ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
1. CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1. Đình làng
Đình Hà Vỹ hiện thờ năm vị Thánh có công giúp nước cứu dân. Đó là Thuỷ Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng, Tam Giang và Đông Hải Đoàn của ba thời kỳ lịch sử khác nhau
Trên thượng lương của đình còn ghi rõ :
Đình được xây dựng lần đầu vào năm Canh Thìn (1520), trên nền miếu (hoặc đền) xưa (1), sửa chữa năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), và làm lại to, rộng hơn vào niên hiệu Thành Thái thứ 12 năm Canh Tý (1900) (2)
Kiến trúc ngôi đình Hà Vỹ theo bố cục chữ công (工) bề thế to lớn uy nghi. Toà đại đình có bẩy gian hai dĩ (đình cũ có năm gian hai dĩ) với chiều dài cả hiên là 29,7 m, rộng 14,5 m, cao hơn 6,5 m với tổng diện tích là 432 m2..
Hậu cung có chiều dài 10,8 m, rộng 7,5 m, gồm ba gian. Diện tích sử dụng là 81 m2. Các gian của đình bố trí không đều nhau: Gian giữa rộng 4 m, gian cạnh 3,4 m và 3 m, cân xứng sang hai bên, dĩ 1,85m và hiên 1,2 m. Vì kèo của toà đại đình được thiết kế theo kiểu tứ trụ, kẻ chồng, cốn đội hoành, một kiến trúc chắc khoẻ với kết cấu lục hàng châu. Hệ thống các cột của đình khá lớn và bố trí không đều, cột cái to nhất với đường kính 0,85m và các cột con đường kính từ 0,65 đến 0,75m. Các chân cột đều có tảng đá kê khít với chân và làm chìm xuống nền đình.
Xung quanh làm hiên thoáng, trên làm đao cong, dưới thả kẻ tạo sự cân bằng và vững chắc cho ngôi đình.
Mái đình do độ cong của bốn đao, bốn góc và trang trí nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" trên bờ nóc, cho ta cảm thấy như chiếc thuyền rồng, phần mái của hậu cung trổ cao thoáng, cân xứng với toà đại đình phía trước.
Nghệ thuật điêu khắc trong đình được sử dụng trang trí chủ yếu trên các bức cốn và đầu dư. Cốn mặt tiền gian giữa được chạm bằng “rồng phun nước”, mặt bên chạm “phượng vờn mây”; Các cốn hậu gian giữa chạm trang trí với nhiều hoa tiết đẹp mắt. Các đầu dư đều chạm lồng các hình đầu rồng với nhiều vẻ nhiều kiểu dạng, thể hiện tài nghệ kiến trúc chạm khắc: Hoa, xoắn rau trơn... Hai đầu kẻ gian giữa chạm lân hoá, các tầu được chạm nổi lên. Trước giường hành trong cung được chạm nổi lên bức "Thiều châu trương nhĩ", chạm nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" sơn son thiếp vàng. Hai diềm dọc theo cột hậu chạm "Rồng phun nước", ngoài cửa vào cung cấm cũng là một bức "Thiều châu trương nhĩ". Chạm "lưỡng Long chầu Nguyệt", diềm hai bên chạm "Rồng phun nước", trên bức "thiều châu" là cốn chạm "Nạ đội nóc", hai bên cửa cấm có cốn chạm "Rồng ngậm hoành", dưới cốn cửa cấm là bức gỗ chạm "Lan đằng", chính giữa chạm nổi thiếp vàng ba chữ: " Tối linh từ ". Hai bên cửa vào cung đều chạm rồng hoá, chân đạp long mã và chạm "tứ quí" trên một khung gỗ. Gian chính giữa được bưng kín với màn giếng sơn son. Các góc và cạnh đều trang trí các hình hoa, hài hoà và trang nhã. Đặc biệt cửa võng của đình Hà Vỹ làm rất kỳ công, được sơn son thiếp vàng miêu tả "tứ linh, tứ quí", các hình khắc sống động hiên chuyết lấy nhau. Ngoài hệ "tứ linh, tứ quí", cửa võng còn có chạm "Lan đằng", hoa lá, long mã. Trên cửa võng chạm nổi bốn chữ “Thánh cung vạn tuế”
Sân đình rất rộng (khoảng 450 m2) xây toàn bằng gạch vuông to do làng Bát Tràng sản xuất, hai bên sân có trồng hai cây bàng (nay vẫn còn) trước sân là ao đình có bờ xây gạch, sát bờ là bệ vàng dùng để đốt vàng mã hoá chân hương, hai góc sân có bến rửa chân (ao đình đã lấp cùng với ao cổng Sứ để làm chợ Quậy như ngày nay).
Cạnh đình còn có Văn Chỉ nơi thờ đức Khổng Tử do các nho sĩ Hà Vỹ xây dựng (nay không còn)
Đình Hà Vỹ hiện nay còn lưu giữ được nhiều đồ thờ quí làm bằng gỗ, sứ và đồng đặt ở các ban thờ trong đình
Trong cửa cấm (hậu cung) có :
- Trên ban thờ có 5 long ngai bằng gỗ, tay đầu rồng sơn son thiếp vàng, biểu tượng cho chỗ ngồi của 5 vị thần, trước mỗi ngai là một hòm sắc phong của các triều Vua trước đây.
Hiện nay ở đình còn lưu được 42 đạo sắc phong của 10 triều đại Vua nước ta phong tặng 15 lần cho các Thánh ở đình. Đạo sớm nhất vào năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), đạo gần đây nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924) (xem phụ lục 1- chỉ lấy 10/42 sắc phong, tác giả đã phiên âm và phỏng dịch)
- Thần tích: 2 quyển - làm năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), sao lại năm Thành Thái thứ 19 (1907) và các tài liệu như hương ước, mục lục …
- Sập hội đồng hình chữ nhật kích thước: 2m x 1,8m x 0,55m, chân quỳ, chiện, bốn mặt chạm dạ cá, mặt sập 4 góc bao lan hình chiện.
- Một số đồ thờ: Mâm bồng bằng đồng, mâm bồng bằng gỗ hình vuông, hình tròn, sơn son thiếp vàng, chân quỳ dạ cá, choé sứ, lục bình, đài nến, hạc đồng, nồi hương v.v..
- Bàn thờ bệ hạ có mâm bồng bằng gỗ hình bầu dục, mâm bồng bằng đồng, nồi hương.
- Hoành phi trong hậu cung ghi bốn chữ: "Ngũ nhạc giáng thần"
Ngoài cửa cấm có:
- Sập hội đồng chân quỳ bằng gỗ hình chữ nhật có cổ chạm lan đằng dạ cá, chân quỳ;
- Giá gỗ sơn son thiếp vàng có 9 thanh kiếm gỗ liền bao cũng sơn son thiếp vàng
- Hương án đặt chính giữa dưới cửa võng được sơn son thiếp vàng có kích thước lớn: 2,3 m x 1,11m x 2m, chạm trổ bốn mặt công phu, trên mặt bốn góc có 4 bao lan chạm lưỡng long, ô cổ chạm cúc, trúc, thông, mai tiếp đến là rồng chầu nạ. Hai bên là nạ đội bệ, xà dưới bệ chạm chiện lá, ô giữa chạm rồng chầu nguyệt, qui vờn mây, bộ tứ linh và chạm nạ, các ô bên chạm long mã, phượng lân hý cầu, hai bên chạm thất sự, ô giữa chạm rồng quấn, hai bên chạm long, mã rồi đến các ô cạnh phần dưới chạm trúc mai, nạ đội ô giữa và lèo chạm mây tan.
- Nồi hương sành da lươn lớn đặt trên hương án.
- Trước hương án có giá đèn bằng sắt như một cây hoa. Hai bên là hai con hạc bằng gỗ cao to đứng trên lưng con rùa.
- Hiên án có 6 bức hoành phi sơn then chữ vàng.
- Xưa có tới hơn 30 đôi câu đối treo ở các cột đình.
Đình Hà Vỹ trước đây có cửa bức bàn bưng kín xung quanh và có sàn gỗ lim nhiều bậc lát khắp các gian (trừ ba gian giữa lòng đình). Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, người ta đã dỡ sàn, dỡ cửa và các câu đối của đình để lấy gỗ làm hầm.
Năm 1951 đình được xây bao quanh bằng gạch, khi không còn sàn đình, nhân dân đã lát nền đình bằng gạch lục, có thời kỳ một bên đình (phía Đại Vỹ) còn là nơi thờ Phật. Năm 1961 do thiếu chỗ học, đình còn được ngăn ra làm hai lớp học của trường cấp II Liên Hà (chỉ để gian giữa làm nơi lễ Thánh).
Sau ngày thống nhất đất nước nhiều gia đình, dòng họ và các hội đồng niên của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác đã cung tiến nhiều hiện vật vào đình như câu đối, hoành phi, cờ Tổ quốc, cờ Thần, trống, nồi hương…
Năm 2000 Ban quản lý di tích đình Hà Vỹ và chính quyền hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác đã xây bức tường Bạch mã bằng tiền ủng hộ của nhân dân hai thôn
Năm 2004 Lãnh đạo hai thôn lại huy động tiền cung tiến của các hội đồng niên và một số gia đình hảo tâm cho lát lại sân đình bằng gạch ép xi măng mầu
Năm 2005 nền trong đình được lát lại bằng gạch nung vuông (30x30) do gia đình ông Ngô Văn Ninh thôn Đại Vỹ cung tiến
Năm 2007:
- Hội đồng niên Canh Tuất (sinh1970) cung tiến 01 bộ lư hương bằng đồng
- Hội đồng niên Mậu Thân (sinh 1968) cung tiến 01 bộ đỉnh hương bằng đồng
- Hội đồng niên Canh Tý (sinh 1960) cung tiến kinh phí để làm cửa gỗ ở hai đầu hồi đình
Cuối năm 2007, Ban quản lý di tích cho cải tạo ao đình, xây gạch bờ ao, làm đường xung quanh…
Đầu năm 2008 sân đình (ngoài tường Bạch mã) được lát lại bằng gạch ép xi măng mầu do gia đình ông Lê Văn Vĩnh thôn Giao Tác cung tiến
Tháng 10 năm 2008 Hội đồng niên ất Tý (sinh năm 1965) cung tiến bộ gươm trường bát bửu bằng gỗ sơn son thiếp vàng …
Đình Hà Vỹ ở vào vị trí trung độ của ba thôn nằm giữa hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác, nên thời nào cũng là trung tâm văn hoá của cả làng. Đình là nơi hội họp bàn định các công việc của làng, nơi sinh hoạt văn hoá, tổ chức lễ hội, mít tinh, bầu cử, thi đấu thể thao, biểu diễn văn nghệ, hội thả chim, nơi đón các anh bộ đội về làng và tiễn đưa các chàng trai lên đường giết giặc cứu nước. Đình là nơi chứng kiến các sự kiện lịch sử thăng trầm của nhân dân Hà Vỹ…
Với kiến trúc đồ sộ theo dáng dấp cuối Lê đầu Nguyễn, đình Hà Vỹ là một công trình kiến trúc đặc sắc của quê hương là sản phẩm chứng minh cho nghề nghiệp truyền thống đất thợ của dân làng Quậy
Đình Hà Vỹ đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1989 (Quyết định số 100 VHQĐ ngày 21 tháng 01 năm 1989 )
Đình Hà Vỹ hiện thờ năm vị thánh có công với dân với nước. Đó là:
1) Ba vị Thánh thời hai bà Trưng: Thuỷ Hải, Đăng Giang và Khổng Chúng.
Thuỷ Hải và Đăng Giang là hai anh em sinh đôi cùng
Sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Thìn (năm 20 SCN). Thân mẫu của hai ông là bà họ Phùng, thân phụ là ông Trương Long quê ở Đường Lâm Sơn Tây. Trong khoảng thời gian ấy ông bà Trương Long đến trang Hà Hào dậy học và sinh ra Thuỷ Hải và Đăng Giang. Hai ông sinh ra có tư chất khác thường. Đến năm 16 tuổi hai ông đã có vóc người to lớn và sức lực hơn người lại thông minh tài giỏi võ nghệ cao cường .
Khi hai ông được 18 tuổi thì cha mẹ đều mất, hai ông chọn đất tốt để mai táng cha mẹ
Ba năm tang hết cũng là lúc Tô Định mang quân sang xâm lược nước ta, giết người tàn bạo. Thi Sách - chồng của bà Trưng Trắc - cũng bị chúng giết hại. Để trả thù cho chồng đền nợ nước, bà Trưng cùng em là Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa kêu gọi muôn dân chống giặc
Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của hai bà Trưng, hai ông (Thuỷ Hải và Đăng Giang) nghe chiếu chỉ của Thiên tử bốn bể động lòng hưởng ứng; Ngay hôm ấy hai ông đã chiêu mộ được 500 binh sĩ rồi đem quân đến thẳng đồn bà Trưng. Bà Trưng thấy hai ông tài văn, giỏi võ bèn tuyển dụng và phong tước cho hai ông :
- Thuỷ Hải làm Tả tướng quân đô chỉ huy sứ;
- Đăng Giang làm Hữu tướng quân đô chỉ huy sứ
Sau đó hai ông về trang Hà Hào truyền lệnh cho binh
sĩ giữ trại lập đồn đóng quân, sửa sang Miếu thờ và mở tiệc khao quân một ngày, mời cả các cụ trong làng đến dự, hai ông bảo rằng:" Ngày trước Mẹ ta thường nói với anh em ta: làng này phải thờ các thần linh ra đời"
Các cụ nghe thấy rất mừng, bèn làm lễ bái giá, sau đó thấy sứ giả mang tờ chiếu lệnh cho hai ông đi đánh giặc Tô Định. Hai ông Thuỷ Hải và Đăng Giang cùng với quân của hai bà Trưng đồng loạt đánh giặc, giặc thua to, Tô Định bị giết. Bà Trưng lên ngôi, xưng là Trưng Nữ Vương, phong cho hai ông là "Đô chỉ huy sứ kiêm điện tiền phụ chính "
Đất nước yên bình được ba năm thì nhà Hán lại sai Mã Viện sang xâm chiếm nước ta, Bà Trưng lại giao cho hai ông cầm quân đánh giặc Mã Viện
Trong thời gian ấy ở trang Hà Hào có ông Khổng Chúng cũng có tài thao lược và sức lực hơn người theo hai bà Trưng và được bà Trưng phong là “Tiền lộ tướng quân”
Quân Mã Viện, tướng sĩ hùng mạnh, không ai địch nổi, Khổng Chúng đem quân đánh thẳng vào đồn Mã Viện nhưng bị thua, quân của hai bà Trưng và của hai ông Thuỷ Hải, Đăng Giang đã chiến đấu kiên cường nhưng không thắng nổi phải rút lui, cuối cùng đã hy sinh anh dũng vào ngày 10 tháng 7 năm 43 SCN, còn Khổng Chúng thu được 50 binh sĩ trở về trang Hà Hào để cố thủ. Quân Mã Viện đuổi theo, ông cùng các quân sĩ - có sự giúp sức của nhân dân Hà Hào - chiến đấu đến cùng. Khổng Chúng không may bị ngã ngựa và đã hy sinh ngày 12 tháng 9 cùng năm (năm 43 SCN). Mộ ngài được đặt ở khu đồng Sứ, Quần Trùng thôn Châu Phong
Vua Đinh Tiên Hoàng (968 - 979) đã phong cho hai ông Thuỷ Hải và Đăng Giang là Thượng đẳng thần
Đến thời Tiền Lê (980 -1009), Vua Lê Đại Hành lại phong cho ba ông đều là Đại Vương:
- Thuỷ Hải và Đăng Giang: Hiển ứng linh thông Đại vương
- Khổng Chúng: Linh ứng sáng triết Đại vương
Đến các thời đại vua sau đều sắc phong cho các ông là Thần và chuẩn y cho dân làng Hà Vỹ phải thờ ba vị Thần trên (xem thêm phần Hà Vỹ tham gia chống giặc ngoại xâm phong kiến phương Bắc chương 2, mục 2 )
2) Vị Thánh thứ tư : Tam Giang thời Lý Nam Đế - Triệu Quang Phục (thế kỷ thứ VI)
Ông Tam Giang sinh ngày 5 tháng Giêng năm 522 cha là người họ Trương, mẹ là người họ Đào ở trang Văn Mẫu huyện Quế Lương lộ Kinh Bắc (nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Khi Triệu Quang Phục thay Lý Nam Đế đóng quân ở đầm Dạ Trạch. Ông Tam Giang nghe theo chiếu chỉ bèn chiêu mộ quân rồi đến đầm Dạ Trạch giúp Triệu Quang Phục và được Triệu Quang Phục cử làm “ Chỉ huy sứ dư tả tướng quân”
Ông Tam Giang đã về trang Hà Hào đóng quân, thiết lập đồn trại để đối phó với quân của Trần Bá Tiên. Đến năm 550 nhân nhà Lương có loạn to ông đã cùng với Triệu Quang Phục đánh thắng quân nhà Lương. Triệu Quang Phục lên ngôi Vua, xưng là Triệu Việt Vương. Hai mươi năm sau, (năm 571) Lý Phật Tử phản trắc đoạt quyền, Triệu Việt Vương phải chạy ra cửa biển tuẫn tiết
Ông Tam Giang không theo Lý Phật Tử mà trở về An Phú, Hương La trang đến đầu bến Giang Tân gần ngã Ba Xà sông Như Nguyệt (sông Cầu) gieo mình xuống dòng sông tự vẫn ngày 10 tháng 4 năm 571 vì không muốn “hai lòng” thờ hai Vua
Dân Hà Hào đã tế lễ đón thần về thờ ở đình làng
Thánh Tam Giang là người tài giỏi có khí tiết nên các
đời vua sau đều sắc phong cho ông là “Phổ trạch Đại vương” và “Thượng đẳng thần”
3) Vị Thánh thứ 5: Đông Hải - đầu thế kỷ thứ XIII (cuối Lý đầu Trần).
Ông Đông Hải sinh ngày 12 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1210), cha là Đoàn Thượng (làm quan to nhà Lý), mẹ là Phùng Thị Chinh người làng Hồng Thị, Châu Giang, Hải Dương. Khi mới sinh, Đông Hải đã khôi ngô tuấn tú, khi lớn lên đi học lại thông minh, mới 16 tuổi đã hiểu rộng, đọc kỹ binh thư và có võ nghệ cao cường. Khi ông 21 tuổi thì nhà Lý đã suy. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi được hai năm thì nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh dưới sự xếp đặt của Trần Thủ Độ (năm ất - Dậu -1225)
ông Đông Hải thấy nước nhà chuyển sang triều Trần không quang minh chính đại nên ông đã bất đồng căm phẫn có trí phục thù. Năm Canh Dần 1230 ông chiêu dụ các triều thần đồng quan điểm và xây dựng lực lượng luyện tập binh mã chờ cơ hội để giành lại ngôi Vua cho họ Lý
Ông đã chiêu mộ được 5 vạn quân sĩ rồi tiến quân sang đạo Kinh Bắc phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn làng Hà
Vỹ (tên cũ là Hà Hào)
Đến Hà Vỹ, ông thấy ở đây “non nước quanh co, địa thế hiểm trở ” rất tốt cho việc xây dựng căn cứ để đánh lại nhà Trần. Nhân dân Hà Vỹ đã giúp đỡ nghĩa quân và ủng hộ ông. Ông Đông Hải đã đem quân đánh Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Thái Tông không đánh mà đưa thư giảng hoà và phong tước cho ông rồi ông tự xưng là Đông Hải Vương chiếm giữ vùng Đông Ngàn nhưng chỉ được ba
năm thì mất (ngày 10 tháng 11 năm Nhâm Thìn -1232).
Năm 1427 Lê Lợi đã đóng quân ở làng Hà Vỹ, đêm ngủ mộng thấy các thần âm phù đánh giặc “xuất quân chiến đấu là thắng to”
Hôm sau Lê Lợi cử tướng Trần Lưu đem quân đi đánh giặc Minh xâm lược. Quân Minh đã thua to, Liễu Thăng bị chém đầu ở ải Chi Lăng
Năm Mậu Tý (1428) Lê Lợi lên ngôi tức là Vua Lê Thái Tổ đã gia phong cho tướng sĩ. Ngài bảo rằng “ Đánh thắng giặc Minh cũng là nhờ các thần âm phù hộ” giúp sức bèn phong: Đông Hải, Thuỷ Hải là linh ứng Đại Vương còn Đăng Giang là hiệu ứng Đại Vương (3)
Đình Hà Vỹ
1.2. Nghè làng
Nghè làng được nhân dân Châu Phong xây dựng năm Đinh Tỵ (1917). Trước đó các cụ ở thôn Châu Phong vẫn phải sang đình cùng với các cụ hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác làm nhiệm vụ thờ cúng các ngày giỗ Thánh, tế lễ các ngày hội và làm sóc vọng hàng tháng… ở đình.
Do đường đi lại từ thôn Châu Phong sang đình hơi xa (nhiều khi phải lội), để khỏi phải đi lại vất vả nhiều lần trong năm, các cụ thôn Châu Phong đã đề nghị làng cho xây dựng ngôi nghè riêng để thờ vọng (4 ) năm vị Thánh ở đình. Từ đó những ngày sóc vọng hay giỗ Thánh, các cụ ở thôn Châu Phong cúng ở nghè mà không phải sang đình nữa.
Kiến trúc nghè theo kiểu chuôi giuộc là kiến trúc phổ biến ở thời cuối Lê đầu Nguyễn, nghè hiện nay có năm gian hai dĩ đằng sau là hậu cung (hai gian) tổng diện tích khoảng gần 150 m2. Trong nghè có nhiều hoành phi, câu đối, đa số câu đối đều mới làm, do các gia đình trong thôn cung tiến
Sát hậu cung là ba chữ Hán “Tối linh từ ”, trên cửa võng là bốn chữ “Vạn cổ anh linh” các chữ Hán được chạm nổi sơn son thiếp vàng
Nghè ở Châu Phong nằm trong quần thể khu di tích của đình Hà Vỹ. Trước đây nghè còn có nhà Tiền tế ở trước, tảo xá ở hai bên và tường Bạch mã có ba cổng lớn, cổng giữa để rước kiệu, hai cổng bên là để người ra vào hàng ngày, cổng tường Bạch mã được trang trí rất cầu kỳ tiếc là nay không còn nữa. Năm 2004, nghè làng đã được Bộ Văn hoá cấp bằng Di tích Quốc gia (Quyết định số 20 ngày18 tháng 2 năm 2004)
Nghè làng
1.3. Chùa Làng
Theo các cụ cao tuổi truyền lại: Khi đạo Phật từ Trung Quốc truyền bá sang nước ta thì làng Quậy cũng làm chùa để thờ Phật. Mới đầu chùa được làm ở vườn Trên thôn Giao Tác. Chùa cách đình khoảng 300 m có đường nối với nhau, đứng ở đình có thể nhìn thấy chùa vì dân cư lúc bấy giờ rất thưa thớt. Vì ở vườn Trên đất trũng việc đến lễ chùa, nhất là vào mùa mưa rất khó khăn vì phải lội, nên sau đó nhân dân làng Quậy đã chuyển Chùa đến xứ đồng Lều sát làng ống (Thiết úng) vì nơi đây đất cao mà vẫn thuộc cánh đồng làng Quậy .
Mãi đến năm Canh Tý 1900 cụ Sư Lã đã cho xây dựng
một ngôi chùa mới tại đồng Rùa đầu thôn Đại Vỹ có tên là Đại Bi Tự.
Cụ Sư Lã tên là Phạm Quí Dận, người họ Phạm Quí Công thôn Châu Phong (vì tu ở Chùa Lã nên gọi là Sư Lã). Cụ đi tu từ nhỏ, bản tính thông minh chịu khó học tập tu luyện nên đã đắc đạo đỗ tới Pháp sư. Với cương vị và học vấn uyên thâm như vậy, cụ được quyền xây dựng một ngôi chùa tại quê hương (gọi là chùa Chốn Tổ). Cụ lại là người thày “giỏi địa lý, bùa cao tay” nên cụ đã đặt ngôi chùa mới trên đất “con Rùa” để cho cả làng Quậy được thịnh vượng.
Chùa Đại Bi có diện tích khuôn viên khoảng 3,2 mẫu đất, chùa có gần 100 gian, 11 nóc, kiến trúc của chùa rất cổ kính, mái chùa theo kiểu cổ diêm, các nhà san sát nhau có hành lang ngang dọc, đi lại thuận tiện không sợ nắng mưa. Xung quanh chùa có thành bao bọc, vườn chùa có rất nhiều cây cổ thụ và cây ăn trái nên rất mát mẻ và yên tĩnh
Cổng chùa cũng rất đồ sộ uy nghi, gác chuông xây rất cao, chuông chùa to, mỗi khi thỉnh chuông cả vùng nghe tiếng. Chùa Quậy Chốn Tổ đã có 72 ngôi chùa thuộc bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Ninh (Hải Dương) về theo cụ tổ Sư Lã, theo chùa chốn tổ Đại Bi . Chùa Chốn Tổ còn là nơi đào tạo các tăng ni phật tử để bổ sung trụ trì các chùa quanh vùng. Hàng năm các sư về “ hạ” ở chùa Quậy rất đông. Chủ trì chùa Đại Bi sau khi cụ sư Lã qua đời là cụ sư Giám, sư Thụ và người cuối cùng trông nom chùa là sư Trang (còn gọi là sư Ba), ba vị sư này đều là môn đệ của cụ sư Lã và được cụ Lã đào tạo tin cậy.
Năm 1945 chùa này còn lập ra quán Bảo Anh (do cụ sư Trang phụ trách) để cưu mang những con em nghèo khổ cơ nhỡ cô đơn. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa Quậy lại là nơi ẩn náu, hội họp, làm việc, huấn luyện cán bộ và là trạm liên lạc của Việt Minh vì nơi đây hẻo lánh cây cối um tùm rất thuận tiện cho việc hoạt động bí mật của các cán bộ cách mạng địa phương.
Tháng 4 năm 1949 chùa Quậy là địa điểm họp đại hội bí mật thành lập chi bộ Đảng xã Liên Hà do hai chi bộ của hai xã Ngũ Hà và Hà Vỹ sáp nhập
Vì chùa Quậy khá to lại có vị trí hẻo lánh cây cối um tùm, sợ giặc Pháp lấy đó để xây bốt làm đồn, không có lợi cho việc hoạt động của du kích và bộ đội địa phương. Vì vậy năm 1951 theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, chúng ta đành hy sinh ngôi chùa cổ kính đẹp nhất vùng này, khi đó tượng Phật của chùa phải di chuyển về Tảo Mạc sau đưa lên một bên đình làng để thờ cúng. Tượng Phật của chùa Quậy rất nhiều, lại lâu năm nên rất giá trị. Khi di chuyển có một số tượng bằng đất bị vỡ đành phải bỏ đi. Hiện nay vẫn còn các pho Tượng Phật được nhân dân rước về chùa mới (làm năm 1998) cũng trên khu đất chùa xưa. Chùa Quậy trước đây là một công trình kiến trúc độc đáo và là nơi danh thắng của quê hương Hà Vỹ và trong vùng.
Năm 1998 (sau gần 50 năm không có chùa) nhân dân làng Quậy đã khôi phục xây dựng lại ngôi chùa Chốn tổ Đại bi vẫn trên đất chùa xưa. Khi làm chùa, mọi người đã tìm thấy mộ sư Tổ Lã ở ngay trước chùa mới, thế là mọi người xây lăng luôn cho cụ. Chùa tuy còn nhỏ (mới đầu chỉ có nhà Tam bảo nhà thờ mẫu, lăng sư Tổ và gác chuông) nhưng cũng đáp ứng được lòng mong mỏi của toàn dân, chùa xây xong dân làng đã rước Phật từ đình trở về chùa để thờ cúng. Từ đó tới nay đất chùa được mở rộng, cây cối trồng nhiều, đang lên xanh tốt làm cho cảnh chùa yên tĩnh tôn nghiêm, không khí trong lành thoáng mát ai cũng muốn vào thăm quan, lễ Phật. Hàng năm vào những ngày lễ hội do nhân dân cung đức tiền của nên đã làm thêm được nhà thờ Tổ, nhà dẫy, mở rộng sân và tường bao quanh cùng với công trình phụ. Trong chùa Tượng Phật và hoành phi câu đối các đồ dùng nội thất cũng được nhân dân cung đức khá nhiều
Để nhớ công ơn của sư Tổ, hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 8 ÂL các Phật tử của làng đều tổ chức cúng giỗ cho cụ tổ Sư Lã ở chùa, ngày đó mọi người về dự rất đông
Năm 2006, chùa Đại bi đã được Hội Phật giáo Hà Nội quản lý do Thượng toạ Thích Bảo Nghiêm trụ trì, nay giao cho Đại đức Thích Quảng Đại trụ trì trông nom hàng ngày, do đó việc thờ cúng ở chùa đã đi vào nề nếp và theo đúng nghi lễ của đạo Phật, vì vậy các Phật tử đi lễ ngày càng đông, nhiều gia đình có người mất đã đưa lên chùa để cầu cho linh hồn được an lạc siêu thoát.

Chùa làng
1.4. Nhà thờ họ
Làng Hà Vỹ có nhiều họ, mỗi họ đều có nhà thờ Tổ họ (hoặc Tổ chi) riêng. Trước đây các họ đều có tổ chức sóc vọng vào ngày Một hoặc ngày Rằm hàng tháng âm lịch. Trải qua bao nhiêu năm biến đổi, một số nhà thờ họ phải di chuyển nơi thờ cúng có những nhà thờ vẫn giữ được từ đường và gia phả như họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác.
Nhà thờ họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1990 (Quyết định số 84 ngày 02 tháng 3 năm 1990).
Đây là nơi thờ cúng của một dòng họ lớn từ Bồng Sơn Thanh Hoá ra, đến đời thứ ba là ông Đỗ Hoan lấy hai bà vợ, bà cả là Phạm Quý Thị , bà hai là người họ Vũ, cả hai bà đã sinh được năm người con trai thì bốn người đỗ Đại khoa (ba người đỗ Tiến sĩ, một người đỗ Thám hoa - trên Tiến sĩ) và một người là “Phục tướng quân” trong đó có Tiến sĩ Đỗ Túc Khang - Nghè Rào (con thứ nhất), Đỗ Viên Nghị (con thứ 2 là một vị tướng), Tiến sĩ Đỗ Đại Uyên - Nghè Me (con thứ 3). Thám hoa Đỗ Túc Khiêm (con thứ 4) và Tiến sĩ Đỗ Danh (Đỗ Vinh - con thứ 5).
Ngay cạnh nhà thờ họ Đỗ Đại tôn là điện Bà Cô thờ bà Đỗ Thị Mỹ Mai
Theo gia phả họ Đỗ thì: Đỗ Thị Mỹ Mai sinh năm Đinh Mão (1507) là con gái út của ông Đỗ Túc Khang. Từ nhỏ cô Mai rất ham học, văn hay chữ tốt lại giỏi võ nghệ. Tháng Mười năm Đinh Hợi (1527) tại Phổ Yên Phú Bình (xứ Thái Nguyên) có nhiều dư đảng trộm cướp nổi lên quẫy nhiễu cuộc sống dân lành. Trước đó Đỗ Túc Khang (đã giữ chức Tán trị Thừa chính sứ Kinh Bắc, Thái Nguyên). Để giúp vua, con gái Đỗ Túc Khang - Đỗ Thị Mỹ Mai - đã xin đi dẹp giặc . Cô đã cải nam trang thành một tướng nam nhi, với tài võ nghệ lại giỏi cầm quân cô đã đánh tan được nhiều dư đảng, đem lại cuộc sống yên bình cho nhiều vùng quê. Sau đó trong một trận giao tranh chẳng may gió thổi tung giải yếm đào vì thế giặc biết là tướng đàn bà. Chúng bèn dùng kế đê hèn cho quân lính cởi hết quần áo "khoả thân" xông vào trận, vốn là gái chưa chồng cô "xấu hổ, e thẹn " buộc phải lui quân, giặc đuổi theo đến cầu sông Trấn Giang (sông Công), thế cùng cô phải nhảy xuống sông tự vẫn. Hôm đó là ngày mồng Tám tháng Sáu năm Mậu Tý (1528) khi đó cô còn rất trẻ mới có 21 tuổi đời. Thương tiếc và nhớ ơn cô, nhân dân quanh vùng đã lập đền thờ ở nhiều nơi. Đến năm Duy Tân thứ 5 (1911), Vua Duy Tân đã sắc phong cho cô là "Diên Bình công chúa " cho phép xã Thượng Dã, phủ Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên lập đền thờ bà cô.
Nhớ công ơn của bà nhiều nơi cũng lập đền thờ. ở đền Đồng Thụ xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã tôn bà là “Anh linh thần nữ”. Ngày 12 tháng 11 năm 2004 , Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã cấp bằng cho đền Đồng Thụ là Di tích Lịch sử Văn hoá
2. PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI
2.1. Các phong tục tập quán
Các làng xã Việt Nam nói chung và làng Hà Vỹ nói riêng cùng với nhà nước phong kiến là một khối thống nhất và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mọi chủ trương của nhà nước đặt ra như thế nào là các làng phải theo đúng như vậy, nhưng làng Hà Vỹ đã chuyển hoá chủ trương của nhà nước ra thành cái của riêng mình cho phù hợp với địa phương mình ở. Đó là những “Hương ước” phong tục riêng được các vị có chức sắc trong làng soạn ra để duy trì kỷ cương của làng. Trong bản “Hương ước” của làng đều thể hiện phong cách riêng có tính nguyên tắc “pháp luật” của nhân dân Hà Vỹ. Chẳng hạn như cách phân phối ruộng đất khác với thời Gia Long hoặc bỏ thuế của nhà nước cũng được địa phương biến hoá thành của mình, việc lấy vợ gả chồng trong và ngoài làng, cách bầu bán nhiêu, tư văn ngôi thứ ở đình làng… Điều đó đã được qui định trong bản “Hương ước” một cách đầy đủ, chặt chẽ. Do phong tục của làng có nhiều nét tốt đẹp nên Vua Tự Đức khi về làng Hà Vỹ đã ban tặng cho làng bốn chữ “ Mỹ tục khả phong” nhân một lần nhà Vua đi kinh lý các tỉnh phía Bắc (năm Tự Đức thứ 22 -1869. Làng Đình Sấm và làng Trang Liệt (Sặt) cũng được vua Tự Đức ban cho bốn chữ trên) .
Những phong tục của làng được mọi người tuân theo đó là :
2.1.1. Việc cưới xin. Phần lớn trai gái ở Hà Vỹ thời phong kiến đều cưới tảo hôn (kết hôn sớm).
Cưới thường qua ba bước sau đây:
- Lễ ăn hỏi. Khi nhà trai “ướm” được cô nào ưng ý, muốn lấy cho con trai mình đều nhờ ông hoặc bà mối đến nói chuyện với nhà gái trước. Khi được nhà gái chấp nhận thì nhà trai tiến hành lễ ăn hỏi. Lễ ăn hỏi thường có một buồng cau độ 200 quả, đủ lá trầu và vỏ cùng với 0,5 kg chè ngon. Những thứ đó đem đến nhà gái. Nhà trai đi ăn hỏi gồm có ông hoặc bà mối và một số ông bà có tuổi trong họ. Khi đến nhà gái ông (bà) mối là người đảm nhiệm “đối ngoại” mọi việc. Khi lễ ăn hỏi xong thì người con gái coi như đã “có nơi có chốn ” không ai dám “đặt vấn đề ” nữa, còn “chàng rể tương lai” được đi lại công khai không sợ ai xì xào bàn tán. Thời gian tổ chức đám cưới thường sau vài tháng hoặc vài ba năm tuỳ theo hoàn cảnh gia đình hoặc tuổi tác
Trong quá trình chờ cưới có khi “cô dâu tương lai” lại chê người con trai mà thay đổi ý kiến, nếu gia đình nhà gái “chiều” con thì người con gái phải tự mình đem trầu cau tới nhà trai xin trả lại. Sau khi trả cau thì người con gái lại được “tự do” coi như chưa có gì
- Lễ xin cưới. Khi nhà trai muốn tổ chức đám cưới cho con thì ông (bà) mối và một số người có tuổi gần nhất trong họ nhà trai đi đến nhà gái xin cưới. Khi nhà gái nhất trí thì cả hai bên bàn bạc chọn “ngày lành tháng tốt” rồi nhà gái “thách cưới”. Lễ cưới thường gồm có: thịt lợn 50 kg, gạo tẻ 100 kg, gạo nếp một nồi (13 kg), rượu trắng 5 lít, gà quả, tiền mặt tuỳ theo từng nhà và từng thời kỳ
- Lễ cưới. Ngày “Đại lễ” ở cả hai bên nhà trai và nhà gái đều rất tưng bừng nhộn nhịp đông vui người ra kẻ vào, người tiếp khách, người làm cỗ nấu nướng… Khi cưới, nhà trai không phải đi mời họ hàng nội ngoại, bà con hàng xóm láng giềng ai có lòng thì đến giúp và mừng. Còn nhà gái phải đi mời, họ mới đến ăn. Đi ăn cỗ ở nhà gái không phải mừng (vì cỗ là do nhà trai lo)
Hôm cưới, nhà trai chọn giờ tốt đi đón dâu. Đoàn nhà trai thường có đủ thành phần ông bà, chú bác, cô dì nội ngoại “song toàn” và không có “bụi” cùng chú rể và phù rể đến nhà gái đón dâu. Khi đoàn nhà trai đến gần cổng nhà gái thì bị chặn lại vì cổng nhà gái đóng (gọi là đóng cổng rể). Khi nhà trai đưa cho ít tiền lẻ, thì nhà gái mới mở cổng cho vào. Đoàn đón dâu vào nhà, được nhà gái mời vào các vị trí định sẫn, sau đó chàng rể đến bàn thờ để lễ tổ tiên gọi là “lễ gia tiên”. Trường hợp nhà gái là trưởng họ thì lễ tại nhà, nếu trưởng họ ở nhà khác thì cả hai vợ chồng đều phải đến nhà ông trưởng họ để lễ. Làm lễ xong, hai họ mới ăn uống chuyện trò vui vẻ. Khi ăn xong, nhà trai cùng đại diện nhà gái đưa dâu về nhà trai. Trong đoàn nhà gái có một cụ cao tuổi người phúc hậu con cháu đông đủ được nhà gái chọn, cụ đó cầm ba nén hương chập lại với tờ giấy hồng ra tới đầu ngõ châm lửa đốt. Đến nhà trai, đầu tiên phải làm lễ tơ hồng, sau đó lễ tổ tiên cuối cùng là ăn uống hát xướng tuỳ theo khả năng từng nhà. Nói chung cưới xin thời phong kiến ăn uống, thách cưới thường tốn kém. Dù nhà giầu hay nhà nghèo đều phải theo phong tục chung của địa phương. Tuỳ theo giầu nghèo mà mức độ ăn uống to hay nhỏ. Nhiều gia đình vì quá nghèo nên lấy vợ cho con rất khó khăn.
Cũng có gia đình vì biến cố đột ngột cha hoặc mẹ sắp chết, người mối phải đến nhà gái để xin cưới gấp gọi là cưới “chạy tang”. Cưới “chạy tang” thường tiến hành theo bước cuối cùng nhưng việc ăn uống thì đơn giản hơn.
Ngoài hai loại cưới trên còn có loại “cưới chui”, cưới “kế mẫu” và cưới “lấy lẽ”
Cưới chui (không hợp pháp) cũng phải tiến hành ba bước như trên nhưng về hình thức có đơn giản hơn nhưng việc thách cưới cũng không phải ít
Cưới “kế mẫu” là trường hợp người vợ cả đã có con nhưng còn nhỏ lại ốm sắp chết (hoặc đã chết còn đắp chiếu nằm trên giường). Nhà trai nhờ người mối đi dạm hỏi một người đàn bà đã được chọn. Khi nhà gái chấp thuận thì tiến hành cưới ngay với nghi lễ giản đơn. Sau khi làm lễ “tơ hồng” xong, hai vợ chồng cùng với họ hàng đưa thi hài người vợ cả vào áo quan. Người vợ kế phải đội khăn tang đưa ma vợ cả ra đồng
Còn cưới “lấy lẽ” là do vợ chồng lấy nhau lâu ngày mà không có con hoặc chỉ có con gái. Gia đình nhà chồng muốn có con trai để “nối dõi tông đường” khi đó người vợ cả lấy vợ lẽ cho chồng. Cũng có trường hợp vợ chồng tuy đã có con trai con gái nhưng nhà giầu cần có người làm nên người chồng phải lấy thêm vợ lẽ hoặc trong quá trình chung sống với người vợ cả không hạnh phúc không hợp nhau hoặc do già do xâú v.v người chồng lại có máu “giăng hoa” muốn thoả mãn nhu cầu dục vọng của mình nên đã cưới thêm vợ lẽ dù cho vợ cả có đồng ý hay không. Lấy vợ lẽ, thách cưới cũng cao, có tổ chức cưới nhưng đơn giản hơn.
Cưới xin dù giầu dù nghèo dù hình thức nào đều phải nộp “cheo” cho làng. Nếu lấy vợ lấy chồng trong xã thì “phải nộp cho làng 8 quan tiền, nếu lấy ngoài xã phải nộp 20 quan” (một quan là 60 đồng)
Dưới chế độ phong kiến, trai gái không có quyền tự do yêu đương mà thường do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, trai gái con nhà giầu, nghèo thường không lấy được nhau dù có yêu nhau tha thiết chỉ vì hai bên không “môn đăng hộ đối”. Vì vậy đã làm cho bao mối tình tan vỡ hoặc cam chịu suốt đời. Việc cưới xin tốn kém đã gây cho bao gia đình sau khi cưới vợ cho con đã khốn khổ túng thiếu phải “kéo cầy” trả nợ
Kể từ khi hoà bình lập lại (1954), việc cưới xin ở Hà Vỹ đã thay đổi rất nhiều. Trai gái được tự do tìm hiểu và phải đến tuổi trưởng thành (nam 20, nữ 18 tuổi theo Dương lịch) mới được kết hôn và thực hiện theo luật hôn nhân qui định, một vợ một chồng, phải đăng ký kết hôn trước chính quyền địa phương mới là hợp pháp. Việc cưới xin cũng đơn giản hơn - cưới theo lối đời sống mới- chỉ có trầu cau, nước chè, thuốc lá cuốn, cỗ bàn đơn bạc lại hạn chế nên rất tiết kiệm, có thời kỳ vài đám còn cưới tập thể ở đình
Ngày nay do đời sống người dân khá giả, nên việc cưới xin ở Hà Vỹ lại linh đình tốn kém hơn trước rất nhiều. Để tổ chức cho ngày cưới, cả hai gia đình nhà trai cũng như nhà gái đều dựng rạp có phông màn trang trí cầu kỳ, nhà nào cũng thuê bàn ghế, bát đĩa, ấm chén, khăn trải bàn, trên bầy hoa tươi… rất lịch sự, trang trọng, trước ngày cưới, họ hàng ruột thịt đã đến ăn “dựng rạp” hàng vài chục mâm… Buổi chiều và tối có nhiều người hàng xóm láng giềng, họ hàng bạn bè thân thích trong làng… đến chơi ăn trầu uống nước, có bánh kẹo, hạt dưa, hạt bí tiếp đãi… Ngày đại lễ ngoài họ hàng còn có bạn bè khách khứa đến dự rất đông, cỗ bàn ăn ở nhiều nhà, từ vài chục đến hàng trăm mâm với nhiều món ăn ngon … Người đến ăn cưới thường mừng cho bố mẹ cô dâu, chú rể khá nhiều (tuỳ theo quan hệ) có khi bố mẹ chẳng phải chi ra là mấy vì “ăn bồ giả đấu” nên việc cưới cho con hay cháu cũng dễ dàng chẳng phải lo lắng như xưa. Mặc dù ăn uống hai ba ngày, cả họ no say, chỉ có điều người thân vô cùng vất vả… Có lẽ sau này, con cháu chúng ta sẽ không tổ chức cưới xin như ngày nay nữa… mà theo mốt cưới của các nước châu Âu, châu Mỹ mới là tiến bộ văn minh
2.1.2 Việc ma chay
Dưới chế độ phong kiến, ở Hà Vỹ việc tổ chức ma chay thường là: Gia đình nào có người “hấp hối” thì phải lo chuẩn bị việc “hậu sự “ cho người quá cố. Tuỳ theo hoàn cảnh gia đình mà đóng hay mua quan tài, vải liệm, khăn trắng, áo xô, gạo thịt, trầu cau v.v. Khi người ốm đã tắt thở, gia đình phải bàn với họ nội để lo tổ chức lễ tang với các việc như là: khi nào vào quan, cho khăn những ai, từ năm tháng hay ba tháng (việc chở người mất - khăn trắng, khăn vàng, khăn đỏ …đều theo qui định của Thọ Mai Gia Lễ) ... hình thức tổ chức ra sao, chôn cất ở đâu, ai đi đào huyệt, ai làm cỗ v.v. Người chết được quàn ở trong nhà ba ngày để mọi người đến phúng viếng cúng tế.
Nếu người mất là nam từ 50 tuổi trở lên được hưởng chữ “Phúc” viết hai chữ Hán “Công bố” còn dưới 50 tuổi viết hai chữ “Trung tín”, nữ giới khi đã xây dựng gia đình được viết hai chữ “Trinh thuận”, nếu ai không đạt được “Trinh thuận” (lấy hai đời chồng…) thì viết hai chữ “Nghĩa mẫu” hoặc “Nghĩa mẹ” (nay vẫn theo như vậy)
Việc tế lễ gồm có :
- Đại hành (người đại diện cho họ đứng ra)
- Thăng du (chuyển linh cứu lên nhà táng)
- Đạo lộ ( tế giữa đường và ném vàng)
- Thanh phân hậu thờ (người đào mộ chứng kiến cho vong hồn)
- Ngũ lễ (gồm tám ngũ hoặc tại ngũ)
- An sang ( khi công việc đã yên ổn )
Cách đưa đám thường là:
- Đi trước là cờ phướn, câu đối của con cháu
- Sau đó là bộ phận khênh bình hương, tiếp đó là các cụ lão rồi đến phường kèn trống
- Quan tài (do hàng bàn khênh). Khi khênh từ trong nhà ra cổng con cháu phải ngồi quỳ gù để bắc cầu cho linh cữu của bố (hoặc mẹ) đi qua
- Đi trước quan tài là con trai trưởng hoặc cháu đích tôn (nếu con trưởng không còn hoặc đi vắng) chống gậy, (bố gậy tre, mẹ gậy vông) áo xô trắng thắt lưng dây chuối hoặc dây rơm. Khi tới huyệt mọi người giãn ra hai bên để hạ huyệt và tổ chức việc lấp mồ đắp mả
Việc khênh quan tài người chết ra đồng là do từng Giáp đảm nhiệm, trong mỗi Giáp (phe) có các ông Lềnh và ban hàng Bàn (ban chân khiêng) làm nhiệm vụ khiêng rước và chôn cất. Ông Lềnh Cả cầm lệnh đánh làm hiệu lệnh, hàng bàn khiêng quan tài. Có một cụ cao tuổi nhất của Giáp làm nhiệm vụ cầm bó đuốc nắm hương đang cháy đi trước linh cữu cho đến nơi chôn cất
Nhà nghèo thì việc tổ chức đám tang thường đơn giản, Nếu thày dậy học chết thì các môn sinh phải đi đưa đám. Nếu thày dậy thợ chết thì hàng hiệu phải đi đưa đám.
Gia đình có tang thường phải làm cỗ để mời họ hàng nội ngoại khách khứa xa gần, bà con hàng xóm đến ăn, tuỳ theo giầu nghèo hay sang hèn, họ hàng đông hay ít mà ăn to hay ăn nhỏ, cỗ đám ma thường đơn giản hơn cỗ đám cưới nói chung đều theo phong tục địa phương. Sau ba ngày chôn cất, gia đình con cháu phải cúng cơm hàng ngày. Đến 49 ngày (tuần tứ cửu) và 100 ngày con cháu lại phải tổ chức cúng cho người chết và mời họ hàng thân thích đến ăn.
Gia đình có người chết cũng phải thực hiện “lễ nộp ma” cho làng. Nếu người lớn chết thì phải nộp cho Giáp Tư văn, hạng nhất 40 quan tiền, hạng nhì 30 quan, hạng ba 20 quan. Nếu trẻ nhỏ mất cũng phải nộp theo mức hạng nhất 6 đồng, hạng nhì 4 đồng, hạng ba 2 đồng nếu nghèo quá thì làng miễn cho (5)
Ngày nay việc ma chay cũng khác xưa. Gia đình nào có người quá cố phải báo tử cho chính quyền xã biết. Người chết thường không được để quá 24 tiếng trong nhà. Gia đình nội tộc gần, phải họp bàn để phân công cho mọi người trong họ làm những việc cần. Các nghi lễ điếu phúng người quá cố cũng rất trang trọng tôn nghiêm. Suốt từ lúc phát tang cho tới 10 giờ đêm, trước linh cữu người quá cố có nhiều đoàn đến viếng trong tiếng nhạc hiếu rất bi thương. Đám ma cụ nào cũng có vòng hoa của chính quyền địa phương, hội người cao tuổi và các đoàn thể cơ quan đến viếng (nếu con cháu người quá cố là cán bộ cơ quan Nhà nước). Việc tổ chức lễ tang thường do Ban Lễ tang của địa phương lo liệu. Mọi nghi thức tang lễ đều được thống nhất cho tất cả mọi người trong làng, không phân biệt giầu nghèo hay sang hèn. Cũng như trước đây, khênh quan tài đều do ban lềnh (hàng bàn) đảm nhiệm. Quan tài trước đây ban lềnh phải khiêng trên vai, nay đã có xe chở từ cổng nhà ra đến tận huyệt ngày nay con cháu không phải ngồi quì để cho quan tài đi qua như trước nữa . Những cụ mất có tuổi thọ cao từ 70 trở lên, khi đưa đám được nghỉ giữa đường (từ 70 đến 79 nghỉ 1 lần, từ 80 đến 89 nghỉ 2 lần và trên 90 tuổi nghỉ 3 lần). Từ khi Hà Nội có nhà thiêu xác Hoàn Vũ đã có một số gia đình đem người quá cố đi thiêu rồi lấy tro xương đem về xây luôn mả tròn, việc thiêu xác là một sự tiến bộ vì không phải cải táng, lại rất vệ sinh gọn nhẹ, không tốn đất để mả dài, không phiền hà đến họ hàng, tốn kém cho con cháu, việc này nên khuyến khích các gia đình làm theo
Ngày nay cũng do kinh tế khá giả, đời sống được nâng cao nên việc tổ chức ma chay thường rất tốn kém. Đối tượng cho khăn đều mở rộng từ ba tháng trở lên, có gia đình cho khăn không theo qui định như ngày xưa nữa ( tức không theo Thọ Mai Gia Lễ) .
Sau khi đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng, do lời mời của gia đình tang chủ, họ hàng nội ngoại, khách khứa gần xa, gia đình thông gia, bà con hàng xóm, bạn bè thân hữu … thường trở lại gia đình có tang ăn uống để chia buồn với gia đình tang chủ. Cỗ bàn đã được ban “hậu cần” của họ chuẩn bị suốt đêm khá chu đáo từ vài chục đến hàng trăm mâm (tuỳ theo từng gia đình) cũng vô cùng vất vả tốn kém, thiết nghĩ việc ma chay nên giảm bớt thì hơn
2.1.3. Tục trọng xỉ (trọng tuổi)
Trong làng xã, người được trọng vọng nhất là các cụ già. Trong nhà, ngoài đường gập các cụ già phải chào hỏi thưa bẩm tử tế dù là quan tước cấp cao hay Lý trưởng, Chánh tổng cũng vậy
Những buổi cần họp ở chốn đình chung để bàn và giải quyết một số công việc của làng xã như lấy lính, sửa đình xây cầu cống hoặc phạt vạ người nào đó có tội v.v. thì Lý trưởng đều phải cho mõ tới tận nhà các cụ mời. Khi có đình đám hội hè ăn uống, các cụ phải được ngồi “chiếu cao cỗ đầy”. Nếu cụ nào không đi được thì phải sai mõ mang phần đến tận nhà cho các cụ chu đáo. ) Đứng đầu các cụ lão là Trùm trưởng. Trùm trưởng là người cao tuổi nhất và phải có uy tín đối với mọi người trong thôn xóm. Người nào trúng chức ngôi Trùm trưởng người đó phải nộp 10 quan tiền để khao làng. Trong một làng chỉ có một Trùm trưởng, nhưng khi làng cần tiền để chi tiêu vào việc công, thì làng bàn định có thể bán từ 2 đến 4 ngôi Trùm trưởng nữa với số tiền mỗi ngôi là 50 quan. Các ngôi Trùm trưởng này đều được hưởng đầy đủ các quyền lợi như ngôi Trùm trưởng chính
Người 50 tuổi (tuổi mụ) mới được lên lão và phải nộp lễ lên lão, hạng nhất nộp 15 quan, hạng nhì 10 quan, hạng ba 5 quan, ngoài ra còn phải sửa lễ xôi gà ra đình thờ. ở chốn đình chung vị trí chỗ ngồi cũng phân biệt ngôi thứ rất rõ ràng, người cao tuổi hoặc có chức sắc trong làng phải được ngồi chiếu trên
Tục trọng xỉ là một truyền thống lâu đời của nhân dân Hà Vỹ, là đặc điểm của công xã nông thôn còn được lưu truyền mãi về sau. Kính lão là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta, ai nhiều tuổi đều được tôn trọng không phân biệt giầu nghèo sang hèn.
Ngày nay việc trọng xỉ không còn được như xưa nữa, các cháu ra đường gập người nhiều tuổi thường không chào hỏi, dù người đó có họ hàng xa. Thật đáng buồn cho lớp trẻ con cháu chúng ta, tuy có học mà không biết tục trọng xỉ là gì. Các ông bà, cha mẹ, các thày cô giáo cần quan tâm giáo dục các cháu hơn để tục trọng xỉ được duy trì mãi mãi cho các thế hệ mai sau vì đó là nét đẹp văn hoá của quê hương
2.1.4 Mua nhiêu
Dưới thời phong kiến, ở Hà Vỹ, việc mua nhiêu và quan viên rất phổ biến. Mua nhiêu là sự tự nguyện của người dân, ai có tiền đều mua được. Nhưng mua được “chức nhiêu” cũng rất tốn kém. Chỉ có những người giầu có mới mua được. Việc mua nhiêu ở Hà Vỹ vào cuối thế kỷ XIX thường là: Trong làng có ông Lềnh đi vận động những nhà “có máu mặt” và phải là “hiền lành tử tế, ba bốn đời không có dấu vết gì”. Nhiêu cũng có hai loại : Nhiêu hàng thôn và nhiêu hàng xã. Nhiêu hàng thôn thì chỉ khao trong thôn, còn nhiêu hàng xã thì phải khao cả xã tốn kém hơn nhiều. Người được mua nhiêu phải là đàn ông tuổi từ 18 trở lên và phải nộp cho làng 70 quan tiền và phải khao làng ba lần mất 150 mâm cỗ .
Lần thứ nhất gọi là lễ “dập bút” lần này mời các ông nhiêu, Lý trưởng, Phó lý trong làng đến ăn uống ở nhà
Lần thứ hai gọi là “khao” mời dân làng các cụ ông từ 50 tuổi trở lên có cả Lý trưởng, Phó lý các vị chức sắc trong làng ra đình ăn uống linh đình
Lần thứ ba gọi là “vọng” để mời những người có chân sóc vọng, nhiêu hàng thôn, nhiêu hàng xã có cả tân và cựu Lý trưởng, Phó lý cũng ra đình ăn uống
Nhiêu hàng xã tuy rất tốn kém nhưng vẫn có nhiều người mua và cố để mua vì một chức nhiêu ngoài sự hãnh diện “vinh dự “ ra còn được hưởng nhiều quyền lợi như: Miễn các loại phu phen tạp dịch trong thôn xã, được đi ăn uống nhiều ở chốn đình chung trong những lần người khác mua nhiêu. Quyền lợi của ông nhiêu về mặt nào đó cũng ngang với Lý trưởng, Phó lý như việc ăn uống ở đình đều được mõ đi mời tận nhà, được chia phần khi vắng mặt, được mọi người tôn trọng kính nể dù là còn ít tuổi, ngay cả vợ cũng được thơm lây gọi là “bà nhiêu”
Việc mua nhiêu là một sự bầy vẽ của chế độ phong kiến đặt ra nhằm để chè chén ăn uống, một tai hoạ trong xã hội phong kiến, tuy làng có được một ít tiền để làm việc công như sửa đình, xây cống, lát đường …nhưng là một gánh nặng của người dân lao động. Chức “nhiêu” thời phong kiến được dân làng gọi gắn với tên và tồn tại mãi cho đến ngày nay.
Phong tục tập quán của Hà Vỹ còn biểu hiện trong cách bố trí chỗ ngồi ở chốn đình chung. Đó là cách chia đặt ra tổ chức :
- Nóc hàng xã
- Nóc hàng thôn, và
- Nóc hàng giáp
Hàng năm có một bữa ăn ở đình vào ngày 3 tháng 3 âm lịch (ÂL) gọi là lễ Vân Can. Ngày đó, đối tượng được ăn là các ông nhiêu hàng xã và các tân cựu Lý trưởng, Phó lý. Nóc hàng xã tuy phần nhiều là những người trong bộ máy chính quyền thôn xã nhưng về ngôi thứ vẫn phải tôn trọng theo lệ làng. Ai là người nhiều tuổi nhất vẫn được ngồi mâm trên cỗ đầy. Trong ngôi đình kể cả khi ăn uống hay họp bàn thì vẫn phải tôn trọng qui định “cứ vai vế mà ngồi”. Nóc hàng thôn tập trung ở ngôi đình làng, hàng năm làm một bữa ăn vào rằm tháng Tám (15/8 ÂL)
Trong nóc hàng thôn chia chỗ ngồi trong đình theo góc đình, thôn nào ở góc đình nào thì thôn đó được ngồi ở góc đình đó. Chẳng hạn thôn Đại Vỹ ngồi góc đình phía Bắc, thôn Giao Tác ngồi góc đình phía Nam …
Trong nóc hàng thôn tuy ngồi trong nửa ngôi đình hoặc ngồi ghé nhưng vẫn phải theo thứ tự qui định: Nhiều tuổi ngồi trên ít tuổi ngồi dưới
Nóc hàng Giáp. Khi ăn uống họp hành đều tiến hành ở đình làng có thể nói nóc hàng Giáp sử dụng ngôi đình làng thường xuyên
Giáp chia theo dòng họ, một giáp có thể có hai, ba dòng họ và ở hai hoặc cả ba thôn tham gia
Giáp Rào Thịnh (thôn Giao Tác) có một số gia đình họ Đỗ chuyển cư từ Giao Tác sang Châu Phong ở đã nhiều đời, nhưng mỗi khi Giáp có công việc thì những gia đình họ Đỗ đó vẫn phải trở về Giáp mình ở Giao Tác gánh vác
Cả làng có sáu Giáp: Trong đó thôn Đại Vỹ có ba giáp, Giao Tác có hai giáp còn Châu Phong chỉ có một giáp vì Châu Phong có nhiều người tham gia các giáp của Đại Vỹ và Giao Tác
Kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay việc mua nhiêu, mua quan viên đã không còn nữa vì đó là những hủ tục chẳng tốt đẹp gì của chế độ phong kiến đặt ra. Việc bãi bỏ các hủ tục là một sự tiến bộ của làng quê tránh được sự tốn kém gánh nặng cho dân.
2.1.5 Tín ngưỡng
Lòng tin vào tôn giáo tạo ra sức mạnh vô hình đã chi
phối tâm hồn tư tưởng của con người. Ngoài tôn giáo còn có tục thờ cúng tổ tiên, thờ các vị Thành hoàng, thờ các vị có công với làng hay dậy học truyền nghề ...
a) Thờ cúng tổ tiên.
Đây là phong tục cổ truyền của người Việt Nam. Việc thờ cúng là biểu hiện lòng hiếu thảo của đạo làm con làm cháu đối với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qua đời. Đây là việc làm có ý thức của nhân dân Hà Vỹ đối với tổ tông sinh thành và nuôi dưỡng con cháu, là hiện tượng phổ biến trong làng xã Hà Vỹ vẫn còn in đậm và tồn tại cho tới ngày nay. Việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống dân tộc” có lịch sử lâu đời truyền từ đời này đến đời khác ở nước ta, nó còn là một đạo lý làm người “uống nước nhớ nguồn, ăn qủa nhớ người trồng cây”…
b) Giỗ họ.
Hàng năm các họ đều có tổ chức ngày giỗ Tổ họ hoặc Tổ chi (khi phân chi có nhà thờ riêng). Giỗ được tổ chức tại nhà thờ họ. Ông trưởng họ đứng ra làm cỗ vì ông trưởng họ được cấy số ruộng họ, phần hoa lợi lấy ra dùng để chi phí đèn hương và cỗ bàn trong ngày giỗ tết. Số ruộng đất dùng để chi phí hương hoả không được bán hoặc chuyển nhượng cho ai. Ngày giỗ tổ chỉ có các con cháu của các cụ trong chi và phân chi được đến ăn họ. Trong những ngày như vậy họ có thể mời phường hát về “phục vụ” cho vui. Ngày giỗ họ là một ngày họp mặt đông đủ các con cháu trong họ, các cụ nhiều tuổi thường kể cho con cháu nghe những thành tích hoặc truyền thống tốt đẹp của họ mình, ông trưởng họ có thể nhắc lại những điều chúc thư của ông Tổ căn dặn con cháu làm những điều tốt cho làng cho nước để giáo dục các thế hệ con cháu cần học tập noi theo
Ngày nay các họ ở Hà Vỹ vẫn cúng giỗ Tổ họ (hay Tổ chi) như trước đây, giỗ vẫn được tổ chức tại nhà thờ họ, nhưng kinh phí để làm giỗ họ là do các thành viên tham gia ăn họ đóng góp (vì ruộng đất của họ không còn)
c) Giỗ hậu.
Những người không có con trai hoặc không có ai cúng giỗ thì làng cúng giỗ cho. Những người ấy khi sống, họ đã để một số ruộng đất cho các nơi họ định nhờ cúng giỗ sau khi chết. Nếu nhờ Chùa thì sư cúng, nếu nhờ họ thì trưởng họ cúng nếu nhờ ngõ thì trưởng ngõ cúng nếu nhờ đình (thường là những người có chức sắc và giầu có) thì làng cúng . Ngày nay giỗ hậu không ai cúng nữa vì không ai có ruộng cung tiến cho họ, cho ngõ, cho làng, hay đình chùa như trước
2.2. Lễ Hội
Ở đình làng Hà Vỹ trước đây hàng năm thường tổ chức Lễ Hội từ ngày 12 đến ngày 30 tháng Giêng. Theo lệ từ ngày 1 Tết Nguyên đán, cụ thủ Điện làm lễ động thổ ở đình. Ngày 10 tháng Giêng, các ông chạ làm lễ mộc dục (rửa đồ thờ)
Ngày 12 bắt đầu Lễ Hội. Xa xưa khi Châu Phong chưa làm nghè thì sáng sớm ngày hôm đó mọi thành viên tham gia Lễ Hội phải sang tập trung ở đình làng để cùng hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác tổ chức Lễ Hội. Sau năm 1917 khi Châu Phong có nghè thì sáng hôm 12, Châu Phong tổ chức rước kiệu trên có bát hương sang đình. Khi kiệu sang đến sân đình thì hai ông thủ Điện, thủ Bạ ở đình nhận bát hương rồi đặt lên hương án trong đình. Sau đó các quan viên kỳ mục trong làng làm lễ nhập tịch bằng cỗ xôi gà. Lễ xong thì tổ chức rước Thần ra Cầu Đê theo qui định: Thôn Châu Phong rước Thần, thôn Đại Vỹ rước Văn còn thôn Giao Tác rước Mã. Cũng ngày 12 tháng Giêng làng làm lễ lên lão cho những người đến tuổi 50 (tuổi mụ)
Từ ngày 13 đến ngày 29, hàng ngày đều có tế lễ với lễ vật được qui định và phân cho các Giáp phải làm. Trong những ngày đó đều có các chầu hát (hát chầu văn, ca trù…) phục vụ các cụ bô lão, các vị chức sắc và quan viên của làng ăn uống tại đình rất tốn kém.
Ngày 30 mãn tịch đóng cửa đình. Châu Phong lại rước kiệu trên đặt nồi hương khi rước sang về nghè và thường tổ chức hội tiếp đến ngày mồng 6 tháng Hai mới hết
Ngoài kỳ hội chính còn có các ngày lễ (theo âm lịch) sau đây:
- Giỗ các vị Thánh vào các ngày 10 tháng Tư (giỗ Tam Giang), 10 tháng Bẩy (giỗ Thuỷ Hải và Đăng Giang), 12 tháng Chín (giỗ Khổng Chúng) và 10 tháng Một - tháng 11 (giỗ Đông Hải)
- Xuân tế và Thu tế vào ngày 13 tháng Hai và tháng Tám tế tại Văn Chỉ của làng để cầu mong cho làng có nhiều người đỗ đạt
- Thanh minh (mồng 3 tháng Ba) do các Giáp làm, cỗ có xôi và bánh chay
- Trung thu (rằm tháng Tám) cũng do các Giáp biện lễ như lễ Xuân tế
Để lo liệu mọi công việc trong những ngày Lễ Hội,
làng phải cử Cai đám từ phe giáp các thôn. Cai đám lấy từ tuổi 49 là những người khoẻ mạnh không dị tật không tang chở … Cai đám phải ăn ở tại đình trong những ngày Lễ Hội.
Ngày Lễ Hội ở đình Hà Vỹ thường rất vui, ngoài tế lễ hát chầu văn, ca trù còn có hát tuồng (thường do đoàn tuồng cổ của Châu Phong diễn), chọi gà, cướp chài, đấu vật… có năm còn đốt pháo bông. Trong những ngày hội hè người dân thường nghỉ công việc đồng áng mà đi xem hội, nhiều người còn chơi cờ bạc (tổ tôm, sóc đĩa, thò lò, tam cúc…) cả làng ăn uống lu bù.... tốn kém. Vì thế dân ta thường có câu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi…”. Cũng vì lệ làng mà “đứng mất ngôi, ngồi mất nghiệp” nên nhiều người đã phải bỏ quê hương “tha phương cầu thực” để khỏi phải gánh vác ngôi thứ việc làng.
Trong ngày Hội còn có một nghi thức độc đáo là đọc Mục Lục vào ngày 14 tháng Giêng. Bản Mục lục của đình làng Hà Vỹ làm vào thời hậu Lê (thế kỷ XVI)
Để mọi người biết được toàn văn bản Mục lục của đình làng, xin in ra đây bản Mục lục (đánh máy vi tính lại) bằng chữ Hán và chữ Nôm cùng bản dịch và phiên âm của tác giả từ bản chép tay của gia đình cụ Đỗ Duy Lục thôn Giao Tác còn giữ được
Bản mục lục này là một áng văn tuyệt tác nói về quê hương Hà Vỹ một thời rực rỡ, đồng thời là những lời giáo huấn của ông cha để lại cho con cháu muôn đời về đạo lý làm người. Tuy đã mấy trăm năm rồi nhưng ngồi ngẫm lại mới thấy những lời dậy bảo của cha ông thật là thâm thuý, nó vẫn còn giữ nguyên giá trị, nhất là trong thời buổi hội nhập và kinh tế thị trường này - đạo đức có phần coi nhẹ, thật đáng lo ngại. Rất mong các cấp chính quyền, ông bà cha mẹ, các bậc bề trên, các thày cô giáo … hãy quan tâm giáo dục các thế hệ con cháu chúng ta và phải có biện pháp cứng rắn ngăn chặn kịp thời nhưng trước hết mình phải là người gương mẫu.
BẢN “MỤC LỤC “ Ở ĐÌNH HÀ VỸ
Bản dịch và phiên âm Hán - Việt
Bản Xã “Mục lục”
Hoàng Thượng vạn vạn niên
Thánh Chúa vạn vạn tuế.
Vua tôi mừng hội hợp long vân,
Trên dưới thoả duyên lành ngư thuỷ.
Bể trầm tăm ngạc, sân hạ vầy, ngọc bạch rẫy tuôn,
Rừng tắt khói lan, kho Chu thấy, can qua xếp để,
Dân Nghiêu Thuấn xem tầy
Thói Đường Ngu khá ví.
Gió êm mưa giặt, muôn dân điều phúc hưởng thái bình,
Nhà đủ người no, tám cõi khắp ca dâng Thạng Thuỵ.
***
Mừng nay giữa huyện Đông Ngàn,
Đội Một xã trong Hà Vỹ,
Phong cương ổn đã xiêu quần,
Hình thế đương nên thắng địa,
Mái tả có rồng xanh cuốn khúc, nước cuồn cuộn nghìn tầm ,
Biên hữu thêm hùm trắng trương vây, núi đùn đùn muôn trĩ,
Trâu đen phù mái ất lạ nhường,
Sẻ đỏ trấn phương Tân ỷ dị,
Đất thực cấu thanh linh,
Tài giỏi sinh tuấn vỹ.
Nghề văn học cha truyền con nối, nghiệp hằng thìn mã sử lân kinh.
Đám khoa danh anh trước em sau, đời rõi thấy Hàn, Đồng, Đậu quế.
Bề sĩ tử khá khen,
Đường nông phu siết kể,
Nghiệp công lưu, nghề hậu tắc, ruộng nương làm khẩn khẩn cần cần,
Sương Hán Đế, đụn Đường Hoàng, thóc tiền chứa trần trần luỹ luỹ.
Nghề khéo léo chẳng nhặt mỏ tơ,
Đường công tiện nào sai mũi chỉ.
Dây Li Lâu khéo đặt so tày, Chu Đại Lục Công.
Phép quản thị xoay vần xá kể, Hán Triều tam tỷ (tử).
Bốn dân nghiệp đã an nhàn,
Một đám đoàn vầy vui vẻ.
Xướng ca noi lề cũ, kính sự thần minh,
Phép tắc dùng nhời nghiêm khuyên răn cả bé.
Tế tự lấy lòng tin làm trước, chớ còn vin thói huyên hoa,
Khởi cư giữ chữ kính làm đầu, chẳng được ra bề ngạo nghễ.
Gái trai giữ chữ trung trinh,
Trên dưới thời lòng lễ nghĩa.
Miệng đọc chữ “Thượng hoà hạ mục”, chớ lấy bàn dưới mà lấn bàn trên,
Phép hằng thời thiếu, hậu trường tiên, chớ cậy tuổi già mà khinh tuổi trẻ.
Khảo quan tu mực nẩy cân cầm, tế đám chớ áo chày vai trễ.
Khảo quan tu miệng giữ như bình, hoà làng cùng lòng khoan tựa bể
Đào nương lấy thanh âm làm trước, chớ còn theo thói phồn hoa,
Quản giáp tu nghề nghiệp làm xưa, chẳng được ra bề sống xỉ.
Vậy mới nên chúc Thánh một trường,
Vậy mới cẩn thờ Thần tám lễ,
Nhời răn nhiều ít, trên dưới cùng giữ trọn xưa sau.
Phúc hưởng dài lâu, già trẻ thoả vui vầy phú quí.
Nay ước !
2.3. Văn hoá giáo dục
2.3.1. Nho học
Nho học được truyền bá vào nước ta rất sớm, mạnh nhất là thời Sĩ Nhiếp (187-226). Làng Hà Vỹ thuộc huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc (một thời gian gần 700 năm) là nơi có “một đống ông Đồ, một bồ Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”. Truyền thống hiếu học, khoa bảng đó thế nào cũng có tác động đến việc học tập của con em Hà Vỹ. Trong các khoa thi thời Phong kiến, Hà Vỹ cũng có những vị đỗ Thám hoa như Đỗ Túc Khiêm, Hoàng Giáp như Ngô Tòng Củ, Tiến sĩ như Đỗ Túc Khang, Nguyễn Trác... Đặc biệt theo giả phả họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác có gia đình cụ Đỗ Hoan (con của Đỗ Tử Lỗi ) đã sinh được năm người con trai thì bốn con đều đỗ Đại khoa một con là “Phục tướng quân” dưới thời hậu Lê, đó là :
1. Đỗ Túc Khang (con trưởng) đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ năm Bính Thìn (1496) thường gọi là Nghè Rào, làm quan đến chức Thừa chính sứ (có khắc tên trên bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội)
2. Đỗ Viên Nghị (con thứ 2) là một vị tướng nhà Lê, được Vua phong tước là “ Phục tướng quân bắc quản đô đốc, chánh quản thần vũ vệ xuyên đình quang hầu” hiện nay con cháu cụ ở Bồng Sơn, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá (quê gốc của cụ nội Đỗ Chấn)
3. Đỗ Đại Uyên con thứ 3 đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Mùi (1499) thường gọi là Nghè Me (cụ sinh và lớn lên đi học ở Giao Tác (Quậy Rào) nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở quê vợ - làng Me thuộc xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
4. Đỗ Túc Khiêm con thứ 4 đỗ Thám Hoa (trên Tiến sĩ) năm Kỷ Mùi (1499 đỗ cùng năm với Đỗ Đại Uyên) cụ sinh và lớn lên đi học ở Giao Tác nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở Thư Trì, Thái Bình, hiện nay con cháu cụ sinh sống ở Mỹ Đình, Phú Mỹ, Từ Liêm, Hà Nội
5. Đỗ Danh (Đỗ Vinh) - con thứ 5 - đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn (1508) làm quan Thượng Thư đời Lê, cụ sinh trưởng và đi học ở Giao Tác nhưng khi đỗ Tiến sĩ lại về vinh qui ở Thư trì Thái Bình hiện nay con cháu của cụ ở làng Tức Mạc xã Lộc Vượng, Nam Định.
Trong bản Mục Lục ở đình làng có những câu:
“Bề văn học cha truyền con nối
Nghiệp hằng thìn mã sử lân kinh
Đám khoa danh anh trước em sau
Đời dõi thấy Hàn, Đồng, Đậu, quế ”
Để ca ngợi gia đình cụ Đỗ Hoan có thể sánh với mấy gia đình họ Đậu, họ Đồng và họ Hàn bên Trung Quốc (ba gia đình này cũng có 5 con trai đỗ Tiến sĩ)
Ở nhà thờ họ Đỗ Đại tôn (nhà ông Đỗ Văn Nghiệp thôn Giao Tác) có câu đối còn ghi: “Thời Trung đại cửu tử bát đồng triều” nghĩa là thời Trung đại họ Đỗ có gia đình sinh được chín người con trai thì có tới tám người con đỗ đạt được ra làm quan cùng một triều đại (đó là con của Giám sinh Đỗ Túc Độ )
Khi đạo Nho thịnh hành ở nước ta, nhà Vua dựng Văn miếu thì các địa phương cũng xây Văn chỉ để thờ Đức Khổng Tử, các nho sinh của Hà Vỹ cũng xây Văn chỉ ngay ở cạnh đình để thờ đức Khổng Tử và ghi tên những người đỗ đạt của làng. (Văn chỉ xưa đặt ở cạnh sân trường Mẫu giáo thôn Đại Vỹ ngày nay). Trong suốt chặng đường 843 năm cử nghiệp Hán học, Hà Vỹ có 84 người đã đỗ từ Tú tài đến Thám hoa trong đó có 1 Thám hoa và 5 Tiến sĩ đó là không kể Tiến sĩ Ngô Chấp Chung quê gốc ở Đại Vỹ, trú quán ở Hà Lỗ, Tiến sĩ Đồng Nhân Phái sinh ở Thiết Úng là con nuôi cụ Đỗ Túc Khang được bố nuôi cho ăn học ở Giao Tác
2.3.2. Đạo Phật
Đạo Phật thâm nhập vào vùng Kinh Bắc từ thế kỷ thứ VI. Đạo Phật có hai dòng: Dòng Nam Phương và dòng Quan Bích. Chùa Quậy theo dòng Quan Bích. Dòng này do Vô Ngôn Thông Thiền sư đưa vào chùa Kiến sơ (Phù Đổng) đầu thế kỷ thứ IX được nhà sư Cẩm Thành quê ở Tiên Du trụ trì, tại đây tiếp nhận. Hai dòng thiền Nam Phương và Quan Bích là cơ sở chủ yếu của Phật giáo nước ta, sau này góp phần đào tạo nhiều cao tăng danh tiếng
Ở triều Lý, Trần, đạo Phật rất thịnh hành. Chùa chiền phần lớn do vua quan quý tộc lập ra, chùa nào cũng rất đông tăng ni phật tử. Chùa Trùng Quang ở Tiên Du học trò có tới hàng ngàn người. ở triều Lý, Trần, Phật giáo chính là Quốc giáo của nước Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông và Trần Nhân Tông là hai vị Vua rất mộ đạo Phật, các vị đã từ bỏ ngai vàng nơi giầu sang phú quí để đi tu. Chính Lý Thánh Tông là người sáng lập ra dòng Thảo Đường (dòng thứ ba của đạo Phật Việt Nam) còn Trần Nhân Tông là vị Thuỷ tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. ở vùng Kinh Bắc thời Lý, Trần, chùa chiền xây dựng khắp nơi, hầu như làng nào cũng có chùa, nhiều người đi tu đắc đạo am tường đạo Phật.
Theo Gia phả họ Phạm Quí Công (Phạm Xuân) ở thôn Châu Phong có cụ Phạm Quí Công (tôn là Tổ họ) hiệu Phúc Khê là người đạt tới đỉnh cao của đạo Phật được Nhà Vua phong tước là Tả Quốc sư Ngự Sử Đài, Thái bảo yến Quận Công, khi về hưu được Vua ban là Vinh lộc Đại trượng phu, mộ ngài vẫn còn ở nhà thờ họ Phạm mới xây ở Châu Phong. Năm 2004 mộ cụ Phạm Quí Công được con cháu họ Phạm xây lại và khắc bia cùng với nhà thờ mới. Đến đầu thế kỷ thứ XIX hậu duệ của cụ Phạm Quí Công (khoảng đời thứ 19) chính là Phạm Quí Dận (thường gọi là Sư Lã), cụ đã đứng ra tổ chức xây chùa Chốn tổ Đại Bi ở đồng Rùa (đầu thôn Đại Vỹ) và chính cụ Sư Lã cũng đã chủ trì xây dựng lại đình làng Hà Vỹ năm Canh Tý 1900 đến nay vẫn còn và được Bộ Văn hoá nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá
2.3.3 Văn học dân gian.
Trong suốt quá trình lịch sử, trải qua hàng ngàn năm, từ trang Hà Hào đến làng Hà Vỹ đời nối đời, con người vẫn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay. Cũng như các làng quê khác, người dân Hà Hào - Hã Vỹ trong khi lao động sản xuất vui chơi họ đã “sáng tác” được nhiều câu ca dao hò vè, ví von còn truyền lại mà nhiều người có tuổi bây giờ vẫn thuộc
Để nêu đặc điểm của từng cánh đồng, từng khu vực đã xuất hiện các câu như “Cua bờ Cái, gái bên Sau” (để chỉ cua bờ Cái béo, gái bên Sau - Châu Phong - đẹp) “Cau bên Rào, ao bên Quậy”…hoặc “một mẫu đồng Rào không bằng một sào đồng Quậy” “Mạ đồng Tróc, thóc đồng Kênh” v.v
Để chỉ những người có nhiều tiền, nhiều ruộng, hay làm, ở Giao Tác còn truyền lại câu “ Lắm tiền cụ Vượng,
lắm ruộng cụ Hàm, hay làm cụ Mật (cụ Cót)…”
Chợ Sa ở Cổ Loa họp vào ngày mồng Sáu hàng tháng, là chợ của “quê cha đất tổ” không được bỏ chợ Sa, các cụ thường truyền lại câu:
“Về nhà bảo con bảo cháu
Chớ bỏ mồng Sáu chợ Sa”
Làng Quậy có nghề thợ mộc, con trai làng lại có tay nghề rất khéo, cô nào lấy được chồng biết làm nghề thợ mộc giỏi thường rất hài lòng mãn nguyện, họ biểu lộ niềm vui bằng các câu:
Lấy chồng thợ mộc sướng sao,
Mạt cưa rấm lửa phon bào nấu cơm,
Phon bào lại nỏ hơn rơm,
Mạt cưa rấm lửa thơm hơn hương trầm.
Hình ảnh các chàng trai thợ mộc ở làng Quậy khi đi làm thợ nơi xa thường phải vác đục xách bào cũng là mơ ước của bao cô gái các làng lân cận, họ muốn làm quen:
Hỡi anh làm thợ nơi nao,
Để em vác đục xách bào tiễn đưa.
Giao Tác có nghề thợ mộc giỏi thường dễ lấy vợ đẹp, nên con gái Châu Phong hay lấy chồng Giao Tác, vì vậy các chàng trai Châu Phong đã “sáng tác” các câu:
Nước giếng Châu Phong vừa trong vừa mát,
Đường Châu Phong lắm cát dễ đi,
Ai về Giao Tác làm chi,
Nước giếng thì đục đường đi thì lầy.
Để nhắn nhủ các cô gái Châu Phong “đừng có dại” lấy chồng Giao Tác
Thợ nề ở Hà Vỹ cũng rất khéo tay lại hết lòng vì tình
yêu đôi lứa, để được yêu, có lẽ họ đã sáng tác ra các câu
hứa hẹn sau đây:
ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây,
Xây dọc anh lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân …
Gạch Bát Tràng nổi tiếng khi xưa cũng ở Đông Ngàn chẳng xa làng ta là mấy, vì tình yêu, anh thợ nề làng Quậy chắc là mua được, vì làm nghề thợ nề lại khéo tay nên anh có thể “xây dọc” “xây ngang” “xây hồ bán nguyệt” rất dễ dàng chứ đi thuê thì phiền mà tốn lắm.
Tuy nhiên ở Hà Vỹ ngoài thợ mộc, thợ nề, còn có cả thợ lò nhưng thợ nề thợ lò vất vả, khi làm lại bẩn hơn, vì vậy có những câu chê các cô gái lấy chồng thợ nề, thợ lò như:
Vô duyên lấy phải thợ nề,
Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm , hoặc:
Vô duyên lấy phải thợ lò,
Vầy đất, vầy cát, vầy tro cả ngày v.v.
Vì Hà Vỹ ở vùng đất khoa bảng “Dốt Đông Ngàn còn hơn sang (ngoan) nơi khác” nên số người theo học chữ Nho (Hán- Nôm) cũng nhiều, trong đó cũng có người đỗ đạt rất cao được Triều đình trọng dụng. Hẳn hình ảnh “vinh qui bái tổ” của các vị Tiến sĩ, ông Nghè ngày xưa đã gây ấn tượng mơ ước của bao cô gái trong làng muốn lấy chồng theo học chữ Nho để sau này chồng được vinh hiển làm quan, mình cũng được “võng anh đi trước, võng nàng theo sau” mà không muốn lấy những anh chồng nhà giầu nhưng vô học, nên có những câu:
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên ông Đồ.
Lấy chồng rồi, người vợ trẻ còn “sáng tác” ra những câu ca dao để phê phán chê bai những anh chàng không chịu “dùi mài kinh sử” chỉ thích giong chơi, học chỉ là hình thức như:
Ngày thì cắp sách đi giong
Tối về lại thắp đèn trong đèn ngoài.
Quan niệm của các cô vợ ngày xưa đã đi học thì phải siêng năng, chăm chỉ để học giỏi thành tài như thế mới có tương lai, còn không thì nên về đi cày làm ruộng để có cái nghề trong tay còn hơn :
Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong v.v.
Hà Vỹ trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh là quê hương quan họ nên ít nhiều cũng ảnh hưởng những lời ca tiếng hát của quan họ Bắc Ninh. Dưới thời phong kiến, vào những đêm gió mát trăng thanh, mùa thu tháng 8, nhân khi nhàn rỗi (do lúa đang lên đòng) trai gái thường tụ tập tổ chức hát ví hoặc hát trống quân giữa ngõ này với ngõ khác, giữa làng này với làng khác rất vui, trong bài hát có những câu mang dáng rấp của làn quan họ Bắc Ninh như là:
Còn duyên yếm thắm dải đào,
Hết duyên yếm rách dải nào cũng vơ,
Còn duyên kén những trai tơ,
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng…
Trên đây chỉ là một số câu được các cụ truyền lại mà tôi biết, nếu chịu khó sưu tầm chắc còn phong phú hơn nhiều.
(1) Trước khi xây đình, dân làng Quậy đã làm một cái miếu (hoặc đền) để thờ ba vị Thánh của làng và gọi là miếu (hoặc đền) thờ Thành Hoàng để che mắt bọn xâm lược Phương Bắc phá huỷ vì ba vị Thành Hoàng đó đều là ba vị tướng của hai bà Trưng đánh quân xâm lược
(2) Đình hiện nay xây dựng năm Canh Tý (1900) do Pháp sư Phạm Quí Dận (Sư Lã) người họ Phạm Quí Công (Phạm Xuân) thôn Châu Phong chủ trì xây dựng (làm sau chùa Chốn tổ Đại Bi - chùa cũ nay không còn)
(3)Theo Thần tích ở đình Hà Vỹ (làm năm Vĩnh Hựu thứ 6 -1740) do cụ Đỗ Duy Lục thôn Giao Tác dịch tử bản chữ Hán
(4)Thờ vọng là: Dùng một nồi hương mới rồi lấy một ít cát và chân hương ở nồi hương của đình mang về nghè thờ. Ngày Lễ Hội (12 tháng Giêng) Châu Phong đưa nồi hương đó lên kiệu, rồi rước sang đình, hết Lễ Hội lại rước về nghè (vọng nghiã là hướng về)