Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Trừ tà ma quỷ ám

24 trả lời, 14.183 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-04-21 15:46:06sen dat>
Hôm nay SĐ muốn bàn về vấn đề gọi là tâm linh hay siêu hình không phải ở phương đông mà bên phương tây. Họ nghĩ gì làm gì nhỉ? Ta hãy truy tìm trên mạng hay ở các kênh truyền hình của họ. Trên mạng thì rất nhiều cho nên phải đãi cát tìm vàng vậy! Không phải cứ đưa lên những video clip rùng rợn hét la máu me mắt trợn láo liên, răng sắc nhọn như răng thú kêu hú cắn xé là người ta tin đâu! Có thể làm ai đó thỏa sức tò mò nhưng với SĐ thì cũng chả hiệu quả. Cách đây một năm trong khi đang lang thang, SĐ dừng lại một video clip và chăm chú nghe cuộc đối thoại của một linh hồn nhập xác một cậu bé khoảng chừng 14-15 tuổi gì đó. Vẻ mặt trẻ thơ vậy mà phong thái nghiêm  trang đĩnh đạc giọng trầm như một người đàn ông khiến SĐ tin ngay và bây giờ SĐ kể lại cho các bạn vì đây là một clip tiếng Anh. Được biết linh hồn đó là một linh hồn quỷ được tra hỏi tại sao lại tàn nhẫn hại người như vậy? Với giọng nói trầm tĩnh hơi buồn con quỷ tự xưng mình tên là Patrick. Hắn kể rằng: " Cách đây một trăm năm tôi sống tại một vùng (nghe mô tả như là  bên Anh). Một chiều tôi ngồi ăn bữa chiều với vợ và đứa con mới sinh thì có bảy người lính ở đâu xông vào nhà tôi.  Họ hành hung tra vấn rồi giết vợ tôi, tôi chống cự họ ném đứa con mới sinh của tôi xuống nền nhà, nhìn máu chảy tôi ức quá xông lại chống trả quyết liệt và trong những giờ phút cuối cùng trước khi chết tồi gào lên và thề rằng sẽ theo họ trả thù cho đến cùng đó là lý do tại sao tôi trở thành quỷ tôi lùng sục mọi nơi tìm mọi cách giết cho được tất cả bọn bảy người đó, giết cả con cháu họ, có chết rôi đầu thai lại tôi vẫn truy lùng giết cho bao giờ tiệt cả dòng nhà họ mới thôi, làm cho họ đau khổ đến cùng cực giống như gia đình tôi đã từng bị !..." Lời con quỷ nhập vào kể lại nguyên nhân sự trả thù gây nhiều sự chết chóc, .không la hét không cào xé không lè lưỡi nhát ai nhưng chính sự lạnh lùng bình thản ấy khiến SĐ  rùng mình. Ở phương đông thì ngày xưa nơi các trường thi thường có một lễ cúng mời các hồn ma về báo ân báo oán.
Gần đây có một chương trình bên phương tây mang tên là Exorcist files - Exorsism reality show on Discovery channel. Nội dung của chương trình như sau: " The Discovery Channel  is teaming up with the Vatican to create an exorcism reality show that will reconstruct cases of alleged haunting and demonic possession investigated by catholic church. The show will include access to the Vatican cases files and interviews with the organization's top exorcist and the pop himself will appear in a few episodes as he oversees the exorcisms..."  Mục đích của chương trình là cùng phối hợp với các giáo sĩ đặc biệt của Vatican để tìm hiểu nghiên cứu  và rồi dựng lại những trường hợp bị cho là tà ma quỷ ám. Những thước phim giúp chúng ta tiếp cận hiểu hơn những vụ việc  nằm trong hồ sơ điều tra của tòa thánh và nghe những cuộc phỏng vấn với những người chuyên trị ma quỷ đứng đầu tổ chức. Trong chương trình chúng ta sẽ thấy cha xứ xuất hiện trong một vài đoạn khi thực hiện việc trừ tà." Bởi vì khi trừ tà nhóm làm việc cho phép mang camera, máy thu băng vào để thu hình, thu tiếng, tuy dàn dựng lại nhưng lâu lâu nhân vật thực đã được làm cho mặt bị mờ đi xuất hiên song song kể lại sự tình, thỉnh thoảng vẫn thấy những đoạn thu thật ngoài đời.  Khi trừ tà vị giáo sĩ buộc chặt người bị ám vào một cái ghế với những dây buộc móc sắt rất cứng rồi tra hỏi.Người bị ma ám khi thấy thánh giá thì rú lên khi ông cha rải nước thánh người đó rú lên đau đớn, có khi trên da thịt họ nơi nào có nước thánh rơi trúng đều bầm tím. Theo SĐ lực của nhóm giáo sĩ này rất cao rất hiệu quả.Sau khi bị tra vấn bị làm phép, quỷ ma đều phải khai tên thật, phải xuất đi chỗ khác và người bệnh sẽ tỉnh táo trở lại....Lần sau SĐ sẽ kể một câu truyện biết được và từng phát trên kênh này cho các bạn nha nhưng giờ thì ngưng tại đây chúc các bạn một mùa phục sinh an lành tràn đầy ơn Chúa. 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-04-29 19:16:00sen dat>
Chào các bạn,
Hôm nay có chút thì giờ nhưng SĐ sẽ chưa kể chuyện như đã hứa mà sẽ nói lại cho rõ ràng những gì SĐ nhớ và kể hôm trước. Vì lúc đó chưa rảnh để rà soát lại nên kể sơ sài qua loa theo trí nhớ. Hôm nay SĐ tìm lại được video clip và nghe lại đoạn băng giờ xin kể lại kỹ hơn và cũng xin trích  những đoạn quan trọng nghe được, viết lại bằng tiếng Anh sau đó tạm dịch để cho các bạn qua đó,hiểu rõ hơn và nếu được thì cứ đánh những từ khóa sẽ coi được tận mắt và tự  phán xét lấy, tin hay không tin là tùy các bạn, riêng với SĐ thì đoạn video clip này trùng hợp với những nghĩ suy của mình về sự sống và cái chết về những gì mình cảm nhận từ lâu nay...

Khi tên quỷ nhập vong đã kể lại mô tả cuộc sống và ngôi nhà gia đình mình sinh sống trước khi chết. Đó là thời chiến, ngôi nhà có thể ở nước Anh, và đó là thời kỳ khó khăn.

Bảy người lính xông vào lùng sục thức ăn và sau khi được anh ta trả lời không có đủ để cho bọn họ, họ không ngần ngại  giết ngay vợ con anh ta. Nhìn thấy vợ con chết thê thảm trước mặt mình, anh ta đau đớn uất hận và thề sẽ trả thù, thề sẽ không đội trời chung với bọn này. Anh ta kể lại cảm giác trước khi chết, lòng tràn ngập đau khổ như thế nào, cảm giác ấy đã in hằn lại khiến anh ta đã trở thành quỷ với một khao khát cuồng điên là trả thù truy lùng giết và giết. Và đây là lời kể bằng tiếng Anh, SĐ trích lại như sau:

"They shot to kill my wife in the front of my eyes, hold me back, they took my child by the feet, aims and shot. I was consume with anger and hatress. I struggle with the man that holding me for a moment, fall on my knees, I bend my head forward, look up to the officer and said: "I make the promise to you. I'll hunting you life after life. You'll life after life  experience the misery, the pain, the loss, the sadness that you have done on to me. This is my promise to you. I would not rest. I would make sure with the promise to you." And then they kill me right there, center shot. And that how I became a demon. When I died I realized that my wife would not with me but I would first do what I promise I would do. As a demon I would search and detect for them, all these seven men life after life, after life, I woul destroy their life and then kill them. Destroy their life entirely, completely. because one life for me was not enough I take everything away their love,move away what they take care  to experience the loss, the sorrow, the pain, the anger... life after life after life..I manifest in me as a demon that hold them,  destroy their life first and the kill them. "

"Họ giết vợ tôi ngay trước mắt tôi, giữ tôi lại phía sau, giốc ngược chân con tôi lên, nhắm và bắn. Lòng tôi tràn ngập uất hận đớn đau. Tôi chống cự lại người đàn ông đang giữ tôi một lúc, ngã khuỵu xuống, ngước lên nhìn thẳng vào mắt tên sĩ quan và nói: "Tao thề với mày. Tao sẽ săn lùng mày đời đời kiếp kiếp. Mày sẽ mãi mãi phải chịu sự khốn khổ bất hạnh, đớn đau, mất mát, muộn phiến mà mày đã gây ra cho tao. Đây là lời nguyền của tao. Tao sẽ không buông tha. Chắc chắn tao sẽ thực hiện lời hứa đó. Và rồi họ bắn tôi ngay tại đây chính giữa trán.  Tôi đã trở thành quỷ như vậy đó. Khi tôi chết tôi nhận ra là tôi không gặp được vợ. Nhưng trước hết tôi phải thực hiện điều mà tôi đã thề. Như một con quỷ tôi lùng sục lần theo dấu vết, tất cả bảy người bọn họ đời đời kiếp kiếp, tôi hủy hoại cuộc đời bọn họ và sau đó mới giết họ. Hủy hoại hoàn toàn trọn vẹn cuộc đời. Một mạng sống đối với tôi chưa đủ, tôi tước hết tất cả gì mà họ yêu thương, mong muốn để họ phải nếm trải thấm thía sự mất mát, sự tiếc thương,nỗi căm hận,  đời này cho đến kiếp kia mãi mãi. Như một con quỷ tôi chế ngự họ, hủy hoại đời họ và rồi giết chết..."  

Lần sau SĐ sẽ kể một câu chuyện quỷ ám may mắn được biết qua kênh được giới thiệu ở trên còn bây giờ xin tạm biệt.
Đăng nhập để trả lời
0
Đang chờ sendat dịch tiếp truyện trừ tà ma quỷ ám đây .

Bên này họ cũng tin là cho hồn ma, ma quỷ nữa đó sendat
Đăng nhập để trả lời
0
Được rồi để SĐ kể cho nghe còn đến mấy ngày nghỉ mà! Mà phải công nhận những chuyện quỷ nghe ly kỳ mà ghê hơn ma nha! quỷ khác ma à nha! mà mình nhìn và nghe trực tiếp những đoạn băng thu âm thu hình thật được lồng ghép với những khúc phim dựng lại tình huống  mới đã chứ![:D]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-04-29 19:12:52sen dat>
Bây giờ SĐ sẽ kể lại câu chuyện từ một show truyền hình dựng lại tình huống  thực tế của "Real show Exorcist  files- Discovery on the channel của Mỹ phát  đã được hơn một năm rồi. SĐ tin và đồng ý với Ly là về tinh thần dù văn hóa ngôn ngữ có khác nhưng vẫn có những điểm chung về con người không thể chối cãi được! Cái điều đáng nói là khi văn minh vật chất đang đi quá đà nhiều khi đạo đức bị coi thường thì những nghiên cứu như thế này rất đáng mừng. Tình tiết câu chuyện tóm tắt như sau:
_Có một gia đình nọ vì công việc phải rời chỗ ở đến một tiểu bang khác. Gia đình gồm hai vợ chồng một đứa con trai nhỏ chừng 6-7 tuổi. Nơi họ đến ở là một căn nhà có sân vườn rộng rãi đất đai bao la. Thế rồi dần dà họ nhận ra cậu con trai họ có dấu hiệu không bình thường. Nó hay hét la bất thình lình tự cào xé tự đánh đập hành hạ mình. Mới đầu họ nghĩ do con không bằng lòng đến ở chỗ mới nên giận dỗi làm nư. Cậu bé đẹp đẽ dễ thương như một thiên thần bỗng trở nên hung hãn. Nhưng cũng có lúc lại rất bình thường. Ngày ngày nó vẫn đi học. Nhìn thấy con ngày càng tiều tụy xơ xác người đầy những vết hằn của sự cào xé như bị ai đánh đập tra khảo. Hai vợ chồng mang con đến bác sĩ tâm thần nhưng bệnh không lành mà ngày càng trầm trọng Cuối cùng họ tìm đến nhờ tư vấn của nhà thờ. Ông cha này nói cho họ biết con không bị tâm thần mà bị quỷ nhập và sẽ liên lạc xin được sự giúp đỡ của Tòa Thánh.Trước khi làm phép trị thì phải xin phép Vatican. Chỉ những giáo sĩ được Vatican chỉ định và cho phép mới được làm. Và rồi cuối cùng họ đã được một ông cha tới làm phép. Cái thánh giá mà ông cha dùng để trị quỷ cũng không phải thánh giá thường mà là thánh giá đặc biệt của Vatican. Khi đến nơi ông cha trói cậu bé lại. Cha mẹ lúc đó rất đau xót vì bé còn quá nhỏ không biết có chịu nỗi không? Sau khi trói cậu bé lại ông cha làm phép đọc kinh. Cậu bé la hét chửi bới quằn quại,lúc ông cha đưa thánh giá ra trước mặt nó thì nó quay đi gạt thánh giá ra chồm lên cào ông cha nhưng ổng vẫn bình tĩnh đọc kinh,vẫy nước thánh dứ dứ thanh giá trước mặt nó hỏi liên tục: "mày là ai? Mày từ đâu đến?". Có những lúc cậu bé không thở nỗi nhưng rồi cuối cùng nó gào lên vọt ra giọng nói đàn ông. Nó bảo rằng nó tồn tại cả mấy trăm năm rồi. Nó ở cái giếng sau vườn. Nó nói cởi trói cho nó, nó bằng lòng ra khỏi cậu bé. Nhưng  hăm dọa rằng  sẽ không bỏ cuộc,sẽ ẩn náu  chờ cơ hội mới. Khi ông cha trục được con quỷ đi thì cậu bé yếu quá cũng ngất xỉu luôn, ông cha cũng rất mêt. Khi đoạn phim đang diễn lâu lâu người ta vẫn chiếu lại những đoạn phim thật xảy ra lúc đó  và nạn nhân thật của sự việc trong hiện tại, lúc này cậu bé đã là một thanh niên và người ta có hỏi cậu ta còn nhớ gì không thì cậu lắc đầu nói không nhớ gì. Cha mẹ cậu kể rằng khi nghe con quỷ nói nó ở cái giếng sau nhà thì mọi người ngạc nhiên vì khi vào ở có thấy giếng nào đâu nhưng khi lùng sục trong bãi cỏ hoang sau nhà thì đúng là có một cái giếng bỏ hoang lâu ngày cỏ mọc lấp đi nên tưởng không có.  Hai vợ chồng sau đó mang con đi khỏi ngôi nhà. Theo SĐ thì đông cũng như tây đều gặp phải những điều khó giải thích này và tùy từng nền văn hóa người ta sẽ có cách xử lý. Liệu có phải là Nhân quả, nghiệp chướng, khi chết linh hồn đau khổ uất ức nên không thể đi hẳn được?...Tuần sau nhân ngày lễ Phật đản  SĐ sẽ bàn sâu hơn  về chuyện này hầu tìm ra mẫu số chung cho các nền văn hóa và tín ngưỡng, giờ chúc mọi người những ngày nghỉ lễ thật vui khỏe.   
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-05 23:32:18Ct.Ly>
Chưa tới ngày Halloween trong năm nay, mà chỉ nghe toàn chuyện ma ám khg há sen dat, nếu mà post những bài này ngày đó chắc đọc xong hết ngủ luôn nha [8D]

Merci sendat nhiều nha
Đăng nhập để trả lời
0
Những bí ẩn về búp bê ma ám đáng sợ nhất thế giới




Búp bê Robert được coi là nguyên nhân của hàng loạt cái chết chưa có lời giải...

Khi ta còn thơ bé, việc chơi đồ hàng với búp bê không có gì là lạ nhưng có bao giờ, bạn gặp phải trường hợp sở hữu một em búp bê có tính ghen tị, ích kỉ chỉ muốn giữ bạn ở bên cạnh? Cũng chính vì "sở thích" kỳ quái đó, nó được coi là nguyên nhân của hàng loạt cái chết bí ẩn và được mệnh danh là búp bê... ma ám đáng sợ nhất thế giới.


Chân dung kẻ sát nhân



Chuyện xảy ra vào đầu những năm 1900, khi đó, vị bác sĩ giàu có Thomas Osgood Otto đang sống tại Key West, Florida, (Mỹ) cùng vợ mình - bà Minnie Elizabeth và 3 đứa con. Robert Eugene Gene là cậu con trai út nên rất được cha mẹ quan tâm. Ông bà Otto đã thuê hẳn một cô y tá người Jamaica để chăm sóc cho cậu.

Người ta kể lại rằng, trong khi ông bà Otto bận rộn với công việc thì chính cô y tá kia là người đã dành hàng giờ chơi với Robert. Tuy nhiên, cô y tá này không được lòng bà Otto. Mối quan hệ của họ vô cùng tồi tệ. Bà Otto đã đuổi cô y tá ra khỏi nhà mình. Trước khi ra đi, cô y tá kia đã tặng cho Robert một con búp bê tự may, cao hơn 91cm mà cậu bé rất thích.



Cậu bé Robert con trai ông bà Otto tỏ ra đặc biệt hứng thú, yêu quý búp bê. Cậu thậm chí còn lấy tên mình đặt cho búp bê (gọi là búp bê Robert) và bắt mọi người gọi mình là Eugene. Eugene không bao giờ rời Robert. Cậu yêu con búp bê đến nỗi mặc cho nó bộ quần áo giống hệt của mình, dành thời gian chơi với nó cả ngày trong phòng. Như bao đứa trẻ khác, Eugene cũng nói chuyện với búp bê rồi tự tưởng tượng ra việc Robert trả lời mình. Người ta thường nghe thấy Eugene hỏi chuyện Robert rồi tự trả lời bằng một giọng khác.



Mọi chuyện tưởng chừng như không có gì. Nhưng chỉ 1 tháng sau ngày búp bê Robert xuất hiện, những chuyện kỳ lạ ập tới. Những vật dụng trong nhà tự động bị vỡ hoặc biến mất; đồ thủy tinh và vàng bạc trong phòng ăn tự rơi, vỡ; quần áo tự bị xé rách; những bộ chăn đệm tự động co rúm lại, nhàu nát. Eugene bỗng nhiên yếu dần đi, cậu bé trở nên kỳ lạ. Cứ mỗi tối, cậu bé lại lẻn qua cửa sổ và đi lang thang trong đêm. Khi bố mẹ cậu bắt đầu để ý và phàn nàn cũng là lúc họ nhận thấy có chuyện không ổn. Eugene cứ luôn miệng nói: “Robert làm đấy!”. Và rồi người ta bắt đầu bàn tán việc chính con búp bê Robert đã gây ra những chuyện này.



Lời nguyền bắt đầu

Về việc Eugene và Robert nói chuyện với nhau. Người ta kể rằng, mọi người chưa bao giờ để ý liệu có thực là Eugene tự nói và tự trả lời không. Bởi thực sự hai giọng nói phát ra trong phòng rất khác nhau. Ban đầu người lớn tưởng rằng, đó chỉ là sự sáng tạo đáng yêu của đứa trẻ. Có lần, khi bà Otto bước vào phòng, bà thấy con trai mình co rúm người, chui vào một góc vì sợ hãi. Còn con búp bê Robert ngồi trên một chiếc ghế cao, nhìn xuống cậu bé. Không hiểu sao nhưng vẻ mặt của nó rất dữ tợn, dù cho nó chỉ là con búp bê.




Đêm đến, những món đồ chơi yêu thích khác của cậu bé (ngoại trừ Robert) không hiểu sao bị phá hỏng hoặc xé toạc ra. Người ta cứ nghe thấy văng vẳng tiếng cười lạnh lẽo trong những đêm như thế. Ông bà Otto phạt Eugene vì nghĩ chỉ cậu bé mới làm như thế. Nhưng câu trả lời vẫn như mọi khi: “Robert làm đấy!”. Tất nhiên, ông bà Otto không bao giờ tin cả. Nhưng theo lời khuyên của người cô, họ vẫn lấy con Robert khỏi tay Eugene và vứt lên gác xép. Nhưng rồi tai họa ập đến. Ngay đêm hôm sau, người ta phát hiện ra người cô của Eugene đã chết trong phòng. Nguyên nhân của cái chết là một cú đánh. Không bao giờ người ta biết ai là thủ phạm. Nhưng có một điều khiến tất cả đều sợ hãi tột độ, đó là ngay sau khi người cô chết, con Robert tự động quay về vị trí cũ, ngay bên cạnh Eugene…

Một mạng người đã mất nhưng những tai họa và bí ẩn vẫn chưa dừng lại. Sau này, khi ông bà (bác sỹ) Otto mất đi, Eugene sống một mình. Không giống bao chàng trai ở cái tuổi trưởng thành, Eugene vẫn giữ khư khư con búp bê đồ chơi bên mình. Theo những người bạn của cậu kể lại, không phải là cậu muốn như thế mà là do búp bê Robert không bao giờ cho phép cậu bỏ nó.


Một ngày kia, Eugene cưới vợ và những chuyện kỳ lạ lại tiếp tục xảy ra. Ngay từ khi cưới nhau, Eugene đã thỏa thuận với vợ là phải luôn cho Robert theo cùng hai vợ chồng, cho dù là ngồi ăn, cũng phải để nó ngồi cùng. Nhưng cho dù là thế thì tai họa vẫn ập tới, búp bê Robert dường như chỉ muốn giữ Eugene cho riêng nó. Sau khi cưới, vợ Eugene tự nhiên hóa dại và chết không rõ nguyên nhân.

Khi Eugene qua đời, Robert được chuyển tới tay người chủ mới. Người chủ này không tin những lời đồn thổi xung quanh Robert và quyết định cất nó vào một cái hộp. Nhưng thật khủng khiếp, mỗi đêm, ông ta bị ám ảnh cực độ. Đi đến đâu trong nhà ông ta cũng thấy con búp bê Robert. Chỉ đến khi người chủ này nhìn thấy con búp bê cười khanh khách, cầm con dao đứng dưới giường của mình thì ông ta tin rằng, lời nguyền và những câu chuyện là có thực. Người chủ mới nhanh chóng bỏ đi còn Robert được trao lại cho Viện Bảo tàng Martello, Key West.




Robert đang được lưu giữ tại viện bảo tàng Martello, Key West.


Được biết, ở ngôi nhà cũ của Eugene, dù cho búp bê Robert đã không còn ở đó, người ta vẫn thường nghe thấy những tiếng cười lạnh lẽo hàng đêm, những hình ảnh lướt qua đáng sợ. Tại viện bảo tàng trông giữ búp bê Robert, tình hình cũng không sáng sủa hơn là mấy. Người ta từng ghi nhận chuyện một nữ khách tham quan thốt lên: “Ban đầu nó cau mày, rồi sau đấy nó cười, tiếp đến lại chuyển sang một nét mặt hoang dại”.
Có những người chụp ảnh con Robert còn không hiểu sao ảnh hiện lên chỉ toàn màu đen.

Căn phòng trưng bày Robert lúc nào cũng mang một cái gì đó u ám dù cho người ta khẳng định, hệ thống ánh sáng ở đây rất được quan tâm. Ngày nay, những người làm việc ở viện bảo tàng này vẫn sợ Robert. Chẳng ai muốn là người cuối cùng ra về vào buổi đêm cả.




Có những người chụp ảnh con Robert còn không hiểu sao ảnh hiện lên chỉ toàn màu đen.


Robert được đặt vào trong một lồng kính để khách du lịch được chiêm ngưỡng. Người ta còn khuyên rằng, khi đứng trước Robert thì tốt nhất hãy giới thiệu bạn là ai. Một vài người không làm điều này, trong đó có một người phụ nữ sống tại Orlando và bà ta đã phải chịu “hậu quả”. Robert đã "theo" bà về tận nhà. Người phụ nữ này nhìn thấy Robert qua cửa kính phòng tắm, rồi căn phòng ngủ bỗng dưng mất điện cục bộ trong khi những căn phòng khác có điện bình thường. Sáng sớm hôm sau, người ta phát hiện người phụ nữ đó đã chết.


Bí ẩn còn bỏ ngỏ

Mặc dù đã được cảnh báo nhưng vì ham muốn tò mò của mình mà nhà nghiên cứu Johua P. Warren đã bỏ ra một khoảng thời gian khá dài để tìm hiểu về con búp bê kỳ lạ này. Sau khi giới thiệu tên và “xin phép” Robert cho mình nghiên cứu, Warren bắt đầu tiến hành công việc của mình. Warren đã chụp khoảng 72 tấm ảnh về Robert, tuy nhiên, chỉ có 5 chiếc là có thể nhìn thấy hình dạng của búp bê, những tấm còn lại chỉ toàn là một màu đen bí ẩn. Warren đã tiến hành một cuộc thử nghiệm tại bảo tàng, kết quả là máy đo điện từ xung quanh con búp bê bỗng dưng phát nổ. Ngoài ra, không hiểu vì lý do gì mà các bóng đèn, bộ phận cảm biến báo động hồng ngoại, dịch vụ internet tại nhà của Warren liên tục bị trục trặc, hơn thế nữa, vợ của Warren còn nghe thấy tiếng nói bí ẩn từ phòng khách của họ.

Xâu chuỗi những chi tiết trên, Warren cho rằng, có một nguồn năng lượng xung quanh Robert. Bên cạnh đó, Warren cũng tìm thấy một vài vết bẩn lạ quanh Robert khi được chiếu dưới tia cực tím. Dường như có sự hiện diện của một... con người thực sự bên trong Robert. Mặc dù đã chỉ ra được vài điểm nghi vấn về Rober nhưng những bí ẩn xung quanh con búp bê được coi là đáng sợ nhất thế giới này vẫn còn bỏ ngỏ.


theo Mask
Đăng nhập để trả lời
0
Trước hết xin cám ơn Ly về bài viết sưu tầm từ  Mask.  Nếu Ly có dịp hãy tìm đọc những truyện thâm cung bí sử của Pháp thời dòng vua Louis mới thấy ghê rợn. Quả báo nghiệp chướng liên miên. ! Dòng họ con cháu cứ suy bại dần kết thúc là cái chết của hoàng hậu Marie - Antoinette( vợ Louis XVI) bị chặt đầu. Qua những bài về quỷ ở phía trên thì dù người phương tây họ không có quan niệm giống mình về cái gọi là nghiệp chướng, oan nghiệp, ác nghiệp hay nghiệp báo nhưng những gì ta nghe được ở những câu truyện của họ thì ta thấy quả thật kiếp trước làm điều ác thì kiếp sau chịu quả báo xấu. Người Việt từ lâu đã có câu cửa miệng "Đời cha ăn mặn đời con khát nước, nhân nào quả nấy tức là cái nhân thuở trước sinh ra cái quả báo ngày nay. Ngoài ra còn có câu "trục miền oan gia hay theo nhà Phật thì cầu siêu". Vậy thì miền oan gia là miền như thế nào? Có phải cái miền không hẳn âm,cũng không hoàn toàn dương mà những con quỷ đã cư trú suốt hàng mấy trăm năm? Có phải đó là những oan hồn bị chết oan thân xác không còn nhưng nỗi oan vẫn nặng quá không đi được? Bây giờ là mùa Phật đản. Nhân dịp này người ta thường lên chùa xin cầu an cầu siêu. Và thường thì đua nhau làm chỉ vì nghĩ làm như thế an tâm hơn. Nếu văn hóa tâm linh mà chỉ có đi chùa đi miếu xin lễ là giải quyết được việc thì hóa ra sự việc quá ư đơn giản? Cứ làm đủ mọi tội rồi đọc kinh cầu xin sám hối là xong ư? Lại còn có người nghĩ rằng cứ làm lễ hội cho nhiều lên, ăn chơi múa hát rước kiệu lê thê ăn mặc như phương hát bội,  trình lên quốc tế để được UNESCO công nhận, bảo trợ để trở thành di sản thế giới! Kéo khách du lịch tới hốt tiền thiên hạ.  Hóa ra văn hóa Việt Nam, văn hóa tâm linh người Việt tầm thường thế sao? Văn hóa hàng nghìn năm rốt cuộc chỉ hát hỏng múa may, rước kiệu làm đình làm đám vậy sao? Mình hay thì cần gì ai công nhận. Văn hóa mình thì mình tự biết chứ phải ai chứng giám công nhận thì mới hay à? Đằng sau đó là cái gì? Chả ai biết?.  Nếu con cái hư hỏng giết người cướp của, thì đổ cho là do chơi game đồi trụy của phương tây. Nếu nó sinh ra trong một môi trường mà nền văn hóa tâm linh được hiểu cho tới nới tới chốn thì chưa chắc đã dám giết người không gớm tay như vậy? Loại văn hóa đó là văn hóa tôn vinh vật chất chứ tâm linh cái gì, chỉ ca tụng  ai có tiền bạc tài năng thì đưa lên đến tận trời xanh, tham nhũng mọi nơi mọi lúc. Thiên hạ ít sợ vì luật pháp không phải lúc nào cũng bắt quả tang họ được, không thấy gì thì cứ làm thôi rồi ăn chay sám hối đi làm từ thiện sau sợ gì! Chính vì không hiểu thấu cái luật vô hình, lưới trời thưa mà khó lọt, nên người ta mới dám làm như vậy! Ở VN bây giờ người ta thường bảo nhau rằng người Việt chỉ hiểu văn hóa mình ở đằng ngọn chứ không hề biết gốc nữa rồi!  Vậy ở VN  có bao giờ gặp những trường hợp như bị nghiệp báo không và nếu có thì văn hóa VN xử lý như thế nào? Xin thưa rằng nếu tìm hiểu tận gốc truyền thống văn hóa tâm linh của người Việt chúng ta vào đầu thế kỷ trước cách mạng thì chúng ta cũng có cách riêng ngoạn mục không kém gì quyền lực của các ông cha bên tây đâu! SĐ sẽ đi vào chi tiết bàn sâu hơn trong bài viết tới. Chúc các bạn một mùa Phật Đản tràn đầy an lạc.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-05-12 08:44:08sen dat>
Cách đây không lâu khoảng đầu thế kỷ 20 nền văn hóa tâm linh vẫn còn phát triển mạnh mẽ. Một trong những nét tâm linh đó có khái niệm về luật nhân quả. Không có gì ngẫu nhiên mà có, việc gì cũng có nguyên nhân. Nguyên nhân tốt thì kết quả tốt hoặc ngược lại. Theo thuyết luân hồi  những gì ta hưởng hay chịu ngày hôm nay tùy thuộc vào phúc đức của ông bà cha mẹ hay do chính ta tạo nên từ kiếp trước.  Trong nền văn hóa truyền thống người ta không đề cao những gì con người đạt được về phương diện vật chất bằng bất cứ giá nào, bất chấp tất cả để đạt mục đích cuối cùng dù có thất nhân tâm, có phải làm điều thất đức. Người đời nay nhìn lại có người cười chế nhạo cho người xưa hủ lậu, không có lý trí, không có ý tiến thủ, mê tín dị đoan không sáng suốt thông minh khoa học như con người ngày hôm nay.Khi bàn về những chuyện huyền bí này người ta thường đem những vụ việc lường gạt của một số cá nhân không có lương tâm ra để làm ví dụ bàn bạc một cách thô thiển hời hợt. Thật ra nếu một nền văn hóa tâm linh được nghiên cứu cho đến nơi đến chốn thì làm gì có đất sống cho bọn ăn xổi ở thì ấy?.
Văn hóa truyền thống luôn đề cao chữ "PHÚC" chữ "ĐỨC" chữ "TÂM" hơn là tài năng, có tài không đức cũng bỏ vô ích, và luôn luôn mong muốn con cháu đạt tới ý nghĩa trọn vẹn của những từ này. Đó là lý do tại sao những từ này thường xuát hiện ở những câu đối, những tác phẩm, những ca dao tục ngữ của người xưa. Là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời nên tất nhiên người xưa cũng có những phương cách để khám phá thế giới siêu hình chứng minh cái luật nhân quả nhiệm màu này do đó họ mới không tha thiết lắm với những gì chỉ nhìn bằng mắt thường. Một trong những phương cách đó là đánh đồng thiếp, lên đồng, ngồi đồng, áp vong, lập đàn...Đánh đồng thiếp thì có thể bậy giờ đó là một từ xa lạ vì  đã thất truyền. Đó là làm cho người sống thiếp đi hồn rời khỏi xác đi về chốn âm cung để tìm hiểu xem xét. còn lên đồng ngồi đồng áp vong là cho một linh hồn nào đó mượn xác mình một lúc. Do kinh nghiệm từ đời này sang đời nọ tích góp được nên người xưa có cách để không bị lạm dụng. Ví dụ nếu lập đàn chay giải oan hay ngồi đồng người ta thường mời những vị được phong Thánh. Cũng như phương tây muốn được phong Thánh người đó phải chứng minh được sự hiển linh  sau khi chết.Chỉ những công lao khi sống không thôi thì chưa đủ. Họ phải thể hiện bằng những phép mầu phép lạ những tài năng mà người bình thường không thể làm được để gạt bỏ tất cả những linh hồn hay những con người muốn lợi dụng việc này để kiếm xôi thịt. Ở VN chỉ có vài người được truyền tụng và tôn kính trong đó nổi bật nhất là Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Cả hai đều rất cao tay trong việc trừ tà ma quỷ ám. Như chúng ta đã biết văn hóa chúng ta thoạt đầu là văn hóa truyền khẩu nên sự việc có thể bị biến đổi khi truyền đạt. Từ thế kỷ thứ 10 khi giành được độc lập và trở thành nước Đại Việt tiếng Việt là tiếng phổ thông tồn tại trong quần chúng như là quốc ngữ nhưng chữ Hán mới là quốc tự và sau đó được đổi thành chữ nôm và bây giờ là Việt ngữ. Vậy tầng lớp trí thức đầu tiên của VN là những người phải thông thạo chữ Hán vì đó là chữ chính thống trong thi cử văn chương bác học. Vậy tầng lớp thượng lưu này không thể ngu ngơ ngớ ngẩn đến nỗi để cho các tên ngồi đồng hay pháp sư qua mặt. Thậm chí ở Triều đình còn lập những tục lệ mời Thánh Mẫu để hỏi vận nước hay lập đàn cúng tế Trời Đất rất lớn. Ngoài ra trước mỗi kỳ thi họ lập bàn thờ mời các linh hồn vào báo ân báo oán. Một hình thức nữa để lưu truyền đó là viết gia phả. Gia phả là một loại sử gia đình lưu truyền nhiều thế hệ về những việc đời thường xảy ra trong quá khứ của một dòng họ để cho con cháu học hỏi kinh nghiệm hầu mong hiểu được lẽ đời thấu được cái hay cái xấu để học hỏi hay tránh xa. Mục đích như vậy nên những gì viết trong gia phả thường là chính xác vô tư hơn loại sử quốc gia nơi bị quá nhiều áp lực chính trị.  Cũng tại đây những câu truyện báo ân báo oán được lưu truyền. Hôm nay SĐ xin giới thiệu một câu truyện của nhà văn Nguyễn Tuân trong tác phẩm Vang bóng một thời. Đó là truyện Báo oán hay Khoa thi cuối cùng. Theo SĐ đây là tác phẩm thành công nhất của nhà văn vì nó chất chứa những giá trị tinh thần vô cùng quý giá mà khi đọc tưởng như vừa tìm thấy một món đồ cổ đã bị mất từ lâu. Giọng văn cũng như cốt truyện na ná những câu truyện được lưu truyền trong văn hóa gia phả. Đây không phải là sự hư cấu của tác giả mà có thể do nghe được câu truyện từ một gia đình nào đó hay cũng có thể do đọc được từ chính trong gia phả của dòng họ mình cũng nên. Mời các bạn đọc. Bạn nào đọc rồi nên đọc lại để hiểu rõ hơn về văn hóa Việt. Để hiểu rằng tại sao người xưa coi trọng chữ Đức, coi trọng văn hóa tâm linh có thể vì họ đã từng biết rõ một luật vô hình khiến những người trong cuộc chỉ biết tâm phục khẩu phục không còn bấu víu vào đâu được nữa, luật pháp quốc gia, tiền bạc quyền lực đều bất lực không thể giúp gì được?.

Báo oán - Khoa thi cuối cùng (Vang bóng một thời)
Ở cuốn lịch năm ấy bìa vàng nhoè nét son dấu kim ấn tòa Khâm Thiên Giám cỏ niên hiệu Duy Tân thập niên, người ta thấy tiết thu phân và ngày lập thu qua đã lâu rồi.
  Mùa mưa dầm tháng chín chỉ là những giọt nước mắt triền miên than vãn của kì thất tịch còn sót lại mãi đến bây giờ. Xứ đồng chiêm Sơn Nam hạ đã biến thành một vùng nước mất hẳn bờ, trên đó nhấp nhô những con đò đồng lí tí. Ngọn sóng đồng hỗn loạn vỗ tung bùn vào mép những con đường đất thô nhuyễn và những lũ tre già ướt át. Làng mạc vùng quê Nam Ðịnh nhoi lên khỏi làn nước trắng lạnh như những quần đảo hoang vu.
  Nước một mùa mưa hợp các xứ đồng chiêm lại thành một khối lớn và trên cái đoàn kết của nước đồng hiu quạnh, những con thuyền thúng đi về nhiều như lá tre rụng mùa thu. Đêm mưa giỏ, mặt nước bằng rộng âm hưởng rất xa cái tiếng kêu đánh cướp nhóm lên từ những hòn cù lao lẻ loi.
  Bên bờ đường cái quan, hoa hoè nở vàng khè. Dậm hoè đất Sơn Nam hạ trổ bông đã từ lầu. Hoè đã rầu cánh, màu vàng úa tối mãi xuống.
  “Hoè hoa hoàng, cử tử mang.”
  Thấy dậm hoè ngả màu vàng, lòng những người có chứ bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi, hoa hoè nở đều, làm ấm lại lòng người sĩ tơ tưởng đến sự hiển đạt về sau này. Màu vàng của sắc hoa nơi dậm hoè dài đã nhắc bao nhiêu học trò vùng Sơn Nam hạ nghĩ đến cái màu vàng một tấm giấy cáo trục phong tặng hoặc là phần hoàng mai sau cho hai đấng sinh thành.
  Ôm khư khư một hòm kinh truyện sũng ướt nước mưa, ngồi trong lòng một chiếc đò đầy đang tìm lại bến cũ, ông Đầu Xứ Em nghĩ xem giờ xuống tỉnh, nên trọ nhà ai cho tiện trong suốt một kì thi, vì nhà bà Phùng đã chật chỗ rồi.
  Hoa hoè lả tả đánh rớt những cành vàng nâu cuối cùng lên bả vai bao nhiêu học trò các vùng đổ về tỉnh Nam. Năm nay nhà nước mở khoa thi, một khoa thi cuối cùng. Có những ông đồ già tóc râu đã ngả màu vì sự đùa nhả của công danh đánh lừa mình suốt mấy phen, chuyến này cũng cố chen ra, hồ vớt lấy một chút phấn hương cuối mùa của triều đình.
  Trường Hà Nam hợp thi khoa Mậu Ngọ có ông Đầu Xứ Em dự, còn nhộn nhịp gấp mấy khoa Ất Mão trước.
  Khoa Ất Mão trước, ông Ðầu Xứ Anh bị loại ngay vòng đầu, bay kì kinh nghĩa.
  Khoa Mậu Ngọ này, ông Ðầu Xứ Anh nhất định không đi nữa, mặc dầu khoa này là khoa cuối cùng, sau này bãi hẳn sự thi cử. Ở vào buổi giao thời, nếu người ta còn cái lòng công danh, thi khoa thi Mậu Ngọ là một cơ hội cuối cùng. Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ mở một thời khác, chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người. Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích, mỗi khi nhắc nhỏm tới lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn sống thêm một ngày là càng chỉ thêm một ngày bỡ ngỡ với phong hội mới.
  Ông Đầu Xứ Anh nhất định không nộp quyển khoa này, tuy bao nhiêu người, từ Quan Đốc tỉnh cho đến anh em đồng song, thảy đều gởi hy vọng vào ông. Thơ phú làm rất nhanh ; sách nhớ có thể vạch ra từng chương, từng tiết một. Tính người lại điềm đạm đa hậu: ai ai đều khen nhà ông có đất học, rồi lại lấy làm lạ cho ông. Có một ông tam trường khoa trước lại ngờ rằng hay khoa này, tại nhà nước bắt đám sĩ tử phải chụp ảnh dán vào quyển nộp mà ông Đầu Xứ Anh không đi chăng? Có một hôm, ông cùng mấy người dạo chơi ở phố hàng Thao, nhận được tin này chính ông Đầu Xứ Anh đã kêu: “Từ trước tới nay, có bao giờ như thế. Bề trên đãi đám sĩ phu trong nước thật không ra cái gì.”
  Hôm người em là ông Đầu Xứ Em xuôi tỉnh để sửa soạn đi thi, ông Đầu Xứ Anh đưa ra khỏi cái dốc đầu làng và lúc ông Đầu Xứ Em đã ngồi gọn trong con đò, ông dặn:
  - Xuống tỉnh, nhà bà Phùng đã đông người ở trọ rồi, có phải ở chỗ khác, chú có ở đâu, cũng cứ lại đấy mà nhắn cho tôi rõ. Đến hôm các quan tiến trường, cữ hạ tuần tháng này, thể nào tôi cũng có mặt dưới tỉnh.
  Vốn tính phong tình người em đứng dậy, làm chiềng con đò đầy, nói với lại:
  - Cô Trinh, con gái út bà Phùng, hình như vẫn chưa lấy chồng phải không anh? Khoa Tý ngày trước anh cũng trọ ở đấy phải không?
  Đáp lại cái vui đùa của em muốn tiết nỗi hoan lạc ra ngoài một cách quá độ để trấn tĩnh cái rối ren trong bụng một người đi thi, ông Đầu Xứ Anh đã nghiêm nghị một cách bất đắc dĩ nói lảng ra ngoài câu hỏi:
  - Cứ quanh quẩn ở phổ Cửa Trường ấy thôi nhé. Ði về nó tiện hơn. Ở đấy dễ gặp anh em các nơi đổ về.
  Biết đấy là một cậu học trò xuống tỉnh thi, mấy đám hàng xáo người làng trên qua đây ghé đò xuôi chợ, không nhao nhao lên nữa như lúc mới nghiêng mạn đò vừa rồi. Họ ra vẻ nể nang, ngồi thu hình lại, quơ lại một góc mấy lũ tay nải và bị cói, cốt để dọn cho cái người có chữ kia một chỗ ngồi rộng rãi. Đáy con đó dính chắc vào đất sét lòng bến nông. Cô hàng gạo, buộc lại mũi khăn mỏ quạ, nhìn cậu khoá không mỏi mắt và mỗi lúc ngượng nghịu lại nhổ xuống đồng nước một bãi quết trầu. Gió đồng hôm nay không thổi. Bãi quết trầu đỏ lặng im giữa làn nước nhợt nhạt, rồi chậm chạp tan hòa vào nước đồng chiêm, mỗi khi nhìn rộng ra, chỉ rặt một màu bao la nhờ nhờ. Người lái đò mặc áo tơi phủ kín thân hình, chụp nón mê lấp cả mặt, đã rút đầu sào khỏi mặt nước. Con đò đầy cựa quậy, bốc nhẹ, rồi trườn mình ra xa. Trời bắt đầu nổi giỏ rét. Mưa thu lại lộp độp rớt xuống đám áo tơi nón lá của một chuyến đò đồng. Dưới gốc cây hoè già ở dốc đê làng, ông Đầu Xứ Anh vẫn chưa chịu trở gót.
  Sớm tinh mơ ngày hai mươi nhăm tháng chín các quan làm lễ tiến trường tại khu trường thi Nam Ðịnh. Hai chiếc lọng vàng phủ nghiêng xuống lá cờ và tấm biển cỏ chữ “phụng chỉ” “khâm sai” và bốn chiếc lọng xanh ghé sát thấp tịt xuống cái đầu bạc của một ông đại khoa. Mùi nghi vệ mới phảng phất ít hôm trước thì sớm nay đã chan hòa nổi dậy trên một khoảnh đất mà mọi khi chỉ có hoang vu và bằng lặng.
  Ánh sáng ban ngày đi vắng mãi tự những đâu mà đến bây giờ vẫn chưa thấy trở về. Từ hôm có gió vàng pha mùi cơn bấc đến nay, người ta chưa bao giờ thấy cái âm u tẻ lạnh đến nhường ấy. Mãi đến bây giờ là gần giữa giờ thìn rồi mà tối và sáng vẫn còn chưa phân tách hẳn ra. Người ta đứng bao quanh đàn cúng, vẫn chỉ thấy ánh sáng mấy chục ngọn nến bạch lạp rọi vào lớp da hoen ố vệt lửa cháy của đàn tế, trên đó phủ phục ba cỗ tam sinh còng queo: một con trâu và một con dê đen thui kèm một con lợn cạo trắng mở to cặp mắt chết.
  Mặt đất sáng hơn nền trời. Cõi tự nhiên, một buổi sáng mùa thu có cuộc tế tiến trường, hình như đang lắng chờ một tai biến gì. Gió cũng không muốn thổi. Mấy ngọn sáp không lung lay, vệt khói xám nơi bình hương bốc lên thẳng thắn nơi bàn tam sinh.
  Nền trời phương Đông đáng lẽ phải hửng lên để đón lấy chiêu dương. Thế mà ở đấy chỉ rặt một thứ mây đục đùn lên những hình Quỷ Ðông và, nơi phía Tây, một cái cầu vồng cụt một chân, tô lên trên tạo vật có tang ma, những màu xanh đỏ rực rỡ và rờn rợn. Trong cảnh âm dương hỗn loạn không chia biệt rõ, quan chánh chủ khảo trường Hà Nam hợp thi khoa Mậu Ngọ, đang tế cáo trời đất vua thần thánh và suýt soa khai xong tên, tuổi, quê, quán ngài khấn:
  “…Báo oản giả, tiên nhập, báo ân giả, thứ nhập…”
  Có lẽ đoạn khấn này là khoản chú trọng nhất của lễ tam sinh và đã được quỷ và thần chứng giám. Người lính tuần mặc ảo nẹp đỏ vừa được lệnh đổ chén rượu cúng xuống tàn lửa đống vàng đang hoá dở thì những đầu ngọn cỏ may im lìm nơi bãi trường thi đều rung lên một nhịp và theo một chiều. Người ta, hồi nãy sống một cơn mơ giữa khoảng ban ngày u uất, bây giờ trông thấy một cơn mơ đang tàn dần. Một thứ gió u hiển thổi thốc mãi vào bãi trường, nghe lào sào như có tiếng người chen chúc và chạy vào choán chỗ. Những cây nến cháy vạt ngọn bỗng tắt phụt hết.
  Không gì xa vắng bằng cái động đậy trong đìu hiu của muộn loài.
  Trời đất trong sáng lại lần lần.
  Hai anh em ông Ðầu Xứ Ngoạt (lấy tên tục của làng nguyên quán là Cổ Nguyệt) lững thững ra về, ông Đầu Xứ Anh bụng buồn lắm mà không dám nói ra.
  Ba năm trước, cũng ngày tế tiền trường năm Mão, cảnh trời đất cúng âm thầm gần bằng ngày này. Quan chánh chủ khảo khoa ấy, theo tục lệ quen của mỗi khoa thi, cũng cúng tam sinh khấn mời những oan hồn nên nhập vào trường trước hết mà báo oản trả thù. Rồi ông Ðầu Xứ vào trường, rồi oan hồn hiện lên ngay ở kì đệ nhất. Một người đàn bà trẻ, xoã tóc, ẵm con, hiện ngay lên dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ rịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển của ông. Lần ấy ông xin cánh quyển đến hai ba thứ. Vẫn người đàn bà quấy nhiễu không tha, để quyển ông cứ tì ố mãi. Lúc gần chiều, ông nổi một cơn đau bụng hoắc loạn, phải bỏ dở kì thi, nhờ người dìu về nhà trọ. Thế là ông bay ngay kì kinh nghĩa. Một người đầu xứ hay chữ và được Quan Đốc khen ngợi luôn mả hỏng ngay nhất trường thì có thảm thương không. Cũng may mà còn có người lấy được cái bản thảo giáp bài của ông đem về, ông còn giữ được đến giờ, nếu không thì nhục cho gia sáo biết là chừng nào. Ông cụ thân sinh ra ông, cụ Huấn là người nổi tiếng một vùng, ông xem lại bản giáp đưa cho các bạn đọc, ai cũng lấy làm tiếc. Hơi văn đi mạnh như thế có vào đến kì hội thi cũng cứ lọt, mọi người đều chắc lưỡi tiếc rẽ. Cái người bạn cùng một vi với ông, sau khi đem trả ông cái bản giáp đó, đã tìm đến phòng trọ đưa tạ ông ba chục quan tiền kẽm:
  “Ðại huynh lúc không may lâm bệnh rời bãi trường, phải bỏ lại trên cỏ bản giáp bài kinh nghĩa. Là một người tự biết mình bất tài, tiểu đệ đã mạn phép hiền huynh điền vào quyển của đệ những lời gấm hoa đanh thép bị bỏ phí kia. Nay được vào kì đệ nhị, gọi là có món quà mọn gửi lại xin đại huynh nhận cho”.
  Biết là có oan hồn hiện lên cố phá không cho mình mở mặt với thiên hạ, ông để tâm tra xét chuyện nhà. Thì ra, lúc sinh thời, cụ Huấn đẻ ra ông đã phạm vào một việc thất đức. Lúc sinh thời cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài tình nổi tiếng một thời. Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy tháng. Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé: “Nó còn đi thi, cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm huý, cho nó bị tội cả nhà kia. Nhưng nhà nó cũng cỏ một ông mãnh thiêng lắm, cô không tàn hại nó được như lòng cô muốn”. Con đồng chỉ lắc lư nói có thế, nếu có gặng hỏi thêm thi chỉ khóc hu hu rồi lại lăn ra mà cười như bị cù. Ông Đầu Xứ lạnh đến tuỷ xương sống trong người. Và lo nghĩ từ ấy.
  Khoa thi này ông định không ra nữa để ông Đầu Xứ Em nộp quyển thôi, thử xem hồn oan có còn báo được nữa hay không. Ông tin ở học lực người em ruột, sao cũng lấy về cho làng Ngoạt, hên ra cũng được cái Tú Tài. Khoa cuối cùng, thêm phần luận quốc ngữ và phép tính và đo lường theo lối học mới, nhưng chú nó thông minh vốn thiên bẩm và gần đây tân thư và toàn pháp đọc rất nhiều, cũng không lấy gì làm ngại lắm. Nhưng mà phúc phận con người ta, ở một sĩ tử, biết sao mà định đoạt trước được.
  Còn năm hôm nữa mới nhập trường. Mãi đến ngày sóc tháng mạng đông mới gọi tên bốn năm ngàn người vào kì đệ nhất. Cơm nhà trọ, luôn mấy ngày nay, bữa nào cũng hết một bình rượu.
  Vào mấy ngày mong chờ hai anh em ông Đầu Xứ, những lúc trời ngớt hột mưa, thường nhẩn nha ở phổ hàng Giấy, chọn một thỏi mực, thử lông một cây bút thỏ hay là soi lên ánh nắng một giấy bản. Ông Đầu Xứ Anh cố quên chuyện cũ hết sức vui vẻ trong khi đi lục lọi giấy bút cho em ở các cửa hàng sách phố hàng Giấy. Những người văn nhân lượn lên lượn xuống nơi phố này nhiều đến nỗi không nhớ được mặt ví có gặp ngay lại một lần thứ nhì.
  Cái cửa hàng sách gọn ghẽ, xinh xắn được nhiều thầy khoá lui tới nhất là cửa hàng cô Phương. Ðám học trò vào cửa hàng cô để mua cũng có, và để nghỉ chân vả giải trí cũng có. Cô Phương, ở phố hàng Giấy, ngày trước là một người đanh đá chua ngoa có tiếng. Có một lần một cậu học trò vào hàng cô chọn bút. Cô đưa bút Song Lan, Thanh Chi, Nhất Chi rồi Kiều Lan, rồi đến Lan Trúc; người thư sinh mặt trắng rút tháp bút, cho bút vào miệng, ấn toè đầu bút vào lòng bàn tay xoè, để thử soi lông bút lên ánh sáng có đến mấy mươi lần rồi mà cứ lắc đầu hoài, chê xấu. Anh chàng nhất định hỏi cho được cái thứ bút Tảo Thiên Quân mới chịu lấy. Thấy thầy khoá ăn mặc đồ vải xuềnh xoàng, cô Phương ra giọng bỉ thử: “Có Tảo Thiên Quân lông trắng, nhưng mà những hai quan một chiếc”. Tiếp cái nguýt dài của cô hàng sách càng ngồi giãi thẻ thêm ra, người thư sinh mặt trắng chỉ tay lên tít trên đầu tủ: “Phải, Tảo Thiên Quân lông trắng ; có còn thứ nào những năm sáu quan một quản, cô lấy cho tôi chọn”. Lúc nói câu này, thầy khoá cố dằn giọng vào chữ “những”, có ý bảo thầm cho nhà hàng biết rằng nên khinh người vừa vừa chứ. Cô Phương bẽn lẽn, nhưng cũng cố đứng dậy lấy thứ bút quý cất mãi trên cùng tột lớp tủ, đưa cho thầy khoá, chỉ đợi nếu anh chàng không mua nổi chiếc nào thì sẽ mắng một trận như tát nước vào mặt cho bõ ghét. Lấy luôn một lúc bốn chiếc Tảo Thiên Quân, trả tiền xong xuôi, người thư sinh mặt trắng dúng một ngòi bút vào một mảnh giấy nơi mặt hàng. Những giòng chữ viết rất tốt kia, sự thật, chỉ là một bài thơ chữ nói mát cô hàng có tính chỏng lỏn. Từ đấy, cô Phương đâm ra gờm những thầy khoá có tính ỡm ờ và trở nên rất ngoan ngoãn đối với bạn hàng, bất cứ là ai. Sau cô hỏi thêm, mới biết người thư sinh rất khó tính trong sự lựa bút và tác giả bài thơ bóng giỏ ấy là cậu Đầu Xứ Ngoạt. Năm Mão, phong thanh người thiếu niên tài hoa ấy thụ bệnh trong trường và bỏ dở khoa thi, cô Phương đã ra mặt ái ngại tiếc than với những người chung quanh. Trong tâm một cô hàng sách nhỏ phố hàng Giấy, đang nhú lên một cái mầm của yêu thương, gắn bó và đợi chờ.
  Cho đến mãi Ngọ năm nay, ông Đầu Xứ Ngoạt mới trở lại cửa hàng cô Phương. Ông Ðầu Xứ Em còn lần lựa ngoài mặt hàng, chưa bước vào nhà.
  Trên mấy tấm cửa lùa ngả xuống hai cái mễ gỗ, nhô hẳn ra vỉa hè, một cuốn Chinh phụ ngâm diễn nôm đã ghìm bước ông Đầu Xứ Em lại. Thấy có bóng khách vào hàng, cô Phương đặt cuốn truyện Lục Vân Tiên xuống, lấy móng tay đảnh dấu vào cái đoạn nàng Kim Liên đang “đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”, sắp cất tiếng chào khách, bỗng cồ ngờ ngợ, tủm tỉm muốn bật như cười. Cô nhìn không chớp mất, đôi má lúm đồng tiền phơn phớt nhuộm đào - cái màu hoa đào ngày năm nọ.
  Ông Ðầu Xứ Anh hơi luống cuống, chưa biết hỏi món hàng gì thì may mắn quá, ông Ðầu Xứ Em đã tiến theo vào phá hộ cái yên lặng.
  - Này anh, lấy một cuốn Chinh phụ bản nôm, về nhà trọ ta ngâm nga chơi cho nó hết mấy ngày đợi cái bảng nhập trường.
  - Ờ thích được ngâm nga thì cứ lấy về. Có gì mà phải bàn bạc nữa.
  Cô Phương hết nhìn người anh, lại nhìn sang người em. Cô đoán họ phải là anh em ruột thì mới giống nhau như tạc đến thế. Vả chăng hồi gần đây cô có nghe đến ông Đầu Xứ Anh cũng có một người em đỗ Ðầu Xứ và tài hoa đã làm trội cả một vùng tỉnh Nam. Ðúng là người mua truyện này đây. Chưa biết chuyện ông Đầu Xứ Anh không nộp quyển thi khoa này, cô Phương tự nói với mình: “Huynh đệ đồng khoa! Cải làng Cổ Nguyệt chuyến này tha hồ mà rước sách. Trong hai anh em, chả biết ai sẽ tủ tài, ai cử nhân. Mọi năm hai trường Hà Nội và Nam Định hợp lại, lấy sáu mươi
  tư cử nhân. Năm nay khoa rốt, nhà nước đặc cách lấy những chín mươi tư cử nhân và cũng như mấy lần thi trước, cứ một cử nhân thì ba tú tài. Lọt sao được tay hai cậu Ðầu Xứ này.” Cô kéo cái ấm giỏ trong bục trong ra, giở nắp ấm thăm cái nòng chiếc ấm sứ, rót hai chén, cố hạ thấp vòi ấm xuống để nước không nổi bọt.
  - Mời hai thầy quá bộ vào trong này xơi nước. Nước trà nụ ướp sói vừa pha đấy, nên mới dám mời hai ngài tân khoa.
  Cô Phương cười, tự cho câu chúc sớm sủa đó lả có duyên lắm, hẳn là phải hay lắm và anh em ông Đầu Xứ Cổ Nguyệt phải thưởng thức. Thấy họ cứ đứng trân trân ra đấy, cô Phương thu dần nét mặt xởi lởi lại và ngồi ngẫm, càng nhận thấy cái vô duyên và vô lí của câu nói vừa rồi. Ai người ta chưa thi cử được một kì nào mà đã chúc với tụng. Cho đỡ ngượng, cô lại mời:
  - Hai thầy xơi chén nước!
  Ông Đầu Xứ Em chẳng biết cái gì cả, cầm chén, uống luôn, tưởng hễ cứ vào mua hàng người ta là mình có quyền được xơi nước mời. Khốn nạn, nào mà trước tới giờ anh có bao giờ nói chuyện cho nghe cái đoạn tình duyên thầm kín đã mấy năm nay giữa anh với cô hàng sách đâu mà biết. Ông Ðầu Xứ Em thấy anh còn trùng trình chưa chịu ngồi xuống cầm lấy một chén nước trà mà đầu lưỡi rất tinh của ông phải nhận là thơm ngon, ông càng chèo kéo ồn mãi lên.
  Cô Phương cũng phải phì cười và làm cho ông Đầu Xứ Anh cười luôn thể. Con người nào đã biết e dè với cuộc sống, những lúc cảnh ngộ tinh thần sớm không cho mình phỉ sức hưởng thụ khi ở vào một cải tuổi ăn và ngủ đàng lẽ phải nhiều mỗi lần được vui cười trên mặt, thì cái cười ấy thật là thoả đáng, thật là đầy đủ và lại xinh đẹp là khác nữa. Nhân một cái vui tươi thế cho nét mặt nghiêm trang luôn luôn của ông Ðầu Xứ Anh, cô Phương nói một câu mà sự thân mật riêng tây đã không cần âm thầm nữa:
  - Khoa Ngọ này là khoa cuối cùng, ông Đầu Xứ nên giữ mình làm trọng, chớ có đau bụng như kì năm Mão mà để thiệt thòi nhiều cho vùng Sơn Nam hạ lắm đấy, ông ạ.
  Ðến chữ “ông ạ” ở cuối một câu nói, giọng rất thành thật cảm động, cô hàng sách có làm ra giọng bông lơn cho nó nhẹ bớt sự tha thiết của một câu nói đã lỡ nhời, đã thốt ra từ đáy một tấm lòng để đi sát vào một tấm lòng khác, bấy nay cũng vẫn chờ lúc được đãi đằng. Sự rất hữu tình mà cố làm ra vô tình bằng một cái giọng cố gò lấy, làm sao cho tránh khỏi sự nhận xét thông minh của ông Đầu Xứ Anh được. Ông biết lắm. Ông hiểu cô Phương để ý đến ông lắm. Không cần các bạn nói cho hay, không cần gặp gỡ, không cần âm tín tiêu hao, ba năm nay rồi, linh tính bảo cho ông biết thế. Nhưng từ ngày vấp ngay khoa thi đầu tiên, ở một kì đệ nhất, ông buồn uất vô hạn khi nhận thấy mình ra có còn lều chõng nữa cũng là chỉ đế lảm sống dậy, trong vòng oan trái, một cái oán cừu xưa cũ của ông cha di lại. Một cái oan hồn đã hiện lên để phá hại, đã ốp đồng vào miệng người sống để thốt ra toàn những lời hằn bọc, cái oan hồn ấy không chịu buông tha ai bao giờ. Hoá cho nên, rớt khoa Ất Mão ngay kì kinh nghĩa, ông nhận luôn cho nó là khoa cuối cùng, chẳng cần phải đợi đến khoa Mậu Ngọ cuối cùng này. Ngay dạo ấy, ông nói rất to rằng ông là thí sinh của một khoa thi thôi. Cô hàng sách không rõ, vẫn tưởng ông còn có bụng với sự lều chõng.
  Ngắm kĩ cô Phương, ông thấy cái đẹp của cô già dặn hơn ngày năm trước. Muốn nói thêm vài ý nghĩ vui tươi nữa vào việc đánh giá cái đẹp, ông Đầu Xứ Anh bỗng ngừng lại. Bởi vì, – quái, sao mãi đến giờ ông mới nhớ nhận ra – khuôn mặt cô Phương cũng hao hao tợ như diện mạo người đàn bà ẵm con, xoã tóc ngồi rú kêu than nơi đầu chiếc chõng tre ở trong trường thi khoa nọ. Tự nhiên ông thấy cô Phương không hiền bậu nữa. Ông nghĩ đến những cái ghê sợ mà một cái sắc đẹp có thể giấu dưới nụ cười. Ông nghĩ đến những truyện ma quái lúc thay hình biến thể khi muốn hãm hại đám học trò. Ông nhớ lại cái cười gằn của oan hồn khi hiện thành người, quất đuôi tóc trần vào mặt ông cho ông hôn mê đi và cầm nghiên mực đổ chan hoà xuống quyển thi. Cái oan hồn ấy đã lên tiếng nói, thề quyết làm cho người
  sống phải lụn bại mới nghe. Biết đến lúc nào cái người nàng hầu cụ Huấn mới nguôi giận và cái âm oán kia hết theo vết ông. Chuyện cũ của cha hồi sinh thời đi lại với người ta thật ông cũng chưa rõ hẳn đầu cuối như thế nào.
  - Vâng, nhà có thứ mực Kiêu Kỵ đấy ạ, cô Phương nhanh nhảu trả lời ông Đầu Xứ Em.
  Choàng tỉnh cơn suy nghĩ, ông đã vội bắt lấy việc mua mực khuyên em không nên lấy mực Kiêu Kỵ:
  - Ði thi không ai dùng mực Kiêu Kỵ. Mực của xã Kiêu Kỵ chế rất tốt, chỉ hiềm mỗi khi viết xuống giấy, nó cắn bền chắc quá, khó tẩy đi lắm. Cô lấy cho mấy thoi Hoàng Tam Sương – vâng, nếu hết thứ chữ vàng rồi, cô cho thứ chữ bạc cũng được. Cái thứ mực hiệu Diệu Tự, “nhà ta” bán có được chạy lắm không hả cô?
  Chà, người ăn nói sao mà xuôi tai dễ nghe đến thế. Cô Phương nhìn ông Đầu Xứ Anh, nhẩm trong óc mấy chữ “nhà ta”, tưởng đến cái ngây thơ của một đôi vợ chồng son kia trong lúc bù khú, chỉ mảnh trăng của cả thiên hạ mà nhận là của riêng của “nhà ta”, cô vui lòng quá, suýt quên cả việc soạn thoi mực cho khách.
  - Cô cho tôi luôn thể ít chục tờ giấy lệnh nữa.
  - Mấy chục tờ ạ?
  - Cô đợi cho tôi tính xem dùng hết độ ngần nào thì không là thừa phí.
  Làm ra bộ thông thạo thì ít. mà muốn tỏ sự thân mật thì nhiều – bao giờ được nên thân tình nữa nhỉ? – cô Phương co tay tính nhầm những cái gì, rồi cô ngấc đầu, vuốt mái tóc, nói với ông Đầu Xứ Em, giọng nhẻ nhót rất tự nhiên:
  - Nộp ba quyển, kì đệ nhất, kinh nghĩa một quyền bảy tờ; kì đệ nhị thơ phú, một quyển sáu tờ và kì đệ tam, văn sách, một quyển mười bai tờ nữa, có dày lắm cũng chỉ đến mười bốn tờ là cùng. Ông định mua trữ giấy mang vào trường đề phòng những lúc phải cánh quyền hoặc đổi những trang hư hỏng, chỉ nên trữ lấy từng kì một.
  Ông Đầu Xứ Anh vừa soi giấy lệnh vừa hỏi:
  - Tại sao thế hở cô?
  - Thưa, tại... tại là giấy chuyến này, thú thật với hai ông rằng không được mịn mặt lắm. Chuyến sau, có thuyền hàng phường neo về, thế nào cũng có giấy tốt hơn nhiều. Có lẽ kịp kì đệ nhị của các ông đấy. Để tôi xem nào.
  Cô hàng sách, bán giấy bút cho học trò trường Nam đã mười năm cỏ lẻ, đã không phụ cái tiếng là một người thông thuộc những phong tục trường ốc. Cô Phương lại co tay tính nhẩm một hồi:
  - Được rồi. Mồng một tháng mười là ngày vào kì đệ nhất. Có chóng lắm thì cũng phải hết cữ thượng tuần tháng mười mới có bảng vào kì đệ nhị. Phường giấy của tôi thế nào cũng có thuyền về bên trên mỏm sông trước ngày mồng mười. Đúng hôm tết trùng thập cúng cơm mời, các ông lại đây mua mở hàng cho kiện giấy lệnh Bưởi. Giờ các ông lấy tạm ít chục tờ dùng đở trong kì đệ nhất vậy.
  Cô đếm giấy, thổi những tờ giấy chập đôi với cái nâng niu nhẹ nhàng của một người chị cả săn sóc đứa em thơ lúc mẹ già đi chợ chiều xa, chỉ có những người đàn bà đẹp và phúc hậu thì mới thổi được giấy như thế thôi. Cô đếm thành hai xấp, mỗi xấp đâu hai chục tờ. đùn một xấp vào phía ông Ðầu Xứ Em, còn cái xấp thứ nhì là lấy sau ở trong ruột đệp khác, cô trao tận tay ông Ðầu Xứ Anh, cặp mắt tình tứ linh động như muốn nhắc ông rằng cái xấp sau đây tốt hơn xấp trước và sự chênh lệch này trong lúc soạn giấy không phải là do ngẫu nhiên. Ra chiều tin chắc vào cái tài và cái may của hai anh em ông Đầu Xứ thi khoa này, cô hàng sách vẫn lấy cái cười duyên dọn đường cho một câu nói mà ở một cái miệng khác thì phải là thiếu lễ phép.
  - Cánh quyền mà dùng bấy nhiêu giấy là nhiều quá lắm rồi đó. Phải thay quyển, đổi quyển đến quá ngữ giấy này, thì chỉ còn có ngồi mà lắng nghe ba hồi chín tiếng trống ngoại hạn...
  Lúc ra về, ông Đầu Xứ Anh, trong một phút sầu hận, đã muốn trả lại cô Phương tập giấy, để thầm bảo cho cô hay rằng cô đã làm một việc thừa, riêng đối với ông, khoa Ngọ này ông có dự thi đâu.
  …Mấy bữa nay mưa gió càng nhiều. Nước trên trút xuống, nước ở dưới dâng lên, người thu và cảnh ẩm sống trong một bầu không khí nồm lo lắng. Ngày ngày trăm nhà vùng Sơn Nam hạ lại nhận thêm lấy một cái tin đê vỡ tại đất Kinh Bắc.
  Nằm nghe mưa rơi trên quán trọ xóm Cửa Trường, một đêm nguyệt tận năm Ngọ, từ tối đến giờ, ông Đầu Xứ Anh chỉ những hết lo xa rồi lại nghĩ gần. Trong một lúc mơ hoảng, ông lại trông thấy bóng cái người đàn bà mặc đồ trắng, xoã tóc, kiễng gót, thu một đứa trẻ con vào tà ào sổ gấu, đi tuột vào phía nhà cầu, ông ú ớ như người bị ma mộc đè, cố gắng mà không kiễng mình dậy được. Cái người đàn bà mặc đồ trắng, chân không sát đất, lại lẻn trở ra và, khi lướt qua mặt ông, cười gằn một tiếng, lấy tà áo quất vào má ông, buốt dức và giá lạnh như chưa bao giờ cảm thấy.
  - Anh nói mê những gì thế?
  Ông Đầu Xứ Em lác mãi, ông mới hoàn hồn, nhìn em một lúc lâu rồi hỏi:
  - Chú đã soạn sửa lều chõng đủ rồi?
  Trống đêm cuối thu và đông non điểm bốn tiếng đục. Uống hết một nai rượu để ngự hàn và khu phong mà nhà trọ đã dọn sẵn từ khuya, ông Đầu Xứ Anh bỏ thêm một đinh vàng lá vào tráp cua em:
  - Khi nào thấy “khang khác” trong trường thi, chú đốt vàng cho nhiều vào. Thôi ta đi đi. Anh đưa chú vào đến cửa trường. Đưa tôi cải bộ gọng lều và chõng. Chú đeo lẩy ổng quyển và tráp. Ði đôi tất vào.
  Ðêm mưa dầm vẫn tối như bưng lấy mắt. Hai cái tài hoa anh em kia, cộng lại không được bốn mươi nhăm tuổi đầu, bì bõm dắt nhau đi về phía cửa trường thi. Có tầm mưa gió và đi đêm như thế này, người ta mới thấy bước công danh là mệt và chán, giá cô Phương hàng giấy có đứng đây mà nhìn này! Ông Ðầu Xứ Anh bĩu môi. Trong tối tăm, tiếng thở dài người anh dẫn lối cho người em cứ lặng thinh bước từng bước một.
  Bãi trường thi thấp hơn mặt nền tỉnh, nước mưa lụt dồn về, chôn ngập lút cả ngọn cỏ may. Đứng xa trông những cây đình liệu rọi trên bãi cỏ xâm xấp nước, người vô sự và không có chữ tưởng đâu như dân cả một làng nào đang đốt đuốc bắt ếch. Càng tiến gần lại trường, người ta có nhưng cảm tưởng rùng rợn như khi chịu bó tay đứng nhìn một đám cướp lớn bật hồng phá nhà lấy của trên xóm trên, trong những ngày lụt lội ở xứ bị thuỷ tai, quân cướp toàn đi bằng thuyền. Cái tiếng mắt nứa nổ to ở cây đình liệu cháy sắng, có khác gì cái tiếng đốt ống lệnh bật hồng của phường đạo tặc, lúc quân hồi vô lệnh.
  …Ông Đề Điệu đã leo lên ghế chéo. Một người lính thể sát bắc ống loa, hô:
  - Báo oán giả tiên nhập
  - Báo ân giả thứ nhập
  - Sĩ tử thứ thứ nh... ập.
  Tiếng loa đồng xoáy sâu vào màn mưa lạnh. Ông Đầu Xứ Anh nghe tiếng hô, mặt nhợt nhạt, luôn luôn nhìn trộm em. Người em bây giờ chỉ là một thân cột cứng đờ mà sự thi cử đã mắc vào đấy biết đến bao nhiêu thứ múi dây lòng thòng: dây lều, dây chõng, dây buộc bộ gọng ống quyển... Cùng với ngàn ngàn người khác, hai anh em đứng nghểnh mãi cổ lên, kiễng mãi người lên như muốn nhìn rõ mặt người lại phòng xướng danh. Đã lâu chôn chân xuống bãi sũng nước, lòng dạ người người đều bàng hoàng. Bỗng ông Đầu Xứ Anh dun mạnh người em:
  - Kìa... làng Cổ Nguyệt! Tên chú! Vào đi.
  Trời sáng tỏ đã từ lâu. Cái hàng rào sĩ tử có dủ các hạng tuổi từ một cái đầu xanh mặt trắng cho đến một chòm tóc bạc, một lớp da mồi đã bị xé thủng. Ông Đầu Xứ Em lách mình qua rồi, nhưng lều chõng còn vưởng mắc nên lỗ thủng ấy chưa kịp hàn kín. Nhôn nhao một lúc lâu, cái bể người, đã lấp được chỗ trống của một con sông người tràn đi, lại bằng phẳng như cũ để chờ đợi một cải đổi dời khác. Ông Đầu Xứ Anh ra về, chỉ hận rằng lúc tới tấp, quên không dặn lại em nên đốt một lúc cho hết đinh vàng lá trong tráp nếu trong trường có thấy “cái gì khang khác”. Dọc đường, ông gặp một toán lính thanh khoá đội nón đĩa, nai nịt súng ống gọn ghẽ. Người ta bảo đấy là bọn lính nhà nước phái thêm vào trường giữ trật tự.
  …Ông Ðầu Xứ Em dựng lều, dọn chỗ ngồi thi giữa sự dằn dỗi của trời đất. Mưa to gió lộng trên một trường thi. Cứ thế mãi mãi, cho đến qua giờ ngọ, cho đến quá giờ mùi. Vậy mà xưa nay người ta vẫn bảo mưa không quá ngọ gió không quả mùi. Sĩ tử khắp bốn vi giáp ất tả hữu, co ro trong lều dột, thật là coi tính mệnh mình không bằng một quyển thi chỉ luôn luôn muốn những chuyện tì ố. Chốc chốc cái loa đồng ngoài cửa trường lại kêu inh ỏi gọi các tư gia ai có thùng gỗ hay thùng sắt tây thì cho đem vào trường bán cho học trò kê quyển viết và độn thêm lên chõng ngồi.
  Cái bản giáp bài viết xong lâu rồi mà quái lạ, hễ cứ động đặt ngòi bút lên mặt quyển là ông Đầu Xứ Em lại thấy đau bụng, đau quằn quại tựa chứng hoắc loạn cứ như dùi vào từng miếng tì vị. Ông cựa quậy nhiều lắm, vừa ôm bụng vừa giữ ống quyển. Cái chõng tre đặt trên bãi cỏ ngập, lủn xuống lần lần. Giữa hai cơn đau bụng, những lúc trời ngớt mưa, từ khu nhà thập đạo, vẳng về lều ông những tiếng kêu nài: “Lạy các quan, còn chỉ có một khoa thi này, xin các quan thương cho anh em đổi quyển. Trời mưa ướt lắm, anh em có muốn như thế làm gì...”
  Thấy ở một vài lều chung quanh có khói lửa và tàn vàng bay ra, ông Đầu Xứ Em sực nhớ đến đinh vàng cất trong tráp, bèn lấy ra gỡ từng tờ một, xếp ngay ở đầu mép chõng, một tay chận cơn đau nơi bụng dưới, một tay châm mồi lửa bùi nhùi. Gió thổi vào đống lửa vàng hoá bùng bùng, lửa kêu vù vù và trong tiếng ngọn lửa reo, lại có tiếng người nói cười lanh lảnh. Khỏi bốc lên, tỏa xuống soai soải, Như những vệt nước thời gian trượt trên đầu ngọn tường xuống lần vách gạch những đền chùa xưa cũ có mốc vẽ hình, có rêu phong dấu. Những vờn khỏi nhẹ đã đổ xuống nhanh đổi màu
  rất mau chóng. Trước mắt ông Đầu Xứ Em mê mệt và hoảng hốt, những vờn khỏi – thoảng mùi gây gây khét và tanh lợm – bỗng sẫm hẳn lại thành một mớ tóc xoã và mớ tóc u hiển không chờ đợi ấy đóng khung lấy một khuôn mặt người. Lửa vàng gần lụn, vụt bùng lên và tiếng cười lanh lảnh trở nên the thé, rồi nấc lên mãi. Trời đất tối sầm xuống. Ông Ðầu Xứ Em cảm thấy bãi trường là thừa lạnh lẽo. Trường thi âm u và không quạnh. Gió thổi bay quyển thi xuống làn cỏ dầm nước. Ông Đầu Xứ Em gắng nhoài người ra, muốn vớ lấy quyển bị gió thổi bốc khỏi mặt tráp. Nhưng ông hụt tay, chỉ đủ giữ mình khỏi ngã. Cơn đau bụng nổi lên dữ dội hơn hết những giờ phút vừa qua. Ông gục xuống tráp, thiếp dần.
  Ông tỉnh giấc, thấy trong người nhẹ hẳn, tưởng chừng như cơn đau dữ dội ban nãy chỉ là một cơn ác mộng. Ông bỡ ngỡ, mất hết cả ý thức về thời gian và không gian. Ông ngơ ngác trước hoàng hôn. Từ một chòi nào, người ta đã điểm mau hồi trống ngoại hạn.
  Ông Ðầu Xứ Anh ra đón ở cửa trường. Bỏ lại cả lều và chõng, cầm chỉ vỏn vẹn có một bản giáp ông Ðầu Xứ Em đã rời bước trong một giấc mơ.
  Hai anh em gặp nhau, lẳng lặng không nói một câu nào suốt từ cửa trường về đến nhà trọ.
  Bửa cơm ấy, tại nhà trọ bà Phùng có một người hỏng thi đã uống hết ba bình rượu cúc... vào một đêm dài nhất trong một đời người./.
 

Tác giả  Nguyễn Tuân.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-05-26 16:29:22sen dat>
Hôm nay SĐ quay về hiện tại thời đại của chúng ta và bàn về hai dòng họ nổi tiếng của VN, mời các bạn xem những dòng trích dưới đây đã.
"Thân thế & Sự nghiệp Ông quê ở Nam Kỳ, con của tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông và là cháu gọi Bùi Quang Chiêu là cậu.[2]. Ông từng sang Pháp học đỗ bằng luật sư (1922) rồi về hành nghề tại Bạc Liêu. Có một thời ông còn làm luật sư Tòa Thượng thẩm Hà Nội.
Trần Văn Chương xuất hiện trên chính trường khi ông được bổ làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Đế quốc Việt Nam trong chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Năm 1954 ông được phái làm đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ dưới thời Đệ nhất Cộng hòa. Ngày 22 tháng 8 năm 1963 ông từ chức đại sứ để phản đối chính sách nhiều người cho là ưu đãi đạo Thiên Chúa giáo La Mã của Tổng thống Ngô Đình Diệm.[3]
Bà Trần Văn Chương, nhũ danh Thân Thị Nam Trân[4] từng là quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc. Bà là con gái thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề.[5]
Ông bà Trần Văn Chương có ba người con: Trần Lệ Chi, Trần Lệ Xuân và Trần Văn Khiêm.
Trần Lệ Chi lấy luật sư Nguyễn Hữu Châu, từng là Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Phủ Tổng thống (1956).Trần Lệ Xuân lấy Ngô Đình Nhu, cố vấn của Tổng thống Ngô Đình Diệm. [ Hai ông bà Trần Văn Chương bị con trai là Trần Văn Khiêm giết chết trong căn nhà của họ tại Hoa Kỳ ngày 26 tháng 7 năm 1986[3]. Trần Văn Khiêm, bị cảnh sát Mỹ bắt giữ. Nhưng sau đó toà án Mỹ tha Khiêm với lý do bị bệnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa Kỳ. Khiêm hiện sống ở Pháp."

Khi ông Trần Văn Chương và vợ bị giết SĐ nghe một người lớn tuổi cùng thời thốt lên rằng “ Thôi rồi quả báo!”. SĐ ngơ ngác hỏi thì được trả lời rằng vào khoảng thập niên 30 người này có đọc báo và nghe bàn tán xôn xao về một vụ xét xử sai oan gì đó có dính dáng đến ông Trần văn Chương.
Thật ra trong thâm tâm SĐ vẫn cảm thấy động lòng khi hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị bắn chết dã man mà không được xét xử công khai vì dù sao họ cũng đường đường là nguyên thủ quốc gia.  Và như vậy là không công bằng với họ. Đời có câu “Cây cao thì gió càng lay, càng nhiều danh vọng càng dầy gian nan” . Tài năng liệu có đủ không khi phải đối phó với những khắc nghiệt của cuộc sống. Sống là đấu tranh, nhiều khi tranh đấu một mất môt còn?. Và chính những khoảnh khắc khó khăn đó mới là điều cần phải có đức rất lớn. Các thế hệ sau của dòng họ Ngô Đình xét cho cùng phần lớn đều vô tội nhưng có lẽ nghiệp chướng oan gia lớn quá nên xui làm sao dù rất cảnh giác vẫn chết thảm còn phía gia đình Trần Lệ Xuân oan khiên gì  mà đi đến chỗ con lại giết cha chỉ vì không được hưởng gia tài như ông Trần Văn Khiêm?
Ngô Đình Lệ Thủy mất vì tai nạn giao thông  và Ngô Đình Lệ Quyên cũng mất vì tai nạn giao thông vào giữa tháng 4 năm 2012 vừa rồi. Tại sao họ hay chết bất đắc kỳ tử với lý do trùng hợp? Khi biệt điện của dòng họ Ngô vừa được xây xong tại Đàlạt, một trong những  người thầu xây ở đó  đã phải tự vẫn. Lúc đó biệt điện Trần Lệ Xuân là nơi được bảo vệ nghiêm ngặt, nghe nói vệ binh cảnh sát túc trực tuần phòng đến nỗi một con chim bay vào khu vườn cũng bị bắn hạ, sau này người ta khám phá ra biệt thự có môt căn hầm trú ẩn được xây với loại thép đặc biệt có thể chống đỡ sức công phá của hỏa lực, trong căn hầm đó có một đường thoát hiểm ra phi trường cách đó khoảng hai cây số.  Ở đây SĐ không bàn về lãnh vực chính trị mà chỉ đặt ra câu hỏi: “Phải chăng dòng họ này có oan khiên nghiệp chướng?”. Còn thì để bạn đọc tự suy vậy!   
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-05 14:46:41sen dat>
Bây giờ SĐ đưa thêm một chuyện về oan gia quỷ ám ở nước ngoài. Mời các bạn đọc bản tường thuật SĐ dịch từ bản tiếng Anh sau đây:
 
The murder of the DeFeo family

At around 6:30 PM on Wednesday, November 13, 1974, 23-year-old Ronald DeFeo, Jr. burst into Henry's Bar in Amityville, Long Island, New York and declared: "You got to help me! I think my mother and father are shot!"[1] DeFeo and a small group of people went to 112 Ocean Avenue, which was located not far from the bar, and found that DeFeo's parents were indeed dead. One of the group, Joe Yeswit, made an emergency call to the Suffolk County Police, who searched the house and found that six members of the same family were dead in their beds.[2]

The victims were car dealer Ronald DeFeo, Sr. (43), Louise DeFeo (42), and four of their children: Dawn (18); Allison (13); Marc (12); and John Matthew (9). All of the victims had been shot with a .35 caliber lever action Marlin 336C rifle[3] at around three o'clock in the morning of that day. DeFeo's parents had both been shot twice, while the children had all been killed with single shots. Louise DeFeo and her daughter Allison were reportedly the only victims who were awakened by the gunfire at the time of their deaths,[4] and according to Suffolk County Police the victims were all found lying on their stomachs in bed. The DeFeo family had occupied 112 Ocean Avenue since purchasing it in 1965. The murdered members of the DeFeo family are buried in nearby Saint Charles Cemetery in Farmingdale.[5]

Ronald DeFeo, Jr. was the eldest son of the family, and was also known as "Butch". He was taken to the local police station for his own protection after suggesting to police officers at the scene of the crime that the killings had been carried out by a mob hit man named Tony Mazzeo. However, an interview with DeFeo at the station soon exposed serious inconsistencies in his version of events, the following day he confessed to carrying out the killings himself and Mazzeo had an airtight alibi proving he was out of state at the time of the killings. DeFeo told detectives: "Once I started, I just couldn’t stop. It went so fast."[1] He admitted that he had taken a bath, redressed, and discarded crucial evidence like blood-stained clothes, the Marlin rifle and cartridges on his way to work as usual.[6]
[edit] Trial and conviction

DeFeo's trial began on October 14, 1975. He and his defense lawyer William Weber mounted an affirmative defense of insanity, with DeFeo claiming that he killed his family in self-defense because he heard their voices plotting against him. The insanity plea was supported by the psychiatrist for the defense, Dr. Daniel Schwartz. The psychiatrist for the prosecution, Dr. Harold Zolan, maintained that although DeFeo was an abuser of heroin and LSD, he had antisocial personality disorder and was aware of his actions at the time of the crime.

On November 21, 1975, DeFeo was found guilty on six counts of second-degree murder. On December 4, 1975, Judge Thomas Stark sentenced Ronald DeFeo, Jr. to six concurrent sentences of 25 years to life.[7]


Vụ tàn sát gia đình nhà Defeo
Vào khoản 6:30 chiều ngày 13 tháng 11 năm 1974, Ronald Defeo thình lình  ào vào quán rượu Henry ở Amityville, Long Island, New York và kêu lên:  " Hãy giúp tôi với, bố mẹ tôi bị bắn". Defeo và một nhóm người chạy tới nhà 112 đại lộ Ocean, nằm không xa quán ba là mấy và phát hiện bố mẹ của Defeo đã chết rồi. Một người trong nhóm, Joe Yesmit gọi điện thoại khẩn tới cảnh sát quận hạt Suffolk, anh ta đã  phát hiện 6 thành viên gia đình bị chết trên giường của họ.
Nạn nhân gồm Ronald Defeo, Sr. (43 tuổi) làm nghề mua bán xe, Louise Defeo, vợ (42 tuổi) và bốn người con của họ:Dawn (18 tuổi) Allison (13) Marc (12) và John Matthew (9). Tất cả nạn nhân đều bị bắn bởi khẩu súng trường 35 ly vào khoảng 3 giờ sáng ngày hôm đó. Hai ông bà  Defeo bị bắn hai phát còn con họ tất cả bị bắn chết với một phát đạn. Louise Defeo và con gái bà Allison được biết là những nạn nhân duy nhất có ý thức được  khi bị bắn và theo tường thuật của cảnh sát quận hạt các nạn nhân được tìm thấy nằm ở tư thế sấp. Gia đình Defeo đã ở nhà số 112 Ocean Avenue từ năm 1965. Thi hài những thành viên bị sát hại của gia đình Defeo đã được chôn gần đó tại nghĩa trang Saint Charles ở Farmingdale.
Ronald Defeo, Jr là người con cả trong nhà, còn được gọi là "Butch". anh ta bị đưa đến sở cảnh sát để được bảo vệ sau khi khai với cảnh sát ở hiện trường rằng  những vụ giết đó được thực hiện bởi một gã giang hồ nổi tiếng có tên là Tony Mazzeo. Tuy nhiên một cuộc phỏng vấn với Defeo tại trạm cảnh sát sớm phơi bày những mâu thuẫn nghiêm trọng trong việc mô tả những sự cố, những ngày sau đó anh ta đã phải thú nhận tự mình thực hiện những hành động tàn sát ấy và Mazzeo đã có chứng cớ ngoại phạm chứng minh anh ta không có ở hiện trường khi xảy ra vụ giết người.  Defeo nói với các nhà thám tử rằng::Bất chợt tôi khởi động, tôi không thể kìm lại được nữa. Sự việc diễn ra quá nhanh" Anh ta xác nhận rằng anh ta đã đi  tắm, thay đồ, lau chùi những vết tích quan trọng như vết máu vấy trên áo quần, súng trường Marlin và đạn để tạo lại vẻ bình thường.
Xét xử và buộc tội
Vụ xét xử Defeo bắt đầu vào 14 tháng 10 năm 1975. Anh ta và luật sư biện hộ William Weber đã tích cực tranh cãi vin vào nguyên cớ tâm thần cuồng loạn với sự quả quyết của Defeo nói rằng anh ta giết gia đình mình để tự bảo vệ vì anh ta nghe bọn họ âm mưu chống lại mình. Nguyên do tâm thần đã được hỗ trợ thêm bởi bác sĩ tâm lý để biện hộ cho anh ta. Nhưng bác sĩ tâm lý bên truy tố,  Harold Zolan khăng khăng rằng mặc dù Defeo đã có lạm dụng ma túy và cần sa, nhưng anh ta là người rối loạn nhân cách chống xã hội nên có ý thức có chủ ý về những hành động của mình khi gây tội ác.
Vào 21 tháng 11 năm 1975 Defeo bị buộc tôi sát nhân. Vào 4 tháng 12 1975 luật sư Thomas Stark tuyên án Ronald Defeo, Jr 25 năm tù.

Một năm sau  gia đình Lutz tới ở vì mua được ngôi nhà với giá rẻ và đã phải rời khỏi sau gần tháng ở đó khi phải trải qua những điều lạ lùng ma quái gây sợ hãi khủng hoảng. Các nhà tâm linh, tâm lý, các ông cha xứ, phóng viên, thám tử vào cuộc rồi cũng hãi hùng vì những điều không sao giải thích được. Người ta đồn ngôi nhà  kiến trúc theo kiểu Hà Lan khi còn thuộc địa  và đã xây trên mảnh đất trước là nơi giam tù tâm thần, hành hạ người da đỏ nhưng cũng chả có bằng chứng gì về điều này. Sau đó ngôi nhà được bán với giá cao hơn rất nhiều được sửa sang lại cửa sổ mặt tiền và người ta sống yên lành chả có vấn đề gì. Câu chuyện bi thảm này gây nguồn cảm hứng, đã được viết thành sách, làm thành phim. Ở đây SĐ muốn nói phải chăng gia đình này có một oan khiên nào đó đeo đuổi? Người ta bảo  rằng người cha có dính dáng đến mafia. Mà tổ chức này đồng nghĩa với tội ác. Họ Defeo cũng giông giống tiếng Ý. Có giả thuyết cho rằng Defeo giết hết gia đình để hưởng bảo hiểm. Và dù vụ án khép lại vẫn không thể thỏa mãn được, vì rất nhiều người cho rằng Defeo.Jr không thể nào hành động một mình một cách nhanh chóng êm ru như vậy! Các nạn nhân nằm ở tư thế giống nhau không có dấu hiệu của sự chống cự và hàng xóm láng giềng không hề nghe tiếng súng nổ...Nghi vấn vẫn còn đó! Dù cho sự việc có được giải thích theo chiều hướng nào đi nữa  riêng SĐ thì nghĩ rằng anh ta bị quỷ ám tức là trong một phút giây nào đó anh ta không tự chủ được như bị ám ảnh, xâm nhập, hành động như ai đó chứ không phải chính mình vì một người bình thường không thể giết hết cha mẹ và các em còn quá ngây thơ nhỏ bé như vậy! Chắc chắn có oan nghiệt gì đây! Và chính Defeo trong tù có lúc đã nói "Tôi bị quỷ ám". Không phải tại ngôi nhà mà tại trong gia đình này có gì oan khuất vì nếu nhà có ma thực sự làm sao họ có thể  ở lâu một thời gian dài đến 10 năm kia mà! sự oan khuất đó đeo đuổi và đến một lúc nào đó thuận tiện là hiển hiện ngay! . Riêng SĐ khi nhìn con số nhà 112 không hiểu sao đầu óc cứ chập chờn nhảy múa 1 & (1+2=3) - 1 &( 3) tức là 13 mới lạ! 13 là số xui của người phương tây! SĐ nói đùa vậy thôi chúc các bạn mùa Euro vui vẻ
Đây là tấm hình tên cuồng sát, hắn bảo rằng mình bị quỷ ám và báo lúc đó chạy hàng tít trích lại lời nói đó



📎 posessed
Đăng nhập để trả lời
0
Ngôi nhà 112 lúc đầu

📎 amityville
Đăng nhập để trả lời
0
Ngôi nhà sau khi đã được sửa lại nhất là hai khung cửa sổ mặt tiền

📎 amityvilleafter
Đăng nhập để trả lời
0
Mấy anh em nhà Defeo khi còn sống, tên sát nhân là người anh cả lớn nhất!

📎 defeofami..consong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-04 18:20:21sen dat>
Hôm nay SĐ đưa lên đây bản tiếng Việt SĐ tạm  dịch  từ bản tiếng Anh nói về những tại họa giáng xuống các thế hệ dòng họ Kennedy được coi như là lời nguyền và để cho độc giả tự cảm nhận.
Trước hết là nguyên bản tiếng Anh
Believers in the curse generally cite the following core events as evidence of the family's misfortunes:
1941 – Rosemary Kennedy is believed to have been mentally challenged. However, some sources have claimed she was suffering from mental illness, such as depression. Because of her increasingly violent and severe mood swings, her father, Joe, Sr., arranged in secret for her to undergo a lobotomy. The surgery impaired her cognitive abilities even more, and as a result, she remained institutionalized until her death in 2005.[4][5][6][12][13]August 12, 1944 – Joseph P. Kennedy, Jr. died when his plane exploded over East Suffolk, England, as part of Operation Aphrodite.May 13, 1948 – Kathleen Cavendish, Marchioness of Hartington died in a plane crash in France.[4][5][6][13]August 23, 1956 – Jacqueline Bouvier Kennedy gave birth to a stillborn daughter, Arabella.[6] (Although the daughter was unnamed and is buried at Arlington National Cemetery next to her parents with a marker reading "Daughter", later reports indicated that the Kennedys had intended to name her Arabella.)[14]August 9, 1963 – Patrick Bouvier Kennedy died two days after his birth.[4][6][12]November 22, 1963 – US President John F. Kennedy is assassinated by Lee Harvey Oswald in Dallas, Texas.[4][5][6][13]June 19, 1964 – US Senator Edward M. "Ted" Kennedy was involved in a plane crash in which one of his aides and the pilot were killed. He was pulled from the wreckage by fellow senator Birch E. Bayh II and spent weeks in a hospital recovering from a broken back, a punctured lung, broken ribs, and internal bleeding.[15][4][5][13]June 6, 1968 – US Senator Robert F. Kennedy is assassinated by Sirhan Sirhan in Los Angeles immediately following his victory in the California Democratic presidential primary.[4][5][6][13]July 18, 1969 – In the Chappaquiddick incident, Ted Kennedy accidentally drove his car off a bridge in Chappaquiddick Island, fatally trapping his passenger, Mary Jo Kopechne inside.[4][5][6][7][13] In his July 25 televised statement, Kennedy stated that on the night of the incident he wondered "whether some awful curse did actually hang over all the Kennedys."[16][17]August 13, 1973 – Joseph P. Kennedy II was the driver of a car which crashed. His passenger, Pam Kelley, was permanently paralyzed.[4][6][12]November 17, 1973 - Ted Kennedy, Jr. has his right leg amputated because of bone cancer.April 25, 1984 – David Kennedy died of a Demerol and cocaine overdose in a Palm Beach, Florida hotel room.[4][5][6][12][13]April 1, 1991 – William Kennedy Smith is arrested and charged with the rape of a young woman at the Kennedy estate in Palm Beach, Florida. The subsequent trial attracted extensive media coverage.[18] Smith was acquitted.[1][3][4][12]December 31, 1997 – Michael Kennedy died in a skiing accident in Aspen, Colorado.[1][4][5][6][12][13]July 16, 1999 – John F. Kennedy, Jr. died when the Piper Saratoga light aircraft he was piloting crashed into the Atlantic Ocean off the coast of Martha's Vineyard due to pilot error.[4][5][6][13]September 16, 2011 – Kara Kennedy Allen died of a heart attack while exercising in a Washington, D.C. health club.[19][20]May 16, 2012 – Mary Richardson Kennedy hanged herself on the grounds of her home located in Bedford, Westchester County, New York.[13][21] 
 Đây là bản tiếng Việt SĐ tạm dịch.
Năm 1941 Rosemary Kennedy bị mắc bệnh tâm thần.  Tuy nhiên vài nguồn tin lại  cho rằng cô ta bị mắc chứng tâm thần  dạng như trầm cảm. Do những biểu hiện của cô ta  ngày càng trở nên hung hãn kích động mà cha cô ông Joe, Sr đã  âm thầm dàn xếp cho cô trải qua một cuộc phẩu thuật não. Cuộc giải phẩu lại còn  làm tổn thương thêm khả năng nhận thức của cô và hậu quả là kéo dài tình trạng ấy cho đến khi cô qua đời năm 2005.
Vào tháng 12 năm 1944 Joseph P. Kennedy, Jr  hy sinh vì máy bay nổ tung trên không phận miền Đông  Suffolk, thuộc nước Anh trong phi vụ không chiến Aphrodite.
Ngày 13 tháng 5 năm 1948 Kathleen Cavendish chết vì máy bay rơi ở Pháp.
Ngày 23 tháng 8 năm 1956 Jacqueline Kennedy  mang thai một bé gái và bé Arabella đã chết khi mới sinh, mặc dù tên bé chỉ được đặt sau khi bé đã được chôn trong nghĩa trang quốc gia Arlington, bên cạnh mộ cha mẹ mình với tấm bia  vô danh chỉ đề vỏn vẹn từ “con gái”,  Arabella chỉ được  dòng họ Kennedy đặt tên sau đó.
Ngày 9 tháng 8 năm 1963 Patrick Bouvier Kennedy chết sau khi sinh được hai ngày.
Ngày 22 tháng 11 năm1963 tổng thống John F Kennedy bị Lee Harvey Oswal ám sát ở Dallas Texas.
Ngày 19 tháng 6 năm 1964 thượng nghị sĩ  Edward M “Ted Kennedy” đã là người có mặt trong chiếc máy bay rơi khiến một trong số những trợ lý của ông và người phi công bị thiệt mạng. Ông được người bạn là thượng nghị sĩ Birch E. Bayh II lôi ra khỏi xác máy bay và phải trải qua nhiều tuần điều dưỡng trong bệnh viện vì chấn thương vùng lưng, phổi, xương sườn và xuất huyết bên trong..
Ngày 6 tháng 6 năm 1968 nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy bị ám sát bởi Sirhan Sirhan ở Los Angeles ngay khi vừa chiến thắng trong cuộc tranh cử tổng thống sơ bộ của phe dân chủ ở bang California.
Ngày 18 tháng 7 năm 1969 trong sự cố xảy ra ở Chappaquiddick, Ted Kennedy đã gây tai nạn khi lái xe chệch ra khỏi cầu ở đảo Chappaquiddick làm chết người người bạn đồng hành trong xe là  Mary Jo Kopechne. Ngày 25 tháng 7 trong một tường trình trên truyền hình Kennedy đã tuyên bố rằng trong cái đêm xảy ra tai nạn ông tự hỏi phải chăng thực sự có một lời nguyền quái gở nào đó đang đeo bám  tất cả những người dòng họ Kennedy.
Ngày 13 tháng 8 năm 1973 Joseph P. Kennedy II lái xe và bị đụng xe gây tai nạn làm người đi cùng là Pam Kelley vĩnh viễn bị thương tật.
Ngày 17 tháng 11 năm 1973 Ted Kennedy, Jr đã bị cưa chân phải  vì ung thư xương.
Ngày 25 tháng 4 năm 1984 David Kennedy chết vì sử dụng cần sa ma túy quá liều. trong phòng khách sạn ở Palm reach  Florida
Ngày 1 tháng 4 năm 1991 William Kennedy Smith bị bắt và bị buộc tội hiếp dâm một thiếu nữ tại trang trại của dòng họ Kennedy ở Palm Reach Florida, vụ xử sau đó đã gây chú ý, báo chí đưa tin rất nhiều. Smith đã được tha bổng.
Ngày 31 tháng  12 năm 1997 Michael Kennedy chết vì tai nạn khi trượt tuyết ở Aspen Colorado.
Ngày 16 tháng 7 năm 1999 John F. Kenned Jr bị tai nạn chết khi chiếc máy bay nhỏ Piper Saragota mà anh lái rơi trên biển Đại tây  Dương trên đường đến đảo Martha Vineyard.
Ngày 16 tháng 9 năm 2011 Kara Kennedy đột tử vì lên cơn đau tim khi đang tập thể dục ở  câu lạc bộ sức khỏe ở Washington D.C
Ngày 16 tháng năm 2012 Mary Richardson Kennedy treo cổ tự tử trong tư gia của bà ở Bedford hạt Westchester- Nữu Ước.

 
Đăng nhập để trả lời
0
Hay! Bắo oán rồi báo ân nha sen dất!
Đăng nhập để trả lời
0
Không biết thanhkhe có ngộ nhận không nhưng cảm thấy nơi nào có SĐ nơi ấy như có sức sống. Ngay cả khi SĐ dẫn dắt nói chuyện bàn luận bình thường cũng đã rất thu hút rồi. Không biết bao giờ mới được đọc lại những sáng tác của Sen Đất đây!
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-03 12:45:15sen dat>
Cám ơn Bunthang và Thanhkhe đã ghé thăm. Bungthang nói đúng nha! Báo oán  mà chả lẽ chẳng báo ân he...he...còn Thanhkhe thì rảnh vào diễn đàn chơi lang thang nói chuyện theo dạng tâm sự với nhau cho vui cái đã, rồi khi nào cảm thấy có thể dành nhiều thời gian vào diễn đàn phục vụ mọi người hẵng hay nha Thanhkhe. 
Còn bấy giờ hãy bàn về hai chữ Báo Ân
Báo ân
Hôm nay trước khi đi sâu vào vấn đề SĐ xin nói qua một chút về ý niệm báo ân. Báo ân ở đây SĐ không muốn ám chỉ những gì mà ta có thể nhận biết và chỉ ra rõ ràng như  người ta vẫn thường hiểu là đền đáp công ơn ai đó bằng một giá trị vật chất hay tinh thần  mà người được nhận biết rõ chỉ ra ân tình mình  được hưởng xuất phát từ đâu.  Ân oán đời thường với nhau thì không bàn ở đây.

Báo ân SĐ muốn nhấn mạnh là người được hưởng ân phước, người trong cuộc biết là những thành công hạnh phúc trong đời không hẳn là do chính bản thân mình mà do một thế lực vô hình nào đó trợ giúp.  Không tài năng lắm, không nổi bật lắm về mọi phương diện chẳng hạn nhưng thi đâu đỗ đó, đi tới đâu được người giúp tới đó, hay có những may mắn bất ngờ, vượt qua rủi ro tại nạn bệnh hoạn trên đường tơ kẽ tóc môt cách kỳ lạ khó tin vân…vân…và vân…vân. Nói một cách dân gian là được hưởng phúc, được thần linh che chở ước gì được nấy…SĐ lấy ví dụ như không học nhiều, nhưng khi đi thi bỗng nhiên vớ được đề thi trúng tủ. Hay đáng lẽ đi chuyến xe đó mà không đi và vài tiếng sau biết xe đó bị tai nạn, hoặc đang ngồi bên ngoài cửa sổ xe cứ bị người ta năn nỉ xin đổi chỗ, sau đó xe lật người ở ngay chỗ đó bị chết còn mình thì không hề hấn gì, hoặc mới đây SĐ nghe có người kể là đi đến ngã tư đèn đỏ dừng lại thì bỗng nghe có ai đó kêu lên “coi chừng” rồi thì bỗng nhiên như có ai xô té bắn vào lề đường vừa lúc một chiếc xe khác mất phanh trờ tới kéo xe người đó lê một đoạn, xe nát bấy  Ngỡ ngàng thấy mình thoát chết trong gang tấc, nhìn quanh quất không tìm ra ai là người gọi báo cho mình cả, nên lân la hỏi han biết rằng trước ở đây đã có tai nạn chết người nên người này mua bông hoa trái cây tới thắp nhang tại chỗ mình vừa thoát nạn để cảm tạ vong linh nào đó có thể đã giúp mình chăng?. Đó là một lối giải thích. Còn SĐ nghĩ người có phúc là người hiểu lẽ đời, sống có tình nghĩa, phẩm cách tốt nhân hậu khoan hòa, chỉ cần nết hạnh đó cũng báo hiệu sự vô tai họa, lại thêm người đó có sự thông minh cảm xúc là một sự thông minh thiên bẩm có thể họ không giỏi không tài năng lắm về chữ nghĩa nhưng lại thấu lẽ đời nên, ai cũng mến. Cũng  vì  khả năng cảm nhận và tiếp phát tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc nên nhận biết rất nhanh những gì xảy ra xung quanh trong đời sống và vô tình điều đó ăn nhịp với Thiên Địa Thần Thánh và lẽ dĩ nhiên là có lợi rồi. Hôm nay SĐ chỉ nói vậy thôi đã rồi khi nào rảnh SĐ sẽ đi vào vấn đề! Nhưng Sen Đất trích ra đây một trường hợp mà theo SĐ là một người được hưởng ân phước của Trời Đất rất đặc biệt! Tin hay không thì tuỳ theo cảm tính của người đọc SĐ sẽ bàn sâu vào dịp khác.
Mời các bạn xem những đoạn SĐ sưu tầm sau đây:
Lê Lợi được linh hồn cô gái cứu thoát
Truyền thuyết cũng kể lại,
Lê Lợi thời kỳ đầu
Một lần bị giặc đuổi
Phải chạy vào rừng sâu
Ở đấy ông bất chợt
Thấy có một xác người
Một cô gái trên cỏ
Khuôn mặt vẫn còn tươi
Ông dùng gươm đào huyệt
Đắp cho nàng nấm mồ
Khấn mong nàng phù hộ
Giúp ông dựng cơ đồ
Khi quân Minh đuổi đến
Ông trốn vào hốc cây
Bầy chó cứ sục sạo
Rất lâu bên cây này
Giặc sinh nghi dùng kiếm
Đâm xuyên cây trúng người
Lê Lợi phải lấy áo
Lau kiếm sạch máu tươi
Rồi chúng lấy lửa đốt
Và từ thân cây già
Bất chợt một con cáo
Lông màu trắng chạy ra
Bầy chó ùa theo đuổi
Giặc bỏ đi vội vàng
Lê Lợi mạng thoát chết
Sì sụp trước mộ nàng
Nàng đã hóa thành cáo
Chạy trước mặt đám đông
Để thu hút bầy chó
Và giải cứu cho ông
Về sau ông lập miếu
Thờ nàng như thờ Thần
Còn truy tặng danh hiệu
Là Hồ ly phu nhân
Nơi Lê Lợi thoát chết
Có tên là Đồng Chó
Bên cạnh một dòng sông
Được gọi là sông Chu
Nằm không xa Bái Thượng
Nơi thường nhiều sương mù.
(Sưu tầm trên mạng)
Hồ ly phu nhân (wikipedia)

Truyền thuyết kể rằng[18] thời quân Lam Sơn chưa mạnh, Lê Lợi bị đánh bại, tướng sĩ chạy tan tác mỗi người một nơi. Bị quân Minh đuổi, Lê Lợi trốn vào rừng, trông thấy xác một cô gái chết trên bãi cỏ. Ông rút gươm đào tạm một cái huyệt chôn cô gái và cầu khấn người chết phù hộ để thoát nạn.

Quân Minh đuổi tới gần, Lê Lợi vội trốn vào một gốc cây to rỗng ruột, xung quanh là cỏ mọc cao. Quân Minh cho chó sục sạo, đánh hơi đến gốc cây. Thấy chó sủa ở gốc cây, quân Minh đâm bừa ngọn giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Ông vội lấy vạt áo chùi vết máu ở mũi giáo. Quân Minh rút giáo ra không thấy gì nhưng chó vẫn sủa. Quân Minh định dùng lửa đốt cây thì trong gốc cây có con cáo trắng chạy ra, chó săn ùa theo đuổi bắt. Quân Minh tưởng là chó sủa vì con cáo nên bỏ đi.

Lê Lợi thoát nạn, cho rằng linh hồn người con gái đã chết hóa thành cáo cứu mình. Ông đến nấm mộ cô gái vái tạ. Sau này lên ngôi vua, ông truy tặng cô gái là Hồ ly phu nhân.

Một thuyết khác cho rằng Lê Lợi chạy trốn cùng một người thân cận là Lê Tá, gặp xác cô gái mặc đồ trắng trôi trên bờ sông. Hai người vội vớt xác lên chôn cất tạm và trốn vào gốc cây rỗng ruột. Quân Minh dùng chó sục sạo đến gốc cây rồi đâm giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Lê Tá vội lấy áo lau máu trên giáo. Quân Minh định phóng ngọn giáo nữa vào thì thấy một con cáo trắng trong bụi chạy ra, đàn chó cùng nhau đuổi theo. Quân Minh tưởng là chỉ có cáo trong cây nên bỏ đi. Lê Lợi và Lê Tá cho rằng con cáo chính là linh hồn người con gái đã cứu mình.

Sau ngày thắng lợi, Lê Thái Tổ lập miếu thờ người con gái, sắc phong là Bạch y thần nữ, con cáo trắng được phong là Bạch hồ thần nữ, gốc cây cổ thụ được phong là Dung thụ đại vương.

Cuối thế kỷ 18, Phạm Đình Hổ xác minh việc nhà Hậu Lê đã làm tượng thờ ân nhân của Lê Thái Tổ trong sân triều đình Lê - Trịnh[19]:

  Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng "Hộ quốc phu nhân". Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm.
Đăng nhập để trả lời
0
THẦN BẠCH Y (tiếp theo)
Qua những gì về vị thần Bạch  Y mà SĐ đưa ra những đoạn trích ở trên thì độc giả đã có cái nhìn sơ lược tương đối khách quan vì đây không phải là những gì SĐ nói mà là những gì người ta đã từng được biết về vị thần này.  Giờ SĐ muốn trình bày những ý kiến chủ quan của mình về vấn đề này. Đó là SĐ đã từng được nghe và đọc những tư liệu rất riêng tư trong một gia phả kèm theo một bài thơ mô tả về quang cảnh Lê Lợi bị quân Minh đuổi bắt trong rừng vào những khoảnh khắc có sự cứu ứng của vị thần này. Bài thơ sống động rất hay đọc mà thấy quang cảnh như đang diễn ra trước mắt mình. Người ta có được bài thơ này qua một phương cách truyền thống đó là ngồi đồng. Đây là một việc hi hữu rất kỳ lạ được coi như hiếm hoi để có dịp tiếp xúc với vị Thần này do đó người ta tôn trọng và giữ trong vòng bí mật, SĐ không thể tiết lộ thêm. Vô tình may mắn đọc được những gì liên quan đến vị Thần Bạc Y  SĐ đưa ra những chi tiết hơi khác sau đây:
_Để tiếp xúc được với các đấng linh thiêng cần phải có cơ duyên nào đó chứ không phải cứ lên đồng là được thần Linh nhập vào. Và người tổ chức việc tiếp xúc với Thần Thánh họ có phương thức riêng buộc người  ngồi đồng phải chứng minh biểu diễn những điều kỳ lạ mà người bình thường không thể làm được. Ví dụ người ngồi đồng làm thơ chữ Hán đối đáp rất hay mặc dù ngoài đời thường người đó chả biết làm một câu thơ bình thường nào chứ đừng nói là chữ Hán. Và còn phải đáp ứng một số phép thuật khác mà SĐ xin được giữ bí mật. Nói như vậy để mọi người hiểu rằng nếu lên đồng mà chỉ có hát cô đầu chầu văn nhảy múa ăn nói ba hoa thì ai mà chả làm được và nếu như vậy thì SĐ chả bao giờ tin mà cũng chăng hơi đâu mà coi. Lên đồng kiểu này thì lên đồng lúc nào mà chả được? Phải yêu cầu đòi hỏi phép thuật khả năng cao siêu để coi có đáp ứng được không? Không đáp ứng được thì tẩy chay thôi! Vì vậy để cho thần linh ứng vào thì quả là ngàn năm môt thuở đó!
_Qua tư liệu riêng thì SĐ biết những điều về Thần Bạch Y đã được đề cập đến trong Hoàng Lê Ngọc Phổ tức là gia phả của triều Lê. Có sự khác biệt một chút so với tư liệu từng phổ biến là vị Thần này không phải một người phụ nữ chết rồi hóa linh thiêng mà là vị Thần hóa ra người đàn bà mặc  áo trắng nằm chết để cứu vua Lê Lợi. Tại sao lại vậy? Tại vì lúc ấy vua Lê Lợi bị giặc truy lùng và nếu cứ thế mà chạy thì sẽ đụng đầu quân Minh. Nếu là một người bình thường khi bị truy đuổi cắm đầu cắm cổ chạy thì họ chả hơi đâu mà lo chôn người chết bên đường, nhưng Lê Lợi tỏ ra là người đức độ khác thường, ông đã dừng lại chôn rồi mới đi và vô tình điều này ứng với sự cứu giúp của vị Thần này. Vì ngừng lại chôn người nên trễ đi một lúc và khi xong xuôi đi tiếp một đoạn thì nghe rằng quân Minh vừa truy xét khu vực đó xong.  Ngẫm lại sự việc vua Lê Lợi nghĩ rằng người nằm chết là Thần Linh hóa ra, ý muốn trì hoãn bước chân mình lại để khỏi phải đối đầu không cân sức với quân Minh. Là thần linh Người sẽ cứu giúp ai hoạn nạn nhưng ai là người có đủ phước đức để đón nhận sự cứu giúp ấy lại là chuyện khác
Sau đó vị Thần lại hóa ra chú thỏ trắng nhảy ra từ bụi rậm để đánh lạc hướng quân Minh cứu Lê Lợi một lần nữa. Ngẫm lại hai sự việc trong lúc nguy khốn đều được cứu độ bới hình tượng màu trắng Lê Lợi truy phong là Thần Bạch Y. Hai sự việc khác nhau xảy ra trong những thời khắc khác nhau chứ không đi liền như những gì được mọi người biết ở phần trên. Theo như những gì SĐ biết trong chốn riêng tư vị Thần này khả năng cứu độ rất cao thường phò hộ cứu độ  ai gặp nạn trong rừng sâu núi thẳm, ai bệnh hoạn có cơ gặp được thì sẽ khỏi bệnh. Điều này khiến ai gặp được thường liên tưởng đến hình tượng Đức Mẹ ở Lourde của người phương tây hay Quan Âm bồ tát của phương đông. Có thể đó chỉ là một người  nhưng hóa thân thành muôn ngàn sự cứu độ khác cứu giúp người chăng?. Vua Lê Lợi là người thông minh tài trí ông ta khó mà tưởng tượng ra điều không có, nói cho cùng không có lửa sao có khói? Chỉ có điều mọi người được quyền tự do phán xét cho là hoang đường truyền thuyết hay sự thật tùy ý. Riêng SĐ được may mắn đọc được những điều kỳ lạ của vị Thần này nên chắc chắn Lê Lợi nói thật và không hề tưởng tượng!
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện thần Bạch Y lạ quá mới nghe lần đâù.Cám ơn SĐ đã chọn một đề tài hấp dẫn đọc mà ngỡ ngàng. Hoá ra tín ngưỡng thuần Việt cũng đâu thua kém ai! Cao siêu dó chứ!
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn Bunthang vi đã ghé nhà. Lâu nay ít thấy Bunthang thì phải? Bunthang có còn nghĩ đây là truyền thuyết nữa không? Cho biết ý kiến xem sao?
Đăng nhập để trả lời
0
BT nghĩ đây không phải truyền thuyết vì khi vua Lê lợi đã có sắc phong thì cũng giống như ở bên tây đạo Thiên Chúa trước khi phong Thánh phải chứng minh phép lạ còn ở ta thì có hầu dồng để kiểm chứng. BT hồi nhỏ có chứng kiến một tên sát nhân sau khi giết người cứ luẩn quẩn bên xác chết khi thiên hạ bu tới coi công an đang lập biên bản thì hồn người chết nhập vào một người trong đám đông chỉ vào mặt tên giết người la hét kêu khóc nói là chính nó giết tôi đo! Công an bắt và hỏi cung thì ra chính ông này là người chở bà ta đi bán hàng sáng sớm thấy bà ta bọc tiền bên mình nên đã giết để cướp đoạt.
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn BT vì đã cho biết ý kiến vô cùng quý giá SĐ sẽ trở lại sau mùa trung thu và sẽ bàn luận tiếp, chúc BT ăn trung thu vui vẻ! Có còn đi rước đèn trung thu không BT he...he.... dạo này thiên hạ sợ không dám mua đèn Trung quốc nên ba cái đèn xếp bằng giấy đủ màu năm nay lên ngôi, thấy cũng tốt vừa rẻ lại vừa an toàn, mùa nào mua đèn mùa đó cho rồi đi!  
Đăng nhập để trả lời
0
Hôm nay SĐ trích ra đây hai đoạn văn, một đoạn trích trong “Chuyện làng ngày ấy” trước là một bài viết ghi lại những gì chính tác giả thấy về giai đoạn có cuộc cải cách ruộng đất trong đó có nói về việc phá đền của Thần Bạch Y. Rồi những chi tiết này lại được tác giả ghi lại trong tiểu thuyết Cọng rêu dưới đáy áo. SĐ trích những đoạn có liên quan để độc giả đọc và suy ngẫm. Người viết là một người làm cách mạng và lẽ dĩ nhiên là không “mê tín dị đoan” nhưng rồi những gì ông chứng kiến về cuộc đời những người chủ trương cầm đầu việc phá hoại các đền đài và những quả báo về sau họ phải hứng chịu ra làm sao đã khiến ông buộc phải viết ra điều này.  …Vấn đề tâm linh nhiều khi không hiển hiện ngay cho thấy mà phải trải qua một thời gian mới ứng. Theo SĐ tác giả là người đã nhìn ra cái điều ít ai nhìn thấy và viết thành tiểu thuyết, nhìn ra và có can đảm để nói ra viết ra, chỉ riêng điều đó thôi cũng làm cho tác phẩm độc đáo và có giá trị  khác biệt không lẫn vào đâu được! Giờ xin mọi người hãy đọc và tự suy ngẫm.



Võ Văn Trực là nhà văn làng Hậu Luật. Hầu hết những tác phẩm của ông đều gắn với những nhân vật có thật, qua lối kể chuyện giản dị mà súc tích của ông trở nên ám ảnh.

Với cuốn "Chuyện làng ngày ấy", Võ Văn Trực đã cất tiếng kêu cứu về làng quê mình bị tàn phá và chứng minh một chân lý: Phá hoại văn hóa sẽ dẫn đến phá hoại lương tâm và con người dễ trở nên độc ác.

 Chuyện làng ngày ấy.
“Tử tội” đầu tiên trong “chiến dịch” chặt hạ cổ thụ là “cây muỗm đền thờ Bạch Y thần dễ chừng cao tới bốn, năm chục mét. Cách xa mười cây số có thể thấy ngọn cây mờ xanh như một đám mây. Dáng cây thẳng tắp. Cành tỏa đều đặn xung quanh. Càng lên cao càng bé dần. Từ xa trông tới, cây giống như tháp canh hùng vĩ...” 
Cây muỗm cổ thụ và ngôi đền đã gắn bó với nhau hàng trăm năm nay như trời với đất, như âm với dương, thế mà bây giờ phải chia lìa. Tác giả tả cảnh đốn cây:
Sáng hôm ấy, hơn mười trai làng vác rìu ra chặt thì chợt thấy chân hương cắm chi chít quanh gốc...” 
 
Không biết ai đã cắm hương cho cây nhưng chính điều đó làm các trai làng sợ không dám chặt. Thế là đồng chí cán bộ cộng sản Chắt Kế phải tới thúc giục:
Các đồng chí chưa bắt đầu chặt à? Các đồng chí mê tín dị đoan à? Tối hôm qua bọn phản động lại bày ra cái trò này để cản trở công cuộc kháng chiến kiến quốc...” 
 
Người của Đảng cầm quyền đã nói vậy thì bố thằng dân nào còn dám cãi! Thế là... chặt. Còn đền thờ, từ hôm không còn được cây che bóng mát, “người ta đồn rằng có một đám mây trắng ngày đêm lởn vởn trên đó - đám mây ấy chính là áo trắng của vị thần hiện về đòi lại cây...



Võ Quang Hiền, nhân vật chính trong truyện "Cọng rêu dưới dáy ao" này, đã hăm hở hiến cả tuổi thanh xuân tham gia cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Kháng chiến thành công, rời quân ngũ, về làng, Hiền ghi vào nhật ký: "Không làm được cây đại thụ chống chọi cùng phong ba thì xin làm cọng rêu dưới đáy ao để được yên thân".

Hiền chỉ nuôi một ước mơ bình thường: góp sức lực nhỏ bé của mình để xây dựng gia đình và làng xóm yên vui sau chín năm chinh chiến. Nhưng nào có được yên thân. Chính sách sai lầm và sự hẹp hòi, đố kỵ, dù nỗ lực đến mấy, Hiền cũng phải hứng chịu từ thất bại này đến thất bại khác như cọng rêu bị sóng dồi lên dập xuống xơ xác. Cuối cùng, Hiền đành bó tay, kết thúc cuộc đời trong nghèo khổ và bệnh tật.

Tuy nhân vật Võ Quang Hiến đã mất trước thời Đổi mới  nhưng sự thất bại khốn khổ của ông vẫn luôn là bài học phản biện đối với bất kỳ ai ở vị trí nắm vận mệnh của nhân dân. Nếu đề ra những chính sách sai lầm, sẽ đẩy số phận của nhiều con người và có thể của cộng đồng vào chân tường và bao người phải chịu đựng những bi kịch khủng khiếp.
Sau khi phá đền Ông Lãnh, một chiến dịch rầm rộ tấn công vào mọi di tích văn hoá cổ xưa mà người ta gán cho nó là “mê tín dị đoan”. Đền Bạch Y thờ một vị thần áo trắng đã cứu vua Lê Lợi thoát khỏi tay giặc. Đền Hàng Khoán thờ vị thần núi Hai Vai. Nhà Thánh hàng tổng. Nhà Thánh hàng xã. Chùa Hà. Mộ Hùng lễ bá Võ Phúc Tuy, một vị tướng của Lê Lợi. Mộ đức tổ triệu cơ họ Võ… Tất cả đều bị phá trụi, đều bị san bằng để trồng khoai, trồng mía, xây đống rơm đống rạ. Anh Huân, anh Hồi, anh Lộc, anh Hiền là những người thừa hành chỉ thị của chính quyền, huy động thanh niên và dân quân xông vào cuộc triệt phá này. Suốt hàng tháng trời, áo các anh đẫm mồ hôi.
Hôm phá cổng tam quan đền Bạch Y thần, anh Lộc bị một mảnh gạch văng vào trán chảy loã máu. Mẹ tôi tìm lá thuốc rịt vào và bắt nằm bất động trên giường. Anh Hiền nói đùa: “Anh Lộc bị thần phạt! Phải mua hương vàng ra cúng Thần thì sẽ khỏi ngay!” Không ngờ câu nói đó lọt vào tai bác Chắt Kế. Bác bắt họp Đoàn Thanh niên cứu quốc để kiểm thảo, anh Hiền phải cúi đầu thành khẩn nhận lỗi.
Cuộc đời anh như cái tháp cổ lung linh vàng son mơ mộng, bị phủ mờ rêu phong, xói lở, nứt nẻ bởi nghìn cơn bão táp. Đến trận khám nhà do “thằng bán tơ” vu oan, thì cái tháp ấy bị bóc hết da thịt, chỉ còn trở lại bộ khung xương cô độc giữa thời gian mịt mù bụi cát.
Anh sống triền miên trong đói khổ…
Đâu chỉ riêng anh chịu số phận hẩm hiu ấy, mà còn tất cả bạn bè cùng lứa tuổi với anh. Anh Lộc, võ sĩ lừng danh đất Diễn Châu, từng biểu diễn những đường gươm chói loà trước hàng ngàn người trong các cuộc mít tinh sau Cách mạng tháng Tám, rút cục chỉ là anh thợ may quèn nơi xóm nhỏ. Anh vừa cắn răng chịu đựng cơn đau của cơ thể vừa đạp bàn máy để kiếm đồng tiền cho vợ đi chợ chiều…
Anh Hối, tên ghi trong giấy khai sinh sau ngày cướp chính quyền là Võ Sĩ Hối, đã từng làm thư ký đầu tiên của Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, đã từng xông pha nơi chiến trường Bình Trị Thiên, nay chỉ còn nắm xương. Không phải nắm xương “nhất xanh cỏ nhì đỏ ngực” đượm vẻ kiêu căng yêng hùng, mà là nắm xương tàn rụi ở góc phố thanh bình. Năm 1979, con tàu từ Lào Cai về Hà Nội, lúc sắp vào ga Hàng Cỏ thì đâm phải một con tàu khác. Tàu đổ. Mấy chục người bị thiệt mạng. Anh Hối cũng bị tan xương trong vụ đổ tàu năm ấy.
Còn anh Huân? Anh Võ Quang Huân ấy mà! Xin phiền bạn đọc dở lại chương II của cuốn truyện này. Trong đó, có một đoạn tôi ghi việc anh Huân và anh Hiền bàn bạc nên đặt tên khai sinh của mình thế nào cho phù hợp với thời cuộc: “Thôi, hay nhất là Võ Quang. Quang là Sáng. Dân làng đi theo con đường sáng của Cách mạng. Em cũng đi theo con đường sáng của Cách mạng… Sau một lúc bàn bạc, hai anh lấy tên mình là Võ Quang Huân, Võ Quang Hiền…” Hiện giờ anh Huân sống ra sao? Có một dạo anh đang làm đội trưởng Đội cải cách ruộng đất, bị quy là “đảng viên Quốc dân đảng”, phải ngồi tù hai tháng. Ra tù, anh về nhà sống vất va vất vưởng với tâm trạng của một kẻ chán đời. Mặc chiếc áo rách toạc lưng, đi cày ngoài đồng, sang nhà hàng xóm chơi. Rồi đau ốm, gầy gò. Bị thấp khớp nặng. Chưa đến sáu mươi tuổi đã phải chống chiếc gậy đi lọm khọm như cụ già tám mươi. Không có nghề gì khác ngoài nghề “chính trị” và nghề nông. “Nghề chính trị” thì đã bị thất sủng. Nghề nông thì cần sức khoẻ, mà sức khoẻ cũng đã suy sụp. Sống dựa vào vợ con được chừng nào hay chừng ấy. Con gái đi lấy chồng xa. Chị Huân cắn răng chịu đựng, tần tảo ngày đêm, tằn tiện từng hào. Cảnh nhà sa sút nhanh chóng. Nhiều hôm vét không ra hạt gạo, mang rá sang hàng xóm vay.
Dân làng bảo Lộc, Hối, Huân, Hiền là “bộ tứ trụ” của chính quyền thôn trong buổi đầu cách mạng thành công. Đến nay, cả bộ tứ ấy đều mục ruỗng một cách thảm hại. Ai cũng bảo bốn ông này nghe theo lệnh bác Chắt Kế, đầu tiên phá huỷ đền chùa miếu mạo, chặt phá cổ thụ, cho nên bị thần linh và tổ tiên trừng phạt.
Lớp đàn em bắt chước các anh, tiếp tục phá nốt các nhà thờ họ, và đào mồ mả một cách bừa bãi để tập trung lên nghĩa trang xã. Bùng là bí thư chi đoàn, đã bày ra cái trò chơi thật là quái đản: những ngôi mộ mà gia chủ đi vắng, chưa kịp về, cứ đào lên tất tần tật, bỏ chung hài cốt vào một tấm ni lông, mang lên nghĩa địa chôn chung… Về sau, Bùng đau ốm, chạy bao nhiêu thầy thuốc cũng không khỏi. Có đêm, Bùng nằm mê thấy hàng chục, hàng trăm bóng ma vây quanh, gào thét, đòi trả lại hình hài. ác mộng đến trong giấc ngủ càng ngày càng dày, Bùng bắt đầu trở thành ngớ ngẩn. Có những buổi trưa, đang đùa vui với bạn bè giữa đồng, Bùng mệt quá, nằm ngủ thiu thiu, bỗng hét toáng lên một tiếng, mắt đỏ ngầu, chạy thục mạng, vừa chạy vừa la: “Chúng nó đuổi bắt tao. Chúng mày ơi, cứu tao với, chúng nó bắt tao…” Bạn bè chạy theo nhưng không thể nào đuổi kịp. Bùng chạy rất nhanh, băng qua bờ ruộng mấp mô mà không vấp ngã. Những cơn hoảng loạn như thế ngày càng nhiều, Bùng bị bệnh tâm thần. Từ một thanh niên khoẻ mạnh, vạm vỡ, cơ thể Bùng trở lên tiều tuỵ. Suốt ngày Bùng đi lang thang ngoài đường, thất tha thất thểu ra đồng rồi vào làng, lên nghĩa trang rồi xuống bến đò Oan. Những lúc Bùng đi về phía bến đò Oan, bạn bè đi theo để đề phòng Bùng nhảy xuống sông. Trông thật thảm hại, quần áo xộc xà xộc xệch, dái luôn luôn bỏ ngoài quần…





Đăng nhập để trả lời
0
Hôm trước SĐ có đọc được bản tin sưu tầm lại giờ mới nhớ ra post lên cho mọi người đọc đây!

Cảnh báo của chính quyền thị trấn Bajina Basta ở phía tây Serbia được ban bố sau khi một nhà máy nước bỏ hoang bên bờ sông Rogacia và nằm trong làng Zarozje sụp đổ hoàn toàn. Người ta đồn đại rằng một ma cà rồng có tên Sava Savanovic từng sống trong nhà máy nước đó và hút máu những người tới nhà máy để lấy nước, Austrian Times đưa tin.

Dòng họ Jagodic trong thị trấn từng mua nhà máy nước, song họ không dám vận hành nó. Về sau họ nghĩ ra một cách kiếm tiền độc đáo: quảng bá nhà máy để du khách thăm nó vào ban ngày. Mặc dù việc kinh doanh tiến triển thuận lợi, dòng họ Jagodic không dám sửa chữa hay nâng cấp nhà máy nước do họ lo ngại rằng ma cà rồng sẽ nổi giận nếu nơi trú ẩn của nó bị xâm phạm. Vì thế mà nhà máy sụp đổ. Người dân địa phương tin rằng ma cà rồng đang lang thang sau khi trở thành kẻ vô gia cư.

"Người dân cảm thấy lo lắng, bởi mọi người đều biết truyền thuyết về ma cà rồng trong nhà máy nước. Họ nghĩ nó sẽ tìm một nơi trú ẩn mới và nó có thể tấn công người trong quá trình tìm kiếm", Miodrag Vujetic, thị trưởng thị trấn, phát biểu.

Vujetic nhấn mạnh rằng, những người bên ngoài có thể cười khi biết chính quyền thị trấn ban bố cảnh báo về ma cà rồng, song đa số người dân trong thị trấn tin rằng ma cà rồng tồn tại.

"Hội đồng thị trấn đã khuyên người dân treo tỏi trên cánh cửa chính và cửa sổ để ngăn chặn ma cà rồng, bởi ma cà rồng sợ mùi tỏi. Chúng tôi cũng nhắc nhở mọi người đặt thánh giá trong mọi phòng của ngôi nhà", thị trưởng thừa nhận.

Minh Long

Đăng nhập để trả lời
0