2. ÁC Ý!
Tối hôm đó, thím Mathilda kể lại với chú Titus về nhà khoa học đã đến từ sương mù rồi chết trong kho bãi đồ linh tinh. Thím nói rất ít về Hội Spicer, nhưng khi Hannibal đề cập đến chỗ đó, thím nhanh chóng chuyển sang đề tài khác. Ý nghĩ về thí nghiệm di truyền rõ ràng làm thím lo sợ. Nhưng thím không được cơ may quên đi hẳn Hội Spicer, bởi vì khi những ngày xuân trời xám xịt lạnh lẽo trôi qua, cơ quan nghiên cứu khoa học lại được lên báo rất thường xuyên.
Thứ nhất là những bài tường thuật về cái chết của tiến sĩ Karl Birkensteen. Đúng như bác sĩ ở bệnh viện đã nghĩ, Birkensteen chết vì chứng đột quị. Có những bài vắn tắt về công trình nghiên cứu di truyền học của ông, rồi bài báo kết luận với thông tin rằng thi thể tiến sĩ sẽ được chở lên miền Đông để chôn cất.
Chưa đầy một tuần sau, Hội Spicer lại dính đến một phát hiện sửng sốt. Dân làm báo lại đổ xô đến thành phố nhỏ Citrus Grove để tường thuật về sự kiện. Một nhà khảo cổ học tên là James Brandon, một khoa học gia sống thường trực tại hội để làm việc, đã phát hiện xương của một sinh thể tiền sử trong một hang động ngoại ô thành phố.
- Một vụ bí ẩn tuyệt vời! Hannibal thốt lên.
Đang là buổi chiều tháng Năm. Hannibal, Bob và Peter đang ở trong xe lán cũ là bộ tham mưu của nhóm thám tử được thành lập cũng khá lâu rồi. Hannibal trải tờ báo trên bàn. Bob Andy sắp xếp lại hồ sơ, còn Peter Crench đang lau chùi thiết bị trong phòng thí nghiệm nhỏ xíu do ba bạn tự trang bị.
Peter nhìn lên.
- Bí ẩn gì? Peter hỏi.
- Con người tiền sử ở Citrus Crove, Hannibal trả lời. Có phải là người thật không? cổ xưa bao nhiêu năm? James Brandon, nhà khảo cổ học đã tìm thấy nó, gọi nó là thuộc họ người. Có thể có nghĩa là người, hoặc có thể có nghĩa là một động vật giống người. Có phải là tiền nhân, hay cái gì đó khác không?
- James Brandon sẽ lên truyền hình chiều nay, Bob nói.
Mình nghe mấy đứa bạn nói về chuyện này khi ăn sáng. James Brandon sẽ là khách mời của Chương trình Bob Engel, đúng năm giờ chiều.
Peter lau mặt quầy phòng thí nghiệm.
- Muốn xem hả? Peter hỏi.
- Tất nhiên là rất muốn xem, Hannibal trả lời.
Có một truyền hình trắng đen nhỏ trên kệ sách gần bàn của Hannibal. Chú Titus đã mua được trong một chuyến thu gom hàng. Truyền hình không còn xem được nữa khi về đến kho bãi đồ linh tinh. Nhưng Hannibal sửa chữa các thứ rất khéo léo, rồi lắp tại bộ tham mưu. Truyền hình đang sáng lên. Ba Thám Tử Trẻ nhìn thấy Bob Engel, người dẫn chương trình, mỉm cười.
- Vị khách đầu tiên hôm nay của ta là tiến sĩ James Brandon, Engel nói. Người đã tìm thấy hài cốt hóa thạch của một người tiền sử trong một hang động ngay tại miền nam Californie.
Camera thụt lùi, và ba thám tử thấy một người đàn ông cao và vạm vỡ với mái tóc vàng cắt sát. Gần ông là một người đàn ông thấp hơn, bụng phệ mặc áo sơmi cao bồi, đeo thắt lưng bản rộng với khóa trang trí, và đi ủng cao gót.
- Hôm nay đi cùng tiến sĩ James Brandon có ông Newt MacFee. Ông MacFee là thương gia tại Citrus Grove, và ông là chủ khu đất nơi người tiền sử được tìm thấy.
- Chí phải! người đàn ông mập nói. Chính MacFee đấy: Mac giống như mắc tiền quá. Còn Fee là phí, tức những gì quý vị phải trả. Xin đừng quên cái tên này, bởi vì từ nay, quý vị sẽ được nghe đến cái tên ấy rất nhiều.
Bob Engel mỉm cười gượng, rồi chuyển sự chú ý sang vị khách kia.
- Thôi, bây giờ xin tiến sĩ Brandon kể lại cho quý khán giả nghe vắn tắt, về việc phát hiện hóa thạch?
Người đàn ông tóc vàng ngồi thẳng hơn trên ghế.
- Tôi tìm thấy hài cốt hóa thạch do sự tình cờ thuần túy, - ông nói. Cách đây khoảng một tuần, tôi ra ngoài đi dạo, ngay sau khi trời mưa tạnh, và tôi để ý có một chỗ lở đất nhỏ trên ngọn đồi phía trên bãi cỏ của Newt MacFee. Một phần dốc đã trượt đi mất, và có lỗ hở bên hông đồi. Khi đến gần hơn, tôi nhìn thấy một cái hang, với cái sọ bên trong. Sọ gần như bị chôn trong lớp bùn dưới nền hang. Thoạt đầu tôi không biết tôi đang có gì trước mắt nên...
- Anh bạn ơi, anh không có gì cả, người đàn ông ngồi cạnh James Brandon ngắt lời. Tôi mới là người có nó đây!
James Brandon làm như không nghe gì cả.
- Tôi trở về nhà Hội Spicer kiếm đèn pin, tiến sĩ nói tiếp.
- Rồi khi ông ấy trở ra cánh đồng của tôi, thì tôi đang chờ với một cây súng, MacFee nói. Cứ thử đi qua đất nhà tôi, sẽ biết!
James Brandon hít thở thật sâu. Tiến sĩ có vẻ như khó tự kiềm chế.
- Tôi trình bày về những gì đã nhìn thấy, tiến sĩ nói. Chúng tôi nhìn kỹ hơn, và tôi biết chắc đó là cái sọ!
- Một cái sọ rất cổ xưa! MacFee kêu lên. Có ở đó cũng mấy ngàn năm rồi.
- Cùng với cái sọ, tiến sĩ James Brandon nói, có phần lớn hài cốt còn lại. Tôi chưa được nghiên cứu, nhưng có rất nhiều điểm giống nhau với các hóa thạch rất cổ xưa được tìm thấy ở châu Phi.
- Thế có phải là người không? Engel hỏi.
Tiến sĩ James Brandon chau mày.
- Làm sao mà nói được chính xác khi nào thì một sinh thể là người? Có các đặc điểm động vật họ người rõ ràng, nhưng ta không thể thừa nhận đó là một người hiện đại. Tôi gần như chắc chắn nó cổ xưa hơn bất kỳ sinh thể họ người nào từng được tìm thấy ở châu Mỹ.
Tiến sĩ James Brandon cúi ra phía trước, giọng nói hăng hái hơn.
- Có một giả thuyết cho rằng người Mỹ Da Đỏ là con cháu của dân săn bắn Mông cổ đã di cư từ Siberie sang Alaska vào thời kỳ băng hà. Đó là cách đây khoảng tám ngàn năm về trước, vào một thời có quá nhiều nước đại dương đóng băng đến nỗi mực nước biển khá thấp. Đáy đại dương ở eo biển giữa Siberie và Alaska trội lên, nên các bộ lạc châu Á chỉ cần đi bộ từ châu này sang châu kia, khi đi theo thú săn sang Tân Thế Giới. Theo giả thuyết này họ đã tản ra và định cư ở nhiều chỗ, có một số cứ đi tiếp cho đến mút Nam Mỹ.
Đó là giả thuyết được thừa nhận, giả thuyết được tìm thấy trong hầu hết các sách giáo khoa. Nhưng thỉnh thoảng người ta lại đột nhiên đưa ra một cách giải thích khác. Một trong những người đột phá ấy cho rằng con người đã sống trên châu lục này rất lâu trước cái thời mà ta giả thiết rằng dân di cư đã băng qua cái cầu đất kia. Thậm chí có vài người hô hào rằng con người ngày nay thật ra có nguồn gốc từ châu Mỹ, sau đó mới di cư sang châu Á và châu Âu.
- Hóa thạch trong hang động ở Citrus Grove có làm cơ sở cho giả thuyết này không? Engel hỏi.
- Tôi chưa trả lời ngay bây giờ, tiến sĩ Brandon nói. Ở thời điểm này tôi không thể chắc bộ xương cổ xưa đến mức nào. Nhưng ta đang có được rất nhiều xương và...
- Đúng ra là tôi có xương chứ, - Newt MacFee xen vào. Cái thằng trong hang động của tôi chắc chắn là người. Chứ còn là gì nữa? Cho nên nếu nó nằm đó hai hay ba triệu năm thì...
- Khoan đã! Brandon kêu lên.
- Chính anh đã nói anh không biết nó cổ xưa bao nhiêu mà! MacFee nhấn mạnh. Chắc phải cổ hơn tám hay mười ngàn năm, anh từng nói mà. Anh đã tin chắc như vậy khi anh nhìn thấy nó lần đầu tiên. Như thế có nghĩa rằng con người đã thật sự ra đời tại châu Mỹ này, và cái người trong hang động tôi có thể ông cố của loài người. Có thể chính cháu chắt của ông ta đi sang châu Á rồi khởi nguồn cho nhân loại bằng cách đó. Có thể vườn Eden không hề nằm chỗ kia, như ta luôn nghĩ. Có thể vườn Eden nằm ở Bakerfield hay Fresno. Có phải hay không?
- Anh đang kết luận quá hấp tấp, Brandon khó chịu đáp. Chờ khi ta có cơ hội nghiên cứu cho đàng hoàng bộ xương đã tìm thấy...
- Sẽ không có nghiên cứu gì cả! MacFee tuyên bố.
Brandon quay qua nhìn MacFee.
- Cái người từng ở trong hang động của tôi suốt, và sẽ tiếp tục ở đó! MacFee nói. Sẽ không có ai mang nó đi, mổ xẻ nó, nhìn nó qua kính hiển vi. Còn nếu anh tưởng dòng người xếp hàng để được vào thủy cung Marineland và Ngọn Núi Thần là dài, thì anh hãy chờ mà xem những hàng người muốn được xem một người tiền sử thật sự!
- Bộ anh định cho triển lãm bộ xương hóa thạch à? Brandon la lên. Anh không được làm thế! Ta chưa biết chắc bộ xương cổ xưa bao nhiêu năm và...
- Bộ xương đã đủ cổ xưa rồi, MacFee thông báo. Những gì ta có được ở đây chính là cái nôi của nền văn minh, và tất cả mọi người đều quan tâm muốn xem!
- Anh thật là dốt nát! Brandon la lên. Anh không hiểu những gì anh đang nói nữa kìa!
- Tôi đang nói rằng đây có thể là con người đầu tiên, MacFee nhìn thẳng vào camera nói. Chính vì vậy mà tôi đã đến dự chương trình truyền hình này. Tôi xin mời mọi người biết rằng tôi đang chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp quan khách thật sớm. Sẽ y như những chỗ kỳ diệu khác ở Californie...
- Đồ ngu! Brandon hét.
Tiến sĩ Brandon cựa quậy trên ghế.
Camera nhanh chóng chạy gần lại sao cho trên màn hình chỉ nhìn thấy được mỗi mình Bob Engel. Có tiếng la hét, rồi tiếng va đập. Sau đó Bob Engel vội vàng nói:
- Chương trình hấp dẫn của ta đến đây là hết. Ơn trời, thời gian đã chấm dứt. Xin quý khán giả ngồi lại để nghe một thông tin quan trọng về chất Nodush đánh bóng bàn ghế gỗ, sau đó ta sẽ gặp lại nhau để...
Peter tắt truyền hình.
- Úi chà! Peter kêu. Rắc rối dữ dội lên. Có vẻ như Brandon định vật MacFee xuống đất luôn.
- Mình cũng không thích nổi tay MacFee, Hannibal nói, mà nếu hắn không để cho Brandon lấy bộ xương đi...
- Hắn có quyền cản Brandon không? Bob hỏi.
- Mình nghĩ là có quyền, nếu hang động là sở hữu của hắn. Đúng là một tình huống khó xử đối với một nhà khảo cổ học: tìm thấy một vật rất hấp dẫn nhưng không thể nghiên cứu đánh giá được! Mà chắc chắn đã có lộn xộn giữa hai người ngay từ đầu, nếu như MacFee đã chạy đi lấy súng khi thấy Brandon ở hang động. Tình thế rất xấu! Mà Brandon cũng không vừa gì. Loại tình huống như thế có thể kết thúc thành... thành...
- Đổ máu hả? Peter nói.
- Đúng. Đúng vậy, có thể kết thúc thành một vụ đổ máu!
3. CÁCH ĐÓN TIẾP BẤT BÌNH THƯỜNG
Sau cuộc phỏng vấn đầu tiên giật gân kia, James Brandon không xuất hiện trên truyền hình nữa. Mà chính Newt MacFee được nhìn thấy trên vài buổi nói chuyện. Rồi khi xuân đang chuyển sang hạ, ông thương gia mập Citrus Grove chấp nhận trả lời phỏng vấn cho bất kỳ phóng viên nào chịu ngồi yên lắng nghe. Đến giữa tháng bảy hầu như mọi người ở nam Californie đều biết về hang động và người tiền sử của ông MacFee. Rồi quảng cáo có trả tiền bắt đầu xuất hiện. Hang động sẽ được mở cho công chúng vào đầu tháng tám.
Trong tuần tháng bảy cuối cùng, Hannibal có cuộc gặp gỡ thật đúng lúc với người hàng xóm Les Wolf.
Wolf là người thầu cung cấp bếp, lò và máy rửa chén cho các nhà hàng và khách sạn. Wolf sống trong một căn nhà gỗ to ở cuối Thiên Đường Đồ cổ. Vào ngày tháng bảy hôm đó, Hannibal đang chạy xe đạp đi qua nhà Wolf, thì nhìn thấy ông đang cố dỗ ngọt một chú mèo con núp dưới hàng rào. Hannibal dừng lại giúp một tay. Hannibal bước đến gần hàng rào từ phía bên kia, giậm chân, khiến con mèo nhỏ bỏ chạy sang bên kia, đâm thẳng vào vòng tay ông Wolf.
- Ngoan nào, ông nói và mỉm cười với Hannibal. Cám ơn Babal nhé. Bà xã tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi nếu con mèo bỏ đi, rồi bị cán hay bị gì khác.
Wolf ôm con mèo bước về nhà, nhưng rồi ông dừng lại quay sang Hannibal:
- Cậu có biết cái thành phố nhỏ phía cuối bờ biển không? Chỗ mà người ta tìm thấy người tiền sử ấy? Cuối tuần này, tôi sẽ đi trang bị một nhà bếp mới cho một nhà hàng ở đó. Có phải bà thím của cậu có nói với bà xã tôi rằng cậu theo dõi câu chuyện người tiền sử trên báo chí không?
- Dạ có! Hannibal hăng hái trả lời. Người tiền sử sẽ ra mắt công chúng thứ bảy tuần này. Chú sẽ đi Citrus Grove bằng xe tải lớn chứ? Chú có cần trợ lý để làm công việc đó không?
- Cậu còn nhỏ quá, hơn nữa cậu không thuộc công đoàn, ông Wolf nói. Hal Knight sẽ đi theo để giúp tôi. Nhưng nếu cậu không phiền ngồi phía sau thùng xe tải, cùng với hàng của tôi...
- Dĩ nhiên là cháu ngồi được! Hannibal nhanh miệng trả lời. Hai bạn của cháu là Bob và Peter đi luôn được không?
- Được. Nhưng các cậu sẽ phải tự tìm chỗ mà ở. Tôi sẽ mất ba ngày để hoàn tất công việc. Ông bà chủ nhà hàng sẽ cho tôi và Hal ở trọ, nhưng ngoài ra không còn dư phòng nữa.
- Dạ không sao, Hannibal nói, tụi cháu có thể mang theo túi ngủ, rồi cắm trại ở ngoài trời.
Hannibal vội vàng về nhà gọi Bob và Peter và xin phép chú thím để đi xa. Vào sáng thứ sáu, khi xe tải của Les Wolf lăn bánh rời khỏi Rocky, thì Hannibal, Bob và Peter đều có mặt trên xe.
Ông Wolf lái xe về hướng nam suốt hai tiếng, rồi quẹo ra khỏi đường cao tốc chính, đi về hướng đông, lên vùng đồi. Con đường quẹo, đi xuống rồi đi lên. Ba thám tử nhìn thấy vườn cây cam hai bên đường, những cánh đồng, hàng cây, và bãi cỏ rộng lớn nơi gia súc đang gặm cỏ.
Nửa tiếng sau, xe tải chậm lại đi qua một thành phố tên Centerdale. Sau thành phố lại có hàng cây chạy dài mấy dặm, vườn cây ăn trái và bãi cỏ. Rồi cuối cùng có tấm biển báo: “Vào Citrus Grove. Nghiêm chỉnh tuân thủ luật lệ tốc độ.”
Citrus Grove chỉ là một thành phố nhỏ. Ba thám tử nhìn thấy một siêu thị, hai trạm xăng, một cửa hàng bán xe và một khách sạn nhỏ xíu tên Cây Đu. Rồi xe chạy ngang qua hồ bơi thành phố, nhà ga bỏ hoang trông đầy bụi ảm đạm. ở trung tâm, một bên là công viên nhỏ, bên kia là dãy cửa hiệu buôn bán. Ba thám tử nhìn thấy một ngân hàng, một cửa hàng ngũ kim, một hiệu thuốc và thư viện công. Mặc dù thành phố rất nhỏ, nhưng người đông đúc khắp nơi. Hộp đèn “hết phòng” chớp lên trước mặt tiền một khách sạn, còn bên ngoài quán cà phê Lazy Daze, một hàng người dài thòn đang chờ được xếp chỗ ngồi.
- Do quảng cáo rùm beng về người tiền sử, Bob nói. Thu hút đám đông.
Hannibal mỉm cười khi thấy một quày bán hamburger quảng cáo burger khủng long.
- Rồi cũng phải nhanh chóng thích nghi cho phù hợp tình huống mới thôi, - thám tử trưởng nhận xét.
Les Wolf rẽ sang một đường hông phía sau công viên. Wolf cúi ra ngoài gọi ba thám tử.
- Nhà hàng Ông Thợ săn vui vẻ ở cuối đường, khoảng nửa dặm nữa, Wolf nói. Tối hôm qua tôi đã gọi ông chủ nhà hàng, ông ấy nói khu cắm trại gần thành phố đã kín chỗ. Ông ấy khuyên các cậu nên đến thử chỗ ông Newt MacFee ở ngôi nhà gỗ xám đầu con Đường Cái.
- Cái ông trên truyền hình à! Peter thốt lên.
- E rằng đúng ông ấy, Hannibal nói.
Ba thám tử bước xuống xe tải.
- Thứ hai đến tìm tôi ở nhà hàng Ông Thợ săn vui vẻ nhé, Wolf dặn rồi lái xe đi tiếp.
Ngôi nhà của Newt MacFee trông khá dễ chịu khi ba thám tử bắt đầu đi đến đó. Phía trước có cái cổng vòm rộng và một bãi cỏ nhỏ. Tuy nhiên khi đến gần hơn, ba thám tử nhận ra rằng ngôi nhà rất cần được sơn phết lại, còn rèm cửa sổ thì xám xịt ủ rủ. Vài cửa chớp thiếu thanh. Bãi cỏ mọc đầy cỏ dại.
- Trông xơ xác quá nhỉ? Bob hỏi. Mình tưởng MacFee là chủ cửa hàng ngũ kim và đại lý bán xe chứ.
- Có lẽ không làm ăn phát đạt trong một thành phố cỡ này, Hannibal nhận xét.
Một tấm bảng được đóng đinh vào cổng nhà MacFee, báo với khách rằng nếu cần chỗ trọ thì hãy đi vòng ra phía sau. Ba thám tử mệt mỏi lê bước ra sau nhà và nhìn thấy một bãi cỏ trải dài từ đường đến một khu rừng thưa. Gần nhà có một kho thóc cũ kỹ. Phía bên ngôi nhà xa thành phố nhất, bãi cỏ nới rộng thêm dọc theo con đường cho đến một ngọn đồi gần đó. Có một ngôi nhà mới toanh nằm tựa vào hông đồi, gọn gàng hiện đại, xây bằng gỗ đỏ, không cửa sổ. Phía trên hai cạnh cửa có tấm biển đề: “Cửa vào Hang động Người Tiền sử.”
- Ê! Peter kêu. Hắn kinh doanh thật đấy.
- Các em cần gì không? Một giọng nói dịu dàng vang lên phía sau ba thám tử.
Cả ba quay lại và Hannibal nhìn thấy mái tóc vàng và gương mặt tái xanh. Hannibal nhớ lại một ngày sương mù lạnh lẽo ở Rocky, và một người đàn ông bước vào từ ngoài đường rồi tắt thở.
- Ồ! Eleanor thốt lên. Hóa ra là em!
- Chào, Hannibal đưa tay ra bắt.
- Chị... chị đang định viết thư cho thím của em, Eleanor nói. Hai thím cháu em tử tế quá. Nhưng chị lại nghĩ có khi không nên làm phiền em.
- Em rất vui vì đã giúp được chị, Hannibal nói rồi giới thiệu Bob và Peter.
Trong khi Eleanor nghe lời giới thiệu, cửa sau nhà mở ra, một người phụ nữ mập tóc ngắn uốn quăn nhìn ra.
- Eleanor, mấy cậu bé đó cần gì vậy? Bà gọi.
Bà nói to, giọng thô lỗ, như ba thám tử không thể nghe tiếng bà.
- Dì Thalia ơi, cậu này là Hannibal Jones, Eleanor nói với vẻ mặt lúng túng không vui. Cháu đã kể cho dì nghe về Hannibal rồi đó. Hannibal và thím cậu ấy đã giúp cháu khi tiến sĩ Birskensteen ngã bệnh ở Rocky. Còn hai cậu kia là Peter Crench và Bob Andy, bạn của Hannibal. Có lẽ ba cậu đến đây xem người tiền sử. Dì Thalia ơi, ta có thể cho ba em ở nhờ không?
Đột nhiên người đàn ông từng xuất hiện trên các buổi phỏng vấn truyền hình bước ra ở ngưỡng cửa ngay phía sau người phụ nữ. Eleanor Hess lại giới thiệu ba thám tử, Hannibal kinh ngạc khi nhận ra rằng dì Thalia chắc hẳn là vợ của Newt MacFee, nghĩa là Newt chính là dượng của Eleanor!
- Hóa ra các cậu là người đã giúp Eleanor, Newt MacFee nói. Chúng tôi sẽ rất vui tìm chỗ trọ cho các cậu. Nhưng trong nhà không có phòng cho cả ba, các cậu có thể trải chăn ngủ trên gác xép trong kho thóc và dùng nhà vệ sinh cũ phía sau kho thóc. Bên nhà có vòi nước để rửa ráy.
Hai con mắt nhỏ của MacFee nhăn lại.
- Tôi sẽ có giá rất thấp cho các cậu. Chỉ có mười đô la một đêm cho cả ba.
- Dượng Newt kìa! Eleanor Hess kêu lên.
- Cô kia! MacFee quát và hăm dọa, lườm Eleanor khiến cô cháu nhìn đi chỗ khác.
- Các cậu không tìm được chỗ nào với giá mười đô la đâu, MacFee nói với ba thám tử.
- Sao bọn mình không thử tìm một chỗ rừng thưa? Bob nói, huơ tay về hướng khóm cây phía sau bãi cỏ.
- Năm nay nguy cơ cháy rừng rất cao, MacFee nói, nên người cắm trại không được phép vào rừng.
Hannibal lấy bóp ra, đưa tờ mười đô la cho MacFee.
- Đây, thám tử trưởng nói, cho đêm nay.
- Tốt lắm, MacFee vừa nói vừa bỏ tiền vào túi. Eleanor, cháu dẫn ba vị khách trẻ này đi xem chỗ có vòi nước đi.
- Nhưng các cậu phải thận trọng, Thalia MacFee cảnh cáo, đừng có mà làm lộn xộn mọi thứ hay đốt lửa gì đó nhé.
- Các cậu không hút thuốc mà, phải không? MacFee hỏi.
- Tụi cháu không hút thuốc, Peter buồn rầu trả lời, Babal ơi, hay bọn mình đừng làm phiền ông bà MacFee. Sao bọn mình không xuống cái công viên nhỏ trong thành phố rồi...
- Không được cắm trại trong công viên, MacFee nói. Ngoài ra, ở đó có hệ thống phun nước phòng cháy tự động bật lên đúng mười hai giờ mỗi đêm.
MacFee khoái trá ra mặt trở vào nhà. Còn Eleanor bắt đầu đi ra kho thóc, mặt đỏ gay vì xấu hổ.
- Chị xin lỗi nhé, Eỉeanor nói. Này, nếu các em ở luôn một đêm nữa, thì đừng có trả tiền cho ông ấy. Chị có chút tiền, để chị lo chuyện này.
- Không sao đâu, Hannibal nói, chị đừng lo.
- Chị rất ghét khi ông ấy làm những chuyện như thế này, - Eleanor cay đắng nói. Mà chị không bao giờ được lên tiếng bởi vì..., ừ, thì bởi vì dì Thalia và dượng đã chăm sóc chị từ khi chị tám tuổi. Bố mẹ chị đã mất trong tai nạn xe hơi.
Mỗi thám tử thầm thắc mắc MacFee và vợ ông ấy đã chăm sóc cho Eleanor như thế nào. Trông Eleanor gầy nhom, có vẻ héo hon kiệt sức.
- Dì Thalia và mẹ chị là chị em ruột, Eleanor kể tiếp, nếu dì Thalia không nhận chị về nhà nuôi, thì chị đã phải vào trại mồ côi.
Eleanor mở cửa ra, ba thám tử đi theo Eleanor vào kho thóc tối tăm bụi bặm. Trong đó, ba bạn nhìn thấy một chiếc xe tải nhẹ có cẩu mới bóng, và một chiếc ôtô con bốn cửa sáng bóng crôm. Ba thám tử còn nhìn thấy một núi to đồ cũ: những xấp báo vàng khè, những chồng thùng cũ và một đống đồ nghề rỉ sét trên bàn thợ.
Cái thang kê ở vách tường cuối cùng dẫn lên gác xép. Ba thám tử lên một khoảng không gian tối tăm ngột ngạt dưới mái nhà. Có một cửa sổ phủ lớp bụi và màn nhện dày cộm. Khi Hannibal mở cửa sổ ra, không khí mát lạnh tràn vào.
- Để chị lấy cho các em khăn lông nhé? Eleanor gọi từ phía dưới.
- Dạ không cần đâu, chị ơi, Peter trả lời xuống, tụi em có mang đủ đồ theo mà.
Eleanor vẫn nấn ná dưới chân cái thang rồi cuối cùng gọi lên:
- Chị sắp lên hội đây. Các em có muốn đi cùng chị để xem thú vật không?
Đây rõ ràng là điều hay nhất mà Eleanor có thể đề nghị. Hannibal cúi đầu ra từ trên gác xép.
- Chị có quen nhà khảo cổ học tìm ra bộ xương không? Thám tử trưởng hỏi.
- Tiến sĩ Brandon hả? Có chứ. Em muốn gặp ông ấy hả? Chị sẽ giới thiệu em nếu ông ấy có cơ hội.
- Em đã ước được gặp ông ấy từ khi em nghe về bộ xương hóa thạch, Hannibal nói. Tiến sĩ đã đưa ra giả thuyết nào về niên đại của bộ xương chưa? Tiến sĩ đã biết được làm thế nào mà bộ xương có ở trong hang chưa?
Eleanor nhăn mặt.
- Ai cũng tích cực quan tâm đến người tiền sử kia.
Nhưng hắn xấu xí lắm. Có lẽ trông hắn như một con đười ươi, nhưng nhỏ hơn nhiều.
Eleanor đột nhiên có vẻ hoảng hốt lên.
- Các em đừng có mà đến gần cái hang động kia khi không có ai ở đó, Eleanor cảnh báo. Dượng Newt giữ sẵn một cây súng đã nạp đạn ngay bên cửa nhà bếp. Dượng nói mọi người sẽ phải trả đủ tiền để được xem người tiền sử. Còn nếu kẻ nào dám toan can thiệp vào chuyện này, thì sẽ lãnh đạn!
- Ý dượng của chị ám chỉ rằng kẻ đó là nhà khảo cổ học, đúng không? Hannibal hỏi.
- Đúng. Hoặc bất cứ ai định xen vào vụ người tiền sử. Chị rất sợ sẽ có chuyện xảy ra, chuyện không hay!
4. ELEANOR NÓI DỐI
Hội Spicer là một tòa nhà nằm dài trên một ngọn đồi cách chỗ Newt MacFee khoảng nửa dặm. Không có hàng rào bao quanh bãi cỏ xanh mượt mà, nhưng có những chốt gác bằng đá và cổng. Ba thám tử đi theo Eleanor trên lối đi vào tòa nhà. Eleanor mở cửa, bước vào không cần gõ.
Không có tiền sảnh. Eleanor và ba thám tử bước ngay vào một phòng khách rộng lớn. James Brandon cũng có mặt ở đó. Ông đang đi đi lại lại và dừng lại để quắc mắt khi Eleanor giới thiệu ba thám tử.
- Các cậu đến để xem cái trò xiếc ba xu kia, tiến sĩ nói như một lời cáo buộc.
- Để xem người tiền sử à? Peter nói lại. Dạ đúng vậy.
- Các cậu và bốn triệu người khác, Brandon nói rồi tiếp tục đi đi lại lại nữa. Đám đông sẽ giẫm đạp lên mọi thứ. Nếu trên vùng đồi kia còn nhiều bộ xương hóa thạch khác, thì sẽ bị tiêu hủy hết. Nếu như tôi có súng...
- Ông sẽ bắn mọi người, một giọng nói trầm tĩnh vang lên.
Ba thám tử quay lại. Một người đàn ông cao lớn, vẻ mặt ủ rủ, vừa mới bước vào phòng. Hannibal nhận ra ngay ông là người đã đến bệnh viện Rocky vào đêm Karl Birkensteen qua đời, Lúc đó, ông mặc một bộ complê mòn xơ cả chỉ. Bây giờ ông đang mặtquần kaki phai màu và áo thun có cổ. Ông ngồi xuống ghế bành gần chỗ đốt lửa, nhìn chằm chằm xuống hai đầu gối gầy trơ xương của ông.
- Thưa tiến sĩ Terreano, chú đã gặp Hannibal Jones rồi, Eleanor Hess nói.
Terreano có vẻ ngạc nhiên.
- Thế à? Gặp rồi sao?
- Hannibal đã giúp cháu lúc cháu ở Rocky với tiến sĩ Karl Birkensteen, Eleanor giải thích. Hannibal cũng có mặt ở bệnh viện, chú nhớ không?
- Ồ, nhớ. Bây giờ nhớ ra rồi. Rất vui được gặp lại cậu, trong ngữ cảnh vui hơn.
Terreano mỉm cười và đột nhiên có vẻ trẻ hơn.
- Tiến sĩ Terreano cũng là nhà khảo cổ học, Eleanor nói. Chú đang viết một quyển sách.
- Người như chúng tôi luôn viết sách mà, Terreano mỉm cười nói.
- Ồ, phải rồi! Hannibal đột nhiên kêu lên. Cháu biết! Chú đã viết quyển Kẻ thù cổ xưa!
Terreano nhướn mày lên.
- Cậu đã đọc quyển đó sao?
- Dạ có, Hannibal trả lời. Cháu tìm thấy quyển sách này ở thư viện. Rất lôi cuốn, nhưng gây buồn lòng. Nếu con người luôn cần chống đối đồng loại, và nếu luôn sẽ như thế, thì...
- Buồn nhỉ? Terreano nói. Con người có tính bạo lực bẩm sinh. Đó là một trong các đặc thù của ta, cùng với bộ não to và khả năng đi trên hai chân.
- Ôi, vớ vẩn! Brandon thốt lên. Bản tính con người không bạo lực. Ông đã hiểu sai các dấu hiệu.
- Thế à? Terreano nhìn xung quanh. Nếu ông muốn, thì thử xét Abraham Spicer. Spicer tin là phải giúp đỡ nhân loại, ông ấy đã thành lập cái hội này, thật là cao thượng! Nhưng Spicer cũng là một tay sát thủ. Ông ấy săn bắn thú to.
Terreano huơ tay về hướng mặt lò sưởi. Đầu của một sinh thể thanh tú có sừng được treo trên đó, cặp mắt đã chết của nó nhìn ra cửa sổ. Trên tường, phía trên vài kệ sách, có đầu của những con thú khác: cọp, báo sư tử và một con trâu to tướng. Những bộ lông gấu, sư tử và báo được trải trên sàn nhà.
- Nếu giết một con thú hoang dã thay vì giết một con người, thì anh lại được phép mang xác của nó về nhà, rồi nhồi rơm, Terreano nói. Từng có một thời mà việc nghiền nát bộ xương của kẻ thù và ăn thịt đồng loại được thừa nhận như nhau.
- Ông hoàn toàn sai! Brandon hét lên.
- Ông luôn nổi giận khi ta thảo luận đến vấn đề này, Terreano nói. Điều này hầu như chứng minh được quan điểm của tôi.
Đúng lúc đó một người đàn ông thấp, đầu hói hối hả bước vào.
- Hai ông lại tranh luận nữa à? ông hỏi. Tôi rất ghét phải nghe tranh luận trước khi đã ăn trưa.
Eleanor giới thiệu tiến sĩ Elwood Hoffer.
- Tiến sĩ Hoffer là nhà miễn nhiễm học, Eleanor nói với ba thám tử. Chú ấy có nhiều chuột bạch rất dễ thương.
Cháu đưa Hannibal, Bob và Peter đi xem chuột bạch được không ạ?
- Cứ đi đi, với điều kiện không được đụng chạm vào bất cứ gì trong phòng thí nghiệm, Hoffer nói.
- Các em sẽ không đụng chạm gì đâu ạ, Eleanor trả lời.
Ba thám tử đi theo Eleanor dọc theo một hành lang dài đến góc nhà nằm ở phía mặt tiền.
- Cửa vào phòng làm việc và phòng thí nghiệm đều nằm trong hành lang này, Eleanor giải thích. Phòng thí nghiệm của tiến sĩ Hoffer đây.
Eleanor dẫn ba thám tử vào cửa kế tiếp. Ba thám tử bước vào phòng vệ sinh nhỏ. Eleanor lấy ra bốn cái khẩu trang phẫu thuật.
- Đây, Eleanor nói, đeo cái này vào.
Eleanor tự đeo khẩu trang rồi lấy thêm một đôi bao tay cao su. Eleanor mở thêm một cửa vào một phòng rộng lớn sáng sủa nhờ ánh sáng mặt trồi. Dọc theo tường có hàng chục những cái lồng bằng thủy tinh. Trong mỗi lồng đều có những sinh thể nhỏ chạy qua chạy lại, đâm tới đâm lui.
- Đừng có đến quá gần và đừng đụng chạm gì cả, Eleanor dặn dò.
Eleanor tiến hành cho chuột ăn, lặng lẽ di chuyển từ lồng này sang lồng kia.
- Những con chuột này rất đặc biệt, Eleanor nói. Tiến sĩ Hoffer đã bỏ đi mất vài khả năng miễn dịch của chúng, nên phải thận trọng để chúng không bị cảm lạnh hay gì đó. Chính vì vậy mà các em phải đeo khẩu trang. Một số con không có cách nào để chống đối với bệnh dịch.
- Như vậy thì được gì tốt đâu, Bob nói. Nếu chuột không chống lại nổi bệnh tật, thì nó sẽ chết?
- Chắc là có một số con sẽ chết, Eleanor trả lời. Nhưng tiến sĩ Hoffer tin rằng ta bị mắc phải một số bệnh tật chỉ vì ta được miễn dịch! Cơ thể ta sản sinh ra những tế bào đặc biệt sẽ ăn sạch các virus và vi khuẩn, nhưng đôi khi cũng chính những tế bào này sẽ hại ta. Có thể ta bị viêm khớp do phản ứng miễn dịch, hoặc bị loét dạ dày, hoặc bị các loại bệnh tâm thần mất trí.
- Úi chà! Peter nói với giọng điệu sợ hãi.
- Nhưng không có hệ miễn nhiễm, thì ta sẽ bị bệnh đậu mùa, Bob nói, bị bệnh sởi, và.... Và bị...
- Chị biết, Eleanor đáp. Tiến sĩ Hoffer đang thử tìm ra cách để kiểm soát hệ miễn nhiễm của ta sao cho ta được bảo vệ, nhưng không bị hại.
- Tuyệt quá! Hannibal nói. Còn tiến sĩ Terreano thì đang viết một quyển sách.
- Tiến sĩ Brandon cũng đang viết sách, Eleanor nói. Quyển sách ông ấy nói về kẻ bị nhốt trong tủ trong văn phòng ông ấy.
- Một người à? Bob hỏi lại. Bị nhốt trong tủ à?
- Một người hóa thạch, Eleanor nói. Tiến sĩ đã tìm thấy xương ở châu Phi, rồi ghép lại như một trò chơi ghép hình để ra được bộ xương trọn vẹn. Tiến sĩ đã đo đạc, chụp hình các mẫu xương, rồi xem sách.
- Tiến sĩ cũng muốn làm việc với bộ xương trong hang động y như thế, phải không? Hannibal hỏi.
- Đúng, Eleanor buồn bã trả lời. Dượng của chị sẽ không để cho tiến sĩ Brandon làm như thế.
Eleanor đã cho chuột ăn xong. Bốn chị em trở ra phòng vệ sinh, cởi khẩu trang, găng tay ra, thả vào cái hộp nhựa có nắp để gần bồn rửa. Tất cả trở ra ngoài hành lang.
- Bây giờ các em sẽ nhìn thấy khỉ! Eleanor nói.
Phòng thí nghiệm của tiến sĩ Karl Birkensteen nằm ở cuối hành lang, rộng rãi hơn phòng của Hoffer. Hai con khỉ tinh tinh sống trong đó cùng ở chung một chuồng gần cửa sổ. Trong chuồng có đồ chơi, banh và một tấm bảng đen nhỏ để hai chú tinh tinh nguệch ngoạc bằng phấn màu.
Hai con vật kích động hét lên khi nhìn thấy Eleanor, con to nhất thò hai cánh tay ra ngoài.
- Mày mừng lắm hả? Eleanor hỏi. Tối hôm qua ngủ ngon không?
Con tinh tinh nhắm mắt lại nhanh, thả đầu gục sang một bên. Rồi nó chỉ lên đồng hồ treo tường, vẽ vòng tròn lên trời bằng một ngón tay.
- Ngủ lâu không? Eleanor hỏi.
Con tinh tinh nhảy tưng tưng, vỗ tay.
Con khỉ thứ nhì bước ra khỏi chuồng, trèo lên một bàn thí nghiệm.
- Cẩn thận nhé! Eleanor cảnh cáo.
Con vật thèm thuồng nhìn một kệ chứa đầy những hũ lọ hóa chất.
- Đừng! Không được! Eleanor nói.
Eleanor quay sang ba thám tử nói:
- Khỉ y như trẻ con mới lớn lên vậy. Chúng cứ muốn chụp lấy tất cả những gì trong tầm tay để chơi.
Con khỉ quay mặt đi khỏi kệ lấy một cái cốc, trèo xuống đất, tiến hành lăn cốc khắp phòng như đồ chơi. Eleanor lấy trái cây và sữa trong tủ lạnh, ngũ cốc khô và tô trong tủ ra.
- Chúng hiểu hết, phải không? Hannibal hỏi trong khi Eleanor rắc ngũ cốc vào tô.
- Phải. Và chúng còn biết dùng dấu hiệu để nói những thứ phức tạp. Tiến sĩ Karl Birkensteen khẳng định rằng chúng liên lạc giỏi bằng đa số trẻ em mẫu giáo. Chị không biết ngôn ngữ dấu hiệu, nên chị không thể đánh giá, nhưng chị thấy chúng rất buồn cười và dễ thương. Và chúng rất biết cách nói cho chị biết chúng thích hay muốn gì.
- Bấy giờ chúng sẽ ra sao? Bob hỏi.
Eleanor thở dài.
- Chị không biết. Các thành viên hội đồng quản trị Hội sẽ họp tháng tới. Có lẽ sẽ quyết định làm gì với khỉ. Hội đã mua khỉ cho tiến sĩ Karl Birkensteen, những con này và nhiều con khác nữa. Phần lớn đã chết rồi.
Eleanor đặt các tô ngũ cốc và dĩa trái cây trên một cái bàn nhỏ. Hai chú khỉ trèo lên ghế nhỏ, bắt đầu ăn. Khi chúng ăn xong, Eleanor dỗ ngọt chúng trở vào chuồng. Cả hai la lên để phản đối và cố bám theo cô gái.
- Thôi nào, Eleanor dịu dàng nói. Chị sẽ về sớm mà. Đừng buồn nhé.
Ba thám tử quan sát. Lần đầu tiên Hannibal có cảm giác rằng Eleanor cư xử như thể cô biết chắc cô đang làm gì. Rõ ràng Eleanor có vẻ hạnh phúc hơn là lúc ở trong ngôi nhà tồi tàn của ông bà MacFee.
- Chúng nhớ tiến sĩ Karl Birkensteen, Eleanor nói. Chị cũng nhớ chú ấy. Chú rất tử tế, cả những lúc chú ấy không được khoẻ.
- Chú ấy bị bệnh à? Hannibal hỏi. Không hiểu sao, nhưng em nghĩ cơn đột quỵ ở Rocky là đột ngột.
- Đúng là đột ngột, Eleanor trả lời, nhưng chú ấy đã khác đi nhiều một thời gian trước đó rồi. Đôi khi chú ấy ngủ gục trong khi khỉ đang ngoài chuồng, rồi khỉ chạy lung tung quậy phá tùm lum. Chị đi với chú vào hôm... hôm chú ấy chết bởi vì chị nghĩ không thể để chú ấy đi một mình suốt một đường dài như thế.
- Hôm đó chú ấy đi Rocky để làm gì? Hannibal hỏi.
Câu hỏi thật là vớ vẩn, Hannibal hỏi chỉ để cho có chuyện mà nói. Nhưng Eleanor đột nhiên đỏ mặt.
- Chú ấy đã... chú ấy... thật ra chị không biết.
Eleanor nhìn đi chỗ khác rồi đột ngột bỏ ra cửa.
Hannibal và Peter nhìn nhau khi Eleanor đã ra khỏi phòng.
- Có chuyện gì vậy? Peter hỏi khẽ. Cậu nói điều gì không phải à?
Hannibal chau mày.
- Chị ấy nói dối. Chắc chắn chị ấy không chịu nói thật. Nhưng tại sao chị ấy lại nói dối? Chị ấy muốn che giấu điều gì?
5. ĐI THĂM MỘT NGƯỜI CHẾT
Các nhà khoa học đã đi khi Eleanor và ba thám tử trưởng trở ra phòng khách. Một người phụ nữ mập mạp đang sắp xếp gối trên ghế salon lại cho ngay thẳng. Còn một thanh niên tóc nâu sậm đang lau rửa kính cửa dẫn ra sân thượng và hồ bơi.
- Chào Eleanor, người phụ nữ nói. Cháu đã đưa vài người bạn đến đây à. Hay lắm.
Hannibal nhận ra người phụ nữ ngay khi bà nói chuyện. Chính bà Collinwood, đã đến giúp Eleanor vào hôm tiến sĩ Karl Birkensteen qua đời. Bây giờ bà lại mang bộ tóc giả vàng thay cho bộ màu hung đỏ, nhưng lông mi bà vẫn dày đen. Bà chớp chớp lông mi để làm duyên khi Eleanor giới thiệu ba thám tử.
- À. Phải! bà nói khi bắt tay Hannibal. Nhớ rồi. Cậu chính là chàng trai trẻ dễ thương đã giúp Eleanor rất nhiều. Cậu biết không, trông cậu rất giống anh Charles yêu thương của tôi. Charles Collinwood, người chồng cuối cùng của tôi, người chồng mà tôi thương nhất. Một người rất tốt bụng, mặc dù hơi bị mập quá.
Bà Collinwood rất thích nói, ba thám tử nhanh chóng nhận ra rằng bà cứ huyên thuyên không ngừng. Ba thám tử không thể làm gì khác ngoài đứng yên để cho dòng lời nói xối xả qua đầu mình.
Bà Collinwood thích thú kể cho ba thám tử nghe về người chồng đầu tiên của bà, bán bảo hiểm, rồi người chồng thứ nhì, chủ nhiệm phim, rồi người chồng cuối cùng, mà bà thương yêu nhất, một bác sĩ thú y.
- Cả ba đều rất tốt, bà Collinwood nói. Nhưng tất cả đều mất sớm. Buồn lắm. Rồi tôi đến đây sống làm quản gia cho hội. Lúc đầu trông mấy ông nhà khoa học rất đáng sợ. Lúc nào cũng nghiêm trang, lúc nào cũng đang suy nghĩ. Nhưng khi đã biết mấy ông rồi, thì cũng chẳng khác gì những người đàn ông khác. Ông tiến sĩ Terreano thì cứ luôn nói về tính hung bạo nơi con người, nhưng ông rất tử tế và hiền như bụt. Còn tiến sĩ Brandon thì cứ khẳng định rằng con người ta không bạo lực, nhưng ông ấy lại có tính khí rất nóng nảy. Lẽ ra ông ấy không nên bỏ quá nhiều thời gian vì dượng của cháu, Eleanor à. Chỉ làm cho tiến sĩ bực mình thêm thôi.
- Dạ cháu biết, Eleanor nói khẽ.
Bà Collinwood chào rồi đi ra. Chàng trai trẻ đang lau rửa cửa sổ ngừng tay thả bàn chải vào chậu nước.
- Em đang cho mây bạn nhỏ kia đi tham quan chuyến mười đô la trọn gói đó hả? Anh ta hỏi Eleanor.
Eleanor có vẻ bực mình nhưng vẫn giới thiệu anh chàng.
- Đây là Frank, - Eleanor nói, Frank DiSteíano. Anh Frank cũng giúp thêm nhiều việc ở hội, y như chị.
Chàng trai mỉm cười.
- Chào. Rất vui được biết các bạn. Eleanor à, anh xin lỗi vì tối hôm qua. Anh bị bể bánh xe rồi mắc bận với cái bánh xe đó cho đến... sau đó trễ quá nên anh nghĩ em không chờ.
- Không sao đâu, Eleanor nói.
Eleanor đưa ba thám tử sang phòng thư viện nằm ngay bên cạnh phòng khách, rồi đi qua một tiền sảnh vuông nhỏ.
Chuồng ngựa cách nhà khoảng năm mươi mét. Eleanor bước đến đó không nói tiếng nào. Khi đã đến bên Blaze, con ngựa từng thuộc trách nhiệm của tiến sĩ Karl Birkensteen, thì tâm trạng Eleanor thay đổi hẳn, cô lại vui vẻ hơn. Eleanor chải lông cho ngựa, nói chuyện với nó, vuốt ve nó. Rồi cô hãnh diện cho ba thám tử xem con ngựa biết đếm như thế nào. Eleanor đặt bốn quả táo trên vách ngăn quanh chuồng.
- Bao nhiêu? Eleanor hỏi.
Con ngựa giậm chân bốn lần.
- Giỏi quá! Eleanor vỗ tay rồi cho ngựa ăn táo.
Ba thám tử chia tay với Eleanor tại chuồng ngựa, đi xuống đồi vào thành phố ăn trưa. Đường sá đông nghẹt người hơn bao giờ. Ba Thám Tử Trẻ quyết định bỏ qua quầy bán hamburger thịt khủng long, nhưng phải chờ gần một tiếng mới mua được hamburger ở quán cà phê Lazy Daze.
Sau khi ăn xong, ba thám tử đi lang thang trong thành phố, quan sát đám đông và ghi nhận các biện pháp đón mừng việc khai trương hang động của các chủ tiệm. Hang động sẽ được mở cửa vào ngày mai. Vài cửa kính được trang trí với hình vẽ bằng phân những người tiền sử mặc lông thú và cầm gậy. Trên một tấm hình, một người đàn ông tiền sử đang túm mái tóc một người phụ nữ tiền sử mỉm cười, lôi đi. Vài mặt tiền cửa hiệu có cờ xí trang trí màu đỏ, trắng, xanh.
Sau một hồi, Ba thám tử trẻ trở về bãi cỏ phía sau nhà MacFee. Ở đó cũng rộn ràng lăng xăng. Một người đàn ông cao gầy như cây sậy, mặc quần áo bảo hộ lao động cũ mèm, đang xếp hộp đồ nghề ra sau một chiếc xe lán, vừa làm vừa lầm bầm một mình.
- Không được, ông tuyên bố, không được tí nào. Rồi họ sẽ hối hận. Rồi mọi người sẽ thấy.
Ba thám tử bước lại gần hơn, nhìn thấy ngăn tủ âm tường trong xe lán, bếp lò nhỏ xíu xài khí butan và một cái tủ lạnh rất nhỏ. Có cái giường ngủ, chăn xếp gọn gàng. Ba thám tử thắc mắc không hiểu con người trông lôi thôi kia có sống trong xe lán không.
Người đàn ông chau mày lườm ba thám tử.
- Các cậu cũng sẽ không thích, nếu các cậu bị như thế! Ông tuyên bố thẳng thừng.
Rồi phía đằng sau có người la lên.
- Đồ ngốc!
Chính James Brandon đang la. Ông đứng bên ngoài tòa nhà không cửa sổ bằng gỗ đỏ vừa mới được xây bên mạn đồi.
- Cút đi khỏi đây! Newt MacFee hét lên từ ngưỡng cửa viện bảo tàng của mình.
MacFee đang cầm cây súng trong tay.
Brandon lui ra xa khỏi MacFee, hai nắm tay nắm chặt lại.
- Đồ vô học dốt nát! Brandon nói với MacFee. Bộ xương kia không phải của ông, cũng y như nước mưa không thể là của ông được, hay mặt trời cũng thế. Làm sao ông dám dùng mấy thứ trang trí vớ vẩn của ông bao vây mẫu sinh thể họ người kia!
- Ông đang vượt qua ranh giới rồi đó, MacFee nói. Cút đi khỏi đây, và nếu còn muốn được nhìn người tiền sử kia nữa, thì ngày mai trở lại và trả năm đô la như mọi người!
Brandon thốt lên một tiếng như mắc nghẹn rồi quay lưng bỏ đi.
MacFee mỉm cười.
- Bất đồng quan điểm một tí, - ông nói với ba thám tử.
- Không đúng! Không phải! Người đàn ông bên xe lán lầm bầm.
- Có ai hỏi ý kiến mày xem đúng sai bao giờ đâu, MacFee quát. Không phải việc mày. Này các cậu có muốn tôi cho các cậu vào xem thử trước khi tôi cho ra mắt chính thức ấy? Có thích xem thằng người tiền sử của tôi, và cái viện bảo tàng mà tôi đã xây cho nó không?
MacFee quay trở vào tòa nhà nhỏ, Ba Thám Tử Trẻ háo hức đi theo ông. Tuy nhiên khí vừa bước qua ngưỡng cửa, ba thám tử đứng lại, há hốc kinh ngạc.
Newt MacFee đã trang trí viện bảo tàng bằng hình chụp phóng to treo trên tường: hình xương và đầu lâu. Giữa những hình ảnh tương đối ghê tởm này, có những hình màu hấp dẫn và quen thuộc hơn: hơi nước bay ra từ lòng đất ở Lassen, thác nước đổ xuống từ vách đá ở Yosemite, sóng biển vỗ vào bờ gần Big Sur.
Trên bàn ngay giữa phòng, có mô hình đồng quê Californie ở các giai đoạn lịch sử địa chất khác nhau. Một cảnh trưng bày hầu như toàn bang bị sông băng che phủ. Ở cảnh khác, thì băng đã rút lui, để lại phía sau thung lũng và hồ. Có mô hình khu trại Da Đỏ với những tượng hình Da Đỏ nhỏ xíu gần như khoả thân, đang cúi xuống đống lửa, nấu ngô theo đủ thứ kiểu. Có cả mô hình người tiền sử đang đấu tranh với một con voi mamut khổng lồ.
- Tuyệt vời chưa? MacFee nói. Dĩ nhiên mấy thứ này là để khai vị, lấy le thôi. Cái cốt yếu nằm bên trong kia.
Đối diện với cửa vào, bốn bậc thềm dẫn lên cái mặt bằng nhỏ. Dưới mặt bằng là nền đất trần hông đồi và lỗ hở vào hang. Đèn chiếu sáng vào chỗ hở.
Hannibal, Bob và Peter băng qua phòng bảo tàng, bước iên bậc thềm, nhìn xuống hang và thấy người hóa thạch.
Hannibal thở hổn hển, còn Bob rùng mình.
Người tiền sử là một bộ xương không đầy đủ. Phần lớn là cái sọ, nâu đen, gớm ghiếc. Hai hốc mắt trống rỗng nhìn trân trân, còn quai hàm trên như nở một nụ cười rùng rợn. Không có quai hàm dưới. Còn được vài cái xương sườn nhô lên từ nền hang, ở phía dưới là một phần xương chậu và vài cái xương chân. Những khúc xương của một bàn tay nhỏ nằm khá gần cửa hang, như đang cố với tới một cái gì đó.
MacFee đã cho lấp đèn trên trần hang. Còn dưới đất, gần cái sọ thì có đống lửa trại giả lấp lánh. Gần bộ xương có tấm chăn kiểu bộ tộc Da Đỏ Navajo xếp lại và một cái rổ đan theo kiểu Da Đỏ.
Ngay lập tức, ba thám tử cảm thấy thông cảm cơn giận của Brandon. Cách trưng bày thật ngu ngốc. Nhưng tệ hơn nữa, có dấu chân khắp xung quanh bộ xương. Bộ hóa thạch quý báu đã xém bị giẫm nát khi người nào đó vào lắp ánh sáng và đống lửa giả.
- Tôi định để thêm một đôi dép mọi gần chỗ lẽ ra có chân của nó, nếu như nó có chân, MacFee nói. Sẽ trông y như nó vừa mởi cởi dép ra rồi nằm xuống ngủ. Nhưng tôi sợ hơi quá đáng.
Bob thốt lên lên một tiếng giật mình.
- Có lẽ thời đó họ chưa đi dép, phải không? MacFee hỏi.
Ba thám tử không trả lời. Ba bạn quay lưng lại với hang, đi qua trước một chỗ trưng bày những cái móc chìa khóa sáng bóng và người tiền sử bằng nhựa, để bán cùng với những chiếc áo thun có in dòng chữ “Citrus Grove, cái nôi của nhân loại.”
- Sẵn sàng hết rồi, Newt MacFee vừa nói vừa tắt đèn khóa cửa. Thằng John Du mục sẽ canh gác đây đêm nay, không cho ai vào làm lộn xộn lên hết.
- John Du mục à? Hannibal hỏi lại.
MacFee hất cằm về hướng người đàn ông gầy bây giờ đang ngồi trên cái giường bên trong xe lán.
- Chính hắn. Chúng tôi gọi hắn là John Du mục bởi vì hắn sống trong chiếc xe kia, thay vì có ngôi nhà thật.
MacFee trở về nhà. John Du mục bước ra khỏi xe lán.
- Được thôi, ông nói. Muốn tôi canh, thì tôi sẽ canh. Nhưng kẻ quá cố trong kia sẽ không thích chuyện này đâu. Tôi cũng sẽ không thích bị mọi người đến xem xương của tôi.
- Nhưng đã chết rồi thì làm sao mà biết được, Peter nhấn mạnh, ông ấy chết rồi mà? Người chết đâu có biết khi người ta nhìn mình.
- Có chắc không? John Du mục hỏi lại.
6. LỘN XỘN ĐÊM KHUYA
Bữa ăn tối hôm đó vẫn lại là hamburger tại quán cà phê Lazy Daze. Sau đó ba thám tử mua kem ở chiếc xe tải nhẹ gần nhà ga. Rồi cả ba trở về gác xếp, nằm đó nhìn qua cửa sổ thấy mặt trời lặn xuống rồi trăng mọc lên. Khí trời hơi lạnh lạnh. Có những làn sương mù nổi lềnh bềnh trên bãi cỏ, các vì sao tắt đi. Cuối cùng ba thám tử lấy túi ngủ, nằm xuống ngủ.
Vào lúc nào đó trong đêm khuya lạnh lẽo, Hannibal tỉnh dậy nghe tiếng cửa mở. Có người vào kho thóc, một kẻ đang rên rỉ như một con thú.
Hannibal ngồi dậy lắng nghe.
Tiếng khóc rên dứt một hồi, rồi lại tiếp tục nữa.
Peter mở mắt ra, ngồi dậy.
- Có chuyện gì vậy? Peter thì thầm.
Hannibal bò đến đỉnh thang, nhìn xuống dưới bóng tối.
- Các cậu đó hả? Một giọng nói khàn khàn thốt lên. Có phải các cậu không?
Chính John Du mục. Vừa mới nói xong, thì ông ngã té, đè lên một cái gì đó trong bóng tối.
Bob hoảng sợ kêu lên. Peter mò mẫm tìm cây đèn pin bỏ gần túi ngủ. Khi tìm ra rồi, Peter trườn đến thang, rọi ánh đèn xuống sàn kho thóc.
John Du mục bị vấp trúng một thùng lon đồ hộp. Bây giờ ông đang bước đi lảo đảo, mắt nheo lại vì bị chói.
- Có phải các cậu không? John Du mục hoảng hốt la lên. Trả lời đi chứ, sao không nói gì cả?
- Tụi cháu đây, Hannibal nói.
Hannibal, Bob và Peter bước xuống thang. John Du mục đang run rẩy tựa vào chiếc xe tải cẩu mới của Newt MacFee.
- Có chuyện gì vậy? Hannibal hỏi.
- Cái... cái người chết! John Du mục nói. Tôi đã nói là hắn sẽ không thích bị tội có nói không?
- Sao vậy? Peter hỏi. Có chuyện gì xảy ra?
- Hắn đứng dậy bỏ đi rồi, hắn đã làm thế, John Du mục tuyên bố. Sẽ đáng đời lão Newt! Ngày mai sẽ không còn bộ xương nào ở đó cả! Lão sẽ nói tôi lấy đi mất, nhưng không hề có chuyện đó. Hắn tự bỏ đi! Tôi đã nhìn thấy hắn đi mà!
Cửa kho thóc đang mở, ba thám tử nhìn ra ngoài, viện bảo tàng nhỏ chỉ thấy được một chút dưới ánh trăng. Cửa có vẻ đóng kín.
- Chắc là chú nằm mơ, Bob nhẹ nhàng nói.
- Không, người đàn ông lắc đầu. Tôi đang ở trong xe lán, thì nghe tiếng cửa mở. Tôi nhìn ra, thấy con người tiền sử đó. Hắn khoác tấm lông thú, giống như bộ da của một con thú hắn vừa mới giết. Tôi nhìn thấy được mắt hắn. Mắt rất ghê, cứ nhìn thẳng phía trước, sáng rực. Còn tóc thì dài, bù xù. Hắn đi qua trước mặt tôi, chạy thẳng băng qua bãi cỏ.
John Du mục nhắm mắt lại như để tống đi khỏi trí nhớ hình ảnh kinh hoàng kia.
- Để tụi cháu ra xem, Hannibal nói.
Tất cả đi chung với nhau, như thể sợ con người tiền sử thật sự có khả năng đứng dậy, mặc bộ lông thú rồi băng qua đồng cỏ.
Nhưng cửa viện bảo tàng đóng kín. Khi Hannibal xoay thử tay cầm cửa, thì Newt MacFee xuất hiện trước cổng nhà.
- Có chuyện gì vậy? MacFee la lớn. Các cậu đang làm gì vậy?
- Chỉ xem xét thôi, Hannibal trả lời. Có rắc rối và... người canh gác của chú đã nhìn thấy một ai đó băng qua cánh đồng cỏ.
Thalia MacFee xuất hiện trước cổng. Newt bước xuống các bậc thềm, chậm chạp băng qua cánh đồng đến viện bảo tàng.
- Chuyện gì xảy ra vậy? MacFee hỏi John Du mục. Tay Brandon điên khùng đến đây rình mò nữa à?
- Chính người tiền sử, John Du mục trả lời. Nó bỏ đi rồi!
- Cái gì? MacFee không tin nhìn lại rồi to giọng hét lên. Thalia! Lấy chìa khóa!
Thalia MacFee chạy đến với xâu chìa khóa. Newt MacFee mở cửa ra, bật đèn lên. MacFee băng qua phòng trưng bày. Đèn sáng lên ở phòng dưới, MacFee nhìn vào kho báu của mình.
Ba thám tử nhìn qua lưng MacFee, thấy hai hốc mắt trống rỗng đang nhìn lại, tàn tích của cái miệng đang mỉm cười. Ba thám tử nhìn thấy xương sườn lòi ra từ lớp đất được quét phẳng, và một bàn tay thò ra.
MacFee quay sang John Du mục.
- Mày điên rồi! MacFee nói. Bộ xương vẫn còn đây. Anh bị sao thế?
- Nó bỏ đi rồi mà! John Du mục vẫn nói. Tôi nhìn thấy nó đi. Nó khoác tấm lông thú y như loại áo choàng mà người Mê-hi-cô hay mặc, nhưng bằng lông thú! Và nó có tóc! Nó còn sống!
- Câm mồm! MacFee quát. Bộ muốn cả thành phố lên đây sao?
MacFee tắt đèn trong hang động, bước ra khỏi viện bảo tàng. Tất cả đi theo MacFee.
- Đứng dậy, bỏ đi hả? MacFee nói.
MacFee cười khinh bỉ, khóa cửa viện bảo tàng lại, trở vào nhà. Eleanor đang chờ đó, ngay dưới chân các bậc thềm.
- Eleanor, vào nhà, MacFee ra lệnh. Không có gì đâu. Thằng John Du mục điên khùng bị ảo giác thôi.
MacFee quay lại.
- John, lo mà mở mắt ra nhé! Tôi không trả tiền anh để anh ngủ đâu đấy!
MacFee và Eleanor biến mất vào nhà. John Du mục lầm bầm một cái gì đó rồi lấy một cái ghế xếp từ trong xe lán ra, đặt giữa đường giữa xe lán và viện bảo tàng. Rồi John lấy một cây súng ra, ngồi xuống.
Ba Thám Tử Trẻ trở về gác xếp.
- Chắc là nằm mơ thôi, Peter nói khẽ.
- Trông ông già không được sáng trí lắm, Bob nói.
- Phải, Hannibal đồng tình, nhưng đâu có nghĩa là ông ấy bị ảo giác?
- Đúng. Nhưng ai cũng có thể bị nằm mơ rồi không còn biết chắc chuyện gì đã thật sự xảy ra, chuyện gì không có thật, Bob nói.
- Ông ấy có vẻ tự tin lắm, Hannibal nhận xét.
- Còn cánh cửa? Khóa mà, Peter nhắc.
- Có thể có người có chìa khóa, Hannibal nói.
Hannibal chồm dậy và nhìn thấy John Du mục đứng dậy khỏi ghế, nhìn qua cánh đồng. John kẹp súng dưới tay, đầu nghiêng sang một bên như để lắng nghe.
John trở vào xe lán trùm chăn quanh mình, ngồi trở xuống ghế.
- Cũng có thể chỉ là một giấc mơ, Hannibal nói khẽ. Nhưng John Du mục tin chắc là người tiền sử, và mình nghĩ John đang sợ.
Peter lo lắng nhìn ra cửa sổ xuống cánh đồng sáng trăng.
- Mình rất thông cảm với ông ấy, Peter nói. Mình mà thấy một người tiền sử đi lang thang quanh đây, thì mình sẽ phát khiếp!
7. MỘT BUỔI SÁNG BẬN RỘN
Hannibal ngủ dậy trước và là người đầu tiên bước ra khỏi kho thóc vào sáng thứ bảy. Dưới ánh nắng sáng sủa, trông khu rừng không còn tối tăm và huyền bí nữa. Hannibal tiến hành băng qua bãi cỏ về hướng khu rừng. Thám tử trưởng bước chậm chạp, mắt luôn nhìn xuống đất, nhưng không thấy dấu chân nào. Những vệt đen tối mà Hannibal nhìn thấy trên cỏ tối hôm qua đã biến mất cùng với lớp sương ban mai.
Hannibal đi được khoảng ba chục mét thì để ý một chỗ cỏ khá mỏng, thấy được đất nâu qua lớp cỏ. Thám tử trưởng quỳ xuống, rùng mình kích động.
Hannibal vẫn đang ngồi đó khi Peter đến bên cạnh.
- Cái gì vậy? Peter hỏi. Cậu tìm thấy gì à?
- Một dấu chân, Hannibal trả lời. Rất gần đây, có kẻ đã đi qua cánh đồng này: một kẻ đi chân không!
Peter cúi xuống nhìn dấu chân, rồi đứng dậy nhìn khu rừng, mặt mày tái mét.
- Chân không hả? Peter hỏi lại. Đi... đi trên đất trần này à? Chẳng lẽ John Du mục đã thật sự nhìn thấy một cái gì đó?
Peter nhìn khắp xung quanh.
Hannibal không nói gì, bỏ đi về hướng rừng. Peter nuốt nước miếng đi theo. Hai thám tử chú ý tìm thêm dấu hiệu của kẻ đã đi qua con đường đó, nhưng đám cỏ dày và dài, và hai thám tử đi đến bờ rừng mà không thấy thêm dấu chân nào.
Dưới cây rừng có lối đi, nhưng nền đất ở đó phủ một lớp lá kim thông.
- Sẽ không thấy dấu chân ở đây đâu, Hannibal nói, nhưng nếu đi sâu thêm một tí...
- Ê, khoan đã! Peter kêu lên. Không nên đi vào đó bây giờ! Lỡ vẫn còn ai trong đó... thì... thì... mà nếu bọn mình muốn được ăn sáng, thì nên đi ngay bây giờ. Quán cà phê sẽ lại đông nghẹt người! Đi thôi, nếu không, bọn mình sẽ bị chết đói!
- Peter ơi, nhưng có thể có một cái gì đó quan trọng!
Hannibal nói.
- Quan trọng đối với ai? Peter đáp. Nào, Babal ơi. Để sau này, bọn mình sẽ tìm kiếm trong rừng.
Hannibal miễn cưỡng để cho Peter lôi trở về kho thóc. Bob vừa bước ra khi Hannibal và Peter về đến. Đúng lúc đó Newt MacFee xuất hiện trước cửa nhà.
- Chào, Newt kêu. Ngày hôm nay trời đẹp quá phải không? Sẽ có rất đông người dự buổi lễ khai trương viện bảo tàng.
MacFee hài lòng mỉm cười.
- Ê, John! Newt réo.
John Du mục bước ra khỏi xe lán, tay cầm tô thức ăn.
- Còn thấy thêm người tiền sử nào tối hôm qua nữa không?
MacFee cười, nhưng John Du mục chau mày.
- Thấy một thôi là đủ rồi, John nói rồi trở vào trong xe.
MacFee vẫn thản nhiên réo theo.
- Đừng có bỏ đi đâu hết, John nhé. Ăn sáng xong tôi cần anh giúp sửa vài thứ trong viện bảo tàng. Sau đó anh phải ở lại đây trông coi chỗ này trong khi chúng tôi tiến hành buổi lễ khai trương ngoài công viên.
Newt MacFee trở vào nhà. Ba thám tử đi xuống con đường chính để đi ăn sáng, vẫn có rất đông người chờ trước quán cà phê Lazy Daze. Khi được xếp chỗ ngồi, thì ba thám tử đã đói run.
Khi cô hầu bàn ghi những món ba thám tử gọi, thì có tiếng kèn đồng của hành khúc Sousa. Ba thám tử nhìn qua đám người đi bộ và hàng xe đậu kín con đường. Một nhóm nhạc công trẻ đang tổng diễn tập trong công viên.
- Chắc là băng nhạc ở trường học địa phương, Bob đoán.
Đám đông trên lề đường thưa lại được khoảng một phút. Hannibal, Bob và Peter nhìn thấy được đồng phục rực rỡ đỏ, trắng, vàng kim của băng nhạc. Xe tải của nhiều hăng truyền hình đậu ở phía sau công viên. Một người đàn ông áo sơmi tay ngắn đang táy máy cái micro trên bục.
Ba thám tử vừa mới bắt đầu ăn sáng, thì tiến sĩ Terreano bước vào quán cà phê. Nhà miễn nhiễm học Hoffer, cũng đi cùng, đang khịt mũi vào chiếc khăn tay. Hai người đàn ông nhìn khắp quán, rồi Terreano thấy Hannibal và mỉm cười.
- Ta mời hai tiến sĩ lại ngồi cùng bàn nhé? Hannibal hỏi.
- Đương nhiên, Peter trả lời. Hỏi thử xem hai tiến sĩ có chịu ngồi chung với bọn mình không.
Hannibal bước ra cửa quán, ngỏ lời mời. Hai nhà khoa học vui vẻ nhận lời, đi theo Hannibal về bàn.
- Các cậu tử tế quá, Terreano vừa nói vừa ngồi xuống với bộ mặt buồn bã cam chịu. Thành phố này như cái nhà thương điên. Có lẽ sẽ tiếp tục là một nhà thương điên cho đến hết mùa hè, khi du khách trở về nhà.
Terreano cho một miếng bơ lên dĩa, rồi nói tiếp.
- Thường chúng tôi ăn sáng ở hội, nhưng ngày hôn nay không nên ở gần anh James Brandon. Tôi rất thông cảm với cảm xúc anh ấy, tất nhiên rồi. Câu chuyện này thật khó chịu đối với anh ấy.
Elwood Hoffer nhảy mũi rồi mỉm cười.
- Tôi bị sốt cỏ khô, ông giải thích với ba thám tử rồ quay sang Terreano. Anh Phil, anh là người rất hay thông cảm, nhưng riêng tôi cho rằng lẽ ra anh không nên để Brandon gọi anh là kẻ phản động đờ đẫn.
- Brandon là người dễ bị kích động, Terreano dịu dàng nói. Hiện anh ấy đang bị thất vọng đè nén. Thử tưởng tượng xem, tìm thấy một bộ xương hóa thạch gần như đầy đủ, mà lại không được nghiên cứu đàng hoàng. Mà anh ấy lại muốn biết xem những gì mới tìm thấy có thể làm thay đổi cách suy nghĩ của ta về nguồn gốc loài người hay không. Tôi không nghĩ là sẽ có thay đổi gì, tôi cho rằng sinh thể nhỏ thuộc họ người trong hang động kia chỉ là một ngõ cụt tiến hóa nữa, nhưng chính Brandon đã tìm thấy nó và lẽ ra Brandon phải có được cơ may nghiên cứu đánh giá. Chính tôi cũng sẽ nổi giận nếu như tôi có được một phát hiện quan trọng mà sự việc lại chuyển biến như thế.
- Tiến sĩ Brandon muốn làm gì với bộ xương ạ? Bob hỏi. Cháu từng được nghe nói đến cách xác định niên đại bằng cácbôn-14.
- Cách xác định niên đại bằng cácbôn-14 không phải là cách thức duy nhất để tìm hiểu xem một cá thể cổ xưa được bao nhiêu. Có những cách xác định niên đại khác nữa, và có nhiều cách để đánh giá xem một sinh thể gần với người đến mức độ nào. Ta luôn có vấn đề với việc này, bởi vì không ai có thể nói chính xác xem điều gì khiến một sinh thể trở thành người. Đó là vấn đề đi thẳng trên hai chân, hoặc vấn đề kích thước bộ não so với phần cơ thể còn lại, hoặc bộ răng...
- Răng à? Bob hỏi lại. Răng thì sao ạ?
- Bộ răng người bố trí trên hàm thành hình cung, - Terreano trả lời. Bộ răng của các loại linh trưỏng khác, như khỉ, thì xếp thành hình chữ u, với hai cạnh song song nhau. Có khác biệt về kích thước răng hàm nữa và...
- Cô hầu bàn mang đồ ăn sáng cho ta ra kìa, Hoffer nói. ơn Chúa.
- Xin lỗi, Terreano nói, tôi không có ý gây chán nản cho anh đâu, Elwood à.
- Cháu rất thích nghe, Bob vội vàng tuyên bố. Cháu hiểu tại sao tiến sĩ Brandon giận dữ đến thế. Nếu Newt MacFee cứ làm lộn xộn với người đàn ông tiền sử thì...
- Mà ông ấy sẽ như thế, Terreano nói. Mà chưa chắc gì là đàn ông.
- Anh Phil ơi, không nên bàn bạc chi tiết về khía cạnh này, Hoffer nói. Tôi không hiểu tại sao có được kết luận về vấn đề này lại quan trọng đến thế đối với một nhóm đông nhà khoa học.
Terreano mỉm cười.
- Công trình nghiên cứu của tiến sĩ có tính ứng dụng hơn, Terreano nói với ba thám tử. Nếu tiến sĩ Hoffer chứng minh được rằng nguyên nhân chứng ợ nóng là do cơ thể nổ lực chống lại bệnh cảm lạnh bình thường, thì tất cả chúng ta sẽ rất mang ơn.
- Rất có thể chứng ợ nóng được gây ra bởi một phản xạ miễn nhiễm, Hoffer cương quyết nhận xét. Tôi tin rằng những suy nhược trong hệ miễn nhiễm của ta gây ra phần lớn những rối loạn mà ta bị, còn bộ gen, mà ta đã thừa hưởng, chỉ chịu trách nhiệm về một vài vấn đề ít ỏi thôi, bất chấp những gì tiến sĩ Karl Birkensteen có thể nói...
Terreano buồn bã nhìn xuống khi nghe nhắc đến tên nhà di truyền học quá cố.
- Một con người tài giỏi, Terreano nghiêm trang nói. Một mất mát to lớn.
- Có thể, Hoffer nói. Nhưng kỹ thuật di truyền học cũng nguy hiểm không kém gì chia tách nguyên tử. Một khi đã bắt đầu rồi, thì biết dừng ở đâu?
- Tiến sĩ Karl Birkensteen thật sự hy vọng sẽ cải thiện được con người à? Hannibal hỏi. Hôm qua, chị Eleanor có kể với tụi cháu rằng ông ấy đã bắt đầu tạo ra được những chú tinh tinh thông minh hơn. Ông ấy thật sự tin rằng sẽ tạo ra được những con người thông minh hơn à?
Terreano có vẻ bối rối.
- Tôi không nghĩ ông ấy mường tượng đến một cái gì đó triệt để như một chủng tộc siêu nhân đâu, nhưng ông ấy nghĩ rằng có quá nhiều người sinh ra để sống ở một mức quá cơ bản. Ông ấy nghĩ rằng một con người, có bộ não kỳ diệu, không nên bỏ ra mười hai, mười sáu năm ở trường chỉ để học những kiến thức giúp anh ta kiếm sống.
- Láo xược! Elwood Hoffer thốt lên. Dám can thiệp vào công việc của tạo hóa như thế có thể gây ra những hậu quả kinh khủng. Những con thú của Karl Birkensteen là minh chứng cho việc này. Ông ấy bắn đủ thứ loại tia vào những con đực và con cái, rồi ông ấy nhét dồn dập đủ thứ hóa chất cho chúng. Ông ấy dạy được cho ngựa ở một chừng mực nào đó, đúng là tinh tinh có bộ não to và nhanh nhẹn. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của chúng chỉ rất nhỏ so với động vật bình thường sống trong tình trạng bị giam cầm.
- Như thể mây con thú kia sống nhanh quá, Terreano nói. về cuối, Karl Birkensteen cố gắng làm chậm lại quá trình lão hóa. Ông ấy đã chế tạo được các loại hợp chất mà ông ấy tiêm cho tinh tinh theo nhiều cách thức, ông ấy nghiên cứu các loại hóa chất mà não tiết ra để gây ngủ hoặc gây thức.
Công trình nghiên cứu của ông ấy rất táo bạo và độc đáo. Chắc là ông ấy sắp được nhận Giải thưởng Spicer, là khoản tiền mà hội đồng quản trị Hội Spicer thưởng hằng năm cho nhà khoa học tại gia có công trình có thể có ích nhất đối với nhân loại. Nếu Karl Birkensteen thành công, cho dù một phần thôi, thì ông ấy đã có thể có được hơn một triệu đô la để xài tùy thích.
- Bây giờ thì sẽ như thế nào? Peter hỏi. Ai sẽ nhận được khoản tiền đó?
Terreano nhún vai.
- Ai biết được? Có thể tiến sĩ Hoffer sẽ chữa hết các bệnh loét dạ dày của ta, hoặc có thể James Brandon sẽ đưa ra những quan điểm mới mẻ về nguồn gốc loài người, hoặc...
- Nói về Brandon, Hoffer ngắt lời, nhìn ra kia đi.
Tất cả quay ra cửa sổ, nhìn thấy Brandon đang bước trên lề đường, tránh những người đi bộ khác, ông đang đi thẳng đến quán cà phê.
Terreano vẫy tay khi Brandon bước vào. Brandon lấy một cái ghế trông ở bàn bên cạnh, ngồi xuống cạnh Hannibal.
- Xong rồi! Brandon đột ngột thông báo. Tôi đã gọi điện thoại đi Sacramento. Tôi sẽ gọi lại sau giờ ăn trưa, lúc ông thống đốc rảnh để nói chuyện.
- Ông thống đốc sẽ đưa người tiền sử của anh ra khỏi hang động kia hả? Terreano hỏi.
Hoffer ngạc nhiên nhìn Terreano.
- Tôi cứ tưởng hai anh không nói chuyện với nhau.
- Đó là trước kia, Terreano đáp, James, anh nghĩ ông thống đốc sẽ giúp thật hả?
- Sao lại không? Brandon nói. Nếu nhà nước có thể chiếm hữu tài sản để xây đường sá trường học, thì sao không thể chiếm hữu để cứu lấy bộ xương hóa thạch kia? Tôi sẽ yêu cầu thống đốc tuyên bố toàn khu vực ấy là di tích lịch sử. Rất có thể còn nhiều hóa thạch trong vùng đồi kia, sẽ là một trọng tội nếu để mất các hóa thạch ấy chỉ vì tên MacFee muốn cho dân chúng vào để thu năm đô la đầu người!
Brandon ngưng nói. Từ công viên phía bên kia đường, tiếng kèn lại vang lên.
- Mười giờ kém năm, Hoffer nói. Buổi lễ sắp bắt đầu bây giờ, rồi khi xong, đám đông sẽ hành quân trên con đường để rhìn chằm chằm vào con người tiền sử của anh. Trễ quá rồi, Brandon ơi. Chuyện đó sẽ xảy ra, và anh không thể làm gì được để ngăn cản họ!
8. SỰ KIỆN KINH NGẠC
Buổi lễ khai trương hang động bị trễ hơn dự tính. Khi Brandon, Terreano và Hoffer đi đến công viên cùng ba thám tử trẻ, thì MacFee đã ngồi sẵn trên bục cùng Thalia bên cạnh. Thalia mặc áo đầm in hoa văn trắng đen, đeo găng tay dài tận cùi chỏ. Ngồi cạnh vợ chồng MacFee có một người đàn ông gầy nhom mặc áo vét bằng vải sọc nhăn trông héo hon dưới ánh nắng mặt trời.
- Tay đó là Harry Chenoweth, thị trưởng, là chủ nhân hiệu thuốc, Terreano thì thầm với Hannibal. Ông ấy sẽ chủ trì buổi lễ, ông ấy rất thích đọc diễn văn.
Một người mặc bộ complê màu sẫm với cổ áo mục sư đến cùng ông bà MacFee và ông thị trưởng. Terreano bảo đó là vị linh mục Nhà thờ thành phố.
Một vài nhân vật quan trọng khác lên ngồi gần linh mục. Terreano nhận ra ông chủ nhà hàng Thợ săn Vui vẻ và người điều hành khách sạn. Người điều hành siêu thị cũng có mặt trên đó. Cũng như trợ lý điều hành, người phụ nữ làm chủ một cửa hàng bán quà lưu niệm. Chủ quán cà phê Lazy Daze đang hấp tấp băng qua đường, còn chủ garage đã đến ngồi ở hàng phía sau người điều hành siêu thị.
- Tất cả đã đóng cửa tiệm, Terreano nói. Cả thành phố có mặt ở đây ngày hôm nay. Người tiền sử có thể là cơ hội cho thành phố này phát triển. Phần lớn các cơ sở làm ăn đều sống lây lất qua ngày. Bây giờ có cơ hội để kiếm thật nhiều tiền. Không có ai trong thành phố mà không vui về việc này.
Hannibal nhìn quanh công viên thây gần như mọi tổ chức công dân đều có đại diện. Có nhóm Hướng đạo nam, và Hướng đạo nữ. Có nhóm Shriners, tuyệt đẹp với mũ màu đỏ, nhóm Elks, vui nhộn cầm cờ mang tên nhóm. Những người đàn ông trẻ từ phòng Thương Mại đeo rubăng đặc biệt trên vạt áo. Và có vài người đàn ông mặc complê đen, đội mũ lông trắng.
Ông bán kem đã xoay sở đậu được chiếc xe gần công viên và đang tích cực kinh doanh. Gần ông bán kem là một chàng trai trẻ cầm một đống bong bóng bơm khí hêli, được một bầy con nít bu quanh.
Khi công viên dường như không thể nào đông đúc hơn nữa, ông thị trưởng đứng dậy, vỗ vỗ vào micro, rồi đưa hai tay lên để ra hiệu im lặng.
Hannibal liếc nhìn Eleanor Hess. Eleanor đang theo dõi, vẫn với ánh mắt lo lắng như mọi khi.
- Thôi nào! ông thị trưởng yêu cầu. Xin tất cả hãy ổn định chỗ ngồi để ông Robertson, linh mục Nhà thờ thành phố, xin Chúa ban phước lành cho dự án mới của chúng ta. Sau đó băng nhạc của Trường trung học Centerdale, xin một tràng pháo tay cho băng nhạc này, sẽ dẫn đoàn trên con đường đi đến viện bảo tàng người tiền sử. Rồi cô Patty Ferguson của ta, quý vị đã từng biết đến cô như Hoa Hậu Quả Bơ ở hội chợ năm ngoái, sẽ cắt băng khánh thành hang động.
Ông thị trưởng dừng, nhìn đám đông.
- Patty ơi, cô đang ở đâu? ông gọi.
- Cô ấy đây! Có người la lên.
Từ đám đông, một cô gái thanh mảnh tóc vàng tiến lên. Đám đông hô hào khi cô bước lên khán đài.
Đột nhiên có một âm thanh dồn dập, rồi các vòi phun nước tưới cỏ trong công viên tự nhiên bật lên!
Mọi người la hét. Có người gào lên định bỏ chạy. Nhưng họ không thể. Đám đông quá đặc nghẹt.
Hannibal cảm nhận cú sốc của nước lạnh trên mặt và tay, rồi quần áo ướt sũng đi. Thám tử trưởng quay đầu định la một cái gì đó với Peter, nhưng Peter đột nhiên ngã quỵ sang một bên, mắt nhắm lại.
Đầu gối Hannibal sụm xuống, Hannibal không còn đứng được nữa. Thám tử trưởng cảm thấy như đang nổi, rồi chìm xuống như thể bị vùng lõm giữa hai ngọn sóng cuốn đi. Thậm chí Hannibal không kịp hoảng sợ lên trước khi bị bóng đen trùm lấy.
Mọi thứ rất lạnh. Hannibal ngửi thấy mùi đất. Hannibal bị chuột rút và bị một cái gì đó làm ngứa ngáy mũi. Hannibal mở mắt ra, thấy mình đang nằm dưới đất, mặt úp trên cỏ. Các vòi tưới bãi cỏ đã tắt.
- Cái gì... ? Một giọng nói quen thuộc hỏi.
Hannibal tự nâng mình dậy trên một cùi chỏ, rồi nhìn thấy Brandon. Đầu Peter đang nằm trên đùi Brandon.
Có tiếng rì rào và la hét, cả một công viên đầy người đang cố ngồi dậy. Đồng hồ trên tháp Nhà thờ thành phố bắt đầu gõ.
Hannibal nhìn lên tháp đếm tiếng chuông. Mười một giờ! Không hiểu sao, bằng một cách nào đó, Hannibal - và cả đám đông - đã bị bất tỉnh trong suốt hơn bốn mươi phút.
Rồi Hannibal nhớ lại: hệ thống phun nước phòng cháy tự động. Hẳn có kẻ đã cho một chất thuốc nào đó vào hệ thống phun nước phòng cháy tự động để làm cho cả thành phố ngủ!
Vài đứa bé đang khóc lóc ở một góc công viên, còn anh chàng bán bong bóng thì đang nhìn lên trời. Bong bóng đã bay đi mất - mất hết.
Hannibal cố đứng dậy. Cậu giúp Bob một tay khi John Du mục loạng choạng bước trên con đường từ nhà MacFee đến.
- Người tiền sử! John Du mục khoa tay múa chân hét lên với giọng khàn hơn bình thường. Hắn đi mất rồi! Có một cái gì đó đến và mang hắn đi rồi!
9. HANNIBAL SUY LUẬN
Suốt vài tiếng, cánh đồng gần nhà Newt MacFee có một cảnh tượng náo nhiệt hỗn loạn. Người ở phòng cảnh sát trưởng chụp hình và rắc bột trong viện bảo tàng tìm dấu vân tay. Nhân viên các đài truyền hình phỏng vấn Newt và Thalia MacFee trong khi cặp vợ chồng này đang tức điên lên. Các phóng viên truyền hình còn phỏng vấn cả James Brandon. Trông tiến sĩ khá buồn chán. Truyền hình có nói chuyện với ông thị trưởng thành phố và vài thương nhân khác. Các phóng viên cũng phỏng vấn luôn John Du mục.
- Có một cái gì đó đến! John Du mục nói với phóng viên truyền hình. Tôi đang canh gác theo dõi, đúng theo chỉ thị của ông Newt, tôi nghe tiếng động phía sau lưng, tôi... tôi quay lại...
John Du mục thu mình lại, nhìn qua vai.
- Cái vật ấy! John Du mục nói. Một vật kinh khủng với con mắt to nhìn trân trân và... có ngà y như ngà voi! Không có gì giống người cả! Rồi tôi nằm dưới đất, cửa viện bảo tàng mở, khi tôi nhìn vào bên trong, thì con người chết tội nghiệp kia đã đi mất rồi!
- Ông ấy say rượu! Một người trong đám đông nói.
Nhưng John Du mục không hề uống rượu, còn người tiền sử thì đã thật sự biến mất.
Rốt cuộc, người ở đài truyền hình bỏ đi. Cảnh sát trưởng để lại hai người canh gác, rồi cũng lái xe đi về. Những người đứng xem rút dần hết. MacFee đứng bên kho thóc nói chuyện với người cảnh sát ở lại canh gác. Ba thám tử trẻ, đang lảng vảng gần đó, bước đến viện bảo tàng.
- Các cậu ơi, người cảnh sát đứng gần cửa viện bảo tàng nói. Các cậu không vào được.
Hannibal liếc nhìn cánh cửa hé mở.
- Kẻ đánh cắp bộ xương có chìa khóa, đúng không? Thám tử trưởng hỏi.
Người cảnh sát có vẻ ngạc nhiên, rồi nhìn cánh cửa.
- Cánh cửa không hề bị hư hại gì, Hannibal nói. Khung cửa cũng vậy. Nếu kẻ ngoại xâm phải bẻ khóa, thì sẽ còn lại dấu vết trên cửa và trên khung cửa.
Cảnh sát mỉm cười, rồi bước sang một bên.
- Được rồi Sherlock Holmes ơi, cảnh sát nói. Thử xem còn nói được gì cho tôi nghe nữa nào?
Hannibal bước vào viện bảo tàng cùng Bob và Peter.
Tòa nhà nhỏ không có gì bị xáo trộn ngoại trừ những vệt đen nơi đội lấy vân tay đã làm việc. Hannibal nhìn khắp, rồi băng qua phòng, nhìn xuống hang động có chiếu sáng. Lớp bẩn dưới nền hang bị xáo trộn ở chỗ từng có bộ xương, nhưng những chỗ còn lại vẫn phẳng.
Rồi Hannibal để ý thấy một dấu chân bên cạnh chỗ đã trưng bày bộ xương.
- Dấu chân này là của một kẻ mang giày đế cao su, Hannibal nói. Newt MacFee đi ủng cao bồi, John Du mục đi ủng có dây thắt với đế da. Do chỉ có MacFee và john Du mục từng vào đây trước khi vụ trộm xảy ra, thì suy ra rằng dấu chân này là của kẻ đã lấy trộm bộ xương. Tên trộm đi giày thể thao có hình ngôi sao ở giữa gót và ở đế giày.
Người cảnh sát gật đầu.
- Chúng tôi cũng đã suy ra như thế. Thợ chụp ảnh đã chụp dấu chân này. Ta không thể đi lục lạo tủ để tìm ra đôi giày tạo ra dấu vết này, nhưng nên có hình sẵn để làm chứng cớ.
Hannibal lấy thước cuộn trong túi ra, đo dấu chân. Nó dài hai mươi tám phân.
- Một người khá to lớn, Hannibal nói.
Người cảnh sát mỉm cười.
- Cậu rành nghề quá. Mai mốt, cậu sẽ trở thành thám tử hả?
- Hiện cháu đang là thám tử, Hannibal nói.
Thám tử trưởng không buồn giải thích nhận xét này. Thay vì đó, Hannibal ngạc nhiên nhìn xung quanh.
- Tại sao? Hannibal nói. Đó chính là điều cháu không hiểu. Có kẻ đã nhọc công rất nhiều. Rõ ràng có kẻ đã cho một thứ thuốc nào đó vào hệ thống phun nước tự động để làm cho cả thành phố ngủ đi...
- Chúng tôi cũng nghĩ thế, cảnh sát nói. Có người đã lấy mẫu nước từ các vòi phun nước mang về phòng thí nghiệm. Nước trong bể chứa phía trên thành phố cũng sẽ được thử nghiệm luôn. Nước được cấp từ bể chứa đó.
- Lạ thật, Hannibal nói. Y như một bộ phim khoa học viễn tưởng. Trong khi cả thành phố đang ngủ say, tên trộm đã khoác một bộ hóa trang kinh dị, làm cho John Du mục khiếp sợ và có lẽ đã xịt thuốc ông ấy để ông ấy bất tỉnh. Hoặc có thể hơi nước từ vòi phun nước cũng đã tác động đến John Du mục. Rồi tên trộm đột nhập vào viện bảo tàng, lấy bộ xương đi.
Còn lại câu hỏi là tại sao? Bộ xương cũ kỹ tự nó không có giá trị như vàng hay nữ trang. Bộ xương chỉ có tầm quan trọng khi dính liền với nơi đã được tìm thấy. Hai người quan tâm nhiều nhất đến bộ xương đã bị đánh cắp là MacFee và Brandon, mà cả hai đã bất tỉnh khi vụ trộm xảy ra.
- Một vụ án kỳ lạ, người cảnh sát đồng tình, và thậm chí chúng tôi cũng không biết gọi tội phạm này như thế nào nữa đây. Có phải là một vụ trộm cướp hệ trọng, và cần phải phái thật nhiều tiểu đội để điều tra, lần mò mọi manh mối? Hay chỉ là một vụ ăn cắp vặt, hay thậm chí một trò đùa tinh ác?
- Chú nghĩ cảnh sát sẽ tìm ra được tên trộm không? Bob hỏi.
- Khó mà tìm ra nổi, người cảnh sát trả lời có vẻ nản lòng. Các cậu biết không, có rất nhiều vụ trộm không bao giờ giải ra được. Vì có quá nhiều vụ, mà không đủ người. Tôi đoán rằng vụ bộ xương này rồi sẽ chỉ được lưu lại và hết.
Ba thám tử buồn bã im lặng.
Người cảnh sát bước ra cửa.
- Thôi, bây giờ các cậu nên ra về đi.
Ba thám tử ngoan ngoãn đi ra, băng qua bãi cỏ thuộc đất của Newt MacFee. Gần kho thóc, Thalia đã ra cùng với Newt và người cảnh sát thứ nhì. Có cả Eleanor, vừa mới lấy thư. Eleanor đang cầm một xấp nhỏ gồm báo chí và thư.
Newt MacFee đang cầm một phong bì và một bức thư. Khi đến gần hơn, Ba Thám Tử Trẻ thấy được rằng thư được viết bằng chữ in hoa to xanh lục.
Newt MacFee tái xanh. Ông nhìn thư, nhìn cảnh sát rồi nhìn vợ.
- Có... có biết thư nói gì không? MacFee giận dữ hỏi. Đọc đi! Đọc cái này đi!
Newt MacFee đưa thư lên để cho tất cả đọc:
TÔI ĐANG GIỮ NGƯỜI TIỀNG SỬ CỦA ÔNG VÀ SẼ GIỮ KỸ CHO ĐẾN KHI NÀO TÔI CÓ ĐƯỢC 10.000 ĐÔ LA. NẾU ÔNG KHÔNG ĐƯA TIỀNG cho tôi, thì TÔI SẼ MANG NGƯỜI TIỀNG SỬ ĐẾN MỘT NƠI ÔNG SẼ KHÔNG BAO GIỜ TÌM RA. ÔNG SẼ CÒN NHẬN ĐƯỢC TIN TÔI NỮA.
- Bây giờ thì ta đã biết, Hannibal nói. Ta đã hiểu tại sao có kẻ đã ăn cắp một đống xương: để đòi tiền chuộc!
10. DẤU CHÂN BỐN NGÓN
Cảnh sát lấy thư đòi tiền chuộc khỏi tay MacFee, nhìn dấu bưu điện trên phong bì, rồi đọc lại thư.
- Tên trộm không giỏi đánh vần lắm, người cảnh sát nói, hắn viết sai đến ba từ. Nhưng hắn biết tính xa. Bức thư được gửi ngày hôm qua tại Centerdale.
Người cảnh sát cho thư vào túi áo.
- Ông MacFee ơi, ai giữ chìa khóa viện bảo tàng?
Newt MacFee lấy một chùm chìa khóa ra khỏi túi.
- Tôi giữ. Chìa khóa bảo tàng đây, MacFee nói. Chìa khóa duy nhất còn lại treo trong nhà bếp.
Eleanor chạy trở vào nhà, một hồi sau quay trở ra để báo rằng chìa khóa viện bảo tàng không còn treo trong nhà bếp nữa.
- Trên chìa khóa có nhãn, Eleanor nói, có lẽ nhờ vậy mà tên trộm đã biết rằng...
- Có lẽ thế, viên cảnh sát nói. Ông không khóa cửa sau nhà mà, phải không? Dân thành phố này luôn để cửa nhà mở. Tên trộm chỉ cần bước vào, lấy chìa khóa. Cho dù ông có khóa cửa, thì hắn vẫn có thể vào nhà bếp được. Ai cũng có thể mở ra cái khóa cửa kiểu cũ kia với một chìa khóa vạn năng, hoặc thậm chí với con dao nhíp.
Newt và Thalia MacFee tiu nghỉu rút về nhà. Eleanor cũng đi theo. Ba thám tử trẻ trèo lên gác xép, ngồi gần cửa sổ. Hannibal chau mày nhìn Bob và Peter.
- Không hiểu những ai biết về chìa khóa trong nhà bếp? Thám tử trưởng nói.
- Những ai biết à? Peter lập lại. Nhưng có cần phải biết không? Rất nhiều người giữ chìa khóa thứ nhì trong nhà bếp nhà mình, mà nếu cửa dễ mở như thế, thì..
- Ý cậu định nói rằng bất cứ ai cũng có thể lấy chìa khóa, Hannibal nói tiếp. Rất tiếc là đúng như vậy. Nhưng còn một điều làm mình thắc mắc nữa. Có dấu chân trong hang.
Bob có vẻ ngạc nhiên.
- Thì đã sao? Bob hỏi lại. Đó là dấu chân của tên trộm, hắn đi giày tennis hay giày thể thao. Có gì đâu nào?
- Các cậu có nhớ tình trạng hang động như thế nào tối hôm qua không? Hannibal hỏi. Lúc mà MacFee cho ta xem lần đầu tiên ấy?
Bob và Peter ra vẻ kinh ngạc.
- Đất xung quanh bộ xương bị giẫm bẩy, Hannibal nói rồi nhắm mắt lại như đang mường tượng bộ xương bị chôn vùi một nửa dưới đất. Rồi John Du mục bị ác mộng giữa đêm, khẳng định là đã nhìn thấy người tiền sử đứng dậy bỏ đi. Sau đó Newt MacFee mở cửa viện bảo tàng và tất cả chúng ta lại nhìn thấy người tiền sử vẫn còn đó. Lúc ấy, có dấu chân không?
Bob và Peter chau mày, rồi Peter nói:
- Không. Cậu đúng. Nhưng như vậy có nghĩa... có nghĩa rằng chắc chắn MacFee đã phải dọn dẹp, quét vùng đất xung quanh bộ xương cho phẳng lại.
- Ta sẽ tìm hiểu, Hannibal nói.
Thám tử trưởng trèo xuống gác xép, chạy qua nhà MacFee, gõ cửa.
Thalia MacFee mở cửa, rồi chồng bà cũng xuất hiện ở ngưỡng cửa. Newt MacFee và Hannibal nói với nhau vài lời.
Hannibal quay đi, vội trở về kho thóc.
- MacFee nói ông ấy không hề dọn dẹp trong hang, Hannibal báo lại với Bob và Peter, và ông ấy nói rằng John Du mục cũng không thể dọn dẹp trong đó được. MacFee không bao giờ để cho John Du mục ở một mình trong đó, thậm chí một phút cũng không.
- Vậy có nghĩa là trong đêm, có kẻ đã vào quét đi những dấu chân ấy, Peter nói rồi hốt hoảng. Vô lý. Cửa khóa mà. Trừ phi... người tiền sử đứng dậy. Nhưng không thể có chuyện đó được!
- Dù sao đi nữa, đã có kẻ đã để lại một dấu chân trên bãi cỏ, Hannibal nói. Mình sẽ xuống làng vài phút. Hôm qua mình có thấy một cửa hàng bán các thứ làm đồ thủ công bên một lề đường, mình muốn mua đồ. Các cậu cứ ở lại đây và đề cao cảnh giác nhé.
Hannibal lại biến xuống thang, và lần này đi gần nửa tiếng. Khi trở về, thám tử trưởng cầm một gói trong tay.
- Bột thạch cao, Hannibal nói, mình muốn lấy mẫu đúc dấu chân ngoài đồng.
Hannibal tiến hành lục lạo trong đống linh tinh trên bàn thờ trong kho thóc và chẳng bao lâu có được một lon nước sơn rỗng và vài miếng gỗ đủ loại kích thước.
Hannibal cho thạch cao bột vào lon nước sơn, cho thêm nước từ vòi bên ngoài nhà MacFee vào. Rồi thám tử trưởng dùng cái đũa khuây cho đến khi có được một thứ sền sệt như kem bị chảy.
- Cậu định chứng minh được cái gì khi làm như thế? Peter hỏi trong khi ba thám tử băng qua bãi cỏ.
- Mình cũng không bịết, Hannibal trả lời. Có thể là chẳng được gì. Nhưng có một người đi chân không qua đó và mình nghĩ ta nên có chứng cớ về việc này trước khi dấu chân bị giẫm bấy lên hoặc bị gió thổi bay mất.
Khi ba thám tử tìm lại được dâu chân, Hannibal ngồi xuống, phun đều bằng cái bình keo xịt tóc đã mua lúc nãy.
- Keo xịt tóc để làm gì vậy? Peter hỏi.
- Để bảo vệ dấu chân và không cho các thứ bẩn và rác rưởi bám vào thạch cao, Hannibal nói.
Sau đó, Hannibal làm một cái khung thô sơ với bốn miếng gỗ lấy trên bàn thợ. Rồi thám tử trưởng dùng băng keo giữ chặt mây miếng gỗ với nhau, đặt khung quanh dấu chân.
Khi làm xong rồi, Hannibal thận trọng rót một lớp thạch cao trên dấu chân. Hannibal cắm vài que gỗ vào thạch cao để gia cố cho mẫu đúc, rồi chờ lớp thạch cao đầu tiên cứng lại một chút, Hannibal lại rót thêm thạch cao nữa.
- Hay quá! Peter kêu.
- Tiếc quá, bọn mình không có thân chủ nào để đánh giá những gì (íang làrỉvBob nói. Các cậu có nghĩ rằng Newt MacFee sẽ chịu thuê bọn mình không?
- Bộ cậu nghĩ Ba thám tử trẻ sẽ thích nhận ông ấy làm thân chủ hả? Hannibal bắt bẻ.
- Ồ, không đời nào! Peter kịch liệt phản đối. Ông ấy bủn xỉn quá, và mình cũng không thích bà vợ. Không hiểu làm thế nào chị Eleanor chịu được hai ông bà này.
Hannibal thở dài.
- Cái bà ở cửa hiệu bán thạch cao có biết mẹ của chị Eleanor, - thám tử trưởng nói. Bà Hess, mẹ chị ấy, rất xinh đẹp. Bà chủ cửa hàng nghĩ rằng Thalia MacFee ganh tị với cô em. Bà ấy có nói bóng gió rằng bà Thalia trả thù lên chị Eleanor. Bà ấy nói thẳng thừng rằng Newt MacFee keo kiệt đến nỗi ông ấy bắt chị Eleanor phải trả tiền ở và tiền cơm tháng. Mà ông ấy buộc chị ấy trả tiền từ khi bố mẹ chị ấy mất.
Bob có vẻ kinh ngạc.
- Nhưng lúc đó chị Eleanor mới lên tám mà! Làm sao chị ấy có thể trả tiền được? Bố mẹ chị ấy có để lại tiền cho chị ấy à?
- Họ có nhà ở Hollywood, Hannibal nói. MacFee cho thuê ngôi nhà đó và thu tiền thuê.
- Ô! Bob thốt lên. Bà bán thạch cao đã kể cho cậu nghe nhiều thế sao? Cậu làm thế nào mà buộc bà ấy nói nhiều thế?
- Mình nói mình đang cắm trại ở kho thóc nhà ông MacFee, rồi bà ấy hỏi ông ấy lấy mình bao nhiêu tiền. Khi mình trả lời, bà ấy chỉ lắc đầu rồi bắt đầu nói. Bà ấy còn nói cho mình biết rằng John Du mục không biết đọc biết viết gì cả. John Du mục kiếm sống bằng những việc vặt, bà ấy nghĩ Newt MacFee ăn gian John Du mục bởi vì John Du mục không biết ghi lại khoảng thời gian đã bỏ ra làm việc cho Newt.
- Nếu không biết đọc biết viết, thì chắc chắn John Du mục không thể nào viết bức thư đòi tiền chuộc, Bob nhận xét.
- John có thể là kẻ đồng loã, nhưng dù gì mình không nghĩ John Du mục có liên quan gì đến vụ này, Hannibal nói. Ông ấy có vẻ không đủ thông minh để được ai đó tin tưởng. Và mình nghĩ sáng nay ông ấy không hề đóng kịch. Ông ấy thật sự khiếp sợ. Vậy ta hãy loại bỏ ông ấy. Vụ án cũng đủ rối ren khi không có ông ấy.
- Vậy bọn mình nhận vụ này hả? Peter hỏi. Thân chủ của bọn mình là ai? Chị Eleanor à?
- Có nhất thiết phải có thân chủ không? Hannibal hỏi. Vụ bí ẩn tự nó không đủ hấp dẫn sao? Một người tiền sử hóa thạch, đã chết từ thời xa xưa, đã bị đánh cắp. Còn tên trộm thì đã đưa một chất gì đó vào hệ thống phun nước chữa cháy tự động, khiến cả thành phố ngủ say.
Bob mỉm cười.
- Câu chuyện điên khùng, nên mình rất thích.
Bob ngồi xuống đất, lấy quyển sổ tay từ trong túi ra, rút cây bút bi bắt đầu viết.
- Một người tiền sử mất tích, - Bob nói. Một chất gây mê bí ẩn nào đó trong hệ thống nước. Một bức thư đòi tiền chuộc, viết sai chính tả, nhưng điều đó có thể không quan trọng. Ý mình nói chuyện viết chính tả sai. Có thể là giả bộ. Rồi đến các nghi can.
Bob nhìn lên.
- Brandon? Bob nói. Tiến sĩ Brandon rất muốn đưa bộ xương ra khỏi hang, và ông ấy có thể gửi bức thư đòi tiền chuộc để che đậy.
- Tiến sĩ đang ngủ trong công viên lúc bộ xương bị lấy đi, Peter nhấn mạnh. Lúc tỉnh lại, mình đang nằm trên người ông ấy. Ê, nhưng mọi người dân thành phố đều ngủ trong công viên. Vậy không có nghi can nào cả!
- Ta không biết chắc là tất cả mọi người trong thành phố đều có đến dự buổi lễ hay không, Hannibal nói. Và dù gì đi nữa, tên trộm có thể có cách nào đó để tránh tác dụng của chất trong nước phun. Nếu vậy, mọi người trong thành phố đều có thể là nghi can.
- Chú ý, Bob nói. Chị Eleanor đang đến.
Hannibal nhìn quanh thấy Eleanor Hess đang băng qua bãi cỏ. Hannibal vội xoay người để ngồi giữa Eleanor và mẫu đúc thạch cao dưới đất.
- Chào chị, Hannibal nói khi Eleanor đã đến gần. Bọn em... đang bàn về những chuyện kỳ lạ vừa mới xảy ra hôm nay.
Eleanor gật đầu, rồi lưỡng lự một hồi như thể không tin chắc mình sẽ được đón nhận như thế nào, trước khi ngồi xuống đối diện với Ba thám tử trẻ.
- Chị... ơơ... chị chuẩn đi lên hội, và chị nghĩ có thể các em thích... đi cùng.
- Bọn em sẽ rất thích, Hannibal nói, và bọn em định...
- Bọn em không bắt buộc phải đi đâu, Eleanor nói, chị chỉ sợ các em không có gì làm.
Eleanor đột nhiên thốt lên.
- Mười ngàn đô la! Rất nhiều tiền! Dượng Newt đã lên thành phố gặp vài người để gom tiền lại và... và sẽ là một vụ rất lớn!
Rồi Eleanor oà khóc.
- Kìa chị ơi, đâu có gì quan trọng lắm đâu, Bob nói. Ý em nói là người tiền sử chỉ là một đống xương thôi. Đâu phải như một người thật, còn sống đang bị bắt giữ để đòi tiền chuộc, đúng không?
- Không. Nhưng dượng của chị nổi điên lên như thể vấn đề là người đang sống. Dượng tực giận làm chị phát khiếp. Dượng nói dượng bị mất tiền mỗi giây mà người tiền sử vắng mặt. Có lẽ cũng đúng thế thật. Người tiền sử có thể giúp dượng kiếm được nhiều tiền hơn là cửa hàng ngũ kim. Cửa hàng bán rất chậm.
- Chị có giúp ngoài đó không? Hannibal hỏi.
Eleanor gật đầu.
- Khi chị không làm việc ở trên hội. Nhưng chị thích ở trên hội hơn. Ở đó không có ai la lối ngoài tiến sĩ Brandon, mà ông ấy chỉ hơi nóng tính thôi, chứ không để bụng.
Eleanor đột ngột mỉm cười, hai má ửng hồng.
- Tiến sĩ Brandon rất tử tế. Tiến sĩ bảo chị nên đến trường, ở San Diego, hay một nơi nào đó.
- Sao chị không đi? Bob hỏi.
- Chị cần xe để đến trường, mà dì Thalia không cho. Dì bảo cho con gái đi học là phung phí tiền, dì còn nói chị không được quên chị xuất thân từ giai cấp nào.
- Nghĩa là sao? Peter hỏi.
- Có lẽ ý dì muốn nói chị sẽ tự cao nếu đi học đại học, Eleanor nói. Dì Thalia nói mẹ chị đã trở nên tự cao tự đại và cho rằng cái thành phố nhỏ này không xứng đáng với mình nữa, thế là mẹ bỏ đi, lấy ba chị, rồi xem chuyện gì đã xảy ra.
Eleanor ngưng nói, nét mặt trở nên nghiêm trang đau buồn.
- Dì làm chị rất buồn! Eleanor tuyên bố. Mẹ chị đã có thể bị tai nạn ôtô bất cứ nơi nào. Đâu cần học đòi làm sang hay hư hỏng thì mới bị xe buýt tông ở một ngã tư. Mẹ chị rất xinh, mái tóc tuyệt đẹp. Ba của chị cũng rất đẹp trai. Ba chơi đàn ô-boa cho hội yêu nhạc Los Angeles. Chị còn nhớ ba tập đàn. Ô-boa là một nhạc cụ rất tuyệt. Còn bây giờ ở nhà không có thứ nhạc nào, ngoại trừ radio và truyền hình.
Eleanor lại ngưng nói, nhưng rồi thốt lên lớn tiếng.
- Chị muốn bỏ đi! Chị đang để dành tiền. Chị có trên một trăm đô la dành dụm được nhờ công việc ở hội. Dượng Newt và dì Thalia lấy tiền thuê căn nhà ba mẹ chị ở Hollywood để trang trải cho các chi phí của chị, nhưng tiền hội là tiền của chị!
- Chị có hỏi dì dượng về tiền thuê nhà không? Hannibal hỏi. Nếu chị bỏ đi, thì dì dượng đâu cần đến số tiền đó cho các chi phí của chị nữa, đúng không?
Eleanor có vẻ ngạc nhiên.
- Nhưng chị không thể làm như thế được! Dì dượng sẽ giận lắm! Dì dượng có thể đuổi chị ra khỏi nhà.
- Thì có sao đâu? Peter nói. Chị cũng muốn bỏ đi mà.
- Nhưng chị biết đi đâu!
- Chị có thể đến cái nhà ở Hollywood, Bob gợi ý.
- Không, không thể. Có người sống ở đó rồi, Eleanor nói rồi đứng dậy. Chị đang dành dụm tiền, khi nào đủ rồi, chị sẽ bỏ đi. Các em có muốn lên hội cùng với chị không?
- Tụi em sẽ lên ngay, Hannibal nói, tụi em có một việc nhỏ phải làm ở kho thóc trước đã.
Ba thám tử nhìn theo Eleanor khi cô bỏ đi.
- Các cậu nghĩ có ngày chị ấy sẽ đi không? Peter hỏi.
- Không biết, Hannibal đáp. Chị ấy không thích ở đây, nhưng lại sợ đi nơi khác.
Thám tử trưởng quay sang mẫu đúc thạch cao. Bây giờ thạch cao đã cứng. Khi lấy ra khỏi đất, có hình một bàn chân trần.
- Tuyệt đẹp! Peter thốt lên.
- Hừm, người tiền sử lang thang có vấn đề với cái chân, Hannibal nói. Nhìn xem. Ta thấy được ngón chân cái, rồi một khoảng trống, rồi ba ngón chân nhỏ. Như thể ngón chân thứ nhì bị bẻ cong lên trên nên không để lại dấu ấn trên đất.
- Ngón chân khoằm! Bob kêu. Người tiền sử mà bị như thế à?
- Khó tin quá, phải không? Hannibal nói.Vvấn đề rắc rối về chân chỉ bị khi đi giày không vừa chân.
Hannibal lấy thước ra đo dấu chân, vừa đủ hai mươi hai phân.
- Tên trộm để lại dấu chân trong viện bảo tàng là người rất to lớn, Hannibal nói. Kẻ đi chân không này thì lại nhỏ.
Peter thở gấp.
- Không lẽ là người tiền sử?
- Người tiền sử đã chết rồi, Hannibal nói. Đã chết từ thời xa xưa rồi. Mà người chết thì không thể nào đứng dậy bước đi. Thủ phạm có thể là bất cứ ai, hầu như bất cứ người nào. Nhưng không thể là một người đã chết!