Chương Bảy
Trên bậc cửa ngôi nhà số 18, ông Waterhouse đang ngập ngừng, đưa mắt lo lắng nhìn cô em gái.
- Em tin chắc là em sẽ không gặp nguy hiểm gì chứ?
- Sao anh lại hỏi thế? - cô Edith khó chịu vặn
lại.
Waterhouse lấy vẻ mặt hối hận,"mà đấy là bản chất thứ hai của ông ta.
- Em thân yêu, anh hỏi thế vì... sau khi biết ở nhà bên cạnh vừa xảy ra một vụ... anh chợt nghĩ là ta phải...
Waterhouse đã ăn mặc hết sức rẩn thận, mái tóc chải tỷ mỷ, đang chuẩn bị đi làm. Cao lênh khênh, lưng hơi gù, da rám nắng, rõ ràng là một người không biết ốm đau là gì.
Còn cô Edith thì cũng cao, nhưng gầy đét, có vẻ thuộc loại người khắc khổ với bản thân, đồng thời khó tính với xung quanh.
- Sao anh lại có thể lo có kẻ giết em, chỉ vì hôm qua nhà bên cạnh có người bị giết?
- Edith, toàn bộ vấn đề ở chỗ hung thủ là người thuộc loại nào...
- Hay anh cho rằng trên đường phố Wilbraham Crescent của mình hiện đang có một kẻ tội phạm lởn vởn, chỉ muôn tìm giết dần tất cả những người sinh sống trong phố này? Em thì lại rất mong nhìn thấy một kẻ nào đó dám vào nhà mình và muốn giết em, - cô nói bằng giọng giễu cợt.
Suy nghĩ một chút, ông Waterhouse công nhận rằng ông quá lo xa. Bởi nếu có thằng cha điên rồ nào đó thích giết người thì chắc gì hắn muốn giết em gái ông. Bởi ông biết cô Edith em ông thừa gan góc để vớ vật gì đó, thì dụ que sắt còi lò sưởi chẳng hạn, quật lên đầu gã, làm máu me tung tóe, rồi giao gã cho cảnh sát.
Waterhouse, vẫn giọng nín nhịn quen thuộc, nói thêm:
- Anh chỉ muốn em cảnh giác thôi. Bởi như vậy là trong khu vực này đã có kẻ ác.
- Em thì cho rằng khó mà tin lời đồn đại được.
Mới sáng nay đây này, bà Head còn kể em nghe bao nhiêu chuyện rùng rợn...
- Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, - Waterhouse vội gạt đi, ông ta không muốn nghe các chuyện ngồi lê đôi mách của bà giúp việc, - ông nhìn đồng hồ. - Chết, anh bị trễ mất rồi. Thôi, anh đi nhé. Nhưng em cứ cẩn thận quá đi là vừa. Em nên mắc dây xích sắt vào cánh cửa đấy.
Cô Edith lại lầu bầu.
Nhưng vừa đóng cửa xong, sắp lên phòng thì cô chợt nhớ ra, lấy cây gậy đánh gôn gác sẵn lên cánh cửa, đề phòng lỡ có kẻ vào hành hung.
Cô thầm nghĩ: “Thế là ổn! Tất nhiên anh mình quá lo xa, nhưng mình cũng cứ cẩn thận. Bọn tù được tha trước thời hạn, với lý do cải tạo tốt ấy, khó mà làm mình yên tâm được. Người hiền lành, không bao giờ làm chuyện phi pháp chính lại luôn có nguy cơ bị tai họa!”
Cô Edith đã vào phòng thì bà Head, một phụ nữ đứng tuổi béo tròn lao vào như một viên đạn. Bà ta có tính thích mọi chuyện ly kỳ.
- Có hai ông xin gặp cô, thưa cô chủ. Mà không phải hai ông bình thường, mà là hai cảnh sát, - bà nói và chìa ra tấm danh thiếp.
Cô Edith cầm lấy, đọc: Thanh tra cảnh sát Hardcastle.
- Bà mời hai ông ấy vào phòng khách rồi chứ? - Cô Edith hỏi.
- Không, thưa cô chủ. Tôi đưa họ vào phòng ăn. Tôi đã dọn dẹp xong, thấy trong ấy khá lịch sự, loại khách này chỉ cần tiếp ở đấy là được. Họ chỉ là cảnh sát thôi mà.
Cô Edith không chú ý nghe câu lý lẽ của người giúp việc lắm. Cô nói:
- Tôi xuống ngay bây giờ.
- Hẳn là họ muốn hỏi cô về bà Pebmarsh. Họ muốn biết bà ấy có gì khác thường không. Họ cho rằng tính tình không bình thường của bà ta rất dễ gây ra chuyện này chuyện nọ. Nói chung, đám nhân viên cảnh sát khôn ngoan lắm. Họ rất giỏi moi các thứ. Cho nên cô phải cẩn thận, đừng chỉ nghe lời họ nói, mà phải nhìn vào mặt họ, xem họ nghĩ gì. Nhưng bà cụ lại mù, thành thử không nhìn thấy, mà chỉ nghe thấy lời của họ. Khôn khổ!... - Bà giúp việc vừa nói hai chữ này vừa lắc đầu vẻ thông cảm.
Bà Head này có vẻ rất tò mò, nhưng cô Edith không nhận thấy điều đó. Cô xuống thang gác, bước vào phòng ăn.
- Chào bà Edith, - Hardcastle đứng lên, lịch sự
nói.
Viên thanh tra đi cùng với một thanh niên tóc nâu, và mặc dù anh ta đứng dậy lúng túng tự giới thiệu “Trung sĩ Colin”, nhưng cô Edith không thèm chào đáp lại.
- Tôi hy vọng đến vào giờ này không phải là sớm quá đối với bà, thưa bà Edith? - Hardcastle nói. - Nhưng chắc bà đoán được chúng tôi đến về việc gì, sau chuyện xảy ra hôm qua ở số nhà 19 bên cạnh.
- Tất nhiên tôi có biết chuyện gì đã xảy ra hôm qua bên nhà hàng xóm, - cô Edith nói. - Thậm chí tôi đã phải đuổi ra khỏi cửa ba vị nhà báo đến hỏi xem trưa hôm qua tôi có nghe thấy gì hoặc nhìn thấy gì lạ ở nhà bên cạnh không.
- Bà đuổi họ ra là rất đúng, - thanh tra Hardcastle gật đầu tán thành. - Loại người đó chuyên dính mũi vào đủ mọi chuyện, nhưng tôi tin rằng họ sẽ chẳng tìm ra được cái gì hết.
Nghe câu khen, cô Edith không giấu được vẻ hài lòng.
- Tôi hy vọng sẽ không làm bà khó chịu khi chúng tôi đưa ra vài câu hỏi giống như vị nhà báo kia đã đưa ra, - Hardcastle nói. - Nhưng nếu bà nhớ ra đã nhìn hoặc nghe thấy một dấu hiệu nào đó khiến bà chú ý, chúng tôi rất biết ơn bà. Vào giờ đó, hẳn bà ở nhà, thưa bà Edith?
- Tôi vẫn chưa biết vụ án mạng xảy ra lúc mấy giờ đấy.
- Trong khoảng thòi gian từ 13 giờ 30 đến 14 giờ 30, hoặc gần gần như thế.
- Giờ ấy thì chắc chắn tôi ở nhà rồi.
- Còn ông Waterhouse, anh bà?
- Anh tôi không về nhà ăn trưa. Nhưng người bị giết là ai? Hình như báo chí cũng không nói cụ thể, phải không nhỉ?
- Hiện chúng tôi chưa biết tung tích nạn nhân, - Hardcastle thú nhận.
- Một người vô danh? Nhưng bà Pebmarsh không thể không biết ông ta là ai!
- Bà Pebmarsh khai với chúng tôi rằng bà không hề đợi ai đến gặp, và bà hoàn toàn không biết ông ta.
- Mà bà ấy có nhìn thấy gì đâu mà biết ông ta là ai! - cô Edith kêu lên.
- Chúng tôi đã miêu tả rất tỷ mỷ cho bà ấy nghe.
- Nạn nhân thuộc loại như thế nào?
Thanh tra Hardcastle lấy trong phong bì ra một tấm ảnh nhỏ, đưa cô Edith.
- Đây là hình ông ta. Bà có biết người này không, thưa bà?
Cô Edith nhìn tấm ảnh, nói:
- Không... Tôi chưa nhìn thấy người này bao giờ.
Tôi cam đoan là như thế. Lạy Chúa, trông ông ta mặt mũi phúc hậu. Và trong ảnh, ông ta không có vẻ xúc động gì. Chết như người đang ngủ.
Thanh tra Hardcastle định nói nhưng thấy nói là thừa, rằng ông đã chọn tấm ảnh ít làm người ta sợ hãi nhất.
- Cái chết nhiều khi đến vào đúng lúc con người ta ít ngờ nhất. Tôi nghi ông ta chết đột ngột, một cách hoàn toàn bất ngờ.
- Thế bà Pebmarsh nói thế nào về tất cả những chuyện này?
- Bà ấy bảo không hề biết gì.
- Vô lý.
- Hy vọng bà có thể giúp chúng tôi, thưa bà Edith. Bà cố nhớ lại xem. Trong khoảng thời gian từ mười hai giờ rưỡi đến một giờ rưỡi, có thể bà đang nhìn qua cửa sổ ra ngoài hoặc đang ở ngoài vườn?
Cô Edith suy nghĩ một chút rồi nói:
- Lúc đó tôi đang ở ngoài vườn... mà khoan đã, nếu trước một giờ trưa thì mới đúng tôi đang ở ngoài vườn. Vì lúc 12 giờ 50, tôi vào nhà rửa tay rồi ăn bữa trưa.
- Bà có nhìn thấy bà Pebmarsh lúc bà ấy ra hay vào nhà bà ấy không?
- Hình như tôi có nhìn thấy bà ấy đi đâu về... Tôi nghe thấy tiếng mở cổng sắt, khoảng sau mười hai giờ rưỡi một chút.
- Bà có nói gì với bà Pebmarsh không?
- Không! Tôi chỉ ngẩng đầu lên và nghe thấy tiếng mở cổng sắt. Đấy là giờ bà ấy thưòng về nhà, sau buổi dạy học.
- Theo bà Pebmarsh cho tôi biết, thì bà ấy lại ra khỏi nhà vào khoảng một giờ rưỡi. Bà có đồng ý với lời khai đó không?
- Tôi có nhìn thấy bà ấy đi bên ngoài hàng rào sắt nhà tôi, nhưng tôi không biết chính xác lúc ấy là mấy giờ.
- Xin lỗi, thưa bà Waterhouse, bà vừa nói “bên ngoài hàng rào sắt nhà bà”?
- Tất nhiên rồi. Lúc đó tôi ngồi trong phòng khách, nhìn ra phố. Tôi đang uống cà phê sau bữa ăn. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, đọc tờ báo Times. Đúng lúc tôi lật trang báo thì tôi thoáng thấy bà Pebmarsh đi ngang bên ngoài hàng rào sắt. Như thế có gì là lạ, thưa ông thanh tra?
- Cũng chẳng có gì lắm, - thanh tra Hardcastle mỉm cười. - Chỉ là tôi đinh ninh bà Pebmarsh ra bưu điện rồi mua vài thứ vặt. Phải chăng lối đi ngang qua nhà bà là lối đi gần nhất để ra bưu điện?
- Vấn đề bà ấy định mua sắm ở cửa hàng nào, - Cô Edith nói. - Tất nhiên bưu điện và các cửa hàng trên đại lộ Albany thì nếu đi lối bên kia gần hơn. Và nếu đi lối ấy thì không phải qua trước cổng nhà tôi.
- Nhưng cũng có thể bà Pebmarsh đã có thói quen đi trước cửa nhà bà vào cái giờ đó?
- Lạy Chúa! Tôi không biết gì hết: bà ấy ra khỏi nhà vào giờ nào và đi theo hướng nào. Thưa ông thanh tra, tôi làm gì có thời gian để quan sát xem hàng xóm làm những gì. Tôi rất bận, chẳng còn thời giờ nào quan tâm đến ai. Không như một số người...
Nghe giọng nói khinh bỉ, thanh tra Hardcastle có cảm giác cô Edith này đang ám chỉ một người cụ thể nào đó.
- Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, - Viên thanh tra vội vã tán thành, rồi ông nói thêm. - Hay bà ấy định gọi điện thoại, bởi phía ấy có trạm điện thoại công cộng?
- Có đấy, ở trước mặt số nhà 15.
- Còn đây là câu hỏi quan trọng nhất của tôi, thưa bà Edith: bà có nhìn thấy ông ta vào số nhà 19 ấy không? Là tôi nói đến “con người bí ẩn” kia, theo cách nói của báo chí ấy?
- Không, - cô Edith đáp. Không, tôi không nhìn thấy ông ta. Và cũng không nhìn thấy người nào khác đi vào nhà bà Pebmarsh.
- Trong quãng thời gian từ một giờ trưa đến ba giờ, bà làm gì, thưa bà?
- Tôi giải bài đố chữ trong báo Times mất chừng nửa giờ, cho đến lúc tôi phải xuống bếp rửa bát đĩa. Sau đấy, tôi viết hai lá thư và vài tờ ngân phiếu. Rồi tôi lên phòng lựa những quần áo để đem nhuộm lại. Theo tôi nhớ thì chính vào lúc ấy, tôi nhìn qua cửa sổ thấy tiếng ồn ào bên dưới. Tôi vội chạy ra cửa nhìn sang thì nghe thấy tiếng kêu thất thanh. Tôi nhìn ra chỗ cổng bên nhà bà Pebmarsh thấy một cặp trai gái đang ôm chặt nhau...
Nghe đến đây, “trung sĩ Colin” hơi nhúc nhích khiến cô Edith rất có thể nghi anh chàng cô nhìn thấy ôm cô gái kia chính là viên trung sĩ này.
- Bà không nhìn thấy bà Pebmarsh có về nhà trước lúc đó chứ?
- Không, - cô Edith đáp. - Nhưng tôi chỉ nhìn ra cửa sổ khi nghe thấy tiếng thét kinh hoàng kia. Lúc ấy tôi nghĩ đơn giản, lớp trẻ bây giờ có nhiều phong cách quái lạ, hơi một tí thì rú lên, cho nên khi ấy đôi trai gái ôm nhau, tôi nghĩ chẳng có gì quan trọng. Mãi đến lúc xe cảnh sát đến tôi mới chú ý.
- Bà còn gì khác để nói với chúng tôi không, thưa bà Edith?
- Không, tất cả chỉ có thế thôi.
- Gần đây bà có nhận được thông báo của Công ty Bảo hiểm nào nói rằng họ sẽ cử nhân viên đến gặp bà không?
- Không! Hoàn toàn không!
- Bà có nhận được lá thư nào ký tên “Curry” không?
- Curry à? Chưa bao giờ.
- Cái tên đó không gợi bà nhớ tới một thứ gì sao?
- Không. Nhưng sao ông hỏi thế?
Hardcastle mỉm cười:
- Không sao, thưa bà. Đấy là tên nạn nhân bị giết hôm qua. Nhưng cũng có thể chỉ là tên ông ta tự nhận.
- Chứ không phải tên ông ta thật? .
- Chúng tôi có cảm giác như thế. Curry chỉ là tên giả.
- Vậy ông ta là một kẻ lừa đảo? - cô Edith hỏi.
- Hiện nay chúng tôi chưa có chứng cứ nào để có thể kết luận.
- May quá đấy. Tôi biết là phải thận trọng. Có những người ở đây, chưa gì đã đồn đại ầm lên. Vậy mà sao không tòa án nào trừng phạt họ về tội vu oan cho ngưòi khác nhỉ?
- Đấy là tội truyền tin đồn nhảm thôi, chàng “trung sĩ” Colin chữa lại. Đây là lần đầu tiên anh ta mở miệng.
Cô Edith quay sang, ngạc nhiên nhìn cậu ta. Từ nãy cô vẫn cho Colin chỉ là chân theo hầu viên thanh tra.
- Tôi rất tiếc là không giúp gì được ông, thưa ông thanh tra.
- Vâng, tôi cũng rất tiếc, - thanh tra Hardcastle nói. - Bởi nếu được một người thông minh như bà giúp cho thì thật quý giá.
- Giá như tôi nhìn thấy được thứ gì có phải đã giúp được các ông không, - giọng cô Edith đột nhiên làm duyên như một thiếu nữ.
- Còn ông anh bà, liệu có giúp ích gì được chúng tôi không? - Viên thanh tra hỏi.
- Anh tôi ấy ư? Anh tôi thì chẳng biết cái gì hết. Vả lại lúc đó anh tôi ở văn phòng cơ quan. Không, anh tôi không giúp ích gì được ông đâu. Như tôi đã nói đấy, anh tôi không bao giờ về nhà ăn trưa.
- Ông ấy thường ăn trưa ở đâu?
- Anh ấy chỉ mua một khoanh bánh mì kẹp thức ăn và tách cà phê ở một quán gần đấy rồi đem về cơ quan ăn.
- Cảm ơn bà, thưa bà Edith. Xin lỗi đã làm phiền bà khiến bà mất khá nhiều thời gian.
Nói xong, thanh tra Hardcastle đứng dậy, ra cửa. Cô Edith đi theo tiễn khách.
- Cây gậv đánh gôn tốt quá, - Colin nói, nhấc cây gậy lên, xem thử nặng nhẹ. - Bà đề phòng bất trắc, đúng vậy không, thưa bà?
Cô Edith ngượng:
- Quả thật, tôi không biết cây gậy đánh gôn này sao lại ở đây.
Rồi giằng lấy cây gậy, cô Edith giấu nó vào cái xắc.
Lúc ra ngoài đường, Colin thở dài nói:
- Cậu đã giở đủ tài khôn khéo, vậy mà chẳng moi ra được cái gì mấy.
- Mình có kinh nghiệm, những ngựòi trông khó khăn nhất thì lại rất ưa nịnh.
- Lúc cuối, chị ta nhún nhẩy như con mèo được vuốt ve ấy. Đáng tiếc là ta không thu được thông tin nào đáng chú ý.
- Sao cậu bảo không thu được? - Hardcastle phản
đối.
Colin quay đầu ngạc nhiên nhìn bạn:
- Cậu thấy thêm được cái gì?
- Một chi tiết tưởng chừng nhỏ, nhưng lại rất quan trọng: lúc đi mua sắm, bà Pebmarsh không ngoặt sang phải, lại ngoặt sang bên phía bên trái. Vậy là lúc 1 giờ 50 phút, bà ta đã gọi điện thoại.
Colin ngạc nhiên nhìn bạn:
- Tuy bà Pebmarsh chối là không có chuyện đó, cậu vẫn nghi là bà ta có gọi? Mình lại thấy bà ta đã nói một cách quả quyết.
Hardcastle thản nhiên đáp.
- Mình công nhận. Nhưng cậu có thấy bà ta quả quyết một cách quá mức không?
- Nhưng nếu bà ta đi gọi điện thoại, thì để làm
gì?
- Để làm gì, để làm gì... Vậy mình hỏi cậu, tất cả tấn hài kịch này để làm gì? Bà Pebmarsh gọi điện để dụ cô thư ký đánh máy Sheila kia đến chứ còn gì nữa? Để làm gì ư? Bởi nếu không phải cô Edith này, thì nói ra một điều có hại cho bà Pebmarsh để làm gì? Cho đến nay chúng ta chưa biêt được gì. Giá như bà Giám đốc Martindale kia quen biết bà Pebmarsh, có phải bà ta đã nhận ra được giọng nói không... Số nhà 18 chẳng giúp ích được gì nhiều, ta sang số nhà 20 xem thử thế nào.
Chương Tám
Ngoài tấm biển nhỏ ghi số nhà, ngôi nhà số 20 phố Wilbraham Crescent này còn có một tấm biển nhỏ nữa, đề: Biệt thự Diana, vẻ ngoài của ngôi nhà không gây được cảm tình: hàng rào sắt và cánh cổng ken quá xít, còn dàn hoa tầm xuân thì không ai sang sửa, trông um tùm, có vẻ được dùng làm một thứ bảo vệ.
Trong vườn, các bụi cây mọc vô tổ chức, và không khí nồng nặc mùi nước đái mèo. Tường nhà loang lổ, các ống máng méo mó. Chỉ riêng cánh cửa vào nhà mới được sơn lại, màu tươi, nhưng không đủ át đi toàn bộ dáng vẻ thảm hại của khung cảnh xung quanh. Không có chuông điện, chỉ có một đầu sợi dây để kéo chuông bên trong.
Khi viên thanh tra kéo sợi dây, vọng ra một tiếng “leng-keng” như từ đâu xa lắc.
Colin nhận xét:
- Biệt thự gì mà giống như lô cốt ấy.
Hai người đứng chờ. Lát sau họ nghe thấy những âm thanh rất lạ từ trong nhà đưa ra: giống như một kiểu tụng kinh trầm bổng, nửa như nói, nửa như hát.
- Khốn khổ, nếu như... - Thanh tra Hardcastle vừa định nói câu gì đó thì...
Tiếng uốn éo trầm bổng nghe đã rõ hơn: “Đừng, con yêu quý của ta, Chou-chou! Kìa, Mi-mi nữa, yên nào. Cả Cléopatre nữa. Để yên cho ta, các con yêu quý của ta...”
Tiếng khóa cửa bên trong, rồi tiếng mở cửa ngoài. Trước mặt hai người hiện ra một phụ nữ dáng quý tộc, mặc tấm áo nhung dài quết đất màu xanh lá cây đã bạc. Đầu bà ta chải theo kiểu được coi là “mốt” cách đây ba chục năm: tóc quấn lên rất cao, hết sức cầu kỳ, thành như một kiểu kim tự tháp màu vàng úa. cổ bà ta quấn một dải lông thú màu da cam xỉn, loang lổ.
- Bà là phu nhân Hemmings? - Thanh tra Hardcastle dè dặt đánh bạo hỏi?
- Vâng, chính tôi. Yên nào, tia nắng bé bỏng của ta...
Bây giờ, viên thanh tra mới nhìn thấy, ra không phải tấm khăn quàng cổ bằng da thú, mà là một con mèo. Mà không phải chỉ có một con. Ba con nữa đang “meo-meo” từ nhà trong kéo ra quấn chặt gấu váy của bà già quý tộc, giương những cặp mắt tròn xoe nhìn khách. Hai vị khách thấy xộc vào mũi một thứ mùi nằng nặng của loài mèo.
- Tôi xin tự giới thiệu: Thanh tra cảnh sát Hardcastle.
- Mời vào, Phu nhân Hemmings nói. - Ôi, tôi lầm rồi, không phải vào đây, mà vào phòng kia!
Nhưng khi bà ta mở cửa phòng bên trái, hai vị khách lại thấy trong phòng này bốc ra một mùi còn nặng hơn.
Trong phòng này, trên bàn, trên các ghế, đâu đâu cũng thấy những chiếc lược cũ dính đầy lông. Và trên mấy cái gối cũ kỹ, còn sáu con mèo nữa.
- Tôi sống với những con mèo thân thiết này. Chúng đáng yêu lắm và nghe hiểu mọi điều tôi nói với chúng đấy.
Viên thanh tra cảnh sát dũng cảm tiến lên. Khôn khổ thay, ông ta lại dị ứng với loài mèo. Và tất nhiên đám mèo kia quây lấy ông ta, con nhẩy lên đầu gối, con bấu vào gấu quần, cọ bộ lông xù một cách âu yếm. Nhưng viên thanh tra cắn răng cố giữ bình tĩnh.
- Tôi muốn hỏi phu nhân vài câu, được không ạ? Thưa phu nhân, về vụ...
- Ông cứ tự nhiên, - phu nhân Hemmings nói. - Tôi sẵn sàng cho ông thấy tất cả. Thức ăn cho chúng, nơi chúng ngủ. Năm con ngủ trong phòng cùng với tôi, bảy con khác dưới này. Cá cho chúng ăn đều là loại cá cao cấp và nấu rất ngon, do chính tay tôi nấu cho chúng.
- Chúng tôi đến đây vì chuyện khác, thưa phu nhân, về vụ việc đáng buồn ở nhà bên cạnh nhà phu nhân. Hẳn phu nhân đã biết?
- Nhà bên cạnh? Ông thanh tra định nói về việc con chó của ông Joshua?
- Không phải đâu, thưa phu nhân, vụ bên số nhà 19. Tại đấy hôm qua người ta phát hiện thấy xác chết một người đàn ông.
- Thật à? - bà già quý tộc lịch sự hỏi nhưng không hề quan tâm một chút nào, mắt vẫn chăm chú nhìn đàn mèo của bà.
- Tôi muốn biết trưa hôm qua phu nhân có ở nhà không, thời gian từ một rưỡi đến ba rưõi?
- Có, tôi ở nhà. Tôi thường đi chợ mua thức ăn từ sáng sớm, để về làm bữa điểm tâm cho chúng, sau đó tôi không đi đâu nữa cho đến lúc đi ngủ. Tôi bận chải lông và tắm rửa cho chúng.
- Phu nhân không nhận thấy gì lạ ở nhà bên cạnh? Xe cảnh sát đến, rồi xe cấp cứu của y tế, phu nhân không nghe thấy gì, nhìn thấy gì sao?
- Đáng tiếc là tôi không bao giờ nhìn ra ngoài cửa sổ. Nhất là hôm qua, tôi bận xục xạo ở tận cuối vườn kia để tìm con Arabella bị lạc. Đấy là con mèo trẻ nhất: thì ra nó leo lên cây rồi không sao xuống được. Tôi đem đĩa cá ra nhử nó, nhưng nó nhát, khốn khổ con bé. Cuối cùng, mệt quá tôi đành quay vào nhà. Thế là ông thấy có lạ không? Nó nhảy ngay xuống, chạy theo tôi vào nhà.
Bà ta nhìn lần lượt hai người khách, đợi phản ứng của họ.
- Vâng, may quá, - thanh tra Hardcastle nói lấy lòng, nhưng lưỡi cứng đơ lại.
- May sao, thưa ông, - bà quý tộc ngạc nhiên.
Colin vội đỡ lời:
- Tôi rất yêu mèo và rất hiểu tính tình của chúng. Điều phu nhân vừa kể rất đúng với bản chất loài mèo. Chúng yêu chủ đến mức quên cả sợ, cho nên thấy phu nhân vào nhà, nó bèn nhẩy liều xuống để theo phu nhân.
Bà già nhìn Colin, thấy anh này không có vẻ cảnh sát, nhưng bà không để lộ ra. Bà ta chỉ nói rất khẽ:
- Chúng biết hết, hiểu hết, ông có thấy như vậy không?
Một con mèo giống Ba Tư lấy chân cào lên đầu gối viên thanh tra, hình như móng của nó xuyên qua lớp vải vào đến da ông. Viên thanh tra co rúm người lại, ông vội vã đứng lên.
- Phu nhân có thể cho tôi ra xem chỗ cuối vườn ấy được không ạ?
Colin nhếch mép cười.
- Được chứ! Để tôi dẫn ông ra, - phu nhân Hemmings vừa nói vừa đứng lên.
“Khăn quàng cổ” của bà tụt ra: con mèo nhỏ trườn xuống đất, và theo bà già ra ngoài. Cả lũ mèo định ùa ra theo. Bà già ngăn chúng lại.
- Ông vui lòng đóng chặt cửa lại, thưa ông..., - Bà nói với Colin đi sau cùng. - Hôm nay trời trở gió, tôi sợ đàn mèo bị cảm. Nhất là mấy thằng bé khốn kiếp kia nữa. Để mèo ra sân là rất nguy hiểm.
- Mấy thằng bé nào, thưa phu nhân? - Hardcastle hỏi.
- Mấy thằng con trai ông Ramsay ở sau lưng nhà tôi ấy. Hệt giống cướp Hắc Y. Chúng mỗi đứa một cái súng cao su, chỉ rình bắn lũ mèo của tôi.
Phía bên này, khu vườn càng hoang tàn hơn.
Bụi rậm mọc bừa bãi. Cây cối không ai chăm sóc.
- Mất công vô ích. - Colin lẩm bẩm.
Mà đúng vậy. Bị bức tường rào và đám cây rậm rạp ngăn trở, khiến ở bên này không thể nhìn thấy gì bên nhà bà Pebmarsh.
Biệt thự Diana hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới xung quanh.
- Lúc nãy ông nói số nhà 19 ạ? - Phu nhân Hemmings đứng lại giữa khu vườn, ngơ ngác. - Hình như nhà ấy chỉ có một bà mù sống một mình thôi mà?
- Người đàn ông bị giết không phải là người ở đấy.
- Ra thế, - phu nhân Hemmings vẫn lơ đãng như mọi khi. - Ra ông ta đến đó để bị giết. Quả là lạ đấy, phải không thưa hai ông?
Colin thầm nghĩ: “Riêng câu nói này của bà già quý tộc có giá trị, nói lên đúng vấn đề”.
Chương Chín
Trước khi lên xe, hai người đi dọc theo phố Wilbraham Crescent, ngoặt bên phải hai lần để ra khu vực phía sau.
Thanh tra Hardcastle nói:
- Ta đến nhà họ cũng chỉ để chào vậy thôi.
- Chưa biết chừng, - Colin nói.
- Số nhà 61 chung sân vườn với nhà phu nhân Hemmings, nhưng lại có một góc liền với số nhà 19 của bà Pebmarsh. Đấy là lý do ta có thể viện ra để chào chủ nhà bên ấy một câu. Tôi đã kiểm tra sổ đăng ký cư trú rồi. Lão thầu khoán Bland không thuê người giúp việc nào là người nước ngoài.
- Vậy là giả thuyết của mình tan thành mây khói. - Colin chán nản nói.
Đến trước cổng nhà, Colin nhìn vào vườn bên trong, nhận xét:
- Cậu nhìn xem, đúng là một hoa viên tuyệt vời!
Mà đúng thế. Quả là một khu vườn kiểu mẫu của ngoại thành. Những khóm phong lữ thảo lớn, viền xung quanh bằng hoa tím. Trong vườn đủ các loại cây cảnh xanh tươi, với những giống hoa rực rỡ, trái ngược hẳn với khu vườn phía sau của phu nhân Hemmings, hoang tàn, toàn loài cây dại.
Trong lúc thanh tra Hardcastle bấm chuông. Colin nói khẽ:
- Liệu giờ này lão ta có nhà không?
- Mình đã gọi điện báo trước cho lão rồi, yêu cầu lão ở nhà để chúng mình đến gặp.
Viên thanh tra vừa nói xong thì thấy một bóng người đi về phía cổng. Đó là một người đàn ông tầm thước, đầu hói, cặp mắt nhỏ mầu xanh lam, niềm nở:
- Thanh tra Hardcastle? Xin mời ông vào.
Chủ nhân dẫn khách vào một phòng khách hết
sức sang trọng, bầy biện toàn những thứ đắt tiền.
- Mời hai ông ngồi. - Bland vẫn niềm nở. - Mời hai ông dùng thuốc? - ông ta chìa ra hộp sơn mài đựng thuốc lá.
- Cảm ơn, chúng tôi không hút, - Hardcastle nói.
- A, phải rồi, đang giờ công vụ, tôi hiểu. Hai ông đến có việc gì đấy? Tôi đoán vụ bên số nhà 19, phải không? Quả là một gốc vườn của nhà bên ấy dính với vườn của nhà tôi, nhưng chỉ trên tầng hai mới nhìn sang được bên ấy, còn dưới này chẳng nhìn thấy gì. Chuyện lạ đấy, phải không, thưa hai ông? Đấy là tôi đọc thấy trên báo.
- Xin ông nhìn thử cái này. - Hardcastle lại lôi trong túi ra tấm ảnh nạn nhân. - Thưa ông Bland, ông vui lòng cho biết ông đã nhìn thấy người này ở đâu bao giờ chưa?
Bland đỡ tấm ảnh, xem một lát rồi đáp:
- Chưa bao giờ. Mà tôi lại là chuyên gia về tướng mặt kia đấy, cho nên nếu đã gặp ai một lần, không bao giờ tôi quên.
- Người này có bao giờ đến nhà ông, mời ông mua bảo hiểm, hoặc mua thứ gì khác, máy giặt chẳng hạn, không? Chắc là không?
- Đúng thế. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy người này.
- Liệu có thể ông ta đến đây lúc ông đi vắng, chỉ có bà nhà tiếp? Mà thậm chí ông ở nhà thì người ra mở cửa rất có thể là bà nhà, và bà đã khước từ, không tiếp ông ta.
- Đúng là nhà tôi hay ra mở cửa mỗi khi nghe thấy chuông reo. Nhưng không hiểu ông có biết bà nhà tôi không được cứng cỏi không? Tôi rất không muốn bà ấy bị xúc động. Tôi không muốn bà nhà tôi xem, dù sao cũng là ảnh một người đã chết, đúng vậy không, thưa ông thanh tra?
- Đúng thế, - Thanh tra Hardcastle nói. - Nhưng tôi thấy tấm ảnh này có vẻ gì khủng khiếp đâu?
- Tôi công nhận. Chụp rất khéo, trông chỉ tưởng là người đang ngủ.
- Ai vừa nói đến tôi đấy à, ông Josaiah?
Cửa mở, một phụ nữ trung niên bước vào. Có vẻ bà ta nấp sau cánh cửa rình nghe câu chuyện diễn ra ngoài phòng khách.
- A! Nhà tôi đây rồi, - Bland nói. - Tôi tưởng bà chưa dậy.
Bà Bland nói rất khẽ:
- Vụ án mạng khủng khiếp quá! Chỉ nghe nói đến, tôi đã run bắn lên rồi.
Bà ta thở hổn hển rồi gieo mình xuống đi văng.
- Mình cho cả hai chân lên mà nằm nghỉ đi, - Bland nói.
Bà vợ ông ta làm theo lời chồng. Đó là một phụ nữ tóc vàng, da xanh lướt, kiểu người thiếu máu nặng. Nhìn bà ta, bỗng thanh tra Hardcastle có cảm giác hình như đã gặp bà ta ở đâu rồi, nhưng ông không thể nhớ ra đã gặp bà ta ở đâu. Cố lục trong ký ức mà vẫn không nhớ được ra bà ta giống ai.
Giọng rên rỉ, bà Bland nói tiếp:
- Thưa ông thanh tra, tôi không được khỏe lắm. Chính vì thế mà chồng tôi cố tránh cho tôi mọi xúc động mạnh. Tôi bị suy nhược thần kinh mà. Các ông vừa nói đến tấm ảnh một người chết... hình như thế. Ôi, khủng khiếp quá, lạy Chúa tôi! Không biết tôi có đủ can đảm để nhìn vào tấm ảnh ấy không đây?
“Bà ta thèm rõ rãi được xem ấy chứ”, thanh tra Hardcastle thầm nghĩ, rồi láu lỉnh khích thêm:
- Tôi nghĩ là bà không nên nhìn vào đó, thưa bà Bland. Tôi chỉ nghĩ muốn bà nhìn vào, để xem người trong ảnh có lần nào đến gõ cửa nhà bà không, có vậy thôi.
- Nếu vậy thì bổn phận của tôi là phải giúp nhà chức trách, cho dù tôi phải cố gắng đến mấy, - Bà ta nói và làm ra vẻ lấy hết dũng khí.
Bà ta chìa tay.
- Nhưng mình có nên cố gắng đến như vậy không, mình thân yêu? - Bland nói.
- Khi nhà chức trách đã yêu cầu thì ta không được quyền thoái thác.
Bà ta đỡ tấm ảnh, ngắm nghía hồi lâu rồi làm ra vẻ khinh bỉ - ít nhất thì đấy cũng là cảm giác của Hardcastle.
- Trông có vẻ... Đúng là trông không có vẻ một người chết, nhất là một người bị giết. Y bị giết cách nào vậy? Bóp cổ phải không?
- Bị đâm, - viên thanh tra nói.
Run rẩy, bà ta nhắm nghiền mắt.
- Bà đã bao giờ nhìn thấy người này chưa, thưa bà Bland?
- Chưa bao giờ, - bà ta đáp bằng giọng cố làm ra vẻ ghê tởm. - Chưa. Tôi tin là như thế. Phải chăng y là kẻ lang thang, mò đến các nhà?
- Theo tôi đoán, thì ông ta là nhân viên một Công ty Bảo hiểm, - Hardcastle dè dặt nói.
- Y là họ hàng của bà Pebmarsh ạ?
- Không. Bà Pebmarsh nói hoàn toàn không biết người này.
- Lạ đấy, - Bà Bland nói.
- Bà quen biết bà Pebmarsh?
- Chỉ biết với tính chất hàng xóm thôi. Bà ấy hay hỏi ý kiến ông chồng tôi về cách chăm sóc cây cối
trong khu vườn.
- Trưa hôm qua hai ông bà có ở nhà chứ? Và nếu vậy, tôi đoán ông và bà có nghe thấy tiếng động lạ bên số nhà 19?
- Buổi trưa ạ? Vào giờ xảy ra vụ án mạng? - Bland hỏi.
- Đúng ra là từ một đến ba giờ, đấy là quãng thời gian chúng tôi quan tâm.
Bland lắc mái đầu hói:
- Lúc đó tôi ở trong nhà, nên không nhìn thấy gì bên ngoài. Tôi và bà nhà tôi ngồi ăn trong phòng ăn, cửa sổ lại trông ra phố, cho nên không biết những gì xảy ra trong vườn.
- Hai ông bà dùng bữa trưa lúc mấy giờ?
- Khoảng một giờ,hôm nào muộn thì là một rưỡi.
- Sau đó hai ông bà không ra ngoài nữa?
- Bao giờ ăn xong, nhà tôi cũng phải nằm nghỉ. Cả tôi cũng vậy, nếu không vướng chuyện gì đặc biệt, tôi thường làm một giấc ngắn. Tôi ra khỏi nhà lúc hai giờ bốn mươi nhăm, hình như thế. Nhưng rất tiếc là tôi không ra vườn trong thời gian đó.
Thanh tra Hardcastle thở dài:
- Không sao. Chúng tôi buộc phải hỏi mọi người những câu như thế thôi.
- Tôi hiểu. Rất tiếc là chúng tôi không giúp gì cho ông thanh tra được.
Thanh tra Hardcastle ngắm gian phòng:
- Đẹp quá! Rõ ràng hai ông bà không tiếc tiền mua sắm.
Bland cười vui vẻ.
- Tính chúng tôi thích những thứ đẹp. Bà nhà tôi rất có khiếu thẩm mỹ. Năm ngoái chúng tôi lại có được một may mắn lớn. Ông em bà ngoại của vợ tôi, đã không có liên lạc với nhau hai chục năm rồi, vậy mà trước khi qua đời lại cho vợ tôi hưởng thừa kế. Đúng là phúc lớn từ trên trời rơi xuống. Chúng tôi gần như đổi đời. Hiện nay chúng tôi thừa thãi tiền, và chúng tôi định năm nay còn đi một chuyến du lịch đường biển, sang tham quan đất Hy Lạp và một số vùng đất lý thú khác. Tôi tin là sẽ hết sức thú vị, và bổ ích nữa. Trước đây tôi chưa có điều kiện, mặc dù rất thèm đi. Thậm chí có lần tôi đã tính bán ngôi nhà này để lấy tiền sang sinh sống bên Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hoặc Quần đảo Antilles, như nhiều người khác. Tại những quốc gia đó không phải nộp thuế thu nhập và trăm thứ vớ vẩn khác. Nhưng bà vợ tôi không chịu.
- Không phải tôi không muốn đi du lịch, - Bà Bland trình bày. - Nhưng tôi không thể tưởng tượng tôi có thể sống ở đâu khác ngoài nước Anh. Tại đây tôi có bè bạn, có bà chị, và mọi người đều biết chúng tôi. Sang nước khác, chúng tôi hoàn toàn là người xa lạ và đơn độc. Nhất là tôi đã quen chữa bệnh một ông bác sĩ ở đây rồi. Một bác sĩ khác không thể làm tôi tin cậy như ông này.
- Thôi được, chuyện ấy vợ chồng sẽ bàn sau.
Trong lúc tiễn thanh tra Hardcastle và Colin ra cổng, ông ta lại một lần nữa tỏ ý tiếc là đã không giúp ích gì được cho hai người.
Chương Mười
Tại số nhà 62 phố Wilbraham Crescent, để tự động viên mình, bà Ramsay luôn miệng tự nhủ:
- Chỉ còn hai ngày nữa thôi! Chỉ còn hai ngày nữa thôi!
Bà đưa tay gạt mớ tóc bết trên vầng trán đẫm mồ hôi. Có tiếng loảng xoảng trong bếp. Bà Ramsay không cảm thấy hào hứng để vào bếp xem xảy ra chuyện gì. Giá như không có chuyện đổ vỡ đó! Mặc tất! Chỉ còn chịu đựng hai ngày nữa thôi!
Đi đến cuối hành lang, bà đẩy mạnh cánh cửa, hỏi bằng giọng kém phần gắt gỏng so với ba tuần lễ trước đây:
- Lại đánh vỡ cái gì đấy?
- Mẹ tha lỗi, - cậu con trai Bill khẽ nói. - Con chỉ có chơi đánh đáo bằng mấy cái đồ hộp thôi. Không hiểu sao chúng lại lăn vào tủ bát đĩa.
Cậu bé nhất, Ted, nói:
- Chúng con không cố tình.
- Thôi được! Quét các mảnh vỡ cho vào thùng rác mau.
- Mẹ để cho lúc khác.
- Không được, dọn ngay lập tức.
- Đấy là tội thằng Ted, - Bill nói.
- Anh toàn đổ tội cho em.
- Thì chính mày chứ còn gì?
- Không phải em!
- Mày!
Hai đứa trẻ túm nhau.
- Cút hết cả đi! - bà Ramsay hét lên, đẩy hai đứa con ra khỏi bếp.
Sau khi đóng cửa bếp lại, bà ta bắt đầu dọn dẹp, xếp lại các đồ hộp, quét các mảnh bát đĩa vỡ.
Bà lẩm bẩm:
- Chỉ phải chịu đựng hai ngày nữa thôi! Ngày kia khai trường rồi.
Ngày khai trường là một sự kiện giải thoát đối với những bà mẹ có con trai!
Đúng lúc đó, bên ngoài có một tiếng thét khủng khiếp, sau đó là một sự im lặng đến mức làm bà Ramsay sợ hãi. Bà đứng sững lại, cái chổi vẫn trên tay. Cửa bật mở, cậu Bill lao vào, nét mặt hớn hở và trịnh trọng chưa từng thấy.
- Mẹ ơi, có một ông thanh tra cảnh sát đi với một người nữa đến nhà ta.
Bà Ramsay thở phào nhẹ nhõm.
- Ông ấy hỏi gì?
- Bảo muốn gặp mẹ. Chắc về vụ án mạng ở số nhà 19. Mẹ biết rồi đấy, ở nhà bà Pebmarsh ấy.
Cậu trai đi theo mẹ vào phòng khách. Hai ông khách đứng trong đó với Ted, con trai út bà. Mắt cậu bé lộ vẻ thán phục.
- Bà là bà Ramsay?
- Chào hai ông, - Bà nói. - Nếu hai ông đến gặp tôi để hỏi về chuyện xảy ra hôm qua bên nhà số 19, thì tôi không có gì để kể với các ông cả, - giọng bà bực dọc. - Thưa ông thanh tra, tôi không biết gì hết. Thậm chí tôi không hề biết các hàng xóm của tôi là những ai.
- Bà có ở nhà trong quãng thời gian từ mười hai giờ rưỡi đến ba giờ chiều không?
- Giờ ấy thì có, tôi bận vào bữa ăn trưa. Nhưng khoảng gần ba giờ thì tôi ra khỏi nhà, đưa mấy đứa con xem phim ngoài rạp.
Viên thanh tra lấy trong túi ra tấm ảnh.
- Bà có biết người này không?
Bà Ramsay nhìn, mỗi lúc một chăm chú:
- Không, - bà ta nói. - Chắc thế. Nhưng làm sao tôi nhớ hết được những người tôi đã nhìn thấy?
- Người này không đến nhà bà mời mua bảo hiểm hay thứ gì đại loại như vậy chứ?
- Không. - Lần này bà Ramsay đáp quả quyết hơn. - Không, tôi tin chắc như thế.
- Chúng tôi nghi ông ta tên là Curry, - Hardcastle nói.
Bà Ramsay lại khẳng định thêm:
- Với lại, trong vụ nghỉ hè thì tôi không còn bụng dạ quan tâm đến bất cứ thứ gì khác.
Viên thanh tra nói:
- Tôi hiểu, nghỉ hè bà rất vất vả. Bà có hai cậu con trai sáng sủa, khỏe mạnh, tràn trề sức sống thế kia! Hẳn bà phải tốn nhiều công sức cho chúng lắm. Bao giờ hai cháu tựu trường?
- Ngày kia.
- Bà nên thuê một cô giúp việc người nước ngoài,
- Colin gợi ý. - Cô ta vừa giúp việc, vừa dạy các cháu tiếng Pháp.
- Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó, nhưng tôi ngại thuê người nước ngoài lắm. Tôi cứ thấy không thể tin họ được, mặc dù ông chồng tôi luôn giễu tôi về cái tính đa nghi ấy. Chồng tôi luôn đi công cán nước ngoài, tất nhiên ông ấy có nhiều kinh nghiệm hơn tôi.
- Lúc này ông nhà đang ở nước ngoài?
- Vâng, ở Thụy Điển. Nhà tôi đi từ đầu tháng Tám, ông ấy là kỹ sư công chính.
- Khoảng bao giờ ông ấy về, thưa bà?
- Tôi không biết, - bà Ramsay buồn rầu đáp. - Mà ông ấy về thì cũng chẳng giúp được gì cho tôi.
Giọng bà run rẩy.
Thanh tra Hardcastle đứng dậy:
- Chúng tôi không làm phiền bà thêm nữa. Các cháu đưa chúng tôi ra cổng được rồi.
Lúc ra ngoài, thanh tra Hardcastle hỏi hai đứa trẻ:
- Bên này nhìn rõ số nhà 19 chứ, hai cháu? Nếu lên tầng hai hẳn còn nhìn thấy rõ hơn.
- Bác nói đúng đấy, - Bill nói. - Nếu chúng cháu ở trên ấy hôm qua, hẳn chúng cháu thấy được nhiều thứ lắm.
Nhìn thấy một ống dẫn nước tưới chui vào lấp sau bụi cây tầm xuân ở góc vườn, Colin nhận xét:
- Tầm xuân mà cũng cần tưới à?
- Không phải đâu... - Bill nói, lộ vẻ lúng túng.
Colin cười:
- Hẳn là khi trèo lên cái cây kia, có thể phun nước vào một con mèo đấy nhỉ?
- Phun nước thì có gì đâu, còn hơn bị bắn súng cao su, - Bill nói thêm, vẻ mặt láu lỉnh.
- Thỉnh thoảng hai cháu lại lách sang vườn nhà bên cạnh, đúng thế không? Các cháu sang bằng cách nào?
- Cháu chỉ cần lách qua hàng rào, tụt xuống góc vườn nhà bà Pebmarsh, rồi lách sang vườn bà Hemmings. Đấy có một chỗ hàng rào thủng, - cậu bé Ted giải thích.
Làm ra vẻ lơ đãng, thanh tra Hardcastle hỏi:
- Từ lúc xảy ra vụ án mạng, hai cháu thường vào đó nghe ngóng, có phải không?
Hai đứa trẻ nhìn nhau.
- Các cháu tìm thấy được cái gì mà chưa nói với các bác đấy? - Thanh tra Hardcastle hỏi:
Bill tỏ vẻ quyết định:
- Ted, mày lấy ra đưa các bác ấy xem đi.
Thế là chú bé Ted chạy đi, lát sau quay về, tay cầm một chiếc khăn tay bẩn, thắt nút ở bốn góc. Đứng giữa hai đứa trẻ, thanh tra tháo nút buộc, giũ ra những thứ đựng bên trong.
Đó là một cái quai tách, một mảnh vỡ bằng men sứ Trung Hoa, một cái bay gẫy, một chiếc nĩa ăn han rỉ, một đồng tiền kim loại, một đinh khuy, và một mảnh kính mầu.
- Rất hay đấy, - viên thanh tra nói giọng nghiêm nghị. Rồi thấy vẻ mặt tội nghiệp của hai đứa trẻ, ông nhấc lên mảnh kính vỡ. - Cho bác cái này. Biết đâu sẽ là một đầu mối đấy.
Còn Colin thì nhặt đồng tiền bằng kim loại, ngắm nghía.
- Tiền nước ngoài đấy, không phải tiền Anh đâu,- chú bé Ted nói.
- Cháu nói đúng, - Colin đáp. Rồi ngước lên nhìn viên thanh tra Hardcastle, anh ta nói: - Ta mượn cả đồng tiền này nữa nhé?
Thanh tra Hardcastle nói, giọng đồng lõa:
- Các cháu phải giữ kín. Tuyệt đối không được nói với ai đấy.
Hai đứa trẻ rất khoái trá, trịnh trọng thề danh dự là sẽ không nói với bất cứ ai.
Chương Mười Một
Colin mơ màng nói:
- Ramsay đang ở nước ngoài, có vẻ y cần đi là cứ đi, không báo vợ biết trước. Bà vợ bảo y làm kỹ sư công chính, và có vẻ bà ta rất ít biết về công việc của chồng...
- Một phụ nữ đảm đang, - thanh tra Hardcastle nói. - Loại người cậu đang cần tìm hẳn không đời nào tự buộc chân vào một bà vợ với hai đứa con như thế.
Colin nói:
- Chưa thể khẳng định như thế được. Cậu thừa biết, bọn gián điệp có thể dùng đủ các loại vỏ bọc.
- Thế giới của các cậu đúng là rất lạ, Colin ạ. Tốt nhất là bây giờ ta sang nhà McNaughton.
Trước cổng sắt số nhà 63, viên thanh tra đứng lại:
- Cả nhà này nữa cũng sát cạnh với số nhà 19. Giống như nhà của lão Bland.
- Cậu đã thu thập được những thông tin gì về họ?
- Không nhiều lắm. Họ ở đây đã được một năm. Hai ông bà già. Chồng là giáo viên về hưu, say mê trồng vườn.
Một phụ nữ trẻ vẻ mặt tươi cười, trong tấm áo hoa, ra mở cổng:
- Hai ông hỏi gì ạ?
- Tìm nhân công người nước ngoài, - viên thanh tra vừa nói vừa chìa ra tấm danh thiếp.
Vài phút sau, bà McNaughton bước vào phòng khách:
- Chào ông thanh tra! Nhưng chúng tôi không biết tí gì về chuyện ấy đâu. Tại sao các ông lại đến nhà tôi hỏi? về vụ án mạng phải không, thưa hai ông?
Sau khi nói vài câu xã giao, thanh tra Hardcastle chìa tấm ảnh.
- Bà có biết người này không, thưa bà McNaughton?
Bà ta chăm chú nhìn ảnh.
- Tôi biết ông ta. Đúng là ông ta rồi. Nhưng tôi gặp ông ta ở đâu nhỉ? Có lẽ chính là người có lần đã mời tôi mua một bộ Bách khoa thư mới xuất bản.
- Người đó giống người trong tấm ảnh này à, thưa bà?
- Không giống hoàn toàn, - bà McNaughton nói, sau một chút suy nghĩ. - Người kia trẻ hơn nhiều. Nhưng dù sao tôi cũng tin chắc rằng tôi đã nhìn thấy ông này ở đâu đó.
- Hôm qua phải không?
Bà McNaughton mặt tối sầm lại:
- Không! Không phải hôm qua... - Bà ta ngập ngừng. - Mà tôi chưa dám nói chắc. Có thể chồng tôi nhớ. Chồng tôi đang ở ngoài vườn.
Bà chạy đi trước, hai ngưòi khách theo sau. Bà hổn hển bảo chồng:
- Hai ông này của cơ quan cảnh sát. Họ muốn đưa ông xem tấm ảnh của nạn nhân vụ án mạng hôm qua bên số nhà 19.
Liếc nhìn xong, ông McNaughton nói:
- Tôi chưa nhìn thấy người này bao giờ. vả lại, lúc xảy ra vụ án mạng tôi đang ở ngoài vườn.
- Đúng thế chứ? Nhưng sao ông biết lúc nào xảy ra vụ án mạng?
- Vì tôi nghe thấy tiếng một cô gái hét lên.
- Khi nghe thấy, ông đã làm gì?
Ông ta hơi ngượng:
- Tôi không làm gì. Bởi lúc đó tôi lại tưởng mấy đứa trẻ nhà bên cạnh. Chúng luôn gào rú lên như vậy.
- Nhưng tiếng rú của cô gái kia ở phía khác?
- Đúng thế, nhưng bọn trẻ nghịch ngợm kia có bao giờ ở đứng một phía đâu. Chúng luôn lách chỗ này, chỗ nọ, mỗi hôm ở một phía. Không có ai chôn chân chúng xuống. Bà mẹ chúng thì hoàn toàn bất lực.
- Chúng tôi nghe nói, ông Ramsay chồng bà ấy liên tục vắng nhà?
McNaughton nói:
- Làm kỹ sư mà, vắng nhà luôn là chuyện bình thường. Vả lại, hai đứa trẻ bên ấy không phải trẻ hư, chỉ cần nghiêm với chúng một chút là được.
- Ngoài tiếng kêu ấy, ông còn nghe thấy gì nữa không? Ông có nhìn thấy một người lạ nào bên số nhà 19 hôm qua nữa không?
- Rất tiếc là hoàn toàn không, - McNaughton đáp.
Lúc ngồi trên ô tô, Colin hỏi:
- Cậu có tin là bà ta nhận được mặt người trong ảnh không?
Hardcastle lắc đầu.
- Mình thì lại nghi là có. Sau đấy bà ta đã đánh lạc hướng. Kiểu nhân chứng lúc thế này lúc thế nọ như vậy mình đã gặp quá nhiều!
Về đến đồn cảnh sát, thanh tra cười nói với bạn:
- Trung sĩ Colin, bây giờ tôi cho cậu về.
- Cảm ơn cậu về cuộc dạo chơi sáng nay. Cậu có thể cho đánh máy những ghi chép này của mình được không? Hình như mai là phiên tòa phải không? Mấy giờ nhỉ?
- 11 giờ.
- Mình chắc sẽ về kịp. Mình phải đi London bây giờ, chỉnh đốn lại bản báo cáo. Và có thể mình sẽ đến gặp một thám tử tư, ông ta là bạn thân của cha mình. Vụ án này quá rắc rối, đúng là phải cầu viện đến ông ấy.
- Thám tử tư à? Tên là gì?
- Hercule Poirot.
Chương Mười Hai
Một buổi chiều quá lắm việc đối với thanh tra Hardcastle. Mọi cuộc tìm kiếm lai lịch nạn nhân đều chưa đem lại kết quả nào. Nhưng Hardcastle có được tính kiên nhẫn. Ông ta không tìm ra được ngay, nhưng tin tưởng chắc chắn rằng cuối cùng sẽ tìm ra được.
Cho đến 15 giờ 30, ông ngồi làm việc liên tục. Rồi ông quyết định đã đến lúc cần đi tìm tiếp.
Bà dì cô thư ký đánh máy Sheila Webb tên là gì ấy nhỉ? Bà Lawton. 14 phố Palmerston. Thanh tra Hardcastle không dùng ô tô, ông đi bộ. Đến góc phố, một cô gái trên hè đang đi ngược chiều với ông ta. Khuôn mặt kia... ông thấy quen quen. Không nhớ mình đã gặp cô ta ở đâu rồi nhỉ? Hardcastle rất bực, mình tự hào là người có tài xem tướng mạo kia mà!
Khi bà Lawton ra mở cửa, viên thanh tra nhìn thấy hai lá thư nằm trên thảm. Bà Lawton đã cúi xuống, nhưng ông nhanh tay hơn, nhặt lên, đưa bà, và không quên liếc nhìn địa chỉ ghi ngoài bì. Một lá gửi cho bà Lawton, lá thứ hai cho cô Webb, tức là cô Sheila.
- Cảm ơn ông, - bà Lawton nói, rồi đặt hai lá thư lên chiếc bàn nhỏ kê ngoài lối đi. - Mời ông vào phòng khách.
- Tôi muốn thẩm tra lại vài điểm trong vụ án mà cô cháu bà không may vướng vào. Hôm trước tôi chưa đến gặp bà vì còn vướng vội một số việc quan trọng.
Viên thanh tra đàng hoàng mở cuốn sổ tay ra:
- Cô Sheila Webb còn có tên gọi nào khác nữa không, thưa bà? Trong này tôi ghi Sheila R. Webb, nhưng tôi quên mất R. là tắt của chữ gì? Rosalie phải không?
- Không, thưa ông, “R.” ở đây là Rosemary, - bà Lawton nói. - Cháu tôi được đặt tên thánh là tên kép Rosemary-Sheila. Nhưng nó thấy cái tên “Rosemary” nghe thơ mộng quá nên nó thích dùng tên “Sheila”.
- Tôi hiểu. - viên thanh tra nói và cố không tỏ ra là mình mừng rỡ thấy một giả thuyết của mình tỏ ra là đã đúng. - Cô Sheila hình như mồ côi, phải thế không, thưa bà Lawton?
- Phải. Anh chị tôi đều qua đời từ khi cháu còn nhỏ.
- Cha cô ấy sinh thời làm nghề gì?
Bà Lawton cắn môi ngập ngừng rồi nói:
- Tôi không biết.
- Sao bà lại không biết?
- Lâu quá rồi, tôi không còn nhớ.
Cảm thấy bà ta như còn muốn nói thêm, thanh tra Hardcastle chờ đợi.
Bà Lawton nói tiếp:
- Tôi chưa hiểu điều ông hỏi liên quan gì đến vụ án? Nghề nghiệp của anh rể đã quá cố của tôi ấy thì có liên quan gì kia chứ?
- Đối với bà thì có vẻ là thừa, thưa bà Lawton, nhưng bà hiểu cho, hoàn cảnh xảy ra vụ án quá khó hiểu, cho nên chúng tôi cần thu thập càng nhiều thông tin càng tốt. Xin bà hiểu cho: có khả năng là có kẻ đã cố đổ vấy vụ án lên đầu cháu gái bà. Có thể một kẻ nào đó đã bố trí để cháu gái bà đến số nhà đó đúng lúc trong nhà vừa xảy ra án mạng.
- Ông cho rằng, có ai đó muốn vu cho cháu tôi là hung thủ? Không! Không thể có chuyện ấy được... Cháu tôi không thể là hung thủ.
- Đã bao nhiêu lần, do lục tìm trong quá khứ mà chúng tôi tìm ra được động cơ của thủ phạm. Do cha mẹ qua đời từ lúc cô còn nhỏ, cô Sheila không thể biết cha mẹ cô xưa kia làm gì. Chính vì vậy mà tôi tìm gặp bà, thưa bà Lawton. Cả hai cha mẹ cô Sheila đều chết theo cách tự nhiên chứ?
- Chuyện ấy thì tôi không rõ. Tôi hoàn toàn không biết.
- Tôi tin rằng không nhiều thì ít, bà hẳn phải biết chứ?
- Tôi chưa hiểu, ông hỏi tất cả những chuyện ấy để làm gì? - bà Lawton lúng túng nói, vẻ mặt hết sức đau khổ.
Thanh tra Hardcastle chăm chú nhìn bà ta. Rồi ông dịu dàng đưa ra câu hỏi khác:
- Hay cô Sheila là con ngoài giá thú?
Lập tức, nét mặt bà Lawton giãn ra, vừa nhẹ nhõm trở lại, vừa xấu hổ.
- Vâng, đúng thế, nhưng nó không biết. Tôi chưa bao giờ để lộ chuyện đó ra với nó. Nó vẫn đinh ninh nó mồ côi, cha mẹ nó đã qua đời. Chính vì thế mà... ông hiểu tôi nói gì rồi chứ?
- Hoàn toàn hiểu, - viên thanh tra.nói. - Tôi xin hứa với bà là trong quá trình thẩm vấn tôi sẽ không hỏi cô Sheila về chủ đề này.
- Chẳng có gì để mà huênh hoang, - bà Lawton nói. - Tôi cam đoan là nếu cháu tôi biết được, nó sẽ hết sức đau lòng! Xin tiết lộ với ông, chị tôi xưa kia đã từng là niềm hy vọng của gia đình. Sau khi trở thành giáo viên, chị tôi rất thành đạt.
- Hiện nay bà ấy sông ở đâu?
- Tôi hoàn toàn không biết. Chị tôi nghĩ rằng nên xa hẳn cháu, như thế sẽ tốt cho cháu hơn. Tôi nghĩ, chắc chị ấy vẫn tiếp tục làm nghề dạy học.
- Nhưng sao bà ấy không tìm cách để biết tin tức của con gái? Điều này rất đáng lạ đốì với một bà mẹ.
- Đấy là do ông chưa biết tính chị tôi đấy thôi. Chị Ann tôi tính tình rất cứng rắn. Giữa hai chị em chúng tôi chưa bao giờ có chuyện tâm tình cả. Hai chị em chênh lệch tuổi quá nhiều. Tôi kém chị ấy những mười hai tuổi.
- Tôi hiểu.
Nói xong, thanh tra Hardcastle đứng dậy.
- Cảm ơn bà đã thành thật với tôi, thưa bà Lawton.
Viên thanh tra lấy tấm ảnh trong túi ra.
- Bà có biết người này không?
- Không. Tôi không nhìn thấy người này bao giờ.
- Thôi được. Tôi không muốn quấy rầy bà thêm nữa, bởi cô cháu bà chưa về...
- Đúng thế, hôm nay nó về muộn, - bà Lawton sực nhớ. - Lạ đấy. Rất ít khi cháu tôi về muộn. May mà chị Edna không chờ nó.
Thấy cặp mắt dò hỏi của viên thanh tra, bà giải thích.
- Đấy là chị bạn làm cùng với nó. Lúc nãy chị ấy đến đây tìm. Ngồi chờ một lúc xong, chị ấy bảo không thể chờ thêm được nữa.
Đột nhiên viên thanh tra sực nhớ, chính là cô gái ông vừa nhìn thấy đi trên hè phố, và cũng chính là cô gái đã ra đón ông ở Trung tâm Cavendish, chiều hôm xảy ra vụ án mạng. Chính là cái cô có chiếc giầy bị gãy gót.
- Chắc là bạn thân của cháu gái bà? - Hardcastle hỏi.
- Không đâu. Chỉ là cùng làm một chỗ với nhau thôi, xem chừng không thân gì mấy. Thú thật là khi chị Edna đến đây, bảo muốn gặp Sheila, tôi rất ngạc nhiên. Chị ta bảo có điều gì đấy chị ta không hiểu và muốn hỏi ý kiến cháu tôi.
Lúc sắp ra cửa, viên thanh tra hỏi thêm:
- Tên của cháu gái bà do ai đặt đấy?
- “Sheila” là tên bà ngoại cháu. Còn tên “Resemary” là do chị tôi đặt. Nhưng tên ấy thơ mộng quá, không hợp với cháu.
Ra đến góc phố, viên thanh tra vẫn lẩm bẩm: “Rosemary”.. chà... Rosemary... Một sự hồi tưởng lại chăng, hay là...”
Chương Mười Ba
Sau khi đi ngược lên đại lộ Charing Cros, tôi ngoặt vào khu phố cổ, gồm những phố hẹp ngoằn ngoèo nằm giữa phố Oxford Mới và Công viên Covent Garden. Tại khu phố này chen chúc các cửa hiệu bán những thứ đồ hết sức bất ngờ: đồ cổ các loại, giầy để nhẩy múa, và rất nhiều búp bê.
Bất chấp sức quyến rũ của những cặp mắt xanh và nâu trong cửa hàng búp bê, tôi vẫn đến được cái đích mà tôi nhắm trước. Đó là một hiệu sách nhỏ, tồi tàn, nằm trên một phố hẹp gần Viện Bảo tàng British Museum. Tủ ngoài bầy sách: những cuốn tiểu thuyết cũ, những cuốn sách giáo khoa, giá ghi trên những mảnh giấy nhỏ dán vào là 3 hào, 6 hào, 1 shilling. Đủ các loại sách hổ lốn nằm bên cạnh những cuốn sách quý bọc gáy vàng.
Tôi lách vào, bởi khắp bốn phía chỗ nào cũng chất đầy sách, và mỗi ngày lại có thêm, khiến chủ hiệu phải xếp chúng ra tận sát vỉa hè.
Bên trong, lại càng như thế. Tại đây sách là chủ nhân, chiếm đoạt toàn bộ không gian, không một bàn tay nào đủ uy quyền bắt được chúng đứng thành hàng lối cho có trật tự. Lốì đi giữa hai giá sách hẹp đến nỗi tôi phải cố lách mới đi nổi. Không một cái bàn, không một ngăn giá nào không kín sách.
Mãi tận bên trong, một ông già ngồi trên chiếc ghế đẩu, xung quanh là sách. Đó là một ông già mặt phẳng như mặt mèo, đội chiếc mũ kiểu của các họa sĩ. Nhìn ông ta, người ta thấy ngay đấy là một người chịu thua, đã đầu hàng trước cả một làn sóng sách ào ào đến mà không sao sắp xếp chúng được. Vẻ mặt hoàn toàn bất lực, ông già gác chân lên đống sách cứ mỗi lúc một dâng lên như thủy triều. Đấy chính là ông Soloman, chủ hiệu sách này.
Nhìn thấy tôi, cặp mắt uất hận của ông dịu xuống, ông chào tôi.
- Cụ có cuốn sách nào thú vị cho tôi không?
- Ồng đành phải trèo lên thôi, thưa ông Colin. vẫn những cuốn về loài rong biển à?
- Vẫn thế.
- Ông biết lốì lên rồi đấy.
Tôi gật đầu rồi leo lên một cầu thang nhỏ, ọp ẹp, đầy bụi bẩn, nằm tận góc trong cùng.
Tầng hai dành cho sách về phương Đông, nghệ thuật, y học và tác phẩm cổ điển Pháp. Trên tầng này, đằng sau một tấm rèm, có một chỗ người bình thường không ai biết, chỉ dành riêng cho một số người đặc biệt, chuyên cất những cuốn sách nói về các giáo lý bí truyền.
Tôi leo lên tầng ba. Tại đây, người ta đã cố sắp xếp, nhưng kết quả rất hạn chế, những cuốn sách về vạn vật học, khảo cổ và các môn khoa học nghiêm túc khác.
Tôi lách đi giữa những sinh viên, những đại tá về hưu, những mục sư, len qua những chồng sách nghiêng ngả. Đột nhiên tôi bị chắn đường bởi một cặp trai gái đang ôm ghì lấy nhau, quên cả vũ trụ bao quanh.
- Xin lỗi! - tôi gạt họ ra để đi tiếp.
Tôi vén tấm rèm che một cái cửa, mở cửa ra, bước vào trong. Tôi vào đến một kiểu hành lang rất đặc biệt, cũ kỹ nhưng sạch sẽ, hai bên treo những bức họa vẽ phong cảnh đồng cỏ sứ Ecôt. Trước mặt tôi là một cánh cửa có nắm tay bằng đồng sáng loáng. Tôi gõ nhè nhẹ. Một bà già ra mở cửa, tóc bạc, mặc váy dài và áo len mầu xanh lá cây kiểu khá lạ mắt.
Không cần chào hỏi gì, bà già reo lên:
- Cậu đây rồi. Hôm qua ông ấy đã hỏi sao chưa thấy cậu đến, và có vẻ không bằng lòng đấy. Lần sau đừng như thế nữa!
Câu sau cùng bà già nói giọng như mắng trẻ con.
- Vú yên tâm!
- Đừng gọi ta là “Vú”. Ta đã nói bao nhiêu lần
rồi.
- Đấy là do bà đấy chứ. Lúc nào bà cũng coi tôi như con nít.
- Thôi được. Vào đi.
Bà già ấn một nút trên máy truyền âm, nhấc ống nói, nói:
- Cậu Colin... Vâng, cậu ấy vào ngay đây.
Bà ra hiệu cho tôi vào.
Tôi bước vào một gian phòng tối tăm, mù mịt khói thuốc lá, khiến tôi không nhìn thấy gì hết. Khi mắt đã cay xè, tôi cố định thần mới nhìn thấy vóc dáng to béo của sếp, ngồi khoanh tròn trong một chiếc ghế cũ nát, trước mặt là chiếc bàn có trục xoay.
Tháo cặp kính trên mắt ra, đại tá Beck đẩy chiếc bàn nhỏ trên đặt một cuốn sách dầy cộm, nhìn tôi vẻ không hài lòng.
- Thì ra bây giờ cậu mới đến:
- Vâng, thưa sếp.
- Có gì mới không?
- Chưa, thưa sếp.
- Cách đó không được đâu, Colin. Cậu nghe thấy tôi nói gì rồi chứ? “Trăng Lưỡi Liềm”! Cậu đúng là vớ vẩn.
- Tôi vẫn tin rằng...
- Thôi được, nếu vậy cậu cứ nghĩ nữa đi. Nhưng không thể cứ đợi cho cậu nghĩ đến vô cùng tận.
- Tôi công nhận đấy chỉ là một giả thuyết...
- Giả thuyết là thứ cần thiết.
Sếp của tôi quả là có cách suy nghĩ mâu thuẫn.
- Những thành công lớn nhất của tôi là do các giả thuyết. Chỉ có điều cái giả thuyết của cậu khập khễng thế nào ấy. Cậu kiểm tra các nhà hàng rồi chứ?
- Vâng, thưa sếp.
- Vậy là xong rồi chứ gì?
- Chưa xong hẳn.
- Cậu cần bao nhiêu thời gian nữa?
- Nhưng hiện giờ tôi muôn xin sếp cho tôi ở lại đây thêm chút nữa. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên... và tôi nghi...
- Sự kiện! Cần sự kiện, cậu rõ chưa? Phải dựa vào sự kiện, chứ không thể dựa vào suy luận được. Nếu không, cậu sẽ lạc hướng đấy!
- Trung tâm điều tra của tôi là: Wilbraham Crescent, phố Wilbraham Trăng Lưỡi Liềm!
- “Trăng Lưỡi Liềm”, được rồi, nhưng cậu nói rõ hơn xem nào?
- Sự trùng hợp là tại phố đó có một vụ án mạng.
- Nạn nhân?
- Một kẻ chưa biết tung tích. Y mang trong người tấm danh thiếp mang một cái tên giả và một địa chỉ giả.
- Chà. Hứa hẹn đây. Thế rồi sao?
- Hiện nay chưa có gì rõ ràng, thưa Sếp, nhưng tôi...
- Vậy cậu đến đây để đề nghị tôi cho cậu tiếp tục lục soát cái phố Wilbraham Crescent, trong cái thị trấn có cái tên oái oăm, tên thế nào ấy nhỉ?
- Thị trấn Crowdean, cách cảng Pơrtlebury mười dặm. Tại đó có một số đối tượng tôi thấy lai lịch của họ có nhiều khả nghi.
Đại tá Beck kéo chiếc bàn lại gần, lấy cây bút bi trong túi áo ra, nhìn vào mắt Colin:
- Nhà nào?
- Ngôi nhà đó có tên là Biệt thự Diana, số 20, phố Wilbraham Crescent. Tại đấy có một bà tên là Phu nhân Hemmings sống với cả một đàn mèo đông đúc, ít ra cũng non hai chục con.
- Diana? Hừm! - viên Đại tá thốt lên. - Vị nữ thần của Mặt Trăng, đúng không nhỉ? Cái bà Hemmings ấy làm gì?
- Không làm gì cả, chỉ nuôi một đàn mèo và chăm sóc chúng.
- Một vỏ bọc độc đáo, rất có thể là như thế. Thôi được, - viên Đại tá gật đầu. - Còn gì nữa không?
- Còn. Một nhân vật nữa tên là Ramsay, tự nhận là kỹ sư công chính, quanh năm vắng nhà.
- Chà, nhân vật này nghe chừng đáng để mắt đấy! Cậu muốn biết thêm thông tin về lão chứ gì? Đồng ý!
- Có vợ, hai đứa con trai rất tinh nghịch.
- Có thể lắm. Đã từng có những đứa như thế. Cậu nhớ thằng cha Pendleton rồi chứ? Y cũng có vợ và mấy đứa con. Chị vợ y tin như sắt đá rằng chồng chị ta chỉ là một chủ hiệu sách nghiêm túc, chuyên về sách văn học phương Đông. Ta nhớ ra rồi. Thằng cha Pendleton kia có thêm một chị vợ nữa bên Đức và hai đứa con gái. Rồi còn một thằng cha nữa ở Thụy Sĩ. Không hiểu đấy là vỏ bọc, hay do nhu cầu tình dục của hắn quá mạnh. Chịu. Kể tiếp đi.
- Rồi tại số nhà 63, có một cặp vợ chồng già, ông giáo McNaughton, người Ecốt, nghỉ hưu, suốt ngày chỉ chăm nom khu vườn. Không có gì khả nghi.
- Được, ta sẽ cho thẩm tra. cẩn thận, ta cứ cho thẩm tra tất. Nhưng tại sao cậu quan tâm đến mấy người đó?
- Vì vườn sau của họ dính với vườn của ngôi nhà xảy ra án mạng.
- Chà, cậu có lối suy luận kiểu Pháp đấy. Xác chết của ông chú tôi ở đâu? Tại nhà bà thím! Thôi được, còn số nhà 19?
- Một bà già mù, xưa là giáo viên Trung học, nay dạy chữ nổi cho một Viện người mù. Nhưng cảnh sát địa phương đã tìm hiểu sâu về lai lịch bà ta rồi.
- Bà ta sống một mình?
- Vâng.
- Vậy cậu nhắm cái gì mà quan tâm đến những người ấy?
- Tôi cho rằng, nếu như án mạng xảy ra tại một trong những ngôi nhà đó, thì hung thủ rất dễ dàng đem xác chết sang đặt ở số nhà 19. Hắn chỉ cần chọn một lúc nào đó thuận lợi. Đấy chỉ là một giả thuyết. Nhưng tôi thu lượm được một thứ có thể trình bày Sếp. Xin sếp ngó qua.
Colin lấy đồng tiền dính bẩn đưa ra.
- Tiền Tiệp khắc? Cậu moi được ở đâu đấy?
- Không phải tôi. Mà người khác nhặt được sau ngôi nhà số 19.
- Đáng chú ý đấy. Nói cho cùng thì định kiến của cậu về Trăng Lưỡi Liềm và những mơ tưởng của cậu về trăng sao có khi sẽ đem lại kết quả không biết chừng. Hút không? - Đại tá Beck chìa điếu xì- gà ra mời tôi.
- Cảm ơn. Lúc này tôi đang bận.
- Cậu sẽ quay lại thị trấn Crowdean chứ?
- Vâng. Sáng nay tôi phải đến dự phiên tòa để khởi tố vụ án. Nhưng chắc chắn phiên tòa sẽ hoãn thôi.
- Tôi nghi trong khu phố đó có một con bé dễ thương, có không?
- Có, - tôi khó chịu đáp.
Đột nhiên ông Đại tá cười khùng khụe.
- Thôi được, cậu trai, cẩn thận không lạc lối đấy. Chà, lại một lần nữa ái tình thò cái đầu gớm ghiếc của nó lên. Quen cô bé lâu chưa?
- Chuyện này... Tóm lại, đấy chính là cô gái đã phát hiện ra xác chết.
- Lúc ấy con bé làm gì?
- Rú lên.
- Chà, hiểu rồi! Con bé gục vào vai cậu khóc nức nở, để kể cho cậu nghe đầu đuôi chứ gì? Đúng thế không?
- Tôi chưa hiểu Đại tá nói thế là ý gì?... Nhưng xin Sếp xem thêm thứ này nữa.
- Tôi lấy tấm ảnh chụp nạn nhân đưa ông.
- Ai đây? - Đại tá Beck hỏi.
- Nạn nhân vụ án mạng?
- Một ngàn phần trăm, con bé của cậu là hung thủ. Tôi thấy chuyện này có gì khả nghi lắm.
- Tại tôi chưa kể hết với sếp.
- Khỏi cần, - viên Đại tá nói.- Bây giờ cậu chạy đến Tòa án đi, nhớ theo dõi cô bé xinh đẹp kia! Cô ta có mang một cái tên nào dính dáng đến trăng sao không? Diana... Artmis?
- Không.
- Thôi được, hãy cứ thế. Tôi nhắc lại: cẩn thận con bé.
★
★
★
★
★
0