Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

ĐỨC TIN TRONG HỒN THƠ HÀN MẠC TỬ

0 trả lời, 3 lượt xem — Trang 1 / 1
ĐỨC TIN TRONG HỒN THƠ HÀN MẠC TỬ


Hàn Mạc Tử mất ngày 11/11/1940. Từ 1942, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: "Từ ngày Hàn Mạc Tử từ trần đến nay, mới trong khoảng hai năm trời, mà người ta đã nói rất nhiều và viết rất nhiều về Hàn Mạc Tử …" Và đến nay, bao nhiêu giấy mực đã được dành cho nhà thơ bạc mệnh. Có lẽ ở miền Nam, Hàn Mạc Tử là thi sĩ được nhắc nhở nhiều nhất. Tôi chỉ e rằng dù vậy sự hiểu biết của chúng ta về thi tài đó vẫn không tiến bộ được bao nhiêu. Có lẽ lại lùi nữa là khác. Năm 1941, Hoài Thanh muốn nói đến Hàn Mạc Tử đã hỏi mượn thơ do Trần Thanh Địch giữ. Cũng năm đó, khi viết về cuốn Hàn Mạc Tử, có lẽ Trần Thanh Mại cũng dùng nguồn tài liệu đó, tức là của em mình. Ngày nay, ngoài tập thơ Hàn Mạc Tử mỏng manh của nhà xuất bản Tân Việt, chúng ta không còn thi liệu nào khác. Chính Quách Tấn, bạn thân, ân nhân, người đã được nhà thơ ký thác trọn vẹn tác phẩm, cũng tỏ vẻ không có nhiều tài liệu hơn chúng ta. Trong bài nói về nhà thơ quá cố đăng trên Văn (73-74 ngày 7/1/1976), Quách tiên sinh, khi trích thơ Hàn Mạc Tử, đã làm một việc mà ai cũng làm được, như Vũ Ngọc Phan đã làm, nghĩa là trích từ tập thơ thiếu sót kia, hay trích lại của Trần Thanh Mại và Hoài Thanh -trừ vài bài tứ tuyệt không mấy quan trọng. Lý do rất giản dị: chiến tranh đã làm thất lạc hết tài liệu, mặc dù Quách Tấn đã gìn giữ cẩn thận, sao nhiều bản gửi Bộ Giáo Dục Miền Nam thời đó và tất cả bạn bè của Tử (Văn sđd). Như vậy trong mọi hành trình vào tác phẩm Hàn Mạc Tử, chúng ta sẽ dậm chân tại chỗ, đua nhau kể cuộc đời ái tình và sự nghiệp của nhà thơ - dĩ nhiên là éo le gay cấn, nhưng không giúp hiểu thêm nhà thơ bao nhiêu - trừ một vài bài quan trọng, như của Quách Tấn trên số Văn thường dẫn, ngoài việc đưa ra một số sự kiện chung quanh việc sáng tạo của Hàn Mạc Tử còn bổ chính nhiều điều do Trần Thanh Mại kể trong cuốn biên khảo về Hàn Mạc Tử (Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử, Tân Việt tái bản, Saigon 1957), xưa nay vốn là tài liệu tham khảo căn bản cho mọi người về cuộc tranh tụng giữa hai họ Quách và Trần năm 1942, thì chúng tôi không có ý kiến gì.

Nhưng xin tán đồng Quách Tấn về hai điểm: thứ nhất là Trần Thanh Mại ẩu, thứ hai là ông không hiểu thơ, và cứ ưa phê bình thơ, và Vũ Ngọc Phan cũng đồng ý như vậy. (Vũ ngọc Phan sđd tr. 63-83). Tuy nhiên, nếu không có cái ẩu, cái trích dẫn bừa bãi của họ Trần, thì các nhà nghiên cứu - kể cả Quách Tấn, - lấy đâu ra thơ Hàn Mạc Tử để tham khảo, sau khi người giữ bản quyền để thất lạc hết di thảo? Tưởng khi nhắc đến chuyện 30 năm về trước, Quách tiên sinh không nên chua cay thì mới công bình. (QT, Văn sđd tr. 141-148).

Chúng tôi trình bày những khó khăn về tài liệu đó là có ý rào đón những thiếu sót trong bài này, khi đề cập đến một đề tài hệ trọng và bao quát: Đức Tin Thiên Chúa Giáo trong thơ Hàn Mạc Tử. Chúng tôi không khám phá ra điều gì mới mẻ, mà chỉ khai triển một nhận xét của các ông Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh cách đây mấy mươi năm. Chúng tôi chỉ đào sâu thêm tác phẩm để có một cái nhìn nhất quán trên toàn thể thi phẩm. Thay vì trích dẫn những câu có hình thức Thiên Chúa Giáo như "Maria, linh hồn tôi"…thì tôi chứng minh là kiến trúc toàn bộ của thơ Hàn Mạc Tử đều vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm. Bài báo chia làm 5 phần:

1. Nhận định tổng quát
2. Gái Quê: thế giới đợi chờ
3. Đau thương: con người chịu đựng
4. Đau thương: con người sáng tạo và mơ ước
5. Xuân như ý: thế giới khải huyền.

"Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Thôi mời cô cứ vào ánh sáng lạ trong thơ tôi." (tr. 8)

Đối với Hàn Mạc Tử thơ và đời sống là một bất khả thân nhất là khi lâm trọng bệnh. "Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú" (*tr. 8)

Tác phẩm của Hàn mang tên Đau Thương, vì nó là đau thương, nó là "kinh nghiệm trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận"(Huỳnh Phan Anh, Văn số 73-74 sđd).

Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Có lẽ ông là người Việt Nam ca ngợi Thánh nữ Đồng Trinh Maria và Chúa Giêsu bằng thơ trước nhất. Ông ca tụng Kitô Giáo một giọng rất chân thành. Lần này cũng là lần đầu, thi caViệt Nam thấy được một nguồn hứng mới" (Vũ Ngọc Phan sđd tr. 322)

Hoài Thanh nói rộng đến vấn đề tương quan giữa tôn giáo và dân tộc, "Thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thật là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể" (Hoài Thanh và Hoài Chân sđd tr 212)

Nhận xét này của một kẻ "thiếu lòng tin, du khách bỡ ngỡ" (Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd tr. 212), là Hoài Thanh, mang một ý nghĩa đặc biệt, trong người Kitô giáo Việt Nam niềm tin Thiên Chúa đã trở thành niềm tin thuần tuý Việt Nam.

Và thơ Hàn Mạc Tử đã chứng thực điều đó; một đức tin Việt Nam ở Thiên Chúa, diễn đạt bằng một ngôn ngữ Việt Nam: ngôn ngữ của thi ca.

Đó là điều tôi muốn trình bày qua một dàn bài bình dị: Tôi chỉ khai triển thêm một câu của Hàn Mạc Tử trong lời tựa: Người đang say sưa đi trong Mơ Ước, trong Huyền Diệu, trong Sáng Láng và vượt hẳn ra ngoài Hư Linh (tr. 7) trong đó người đọc gặp lại những chủ đề cương lĩnh của Kinh Thánh:

- Một vũ trụ ngây thơ đổ vỡ vỡ nguyên tội;
- Những khổ hạnh của thân xác như một kinh nghiệm của Mơ Ước và Huyền Diệu;
- Để vươn tới một thế giới sáng láng, ngoài hư linh, thế giới của phục Sinh, của Khải Huyền.

Ba giai đoạn đó là cơ cấu của đời thơ Hàn Mạc Tử.


Vũ trụ Gái quê đã sụp đổ trong Đau thương mà nhà thơ đã chịu đựng
Để đợi sống lại một mùa Xuân Như Ý.

Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là nói bến tình.
Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu người là cao cả, vô biên và vô lượng, chung quanh nguời là mơn trớn với yêu đương…

Những dòng mở tác phẩm không khỏi làm ta nhớ đến thiên Sáng Thế Ký mở đầu Cựu Ước. Nhưng vườn đây không nằm ở hướng đông như vườn Eden (Gen II, 8), mà chỉ là một vườn mơ, bến mộng, niềm nhớ nhung đằng đẵng, về một hạnh phúc nguyên thủy. Hạnh phúc của nguồn trong trẻo, mà loài người phải từ giã ra đi, và bị cấm cản đường về (Gen III, 24). Nguồn ở đây là dòng sông trước khi chia ra làm 4 nhánh, tưới vườn Eden bằng tình yêu cao cả, vô biên và vô lượng chưa bị giới hạn vì nguyên tội khi con người chưa khó nhọc, chưa đổ mồ hôi, chưa biết chông gai và mùi cát bụi (Gen III, 17. 18. 19).

Bài tựa của Hàn Mạc Tử đã mơ ước khôi phục lại Mùa Xuân trinh nguyên của ngày sáng thế, đầy thinh sắc, tinh hoa và châu báu, như nhũ hương và bích ngọc bên bờ nhánh sông thứ nhất (Gen II, 12). Thơ Hàn, cũng như lòng lê thứ, nói như Pascal, là niềm hoài vọng bất lực về một hạnh phúc sơ khai, một tráng lệ đã phôi pha.

Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh. (tr. 32).


Sau khi phạm trái cấm, loài người không những mang nguyên tội, ra khỏi địa đàng, rồi dưng lại một bình an khác. Với tội kiêu căng, loài người phài chịu bao nhiêu là hưng phế, từ Hồng Thủy cho đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa hủy hoại tháp Babel, thành Sodome và Gomorrhe, bao nhiêu lớp bụi phế hưng đã lầp mất cánh đồng xánh lẫn hơi hám kiên trinh.

Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm (Tr. 32)

Dân Do thái, lưu linh còn hy vọng có ngày tìm về Đất Hứa, còn con người đã vĩnh viễn đánh mất tất cả tráng lệ của thời xanh. Nhưng thơ Hàn Mạc Tử vẫn là một ước mơ, một đón đợi, như Cựu Ước là sự chờ đón Đấng Cứu Thế. Trong Gái Quê và những bài đầu Đau Thương, thơ là niềm mong đợi.

Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về.


Ngày xưa mong đợi đó còn thuần lượng, còn là một mùa xuân ngoại đạo - một thứ printemps paðen - hồn nhiên và vô tư lự, như tất cả những hội hè của mùa xuân Việt Nam.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý - Bóng xuân sang
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.


Cái hồn hậu đó, như Hoài Thanh đã nói "chỉ là một mùa xuân đầu năm"( sđd tr. 211), tôi nói thêm là là một u minh đợi chờ để mở lên một mùa xuân sáng thế "hồi trời đạo mới dựng lên" hay mùa xuân tái tạo" ra đời một lần với Chúa Jesus(sđd tr. 211).
Khác biệt đó không có gì mâu thuẫn và Hoài Thanh cũng không cần ngại người đồng đạo với nhà thơ sẽ "khó dễ vì một hai dấu tích Phật giáo còn sót lại" (sđd tr. 211). Quách Tấn còn cực đoan hơn: "Tôi nhận thấy vang bóng của đạo Phật có phần đậm hơn Đạo Thiên Chúa"(Văn, sđd tr, 120). Sự phân lượng e rằng khó chính xác, nhưng vết tích Phật giáo và ngay cả Lão giáo, Khổng giáo trong thơ Hàn Mạc Tử đậm đà, từ trong rung cảm đến ngôn ngữ. Điều đó không có gì nghịch lý cả. Hạt mầm Thiên Chúa, khi nẩy nở trên đất Việt Nam thì tự nhiên thích ứng với khí hậu, phong thổ.

Gần đây, tôi có được đọc tác phẩm của linh mục Jacques Dournes nói về việc truyền giáo tại bộ lạc Jorai Cao Nguyên Trung Phần. Sách có nhiều điểm tế nhị và sâu sắc, nhằm bảo vệ truyền thống chủng tộc: '"Cơ quan hành chánh phát cho dân Jorai hạt giống bông vải gốc Phi châu, năng suất cao hơn giống địa phương; dân Jorai đã gieo hái, nhưng chỉ một lần thôi, rồi không tiếp tục. Lý do là họ phải nhuộm chỉ trước khi dệt, và thuốc nhuộm là bằng lá cây của họ không ăn vào chỉ bông nhập cảng. Họ lại phải trở lại với giống bông cũ. Từ đó tôi không quên bài học bông vải"(J. Dournes, Dieu aime les Paðens, Aubier 1963, tr, 149. ) Và tôi lại càng không dám quên khi viết bài này.

Theo Quách Tấn, gia đình Hàn Mạc Tử (dường như) theo Thiên Chúa từ đời nội tổ Tử, tên Phạm Bồi, vì liên can quốc sự nên đổi theo họ mẹ; rồi được một linh mục Pháp đỡ đầu, rồi lập nghiệp tại Thừa Thiên, thân sinh Hàn Mạc Tử là Nguyễn văn Toản học Đại chủng viện Huế, đến chức Thày Tư rồi bỏ ra đời (Văn sđd tr. 47). Ông sinh hạ đuợc 6 người con và đặt tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Hiếu. Tôi dài dòng như vậy để trình bày không khí và giáo dục gia đình nhà thơ, một mảnh đất mới đang hấp thụ đức tin, đang dần dần thấm nhuần ơn trìu mến.

Tôi là trăng cổ độ
Lượng Trời rộng bao la (Tr.34)


Phải, lòng chàng là bến đợi. Trong những kích thước mông mênh; có thể là một trời thu man mác, có thể là một hàng cau nắng mới lên; thường thường là một đêm trăng sao đắm đuối. Vâng, như đón từ xa. Như đợi từ xa:

Cho ta nhận lấy không đền đáp
Ơn trọng thiêng liêng xuống bởi Trời (Tr. 44)

Nhưng chàng đã đền đáp. Bằng tất cả. Đau thương: tiếng Thơ và cuộc sống. Chàng đã đem cuộc đời để trả lời ơn phước cả đang ngân vang trong mầu nhiệm phủ ban đêm, một tiếng gọi của thượng tầng không khí. Từ lúc nhận điềm có tiên tri thì vũ trụ Gái quê và những bài Đau thương đầu tiên nhuốm cái ý thức nguyên tội, người lương sẽ gọi là mặc cảm tội lỗi. Những bài đó gợi cảm giác có tội trước khi phạm lỗi. Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đồng ý rằng tập Gái quê thiên về dục tính; có lẽ ta cần minh định thêm về khuynh hứong ấy. Một người chỉ xin hoa đền ngự và lòng nicô thì dục tình đi tới đâu? Tôi xin giải thích thêm về điểm này:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô. (Tr. 29).


Tại sao trăng lại phải thẹn thò? Thẹn thò là cảm giác của Adam và vợ khi đóng khố che thân lánh mặt Đức Chúa Trời (Gen III, 7-8) sau khi ăn trái cấm. Adam thẹn thò vì đã phạm tội. Còn trăng việc gì mà phải thẹn thò nhất là khi mới lớn lên? Sự thẹn thò của thân thể đó, chúng ta đã thừa kế của Adam, cho nên tôi mới nói không khí rạo rực trong Gái quê là di sản của nguyên tội. Những câu thơ Vũ Ngọc Phan cho là "gợi tình, thiên về xác thịt" (Việt Nam P sđd tr. 326), là một dục vọng, nhưng đồng thởi cũng là một cấm đoán, một ghẻ lạnh:

Da thịt trời ơi trắng rợn mình

Hàn Mạc Tử nhắc đến tình ái của ni cô, hay da thịt nàng, đâu để gợi lên cái vô tội của mình trong một thế giới đã hư hỏng vì nguyên tội, mà mình phải gánh chịu. Ngay trong giáo lý, dục tình, tự nó không phải là tội lỗi: "Đó là một căn bệnh, chứ không phải là tội lỗi. Tuy nhiên căn bệnh đó là hình phạt của một tội lỗi" (J. E. Kerns, SJ Les Chrétiens, le mariage et la sexualité'. Edit. du Cerf 1966 Paris tr. 93) - tác giả muốn nói là nguyên tội; và "dục tình bản năng sinh lý như ta thường thấy là tiếng gào phản kháng của một hình hài bị thương tổn"(JE Kerns sđd tr 94).

Nhà thơ dự phóng những rạo rực của bản năng ra ngoài vũ trụ; cái nhìn của chàng vuốt ve, mơn trớn với yêu đương, tất cả tạo vật. Từ ánh trăng, đến cành liễu, mặt hồ, cơn gió, cho đến bài thơ của người yêu, tất cả đều có nhiệt độ nồng nàn của da thit, tất cả đều tương giao trong nguồn ái ân bởi trăm dây quyến luyến:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về lả lơi
Hoa lá ngáy tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi ! (Tr.22)


Dục tình trong đoạn thơ nằm trước hết trong cách chọn những chữ gợi tình, khi đi đôi với nhau như trăng và gió, trong thành ngữ phong nguyệt hay gió giăng. Hoặc trăng và hoa, hoặc liễu và hoa, trong những hình ảnh nguyệt hoa hay ghẹo nguyệt trêu hoa, hay liễu ngõ hoa tường. Đoạn thơ lại khêu gợi bằng những hình ảnh táo bạo đến suồng sã như nằm sóng soài, lả lơi, ngây tình; cuối cùng cơn mê đắm còn biểu lộ trong những ý tưởng lộ liễu đến sỗ sàng. Tất cả những chữ, những hình ảnh, những ẩn dụ, những ý tưởng đó giao thoa thành một không khí lơi lả, vừa cợt nhả vừa tinh tế, tuy có suồng sã nhưng không phải là không khéo léo. Thơ gợi tình của Hàn Mạc Tử có lẽ táo bạo vào bậc nhất trong thi ca mới; cái tài tính của ông là táo bạo đến đâu vẫn còn ý nhị. Một lối suồng sã mà không sống sượng, như ở Xuân Diệu chẳng hạn:

Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực.

Một cử chỉ, câu nói sống sượng khi tự nó, nó nói hết những điều muốn nói, và đôi khi còn nói luôn những điều không muốn nói. Ở Hàn Mạc Tử - ít ra ở những bài còn lưu truyền đến ngày nay - dù hở hang đến đâu, vẫn còn có cái úp mở của một ngôn ngữ ý nhị và tình tứ. Chúng ta không còn những bài như Hát giã gạo trong tập Gái quê đã làm cho Vũ Ngọc Phan "lợm giọng" nhưng dù muốn dù không, ta phải công nhận nhà thơ có một quan niệm luyến ái thánh thiện, lành mạnh đến bệnh hoạn:

Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhân. (Tr. 28)


Đọc Hàn Mạc Tử ta có cảm giác một sự giằng co giữa con người phóng túng và con người khắc khổ? Cái giọng tình của ông, dù có cợt nhả đến đâu, cũng chỉ tả một thứ tình hàm thụ, một lối ái ân không tưởng, một môi giới nhân sinh và tạo vật. Nói gọn hơn, nó không thể tự mãn, trong một thế giới không tự mãn.

Vì vẫn còn là một thế giới đợi chờ, trong im lặng linh thiêng, bằng tất cả trực giác của trăm sao đắm đuối

Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng (Tr. 27)

Một đêm thao thức đợi chờ Điềm Lạ trong lòng vũ trụ còn say chìm nơi bất giác, nhưng đã được các tiên tri chuẩn bị để đón mừng Ngôi Hai.

Hàn Mạc Tử mô tả thế giới đợi chờ đó trước hết bằng di sản hồn nhiên của một nền văn hóa ngoại đạo nhưng niềm nở và hướng thượng; thứ đến bằng đức tin nuôi dưỡng trong Phúc Âm; hai phụ lưu sung mãn đó đã đổ vào hồn thơ của Hàn Mạc Tử, như một dòng sông vừa nhận được cơn nước nguồn thác lũ bỗng phải vượt qua một địa thế hiểm nghèo: bệnh phong nan y đã biến nguồn thơ hồn hậu thành một cuồng lưu khốc liệt, nếu không phải là một vũng nước xoáy.

ĐAU THƯƠNG. Tên một tập thơ, và tên một định mệnh. Hay tiếng gầm của một cuồng lưu lâm vào tuyệt địa. Chúng ta nói qua sự đau thương trong cuộc đời. Rồi trong thơ.

Hàn Mạc Tử nhuốm bệnh từ năm 1936. Hăm bốn tuổi, tuổi anh hao đang phát tiết. "Khi biết mình mang bệnh hiểm nghèo, cơn thác loạn nổi dậy, khi nhiều khi ít. Nhưng ngày rồi ngày, nỗi đau khổ hết phát hiện ra ngoài một cách bồng bột, thì lại ăn sâu vào tâm hồn và ngấm ngầm nung nấu nạn nhân, nung nấu đến tột độ" (Quách Tấn sđd tr. 81)

Hàn Mạc Tử nhiều lần mô tả những đớn đau của thân xác:

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau và rùng rợn đến vô biên. (Tr 53)

Bên cạnh những hành hạ của bệnh trạng, Hàn Mạc Tử còn phải đương đầu với hai hậu quả khác của hoàn cảnh: nghèo túng và tuyệt vọng vì tình. "Hiện nay Trí về tạm ở nhà. Cái nguyên nhân là không tiền uống thuốc". "Bữa nay Trí xuống nhà bà thầy thuốc rồi. Có một mái nắng rọi nhiều quá. Cả buổi chiều nếu ở trong nhà thì phải đội mũ" (Trần Thanh Mại sđd tr 73)

Chúng ta còn hiều tài liệu khác về nỗi cùng khốn của nhà thơ, qua những bức thư gửi Trần Thanh Địch. Về cuộc tình duyên đau khổ với Mộng Cầm, chúng ta cũng có nhiều tài liệu. Đại khái hai bên yêu nhau khăng khít thề bồi dữ dội lắm hẹn hò nhau từ Phan Thiết ra đến Quy Nhơn, khi Hàn Mạc Tử chịu tang cho anh, thì Mộng Cầm tự xin phép được "thành tâm cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh"vì"người cầm bút biên mấy hàng trên đây là người em dâu chắc chắn, nhất định của ông anh rồi. Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu" (Thư Mộng Cầm, do Trần Thanh Mại trích sđd tr 94). Khi biết chàng lâm trọng bệnh, thì nàng "thề bồi lại một lần nữa đậm đà hơn"(Thư Mộng Cầm do Trần Thanh Mại trích sđd tr. 94) Để rồi 6 tháng sau nàng đi lấy chồng. Trần Thanh Mại cho rằng nàng không đáng trách. "Duy có cái nàng lấy chồng hơi gấp đấy thôi" (Trần Thanh Mại sđd tr 95). Quách Tấn cũng cho biết là thái độ của Mộng Cầm đã gây cho nhà thơ "một nỗi buồn thương vô hạn", "một phản ứng mãnh liệt", "những tiếng kêu rên thống thiết"(Quách Tấn Văn sđd tr. 88)

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói ?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng. (Trần Thanh Mại tr. 95)

Tiếng kêu trầm thống đó chất chứa cả kiếp cùng khốn vật chất lẫn tinh thần, cho đến ngày bị cơn bệnh tàn phá đến thảm thê, theo như một người bạn thân, cùng bị hủi, kể lại "hai mắt nằm lọt vào hai lỗ mũi sâu hoắm, đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ có da bọc lấy xương, chân tay thì co rút lại, mà đầu tóc bù xù rồi trết lại, trong ấy nhô nhúc những chí là chí"(thư của ông Nguyễn văn Xê, để tại Quy Hòa ngày 25. 3. 1941) (Trần Thanh Mại sđd tr. 193). Tôi tưởng không có gì thê thảm hơn tình trạng băng hoại đó. Ay thế mà Hàn Mạc Tử đã can đảm chịu đựng cái cảnh làm ta phải rùng mình, vui vẻ chịu đựng nữa là khác: tuy cực khổ thế mà tôi vẫn an vui, ngày nào cũng có cười cả. Nếu không cười với ai, thì cười một mình, xem ra thú vị không biết mấy. (Trần Thanh Mại sđd tr. 121). Niềm an vui đó Trần Thanh Mại , nguời biết cuộc đời thật của nhà thơ cho là "yêu quái", là "kinh dị". Còn Vũ Ngọc Phan, chỉ biết Hàn Mạc Tử qua một số thi phẩm cũng không khỏi ngạc nhiên: "một người mang bệnh rất đau đớn mà có một tâm thần thư thái, bình tĩnh như thế, thật cũng lạ "(Việt Nam Phan sđd tr. 330) An vui của Hàn Mạc Tử không phải cay đắng, gượng gạo, có khi nổ tung ra trong những câu thơ hớn hở:

Hôm nay vui quá anh Phùng ơi
Buồn xa không đến, lệ không rơi
Buồn không nát ruột, tình không lại
Cười nói làm sao cho hả hơi? (Trần Thanh Mại sđd tr 122)

Họ Trần phê bình Đau Thương giam cầm không kỹ, thoát lọt ra trong một biến thể mới, dị kỳ, quái gở, thật đã đáng rùng mình". Sở dĩ ông không hiểu can đảm của bệnh nhân, theo tôi vì ông không hiểu sức mạnh của đức tin trong con người Hàn Mạc Tử. Khi đề cập đến vấn đề này, Hoài Thanh, cũng là người ngoại đạo, nhưng tinh tường hơn Trần Thanh Mại, thừa nhận ngay: "Thiếu lòng tin tôi chỉ là du khách bỡ ngỡ" (Hoài Thanh và H. C sđd tr. 212), còn họ Trần thì cứ phán đoán ầm ĩ cả lên.

Nhưng nhờ có ông mà chúng ta được một dữ kiện về đời sống tín ngưỡng của nhà thơ: "Trong khi sưu tầm tài liệu về nhà thi sĩ, tôi có tìm thấy trong một nhà trọ của chàng, một mẩu báo dán trên khung cửa sổ tre, đã nhàu nát vàng vọt, và nhìn lối in chữ và hình ảnh tôi biết ngay là báo "Vì Chúa". Đoạn bài đăng trong mẩu báo ấy nói về nguồn an vui trong bệnh tật cho rằng sự đau ốm là do Đức Chúa Trời ban xuống cho ta, để thử lòng ta, nên chẳng những là ta phải chịu một cách nhẫn nhụn mà lại còn nên vui vẻ bằng lòng nữa" (Trần Thanh Mại sđd tr. 120).

Căn cứ trên đoạn này tôi cho rằng tác giả không mấy thông thạo giáo lý KiTô giáo. Nếu bài báo ấy có thật -vì họ Trần, mãi cho đến ngày nay ở Hanội vẫn có cái cố tật rất bậy là ưa bịa đặt tài liệu (Nguyễn công Hoan, tạp chí Văn Nghệ Hà nội số 67 tháng 12. 1962 và 68 tháng 1. 1963 về Tú Xương. Tôi đã có đề cập tới trong Văn số 163 ngày 1. 10. 1970), thì chúng ta rất tiếc rằng họ Trần không trích dẫn chính xác, cho biết rõ xuất xứ, tìm xem báo "Vì Chúa" số mấy, ngàu mấy. Hoặc ít nhất cũng cho ta nguyên văn. Vì theo kiến thức thô thiển của tôi, thì không có kinh sách nào dạy rằng "sự đau ốm là do Đức Chúa Trời ban" và chúng ta phải "vui vẻ bằng lòng". Nhưng vấn đề ở đây không phải là cãi nhau về giáo lý, vừa ngoài phạm vi bài báo và thẩm quyền của tôi.

Vấn đề là, như Trần Thanh Mại đã nói, đức tin "đã có ảnh hưởng tốt đẹp đối với chàng". Quách Tấn xác nhận điều này: "Tử tìm được niềm an ủi lớn nhất trong nguồn Đạo. Khi đã sống củng Đạo thì tâm hồn Tử hết bị day dứt giày vò"(Quách Tấn, Văn, sđd tr 116).

Chính nhà thơ đã kể lại một ngày bệnh tật của mình: "Lại đọc kinh, lại ngâm thơ, lại nhớ, lại nằm. Buổi tối khi ăn xong, cũng vừa đi bách bộ vừa ngâm thơ một cách sung sướng nhất đời. Cả ngày chỉ ngâm thơ và đọc kinh là nhiều hơn cả. Ngày nào cũng như ngày ấy, không thấy buồn lắm, và ngày nào cũng mong mỏi một cái gì."(Trần Thanh Mại sđd tr. 120). Đối với Hàn Mạc Tử, thơ là Đạo và Đạo là thơ. Thơ đã đạt tới Đạo, và Đạo để đi tới thơ, hoặc như Hoài Thanh đã nhận xét chí lý: "Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để nối liền người ta với Thượng Đế". (Hoài Thanh sđs tr. 211).

Thơ đưa về Đạo, là nẻo đường đưa đến con đường, thơ là giải thoát tạm thời của đau thương. Trong khi chờ đợi Đạo là cứu rỗi miên viễn. Ngày nào cũng mong mỏi một cái gì. Nếu Gái Quê, như tôi đã trình bày ở đoạn trên, là thế giới đợi chờ điềm lạ, đợi chờ Chúa ra đời thì đau thương là một tâm hồn mong mỏi ngày Chúa trở lại (Mt 24, 42).

Hàn Mạc Tử chấp nhận bệnh tật không phải là vì "do Đức Chúa Trời ban xuống" như Trần Thanh Mại đã nói, nhưng trước hết, vì nó là hậu quả tất nhiên của nguyên tội, và thứ đến vì nó là phương tiện thân xác mà Chúa đã dùng để cứu thế. LM Charles Journet, giáo sư Đại chủng viện Fribourg đã trình b ày vấn đề một cách mạch lạc và nhất quán trong tác phẩm về thống khổ: "Chúng ta xem khổ ải của thân xác như một mãnh lực hợp cứu thế, vì chúng ta tham, dự vào đau đớn và huyết mạch của Chúa Kitô. Vậy không có vấn đề đau đớn mà chỉ có huyền nhiệm đau đớn của Chúa Kitô và trong sự tham dự của chúng ta. Như vậy không nên nói đến chấp nhận đau thương mà chỉ nên nói đến gia nhập vào công đức cứu rỗi; chúng ta không chấp nhận (accepter) vì nó là một định luật của thể xác; chúng ta thu nhận (adopter) vì nó nối liền ta với bản thân Thiên Chúa hiện là người "(Charles Journet, Le Mal, essai théologique, tủ sách giáo lý, Desclée de Brower, Bruges, Bỉ 1961 tr. 271).

Đoạn trên rọi sáng lời truyền dạy của sứ đồ St Paul trong thư gửi cho người LaMã: "Những đau khổ hiện tại không có ý nghĩa gì so với những vinh hiển phải được thể hiện trong mỗi chúng ta. Mỗi hình hài chờ đợi là một khát vọng sự thể hiện con cái Đức Chúa Trời, với mơ ước được giải thoát ra khỏi hư nát, và đạt tới tự do vinh hiển phải được thể hiện trong mỗi chúng ta. Mỗi hình hài chờ đợi là một khát vọng sự thể hiện con cái Đức chúa Trời, với mơ ước được giải thoát ra khỏi hư nát, và đạt tới tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. Vì chúng ta biết rằng hình hài, đến nay vẫn rên xiết trong công trình thai nghén" (Rom 8, 18-22). Đau thương hôm nay là thai nghén cho ngày mai, thai nghén một mùa xuân như ý. Người đi trong mơ ước người kitô giáo quan niệm đau thương như một huyền nhiệm, nhưng hữu hạn, trước Thượng Đế là một huyền nhiệm, vô hạn. Tôi thành thật nghĩ rằng Hàn Mạc Tử đã an vui được trong đau thương -một hoàn cảnh thể xác, vật chất và tinh thần làm chúng ta phải rùng mình - là nhờ huyền nhiệm đó, nhờ sức mạnh của xác tin. Có lẽ xác tín đó, cộng với bệnh trạng, đã tạo ra một linh thì cho nhà thơ. Trần Thanh Mại và Quách Tấn đồng ý "là mỗi lần chàng chết đi, sống lại (trong mấy năm bệnh, chàng chết đi, sống lại đến bốn năm lần) là chàng đều cảm thấy có Bà Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đến cứu"(Trần Thanh Mại sđd tr, 130).

Dù cho rằng mộng mị chỉ là một biến thể của bệnh trạng, thì dưới ánh sáng của khoa phân tâm, ta có thể đi đến cội rễ của mộng mị, dù xa lạ đến đâu. Cội rễ ở đây, là xác tín trong tâm hồn Hàn Mạc Tử, người đã cam chịu hư nát để chuẩn bị một vinh hiển. Thực ra, niềm tin vào cuộc tồn sinh mai hậu, của linh hồn, ở một thế giối khác, không phải đặc biệt của Thiên Chúa Giáo. Trong hầu hết các tín ngưỡng tự nhiên của dân gian, nước nào cũng vậy, đều có mầm hy vọng ở một đời sống khác. Chỉ nói đến vòng đai tôn giáo chung quanh Thiên Chúa, chúng ta đã có thể kể tư tưởng Assyrien, Babylonien, và nhất là AiCập, đều có niềm tin đó, như muốn ra không gian và vượt hẳn thượng tầng. Đức tin của Hàn Mạc Tử không phải ở chỗ mong hồn tới tấp đến ở ngoài kia vũ trụ, mà ở chỗ tìm gặp một Người ở cõi quá thinh gian; Hàn Mạc Tử tìm tới chốn chiêm bao ngoài sự thực không phải vì chiêm bao đẹp hơn sự thực vì ứ đầy hơi khoái lạc mà chỉ vì:

Vì có Đấng Hằng Sống, hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh . (tr. 59)

Bài Ngoài Vũ Trụ, mà tôi đã trích các câu trên, tiếp theo hai bài Hồn lìa khỏi xác và Siêu thoát soi sáng ý nghĩa của những bài đau thương và báo hiệu cho Quần Tiên Hội, Cẩm Châu Duyên và Xuân như ý. Vậy ta có thể đề cập đến một kiến trúc trong thi phẩm Hàn Mạc Tử không? Đặt dấu hỏi vì tôi ngờ rằng sự sắp xếp thứ lớp trong tập thơ không phải do thi sĩ, mà những người phụ trách tái bản thơ ông, tức là Quách Tấn hay Hoàng Trọng Miên gì đó. Do đó, tôi không dám dựa trên trật tự cụ thể của tập thơ để nói đến kiến trúc, như Marcel Ruff đã nói về: "Architecture Secrète" khi trình bày nhất quán thi phẩm Les Fleurs du Mal của Beaudelaire. Tôi vẫn theo lối sắp xếp trong ấn bản Tân Việt vì nó phản ánh thứ tự biên niên trong quá trình sáng tác;tôi nghĩ ít ai bác bỏ thuyết cho rằng Gái quê sáng tác trước Đau thương và Cẩm Châu duyên, Duyên kỳ ngộ sáng tác sau cùng, thời kỳ nhà thơ biết Thương Thương. Nhưng dù sao tôi cũng dè dặt để mong các nhà biên khảo sau này có nhiều sử liệu đích xác hơn tôi, tôi sẽ đào sâu cơ cấu mạch lạc của vũ trụ Hàn Mạc Tử, trên bình diện này hay bình diện khác, hoặc trong nguồn sáng tạo toàn diện thì càng đẹp.

Khi đề cập đến kinh nghiệm đau thương của Hàn Mạc Tử, tôi tiếc chưa được đọc bài văn của ông Võ Long Tê, một chuyên gia về văn chương Thiên Chúa Giáo về vấn đề này; nghe nói bài sắp sửa đăng báo, tôi đợi hoài chưa thấy. Tôi thấy cần nói thêm: không riêng gì Phúc âm, những tín ngưỡng khác của người Á Đông cũng tìm một giải đáp cho đau thương; Phật Gíáo thì cho đó là những đợt sóng triền miên của Mê Hà hay Khổ Hải; Lão giáo thì cho đó là định luật của vô tri. Cái can trường của nhà thơ là do Đức Tin vững chắc ở Đấng Cứu Thế, và Đức Tin đó đã được bồi dưỡng trong cái Dũng của triết lý Đông phương, lẫn cái kiên trì trong lòng dân tộc. Nói đến xác tín của Hàn Mạc Tử không phải là tôi không biết (hay tệ hơn nữa, tôi không nhớ) đến những giá trị hằng hữu kia. Khi suy nghĩ về khổ lụy của nhân sinh, tôi đọc lại kinh Coran của Hồi giáo thì có cảm giác như là họ không chấp nhận khổ đau như Kitô giáo hay người Á đông, vì họ cho là sụ hành hạ của Thương Đế. Vậy trong Hàn Mạc Tử có sự giao hoà giữa một Đức tin sung mãn và một tâm hồn niềm nở, tạo ra một nguồn thơ hết sức sâu xa. Trong tinh thần Phúc âm Hàn Mạc Tử đã sống trọn vẹn đau thương của hiện thế, truớc hết, vì đó là phương tiện Chúa đã dùng để cứu thế, thứ đến để chuẩn bị cho vinh hiển mai sau, như lời giảng trên Núi, sửa soạn cho ngày sống lại của Đấng Hằng Sống, hằng ngự trị. Nhưng trên bình diện sáng tạo, quan niệm đau thương đó đã thể hiện ra sao ? Tôi tiếc không được đọc bài báo của Lê Tuyên về những chủ đề trong thơ Hàn Mạc Tử, đăng trên tạp chí Đại Học Sư phạm cách đây bảy, tám năm gì đó. Nay tôi lại đề cập lại vài hình tượng quen thuộc trong thơ Hàn Mạc Tử như Trăng, Máu và Hồn.

Trăng! Trăng! Trăng ! là Trăng, Trăng , Trăng!

Đó là điệp khúc độc điệu của một ngư phủ, theo lời kể của Quách Tấn. Đó cũng là khúc nhạc lòng của nhà thơ. Trăng là một thứ áng văn của nội tâm, vừa của ngoại giới. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tương quan giữa những hình ảnh thi ca và Đức Tin.
Anh hưởng của đêm trăng đối với bệnh phong đã được ông Trần Thanh Mại khai triển đầy đủ. Còn nét quyến rũ muôn đời của ánh trăng đối với thi nhân thì viết bao nhiêu pho sách cũng còn điều chưa nói. Nhưng không thể nói đến thơ Hàn Mạc Tử mà không đề cập tới trăng, vì theo Trần Thanh Mại, thì hai phần ba tập đau thuơng nói về trăng, nửa phần còn lại nói về hồn. (TT Mại, sđd tr 62). Trăng, trứoc hết là ánh sáng tràn ngập cả vũ trụ Hàn Mạc Tử:

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông chảy láng lai (tr 54)

Trăng là thứ ánh sáng êm dịu, mầu nhiệm phủ ban đêm đối với ánh sáng chói chang bỏng rát của mặt trời nhiệt đới;trăng tạo thi vì cho bóng tối tại những vùng nông nghiệp có sinh hoạt về đêm, và như Xuân Diệu kể, thì có "trăng của tình duyên, trăng của xa xôi, trăng của hão huyền" và trăng của "những đền đài mỏng thoáng". Văn học của chúng ta, từ xưa đến nay, vẫn le lói những ánh trăng bất tận. Tôi không dài dòng về địa hạt rộng rình không bờ bến này, chỉ muốn đề cập đến khía cạnh tương trưng của ánh trăng trong giáo lý.

Trăng trứoc hết là Ánh Sáng, một chủ đề rọi suốt mặc khải Kinh Thánh, từ ngày thứ nhất của Sáng Thế, khi Đức Chúa Trời phân định ánh sáng và bóng tối, (Gen I, 3-4), cho đến chương cuối cùng của Khải Huyền, khi con người, trong trời đất mới, hưởng một ánh sáng miên viễn (Ap. XXII, 5). Như vậy thế giới di chuyển từ một vùng ánh sáng tương đối, ánh sáng vật chất đối với bóng tối ban đêm, đến một ánh sáng tuyệt đối, ánh sáng vĩnh cửu, ngay trong châu thân Thiên Chúa, vì "Ngài là Sự Sống mà Sự Sống là Ánh Sáng"(Jo I, 4). Và quá trình từ tương đối nọ đến tuyệt đối kia là sự phấn đấu không ngừng giữa ánh sáng và bóng tối, tựa hồ như cuộc phấn đấu giữa nguồn sống và cõi chết. Ở Hàn Mạc Tử, ánh sáng là một thứ ánh sáng đang tương tranh cùng bóng tối, trong một tư thế bi thảm, khác với mặt trời là chiến thắng - dù là tạm thời- của Ánh Sáng.

Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn, buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô (tr. 30)

Mâu thuẫn tâm cảm của nhà thơ là vừa yêu bóng đêm - vũ trụ Hàn Mạc Tử là một vũ trụ về đêm - vừa yêu ánh sáng, và vươn tới một nguồn chói lọi.

Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng (tr. 59).

Sự thật mâu thuẫn đó nằm trong những hình ảnh đa nghĩa của Kinh thánh, vì bóng tối cũng là một sáng tạo của Đức Chúa Trời(Gen I, 1-2). Từ điển giáo lý Kinh Thánh khai triển điểm tế nhị đó như sau: "Bóng tối tượng trưng cho một kinh nghiệm kép: hoặc nó xác nhận không có ánh sáng, hoặc bao hàm sự hiện hữu của ánh sáng. Con người muốn có ánh sáng tràn đầy nhưng tìm đến bóng tối: Chúa là Ánh Sáng, là Lửa bỏng, mà cũng là bóng mát. Kinh Thánh lý theo sự đa nghĩa đó (Vocabulaire de Théologie Biblique Edit du Cerf Paris 1962, tr 714).

Chúng tôi muốn đề nghị một ý nghĩa mới cho ánh trăng. Ở Hàn Mạc Tử trăng là một sự tương tranh đồng thời tương ứng giữa ánh sáng và bóng tối, vừa tương khắc vừa tương sinh. Trăng là Bóng tối hết là bóng tối và Ánh sáng chưa đủ là Ánh Sáng. Trong biện chứng Sáng - Tối đó, tâm hồn Hàn Mạc Tử vẫn được xác định bằng Ánh sáng, tức là"con của Ánh Sáng" khác với con của Bóng tối hay "con của Hiện Thể" (Lc 16, 8). Vậy nhà thơ là ánh trăng, vì chàng là con của Ánh sáng.

Không gian đầy đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng. (tr. 30)

Vì, bên dưới bình diện siêu hình, về mạt đạo đức, vẫn phải có sự phân biệt giữa bóng tối và ánh sáng (IICor, 6, 14) giữa ánh sáng chân chính và giả trá.
Và tình ta sáng láng như trăng thanh (tr. 55)

Thỉnh thoảng Hàn Mạc Tử không ngại mượn một vài hình ảnh của Kinh thánh để tả trăng, như :

Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hường (Trần Thanh Mại tr. 64)

Chúng ta liên tưởng ngay đến một câu củaThi Thiên (104, 2) "Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng như cái áo".

Trăng trong Hàn Mạc Tử không những là một thứ ánh sáng ảo huyền và hiu hắt. Nó có hình có trạng, như một vật cụ thể khả xúc. Có khi là một món hàng -"ai mua trăng ta bán trăng cho"- có khi là châu báu, là hơi nước chảy, hay là một người đàn bà, mà tôi mường tượng phải đẹp lắm trong nhan sắc làm bằng Ánh Sáng và Im Lặng.

Tôi lần cho Trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời. (Trần Thanh Mại tr. 64)

Và nói chung, trăng là hồn, là máu của bóng đêm: tôi có nói đến ba chủ đề, kỳ thật chỉ là ba tiết diện của một thế giới:

Gió rít từng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa ra máu. (Trần Thanh Mại tr 63)

Hình ảnh máu hoặc nhỏ từng giọt, hoặc oẹ từng búng, hoặc đọng thành vũng, hoặc chảy thành sông, có lẽ là dấu hiệu của bệnh lý. Ý nghĩa của máu là cuộc sống vì máu mang sinh lực đến cho mỗi tế bào, mà đồng thời cũng là cõi chết, khi đã khô, đã đọng thành vũng máu đào trong ác lặn (Jean Pierre Richard. Poésie et Profondeur. Seuil. Paris, 1955). Về hình ảnh máu vẫn thường gặp trong thơ Beaudelaire, Jean Pierre Richard viết: "Sự xuất hiện thiêng liêng ở chỗ nó hội tụ cuộc sống hiển nhiên và cái chết tàn nhẫn ((Jean Pierre Richard. Poésie et Profondeur. Seuil. Paris 1955). Máu là cuộc sống đang chết, hay là cái chềt tiềm ẩn trong cuộc sống. Máu là hồn của thể xác mà cũng là xác của linh hồn, nói khác đi máu là thơ:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Cho mê man chết điếng cả làn da
Cứ để cho ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh. (Trần Thanh Mại tr, 58)

Máu, cũng như thế, vừa là một hành hạ, vừa là một giải thoát. Chúng ta vẫn thường gặp những hình ảnh máu trong Kinh Thánh: máu là nguyên lý sự sống, nhưng khác với linh hồn vẫn tồn tại đợi ngày Phục Sinh (P. Dhome, Revue Biblique số 4 tháng 10-1920 tr. 473. 474. Loạt bài L'emploi métaphorique dans la Bible, chuyên về hình ảnh của thân xác, rất cần cho việc tìm hiểu thơ Hàn Mạc Tử). Từ Máu Cứu Thế trên Thánh Giá đến Máu Chiên Con, hình ảnh của đau đớn, của hư nát lại là hình ảnh của Hy vọng: máu của chúng sinh tuy không vào được Nước Đức Chúa Trời (l Cor XV, 50) vẫn là một môi giới, một phương tiện, một ánh sáng, một thẩm mỹ:

Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang (tr. 38)

Trong bài Biển Hồn Ta (tr. 52) bắt đầu bằng câu:

"Máu tim ta tuôn ra làm biển cả"

người đọc có cảm giác như máu và hồn là một, hay máu là hồn của xác thịt còn thể phách là hồn của toàn cơ thể, vì chính nhà thơ cũng phân biệt hồn người và hồn trong :

Hồn hãy thoát ly ra ngoài tâm tưởng
Là hồn đừng nghĩ ngợi đến hồn trong
Cứ để mặc hồn ngoài bay lưởng vưởng
Ngao du cùng khắp cõi trí mênh mông
…Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã
Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa…

Đã là hồn rồi mà còn có tử thi nữa sao?

Lại còn ngắm được tử thi mình nữa sao?
Ở đây, ngoài sự phân biệt "hồn" và xác cố hữu trong tiềm thức người Việt Nam,

Thiên Lâm

21/3/2006.3 ĐHN ghi lưu

Nguồn Vietcatholic ngày 28/10/2000

Tác giả Đặng Tiến
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0