Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Những Chiếc Đồng Hồ Treo Tường - AGATHA CHRISTIE

7 trả lời, 8.920 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-06 23:12:18Ct.Ly>
Những Chiếc Đồng Hồ Treo Tường

Tiểu thuyết trinh thám

Vũ Đình Phòng dịch (Tái bản lần thứ nhất)

Nhà xuất bản Lao Động




Khai Từ


Hôm đó là ngày 9 tháng Chín, một buổi trưa giống như mọi buổi trưa khác. Không một người nào liên quan đến những sự kiện trong ngày hôm đó lại dám khoe rằng họ đã linh cảm thấy một điều gì đó. (Họa chăng chỉ có bà Parker, vốn rất say mê nghiên cứu về thuật đoán hậu vận, luôn tuyên bố rằng bà ta đã biết từ trước, tất nhiên là bà tuyên bố như vậy sau khi sự việc đã xảy ra, nhưng bà lại ở số nhà 47 phố Wibraham Crescent, cách rất xa ngôi nhà số 19 này, cho nên bà có nói bà đã biết trước cũng bằng thừa.)

Trong phòng làm việc của Trung tâm Cavendish, vào buổi trưa ngày 9 tháng Chín đó, không khí ảm đạm một cách đặc biệt. Đây là một doanh nghiệp nhỏ, chuyên làm dịch vụ thư ký và đánh máy, do bà Martindale làm Giám đốc. vẫn tiếng chuông điện thoại reo, tiếng lách tách của các máy chữ. Hoạt động tại đây diễn ra đúng như thường lệ, tẻ nhạt và đơn điệu vô cùng.

Vào 2h35 chiều, đèn đỏ trên máy truyền tin trong phòng nhấp nháy, ngọn đèn nối với phòng giấy của Giám đốc, bà Martindale. Cô thư ký Edna lấy lưỡi đẩy vội chiếc kẹo caramen ngậm trong miệng vào mặt trong chiếc răng nanh, hỏi bằng cái giọng quen thuộc của cô: hơi hổn hển và như tiếng mũi:
- Có tôi đây, thưa bà Martindale?
- Tôi đã nhắc cô bao nhiêu lần rồi, đừng nói vào máy bằng cái giọng ấy. Sao hễ nói là cứ phải vừa nói vừa thở phì phù vào máy như vậy?
- Bà tha lỗi, thưa bà Giám đốc.
- Đấy, nói thế có phải dễ nghe không. Cô chỉ cần chú ý một chút là được thôi mà. Bảo cô Sheila vào gặp tôi ngay.
- Thưa bà Martindale, Sheila đi ăn trưa chưa về ạ.
- Vậy sao? - bà liếc mắt nhìn đồng hồ treo tường. Muộn mất đúng sáu phút. Gần đây, con Sheila này thoải mái quá đấy. - Vậy khi nào Sheila về, cô bảo sang gặp tôi nhé.
- Vâng, thưa bà Giám đốc.

Sau khi lấy lưỡi đẩy chiếc kẹo caramen trở lại như bình thường, Edna vừa nhấm nháp chất ngọt của chiếc kẹo đang tan dần trong miệng, vừa tiếp tục đánh máy cuốn tiểu thuyết Ái tình Trần Trụi của tác giả Arnold Levin. Những đoạn tả cảnh làm tình sống sượng của nhà văn rẻ tiền này không làm cô xúc động chút nào, cũng như những độc giả khác của ông ta, mặc dù ông ta cố chọn những câu chữ sống sượng nhất. Edna vừa đánh máy vừa thầm nghĩ, không có gì tồi tệ bằng một cuốn truyện khiêu dâm tồi! Bất chấp hình vẽ trên bìa hấp dẫn, bất chấp tên truyện nghe đầy hứa hẹn, sách của ông Levin này mỗi ngày một bán ế. Và đây lại là một bản thảo mới của ông ta, không có gì có thể tồi tệ hơn.
Cửa phòng nhè nhẹ mở, cô thư ký Sheila cố nín hơi thở hổn hển, rón rén bước vào.
- Hùm cái vừa gọi mày đấy, - Edna nói.
Sheila nhăn mặt.
- Khỉ gió! Đúng vào hôm mình về muộn.

Vuốt cho gọn mái tóc, Sheila vớ cuốn sổ và chiếc bút chì chạy vào gõ cửa phòng Giám đốc. Phòng này bố trí nằm bên trong, thật ra chỉ là một phần của gian phòng lớn, được ngăn riêng ra bằng gỗ lồng kính mờ.
Ngồi sau bàn giấy, bà Martindale ngước mắt lên. Ngoài bốn mươi tuổi, bà ta bộc lộ rõ là một phụ nữ
năng động. Mái tóc màu hung cắt ngắn khiến bà có biệt hiệu là “Hùm cái”.
- Cô về trễ đấy, Sheila, - bà ta nói.
- Bà tha lỗi, thưa bà Giám đổic. Xe buýt tôi đi bị tắc đường mất một lúc.
- Giờ này có phải giờ cao điểm đâu mà tắc đường được? Vả lại cô phải tính cách chứ, - bà ta xem lịch bàn. - Một khách hàng tên là bà Pebmarsh gọi điện thoại đến. Bà ta cần một thư ký đánh máy đến nhà bà ta vào 3 giờ chiều nay, và bà đề nghị đích danh cô. Cô quen bà ta à? Đã có lần đánh máy cho bà ta chăng?
- Tôi không nhớ, thưa bà Giám đốc. Nhưng nếu có thì chắc cũng phải lâu lắm rồi.
- Bà Pebmarsh này ở số nhà 19 phố Wilbraham Crescent - bà Giám đốc dừng lại, ngước nhìn cô thư ký đánh máy như dò hỏi.
Sheila lắc đầu:
- Vậy thì tôi hoàn toàn không nhớ.
Bà Martindale nhìn đồng hồ treo trên tường.
- Cô thừa sức đi đến đó trước ba giờ. Cô không có hẹn với khách hàng nào chiều nay chứ? - bà ta lại nhìn vào cuốn lịch sổ. - Mà có đấy, năm giờ chiều nay cô còn phải đến làm việc với Giáo sư Purdy ở Khách sạn Curlew. Chắc chắn cô sẽ xong việc ỏ nhà bà Pebmarsh và kịp đến khách sạn Curlewthôi, tôi tin là như thế. Trường hợp cô không về kịp, tôi sẽ cử cô Janet đến gặp ông Giáo sư thay cô.
Bà Giám đốc làm một cử chỉ, ý bảo thế là xong.
Sheila quay ra phòng nhân viên.
- Chuyện gì đấy, Sheila?
- Vẫn chuyện thông thường. Một mụ già chờ mình ở phố Wilbraham Crescent. Còn vị Giáo sư kia làm tình làm tội mình với đủ các thuật ngữ khảo cổ học của ông ta. Toàn những công việc ngán ngẩm. Mong sao có một công việc nào lý thú một chút.

Cửa phòng Giám đốc lại mở, bà Martindale bước ra.
- Sheila, tôi dặn thêm. Nếu chẳng may bà Pebmarsh đi vắng thì cô cứ vào. Bà cụ không khóa cửa đâu. Cô cứ tự vào, ngồi chờ bà cụ ở phòng bên phải, ngay sát cửa ra vào. Có phải ghi vào sổ không?
- Không cần, thưa bà Martindale. Tôi nhớ.
Bà Giám đốc vào khuất, Edna kín đáo lấy dưới gầm ghế ra chiếc giầy bị gẫy gót.
- Lạy Chúa, mình làm cách nào về nhà được đây?
Cô thư ký rên rỉ.
- Đừng lo, rồi sẽ có cách, - một cô nhân viên đi ngang qua, đứng lại nhìn, nói, rồi đi tiếp.

Edna thở dài, cho một tờ giấy mới vào máy, vừa gõ lên bàn phím vừa lẩm bẩm đọc: “Chàng bỗng thấy cháy lên một ngọn lửa thèm khát. Hai tay run rẩy, chàng giật ra tấm vải mỏng phủ lên cặp vú nàng rồi đè nàng nằm ngửa trên li văng...”
- Con khỉ! - Edna rủa một tiếng rồi vớ chiếc tẩy.
Sheila xách xắc tay, bước ra cửa.


*
* *

Xây từ đầu thế kỷ, phố Wilbraham Crescenttheo một kiểu kiến trúc vòng cung oái oăm, khiến người đi từ đầu phố vào không nhìn thấy được những biển số nhà ở đầu, nhưng khi vào đến bên trong thì lại rất khó thấy được những biển số nhà phía cuối. Nhà nào cũng xây theo kiểu biệt thự, xung quanh là vườn cây. Phía trước nhà nào cũng có bao lơn bằng sắt uốn hết sức cầu kỳ, thấy rõ chủ nhân là những người giầu có huênh hoang. Phía trước ngôi nhà nào cũng có hàng rào và cổng bằng sắt.

Ngôi nhà số 19 không có gì đặc biệt: cũng tấm ri-đô trắng tinh, cũng nắm đấm trên cánh cửa bằng đồng sáng loáng, cũng có một lối đi hai bên trồng những khóm hoa tường vi, chạy từ cổng sắt bên ngoài vào bậc thềm lên nhà.

Đẩy cánh cổng sắt, Sheila theo lối đi trồng tường vi, bước lên bậc thềm, đến cánh cửa gỗ, bấm chuông. Không thấy ai trả lòi. Đợi một lát, cô xoay quả đấm cửa. Đúng như bà Martindale dặn, cửa không khóa. Sheila bước vào bên trong. Vào đến nơi cô thấy cánh cửa bên phải hé mở. Cô gõ, chờ một lát không thấy gì, bèn bước vào phòng khách nhỏ ấm cúng, bầy quá nhiều các loại đồ mỹ nghệ, toàn những thứ cổ lỗ, không thích hợp với thời nay. Tuy nhiên phòng khách nhỏ này có một chi tiết lạ: rất nhiều đồng hồ, cả trên tường, cả trên mặt tủ. Một chiếc đồng hồ mẹ to tướng kêu tích-tắc treo ở góc tường. Một chiếc đồng hồ bằng sứ trên lò sưởi. Một chiếc nữa bên trên bàn giấy bằng bạc. Cạnh đấy lại một chiếc vỏ gỗ màu đỏ tươi. Gần cửa sổ một chiếc nhỏ nữa, bốn góc bịt da thuộc, có dòng chữ mạ vàng “Rosemary” hơi bị mờ do thời gian.

Sheila ngạc nhiên thấy chiếc đồng hồ trên bàn giấy chỉ bốn giờ kém mười. Cô liếc nhìn sang những đồng hồ khác: tất cả đều chỉ đúng như thế: bốn giờ kém mười. Sao lại thế được nhỉ?

Đột nhiên, một tiếng “cạch” làm Sheila giật bắn người. Cánh cửa nhỏ trên một chiếc đồng hồ treo tường mở ra, một con chim họa mi thò đầu, ngửa cổ trịnh trọng hót: “Cúc cu - cúc cu - cúc cu”, ba tiếng theo ba thanh âm cao thấp khác nhau. Liền sau đó, lại một tiếng “cách” và con chim thụt cổ vào, cánh cửa nhỏ khép lại như cũ.

Sheila bật cười, định di vòng ra ngồi xuống chiếc đi văng. Đột nhiên cô giật mình: một người đàn ông nằm thẳng đuỗn dưới sàn, hai mắt mở to nhưng trông đờ đẫn, giống như một người mù, rõ ràng không nhìn thấy gì. Trên bộ vét có một vết loang màu sẫm. Một cách vô ý thức, Sheila cúi xuống, sờ má và bàn tay ông ta thấy lạnh toát. Rồi cô chạm tay vào vết loang ẩm. Vừa đụng đến, Sheila vội rút bàn tay lại, hai mắt trợn tròn kinh hoàng.

Vừa lúc đó, có tiếng mở cánh cổng sắt bên ngoài làm Sheila quay đầu lại. Trên lối đi, một phụ nữ đang bước nhanh. Cô gái nuốt nước bọt, thấy cổ họng khô khốc. Cô đứng sững, toàn thân như cứng lại, không nhúc nhích mà cũng không kêu lên được... cặp mắt bất động.

Cửa mở, một bà có tuổi, vóc ngưòi to lớn, xách làn đi chợ, bước vào. Mái tóc hoa râm chải sơ sài túm lại sau gáy, trùm xuống hai thái dương. Bà già hướng cặp mắt xanh biếc nhìn thẳng vào Sheila, nhưng không có vẻ bà ta nhìn thấy cô.
Sheila thốt lên một tiếng kêu khẽ. Bà có cặp mắt xanh biếc kia tiến về phía cô.
- Ai đấy? - bà ta hỏi to.
- Tôi... Tôi là... Sheila ấp úng.
Bà ta vòng qua chiếc đi văng đi về phía Sheila. Thấy vậy, cô vội hét lên:
- Đừng... Bà đừng đi nữa! Bà giẫm lên ông ta mất... mà ông ấy chết rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương một

LỜI KỂ CỦA COLIN LAMB

Như cảnh sát đã biết, ngày 9 tháng Chín, vào 14 giờ 59 phút, tôi đi dọc theo phố Wilbraham Crescent theo hướng Đông. Đấy là lần đầu tiên tôi đến đây, và thú thật, phố Wilbraham Crescent này làm tôi hoàn toàn mất phương hướng.

Tôi đang thẩm tra lại một trong những linh cảm của tôi, vì linh cảm ấy rất lờ mờ cho nên tội càng cố muốn biết xem nó có đúng hay không.

Tôi tìm số nhà 61, liệu có số nhà đó không? Tôi bắt đầu đi tìm nhà số 1 đến số 28, thì phố Wilbraham Crescent bị một phố lớn cắt ngang, tên phố lớn đó là đại lộ Albany. Tôi bèn thử đi ngược lại. Bên này phố, chỉ có một bức tường rào chạy dài, trong là những tòa nhà chung cư, nhiều tầng bằng bê tông, cao vút lên tận trời xanh. Không thấy lối vào nhà để lên cầu thang, chắc ở mặt phố phía bên kia. Vậy là đi theo hè bên này không ích gì.

Vừa đi, tôi vừa kiểm tra các nhà số 24, 23, 22, 21. Biệt thự Diana,hẳn đây là số 21. Một con mèo ngồi trên một cột hàng rào, đang đưa chân lên xoa mặt. Rồi tôi đi đến số nhà 19...

Đột nhiên cánh cửa ngôi nhà số 19 bật mở, một người bên trong lao ra như một quả trái phá, kèm theo một tiếng rú man dại, không ra tiếng rú của con người. Một cô gái trẻ lao ra phía cổng sắt. Ra đến hè phố, cô đâm xầm vào tôi khiến tôi loạng choạng suýt ngã, rồi cô túm lấy tôi như kẻ chết đuối túm được cái cọc.
- Bình tĩnh đã nào, - tôi lấy lại thăng bằng. - Cô bình tĩnh đã chứ.
Cô gái đã trấn tĩnh lại đôi chút, không kêu lên nữa, mà khóc nức nở.Thú thật là bản thân tôi cũng lúng túng.
- Cô có chuyện gì phải không? - tôi hỏi. Nhưng thấy câu hỏi vô duyên, tôi nói thêm. - Có chuyện gì vậy?
Cô gái nín thở, mắt lấm lét trỏ vào ngôi nhà:
- Trong ấy... trong ấy...
- Trong ấy sao?
- Có một người chết... nằm trên sàn nhà... bà ta suýt nữa giẫm phải ông ta.
- Ai? Mà tại sao lại giẫm?
- Bà ấy mù, tôi đoán thế. Còn ông ta thì đầy máu.
Đột nhiên cúi xuống nhìn hai bàn tay, cô gái vội buông tôi ra.
- Tay tôi cũng đầy máu đây này, - cô ta nói thêm.
- Đúng thế, - tôi nhìn lên ống tay áo tôi cũng rây vết máu. Tôi thở dài. - Cô làm rây sang áo tôi nữa đây này. - Suy nghĩ một chút, tôi nói. - Cô dẫn tôi vào trong đó xem thử.
- Không, không. Tôi sợ lắm... Tôi không dám vào cái nhà ấy nữa.
- Có lẽ cô nói thế là đúng, - tôi nói rồi đưa mắt nhìn xem có chỗ nào dìu cô gái đến, bởi tôi thấy cô đang xỉu đi, không thể đứng vững.
Tôi đỡ cho cô từ từ khuỵu xuống bên cạnh hàng rào sắt, rồi đặt cô ngả đầu vào hàng rào.
- Cô ngồi yên đây, đừng đi đâu. Đợi tôi ra đã. Nếu mệt quá, cô cúi xuống, gục đầu lên đầu gối mà nghỉ.
- Bây giờ thì tôi hơi dễ chịu rồi.

Cô nói bằng giọng không được tự tin cho lắm.

Tôi không gặng hỏi thêm, chỉ vỗ nhẹ vai cô an ủi, rồi đi nhanh vào nhà. Vào qua cửa ngoài, tôi liếc nhìn sang gian bên trái, đó là phòng ăn. Tôi đi thẳng vào phòng khách bên phải.

Trong đó, một bà có tuổi, tóc hoa râm, đang ngồi trong chiếc ghế xa lông, nghe thấy tiếng động, bà ta quay đầu lại.
- Ai thế?
Tôi cũng nhận thấy ngay là bà ta mù. Mặt quay về phía tôi, nhưng cặp mắt lại hướng lên phía bên trên đầu tôi. Tôi hỏi thẳng vào vấn đề.
- Vừa rồi, một cô gái trẻ lao ra ngoài đường, kêu lên rằng trong này có một người bị giết.

Trong lúc đang nói, tôi đã thấy ngay câu hỏi của tôi hồ đồ. Trong một gian phòng ngăn nắp thế này, trước mặt một phụ nữ dáng quý phái, ngồi chắp hai tay lành hiền, bình thản, làm sao có thể có xác chết nào được?
Nhưng bà già đáp:
- Đúng đấy. Sau cái đi văng kia kìa.
Tôi vòng ra sau lưng đi văng thì thấy nạn nhân, cánh tay cứng đờ, hai mắt mở to như mắt thủy tinh, và vết máu loang trên áo đã khô lại.
- Đầu đuôi thế nào? - tôi thô lỗ hỏi.
- Tôi hoàn toàn không biết gì.
- Nhưng ông ta là ai?
- Tôi không biết.
- Phải báo cảnh sát ngay, - tôi đưa mắt nhìn quanh. - Điện thoại bà để đâu?
- Nhà tôi không có điện thoại.
Tôi chăm chú nhìn bà ta.
- Đây là nhà bà?
- Đúng thế.
- Bà có thể kể tôi nghe từ đầu được không?
- Tất nhiên là được. Tôi ra phố mua sắm về... - lúc này tôi đã nhìn thấy chiếc làn đi chợ để trên một chiếc ghế gần cửa. - Vào đến đây, tôi cảm thấy trong nhà có người. Người mù bao giờ cũng thính. Tôi hỏi “Ai đấy?” Không thấy tiếng trả lời, chỉ nghe thấy tiếng thở hổn hển. Tôi bèn đi về phía có tiếng thở, thì đột nhiên một giọng con gái hét lên, kêu lên rằng ở đó có xác chết, rằng tôi đừng đi tiếp nữa kẻo giẫm phải. Thế là cô gái chạy vụt ra, vừa chạy vừa rú lên.
"Được! Vậy là hai người nói ăn khớp nhau, tôi thầm nghĩ."
- Sau đó bà làm gì?
- Tôi lần đến đấy, và chân tôi vấp phải một vật gì đó.
- Rồi sao nữa?
- Tôi quỳ xuống, sờ thử, đụng phải bàn tay một ngưòi đã lạnh giá, mạch không còn đập. Tôi bèn ngồi vào đây, đợi người đến, bởi cô gái kia hẳn đi báo cảnh sát. Tôi nghĩ tốt nhất là chẳng nên ra khỏi đây.
Thái độ điềm tĩnh của bà già làm tôi kinh ngạc. Bà ta không la hét, không hốt hoảng chạy ra khỏi nhà, mà lại ngồi bình tĩnh đợi! Tôi công nhận làm như thế là đúng, nhưng không phải ai cũng làm được như thế.
Bà ta hỏi tôi.
- Vậy ông là ai?
- Tên tôi là Colin Lamb, tôi tình cờ đi ngang qua bên ngoài nhà bà.
- Cô gái kia đâu rồi?
- Tôi dìu cô ta ngồi tựa vào hàng rào sắt, để cô ta trấn tĩnh lại. Tôi muốn gọi điện thoại thì phải đi đâu?
- Cách đây chừng năm chục mét, có một trạm điện thoại công cộng ở chỗ vòng ấy.
- Phải rồi, có. Tôi nhớ đã nhìn thấy lúc đi đến đây. Bà...
Tôi ngập ngừng. Tôi định hỏi bà ta một câu gì đó, đại loại như “Bà cứ ngồi đây chứ?” Hoặc: “Bà không sao chứ?”
Bà ta như đoán được, nói:
- Tốt nhất là ông nên đưa cô gái kia vào đây ngồi nghỉ.
- Tôi e cô ấy không chịu vào.
- Tất nhiên không phải vào phòng này, nhưng cô ấy có thể sang phòng ăn, ngay bên cạnh. Bảo cô ấy là tôi sẽ pha một ấm trà nóng cho cô ấy uống.
Bà ta đi về phía tôi.
- Nhưng bà...
Trên môi bà ta hiện lên một nụ cười buồn rầu.
- Từ khi tôi đến sống ở ngôi nhà này, đã mười bốn năm rồi, tôi đều tự nấu nướng lấy. Mù chưa phải có nghĩa không làm gì được,
- Bà tha lỗi. Đúng là tôi hỏi câu ngu xuẩn. Tôi muôn biết tên bà, được không ạ?
- Tên tôi là Pebmarsh.

Tôi đi nhanh ra ngoài. Thấy tôi, cô gái trẻ ngước mắt nhìn. Tôi dìu cô đứng lên.
- Tôi thấy trong người dễ chịu rồi, - cô nói.
- Hay lắm, - tôi vui vẻ đáp.
- Có đúng là trong đó có một người bị giết không?
- Đúng, - tôi đáp rất nhanh. Bây giờ tôi chạy đi gọi điện thoại, báo cảnh sát. Theo tôi, cô nên vào trong nhà đợi tôi. - Tôi nói hơi to như ra lệnh, để cô gái không kịp phản đối. - Bà Pebmarsh sẽ pha trà cho cô uống.
- Vậy bà mù đó là bà Pebmarsh?
- Chính thế. Bà cụ cũng kinh hoàng, nhưng vẫn giữ được điềm tĩnh. Nào, ta vào. Trong lúc đợi tôi, cô dùng một chén trà nóng, sẽ tỉnh táo hơn.

Tôi xốc nách, dìu cô gái đứng lên, đưa cô vào nhà, đặt cô ngồi trong phòng ăn. Rồi tôi chạy nhanh ra ngoài.
- Đồn cảnh sát Crowdean đây! - đầu dây bên kia một giọng nói thản nhiên.
- Tôi xin gặp ông thanh tra Hardcastle. Tôi là Colin Lamb.

Lát sau đích thân Hardcastle cầm máy.
- Colin đấy à? Cậu đang ở đâu đấy?
- Trong thị trấn Crowdean của cậu, phố Wilbraham Crescent. Có một người bị giết trong ngôi nhà số 19. Mình đoán là bị đâm. Nạn nhân chết được chừng nửa giờ rồi.
- Ai phát hiện thấy? Cậu à?
- Không. Mình chỉ tình cờ đi ngang qua, đột nhiên một cô gái trẻ lao từ trong nhà ra như tên bắn, đâm sầm vào làm mình suýt ngã. Cô ta bảo trong nhà có một người chết, và một bà mù suýt giẫm phải cái xác.
- Colin, cậu không đùa mình đấy chứ?
Giọng Hardcastle có vẻ nghi ngờ.
- Chuyện nghe quái lạ, đúng thế, nhưng thực sự là như vậy. Bà mù đó là chủ nhân ngôi nhà, bà Pebmarsh.
- Và bà ấy giẫm lên xác chết?
- Cậu hiểu sai câu mình nói rồi. Bà ta mù, nên không nhìn thấy.
- Thôi được, mình sẽ tiến hành ngay những việc cần thiết. Cậu làm gì cô gái ấy rồi?
- Bà Pebmarsh đang cho cô ấy uống trà.
- Chà, chuyện nghe có vẻ ly kỳ đấy, - thanh tra Hardcastle nói.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương Hai
 
Trong ngôi nhà số 19 phố Wilbraham Crescent, cảnh sát đang triển khai công việc. Có bác sĩ pháp y, có ngưòi nhiếp ảnh căn cước và có các nhân viên lấy vân tay.


Người đến cuối cùng là thanh tra Hardcastle, vẻ mặt bí hiểm, nhưng cặp lông mày nhíu lại đầy biểu cảm, đang kiểm tra xem mọi mệnh lệnh của ông ta có được thi hành chu đáo không.
 
Xem xét kỹ một lần nữa xác nạn nhân, rồi trao đổi vài câu với bác sĩ pháp y, viên thanh tra sang phòng ăn. Tại đây đã có ba người ngồi trước ba tách trà rỗng: bà Pebmarsh, Colin Lamb và một cô gái trẻ vóc cao, thân hình cân đối, tóc màu hạt dẻ, cặp mở to vẫn còn vẻ kinh hoàng. Viên thanh tra thầm đánh giá “Chà, cô bé đẹp quá đây”, rồi bước đến tự giới thiệu với bà Pebmarsh, chủ nhân ngôi nhà.
-        Tôi là Thanh tra Hardcastle.
 
Tuy nhiên thanh tra chưa gặp bà ta bao giờ trên phương diện nghề nghiệp, nhưng ông biết mặt bà. Bà Pebmarsh xưa đã từng là giáo viên trung học, hiện nay bà làm Ti Viện Aaronberg là Viện dạy chữ nổi cho trẻ em mù. Thanh tra Hardcastle rất lấy làm lạ tại sao lại có một vụ án mạng trong một ngôi nhà sạch sẽ gọn ghẽ, tinh khiết nhường này: nhưng sự đời thiếu gì những chuyện khó mà tin nổi.
 
-        Đúng là khủng khiếp đối với bà, thưa bà Pebmarsh. Hẳn bà phải choáng váng lắm. Tôi muốn được nghe các vị kể cho tôi nghe tỉ mỷ. Tôi hiểu cô đây là... - viên thanh tra liếc nhanh vào cuốn sổ tay do một nhân viên cảnh sát vừa đưa ông ta. - cô Sheila Webb, người đầu tiên phát hiện ra xác chết. Thưa bà Pebmarsh, bà cho phép tôi đưa cô gái này vào bếp để có thể nói chuyện yên tĩnh.
 
Mở cánh cửa, thanh tra Hardcastle lịch sự mời cô gái vào trước. Lát sau, hai người ngồi hai bên chiếc bàn phoóc-mi-ca, và viên thanh tra lặng lẽ ghi.
 
Sheila bối rối, hồi hộp hướng cặp mắt to vẫn còn đầy kinh hoàng về phía viên thanh tra cảnh sát.


Thanh tra Hardcastle chỉ muốn nói: “Tôi không ăn thịt cô đâu, cô gái xinh đẹp ạ”, nhưng ông ghìm lại, nói:
-        Cô bình tĩnh, đừng lo lắng gì cả. Tôi chỉ muốn nghe để biết rõ thêm sự việc. Bây giờ cô cho tôi biết, cô đến ngôi nhà số 19 phố Wilbraham Crescent để làm gì?
Sheila đã bình tĩnh phần nào, đáp:
-        Bà Pebmarsh gọi điện đến Trung tâm xin một thư ký đánh máy vào lúc 3 giờ chiều nay. Thế là lúc tôi đi ăn trưa về, bà Martindale Giám đốc Trung tâm cử tôi đến đây.
-        Vì đến lượt cô phải không? Hẳn là ở Trung tâm, các cô lần lượt được cử đi phục vụ các khách hàng chứ gì?
-        Không, trường hợp này không phải như thế. Bà Pebmarsh yêu cầu đích danh tôi.
Thanh tra Hardcastle ghi tiếp, cặp lông mày nhíu lại.
-        Ra thế! Nghĩa là cô đã từng làm việc với bà Pebmarsh và bà đã biết cô?
-        Không. Chưa bao giờ tôi làm cho bà ấy, - Sheila vội vã nói.
-        Có đúng như vậy không? Cô nhớ kỹ là như thế chứ?
-        Tôi nhớ rất kỹ, - Sheila nói. - Vả lại, ông đã thấy đấy, bà Pebmarsh thuộc loại người nếu ai đã gặp một lần hẳn rất khó quên.
-        Đúng thế. Nhưng lúc này ta tạm gác lại chuyện đó. Cô đến đây lúc mấy giờ?
-        Trước ba giờ một chút, bởi khi tôi vào đây thì con chim họa mi trên chiếc đồng hồ treo tường... - Đột nhiên Sheila ngừng nói, cặp mắt chững lại. - Lạ thật. Lúc đó tôi không chú ý...
-        Chú ý chuyện gì, cô Sheila?
-        Những chiếc đồng hồ treo tường.
-        Những chiếc đồng hồ treo tường làm sao?
-        Con chim họa mi hót ba tiếng, nhưng tất cả những chiếc đồng hồ khác lại nhanh đúng một tiếng. Sao lại thế được nhỉ?
-        Đúng là lạ thật, - viên thanh tra gật đầu. Thôi được, thế đến lúc nào thì cô nhìn thấy xác chết?
-        Lúc tôi định đi vòng chiếc đi văng để ngồi vào đó. Tôi chợt nhìn thấy ông ta nằm dưới đất. Khủng khiếp quá! Khủng khiếp quá!...
-        Tôi công nhận, đúng là khủng khiếp. Cô có nhận ra ông ta không? Cô có biết ông ta không?
-        Không. Chưa bao giờ tôi gặp ông ta.
-        Cô có tin chắc như thế không? Có thể bây giờ ông ta đã thay đổi nhiều. Cô nghĩ kỹ đi. Quả là cô chưa bao giờ gặp ông ta chứ?
-        Chưa bao giờ.
-        Thôi được. Vậy sau đó cô làm gì?
-        Tôi làm gì ấy à?
-        Đúng, cô đã làm gì?
-        Tôi không hề làm gì hết. Tôi không thể làm gì được nữa.
-        Đồng ý. Nhưng cô có sờ vào người ông ta chứ?
-        Có, chỉ là tôi định xem thử... Người ông ta lạnh toát... và bàn tay tôi rây đầy máu, dính và đặc quánh. Khủng khiếp quá! - Cô gái nói và toàn thân run bắn lên.
-        Cô bình tĩnh lại đi, - thanh tra Hardcastle ôn tồn nói. - Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, cô quên chuyện ấy đi. Rồi sau đấy thế nào?
-        Tôi không nhớ... à, phải rồi, rồi bà ấy về.
-        Ai? Bà Pebmarsh?
-        Vâng. Nhưng lúc ấy tôi chưa biết là ai. Bà ấy xách làn đi chợ.
-        Cô nói với bà Pebmarsh thế nào?
-        Hình như tôi không nói gì cả... Tôi muốn nói, nhưng cổ họng khô khốc, không sao thốt lên thành tiếng được. Bà ấy hỏi tôi là ai, hình như bà ấy định đến với tôi thì phải... thế là tôi hét lên, và tôi không chịu nổi, tôi lao ra ngoài phố...
-        Khoan đã, tôi muốn hỏi cô một câu: tại sao cô lại vào trong gian phòng ấy?
-        Ông hỏi thế nghĩa là sao? Sheila ngơ ngác.
-        Cô bấm chuông, không thấy ngưòi trả lời, sao cô dám tự động vào nhà?
-        Tôi hiểu rồi. Vì bà ấy dặn tôi như thế.
-        Bà nào?
-        Bà Giám đốc Martindale dặn là nếu tôi bấm chuông không thấy ai trả lời thì cứ đẩy cửa vào, rồi sang gian phòng bên phải ngồi chờ.
-        Ra thế! - thanh tra Hardcastle gật đầu, nghĩ ngợi nói.
Sheila lo lắng hỏi:
-        Ông còn gì nữa không, thưa ông thanh tra?
-        Tôi nghĩ hãy tạm thế đã. Nhưng tôi đề nghị cô chịu khó nán ở lại đây chừng mười phút, đừng về vội, lỡ tôi còn muôn hỏi thêm điều gì. Sau đấy tôi sẽ cho người đưa cô về nhà. Cô có cha mẹ ở đây chứ?
-        Cha mẹ tôi mất cả rồi, tôi ở với bà dì..
-        Tên bà dì là gì?
-        Bà Lawton.
-        Cảm ơn cô Sheila, viên thanh tra nắm chặt tay cô gái trẻ. Đêm nay cô cố ngủ một giấc cho ngon. Sau những chuyện khủng khiếp này, cô rất cần một giấc ngủ để lại sức.
 
Với nụ cười e thẹn. Sheila bước nhanh sang phòng ăn.
 
Không để viên thanh tra đưa tay dắt, bà Pebmarsh vẻ mặt quả quyết, dò dẫm lần đến ngồi vào chiếc ghế sát tường. Không đợi viên thanh tra mở miệng, bà hỏi ngay:
-        Cái anh lúc nãy ấy là ai?
-        Colin Lamb.
-        Tên thì anh ta nói cho tôi biết rồi, nhưng tôi muốn hỏi anh ta là người thế nào? Sao lại có mặt ở đây?
Thanh tra Hardcastle hơi ngạc nhiên, chăm chú nhìn bà già mù.
-        Anh ta tình cờ đi ngang qua đúng lúc cô Sheila kia lao ra đường, hét lên là có người bị giết trong nhà này. Sau khi vào và thấy có ngưòi chết thật, Colin Lamb gọi điện cho tôi, và chính tôi đã yêu cầu anh ta ở lại đây đợi chúng tôi đến.
-        Ông nói như có vẻ ông quen anh ta, thưa ông thanh tra?
-        Đúng thế, bà không bỏ sót chi tiết nào. Colin là một trong số các bạn của tôi, tuy nhiên chúng tôi ít gặp nhau. Anh ta là chuyên gia về sinh học biển.
-        Tôi hiểu.
-        Bây giờ, thưa bà Pebmarsh, bà có thể kể cho tôi nghe vài điều tôi muốn biết về vụ án quái lạ này không?
-        Sẵn sàng thôi. Nhưng tôi e chẳng có gì nhiều để nói với ông.
-        Bà đến ở ngôi nhà này lâu chưa?
-        Từ năm 1950. Hồi đó tôi dạy trường Trung học. Khi bác sĩ bảo mắt tôi sắp hỏng hẳn, không có hy vọng chữa khỏi, tôi bèn theo học lớp về chữ nổi và về phương pháp sư phạm đối với người mù. Hiện nay tôi làm trong Viện Aaronberg, dạy chữ nổi cho trẻ em mù.
-        Cảm ơn bà. Bây giờ xin bà kể về buổi chiều hôm nay. Có ai hẹn đến gặp bà không?
-        Không.
-        Để bà thử nhớ lại xem có quen người nào như thế không, tôi xin miêu tả sơ qua hình dạng người vừa bị giết. Cao 1 mét 70, tuổi trạc 60, tóc đen đã hoa râm. Mắt mầu hạt dẻ, cằm vuông. Râu ria cạo nhẵn. Bàn tay thon mịn. Có lẽ ông ta làm trong một văn phòng nào đấy, thí dụ làm nhân viên kế toán tại một nhà băng, hoặc làm một nghề tự do, như luật sư chẳng hạn.
Bà Pebmarsh suy nghĩ khá lâu rồi mới đáp.
-        Khó nói quá. Những chi tiết ông kể ra quá mơ hồ, rất nhiều người có những đặc điểm như thế. Rất có thể tôi đã gặp một người nào giống như ông miêu tả, nhưng chắc chắn không phải trong số những người tôi thân thiết.
-        Ông ta gần đây không viết thư gì cho bà báo tin ông ấy sắp đến gặp bà hay sao?
-        Không. Hoàn toàn không.
-        Nhưng khi bà gọi điện đến Trung tâm Cavendish yêu cầu cử một thư ký đến đánh máy giúp bà, bà...
-        Xin lỗi, tôi xin phép ngắt lời ông, nhưng tôi không hề gọi điện yêu cầu một thư ký đánh máy.
 
Thanh tra Hardcastle ngạc nhiên nhìn bà già mù.
-        Bà không gọi điện đến Trung tâm Cavendish xin một thư ý đến đánh máy cho bà?
-        Thưa ông thanh tra, chưa bao giờ tôi cần đến thư ký đánh máy, và tôi không hề, tôi nhắc lại, tôi không hề, gọi điện cho Trung tâm Cavendish về bất cứ chuyện nào hết.
-        Bà không yêu cầu họ cử đích danh cô Sheila Webb?
-        Lần đầu tiên tôi nghe thấy cái tên ấy đấy.
Thanh tra Hardcastle sửng sốt nhìn bà cụ.
-        Nhưng khi đi chợ, bà đã không khóa cửa.
-        Ban ngày đi đâu, tôi thường không khóa cửa.
-        Bà không ngại có kẻ xấu tự động vào nhà bà hay sao?
-        Kể ra thì thời bây giờ dễ có người làm như thế thật, - bà Pebmarsh gật đầu nói.
-        Thưa bà Pebmarsh, theo bác sĩ pháp y cho biết, thì nạn nhân bị giết trong khoảng thời gian từ 1 giờ rưỡi đến 3 giờ. Lúc đó bà đang ở đâu?
Sau một chút im lặng, bà Pebmarsh trả lời:
-        Lúc một giờ rưỡi, thì một là tôi đã ra khỏi nhà, hai là tôi sắp sửa ra. Tôi cần đi mua sắm vài thứ lặt vặt.
-        Xin bà cho biết tỉ mỹ bà đã đi những đâu.
-        Đầu tiên tôi ra bưu điện, trên đại lộ Albany để gửi một bưu kiện và mua vài cái tem. Sau đó tôi đi mua vài thứ lặt vặt: khuy bấm, trâm cài tóc ở cửa hàng bách hóa. Rồi tôi về nhà. Giờ về thì tôi có thể nói đích xác với ông, bởi lúc tôi đẩy cánh cổng sắt bên ngoài, tôi nghe thấy con họa mi ở chiếc đồng hồ treo tường hót ba tiếng.
-        Thế những chiếc đồng hồ khác?
-        Xin lỗi, tôi chưa hiểu ông nói gì?
-        Tất cả những chiếc đồng hồ khác, treo trên tường và đặt trên bàn của bà, đều chạy nhanh một tiếng.
-        Đồng hồ nào mà chạy nhanh? Hay ông muốn nói đến chiếc đồng hồ đại treo ở góc phòng?
-        Không chỉ chiếc đồng hồ đó mà cả những chiếc khác trong phòng khách.
-        Ông nói gì tôi không hiểu. Những chiếc đồng hồ nào ở phòng khách? Trong phòng khách chỉ có mỗi một chiếc đồng hồ đại ấy thôi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-10 14:08:54Ct.Ly>
Chương Ba
Thanh tra Hardcastle ngạc nhiên:
-   Bà quên rồi sao, thưa bà Pebmarsh? Bà quên chiếc đồng hồ bằng sứ tuyệt đẹp treo phía trên bàn giấy, rồi chiếc đồng hồ các góc bọc da còn nguyên cả tên hãng chế tạo “Rosemary” đặt trên mặt tủ, rồi mấy chiếc đồng hồ treo tường khác nữa.


Bà Pebmarsh cũng ngạc nhiên không kém:
-   Một là ông lóa mắt nhìn lầm, hoặc là tôi mất trí. Bởi tôi làm gì có chiếc đồng hồ nào bằng sứ, rồi lại chiếc “Rosemary” nữa, và còn những chiếc nào khác nữa! Nếu ông không tin, xin ông hỏi bà giúp việc của tôi, bà Curtin.
Viên thanh tra không còn hiểu ra sao nữa. Chiếc mũi nhăn lại của bà già chứng tỏ bà không nói sai. Suy nghĩ một chút, ông Hardcastle đứng lên.
-   Mời bà sang phòng khách với tôi, được không, thưa bà Pebmarsh?
-  Tất nhiên là được, và tôi cũng muốn nhìn thấy những chiếc đồng hồ ấy.
-  Bà nhìn thấy được?
Thanh tra vặn lại.
-  Nói kiểm nghiệm chúng thì chính xác hơn. Bởi đối với tôi, “nhìn” nghĩa là kiểm nghiệm bằng các giác quan khác. Bằng tay sờ, bằng lắng nghe tiếng tích tắc của chúng, thưa ông thanh tra.


Thanh tra Hardcastle đi trước, sang phòng khách. Bà Pebmarsh theo sau. Nhân viên lấy dấu vân tay quay đầu lại.
-   Thưa thanh tra, tôi làm xong rồi. Ông có thể đụng vào mọi thứ được rồi.


Thanh tra Hardcastle gật đầu, lấy chiếc đồng hồ “Rosemary” trên bàn, đặt lên tay bà Pebmarsh để bà sờ thử. Bà nắn các phía rất cẩn thận, chiếc đồng hồ này và cả ba chiếc khác treo tường nữa.
-   Những chiếc đồng hồ này không phải của tôi. Chỉ một chiếc trong gian phòng này của tôi là chiếc đồng hồ đại của bà ngoại tôi để lại mà thôi, đó là chiếc treo trên tường ở góc phòng.
-   Đúng thế.
-  Và chiếc có con chim họa mi treo ỏ gần cửa.


Thanh tra Hardcastle không còn biết nói sao.Biết bà cụ không nhìn thấy mình, ông chăm chú quan sát khuôn mặt phúc hậu hiền lành của bà giáo già. Trán ông nhăn lại.
-   Chịu! Tôi không sao hiểu nổi!


Bà già giơ tay bất lực rồi ngồi xuống ghế.


Nhìn thấy nhân viên lấy dấu vân tay còn đứng gần cửa, thanh tra Hardcastle hỏi:
-   Cậu không quên lấy dấu vân tay trên những chiếc đồng hồ chứ?
-  Vỏ đồng hồ bằng sứ và bằng sơn mài đỏ kia thì không thể lấy dấu vân tay được. Nhưng lạ một điều là trên lớp da thuộc ở chiếc đồng hồ “Rosemary” kia, tôi cũng không thấy, mà dấu vân tay để lại trên da thuộc bao giờ cũng phải có chứ. Rồi cả trên lớp bạc mạ kia cũng vậy, không thấy. Nói cho đúng ra, tất cả những chiếc đồng hồ kia, trừ chiếc treo ở góc phòng, đều chưa lên dây cót và không chạy. Tất cả đều được vặn kim để chỉ cùng một giờ, đó là 4 giờ 13 phút.
-    Còn những chỗ khác trong phòng thì cậu lấy được vân tay chứ?
-   Có tất cả khoảng bốn kiểu vân tay, theo tôi thì đều vân tay phụ nữ. Tôi đã lấy ra những thứ trong túi nạn nhân, để lên bàn kia kìa.
Anh ta nói và trỏ chiếc bàn nhỏ kê cạnh tường.
Thanh tra Hardcastle vội vã đi về phía đó.
Trước mặt ông là một chiếc ví, trong có bảy bảng Anh và mười xu, một khăn mùi xoa lụa không thêu các chữ đầu tên họ, một hộp thuốc dạ dầy, và một tấm danh thiếp. Viên thanh tra cúi xuống đọc:


R.H.CURRY

Công ty Bảo hiểm TNHH Metropolis
LONDON.W2


Quay lại chỗ đi văng, nơi bà Pebmarsh ngồi, viên thanh tra hỏi:
-  Bà có chuẩn bị tiếp một đại diện của hãng bảo hiểm nào không?
-   Hãng bảo hiểm? Không, hoàn toàn không.
-   Công ty bảo hiểm Metropolis? - viên thanh tra hỏi thêm.
Bà Hardcastle lắc đầu:
-   Không, tôi chưa bao giờ nghe thấy cái hãng ấy.


-  Nhưng bà có định mua bảo hiểm chứ?
-   Không. Tôi có mua bảo hiểm trộm cắp và hỏa hoạn, nhưng đã mua rồi, và của Công ty bảo hiểm Joyce. Hơn nữa, tôi sống một mình, không họ hàng, không bạn bè, tôi không thấy cần bảo hiểm nhân thọ để làm gì.
-   Đúng thế, thưa bà Hardcastle. Bà có biết một người tên là Curry không?
-   Curry à? - bà già lặp lại, suy nghĩ một chút rồi lắc đầu. Tôi chưa nghe thấy cái tên ấy bao giờ. Đấy là tên nạn nhân à?
-   Có lẽ thế, - Viên thanh tra nói.
Bà Hardcastle ngập ngừng một chút rồi nói:
-   Ông có muốn tôi... thử sờ ông ta không?
Viên thanh tra hiểu ngay.
-   Tôi rất muốn, nhưng chưa dám đề ra với bà, e như thế là yêu cầu bà quá nhiều. Bởi tôi biết nếu bà sờ thử ông ta, chắc chắn bà sẽ phát hiện ra được điều gì đó.
-   Đúng thế. Tất nhiên tôi rất ngại, nhưng nếu ông cần, tôi xin đành lòng giúp ông vậy.
-   Cảm ơn bà, thưa bà Hardcastle. Bà cho tôi dắt bà đến đấy.


Thanh tra dắt bà giáo mù đến gần xác chết, đỡ cho bà quỳ xuống, lấy tay sờ lên mặt nạn nhân. Nét mặt hết sức điềm tĩnh, bà già không biểu lộ một cảm xúc nào. Những ngón tay bà lần trên tóc, tai, dừng lại một chút chỗ sau tai bên trái, rồi vòng ra mũi, xuống miệng, cằm nạn nhân.
-   Bây giờ thì tôi thấy rõ hình dạng ông ta rồi. Người này tôi không quen. Bây giờ thì tôi dám quả quyết khẳng định với ông thanh tra là tôi không quen ông ta.
Nhân viên lấy vân tay đã ra ngoài, bây giờ thò đầu vào khung cửa.
-  Xe chở xác đến, - anh ta trỏ xác chết. - Mang đi được rồi chứ ạ?
-  Được, - viên thanh tra đáp. - Bà Pebmarsh mời bà ngồi lên ghế cho.


Viên thanh tra đỡ bà già ngồi vào chiếc ghế ở góc phòng. Hai nhân viên vào khiêng xác nạn nhân ra ngoài. Thanh tra Hardcastle ra theo đến cổng sắt rồi quay vào, ngồi xuống bên cạnh bà Pebmarsh.


-    Thưa bà Pebmarsh, đúng là kỳ quái. Tôi xin phép được tóm tắt lại các tình tiết chủ chốt. Chỗ nào không đúng, bà vui lòng sửa lại cho. Bà không đợi ai đến gặp bà trong ngày hôm nay. Bà không hề hỏi ai về chuyện bảo hiểm, và cũng không hề nhận được thư báo tin hãng bảo hiểm nào cử đại diện đến gặp. Đúng vậy không, thưa bà?
-   Hoàn toàn đúng.
-   Bà không hề cần đến một thư ký đánh máy và cũng không gọi điện đến Trung tâm Cavendish?
- Đúng thế.


-        Khi bà ra khỏi nhà lúc một rưỡi, trong phòng khách chỉ có hai chiếc đồng hồ, chiếc có con họa mi và chiếc đồng hồ đại của bà ngoại bà ngày xưa?
Định trả lời, nhưng bà ghìm lại:
-   Quả thật tôi không thể khẳng định được điều này. Bởi tôi có nhìn thấy gì đâu? Nếu như mấy chiếc đồng hồ kia đã được treo ở đấy từ trước lúc tôi đi mua hàng thì sao? Tôi chỉ có thể khẳng định rằng, sáng nay lúc tôi dùng chổi lau quét bụi phòng này, tôi không nhận thấy có gì đặc biệt cả. Việc phủi bụi gian phòng khách, tôi đều làm lấy vì có rất nhiều đồ mỹ nghệ nhỏ, để bà giúp việc làm tôi không yên tâm.
-   Sáng nay bà có đi đâu ra khỏi nhà không?
-    Có, tôi có giờ lên lớp ở Viện Aeronberg từ 10 giờ 30 đến 12 giờ. Tôi về đến nhà lúc một giờ kém mười lăm, dùng một quả trứng luộc và uống một tách trà. Sau đó, như tôi đã kể với ông một giờ rưỡi tôi ra phố mua bán vài thứ vặt. Thật ra tôi ngồi ăn bữa trưa dưới bếp chứ không lên đây lúc nào.
-   Nếu bà khẳng định trước lúc bà ra khỏi nhà vào 10 giờ sáng nay, trong nhà chưa có những chiếc đồng hồ lạ kia, thì như thế có nghĩa có người đem chúng đến treo ở đây sau 10 giờ sáng.
-  Xin ông thử hỏi bà giúp việc của tôi, bà Curtin xem. Bà ấy đến dọn dẹp nhà tôi lúc 10 giờ rưỡi. Nhà bà ấy ở số 17 phố Dipper.
-   Cảm ơn bà, thưa bà Pebmarsh. Bây giờ, sau khi ta đã điểm lại các sự kiện, bà thấy có thể gợi gì ra với tôi được không? Vậy là sáng nay, có người đã đem đến đây bốn chiếc đồng hồ lạ kia. Tất cả chúng đều chạy và kim đều chỉ 4 giờ 13 phút. Cái giờ ấy có làm bà nghĩ đến thứ gì không?
-   Không, - bà Pebmarsh đáp.
-    Bây giờ ta sang đến nạn nhân. Tuy tôi chưa hỏi bà giúp việc, nhưng tôi nghĩ vô lý là bà ấy cho ông ta vào nhà rồi đi, bỏ mặc ông ta trong này. Tôi sẽ thẩm vấn bà ấy sau về chuyện này. Người đàn ông kia đến đây chỉ có thể có một trong hai mục đích. Một là công việc, hai là việc tư. Ông ta bị giết trong thời gian từ một giờ rưỡi đến ba giờ kém mười lăm. Có nghĩa ai đó đã hẹn ông ta đến đây. Bà bảo bà không biết gì chuyện đó. Liệu ông ta có làm công việc một nhân viên Công ty bảo hiểm không? Bà cũng lại không biết, cửa không khóa, ông ta có thể vào dễ dàng và ngồi đây đợi bà về. Nhưng để làm gì?
-   Tất cả những chuyện ấy hết sức quái đản, - bà Pebmarsh có vẻ bắt đầu khó chịu. - Vậy theo ông thì cái ông Curry ấy đã đem những chiếc đồng hồ kia đến đây?
-    Nhưng sao không thấy giấy bọc? - thanh tra Hardcastle nhận xét. - Ông ta không thể bỏ chúng vào túi áo được... Còn kim chỉ 4 giờ 13, nghĩa là sao? Bà không có một sự phỏng đoán nào về chuyện đó sao?


Vừa lúc đó, một sĩ quan cảnh sát trẻ tuổi hé mở cửa. Thanh tra Hardcastle ra gặp anh ta, rồi bước ra chỗ hàng rào sắt trao đổi một chút với các nhân viên cảnh sát.
-  Bây giờ các cậu đưa cô gái này về nhà cô ấy, - viên thanh tra nói. - Số nhà 14, phố Palmerston.
Sau đó ông quay vào phòng ăn. Qua cánh cửa mở, ông ta quan sát bà Pebmarsh đang loay hoay với chiếc làn đi chợ. Đứng ngoài cửa, ông hỏi:
-   Tôi cần đến những chiếc đồng hồ kia. Tôi sẽ viết giấy biên nhận đưa cho bà.
-   Không cần, ông cứ đem chúng đi. Đấy không phải đồng hồ của tôi.
Viên thanh tra quay sang Sheila:
-   Cô có thể về được rồi, cô Sheila.
Sheila và Colin đứng dậy.
-   Colin, tôi nhờ anh chở cô ấy về nhà hộ. - viên thanh tra nói rồi ngồi xuống bàn viết giấy biên nhận.
Hai người đã ra đến cổng sắt, đột nhiên Sheila đứng lại:
-  Tôi quên đôi găng tay.
-  Để tôi vào lấy cho cô, - Colin nói.
-   Không, để tôi vào, vì tôi biết chỗ tôi đã để nó. Với lại, bây giờ tôi không sợ nữa. Người ta đã đem ông ta đi rồi.


Sheila chạy đi, lát sau quay lại:
- Anh tha lỗi, lúc nãy tôi xử sự như một con điên.
-   Gặp hoàn cảnh như cô, ai chẳng thế.
Lúc xe ô tô đã nổ máy, thanh tra Hardcastle chạy ra, nói với một nhân viên cảnh sát:
-    Cậu vào đóng gói mấy chiếc đồng hồ cho tôi. Trừ chiếc to tướng ở góc phòng và chiếc có con chim họa mi. Đóng gói thật cẩn thận vào.
Ra lệnh xong, viên thanh tra quay sang Colin:
-  Tôi cần đi một vòng, anh muốn đi cùng không?
-   Sẵn sàng, - Colin đáp.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-10 14:09:44Ct.Ly>
Chương Bốn
 
LỜI COLIN KỂ
 
-       Cậu định đi đâu bây giờ? - tôi hỏi Hardcastle.
-       Đến Trung tâm Cavendish, - viên thanh tra nói với tài xế. - Phố Palace, phía bên phải.
-       Vâng.
 
Xe lao đi. Những kẻ hiếu kỳ đã kéo đến trước cửa ngôi nhà xảy ra án mạng. Bên biệt thự Diana cạnh đó, chú mèo vẫn ngồi đưa chân lên xoa mặt, đuôi lắc lư nhè nhẹ, nhìn mọi người bằng cặp mặt khinh khỉnh.
-       Đến Trung tâm Caverdish trước, rồi đến nhà bà giúp việc cho bà Pebmarsh. Thời gian có ít, ta đi từng nơi một theo thứ tự đó, - Thanh tra Hardcastle vừa nói vừa nhìn đồng hồ đeo tay. Đã hơn bốn giờ chiều rồi.
Sau một chút, anh ta nói:
-       Cô bé đẹp đấy chứ?
-       Rất đẹp, - tôi gật đầu.
Hardcastle nheo mắt nhìn tôi:
-       Cô ta kể cho chúng ta nghe một câu chuyện quái đản. Sau đây ta sẽ kiểm tra xem cô em nói đúng hay bịa.
-       Cậu cho rằng cô ta...
Hardcastle ngắt lời tôi:
-       Những người phát hiện ra xác chết bao giơ cũng làm mình phải quan tâm đặc biệt.
-       Nhưng lúc đó cô ta suýt ngất đi vì kinh hoàng kia mà? Cậu không nghe thấy tiếng rú của cô ta đấy...
Hardcastle lại nheo mắt chế giễu nhìn tôi, rồi nhắc lại rằng Sheila rất đẹp.
-       Mà mình chưa biết cậu đến cái phố Wilbraham Crescent kia làm cái khỉ gì đấy, Colin ạ? Hay cậu định thưởng thức nghệ thuật kiến trúc thời Nữ hoàng Victoria? Cậu có mục đích gì cụ thể không đấy?
-       Có, mình có một mục đích. Mình định tìm số nhà 61 nhưng không thấy. Hay không làm gì có số nhà ấy?
-       Có chứ. Theo mình nhớ thì phố ấy có đến số nhà 88 kia.
-       Hardcastle ạ, mình đi đến số nhà 19 thì cái cô Sheila kia lao ra, đâm bổ vào mình.
-       Phố ấy, người lạ tìm nhà rất khó. Muốn khỏi lạc, cậu phải đi dọc theo đại lộ Albany, theo dãy bên phải, rồi lại quặt sang phải lần nữa, cậu sẽ đến phần bên kia của phố Wilbraham Crescent. Các ngôi nhà ở phố này xây không theo hàng, quay lưng lại với nhau, nên số nhà không nối tiếp nhau như kiểu bây giờ. Cậu hiểu chưa nào?
-       Bây giờ thì hiểu. Cậu biết số nhà 61 là nhà ai không?
-       61 à? Khoan một chút. Chủ nhà tên là Bland, làm nghề thầu khoán.
-       Thật à? - tôi kêu lên. - Vậy thì mình chẳng cần đến đó.
-       Không phải cậu định tìm một tay thầu khoán chứ?
-       Bland à? Mình chưa nghe thấy cái tên ấy bao giờ. Mà ông ta... ông ta ở đấy lâu chưa?
-       Lão ta sinh trưởng ở thị trấn này. Làm nghề thầu khoán xây dựng từ lâu lắm rồi.
-       Cái nghề ngán ngẩm, - tôi nói.
-       Nhưng lão ta không phải loại thầu khoán khờ dại đâu, nói cho cậu biết, - Hardcastle nói với tôi giọng sôi nổi. - Lão chuyên mua vật liệu hạng bét, xây lên những ngôi nhà trông thì đẹp mã nhưng đổ lúc nào không biết. Lão giống như thằng cha biểu diễn môn thăng bằng trên dây ở rạp xiếc, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã gãy cổ, nhưng lão rất biết cách thoát nạn.
-       Mình đang cần thằng cha nào làm ăn đứng đắn, Hardcastle!
-       Lão Bland này vừa được thừa kế một tài sản kếch xù, lão hay có lẽ vợ lão cũng nên. Bà ta là người Canada, gặp lão trong thời gian chiến tranh. Gia đình bà ta phản đối, thậm chí cắt đứt mọi quan hệ. Nhưng năm ngoái, ông ngoại bà ta đột nhiên nghĩ lại. Chẳng là họ hàng chết sạch trong chiến tranh, chỉ còn lại đứa cháu gái, thế là cho bà ta hưởng thừa kế toàn bộ tài sản. Khoản tiền đến đúng lúc, bởi theo mình biết thì lão Bland đang sắp phá sản.
-       Cậu nắm tình hình lão Bland đó đầy đủ gớm nhỉ!
-       Có gì đâu. Mấy tay thuế vụ bao giờ cũng quan tâm đặc biệt đến những ai giàu lên nhanh, nghi những người ấy liệu có làm ăn phi pháp gì không. Nhưng khi bị thuế vụ sờ đến, lão Bland này xuất trình đầy đủ các giấy tờ, và thế là yên.
Tôi nói:
-       Mình thì không bao giờ quan tâm đến những kẻ đột nhiên giàu lên.
-       Đến nơi rồi. - Hardcastle nói và thò hẳn đầu ra cửa sổ ô tô, ngó nhìn.
Nằm trên một phố vào loại buôn bán sầm uất nhất thị trấn, được gọi một cách huynh hoang là phố “Lém đài”, Trung tâm Caverdish, được đặt trong một tòa nhà kiểu thời Nữ hoàng Victoria, nay được tân trang lại.


Lên hết bốn bậc thang, Hardcastle và tôi đứng trước một cánh cửa lớn, trên đóng tấm biển nhỏ đề “Mời vào, không cần gõ cửa”. Đẩy cửa bước vào, chúng tôi đến một gian phòng rộng có ba nữ nhân viên đang chăm chỉ gõ máy chữ. Hai cô không chú ý đến chúng tôi, vẫn điềm nhiên gõ máy. Nhưng cô nhân viên thứ ba, ngồi cạnh máy điện thoại, thì ngừng tay, ngước nhìn chúng tôi vẻ dò hỏi. Cô ta đồng thời cũng ngưng nhai kẹo, hỏi bằng giọng mũi:
-       Hai ông cần gì ạ?
Hardcastle đáp:
-       Chúng tôi cần gặp bà Martindale.
-       Tôi e bà Giám đốc đang bận nói chuyện điện thoại.
Đúng lúc đó, một tiếng “tích”. Cô nhân viên nhấc ống nghe, ấn vào một phím, nói:
-       Thưa bà Giám đốc, có hai ông khách muốn gặp bà, - Cô ta ngước nhìn chúng tôi, hỏi. - Xin hai ông cho biết quý danh.
-       Hardcastle!
-       Ông Hardcastle, thưa bà Martindale! - rồi cô ta đặt máy xuống. - Mời hai ông vào lối này.


Cô ta dẫn tôi và Hardcastle vào phòng giấy của Giám đốc Trung tâm Caverdish.


Bà ta nhìn lần lượt từng chúng tôi, hỏi:
-       Xin cho biết, ông nào là Hardcastle?


Hardcastle chìa ra một trong những tấm danh thiếp của anh ta. Còn tôi, ngồi tránh sang một bên, sát góc phòng.


Cặp lông mày mầu hung của bà Martindale nhíu lại, vừa ngạc nhiên, vừa khó chịu.
-       Ông cần gì, thưa ông thanh tra?
-       Vài thông tin nhỏ, thưa bà Martindale.
Nghe cách anh ta nói, tôi hiểu rằng Hardcastle đang dùng thủ pháp duyên dáng, nhã nhặn, kiểu tấn công tạt sườn khiến đối phương không đề phòng. Liệu bà Giám đốic Trung tâm này có nhận ra không? Tôi không tin là bà ta nhận ra. Tuy nhiên, Hardcastle bắt đầu hỏi:
-       Theo tôi biết thì hình như bà có một cô gái làm công tên là Sheila Webb?
-       Vâng, đúng thế. Đáng tiếc là lúc này cô ấy không có ở đây. Cô ấy có việc phải đến phục vụ tại nhà một khách hàng từ lúc trưa. Giờ này đúng ra cô ấy phải đã làm xong và về đây. Bởi cô ấy còn phải đến làm cho một khách hàng nữa tại khách sạn Curlew, vào 5 giờ chiều nay.
-       Xin bà cho biết sơ qua về cô ấy.
-       Quả thật tôi cũng chỉ biết những nét lớn. Cô Sheila làm ở đây đã được... - bà suy nghĩ. - chừng một năm. Cô ấy làm việc tốt, và tôi hài lòng về cô ấy.
-       Bà biết, trước khi đến làm ở đây, cô ấy làm ở đâu không?
-       Nếu ông thanh tra muốn biết đầy đủ về lý lịch Sheila, tôi có thể đưa ông bản tự khai của cô ấy trong hồ sơ nhân sự. Theo tôi nhớ thì Sheila đã làm cho một văn phòng ở thủ đô London, và nơi đó có những nhận xét rất tốt về cô ấy. Nếu tôi không lầm thì đó là một văn phòng bất động sản.
-       Bà nhận thấy cô ấy rất có năng lực?
-       Đúng thế, - bà Martindale nói, tuy trông bà ta không có vẻ loại người thích khen ai. - Cô ấy đánh máy chữ nhanh với một tốc độ khó hình dung nổi, và còn tỏ ra là người có trình độ kiến thức rộng. Sheila là một thư ký đánh máy có trình độ cao và rất tận tụy với công việc.
-       Ngoài giờ làm việc, bà có tiếp xúc với cô ấy trong cuộc sống thường ngày không?
-       Không, thưa ông. Hình như Sheila sống với bà dì... - bà Martindale tỏ vẻ sốt ruột. - Thưa ông thanh tra, ông có thể cho tôi biết mục đích ông hỏi tôi những câu vừa rồi không? Cô nhân viên của tôi có làm điều gì vi phạm luật pháp không?
-       Không đâu, thưa bà Martindale, không hẳn là như thế đâu. Bà có biết một bà tên là Pebmarsh không?
-       Pebmarsh à? - bà Giám đốc nhăn trán cố nghĩ.
-       Có đấy. Vị khách Sheila đến làm lúc ba giờ trưa nay chính là bà Pebmarsh.
-       Thưa bà Giám đốic, bà khách đó đã yêu cầu trung tâm bằng cách nào?
-       Bà Pebmarsh gọi điện thoại đến đây. Bà ấy nói cần một thư ký đánh máy, và yêu cầu tôi cử cô Sheila đến giúp bà ấy.
-       Bà Pebmarsh nêu đích danh cô Sheila?
-       Vâng, đúng thế.
-       Bà Pebmarsh gọi điện đến cho bà lúc mấy giờ?
Bà Martindale cố nhớ lại, đáp:
-       Lúc đó tôi không ngồi ỏ phòng giấy. Tôi đang ăn trưa. Vậy thì có thể là lúc một giờ năm mươi. Đúng đấy, một giờ năm mươi. Tôi không dám quả quyết, nhưng tôi nhớ chắc chắn rằng chưa đến hai giờ. Đây, tôi có ghi trong sổ: thật chính xác thì là 13 giờ 49 phút.
-       Bà Pebmarsh trực tiếp nói với bà chứ?
-       Vâng, - bà Giám đốc trung tâm hơi ngạc nhiên.
-       Vậy khi nghe, bà có nhận ra dễ dàng giọng nói của bà khách ấy không? Bà có quen bà Pebmarsh chứ?
-       Không, bởi bà khách chỉ nói mấy câu, xưng tên là Pebmarsh, cho biết số nhà, rồi yêu cầu tôi cử cô Sheila Webb đến vào ba giờ chiều, nếu cô ấy rảnh thời gian đó.


Tôi thầm nghĩ, vậy là sự việc đã rõ ràng, và bà Martindale này có thể làm một nhân chứng tuyệt vời.


Bà Martindale hơi có vẻ khó chịu một chút hỏi.
-       Tôi rất muốn biết tất cả những chuyện đó có nghĩa là sao vậy?
-       Chẳng là bà Pebmarsh nói với chúng tôi rằng bà ấy không hề gọi điện đến Trung tâm Caverdish.
Bà Martindale sửng sốt:
-       Sao lại có thể như thế được?
-       Trái lại, bà thì lại bảo người ta có gọi đến, nhưng bà không dám cả quyết người gọi chính là bà Pebmarsh.
-       Đúng thế, bởi tôi có quen bà Pebmarsh ấy đâu? Nhưng tôi chưa hiểu, nếu không phải bà Pebmarsh, thì người xưng tên Pebmarsh là ai, và tại sao bà ta phải làm cái trò ấy? Định trêu tôi chắc?
-       Tôi e không phải chuyện đùa giỡn, - Hardcastle nói. - Bà Pebmarsh, hoặc ai khác đó, có nói tại sao bà ta cần đích danh cô Sheila không?
-       Hình như cô Sheila đã có lần làm việc với bà ấy.
-       Có đúng như vậy không?
-       Cô Sheila thì không nhớ, nhưng theo tôi chuyện ấy không quan trọng, thưa ông thanh tra. Các cô nhân viên này làm việc cho rất nhiều khách hàng, đến rất nhiều nơi, làm sao nhớ hết được? Nhưng thưa ông thanh tra, giả sử như đây chỉ là câu chuyện đùa giỡn, thì tại sao ông phải cất công đến đây hỏi tôi?
-       Bây giờ tôi xin nói rõ. Lúc cô Sheila đến số nhà 19 phố Crescent, cô ấy đã tự tiện vào nhà rồi sang phòng khách, theo đúng lời bà căn dặn, đấy là cô ấy nói với tôi. Bà công nhận có dặn cô ấy làm như thế chứ?
-       Tôi hoàn toàn công nhận là có dặn cô ấy như thế. Bà Pebmarsh báo trước rằng lúc cô Sheila đến, rất có thể bà ấy ra ngoài một lát, nhưng bà ấy không khóa cửa để cô Sheila có thể vào nhà, ngồi đợi bà ấy trong nhà.
-       Tại phòng khách, - Hardcastle nói chen vào, cô Sheila đã nhìn thấy một ngưòi đàn ông nằm chết trên sàn.


Bà Martindale lộ vẻ kinh hoàng. Lát sau bà mới thốt lên được:
-       Ông nói sao, thưa ông thanh tra? Một ngưòi chết?
-       Đúng ra là bị giết, - Hardcastle chữa. - Bị đâm bằng dao.
-       Ôi, lạy Chúa! Tội nghiệp cô bé!
-       Bà có biết người nào tên là Curry không, thưa bà Martindale? H.R.Curry.
-       Không. Tôi không nghe thấy cái tên ấy bao giờ.


Lại một lời phủ định nữa của bà Martindale, và trên nét mặt bà ta không biểu lộ điều gì hết.


Hardcastle thở dài, đứng dậy cáo từ.
-       Bà có một doanh nghiệp nhỏ rất dễ thương. Bà mở trung tâm này lâu chưa?
-       Đã được mười lăm năm rồi. Doanh thu rất khá. Vốn bỏ ra ban đầu không đáng là bao, vậy mà hiện giờ tôi đã có tám cô nhân viên, và công việc thì không lúc nào thiếu.
-       Hình như Trung tâm của bà chuyên phục vụ giới nhà văn? -Hardcastle nói, nhìn những tấm ảnh chụp treo trên tường.
-       Vâng. Chẳng là trước khi mở Trung tâm này, tôi làm thư ký cho nhà văn nổi tiếng, chuyên viết truyện hình sự, ông Garry Gregson. Thú thật là chính nhờ một khoản tiền của ông Gregson, mà tôi có thể mở được Trung tâm này. Rất nhiều bạn đồng nghiệp của ông ấy đã giúp đỡ tôi. Nhờ có đôi chút kiến thức về kỹ thuật viết văn nên tôi phục vụ được các nhà văn ấy rất chu đáo. Tôi còn cung cấp cho các nhà văn đó rất nhiều thông tin họ cần thiết: các ngày tháng, các trích dẫn, các quy định về thủ tục tố tụng, các thứ thuốc độc, rồi cả những chi tiết về địa lý, thí dụ tên các khách sạn, nhà hàng, tên các phố ở nước ngoài. Bởi độc giả ngày hôm nay không rụt rè như xưa kia, bây giờ thấy tác giả có sai sót là họ kêu ca ầm lên ngay.


Lúc Hardcastle đi ra cửa, tôi mở cánh cửa cho anh ta. Ba cô nhân viên đã đang chuẩn bị đi về. Trong phòng tiếp khách, cô Edna đứng buồn bã, tay vung vẩy chiếc gót giầy bị gãy rời ra, tay kia cầm chiếc giầy không gót. Cô ta than vãn. “Giầy mới mua được một tháng. Mà khá đắt kia chứ. Chỉ tại cái nắp cống khốn kiếp cửa hiệu bánh góc phố. Từ lúc ấy, tôi không đi được nữa. Tôi phải tháo giầy ra đi chân không, ôm gói bánh sừng bò về đây. Bây giờ làm sao mà ra được đến bên xe buýt đây?...”


Đúng lúc đó, cô ta nhìn thấy hai chúng tôi. Cô vội giấu chiếc giầy khôn khổ rồi đưa mắt liếc nhìn bà Giám đốc Martindale.
-       Cảm ơn bà, thưa bà Martindale, Hardcastle nói. - Nếu bà nảy thêm ra ý gì nữa...
-       Tất nhiên rồi, - bà Martindale vội vã nói.
Lúc lên xe ô tô, tôi bảo Hardcastle:
-       Vậy là bao nghi ngờ của cậu là cô Sheila nói dối đã tan biến hết rồi chứ gì?
-       Đồng ý, đồng ý, - Hardcastle nói. - Cậu nói đúng.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương Năm




-       Mẹ ơi! - Cậu bé Ernie hét lên, ngưng lại trò chơi với chiếc đồ chơi bằng kim loại, tạo nên những tiếng rú như tên lửa đang bay về phía Sao Kim. - Mẹ kìa! Có chuyện gì ấy!
Bà Curtin không đáp, vẻ mặt vẫn nghiêm nghị như mọi khi, tiếp tục rửa bát đĩa.
-       Mẹ! Xe cảnh sát đỗ ngay trước cửa nhà mình kìa!
-       Làm gì mà kêu ầm lên thế! - bà vẫn tiếp tục rửa và xếp những chiếc đĩa lên trạn. - Để yên mẹ làm việc.
-       Con không nói dối đâu, - cậu bé phụng phịu. - Xe cảnh sát thật mà! Có cả hai chú cảnh sát bước trong xe ra.
Bà Curtin quay phắt lại phía cậu con trai:
-       Nhà mình có làm gì đâu mà cảnh sát đến?
-       Đúng thế, - cậu bé Ernie nói. - Con không làm gì cả.
-       Chắc họ sang bên nhà ông Alf đấy, - bà Curtin nói. - Nhà ấy lúc nào cũng tụ tập toàn bọn mặt mũi gớm ghiếc. Mẹ đã bảo, mà bố con cũng bảo, chúng toàn là bọn tội phạm. Rồi thế nào cũng đến lúc. Chẳng sai chút nào.
-       Hai chú cảnh sát ấy đến cửa nhà mình, - cậu bé báo tin.
Bà Curtin ra chỗ cửa nhìn ra, bên cạnh cậu con trai. “Mà đúng thế thật” - bà lẩm bẩm.
Đúng lúc đó có tiếng gõ cửa. Sau khi lau tay thật kỹ vào tấm khăn, bà Curtin ra mở cửa. Vẻ mặt khó chịu bà chăm chú nhìn hai ngưòi đàn ông đang bước vào.
-       Bà là bà Curtin? - người cao lớn hỏi.
-       Vâng, chính tôi, - bà Curtin đáp.
-       Tôi là thanh tra cảnh sát Hardcastle. Tôi muốn gặp bà một chút, được không?
Vẫn vẻ mặt cau có, bà Curtin tránh sang một bên nhường chỗ cho hai vị khách vào một căn phòng hẹp nhưng sạch sẽ ngăn nắp, gợi người ta đoán thấy là rất ít khi có khách vào đây.
-       Đây là con trai bà? - viên thanh tra nhã nhặn hỏi.
-       Vâng, - Bà Curtin đáp, rồi với giọng đáo để nói thêm. - Trông nó thế, nhưng ngoan lắm đấy.
-       Tôi cũng tin là như thế, - Thanh tra Hardcastle cười, nói.
Dần dần bà Curtin đã bớt vẻ nghi ngại.
-       Tôi muốn hỏi bà vài câu về số nhà 19 phố Wilbraham Crescent. Bà giúp việc nhà ấy phải không?
-       Đúng thế, - Vẻ nghi ngại lại hiện lên trên mặt bà làm công.
-       Bà giúp việc cho bà Pebmarsh?
-       Phải. Tôi làm thuê cho bà ấy. Một bà chủ rất hiền.
-       Bà ấy lòa, - Hardcastle nói.
-       Đúng thế. Tội nghiệp bà chủ. Nhưng bà ấy đi lại trong nhà chẳng ra người hỏng mắt chút nào. Thật kỳ lạ. Rồi ra ngoài đường nữa chứ, sang đường không cần ai dắt.
-       Bà đến đó làm các buổi sáng phải không?
-       Đúng thế. Tôi đến đấy vào mười giờ kém mười lăm, về lúc mười hai giờ.
Rồi vẫn giọng cấm cẩu ấy bà nói thêm:
-       Bà ấy mất trộm gì phải không?
-       Trái lại thì có, - Viên thanh tra nghĩ đến những chiếc đồng hồ.
-       Vậy thì bà ấy có chuyện gì?
-       Trưa nay, người ta thấy có một người chết, trong phòng khách nhà bà Pebmarsh.
Bà Curtin há hốc miệng. Cậu bé Ernie thì lộ vẻ khoái trá. Cậu há miệng định reo lên một tiếng gì đó thích thú, nhưng vội ngậm miệng lại ngay, không dám. Mẹ cậu vừa bảo cậu ngoan kia mà! Mà ngoan nghĩa là không bắt ai phải chú ý đến mình.
-       Một người chết? - bà Curtin nói, vẫn chưa tin.
-       Đúng thế. Ông ta bị kẻ nào đó đâm.
-       Vậy theo ông thì là án mạng?
-       Đúng, một vụ án mạng.
-       Thủ phạm là kẻ nào?
-       Đáng tiếc là hiện chúng tôi chưa biết. Chúng tôi hy vọng bà có thể giúp được chúng tôi tìm ra hung thủ.
-       Làm sao tôi biết được? - Bà Curtin sẵng giọng đáp.
-       Nhưng có một vài điều làm chúng tôi chú ý. Thí dụ sáng nay lúc bà ở đấy, bà có thấy ai bấm chuông gọi cửa không?
-       Theo tôi nhớ thì không. Hôm nay không có ai bấm chuông gọi cửa. Người chết trông giống như thế nào?
-       Một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi, mặc bộ âu phục sang trọng, màu thẫm. Trông ông ta giống như loại nhân viên hãng bảo hiểm.
-       Thế thì nếu có bấm chuông tôi cũng không cho vào, - bà Curtin nói. - Tôi không dính dáng gì đến bảo hiểm, bảo vật, bảo bối gì hết. Bà chủ Pebmarsh tôi cũng vậy, chẳng bao giờ tiếp những loại người như thế.
-       Theo tấm danh thiếp trong ví, thì ông ta tên là Curry. Bà đã bao giờ nghe thấy cái tên ấy chưa?
-       Curry à? Curry... - Bà Curtin lắc đầu. - Mà ai nhìn thấy ông ta? Bà Pebmarsh hay sao?
-       Không, một cô thư ký đánh máy trẻ tuổi. Do một sự hiểu lầm nào đó, cô ấy tưởng bà Pebmarsh cần đến cô ấy đánh máy cho. Chính cô ấy đã phát hiện ra xác chết. Liền sau đó, bà Pebmarsh về.
-       Đúng là câu chuyện khủng khiếp! - Bà Curtin thở dài. - Khủng khiếp!
-       Có khi chúng tôi sẽ phải mời bà đến xem xác chết, - viên thanh tra nói, - để bà cho biết ông ta đã có lần nào đến phố Wilbraham Crescent chưa. Bà Pebmarsh thì bảo là chưa. Còn một việc nữa, là bà nhớ lại giúp, trong phòng khách của bà Pebmarsh có mấy chiếc đồng hồ?
Không ngập ngừng, bà Curtin nói ngay:
-       Hai chiếc. Một chiếc lớn treo trong góc phòng, và một chiếc nhỏ treo gần cửa, cứ đến giờ có một con chim thò cổ ra hót. Có lần nó làm tôi giật bắn mình đấy. Nhưng tôi không hề đụng đến những chiếc đồng hồ ấy, - bà ta vội nói. - không bao giờ tôi đụng đến chúng. Bà chủ tự lên dây cót lấy.
-       Mấy chiếc đồng hồ nguyên vẹn, không bị sao. Nhưng bà tin chắc là trong phòng khách không có thêm chiếc đồng hồ nào nữa chứ, lúc sáng nay ấy?
-       Tất nhiên rồi. Vậy ông bảo lại còn có thêm chiếc đồng hồ nào nữa chăng? Nghe ông hỏi mà buồn cười.
-       Thí dụ, một chiếc đồng hồ báo thức nhỏ bằng sứ chẳng hạn? Hoặc một chiếc đồng hồ nhỏ góc bọc da, có nạm vàng chữ “Rosemary”?
-       Không! Mà đồng hồ sao lại bằng sứ? Lại còn bọc da nữa?
-       Nghĩa là nếu có, hẳn bà đã nhìn thấy, đúng vậy không?
-       Tất nhiên là tôi phải nhìn thấy.
-       Bà có thể cho chúng tôi biết, lúc bà ra khỏi nhà, chính xác là mấy giờ?
-       Mười hai giờ mười lăm phút, nếu có sai thì chỉ sai một phút là cùng, - bà Curtin đáp.
-       Lúc ấy, bà Pebmarsh đã về chưa?
-       Chưa. Thông thường và chủ đi làm về trong khoảng giữa mười hai giờ và mười hai rưỡi, tùy hôm.
-       Bà Pebmarsh đi làm lúc mấy giờ?
-       Lúc tôi đến thì bà chủ đi rồi. Mà tôi đến lúc mười giờ.
-       Cảm ơn bà, thưa bà Curtin.
-       Lạ thật! Sao lại có những cái đồng hồ kia nhỉ? Hay bà chủ mới mua của ai?
-       Bà Pebmarsh có hay mua các thứ bầy biện ấy không?
-       Cách đây bốn tháng bà chủ có mua một tấm thảm trải chân giường bằng da dê. Không đắt và vẫn còn mới. Rồi một bộ rèm cửa bằng nhung nữa. Dài quá, bà chủ phải cắt ngắn đấy.
-       Nhưng nói chung, bà Pebmarsh có hay mua các thứ đồ chơi không? Bức họa, đồ mỹ nghệ bằng men sứ chẳng hạn?
-       Theo tôi biết thì không, - bà Curtin đáp. - Nhưng chuyện đó khó có thể biết lắm, bởi chẳng hạn bỗng có người bán rẻ thứ gì đó và ta thấy tiếc, mua về rồi mới ân hận. Tôi cũng có lần dại dột như thế. Một lần tôi vác sáu lọ mứt về, đến nhà nghĩ ra mới thấy mình ngu, thứ mứt này làm lấy vừa ngon vừa rẻ hơn nhiều. Có lần thấy bộ đĩa hay hay, mua về rồi cũng lại ân hận.
Thấy không thể khai thác gì hơn, viên thanh tra chào rồi ra.
-       Một vụ án mạng! - Cậu bé Ernie reo lên thích thú. Cậu bé đã chăm chú nghe toàn bộ câu chuyện giữa bà mẹ với hai chú cảnh sát. - Có khi là bà Pebmarsh giết đấy? - Cậu háo hức hỏi mẹ.
-       Nói bậy! - bà mẹ mắng. Rồi bỗng như sực nghĩ ra. - Lẽ ra mình phải kể cho ông cảnh sát cái chuyện hôm ấy...
-       Chuyện gì, mẹ?
-       Không phải việc của mày, - bà Curtin mắng con. - Chuyện vặt thôi.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương Sáu
 
 LỜI KỂ CỬA COLIN
 
 
Hôm ấy tôi và Hardcastle ngồi ăn món thịt bò rán tái, uống với bia, anh ta thở một hơi dài khoan khoái, nói rằng anh ta thấy trong người hết sức dễ chịu.
-       Quẳng những lão nhân viên bảo hiểm đi, những chiếc đồng hồ treo tương quái quỷ, và cả mấy cô gái nửa điên nửa khùng ấy đi! Colin này, mình cứ nghĩ cậu làm nghề sinh học biển, lẽ ra lúc này cậu được lang thang trên những bờ biển xa lắc, vậy mà bây giờ cậu chúi mũi ở cái thị trấn Crowdean bụi bậm này. Theo mình hiểu thì nơi này chẳng có gì hay ho cho một nhà nghiên cứu sinh học biển như cậu.
-       Thôi đi, anh bạn! Cậu đừng trêu chọc mình nữa. Sinh học biển là một nghề hết sức có ích. Làm cái nghề ấy không bao giò phải tìm lới giải đáp cho những kẻ lắm chuyện. Cậu hiểu chưa?
-       Vậy tại sao cậu lại dính vào những chuyện này?
Tôi bực mình đáp:
-       Cậu quên rằng mình đã giật được tấm bằng của trưòng Đại học Cambridge, tuy không phải hạng ưu, nhưng cũng vấn là một tấm bằng tốt nghiệp. Môn sinh học biển. Cậu yên tâm, nhất định sẽ có ngày mình quay lại cái nghề ấy.
-       Mình tin chứ. Có điều hiện giờ cậu lại bỏ rơi nó. Mình có theo dõi công việc của cậu đấy chứ. Xin tỏ lời khen cậu về vụ thằng cha Larkin. Hình như tháng tới sẽ xử phải không nhỉ?
-       Đúng thế.
-       Phải công nhận thằng cha ranh ma. Cái cách hắn chuyển tài liệu thật tài tình. Bao nhiêu lâu mà không bị phát hiện. Không một lần nào, đúng thế không nhỉ?
-       Đúng thế, Một lần người ta tóm một thằng, nhưng lại tóm sai. Cuối cùng vẫn chưa tìm ra được thủ phạm chính thức.
-       Phải công nhận hắn rất ranh ma, ranh ma đến mức quái đản. - Hardcastle nói.
-       Không đến nỗi như thế đâu. Chỉ đơn giản là hắn thi hành mệnh lệnh của người khác. Hắn có điều kiện được tự do tiếp cận với những tài liệu tối mật, thế là hắn lén lút đem ra ngoài, thuê người chụp lại, rồi đem bản gốc đặt vào chỗ cũ. Hắn làm rất khéo. Mỗi hôm hắn đi ăn trưa ở một nhà hàng khác nhau. Lúc gửi áo ngoài, hắn treo bên cạnh một cái áo giống hệt như áo hắn, nhưng của người khác. Lúc ăn xong, đi ra, hắn chỉ cần lấy chiếc áo bên cạnh, để áo của hắn cho tên đồng bọn mặc. Hai đứa không cần nói với nhau một câu, vậy mà chuyển xong được tài liệu cho nhau. Cách chuyển tài liệu đó nghe tưởng đơn giản, nhưng phải chính xác đến từng giây đồng hồ. Muốn dùng cái trò đó phải có một khối óc cực kỳ thông minh. Mình đang tìm hiểu mạng lưới tổ chức của bọn chúng.
-       Hẳn nào mình thấy cậu vẫn lang thang ngoài cảng Portlebury.
-       Đúng thế. Cậu thừa biết tại khu vực này có hai điểm mấu chốt: Cảng Portlebury và thủ đô London. Bọn mình đã biết nơi thằng cha Larkin nhận tiền thù lao rồi. Đó là một vị trí nằm giữa hai điểm ấy. Nhưng hiện nay vẫn còn một đầu mối bọn mình chưa tìm ra. Mà đây mới là khâu chính yếu. Mọi mệnh lệnh là từ khâu đó phát ra. Nói cách khác, còn một điểm X, mọi mưu mô đánh lạc hướng đều từ đó mà ra. Không phải chỉ một lần, mà chúng sử dụng ít ra cũng bảy tám lần rồi.
-       Nhưng tại sao thằng cha Larkin nhận làm cái trò ấy? - Hardcastle tò mò hỏi. - Hắn có lý tưởng nào không? Hay hắn thích mạo hiểm? Hay vì tiền?
-       Thằng cha ấy làm gì có lý tưởng, - tôi đáp. - Hắn chỉ vì tiền, có vậy thôi.
-       Thế thì tại sao các cậu không phát hiện ra được nó sớm hơn? Có tiền, tất hắn phải tiêu sài chứ? Hay hắn kiếm tiền để dành?
-       Không đâu. Hắn tiêu như phá. Vì thế bọn mình đã chú ý đến hắn từ lâu rồi, nhưng vẫn tiếp tục theo dõi, không để hắn biết.
Hardcastle gật đầu:
-       Mình hiểu. Cậu tìm ra được hắn, nhưng vẫn để hắn tiếp tục một thời gian, đúng thế không?
-       Đúng một phần. Hắn đã chuyển được một số tài liệu tối mật, nhưng từ khi mình khám phá ra, bọn mình vẫn để hắn tiếp tục, hắn đinh ninh những tài liệu sau này là quý, thật ra chỉ là tài liệu vớ vẩn. Bên chỗ mình rất hay dùng phương pháp đó: để cho thủ phạm yên tâm là chưa bị phát hiện... tiếp tục hoạt động. Khi đó ta mới theo dõi, tìm ra mạng lưới tổ chức của chúng.
Hardcastle trầm ngâm nói:
-       Loại công việc như của cậu, mình không thú tí nào, Colin!
-       Tất nhiên là không hấp dẫn như nhiều người tưởng, - tôi nói. - Thậm chí nhiều lúc rất đơn điệu ấy chứ.
Hardcastle chăm chú nhìn tôi.
-       Cậu lảng vảng ỏ Cảng Portlebury thì mình hiểu được. Nhưng tại sao cậu lại lảng vảng ở đây, tại cái thị trấn Crowdean này? Cách xa đó đến chục dặm ấy chứ.
-       Để tìm những cái lưỡi liềm.
-       Lưỡi liềm?
-       Đúng thế. Nói chính xác hơn, thì là những vầng trăng lưỡi liềm. Thoạt đầu mình tìm ở cảng Portlebury. Tại đấy có một nhà hàng tên là Trăng Lưỡi Liềm! Mình đã bỏ ra bao nhiêu công sức, vậy mà công cốc. Rồi mình mò đến các nhà hàng, quán rượu nào có tên dính đến trăng lưõi liềm, thí dụ các nhà hàng Trăng và Sao, Trăng tròn, v.v. vẫn chẳng thấy gì. Mất bao nhiêu công, bởi ngoài Cảng rất nhiều nơi có tên dính líu đến mặt trăng. '
Thấy bộ mặt ngơ ngác của Hardcastle, tôi phá lên cười. Anh ta chưa hiểu tại sao tôi lại nói đến" Lưỡi Liềm”, đến “Mặt Trăng” ở đây.
Tôi bèn mở cặp, lấy ra một tờ giấy viết thư có tiêu đề của một khách sạn, chìa cho anh ta xem. Trên tờ giấy vẽ một hình rất to như sau:



Khách sạn
BARRINGTON
LONDON - Quận Tây
 
 -       Mình thấy mảnh giấy này trong chiếc cặp của Hangury, một cậu trinh sát loại cực kỳ thông minh và năng nổ. Cậu ta bị một xe ô tô húc, nhưng không kịp nhìn rõ biển số của nó. Thú thật, hình vẽ kia làm mình rất băn khoăn, không hiểu thế nghĩa là sao. Hình này do cậu Hangury vẽ ra hay chép lại được ở đâu, và có nghĩa gì? Rõ ràng là một chi tiết cậu ta nghe được hay nhìn thấy. Dù sao thì mình cũng lò mò nhận ra: đó là hình một mặt trăng lưỡi liềm với chữ “W” và một con số “61”. Bây giờ cậu ta đã chết, mình thay chân cậu ta, đảm nhiệm một khu phố của cảng Portleburyế
“Tuy chưa biết phải tìm ở đâu, nhưng mình cứ dò dẫm. Tại đây chỉ có một Trăng Lưỡi Liềm, đó là phố Crescent, cũng tức là phốTrăng Lưỡi Liềm. Phố này lại là Wilbraham Crescent, rất ứng với chữ “W” và hình mặt trăng lưỡi liềm. Còn “61” mình đoán là số nhà. Nhưng cậu thấy đấy, trưa nay mình đi tìm số nhà 61, nhưng chưa thấy, đã bị cô gái xinh đẹp kia đâm bổ vào, và phải gọi điện cho cậu.
-       Mình đã nói với cậu rồi, số nhà 61 là nhà của một tay thầu khoán xây dựng.
-       Mình chẳng quan tâm đến giới thầu khoán. Nhưng lão có cô giúp việc người nước ngoài nào không?
-       Rất có thể có. Thời nay, thuê ngưòi giúp việc nước ngoài là chuyện bình thường. Dù sao, chắc cô ta phải đăng ký chỗ mình. Để sáng mai mình xem lại sổ đăng ký cư trú rồi báo cho cậu.
-       Tốt quá.
-       Mặt khác, theo đúng trình tự làm việc, bọn mình sẽ phải thẩm vấn tất cả những ngưòi cư trú trong các nhà bên cạnh nhà Số 19. Mình sẽ phải thẩm vấn những người trong ngôi nhà liền phía sau nhà 19, mà hình như đấy lại đúng là nhà số 61 cậu đang cần tìm. Nếu thích, cậu có thể đi cùng với mình.


Tất nhiên là tôi thích rồi. Hai chúng tôi hẹn gặp nhau vào chín giờ sáng mai, tại đồn cảnh sát.


Đúng giờ, tôi đến, thấy anh bạn Hardcastle đang giận dữ quát tháo với một nhân viên dưới quyền. Sau khi anh ta tống cổ cậu kia ra rồi, tôi bèn dè dặt hỏi xem đã có chuyện gì vậy.
Lúc đầu Hardcastle im lặng, rồi như không ghìm được nữa, hét lên:
-       Mấy cái đồng hồ khôn kiếp!
-       Lại vẫn chuyện đồng hồ? Nhưng chúng làm sao?
-       Mất một chiếc.

-       Chiếc nào?
-       Chiếc đồng hồ báo thức nhỏ bọc da, có chữ “Rosemary”.
-       Lạ đấy! Nhưng đầu đuôi thế nào?
-       Bọn ngu xuẩn! Mà cả mình cũng ngu nữa! - Hardcastle nói thêm một cách khách quan. Lẽ ra mình phải kiểm tra kỹ lưỡng. Hôm qua, bốn chiếc đồng hồ ấy vẫn trong phòng khách. Thậm chí mình đã yêu cầu bà Pebmarsh kiểm tra kỹ càng từng chiếc. Sau đấy, xe đến lấy thi thể nạn nhân đi.
-       Sau đó?
-       Sau đó, mình bảo cậu Edward đóng gói cẩn thận, rồi cho đưa về đây. Tất cả bốn chiếc, chỉ chừa ra hai chiếc của bà chủ là chiếc to tướng treo trên tưòng ở góc phòng và chiếc có con chim họa mi treo ngoài gần cửa. Thằng cha Edward cam đoan với mình là mệnh lệnh đã được thi hành chu đáo. Vậy mà bây giờ kiểm tra lại, chỉ thấy có ba chiếc.
-       Mình e hôm qua họ làm vội vã quá, - tôi nói. - Rất có thể...
-       Là bà Pebmarsh đã kịp làm cái trò giấu biến vào bếp chiếc đồng hồ kia chứ gì, lúc mình chạy ra ngoài.
-       Có thể. Nhưng bà ta giấu để làm gì?
-       Hiện chúng ta chưa thể biết. Nhưng cậu xem, ngoài bà ta, còn ai có thể đã giấu biến chiếc đồng hồ đó đi?... Hay cô thư ký đánh máy kia?
-       Mình không nghĩ là cô ấy, - sau một chút suy nghĩ, tôi nói.
Rồi đột nhiên tôi sực nghĩ ra một điều, vội im bặt.
-       Vậy thì đúng là cô ta, - Hardcastle nói. - Cậu nói tiếp đi. Nếu cô ta lấy thì lấy vào lúc nào?
-       Lúc chúng ta ra xe cảnh sát, - tôi rầu rĩ nói. - Cô ấy bảo quên găng tay, bèn chạy vào nhà lấy. Cậu nhớ không? Mình bảo để mình vào lấy cho, cô ta không chịu, tự vào, lấy cớ cô ta biết đôi găng tay ấy để ở chỗ nào. Cô ta chỉ vào có một giây đồng hồ,
      Tôi đưa ra nhận xét.
-       Lúc cô ta ra, cậu có nhìn thấy đôi găng tay không? - Hardcastle hỏi.
-       Có... hình như thế, - tôi đáp ngập ngừng.
-       Cậu không nhìn thấy cô ta cầm găng tay đâu.
-       Hardcastle nói giọng khẳng định. - Bởi chính cậu trả lời cũng không quả quyết kia mà.
-       Thế lỡ cô ấy nhét găng tay vào xắc thì sao? - tôi cãi.
-       Thôi đi! - Hardcastle cau mặt nói. - Vậy là cậu mê cô ta rồi, cho nên cố cãi cho cô ta.
-       Đừng nói bậy! - tôi nói. - Mình mới gặp cô ta ngày hôm qua, đã mê thế nào được?
-       Được quá đi ấy chứ! Đâu phải chuyện giống như mọi ngày, khi một cô gái xinh đẹp đâm bổ vào một gã trai trẻ rồi kêu ầm lên, cứu em với. Chỉ cần như thế là cậu trai kia bỗng thấy mình là một người hùng, giơ bàn tay hào hiệp ra che chở một cô gái yếu đuối. Nhưng mình khuyên cậu đừng dính với cô ta. Biết đâu, lỡ cô ta là hung thủ trong vụ án mạng này thì sao?
-       Cậu cho là cô gái đó đã đâm dao vào người đàn ông kia? Cô ta giấu con dao kín đến nỗi ngần ấy trinh sát tài ba của cậu không tìm ra được? -Rồi cô ta đóng màn kịch lao ra đường, đâm bổ vào mình chăng?
-       Cậu không biết, loại nghề nghiệp của mình đòi hỏi mình phải đa nghi đến mức nào đâu. - Hardcastle rầu rĩ nói.
Tôi nổi cáu:
-       Vậy cậu không biết mình làm nghề gì hay sao? Mình suốt ngày lăn lộn giữa những tên gián điệp lão luyện, trong đó không thiếu gì những nữ điệp viên đẹp như mộng! Những đứa con gái lịch duyệt, khôn ngoan đến mức không từ một thủ đoạn nào. Chúng đóng mọi màn kịch với trình độ của các nghệ sĩ trứ danh! Hardcastle, cậu hãy tin rằng mình đã được tiêm vắc xin phòng chông mọi thứ phụ nữ trên đời, bất kể xinh đẹp, kiều diễm đến đâu.
-       Vấn đề chưa phải chuyện đẹp hay xấu, mà là có hợp gu hay không. Theo mình nhận xét thì cô Sheila Webb này đúng gu của cậu đấy, Colin ạ.
-       Mình chưa hiểu tại sao cậu cứ cố ghép cô ta vào với mình đấy!
-       Không phải mình cố ghép. - Hardcastle buồn bã nói. - Nhưng mình đang cần tìm một điểm để xuất phát. Này nhé! Xác chết được tìm thấy trong nhà bà Pebmarsh, vậy bà ta là đối tượng nghi vấn số Một. Ai là ngưòi phát hiện đầu tiên? Sheila Webb, vậy cô ta là đốì tượng nghi vấn số Hai. Hẳn không cần nhắc với cậu là không thiếu gì trường hợp người đầu tiên phát hiện xác chết lại chính là kẻ nhìn thấy nạn nhân lần cuối cùng trong khi y còn sống. Trong khi chưa thấy có kẻ khả nghi nào khác, ta hãy tập trung vào hai đối tượng này đã.
-       Lúc mình bước vào phòng, nạn nhân đã chết ít ra cũng nửa giờ đồng hồ rồi. Cậu trả lời ra sao về chi tiết đó?
-       Xin trả lời ngay. Sheila Webb vắng mặt ở Trung tâm, lấy cớ đi ăn trưa, từ 13 giờ rưỡi đến 14 giờ rưỡi. Trong thời gian đó cô ta có ăn trưa thật không, hay làm gì khác?
Tôi giận dữ nhìn Hardcastle:
-       Thế còn Curry? Cậu đã biết được những gì về lão ta nào?
Hardcastle mệt mỏi đáp:
-       Chưa biết được gì hết.
-       Cậu nói thế nghĩa là sao?
-       Mình chưa biết được gì về lão, có nghĩa tạm thời đối với mình lão không tồn tại.
-       Thế cậu nghĩ gì về Công ty Bảo hiểm Metropolis?
-       Không nghĩ gì hết vì không hề có cái Công ty Bảo hiểm nào tên như thế. Về lão Curry trú tại phố Denver, thì không làm gì có ai ở phố ấy tên là Curry, và thậm chí không có phố nào tên là Denver, và tất nhiên không thể có số nhà 7 nào hết.
-       Hay đấy. Vậy cậu cho rằng tấm danh thiếp ấy là giả?
-       Vậy theo cậu thì mưu mẹo ấy để làm gì?
Hardcastle nhún vai:
-       Đến lúc này, chúng ta vẫn còn lạc trong một loạt giả thuyết. Rất có thể lão ta giả danh nhân viên Công ty Bảo hiểm để nhận tiền mua bảo hiểm của mọi người rồi đút túi. Tấm danh thiếp đó giúp lão vào được mọi nhà và được người ta tin, đưa tiền cho. Đây là một kiểu lừa đảo đặc trưng của Hoa Kỳ. Rất có thể lão ta là một tên lừa đảo, một gã tống tiền, một thám tử của hãng thám tử tư nào đó. Thậm chí lão chỉ là một thằng cha chơi đồ mỹ nghệ, đến đây để lấy cắp đồ mỹ nghệ của bà giáo già Pebmarsh. Hiện chúng ta chưa biết được tí gì hết.
-       Nhưng chẳng bao lâu nữa sẽ biết chứ?
-       Tất nhiên rồi, nhất định rồi sẽ biết. Bọn mình đang cho soát lại các dấu vân tay, công việc này khá mất công đấy. Nhưng phải làm thôi, nếu không, còn chậm nữa.
-       Một thám tử tư... - Tôi lẩm bẩm suy nghĩ. Khả năng này gợi lên nhiều triển vọng lý thú đấy... - Bao giờ các cậu khởi tố vụ án này?
-       Ngày kia. Nhưng chỉ là hình thức thôi. Phiên tòa sẽ bị trì hoãn cho đến lúc nào chúng mình tìm ra được hung thủ.
-       Kết quả mổ tử thi thế nào?
-       Nạn nhân bị giết bằng dao phay, kiểu dao thái thịt ở nhà bếp.
-       Nếu vậy ta có thể loại bà Pebmarsh ra được rồi. Đâm bằng dao phay là việc người mù không thể làm được. Mà có đúng bà ta mù không?
-       Đúng. Điều này thì không phải nghi hoặc gì nữa. Chúng mình đã kiểm tra rất kỹ và dò hỏi đầy đủ. Bà ta bị hỏng mắt cách đây đã mười sáu năm, trong khi đang làm giáo viên dạy toán tại một trường trung học trên miền Bắc. Sau khi bị mù, bà ta cần cù học chữ nổi, và cuối cùng xin được một chân dạy học tại Viện Trẻ em mù Aeronberg.
-       Tâm thần bà ta ổn định đấy chứ? Có bị rối loạn gì không?
-       Cậu hỏi thế vì nghĩ bà ta bị một ám ảnh là mê các loại đồng hồ và các nhân viên hãng bảo hiếm chứ gì? - Hardcastle giễu cợt hỏi lại.
-       Vụ án này đúng là kỳ quái. - tôi nói, kèm theo một chút thích thú. - Hệt như trong cuốn truyện viết tồi nhất của Ariane Olivier hoặc cuốn truyện hay nhất của Garry Gregson đã quá cố.
-       Cậu đừng giễu mình nữa. Cậu đâu phải chịu trách nhiệm với cấp trên về vụ án này!
-       Mình xin lỗi. Chúc cậu phát hiện ra được tình tiết nào đó bổ ích ở các hàng xóm của số nhà 19.
-       Mình thấy ít hy vọng lắm. - Hardcastle buồn rầu nói. - Cho dù nạn nhân bị giết ngay giữa vườn, và hai thằng cha đeo mặt nạ khiêng đi, nhà bên cạnh nhìn thấy rõ ràng, họ cũng mặc kệ. Láng giềng ở đây có quan tâm gì đến nhau đâu? Nói chung, dân cái phố Crescent này, hay cậu gọi là phố “Trăng Lưõi Liềm” này sống theo kiểu rất trưởng giả, ai biết nhà nấy, cháy nhà hàng xóm bình chân còn hơn vại. Các người giúp việc thì sau một giờ trưa kéo đi hết. Xe cộ chẳng vào đến đây. Trẻ con không có nữa chứ. Đúng là một cái phố chết.
-       Cũng không có một hành khất tàn tật nào ngồi trước cửa nhà hay sao?
-       Nếu có được thì còn gì bằng. Nhưng không hề có.
-       Cả nhà số 18? Số nhà 20?
-       Bên số nhà 20, chúng mình gặp một ông tên là Waterhouse sống cùng với cô em gái. Theo nhận xét của hai thẩm phán Gainsford và Swettenham thì ông ta là con người “chủ yếu”, và cô em gái kia chăm sóc “chủ yếu” ông ta. Còn số nhà 20, thì theo mình biết, chỉ có một bà già không chồng, nuôi ít nhất cũng hai chục con mèo. Mà mình thì, giống mèo...
Tôi rất thông cảm với cách sống quá khô cằn của anh bạn thanh tra cảnh sát này. Câu chuyện đến đây thì hai chúng tôi lên ô tô.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương Bảy


Trên bậc cửa ngôi nhà số 18, ông Waterhouse đang ngập ngừng, đưa mắt lo lắng nhìn cô em gái.
-    Em tin chắc là em sẽ không gặp nguy hiểm gì chứ?
-    Sao anh lại hỏi thế? - cô Edith khó chịu vặn
lại.
Waterhouse lấy vẻ mặt hối hận,"mà đấy là bản chất thứ hai của ông ta.
-    Em thân yêu, anh hỏi thế vì... sau khi biết ở nhà bên cạnh vừa xảy ra một vụ... anh chợt nghĩ là ta phải...
Waterhouse đã ăn mặc hết sức rẩn thận, mái tóc chải tỷ mỷ, đang chuẩn bị đi làm. Cao lênh khênh, lưng hơi gù, da rám nắng, rõ ràng là một người không biết ốm đau là gì.
Còn cô Edith thì cũng cao, nhưng gầy đét, có vẻ thuộc loại người khắc khổ với bản thân, đồng thời khó tính với xung quanh.
-    Sao anh lại có thể lo có kẻ giết em, chỉ vì hôm qua nhà bên cạnh có người bị giết?
-    Edith, toàn bộ vấn đề ở chỗ hung thủ là người thuộc loại nào...
-    Hay anh cho rằng trên đường phố Wilbraham Crescent của mình hiện đang có một kẻ tội phạm lởn vởn, chỉ muôn tìm giết dần tất cả những người sinh sống trong phố này? Em thì lại rất mong nhìn thấy một kẻ nào đó dám vào nhà mình và muốn giết em, - cô nói bằng giọng giễu cợt.
Suy nghĩ một chút, ông Waterhouse công nhận rằng ông quá lo xa. Bởi nếu có thằng cha điên rồ nào đó thích giết người thì chắc gì hắn muốn giết em gái ông. Bởi ông biết cô Edith em ông thừa gan góc để vớ vật gì đó, thì dụ que sắt còi lò sưởi chẳng hạn, quật lên đầu gã, làm máu me tung tóe, rồi giao gã cho cảnh sát.
Waterhouse, vẫn giọng nín nhịn quen thuộc, nói thêm:
-    Anh chỉ muốn em cảnh giác thôi. Bởi như vậy là trong khu vực này đã có kẻ ác.
-    Em thì cho rằng khó mà tin lời đồn đại được.
Mới sáng nay đây này, bà Head còn kể em nghe bao nhiêu chuyện rùng rợn...
-    Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, - Waterhouse vội gạt đi, ông ta không muốn nghe các chuyện ngồi lê đôi mách của bà giúp việc, - ông nhìn đồng hồ. - Chết, anh bị trễ mất rồi. Thôi, anh đi nhé. Nhưng em cứ cẩn thận quá đi là vừa. Em nên mắc dây xích sắt vào cánh cửa đấy.
Cô Edith lại lầu bầu.
Nhưng vừa đóng cửa xong, sắp lên phòng thì cô chợt nhớ ra, lấy cây gậy đánh gôn gác sẵn lên cánh cửa, đề phòng lỡ có kẻ vào hành hung.
Cô thầm nghĩ: “Thế là ổn! Tất nhiên anh mình quá lo xa, nhưng mình cũng cứ cẩn thận. Bọn tù được tha trước thời hạn, với lý do cải tạo tốt ấy, khó mà làm mình yên tâm được. Người  hiền lành, không bao giờ làm chuyện phi pháp chính lại luôn có nguy cơ bị tai họa!”
Cô Edith đã vào phòng thì bà Head, một phụ nữ đứng tuổi béo tròn lao vào như một viên đạn. Bà ta có tính thích mọi chuyện ly kỳ.
-    Có hai ông xin gặp cô, thưa cô chủ. Mà không phải hai ông bình thường, mà là hai cảnh sát, - bà nói và chìa ra tấm danh thiếp.
Cô Edith cầm lấy, đọc: Thanh tra cảnh sát Hardcastle.
-    Bà mời hai ông ấy vào phòng khách rồi chứ? - Cô Edith hỏi.
-    Không, thưa cô chủ. Tôi đưa họ vào phòng ăn. Tôi đã dọn dẹp xong, thấy trong ấy khá lịch sự, loại khách này chỉ cần tiếp ở đấy là được. Họ chỉ là cảnh sát thôi mà.
Cô Edith không chú ý nghe câu lý lẽ của người giúp việc lắm. Cô nói:
-    Tôi xuống ngay bây giờ.
-    Hẳn là họ muốn hỏi cô về bà Pebmarsh. Họ muốn biết bà ấy có gì khác thường không. Họ cho rằng tính tình không bình thường của bà ta rất dễ gây ra chuyện này chuyện nọ. Nói chung, đám nhân viên cảnh sát khôn ngoan lắm. Họ rất giỏi moi các thứ. Cho nên cô phải cẩn thận, đừng chỉ nghe lời họ nói, mà phải nhìn vào mặt họ, xem họ nghĩ gì. Nhưng bà cụ lại mù, thành thử không nhìn thấy, mà chỉ nghe thấy lời của họ. Khôn khổ!... - Bà giúp việc vừa nói hai chữ này vừa lắc đầu vẻ thông cảm.
Bà Head này có vẻ rất tò mò, nhưng cô Edith không nhận thấy điều đó. Cô xuống thang gác, bước vào phòng ăn.
-    Chào bà Edith, - Hardcastle đứng lên, lịch sự
nói.
Viên thanh tra đi cùng với một thanh niên tóc nâu, và mặc dù anh ta đứng dậy lúng túng tự giới thiệu “Trung sĩ Colin”, nhưng cô Edith không thèm chào đáp lại.
-    Tôi hy vọng đến vào giờ này không phải là sớm quá đối với bà, thưa bà Edith? - Hardcastle nói. - Nhưng chắc bà đoán được chúng tôi đến về việc gì, sau chuyện xảy ra hôm qua ở số nhà 19 bên cạnh.
-    Tất nhiên tôi có biết chuyện gì đã xảy ra hôm qua bên nhà hàng xóm, - cô Edith nói. - Thậm chí tôi đã phải đuổi ra khỏi cửa ba vị nhà báo đến hỏi xem trưa hôm qua tôi có nghe thấy gì hoặc nhìn thấy gì lạ ở nhà bên cạnh không.
-    Bà đuổi họ ra là rất đúng, - thanh tra Hardcastle gật đầu tán thành. - Loại người đó chuyên dính mũi vào đủ mọi chuyện, nhưng tôi tin rằng họ sẽ chẳng tìm ra được cái gì hết.
Nghe câu khen, cô Edith không giấu được vẻ hài lòng.
-    Tôi hy vọng sẽ không làm bà khó chịu khi chúng tôi đưa ra vài câu hỏi giống như vị nhà báo kia đã đưa ra, - Hardcastle nói. - Nhưng nếu bà nhớ ra đã nhìn hoặc nghe thấy một dấu hiệu nào đó khiến bà chú ý, chúng tôi rất biết ơn bà. Vào giờ đó, hẳn bà ở nhà, thưa bà Edith?
-    Tôi vẫn chưa biết vụ án mạng xảy ra lúc mấy giờ đấy.
-    Trong khoảng thòi gian từ 13 giờ 30 đến 14 giờ 30, hoặc gần gần như thế.
-    Giờ ấy thì chắc chắn tôi ở nhà rồi.
-    Còn ông Waterhouse, anh bà?
-    Anh tôi không về nhà ăn trưa. Nhưng người bị giết là ai? Hình như báo chí cũng không nói cụ thể, phải không nhỉ?
-    Hiện chúng tôi chưa biết tung tích nạn nhân, - Hardcastle thú nhận.
-    Một người vô danh? Nhưng bà Pebmarsh không thể không biết ông ta là ai!
-    Bà Pebmarsh khai với chúng tôi rằng bà không hề đợi ai đến gặp, và bà hoàn toàn không biết ông ta.
-    Mà bà ấy có nhìn thấy gì đâu mà biết ông ta là ai! - cô Edith kêu lên.
-    Chúng tôi đã miêu tả rất tỷ mỷ cho bà ấy nghe.
-    Nạn nhân thuộc loại như thế nào?
Thanh tra Hardcastle lấy trong phong bì ra một tấm ảnh nhỏ, đưa cô Edith.
-    Đây là hình ông ta. Bà có biết người này không, thưa bà?
Cô Edith nhìn tấm ảnh, nói:
-    Không... Tôi chưa nhìn thấy người này bao giờ.
Tôi cam đoan là như thế. Lạy Chúa, trông ông ta mặt mũi phúc hậu. Và trong ảnh, ông ta không có vẻ xúc động gì. Chết như người đang ngủ.
Thanh tra Hardcastle định nói nhưng thấy nói là thừa, rằng ông đã chọn tấm ảnh ít làm người ta sợ hãi nhất.
-    Cái chết nhiều khi đến vào đúng lúc con người ta ít ngờ nhất. Tôi nghi ông ta chết đột ngột, một cách hoàn toàn bất ngờ.
-    Thế bà Pebmarsh nói thế nào về tất cả những chuyện này?
-    Bà ấy bảo không hề biết gì.
-    Vô lý.
-    Hy vọng bà có thể giúp chúng tôi, thưa bà Edith. Bà cố nhớ lại xem. Trong khoảng thời gian từ mười hai giờ rưỡi đến một giờ rưỡi, có thể bà đang nhìn qua cửa sổ ra ngoài hoặc đang ở ngoài vườn?
Cô Edith suy nghĩ một chút rồi nói:
-    Lúc đó tôi đang ở ngoài vườn... mà khoan đã, nếu trước một giờ trưa thì mới đúng tôi đang ở ngoài vườn. Vì lúc 12 giờ 50, tôi vào nhà rửa tay rồi ăn bữa trưa.
-    Bà có nhìn thấy bà Pebmarsh lúc bà ấy ra hay vào nhà bà ấy không?
-    Hình như tôi có nhìn thấy bà ấy đi đâu về... Tôi nghe thấy tiếng mở cổng sắt, khoảng sau mười hai giờ rưỡi một chút.
-    Bà có nói gì với bà Pebmarsh không?
-    Không! Tôi chỉ ngẩng đầu lên và nghe thấy tiếng mở cổng sắt. Đấy là giờ bà ấy thưòng về nhà, sau buổi dạy học.
-    Theo bà Pebmarsh cho tôi biết, thì bà ấy lại ra khỏi nhà vào khoảng một giờ rưỡi. Bà có đồng ý với lời khai đó không?
-    Tôi có nhìn thấy bà ấy đi bên ngoài hàng rào sắt nhà tôi, nhưng tôi không biết chính xác lúc ấy là mấy giờ.
-    Xin lỗi, thưa bà Waterhouse, bà vừa nói “bên ngoài hàng rào sắt nhà bà”?
-    Tất nhiên rồi. Lúc đó tôi ngồi trong phòng khách, nhìn ra phố. Tôi đang uống cà phê sau bữa ăn. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, đọc tờ báo Times. Đúng lúc tôi lật trang báo thì tôi thoáng thấy bà Pebmarsh đi ngang bên ngoài hàng rào sắt. Như thế có gì là lạ, thưa ông thanh tra?
-    Cũng chẳng có gì lắm, - thanh tra Hardcastle mỉm cười. - Chỉ là tôi đinh ninh bà Pebmarsh ra bưu điện rồi mua vài thứ vặt. Phải chăng lối đi ngang qua nhà bà là lối đi gần nhất để ra bưu điện?
-    Vấn đề bà ấy định mua sắm ở cửa hàng nào, - Cô Edith nói. - Tất nhiên bưu điện và các cửa hàng trên đại lộ Albany thì nếu đi lối bên kia gần hơn. Và nếu đi lối ấy thì không phải qua trước cổng nhà tôi.
-    Nhưng cũng có thể bà Pebmarsh đã có thói quen đi trước cửa nhà bà vào cái giờ đó?
-    Lạy Chúa! Tôi không biết gì hết: bà ấy ra khỏi nhà vào giờ nào và đi theo hướng nào. Thưa ông thanh tra, tôi làm gì có thời gian để quan sát xem hàng xóm làm những gì. Tôi rất bận, chẳng còn thời giờ nào quan tâm đến ai. Không như một số người...
Nghe giọng nói khinh bỉ, thanh tra Hardcastle có cảm giác cô Edith này đang ám chỉ một người cụ thể nào đó.
-    Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, - Viên thanh tra vội vã tán thành, rồi ông nói thêm. - Hay bà ấy định gọi điện thoại, bởi phía ấy có trạm điện thoại công cộng?
-    Có đấy, ở trước mặt số nhà 15.
-    Còn đây là câu hỏi quan trọng nhất của tôi, thưa bà Edith: bà có nhìn thấy ông ta vào số nhà 19 ấy không? Là tôi nói đến “con người bí ẩn” kia, theo cách nói của báo chí ấy?
-    Không, - cô Edith đáp. Không, tôi không nhìn thấy ông ta. Và cũng không nhìn thấy người nào khác đi vào nhà bà Pebmarsh.
-    Trong quãng thời gian từ một giờ trưa đến ba giờ, bà làm gì, thưa bà?
-    Tôi giải bài đố chữ trong báo Times mất chừng nửa giờ, cho đến lúc tôi phải xuống bếp rửa bát đĩa. Sau đấy, tôi viết hai lá thư và vài tờ ngân phiếu. Rồi tôi lên phòng lựa những quần áo để đem nhuộm lại. Theo tôi nhớ thì chính vào lúc ấy, tôi nhìn qua cửa sổ thấy tiếng ồn ào bên dưới. Tôi vội chạy ra cửa nhìn sang thì nghe thấy tiếng kêu thất thanh. Tôi nhìn ra chỗ cổng bên nhà bà Pebmarsh thấy một cặp trai gái đang ôm chặt nhau...
Nghe đến đây, “trung sĩ Colin” hơi nhúc nhích khiến cô Edith rất có thể nghi anh chàng cô nhìn thấy ôm cô gái kia chính là viên trung sĩ này.
-    Bà không nhìn thấy bà Pebmarsh có về nhà trước lúc đó chứ?
-    Không, - cô Edith đáp. - Nhưng tôi chỉ nhìn ra cửa sổ khi nghe thấy tiếng thét kinh hoàng kia. Lúc ấy tôi nghĩ đơn giản, lớp trẻ bây giờ có nhiều phong cách quái lạ, hơi một tí thì rú lên, cho nên khi ấy đôi trai gái ôm nhau, tôi nghĩ chẳng có gì quan trọng. Mãi đến lúc xe cảnh sát đến tôi mới chú ý.
-    Bà còn gì khác để nói với chúng tôi không, thưa bà Edith?
-    Không, tất cả chỉ có thế thôi.
-    Gần đây bà có nhận được thông báo của Công ty Bảo hiểm nào nói rằng họ sẽ cử nhân viên đến gặp bà không?
-    Không! Hoàn toàn không!
-    Bà có nhận được lá thư nào ký tên “Curry” không?
-    Curry à? Chưa bao giờ.
-    Cái tên đó không gợi bà nhớ tới một thứ gì sao?
-    Không. Nhưng sao ông hỏi thế?
Hardcastle mỉm cười:
-    Không sao, thưa bà. Đấy là tên nạn nhân bị giết hôm qua. Nhưng cũng có thể chỉ là tên ông ta tự nhận.
-    Chứ không phải tên ông ta thật? .
-    Chúng tôi có cảm giác như thế. Curry chỉ là tên giả.
-    Vậy ông ta là một kẻ lừa đảo? - cô Edith hỏi.
-    Hiện nay chúng tôi chưa có chứng cứ nào để có thể kết luận.
-    May quá đấy. Tôi biết là phải thận trọng. Có những người ở đây, chưa gì đã đồn đại ầm lên. Vậy mà sao không tòa án nào trừng phạt họ về tội vu oan cho ngưòi khác nhỉ?
-    Đấy là tội truyền tin đồn nhảm thôi, chàng “trung sĩ” Colin chữa lại. Đây là lần đầu tiên anh ta mở miệng.
Cô Edith quay sang, ngạc nhiên nhìn cậu ta. Từ nãy cô vẫn cho Colin chỉ là chân theo hầu viên thanh tra.
-    Tôi rất tiếc là không giúp gì được ông, thưa ông thanh tra.
-    Vâng, tôi cũng rất tiếc, - thanh tra Hardcastle nói. - Bởi nếu được một người thông minh như bà giúp cho thì thật quý giá.
-    Giá như tôi nhìn thấy được thứ gì có phải đã giúp được các ông không, - giọng cô Edith đột nhiên làm duyên như một thiếu nữ.
-    Còn ông anh bà, liệu có giúp ích gì được chúng tôi không? - Viên thanh tra hỏi.
-    Anh tôi ấy ư? Anh tôi thì chẳng biết cái gì hết. Vả lại lúc đó anh tôi ở văn phòng cơ quan. Không, anh tôi không giúp ích gì được ông đâu. Như tôi đã nói đấy, anh tôi không bao giờ về nhà ăn trưa.
-    Ông ấy thường ăn trưa ở đâu?
-    Anh ấy chỉ mua một khoanh bánh mì kẹp thức ăn và tách cà phê ở một quán gần đấy rồi đem về cơ quan ăn.
-    Cảm ơn bà, thưa bà Edith. Xin lỗi đã làm phiền bà khiến bà mất khá nhiều thời gian.
Nói xong, thanh tra Hardcastle đứng dậy, ra cửa. Cô Edith đi theo tiễn khách.
-    Cây gậv đánh gôn tốt quá, - Colin nói, nhấc cây gậy lên, xem thử nặng nhẹ. - Bà đề phòng bất trắc, đúng vậy không, thưa bà?
Cô Edith ngượng:
-    Quả thật, tôi không biết cây gậy đánh gôn này sao lại ở đây.
Rồi giằng lấy cây gậy, cô Edith giấu nó vào cái xắc.
Lúc ra ngoài đường, Colin thở dài nói:
-    Cậu đã giở đủ tài khôn khéo, vậy mà chẳng moi ra được cái gì mấy.
-    Mình có kinh nghiệm, những ngựòi trông khó khăn nhất thì lại rất ưa nịnh.
-    Lúc cuối, chị ta nhún nhẩy như con mèo được vuốt ve ấy. Đáng tiếc là ta không thu được thông tin nào đáng chú ý.
-    Sao cậu bảo không thu được? - Hardcastle phản
đối.
Colin quay đầu ngạc nhiên nhìn bạn:
-    Cậu thấy thêm được cái gì?
-    Một chi tiết tưởng chừng nhỏ, nhưng lại rất quan trọng: lúc đi mua sắm, bà Pebmarsh không ngoặt sang phải, lại ngoặt sang bên phía bên trái. Vậy là lúc 1 giờ 50 phút, bà ta đã gọi điện thoại.
Colin ngạc nhiên nhìn bạn:
-    Tuy bà Pebmarsh chối là không có chuyện đó, cậu vẫn nghi là bà ta có gọi? Mình lại thấy bà ta đã nói một cách quả quyết.
Hardcastle thản nhiên đáp.
-    Mình công nhận. Nhưng cậu có thấy bà ta quả quyết một cách quá mức không?
-    Nhưng nếu bà ta đi gọi điện thoại, thì để làm
gì?
-    Để làm gì, để làm gì... Vậy mình hỏi cậu, tất cả tấn hài kịch này để làm gì? Bà Pebmarsh gọi điện để dụ cô thư ký đánh máy Sheila kia đến chứ còn gì nữa? Để làm gì ư? Bởi nếu không phải cô Edith này, thì nói ra một điều có hại cho bà Pebmarsh để làm gì? Cho đến nay chúng ta chưa biêt được gì. Giá như bà Giám đốc Martindale kia quen biết bà Pebmarsh, có phải bà ta đã nhận ra được giọng nói không... Số nhà 18 chẳng giúp ích được gì nhiều, ta sang số nhà 20 xem thử thế nào.





Chương Tám

Ngoài tấm biển nhỏ ghi số nhà, ngôi nhà số 20 phố Wilbraham Crescent này còn có một tấm biển nhỏ nữa, đề: Biệt thự Diana, vẻ ngoài của ngôi nhà không gây được cảm tình: hàng rào sắt và cánh cổng ken quá xít, còn dàn hoa tầm xuân thì không ai sang sửa, trông um tùm, có vẻ được dùng làm một thứ bảo vệ.
Trong vườn, các bụi cây mọc vô tổ chức, và không khí nồng nặc mùi nước đái mèo. Tường nhà loang lổ, các ống máng méo mó. Chỉ riêng cánh cửa vào nhà mới được sơn lại, màu tươi, nhưng không đủ át đi toàn bộ dáng vẻ thảm hại của khung cảnh xung quanh. Không có chuông điện, chỉ có một đầu sợi dây để kéo chuông bên trong.
Khi viên thanh tra kéo sợi dây, vọng ra một tiếng “leng-keng” như từ đâu xa lắc.
Colin nhận xét:
-    Biệt thự gì mà giống như lô cốt ấy.
Hai người đứng chờ. Lát sau họ nghe thấy những âm thanh rất lạ từ trong nhà đưa ra: giống như một kiểu tụng kinh trầm bổng, nửa như nói, nửa như hát.
-    Khốn khổ, nếu như... - Thanh tra Hardcastle vừa định nói câu gì đó thì...
Tiếng uốn éo trầm bổng nghe đã rõ hơn: “Đừng, con yêu quý của ta, Chou-chou! Kìa, Mi-mi nữa, yên nào. Cả Cléopatre nữa. Để yên cho ta, các con yêu quý của ta...”
Tiếng khóa cửa bên trong, rồi tiếng mở cửa ngoài. Trước mặt hai người hiện ra một phụ nữ dáng quý tộc, mặc tấm áo nhung dài quết đất màu xanh lá cây đã bạc. Đầu bà ta chải theo kiểu được coi là “mốt” cách đây ba chục năm: tóc quấn lên rất cao, hết sức cầu kỳ, thành như một kiểu kim tự tháp màu vàng úa. cổ bà ta quấn một dải lông thú màu da cam xỉn, loang lổ.
-    Bà là phu nhân Hemmings? - Thanh tra Hardcastle dè dặt đánh bạo hỏi?
-    Vâng, chính tôi. Yên nào, tia nắng bé bỏng của ta...
Bây giờ, viên thanh tra mới nhìn thấy, ra không phải tấm khăn quàng cổ bằng da thú, mà là một con mèo. Mà không phải chỉ có một con. Ba con nữa đang “meo-meo” từ nhà trong kéo ra quấn chặt gấu váy của bà già quý tộc, giương những cặp mắt tròn xoe nhìn khách. Hai vị khách thấy xộc vào mũi một thứ mùi nằng nặng của loài mèo.
-    Tôi xin tự giới thiệu: Thanh tra cảnh sát Hardcastle.
-    Mời vào, Phu nhân Hemmings nói. - Ôi, tôi lầm rồi, không phải vào đây, mà vào phòng kia!
Nhưng khi bà ta mở cửa phòng bên trái, hai vị khách lại thấy trong phòng này bốc ra một mùi còn nặng hơn.
Trong phòng này, trên bàn, trên các ghế, đâu đâu cũng thấy những chiếc lược cũ dính đầy lông. Và trên mấy cái gối cũ kỹ, còn sáu con mèo nữa.
-    Tôi sống với những con mèo thân thiết này. Chúng đáng yêu lắm và nghe hiểu mọi điều tôi nói với chúng đấy.
Viên thanh tra cảnh sát dũng cảm tiến lên. Khôn khổ thay, ông ta lại dị ứng với loài mèo. Và tất nhiên đám mèo kia quây lấy ông ta, con nhẩy lên đầu gối, con bấu vào gấu quần, cọ bộ lông xù một cách âu yếm. Nhưng viên thanh tra cắn răng cố giữ bình tĩnh.
-    Tôi muốn hỏi phu nhân vài câu, được không ạ? Thưa phu nhân, về vụ...
-    Ông cứ tự nhiên, - phu nhân Hemmings nói. - Tôi sẵn sàng cho ông thấy tất cả. Thức ăn cho chúng, nơi chúng ngủ. Năm con ngủ trong phòng cùng với tôi, bảy con khác dưới này. Cá cho chúng ăn đều là loại cá cao cấp và nấu rất ngon, do chính tay tôi nấu cho chúng.
-    Chúng tôi đến đây vì chuyện khác, thưa phu nhân, về vụ việc đáng buồn ở nhà bên cạnh nhà phu nhân. Hẳn phu nhân đã biết?
-    Nhà bên cạnh? Ông thanh tra định nói về việc con chó của ông Joshua?
-    Không phải đâu, thưa phu nhân, vụ bên số nhà 19. Tại đấy hôm qua người ta phát hiện thấy xác chết một người đàn ông.
-    Thật à? - bà già quý tộc lịch sự hỏi nhưng không hề quan tâm một chút nào, mắt vẫn chăm chú nhìn đàn mèo của bà.
-    Tôi muốn biết trưa hôm qua phu nhân có ở nhà không, thời gian từ một rưỡi đến ba rưõi?
-    Có, tôi ở nhà. Tôi thường đi chợ mua thức ăn từ sáng sớm, để về làm bữa điểm tâm cho chúng, sau đó tôi không đi đâu nữa cho đến lúc đi ngủ. Tôi bận chải lông và tắm rửa cho chúng.
-    Phu nhân không nhận thấy gì lạ ở nhà bên cạnh? Xe cảnh sát đến, rồi xe cấp cứu của y tế, phu nhân không nghe thấy gì, nhìn thấy gì sao?
-    Đáng tiếc là tôi không bao giờ nhìn ra ngoài cửa sổ. Nhất là hôm qua, tôi bận xục xạo ở tận cuối vườn kia để tìm con Arabella bị lạc. Đấy là con mèo trẻ nhất: thì ra nó leo lên cây rồi không sao xuống được. Tôi đem đĩa cá ra nhử nó, nhưng nó nhát, khốn khổ con bé. Cuối cùng, mệt quá tôi đành quay vào nhà. Thế là ông thấy có lạ không? Nó nhảy ngay xuống, chạy theo tôi vào nhà.
Bà ta nhìn lần lượt hai người khách, đợi phản ứng của họ.
-    Vâng, may quá, - thanh tra Hardcastle nói lấy lòng, nhưng lưỡi cứng đơ lại.
-    May sao, thưa ông, - bà quý tộc ngạc nhiên.
Colin vội đỡ lời:
-    Tôi rất yêu mèo và rất hiểu tính tình của chúng. Điều phu nhân vừa kể rất đúng với bản chất loài mèo. Chúng yêu chủ đến mức quên cả sợ, cho nên thấy phu nhân vào nhà, nó bèn nhẩy liều xuống để theo phu nhân.
Bà già nhìn Colin, thấy anh này không có vẻ cảnh sát, nhưng bà không để lộ ra. Bà ta chỉ nói rất khẽ:
-    Chúng biết hết, hiểu hết, ông có thấy như vậy không?
Một con mèo giống Ba Tư lấy chân cào lên đầu gối viên thanh tra, hình như móng của nó xuyên qua lớp vải vào đến da ông. Viên thanh tra co rúm người lại, ông vội vã đứng lên.
-    Phu nhân có thể cho tôi ra xem chỗ cuối vườn ấy được không ạ?
Colin nhếch mép cười.
-    Được chứ! Để tôi dẫn ông ra, - phu nhân Hemmings vừa nói vừa đứng lên.
“Khăn quàng cổ” của bà tụt ra: con mèo nhỏ trườn xuống đất, và theo bà già ra ngoài. Cả lũ mèo định ùa ra theo. Bà già ngăn chúng lại.
-    Ông vui lòng đóng chặt cửa lại, thưa ông..., - Bà nói với Colin đi sau cùng. - Hôm nay trời trở gió, tôi sợ đàn mèo bị cảm. Nhất là mấy thằng bé khốn kiếp kia nữa. Để mèo ra sân là rất nguy hiểm.
-    Mấy thằng bé nào, thưa phu nhân? - Hardcastle hỏi.
-    Mấy thằng con trai ông Ramsay ở sau lưng nhà tôi ấy. Hệt giống cướp Hắc Y. Chúng mỗi đứa một cái súng cao su, chỉ rình bắn lũ mèo của tôi.
Phía bên này, khu vườn càng hoang tàn hơn.
Bụi rậm mọc bừa bãi. Cây cối không ai chăm sóc.
-    Mất công vô ích. - Colin lẩm bẩm.
Mà đúng vậy. Bị bức tường rào và đám cây rậm rạp ngăn trở, khiến ở bên này không thể nhìn thấy gì bên nhà bà Pebmarsh.
Biệt thự Diana hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới xung quanh.
-    Lúc nãy ông nói số nhà 19 ạ? - Phu nhân Hemmings đứng lại giữa khu vườn, ngơ ngác. - Hình như nhà ấy chỉ có một bà mù sống một mình thôi mà?
-    Người đàn ông bị giết không phải là người ở đấy.
-    Ra thế, - phu nhân Hemmings vẫn lơ đãng như mọi khi. - Ra ông ta đến đó để bị giết. Quả là lạ đấy, phải không thưa hai ông?
Colin thầm nghĩ: “Riêng câu nói này của bà già quý tộc có giá trị, nói lên đúng vấn đề”.




Chương Chín


Trước khi lên xe, hai người đi dọc theo phố Wilbraham Crescent, ngoặt bên phải hai lần để ra khu vực phía sau.
Thanh tra Hardcastle nói:
-    Ta đến nhà họ cũng chỉ để chào vậy thôi.
-    Chưa biết chừng, - Colin nói.
-    Số nhà 61 chung sân vườn với nhà phu nhân Hemmings, nhưng lại có một góc liền với số nhà 19 của bà Pebmarsh. Đấy là lý do ta có thể viện ra để chào chủ nhà bên ấy một câu. Tôi đã kiểm tra sổ đăng ký cư trú rồi. Lão thầu khoán Bland không thuê người giúp việc nào là người nước ngoài.
-    Vậy là giả thuyết của mình tan thành mây khói. - Colin chán nản nói.
Đến trước cổng nhà, Colin nhìn vào vườn bên trong, nhận xét:
-    Cậu nhìn xem, đúng là một hoa viên tuyệt vời!
Mà đúng thế. Quả là một khu vườn kiểu mẫu của ngoại thành. Những khóm phong lữ thảo lớn, viền xung quanh bằng hoa tím. Trong vườn đủ các loại cây cảnh xanh tươi, với những giống hoa rực rỡ, trái ngược hẳn với khu vườn phía sau của phu nhân Hemmings, hoang tàn, toàn loài cây dại.
Trong lúc thanh tra Hardcastle bấm chuông. Colin nói khẽ:
-    Liệu giờ này lão ta có nhà không?
-    Mình đã gọi điện báo trước cho lão rồi, yêu cầu lão ở nhà để chúng mình đến gặp.
Viên thanh tra vừa nói xong thì thấy một bóng người đi về phía cổng. Đó là một người đàn ông tầm thước, đầu hói, cặp mắt nhỏ mầu xanh lam, niềm nở:
-    Thanh tra Hardcastle? Xin mời ông vào.
Chủ nhân dẫn khách vào một phòng khách hết
sức sang trọng, bầy biện toàn những thứ đắt tiền.
-    Mời hai ông ngồi. - Bland vẫn niềm nở. - Mời hai ông dùng thuốc? - ông ta chìa ra hộp sơn mài đựng thuốc lá.
-    Cảm ơn, chúng tôi không hút, - Hardcastle nói.
-    A, phải rồi, đang giờ công vụ, tôi hiểu. Hai ông đến có việc gì đấy? Tôi đoán vụ bên số nhà 19, phải không? Quả là một gốc vườn của nhà bên ấy dính với vườn của nhà tôi, nhưng chỉ trên tầng hai mới nhìn sang được bên ấy, còn dưới này chẳng nhìn thấy gì. Chuyện lạ đấy, phải không, thưa hai ông? Đấy là tôi đọc thấy trên báo.
-    Xin ông nhìn thử cái này. - Hardcastle lại lôi trong túi ra tấm ảnh nạn nhân. - Thưa ông Bland, ông vui lòng cho biết ông đã nhìn thấy người này ở đâu bao giờ chưa?
Bland đỡ tấm ảnh, xem một lát rồi đáp:
-    Chưa bao giờ. Mà tôi lại là chuyên gia về tướng mặt kia đấy, cho nên nếu đã gặp ai một lần, không bao giờ tôi quên.
-    Người này có bao giờ đến nhà ông, mời ông mua bảo hiểm, hoặc mua thứ gì khác, máy giặt chẳng hạn, không? Chắc là không?
-    Đúng thế. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy người này.
-    Liệu có thể ông ta đến đây lúc ông đi vắng, chỉ có bà nhà tiếp? Mà thậm chí ông ở nhà thì người ra mở cửa rất có thể là bà nhà, và bà đã khước từ, không tiếp ông ta.
-    Đúng là nhà tôi hay ra mở cửa mỗi khi nghe thấy chuông reo. Nhưng không hiểu ông có biết bà nhà tôi không được cứng cỏi không? Tôi rất không muốn bà ấy bị xúc động. Tôi không muốn bà nhà tôi xem, dù sao cũng là ảnh một người đã chết, đúng vậy không, thưa ông thanh tra?
-    Đúng thế, - Thanh tra Hardcastle nói. - Nhưng tôi thấy tấm ảnh này có vẻ gì khủng khiếp đâu?
-    Tôi công nhận. Chụp rất khéo, trông chỉ tưởng là người đang ngủ.
-    Ai vừa nói đến tôi đấy à, ông Josaiah?
Cửa mở, một phụ nữ trung niên bước vào. Có vẻ bà ta nấp sau cánh cửa rình nghe câu chuyện diễn ra ngoài phòng khách.
-    A! Nhà tôi đây rồi, - Bland nói. - Tôi tưởng bà chưa dậy.
Bà Bland nói rất khẽ:
-    Vụ án mạng khủng khiếp quá! Chỉ nghe nói đến, tôi đã run bắn lên rồi.
Bà ta thở hổn hển rồi gieo mình xuống đi văng.
-    Mình cho cả hai chân lên mà nằm nghỉ đi, - Bland nói.
Bà vợ ông ta làm theo lời chồng. Đó là một phụ nữ tóc vàng, da xanh lướt, kiểu người thiếu máu nặng. Nhìn bà ta, bỗng thanh tra Hardcastle có cảm giác hình như đã gặp bà ta ở đâu rồi, nhưng ông không thể nhớ ra đã gặp bà ta ở đâu. Cố lục trong ký ức mà vẫn không nhớ được ra bà ta giống ai.
Giọng rên rỉ, bà Bland nói tiếp:
-    Thưa ông thanh tra, tôi không được khỏe lắm. Chính vì thế mà chồng tôi cố tránh cho tôi mọi xúc động mạnh. Tôi bị suy nhược thần kinh mà. Các ông vừa nói đến tấm ảnh một người chết... hình như thế. Ôi, khủng khiếp quá, lạy Chúa tôi! Không biết tôi có đủ can đảm để nhìn vào tấm ảnh ấy không đây?
“Bà ta thèm rõ rãi được xem ấy chứ”, thanh tra Hardcastle thầm nghĩ, rồi láu lỉnh khích thêm:
-    Tôi nghĩ là bà không nên nhìn vào đó, thưa bà Bland. Tôi chỉ nghĩ muốn bà nhìn vào, để xem người trong ảnh có lần nào đến gõ cửa nhà bà không, có vậy thôi.
-    Nếu vậy thì bổn phận của tôi là phải giúp nhà chức trách, cho dù tôi phải cố gắng đến mấy, - Bà ta nói và làm ra vẻ lấy hết dũng khí.
Bà ta chìa tay.
-    Nhưng mình có nên cố gắng đến như vậy không, mình thân yêu? - Bland nói.
-    Khi nhà chức trách đã yêu cầu thì ta không được quyền thoái thác.
Bà ta đỡ tấm ảnh, ngắm nghía hồi lâu rồi làm ra vẻ khinh bỉ - ít nhất thì đấy cũng là cảm giác của Hardcastle.
-    Trông có vẻ... Đúng là trông không có vẻ một người chết, nhất là một người bị giết. Y bị giết cách nào vậy? Bóp cổ phải không?
-    Bị đâm, - viên thanh tra nói.
Run rẩy, bà ta nhắm nghiền mắt.
-    Bà đã bao giờ nhìn thấy người này chưa, thưa bà Bland?
-    Chưa bao giờ, - bà ta đáp bằng giọng cố làm ra vẻ ghê tởm. - Chưa. Tôi tin là như thế. Phải chăng y là kẻ lang thang, mò đến các nhà?
-    Theo tôi đoán, thì ông ta là nhân viên một Công ty Bảo hiểm, - Hardcastle dè dặt nói.
-    Y là họ hàng của bà Pebmarsh ạ?
-    Không. Bà Pebmarsh nói hoàn toàn không biết người này.
-    Lạ đấy, - Bà Bland nói.
-    Bà quen biết bà Pebmarsh?
-    Chỉ biết với tính chất hàng xóm thôi. Bà ấy hay hỏi ý kiến ông chồng tôi về cách chăm sóc cây cối
 trong khu vườn.
-    Trưa hôm qua hai ông bà có ở nhà chứ? Và nếu vậy, tôi đoán ông và bà có nghe thấy tiếng động lạ bên số nhà 19?
-    Buổi trưa ạ? Vào giờ xảy ra vụ án mạng? - Bland hỏi.
-    Đúng ra là từ một đến ba giờ, đấy là quãng thời gian chúng tôi quan tâm.
Bland lắc mái đầu hói:
-    Lúc đó tôi ở trong nhà, nên không nhìn thấy gì bên ngoài. Tôi và bà nhà tôi ngồi ăn trong phòng ăn, cửa sổ lại trông ra phố, cho nên không biết những gì xảy ra trong vườn.
-    Hai ông bà dùng bữa trưa lúc mấy giờ?
-    Khoảng một giờ,hôm nào muộn thì là một rưỡi.
-    Sau đó hai ông bà không ra ngoài nữa?
-    Bao giờ ăn xong, nhà tôi cũng phải nằm nghỉ. Cả tôi cũng vậy, nếu không vướng chuyện gì đặc biệt, tôi thường làm một giấc ngắn. Tôi ra khỏi nhà lúc hai giờ bốn mươi nhăm, hình như thế. Nhưng rất tiếc là tôi không ra vườn trong thời gian đó.
Thanh tra Hardcastle thở dài:
-    Không sao. Chúng tôi buộc phải hỏi mọi người những câu như thế thôi.
-    Tôi hiểu. Rất tiếc là chúng tôi không giúp gì cho ông thanh tra được.
Thanh tra Hardcastle ngắm gian phòng:
-    Đẹp quá! Rõ ràng hai ông bà không tiếc tiền mua sắm.
Bland cười vui vẻ.
-    Tính chúng tôi thích những thứ đẹp. Bà nhà tôi rất có khiếu thẩm mỹ. Năm ngoái chúng tôi lại có được một may mắn lớn. Ông em bà ngoại của vợ tôi, đã không có liên lạc với nhau hai chục năm rồi, vậy mà trước khi qua đời lại cho vợ tôi hưởng thừa kế. Đúng là phúc lớn từ trên trời rơi xuống. Chúng tôi gần như đổi đời. Hiện nay chúng tôi thừa thãi tiền, và chúng tôi định năm nay còn đi một chuyến du lịch đường biển, sang tham quan đất Hy Lạp và một số vùng đất lý thú khác. Tôi tin là sẽ hết sức thú vị, và bổ ích nữa. Trước đây tôi chưa có điều kiện, mặc dù rất thèm đi. Thậm chí có lần tôi đã tính bán ngôi nhà này để lấy tiền sang sinh sống bên Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hoặc Quần đảo Antilles, như nhiều người khác. Tại những quốc gia đó không phải nộp thuế thu nhập và trăm thứ vớ vẩn khác. Nhưng bà vợ tôi không chịu.
-    Không phải tôi không muốn đi du lịch, - Bà Bland trình bày. - Nhưng tôi không thể tưởng tượng tôi có thể sống ở đâu khác ngoài nước Anh. Tại đây tôi có bè bạn, có bà chị, và mọi người đều biết chúng tôi. Sang nước khác, chúng tôi hoàn toàn là người xa lạ và đơn độc. Nhất là tôi đã quen chữa bệnh một ông bác sĩ ở đây rồi. Một bác sĩ khác không thể làm tôi tin cậy như ông này.
-    Thôi được, chuyện ấy vợ chồng sẽ bàn sau.
Trong lúc tiễn thanh tra Hardcastle và Colin ra cổng, ông ta lại một lần nữa tỏ ý tiếc là đã không giúp ích gì được cho hai người.




Chương Mười


Tại số nhà 62 phố Wilbraham Crescent, để tự động viên mình, bà Ramsay luôn miệng tự nhủ:
-    Chỉ còn hai ngày nữa thôi! Chỉ còn hai ngày nữa thôi!
Bà đưa tay gạt mớ tóc bết trên vầng trán đẫm mồ hôi. Có tiếng loảng xoảng trong bếp. Bà Ramsay không cảm thấy hào hứng để vào bếp xem xảy ra chuyện gì. Giá như không có chuyện đổ vỡ đó! Mặc tất! Chỉ còn chịu đựng hai ngày nữa thôi!
Đi đến cuối hành lang, bà đẩy mạnh cánh cửa, hỏi bằng giọng kém phần gắt gỏng so với ba tuần lễ trước đây:
-    Lại đánh vỡ cái gì đấy?
-    Mẹ tha lỗi, - cậu con trai Bill khẽ nói. - Con chỉ có chơi đánh đáo bằng mấy cái đồ hộp thôi. Không hiểu sao chúng lại lăn vào tủ bát đĩa.
Cậu bé nhất, Ted, nói:
-    Chúng con không cố tình.
-    Thôi được! Quét các mảnh vỡ cho vào thùng rác mau.
-    Mẹ để cho lúc khác.
-    Không được, dọn ngay lập tức.
-    Đấy là tội thằng Ted, - Bill nói.
-    Anh toàn đổ tội cho em.
-    Thì chính mày chứ còn gì?
-    Không phải em!
-    Mày!
Hai đứa trẻ túm nhau.
-    Cút hết cả đi! - bà Ramsay hét lên, đẩy hai đứa con ra khỏi bếp.
Sau khi đóng cửa bếp lại, bà ta bắt đầu dọn dẹp, xếp lại các đồ hộp, quét các mảnh bát đĩa vỡ.
Bà lẩm bẩm:
-    Chỉ phải chịu đựng hai ngày nữa thôi! Ngày kia khai trường rồi.
Ngày khai trường là một sự kiện giải thoát đối với những bà mẹ có con trai!
Đúng lúc đó, bên ngoài có một tiếng thét khủng khiếp, sau đó là một sự im lặng đến mức làm bà Ramsay sợ hãi. Bà đứng sững lại, cái chổi vẫn trên tay. Cửa bật mở, cậu Bill lao vào, nét mặt hớn hở và trịnh trọng chưa từng thấy.
-    Mẹ ơi, có một ông thanh tra cảnh sát đi với một người nữa đến nhà ta.
Bà Ramsay thở phào nhẹ nhõm.
-    Ông ấy hỏi gì?
-    Bảo muốn gặp mẹ. Chắc về vụ án mạng ở số nhà 19. Mẹ biết rồi đấy, ở nhà bà Pebmarsh ấy.
Cậu trai đi theo mẹ vào phòng khách. Hai ông khách đứng trong đó với Ted, con trai út bà. Mắt cậu bé lộ vẻ thán phục.
-    Bà là bà Ramsay?
-    Chào hai ông, - Bà nói. - Nếu hai ông đến gặp tôi để hỏi về chuyện xảy ra hôm qua bên nhà số 19, thì tôi không có gì để kể với các ông cả, - giọng bà bực dọc. - Thưa ông thanh tra, tôi không biết gì hết. Thậm chí tôi không hề biết các hàng xóm của tôi là những ai.
-    Bà có ở nhà trong quãng thời gian từ mười hai giờ rưỡi đến ba giờ chiều không?
-    Giờ ấy thì có, tôi bận vào bữa ăn trưa. Nhưng khoảng gần ba giờ thì tôi ra khỏi nhà, đưa mấy đứa con xem phim ngoài rạp.
Viên thanh tra lấy trong túi ra tấm ảnh.
-    Bà có biết người này không?
Bà Ramsay nhìn, mỗi lúc một chăm chú:
-    Không, - bà ta nói. - Chắc thế. Nhưng làm sao tôi nhớ hết được những người tôi đã nhìn thấy?
-    Người này không đến nhà bà mời mua bảo hiểm hay thứ gì đại loại như vậy chứ?
-    Không. - Lần này bà Ramsay đáp quả quyết hơn. - Không, tôi tin chắc như thế.
-    Chúng tôi nghi ông ta tên là Curry, - Hardcastle nói.
Bà Ramsay lại khẳng định thêm:
-    Với lại, trong vụ nghỉ hè thì tôi không còn bụng dạ quan tâm đến bất cứ thứ gì khác.
Viên thanh tra nói:
-    Tôi hiểu, nghỉ hè bà rất vất vả. Bà có hai cậu con trai sáng sủa, khỏe mạnh, tràn trề sức sống thế kia! Hẳn bà phải tốn nhiều công sức cho chúng lắm. Bao giờ hai cháu tựu trường?
-    Ngày kia.
-    Bà nên thuê một cô giúp việc người nước ngoài,
-    Colin gợi ý. - Cô ta vừa giúp việc, vừa dạy các cháu tiếng Pháp.
-    Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó, nhưng tôi ngại thuê người nước ngoài lắm. Tôi cứ thấy không thể tin họ được, mặc dù ông chồng tôi luôn giễu tôi về cái tính đa nghi ấy. Chồng tôi luôn đi công cán nước ngoài, tất nhiên ông ấy có nhiều kinh nghiệm hơn tôi.
-    Lúc này ông nhà đang ở nước ngoài?
-    Vâng, ở Thụy Điển. Nhà tôi đi từ đầu tháng Tám, ông ấy là kỹ sư công chính.
-    Khoảng bao giờ ông ấy về, thưa bà?
-    Tôi không biết, - bà Ramsay buồn rầu đáp. - Mà ông ấy về thì cũng chẳng giúp được gì cho tôi.
Giọng bà run rẩy.
Thanh tra Hardcastle đứng dậy:
-    Chúng tôi không làm phiền bà thêm nữa. Các cháu đưa chúng tôi ra cổng được rồi.
Lúc ra ngoài, thanh tra Hardcastle hỏi hai đứa trẻ:
-    Bên này nhìn rõ số nhà 19 chứ, hai cháu? Nếu lên tầng hai hẳn còn nhìn thấy rõ hơn.
-    Bác nói đúng đấy, - Bill nói. - Nếu chúng cháu ở trên ấy hôm qua, hẳn chúng cháu thấy được nhiều thứ lắm.
Nhìn thấy một ống dẫn nước tưới chui vào lấp sau bụi cây tầm xuân ở góc vườn, Colin nhận xét:
-    Tầm xuân mà cũng cần tưới à?
-    Không phải đâu... - Bill nói, lộ vẻ lúng túng.
Colin cười:
-    Hẳn là khi trèo lên cái cây kia, có thể phun nước vào một con mèo đấy nhỉ?
-    Phun nước thì có gì đâu, còn hơn bị bắn súng cao su, - Bill nói thêm, vẻ mặt láu lỉnh.
-    Thỉnh thoảng hai cháu lại lách sang vườn nhà bên cạnh, đúng thế không? Các cháu sang bằng cách nào?
-    Cháu chỉ cần lách qua hàng rào, tụt xuống góc vườn nhà bà Pebmarsh, rồi lách sang vườn bà Hemmings. Đấy có một chỗ hàng rào thủng, - cậu bé Ted giải thích.
Làm ra vẻ lơ đãng, thanh tra Hardcastle hỏi:
 - Từ lúc xảy ra vụ án mạng, hai cháu thường vào đó nghe ngóng, có phải không?
Hai đứa trẻ nhìn nhau.
-    Các cháu tìm thấy được cái gì mà chưa nói với các bác đấy? - Thanh tra Hardcastle hỏi:
Bill tỏ vẻ quyết định:
-    Ted, mày lấy ra đưa các bác ấy xem đi.
Thế là chú bé Ted chạy đi, lát sau quay về, tay cầm một chiếc khăn tay bẩn, thắt nút ở bốn góc. Đứng giữa hai đứa trẻ, thanh tra tháo nút buộc, giũ ra những thứ đựng bên trong.
Đó là một cái quai tách, một mảnh vỡ bằng men sứ Trung Hoa, một cái bay gẫy, một chiếc nĩa ăn han rỉ, một đồng tiền kim loại, một đinh khuy, và một mảnh kính mầu.
-    Rất hay đấy, - viên thanh tra nói giọng nghiêm nghị. Rồi thấy vẻ mặt tội nghiệp của hai đứa trẻ, ông nhấc lên mảnh kính vỡ. - Cho bác cái này. Biết đâu sẽ là một đầu mối đấy.
Còn Colin thì nhặt đồng tiền bằng kim loại, ngắm nghía.
-    Tiền nước ngoài đấy, không phải tiền Anh đâu,- chú bé Ted nói.
-    Cháu nói đúng, - Colin đáp. Rồi ngước lên nhìn viên thanh tra Hardcastle, anh ta nói: - Ta mượn cả đồng tiền này nữa nhé?
Thanh tra Hardcastle nói, giọng đồng lõa:
-    Các cháu phải giữ kín. Tuyệt đối không được nói với ai đấy.
Hai đứa trẻ rất khoái trá, trịnh trọng thề danh dự là sẽ không nói với bất cứ ai.


 
Chương Mười Một

Colin mơ màng nói:
-    Ramsay đang ở nước ngoài, có vẻ y cần đi là cứ đi, không báo vợ biết trước. Bà vợ bảo y làm kỹ sư công chính, và có vẻ bà ta rất ít biết về công việc của chồng...
-    Một phụ nữ đảm đang, - thanh tra Hardcastle nói. - Loại người cậu đang cần tìm hẳn không đời nào tự buộc chân vào một bà vợ với hai đứa con như thế.
Colin nói:
-    Chưa thể khẳng định như thế được. Cậu thừa biết, bọn gián điệp có thể dùng đủ các loại vỏ bọc.
-    Thế giới của các cậu đúng là rất lạ, Colin ạ. Tốt nhất là bây giờ ta sang nhà McNaughton.
Trước cổng sắt số nhà 63, viên thanh tra đứng lại:
-    Cả nhà này nữa cũng sát cạnh với số nhà 19. Giống như nhà của lão Bland.
-    Cậu đã thu thập được những thông tin gì về họ?
-    Không nhiều lắm. Họ ở đây đã được một năm. Hai ông bà già. Chồng là giáo viên về hưu, say mê trồng vườn.
Một phụ nữ trẻ vẻ mặt tươi cười, trong tấm áo hoa, ra mở cổng:
-    Hai ông hỏi gì ạ?
-    Tìm nhân công người nước ngoài, - viên thanh tra vừa nói vừa chìa ra tấm danh thiếp.
Vài phút sau, bà McNaughton bước vào phòng khách:
-    Chào ông thanh tra! Nhưng chúng tôi không biết tí gì về chuyện ấy đâu. Tại sao các ông lại đến nhà tôi hỏi? về vụ án mạng phải không, thưa hai ông?
Sau khi nói vài câu xã giao, thanh tra Hardcastle chìa tấm ảnh.
-    Bà có biết người này không, thưa bà McNaughton?
Bà ta chăm chú nhìn ảnh.
-    Tôi biết ông ta. Đúng là ông ta rồi. Nhưng tôi gặp ông ta ở đâu nhỉ? Có lẽ chính là người có lần đã mời tôi mua một bộ Bách khoa thư mới xuất bản.
-    Người đó giống người trong tấm ảnh này à, thưa bà?
-    Không giống hoàn toàn, - bà McNaughton nói, sau một chút suy nghĩ. - Người kia trẻ hơn nhiều. Nhưng dù sao tôi cũng tin chắc rằng tôi đã nhìn thấy ông này ở đâu đó.
-    Hôm qua phải không?
Bà McNaughton mặt tối sầm lại:
-    Không! Không phải hôm qua... - Bà ta ngập ngừng. - Mà tôi chưa dám nói chắc. Có thể chồng tôi nhớ. Chồng tôi đang ở ngoài vườn.
Bà chạy đi trước, hai ngưòi khách theo sau. Bà hổn hển bảo chồng:
-    Hai ông này của cơ quan cảnh sát. Họ muốn đưa ông xem tấm ảnh của nạn nhân vụ án mạng hôm qua bên số nhà 19.
Liếc nhìn xong, ông McNaughton nói:
-    Tôi chưa nhìn thấy người này bao giờ. vả lại, lúc xảy ra vụ án mạng tôi đang ở ngoài vườn.
-    Đúng thế chứ? Nhưng sao ông biết lúc nào xảy ra vụ án mạng?
-    Vì tôi nghe thấy tiếng một cô gái hét lên.
-    Khi nghe thấy, ông đã làm gì?
Ông ta hơi ngượng:
-    Tôi không làm gì. Bởi lúc đó tôi lại tưởng mấy đứa trẻ nhà bên cạnh. Chúng luôn gào rú lên như vậy.
-    Nhưng tiếng rú của cô gái kia ở phía khác?
-    Đúng thế, nhưng bọn trẻ nghịch ngợm kia có bao giờ ở đứng một phía đâu. Chúng luôn lách chỗ này, chỗ nọ, mỗi hôm ở một phía. Không có ai chôn chân chúng xuống. Bà mẹ chúng thì hoàn toàn bất lực.
-    Chúng tôi nghe nói, ông Ramsay chồng bà ấy liên tục vắng nhà?
McNaughton nói:
-    Làm kỹ sư mà, vắng nhà luôn là chuyện bình thường. Vả lại, hai đứa trẻ bên ấy không phải trẻ hư, chỉ cần nghiêm với chúng một chút là được.
-    Ngoài tiếng kêu ấy, ông còn nghe thấy gì nữa không? Ông có nhìn thấy một người lạ nào bên số nhà 19 hôm qua nữa không?
-    Rất tiếc là hoàn toàn không, - McNaughton đáp.
Lúc ngồi trên ô tô, Colin hỏi:
-    Cậu có tin là bà ta nhận được mặt người trong ảnh không?
Hardcastle lắc đầu.
-    Mình thì lại nghi là có. Sau đấy bà ta đã đánh lạc hướng. Kiểu nhân chứng lúc thế này lúc thế nọ như vậy mình đã gặp quá nhiều!
Về đến đồn cảnh sát, thanh tra cười nói với bạn:
-    Trung sĩ Colin, bây giờ tôi cho cậu về.
-    Cảm ơn cậu về cuộc dạo chơi sáng nay. Cậu có thể cho đánh máy những ghi chép này của mình được không? Hình như mai là phiên tòa phải không? Mấy giờ nhỉ?
-    11 giờ.
-    Mình chắc sẽ về kịp. Mình phải đi London bây giờ, chỉnh đốn lại bản báo cáo. Và có thể mình sẽ đến gặp một thám tử tư, ông ta là bạn thân của cha mình. Vụ án này quá rắc rối, đúng là phải cầu viện đến ông ấy.
-    Thám tử tư à? Tên là gì?
-    Hercule Poirot.



Chương Mười Hai

Một buổi chiều quá lắm việc đối với thanh tra Hardcastle. Mọi cuộc tìm kiếm lai lịch nạn nhân đều chưa đem lại kết quả nào. Nhưng Hardcastle có được tính kiên nhẫn. Ông ta không tìm ra được ngay, nhưng tin tưởng chắc chắn rằng cuối cùng sẽ tìm ra được.
Cho đến 15 giờ 30, ông ngồi làm việc liên tục. Rồi ông quyết định đã đến lúc cần đi tìm tiếp.
Bà dì cô thư ký đánh máy Sheila Webb tên là gì ấy nhỉ? Bà Lawton. 14 phố Palmerston. Thanh tra Hardcastle không dùng ô tô, ông đi bộ. Đến góc phố, một cô gái trên hè đang đi ngược chiều với ông ta. Khuôn mặt kia... ông thấy quen quen. Không nhớ mình đã gặp cô ta ở đâu rồi nhỉ? Hardcastle rất bực, mình tự hào là người có tài xem tướng mạo kia mà!
Khi bà Lawton ra mở cửa, viên thanh tra nhìn thấy hai lá thư nằm trên thảm. Bà Lawton đã cúi xuống, nhưng ông nhanh tay hơn, nhặt lên, đưa bà, và không quên liếc nhìn địa chỉ ghi ngoài bì. Một lá gửi cho bà Lawton, lá thứ hai cho cô Webb, tức là cô Sheila.
-    Cảm ơn ông, - bà Lawton nói, rồi đặt hai lá thư lên chiếc bàn nhỏ kê ngoài lối đi. - Mời ông vào phòng khách.
-    Tôi muốn thẩm tra lại vài điểm trong vụ án mà cô cháu bà không may vướng vào. Hôm trước tôi chưa đến gặp bà vì còn vướng vội một số việc quan trọng.
Viên thanh tra đàng hoàng mở cuốn sổ tay ra:
-    Cô Sheila Webb còn có tên gọi nào khác nữa không, thưa bà? Trong này tôi ghi Sheila R. Webb, nhưng tôi quên mất R. là tắt của chữ gì? Rosalie phải không?
-    Không, thưa ông, “R.” ở đây là Rosemary, - bà Lawton nói. - Cháu tôi được đặt tên thánh là tên kép Rosemary-Sheila. Nhưng nó thấy cái tên “Rosemary” nghe thơ mộng quá nên nó thích dùng tên “Sheila”.
-    Tôi hiểu. - viên thanh tra nói và cố không tỏ ra là mình mừng rỡ thấy một giả thuyết của mình tỏ ra là đã đúng. - Cô Sheila hình như mồ côi, phải thế không, thưa bà Lawton?
-    Phải. Anh chị tôi đều qua đời từ khi cháu còn nhỏ.
-    Cha cô ấy sinh thời làm nghề gì?
Bà Lawton cắn môi ngập ngừng rồi nói:
-    Tôi không biết.
-    Sao bà lại không biết?
-    Lâu quá rồi, tôi không còn nhớ.
Cảm thấy bà ta như còn muốn nói thêm, thanh tra Hardcastle chờ đợi.
Bà Lawton nói tiếp:
-    Tôi chưa hiểu điều ông hỏi liên quan gì đến vụ án? Nghề nghiệp của anh rể đã quá cố của tôi ấy thì có liên quan gì kia chứ?
-    Đối với bà thì có vẻ là thừa, thưa bà Lawton, nhưng bà hiểu cho, hoàn cảnh xảy ra vụ án quá khó hiểu, cho nên chúng tôi cần thu thập càng nhiều thông tin càng tốt. Xin bà hiểu cho: có khả năng là có kẻ đã cố đổ vấy vụ án lên đầu cháu gái bà. Có thể một kẻ nào đó đã bố trí để cháu gái bà đến số nhà đó đúng lúc trong nhà vừa xảy ra án mạng.
-    Ông cho rằng, có ai đó muốn vu cho cháu tôi là hung thủ? Không! Không thể có chuyện ấy được... Cháu tôi không thể là hung thủ.
-    Đã bao nhiêu lần, do lục tìm trong quá khứ mà chúng tôi tìm ra được động cơ của thủ phạm. Do cha mẹ qua đời từ lúc cô còn nhỏ, cô Sheila không thể biết cha mẹ cô xưa kia làm gì. Chính vì vậy mà tôi tìm gặp bà, thưa bà Lawton. Cả hai cha mẹ cô Sheila đều chết theo cách tự nhiên chứ?
-    Chuyện ấy thì tôi không rõ. Tôi hoàn toàn không biết.
-    Tôi tin rằng không nhiều thì ít, bà hẳn phải biết chứ?
-    Tôi chưa hiểu, ông hỏi tất cả những chuyện ấy để làm gì? - bà Lawton lúng túng nói, vẻ mặt hết sức đau khổ.
Thanh tra Hardcastle chăm chú nhìn bà ta. Rồi ông dịu dàng đưa ra câu hỏi khác:
-    Hay cô Sheila là con ngoài giá thú?
Lập tức, nét mặt bà Lawton giãn ra, vừa nhẹ nhõm trở lại, vừa xấu hổ.
-    Vâng, đúng thế, nhưng nó không biết. Tôi chưa bao giờ để lộ chuyện đó ra với nó. Nó vẫn đinh ninh nó mồ côi, cha mẹ nó đã qua đời. Chính vì thế mà... ông hiểu tôi nói gì rồi chứ?
-    Hoàn toàn hiểu, - viên thanh tra.nói. - Tôi xin hứa với bà là trong quá trình thẩm vấn tôi sẽ không hỏi cô Sheila về chủ đề này.
-    Chẳng có gì để mà huênh hoang, - bà Lawton nói. - Tôi cam đoan là nếu cháu tôi biết được, nó sẽ hết sức đau lòng! Xin tiết lộ với ông, chị tôi xưa kia đã từng là niềm hy vọng của gia đình. Sau khi trở thành giáo viên, chị tôi rất thành đạt.
-    Hiện nay bà ấy sông ở đâu?
-    Tôi hoàn toàn không biết. Chị tôi nghĩ rằng nên xa hẳn cháu, như thế sẽ tốt cho cháu hơn. Tôi nghĩ, chắc chị ấy vẫn tiếp tục làm nghề dạy học.
-    Nhưng sao bà ấy không tìm cách để biết tin tức của con gái? Điều này rất đáng lạ đốì với một bà mẹ.
-    Đấy là do ông chưa biết tính chị tôi đấy thôi. Chị Ann tôi tính tình rất cứng rắn. Giữa hai chị em chúng tôi chưa bao giờ có chuyện tâm tình cả. Hai chị em chênh lệch tuổi quá nhiều. Tôi kém chị ấy những mười hai tuổi.
-    Tôi hiểu.
Nói xong, thanh tra Hardcastle đứng dậy.
-    Cảm ơn bà đã thành thật với tôi, thưa bà Lawton.
Viên thanh tra lấy tấm ảnh trong túi ra.
-    Bà có biết người này không?
-    Không. Tôi không nhìn thấy người này bao giờ.
-    Thôi được. Tôi không muốn quấy rầy bà thêm nữa, bởi cô cháu bà chưa về...
-    Đúng thế, hôm nay nó về muộn, - bà Lawton sực nhớ. - Lạ đấy. Rất ít khi cháu tôi về muộn. May mà chị Edna không chờ nó.
Thấy cặp mắt dò hỏi của viên thanh tra, bà giải thích.
-    Đấy là chị bạn làm cùng với nó. Lúc nãy chị ấy đến đây tìm. Ngồi chờ một lúc xong, chị ấy bảo không thể chờ thêm được nữa.
Đột nhiên viên thanh tra sực nhớ, chính là cô gái ông vừa nhìn thấy đi trên hè phố, và cũng chính là cô gái đã ra đón ông ở Trung tâm Cavendish, chiều hôm xảy ra vụ án mạng. Chính là cái cô có chiếc giầy bị gãy gót.
-    Chắc là bạn thân của cháu gái bà? - Hardcastle hỏi.
-    Không đâu. Chỉ là cùng làm một chỗ với nhau thôi, xem chừng không thân gì mấy. Thú thật là khi chị Edna đến đây, bảo muốn gặp Sheila, tôi rất ngạc nhiên. Chị ta bảo có điều gì đấy chị ta không hiểu và muốn hỏi ý kiến cháu tôi.
Lúc sắp ra cửa, viên thanh tra hỏi thêm:
-    Tên của cháu gái bà do ai đặt đấy?
-    “Sheila” là tên bà ngoại cháu. Còn tên “Resemary” là do chị tôi đặt. Nhưng tên ấy thơ mộng quá, không hợp với cháu.
Ra đến góc phố, viên thanh tra vẫn lẩm bẩm: “Rosemary”.. chà... Rosemary... Một sự hồi tưởng lại chăng, hay là...”





Chương Mười Ba


Sau khi đi ngược lên đại lộ Charing Cros, tôi ngoặt vào khu phố cổ, gồm những phố hẹp ngoằn ngoèo nằm giữa phố Oxford Mới và Công viên Covent Garden. Tại khu phố này chen chúc các cửa hiệu bán những thứ đồ hết sức bất ngờ: đồ cổ các loại, giầy để nhẩy múa, và rất nhiều búp bê.
Bất chấp sức quyến rũ của những cặp mắt xanh và nâu trong cửa hàng búp bê, tôi vẫn đến được cái đích mà tôi nhắm trước. Đó là một hiệu sách nhỏ, tồi tàn, nằm trên một phố hẹp gần Viện Bảo tàng British Museum. Tủ ngoài bầy sách: những cuốn tiểu thuyết cũ, những cuốn sách giáo khoa, giá ghi trên những mảnh giấy nhỏ dán vào là 3 hào, 6 hào, 1 shilling. Đủ các loại sách hổ lốn nằm bên cạnh những cuốn sách quý bọc gáy vàng.
Tôi lách vào, bởi khắp bốn phía chỗ nào cũng chất đầy sách, và mỗi ngày lại có thêm, khiến chủ hiệu phải xếp chúng ra tận sát vỉa hè.
Bên trong, lại càng như thế. Tại đây sách là chủ nhân, chiếm đoạt toàn bộ không gian, không một bàn tay nào đủ uy quyền bắt được chúng đứng thành hàng lối cho có trật tự. Lốì đi giữa hai giá sách hẹp đến nỗi tôi phải cố lách mới đi nổi. Không một cái bàn, không một ngăn giá nào không kín sách.
Mãi tận bên trong, một ông già ngồi trên chiếc ghế đẩu, xung quanh là sách. Đó là một ông già mặt phẳng như mặt mèo, đội chiếc mũ kiểu của các họa sĩ. Nhìn ông ta, người ta thấy ngay đấy là một người chịu thua, đã đầu hàng trước cả một làn sóng sách ào ào đến mà không sao sắp xếp chúng được. Vẻ mặt hoàn toàn bất lực, ông già gác chân lên đống sách cứ mỗi lúc một dâng lên như thủy triều. Đấy chính là ông Soloman, chủ hiệu sách này.
Nhìn thấy tôi, cặp mắt uất hận của ông dịu xuống, ông chào tôi.
-    Cụ có cuốn sách nào thú vị cho tôi không?
-    Ồng đành phải trèo lên thôi, thưa ông Colin. vẫn những cuốn về loài rong biển à?
-    Vẫn thế.
-    Ông biết lốì lên rồi đấy.
Tôi gật đầu rồi leo lên một cầu thang nhỏ, ọp ẹp, đầy bụi bẩn, nằm tận góc trong cùng.
Tầng hai dành cho sách về phương Đông, nghệ thuật, y học và tác phẩm cổ điển Pháp. Trên tầng này, đằng sau một tấm rèm, có một chỗ người bình thường không ai biết, chỉ dành riêng cho một số người đặc biệt, chuyên cất những cuốn sách nói về các giáo lý bí truyền.
Tôi leo lên tầng ba. Tại đây, người ta đã cố sắp xếp, nhưng kết quả rất hạn chế, những cuốn sách về vạn vật học, khảo cổ và các môn khoa học nghiêm túc khác.
Tôi lách đi giữa những sinh viên, những đại tá về hưu, những mục sư, len qua những chồng sách nghiêng ngả. Đột nhiên tôi bị chắn đường bởi một cặp trai gái đang ôm ghì lấy nhau, quên cả vũ trụ bao quanh.
-    Xin lỗi! - tôi gạt họ ra để đi tiếp.
Tôi vén tấm rèm che một cái cửa, mở cửa ra, bước vào trong. Tôi vào đến một kiểu hành lang rất đặc biệt, cũ kỹ nhưng sạch sẽ, hai bên treo những bức họa vẽ phong cảnh đồng cỏ sứ Ecôt. Trước mặt tôi là một cánh cửa có nắm tay bằng đồng sáng loáng. Tôi gõ nhè nhẹ. Một bà già ra mở cửa, tóc bạc, mặc váy dài và áo len mầu xanh lá cây kiểu khá lạ mắt.
Không cần chào hỏi gì, bà già reo lên:
-    Cậu đây rồi. Hôm qua ông ấy đã hỏi sao chưa thấy cậu đến, và có vẻ không bằng lòng đấy. Lần sau đừng như thế nữa!
Câu sau cùng bà già nói giọng như mắng trẻ con.
-    Vú yên tâm!
-    Đừng gọi ta là “Vú”. Ta đã nói bao nhiêu lần
rồi.
-    Đấy là do bà đấy chứ. Lúc nào bà cũng coi tôi như con nít.
-    Thôi được. Vào đi.
Bà già ấn một nút trên máy truyền âm, nhấc ống nói, nói:
-    Cậu Colin... Vâng, cậu ấy vào ngay đây.
Bà ra hiệu cho tôi vào.
Tôi bước vào một gian phòng tối tăm, mù mịt khói thuốc lá, khiến tôi không nhìn thấy gì hết. Khi mắt đã cay xè, tôi cố định thần mới nhìn thấy vóc dáng to béo của sếp, ngồi khoanh tròn trong một chiếc ghế cũ nát, trước mặt là chiếc bàn có trục xoay.
Tháo cặp kính trên mắt ra, đại tá Beck đẩy chiếc bàn nhỏ trên đặt một cuốn sách dầy cộm, nhìn tôi vẻ không hài lòng.
-    Thì ra bây giờ cậu mới đến:
-    Vâng, thưa sếp.
-    Có gì mới không?
-    Chưa, thưa sếp.
-    Cách đó không được đâu, Colin. Cậu nghe thấy tôi nói gì rồi chứ? “Trăng Lưỡi Liềm”! Cậu đúng là vớ vẩn.
-    Tôi vẫn tin rằng...
-    Thôi được, nếu vậy cậu cứ nghĩ nữa đi. Nhưng không thể cứ đợi cho cậu nghĩ đến vô cùng tận.
-    Tôi công nhận đấy chỉ là một giả thuyết...
-    Giả thuyết là thứ cần thiết.
Sếp của tôi quả là có cách suy nghĩ mâu thuẫn.
-    Những thành công lớn nhất của tôi là do các giả thuyết. Chỉ có điều cái giả thuyết của cậu khập khễng thế nào ấy. Cậu kiểm tra các nhà hàng rồi chứ?
-    Vâng, thưa sếp.
-    Vậy là xong rồi chứ gì?
-    Chưa xong hẳn.
-    Cậu cần bao nhiêu thời gian nữa?
-    Nhưng hiện giờ tôi muôn xin sếp cho tôi ở lại đây thêm chút nữa. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên... và tôi nghi...
-    Sự kiện! Cần sự kiện, cậu rõ chưa? Phải dựa vào sự kiện, chứ không thể dựa vào suy luận được. Nếu không, cậu sẽ lạc hướng đấy!
-    Trung tâm điều tra của tôi là: Wilbraham Crescent, phố Wilbraham Trăng Lưỡi Liềm!
-    “Trăng Lưỡi Liềm”, được rồi, nhưng cậu nói rõ hơn xem nào?
-    Sự trùng hợp là tại phố đó có một vụ án mạng.
-    Nạn nhân?
-    Một kẻ chưa biết tung tích. Y mang trong người tấm danh thiếp mang một cái tên giả và một địa chỉ giả.
-    Chà. Hứa hẹn đây. Thế rồi sao?
-    Hiện nay chưa có gì rõ ràng, thưa Sếp, nhưng tôi...
-    Vậy cậu đến đây để đề nghị tôi cho cậu tiếp tục lục soát cái phố Wilbraham Crescent, trong cái thị trấn có cái tên oái oăm, tên thế nào ấy nhỉ?
-    Thị trấn Crowdean, cách cảng Pơrtlebury mười dặm. Tại đó có một số đối tượng tôi thấy lai lịch của họ có nhiều khả nghi.
Đại tá Beck kéo chiếc bàn lại gần, lấy cây bút bi trong túi áo ra, nhìn vào mắt Colin:
-    Nhà nào?
-    Ngôi nhà đó có tên là Biệt thự Diana, số 20, phố Wilbraham Crescent. Tại đấy có một bà tên là Phu nhân Hemmings sống với cả một đàn mèo đông đúc, ít ra cũng non hai chục con.
-    Diana? Hừm! - viên Đại tá thốt lên. - Vị nữ thần của Mặt Trăng, đúng không nhỉ? Cái bà Hemmings ấy làm gì?
-    Không làm gì cả, chỉ nuôi một đàn mèo và chăm sóc chúng.
-    Một vỏ bọc độc đáo, rất có thể là như thế. Thôi được, - viên Đại tá gật đầu. - Còn gì nữa không?
-    Còn. Một nhân vật nữa tên là Ramsay, tự nhận là kỹ sư công chính, quanh năm vắng nhà.
-    Chà, nhân vật này nghe chừng đáng để mắt đấy! Cậu muốn biết thêm thông tin về lão chứ gì? Đồng ý!
-    Có vợ, hai đứa con trai rất tinh nghịch.
-    Có thể lắm. Đã từng có những đứa như thế. Cậu nhớ thằng cha Pendleton rồi chứ? Y cũng có vợ và mấy đứa con. Chị vợ y tin như sắt đá rằng chồng chị ta chỉ là một chủ hiệu sách nghiêm túc, chuyên về sách văn học phương Đông. Ta nhớ ra rồi. Thằng cha Pendleton kia có thêm một chị vợ nữa bên Đức và hai đứa con gái. Rồi còn một thằng cha nữa ở Thụy Sĩ. Không hiểu đấy là vỏ bọc, hay do nhu cầu tình dục của hắn quá mạnh. Chịu. Kể tiếp đi.
-    Rồi tại số nhà 63, có một cặp vợ chồng già, ông giáo McNaughton, người Ecốt, nghỉ hưu, suốt ngày chỉ chăm nom khu vườn. Không có gì khả nghi.
-    Được, ta sẽ cho thẩm tra. cẩn thận, ta cứ cho thẩm tra tất. Nhưng tại sao cậu quan tâm đến mấy người đó?
-    Vì vườn sau của họ dính với vườn của ngôi nhà xảy ra án mạng.
-    Chà, cậu có lối suy luận kiểu Pháp đấy. Xác chết của ông chú tôi ở đâu? Tại nhà bà thím! Thôi được, còn số nhà 19?
-    Một bà già mù, xưa là giáo viên Trung học, nay dạy chữ nổi cho một Viện người mù. Nhưng cảnh sát địa phương đã tìm hiểu sâu về lai lịch bà ta rồi.
-    Bà ta sống một mình?
-    Vâng.
-    Vậy cậu nhắm cái gì mà quan tâm đến những người ấy?
-    Tôi cho rằng, nếu như án mạng xảy ra tại một trong những ngôi nhà đó, thì hung thủ rất dễ dàng đem xác chết sang đặt ở số nhà 19. Hắn chỉ cần chọn một lúc nào đó thuận lợi. Đấy chỉ là một giả thuyết. Nhưng tôi thu lượm được một thứ có thể trình bày Sếp. Xin sếp ngó qua.
Colin lấy đồng tiền dính bẩn đưa ra.
-    Tiền Tiệp khắc? Cậu moi được ở đâu đấy?
-    Không phải tôi. Mà người khác nhặt được sau ngôi nhà số 19.
-    Đáng chú ý đấy. Nói cho cùng thì định kiến của cậu về Trăng Lưỡi Liềm và những mơ tưởng của cậu về trăng sao có khi sẽ đem lại kết quả không biết chừng. Hút không? - Đại tá Beck chìa điếu xì- gà ra mời tôi.
-    Cảm ơn. Lúc này tôi đang bận.
-    Cậu sẽ quay lại thị trấn Crowdean chứ?
-    Vâng. Sáng nay tôi phải đến dự phiên tòa để khởi tố vụ án. Nhưng chắc chắn phiên tòa sẽ hoãn thôi.
-    Tôi nghi trong khu phố đó có một con bé dễ thương, có không?
-    Có, - tôi khó chịu đáp.
Đột nhiên ông Đại tá cười khùng khụe.
-    Thôi được, cậu trai, cẩn thận không lạc lối đấy. Chà, lại một lần nữa ái tình thò cái đầu gớm ghiếc của nó lên. Quen cô bé lâu chưa?
-    Chuyện này... Tóm lại, đấy chính là cô gái đã phát hiện ra xác chết.
-    Lúc ấy con bé làm gì?
-    Rú lên.
-    Chà, hiểu rồi! Con bé gục vào vai cậu khóc nức nở, để kể cho cậu nghe đầu đuôi chứ gì? Đúng thế không?
-    Tôi chưa hiểu Đại tá nói thế là ý gì?... Nhưng xin Sếp xem thêm thứ này nữa.
-    Tôi lấy tấm ảnh chụp nạn nhân đưa ông.
-    Ai đây? - Đại tá Beck hỏi.
-    Nạn nhân vụ án mạng?
-    Một ngàn phần trăm, con bé của cậu là hung thủ. Tôi thấy chuyện này có gì khả nghi lắm.
-    Tại tôi chưa kể hết với sếp.
-    Khỏi cần, - viên Đại tá nói.- Bây giờ cậu chạy đến Tòa án đi, nhớ theo dõi cô bé xinh đẹp kia! Cô ta có mang một cái tên nào dính dáng đến trăng sao không? Diana... Artmis?
-    Không.
-    Thôi được, hãy cứ thế. Tôi nhắc lại: cẩn thận con bé.



Đăng nhập để trả lời
0