG SỰ TỰ ĐỨC TAM THẬP NHẤT NIÊN CHÍNH TRỊ TRẪM NGŨ TUẦN ĐẠI KHÁNH TIẾT KINH BAN BẢO CHIẾU ĐÀM ÂN LỄ LONG ĐĂNG TRẬT ĐẶC CHUẨN HỨA Y CỰU PHỤNG SỰ DỤNG CHÍ QUỐC KHÁNH NHI THÂN TỰ ĐIỂN KHÂM TAI
TỰ ĐỨC TAM THẬP TAM NIÊN THẬP NHẤT NGUYỆT NHỊ THẬP TỨ NHẬT
Bản phỏng dịch :
Ban sắc chỉ cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Theo như trước đây các vị Thần vẫn mang danh hiệu: Kiến nghĩa, bỉnh trung, phù chính, phỉ anh, hiển liệt, trác vỹ Đông Hải Đoàn: Thượng đẳng thần. An nghĩa, chiêu linh, hiển liệt, chiêu trung, kiệt tiết trác vỹ, Tam Giang khước địch: Thượng đẳng thần. Phổ độ, hoằng tế, phổ hiệp, trừng trạm, Đăng Giang dụ phúc: Chi thần. Uyên nhuận, tĩnh mục, hoằng lợi, trừng trạm, Thủy Hải: Chi thần. Nay ban cấp sắc phong chuẩn phụng sự nhân dịp Vua Tự Đức năm thứ 31 nắm quyền chính trị và ngày đại lễ mừng thọ 50 tuổi. Trẫm ban chiếu báu ân sâu về việc lễ gia phong hạng bậc cho các tôn thần . Phải chuẩn y phụng lệnh mà ghi nhớ thực hiện theo nghi thức cấp Quốc gia và theo đúng lễ nghi thờ cúng như xưa. Khâm lệnh
Ngày 24 tháng 11 năm thứ 33 niên hiệu Tự Đức – tức năm Canh Thìn 1880
Chú thích: Hồng Nhiệm (1829-1883) là con trai của Thiệu Trị ở ngôi (1848-1883) lấy niên hiệu là Tự Đức









1.7. Sắc phong của Vua Đồng Khánh ban cho các Thánh năm 1886



Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC KIẾN NGHĨA BỈNH TRUNG PHÙ CHÍNH PHỈ ANH HIỂN LIỆT TRÁC VỸ ĐÔNG HẢI ĐOÀN THƯỢNG ĐẲNG THẦN .AN NGHĨA CHIÊU LINH HIỂN LIỆT CHIÊU TRUNG KIỆT TIẾT TRÁC VỸ TAM GIANG KHƯỚC ĐỊCH THƯỢNG ĐẲNG THẦN PHỔ ĐỘ HOẰNG TẾ, PHỔ HIỆP TRỪNG TRẠM ĐĂNG GIANG DỤ PHÚC CHI THẦN UYÊN NHUẬN TĨNH MỤC HOẰNG LỢI TRỪNG TRẠM THỦY HẢI CHI THẦN HƯỚNG LAI HỘ QUỐC TÝ DÂN NẪM TRỨ LINH ỨNG TIẾT MÔNG BAN CẤP TẶNG SẮC LƯU TỰ TỨ KIM PHI ỨNG CẢNH MỆNH DIỄN NIỆM THẦN HƯU KHẢ GIA TẶNG DỰC BẢO TRUNG HƯNG CÁC ĐẲNG THẦN NHƯNG CHUẨN HỨA BẮC NINH TỈNH, ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ Y CỰU PHỤNG SỰ THẦN KỲ TƯƠNG HỮU BẢO NGÃ LÊ DÂN KHÂM TAI
ĐỒNG KHÁNH NHỊ NIÊN THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT .
Bản phỏng dịch :
Sắc phong. Kiến nghĩa, bỉnh trung, phù chính, phỉ anh, hiển liệt, trác vỹ, Đông Hải Đoàn: Thượng đẳng thần. An nghĩa, chiêu linh, hiển liệt, chiêu trung, kiệt tiết, trác vỹ Tam Giang khước địch: Thượng đẳng thần. Phổ độ, hoằng tế, phổ hiệp, trừng trạm, Đăng Giang dụ phúc: Chi thần . Uyên nhuận, tĩnh mục, hoằng lợi, trừng trạm, Thủy Hải: Chi thần. Từ trước tới nay các vị Thần đều giúp nước che chở dân linh ưng lâu năm, nhớ ơn công đức đã ban cấp tặng sắc phong để lưu giữ việc thờ cúng các vị Thần . Phụng mệnh sáng suốt nghĩ đến ơn Thần đã phò giúp giữ gìn thời Trung hưng, nay ban cấp tặng sắc phong cho các đẳng thần. Chuẩn y cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh theo đó phụng thờ với nghi lễ như xưa . Các Thần ban phúc cứu giúp dân lành Khâm lệnh
Ngày 1 tháng 7 năm thứ nhất niên hiệu Đồng Khánh – tức năm Bính Tuất 1886
Chú thích: Ứng Xụy (1864-1888) là con nuôi thứ hai của Vua Tự Đức ở ngôi (1886-1888) lấy niên hiệu là Đồng Khánh


1.8. Sắc phong của Vua Duy Tân ban cho các Thánh năm 1909



Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC CHỈ BẮC NINH TỈNH ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ.TÒNG TIỀN PHỤNG SỰ KIẾN NGHĨA BỈNH TRUNG PHÙ CHÍNH PHỈ ANH HIỂN LIỆT TRÁC VỸ DỰC BẢO TRUNG HƯNG ĐÔNG HẢI ĐOÀN THƯỢNG ĐẲNG THẦN AN NGHĨA CHƯƠNG LINH HIỂN LIỆT BIỂU TRUNG KIỆT TIẾT TRÁC VỸ DỰC BẢO TRUNG HƯNG TAM GIANG KHƯỚC ĐỊCH : THƯỢNG ĐẲNG THẦN PHỔ ĐỘ HOẰNG TẾ PHỔ HIỆP TRỪNG TRẠM DỰC BẢO TRUNG HƯNG ĐĂNG GIANG DỤ PHÚC CHI THẦN UYÊN NHUẬN TĨNH MỤC HOẰNG LỢI TRỪNG TRẠM DỰC BẢO TRUNG HƯNG THỦY HẢI CHI THẦN TIẾT KINH BAN CẤP SẮC PHONG CHUẨN KỲ PHỤNG SỰ DUY TÂN NGUYÊN NIÊN TẤN QUANG ĐẠI LỄ KINH BAN BẢO CHIẾU ĐÀM ÂN LỄ PHONG ĐĂNG TRẬT ĐẶC CHUẨN Y CỰU PHỤNG SỰ DỤNG CHÍ QUỐC KHÁNH NHI THÂN TỰ ĐIỂN KHÂM TAI
DUY TÂN TAM NIÊN BÁT NGUYỆT THẬP NHÁT NHẬT
Bản phỏng dịch :
Ban sắc chỉ cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Theo như trước đây các vị Thần vẫn mang danh hiệu: Kiến nghĩa, bỉnh trung, phù chính, phỉ anh, hiển liệt, dực bảo Trung hưng Đông Hải Đoàn: Thượng đẳng thần. An nghĩa, chiêu linh, hiển liệt, chiêu trung, kiệt tiết, trác vỹ dực bảo Trung hưng Tam Giang khước địch: Thượng đẳng thần. Dụ phúc, Phổ độ, hoằng tích, phổ hiệp, trừng trạm, dực bảo Trung hưng Đăng Giang : Chi thần . Uyên nhuận, tĩnh mục, hoằng lợi, trừng trạm, dực bảo Trung hưng Thủy Hải: Chi thần. Nhân dịp Đức Vua Duy Tân được tấn phong năm đầu nay ban chiếu báu ân sâu cung kính tặng sắc phong cho các tôn Thần. Đặc chuẩn phụng lệnh phải ghi nhớ mà thực hiện theo nghi thức cấp Quốc gia và phải theo đúng nghi lễ thờ cúng như xưa. Khâm lệnh
Ngày 11 tháng 8 năm thứ 3 niên hiệu Duy Tân – tức năm Kỷ Dậu 1909
Chú thích: Vĩnh San (1900-1945) là con Vua Thành Thái ở ngôi (1907-1916) lấy niên hiệu là Duy Tân



1.9. Sắc phong của Vua Khải Định ban cho Thánh Thuỷ Hải năm 1924



Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC BẮC NINH TỈNH ĐÔNG NGÀN HUYỆN HÀ VỸ XÃ TÒNG TIỀN PHỤNG SỰ NGUYÊN TẶNG UYÊN NHUẬN TĨNH MỤC HOẰNG LỢI TRỪNG TRẠM DỰC BẢO TRUNG HƯNG THỦY HẢI ĐẠI VƯƠNG TÔN THẦN HỘ QUỐC TÝ DÂN NẪM TRỨ LINH ƯNG TIẾT MÔNG BAN CẤP SẮC PHONG CHUẨN HỨA PHỤNG SỰ TỨ KIM CHÍNH TRỊ TRẪM TỨ TUẦN ĐẠI KHÁNH TIẾT KINH BAN BẢO CHIẾU ĐÀM ÂN LỄ LONG ĐĂNG TRẬT TRỨ GIA TẶNG UÔNG NHUẬN TRUNG ĐẲNG THẦN.ĐẶC CHUẨN PHỤNG SỰ DỤNG CHÍ QUỐC KHÁNH NHI THÂN TỰ ĐIỂN KHÂM TAI
KHẢI ĐỊNH CỬU NIÊN THẤT NGUYỆT NHỊ THẬP NGŨ NHẬT

Bản phỏng dịch : Ban sắc lệnh cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Theo như trước đây vẫn phụng sự nguyên tặng Thủy Hải Đại vương với danh hiệu Uyên nhuận, tĩnh mục, hoằng lợi, trừng trạm, tôn thần vì Ngài đã giúp nước che chở dân linh ứng lâu năm và phò giúp giữ gìn thời Trung hưng . Nhờ công ơn Thần nay đang chấp chính và nhân ngày Đại lễ mừng thọ 40 tuổi, Trẫm ban chiếu báu ân sâu cung kính gia tặng cho Thủy Hải là Trung đẳng thần . Phải chuẩn y phụng lệnh mà ghi nhớ thực hiện theo nghi thức cấp Quốc gia và theo đúng nghi lễ thờ cúng như xưa. Khâm lệnh
Ngày 25 tháng 7 năm thứ 9 niên hiệu Khải Định – tức năm Giáp Tý 1924

Chú thích. Bửu Đảo (1885-1925) là con vua Đồng Khánh, ở ngôi (1916-1925) lấy niên hiệu là Khải Định




1.10. Sắc phong của Vua Khải Định ban cho Thánh Đăng Giang năm 1924




Bản phiên âm Hán Việt:
SẮC . BẮC NINH TỈNH, ĐÔNG NGÀN HUYỆN, HÀ VỸ XÃ TÒNG TIỀN PHỤNG SỰ NGUYÊN TẶNG : PHỔ ĐỘ HOẰNG TẾ, PHỔ HIỆP TRỪNG TRẠM DỰC BẢO TRUNG HƯNG ĐĂNG GIANG DỤ PHÚC ĐẠI VƯƠNG TÔN THẦN HỘ QUỐC TÝ DÂN NẪM TRỨ LINH ƯNG TIẾT MÔNG BAN CẤP SẮC PHONG CHUẨN HỨA PHỤNG SỰ TỨ KIM CHÍNH TRỊ TRẪM TỨ TUẦN ĐẠI KHÁNH TIẾT KINH BAN BẢO CHIẾU ĐÀM ÂN LỄ LONG ĐĂNG TRẬT TRỨ GIA TẶNG UÔNG NHUẬN: TRUNG ĐẲNG THẦN .ĐẶC CHUẨN PHỤNG SỰ DỤNG CHÍ QUỐC KHÁNH NHI THÂN TỰ ĐIỂN . KHÂM TAI
KHẢI ĐỊNH CỬU NIÊN THẤT NGUYỆT NHỊ THẬP NGŨ NHẬT

Bản phỏng dịch : Ban sắc lệnh cho xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Theo như trước đây vẫn phụng sự nguyên tặng: phổ độ, hoàng tế, phổ hiệp trừng trạm Đăng Giang dụ phúc Đại vương tôn thần vì Ngài đã giúp nước che chở dân linh ứng lâu năm đã phò giúp giữ gìn thời Trung hưng . Nhờ công ơn Thần, nay đang chấp chính và nhân ngày Đại lễ mừng thọ 40 tuổi, Trẫm ban chiếu báu ân sâu cung kính gia tặng cho Đăng Giang là Trung đẳng thần . Phải chuẩn y phụng lệnh mà ghi nhớ thực hiện theo nghi thức cấp Quốc gia và theo đúng nghi lễ thờ cúng như xưa. Khâm lệnh
Ngày 25 tháng 7 năm thứ 9 niên hiệu Khải Định – tức năm Giáp Tý 1924
Chú thích. Bửu Đảo (1885-1925) là con vua Đồng Khánh, ở ngôi (1916-1925) lấy niên hiệu là Khải Định






2.DANH SÁCH CÁC VỊ KHOA BẢNG LÀNG HÀ VỸ THỜI PHONG KIẾN
(HUƠNG CỐNG, TIẾN SĨ, THÁM HOA )
TT Họ và tên Bằng cấp Chức vụ, ghi chú
I. Thôn Đại Vỹ
1 Ngô Tòng Củ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) Lễ bộ Tả thị lang
2 Nguyễn Trác Tam giáp Tiến sĩ Hiếu sát sứ
3 Nguyễn Văn Trân Hương cống
4 Nguyễn Thời Thế Hương cống
5 Nguyễn Thế Bình Hương cống
6 Nguyễn Tr Nhậm Hương cống
7 Ngô Đồng Trị Hương cống Tri Phủ
8 Ngô Đồng Đạo Hương cống Tri Phủ
II Thôn Giao Tác
1 Đỗ Túc Khang Tam giáp Tiến sĩ Thừa chính sứ
2 Đỗ Đại Uyên Tam giáp Tiến sĩ Về ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh
3 Đỗ Túc Khiêm Thám hoa Về ở Từ Liêm Hà Nội
4 Đỗ Danh (Vinh) Tam giáp Tiến sĩ Về ở Tức Mạc Nam Định
5 Đỗ Quang Tuý Hương cống
6 Đỗ Quang Hiền Hương cống
7 Đỗ Quang Hy Hương cống
8 Đỗ Quang Mậu Hương cống
9 Nguyễn Thế Danh Hương cống
10 Nguyễn Thế Nhạc Hương cống
11 Nguyễn Văn Tước Hương cống
12 Đỗ Quang Hán Hương cống Hiếu Phó sứ
13 Đỗ Quang Phạm Hương cống
14 Nguyễn Tôn Chạc Hương cống
15 Đỗ Duy Nhiên Hương cống
16 Nguyễn Bá Thành Hương cống
17 Nguyễn Bá Ký Hương cống
III Thôn Châu Phong
1 Phạm Thế Xuân Hương cống Tri phủ
2 Phạm Thế Thu Hương cống Tri phủ
3 Phạm C Nhượng Hương cống
4 Nguyễn Thế Dực Hương cống
5 Nguyễn Tôn Thức Hương cống

Chú thích: Thám hoa cao hơn Hoàng giáp
Hoàng Giáp là Nhị giáp Tiến sĩ
Nhị giáp Tiến sĩ cao hơn Tam giáp Tiến sĩ
Hương cống ngang Cử nhân
Ngoài ra Hà Vỹ còn có:
-Tiến sĩ Ngô Chấp Chung quê gốc ở Đại Vỹ trú quán thôn Hà Lỗ làm quan Hiến sát sứ
-Tiến sĩ Đồng Nhân Phái sinh ở Thiết Úng là con nuôi cụ Đỗ Túc Khang ở Giao Tác.
- Đạt được học vị Tiến sĩ thời xưa khó khăn hơn rất nhiều so với Tiến sĩ thời nay vì Nhà nước phong kiến chỉ tổ chức thi ba năm một lần và lấy rất ít Tiến sĩ. Ví như khoa thi năm 1706 có 3000 cử nhân đi thi chỉ lấy có 5 Tiến sĩ

3. DANH SÁCH CÁC GIA ĐÌNH Ở HÀ VỸ ĐƯỢC TẶNG BẰNG CÓ CÔNG VỚI NƯỚC, HUÂN, HUY CHƯƠNG VÀ BẰNG KHEN CỦA CHÍNH PHỦ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
STT Họ và tên Quyết định
I Thôn Đại Vỹ
1 Nguyễn Văn Lập Huy chương kháng chiến (KC)
2 Nguyễn Văn Xướng Huy chương KC
3 Nguyễn Thị Cõn Huy chương KC
4 Nguyễn Văn Ước Huy chương KC
5 Lê Văn Át Huy chương KC
6 Lê Văn Bồn Huy chương KC
7 Nguyễn Thị Thuyết Huy chương KC
8 Phạm Thị Thu Huy chương KC
9 Nguyễn Thị Sứ (Diên) Huy chương KC
10 Dương Văn Phách Bằng khen của Chính phủ (CP)
11 Dương Văn Thiện Bằng khen của CP
12 Nguyễn Văn Thao Bằng khen của CP
13 Nguyễn Văn Ngụ Bằng khen của CP
14 Đỗ Thị Ba - Quí Bằng khen của CP
15 Nguyễn Văn Ca (Viên) Bằng khen của CP
16 Ngô Văn Lục Bằng khen của CP
17 Đỗ Thị Năm - Cảnh Bằng khen của CP
18 Đỗ Văn Hối Bằng khen của CP
19 Nguyễn Thị Phiêu Bằng khen của CP
II. Thôn Giao Tác
1 Đỗ Đức Trung Nhà nước 13 CP12-01-1970
2 Đỗ Thị Tịnh Nhà nước 13 CP12-01-1970
3 Đỗ Thị Thát Huy chương KC
4 Đỗ Thị Trà Huy chương KC
5 Lê Văn Nhiên Huy chương KC
6 Lê Thị Hoán Bằng khen của CP
7 Lê Thị (ba) Đản Bằng khen của CP
8 Lê Thị Năm (Thản) Bằng khen của CP
9 Phạm Thị Giản Bằng khen của CP
10 Phạm Văn Duẩn Bằng khen của CP
11 Phạm Thị Minh - Hịch Bằng khen của CP
12 Lê Văn Tá Bằng khen của CP
13 Đỗ Văn Âu Bằng khen của CP
14 Đỗ Thị Tấn Bằng khen của CP
15 Đỗ Thị Thâu Bằng khen của CP
16 Đỗ Thị Quyến Bằng khen của CP
17 Đỗ Văn Triệu Bằng khen của CP
18 Đỗ Thị Sáu (Tộ) Bằng khen của CP
19 Đỗ Thị Năm (Đồn) Bằng khen của CP
20 Ngô Thị (ba) Luận Bằng khen của CP
21 Đỗ Văn Uẩn Bằng khen của CP
22 Phạm Thị Thái Bằng khen của CP
III. Thôn Châu Phong
1 Phạm Văn Phan Huy chương KC
2 Đỗ Thị Lĩnh Huy chương KC
3 Đỗ Thị Long Huy chương KC
4 Nguyễn Thị Chù Bằng khen của CP
5 Nguyễn Văn Nhâm (Thân) Bằng khen của CP
6 Phạm Thị Bẩy Bằng khen của CP
7 Đỗ Văn Huyên Bằng khen của CP
8 Nguyễn Văn Thiện Bằng khen của CP
9 Nguyễn Thị Năm Bằng khen của CP
10 Nguyễn Văn Chuyền Bằng khen của CP
11 Phạm Văn Lựu Bằng khen của CP
12 Phạm Văn Quát Bằng khen của CP
13 Phạm Văn Bân Bằng khen của CP
14 Nguyễn Văn Thuận Bằng khen của CP
15 Phạm Văn Quy Bằng khen của CP
16 Đỗ Văn Hưởng Bằng khen của CP
17 Nguyễn Văn Hoàn Bằng khen của CP
18 Nguyễn Văn Tảo Bằng khen của CP
19 Phạm Văn Ngân Bằng khen của CP
20 Đỗ Thị Đức Bằng khen của CP
21 Phạm Văn Chuyển Bằng khen của CP
22 Nguyễn Văn Quỹ Bằng khen của CP
23 Phạm Văn Hòm Bằng khen của CP
24 Đỗ Văn Nghĩa Bằng khen của CP
25 Phạm Văn Tửu Bằng khen của CP
26 Đỗ Thị Nhã (Nhữ) Bằng khen của CP
27 Phạm Thị Nhạ Bằng khen của CP
28 Đỗ Xuân Khoát Bằng khen của CP
29 Nguyễn Văn Khuông Bằng khen của CP
30 Nguyễn Văn Hà Bằng khen của CP
31 Phạm Thị Khuông Bằng khen của CP
32 Nguyễn Xuân Lan Bằng khen của CP
2. DANH SÁCH CÁC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG
STT Họ và tên Thôn Họ và tên liệt sĩ
1 NguyễnThị Ba
(cụ Phiêu) Đại Vỹ Nguyễn Đàm Thăng (con trai duy nhất)
2 NguyễnThị Hai
( Cụ Thiệp) Đại Vỹ Lê Văn Phú (con trai duy nhất)
3 Đỗ Thị Ba
(Bà Bẩy Kế) Giao Tác Nguyễn Hữu Bình (con trai duy nhất)
4 Nguyễn Thị Tít
(cụ Thiết ) Giao Tác Nguyễn Công Thạch (con trai duy nhất)
5 Nguyễn Thị Tiến
Châu Phong Phạm Văn Mạch (con trai duy nhất)
3. DANH SÁCH CÁC LIỆT SĨ
3. 1. Thời chống Pháp
STT Họ và tên Năm tham gia CM Năm hy sinh
I. Thôn Đại Vỹ
1 Lê Văn Bồn 1945 1950
2 Dương Văn Bách 1945 1948
3 Lê Văn Bẩy 1945 1950
4 Lê Văn át 1945 1950
5 Nguyễn Văn ước 1945 1950
6 Nguyễn Văn Bẩy 1947 1950
7 Lê Văn Đức 1947 1950
8 Nguyễn Văn Tửu 1947 1950
9 Nguyễn Văn Đãn 1948 1949
10 Nguyễn Văn Tậu 1948 1950
11 Dương Văn Hữu 1949 1950
12 Nguyễn X Nham-Tám 1949 1950
13 Nguyễn Văn Quí 1949 1950
14 Vũ Văn Tải 1949 1951
15 Lê Văn Truy 1949 1953
II. Thôn Giao Tác
1 Đỗ Văn Khải (Trù) 1947 1955
2 Đỗ Duy Văn 1949 1951
3 Nguyễn Văn Thạch 1949 1950
4 Lê văn Quí 1949 1951
5 Ngô Quang Toát 1950 1952
6 Đỗ Văn Hiệp 1950 1953
7 Đỗ Ngọc Thá 1950 1954
8 Đỗ Văn Châu 1950 1950
9 Đỗ Văn Sưu (Hai Cận) 1950 1952
10 Đỗ Văn Nhuần 1950 1951
11 Nguyễn Công Bất 1953
III. Thôn Châu Phong
1 Nguyễn Văn Chuyền 1945 1949
2 Phạm Văn Thung 1945 1951
3 Hoàng Văn Trào 1945 1950
4 Phạm Văn Phái 1946 1951
5 Đỗ Văn Mười 1947 1951
6 Phạm Văn Tám 1947 1951
7 Phạm Thị Phận 1948 1952
8 Nguyễn Văn Sạ 1948 1953
9 Đỗ Văn Thoái 1948 1951
10 Phạm Văn Ba 1949 1950
11 Phạm Văn Dũng 1949 1954
12 Phạm Văn Biên (Tâu) 1954
13 Nguyễn Văn Bổng 1949 1950
14 Phạm Văn Cường 1949 1963
15 Phạm Văn Hưu 1949 1950
16 Đỗ Thị Nhấp 1949 1952
17 Nguyễn Văn Phàn
( sau được truy tặng anh hùng các LLVT) 1949 1950
18 Đỗ Văn Chù 1949 1949
19 Nguyễn Văn Bảo 1950 1951
20 Phạm Văn Châm 1950 1954
21 Phạm Văn Chiêm 1950 1954
22 Đỗ Văn Hoà 1950 1952
23 Nguyễn Văn Nhung 1950 1951
24 Trịnh Văn Hương 1950 1953
25 Phạm Văn Hỹ 1950 1950
26 Phạm Văn Khiếu 1950 1951
27 Đỗ Văn Phiên 1950 1951
28 Phạm Cao Tiến 1950 1954
29 Đỗ Văn Với 1951 1951
30 Phạm Văn Miễn 1952 1953
31 Phạm Văn Mạch 1953 1954
32 Nguyễn Văn Chinh 1953 1954
33 Phạm Văn Tấu 1953 1953
3. 2. Thời chống Mỹ và chiến tranh biên giới
STT Họ và tên Năm nhập ngũ Ngày hy sinh
I. Thôn Đại Vỹ
1 Nguyễn Văn Bơ 02-1970 2-5-1974
2 Lê Hoàng Cự 3-1967 08-2-1968
3 Nguyễn Văn Dần 12-1967 23-5-1970
4 Nguyễn Đức Hoà 02-1968 02-5-1974
5 Ngô Văn Kết 4-1965 18-4-1970
6 Nguyễn Văn Luận 5-1969 07-4-1973
7 Lê Văn Nam 01-1972 06-2-1973
8 Lê văn Phú 8-1965 09-3-1968
9 Lê văn Quỹ 7-1967 05-5-1973
10 Lê Đức Toàn (Ngoạn) 02-1968 10-1-1969
11 Phạm Cao Tuấn 7-1968 12-8-1972
12 Nguyễn Thế Thảo 7-1971 22-9-1972
13 Trần Đình Thám 4-1965 20-11-1968
14 Nguyễn Đàm Thăng 4-1968 12-5-1972
15 Nguyễn Thế Thìn 9-1963 01-8-1968
16 Lê Đức Thọ 7-1967 26-1-1970
17 Lê Văn Thời 4-1968 25-4-1971
18 Ngô Quang Vinh 3-1967 25-3-1969
19 Ng Đức Trọng 02-1968 18-12-1969
20 Nguyễn Tiến Vạn 01-1965 16-4-1968
21 Lê Văn Ngơi 7/1978 23-1-1977
22 Lê Anh Quyền 7/1965 11-4-1978
23 Lê Anh Tường 7/1978 14-2-1980
II. Thôn Giao Tác
1 Nguyễn Hữu Bình 01-1968 24-11-1968
2 Đỗ Kiên Cường 7-1971 22- 9 -1972
3 Nguyễn Công Dương 01-1966 18-12-1969
4 Nguyễn Công Hạ 02-1968 23 - 2-1969
5 Nguyễn Quang Hằng 02-1968 28-1-1970
6 Phạm Hoàng Hựu 01-1972 31-1-1973
7 Lê Xuân Miễn 4-1968 19-12-1970
8 Đỗ Văn Nhật 3-1967 31-8-1968
9 Đỗ Văn Phúc 5-1966 16-5 -1968
10 Đỗ Văn Phúc 02-1966 2-10-1967
11 Đỗ Ngọc Phương 12-1967 18-2-1970
12 Lê Đức Quyển 12-1969 14-3-1971
13 Ngô Quang Tiếu 7-1967 18-7-1970
14 Lê Văn Hải 7/1978 28-4-1979
15 Đỗ Văn Khanh 7/1978 25-1-1979
III. Thôn Châu Phong
1 Nguyễn Văn Bạch 12-1967 19-9-1968
2 Đỗ Cao Bẩy 8-1965 07-2-1972
3 Nguyễn Văn Bồn 10-1968 15-2-1972
4 Phạm Trần Cảnh 4-1965 16-3-1969
5 Đỗ Văn Chén 12-1969 15-3-1972
6 Đỗ Văn Chu 01-1966 29-12-1971
7 Đỗ Văn Dũng 4-1965 05-8-1969
8 Phạm Văn Đãn 01-1066 13-1-1967
9 Đỗ Xuân Đặng 12-1967 19-3-1969
10 Nguyễn Văn Đoan 5-1971 07-1-1974
11 Đỗ Văn Đoàn 4-1065 19-7-1970
12 Đỗ Văn Hải 3-1965 05-8-1967
13 Đỗ Văn Hồi 01-1966 11-5-1968
14 Phạm Minh Kỳ 10-1968 18-11-1969
15 Nguyễn Đức Long 12-1967 15-4-1969
16 Nguyễn Văn Lộc 7-1967 23-10-1967
17 Phạm Đức Tuẩn 4-1968 19-5-1969
18 Đỗ Hữu Tuệ 10-1968 09-1-1970
19 Nguyễn Văn Thảo 4-1965 31-1-1969
20 Phạm Quốc Thắng (Mì) 1965 29-10-1968
21 Phạm Hồng Thập 4-1963 07-12-1967
22 Nguyễn Văn Thêm 3-1967 15-12-1970
23 Phạm Văn Thiệm 1963 13-4-1968
24 Phạm Quang Trung 8-1970 14-8-1971
25 Phạm Văn Vui 02-1973 27-3-1974
26 Nguyễn Văn Xâm 4-1962 19-4-1970
27 Đỗ Văn Xuân 10-1968 20-11-1971
28 Phạm Văn Chuyện 05-02-1979
29 Đỗ Văn Thêm 04-1-1979
30 Đỗ Minh Thịnh 11-10-1982

DANH SÁCH CÁC CỤ CAO NIÊN, ĐẠI DIỆN CÁC DÒNG HỌ LỚN, CÓ TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN VÀ AM HIỂU LỊCH SỬ TRONG LÀNG ĐÃ THAM GIA ĐÓNG GÓP Ý KIẾN
(Ý kiến góp ý được in riêng - để lưu)
1. Nguyễn Ngọc Giao , sinh năm 1922 - cụ Thượng thôn Đại Vỹ
2. Cử nhân Lê Văn Kiên, nguyên Phó Hiệu trưởng kiêm bí thư Chi bộ trường THPT Liên Hà, Đông Anh Hà Nội, sinh năm 1930
3. Nhà giáo Nguyễn Văn Sáng (Sĩ Khải), nguyên Hiệu trưởng trường PT cấp II Đại Phúc, thị xã Bắc Ninh, sinh năm 1930
4. Ngô Văn Lục, nguyên Bí thư Đảng uỷ Nông trường II, Đông Anh Hà Nội
5. Kỹ sư Nguyễn Ngọc Liên, chuyên viên Bộ ĐH và THCN, sinh năm 1932
6. Bác sĩ Phạm Thanh Long, nguyên Trưởng phòng Cục PB-CB. Bộ Y Tế .Trưởng họ Phạm Ngân thôn Châu Phong, sinh năm 1933
7. Phạm Ngọc Đoan (Doãn) - Trưởng phòng LT Từ Sơn. Trưởng họ Phạm Quí Công thôn Châu Phong, sinh năm 1933
8. Kỹ sư Đỗ Nguyên Lãng, nguyên Trung tá QĐNDVN, sinh năm 1933
9. Cử nhân Nguyễn Thế Toàn, nguyên Hiệu phó trường Bồi dưỡng Sư phạm Hà Bắc, sinh năm 1933
10. Đại tá Phạm Huy Thông, nguyên Trưởng ban Tổng kết Cục Chính trị Bộ TL Pháo binh VN, sinh năm 1935
11. Kỹ sư Nguyễn Văn Đính, nguyên Đại tá QĐNDVN, sinh năm 1935
12. Cử nhân Nguyễn Hữu Cảnh, nguyên Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Hà Bắc, sinh năm 1935
13. Y sư Lê Minh, Q Chủ tịch Hội châm cứu thuốc Nam huyện Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1935
14. GS.TS Ngô Thế Dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , sinh năm 1938
15 . Cử nhân Lê Trọng Tiên, nguyên Đại tá CANDVN, giảng viên trường Đại học ANND, Nhà giáo ưu tú, sinh năm 1938
16. Đỗ Hồng Phong, nguyên Chủ tịch và Bí thư Đảng uỷ xã Liên Hà, sinh năm 1939
17. Kỹ sư Nguyễn Hữu Ánh, nguyên Trưởng phòng HC-TH Ty NN Hà Bắc, sinh năm 1940
18. Cử nhân Nguyễn Đức Sương nguyên Bí thư chi bộ trường cấp III Xuân Nộn, Hiệu trưởng trường cấp II Vân Hà, Đông Anh, sinh năm 1940
19. Đỗ Ngọc Tuân, nguyên trưởng ban VH-TT xã Liên Hà, Bí thư chi bộ thôn Giao Tác, sinh năm 1940
20. PGS. TSKH Đỗ Nguyên Khoát, nguyên Vụ trưởng Bộ Tài chính, Phó Chủ Tịch HĐ Quản trị Tổng CT Hàng không DD VN, GS danh dự Học viện Kinh tế Xanh Pê-téc- bua LB Nga, sinh năm 1941
21. Đỗ Văn Đào, nguyên Chủ tịch UB MT TQ xã Liên Hà, Bí thư chi bộ Thôn Giao Tác, sinh năm 1941
22. Kỹ sư cao cấp Đỗ Văn Hạnh, nguyên Giám đốc Vật nuôi và giống Cây trồng, Bộ NN và PTNN, sinh năm 1942
23. Cử nhân Nguyễn Duy Phái, nguyên Phó Trưởng phòng VH-TT-DL huyện Đông Anh, sinh năm 1944
📎 viewer
Đăng nhập để trả lời
0
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Làng Hà Vỹ cổ truyền do Lê Huyên - trường Đại học Tổng hợp Hà Nội biên soạn - 1978
2. Truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Liên Hà thời kỳ 1945-1990 (Sơ thảo) do Trịnh Xuân Quang và Lê Tràng Tiêu biên soạn
3. Làng Quậy- Châu Phong. Sử lược và truyền thống 2001 (sơ thảo) do Đỗ Văn Bảng, Trịnh Xuân Quang, Phạm Cao Tuấn biên soạn
4. Liên Hà- Truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng – 2004 do Tiến sĩ Bùi Xuân Đính biên soạn
5. Lỗ Khê xưa và nay- sách lưu hành nội bộ – 2001 do Vũ Phong Tạo và Hoàng Kỷ biên soạn
6. Lịch sử xã Đình Bảng (Tập 1) - 2001
7. Lich sử huyện Tiên Sơn -1994
8. Lịch sử Đảng bộ xã Cổ Loa (1945-2005) – 2005
9. Lại Đà xưa và nay do Nguyễn Phú Sơn biên soạn.
Nhà XB Lao động - 2004
10. Thần tích và các sắc phong ở đình Hà Vỹ
11. Lịch sử 1000 năm Thăng Long Hà Nội
12. Đại Việt Sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên…
13. Bách khoa thư Hà Nội
14. Tóm tắt niên biểu Lịch sử Việt Nam do Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức biên soạn
15. Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn do Nguyễn Viết Kế biên soạn
16. Các Tài liệu về Sử của Việt Nam và Trung Quốc trên mạng Internet
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-18 04:22:05huytran>
Mục lục
Lời Nhà xuất bản
Lời tác giả
Chương 1 Quá trình hình thành và phát triển làng Hà Vỹ
1 Vị trí địa lý và dân số
2 Quá trình hình thành và phát triển
3 Địa chí hành chính qua các thời kỳ
Chương 2 Cơ sở kinh tế, đời sống nhân dân và phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm phong kiến phương Bắc
1 Kinh tế
2 Hà Vỹ tham gia chống giặc ngoại xâm phong kiến phương Bắc
Chương 3 Cơ cấu tổ chức làng xóm
1 Cơ cấu làng xóm, dòng họ
2 Tổ chức bộ máy hành chính của làng
Chương 4 Đời sống văn hoá tinh thần
1 Các di tích lịch sử văn hoá
2 Phong tục tập quán và lễ hội
Chương 5 Hà Vỹ dưới ách thống trị của thực dân Pháp và cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở địa phương
1 Hà Vỹ dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai
2 Hà Vỹ trước cách mạng tháng Tám năm 1945
3 Hà Vỹ khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng (tháng 8 năm 1945)
Chương 6 Hà Vỹ xây dựng chế độ mới và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
1 Xây dựng chế độ mới, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(Từ T9/1945 đến T4/1949)
2 Chiến đấu bảo vệ quê hương và tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (từ T4/1949 đến T10/1954)
3 Phong trào học tập văn hoá của Hà Vỹ
Chương 7 Hà Vỹ xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (T10/1954-T4/1975)
1 Cải cách ruộng đất, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá (T10/1954 – 12/1960)
2 Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
3 Hà Vỹ cùng cả nước kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975)
Chương 8 Hà Vỹ từ khi nước nhà thống nhất đến nay
(T5/ 1975-2008)
1 Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh (1975-1986)
2 Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội (1987- 2008)
Kết luận
Phần phụ lục
1 Sắc phong của vua nước ta ban cho các Thánh ở đình Hà Vỹ (chỉ lấy 10/42 SP)
2 Danh sách các vị khoa bảng làng Hà Vỹ thời Phong kiến (Hương cống, Tiến sĩ, Thám hoa)
3 Danh sách các gia đình ở Hà Vỹ được tặng bằng có công với nước, huy chương và bằng khen của chính phủ trong K/C Chống Pháp
4 Danh sách các bà mẹ Việt Nam anh hùng
5 Danh sách các liệt sĩ
6 Bản mục lục bằng chữ Hán Nôm
7 Danh sách một số cụ cao niên trong làng đã tham gia đóng góp ý kiến
8 Tài liệu tham khảo
9 Mục lục

HẾT



NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
62 Bà Triệu - Hà Nội - Điện thoại 3 943 4044
Website:nxbthanhnien.com.vn Email: nxbthanhnien @vnn.vn
Chi nhánh : 270 Nguyễn Đình Chiểu – Quận III –TP Hồ Chí Minh
Điẹn thoại: (08) 930 5243



H À V Ỹ –
L ỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ
PHẠM MINH TÙNG
(Sư u tầm và biên soạn)



Chịu trách nhiệm xuất bản: MAI THỜI CHÍNH
Biên tập: BAN BIÊN TẬP NXB THANH NIÊN
Bìa: STAR BOOKS
Kỹ thuật vi tính và sửa bản in thử: TÁC GIẢ









In 500 cuốn khổ 14,5x20,5 cm tại Công ty in CP in TH Cầu Giấy
Giấy phép xuất bản số 253-208/CXB/706-08/TN
In xong và nộp lưu chiểu tháng 01 năm 2009

Đăng nhập để trả lời
0