Nhà văn Hoàng Minh Tường gửi lời cảm ơn Vnthuquan đã đăng tải toàn văn tiểu thuyết "Thời của thánh thần' và có nhờ tôi đánh máy gửi đến mục "Truyện" tác phẩm "Đồng sau bão" và"Thuỷ hoả đạo tăc". Kính mong Vnthuquan cho post lên mạng.Kính chúc BBT sức khoẻ. Đặng Văn Sinh
Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online
Đồng sau bão và Thủy hỏa đạo tặc
2 trả lời, 4.528 lượt xem —
Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-22 10:08:56Ct.Ly>
Hoàng Minh Tường
GIA PHẢ CỦA ĐẤT
TIỂU THUYẾT 2 TẬP
(Tác phẩm văn học xuất sắc về Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn thời kỳ Đổi mới 1980 – 2010 do Bộ NH& PTNT – Hội Nhà Văn Việt Nam tặng)
Tập 1 Thuỷ Hoả Đạo Tặc Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1997 * ( Tái bản lần thứ 4)
I
Hội trường lớn Uỷ ban Nhân dân huyện Giang Thuỷ nằm giữa trung tâm thị trấn. Với lối kiến trúc hiện đại điển hình, ô-văng đón mái, hiên chạy vòng quanh trên hai mươi tư cột granitô đón đỡ suốt tám gian chiều dài, với hệ thống cửa kính cửa chớp choáng bóng lại đặt trên thế đất cao ngoảnh mặt ra hồ, nên dẫu chỉ một tầng nó vẫn có dáng mô-đéc, bề thế, xứng đáng với một huyện trọng điểm lúa.
Ngày khánh thành hội trường sẽ là ngày có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu một trang mới trong đời sống văn hoá và chính trị của huyện. Ngay từ ngày nước sơn màu ve nhạt cuối cùng được quét lên, người ta đã phác hoạ sẵn một chương trình để đón chào ngày ra đời của nó. Phòng văn hoá thông tin sốt sắng đề nghị mời nhà hát chèo kết hợp với phong trào văn nghệ quần chúng địa phương biểu diễn ba tối mở đầu. Phòng giáo dục thiết tha xin huyện cho đăng cai hội nghị nâng cao đời sống giáo viên của toàn tỉnh. Huyện đoàn tham mưu nên mở hội nghị tuổi trẻ hăng hái đi đầu phong trào lao động sản xuất. Hội phụ nữ xin tổ chức hội thảo về phong trào sinh đẻ có kế hoạch… Ngành nào cũng muốn có một tí vinh dự, một tí chút "oai".
Nhưng tất cả những đề nghị ấy đều khó lòng chấp nhận. Lý do chỉ là vì hội nghị ấy chưa xứng đáng, chưa đủ tầm cỡ để đảm đương cái vinh dự khai trương một hội trường lớn, thế thôi.
Suốt một tháng trời, những cánh cửa màu xanh nước biển đóng im ỉm. Tấm biển lớn màu đỏ chói có hàng chữ vàng rực: "Hội trường Giang Thuỷ" cứ lặng lẽ soi bóng xuống mặt hồ. Cái nắng tháng tám mỗi ngày làm cho nước sơn rạn nứt ra một chút, tạo nên những đường nứt chân chim trên nền chữ, tinh xảo đến mức không một người thợ vẽ tài hoa nào kẻ nổi.
Nhưng rồi cái ngày khai trương hội trường lớn cũng được tiến hành. "Hội nghị huy động lương thực vụ mùa" do Uỷ ban Nhân dân huyện triệu tập, xứng đáng được lĩnh cái vinh dự và trách nhiệm cao cả của nó.
Ngoài đồng lúa đã uốn câu. Lúa sây bông ken dày như những tấm thảm lớn, phẳng đều, kết liền ba mươi xã trong huyện thành một biển lúa, suốt ngày rì rào một thứ âm thanh gợi nghĩ đến sự dư dật, no đủ, ngan ngát một mùi hương thuần khiết, rạo rực, ăm ắp một niềm hi vọng.
Màu vàng của những cánh đồng, cái mùi hương đặc biệt quyến rũ của lúa mới như ùa tràn cả vào hội trường. Ngót hai trăm đại biểu, đủ mặt những cán bộ chủ chốt của ba mươi xã, lãnh đạo các ngành, các cơ quan thuộc khối uỷ ban và huyện uỷ, những người hàng ngày có mặt trên những cánh đồng hay ít ra cũng thấy mình gắn bó với những cánh đồng, đều hỉ hả.
Con số chỉ tiêu một vạn năm nghìn tấn lương thực năm 1978 của huyện Giang Thuỷ do bí thư huyện uỷ Trần Sinh đưa ra như một luồng điện chạy lan khắp hội trường. Một con số kỷ lục xưa nay huyện Giang Thuỷ chưa hề nghĩ tới. Giống như tâm trạng những vận động viên trước giờ thi đấu, cái mốc mười lăm nghìn tấn lương thực vừa khiến cho đại biểu ba mươi xã lo lắng, phân vân, đồng thời cũng gây cho họ tâm trạng kích thích, khêu gợi.
- Hơn lúc nào hết, đất nước đang đòi hỏi chúng ta, những người lính xung kích trên mặt trận nông nghiệp, phải không ngừng phấn đấu nỗ lực vươn lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn lao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội… - Kết thúc bài phát biểu dài hai tiếng đồng hồ, giọng bí thư huyện uỷ Trần Sinh càng trở nên hào hứng, sôi nổi. Cái tài hùng biện vốn là sở trường của ông càng tỏ rõ ưu thế ở những đoạn có tính chất động viên thúc giục. - Nhiệm vụ của chúng ta là luôn vươn lên phía trước chứ không có quyền lùi bước. Đã nhiều năm nay, huyện ta luôn hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu mười hai nghìn tấn lương thực do nhà nước giao, ngay cả trong những năm khó khăn nhất. Vậy thì vụ mùa này, với triển vọng tươi sáng như thế kia, - Trần Sinh khoát tay chỉ ra cánh đồng phía xa - chúng ta tin rằng sẽ vượt một cách dễ dàng ba nghìn tấn lương thực. Các đồng chí hãy tưởng tưởng, năm trăm huyện trong cả nước, bình quân mỗi huyện đạt chỉ tiêu huy động một vạn tấn lương thực. - Ông quay xuống chỗ Mạch, uỷ viên thường trực Uỷ ban Nhân dân huyện, ngồi ngay dãy bàn đầu như có ý hỏi.
Loáng cái, Mạch đã làm xong con tính trong đầu. Anh nhanh nhẹn nhắc: - Năm triệu tấn.
- Đúng. Năm triệu tấn. Chúng ta sẽ có năm triệu tấn lương thực cung cấp cho khu vực phi nông nghiệp. Như vậy, con số chỉ tiêu mười tám, hai mươi triệu tấn lương thực cả nước là một điều hoàn toàn hiện thực…
Cả hội trường xì xào bàn tán. Người bạo mồm miệng nhất là Đan, chủ nhiệm Vân Xuyên, hợp tác xã giàu nhất huyện.
- Căng quá. Cố thì cũng được. Nhưng chung quy chỉ khổ anh nông dân. - Đan công khai tỏ chính kiến với các đại biểu xung quanh.
- Đáng lý ngày công của tôi được một cân thì nay đành phải rút còn tám lạng. Ở trên này các vị muốn phóng ra con số bao nhiêu chẳng được. Vấn đề là phải xuất phát từ thực tế, phải lượng sức dân. Họ kêu ca, phản đối thì mình còn biết đường sửa chữa, chứ sợ nhất là họ lãn công…
Nghe tiếng Đan, Cơ - chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Bình cố ngả người ra phía sau và nghểnh tai để vừa đủ nghe trọn ý. Cái thằng cha bạo mồm bạo miệng. Hắn sẽ phản đối ông Trần Sinh trước hội nghị cho mà xem. Khoá vừa rồi trật thường vụ huyện uỷ cũng vì cái vạ miệng. Cơ thầm nghĩ và nhớ lại buổi gặp Trần Sinh sáng nay. Trong số ba mươi chủ nhiệm có mặt ở đây, có ai đã được đích thân bí thư huyện uỷ mời gặp riêng trước khi khai mạc hội nghị quan trọng.
- Ông có thể dấn lên ba mươi tấn nữa không? Năm trăm tám mươi tấn, kể ra đã là cố gắng lớn. Nhưng hình như nó vẫn chưa tương xứng với sức vóc của Thanh Bình. - Trần Sinh nheo mắt nhìn Cơ thăm dò.
- Báo cáo anh, thường vụ và ban quản trị chúng tôi đã họp bàn cân nhắc kỹ… - Thường vụ các ông thì mình còn lạ gì. Ông Điền là một điển hình của tư tưởng nông dân lừng chừng. Có bao giờ bí thư Thanh Bình dám quyết một cái gì mạnh mẽ, táo bạo đâu. Nói thật với ông, số cán bộ của Thanh Bình, mình chỉ tin tưởng, hi vọng có ông thôi. Nếu ông muốn làm ăn lớn thì cũng phải biết thả con săn sắt, bắt con cá rô. Làm ăn với nhà nước không có đi đâu mà thiệt…
Trần Sinh không nói toạc ra, nhưng Cơ thừa thông minh để hiểu rằng đằng sau lời nói lấp lửng kia sẽ là phân đạm, vật tư, dầu chạy máy… mà chỉ cần một chữ kí của ông là những thứ đó sẽ từ kho nhà nước tuôn về hợp tác xã. Và, riêng với Cơ, sẽ có một cái gì nữa chứ? "Trong số cán bộ của Thanh Bình, mình chỉ tin tưởng, hi vọng có ông thôi…". Chỉ một lời nói của bí thư huyện uỷ, đủ làm Cơ sung sướng bao nhiêu, đã nhen nhóm trong lòng Cơ biết bao hoài bão, hi vọng…
Cơ xoay lại nhìn Đan như để lượng sức đối thủ của mình. Chủ nhiệm Vân Xuyên đoản tướng, dáng thô, tay chân ngắn ngủn nhưng chắc nịch. Đan là một trong những chủ nhiệm kì cựu nhất của Giang Thuỷ. Và cũng là người giữ được phong trào lâu bền, ít bị chao đảo. Cùng với Thanh Bình, Vân Xuyên nhiều năm nay thay phiên nhau dẫn đầu huyện về năng suất, thuế và tổng sản lượng thu nhập. Nhưng nhược điểm lớn nhất của Đan là hay nói ngang, không sốt sắng với các chủ trương của huyện. Vì thế không được lòng cấp huyện. Vậy là dại. Tâm lí cái anh đã tung thì thế nào cũng mong có người hứng. Đã thế thì mình sẽ thách anh Vân Xuyên dám nhận với Thanh Bình chỉ tiêu sáu trăm tấn.
Cơ vừa nghĩ vừa gật gù giở bản báo cáo đã chuẩn bị sẵn. Bốn trang giấy viết tay đặc kín, Cơ hầu như đã thuộc làu. Anh lấy bút chữa lại con số năm trăm tám mươi thành sáu trăm. Sáu trăm tấn lương thực cả năm của một hợp tác xã diện tích canh tác xấp xỉ năm trăm héc-ta, vào hàng trung bình của huyện, sẽ là một quả tạ ném vào giữa hội trường khiến khối anh bổ chửng. Cơ cười thầm, cố hình dung ra gương mặt một vài anh chủ nhiệm có máu mặt trong huyện đúng cái lúc mà Cơ tung ra con số có ý nghĩa kia, cũng là lúc bài diễn thuyết của Trần Sinh vừa chấm dứt. Theo thói quen Cơ đưa cả hai bàn tay lên vỗ. Tiếng vỗ ban đầu có vẻ đơn điệu, nhưng rồi cả hội trường cũng phải hoà theo.
***
Giờ giải lao, Cơ cố tình tách khỏi gian phòng mịt mù khói thuốc, tách khỏi những lớp đại biểu đang tụ tập ngoài hành lang bàn tán, tranh luận con số mười lăm nghìn tấn lương thực. Anh lặng lẽ đi theo Mạch ra phía thảm cỏ ven hồ.
- Chiều nay bọn mình bố trí cậu phát đầu tiên đấy nhé. - Mạch đi chậm lại dang tay vỗ vai Cơ, giọng thân mật. - Thường vụ huyện uỷ, đặc biệt là anh Trần Sinh đặt rất nhiều hi vọng ở Thanh Bình vụ mùa này. Vụ chiêm xuân các cậu đã nộp bốn trăm tấn rồi. Hai trăm tấn nữa cũng chỉ bằng như bà xã nhà cậu đẻ rốn thêm một cái đĩ nữa…
Mạch cười khục khục, mặt đỏ tía tai, rất tâm đắc về câu pha trò của mình. Cơ đan hai bàn tay vào nhau, yên lặng. Câu pha trò của Mạch vô tình đã chạm vào cái nỗi buồn sâu kín của Cơ, khiến trong một thoáng cái tâm trạng bừng bừng hưng phấn của anh như xẹp lại. Nhưng để tỏ ra mình không hề phản đối Mạch, Cơ vẫn cố gượng cười.
- Cố dấn thêm hai mươi tấn nữa cho nó tròn sáu trăm. Bọn mình sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ…
Cơ nhìn thẳng vào Mạch và bắt gặp cái nhìn đầy khích lệ của anh. - Hai mươi tấn nữa đối với Thanh Bình không phải là chuyện khó. Nhưng cũng cần phải nhờ đến sự hỗ trợ của huyện…
Ồ, gì chứ chuyện ấy thì cậu phải tự hiểu lấy…
- Cái nhìn của Mạch như thầm nói với Cơ như vậy. Ông Trần Sinh sẽ đưa cậu vào huyện uỷ là cái chắc. Thanh Bình nộp thêm hai mươi tấn, nhưng rồi huyện sẽ rót về cho hàng chục tấn đạm, máy bông sen, trang thiết bị,… thì cũng quá số thóc của các cậu bỏ ra.
Từ lúc nào, hai bàn tay của họ đã nắm chặt lấy nhau. Cơ cảm thấy bàn tay nóng rực của Mạch như đang truyền cho anh tất cả hơi ấm của cái thân hình béo tốt bệ vệ nở căng sau tấm áo sơ-mi cộc tay may rất đúng mốt kia. Hai người không nói thêm một lời nào nữa, lững thững quay lại phía hội trường.
Một cô gái có khuôn mặt đỏ hồng, tròn trĩnh, từ nãy vẫn ngơ ngác tìm kiếm ai đó giữa đám đông, nhác trông thấy Mạch đã chạy ùa lại.
- Chú. Cháu tìm chú mãi. - Cô gái vội vã đưa cho Mạch chiếc phong bì để ngỏ. - Chị Thoa bảo nhất định mời chú đến.
Mạch liếc nhìn tờ giấy ghi vội:
"Kính gửi anh Mạch. Sáng nay có đoàn nhà báo trung ương về làm việc với huyện đoàn, nên em không sang dự hội nghị được. Em đã nói với các đồng chí phóng viên là có mời đại diện Uỷ ban Nhân dân huyện cùng dự toạ đàm. Kính mời anh bớt chút thời gian sang dự với chúng em khoảng một tiếng để thêm phần long trọng. Anh đến ngay cùng với Vân Nga nhé. Các đồng chí phóng viên đang đợi đấy. Em - Thoa".
- Rầy rà to đây. Tôi đang bận hội nghị.
- Mạch lại cười khục khục giơ hai bàn tay như phân bua, khiến cô gái có cái tên rất kêu Vân Nga bỗng giãy nảy lên, cái cổ ngoẹo sang một bên và vẻ mặt thượt ra trông rất trẻ con.
- Kệ chú, chú mà không đến là cháu cứ ở đây.
Mạch nhíu mày, xem đồng hồ. Mười giờ ba mươi. Còn một báo cáo của phòng lương thực nữa sẽ đến giờ nghỉ trưa. Quan trọng nhất là bản báo cáo của Trần Sinh thì mình đã ngồi nghe từ đầu đến cuối, không bỏ sót câu nào rồi. Mạch chìa bàn tay với những ngón nần nẫn béo mập cho Cơ: - Thôi, mình phải đi một tí. Sơ suất với các nhà báo lắm khi cũng phiền toái đấy. Chiều mình sẽ nghe báo cáo của cậu. Nhất định sáu trăm tấn nhé. Có thể mình sẽ kéo các nhà báo cùng đến.
Mạch liếc vào trong hội trường, nhân lúc Trần Sinh đang nói chuyện với các đại biểu, lưng quay ra ngoài hiên, Mạch máy Vân Nga cùng đi tắt qua chiếc cửa ngách thông sang khu nhà ăn uỷ ban huyện, đi về dãy nhà huyện đoàn.
***
Với sự lịch lãm từng trải và kinh nghiệm giao tiếp, Mạch không chỉ gỡ cho Thoa khỏi cái thế bị động, lúng túng của một bí thư huyện đoàn mới được đề bạt trước cuộc phỏng vấn dồn dập của hai nhà báo trung ương mà anh còn làm cho hai phóng viên báo Sức trẻ phải kính nể và cảm phục.
Cô phóng viên Thu Lê thì thật quá non trẻ, cả về tuổi nghề, tuổi đời và những kinh nghiệm giao tiếp. Nếu Mạch không lầm thì cô ta vừa tốt nghiệp trường báo chí và chuyến đi công tác về Giang Thuỷ có thể là chuyến tập nghề đầu tiên trong đời. Anh chàng nhà báo có cái tên Đặng Hoài, trạc ngoài ba mươi, tỏ ra là một người có kinh nghiệm làm báo, khá sắc sảo và nhanh trong những câu hỏi có tính chất phát hiện vấn đề. Nhưng dẫu sao trong mắt Mạch, anh ta vẫn chỉ là một ngựa non háu đá, một kiểu người xốc nổi, cả tin.
- Chiều nay, nếu nhà báo không bận thì xin mời sang nghe một điển hình nông nghiệp vào loại "ganephô" của bọn tôi. - Mạch đã gợi ý Đặng Hoài trong bữa cơm trưa do huyện đoàn chiêu đãi. - Nhà báo thử tưởng tượng, một hợp tác xã chín nghìn dân, năm trăm héc-ta gieo trồng mà một năm nộp cho nhà nước sáu trăm tấn lúa có cừ không? Chiều nay tay chủ nhiệm Thanh Bình sẽ báo cáo. Nghê làm báo của các vị phải đào trúng những cái mỏ như thế. Đặng Hoài đã sốt sắng nhận lời. Ngay đầu giờ họp buổi chiều, anh đã theo Mạch sang hội trường Giang Thuỷ. Quả tình, cái mỏ mà Mạch đã chỉ cho Đặng Hoài có một trữ lượng mà anh không ngờ. Bản báo cáo của Cơ cứ cuốn anh đi, gây cho anh hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Làm ăn như thế thì cừ quá. Một vùng chiêm trũng mà đã sử dụng hệ số vòng quay của đất tới hai phẩy tám. Năng suất liên tục bảy tấn một héc-ta. Ngành nghề đâu ra đấy. Quản lý sát sao, táo bạo, có đầu óc làm ăn lớn. Mọi cấu trúc, tình tiết của một bài phóng sự đã dàn sẵn trong đầu Đặng Hoài, chặt chẽ, khúc chiết đến mức ngay bây giờ, ngồi vào bàn là anh có thể viết lia lịa đến dấu chấm cuối cùng. Đặng Hoài ngồi ngả người vào lưng ghế tựa, nheo mắt ngắm nhìn Cơ qua làn khói thuốc. Nhìn người để kiểm tra lại việc - kinh nghiệm làm báo đã dạy Hoài thế. So với những cán bộ chủ chốt ba mươi xã có mặt trong hội trường này thì Cơ chững chạc, tư thế hơn cả. Gương mặt sáng sủa, sống mũi cao, đôi mắt linh hoạt khiến Cơ có vẻ trẻ hơn nhiều so với tuổi bốn mươi. Chỉ có một nhược điểm nhỏ là cặp môi quá mỏng và rộng. Dẫu vậy, những đường nét vẫn khá hài hoà, cân đối. Thêm vào đó, Cơ tỏ ra có ý thức trong cách ăn mặc. Chiếc áo sơ-mi be cổ cứng, ve rộng trông diêm dúa nhưng trang nhã bỏ gọn trong quần, rõ ra tư thế một anh chủ nhiệm có tri thức. Cho đến phần cuối của bài phát biểu, khi bằng một giọng chậm rãi và dõng dạc, Cơ đưa ra cái chỉ tiêu sáu trăm tấn lương thực cả năm của hợp tác xã Thanh Bình thì cả hội trường lặng đi đến mấy giây vì quá bất ngờ. Rồi tiếng ồn ào nổi lên khắp các dãy ghế. Bí thư Trần Sinh đứng bật đậy, quay lại các đại biểu, hai tay đưa ngang trước gương mặt thoả thuê đỏ hồng vì xúc động. - Đề nghị hội trường chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần tiến công cách mạng của Thanh Bình. Tiếng vỗ tay râm ran. - Nào, bây giờ xin mời các anh tài trong huyện. Có ai dám bắt tay thi đua vượt Thanh Bình trong vụ mùa này không? Không có tiếng đáp lại lời bí thư huyện uỷ. Trần Sinh nắm bàn tay giơ lên một lúc, rồi bỏ xuống. - Vậy là độc nhất vô nhị, không có đối thủ? - Ông buồn bã nói và đưa mắt thất vọng nhìn khắp hội trường. Vân Xuyên, Tú Nguyệt đâu? Sao anh chàng Đan cứ cúi gằm mặt xuống thế kia? Và cô Nguyệt nữa. Nhưng kìa. Hai ba cánh tay cùng giơ lên. A, cái anh Phương Tú, Đồng Tân, rồi cả Sơn Công, Bình Thuỷ nữa kìa. Toàn những đơn vị trung bình. Có cả yếu kém nữa chứ. Vậy là họ đã quyết thi đua với Thanh Bình… Gương mặt Trần Sinh bỗng rạng rỡ, hoan hỉ. Ông không ngờ cái phương pháp tư tưởng của ông lại có tác động mạnh mẽ như vậy. Đưa bàn tay lên cao vỗ nhẹ, giọng ông đầy xúc động: - Hoan nghênh Phương Tú, Đồng Tân, Sơn Công, Bình Thuỷ. Hoan nghênh tinh thần tiến công cách mạng của hội nghị huy động lương thực mùa vụ 1978 của Giang Thuỷ chúng ta. Với khí thế này, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành vượt chỉ tiêu kỷ lục mười lăm nghìn tấn lương thực. Nào, bây giờ xin mời đồng chí Hoàng Họp, chủ nhiệm hợp tác xã Phương Tú… *** Chiếc xe Honđa 50 màu xanh nước biển bóng nhoáng nổ máy rất êm lượn một cua vòng từ đường nhựa vào dãy phố huyện. Con đường lát đá củ đậu mấp mô lâu ngày không được tu sửa, rộng chỉ đủ cho một chiếc xe con đi vừa. Những ngôi nhà kiên cố cũ kỹ và rêu mốc ken sít vào nhau, mái hiên chìa ra cả mặt đường khiến dãy phố càng trở nên sâu hun hút và chật chội đông đúc. Đặng Hoài ngồi phía sau Cơ. Anh không ngờ cái thị trấn nhỏ bé này lại có một dãy phố cổ sầm uất đến thế. Hai bên đường san sát những hiệu may, cửa hàng tạp hoá, quán ăn, hiệu cắt tóc, quầy sửa chữa đồng hồ, xe đạp và các đồ dùng sinh hoạt. - Dãy phố này, hồi kháng chiến là trung tâm buôn bán của cả vùng phía nam tỉnh đấy, anh ạ. Năm 1946, khi Pháp chiếm Hà Nội, nhiều người chạy tản cư về đây sinh cơ lập nghiệp. - Cơ giới thiệu qua với Đặng Hoài một vài nét về đặc điểm lịch sử địa lý và phong tục vùng quê. - Nhà báo các anh đi nhiều, am hiểu rộng, chắc đã nghe tiếng đồn về bánh đa và bún chó Giang Thuỷ? - Ồ, chưa đâu. Về món ăn thì quả tôi không sành… - Thế thì bọn tôi phải giới thiệu với nhà báo một đặc sản truyền thống của địa phương. - Cơ nói như vô tình. - Chẳng mấy khi anh về thăm… Gọi là có một chút gặp gỡ kỷ niệm… Chiếc Honđa giảm ga, chạy chậm lại và dừng trước cửa một quán ăn có tấm biển màu vàng xỉn với dòng chữ kẻ rất cầu kỳ: "Thịt cầy bảy món". Chủ quán là một người đứng tuổi, thấp lùn có bộ mặt nhẵn bóng. Thấy Cơ giới thiệu một cách trân trọng và lịch thiệp, ông ta cũng vội có ngay một thái độ cung kính vồn vã tương ứng. - Kính rước hai ông vào nhà trong. Đặng Hoài còn đang định thần làm quen với ánh sáng ngọn đèn toạ đăng vàng chói đặt giữa bàn thì đã thấy hai bàn tay cùng chìa ra. Một bàn tay nần nẫn lúc nào cũng xâm xấp mồ hôi của Mạch và bàn tay rắn như sắt nguội, chỉ còn bốn ngón. Đặng Hoài nhìn người lạ mặt và nhận ra một khuôn mặt dài với đôi mắt to lồi và hình như anh đã gặp ở hội trường uỷ ban lúc chiều. - Anh Mạch thì anh Hoài đã biết rồi. Còn đây là đồng chí Tấn, chủ tịch xã tôi. - Cơ giới thiệu. Chủ, khách chào hỏi nhau tíu tít. Mạch như chợt nhớ ra một điều hết sức hệ trọng: - Chết thật. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Trên báo chí ông vẫn ký tên Đặng Hoài phải không? Thảo nào, gặp ông ban sáng tôi cứ ngờ ngợ. Hôm nọ đọc bài "Tuổi trẻ trên vùng đất mới" của ông, tôi phục quá. Viết giỏi. Đọc xong, tôi khoe ngay với ông Trần Sinh: "Một tay phóng viên vừa viết về thanh niên huyện ta trên vùng kinh tế mới, tuyệt quá, anh ạ". Những lời khen của Mạch làm Đặng Hoài sung sướng thực sự. Anh biết đâu rằng, cái bài báo mà Mạch vừa khen, chính anh ta vừa nhìn thấy trong tờ "Sức trẻ". Cơ nhìn đồng hồ. Anh ghé tai Tấn nói nhỏ: - Cụ Điền đâu? Sao bây giờ chưa thấy đến? - Tôi mời, nhưng ông ấy kêu mệt, xin phép về trước. Cơ nhíu mày, tỏ ý không vừa lòng. - Cái ông già đến lạ. Cứ chủng chẳng kiểu này thì thật khó làm ăn. Ông ấy làm như chúng mình tư túi với nhà báo để tâng bốc thành tích cá nhân ấy không bằng. Chẳng qua cũng là vì sự nghiệp chung của cả hợp tác xã chứ đâu phải vì anh hay vì tôi… - Từ lúc anh vừa xướng con số sáu trăm tấn trên hội trường là cụ ấy cứ dấm dẳn với tôi suốt. - Không xướng thì còn mặt mũi nào với huyện. Mang tiếng là tiên tiến mà "thằng" Vân Xuyên nó cũng năm trăm tám mươi tấn chứ kém gì… Cơ nhớ lại vẻ mặt khó đăm đăm của ông Điền lúc chiều, khi anh trao đổi việc anh điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp với không khí hội nghị và yêu cầu của huyện. Lý ra ông nên lấy đó làm điều vinh dự và hãnh diện với hàng huyện chứ? Bí thư đảng uỷ của một xã đi đầu trong phong trào huy động lương thực, tức là công tác tư tưởng, công tác chính trị anh làm không chê vào đâu được. Chỉ riêng một chuyện ấy, mình đã làm mát mặt cho ông ấy bao nhiêu rồi. Đằng này suốt buổi họp toàn lủi xuống mấy hàng ghế cuối hút thuốc lào vặt. Bí thư, chủ tịch, chủ nhiệm mỗi anh ngồi một nơi, cứ như ông chằng bà chuộc… Càng nghĩ Cơ càng thấy bực. Nhưng vốn là một người biết tự kiềm chế, trước mặt Mạch và Đằng Hoài, anh vẫn tỏ ra hồ hởi, vui vẻ. Chiếc bàn vuông phủ tấm ni-lông đã được bày la liệt các món ăn. Theo bản năng và thói quen, Mạch đưa mắt thầm đếm những món ăn do chủ quán vừa bưng ra. Thịt chó luộc, dồi chó, nhựa mận, tiết canh chó, xáo chó, chân chó ninh nhừ, thịt chó nướng. Vừa đúng bảy món. Giữa những đĩa, những bát thịt sẫm màu, nổi bật lên những lát giềng vàng ngà, đĩa rau húng xanh rờn, tô bún trắng lốp, một chồng bánh đa cao ngất ngưởng và chai rượu ngang trong vắt. Tấn cầm chai lần lượt rót đầy từng cốc. - Xin nâng cốc chúc mừng cuộc gặp gỡ nhà báo. - Xin chào mừng anh Mạch, người luôn quan tâm động viên giúp đỡ Thanh Bình. - Xin chúc mừng kỷ lục sáu trăm tấn. Tiếng chạm cốc nhau lanh canh. Tiếng bánh đa vừng kêu rôm rốp. Đặng Hoài vừa nâng cốc lên môi đã thấy nóng ran nơi đầu lưỡi. Nghĩ tới buổi làm việc với Cơ tối nay, anh ý tứ san bớt rượu cho Mạch. - Ấy, nhà báo, phong tục của Giang Thuỷ là phải cạn một hơi. - Mạch vội giữ cốc của Đặng Hoài lại và thuận tay với chai rót đầy các cốc như lúc đầu. Cái phong độ lịch lãm của một nhà ngoại giao lúc ban sáng bây giờ đã được thay bằng một dáng vẻ cởi mở, chân thật và hơi có phần suồng sã. Dường như khi đã ngồi vào mâm, khi cái hơi men đã bốc trong đầu, người ta đã lột bỏ cái phần không phải của mình để trở lại mình hơn. Mạch lúc này đang là một con người như vậy. Vẫn điệu cười khục khục nhưng giọng nói của anh đã trở nên rè và tước bỏ những hư từ, những chỗ nhấn để trở về hầu như trần trụi. Anh nhìn Đặng Hoài một cách thân thiết mà không hề ý tứ, rào đón: - Chẳng mấy khi ông về Giang Thuỷ. Chuyến này bọn mình định nhờ ông lăng-xê cho cái anh Thanh Bình. Chủ trương của anh Trần Sinh với huyện uỷ chúng mình đang muốn phất Thanh Bình thành lá cờ đầu của tỉnh. Sở dĩ bọn mình bây giờ mới tuyên truyền vì rằng không muốn ăn non. Nuôi dưỡng mấy năm trời. Thường vụ cất lên đặt xuống, tìm thời điểm giới thiệu thích hợp. Chiều nay nghe ông Cơ báo cáo, ông đã có phần nào cái khí thế của Thanh Bình. Làm nhà báo chắc ông hiểu bọn tôi quá đi rồi. Văn hoá cấp ba bổ túc. Khả năng viết lách có hạn. Làm nhiều, làm giỏi nhưng không viết được… - Mà có viết được chăng nữa, chúng tôi cũng ngại. Chẳng lẽ lại khen mình. - Tấn gắp một miếng dồi chó vào bát của Đặng Hoài, đôi mắt lồi tròn xoe vẻ thật thà bộc trực. Mặt Cơ tái dần đi. Đôi mắt anh hơi lim dim như cố giấu bớt cái ánh lửa long lanh trong đôi con ngươi sáng rực. - Anh Mạch quá khen Thanh Bình. Thực ra chúng tôi mới đang trên bước đường mày mò, học tập. So với bản thân mình thì đúng là hai năm lại đây chúng tôi có vượt lên, nhưng so với các hợp tác xã tiên tiến trên toàn quốc thì còn phải nỗ lực nhiều. Cái chính mà chúng tôi mong mỏi gặp anh Đặng Hoài kỳ này là mong anh chỉ ra cho chúng tôi những chỗ yếu để chúng tôi khắc phục, phấn đấu. Chẳng gì anh cũng đi nhiều, biết rộng, lại am hiểu thực tế nông nghiệp… - Cơ nói khiêm tốn và mềm mỏng hệt như một cô gái biết rõ sắc đẹp của mình đang làm chàng trai mê mẩn nhưng vẫn hết sức nhún mình. Đặng Hoài thì lại có vẻ quá thật thà: - Không dám. Chính bọn tôi mới cần phải khai thác kinh nghiệm của các anh. Thực tiễn bao giờ cũng là người thầy đầy sáng tạo và tài năng. Nghe bản báo cáo của anh ban chiều, tôi thật không ngờ… - Có gì đâu. - Vẫn một âm lượng vừa phải, một thái độ nửa khiêm nhường nửa tự tin, Cơ chậm rãi như bứt từng tiếng từ trong đầu ném vào giữa mâm. - Nhiệm vụ của chúng tôi, những người lính trên mặt trận nông nghiệp, là phải đóng góp những giọt mồ hôi của mình cho chủ nghĩa xã hội. Kể ra so với các hợp tác xã trong huyện, chúng tôi có trội hơn họ tí chút là do chúng tôi biết cách làm ăn và thực tế chúng tôi thu nhập khá. Cũng đồng đất như Thanh Bình chúng tôi, cũng diện tích, số miệng ăn như thế, nhưng mấy anh Lân Hoài, Phong Hoà, Kim Sa thì có dấn mãi cũng không nổi bốn trăm tấn. Chung quy lại, đã làm cái anh nông dân là phải biết tính toán, biết cách làm ăn. Cũng một sào ruộng tại sao có anh nó thu ba tạ một vụ, mà anh khác không nổi một trăm ký. Đấy, nói thế là nhà báo hiểu cách làm ăn của ban quản trị chúng tôi rồi… - Xin lỗi… - Đặng Hoài nhìn khắp lượt, rụt rè chen. - Hình như tôi nghe nói về năng suất, Vân Xuyên có phần trội hơn hợp tác xã ta? Cơ bật cười thành tiếng, đôi môi mỏng chành ra phảng phất một nét giễu cợt: - Thành tích giấy cả đấy, anh ạ. Dân Vân Xuyên họ vẫn tị với xã viên tôi… Đồng họ vào loại thượng đẳng điền của huyện. Thế nhưng một năm họ cũng chỉ đóng góp được có năm trăm tám mươi tấn. Vấn đề này cũng lại ở cái đầu. Không phải họ không có đủ lực đâu. Sáu trăm chứ tám trăm tấn, xã viên họ cũng chẳng đến mức phải ăn cháo. - Cơ khẽ nhấp một tợp rượu, nhíu mày như để tìm một hình ảnh minh hoạ. Rồi anh nhìn Đặng Hoài đầy ngụ ý. - À thế này. Con cái có trách nhiệm với bố mẹ là chuyện thuộc về nghĩa vụ và đạo đức. Nhưng đối với bố mẹ thế nào là tuỳ thuộc vào từng người con, không ai bắt buộc. Cái anh con giàu thường hay keo bẩn, suy tính từng xu. Trái lại anh nghèo thì bao giờ cũng hết lòng với bố mẹ… Mạch vỗ vai Đặng Hoài gật gù: - Đúng như vậy đấy, ông ạ. Ăn nhau ở cái tinh thần. Thanh Bình dám nhận chỉ tiêu sáu trăm tấn vì nó có tinh thần nhiệt tình cách mạng. Chỉ riêng điều này đã đáng để nhà báo ca ngợi rồi. Câu chuyện như chiếc lạt mềm vô hình, mỗi lúc càng xoắn chặt họ lại với nhau. Hình ảnh hợp tác xã Thanh Bình như một điển hình đột khởi trong nông nghiệp, một kiểu mẫu của quan hệ sản xuất mới, với những bước đi vững chắc và đầy triển vọng trên con đường đi lên sản xuất lớn cứ dần dần đậm nét trong óc Đặng Hoài. Trong đời làm báo của một anh phóng viên, chỉ cần một lần phát hiện, một lần khám phá ra một điển hình mới đã là hạnh phúc lắm rồi, đã đủ đưa anh ta lên tầm cỡ một phóng viên có tên tuổi. Vậy mà cái cơ hội hiếm hoi trong nghề làm báo ấy, Đặng Hoài đang nắm trong tay. *** Trái hẳn với cái "say" của Đặng Hoài, chủ nhiệm Cơ tỏ ra rất tỉnh, cho đến lúc chở Đặng Hoài về nhà. Cơ vẫn cảm thấy tay lái của mình rất vững vàng. Thực ra trong bữa rượu vừa rồi, anh uống không đầy một chén. Chủ động trong mọi trường hợp, là một nét tính cách của anh. Anh bạn phóng viên từ lúc nào, đã cất tiếng ngáy đều như kéo bễ. Cơ vặn nhỏ ngọn đèn và cố chợp mắt, nhưng vẫn không tài nào ngủ được. Những hình ảnh dồn dập và đầy ấn tượng của một ngày lại tái hiện trong óc Cơ. Cái bắt tay và ánh mắt đầy khích lệ, tin tưởng, ưu ái của Trần Sinh. Những vẻ mặt kinh ngạc, thán phục của các cán bộ ba mươi xã trong huyện khi Cơ vừa dứt bài phát biểu. Có cả những nét mặt đố kị, hoài nghi và thầm tức tối nữa chứ… Rồi những hứa hẹn và mối quan hệ "người nhà" hết sức tốt đẹp với Mạch, người mà khoá Hội đồng nhân dân tới chắc sẽ trúng cử phó chủ tịch huyện phụ trách nội chính. Rồi cuộc gặp gỡ tình cờ với Đặng Hoài, một anh chàng phóng viên hết sức nhạy cảm và xông xáo. Tay Đỗ Thành, phóng viên báo Nhân Dân, thường trú ở tỉnh và mấy tay báo tỉnh Cơ đã tiếp xúc tuy nghề viết có khá nhưng dè dặt quá. Mỗi lần về Thanh Bình mình thù tiếp, đãi đằng như thế mà họ chỉ cho được một mẩu tin bằng nửa bàn tay. Đặng Hoài có thể làm ăn được. Chỉ cần một bài phát biểu trên đài là thiên hạ sẽ phải nhìn Thanh Bình khác đi… Bao nhiêu sự kiện hết sức hệ trọng dồn nén trong một ngày. Có thể coi ngày hôm nay như một cái mốc đánh dấu một thời kỳ mới của Thanh Bình. Và riêng bản thân Cơ, ngày hôm nay cũng sẽ là một cái mốc bản lề trên bước đường công tác. Chỉ cần qua mùa gặt này, khi cân thóc thứ sáu trăm nghìn giao nộp vào kho nhà nước, khi Thanh Bình trở thành lá cờ đầu phong trào nông nghiệp toàn tỉnh - và, rất có thể của trung ương - vị trí của Cơ lúc ấy sẽ thay đổi… Chan chứa một niềm hi vọng, một niềm tin tưởng, Cơ ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Cho tới quá nửa đêm, khi Đặng Hoài chợt bừng tỉnh giấc thì Cơ đã ngủ say lắm. Đặng Hoài tung mền chăn ấm sực, tìm dép, khẽ mở cửa, đi ra ngoài. Đêm đầy sao. Những chùm sao chi chít, sáng lấp lánh trên bầu trời tím mênh mông. Cái ánh sao một đêm đẹp trời cũng chẳng khác gì một đêm trăng suông. Ánh sao giúp Hoài nhận ra cái cơ ngơi gọn gàng ngăn nắp của nhà chủ nhiệm mà lúc mới đến anh hoàn toàn không đủ tỉnh táo để nhận biết. Thế ra không phải là ông chủ nhiệm nào cũng là nhà cao cửa rộng? Đi công tác nông thôn, mình ớn nhất là gặp những thằng cha chủ nhiệm quê kệch, dốt nát, tham lam, cửa quyền. Phàm những thằng cha như vậy y như rằng thằng nào cũng nhà rộng vung vinh, loè loẹt đầy sơn xanh đỏ. Xem ra tay Cơ này có vẻ là một chủ nhiệm có tư cách, làm việc vì dân mà lại biết cách làm ăn. Đặng Hoài thầm nghĩ và càng thấy thêm quý trọng chủ nhiệm Cơ. Phảng phất đâu đây vẫn cái mùi say nồng của rượu. - Chẳng lẽ tối qua mình lại uống nhiều đến thế. - Đặng Hoài vặn to ngọn đèn, căng mũi hít thở như cố kiểm tra khứu giác mình. Đúng là anh không còn say nữa. Mà mùi rượu ngang đến lạ. Nó có thể thấm dần đến từng giọt mồ hôi, cả quần áo, và thậm chí không khí xung quanh. Đặng Hoài khẳng định như vậy và anh tự nhủ làm sao cần phải biết tự kiềm chế mình hơn nữa. Nhưng dẫu sao, một buổi tối như hôm qua cũng thú vị. Đi cơ sở mà chỉ nghe báo cáo, thiếu hẳn những dịp bù khú, tâm tình thì làm sao phát hiện được những chi tiết sống động, tươi rói của đời sống? Phải công nhận rằng tay Cơ là một mẫu chủ nhiệm mới đầy hấp dẫn. Hắn có cái năng nổ, mạnh dạn, táo bạo của cánh trẻ, nhưng cũng không thiếu sự chín chắn biết nhìn xa trông rộng của người có kinh nghiệm trải đời. Hắn nói được, làm được nhưng cũng biết khiêm nhường, cầu thị. Một mẫu chủ nhiệm như thế, đương nhiên có đủ tư cách để đi thẳng từ đời sống vào sách vở mà chẳng cần phải tô vẽ nhào nặn. Với một tâm trạng đầy hưng phấn và sảng khoái, Đặng Hoài ở cặp lấy sổ tay, hí húi ghi chép. Tiếng gà gáy ran và trời sáng dần. Chị Soi và đứa con gái lớn đã trở dậy. Một ánh lửa ấm áp hắt ra từ gian bếp. Mùi khói rơm ngạt ngụa. Tiếng nước giội ùm ũm ngoài bể. Tiếng vo gạo sàn sạt và tiếng vỗ rá bồm bộp. Một chị gà mái tơ vừa kêu thất thanh đã vội đập cánh phành phạch giãy chết. Rồi tiếng dao thái bèo cần mẫn đều như đếm từng nhịp thời gian. Đặng Hoài đã viết đặc kín tám trang sổ tay. - Một cái sườn khá chi tiết của bài phóng sự. Những âm thanh náo nức của một buổi sáng làm lụng, cái không khí thật thanh bình và dân dã của làng quê có sức cuốn hút kỳ lạ. Đặng Hoài gấp sổ, cẩn thận cho vào cặp và đi xuống bếp. Anh muốn được hoà vào, được sống thực sự cuộc sống một gia đình nông dân ngay từ sớm tinh mơ. Như một guồng máy hết sức quy củ và khoa học, người mẹ và bốn đứa con gái đều đã chải đầu, rửa mặt, người nào viếc nấy. Hai đứa nhỏ lặng lẽ châm đèn ngồi vào bàn học. Hai đứa lớn, một đứa băm bèo, một đứa giúp mẹ chuẩn bị bữa sáng. Tất nhiên chị gà mái tơ ban nãy đã được làm lông sạch bóng chuẩn bị cho vào xoong luộc. Đặng Hoài thầm khen tài tổ chức gia đình thật nề nếp, khoa học của Cơ. Xem đó, càng tin năng lực quản lý của Cơ đối với toàn hợp tác xã. - Nhà em ngày nào cũng đi từ sáng sớm đến tối mịt. Không ở đồng thì ở văn phòng hợp tác hay họp hành trên xã, trên huyện. - Vợ Cơ phàn nàn, nhưng cứ nghe giọng nói, cách nói đủ biết chị yêu chồng, tự hào về chồng lắm. Đặng Hoài lân la hỏi chuyện và chợt phát hiện ra một điều hết sức lý thú: Vợ chồng chủ nhiệm Thanh Bình chính là một kiện tướng chăn nuôi kỳ khôi của hợp tác xã. - Năm ngoái em xuất cho hợp tác ba tạ hơi. Năm nay cũng đã được trên hai tạ. - Chị Soi khoe với nhà báo và đon đả dẫn anh thăm chuồng lợn. Gian chuồng được ngăn làm hai. Một ả lợn nái bụng chửa căng trong đang mệt nhọc nằm thở. Ngăn bên kia, ba chú lợn lai lang hồng cao to như những con bê đang thi nhau dũi mồm vào bồn cám. Mùi cám nóng pha mùi bã rượu thơm chua. Đặng Hoài chợt vỡ lẽ ra rằng cái mùi rượu lúc nửa đêm mà anh cố kiểm tra mình chính là cái mùi bã rượu kia. - Sáng nay mấy giờ thì chị phải đi làm? - Đặng Hoài hỏi. - Cũng khoảng tám chín giờ. Hồi này chưa gặt, nên công việc đồng áng cũng nhàn. - Thế thì hay quá. Tôi muốn chụp một kiểu ảnh về chị. Nhưng phải đợi có nắng. Chị Soi mỉm cười e thẹn. Cái lúm đồng tiền của thời con gái vẫn còn, làm cho đôi má rám nắng và đã rạn những vết chân chim chợt nở căng, hơi ửng hồng. II Từ hôm đi họp trên huyện về, như thành một thói quen, ngày nào Cơ cũng đạp xe đi thăm một khu đồng. Cưỡi chiếc Honđa 50 có vẻ quan cách và xa lạ quá, anh ngại dư luận dị nghị. Đi xe đạp bình dân hơn vả lại cũng tiện, lúc cần có thể ghếch xe lên đầu bờ ruộng, xắn quần lội xuống khơi một trổ nước hoặc ngắt vài bông lúa thầm ước tính năng suất, sản lượng từng loại giống từng thửa ruộng. Thấy chủ nhiệm năng đi thăm đồng, nhiều xã viên thầm yêu mến, cảm phục đứng tính tận tuỵ, sâu sát của Cơ. - Ông chủ nhiệm đi thăm đồng sớm thế? Nhờ trời vụ mùa này ăn chắc rồi. Cái tang lúa nông nghiệp 22 chỉ đầu tháng là được gặt. - Chỉ đầu tháng hay hơn một chút. Anh nông nghiệp tám cũng uốn câu hết cả. Vụ này sản lượng đổ đồng tạ rưỡi một sào là ăn chắc. - Chủ nhiệm Cơ cười hồ hởi, sẵn sàng sà xuống bất kỳ một toán xã viên nào, cùng hút thuốc lào với họ, nói dăm ba câu quanh cái vụ mùa đầy hứa hẹn sắp tới hoặc nếu gặp các bà các chị thích tán tỉnh vui nhộn, anh cũng sẵn sàng hiến họ vài câu chuyện tiếu lâm do anh nghe lỏm được hoặc tự sáng tác một cách hóm hỉnh. Chiều nay Cơ đi thăm đồng muộn. Lúc anh từ cánh đồng Bà Chúa đạp xe qua cánh đồng Vàng về làng thì nắng đã tắt. Tắt nắng, màu vàng lúa chín như sậm hơn. Lúa ken nhau kết liền từng thửa như tấm thảm dày. Và hương lúa chiều thu mới nồng nàn dịu ngọt làm sao. Cơ dắt xe đạp đi dọc đường bờ vùng, ngây ngất hít thở căng lồng ngực. Nếu kể từ ngày hợp tác lên quy mô (toàn xã) cũng là ngày Cơ thay Tin làm chủ nhiệm thì đây là vụ mùa đầu tiên Cơ thấy toại nguyện về những thành quả của mình. Ba năm, khoảng thời gian chỉ vừa đủ để một chủ nhiệm mới làm quen với công việc, với cách quản lý một hợp tác xã lớn và phức tạp như Thanh Bình. Vậy mà Cơ không những đã giành lại cho Thanh Bình cái danh hiệu tiên tiến xuất sắc của huyện, mà còn có cơ phất nó thành một trong những lá cờ đầu của tỉnh. Chỉ trong vòng một tháng nữa thôi, khi những cánh đồng này chỉ còn trơ gốc rạ và cân thóc thứ sáu trăm nghìn nhập vào kho nhà nước thì tên tuổi Thanh Bình sẽ truyền đi khắp… Chưa bao giờ Cơ thấy mình gắn bó với những cánh đồng như bây giờ. Anh bâng khuâng thả hồn mình trên biển lúa như một người mơ mộng. Có tiếng sáo diều vi vu. Cơ ngửa mặt nhìn trời - và anh nhận ra giữa nền biếc thẫm cao vời vợi có điểm những ngôi sao sớm, một cánh diều mảnh như cánh chim đang chao lượn. Tay nào lãng mạn. Nhưng mà hay. Cứ ngửi thấy mùi lúa mới là họ đã bay bổng lên rồi. Cơ thầm nghĩ và anh chợt đứng sững lại vì vừa nhận ra một người con gái quẩy gánh cỏ đi vượt qua anh. Đôi bắp chân trắng nõn thoăn thoắt như sợ ai đuổi. - Vy! - Cơ gọi. Tiếng anh như ngạt đi vì quá hồi hộp, xúc động. Người con gái vẫn không chịu dừng lại mà hình như còn sải bước mau hơn. Cơ nhảy lên xe đạp vội. Đến khi đuổi kịp cô gái thì anh dừng xe lại. - Vy, sao Vy cứ tránh mặt tôi thế? Trong ánh chiều nhập nhoạng, Cơ nhận ra đôi mắt đen láy mở to đầy sợ hãi của cô gái. Gương mặt trái xoan trắng hồng kia, cho đến bây giờ vẫn thân yêu, quyến rũ anh bao nhiêu… - Có chuyện gì phải nói với anh nữa đâu… - Vy hơi lùi lại, đứng tránh ra sát bờ mương. Mặc dù chị cố trấn tĩnh, nhưng giọng nói vẫn cứ run lên. Cơ đưa tay níu lấy một đầu đòn gánh và anh nhìn thẳng vào mắt Vy, cái nhìn đắm đuối như khơi gợi. - Có chứ. Giữa chúng mình còn có bao nhiêu kỷ niệm… Vy không nhớ sao? Cái đêm ấy… - Anh đừng nhắc đến chuyện ấy nữa. Tởm lắm. - Giọng Vy run lên. Đôi mắt ánh một tia nhìn sắc lạnh. Chị đặt gánh cỏ xuống đất. - Tại sao anh lại cứ muốn làm khổ tôi mãi? Mặt Cơ nóng ran và trái tim buốt nhói. Anh vốn không quen để người khác nói mình những lời tàn nhẫn nặng nề. Nhưng kìa, những giọt nước mắt đã chảy. Có lẽ chính mình đã làm cho Vy khổ quá chăng. Vy oán trách mình, thậm chí căm thù mình cũng đáng thôi. Mình chính là kẻ gây nên tội. - Kìa Vy. Đừng khóc nữa. - Cơ kéo xe đạp lại gần và nhẹ nhàng đặt tay lên đôi vai tròn mịn đang rung lên của Vy. - Tại tôi tất cả. Tại vì tôi yêu Vy… Hình như đợt Thanh về phép, cậu ấy đã biết chuyện… Vy né người gạt phắt bàn tay Cơ. Cái gạt mạnh đến nỗi làm Cơ mất thăng bằng, và chiếc xe đạp đổ kềnh. - Anh có muốn tôi lu loa lên không nào. Đã bảo giữa tôi và anh chẳng còn chuyện gì nói với nhau cả. -Tiếng Vy chói và vang. Cơ có cảm giác như tiếng Vy đã được gió truyền đi khắp đồng, vang mãi đến tận rặng tre mờ xanh cuối làng. Cơ dựng chiếc xe đạp dậy, quay nhìn Vy lắc đầu buồn bã, rồi nhảy lên xe. Con đường về làng đầy những ổ gà. Dấn mãi mà đôi bánh xe vẫn chỉ nặng nề quay. *** - Ơ, bố về. Bố ơi, mẹ được đăng lên báo nhớ. - Vừa thấy Cơ về đến ngõ, đứa con gái út của anh đã chạy ra và khoe ầm ĩ. Cơ dựa xịch xe đạp bên tường, bước vào nhà. Nỗi buồn gặp Vy ban nãy đè trĩu trong lòng anh. Hết cả rồi. Đến bây giờ thì Cơ tin chắc rằng giữa anh và Vy không còn gì nữa cả. - Báo đây, bố ơi. Chú nhà báo hôm nọ gửi bưu điện về cho bố đấy. Cơ vặn to ngọn đèn, cầm tờ báo từ tay con gái lật giở. Đôi mắt anh bỗng sững lại trên dòng tít lớn ở đầu trang: "Thanh Bình, một phấn đấu phi thường". Cơ đọc ngấu nghiến, mê mải. Càng đọc như càng bị hút vào từng cột báo. Bao nhiêu buồn bực phút chốc tiêu tan hết. Gương mặt anh rạng rỡ, hả hê và chốc lát anh lại gật gù xuýt xoa một mình. Tay Đặng Hoài này giỏi lắm. Đến mình là người trong cuộc mà đọc lên cũng cứ tưởng hắn viết về một hợp tác xã tiên tiến nào ấy. Ồ, cái đoạn này thì mới tài: "Đã bao nhiêu đêm chủ nhiệm Cơ trằn trọc không ngủ. Chẳng lẽ cái vùng đồng chiêm nước ngập của anh, mỗi mùa lại cứ vác rá đi xin nhà nước trợ cấp mãi ư? Chẳng lẽ những người xã viên quanh năm quần quận trên đồng ruộng mà vẫn không nuôi nổi mình? Không thể bằng lòng với cách làm ăn cũ, anh cùng với các đồng chí trong ban quản trị, cơm nắm cuốc bộ đi học hỏi kinh nghiệm các hợp tác xã tiên tiến. Anh mạnh dạn áp dụng các biện pháp kỹ thuật, đưa giống mới vào đồng. Chỉ sau hai năm, Thanh Bình đã dư thừa thóc, năng suất bình quân hơn bảy tấn một héc-ta. Số lương thực đóng góp với nhà nước ngày một tăng. Và vụ mùa này, hoà với thành tích chung của huyện Giang Thuỷ, mười năm liên tục hoàn thành nghĩa vụ lương thực sớm nhất cả nước, lần đầu tiên Thanh Bình đạt con số kỷ lục: sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ, dẫn đầu các hợp tác xã toàn tỉnh…". Ngay cạnh bài báo, một tấm ảnh lớn chụp chị Soi đang cho lợn ăn. Con lợn lang to gần bằng cái giậm, với hàng chữ chú thích: "Chị Nguyễn Thị Soi, vợ chủ nhiệm Vũ Đình Cơ, một kiện tướng chăn nuôi của hợp tác xã Thanh Bình". Cơ sửng sốt bàng hoàng. Anh không ngờ Đặng Hoài đã làm một việc quá sự mong muốn của mình. - Gớm, bố nó đi thăm đồng kỹ thật. Tưởng ngủ luôn ở ngoài ruộng ấy. - Vừa đặt rổ bèo xuống sân, chị Soi đã nói vọng vào trong nhà. - Này, mẹ cái Hoà, vào đây mà xem. Nhìn thấy tấm ảnh, Soi đã cười bẽn lẽn, giằng lấy tờ báo. - Ối giời, cái ông nhà báo này rõ dở hơi. Ai lại chụp người chung với lợn để rồi đem đăng báo thế này à? Cơ đưa mắt nhìn vợ và khẽ lắc đầu. Tự nhiên anh thấy thương hại. Văn hoá mới lớp bốn, làm sao cô ấy hiểu giá trị một bức ảnh nghệ thuật. Anh muốn kể cho vợ nghe về bức ảnh thủ tướng Phiđen đứng cạnh con bò cái nổi tiếng giá tới mười vạn đô-la. Nhưng mà thôi, ích gì. Anh chép miệng, lườm vợ: - Rõ lạc hậu. Đề cao mình thì người ta mới chụp thế. Kiện tướng chăn nuôi lợn. Đã ai được như thế chưa nào? Soi thừ mặt như đã hiểu ra: - Thế bố nó cho tôi xin tờ báo làm kỷ niệm. - Để mai bảo cái Huyền nó cắt treo lên tường. - Thế có mà người ta cười cho thối mũi. Lần này thì Cơ cáu thật. Anh lừ mắt nhìn vợ, cầm tờ báo đứng dậy. - Rõ dớ dẩn. Đã gọi là thành tích thì phải trương lên cao cho bàn dân thiên hạ người ta biết, chứ không thì làm làm gì. Bị chồng mắng, nhưng chị Soi chẳng để bụng. Bởi chị đang rất vui. Cứ tưởng cái ông nhà báo ấy chụp vờ không có phim, ai ngờ… - À, bố nó ơi, có chuyện gì mà bác Điền từ chiều tới giờ sang tìm bố nó tới hai ba lần. Cơ ngồi ăn cơm mà lòng cứ xốn xang về bài báo của Đặng Hoài. Nghe vợ nhắc đến lần thứ hai, anh mới ngẩng lên: - Bác ấy có nhắn gì không? - Hình như có chuyện gì cần kíp lắm. Chắc là chuyện bài báo đây. Ông ấy lại không vui bằng mấy mình. Bí thư đảng uỷ một xã nổi tiếng, ai mà không thích. *** Ông Điền ngồi trên chiếc chõng tre kê giữa hè mà như ngồi trên đống kiến lửa. Tiếng loa truyền thanh treo tít trên ngọn cây gạo đầu làng đang chõ vào tai ông: Các bạn thân mến! Thanh Bình là một hợp tác xã vùng đồng chiêm trũng Giang Thuỷ. Suốt bao đời, cái vùng quê chiêm khê mùa thối ấy phải vật lộn với thiên tai lũ lụt để giành giật từng hạt lúa. Vậy mà mới hai năm lại đây, từ một vùng quê nghèo, Thanh Bình đã trở thành một hợp tác xã tiên tiến dẫn đầu tỉnh về mức đóng góp lương thực cho nhà nước. Mời các bạn nghe bài phóng sự: "Thanh Bình, một phấn đấu phi thường" của Đặng Hoài trên báo Nông thôn số ra gần đây. Thế thì rầy rà to. Bài báo nói oang oang. Có giấu cũng không được. Nhìn tờ báo Nông thôn có bài viết về Thanh Bình và ảnh Soi, vợ Cơ, mà ông Điền ngao ngán. Chiều nay, trên văn phòng uỷ ban, mọi người đều xôn xao lên. Người đầu tiên phát hiện ra bài báo có vấn đề là Thiển, phó bí thư đảng uỷ. - Báo viết về hợp tác xã ta đấy. Anh đọc mà xem. Thiển đưa bài báo cho ông Điền và lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế đối diện chờ ông đọc hết. Tính Thiển vốn thâm trầm, kín cạnh. Dù trong bụng đang sôi lên, nhưng mặt anh vẫn cứ lạnh như tiền. - Anh thấy thế nào? Đọc lên chỉ thấy độc vai trò của ông chủ nhiệm Cơ. Còn toàn đảng bộ, nhân dân Thanh Bình dồn lại không đầy một dòng. - Thiển chép miệng cười khẩy và nhìn ông Điền thăm do. - Cái anh nhà báo này viết văn hoa ghê quá. - Ông Điền dè dặt nhận xét. - Còn văn hoa gì nữa. Nói toẹt ra là thiếu trung thực. Ai duyệt con số sáu trăm tấn lương thực? Hôm họp trên huyện, anh có giao ước thi đua với các xã trong huyện không? - Anh Cơ có hỏi ý kiến tôi. Nhưng tôi trả lời là còn trao đổi thống nhất với ban quản trị và xin ý kiến thường vụ đảng uỷ. - Thế còn nhà báo Đặng Hoài, anh có gặp và trao đổi với anh ta? Bị Thiển hỏi dồn, ông Điền lúng túng cười gượng: - Mình có biết mặt mũi ông nhà báo thế nào. - Thế là rõ rồi. - Thiển tựa người vào ghế, lắc đầu ngán ngẩm. Tất cả là do việc tự đề cao cá nhân cả thôi. Tất cả thành tích công lao của Thanh Bình mấy năm nay đều do mình ông Cơ làm nên cả. Tôi và anh chỉ là những thằng bù nhìn vô tích sự. Vì thực tế vai trò của đảng bộ không hề được đả động đến. Đảng không hề lãnh đạo sản xuất mà chỉ có công lao và sự thông minh tài giỏi của chủ nhiệm. Đấy anh xem. Người ta cố tình sổ toẹt thành tích của toàn đảng bộ, xã viên Thanh Bình. Người ta đang tìm lối vào huyện uỷ bằng cách cơ hội chủ nghĩa đấy. Tôi không họp hội nghị nhưng tôi biết hết cả. Tại sao Vân Xuyên, Tú Nguyệt năng suất của nó trên bảy tấn một héc-ta, đời sống xã viên cao hơn mình mà nó không nhảy ra thách thức với các hợp tác xã khác? Là vì nó không ham hố thành tích, không cơ hội chủ nghĩa. Cậu Đan chủ nhiệm Vân Xuyên là một người thực sự làm việc vì dân. Nó luôn luôn kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước. Trái lại, ông Cơ nhà mình… Nói ra thì anh lại bảo tôi nói xấu đồng chí, nội bộ thường vụ không đoàn kết. Nhưng thực tế anh biết đấy. Bài báo này bộc lộ hoàn toàn chủ nghĩa thành tích, đầu óc địa vị của anh Cơ… - Có một thực tế là vụ mùa này lúa tốt. Cho phép chúng ta có thể đóng góp cho nhà nước… - Đã mấy năm nay chúng ta dẫn đầu huyện về đóng góp nghĩa vụ lương thực. Chúng ta không thể giảm mức đóng góp với nhà nước. Nhưng cũng chớ nên bốc đồng, phải nghe ngóng xem các hợp tác xã xung quanh. Thiển càng nói càng tỏ ra bất bình. Anh không tiếc lời chỉ trích Cơ và đề nghị phải triệu tập ngay một cuộc họp thường vụ để kiểm điểm động cơ, ý đồ của người cung cấp tư liệu cho anh chàng nhà báo kia. Cho đến lúc Loã, phó chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi ngành nghề phát hiện ra bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi thì ông Điền và Thiển mới bổ chừng ra rằng toàn thể cán bộ chủ chốt Thanh Bình đang đứng trước một tai hoạ lớn. - Thử hỏi xã viên mà biết bà Soi vợ ông Cơ, được đưa lên báo thế này thì chúng ta sẽ ăn nói ra sao? - Loã kéo ông Điền và Thiển vào phòng trong, làm ra vẻ bí mật. - Bà Soi dùng cám phân phối nội bộ cho cán bộ để nuôi lợn. Chuyện này có xã viên phản đối ầm lên làm tôi điêu đứng một phen. Chính ông Cơ, ông Lập đã đề nghị thôi không phát xay kiểu này nữa. Tôi còn lạ gì cái thói đạo đức giả. Ra vẻ như liêm khiết trong sạch. Làm bộ từ chối nhưng lại xui vợ con xí phần. Xin lỗi bác Điền. Trong chuyện này tôi chỉ phục có bác với cô Luyến là liêm khiết mẫu mực. Còn những kẻ đạo đức giả ấy à? Tôi khinh. Nói vô phép ông với bác. Chó nào lại chê cứt. Ấy thế mà bây giờ còn muối mặt đưa ảnh vợ lên báo. Thiển cào bàn tay lên đầu, như muốn bứt từng mảng tóc. - Tôi không hiểu anh Cơ có ý đồ gì. Uy tín của tất cả cán bộ đảng viên Thanh Bình đang bị anh ấy bôi nhọ. Tất cả cán bộ chủ chốt xã, từ đội trưởng sản xuất trở lên, trừ anh Điền, cô Luyến, còn thì đều có nhận thóc xay… …Càng nghĩ, ông Điền càng thấy vấn đề trở nên rắc rối, đáng lo ngại. Được đăng lên báo mà buồn chứ vui gì? Cố nhớ, ông Điền mới mang máng nhận ra tác giả bài báo chính là cái anh chàng mà Cơ săn đón mãi ở hội nghị huy động lương thực của huyện vừa rồi. Cơ trách ông đã cố tình tránh mặt trong bữa liên hoan gặp mặt nhà báo ở phố huyện cũng đúng. Ông vốn ngại, và trong thâm tâm, rất phản đối những bữa liên hoan chè chén có tính chất lạm dụng công quỹ tập thể. Thế nhưng buổi tối ấy ông vắng mặt thì rõ là một sai lầm. Cho nên bây giờ sau khi đã so sánh lại từng số liệu, bài báo đã làm cho ông hoàn toàn bất ngờ. Nó đã phản ánh một cách sai lệch phong trào nông nghiệp Thanh Bình. Giá nói thấp hơn sự thật một chút lại hoá hay. Nhưng đằng này bài báo đã tán dương quá mức, lời lẽ khoa trương, số liệu hư cấu quá xa thực tế. Thói đời người ta ai cũng thích khen. Nhưng khen quá, tán dương một cách sống sượng thì những người có tính tự trọng lại đâm phát ngượng. Suốt từ trưa đến giờ, ông Điền ngượng đến gần như xấu hổ. Giá là một bản báo cáo, đọc chớp chát trước một hội nghị ở tận đâu đâu, người nghe câu được câu chăng cũng khả dĩ còn bỏ qua được. Đằng này từng chữ, từng dòng sờ sờ ra đó, bây giờ đài lại đang đọc oang oang, loa chõ vào từng nhà, xã viên ai cũng biết tỏng cái sự nói phét, người ta vừa nghe vừa cười vào mũi những anh cán bộ. Ông Điền thở dài sườn sượt, đeo kính xem lại bài báo. Rồi ông lấy bút gạch từng số liệu, từng đoạn dài. Những chi tiết sai đầy rẫy từng cột. Rất may là suốt cả bài báo, không thấy nhắc đến tên ông. Vai trò của đảng uỷ mờ nhạt. Nhưng không phải vì thế mà ông giũ trách nhiệm. Là một bí thư đảng uỷ, ông phải chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân về những việc làm của Thanh Bình. Dân có thể tha thứ cán bộ năng lực còn hạn chế, thậm chí yếu kém, nhưng không thể tha thứ sự dối trá, bịa đặt,… Trong nhà, Đạt, cậu con trai thứ hai của ông đang cởi bỏ chiếc áo bộ đội, khoác một chiếc sơ-mi cộc có những đường kẻ ca-rô màu đỏ thẫm. Ngồi ngoài hè, nhưng ông Điền vẫn không bỏ qua một cử chỉ nào của con. Đã hai tháng nay, thỉnh thoảng Đạt lại từ đơn vị tạt về nhà vài ba ngày. Anh chủ động đưa cho ông xem những giấy tờ của đơn vị: khi thì giấy nghỉ phép, khi thì giấy nghỉ điều trị của trám xá trung đoàn. Và lần này có thêm một bệnh án mới: Thuỷ tinh thể bị mờ, nghi viêm giác mạc. Dĩ nhiên ông phải tin. Nhưng vẫn cảm thấy có một cái gì lấn cấn, quanh quẩn. Bộ đội mà sao lại có thể được đơn vị cho về nhà một cách dễ dàng như vậy? Ông nói với Đạt khi anh lẳng lặng châm thuốc, đi ra ngõ: - Tám giờ rồi. Còn chơi bời gì nữa. Ở nhà sửa soạn, nghỉ ngơi để mai lên đơn vị sớm chứ. Thấy giọng nói của bố gay gắt, Đạt có phần hơi ngần ngại. Nhưng liền sau đó anh đã gặp người đến giải thoát kịp thời. - A, chú Cơ, bố cháu có nhà đấy. - Đạt nói như reo, thoáng cái anh đã lẫn vào ánh trăng. Cơ ngồi vào chiếc chõng tre, đối mặt ông Điền, từ giọng nói cho đến nét mặt của anh đều biểu lộ sự hả hê mãn nguyện. - Bộ đội hồi này cũng thoải mái gớm nhỉ? Cứ thấy cậu Đạt về nhà luôn. Khéo mà lại say cô nào ở làng rồi. Bác cũng phải nghĩ đến chuyện lấy vợ cho nó đi. Ông Điền nhíu mày, rồi lại quay nhìn ra ngoài ngõ, nơi Đạt vừa đi khuất. Trăng sáng quá. Giơ tờ báo trước mặt cũng có thể đọc được. Cơ nhắc, ông mới sực nhớ ra. Sắp hai mươi tuổi rồi. Làm sao mà nhốt nó trong cái đêm trăng này được? *** Còn lại hai người, Cơ muốn nhắc ngay đến bài báo, muốn thổ lộ cái niềm vui mà anh cố kìm giữ từ chập tối đến giờ. Nhưng thấy vẻ mặt ông Điền vẫn tự lự, anh lại hơi nghi ngại. - Chiều nay bác tìm tôi? Ông Điền bỏ dở mồi thuốc, cầm tờ báo, đưa cho Cơ. - Hợp tác xã vừa được lên báo. Có cả ảnh của thím ấy đây. - Tôi đọc rồi. Đài cũng vừa phát oang oang, nghe mà sướng cả tai. - Cơ cười không thành tiếng. Từ ánh mắt cho đến vẻ mặt và cả cái động tác gật gù của anh đều toát ra sự mãn nguyện không muốn che giấu. - Đọc báo rồi, nghe đài phát lại càng thấy thú. Phen này mấy anh Vân Xuyên, Tú Nguyệt tha hồ mà tức tối. Cái hay của bài báo là nó sẽ khuyến khích cán bộ, xã viên mình, tạo cho mình cái thế… Chứ bác tính làm được mà không có người nói đến thì… - Tay nhà báo Đặng Hoài là người thế nào nhỉ? - Ông Điền cắt ngang sự hào hứng của Cơ. - Tiếc là cái hôm ở trên huyện bác không gặp anh ấy một tí, thành thử vai trò của đảng uỷ hầu như không được đánh giá đúng mức. - Cơ ngừng lại giữa chừng như để cho ông Điền thấm cái thiệt thòi nuối tiếc. - Hiếm thấy nhà báo nào trẻ, xông xáo, có năng lực như thế. Cứ xem bài anh ta viết thì đủ biết. Văn chương phải thế chứ. Hắn mà viết một câu, bằng chúng mình làm cả năm. Ông Điền đeo kính, vặn to đèn, chìa hẳn tờ báo ra trước mặt Cơ: - Chiều nay, trên trụ sở, chúng tôi đã thảo luận từng điểm. Anh em người ta kêu ca là bài báo thiếu trung thực. Ngay cái con số sáu trăm tấn lương thực nghĩa vụ cả năm đã sai với nghị quyết đại hội xã viên. - Nhưng nó đã được huyện uỷ, uỷ ban huyện thông qua coi như một pháp lệnh. - Cơ bật ngồi thẳng dậy. - Hôm ấy bác cũng họp ở trên huyện. Chắc bác đã nghe ý kiến anh Trần Sinh rồi. - Đành rằng thế. Nhưng xã viên sẽ nghĩ thế nào về chúng ta. Để có thêm hai mươi tấn, ngày công của xã viên mình… - Bác hữu khuynh rồi. Vấn đề ở đây là sự đóng góp, cống hiến, chứ không phải là việc nộp tô… - Chú để tôi nói hết. - Ông Điền cố nói giọng ôn tồn. - Đi vào chi tiết, bài báo có nhiều số liệu quá xa thực tế. Đây, năng suất bình quân hơn bảy tấn thóc một héc-ta. Thực ra chúng ta chưa bao giờ đạt tới con số này. Năm 76, năm được mùa cao nhất, Thanh Bình mới đạt sáu tấn bảy. - Ông Điền với quyển sổ cũ nát giở tìm trang có ghi những số liệu chi chít, chìa ra trước mặt Cơ. - Đây nữa: "Vụ đông năm 77, lần đầu tiên Thanh Bình dám đưa cà chua, khoai tây xuống trồng trên nền đất ướt, và đã thành công. Sản lượng khoai tây đạt trên năm trăm tấn…". Chuyện này có, nhưng thực ra cà chua hoàn toàn bị thất bại. Và sản lượng khoai tây chỉ đạt ba trăm hai nhăm tấn trên hơn năm trăm mẫu. - Ông Điền lại lật giở vài trang sổ tay khác chỉ vào những dãy số. - Riêng các giống lúa mới đưa vào đồng ruộng Thanh Bình, thì năm 77 chưa hề có giống A34, IR80, IR22. Đây là những giống lúa mùa mà chúng ta mới nhập trong vụ mùa này… Bằng ấy những số liệu, đủ thấy rằng bài báo đã cố tình tô vẽ, phóng đại. Họ không trách anh chàng nhà báo mà họ sẽ chửi chúng ta là những kẻ làm láo, báo cáo hay… Mỗi lời nói của ông Điền như gáo nước lạnh giội vào người Cơ, làm tất cả sự hưng phấn của anh xẹp hẳn lại. Anh nhìn cái quyển sổ cũ nát, chi chít những cột, những số liệu mà lúc nào ông Điền cũng nhét trong cái xà-cột đeo bên người, bây giờ đang nằm trước mặt anh kia, và lắc đầu thở dài. Chết cha. Hay là cái lúc uống rượu, mình bốc, nói vống lên những con số? Cơ thầm chột dạ, tự trách mình. Và anh ngồi ngay đơ như một pho tượng gỗ, ngoảnh nhìn ra ngoài ánh trăng. - Chuyện này nghiêm trọng đấy. - Ông Điền vẫn không hút trọn nổi điếu thuốc. Đôi mắt trũng sâu nhìn Cơ thăm dò, như tìm kiếm một giải pháp. - Tay Đặng Hoài thì hắn chẳng cần phải chịu trách nhiệm gì rồi. Chung quy là đảng uỷ, uỷ ban và ban quản trị chúng ta phải chịu. Không có bài báo thì không sao, nhưng vì bài báo, mâu thuẫn nội bộ lại sâu sắc hơn. - Thoáng nghĩ tới gương mặt và thái độ của Thiển và Loã lúc chiều, ông Điền chợt chép miệng lắc đầu. - Bác cứ lo xa. Ai người ta đọc kỹ, phân tích rành rọt từng con số như bác. - Cơ nói để cố an ủi ông Điền. - Vả lại, nếu loại trừ một vài số liệu, một số chi tiết, nếu chỉ xét về tinh thần của bài báo thì những điều phản ánh có gì quá thực tế đâu. Liên tiếp hai năm nay, chúng ta vẫn làm nghĩa vụ vào loại đứng đầu huyện. Hợp tác xã Thanh Bình vẫn là một đơn vị tiên tiến. Riêng vụ mùa này, cứ đi thăm đồng thì đủ biết. Chúng ta không những sẽ đảm bảo đủ sáu trăm tấn lương thực mà ngày công xã viên vụ này sẽ cao hơn hẳn… - Cái kim giấu trong bọc lâu ngày cũng phải thò ra. Chúng ta không che được mắt xã viên đâu. Rồi còn chuyện thím ấy đăng ảnh trên báo. Xã viên người ta thắc mắc là cán bộ chia nhau thóc nhà nước phát xay cho trại chăn nuôi, chắc chú còn nhớ? - Vẻ mặt ông Điền thật khổ sở thiểu não. Ông mệt mỏi toan đứng dậy, rồi lại ngồi xoay người, hai tay buông xuôi xuống đầu gối. Đến bây giờ thì Cơ mới bổ chửng. Chuyện cám bã này thì rầy rà to. Chính mình đã phản đối phương thức phát xay lúa cho cán bộ để nuôi lợn. Mấy đợt đầu mình nhất định từ chối không nhận. Chỉ tại Soi, cái tính tham lam đàn bà… Nghe tay Loã to nhỏ, thiệt hơn, cô ấy cứ dấm dẳn, đá thúng đụng nia rồi đùng đùng đánh xe bò đi chở. Cơ ngồi thừ, cố nén một tiếng thở dài: - Chuyện này quả tình tôi không nghĩ tới. Giá biết anh Đặng Hoài có ý chụp ảnh đăng báo, thì tôi đã can… Nhưng thôi… Bác cứ bình tĩnh… - Bình tĩnh thế nào được. Chúng ta phải có trách nhiệm… Hay là thế này, chú Cơ ạ… - Ông Điền ngồi sát lại gần Cơ, giọng nhỏ lại. - Rồi chúng ta sẽ bàn thêm trong đảng uỷ, nhưng theo tôi thì chúng ta sẽ phải viết một bài đính chính trên báo. Kiểu như một bài tiếp thu phê bình trên báo Đảng. Chúng tôi nhận lỗi do sơ suất trong việc cung cấp số liệu, chi tiết nên bài báo của đồng chí Đặng Hoài có nhiều điểm sai lệch so với thực tế… Cơ bật cười thành tiếng. Anh nhìn vẻ mặt quá thành thật của ông Điền và tự nhiên thấy thương hại. - Bác nghĩ quẩn rồi. Việc gì mình phải đính chính, tiếp thu phê bình. Đây là một bài báo biểu dương ca ngơi. Mà có phải do chúng ta viết đâu. Nhà báo họ muốn viết giời viết đất gì là thuộc quyền của họ. Chúng tôi không biết, có thế thôi. Cơ vê một điếu thuốc, hút đến tụt nõ, thả khói mù mịt rồi đứng lên. Bây giờ thì anh lại thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm như không hề vướng bận một chút gì. - Tôi về đây, bác ạ. Cái chính của chúng mình bây giờ là phải hướng cả ra ngoài đồng kia. Cái tang lúa mùa sớm IR80 chỉ dăm hôm nữa là được gặt. Tay Đặng Hoài có khi nó viết nhầm. Gì chứ năm nay năng suất tám tấn môt héc-ta là cái ăn chắc. *** Buông màn đã lâu mà ông Điền vẫn không sao ngủ được. Cuối thu rồi, nhưng trời vẫn bức bối. Tiếng muỗi kêu vo vo quanh màn, như siết bên tai. Buổi nói chuyện với Cơ tối nay chẳng giúp ông giải thoát những buồn phiền, day dứt trong lòng. Chú ấy tự tin và tự mãn đến mức không thấy hết được những hậu quả tại hại sẽ xảy ra. Rắc rối đấy chứ chẳng chơi. - Ông Điền chép miệng thở dài. Vốn vẫn được coi là lực lượng trung gian hoà giải, ông Điền hiểu rằng thái độ của Cơ ở hội nghị huy động lương thực của huyện, cùng với bài báo sẽ là cái cớ để cánh của Thiển và Loã mở đầu một chiến dịch công kích anh công khai. Thực ra ông đâu muốn thế. Làm bí thư đảng uỷ Thanh Bình liên tục hơn chục năm nay, mong muốn duy nhất của ông là nội bộ đảng viên hãy đem hết sức lực cống hiến cho phong trào địa phương. Chính ông bao giờ cũng tâm niệm điều ấy. Và ông luôn sống, làm việc theo tinh thần ấy. Nhưng thực tế có bao giờ như ông muốn? Hơn hai năm nay, kể từ khi Thanh Bình sát nhập thành hợp tác xã hợp nhất, nội bộ đảng bộ càng có nhiều vấn đề, càng phân biệt bè phái rõ rệt. Nếu không kể Tin, người chủ nhiệm có năng lực và phẩm chất tốt của hợp tác xã Thanh Bình cũ thì Cơ là người ông Điền tin cậy và quý mến hơn cả. Cơ là chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao cũ. Anh trẻ, xông xáo, năng nổ, thích cái mới. Cơ có sự khôn ngoan láu cá, nhưng cũng không thiếu nhiệt tình, say mê và chịu khó tìm tòi, có nhiều biện pháp táo bạo. Chính những ưu điểm nổi bật ấy đã tạo cho Cơ có những uy tín nhất định trong hàng ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân. Anh được xã viên tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã hợp nhất, sau khi Tin bị huyện đẩy đi khu kinh tế mới Lâm Đồng. Cũng chính nhờ cái ưu điểm nổi bật ấy mà ông Điền sẵn sàng bỏ qua cho Cơ cái khuyết điểm tày trời có quan hệ đến cả vận mệnh chính trị và địa vị công tác của anh. Ấy là quan hệ giữa Cơ và Vy ngày anh làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao. Ngày ấy mình mà làm bung ra thì chú mày chết. Nghĩ lại chuyện cũ, ông Điền lại thấy bùi ngùi thương cho Vy. Cái đêm ấy hai bác cháu ngồi dưới mái hiên tam quan đầu sân kho cho tới một giờ sáng. Trăng sáng quá. Mình nhìn rõ đôi mắt sưng mọng của con Vy. Nó cả tin và trong sáng. Chồng đi bộ đội biền biệt. Cũng có lúc buồn phiền, dao động. Con gái hơ hớ, chứ có phải gỗ đá đâu. Mà cái anh chàng Cơ cũng đào hoa ra phết. Công bằng mà nói, con Vy cũng có cảm tình với cậu ta, chứ không phải cậu ta mồi chài, lợi dụng. Mình giải quyết vụ ấy như thế là đúng. Vừa có lý, có tình, giữ lại tiếng cho Vy, bảo đảm chính sách hậu phương quân đội, mà cũng không vùi dập, để phí một cán bộ có năng lực, tâm huyết. Nhược điểm lớn nhất của Cơ là bệnh thích khoa trương thành tích. Ngày còn làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao, đã có lần Cơ bộc lộ căn bệnh này. Nhưng hồi ấy cái anh Thanh Minh nổi quá, lấn át đi tất cả nên thành thử Cơ có thích khoa trương, làm rùm beng lên cũng chẳng ai để ý. Nhưng từ ngày làm chủ nhiệm Thanh Bình, một mình điều hành cai quản ba hợp tác xã thì cái căn bệnh của Cơ mới thực sự có tác dụng. Huyện, rồi tỉnh chú ý. Cơ được Trần Sinh, bí thư huyện uỷ và Quyền, chủ tịch huyện tin cậy. Và Cơ sinh chủ quan, tự mãn. Cái nguy hại là anh quá say sưa thành tích sẽ dẫn tới sự thiếu trung thực, dễ đưa anh đến chỗ cơ hội. Việc bố trí để Đặng Hoài viết báo tuyên truyền, việc tự ý đăng ký với huyện sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ… là dấu hiệu không chối cãi của cái máu chuộng thành tích, thích tiếng tăm… Hỏng! Không giúp Cơ phanh lại thì hỏng. Không chỉ riêng bản thân Cơ, mà là cả một hợp tác xã, cả một phong trào do công sức của toàn đảng bộ, nhân dân Thanh Bình xây dựng… Đã mười hai giờ đêm. Tiếng đồng hồ điểm nhịp như gõ vào trong đầu khiến hai bên thái dương ông đau buốt. Không thể nằm mãi được, ông Điền húng hắng ho, vén màn trở dậy hút thuốc. Trăng ngoài kia càng sáng vằng vặc. Vẫn chưa thấy Đạt về. Nó đi đâu vào giờ này? Khéo mà lại say cô nào ở làng rồi? - Câu nói của Cơ nhắc ông rà lại từng cử chỉ, diễn biến tâm lý của câu con trai suốt hai tháng nay. Không có lý do gì mà một đơn vị quân đội lại quản lý, kỷ luật lỏng lẻo như vậy. Chưa biết chừng nó đi quanh quẩn đâu vài ngày rồi lại lấy cớ về phép hay chữa bệnh. - Nó đang trá hình đóng vai bộ đội để lừa dối mọi người? Ông Điền bỗng hốt hoảng. Vậy thì rầy rà to. Ông vô phúc. Nuôi con đến ngần ấy để cho nó phản lại ông. Đầu ông sôi lên, như có lửa đốt. Rồi ông sực nhớ đến Thái, người bạn chiến đấu cũ. Có gì Thái phải báo cho mình ngay chứ? Ông Điền bỗng thấy bình tâm trở lại. Thực ra ông cũng không ngờ có ngày gặp lại và nhờ vả Thái như thế này. Bạn bè cũ từ những ngày cơm vắt mũ nan, súng mút-cơ-tông, lựu đạn mà dám săn lùng tàu Pháp trên dòng sông Lô, đến giờ còn có mấy người. Thật may, ngày đầu đưa Đạt lên đơn vị mới, vô tình ông gặp lại Thái. Thằng bạn cùng một đơn vị hồi ở Điện Biên Phủ không ngờ bây giờ vẫn còn tại ngũ và lại là thủ trưởng của thằng con ông. "Tôi giao thằng con tôi cho anh. Nhờ anh bảo ban kèm cặp nó. Đối với nó, anh đừng có nuông chiều. Lý ra cháu phải học hết cấp ba. Nhưng nghe chúng bạn, đang học dở lớp chín, cứ nằng nặc đòi đi bộ đội bằng được". Ông Điền đã gửi gắm thằng con bướng bỉnh của mình cho bạn như vậy. Hơn một năm đầu, ông thật hài lòng về Đạt. Đạt tỏ ra tiến bộ và có chí phấn đấu. Thảng hoặc, Thái gửi thư về cho ông và thư nào cũng báo tin cho ông về những tiến bộ của Đạt. Nhưng đã nửa năm nay rồi ông không nhận được thư của Thái. Và Đạt thì lại hay về nhà luôn. Đầu tóc nó thích để dài, thích mặc thường phục và thỉnh thoảng lại kêu ca với mẹ về lối sống gò bó và sự ăn uống kham khổ trên đơn vị. Vặn to ngọn đèn, ông Điền lấy giấy bút ra ngồi vào bàn. "Anh Thái thân mến! Lâu lắm rồi tôi không nhận được thư anh…". Đôi kính trắng loang loáng soi trên trang giấy. Ông Điền chăm chú vào từng dòng chữ đến nỗi Đạt lặng lẽ mở cổng, rón rén chui vào trong màn lúc nào ông cũng không biết. III Đúng như Cơ dự định, bài báo của Đặng Hoài có làm cho một số cán bộ xã viên xì xào bàn tán. Người ta có phàn nàn tí chút về một vài chi tiết thiếu trung thực, hoặc giả có người bất mãn với ban quản trị, hoặc vốn không ưa thói làm láo báo cáo hay thì cũng chỉ đến mức nói đổng: "Ôi dào. Còn lạ gì cái mánh lới tuyên truyền. Có ít xuýt ra nhiều". Nhưng phần đông xã viên khi nghe thấy tên xã mình trên đài lại thấy thích. Tâm lý người đời ai chẳng thích khen. Khen quá đi một chút cũng chẳng hại gì. Huống hồ đây lại là sự khen ngợi hết lời của một tờ báo lớn trung ương, phát oang oang trên làn sóng điện mấy buổi liền cho tất cả bàn dân thiên hạ xa gần cùng biết… Những điều tai hại mà cả Cơ và ông Điền đều đã lường trước và cố ỉm đi, không ngờ hậu quả của nó lại lớn đến như thế. Ấy là chuyện bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi. Người gây ra vụ rắc rối này là ông Trạc. Thực ra cũng là chuyện tình cờ. Xưa nay có bao giờ ông Trạc để ý chuyện báo chí. Văn hoá ông thấp. Chữ nghĩa đủ để viết cái đơn xin mổ lợn, đủ để đọc lá thư thằng con trai gửi từ chiến trường về. Thế thôi. Mà những dịp cần dùng đến vốn chữ nghĩa đối với ông Trạc cũng thật hiếm hoi. Hệt như cái chuyện anh con trai cả của ông đi xây dựng khu kinh tế mới Lâm Đồng về chơi, mua biếu ông chiếc sơ-mi trắng vậy. Ông cất mãi dưới đáy hòm, tết nhất mới mang ra mặc. Xong ba ngay tết lại giặt sạch sẽ cất đi. Nhiều người trong làng vẫn thường lấy ông ra làm mẫu người ví von: Lì xì như ông Trạc. Tham công tiếc việc quá ông Trạc… kể cũng phải. Hơn sáu mươi tuổi, nhưng ông vẫn có sức vóc một lực điền. Đôi vai u nở. Bắp chân, bắp tay cuồn cuộn. Dáng đi lúc nào cũng như chúi về phía trước, vững chãi, lầm lũi. Gương mặt sạm cháy đến mức nắng mưa thế nào cũng không thể nhuộm thẫm hơn được nữa. Trong đội, ngày công của ông bao giờ cũng cao nhất. Ông là thợ cày số một của hợp tác xã, chuyên trị những con trâu dái bướng bỉnh, hay bắt nạt những người non tay, yếu bóng vía. Tóm lại, ông là một nông dân trăm phần trăm từ vóc dáng, cách sống cho đến tính nết. Báo chí, văn nghệ đối với ông cũng xa lạ như một thứ phù phiếm trên đời. Ấy vậy mà khi cái Hạnh, con gái Cơ sang khoe với con Thắm nhà ông về bức ảnh và bài báo viết về kiện tướng chăn nuôi lợn Nguyễn Thị Soi thì ông Trạc bỗng nhiên nổi tính tò mò. Chẳng cần phải đeo kính, ông cũng nhìn rõ bức ảnh to bằng bàn tay chụp Soi đứng bên con lợn lang hồng to bằng cái giậm. Thế này thì quá lắm. Ăn chặn của xã viên, lấy của tập thể làm giàu cho cá nhân mình không đủ ư mà lại còn rêu rao lên báo chí? Ông Trạc bừng bừng nổi giận. Đã bao lần ông cố ngậm bồ hòn, cố làm ngơ đi mà người ta lại cứ cố tình trêu tức ông. Đã thế thì ông làm cho họ trắng mắt, chừa cái thói coi thường xã viên. Ông kể oang oang giữa đồng với bạn thợ cày cái chuyện mấy ông cán bộ chủ chốt xã và hợp tác xã chia nhau thóc của kho lương thực huyện phát xay cho trại chăn nuôi để nấu rượu lậu, nuôi lợn riêng. Xã viên biết tỏng, cố làm ngơ đi. Đã thế lại còn giễu đời, đăng ảnh vợ con lên báo chí thành kiện tướng, anh hùng… Chuyện lan ra khắp đồng. Người ta thi nhau lùng tìm tờ báo, xem ảnh bà kiện tướng nuôi lợn Nguyễn Thị Soi. Thôi thì đủ lời bình luận, cạnh khoé, giễu cợt. Có người còn làm hẳn một bài vè, vần vò câu chữ đến hay. Nhưng rồi sự việc chẳng chịu dừng ở đó. Đảng uỷ, uỷ ban xã liên tiếp nhận được đơn khiếu tố. Có cái nặc danh. Có cái ký hẳn tên thật chẳng cần úp mở. Riêng ông Trạc, người phát hiện ra vụ này lại chơi cao tay hơn. Một buổi chiều, ông mở cái hòm khoá chuông ra, lấy chiếc áo sơ-mi trắng mặc vào, rồi lầm lũi đi lên huyện. Đêm qua tự tay ông viết hẳn một cái đơn kiện. Ông muốn làm cho ra ngô ra khoai. Thời đại dân chủ, chứ đâu phải chế độ phong kiến cường hào trước kia. Không làm ra vụ này, ông chỉ là một thằng hèn. Không ngờ sự việc ở huyện lại diễn ra thật chóng váng khiến ông Trạc rất hài lòng. Chỉ cần thoáng nghe ông nói, đồng chí cán bộ huyện - chắc là cán bộ cấp lãnh đạo cao, có quyền thế, vì cứ nhìn gương mặt vuông chữ điền đỏ hồng, dáng người bệ vệ, đĩnh đạc, lại làm việc trong một căn phòng sang trọng, có bộ ghế xa-lông mây tiếp khách, ông cũng đoán ra - đã niềm nở đưa cả hai tay nhận lá đơn của ông, rồi thận trọng gấp lại, bỏ vào túi ngực. - Thế này nhé. Chúng tôi sẽ nghiên cứu đơn của bác. - Người cán bộ huyện mỉm cười nhìn ông Trạc đấy khích lệ. - Chuyện có thật trăm phần trăm ở hợp tác xã tôi đấy, đồng chí ạ. Xin đồng chí cứ xuống thẩm tra, thực mục sở thị. Nếu sai, tôi cứ đi đầu xuống đất. - Bác cứ yên tâm, về sản xuất. Việc phát huy tinh thần làm chủ tập thể như thế này là rất quý. Thay mặt huyện uỷ, uỷ ban, chúng tôi xin có lời cảm ơn bác. Ông Trạc như mở cờ từng khúc ruột. Có thế chứ. Huyện người ta bao giờ cũng làm việc lịch sự, đàng hoàng. Có đâu lúi xùi quan cách như mấy ông cán bộ xã. Chia tay ra về, ông Trạc vui quá, đến mức quên khuấy việc hỏi tên người cán bộ có tác phong quần chúng cởi mở. Sự khiếm khuyết ấy, sau này ông Trạc cứ trách mình mãi. Thực ra, người nhận đơn của ông Trạc chẳng phải ai xa lạ, chính là Mạch. Lá đơn trong túi áo anh, chỉ hai ngày sau đã nằm gọn trong tay Cơ. - Các cậu làm ăn thế này thì mang tiếng chết. - Mạch chép miệng nhìn Cơ đầy trách móc, nhưng cũng rất độ lượng. - Hôm ấy mình không gặp lão ta thì sự việc đã bung ra khắp huyện rồi. Cơ không ngờ sự việc lại rắc rối, phức tạp đến vậy. Cơ muốn thanh minh với Mạch: - Lỗi này chính là do anh Loã. Anh Loã là người chủ trì, hăng hái nhất trong việc phát thóc xay cho cán bộ xã. - Tay Loã thì mình hiểu rõ quá. Đành rằng với anh em cán bộ, mình cũng nên nghĩ cách bồi dưỡng. Nhưng phải làm kín đáo. Chứ để xã viên họ kêu ca thế này thì không được. Ông Trần Sinh mà biết thì rầy rà to. Mặt Cơ đỏ bừng như người uống rượu. Anh cuộn tròn lá đơn như một thanh đóm, rồi bật lửa. *** Trên đường từ huyện về. Cơ mở hết ga, mặc chiếc Honđa chồm chồm lao qua những ổ gà. Gió siết vào hai bên thái dương buốt nhức. Gió thấm đẫm hương lúa đồng, ào ạt phả vào mặt, nhưng vẫn không thể làm dịu đi cái trán nóng bừng bừng, xâm xấp mồ hôi như người lên cơn sốt. Lá đơn của ông Trạc mà Mạch vừa đưa cho Cơ, thoạt đầu khiến anh choáng váng, bất ngờ và lo lắng. Nhưng rồi mỗi lúc anh càng thấy bực bội. Mình có thù hằn gì với lão Trạc mà lão ta nỡ viết đơn kiện tụng tới huyện? May mà lá đơn chưa đến tay anh Trần Sinh… Mình đốt lá đơn trước mặt Mạch, hớ quá. Nhưng mà ông Mạch tốt. Nếu muốn hại mình thì ông ấy đã đưa lá đơn cho bên kiểm sát rồi. Tự nhiên lão Trạc nghĩ ra cái trò kiện cáo? Nhất định phải có thầy dùi. Ai? Như một thói quen, Cơ điểm mặt tất cả những người trong hàng ngũ cán bộ lâu nay vẫn ngầm kèn cựa mâu thuẫn với anh. Thiển? Loã? Biền? Không đời nào họ vạch áo cho người xem lưng. Vì chính họ sốt sắng đề ra chuyện này cơ mà? Cơ cũng chỉ thoáng nghĩ đến Luyến, em gái ông Trạc đang giữ chức thủ kho và ông Điền, hai người duy nhất không nhận thóc xay. Nhưng Cơ vội gạt đi ngay. Luyến thật thà, trong sáng, và dẫu sao Luyến vẫn chịu ơn mình vì chính mình đã giới thiệu cô ta vào Đảng. Ông Điền là bí thư đảng uỷ, càng phải giữ danh dự cho xã… Rách việc thật. Được đăng lên báo chí rồi mà có được yên đâu. Tất cả chỉ tại cái máu tham lam đàn bà. Nhưng sao mình không kiên quyết cấm Soi nhận thóc. Lập cũng vậy. Cậu ta không thuyết phục nổi vợ. Thói đời, ai chẳng hám lợi. Mình không hám lợi thì mình lại háo danh. Chẳng nên trách Đặng Hoài. Chính mình săn đón, mời mọc anh ta về… Cơ bỗng thấy day dứt, ân hận. Anh bỗng nhận ra trong mình có hai con người xấu tốt thật rạch ròi. Nhưng kìa, thoang thoảng trong gió nghe như có ai đang nói tới một cơn bão. Cơ giảm ga và lắng tai nghe. "…Tin bão khẩn cấp. Cơn bão số chín. Vào hồi một giờ sáng nay, một cơn bão vừa hình thành ở ngoài khơi Thái Bình Dương. Sức gió ở tâm bão tới cấp mười hai…". Tiếng loa truyền thanh từ một nơi nào đó dội xoáy vào tai Cơ. Anh nhìn trời. Vẫn một màu xanh ngăn ngắt của bầu trời tháng chín. Đã quá thu. Những cơn bão lớn đổ bộ vào đồng bằng đã qua rồi. Những ngày hồi hộp, lo âu nhất của người trồng lúa đã qua rồi. Mưa thuận, gió hoà. Chưa năm nào lúa tốt như bây giờ. Chỉ một tuần lễ nữa sẽ bắt đầu mùa gặt. Nghĩ đến những cánh đồng, lòng Cơ dịu lại. Dường như chúng là nguồn an ủi duy nhất, là niềm hi vọng xoá mờ những bận bịu, lo âu. Cơ không tin cơn bão số chín này lại có thể gây những trở ngại cho mùa gặt. Mưa không qua ngọ, gió không qua mùi. Bão muộn cuối thu, quá lắm cũng chỉ như một cơn dông… Không rẽ về nhà, Cơ đi thẳng đến văn phòng ban quản trị. - Anh Cơ! Đài vừa thông báo có bão lớn. - Vừa nhìn thấy Cơ, Lập, trưởng kế hoạch của hợp tác xã đã báo tin ngay. - Anh bố trí kế hoạch phòng chống bão gấp, chứ xem chừng cơn bão này có thể gây thiệt hại lớn cho thu hoạch. - Ông Loã, ông Điền với anh em đâu cả? Cần cho kiểm tra ngay kho lúa giống và số phân lân mới nhập về hôm qua. - Ông Loã với ban cá vừa xuống hồ sen xem lại các cửa cống. Tôi đã cho người chuyển toàn bộ số lân vào kho. Tổ thuỷ nông của ông Sản cũng vừa xuống cống Cửa Giải. Phải cho tháo ngay cống Cửa Giải, anh ạ. Cả cống số Ba, cống Cầu Tào thông ra máng Mười, đề phòng mưa lớn. Cơ bàn với Lập một kế hoạch chống lụt bão. Chốc chốc Lập lại nhìn trời, chép miệng phàn nàn. - Giá anh cứ cho đội Bảy, đội Chín họ thu hoạch sớm hai cánh Đồng Tiên và Con Cá có phải hơn không? Xanh nhà còn hơn già đồng. Tôi đồ cơn bão này sẽ gây ra mưa lớn mất. Cây si trước cầu ao nhà tôi mấy hôm nay cũng đâm rễ. Kinh nghiệm các cụ nói năm nào nhãn sai quả là nước to. Năm nay được mùa nhãn… - Sắp tháng mười rồi, ông ơi. Sợ nhất là ấy cơn bão số sáu, số bảy, số tám thì đã qua rồi… - Hôm nọ đọc một quyển sách, tôi mới biết có môn khoa học chuyên nghiên cứu về sự thích ứng của các loài vật, cây cỏ thiên nhiên trước các hiện tượng thay đổi thời tiết. Ví dụ chuyện rễ si mọc trắng, sẽ báo hiệu có mưa lớn. Hoặc là chuồn chuồn bay cao bay thấp… Cơ sốt ruột. Chuyện ấy để bàn vào lúc khác. Chứ lúc này có ích gì? Mà cậu cũng quá lo xa. Lúa uốn câu hết cả rồi. Nhiều trà ruộng gặt được rồi. Lo gì. Nghĩ vậy, nhưng Cơ không hoàn toàn phản đối ý kiến Lập. Anh phác nhanh một kế hoạch bố trí nhân lực, đề phòng trường hợp mưa bão lớn, có thể gây ngập úng. Trong số những người giúp việc cho ban quản trị, Lập là người được Cơ tin cậy hơn cả. Bởi Lập thông minh, tháo vát, biết cách suy nghĩ làm ăn. Bởi Lập sống có tư cách, thẳng thắn, cầu thị và thực sự có tâm huyết, gắn bó với phong trào. Đang học dở lớp chín, Lập đi thanh niên xung phong. Năm 1968, làm tuyến đường phía tây Quảng Bình, Lập bị bom ép, phải nằm viện gần nửa năm. Người phát hiện ra khả năng của Lập và đưa anh làm trưởng kế hoạch hợp tác xã Thanh Minh chính là Tin. Làm chủ nhiệm hợp nhất, Cơ tiếp tục cử Lập làm trưởng kế hoạch. Và càng ngày Cơ càng thừa nhận khả năng đánh giá, sử dụng người của Tin quả là tinh tường. Hạn chế lớn nhất của Lập là cho đến bây giờ anh vẫn chưa là đảng viên. Tám năm liền là đối tượng của Đảng. Nhiều lần Cơ đã đưa trường hợp Lập ra đề nghị thường vụ đảng uỷ xét kết nạp, nhưng chưa được chấp nhận. Người phản đối mạnh mẽ nhất là Thiển. Lý do chỉ là vì lý lịch Lập nặng căn quá. Bố Lập có một thời gian làm hộ lại hồi Giang Thuỷ là vùng tề. Chú ruột Lập đi Nam từ năm 1954 không rõ lý do và cho đến bây giờ địa phương vẫn chưa xác minh được hiện đang ở đâu, đã chết, mất tích hay đang tham gia một tổ chức bí mật nào? Với một địa phương mà quá khứ mỗi con người còn là tiêu chuẩn hầu như chủ yếu để quyết định đời sống chính trị của họ thì cái lý lịch của Lập thực sự còn là một trở ngại lớn trên bước đường phấn đấu của anh. - Sáng nay mình có tạt qua tổ chức huyện uỷ trình bày thêm về trường hợp của cậu… - Không chủ định, nhưng rồi Cơ vẫn nói ra khi hai người đi sang trạm truyền thanh. Lập yên lặng hồi lâu. Một thoáng buồn hiện trên gương mặt đen cháy, nhưng còn rất trẻ so với tuổi ba tư của anh. Lập biết Cơ đối với anh rất thật lòng. Hình như Cơ hiểu rõ tâm trạng Lập và luôn luôn tìm mọi cách động viên an ủi. Nhưng anh Cơ ơi, một mình anh làm sao xoay chuyển được tình hình. Anh nhớ năm 1966, khi tôi tình nguyện xung phong đi bộ đội, nhưng địa phương nhất định không cho đi vì lý lịch xấu không? Hồi ấy tôi bi quan quá. Giá đợt đi thanh niên xung phong ấy tôi cũng bị gạt nốt thì không hiểu bây giờ tôi sẽ sống thế nào? Tám năm là đối tượng của Đảng, thú thực tôi đã bắt đầu thấy nản lòng, cảm thấy bế tắc trên bước đường phấn đấu. Ít lâu nay, có lúc cái ý nghĩ: hay mình báo cáo với chi bộ, đảng uỷ xin rút khỏi đối tượng, lại chợt đến. Hoàn cảnh gia đình tôi như thế… Vả lại, làm việc với ông Loã, ông Biền đôi khi tôi không giữ được mình, làm các ông ấy thành kiến… Con người tôi như vậy, không thể tròn trịa, không khỏi va chạm… Tôi biết rõ cái tạng của tôi lắm chứ. Thôi, anh đừng vất vả vì tôi. Không được vào Đảng, nhưng tôi vẫn cố làm việc hết mình. Lập nghĩ thầm vậy mà hình như Cơ vẫn đoán ra. - Đừng bi quan chán nản, Lập ạ. Phải kiên trì phấn đấu. Trước sau rồi Đảng cũng đánh giá đúng con người cậu. Đảng đâu phải chỉ là một vài cá nhân quen đánh giá, nhìn nhận con người một cách máy móc, hẹp hòi. Mình còn làm chủ nhiệm, còn trúng thường vụ thì nhất định mình sẽ ủng hộ cậu… - Đang nói, Cơ bỗng dừng đột ngột, mặt nóng bừng. Tự nhiên anh bỗng nhớ đến lá đơn của ông Trạc và cái lúc vô tình anh đốt nó đi… Hai người chia tay nhau. Lập nhảy vội lên xe xuống chỗ đội thuỷ nông. Cơ rẽ vào trạm truyền thanh. Dù tin chắc cơn bão số chín không thể gây thiệt hại lớn, nhưng Cơ vẫn chủ động thông báo cho các đội sản xuất kế hoạch phòng chống. - A lô. Ban quản trị thông báo để các đội sản xuất rõ kế hoạch phòng chống cơn bão số chín. Theo dự báo của khí tượng, cơn bão số chín với cấp gió mười hai đang đổ bộ vào vùng ta. Có thể sẽ có mưa lớn. Phân công cụ thể cho các đội sản xuất và các đội chuyên như sau… Tiếng Cơ truyền đi qua hệ thống loa truyền thanh, khẩn trương dồn dập như một khẩu lệnh. - Anh Cơ ạ, mái nhà kho giống có mấy chỗ ngói hỏng. Mưa xuống sẽ dột hết. Cơ quay xuống đã thấy Luyến đứng sau anh từ lúc nào. Chị đã đợi anh ở đây ngay từ lúc có tin báo bão mà sao cho đến lúc này giọng nói của chị vẫn có vẻ hổn hển khó nhọc như người vừa qua một quãng chạy gằn. - Phải dọi ngay thôi. Chỗ nhà kho phân đạm cũng phải xuất giấy dầu che lại nóc. - Đề nghị anh cho điều người… Cơ mở cặp xé toạc một tờ giấy, ghi vội mấy dòng, rồi đưa cho Luyến. - Cô gặp ông Cản. Ông ấy sẽ điều cho hai ông nam giới. Mặt Luyến thoáng đỏ bừng. Chị chớp mắt nhìn xuống, như sợ Cơ sẽ đọc thấy những ý nghĩ trong mắt mình. Cho tới lúc Luyến đã bước đi, Cơ mới chợt nhận ra rằng, hình như ở chị có một điều gì khang khác. Ít lâu nay sao Luyến có vẻ lảng tránh anh. Những lúc cần kíp phải gặp thì bao giờ chị cũng vội vã ngần ngại. Có điều gì đã xảy ra với cô gái thủ kho vốn nổi tiếng liêm khiết và trong sạch này? Mà sao cô ấy có vẻ đẫy ra, giọng nói khó nhọc và cái ức cứ lên xuống thở thoi thóp? Cơ thoáng một chút nghi ngờ. Nhưng rồi anh cũng chẳng có thời gian để mà suy nghĩ tiếp. Một chiếc phong bì có dấu thượng khẩn đỏ chói đặt trước bàn làm việc như hút lấy mắt anh. Giấy mời họp. Cơ lướt nhanh qua những dòng chữ. Đến chỗ chữ ký ngoằn ngoèo như một con giun bò trên cái dấu son tròn và cái tên Đào Hữu Thiển cuối cùng thì đôi mày anh bỗng nhíu lại, đầy vẻ khó chịu. *** Tại văn phòng đảng uỷ xã đã có mặt hầu hết các uỷ viên thường vụ. Ông Điền, bí thư đảng uỷ, Thiển, phó bí thư thường trực phụ trách tổ chức, Tấn, phó bí thư, chủ tịch uỷ ban nhân dân xã và chị Ngần, phó chủ tịch, phụ trách nội chính. Chỉ còn thiếu một mình Cơ. Thiển sốt ruột xem đồng hồ. Đã hai giờ mười phút. Mọi người chờ Cơ vừa đúng nửa tiếng. - Hay chúng ta cứ họp thôi. - Ông Điền nhìn mọi người, rụt rè đề nghị. Đôi mắt nhỏ và dài của Thiển chợt ánh lên cái nhìn sửng sốt. Ông Điền không thấy cái nhìn ấy. Và cũng không thấy Thiển đưa mắt về phía Tấn và Ngần lắc đầu chán nản: - Sao lại họp? Nếu không có đồng chí Cơ thì chúng ta cũng chẳng cần phải có cuộc họp này. - Ta nên thay đổi lại chương trình một chút. Phần có liên quan đến đồng chí Cơ tạm gác lại, lúc khác. Phải bàn gấp biện pháp chỉ đạo thu hoạch vụ mùa. Vì đây là một vấn đề cấp bách, có liên quan đến việc thực hiện chỉ thị của huyện uỷ về công tác huy động lương thực… Như có vật gì chặn ngang cổ họng Thiển. Anh cố ghìm nó lại bằng cách rít hõm má chiếc điếu cày cho nó kêu rong róc vang khắp gian phòng. Mồi thuốc đã tàn, anh vẫn châm tiếp lửa. Cho đến lúc những cuộn khói đặc quánh bị dồn nén quá mức, không chịu đựng nổi nữa, chúng phải tìm cách thoát ra. Một cơn ho dài sặc sụa làm mặt Thiển đỏ tía, nước mắt ướt trào hai khoé. Hay giữa ông Điền và Cơ đã có sự thông đồng móc nối? Cơ đến muộn hay đã được báo trước để trốn họp? - Một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu Thiển. Thiển đưa đôi mắt còn mờ khói thuốc lướt qua ông Điền như để thăm dò, kiểm tra lại sự phán đoán của mình. Bản tính lừng chừng dè dặt không quyết đoán của ông Điền, dĩ nhiên cả đảng bộ ai cũng biết. Nó là chỗ yếu nhất của ông, xét về phẩm chất đảng viên. Nhưng nó cũng lại là chỗ mạnh nhất của ông, xét về khả năng tập hợp lực lượng, dung hoà những mâu thuẫn giữa hai nhóm cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng mạnh nhất và uý tín lớn nhất trong xã. Là một phó bí thư đảng uỷ phụ trách tổ chức, Thiển biết rõ những điều đó. Anh không ngần ngại tự thú nhận với mình rằng, về đại thể, trong đảng bộ Thanh Bình hiện tồn tại ba nhóm lớn. Và, người đứng đầu ba nhóm ấy là Cơ, Thiển, và ông Điền. Mỗi nhóm cán bộ đảng viên tuỳ theo chính kiến, quan hệ công tác, quyền lợi vật chất và tinh thần, quan hệ gia đình, dòng họ mà hình thành. Dĩ nhiên nhóm của ông Điền sẽ là nhóm dung hoà, là nhóm đệm của hai nhóm kia. Nói như vậy không có nghĩa là đảng bộ Thanh Bình yếu kém, mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Thiển nghĩ thế và bao giờ phản ánh lên cấp trên, cả anh và Cơ cũng đều nhất trí với nhau như vậy. Đấu tranh là một quy luật xã hội, là động lực thúc đẩy xã hội tiến lên. Bài học ấy Thiển đã giành điểm cao trong kỳ kiểm tra lớp chính trị tại chức tại trường đảng huyện. Chính vì vậy mà anh kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa của Cơ, mà biểu hiện rõ rệt nhất là việc tự ý nhận chỉ tiêu huy động lương thực của Thanh Bình cao hơn kế hoạch đã được đảng uỷ thông qua. Và nguy hại hơn nữa là tự ý tuyên truyền cho vợ rùm beng trên báo chí, làm tổn hại đến uy tín cán bộ đảng viên trong xã. Lòng đầy tự tin, như người đang nắm giữ trong tay mình chân lý, Thiển mở cặp lấy ra tờ báo và những lá đơn của xã viên Thanh Bình khiếu tố về Cơ, đặt lên bàn. - Tôi đề nghị chúng ta tiếp tục đợi. - Thiển chìa những lá đơn cho Tấn và Ngần. - Quần chúng xã viên đang xôn xao lên về chuyện cán bộ đảng viên chia nhau xôi thịt, rồi lại tự phong vợ con mình chức kiện tướng… Có tiếng xe máy nổ giòn ngoài đường. Mọi người nhìn ra và cùng reo lên: - Kia rồi. Cơ bước vào phòng, mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt đỏ chín: - Cơn bão số chín chiều nay sẽ đổ bộ vào vùng mình. Các anh nên hoãn họp để tập trung cứu lúa… Chẳng có ai sửng sốt trước cái tin khẩn cấp và vẻ bồn chồn, lo lắng của Cơ. Ông Điền đưa mắt nhìn Cơ, rồi lại nhìn Thiển. - Ta cũng nên họp ngắn thôi… Thiển nhếch miệng cười: - Bão rớt tháng chín. Lo gì. Nào, chúng ta bắt đầu. *** Cuộc họp kéo dài hai tiếng đồng hồ. Nói đúng hơn thì đó là cuộc đối chất tay đôi mà người buộc tội, chất vấn là Thiển và người thanh minh, bào chữa là Cơ. Nhóm trung gian ở cuộc họp này bây giờ không chỉ mình ông Điền mà thêm cả Tấn và Ngần. Có lúc họ như những người thừa. Im lặng để không tỏ thái độ gì, hoặc là khẽ gật đầu, khẽ đưa ánh mắt để tỏ sự đồng tình với người này hoặc người kia. Chứng cớ để Thiển buộc tội và chỉ trích Cơ chính là bài báo của Đặng Hoài, bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi và những lá đơn kiện của xã viên gửi cho đảng uỷ và uỷ ban nhân dân xã. Mới đầu Cơ còn ngồi im lặng, bởi một phần tâm trí anh còn rối bời lên vì cơn bão. Cho đến lúc bước vào phòng họp thì anh không còn chủ quan như khi vừa nghe tin thông báo đầu tiên về cơn bão nữa. Cái ráng vàng lựng ở chân trời phía tây, không khí đột ngột oi nồng đến cực độ và giọng cô phát thanh viên cứ năm phút lại phát dồn dập trên đài làm anh lo lắng thật sự. Rõ ràng anh đang ở cái thế cưỡi hổ. Sáu trăm tấn nghĩa vụ có đạt được hay không sẽ tuỳ thuộc vào cơn bão cuối mùa này. Nhưng rồi Cơ bỗng giật thót người. Những lá đơn của xã viên là đòn bất ngờ đầu tiên. Cơ không ngờ, cùng với lá đơn của ông Trạc gửi lên huyện, nhiều xã viên đã viết đơn lên xã. Anh tự trách mình, thanh minh với các đồng chí là do sơ suất đáng tiếc, do hoàn toàn bị động bởi Đặng Hoài nên mới có bức ảnh và những dòng chú thích tai hại kia. Nhưng Thiển đâu có chịu buông tha. Anh chỉ trích gay gắt thái độ coi thường đảng uỷ của Cơ. Những thành tích trong phong trào nông nghiệp của Thanh Bình là do sự lãnh đạo của đảng uỷ, vậy mà Cơ cố tình lờ đi không nhắc đến. Cơ có ý đồ rõ rệt trong việc đưa vợ lên báo, chạy theo thành tích, có động cơ cá nhân trong việc tự ý nhận chỉ tiêu sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ… Đến lúc này thì Cơ không thể chịu được. Anh đứng bật dậy: - Thử hỏi trong cán bộ chúng ta, ngoài anh Điền và cô Luyến, có ai không nhận thóc phát xay của lương thực? Có phải chỉ riêng gia đình tôi móc ngoặc với kho lương thực không? Trong việc này, người đề xuất đầu tiên và tích cực nhất là đồng chĩ Loã, chứ không phải tôi. Mặc dầu vậy, tôi vẫn thấy mình có khuyết điểm chính. Tôi đề nghị cả ban quản trị, cả đảng bộ chúng ta cùng phải nghiêm khắc kiểm điểm vấn đề này. Chúng ta nấp dưới danh nghĩa tạo điều kiện bồi dưỡng động viên cán bộ đảng viên để lấy tiêu chuẩn của tập thể phân phối cho một vài cá nhân. Việc làm này rõ ràng sai nguyên tắc. Không phải bây giờ xã viên mới khiếu tố, thắc mác mà họ đã xì xầm phản đối từ lâu rồi. Tôi đề nghị chúng ta cần nhận khuyết điểm trước xã viên và xoá bỏ hình thức phân phối này… Bên ngoài trời bỗng nhiên chuyển gió. Một đợt gió lạnh thổi ập vào phòng làm bật tung cánh cửa. Rồi đất trời tối sầm lại. Và những giọt mưa đầu tiên lộp bộp rơi trên mái ngói. Cơ bỗng dừng lại đột ngột, chạy ra ngoài hiên. Cơn nóng bừng bừng trong đầu bỗng xìu đi và anh rã rời buông hai tay. Mưa xối xả. Gió giật ầm ầm các cánh cửa, táp nước qua kẽ ngói, cuốn tung những lá đơn, những tờ báo trên bàn. - Hàng ngàn mẫu lúa ngoài đồng có thể sẽ mất trắng, nếu chúng ta cứ ngồi đây cãi vã nhau. - Cơ nói như quát vào tai Thiển và nhìn anh bằng một ánh nhìn giận dữ, rồi bỗng lao ra chỗ chiếc Honđa. Tiếng động cơ rồ lên. Chiếc xe chồm chồm rẽ nước, ngật ngưỡng được một quãng, rồi bỗng chết lịm giữa đường. VI Mưa xối xả suốt hai ngày đêm. Bầu trời ướt sũng màu xám chì. Từng tảng mây mọng nước lừng lững đùn lên từ chân trời phía đông, phút chốc kéo kín trên đầu. Lại sầm sập một đợt mưa mới. Mưa trắng trời trắng đất. Nước từ các ngõ xóm chảy tràn xuống các rãnh, ào ạt tuôn ra đồng như suối. Những cánh đồng hôm qua, hôm kia còn vàng hanh, lúa sin sít ken dày, hôm nay nước đã dềnh lên đến cổ bông. Ở những khu ruộng trũng, nước ngập phẳng băng, trắng xoá. Nước bao bọc quanh làng áp sát vào các chân tre. Đứng trên những gò cao nhìn về làng chỉ thấy làng chơi vơi giữa nước như một hòn đảo nổi. Tiếng trống, tiếng kẻng dồn dập từng hồi ba tiếng, nghe não nuột. Dọc các đường bờ vùng, người dải đen đặc, dốc sức cứu những cánh lúa chưa ngập. Đàn ông xoay trần ngụp lặn dưới nước, xắn từng hòn đất tôn cao bờ. Đàn bà từng đôi một kéo gầu dai thì thòm. Những chiếc gầu dai lâu lắm không được dùng đến giờ được chằng vá lại, trở thành công cụ duy nhất cứu lúa. Đâu đó giữa đám đông, nổi lên tiếng máy bơm uể oải và nhẫn nại. Nước từ những cánh đồng cao đổ sang những cánh đồng thấp hơn. Nước tràn lên đến đâu be bờ tới đó. Bơm mãi, tát mãi mà mực nước vẫn không hề giảm sút. Nước ở ngoài đồng dần cao hơn nước ở trong đồng. Cuộc vật lộn giữa nước với người dai dẳng và quyết liệt. Nếu khoong chịu rút, nhưng người cũng không chịu bó tay. Vô tư nhất vẫn là bọn trẻ con trong làng. Hình như mưa càng to chúng càng thích thú. Chúng vác nơm, vác chũm, vác giậm chạy nhông nhông khắp các bờ mương. Cá từ các ao hợp tác ùa ra khắp đồng. Những chú cá trắm cỏ nặng ba bốn ki-lô giãy oằn oặt giữa rốn chũm, trong tiếng reo hò ầm ĩ của bọn trẻ. Ngao ngán và buồn bã, người già nhìn trời, nhìn đồng thở dài thườn thượt. Mấy mươi năm bây giờ mới thấy một trận mưa bão trái mùa tai ác thế này. Của chắc ăn đến miệng rồi mà trời định cướp không. Cay cú nhất là những gia đình khá giả. Cách đây vài ngày, tưởng mùa màng bội thu, còn mấy tạ thóc trong bồ vét vơi bán vội mong kiếm ít tiền đầu mùa đong thóc dữ trữ. Đầu tháng bốn trăm đồng một tạ lúa. Giữa tháng sụt xuống ba trăm rưởi. Rồi ba trăm hai, ba trăm. Nhà ông Trạc, nhà bà Lành, nhà đội trưởng Cản bán liền một lúc năm tạ lúa, lấy tiền mua xe đạp, đóng giường tủ. Nhà ông Năm Ngũ, nhà bà Tèo gọi người cho vay vội thóc chiêm để sau gặt lấy thóc mùa. Đùng một cái, chỉ trong hai ngày, giá lúa tăng vọt. Từ ba trăm rưởi, vụt lên sáu trăm rồi sáu trăm rưởi. Con buôn ngoài tận thị xã kéo nhau kìn kìn về mua lúa. Chợ vắng tanh teo. Chỉ có cá là rẻ. Trên trời, dưới cá. Mấy bà hàng cá ngày thường chi li từng con tép mại, bây giờ cũng phóng khoáng tới mức sẵn sàng thêm cho một con mè lưỡi hái. Không khí lo lắng bao trùm khắp làng. Người ta đồn nhau rằng, đê Hoàng Long, và đập chắn nước hồ núi Cốc bị vỡ. Ở đâu đó, mạn Ninh Bình, nhà cửa trôi từng làng. Có cả một số trẻ con, người già bị chết đuối. Máy bay trực thăng phải thả bành mì, thuốc men và thang dây, cứu người bị nạn. Ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt còn khủng khiếp hơn nữa. Nước dềnh lên ngập mái nhà. Nhiều người giữa đêm đang ngủ bỗng thấy lạnh ướt lưng, mở mắt vùng dậy khỏi giường, chân đã buông thõng xuống nước, phải dỡ mái nhà chui lên. Cái đói như treo lơ lửng trên đầu mọi người. Lác đác có những người mẫn cảm, lường hết được những khó khăn, đói kém trước mắt đã rủ nhau ngược tàu lên tận Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên mua sắn. Sức người không cứu nổi những cánh đồng thì trước hết phải tự lo cứu mình. Cái triết lý của người nông dân bao giờ cũng đơn giản nhưng lại thực tế vô cùng. *** Người lo lắng đến mất ăn mất ngủ vì đợt mưa bão này là chủ nhiệm Cơ. Mới có ba ngày mà Cơ gầy rộc đi, mặt hốc hác, râu ria đâm tua tủa. Dường như giữa anh chủ nhiệm quần áo chải chuốt cưỡi xe Honđa xanh rì rì trên đường nhựa, hay trịnh trọng móc trong cặp chiếc kính trắng đeo lên mắt, tay giở soàn soạt một bản báo cáo dày, với một anh chủ nhiệm Cơ quần xắn móng lợn, mũ cối chụp đầu, tất tả chống úng lụt bây giờ, hoàn toàn khác hắn nhau. Nhìn chủ nhiệm, ai cũng bảo: - Tất cả đều như chủ nhiệm Cơ thì xã viên không đến nỗi đói. Họ đánh giá đúng Cơ, ít ra là trong những ngày này. Đã ba đêm rồi, anh hầu như thức trắng. Nửa đêm mới lặn lội từ một đoạn đê quai xung yếu, một trạm bơm giữa đồng về. Thay vội bộ quần áo ướt sũng, nhai uể oải lưng cơm nguội, đặt lưng chạm giường đã lại nghe tiếng mưa trút như rót dầu. Chưa bao giờ nghe tiếng mưa Cơ lại thấy xót, não ruột đến như vậy. Không phải tiếng từng giọt mưa thánh thót hay ào ào mưa từng đợt. Dường như cả một khối nước từ trên cao đổ ập xuống, liên tục, xối xả không ngừng như có một bàn tay quái ác nào dốc một khối nước khổng lồ qua một cái phễu đại. Và Cơ đang nằm dưới đáy chiếc chai vô hình đựng thứ nước đó. - Việc gì bố nó phải ôm rơm cho rặm bụng. Mất thì cả thiên hạ cùng chịu, chứ tội gì đêm hôm lặn lội cho nó khổ cái thân. - Soi đôi lúc cằn nhằn với chồng khi chị nhìn thấy anh ngồi uể oải trước mâm cơm, nhai bã mà không nuốt nổi. Cơ đưa mắt nhìn vợ, cái nhìn đầy thương hại đối với một người mà tầm suy nghĩ quá nông cạn. Đúng là cái cách nghĩ đàn bà. Cô hiểu thế nào được. Cứu lúa lúc này không chỉ là chuyện lo lắng đến từng bồ thóc của xã viên mà còn là lối thoát duy nhất của chồng cô đấy. Uy tín, danh dự, quyền lợi cũng ở đấy. Sáu trăm tấn nghĩa vụ lương thực cả năm chứ có phải chuyện thường. Nó có sức hấp dẫn, khơi gợi mọi thứ danh hiệu choáng ngợp, nhưng mà nó cũng là quả tạ vô hình lúc nào cũng đè nặng trĩu trong đầu. Năm ngày qua, tôi lo lắng, hồi hộp, mất ăn mất ngủ vì nó. Leo cau đến buồng rồi mà còn bị ngã, có đau không? Vấn đề không phải do phong trào Thanh Bình yếu kém, không đạt năng suất sản lượng dự tính. Chỉ có mình tôi mới hiểu được cái bí ẩn của con số sáu trăm kia thôi. Nó chính là cái mốc ghi nhận một giai đoạn phát triển mới của Thanh Bình, là nấc thang quyết định cho Thanh Bình bứt khỏi danh sách hàng huyện để vươn lên hàng tỉnh. Và riêng đối với chồng cô, cô có biết không, con số sáu trăm ấy sẽ khẳng định tôi, tạo cho tôi một uy tín, một thế đứng mới, mở con đường thoáng rộng đi xa mãi… Cơ rất muốn tâm sự với người bạn đời của anh những ý nghĩ thầm kín ấy. Nhưng anh chỉ chán nản thở dài. Ích gì. Cô ấy làm sao mà hiểu nổi mình. Thế là hỏng hết cả. Cái ánh hào quang ấy đã tắt lụi, những đám mây bị gió đánh tơi tả cứ đùn lên từ chân trời phía đông giăng mắc khắp bầu trời, không hề hé mở một khoảng sáng hi vọng. Nghĩ mà buồn thay cho Cơ. So với Tin, Cơ quả là người không may. Tin đưa hợp tác xã Thanh Minh lên thành ngọn cờ đầu toàn tỉnh trong hoàn cảnh một hợp tác xã nhỏ, lao động, ruộng đất ít, dễ quản lý. Vả lại, suốt mấy năm ấy, mưa thuận gió hoà. Công bằng mà nói, so với Cơ và Loã, Tin có năng lực, có đầu óc tổ chức, uy tín với xã viên hơn. Nhược điểm lớn nhất của Tin là quá thẳng thắn, dứt khoát, không biết cách lấy lòng cấp huyện. Vì những lẽ đó, sau khi hợp nhất ba hợp tác xã Thanh Cao, Thanh Giang, Thanh Minh, huyện đã khéo léo nhấc Tin ra khỏi chân chủ nhiệm hợp tác xã, với danh nghĩa đề bạt làm phó ban xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Đồng. Tất nhiên trong việc đề bạt Tin ấy, Cơ đã đóng góp một vai trò tích cực. Ba năm qua, Cơ phải cáng đáng một công việc quá sức mình. Đâu phải lúc nào ba anh thợ giày cúng thành một Gia Cát Lượng? So với Thanh Minh, Thanh Cao, Thanh Giang cũng chỉ suýt soát trứng gà trứng vịt. Ba con hổ nhốt chung một chuồng. Hợp tác xã Thanh Bình thực chất cũng chỉ là một phép tính cộng đơn giản, chứ không phải một phép nhân. Cộng ruộng đất, cộng lao động, cộng vật tư, tài sản… Riêng về năng lực tổ chức quản lý thì không thay đổi. Nói cho đúng, quy mô hợp tác xã lớn hơn mà trình độ cán bộ quản lý vẫn có vậy tức là đã xuất hiện một phép trừ. Và, có một phép cộng này, trong các văn bản báo cáo hay những phát biểu chính thức tại hội nghị, người ta đều cố né tránh không đả động đến nhưng đó là một thực tế không phải chỉ ở riêng Thanh Bình và trong nhiều hợp tác xã khác: đó là phép cộng những bè phái, những mâu thuẫn từ các hợp tác xã nhỏ sát nhập. Tin đã đi khỏi Thanh Bình, nhưng còn Loã, còn Thiển và tất cả ba "bộ xậu" của ba hợp tác xã cũ. Ở nông thôn, mối quan hệ gia tộc, thôn xóm vẫn còn nguyên vẹn cái sức mạnh như thời hỗn mang nguyên thuỷ. Nó bất chấp cả những nguyên tắc, lợi ích tập thể… Bằng sự linh cảm và nhạy bén vốn có, Cơ biết rằng Thiển và Loã, đã tạo được thời cơ để phản kích anh khi anh quá sa đà vào con số sáu trăm tấn lương thực, và vô tình để Đặng Hoài cho bức ảnh Soi lên báo. Trận mưa bão này họ sẽ vỗ tay trong bụng. Nhất định họ sẽ không buông tha anh khi anh không cứu nổi lúa. Cơ đang ở cái thế cưỡi hổ, không còn cách nào khác được. Anh dốc hết sức mình cứu lúa, với hi vọng lúa sẽ cứu mình. *** Chiếc xe com-măng-ca đầy bùn đất và ướt sũng như vừa chui dưới sông lên đột ngột rẽ ngoặt từ đường nhựa đâm thẳng vào con đường trục dọc xã Thanh Bình. Ngồi trên xe, ở hàng ghế trên là bí thư huyện uỷ Trần Sinh. Ở hàng ghế dưới là Toại, thường vụ huyện uỷ, trưởng ban nông nghiệp huyện và hai cán bộ đốc chiến trong chiến trường chống úng lụt. Suốt đêm qua, họ đã đi dọc bốn xã ven đê sông Đáy kiểm tra hệ thống đê kè, ra những chỉ thị cần thiết đảm bảo bằng mọi giá giữ vững những đoạn đê xung yếu. Bây giờ, người nào người ấy đã thấm mệt. Hai cán bộ đốc chiến ngồi dựa vào nhau, ngủ vật vờ. Riêng Trần Sinh có vẻ tỉnh táo hơn cả. Vừng trán hơi bóng nhẫy và cồn lên những nếp nhăn lớn mỗi khi ông nhìn ra những cánh đồng ngập nước phơ phất những ngọn lúa vật vờ. Gần đến trụ sở uỷ ban xã thì xe bị sa lầy. Vòng bánh xe quay tít, vốc từng nắm bùn hất ngược lên. Một toán trẻ con đang đứng rình úp cá vỗ tay reo ầm ĩ chế nhạo. Trần Sinh mở cửa xe nhảy đại xuống, hô lũ trẻ: - Đẩy giúp một tay, các cháu. Đám trẻ con, người lớn bu quanh chiếc xe đen đặc. Như có một sức mạnh vô hình nào đó từ dưới đất hút chặt lấy, khiến hai bánh xe không thể nhích lên nổi. Trần Sinh bực bội khoát tay, nói với người lái xe: - Phải vào làng mượn ván và mượn thêm người. Bọn mình chịu khó lội bộ vậy. Hai tiếng nữa sẽ quay lại. Trụ sở uỷ ban xã Thanh Bình vắng tanh teo. Sang văn phòng ban quản trị hợp tác xã, Sinh gặp Loã đang hi húi ngồi ghi chép trước bàn làm việc. - Tình hình cứu lúa ra sao mà đồng chí lại ngồi ở đây? Nghe câu hỏi của Trần Sinh, Loã bối rối gấp giấy tờ sổ sách lại. - Báo cáo anh, thực hiện chỉ thị của huyện uỷ, tất cả cán bộ hợp tác xã đã ra đồng cứu lúa. - Các anh đã thống kê được số diện tích lúa bị mất chưa? - Dạ, báo cáo anh, cái đó thì phải hỏi anh Cơ ạ. Tôi chỉ phụ trách chăn nuôi ngành nghề… Nhưng tình hình này, con số sáu trăm tấn lúa huyện giao khó lòng mà thực hiện được… - Bây giờ còn nhắc đến sáu trăm tấn làm gì. Chỉ mong nhà nước không phải trợ cấp cho Thanh Bình là may. - Trần Sinh cười, nửa chua xót, nửa giễu cợt, móc túi lấy đồng hồ. - Thôi, anh đi thông báo cho toàn thể thường vụ đảng uỷ và ban quản trị hợp tác xã đến đây ta hội ý một chút. Chúng tôi chỉ ghé qua Thanh Bình hơn một tiếng đồng hồ. *** Trong lúc chờ đợi, Toại xắn quần, mặc áo mưa, lội tắt con mương sau làng đi thăm đồng. Là một cán bộ trực tiếp chỉ đạo nông nghiệp, việc gắn bó với những cánh đồng, sâu sát với những người nông dân đối với anh không chỉ là một trách nhiệm mà thực tế còn là một nhu cầu tình cảm. Anh vốn sinh ra từ một làng đồng chiêm phía nam huyện. Kỷ niệm của một thời thơ ấu đi chăn trâu cắt cỏ, kéo chũm, đánh giậm cùng bọn trẻ trong làng đôi khi vẫn hiện về, tươi rói trong ký ức. Nhiều người cho rằng Toại là một trong số ít người gặp may trong cuộc đời. Tốt nghiệp phổ thông, đi học trung cấp nông nghiệp, về công tác ở hợp tác xã, năm năm sau được cử đi học đại học kinh tế kế hoạch, rồi về công tác ở phòng nông nghiệp huyện. Do trình độ và năng lực, và cũng do cơ cấu cán bộ, chỉ hai năm sau Toại đã trúng cử huyện uỷ viên, rồi thường vụ huyện uỷ, phụ trách nông nghiệp. Có thể nói, bước đường hoạn lộ của Toại thênh thang, nhẹ nhàng. Anh không cầm súng một ngày, không trải qua bom đạn khốc liệt, chỉ bằng con đường học vấn, từ một anh học sinh nông thôn, mười lăm năm sau đã bước thẳng lên chiếc ghế thường vụ huyện uỷ. Đó là theo cách nhìn nhận của những người nặng về quan niệm quá khứ, lý lịch. Thực ra Toại hoàn toàn xứng đáng với cương vị mà anh đang đảm nhiệm. Phong trào nông nghiệp ba năm qua của Thanh Bình có những bước tiến đáng kể, một phần có công sức đóng góp của Toại. Đã đến đoạn đường nước tràn. Một tốp xã viên trong đó có ông Trạc, mình trần trùng trục, đang hụp lặn dưới ruộng dùng mai đào mò. Thoạt nhìn, tưởng mấy ông lực điền đang rủ nhau tắm. Nước sóng sánh ngang ngực, đánh oàm oạp vào cổ vào cằm họ. Không thấy cán mai. Người thủ mai chỉ khẽ lắc đôi bờ vai trên mặt nước. Chốc chốc, một người trong nhóm lại ngửa cổ hít một hơi dài, rồi ngụp hẳn xuống nước, mất hút. Nước bùn, bong bóng sủi lên ùng ục. Rồi cái người vừa ngụp đầu nhô lên, đưa lên mặt nước một tảng đất vuông vức, nục nạc như một tảng bánh khổng lồ. Cứ thế, đoạn đường ngập được tôn cao dần. - Xin chào các bác. Nghỉ giải lao đã, các bác ơi. Thái độ niềm nở và vồn vã của Toại, ngay từ phút đầu đã làm thân được với những người xã viên. Họ lục tục bước lên bờ, tìm một mô đất cao ngồi xoay lưng chắn gió hút thuốc lào. - Có thuốc Tam Đảo đây, mời các bạn. - Toại chìa bao thuốc cho mấy cậu thanh niên choai, rồi sà xuống vê một điếu thuốc lào, xăm xắn hỏi chuyện mấy ông lực điền. Anh vốn không nghiện thuốc lào, nhưng hễ xuống đồng, có dịp gặp mấy ông thợ cày, thờ bừa là anh lại hút. Điếu thuốc, miếng trầu là đầu câu chuyện. Toại thấm thía câu ngạn ngữ xưa và cố tạo cho mình sự hoà đồng với mọi người. - Chú ở trên huyện về công tác phỏng? Hôm nọ tôi mới gửi một lá đơn lên huyện, không hiểu các vị ấy đã giải quyết đến đâu rồi. - Ông Trạc nâng ống điếu, hóp miệng hít một hơi dài, vừa thở khói mù mịt vừa hỏi Toại. - Đơn về việc gì thế bác? Bác đưa cho ai? - Ấy, về cái chuyện mấy ông cán bộ xã lấy cám bã tiêu chuẩn của trại chăn nuôi chia nhau nuôi lợn riêng, rồi lại bày vẽ tuyên truyền trên báo. - Ôi dào. Kiện cáo làm gì cho mệt. - Một người dáng nhỏ choắt có vết sẹo dài bên má bĩu miệng vẻ chế nhạo. - Đơn từ ở cái hợp tác này thì cứ gọi là hàng bồ. Mang tiếng là hợp tác xã tiên tiến mà xã viên một năm vẫn thiếu ăn vài tháng. - Ông nói quá. - Người có hàng ria mép chen ngang. - Đội ta vụ vừa rồi có ai thiếu ăn nào? Ăn đói, ăn cháo thì có… - Thì mẹ con Phèo đấy thôi. Một nách tám đứa con. Thằng chồng lại dở hơi… - Vì thằng chồng dở hơi, có nuôi con hộ thằng khác nên mới đói. Hớ hớ… - Ừ, thì cứ cho là chưa ai đói. Nhưng nói nghiêm chỉnh ra thì tiên tiến như hợp tác chúng tôi là chưa được. - Vẫn người nhỏ bé nói. - Bảy tấn cũng vậy mà ba tấn cũng thế. Cán bộ suốt ngày quần là áo lượt, vác xe chạy rống trên đường. Còn chúng tôi đấy, bác xem có cái quần cái áo nào lành? - Vừa nói ông vừa dang tay chìa cho Toại xem cái áo có những miếng vá chồng lên, răn rúm vì nước mưa và mồ hôi. Động tác của ông ta quá mạnh đến nỗi một vết sờn bị kéo căng làm rách toạc một vết từ bả vai tới nách. Cả toán người cùng cười hơ hớ. Người ngồi cạnh thuận tay kéo luôn một đường làm chiếc áo xẻ dọc làm hai mảnh. - Công việc của bọn ta suốt ngày dầu dãi, quần áo nào chịu nổi. Nói cán bộ thì cũng tuỳ người. Đợt chống úng này ông chủ nhiệm Cơ cũng lo lăng quan tâm ra phết đấy chứ? - Cũng chạy theo thành tích cả thôi. Đã trót hứa với huyện thì phải cố. Tôi còn lạ gì. - Ông Trạc nhổ một bãi nước bọt, xoa hai tay vào nhau, rồi quay sang Toại. - Nghe nói ở hợp tác tôi, các ông ban quản trị định gặt tập trung cả các đội về rồi chia hoà cả làng. Như thế có đúng không? Tôi thì tôi nhất quyết không chịu. Đội tôi thuộc loại có xướng đồng cao nhất hợp tác, chúng tôi mất không đáng kể. Nhưng ở dưới kia có đội mất trắng. Kể ra cũng bất hợp lý thật. Nhưng mấy năm trước đây họ cân rưỡi một công mà chúng tôi chỉ tám lạng thì sao? Toại chưa kịp trả lời, dáng người nhỏ bé đã chen: - Còn chuyện này nữa, xin hỏi bác. Tình hình này, liệu Thanh Bình chúng tôi có phải nộp sáu trăm tấn nữa không? - Cái đó còn tuỳ vào số diện tích bị mất. Các bác tính hợp tác xã ta mất độ mấy trăm mẫu? - Nhiều đấy. Cũng phải tới hai phần ba. - Làm gì đến. Ngót nghét hai trăm mẫu thôi. Toàn chân ruộng tốt. - Giá cứ cấy béng cái lúa cây cao như ngày xưa thì mưa này thấm tháp gì? - Ấy đấy, giống lúa mới có cái lợi nhưng lại có cái hại. Mưa hai mươi phân nước đã ngập. Giống lúa cây cao tuy năng suất thấp, nhưng đã cấy là ăn chắc. Chưa chủ động được thuỷ lợi mà cứ ép cấy toàn lúa thấp cây là hỏng. Nói chuyện với những người xã viên chỉ dăm mười phút mà cái vốn hiểu biết về hợp tác xã Thanh Bình của Toại giàu lên rất nhiều. Bao nhiêu vấn đề đặt ra ở nông thôn đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải suy nghĩ, giải đáp: Những tấm áo sờn rách của người nông dân; vấn đề năng lực và phẩm chất của cán bộ; việc bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp… Tất cả những cái đó, cùng với đợt mưa xối xả ập xuống trên đường về làm cho Toại cảm thấy toàn thân gai lạnh, cảm thấy một nỗi buồn đến day dứt cứ thấm dần cơ thể, níu kéo bước chân mỗi lúc một thêm trĩu nặng. *** Nửa giờ sau, những cán bộ chủ chốt của Thanh Bình đã đến gần đủ mặt. Riêng chủ nhiệm Cơ, Loã đã cho người đi tìm khắp các xứ đồng mà không thấy. - Đang giữa chiến dịch chống úng mà chủ nhiệm lại bỏ đi mất tích. Tôi không hiểu các đồng chí làm ăn thế nào? - Trần Sinh không giấu nổi sự bực bội, nét mặt khó đăm đăm. Mặc dù vốn sẵn có cảm tình và sự ưu ái đối với Cơ, nhưng trong trường hợp này, ông cũng không thể tha thứ. - Sau đợt này, chúng ta sẽ có cuộc họp để đánh giá tình hình và kiểm điểm ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên. Bây giờ xin các đồng chí cho làm việc. Cuộc gặp gỡ giữa bí thư huyện uỷ Trần Sinh và cán bộ chủ chốt Thanh Bình chỉ xoay quanh hai vấn đề chính: Tình hình thiệt hại do cơn bão số chín gây ra và nhiệm vụ cấp bách của các hợp tác xã trong những ngày tới. Vẫn giọng hùng biện và nét mặt đầy vẻ quan trọng, Trần Sinh nói: - Chắc các đồng chí còn nhớ hội nghị huy động lương thực và bàn cách thu hoạch vụ mùa của huyện cách đây ít ngày? Bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu dự định của chúng ta chỉ trong ba ngày đã tiêu tan đi hết. Lần đầu tiên huyện Giang Thuỷ chúng ta dám đưa ra một con số kỷ lục: Mười lăm nghìn tấn lương thực nghĩa vụ cho nhà nước. Vậy mà ông trời quái ác đã phá bỏ. Quyết tâm và nỗ lực của chúng ta rất lớn nhưng thiên nhiên khắc nghiệt luôn luôn là thế lực trở ngại phá huỷ biết bao thành quả lao động. Không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã sáng tạo ra câu chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh đầy chất bi hùng truyền mãi đến bây giờ. Châu thổ sông Hồng, nơi chúng ta đang sống, lao động và chiến đấu, hàng nghìn năm qua đã anh dũng gian khổ đấu tranh với thiên nhiên như vậy đó. Riêng đợt mưa lớn này, gần một trăm năm nay mới gặp lại. Ròng rã ba ngày qua, trời xuống đồng bốn trăm mi-li-mét nước. Hầu hết các trạm bơm điện trong huyện đều không hoạt động được vì nước tràn ngập ổ máy, nước ngoài sông lớn hơn nước trong đồng. Phải chôn nước tại chỗ chứ không còn cách nào tiêu úng. Phải hi sinh những cánh đồng trũng để cứu lúa những cánh đồng cao. Có một vấn đề đang đặt ra cho đảng bộ và nhân dân xã Thanh Bình. Nói đúng hơn đó là thử thách đòi hỏi phải dám hi sinh… Những gương mặt mệt mỏi và phờ phạc cùng hướng cả về phía Trần Sinh chờ đợi. Có việc gì hệ trọng sẽ xảy ra? Không khí trong phòng bỗng lặng hẳn đi trong tiếng mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Trần Sinh vuốt những sợi tóc vón ướt loà nhoà trước trán. Như thói quen, ông muốn tìm gặp một đôi mắt quen thuộc mà mỗi lần ông sắp sửa đưa ra một quyết định mới mẻ táo bạo thì đôi mắt ấy lại sáng rực lên như sẵn sàng đón đợi, hưởng ứng. Đôi mắt ấy đã không phụ lòng tin cậy của ông khi ông đưa ra con số chỉ tiêu mười lăm nghìn tấn lương thực cách đây mấy ngày. Nhưng bây giờ đôi mắt ấy đâu? Trần Sinh đột ngột thở dài, chắp hai tay sau lưng quay đi một vòng. - Vì quyền lợi chung của huyện, thường vụ huyện uỷ đã quyết định bằng mọi giá phải cứu cho được diện tích lúa của mười tám xã vùng cao phía bắc huyện. Chúng tôi dự định ba xã phía nam đường Sáu Tư sẽ đành phải dùng làm nơi chứa nước, trong đó có khoảng năm mươi héc-ta của Thanh Bình. - Trần Sinh lướt nhìn khắp các gương mặt cán bộ như để thăm dò, đánh giá sức chịu đựng của từng người. - Nói riêng với các đồng chí điều này. Tỉnh uỷ vừa điện cho biết, nếu tình hình nguy cấp quá, chúng ta buộc phải phá đập tràn để xả nước cứu năm huyện phía bắc tỉnh. Toại nhanh nhẹn mở túi ni-lông lấy ra một tấm bản đồ giơ lên trước mặt. Anh vắn tắt trình bày tình hình úng lụt chung toàn huyện, những trọng điểm lúa của huyện cần tập trung cứu để tạo cơ sở giống cho vụ sau. Bí thư Điền hết nhìn Thiển lại nhìn Loã, nhìn Tấn, rồi lại nhìn ra con đường xa hút nhạt nhoà trong mưa như tìm kiếm chờ đợi một ai đó. Thiển ngồi lặng, đôi mắt xếch vừa mở trừng trừng giờ hơi khép lại vừa để trốn cái nhìn của Trần Sinh, vừa làm vẻ đăm chiêu như đang suy nghĩ. Loã khẽ đưa đôi mắt nhỏ về phía Thiển. Ban nãy khi Trần Sinh hé mở cái khả năng nhà nước sẽ trợ cấp cho hợp tác xã, Loã đã thầm phác tính một kế hoạch. Đằng nào Cơ cũng được giải thoát khỏi cái thế cưỡi hổ, vì lúa bị ngập nhiều quá, huyện nhất định sẽ xoá bỏ chỉ tiêu sản lượng đã giao cho các hợp tác xã. Nhân cơ hội này, chỉ cần khai tăng số diện tích bị ngật úng để xin trợ cấp của nhà nước là sẽ cứu Thanh Bình qua khỏi một vụ đói. Một con tính vụt loé lên trong đầu Loã: Nếu cộng năm mươi héc-ta nữa, Thanh Bình cũng chỉ mất khoảng bốn mươi phần trăm diện tích lúa. Nếu nhà nước trợ cấp thêm, với sáu mươi phần trăm diện tích còn lại, Thanh Bình sẽ rủng rỉnh lúa ăn cho đến tháng năm… Loã ghé tai nói nhỏ với ông Điền và Thiển: - Đồng chí bí thư đã chỉ thị, chúng ta phải chấp hành. Có điều là cần phải hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của huyện… - Vấn đề hệ trọng đấy. Ta nên đợi anh Cơ về hội ý giải quyết. - Ông Điền tỏ ý phân vân. - Chắc anh Cơ cũng sẽ đồng ý với cách giải quyết của chúng ta. Chỉ cần thường vụ các bác hết sức ủng hộ. - Đôi mắt nhỏ của Loã chợt ánh lên những tia nhìn khôn ngoan và láu lỉnh. Rồi anh đột ngột đứng dậy. - Báo cáo đồng chí bí thư. Đồng chí chủ nhiệm của chúng tôi đi vắng, nhưng thay mặt ban quản trị, chúng tôi đã xin ý kiến của thường vụ đảng uỷ, chính quyền và xin nhất trí chấp hành chỉ thị của huyện uỷ. Chỉ có điều là năm mươi héc-ta lúa phía nam đường Sáu Tư thuộc diện tốt nhất xã. Chúng tôi đang tập trung toàn bộ nhân lực và huy động máy bơm để cứu… - Huyện sẽ chịu trách nhiệm về năm mươi héc-ta này. Sự hi sinh bao giờ cũng được đền bù xứng đáng. - Giọng Trần Sinh đanh gọn. Ông chống bàn tay to rộng xuống mặt bàn và đu người về phía trước với một vẻ hết sức tự tin và quyết tâm. - Báo cao anh. - Loã nở một nụ cười dè dặt và ngập ngừng. - Nếu tính cả năm mươi héc-ta sắp tới thì đợt này Thanh Bình sẽ mất trắng khoảng bảy mươi phần trăm diện tích. - Bao nhiêu? Bảy mươi phần trăm à? - Toại tròn xoe mắt nhìn Loã đầy nghi ngờ. Nhưng Loã đâu có phải là một anh chàng yếu bóng vía. Nhìn vẻ mệt mỏi thoáng hiện lên trong mắt Trần Sinh, những cái ngáp dài cố giấu sau bàn tay to rộng thỉnh thoảng lại đưa lên miệng của ông, Loã biết rằng Trần Sinh đang bị làm một công việc quá sức mà ông không muốn. - Chúng tôi chưa tính toán cụ thể, nhưng ước chừng xấp xỉ tỉ lệ ấy. Nhân có các anh xuống, xin mời các anh đi thăm đồng… - Thôi, tạm biết như vậy. Chúng ta cứ ghi nhận con số bảy mươi phần trăm của các anh ấy. - Trần Sinh sốt ruột nhìn đồng hồ. - Thời gian ghé qua Thanh Bình như vậy là quá nhiều rồi. Ta về thôi, anh Toại ạ. *** Chiếc com-măng-ca đã được một tốp xã viên đi chống úng về hò nhau lót rơm, ván đẩy qua chỗ lầy, giờ đang đứng đợi chỗ ngã ba đầu làng. Cho tới lúc Trần Sinh đã lên xe, ông mới chợt nhìn thấy một người mặc áo mưa bạt, đội sùm sụp chiếc mũ cối, gò lưng đạp xe trên con đường về làng. Chiếc xe đạp bê bết bùn đất như đứng chựng lại không thể đi nổi vì gió thổi thốc ngược muốn hất cả người và xe xuống ruộng. Nghe tiếng Trần Sinh gọi, Cơ mới ngẩng lên và nhận ra đồng chí bí thư huyện uỷ. Trần Sinh sững sờ: ông không thể nhận ra vì gương mặt tái mét, nhợt nhạt vì nước, đôi mắt to sâu hõm như vừa qua một trận ốm. - Tôi sang Vân Xuyên điều đình xin vay mấy chục cân dầu chạy máy bơm. - Cơ vừa đưa tay vuốt mặt cho nước rơi hết vừa nói hổn hển trong gió. - Phải cứu tiếp mấy cánh lúa phía nam đường Sáu Tư, anh ạ. Giống lúa nông nghiệp tám gặp xướng ngấu tốt quá. Chúng tôi ước tính mấy cánh ấy phải đến hai tạ một sào. Trần Sinh đã hiểu ra sự vắng mặt của chủ nhiệm Cơ vừa rồi. Ông nắm bàn tay to ráp của người chủ nhiệm đầy năng nổ, nhiệt tình mà lòng cứ dâng lên một niềm xúc động, yêu mến vô hạn. Phải chi tất cả các chủ nhiệm của ba mươi xã trong huyện đều có những phẩm chất đáng quý như anh chủ nhiệm Thanh Bình này. Ông vốn thích những mẫu người nhiệt tình, xả thân, đầy tinh thần vượt khó đi tới. Cơ chính là mẫu người ông muốn đào tạo, xây dựng. Chà, cái số cậu cũng thật long đong vất vả. - Trần Sinh nghĩ thầm. - Cái bài báo của tay Đặng Hoài ấy có tiếng vang lắm. Chỉ hơn tuần sau đã có hàng chục công văn từ các huyện, các tỉnh bạn gửi đến yêu cầu được đến tham quan học tập kinh nghiệm Thanh Bình. Mình cũng đang mát mặt. Tưởng đợt này uy tín của huyện sẽ lên như diều. Mà đúng là thế đấy. Nếu không có trận bão tai ác này thì Thanh Bình của cậu cũng chẳng kém gì Vũ Thắng, Định Công,… - Nhân dân cũng đề nghị anh nói giúp với trạm máy kéo ưu tiên cho Thanh Bình một chiếc máy kéo để lắp ống bơm trực tiếp, cứu gấp mấy cánh đồng rìa làng… - Cái đó thì có thể được. Nhưng số ruộng phía nam đường Sáu Tư thì thôi không phải cứu nữa. Chúng mình vừa họp bàn với tất cả cán bộ chủ chốt Thanh Bình rồi. - Trần Sinh vắn tắt kể lại cuộc họp vừa rồi cho Cơ và nắm bàn tay anh rung mãi. - Vậy là mất một cơ hội đáng tiếc. Không có ông trời quái ác thì nhất định chúng mình sẽ làm nên chuyện, có phải không? Trần sinh nhìn Cơ, rồi nhìn Toại, bật cười hà hà. Suốt ba ngày qua, lần đầu tiên ông cười một cách sảng khoái và vô tư như vậy. V Cơn bão số chín vừa dứt thì lại tiếp ngay cơn bão số mười. Những trà lúa thoi thóp, đến cơn bão này thì ngập lụt hẳn, không còn cứu nổi. Ba xã phía nam đường Sáu Tư, trong đó có năm mươi héc-ta của hợp tác xã Thanh Bình, đành phải dùng làm nơi huyện khoanh vùng chôn nước để cứu lúa mười tám xã phía bắc. Không biết nạn hồng thuỷ trong các câu chuyện cổ ghê gớm đến mức nào, chứ các cụ già trong làng thì đều quả quyết rằng từ hồi vỡ đê Đông Lao năm Ất Dậu chưa bao giờ thấy nước gây thiệt hại khủng khiếp như bây giờ. Cơn bão số mười kéo dài suốt ba ngày. Sang ngày thứ tư, mưa đã tạm dứt từng đợt dài. Buổi chiều, bầu trời như đẩy lên cao hơn, mây giãn ra, hé mở những khoảng xanh, cao hun hút. Và nắng. Những tia nắng hiếm hoi chợt loé lên. Vàng óng màu sáp chảy. Cánh đồng như rộng hơn, mênh mông nước bạc, chen kẽ từng mảng hoe vàng, xanh mờ của lúa. Những con sẻ đồng bấy lâu ẩn náu ở một nơi nào đó giờ ríu rít bay ra, xập xoà chao lượn trên đồng, rồi kéo nhau sà vào rặng phi lao bên đường làm những giọt mưa óng ánh màu cườm rơi bay lả tả. Ánh nắng làm sáng bừng gương mặt những người đi cứu lúa. Trong từng đôi mắt đã bớt đi những lo âu, đã lấp lánh những tia hi vọng. Trong đoàn người đi cứu lúa trở về làng, Luyến cũng đang chia sẻ niềm vui ấy. Trao lại chiếc gầu dây cho Thắm, chị chia tay đám thanh niên, đi rẽ về phía dãy nhà kho trước mặt. - Cô Luyến ơi, chốc nữa vào ăn cơm với cháu. Thằng Thiết ban trưa vừa kéo chũm được con trắm to ơi là to. - Thắm như chợt nhớ ra, gọi với theo. - Cô no lắm. Bảo nhà cứ ăn cơm đi. Luyến nói vậy chứ thực ra chị đang đói run cả người. Đã ba năm nay, từ khi hợp tác xếp cho Luyến một gian chái ngay đầu nhà kho, đối với gia đình ông Trạc, chị có phần khách sáo. Nào ai bắt Luyến phải đối xử với gia đình anh trai như vậy. Ông Trạc vốn ít nói, nhưng thương em gái rất mực. Bố mẹ sinh tám lần, nhưng chỉ còn lại người anh cả và cô em út. Hai nhăm tuổi, ông Trạc đã phải làm lụng nuôi em. Chính vì thế mà ông càng thương Luyến. Bà Trạc thì tính lại hiền như đất. Ngót ba mươi năm sống với chị dâu, nhưng Luyến chưa bao giờ biết cảnh chị dâu em chồng. Nhưng cuộc đời éo le thay. Hơn ba mươi tuổi, Luyến vẫn là một cô gái chưa chồng. Chẳng phải Luyến xấu xí khuyết tật. Cũng chẳng phải tính nết Luyến đần đụt hay đỏng đảnh trai lơ gì. Tuổi mười tám Luyến cũng mơn mởn tươi tắn như hết thảy mọi cô gái đang tuổi dậy thì. Đôi má lúc nào cũng mịn đỏ hồng. Đôi mắt đen láy, rừng rực một ánh nhìn như có lửa. Luyến không đẹp. Gương mặt tròn bầu bĩnh không có một nét nào làm người ta phải đột ngột chú ý hay ngây ngất, trầm trồ. Nhưng tất cả, từ dáng người chắc khoẻ, đôi bờ vai tròn, bộ ngực nở căng cho đến gương mặt phúc hậu hiền lành đều toát lên nét khoẻ khoắn, duyên dáng ưa nhìn. Cái tuổi đẹp đẽ nhất của đời con gái, lần đầu tiên đời Luyến đã dự cảm trước một tình yêu. Người con trai ấy, mãi mãi còn lưu lại hình ảnh trong tâm trí Luyến không thể phai mờ. Bây giờ, mỗi lần gặp Vy, Luyến lại sững sờ như chợt gặp lại anh đâu đó. Cũng sống mũi dọc dừa và đôi môi lúc nào cũng tủm tỉm như cười. Hai anh em sao có những nét giống nhau kỳ lạ. Nói đúng ra thì đó chưa hẳn là một tình yêu theo ý nghĩa đầy đủ của nó. Mà đó mới là nỗi khát vọng, một tình yêu thầm kín cố nén giữ bởi cả hai cùng quá e thẹn, dè dặt. Chính vì thế mà nó càng cháy bỏng, da diết và luôn khát khao vươn tới. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, nỗi ân hận nuối tiếc lớn nhất của Luyến là đã để tuột khỏi tầm tay khi tình yêu vừa chín tới. Nhiều khi Luyến tự xỉ vả mình, tự lên án cái sự dè dặt giả dối ấy. Anh dút dát e sợ đã đành, nhưng còn Luyến? Cả cái hôm tiễn anh lên đường, khi đoàn xe chở tân binh vừa chuyển bánh, Luyến cũng không dám nói cái điều ấy ra. Tệ nhất là Luyến chỉ yên lặng hờ hững như những người đưa tiễn bình thường để rồi khi xe đi khuất, Luyến đã vội đưa khăn tay chấm mắt, lòng day dứt, giằng xé một nỗi nuối tiếc, hối hận. Luyến nuôi hi vọng mười năm trời. Giống như một cánh chim mong manh bay trên biển cả. Mặt trời chiếu chan hoà. Sóng và gió. Rồi mưa bay và bão tố. Nhưng cánh chim vẫn kiên nhẫn đập. Bởi nó tin phía trước nhất định sẽ có một vòm cây đột ngột nhô ra từ một bờ đá. Mười năm chỉ có bốn lá thư của anh. Những dòng chữ cũng mộc mạc, hiền lành như con người anh vậy. Anh bảo nếu không nhầm thì anh đã nhìn thấy trong đôi mắt Luyến cái điều mà anh hằng khao khát. Nhầm gì nữa? Đúng là nó đấy. Đúng là cái gửi vụng trao thầm của tình yêu đấy. Luyến đã viết bao nhiêu lá thư cốt để giải thích thanh minh với anh cái điều ấy, mà sao anh vẫn không hề nhận được? Mười năm sống trong khắc khoải và chờ đợi. Tuổi con gái qua đi để lại những nếp nhăn nhỏ bên khoé mắt, bóc đi làn da trứng gà và thay vào đó những nốt tàn nhang, những vệt rám cháy trên đôi gò má. Trong làng, Luyến thuộc loại nhỡ thì. Có một vài đám bắn tin mai mối. Toàn những người đàn ông lỡ dở, gà trống nuôi con. Ông Trạc mấy lần ép buộc. Nhưng Luyến đâu có chịu. Luyến vẫn mong manh hi vọng. Cánh chim đã đập rã rời, nhưng qua làn sương trước mặt, nó vẫn cố tưởng tượng ra một dải đất xanh mờ. Thế rồi điều khủng khiếp ấy đã đến. Anh đã hi sinh ở chiến trường năm 1972. Khi kịp nhận ra cái giá đắt phải trả trong mười năm thì Luyến đã ba mươi tuổi. "Gái ba mươi tuổi…". Luyến rùng mình nuốt nước mắt thầm mỗi khi chợt nhớ đến câu ca ấy. Thôi đành ở vậy. Không phải Luyến muốn như thế mà cuộc đời buộc Luyến phải quyết định như thế. Luyến xin với ông bà Trạc ra ở riêng đầu chái nhà kho, nơi đã tám năm nay hợp tác xã tin cậy giao cho Luyến coi giữ. Sống một mình, nỗi cô đơn như nhân lên gấp nhiều lần. Luyến trở nên lặng lẽ, âm thầm và đôi khi khó tính. Nhiều người có dịp ra kho giao lĩnh thóc thường nói với nhau: - Hợp tác khéo chọn cô Luyến làm thủ kho. Chi li đong đếm từng cân một. Đố hòng lấy được của hợp tác một hột thóc. Họ kêu ca về cái tính chặt chẽ nguyên tắc của Luyến. Nhưng không ai phàn nàn về thái độ phục vụ, càng tịnh không có dư luận gì về thái độ mập mờ, ám muội. Luyến thẳng thắn liêm khiết, nhưng rất kiên quyết những khi cần thiết. Giữa kế toán trưởng Biền và Luyến thì đúng như là mặt trăng với mặt trời. Mấy lần Luyến phát hiện ra Biền viết phiếu xuất kho cho một người nào đó tới lần thứ hai hoặc những phiếu xuất kho tẩy xoá lèm nhèm… và chị đề nghị lập biên bản, làm cho ra ngô ra khoai, khiến Biền uất ức mà không làm cách nào được. Có người thương Luyến, khuyên chị nên xin một đứa con nuôi. "Cái duyên số mình đã vậy. Cũng phải nghĩ đến khi trái nắng trở trời hay cái lúc về già. Người đàn bà cô quả, không biết nuôi con là có tội với trời phật". - Các bà già nói với Luyến như thế. Những đêm nằm một mình trong ngôi nhà vắng lạnh, những lúc vành trăng nghiêng nhìn ngoài song cửa, những chiều mưa dầm rỉ rả, những sáng mùa xuân ngan ngát mùi hoa xoan hoa bưởi đầu nhà… Luyến lại nuốt nước mắt thở dài. Luyến cảm thấy mình chưa qua đời con gái, chưa sống một đời con gái. Xin một đứa trẻ về nuôi ư? Làm sao mà lấp nổi khoảng trống trải thiếu hụt của đời người bằng một tình cảm vay mượn mà mình vốn không có? Có một ý nghĩ thoáng qua trong đầu Luyến và rồi cứ đan xen, len lỏi trong tâm tưởng khiến nhiều lần Luyến phải tự xỉ vả, nguyền rủa mình và vẫn không dứt nổi. Ấy là một tối trăng non sau cái buổi chiều một mình hì hụi quét dọn, sắp xếp lại trong cái kho thóc nóng hầm hập đầy bụi lúa. Đắm mình dưới làn nước ao trong vắt, Luyến tưởng toàn cơ thể mình có thể hoà tan trong nước. Cái vành trăng kì cục. Cứ như một con mắt tinh nghịch và ranh mãnh, chốc chốc lại ló khói đám mây bông, nhòm thẳng vào Luyến. Luyến chợt nhìn xuống da thịt mình. Và Luyến không tin cái ánh nuột nà mơm mởn này là của chính Luyến. Ồ, tại sao mình lại không có quyền có một đứa con. Một câu hỏi bật lên, nhức nhối, xót xa mà trải suốt bao nhiêu đêm ròng, lúc thì Luyến cố xoá đi, lúc Luyến chủ động đối diện với nó mà vẫn không sao giải đáp nổi. Còn bây giờ? Lại một lần Luyến đứng ngắm da thịt mình, sau một ngày đội mưa tát nước ngoài đồng úng. Cái câu hỏi quái ác trong đêm trăng non ấy, lâu rồi không còn vò xé dằn vặt Luyến nữa. Lòng hoàn toàn yên tĩnh và thanh thản, như hết thảy mọi người đàn bà mãn nguyện về sự hoàn hảo của mình. Luyến khẽ đặt bàn tay xoa lên phần bụng hơi căng nở và vục gáo nước dội nhẹ từ bờ vai cho làn nước trong mát chảy tràn khắp cơ thể. Trời ập tối rất mau. Dường như không có hoàng hôn, bởi chân trời phía đông kia, một tảng mây xám nặng bỗng đùn lên, và phút chốc bầu trời lại thấp tè, sẩm tối lại. Luyến thay quần áo, rồi bật diêm châm đèn. Ánh sáng ngọn đèn dầu vàng đục soi rõ căn phòng nhỏ đủ kê gọn chiếc giường một, chiếc tủ đứng bằng gỗ mộc, bộ bàn ghế do một bàn tay thợ vụng về đóng bằng nhiều loại gỗ khác nhau. Trên tường, có thêm mấy tờ tranh cắt ra từ mấy cuốn hoạ báo, một khung ảnh lồng kính, và sát cửa ra vào dựng chiếc xe đạp nữ đã cũ. Của nả, gia tài của Luyến chỉ có vậy, giống như căn phòng độc thân của một nữ cán bộ cơ quan. Như đã trở thành một tâm điểm, căn phòng của Luyến bao giờ cũng là nơi đông vui nhất làng. Tối tối Thắm thường rủ bạn bè ra hát hò tán gẫu hoặc tỉ tê kể cho nhau nghe về một chàng trai nào đó, có đêm vui quá, các cô cùng ngủ lại. Những đợt có cán bộ nữ từ tỉnh từ huyện về công tác tại xã, căn phòng của Luyến cũng là nơi các cô các chị thích ở nhất. Ra ở riêng, Luyến thấy thoải mái, tự do hơn hồi còn ở chung với anh chị và các cháu. Nhưng có những đêm Luyến buồn. Như đêm nay. Ăn qua quýt một bát cơm nguội, Luyến đóng cửa, vặn nhỏ đèn và thu xếp chăn màn đi ngủ sớm. Đã thành một nếp quen thuộc, Luyến đặt nhẹ tay lên bụng và lại thầm trò chuyện với một cái gì còn rất mơ hồ, nhưng Luyến vẫn cảm nhận được qua từng biến đổi rất nhỏ yếu ớt truyền qua lòng bàn tay mình. Một nỗi xao xuyến bồi hồi giống như hết thảy tâm trạng của những người đàn bà lần đầu tiên biết mình sắp được làm mẹ. Một thoáng lo vụt hiện qua khi chợt nghĩ tới kỳ sinh nở, khi nghĩ đến những điều hết sức vơ vẩn có thể xảy đến… Luyến cũng phải trải qua những trạng thái tâm lý phổ biến ấy. Nhưng trùm lên tất cả vẫn là một nỗi lo lắng sợ hãi đến thắt lòng. Sẽ nói với mọi người ra sao khi câu chuyện vỡ lở. Làm sao mà dám nhìn mặt anh chị Trạc? Biết nói với chi bộ, với hợp tác xã thế nào? Và còn hắn ta? Mình có nhẫn tâm phá vỡ hạnh phúc của một người vợ với năm đứa trẻ kia không. Bao nhiêu câu hỏi cứ sâu xoáy trong đầu Luyến. Không phải riêng đêm nay mà nhiều đêm rồi, kể từ lúc Luyến biết mình sắp được làm mẹ. Ngoài trời bắt đầu mưa. Và gió. Gió vật vã xoáy vặn những bụi tre, rung lên những tiếng hú, tiếng kêu kẽo kẹt. Gió quạt những tàu lá chuối phành phạch như những bàn tay chát chúa đập vào đầu hồi. Gió bão ngoài kia và gió bão trong lòng Luyến. Luyến chợt nghĩ tới một cô Thị Mầu mà Luyến đã có lần chế giễu trong cái đêm xem chèo mười năm về trước. Luyến không phải là một Thị Mầu. Luyến không có tội. Nhưng Luyến là một đảng viên. Luyến không thể bôi nhọ danh dự của cả một tổ chức. Quần chúng sẽ đánh giá chi bộ, đảng bộ như thế nào? Luyến vùng trở dậy vặn to đèn. Đã từ ba tháng nay rồi, mình không còn xứng đáng là một đảng viên nữa. - Luyến nghĩ vậy và chị mở tủ tìm giấy bút. Mình không thể nấn ná mãi. Đằng nào thì cũng phải báo cáo với chi bộ. Ngày mai mình sẽ gặp bác Điền trình bày hết mọi chuyện. Mình chịu chấp nhận mọi hình thức kỷ luật cao nhất chứ không thể sống lừa dối. *** Cũng lúc ấy, ở cuối xóm Đình, một bóng đen trùm kín trong chiếc áo mưa bạt lặng lẽ đội mưa từ trong lối ngõ nhà Cản đi ra. Làng xóm dường như đã ngủ say. Cả những con chó hay sủa vống mọi đêm giờ này cũng im thin thít. Mưa xình xịch đã xoá đi tiếng chân người và bóng đêm dày đặc khiến chúng không nhìn thấy gì hết. Biết chắc không ai nhìn rõ mình, Cản xăm xăm nhằm thẳng hướng nhà kho đi tới. Suốt buổi chiều nay, Cản sống trong nỗi thấp thỏm đợi chờ. Chưa bao giờ Cản thấy thời gian đi chậm chạp đến thế. Có lúc lòng Cản cồn lên nỗi khao khát đến cháy bỏng. Có lúc thắt lại một nỗi lo sợ vớ vẩn. Cô ấy nói ra, mình sẽ mất tất cả. Chi bộ sẽ khai trừ. Hợp tác xã sẽ cắt chức đội trưởng. Và đáng lo hơn là mình sẽ mất những quyền lợi, những khoản thu nhập không chính thức… Đang giữa kỳ bão lụt đói kém. Tám miệng ăn… Không. Không thể để bị dồn ép đến mức ấy. Ai bắt cô ấy phải khai ra? Hay cứ chịu khó nuôi con một mình. Hay cứ chịu mình cô thiệt thòi. Tôi sẽ cố xoay xoả bù đắp lại… Ồ, nhưng mà hồ đồ quá. Chứng cớ đâu mới được chứ? Ai dám bảo nó là con tôi? Hừ, đúng. Biết đâu mình chỉ là cái thằng tráng men? Của giời, chứ đâu có phải riêng mình? Cô ấy hờ hững và cố tình xa lánh mình. Rõ ràng cô ấy không hề yêu mình. Đúng là chỉ có một lần duy nhất ấy. Bắt được thóp cô nàng, mình đánh bạo, thế mà trúng… Cản bồi hồi nhớ lại. Đêm. Cái đống rơm đầu nhà kho. Hơi thở ngạt ngụa, nóng nực. Cái rùng mình và đôi cánh tay như vặn siết… Dào, mặc kệ. Mất hết cả đã sao? Lòng Cản bỗng cồn lên những khát khao đến cháy bỏng, hừng hực những thèm muốn, dự định. Cản bước xăm xăm như chạy. Kia rồi. Căn phòng đầu nhà kho. Ánh đèn vàng nhạt hắt qua khe cửa. - Cộc, cộc, cộc… Cản đứng nép, cố thu nhỏ người lại, cố nín thở, vừa giơ tay gõ cửa, vừa thận trọng đưa mắt nhìn quanh. Ai? Sao lại đến vào lúc đêm hôm khuya này? Bàn tay Luyến bỗng run bắn lên, đặt vội cây bút xuống và đứng bật dậy. Như một phản xạ tự nhiên, Luyến đứng áp người vào cánh cửa, đôi mắt không quên nhìn vào phía góc tủ, nơi vẫn treo sẵn một khẩu K44. Tiếng gõ cửa lại điểm nhịp ba tiếng và một giọng khàn đặc lách qua khe hở: - Luyến, tôi đây, Cản đây. A, chính hắn ta. Người cha của đứa trẻ mà Luyến đang mang trong người. Một cảm giác vừa ghê sợ, vừa khinh ghét nổi gai khắp người Luyến. Số phận trớ trêu đã gắn bó giữa Cản và Luyến trong một hoàn cảnh mà Luyến không bao giờ nghĩ tới. Luyến vốn có ác cảm với Cản, cái ác cảm của một người sống trong sạch liêm khiết với một kẻ tham nhũng, bê tha… Đã từ lâu, trong ý nghĩ của Luyến, Cản không còn xứng đáng là một đảng viên, một đội trưởng sản xuất. Xã viên ai cũng nghĩ về Cản như vậy. Nhưng không hiểu sao những hành động tham ô trắng trợn, tác phong gia trưởng, lối sống bê tha của Cản vẫn được nhiều cán bộ trong xã và hợp tác dung túng bao che? Từ ngày Luyến dọn ra ở riêng, Cản thường lui tới chăm sóc giúp đỡ Luyến. Cái bàn gỗ tạp kia chính do tay Cản đóng. Thấy xe Luyến rơ trục, gẫy nan hoa, thủng lốp, Cản đều tự nguyện sửa chữa. Ban đầu Luyến thấy khó chịu. Nhưng rồi dần dần, Luyến cũng phải miễn cưỡng chấp nhận. Với Cản, Luyến luôn luôn có ý thức giữ một khoảng cách, một giới hạn vừa đủ để Cản không dám nghĩ sai về mình. Nhưng cuộc đời hình như có sự bố trí, sắp đặt trước. Dường như Cản có cái tài mẫn cảm đặc biệt là đọc thấy những ý nghĩ của người khác. Luyến có cảm giác như chính anh ta biết được cái câu hỏi đã xoáy trong lòng Luyến trong cái đêm trăng nón bên gốc sung cầu ao kia. Và rồi Luyến đã không thoát khỏi bàn tay của Cản. Giống như một con cua dù bướng bình ngang ngạnh đến đâu, khi gặp chú ếch cụ vỗ nhẹ bàn tay lên mai, nó cũng đành thu càng, nén chịu. Cũng may, chính giọt máu của Cản mà Luyến đang mang trong mình đã trở thành nguồn an ủi, nhen lên trong lòng Luyến niềm hi vọng để giúp Luyến thêm nghị lực chống trả mọi nỗi đắng cay mà Luyến sẽ phải chịu, để tiếp thêm cho Luyến niềm tin đi tiếp cuộc đời. Nhưng không vì thế mà bức chân dung của Cản được thay đổi trong nhận thức của Luyến. Đối với Cản, Luyến hoàn toàn không hề có tình yêu. Hắn ta muốn gì ở mình? Hay lại ngựa quen đường cũ? Luyến tự hỏi và vặn thật to ngọn đèn, mở cửa. Cản nhanh nhẹn lách vào như một cái bóng. Tấm thân lực lưỡng xù lên trong chiếc áo mưa bạt. Luyến khẽ rùng mình. Không hiểu vì đợt gió lạnh chợt ùa vào phòng hay vì sự xuất hiện của Cản? Thoáng nhìn thấy tờ giấy và cây bút để trên bàn, nhìn đôi mắt to loáng ướt của Luyến, Cản như hiểu hết những điều gì vừa xảy ra. Tự nhiên một ý nghĩa thoáng vụt trong đầu Cản, giúp Cản có ngay một tình thế ứng xử: - Nguy rồi, Luyến ơi. - Vừa cởi áo mưa, Cản vừa nhìn thẳng vào đôi mắt Luyến. - Đảng uỷ và ban quan trị đã biết hết mọi chuyện. Hôm vừa rồi, ông Trần Sinh, bí thư huyện uỷ và ông Toại về kiểm tra đợt chống úng của xã ta, chính ông Điền và ông Thiển đã báo cáo với các ông ấy việc của chúng mình… Chân tay Luyến rã rời. Gương mặt đang đỏ hồng bỗng tái nhợt. Luyến ngồi phệt xuống giường, đôi mắt nhìn Cản trừng trừng như trước mắt chị không phải là Cản mà là một khoảng trống rỗng nào đó. Rồi toàn thân Luyến run lên. Luyến khép chặt hai cánh tay trước ngực như cố chặn lại những tiếng đập thình thịch đang dội lên từng hồi. Những giọt nước mắt lã chã lăn dài trên má. Dù đã tự nhủ với mình rằng chỉ sáng mai thôi, chị sẽ gặp ông Điền để nói hết tất cả. Thế mà bây giờ, khi vừa nghe Cản nói, Luyến đã thấy run sợ vô cùng. Như một người đàn ông tự biết mình phải làm gì lúc này, Cản sẽ sàng ngồi xuống bên Luyến, đưa bàn tay to ráp và cứng như sắt nguội vuốt nhẹn trên người Luyến. - Luyến ơi, không việc gì phải sợ hãi. Hãy nghĩ đến con… - Cản nói lắp bắp, hơi phả đầy mùi rượu. - Không phải con anh… - Ồ… - Cản ngớ ra, đôi mắt chợt dại đi, đau đớn. Anh nuốt nước bọt, cố trấn tĩnh. - Nhưng mà tôi thấy có trách nhiệm… Em có thể không cho tôi nhận con. Nhưng ít ra em cũng phải cho tôi cái quyền đi lại chăm sóc… - Anh về đi. Khuya rồi. Không bao giờ tôi khai ra anh đâu. - Giọng Luyến lạnh và nghiêm. Chị mở toang cửa như muốn chấm dứt câu chuyện. Cản đứng dậy đóng chặt cửa lại, đôi mắt đỏ đọc ánh lên cái nhìn thèm khát. - Tôi van Luyến… Hãy thương… - Như một con thú, Cản xấn tới ôm ghì lấy Luyến. Một cuộc vật lộn. Tiếng bàn ghế xô đập. Tiếng chai lọ đổ vỡ. Tiếng thở dốc. Nhưng Luyến làm sao chống trả được với cái thân hình lực điền của Cản? Thôi đành phó mặc. Cản thổi phụt ngọn đèn, ôm xốc cái thân hình mềm nhũn, nóng hôi hổi của người đàn bà lên. *** Có tiếng đập cánh phành phạch rồi tiếng gáy eo éo của một chú gà trống nhà ai. Cản choàng tỉnh mắt. Thực ra anh đâu có ngủ! Cản cố nằm ráng thêm một lát nữa để tận hưởng cái cảm giác dịu ngọt kỳ lạ mà anh đã trải qua. Luyến đã ngủ thiếp đi từ lúc nào. Hơi thở nồng nàn ấm nóng. Cánh tay trần êm ái và mát lịm. Từng khắc thời gian trôi qua. Cản ước chừng đến hai giờ sáng. Mưa vẫn đều đều gõ trên mái ngói, tuy đã thưa dần. Đã đến giờ rồi. - Cản thầm nghĩ và nhẹ nhàng gỡ cánh tay Luyến, với quần áo mặc vội. Cũng bằng động tác nhẹ nhàng như thế, Cản luồn tay xuống đáy gối, khẽ rút ra một chùm chìa khoá. Tất cả mọi mưu toan dày công sắp đặt của Cản từ chiều là để đạt được cái mục đích này. Với bản tính nhạy cảm của một người quen tính toán xoay xoả, nhìn cánh đồng trắng nước, Cản đã lường trước một trận đói ghê gớm nhất định sẽ xảy ra. Thế mà mới hơn chục ngày trước đây, Cản đã ngốc nghếch và khờ khạo bán đổ đi sáu tạ thóc. Năm đứa con, hai bố mẹ già với một mụ vợ lười chảy thây sẽ sống sao qua nổi tháng ba khủng khiếp sắp tới? Cản chợt nghĩ đến Luyến, đến cái kho thóc giống đầy ắp của hợp tác xã. Bây giờ thì Cản chỉ còn việc hành động. Có biết, Luyến cũng không thể nói ra. Cái giọt máu của Cản gieo trong người Luyến không thể cho phép Luyến phản bội anh được. Nhẹ nhàng hơn cả một con mèo già. Cản mở hé cánh cửa, biến mất trong khoảng mưa tối bịt bùng. Có lẽ luồng gió lạnh ùa qua khe cửa đã đánh thức Luyến. Chị vùng trở dậy và hốt hoảng như mình đang sống giữa cơn mơ. Cảm giác ấy qua đi rất nhanh, rồi sự lồ lộ da thịt đã vụt kéo Luyến trở về thực tại. Cản đi đâu? Luyến mở trừng mắt nhìn vào đêm tối, thoáng một nghi ngờ. Bằng linh tính, Luyến bắt đầu xâu chuỗi lại những việc làm của Cản, như cố dựng lên một bức chân dùng hoàn chỉnh nhất về Cản… Khi ánh đèn bật lên, việc đầu tiên là Luyến soi tìm chùm chìa khoá. Nhưng vô ích. Đúng hắn rồi. Cái thằng Sở Khanh ấy đã lừa dối Luyến. Phải chặn bàn tay hắn lại, không thể chần chừ. Luyến lấy đèn pin, khoác khẩu K44 vào người, mở cửa đi về phía kho thóc. Một bóng đen vụt lao ra từ cửa kho thóc giống trên vai lù lù một khối lớn. Ánh đen pin của Luyến rọi thẳng vào mặt hắn. - Đứng lại! - Luyến khẽ quát. Bóng đen vẫn cố chạy. Rốp. Tiếng quy-lát kéo mạnh. Luyến đưa súng lên ngang tầm. - Đứng lại, không tôi bắn. Cản rã rời, vứt bao lúa đánh phịch và đứng như trời trồng. - Anh hèn lắm. - Giọng Luyến run lên vì căm giận và khinh bỉ. Cản đứng rũ, cả khuôn mặt chìm trong khoảng tối của chiếc mũ bạt. - Em hãy thương lấy tôi và con… - Tiếng Cản khản đặc và phều phào. - Chỉ một lần này thôi… Có ai biết đâu mà. - Tôi sẽ lập biên bản, báo cáo với ban quản trị. - Đừng. Đừng làm thế… Tôi làm việc này chính là vì em, vì con… Em và con sẽ sống ra sao trong cái vụ đói kém này… Luyến bỗng cảm thấy rã rời, bàn chân chỉ chực khuỵu xuống. Cản tiến lại gần. Như một phản xạ bản năng, Luyến rùng người nhảy lùi lại, hét lên: - Đừng đến gần người tôi. - Tự nhiên Luyến thấy lợm giọng, nhổ vội một bãi nước bọt. - Giả dối thế là đủ rồi. Anh vác bao lúa này trả lại nhà kho ngay bây giờ. Cản ngoan ngoãn làm theo. Bao lúa đè trĩu trên vai, gồ lên như bóng một con lạc đà. VI Sau những ngày mưa như trút nước, trời lại nắng như đổ lửa. Cánh đồng như người vừa ốm dậy, lử lả, phờ phạc. Nước rút dần nhưng rất chậm. Những chân ruộng cao nhất, nước chỉ còn ngập ngang gốc rạ, gặp nắng, lúa chín ửng lên rất nhanh. Hại nhất là những chân ruộng trũng. Những cánh lúa ngập phẳng băng, coi như mất trắng. Khi mưa đã đứng, những hạt bùn bắt đầu lắng xuống, làm thành một tấm áo giáp bám quanh cây lúa, suốt từ gốc đến chót đầu bông. Nước lắng trong và cạn dần, phơi ra ngọn lúa màu nâu xỉn nằm rạp lên nhau, bết nước và bùn. Gặp nắng gắt, lúa thối rữa rất nhanh. Khắp các ngả đồng, đâu đâu cũng một mùi tanh thum thủm của bùn và chất hữu cơ thối ủng. Cũng có những cánh đồng ngập phẳng nhưng lúa đã chín, hợp tác tháo khoán cho xã viên gặt mò. Ngâm mình trong nước, cố ngẩng đầu lên, mặc cho sóng đánh vào má vào mắt, tay trái quờ trong nước, cố túm lấy vài cổ bông, tay phải cầm liềm cắt. Cứ thế một ngày cũng được vài gánh. Hạt lúa đã trương ủng, nhiều hạt đã nứt nanh trắng dài, nhưng còn hơn là ngồi nhịn đói. Công việc cứu lúa của hợp tác xã chỉ còn tập trung vào những đồng lúa mới ngập lút ngang cổ bông hoặc còn phơ phất những búp lá. Nhưng số người tham gia vào chiến dịch này mỗi ngày một thưa dần. Ban đầu còn có các bà trung niên, các chị nạ dòng, sau rồi chỉ còn có các ông lực điền, một số thanh niên quá cỡ hoặc còn "lôm côm" đứng ngoài tổ chức. Sức người có hạn. Tát mãi, đào đắp mãi cũng rã rời. Nhưng nguy hại hơn là người ta thấy khối người suốt đợt chống úng không tát được một gầu nước mà cũng chẳng làm sao. Khối người đá gà một hai buổi rồi rủ nhau ngược tàu lên tận Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái mua ngô sắn. Người ta kháo nhau mạn trên ấy sắn tươi chỉ năm hào một cân, nhưng ở chợ nhà rẻ nhất cũng đồng rưỡi. Thấy trước nguy cơ của cái đói, nên những người có vốn, có sức, lại tháo vát nhanh nhẹn đã tính chuyện mua trữ lương thực, buôn tại gốc, bán tại ngọn kiếm lời. Nhưng vẫn còn những người nhiệt tình gắn bó thực sự với những cánh đồng. Ngoài các đảng viên, ngoài đám thanh niên trong các chi đoàn - lực lượng nòng cốt trong tất cả các phong trào của hợp tác xã - còn có những xã viên bình thường. Ấy là những người như ông Trạc mà cả cuộc đời không còn biết làm một việc gì khác ngoài cầm cày, cầm cuốc. "Ai lười thì mặc xác họ, chứ mình rời khỏi mảnh ruộng là chết đói. Ông bà mình xưa cực khổ mà đố có dám bỏ làng. Làm ruộng gặp năm mất mùa đói kém thì cực thật. Nhưng còn hơn là đi xin cơm thiên hạ". Ông Trạc nói với mọi người thế và quả thực, trong suốt những ngày mưa bão, ông tịnh không vắng mặt trên đồng một buổi nào. Thế mà rồi chính ông Trạc lại sổ toẹt ngay cái thứ triết lý của ông. Vào ngày thứ bảy của đợt úng, ông bỗng đùng đùng quát Thắm: - Con Thắm hôm nay ở nhà. Không có tát tủng gì hết. Thắm đã sắp gầu ra sân, nghe bố quát, không hiểu có chuyện gì. - Đập mẹ cái gầu đi. Ngồi nhà chơi cho sướng thân. Mặt ông Trạc đỏ tía như ông vừa nốc một chai rượu mạnh. Đôi mắt xếch đỏ ngầu long lên những tia dữ. Thắm biết bố bữa sáng có tợp một chén hạt mít, nhưng thỉnh thoảng những bữa có thức ăn ông vẫn uống trước khi ra đồng. Suốt bữa cơm ông không nói một câu nào. Ngồi uống nước xỉa răng trên phản ông cũng đăm chiêu như thế. Ông ngồi rất lâu, trầm ngâm và hút thuốc lào vặt như cố nán chờ một ai đó hoặc đang nghiền ngẫm một điều gì. Rồi ông chống hai tay lên đùi thở như hắt ra, nặng nề đứng dậy. Như mọi buổi sáng, Thắm cứ tưởng bố sẽ vác mai ra đồng, nào ngờ vừa thấy Thắm lịch kịch chuẩn bị gầu cuốc, ông đã long đôi mắt, làm toáng lên. Một chén hạt mít có thấm tháp gì mà sao ông cụ lại nóng nảy đến thế? Mặc. Ông già chắc đang giận dữ chuyện gì đó thôi. - Chi đoàn con hôm nay bắt đầu chiến dịch "Nghiêng đồng đổ nước". Con phải đi… - Thắm nói phụng phịu và xỏ gầu vào cán cuốc, toan bước đi. Nhảy đại ba bước từ trong nhà, ông Trạc vươn tay giật lấy chiếc gầu ném vào thành bể. - Nghiêng nghiêng cái… - Ông Trạc văng một câu chửi tục. - Hoài sức mà làm đầy tớ chúng nó. Tiếng ông oang oang khiến bà Trạc đang vớt bèo ngoài ao vội vã tất tả chạy về, đứng ngơ ngác nhìn. - Ông nói ai? Có chuyện gì mà ông làm ầm lên thế? - Tôi nói những thằng ban quản trị. Người ta làm mửa mật mà chúng nó định cướp không. Phải bỏ tù hết những thằng ấy. Thắm thừa cơ vác cuốc chạy vút ra ngoài đường. Thắm vừa chạy vừa thở dốc, trống ngực dội lên từng hồi tưởng như muốn vỡ. - Thắm! Nghe tiếng gọi quen thuộc, Thắm đứng chựng ngay lại. - Ôi, anh Đạt. Em sợ hết hồn. Thắm ngoẹo đầu với một cử chỉ vừa nũng nịu vừa sợ hãi rất đáng yêu, ngước đôi mắt nhìn chàng trai cao lớn trong bộ quân phục màu cỏ úa, và cũng không quên liếc nhìn về phía ngõ nhà như sợ bố mình sẽ đuổi theo. - Có chuyện gì? - Bố em say rượu hay sao ấy. Ông già quật nát cái gầu dây. Đạt nhìn Thắm, cắn môi, hàng ria mép phớt phớt nâu động đậy. Anh đang nhìn ngắm Thắm nhiều hơn là nghe cô nói. - Ghét chưa. Như ông cụ non. - Thắm nhìn Đạt rồi bật tiếng cười. - Thế là chúng mình không có gầu để tát với nhau ư? - Đi mượn. Để em sang nhà thím Cản. Thím ấy đi Thái Nguyên mua sắn. Vẫn còn một cái gầu treo ở bếp. Đạt định dắt tay Thắm. Nhưng cô hốt hoảng rụt tay lại và vội nhìn quanh. - Bạo thế. Cái ông nỡm này. Người ta cười cho đấy. Mắt Đạt nhìn Thắm si mê và ngây ngất. Tấm lưng tròn lẳn. Bộ ngực nở. Gương mặt đỏ hồng còn vương nỗi sợ hãi. Và đôi môi tươi đỏ kia sao muốn cắn vô cùng. Đạt dám chắc Thắm đẹp nhất xã. Không. Đẹp hơn tất cả những cô gái mà anh đã gặp, chả thế mà suốt tuần qua anh phải nghĩ nát óc để lừa ông đại đội trưởng, nhảy xe về với Thắm. Và sáng nay, anh tình nguyện làm một anh xã viên, một thành viên tiên tiến của chi đoàn để được cùng đi tát nước gầu dây. *** Sự thay đổi đột ngột trong thái độ của ông Trạc cũng có cái nguyên cớ của nó. Chiều hôm qua, lúc ông đi làm đồng về, ông nghe phong thanh nói ban quản trị quyết định sẽ gặt tập trung toàn hợp tác xã trong vụ mùa này. Như vậy là mười lăm đội sản xuất, không kể đội mất ít hay mất nhiều, đều gặt tập trung về một sân kho. Sau khi thu hoạch xong toàn bộ diện tích, căn cứ vào sản lượng thực tế, phương án ăn chia, một phần sẽ chia cho số ngày công, nhưng phần lớn là dành phân theo định mức, nhân khẩu. Thoạt nghe thì có vẻ công bằng. Nhưng càng nghĩ, ông Trạc càng thấy vô lý. Thế ra đánh hoà cả làng? Thằng làm mửa mật cũng như đứa lười thối thây. Người còng lưng tát nước sà sã ngoài đồng cũng như kẻ ranh ma bỏ ruộng nhảy tót lên tàu đi buôn sắn? Đội mất ít cũng như đội mất nhiều. Chuyện ngược đời. Đứa nào nghĩ ra cái trò ấy? Cho đến buổi tối, khi Cản sang chơi thì ông Trạc mới rõ cái anh đầu trò ra vụ này chính là Cơ. - Trong buổi họp chúng tôi cũng đấu ghê lắm. Nhưng không lại. Mà ông ấy lý luận cứng ra phết nhé. - Cản trợn mắt, vung tay bắt chước điệu bộ của Cơ. - "Chúng ta phải coi đây như là một biện pháp có tính chất tạm thời, nhưng rất cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Diện tích lúa mất trắng của hợp tác xã không được thu hoạch lên tới tám trăm mẫu trên hai nghìn bốn trăm mẫu gieo cấy nhưng lại chủ yếu tập trung vào năm đội sản xuất có xướng đồng thấp nhất. Nếu vẫn phân phối theo cái kiểu đội nào cấy đâu hưởng đấy thì sẽ có đội hai cân một công, đội chỉ vài ba lạng…". - Thì mọi năm cũng vậy chứ sao? Ngay vụ chiêm xuân vừa rồi, đội mình bị sâu nặng một công chỉ một cân hai, trong khi đội Tám, đội Mười ba lúa tốt, họ vẫn hưởng cân rưỡi. Ấy thế. Đội mình vụ này chỉ mất tám mẫu dưới cánh đồng sâu, còn hầu như nguyên vẹn. Cay nhất là đội Ba, đội Bốn, đội Mười hai. Ruộng nó tập trung hầu như hết ở phía đường Sáu Tư, là khu vực huyện khoanh vùng chôn nước. Đội Bốn may ra còn vớt vát được bốn mươi mẫu ở cánh đồng Tiên và cánh Con Cá, chứ đội Ba chỉ còn độc mười lăm mẫu quanh làng là được gặt… Ông Trạc ngồi thừ. Gay go nhỉ? Mười lăm mẫu cho ba bốn trăm miệng ăn. Có mà cháo cũng không đủ. Cản đảo mắt liếc nhìn ông Trạc và như đọc được những ý nghĩ ấy. - Nhưng ý huyện đã quyết sẽ trợ cấp cho hơn trăm mẫu phía nam đường Sáu Tư. Số lương thực ấy đập vào ba đội mất nặng nhất, coi như hoà. Hà cớ gì phải tập trung tất cả các đội nữa? Tôi đã phát biểu thẳng với ban quan trị như thế. - Cản nhích lại gần ông Trạc, giọng nhỏ lại. - Vấn đề là tay Cơ đang ngấp nghé vào huyện uỷ đợt này. Mấy bài báo hôm nọ chính là để gây thanh thế. Cũng may là có đợt bão này, chứ không thì cánh ông Thiển, ông Loã đã làm cho mất mặt với xã viên. "Bán trăm công họ mua danh một người". Thâm hiểu thế đấy.. - Thảo nào… - Biết đội ông Thiển, ông Loã mất nặng, tay Cơ vội nghĩ kế lấy lòng bằng cách phân phối đều toàn hợp tác xã. Nhưng cánh ông Thiển đâu có chịu. Họ tạm thời thoả thuận cách giải quyết ấy, nhưng thâm tâm họ lại nghĩ khác… Ông Trạc lim dim mắt gật gù: - Ra ý đồ cá nhân ghê gớm thật… - Chỉ thiệt nhất là những gia đình nhiều công điểm như nhà bác với nhà ông Hai Sắc, ông Năm Ngũ, bà Khiển. Hơn nghìn công nhưng ăn chia kiểu này khéo không nổi dăm tạ… - Bậy. Dăm tạ là thế nào? Dù có thất thu, bét ra tôi cũng phải nhận về tấn rưỡi. - Ông Trạc trừng mắt, vung chiếc xe điếu lên. - Làm ăn kiểu này là không có được với tôi. Cản đứng dậy làm như định về nhưng lại ngồi xuống. - Ác nhất là gặt theo kiểu này thì các đội không còn có cơ xoay xoả được gì nữa. Vụ vừa rồi chia công khai, đội ta được cân hai, chia riêng trong đội sáu lạng nữa, vị chi cân tám. Rút sản lượng mỗi sào chục cân mỗi nhà cũng thêm vài tạ. Bây giờ thì hết đường. Họ gặt tập trung hết về một sân kho. Một cân thóc cũng khó mà lấy nổi. Ông Trạc trợn tròn mắt. Cục bướu trước sống mũi gồ lên. - Ghê gớm thật. Cản ghé tai ông Trạc cười hề hề. - Ý chủ nhiệm đã quyết. Đố bác làm gì nổi. - Đừng có thách thằng này. Cần thì ngồi tù, chứ nhất định không chịu mất tấn lúa. Thời đại nào cũng vậy, có làm thì phải có phần. Ăn chặn của nhau là không xong. Cản đã đi ra ngoài ngõ, vẫn nghe thấy tiếng ông Trạc văng tục. Có thế chứ. Gặt được cây lúa của đội Mười này đâu có phải chuyện dễ. Cản tự cười thầm, thuận đường đi rẽ vào nhà ông Năm Ngũ. Cứ thế bằng cách vận động ngấm ngầm, chỉ trong một tối, Cản đã vận động được hơn chục người sẵn sàng chống lại những quyết định của Cơ. Đằng nào thì Cản cũng nhận kỷ luật. Có thể sẽ phải ra khỏi Đảng, nếu Luyến tố giác tất cả mọi chuyện. Đã mấy hôm nay, Cản bày mưu tính kế đến nát nước. Thật không hiểu nổi tâm địa người đàn bà. Vừa ngủ với mình đấy mà rồi lại lật mặt ngay được. Hay hòn máu Luyến đang mang trong người không phải là của Cản? À, mà có thể như thế lắm. Ai chứ tay Cơ hắn còn nể gì? Hai người xưa nay vẫn bênh nhau chằm chằm. Đợt nào Luyến vằng nhau với Biền là Cơ cũng nhảy vào bênh. "Phải liêm khiết như cô Luyến". "Làm việc tận tuỵ, trong sạch như cô Luyến, hợp tác xã ta chỉ có một". Ở hội nghị nào Cơ cũng nêu gương Luyến. Rõ ràng phải có sự thông đồng. Thế nên Cơ mới ghét mình. Cuộc họp đội trưởng nào hắn cũng cố tình tìm mọi khuyết điểm của mình để chỉ trích. Thấy đội mình vụ này được ăn, hắn tức tối tìm cách phá. Cứ việc động đến đội Mười này. Phế cái chức đội trưởng của thằng Cản này cũng không dễ đâu. *** Đội sản xuất số Ba và số Bốn chính là hai đội sản xuất thuộc cái xóm Lẻ của Thiển, Loã, và Biền. Cái xóm chỉ thuần một dòng họ Đào Hữu ấy nằm hơi tách khỏi thôn Thanh Giang. Một dòng họ lớn có ngót nghìn khẩu, hơn hai trăm nóc nhà mái ngói san sát kết thành một khối quanh ngôi nhà thờ họ Đào Hữu cũ kỹ và lâu đời. Theo gia phả họ Đào Hữu để lại, thì Ông Tổ của dòng họ này vốn là một tỳ tướng của Trần Nhật Duật, một tướng tài của nhà Trần đã có công ba lần đánh bại giặc Nguyên. Qua nhiều đời, nhiều cuộc phân ly loạn lạc, tới đời Quang Trung, Nguyễn Huệ, một chi nhánh của dòng họ Đào dời về Thanh Giang lập nghiệp. Nếu nghe ông Đào Hữu Sửu, trưởng tộc họ kể lại thì lịch sử dòng họ này còn oanh liệt vẻ vang nhiều nữa. Chỉ tính vài chục năm trở lại đây, thì đúng là đời nào dòng họ Đào Hữu cũng có người làm to. Làm quan thời Tây thì có ông tri phủ Đào Hữu Tề, ông tham tán Đào Hữu Du, ông chánh tổng Đào Hữu Tòng. Làm quan thời cách mạng thì có ông trung tá đã về hưu Đào Hữu Khải, ông phó chủ tịch Đào Hữu Liêu. Riêng loại uý, tá mới thăng cấp trong thời chống Mỹ hay kỹ sư, bác sỹ, thậm chí phó tiến sĩ, họ Đào Hữu đã chiếm tám mươi ba người, quá nửa số trí thức, sĩ quan toàn xã. Kể về trình độ học vấn, văn hoá thì quả là Thanh Giang - và đặc biệt là xóm Lẻ - so với Thanh Minh, Thanh Cao, có vượt trội hơn hẳn. Nhưng xét về mặt sản xuất thì Thanh Giang cũng lại yếu hơn về mọi mặt. Có nguyên nhân khách quan là do đồng đất Thanh Giang trũng hơn, dân Thanh Giang có nghề thợ mộc, nghề thêu ren, sống bằng cơm thiên hạ nhiều hơn là đồng đất quê mình. Nhưng nguyên nhân chủ quan thì chủ yếu lại do đội ngũ cán bộ và cái tư tưởng bè phái, dòng họ, cái đầu óc quan chức quá nặng nề. Suốt từ ngày sát nhập hợp tác xã, dòng họ Đào Hữu vẫn mang một nỗi uất ức ngấm ngầm là tại sao cơ cấu cán bộ các ban ngành trong xã, người Thanh Giang ít hơn hai thôn kia? Và chỉ toàn giữ chức phó: phó bí thư đảng uỷ Đào Hữu Thiển, phó chủ nhiệm Đào Hữu Loã, phó chủ tịch phụ trách công an xã Đào Hữu Xuyến, phó bí thư xã đoàn Đào Hữu Thảng… - Làm đếch gì cái chức phó. Quá bằng làm đầy tớ cho chúng nó. - Ông Đào Hữu Sửu đã nói thẳng trước mặt Thiển và Loã cái hôm ăn giỗ họ khiến Loã và Thiển chỉ biết cúi gằm mặt xuống không nói một lời. - Không biết các anh nghĩ thế nào mà để họ bắt nạt thế cũng chịu. Cơ không nghe được câu nói ấy, nhưng nỗi uất ức ngấm ngầm của người xóm Lẻ Thanh Giang thì anh hiểu. Cho nên cái ý nghĩ của Cản cố gán ghép cho Cơ kể ra cũng có phần đúng. Phân phối ăn chia theo mức nhân khẩu toàn hợp tác xã trong cái vụ mùa úng lụt này cũng là một dịp để Cơ tranh thủ lòng dân xóm Lẻ, tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác của Thiển và Loã. Nhưng đó mới chỉ là một lý do rất nhỏ, Cơ có nghĩ đến, song nó cũng chỉ như sự gia giảm thêm mà thôi. Trách nhiệm của người chủ nhiệm trước bữa cơm hàng ngày của chín nghìn dân, trên địa bàn của mười lăm đội sản xuất buộc anh không thể giải quyết cách nào khác hơn được. Đó là một biện pháp có tính chất cứu chữa, nó vi phạm tới nguyên tắc phân phối theo lao động, nó sẽ bị các đội sản xuất có lúa mất ít phản ứng, thậm chí chống đối. Bởi làm theo cách này, các đội sản xuất sẽ không thể khai khống để khai man sản lượng, ăn trộm thóc để dấm dúi chia riêng như các vụ trước được nữa. Hạn chế những hiện tượng tiêu cực, đồng thời lại đáp ứng được một nguyên tắc hết sức bức thiết trong hoàn cảnh này là đảm bảo đời sống cho tất cả mọi gia đình và chuẩn bị mọi điều kiện để bắt đất bù đắp lại trong vụ đông sắp tới. Đó là mục đích cuối cùng phải đạt tới. Tất nhiên vấn đề tổ chức, vấn đề sử dụng lao động có thể cồng kềnh, lãng phí. Nhưng đó cũng là những nhược điểm tất yếu của những biện pháp có tính bức thiết và táo bạo. Cơ đã trình bày, giải thích cặn kẽ mọi ý đồ của mình trong cuộc họp thường vụ đảng uỷ và cuộc họp ban quản trị mở rộng. Đúng như dự đoán của Cơ, ý kiến phản đối mạnh mẽ nhất lại là của các đội trưởng các đội có diện tích mất không đáng kể. - Tôi không đồng ý với chủ trương của ban quản trị. - Chị Yên, đội trưởng đội Bảy, một người phụ nữ vốn rất từ tốn, dịu dàng vừa nghe Cơ nói xong đã đứng bật dậy. - Chúng tôi sẽ giải thích với xã viên thế nào khi họ biết rằng trong suốt đợt chống úng, đội Ba và đội Bốn chỉ vẻn vẹn năm mươi bảy người tham gia trong hai ngày đầu, trong khi riêng đội Bảy chúng tôi, một trăm bốn tám người ròng rã be tát suốt đợt? - Đúng đấy. Làm vậy là không khuyến khích người lao động, cào bằng tất cả, người chăm cũng như người lười. - Đội trưởng đội Mười lăm nói oang oang như người cãi nhau. - Cứ để cho đội nào gặt riêng đội ấy như mọi vụ. Hợp tác xã đề nghị huyện trợ cấp riêng cho các đội có ruộng ở phía nam đường Sáu Tư. Mọi người tranh nhau bàn cãi, thảo luận. Đội trưởng các đội Ba, Bốn, Chín, Mười một, Mười ba, ban đầu chỉ ngồi im, sau rồi cũng nhảy vào cuộc. Ai cũng cố giành phần lợi cho đội mình. Chỉ riêng Cản là ngồi thu mình một góc hút thuốc lào vặt và đưa cái díp to gộc tỉ mẩn nhổ từng sợi râu một. Có một vấn đề mà Cản thấy không đội trưởng nào đề cập đến, nhưng cứ nhìn vào đôi mắt của họ, cứ liếc qua những vẻ mặt lo lắng đang chụm đầu vào nhau thì thào to nhỏ. Cản biết rằng, chín ông bà đội trưởng của chín đội "được mùa" kia đều cùng có chung một ý nghĩ như mình: "Ông Cơ làm cách này thì các đội hết đường xoay xoả. Lúa gặt toàn bộ về sân kho, dân quân kiểm soát, canh gác, sản lượng bao nhiêu nó sờ sờ ra đấy, chẳng làm cách nào mà chấm mút được nữa". Loã kéo ghế về phía Cơ, che tay lên miệng, nói nhỏ: - Ta cứ quyết thôi, anh ạ. Bàn tán cũng thế thôi. Nếu huyện chấp nhận ta mất bảy mươi phần trăm, ta sẽ ưu tiên cho các đội bị thiệt thòi. Ông Trần Sinh đã hứa rồi. Mình cũng nên tranh thủ nhà nước đợt này để bồi dưỡng khích lệ xã viên. - Đôi mi mắt hùm hụp của Loã khé nhướng lên, hai luồng ánh sáng rọi xoáy vào Cơ, rồi khép lại rất nhanh. - Cũng phải giữ thế điều hoà giữa nhà nước và tập thể. Chứ sau bài báo của ông Đặng Hoài và cái chỉ tiêu sáu trăm tấn thóc, xã viên họ xì xào ghê lắm. Cứ từng lúc một, Loã lái Cơ vào cái quỹ đạo mà Loã cùng với Thiển đã vạch sẵn. Nếu Cơ có khuynh hướng hướng thượng, muốn được lòng cấp huyện, chuộng thành tích thì Loã và Thiển lại thực tế hơn, muốn củng cố uy tín của mình từ dưới cơ sở bằng cách tìm mọi cơ hội để khai thác nhà nước làm lợi cho xã viên. Cái ý định khai tăng diện tích thiệt hại để được huyện trợ cấp đã sớm hình thành từ hôm Trần Sinh về kiểm tra, bây giờ đang được Loã triển khai thực hiện. Qua thống kê từ các đội sản xuất đưa lên, toàn hợp tác xã trong trận mưa bão vừa rồi, diện tích bị mất trắng 582 mẫu, bị ảnh hưởng nặng, thu hoạch không đáng kể 470 mẫu. Cứ cho tất cả mất bốn mươi phần trăm thì Thanh Bình vẫn thuộc diện huyện không phải trợ cấp cứu đói. Nhưng nếu cứ thật thà báo cáo những số liệu trên với huyện thì Thanh Bình sẽ được cái gì? Khen vì thành tích chống bão lụt ư? Được khen ho hen chẳng còn. Chẳng ai đến mức ngờ nghệch như thế trong khi các hợp tác xã trong huyện người ta nhận hàng chục tấn gạo, bột mì, người ta tổ chức hàng đoàn xe đi mua sắm theo giá chỉ đạo. Mạnh dạn đưa ra con số bảy mươi phần trăm lúa bị mất, Loã tự nhận cái việc giơ đầu chịu báng về phần mình. Nhưng làm lợi cho xã viên, cho phong trào thì Loã chẳng sợ. Cơ chỉ ậm ừ: - Việc ấy sẽ bàn sau. Bây giờ phải tập trung vào khâu chỉ đạo thu hoạch lúa. Loã biết rằng Cơ cố tình lảng tránh. Cơ hoảng sợ cái con số bảy mươi phần trăm mà Loã gợi ý. Loã nhún vai tự cười thầm. Ở đời này chẳng có thằng đếch nào trung thực cả. Đừng có cao đạo, bịp đời. *** Sân kho thôn Thanh Cao được chọn làm nơi thu hoạch chung toàn xã. Nếu như mọi vụ, mười lăm đội sản xuất gặt về sáu sân kho khu vực, tự quản lý, phân phối lấy sản phẩm của mình thì nay tất cả đều thu về một mối. Việc quản lý và phân phối sản phẩm do ban chỉ đạo thu hoạch bao gồm các đội trưởng, thư ký đội sản xuất, các uỷ viên ban quản trị, ban kiểm soát, dưới sự điều hành trực tiếp của chủ nhiệm Cơ. Một tiểu đội dân quân - cũng từ các đội cử lên - được hưởng ngày công như những xã viên giỏi - có nhiệm vụ ngày đêm canh gác, bảo quản toàn bộ khu vực sân kho. Lập, người trợ lý tin cậy của Cơ, sau một đêm tính toán đã đưa ra hai số liệu rất đáng chú ý: So với phương thức thu hoạch theo đội, phương thức thu hoạch tập trung toàn xã sẽ lãng phí tới sáu mươi phần trăm nhân lực. Thời gian thu hoạch sẽ chậm hơn từ mười đến mười lăm ngày. - Có thể chia ra thành ba cụm để giảm khoảng cách từ ruộng tới sân kho, rút bớt được ba mươi phần trăm số nhân lực lãng phí trên đường. - Lập đề nghị. Cơ gạt đi ngay. - Cậu lại hữu khuynh rồi. Vấn đề là ở mục đích đạt được. Tiết kiệm được sáu mươi phần trăm nhân lực thì sẽ mất đi một trăm tấn lúa. Đằng nào hơn. Kiên quyết tới mức cực đoan, Cơ dốc toàn tâm trí thực hiện bằng được những kế hoạch đã vạch ra. Chiếc Honđa của Cơ lại lao vun vút trên những con đường trục. Sáng tinh mơ Cơ đã đảo một vòng qua các đội, sục vào từng nhà đội trưởng đội phó. Đông viên khích lệ. Giao nhiệm vụ. Gắt gỏng. Phê bình gay gắt. Buổi trưa, Cơ tạt qua văn phòng hợp tác xã, giải quyết các công việc hành chính, giám sát kiểm tra bộ phận kế hoạch lập tiến trình sản xuất, nghiệm thu sản phẩm, dự tính phân phối. Buổi chiều và buổi tối, Cơ dành hết cho công việc ở sân kho, đôn đốc đội bảo vệ quản lý chặt chẽ sản phẩm. Mùa gặt diễn ra một cách hết sức tấp nập, nhộn nhịp, nhưng sao vẫn có cảm giác bức bối, nặng nề. Từng dòng xã viên đan chéo, đi ngược chiều nhau trên khắp các con đường trong xã. Đội Mười bốn, Mười lăm từ mãi Thanh Minh cuối xã, kéo xe bò ngang liềm lộc cộc đi ngược bốn cây số lên gặt những cánh đồng của đội Sáu, đội Bảy. Đội Ba, đội Bốn từ xóm Lẻ Thanh Cao hành quân từng đoàn dài vượt qua những cánh đồng thum thủm mùi lúa thối rữa của đội mình để đến những cánh lúa đồng cao vàng óng của đội Chín, đội Mười. - Vui thật. Đúng là khung cảnh của chủ nghĩa xã hội! - Anh chàng Phiệt, thợ sủa chữa xe đạp ở đầu chợ Ba Thôn mỗi lần thấy một toán xã viên kéo xe đi qua lại nhếch miệng cười lắc đầu, buông một câu lơ lửng không ra ngợi khen cũng không ra chế giễu. - Vui cái khỉ mẹ gì? Cứ làm như đi ăn cướp. - Một người vừa từ trong quán cắt tóc gần đó đi ra, nghe Phiệt nói vội dừng lại, trừng mắt… - A, bố Trạc. Sao bố không đi gặt? - Phiệt cười hề hề nheo nheo con mắt. - Vui chứ bố. Sản xuất lớn mà lại. Điều binh khiến tướng cứ như đèn cù. Bố thử đến sân kho Thanh Cao mà xem. Lúa chất cao ngất. Máy tuốt chạy ầm ầm. Đứng trên tầng hai trụ sở hợp tác Thanh Cao cũ nhìn xuống vui quá ngày hội… "Thằng này thở toàn giọng ỡm ờ". - Ông Trạc nhổ một sợi tóc lẫn vào miệng, toan đi không thèm bắt chuyện. - Nghĩ mà ức cho đội Mười của bố. Mỡ treo mèo nhịn đói. Lúa cứ dày như mâm xôi mà xã viên không được gặt. - Phiệt đổi giọng. Ông Trạc đã thấy ức lên tận cổ. Những đường gân hai bên thái dương nổi chằng từng đường, giận giật. "Lại định giở giọng khiêu khích". Ông lừ mắt muốn vặc một câu, nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Nhưng Phiệt nào có chịu tha ông. Đi một quãng rồi, ông vẫn còn nghe Phiệt nói với lão cắt tóc bên cạnh: - Toàn những thằng hèn bỏ mẹ. Phải tay tôi thì cứ cho mỗi đứa một cán mai xem có đứa nào dám đến gặt. A, nó khích ông. Nó chế giễu ông. Hừ, cứ để rồi xem. *** Cái điều ghê gớm ấy không ngờ đã xảy ra. Buổi sáng khi Cơ và Lập đang cự nự với Loã và Biền về bản báo cáo tổng kết những thiệt hại trong đợt mưa bão vừa qua để kịp gửi lên huyện thì có người hớt hải chạy đến. - Ới các ông ban quản trị ơi! Đánh nhau to quá. Có người chết ở cánh đồng Bà Chúa. - Người đàn bà mặt cắt không còn giọt máu vừa thở vừa nói đứt quãng. - Làm sao? Ai? - Đội Ba của bác Loã với đội Mười. - Người đàn bà lấy khăn vuông che mặt ngồi phịch xuống ghế. - Ghê gớm quá. Toàn những đòn xóc với liềm hái… - Ông Cản đâu? Đội trưởng đội Mười đâu mà lại để xã viên gây sự dưới đồng? - Cơ nói như quát. Loã đứng bật dậy, đôi mắt thất thần. Anh vụt nghĩ đến con gái và vợ. - Phải gọi dân quân ngay. Cơ đã hiểu ra mọi chuyện. Anh quay sang Lập: - Anh Lập sang ngay sân kho huy động tất cả lực lượng bảo vệ ở đó. Mà không, để lại ba người. Còn tất cả mang theo súng xuống ngay cánh đồng Bà Chúa. Tôi với anh Loã, ta xuống đồng ngay bây giờ. Chiếc Honđa rú máy chở Cơ và Loã chồm chồm nhảy trên con đường đầy vết chân trâu. Từ khắp các ngả đồng, xã viên nghe tin rùng rùng kéo đến đồng Bà Chúa. Lác đác có mấy người đàn bà hốt hoảng chạy ngược lại. Loã nhận ra vợ anh. - Kìa mẹ nó. Thế cái Lanh đâu? - Còn ở dưới đó. Các ông không huy động dân quân xuống thì có người chết bây giờ. - Đã có ai làm sao chưa? - Ông Năm Ngũ bị chiếc đòn xóc vào đầu. Máu ra ghê quá. Không thể đi Honđa được nữa, Cơ và Loã bỏ xe đi bộ. Vừa đi vừa chạy. Nhìn thấy Xuyến, xã đội trưởng, đeo trễ bên hông khẩu súng ngắn đang lội qua mương. Cơ vừa vẫy tay rối rít vừa gọi khản cả giọng. Đã nhìn thấy một đám đông đến hơn trăm người lố nhố, quần nhau trên một vạt ruộng. Ở trong làng, đàn bà con gái, trẻ con tiếp tục chạy ra, ai cũng cầm trên tay một vật gì đó. Một người đàn bà, tóc xoã xượi chạy ngược trở lại phía làng, vừa chạy vừa giơ tay làm loa, cố gào lên: - Ới làng nước ơi. Người đội Ba họ đánh chết ông Trạc với ông Hai Sắc rồi… Người đàn bà ấy cố gào thét vậy thôi, thực ra ông Trạc, ông Hai Sắc và hơn chục người đàn ông của đội Mười chẳng ai việc gì cả. Chỉ có một người là ông Năm Ngũ vì quá hăng hái quyết chặn không cho xã viên đội Ba xuống gặt, nên đã bị cánh thanh niên trẻ cho một đòn xóc vào đầu, đang nằm bất tỉnh trên bờ ruộng. Cánh đội Mười núng thế đang tìm cách chuồn nhưng cánh trẻ đội Ba hăng tiết đang vây chặt lấy. Hay bên đánh nhau bằng đòn gánh, đòn càn, rượt đuổi nhau trên những vạt lúa. Một tiếng súng nổ đanh chói. Xuyến đã chạy gần tới nơi, giơ khẩu K54 vẩy một phát lên trời. Cánh đàn ông đội Mười hoảng quá định tháo chạy. Nhưng đối phương đâu chịu buông tha. Thấy có dân quân tiếp viện, lại thêm người của đội Bốn gần đó vừa tới, dân xóm Lẻ hăng lên nhất tề cầm liềm, cầm đòn gánh lao tới. Thấy anh em, chồng con mình bị đánh, một số đàn bà con gái đội Mười buộc lòng phải vào cuộc. Họ cũng cầm đòn gánh xông tới, vốc từng mảng bùn ném tới tấp. - Tất cả dừng lại! Tất cả giải tán! - Cơ vừa thở dứt hơi vừa gào tưởng rách cổ họng. Xuyến lại bắn một phát súng chỉ thiên nữa. Cũng lúc ấy Cản và chín tay súng dân quân cũng vừa đến kịp. - Giải tán! Đề nghị bà con xã viên đội Mười giải tán hết! - Cản huơ hai tay lên như đuổi vịt, cố gào thật to. Anh đã khéo chọn thời điểm để xuất hiện. Mấy người đàn ông đội Mười ào chạy. Cả một số đàn bà con gái cũng ào chạy. - Trói gô cổ những thằng chủ mưu lại. - Xuyến dõng dạc ra lệnh. Nhưng thoáng cái, những người đàn ông đội Mười đã lủi hết. Chỉ còn một mình ông Trạc bị vây giữa vòng người. Ông cắm phập cái đòn xóc xuống ruộng, sâu đến nửa sải tay, đôi mắt long lên như hai cục lửa. - Trói đi! Các người đã cướp lúa, cướp ruộng, thì đây… Ông Trạc giật tung vạt áo đã rách bươm để lộ một tảng ngực nâu bóng màu gạch lục và nhổ ra một bãi nước bọt đầy máu. Cơ và hai người dân quan tay lăm lăm dây thừng cùng sấn tới. Nhưng thật bất ngờ. Đúng lúc ấy, một hòn đá cú đậu từ một chỗ nào đó lao thẳng vào đầu Cơ. Trời đất bỗng tối sầm lại. Cơ đưa hai tay ôm lấy đầu, nhưng máu vẫn phụt trào ra. Anh lảo đảo ngã gục ngay xuống chân bờ ruộng. VII Suốt một tuần lễ Luyến cố tránh mặt mọi người. Chị đóng chặt cửa phòng, nằm bẹp trên giường như ốm. Càng nằm, cái thai trong bụng càng hoạt động khoẻ. Dường như nó cố nhắc nhở Luyến không được một phút nguôi quên hạnh phúc nhưng cũng là nỗi đau khổ của người mẹ. Luyến để hàng giờ chuyện thầm với con. Và cũng để hàng giờ để lo lắng buồn chán cho thân phận mình… Lá đơn viết cho đảng uỷ, Luyến để trong tủ. Đã mấy lần chị quyết định nộp cho ông Điền mà rồi không tài nào bước đi nổi. Biết nói thế nào? Liệu mình có đủ nghị lực để chịu đựng cái nhìn nghiêm khắc và đầy trách móc, khinh bỉ của bác ấy? Và cái gì sẽ xảy ra khi lá đơn này chuyển đến tay nhiều người khác, nhất là những kẻ không thể hiểu nổi mình, không xứng đáng để mình cảm phục. Những câu hỏi nặng trĩu trong đầu Luyến. Nhưng rồi Luyến vẫn phải quyết định. Không còn con đường nào khác. Buối tối ấy, Luyến đã tìm đến nhà ông Điền. Giữ đúng lời hứa với Cản, Luyến không thèm kể lại những hành động thấp hèn cái đêm Cản bày mưu ăn trộm thóc trong kho hợp tác. Vất vả lắm, Luyến mới đưa nổi lá đơn cho ông Điền và kể hết với ông cảnh ngộ, suy nghĩ của mình. Câu chuyện chân thật, rành rẽ như cuộc đời của Luyến. Duy có một điều Luyến cố ý giấu ông Điền. Ấy là người cha của đứa trẻ Luyến đang mang trong người. Luyến đã nói khác rằng một lần vào trong Kim Lũ có việc, khi về trời tối chẳng may gặp phải một kẻ xấu giữa đồng. Thực ra Luyến không hề muốn dính líu gì đến Cản, một kẻ mà cho đến bây giờ Luyến vẫn khinh ghét, và lại Cản cũng chẳng đáng có tội khi mà chính Luyến tự cảm thấy không hề ân hận bởi những hành động mà Cản đã gây ra. Luyến chấp nhận mọi kỷ luật nặng nề nhất đối với mình và cam chịu dư luận để được có quyền làm mẹ, có nguồn gửi mọi yêu thương, hi vọng. Giống như cái tâm trạng đã trải qua năm năm trước đây, khi nghe Cơ và Vy trình bày rõ mối quan hệ của họ, ông Điền thực sự đau xót và buồn. Nhưng riêng với Luyến lần này, ông có thêm một niềm thông cảm sâu sắc. Một đảng viên mẫu mực, trong sáng và liêm khiết. Tám năm làm thủ kho hợp tác nhưng không hề để thiếu hụt một cân thóc, một cân đạm, không hề có một điều tai tiếng, nghi ngờ. Thế mà cho đến bây giờ, chỉ vì một lầm lỡ đáng tiếc… Kẹp đôi kính lão, ông Điền đọc lại lá đơn một lần nữa. Rồi ông thở dài nhìn Luyến hồi lâu như đắn đo cân nhắc một điều gì. - Nếu đi nạo trên bệnh viện thì cháu có thấy ảnh hưởng tới sức khoẻ lắm không? Tim Luyến bỗng thót lại. Dường như những lời nói của ông Điền như một thứ kim nhọn sắc chích vào da thịt. Luyến nuốt nước bọt khan như muốn nuốt cả dòng nước mắt. Bác mà cũng nhẫn tâm thế ư? Chẳng lẽ hành động của cháu xấu xa tồi tệ đến mức phải hoàn toàn xoá bỏ đi mọi dấu vết để khỏi ảnh hưởng, liên luỵ đến bác và các đồng chí? Luyến muốn nói to lên những điều ấy, muốn hét lên cho hả nỗi uất ức, đau đớn. Nhưng kìa, sao bác ấy vẫn ngồi lặng, mái đầu điểm bạc như cúi thấp xuống và đôi bàn tay gầy cứ rung lên như sắp để tuột khỏi lá đơn đang cầm. - Cháu đã nghĩ kỹ rồi, bác ạ. - Luyến đã bình tĩnh lại sau một phút trấn tĩnh. - Vì đứa con cháu, cháu có thể đổi tất cả… Lá đơn vẫn rung lên trong tay người bí thư già. Nhưng cả gương mặt, dáng ngồi của ông thì lại giữ nguyên trong một tư thế bất động. Suốt mười mấy năm tham gia công tác Đảng, ông chưa bao giờ phải đối diện với một tình thế éo le như thế này. Đời cô ấy sẽ còn gì nữa nếu cô ấy không giữ được giọt máu kia? Vì đứa con… Tiếng nói ấy đã chạm vào cái phần sâu kín nhất trong con người mà ông lâu nay vì quen nghĩ đến bao chuyện lớn lao, to tát, ông đã quên lãng đi. Im lặng rất lâu. Cho đến lúc lau khô nước mắt, kịp ngẩng lên thì lại đến lượt Luyến bàng hoàng kinh ngạc: Ông Điền vẫn ngồi đó. Đôi mắt mở to nhưng không biết nhìn đi đâu cả. Một làn nước rất mỏng, như nước mắt, rỉ ra hai bên khoé. *** Chuyện ấy không chỉ làm cho ông Điền buồn mà ông đau xót như thể chính ông vừa mất đi một cái gì. Thực lòng, với Luyến, ông có một tình cảm yêu mến, thông cảm đặc biệt. Hãy cố thuyết phục. Hậu quả sẽ tai hại biết bao nếu câu chuyện vỡ lở. Danh dự của Luyến, uy tín của đảng bộ sẽ bị thương tổn nghiêm trọng. Và rồi đảng bộ sẽ mất đi một đảng viên vô cùng liêm khiết, trong sạch, hết lòng tận tâm với công việc của hợp tác xã. Vì lẽ đó, ông Điền nán chờ đợi. Chỉ cần Luyến chấp nhận lời khuyên của ông, như trước đây ông đã từng thu xếp cho Cơ và Vy, thì mọi chuyện sẽ lại ổn thoả. Và, lại một lần nữa, ông sẽ mãi mãi im lặng, sẽ giấu kín mọi điều, mặc dù trong thâm tâm nhiều lúc ông vẫn tự cắn rứt, tự giày vò mình vì cái hành động cố tình che giấu sự thật. Nhưng rồi ông đành thất vọng. Luyến không hề có ý định thay đổi quyết định của mình. Đối với cô, đứa con là tất cả. Ông Điền buộc lòng phải thông báo với thường vụ đảng uỷ tất cả câu chuyện về Luyến. Cuộc họp đảng uỷ vắng Cơ vì anh đang nằm viện. Ai cũng đau xót và tiếc cho Luyến. Riêng Thiển còn thêm sự bực bội, phẫn nộ. Ông Điền đề nghị khai trừ lưu Đảng sáu tháng và xét chiếu cố hoàn cảnh của Luyến, vả lại đây là một khuyết điểm thuộc phạm vi sinh hoạt, không nên đánh giá về mặt phẩm chất đạo đức. - Như thế là đồng chí hữu khuynh. Cố tình dung túng bao che cho những hành vi truỵ lạc. - Thiển không ngần ngại, phê phán thẳng thắn ông Điền. - Tôi đồng ý như lá đơn của chị Luyến. Chúng ta phải sử dụng hình thức kỷ luật cao nhất là khai trừ vĩnh viễn chị Luyến ra khỏi Đảng. Bốn uỷ viên thường vụ có mặt hôm đó, chia thành hai phe đối lập. Ngần ủng hộ ông Điền. Tấn ủng hộ Thiển. Hình thức kỷ luật đối với Luyến tất nhiên phải căn cứ theo đề nghị của chi bộ và đảng uỷ. Nhưng nếu ý kiến của thường vụ vẫn không nhất trí thì cũng khó quyết định được. Ngay buổi chiều hôm sau, Thiển gọi Luyến lên văn phòng đảng uỷ. Với một thái độ hết sức lạnh lùng và nghiêm khắc, anh ra sức truy bức bắt Luyến phải khai người đã lợi dụng chị. Mấu chốt của vấn đề chính là chỗ này. Ai ngủ với cô ấy. Có thể là Cơ lắm chứ? Chẳng phải ngẫu nhiên Cơ có cảm tình đặc biệt với một người đàn bà chưa chồng? Những ý nghĩ ấy khiến Thiển càng tin rằng đã đến lúc anh tóm gáy được đối thủ, quật hắn lấm lưng trắng bụng ngay giữa thanh thiên bạch nhật. - Chúng tôi không thể tin những điều chị nói. Không có một kẻ nào đêm hôm dám làm nhục chị giữa đồng. Chị đừng ngại. Chúng tôi sẽ hết sức giữ kín cho chị, nếu chị không muốn người đó phải liên luỵ. Vấn đề là đảng uỷ phải biết được người đó để có biện pháp giáo dục. - Không cần thiết, anh ạ. Tôi chịu tất cả mọi kỷ luật… - Ồ, không… Nếu chị thành thật, chị có thể được giảm nhẹ hình thức kỷ luật. Tôi biết chị rất khó nói… vì người ấy đang có chức có quyền… Nhưng đảng uỷ sẽ xử lý một cách thận trọng, tránh cho chị mọi sự liên luỵ… - Tôi đã nói hết rồi. Anh không nên nghi ngờ người này người khác. Tôi không hề có tình ý hoặc bị người nào lợi dụng cả. Đêm tối giữa đồng… - Chị vẫn không thành thật. Xét về mặt sinh lý, không thể có thai trong một trường hợp bị ép buộc… - … - Chị đã có quan hệ với ai? Hay chị đã lợi dụng người đó? - Có phải đồng chí muốn hỏi cung tôi không? - Với tư cách phó bí thư đảng uỷ, tôi bắt buộc chị phải nói. - Thế thì tôi sẽ không bao giờ nói cho anh biết người đó. Chỉ cần mình tôi là đủ. Tại sao anh lại cứ truy bức tôi những điều không cần thiết? Để làm gì? Anh không thể hiểu nổi tôi đâu. Tôi cần có một đứa con. Tôi cần một niềm vui an ủi, một chỗ nương dựa. chẳng lẽ đó là một tội lỗi, là xấu xa đồi truỵ ư? Anh nhẫn tâm quá. Tôi không ngờ tâm hồn anh lại cằn cỗi, trơ như gỗ đá mất rồi… Luyến oà khóc và bỏ chạy ra ngoài như chạy trốn một thứ bệnh dịch. *** Gửi xe đạp xong, ông Điền chưa vào bệnh viện ngay. Khoác chiếc xà-cột, ông chầm chậm đảo một vòng qua mấy hàng nước tìm mua một món quà gì đó trước khi vào thăm Năm Ngũ và Cơ. Cuộc xô xát vừa xảy ra ở Thanh Bình làm cho ông Điền thật đau đầu. Chỉ trong vòng buổi chiều, tin đã lan khắp huyện. Có người còn nói phóng lên: "Thanh Bình tranh cướp ruộng gặt, đánh nhau có người chết". Huyện phải tức tốc cử cán bộ xuống điều tra. Cũng may Cơ và Năm Ngũ đều bị thương không đến nỗi quá nặng, chỉ nằm viện dăm bữa nửa tháng sẽ khỏi. Lên gặp Cơ lần này, ngoài chuyện viếng thăm ra, ông còn muốn bàn thêm với anh về chuyện Luyến. - Cơ sự đã thế này, bắt buộc thường vụ phải có quyết định sớm. Ý chú thế nào? - Sau khi kể lại tất cả câu chuyện, ông Điền hỏi Cơ. Vòng băng trắng bao quanh đầu Cơ, chạy xuống chấm mắt khiến ông Điền không thấy được hai đốm sáng ấm áp và đượm buồn đang nhìn ông với tất cả lòng biết ơn và cảm phục. Vẫn như năm năm về trước, tâm hồn ông vẫn tràn đầy lượng bao dung của một người cha. Đôi mắt chớp liên tục như một thói quen cố hữu; cái nhìn điềm tĩnh và dịu dàng; giọng nói chậm chạp đến rời rạc… Con người ông vậy đó. Giản dị, phúc hậu, thương người. Vậy mà Cơ, trong nhiều lần tiếp xúc, bàn bạc công việc với ông lại luôn luôn có một ý nghĩ độc địa: "Loại người như cụ cổ hủ rồi. Lúc nào cũng cân nhắc, dè dặt, không dám quyết một cái gì. Bây giờ không phải lúc thích hợp với những người đức độ, hiền lành theo kiểu nhu nhược mà phải là một con người hành động, một con người dám quyết, dám chịu trách nhiệm". Cơ khẽ xoay người, cắn răng nén một cơn đau từ cái đầu quấn băng trắng toát đang dội lên như muốn vỡ tung, rồi anh chậm rãi nói với ông Điền: - Tôi đồng ý như cách giải quyết của bác. Chúng ta phải đánh giá một cách toàn diện con người Luyến, khẳng định những nét bản chất… - Ấy đấy. Tôi cũng nghĩ như chú… - Bác nên báo cáo lại toàn bộ sự việc với tổ chức huyện uỷ, tranh thủ thêm sự ủng hộ của các anh ấy. Tôi tin rằng anh Trần Sinh, anh Toại, anh Quyền sẽ ủng hộ chúng ta. Ông Điền gật gù. Ý kiến của Cơ đã giúp ông thêm tự tin. - Còn một vấn đề nữa. Cô Luyến cũng muốn thôi chức thủ kho ngay trong đợt này. Cơ định ngồi dậy. Nhưng vết thương bỗng nhói lên và anh vội đưa tay ôm lấy đầu. Tôi không đồng ý đâu. Không ai có thể làm thủ kho tốt hơn cô ấy được. Khi nào cô Luyến nghỉ đẻ, sẽ bố trí một nười khác tạm thay thế. Ông Điền nắm chặt bàn tay Cơ. Một tay đưa chiếc gối kê cao cho anh đỡ mỏi. Nhìn gương mặt hốc hác, nước da xanh tái đã bắt đầu hằn rõ những vết nhăn hai bên gò má, thêm một lần ông lại yên tâm về cái việc ông đã làm hơn năm năm về trước. Tự nhiên cái ý nghĩ vẫn vẩn vơ trong đầu ông mấy hôm nay bỗng trở thành cụ thể: Vùi dập hắt hủi một con người thật dễ dàng. Nhưng cứu giúp họ, phát huy ở họ những mặt tốt, những năng lực sẵn có làm lợi cho dân, cho Đảng, đó mới là một công việc phức tạp, khó khăn. *** Ông Điền đã về rồi mà Cơ vẫn chưa hết bâng khuâng, xao động. Nhắm mắt lại, nhưng nào anh có ngủ. Vẫn như bao lần gặp gỡ, tâm sự với Cơ, không bao giờ ông Điền nhắc lại chuyện cũ. Cả hôm nay, câu chuyện của Luyến như sự lặp lại tình cờ câu chuyện đã từng xảy ra năm năm trước, vậy mà ông vẫn cố né tránh, như đã quên tất cả. Nhưng Cơ thì vẫn luôn buộc mình phải nhớ. Nhớ lại với nỗi ân hận giày vò và cả niềm nuối tiếc rạo rực. Như một ánh hào quang, một ánh chớp bỗng nhiên rực sáng cả bầu trời, một luồng gió mát thổi lộng trong một chiều hè oi nồng… Mỗi lần nhớ lại kỷ niệm ấy, Cơ đều có cảm giác như vậy. Ngày Cơ làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao, Vy là đội trưởng đội khoa học kỹ thuật. Một cô gái hồn nhiên, nhí nhảnh và vô tư. Như bao cô gái trong làng, Vy cũng có một tình yêu tươi mát, mơ mộng và thật dân dã giản dị. Vy yêu Thanh từ ngày cô vẫn còn đang học lớp bảy. Thanh học trên Vy ba lớp. Chưa kịp học hết lớp mười, Thanh đã tình nguyện đi bộ đội. Họ cưới nhau một năm sau đó, trong một dịp Thanh về nghỉ phép trước khi đi chiến trường. Tuần trăng mật của cặp vợ chồng trẻ chỉ vẻn vẹn được năm ngày. Rồi xa biền biệt ba bốn năm trời. Vy mến Cơ, với một tình cảm kính nể và cảm phục. Gần bốn mươi, nhưng Cơ vẫn chẳng kém gì các chàng trai. Cơ năng động xông xáo và luôn hoà mình với lớp trẻ. Năm ấy phong trào bèo dâu của Thanh Cao dẫn đầu toàn tỉnh. Vy được mời đi báo cáo kinh nghiệm ở khắp các hội nghị do huyện đoàn, tỉnh đoàn tổ chức. Cơ say phong trào thanh niên, coi đội khoa học kỹ thuật như đứa con cưng của hợp tác xã. Anh sẵn sàng chi tiết cho Đoàn mua đủ các loại sách khoa học kỹ thuật, sách văn nghệ, lôi cuốn hầu hết nam nữ thanh niên trong làng. Nhiều cô gái trong đó có Luyến, có Vy trở thành đối tượng Đảng. Vy được chi bộ phân công Cơ trực tiếp giúp đỡ. Những tình cảm trong sáng vô tư ban đầu giữa Vy và Cơ dường như không được như trước nữa. Vy cảm thấy điều ấy và e sợ. Nhưng Cơ thì ý thức rõ hơn. Anh đã yêu. Cái tình yêu thật mới mẻ nồng cháy mà anh chưa hề có trong đời. Vy lảng tránh mà anh thì đuổi bắt. Và rồi cái kinh nghiệm từng trải của người đàn ông đã giúp anh đến đích. Nghiệt ngã thay, Vy là vợ bộ đội mà Cơ thì đã có năm con. Biết mình lầm lỡ, Vy đau khổ, hối hận, Vy oán trách Cơ và tìm cách lẩn trốn. Người tin cậy duy nhất mà Vy có thể gửi gắm niềm tâm sự của mình là ông Điền. Vy đã thú nhận. Thực sự đau khổ vì hối hận. Ông Điền đã giữ kín câu chuyện. Ông phân tích, khuyên bảo, an ủi Vy, nhưng ông cũng thật nghiêm khắc, kiên quyết với Cơ. Cái việc làm tưởng như bao che, dung túng ấy thực ra chứa đựng cả sự nhân đạo, và thực ra trong hoàn cảnh ấy, một phần, chính ông đã làm vì công tác hậu phương. Ông nghĩ đến Thanh, đến hạnh phúc của Thanh và Vy khi anh trở về. …Như một cuốn phim hồi ức, những kỷ niệm, những hình ảnh nối tiếp hiện về làm Cơ quên bẵng đi cái vết thương nhức nhối, nóng giần giật trên đầu. Cái gì đã xảy ra với Vy vào cái tháng 9 năm 1975 ấy, khi Thanh từ chiến trường phía Nam trở về? - Câu hỏi ấy như nỗi ám ảnh trong Cơ suốt ba năm, nay lại nhói lên. Hình như đã có một điều gì đó hết sức hệ trọng? Tại sao Thanh chỉ ở nhà chưa đầy hai ngày, rồi lại bỏ nhà đi biền biệt? Bảy năm đi chiến trường, hoà bình mới về thăm nhà, có gì mà phải vội vàng đến thế? Cơ như chợt nhìn thấy cái dáng tội nghiệp lặng lẽ của Vy. Đôi mắt to đen lúc nào cũng u buồn chợt ánh lến nỗi sợ hãi hoặc xuyên nhói như ánh thép lạnh mỗi khi nhìn thấy Cơ. Gần đây nhất là cái buổi chiều Cơ đi thăm đồng. "Anh đừng nhắc đến chuyện ấy nữa. Tởm lắm". "Tại sao anh lại cứ muốn làm khổ tôi mãi?". Những lời ấy sao mà tàn nhẫn, ác độc? Đừng. Đừng nên nghĩ về tôi như thế, Vy ơi. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn yêu Vy. Yêu hơn cả bao giờ… Một bàn tay lạnh giá động vào má Cơ làm anh vội mở choàng mắt. Loã. Cơ nhăn mặt khó chịu nhưng anh cố làm ra vẻ như đang đau đớn. - Sức khoẻ anh thế nào? Khá rồi chứ? - Loã khẽ nhướng đôi mí mắt hùm hụp, nhìn Cơ đầy thông cảm. - Vết khâu đã co miệng rồi. Chỉ một tuần nữa là ra viện được. - Anh cứ yên tâm tĩnh dưỡng cho khoẻ. Công việc gặt hái ở nhà chỉ vài ngày nữa là xong hết. Loã kể về tình hình thu hoạch, về nỗi vất vả của anh, của các đồng chí trong ban quản trị, trong cái vụ mùa thất bát này. - Gặt về mới thấy lúa xấu quá, anh ạ. Những cánh trỗ sau tưởng cứu được thì lại toàn trấu. Bông to mà nhấc lên nhẹ xồm xộp. Giỏi lắm đổ đồng cũng chỉ hai mươi cân. - Loã nhăn mặt, lắc đầu rồi như thuận tay rút từ trong túi áo ra một tờ giấy cuộn tròn. - Huyện mới có công văn thúc gửi báo cáo lên gấp. Ý kiến trao đổi với anh hôm nọ, em đã nhất trí cả, về xin ý kiến thường vụ. Cũng được bảy mươi phần trăm diện tích không được thu hoạch, anh ạ. Anh xem qua rồi ký cho một cái. Hai tay giữ hai mép giấy, Loã căng hai tờ giấy khổ rộng viết kín hai mặt trước mặt Cơ. Thoáng nhìn qua thì đó là một bản báo cáo hết sức khoa học và tỉ mỉ: Tình hình trước khi mưa bão. Tình trạng sau khi mưa bão. Tổng diện tích gieo cấy. Số diện tích bị mất trắng. Số diện tích thu hoạch không đáng kể. Số diện tích bị ảnh hưởng tới năng suất. Những biện pháp phòng cứu đã thực hiện. Những kiến nghị… Cơ nhíu mày cố nhớ lại. Hình như tất cả những số liệu đều tăng lên khá nhiều so với số liệu thực tế mà anh nắm được. Tất cả đã được tính toán khá chính xác đúng khớp với con số bảy mươi phần trăm được tô đậm ở cuối trang giấy. - Ta nên xem lại tỉ lệ cho nó phù hợp với thực tế một chút, anh ạ. Đành rằng mình cũng phải nghĩ đến xã viên trong vụ đói sắp tới. Nhưng làm sao bảo đảm được nguyên tắc cân bằng giữa quyền lợi nhà nước và quyền lợi tập thể. Mình chỉ sợ huyện… - Chính anh Trần Sinh khi xuống kiểm tra tình hình úng lụt cũng đã công nhận rằng vụ này chúng ta mất nặng. Lại thêm hơn trăm mẫu phía nam đường Sáu Tư nữa. Ông huyện nào dám nghi ngờ cái tinh thần cách mạng của Thanh Bình. Có ai dám tuyên bố trước đông đảo cán bộ chủ chốt hàng huyện rằng Thanh Bình sẽ đóng góp cho nhà nước sáu trăm tấn lương thực trong năm nay? Đấy, được mùa, chúng ta có thể đóng góp hơn sáu trăm tấn nữa ấy chứ. Nhưng ai học được chữ ngờ. Leo cau đến buồng mà rồi còn ngã. Họp ban quản trị vừa rồi, chúng tôi vừa thấy buồn vừa tiếc cho anh… Bàn cãi mãi xem sáu mươi hay bảy mươi phần trăm? Tiếc rằng đang lúc nước sôi lửa bỏng thì anh đi viện. Thôi, thế tuỳ ý kiến anh… Tôi sẽ báo cáo lại với huyện để chờ đồng chí chủ nhiệm chúng tôi xuất viện sẽ lên làm việc trực tiếp với các anh… - Loã cuộn tròn bản báo cáo, giọng bỗng lạnh và chùng hẳn xuống. - Là mình cũng dè chừng lo xa trước. Chẳng có chuyện gì giấu được huyện đâu… - Có gì mà phải giấu diếm. Mình làm ăn thẳng thắn, thật thà. Mà cái chuyện ước tính thu hoạch xưa nay anh còn lạ gì. Có đâu như lọ nước mắm vại dưa hành mà đong đếm. Tính trên diện tích thì có thể khá hơn, nhưng thực tế thì bảy mươi phần trăm vẫn còn thấp. Có ở nhà thì anh mới rõ. Ngay sau hôm anh bị thương, chúng tôi đã cho người đi khắp các cánh đồng đo tính, xác minh lại cụ thể từng thửa, từng cánh bị mất. Thực tế có nhiều cánh hồi anh còn ở nhà tưởng có thể cứu được. Nhưng nắng lên, lúa thối ủng hoặc đâm mộng. Chưa kể mòng két về phá hoại. Xã viên chán nản kêu ca ghê lắm… Sau những lời nói của Loã, cái phút yên lặng mới thật nặng nề. Cơ cố gượng dậy cầm bút. Chữ ký run rẩy như chính tâm trạng anh lúc này. Gương mặt Loã rạng lên. Chiếc răng vàng bên khoé miệng được đôi môi mở hé ra, lấp lánh. - Chết mệt với cái vụ gặt này. À, anh đã biết chuyện cô Luyến chưa? Ầm lên khắp xã từ hôm qua. Cái lão Trạc đợt này thì mới đẹp mặt. Cô em gái tự nhiên phễnh bụng ra. Tôi đã bảo mà. Cái món ấy mà không nắm lập trường quan điểm vững vàng rồi cũng có ngày sa ngã như chơi… Cơ quay mặt vào tường. Tự nhiên anh thấy gai người. Hình như vết thương trong đầu lại đang tấy sốt lên. *** Cái tin về Luyến lan đi nhanh thật. Như hết thảy mọi sự kiện đặc biệt ở làng. Chỉ trong vòng khoảng thời gian nhai giập bã miếng trầu, khắp làng trên xóm dưới, trên chợ dưới đồng, ai cũng biết. - Tội nghiệp cô ấy. Khôn ba năm, dại một giờ. Người như thế mà ông giời không có mắt. - Các cụ, các bà gặp nhau chép miệng, thương hại nói vậy. Các cô các chị thì có vẻ thông cảm, hiểu biết hơn. - Chỉ tiếc cho chị ấy. Đang là đảng viên… - Ôi dào. Dễ đảng viên là thần là phật, chứ không phải là người. Đá cũng phải có lúc đổ mồ hôi. Đẻ thì nuôi chứ sao… Cánh nam giới được dịp bày ra đủ thứ chuyện tếu, đôi khi đến tục tĩu làm các bà, các chị nhăn mặt, nhổ nước bọt phì phì, phát đen đét vào lưng vào gáy các ông, nhưng rồi lại vẫn cứ thích nghe. Cũng có một vài lời bóng gió, dè bỉu, khích bác của một vài người đã từng va chạm với Luyến trong chuyện nhập kho, xuất kho hay trong đời sống sinh hoạt. Luyến đã chủ động đón nhận và chấp nhận dư luận từ lâu, nhưng chị cũng không khỏi sợ hãi, hoảng hốt và hổ thẹn mỗi khi gặp một ánh mắt nhìn soi mói, mỗi khi qua trước đám đông, hoặc thoáng thấy vài ba người đang chụm đầu vào nhau to nhỏ, thì thào. Đau đớn nhất vẫn là ông Trạc. Có lẽ ông là người cuối cùng biết tin về Luyến. Buổi trưa, khi xuống bà Điền ăn giỗ, ông còn cao hứng kể cho mọi người nghe chuyện cái hôm dân quân giải ông lên huyện, huyện đã "tiếp" ông như thế nào? Và ông đã đối đáp, lý sự ra sao mà ngay buổi sáng hôm sau "các đồng chí" trên huyện đã phải để ông về nhà. Cho đến khi bà Điền gọi ông ra một chỗ vắng rỉ tai cho ông biết câu chuyện của Luyến thì ông tỉnh hẳn rượu, choáng váng, đau xót đến lặng người. Từ nhà bà Điền về, ông Trạc cun cút đi trên con đường lát gạch, mặt cúi gằm xuống, không dám ngẩng nhìn ai. Đau xót quá. Mặt ông như úp một chiếc mo dày. Cả đời ông, chưa bao giờ ông thấy nhục nhã như bây giờ. Qua sân kho hợp tác, nơi đang ầm ầm tiếng máy tuốt, thì thụp tiếng đập lúa, ông bỗng giật mình khi thấy một đám đông xúm quanh khoảng sân ngôn ngang rơm thóc. Giữa vòng người, anh Thống hề, một người đàn ông bé choắt, nổi tiếng trong các tiết mục hài hước gây cười, vớ tấm khăn đỏ của ai, thắt múi ngang người, vừa đảo mông vừa uốn lưng, hai tay múa lượn đang cố bắt chước cái giọng Thị Mầu ỏn ẻn, ỡm ờ trong một điệu chèo. "…Này chị em ơi…". Tiếng đồng thanh cùng nổi lên: Sao? "Này chị em ơi. Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa… thế gian thường tình. Đó chị em ơi… Không chồng… ấy mấy chồng, thế mà không chồng… mà í ì i chửa í…". Cái giọng khàn khàn chua loét bị gẫy ngang. Tiếng cười ngặt nghẽo. Tiếng vỗ tay bồm bộp. Mặt ông Trạc tím lại như quả bồ quân chín. Từng âm thanh, từng tiếng động cứ đuổi riết theo ông như hàng trăm mũi kim chích vào tim đau buốt. Vừa về đến nhà, ông Trạc đã nằm vật ra phản. Và cứ thế ông nằm lì cho đến chiều tối. Trăng đã lên. Trăng cuối thu như múi bưởi vàng mọng trên nền đĩa xanh men ngọc. Khắp xóm vương vấn mùi khói bếp, thoang thoảng mùi cơm mới, mùi rơm rạ thơm nồng. Và tiếng trẻ đùa dưới trăng. Tiếng gọi nhau í ới. Tiếng xe bò lộc cộc lăn bánh trên đường gạch. Một ngày hối hả và bận rộn đang lắng dần đi. Mâm cơm đã dọn giữa sân. Nhưng vẫn chỉ có một mình thằng Thiết với con chó vàng ngồi chầu hẫu nhìn nhau. Thằng con út ông Trạc giống ông như đúc. Nó chính là thủ phạm đã phóng hòn đá củ đậu vào giữa mặt Cơ hôm nào. Trong bếp, hai mẹ con Thắm vẫn đang rì rầm to nhỏ. Họ đang bàn tính với nhau xem đã nên báo cáo cho ông Trạc biết chưa. - Thôi, cứ để mặc bố mày. Ông ấy đang phẫn chí, đụng đến rồi nát nhà. - Bà Trạc đứng dậy, bê xoong cơm ra sân. Thắm cũng đứng lên theo, sẽ sàng đi đến bên ông Trạc. - Thầy ơi, mời thầy dậy xơi cơm. Ông Trạc trở mình. Suốt từ lúc xế buổi, hình như ông vẫn nằm trong một tư thế bất động. Lầm lũi như một cái bóng, ông xách bình rượu từ trong nhà ra, ngồi xuống mâm cơm, lặng lẽ uống. Bà Trạc đưa mắt nhìn con gái, rồi lại nhìn chồng. - Ông uống in ít chứ. Trưa nay đã đi uống rượu rồi… Dằn mạnh cái chén xuống mâm làm rượu sánh ra ngoài đến gần nửa, ông Trạc trừng mắt, dằn từng tiếng: - Thì việc gì đến bà. Tôi uống của đứa nào? Ba mẹ con im thít. - Con Thắm tí nữa viết cho tao cái đơn. - Đơn gì ạ? - Thắm ngừng nhai, hỏi lí nhí. - Đơn xin ra hợp tác. Người ta đã dồn đến cái nước này, không sống được. Cả Thắm và bà Trạc cùng sững người. - Con không viết gì hết. Thầy đừng có nghĩ đến chuyện ra vào. Thằng Thiết nó còn đang đi học. Anh chị Thoại đang ở trong Lâm Đồng. Anh Thức còn đang ở bộ đội. Thầy mà ra thì uỷ ban họ tư giấy gọi tất cả về, không có cho ai đi đâu hết. - Thì cứ việc mà tư giấy. Thằng Thoại, thằng Thức nó đi bộ đội, đóng góp xương máu rồi. Tao đếch sợ thằng nào. Thắm bỗng ôm mặt oà khóc. - Thầy chẳng thương chúng con gì cả. Thầy mà ra hợp tác thì chúng con còn mặt mũi nào trông thấy làng nước. Con là đoàn viên, là bí thư chi đoàn… - Không có đoàn đủng gì hết. Kệ thây chúng nó. Ra. Hôm nay tao sẽ viết đơn. - Con không cho thầy viết đâu. Để bao giờ con đi khỏi cái nhà này đã. - Giọng Thắm bướng bỉnh. - A, mày láo. Câm ngay. - Đôi mắt ông Trạc vằn đỏ, long sòng sọc. Thuận tay với lấy cái bát, ông đang định vung lên thì bà Trạc cuống quýt ngăn lại. - Tôi van ông. Ông điên rồi hay sao? Hai mươi năm trời hợp tác, người ta sống được thì mình cũng sống được… - Sống? Hả? - Ông Trạc cười gằn, ngửa cổ tu hết chén rượu rồi lại rót đầy chén. - Bà bảo sống là thế nào? Sống để người ta đè đầu cưỡi cổ mình? Cái thời đế quốc phong kiến nó đi một nhẽ. Chứ thời buổi dân chủ này, ức hiếp nhau như thế, uất không chịu được. Mà tôi có phải là người lười biếng hay phá phách phản động gì? Hai thằng con đi bộ đội, một thằng phục viên xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới, một thằng đang ở biên giới, sống chết không biết lúc nào. Hơn sáu mươi mà hàng ngày vẫn theo đít con trâu, quần quật ngoài đồng. Cả bà với con Thắm, thằng Thiết, bốn lao động, bốn miệng ăn mà vẫn chầy chật. Làm mười mà không được ăn một. Năng suất bảy tấn, mười tấn, báo cáo láo hết. Thử hỏi rằng hợp tác xã yêu tiên, yêu đãi ở chỗ nào? Thế mà khối đứa giàu to. Chúng nó dựa quyền dựa chức bóc lột xã viên để làm giàu. Cám thóc chăn nuôi, chúng nó dấm dúi chia nhau. Để rồi đăng ảnh vợ con lên báo. Thằng Loã mấy năm làm chủ nhiệm Thanh Giang đã xây một nhà mái bằng to hơn khách sạn. Thằng Biền kế toán trưởng nhà ngói năm gian, tủ chè, sập gụ. Lão Sếnh, trưởng lò ngói cất liền một lúc hai dãy nhà. Thằng Cơ, xe Honđa chạy như chó dái… Đứa nào dính một tí cán bộ cũng rủng rỉnh đàng hoàng. Từ thằng thư ký đội quèn đến thằng đội trưởng đều ăn chặn của xã viên. - Gớm ông. Vạ mồm vạ miệng… - Bà Trạc hốt hoảng nhìn quanh. - Thôi, ông ăn đi cho nó dọn. Ba mẹ con cùng buông đũa. Chỉ còn một mình ông Trạc. Bóng ông với bóng bình rượu đổ dài, có lúc díp lại với nhau. - Ra hợp tác xã. Chỉ cần ba sào ruộng là sống vung vinh. Khối cơm khối rượu… - Con với u không có ra vào gì hết. - Từ nãy Thắm vẫn ấm ức, giọng Thắm nghẹn lại, nhưng thật quả quyết, dứt khoát. Ông Trạc ngước đôi mắt lờ đờ nhìn Thắm. Bàn tay ông giơ lên, như vẩy vào không khí. - Ờ, ba mẹ con mày cứ ở. Tao ra. Mẹ cái thằng tao nói phét. Phen này tao ra thật cho chúng nó biết tay. Cứ thế, ông Trạc vừa uống vừa nói. Chẳng có ai nghe ông cả. Thắm len lén đi ra ngõ. Nhưng ông Trạc đã nhìn thấy, gọi giật giọng: - Thắm! Thắm hốt hoảng quay lại. - Thầy bảo gì kia ạ? - Ra ngoài kho mời cô Luyến vào đây. Bảo thầy cháu mời cô vào ngay. Thắm ù chạy ra ngõ hun hút ánh trăng. Thế là thầy đã biết rồi. Cô Luyến ơi, làm sao bây giờ? Thắm nức nở khóc. Nghĩ thương cô Luyến quá. Cô làm sao mà chịu đựng nổi cơn sấm sét sắp sửa ập xuống kia. Khi hai cô cháu đã về đến nhà thì ông Trạc vẫn ngồi giữa sân bên mâm rượu, nhưng ông không uống nữa. Nhìn thấy em gái, ông Trạc lẳng lặng vào nhà lấy chiếu ra trải giữa hè. - Cô ngồi xuống đây. Mấy người đàn bà len lén, phấp phỏng, thần kinh giãn căng hết sức hết mức vì sợ hãi, lo âu. - Nào, cô kể cho anh nghe cái chuyện cô đã bôi gio trát trấu vào mặt anh như thế nào? Lạ quá. Giọng ông bỗng chua chát và giễu cợt, như thể giọng của một người nào khác. Nó hoàn toàn xa lạ với tính cách nóng nảy và thẳng thắn của ông khiến cả Thắm và bà Trạc đều ngạc nhiên không ngờ. Hai mẹ con níu lấy tay nhau, cùng khép nép ngồi xuống thềm hè, hồi hộp và sợ hãi chờ đợi một trận lôi đình sẽ xảy ra. Luyến bỗng ôm mặt khóc nức nở. Đôi vai rung lên từng đợt. - Anh chị và cháu tha thứ cho em. - Lâu lắm Luyến mới nói được. - Cái số phận khốn nạn của em đã xui em tới cái bước này… Không khí bỗng lặng đi như nhà có đám. Ông Trạc chống cùi tay lên đùi, bàn tay xoè ra đỡ lấy mớ tóc rễ tre rối bù. Từ trong đôi hốc mắt mờ tối, nước rỉ ra, hoen trên gò má gồ ghề. Không ai biết ông đang khóc. VIII Chiếc xe Scôđa màu trắng sữa lăn bánh chậm dần rồi rẽ vào bến đỗ. Khách lục tục xuống bến. Ba thanh niên, hai nam và một nữ, cùng ngồi chung ở hàng ghế giữa, cố chùng chình nán lại, xuống sau cùng. Chàng thanh nhiên có sống mũi dọc dừa, cái miệng nhỏ, vận bộ quân phục màu cỏ úa. Đôi kính râm sẫm màu to quá khổ che gần hết nửa khuôn mặt. Hai người kia có dáng dấp của một cặp tình nhân: Người nam dáng cao lênh khênh, mặt dài và gẫy, mắt nhỏ, vận chiếc áo thun trắng có sọc đỏ và chiếc quần bò, đũng, gối đã sờn bạc đúng mốt thời trang bắt đầu thịnh hành ở các thành phố lớn. Cô gái cũng tỏ ra con người biết ăn diện. Mái tóc dài xoã ngang vai, ôm lấy khuôn mặt tròn đỏ hồng và lấm tấm những mụn trứng cá. Chiếc áo sơ-mi rất kiểu, cổ ve rộng, xẻ sâu, để lộ một khoảng ngực trắng nõn. Phần thân áo thắt đáy, ôm lấy vòng mông quá nở. Chiếc quần gin màu cánh gián chật căng hai đùi, hơi loe phía dưới phủ kín đôi gốc gộc mười phân. Chàng thanh niên mặc áo thun chụp chiếc mũ mỏ vịt lên mái tóc dài xoã gáy, nháy mắt với chàng thanh niên mặc quân phục. - Bắt đầu chứ, Đạt? Tao giao hẹn bắt đầu từ giờ không được lúc nào quên vai trò của mình. Đạt nhoẻn cười, cầm lấy chiếc gậy, ngửa mặt khua khua một vòng khiến cô gái bỗng cười ré lên. - Khỉ gió các ông tướng. Để xuống dưới bến đã. Vừa xuống khỏi xe, họ đã lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Cái mốt ăn mặc khá tân kỳ là lạ mắt của đôi trai gái làm cho những người ở cái bến xe quê mùa và cổ lỗ tò mò, lạ lẫm, háo hức hoặc dè bỉu đã đành. Nhưng còn cái anh chàng bộ đội kia, trông người như thế mà đã hỏng mắt sao? Thương binh hay lại táy máy nghịch đạn pháo? Người ta xì xào chỉ trỏ. Một bà hàng nước hỏi với ra: - Chú bộ đội ấy làm sao thế hỉ? Chàng thanh niên mặc áo thun, vừa khoác ba lô, vừa cầm gậy dắt bạn, mặt tỉnh khô trả lời: - Bị đau mắt. Viêm thuỷ tinh thể nặng. Sắp mù rồi. Cô gái, dường như không chịu được cái cảnh ấy, đi chậm lại, lấy nón che mặt, hí hức cười. - Phải chờ gặp người quen, nhắn ông già mày lên đón. Dò dẫm đi bộ thì đến bao giờ? - Giá gặp cái Thắm ở đây thì hay quá nhỉ? - Cô gái bỗng ao ước. - Gặp Thắm thì hết chuyện. còn đau với ốm đ. gì nữa? Cốt nhất là phải tin cho ông già. Mà bà già thì lại càng hay. Phải phủ đòn cân não ngay từ đầu. Đúng không? Đạt cười hề hề, đồng ý với lời đề nghị của bạn. Cả ba cùng vào một quán nước. Ngứa mắt quá, mà Đạt không dám gỡ kính. Anh chỉ sợ một người quen nào trông thấy. Thật may cho họ. Vừa lúc ấy thì Loã đạp xe từ trong huyện đi ra. Loã vừa lên huyện nhận chỉ tiêu trợ cấp lương thực cứu đói cho hợp tác xã Thanh Bình. Loã nhận ra Quân, con trai Biền, và Hoà, con gái Cơ. - Các trường vào học cả rồi. Sao chúng mày vẫn còn ở đây? - Bọn cháu vừa mới tập quân sự xong. Được nghỉ thêm mấy tuần. - Quân nhanh nhảu trả lời, rồi chìa bao thuốc lá Mo mời Loã. - Với lại Đạt nó đang bị đau mắt. Nguy kịch lắm… Đến bây giờ Loã mới nhận ra Đạt, con trai ông Điền. Đạt đeo kính râm, lại ngồi khuất sau cột nên Loã không để ý. - Làm sao? - Loã định doài tay giật cái kính, nhưng Đạt đã giữ chặt lại. Quân trí trá: - Nó nhức. Viêm thuỷ tinh thể có mủ, chú ạ. Đợt này khéo đơn vị cho về hẳn… - Thế thì lên đây chú đèo về. Đạt bỗng co người lại. Về đột ngột, coi như hỏng. Còn gì là tác động tâm lý? Phải gây cho ông bà già một trạng thái phấp phỏng lo ngại… Chợt nghĩ đến vai trò của mình, Đạt bấm vào sườn Quân một cái, rồi vớ cái gậy, chọc chọc đứng dậy sờ soạng bước đi. Quân hiểu ý, lấy tay kéo Đạt ngồi xuống. - Còn choáng. Không được ngồi xe bây giờ đâu. - Quân quay sang nói với Loã. - Nhờ chú về báo cho thầy u nó biết lên đón. Loã đã ngồi lên xe, nghĩ thế nào lại quay lại. - Này, chú bảo thằng Quân với cái Hoà, ăn mặc thế kia, về làng là không có được đâu. Thằng Quân sửa ngay cái tóc đi. Con em cán bộ mà ăn mặc lố lăng là dân người ta chửi vào mặt chúng tao. - Xin chấp hành. - Quân giơ tay hét to lên khi Loã vừa đi khỏi và quay lại véo vào má Hoà. - Bồ đã nghe rõ chưa? Đối với các ông Khốt-ta-bít nhà quê ta là cứ phải cắt tóc trắng hếu, mặc quần ống què. *** Quân và Hoà thuộc loại thanh niên "trí thức" của xã Thanh Bình. Quân học hết lớp mười thi hai năm không đỗ đại học, đành phải vào bộ đội. Nhưng đó cũng chỉ là một nước đi trong cả một hệ thống bài bản đã được vạch sẵn. Do tài khôn khéo của Biền, chỉ chưa đầy ba tháng sau, Quân đã được xuất ngũ với đầy đủ những thứ giấy tờ hợp lệ. Vẫn cay cú với việc học hành của con trai, Biền gửi Quân ra Hà Nội học một lớp dạy tư với quyết tâm sắt đá là bằng mọi cách Quân phải vào được đại học. Thế rồi Quân đỗ thật, điểm lại cao, điềm nhiên vào học trường Bách Khoa. Cái kiểu đút lót chạy chọt của Biền "trên tài" đến mức nào, dân Thanh Bình chỉ có biết lè lưỡi lắc đầu, chứ không thể mường tượng ra nổi. Con người có cái vẻ bề ngoài khờ khạo đù đờ đã nhiều phen làm người ta choáng váng, bây giờ lại một lần nữa làm người ta thực sự bái phục. Dĩ nhiên với lối chiều con quá đáng như Biền, và cái vốn kiến thức hạn hẹp đầy những lỗ hổng của Quân, trường Đại học Bách Khoa giống như một lâu đài lừng lững và bí ẩn mà tình cờ Quân lọt vào được nhưng không tài nào lần ra lối cầu thang để bước tiếp nữa. Ngay từ năm thứ nhất Quân đã phải lưu ban. Đến năm thứ hai tình hình lại càng mờ mịt. Chán nản, tự ti, và bi quan, Quân đâm ra bỏ học và chơi bời lêu lổng. Theo điều lệ của nhà trường, học sinh không được lưu ban đến lần thứ hai. Mặc dù Biền đã trổ hết tài, dắt theo bạc triệu mỗi lần ra Hà Nội, nhưng Quân cũng không thể có riêng một trường hợp ngoại lệ. Biền giấu kín không dám hở điều này với ai, ngay cả với vợ. Nếu để con về thì nhục quá. Một lần nữa, Biền lại tỏ ra một người cha hết lòng tận tuỵ với con cái. Anh chuyển cho Quân sang học một trường sửa chữa ô tô, ở ngay Hà Nội. Còn Hoà? Số phận đối với cô trơn chảy và cởi mở hơn. Học hết lớp mười, Hoà đỗ vào trường Cao đẳng Nông nghiệp. Đối với con gái, Cơ tỏ ra khắt khe và nghiêm khắc. Nhưng trái lại, Soi lại ngấm ngầm chiều chuộng. Mỗi lần bán một lứa lợn, chị lại giấu chồng, dúi cho con gái vài trăm bạc. Tiếng là học sinh, quần là áo lượt, nhưng cái sự ăn uống kham khổ thì cực gấp mấy ở nhà. Mỗi lần nghe con gái kể về bữa ăn tập thể: bát canh rau muống võng vãnh vài cọng trong suốt không có một váng mỡ, rá cơm nguội ngắt toàn hạt bo bo, Soi lại thương đứt ruột. Từ một cô bé thuần phác, giản dị, đượm cái vẻ dân dã hiền lành. Hoà biết ăn diện và khôn ra rất nhanh. Sợ béo, tiền mẹ cho, nhưng Hoà không dám ăn uống thêm, chỉ để dành may quần áo. Mỗi đợt về nhà Hoà lại có thêm một sự thay đổi. Mái tóc dài chấm lưng cắt ngang vai, rồi uốn thêm mấy búp trước trán. Những bộ quần áo mốt mới nhất của Hà Nội được Hoà tiếp thu rất nhanh và lại mang cái văn minh ấy về làng khiến có người bĩu môi nhăn mũi, lườm nguýt kiểu như mắc một thứ bệnh dị ứng, nhưng đa số lớp trẻ thì lại trầm trồ thán phục, khen Hoà "chịu chơi" và biết làm tôn vẻ đẹp của mình. Mà đúng là Hoà có đẹp lên thật. Co người cô đẫy, căng với những đường nét khoẻ khoắn khêu gợi. Cái vẻ quê mùa biến đi rất nhanh. Cho đến bây giờ thì Hoà hoàn toàn nhập cuộc và không hề thua kém một cô gái biết ăn diện nào. Hoà là đối tượng theo đuổi của nhiều chàng trai thuộc đủ các tầng lớp biết ăn chơi và có trí thức. Nhưng dường như cái ý thức và tập tục làng quê vốn đã hoà tan trong dòng máu ngay từ khi Hoà còn nằm trong võng ru, nghe à ơi, tiếng cò bay lả, nhìn một làn khói bếp mỏng manh vương vấn quanh luỹ tre làng… khiến Hoà dễ dàng lựa chọn và chấp nhận tình yêu của Quân. Khác với Thắm và Đạt, Hoà và Quân yêu nhau không cần trải qua bước e ấp thăm dò buổi đầu. Dường như họ không có vận tốc ban đầu. Họ không bị ngăn cấm bởi những con mắt của nông thôn nghìn đời quen trói buộc, bị vây bủa tù túng quanh những luỹ tre, gốc đa, giếng nước, sân đình. Cuộc sống đô thị đa dạng, phóng khoáng, những đường phố nườm nượp xe cộ, những công viên mênh mông rợp những tán cây, huyền bí đủ cho họ thoả sức đưa tình yêu tới những xứ sở chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng và ảo mộng. Học tại trường sửa chữa ô tô, Quân tỏ ra tiến bộ rất nhanh trong việc tiếp thu những mánh lới làm ăn. Quân kiếm được tiền và vẫn được bố trợ cấp hàng tháng một khoản "học bổng" khá hậu hĩnh khiến anh và Hoà càng có điều kiện "tiêu xài xả láng" theo như cách nói của họ. Chuyến đi hôm nay nằm trong chương trình "về nhà nhận thêm viện trợ", để bù vào sự thiếu hụt kinh tế mà tuần trước họ vừa tổ chức một cuộc đi thăm một người bạn sau mấy tháng nghỉ hè. Gặp Đạt ngoài bến xe thị xã, đôi tình nhân thực lòng thương hại cảnh ngộ của anh binh nhất hẩm hiu và ngờ nghệch. Thế là không ngần ngại, Quân bày cho anh chàng binh nhất một ngón đòn tâm lý, khiến Đạt phải bái phục sát đất. *** Nhận được tin Loã báo, bà Điền cuống lên chạy đi tìm chồng. - Thằng Đạt nguy rồi, ông ơi. Mắt nó đang sắp hỏng, không còn nhìn thấy gì nữa. - Bà gặp nó ở đâu? - Ông Điền hơi sửng sốt, nhưng cố trấn tĩnh lại. - Chú Loã vừa gặp nó trên bến xe. Nó không đi được, phải nhờ thằng Quân, cái Hoà dắt. Con nó nhắn ông lên đón nó về. A, lại một màn kịch nữa đây. Đến bây giờ thì ông Điền đã mang máng hiểu ra và ông thấy hơi yên tâm. Nó định giở trò gì? Hết đau tim, nhức cột sống, choáng đầu, giờ lại mù mắt? Ông muốn bật cười khi nghĩ đến những trò hết sức láu cá nhưng cũng rất ngây thơ ngờ nghệch của Đạt trong mấy tháng gần đây. Mới hai mươi tuổi đầu, nó làm sao lừa ông nổi. Nói đúng ra thì lần đầu ông có tin. Nhưng rồi ông bắt đầu đặt câu hỏi khi thấy cu cậu hay về luôn. Bộ đội gì mà cứ được nghỉ luôn xoành xoạch như đi công trường? Ông kiểm tra giấy tờ. Đủ cả. Giấy nghỉ phép, đơn khám bệnh, giấy điều trị ở trạm xá có chữ ký của thủ trưởng đơn vị, của trạm xá, dấu ấn đàng hoàng. Ông viết thư cho Thái. Và lá thư của Thái mà ông nhận được gần đây đã giúp ông hiểu tất cả. Thì ra đã tám tháng nay, Thái đã chuyển công tác về sư đoàn bộ, nên ông ít có dịp gặp Đạt. Ở đơn vị độc lập, quen tự do, phóng khoáng, cậu ta bắt đầu học đòi kết bạn với những thanh niên chơi bời ở chỗ gần đơn vị đóng quân. Dựa vào thế thủ trưởng sư đoàn là bạn thân của bố, Đạt bắt đầu coi thường ý thức tổ chức kỷ luật, thường xuyên đi phép quá hạn, bỏ trốn đơn vị về nhà… Ông Điền đã cảm nhận ra con đường dẫn đến sự hư hỏng của Đạt. Nhưng ông tự nhủ mình phải hết sức kiên nhẫn giáo dục con. Những bài "chính trị" tại nhà được mở dành riêng cho Đạt mỗi khi Đạt trốn về. Ông giảng giải về đạo đức, về lý tưởng thanh niên, về nghĩa vụ đối với Tổ quốc… Nhưng người nghe hình như không chú ý gì lắm. Đạt ngồi vuốt tóc, thờ ơ và lãnh đạm, nghĩ đi đâu đâu, đôi mắt nhìn qua khung cửa sổ như con chim trong lồng, luôn luôn khao khát khoảng sáng của bầu trời. Và lần này? Anh chàng sẽ đóng tiếp vai kịch gì đây? - Nó có chân thì nó khắc về được. Không đón rước gì hết. Để nó về đây tôi xem. - Ông Điền trả lời vợ một cách dứt khoát. Quả nhiên, cho đến chiều tối thì Đạt tự đi bộ về thật. Hai người bạn "cố tri" tháp tùng anh trên suốt chặng đường hơn bốn cây số. Đáng lý họ định về sớm hơn. Nhưng chẳng lẽ hơn bốn cây số đường nắng chang chang và cứ sờ soạng dắt díu nhau thì mệt quá. Nên họ cố đợi hoàng hôn xuống. Vác gậy cuốc một mạch đến đầu làng, rồi bắt đầu chống gậy dò dẫm. Lúc ấy ông Điền đang ở nhà. Anh chàng Quân khoác chiếc ba lô chạy vào ném uỵch giữa giường, hốt hoảng báo tin: - Đơn vị cho thằng Đạt về, bác ạ. Nó bị đau mắt nặng. Cháu phải dắt suốt từ bến xe. Bà Điền hốt hoảng chạy ra ngõ. Ngoài ngõ lố nhố hơn chục đứa trẻ đang bu quanh Đạt. Anh chàng ngước đôi kính đen lên trời, một tay khuờ khoạng vào khoảng không trước mặt, tay kia chống gậy dò dẫm từng bước. Phải cố nín lắm ông Điền mới nhịn được cười, khi nhìn thấy hai mẹ con dắt díu nhau đi vào trong sân. Bà Điền mếu máo sụt sịt. Còn Đạt thì cứ dọ dẫm y như một anh xẩm. Khi Đạt đã ngồi bình tĩnh xuống chiếc ghế giữa nhà rồi, và ông bạn cố tri cùng lũ trẻ đã về hết, ông Điền mới kéo ghế ngồi trước mặt Đạt. - Thế nào? Đau mắt ra làm sao? Chỉ chờ có thế, Đạt đã vội rên lên hừ hừ. - Đau lắm. Bác sĩ bảo viêm thuỷ tinh thể có mủ. Mắt trái còn năm phần mười. Mắt phải bốn phần mười. Đơn vị cho về điều trị dài hạn… - Bỏ kính ra tao xem. - Ới ới, đau lắm. - Đạt la lên thất thanh khi ông Điền vừa sờ vào cặp kính. Nhưng rồi cặp kính cũng phải bỏ ra. Duy chỉ có điều nó cứ nhắm tịt mắt lại. - Mắt thế kia thì làm sao? Bây giờ cho đi sang nhà ông Trạc ngay liệu đã đi được chưa? Ông Điền đã đoán trúng tim đen anh chàng. Đạt giật thót người lại. Ông già đã biết tất cả rồi ư? Nhưng đã trót thì phải trét. Đạt đưa tay vào túi áo ngực lấy ra một xếp giấy. - Không tin, thầy cứ xem giấy tờ. - Giấy tờ của mày tao còn lạ gì. Toàn chữ ký giả và dấu bằng củ khoai. - Ông Điền trừng mắt. Đã đến lúc phải dồn cho cu cậu khai rõ sự thật. - Thôi, đóng kịch thế là đủ rồi. Vì sao mà trốn đơn vị về? Mày đào ngũ hay đã vi phạm kỷ luật? - Đấy, thầy cứ không tin. - Đạt vẫn nhắm tịt mắt, quay sang phía mẹ cầu cứu. - Thì thầy nó cứ để con nghỉ ngơi tĩnh dưỡng đã nào. Mắt nó đau như thế… - Nó đang lừa bà và tôi mà bà vẫn chịu được. - Giọng ông Điền bắt đầu run lên. Ông đã liếc mắt nhìn thấy chiếc gậy ở đầu gường. - Rồi thiên hạ người ta chửi vào mặt. Ai bảo mày bêu riếu tao bằng cái trò mất dạy này suốt từ bến xe về đây? Nhìn cái mắt mày thế kia… Đạt phụng phịu, lầm bầm: - Sắp mù… Không thương lại còn… - A. Mù hả? Để tao xem mày mù đến mức nào? Nhoài người về phía đầu giường, ông Điền vớ lấy chiếc gậy, khua lên một vòng, bổ xuống. Như một con sóc, Đạt nhảy phóc hai bước, lao ra cửa. Đã phán đoán từ trước, nên cái gậy ông Điền giơ cao mà bổ xuống rất nhẹ, chỉ khẽ vang lên một tiếng cộc rất nhỏ khi chạm phải thành bàn. Vậy mà tưởng như ông đã dùng hết tất cả sức lực đến mức cạn kiệt. Vừa buông gậy ra, ông ngồi phệt xuống ghế, toàn thân rã rời. - Đấy, bà xem. Mắt nó có làm sao đâu. Nó lừa dối cả tôi và bà. *** Mưu kế bị bại lộ. Đạt nghĩ không còn cách nào khác là phải nói thẳng với bố hết mọi điều: - Con chán đời bộ đội lắm rồi. - Đạt nói khi hai bố con đã ngồi đối diện với nhau trước bàn và không khí giữa họ đã trở lại hoà dịu. - Chán? Thì chính mày tự nguyện, chứ bố mẹ đâu có ép. Đang học dở lớp chín, mày đùng đùng đòi đi bằng được… - Vâng. Tại con tất cả. Đến bây giờ con mới thấy ân hận là không nghe lời thầy u cứ tiếp tục học hết lớp mười. Nhưng ngày ấy thì đúng là con háo hức, hăm hở. Bạn bè con nhiều đứa cũng chung ý nghĩ như vậy. Học hết lớp mười làm gì? Đi trung cấp thì không muốn. Lương bốn năm chục bạc thì sống sao nổi. Chỉ có con đường ở nhà sản xuất hoặc đi bộ đội. Ở nhà thì thầy biết rõ quá rồi đấy. Văn hoá lớp chín lớp mười cũng vứt đi, ai người ta thèm sử dụng. Chị Vy đấy, đội trưởng đội kỹ thuật, đối tượng Đảng, bây giờ cũng chỉ là một xã viên trơn. Người ta dùng đủ mọi hình thức để lợi dụng thanh niên, biến họ trở thành một thứ xung kích trong các đợt chống hạn, đào mương, làm thuỷ lợi… Nhưng không ai nghĩ đến chuyện bồi dưỡng đãi ngộ thích đáng cho họ cả. Không có lấy một cây đàn, một quả bóng, một tủ sách, một chỗ tối thiểu để họ sinh hoạt giải trí. Thanh niên mà sống như cụ già. Quần hơi loe một chút là bị đánh giá, thành kiến. Cái đáng đánh giá ở họ là những việc làm thì hầu như không ai đếm xỉa đến. Con hỏi thầy, tám năm nay, ở xã này, đã có những ai là thanh niên được kết nạp vào Đảng. Ông Điền bỗng sững người. Ông không dám nhìn vào đôi mắt vừa nãy còn nhắm tịt mà bây giờ sáng rực như hai ngọn đèn pha của con trai. Hừ, nội bộ Đảng. Ai nói cho nó biết? Lần đầu tiên ông nghe một câu hỏi mà suốt mấy năm trời ông không hề nghĩ đến. Đúng. Đúng quá. Tám năm nay đảng bộ Thanh Bình không kết nạp được một thanh niên nào. Không phải lỗi tại ông. Quyết định là ở các chi bộ… Không muốn trả lời con ngay. Vả lại, tối nay ông có ý định để cho "anh chàng" bộc lộ hết tư tưởng, nên ông vờ như không quan tâm đến câu hỏi. - Con xung phong đi bộ đội, một phần do ý thích, nhưng một phần cũng để tìm một lối thoát khỏi nông thôn. - Đạt nói tiếp. - Nhưng bây giờ con lại thấy ân hận. Đi bộ đội trong thời bình là một công việc hết sức chán: ăn, chơi, rồi luyện tập. Và kỷ luật thì đúng là hết sức quân sự. Đây không phải là một nghề nghiệp. Mà đã đến lúc con cần có một nghề nghiệp… - Nghề nghiệp gì? Mày định theo gót thằng Quân? Tụ tập nhau để đi ăn cắp? Câu hỏi lạnh lùng và đầy vẻ chế giễu của ông Điền bỗng làm Đạt tự ái. Dưới ánh đèn, gương mặt Đạt bỗng đỏ hồng lên. Anh nuốt nước bọt khan và cố trấn tĩnh lại. - Thầy đừng nói thế. Con sẽ xin xuất ngũ và về nhà sản xuất. Ông Điền bỗng cười khẩy, đứng dậy. - Cứ quanh co, dối trá mãi. Mày vừa nói đã chán ngấy cuộc sống nông thôn… Nghe người ta nói mày đang yêu con Thắm. Và tất cả mọi mưu kế của mày chỉ là để được về gặp nó. Có đúng không? Cái điều mà Đạt rất muốn nói ra nhưng thật khó khăn thì nay đã được ông Điền tháo gỡ. Không cần úp mở chút nào, anh đã thú nhận tất cả. - Vâng, con yêu cô ấy. Con muốn thầy u cưới cho con… - Đã đến mức cưới rồi ư? - Ông Điền bật cười ngồi xuống ghế và nhìn thẳng vào cậu con trai lúc này đang cúi đầu, hai tay đan vào nhau với một tâm trạng hết sức bối rối xúc động. - Lấy vợ thì có thể được. Nhưng với cái Thắm thì không ổn đâu. - Sao ạ? - Bố cô ta vừa viết đơn xin ra hợp tác xã. Tất nhiên cô ta và bà mẹ không đồng ý. Nhưng với một người như ông Trạc, đang cố tình chống lại phong trào hợp tác xã, đi ngược lại đường lối của chủ nghĩa xã hội thì gia đình ta không thể làm thông gia được. - Nhưng Thắm có làm gì? - Im lặng tức là tán thành tư tưởng của bố. Là bí thư chi đoàn, trước hiện tượng tiêu cực như vậy phải đấu tranh bằng được chứ? Phẩm chất người đoàn viên sẽ thể hiện ở chỗ này. Cuộc đấu tranh quan điểm giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản thể hiện ở chỗ này. Nhưng cô Thắm đã không làm điều đó. Cô ấy đã để cho bố viết đơn xin ra hợp tác xã, gây một dư luận xấu trong quần chúng xã viên. Đáng lẽ hợp tác xã sẽ cử cô ấy đi học lớp kỹ thuật sắp tới, nhưng vì chuyện này, xã đã đồng ý để lại… Đạt ngồi rũ. Hai tay đưa lên đỡ lấy cái đầu đang nóng rần rật. Có một cái gì vướng trong cổ, cứ đẩy lên, nhưng rồi vẫn bị nghẹn tắc lại. Rồi đột ngột anh vùng đứng lên, đi lại trong phòng. - Thật là vô lý. Tại sao mọi việc cứ trút hết lên đầu cô ấy? Con nghĩ đáng lẽ thầy phải bênh vực, bảo vệ Thắm. Làm sao mà có thể ngăn ông Trạc không viết đơn được khi ông không chịu được cách làm ăn này? Chính hợp tác xã đã dồn ông ấy vào tình cảnh này. Thầy xem đã có ai gắn bó hết lòng và làm việc quên mình vì hợp tác như thế? Ngót hai mươi năm trần lưng trên những luống cày, da đen cháy lại đến mức không còn chỗ cho nắng nhuộm thêm được nữa. Thế nhưng cũng chẳng hơn gì những người chây lười không chịu làm việc. Người ta cào bằng tất cả. Người khoẻ cũng như người yếu. Người chăm cũng như người lười. Chưa nói đến những kẻ chỉ sống bằng sự khôn ngoan cơ hội. Họ coi hợp tác như một phương tiện làm giàu, một cái mỏ vô tận để đục khoét. Họ xây nhà, đóng giường, sắm tủ và làm giàu một cách quá dễ dàng. Tiền của ở đâu ra? Tất nhiên là do công sức của những người xã viên cần cù và hiền lành như ông Trạc. Thầy đọc sách báo thì rõ. Hầu hết những nơi phong trào hợp tác sút kém, xã viên chán nản bất bình là do đội ngũ cán bộ ở đó sống không trong sạch, lợi dụng chức quyền để biến tài sản tập thể thành tài sản của riêng mình. Ở hợp tác xã ta có chuyện đó không? Có. Hình thức là một hợp tác xã tiên tiến, nhưng đời sống xã viên không hơn gì những hợp tác xã xung quanh. Nội bộ cán bộ bè phái, lủng củng. Ông Trạc đã dám chống lại những tiêu cực đó. Ra hợp tác cũng là bước cùng. Con nghĩ thầy trốn tránh, dung túng những hiện tượng tiêu cực. Thầy sống liêm khiết, trong sạch và không hề muốn va chạm, không muốn ai mất lòng. Nhưng có ai biết, có ai ủng hộ cách sống của thầy? Và xét về một phương diện nào đó thì đó là một thứ đạo đức cũ kỹ lỗi thời. Sống cho riêng mình thì được, chứ không thể sống cho tất cả mọi người. Thầy đã già rồi. Thầy không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu… Ông Điền ngả người bên thành giường, một tay bóp trán, mắt khép nhẹ như ngủ. Ban đầu ông còn nghi ngờ. Và bây giờ thì ông bỗng thấy bàng hoàng khi ông hầu như đã có một khái niệm trọn vẹn về đứa con trai của mình. Nó thực sự không còn là một đứa trẻ như ông vẫn nghĩ. Những điều nó nói đúng cả. Sở dĩ cho đến bây giờ người ta vẫn tín nhiệm ông làm bí thư đảng uỷ, chính là vì không còn ai hơn ông có thể đảm nhiệm được cái chức năng hoà giải, thủ lĩnh của phái ôn hoà giữa hai phe phái kình địch nhau trong xã. "Thầy đã già rồi. Thầy không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu". Lời nói của đứa con hay chính là lời thú nhận của ông đó? Ông Điền bỗng chép miệng, buông một tiếng thở dài. *** Lại một đêm trăng như bao đêm trăng thơ mộng ở làng quê. Thiên nhiên vốn rất công bằng. Thiên nhiên luôn dành ánh trăng trong ngần nhất cho những nơi còn thiếu ánh đèn. Trăng càng về khuya càng sáng, soi rõ từng đám cỏ gà đẫm sương bò lan trên mặt đường. Con đường ven hồ, chạy thẳng giữa hàng phi lao cao vút. Gió thổi vù vù trong những tán lá, bật lên những âm thanh thoảng nhẹ như tiếng sáo diều. Đạt và Thắm sánh vai nhau đi giữa hàng cây. "Con đường thanh niên" - trai gái trong làng đặt tên cho nó như vậy - đối với họ, từ mấy tháng nay đã trở nên quen thuộc và thân thiết vô cùng. Cứ mỗi lần bị ông Điền "bắt" lên đơn vị, Đạt lại tìm cách đi vòng qua nó cố nhìn lại cái nơi mà hai đứa ngồi đêm qua, những nhánh phi lao mà Thắm đã bẻ, vô tình thả trôi trên mặt hồ… và anh đứng bần thần nhìn suốt con đường, thầm hẹn với nó một ngày sẽ về lại… Lời thầm hẹn ấy, không bao giờ Đạt nguôi khuây. Anh có thể làm tất cả mọi điều mà cái tuổi hai mươi làm được. Đi bộ hai mươi cây số trong một buổi chiều nhỡ xe; năn nỉ nài xin với thủ trưởng đơn vị; hì hụi, tỉ mẩn khắc một con dấu trạm xá bằng củ khoai để dối bố, nhận làm khoán một công việc suốt một ngày chủ nhật; và hôm qua đây, đeo kính, chống gậy sờ soạng như một người mù… Tất cả những việc ấy, lúc quyết tâm sắt đá, khi láu lỉnh ranh ma, cũng chỉ cốt đạt được mục đích cuối cùng: về với Thắm, về với con đường và hàng cây quen thuộc. Tình yêu bắt đầu từ bao giờ? Mới tám tháng trước đây, đối với Đạt nó vẫn còn xa lạ và mơ hồ như biển đối với người chưa gặp biển, như trái cấm đối với người chưa hề nếm quả. Đạt chế giễu và coi thường những chàng si tình. Đạt không tin trên đời lại có một anh chàng Trixtan nào đó vì quá yêu mà đã bôi nhọ mặt mày, thay đổi giọng nói giả làm anh chàng ngớ ngẩn để chỉ cốt đến gặp nàng Ydơ tóc vàng(*) Thế rồi một lần về phép, tình cờ trong một đám cưới, Đạt gặp lại Thắm. Cô bé mà hai năm trước Đạt vẫn coi thường, "chẳng có gì đặc biệt" ấy, đã làm anh sững sờ. Thắm đứng hát giữa hội hôn, mạnh dạn, hồn nhiên và tươi tắn. Dưới ánh đèn măng-sông, gương mặt trái xoan trắng hồng, cái miệng thật duyên dáng, lúc tròn vo, lúc chúm chím. Và đôi mắt bồ câu đen như hạt huyền mỗi lần nhìn về phía Đạt lại làm anh giật thót người, tim đập như gõ trống. Đạt bắt đầu say. Không phải vì bài hát "Người ơi người ở đừng về" mà chính vì người hát nó. Nhưng làm quen bằng cách nào? Đạt dát. Đã hai tối Đạt đến nhà ông Trạc, đứng thập thò ngoài ngõ, rồi lại quay về. Phải nghĩ ra một cách nào đó cho thật tự nhiên. Từ đơn vị Đạt liền viết một lá thư cho Thắm, nhờ Thắm chép cho bài hát đêm hôm ấy, cái bài hát mà Đạt đã quá thuộc. Chỉ mấy ngày sau, Đạt đã nhận được thư của Thắm. Không ngờ cô gái bắt trúng mạch Đạt. Chỉ giả vờ. Biết rồi còn nhờ chép. - Thư Thắm viết thế. Tuy vậy Thắm vẫn chép cho Đạt bài hát ấy. Đạt nhảy bổ về nhà để thanh minh. Anh lại có cớ để được gặp Thắm. Tuổi hai mươi bắt gặp tình yêu như dầu gặp lửa. Cả hai cùng chứa ẩn sẵn một năng lượng tiềm tàng, chỉ gặp nhau là bùng cháy. Cho đến bây giờ thì anh chàng Đạt đã làm những công việc mà ngay cả Trixtan cũng chưa làm nổi. Mặc dù ông Điền tỏ ra hết sức cứng rắn với quyết định của mình, nhưng làm sao ngăn được tình yêu của Đạt đối với Thắm. - Mặc ông già. Nếu không cho cưới, thì anh sẽ không lên đơn vị nữa. - Đạt nói với Thắm khi hai người đi dến đoạn đường rẽ. - Ông già rất sợ anh đào ngũ. Thế nào cũng phải nhượng bộ. Thắm lo lắng: - Nhưng thầy em cũng không đồng ý thì sao? - Thì cả hai đứa sẽ trốn vào Lâm Đồng xây dựng khu kinh tế mới. - Không được đâu. Thầy em ra hợp tác. Em phải ở lại nhà làm giúp u lấy công điểm… - Hôm thầy viết đơn xin ra hợp tác, đáng lẽ em phải thuyết phục mới phải… Em là bí thư chi đoàn. Để thế mang tiếng chết… - Đấy, cả anh cũng còn trách em. Anh chưa hiểu tính thầy em đấy thôi. Nóng mắt lên thì có trời cản. Em với u, hai mẹ con nói thầy em như van lạy… Mà cũng tại cách làm ăn của hợp tác mình kia. Các ông quản trị thắt xã viên ghê quá… Họ cùng im lặng. Đạt buồn bã ngước nhìn trời. Một đám mây chợt kéo qua vầng trăng, phủ một khoảng tối trên đầu họ. - Ối, con rắn. Thắm nép vào người Đạt. Hơi thở nồng nàn thơm say quyện với mùi lá chanh toả ra từ mái tóc. Họ ngồi xuống mép cỏ. Đạt áp nhẹ bàn tay lên gương mặt sáng như vầng trăng, nhìn sâu vào đôi mắt bồ câu đen như hạt huyền, giọng nồng nàn: - Anh không đợi được nữa đâu. Cưới đi… Thắm cong ngón tay, ấn nhẹ vào trán Đạt, mắt lúng liếng một vòng. - Trốn bộ đội thì đừng có hòng. Em ra điều kiện nhé. Từ lần sau hai tháng mới được về một lần. - Thế thì khó quá. Nửa tháng thôi. Thắm giả vờ nghiêm, ngồi thẳng lại. - Phải rèn luyện gian khổ cho quen. Bắt đầu từ bây giờ. Hai, ba… - Và hai tay thu trước ngực, chân hơi co lại. Thắm nhìn thẳng vào mặt hồ lúc này đã tràn ngập ánh trăng. Cái cô bé thật quái quỷ. Cứ nghĩ ra đủ mọi thứ trò để giỡn anh mãi. Đạt cứ ngồi thần ra mà ngắm cái điệu bộ vờ nghiêm, tức cười của Thắm. Cố nghĩ một câu nói đùa cho Thắm bật cười mà không được. Sức nhớ tới cái máu hơi buồn của Thắm. Chỉ khẽ môt ngón tay chọc dưới làn da cổ dưới cằm là Thắm đã cười rũ như nắc nẻ. Rất khẽ khàng, Đạt luồn tay qua eo lưng tròn lẳn. Thắm giật bắn người, hất vội tay Đạt, bật cười khanh khách, ngã hẳn vào lòng anh. *** Tiếng cười con gái vang lên trong đêm thanh giúp ông Trạc tìm ra cái nơi mà ông đang phải đến. Suốt từ tối, không thấy Thắm ở nhà, ông Trạc đã bồn chồn bực bội. Tin tối qua Đạt giả vờ đau mắt trốn về, làm ông càng tin rằng hai đứa đã đi với nhau. - Tôi nghe người ta nói ông Điền nhất định không cho thằng Đạt lấy con Thắm nhà mình. - Bà Trạc mách chồng. - Đâu như ông ấy sợ mang tiếng. Bây giờ ai người ta thèm làm thông gia với ông? Ông Trạc sôi tiết lên: - Dễ tôi mang ngay con gái đến không có thất hiếu. Ông ấy là cái thá gì mà khinh tôi? Tôi thì ỉa vào. Con Thắm sẽ lấy khối đứa còn gấp vạn. - Nhưng tôi nghe con Thắm nhà ta say thằng Đạt lắm. Hai đứa cứ dính lấy nhau như nhựa. Ông phải xem thế nào… - Nó mà về đây thì tôi chặt chân. Một chợ mấy hàng dầu. Một đầu cầu mấy con chó chết. Cô nó đấy. Đã nhục nhã đeo mo vào mặt. Giờ lại đến nó, hả? Bà Trạc nghĩ chồng nói phải. - Nó về, ông cứ dần cho một trận. Con gái hơ hớ. Hay gì cái thói đi đêm về hôm. Khôn ba năm dại một giờ. Nhỡ có thế nào… - Tại bà tuốt. Dướng nó, nó sinh nhờn. - Ông Trạc bắt đầu dồn vợ. - Ông bảo tôi dướng nó cái gì? Thanh niên nó cũng phải đi họp đi hành, hát hò đàn đúm. - Bà Trạc chép miệng thở dài. - Mà cũng còn cái trò vè gì cho chúng nó giải trí? Chẳng nhẽ chưa tối đã tắt đèn đi ngủ? - Cứ tắt đèn đi ngủ cho nó đỡ tốn dầu. Họp hành nhiều sinh lắm chuyện. Như tôi đây, bây giờ không có họp hành gì hết. Họ không giải quyết đơn tôi cũng cóc cần. Tôi không thèm làm hợp tác cho họ biết tay. - Chứ tập thể họ lại sợ ông à? Họ không giả ruộng thì ông ăn bằng gì? Mẹ con tôi làm công điểm nuôi mồm cũng không đủ. - Tôi không dính dáng đến quyền lợi hợp tác của mẹ con bà là được. Phần tôi, tôi đã có cách. Mải mê nói chuyện trong ngoài hợp tác, đã đến lúc thằng Thiết hò hét đuổi bắt nhau chán chê ngoài sân kho giả vờ thất thểu về bảo bố không tìm đâu ra chị Thắm thì đã hết giờ đài. - Thế này thì nguy rồi. - Ông Trạc hầm hầm đi ra ngõ. - Tôi mà tìm thấy nó đi với thằng ấy thì tôi cứ xé xác. Dưới ánh trăng rờ rỡ, ông Trạc như người bị ma đuổi. Đi hút xuống tận gốc đa đình, rồi ông vòng trở lại con đường ra nhà kho. Cứ đến gần mỗi bụi cây hay một góc xó xỉnh nào, ông lại chắp hai tay phía sau, đi rón rén. Đôi mắt đục mờ hơi quáng, nghiêng ngó nhìn, còn đôi tai lúc vểnh bên này, lúc vểnh bên kia nghe ngóng. Tiếng chó sủa ăng ẳng suốt dọc đường ngõ xóm, nơi ông đi qua. Đôi lúc bực mình, ông nhặt một hòn gạch ném, nhưng chúng chỉ hoảng chạy một đoạn, có con cáu tiết len lén đuổi theo ông, suýt nữa thì bập được một nhát vào bắp chân. Không thấy bóng dáng Thắm đâu cả. Nó ở bờ bụi nào? Lửa bốc hừng hực trong đầu ông Trạc. Con với cái. Một tiếng cười chợt bật lên phía bên kia hồ. A, đúng nó rồi. Theo con đường phi lao hun hút, ông Trạc bước bươn bả. Thắm và Đạt đâu có biết ông Trạc đang đến gần. Họ áp đôi môi nóng rực vào nhau, say đắm nhìn vào mắt nhau, ngây ngất trong niềm hạnh phúc rạo rực. Cho đến khi cái bóng lù lù của ông Trạc đến gần… - Thầy em. - Thắm hốt hoảng kêu lên. - Con Thắm phải không? - Tiếng ông Trạc run trong cổ họng. Thắm vụt đứng dậy. Ông Trạc cúi xuống giật phắt chiếc dép cao su, sấn tới. Thắm bật chạy. Chiếc dép lao tới, rơi tùm xuống nước. Ông Trạc vừa định đuổi theo con, thì cái bóng bộ đội của Đạt đã lừng lững trước mặt. - Xin bác bình tĩnh… Như một con gấu say mồi, ông Trạc túm lấy cổ áo quân phục của Đạt. Đôi mắt mở trừng trừng như hai cục lửa áp sát vào mặt anh, giọng ông rít qua kẽ răng: - Anh là ai? Bộ đội đào ngũ phải không? Thắm hốt hoảng quay phắt lại. Một sức mạnh vô hình nào đó bất ngờ làm cô trở nên dũng cảm lạ thường: Không còn nghĩ đến nguy hiểm gì nữa, Thắm lăn xả vào, giữ tay bố: - Thầy, con xin thầy. Anh ấy không có tội gì… - A… - Ông Trạc há hốc miệng kinh ngạc. - Con van thầy… Tại con tất cả… Do con tất cả… - Thắm cứ giữ chặt lấy tay bố, miệng lắp bắp. Ông Trạc từ từ buông xuôi hai tay. Ông nhìn con gái, rồi lai nhìn Đạt, và cảm thấy mình bất lực. IX Cơn gió đầu mùa đột ngột tràn đến, như một cuộc thăm dò thử sức của thiên nhiên với cường độ trung bình và nhiệt độ không thấp hơn nhiều lắm. Vậy mà Trần Sinh đã cảm thấy lạnh ghê người. Dấu hiệu của tuổi tác được xác nhận bằng sức chịu đựng và độ nhạy cảm trước sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Đầu mùa đông năm nay, Trần Sinh buồn bã nhận ra rằng con người không thể cưỡng nổi quy luật của tuổi già. Mặc thêm chiếc áo đại cán, quàng khăn phu-la kín cổ, Trần Sinh uể oải đi xuống nhà bếp. Cái bếp ăn tập thể duy nhất còn tồn tại trong huyện, sở dĩ vẫn còn duy trì được ba mươi hai người ăn chính là do công sức của ông. Giá cả đắt đỏ, đồng lương thực tế của cán bộ mỗi tháng chỉ vừa đủ đi hai buổi chợ. Một bếp ăn tập thể dù có tài tổ chức xoay xoả đến đâu, với hai mươi tư đồng mỗi người cũng không có cách nào cải thiện bữa ăn khá hơn được. Một số người có gia đình ở gần chịu khó đạp xe đi về hai buổi. Một số khác tổ chức thành từng nhóm nấu ăn riêng. Cực nhất là những cán bộ sống xa gia đình vợ con như Trần Sinh. Ông không thể tách khỏi bếp ăn tập thể vì thì giờ, phương tiện, điều kiện không cho phép nấu bếp riêng đã đành, nhưng điều cơ bản vẫn là vì ý thức trách nhiệm và tính gương mẫu của người cán bộ lãnh đạo không cho phép ông làm như vậy. Nhiều người công tác lâu ở huyện đều thừa nhận rằng, so với những bí thư huyện uỷ trước đây, Trần Sinh thuộc vào loại người sống nhiều bằng lí trí. Là một bí thư huyện uỷ, nhưng ông vẫn tự nguyện sống một cuộc sống vật chất kham khổ như mọi người. Vợ con, gia đình ở cuối huyện, hàng tháng ông mới đảo qua một lần. Dường như ông luôn tự kiềm chế bản thân mình, luôn luôn tự đặt cho mình những tiêu chuẩn rất cao để vượt lên, để phấn đấu. Có người lại cho rằng, với cái vẻ bề ngoài rất đạo mạo, trí thức, tác phong sinh hoạt khuôn mẫu mực thước, cộng với khả năng diễn đạt trôi chảy, có sức lôi cuốn, Trần Sinh như vốn sinh ra để làm chính trị. Thực tế, quá trình hoạt động của ông ba mươi năm qua dường như cũng đã định sẵn cho ông một hướng đi. Từ một cán bộ công tác địch vận, sau hoà bình, Trần Sinh tham gia công tác huyện đoàn, tỉnh đoàn, đi học trường chính trị, rồi về làm bí thư huyện uỷ cho đến nay. Ngay từ ngày về công tác ở huyện, ước mơ lớn nhất của ông là hết kế hoạch năm năm này sẽ phấn đấu đưa huyện Giang Thuỷ trở thành một huyện dẫn đầu toàn tỉnh về mọi mặt. Mơ ước ấy nhiều khi cháy bỏng như một tham vọng, cuốn hút như một đam mê. Vốn là một người kín đáo, ít khi ông thổ lộ những dự định của mình. Nhưng ông đâu chỉ muốn dừng lại ở đó. Huyện tiên tiến hàng đầu của tỉnh, tất nhiên bí thư huyện uỷ sẽ phải là linh hồn của nó. Cái ghế thường vụ tỉnh uỷ khoá đại hội tới chắc chắn trong tầm tay. Và rồi rất có thể ông sẽ bật tường trở lại tỉnh uỷ. Ông sẽ nhận một chức nào đó trong thường vụ. Biết đâu vì cơ cấu thay đổi hay vì một dịp may nào đó, rất có thể ông còn đi xa nữa… Con đường trước mặt thênh thang rộng mở. Vấn đề là ông có đủ sức phất cái Giang Thuỷ này lên không? Còn chần chừ gì nữa, cờ đã đến tay rồi? Đất đai màu mỡ, nhân lực dồi dào, người dân Giang Thuỷ vốn cần cù, hết lòng tin tưởng ở đường lối nông nghiệp của Trung ương. Giang Thuỷ lại có nhiều nghề thủ công truyền thống, có một cơ sở vật chất dồi dào đủ để phát triển nhiều ngành nghề thủ công và nông nghiệp địa phương… Tất cả những điều kiện cơ bản ấy lại được cái khí thế đi lên sản xuất lớn chắp thêm cánh, mở ra một tương lai phát triển xán lạn khiến có lúc Trần Sinh như bị choáng ngợp. Không còn nghi ngờ gì nữa, đã đến lúc đưa phong trào nông nghiệp Giang Thuỷ tiến vọt, tiếp cận với nền sản xuất hiện đại. Phải bắt lấy một số điển hình tiên tiến, nhân nhanh phong trào. Vân Xuyên, Tú Nguyệt, Thanh Bình trở thành những lá cờ đầu. Có thể nơi đó là những sản phẩm do ông tạo ra trong ba năm qua. Và trong số ba điển hình tiên tiến ấy, Thanh Bình chính là nơi ông đặt nhiều hi vọng hơn cả. Bởi vì ông tin ở năng lực và sức bật của Cơ. Khao khát vươn tới, luôn tự đặt yêu cầu cao cho mình, đó là bản lĩnh của những người anh hùng. Ở hội nghị huy động lương thực vụ mùa vừa qua, Cơ đã chứng tỏ lòng tin của ông đối với Cơ là đúng. Vậy mà bây giờ, cái hợp tác xã Thanh Bình mà Trần Sinh đã đặc biệt hi vọng ấy đang làm cho ông hết sức đau đầu. Gây rối đánh lộn nhau làm chủ nhiệm vỡ đầu. Đảng viên sa ngã. Xã viên xin ra hợp tác… Toàn những chuyện tày trời. Không thể hiểu được. Không thể dung thứ được. Lát nữa ông Điền và Cơ lên đây, mình sẽ không thể tha thứ, không thể dung túng. Trần Sinh chém mạnh tay vào không khí như thể ông đang cáu kỉnh với một ai đó, và rẽ vào nhà ăn tập thể. Gian nhà rộng mênh mông, xếp thẳng tắp bốn dãy bàn, chỉ có duy nhất một thanh niên trẻ đang ngồi trước một bát mì đã nguội ngắt, đọc mê mải một cuốn sách dày cộp. Đó là Sơn, anh kỹ sư nông nghiệp vừa mới ra trường, tạm thời điều sang công tác bên huyện đoàn. - Cậu đọc cuốn gì mà mê mải thế? Ăn đi đã, không có mì vữa hết ra kìa. Sơn ngẩng lên nhìn Trần Sinh cười ngượng ngập, đôi tai chợt đỏ hồng. - Cháu đang đọc cuốn "Chuyện thường ngày ở huyện". Liếc nhìn cuốn sách dày đến nửa gang tay, Trần Sinh đã phát ngại. Ừ, tuổi trẻ các cậu thì đọc được chứ chúng tớ thì chịu. Bao nhiêu công văn chỉ thị, nghiền ngẫm cho hết cũng đã mụ đầu. Sức đâu mà đọc. Trần Sinh mở chiếc lồng bàn bưng bát mì nguội ngắt, những sợi mì trương nở hết mức, bết vào nhau thành một tảng sánh, đến ngồi cùng bàn với Sơn vừa uể oải xúc một thìa vừa lơ đãng hỏi: - Sách của nước nào? Tiểu thuyết hay sách khoa học kỹ thuật? - Của Liên Xô, bác ạ. Tác giả Ôveskin vốn là một nhà báo nổi tiếng. Cuốn sách viết dưới dạng kí sự. - Lý sự à? Sao cậu không tìm đọc những cuốn sách về nông nghiệp, về công tác Đoàn của cậu có hay hơn không? Những tay nhà văn nhà báo là chúa hay nói dông dài lý sự. Chuyện về một huyện có gì để viết mà làm một cuốn dày cộp thế kia? Đúng là các ông ấy chẳng có việc gì để làm. Cứ trực tiếp chỉ đạo một huyện cụ thể xem có bở hơi tai ra không? Sơn suýt bật cười khi Trần Sinh hiểu nhầm cuốn sách thuộc loại sách Lý sự. Nhưng anh đã kịp kìm lại. Cái vẻ bẽn lẽn ngượng ngập của Sơn đã biến mất. Anh đặt cuốn sách lên bàn. Những điều mà anh đã thu nhận được trong cuốn sách, tự nhiên thôi thúc anh muốn giãi bày tất cả: - Bác đọc rồi sẽ thấy. Hay lắm bác ạ. Máctưnôp là một bí thư huyện uỷ tuyệt vời… Anh ta hiểu biết về các nông trang, công việc đồng áng, như một nông dân thực thụ. Câu chuyện ấy xảy ra từ những năm năm mươi, nhưng đối chiếu tình hình ở ta hiện nay thật không khác gì mấy. Ôveskin giỏi ở chỗ là ông dám nói thẳng tất cả sự thật. Cái tốt, cái chưa tốt của các nông trang. Nhiều chuyện cũng tiêu cực, tham ô móc ngoặc, hoặc bệnh giáo điều, quan liêu giấy tờ, xa rời sản xuất, chạy theo thành tích cũng hệt như chúng ta bây giờ… Cậu này định ám chỉ ai? - Trần Sinh nhìn Sơn với cái nhìn chẳng có chút thiện cảm nào. - Tí tuổi, học ba quyển sách đã nói độc giọng sách vở. - Sao lại như ta bây giờ được? Mỗi nước có một thời kỳ quá độ khác nhau chứ. Họ tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đã kinh qua tư bản chủ nghĩa. Còn chúng ta, cậu đừng quên là ta đi thẳng từ phong kiến lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội. - Mặc dù cái món mì suông chẳng lý thú gì, Trần Sinh cũng phải cố ăn cho xong bát, rồi đứng dậy để tránh phải tranh luận với một anh chàng kỹ sư non choẹt mà lại thích tranh luận. - Ồ, bác. Bác đọc rồi sẽ thấy. Đúng là nông nghiệp mình đang giẫm phải con đường mà chính Liên Xô đã thoát ra từ những năm sáu mươi. Nếu chúng ta chịu rút kinh nghiệm, dám mạnh dạn thay đổi cách nghĩ cách làm như họ, có phải nhanh hơn bao nhiêu không? Cháu nói ví dụ như vấn đề tổ chức, vấn đề sử dụng cán bộ. Thử hỏi rằng có chủ nhiệm hợp tác xã nào của huyện ta đã qua các lớp quản lý kinh tế, đã có trình độ trung cấp nông nghiệp? Và một loạt cán bộ có trình độ trung cấp mà các hợp tác xã gửi đi đào tạo hoặc do nhà nước đào tạo, đã được sử dụng như thế nào? Cháu mới về công tác ở huyện đoàn hai tháng, nhưng xuống các hợp tác xã mới thấy lực lượng thanh niên có văn hoá, có trình độ hiểu biết, mình chưa biết sử dụng, bồi dưỡng họ, để lãng phí quá… Trần Sinh mỉm cười, vỗ vai Sơn, rồi chỉ vào bát mì, ý nhắc anh hãy thực hiện xong cái nghĩa vụ với cái cái dạ dày đang sôi ùng ục của mình đã. - Cậu mới về. Chưa hiểu gì về cơ sở đâu. Nếu không có trận bão lụt vừa rồi thì chúng ta hoàn toàn khẳng định rằng chủ trương lên sản xuất lớn của chúng ta là đúng đắn. Thiên tai nó phá mình ghê quá… Còn chuyện tổ chức quản lí là một vấn đề phức tạp. Trước hết cậu hãy cố gắng làm tốt những công việc mà cô Thoa đã giao… - Báo cáo bác. - Sơn ngập ngừng, nhưng rồi anh nhìn thẳng vào Trần Sinh mạnh dạn. - Xin bác cho cháu về một hợp tác xã nào hoặc sang uỷ ban nông nghiệp. Chứ công tác đoàn, cháu cảm thấy không có khả năng… Trần Sinh chợt nhớ sáng nay ông hẹn làm việc với chủ nhiệm và bí thư Thanh Bình. Ông vội xua tay, bước ra khỏi nhà ăn: - Miễn bàn. Tổ chức đã cân nhắc rồi. Thanh niên trẻ mà không làm công tác đoàn thì để cho ai? *** Khi Trần Sinh về đến phòng thì đã thấy Toại đang đứng chờ ông ngoài hành lang. - Ông chờ mình lâu chưa? Gió mùa mà ông mặc phong phanh thế, chịu sao nổi. - Sinh tròn mắt ngạc nhiên khi thấy Toại chỉ mặc một chiếc sơ-mi như ngày thường. - Tôi có thấy lạnh gì đâu? - À à… - Sinh bật cười. - Lạnh là do mình đã có tuổi. Ông kém mình hơn chục tuổi. Thảo nào… Hai người vào trong phòng. Trần Sinh pha trà rồi cả hai ngồi xuống hai chiếc ghế xa-lông mây đối diện nhau. - Hôm qua anh lên tỉnh họp, tình hình có gì mới không? - Toại ấp chén trên tay đưa lên gần miệng thở hít cái mùi trà thơm phức, hỏi. - Trận bão vừa qua gây thiệt hại ghê gớm. - Trần Sinh ngã người, hai tay dang ra hai bên thành ghế, vừa nói vừa lắc đầu. - Toàn tỉnh mất tới sáu mươi phần trăm diện tích không được gặt. Đau nhất là Đạo Tú, Viên Đình rồi đến Giang Thuỷ mình. Theo thông báo của Trung ương, kể cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tổng số diện tích ngập lụt lên tới một triệu rưỡi héc-ta. Gần một trăm năm nay mới lại có một trận bão lụt ghê gớm như bây giờ. Thực tại thật đáng lo, nhưng phải suy nghĩ cho tương lai. Tình hình trước mắt là phải nhanh chóng cứu trợ cho những vùng ngập nặng. Tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để giành thắng lợi trong vụ đông tới. Đồng chí bí thư tỉnh uỷ nhấn mạnh vụ đông này có một tầm quan trọng đặc biệt. Phải dốc hết sức để bắt đất phải bù lại những thiệt hại đã mất. Vấn đề tiêu nước, gấp rút chuẩn bị đất để trồng hoa màu là nhiệm vụ trọng yếu trong tháng cuối năm này… - Còn tình hình thời sự? Vấn đề người Hoa có giải quyết êm thoả? - Toại bồn chồn, nhấp nhổm trên ghế, chén nước trên tay đã nguội lạnh, nhưng anh vẫn chưa uống. Trần Sinh rít một hơi thuốc lào, chành miệng thở khói, lắc đầu: - Căng thẳng lắm. Tình hình biên giới phía bắc căng thẳng như thế nào báo chí đã đăng rồi. Mình muốn giải quyết một cách ôn hoà, nhưng họ không muốn… Toại chép miệng thở dài: - Chao, đất nước mình sao mà gian truân vất vả thế là cùng. Không lúc nào hết thiên tai địch hoạ… Cả hai cùng im lặng. Toại chống tay bóp trán, còn Trần Sinh thì ngả hẳn người vào thành ghế xa-lông như cảm thấy toàn thân rã rời. Lúc sau, Toại nhìn đồng hồ nói với Trần Sinh: - Vẫn chưa thấy các vị Thanh Bình đến. Anh hẹn họ tám giờ phải không? Anh Sinh này, tôi cảm thấy số liệu báo cáo của Thanh Bình vừa qua cao hơn nhiều so với thực tế. Cứ cho rằng so với các xã trong huyện thì Thanh Bình thuộc diện úng nặng. Nhưng so với Tú Nguyệt, Hoa Thành thì bằng thế nào được. Ruộng Tú Nguyệt, Hoa Thành trũng nhất huyện, thế mà nó cũng chỉ mất bảy mươi phần trăm, bằng Thanh Bình… - Nó bị mất trắng năm mươi héc-ta ở phía nam đường Sáu Tư. - Tôi tính cả rồi. - Toại giở sổ tay, nhìn lại những số liệu anh đã tổng hợp được. - Diện tích của Thanh Bình vụ này gieo cấy là… Trần Sinh nhìn đồng hồ, xua tay như ông đã hiểu tất cả. - Phải tin ở cơ sở, ông ạ. Đời nào Thanh Bình dám khai tăng diện tích để đòi nhà nước trợ cấp. Tay Cơ thì tôi hiểu rõ lắm. Về ý thức xã hội chủ nghĩa thì bọn mình không thể nghi ngờ hắn được. Có anh chủ nhiệm nào dám tuyên bố sẽ đóng góp cho nhà nước 600 tấn thóc nghĩa vụ trong một năm? Ngay cái thằng Vân Xuyên giàu như thế mà vẫn kỳ kèo từng tấn lương thực. Qua hội nghị huy động lương thực vừa rồi tôi đánh giá được từng anh. Anh nào có tư tưởng tiên phong của giai cấp công nhân, anh nào có tư tưởng nông dân tư hữu? Không thể có hai thái cực trong một con người. Làm cán bộ lãnh đạo là phải có lòng tin vào cơ sở, tin ở quần chúng. Mặc dù hiện nay Thanh Bình đang có những bê bối đáng tiếc nhưng mình vẫn tin ở nó. Toại vẫn không chịu. - Hôm vừa rồi đi thăm đồng, tôi rất chú ý tới những diện tích ngập úng của họ. Giang Thanh mất nặng, chứ Thanh Minh, Thanh Cao thuộc loại đồng cao nhất xã, hầu như không bị ảnh hưởng cơn bão số chín. Có lẽ vụ đánh lộn xảy ra chính là do việc tổ chức gặt tập trung toàn xã. Xã viên những hộ được mùa họ không chịu. - Lát nữa cậu Cơ lên đây, chúng ta sẽ nghe kỹ hơn về vụ này mới có kết luận được. Mình chỉ lưu ý với ông một điều, với Thanh Bình, phương pháp của chúng ta là rất cứng rắn nghiêm khắc với những sai lầm lệch lạc của họ, nhưng đồng thời cũng phải hết sức động viên nâng đỡ họ. Tôi đã bàn với anh Quyền và các anh phụ trách các ngành vật tư. Huyện sẽ cho thêm Thanh Bình sáu máy công nông, ba máy bơm dầu, gấp rút xây dựng trạm bơm điện Thanh Giang. Về phân bón, thuốc trừ sâu, tuy có khó khăn, nhưng chúng ta vẫn phải đủ khả năng thoả mãn những yêu cầu của họ. Cho cả ba mươi xã thì mình không đủ sức, nhưng với ba hợp tác xã điểm thì hoàn toàn làm được. - Trần Sinh bỗng chống hai tay lên thành ghế, nhoài người về phía trước, đôi mắt sáng rực và giọng nói trở nên sôi nổi. - Phải tạo nên một điển hình tiên tiến để chứng tỏ quy mô hợp tác xã đã thực sự phát huy những ưu thế và tiềm năng của đất đai, nhân lực. Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, chúng ta phải bằng mọi cách thực hiện được. Đó không phải chỉ là quyết tâm suông mà thực tế phải diễn ra như vậy. Những Vũ Thắng, Định Công là những dẫn chứng rất hùng hồn sinh động, chứng tỏ tính chất ưu việt của nền sản xuất lớn. Riêng với Thanh Bình, tôi đặt rất nhiều hi vọng. Bởi lẽ đó là sự hợp lực của ba hợp tác xã tiên tiến trước đây. Bởi lẽ cậu Cơ là một chủ nhiệm thực sự có năng lực, có ý thức cầu thị, có hoài bão làm ăn lớn. Chúng mình phải biết nắm lấy, bồi dưỡng và nhân lên… Tôi thì lại suy nghĩ có điểm khác anh. - Toại thầm nghĩ. - Cái lối tạo điển hình của anh không ổn đâu. Tập trung tất cả máy móc, vật tư cho một hợp tác xã để làm gì? Cố tạo ra một hình mẫu mà thực tế không thể có trong hoàn cảnh hiện nay để làm gì? Cái gì trái quy luật sẽ bị đào thải. Anh không thể mang tích phân vi phân để nhồi nhét vào đầu óc một người vừa thoát khỏi mù chữ để tạo nên một con người có trí thức. Không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn được đâu. Cả anh và tôi, chúng ta đều mắc bệnh giáo điều như nhau, nhưng anh thì lại quá say sưa với nó, nhìn nhận nó như là một giải pháp hữu hiệu. Thực tế phong trào của chúng ta đang ở đâu? Sau cái phút say sưa choáng ngợp bởi viễn cảnh đi lên sản xuất lớn, nhìn lại chúng ta thấy gì? Một loạt tài sản của hợp tác xã nhỏ sau 15 năm chắt chiu xây dựng bị phân tán, phá huỷ. Lại xây dựng hàng loạt công trình mới cho phù hợp với quy mô lớn. Hầu hết các hợp tác xã đều hình thành những phe cánh đối lập để cố giành cho phe mình cái chức chủ nhiệm và những chức vụ có quyền thế. Đất đai tập trung, phạm vi điều hành rộng, nhưng trình độ năng lực cán bộ vẫn có vậy, công cụ lao động cũng chỉ có vậy. Thực tế là chúng ta đã đi ngược lại cái quy luật: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cứ suy từ ba hợp tác xã Tú Nguyệt, Vân Xuyên và Thanh Bình mà anh đang cố tạo thành những điển hình tiên tiến thì đủ rõ. Cho đến ngày thứ ba của cơn bão số chín, trong số chín máy bơm đi-ê-zen của ba hợp tác xã chỉ có bốn chiếc hoạt động. Hỏng bu-gi. Thiếu dầu. Thiếu công nhân vận hành. Máy móc không được bảo quản tu sửa, vứt lăn lóc ngoài trời từ vụ này đến vụ kia, sờ đến cái nào cũng hỏng. Bao nhiêu máy móc, của cải nhà nước đầu tư đều đã gặp trường hợp tương tự. Nguyên nhân chính là chúng ta chưa tạo được ra một cơ chế đồng bộ: máy móc phải đi đôi với con người sử dụng, với thiết bị sửa chữa và thay thế. Cái mà chúng ta phải đầu tư cho các hợp tác xã là trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, là cơ cấu cây trồng cụ thể cho từng cánh đồng, từng thời vụ, tập trung sức tối đa cho công tác thuỷ lợi, tạo ra một cơ chế quản lý mới… thì chúng ta lại coi nhẹ. Anh có nhớ, về vấn đề này tôi đã tranh luận với anh bao nhiêu lần trong các cuộc họp thường vụ? Riêng cái điển hình Thanh Bình của anh, theo tôi, cái đỉnh điểm của nó đã qua rồi. Nó đang ở thời điểm khủng hoảng về phương hướng. Nội bộ Thanh Bình đang có vấn đề. Một trong những sai lầm lớn nhất của anh là đã đẩy Tin đi Lâm Đồng. Cơ có nhiều mặt tốt, nhưng vì quá say thành tích, cậu ấy đang ở trong một tình thế bị cô lập. Để thoát khỏi tình trạng này, Cơ chỉ còn cách tranh thủ sự ủng hộ của huyện, nhất là của anh. Phải nên tỉnh táo trong cách nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đồng chí bí thư ạ… - Mình tin rằng chỉ qua vụ đông này Thanh Bình sẽ lại hồi sức. - Trần Sinh vẫn tiếp tục cái dòng suy nghĩ lạc quan của mình. - Cay cú nhất của cậu Cơ là đã không có dịp thực hiện cái chỉ tiêu 600 tấn kỷ lục. Mà không cay cú sao được. Một mình anh chàng vận động viên cừ khôi đã đến giai đoạn nước rút giành chức vô địch mà lại bị chuột rút. Đến như mình trong suốt mấy ngày mưa lớn cứ rã rời không ăn ngủ được. Khổ thế. Làm cái anh chỉ đạo, đã say rồi thì lại đam mê quá mê gái. Trần Sinh ngả người trên ghế, bật cười khà khà vì câu ví von khôi hài của mình. *** Lúc đó Cơ đang trên đường lên huyện. Ông Điền đã đạp xe đi trước anh một tiếng đồng hồ. Hai người hẹn sẽ gặp nhau ở trước cổng huyện uỷ. Chiếc Honđa sau khi thoát khỏi đoạn đường đá lổn nhổn bị trận mưa lớn cày xới lên, bon rất êm trên đường nhựa. Mùa gặt đầy biến cố đã qua rồi. Vết thương trên trán Cơ cũng đã lành. Nhưng những thử thách lớn nhất đối với anh vẫn còn đang ở phía trước. Sẽ có điều gì xảy ra trong cuộc gặp gỡ giữa bí thư huyện uỷ với anh và ông Điền sáng nay? Anh như tưởng tượng thấy gương mặt đầy thất vọng của Trần Sinh, đôi mắt nheo nheo nhìn anh vừa trách móc, vừa buồn bã: "Mình thật sự không ngờ. Cậu làm ăn thế nào mà để Thanh Bình sa sút tới mức này? Cậu có biết bọn mình đặt ở cậu bao nhiêu hi vọng không?". Tất cả những điều xảy ra đối với tôi thật quá bất ngờ, anh Sinh ạ. - Cơ thầm nói với con người mà anh đang tưởng tượng. - Về chuyện cô Luyến, bác Điền sẽ trình bày rõ với anh. Chuyện tưởng như liên quan tới cả một đảng bộ, nhưng thực ra chỉ là một trường hợp rất đáng thương của một người đàn bà. Hai chuyện kia, thực ra chỉ là một. Ông Trạc chắc là anh đã biết. Một người nóng nảy, tính khí thất thường và hay bất mãn. Việc ông Trạc cùng xã viên đội Mười không cho đội Ba gặt lúa toàn là do sự hiểu lầm chủ trương của ban quản trị. Có người tung tin đồn là vụ này hợp tác xã lấy thóc của những đội không mất chia cho các đội thất thu. Nghĩ rằng không được ăn thì phải đạp đổ, xã viên đội Mười kéo nhau ra gặt lén và ngăn không cho người của đội Ba đến gặt. Tôi bị thương cũng là một sự trả giá cho chủ trương táo bạo của mình. Từ việc xung đột trên đồng, việc ông Trạc bị xã bắt giải lên huyện, cộng với nỗi uất ức, buồn bực về em gái, ông Trạc đã viết đơn xin ra hợp tác xã. Lá đơn ấy biểu lộ sự bất mãn của riêng ông, chứ không hoàn toàn được sự đồng tình của vợ và con gái. Phải phân chia rành rẽ như vậy để thấy rằng đây là hành vi bất mãn của một cá nhân đơn độc, chứ hoàn toàn không có vấn đề quần chúng xã viên… Sắp xếp lại từng chi tiết, cân nhắc từng lời nói, dần dần Cơ đã hình thành một dàn ý có sẵn. Anh tin chắc rằng sự chuẩn bị của mình sẽ không thừa khi ngồi đối diện với một con người sắc sảo, già dặn và có tài lí luận như Trần Sinh. Nhớ lại buổi chiều hôm qua, khi ban quản trị mời ông Trạc lên văn phòng trao đổi về lá đơn của ông, Cơ lại thấy hoang mang. Không biết cách giải quyết của anh như vậy có đúng không? Liệu huyện uỷ có đồng ý hay lại cho rằng mình có tư tưởng hữu khuynh, thoả hiệp? Khó xử nhất là thái độ của ông Trạc. Suốt cả buổi ông chỉ ngồi yên lặng. Bộ mặt lầm lì như trơ ra, không hề có một rung động, một phản ứng nào trước những lời nói lúc an ủi động viên, lúc cương quyết đe doạ. Cơ đã dùng gần nửa tiếng đồng hồ để ôn lại với ông suốt quá trình từ ngày xây dựng hợp tác xã đến nay, về tính ưu việt và những đóng góp lớn lao của hợp tác xã trong kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu không có hợp tác xã thì không thể có được cuộc sống như ở nông thôn bây giờ. Hầu hết các gia đình đều có nhà ngói, giường tủ bàn ghế. Con cái chúng ta đi học cấp ba đều có xe đạp. Nhiều gia đình có đài, giường mô-đéc, tủ buýp-phê. Đội sản xuất nào cũng có nhà trẻ, lớp mẫu giáo. Đường làng ngõ xóm được mở rộng. Đồng ruộng vuông vức như bàn cờ. Hệ thống tưới tiêu triệt để. Năng suất lúa mỗi ngày một cao. Đã chấm dứt từ lâu cái cảnh kéo cày thay trâu, còng lưng cuốc đất. Nhưng cái quý giá nhất mà hợp tác xã mang lại là cái tình người. Những cụ già độc thân, những gia đình neo đơn, gia đình liệt sĩ bộ đội đều được hợp tác hết lòng giúp đỡ. Từ ngày có hợp tác xã, đã có ai bị đói rách, bị hắt hủi? Đã có ai xin ra hợp tác xã… - Bây giờ tôi xin ra. - Gương mặt lầm lì của ông Trạc không hề biến đổi. - Theo chính sách của Đảng và Nhà nước, ra vào hợp tác xã là tự nguyện. Tôi thấy kiểu làm ăn bây giờ không hợp với tôi nữa. Ông Trạc không giải thích, thậm chí cũng không hề to tiếng. Ông vẫn cứ lầm lầm giữ bộ mặt khó hiểu. Biết làm thế nào được? Cơ đành phải trao đổi với các đồng chí lãnh đạo xã để báo cáo với huyện là đồng ý chấp nhận của ông Trạc. …Đúng giờ hẹn. Cơ gặp ông Điền ở cổng huyện uỷ. Hai người vừa qua dãy nhà khối văn phòng đã nghe tiếng gọi giật giọng ở phía sau. Cơ nhận ra Mạch từ bên kia sân uỷ ban đi lại. - Chào ông Cơ. Đã khoẻ hẳn rồi chứ? A, cả cụ Điền. Các vị lên gặp anh Trần Sinh đấy hả? - Vẫn bộ mặt phương phi lúc nào cũng đỏ au và nụ cười rất cởi mở hồn nhiên, Mạch xoè bàn tay phốp pháp ra bắt tay hai người. - Căng quá nhỉ? Vụ này Thanh Bình mất đau quá. Hôm vừa rồi cậu Loã lên nộp báo cáo, bọn mình mới chột dạ không ngờ Thanh Bình lại mất tới bảy mươi phần trăm… Cơ liếc nhìn ông Điền và gương mặt anh hơi tái đi. Cả ông Điền và Cơ, ngay trong phút ấy, đều thoáng nhói lên một nỗi ân hận dằn vặt, giống như tâm trạng của những người vừa làm một việc mà lương tâm mình không cho phép. Mạch vỗ vai Cơ, vẻ thông cảm: - Đành phải bù lại ở vụ chiêm xuân tới thôi. Mình hết sức đấu tranh ủng hộ các ông vào danh sách các xã được cứu đói. Xong rồi. Đợt đầu Thanh Bình sẽ nhận được 50 tấn gạo và bột mì vào cuối tháng mười hai tới. Các ông cũng chuẩn bị để lên Hà Bắc nhận một nghìn tấn sắn tươi nữa. Không biết chừng mất mùa mà dân Thanh Bình lại no… - Mạch cười hề hề nhìn xoáy vào mắt Cơ, ranh mãnh như đọc rõ từng ý nghĩ trong đầu anh. - Hôm nào có sắn, mì, mời anh Mạch xuống thăm Thanh Bình một chuyến để chia sẻ lộc nhà nước. - Cơ nói một cách lấy lòng. - Có chứ. Nhất định mình sẽ xuống. - Mạch quay sang ông Điền cười xin lỗi, rồi kéo Cơ ra chỗ gốc nhãn gần đó, giọng nhỏ lại: - Hôm tay Loã mang báo cáo lên, mình biết ngay rằng các ông không phải những tay khờ. - Mạch chúm miệng, nheo mắt nhìn Cơ như muốn nói: "Các cậu khôn lõi đời, nhưng sao qua nổi mắt thằng Mạch này?", rồi Mạch lại vỗ vào vai Cơ. - Nhưng cũng phải thế thôi. Lo cho dân cũng chính là ích nước. Hôm nọ Loã cũng hẹn mình xuống… Đôi lợn giống các cậu để cho mình khảnh ăn quá… Cơ chợt hiểu ra cái bắt tay vồ vập, câu chuyện làm quà của Mạch khiến người nghe cứ giật mình thon thót. Chậc. Cũng phải có đi có lại. Nguyên việc Mạch giúp Thanh Bình cũng gấp trăm lần như thế. - Để mình nói với trại chăn nuôi đổi lấy đôi khác, anh ạ. - Hôm nọ ông Loã cũng đã nói rồi. - Mạch lại cười. - Nhưng mình cứ nghĩ phiền các ông quá. Thôi được. Để hôm nào mình bảo cháu nó xuống… Cơ định quay đi, nhưng Mạch vẫn níu lấy: - Còn chuyện này thuộc về tập thể, nhưng mình cũng xin cầm đèn chạy trước ô tô. Tình hình đói kém này, năm tới chắc chắn cán bộ nhân viên cánh mình vẫn còn bị cắt hai tháng lương thực nữa. Không còn cách nào hơn là sản xuất tự túc, chứ không nhẽ lại về ăn cơm vợ con? Xin đặt vấn đề trước với ông, vụ chiêm xuân tới, ông dành cho phòng bọn mình hai mẫu ruộng được không? - Tưởng gì. Chứ đất đai đối với Thanh Bình chúng tôi thì không lo. - Cơ tỏ ra hết sức dễ dãi. - Chúng tôi sẽ cày bừa sẵn cho các anh. Các anh chỉ việc điều quân xuống cấy một buổi là xong. Mạch cười tít, cầm tay Cơ rung mãi. Chính anh cũng không ngờ cái chuyện xin xỏ đất đai giống má bây giờ lại dễ dàng đến thế. *** Bốn người ngồi trong bộ ghế xa-lông mây, quanh chiếc bàn tròn. Thái độ lạnh lùng của bí thư huyện uỷ làm cho Cơ cảm thấy lo lắng. Anh không biết rằng, chính Trần Sinh cũng cảm thấy khó xử từ lúc anh có mặt. Tinh ý sẽ nhận ra trong ánh mắt của ông, trong cái nhìn trách móc, bực bội vẫn có sự thương hại, thông cảm. Tay chủ nhiệm ngồi trước mặt Trần Sinh kia, chính là một hình ảnh khác của ông, chính là sản phẩm của ông đó. Cơ lên làm chủ nhiệm Thanh Bình ngay sau ngày ông về nhận bí thư huyện uỷ Giang Thuỷ sáu tháng. Đáng lý ra, cái chân chủ nhiệm ấy là của Tin, chủ nhiệm Thanh Minh. Nhưng Tin là "môn đệ" trung thành của Mẫn, bí thư huyện uỷ cũ. Mà giữa Mẫn và Sinh lại như mặt trăng với mặt trời. Tin lại tỏ ra bướng bỉnh, muốn độc lập làm theo ý mình tới mức gần như là coi thường cấp huyện. Nhân tỉnh đang thiếu uỷ viên Ban Kinh tế mới, thế là Sinh "đẩy" Tin đi một cách êm gọn, chóng vánh. Chọn được một người như Cơ cắm ở một hợp tác xã tiên tiến để thực hiện những ý đồ chỉ đạo của mình, đó là điều làm cho Trần Sinh yên tâm tin tưởng. Nhưng ông vẫn là một người sống nặng về lý trí, ít khi bộc lộ những tình cảm của mình một cách bồng bột. Vì vậy khi nghe ông Điền và Cơ trình bày tất cả những sự việc đã xảy ra ở Thanh Bình một tháng qua thì ông bừng bừng giận dữ. Yêu cho vọt, ghét cho ăn. Ông luôn luôn tâm niệm câu ngạn ngữ đó. - Tôi không hiểu các anh làm ăn như thế nào mà lại xảy ra những chuyện hết sức vô chính trị như vậy? - Trần Sinh ngồi nhỏm trên ghế, giật phắt cặp kính ra khỏi mắt, bàn tay nắm lại, dằn xuống cuốn sổ để mở trên bàn, giật phắt cặp kính ra khỏi mắt, bàn tay nắm lại, dằn xuống cuốn sổ để mở trên bàn. - Cách giải quyết của các anh như vậy là hữu khuynh, vô nguyên tắc. Phong trào của Thanh Bình sút kém, đi xuống, các anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước huyện uỷ… Cơ không ngờ Trần Sinh lại phẫn nộ đến như vậy. Anh đưa mắt cho ông Điền, rồi nhìn Toại như cầu cứu. Ông Điền bình tĩnh và như có phần tự tin hơn. Lật giở tập hồ sơ nhìn lướt qua một lần nữa rồi ông cẩn thận đặt trước mặt Trần Sinh: - Xin đồng chí xem giúp lại biên bản của chi bộ Thanh Cao và ý kiến của đảng uỷ chúng tôi. Về vấn đề đồng chí Luyến, thực ra toàn đảng uỷ chúng tôi đã thảo luận rất kỹ. Có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Nhưng đa số ý kiến đều thống nhất nhận định đây là một khuyết điểm thuộc về sinh hoạt… - Tôi đề nghị các đồng chí về xem xét lại. - Trần Sinh gạt tập hồ sơ sang một bên. - Các đồng chí quan niệm như vậy là hạ thấp tiêu chuẩn một người đảng viên. Dù thanh minh bào chữa thế nào đi nữa chúng ta cũng không thể lừa dối được quần chúng. Khuyết điểm sinh hoạt? Một bí thư đảng uỷ lâu năm như đồng chí mà lại quan niệm đơn giản thế thôi ư? Đối với những đảng viên mắc khuyết điểm như cô Luyến phải thẳng thắn khai trừ khỏi Đảng, chứ không thể gượng nhẹ. Có như thế chúng ta mới giữ được Đảng trong sạch, vững mạnh. Vấn đề thứ hai, - Trần Sinh quay sang Cơ - trường hợp lão Trạc, các đồng chí giải quyết như vậy là hoàn toàn sai nguyên tắc. Lý lịch lão ta như thế nào? - Thành phần gia đình bần nông. Vào hợp tác xã năm 59, ngay khi mới thành lập. Có hai con đi bộ đội, một hiện đang tại ngũ. - Toại trả lời thay Cơ và ông Điền. Ông Điền bổ sung thêm: - Từ ngày vào hợp tác xã luôn luôn là một xã viên tích cực. Số ngày công luôn cao nhất đội. - Thế mà tư tưởng đã biến chất nhanh quá. - Trần Sinh đan hai bàn tay trước bụng, lắc đầu thất vọng. - Việc làm của lão Trạc rõ ràng là có hệ thống với một chủ định hẳn hoi. Vụ gây rối trên đồng đánh anh Cơ bị thương chính là do lão ta lôi kéo, kích động quần chúng. Rất tiếc là hôm đưa lão ta lên huyện, tôi đi họp vắng. Các đồng chí bên công an huyện xử lý quá vội vàng, đơn giản. Tôi không đồng ý với nhận định của đồng chí Cơ coi đây là một hành động bất mãn có tính chất đơn lẻ. Các đồng chí thử tưởng tượng, nếu hợp tác xã nào cũng có những người như lão Trạc thì phong trào hợp tác hoá sẽ như thế nào? Nguy hại lớn nhất là sẽ tạo một làn sóng hoang mang, thiếu lòng tin trong quần chúng, lôi kéo những xã viên khác. - Hôm về Thanh Bình vừa rồi, tôi đã có dịp tiếp xúc với ông Trạc. - Toại nói. - Tôi nghĩ, chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan, công bằng. Việc ông Trạc xin ra hợp tác xã, có một nguyên nhân quan trọng là khâu quản lý. Các đồng chí ở Thanh Bình phải nghiêm khắc nhìn lại những sai lầm của mình. Cái gì đã dẫn tới sự phản ứng của quần chúng? - Về điểm này các đồng chí ở Thanh Bình sẽ kiểm điểm sâu sắc hơn. Nhưng riêng việc các đồng chí chấp thuận đơn của ông Trạc là các đồng chí đã khuyến khích những hành động chống đối. Không thể giải quyết đơn giản như vậy được. Để một người ra hợp tác xã lúc này tức là chúng ta có tội với phong trào. Tức là chúng ta thừa nhận một khuynh hướng không lành mạnh của tâm lý nông dân… - Chúng tôi đã giải thích, thuyết phục nhiều lắm… - Phải kết hợp giữa biện pháp thuyết phục, giải thích với biện pháp chính quyền. Phải đưa lão ta đi tập trung giáo dục một thời gian. Toại phản đối: - Không được. Làm như vậy thô bạo quá. Điều lệ hợp tác xã quy định xã viên có quyền… - Có quyền phá hợp tác xã ư? - Trần Sinh đỏ bừng mặt, vùng đứng dậy đi lại trong phòng. - Riêng cái chuyện gây rối đánh cán bộ bị thương đã đủ để cho chúng ta áp dụng những biện pháp chính quyền một cách hợp lý. Tại sao chúng ta lại bỏ qua câu chuyện đó để lão ta nhơn nhơn thoả sức phá hoại? Trần Sinh bước nhanh về chỗ để máy điện thoại, quay số: - A lô. Cho tôi xin công an huyện… Ai đó, anh Khoa đấy phải không? Tôi, Trần Sinh đây. Hả? Chiều nay hai giờ anh đến gặp tôi một chút nhé. Có chuyện tôi cần làm việc với anh… Cả ba người còn lại cùng nhìn nhau im lặng. Toại khẽ lắc đầu. Cơ rút khăn tay chấm mồ hôi đang rịn ra trên trán. Trần Sinh đặt ống nói xuống, đi lại ngồi vào ghế. - Tôi sẽ cho lập lại hồ sơ về vụ đánh người bị thương tật đó. - Giọng ông bỗng trầm hẳn xuống. Vầng trán hói đầy những nếp nhăn như sóng. - Không có biện pháp nào tốt hơn được. Chúng ta đành phải chấp nhận một biện pháp hơi thô bạo, nhưng ít ra nó cũng giúp chúng ta đạt được mục đích là ngăn chặn kịp thời những tư tưởng không lành mạnh trong phong trào nông nghiệp hiện nay. Một hợp tác xã tiên tiến như Thanh Bình, không thể có những hiện tượng tiêu cực như vậy được. Tôi đề nghị đảng uỷ và ban quản trị Thanh Bình phải kiểm điểm sâu sắc những khuyết điểm trong thời gian qua. - Trần Sinh nhìn thẳng vào Cơ, ánh mắt ông đã trở nên dịu dàng hơn. - Nhiệm vụ của các đồng chí trong thời gian tới là phải tập trung toàn bộ lực lượng cho chiến dịch trồng màu vụ đông và vụ chiêm xuân tới. Bằng mọi biện pháp phải đạt thắng lợi một vụ đông cao nhất, phải phấn đấu trở thành ngọn cờ đầu toàn huyện, toàn tỉnh… Lúc tiễn Cơ và ông Điền ra về, Trần Sinh vỗ vai Cơ nói nhỏ: - Thường vụ huyện uỷ vẫn đặt nhiều hi vọng ở cậu. Gắng làm thật tốt. Cơ nhìn đồng chí bí thư huyện uỷ đầy biết ơn và tin cậy. *** Ba ngày sau, một bưu tá mang đến cho ông Trạc một phong bì có dấu của phòng công an huyện. Ban đầu ông Trạc còn kinh ngạc, nhưng sau thì ông hiểu tất cả. Lặng lẽ thu xếp quần áo vào trong chiếc túi xách. Ông nói với vợ: - Tôi có việc phải đi ít ngày, có thể một hai tuần, hoặc lâu hơn cũng nên… Bà Trạc và mọi người xung quanh đều tưởng ông nhàn rỗi, muốn đi tung tẩy cho đỡ buồn. Chỉ riêng Thắm là mang máng cảm thấy có chuyện gì không hay. Từ hôm ông Trạc xin ra hợp tác xã, nhất là từ cái đêm ông bắt gặp Thắm với Đạt ở bờ hồ và tuyệt đối nghiêm cấm Thắm không được quan hệ với Đạt nữa, cái phần tươi mát hồn nhiên ở Thắm như khô héo đi dần. Thắm hay né tránh những đám đông, tránh giáp mặt những cán bộ đảng viên trong xã. Có đêm nghĩ buồn tủi, Thắm lại lặng lẽ khóc thầm. Ông Trạc đi trong một buổi sáng mùa đông trời xám màu chì. Gió bấc thổi hun hút, bứt dần những chiếc lá bàng trên cây, để trơ những cành gầy guộc khô khẳng. Lần đầu tiên nhìn cánh đồng làng, ông bỗng nao nao một nỗi xao xuyến bối hồi. Mấy mươi năm gắn bó với từng thửa ruộng từng cánh đồng, có ai ngờ bây giờ ông lại rời xa tất cả? Cánh đồng của ông kia, ngày xưa ông đã từng kéo cày cho nhà chánh tổng Đào Hữu Tòng suốt bốn vụ liền để gán nợ. Cánh đồng Sậu, cánh Cửa Giải xưa đầy lau lác, thảng hoặc mới cầy được một vụ lúa, giờ ăn chắc hai vụ. Và cánh đồng Bà Chúa, chỗ cái gò Ông Sư ấy là bốn sào ruộng ông được chia ngày cải cách. Cái bờ ruộng còng queo đầy những hang cua và những lỗ trẻ con đào chuột đã được thay bằng những đoạn bờ thẳng băng từ lâu rồi, vậy mà nhắm mắt lại, ông vẫn cứ mường tượng ra được. Ngày lập hợp tác xã, ông là người viết đơn đầu tiên. Ngót chục năm liền hợp tác xã làm ăn khấm khá. Lúa tốt, xã viên no, đồng ruộng cải tạo lại, bờ vùng bờ thửa vuông chằn chặn, cứ nhìn mà thích mắt. Đúng là làm ăn hợp tác xã có hơn trước. Bao nhiêu công to việc lớn, từ chuyện đào máng Mười, đào mương Hữu Nghị tiêu nước cho cả mấy xã, chuyện dựng nhà trẻ, mẫu giáo, làm sân kho chuồng trại, chuyện san lấp đồng, cải tạo mặt bằng đồng ruộng, đưa giống mới vào đại trà,… cho tới chuyện phân phối ăn chia, sắp xếp người đi đánh giặc, người ở nhà,… Tất tật mọi chuyện, hợp tác lo toan thu xếp cả… Công bằng mà nói, không có hợp tác, cái làng Thanh Cao của ông đâu được thế này? Bốn trăm nóc nhà, tranh tre vách đất, chỉ ngót nghét chục năm đổ lại đây, đã lên nhà ngói san sát. Đến như ông, cả thời trai trẻ làm lụng đầu tắt mặt tối cũng không nuôi nổi vợ con, thế mà ngay trong năm chiến tranh phá hoại ác liệt nhất, cũng quất lên được năm gian nhà ngói… Những điều Cơ nói với ông hôm nào đúng cả. Hợp tác xã đang mang lại cho gia đình ông một đời sống khấm khá… Nhưng đấy là chuyện từ mấy năm về trước. Chứ cách làm bây giờ bắt đầu phú quý giật lùi. Ồ, loáng cái mà đã hai chục năm trời. Hai chục năm làm anh xã viên, có bao giờ mình nghĩ đến chuyện ra hợp tác? Thế mà nay… Ông Trạc bỗng thấy bùi ngùi. Ông có cảm giác rằng những cánh đồng Bà Chúa, Cửa Ông, Cửa Giải kia, chúng cũng lo toan buồn tủi như con người vậy. Chúng đang nhìn ông bằng con mắt trách móc, hờn giận. Ông nỡ bỏ chúng tôi mà đi ư? Chúng tôi có lỗi gì đâu. Vắng ông, chúng tôi đến khô cằn đi mất. Ai sẽ cày xới, bón phân, chăm bẵm? Ồ, mình đâu có phải là cái thằng ăn cháo đái bát. - Ông Trạc như thầm nói với những cánh đồng. - Xa cái cày, con trâu, nhiều lúc chân tay cứ như thừa… Còn vài năm cuối cùng, mình cũng muốn gắn bó với hợp tác lắm chứ… Nhưng mình hận quá. Cách làm ăn ở Thanh Bình thế này mình không chịu nổi. Mình rất muốn chăm bẵm cày xới, muốn đổ mồ hôi, sức lực nhiều nữa, nhưng đất đai, cây lúa đâu còn là của chính mình? X Đoàn tàu Thống Nhất 3 như một con cuốn chiếu khổng lồ mệt nhọc trườn qua đèo Hải Vân. Ngay dưới chân con tàu, bên mé trái là biển. Nghe thấy tiếng sóng vỗ ầm ào, cảm thấy làn gió biển ẩm mát và vị mặn của muối, nhưng nhìn ra vẫn chỉ thấy mờ mịt một màu trắng đục và từng dải mây la đà vờn quanh thân tàu. Không thể phân biệt được đâu là trời, đâu là biển. Lúc ấy là năm giờ sáng. Sau một tiếng reo của ai đó, cả tàu đã ùa dậy, tràn hết ra những ô cửa sổ để được ngắm biển. Hoà cũng ở trong số những người háo hức và hiếu kỳ ấy. Sau một đêm ngủ chập chờn và đầy những lo âu, sợ hãi, hối hận, qua ánh đèn vàng vọt, trông Hoà càng hốc hác phờ phạc. - Anh Quân, anh Quân, đèo Hải Vân đây này. Giọng cô gái ẩn chứa một niềm háo hức say mê không kìm giữ được của những người dễ xúc động trước một vẻ đẹp, một kỳ quan hay một cái gì đó mà họ thường được nghe nhắc đến với tất cả niềm khao khát, ngưỡng vọng. Quân ngủ mê mệt. Mảnh ni-lông trải dưới sàn tàu bị cuốn lại, một nửa người Quân bị đút hẳn vào trong gầm ghế. - Kìa, anh Quân, đèo Hải Vân này. Dậy mà xem! Quân ẩy bàn tay Hoà, lầu bầu cáu kỉnh với cái giọng của người đang ngủ say bị người khác phá giấc. - Đèo với đọt. Yên cho người ta ngủ. Những giây phút hồn nhiên ngắn ngủi sau một ngày lầm lì, buồn bã và hối hận của Hoà vụt tắt đi ngay. Cô lặng lẽ ngồi bên cửa tàu, mở to đôi mắt nhìn vào cái khoảng trống mênh mông của trời, nước. Tại sao mình lại bỏ trường đi theo Quân? Sau kỳ nghỉ hè, mình đã hoàn thành đợt thi một cách trôi chảy, có thể nói là tốt đẹp nữa cơ. Tiếp theo ba tuần lao động và luyện tập quân sự, mình sẽ đi thực tập sáu tháng. Rồi ra trường. Thoát khỏi đời học sinh vô tư, vui vẻ, nhưng cũng thật sự nhọc nhằn và gò bó. Thế mà mình lại nói dối trường, bịa ra một bức điện khẩn với lý do bố mình bị tai nạn để trốn hai tuần lao động, đi theo Quân. Đi Sài Gòn. Chỉ riêng cái điều ấy đã hấp dẫn mình ghê gớm. Nghe nói Sài Gòn to và đẹp lắm. Có những ngôi nhà cao mười sáu tầng. Có chợ Bến Thành chất ngất từng núi hàng hoá và đủ các thứ hoa quả lạ miền Nam. Con gái Sài Gòn thì ăn diện hết sảy. Tất cả những mốt hiện đại nhất của Hà Nội đối với Sài Gòn đều trở nên quê kệch và lỗi thời. Không cần đắn đo suy tính, mình đồng ý ngay với Quân. Đi Sài Gòn. Bỏ hai tuần lao động và tập quân sự thì đã sao? Mình có lý do chính đáng. Ở Sài Gòn, Quân có người dì ruột. Hai đứa tha hồ xả láng. Quân nói: hai đứa sẽ còn đi tắm biển Vũng Tàu nữa. Nhưng sao mình vẫn cảm thấy quá vội vạng, bồng bột. Dám nói dối trường bỏ đi chơi trong cái năm học cuối cùng có tính chất quyết định cả ba năm học. Nếu trường phát hiện ra, tội nhẹ nhất cũng là treo bằng tốt nghiệp hoặc không phân công công tác. Và nếu bố biết? Bố nghiêm khắc lắm. Bố sẽ không tha thứ cho mình đâu. Ngay chuyện quan hệ với Quân, bố cũng nhiều lần ngăn cấm. Bố nói đúng chăng? "Cái tạng thằng Quân không hợp với con đâu". "Không hợp ư". Mình cũng mang máng nghĩ thế. Quân tháo vát, ngang tàng và "chịu chơi". Bố mẹ chiều, gia đình có, nên Quân mới ăn tiêu thế. Chuyến đi này mình cảm thấy thế nào ấy. Quân mang hẳn một ba lô và một túi du lịch nặng. Thứ gì? Ngửi toàn mùi thuốc lá. Hay là Quân đi buôn? Quân đã bỏ học rồi ư? Mình vội vã và liều lĩnh quá. Đi Sài Gòn? Biết thế nào mà tin. Mẹ thường nói: làm thân con gái, sẩy một bước là hỏng cả đời. "Không, mẹ cứ tin ở con. Con yêu Quân. Nhưng con không đến nỗi mù quáng và nhẹ dạ đâu…". Những ý nghĩ cứ cồn lên trong đầu Hoà, khi bồng bềnh chơi vơi như những làn mây đang vấn vít quanh tàu, khi xao động như những đợt sóng biển, khi lại dồn dập giằng xé như tiếng bánh xe trên đường sắt. Hoà không thể ngờ rằng cô đang bị lôi kéo vào một con đường đầy nguy hiểm. Giống như một đầu máy trên con đường lăn xuống vực, nhưng nó còn cố kéo theo cả một toa tàu. Nửa tháng trước đây, trong một đợt xuống nhà máy sửa ô tô thực tập, Quân đã thông đồng cùng một vài công nhân xấu lấy trộm nhiều phụ tùng hiếm quý tuồn ra ngoài. Bị bảo vệ nhà máy phát hiện, Quân bỏ trốn lên Lạng Sơn, ở nhờ nhà một người quen. Và bây giờ, anh quyết định bỏ trường, rủ Hoà vào Sài Gòn. Đã sáng rồi. Tít ngoài khơi xa, một màu hồng nhẹ cứ lan dần. Bình minh đang lên trên biển. Hoà định lay Quân dậy. Nhưng nhìn cái dáng nằm co quắp và mệt mỏi của anh, cô lại buồn bã thở dài, với tay lấy chiếc túi xách, tìm lược chải đầu. Bàn tay Hoà như bị hẫng khi với phải một khoảng trống không. Chiếc túi xách du lịch đựng quần áo tư trang của Hoà đã biến đi đâu mất. - Anh Quân, anh Quân. Mất túi du lịch rồi. Quân vùng trở dậy, ngơ ngác nhìn quanh, mấy giây sau mới hiểu sự việc. Cả toa tàu nhớn nhác xem lại hành lý đồ đạc và cùng cảm thông chia buồn với người đồng hành hẩm hiu. - Tại em tất cả. Đã bảo tối qua đưa xuống gầm ghế lại không nghe. - Quân bực bội vừa nói vừa bật lửa châm thuốc lá. Hoà gục đầu trên bàn. Đến lúc này cô mới có dịp điểm lại cái món gia tài mà cô dành dụm tiền mẹ cho để may sắm trong hai năm vừa qua. Một áo len màu hoàng yến. Một quần lụa Nhật. Hai chiếc quần gin màu be và màu trắng sữa. Năm áo sơ-mi may theo mốt mới nhất của Hà Nội. Tiếc nhất là chiếc quần gin trắng sữa và chiếc áo cổ Jên. Mấy đứa bạn cùng phòng cứ phát ghen lên mỗi khi Hoà diện bộ quần áo ấy đi với Quân. Thế là hết. Chỉ vì một chuyến đi dại dột và hết sức vớ vẩn. Hoà bỗng oà khóc. Đôi vai tròn rung lên thổn thức theo nhịp lăn của con tàu. - Thôi, khóc gì nữa. - Quân đặt tay lên vai Hoà. - Vào Sài Gòn sẽ tính sau. Hoà vùng hất mạnh tay Quân, giọng ấm ức và bực bội: - Tại anh tất cả. Không đi nữa đâu. Dứt khoát là em sẽ quay lại. Nhưng đoàn tàu vẫn cứ chạy. Nó đang lao xuống dốc. Những bụi cây hai bên đường bị con tàu thổi tốc lên, vật vã, đổ dạt về phía sau. *** Tàu dừng ở ga Đà Nẵng nửa tiếng để thay đầu máy. Hành khách tấp nập xuống ga tắm rửa, ăn uống. Nhưng Hoà chẳng thiết gì nữa. Cô vẫn ngồi bên cửa sổ, đôi mắt đỏ hoe, buồn bã nhìn sang đoàn tàu Thống Nhất từ Sài Gòn ra cũng vừa dừng lại ở ga, như cố tìm một người quen nào đó. Một anh bộ đội từ trên toa tàu đối diện bước xuống. Khuôn mặt với những đường nét dứt khoát: cằm vuông, mũi thẳng, trán cao, đôi mắt sáng, trầm tĩnh nhưng đượm buồn. Nước da nâu dầu dãi gió nắng càng tạo cho gương mặt nét rắn rỏi, dày dạn của người đã trải qua nhiều thử thách, gian khổ. Vắt qua vai chiếc khăn mặt, tay cầm ca quân dụng, bàn chải, anh đang đưa mắt tìm nơi rửa mặt. Ban đầu Hoà ngờ ngợ, rồi sau thì Hoà tin chắc anh bộ đội ấy chính là Thanh, chồng chị Vy cùng làng. - Chú Thanh, anh Thanh! - Hoà tíu lên, cô cũng không biết mình nên gọi bằng chú hay bằng anh nữa. Anh bộ đội như vẫn không nghe thấy Hoà gọi. Hoà chạy bổ ra cửa tàu. Gặp Quân đang bưng lên một ca nước. - Em vừa nhìn thấy chú Thanh ở tàu Thống Nhất 2. Quân giữ tay Hoà lại. - Đừng xuống. Chú ấy biết chúng mình đi Sài Gòn, rồi lại ầm làng lên. Nhưng Hoà đã giằng khỏi tay Quân, chạy bổ xuống sân ga. Cái ý nghĩ mơ hồ suốt hai ngày qua cứ âm ỉ trong cô như một niềm day dứt, như một ước muốn, bây giờ lại bùng lên, quyết liệt. Thanh không nhận ra cô gái gọi mình. Anh đã đi xa hàng chục năm biền biệt nên không thể biết được các cô gái mới lớn. - Em là Hoà… con anh Cơ… - Hoà xưng hô lộn xộn và cô cảm thấy lúng túng thực sự khi phải lựa chọn một cách gọi cho phù hợp. Cái tên người mà Hoà gợi lên, như một mũi dao khoét vào vết thương tưởng đã liền da của Thanh, đau buốt. - Kìa, anh làm sao thế? - Không. Tôi hơi đột ngột… - Thanh cố trấn tĩnh lại, nói lảng. - Hoà vào trong này công tác phải không? - Em… Em định vào Nha Trang thăm một đứa bạn. Nhưng vừa gặp một người quen nói là nó đã chuyển ra Bắc rồi. Đành phải quay lại… May quá lại gặp anh. Anh cho em cùng về với nhé… - Nhanh trí, Hoà đã bịa ra một câu chuyện hoàn toàn hợp lý. Cô cũng đã biết cách khéo léo giấu biến anh bạn đồng hành của mình đi. Thế là Hoà đã quyết định. Cô sẽ trở về trường. Hoà đi lại toa tàu của mình để thông báo điều đó với Quân. Nhưng không thấy Quân đâu cả. Túi du lịch và ba lô của Quân cũng không còn chỗ cũ nữa. Khách ngồi chung ghế cho biết bạn của cô vừa bị công an hỏi giấy. Khám thấy trong hành lý của anh có hàng cấm, họ đã mời anh ta xuống ga rồi. Hoà bủn rủn cả người. Cô chạy thất thểu vào trong ga, ngó tìm khắp các gian phòng. Quân đã bị công an dẫn đi đâu? Bằng cách nào để giúp Quân bây giờ? Tàu Thống Nhất 3 đã rúc còi chuyển bánh, đi tiếp về hướng nam. Tàu Thống Nhất 2 cũng đang rúc còi gọi khách. Làm cách nào bây giờ? Bỏ Quân lại một mình ư? Những ý nghĩ cứ như canh hẹ làm Hoà hốt hoảng, ngơ ngác như người mất hồn. Ở lại tìm anh ấy. Nhưng tìm ở đâu? Và nhỡ không gặp? Hoà nhìn lại mình. Chỉ có hai bàn tay trắng. Không có cả một đồng xu nào nữa. Hồi còi cuối cùng báo hiệu giờ chuyển bánh. Thanh chạy đến gọi Hoà giật giọng: - Cô Hoà, lên tàu thôi. Cô tìm gì ở đó? - Em vừa mất chiếc túi du lịch. - Hoà nói không kịp nghĩ và cô oà khóc. Hai người trở lại chỗ Thanh thì vừa lúc đoàn tàu rời ga. - Thôi, nín đi. Tôi sẽ đưa cô về đến tận nhà. Lần sau đi đâu xa, đừng đi một mình. Cô bạo thật đấy. Thanh an ủi Hoà và xếp lại đồ đạc trên chiếc giường nằm của anh cho Hoà có một chỗ ngồi thoải mái. Cho đến hết ngày hôm sau ấy, tâm trạng Hoà đã trở nên vui vẻ. Sự ân cần chu đáo của Thanh đã hoàn toàn làm cô tin cậy. Hoà kể cho anh nghe về cơn bão số chín, số mười và mùa gặt ở làng, về tình hình hợp tác xã, những người mà anh muốn biết. - Anh Thanh tệ thật đấy. Sáu năm đi biền biệt. Giải phóng miền Nam xong, về nhà thăm vợ chưa được hai ngày, rồi lại đi miết từ ấy đến giờ. Chị Vy buồn ghê lắm. Nếu em là chị Vy thì em phải căm thù anh. Anh có một người vợ tuyệt vời mà không biết. Em cam đoan rằng chưa có ai làm em cảm phục và yêu mến đến thế… - Hoà bật cười. - Con gái bọn em bây giờ không thể kiễn nhẫn chịu đựng như thế được đâu? Con trai các anh sắt đá thật đấy, khó hiểu thật đấy. Hay là anh không còn yêu chị Vy nữa? Đôi mắt cô gái mở to nhìn Thanh vừa ngây thơ khó hiểu vừa trách móc. Thanh quay đi lảng tránh đôi mắt ấy. Tồi tệ lắm ư? Biết nói thế nào để cô hiểu được tôi, Hoà ơi! Cô nhìn cuộc đời bằng đôi mắt ngây thơ trong sáng thế kia thì làm sao hiểu được mặt trái tàn nhẫn và cay đắng của nó. Chính bố cô đấy. Bố cô đã phá huỷ của tôi tất cả niềm tin mà suốt những năm ở chiến trường tôi nhen nhúm hi vọng. Đó chính là một phần của cuộc đời tôi đó. Đó chính là ngọn lửa không bao giờ tắt, lúc cháy âm thầm, lúc rực sáng trong tâm hồn người lính suốt chặng đường máu lửa. Tôi không yêu Vy ư? Chắc Hoà sẽ không hỏi tôi điều ấy, nếu cô biết rằng chúng tôi đã yêu nhau với một tình yêu trong sáng và mãnh liệt đến mức nào. Cô sẽ phải bối rối và sững sờ nếu cô được nhìn thấy bức ảnh của Vy ngày Vy tiễn tôi đi nhập ngũ mà cho đến bây giờ, lúc nào nó cũng nằm trong túi áo ngực tôi đây. Bức ảnh đã mờ vì thời gian và mưa gió mà chỉ có riêng tôi mới nhận ra được. Tôi đã mang nó theo suốt dọc con đường Trường Sơn những năm đánh Mỹ, suốt cả cuộc chiến đấu với bọn Pôn Pốt hai năm vừa rồi. Cô bảo tôi sắt đá và tàn nhẫn ư? Bảy năm, đi biền biệt. Hoà bình, chỉ về nhà chưa trọn hai ngày. Cô không thể hiểu điều đó đâu. Cả bố cô cũng không thể hiểu được điều đó. Ngày trở về làng, tôi háo hức và sung sướng lắm chứ. Tôi sẽ gặp mẹ, sẽ gặp Vy của tôi, người vợ mà suốt bảy năm tôi chỉ được nhìn ngắm, chuyện trò qua tấm ảnh đã hoen ố, phai mờ. Tôi biết rằng Vy sẽ đợi tôi. Vy sẽ chung thuỷ và tin cậy như tôi vẫn hằng nghĩ. Hoà có biết không? Mọi chuyện sẽ rất tốt đẹp, nếu không có đêm ấy? Tôi sẽ sống hai tháng đầy hạnh phúc bên người vợ trẻ như hết thảy những người lính sáu năm sống gian khổ chịu đựng, tính mạng luôn treo trên đầu sợi tóc, bỗng được trở về nếp nhà thân thuộc với tất cả sự dịu ngọt, êm đềm của cuộc sống hoà bình. Nhưng cái đêm ấy… Một đêm khủng khiếp nhất đời tôi. Đúng. Không có cái đêm nào khủng khiếp hơn, ngay cả những lần tôi bị vùi dưới bom B52, ngay cả những lần tôi trườn vào bốt giặc vô tình đụng phải dây mìn tự động. Đáng lẽ Vy không nên nói điều đó. Đáng lẽ Vy nên để một vài hôm nữa hay cứ để tôi sống trọn những ngày phép ngắn ngủi. Nhưng Vy không nỡ vì không đành lòng lừa dối tôi. Có lẽ vì Vy quá tin và yêu tôi đó chăng? Nhưng mà Vy cũng tàn nhẫn quá. Đúng cái lúc tôi ôm Vy vào lòng thì Vy bỗng oà khóc nức nở. Có chuyện gì? Tôi gặng hỏi ba bốn lần. Hay là tôi đã làm gì để Vy phật ý? "Anh tha lỗi cho em… Em không xứng đáng với anh… Em đã…". Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in câu nói và cái vẻ mặt đau khổ cùng cực của Vy lúc ấy. Ai? Với ai? Tôi thét lên như một con thú trúng đạn. Lúc ấy trông tôi có lẽ gớm ghiếc lắm. Vy run bắn lên và khó nhọc lắm mới nói được tên cái con người ấy. Hoà có biết không? Con người đó chính là bố cô. Ông ấy đã cướp đi của tôi tất cả những gì tôi đã chắt chiu gửi gắm suốt bảy năm trời. Một người lính như tôi, đã trả giá cả đời mình để cuối cùng đón nhận một sự thật phũ phàng, tàn nhẫn đến thế ư? Ai cho những kẻ như bố cô cái quyền phá hoại hạnh phúc, lòng tin của một người lính? Họ đã bị mất mát một sợi tóc nào cho cuộc chiến tranh này? Thế mà chúng tôi đã hi sinh máu mình, tuổi thanh xuân của mình cho cả họ nữa. Không cần phải suy nghĩ, tôi xách khẩu súng ngắn lao vào trời đêm. Hoà ơi, cô có biết tôi đi đâu không? Hình như lúc ấy cô đang ngồi học bên bàn, còn mẹ cô đang làm một việc gì đó, hình như khâu vá thì phải. Tôi ngồi rất lâu bên hàng rào chờ đợi. Chỉ cần bố cô thoáng xuất hiện trước mũi súng… Cũng may mà điều ấy đã không xảy ra. Hình như bố cô đi đâu vắng? Hình như cái vẻ mặt khắc khổ của mẹ cô bên đèn, cái dáng ngồi chăm chú của cô bên bàn học đã làm lòng tôi mềm nhũn, toàn thân rã rời. Và chiều hôm sau tôi đi. Kết thúc đột ngột đợt nghỉ phép dài hai tháng. Tôi lại lao vào cuộc chiến đấu chống quân Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam với tất cả sự đau khổ, liều lĩnh và căm thù. Bị thương hai lần, tôi tưởng mình sẽ chết. Và cũng chẳng tiếc gì cuộc sống. Thế nhưng cuộc đời vẫn cứ bắt tôi phải nhìn thẳng vào cái mặt trái phũ phàng của nó. Vết thương không cho phép tôi ở lại quân đội nữa. Và bây giờ, cô bé ơi, tôi kể hết những điều đã xảy ra, liệu cô có tin không? Liệu cô có tin không khi biết rằng tôi đang trở về làng với lòng khoan dung tha thứ? Chiến tranh không chỉ phơi bày tội ác trên bãi chiến trường, mà nó còn khoét những vết thương làm hậu phương ta rỉ máu. Phải thêm hai năm nữa, từ cái đêm khủng khiếp ấy, tôi mới cảm nhận hết cái điều ấy. Tìm lại một tình yêu chẳng hề dễ dàng đâu, Hoà ạ. Nếu như những năm qua tôi đã sống không chỉ cho riêng mình, thì bây giờ, tôi lại phải tự vượt lên mình để đi tiếp con đường mà tôi đã chọn… …Cô gái không hề biết người chiến sĩ đang thầm nói chuyện với mình. Hình như cái bản tính hồn nhiên, tâm hồn trong sáng đầy tin yêu của cô chưa đủ mẫn cảm để hiểu rằng tại sao Thanh lại yên lặng lâu như vậy? Anh ngồi hút thuốc lá liên tục, đôi mắt trầm tư nhìn vào khoảng không vô định. Tàu lao qua những hầm tối bịt bùng. Rồi những cánh rừng thưa, những vùng đồi cằn lúp xúp cây bụi. Đêm tối đã ập xuống. Gió lạnh tràn qua khe cửa toa tàu khiến tất cả hành khách vốn quen nắng ấm phương nam, không chịu nổi sự thay đổi đột ngột của thời tiết, đều xuýt xoa vì rét. Thanh trải thêm chiếc tăng dù cho Hoà đắp. Còn anh chỉ khoác cho mình chiếc áo mưa bạt. Suốt đêm Thanh ngồi tựa mình vào thành tàu, không ngủ. Bên cạnh anh, nhịp thở đều đều của cô gái thật thanh thản, vô tư. Không. Không thể tha thứ được. - Thanh chợt choàng tỉnh sau một lần lắc dữ dội của con tàu. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu anh là sự trả thù. Tại sao mình không thể trả thù? Hắn ta cướp của mình cái phần thiêng liêng nhất của tình yêu. Con gái hắn đó… Thanh nhìn lại gương mặt cô gái như một vừng sáng mờ ảo trong khoảng mờ tối của con tàu. Một cánh tay trần vươn ra ngoài, cũng mịn màng, mờ ảo như một vệt sáng… Cô ta sẽ cùng đi với mình hai ngày nữa. Nếu tàu trục trặc dọc đường, có thể lâu hơn. Không có một đồng xu dính túi. Quần áo, đồ đạc mất cắp dọc đường. Một tù binh với cái nghĩa nào đó… Ồ, tại sao mình lại không thể rửa cái vết nhục ấy? Thanh bóp trán. Những ngón tay như hai gọng kìm siết hai bên thái dương. Và anh cố nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn thấy cái khoảng trắng mịn màng kia… Tàu vẫn lắc lư, mệt mỏi và nặng nhọc lăn bánh. Hành khách chừng như đã ngủ cả. Chỉ có riêng Thanh, những ý nghĩ đang như một con thú vùng vẫy trong đầu. Gương mặt Hoà, mệt mỏi và phờ phạc, nhưng vẫn không xoá nổi vẻ ngây thơ hồn nhiên, cứ chập chờn ẩn hiện. Và đôi mắt, một đôi mắt trong sáng, ngay thật và tin cậy cứ mở to nhìn Thanh không chớp. Thật đáng xấu hổ. Mình chỉ là một thằng đê tiện. - Thanh tự phỉ nhổ mình và anh vụt đứng dậy, đi ra hành lang toa tàu. Nghĩ cho cùng, hắn cũng như mình, có những cái tầm thường, những ham muốn, dục vọng như hết thảy người đời. Chỉ có điều là mình sống trong một môi trường khắc nghiệt và gian khổ. Hàng ngày mình không phải tiếp xúc, đối diện với những cám dỗ vật chất, những khao khát, thèm muốn, mà lòng tin luôn luôn bị thời gian công phá, sự thuỷ chung đôi khi trở nên vô định, mơ hồ… Cần phải biết tha thứ… Mà chính mình cũng đang cần được tha thứ. Vy có lỗi gì đâu? Tình yêu của Vy đối với mình vẫn nguyên vẹn như cái ngày nào… Những ý nghĩ làm cho lòng Thanh dịu lại. Anh bồi hồi nhận ra đêm đã đi qua và con tàu đang đưa anh về với đồng bằng. *** Cánh đồng Bà Chúa, nơi hơn một tháng trước đây từng xảy ra cuộc xô xát dữ dội giữa những người gặt lúa, bây giờ lại đen đặc những người. Đây là cánh đồng cao duy nhất làng có thể trồng màu được đúng thời vụ. Mọi năm vào cữ này, các xứ đồng xung quanh đất đều đã khô nỏ. Năm nay mưa lớn, nước lưu lâu quá. Ba chiếc máy bơm thi nhau chạy suốt ngày để kịp lấy đất làm vụ đông mà vẫn không xuể. Phải cướp lấy thời gian. Cánh đồng nào khô trước được tranh thủ trồng khoai tây, khoai lang và các loại rau xanh ngay. Cánh đồng Bà Chúa được chọn làm nơi đột phá cho chiến dịch vụ đông. Từng đoàn xe bò lũ lượt chở phân, giống từ trong làng ra. Những mô đất cao, thậm chí cả những bờ ruộng lớn, tạm thời được đào khoét để lấy đất khô lót ổ trồng khoai tây. Đất ruộng còn ướt quánh, nhiều chỗ nước võng vãnh rãnh cày. Trồng một luống khoai tây trên nền đất ướt, công sức, thời gian bỏ ra nhiều nhất là khâu "sản xuất" đất khô. Ở khu đất của đội Mười, không khí làm màu cũng náo nức đông vui chẳng kém gì những đội bên cạnh. Các cô gái vừa làm vừa bàn tán với nhau về một đám cưới của một đôi trai gái nào đó sắp tổ chức nay mai. - Tay Vịnh ấy à? Còn bé tí tẹo. Sao bảo còn non tuổi, xã họ chưa cho đăng ký? - Cô gái to béo từ bên kia bờ ruộng hỏi với sang. - Xì! Bé à? Cho mày thì mày cũng thích mê. - Cô gái mắt xếch vênh mặt lên cười chế giễu. - Vịnh nó đi bộ đội đợt tới đấy. Cưới chạy mà. Đủ tuổi đi bộ đội là cưới vợ được liền. Tao ấy à, có anh nào hỏi là xin giơ hai tay ngay… Câu đùa táo bạo khiến các cô gái cùng cười ran đồng. Chỉ có mình Vy là yên lặng. Giữa đám trẻ, nhiều lúc Vy lủi thủi như một bà lão. Ba mươi tuổi, đã già gì đâu? Nước da trắng. Cái mũi dọc dừa và đôi mắt to, đen láy, Vy còn giữ mãi vẻ đẹp của thời con gái. Vậy mà sao Vy cứ sống lặng lẽ, u buồn, như tất cả cái vẻ đẹp trời phú cho kia đối với Vy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Những người quen biết Vy, từ cái thời Vy còn học trường phổ thông cấp ba phố huyện, lâu ngày gặp lại, tưởng như mình đã gặp một cô Vy nào khác. Còn đâu cái vẻ hồn nhiên sôi nổi? Còn đâu đôi mắt nhìn trong sáng và đầy tin yêu với con người? Người trong làng, không có ý niệm rõ ràng về sự đột biến thì lại cho rằng tất cả là do sự xa chồng. Đàn bà ai mà chả vậy. Xa chồng biền biệt chín năm trời. Vô sinh, vô dưỡng. Đến là hoa cũng héo… Không ai biết được cái cõi lòng sâu thẳm của Vy. Ngày trước và bây giờ. Ngày trước, một cô Vy như thế. Bây giờ, một cô Vy như thế. Một khi lòng tin trong ta sụp đổ, ta sẽ thành một con người khác hẳn. Năm năm trước, Vy đã một lần gục ngã, nhưng rồi Vy vẫn còn hi vọng, tin tưởng. Nhưng sau cái đêm khủng khiếp ấy thì Vy gục ngã hoàn toàn. Biết tin ai? Ai có thể hiểu Vy được nữa, nếu không phải là Anh? - Chị Vy ơi! - Có tiếng reo từ trên đầu bờ mương làm Vy sửng sốt quay lại. Vy nhận ra Thắm đang quảy gánh khoai giống tất tả chạy đến. - Chị mà đoán trúng thì em mất không cho chị gánh khoai tây này. - Thắm đặt gánh khoai xuống, tay vung lên, mắt lúng liếng đến tinh nghịch. Mấy cô gái cùng chạy ào đến. - Cái gì thế? Một gánh khoai tây hả? - Cô gái mắt xếch, chưa biết mô tê ra sao đã liến láu. Thắm giơ tay lên: - Không phải chuyện của chúng mày. Trẻ con. - Tao đoán nhớ. - Cô gái to béo chưa chi đã cười tít cả mắt. - Anh chàng Đạt lại giả vờ mù trốn về để xin cưới cô Thắm. Thắm đỏ bừng mặt, cầm đòn gánh vung lên, vừa đuổi mấy cô bạn vừa bật buồn cười. Chẳng biết cái cô gái này sẽ giở trò gì? Vy đưa mắt nhìn Thắm dè dặt và đôi môi khẽ nở một nụ cười nhợt nhạt. Thắm quay lại, làm bộ trang nghiêm: - Nghiêm chỉnh đấy, chị Vy ạ. Chị mà không đoán được thì em sẽ… - Bắt-đền-một-đôi-kính-râm. - Các cô gái cùng chụm lại, đồng thanh hô thật to, rồi bấm nhau chạy tán loạn. Nhìn vẻ mặt Vy ngơ ngác, tự nhiên Thắm thấy thương. Cô quàng hai tay ôm lấy cổ Vy, hôn vào má Vy đánh chụt, rồi nói thật to: - Ông Thanh ông ấy về, bà nỡm ạ! Cái tin của Thắm, vừa như một tiếng reo, vừa như một tiếng sét, khiến chân tay Vy bủn rủn. Vy ngồi bệt xuống bờ ruộng, đôi mắt to như không còn khả năng tri giác. Bằng cái thực tế quá cay đắng, phũ phàng đã trải qua, Vy như cảm thấy trước một cơn dông bão nữa đang sắp đổ ập lên đầu. *** Chẳng có một cơn dông bão nào cả. Đúng hơn là một cơn dông bão hạnh phúc. Người trả lại hạnh phúc cho Vy, nhen lại lòng tin ở cuộc đời cho Vy, chính là Thanh. Sẩm tối Vy mới từ ngoài đồng về. Vy đếm từng bước chân nặng nề và lo âu dọc cái ngõ nhỏ hun hút hàng rào râm bụt. Cái dáng đi ấy, những bước chân ấy, lập tức gõ vào tim Thanh những nhịp nhức buốt. Buổi chiều, anh đã được mẹ kể hết về cô dâu thảo, đã nghe mẹ trách móc anh đủ điều. Lời mẹ như khoét thêm nỗi day dứt, ân hận, như bồi đắp thêm cho anh lòng khao khát hàn gắn. Bây giờ Vy đang về với anh kia. Nhưng sao Vy vẫn âm thầm lặng lẽ. Giống như cặp vợ chồng mới cưới, suốt cả buổi tối, giữa đám bà con làng xóm đến thăm, họ chỉ dè dặt nhìn nhau bằng đôi mắt thăm dò. Nhưng rồi khuya… Khi làng xóm đã ngủ yên. Và dường như chỉ còn mình họ thức, họ mới nói với nhau tất cả. - Vy ơi, còn giận anh nữa không? Hãy tha lỗi cho anh. Vy ngạc nhiên lắm. Anh có lỗi gì đâu… Em mới là người gây nên tội. Và em đã nhẫn nhục chịu đựng. - Lẽ ra anh phải biết tha thứ từ cái-đêm-khủng-khiếp ấy… Đâu phải lỗi tại chúng ta… Nếu không có giặc Mỹ và những ngày xa cách… Nước mắt Vy chảy giàn giụa. Vy chợt nhớ lại… Không hiểu tại sao, đêm ấy, tự nhiên em lại nói ra… Hình như có gì xui khiến, thúc giục… Lúc ấy em thấy tin và không thể dối anh điều gì. Con người anh thế nào đó khiến em không nỡ và không thể lừa dối. Bây giờ, sau gần ba năm, em càng tin rằng mình đã hành động đúng. Em không hề dại dột. Trước sau rồi anh sẽ hiểu… sẽ tha thứ… Giả dụ đêm ấy em không nói ra… Chắc bây giờ con chúng mình đã đi mẫu giáo rồi… Nhưng như thế… em sẽ ân hận, day dứt suốt đời. Suốt đời em sẽ không bao giờ dám nhìn thẳng vào mắt anh. Vy ấp cả gương mặt đẫm ướt vào ngực anh mà khóc vì sung sướng. Lần đầu tiên sau chín năm đằng đẵng, Vy lại thấy cuộc đời trở nên đáng sống, trở nên tin yêu lạ lùng. - Sao anh không viết thư cho em? - Vy hỏi và cắn vào đôi môi anh. - Anh muốn thử thách mình cho đến giây phút cuối cùng… Vả lại, đâu biết rằng còn sống mà trở về. Đánh nhau với thằng Pôn Pốt cũng ác liệt chẳng kém gì thằng Mỹ. Bàn tay Vy lần xoa trên người anh và Vy đếm được mười lăm vết sẹo. - Thế còn vết sẹo nào tại em? - Vy hỏi ngập ngừng. Vy cũng không biết tại sao lại hỏi điều ấy. - Tại bọn Mỹ tất cả. Vết sẹo của chúng mình… chính em đã xoá sạch rồi… Vy sung sướng quá. Vy hôn lên khắp người anh, đến nghẹn thở. XI Văn phòng ban quản trị hợp tác xã Thanh Bình đóng ở trụ sở ban quản trị hợp tác xã Thanh Cao cũ, ngay gần lối vào chợ Ba Thôn, trung tâm của xã. Hai căn phòng rộng ở tầng dưới, một phòng là nơi làm việc của bộ phận kế toán, tài vụ, một phòng của bộ phận kế hoạch. Tầng trên là nơi giành làm việc của chánh phó chủ nhiệm và nơi hội họp. Bộ phận kế hoạch đứng đầu là phó chủ nhiệm Đào, một phụ nữ hiền lành chậm chạp. Người của hợp tác xã Thanh Minh cũ. Thực ra, bố trí Đào vào chân ấy là vì cơ cấu, phải có nữ trong ban quản trị, phải có đủ người của ba hợp tác xã cũ, chứ năng lực và trình độ Đào làm sao mà với tới công việc ấy được. "Đầu não" điều hành kế hoạch của toàn hợp tác xã hầu như tập trung trong tay Lập. Công bằng mà nói, so với tất cả cán bộ của hợp tác xã. Lập thuộc loại cán bộ trẻ, có năng lực và là người có công trong phong trào xây dựng hợp tác xã Thanh Minh trước đây. Làm nhân viên trong ban kế hoạch đã bảy tám năm, anh thuộc làu các xứ đồng, nhớ vanh vách diện tích từng thửa ruộng, từng loại giống, năng suất, sản lượng mỗi loại ruộng trong từng vụ, từng năm. Chủ nhiệm Tin nhanh chóng đưa Thanh Minh trở thành lá cờ đầu của huyện là do anh có đầu óc tổ chức, biết dựa vào những người như Lập. Cơ cũng đã kế thừa được những mặt tốt đó. Anh khai thác Lập, coi Lập như người cộng tác đắc lực nhất của mình. Cả Đào, Lập và hầu hết cán bộ của phòng kế hoạch lúc này đều ra đồng. Thực hiện chỉ thị của bí thư huyện uỷ Trần Sinh, Cơ đã dốc hết tâm trí và thời gian của mình trực tiếp chỉ đạo bộ phận kế hoạch để giành một vụ đông thắng lợi. Cán bộ được cử đi nhiều nơi tìm mua giống. Hôm qua Lập vừa đi Hải Hưng về, chở theo một xe tải khoai tây. Hân vào Kim Bôi mua giống dây khoai lang. Nghe Trần Sinh gợi ý và thấy báo chí tuyên truyền rộng rãi về phong trào trồng đậu tương trên nền đất ướt, Cơ háo hức muốn thay đổi cơ cấu giống vụ đông và khắc phục tình trạng đất ướt bằng cách mạnh dạn nhận hai tấn giống đậu tương do huyện phân phối để trồng hai trăm mẫu đậu tương vụ đông này. - Nên cân nhắc lại, anh Cơ ạ. - Lập cố thuyết phục Cơ. - Từ thời các cụ ngày xưa, đã có ai trồng như vậy. Đậu tương là loại cây họ đậu, ưa đất khô, pha cát hoặc đất mùn. Nó chỉ cho năng suất khi trồng ở đất tơi xốp. Vậy là cậu bảo thủ, không tin ở khoa học. - Cơ nghĩ. - Mình phục cậu khi nói đến cây lúa cây khoai, chứ cây đậu tương thì cả cậu và mình đều abc như nhau. Nhưng mình hơn cậu ở chỗ tìm tòi, tham khảo sách báo. Cơ lục tìm trong ngăn tủ một tờ báo chìa cho Lập. - Cậu đọc đi. Họ phân tích có cơ sở khoa học hẳn hoi, chứ không còn là chuyện giả định. Cả huyện Yên Lãng năm ngoái đều trồng đại trà… Ông Trần Sinh năm ngoài khoái cái kinh nghiệm này lắm. - Tôi đã đọc rồi - Lập gạt tờ báo sang một bên. - Báo chí là một chuyện. Mình phải xuất phát từ tình hình cụ thể đồng đất của mình. Tôi không tin cái anh chàng viết báo này. Trung Quốc có một dạo chẳng tuyên truyền rùm beng về chuyện cấy dày, lúa tốt đến mức đứa trẻ con nằm trên mà không dẹp. Láo toét. Đậu tương trồng trên đất ướt cũng là trái khoa học. Nếu anh muốn thì cũng chỉ nên thí nghiệm một vài mẫu để chuẩn bị cho vụ sau, chứ không nên mạo hiểm… Lập phân tích cũng có lý. Kinh nghiệm đồng áng, cung cách làm ăn nhiều khi mình kém cậu ta. Mà xưa nay Lập đâu phải là anh chuyên bàn lùi. Lời khuyên của Lập làm Cơ thấy chờn. Anh quyết định trồng thí nghiệm năm mẫu. Công việc làm vụ đông ban đầu có vẻ khí thế, rầm rộ. Nhưng chỉ vài ngày sau không khí đã xẹp đi. Khó khăn nhất vẫn là khâu đất. Xã viên xuống đồng ai cũng ngán ngẩm. Đất còn nhão nhoét. Từng luống cày cứ dính bết vào nhau. Thời tiết đang trở lạnh, gió nam lên chỉ có mà ăn… lá. Cả phòng kế hoạch lại chạy như con thoi xuống đồng đốc thúc các đội huy động nhân lực làm kịp thời vụ, thành thử cái phòng rộng mênh mông bây giờ chỉ lổng chổng mấy bộ bàn thế. *** Ngược hẳn với phòng kế hoạch, phòng kế toán tài vụ đang trong thời kỳ nhộn nhịp nhất trong năm, cứ tấp nập như một cơ quan hành chính thực sự. Chính cái hoạt động hối hả, bận rộn của nó đã tạo nên cái không khí của một hợp tác xã quy mô lớn, ăn ra làm nên. Suốt hai dãy bàn dọc đối diện nhau sáu nhân viên của phòng đang ngồi hí hoáy tính toán, ghi chép. Ở bàn sát lối vào, một cô gái đang ngồi căng mắt gõ từng tiếng mổ cò trên chiếc máy chữ Ôptima mới cứng, trước một bản thống kê dài dằng dặc những con số. Căn phòng chỉ yên tĩnh được chốc lát và luôn luôn có các thư ký đội mang đến nộp bổ sung một vài hoá đơn chứng từ, hoặc trình bày, hỏi ý kiến một vấn đề gì đó. Ở chiếc bàn chính giữa, quay mặt nhìn thẳng ra cửa, trưởng kế toán Biền, người còm rom và khù khờ ngồi lút giữa những chồng sổ sách, biên lai, hoá đơn bày la liệt. Đôi mắt nhỏ lờ đờ nấp sau cặp kính trắng làm cho khuôn mặt bé choắt càng trở nên nhợt nhạt, khờ khạo. Duy chỉ có cái mũi nhọn làm người ta liên tưởng đến con chim bói cá. Suốt ngày lù đù ngồi trên cọc tre giữa ao, nhưng chỉ cần thấy bóng một con tép, nó đã lao vụt xuống như một mũi tên. Vẻ bề ngoài ấy chỉ có lợi cho Biền mỗi khi giao dịch, tiếp xúc với những người lạ. Người ta dễ đánh giá sai về anh, cho rằng anh chưa đủ năng lực và sự từng trải để làm kinh tế. Sự chủ quan, coi thường của đối phương bao giờ cũng là điểm yếu để Biền tìm cách đánh gục. Xét về họ hàng, thì Biền là anh em con chú con bác với Loã và là cháu Thiển. Họ Đào Hữu vốn có cái truyền thống liên kết dòng họ cố hữu từ xưa. Nên mặc nhiên ba anh em chú cháu phải liên kết với nhau như môi với răng vậy. Riêng đối với Biền, anh còn có ý thức lôi kéo, nâng đỡ anh em trong họ hơn cả Loã và Thiển. Khi biết Luyến một mực từ chức thủ kho, Biền đến bàn ngay với Loã và Thiển đưa Đào Hữu Thảng về thế chân. Thảng là thương binh, lại là đảng viên, hai lý do ấy đủ để cho Cơ không thể không chấp nhận. Thành tích lớn nhất của Biền và Loã đạt được trong vụ mùa vừa qua là bản báo cáo về tình hình úng lụt và dự toán thu hoạch của hợp tác xã Thanh Bình. Cái con số bảy mươi phần trăm ấy đã được huyện chấp nhận và nghiễm nhiên Thanh Bình trở thành một xã thuộc diện nhà nước cứu đói. Bây giờ, sau khi tính toán toàn bộ năng suất và tổng sản lượng thu hoạch trong vụ mùa, chính Biền cũng không ngờ rằng số lượng thóc lại nhiều đến thế. Trước đợt mưa bão, ước tính đổ đồng mỗi sào một trăm cân. Qua hai đợt mưa bão, năng suất thực thụ vẫn đạt bảy mươi. So với những năm thu hoạch bình thường, không đến nỗi quá thấp. Vậy mà được nhà nước trợ cấp thêm năm mươi tấn gạo, bột mì và vài trăm tấn sắn tươi nữa chứ. Mất mùa mà dân Thanh Bình lại no. - Biền thầm đắc chí nói với Loã và mấy anh em thân cận trong nhà. - Cái lợi này xã viên Thanh Bình chưa biết đâu. Chúng tôi không như ai đó chỉ biết mưu lợi cho mình, lấy mồ hôi, công sức xã viên làm bước thang danh vọng. Chuyện này mà vỡ lở ra, huyện, tỉnh biết thì tù chứ chơi. Chánh phó chủ nhiệm, kế toán, kế hoạch, tất tật đều ra toà. Biền là người đầu tiên biết được điều này. Và anh cũng là người có đủ trí lực, tài cán để thu xếp việc này êm đẹp. - Anh đi viện giữa cái lúc nước sôi lửa bỏng. Tai hại quá. Ở nhà mỗi mình chú Loã, trăm công nghìn việc đổ tất lên đầu… Có anh ở nhà thì nó lại một nhẽ… Ấy, cái báo cáo tình hình úng lụt và xin huyện trợ cấp hồi chú Loã mang lên viện cho anh ký… cũng có chút sai lệch so với thực tế. Kể ra nếu huyện biết được thì cũng rầy rà… Thế nên phải báo cáo để anh cho phương hướng… Để khớp với con số bảy mươi phần trăm ta đã báo cáo lên huyện, có lẽ trong sổ sách, giấy tờ ta cũng phải điều chỉnh chút ít… Nghe Biền báo cáo, tất nhiên Cơ hốt hoảng và lo sợ. Cơ là người chịu trách nhiệm trước huyện về mọi hoạt động sản xuất và kinh tế của hợp tác xã. Biền nắm được thóp Cơ. Nhưng tiến thoái đường nào? Anh đã ký vào bản báo cáo gửi lên huyện, chứ không phải chúng tôi. Anh đã bị dư luận xã viên phản đối ầm lên sau vụ tuyên truyền ầm ĩ trên đài báo vì tự ý phóng ra con số sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ, anh còn nhớ chứ? Cũng may mà trận lụt vừa rồi nó đã cứu anh, làm cho xã viên ngơ đi. Bây giờ anh lại không nhận năm mươi tấn lương thực và vài trăm tấn sắn nhà nước cứu đói ư? Bạo gan nhỉ? Lý do nào? Làm thế chỉ có bằng "lạy ông tôi ở bụi này". Mà xã viên đời nào để cho ông làm như vậy. Hàng chục năm nay Thanh Bình luôn hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ lương thực cho nhà nước. Chưa đau đã rặn, chưa tung đã hứng. Tịnh không bao giờ chắc lép với nhà nước một cân thóc nào nhé. Bây giờ, trời làm mất mùa, nhà nước trợ cấp lại, cũng là chuyện dĩ nhiên. Cơ không thể có cách nào khác là phải chấp thuận cái phương án do Biền và Loã đưa ra. Anh trách Lập: - Cậu biết sao không nói với mình trước? - Thì ông Loã, ông Biền chuẩn bị báo cáo với nhau, tôi đâu có biết. Hôm qua Loã lên bệnh viện thăm anh về, ông ấy nói rằng anh lo cho xã viên vụ giáp hạt tháng ba tới lắm. Rằng anh nhắn ban quản trị cố làm sao xin được huyện trợ cấp… Cơ chỉ biết ngậm bồ hòn trong miệng. Biết làm sao được, đã đâm lao thì phải theo lao… Một cuộc họp kín tất cả cán bộ của hợp tác xã, có sự tham gia của đảng uỷ, chính quyền được triệu tập. Thay mặt ban quản trị Cơ đã báo cáo lại tình hình thu hoạch vụ mùa và công bố một vài số liệu dưới mực sự thật do Biền cung cấp để mọi người có khái niệm rằng vụ mùa này thực tế Thanh Bình có bị thiệt hại nặng, nhưng không quá trầm trọng. Rằng do quá bi quan trong trận bão lụt số mười, ban quản trị cũng không tính toán chính xác số diện tích bị mất và huyện cũng quan liêu không xác minh lại, nên Thanh Bình vẫn được xếp vào diện những xã được nhà nước trợ cấp. Rằng để khó gây phiền toái về sau, nhất là tránh tiếng xã Thanh Bình lợi dụng mất mùa để bòn rút nhà nước, đề nghị cán bộ, đàng viên tuyệt đối giữ bí mật… vân vân… Cũng lại chính Biền đã khéo tham mưu với Cơ và Loã để tránh sự nghi ngờ của huyện và để bớt tập trung dư luận xã viên, cần phải tổ chức chia thóc thành nhiều đợt. Theo tính toán của Biền, đợt một, toàn hợp tác xã sẽ chia bình quân nhân khẩu, mỗi người năm cân một tháng theo kiểu trợ cấp. Đợt hai sẽ chia theo lao động với phương án dự chia một phẩy năm cân một công. Đợt ba và bốn lại chia theo nhân khẩu số lương thực nhà nước cứu đói. Vậy là, theo báo cáo lên huyện, bình quân nhân khẩu trong vụ mùa của hợp tác xã chỉ có tám ki-lô-gam lương thực. Nhưng thực tế, mỗi người dân Thanh Bình thu nhập cao hơn nhiều. Sự tính toán khôn khéo đến tài tình ấy, trừ Biền ra, không ai có thể làm được. Đến như Cơ, mặc dù trong thâm tâm luôn day dứt, dằn vặt, mà cũng đành tặc lưỡi… Từ lâu Cơ đã không ưa Biền. Biền khôn khéo, lọc lõi quá. Đánh hơi thấy lợi là hắn sẵn sàng lao vào. Làm lợi cho tập thể nhưng hắn cũng lợi dụng để chấm mút. - Nghĩ về Biền như vậy, nhưng Cơ cũng không thể nào bác bỏ, phê phán. Bởi lẽ Biền làm tất cả những việc này là vì tập thể. - Biền thường kín đáo rỉ tai nhiều người thế. - Xã viên no, đó là cái mục tiêu duy nhất mà mọi cán bộ, những người đầy tớ của nhân dân, phải phấn đấu. Cơ có thể chụp mũ cho Biền: "Quá coi nặng lợi ích tập thể mà quên mất lợi ích nhà nước" thì Biền sẽ đập lại thẳng cánh: "Anh thử ngẫm xem, anh phát biểu hùng hồn trong các cuộc họp trên huyện, trên tỉnh, anh tâng bốc trên đài, báo là vì nhà nước hay vì anh? Cái lợi ích nhà nước mà anh nói thực ra là chỉ do đầu óc thành tích, cá nhân nó đẻ ra mà thôi. Trong khi dân còn đứt bữa, thế mà mỗi lần cán bộ trên huyện trên tỉnh về, mỗi lần có đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm, anh bắt tôi chi hàng trăm bạc tiếp khách. Đến như bữa tiệc với tay nhà báo Đặng Hoài ở trên phố Vạn, tôi nào có nhìn thấy cái miếng thịt chó của lão Nghệ vàng đen ra làm sao mà anh vẫn bắt tôi chi hai trăm đồng…". Dĩ nhiên là Biền nghĩ thế thôi, chứ những điều ấy vẫn chưa xảy ra. Biết xoáy vào những chỗ yếu của Cơ, thả phóng cho Cơ trong chuyện tài chính, chi tiêu, kiềm chế và lái Cơ vào quỹ đạo của mình, đó là cái bản lĩnh của một kế toán sừng sỏ không hề kinh qua một trường lớp nào, nhưng liền chục năm vẫn trụ vững ở cái ghế kế toán trưởng của mình. …Một người đàn bà đội cái nón rách bươm, nửa dưới ống quần xoắn tít lại, ngắn cũn cỡn như hai chiếc ruột gà bút máy, tất tả đi vào. Ngơ ngác một thoáng, rồi chị ta bước lại chỗ Biền ngồi. - Bá cáo bác, nhà em có chuyện này muốn nhờ bác làm ơn làm phúc xem lại giúp… - Chuyện đàn vịt nhà chị vào phá lúa hợp tác phải không? - Bác nói oan cho em quá… Có được đàn vịt thì đã phúc đức. Có mặt trời kia, em nói sai em chết… Chả là hôm ấy thằng cháu nhà em nó đuổi tám con vịt… - Tôi biết rồi. Các ông kiểm soát đã lập biên bản. Con chị cố tình lùa vịt vào phá lúa. - Ối giời, các bác nói quá. Cái ruộng ấy, nước ngập lút, hợp tác xã đã bỏ không gặt. - Người đàn bà nhìn quanh như muốn tìm người thanh minh. - Bác trừ của em ba mươi công… em lấy gì nuôi các cháu… Biền gỡ kính đứng dậy: - Không phải nói lôi thôi. Nội quy hợp tác đã quy định rồi. Chị gặp ông Cơ mà thắc mắc. Tôi cũng chỉ có biết chấp hành. Người đàn bà năn nỉ một lúc nữa, nhưng mặt Biền cứ lạnh tanh. Bực mình, chị cầm nón đứng dậy, mặt đanh lại, mắt rơm rớm như chực khóc: - Các ông ác độc vừa vừa. Thằng bé nó vừa lùa mấy con vịt qua cái ruộng ngập thối bỏ đi mà nỡ phạt người ta thế à? Thử hỏi rằng cái vụ gặt vừa rồi, các ông đã rải suốt dọc đường mấy chục tấn thóc? Lúa rơi vãi đầy đồng người ta đi mót, đi quét, các ông cũng cấm. Để mộng, để thối ra thì không sao, nhưng xã viên động đến là phạt. Làm việc cho dân nó cũng phải một vừa hai phải thôi chứ. Hách dịch quá cái thời xưa… - Này, chị kia. Đừng có vơ đũa cả nắm nhé. Chủ trương gặt tập trung vừa rồi là do ông chủ nhiệm. Muốn thắc mắc thì đến xin gặp hẳn hoi. Đừng có hồ đồ. Nói láo tôi sẽ gọi dân quân gô cổ lại… - Tôi thách đấy. Nhà anh có đưa tôi lên trung hương tôi cũng chẳng sợ. Cây ngay không bao giờ bị chết đứng. Thời buổi dân chủ đừng có cả vú lấp miệng em. Chứ tôi nói không phải à? Có tám con vịt ranh mà phạt của người ta dững ba mươi công… San sát một hồi, rồi người đàn bà xách nón đi thẳng. Biền bực bội đeo kính toan ngồi vào bàn làm việc thì lại có một người khách nữa. Đó là một anh bộ đội trạc ngoài ba mươi tuổi, đeo lon trung uý. - Xin lỗi đồng chí. Đồng chí Loã, phó chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi ngành nghề có ở đây không ạ? Biền đưa đôi mắt nhỏ lờ đờ nhìn người khách và nhận ngay ra cái vẻ khôn ngoan hiểu đời qua khuôn mặt sáng sủa, đẹp trai với đôi mắt sáng và rất linh hoạt của anh ta. - Đồng chí cần gặp anh Loã có việc gì? - Dạ, chúng tôi đến liên hệ công tác. Biền mời khách sang phòng khách bên cạnh. Qua giấy giới thiệu công tác, anh biết người trung uý tên là Nguyễn Trọng Cường, thuộc một đơn vị hậu cần đóng ở trong tỉnh. - Ngoài anh Loã ra, đồng chí có thể gặp ai trong ban quản trị? - Dạ, không. Tôi muốn gặp riêng đồng chí Loã… Biền liếc nhìn người khách một lần nữa. Có chuyện gì với chú Loã? Vui hay buồn? - Thế thì đồng chí phải chịu khó đợi. Anh Loã lên tỉnh hợp đồng thuê xe đi mua sắn từ hôm qua. Có lẽ chiều nay sẽ về. *** Chuyến đi lên tỉnh của Loã thật vất vả. Theo kế hoạch phân phối của tỉnh, bốn huyện phía nam, trong đó có Giang Thuỷ được lên mua sắn theo giá thoả thuận tại vùng lòng hồ sông Đà. Bốn huyện mất mùa nặng cùng dồn lên mua sắn tại một địa điểm. Chỉ mường tượng ra cái cảnh hàng chục hợp tác xã tranh nhau đi vào các làng bản lùng mua sắn đã đủ biết giá sắn sẽ tăng vọt lên đến mức nào. Nhận được giấy phân phối của huyện, Loã bàn ngay với Cơ tìm cách xoay hướng khác. Lên Mai Châu, Đà Bắc, đường xa hơn vài chục cây số, nhưng nhất định giá sắn sẽ rẻ. Và Loã lại một lần nữa giơ đầu chịu báng. Anh lên huyện vận động Mạch viết cho một lá thư riêng gửi trưởng ty lương thực. Tất nhiên Mạch dễ dàng đồng ý ngay vì một tuần trước đây, Loã đã thân chinh bắt đôi lợn giống đẹp nhất trại chăn nuôi cho con trai Mạch lai về. Có lá thư của Mạch trong tay, Loã tin chắc rằng mọi chuyện êm đẹp. Trưởng ty lương thực với Mạch vốn là bạn thân, hai người lại đang sắp sửa trở thành thông gia với nhau. Nhưng thật xúi quẩy. Trưởng ty lương thực đi họp vắng. Hai anh phó ty ở nhà nguyên tắc cứng đơ. Loã nói bã bọt mép nhưng không ăn thua. Công việc thứ hai là sang công ty vận tải số ba hợp đồng thuê xe cũng không được kết quả. Cái tay giám đốc xí nghiệp, năm ngoái Loã đã được tiếp xúc. Ấy là vụ hợp đồng xe chở ba mươi khối gỗ giá cung cấp từ cảng Sơn Tây về xây dựng nhà trẻ và sửa chữa trại chăn nuôi. Đợt ấy, hợp tác xã phải biếu không một con lợn sáu mươi cân và ba yến nếp. Thế mà lần này, khi Loã gợi lại, hắn vẫn cố tình làm như không có cái vụ chở gỗ ấy. - Xin các bác cố gắng giúp đỡ. Chúng tôi đã hợp đồng mua và cho người dỡ rồi. Chỉ xin các bác cho ba xe trong một tuần. - Loã bóc bao thuốc lá Sông Cầu, vừa cười vừa nói lấy lòng. - Chỗ xí nghiệp với hợp tác xã chúng tôi, dù sao cũng đã có quan hệ tốt đẹp. Đợt các bác chở gỗ giúp năm ngoái, thật chúng tôi cảm kích quá. Giám đốc xí nghiệp thản nhiên cầm thuốc châm lửa, giọng vẫn đều đều nhát gừng: - Không còn xe đâu, anh ạ. Chúng tôi đang phải chạy kế hoạch cho nông trường Tháng Tám. Rút xe cho các anh, nông trường nó kiện cho bỏ xừ. Loã nghĩ đã đến lúc phải dùng con bài kinh tế. Thằng cha lại vòi vĩnh đây. Đằng nào cũng của tập thể. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. - Tết nhất sắp đến nơi… Chắc các bác cũng phải lo bồi dưỡng cho anh em… Vụ này tuy mất mùa nhưng nhờ trời hợp tác xã chúng tôi cũng không đến nỗi. Với lại cái khoản lợn… Chúng tôi xin đảm bảo với bác là… sẽ tạo mọi điều kiện để anh em xí nghiệp tăng chuyến hoàn thành kế hoạch cho nông trường… Chỉ cần các bác bố trí cho ba ngày… Kỳ kèo, vận động mãi, giám đốc xí nghiệp mới thò ra hai chiếc xe đang nằm ngoài bãi chờ bảo dưỡng và dẫn Loã xuống gặp tài xế. Thoáng nhìn hai chiếc I-pha rách tã bẹp gí một góc, Loã đã ngao ngán. Xe cộ thế kia làm sao vượt nổi dốc Cun? Vô phúc đang lên dốc, chết máy thì chỉ có một là khóc hai là đâm xuống vực. Tay lái xe với vẻ láu cá và ngang tàng, như đoán được ý nghĩ của Loã, liền vỗ vào vai anh: - Ông cứ yên trí. Trông nó thế nhưng mà bon lắm. Khối anh Gát còn phải gọi bằng bố. Chỉ có điều là chạy ngay bây giờ thì khí nặng hào đấy. Phải thay lại bộ phanh sau và sửa lại bộ phận điện. Hợp tác ông anh giàu, chi ra một thiên, chúng em xin sẵn sàng phục vụ. Loã lặng lẽ rút lui ngay. Anh gặp lại giám đốc xí nghiệp nài nỉ một lần nữa. Cuối cùng tay giám đốc hứa với anh, một tuần sau anh trở lại. Một tuần thì còn nói làm gì? Ăn nhau lúc này là ở cái thời gian. Khối anh nó cũng đánh hơi thấy mạn Mai Châu, Đà Bắc sắn rẻ chứ đâu riêng gì mình? Trâu chậm chỉ có uống nước đục. Lại lếch thếch đạp xe về Ty lương thực. May quá, trưởng ty đã đi họp về. Xoè cái thư của Mạch là ông ta giải quyết ngay. Nhất thân nhì thế có khác. Có lệnh rồi, làm sao xoay được xe đây? Có người mách Loã một vài nơi có xe. Công ty xây dựng. Xí nghiệp cầu đường. Liên hiệp chế biến nông sản. Đạp rã rời, nhưng đều không kết quả. Loã ra về với nỗi thất vọng và sự mệt mỏi rã rời. Vừa trông thấy Loã phờ phạc dựa xe đạp ngoài cổng văn phòng, Biền đã chạy ra hỏi dồn: - Thắng lợi chứ, chú Loã? Liệu hôm nào có xe? Loã cởi cúc áo bông, lấy mũ phe phẩy quạt, lắc đầu chán nản: - Đi bốn năm nơi mà không chỗ nào nó chịu ký hợp đồng. Lấy được lệnh rồi, nhưng chẳng đào đâu ra xe. Bực nhất là cái thằng xí nghiệp vận tải ô tô. Năm ngoái, lúc mình cho nó lợn, gạo, chính tay giám đốc đã hứa lần sau cần xe, các anh cứ đến đặt vấn đề, chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ. Ấy thế mà nói bã bọt mép, hắn mới thò ra hai chiếc xe tã rách. - Bây giờ thì đào đâu ra xe tốt. Cốt được việc cho mình… - Được việc thì còn nói chuyện gì. Ra xem xe tôi thấy ngán quá. Tay lái xe lại gạ tôi bồi dưỡng trước cho nó một nghìn. Tôi biết tỏng cái trò ma mãnh ấy, vội tìm cách chuồn ngay. Trung uý Cường đợi Loã suốt cả buổi trưa, thoảng nghe câu chuyện đã hiểu hết sự tình. Cho đến lúc hai người gặp nhau, Loã nhận ra ngay đồng chí trung uý mà mình đã gặp ở hàng nước ngay đầu thị xã. - Ấy chết, đồng chí xuống công tác… Mặc dù đã quen biết sơ sơ, trung uý Cường vẫn thận trọng đưa trình giấy tờ cho Loã. Anh cười tủm tỉm, nói nhỏ: - Hôm qua, lúc anh làm việc với giám đốc xí nghiệp vận tải, tôi cũng đang làm việc ở đó. Họ ngại không muốn ký hợp đồng vì họ biết là có chạy cho các anh vài chuyến sắn cũng chẳng sơ múi gì. Hợp tác xã đang mất mùa, các anh không đủ sức để hẩu với họ. Chứ tôi biết là họ vẫn còn xe. - Thảo nào… Trông cái mắt tay giám đốc, tôi đã nghi ngay. Giữa hai đơn vị kinh tế tập thể, quốc doanh với nhau mà họ tệ quá. Cường rút một điếu thuốc lá, dỗ dỗ trên vỏ bao, mỉm cười một cách ý nhị và đầy thông cảm: - Hôm nay đơn vị cử tôi đến trao đổi với các đồng chí một số công việc, nhưng thấy các đồng chí bí về chuyện xe cộ, nên tôi cũng xin mạnh dạn đề xuất… Loã ngồi sát vào thành bàn, đôi mí mắt hùm hụp giương hết cỡ, nhìn Cường chăm chú. - Xin đồng chí cứ nói. - Tình cảm giữa bộ đội và dân chắc đồng chí đã hiểu. Hợp tác xã ta mất mùa, chúng tôi cũng buồn lắm chứ. Dân không no, thì quân cũng chẳng thể yên tâm đánh giặc. Hôm qua, khi biết các đồng chí gặp khó khăn về xe cộ, tôi đã về trao đổi thống nhất với các đồng chí lãnh đạo đơn vị. Chúng tôi có một số xe tải. Nếu các đồng chí thấy cần, chúng tôi có thể giúp vài chuyến… Đôi mắt Loã vụt sáng lên, hàm răng ám khói thuốc lào phô ra hết cỡ. Anh xoè bàn tay ngắn cũn, thô ráp chụp vội lấy bàn tay Cường kéo lại phía mình. - Cám ơn các đồng chí quá. Các đồng chí đúng là cứu tinh của chúng tôi. Cường vẫn cười tủm tỉm với một thái độ hết sức khiêm tốn. Chờ cho Loã bình tĩnh trở lại, anh mới cúi sát về phía Loã, nói nhỏ: - Còn một vấn đề nữa, xin trao đổi với anh… Giọng Cường trở nên thầm thì, khiến Loã phải chú ý lắm mới nghe rõ. Câu chuyện của họ có vẻ rất quan trọng và bí mật, khiến Biền ở phòng bên thỉnh thoảng lại liếc đôi mắt nhỏ lờ đờ nhưng rất tinh nhạy qua ô cửa, cố phán đoán nội dung câu chuyện qua nét mặt của từng người. Khoảng một giờ sau thì Loã đứng dậy đi sang phòng bên máy Biền ra ngoài hiên. Hai người lại thì thào với nhau một lúc lâu nữa. Câu chuyện của họ có vẻ tâm đắc lắm. Biền vừa nghe vừa gật gù. Còn Loã thì chốc chốc lại hoa tay lên như đang thu hái một cái gì đó. Hết giờ làm việc buổi chiều đã lâu mà họ còn nán lại. Loã nói với Cường khi cả ba cùng về thôn Thanh Giang. - Xin anh Cường cứ hết sức tự nhiên. Anh Biền với tôi là anh em thúc bá. Ở xã Thanh Bình này, ai mà chẳng biết họ Đào Hữu… Tối ấy trung uý Cường được lưu ngủ lại nhà Biền. Một con vịt bầu nặng vừa đúng hai cân được thịt để làm cơm khách. Vui quá, chỉ có ba người mà cũng hết một chai "cuốc lủi". *** Càng về khuya trời càng tối bịt bùng, gió mùa đông bắc thổi ràn rạt mang theo những hạt mưa bụi nhỏ li ti như những hạt băng lạnh buốt. Làng xóm yên ắng như tờ. Những con chó lắm mồm nhất cũng đã nằm co quắp ở một chỗ kín nào đó, ngủ li bì. Khoảng một giờ sáng, có hai cặp đèn ô tô rọi thẳng vào làng. Tiếng động cơ rì rì bỗng dội lên trong đêm vắng. Một tiếng chó sủa. Rồi hàng chục tiếng chó sủa tru tréo kéo thành một chuỗi đuổi dọc theo anh đèn. Hai chiếc xe tải thùng gỗ, mui bạt che kín, như hai con vật cổ quái bò trên con đường lát gạch, vượt qua trước cửa nhà thờ họ Đào Hữu. Từ trong căn nhà bên cạnh đường, một bóng đen lao vụt ra, tiến lại phía ánh đèn, giơ tay làm hiệu. Người ngồi cạnh tài xế trên chiếc xe đi đầu nhận ra cái dáng bé nhỏ của Biền trong chiếc áo mưa bạt quá rộng. Ánh đèn xe vụt tắt. Tất cả lại chìm trong đêm tối bịt bùng. Sáu người đàn ông nữa từ trong nhà đi ra. Trong toán này có thêm Loã, Cản và Thảng. Họ cùng kéo đến chỗ chiếc xe đi đầu. Tài xế và người áp tải chiếc xe thứ hai cũng đi lại. Cả nhóm cùng ngồi chụm dưới gốc cây xà cừ. Ánh lửa thuốc lá chốc chốc lại loé lên đủ soi rõ hai đốm sáng ở phía trên, nằm đối xứng nhau qua gờ nổi sống mũi. Người ngồi áp tải trên buồng lái chiếc xe đi đầu, mặc dù đã thay đổi quân phục bằng bộ xi-vin màu tối nhưng vẫn dễ nhận ra giọng nói. Đó là Cường. Nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đeo trên tay, Cường nói với Loã và Biền. - Bây giờ là một giờ hai mươi rồi. Xin các anh cho giải phóng xe ngay. Tất cả đúng như trong hợp đồng. Mọi chuyện chúng ta sẽ bàn bạc với nhau sau. Loã và Biền gật đầu. Toán người lập tức tản ra, nhảy lên hai thùng xe. Những chiếc bao tải trĩu nặng trên vai người đi vào trong xóm. Thêm mấy người đàn bà dáng ngái ngủ và mệt mỏi cùng ra giúp sức với họ. Chỉ một giờ sau, hai chiếc thùng xe trống trơn. Một xoong cháo gà đã được nấu sẵn tại nhà Thảng. Mấy người đàn ông mệt mỏi bơ phờ ngồi húp cháo xì xụp và chỉ nói với nhau bằng ánh mắt. Biền cầm đôi đũa gạt qua miệng hai cái, rồi đặt ngang miệng bát, nhìn mọi người, nói: - Bây giờ thế này. Hai đồng chí lái xe sẽ ngủ lại đây, anh Cường và anh… - Biền chỉ người áp tải thứ hai, một thanh niên có đôi mắt lì lợm và một vết sẹo dài trên má. - Hai anh sẽ lại đằng tôi để hội ý tiếp. Còn ông Cản với Nha, cậu Tiễn thì về nhà chuẩn bị quân. Sáng mai, đúng tám giờ, cơm nước xong, chú Loã sẽ dẫn xe lên Đà Bắc lấy sắn. Theo sự phân công của Biền, mọi người tản đi rất nhanh. Cản đã ra đến ngõ, Biền sực nhớ một chuyện, vội chạy ra theo. - Suýt quên khuấy đi mất. Tôi đã bàn với ông Loã rồi. Ông phải lo cho cái khoản gỗ lát. Mai Châu, Đà Bắc là kho gỗ lát. Công việc mua dỡ sắn, ông cứ để ông Loã với anh em người ta lo. Cốt nhất là ông phải lùng cho được mấy quýp lát chun. - Có giấy tờ gì không? - Cản có vẻ ngần ngại. - Cần gì giấy tờ. Vào nhà dân hỏi thì thiếu giống… Mỗi xe ông cứ lát cho tôi vài tấm xuống dưới thùng xe, rồi chất sắn lên. Ngại nhất là qua trạm kiểm soát dốc Cun. Nhưng thấy mình chở sắn, chẳng ai hỏi gì đâu. Muốn chắc chắn, ông cầm sẵn mấy bao thuốc này đi. Dúi cho bọn phòng thuế mỗi anh một bao là xong hết… Cản cầm thuốc đút vào túi áo, hỏi thêm: - Thế còn tiền nong? - Ông Loã sẽ lo. Có gì hai ông bàn bạc thêm với nhau… Cố gắng chuyến này mỗi anh dựng một cái tủ… Hai người chia tay nhau. Biền đứng lại đợi Loã và hai người khách, rồi bốn người đàn ông cùng đi về cái ngõ có chiếc cổng gạch với hai tấm cánh cửa gỗ ván kín như bưng nhà Biền. Họ ngồi quanh bộ xa-lông gỗ gụ đen bóng và chạm đục kiểu cổ. Biền mở cánh tủ buýp-phê lấy ấm chén, phin cà phê và một bao thuốc lá ba số năm còn nguyên chưa bóc. Cường ngồi chăm chú nhìn từng cử chỉ hết sức nhanh nhẹn, khéo léo, sự chuẩn bị hết sức chu đáo của chủ nhân và đưa mắt cho người đồng sự như thầm nói: Chúng ta đang đứng trước một đối thủ hết sức lọc lõi ranh ma. Từng giọt cà phê sánh đặc giỏ xuống chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt. Chiếc đồng hồ quả lắc treo tường điểm binh boong ba tiếng. Biền liếc mắt ra hiệu cho Loã, rồi rút chùm chìa khoá mở cánh tủ bên lấy ra một gói giấy đặt trước mặt Cường. - Công việc của chúng ta thế là đã hoàn hảo. Xin gửi lại anh toàn bộ số tiền như đã giao ước. Anh đếm lại đi cho. Cường nâng tách cà phê, nhấp một ngụm nhỏ, khẽ mỉm cười gạt gói tiền sang phía anh thanh niên ngồi bên: - Chú đếm đi! Những tờ giấy bạc năm mươi đồng mới cứng đỏ lựng dưới ánh đèn. Cường vẫn giữ nụ cười tủm tỉm trên môi, quay sang Loã: - Lần đầu tiên làm việc với anh, tôi đã thấy mến anh ngay. Hợp tác nào cũng được vài cán bộ tháo vát năng nổ như anh với anh Biền thì phong trào may ra mới lên được. Tôi đã từng giao dịch với nhiều hợp tác xã. Có nhiều ông chủ nhiệm hẳn hoi mà cứ lù đù như gà mờ… - Chúng tôi đã làm là dứt khoát phải tác phong công nghiệp. - Loã dụi điếu thuốc lá vừa hút được vài hơi vào cái gạt tàn, với tay cầm lấy điếu cày. - Thời buổi bây giờ, ăn nhau ở cái đầu. Hôm anh đến đặt vấn đề, chỉ một phút sau là tôi quyết ngay. Trại chăn nuôi của chúng tôi đang thiếu cám trầm trọng. Có nguy cơ phải giảm số lượng. Có số bột này thì đàn lợn của chúng tôi không những giữ vững mà còn tiếp tục phát triển. Chưa có ý kiến chủ nhiệm, nhưng một mình tôi dám quyết. Mà đã quyết là phải đúng… Loã rít thuốc đến hõm má, rồi thở khói cuồn cuộn, như đang tung trước mặt đối phương một đám hoả mù. Anh thanh niên đã đếm tiền xong, quay sang nói với Cường: - Còn thiếu năm trăm đồng tiền xe. Không kịp để cho Cường phản ứng, Loã tiếp ngay: - Ấy, chuyện này thì như chúng tôi đã bàn với anh Cường. Công vận chuyển số bột coi như không tính. Vì đằng nào các anh cũng phải đưa xe về để đón người của chúng tôi đi lấy sắn. Cường giãy nảy: - Các anh làm như vậy thì chúng tôi mất hai chuyến xe không. Năm mươi lít xăng cộng với tiền bồi dưỡng lái xe. Chúng tôi lấy đâu ra? - Các anh thông cảm cho. Hợp tác chúng tôi đang mất mùa. Với lại tôi vừa xem kỹ. Bột của các anh xấu quá. Nếu là bột mì thì chúng tôi sẵn sàng trả thêm cho các anh một trăm đồng một tạ. Nhưng đây là loại bột lương khô quân đội. - Biền nói chậm và rõ từng tiếng, vừa đủ cho Cường nghe, vừa đủ để Biền nhận ra gương mặt anh ta bỗng tái nhợt và đôi mắt đang bối rối nhìn xuống. - Loại bột này chúng tôi xếp vào loại cám. Chỉ có thể cho trại chăn nuôi hợp tác xã, chứ không làm việc gì khác được. Số tiền kia là chúng tôi đã tính cả tiền xe rồi. Thêm một lần nữa Loã thầm phục tài Biền. Anh ấy đã điểm trúng huyệt Cường làm hắn ta choáng váng ngồi lặng đi thế kia. Mới hay vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Nhưng Biền vẫn không chịu buông tha. Anh tiếp tục bồi thêm một đòn nữa: - Vả lại nếu các anh đồng ý chuyển séc thì chúng tôi cũng không tiếc năm trăm đồng bồi dưỡng lái xe thêm. Nhưng một lúc xoay được món tiền mặt như thế thì gay quá. Chúng tôi đang chết dở không biết lấy tiền đâu ngày mai lên Đà Bắc lấy sắn đây. - Thấy chừng như đòn đã đủ, Biền cười, dịu giọng: - Với lại, chúng ta còn tiếp tục làm ăn lâu dài với nhau cơ mà. Đợt tới, các anh có hàng, chúng tôi cứ là xin hợp đồng ngay. Cường ngồi yên, gương mặt nhợt nhạt như người mất máu. Anh có cảm giác như vừa bị một cú đòn trời giáng, nhưng vẫn phải im lặng không dám kêu. - Các đồng chí có cần lấy giấy biên nhận thanh toán? - Biền chợt hỏi. Tôi lấy cái biên lại của các anh làm cóc khô gì? Cường bực bội nghĩ và cầm bọc tiền nhét vào túi áo ngực. Nhưng rồi chợt nhớ ra cái vai kịch của mình, anh ta vội làm vẻ kinh ngạc: - Cần chứ. Không có biên lai giấy tờ, hoá chúng tôi là những kẻ làm ăn bất chính à? Họ cùng ký vào giấy biên nhận, với bên mua là hợp tác xã Thanh Bình và bên bán là đơn vị hậu cần X. Mỗi bên cầm một bản, cẩn thận cất vào trong cặp. XII Thanh dắt xe đạp uể oải đi tới chiếc cổng sắt sơn xanh trước toà nhà uỷ ban nhân dân tỉnh. Đây là lần thứ ba trong vòng mười ngày nay, anh đã dắt xe đến đây. Hai lần trước anh chỉ dừng xe ít phút, rồi đi ngay. Còn lần này? Lại đạp xe thất thểu ba mươi cây số về không ư? Mười ngày, mình đã bốn lần đạp xe lên tỉnh. Đi gõ cửa chín cơ quan nài nỉ xin việc nhưng chẳng nơi nào thèm nhận. Đi đâu nữa? Thanh tự thấy thương hại mình. Không ngờ mười năm ở chiến trường, mười lăm vết thương và cái chức thượng uý bộ binh nó lại làm hại anh như vậy. Ở đâu người ta cũng hỏi hai câu hỏi: Lương bao nhiêu? Làm nghề gì? Và người ta lạnh nhạt lắc đầu: Lương cao thế mà lại không có nghề nghiệp, cơ quan chúng tôi nhận sao được. Đấy, cái giá của mười năm đời lính. Ngày cầm hồ sơ giấy tờ từ đơn vị về tỉnh đội. Thanh chủ quan tới mức ảo tưởng rằng với cái hồ sơ đầy những chiến tích này, anh sẽ không cần phải đi xin xỏ đâu hết. Các cơ quan tự khắc họ sẽ đổ xô đến, cố nài xin, giành giật anh bằng được. Vấn đề nan giải nhất của anh lúc bấy giờ là tự anh phải chọn một trong hai hướng: về phục viên, tham gia công tác ở hợp tác xã hay chuyển ngành vào làm ở một cơ quan nhà nước. Về phục viên ư? Đó chẳng phải là cái mơ ước đã đeo đẳng trong anh suốt những năm ở chiến trường gian khổ? Ngày Vy tiễn anh đi, sau cái tuần trăng mật ngắn ngủi nhưng vô cùng hạnh phúc mà cho mãi đến bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, anh lại thấy nguyên vẹn cái cảm giác rạo rực bồi hồi của tuổi hai mươi nồng cháy và si mê, anh đã cầm bàn tay Vy ủ nóng mãi trong tay mình, nhìn thẳng vào đôi mắt ướt nhoà đang đau đớn đến tuyệt vọng: "Đừng khóc nữa em. Đánh giặc xong, anh sẽ về với em. Nhất định anh sẽ không đi xa nữa đâu". Lời hẹn ấy, anh thầm nhắc lại bao nhiêu lần, trước những giờ xuất kích, trong những đêm hành quân xuyên rừng, những chiều mắc võng nằm lơ mơ dưới tán rừng săng lẻ… Còn có nơi nào đáng mơ tưởng hơn một luỹ tre làng, một mái nhà yên ấm thấp thoáng mái tóc mẹ già và cái dáng dịu dàng của người vợ trẻ? Đó chính là cái ước mơ đích thực của người lính. Đánh giặc xong, buông cây súng rồi, cái nơi mà ta sẽ gắn bó trọn đời, sẽ sinh con đẻ cái, sẽ chắt chiu những ước muốn và dự định, chính là cái làng quê đã nuôi dưỡng ta ngay từ lúc còn nằm trên tay mẹ bằng tiếng ru kẽo kẹt khô buồn của rặng tre già, tiếng lích chích ríu ran của đàn chim sẻ từ trên mái rạ chợt sà xuống nong thóc của mẹ, tiếng sáo diều những chiều hây hay gió nồm, tiếng mẹ à ơi ngắt quãng chập chờn hình bóng con cò đơn chiếc… Quê hương! Suốt những năm ở chiến trường chưa bao giờ Thanh nguôi quên. Anh nhớ như in từng đoạn bờ mương, hàng phi lao mới trồng, cánh đồng ngát thơm hương lúa mới và những buổi chiều mùa gặt hối hả nhộn nhịp trên sân phơi hợp tác. Anh cảm nhận thấy cái vị mặn của giọt mồ hôi ròng ròng chảy thấm vào kẽ mắt cay xè, thấm vào đôi môi khô khát trong những trưa nắng chói chang gập lưng kéo xe bò lúa cao ngất nặng nhọc đi trên con đường đá dăm nhức gan bàn chân… Tất cả những cái đó, không phải chỉ là tình cảm hời hợt của một anh chàng nhạc sĩ hay một hoạ sĩ nào đó nhìn cuộc sống nông thôn dưới một góc độ của một người ngoài cuộc, yêu nghệ thuật hơn là yêu cuộc sống thực, mà chính là một mảnh của cuộc đời Thanh. Đó là ngọn lửa cháy âm ỉ trong tiềm thức, gợi dậy một tình yêu và niềm khao khát trở về làng. Thế rồi Thanh đã trở về làng. Cái tháng 9 năm 1975 ấy, với cơn dông bão khủng khiếp đêm ấy, đã làm sụp đổ tất cả, thổi tắt phụt cái ngọn lửa anh vẫn hằng nhen nhóm gìn giữ. Cái làng quê của anh đã khác đi rồi. Anh không còn Vy nữa. Người ta đã cướp đi của anh những gì thiêng liêng nhất mà bảy năm qua anh đã không tiếc máu mình để chiến đấu vì nó. Lại thêm ba năm nữa. Ba năm cùng cực và đau khổ. Ngoài cái mục đích đuổi hết bọn Pôn Pốt, anh không còn nơi nào để mà nhớ mong, để mà thả tâm hồn trở về trong những đêm buồn đến não nề. Quê hương còn có ý nghĩa gì nữa khi đó là nơi đã để lại cho ta nỗi đau đớn nhất? Cũng may, thời gian vô cùng nhân hậu. Thời gian làm nguôi khuây vết thương lòng và lòng vị tha giúp anh tỉnh táo nhìn nhận lại mọi việc. Bây giờ, tình yêu của Vy đã bù lại cho anh tất cả những mất mát. Anh đã sống lại cái tuần trăng mật mà mười năm qua tưởng rằng đã mất đi vĩnh viễn. Nhưng Vy có đủ sức giữ anh lại bên mình mãi không? Sau những ngày bị con thuyền tình cảm buông trôi trên dòng sông thơ mộng đến huyền ảo tình cảm vợ chồng, Thanh bắt đầu phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống sắp tới. Về phục viên ư? Một tuần la cà thăm viếng chú bác họ hàng. Thanh đã nghe quá nhiều những câu chuyện về hợp tác xã, đã hiểu rõ cái tâm trạng chán nản và mệt mỏi của hết thảy xã viên, đã chứng kiến cái cảnh lãn công, làm ăn hời hợt đúng nghĩa vụ đông xuân có tính bản lề giữa hai vụ lúa. Kỳ lạ nhất là ông Trạc, cậu của Thanh, một người mà chỉ nhìn đôi bàn tay thô ráp sần chai, bắp tay cuồn cuộn như chão bện, bàn chân to bè với những móng chân tím đen vì nhuộm bùn, bắp chân ăn màu ánh chất đồng điếu… cũng đủ biết rằng ông đã cầm biết bao chiếc cày, lội biết bao cây số trên những cánh đồng mà ông đã thuộc như lòng bàn tay. Cái người nông dân suốt đời yêu đến không còn biết nghĩ đến nơi nào khác ngoài cái làng quê của mình ấy nữa, mà bây giờ đã chán cả những thửa ruộng mà ông đã tưới ướt mồ hôi. - Cậu ra hợp tác, anh ạ. - Ông Trạc đã thông báo với Thanh bằng cái giọng ráo hoảnh khi anh đến thăm ông vào một buổi tối. - Hôm nọ huyện họ gọi cậu lên bắt đầu học tập mất một tuần. - Tại cậu đánh chủ nhiệm chứ gì? - Thanh mỉm cười, nói giỡn ông Trạc. - Láo. Tao có đánh tay Cơ cái nào? Căn bản là ở dư cái đơn xin ra hợp tác xã. Nói là đi học tập cho nó lịch sự, chứ thực tế là đi cải tạo đầu óc, anh hiểu chưa? Buồn cười lắm. Họ phát cho cậu một cuốn điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bảo câu học. Cậu bảo cái điều lệ này tôi đã thuộc hết rồi. Mọi điều ghi trong đó là đúng hết. Bác Hồ đã ký vào đó rồi. Cấm anh nào được làm sai. Thế mà từ ngày Bác mất đi, ở dưới họ làm bát nháo cả. Không tin, tôi xin kể hết các ông nghe chuyện nhỡn tiền ở hợp tác xã Thanh Bình chúng tôi. Thế là cậu kể hết. Từ chuyện bầu đội trưởng đội phó thế nào, đại hội xã viên bầu ban quản trị ra sao. Rồi chuyện hợp nhất ba làng, đấu đá nhau cốt gài người của mình vào thế nào. Vì sao ông Tin phải bật đi Lâm Đồng? Vì sao xã Thanh Bình bây giờ chia làm ba phái? Phái nắm kinh tế, đứng đầu là ông chủ nhiệm. Phái nắm công tác Đảng, đứng đầu là ông phó bí thư phụ trách tổ chức. Phái trung gian dĩ hoà vi quý là ông bí thư… Rồi chuyện tham ô móc ngoặc, lợi dụng của công để làm giàu cho mình, chuyện thổi phồng thành tích cố làm rùm beng trên báo chí. Hợp tác xã tiên tiến ở đâu, chứ ở Thanh Bình dân chúng tôi không có nhận… Bao nhiêu chuyện cậu kể hết, các vị cán bộ huyện cứ tròn mắt mà nghe. Cậu bảo: Tôi ra hợp tác xã không phải vì tôi chống đối chính sách của Đảng và nhà nước. Hai thằng con tôi nó đi bộ đội, con gái tôi làm bí thư chi đoàn. Tôi vẫn khuyến khích chúng nó phục vụ. Nhưng tôi thì tôi dứt khoát xin ra đợt này. Bao giờ cán bộ hợp tác xã gương mẫu, xã viên làm ăn phấn khởi thì tôi lại vào. Chứ ở mà để cho họ chèn ép bắt nạt tôi thì tôi không chịu được. - Ông Trạc cười hà hà dương dương tự đắc như người vừa thắng cuộc. - Thế mà họ phải chịu cái lý sự của cậu, đồng ý để cậu về. Câu chuyện của ông Trạc làm Thanh thấm buồn. Anh băn khoăn: - Nhưng hợp tác xã không trả ruộng cho cậu thì cậu làm cách nào để sống? Ông Trạc bặm môi, gật gù không trả lời Thanh ngay. Vê một điếu thuốc đặt vào nõ, xoa hai chân xếp bằng tròn, rồi ông cầm chiếc xe điếu dứ dứ trước mặt Thanh: - Thế là anh vẫn quan liêu vấn đề. Cậu hỏi anh, khối anh xã viên một năm nó cóc có ngày công nào, sao nó vẫn sống được, hả? Nó không ra hợp tác, nhưng nó có còn là người hợp tác nữa đâu, hả? Chẳng cần một sào ruộng nào hết, mà vẫn ung dung. Cậu làm bằng vạn nó, cuối cùng thì vẫn thế. Hả? Anh bảo sao? - Ông Trạc bật cười lớn, châm lửa, đôi mắt cười cợt như đang cố giấu một âm mưu gì đó mà ông chưa thể tiết lộ. - Rồi anh sẽ thấy. Cậu đã có cách. Nếu mà đợt này anh phục viên về nhà, có muốn thì rồi cậu sẽ bày cách cho. Phục viên về nhà để rồi sẽ theo cách bày vẽ của ông Trạc? Thanh nghĩ buồn chua chát. Lẽ nào hợp tác xã - niềm tự hào của những người lính những năm sáu mươi, nơi duy nhất để những người lính như anh tin cậy gửi gắm cha mẹ vợ con trước khi đi chiến trường, bây giờ lại sa sút đến thế? Thanh gặp gỡ một số cán bộ đảng viên, cố tìm ở họ một lời giải đáp hộ mình: về phục viên hay xin chuyển ngành? Nhưng rồi chính đội ngũ cán bộ Thanh Bình lại làm cho anh thất vọng. Mười năm nay, vẫn những con người ấy. Ông Điền, bí thư đảng uỷ từ ngày Thanh còn ở nhà, con người rất tốt bụng hiền lành, rất liêm khiết, trong sạch, nhợt nhạt và giáo điều tới mức hầu như không có năng lực và bản lĩnh riêng, bây giờ vẫn giữ cái chức vụ ấy. Ông Thiển, ông Tấn, chị Ngần, ông Cơ, chị Đào, ông Loã, ông Biền. Vẫn là những cán bộ chủ chốt của mười năm trước đây. Có khác chăng mỗi kỳ đại hội đảng bộ, hội đồng nhân dân xã, đại hội xã viên… họ lại đổi chỗ cho nhau từng nhiệm kỳ. Dù muốn hay không, con người cũng không thể cưỡng lại nổi quy luật sinh học. Những người cán bộ của những năm sáu mươi ấy, dù không muốn bây giờ họ cũng già đi. Trình độ sản xuất, trình độ thâm canh, trình độ khoa học kỹ thuật ngày một phát triển. Sự giác ngộ của người xã viên đã khác, quy mô hợp tác xã mở rộng, điều kiện xã hội đã thay đổi. Nhưng vẫn những người lãnh đạo mà trình độ văn hoá, phẩm chất chính trị, trình độ tổ chức quản lý hầu như không được bồi dưỡng, nâng cao, thậm chí có những mặt bảo thủ, lạc hậu so với phong trào, tình trạng quan liêu bè phái, cơ hội, giáo điều ngày một nặng nề trong điều kiện thiên tai liên tiếp, lối sản xuất bao cấp, trì trệ không khuyến khích người lao động, không gắn trách nhiệm người xã viên với sản phẩm của họ… cộng với một đội ngũ cán bộ không được thường xuyên đổi mới, chưa thực sự đủ phẩm chất và năng lực để đảm nhận những công việc quản lý rất phức tạp… đã dẫn đến những khủng hoảng tất yếu, kéo phong trào hợp tác xã chững lại và đi xuống. Những đơn vị gọi là tiên tiến như Thanh Bình cũng không thoát khỏi tình trạng đó. Về phục viên hay xin một công việc nào đó, ở một cơ quan nào đó, sống thảnh thơi nhàn tản một cuộc đời công chức? Vào hết tuần đầu của đợt nghỉ, tự nhiên Vy hỏi Thanh điều ấy. - Ý em thế nào? - Hay là xin làm việc ở cơ quan cho nó đỡ vất vả, phức tạp. Về nông thôn nhiều chuyện rắc rối lắm. Sức anh không làm nổi đâu. Vy mà cũng khuyên anh thế? Thanh ngạc nhiên vô cùng. Mười năm xa đã quá đủ rồi. Cứ tưởng Vy sẽ giữ rịt anh bên mình, không cho đi đâu nữa. Nhưng đêm ấy Vy đã nói hết với anh mọi chuyện và anh cũng thấy mình không thể làm được công việc gì có ích trong cái cơ cấu tổ chức ở Thanh Bình hiện giờ. Vy đấy, đã từng đi học lớp kỹ thuật. Đã có một thời sôi nổi nhiệt tình bao nhiêu. Đã từng là kiện tướng đội bèo dâu nổi tiếng toàn huyện. Cuối cùng vẫn là Vy bây giờ, một xã viên bình thường, tính tình già trước tuổi, mệt mỏi và chán nản tất cả. Thắm đấy, Thắm bước vào đời trong sáng, vô tư và sôi nổi biết bao. Thắm có trình độ văn hoá, nhưng người ta không cử cô đi học lớp kỹ thuật chỉ vì bố cô ra hợp tác xã. Là một bí thư chi đoàn, nhưng cô chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là đi đôn đốc tập hợp các bạn thanh niên mỗi lần xã có công việc đột xuất cần đội xung kích cho một chiến dịch thuỷ lợi, một đợt chống úng, chống hạn nào đó… Và tay Phiệt sửa chữa xe đạp ở chợ Ba Thôn. Thương binh chống Mỹ loại ba. Chỉ vì cái tính nói năng bốp chát, không được sử dụng mà sinh bất mãn, tiêu cực, mở hiệu sửa chữa xe đạp. Và bao thanh niên khác, tốt nghiệp phổ thông về nhà sản xuất, nhưng rồi không chịu được cái cảnh buồn tẻ nặng nề ở nông thôn, vội tìm mọi cách chuồn đi các cơ quan, công trường xí nghiệp… Tám năm, đảng bộ Thanh Bình không kết nạp đảng viên trẻ nào. Chẳng lẽ ý thức giác ngộ cách mạng, phẩm chất năng lực của lớp trẻ Thanh Bình yếu kém tới mức ấy ư? Hay vì lớp cán bộ già sợ cái mới, họ không chịu nổi tuổi trẻ đầy năng động và sáng tạo? Có về phục viên nữa không? Ngày ở chiến trường mình đã thề với bạn bè rằng đánh xong giặc mình sẽ về làm ruộng, không đi đâu hết. Chẳng lẽ mới thấy khó khăn phức tạp đã đầu hàng rồi ư? Lại thêm những đêm nữa, Thanh tự đấu tranh với mình. Nhưng rồi thực tế hàng ngày diễn ra trước mắt làm anh hoàn toàn thất vọng. Anh sẽ làm được gì với cái tính thẳng mực tàu của mình ở cái xã mà đồng chí bí thư đảng uỷ chỉ có thể tồn tại được khi nào ông vẫn còn giữ nét tính cách tròn trĩnh hiền lành đến mức nhiều khi phải tự phủ nhận mình? Gương tay Phiệt đó. Mà anh thì không có gan mua sắm một bộ đồ nghề như thế, dù nó chẳng đáng giá bao tiền. Vào ngày thứ mười của đợt nghỉ phép, Thanh đạp xe lên tỉnh. Và bây giờ, anh đang đứng trước cánh cổng lớn uỷ ban nhân dân tỉnh, nơi thứ mười mà anh đến gõ cửa xin việc. *** Toà nhà bốn tầng cửa sổ sơn xanh đứng bề thế giữa trung tâm thị xã. Đối với những người ít có việc ra tỉnh thì toà nhà đối với họ là một công trình kiến trúc đồ sộ và vĩ đại lắm. Nhưng đối với Thanh, một người đã đi suốt rừng Trường Sơn, đã từng ở hàng tháng trời trong dinh Độc Lập và các cao ốc của Sài Gòn thì ngôi nhà bốn tầng kia chẳng mảy may có một ấn tượng ghê gớm nào. Hai lần trước đây, anh đã cố tình quay xe không bước qua chiếc cổng sắt vì tính anh vốn tự trọng. Đi nhờ vả một đồng chí phó chủ tịch tỉnh? Chỉ nghĩ đến điều ấy đã thấy xấu hổ. Nhưng biết làm sao? - Tôi xin gặp đồng chí Phó Chủ tịch Đào Hữu Liên. - Thanh đưa giấy tờ cho người thường trực và đứng đợi, cố mường tượng ra con người mà anh cần gặp ấy như thế nào? To béo? Chậm chạp? Đôi mắt trầm tĩnh có hai cái bọng chảy xệ phía dưới? Thanh lắc đầu. Nếu vậy thì lại đến hỏng việc. Cái tính tự ái cố hữu của Thanh lại chực bùng lên. Hèn quá. Phải đi nhờ vả một người không quen biết chỉ vì ông ta là người cùng xã và có chức quyền? Người thường trực trả lại Thanh giấy tờ. Anh ta nhìn Thanh một lần nữa và cầm lấy ống nói: - Alô! Văn phòng đâu. Cô Bích đấy à? Cô bảo với anh Hoàng là có một đồng chí bộ đội… Người thường trực đang nói nửa chừng thì Thanh đã ngăn lại: - Xin lỗi… thôi không cần… Tôi… xin cám ơn đồng chí. Thanh hấp tấp nói và vội vã dắt xe đi ra cổng khiến người thường trực ngớ ra không hiểu có chuyện gì. Một chiếc com-măng-ca đỗ xịch trước cánh cổng sắt. Cửa xe mở ra và một thanh niên trắng trẻo chạc ba nhăm tuổi nhưng dáng người đã béo quá sớm bước xuống, quay đầu mỉm cười bắt tay mấy người ngồi trên xe. Chiếc xe rồ máy chuyển bánh. Người đàn ông vừa đi vừa ngoái lại giơ tay vẫy. Anh ta không để ý rằng Thanh cũng đang dắt xe đạp cắm cúi đi ra cổng. Họ đâm sầm vào nhau và cùng đứng chựng lại. Thanh nhận ra người đàn ông trước. - Tâm, cậu làm việc ở đây hả? Người thanh niên mở tròn mắt ngạc nhiên mà không thể nhận ra. - Thanh đây. Thanh 10A đây. Cậu không nhận ra à? - À… Nhớ chứ. - Tâm đưa bàn tay mềm oặt cho Thanh bắt, mặc dù đôi mày anh ta vẫn nhíu lại như vẫn đang lọc tìm trong trí nhớ của mình. - Cậu già và đen đi ghê quá. Vẫn ở quân đội hả? Vào chỗ mình chơi đã. Mình công tác ở trong uỷ ban. Thanh cố tìm cách từ chối, nhưng Tâm nhất định bắt anh phải cùng vào một quán nước. Mềm mỏng và khéo léo, đối với bạn bè bao giờ cũng xởi lởi vồn vã, nhưng chẳng hề thân với ai, cái đức tính ấy của Tâm ngày còn học ở trường phổ thông ai chẳng biết. Tâm khéo léo giới thiệu về mình với giọng đầy phô trương khoe mẽ. So với bạn bè cùng lớp, Tâm quả là một người may mắn. Rồi về công tác ở ban kế hoạch tỉnh. Năm ngoái mới được đề bạt phó trưởng ty lao động. - Tội quá nhỉ. Cậu đi xin việc bây giờ thật không may. Đang kỳ giảm biên chế. Mình là phó ty lao động nhưng mình cũng không thể bố trí việc cho cậu được. - Tâm tỏ ra thương hại khi Thanh trót kể về mình. - Thượng uý, lương chín mươi đồng. Nhưng không có nghề ngỗng gì thì khó đấy. Thời buổi bây giờ, người ta đang cần những người có bằng cấp nghề nghiệp. Chứ ông nghề gì? Nghề nghiệp đánh nhau, ha ha… - Tâm vỗ đánh đét vào đùi Thanh rồi bá vai anh mà cười đến chảy nước mắt. - Tính toán sai lầm rồi ông ơi. Cái lương của ông như thế, ai người ta dám nhận? Thanh trả tiền toan đứng dậy. Mặt anh đã nóng bừng bừng không chịu nổi cái giọng giễu cợt của bạn. - Nhưng mà mình khuyên ông một điều: Phải kiên trì mới được. Về nhà sản xuất thì buồn chết. Có chỗ này đang cần người, mình có thể giới thiệu cho ông được. Tạm thời phải làm chân tiếp phẩm thôi vậy. Chỗ ấy mà họ nhận thì cũng làm ăn được… Cậu không có quyền chế giễu mình như vậy. - Thanh trừng mắt nhìn Tâm như muốn nói. - Cuộc đời vẫn có những kẻ may mắn như cậu và những kẻ ngờ nghệch như mình. Nhưng nếu không có những kẻ ngờ nghệch thì làm sao cậu có thể ung dung mà chuồn vào toà nhà bốn tầng kia? - Thanh định nói thẳng vào mặt Tâm những lời ấy, nhưng rồi anh tự kìm lại. Dù sao bạn bè lâu ngày gặp lại, cậu ấy có thể chưa hiểu… Tâm vẫn vô tư đến thật thà: - Cậu có biết đường vào Trường Cao đẳng Nông nghiệp tỉnh không? Con gái ông Cơ, chủ nhiệm hợp tác xã cậu đang học ở đấy… Thanh chợt nhớ đến Hoà. Hôm xuống tàu, anh rủ Hoà cùng về, nhưng Hoà tỏ ra lúng túng nói rằng cô phải về trường để kịp đi thực tập. Hoà rất cảm động trước sự giúp đỡ tận tình của Thanh và đã ghi cho anh địa chỉ. Tâm lấy giấy bút toan vẽ đường, nhưng Thanh đã xoè tay ngăn lại. - Cảm ơn. Không cần… Tâm lại tròn xoe mắt nhìn Thanh. Đến lúc này anh mới nhận ra gương mặt bạn đã đỏ tía như người uống rượu. *** Ông Trạc cầm trên tay chiếc roi dâu, vừa đi vừa vung vẩy. Bên cạnh ông, con bò cái béo mượt lông vàng mượt đủng đỉnh bước, thỉnh thoảng nó lại liếc đôi mắt đen ánh đầy sợ sệt nhìn sang cái roi ở tay ông, cố sải chân bước nhanh hơn. Trời đã về chiều. Vầng mặt trời của một ngày đầu đông tuy nhờ nhạt yếu ớt vẫn đủ sức làm đám mây xám mầu chì giãn mỏng để rọi chiếu xuống mặt đất, những chùm sáng lung linh rẻ quạt, tạo nên cái ánh nắng vàng mơ bảng lảng khói sương kỳ ảo. Thỉnh thoảng cả con bò, cả ông Trạc lại lọt vào một vùng nắng. Ông Trạc bỗng thấy con bò của ông đẹp lạ lùng. Cả người nó như phủ một lớp nhung mịn ánh, vàng thắm suốt từ đầu xuống lưng, xuống mông, rồi nhạt dần xuống bụng, xuống khoeo, nổi bật bốn khoanh màu trắng dưới ống chân thon thả, trông như “cô nàng” diện những đôi tất thật đỏm dáng. Cái lúc ấy dẫu “cô nàng” có cố tình phá bĩnh bước uể oải hoặc rất muốn dừng lại ngắt một ngọn cỏ xanh bên đường, ông Trạc cũng không nỡ giơ roi lên. Ừ, nó đâu phải là một con vật đơn thuần mà chính là cục vàng của ông đó. Sáng nay, sau bữa cơm rượu thịnh soạn ở nhà Hai Yểng, nó đã thực sự là của ông. Cái điều mà đã hơn hai mươi năm trời, ông không hề nghĩ đến, nói đúng hơn là ông đã quên đi, tưởng như không hề có, thì bây giờ lại trở nên cụ thể vô cùng. Ông có một con bò. Nó đang bước đi bên ông. Đôi mông nục nạc. Cái bụng tròn căng nây nẩy hai hàng vú. Nếu đúng theo lời Hai Yểng nói thì ba tháng nữa nó sẽ đẻ cho ông một chú bê non. Rồi một năm nữa chú bê lại trở thành bê mẹ. Và mẹ của con bê mẹ ấy lại đẻ một bê con nữa… Chà. Cái giống bò mới tuyệt chứ. Mỗi năm một lứa. Chẳng cần phải cám bã rau bèo như cái anh lợn. Chỉ cần cỏ. Mà cỏ thì thiếu giống ngoài đồng. Ông với nó sớm chiều đi vòng các bờ mương hợp tác, như đi dạo. Chẳng một tiếng gió nào đến tai. Chẳng cần ăn quen của anh nào. Cứ đằng thằng ra, một năm ông sẽ có một con bò. Ba nghìn đồng là rẻ. Nếu có thêm sào ruộng và một cái cày nữa thì sao? Ồ, thế thì to chuyện. Ông với nó, hai mẫu ruộng, một năm làm dễ ợt. Phải biết là lắm thóc nhé. Nhưng đấy là của cái chuyện nằm mơ, hợp tác đời nào lại cấp cho ông ruộng? Muốn thành địa chủ à? Thôi, chẳng dại. Chỉ cần nó là đủ. Mình nuôi nó, nó nuôi mình… Những ý nghĩ vớ vẩn khiến ông Trạc quên bẵng đi cái cơn nghiện thuốc lào từ nãy vẫn làm ông nhạt mồm nhạt miệng. Ông bỗng mỉm cười nhớ cái tay Hai Yểng, người củ mỉ hiền lành mà chơi rất quân tử. Cũng là chuyện tình cờ. Một lần vào Miếu Thôn chơi, ông Trạc gặp Hai Yểng. Nghe Hai Yểng nói chuyện nuôi bò, ông mê quá. Ông lân la xem bò của hắn. Rồi ướm giá. Ba nghìn. Hắn hét ghê quá. “Tưởng ông nói hạ, tôi mách với tay đội trưởng đội tôi vào mua về vực thử. Chứ giá ấy cao quá. Với lại đồng tôi trũng, chỉ có anh trâu mới kham nổi”. Ông nói với Hai Yểng như thế và làm ra vẻ thích thì xem chơi, chứ cũng chẳng màng. Nhưng rồi Hai Yểng cứ xoắn lấy. Hạ liền mấy giá còn hai nghìn rưởi. Mua được. - Ông nghĩ. Nhưng tiền đâu? Về bàn riêng với vợ. Năm tạ lúa trót bán hồi đầu vụ còn được hơn nghìn bạc. Biết Luyến vẫn còn hơn nghìn gửi tiết kiệm, ông bảo Luyến cho giật tạm. Thế là ông quyết. Chiều hôm qua ông lẳng lặng giắt hai nghìn rưởi bạc vào Miếu Thôn. Cái tay Hai Yểng thế mà chơi quân tử. Có người giả hắn hai nghìn sáu, nhưng hắn giữ tiếng với ông, không bán. Sáng nay hắn sai vợ thịt một con gà mái ghẹ, chỉ có hai người mà hết một chai. Lúc giao tiền. Hai Yểng lại bớt cho ông hai chục bạc, gọi là gia vốn lấy may. Xử như thế thì được quá. Chỉ riêng hai bữa cơm cũng tốn quá năm chục. Bây giờ con bò đã là của ông Trạc. Ông sẽ chẳng còn dính líu gì đến hợp tác. Không cày cuốc mà lại hoá hay. Các anh cứ việc làm hợp tác, cứ việc sản xuất lớn hay gì gì đó. Mặc… Nhưng mà phải coi chừng. Trồng khoai tây, trồng đỗ tương mà đất vẫn còn ướt dề dề thế kia thì chỉ có mà ăn lá. Đã đến con đường rẽ về làng. Trời vẫn còn sớm quá. Mà cái màu lông con bò của ông nó lại cứ vàng lồ lộ thế kia. Không ổn. Ông không muốn để người ta biết ông dắt bò về làng. Cái làng Thanh Cao ông còn lạ gì. Họ lại không nhao lên mà bàn tán, ông chớ kể. - Họ… ọ… ọ… - Ông nói với con vật bằng một giọng thật dịu dàng, nhưng hình như nó không hiểu. Khác với những con trâu đã từng quen với cái thứ ngôn ngữ riêng biệt ấy từ cái thuở chúng vẫn còn là chú nghé con theo mẹ đi cày, con bò của ông chưa hề làm quen với công việc đồng áng, nên nó lại cứ tưởng ông đang mắng mỏ gì đó, vì thế càng cố sải chân bước. - Họ… ọ… ọ… - Ông vượt lên phía đầu, ngăn con vật lại. Sợ quá, con bò xoay ngang định chạy. - Cái đồ… dốt như bò… Dừng lại… Họ… - Ông thiết cái thừng thật căng khiến con bò đứng sững. - Họ… Ngoan nào… Nghỉ tí đã nào… Gặm cỏ đi. Để tối tao với mày sẽ về… Thái độ âu yếm của ông Trạc làm cho con bò bớt sợ sệt. Nó đứng lơ mơ nhìn quanh một lúc, rồi cúi xuống bờ để gặm cỏ. Thèm thuốc quá, ông Trạc lấy một cọng rạ sót dưới ruộng, vê đất dẻo thành một cái điếu rồi ngồi xuống vệ cỏ giở bọc thuốc ra hút. Vừa lúc ấy có tiếng phanh xe đạp làm ông giật mình quay lại. - Cậu. Sao cậu lại ngồi ở đây? - Thanh vẫn ngồi trên yên xe nhìn ông Trạc và nhận ra cái thừng bò trên tay ông. - Bò của ai mà cậu lại dắt thế? Ông Trạc bật cười: - À… Bò của cậu… Cái chuyện cậu nói với anh dạo nọ… Thanh như đã hiểu ra. Anh dựa xe vào gốc phi lao bên cạnh và ngồi xuống bên ông Trạc. - Cậu mua bò thật đấy à? - Chứ lại bỡn… Cậu đã nói là làm. Anh thử đoán con bò bao nhiêu tiền? Thanh cười lắc đầu: - Cháu chịu. Trông tướng con bò này không biết có cày được đồng mình không? - Ruộng đâu mà cày. Cậu nuôi chơi. Dưỡng già mà lại… Được dịp, ông bắt đầu khoe với Thanh con bò quý tử của mình, kể cho anh nghe những mánh lới trong nghề nuôi bò, cứ hệt như ông đã sống bằng cái nghề này lâu lắm. Anh đã về phục viên, cũng nên mua lấy một con bò mà nuôi. Mẹ anh sẽ phụ thêm vào lấy công làm lãi. Một năm thu ba nghìn bạc, gần tấn lúa. Làng mình đất hẹp người đông. Vườn tược không có, chỉ có cách này là thượng sách. Cậu đã nghĩ nát nước ra rồi. Làm ăn chính đáng mà có lãi thì chỉ có nuôi bò. Chứ đi buôn thì cậu cháu anh đều không có tài. Mà nghề phụ thì có cái gì? Cả đời cầm cuốc cầm cày, tay như dùi đục. Xếp cuốc cày là treo niêu. Đấy, cậu tính thế đấy. Anh bảo làm cách nào mà một năm kiếm được ba nghìn? Làm hợp tác thì cứ gọi là đến mùng thất… Nghe ông Trạc nói, Thanh nghĩ càng thấy buồn. Cho đến hôm nay thì anh chẳng còn thiết gì đến chuyện xin chuyển ngành nữa. Gặp Tâm lúc trưa, anh đã dứt khoát với mình. Về nhà sản xuất vậy thôi. Thanh lên xe về làng. Đạp một quãng, quay lại, vẫn thấy cái dáng ông Trạc với con bò lừng lững trên bờ đê, khảm vào chân trời phía tây vàng vọt và ảm đạm. Có một cái gì xót xa, nhức nhối trong lòng Thanh. Bức tranh buồn thảm kia, ngày ở chiến trường có bao giờ anh nghĩ tới? Có bao giờ anh nghĩ rằng ông cậu hiền lành và suốt đời yêu mảnh ruộng như chính bản thân mình kia lại có một buổi chiều nhản tàn như chiều nay, ngồi lặng lẽ ve vuốt con bò riêng của ông với ánh mắt dịu dàng, âu yếm đến thế. Đừng. Chớ vội bi quan mà phủ nhận tất cả. - Thanh tự an ủi mình. - Con đường mương rợp bóng phi lao này, cánh đồng vuông vức từng ô thửa như bàn cờ kia, những mái ngói san sát còn chưa kịp phủ lớp rêu mốc của làng anh kia nữa… Sẽ chẳng thể có như bây giờ, nếu không có một quan hệ sản xuất cụ thể. Hãy trở lại những năm chống Mỹ. Một xã Thanh Bình của anh đã đóng góp cho chiến trường hơn năm trăm người lính và tám năm liền mỗi năm đóng góp cho nhà nước hơn năm trăm tấn thóc. Hầu hết những trai làng khoẻ mạnh đẹp đẽ nhất đã phải buông tay cày tay cuốc, cầm lấy khẩu súng. Làng chỉ còn người già và phụ nữ. Có gia đình rặt mấy người đàn bà. Sau mùa gặt, muốn lớp cái bếp, dọi chái nhà cũng phải nhờ đến ông đội trưởng. Hợp tác xã không chỉ lo đời sống kinh tế mà thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy trong đời sống, sinh hoạt, trong những sự cố bất chợt, những khi tối lửa tắt đèn. Và còn thiên tai bão lụt? Cái quãng đê ông Trạc với con bò của ông đang đứng kia, đợt lũ năm 69, năm 72 tưởng đã không thể cứu nổi. Máy bay Mỹ quần đảo trên trời nhưng hàng nghìn xã viên vẫn đầm mình nước cứu đê, cứu lúa. Trận bão trái mùa vẫn còn để dấu vết trước mặt Thanh kia nữa. Một ông Trạc dù có phép lạ như Sơn Tinh cũng làm sao mà cứu nổi thửa ruộng của mình. Công bằng mà nói, dẫu sao đội ngũ cán bộ đảng viên Thanh Bình, những người lính xung kích trên mặt trận này, đã phần nào làm tròn nhiệm vụ lịch sử của họ. Chưa ai hiểu thấu và dự tính trước được con đường đi của sản xuất tập thể tiến lên chủ nghĩa xã hội. Không có một mô hình hợp tác xã có sẵn nào cho họ cả. Họ làm việc với vốn hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa xã hội, với kinh nghiệm sống và sự thông minh tháo vát trong khuôn khổ tâm lý nông dân. Thế thì làm sao họ lại không có quyền tự hào để nói với Thanh: “Chúng tôi có những sai lầm, kém cỏi, như các đồng chí cũng có lúc sai lầm trong một trận đánh, một chiến dịch. Nhưng chúng tôi đã chiến đấu hết sức mình trên cái mặt trận vô cùng khó khăn và phức tạp này. Chúng tôi đã làm được khá nhiều việc. Bây giờ hoà bình rồi. Các đồng chí đã trở về. Hợp tác của chúng ta hiện giờ như thế đấy. Nào, xin mời các đồng chí chung sức cùng chúng tôi…”. Thanh sẽ làm gì? Mua một con bò như ông Trạc ư? Đứng ngoài hợp tác để nhìn ngắm những cánh đồng? Tự mình phủ nhận những điều đã khao khát, ấp ủ suốt mười năm chiến đấu? Khác nào một người đi suốt chiều dài sa mạc để tìm đến một ốc đảo, nhiều cây xanh và nước ngọt. Anh ta vẫn còn dư sức, nhưng chỉ biết thoả thuê uống nước mà không biết chăm tưới cho những cây xanh kia. Chúng cũng đang héo khát và đang cần được tưới tắm để xanh thêm nữa. Cái gì sẽ xảy đến với ốc đảo khi những cây xanh kia chết đi? Muốn tất cả chỉ là cát trắng ư? XIII Một đợt gió mùa vừa rét vừa mưa dầm dề làm cho công việc trên đồng hầu như ngừng hẳn lại. Sau mấy ngày ra quân vụ đông đầy khí thế rầm rộ, xã viên bắt đầu thấy chán nản, những khu đất cao như cánh đồng Bà Chúa đã được trồng khoai tây kín, nhưng nó vẫn chỉ chiếm một diện tích ít ỏi chừng hai mươi phần trăm số diện tích hợp tác xã định gieo trông vụ đông này. Nguyên nhân vẫn là do đất. Đất ướt lại cộng thêm mưa dầm, dù sốt ruột mấy cũng không làm cách nào được. Buổi sáng, Cơ và Lập khoác áo mưa đi thăm đồng. Gió thổi vù vù trong hàng phi lao, mưa bay chéo mặt, mù trắng khắp đồng. Những luống khoai tây trồng đợt đầu đã đội lớp trấu trên mặt, nhú lên những mầm dài, gặp mưa xanh mơn mởn. - Giá trời đừng mưa có phải đồng mình đã phủ kín khoai tây rồi không? - Cơ lội xuống bới một cục đất to đang nằm đè lên một mầm khoai, rồi quay lại thở dài, nói với Lập. - Trời này không biết lúc nào ngớt. Ta phải xoay chuyển phương án mất, anh ạ. - Lập nói chậm rãi, đôi mày nhíu lại như dính liền nhau trên sống mũi. Hai ngày nay anh đang nghĩ đến một phương án mới nhưng chưa tiện trao đổi với Cơ. Tính Lập vốn thận trọng. Anh không muốn nói ra những điều mà bản thân anh chưa nghĩ chín. - Mình cũng đang nghĩ như cậu. Hay là ta lại triển khai cái anh đậu tương. Hai tấn giống mình lĩnh của huyện về để đó, không trồng mang tiếng chết. Hôm qua ông Loã đến trao đổi với mình để hai tấn đỗ tương cho tổ chăn nuôi làm đậu phụ. Làm hướng ấy thì lãi lớn đấy. Có bã cho lợn ăn mà bán đậu phụ cũng lãi vài nghìn… - Làm đậu phụ thì lãi quá rồi. Nhưng huyện mà biết thì không xong đâu. Tôi vẫn cứ lo cái vụ khai diện tích ứng lụt vừa rồi. Ông Loã với ông Biền làm liều quá. Nhận 50 tấn lương thực cứu đói, nghĩ mà buồn. Cơ im lặng. Lập đang nghĩ đến cái điều mà suốt tháng nay, mỗi lần nghĩ đến, anh lại thẫn thờ, bủn rủn. Lo âu phấp phỏng, nhưng mà anh cán bộ có lương tâm thì lại buồn lo dằn vặt. - Tôi biết cái thế của anh cũng khó. Một đằng nhà nước, một đằng xã viên. Làm lợi cho nhà nước tức là anh thêm một tội nữa để người ta gạt anh ra khỏi đảng uỷ đợt tới. Dựa cớ vào đói kém, họ sẽ kích động xã viên lên án anh chỉ chạy theo thành tích, cô lập anh với quần chúng. Nhưng nếu anh làm lợi cho xã viên, tức là anh đã chịu sự chi phối của họ. Huyện có biết, anh bị kỷ luật trước. Cả hai trường hợp, anh đều trúng kế của ông Loã, ông Thiển… Cơ thầm biết ơn người cộng sự đắc lực và tin cậy đã hiểu khá tường tận những rối rắm, uẩn khúc trong nội bộ Thanh Bình và tỏ ra rất thông cảm với anh. Có được một người bạn chân tình như Lập thật quý, chỉ tiếc rằng Lập không có khả năng và điều kiện để giúp anh được. Cơ nhớ lại buổi họp thường vụ đảng uỷ gần đây nhất. Khi Cơ và ông Điền một lần nữa đưa ra ý kiến đề nghị của chi bộ Thanh Minh để thường vụ xét kết nạp Lập, thì lập tức Thiển đã gạt đi: “Cứ để anh Lập phấn đấu thêm một thời gian nữa. Có dư luận quần chúng cho rằng gần đây anh Lập tung ra những tin không hay về một số cán bộ đảng viên, nhằm làm giảm uy tín của quần chúng đối với Đảng. Chúng tôi đang cho xác minh lại…”. Ban đầu Cơ ngạc nhiên. Nhưng sau rồi anh cũng hiểu ra. Đúng. Lập có phản đối chuyện để Thảng thay Luyến giữ chức thủ kho. Lập không tin quan hệ giữa kế toán trưởng Biền và thủ kho Thảng là trong sáng, vô tư. Lập đề nghị cứ để Luyến tiếp tục công việc của chị. Sự thẳng thắn chân tình ấy chỉ càng làm cho Lập bị thành kiến, bị cánh Thiển, Loã gây khó dễ… Cơ quay lại câu chuyện dang dở: - Bây giờ họ lại đang định lặp lại phương án dùng đỗ giống để làm đậu phụ. May mà hôm qua, mình gạt đi ngay. - Thế anh định trả lại giống cho huyện? Cơ lại im lặng. Chính mình đã nhận kế hoạch với huyện. Vân Xuyên, Tú Nguyệt chỉ dám nhận hai tạ, nhưng mình đăng ký lên hai tấn. Anh Trần Sinh hứa cho thêm mười tấn đạm. Trả lại sao tiện? Lập tỏ ra kiên quyết: - Anh cứ để giống đó. Tôi sẽ lên báo cáo tình hình khó khăn của hợp tác xã mình với huyện. Do mưa. Mình chưa chuẩn bị kịp đất. Xin huyện phân phối lại số giống cho các hợp tác xã khác. Mình chỉ nên tập trung thí nghiệm năm mẫu đã gieo… Hai người rẽ về phía cánh đậu tương gieo thí nghiệm. Khu đồng vắng tanh teo. Phía bờ mương trước mặt, một con bò vàng đang mải miết gặm cỏ. Cạnh đó, người chủ nó quàng áo mưa xám, đội nón trùm hụp ngang mặt đứng trầm tư như một hình nộm bù nhìn vẫn thường gặp trên những cánh đồng ngô mới gieo. - Ông Trạc mới mua bò, anh biết chưa? - Lập chỉ tay về phía người chăn bò, nói với Cơ. - Cứ thế kia mà lại nhàn. Nhiều nơi họ đang phát triển nuôi bò kiểu này. Mỗi năm một lứa bò cũng kiếm vài nghìn bạc… Cơ buồn bã lắc đầu: - Mình đã cố thuyết phục mà ông ấy không chịu. Nhưng không thể trả ruộng cho ông ấy được. Cũng đành để vậy chứ biết làm thế nào. - Để vậy ư? - Lập nói chậm rãi như nói với chính mình. - Phải thay đổi một cung cách làm ăn như thế nào để những người như ông Trạc thấy gắn bó với đồng ruộng, với hợp tác xã hơn nữa. Tôi nghĩ việc làm của ông Trạc phản ánh tâm trạng của nhiều xã viên ta hiện giờ. Họ bắt đầu nghi ngờ, bắt đầu chán nản, không thiết tha với công việc hợp tác như trước nữa. Không phải lỗi tại họ. Cái chính là do cách làm ăn của mình không khuyến khích, động viên họ một cách tích cực. Vụ mùa vừa rồi riêng đội tôi có tới mười sáu người bỏ đi buôn sắn, chạy chợ. Tâm lý của nông dân là thế. Họ luôn luôn nghĩ đến một lợi ích vật chất rất cụ thể. Ai làm cho cái niêu cơm của họ đầy, người ấy sẽ tạo được uy tín, được lòng tin. Đừng đánh giá họ chỉ biết vật chất đơn thuần. Có ai còn nghi ngờ về sự đóng góp lớn lao của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ? Bây giờ dẫu sao cũng đang trong thời kỳ hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những biện pháp áp dụng trong thời chiến là tích cực thì bây giờ đã lỗi thời, thậm chí có tác dụng tiêu cực trở lại. Ví dụ chuyện phân phối ăn chia theo nhân khẩu thời kỳ chống Mỹ, bây giờ phải chuyển sang phân phối theo lao động đã bắt đầu bộc lộ những nhược điểm lớn. Chúng ta đặt ra hàng trăm định mức để đánh giá ngày công, thoạt xem thì có vẻ khoa học. Nhưng công việc nhà nông nó không đơn giản, có quy trình công nghệ rạch ròi như công nghiệp. Một cái bu-lông làm sai ren, không đủ tiêu chuẩn, bộ phận nghiệm thu họ phát hiện thấy ngay. Nhưng những công việc đắp bờ, tát nước, cày bừa… thì không thể có một dụng cụ đo lường nào nghiệm thu chính xác được. Đội trưởng đội Một nghiệm thu theo cách này, nhưng đội Hai lại nghiệm thu theo cách khác. Đã có nhiều trường hợp đội trưởng, thư ký hẩu với anh xã viên nào, hoặc quan hệ họ hàng thân cận thì phóng điểm lên. Tuỳ thuộc vào quan hệ thân sơ hoặc hiềm khích ganh tị mà ban chỉ huy đội có thể tăng công hay giảm điểm. Ban quản trị chúng ta không thể quản được khâu đó. Đó chính là một nguyên nhân dẫn tới sự không công bằng. Tâm lý người nông dân kỳ lạ lắm. Một ông khách quen đến chơi, họ bắt gà mua rượu làm cơm ngay. Nhưng nếu ông hợp tác chia thiếu cho họ một cân thóc hoặc nắm rơm thôi là có chuyện… - Thế cho nên cần phải giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ tập thể… Lập mỉm cười lắc đầu vì câu nói rất “bài bản” của Cơ. - Anh làm như vậy thì có muôn đời cũng không vào. Vấn đề là phải làm cho họ nhìn thấy cái bồ thóc của họ ngày càng đầy. - Quay nhìn thẳng vào Cơ, đôi mắt Lập thẳng thắn và đầy quả quyết. - Tôi đã nghĩ kỹ rồi, nếu cứ làm theo cách chúng ta đã làm thì từ nay đến hết thời điểm nông lịch, chúng ta không thể hoàn thành được bảy trăm mẫu cây vụ đông, trong đó có ba trăm mẫu khoai tây. Đất ướt chỉ là một nguyên nhân, nhưng không cơ bản. Nếu anh dám quyết chia ruộng cho xã viên, khoán giống, khoán phân, khoán sản lượng cho họ, tôi dám chắc chỉ trong mười ngày, chúng ta sẽ làm xong toàn bộ diện tích. Ý kiến của Lập táo bạo quá, khiến Cơ cảm thấy sửng sốt. - Làm như vậy là sai chính sách… - Anh có thể cho tôi có tư tưởng muốn quay về lối làm ăn cá thể, tôi vẫn nói. - Lập khoát tay, giọng sôi nổi. - Anh hãy nhìn ông Trạc kia. Vì sao cả cánh đồng vắng tanh mà mình ông Trạc vẫn khoác áo mưa dắt bò đi chăn? Đơn giản quá. Bỏ tiền ra mua bò, không thể buộc nó cả ngày trong chuồng được. Cánh đồng này cũng vậy. Nếu khoán cho từng gia đình, giao định mức cho họ, còn bao nhiêu họ hưởng, thì tự khắc họ sẽ tranh nhau làm. Chúng ta cần nhiều thóc, nhiều khoai, nhưng chúng ta lại tự ý bó lấy mình, không dám mạnh dạn thay đổi một cách nghĩ cách làm… - Mạnh dạn kiểu của cậu, tức là đưa nông dân quay lại con đường tư bản chủ nghĩa. Không được đâu. Huyện họ biết thì rắc rối, lôi thôi ngay. Cậu có biết phong trào ba khoán của Vĩnh Phú hồi nào không? Bí thư tỉnh uỷ bị cách chức chỉ vì làm trái đường lối hợp tác xã… Như bị giội một gáo nước lạnh, những dự định mà Lập vẫn nung nấu trong đầu, bỗng nhiên xẹp hẳn xuống. Lập thấy thất vọng về Cơ. Nhất nhất cái gì anh cũng lo sợ, dè dặt thế thì tôi không thể giúp gì cho anh được đâu, anh Cơ ạ. Giá còn anh Tin ở nhà, anh ấy nhất định sẽ làm theo cách này. Anh ấy là một người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm. Còn anh? Thì ra anh cũng chỉ là một người luôn luôn chỉ biết cách làm theo những bài bản có sẵn. Thấy thái độ của Lập đột ngột thay đổi, Cơ bỗng áy náy. Anh nói một lời an ủi: - Ý kiến của cậu có những điểm đáng suy nghĩ. Để mình bàn trong ban quản trị xem sao. *** “Giang Thuỷ ngày… Gửi đồng chí Cơ, hợp tác xã Thanh Bình. Tôi nghe nói Thanh Bình có ý chần chừ không muốn gieo trồng đậu tương trên nền đất ướt. Nếu quả như vậy thì tôi rất buồn. Vấn đề trồng đậu tương trên nền đất ướt là một vấn đề rất mới mẻ, nhưng đã được thực tế và khoa học chứng minh rằng đó là một tiến bộ mới trong việc mạnh dạn thay đổi cách làm ăn và cơ cấu cây trồng vụ đông. Không còn phải nghi ngờ gì nữa, đó là một biện pháp tiên tiến để chúng ta xoá bỏ thế độc canh, biến những vùng đất trũng chỉ quen trồng hai vụ lúa thành nơi trồng ba vụ, đồng thời đưa loại cây họ đậu vào cơ cấu loại cây cải tạo đất cho vùng đất thịt nặng của huyện. Mấy năm trước, việc trồng khoai tây trên nền đất ướt bị nhiều người hoài nghi, phản đối. Nhưng thực tế đã chứng minh thế nào? Chính Thanh Bình là hợp tác xã đi đầu huyện ta về mặt này. Trong tình hình giống rất thiếu và quý, huyện đã mạnh dạn phân phối cho Thanh Bình một số lượng lớn giống đậu tương. Như vậy chứng tỏ sự quan tâm đầu tư của huyện cho Thanh Bình là rất lớn. Thanh Bình có thể đi đầu trong mũi nhọn khoa học kỹ thuật này được không? Có thể mở ra cho toàn huyện một khả năng phong phú về một loại cây vụ đông rất kinh tế và có giá trị nhiều mặt được không? Huyện uỷ và uỷ ban nhân dân huyện đang rất mong chờ các đồng chí giải đáp. Báo để đồng chí biết. Đại hội huyện đảng bộ lần thứ 12 sẽ chính thức khai mạc vào ngày 25 tháng Giêng. Huyện uỷ sẽ công văn cho các đảng bộ. Chúc Thanh Bình một vụ đông thắng lợi. Bí thư huyện uỷ TRẦN SINH” Cơ đọc lá thư đến lần thứ ba. Ý của anh Trần Sinh rõ quá rồi. Thư riêng, nhưng thực chất là một chỉ thị. Lẽ nào mình lại phụ lòng tin cậy của anh ấy? Cơ chống tay lên bàn, đỡ lấy vầng trán đang cồn lên những nếp nhăn. Giống như người mới tập bơi đang đứng trước con sông rộng. Dùng dằng mãi ở bên này tức là mãi mãi mình sẽ không sang được bên kia bờ, nơi mà anh vẫn khao khát mơ tưởng, vẫn suy nghĩ về nó như là một vùng đất lạ đầy sức quyến rũ. - Hoà, bác Sinh có nhắn gì bố nữa không? - Cơ hỏi con gái lúc cô đang từ dưới bếp đi lên. - Không ạ. Bác ấy chỉ hỏi con về tình hình trồng đậu tương ở hợp tác xã mình. Con nói, cháu có nghe bố cháu nhắc đến, nhưng hình như ban quản trị có nhiều ý kiến phản hồi. Hoà trả lời bố, rồi đi vào buồng thay áo. Cô đang có ý định sang rủ Thắm đến nhà Thanh chơi. Mặc chiếc áo mới, Hoà lại nhớ cái hôm cô cùng Thanh xuống ga Hàng Cỏ. Thanh mở chiếc ba lô cóc, lấy ra hai mét vải lụa đen, hai mét ka-tê hoa rất đẹp, đưa cho Hoà: - Hoà vào trong hiệu may bộ quần áo mặc tạm. Sắp đi thực tập, cũng phải có bộ quần áo để thay đổi. Đừng ngại, anh coi Hoà như em gái… - Đừng. Anh đừng làm thế. Để mang về làm quà cho chị Vy chứ. Ở trường em vẫn còn quần áo. Với lại rồi mẹ em sẽ cho tiền… - Hoà giãy nảy, không chịu nhận. - Mẹ anh và Vy cũng có quà đây rồi. Hoà cứ cầm lấy. Cứ coi đây là món quà của anh mười năm xa nhà… Nhìn gương mặt bỗng buồn rượi của Thanh, Hoà thấy không nỡ. - Thôi, thế này nhé. Em xin anh vải may một chiếc áo. Còn mét lụa đen này dành để may quần cho chị Vy. Nhưng mà em bảo. Anh đừng nói gì với thầy u em là em vào Đà Nẵng nhé. Cứ coi như em với anh không gặp nhau gì hết. Biết em mất quần áo, thầy em nhất định không tha đâu. Hoà chia tay Thanh để về trường. Chiếc áo hoa vải ka-tê ấy là chiếc áo đẹp nhất của Hoà bây giờ. Hôm kia, về huyện thực tập, anh chàng Sơn kỹ sư nông nghiệp cứ nhìn Hoà đến… lác mắt. Đã ra đến cửa, vẫn thấy bố ngồi trước lá thư với cái dáng đăm chiêu, mệt mỏi, Hoà đi lại gần bàn, ngập ngừng hỏi: - Thầy ạ, hình như hợp tác mình định trồng cả hai tấn đậu tương trên nền đất ướt, hả thầy? Cơ ngước mắt nhìn con gái. Cho đến lúc này anh mới chợt nhớ ra con gái mình đang học Cao đẳng Nông nghiệp sắp ra trường. - Con thấy thế nào? - Đừng, thầy ơi. - Hoà nói ngay, không cần nghĩ ngợi. - Đó là một việc làm mạo hiểm, chưa có cơ sở khoa học. Bọn con nghiên cứu sinh thái và đời sống cây đậu tương rất kỹ. Đậu tương là một loại có giá trị dinh dưỡng cao và rất kinh tế. Lâu nay nhân dân ta mới quen trồng trên đất đồi bãi có lượng mùn và phù sa nhiều. Thật ra nó có thể sinh trưởng rất tốt ở vùng đồng bằng. Chủ trương đưa cây đậu tương thành cây chủ đạo trong vụ đông là rất đúng. Nhưng không phải đất nào, thời tiết nào cũng trồng được. Trồng trên nền đất ướt là không có cơ sở khoa học. Vì đất nén chặt, bó lấy rễ, khiến cây đậu tương không phát triển được. Đất mình như thế kia, không trồng nổi đậu tương vụ này đâu, thầy ạ. Hoà dừng lại đột ngột vì thấy Cơ mệt mỏi lắc đầu. Cô bỗng thấy lúng túng vì cảm thấy những điều mình nói có gì như sách vở quá. Và Hoà đứng dậy. - Thầy ơi, con đi sang nhà chị Vy chơi một lúc. Từ hôm anh Thanh về, thầy đã gặp anh ấy chưa? Cơ giật thót người, gai lạnh khắp sống lưng. Cũng may lúc ấy Hoà đã đi rồi, nên không nhận ra những nét thay đổi trên mặt Cơ. Anh đã gặp Thanh một lần trên văn phòng đảng uỷ, hôm Thanh lên nộp giấy tờ sinh hoạt. Hình như cả hai người đều có ý né tránh nhau. Thanh đỏ nhừ mặt vờ không nhìn thấy Cơ và quay sang nói chuyện với ông Điền. Nhưng cái ánh mắt sắc lạnh của Thanh lướt qua người Cơ lúc ấy cũng đủ làm Cơ cảm thấy bủn rủn. Thanh đã biết mọi chuyện. Ánh mắt anh đã nói với Cơ điều đó. Nhưng sao Vy lại đột ngột trở nên tươi tắn và hạnh phúc thế? Vy như rũ bỏ cái lốt vẫn mang trên mình trở lại cô Vy của mấy năm về trước. Đôi má đã dậy hồng. Đôi mắt Vy bây giờ không còn u buồn và sợ sệt như những lần gặp Cơ trước đây. Hình như Vy không sợ phải lẩn trốn Cơ nữa? Hình như Vy nhìn Cơ có phần thách thức và chế giễu nữa? Khó hiểu quá. Chẳng lẽ Vy đã nói hết với Thanh rồi? Không thể có chuyện ấy. Một con người như Thanh đã chịu quá nhiều mất mát đau khổ… Không, Cơ không tin. *** Sang nhà Thắm, chỉ cần đi rẽ con đường dọc làng, nhưng Hoà lại vòng sang mãi Thanh Giang. Cái ý nghĩ phải tạt qua nhà Quân bất chợt đến với Hoà không thể nào cưỡng nổi. Tình yêu, chính trong những lúc sóng gió, mới giúp cho người ta nhận ra cái ý nghĩa thiêng liêng của nó. Dường như nó là cái điểm chốt để thử thách những cặp tình nhân, buộc họ phải bộc lộ hết mình. Giống như ngọn lửa nóng nghìn độ, nung chảy những tạp chất để vàng ròng lộ ra chói rực, tinh nguyên. Những người yêu hời hợt, không thể có cái chất vàng ròng ấy. Suốt từ hôm lạc Quân ở ga Đà Nẵng, Hoà sống trong một tâm trạng đau khổ và dằn vặt. Hoà đã tự oán trách mình bao nhiêu lần vì cái tội bạc tình, lỡ bỏ anh dọc đường giữa lúc anh gặp hoạn nạn. Bạn bè có đứa bảo Hoà yêu Quân chỉ là do cảm tính. Hoà cũng nhận thấy điều đó. Thích thì yêu. Vả lại anh ấy người cùng làng. Cái quan niệm “trâu ta ăn cỏ đồng ta” đối với các cô gái vốn xuất thân từ nông thôn như Hoà vốn bền vững lắm. Hoà chưa bao giờ mường tượng sau này hai đứa sẽ sống như thế nào. Có hợp tính nết nhau hay không. Chỉ biết rằng Hoà yêu Quân với tất cả sự say mê bỏng cháy của mối tình đầu. Mình chỉ tạt qua năm phút để hỏi thăm về tin tức anh ấy thôi. Có người nói đã gặp anh ấy ở Sài Gòn, không biết có đúng không? - Hoà nghĩ và đưa tay gõ cánh cổng gỗ nặng trịch. Biền đang hí húi cùng vợ con đun nấu gì dưới bếp. Mùi rượu thơm sực, xen mùi cám bã ủ chua nồng xộc vào mũi cay xè khiến Hoà bật ho nhẹ. Ban đầu Biền tỏ ra lúng túng, nhưng chỉ một phút sau, khi biết người đến thăm là con gái ông Cơ, người yêu của con trai mình, thì anh lại hoàn toàn lấy lại thế chủ động và tư thế đĩnh đạc cần thiết của ông bố chồng tương lai. - Cháu đến chơi đấy à? Có chuyện gì thế? - Dạ… Cháu đến hỏi thăm anh Quân… Lâu nay không biết… Biền bật cười lớn. Đôi mắt nhỏ tít lại như hai sợi chỉ. - À, tưởng nó vẫn đến chỗ cháu… - Dạ, từ hôm anh ấy đi Sài Gòn, cháu… Biền chột dạ, thoáng nghĩ đến lá thư của trường Quân và nhà máy sửa chữa ô tô báo về cho biết Quân đã can tội ăn cắp vật tư nhà nước bán cho con phe và hiện đã trốn khỏi trường. Nhà trường đề nghị gia đình tìm Quân về giúp và mời gia đình lên trao đổi hình thức xử lý… Nhưng ý nghĩ ấy chỉ làm Biền ngẩn ra một giây, rồi anh lại cười xoà, chối nguây nguẩy: - Đâu? Làm gì có chuyện ấy. Đang thực tập, trường ai người ta cho đi Sài Gòn? Nó mới chuyển lên nhà máy ô tô Vĩnh Phú cháu ạ… Hôm kia vừa viết thư về cho bác. Còn cháu? Sao bảo đang về thực tập ở huyện? Xuống hợp tác xã nào đấy? Xin về đây mà tham mưu giúp bố về cái khoản đậu tương, cháu ạ. Gieo đậu tương như gieo mạ thì quả tình chúng tao chưa thấy bao giờ đâu đấy. Biền lại bật cười khà khà. Tiếng cười ấy cho đến lúc ra khỏi cánh cổng gỗ nặng trịch rồi, Hoà vẫn như thấy nhói ở bên tai. Bác ấy chế giễu, nhưng sao gặp bố mình bác ấy lại tỏ ra ủng hộ việc trồng đậu tương đến thế. Hoà thấy ông Biền là một người khó hiểu. Tại sao bác ấy lúng túng khi nghe mình nhắc đến chuyện Quân đi Sài Gòn? Đúng là có chuyện gì rồi? Cả Quân nữa? Anh ấy đối với mình nhiều lúc khó hiểu quá. Hai bố con, trông bề ngoài thì khác nhau mà tính nết lại giống nhau lạ lùng. Hoà buồn rũ. Nếu không gặp Thắm thì cô không biết cái tối thứ bảy này mình nên đi đâu, làm gì. - Đi sang nhà chị Vy chơi với tao đi. - Hoà rủ bạn. Thắm thừ người ra một lúc, có vẻ lưỡng lự, rồi ghé tai Hoà nói nhỏ: - Nhưng mà đằng ấy phải sang rủ anh Đạt cùng đi với người ta cơ. Hoà đẩy Thắm ra, tròn xoe mắt: - Đạt lại mới về hả? Sao bảo hai ông già cùng cương quyết cắt? Thắm hốt hoảng nhìn lên nhà trên, nơi ông Trạc đang ngồi vót nan dưới ngọn đèn dầu. - Nói sẽ chứ. Bố tao vẫn cấm không cho gặp. Nhưng chúng tao vẫn… Anh Đạt đã lung lay được ông cụ rồi… Để mặc bạn đứng ngẩn ra với cái tâm trạng vô cùng thèm muốn, ganh tị về mối tình đầy trắc trở nhưng rất quyết liệt của mình, Thắm chạy ù vào buồng thay áo, nói thật to với ông Trạc: - Thầy ơi, con với Hoà sang chơi bên anh Thanh một lúc. Và Thắm lại chạy ào ra, kéo tay bạn. Hai cô gái đi suốt lối ngõ râm bụt mờ tối. Họ líu ríu cười nói và thả dọc lối đi mùi bồ kết thoảng thơm của tóc con gái. - Tết này cưới đi. Tao sẽ nhận mua thuốc lá cho. - Anh Đạt cũng cứ giục tao thế. Nhưng eo ơi. Cưới. Nghĩ cứ buồn cười thế nào ấy… - Buồn cười à? Thích thì có. Đúng là thích rồi, cô ơi… Tiếng đấm lưng nhau thùm thụp. Tiếng chân đuổi nhau. Một chuỗi cười giòn khanh khách. - Ừ, thích đấy. Thì đã sao nào. *** Thanh tiếp ba người với một tâm trạng hết sức thoải mái và thích thú. Dường như họ đã mang đến cho anh một điều gì đó rất tươi trẻ, sôi động mà bấy lâu anh thiếu vắng, trông đợi. Anh phát hiện ra rằng, ở anh, cái tuổi mười tám, hai mươi không hẳn đã đi qua vĩnh viễn. Nấp dưới cái vẻ bề ngoài từng trải và dầu dãi vẫn là một trái tim sôi nổi, dễ cảm nhận và hoà đồng với lớp trẻ. Vì thế câu chuyện giữa anh và Đạt, Thắm, Hoà không hề có sự ngăn cách về tuổi tác. Thanh đã kể cho những người bạn trẻ của mình về những năm tháng ở chiến trường, những kỷ niệm không thể nào quên của người lính. Câu chuyện đã gây cho Đạt những xúc động mạnh, khiến anh cứ tròn mắt nhìn Thanh không chớp, đến nỗi khi liếc nhìn bắt gặp cái gương mặt thuồn thuỗn đến ngây ra ấy, cô bỗng phá lên cười. - Thế mà có người lại phải sắm kính râm mới chết chứ. Nghe kể chuyện thì thích đến ngây người, mà vẫn cứ trốn về… Ánh mắt nồng nàn của Thắm chạm vào má Đạt nóng rực. Anh lúng túng ngượng ngùng để bật ra câu nói làm cả nhà cười ồ: - Anh Thanh đi bộ đội được đánh nhau chứ đằng này suốt ngày như ngồi tù trong doanh trại. Trốn về là tại Thắm cả đấy. Hoà cười ngặt nghẽo đến chảy nước mắt, ôm lấy vai Thắm. - Thấy chưa? Tại cô tất cả. Bây giờ chỉ còn cách là xây dựng một doanh trại bộ đội ở đầu đường “thanh niên” ngoài kia… Thanh nhìn Đạt, rồi lại nhìn Thắm. Anh bỗng nhớ lại tình yêu với Vy ngày nào. Ngày ấy anh và Vy cũng tươi trẻ và trong sáng như thế kia. Có điều Vy kín đáo và dút dát hơn Thắm bây giờ. Chắc chắn cái tuổi của Thắm và Đạt sẽ không phải trải qua chiến tranh nữa. Các bạn quả là những người hạnh phúc… - Thế hai cô chú đã quyết tâm với nhau chưa? - Thanh hỏi. - Anh nghe nói cả ông Trạc và ông Điền đều không đồng ý. Nguyên do là vì ông Trạc xin ra hợp tác xã. Cô Thắm là bí thư chi đoàn mà lại không thuyết phục nổi ông cụ à? - Thuyết phục ấy à? Em không bị thầy em thuyết phục là đã giỏi lắm rồi. - Thắm nói một cách bạo dạn. - Đấy, khối người trong chi bộ cũng cứ phê bình em hệt như anh ấy. Đến huyện còn không thuyết phục được nữa là em. Thời đại bây giờ khác rồi. Không thể giải thích thuyết phục bằng lý thuyết suông được đâu. Thầy em ấy mà? Lý luận vững ra phết đấy nhé. Anh mà nói chuyện với ông cụ là cũng dễ bị thua như bỡn. Chà, lý luận cứng lắm. - Thanh tự nhủ. - Đúng là thanh niên bây giờ họ khác. Nếu chỉ quen nghĩ theo cách cũ thì không hiểu họ được. - Nhưng cô chú cũng phải thuyết phục các cụ để bảo vệ tình yêu của mình chứ? - Cũng chẳng thuyết phục bằng lý luận được đâu, anh ơi. Phải bằng hành động thôi. Chúng em yêu nhau chính đáng. Em nói với thầy là nếu thầy không đồng ý con sẽ không lấy ai cả. Có vẻ như là thầy em đã bắt đầu hoang mang rồi đấy. - Chiều hôm kia, ông cụ sang nhà em chơi. - Đạt nói chen. - Bố em bảo suốt cả buổi chiều ông cụ chỉ ngồi hút thuốc lào vặt. Ông cụ muốn nói một câu chuyện gì đó… - Chuyện gì nào? - Thắm nguýt yêu Đạt. - Thế hoá ra cọc đi tìm trâu à? - Mình nói dối mình chết. Thì trâu với cọc đằng nào chẳng buộc vào nhau… Lại một chuỗi cười giòn tan. Từ lúc nào Vy đã ngồi bên Thắm. Chị vừa nhìn Thanh một cách âu yếm vừa lấy tay chấm mắt vì không thể nhịn được cười. Thanh chìa bàn tay ra cho Đạt: - Thôi được. Anh sẽ nhận là đại sứ để điều đình giúp cô chú. Chỉ cần xong, các cậu phải lo một món quà cho ông mối. Thắm nhanh nhảu chìa tay nắm lấy tay Thanh, nhưng lại liếc Đạt trêu chọc. - Xong ngay. Chúng em sẽ kỷ niệm ông anh một đôi kính râm… Đạt đưa tay lên xoa vai, lắc đầu chịu thua cô bạn gái của mình. Thắm lại quay sang Hoà: - Bây giờ đến lượt Hoà. Anh Thanh phải bắt nó khai hết. Hoà hoảng hốt, quay nhìn bạn như thầm nói: “Thôi, tao van mày. Đừng nhắc đến chuyện ấy, chán lắm”. Và Hoà buồn thực sự. Gương mặt cô bỗng ỉu xìu như tấm bánh đa gặp nước. Cái tình yêu của Thắm và Đạt thật nồng cháy và trong sáng bao nhiêu. Hoà thoáng nghĩ đến Quân và cảm thấy mối tình của mình sao chông chênh mỏng manh như một ngôi nhà xây trên cát. - Thôi. Chuyện Hoà để khi khác. Anh chỉ muốn nói với Hoà về công tác sắp tới. Sắp ra trường, Hoà có nghĩ đến chuyện về công tác ở hợp tác mình không? - Em cũng đang suy nghĩ. - Hoà nói nhỏ sau một lúc im lặng. - Về hợp tác, được gần nhà cũng có cái hay. Nhưng mà không khí ở quê mình buồn tủi lắm, anh ạ. Chẳng có phương tiện văn hoá vui chơi gì cho thanh niên cả. Tất cả mọi việc đều chỉ dồn cho sản xuất. Em lại phải sống như một bà già mất. Với lại rồi cái kiến thức của em liệu hợp tác xã có sử dụng không? Anh cứ nhìn chị Vy đấy… Vy bỗng giật thót người. Câu nói vô tình của Hoà đã chạm vào cái vết thương nhức nhối nhất của Vy. Vy hốt hoảng nhìn Thanh, đôi mắt đầy lo âu, hồi hộp. Thanh như đoán được tâm trạng của vợ. Chính anh cũng vừa qua một cơn sốc. Vết thương lòng chợt nhói lên khi Hoà vừa nhắc đến chuyện ấy. Nhưng anh đã trấn tĩnh được mình. Anh nói với Hoà, nhưng cũng là để an ủi mình: - Rồi quê mình cũng phải khác đi, Hoà ạ. Chính lớp trẻ các em mới là những người có đủ tri thức và năng lực để xây dựng nông thôn mới. Vy giấu gương mặt mình sau tấm lưng Thắm và lặng lẽ ngắm nhìn chồng. Có bao điều ở anh mà Vy chưa hề biết tới: Câu chuyện về những ngày gian khổ ở chiến trường biên giới Tây Nam mà anh vừa kể; những tình cảm rất tự nhiên và độ lượng của anh đối với Hoà… Đôi mắt Vy chợt mờ đi. Và Thanh, anh không thể biết rằng sau cái vầng tối bị che khuất bởi ngọn đèn, đôi mắt mở to, nhoà lệ của người vợ đang nhìn anh với tất cả tình yêu nồng nàn và sự biết ơn, tin cậy. *** Cuộc họp ban quản trị bất thường để bàn về biện pháp khẩn trương dứt điểm công việc gieo trồng vụ đông được tổ chức tại hội trường lớn hợp tác xã Thanh Bình. Ông Điền và Thiển, Tấn thay mặt cho đảng uỷ và chính quyền cũng được mời dự. Cơ thay mặt ban quản trị báo cáo lại toàn bộ công việc gieo trồng đã được tiến hành từ đầu vụ. Tính cho đến hôm nay, mười lăm đội sản xuất mới trồng được một trăm mẫu khoai tây, bốn mươi mẫu khoai lang và năm mẫu đậu tương, một số bắp cải, su hào. Tiến độ sản xuất một tuần nay đã bị chậm lại tới mức hầu như không tiến triển. Lý do: đợt mưa rét vừa rồi làm cho đất càng ướt thêm; xã viên lường trước kết quả vụ đông nên tỏ ra chán nản không muốn ra đồng. - Bằng mọi cách chúng ta phải thực hiện đủ chỉ tiêu bảy trăm mẫu cây trồng vụ đông. - Cơ nói. - Mười tấn giống khoai tây mua từ Hải Hưng về vẫn chưa sử dụng đến. Cộng với số khoai tây do xã viên để giống đủ đảm bảo cho chúng ta trồng thêm hai trăm mẫu nữa. Số dây lang, đã hợp đồng mua từ Hoà Bình về. Phân đạm, phân hữu cơ dư thừa. Nói tóm lại, về điều kiện phân, giống, chúng ta có đủ khả năng thực hiện vượt mức kế hoạch. Khó khăn nhất vẫn là vấn đề huy động nhân lực. Trồng khoai tây trên nền đất ướt đòi hỏi nhiều nhân lực để sản xuất đất khô và chuẩn bị mùn, trấu, tro bếp… - Tôi xin ý kiến. - Loã giơ tay cắt ngang lời Cơ. - Còn hai tấn đậu tương giống do huyện cấp. Kế hoạch đồng chí Cơ đã nhận với huyện sẽ trồng năm mươi hát a đậu tương, tức là khoảng một trăm năm mươi mẫu. Vậy chúng ta phải có biện pháp xử lý số đậu tương này. Hoặc là tiếp tục trồng. Hoặc trả lại huyện. Hoặc để sản xuất đậu phụ và cung cấp bã cho chăn nuôi… - Vấn đề đậu tương tôi xin được báo cáo như sau. - Cơ đưa tay ra hiệu xin phép được tiếp tục trình bày. - Đây là một loại giống mới xuất hiện trong cơ cấu cây trồng vụ đông này. Trồng đậu tương trên nền đất ướt lại là một vấn đề hết sức mới mẻ. Chúng ta chưa làm bao giờ. Song kinh nghiệm của Nguyên Lãng đã chứng minh là có thể trồng được cho năng suất cao. Thực hiện chỉ thị của tỉnh, huyện ta đã nhận trồng năm trăm héc-ta, trong đó hợp tác xã ta được chọn làm mũi nhọn để tiến hành, nhằm sản xuất giống cho huyện trong năm sau. - Cơ lấy từ trong cuốn sổ công tác ra lá thư của Trần Sinh giơ lên cho mọi người trông thấy. - Đây là lá thư của đồng chí bí thư huyện uỷ mới viết cho tôi. Đồng chí ấy rất quan tâm đến vấn đề này và tỏ ý hi vọng rất nhiều ở hợp tác xã ta. Xin các đồng chí hiểu cho rằng đây là một vấn đề rất khó và mới. Nhưng chúng ta phải tin tưởng ở sự lãnh đạo của huyện. Theo ý tôi, chúng ta cần mạnh dạn đi đầu trong hoạt động khoa học kỹ thuật. Hôm qua, tôi và đồng chí Lập vừa đi thăm năm mẫu đậu tương mới gieo. Đậu lên rất đều. Rất khả quan. Để giảm bớt nhân lực và đảm bảo thời vụ, chúng ta sẽ trồng thêm một trăm rưởi mẫu đậu tương nữa. Các đồng chí cho ý kiến… Hai phút. Rồi năm phút. Không có ý kiến phát biểu. Loã vỗ vai Cản, lúc đó đang nửa thức nửa ngủ: - Phát biểu đi. Chỉ thị của bí thư huyện uỷ thì cứ việc mà làm. Biền đưa mắt nhìn Thiển, rồi rụt rè giơ tay: - Vấn đề mới quá. Chúng tôi chưa ai có kinh nghiệm, nên chưa dám có ý kiến. Đồng chí chủ nhiệm cứ quyết theo chỉ thị của bí thư huyện uỷ cho. Lập vụt đứng lên giữa những con mắt ngạc nhiên của mọi người. - Ban kế hoạch chúng tôi đã bàn bạc kỹ với đồng chí chủ nhiệm về việc này. Chúng tôi không tán thành hợp tác xã ta trồng đậu tương trên nền đất ướt. Hoàn toàn trái cơ sở khoa học. Đành rằng báo chí đã nói đến. Nhưng không phải bao giờ báo chí, cũng chỉ ra những vấn đề đúng. Có tiếng ồn ào. Một vài tiếng cười từ phía góc Cản và Loã đang ngồi. Lập nói tiếp: - Theo ý tôi, chỉ nên trồng năm mẫu để thí nghiệm, rút kinh nghiệm cho vụ sau. Số giống còn lại trả lại huyện hoặc xin giữ lại cho vụ sau, khi đất của chúng ta đã được cày nỏ. Nhân đây tôi cũng xin đề xuất. Biện pháp duy nhất hiện nay để có thể làm kịp thời vụ và đảm bảo diện tích cây trồng là chúng ta hãy mạnh dạn chia ruộng cho các hộ xã viên, chia giống, chia phân đạm cho họ và khoán sản lượng trên diện tích đã trồng. Làm như vậy, xã viên hoàn toàn chủ động trước thời tiết, tận dụng sức lao động của các gia đình và khuyến khích xã viên đầu tư công sức, phân bón để tăng sản lượng… Qua nghiên cứu tiến độ sản xuất mấy ngày nay, chúng tôi thấy xã viên ra đồng ngày một giảm. Thời gian trên đồng thường chỉ bảo đảm cho chúng ta hoàn thành kế hoạch thời vụ quy định. Vấn đề là thế này: tôi làm cho anh thì tôi không thể làm hết sức mình. Nhưng tôi làm nuôi tôi thì đó lại là chuyện khác. Những vụ trước đây sở dĩ chúng ta vẫn thực hiện theo cách khoán việc mà vẫn thu được kết quả là vì điều kiện làm đất thuận lợi, xã viên tin có làm sẽ có ăn. Vụ này do mưa bão, đất ướt, ảnh hưởng đến tâm lý xã viên khiến họ chán nản, thiếu tin tưởng. Không thay đổi hình thức phù hợp, chúng ta sẽ tự bó tay mình… Lập trình bày một cách sôi nổi và mạnh mẽ. Đôi mắt sáng rực, đầy tự tin và say mê. Dường như tất cả những nung nấu của anh lâu nay như được bung ra với một tình cảm không thể cưỡng nổi. Nhiều đội trưởng sản xuất phát biểu tán thành ý kiến của Lập. - Tôi thấy đề nghị của anh Lập là rất hay đấy ạ. - Chị Hoàn, đội trưởng đội Năm vẫn ngồi yên chỗ, nói to lên. - Chỉ có làm như thế mới mong kịp thời vụ. Chứ ở đội tôi, có vận động thế nào bà con cũng ngại ra đồng. Đồng chí Lập nói là không có gì thiết thân tới họ, không đúng hẳn đâu. Xã viên lo lắm chứ. Ai chẳng muốn có vài tạ khoai để phòng giáp hạt tháng ba tới. Nhưng đất ướt dề dề thế kia, làm ăn ẽo ợt thế kia, người nọ dựa dẫm người kia, mình có làm ốm ra cũng chẳng được hưởng hơn cân nào. Đấy, họ nghĩ thế đấy. Thế thì làm sao mà ban quản trị đòi hỏi họ làm hết sức mình được. Từ nãy đến giờ, Thiển vẫn ngồi chống tay đỡ cằm, đôi mắt thâm trầm nhíu lại như đang giả vờ ngủ. Kinh nghiệm cho thấy, những ý kiến của Lập hầu như đều có liên quan đến một quyết định mới của Cơ sắp sửa đưa ra. Nhưng chuyện này thì không thể được. Lập trường quan điểm có vấn đề. Thoắt cái, Thiển đã hoàn toàn thay đổi trạng thái. Anh đưa đôi mắt sắc lạnh nhìn khắp lượt, rồi nói chậm rãi: - Nếu tôi không nhầm thì đồng chí Lập vừa đưa ra một hình thức phát canh thu tô mới. Các đồng chí nên nhớ, hợp tác xã không phải như bọn địa chủ trước đây, cho nông dân cấy rẽ ruộng để rồi bóc lột sức lao động của họ. Làm như vậy, chúng ta sẽ khuyến khích tư tưởng tư hữu, vốn in sâu trong đầu óc nông dân, lại bừng dậy. Đó là một cách làm hoàn toàn trái với chủ nghĩa xã hội… Lập ngồi nín lặng. Sự chụp mũ của Thiển khiến mặt anh nóng bừng bừng. Nhưng Cơ đã lường trước được mọi việc, nên anh ra hiệu ngăn Lập lại. Cậu làm hỏng hết việc. Cậu không nhớ chuyện vào Đảng của cậu trầy trật thế nào ư? Những điều cậu trao đổi với mình trong buổi chiều thăm đồng hôm qua, sao cậu lại nói tuột ra ở đây? Thẳng thắn đôi khi trở thành một tai hoạ. Rồi chuyện xét kết nạp cậu lại rắc rối cho mà xem. Hôm qua, chính mình cũng nói với cậu những lời tương tự như Thiển vừa rồi. Về nhà, suy nghĩ kỹ, mình thấy chỉ có cách ấy mới tháo gỡ được những khó khăn hiện giờ… Nhưng cậu thấy không, cái ý kiến tốt đẹp cậu đưa ra đã bị người ta buộc cậu phạm một sai lầm về quan điểm lập trường… Cái nhìn của Cơ như đã nói với Lập như vậy. Và Lập hiểu ý, cố trấn tĩnh lại, ngồi xuống. - Tôi cho rằng đồng chí Lập đã đưa ra một đề xuất rất đáng để chúng ta cùng suy nghĩ, thảo luận. - Cơ đã khôn khéo bào chữa cho Lập. - Hãy gác lại vấn đề lập trường quan điểm để bàn sau. Cái chính là chúng ta xem xem biện pháp đồng chí Lập đưa ra có lợi về kinh tế không. Nó có giải quyết được vấn đề về năng suất, nhân lực, thời vụ và chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra không? Nếu thực sự nó có lợi thì chúng ta sẵn sàng ủng hộ. Như hầu hết những cuộc họp ở Thanh Bình, tự nhiên đã hình thành sẵn hai luồng tư tưởng ý kiến đối lập. Phe ủng hộ Thiển có thêm Loã, Biền và Cản. Hầu hết các đội trưởng đều ủng hộ Lập và Cơ. Riêng ông Điền, Tấn và một vài người khác vẫn là phe trung gian, không tỏ chính kiến của mình. Ông Điền ngồi trầm ngâm ở hàng ghế đầu, hết sức chăm chú lắng nghe từng ý kiến, và thâm tâm ông, cũng thầm nhận thấy ý kiến của Lập rất nên ủng hộ. Nhưng cương vị bí thư đảng uỷ không thể cho phép ông tỏ thái độ ủng hộ. Vả lại cái bản tính ngại va chạm, không thích tranh luận khiến ông dễ có cơ sở để im lặng. Mãi gần chiều tối, cuộc họp mới đi tới kết luận, mặc dầu phe áp đảo vẫn không thể giành ưu thế tuyệt đối. - Vậy là chúng ta tạm thời nhất trí hai vấn đề lớn. - Cơ tổng kết cuộc họp. - Một là tiếp tục trồng hết số đậu tương giống do huyện cung cấp. Hai là các đội sản xuất vẫn tiếp tục huy động xã viên trồng màu trên một nửa số diện tích do hợp tác xã giao cho đội. Số diện tích còn lại, sẽ giao cho từng lao động nhận khoán với hợp tác xã. Đối với những gia đình có nhiều nhân lực, hợp tác xã sẽ cho mượn thêm ruộng ngoài kế hoạch để trồng thêm. Cơ chưa nói dứt, Thiển đã chen ngay: - Xin đồng chí Cơ phải rạch ròi cho chỗ này: Ý kiến của thường vụ vẫn chưa nhất trí việc giao ruộng cho xã viên trồng màu, vì vấn đề này có liên quan đến đường lối chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng. - Và Thiển quay sang ông Điền. - Anh Điền có ý kiến gì thêm không? Ông Điền khẽ mỉm cười mệt mỏi. Cử chỉ ấy hầu như không nói lên điều gì cả. Nhưng Thiển đã vội kết luận: - Đó, riêng tôi và đồng chí bí thư, chúng tôi vẫn chưa thông suốt vấn đề. Nhưng đây là chủ trương của ban quản trị. Các đồng chí đã quyết thì các đồng chí phải chịu trách nhiệm. *** Họp xong, Lập ở lại chờ Cơ. Hai người dắt xe đi chậm dọc con đường qua chợ. - Cậu phát biểu mạnh quá. - Cơ nhìn Lập, giọng trách móc. - Đành rằng cậu đúng, nhưng không khéo. Ở đời, những kẻ hay nghĩ quanh co bao giờ cũng nhìn người khác bằng con mắt soi mói nghi ngờ. Cái tội quan điểm lập trường lệch lạc của cậu sẽ bị thành kiến mãi cho mà xem… - Cái tính tôi nó như vậy. Tôi không giấu mình được. - Đấy, thế cho nên mình trầy trật mãi mà không thể đấu tranh để bênh vực nổi cậu. Phấn đấu gần chục năm rồi… - Biết làm sao được, anh? Ngay cả anh, có thể anh cũng nghĩ sai về tôi, nhưng tôi vẫn cứ nói thẳng. Cái quyết định trồng một trăm rưỡi mẫu đậu tương của anh, không ổn đâu. Rồi anh xem. Đồng chí bí thư huyện uỷ có thể sẽ rất ca ngợi anh vì sự dũng cảm đi vào cái mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huyện giao. Nhưng rồi anh sẽ thấy tác hại của nó… - Cậu vẫn hoài nghi? - Cơ lắc đầu cười. - Hiện giờ thì chưa thể khẳng định cậu hay mình đúng. Chúng ta đành chờ thời gian trả lời. Nhưng có điều này thì mình đúng hơn cậu - đó là tư tưởng tiến công, tin tưởng ở quyết tâm của mình. - Ồ… Anh mới có một vế của người làm cách mạng. Có tư tưởng tiến công, có lòng tin nhưng chưa có tri thức và cơ sở khoa học. Lâu nay chúng ta vẫn sống bằng lòng tin và quyết tâm thuần tuý quá nhiều, nên chúng ta đã gặp không ít thất bại, cay đắng. Anh có nhớ một thời kỳ chúng ta hăng hái lao vào chiến dịch cấy dày không? “Cấy thưa thừa đất. Cấy dày lúa chất đầy kho”. Khẩu hiệu của chúng ta hồi ấy là thế Và rồi có nơi cấy hai trăm khóm một mét vuông. Trong khi đó lượng phân vẫn không tăng. Kết quả là cây lúa như nén hương và hàng loạt cánh đồng không được thu hoạch. Cơ bật cười, vỗ vai Lập: - Cậu so sánh như thế không đúng đâu. Anh Trần Sinh nhiều lần tâm sự với mình: Làm cách mạng tránh sao được những thiếu sót. Huống chi chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, hoàn toàn không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, hoàn toàn không có một mô hình nào có sẵn. Phải tự mày mò tìm ra đường đi cho mình. Ăn nhau là ở chỗ anh có dám tiến lên hay không. Càng ngẫm, càng thấy đúng. Năm 1975 có ai ngờ rằng chúng ta thắng Mỹ nhanh như vậy? Thậm chí cả mình và cậu, có lúc còn hoài nghi, bi quan… - Tôi không hiểu lắm về quy luật chiến tranh. Nhưng tôi cho rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội, có những vấn đề khó khăn phức tạp riêng của nó mà chúng ta không thể lấy những kinh nghiệm ba mươi năm đã qua để áp dụng được. Trong chiến đấu, tinh thần, ý chí có ý nghĩa quyết định. Có tinh thần, có ý chí, tự khắc sẽ tìm ra cách đánh hay, táo bạo. Nhưng trong kinh tế, chỉ có tinh thần không thì không đủ, thậm chí có thể gây những thiệt hại nghiêm trọng. Bằng tinh thần và quyết tâm, anh có thể dễ dàng gieo trồng được một trăm năm mươi mẫu đậu tương trên nền đất ướt. Nhưng có thu hoạch được hay không lại còn phụ thuộc vào thời tiết, thời vụ, vào sự thích hợp giữa sinh thái cây trồng và chất đất, chế độ nước và cách chăm bón. Tôi nghĩ rằng anh bị ám ảnh bởi lá thư của đồng chí bí thư huyện uỷ và những thành tích, những lời hứa hẹn quá nhiều… Giống như tâm trạng của những người bị người khác đoán trúng ý nghĩ mình, hiểu quá rõ về mình mà người đó lại nói toẹt ra tất cả, không cần che đậy, úp mở, ban đầu Cơ choáng váng như có một luồng điện chạy suốt qua gáy rồi sau người anh lại nóng bừng bừng, gương mặt đỏ tía lên, những đường gân xanh bên thái dương nổi hẳn, giần giật. - Cậu hiểu thế không đúng đâu. Mình có ý kiến riêng của mình chứ. Đâu phải sợ lá thư của anh Sinh. Mình làm việc vì tập thể, chứ không phải vì thành tích… Cố kiềm chế lại nhưng giọng Cơ vẫn run lên. Câu chuyện của họ đột ngột dừng lại đó. Lập buồn bã cúi đầu đi chậm lại. Và nghĩ: “Rồi anh sẽ hiểu tôi. Bây giờ anh còn đang say sưa, cay cú. Nhưng tôi biết rằng anh làm mà không tự tin vào công việc của mình. Anh làm vì một cái gì khác hơn là sự thôi thúc và cái bản lĩnh vốn có ở anh. Rồi anh sẽ phải trả giá đắt về những việc làm đó. Chỉ tiếc rằng, một người có năng lực hết lòng vì công việc chung như anh, lẽ ra phải tránh được những điều đáng lẽ không nên có”. *** Phải hai tháng sau Cơ mới hiểu ra những điều Lập nói trong cái buổi chiều nặng nề ấy. Một trăm năm mươi mẫu đậu tương gieo trồng trên nền đất ướt của hợp tác xã Thanh Bình không cho thu hoạch một hạt đậu nào. Chính Cơ đã phải đau đớn lệnh cho các đội cày lật một trăm năm mươi nhăm mẫu đậu ngay từ khi chúng chưa kịp vàng lá, để chuẩn bị đất cho vụ chiêm xuân. Bù đắp lại thất bại thảm hại này, Cơ lại thu được hai thắng lợi không ngờ: Trong kỳ đại hội lần thứ mười hai của huyện đảng bộ Giang Thuỷ, Cơ đã trúng cử uỷ viên ban chấp hành với tỷ lệ số phiếu khá cao. Thắng lợi này nhờ vai trò tích cực và có ý nghĩa hầu như quyết định của bí thư huyện uỷ Trần Sinh. Lúc ấy, một trăm năm mươi nhăm mẫu đậu tương của Thanh Bình chưa đến kỳ ra hoa. Cả cánh đồng đậu tương xanh mướt vì được bón quá nhiều đạm. Chỉ riêng cái màu xanh ấy đã là một tờ chứng chỉ đầy sức thuyết phục để đưa Cơ vào danh sách những người có tài năng và uy tín lớn tiêu biểu cho sức vươn lên mạnh mẽ, sức chiến đấu dồi dào của một tổ chức Đảng vững mạnh ở vùng trọng điểm lúa. Thắng lợi thứ hai, thực sự là sự ứng cứu táo bạo của Lập. Do việc chia ruộng, khoán giống, khoán sản phẩm cho các gia đình xã viên, nên chỉ trong vòng hơn một tuần, bảy trăm mẫu khoai tây, khoai lang và rau xanh các loại đã được trồng xong. Suốt từ sáng tinh mơ cho đến chiều tối, trên những cánh đồng màu, không lúc nào vắng người. Trồng khoai tây trên nền đất ướt, xã viên Thanh Bình đã có nhiều kinh nghiệm. Tốn nhân lực, tốn phân bón, nhưng gặp thời tiết thuận lợi vẫn rất chắc ăn. Nhiều gia đình, đầu vụ phải bán giống đi, thấy hợp tác xã chia đất, lại đổ xô đi mua thêm giống. Gặp trời rét ngọt, khoai tây lên như thổi, cái biện pháp chữa cháy này không ngờ đưa lại cho Thanh Bình một vụ đông bội thu quá sức nghĩ của mọi người. Diện tích gieo trồng bù lại một trăm năm nhăm mẫu đậu tương mất trắng, vẫn vượt kế hoạch. Người ta dễ quên ngay đi cái tội lớn của ban quản trị là đã đổ hai tấn đậu tương giống, hàng chục tấn đạm và bao nhiêu nhân lực ra đồng. Xã viên bảo nhau: - Mắc sai lầm mà biết sửa nhanh như thế thì xã viên cũng được nhờ. Giá mà cứ cái đà này, các ông quản trị cho xã viên mình dấn lên vụ chiêm xuân nữa thì bồ bịch ở đâu mà chứa hết thóc. Cả xã Thanh Bình nuôi hi vọng vào vụ chiêm xuân. XIV Nhà Cản sáng trưng ánh đèn. Chiếc đài đặt trên nóc tủ buýp-phê đang đọc một bài bình luận lên án những thủ đoạn thâm độc và âm mưu chuẩn bị chiến tranh biên giới. Tiếng loa mở to hết cỡ, khiến giọng đọc của phát thanh viên thỉnh thoảng lại ré lên, xen kẽ những tạp âm lục bục, xèn xẹt như tiếng một cơn giông vừa lướt qua. - Vặn đài nhỏ lại một chút. - Thiển nói với chủ nhân đang tất bật chuẩn bị tách chén pha nước. Tiếng loa nhỏ lại, ấm và trầm. Mấy người đàn ông ngồi chụm quanh hai chiếc bàn kê nối, chăm chú lắng nghe, quên cả chiếc điếu bát vừa nãy còn sắp lượt chuyền tay nhau. - Kiểu này mình lại mệt đây. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai. “Ai ơi chớ vội làm giàu. Thằng Tây nó cút, thằng Tàu nó sang”. Nhất định rồi nó đánh mình đấy. - Một người nào đó bình luận. Nhưng không ai hưởng ứng. Đám mây chiến tranh lởn vởn lướt qua. Khiến những gương mặt trầm hẳn lại, căng thẳng, đượm buồn. Một người đàn bà bụng chửa, mặt cúi gầm, len lén đi vào sân, lẫn ngay vào khoảng tối đầu nhà. Ai cũng nhận ngay ra Luyến, đối tượng của cuộc họp chi bộ tối nay. Những đảng viên khác cũng lục tục kéo đến. Có thêm ông Điền, Cơ, rồi Thanh. Mười một đảng viên chi bộ xóm Đình đã có đủ mặt, Thiển giơ tay ra phía đèn, nheo mắt nhìn đồng hồ. - Cho họp đi thôi, ông Tạ ơi. Tiếng đài vụt tắt. Hơn chục gương mặt đảng viên hướng về phía Tạ, phụ trách tín dụng xã, bí thư chi bộ xóm Đình. - E hèm… Xin báo cáo với các đồng chí trong chi bộ. Cuộc họp của chúng ta hôm nay đặc biệt có hầu như gần đủ mặt các đồng chí trong ban thường vụ đảng uỷ cùng tham dự. - Tạ giới thiệu ông Điền, Thiển và Cơ. Chiếc kính trắng bị gãy ở giữa, được nối lại bởi một đoạn dây thép, khiến sống mũi ông bỗng gồ lên như một cục bướu và hai mắt kính thì cứ loang loáng hết quay nhìn về phía các đại biểu lại nhìn ra cử toạ. - Cũng xin hân hạnh được giới thiệu với các đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Thanh, thượng uý quân đội nhân dân Việt Nam, người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống bọn phản động Pôn Pốt vừa từ chiến trường trở về tham gia sinh hoạt với chi bộ chúng ta… Tiếng vỗ tay lộp bộp. Ông Tạ dừng lại một lát, rồi nói tiếp: - Như vậy là chi bộ ta được tăng cường thêm một đảng viên từ chiến trường mới trở về. - Giọng ông bỗng trầm hẳn xuống và nét mặt đượm buồn thực sự. - E hèm… Nhưng cũng thật đáng buồn. Cùng với việc đón nhận một đảng viên mới, chúng ta lại phải buộc lòng làm cái công việc khai trừ một đảng viên của chi bộ chúng ta ra khỏi Đảng. - Ông Tạ đưa cặp kính về phía góc nhà, nơi Luyến đang ngồi trên chiếc ghế tựa, cạnh mấy người phụ nữ, tay che mặt, dáng nhẫn nhục, chịu đựng. - E hèm… Chuyện đồng chí Luyến, không nói các đồng chí cũng đều biết cả. Chi bộ ta đã họp kiểm điểm nhiều lần và đề nghị hình thức kỷ luật khai trừ lưu Đảng chín tháng. Nhưng tổ chức huyện uỷ không chấp nhận và đã quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Luyến với hình thức cao nhất là khai trừ vĩnh viễn. Chương trình họp của chúng ta hôm nay gồm hai phần. Một là công bố quyết định của huyện uỷ về hình thức kỷ luật đồng chí Luyến. Hai là đánh giá tình hình công tác chi bộ trong tháng qua và bàn biện pháp thực hiện chỉ thị của đảng uỷ. Sau đây, tôi xin giới thiệu đồng chí Cản, phó bí thư chi bộ lên đọc quyết định của huyện uỷ về việc kỷ luật đồng chí Luyến. Phòng họp yên lặng nặng nề. Cản mở bao lấy kính đeo lên mắt, rồi cầm lấy tờ giấy đánh máy, đứng dậy. Không ai nhận ra lớp da mặt bì bì của Cản lúc này bỗng sạm lại và bàn tay thoáng rung rất nhẹ. Trớ trêu thay, Cản đang làm cái công việc mà bản thân anh tự lấy làm xấu hổ. Anh chính là người gây nên tấn bi kịch này, một cách có ý thức, có tính toán kỹ lưỡng. Hơn ba tháng trước đây, khi Luyến nộp đơn xin ra khỏi Đảng, Cản đã từng phấp phỏng lo sợ hàng tuần lễ. Nhất định Luyến sẽ tố cáo Cản, cả về quan hệ sinh hoạt, cả về lợi dụng Luyến để ăn trộm thóc trong kho hợp tác xã. Cản tin chắc mọi chuyện sẽ diễn ra như vậy. Như một kẻ phạm pháp bị bắt quả tang, Cản chờ đợi cái ngày sẽ ra toà. Nhưng rồi vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Câu chuyện của Luyến lan đi khắp xã. Và người ta nói rằng Luyến bị một kẻ xấu lợi dụng một lần chị đi đâu đó về khuya. Không ai nhắc đến Cản, thậm chí nghi ngờ, xì xào bàn tán về Cản. Thế có nghĩa là Luyến rất yêu anh. Cản tự hỏi và bắt đầu thấy yên tâm. Anh muốn thử lại tình yêu của Luyến. Nhưng khác với hai lần trước, Luyến đã tỏ ra căm thù và khinh ghét anh thật sự. Thế là làm sao? Cản không tài nào giải thích nổi sự rắc rối khó hiểu và đầy mâu thuẫn của người đàn bà. Yêu hay không yêu? Tại sao lại vừa che giấu bảo vệ, vừa căm thù, ghét bỏ? Cản băn khoăn dằn vặt, nhưng anh hoàn toàn không lo sợ nữa. Anh đã có một nơi trú ẩn vô cùng an toàn và kín đáo là lòng tốt và sự chịu đựng tuyệt vời của Luyến. Luyến tự gánh chịu tất cả mọi hậu quả, không cần cầu xin, không cần thanh minh. Nhưng chính điều đó mới làm Cản dằn vặt và xấu hổ. Cản đóng vai một người ngoài cuộc với cái dáng thật vụng về, giả tạo. Như con sói già đội lốt dê mẹ trong một câu chuyện cổ. Rất may là không phải ai cũng như con dê con thông minh. Người ta bận trăm nghìn thứ việc, có ai hơi đâu đi bới lông tìm vết. Cản hắng giọng hai ba lần, đưa tờ giấy lại gần đèn, giọng khàn và khó nhọc. Trạng thái tâm lý ấy rất phù hợp với cương vị mà Cản đang đảm nhiệm với tâm trạng chung của mọi người: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN GIANG THUỶ Căn cứ…………………… Căn cứ…………………… Căn cứ…………………… Phòng họp đang lặng đi, chợt dội lên tiếng sụt sịt của phụ nữ. Mọi người dồn mắt về phía góc phòng, nơi Luyến ngồi. Luyến vẫn ngồi yên như đã hoá đá. Người phụ nữ đang khóc lặng lẽ bên cạnh Luyến là Sáng, thư ký đội Tám, bạn của Luyến. Không ai nhận ra cái nụ cười chua chát vẫn đọng trên môi Luyến suốt từ lúc Cản cầm tờ giấy đứng dậy. Tâm hồn Luyến lúc này bình yên thư thái vô cùng. Bởi Luyến đã đón nhận, đã tự định cho mình cái hình thức kỷ luật này từ sáu tháng trước đây. Đối với Luyến dường như cuộc đời đã sắp đặt sẵn. Không phải là định mệnh và cũng không phải là cái gì khó giải thích nổi. Hạnh phúc có bao giờ chia đều cho tất cả mọi người? Một người lính ngã xuống ở chiến trường trong kia, ít nhất sẽ có một người mẹ, một người vợ, một người yêu ở ngoài này tự bắt trái tim mình nén chịu một nỗi đau khổ. Bao nhiêu người mẹ? Bao nhiêu người vợ? Bao nhiêu người yêu? Luyến chỉ là một trong số bao nhiêu đó. Hầu như tất cả mọi người đều vượt lên trên nỗi mất mát đau khổ ấy, sống xứng đáng với những người ngã xuống. Luyến cũng đã vượt lên, sống xứng đáng với anh ấy theo cách riêng của Luyến: Tám năm làm thủ kho, trong tay giữ hàng nghìn tấn lúa, hàng trăm tấn đạm… nhưng không bao giờ Luyến để thiếu hụt. Không bao giờ Luyến để cho người khác lợi dụng, mua chuộc. Giữ được của cải cho tập thể, nhưng Luyến lại không giữ nổi mình. Những người phụ nữ sống hạnh phúc không thể hiểu nổi Luyến đâu. Còn những người đàn ông, hoặc là họ quá vô tâm, hoặc là họ sẽ đánh giá Luyến theo cái góc độ đàn ông của họ. Luyến không thể thanh minh bào chữa cho mình. Nhẫn nhục, cam chịu sự phỉ báng của người đời hay đó chính là sự giải thoát, tháo cởi sợi dây vô hình buộc trói hiện tại và níu kéo tương lai của Luyến? Tự Luyến không giải thích nổi, nhưng chị biết rằng mình đang sống với một hi vọng ngày càng lớn dần lên, và tâm hồn Luyến trở nên thanh thản như một người nhịn khát đi suốt sa mạc đã nhìn thấy cái khoảng xanh lấp lánh của ốc đảo phía trước mặt. Nhưng sao cái nụ cười chua chát kia cứ đọng mãi trên môi Luyến như một nét cố hữu? “Tôi chấp nhận hình thức kỷ luật của Đảng. Nhưng tôi không chấp nhận tư cách cái con người đang đọc tờ quyết định kia đâu. Anh ta có quyền gì được làm điều ấy? Chính anh ta phải bị khai trừ khỏi Đảng trước tôi kia”. Luyến không nghe những lời Cản đọc. Chị dửng dưng ngồi đó. Và bỗng chợt đờ đẫn lắng nghe, nói đúng hơn là cảm nhận, cái bàn tay nhỏ xíu đang động cựa trong mình. “Chỉ có con là hiểu mẹ thôi, con bé bỏng và đáng thương của mẹ. Con có nghe người ta đang nói gì không? Cái con người ấy. Không. Con không hề có một người cha như vậy. Con không có liên quan gì đến ông ta. Chỉ có con và mẹ”. *** - Tôi nghĩ rằng chúng ta đang làm một công việc quá tàn nhẫn. Một hình thức kỷ luật quá nặng nề, hầu như vô lý với một đảng viên rất đáng tin cậy mà hầu như lòng trung thành và phẩm chất đã được thử thách liên tục nhiều năm. Tôi mới về, nhưng đã được nghe quần chúng đánh giá, bình phẩm khá nhiều về đồng chí Luyến. Tám năm làm thủ kho, có ai gặp đồng chí Luyến tham ô, ăn cắp một cân thóc nào không? - Thanh nhìn khắp lượt mọi người. Đôi mắt bị ánh đèn phản chiếu, lung linh hai ngọn lửa như soi rọi vào từng khuôn mặt, cố tìm một câu trả lời. - Đồng chí Thanh nói đúng đấy. Kỷ luật đồng chí Luyến như vậy là oan ức quá. - Sáng lấy tay chấm mắt, giọng uất ức. - Chắc mọi người còn nhớ đợt nhập phân đạm vừa rồi… Câu nói của Sáng làm mọi người cùng nhớ lại cái “sự kiện phân đạm” hai tuần trước đây. …Lúc ấy Luyến đã buông màn đi nằm. Có tiếng ô tô ì ì từ ngoài đường cái. Rồi ánh đèn pha rọi một vệt sáng loà trước cửa nhà kho. Luyến vùng trở dậy. Sao xe chở đạm từ ngoài ga Giáp Bát bây giờ mới về? Hai chiếc xe vận tải đã đỗ lù lù trước mặt. - Bác Sán, bác Cộc đấy phải không? Sao bây giờ mới về? - Ôi dào. Mãi bốn giờ các bác ấy mới xuất kho. Làm ăn vật vờ bỏ mẹ. Cũng phải đấm mồm chúng nó mới được lĩnh hôm nay đấy. Xe chạy ngang đường lại chết máy. Hai đồng chí lái xe đây hôm nay cũng nhược người với hợp mình. Suốt từ trưa đã ăn uống gì đâu. Thôi, cô mở kho cho các đồng chí lái xe… Thấy Cộc, Sán, hai nhân viên chạy vật tư của hợp tác xã, cùng hai lái xe, người nào cũng mặt đỏ gay, miệng phả đầy hơi rượu, dáng vội vã tất bật, giục Luyến mở cửa kho để giải phóng xe nhanh, Luyến đã thấy nghi ngờ. Cho đến khi thận trọng kiểm tra kỹ một vài bao đạm thì Luyến đã có thể khẳng định rằng các bao đạm đều bị rút bớt ruột. - Bà chị, nhanh tay cho một chút. Xe hợp đông đến tám giờ, mà bây giờ vẫn nằm ì đây. Hợp tác có chịu trả tiền nằm đợi cho chúng tôi không? Theo chiến thuật “mềm và rắn” như họ đã bàn bạc, Sán với Cộc thì nằn nì nói khó với Luyến, còn hai lái xe thì thỉnh thoảng lại đưa ra mấy lời doạ dẫm, gây sức ép. - Muộn hay không là do ở các anh. Chúng tôi chỉ biết mười một giờ xe mới về tới kho. - Luyến thấy không thể non tay với dân “xế” này được. - Theo thủ tục nhập kho, đề nghị cứ cân lại từng bao. - Ấy, chị Luyến ơi. Bao nhà nước, có cân lạng hẳn hoi. Chị cứ đếm từng bao một, chúng em khuân vào kho là được rồi. - Bà chị kỹ tính quá đấy. Để sức mà dưỡng thai, chứ hơi đâu mà bày vẽ cho nó cực thân. Công hợp tác chỉ có tám lạng thôi… Với lại phân chứ có phải bánh đâu mà ăn bớt được. Ông Sán, ông cứ khuân ù vào đi, để chúng tôi còn phải đánh xe về xí nghiệp. - Cô Luyến, làm khó dễ cho nhau làm gì. - Cộc biết làm căng không có lợi, vội kéo Luyến ra một chỗ tỉ tê. - Chỉ mấy ngày nữa cô bàn giao cho anh Thảng để nghỉ đẻ. Trách nhiệm đâu do chúng tôi với anh Thảng chịu. Tội gì ôm rơm cho nó rặm bụng… Cô cứ kiểm tra từng bao. Tôi đảm bảo mỗi bao năm mươi cân. Đúng một trăm năm mươi bao thì cô ký nhận… - Bác Cộc ạ, thà mất thời gian một tí, nhưng nó sòng phẳng, minh bạch vẫn hơn. Đành rằng đạm từ kho nhà nước xuất ra, có bao bì hẳn hoi, không ai dám cân thiếu. Nhưng bác thông cảm: Xuất cho xã viên, người ta cứ nhè vào cháu mà lấy ra từng cân từng lạng… Không thuyết phục nổi Luyến, bốn người buộc lòng phải xuống thang. Họ thú nhận rằng một số bao có bị thiếu chút ít, do sơ suất lúc nhận từ ngoài kho Giáp Bát, một số bao khác do anh em lái xe đề xuất bồi dưỡng dọc đường… Thay mặt nhóm, Cộc đưa cho Luyến một tập giấy bạc. - Xin cô hết sức thông cảm với anh em chúng tôi. Cũng là sự sơ suất, chứ chẳng ai muốn thế. - Cộc ngoẹo đầu khổ sở. - Thời buổi khó khăn nên cũng đành đánh liều mà cấu véo của tập thể chút ít… Ban nãy, anh em chúng tôi cứ cân nhắc mãi… Biết cô rất kỹ tính trong chuyện này… Nhưng mà thế này. Để anh em chúng tôi đỡ áy náy, xin cô vui lòng nhận giúp một chút quà. Gọi là tấm lòng thành của anh em chúng tôi mừng cô sắp sinh cháu bé… Thủ đoạn mua chuộc kiểu Cộc đang làm, không phải lần đầu tiên Luyến gặp. Tám năm làm thủ kho, bao nhiêu lần Luyến đã chứng kiến những cảnh tương tự. Có người nài xin van vỉ. Có người khúm núm nịnh nọt. Có người doạ nạt đe noi. Tất cả những thủ đoạn ấy đều bị Luyến khước từ. Bây giờ cũng vậy. Luyến buồn bã gạt gói tiền lại trả Cộc và nhìn thẳng vào ông ta, giọng dứt khoát: - Bác Cộc ạ. Tiền bạc của cải thì ai cũng muốn. Cháu cũng chẳng phải loại người gỗ đá mà không biết như thế. Nhưng đây là tài sản của tập thể. Lúa hợp tác đỏ hoe ngoài đồng vì thiếu phân. Xã viên phải bỏ hai ba chục bạc mua một cân đạm ngoài. Thiếu hụt một cân đạm nào là chúng ta có tội với xã viên, với hợp tác xã… Thái độ kiên quyết của Luyến cuối cùng đã thắng. Ngay đêm ấy, Luyến mời đại diện ban kiểm soát ra cân lại từng bao. Một trăm năm mươi bao, bao nào cũng hụt khoảng bốn năm cân đạm. - Tôi đề nghị chi bộ khiếu nại với huyện. Khối người còn đáng kỉ luật gấp trăm lần đồng chí Luyến mà vẫn chẳng sao. - Sáng thở dài buồn bã. - Xét giữa công và tội thì Luyến chẳng phải kỉ luật gì hết… - Nói như đồng chí Sáng cũng chưa hẳn đã đúng. - Thanh nói tiếp. - Đồng chí Luyến có khuyết điểm. Khuyết điểm này cả quần chúng xã viên đều biết. Và chính đồng chí Luyến đã viết đơn, báo cáo với đảng uỷ. Ngày xưa thì đó là một tội lớn, làng sẽ bắt ngả vạ, cạo đầu trọc bôi vôi hay một hình thức nào đó nhằm chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ. Nhưng đó là thứ đạo đức cổ hủ, tàn dư phong kiến. Xin hỏi các đồng chí thường vụ đảng uỷ: Chúng ta có nên phê phán cái hình phạt dã man đó không? - Đồng chí Thanh không có quyền chất vấn thường vụ đảng uỷ. - Thiển định đứng dậy nhưng không tìm thấy dép, một chân anh khua đại sang phía Cản làm Cản giật mình ngoảnh sang, nhưng không hiểu có chuyện gì. - Chúng ta chỉ biết chấp hành quyết định của huyện đảng bộ. Đây không phải là chỗ để chất vấn. Thanh vẫn đứng đó. Nhìn gương mặt Thiển, anh không chịu nổi. - Vậy chúng ta bầu ra thường vụ để làm gì? Để chỉ biết máy móc thực hiện quyết định của cấp trên thôi ư? Sao các đồng chí không dám đấu tranh bênh vực một đảng viên bị oan ức? Chỉ những người đã chịu đựng những hi sinh mất mát ngoài chiến trường mới thông cảm hết với những hi sinh lớn lao của những người phụ nữ ở hậu phương. Đáng lẽ các đồng chí phải hiểu những điều đó hơn những người lính chúng tôi. Đế quốc Mỹ đã để lại bao nhiêu tội ác trên đất nước chúng ta, trong đó có sự mất mát của những người mẹ, người vợ, người yêu… Đồng chí Luyến là một trong những trường hợp đó. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại cách đánh giá đạo đức của một con người. Chúng ta dễ dàng xuê xoa với một lối làm việc quan liêu bảo thủ, trì trệ, dễ dàng tha thứ một thái độ chầy lười lao động, một hành động tham ô ăn cắp của công, dễ dàng bỏ qua một lối sống vô trách nhiệm làm thiệt hại của tập thể hàng triệu đồng, nhưng chúng ta lại quá khắt khe, vùi dập những người có phẩm chất và năng lực, nhưng có thể mắc sai lầm này nọ trong sinh hoạt. Tại sao chúng ta không làm trong sạch Đảng bằng cách khai trừ những kẻ cơ hội, thoái hoá về tư tưởng và sa đoạ về phẩm chất, mà tôi biết trong đảng bộ của chúng ta có không phải ít. Đồng chí Luyến có làm hại đến ai? Danh dự của Đảng ư? Điều này cũng không đến mức độ phải khai trừ khỏi Đảng. Hình thức kỷ luật quá nặng nề đối với một người như đồng chí Luyến chỉ có thể làm người ta hiểu sai về Đảng của chúng ta. Tôi đề nghị chi bộ ta nên có kiến nghị với tổ chức huyện uỷ, khai trừ lưu Đảng chín tháng đồng chí Luyến là hợp lý, hợp tình. Phòng họp nổi lên tiếng xì xào bàn tán. Ông Điền từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe Thanh nói. “Đúng. Phải có cái nhìn như vậy. - Ông nghĩ. - Cậu đã nói trúng ý mình. Chính mình và Cơ cũng đã đề đạt hướng giải quyết như vậy với anh Trần Sinh và tổ chức huyện uỷ. Nhưng chúng mình cũng chưa thực quyết tâm bảo vệ ý kiến của mình”. Ông Điền che tay lên miệng, ghé sát vào Cơ: - Cậu thấy Thanh nó nói thế nào? Đúng quá đi chứ. Bọn mình còn chưa có ý thức trách nhiệm trong chuyện này đâu… Cơ chỉ khẽ gật đầu. Những lời nói của Thanh vẫn còn làm anh xúc động, bàng hoàng. Đến bây giờ thì anh hiểu vì sao Vy lại đột nhiên đổi khác. Thực sự sống một đời sống nội tâm mới, như một cô Vy của hơn mười năm về trước. Một vài ý kiến trong đó hăng hái nhất là Sáng và mấy người phụ nữ, đều ủng hộ ý kiến của Thanh và đề nghị chi bộ gửi biên bản cuộc họp lên tổ chức huyện uỷ đòi giảm nhẹ hình thức kỷ luật Luyến. Đột nhiên Luyến bật khóc. Không phải Luyến oan ức. Luyến khóc vì quá xúc động trước cái tình người. Thiển khó chịu. Anh xé sổ tay viết mấy chữ cho ông Điền. “Anh Điền ạ, không thể để cuộc họp diễn biến theo hướng này. Cậu Thanh là cái gì mà cậu ta lại lợi dụng cuộc họp để công kích đảng uỷ? Phải chấp hành quyết định của huyện uỷ. Sẽ giải quyết tư tưởng với cậu Thanh sau. Anh nên chấm dứt vấn đề ở đây. Nếu không cậu Thanh có thể sẽ kích động đảng viên, gây tâm lý bất bình nguy hiểm”. Ông Điền nhìn sang phía Thiển, gặp cái ánh mắt sắc lạnh của anh, ông chợt như hiểu ra cương vị của mình. Ông đứng lên, dè dặt và không tự tin, nói: - Đồng chí Thanh mới về, nên chưa hiểu hết vấn đề. Thường vụ chúng tôi cũng đã thảo luận nhiều về trường hợp đồng chí Luyến. Tất nhiên huyện uỷ cũng đã có cân nhắc kỹ. Chúng ta nên chấp hành quyết định của huyện đảng bộ và đề nghị các đồng chí kết thúc vấn đề ở đây. Thanh vụt đứng lên: - Vậy thì xin phép các đồng chí. Tôi họp ở đây cũng như thừa. Phản ứng của Thanh xảy ra nhanh quá khiến mọi người đều sửng sốt. Màu áo quân phục thoạt vụt qua khoảng sáng đèn, lẫn vào đêm mưa. *** Hành động bỏ dở cuộc họp chi bộ giữa chừng của Thanh đã gây một dư luận trong đảng bộ và trong quần chúng nhân dân xã Thanh Bình. Những người chỉ quen nhìn hiện tượng để đánh giá thì cho rằng Thanh quá ỷ thế mười năm tham gia chiến trường mà coi thường chi bộ, coi thường đảng uỷ. Hành động ấy rõ ràng là biểu hiện thiếu ý thức tổ chức, không có tinh thần xây dựng. Người ta xâu chuỗi lại những hoạt động trong suốt mấy tháng về địa phương của Thanh: không yêu và không có ý thức xây dựng quê hương; việc về sản xuất là do tình thế bắt buộc vì không có cơ quan nào nhận; không chịu tham gia lao động ở đội sản xuất (chỉ trừ mấy buổi đi trồng khoai giúp vợ khi hợp tác chia ruộng khoán cho các gia đình); lần đầu tiên sau hai tháng mới tham gia sinh hoạt chi bộ nhưng đã tự ý bỏ dở cuộc họp… và đi đến kết luận: Thanh đã bắt đầu thoái hoá, tiêu cực. Những người có vẻ thông cảm với Thanh hơn, đồng ý với những ý kiến và quan niệm của anh thì lại không dám ủng hộ anh một cách công khai, mạnh mẽ. Trong tư tưởng của họ, họ vẫn chưa hề chấp nhận được cái cách đấu tranh, cách phản ứng quá táo bạo và quyết liệt của anh. Thanh có phần nào như lạc lõng, xa lạ giữa những người đồng chí, giữa quê hương mình. Nhưng anh vẫn tự tin và thấy cần phải sống như vậy. Ngay hôm sau cuộc họp chi bộ, Thanh đã lên gặp ban tổ chức huyện uỷ. Anh trình bày ý kiến của mình về việc kỷ luật Luyến, về phản ứng của anh trước quyết định của huyện uỷ và đề nghị huyện uỷ xem xét lại. Buổi chiều, vừa về đến nhà, Vy đưa cho Thanh mảnh giấy mời gặp của thường vụ đảng uỷ, có chữ ký của phó bí thư phụ trách tổ chức Đào Hữu Thiển. Cuộc gặp gỡ chỉ có hai người, trong văn phòng đảng uỷ. - Chúng ta sẽ tâm sự với nhau như những người đồng chí. - Thiển đưa bao thuốc lá mời Thanh và kéo ghế lại gần bàn… - Mình có lỗi là từ ngày cậu về, mình chưa đến thăm cậu được. Bận quá. Bao nhiêu công việc cứ bù đầu… “Anh nói dối. Công việc đảng hay công việc riêng tư nào? Anh không muốn đến với tôi, cứ nói thẳng ra như thế hay hơn”. - Anh nghĩ. - Mình biết. Mười năm qua là cả một thử thách ghê gớm đối với cậu. Lành lặn mà trở về được như thế này thật là một điều kỳ lạ mà người ta chỉ có thể giải thích bằng sự may rủi. Mình ngày xưa cũng thế. Kháng chiến chống Pháp có kém phần gian khổ, ác liệt so với kháng chiến chống Mỹ đâu? Về mặt gian khổ thì có thể hơn, chắc chắn hơn. Một tháng liền bọn mình phải ăn rau tàu bay, đêm mò vào bốt địch để khoắng đồ hộp của tụi Lê-Dương… Bây giờ nghĩ lại thấy cũng ghê. Nhưng xét cho cùng sự cống hiến của bọn mình cũng chẳng thấm tháp gì so với hàng triệu người… Chẳng có gì đáng để cho mình ỉ thế công thần, khoe khoang thành tích… “Anh nói vòng vo để ám chỉ tôi. Tôi có khoe khoang cậy thế gì với anh đâu? Đã bao giờ tôi giơ lưng cho người ta đếm đủ mười lăm vết thương? Và cả cái vết thương không có sẹo ở trong tim tôi nữa? Có ai biết đâu? Anh hiểu sai tôi rồi. Cứ nói thẳng cái điều anh muốn nói ra đi”. - Mình nói vậy để chúng ta nhất trí với nhau rằng: chiến đấu, đó là một nghĩa vụ đối với Tổ quốc, cũng như sản xuất vậy thôi, ở cương vị nào cũng là phục vụ cả. Cậu đã về địa phương tham gia sản xuất, đó là điều rất hay. Chúng mình đang rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của những đảng viên lâu năm, đã trải qua chiến đấu như cậu. Trong tình hình đảng bộ ta hiện nay, vấn đề quan trọng là toàn đảng bộ phải đoàn kết, nhất trí quan điểm… “Anh muốn nói đoàn kết theo kiểu xuôi chiều? Và nhất trí quan điểm tức là thủ tiêu đấu tranh?” - Không nắm vững vấn đề này, chúng ta sẽ tạo nên bè phái, tạo nên sự chống đối trong Đảng. Rất tiếc rằng những ý kiến trong cuộc họp chi bộ của cậu đã gây nên dư luận không tốt trong cả quần chúng nữa. Cậu để mình nói hết. Mình hoàn toàn tán thành quan niệm của cậu về đấu tranh. Nhưng đấu tranh phải có tổ chức và phải biết phương pháp mềm dẻo, tế nhị. Trường hợp cô Luyến, không thể có hình thức kỷ luật nào khác hơn được. Là đảng viên, tại sao cô ấy lại không thể tự đấu tranh với bản thân mình? Cậu thử tưởng tượng, quần chúng sẽ nghĩ về đảng bộ ta như thế nào nếu chúng ta không kiên quyết với những khuyết điểm của cô ấy? - Đồng chí đã nói hết chưa? - Suốt từ nãy Thanh vẫn ngồi im lặng, cố nghe Thiển nói. Nhưng bây giờ thì Thanh không đủ kiên nhẫn để nghe thêm nữa. - Trước hết anh quan niệm sai về tôi. Tôi không hề cậy thế có mười năm chiến trường ở sau lưng. Tôi chỉ là một đảng viên bình thường có trách nhiệm phải làm tròn nghĩa vụ của mình. Anh vừa nói đến vấn đề đoàn kết. Tính tôi thích thẳng thắn. Tôi xin nói với anh rằng, theo tôi biết, hiện nay đảng bộ mình đang có nhiều vấn đề bất đồng, đang tạo thành hai ba phe cánh chống đối nhau, nhưng trong các báo cáo gửi lên cấp trên thì các anh lại cố ý che phủ bởi cái danh từ đoàn kết nhất trí. Giữa anh và Cơ, các anh có đoàn kết với nhau không? Không thể đoàn kết theo cái kiểu để các anh biến tôi thành cái đuôi của phe này hoặc phe khác. Về trường hợp đồng chí Luyến, như tôi đã nói quá đủ rồi. Các anh cổ hủ và thành kiến lắm. Các anh quá nhẫn tâm với một người đồng chí mà cuộc đời trĩu nặng một tấn bi kịch. Người phụ nữ nào muốn như vậy? Tự đấu tranh với bản thân mình ư? Kẻ nào nói như vậy chỉ là lừa dối. Không ai có quyền bắt người khác phải sống khác con người. Chính bản thân tôi đã từng chịu một mất mát ghê gớm, anh có biết không? Không, anh không biết đâu. Anh là người cộng sản, nhưng anh lại sống dửng dưng đến mức trái tim cũng không còn biết rung động. Tôi khác anh ở chỗ là tôi đã biết tha thứ… Thanh đưa tay vò mái tóc, khép mắt lại để che đi cái ánh nhìn đau đớn. Anh muốn nói thẳng ra cái điều mà năm năm nay đã bị che kín đi. Nhưng rồi chợt nghĩ đến Vy, anh vội kìm lại. Để làm gì? Vô ích… Chỉ mình anh biết và anh đã tha thứ. Phản ứng của Thiển cũng không kém phần quyết liệt. Thiển đứng hẳn dậy, mở tung cánh cửa và lên án Thanh một thôi dài về quan điểm lập trường, về sự cố tình đánh giá đảng uỷ hoàn toàn lệch lạc. - Anh đã bôi nhọ đảng uỷ với một thái độ đầy bất mãn và khinh miệt. Cái hành động bỏ về giữa cuộc họp chi bộ của anh chính là sự vô tổ chức, phá hoại kỷ luật của Đảng. - Anh chớ vội chụp mũ. Nếu đảng bộ chỉ là riêng mình anh thì đúng đấy. Tôi phản đối anh. Chính xác anh đã tước quyền đảng viên của tôi trong cuộc họp. Lối lãnh đạo độc đoán và quan liêu ấy, thực chất là thủ tiêu tính chiến đấu. Ban thường vụ các anh phải chịu trách nhiệm trước Đảng về tất cả những hậu quả ấy. Tại sao các anh lại cứ muốn đưa ra khỏi Đảng một đảng viên thực sự có phẩm chất như đồng chí Luyến, trong khi các anh vẫn dung túng hàng chục đảng viên thoái hoá và mất phẩm chất mà quần chúng đã từng góp ý? Tại sao tám năm nay các anh không kết nạp được một đảng viên trẻ nào? Thanh niên họ xấu quá ư? Hay chính vì các anh đã quá lạc hậu, lỗi thời? Anh phụ trách tổ chức, anh hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều đó. Cuộc trao đổi đã biến thành một cuộc giằng co mà cả hai người đều kích động và nóng nảy. Đó chính là nỗi thất vọng lớn nhất đối với Thanh từ ngày anh xuất ngũ trở về nhà. XV Tình yêu ! Cho đến bây giờ vẫn chưa có ai đưa ra một định nghĩa trọn vẹn và đầy đủ nào về khái niệm có ý nghĩa trường cửu của đời sống con người ấy. Nhưng về một phương diện nào đó, đó chính là một thử thách quyết liệt để khẳng định lòng quyết tâm sắt đá của cặp tình nhân. Về phương diện này thì cả Đạt và Thắm đều có dư thừa. Một chàng trai hai mươi tuổi và một cô gái mười tám khi đã say nhau thì họ có thể vượt qua tất cả. Mặc dù đã cố dùng mọi biện pháp: động viên, khuyên nhủ, mắng chửi, đe nẹt, hứa hẹn… ông Điền vẫn không thể nào thuyết phục nổi con trai. Hơn cả một con chiên ngoan đạo, Đạt không hề sai một lần hẹn nào với Thắm. Bằng mọi mưu mẹo vốn rất có sẵn ở lứa tuổi anh, chỉ một hai tuần anh lại có mặt ở nhà. Người kiên quyết chống phá nhất, chính là người đầu tiên hoan mang lo lắng và có tư tưởng thoả hiệp, đó là ông Trạc. Ông bị vợ thúc ép bằng mọi hình thức: cầu xin, van vỉ, giận dỗi, đá thúng đụng nia… Từ ngày ông ra hợp tác, trong gia đình đã bắt đầu thành hai phe, mặc dù chưa rõ rệt. Nhưng cho đến giai đoạn tình yêu của Thắm chín muồi thì hầu như ông hoàn toàn bị cô lập. Cả ba mẹ con nhiều hôm cứ về đến nhà là mặt chảy thượt ra. Họ tạo thành một cuộc chiến tranh lạnh không tuyên bố, không thời hạn. Ông bắt đầu hoang mang. Kiểu này là mọi chuyện lại đổ hết lên đầu ông thôi. Giữ con gái lớn trong nhà như ủ trấu dưới bếp. Thật là vô phúc cho ông, nếu con Thắm lại đổ đốn như cô Luyến. Ông nghe ngóng bên nhà ông Điền. Bà mẹ chiều con, nhưng ông bố vẫn không hề lay chuyển. Từ hoang mang dẫn đến lo ngại. Nỗi lo cứ tăng dần lên mỗi lần ông thấy cái anh chàng Đạt cứ ngang nhiên xuất hiện ở làng. Cấm làm sao nổi chúng nó gặp nhau? Ông bắt đầu bàn với vợ tìm cách đánh tiếng cho nhà bên kia. Thôi, cho họ “rước” đi, sớm ngày nào hay ngày ấy. Ông Trạc đến chơi nhà ông Điền. Một hành động hiếm có ở một con người khí khái như ông. Biết làm sao được. Quýt làm cam chịu. Con dại, cái mang. Nhưng thật cực. Suốt gần một buổi chiều ngồi hút gần hết gói thuốc lào Vĩnh Bảo mà ông vẫn không thể nào nói ra được cái chuyện ấy. Suy cho cùng thì ông đâu có nệ cổ. Thế này là cọc đi tìm trâu rồi còn gì? Tự mình sang đặt vấn đề với nhà trai về công việc của con cái hai bên kia mà? Vậy mà khó quá, chịu không tài nào nói ra được. Và ông Điền cũng không chịu gợi ra mới ác chứ? Ông Trạc cảm thấy bẽ mặt, thấy buồn vô cùng. “Chỉ vì mình ra hợp tác ư? Ai bảo tôi đã ra hợp tác? Ruộng đất, khổ phần của tôi vẫn còn đó. Hợp tác xã đã tuyên bố khai trừ tôi bao giờ? Hả? Hai mươi năm tôi làm cật lực. Bây giờ tôi “nghỉ hưu”. Mua con bò về thả chơi. Ông làm bí thư mà cái bụng ông cũng cạn hẹp thế thì giáo dục ai được?”. Ông Trạc nghĩ thế và hận ông Điền lắm. Còn ông Điền? Thực tình ông thấy khó nghĩ. Một bên là tình cảm và đòi hỏi chính đáng của con trai. Một bên là cương vị bí thư đảng uỷ của ông. Thông gia với một người vừa nộp đơn xin ra hợp tác xã? Riêng điều ấy đã khó giữ được uy tín và lập trường, quan điểm? Thông gia hay thông đồng tiếp tay cho những người muốn đi ngược lại đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội? Cho đến cái tháng áp tết thì ông Điền nhận được một “tối hậu thư”. Đạt về nhà lần này mang theo cả ba lô, đồ đạc như đã sẵn sàng xuất ngũ. Tối hôm ấy anh không đi đâu cả. - Con muốn thưa chuyện với thầy. - Đạt chủ động kéo ghế ngồi đối diện với ông Điền, gương mặt trở nên nghiêm nghị và rắn rỏi. - Con đã xin phép đơn vị về lần này để cưới vợ. - Lấy ai? - Ông Điền trừng mắt tỏ vẻ ngạc nhiên. - Thầy biết rồi đấy. Cô Thắm con ông Trạc. Nếu tết này thầy u không cho con cưới Thắm thì từ nay con sẽ ở nhà không trở lại đơn vị nữa. Cái tối hậu thư ấy làm cho ông Điền cả đêm không ngủ. Ông biết tính con trai ông. Nó đã nói thì nó sẽ làm, không thể ngăn cản được. Mặc nhiên ông phải đứng trước hai điều cần chọn: làm thông gia với ông Trạc hay làm bố của một kẻ đào ngũ. Tất nhiên là ông phải lựa chọn hướng thứ nhất. Cái chiến thuật lấn dần từng bước để rồi dồn ép đối phương bắt buộc phải đầu hàng của Đạt đã hoàn toàn thắng lợi. Ông Điền đạo diễn cho vợ và hai em trong họ đứng ra thu xếp mọi chuyện. Công việc được tiến hành chóng vánh. Bởi vợ chồng ông Trạc không phải là những người khó tính, nhiêu khê gì. Lễ ăn hỏi được tiến hành ngay. Lễ cưới ấn định vào ngày mồng bốn tết. Lần này thì đích thân ông Điền lên hẳn đơn vị để trình bày hoàn cảnh và xin phép cho Đạt nghỉ nửa tháng để tổ chức cưới. Đơn vị Đạt mặc dù đang ở trong tình trạng báo động, tình hình biên giới phía Bắc đang có nhiều hướng xấu đi, nhưng trước đề nghị tha thiết của ông Điền và lại có thư của thủ trưởng sư đoàn, nên đã đồng ý cho Đạt nghỉ phép. *** - Ăn kem đã, anh Đạt ơi! - Vừa xuống tàu điện, Thắm đã cầm tay Đạt kéo về phía một quần bán kem cạnh Bờ Hồ. - Quê quá. Mùa đông ai lại đi ăn kem. Buốt răng chết. Chúng mình sẽ vào Phú Gia. - Ứ. Nhưng mà em thích. - Thắm nguẩy hai bím tóc, nghiêng cặp mắt to đen nhìn Đạt hờn dỗi. Ánh mắt như có sức thôi miên khiến Đạt không thể từ chối một điều gì. Anh nhìn Thắm âu yếm. Giữa phố phường Hà Nội. Thắm như tách biệt hẳn những người xung quanh. Áo len màu xanh nước biển, quần lụa đen, dép nhựa. Thắm giản dị và có phần quê mùa so với những cô gái tóc xoã ngang vai, áo thun chẽn hoặc áo bu-dông đỏ chói, áo len đủ kiểu rực rỡ và sang trọng, quần loe bó sát hai đùi. Nhưng mà Thắm đẹp và đáng yêu quá. Nếu Thắm mà được ăn diện như tất cả các cô gái Hà Nội kia, Thắm sẽ vượt rất xa họ. Hãy cứ nhìn nước da và đôi mắt xem. Con gái đồng chiêm, suốt ngày dầm mưa dãi nắng ngoài đồng mà nước da vẫn sáng hồng, đôi má căng mịn. Và đôi mắt, cứ đen láy, biêng biếc lúc nào cũng mở to trong sáng và thơ ngây. Ngày hôm nay Thắm vui và hạnh phúc quá. Hôm qua cô đã lên tận đơn vị Đạt đóng quân, để cùng anh về Hà Nội sắm đồ cưới. Lần đầu tiên hai đứa đã chi tiêu một khoản tiền lớn quá sức tưởng tượng. Thắm cố thuyết phục Đạt phải mua bộ com-lê thật đẹp. Hôm ấy nhất định Đạt phải thắt cra-vát nữa. Không thể mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình đi đón dâu được đâu. Hoà bình rồi. Chú rể bộ đội cũng cần phải diện một tí chứ. Còn Thắm? Chiếc áo len xanh nước biển này đẹp lắm rồi. Quần lụa đen Thắm có rồi. Chỉ cần một chiếc sơ-mi trắng nữa. Nhưng Đạt cũng không chịu nhượng bộ Thắm dễ dàng. Anh mua cho Thắm một chiếc quần Âu màu cà-phê sữa và một đôi guốc cao mười phân. - Đừng mua. Em không mặc đâu. Đi làm đồng suốt. Có lúc nào mà mặc. - Thắm giãy nảy làm mấy cô mậu dịch viên cứ nhấm nháy nhau cười thương hại. - Với lại… - Thắm ghé tai Đạt nói nhỏ - Với lại… ít nữa có con thì bỏ đi à? Đạt đỏ bừng mặt. Vì xấu hổ. Nhưng cũng vì thích thú nữa. Cuối cùng thì họ cũng dàn xếp được với nhau. Đạt vẫn nhất quyết mua cho Thắm chiếc quần Âu, dù Thắm chỉ mặc một ngày cưới. Cả một ngày nhưng họ chỉ đi được quanh mấy phố Bờ Hồ, cửa hàng Bách hoá Tổng hợp và chợ Đồng Xuân. Đạt tìm mua một bộ chữ bằng bọt xốp cắt lồng hai chữ T và Đ thật đẹp. Đạt còn mua cho Thắm một bông hồng trắng muốt, cả lá và cành cùng trắng, làm bằng lụa thêu kim tuyến. Ngày cưới, Thắm sẽ cài bông hoa lên mái tóc, như một biểu tượng của hạnh phúc. Mải mê mua sắm, lúc họ về tới bến xe khách thị xã thì chuyến ô tô cuối cùng cũng vừa chạy. Quay trở lại Hà Nội hay tìm nhà một người quen ngủ lại? Ở thị xã này họ dễ dàng tìm ra một vài người quen, nhưng họ không muốn. Nếu chỉ có một mình Thắm thì cô đã cuống lên không biết xử trí ra sao. Nhưng bây giờ thì Thắm đã có Đạt bên cạnh. Thắm lại cho cái việc lỡ xe này là một điều thích thú. - Chúng mình sẽ ngồi cả đêm nay ở bến xe. Lúc nào buồn ngủ thì em sẽ dựa vào lưng anh. - Thế còn cái túi du lịch thì phần kẻ cắp… - Ừ nhỉ? - Thắm bật cười phá lên và cô kéo chiếc túi du lịch ngắm lại bông hoa của mình. - Hay là chúng mình đi bộ? Tảng sáng đến nhà thôi mà… Đến bây giờ Đạt mới sực nhớ ra cái biện pháp anh vẫn quen dùng mỗi khi anh muốn về với Thắm mà bị nhỡ xe. - Đi! - Đạt xách túi du lịch và cầm tay Thắm. Thắm thích thú vì lời đề nghị của mình không ngờ lại thành một sáng kiến. Thắm cầm một quai túi du lịch và hai người đi dọc con đường thị xã lúc này vừa mới lên đèn. Nhưng mà họ cũng chẳng phải đi bộ lâu. Đạt dừng lại trước cửa ca-bin một chiếc xe tải đỗ cạnh đường, hỏi người tài xế, xoè ra tờ năm mươi đồng mới cứng và hai người lập tức cùng trèo lên buồng lái. Thắm ngồi dựa đầu vào vai Đạt, mơ màng nghĩ đủ thứ chuyện cho ngày hạnh phúc sắp tới của mình. “Cưới xong anh sẽ phải lên đơn vị. Ồ, không thể ở nhà mãi với vợ được đâu, ông ơi. Đào ngũ là em sẽ cắt. Nhưng mà xa nhau thế cũng buồn nhỉ? Em sẽ lên thăm anh mỗi tháng một lần. Em biết đường rồi mà. Bạn của anh có vẻ cũng mến em lắm. Hôm qua các anh ấy làm em xấu hổ quá. Cái anh Đoàn, trung đội trưởng, tếu thật, cứ bảo em tảo hôn mới ức chứ. Em bảo em hai mốt tuổi rồi, bằng tuổi anh Đạt. Anh ấy bảo: “Đã thiếu tuổi còn khai gian. Tao là uỷ ban, tao sẽ không cho chúng mày đăng ký”. Không cho đăng ký mà được. Thứ ba tuần sau chúng mình sẽ đi đăng ký nhé. Hôm ấy anh sẽ đi trước, chờ em ở uỷ ban. Chứ hai đứa cùng đi thì xấu hổ chết… Từ nay đến hôm cưới còn gần nửa tháng nữa. Lâu quá. Em chỉ thương u. Đáng lẽ em phải ở nhà giúp u vài năm nữa. Em đi rồi, chỉ còn một mình u làm hợp tác, lấy đâu ra thóc. Thầy thì đã có con bò, chẳng phải lo. Sau tết, con bò của thầy sẽ đẻ đấy. Hay là chúng mình xin thầy con bê con, nuôi. Buồn cười nhỉ, em mà đi chăn bò ấy à? Có mà thiên hạ họ chửi cho. Không. Em còn trẻ. Suốt đời em sẽ làm xã viên hợp tác. Nhưng cứ thu hoạch kiểu này thì cực quá. Rồi chúng mình sẽ có con. Anh đi bộ đội, thầy u bên ấy cũng già rồi, mình em làm hợp tác, lấy gì nuôi con? Em sẽ chóng già đi lắm đấy. Phụ nữ nông thôn mà, đời con gái ngắn và chỉ gói trọn trước khi lấy chồng… Thôi, chẳng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Bà cụ non. Cứ biết rằng em đang sung sướng lắm. Tối qua, anh có nhớ không? Nếu ở nhà cô Vy xem tivi thì em chẳng được biết công viên Thống Nhất nó như thế nào. Mình đi sớm thế mà các ghế đá họ đã ngồi chật. Buồn cười nhỉ, họ cũng yêu nhau như chúng mình. Ghét nhất anh. Anh làm môi em còn đau đây này…". Thắm đưa tay lên xoa môi. Và cô lần tìm tay Đạt đưa lên môi mình cắn mạnh làm cho Đạt giật thót người. Loáng cái đã đến thị trấn phố huyện. Người lái xe bỏ họ lại dốc đầu đê. Từ đây về đến nhà phải đi bộ tám cây số. Bình thường Thắm chỉ đi hết hai tiếng. Nhưng có gì phải vội vã? Con đường trước mặt chỉ có hai người. Hoàn toàn thuộc về riêng hai người. *** Luyến ngồi chong đèn bên bàn. Tất cả sổ sách, chứng từ, phiếu xuất nhập kho trong các ô tủ được Luyến lôi ra chất đầy trên bàn. Suốt từ ngày hợp tác lên hợp nhất, đã hai lần Luyến đề nghị ban quản trị cho tổng kiểm tra lại các kho xem thiếu đủ ra sao, những chứng từ hoá đơn nào không cần thiết thì niêm phong cất đi hoặc huỷ, nhưng chẳng ai chịu cùng Luyến làm việc đó. Tính Luyến vốn cẩn thận. Tất cả các loại giấy tờ đều được sắp xếp lại theo từng loại, nên tuỳ thời gian quyết toán dài, giấy tờ chất từng đống, nhưng từng số liệu, từng loại sổ sách vẫn không hề bị rối. Ngày mai Luyến sẽ chính thức bàn giao tất cả sổ sách giấy tờ này cho Thảng. Công việc bàn giao kho suốt ba ngày nay Luyến đã làm xong. Mệt. Nhưng mà Luyến rất vui. Bởi vì so với các số liệu trong sổ sách thì tất cả các kho đều khớp hoặc thừa, không có chuyện thiếu hụt. Kho thóc giống, thừa ra một tấn tám. Kho thóc thịt thừa ba tấn ba. Kho phân đạm thừa bốn tạ bảy. Lý do cũng dễ hiểu: thóc, phân để trong kho bao giờ cũng dôi ra vì chúng luôn hút ẩm. Nhập một tấn thóc khô để ba tháng khi xuất sẽ dôi ra hai mươi cân. Ấy là chưa kể những ngày thu hoạch, nhiều khi phải nhập thóc ướt, bao giờ hợp tác xã cũng định ra một tỉ lệ khấu hao có lợi cho nhà kho. Mới tính sơ ba năm, riêng thóc, Luyến đã làm lợi hợp tác xã hơn ba tấn. Số thóc ấy, vào tay những thủ kho ranh ma thì hợp tác xã không thể nào có được. Chỉ còn ngày mai nữa là xong. Luyến sẽ trả lại cả cái phòng này cho hợp tác xã, chị lại về ở với gia đình ông Trạc. Ông bà Trạc muốn Luyến dọn về trước tết để còn lo đám cưới Thắm. Anh em dẫu giận nhau đến không muốn nhìn mặt, nhưng nghĩ thương Luyến, ông Trạc cũng không nỡ hắt hủi. Đêm càng khuya càng lạnh. Luyến đang định tắt đèn đi ngủ thì có tiếng khúc khích cười ở đầu nhà. Luyến nhận ra tiếng Thắm và Đạt. - Sao chúng mày về khuya thế? Mười hai giờ đêm rồi còn gì? - Chúng cháu bị nhỡ xe. Cô có biết không, chúng cháu định đi bộ… Luyến đỡ cho Thắm chiếc túi du lịch đặt lên giường, tròn mắt nhìn hai người… - Đi bộ suốt từ bến xe thị xã về đây? - Suýt nữa, cô ơi. Thế này nhá… Và Thắm bắt đầu thao thao kể về cuộc hành trình của mình. Căn phòng ríu ran tiếng cười nói và ấm sực lên vì sự có mặt của họ. Thắm mở túi du lịch khoe với Luyến tất cả những đồ cưới mà họ vừa mua sắm: màn tuyn, quần áo, giày, guốc, bánh kẹo,… Có cả một bông hoa hồng trắng muốt. Luyến nhìn bông hoa Thắm nâng niu, ve vuốt trên tay mà không giấu nổi tiếng thở dài. Mình không bao giờ có được bông hoa ấy… - Còn đây là quà của cô… - Lúc sau, Luyến đi lại mở tủ lấy ra một xấp vải hoa đã được may thành vỏ chăn, đưa cho Thắm. - Ôi, hết ý rồi, anh Đạt ơi. Vỏ hoa này bây giờ thì không tài nào mua được đâu. Chúng mình phải cám ơn cô Luyến đi… Đạt tỏ ra bẽn lẽn và dè dặt, nhưng Thắm thì lại nói như khướu. - Bây giờ cô phải cho chúng cháu ăn một cái gì đã. Sau đó cháu sẽ ngủ đây với cô, về khuya quá, thầy cháu chửi chết. Còn anh Đạt thì phải về nhà. Đạt mỉm cười, nói thầm với Thắm: - Anh cũng ngủ lại đây. - Giời ơi, em cấm. - Thắm giơ nắm tay lên mà hàm răng lại trắng muốt đến duyên. Họ hí húi nhóm bếp vừa rán vừa ăn bánh mì - bột mì do nhà nước "cứu đói" cho hợp tác xã Thanh Bình mà Luyến được chia. Cho đến lúc Thắm đưa tiễn Đạt về, cũng là lúc các chú gà trống thức giấc, cất loạt gáy đầu tiên. Trời tối nhờ nhạt. Và gió. Càng về khuya sương xuống càng dày. Không gian mờ ảo như hoà lẫn mọi vật vào nhau. Cả Thắm và Đạt cũng như hoà lẫn vào nhau. Họ đứng dưới gốc cây gạo già. - Thôi, anh về đi… Khuya rồi… Cô Luyến em mắng chết… - Thắm nói như nài nỉ, nhưng ánh mắt, hơi thở, bàn tay Thắm thì lại càng níu giữ, càng sôi nổi, nồng nàn hơn trước. Đạt không nói, chỉ quàng tay qua vai Thắm, ghì siết. Cả thân hình Thắm nóng hổi, toả ra cái hơi ấm nồng nàn và mùi thơm con gái đến say người. Và, đôi môi Thắm mới ngọt ngào, mềm ấm làm sao. Đạt cảm thấy cổ mình khô khát, bỏng rộp. Thắm! Đạt thầm gọi và anh hôn Thắm đến nghẹt thở. Chỉ mấy ngày nữa Thắm sẽ là của anh. Mãi mãi. Nhưng lâu quá. Bây giờ đối với anh, mỗi ngày dài như thế kỷ. Chợt hiện lên một khoảng trắng đến mịn màng. Dường như khuôn ngực Thắm, bờ vai Thắm đang phát ra cái thứ anh sáng kỳ ảo. Đạt ấp cả gương mặt mình lên cái vùng sáng kỳ ảo ấy. - Đừng… Đừng làm thế… - Thắm run lên không phải vì lạnh. - Rồi cô chợt bật cười, rất khẽ: - Kìa, thầy em kìa. Bây giờ anh không sợ ông cụ nữa ư? *** Đạt đi rồi mà Thắm vẫn không hết bàng hoàng. Thắm đứng tựa người vào gốc gạo rất lâu để trấn tĩnh lại. Tim Thắm đập thình thịch như gõ trống và đầu óc thì cứ chơi vơi bồng bềnh như Thắm vừa trải qua một giấc mơ. Thắm áp bàn tay lên đôi má nóng rực và lim dim đôi mắt mường tượng lại những giây phút kỳ diệu vừa qua… Nhưng kìa. Hình như có tiếng người? Có tiếng những bước chân thình thịch và tiếng một vật gì đó rơi tùm xuống nước. Rồi tiếng ùng ục, tiếng khoả nước rất mạnh hệt như hai con trâu đang quần nhau dưới ao. Tim Thắm bỗng giật thót. Linh tính như báo cho cô có điều gì chẳng lành. Những tiếng động ở đằng kia, chính là nơi Đạt vừa đi tới. Quên hết cả mọi nỗi sợ hãi, như một phản xạ tự nhiên, Thắm chạy ào về phía có tiếng ùm ũm dưới nước. Trong bóng đêm mờ mờ Thắm thấy hình như có hai người đang quần nhau dưới ao. Cả một góc ao, nước sủi lên sùng sục. Tiếng đấm, đạp. Cả hai bóng người sáp vào nhau. Cái bóng to lớn chồm lên đưa cả hai bàn tay chẹn lấy cổ người kia đè xuống nước. Tiếng sặc nước ằng ặc. Cái bóng người nhỏ hơn chợt vùng trở dậy. Đúng là Đạt rồi. Thắm líu lưỡi và run cầm cập đến không thể kêu thành tiếng. Một bóng đen khác đang vác một vật gì đó trắng mờ giống bao phân đạm từ trong phía nhà kho chạy qua. Nhìn thấy Thắm, bóng đen quăng phịch cái bao xuống đất. Thắm quay lại, vừa kịp nhận ra cái bóng của Thảng. - Ối làng xóm ơi. Bọn ăn cắp… Thắm chưa kịp kêu dứt, một đầu gậy đã vụt lia đến. Và Thắm nằm gục ngay mép bờ ao, không còn biết gì nữa. *** Nghe tiếng kêu, nhưng mãi lúc lâu sau, Luyến mới cầm đèn tìm đến nơi. Nhìn thấy Thắm và Đạt, chị oà khóc nức nở. Thắm nằm trên mép bờ ao. Một mảng đầu bết máu. Máu chảy đỏ bầm cả một vạt áo len xanh màu da trời. Cả người Đạt bê bết đầy bùn. Anh nằm gục mặt lên bờ ao, ngay phía dưới Thắm. Từ hai ống chân trở xuống vẫn còn dầm dưới nước. Có lẽ vừa rồi anh đã cố lết từ ao lên để đến với Thắm, nhưng không còn đủ sức. Khi trời sáng rõ, xem xét kỹ lại nhà kho, người ta phát hiện ra một mảng ngói trên nóc nhà kho phân đạm đã bị dỡ. Cửa kho vẫn khoá y nguyên. Nhưng một vệt phân đạm trắng lại rắc suốt từ trong kho ra đến ngoài cửa và kéo dài thêm một quãng nữa. XVI Suốt cả mùa xuân, Thanh Bình sống trong một không khí dồn dập những công việc chi viện cho biên giới và chuẩn bị mọi tình huống cho môt cuộc chiến tranh đang có nguy cơ lan rộng. Chiến tranh biên giới phía bắc mở ra vào hai giờ ba mươi sáng ngày 17 tháng hai năm 1979. Cơn dông bão của tử thần chiến tranh bỗng ập đến, gợi lại cái khung cảnh chết chóc dã man của những năm chống Mỹ đã qua mà người ta tưởng vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Lại những đợt trai làng rầm rập cầm súng, khoác áo lính lên biên giới, những đợt nữ thanh niên tình nguyện, tiếp tục được gửi lên các tỉnh áp sát vùng chiến sự để xây dựng phòng tuyến. Những chiếc hầm đã bị bỏ quên hoặc bị phá, được khôi phục lại. Công việc đồng áng có phần lắng đi. Xã viên có nhắc đến cái cách làm ăn mới của vụ đông vừa qua - cách khoán ruộng về từng gia đình đã mang lại những kết quả không ngờ, cứu vãn một vụ đông thất thu trông thấy nhưng trong bối cảnh ngổn ngang bao nhiêu điều phải lo này, người ta cũng dễ dàng tự bằng lòng chấp nhận cái nếp làm ăn quen thuộc. Và rồi đám mây chiến tranh cũng tan đi. Mùa hè ập đến giải thoát cái không khí mùa xuân 1979 ngột ngạt. Lúa đã chín. Bắt đầu mùa gặt. *** Mới qua một tuần đầu vụ mà chủ nhiệm Cơ đã gầy xọp đi, da đen sạm và đôi mắt trũng sâu lúc nào cũng đỏ đọc, nhập nhèm vì thức khuya nhiều, vì bụi phấn lúa. So với cái ngày Cơ chững chạc đầy hào hứng tự tin đọc bản báo cáo dài trước trăm người ở hội trường huyện năm ngoái thì bây giờ Cơ xấu trai đi nhiều lắm. Chiếc Honđa xanh gửi mua hồi miền Nam mới giải phóng, Cơ đã bán đi vì không chịu nổi tiền xăng và công sửa chữa. Bây giờ thì anh lại trở về với cái xe đạp. Suốt ngày đội nắng chang chang, lóc cóc đạp vòng các xứ đồng, đi lại giữa ba sân kho, giải quyết các công việc của hợp tác xã ở bất kỳ chỗ nào mà anh thấy tiện. Sau thời kỳ hoang mang dao động bởi một loạt những dự định, toan tính của mình bị sụp đổ, triển vọng của vụ mùa này lại bắt đầu nhen lên trong Cơ những hi vọng mới, lấy lại cho anh lòng tự tin vốn có. Giống như người vừa ốm dậy, Cơ cảm thấy hồi sức nhanh chóng. Những tham vọng, ước muốn ngày nào tưởng đã bị thiên tai, sự đố kị, hiềm khích trong nội bộ Thanh Bình… vùi dập đi, giờ lại bắt đầu trỗi dậy. "Vụ mùa này, mình sẽ lấy lại lòng tin cậy của huyện uỷ đối với Thanh Bình. - Cơ nghĩ - Sáu trăm tấn lương thực không phải chuyện nói suông cho vui đâu. Đã hứa với anh Trần Sinh là mình quyết làm. Mình sẽ chứng tỏ sức vươn lên của Thanh Bình bằng thực lực, chứ không phải chỉ là chuyện chuộng thành tích, chơi trội. Tay Đạm Vân Xuyên vẫn có vẻ chủ quan, coi thường Thanh Bình lắm. Thì bây giờ mình cũng có kém cạnh gì hắn. Mình cũng huyện uỷ viên. Ăn nhau bây giờ là anh nào dám vượt lên, có quyết tâm đi xa… ". Thế mới biết cái tham vọng của Cơ còn lớn lắm. Nhưng rút kinh nghiệm những ngày qua, bây giờ anh kín đáo hơn. Không ồn ã, khoa trương, Cơ ngấm ngầm bắt tay thực sự vào việc. Anh sâu sát các đội sản xuất, lăn lộn với đồng ruộng nhiều hơn. Nhưng ngày hôm nay, khác hẳn thường lệ, Cơ không đi thăm đồng. Lúa ngoài đồng tốt mà sao sản lưởng thấp; không đội nào vượt năng suất dự định. Vì sao? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh mãi trong đầu Cơ mấy hôm nay. Buổi sáng, ăn cơm xong, Cơ đạp thẳng xe xuống nhà Lập. - Có chuyện này mình muốn bàn với ông. Lập ngạc nhiên nhìn Cơ, nhưng anh không đoán được điều gì. - Ông còn nhớ mấy khu đồng bọn mình gặt thử để ước tính năng suất không? - Có. Tôi có ghi lại số liệu. - Lập lật giở sổ tay, đọc một mạch. - Cánh đồng Chằm gặt thử một sào ba, tính ra một trăm bốn ba cân một sào. Cánh đồng Con Cá một trăm hai bảy cân. Cánh Bà Chúa một trăm năm mốt… Ước tính đổ đồng toàn diện tích vụ này là chín mươi sáu cân. So với con số giao khoán cho các đội là tám nhăm cân thì chúng ta sẽ vượt mười một cân một sào… - Đấy, mình cũng ước tính như vậy. - Cơ mệt mỏi tựa người vào thành ghế, bỏ kính chấm mắt. - Nhưng thực tế việc thu hoạch của các đội ở ba sân kho một tuần vừa qua ông có thấy không? Không có cánh đồng nào đạt năng suất như bọn ta khảo sát. Nhiều đội hụt quá mức so với kế hoạch giao. Chẳng lẽ chúng ta ước tính sai? Hôm gặt thử lúa còn xanh. Bây giờ lúa chín hơn. Vô lý. Các đội ăn cắp bằng cách nào? - Anh có kiểm tra lại các tổ dân quân không? - Hoàn toàn tin tưởng. Mình đảm bảo, không xã viên nào ăn cắp được một cân thóc. Bốn giờ chiều các thư ký đội đổi chéo cho nhau, bắt đầu cân nhập kho và chia thóc cho các gia đình. Sáu giờ chiều đội nào chưa nhập xong cũng đề nghị ách lại. Suốt đêm mỗi nhóm dân quân ba người chia nhau trực gác ở mỗi sân. Lúa lọt đi đằng nào? - Thế mà vẫn có cách đấy. - Lập nói - Hoàn toàn chỉ là sự lặp lại của các mùa gặt trước. Anh có nhớ vụ mùa vừa rồi? Toàn hợp tác gặt chung về một sân kho. Mười sáu dân quân thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Hợp tác trực tiếp cử người đến từng đội cân nhập thóc vào kho và phân phối cho các gia đình. Chúng ta còn làm tới mức bí mật người cân nhập cho các đội trong từng ngày như việc phân giám thị cho các phòng thi vào trường đại học. Vậy mà sau vụ, vợ tôi nó khoe được đội chia lậu cho năm nhăm cân thóc khô. Thế đấy. Cách làm ăn của chúng ta hiện nay sẽ dẫn đến những hậu quả tất yếu ấy. Hợp tác giao sản lượng cho mỗi đội, mất mùa thì hợp tác chịu, được mùa tội gì họ nộp thêm. Số thóc dư ra, họ tìm mọi cách để chia riêng. Bằng cách ăn cắp tập thể. Tôi chưa tìm ra hình thức ăn cắp của mỗi đội. Nhưng tôi tin chắc rằng nhất định có. Vả lại cũng không còn cách nào khác được. Trừ phi anh dám làm theo cách trồng vụ đông vừa rồi… Thoáng nhìn vẻ mặt Cơ, Lập thôi không nói nữa. Từ cái buổi chiều Cơ và Lập va nhau về lập trường quan điểm ấy, mỗi ngày Lập càng cảm thấy Cơ xa mình thêm. Không phải Cơ không nhận ra vấn đề. Vụ khoai tây vừa rồi, chính xã viên đã cứu Cơ thoát khỏi cái thất bại thảm hại của một trăm năm nhăm mẫu đậu tương và đỡ cho cái chức huyện uỷ mà Cơ vừa trúng cử khỏi mất uy tín. Cơ là một người thông minh. Cơ hiểu ra điều đó. Cơ tin cậy và gắn bó với Lập thêm. Nhưng khi Lập bàn với Cơ tiếp tục làm theo cách ấy trong vụ chiêm xuân này thì Cơ lại thoái thác. Cơ sợ làm trái đường lối hợp tác xã. Sợ huyện uỷ. Và sợ nhất là cái chức huyện uỷ viên của Cơ bị mất. Con người ta là một mớ mâu thuẫn, nhưng không phải là không thể hiểu nổi. "Anh có cái nhược điểm lớn nhất suốt đời nó sẽ làm hại anh. - Lập nghĩ - Anh có năng lực, hết lòng lo nghĩ cho tập thể. Nhưng anh không tách nổi cái bóng của anh ra khỏi khối tập thể ấy. Anh muốn trùm lên họ cái bóng của mình. Nhưng thực ra anh lại chỉ là cái bóng của những kẻ hãnh tiến, cơ hội khác. Chừng nào có đủ bản lĩnh, vứt bỏ cái bóng cá nhân đầy ham muốn những thành tích và địa vị của mình, anh sẽ giúp ích thực sự cho những người lao động…". - Phải kiên quyết ngăn chặn cái tệ nạn ăn cắp tập thể, giấu sản lượng này thôi, ông ạ. - Cơ như người ngủ gà, choàng tỉnh dậy, nói một cách kiên quyết. - Để làm gì? Anh không bịt nổi lỗ rò, trong lúc khắp nơi nước đã tràn ứ lên kia. Lập muốn nói thẳng những suy nghĩ của mình: "Theo tôi, vấn đề không phải chỉ là bịt lỗ rò, mà đã đến lúc chúng ta phải thay đổi phương thức quản lý. Muốn nạn ăn cắp tập thể, giấu sản lượng này chấm dứt, chúng ta phải có cách làm ăn mới. Làm sao cho người xã viên thấy hạt lúa làm ra thực sự là của họ…". - Ông đừng lý luận suông nữa. - Cơ nóng nảy chặn ngang. - Phải bắt tay vào hành động. Tôi sẽ bàn với ban kiểm soát, chiều nay ta cử người xuống kiểm tra đột xuất cả ba sân kho, lập biên bản tại chỗ. Phải bí mật không cho đội trưởng và thư ký các đội biết. Chiều nay ông với tôi sẽ xuống sân kho Thanh Cao. *** Chiều đến, người, lúa, từ các ngả đồng dồn về cả làng. Những chiếc xe bò xếp lúa cao chất ngất được hàng chục xã viên bám xung quanh vừa đẩy vừa hò reo, lao băng băng về các sân kho. Người cầm càng chiếc xe bò cuối cùng là một cô gái. Đôi xà cạp tay đã được tháo ra để lộ hai cánh tay trần trắng hồng chắc nịch. Dưới vành nón, cả gương mặt được giấu hẳn trong chiếc khăn vuông hoa màu xanh, chỉ để lộ ra đôi mắt to đen, không thể đoán được người và tuổi. Bảy cô gái đội Mười, cô nào cũng chắc khoẻ, nhưng ướt đẫm mồ hôi, choài người trên xe lúa, đi như chạy. Chiếc xe vượt hết cả một đoàn xe dài, lao ngoặt vào cổng sân kho Thanh Cao. Vừa đặt càng xe xuống, cô gái đã bỏ nón, đứng tựa vào chiếc máy tuốt lúa vừa ngừng, cởi chiếc khăn hoa xanh và ngửa mặt lắc lắc cho mái tóc chảy xoà trên vai với một cử chỉ hết sức duyên dáng. Thắm! Tất cả những chàng trai có mặt trên sân kho lúc ấy đều cùng đổ dồn mắt lại. Chỉ hai tháng gần đây, Thắm mới bộc lộ hết vẻ đẹp ở tuổi dậy thì của mình. Làn da căng hây hẩy. Khuôn ngực rắn chắc. Đôi bờ vai tròn căng. Lúc cười hay những lúc buồn, khuôn mặt đều có sức quyến rũ riêng, khiến người khác không thể không thán phục, trầm trồ. Tuổi trẻ thật kỳ diệu. Sau cái đêm ở bờ ao nhà kho, ai cũng tưởng Thắm không thể sống nổi. Chiếc gậy tre già đã làm đứt băng một mảng tóc, làm rạn vỡ một mảnh xương đầu. Thắm nằm mê man ở phòng cấp cứu bệnh viên ba ngày. Rồi hơn một tháng ở phòng điều trị. Riêng Đạt vết thương không nặng lắm. Chỉ sau tết mấy ngày, Đạt đã trở lại đơn vị một cách bình thường. Hôm ấy, nếu không có sức khoẻ, có lẽ Đạt đã nằm gục dưới đáy ao, không thể gượng lên bờ nổi. Hành động dũng cảm của Thắm và Đạt đã giúp hợp tác xã tìm ra thủ phạm của vụ ăn cắp phân đạm. Kẻ chủ mưu không phải ai xa lạ, chính là Thảng, thủ kho mới vừa thay Luyến. Lợi dụng thời gian bàn giao sổ sách, kho tàng còn đang kiểm tra, xác định lại, Thảng đã cùng với một đứa em họ tổ chức ăn cắp phân đạm của hợp tác xã. Lễ cưới của Thắm và Đạt đành hoãn lại. Cô dâu tương lai suốt một tháng ròng nằm bệnh viên. Còn Đạt, anh nhận được điện khẩn của đơn vị. Một tuần trước ngày giặc mở cuộc tấn công xâm lược, đơn vị Đạt đã nhận lệnh hành quân gấp lên biên giới. Mùa xuân qua đi. Rồi tiếp đến mùa hè. Thắm vẫn chưa nhận được tin tức gì của Đạt, trừ một lá thư duy nhất trước khi anh lên biên giới. Cái ngày Đạt chia tay Thắm để lên biên giới, anh giấu bức điện khẩn không cho Thắm biết. Thắm nằm trên giường bệnh, trắng toát những vòng băng trên đầu. Những vết khâu chưa liền chỉ. Cái đầu nặng trịch tưởng không phải của Thắm và lúc nào cũng nhức buốt như có ai cầm một mũi dùi khoan sâu vào trong óc. Anh ngồi bên Thắm cả một ngày. Đôi mắt cứ nhìn Thắm đau đáu, thương và yêu như rứt từng khúc ruột. "Đừng nhìn em như thế, anh". Thắm bóp bàn tay anh, nhưng không thể quay đi để không nhìn vào đôi mắt ấy. "Em có đau lắm không?". Thắm khẽ lắc đầu cho anh yên lòng. Nhưng ngay lúc đó Thắm phải nhắm mắt, cắn môi lại. Anh đặt bàn tay lên đầu Thắm. Lạ quá, đầu Thắm dịu đi ngay. Tưởng như vết thương không còn nữa. "Anh lại về với em chứ?". Thắm hỏi điều ấy, như là đã cưới nhau rồi ấy. "Anh sẽ về cưới em, khi nào em ra viện. Đừng buồn khi thấy anh về muộn. Nhất định anh sẽ về mà". Thắm nhìn sâu vào đôi mắt mở to rưng rưng mà thương anh quá. Con trai mà cũng khóc ư? Thắm cười định đùa anh mà không nỡ. Hình như anh rất muốn hôn Thắm. Bệnh viện đông người quá. Ước gì lúc đó chỉ có hai đứa thôi… Thế rồi anh đi. Cho mãi tới ngày ra viện Thắm mới nhận được thư anh. Lá thư ấy Thắm đã thuộc lòng. "Thắm vô cùng thương yêu! Thế là anh đành lỗi hẹn. Không phải tại anh đâu. Chiến tranh đã không cho chúng mình cưới nhau mùa xuân này. Em biết không? Tình hình biên giới đang rất căng thẳng. Đơn vị anh được lệnh sáng sớm mai sẽ lên đường. Đi đâu, vẫn chưa biết, nhưng bọn anh háo hức và sẵn sàng lắm. Thắm đừng lo anh sẽ lại "vô kỷ luật" như những ngày chỉ có ăn rồi luyện tập đến phát phiền ở đơn vị trước kia đâu. Nếu như mấy tháng trước anh chỉ có ý nghĩ xin xuất ngũ để về với em thì bây giờ anh đã nhận ra rằng ý nghĩ ấy là quá ích kỷ, tầm thường… Đất nước mình sao cơ cực và vất vả thế, Thắm ơi. Vừa qua một trận thiên tai, bão lụt. Và bây giờ lại tiếp đến chiến tranh biên giới. Chẳng ai lại muốn như thế đâu. Anh càng không muốn xa em một ngày. Nhớ em vô cùng. Những lúc nhớ em quá, anh lại giở tấm ảnh mà hôm chúng mình chụp chung với nhau trên thị trấn, để ngắm và trò chuyện đấy. Em đã ra viện chưa? Sức khoẻ ra sao? Anh cứ lo em xanh và gầy đi mất. Rồi cái vết thương trên đầu nữa, có còn nhức buốt không? Đừng lo lắng gì về anh và đừng hay khóc nhé. Thỉnh thoảng em hãy đến thăm lại "con đường thanh niên" của chúng mình. Gốc đa, cây bàng đầu xóm và cây gạo già đáng yêu… Em nhớ gìn giữ những đồ cưới. Nhất định anh sẽ về. Không lâu nữa đâu. Chúng mình sẽ cùng nhau đi đăng ký…". "Anh sẽ về… Chúng mình sẽ cùng nhau đi đăng ký". Mỗi ngày, Thắm chờ mong khắc khoải, cái ngày đó. Cuộc chiến tranh ba mươi ngày đã kết thúc rồi. Đạt bây giờ ở đâu? - Cô Thắm có thư đây này. - Anh bưu tá xã dắt chiếc xe đạp lạch cạch vào sân kho, nhác trông thấy Thắm đã nói oang oang và cúi xuống cái túi buộc đằng sau xe, rút ra một lá thư giơ lên. Thắm chạy bổ về phía người bưu tá. - Thư của ai đấy, chú ơi? - Thư bộ đội. Nó hẹn sau vụ gặt sẽ về tổ chức cưới… - Người bưu tá nói một câu pha trò. Thắm ngồi phịch xuống đống rơm, đưa lá thư lên che mặt. Không phải thư Đạt. Một sức nặng khủng khiếp hơn gấp nhiều lần chiếc xe bò lúa vừa rồi như đè trĩu người Thắm xuống. *** Đã đến giờ chia lúa. Theo lịch, đội trưởng và thư ký của năm đội sản xuất ở sân kho Thanh Cao đổi chéo nhau tản về năm góc sân. Nơi để lúa của từng đội. Năm đội phó, tay lăm lăm quyển vở, chiếc bút, đã đứng sẵn ở góc sân kho đội mình, dưới những giàn cây, đóng bằng tre cao lênh khênh như bộ khung của một căn hầm chữ A. Cản kéo Hoạt, thư ký đội Mười đi lại phía Sáng và Nụ, thư ký của đội trưởng đội Tám. - Cô Sáng ơi, ta hội ý một chút. Bốn người cùng chụm đầu ngay giữa sân kho. Cản đưa mắt nhìn quanh, rồi đưa cho Sáng một tờ giấy: - Đội ta hôm nay gặt cánh Bãi Dài. Sáu mẫu ba. Cánh này lúa tốt. Ước tính mỗi sào dôi tới hai mươi cân. Hôm nay cô cân cho một tấn hai. Đây, danh sách các gia đình nhận gửi. Sáng kẹp tờ giấy vào giữa cuốn sổ đã lên danh sách dự chia của từng hộ gia đình thuộc đội Mười. - Còn đây là danh sách của đội em. Hôm nay chúng em chỉ gửi vào chín gia đình. Các anh cân cho chín tạ. Cản liếc qua tờ danh sách Sáng đưa. Đôi mày rậm cau hẳn lại. - Không được. Cô làm như thế này là không ổn. Sao lại chỉ gửi vào chín gia đình? Mỗi gia đình một tạ. Nhiều quá. Kiểm soát họ phát hiện ra ngay. Hai ba chục cân thì còn lấy cớ là nhầm lẫn. Chớ một tạ thì nói ai nghe… Sáng ngẩn ra một lúc, thầm phục Cản có kinh nghiệm. - Ừ nhỉ. Em không nghĩ ra. Anh để em bổ sung thêm chín gia đình. Mỗi gia đình gửi năm mươi cân thôi. Sáng ngồi thụp xuống sân, kê sổ lên đùi, hí hoáy viết. - Các ông bà đội trưởng thư ký ơi. Cân thóc đi, chứ cứ ngâm tôm nhau mãi thế này a? - Có làm thì làm luôn đi, không có khuya rồi, ông Cản ơi! Tiếng mấy bà phụ nữ nhao nhao, nửa sốt ruột, nửa bỡn cợt, trêu chọc. Xã viên túm tụm lại năm góc sân, quanh năm đống lúa chất cao như núi. Tiếng các thư ký đội trưởng từng mã cân vang lên nhất loạt: - Bà Trạc, mã một, năm mươi tám cân. - Chị Cu Đợt, ba mươi hai cân. - Nào, xúc thêm vào… Được rồi. Bà Luân bé, mã hai, sáu mươi tư cân… Những đống lúa cao có ngọn vơi đi dần. Quang gánh, xe bò tấp nập chở lúa từ sân kho về các xóm. Cơ, Lập và Xuyến đạp xe đến sân kho đúng cái lúc các gia đình đang nhộn nhịp gánh thóc về. Dựa xe đạp ngay trước cửa ra vào, Cơ gọi hai người dân quân đang giữa phiên gác lại: - Các cậu tạm giữ lúa của các gia đình lại cho tôi một chút. Ông Lập đến đội Bảy, ông Xuyến đội Chín. Tôi đội Mười. Ta kiểm tra ngay danh sách dự chia và cân thử một số gia đình. Ba người đi về ba góc sân kho. Nhác trông thấy bóng Cơ, mấy người xã viên đội Mười đã vội vã chạy lại chỗ Sáng: - Ông chủ nhiệm đến, cô Sáng ơi. Cả Nụ, Sáng và đội phó Tự cùng nhìn nhau thất sắc. - Cô Sáng cho tôi xem danh sách dự chia hôm nay. Cơ cầm tờ giấy Sáng đưa, nhắc chiếc kính râm trên mắt, lướt đọc. Rồi anh nói to với xã viên: - Xin bà con xã viên thông cảm. Để đảm bảo công bằng và tránh những nhầm lẫn, hôm nay ban quản trị sẽ kiểm tra lại số thóc của một số gia đình. Bây giờ tôi xin đọc số lúa của từng gia đình được chia. Ai thấy không đúng với con số mà đội đã công bố, xin cho ý kiến. Bà Trạc, sáu mươi nhăm cân. Ông Thành, một trăm mười bảy căn. Chị Cu Đợt, mười tám cân. Bà Luân bé tám mươi tư cân… Một số xã viên tranh thủ lúc Cơ mải đọc, vội gánh thóc đi. Nhưng tất cả đều bị dân quân chặn lại ở cửa sân kho. Tiếng nhao nhao phản đối. Cả ba góc sân, người dồn lại vây kính. Những gia đình đã được chia thóc đều nháo nhác, hoang mang. Những người còn chờ xếp lượt thì thở phào nhẹ nhõm. - Bây giờ xin năm gia đình có tên sau đây cho phép được cân lại số thóc được chia. Một là bà Trạc. Hai là ông Năm Ngũ. Ba là bà Luân bé… Cơ đọc to tên từng người. Thắm đã nhanh chân gánh thóc ra khỏi sân kho, cũng được gọi trở lại. Cô bê từng thúng thóc đặt lên giá cân mà lòng nặng trĩu. "Bản thân cháu đâu có muốn thế này, chú ơi. - Thắm nhìn Cơ với con mắt vừa sợ hãi vừa lo lắng, thầm nói với anh. - Nhưng đây là chủ trương của đội. Cháu là bí thư chi đoàn, nhưng cháu làm sao mà đấu tranh nổi. Với lại tất cả các đội trong hợp tác xã đều làm thế. Nói ra thì chẳng còn mặt mũi nào hàng ngày đi làm với đội. U cháu, rồi các chú bác, các cô… tha hồ mà chửi rủa. Với lại không làm cách này thì làm sao có đủ lúa ăn?". Sáng cũng đang nhìn Cơ với đôi mắt van vỉ: "Đừng làm quá với xã viên, anh Cơ ạ. Cực chẳng đã, bà con mới bày trò ra thế này. Chẳng phải riêng đội này đâu. Chỉ sợ ban quản trị không đi kiểm tra được khắp… Em là đảng viên, nhưng em cũng buộc lòng phải theo đuôi quần chúng. Lúc nào cũng đấu tranh, chặn hết mọi ngả đường của xã viên thì chúng em còn sống với ai?". Từ lúc nào, Vy đã quảy đôi quanh thúng từ nhà ra và len vào gần sát chỗ chia thóc. Thoáng thấy Vy, Cơ đã chột dạ. Khác hẳn bao lần trước, đôi mắt bồ câu của Vy đang nhìn thẳng vào anh. Lạnh lùng và trách móc: "Tôi cũng nhận cho đội gửi lúa hôm nay đấy. Tiếc rằng tôi ra muộn chưa cân kịp. Chẳng phải ăn cắp của ai đâu. Mồ hôi xã viên đổ ra cả. Không lấy trước ban quản trị các anh cũng chia nhau xà xẻo hết…". Những đôi mắt nhìn Cơ, lo sợ, thanh mình, oán trách, giận dữ. Năm gia đình đã kiểm tra xong. Cái kết quả đáng buồn làm Cơ vừa sửng sốt vừa đau xót. Tổng số lúa của năm gia đình dôi ra so với danh sách dự chia của hợp tác xã là hai tạ bảy. Cơ tuyên bố số thóc cân thừa của từng gia đình và lấy giấy lập biên bản. Ở hai góc sân kho đội Bảy và đội Chín đằng kia, Lập và Xuyến cũng đang thu được những kết quả tương tự. Cả ba đội sản xuất cùng bị lập biên bản tại sân kho. Hai đội Sáu và Tám, do không bị kiểm tra, vì thế coi như vô tội. Còn ở hai sân kho Thanh Minh và Thanh Giang nữa? Đến bây giờ thì Cơ đã hiểu ra rằng vì sao sản lượng thu hoạch từ đầu vụ đến nay lại thiếu hụt nhiều so với mức mà Cơ và Lập dự tính đến như vậy. *** "Đây là đài truyền thanh hợp tác xã Thanh Bình. Toàn thể bà con xã viên chú ý. Hiện nay chúng ta đang bước sang tuần thứ hai của vụ gặt. Tình hình thu hoạch ở ngoài đồng khá tốt. Các đội đều có ý thức gặt nhanh, dứt điểm từng khu một, tận thu lúa vương vãi, tránh lãng phí. Nhưng điều đáng lo ngại nhất là tình hình ở các sân kho. Một hiện tượng rất tiêu cực đang lan tràn trong hợp tác xã ta. Nó chứng tỏ tinh thần làm chủ xã hội chủ nghĩa của một số đội sản xuất, một số cán bộ đảng viên, đoàn viên rất yếu kém, cần phải được kịp thời uốn nắn, giáo dục. Sau đây chúng tôi xin thông báo lại về cuộc kiểm tra đột xuất của ban quản trị tại các sân kho chiều hôm nay. Để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, chiều nay, 25 tháng năm, ban quản trị phối hợp cùng ban kiểm soát hợp tác xã đã kiểm tra đột xuất việc cân và phân phối lúa của các đội cho các gia đình xã viên. Trong số chín đội trên tổng số mười lăm đội toàn hợp tác xã được kiểm tra, chúng tôi đã phát hiện thấy sự gian lận ở bảy đội và đã tiến hành lập biên bản ngay tại sân kho. Ban quản trị hợp tác xã nhiệt liệt biểu dương tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của hai đội 11 và 15 thuộc sân kho Thanh Minh và phát động một phong trào thi đua học tập đội 11 và 15. Bảy đội sản xuất đã bị lập biên bản vì tội tham ô tập thể: Đó là: Đội 7, đội 9, đội 10 của sân kho Thanh Cao. Đội 14 ở sân kho Thanh Minh. Đội 1, đội 2, đội 5 ở sân kho Thanh Giang. Tổng số thóc bảy đội nói trên cố tình cân tăng lên cho xã viên là hai nghìn ba trăm linh năm cân. Theo chúng tôi biết, số thóc này sẽ được gửi về các gia đình xã viên phơi, sau đó các đội sẽ chia riêng cho từng lao động. Hành vi trên đây, rõ ràng là sự ăn cắp tập thể, vi phạm tài sản của hợp tác xã. Ban quản trị chúng tôi thông báo cảnh cáo bảy đội sản xuất số 1, số 2, số 5, số 7, số 9, số 10, và số 14; cảnh cáo toàn bộ cán bộ đảng viên có liên quan đến việc tham ô của bảy đội sản xuất đó. Sau đây là danh sách những cán bộ bị cảnh cáo: 1 - Ông Nguyễn Văn Hạ, đội trưởng đội 1. 2 - Bà Nguyễn Thị Sáng, thư ký đội 8. 3 - Ông Đào Hữu Lạc, thư ký đội 3. 4 - Ông Đào Hữu Chất, đội phó đội 5. 5 - ……………………………………. ………………………………………… *** Để kịp ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực đang lan tràn khắp các đội, ban quản trị đã đề ra một biện pháp khá quyết liệt: tăng cường kiểm tra việc nhập thóc và chia thóc cho các gia đình xã viên từng ngày. Việc chia và giám sát mã cân của từng đội do ban quản trị trực tiếp cử người và đổi chéo theo quy mô toàn xã, chứ không theo quy mô thôn như cũ. Đội trưởng thư ký đội của Thanh Cao sẽ sang Thanh Giang hoặc xuống Thanh Minh. Và ngược lại. Bằng biện pháp này, hiện tượng ăn cắp thóc tại sân kho đã hạn chế hẳn. Nhưng người nông dân bao giờ cũng rất thông minh khi họ đứng ủ dột trước cái bồ thóc của mình. Sau hôm bị lập biên bản ở sân kho mấy ngày, đội Mười chuyển về gặt ở cánh đồng Bãi Mơ, ngay sát xóm Đình. Buổi trưa nắng loá vàng mắt. Đội trưởng Cản hất ngược cái nón ra phía sau, bươn bả đi từ sân kho xuống đồng. Chốc chốc anh lại quay nhìn về phía sân kho, rồi về phía con đường sau làng từ đồng chạy thẳng vào xóm. Mười bảy xe lúa đã được xếp sẵn, đứng xếp hàng dọc bờ mương. Cản đi suốt mười bảy xe lúa, một lần nữa kiểm tra quyết định của mình, rồi ra lệnh: - Mười hai xe đầu đi thẳng về sân kho hợp tác. Ông Năm Ngũ chỉ huy năm xe sau cho tôi. Nếu không thấy tôi vẫy nón thì ông cứ việc làm theo kế hoạch. Mười bảy xe lúa lộc cộc lăn bánh trên con đường rợp bóng phi lao. Cản ngồi xệp xuống vệ cỏ, thong thả lấy chiếc điếu cày tra thuốc. Tiếng điếu rít rong róc. Khói thuốc trắng xoá tan nhoà trong nắng. Cơn say mê làm người Cản lâng lâng. Anh lơ mơ nghĩ đến Luyến. Và cái mẫu ruộng của đội tít Đồng Sâu mà Cản đã đứng ra xin cho văn phòng uỷ ban nhân dân huyện, chỗ Mạch, để cấy lúa, tự túc lương thực. Những ý nghĩ cứ đan xen trong đầu như làn khói thuốc đang vẩn vơ trước mặt. "Hôm qua mình đánh bạo sang chơi ông Trạc giả vờ xem con bê. Kì thực mình muốn nhìn mặt thằng bé quá. Có người bảo thằng bé giống mình như lột. Thế mà đã có lúc mình nghi ngờ Luyến. Tội nghiệp cho cô ấy. Lạ thật. Sao Luyến lại cố tình giấu mọi người cái thằng bố nó. Cái hôm Luyến đẻ, suốt một ngày mình không làm ăn gì được. Nóng ruột quá. Ờ, hai tháng mười ngày rồi còn gì? Luyến đẻ đúng cái hôm ông Mạch kéo quân xuống cấy. Bày ra cho nó có chuyện chứ cấy gặt gì mấy bà cán bộ bắp chân trắng ợt, chưa lội xuống đã rú lên vì đỉa. Mình làm tất. Bốn vợ chồng con cái dọn cỏ năn hai ngày cật lực. Rồi làm cỏ, bón phân. Sắp được gặt rồi, tay Mạch có cho quân xuống hay lại để mình làm đầy tớ nốt? Thằng cha ăn như ranh. Thế mà vẫn trúng huyện uỷ viên, vẫn làm thư ký uỷ ban. Tay Cơ cũng phải nịnh hắn mệt. Một mẫu, hắn cho mình ba sào. Tạ rưỡi thóc. Ăn thua mẹ gì? Ờ, cái thằng bé giống mình nhất là đôi mắt. Không lẫn được. Kháu. Ngoan. Luyến đẻ xong lại đẫy ra. Nhưng sao Luyến lại thù ghét tôi thế. Cứ nhìn đôi mắt là tôi lại run sợ. Tôi có làm gì đâu. Sau này muốn hay không, con nó vẫn phải nghĩ đến tôi. Hôm ấy, tôi xem trộm thằng bé lúc Luyến ra ao giặt. Muốn bế con một lúc mà không dám… Tốp xe bò đầu tiên đã đi qua đoạn đường rẽ. Cản đứng dậy đưa tay che mắt nhìn. An toàn rồi. Không có gì trở ngại cả. Năm chiếc xe bò do Năm Ngũ dẫn đầu đi chậm lại. Rồi đột ngột cả năm chiếc xe cùng tách ra, rẽ về phía xóm Đình. Ổn rồi. Nhanh lên. Cản thầm kêu. Bây giờ thì năm chiếc xe ráng hết sức, lao băng băng. Chiếc đi đầu đã vào tới đầu xóm. Rồi cả năm chiếc đều mất hút sau rặng tre. Cản thở phào, lại ngồi xuống vệ cỏ, hút thuốc lào. *** Thanh dắt xe đạp đi vào chiếc ngõ gạch quen thuộc. Mùi rơm mới vương đầy lối ngõ thơm bâng khuâng đến nao lòng. Mười năm rồi, lần đầu tiên, anh mới được gặp lại cái hương vị ngọt ngào của mùa gặt. Con đường bảng lảng ánh trăng. Khói bếp buổi chiều còn ngưng đọng mãi trên vòm tre, mái bếp, thoang thoảng mùi cơm mới. Những cọng rơm vàng rải khắp ngõ, vướng vào bánh xe, níu lấy bàn chân. Và tiếng xe bò lộc cộc chở rơm về. Hai thúng lúa nặng đầy trĩu đòn gánh tre, nhún nhảy trên vai một cô gái nào đó vừa đi vượt qua. - Anh Thanh phải không? - Cô gái chợt dừng lại, quay đòn gánh trở vai, nghiêng khuôn mặt trắng ngà lại phía Thanh, bật cười thành tiếng. - Ối, ông thợ mộc. Em lại cứ tưởng ai. Anh mà không về gặt giúp chị Vy đợt này thì em sẽ xui chị Vy li dị… Thanh níu lấy thừng quang của Thắm, hỏi dồn dập: - Gặt cánh nào thế, em? Chị Vy có ở ngoài sân kho không? - Chị Vy đang chờ lĩnh thóc. - Thắm đẩy tay Thanh, giọng trách móc. - Anh ra gánh giúp chị ấy đi. Giời ơi. Anh chẳng hiểu gì cả. Tuần vừa rồi chị ấy cứ ốm lên ốm xuống. Lúc nào cũng chỉ muốn sang cây khế nhà em… Thanh vội vã dắt xe về nhà. Ngay lúc này, anh chỉ muốn quăng chiếc xe đạp vào đâu đó, rồi chạy thật nhanh ra sân kho để gánh đỡ cho Vy. Đã nửa tháng nay Thanh bắt đầu theo đuổi một nghề mới. Ở nhà mãi, không có việc gì làm, vừa buồn, vừa túng. Có một người bạn ở đầu huyện thạo nghề mộc rủ anh cùng làm. Và anh đã nhận lời. Cái buổi sáng đầu tiên nhập nghề mộc, Thanh đội chiếc mũ cối trên đầu, kéo chụp gần kín mặt, len lén dắt xe ra ngõ, mà sao anh thấy buồn bã và xấu hổ đến thế. Chẳng khác gì một kẻ đào ngũ. - Thanh chạnh nghĩ - Mười năm đi chiến trường, bây giờ coi như giũ sạch. Mình cũng như tay Phiệt chữa xe đạp ở chợ Ba Thôn kia thôi. Khác chăng là tay Phiệt nó công khai mở hiệu. Còn mình thì vụng trộm, lén lút, nói dối cả mẹ, cả vợ để đi xoay xở kiếm ngoài. Ồ, sao mình không dám nói thật với Vy? Nói ra, chắc gì Vy đã đồng ý để mình đi? "Anh là đảng viên, là bộ đội xuất ngũ, làm thế người ta cười". Thế nào Vy cũng nói thế. Đành vậy. Việc hợp tác đang kì giáp hạt, có gì mà làm? Một công vài lạng thóc, mệt người mà chẳng bõ. Những việc mình muốn làm thì chẳng ai khuyến khích, chẳng ai cho phép. Phiền nhất là chuyện sinh hoạt Đảng. Đi làm nghề tự do là tự thoát ly khỏi tổ chức. Không ai cho phép một đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ để đi kiếm ngoài… Khó thế. Chuyện này mà bung ra. Ông Thiển sẽ đập mình thẳng cánh. Chưa biết chừng bị khai trừ cũng nên. Cái lần mình vặc nhau với ông Thiển trên văn phòng đảng uỷ, ông ta quên thế nào được? Những ý nghĩ làm đầu Thanh nặng trĩu, bàn chân như có đá tảng, không muốn bước. Hay thôi, ở nhà. - Thanh tặc lưỡi, toan quay xe về. Nhưng rồi nghĩ tới những ngày sắp tới, đến cái trách nhiệm làm cha mà anh sắp đảm nhiệm, Thanh lại không đành. Túng quá. Ở nhà chơi tràn mấy tháng rồi. Ăn đẽo vợ mãi ư? Bảy tháng nữa Vy sẽ nằm cữ. Trăm thứ phải lo sắm. Trông vào hạt lúa, đủ làm sao? Thằng Họp nó trách mình hồi mới giải phóng không tranh thủ mua mấy cái đài, cái Honđa cũng đúng. Mình nghĩ đơn giản quá. Tưởng kinh tế ngày một khá lên, ai ngờ… Và thế là Thanh trở thành một ông thợ mộc. Hai tuần, thời gian chưa đủ để anh bước qua thời kỳ tập sự. Nói đúng hơn là anh mới chỉ làm cái công việc điếu đóm tạp vụ: pha gỗ, bào phá, đục đẽo những mộng mẹo đơn giản… Tuy vậy, tiền thu nhập, bạn anh vẫn hào phóng chia đều. Thanh cảm kích tấm lòng của bạn, nhưng nghĩ đến Vy và vụ gặt, anh vẫn phải buông cưa đục để về làng. Mình thật điên rồ mà bỏ đi trong lúc này. - Thanh tự dằn vặt mình khi anh bước vào trong ngõ. - Một mình em với cả một mùa gặt. Đã ba tháng rồi, phải không? Anh chỉ lo em vất vả quá. Lo cho con của chúng mình… Nhưng em biết đấy, anh ở nhà thì cũng có giúp được gì cho em đâu? Anh sẽ không thể chịu nổi khi thấy những ngày này em vẫn phải ngồi trước mâm cơm trơ trụi một đĩa cà, bát nước canh rau muống. Ở nhà mãi bấn quá. Cái nghề thợ mộc chẳng lý thú gì nhưng ít ra nó cũng giúp chúng mình những ngày sắp tới… Có tiếng người lao xao ở trong sân. Thanh dừng lại. Nhà làm gì mà đông người thế kia? Lại chất đầy cả rơm và thóc. Hơn một chục người đang hì hụi cào rơm đánh đống, xúc thóc cân đong tíu tít. Thấy tiếng xe đạp lách tách, ông Năm Ngũ và những người xã viên đội Mười cùng dừng tay, lo lắng nhìn ra ngõ. Khi nhận ra Thanh họ mới thở phào nhẹ nhõm. - Tưởng ai, hoá chú Thanh. Thế nào, ông thợ mộc, thu nhập khớ chứ? Thanh không trả lời câu hỏi của ông Năm Ngũ. Anh dựa xe vào hàng rào, hỏi ngay: - Thóc ở đâu thế này? Tôi tưởng hợp tác gặt cả về sân kho? - À… à… Thóc phần trăm. Cánh tớ đổi công gặt giúp. - Ông Năm Ngũ ngẩn ra một lúc, rồi cũng nhanh trí tìm được câu trả lời. - Chú đi lâu quá. Bà với cô Vy làm không xuể. Này, tớ có ít gỗ lát, hôm nào chú dựng cho cái tủ buýp-phê nhá. Mới học nghề mà đã nức tiếng khắp xã rồi đấy. - Ông Năm Ngũ huơ tay ra hiệu cho mọi người cứ việc làm thật nhanh, còn để mặc ông ứng phó. Tớ biết chỗ này đang rất cần thợ mộc. Gỗ pha thành khí cả rồi. Làm liên tục phải hai tháng mới hết việc. Tay này nó cũng cầu kỳ. Cốt nhất là kén thợ giỏi. Cơm nuôi ba bữa, rượt thịt đang hoàng. Mỗi ngày nó xin nộp ba chục. Kể ra giá ấy làm được. Dựng một tủ buýp-phê ba buồng cánh cong, chân Đức, chạy chân khảm xung quanh, cứ tính cho nửa tháng. Bộ xa-lông thẳng mất hai mươi ngày nữa. Cái sập gỗ mít gọi cho mười ngày. Thế mà cứ nhẩn nha kéo cho hai tháng. Đút túi ngon hai nghìn rưởi bạc. Hời quá, còn gì… Ông Năm Ngũ cười khà khà vỗ vào vai Thanh, rề rà không dứt câu chuyện. Thanh nhìn đống lúa chất ngất, ước đến hai tấn, nhìn mấy bà xã viên vừa hối hả, vừa vụng trộm, rồi lại nhìn ông Năm Ngũ, và anh bỗng thấy nghi ngờ. Phải vất vả lắm, Thanh mới dứt được ông Năm Ngũ. Anh vào nhà thay chiếc áo bộ đội sờn. trong lúc vừa sắp quanh thúng, để ra sân kho, Thanh vừa hỏi mẹ: - U ơi, lúa ở đâu mà họ gặt về nhà ta nhiều thế? Bà Thanh kéo con trai vào trong nhà, nói thì thào: - Se sẽ cái mồm. Lúa của hợp tác. Đội gặt trộm hợp tác xã về gửi ở nhà mình… - Sao u lại cho người ta làm như vậy? - Thanh bỗng nói ầm lên - Nhà con nó có biết chuyện này không? Bà Thanh vội víu lấy con trai, giọng van vỉ: - Khổ quá. Se sẽ cái mồm. Mấy ông quản trị biết thì chỉ có mà đi tù… Thanh xách đôi quang thúng vùng vằng bỏ ra sân. - Hợp tác đã có sân kho. Sao các ông bà không mang ra đó? Làm ăn kiểu như thế đến loạn hết cả. Tôi không đồng ý làm như thế này đâu. Tôi sẽ gọi quản trị đến lập biên bản… - Chú Thanh. - Ông Năm Ngũ đã đứng sát bên Thanh. Bàn tay to lớn và chắc nịch của ông như một hòn đá tảng đè trĩu một bên vai anh. - Đừng làm ầm lên. Chúng tao không có ai xấu cả đâu. Cũng là mồ hôi nước mắt của mình mà phải làm dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy. Nhưng Thanh hình như không nghe ông nói gì. Anh vùng thoát khỏi bàn tay to nặng, hầm hầm đi ra ngõ. - Con với cái. Thế này có khổ thân tôi không? - Bà Thanh nghẹn ngào nói trong nước mắt. - Cứ để xem anh ấy xử sự thế nào. Rồi chúng ta sẽ liệu. - Tiếng ông Năm Ngũ khô gằn, lạnh lùng, rờn rợn như tiếng gió rít qua một khe đá. XVII Năm bao lúa căng ních được khuân từ trong sân nhà Cản ra chiếc xe com-măng-ca đít vuông của uỷ ban nhân dân huyện đỗ sát ngay cổng. - Hai cô gái, một cô tóc phi-dê chớm vai, dáng người mảnh như liễu, một cô thấp đậm, tóc búi cao mãi đỉnh, cả hai, mặt cùng đỏ dừ, ì ạch mãi không nâng nổi một đầu bao lúa. Ở đầu kia, Mạch có khoẻ hơn, hai bắp tay ngắn ngủn của anh trương căng hết mức nhưng cũng chỉ rê nổi đầu bao lúa nhích đi một đoạn: - Nào, các cô để chúng tôi. Trông tướng các cô chỉ có cấy gặt trên đường nhựa được thôi. - Cản và anh lái xe đã khuân hết bốn bao lúa, trở lại khuân nốt bao cuối cùng. Hai cô gái đứng tránh ra, che tay lên miệng vừa xấu hổ vừa thở dốc. Hai người đàn ông nhấc bổng bao lúa, chạy uỳnh uỵch. Năm bao lúa đã nằm gọn trong thùng xe như năm con bò mộng. Mạch xoa hai tay vào nhau, cười khục khục đến rung cả hai tảng má: - Phơi khô rồi cũng được bốn tạ. Bây giờ ông nhà nước có bắt tự túc lương thực ba tháng nữa cánh ta vẫn cứ bình chân như vại. Thế nào, các bà thợ gặt? Vụ mùa, làm tiếp một mẫu nữa nhé. - Ôi, cháu sợ lắm. - Cô gái phi-dê rụt cổ lại, đôi mắt mở tròn còn nguyên nỗi sợ hãi, tưởng như cô vẫn đang nhìn thấy những con đỉa bơi ve ve trước mặt. Cô gái thấp đậm có vẻ hăng hái: - Cháu xin đăng ký tiếp tục. Nhưng cháu ra hẹn nhá. Cháu sẽ nhận chẻ lạt nhổ mạ và nấu nước hôm gặt… Mạch lại cười khục khục, tít cả đôi con mắt: - Chịu chúng mày. Làm ruộng như cánh ta thì có làm cả đời cũng được. Nhổ mạ quân ông Cản. Cấy cũng xã viên ông Cản. Đến lúc gặt chỉ việc đánh ô tô xuống chở lúa về. Ông Cản ơi. Tôi xin gửi ông hai bà "xã viên đường nhựa" này. Ông cứ thấy cái ruộng nào đỉa nhiều nhung nhúc thì thả vào cho quen… Hai cô gái cùng ôm nhau, ré lên vì sợ hãi. Cản chỉ đứng mỉm cười nhìn họ, như một người vừa ban phát cho kẻ khác những giọt mồ hôi bằng vàng và bây giờ đang đứng chiêm nghiệm xem những giọt vàng ấy hoà vào trong máu của họ như thế nào? Trong nhà, ba mâm cỗ có ngọn đã được dọn ra. Món tiết canh vịt cuối cùng do chính tay Loã hãm. Tiếng băm bổi côm cốp trên phiến thớt gỗ nghiến nghe thật vui tai. Dưới bếp, vợ Cản béo ục ịch, ngồi kiễng hai chân trên cái mông nung núc, mắt nheo lại vì khói, tay khua chiếc que đời cho khoanh rơm vần nồi cơm cháy rần rật. Cạnh đó, một cô gái trẻ nữa, người cơ quan Mạch, mặc chiếc áo hoa tím bó sát lấy người, đôi cánh tay trần đang đảo đôi đũa trên chảo lạc rang như múa. - Lạc rang đã được chưa đấy, cô Huệ ơi. - Giọng Loã gọi đầy hào hứng - Nhớ nướng cho vài củ hành nữa nhé. Bà Cản khoăng khoắng cái tay lên một tí cho các anh ấy còn về huyện… Biền dắt xe đạp vào sân. Cái túi xách bên ghi-đông xe nặng trĩu thò ra ba cổ chai lớn, sóng sánh một thứ nước trong vắt. - Rượu Chuôn chính cống đây, anh Mạch ạ. Tôi biết anh chỉ thích cái khoản cuốc lủi này. - Biền giơ chai rượu lên lắc lắc. Đôi mắt nhỏ lờ đờ như đã bị cái thứ nước đang sủi tăm kia làm mờ đi. - Cánh ông Cơ, ông Thiển, ông Điền bận gì mà mãi chưa thấy mặt. - Loã nói với Cản. - Ông Điền báo mệt không đến. Tôi đã cho cháu sang gọi rồi. - Ôi dào. Có ăn của ai mà sợ. Anh em trên huyện người ta về gặt lúa. Người ta đãi mình còn làm bộ làm tịch. Hai đứa trẻ, con Cản, suýt soát năm sáu tuổi, ngồi chồm hỗm xem Loã đánh tiết canh, thỉnh thoảng lại liếc nhìn mấy cái chân vịt, nuốt nước bọt ực ực. Cản lừ mắt: - Đi chơi ngay. Thằng Củng đưa em sang ngay nhà bà Thà. - Này. - Loã nhón hai cái chân vịt đưa cho chúng. - Thôi, đi chơi. Cấm được bén mảng. Hai đứa bé, mỗi đứa một cái chân vịt, chạy phóng ra ngõ. Có thêm Thiển. Rồi hai cán bộ cơ quan Mạch cùng đến với Cơ. Ba gian nhà trên của Cản đầy ắp tiếng cười nói. Ba đĩa tiết canh đông sánh, được tô điểm thêm bởi những miếng gan vịt thái mỏng bay đáng lẽ phải được đặt giữa mâm, nhưng vì thiếu chỗ nên phải tạm đặt ra ngoài chiếu. Loã rửa tay, chùi qua vào vạt áo, rồi trịnh trọng xoa hai tay vào nhau: - Để mời anh Mạch. Mời các anh, các cô, ta liên hoan gọi là mừng thành tích sản xuất của văn phòng uỷ ban huyện… - Để cảm ơn hợp tác xã và đội Mười đã cấy gặt giúp chúng tôi mới đúng chứ. - Mạch, không khách sáo, nói một cách khôi hài, rồi tự thưởng thức bằng một chuỗi cười khục khục trong cổ họng. Chủ và khách ngồi vừa kín ba mâm. Tiếng đũa bát va lanh canh. Tiếng chạm chén. Tiếng cười nói. Mấy cô gái không quen uống rượu cứ ngồi nhìn nhau không biết bắt đầu như thế nào trong khi nồi cơm chưa chín. Cản sực nhớ ra, vội mở khoá tủ bê ra một bình rượu mơ. - Suýt nữa quên khuấy đi mất. Có món này dành riêng cho các cô. Mơ chùa Hương chính cống đấy nhé. Cô nào mà thích của chua thì hợp lắm. Không khí bữa liên hoan thật chan hoà, vui vẻ. Đúng lúc hơi men đã bốc lên mặt mấy người đàn ông, thì từ ngoài hiên, bà cụ Thích còng lưng trên chiếc gậy trúc đi vào. Bà cụ Thích sống độc thân, con cái không có. Mấy năm nay, hàng năm cụ vẫn được hợp tác điều hoà lương thực. Ngày mùa, cụ đi quét lúa vãi hoặc phơi thóc cho đội. - Tôi là tôi có sắc mắc với bác Cản về chuyện chia lúa của đội vừa rồi. - Vừa vào đến cửa, không cần chào hỏi, bà cụ đã nói ngay. - Có đông đủ các ông bà quản trị với lại các ông bà huyện ở đây tôi cũng sắc mắc. Là vì chuyện không công bằng. Suốt vụ này tôi phơi lúa cho đội. Hà cớ làm sao hôm vừa rồi, đội gặt lúa về nhà bà Thanh mà lại không chia cho tôi? Cản tái mặt. Anh bỏ đũa, lập cập chạy ra. - Bà cứ về đi. Mọi chuyện sẽ giải quyết sau. Hôm nay… - Không có nay mai gì hết. Tôi đã sắc mắc với nhà bác nhiều rồi. Cái của hương hoả của đội, tưởng cũng nên bố thí cho cái gái già này chứ? - Gớm bà, tôi đã bảo… - Cản gắt ầm lên, lôi xềnh xệch bà cụ ra ngoài ngõ. - Bà cứ về đi. Rồi tôi sẽ nghiên cứu giải quyết… Mọi người trong nhà không hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, hoặc cố tình như không hiểu. Chỉ có riêng Cơ, mới thoáng nghe bà cụ nói, anh đã vỡ lẽ tất cả. Miếng cơm trên miệng bỗng đắng bã. Cơ đã ân hận vì anh nể Mạch mà đến đây. - Có chuyện gì thế, ông Cản? - Mạch giương đôi mắt đỏ hoe nhìn Cản chòng chọc. Cản cười luế loá: - À… Bà cụ bị thần kinh… Sống độc thân, con cái không có, thỉnh thoảng bà cụ vẫn sinh lẩn thẩn thế đấy mà… *** Hai chiếc xe com-măng-ca, một chiếc màu trắng sữa, một chiếc màu xanh rêu có gắn biển đỏ vòng trước cổng Uỷ ban nhân dân xã Thanh Bình, rồi chạy rẽ về phía nhà ông Điền. Trên xe trắng chở ba người mặc quần áo công an. Xe kia có hai anh bộ đội. Lúc ấy ông Điền đang nằm trên võng thiêm thiếp ngủ. Ban nãy ông có ý từ chối bữa liên hoan ở nhà Cản vì cảm thấy người không được khoẻ. Cái bệnh dạ dày thâm niên thỉnh thoảng lại hành hạ ông như người giả cách. Vả lại, tính ông xưa nay rất ngại những cuộc liên hoan chè chén đông người. Hình như có một lúc nào đó ông nhìn thấy Đạt. Anh đi một chiếc xe ô tô thẳng từ biên giới về, quần áo đầy bụi đường, gương mặt hốc hác đen sạm. Đạt đặt chiếc ba lô bên cạnh ông. Một ba lô nặng đầy toàn cau với thuốc lá sợi Lạng Sơn. - Con mua về để tổ chức cưới Thắm đấy, thầy ạ. - Đạt nói, đôi mắt đượm buồn, trách móc. - Lần này thì thầy phải cưới cho con. Con chỉ được ở nhà ba hôm, rồi lại phải lên biên giới ngay… Tiếng người nói lào xào trên đầu làm ông Điền sực tỉnh. Đúng là Đạt về thật. Ông Điền toan reo lên, nhưng rồi kịp nhận ra mình lầm. Trước mặt ông là hai người bộ đội lạ mặt. Người quen mà ông nhận ra đầu tiên là đồng chí trưởng phòng công an huyện. Có chuyện gì xảy ra với Đạt rồi chăng? Trưởng phòng công an huyện giới thiệu mấy người cùng đi với ông Điền. Đó là hai cán bộ thuộc phòng bảo vệ kinh tế Ty Công an và hai đồng chí bộ đội thuộc đơn vị hậu cần X. Họ ngồi chụm đầu quanh chiếc bàn nước nói chuyện khá lâu. Nét mặt ông Điền chuyển dần từ trạng thái ngạc nhiên sửng sốt sang hoang mang bối rối và cuối cùng là một vẻ mặt đầy nghiêm trọng, lo âu. - Đồng chí không biết gì về hai chiếc ô tô vận tải ấy cả sao? - Đồng chí trưởng phòng bảo vệ Ty công an bắt đầu đưa ra những câu hỏi. - Không. Tôi hoàn toàn không rõ. - Hình như vào đợt ấy, hợp tác xã mình có thuê xe đi chở sắn ở Đà Bắc? - Có. Chúng tôi có thuê hai chiếc xe chở trong một tuần. - Ai đứng ra thuê xe? - Anh Loã và anh Biền. Đồng chí bộ đội đeo quân hàm đại uý lấy trong cặp ra tấm ảnh chụp một trung uý bộ đội. - Đồng chí đã tiếp xúc với người này lần nào chưa? - Không. Tôi không được biết. - Đồng chí cũng nghe anh Loã và anh Biền nhắc đến đồng chí trung uý nào có cái tên Nguyễn Trọng Cường? - Dạ không. - Đồng chí có biết hai mươi tấn bột quân lương đã được phân phối như thế nào không? - Trưởng phòng công an huyện hỏi thêm. - Bây giờ tôi mới được nghe các đồng chí nói đến. - Cả anh Cơ cũng không biết? - Tôi không rõ. Nhưng chắc là anh Cơ cũng không biết gì về chuyện này. - Đồng chí có thấy ngoài trại chăn nuôi có loại bột lạ nào không? - Hoàn toàn không có. Chúng tôi vẫn chỉ dùng cám và gạo để nấu cho lợn. - Xin hỏi thêm đồng chí. Giữa anh Cơ, anh Thiển, anh Loã, anh Biền có mối quan hệ như thế nào? Ông Điền đưa tay bóp trán. Ông biết lúc này mình phải hoàn toàn nói rõ sự thật. - Xin nói thật với các đồng chí. Trong ban lãnh đạo chúng tôi, thực sự vẫn còn rất nhiều vấn đề. Đồng chí Loã, đồng chí Thiển và đồng chí Biền vốn có quan hệ anh em họ hàng… Trưởng phòng bảo vệ kinh tế xem đồng hồ và nói với mọi người: - Tạm thời như vậy, các đồng chí ạ. Ta tiến hành thôi. Ông Điền cùng mọi người lên xe ô tô. Hai chiếc xe chạy thẳng vào xóm Đình và đỗ xịch trước cổng nhà Cản, ngay sau chiếc xe của văn phòng Uỷ ban huyện. Trong nhà Cản, tiệc rượu đang đến cuộc tàn. Sự đến thăm đột ngột của những người khách, ngay lập tức đã làm cho cái chất men say trong mỗi người chẳng còn có ý nghĩa gì nữa. Đồng chí trưởng phòng công an huyện trịnh trọng đọc lệnh của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Loã, Biền, Cản đứng rũ như những thằng hình nộm, mặt cắt không còn giọt máu. Một giờ sau, cả ba chiếc xe com-măng-ca cùng rời xã Thanh Bình. Trên chiếc xe đi đầu, ngoài Cản, Loã, Biền ra còn có thêm Thảng vừa được tạm tha sau vụ ăn cắp phân đạm, và hai người nữa. Tất cả mỗi người đều mang một chiếc vòng số tám ngay phía trước bụng. *** - Bây giờ thì ông mới biết thân nhé. Làm việc với những hạng người ấy thì có ngày rũ tù. Tôi đã bảo đừng có ăn uống chè chén gì với họ cả. Họ thả cho mình ăn một thì họ lợi dụng ăn mười. Cái món cám lợn hồi năm ngoái ấy, ông có biết không? Nhà Biền, nhà Loã có nuôi hai ba nái lợn, ăn không hết cám, phải mang bán đi. Họ vừa thí cho mình vài tạ thì đã ầm lên. Ông mang tiếng là làm chủ nhiệm, nhưng vợ con ông đã được cái gì nào? Cũng đầu tắt mặt tối, làm trẹo xương sườn chứ chẳng ăn không của đứa nào. Cái ông nhà báo chụp ảnh tôi cũng chẳng có gì quá đáng lắm đâu… - Im cái mồm đi. Đừng có lải nhải rác tai… Cơ đột nhiên vùng khỏi chõng, ném đánh bịch cái quạt xuống sân. Chị Soi vội im bặt. Chiếc giần đảo mãi những vòng tròn, nhưng những hạt thóc trên mặt gạo vẫn cứ toãi ra, không thèm chụm lại. Dưới khoảng tối của vòm nhãn, Cơ ngồi như một cái bóng. Trăng lúc mờ, lúc bỗng vằng vặc. Không một làn gió. Sau cái vụ Loã và Biền bị bắt, bao nhiêu chuyện vỡ bung ra. Cơ không ngờ rằng, lợi dụng vụ mua sắn trên Đà Bắc, bọn Loã đã thông đồng với một tên giả danh bộ đội, giả mạo giấy tờ với cái tên trung uý Nguyễn Trọng Cường, để tổ chức tiêu thụ hai mươi tấn bột lương thực khô mà chúng tìm cách ăn cắp được của một đơn vị bộ đội hậu cần. Liều lĩnh và thủ đoạn hơn nữa là Biền đã bàn với Loã lấy tiền mặt của hợp tác xã và lợi dụng danh nghĩa mua cho trại chăn nuôi, nhưng kỳ thực chúng đã lén lút phân tán với nhau. Rồi chuyện gỗ lát. Đi mua sắn, nhưng kỳ thực, Loã và Cản đã dùng xe của hợp tác xã chở về nhà vài chục mét khối gỗ lát. Thật đáng buồn là Cơ cũng nhẹ dạ dính vào chuyện đó. Hai tấm cánh tủ lát chun Loã nhượng lại với giá "mua tại gốc" vẫn gác trong buồng kia. Nhưng đau xót nhất đối với Cơ vẫn là chuyện tài chính sổ sách của hợp tác xã mà Biền là người trực tiếp quản lý. Sau mấy ngày làm việc sơ bộ của ban kiểm tra huyện, số tiền mà hợp tác xã chi sai nguyên tắc từ ngày hợp nhất tới nay đã lên tới bốn mươi sáu nghìn đồng, trong đó nhiều khoản không có chứng từ hoá đơn cụ thể hoặc bị tẩy xoá, không ăn khớp với nhau… Riêng phần chi phí tiếp khách lên đến hai mươi tư nghìn, hầu hết do Cơ ký duyệt. Qua các chứng từ sổ sách, ban kiểm tra tạm thời xác định thủ đoạn tham ô của Biền thành mấy loại: 1) Cố tình đánh mất chứng từ hoá đơn gốc, rồi khai vống một số liệu nào đó do mình tự nghĩ ra. 2) Lấy khoản này đập sang khoản khác để lợi dụng những sơ hở trong việc đối chiếu quyết toán sổ sách. 3) Rút tiền mặt hoặc tiền séc của hợp tác xã để mua hàng nhà nước dưới danh nghĩa hợp tác xã. 4) Sửa chữa, thay đổi các giấy biên nhận, chứng từ, nhất là trong cái khoản chi có tính chất linh động ngoài nguyên tắc… "Muốn hay không mình vẫn là người chịu trách nhiệm về toàn bộ sự việc". - Những ý nghĩ cứ xoáy trong đầu Cơ. - Mình không đủ sức hay nói đúng hơn là mới làm được một phần chức năng của người điều hành sản xuất đơn thuần, mà chưa làm được nhiệm vụ của một người đứng đầu một đơn vị kinh tế. Mình đã bỏ qua khâu then chốt là quản lý kinh tế toàn diện một cơ sở sản xuất với hơn năm nghìn lao động, hơn năm trăm héc-ta đất canh tác và hàng chục ngành nghề khác nhau với tổng thu nhập hàng năm gần hai triệu đồng. Bao nhiêu vấn đề đặt ra mình chưa thể với tới: hạch toán chi thu hàng năm, kế hoạch đầu tư, cơ cấu sản xuất, kế hoạch sử dụng nhân lực, đất đai… Tóm lại, mình vẫn chỉ là một anh nông dân có chút kinh nghiệm và có nhiệt tình. Và thế là mình dễ dàng bị đưa vào tròng. Dễ dàng bị bóp mũi khi gặp những con cáo già ranh ma như Biền và Loã. Hai mươi tư nghìn đồng tiếp khách, bằng hơn trăm tấn thóc. Nó đã bịa ra một con số kinh khủng. Cái hôm gặp Đặng Hoài trên phố huyện, mình ký phiếu chi một trăm đồng. Tại sao bây giờ thành ba trăm? Cái lần tiếp đoàn tham quan huyện Giang Thành, duyệt chi năm trăm đồng, nay thành tám trăm. Cái thằng quỷ quyệt. Vì sao nó sẵn sàng chi bất cứ lúc nào, nếu mình muốn? Tại mình cả thôi. Mình thích những người đến xem mình làm, nghe mình nói. Minh không muốn để họ phải thất vọng…". Cơ ôm lấy đầu. Cái đầu như muốn vỡ tung ra thành nhiều mảnh. Chị Soi liếc nhìn chồng, cám cảnh. Không muốn nói, nhưng rồi ấm ức mãi, không chịu được. - Cũng tại ông cả thôi. Ông tin người ta quá. Hai tấm gỗ lát trong buồng kia kìa. Mai ông mang sang mà giả người ta… Choang! Cái điếu bát đang từ trên chõng bay vọt ra giữa sân, rơi vỡ tan trước mặt Soi. Vệt nước đen đặc chảy loang vào đống gạo, khai nồng nặc. Chị Soi bàng hoàng ngồi sững. Rồi chị bỗng gục mặt trên đầu gối oà khóc. - Anh không làm được việc thì nghỉ cho người khác làm. Chứ cái nước này, không chỉ xã viên mà cả mẹ con tôi cũng khổ… *** Sự xuất hiện đột ngột của Thanh - mà Cơ không bao giờ nghĩ tới - đã cứu vãn vợ chồng Cơ khỏi một trận xung đột, chưa biết chừng sẽ dẫn tới những hậu quả không ngờ. Cơn giận dữ trong Cơ đã nhanh chóng tan đi. Nhưng thay vào đó là một tâm trạng bối rối, lúng túng hết sức. Giống như tâm trạng của những kẻ phản bội bạn bè, nay chợt gặp lại người bạn cũ. Thanh đến có việc gì? Anh ta biết chuyện rồi sao? Cơ không dám nhìn thẳng vào đôi mắt Thanh, mặc dù hình như Thanh cũng cố tình lảng tránh. Trong lúc Cơ vào nhà chuẩn bị pha nước - thực ra đó là một cách để anh cố tạo ra một vẻ tự nhên thích hợp - Thanh có dịp đưa mắt quan sát cái cơ ngơi của Cơ. Vẫn bốn gian nhà ngói cũ. Cái bếp mới sửa lại. Một chiếc giếng khơi mới đào sát dãy hàng rào duối. Thanh như chợt nhớ lại. Cái hàng rào! Chính cái lỗ hàng rào ngay cạnh giếng đó. Mình đã ngồi suốt tiếng đồng hồ đợi. Cái vật bằng thép trong tay lúc ấy tưởng chừng như bỏng cháy. Qua cái lỗ hàng rào kia, mình nhìn thấy Hoà đang ngồi học bên bàn và vợ Cơ hình như đang khâu vá… Thanh lắc đầu quay nhìn đi nơi khác… Chuyện cũ. Nhắc lại làm gì? Mình đã tha thứ từ lâu rồi. Trong một hoàn cảnh nào đó, như Cơ, có thể mình cũng mắc một sai lầm tương tự…. Không phải ngẫu nhiên Thanh đến gặp Cơ hôm nay. Cũng không phải chàng trai nào cũng dễ dàng gặp kẻ tình địch của mình - chỉ trừ phi họ đến với một con dao. Buổi tối hôm ấy, sau cái lúc làm ầm lên với ông Năm Ngũ và mấy bà xã viên đội Mười gặt thóc về sân kho nhà mình. Thanh tưởng có thể đến gặp bất cứ một anh cán bộ nào, tưởng ngay lúc gặp Vy anh đã trút lên đầu chị tất cả nỗi bực bội, giận dữ… Nhưng không. Chỉ đi chừng ba bước ra khỏi cái ngõ đất, cơn bực bội của Thanh đã xìu đi, như chiếc bong bóng bị xẹp hơi. "Chúng tao không ai xấu cả đâu. Cũng mồ hôi nước mắt của mình mà phải dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy". - Chỉ một câu nói của ông Năm Ngũ đủ làm cho Thanh xót xa ân hận về thái độ ban nãy của mình. Không có ai xấu cả đâu… Đúng. Không có ai xấu cả. Cả mẹ mình, cả Vy, cả ông Trạc và ngót ba chục cán bộ đảng viên bị cảnh cáo vì đợt kiểm tra bất thường ở sân kho hợp tác vụ gặt vừa rồi. Tất cả những người xã viên, ai cũng muốn sống trong sạch bằng chính mồ hôi và sức lực của mình. Nhưng tại sao họ phải làm điều đó? Cái điều mà người ta gọi là tham ô ăn cắp đó? Lần đầu tiên, từ ngày trở về làng, Thanh bắt đầu suy nghĩ về câu hỏi ấy như người trong cuộc. Muốn hay không, Thanh vẫn phải đối diện với những vấn đề đang diễn ra trong cái làng nhỏ của anh hàng ngày. Nó liên quan đến đời sống của gia đình anh, của con anh sau này nữa. Nó buộc anh phải có một thái độ ứng xử. Ủng hộ những hiện tượng ăn cắp tập thể ư? Phải đối ư? Là một đảng viên, mình phải chọn một trong hai cách đó. Không có con đường thứ ba nào cho mình cả. Có lúc mình đã bỏ đi làm thợ mộc. Vì túng tiền. Nhưng đó chỉ là một lý do. Mình muốn trốn tránh. Mình không chịu nổi cái cách làm ăn trì trệ và không công bằng này. Người lao động không được hưởng thụ đúng với cái giá trị mà giọt mồ hôi họ đã nhỏ. Người ta đánh giá sự cống hiến của con người không phải ở sự nỗ lực làm việc của họ mà dựa theo những tiêu chuẩn đạo đức rất cũ kỹ, lỗi thời. Ông Trạc đấy. Cô Luyến đấy. Người ta chỉ biết khai thác lòng tin của người khác, sức lao động của người khác mà không thực lòng tin họ, không bồi dưỡng chăm lo cho họ. Lớp trẻ của Thanh Bình đấy. Những Thắm, những Hoà, và cả Vy nữa. Họ đã được gì? Thanh lại muốn buông xuôi hết cả. Hãy cứ để cho nước chảy bèo trôi. Hãy cứ để cho người ta ăn cắp những của cải của họ. Không có ai xấu cả đâu. Cũng chẳng có ai khờ khạo mãi đâu. Người nông dân họ khắc tự có cách phân phối sòng phẳng những sản phẩm do họ làm ra. Hãy cứ để những kẻ cơ hội, những kẻ giáo điều, những kẻ tham những, những kẻ thích thành tích, địa vị… sống theo cái cách của chúng. Làm sao cấm được chúng xây nhà, đóng giường, sắm tủ, móc ngoặc, tham ô, đọc báo cáo láo và nhận chức quyền khi mà cái cách quản lý, cách làm ăn hiện giờ luôn tạo cho chúng những điều kiện thuận lợi nhất, khi mà sản phẩm mồ hôi nước mắt của những con người lao động thực chất đã trở thành những thứ vô chủ mà chúng là những kẻ giữ tay hòm chìa khoá? Mình sẽ có cách sống riêng của mình: mũ ni che tai, giả làm ngơ đi, như điếc. Nhưng mười năm cầm súng để làm gì? Mình giữ cái danh hiệu đảng viên để làm gì? Hai mươi năm mẹ mình, gia đình mình đi theo con đường làm ăn tập thể, chẳng lẽ chỉ là một bước nhầm lẫn thôi ư? Không. Không thể lẫn lộn, quàng xiên. Không có con đường nào khác cho người nông dân, nếu họ vẫn thiết tha với chủ nghĩa xã hội. Thực tế hai mươi năm qua đã chứng tỏ cái được và cái chưa được của đường lối hợp tác hoá. Lên xuống thăng trầm là do cách quản lý, cách làm ăn. Hợp tác xã Thanh Bình đang ở trong vùng gió quẩn. Đừng phủ nhận sự tồn tại của nó. Hãy bằng mọi cách đưa nó thoát khỏi vùng gió ấy. Mình không thể hờ hững, phó mặc được đâu. Mình không thể lẩn tránh được chính ngôi nhà mình đang ở, cái làng mình đang sống. Nó là của mình, của Vy, của các con mình. Không có cách nào làm tốt hơn được ư? Thanh nhớ đến mùa trồng khoai tây. Có ai ăn cắp đâu? Người ta làm vì tập thể và vì mình. Cái lối làm ăn đó, sao không tiếp tục? Và Thanh quyết định đến gặp Cơ tối nay. - Tôi đến gặp anh có chút việc. Không phải việc riêng giữa tôi và anh. - Thanh bắt đầu câu chuyện, chủ động nhìn thẳng vào mặt Cơ. Bốn mắt họ gặp nhau. Nhưng Cơ vội quay đi. Cơ có cảm giác đôi mắt Thanh như hai ngọn đèn sáng chói rọi chiếu vào Cơ và nhìn thấy rõ tất cả. - Hôm vừa rồi, bà con đội Mười có gặt một tí lúa về nhà tôi. Cái chuyện này nói ra cũng chẳng làm gì. Nhưng tôi nghĩ anh nên biết… - Bằng một giọng nói chậm rãi và đầy tự tin, Thanh kể cho Cơ nghe những điều anh thấy, anh biết về hợp tác xã từ ngày anh về làng, những suy nghĩ của anh về cung cách làm ăn của hợp tác xã. Cái tấm màn ngăn cách giữa Cơ và Thanh cứ vén dần lên. Chừng giữa câu chuyện, Cơ có thể nhìn Thanh mà không cần phải ngần ngại, dè dặt. Anh gật đầu tán đồng, nhíu mày suy nghĩ hoặc khẽ mỉm cười trước một câu nói khôi hài. - Tôi cũng có suy nghĩ đến những điều anh nói. Thực ra đối với các anh, chúng tôi có lỗi. Đáng lẽ chúng tôi phải sống tốt hơn, làm tốt hơn nữa… Thanh hiểu câu nói của Cơ theo hai nghĩa. Và anh tin rằng Cơ thực lòng nghĩ như vậy. - Anh có biết ông Năm Ngũ nói thế nào lúc tôi gắt ầm lên khi biết đội gặt trộm lúa về nhà tôi không? "Chúng tao không có ai xấu cả đâu. Cũng là mồ hôi nước mắt của mình mà phải dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy". - Ông ấy nói thế. Đúng là cái kiểu làm ăn của chúng ta bây giờ đã buộc xã viên phải làm những điều mà họ không muốn. Ông cậu tôi, anh biết rồi đấy, có ai yêu đồng ruộng như ông cụ, thế mà bây giờ buộc phải đi chăn bò. Chúng ta mới chú ý đến cái vế "mình vì mọi người" mà coi nhẹ hoặc quên đi vế sau "mọi người vì mỗi người". Không chú ý đúng mức đến quyền lợi của người lao động thì chúng ta không thể tạo ra năng suất đâu. Tôi không hiểu vì sao vụ đông vừa rồi, các anh có cách làm rất hay, xã viên phấn khởi, đất ướt, nhưng thu hoạch vẫn khá. Thế mà vụ chiêm xuân các anh lại không tiếp tục? Thanh đã nói đúng cái điều mà gần đây Cơ vẫn thường nghĩ. Cơ nhớ đến Lập. Từ hôm Cơ cho công bố quyết định cảnh cáo bảy đội sản xuất và hai mươi tám cán bộ đảng viên qua loa truyền thanh của hợp tác xã. Lập giận Cơ thực sự. "Anh làm như vậy rồi ai sẽ cộng tác, làm việc với anh? Chúng ta không theo đuôi quần chúng, nhưng cũng đừng nên quá tả. Ăn cắp tập thể, đó không phải chỉ là một hiện tượng đạo đức đơn thuần. Nó đặt ra một vấn đề bắt chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá lại cách quản lý, cách phân phối, định giá sức lao động…". Lập không muốn nhắc lại hướng đề xuất mà đã nhiều lần anh nói với Cơ. Nhưng Cơ biết, vấn đề khoán sản phẩm tới các gia đình vẫn là điều mà Lập ấp ủ. - Anh Lập là người rất hăng hái với cách làm ăn này. - Cơ không ngần ngại bộc bạch nỗi tâm sự của mình. - Tôi không phản đối. Vụ đông vừa qua, nếu chúng tôi không mạnh dạn làm theo cách ấy, thì tháng ba vừa rồi xã viên ta nhiều nhà sẽ gặp khó khăn lớn. Nhưng không phải cái gì mình thấy hay, thấy tốt đều có thể làm được… Đây là một vấn đề mới mẻ mà chúng ta mới nghĩ đến, chứ chưa hề có văn bản nghị quyết nào đề cập. Đường lối xây dựng hợp tác xã không cho phép chúng ta quay lại con đường cũ… - Anh sợ trách nhiệm phải không? - Thanh bỗng đột ngột nhìn thẳng vào Cơ, hỏi. Vẫn cái ánh mắt như Cơ đã gặp ban đầu, nhưng lần này thì anh không lảng tránh. Anh không trả lời Thanh. Đôi mắt anh đã nói điều đó. - Chúng ta thử thí điểm chỉ đạo một đội sản xuất chẳng hạn. Làm ngay vụ này. Nếu tốt sẽ triển khai ra toàn hợp tác xã. Ý kiến của Thanh đã làm cho Cơ chú ý. Đội sản xuất nào sẽ làm việc đó? Cơ nghĩ đến đội Mười. Dù Cản có được tha cũng không thể trở lại làm đội trưởng được nữa. Liệu Thanh có chịu thay Cản không? - Nhưng tôi lo huyện sẽ biết chuyện. Đồng chí bí thư huyện uỷ là người rất kiên quyết trong vấn đề này… Thanh đột nhiên trở nên hăng hái. Anh mở bung cúc áo, như cái nóng ngột ngạt đang làm anh không thể nào chịu được. - Huyện biết thì đã sao? Biết đâu họ sẽ ủng hộ. Mà nếu họ không giúp gì cho chúng ta thì hãy cứ để mặc chúng ta tự lo liệu lấy. Tôi còn lạ gì các vị ấy. Quan liêu và giáo điều đang trở thành một thứ bệnh nguy hiểm. Nó đang níu kéo nền sản xuất của chúng ta lại. Anh có biết hồi tôi đi tìm việc chuyển ngành, tôi đã gặp gỡ tiếp xúc những người như thế nào không? Suốt ngày họ ngồi bàn giấy chẳng có việc gì để làm, chụm lại với nhau tán gẫu. Thế mà lúc tôi đến, họ làm như đang bận họp. "Đồng chí đợi đó, chúng tôi đang bận họp". Tôi chờ tới mức nhẫn nhục. Tất cả những anh cán bộ tổ chức gặp tôi đều hỏi những câu tưởng như họ đã bảo nhau cùng học thuộc: "Lương đồng chí bao nhiêu? Làm nghề gì. Đã đảng viên chưa?". Có lần bực mình, tôi đã nói thẳng với họ: "Tôi làm nghề đánh nhau". Cơ phá lên cười. Anh bắt đầu bị hấp dẫn bởi Thanh. - Anh Thanh ạ, nếu anh thay anh Cản… - Cơ bỏ lửng giữa câu. Dường như anh muốn bật đèn xanh. Nhưng anh vẫn đủ khôn ngoan để không bị ràng buộc vào trách nhiệm của mình. - Thì tôi sẽ giao khoán ruộng cho xã viên ngay từ vụ này. Cơ cúi đầu suy nghĩ. Anh nhận thấy ở con người Thanh có một cái gì mà anh không thể với tới được. XVIII Đại hội hợp tác xã Thanh Bình sẽ họp vào cuối tháng năm. Nhưng có một vấn đề quan trọng nhất mà trong khâu chuẩn bị đại hội vẫn chưa có hướng giải quyết. Đó là vấn đề nhân sự. Ai sẽ thay chức phó chủ nhiệm của Loã? Ai sẽ thế chân kế toán trưởng của Biền? Trong một cuộc họp ban thường vụ đảng uỷ. Cơ giới thiệu Thanh và Lập trong danh sách ứng cử phó chủ nhiệm. Nhưng liền bị phản đối. Lập chưa phải là đảng viên. Ai cũng cho việc giới thiệu Lập là một việc khôi hài. Giống như ngày xưa, một quan viên chưa vọng sáu mươi mà đã đòi ngấp nghé chiếu tiên chỉ. Còn Thanh? Chính ông Điền là người ngạc nhiên nhất về Cơ. Cơ biết rõ quan hệ giữa anh và Thanh quá đi chứ? Chuyện cũ. Quên làm sao được. Đối với Thanh, ông Điền cũng còn có gì tránh né, mặc cảm nữa là Cơ. Mà hình như Thanh cũng đã linh tính dự đoán ra điều đó. Ông Điền cố để ý nhiều lần và nhận ra đối với Cơ và ông, Thanh không có vẻ tự nhiên, đôi khi anh tỏ ra lạnh nhạt. Thiển không những phản đối Thanh mà còn chỉ trích, lên án anh như một đảng viên mất phẩm chất. Dĩ nhiên thái độ của Thanh ở cuộc họp chi bộ kỷ luật Luyến, những lời nói xúc phạm đến tập thể đảng uỷ trong buổi gặp gỡ giữa Thanh và Thiển ở văn phòng đảng uỷ được Thiển phân tích và trích dẫn lại không sót một chi tiết nào. - Nhưng đó mới chỉ là một biểu hiện. - Thiển nói. - Điều nguy hại hơn là ý thức trách nhiệm của đảng viên ở đồng chí Thanh hầu như không còn nữa. Coi thường đảng uỷ. Không chịu ghép mình vào tổ chức. Có tư tưởng địa vị công thần… Suốt từ thời gian về địa phương đến nay, đồng chí ấy tham gia lao động sản xuất rất ít. Các đồng chí thử tưởng tượng: Một đảng viên mà bỏ đi làm thợ mộc kiếm tiền. Ý thức xây dựng quê hương ở chỗ nào? Giới thiệu một đảng viên như vậy vào ban quản trị, quần chúng xã viên sẽ đánh giá đảng bộ chúng ta ra sao? Cơ hầu như không thanh minh. Anh nghĩ rằng bây giờ chưa ai trong đảng uỷ có thể hiểu Thanh được. Mỗi người đều giới thiệu thêm một vài người khác, với những quan hệ, cách suy nghĩ gần gũi với mình. Nhưng không ai được thường vụ nhất trí một cách tối đa, chủ yếu nhất ở họ vẫn là năng lực làm việc. Tạm thời vấn đề nhân sự của hợp tác xã phải đợi sau kết quả đại hội đảng bộ xã Thanh Bình. Cũng giống như tất cả những lần đại hội trước đây, điều mà các đảng viên quan tâm nhiều nhất cũng lại là vấn đề nhân sự. Những ai sẽ vào đảng uỷ khoá này? Thực chất tất cả vấn đề là ở đó. Bởi đó là sự phản ánh mối tương quan lực lượng giữa "phe cấp tiến" và "phe bảo thủ", giữa lớp trẻ và lớp già, giữa thôn này và thôn kia, giữa những dòng họ lớn có vai vế, giữa những người có thâm niên giữ các chức quyền trong xã… Bởi vì đó chính là sự sắp xếp, về mặt tổ chức, tất cả những đầu mối có tính chất then chốt trong xã, ở phương diện chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã. Có được một cái phiếu đảng uỷ viên mới mong nghĩ tới các chức bí thư, thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, chủ nhiệm, bí thư xã đoàn, trưởng cửa hàng hợp tác xã mua bán… và những chức danh chủ chốt khác… Cho nên có thể nói, thời gian trước ngày đại hội đảng bộ ở Thanh Bình chính là cái đoạn chạy đua nước rút trong môn chạy việt dã vậy. Các cầu thủ sẽ phải huy động tất cả sức lực và tài năng, âm mưu và thủ đoạn để đi tới cái đích của mình. Tất nhiên, vai trò của những người cổ động sẽ cực kỳ quan trọng. Người có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn này chính là phó bí thư phụ trách tổ chức Đào Hữu Thiển. Cái họ Đào Hữu của Thiển vừa trải qua một cơn khủng hoảng nặng nề. Đào Hữu Loã, Đào Hữu Biền, Đào Hữu Thảng đang nằm trên trại cải tạo Dốc Cun. Nỗi ân hận lớn nhất của Thiển là anh quá chủ quan, không kịp thời nhắc nhở, phát hiện những việc làm sai trái của họ mà uốn nắn, đe nẹt, để xảy ra những hậu quả rất đau xót. - Đợt này anh làm thế nào thì làm. Cả họ trông vào anh. Chỉ có anh là người khôn ngoan tháo át. Một người làm quan cả họ được nhờ. Xưa đã thế, bây giờ càng thế. Từ chuyện lo cho con cháu mình đi học, miễn giảm nghĩa vụ công dân, phân phối điều hoà lương thực… Nhất nhất mọi quyền lợi, nếu không có người của mình thì họ tha hồ bóp mũi. Tao thấy tay Cơ nó có chủ ý ngầm triệt họ Đào Hữu mình ghê lắm. Thằng Biền, thằng Loã đổ là do ở nó cả. Cốt nhất kỳ này phải nắm cho kỳ được cái khâu kinh tế… Ông Đào Hữu Sửu, trưởng họ, hôm vừa rồi đến chơi đã nói với Thiển như vậy. Đứng về quan điểm cách mạng mà xét thì cái quan niệm của ông Sửu thật cổ hủ. Nhưng Thiển không dám cãi lại bậc cha chú. Và suy cho cùng thì cũng phải. Anh không tạo ra được một lực lượng ủng hộ mình thì những anh khác nó sẽ tìm cách lật anh. Từ xưa tới giờ, cái xã Thanh Bình ba bè bảy bối này có bao giờ đoàn kết? Cứ nói đảng uỷ lãnh đạo toàn diện, thế nhưng bao nhiêu thành tích, một mình tay Cơ thu hết về phía hợp tác xã. Vai trò của Thiển bị mờ nhạt. Huyện, tỉnh nhắc đến Thanh Bình là nhắc đến hợp tác xã, chứ có ai nhắc đến đảng uỷ, chính quyền? Công lao của Thiển, của Tấn, của ông Điền,… cuối cùng thành công cốc. Chỉ béo bở tay Cơ. Vào huyện uỷ dễ ợt… Có ai biết được Thiển đã nghĩ gì, làm gì trong những ngày này? Xã viên Thanh Bình, trừ xóm Lẻ Thanh Giang, còn hầu như người ta chẳng chú ý lắm công việc bầu bán sẽ diễn ra rất quyết liệt sắp tới. Duy chỉ có một nơi có vẻ thính nhạy nhất với mọi diễn biến chính trị trong xã và dự đoán một cách khá tinh tường những điều sẽ xảy ra, ấy là hiệu chữa xe đạp của Phiệt. - Kỳ này cánh ông Thiển có vẻ yếu thế tợn. Ba vị đi nhà đá. Không biết chân ông Loã, ông Biền ai sẽ thay? - Mấy người đàn ông vừa ngồi chờ bơm vá xe vừa bàn tán. - Nghe đâu ông Xuyến sẽ làm phó chủ nhiệm. Cũng họ Đào Hữu nhà ông Thiển cả thôi. Ai vào đấy? - Người có bộ râu quai nón chép miệng như buộc lòng mà phải góp chuyện. Phiệt tỏ ra hiểu biết: - Ăn nhau là ở đại hội kỳ này. Ông Điền sẽ về hưu, ông Thiển lên bí thư. Giữa ông Thiển và ông Cơ ăng-ti nhau. Anh nào nắm bên Đảng, anh ấy thắng. - Ông Cơ huyện uỷ, có thế hơn. - Một thanh niên đội cái mũ mỏ vịt, đang dùng cơ-lê siết cái ốc trục sau, tỏ ý đồng tình. - Huyện uỷ viên còn lãnh đạo cả bí thư đảng uỷ nữa cơ. Ông Sửu vừa nãy thấy ở hàng cắt tóc, giờ đã xuất hiện như có phép lạ, gập đánh phạch cái quạt giấy dài đến nửa sải tay, trợn tròn đôi mắt sáng quắc nhìn anh thanh niên chòng chọc, nói giận dữ: - Lãnh đạo thì cũng có năm bảy đường chứ. Vào huyện uỷ nhờ viết báo láo à? Một trăm rưởi mẫu đậu tương đi tong vì ông ấy. Vụ gặt vừa rồi, chẳng có đội sản xuất, chẳng có anh cán bộ đảng viên nào không bị ông ấy cảnh cáo. Làm việc trái lòng dân đến thế không bỏ phiếu cũng hoài… Phiệt nháy mắt cho người có bộ râu quai nón và mỉm cười đầy ngụ ý. Đợi cho ông Sửu đi khỏi, Phiệt mới hất hàm về phía ông già có tấm lưng dài thuỗn trong chiếc áo tơ tằm vàng ngà lụng thụng, ngất ngưởng che cái quạt như cái lọng trên đầu, nói nhỏ với mấy người còn lại: - Không khéo mà ông Cơ gay đấy chứ không? Không thể chơi với họ Đào Hữu xóm Lẻ Thanh Giang được đâu. *** Ông Điền là người duy nhất đi vận động cho mình trong đợt bầu cử đảng bộ sắp tới. Không phải ông lo mình không trúng phiếu. Ông lo mọi người sẽ không đồng ý để ông nghỉ. Mặc dù ông đã đề đạt nguyện vọng với đảng uỷ và rồi cả tổ chức huyện uỷ. Nhưng vẫn không được chấp nhận. Ai cũng muốn giữ ông lại, cố thuyết phục ông, nói về ông với những lời đẹp đẽ và đầy ngưỡng vọng. Chỉ có riêng một người khi được ông thổ lộ nguyện vọng, lập tức đã đồng ý với ông ngay. - Bác nghỉ là phải. Bác làm bí thư đảng uỷ mười bảy năm rồi. Mệt mỏi quá rồi. - Thanh rót một chén trà Thái Nguyên cho ông Điền và nhìn ông với đôi mắt đầy thông cảm. Đối với ông Điền, anh hoàn toàn không có thành kiến gì. Trái lại Thanh lại rất mến phục ông về đức tính liêm khiết trong sạch. Hơn mười năm anh đi xa làng trở về, ngôi nhà ông vẫn như thế. Một ngôi nhà gỗ cổ ba gian, mái lợp ngói, thấp tè, cánh cửa bức bàn, mỗi lần đến chơi Thanh cứ phải khom người như sợ đụng phải mái ngói. Ba người con trai ông đều đi bộ đội. Người con trai cả đã hi sinh ở chiến trường đường Chín năm sáu chín. Đạt, anh con trai út, suốt từ ngày xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía bắc vẫn không có tin tức gì. - Mấy năm nay làm việc, tôi cảm thấy quá sức lực của mình. - Ông Điền muốn giãi bày tất cả niềm tâm sự. - Sức khoẻ giảm sút một phần. Nhưng cái chính yếu là mình không còn đủ năng lực để đảm đương công việc. Mà sự bảo thủ, trì trệ là một tội lớn trong lúc này. Biết mình không còn đủ sức làm việc mà vẫn tham quyền cố vị lại càng có tội lớn với Đảng với dân. Khoá trước, tôi đã nói với các anh ấy xin nghỉ. Nhưng rồi cả anh Thiển, anh Cơ, anh Tấn đều động viên giữ lại. Chú có biết thằng Đạt nó bảo tôi thế nào không? "Bố đã già rồi. Bố không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu". - Ông Điền bỗng bật cười. Nụ cười làm cho những nếp nhăn trên mặt ông sâu hơn và trông ông già thêm mấy tuổi. - Cái thằng trẻ người mà nó nói ghê không? Không ai cưỡng được tuổi già. Mình có muốn trẻ lại cái cách nhìn, cách nghĩ, cũng chỉ có mức độ. Tôi đã nghiệm thấy cái tuổi của mình không thể đáp ứng được những vấn đề mới mẻ đang đặt ra hiện giờ. Mình cố làm tức là không tin lớp trẻ, tức là cố ý kéo lịch sử lùi lại. Nhà nước đặt ra cái tuổi hưu là có cơ sở khoa học lắm chứ. - Năm nay bác sáu mấy tuổi rồi? - Sáu mươi bảy. - Thế thì bác nghỉ là đúng quá rồi. Cũng phải dành thời gian để nghỉ ngơi dưỡng sức. - Nhưng phải có lớp người như các chú thay thế. Chú có trình độ văn hoá. Hiểu biết nhiều. Cần phải mang vốn kiến thức ấy đóng góp với địa phương… Tôi thấy hình như chú vẫn chưa hài lòng với cách làm ăn của xã mình. Chưa thực sự bắt đầu… Thanh ngồi yêu lặng, xoay xoay mãi chiếc chén trên tay. "Cảm ơn bác, bác đã nói với cháu những điều rất thẳng thắn chân thành. Cháu không giấu mình đâu. Cháu cố tình bộc lộ những thái độ của mình. Tính cháu vốn như vậy. Không thể giấu nổi mình. Không thể sống khác những điều mình nghĩ. Có lẽ vì thế mà cháu không thích những người kín đáo, thâm trầm quá. Giá bác nói những điều ấy sớm hơn, thì cháu đã chẳng bỏ đi làm thợ mộc, đã chẳng để phí hoài mấy tháng vừa qua. Và cũng không đến nỗi mang tiếng là một anh đảng viên biến chất, vô tổ chức. Cháu có lỗi không tìm đến bác. Nhưng cháu cũng có quyền trách bác đấy. May mà bây giờ bác cháu mình ngồi lại với nhau. Cháu rất cảm ơn bác. Và cháu cũng muốn nói thẳng". Thanh nhìn ông Điền, cái nhìn kính trọng và biết ơn nhưng cũng đượm phần trách móc. - Bác nói đúng. Cháu chưa thực sự bắt đầu. Tất nhiên có những nguyên nhân của nó. Trong đó bác có nghĩ rằng có phần về phía bác không? Bác quá dè dặt và thận trọng, nếu không nói là quá tròn trĩnh khuôn mẫu… Những lời nói thẳng thắn của Thanh làm ông Điền xúc động. Ông nghĩ tới những điều Vy đã nói với ông. Thanh vẫn chưa biết rằng chính ông đã thu xếp chuyện giữa Cơ và Vy. Như vậy đối với Thanh, dù sao ông cũng có khuyết điểm. Tự nhiên ông Điền muốn nói hết, nói thẳng những điều ấy. Ông phải xin lỗi Thanh, đương nhiên. *** Kết quả bầu cử đảng uỷ của đảng bộ xã Thanh Bình, đã làm tất cả mọi người sửng sốt. Dù ông Điền hết sức thiết tha xin rút khỏi danh sách ứng cử, ông vẫn trúng phiếu. Và lại một khoá nữa ông được cử giữ chức bí thư của đảng uỷ. Còn Cơ? Chính Cơ cũng không thể tin điều đó. Bất ngờ quá. Tổ chức huyện uỷ và bí thư Trần Sinh lại càng không tin điều đó. Cơ đã bị loại khỏi danh sách đảng uỷ, mặc dù giữa ông Điền và anh chỉ chênh nhau hai phiếu. Lần đầu tiên ở huyện Giang Thuỷ, một huyện uỷ viên do ban chấp hành huyện uỷ trực tiếp giới thiệu ứng cử tại một đảng bộ, lại không trúng cử. Ngay sau khi nhận điện thoại của trưởng ban tổ chức huyện uỷ gọi trực tiếp từ Thanh Bình về, Trần Sinh đã lệnh cho lái xe đưa ông xuống ngay nơi tổ chức đại hội. Ban chấp hành đảng uỷ mới còn chưa ra mắt. Số phiếu chưa chính thức công bố. "Ai tổ chức đạo diễn ra cái trò này? Không còn nghi ngờ gì nữa, nội bộ ở đảng bộ Thanh Bình đang có vấn đề nghiêm trọng. Bất chấp cả những ý đồ của huyện uỷ, ở đây, một số phần tử đang tìm cách thao túng các đảng viên nhằm vô hiệu hoá vai trò và sự lãnh đạo của huyện uỷ". Ý nghĩ ấy nung nấu trong đầu Trần Sinh trên suốt đoạn đường từ huyện xuống Thanh Bình. Gương mặt ông đỏ bừng, lầm lì, cau có. Vừng trán loáng bóng như có quết sơn dầu. Ông giữ mãi vẻ mặt ấy suốt từ lúc bước chân xuống xe vào phòng họp. Hội ý với ban tổ chức huyện uỷ. Gặp gỡ đoàn chủ tịch, với ban chấp hành đảng uỷ cũ. Đề nghị ban kiểm phiếu kiểm tra lại kết quả bỏ phiếu. Nói chuyện với toàn bộ đảng viên có mặt dự đại hội… Tất cả những hoạt động ấy của Trần Sinh đều vô hiệu. Cuộc bầu cử hoàn toàn hợp lệ và không ai có quyền thay đổi. Trần Sinh mệt mỏi đến rã rời, gieo người xuống ghế xe, đóng sầm cửa lại. Ông kiên quyết từ chối bữa liên hoan mà đại hội đã chuẩn bị sẵn. Cái ý đồ mà ông mất bao nhiêu tâm lực, công sức nhen nhúm, xây dựng, cái mẫu hình do chính ông tạo ra, nuôi dưỡng và ký thác, hi vọng, đã bắt đầu đổ vỡ. Trên đường về, Trần Sinh tự lên án mãi cái tính chủ quan của mình. Rồi ông cáu bẳn, trách cứ cả trưởng ban tổ chức huyện uỷ, cùng ngồi trên xe lúc ấy. Nếu lường trước được sự việc, đâu đến nỗi này? Nhưng ông đã nhầm. Ông chưa hề nằm trong cái "chăn" Thanh Bình. Ông vẫn chỉ là một người ngoài cuộc. Rồi ông sẽ còn sửng sốt, sẽ còn thất vọng… *** Những lực lượng ở Thanh Bình đã dàn thế trận. Mọi cương vị chủ chốt trong xã hầu như không thay đổi. Xuyến đã thay chân Cơ trong thường vụ. Ban chấp hành đảng uỷ giới thiệu một danh sách mười hai người ra ứng cử ban quản trị hợp tác xã. Tất nhiên vẫn có Cơ và Xuyến. Nhưng có thêm một nhân vật lần đầu tiên nhảy từ lĩnh vực chính trị sang lĩnh vực kinh tế. Đó là phó bí thư đảng uỷ Đào Hữu Thiển. Sau cuộc bầu cử đảng uỷ, thường vụ đã nhận định rằng Cơ rất có thể được huyện uỷ rút về huyện hoặc cử đi học. Bởi ông Trần Sinh không đời nào lại chịu thí một quân "át chủ bài" như vậy khi biết rằng ở cuộc bầu cử ban quản trị sắp tới, số phận Cơ lại càng rất mỏng manh. Vì thế Thiển sẽ là người đảm nhiệm cái cương vị của Cơ. Bây giờ thì người ta đã bắt đầu dự đoán trước được những gì sẽ xảy ra trong cuộc đại hội đại biểu xã viên toàn hợp tác xã Thanh Bình. Một người như Thiển, suốt mấy khoá đại hội không bao giờ chịu nhận một chân phó chủ nhiệm, tự nhiên sang tranh cử với Cơ, chắc chắn phải có vấn đề. Ở hiệu sửa chữa xe đạp của Phiệt, người ta đã nói toạc ra, như sự việc đã xong xuôi cả rồi. - Đợt này ông Thiển làm chủ nhiệm. Ông Cơ huyện sẽ rút về cho đi học quản lý kinh tế. Chứ đời nào huyện dám để thế. Ông Trần Sinh sao chịu nổi một cú đấm vỗ mặt nữa. Nhưng… Trần Sinh vốn là một người kiên định, quyết liệt. Ông không hề có ý định rút Cơ đi đâu hết. Ông chỉ công nhận có Cơ mới xứng đáng làm chủ nhiệm hợp tác xã lá cờ đầu của huyện. Ngay sau cuộc bầu cử đảng uỷ Thanh Bình, Trần Sinh đã cho gọi Cơ lên gặp riêng và nghe anh trình bày hết mọi chuyện. Chưa bao giờ Cơ lại tỏ ra chán chường, đau khổ, và yếu đuối như những ngày này. Anh vừa giống như một người leo cao bị ngã đau, vừa giống như một con chim bị tên bắn hụt. Hầu như tất cả sức lực ý chí cùng những tham vọng, dự định mà lâu nay anh vẫn có dư thừa đều bị sụp đổ, tan vỡ như bong bóng xà phòng. Mình sẽ xin với anh Trần Sinh cho rút khỏi công tác ở Thanh Bình. Trên đường lên gặp Trần Sinh, Cơ thầm phác một kế hoạch: Nội bộ Thanh Bình đến mức như thế này thì mình không thể nào làm việc được nữa. Đợt bầu chủ nhiệm tới, nhất định cánh Thiển sẽ tìm cách lật mình bằng được. Mình sẽ xin đi học một lớp bổ túc văn hoá nào đó hay một lớp trung cấp chính trị. Rồi sau đó xin về công tác ở huyện… Cơ đã mạnh dạn trình bày với Trần Sinh những suy nghĩ ấy. Với tấm lòng hết sức chân thành, ngay thật, Cơ cũng nói hết với đồng chí bí thư huyện uỷ tất cả nội tình ở Thanh Bình trong thời gian vừa qua. Từ chuyện sáu trăm tấn lương thực, chuyện bức ảnh Soi, và bài báo của Đặng Hoài, chuyện khai man diện tích úng lụt để xin huyện trợ cấp cứu đói, chuyện ông Trạc xin ra hợp tác xã, chuyện vụ trồng đỗ tương bị thất bại, chuyện Cơ khui ra một loạt vụ ăn cắp tập thể trong mùa gặt vừa rồi dẫn đến việc hai mươi tám cán bộ đảng viên và bảy đội sản xuất bị cảnh cáo, cho đến chuyện gần đây nhất là cánh Loã, Biền dính dáng đến bột quân lương bị đi tù… - Tất cả vẫn là do cái tư tưởng nông dân. - Trần Sinh như vỡ lẽ khi nghe Cơ trình bày hết sự tình. Lòng bừng bừng giận dữ, ông đi lại trong phòng, bàn tay nắm chặt lại như đấm vào không khí. - Đúng. Phải đập tan cái tư tưởng nông dân. Để như vậy thì đời nào xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội? Ở Thanh Bình hiện giờ đang có những phần tử núp dưới danh nghĩa Đảng để chống lại chủ nghĩa xã hội. Về phương diện Đảng, huyện uỷ sẽ có biện pháp kiên quyết loại trừ ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội đó. Riêng về hợp tác xã, huyện vẫn lấy Thanh Bình làm điểm chỉ đạo. Ông không được đi đâu hết. Đừng có tư tưởng dễ ăn khó bỏ, tư tưởng đầu hàng thoả hiệp. Huyện uỷ quyết định ông tiếp tục đặc trách hợp tác xã Thanh Bình. - Báo cáo anh… Nhưng việc chọn chủ nhiệm là do đại hội xã viên… - Cơ rụt rè nhắc Trần Sinh. Mặc dù đồng chí bí thư đã tiếp cho anh thêm niềm tin và sức mạnh, nhưng anh vẫn cảm thấy chống chếnh lo ngại. - Dù Thanh Bình có tổ chức đại hội hợp tác xã hay không thì quyết định của huyện uỷ vẫn phải được thực hiện. Trần Sinh khẳng định dứt khoát. Và ông đã làm đúng như vậy. Chỉ mấy ngày sau, ông viết một lá thư gửi riêng cho bí thư đảng uỷ xã Thanh Bình. "Kính gửi anh Điền. …Thường vụ huyện uỷ đã quyết định anh Cơ sẽ ăn lương trong biên chế của huyện và chỉ định trực tiếp phụ trách phong trào hợp tác xã Thanh Bình. Bằng mọi giá, chúng ta phải xây dựng Thanh Bình thành một điển hình xuất sắc toàn tỉnh về phong trào hợp tác xã nông nghiệp. Đó là ý đồ chỉ đạo của thường vụ, thực hiện nghị quyết của đại hội huyện đảng bộ lần thứ mười hai vừa rồi. Tôi biết nội bộ Thanh Bình đang có vấn đề nghiêm trọng. Cách làm việc thẳng thắn, kiên quyết của anh Cơ rất có thể làm cho xã viên bất bình. Trong tình hình có nhiều tiêu cực hiện nay, cách làm đó cần được ủng hộ. Nó biểu hiện tính chiến đấu cao, kiên quyết ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, ngăn cản con đường nông nghiệp đi lên sản xuất lớn. Anh có trách nhiệm thực hiện ý đồ của thường vụ trong việc này. Hi vọng rằng, anh sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ…". Bí thư huyện uỷ TRẦN SINH Quyết định của huyện uỷ đã tạo thành một dư luận xôn xao khắp xã Thanh Bình. Cả những xã viên bình thường, không hề quan tâm đến chuyện bầu bán bao giờ cũng bắt đầu bàn tán. *** Vào một buổi sáng, trước ngày đại hội ba hôm, tự nhiên thấy xuất hiện những tờ giấy, kích thước không đều nhau, được viết bằng nhiều thứ mực, kể cả nhọ nồi, dán khắp trên những bức tường, gốc cây ở những nơi đông người qua lại, đặc biệt là ở chợ Ba Thôn và trụ sở uỷ ban, văn phòng hợp tác xã Thanh Bình. Những dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng thứ bút tre tự làm hoặc bằng đầu quản bút học trò. Phần lớn các bài viết đều ngắn, có chỗ vô nghĩa, khó hiểu, nếu không phải là dân Thanh Bình thì không thể đoán nổi, nhưng lại tạo được vần vè dễ thuộc: "Điển hình tiên tiến đâu đâu Xã viên bụng đói nhìn nhau khóc thầm Mình ông con số sáu trăm Ông đưa lên báo ông vào uỷ viên". "Một trăm năm mươi mẫu Đậu tương đổ ra đồng Tương không có kho cá Chỉ vớ bở mình ông". "15 đội cảnh cáo 15 đội tham ô Cán bộ đảng viên đều xấu hết Riêng ông trong sạch ra trò Ông phóng ảnh bà bằng cái mo Kiện tướng chăn nuôi bằng cám kho…". Những tờ giấy thật quái ác, tất cả đều nhằm vào Cơ. Đến buổi trưa, những tờ giấy ấy đều được ông Điền và Thiển cho người xé đi. Nhưng hầu như trong xã Thanh Bình, ai cũng đã thuộc. *** Như một ngày hội lớn, hội trường hợp tác xã Thanh Bình suốt từ sáng sớm đã tấp nập, nhộn nhịp. Hai chiếc loa đại gắn trên hai đầu nóc nhà, một chiếc nữa gắn tít trên ngọn cây gạo, quay ba hướng về ba thôn, mở oang oang. Nói. Hát. Ngâm thơ. Độc tấu. Giọng con trai, con gái, cao, trầm, liên tục không lúc nào nghỉ. Đại biểu xã viên do các đội sản xuất bầu ra, lục tục khắp nơi trong xã về dự họp. Trong số các đại biểu, người ta thấy có Thanh. Anh đã chính thức được bầu làm đội trưởng đội Mười, thay Cản. Các đại biểu trẻ đều là nữ thanh niên. Các cô ăn diện thật đẹp, áo sơ-mi trắng, hoặc áo màu, áo hoa, quần lụa đen. Thắm nổi bật lên giữa đám thanh niên thôn Thanh Cao với chiếc sơ-mi màu hoa cà, cổ lá sen, tóc buộc thành hai bím rủ xuống hai bờ vai, khiến gương mặt càng tươi trẻ, xinh xắn. Sau mấy tháng lặng lẽ và u buồn, hoặc cố tình lẩn tránh khỏi đám đông, Luyến lại xuất hiện. Dường như sau kỳ sinh nở, Luyến đã trở thành một người khác. Chị đẫy ra, da căng và mịn hơn. Bộ ngực tròn đầy như nổi lên cái khả năng tràn trề của một người mẹ. Sau mấy lần Cơ đến thuyết phục Luyến trở lại công việc của mình, Luyến đã chấp nhận. Và hai mẹ con Luyến lại dọn ra ở căn phòng đầu chái nhà kho cũ. - Cô Luyến. Cô gửi bé cho ai rồi? Sao cô không cho em đi họp? - Nhìn thấy Luyến đi cùng với Sáng, Thắm kéo mấy cô bạn tíu tít chạy lại. - Cô gửi mẹ mày. Cho đi để nó phá hội nghị à? Các cô bạn cùng phá lên cười. - Cu Tí ghê lắm nhé. - Thắm khoe với các bạn. - Cho cái gì ăn được là Tí ta đút ngay vào miệng. Hôm qua đang ăn cái kẹo, tớ mới giật ra đưa cho cái lược. Cu Tí biết bị lừa, liền quẳng ngay đi, hai chân đập phành phạch xuống giường, miệng khóc mà cấm có tí nước mắt nào… Luyến nhìn Thắm, lặng lẽ cười, như là lần đầu tiên chị biết đến những đức tính đáng yêu của con mình. Đúng thế đấy. Bé khôn lắm nhé. Ba tháng mà đã biết đủ điều. Chỉ cần đi vắng một lúc, khi về, bé đã ôm chầm lấy, bàn tay nhỏ xíu áp vào má như trách, rồi bé rúc đầu vào ngực tìm núm vú, vừa bú vừa nhìn mẹ, tít mắt cười. Bé thương mẹ mà. Có ai dạy đâu mà đã sớm biết thế?... Tiếng loa đang hát bỗng ngừng bặt. Rồi một giọng nam trầm: - A lô… Sắp đến giờ khai mạc đại hội, ban tổ chức chúng tôi đề nghị các đại biểu xã viên khẩn trương về ngay hội trường để chúng ta kịp làm việc. Hai chiếc bản đen lớn được khênh ra dựng ở ngay lối cửa chính ra vào. Các xã viên đều kéo nhau đổ dồn đến xem danh sách những người ứng cử. Tên Cơ được viết ngay trên đầu bảng, đứng đầu danh sách mười hai người ứng cử ban quản trị: - VŨ ĐÌNH CƠ, uỷ viên ban chấp hành huyện đảng bộ Giang Thuỷ, do huyện trực tiếp chỉ định giữ chức chủ nhiệm. Cả hai tấm bảng đều không có tên Đào Hữu Thiển. - Sao bảo ông Thiển được thường vụ giới thiệu sang làm chủ nhiệm? - Người ta xì xào hỏi nhau. - Ông Thiển xin rút để tập trung phiếu cho ông Cơ rồi. - Còn bầu gì nữa? Ông Cơ coi như không phải bầu. Huyện đã trực tiếp chỉ định. - Nói lạ. Phép vua thua lệ làng. Phải bầu chứ. Hợp tác xã chứ đâu có phải một phòng ban nào của huyện? Thanh đang đứng giữa đám đông, nghe hết những lời bàn tán. Chính anh cũng không hiểu liệu Cơ có phải bầu không? Thanh đi vào hội trường tìm Lập. *** Từ hôm Thanh được bầu làm đội trưởng đội Mười, tự nhiên Thanh và Lập trở thành đôi bạn thân. Tình bạn, đôi khi thật kỳ lạ. Có những người biết nhau nhưng suốt cả thời thơ ấu, rồi một phần tuổi thanh niên, không hề chơi bời với nhau. Vậy mà do một sự tình cờ nào đó, họ bỗng gặp nhau ở những sở thích, những say mê, và cao hơn là những thiên hướng, mục đích, lý tưởng, và họ bỗng trở nên đôi bạn tri kỷ. Thanh và Lập cũng vậy. Giữa hai người hầu như không có chung nhau một kỉ niệm nào. Thanh ở Thanh Cao, còn Lập ở Thanh Minh. Ngày học ở trường cấp ba phố huyện, Lập học trên Thanh hai lớp. Hai người thỉnh thoảng đi về cùng đường với nhau, biết nhau, nhưng ít khi họ cùng nhau trò chuyện. Mười năm Thanh ở chiến trường, chưa bao giờ Thanh nghĩ đến Lập. Ngày về xuất ngũ, Thanh cũng không nghĩ rằng anh lại có thể quen thân được với Lập. Nghe xã viên nói Lập tháo vát, giỏi công việc đồng áng, và là "cố vấn số một" của hợp tác xã trong công tác lập kế hoạch, điều hành sản xuất, Thanh cũng chỉ biết vậy. "Anh Lập nếu là đảng viên thì đáng giữ chức chủ nhiệm từ lâu rồi. Cái vụ đông vừa rồi, không có anh Lập thì xã viên đói to…". - Một lần tâm sự về đội ngũ cán bộ Thanh Bình, Vy bỗng nói với Thanh. A, thế ra Lập chính là "tác giả" của hình thức khoán sản phẩm vụ đông vừa rồi? Thanh bắt đầu chú ý đến Lập. Anh la cà thăm dò trong xã viên, nhất là lớp thanh niên trẻ và phần nào hiểu ra cảnh ngộ và con người Lập. Một con người có trình độ văn hoá, có hiểu biết khá sâu sắc về nông thôn, yêu thích cái mới, sẵn sàng bất bình với lối làm ăn cũ kiểu cò con, với những mánh khoé cơ hội, chuộng thành tích, vụ lợi. Tính Lập thẳng thắn và hình như có phần quá tự tin về mình. Anh không né tránh những cuộc đụng độ, sẵn sàng đấu tranh để bênh vực quyền lợi xã viên, bảo vệ những việc làm đúng. Người ta đã kể ra khá nhiều trường hợp Lập công khai đốp chát với Biền, với Loã, và đôi khi cả với Cơ, với Đào trên văn phòng ban quản trị. Có người cho đó là chỗ yếu nhất của Lập: Anh không biết sống khôn ngoan. Những con người ngay thẳng, có bản sắc riêng như vậy, hầu như luôn gặp trắc trở trong cuộc đời. - Thanh nghĩ về Lập. - Cho đến bây giờ thì Thanh hiểu ra việc phấn đấu vào Đảng của Lập trầy trật tám năm nay chưa xong, cũng là lẽ đương nhiên. Lý lịch Lập không có vấn đề gì rắc rối. Nhưng chính con người Lập, tính cách và năng lực của anh lại là một trở lực khó chấp nhận đối với một đảng bộ mà những nhân tố tiêu cực, cái chất phi đảng vẫn còn tồn tại và trở thành một lực lượng áp đảo. Giá như anh cứ củ mì, lì xì vô thưởng vô phạt hoặc khéo léo mềm mỏng, biết lấy lòng tất cả, thì chắc mọi việc đã xong xuôi từ lâu. Nhưng khốn thay, anh lại sắc cạnh, có bản lĩnh riêng biệt. Anh tự khẳng định mình và cũng muốn mọi người cùng nhìn nhận như vậy. Thế thì đời nào cánh ông Thiển, ông Loã, ông Biền lại chấp nhận một cách dễ dàng sự có mặt của Lập trong đảng bộ? Ngay như ông Điền, hoặc Cơ, những người phần nào ủng hộ Lập, cũng chưa thật đã vô tư, công tâm, và dũng cảm trong việc nhìn nhận và đánh giá Lập. Họ ủng hộ anh như ủng hộ một xu thế hơn là một con người cụ thể. Có lẽ vì vậy mà họ cũng chưa thật hết lòng? Thanh bắt đầu có cảm tình với Lập. Và thật bất ngờ. Sau cái buổi tối Thanh đến gặp Cơ, Lập đã chủ động tìm đến Thanh, như một người bạn. - Tối qua ông đến chỗ anh Cơ phải không? - Ông Cơ nói với ông hả? Lập nhìn Thanh, như thầm kiểm tra lại những ước đoán của mình. Anh nói như vui chuyện: - Ông nên nhận chức đội trưởng đợt này đi. Xã viên đang trông ở ông cả đấy. Về phục viên, không tham gia công tác, chán chết… Thanh bật cười: - Nhưng tham gia công tác như ông thì vui nỗi gì? Có ai hiểu và hết lòng hợp tác với ông đâu… - Mình khác… Rồi sớm muộn cũng có người hiểu mình… - Lập ngẩn ra một lúc. Gương mặt thoáng một nét buồn. Nhưng rồi anh trở lại vẻ hào hứng: - Riêng ông, ông có nhiều lợi thế. Nói thật, mấy tháng qua, mình chờ đợi ông ghê lắm. Nhưng thấy ông cứ đi lên đi xuống khắp cơ quan tỉnh huyện để xin chuyển ngành, rồi lại bỏ đi làm thợ mộc, mình thất vọng ghê lắm… Thanh lảng tránh cái nhìn của Lập. Tự nhiên, mặt anh bỗng nóng ran. Cậu ấy không lấy lòng mình đâu. Cậu ấy nói thực lòng. Một con người như thế kia mà sao mình không biết tìm đến? Thanh trải chiếu ra hè. Sực nhớ ra nửa chai rượu còn thừa hôm nhà có giỗ, Thanh bảo Vy đi rang mẻ lạc. Hai người bạn cùng uống rượu suông dưới trăng. Hình như có một chén rượu, người ta sẽ sống thật mình hơn, có thể nói với nhau những điều mà lúc bình thường không ai nói. Thanh giãi bày hết với Lập những tâm tư, khúc mắc từ ngày anh về làng. Lập tâm sự với anh những điều anh hiểu biết về hợp tác xã, phân tích, đánh giá từng cán bộ chủ chốt trong xã, về dự định, mơ ước của anh… - Tôi với ông có nhiều điểm trùng hợp. - Thanh gật gù tán đồng. - Đáng lẽ ngay từ ngày xuất ngũ, tôi phải tìm đến ông mới phải… - Vẫn chưa muộn. Ông cứ nhận chức đội trưởng đội Mười đi. Mình sẽ tình nguyện làm cố vấn cho… Họ nắm tay nhau, cùng nhìn trăng, cùng bàn tính về những kế hoạch, những dự định cho vụ mùa tới… …Bây giờ thì họ đã trở nên thân thiết với nhau lắm rồi. Càng tiếp xúc với Lập, Thanh càng thừa nhận Lập đúng là một "chuyên gia" nông nghiệp giỏi. - Mình không hiểu danh sách đề ngoài kia là như thế nào? Ông Cơ có phải bầu nữa không? - Thanh tìm thấy Lập từ phía sau cánh gà sân khấu hội trường, khi anh đang tíu tít chuẩn bị cho giờ khai mạc đại hội, kéo anh ra một chỗ ghé tai hỏi nhỏ. - Có chứ. Phải bầu theo điều lệ hợp tác xã. Nhưng đó là trên danh nghĩa thôi. Có trúng phiếu hay không thì ông Cơ vẫn là chủ nhiệm. - Trường hợp không trúng phiếu thì tuyên bố với xã viên như thế nào? Lập chưa nghĩ đến điều ấy. Cho nên anh có phần lúng túng, trả lời theo sự phỏng đoán: - Lúc ấy buộc phải tuyên bố một số phiếu nào đấy. Chẳng hạn số phiếu tối thiểu. Ý chỉ đạo của anh Trần Sinh là như vậy. Thanh bẻ ngón tay khục khục, khẽ lắc đầu: - Gay go đấy. Qua đại hội đảng bộ vừa rồi, mình biết ông Cơ đang bị cô lập ráo riết. Cậu có thấy những tờ truyền đơn về ông Cơ vừa rồi không? Tất cả đều tập trung vào hai điểm: Đó là bệnh thành tích và thái độ kiên quyết chống tiêu cực. Người ta không cần phân biệt phải trái đúng sai, chỉ biết rằng nếu ông Cơ tiếp tục làm chủ nhiệm thì xã viên sẽ bị bóp chặt hơn nữa. Vụ mùa tới sẽ chẳng đội nào tơ hào được một cân thóc nào hết. Lập buồn bã thở dài: - "Phe đối lập" biết cách sử dụng sự bất bình của xã viên để kích động họ. - Lập đặt bàn tay lên vai Thanh. - Với cách làm ăn này, tất yếu mọi việc sẽ phải xảy ra như vậy. Ông Cơ chỉ là sản phẩm của ông Trần Sinh. Chỉ có cậu mới có thể góp phần gỡ thế bí hiện giờ. Cậu vẫn nhớ chuyện chúng mình đã bàn buổi tối hôm ấy chứ. Bắt đầu từ vụ này nhé. Nhất định chúng mình sẽ làm ăn được… Có tiếng xe ô tô. Thanh và Lập cùng nhìn ra. - Huyện đã xuống rồi kìa. - Lập sực nhớ vai trò ban tổ chức của mình, vội đứng dậy đi lo chuẩn bị mọi thủ tục. Đoàn đại biểu của huyện về dự đại hội hợp tác xã Thanh Bình có Toại, Mạch, và ba người nữa, trong đó có Hoà, con gái Cơ, cán bộ trẻ nhất của phòng nông nghiệp huyện. *** Phải đến gần mười giờ, đại hội mới có thể khai mạc được. Hội trường đông chật xã viên. Khói thuốc mù mịt như hun khói. Toại ngồi trên hàng ghế đầu, cạnh Thiển và Cơ. Suốt ba hôm nay Cơ buồn đến ủ dột. Những tờ truyền đơn như những lưỡi dao sắc mỏng cứa lách vào tim anh. Anh đau xót, rã rời nhiều hơn là uất ức, căm tức. Toại biết khá rõ những sự việc vừa xảy ra ở Thanh Bình và anh rất thông cảm với tâm trạng của Cơ hiện giờ. Anh chỉ ngạc nhiên không hiểu vì sao Thiển lại xin rút khỏi danh sách đảng uỷ đã đề cử? - Để tập trung phiếu, anh ạ. - Thiển nói với Toại, vẻ mặt thản nhiên như đó là chuyện đương nhiên thuộc về trách nhiệm của anh. - Để anh Cơ lo công việc hợp tác phù hợp hơn. Anh Cơ đã có nhiều kinh nghiệm quản lý kinh tế. Tôi với anh Điền cứ lo công tác đảng cũng đủ bơi ra rồi… "Mọi vấn đề phức tạp ở Thanh Bình là do ông Thiển hết. Ông ta cố tình hạ uy tín Cơ để thay chân chủ nhiệm". - Nhận định ấy của anh có còn đúng nữa không trong tình hình này? Có phải Thiển muốn lật Cơ cái chức chủ nhiệm, hay chính là do uý tín của Cơ đã giảm sút trong cán bộ đảng viên và quần chúng Thanh Bình? - Toại tự đặt ra những câu hỏi, nhưng anh chưa tìm được câu trả lời? Tình hình ở Thanh Bình quá phức tạp. Anh chưa đủ những cứ liệu để phân tích, đánh giá, tìm ra những nguyên nhân của nó. Cần phải chờ đợi ở đại hội này. Lập thay mặt ban tổ chức lên tiến hành các thủ tục. Danh sách chủ tịch đoàn gồm mười ba người được gọi lên. - Tất cả đại hội đều nhất trí với danh sách chủ tịch đoàn do ban tổ chức chúng tôi đề cử chứ ạ? Tiếng vỗ tay rời rạc khắp hội trường. Ông Điền, Cơ, Tấn, Đào,… và những người có tên vừa được đọc, lần lượt lên ngồi trước dãy bàn phủ vỏ chăn hoa dành cho đoàn chủ tịch đại hội. Khi Đào vừa đứng lên giới thiệu Cơ đọc báo cáo tổng kết thì từ giữa hội trường, một người cao to vụt đứng dậy, lừng lững như pho tượng hộ pháp. Mọi người nhận ra Kiểng, xã viên đội Ba xóm Lẻ, nổi tiếng nát rượu và hay gây gổ. Không hiểu vì sao anh ta lại được bầu đi dự đại hội? Nhìn bộ mặt tái nhợt, đôi mắt xếch đỏ vằn, cái đầu ngất nghểu dính vào cổ một cách lỏng lẻo, ai cũng đoán rằng ít nhất anh ta cũng đã làm một chai bố trước khi đến đây. - Tôi là tôi có ý kiến… - Giọng Kiểng lè nhè cố kéo dài ra, đôi mắt lấc láo đảo quanh như tìm kiếm ai, rồi chòng chọc nhìn vào đoàn chủ tịch, tưởng đang đếm từng người. - Tôi đề nghị đó… cái gì thì cũng phải bầu. Phiếu phiếc cho đàng hoàng. Chứ thế kia, đọc luế loá, rồi vỗ tay lẹt đẹt, rồi lên, ngồi chẻm choẹ… Không được. Tôi không có tán thành. - Kiểng bắt đầu hoa tay, khoát một vòng rộng. - Có các quí vị đồng chí thường vụ huyện, uỷ ban huyện ở đây, tôi hỏi cách làm ăn luế loá như thế có coi được không? Dân chủ ở chỗ nào? Hả, các vị? Bà con xã viên nghĩ thế nào? Phải bầu. Chủ tịch đoàn hay chủ tịch đội cũng phải bầu tuốt tuột. Hớ hớ… - Kiểng bỗng bật cười. Một nụ cười ngây ngô, nhưng thật khôi hài. Cả hội trường cười ồ lên. Nhiều tiếng nhao nhao từ cái góc Kiểng đang đứng nổi lên: - Đúng đấy. Ông Kiểng nói chí phải. - Phải bầu thôi. Làm ăn cho nó đàng hoàng. Từ phía cuối hội trường, có ý kiến phản đối: - Ông Kiểng gàn bỏ mẹ. Bầu thế thì có đến sang năm… - Ai bảo gàn? Hả? A dua để họ bóp mũi cho à? Đã phát biểu xong rồi, nhưng Kiểng vẫn chưa chịu ngồi xuống. Anh ta vênh vênh mặt nhìn sang hai bên và cứ giữ mãi cái nụ cười giễu cợt trên môi. Ông Điền doài người sang nói gì với Cơ, rồi đứng dậy giơ tay ra hiệu mời Kiểng ngồi xuống. - Anh Kiểng đề nghị cũng có lý. Nhưng đại hội chúng ta phải thông cảm. Bây giờ là mười giờ rồi. Chương trình đại hội khá dài. Chúng ta phải nghe đọc báo cáo tổng kết, phương hướng kế hoạch, phải thảo luận, rồi bầu ban quản trị mới. Phải khẩn trương lắm thì chúng ta mới kết thúc trong ngày hôm nay được. Tôi đề nghị trong số mười ba người trong chủ tịch đoàn chúng tôi đây, đại hội không nhất trí ai xin cứ phát biểu. - Không có được. - Kiểng lại khoát tay. Lần này thì Kiểng huơ cả hai tay lên. - Chúng tôi không thắc mắc ai. Xứng đáng cả. Nhưng mà phải bầu. Mười giờ chứ một trăm giờ cũng cứ là phải bầu. Thế mới gọi là dân chủ chứ. Xã viên cử chúng tôi lên đây là chúng tôi phải có đảm bảo. Không làm đúng quy lát, lần sau ai bầu chúng tôi đi đại hội? Hôm nay không xong thì kéo dài hai ba ngày. Một tháng cũng được. Làm lùi xùi, quí vị đồng chí huyện uỷ sẽ phê bình chúng ta chứ. Toại quay nhìn xuống, lắc đầu. Tiếp theo Kiểng, lại những tiếng nhao nhao ủng hộ và phản đối. Cái không khí nhộn nhạo và như sắp sửa hỗn loạn dưới kia đã khiến Toại dự đoán trước một tình hình rất phức tạp sẽ có thể xảy ra. "Tình hình sẽ rất phức tạp. Không thể làm căng được. Đề nghị các anh cho bầu bằng cách giơ tay biểu quyết". - Toại viết vội một mảnh giấy chuyển lên cho ông Điền và Cơ. Lại đấu tranh. Lại phản đối. Cả hội trường ồn ào như buổi họp chợ. Người ta giới thiệu thêm những người vào chủ tịch đoàn. Một dãy dài hơn hai chục người nữa. Phân tích. Đấu tranh. Nên để ai, bỏ ai? Sẽ lấy bao nhiêu người vào đoàn chủ tịch? Phải gần hai tiếng sau mới nhất trí được một danh sách 22 người đưa ra bầu theo cách lần lượt giơ tay biểu quyết từng người. Làm theo cách này lại càng phức tạp. Hai trăm sáu nhăm đại biểu, đếm đến bao giờ? Những ai sẽ được cử vào ban đếm? Nhưng không còn cách nào khác được. Lần lượt tên từng người được xướng lên. Những cánh tay giơ lên. Có người giơ cả hai tay. Có người đang giơ tay thì bị người đằng sau kéo giật xuống. Nhốn nháo. Hỗn loạn. Khói thuốc. Hơi người. Bức bối. Ngột ngạt. Mười ba đại biểu trên đoàn chủ tịch lần lượt rút về chỗ ngồi cũ của mình. Chỉ còn một mình Cơ, chị Đào, và ông Điền. Bỗng từ ngoài đường xuất hiện một đoàn người đi vào. Dẫn đầu là một ông già râu dài, đầu quấn chiếc khăn nhiễu đỏ, quần đùi nâu, áo tơ tằm vàng ngà, tay cầm chiếc quạt dài gần nửa thước, xoè ra như cái lọng, vừa đi vừa lắc lư phe phẩy. Theo sau là vài ông bà cũng trạc tuổi ấy. Rồi mấy chị nạ dòng, bế, dắt theo mấy đứa trẻ. Đoàn đại biểu nào đến chào mừng đại hội thế kia? Mọi người nhận ra ông trưởng họ Đào Hữu đi đầu và bố mẹ, vợ con của Loã, Biền, Thảng và mấy cán bộ đảng viên có liên quan đến vụ tham ô móc ngoặc đang bị xử lý. Ông Sửu trông có dáng một kép già trong cách gánh phường chèo cũ. Từ cách ăn mặc, điệu bộ, cái vẻ mặt nửa tỉnh nửa say, đều có một cái gì không bình thường. Như đã chuẩn bị, bố trí sẵn, ông Sửu dẫn "đoàn đại biểu" đi thẳng cửa chính hội trường. Cuộc biểu quyết bị dừng lại. Mọi người cùng xô đẩy để nhìn cho rõ cái "đoàn đại biểu" kỳ cục kia. Vì hiếu kì, tò mò. Vì đắc chí, chờ đợi. - Tôi là tôi có ý kiến. Đại hội này là phải tống cổ một số tên tham nhũng, hách dịch, gây mất đoàn kết, vu cáo cán bộ xã viên, lợi dụng mồ hôi nước mắt của xã viên để ngoi lên kiếm chác địa vị. - Ông Sửu nói oang oang. Cái quạt giấy dài nửa thước gấp lại, huơ lên như chiếc gậy của một vị thủ lĩnh. Vợ Biền, một người đàn bà có bộ mặt mỏng như diệp cày, tay bế con, nhảy thách lên, giơ tay lên phía bàn chủ tịch, xỉa xói: - Nó kia kìa. Chồng tôi phải đi tù cũng là vì nó. Chồng tôi hết lòng vì dân, làm lợi cho xã viên từng hạt thóc, nhưng các người đâu có biết. Cái vụ mùa năm ngoái ấy. Không có cái thằng Biền với thằng Loã, cứ để mặc cho nó lấy bình tích thì xã viên chỉ có mà treo mõm tuốt tuột. Ấy thế mà nó sổ toẹt công lao của người ta. Nó đổ hàng tấn đậu tương ra đồng, nhưng có ai dám động đến cái lông chân. Nó vung tiền ra tiếp đãi khách khứa chén thù chén tạc để rồi đổ vấy giết hại người ta. Cái món gỗ lát ấy, cứ vào trong buồng nhà nó mà khám… Cái giọng lè nhè của Kiểng chợt giật lên: - Lôi cổ nó xuống. Đã bầu bán xong đâu mà nó đã chễm chệ trên kia? Láo. Không coi đại hội này ra gì cả, hả? - Lên lôi cổ nó xuống! - Giọng ông Sửu như ra lệnh. Nhưng Cơ vẫn đứng đấy. Tất cả cán bộ đảng viên, kể cả Toại, Mạch, đều kéo lên cái sàn cao, nơi kê bàn chủ tịch. Họ cũng hò hét đến khản cả giọng, kêu gọi hãy giữ trật tự, không được gây hỗn loạn. Họ bàn nhau tìm cách đối phó. Một tổ dân quân do Xuyến phụ trách được phái ngay đi lấy súng. Ông Sửu lừ mắt một lần nữa. Hơn chục người đàn ông sát khí đằng đằng, xô ghế đứng dậy, nhất tề xông lên chỗ Cơ. - Không được làm thế. Anh Cơ không có tội. - Kìa anh Cơ, trốn đi kìa… - Những tiếng phụ nữ hét lên. Cả hội trường như bị một sức mạnh vô hình kéo xô về phía trước. Các cô gái bỗng nép sát vào nhau, sợ hãi, hoảng hốt. Người ta đứng hẳn lên ghế, la ó, hò hét, hưởng ứng, phản đối. - Cứ lôi cổ nó xuống, dần cho một trận. - Dân quân đâu? Ới các ông dân quân. Để cho bọn người xóm Lẻ họ phá đại hội thế này à? - Trói lão Sửu với thằng Kiểng lại. Bọn ấy định phá hợp tác. Một người cao lớn bỗng lừng lững đứng dậy, chắn ngang trước mặt những người định đi lên phía đoàn chủ tịch. Đó là ông Năm Ngũ. Phía sau ông có Thanh và gần một chục thanh niên, bộ đội phục viên. - Đứng lại. Về hết chỗ cũ. Các người định phá hợp tác phỏng? Lập tức, mấy người đàn ông khác cũng đùng đùng kéo lại, kết thành một phe đối lập. - Đánh giập đầu những đứa vu khống, phá rối. - Dân quân đâu? Trói gô cổ thằng Kiểng lại. - Đứa nào bảo đánh giập đầu, hả? Thằng Kiểng đây. Đứa nào muốn trói, hả? Kiếng nắm tay giơ lên, giáng vào mặt ông Năm Ngũ. Lập tức, hàng chục người cùng xô vào nhau. Tiếng la hét. Tiếng khóc. Tiếng ghế chạm nhau chát chúa. Một cuộc ẩu đả hỗn loạn. - Tất cả giải tán. - Xuyến quăng chiếc xe đạp trước cửa, chạy ùa vào, cầm khẩu súng ngắn huơ lên, hét vỡ cả giọng. Nhưng hình như không ai nghe thấy. Cuộc ẩu đả mới bắt đầu vào phút quyết liệt nhất. Thanh nhảy đại khỏi đám đông, giật khẩu súng AK từ tay cô gái vừa thở đứt hơi chạy đến. Anh kéo quy lát đánh rốp, chĩa mũi súng ra phía cửa, siết cò. Năm phát liên thanh làm cho trời đất như sập xuống. Cả hội trường bỗng chết lặng. XIX Đại hội hợp tác xã Thanh Bình không thành công. Ban quản trị cũ, có bổ sung Xuyến thay chân phó chủ nhiệm Loã, lại tiếp tục làm việc. Công việc đồng áng vẫn diễn tiến theo cái nhịp điệu mùa màng bận rộn của nó. Tháng sáu, trời nắng gắt gao nhưng mạ vẫn xanh mơn mởn. Những cánh đồng đã bừa ngả bằng phẳng, nước lấp loá hàng trăm mảnh gương xếp liền nhau. Những cánh đồng trước mặt Thanh, sau hơn mười năm, bây giờ mới lại được anh nhìn ngắm với trọn vẹn một tình yêu của người đang sống vì nó, cho nó. Đi thăm đồng, nhận mặt từng khu, từng thửa ruộng, đó là công việc đầu tiên của một đội trưởng mới. Ai cũng biết như vậy. Nhưng Thanh không chỉ dừng lại ở đó. Anh mượn bản đồ giải thửa của hợp tác xã, căn lại từng khu ruộng của đội mình, rồi tiến hành phân loại tốt xấu theo chất đất và năng suất từ nhiều vụ trước. Căn cứ vào sản lượng của hợp tác xã giao cho đội vụ này, anh lại định sản lượng cho từng cánh đồng, trên cơ sở đã phân loại. Cuối cùng là dự tính số ruộng sẽ chia cho từng lao động. Ở cánh đồng nào? Mấy sào? Đội chi bao nhiêu cân đạm. Bao nhiêu công điểm? Và xã viên sẽ phải giao nộp cho đội bao nhiêu cân thóc? Công việc này được Thanh tiến hành chủ yếu trong cái "văn phòng đội", tức là nhà của Thanh, có sự bày vẽ, tham mưu của Lập, trưởng kế hoạch của hợp tác xã, nhưng đang tình nguyện kiêm thêm chức trưởng kế hoạch của đội Mười - theo cách gọi đùa của Thanh - mà không hề đòi hỏi công điểm, đãi ngộ. Thanh bận rộn, vất vả nhưng lại có niềm say mê hào hứng của một người đang tìm tòi, nghiên cứu thí nghiệm. Công việc chiếm nhiều thời gian nhất và buộc anh phải hoàn thành trước khi cắm cây mạ xuống đồng, là phải khẩn trương đo tính xong từng thửa ruộng của đội. Người ta bắt đầu chú ý đến việc làm của Thanh: suốt ngày anh cầm cái thước dây cùng cô thư ký đội vác một bó cọc theo sau lần lượt đi đo từng thửa ruộng và đánh dấu từng đoạn trên hai bờ đối diện. Dóng theo hai đầu cọc ấy, sáng hôm sau lập tức xuất hiện một cái bờ ngăn. Người theo dõi việc làm của Thanh một cách chăm chú và hội hộp nhất là Cơ. Sau những biến cố ghê gớm vừa qua. Cơ trở nên thâm trầm, lặng lẽ, lúc nào cũng xét nét, hoảng hốt; lúc nào cũng hoài nghi, thủ thế. "Sớm muộn rồi mình cũng phải xin anh Trần Sinh cho đi học. - Cơ luôn tâm niệm. - Tổ chức giao cho làm chủ nhiệm ngày nào thì mình làm ngày đó, chứ chẳng thể lâu được. Mình muốn làm việc, nhưng người ta không để cho mình yên. Đành rằng mình có những sai lầm. Mình quá ham thành tích, quá bốc đồng, nhiều khi hỏng việc. Nhưng thực lòng mình muốn cái hợp tác xã Thanh Bình này của mình trở thành một điển hình mẫu mực. Xã viên no, phấn khởi mà đóng góp cho nhà nước được nhiều. Nhưng họ cố phá. Họ không để cho mình yên. Họ khơi sâu những nhược điểm của mình với động cơ hoàn toàn cá nhân, không xây dựng". Nhiều lúc Cơ cảm thấy mình như đang bị kẹp giữa một cái bàn ép. Một bên là lực lượng chống đối do Thiển đứng đầu, sẵn sàng lúc nào cũng có thể lật Cơ. Một bên là Trần Sinh mà sự tự ái, tín nhiệm bây giờ đã trở thành một tai hoạ. Cái hợp tác xã Thanh Bình của Cơ bây giờ không còn như hai năm trước đây nữa rồi. Nó giống như một chồi măng bị mấy thứ gió xoáy vặn, thứ gió nào cũng ra sức uốn nó theo chiều thổi của mình. Làm sao uốn được nó cho thẳng? Làm sao giữ cho nó khỏi trồi trụt, suy giảm như trước mùa năm bảy tám? Nhiệm vụ của Cơ thật nặng nề. Cơ không chèo chống nổi. Không tin ở sức mình có thể làm nổi những việc đó, chứ đừng nói gì đến hoài bão đưa Thanh Bình trở thành lá cờ đầu toàn tỉnh. "Ôi, cái máu bốc đồng, lửa rơm của mình mới tai hại chừng nào. - Có những đêm Cơ nằm thở dài, tự trách mình. - Mình quá say sưa với thắng lợi. Mình quá ham thành tích. Chính anh Trần Sinh đã làm cho cái bệnh ấy của mình thêm trầm trọng. Mình như một anh chàng lẻo khoẻo chỉ gánh được bốn mươi cân mà cứ đòi chất đầy một tạ. Cái hợp tác xã Thanh Bình của mình cũng thế. Hợp nhất ba hợp tác xã nhỏ, chẳng phải là gộp ba thằng bé con thành ông khổng lồ. Tiếc rằng bây giờ mình mới vỡ ra điều đó. Muộn rồi. Mình đã phung phí quá nhiều sức lực để thu lấy cái kết quả bi đát vừa rồi. Phải làm lại. Nhưng ai sẽ đứng ra làm người chữa cháy? Mình ư? Thiển? Xuyến? Bác Điền? Vẫn những bộ mặt cũ, những cái đầu mà ý nghĩ đã mòn sáo, trì trệ lắm rồi. Lập và Thanh ư? Rất có thể. Họ đang làm gì dưới đồng? Chia ruộng cho từng hộ xã viên. Mỗi khoảnh một hai sào. Cánh đồng rộng thênh giờ lại chia ô như những mụn vá. Bao nhiêu công sức mấy chục năm mới phá được cái bờ, bây giờ lại đắp lên, ngăn ra, mỗi người một khoảnh. Theo cách làm ấy rồi sẽ đi đến đâu? Thụt lùi trở lại trước năm năm tám ư? Trở lại tư hữu? Phá bỏ hợp tác xã? Cơ bỗng giật thót người, hệt như một tín đồ ngoan đạo bỗng thấy một kẻ vô thần đang liều lĩnh chạm đến bàn thờ thánh. Không. Cơ đã kịp tỉnh táo nghĩ lại. Không ai có quyền phá bỏ hợp tác xã. Con đường duy nhất để nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là con đường hợp tác xã như anh Trần Sinh đã nói. Không thể phủ nhận được những thành quả lớn lao mà hợp tác xã đã mang lại trong hai mươi năm qua. Không thể để Thanh làm như vậy được. Huyện sẽ biết ngay lập tức. Mình làm ngơ, tức là đã ngấm ngầm ủng hộ. Không có cái gì qua nổi mắt anh Trần Sinh đâu…". Cơ nghĩ vậy. Và anh đã đến khẩn khoản yêu cầu Thanh hãy chờ đợi thêm vài vụ tới. - Anh hoảng rồi phải không? - Thanh mỉm cười nhìn Cơ và tự nhiên anh thấy thương xót như anh đã từng thương xót những thằng bạn ngày ở chiến trường vì không chịu được thử thách, gian khổ, đã có những ý nghĩ muốn đào ngũ. - Tôi đã họp bàn với xã viên và bị bà con thúc ép ghê lắm. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ cố gắng làm thật kín. Nhưng những cái bờ ngăn chia mỗi thửa ruộng thành từng khoảnh kia, giấu ai được? - Ông không thể để xã viên đắp bờ như thế kia được đâu. - Cơ lại gặp Thanh, khi anh thấy những cái bờ xuất hiện. - Khổ lắm. Cuối cùng huyện biết thì tôi vẫn là anh giơ đầu chịu báng trước tiên. - Cơ nhăn mặt một cách khổ sở. Cái phong thái kiêu hãnh, tự tin trước đây đâu mất rồi? Thanh không ngờ khi bị dồn ép, vây bủa, người ta lại có thể dễ dàng đánh mất đi cái bản lĩnh của mình? Cơ có khác gì con chim vừa thoát khỏi mũi tên của người đi săn. Chỉ một làn cây cong, nó cũng hoảng hốt, lo sợ. Và thế là tự Cơ đi phá hết những bờ ngăn của đội Mười, vào một buổi sáng tinh mơ. Thay vào những cái bờ, xuất hiện những hàng cọc. Nhưng có gia đình xã viên vẫn muốn bón thêm phân, muốn bừa cho kỹ, họ vẫn cứ đắp bờ lên. Nhưng rồi cho đến lúc cấy thì những bí mật của đội Mười hoàn toàn bị khám phá. Sự việc đầu tiên người ta thấy là có nhiều gia đình tự gánh phân của nhà mình ra bón cho ruộng hợp tác. Đó là một sự lạ chưa ai từng gặp. Và những bà thợ cấy, mọi vụ mặt trời lên bằng con sào mới đủng đỉnh ới nhau ra đồng thì bây giờ dậy sớm từ lúc còn mờ đất, quẩy vội gánh mạ đã được nhổ sẵn từ tối qua xuống đồng cấy cắm cúi một mạch cho đến chiều tối. - Anh đội Mười nó khoán ruộng theo cái lối trồng khoai tây vụ vừa rồi. - Người ta kháo nhau. Người ta thúc ép các ông bà đội trưởng. Và rồi một vài đội ở thôn Thanh Cao, rồi thôn Thanh Giang rục rịch bắt chước làm theo. *** Thiển ngồi ở phòng khách huyện uỷ, kiên nhẫn chờ đợi. Có dễ đến hai tiếng rồi, kể từ lúc anh đến đây. Thèm thuốc quá, nhưng không tìm đâu ra điếu. Anh lục tìm trong túi áo lấy một mảnh giấy cũ cuộn hình sâu kèn, rồi nạp thuốc, hút. Khói thuốc cuộn tròn từng bối, vẩn vơ mãi không tan. Nghĩ đến cuộc gặp Trần Sinh sắp tới, tự nhiên anh thấy ngại. Ông ấy không ưa mình. Nhất là từ kỳ đại hội đảng bộ. Tay Cơ không trúng cử là do mình đạo diễn. Cũng không ngờ là tình hình lại xoay chuyển đến thế. Chỉ thiếu hai phiếu nữa thì hắn trúng. Ức mà phải chịu. Đến như ông Sinh ba đầu sáu tay thế mà cũng phải bó tay. Bằng vỗ vào mặt ông ấy còn gì? Giá Loã, Biền nó khôn ngoan hơn, đừng đính đến cái vụ lương khô thì mình đâu đến nỗi cực. Để ông Điền bí thư tiếp khoá này dù sao cũng là một bước nhượng bộ. Cái kỳ đại hội hợp tác xã thì mình dở. Rút khỏi danh sách ứng cử là đúng. Vừa được tiếng, vừa đỡ ôm rơm rặm bụng. Nhưng để ông Sửu với Kiểng làm mạnh quá, lộ liễu quá, hỏng việc. Ai bảo ông Sửu kéo một đoàn trẻ con, đàn bà lên làm gì? Nhưng mà thôi, nghĩ đến, ích gì. Mọi tội mình vẫn hứng chịu. Ông Sinh vẫn cứ nhè mình mà trù dập, thành kiến… Ờ, bây giờ thì ông mới hiểu tay Cơ. Nó đã phản ông rồi. Ông nuôi ong tay áo đấy chứ đừng có tưởng. Tỉnh mà biết chuyện này thì cái chức bí thư huyện uỷ cũng khó mà giữ nổi. Thiển lại thấy hào hứng và nóng lòng muốn gặp Trần Sinh. Xin báo cáo với đồng chí bí thư huyện uỷ, có chuyện rất nghiêm trọng tôi muốn nói. Vâng. Anh Sinh ơi, người ta đã phản anh rồi. Cái người mà anh đã hết lòng che chở, nâng đỡ ấy. Bây giờ thì anh sẽ hiểu tôi. Tôi oan ức còn hơn cả Thị Kính… Cánh cửa phòng họp phía đầu hành lang bên kia bỗng mở. Thiển hồi hộp đưa mắt nhìn từng người từ trong phòng họp đi ra. Chủ tịch Quyền, phó chủ tịch Lân, rồi Toại. Kia rồi, bí thư huyện uỷ đi ra với một người cao gầy, tóc bạc trắng, có vẻ một cán bộ trên tỉnh hay trung ương mới về. Họ đang tranh luận một vấn đề gì đó rất sôi nổi. Thiển rời phòng khách đi ra hành lang. - Báo cáo anh, tôi có chuyện muốn được gặp anh một chút. Trần Sinh nhận ra Thiển. Ông chau mày, thoáng một chút khó chịu. Nhưng rồi ông lại mỉm cười, nụ cười không nói lên ý nghĩa gì. - Gặp mình hả? - Dạ. Tôi đã đợi anh hai tiếng. Từ lúc các anh vừa họp… Trần Sinh hơi nhún vai. Ông mỉm cười quay sang bắt tay người cùng đi. - Xin lỗi anh. Mời anh về phòng khách nghỉ trưa. Chiều nay ta làm việc tiếp. À, nhân tiện xin giới thiệu, đồng chí Thiển, phó bí thư đảng uỷ xã Thanh Bình, nơi mà chúng tôi dự định mời anh về nghiên cứu cái đề tài "Bước đi của một hợp tác xã lên sản xuất lớn" của anh. - Trần Sinh giới thiệu khách với Thiển - Đồng chí Lê Đoàn, chuyên viên Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. Thiển bắt tay, chào người khách, rồi đi theo Trần Sinh. - Chuyện có lâu lắm không? Ta vào tạm trong này ngồi mấy phút. Hai người quay trở lại phòng họp. Trần Sinh nhìn đồng hồ vẻ sốt ruột và không muốn phí thì giờ. - Có chuyện gì thế, đồng chí Thiển? - Dạ, tôi muốn hỏi ý kiến anh… Đường lối xây dựng hợp tác xã hiện nay có cho phép hợp tác xã chia ruộng cho xã viên tự sản xuất lấy không ạ? - Đồng chí bảo sao? Ở đâu có chuyện đó? - Trần Sinh chợt nhổm lên, nhìn Thiển chằm chằm - Đó là một hình thức quay lại con đường tư bản chủ nghĩa. Phá hợp tác xã. Ở Thanh Bình có chuyện đó hả? - Tôi tưởng anh đã biết chuyện rồi? - Thiển hỏi lại. Anh có nghệ thuật kích thích sự tò mò của người khác. - Anh nói cụ thể cho tôi biết xem Thanh Bình đang làm những cái gì? - Trần Sinh đã sốt ruột lắm. Ông dỗ mãi điếu thuốc trên bàn nhưng không hề nghĩ đến việc châm lửa. - Tôi thấy có trách nhiệm phải báo cáo thành thực với huyện uỷ về việc này. Bởi vì chính đảng uỷ chúng tôi cũng không hề được hỏi ý kiến. Ban đầu chúng tôi cũng cứ nghĩ rằng huyện uỷ đã có chủ trương và anh Cơ là người được giao trách nhiệm thực hiện. Nhưng nếu như anh nói vừa rồi thì đây là một việc làm rất nguy hiểm… Ở Thanh Bình chúng tôi hiện đang có tình trạng các đội chia ruộng cho gia đình xã viên tự cày cấy… Thiển đã kể lại một cách chi tiết tất cả những việc làm đang diễn ra ở hợp tác xã Thanh Bình. Tất nhiên, câu chuyện được nhìn nhận dười một góc độ đầy bi quan lo lắng cho nguy cơ một sự phục hồi hình thức phát canh thu tô đã bị xoá bỏ từ lâu. Thiển cũng không quên nhắc đến vai trò nòng cốt của Thanh và Lập với cái ổ phát sinh đầu tiên là đội Mười. - Quan điểm của anh Cơ thế nào? - Dạ, tôi không được rõ. Vì mấy lần, thay mặt đảng uỷ, tôi trao đổi với anh Cơ, nhưng anh ấy đều tìm mọi cách lảng tránh. Trần Sinh tựa người vào thành ghế. Đôi ánh mắt bao trùm lấy Thiển như muốn đo lường sự trung thực của những lời nói vừa rồi. Ông vốn có thành kiến với Thiển. Ông không ưa những người có đôi mắt một mí và khuôn mặt quá ngắn. Nó có gì gian giảo và đầy những mưu mô. Ông cho rằng chính Thiển là người đã tổ chức đánh gục Cơ trong thời gian vừa rồi. Cần phải kiểm tra lại. Chớ vội kết luận. - Ông nghĩ vậy. Đó chính là một cách tự an ủi mà ông vẫn thường dùng mỗi khi cảm thấy hoang mang thất vọng một điều gì. Đúng là ông đang hoang mang thất vọng. Thất vọng ghê gớm. Cái điển hình Thanh Bình mà ông đã dành hết tâm sức để chăm lo, vun đắp, lại tan rã một cách ghê gớm như thế ư? Người chủ nhiệm mà ông hết lòng tin tưởng, hi vọng lại nỡ phản ông sao? - Không. Tôi không tin. - Trần Sinh bỗng nắm tay đấm xuống bàn, vụt đứng dậy. Cả người ông như dồn về phía trước. Ông nhìn Thiển trừng trừng, đôi mắt như lồi hẳn ra, rực lên những tia dữ dội - Chính anh sẽ phải chịu trách nhiệm về những lời nói của mình… Thiển khẽ nhếch miệng cười giễu cợt. Chưa bao giờ nhìn đồng chí bí thư huyện uỷ tức giận mà Thiển lại thấy vui mừng như bây giờ. *** Sự kiện ông Trạc và con bò của ông đi bừa ruộng hợp tác làm cho mọi người hết sức kinh ngạc. - A, thì ra cuối cùng ông Trạc cũng không thể thi gan mãi với hợp tác xã được. Chuyện ra vào đâu phải dễ. Hợp tác xã nắm đằng chuôi. Đói thì đầu gối cũng phải bò. Già đời rồi còn dại. Họ không trả ruộng, vặn răng ra mà sống ư? - Có người nói như vậy. Nhưng đó là suy diễn của những người nông cạn. Con bò của ông Trạc mới mua về mấy tháng đã trông thấy lãi bạc nghìn. Chỉ tính riêng con bê mới đẻ đã gần hoà vốn. Ăn đứt không con mẹ. Làm hợp tác, bao giờ mới kiếm được món tiền ấy? Những người hiểu biết cam đoan rằng ông Trạc có đầu óc tính toán làm ăn vào loại nhất xã. Dại? Cứ bán cái dại của ông đi mà ăn. Nhưng sao tự nhiên ông lại xuống thang. Đi bừa ruộng hợp tác xã? Dễ hiểu quá. Đội Mười đã khoán sản phẩm. Bà Trạc với Thắm được chia hai định suất. Mẫu rưỡi ruộng. Ông lại "hợp tác" với hai mẹ con làm chung mẫu rưỡi ruộng ấy. Con bò của ông mặc nhiên trở thành một "công cụ" lao động lợi hại mà cả hợp tác không ai có. Các gia đình khác, hợp tác bừa cho thế nào cầy thế ấy. Riêng ông Trạc mang bò của mình bừa lại, ruộng ngấu như quấy cám. Hết chê. Thế là chính ông là người thức thời. Ông ra hợp tác giả vờ. Cũng giống như những anh chàng tạm nghỉ mất sức. Thấy cơ quan loạc choạc, thủ trưởng gây khó dễ, liền xin cái giấy hội đồng giám định y khoa cho tạm nghỉ việc kiếm ngoài một vài năm, đến khi thấy thủ trưởng mới về thay, đời sống cán bộ lên, lại xin làm việc trở lại. Mới hay rằng, khi người ta thích làm việc trở lại thì hăng thật. Cứ trông ông Trạc bừa ruộng mà thèm. - Vắt, vắt… vào… - Diệt này… Họ… Một mình ông với con bò mà làm náo nhiệt cả khu đồng. Con bò vàng béo tròn căng, duyên dáng như một cô thôn nữ, đủng đỉnh kéo chiếc bừa đi dọc hàng vè. Công việc đối với chị chàng thật mới mẻ và có phần nặng nhọc. Bởi mấy tháng này, chị chàng chỉ có một việc duy nhất là đẻ một chú bê và hàng ngày theo ông Trạc đi khắp các bờ ruộng bờ mương để kiếm cỏ non. Bởi thế, có những lúc chị chàng lại đứng đờ ra giữa ruộng hoặc đáng lẽ ông Trạc hô diệt thì lại vắt. - Diệt này… Kìa, diệt cơ mà… Rõ ngốc như… bò. Ông mắng, rồi vung cái roi lên. Nhưng không bao giờ ông đánh nó. Nó là cục vàng của ông. Cứ tưởng ông chỉ cần nuôi cho nó đẻ, chứ bây giờ nó lại giúp ông bừa ruộng thì đúng là nó còn quý hơn vàng. Trên bờ, chú bê con có bộ lông ánh tơ màu nâu nhạt tung tăng đùa giỡn với một con châu chấu, đưa cái mõn xinh xinh ngắt một ngọn cỏ, rồi ngẩn ra nhìn mẹ đang đủng đỉnh bừa ruộng. - Bê… ê… e… - Tiếng chú ngân dài như tiếng trẻ làm nũng mẹ. Rồi thoắt một cái, chú phốc chạy lên bờ mương. Một người đi xe đạp từ trên đường cái rẽ xuống đồng, nhìn thấy chú bê con liền xuống xe đạp, cúi vuốt nhẹ lên đầu nó một cách âu yếm, rồi dắt xe đi về phía ông Trạc. - Chào bác. Bác có con bò đẹp quá. - Không dám. Chào chú. - Ông Trạc dừng bò ngay đầu ruộng, nhìn người khách đi đường. "Ai thế nhỉ, quen quá. Hình như mình đã gặp cái lần chống úng năm ngoái". - Ông Trạc thầm nhớ lại. - A, chào đồng chí. Đồng chí mới từ trên huyện về phải không? Toại cũng đã nhận ra ông Trạc. - Bác. Thế mà tôi lại cữ ngỡ ai… Hai người ngồi trên bờ ruộng cùng hút thuốc lào. - Sao bảo bác ra hợp tác rồi cơ mà? - Toại tảng lờ làm như không biết. - Sao chú biết, hả? - Ông Trạc tròn xoe mắt nhìn Toại. Ông không ngờ mình lại nổi tiếng đến thế. - Hà, hà… Ra giả vờ thôi, chú ạ. Chứ hợp tác mà làm ăn như thế này thì tôi lại vào. Toại làm như ngơ ngác không hiểu: - Làm ăn như thế này là thế nào, hở bác? - À… Đấy, chú trông còn bò của tôi thì chú biết. Nó vốn là con bò cảnh. Ngày tôi ra hợp tác xã, mua nó cốt để dưỡng già. Nhưng từ ngày thằng Thanh, cháu gọi tôi bằng cậu, đi bộ đội về, thay ông Cản làm đội trưởng, nó liền nghĩ ra cách làm ăn mới này. Chú bảo có hay không nhé. Đội cày bừa xong, chia cho mỗi lao động bảy sào rưỡi. Tự cấy, từ chăm bón, sau này tự gặt. Giao nộp trả đội số thóc đội khoán. Thưa bao nhiêu thì hưởng, thiếu phải bù. Tôi có bò. Tôi bừa lại cho kỹ. Bón thêm phân. Ruộng của tôi, ắt tốt hơn, có đúng không? Chú tính, một mẫu rưỡi của hai mẹ con con Thắm nhà tôi, đội họ khoán cho chín mươi cân một sào. Nhưng bình tình này, tôi sẽ thu đứt một tạ rưỡi, hai tạ, bằng ruộng phần trăm. Vậy là tôi lãi to, phải không? - Nhưng mà bác có bò làm đất thêm. Những gia đình khác thì sao? - Dĩ nhiên là họ phải thu hoạch kém hơn. Nhưng bét ra cũng phải tạ hai. Coi như ruộng của mình, tha hồ bón phân, chăm sóc. Tranh thủ chiều hôm gà gáy, làm gì mà chẳng tốt? Chứ nói thực với chú, vụ chiêm xuân vừa rồi, làm ăn theo kiểu cha chung không ai khóc, ấm ớ hội tề lắm. Gặt về, đội nào cũng ăn trộm thóc. Ông Cơ đổ đảng uỷ vừa rồi cũng vì cái tội làm găng với xã viên quá. Nhiều cán bộ đảng viên bị ông ấy cảnh cáo, họ thù ra mặt… Toại chỉ biết gật gù. Anh thầm biết ơn ông Trạc đã cho anh bao nhiêu điều bổ ích. Giá có anh Trần Sinh ở đây, chắc khó thuyết phục được anh ấy. Nhất định anh ấy sẽ không tin, sẽ cho rằng mình không vững vàng trong đường lối, có tư tưởng quay lại chế độ tư bản. Chiều hôm qua, lúc kể lại chuyển Thiển lên gặp, ông ấy gắt ầm lên, đề nghị mình lấy ô tô xuống ngay Thanh Bình kiểm tra, nắm tình hình để thường vụ có kế hoạch xử lý. Con người ông ấy cực đoan tới mức bảo thủ. Yêu hết mức mà ghét cũng hết đường. Mới sáng qua còn ca ngợi hết lời hợp tác xã Thanh Bình và chủ nhiệm Cơ với đồng chí chuyên viên Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. Thế mà ngay buổi chiều đã lập tức thay đổi, và đề nghị Lê Đoàn huỷ kế hoạch nghiên cứu Thanh Bình để chuyển sang Vân Xuyên. Cũng may mà mình đã từ chối không đi ô tô. Đi kiểm tra khoán, tốt nhất là đi xe đạp. Cứ tảng lờ như khách vãng lai, la cà vào chỗ các xã viên thì mới có thể tìm thấy sự thật… Và quả nhiên Toại đã tìm thấy sự thật. Thanh Bình đang khoán ruộng. Nhưng đó là một cơ chế làm ăn mới hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của xã viên. Toại ủng hộ chính sách làm ăn này. Chia tay ông Trạc, Toại dắt xe, ngược trở về cánh dộc mạ tìm Thanh. Anh muốn gặp người đội trưởng mới, một thượng uý phục viên, để tìm hiểu kỹ về cung cách làm ăn của đội Mười. Và để hiểu thêm một mẫu người, biết đâu đó chẳng phải là một nhân vật đại diện cho một giai đoạn mới ở nông thôn? Thanh đang nhổ mạ với các xã viên. Công việc này không phải là nhiệm vụ của đội trưởng sản xuất. Cả ngày hôm nay anh đã cùng với đội phó và thư ký đội hoàn thành công việc đo đạc và chia ruộng khoán cho các lao động. Tranh thủ ít phút buổi chiều để nhổ chục mạ cho Vy, sáng mai xuống đồng sớm. Một mình Vy với bảy sào rưỡi ruộng. Có mang bốn tháng. Anh không phụ giúp, Vy sẽ vất vả lắm. Toại đã nhận ra chiếc áo màu xanh rêu và chiếc mũ bộ đội đang lúi húi trên ruộng mạ. Nhưng anh không gọi. Anh muốn có được một lúc nhìn ngắm cái quang cảnh bận rộn và tấp nập trên đồng. Khu ruộng mạ buổi chiều đông vui quá. Cả trẻ con, người già cũng tranh thủ ra ruộng giúp gia đình trong cái công việc mất khá nhiều thời gian này. Những tia nắng cuối ngày loá chói trên những chóp nón, nhuộm hồng những khuôn mặt, những cánh tay… Vy từ dưới đồng quảy đôi quang chành đi rẽ về khu ruộng mạ. Thấy người đàn ông để xe đạp xuống vệ cỏ, và cứ đứng nhìn như dò xét, như tò mò, Vy cảm thấy ngờ ngợ, vội đi vòng một bờ ruộng, đến chỗ chồng. - Đã cấy xong rồi hả em? - Thanh mỉm cười nhìn vợ, khi Vy đến gần. Vy lội xuống ruộng, kéo áo Thanh thì thầm: - Anh này, hình như có ông cán bộ huyện về kiểm tra… Từ nãy giờ vẫn cứ thấy đứng trên bờ dò xét. Em trông quen mặt, nhưng không nhớ tên. Anh phải làm thế nào không có huyện họ phát hiện ra thì gay lắm… Thanh quay lại nhìn. Đã thấy Toại đang xắn quần lội ruộng đến gần. - Hai vợ chồng ông đội trưởng làm ăn vui quá nhỉ? - Toại cười niềm nở, ý muốn bảo: "Tôi biết hết cả rồi". Thanh nhận ra ông phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp mà anh được biết hôm họp đại hội hợp tác xã. "Họ phát hiện nhanh lắm. Nhưng tốt nhất là cứ lờ đi. Để họ nhúng vào rồi sẽ hỏng việc". Một ý nghĩ lướt nhanh qua đầu Thanh và lập tức anh có ngay một bộ mặt thật thản nhiên thích hợp. - Chào đồng chí. Không ngờ đồng chí cũng xuống thăm đồng? - Ông phê bình khéo quá. Ông tưởng huyện chúng tôi chỉ biết ngồi bàn giấy thôi à? - Toại cười rất thoải mái, chìa tay ra. Không kịp để Thanh từ chối, anh đã nắm lấy bàn tay đầy bún đất của Thanh rung mãi và cứ nhìn Thanh chằm chằm như thầm đối chiếu từng đường nét giữa người mà anh đang gặp với một gương mặt mà anh vẫn mường tượng trong đầu. - Ông biết mình chứ? Mình là Toại, phụ trách nông nghiệp huyện. - Chợt thấy mình có lỗi với Vy, Toại quay sang phía Vy mỉm cười chào - Đừng ngạc nhiên gì nhé. Mình vừa nói chuyện với ông Trạc đang bừa trên kia. Ông giỏi lắm. Kéo được cụ Trạc vào lại hợp tác xã là đủ thấy cái cách làm ăn của ông hấp dẫn đến mức nào rồi. Tối nay mình có ý định ở lại với ông, được không? - Toại quay sang Vy - Thế nào cô Vy? Cô không lên án tôi chứ? Vy cười e thẹn: - Em không dám. Chỉ sợ anh nói đùa thôi ạ… Thanh bắt đầu có cảm tình với Toại. Ở con người Toại, từ lời nói, cử chỉ, ánh mắt,… đều toát lên một cái gì sôi nổi, chân thành. *** Phòng họp huyện uỷ đã có đủ mặt ban thường vụ. Mọi người đang có vẻ chờ đợi một ai đó. Chủ tịch Quyền mở cặp lấy tờ báo hôm qua đọc lại, chốc chốc lại ngước mắt qua phía trên cặp kính trắng nhìn về phía cửa ra vào. Toại kéo ghế ra ngồi cạnh chị Miên phó chủ tịch, ngay sát cửa sổ. Anh vẫn đang tiếp tục câu chuyện về chuyến đi kiểm tra đột xuất hợp tác xã Thanh Bình. Chị Miên nghe chăm chú và thỉnh thoảng lại mỉm cười khẽ gật đầu. Đôi mắt đen ánh như bị Toại thôi miên, cứ chớp liên hồi. Trần Sinh suốt từ lúc vào phòng vẫn không chịu ngồi. Ông chắp tay ra phía sau, trầm ngâm đi lại trong cái góc hẹp bị chắn bởi những chiếc ghế mây. Những ý nghĩ của ông luôn bị ngắt quãng vì câu chuyện của Toại, cái câu chuyện về khoán sản phẩm ở hợp tác xã Thanh Bình ấy, làm ông cảm thấy bực bội. Thỉnh thoảng ông dừng lại, ném về phía Toại những tia nhìn sắc lạnh, như muốn nói: "Mình không ngờ là cậu lại thích thú với cái lối phát canh thu tô ấy một cách lộ liễu như vậy. Cậu lại bắt đầu tuyên truyền cho cô Miên. Đừng nên đi quá đà như vậy. Hãy cảnh giác với tư tưởng của mình. Thời kỳ quá độ không bao giờ đơn giản đâu. Chúng ta phải coi chừng chính mình. Có biết bao nhiêu thứ cạm bẫy vô hình của chủ nghĩa tư bản giăng mắc xung quanh. Chỉ cần đi chệch đường một chút là ngay lập tức anh sẽ bị sa lưới, không thể nào thoát ra được". Chủ tịch Quyền đã đọc hết tờ báo, sốt ruột nhìn đồng hồ, hỏi Trần Sinh: - Còn đợi đến bao giờ nữa? Anh có tin chắc là họ sẽ đến không? - Không đến, ngay hôm nay tôi sẽ ký lệnh cách chức tất cả. - Trần Sinh bỗng giận dữ, vung một tay lên. Và ông bắt đầu trút hét những gì vừa nghĩ trong đầu. - Qua báo cáo của anh Toại, chúng ta đã kết luận được rằng, vấn đề khoán, một hình thức phát canh thu tô mới, ở hợp tác xã Thanh Bình là có thực. Chúng ta muốn gặp ban lãnh đạo Thanh Bình chỉ là để xác định rõ trách nhiệm thuộc về cấp uỷ đảng hay ban quản trị mà thôi. Điều cần khẳng định có tính nguyên tắc là chúng ta phải coi hiện tượng Thanh Bình như một căn bệnh rất nguy hiểm. Nó đang phá vỡ tất cả những thành quả hai mươi năm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của một điển hình tiên tiến đã từng có một thời kỳ là niềm tự hào của toàn huyện đảng bộ chúng ta. Chúng ta sẽ phải kiểm điểm một cách nghiêm khắc và có biện pháp xử lý kịp thời. Có nên báo cáo với tỉnh uỷ không? Đó là vấn đề chúng ta cần cân nhắc thận trọng. Bởi vì chắc chắn tỉnh uỷ và ban bí thư sẽ không thể bỏ qua cái sai lầm có tính chất vi phạm đường lối này của chúng ta. Tôi hoàn toàn phản đối ý kiến của đồng chí Toại. Để cho Thanh Bình thí nghiệm thử một cách làm mới ư? Nhưng nếu nó là một dịch bệnh lây lan nhanh chóng ra toàn huyện thì sao? Không. Phải dập. Đó là một ổ vi trùng gây bệnh nguy hiểm. Không dập, sẽ đến lúc bó tay không cứu vãn nổi tình thế… Toại bỏ dở câu chuyện với chị Miên, kéo ghế ngồi quay lại phía bàn. - Thường vụ chúng ta sẽ phải bàn kỹ vấn đề này, anh Sinh ạ. Nhưng tôi e rằng với cách nghĩ của anh, liệu chúng ta có mắc phải bệnh giáo điều, máy móc quá không? Đành rằng ban bí thư chưa có chỉ thị về vấn đề này, nhưng nhiệm vụ của chúng ta, có phải lúc nào cũng thực hiện một cách máy móc những nghị quyết của trung ương đâu? Thế nào là thực hiện có sáng tạo, phù hợp với thực tế sản xuất? Trung ương không thể bày vẽ cụ thể cho chúng ta từng vụ việc mà tự chúng ta phải có trách nhiệm đóng góp, làm phong phú, sinh động thêm đường lối của Đảng. Anh vội kết luận Thanh Bình đang phát canh thu tô là quá võ đoán. Tôi đề nghị ban thường vụ chúng ta cần phải xuống ngay Thanh Bình để nghiên cứu cách làm ăn của đội Mười. Tại sao xã viên lại phấn khởi làm việc như vậy? Tại sao một người như ông Trạc, đã nhất quyết xin ra hợp tác xã, đã trù tính cho mình cả một cách sống tự do chắc chắn và hợp pháp như vậy, giờ lại tình nguyện trở lại hợp tác xã, gắn bó với đồng ruộng hơn cả những ngày trước đây? Có phải cách làm ăn mới của đội Mười đã bắt trúng nguyện vọng của xã viên không? Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở năng suất ngày càng cao, hay chúng ta chỉ máy móc tuân lệnh theo một nguyên tắc cứng nhắc? Cái gì làm lợi cho dân, cho chủ nghĩa xã hội, thì cái đó là mục đích của chúng ta. Chớ vội quy kết lập trường quan điểm. Bởi vì sự quy kết bao giờ cũng là sản phẩm của sự quan liêu, võ đoán,… Chúng ta cứ báo cáo toàn bộ sự thật với tỉnh uỷ và ban bí thư. Chúng ta cứ thử để cho Thanh Bình làm vụ mùa này xem sao. Chưa chi đã lo đi chệch sang con đường tư bản tức là chúng ta tự bó tay mình. Thực tế phong trào nông nghiệp của chúng ta mấy năm nay đã phản ánh điều đó… - Tôi xin hỏi đồng chí Toại, - Trần Sinh mỉm cười chế giễu - giả dụ, không phải chỉ một hợp tác xã Thanh Bình thí nghiệm theo lối khoán kia, mà là cả toàn quốc, nghĩa là tất cả các hợp tác xã đều đạp theo kiểu phát canh thu tô ấy, thì tình hình nông nghiệp nước ta rồi sẽ đi đến đâu? - Như vậy rõ ràng là một bước lùi. - Không đợi Toại trả lời, chủ tịch Quyền đã nói ngay. Và ông cười hà hà nhìn khắp lượt, dường như ông rất thích thú với sự phát hiện của mình. - Đúng. Một bước lùi. - Toại hơn ngẩn người, thầm nhắc lại ý của Quyền. Nhưng ngay lập tức, anh lấy lại được sự tự tin ban đầu. - Nhưng đó là một bước lùi cần thiết. Nói đúng hơn, đó là một sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn nông nghiệp chúng ta, phù hợp với quy luật của của một nước nông nghiệp lạc hậu. Thực ra nếu nông nghiệp của chúng ta cứ phát triển theo quy luật bình thường của chủ nghĩa xã hội thì cần khoán làm gì? Không có khoán vẫn hơn chứ? Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Còn chúng ta phải là có làm có hưởng, "tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ". Thế mới đúng. Theo tôi, khoán như anh Thanh Bình đang làm chính là một cách thực hiện hợp tác hoá có chiếu cố đến tính chất, đặc điểm của người nông dân Việt Nam. Tức là họ vốn sản xuất nhỏ, manh mún, thủ công, trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, kém, cán bộ chưa đủ sức quản lý, điều hành một đơn vị sản xuất có quy mô lớn, xã viên chưa có ý thức làm chủ cao, chưa quen kỷ luật lao động tự giác… Chúng ta có hai thế mạnh đó là nhân lực và đất đai, nhưng chúng ta chưa triệt để sử dụng sức lao động còn dư thừa và sử dựng còn lãng phí quá, nhất là lao động phụ. Đất đai bỏ hoang hoá quá nhiều, do nông dân không thiết tha với ruộng đất. Đó. Nếu chúng ta cứ máy móc hô hào tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách chung chung, bất chấp quy luật thì nông nghiệp của chúng ta sẽ bị kìm hãm, không tiến lên được. Các đồng chí thử ngẫm mà xem. Sau chiến thắng năm 1975, chúng ta quá say sưa trong ánh hào quang chiến thắng, chúng ta quá nóng vội muốn đốt cháy giai đoạn… Sẽ tiếp tục xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa Toại và Trần Sinh, nếu như lúc đó không có sự xuất hiện của ông Điền, Tấn và Cơ, bộ phận lãnh đạo chủ chốt của xã Thanh Bình. Ba người bước vào phòng với một tâm trạng vừa hoang mang vừa lo lắng. Cứ nhìn nét mặt họ cũng đủ biết. Cơ đưa mắt chào mọi người, nhưng lảng tránh không dám nhìn Trần Sinh. Ông Điền cứ đội cả chiếc mũ cối, để cả quai chiếc xà-cột chéo qua ngực hấp tấp ngồi xuống chiếc ghế do chị Miên vừa đưa lại. Còn Tấn thì lại đứng ngây ra ở cửa, không biết mình nên ngồi vào chỗ nào. - Chúng ta bắt đầu làm việc. - Trần Sinh đặt lại chiếc cặp trước mặt mình, quay một vòng từ trái qua phải, nhìn mọi người. Ánh mắt của ông khi lướt qua gương mặt đỏ nhừ, mồ hôi dính bết trên món tóc trước trán của Cơ, bỗng thoáng một nét chua xót, hệt như ánh mắt của người cha khi nhìn đứa con đã từng được nuông chiều, từng là nơi ký thác, gửi gắm những dự định, hi vọng của đời mình, nay bỗng trở nên hư hỏng, khó bảo. Trần Sinh nói tiếp: - Hôm nay, ban thường vụ huyện uỷ mời ban lãnh đạo xã Thanh Bình gồm có đồng chí Điền, bí thư đảng uỷ, đồng chí Tấn, chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, và đồng chí Cơ, huyện uỷ viên, chủ nhiệm hợp tác xã lên để trình bày trước thường vụ về tình hình khoán ruộng của Thanh Bình, bây giờ xin mời ba đồng chí. Chúng tôi sẵn sàng nghe. Ba người ngồi gọn về một phía, như ba bị cáo. Họ đưa mắt cho nhau. Mặc dù lúc nãy, trên đường đi, họ đã bàn với nhau khá kĩ về kề hoạch đối phó, những vấn đề cần trả lời và phân công trách nhiệm chính cho Cơ, nhưng lúc này trước một phòng họp quá nghiêm trang, như đang trong một phiên toà, với đủ mặt cả ban thường vụ huyện uỷ, thì họ lại cảm thấy những vấn đề mà họ đã sắp xếp có gì như không ổn. - Xin mời đồng chí Điền. - Chủ tịch Quyền nhắc. Ông Điền bối rối đứng dậy. Trần Sinh vẫy tay ra hiệu: - Xin đồng chí cứ ngồi tự nhiên. Chúng ta hãy nói thẳng thắn với nhau với tư cách những đảng viên… - Xin báo cáo với đồng chí. - Ông Điền vẫn đứng nói - Đảng uỷ chúng tôi đã phân công để đồng chí Cơ trình bày toàn bộ vấn đề. Mọi người đều đổ dồn mắt vào Cơ. Ánh mắt của Toại đầy khích lệ: "Cứ nói thẳng ra đi. Mình biết ông đã bật đèn xanh cho cậu Thanh rồi. Mình hoàn toàn ủng hộ ông". - Về chuyện đội Mười, chắc đồng chí Toại đã nói lại với các đồng chí rõ cả rồi. - Cơ nói chậm. Đó cũng là một cách để tự trấn tĩnh. - Khuyết điểm lớn nhất là cho đến trước khi đồng chí Toại xuống kiểm tra Thanh Bình, đảng uỷ và ban quản trị chúng tôi vẫn còn chủ quan về tình hình thay đổi ở đội Mười. - Cơ lại đưa mắt về phía Trần Sinh như để thăm dò phản ứng. Không thấy có dấu hiệu gì, anh yên tâm hơn. - Chúng tôi cho rằng đây là một hiện tượng tự phát… - Tự phát à? - Trần Sinh bỗng nheo mắt cười giễu cợt. Ông quay sang ông Điền. - Đảng uỷ Thanh Bình, trừ đồng chí Thiển ra, còn các đồng chí đều cho rằng đây là một hiện tượng tự phát phải không? - Báo cáo đồng chí. Như đồng chí Cơ đã trình bày, chúng tôi có khuyết điểm là đã chủ quan… Nụ cười giễu cợt trên môi Trần Sinh vụt tắt. Ông đột ngột đập tay xuống bàn, xô ghế đứng dậy, không kiềm chế nổi cơn giận dữ: - Cho đến bây giờ mà các đồng chí vẫn còn cố tình quanh co giấu diếm. Tôi nhắc cho các đồng chí biết rằng, không phải chỉ có đội Mười mà ở cả các đội Ba, đội Một của Thanh Giang, và toàn thôn Thanh Cao của đồng chí Cơ đều đã có khoán. Đồng chí Cơ chắc biết rõ anh Lập, anh Thanh hơn tôi chứ? Các đồng chí đã mắc thêm tội cố tình che giấu Đảng… Đúng lúc ấy thì cánh cửa đột ngột mở. Một người tay cầm chiếc mũ bộ đội không sao, mặc quần áo màu rêu ló vào. Gương mặt ướt đẫm mồ hôi, mái tóc bết lại, còn rõ vệt hằn vành mũ xung quanh. - Anh là ai? Có việc gì? - Trần Sinh quay phắt lại, hỏi giật giọng. - A, Thanh! Xin mời vào. - Toại nhận ra Thanh trước tiên và không kìm nổi một tiếng reo. Thanh bước vào phòng, trước sự ngạc nhiên của mọi người. Không có ghế cho anh. Nhưng anh không để ý đến điều đó. - Xin lỗi các đồng chí. Tôi đến hơi đường đột. Nhưng tôi thấy có trách nhiệm phải đến. Chắc các đồng chí đang bàn đến chuyện khoán sản phẩm ở Thanh Bình? Thanh chợt ngừng lại. Vì bỗng thấy không khí trong phòng im lặng đến kinh ngạc. Tất cả mọi cặp mắt đều chĩa vào anh. Một thoáng lúng túng. Nhưng rồi Thanh trấn tĩnh lại ngay. - Xin các đồng chí hiểu cho… Các đồng chí trong đảng uỷ, chính quyền và ban quản trị Thanh Bình không hề có khuyết điểm gì cả. Tất cả mọi sự việc là do tôi. Tôi xin nhận trách nhiệm trước xã viên, trước Đảng. Vẫn im lặng. Không ai nói gì sau khi Thanh đã đột ngột kết thúc. Hình như mọi người đang chờ anh nói tiếp. PHẦN VIẾT THÊM Cuối tháng Bảy. Đồng mướt xanh lúa con gái. Mặc cho bao sự kiện dồn dập diễn ra ở làng, lúa vẫn cứ mướt xanh. Các cụ già với những kinh nghiệm lão nông từng trải đêm đêm thường nhìn sao - kỳ thực chẳng ngày nào các cụ không nhìn đồng - và nói: "Năm nay lúa sẽ tốt không kém gì các vụ mùa bão lụt vừa qua". Bao nhiêu người phấn khởi. Bao nhiêu người hi vọng. Chỉ riêng ông Điền, sau một buổi đi họp trên huyện về, tự nhiên nằm bệt ba ngày không trở dậy. Ông cố giấu vợ, một mình nén chịu nỗi đau đớn khủng khiếp nhất của một người cha: Đạt, đứa con trai út của ông đã hi sinh trong cuộc chiến tranh biên giới vừa rồi. Chập chờn giữa những cơn đau thắt lòng, hình ảnh một vùng biên giới trập trùng hiện lên. Những đỉnh núi mờ sương. Những bản làng thấp thoáng mái nhà sàn chênh vênh trên sườn núi. Sông Lô. Những bờ lau. Con đường số Bốn, đèo Chữ Chi, đèo Bông Lau, đèo Tài Hồ Xìn,… Bộ đội mũ nan tre, áo trấn thủ, súng đạn lỉnh kỉnh. Những đoàn dân công đốt đuốc đi đêm, miên man như một dòng nước cuốn. Rồi chiến dịch Đông Khê, chiến dịch đường số Bốn. Hàng trăm lính lê-dương Pháp kéo cờ trắng ra hàng… Tuổi trẻ của ông đó. Những năm tháng đẹp nhất của đời người, ông đã gửi lại cái vùng đất thiêng liêng đó. Và bây giờ, con trai ông… Ôi, ông cứ tưởng rằng ngày ấy ông đã để lại cho con cả một khoảng trời biên giới vĩnh viễn xanh cái màu lam chàm kỳ ảo, cả một con đường số Bốn uốn lượn theo dòng sông Kỳ Cùng quanh năm ngan ngát hương hồi, chạy mãi lên đồng Thất Khê, Đông Khê, suốt mùa thơm lừng hương cốm… Trong cái hành trang người lính ít ỏi của Đạt, mà người ta đã chuyển về cho ông Điền, có tấm ảnh chụp chung giữa Đạt với Thắm và một cuốn lịch khổ rộng. Trên những tờ giấy có in ngày tháng sẵn, Đạt đã ghi vội những ý nghĩ của mình. Đó là một hình thức viết nhật ký của những người lính. Gần một tháng sống trên biên giới, theo như những dòng ghi trong lịch, Đạt chỉ đủ thời gian dành cho riêng mình như vậy. Đó chính là tài sản vô giá nhất đối với ông Điền. Nhưng ông đã trao lại cho Thắm. Đó là tài sản của Thắm, ông nghĩ vậy. * Ngày 5 tháng Hai. Sáu giờ sáng. Ô tô sư đoàn đón ngay trước nhà. Thế là từ nay không thể "trốn về" với em được nữa rồi, Thắm ơi. Xe chạy một ngày qua Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng. Có phải con đường ngày trước thầy đã từng qua: Phủ Thông - Đèo Giàng - Đèo Gió…? Xe đi như trong mây. Sương dăng nhoà không nhìn rõ núi. Gió rét như cắt, vỗ vào mặt. Rét thế này u và Thắm đi cấy thì cực lắm đây… * Ngày 8 tháng Hai. Qua đèo Mã Phục. Đúng là ngựa cũng phải phục. Quảng Yên rồi Trùng Khánh. Thị trấn biên giới đông vui ghê. Nhớ Thắm quá. Không hiểu Thắm đã ra viện chưa? Phải một ngày leo núi mới tới nơi đóng quân. Mệt. Thế mà những ngày luyện tập trước đây mình cứ coi thường. * Ngày 12 tháng Hai. Có vẻ như tình hình ngày thêm căng thẳng. Nhận điện của sư đoàn: "Sẵn sàng chiến đấu". * Ngày 16 tháng Hai. Lại chuyển địa điểm. Gần biên giới hơn. Ngay sát một đồn biên phòng. Nhìn rõ cả một vùng đất phía bên kia. Núi trập trùng. Đất khô cằn. Và hình như không có dân. Im ắng đến dễ sợ. * Ngày 29 tháng Hai. Một tuần khủng khiếp. Giặc chết như ngả rạ. Khắp rừng núi xác trương thối. Phải rút về mạn Phục Hoà. Thắm ơi, em đang làm gì bây giờ? * Ngày 2 tháng Ba. Không thể liên lạc được với sư đoàn nữa. Nghe tin địch đã chiếm được thị xã Cao Bằng và đang tiến lên Quảng Hoà. Đơn vị mình bị bao vây rồi. * Ngày 10 tháng Ba. Chiếc máy bộ đàm bị hỏng. Được chuyển sang đơn vị chiến đấu. Khoái quá. * Ngày 13 tháng Ba. Suốt đêm qua không ngủ. Rét run người. Cả đêm cứ nghĩ đến Thắm. Nhớ cả thầy, u và cái làng Thanh Cao quá. Thế là anh vẫn chưa viết thư cho em được. Thắm ơi! Không biết có còn được trở về với em nữa không? Không. Anh sẽ về. Em hãy tin điều đó… Cuốn "nhật ký" dừng ở đó. Những ngày tiếp không có một dòng chữ nào. Chỉ vương những vết đất. Và những vết máu. Thắm đã thuộc những dòng nhật ký ngắn ngủi đó, một mảnh đời hết sức đẹp đẽ và không thể chết của Đạt, như Thắm đã thuộc lá thư anh gửi trước ngày lên biên giới. Tất cả những lá thư tình. Tất cả những gì của Tình Yêu sẽ sống mãi. Đã bao lần Thắm ngồi một mình lặng ngắm tấm ảnh hai đứa qua làn nước mắt nhạt nhoà. Anh vẫn đó, bên Thắm. Đôi mắt sáng trầm tĩnh, cố làm ra vẻ người lớn, nhưng vẫn không giấu nổi cái nét rất trẻ con nơi đôi môi nhỏ chúm lại, lúc nào cũng muốn bật cười. Cả hôm nay. Cái buổi chiều mùa thu trời cao xanh đến không cùng. Và đồng mướt xanh như không gì có thể xanh hơn. Thắm lại ngồi một mình bên bờ mương, lặng ngắm hình ảnh ANH trong tâm trí. Cánh đồng này và mảnh đất biên giới ANH nằm lại đó xa nhau vời vợi, tưởng như không bao giờ Thắm đến đó được, thế mà Thắm đã từng đến suốt những tháng qua. Cũng như suốt những năm tháng qua, tất cả những người yêu, người vợ ở Thanh Bình không chỉ sống cho riêng mình. Họ đã sống cả cái phần của những người đi xa, những người đã mất. Cánh đồng của chúng mình đó. Vì nó mà đám cưới của chúng mình đành hoãn lại. Vì nó mà chúng mình không bao giờ còn được cưới nhau nữa. Nhưng, anh Đạt ơi, cũng vì nó, em sẽ sống xứng đáng với ANH hơn. Vũng Tàu, tháng Năm Quảng Bá, tháng Mười, 1982 H.M.T -------------------------------- (*) Trixtan và Ydơ: truyện dân gian Pháp.
GIA PHẢ CỦA ĐẤT
TIỂU THUYẾT 2 TẬP
(Tác phẩm văn học xuất sắc về Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn thời kỳ Đổi mới 1980 – 2010 do Bộ NH& PTNT – Hội Nhà Văn Việt Nam tặng)
Tập 1 Thuỷ Hoả Đạo Tặc Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1997 * ( Tái bản lần thứ 4)
I
Hội trường lớn Uỷ ban Nhân dân huyện Giang Thuỷ nằm giữa trung tâm thị trấn. Với lối kiến trúc hiện đại điển hình, ô-văng đón mái, hiên chạy vòng quanh trên hai mươi tư cột granitô đón đỡ suốt tám gian chiều dài, với hệ thống cửa kính cửa chớp choáng bóng lại đặt trên thế đất cao ngoảnh mặt ra hồ, nên dẫu chỉ một tầng nó vẫn có dáng mô-đéc, bề thế, xứng đáng với một huyện trọng điểm lúa.
Ngày khánh thành hội trường sẽ là ngày có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu một trang mới trong đời sống văn hoá và chính trị của huyện. Ngay từ ngày nước sơn màu ve nhạt cuối cùng được quét lên, người ta đã phác hoạ sẵn một chương trình để đón chào ngày ra đời của nó. Phòng văn hoá thông tin sốt sắng đề nghị mời nhà hát chèo kết hợp với phong trào văn nghệ quần chúng địa phương biểu diễn ba tối mở đầu. Phòng giáo dục thiết tha xin huyện cho đăng cai hội nghị nâng cao đời sống giáo viên của toàn tỉnh. Huyện đoàn tham mưu nên mở hội nghị tuổi trẻ hăng hái đi đầu phong trào lao động sản xuất. Hội phụ nữ xin tổ chức hội thảo về phong trào sinh đẻ có kế hoạch… Ngành nào cũng muốn có một tí vinh dự, một tí chút "oai".
Nhưng tất cả những đề nghị ấy đều khó lòng chấp nhận. Lý do chỉ là vì hội nghị ấy chưa xứng đáng, chưa đủ tầm cỡ để đảm đương cái vinh dự khai trương một hội trường lớn, thế thôi.
Suốt một tháng trời, những cánh cửa màu xanh nước biển đóng im ỉm. Tấm biển lớn màu đỏ chói có hàng chữ vàng rực: "Hội trường Giang Thuỷ" cứ lặng lẽ soi bóng xuống mặt hồ. Cái nắng tháng tám mỗi ngày làm cho nước sơn rạn nứt ra một chút, tạo nên những đường nứt chân chim trên nền chữ, tinh xảo đến mức không một người thợ vẽ tài hoa nào kẻ nổi.
Nhưng rồi cái ngày khai trương hội trường lớn cũng được tiến hành. "Hội nghị huy động lương thực vụ mùa" do Uỷ ban Nhân dân huyện triệu tập, xứng đáng được lĩnh cái vinh dự và trách nhiệm cao cả của nó.
Ngoài đồng lúa đã uốn câu. Lúa sây bông ken dày như những tấm thảm lớn, phẳng đều, kết liền ba mươi xã trong huyện thành một biển lúa, suốt ngày rì rào một thứ âm thanh gợi nghĩ đến sự dư dật, no đủ, ngan ngát một mùi hương thuần khiết, rạo rực, ăm ắp một niềm hi vọng.
Màu vàng của những cánh đồng, cái mùi hương đặc biệt quyến rũ của lúa mới như ùa tràn cả vào hội trường. Ngót hai trăm đại biểu, đủ mặt những cán bộ chủ chốt của ba mươi xã, lãnh đạo các ngành, các cơ quan thuộc khối uỷ ban và huyện uỷ, những người hàng ngày có mặt trên những cánh đồng hay ít ra cũng thấy mình gắn bó với những cánh đồng, đều hỉ hả.
Con số chỉ tiêu một vạn năm nghìn tấn lương thực năm 1978 của huyện Giang Thuỷ do bí thư huyện uỷ Trần Sinh đưa ra như một luồng điện chạy lan khắp hội trường. Một con số kỷ lục xưa nay huyện Giang Thuỷ chưa hề nghĩ tới. Giống như tâm trạng những vận động viên trước giờ thi đấu, cái mốc mười lăm nghìn tấn lương thực vừa khiến cho đại biểu ba mươi xã lo lắng, phân vân, đồng thời cũng gây cho họ tâm trạng kích thích, khêu gợi.
- Hơn lúc nào hết, đất nước đang đòi hỏi chúng ta, những người lính xung kích trên mặt trận nông nghiệp, phải không ngừng phấn đấu nỗ lực vươn lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn lao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội… - Kết thúc bài phát biểu dài hai tiếng đồng hồ, giọng bí thư huyện uỷ Trần Sinh càng trở nên hào hứng, sôi nổi. Cái tài hùng biện vốn là sở trường của ông càng tỏ rõ ưu thế ở những đoạn có tính chất động viên thúc giục. - Nhiệm vụ của chúng ta là luôn vươn lên phía trước chứ không có quyền lùi bước. Đã nhiều năm nay, huyện ta luôn hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu mười hai nghìn tấn lương thực do nhà nước giao, ngay cả trong những năm khó khăn nhất. Vậy thì vụ mùa này, với triển vọng tươi sáng như thế kia, - Trần Sinh khoát tay chỉ ra cánh đồng phía xa - chúng ta tin rằng sẽ vượt một cách dễ dàng ba nghìn tấn lương thực. Các đồng chí hãy tưởng tưởng, năm trăm huyện trong cả nước, bình quân mỗi huyện đạt chỉ tiêu huy động một vạn tấn lương thực. - Ông quay xuống chỗ Mạch, uỷ viên thường trực Uỷ ban Nhân dân huyện, ngồi ngay dãy bàn đầu như có ý hỏi.
Loáng cái, Mạch đã làm xong con tính trong đầu. Anh nhanh nhẹn nhắc: - Năm triệu tấn.
- Đúng. Năm triệu tấn. Chúng ta sẽ có năm triệu tấn lương thực cung cấp cho khu vực phi nông nghiệp. Như vậy, con số chỉ tiêu mười tám, hai mươi triệu tấn lương thực cả nước là một điều hoàn toàn hiện thực…
Cả hội trường xì xào bàn tán. Người bạo mồm miệng nhất là Đan, chủ nhiệm Vân Xuyên, hợp tác xã giàu nhất huyện.
- Căng quá. Cố thì cũng được. Nhưng chung quy chỉ khổ anh nông dân. - Đan công khai tỏ chính kiến với các đại biểu xung quanh.
- Đáng lý ngày công của tôi được một cân thì nay đành phải rút còn tám lạng. Ở trên này các vị muốn phóng ra con số bao nhiêu chẳng được. Vấn đề là phải xuất phát từ thực tế, phải lượng sức dân. Họ kêu ca, phản đối thì mình còn biết đường sửa chữa, chứ sợ nhất là họ lãn công…
Nghe tiếng Đan, Cơ - chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Bình cố ngả người ra phía sau và nghểnh tai để vừa đủ nghe trọn ý. Cái thằng cha bạo mồm bạo miệng. Hắn sẽ phản đối ông Trần Sinh trước hội nghị cho mà xem. Khoá vừa rồi trật thường vụ huyện uỷ cũng vì cái vạ miệng. Cơ thầm nghĩ và nhớ lại buổi gặp Trần Sinh sáng nay. Trong số ba mươi chủ nhiệm có mặt ở đây, có ai đã được đích thân bí thư huyện uỷ mời gặp riêng trước khi khai mạc hội nghị quan trọng.
- Ông có thể dấn lên ba mươi tấn nữa không? Năm trăm tám mươi tấn, kể ra đã là cố gắng lớn. Nhưng hình như nó vẫn chưa tương xứng với sức vóc của Thanh Bình. - Trần Sinh nheo mắt nhìn Cơ thăm dò.
- Báo cáo anh, thường vụ và ban quản trị chúng tôi đã họp bàn cân nhắc kỹ… - Thường vụ các ông thì mình còn lạ gì. Ông Điền là một điển hình của tư tưởng nông dân lừng chừng. Có bao giờ bí thư Thanh Bình dám quyết một cái gì mạnh mẽ, táo bạo đâu. Nói thật với ông, số cán bộ của Thanh Bình, mình chỉ tin tưởng, hi vọng có ông thôi. Nếu ông muốn làm ăn lớn thì cũng phải biết thả con săn sắt, bắt con cá rô. Làm ăn với nhà nước không có đi đâu mà thiệt…
Trần Sinh không nói toạc ra, nhưng Cơ thừa thông minh để hiểu rằng đằng sau lời nói lấp lửng kia sẽ là phân đạm, vật tư, dầu chạy máy… mà chỉ cần một chữ kí của ông là những thứ đó sẽ từ kho nhà nước tuôn về hợp tác xã. Và, riêng với Cơ, sẽ có một cái gì nữa chứ? "Trong số cán bộ của Thanh Bình, mình chỉ tin tưởng, hi vọng có ông thôi…". Chỉ một lời nói của bí thư huyện uỷ, đủ làm Cơ sung sướng bao nhiêu, đã nhen nhóm trong lòng Cơ biết bao hoài bão, hi vọng…
Cơ xoay lại nhìn Đan như để lượng sức đối thủ của mình. Chủ nhiệm Vân Xuyên đoản tướng, dáng thô, tay chân ngắn ngủn nhưng chắc nịch. Đan là một trong những chủ nhiệm kì cựu nhất của Giang Thuỷ. Và cũng là người giữ được phong trào lâu bền, ít bị chao đảo. Cùng với Thanh Bình, Vân Xuyên nhiều năm nay thay phiên nhau dẫn đầu huyện về năng suất, thuế và tổng sản lượng thu nhập. Nhưng nhược điểm lớn nhất của Đan là hay nói ngang, không sốt sắng với các chủ trương của huyện. Vì thế không được lòng cấp huyện. Vậy là dại. Tâm lí cái anh đã tung thì thế nào cũng mong có người hứng. Đã thế thì mình sẽ thách anh Vân Xuyên dám nhận với Thanh Bình chỉ tiêu sáu trăm tấn.
Cơ vừa nghĩ vừa gật gù giở bản báo cáo đã chuẩn bị sẵn. Bốn trang giấy viết tay đặc kín, Cơ hầu như đã thuộc làu. Anh lấy bút chữa lại con số năm trăm tám mươi thành sáu trăm. Sáu trăm tấn lương thực cả năm của một hợp tác xã diện tích canh tác xấp xỉ năm trăm héc-ta, vào hàng trung bình của huyện, sẽ là một quả tạ ném vào giữa hội trường khiến khối anh bổ chửng. Cơ cười thầm, cố hình dung ra gương mặt một vài anh chủ nhiệm có máu mặt trong huyện đúng cái lúc mà Cơ tung ra con số có ý nghĩa kia, cũng là lúc bài diễn thuyết của Trần Sinh vừa chấm dứt. Theo thói quen Cơ đưa cả hai bàn tay lên vỗ. Tiếng vỗ ban đầu có vẻ đơn điệu, nhưng rồi cả hội trường cũng phải hoà theo.
***
Giờ giải lao, Cơ cố tình tách khỏi gian phòng mịt mù khói thuốc, tách khỏi những lớp đại biểu đang tụ tập ngoài hành lang bàn tán, tranh luận con số mười lăm nghìn tấn lương thực. Anh lặng lẽ đi theo Mạch ra phía thảm cỏ ven hồ.
- Chiều nay bọn mình bố trí cậu phát đầu tiên đấy nhé. - Mạch đi chậm lại dang tay vỗ vai Cơ, giọng thân mật. - Thường vụ huyện uỷ, đặc biệt là anh Trần Sinh đặt rất nhiều hi vọng ở Thanh Bình vụ mùa này. Vụ chiêm xuân các cậu đã nộp bốn trăm tấn rồi. Hai trăm tấn nữa cũng chỉ bằng như bà xã nhà cậu đẻ rốn thêm một cái đĩ nữa…
Mạch cười khục khục, mặt đỏ tía tai, rất tâm đắc về câu pha trò của mình. Cơ đan hai bàn tay vào nhau, yên lặng. Câu pha trò của Mạch vô tình đã chạm vào cái nỗi buồn sâu kín của Cơ, khiến trong một thoáng cái tâm trạng bừng bừng hưng phấn của anh như xẹp lại. Nhưng để tỏ ra mình không hề phản đối Mạch, Cơ vẫn cố gượng cười.
- Cố dấn thêm hai mươi tấn nữa cho nó tròn sáu trăm. Bọn mình sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ…
Cơ nhìn thẳng vào Mạch và bắt gặp cái nhìn đầy khích lệ của anh. - Hai mươi tấn nữa đối với Thanh Bình không phải là chuyện khó. Nhưng cũng cần phải nhờ đến sự hỗ trợ của huyện…
Ồ, gì chứ chuyện ấy thì cậu phải tự hiểu lấy…
- Cái nhìn của Mạch như thầm nói với Cơ như vậy. Ông Trần Sinh sẽ đưa cậu vào huyện uỷ là cái chắc. Thanh Bình nộp thêm hai mươi tấn, nhưng rồi huyện sẽ rót về cho hàng chục tấn đạm, máy bông sen, trang thiết bị,… thì cũng quá số thóc của các cậu bỏ ra.
Từ lúc nào, hai bàn tay của họ đã nắm chặt lấy nhau. Cơ cảm thấy bàn tay nóng rực của Mạch như đang truyền cho anh tất cả hơi ấm của cái thân hình béo tốt bệ vệ nở căng sau tấm áo sơ-mi cộc tay may rất đúng mốt kia. Hai người không nói thêm một lời nào nữa, lững thững quay lại phía hội trường.
Một cô gái có khuôn mặt đỏ hồng, tròn trĩnh, từ nãy vẫn ngơ ngác tìm kiếm ai đó giữa đám đông, nhác trông thấy Mạch đã chạy ùa lại.
- Chú. Cháu tìm chú mãi. - Cô gái vội vã đưa cho Mạch chiếc phong bì để ngỏ. - Chị Thoa bảo nhất định mời chú đến.
Mạch liếc nhìn tờ giấy ghi vội:
"Kính gửi anh Mạch. Sáng nay có đoàn nhà báo trung ương về làm việc với huyện đoàn, nên em không sang dự hội nghị được. Em đã nói với các đồng chí phóng viên là có mời đại diện Uỷ ban Nhân dân huyện cùng dự toạ đàm. Kính mời anh bớt chút thời gian sang dự với chúng em khoảng một tiếng để thêm phần long trọng. Anh đến ngay cùng với Vân Nga nhé. Các đồng chí phóng viên đang đợi đấy. Em - Thoa".
- Rầy rà to đây. Tôi đang bận hội nghị.
- Mạch lại cười khục khục giơ hai bàn tay như phân bua, khiến cô gái có cái tên rất kêu Vân Nga bỗng giãy nảy lên, cái cổ ngoẹo sang một bên và vẻ mặt thượt ra trông rất trẻ con.
- Kệ chú, chú mà không đến là cháu cứ ở đây.
Mạch nhíu mày, xem đồng hồ. Mười giờ ba mươi. Còn một báo cáo của phòng lương thực nữa sẽ đến giờ nghỉ trưa. Quan trọng nhất là bản báo cáo của Trần Sinh thì mình đã ngồi nghe từ đầu đến cuối, không bỏ sót câu nào rồi. Mạch chìa bàn tay với những ngón nần nẫn béo mập cho Cơ: - Thôi, mình phải đi một tí. Sơ suất với các nhà báo lắm khi cũng phiền toái đấy. Chiều mình sẽ nghe báo cáo của cậu. Nhất định sáu trăm tấn nhé. Có thể mình sẽ kéo các nhà báo cùng đến.
Mạch liếc vào trong hội trường, nhân lúc Trần Sinh đang nói chuyện với các đại biểu, lưng quay ra ngoài hiên, Mạch máy Vân Nga cùng đi tắt qua chiếc cửa ngách thông sang khu nhà ăn uỷ ban huyện, đi về dãy nhà huyện đoàn.
***
Với sự lịch lãm từng trải và kinh nghiệm giao tiếp, Mạch không chỉ gỡ cho Thoa khỏi cái thế bị động, lúng túng của một bí thư huyện đoàn mới được đề bạt trước cuộc phỏng vấn dồn dập của hai nhà báo trung ương mà anh còn làm cho hai phóng viên báo Sức trẻ phải kính nể và cảm phục.
Cô phóng viên Thu Lê thì thật quá non trẻ, cả về tuổi nghề, tuổi đời và những kinh nghiệm giao tiếp. Nếu Mạch không lầm thì cô ta vừa tốt nghiệp trường báo chí và chuyến đi công tác về Giang Thuỷ có thể là chuyến tập nghề đầu tiên trong đời. Anh chàng nhà báo có cái tên Đặng Hoài, trạc ngoài ba mươi, tỏ ra là một người có kinh nghiệm làm báo, khá sắc sảo và nhanh trong những câu hỏi có tính chất phát hiện vấn đề. Nhưng dẫu sao trong mắt Mạch, anh ta vẫn chỉ là một ngựa non háu đá, một kiểu người xốc nổi, cả tin.
- Chiều nay, nếu nhà báo không bận thì xin mời sang nghe một điển hình nông nghiệp vào loại "ganephô" của bọn tôi. - Mạch đã gợi ý Đặng Hoài trong bữa cơm trưa do huyện đoàn chiêu đãi. - Nhà báo thử tưởng tượng, một hợp tác xã chín nghìn dân, năm trăm héc-ta gieo trồng mà một năm nộp cho nhà nước sáu trăm tấn lúa có cừ không? Chiều nay tay chủ nhiệm Thanh Bình sẽ báo cáo. Nghê làm báo của các vị phải đào trúng những cái mỏ như thế. Đặng Hoài đã sốt sắng nhận lời. Ngay đầu giờ họp buổi chiều, anh đã theo Mạch sang hội trường Giang Thuỷ. Quả tình, cái mỏ mà Mạch đã chỉ cho Đặng Hoài có một trữ lượng mà anh không ngờ. Bản báo cáo của Cơ cứ cuốn anh đi, gây cho anh hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Làm ăn như thế thì cừ quá. Một vùng chiêm trũng mà đã sử dụng hệ số vòng quay của đất tới hai phẩy tám. Năng suất liên tục bảy tấn một héc-ta. Ngành nghề đâu ra đấy. Quản lý sát sao, táo bạo, có đầu óc làm ăn lớn. Mọi cấu trúc, tình tiết của một bài phóng sự đã dàn sẵn trong đầu Đặng Hoài, chặt chẽ, khúc chiết đến mức ngay bây giờ, ngồi vào bàn là anh có thể viết lia lịa đến dấu chấm cuối cùng. Đặng Hoài ngồi ngả người vào lưng ghế tựa, nheo mắt ngắm nhìn Cơ qua làn khói thuốc. Nhìn người để kiểm tra lại việc - kinh nghiệm làm báo đã dạy Hoài thế. So với những cán bộ chủ chốt ba mươi xã có mặt trong hội trường này thì Cơ chững chạc, tư thế hơn cả. Gương mặt sáng sủa, sống mũi cao, đôi mắt linh hoạt khiến Cơ có vẻ trẻ hơn nhiều so với tuổi bốn mươi. Chỉ có một nhược điểm nhỏ là cặp môi quá mỏng và rộng. Dẫu vậy, những đường nét vẫn khá hài hoà, cân đối. Thêm vào đó, Cơ tỏ ra có ý thức trong cách ăn mặc. Chiếc áo sơ-mi be cổ cứng, ve rộng trông diêm dúa nhưng trang nhã bỏ gọn trong quần, rõ ra tư thế một anh chủ nhiệm có tri thức. Cho đến phần cuối của bài phát biểu, khi bằng một giọng chậm rãi và dõng dạc, Cơ đưa ra cái chỉ tiêu sáu trăm tấn lương thực cả năm của hợp tác xã Thanh Bình thì cả hội trường lặng đi đến mấy giây vì quá bất ngờ. Rồi tiếng ồn ào nổi lên khắp các dãy ghế. Bí thư Trần Sinh đứng bật đậy, quay lại các đại biểu, hai tay đưa ngang trước gương mặt thoả thuê đỏ hồng vì xúc động. - Đề nghị hội trường chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần tiến công cách mạng của Thanh Bình. Tiếng vỗ tay râm ran. - Nào, bây giờ xin mời các anh tài trong huyện. Có ai dám bắt tay thi đua vượt Thanh Bình trong vụ mùa này không? Không có tiếng đáp lại lời bí thư huyện uỷ. Trần Sinh nắm bàn tay giơ lên một lúc, rồi bỏ xuống. - Vậy là độc nhất vô nhị, không có đối thủ? - Ông buồn bã nói và đưa mắt thất vọng nhìn khắp hội trường. Vân Xuyên, Tú Nguyệt đâu? Sao anh chàng Đan cứ cúi gằm mặt xuống thế kia? Và cô Nguyệt nữa. Nhưng kìa. Hai ba cánh tay cùng giơ lên. A, cái anh Phương Tú, Đồng Tân, rồi cả Sơn Công, Bình Thuỷ nữa kìa. Toàn những đơn vị trung bình. Có cả yếu kém nữa chứ. Vậy là họ đã quyết thi đua với Thanh Bình… Gương mặt Trần Sinh bỗng rạng rỡ, hoan hỉ. Ông không ngờ cái phương pháp tư tưởng của ông lại có tác động mạnh mẽ như vậy. Đưa bàn tay lên cao vỗ nhẹ, giọng ông đầy xúc động: - Hoan nghênh Phương Tú, Đồng Tân, Sơn Công, Bình Thuỷ. Hoan nghênh tinh thần tiến công cách mạng của hội nghị huy động lương thực mùa vụ 1978 của Giang Thuỷ chúng ta. Với khí thế này, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành vượt chỉ tiêu kỷ lục mười lăm nghìn tấn lương thực. Nào, bây giờ xin mời đồng chí Hoàng Họp, chủ nhiệm hợp tác xã Phương Tú… *** Chiếc xe Honđa 50 màu xanh nước biển bóng nhoáng nổ máy rất êm lượn một cua vòng từ đường nhựa vào dãy phố huyện. Con đường lát đá củ đậu mấp mô lâu ngày không được tu sửa, rộng chỉ đủ cho một chiếc xe con đi vừa. Những ngôi nhà kiên cố cũ kỹ và rêu mốc ken sít vào nhau, mái hiên chìa ra cả mặt đường khiến dãy phố càng trở nên sâu hun hút và chật chội đông đúc. Đặng Hoài ngồi phía sau Cơ. Anh không ngờ cái thị trấn nhỏ bé này lại có một dãy phố cổ sầm uất đến thế. Hai bên đường san sát những hiệu may, cửa hàng tạp hoá, quán ăn, hiệu cắt tóc, quầy sửa chữa đồng hồ, xe đạp và các đồ dùng sinh hoạt. - Dãy phố này, hồi kháng chiến là trung tâm buôn bán của cả vùng phía nam tỉnh đấy, anh ạ. Năm 1946, khi Pháp chiếm Hà Nội, nhiều người chạy tản cư về đây sinh cơ lập nghiệp. - Cơ giới thiệu qua với Đặng Hoài một vài nét về đặc điểm lịch sử địa lý và phong tục vùng quê. - Nhà báo các anh đi nhiều, am hiểu rộng, chắc đã nghe tiếng đồn về bánh đa và bún chó Giang Thuỷ? - Ồ, chưa đâu. Về món ăn thì quả tôi không sành… - Thế thì bọn tôi phải giới thiệu với nhà báo một đặc sản truyền thống của địa phương. - Cơ nói như vô tình. - Chẳng mấy khi anh về thăm… Gọi là có một chút gặp gỡ kỷ niệm… Chiếc Honđa giảm ga, chạy chậm lại và dừng trước cửa một quán ăn có tấm biển màu vàng xỉn với dòng chữ kẻ rất cầu kỳ: "Thịt cầy bảy món". Chủ quán là một người đứng tuổi, thấp lùn có bộ mặt nhẵn bóng. Thấy Cơ giới thiệu một cách trân trọng và lịch thiệp, ông ta cũng vội có ngay một thái độ cung kính vồn vã tương ứng. - Kính rước hai ông vào nhà trong. Đặng Hoài còn đang định thần làm quen với ánh sáng ngọn đèn toạ đăng vàng chói đặt giữa bàn thì đã thấy hai bàn tay cùng chìa ra. Một bàn tay nần nẫn lúc nào cũng xâm xấp mồ hôi của Mạch và bàn tay rắn như sắt nguội, chỉ còn bốn ngón. Đặng Hoài nhìn người lạ mặt và nhận ra một khuôn mặt dài với đôi mắt to lồi và hình như anh đã gặp ở hội trường uỷ ban lúc chiều. - Anh Mạch thì anh Hoài đã biết rồi. Còn đây là đồng chí Tấn, chủ tịch xã tôi. - Cơ giới thiệu. Chủ, khách chào hỏi nhau tíu tít. Mạch như chợt nhớ ra một điều hết sức hệ trọng: - Chết thật. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Trên báo chí ông vẫn ký tên Đặng Hoài phải không? Thảo nào, gặp ông ban sáng tôi cứ ngờ ngợ. Hôm nọ đọc bài "Tuổi trẻ trên vùng đất mới" của ông, tôi phục quá. Viết giỏi. Đọc xong, tôi khoe ngay với ông Trần Sinh: "Một tay phóng viên vừa viết về thanh niên huyện ta trên vùng kinh tế mới, tuyệt quá, anh ạ". Những lời khen của Mạch làm Đặng Hoài sung sướng thực sự. Anh biết đâu rằng, cái bài báo mà Mạch vừa khen, chính anh ta vừa nhìn thấy trong tờ "Sức trẻ". Cơ nhìn đồng hồ. Anh ghé tai Tấn nói nhỏ: - Cụ Điền đâu? Sao bây giờ chưa thấy đến? - Tôi mời, nhưng ông ấy kêu mệt, xin phép về trước. Cơ nhíu mày, tỏ ý không vừa lòng. - Cái ông già đến lạ. Cứ chủng chẳng kiểu này thì thật khó làm ăn. Ông ấy làm như chúng mình tư túi với nhà báo để tâng bốc thành tích cá nhân ấy không bằng. Chẳng qua cũng là vì sự nghiệp chung của cả hợp tác xã chứ đâu phải vì anh hay vì tôi… - Từ lúc anh vừa xướng con số sáu trăm tấn trên hội trường là cụ ấy cứ dấm dẳn với tôi suốt. - Không xướng thì còn mặt mũi nào với huyện. Mang tiếng là tiên tiến mà "thằng" Vân Xuyên nó cũng năm trăm tám mươi tấn chứ kém gì… Cơ nhớ lại vẻ mặt khó đăm đăm của ông Điền lúc chiều, khi anh trao đổi việc anh điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp với không khí hội nghị và yêu cầu của huyện. Lý ra ông nên lấy đó làm điều vinh dự và hãnh diện với hàng huyện chứ? Bí thư đảng uỷ của một xã đi đầu trong phong trào huy động lương thực, tức là công tác tư tưởng, công tác chính trị anh làm không chê vào đâu được. Chỉ riêng một chuyện ấy, mình đã làm mát mặt cho ông ấy bao nhiêu rồi. Đằng này suốt buổi họp toàn lủi xuống mấy hàng ghế cuối hút thuốc lào vặt. Bí thư, chủ tịch, chủ nhiệm mỗi anh ngồi một nơi, cứ như ông chằng bà chuộc… Càng nghĩ Cơ càng thấy bực. Nhưng vốn là một người biết tự kiềm chế, trước mặt Mạch và Đằng Hoài, anh vẫn tỏ ra hồ hởi, vui vẻ. Chiếc bàn vuông phủ tấm ni-lông đã được bày la liệt các món ăn. Theo bản năng và thói quen, Mạch đưa mắt thầm đếm những món ăn do chủ quán vừa bưng ra. Thịt chó luộc, dồi chó, nhựa mận, tiết canh chó, xáo chó, chân chó ninh nhừ, thịt chó nướng. Vừa đúng bảy món. Giữa những đĩa, những bát thịt sẫm màu, nổi bật lên những lát giềng vàng ngà, đĩa rau húng xanh rờn, tô bún trắng lốp, một chồng bánh đa cao ngất ngưởng và chai rượu ngang trong vắt. Tấn cầm chai lần lượt rót đầy từng cốc. - Xin nâng cốc chúc mừng cuộc gặp gỡ nhà báo. - Xin chào mừng anh Mạch, người luôn quan tâm động viên giúp đỡ Thanh Bình. - Xin chúc mừng kỷ lục sáu trăm tấn. Tiếng chạm cốc nhau lanh canh. Tiếng bánh đa vừng kêu rôm rốp. Đặng Hoài vừa nâng cốc lên môi đã thấy nóng ran nơi đầu lưỡi. Nghĩ tới buổi làm việc với Cơ tối nay, anh ý tứ san bớt rượu cho Mạch. - Ấy, nhà báo, phong tục của Giang Thuỷ là phải cạn một hơi. - Mạch vội giữ cốc của Đặng Hoài lại và thuận tay với chai rót đầy các cốc như lúc đầu. Cái phong độ lịch lãm của một nhà ngoại giao lúc ban sáng bây giờ đã được thay bằng một dáng vẻ cởi mở, chân thật và hơi có phần suồng sã. Dường như khi đã ngồi vào mâm, khi cái hơi men đã bốc trong đầu, người ta đã lột bỏ cái phần không phải của mình để trở lại mình hơn. Mạch lúc này đang là một con người như vậy. Vẫn điệu cười khục khục nhưng giọng nói của anh đã trở nên rè và tước bỏ những hư từ, những chỗ nhấn để trở về hầu như trần trụi. Anh nhìn Đặng Hoài một cách thân thiết mà không hề ý tứ, rào đón: - Chẳng mấy khi ông về Giang Thuỷ. Chuyến này bọn mình định nhờ ông lăng-xê cho cái anh Thanh Bình. Chủ trương của anh Trần Sinh với huyện uỷ chúng mình đang muốn phất Thanh Bình thành lá cờ đầu của tỉnh. Sở dĩ bọn mình bây giờ mới tuyên truyền vì rằng không muốn ăn non. Nuôi dưỡng mấy năm trời. Thường vụ cất lên đặt xuống, tìm thời điểm giới thiệu thích hợp. Chiều nay nghe ông Cơ báo cáo, ông đã có phần nào cái khí thế của Thanh Bình. Làm nhà báo chắc ông hiểu bọn tôi quá đi rồi. Văn hoá cấp ba bổ túc. Khả năng viết lách có hạn. Làm nhiều, làm giỏi nhưng không viết được… - Mà có viết được chăng nữa, chúng tôi cũng ngại. Chẳng lẽ lại khen mình. - Tấn gắp một miếng dồi chó vào bát của Đặng Hoài, đôi mắt lồi tròn xoe vẻ thật thà bộc trực. Mặt Cơ tái dần đi. Đôi mắt anh hơi lim dim như cố giấu bớt cái ánh lửa long lanh trong đôi con ngươi sáng rực. - Anh Mạch quá khen Thanh Bình. Thực ra chúng tôi mới đang trên bước đường mày mò, học tập. So với bản thân mình thì đúng là hai năm lại đây chúng tôi có vượt lên, nhưng so với các hợp tác xã tiên tiến trên toàn quốc thì còn phải nỗ lực nhiều. Cái chính mà chúng tôi mong mỏi gặp anh Đặng Hoài kỳ này là mong anh chỉ ra cho chúng tôi những chỗ yếu để chúng tôi khắc phục, phấn đấu. Chẳng gì anh cũng đi nhiều, biết rộng, lại am hiểu thực tế nông nghiệp… - Cơ nói khiêm tốn và mềm mỏng hệt như một cô gái biết rõ sắc đẹp của mình đang làm chàng trai mê mẩn nhưng vẫn hết sức nhún mình. Đặng Hoài thì lại có vẻ quá thật thà: - Không dám. Chính bọn tôi mới cần phải khai thác kinh nghiệm của các anh. Thực tiễn bao giờ cũng là người thầy đầy sáng tạo và tài năng. Nghe bản báo cáo của anh ban chiều, tôi thật không ngờ… - Có gì đâu. - Vẫn một âm lượng vừa phải, một thái độ nửa khiêm nhường nửa tự tin, Cơ chậm rãi như bứt từng tiếng từ trong đầu ném vào giữa mâm. - Nhiệm vụ của chúng tôi, những người lính trên mặt trận nông nghiệp, là phải đóng góp những giọt mồ hôi của mình cho chủ nghĩa xã hội. Kể ra so với các hợp tác xã trong huyện, chúng tôi có trội hơn họ tí chút là do chúng tôi biết cách làm ăn và thực tế chúng tôi thu nhập khá. Cũng đồng đất như Thanh Bình chúng tôi, cũng diện tích, số miệng ăn như thế, nhưng mấy anh Lân Hoài, Phong Hoà, Kim Sa thì có dấn mãi cũng không nổi bốn trăm tấn. Chung quy lại, đã làm cái anh nông dân là phải biết tính toán, biết cách làm ăn. Cũng một sào ruộng tại sao có anh nó thu ba tạ một vụ, mà anh khác không nổi một trăm ký. Đấy, nói thế là nhà báo hiểu cách làm ăn của ban quản trị chúng tôi rồi… - Xin lỗi… - Đặng Hoài nhìn khắp lượt, rụt rè chen. - Hình như tôi nghe nói về năng suất, Vân Xuyên có phần trội hơn hợp tác xã ta? Cơ bật cười thành tiếng, đôi môi mỏng chành ra phảng phất một nét giễu cợt: - Thành tích giấy cả đấy, anh ạ. Dân Vân Xuyên họ vẫn tị với xã viên tôi… Đồng họ vào loại thượng đẳng điền của huyện. Thế nhưng một năm họ cũng chỉ đóng góp được có năm trăm tám mươi tấn. Vấn đề này cũng lại ở cái đầu. Không phải họ không có đủ lực đâu. Sáu trăm chứ tám trăm tấn, xã viên họ cũng chẳng đến mức phải ăn cháo. - Cơ khẽ nhấp một tợp rượu, nhíu mày như để tìm một hình ảnh minh hoạ. Rồi anh nhìn Đặng Hoài đầy ngụ ý. - À thế này. Con cái có trách nhiệm với bố mẹ là chuyện thuộc về nghĩa vụ và đạo đức. Nhưng đối với bố mẹ thế nào là tuỳ thuộc vào từng người con, không ai bắt buộc. Cái anh con giàu thường hay keo bẩn, suy tính từng xu. Trái lại anh nghèo thì bao giờ cũng hết lòng với bố mẹ… Mạch vỗ vai Đặng Hoài gật gù: - Đúng như vậy đấy, ông ạ. Ăn nhau ở cái tinh thần. Thanh Bình dám nhận chỉ tiêu sáu trăm tấn vì nó có tinh thần nhiệt tình cách mạng. Chỉ riêng điều này đã đáng để nhà báo ca ngợi rồi. Câu chuyện như chiếc lạt mềm vô hình, mỗi lúc càng xoắn chặt họ lại với nhau. Hình ảnh hợp tác xã Thanh Bình như một điển hình đột khởi trong nông nghiệp, một kiểu mẫu của quan hệ sản xuất mới, với những bước đi vững chắc và đầy triển vọng trên con đường đi lên sản xuất lớn cứ dần dần đậm nét trong óc Đặng Hoài. Trong đời làm báo của một anh phóng viên, chỉ cần một lần phát hiện, một lần khám phá ra một điển hình mới đã là hạnh phúc lắm rồi, đã đủ đưa anh ta lên tầm cỡ một phóng viên có tên tuổi. Vậy mà cái cơ hội hiếm hoi trong nghề làm báo ấy, Đặng Hoài đang nắm trong tay. *** Trái hẳn với cái "say" của Đặng Hoài, chủ nhiệm Cơ tỏ ra rất tỉnh, cho đến lúc chở Đặng Hoài về nhà. Cơ vẫn cảm thấy tay lái của mình rất vững vàng. Thực ra trong bữa rượu vừa rồi, anh uống không đầy một chén. Chủ động trong mọi trường hợp, là một nét tính cách của anh. Anh bạn phóng viên từ lúc nào, đã cất tiếng ngáy đều như kéo bễ. Cơ vặn nhỏ ngọn đèn và cố chợp mắt, nhưng vẫn không tài nào ngủ được. Những hình ảnh dồn dập và đầy ấn tượng của một ngày lại tái hiện trong óc Cơ. Cái bắt tay và ánh mắt đầy khích lệ, tin tưởng, ưu ái của Trần Sinh. Những vẻ mặt kinh ngạc, thán phục của các cán bộ ba mươi xã trong huyện khi Cơ vừa dứt bài phát biểu. Có cả những nét mặt đố kị, hoài nghi và thầm tức tối nữa chứ… Rồi những hứa hẹn và mối quan hệ "người nhà" hết sức tốt đẹp với Mạch, người mà khoá Hội đồng nhân dân tới chắc sẽ trúng cử phó chủ tịch huyện phụ trách nội chính. Rồi cuộc gặp gỡ tình cờ với Đặng Hoài, một anh chàng phóng viên hết sức nhạy cảm và xông xáo. Tay Đỗ Thành, phóng viên báo Nhân Dân, thường trú ở tỉnh và mấy tay báo tỉnh Cơ đã tiếp xúc tuy nghề viết có khá nhưng dè dặt quá. Mỗi lần về Thanh Bình mình thù tiếp, đãi đằng như thế mà họ chỉ cho được một mẩu tin bằng nửa bàn tay. Đặng Hoài có thể làm ăn được. Chỉ cần một bài phát biểu trên đài là thiên hạ sẽ phải nhìn Thanh Bình khác đi… Bao nhiêu sự kiện hết sức hệ trọng dồn nén trong một ngày. Có thể coi ngày hôm nay như một cái mốc đánh dấu một thời kỳ mới của Thanh Bình. Và riêng bản thân Cơ, ngày hôm nay cũng sẽ là một cái mốc bản lề trên bước đường công tác. Chỉ cần qua mùa gặt này, khi cân thóc thứ sáu trăm nghìn giao nộp vào kho nhà nước, khi Thanh Bình trở thành lá cờ đầu phong trào nông nghiệp toàn tỉnh - và, rất có thể của trung ương - vị trí của Cơ lúc ấy sẽ thay đổi… Chan chứa một niềm hi vọng, một niềm tin tưởng, Cơ ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Cho tới quá nửa đêm, khi Đặng Hoài chợt bừng tỉnh giấc thì Cơ đã ngủ say lắm. Đặng Hoài tung mền chăn ấm sực, tìm dép, khẽ mở cửa, đi ra ngoài. Đêm đầy sao. Những chùm sao chi chít, sáng lấp lánh trên bầu trời tím mênh mông. Cái ánh sao một đêm đẹp trời cũng chẳng khác gì một đêm trăng suông. Ánh sao giúp Hoài nhận ra cái cơ ngơi gọn gàng ngăn nắp của nhà chủ nhiệm mà lúc mới đến anh hoàn toàn không đủ tỉnh táo để nhận biết. Thế ra không phải là ông chủ nhiệm nào cũng là nhà cao cửa rộng? Đi công tác nông thôn, mình ớn nhất là gặp những thằng cha chủ nhiệm quê kệch, dốt nát, tham lam, cửa quyền. Phàm những thằng cha như vậy y như rằng thằng nào cũng nhà rộng vung vinh, loè loẹt đầy sơn xanh đỏ. Xem ra tay Cơ này có vẻ là một chủ nhiệm có tư cách, làm việc vì dân mà lại biết cách làm ăn. Đặng Hoài thầm nghĩ và càng thấy thêm quý trọng chủ nhiệm Cơ. Phảng phất đâu đây vẫn cái mùi say nồng của rượu. - Chẳng lẽ tối qua mình lại uống nhiều đến thế. - Đặng Hoài vặn to ngọn đèn, căng mũi hít thở như cố kiểm tra khứu giác mình. Đúng là anh không còn say nữa. Mà mùi rượu ngang đến lạ. Nó có thể thấm dần đến từng giọt mồ hôi, cả quần áo, và thậm chí không khí xung quanh. Đặng Hoài khẳng định như vậy và anh tự nhủ làm sao cần phải biết tự kiềm chế mình hơn nữa. Nhưng dẫu sao, một buổi tối như hôm qua cũng thú vị. Đi cơ sở mà chỉ nghe báo cáo, thiếu hẳn những dịp bù khú, tâm tình thì làm sao phát hiện được những chi tiết sống động, tươi rói của đời sống? Phải công nhận rằng tay Cơ là một mẫu chủ nhiệm mới đầy hấp dẫn. Hắn có cái năng nổ, mạnh dạn, táo bạo của cánh trẻ, nhưng cũng không thiếu sự chín chắn biết nhìn xa trông rộng của người có kinh nghiệm trải đời. Hắn nói được, làm được nhưng cũng biết khiêm nhường, cầu thị. Một mẫu chủ nhiệm như thế, đương nhiên có đủ tư cách để đi thẳng từ đời sống vào sách vở mà chẳng cần phải tô vẽ nhào nặn. Với một tâm trạng đầy hưng phấn và sảng khoái, Đặng Hoài ở cặp lấy sổ tay, hí húi ghi chép. Tiếng gà gáy ran và trời sáng dần. Chị Soi và đứa con gái lớn đã trở dậy. Một ánh lửa ấm áp hắt ra từ gian bếp. Mùi khói rơm ngạt ngụa. Tiếng nước giội ùm ũm ngoài bể. Tiếng vo gạo sàn sạt và tiếng vỗ rá bồm bộp. Một chị gà mái tơ vừa kêu thất thanh đã vội đập cánh phành phạch giãy chết. Rồi tiếng dao thái bèo cần mẫn đều như đếm từng nhịp thời gian. Đặng Hoài đã viết đặc kín tám trang sổ tay. - Một cái sườn khá chi tiết của bài phóng sự. Những âm thanh náo nức của một buổi sáng làm lụng, cái không khí thật thanh bình và dân dã của làng quê có sức cuốn hút kỳ lạ. Đặng Hoài gấp sổ, cẩn thận cho vào cặp và đi xuống bếp. Anh muốn được hoà vào, được sống thực sự cuộc sống một gia đình nông dân ngay từ sớm tinh mơ. Như một guồng máy hết sức quy củ và khoa học, người mẹ và bốn đứa con gái đều đã chải đầu, rửa mặt, người nào viếc nấy. Hai đứa nhỏ lặng lẽ châm đèn ngồi vào bàn học. Hai đứa lớn, một đứa băm bèo, một đứa giúp mẹ chuẩn bị bữa sáng. Tất nhiên chị gà mái tơ ban nãy đã được làm lông sạch bóng chuẩn bị cho vào xoong luộc. Đặng Hoài thầm khen tài tổ chức gia đình thật nề nếp, khoa học của Cơ. Xem đó, càng tin năng lực quản lý của Cơ đối với toàn hợp tác xã. - Nhà em ngày nào cũng đi từ sáng sớm đến tối mịt. Không ở đồng thì ở văn phòng hợp tác hay họp hành trên xã, trên huyện. - Vợ Cơ phàn nàn, nhưng cứ nghe giọng nói, cách nói đủ biết chị yêu chồng, tự hào về chồng lắm. Đặng Hoài lân la hỏi chuyện và chợt phát hiện ra một điều hết sức lý thú: Vợ chồng chủ nhiệm Thanh Bình chính là một kiện tướng chăn nuôi kỳ khôi của hợp tác xã. - Năm ngoái em xuất cho hợp tác ba tạ hơi. Năm nay cũng đã được trên hai tạ. - Chị Soi khoe với nhà báo và đon đả dẫn anh thăm chuồng lợn. Gian chuồng được ngăn làm hai. Một ả lợn nái bụng chửa căng trong đang mệt nhọc nằm thở. Ngăn bên kia, ba chú lợn lai lang hồng cao to như những con bê đang thi nhau dũi mồm vào bồn cám. Mùi cám nóng pha mùi bã rượu thơm chua. Đặng Hoài chợt vỡ lẽ ra rằng cái mùi rượu lúc nửa đêm mà anh cố kiểm tra mình chính là cái mùi bã rượu kia. - Sáng nay mấy giờ thì chị phải đi làm? - Đặng Hoài hỏi. - Cũng khoảng tám chín giờ. Hồi này chưa gặt, nên công việc đồng áng cũng nhàn. - Thế thì hay quá. Tôi muốn chụp một kiểu ảnh về chị. Nhưng phải đợi có nắng. Chị Soi mỉm cười e thẹn. Cái lúm đồng tiền của thời con gái vẫn còn, làm cho đôi má rám nắng và đã rạn những vết chân chim chợt nở căng, hơi ửng hồng. II Từ hôm đi họp trên huyện về, như thành một thói quen, ngày nào Cơ cũng đạp xe đi thăm một khu đồng. Cưỡi chiếc Honđa 50 có vẻ quan cách và xa lạ quá, anh ngại dư luận dị nghị. Đi xe đạp bình dân hơn vả lại cũng tiện, lúc cần có thể ghếch xe lên đầu bờ ruộng, xắn quần lội xuống khơi một trổ nước hoặc ngắt vài bông lúa thầm ước tính năng suất, sản lượng từng loại giống từng thửa ruộng. Thấy chủ nhiệm năng đi thăm đồng, nhiều xã viên thầm yêu mến, cảm phục đứng tính tận tuỵ, sâu sát của Cơ. - Ông chủ nhiệm đi thăm đồng sớm thế? Nhờ trời vụ mùa này ăn chắc rồi. Cái tang lúa nông nghiệp 22 chỉ đầu tháng là được gặt. - Chỉ đầu tháng hay hơn một chút. Anh nông nghiệp tám cũng uốn câu hết cả. Vụ này sản lượng đổ đồng tạ rưỡi một sào là ăn chắc. - Chủ nhiệm Cơ cười hồ hởi, sẵn sàng sà xuống bất kỳ một toán xã viên nào, cùng hút thuốc lào với họ, nói dăm ba câu quanh cái vụ mùa đầy hứa hẹn sắp tới hoặc nếu gặp các bà các chị thích tán tỉnh vui nhộn, anh cũng sẵn sàng hiến họ vài câu chuyện tiếu lâm do anh nghe lỏm được hoặc tự sáng tác một cách hóm hỉnh. Chiều nay Cơ đi thăm đồng muộn. Lúc anh từ cánh đồng Bà Chúa đạp xe qua cánh đồng Vàng về làng thì nắng đã tắt. Tắt nắng, màu vàng lúa chín như sậm hơn. Lúa ken nhau kết liền từng thửa như tấm thảm dày. Và hương lúa chiều thu mới nồng nàn dịu ngọt làm sao. Cơ dắt xe đạp đi dọc đường bờ vùng, ngây ngất hít thở căng lồng ngực. Nếu kể từ ngày hợp tác lên quy mô (toàn xã) cũng là ngày Cơ thay Tin làm chủ nhiệm thì đây là vụ mùa đầu tiên Cơ thấy toại nguyện về những thành quả của mình. Ba năm, khoảng thời gian chỉ vừa đủ để một chủ nhiệm mới làm quen với công việc, với cách quản lý một hợp tác xã lớn và phức tạp như Thanh Bình. Vậy mà Cơ không những đã giành lại cho Thanh Bình cái danh hiệu tiên tiến xuất sắc của huyện, mà còn có cơ phất nó thành một trong những lá cờ đầu của tỉnh. Chỉ trong vòng một tháng nữa thôi, khi những cánh đồng này chỉ còn trơ gốc rạ và cân thóc thứ sáu trăm nghìn nhập vào kho nhà nước thì tên tuổi Thanh Bình sẽ truyền đi khắp… Chưa bao giờ Cơ thấy mình gắn bó với những cánh đồng như bây giờ. Anh bâng khuâng thả hồn mình trên biển lúa như một người mơ mộng. Có tiếng sáo diều vi vu. Cơ ngửa mặt nhìn trời - và anh nhận ra giữa nền biếc thẫm cao vời vợi có điểm những ngôi sao sớm, một cánh diều mảnh như cánh chim đang chao lượn. Tay nào lãng mạn. Nhưng mà hay. Cứ ngửi thấy mùi lúa mới là họ đã bay bổng lên rồi. Cơ thầm nghĩ và anh chợt đứng sững lại vì vừa nhận ra một người con gái quẩy gánh cỏ đi vượt qua anh. Đôi bắp chân trắng nõn thoăn thoắt như sợ ai đuổi. - Vy! - Cơ gọi. Tiếng anh như ngạt đi vì quá hồi hộp, xúc động. Người con gái vẫn không chịu dừng lại mà hình như còn sải bước mau hơn. Cơ nhảy lên xe đạp vội. Đến khi đuổi kịp cô gái thì anh dừng xe lại. - Vy, sao Vy cứ tránh mặt tôi thế? Trong ánh chiều nhập nhoạng, Cơ nhận ra đôi mắt đen láy mở to đầy sợ hãi của cô gái. Gương mặt trái xoan trắng hồng kia, cho đến bây giờ vẫn thân yêu, quyến rũ anh bao nhiêu… - Có chuyện gì phải nói với anh nữa đâu… - Vy hơi lùi lại, đứng tránh ra sát bờ mương. Mặc dù chị cố trấn tĩnh, nhưng giọng nói vẫn cứ run lên. Cơ đưa tay níu lấy một đầu đòn gánh và anh nhìn thẳng vào mắt Vy, cái nhìn đắm đuối như khơi gợi. - Có chứ. Giữa chúng mình còn có bao nhiêu kỷ niệm… Vy không nhớ sao? Cái đêm ấy… - Anh đừng nhắc đến chuyện ấy nữa. Tởm lắm. - Giọng Vy run lên. Đôi mắt ánh một tia nhìn sắc lạnh. Chị đặt gánh cỏ xuống đất. - Tại sao anh lại cứ muốn làm khổ tôi mãi? Mặt Cơ nóng ran và trái tim buốt nhói. Anh vốn không quen để người khác nói mình những lời tàn nhẫn nặng nề. Nhưng kìa, những giọt nước mắt đã chảy. Có lẽ chính mình đã làm cho Vy khổ quá chăng. Vy oán trách mình, thậm chí căm thù mình cũng đáng thôi. Mình chính là kẻ gây nên tội. - Kìa Vy. Đừng khóc nữa. - Cơ kéo xe đạp lại gần và nhẹ nhàng đặt tay lên đôi vai tròn mịn đang rung lên của Vy. - Tại tôi tất cả. Tại vì tôi yêu Vy… Hình như đợt Thanh về phép, cậu ấy đã biết chuyện… Vy né người gạt phắt bàn tay Cơ. Cái gạt mạnh đến nỗi làm Cơ mất thăng bằng, và chiếc xe đạp đổ kềnh. - Anh có muốn tôi lu loa lên không nào. Đã bảo giữa tôi và anh chẳng còn chuyện gì nói với nhau cả. -Tiếng Vy chói và vang. Cơ có cảm giác như tiếng Vy đã được gió truyền đi khắp đồng, vang mãi đến tận rặng tre mờ xanh cuối làng. Cơ dựng chiếc xe đạp dậy, quay nhìn Vy lắc đầu buồn bã, rồi nhảy lên xe. Con đường về làng đầy những ổ gà. Dấn mãi mà đôi bánh xe vẫn chỉ nặng nề quay. *** - Ơ, bố về. Bố ơi, mẹ được đăng lên báo nhớ. - Vừa thấy Cơ về đến ngõ, đứa con gái út của anh đã chạy ra và khoe ầm ĩ. Cơ dựa xịch xe đạp bên tường, bước vào nhà. Nỗi buồn gặp Vy ban nãy đè trĩu trong lòng anh. Hết cả rồi. Đến bây giờ thì Cơ tin chắc rằng giữa anh và Vy không còn gì nữa cả. - Báo đây, bố ơi. Chú nhà báo hôm nọ gửi bưu điện về cho bố đấy. Cơ vặn to ngọn đèn, cầm tờ báo từ tay con gái lật giở. Đôi mắt anh bỗng sững lại trên dòng tít lớn ở đầu trang: "Thanh Bình, một phấn đấu phi thường". Cơ đọc ngấu nghiến, mê mải. Càng đọc như càng bị hút vào từng cột báo. Bao nhiêu buồn bực phút chốc tiêu tan hết. Gương mặt anh rạng rỡ, hả hê và chốc lát anh lại gật gù xuýt xoa một mình. Tay Đặng Hoài này giỏi lắm. Đến mình là người trong cuộc mà đọc lên cũng cứ tưởng hắn viết về một hợp tác xã tiên tiến nào ấy. Ồ, cái đoạn này thì mới tài: "Đã bao nhiêu đêm chủ nhiệm Cơ trằn trọc không ngủ. Chẳng lẽ cái vùng đồng chiêm nước ngập của anh, mỗi mùa lại cứ vác rá đi xin nhà nước trợ cấp mãi ư? Chẳng lẽ những người xã viên quanh năm quần quận trên đồng ruộng mà vẫn không nuôi nổi mình? Không thể bằng lòng với cách làm ăn cũ, anh cùng với các đồng chí trong ban quản trị, cơm nắm cuốc bộ đi học hỏi kinh nghiệm các hợp tác xã tiên tiến. Anh mạnh dạn áp dụng các biện pháp kỹ thuật, đưa giống mới vào đồng. Chỉ sau hai năm, Thanh Bình đã dư thừa thóc, năng suất bình quân hơn bảy tấn một héc-ta. Số lương thực đóng góp với nhà nước ngày một tăng. Và vụ mùa này, hoà với thành tích chung của huyện Giang Thuỷ, mười năm liên tục hoàn thành nghĩa vụ lương thực sớm nhất cả nước, lần đầu tiên Thanh Bình đạt con số kỷ lục: sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ, dẫn đầu các hợp tác xã toàn tỉnh…". Ngay cạnh bài báo, một tấm ảnh lớn chụp chị Soi đang cho lợn ăn. Con lợn lang to gần bằng cái giậm, với hàng chữ chú thích: "Chị Nguyễn Thị Soi, vợ chủ nhiệm Vũ Đình Cơ, một kiện tướng chăn nuôi của hợp tác xã Thanh Bình". Cơ sửng sốt bàng hoàng. Anh không ngờ Đặng Hoài đã làm một việc quá sự mong muốn của mình. - Gớm, bố nó đi thăm đồng kỹ thật. Tưởng ngủ luôn ở ngoài ruộng ấy. - Vừa đặt rổ bèo xuống sân, chị Soi đã nói vọng vào trong nhà. - Này, mẹ cái Hoà, vào đây mà xem. Nhìn thấy tấm ảnh, Soi đã cười bẽn lẽn, giằng lấy tờ báo. - Ối giời, cái ông nhà báo này rõ dở hơi. Ai lại chụp người chung với lợn để rồi đem đăng báo thế này à? Cơ đưa mắt nhìn vợ và khẽ lắc đầu. Tự nhiên anh thấy thương hại. Văn hoá mới lớp bốn, làm sao cô ấy hiểu giá trị một bức ảnh nghệ thuật. Anh muốn kể cho vợ nghe về bức ảnh thủ tướng Phiđen đứng cạnh con bò cái nổi tiếng giá tới mười vạn đô-la. Nhưng mà thôi, ích gì. Anh chép miệng, lườm vợ: - Rõ lạc hậu. Đề cao mình thì người ta mới chụp thế. Kiện tướng chăn nuôi lợn. Đã ai được như thế chưa nào? Soi thừ mặt như đã hiểu ra: - Thế bố nó cho tôi xin tờ báo làm kỷ niệm. - Để mai bảo cái Huyền nó cắt treo lên tường. - Thế có mà người ta cười cho thối mũi. Lần này thì Cơ cáu thật. Anh lừ mắt nhìn vợ, cầm tờ báo đứng dậy. - Rõ dớ dẩn. Đã gọi là thành tích thì phải trương lên cao cho bàn dân thiên hạ người ta biết, chứ không thì làm làm gì. Bị chồng mắng, nhưng chị Soi chẳng để bụng. Bởi chị đang rất vui. Cứ tưởng cái ông nhà báo ấy chụp vờ không có phim, ai ngờ… - À, bố nó ơi, có chuyện gì mà bác Điền từ chiều tới giờ sang tìm bố nó tới hai ba lần. Cơ ngồi ăn cơm mà lòng cứ xốn xang về bài báo của Đặng Hoài. Nghe vợ nhắc đến lần thứ hai, anh mới ngẩng lên: - Bác ấy có nhắn gì không? - Hình như có chuyện gì cần kíp lắm. Chắc là chuyện bài báo đây. Ông ấy lại không vui bằng mấy mình. Bí thư đảng uỷ một xã nổi tiếng, ai mà không thích. *** Ông Điền ngồi trên chiếc chõng tre kê giữa hè mà như ngồi trên đống kiến lửa. Tiếng loa truyền thanh treo tít trên ngọn cây gạo đầu làng đang chõ vào tai ông: Các bạn thân mến! Thanh Bình là một hợp tác xã vùng đồng chiêm trũng Giang Thuỷ. Suốt bao đời, cái vùng quê chiêm khê mùa thối ấy phải vật lộn với thiên tai lũ lụt để giành giật từng hạt lúa. Vậy mà mới hai năm lại đây, từ một vùng quê nghèo, Thanh Bình đã trở thành một hợp tác xã tiên tiến dẫn đầu tỉnh về mức đóng góp lương thực cho nhà nước. Mời các bạn nghe bài phóng sự: "Thanh Bình, một phấn đấu phi thường" của Đặng Hoài trên báo Nông thôn số ra gần đây. Thế thì rầy rà to. Bài báo nói oang oang. Có giấu cũng không được. Nhìn tờ báo Nông thôn có bài viết về Thanh Bình và ảnh Soi, vợ Cơ, mà ông Điền ngao ngán. Chiều nay, trên văn phòng uỷ ban, mọi người đều xôn xao lên. Người đầu tiên phát hiện ra bài báo có vấn đề là Thiển, phó bí thư đảng uỷ. - Báo viết về hợp tác xã ta đấy. Anh đọc mà xem. Thiển đưa bài báo cho ông Điền và lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế đối diện chờ ông đọc hết. Tính Thiển vốn thâm trầm, kín cạnh. Dù trong bụng đang sôi lên, nhưng mặt anh vẫn cứ lạnh như tiền. - Anh thấy thế nào? Đọc lên chỉ thấy độc vai trò của ông chủ nhiệm Cơ. Còn toàn đảng bộ, nhân dân Thanh Bình dồn lại không đầy một dòng. - Thiển chép miệng cười khẩy và nhìn ông Điền thăm do. - Cái anh nhà báo này viết văn hoa ghê quá. - Ông Điền dè dặt nhận xét. - Còn văn hoa gì nữa. Nói toẹt ra là thiếu trung thực. Ai duyệt con số sáu trăm tấn lương thực? Hôm họp trên huyện, anh có giao ước thi đua với các xã trong huyện không? - Anh Cơ có hỏi ý kiến tôi. Nhưng tôi trả lời là còn trao đổi thống nhất với ban quản trị và xin ý kiến thường vụ đảng uỷ. - Thế còn nhà báo Đặng Hoài, anh có gặp và trao đổi với anh ta? Bị Thiển hỏi dồn, ông Điền lúng túng cười gượng: - Mình có biết mặt mũi ông nhà báo thế nào. - Thế là rõ rồi. - Thiển tựa người vào ghế, lắc đầu ngán ngẩm. Tất cả là do việc tự đề cao cá nhân cả thôi. Tất cả thành tích công lao của Thanh Bình mấy năm nay đều do mình ông Cơ làm nên cả. Tôi và anh chỉ là những thằng bù nhìn vô tích sự. Vì thực tế vai trò của đảng bộ không hề được đả động đến. Đảng không hề lãnh đạo sản xuất mà chỉ có công lao và sự thông minh tài giỏi của chủ nhiệm. Đấy anh xem. Người ta cố tình sổ toẹt thành tích của toàn đảng bộ, xã viên Thanh Bình. Người ta đang tìm lối vào huyện uỷ bằng cách cơ hội chủ nghĩa đấy. Tôi không họp hội nghị nhưng tôi biết hết cả. Tại sao Vân Xuyên, Tú Nguyệt năng suất của nó trên bảy tấn một héc-ta, đời sống xã viên cao hơn mình mà nó không nhảy ra thách thức với các hợp tác xã khác? Là vì nó không ham hố thành tích, không cơ hội chủ nghĩa. Cậu Đan chủ nhiệm Vân Xuyên là một người thực sự làm việc vì dân. Nó luôn luôn kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước. Trái lại, ông Cơ nhà mình… Nói ra thì anh lại bảo tôi nói xấu đồng chí, nội bộ thường vụ không đoàn kết. Nhưng thực tế anh biết đấy. Bài báo này bộc lộ hoàn toàn chủ nghĩa thành tích, đầu óc địa vị của anh Cơ… - Có một thực tế là vụ mùa này lúa tốt. Cho phép chúng ta có thể đóng góp cho nhà nước… - Đã mấy năm nay chúng ta dẫn đầu huyện về đóng góp nghĩa vụ lương thực. Chúng ta không thể giảm mức đóng góp với nhà nước. Nhưng cũng chớ nên bốc đồng, phải nghe ngóng xem các hợp tác xã xung quanh. Thiển càng nói càng tỏ ra bất bình. Anh không tiếc lời chỉ trích Cơ và đề nghị phải triệu tập ngay một cuộc họp thường vụ để kiểm điểm động cơ, ý đồ của người cung cấp tư liệu cho anh chàng nhà báo kia. Cho đến lúc Loã, phó chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi ngành nghề phát hiện ra bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi thì ông Điền và Thiển mới bổ chừng ra rằng toàn thể cán bộ chủ chốt Thanh Bình đang đứng trước một tai hoạ lớn. - Thử hỏi xã viên mà biết bà Soi vợ ông Cơ, được đưa lên báo thế này thì chúng ta sẽ ăn nói ra sao? - Loã kéo ông Điền và Thiển vào phòng trong, làm ra vẻ bí mật. - Bà Soi dùng cám phân phối nội bộ cho cán bộ để nuôi lợn. Chuyện này có xã viên phản đối ầm lên làm tôi điêu đứng một phen. Chính ông Cơ, ông Lập đã đề nghị thôi không phát xay kiểu này nữa. Tôi còn lạ gì cái thói đạo đức giả. Ra vẻ như liêm khiết trong sạch. Làm bộ từ chối nhưng lại xui vợ con xí phần. Xin lỗi bác Điền. Trong chuyện này tôi chỉ phục có bác với cô Luyến là liêm khiết mẫu mực. Còn những kẻ đạo đức giả ấy à? Tôi khinh. Nói vô phép ông với bác. Chó nào lại chê cứt. Ấy thế mà bây giờ còn muối mặt đưa ảnh vợ lên báo. Thiển cào bàn tay lên đầu, như muốn bứt từng mảng tóc. - Tôi không hiểu anh Cơ có ý đồ gì. Uy tín của tất cả cán bộ đảng viên Thanh Bình đang bị anh ấy bôi nhọ. Tất cả cán bộ chủ chốt xã, từ đội trưởng sản xuất trở lên, trừ anh Điền, cô Luyến, còn thì đều có nhận thóc xay… …Càng nghĩ, ông Điền càng thấy vấn đề trở nên rắc rối, đáng lo ngại. Được đăng lên báo mà buồn chứ vui gì? Cố nhớ, ông Điền mới mang máng nhận ra tác giả bài báo chính là cái anh chàng mà Cơ săn đón mãi ở hội nghị huy động lương thực của huyện vừa rồi. Cơ trách ông đã cố tình tránh mặt trong bữa liên hoan gặp mặt nhà báo ở phố huyện cũng đúng. Ông vốn ngại, và trong thâm tâm, rất phản đối những bữa liên hoan chè chén có tính chất lạm dụng công quỹ tập thể. Thế nhưng buổi tối ấy ông vắng mặt thì rõ là một sai lầm. Cho nên bây giờ sau khi đã so sánh lại từng số liệu, bài báo đã làm cho ông hoàn toàn bất ngờ. Nó đã phản ánh một cách sai lệch phong trào nông nghiệp Thanh Bình. Giá nói thấp hơn sự thật một chút lại hoá hay. Nhưng đằng này bài báo đã tán dương quá mức, lời lẽ khoa trương, số liệu hư cấu quá xa thực tế. Thói đời người ta ai cũng thích khen. Nhưng khen quá, tán dương một cách sống sượng thì những người có tính tự trọng lại đâm phát ngượng. Suốt từ trưa đến giờ, ông Điền ngượng đến gần như xấu hổ. Giá là một bản báo cáo, đọc chớp chát trước một hội nghị ở tận đâu đâu, người nghe câu được câu chăng cũng khả dĩ còn bỏ qua được. Đằng này từng chữ, từng dòng sờ sờ ra đó, bây giờ đài lại đang đọc oang oang, loa chõ vào từng nhà, xã viên ai cũng biết tỏng cái sự nói phét, người ta vừa nghe vừa cười vào mũi những anh cán bộ. Ông Điền thở dài sườn sượt, đeo kính xem lại bài báo. Rồi ông lấy bút gạch từng số liệu, từng đoạn dài. Những chi tiết sai đầy rẫy từng cột. Rất may là suốt cả bài báo, không thấy nhắc đến tên ông. Vai trò của đảng uỷ mờ nhạt. Nhưng không phải vì thế mà ông giũ trách nhiệm. Là một bí thư đảng uỷ, ông phải chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân về những việc làm của Thanh Bình. Dân có thể tha thứ cán bộ năng lực còn hạn chế, thậm chí yếu kém, nhưng không thể tha thứ sự dối trá, bịa đặt,… Trong nhà, Đạt, cậu con trai thứ hai của ông đang cởi bỏ chiếc áo bộ đội, khoác một chiếc sơ-mi cộc có những đường kẻ ca-rô màu đỏ thẫm. Ngồi ngoài hè, nhưng ông Điền vẫn không bỏ qua một cử chỉ nào của con. Đã hai tháng nay, thỉnh thoảng Đạt lại từ đơn vị tạt về nhà vài ba ngày. Anh chủ động đưa cho ông xem những giấy tờ của đơn vị: khi thì giấy nghỉ phép, khi thì giấy nghỉ điều trị của trám xá trung đoàn. Và lần này có thêm một bệnh án mới: Thuỷ tinh thể bị mờ, nghi viêm giác mạc. Dĩ nhiên ông phải tin. Nhưng vẫn cảm thấy có một cái gì lấn cấn, quanh quẩn. Bộ đội mà sao lại có thể được đơn vị cho về nhà một cách dễ dàng như vậy? Ông nói với Đạt khi anh lẳng lặng châm thuốc, đi ra ngõ: - Tám giờ rồi. Còn chơi bời gì nữa. Ở nhà sửa soạn, nghỉ ngơi để mai lên đơn vị sớm chứ. Thấy giọng nói của bố gay gắt, Đạt có phần hơi ngần ngại. Nhưng liền sau đó anh đã gặp người đến giải thoát kịp thời. - A, chú Cơ, bố cháu có nhà đấy. - Đạt nói như reo, thoáng cái anh đã lẫn vào ánh trăng. Cơ ngồi vào chiếc chõng tre, đối mặt ông Điền, từ giọng nói cho đến nét mặt của anh đều biểu lộ sự hả hê mãn nguyện. - Bộ đội hồi này cũng thoải mái gớm nhỉ? Cứ thấy cậu Đạt về nhà luôn. Khéo mà lại say cô nào ở làng rồi. Bác cũng phải nghĩ đến chuyện lấy vợ cho nó đi. Ông Điền nhíu mày, rồi lại quay nhìn ra ngoài ngõ, nơi Đạt vừa đi khuất. Trăng sáng quá. Giơ tờ báo trước mặt cũng có thể đọc được. Cơ nhắc, ông mới sực nhớ ra. Sắp hai mươi tuổi rồi. Làm sao mà nhốt nó trong cái đêm trăng này được? *** Còn lại hai người, Cơ muốn nhắc ngay đến bài báo, muốn thổ lộ cái niềm vui mà anh cố kìm giữ từ chập tối đến giờ. Nhưng thấy vẻ mặt ông Điền vẫn tự lự, anh lại hơi nghi ngại. - Chiều nay bác tìm tôi? Ông Điền bỏ dở mồi thuốc, cầm tờ báo, đưa cho Cơ. - Hợp tác xã vừa được lên báo. Có cả ảnh của thím ấy đây. - Tôi đọc rồi. Đài cũng vừa phát oang oang, nghe mà sướng cả tai. - Cơ cười không thành tiếng. Từ ánh mắt cho đến vẻ mặt và cả cái động tác gật gù của anh đều toát ra sự mãn nguyện không muốn che giấu. - Đọc báo rồi, nghe đài phát lại càng thấy thú. Phen này mấy anh Vân Xuyên, Tú Nguyệt tha hồ mà tức tối. Cái hay của bài báo là nó sẽ khuyến khích cán bộ, xã viên mình, tạo cho mình cái thế… Chứ bác tính làm được mà không có người nói đến thì… - Tay nhà báo Đặng Hoài là người thế nào nhỉ? - Ông Điền cắt ngang sự hào hứng của Cơ. - Tiếc là cái hôm ở trên huyện bác không gặp anh ấy một tí, thành thử vai trò của đảng uỷ hầu như không được đánh giá đúng mức. - Cơ ngừng lại giữa chừng như để cho ông Điền thấm cái thiệt thòi nuối tiếc. - Hiếm thấy nhà báo nào trẻ, xông xáo, có năng lực như thế. Cứ xem bài anh ta viết thì đủ biết. Văn chương phải thế chứ. Hắn mà viết một câu, bằng chúng mình làm cả năm. Ông Điền đeo kính, vặn to đèn, chìa hẳn tờ báo ra trước mặt Cơ: - Chiều nay, trên trụ sở, chúng tôi đã thảo luận từng điểm. Anh em người ta kêu ca là bài báo thiếu trung thực. Ngay cái con số sáu trăm tấn lương thực nghĩa vụ cả năm đã sai với nghị quyết đại hội xã viên. - Nhưng nó đã được huyện uỷ, uỷ ban huyện thông qua coi như một pháp lệnh. - Cơ bật ngồi thẳng dậy. - Hôm ấy bác cũng họp ở trên huyện. Chắc bác đã nghe ý kiến anh Trần Sinh rồi. - Đành rằng thế. Nhưng xã viên sẽ nghĩ thế nào về chúng ta. Để có thêm hai mươi tấn, ngày công của xã viên mình… - Bác hữu khuynh rồi. Vấn đề ở đây là sự đóng góp, cống hiến, chứ không phải là việc nộp tô… - Chú để tôi nói hết. - Ông Điền cố nói giọng ôn tồn. - Đi vào chi tiết, bài báo có nhiều số liệu quá xa thực tế. Đây, năng suất bình quân hơn bảy tấn thóc một héc-ta. Thực ra chúng ta chưa bao giờ đạt tới con số này. Năm 76, năm được mùa cao nhất, Thanh Bình mới đạt sáu tấn bảy. - Ông Điền với quyển sổ cũ nát giở tìm trang có ghi những số liệu chi chít, chìa ra trước mặt Cơ. - Đây nữa: "Vụ đông năm 77, lần đầu tiên Thanh Bình dám đưa cà chua, khoai tây xuống trồng trên nền đất ướt, và đã thành công. Sản lượng khoai tây đạt trên năm trăm tấn…". Chuyện này có, nhưng thực ra cà chua hoàn toàn bị thất bại. Và sản lượng khoai tây chỉ đạt ba trăm hai nhăm tấn trên hơn năm trăm mẫu. - Ông Điền lại lật giở vài trang sổ tay khác chỉ vào những dãy số. - Riêng các giống lúa mới đưa vào đồng ruộng Thanh Bình, thì năm 77 chưa hề có giống A34, IR80, IR22. Đây là những giống lúa mùa mà chúng ta mới nhập trong vụ mùa này… Bằng ấy những số liệu, đủ thấy rằng bài báo đã cố tình tô vẽ, phóng đại. Họ không trách anh chàng nhà báo mà họ sẽ chửi chúng ta là những kẻ làm láo, báo cáo hay… Mỗi lời nói của ông Điền như gáo nước lạnh giội vào người Cơ, làm tất cả sự hưng phấn của anh xẹp hẳn lại. Anh nhìn cái quyển sổ cũ nát, chi chít những cột, những số liệu mà lúc nào ông Điền cũng nhét trong cái xà-cột đeo bên người, bây giờ đang nằm trước mặt anh kia, và lắc đầu thở dài. Chết cha. Hay là cái lúc uống rượu, mình bốc, nói vống lên những con số? Cơ thầm chột dạ, tự trách mình. Và anh ngồi ngay đơ như một pho tượng gỗ, ngoảnh nhìn ra ngoài ánh trăng. - Chuyện này nghiêm trọng đấy. - Ông Điền vẫn không hút trọn nổi điếu thuốc. Đôi mắt trũng sâu nhìn Cơ thăm dò, như tìm kiếm một giải pháp. - Tay Đặng Hoài thì hắn chẳng cần phải chịu trách nhiệm gì rồi. Chung quy là đảng uỷ, uỷ ban và ban quản trị chúng ta phải chịu. Không có bài báo thì không sao, nhưng vì bài báo, mâu thuẫn nội bộ lại sâu sắc hơn. - Thoáng nghĩ tới gương mặt và thái độ của Thiển và Loã lúc chiều, ông Điền chợt chép miệng lắc đầu. - Bác cứ lo xa. Ai người ta đọc kỹ, phân tích rành rọt từng con số như bác. - Cơ nói để cố an ủi ông Điền. - Vả lại, nếu loại trừ một vài số liệu, một số chi tiết, nếu chỉ xét về tinh thần của bài báo thì những điều phản ánh có gì quá thực tế đâu. Liên tiếp hai năm nay, chúng ta vẫn làm nghĩa vụ vào loại đứng đầu huyện. Hợp tác xã Thanh Bình vẫn là một đơn vị tiên tiến. Riêng vụ mùa này, cứ đi thăm đồng thì đủ biết. Chúng ta không những sẽ đảm bảo đủ sáu trăm tấn lương thực mà ngày công xã viên vụ này sẽ cao hơn hẳn… - Cái kim giấu trong bọc lâu ngày cũng phải thò ra. Chúng ta không che được mắt xã viên đâu. Rồi còn chuyện thím ấy đăng ảnh trên báo. Xã viên người ta thắc mắc là cán bộ chia nhau thóc nhà nước phát xay cho trại chăn nuôi, chắc chú còn nhớ? - Vẻ mặt ông Điền thật khổ sở thiểu não. Ông mệt mỏi toan đứng dậy, rồi lại ngồi xoay người, hai tay buông xuôi xuống đầu gối. Đến bây giờ thì Cơ mới bổ chửng. Chuyện cám bã này thì rầy rà to. Chính mình đã phản đối phương thức phát xay lúa cho cán bộ để nuôi lợn. Mấy đợt đầu mình nhất định từ chối không nhận. Chỉ tại Soi, cái tính tham lam đàn bà… Nghe tay Loã to nhỏ, thiệt hơn, cô ấy cứ dấm dẳn, đá thúng đụng nia rồi đùng đùng đánh xe bò đi chở. Cơ ngồi thừ, cố nén một tiếng thở dài: - Chuyện này quả tình tôi không nghĩ tới. Giá biết anh Đặng Hoài có ý chụp ảnh đăng báo, thì tôi đã can… Nhưng thôi… Bác cứ bình tĩnh… - Bình tĩnh thế nào được. Chúng ta phải có trách nhiệm… Hay là thế này, chú Cơ ạ… - Ông Điền ngồi sát lại gần Cơ, giọng nhỏ lại. - Rồi chúng ta sẽ bàn thêm trong đảng uỷ, nhưng theo tôi thì chúng ta sẽ phải viết một bài đính chính trên báo. Kiểu như một bài tiếp thu phê bình trên báo Đảng. Chúng tôi nhận lỗi do sơ suất trong việc cung cấp số liệu, chi tiết nên bài báo của đồng chí Đặng Hoài có nhiều điểm sai lệch so với thực tế… Cơ bật cười thành tiếng. Anh nhìn vẻ mặt quá thành thật của ông Điền và tự nhiên thấy thương hại. - Bác nghĩ quẩn rồi. Việc gì mình phải đính chính, tiếp thu phê bình. Đây là một bài báo biểu dương ca ngơi. Mà có phải do chúng ta viết đâu. Nhà báo họ muốn viết giời viết đất gì là thuộc quyền của họ. Chúng tôi không biết, có thế thôi. Cơ vê một điếu thuốc, hút đến tụt nõ, thả khói mù mịt rồi đứng lên. Bây giờ thì anh lại thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm như không hề vướng bận một chút gì. - Tôi về đây, bác ạ. Cái chính của chúng mình bây giờ là phải hướng cả ra ngoài đồng kia. Cái tang lúa mùa sớm IR80 chỉ dăm hôm nữa là được gặt. Tay Đặng Hoài có khi nó viết nhầm. Gì chứ năm nay năng suất tám tấn môt héc-ta là cái ăn chắc. *** Buông màn đã lâu mà ông Điền vẫn không sao ngủ được. Cuối thu rồi, nhưng trời vẫn bức bối. Tiếng muỗi kêu vo vo quanh màn, như siết bên tai. Buổi nói chuyện với Cơ tối nay chẳng giúp ông giải thoát những buồn phiền, day dứt trong lòng. Chú ấy tự tin và tự mãn đến mức không thấy hết được những hậu quả tại hại sẽ xảy ra. Rắc rối đấy chứ chẳng chơi. - Ông Điền chép miệng thở dài. Vốn vẫn được coi là lực lượng trung gian hoà giải, ông Điền hiểu rằng thái độ của Cơ ở hội nghị huy động lương thực của huyện, cùng với bài báo sẽ là cái cớ để cánh của Thiển và Loã mở đầu một chiến dịch công kích anh công khai. Thực ra ông đâu muốn thế. Làm bí thư đảng uỷ Thanh Bình liên tục hơn chục năm nay, mong muốn duy nhất của ông là nội bộ đảng viên hãy đem hết sức lực cống hiến cho phong trào địa phương. Chính ông bao giờ cũng tâm niệm điều ấy. Và ông luôn sống, làm việc theo tinh thần ấy. Nhưng thực tế có bao giờ như ông muốn? Hơn hai năm nay, kể từ khi Thanh Bình sát nhập thành hợp tác xã hợp nhất, nội bộ đảng bộ càng có nhiều vấn đề, càng phân biệt bè phái rõ rệt. Nếu không kể Tin, người chủ nhiệm có năng lực và phẩm chất tốt của hợp tác xã Thanh Bình cũ thì Cơ là người ông Điền tin cậy và quý mến hơn cả. Cơ là chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao cũ. Anh trẻ, xông xáo, năng nổ, thích cái mới. Cơ có sự khôn ngoan láu cá, nhưng cũng không thiếu nhiệt tình, say mê và chịu khó tìm tòi, có nhiều biện pháp táo bạo. Chính những ưu điểm nổi bật ấy đã tạo cho Cơ có những uy tín nhất định trong hàng ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân. Anh được xã viên tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã hợp nhất, sau khi Tin bị huyện đẩy đi khu kinh tế mới Lâm Đồng. Cũng chính nhờ cái ưu điểm nổi bật ấy mà ông Điền sẵn sàng bỏ qua cho Cơ cái khuyết điểm tày trời có quan hệ đến cả vận mệnh chính trị và địa vị công tác của anh. Ấy là quan hệ giữa Cơ và Vy ngày anh làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao. Ngày ấy mình mà làm bung ra thì chú mày chết. Nghĩ lại chuyện cũ, ông Điền lại thấy bùi ngùi thương cho Vy. Cái đêm ấy hai bác cháu ngồi dưới mái hiên tam quan đầu sân kho cho tới một giờ sáng. Trăng sáng quá. Mình nhìn rõ đôi mắt sưng mọng của con Vy. Nó cả tin và trong sáng. Chồng đi bộ đội biền biệt. Cũng có lúc buồn phiền, dao động. Con gái hơ hớ, chứ có phải gỗ đá đâu. Mà cái anh chàng Cơ cũng đào hoa ra phết. Công bằng mà nói, con Vy cũng có cảm tình với cậu ta, chứ không phải cậu ta mồi chài, lợi dụng. Mình giải quyết vụ ấy như thế là đúng. Vừa có lý, có tình, giữ lại tiếng cho Vy, bảo đảm chính sách hậu phương quân đội, mà cũng không vùi dập, để phí một cán bộ có năng lực, tâm huyết. Nhược điểm lớn nhất của Cơ là bệnh thích khoa trương thành tích. Ngày còn làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao, đã có lần Cơ bộc lộ căn bệnh này. Nhưng hồi ấy cái anh Thanh Minh nổi quá, lấn át đi tất cả nên thành thử Cơ có thích khoa trương, làm rùm beng lên cũng chẳng ai để ý. Nhưng từ ngày làm chủ nhiệm Thanh Bình, một mình điều hành cai quản ba hợp tác xã thì cái căn bệnh của Cơ mới thực sự có tác dụng. Huyện, rồi tỉnh chú ý. Cơ được Trần Sinh, bí thư huyện uỷ và Quyền, chủ tịch huyện tin cậy. Và Cơ sinh chủ quan, tự mãn. Cái nguy hại là anh quá say sưa thành tích sẽ dẫn tới sự thiếu trung thực, dễ đưa anh đến chỗ cơ hội. Việc bố trí để Đặng Hoài viết báo tuyên truyền, việc tự ý đăng ký với huyện sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ… là dấu hiệu không chối cãi của cái máu chuộng thành tích, thích tiếng tăm… Hỏng! Không giúp Cơ phanh lại thì hỏng. Không chỉ riêng bản thân Cơ, mà là cả một hợp tác xã, cả một phong trào do công sức của toàn đảng bộ, nhân dân Thanh Bình xây dựng… Đã mười hai giờ đêm. Tiếng đồng hồ điểm nhịp như gõ vào trong đầu khiến hai bên thái dương ông đau buốt. Không thể nằm mãi được, ông Điền húng hắng ho, vén màn trở dậy hút thuốc. Trăng ngoài kia càng sáng vằng vặc. Vẫn chưa thấy Đạt về. Nó đi đâu vào giờ này? Khéo mà lại say cô nào ở làng rồi? - Câu nói của Cơ nhắc ông rà lại từng cử chỉ, diễn biến tâm lý của câu con trai suốt hai tháng nay. Không có lý do gì mà một đơn vị quân đội lại quản lý, kỷ luật lỏng lẻo như vậy. Chưa biết chừng nó đi quanh quẩn đâu vài ngày rồi lại lấy cớ về phép hay chữa bệnh. - Nó đang trá hình đóng vai bộ đội để lừa dối mọi người? Ông Điền bỗng hốt hoảng. Vậy thì rầy rà to. Ông vô phúc. Nuôi con đến ngần ấy để cho nó phản lại ông. Đầu ông sôi lên, như có lửa đốt. Rồi ông sực nhớ đến Thái, người bạn chiến đấu cũ. Có gì Thái phải báo cho mình ngay chứ? Ông Điền bỗng thấy bình tâm trở lại. Thực ra ông cũng không ngờ có ngày gặp lại và nhờ vả Thái như thế này. Bạn bè cũ từ những ngày cơm vắt mũ nan, súng mút-cơ-tông, lựu đạn mà dám săn lùng tàu Pháp trên dòng sông Lô, đến giờ còn có mấy người. Thật may, ngày đầu đưa Đạt lên đơn vị mới, vô tình ông gặp lại Thái. Thằng bạn cùng một đơn vị hồi ở Điện Biên Phủ không ngờ bây giờ vẫn còn tại ngũ và lại là thủ trưởng của thằng con ông. "Tôi giao thằng con tôi cho anh. Nhờ anh bảo ban kèm cặp nó. Đối với nó, anh đừng có nuông chiều. Lý ra cháu phải học hết cấp ba. Nhưng nghe chúng bạn, đang học dở lớp chín, cứ nằng nặc đòi đi bộ đội bằng được". Ông Điền đã gửi gắm thằng con bướng bỉnh của mình cho bạn như vậy. Hơn một năm đầu, ông thật hài lòng về Đạt. Đạt tỏ ra tiến bộ và có chí phấn đấu. Thảng hoặc, Thái gửi thư về cho ông và thư nào cũng báo tin cho ông về những tiến bộ của Đạt. Nhưng đã nửa năm nay rồi ông không nhận được thư của Thái. Và Đạt thì lại hay về nhà luôn. Đầu tóc nó thích để dài, thích mặc thường phục và thỉnh thoảng lại kêu ca với mẹ về lối sống gò bó và sự ăn uống kham khổ trên đơn vị. Vặn to ngọn đèn, ông Điền lấy giấy bút ra ngồi vào bàn. "Anh Thái thân mến! Lâu lắm rồi tôi không nhận được thư anh…". Đôi kính trắng loang loáng soi trên trang giấy. Ông Điền chăm chú vào từng dòng chữ đến nỗi Đạt lặng lẽ mở cổng, rón rén chui vào trong màn lúc nào ông cũng không biết. III Đúng như Cơ dự định, bài báo của Đặng Hoài có làm cho một số cán bộ xã viên xì xào bàn tán. Người ta có phàn nàn tí chút về một vài chi tiết thiếu trung thực, hoặc giả có người bất mãn với ban quản trị, hoặc vốn không ưa thói làm láo báo cáo hay thì cũng chỉ đến mức nói đổng: "Ôi dào. Còn lạ gì cái mánh lới tuyên truyền. Có ít xuýt ra nhiều". Nhưng phần đông xã viên khi nghe thấy tên xã mình trên đài lại thấy thích. Tâm lý người đời ai chẳng thích khen. Khen quá đi một chút cũng chẳng hại gì. Huống hồ đây lại là sự khen ngợi hết lời của một tờ báo lớn trung ương, phát oang oang trên làn sóng điện mấy buổi liền cho tất cả bàn dân thiên hạ xa gần cùng biết… Những điều tai hại mà cả Cơ và ông Điền đều đã lường trước và cố ỉm đi, không ngờ hậu quả của nó lại lớn đến như thế. Ấy là chuyện bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi. Người gây ra vụ rắc rối này là ông Trạc. Thực ra cũng là chuyện tình cờ. Xưa nay có bao giờ ông Trạc để ý chuyện báo chí. Văn hoá ông thấp. Chữ nghĩa đủ để viết cái đơn xin mổ lợn, đủ để đọc lá thư thằng con trai gửi từ chiến trường về. Thế thôi. Mà những dịp cần dùng đến vốn chữ nghĩa đối với ông Trạc cũng thật hiếm hoi. Hệt như cái chuyện anh con trai cả của ông đi xây dựng khu kinh tế mới Lâm Đồng về chơi, mua biếu ông chiếc sơ-mi trắng vậy. Ông cất mãi dưới đáy hòm, tết nhất mới mang ra mặc. Xong ba ngay tết lại giặt sạch sẽ cất đi. Nhiều người trong làng vẫn thường lấy ông ra làm mẫu người ví von: Lì xì như ông Trạc. Tham công tiếc việc quá ông Trạc… kể cũng phải. Hơn sáu mươi tuổi, nhưng ông vẫn có sức vóc một lực điền. Đôi vai u nở. Bắp chân, bắp tay cuồn cuộn. Dáng đi lúc nào cũng như chúi về phía trước, vững chãi, lầm lũi. Gương mặt sạm cháy đến mức nắng mưa thế nào cũng không thể nhuộm thẫm hơn được nữa. Trong đội, ngày công của ông bao giờ cũng cao nhất. Ông là thợ cày số một của hợp tác xã, chuyên trị những con trâu dái bướng bỉnh, hay bắt nạt những người non tay, yếu bóng vía. Tóm lại, ông là một nông dân trăm phần trăm từ vóc dáng, cách sống cho đến tính nết. Báo chí, văn nghệ đối với ông cũng xa lạ như một thứ phù phiếm trên đời. Ấy vậy mà khi cái Hạnh, con gái Cơ sang khoe với con Thắm nhà ông về bức ảnh và bài báo viết về kiện tướng chăn nuôi lợn Nguyễn Thị Soi thì ông Trạc bỗng nhiên nổi tính tò mò. Chẳng cần phải đeo kính, ông cũng nhìn rõ bức ảnh to bằng bàn tay chụp Soi đứng bên con lợn lang hồng to bằng cái giậm. Thế này thì quá lắm. Ăn chặn của xã viên, lấy của tập thể làm giàu cho cá nhân mình không đủ ư mà lại còn rêu rao lên báo chí? Ông Trạc bừng bừng nổi giận. Đã bao lần ông cố ngậm bồ hòn, cố làm ngơ đi mà người ta lại cứ cố tình trêu tức ông. Đã thế thì ông làm cho họ trắng mắt, chừa cái thói coi thường xã viên. Ông kể oang oang giữa đồng với bạn thợ cày cái chuyện mấy ông cán bộ chủ chốt xã và hợp tác xã chia nhau thóc của kho lương thực huyện phát xay cho trại chăn nuôi để nấu rượu lậu, nuôi lợn riêng. Xã viên biết tỏng, cố làm ngơ đi. Đã thế lại còn giễu đời, đăng ảnh vợ con lên báo chí thành kiện tướng, anh hùng… Chuyện lan ra khắp đồng. Người ta thi nhau lùng tìm tờ báo, xem ảnh bà kiện tướng nuôi lợn Nguyễn Thị Soi. Thôi thì đủ lời bình luận, cạnh khoé, giễu cợt. Có người còn làm hẳn một bài vè, vần vò câu chữ đến hay. Nhưng rồi sự việc chẳng chịu dừng ở đó. Đảng uỷ, uỷ ban xã liên tiếp nhận được đơn khiếu tố. Có cái nặc danh. Có cái ký hẳn tên thật chẳng cần úp mở. Riêng ông Trạc, người phát hiện ra vụ này lại chơi cao tay hơn. Một buổi chiều, ông mở cái hòm khoá chuông ra, lấy chiếc áo sơ-mi trắng mặc vào, rồi lầm lũi đi lên huyện. Đêm qua tự tay ông viết hẳn một cái đơn kiện. Ông muốn làm cho ra ngô ra khoai. Thời đại dân chủ, chứ đâu phải chế độ phong kiến cường hào trước kia. Không làm ra vụ này, ông chỉ là một thằng hèn. Không ngờ sự việc ở huyện lại diễn ra thật chóng váng khiến ông Trạc rất hài lòng. Chỉ cần thoáng nghe ông nói, đồng chí cán bộ huyện - chắc là cán bộ cấp lãnh đạo cao, có quyền thế, vì cứ nhìn gương mặt vuông chữ điền đỏ hồng, dáng người bệ vệ, đĩnh đạc, lại làm việc trong một căn phòng sang trọng, có bộ ghế xa-lông mây tiếp khách, ông cũng đoán ra - đã niềm nở đưa cả hai tay nhận lá đơn của ông, rồi thận trọng gấp lại, bỏ vào túi ngực. - Thế này nhé. Chúng tôi sẽ nghiên cứu đơn của bác. - Người cán bộ huyện mỉm cười nhìn ông Trạc đấy khích lệ. - Chuyện có thật trăm phần trăm ở hợp tác xã tôi đấy, đồng chí ạ. Xin đồng chí cứ xuống thẩm tra, thực mục sở thị. Nếu sai, tôi cứ đi đầu xuống đất. - Bác cứ yên tâm, về sản xuất. Việc phát huy tinh thần làm chủ tập thể như thế này là rất quý. Thay mặt huyện uỷ, uỷ ban, chúng tôi xin có lời cảm ơn bác. Ông Trạc như mở cờ từng khúc ruột. Có thế chứ. Huyện người ta bao giờ cũng làm việc lịch sự, đàng hoàng. Có đâu lúi xùi quan cách như mấy ông cán bộ xã. Chia tay ra về, ông Trạc vui quá, đến mức quên khuấy việc hỏi tên người cán bộ có tác phong quần chúng cởi mở. Sự khiếm khuyết ấy, sau này ông Trạc cứ trách mình mãi. Thực ra, người nhận đơn của ông Trạc chẳng phải ai xa lạ, chính là Mạch. Lá đơn trong túi áo anh, chỉ hai ngày sau đã nằm gọn trong tay Cơ. - Các cậu làm ăn thế này thì mang tiếng chết. - Mạch chép miệng nhìn Cơ đầy trách móc, nhưng cũng rất độ lượng. - Hôm ấy mình không gặp lão ta thì sự việc đã bung ra khắp huyện rồi. Cơ không ngờ sự việc lại rắc rối, phức tạp đến vậy. Cơ muốn thanh minh với Mạch: - Lỗi này chính là do anh Loã. Anh Loã là người chủ trì, hăng hái nhất trong việc phát thóc xay cho cán bộ xã. - Tay Loã thì mình hiểu rõ quá. Đành rằng với anh em cán bộ, mình cũng nên nghĩ cách bồi dưỡng. Nhưng phải làm kín đáo. Chứ để xã viên họ kêu ca thế này thì không được. Ông Trần Sinh mà biết thì rầy rà to. Mặt Cơ đỏ bừng như người uống rượu. Anh cuộn tròn lá đơn như một thanh đóm, rồi bật lửa. *** Trên đường từ huyện về. Cơ mở hết ga, mặc chiếc Honđa chồm chồm lao qua những ổ gà. Gió siết vào hai bên thái dương buốt nhức. Gió thấm đẫm hương lúa đồng, ào ạt phả vào mặt, nhưng vẫn không thể làm dịu đi cái trán nóng bừng bừng, xâm xấp mồ hôi như người lên cơn sốt. Lá đơn của ông Trạc mà Mạch vừa đưa cho Cơ, thoạt đầu khiến anh choáng váng, bất ngờ và lo lắng. Nhưng rồi mỗi lúc anh càng thấy bực bội. Mình có thù hằn gì với lão Trạc mà lão ta nỡ viết đơn kiện tụng tới huyện? May mà lá đơn chưa đến tay anh Trần Sinh… Mình đốt lá đơn trước mặt Mạch, hớ quá. Nhưng mà ông Mạch tốt. Nếu muốn hại mình thì ông ấy đã đưa lá đơn cho bên kiểm sát rồi. Tự nhiên lão Trạc nghĩ ra cái trò kiện cáo? Nhất định phải có thầy dùi. Ai? Như một thói quen, Cơ điểm mặt tất cả những người trong hàng ngũ cán bộ lâu nay vẫn ngầm kèn cựa mâu thuẫn với anh. Thiển? Loã? Biền? Không đời nào họ vạch áo cho người xem lưng. Vì chính họ sốt sắng đề ra chuyện này cơ mà? Cơ cũng chỉ thoáng nghĩ đến Luyến, em gái ông Trạc đang giữ chức thủ kho và ông Điền, hai người duy nhất không nhận thóc xay. Nhưng Cơ vội gạt đi ngay. Luyến thật thà, trong sáng, và dẫu sao Luyến vẫn chịu ơn mình vì chính mình đã giới thiệu cô ta vào Đảng. Ông Điền là bí thư đảng uỷ, càng phải giữ danh dự cho xã… Rách việc thật. Được đăng lên báo chí rồi mà có được yên đâu. Tất cả chỉ tại cái máu tham lam đàn bà. Nhưng sao mình không kiên quyết cấm Soi nhận thóc. Lập cũng vậy. Cậu ta không thuyết phục nổi vợ. Thói đời, ai chẳng hám lợi. Mình không hám lợi thì mình lại háo danh. Chẳng nên trách Đặng Hoài. Chính mình săn đón, mời mọc anh ta về… Cơ bỗng thấy day dứt, ân hận. Anh bỗng nhận ra trong mình có hai con người xấu tốt thật rạch ròi. Nhưng kìa, thoang thoảng trong gió nghe như có ai đang nói tới một cơn bão. Cơ giảm ga và lắng tai nghe. "…Tin bão khẩn cấp. Cơn bão số chín. Vào hồi một giờ sáng nay, một cơn bão vừa hình thành ở ngoài khơi Thái Bình Dương. Sức gió ở tâm bão tới cấp mười hai…". Tiếng loa truyền thanh từ một nơi nào đó dội xoáy vào tai Cơ. Anh nhìn trời. Vẫn một màu xanh ngăn ngắt của bầu trời tháng chín. Đã quá thu. Những cơn bão lớn đổ bộ vào đồng bằng đã qua rồi. Những ngày hồi hộp, lo âu nhất của người trồng lúa đã qua rồi. Mưa thuận, gió hoà. Chưa năm nào lúa tốt như bây giờ. Chỉ một tuần lễ nữa sẽ bắt đầu mùa gặt. Nghĩ đến những cánh đồng, lòng Cơ dịu lại. Dường như chúng là nguồn an ủi duy nhất, là niềm hi vọng xoá mờ những bận bịu, lo âu. Cơ không tin cơn bão số chín này lại có thể gây những trở ngại cho mùa gặt. Mưa không qua ngọ, gió không qua mùi. Bão muộn cuối thu, quá lắm cũng chỉ như một cơn dông… Không rẽ về nhà, Cơ đi thẳng đến văn phòng ban quản trị. - Anh Cơ! Đài vừa thông báo có bão lớn. - Vừa nhìn thấy Cơ, Lập, trưởng kế hoạch của hợp tác xã đã báo tin ngay. - Anh bố trí kế hoạch phòng chống bão gấp, chứ xem chừng cơn bão này có thể gây thiệt hại lớn cho thu hoạch. - Ông Loã, ông Điền với anh em đâu cả? Cần cho kiểm tra ngay kho lúa giống và số phân lân mới nhập về hôm qua. - Ông Loã với ban cá vừa xuống hồ sen xem lại các cửa cống. Tôi đã cho người chuyển toàn bộ số lân vào kho. Tổ thuỷ nông của ông Sản cũng vừa xuống cống Cửa Giải. Phải cho tháo ngay cống Cửa Giải, anh ạ. Cả cống số Ba, cống Cầu Tào thông ra máng Mười, đề phòng mưa lớn. Cơ bàn với Lập một kế hoạch chống lụt bão. Chốc chốc Lập lại nhìn trời, chép miệng phàn nàn. - Giá anh cứ cho đội Bảy, đội Chín họ thu hoạch sớm hai cánh Đồng Tiên và Con Cá có phải hơn không? Xanh nhà còn hơn già đồng. Tôi đồ cơn bão này sẽ gây ra mưa lớn mất. Cây si trước cầu ao nhà tôi mấy hôm nay cũng đâm rễ. Kinh nghiệm các cụ nói năm nào nhãn sai quả là nước to. Năm nay được mùa nhãn… - Sắp tháng mười rồi, ông ơi. Sợ nhất là ấy cơn bão số sáu, số bảy, số tám thì đã qua rồi… - Hôm nọ đọc một quyển sách, tôi mới biết có môn khoa học chuyên nghiên cứu về sự thích ứng của các loài vật, cây cỏ thiên nhiên trước các hiện tượng thay đổi thời tiết. Ví dụ chuyện rễ si mọc trắng, sẽ báo hiệu có mưa lớn. Hoặc là chuồn chuồn bay cao bay thấp… Cơ sốt ruột. Chuyện ấy để bàn vào lúc khác. Chứ lúc này có ích gì? Mà cậu cũng quá lo xa. Lúa uốn câu hết cả rồi. Nhiều trà ruộng gặt được rồi. Lo gì. Nghĩ vậy, nhưng Cơ không hoàn toàn phản đối ý kiến Lập. Anh phác nhanh một kế hoạch bố trí nhân lực, đề phòng trường hợp mưa bão lớn, có thể gây ngập úng. Trong số những người giúp việc cho ban quản trị, Lập là người được Cơ tin cậy hơn cả. Bởi Lập thông minh, tháo vát, biết cách suy nghĩ làm ăn. Bởi Lập sống có tư cách, thẳng thắn, cầu thị và thực sự có tâm huyết, gắn bó với phong trào. Đang học dở lớp chín, Lập đi thanh niên xung phong. Năm 1968, làm tuyến đường phía tây Quảng Bình, Lập bị bom ép, phải nằm viện gần nửa năm. Người phát hiện ra khả năng của Lập và đưa anh làm trưởng kế hoạch hợp tác xã Thanh Minh chính là Tin. Làm chủ nhiệm hợp nhất, Cơ tiếp tục cử Lập làm trưởng kế hoạch. Và càng ngày Cơ càng thừa nhận khả năng đánh giá, sử dụng người của Tin quả là tinh tường. Hạn chế lớn nhất của Lập là cho đến bây giờ anh vẫn chưa là đảng viên. Tám năm liền là đối tượng của Đảng. Nhiều lần Cơ đã đưa trường hợp Lập ra đề nghị thường vụ đảng uỷ xét kết nạp, nhưng chưa được chấp nhận. Người phản đối mạnh mẽ nhất là Thiển. Lý do chỉ là vì lý lịch Lập nặng căn quá. Bố Lập có một thời gian làm hộ lại hồi Giang Thuỷ là vùng tề. Chú ruột Lập đi Nam từ năm 1954 không rõ lý do và cho đến bây giờ địa phương vẫn chưa xác minh được hiện đang ở đâu, đã chết, mất tích hay đang tham gia một tổ chức bí mật nào? Với một địa phương mà quá khứ mỗi con người còn là tiêu chuẩn hầu như chủ yếu để quyết định đời sống chính trị của họ thì cái lý lịch của Lập thực sự còn là một trở ngại lớn trên bước đường phấn đấu của anh. - Sáng nay mình có tạt qua tổ chức huyện uỷ trình bày thêm về trường hợp của cậu… - Không chủ định, nhưng rồi Cơ vẫn nói ra khi hai người đi sang trạm truyền thanh. Lập yên lặng hồi lâu. Một thoáng buồn hiện trên gương mặt đen cháy, nhưng còn rất trẻ so với tuổi ba tư của anh. Lập biết Cơ đối với anh rất thật lòng. Hình như Cơ hiểu rõ tâm trạng Lập và luôn luôn tìm mọi cách động viên an ủi. Nhưng anh Cơ ơi, một mình anh làm sao xoay chuyển được tình hình. Anh nhớ năm 1966, khi tôi tình nguyện xung phong đi bộ đội, nhưng địa phương nhất định không cho đi vì lý lịch xấu không? Hồi ấy tôi bi quan quá. Giá đợt đi thanh niên xung phong ấy tôi cũng bị gạt nốt thì không hiểu bây giờ tôi sẽ sống thế nào? Tám năm là đối tượng của Đảng, thú thực tôi đã bắt đầu thấy nản lòng, cảm thấy bế tắc trên bước đường phấn đấu. Ít lâu nay, có lúc cái ý nghĩ: hay mình báo cáo với chi bộ, đảng uỷ xin rút khỏi đối tượng, lại chợt đến. Hoàn cảnh gia đình tôi như thế… Vả lại, làm việc với ông Loã, ông Biền đôi khi tôi không giữ được mình, làm các ông ấy thành kiến… Con người tôi như vậy, không thể tròn trịa, không khỏi va chạm… Tôi biết rõ cái tạng của tôi lắm chứ. Thôi, anh đừng vất vả vì tôi. Không được vào Đảng, nhưng tôi vẫn cố làm việc hết mình. Lập nghĩ thầm vậy mà hình như Cơ vẫn đoán ra. - Đừng bi quan chán nản, Lập ạ. Phải kiên trì phấn đấu. Trước sau rồi Đảng cũng đánh giá đúng con người cậu. Đảng đâu phải chỉ là một vài cá nhân quen đánh giá, nhìn nhận con người một cách máy móc, hẹp hòi. Mình còn làm chủ nhiệm, còn trúng thường vụ thì nhất định mình sẽ ủng hộ cậu… - Đang nói, Cơ bỗng dừng đột ngột, mặt nóng bừng. Tự nhiên anh bỗng nhớ đến lá đơn của ông Trạc và cái lúc vô tình anh đốt nó đi… Hai người chia tay nhau. Lập nhảy vội lên xe xuống chỗ đội thuỷ nông. Cơ rẽ vào trạm truyền thanh. Dù tin chắc cơn bão số chín không thể gây thiệt hại lớn, nhưng Cơ vẫn chủ động thông báo cho các đội sản xuất kế hoạch phòng chống. - A lô. Ban quản trị thông báo để các đội sản xuất rõ kế hoạch phòng chống cơn bão số chín. Theo dự báo của khí tượng, cơn bão số chín với cấp gió mười hai đang đổ bộ vào vùng ta. Có thể sẽ có mưa lớn. Phân công cụ thể cho các đội sản xuất và các đội chuyên như sau… Tiếng Cơ truyền đi qua hệ thống loa truyền thanh, khẩn trương dồn dập như một khẩu lệnh. - Anh Cơ ạ, mái nhà kho giống có mấy chỗ ngói hỏng. Mưa xuống sẽ dột hết. Cơ quay xuống đã thấy Luyến đứng sau anh từ lúc nào. Chị đã đợi anh ở đây ngay từ lúc có tin báo bão mà sao cho đến lúc này giọng nói của chị vẫn có vẻ hổn hển khó nhọc như người vừa qua một quãng chạy gằn. - Phải dọi ngay thôi. Chỗ nhà kho phân đạm cũng phải xuất giấy dầu che lại nóc. - Đề nghị anh cho điều người… Cơ mở cặp xé toạc một tờ giấy, ghi vội mấy dòng, rồi đưa cho Luyến. - Cô gặp ông Cản. Ông ấy sẽ điều cho hai ông nam giới. Mặt Luyến thoáng đỏ bừng. Chị chớp mắt nhìn xuống, như sợ Cơ sẽ đọc thấy những ý nghĩ trong mắt mình. Cho tới lúc Luyến đã bước đi, Cơ mới chợt nhận ra rằng, hình như ở chị có một điều gì khang khác. Ít lâu nay sao Luyến có vẻ lảng tránh anh. Những lúc cần kíp phải gặp thì bao giờ chị cũng vội vã ngần ngại. Có điều gì đã xảy ra với cô gái thủ kho vốn nổi tiếng liêm khiết và trong sạch này? Mà sao cô ấy có vẻ đẫy ra, giọng nói khó nhọc và cái ức cứ lên xuống thở thoi thóp? Cơ thoáng một chút nghi ngờ. Nhưng rồi anh cũng chẳng có thời gian để mà suy nghĩ tiếp. Một chiếc phong bì có dấu thượng khẩn đỏ chói đặt trước bàn làm việc như hút lấy mắt anh. Giấy mời họp. Cơ lướt nhanh qua những dòng chữ. Đến chỗ chữ ký ngoằn ngoèo như một con giun bò trên cái dấu son tròn và cái tên Đào Hữu Thiển cuối cùng thì đôi mày anh bỗng nhíu lại, đầy vẻ khó chịu. *** Tại văn phòng đảng uỷ xã đã có mặt hầu hết các uỷ viên thường vụ. Ông Điền, bí thư đảng uỷ, Thiển, phó bí thư thường trực phụ trách tổ chức, Tấn, phó bí thư, chủ tịch uỷ ban nhân dân xã và chị Ngần, phó chủ tịch, phụ trách nội chính. Chỉ còn thiếu một mình Cơ. Thiển sốt ruột xem đồng hồ. Đã hai giờ mười phút. Mọi người chờ Cơ vừa đúng nửa tiếng. - Hay chúng ta cứ họp thôi. - Ông Điền nhìn mọi người, rụt rè đề nghị. Đôi mắt nhỏ và dài của Thiển chợt ánh lên cái nhìn sửng sốt. Ông Điền không thấy cái nhìn ấy. Và cũng không thấy Thiển đưa mắt về phía Tấn và Ngần lắc đầu chán nản: - Sao lại họp? Nếu không có đồng chí Cơ thì chúng ta cũng chẳng cần phải có cuộc họp này. - Ta nên thay đổi lại chương trình một chút. Phần có liên quan đến đồng chí Cơ tạm gác lại, lúc khác. Phải bàn gấp biện pháp chỉ đạo thu hoạch vụ mùa. Vì đây là một vấn đề cấp bách, có liên quan đến việc thực hiện chỉ thị của huyện uỷ về công tác huy động lương thực… Như có vật gì chặn ngang cổ họng Thiển. Anh cố ghìm nó lại bằng cách rít hõm má chiếc điếu cày cho nó kêu rong róc vang khắp gian phòng. Mồi thuốc đã tàn, anh vẫn châm tiếp lửa. Cho đến lúc những cuộn khói đặc quánh bị dồn nén quá mức, không chịu đựng nổi nữa, chúng phải tìm cách thoát ra. Một cơn ho dài sặc sụa làm mặt Thiển đỏ tía, nước mắt ướt trào hai khoé. Hay giữa ông Điền và Cơ đã có sự thông đồng móc nối? Cơ đến muộn hay đã được báo trước để trốn họp? - Một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu Thiển. Thiển đưa đôi mắt còn mờ khói thuốc lướt qua ông Điền như để thăm dò, kiểm tra lại sự phán đoán của mình. Bản tính lừng chừng dè dặt không quyết đoán của ông Điền, dĩ nhiên cả đảng bộ ai cũng biết. Nó là chỗ yếu nhất của ông, xét về phẩm chất đảng viên. Nhưng nó cũng lại là chỗ mạnh nhất của ông, xét về khả năng tập hợp lực lượng, dung hoà những mâu thuẫn giữa hai nhóm cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng mạnh nhất và uý tín lớn nhất trong xã. Là một phó bí thư đảng uỷ phụ trách tổ chức, Thiển biết rõ những điều đó. Anh không ngần ngại tự thú nhận với mình rằng, về đại thể, trong đảng bộ Thanh Bình hiện tồn tại ba nhóm lớn. Và, người đứng đầu ba nhóm ấy là Cơ, Thiển, và ông Điền. Mỗi nhóm cán bộ đảng viên tuỳ theo chính kiến, quan hệ công tác, quyền lợi vật chất và tinh thần, quan hệ gia đình, dòng họ mà hình thành. Dĩ nhiên nhóm của ông Điền sẽ là nhóm dung hoà, là nhóm đệm của hai nhóm kia. Nói như vậy không có nghĩa là đảng bộ Thanh Bình yếu kém, mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Thiển nghĩ thế và bao giờ phản ánh lên cấp trên, cả anh và Cơ cũng đều nhất trí với nhau như vậy. Đấu tranh là một quy luật xã hội, là động lực thúc đẩy xã hội tiến lên. Bài học ấy Thiển đã giành điểm cao trong kỳ kiểm tra lớp chính trị tại chức tại trường đảng huyện. Chính vì vậy mà anh kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa của Cơ, mà biểu hiện rõ rệt nhất là việc tự ý nhận chỉ tiêu huy động lương thực của Thanh Bình cao hơn kế hoạch đã được đảng uỷ thông qua. Và nguy hại hơn nữa là tự ý tuyên truyền cho vợ rùm beng trên báo chí, làm tổn hại đến uy tín cán bộ đảng viên trong xã. Lòng đầy tự tin, như người đang nắm giữ trong tay mình chân lý, Thiển mở cặp lấy ra tờ báo và những lá đơn của xã viên Thanh Bình khiếu tố về Cơ, đặt lên bàn. - Tôi đề nghị chúng ta tiếp tục đợi. - Thiển chìa những lá đơn cho Tấn và Ngần. - Quần chúng xã viên đang xôn xao lên về chuyện cán bộ đảng viên chia nhau xôi thịt, rồi lại tự phong vợ con mình chức kiện tướng… Có tiếng xe máy nổ giòn ngoài đường. Mọi người nhìn ra và cùng reo lên: - Kia rồi. Cơ bước vào phòng, mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt đỏ chín: - Cơn bão số chín chiều nay sẽ đổ bộ vào vùng mình. Các anh nên hoãn họp để tập trung cứu lúa… Chẳng có ai sửng sốt trước cái tin khẩn cấp và vẻ bồn chồn, lo lắng của Cơ. Ông Điền đưa mắt nhìn Cơ, rồi lại nhìn Thiển. - Ta cũng nên họp ngắn thôi… Thiển nhếch miệng cười: - Bão rớt tháng chín. Lo gì. Nào, chúng ta bắt đầu. *** Cuộc họp kéo dài hai tiếng đồng hồ. Nói đúng hơn thì đó là cuộc đối chất tay đôi mà người buộc tội, chất vấn là Thiển và người thanh minh, bào chữa là Cơ. Nhóm trung gian ở cuộc họp này bây giờ không chỉ mình ông Điền mà thêm cả Tấn và Ngần. Có lúc họ như những người thừa. Im lặng để không tỏ thái độ gì, hoặc là khẽ gật đầu, khẽ đưa ánh mắt để tỏ sự đồng tình với người này hoặc người kia. Chứng cớ để Thiển buộc tội và chỉ trích Cơ chính là bài báo của Đặng Hoài, bức ảnh kiện tướng chăn nuôi Nguyễn Thị Soi và những lá đơn kiện của xã viên gửi cho đảng uỷ và uỷ ban nhân dân xã. Mới đầu Cơ còn ngồi im lặng, bởi một phần tâm trí anh còn rối bời lên vì cơn bão. Cho đến lúc bước vào phòng họp thì anh không còn chủ quan như khi vừa nghe tin thông báo đầu tiên về cơn bão nữa. Cái ráng vàng lựng ở chân trời phía tây, không khí đột ngột oi nồng đến cực độ và giọng cô phát thanh viên cứ năm phút lại phát dồn dập trên đài làm anh lo lắng thật sự. Rõ ràng anh đang ở cái thế cưỡi hổ. Sáu trăm tấn nghĩa vụ có đạt được hay không sẽ tuỳ thuộc vào cơn bão cuối mùa này. Nhưng rồi Cơ bỗng giật thót người. Những lá đơn của xã viên là đòn bất ngờ đầu tiên. Cơ không ngờ, cùng với lá đơn của ông Trạc gửi lên huyện, nhiều xã viên đã viết đơn lên xã. Anh tự trách mình, thanh minh với các đồng chí là do sơ suất đáng tiếc, do hoàn toàn bị động bởi Đặng Hoài nên mới có bức ảnh và những dòng chú thích tai hại kia. Nhưng Thiển đâu có chịu buông tha. Anh chỉ trích gay gắt thái độ coi thường đảng uỷ của Cơ. Những thành tích trong phong trào nông nghiệp của Thanh Bình là do sự lãnh đạo của đảng uỷ, vậy mà Cơ cố tình lờ đi không nhắc đến. Cơ có ý đồ rõ rệt trong việc đưa vợ lên báo, chạy theo thành tích, có động cơ cá nhân trong việc tự ý nhận chỉ tiêu sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ… Đến lúc này thì Cơ không thể chịu được. Anh đứng bật dậy: - Thử hỏi trong cán bộ chúng ta, ngoài anh Điền và cô Luyến, có ai không nhận thóc phát xay của lương thực? Có phải chỉ riêng gia đình tôi móc ngoặc với kho lương thực không? Trong việc này, người đề xuất đầu tiên và tích cực nhất là đồng chĩ Loã, chứ không phải tôi. Mặc dầu vậy, tôi vẫn thấy mình có khuyết điểm chính. Tôi đề nghị cả ban quản trị, cả đảng bộ chúng ta cùng phải nghiêm khắc kiểm điểm vấn đề này. Chúng ta nấp dưới danh nghĩa tạo điều kiện bồi dưỡng động viên cán bộ đảng viên để lấy tiêu chuẩn của tập thể phân phối cho một vài cá nhân. Việc làm này rõ ràng sai nguyên tắc. Không phải bây giờ xã viên mới khiếu tố, thắc mác mà họ đã xì xầm phản đối từ lâu rồi. Tôi đề nghị chúng ta cần nhận khuyết điểm trước xã viên và xoá bỏ hình thức phân phối này… Bên ngoài trời bỗng nhiên chuyển gió. Một đợt gió lạnh thổi ập vào phòng làm bật tung cánh cửa. Rồi đất trời tối sầm lại. Và những giọt mưa đầu tiên lộp bộp rơi trên mái ngói. Cơ bỗng dừng lại đột ngột, chạy ra ngoài hiên. Cơn nóng bừng bừng trong đầu bỗng xìu đi và anh rã rời buông hai tay. Mưa xối xả. Gió giật ầm ầm các cánh cửa, táp nước qua kẽ ngói, cuốn tung những lá đơn, những tờ báo trên bàn. - Hàng ngàn mẫu lúa ngoài đồng có thể sẽ mất trắng, nếu chúng ta cứ ngồi đây cãi vã nhau. - Cơ nói như quát vào tai Thiển và nhìn anh bằng một ánh nhìn giận dữ, rồi bỗng lao ra chỗ chiếc Honđa. Tiếng động cơ rồ lên. Chiếc xe chồm chồm rẽ nước, ngật ngưỡng được một quãng, rồi bỗng chết lịm giữa đường. VI Mưa xối xả suốt hai ngày đêm. Bầu trời ướt sũng màu xám chì. Từng tảng mây mọng nước lừng lững đùn lên từ chân trời phía đông, phút chốc kéo kín trên đầu. Lại sầm sập một đợt mưa mới. Mưa trắng trời trắng đất. Nước từ các ngõ xóm chảy tràn xuống các rãnh, ào ạt tuôn ra đồng như suối. Những cánh đồng hôm qua, hôm kia còn vàng hanh, lúa sin sít ken dày, hôm nay nước đã dềnh lên đến cổ bông. Ở những khu ruộng trũng, nước ngập phẳng băng, trắng xoá. Nước bao bọc quanh làng áp sát vào các chân tre. Đứng trên những gò cao nhìn về làng chỉ thấy làng chơi vơi giữa nước như một hòn đảo nổi. Tiếng trống, tiếng kẻng dồn dập từng hồi ba tiếng, nghe não nuột. Dọc các đường bờ vùng, người dải đen đặc, dốc sức cứu những cánh lúa chưa ngập. Đàn ông xoay trần ngụp lặn dưới nước, xắn từng hòn đất tôn cao bờ. Đàn bà từng đôi một kéo gầu dai thì thòm. Những chiếc gầu dai lâu lắm không được dùng đến giờ được chằng vá lại, trở thành công cụ duy nhất cứu lúa. Đâu đó giữa đám đông, nổi lên tiếng máy bơm uể oải và nhẫn nại. Nước từ những cánh đồng cao đổ sang những cánh đồng thấp hơn. Nước tràn lên đến đâu be bờ tới đó. Bơm mãi, tát mãi mà mực nước vẫn không hề giảm sút. Nước ở ngoài đồng dần cao hơn nước ở trong đồng. Cuộc vật lộn giữa nước với người dai dẳng và quyết liệt. Nếu khoong chịu rút, nhưng người cũng không chịu bó tay. Vô tư nhất vẫn là bọn trẻ con trong làng. Hình như mưa càng to chúng càng thích thú. Chúng vác nơm, vác chũm, vác giậm chạy nhông nhông khắp các bờ mương. Cá từ các ao hợp tác ùa ra khắp đồng. Những chú cá trắm cỏ nặng ba bốn ki-lô giãy oằn oặt giữa rốn chũm, trong tiếng reo hò ầm ĩ của bọn trẻ. Ngao ngán và buồn bã, người già nhìn trời, nhìn đồng thở dài thườn thượt. Mấy mươi năm bây giờ mới thấy một trận mưa bão trái mùa tai ác thế này. Của chắc ăn đến miệng rồi mà trời định cướp không. Cay cú nhất là những gia đình khá giả. Cách đây vài ngày, tưởng mùa màng bội thu, còn mấy tạ thóc trong bồ vét vơi bán vội mong kiếm ít tiền đầu mùa đong thóc dữ trữ. Đầu tháng bốn trăm đồng một tạ lúa. Giữa tháng sụt xuống ba trăm rưởi. Rồi ba trăm hai, ba trăm. Nhà ông Trạc, nhà bà Lành, nhà đội trưởng Cản bán liền một lúc năm tạ lúa, lấy tiền mua xe đạp, đóng giường tủ. Nhà ông Năm Ngũ, nhà bà Tèo gọi người cho vay vội thóc chiêm để sau gặt lấy thóc mùa. Đùng một cái, chỉ trong hai ngày, giá lúa tăng vọt. Từ ba trăm rưởi, vụt lên sáu trăm rồi sáu trăm rưởi. Con buôn ngoài tận thị xã kéo nhau kìn kìn về mua lúa. Chợ vắng tanh teo. Chỉ có cá là rẻ. Trên trời, dưới cá. Mấy bà hàng cá ngày thường chi li từng con tép mại, bây giờ cũng phóng khoáng tới mức sẵn sàng thêm cho một con mè lưỡi hái. Không khí lo lắng bao trùm khắp làng. Người ta đồn nhau rằng, đê Hoàng Long, và đập chắn nước hồ núi Cốc bị vỡ. Ở đâu đó, mạn Ninh Bình, nhà cửa trôi từng làng. Có cả một số trẻ con, người già bị chết đuối. Máy bay trực thăng phải thả bành mì, thuốc men và thang dây, cứu người bị nạn. Ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt còn khủng khiếp hơn nữa. Nước dềnh lên ngập mái nhà. Nhiều người giữa đêm đang ngủ bỗng thấy lạnh ướt lưng, mở mắt vùng dậy khỏi giường, chân đã buông thõng xuống nước, phải dỡ mái nhà chui lên. Cái đói như treo lơ lửng trên đầu mọi người. Lác đác có những người mẫn cảm, lường hết được những khó khăn, đói kém trước mắt đã rủ nhau ngược tàu lên tận Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên mua sắn. Sức người không cứu nổi những cánh đồng thì trước hết phải tự lo cứu mình. Cái triết lý của người nông dân bao giờ cũng đơn giản nhưng lại thực tế vô cùng. *** Người lo lắng đến mất ăn mất ngủ vì đợt mưa bão này là chủ nhiệm Cơ. Mới có ba ngày mà Cơ gầy rộc đi, mặt hốc hác, râu ria đâm tua tủa. Dường như giữa anh chủ nhiệm quần áo chải chuốt cưỡi xe Honđa xanh rì rì trên đường nhựa, hay trịnh trọng móc trong cặp chiếc kính trắng đeo lên mắt, tay giở soàn soạt một bản báo cáo dày, với một anh chủ nhiệm Cơ quần xắn móng lợn, mũ cối chụp đầu, tất tả chống úng lụt bây giờ, hoàn toàn khác hắn nhau. Nhìn chủ nhiệm, ai cũng bảo: - Tất cả đều như chủ nhiệm Cơ thì xã viên không đến nỗi đói. Họ đánh giá đúng Cơ, ít ra là trong những ngày này. Đã ba đêm rồi, anh hầu như thức trắng. Nửa đêm mới lặn lội từ một đoạn đê quai xung yếu, một trạm bơm giữa đồng về. Thay vội bộ quần áo ướt sũng, nhai uể oải lưng cơm nguội, đặt lưng chạm giường đã lại nghe tiếng mưa trút như rót dầu. Chưa bao giờ nghe tiếng mưa Cơ lại thấy xót, não ruột đến như vậy. Không phải tiếng từng giọt mưa thánh thót hay ào ào mưa từng đợt. Dường như cả một khối nước từ trên cao đổ ập xuống, liên tục, xối xả không ngừng như có một bàn tay quái ác nào dốc một khối nước khổng lồ qua một cái phễu đại. Và Cơ đang nằm dưới đáy chiếc chai vô hình đựng thứ nước đó. - Việc gì bố nó phải ôm rơm cho rặm bụng. Mất thì cả thiên hạ cùng chịu, chứ tội gì đêm hôm lặn lội cho nó khổ cái thân. - Soi đôi lúc cằn nhằn với chồng khi chị nhìn thấy anh ngồi uể oải trước mâm cơm, nhai bã mà không nuốt nổi. Cơ đưa mắt nhìn vợ, cái nhìn đầy thương hại đối với một người mà tầm suy nghĩ quá nông cạn. Đúng là cái cách nghĩ đàn bà. Cô hiểu thế nào được. Cứu lúa lúc này không chỉ là chuyện lo lắng đến từng bồ thóc của xã viên mà còn là lối thoát duy nhất của chồng cô đấy. Uy tín, danh dự, quyền lợi cũng ở đấy. Sáu trăm tấn nghĩa vụ lương thực cả năm chứ có phải chuyện thường. Nó có sức hấp dẫn, khơi gợi mọi thứ danh hiệu choáng ngợp, nhưng mà nó cũng là quả tạ vô hình lúc nào cũng đè nặng trĩu trong đầu. Năm ngày qua, tôi lo lắng, hồi hộp, mất ăn mất ngủ vì nó. Leo cau đến buồng rồi mà còn bị ngã, có đau không? Vấn đề không phải do phong trào Thanh Bình yếu kém, không đạt năng suất sản lượng dự tính. Chỉ có mình tôi mới hiểu được cái bí ẩn của con số sáu trăm kia thôi. Nó chính là cái mốc ghi nhận một giai đoạn phát triển mới của Thanh Bình, là nấc thang quyết định cho Thanh Bình bứt khỏi danh sách hàng huyện để vươn lên hàng tỉnh. Và riêng đối với chồng cô, cô có biết không, con số sáu trăm ấy sẽ khẳng định tôi, tạo cho tôi một uy tín, một thế đứng mới, mở con đường thoáng rộng đi xa mãi… Cơ rất muốn tâm sự với người bạn đời của anh những ý nghĩ thầm kín ấy. Nhưng anh chỉ chán nản thở dài. Ích gì. Cô ấy làm sao mà hiểu nổi mình. Thế là hỏng hết cả. Cái ánh hào quang ấy đã tắt lụi, những đám mây bị gió đánh tơi tả cứ đùn lên từ chân trời phía đông giăng mắc khắp bầu trời, không hề hé mở một khoảng sáng hi vọng. Nghĩ mà buồn thay cho Cơ. So với Tin, Cơ quả là người không may. Tin đưa hợp tác xã Thanh Minh lên thành ngọn cờ đầu toàn tỉnh trong hoàn cảnh một hợp tác xã nhỏ, lao động, ruộng đất ít, dễ quản lý. Vả lại, suốt mấy năm ấy, mưa thuận gió hoà. Công bằng mà nói, so với Cơ và Loã, Tin có năng lực, có đầu óc tổ chức, uy tín với xã viên hơn. Nhược điểm lớn nhất của Tin là quá thẳng thắn, dứt khoát, không biết cách lấy lòng cấp huyện. Vì những lẽ đó, sau khi hợp nhất ba hợp tác xã Thanh Cao, Thanh Giang, Thanh Minh, huyện đã khéo léo nhấc Tin ra khỏi chân chủ nhiệm hợp tác xã, với danh nghĩa đề bạt làm phó ban xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Đồng. Tất nhiên trong việc đề bạt Tin ấy, Cơ đã đóng góp một vai trò tích cực. Ba năm qua, Cơ phải cáng đáng một công việc quá sức mình. Đâu phải lúc nào ba anh thợ giày cúng thành một Gia Cát Lượng? So với Thanh Minh, Thanh Cao, Thanh Giang cũng chỉ suýt soát trứng gà trứng vịt. Ba con hổ nhốt chung một chuồng. Hợp tác xã Thanh Bình thực chất cũng chỉ là một phép tính cộng đơn giản, chứ không phải một phép nhân. Cộng ruộng đất, cộng lao động, cộng vật tư, tài sản… Riêng về năng lực tổ chức quản lý thì không thay đổi. Nói cho đúng, quy mô hợp tác xã lớn hơn mà trình độ cán bộ quản lý vẫn có vậy tức là đã xuất hiện một phép trừ. Và, có một phép cộng này, trong các văn bản báo cáo hay những phát biểu chính thức tại hội nghị, người ta đều cố né tránh không đả động đến nhưng đó là một thực tế không phải chỉ ở riêng Thanh Bình và trong nhiều hợp tác xã khác: đó là phép cộng những bè phái, những mâu thuẫn từ các hợp tác xã nhỏ sát nhập. Tin đã đi khỏi Thanh Bình, nhưng còn Loã, còn Thiển và tất cả ba "bộ xậu" của ba hợp tác xã cũ. Ở nông thôn, mối quan hệ gia tộc, thôn xóm vẫn còn nguyên vẹn cái sức mạnh như thời hỗn mang nguyên thuỷ. Nó bất chấp cả những nguyên tắc, lợi ích tập thể… Bằng sự linh cảm và nhạy bén vốn có, Cơ biết rằng Thiển và Loã, đã tạo được thời cơ để phản kích anh khi anh quá sa đà vào con số sáu trăm tấn lương thực, và vô tình để Đặng Hoài cho bức ảnh Soi lên báo. Trận mưa bão này họ sẽ vỗ tay trong bụng. Nhất định họ sẽ không buông tha anh khi anh không cứu nổi lúa. Cơ đang ở cái thế cưỡi hổ, không còn cách nào khác được. Anh dốc hết sức mình cứu lúa, với hi vọng lúa sẽ cứu mình. *** Chiếc xe com-măng-ca đầy bùn đất và ướt sũng như vừa chui dưới sông lên đột ngột rẽ ngoặt từ đường nhựa đâm thẳng vào con đường trục dọc xã Thanh Bình. Ngồi trên xe, ở hàng ghế trên là bí thư huyện uỷ Trần Sinh. Ở hàng ghế dưới là Toại, thường vụ huyện uỷ, trưởng ban nông nghiệp huyện và hai cán bộ đốc chiến trong chiến trường chống úng lụt. Suốt đêm qua, họ đã đi dọc bốn xã ven đê sông Đáy kiểm tra hệ thống đê kè, ra những chỉ thị cần thiết đảm bảo bằng mọi giá giữ vững những đoạn đê xung yếu. Bây giờ, người nào người ấy đã thấm mệt. Hai cán bộ đốc chiến ngồi dựa vào nhau, ngủ vật vờ. Riêng Trần Sinh có vẻ tỉnh táo hơn cả. Vừng trán hơi bóng nhẫy và cồn lên những nếp nhăn lớn mỗi khi ông nhìn ra những cánh đồng ngập nước phơ phất những ngọn lúa vật vờ. Gần đến trụ sở uỷ ban xã thì xe bị sa lầy. Vòng bánh xe quay tít, vốc từng nắm bùn hất ngược lên. Một toán trẻ con đang đứng rình úp cá vỗ tay reo ầm ĩ chế nhạo. Trần Sinh mở cửa xe nhảy đại xuống, hô lũ trẻ: - Đẩy giúp một tay, các cháu. Đám trẻ con, người lớn bu quanh chiếc xe đen đặc. Như có một sức mạnh vô hình nào đó từ dưới đất hút chặt lấy, khiến hai bánh xe không thể nhích lên nổi. Trần Sinh bực bội khoát tay, nói với người lái xe: - Phải vào làng mượn ván và mượn thêm người. Bọn mình chịu khó lội bộ vậy. Hai tiếng nữa sẽ quay lại. Trụ sở uỷ ban xã Thanh Bình vắng tanh teo. Sang văn phòng ban quản trị hợp tác xã, Sinh gặp Loã đang hi húi ngồi ghi chép trước bàn làm việc. - Tình hình cứu lúa ra sao mà đồng chí lại ngồi ở đây? Nghe câu hỏi của Trần Sinh, Loã bối rối gấp giấy tờ sổ sách lại. - Báo cáo anh, thực hiện chỉ thị của huyện uỷ, tất cả cán bộ hợp tác xã đã ra đồng cứu lúa. - Các anh đã thống kê được số diện tích lúa bị mất chưa? - Dạ, báo cáo anh, cái đó thì phải hỏi anh Cơ ạ. Tôi chỉ phụ trách chăn nuôi ngành nghề… Nhưng tình hình này, con số sáu trăm tấn lúa huyện giao khó lòng mà thực hiện được… - Bây giờ còn nhắc đến sáu trăm tấn làm gì. Chỉ mong nhà nước không phải trợ cấp cho Thanh Bình là may. - Trần Sinh cười, nửa chua xót, nửa giễu cợt, móc túi lấy đồng hồ. - Thôi, anh đi thông báo cho toàn thể thường vụ đảng uỷ và ban quản trị hợp tác xã đến đây ta hội ý một chút. Chúng tôi chỉ ghé qua Thanh Bình hơn một tiếng đồng hồ. *** Trong lúc chờ đợi, Toại xắn quần, mặc áo mưa, lội tắt con mương sau làng đi thăm đồng. Là một cán bộ trực tiếp chỉ đạo nông nghiệp, việc gắn bó với những cánh đồng, sâu sát với những người nông dân đối với anh không chỉ là một trách nhiệm mà thực tế còn là một nhu cầu tình cảm. Anh vốn sinh ra từ một làng đồng chiêm phía nam huyện. Kỷ niệm của một thời thơ ấu đi chăn trâu cắt cỏ, kéo chũm, đánh giậm cùng bọn trẻ trong làng đôi khi vẫn hiện về, tươi rói trong ký ức. Nhiều người cho rằng Toại là một trong số ít người gặp may trong cuộc đời. Tốt nghiệp phổ thông, đi học trung cấp nông nghiệp, về công tác ở hợp tác xã, năm năm sau được cử đi học đại học kinh tế kế hoạch, rồi về công tác ở phòng nông nghiệp huyện. Do trình độ và năng lực, và cũng do cơ cấu cán bộ, chỉ hai năm sau Toại đã trúng cử huyện uỷ viên, rồi thường vụ huyện uỷ, phụ trách nông nghiệp. Có thể nói, bước đường hoạn lộ của Toại thênh thang, nhẹ nhàng. Anh không cầm súng một ngày, không trải qua bom đạn khốc liệt, chỉ bằng con đường học vấn, từ một anh học sinh nông thôn, mười lăm năm sau đã bước thẳng lên chiếc ghế thường vụ huyện uỷ. Đó là theo cách nhìn nhận của những người nặng về quan niệm quá khứ, lý lịch. Thực ra Toại hoàn toàn xứng đáng với cương vị mà anh đang đảm nhiệm. Phong trào nông nghiệp ba năm qua của Thanh Bình có những bước tiến đáng kể, một phần có công sức đóng góp của Toại. Đã đến đoạn đường nước tràn. Một tốp xã viên trong đó có ông Trạc, mình trần trùng trục, đang hụp lặn dưới ruộng dùng mai đào mò. Thoạt nhìn, tưởng mấy ông lực điền đang rủ nhau tắm. Nước sóng sánh ngang ngực, đánh oàm oạp vào cổ vào cằm họ. Không thấy cán mai. Người thủ mai chỉ khẽ lắc đôi bờ vai trên mặt nước. Chốc chốc, một người trong nhóm lại ngửa cổ hít một hơi dài, rồi ngụp hẳn xuống nước, mất hút. Nước bùn, bong bóng sủi lên ùng ục. Rồi cái người vừa ngụp đầu nhô lên, đưa lên mặt nước một tảng đất vuông vức, nục nạc như một tảng bánh khổng lồ. Cứ thế, đoạn đường ngập được tôn cao dần. - Xin chào các bác. Nghỉ giải lao đã, các bác ơi. Thái độ niềm nở và vồn vã của Toại, ngay từ phút đầu đã làm thân được với những người xã viên. Họ lục tục bước lên bờ, tìm một mô đất cao ngồi xoay lưng chắn gió hút thuốc lào. - Có thuốc Tam Đảo đây, mời các bạn. - Toại chìa bao thuốc cho mấy cậu thanh niên choai, rồi sà xuống vê một điếu thuốc lào, xăm xắn hỏi chuyện mấy ông lực điền. Anh vốn không nghiện thuốc lào, nhưng hễ xuống đồng, có dịp gặp mấy ông thợ cày, thờ bừa là anh lại hút. Điếu thuốc, miếng trầu là đầu câu chuyện. Toại thấm thía câu ngạn ngữ xưa và cố tạo cho mình sự hoà đồng với mọi người. - Chú ở trên huyện về công tác phỏng? Hôm nọ tôi mới gửi một lá đơn lên huyện, không hiểu các vị ấy đã giải quyết đến đâu rồi. - Ông Trạc nâng ống điếu, hóp miệng hít một hơi dài, vừa thở khói mù mịt vừa hỏi Toại. - Đơn về việc gì thế bác? Bác đưa cho ai? - Ấy, về cái chuyện mấy ông cán bộ xã lấy cám bã tiêu chuẩn của trại chăn nuôi chia nhau nuôi lợn riêng, rồi lại bày vẽ tuyên truyền trên báo. - Ôi dào. Kiện cáo làm gì cho mệt. - Một người dáng nhỏ choắt có vết sẹo dài bên má bĩu miệng vẻ chế nhạo. - Đơn từ ở cái hợp tác này thì cứ gọi là hàng bồ. Mang tiếng là hợp tác xã tiên tiến mà xã viên một năm vẫn thiếu ăn vài tháng. - Ông nói quá. - Người có hàng ria mép chen ngang. - Đội ta vụ vừa rồi có ai thiếu ăn nào? Ăn đói, ăn cháo thì có… - Thì mẹ con Phèo đấy thôi. Một nách tám đứa con. Thằng chồng lại dở hơi… - Vì thằng chồng dở hơi, có nuôi con hộ thằng khác nên mới đói. Hớ hớ… - Ừ, thì cứ cho là chưa ai đói. Nhưng nói nghiêm chỉnh ra thì tiên tiến như hợp tác chúng tôi là chưa được. - Vẫn người nhỏ bé nói. - Bảy tấn cũng vậy mà ba tấn cũng thế. Cán bộ suốt ngày quần là áo lượt, vác xe chạy rống trên đường. Còn chúng tôi đấy, bác xem có cái quần cái áo nào lành? - Vừa nói ông vừa dang tay chìa cho Toại xem cái áo có những miếng vá chồng lên, răn rúm vì nước mưa và mồ hôi. Động tác của ông ta quá mạnh đến nỗi một vết sờn bị kéo căng làm rách toạc một vết từ bả vai tới nách. Cả toán người cùng cười hơ hớ. Người ngồi cạnh thuận tay kéo luôn một đường làm chiếc áo xẻ dọc làm hai mảnh. - Công việc của bọn ta suốt ngày dầu dãi, quần áo nào chịu nổi. Nói cán bộ thì cũng tuỳ người. Đợt chống úng này ông chủ nhiệm Cơ cũng lo lăng quan tâm ra phết đấy chứ? - Cũng chạy theo thành tích cả thôi. Đã trót hứa với huyện thì phải cố. Tôi còn lạ gì. - Ông Trạc nhổ một bãi nước bọt, xoa hai tay vào nhau, rồi quay sang Toại. - Nghe nói ở hợp tác tôi, các ông ban quản trị định gặt tập trung cả các đội về rồi chia hoà cả làng. Như thế có đúng không? Tôi thì tôi nhất quyết không chịu. Đội tôi thuộc loại có xướng đồng cao nhất hợp tác, chúng tôi mất không đáng kể. Nhưng ở dưới kia có đội mất trắng. Kể ra cũng bất hợp lý thật. Nhưng mấy năm trước đây họ cân rưỡi một công mà chúng tôi chỉ tám lạng thì sao? Toại chưa kịp trả lời, dáng người nhỏ bé đã chen: - Còn chuyện này nữa, xin hỏi bác. Tình hình này, liệu Thanh Bình chúng tôi có phải nộp sáu trăm tấn nữa không? - Cái đó còn tuỳ vào số diện tích bị mất. Các bác tính hợp tác xã ta mất độ mấy trăm mẫu? - Nhiều đấy. Cũng phải tới hai phần ba. - Làm gì đến. Ngót nghét hai trăm mẫu thôi. Toàn chân ruộng tốt. - Giá cứ cấy béng cái lúa cây cao như ngày xưa thì mưa này thấm tháp gì? - Ấy đấy, giống lúa mới có cái lợi nhưng lại có cái hại. Mưa hai mươi phân nước đã ngập. Giống lúa cây cao tuy năng suất thấp, nhưng đã cấy là ăn chắc. Chưa chủ động được thuỷ lợi mà cứ ép cấy toàn lúa thấp cây là hỏng. Nói chuyện với những người xã viên chỉ dăm mười phút mà cái vốn hiểu biết về hợp tác xã Thanh Bình của Toại giàu lên rất nhiều. Bao nhiêu vấn đề đặt ra ở nông thôn đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải suy nghĩ, giải đáp: Những tấm áo sờn rách của người nông dân; vấn đề năng lực và phẩm chất của cán bộ; việc bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp… Tất cả những cái đó, cùng với đợt mưa xối xả ập xuống trên đường về làm cho Toại cảm thấy toàn thân gai lạnh, cảm thấy một nỗi buồn đến day dứt cứ thấm dần cơ thể, níu kéo bước chân mỗi lúc một thêm trĩu nặng. *** Nửa giờ sau, những cán bộ chủ chốt của Thanh Bình đã đến gần đủ mặt. Riêng chủ nhiệm Cơ, Loã đã cho người đi tìm khắp các xứ đồng mà không thấy. - Đang giữa chiến dịch chống úng mà chủ nhiệm lại bỏ đi mất tích. Tôi không hiểu các đồng chí làm ăn thế nào? - Trần Sinh không giấu nổi sự bực bội, nét mặt khó đăm đăm. Mặc dù vốn sẵn có cảm tình và sự ưu ái đối với Cơ, nhưng trong trường hợp này, ông cũng không thể tha thứ. - Sau đợt này, chúng ta sẽ có cuộc họp để đánh giá tình hình và kiểm điểm ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên. Bây giờ xin các đồng chí cho làm việc. Cuộc gặp gỡ giữa bí thư huyện uỷ Trần Sinh và cán bộ chủ chốt Thanh Bình chỉ xoay quanh hai vấn đề chính: Tình hình thiệt hại do cơn bão số chín gây ra và nhiệm vụ cấp bách của các hợp tác xã trong những ngày tới. Vẫn giọng hùng biện và nét mặt đầy vẻ quan trọng, Trần Sinh nói: - Chắc các đồng chí còn nhớ hội nghị huy động lương thực và bàn cách thu hoạch vụ mùa của huyện cách đây ít ngày? Bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu dự định của chúng ta chỉ trong ba ngày đã tiêu tan đi hết. Lần đầu tiên huyện Giang Thuỷ chúng ta dám đưa ra một con số kỷ lục: Mười lăm nghìn tấn lương thực nghĩa vụ cho nhà nước. Vậy mà ông trời quái ác đã phá bỏ. Quyết tâm và nỗ lực của chúng ta rất lớn nhưng thiên nhiên khắc nghiệt luôn luôn là thế lực trở ngại phá huỷ biết bao thành quả lao động. Không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã sáng tạo ra câu chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh đầy chất bi hùng truyền mãi đến bây giờ. Châu thổ sông Hồng, nơi chúng ta đang sống, lao động và chiến đấu, hàng nghìn năm qua đã anh dũng gian khổ đấu tranh với thiên nhiên như vậy đó. Riêng đợt mưa lớn này, gần một trăm năm nay mới gặp lại. Ròng rã ba ngày qua, trời xuống đồng bốn trăm mi-li-mét nước. Hầu hết các trạm bơm điện trong huyện đều không hoạt động được vì nước tràn ngập ổ máy, nước ngoài sông lớn hơn nước trong đồng. Phải chôn nước tại chỗ chứ không còn cách nào tiêu úng. Phải hi sinh những cánh đồng trũng để cứu lúa những cánh đồng cao. Có một vấn đề đang đặt ra cho đảng bộ và nhân dân xã Thanh Bình. Nói đúng hơn đó là thử thách đòi hỏi phải dám hi sinh… Những gương mặt mệt mỏi và phờ phạc cùng hướng cả về phía Trần Sinh chờ đợi. Có việc gì hệ trọng sẽ xảy ra? Không khí trong phòng bỗng lặng hẳn đi trong tiếng mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Trần Sinh vuốt những sợi tóc vón ướt loà nhoà trước trán. Như thói quen, ông muốn tìm gặp một đôi mắt quen thuộc mà mỗi lần ông sắp sửa đưa ra một quyết định mới mẻ táo bạo thì đôi mắt ấy lại sáng rực lên như sẵn sàng đón đợi, hưởng ứng. Đôi mắt ấy đã không phụ lòng tin cậy của ông khi ông đưa ra con số chỉ tiêu mười lăm nghìn tấn lương thực cách đây mấy ngày. Nhưng bây giờ đôi mắt ấy đâu? Trần Sinh đột ngột thở dài, chắp hai tay sau lưng quay đi một vòng. - Vì quyền lợi chung của huyện, thường vụ huyện uỷ đã quyết định bằng mọi giá phải cứu cho được diện tích lúa của mười tám xã vùng cao phía bắc huyện. Chúng tôi dự định ba xã phía nam đường Sáu Tư sẽ đành phải dùng làm nơi chứa nước, trong đó có khoảng năm mươi héc-ta của Thanh Bình. - Trần Sinh lướt nhìn khắp các gương mặt cán bộ như để thăm dò, đánh giá sức chịu đựng của từng người. - Nói riêng với các đồng chí điều này. Tỉnh uỷ vừa điện cho biết, nếu tình hình nguy cấp quá, chúng ta buộc phải phá đập tràn để xả nước cứu năm huyện phía bắc tỉnh. Toại nhanh nhẹn mở túi ni-lông lấy ra một tấm bản đồ giơ lên trước mặt. Anh vắn tắt trình bày tình hình úng lụt chung toàn huyện, những trọng điểm lúa của huyện cần tập trung cứu để tạo cơ sở giống cho vụ sau. Bí thư Điền hết nhìn Thiển lại nhìn Loã, nhìn Tấn, rồi lại nhìn ra con đường xa hút nhạt nhoà trong mưa như tìm kiếm chờ đợi một ai đó. Thiển ngồi lặng, đôi mắt xếch vừa mở trừng trừng giờ hơi khép lại vừa để trốn cái nhìn của Trần Sinh, vừa làm vẻ đăm chiêu như đang suy nghĩ. Loã khẽ đưa đôi mắt nhỏ về phía Thiển. Ban nãy khi Trần Sinh hé mở cái khả năng nhà nước sẽ trợ cấp cho hợp tác xã, Loã đã thầm phác tính một kế hoạch. Đằng nào Cơ cũng được giải thoát khỏi cái thế cưỡi hổ, vì lúa bị ngập nhiều quá, huyện nhất định sẽ xoá bỏ chỉ tiêu sản lượng đã giao cho các hợp tác xã. Nhân cơ hội này, chỉ cần khai tăng số diện tích bị ngật úng để xin trợ cấp của nhà nước là sẽ cứu Thanh Bình qua khỏi một vụ đói. Một con tính vụt loé lên trong đầu Loã: Nếu cộng năm mươi héc-ta nữa, Thanh Bình cũng chỉ mất khoảng bốn mươi phần trăm diện tích lúa. Nếu nhà nước trợ cấp thêm, với sáu mươi phần trăm diện tích còn lại, Thanh Bình sẽ rủng rỉnh lúa ăn cho đến tháng năm… Loã ghé tai nói nhỏ với ông Điền và Thiển: - Đồng chí bí thư đã chỉ thị, chúng ta phải chấp hành. Có điều là cần phải hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của huyện… - Vấn đề hệ trọng đấy. Ta nên đợi anh Cơ về hội ý giải quyết. - Ông Điền tỏ ý phân vân. - Chắc anh Cơ cũng sẽ đồng ý với cách giải quyết của chúng ta. Chỉ cần thường vụ các bác hết sức ủng hộ. - Đôi mắt nhỏ của Loã chợt ánh lên những tia nhìn khôn ngoan và láu lỉnh. Rồi anh đột ngột đứng dậy. - Báo cáo đồng chí bí thư. Đồng chí chủ nhiệm của chúng tôi đi vắng, nhưng thay mặt ban quản trị, chúng tôi đã xin ý kiến của thường vụ đảng uỷ, chính quyền và xin nhất trí chấp hành chỉ thị của huyện uỷ. Chỉ có điều là năm mươi héc-ta lúa phía nam đường Sáu Tư thuộc diện tốt nhất xã. Chúng tôi đang tập trung toàn bộ nhân lực và huy động máy bơm để cứu… - Huyện sẽ chịu trách nhiệm về năm mươi héc-ta này. Sự hi sinh bao giờ cũng được đền bù xứng đáng. - Giọng Trần Sinh đanh gọn. Ông chống bàn tay to rộng xuống mặt bàn và đu người về phía trước với một vẻ hết sức tự tin và quyết tâm. - Báo cao anh. - Loã nở một nụ cười dè dặt và ngập ngừng. - Nếu tính cả năm mươi héc-ta sắp tới thì đợt này Thanh Bình sẽ mất trắng khoảng bảy mươi phần trăm diện tích. - Bao nhiêu? Bảy mươi phần trăm à? - Toại tròn xoe mắt nhìn Loã đầy nghi ngờ. Nhưng Loã đâu có phải là một anh chàng yếu bóng vía. Nhìn vẻ mệt mỏi thoáng hiện lên trong mắt Trần Sinh, những cái ngáp dài cố giấu sau bàn tay to rộng thỉnh thoảng lại đưa lên miệng của ông, Loã biết rằng Trần Sinh đang bị làm một công việc quá sức mà ông không muốn. - Chúng tôi chưa tính toán cụ thể, nhưng ước chừng xấp xỉ tỉ lệ ấy. Nhân có các anh xuống, xin mời các anh đi thăm đồng… - Thôi, tạm biết như vậy. Chúng ta cứ ghi nhận con số bảy mươi phần trăm của các anh ấy. - Trần Sinh sốt ruột nhìn đồng hồ. - Thời gian ghé qua Thanh Bình như vậy là quá nhiều rồi. Ta về thôi, anh Toại ạ. *** Chiếc com-măng-ca đã được một tốp xã viên đi chống úng về hò nhau lót rơm, ván đẩy qua chỗ lầy, giờ đang đứng đợi chỗ ngã ba đầu làng. Cho tới lúc Trần Sinh đã lên xe, ông mới chợt nhìn thấy một người mặc áo mưa bạt, đội sùm sụp chiếc mũ cối, gò lưng đạp xe trên con đường về làng. Chiếc xe đạp bê bết bùn đất như đứng chựng lại không thể đi nổi vì gió thổi thốc ngược muốn hất cả người và xe xuống ruộng. Nghe tiếng Trần Sinh gọi, Cơ mới ngẩng lên và nhận ra đồng chí bí thư huyện uỷ. Trần Sinh sững sờ: ông không thể nhận ra vì gương mặt tái mét, nhợt nhạt vì nước, đôi mắt to sâu hõm như vừa qua một trận ốm. - Tôi sang Vân Xuyên điều đình xin vay mấy chục cân dầu chạy máy bơm. - Cơ vừa đưa tay vuốt mặt cho nước rơi hết vừa nói hổn hển trong gió. - Phải cứu tiếp mấy cánh lúa phía nam đường Sáu Tư, anh ạ. Giống lúa nông nghiệp tám gặp xướng ngấu tốt quá. Chúng tôi ước tính mấy cánh ấy phải đến hai tạ một sào. Trần Sinh đã hiểu ra sự vắng mặt của chủ nhiệm Cơ vừa rồi. Ông nắm bàn tay to ráp của người chủ nhiệm đầy năng nổ, nhiệt tình mà lòng cứ dâng lên một niềm xúc động, yêu mến vô hạn. Phải chi tất cả các chủ nhiệm của ba mươi xã trong huyện đều có những phẩm chất đáng quý như anh chủ nhiệm Thanh Bình này. Ông vốn thích những mẫu người nhiệt tình, xả thân, đầy tinh thần vượt khó đi tới. Cơ chính là mẫu người ông muốn đào tạo, xây dựng. Chà, cái số cậu cũng thật long đong vất vả. - Trần Sinh nghĩ thầm. - Cái bài báo của tay Đặng Hoài ấy có tiếng vang lắm. Chỉ hơn tuần sau đã có hàng chục công văn từ các huyện, các tỉnh bạn gửi đến yêu cầu được đến tham quan học tập kinh nghiệm Thanh Bình. Mình cũng đang mát mặt. Tưởng đợt này uy tín của huyện sẽ lên như diều. Mà đúng là thế đấy. Nếu không có trận bão tai ác này thì Thanh Bình của cậu cũng chẳng kém gì Vũ Thắng, Định Công,… - Nhân dân cũng đề nghị anh nói giúp với trạm máy kéo ưu tiên cho Thanh Bình một chiếc máy kéo để lắp ống bơm trực tiếp, cứu gấp mấy cánh đồng rìa làng… - Cái đó thì có thể được. Nhưng số ruộng phía nam đường Sáu Tư thì thôi không phải cứu nữa. Chúng mình vừa họp bàn với tất cả cán bộ chủ chốt Thanh Bình rồi. - Trần Sinh vắn tắt kể lại cuộc họp vừa rồi cho Cơ và nắm bàn tay anh rung mãi. - Vậy là mất một cơ hội đáng tiếc. Không có ông trời quái ác thì nhất định chúng mình sẽ làm nên chuyện, có phải không? Trần sinh nhìn Cơ, rồi nhìn Toại, bật cười hà hà. Suốt ba ngày qua, lần đầu tiên ông cười một cách sảng khoái và vô tư như vậy. V Cơn bão số chín vừa dứt thì lại tiếp ngay cơn bão số mười. Những trà lúa thoi thóp, đến cơn bão này thì ngập lụt hẳn, không còn cứu nổi. Ba xã phía nam đường Sáu Tư, trong đó có năm mươi héc-ta của hợp tác xã Thanh Bình, đành phải dùng làm nơi huyện khoanh vùng chôn nước để cứu lúa mười tám xã phía bắc. Không biết nạn hồng thuỷ trong các câu chuyện cổ ghê gớm đến mức nào, chứ các cụ già trong làng thì đều quả quyết rằng từ hồi vỡ đê Đông Lao năm Ất Dậu chưa bao giờ thấy nước gây thiệt hại khủng khiếp như bây giờ. Cơn bão số mười kéo dài suốt ba ngày. Sang ngày thứ tư, mưa đã tạm dứt từng đợt dài. Buổi chiều, bầu trời như đẩy lên cao hơn, mây giãn ra, hé mở những khoảng xanh, cao hun hút. Và nắng. Những tia nắng hiếm hoi chợt loé lên. Vàng óng màu sáp chảy. Cánh đồng như rộng hơn, mênh mông nước bạc, chen kẽ từng mảng hoe vàng, xanh mờ của lúa. Những con sẻ đồng bấy lâu ẩn náu ở một nơi nào đó giờ ríu rít bay ra, xập xoà chao lượn trên đồng, rồi kéo nhau sà vào rặng phi lao bên đường làm những giọt mưa óng ánh màu cườm rơi bay lả tả. Ánh nắng làm sáng bừng gương mặt những người đi cứu lúa. Trong từng đôi mắt đã bớt đi những lo âu, đã lấp lánh những tia hi vọng. Trong đoàn người đi cứu lúa trở về làng, Luyến cũng đang chia sẻ niềm vui ấy. Trao lại chiếc gầu dây cho Thắm, chị chia tay đám thanh niên, đi rẽ về phía dãy nhà kho trước mặt. - Cô Luyến ơi, chốc nữa vào ăn cơm với cháu. Thằng Thiết ban trưa vừa kéo chũm được con trắm to ơi là to. - Thắm như chợt nhớ ra, gọi với theo. - Cô no lắm. Bảo nhà cứ ăn cơm đi. Luyến nói vậy chứ thực ra chị đang đói run cả người. Đã ba năm nay, từ khi hợp tác xếp cho Luyến một gian chái ngay đầu nhà kho, đối với gia đình ông Trạc, chị có phần khách sáo. Nào ai bắt Luyến phải đối xử với gia đình anh trai như vậy. Ông Trạc vốn ít nói, nhưng thương em gái rất mực. Bố mẹ sinh tám lần, nhưng chỉ còn lại người anh cả và cô em út. Hai nhăm tuổi, ông Trạc đã phải làm lụng nuôi em. Chính vì thế mà ông càng thương Luyến. Bà Trạc thì tính lại hiền như đất. Ngót ba mươi năm sống với chị dâu, nhưng Luyến chưa bao giờ biết cảnh chị dâu em chồng. Nhưng cuộc đời éo le thay. Hơn ba mươi tuổi, Luyến vẫn là một cô gái chưa chồng. Chẳng phải Luyến xấu xí khuyết tật. Cũng chẳng phải tính nết Luyến đần đụt hay đỏng đảnh trai lơ gì. Tuổi mười tám Luyến cũng mơn mởn tươi tắn như hết thảy mọi cô gái đang tuổi dậy thì. Đôi má lúc nào cũng mịn đỏ hồng. Đôi mắt đen láy, rừng rực một ánh nhìn như có lửa. Luyến không đẹp. Gương mặt tròn bầu bĩnh không có một nét nào làm người ta phải đột ngột chú ý hay ngây ngất, trầm trồ. Nhưng tất cả, từ dáng người chắc khoẻ, đôi bờ vai tròn, bộ ngực nở căng cho đến gương mặt phúc hậu hiền lành đều toát lên nét khoẻ khoắn, duyên dáng ưa nhìn. Cái tuổi đẹp đẽ nhất của đời con gái, lần đầu tiên đời Luyến đã dự cảm trước một tình yêu. Người con trai ấy, mãi mãi còn lưu lại hình ảnh trong tâm trí Luyến không thể phai mờ. Bây giờ, mỗi lần gặp Vy, Luyến lại sững sờ như chợt gặp lại anh đâu đó. Cũng sống mũi dọc dừa và đôi môi lúc nào cũng tủm tỉm như cười. Hai anh em sao có những nét giống nhau kỳ lạ. Nói đúng ra thì đó chưa hẳn là một tình yêu theo ý nghĩa đầy đủ của nó. Mà đó mới là nỗi khát vọng, một tình yêu thầm kín cố nén giữ bởi cả hai cùng quá e thẹn, dè dặt. Chính vì thế mà nó càng cháy bỏng, da diết và luôn khát khao vươn tới. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, nỗi ân hận nuối tiếc lớn nhất của Luyến là đã để tuột khỏi tầm tay khi tình yêu vừa chín tới. Nhiều khi Luyến tự xỉ vả mình, tự lên án cái sự dè dặt giả dối ấy. Anh dút dát e sợ đã đành, nhưng còn Luyến? Cả cái hôm tiễn anh lên đường, khi đoàn xe chở tân binh vừa chuyển bánh, Luyến cũng không dám nói cái điều ấy ra. Tệ nhất là Luyến chỉ yên lặng hờ hững như những người đưa tiễn bình thường để rồi khi xe đi khuất, Luyến đã vội đưa khăn tay chấm mắt, lòng day dứt, giằng xé một nỗi nuối tiếc, hối hận. Luyến nuôi hi vọng mười năm trời. Giống như một cánh chim mong manh bay trên biển cả. Mặt trời chiếu chan hoà. Sóng và gió. Rồi mưa bay và bão tố. Nhưng cánh chim vẫn kiên nhẫn đập. Bởi nó tin phía trước nhất định sẽ có một vòm cây đột ngột nhô ra từ một bờ đá. Mười năm chỉ có bốn lá thư của anh. Những dòng chữ cũng mộc mạc, hiền lành như con người anh vậy. Anh bảo nếu không nhầm thì anh đã nhìn thấy trong đôi mắt Luyến cái điều mà anh hằng khao khát. Nhầm gì nữa? Đúng là nó đấy. Đúng là cái gửi vụng trao thầm của tình yêu đấy. Luyến đã viết bao nhiêu lá thư cốt để giải thích thanh minh với anh cái điều ấy, mà sao anh vẫn không hề nhận được? Mười năm sống trong khắc khoải và chờ đợi. Tuổi con gái qua đi để lại những nếp nhăn nhỏ bên khoé mắt, bóc đi làn da trứng gà và thay vào đó những nốt tàn nhang, những vệt rám cháy trên đôi gò má. Trong làng, Luyến thuộc loại nhỡ thì. Có một vài đám bắn tin mai mối. Toàn những người đàn ông lỡ dở, gà trống nuôi con. Ông Trạc mấy lần ép buộc. Nhưng Luyến đâu có chịu. Luyến vẫn mong manh hi vọng. Cánh chim đã đập rã rời, nhưng qua làn sương trước mặt, nó vẫn cố tưởng tượng ra một dải đất xanh mờ. Thế rồi điều khủng khiếp ấy đã đến. Anh đã hi sinh ở chiến trường năm 1972. Khi kịp nhận ra cái giá đắt phải trả trong mười năm thì Luyến đã ba mươi tuổi. "Gái ba mươi tuổi…". Luyến rùng mình nuốt nước mắt thầm mỗi khi chợt nhớ đến câu ca ấy. Thôi đành ở vậy. Không phải Luyến muốn như thế mà cuộc đời buộc Luyến phải quyết định như thế. Luyến xin với ông bà Trạc ra ở riêng đầu chái nhà kho, nơi đã tám năm nay hợp tác xã tin cậy giao cho Luyến coi giữ. Sống một mình, nỗi cô đơn như nhân lên gấp nhiều lần. Luyến trở nên lặng lẽ, âm thầm và đôi khi khó tính. Nhiều người có dịp ra kho giao lĩnh thóc thường nói với nhau: - Hợp tác khéo chọn cô Luyến làm thủ kho. Chi li đong đếm từng cân một. Đố hòng lấy được của hợp tác một hột thóc. Họ kêu ca về cái tính chặt chẽ nguyên tắc của Luyến. Nhưng không ai phàn nàn về thái độ phục vụ, càng tịnh không có dư luận gì về thái độ mập mờ, ám muội. Luyến thẳng thắn liêm khiết, nhưng rất kiên quyết những khi cần thiết. Giữa kế toán trưởng Biền và Luyến thì đúng như là mặt trăng với mặt trời. Mấy lần Luyến phát hiện ra Biền viết phiếu xuất kho cho một người nào đó tới lần thứ hai hoặc những phiếu xuất kho tẩy xoá lèm nhèm… và chị đề nghị lập biên bản, làm cho ra ngô ra khoai, khiến Biền uất ức mà không làm cách nào được. Có người thương Luyến, khuyên chị nên xin một đứa con nuôi. "Cái duyên số mình đã vậy. Cũng phải nghĩ đến khi trái nắng trở trời hay cái lúc về già. Người đàn bà cô quả, không biết nuôi con là có tội với trời phật". - Các bà già nói với Luyến như thế. Những đêm nằm một mình trong ngôi nhà vắng lạnh, những lúc vành trăng nghiêng nhìn ngoài song cửa, những chiều mưa dầm rỉ rả, những sáng mùa xuân ngan ngát mùi hoa xoan hoa bưởi đầu nhà… Luyến lại nuốt nước mắt thở dài. Luyến cảm thấy mình chưa qua đời con gái, chưa sống một đời con gái. Xin một đứa trẻ về nuôi ư? Làm sao mà lấp nổi khoảng trống trải thiếu hụt của đời người bằng một tình cảm vay mượn mà mình vốn không có? Có một ý nghĩ thoáng qua trong đầu Luyến và rồi cứ đan xen, len lỏi trong tâm tưởng khiến nhiều lần Luyến phải tự xỉ vả, nguyền rủa mình và vẫn không dứt nổi. Ấy là một tối trăng non sau cái buổi chiều một mình hì hụi quét dọn, sắp xếp lại trong cái kho thóc nóng hầm hập đầy bụi lúa. Đắm mình dưới làn nước ao trong vắt, Luyến tưởng toàn cơ thể mình có thể hoà tan trong nước. Cái vành trăng kì cục. Cứ như một con mắt tinh nghịch và ranh mãnh, chốc chốc lại ló khói đám mây bông, nhòm thẳng vào Luyến. Luyến chợt nhìn xuống da thịt mình. Và Luyến không tin cái ánh nuột nà mơm mởn này là của chính Luyến. Ồ, tại sao mình lại không có quyền có một đứa con. Một câu hỏi bật lên, nhức nhối, xót xa mà trải suốt bao nhiêu đêm ròng, lúc thì Luyến cố xoá đi, lúc Luyến chủ động đối diện với nó mà vẫn không sao giải đáp nổi. Còn bây giờ? Lại một lần Luyến đứng ngắm da thịt mình, sau một ngày đội mưa tát nước ngoài đồng úng. Cái câu hỏi quái ác trong đêm trăng non ấy, lâu rồi không còn vò xé dằn vặt Luyến nữa. Lòng hoàn toàn yên tĩnh và thanh thản, như hết thảy mọi người đàn bà mãn nguyện về sự hoàn hảo của mình. Luyến khẽ đặt bàn tay xoa lên phần bụng hơi căng nở và vục gáo nước dội nhẹ từ bờ vai cho làn nước trong mát chảy tràn khắp cơ thể. Trời ập tối rất mau. Dường như không có hoàng hôn, bởi chân trời phía đông kia, một tảng mây xám nặng bỗng đùn lên, và phút chốc bầu trời lại thấp tè, sẩm tối lại. Luyến thay quần áo, rồi bật diêm châm đèn. Ánh sáng ngọn đèn dầu vàng đục soi rõ căn phòng nhỏ đủ kê gọn chiếc giường một, chiếc tủ đứng bằng gỗ mộc, bộ bàn ghế do một bàn tay thợ vụng về đóng bằng nhiều loại gỗ khác nhau. Trên tường, có thêm mấy tờ tranh cắt ra từ mấy cuốn hoạ báo, một khung ảnh lồng kính, và sát cửa ra vào dựng chiếc xe đạp nữ đã cũ. Của nả, gia tài của Luyến chỉ có vậy, giống như căn phòng độc thân của một nữ cán bộ cơ quan. Như đã trở thành một tâm điểm, căn phòng của Luyến bao giờ cũng là nơi đông vui nhất làng. Tối tối Thắm thường rủ bạn bè ra hát hò tán gẫu hoặc tỉ tê kể cho nhau nghe về một chàng trai nào đó, có đêm vui quá, các cô cùng ngủ lại. Những đợt có cán bộ nữ từ tỉnh từ huyện về công tác tại xã, căn phòng của Luyến cũng là nơi các cô các chị thích ở nhất. Ra ở riêng, Luyến thấy thoải mái, tự do hơn hồi còn ở chung với anh chị và các cháu. Nhưng có những đêm Luyến buồn. Như đêm nay. Ăn qua quýt một bát cơm nguội, Luyến đóng cửa, vặn nhỏ đèn và thu xếp chăn màn đi ngủ sớm. Đã thành một nếp quen thuộc, Luyến đặt nhẹ tay lên bụng và lại thầm trò chuyện với một cái gì còn rất mơ hồ, nhưng Luyến vẫn cảm nhận được qua từng biến đổi rất nhỏ yếu ớt truyền qua lòng bàn tay mình. Một nỗi xao xuyến bồi hồi giống như hết thảy tâm trạng của những người đàn bà lần đầu tiên biết mình sắp được làm mẹ. Một thoáng lo vụt hiện qua khi chợt nghĩ tới kỳ sinh nở, khi nghĩ đến những điều hết sức vơ vẩn có thể xảy đến… Luyến cũng phải trải qua những trạng thái tâm lý phổ biến ấy. Nhưng trùm lên tất cả vẫn là một nỗi lo lắng sợ hãi đến thắt lòng. Sẽ nói với mọi người ra sao khi câu chuyện vỡ lở. Làm sao mà dám nhìn mặt anh chị Trạc? Biết nói với chi bộ, với hợp tác xã thế nào? Và còn hắn ta? Mình có nhẫn tâm phá vỡ hạnh phúc của một người vợ với năm đứa trẻ kia không. Bao nhiêu câu hỏi cứ sâu xoáy trong đầu Luyến. Không phải riêng đêm nay mà nhiều đêm rồi, kể từ lúc Luyến biết mình sắp được làm mẹ. Ngoài trời bắt đầu mưa. Và gió. Gió vật vã xoáy vặn những bụi tre, rung lên những tiếng hú, tiếng kêu kẽo kẹt. Gió quạt những tàu lá chuối phành phạch như những bàn tay chát chúa đập vào đầu hồi. Gió bão ngoài kia và gió bão trong lòng Luyến. Luyến chợt nghĩ tới một cô Thị Mầu mà Luyến đã có lần chế giễu trong cái đêm xem chèo mười năm về trước. Luyến không phải là một Thị Mầu. Luyến không có tội. Nhưng Luyến là một đảng viên. Luyến không thể bôi nhọ danh dự của cả một tổ chức. Quần chúng sẽ đánh giá chi bộ, đảng bộ như thế nào? Luyến vùng trở dậy vặn to đèn. Đã từ ba tháng nay rồi, mình không còn xứng đáng là một đảng viên nữa. - Luyến nghĩ vậy và chị mở tủ tìm giấy bút. Mình không thể nấn ná mãi. Đằng nào thì cũng phải báo cáo với chi bộ. Ngày mai mình sẽ gặp bác Điền trình bày hết mọi chuyện. Mình chịu chấp nhận mọi hình thức kỷ luật cao nhất chứ không thể sống lừa dối. *** Cũng lúc ấy, ở cuối xóm Đình, một bóng đen trùm kín trong chiếc áo mưa bạt lặng lẽ đội mưa từ trong lối ngõ nhà Cản đi ra. Làng xóm dường như đã ngủ say. Cả những con chó hay sủa vống mọi đêm giờ này cũng im thin thít. Mưa xình xịch đã xoá đi tiếng chân người và bóng đêm dày đặc khiến chúng không nhìn thấy gì hết. Biết chắc không ai nhìn rõ mình, Cản xăm xăm nhằm thẳng hướng nhà kho đi tới. Suốt buổi chiều nay, Cản sống trong nỗi thấp thỏm đợi chờ. Chưa bao giờ Cản thấy thời gian đi chậm chạp đến thế. Có lúc lòng Cản cồn lên nỗi khao khát đến cháy bỏng. Có lúc thắt lại một nỗi lo sợ vớ vẩn. Cô ấy nói ra, mình sẽ mất tất cả. Chi bộ sẽ khai trừ. Hợp tác xã sẽ cắt chức đội trưởng. Và đáng lo hơn là mình sẽ mất những quyền lợi, những khoản thu nhập không chính thức… Đang giữa kỳ bão lụt đói kém. Tám miệng ăn… Không. Không thể để bị dồn ép đến mức ấy. Ai bắt cô ấy phải khai ra? Hay cứ chịu khó nuôi con một mình. Hay cứ chịu mình cô thiệt thòi. Tôi sẽ cố xoay xoả bù đắp lại… Ồ, nhưng mà hồ đồ quá. Chứng cớ đâu mới được chứ? Ai dám bảo nó là con tôi? Hừ, đúng. Biết đâu mình chỉ là cái thằng tráng men? Của giời, chứ đâu có phải riêng mình? Cô ấy hờ hững và cố tình xa lánh mình. Rõ ràng cô ấy không hề yêu mình. Đúng là chỉ có một lần duy nhất ấy. Bắt được thóp cô nàng, mình đánh bạo, thế mà trúng… Cản bồi hồi nhớ lại. Đêm. Cái đống rơm đầu nhà kho. Hơi thở ngạt ngụa, nóng nực. Cái rùng mình và đôi cánh tay như vặn siết… Dào, mặc kệ. Mất hết cả đã sao? Lòng Cản bỗng cồn lên những khát khao đến cháy bỏng, hừng hực những thèm muốn, dự định. Cản bước xăm xăm như chạy. Kia rồi. Căn phòng đầu nhà kho. Ánh đèn vàng nhạt hắt qua khe cửa. - Cộc, cộc, cộc… Cản đứng nép, cố thu nhỏ người lại, cố nín thở, vừa giơ tay gõ cửa, vừa thận trọng đưa mắt nhìn quanh. Ai? Sao lại đến vào lúc đêm hôm khuya này? Bàn tay Luyến bỗng run bắn lên, đặt vội cây bút xuống và đứng bật dậy. Như một phản xạ tự nhiên, Luyến đứng áp người vào cánh cửa, đôi mắt không quên nhìn vào phía góc tủ, nơi vẫn treo sẵn một khẩu K44. Tiếng gõ cửa lại điểm nhịp ba tiếng và một giọng khàn đặc lách qua khe hở: - Luyến, tôi đây, Cản đây. A, chính hắn ta. Người cha của đứa trẻ mà Luyến đang mang trong người. Một cảm giác vừa ghê sợ, vừa khinh ghét nổi gai khắp người Luyến. Số phận trớ trêu đã gắn bó giữa Cản và Luyến trong một hoàn cảnh mà Luyến không bao giờ nghĩ tới. Luyến vốn có ác cảm với Cản, cái ác cảm của một người sống trong sạch liêm khiết với một kẻ tham nhũng, bê tha… Đã từ lâu, trong ý nghĩ của Luyến, Cản không còn xứng đáng là một đảng viên, một đội trưởng sản xuất. Xã viên ai cũng nghĩ về Cản như vậy. Nhưng không hiểu sao những hành động tham ô trắng trợn, tác phong gia trưởng, lối sống bê tha của Cản vẫn được nhiều cán bộ trong xã và hợp tác dung túng bao che? Từ ngày Luyến dọn ra ở riêng, Cản thường lui tới chăm sóc giúp đỡ Luyến. Cái bàn gỗ tạp kia chính do tay Cản đóng. Thấy xe Luyến rơ trục, gẫy nan hoa, thủng lốp, Cản đều tự nguyện sửa chữa. Ban đầu Luyến thấy khó chịu. Nhưng rồi dần dần, Luyến cũng phải miễn cưỡng chấp nhận. Với Cản, Luyến luôn luôn có ý thức giữ một khoảng cách, một giới hạn vừa đủ để Cản không dám nghĩ sai về mình. Nhưng cuộc đời hình như có sự bố trí, sắp đặt trước. Dường như Cản có cái tài mẫn cảm đặc biệt là đọc thấy những ý nghĩ của người khác. Luyến có cảm giác như chính anh ta biết được cái câu hỏi đã xoáy trong lòng Luyến trong cái đêm trăng nón bên gốc sung cầu ao kia. Và rồi Luyến đã không thoát khỏi bàn tay của Cản. Giống như một con cua dù bướng bình ngang ngạnh đến đâu, khi gặp chú ếch cụ vỗ nhẹ bàn tay lên mai, nó cũng đành thu càng, nén chịu. Cũng may, chính giọt máu của Cản mà Luyến đang mang trong mình đã trở thành nguồn an ủi, nhen lên trong lòng Luyến niềm hi vọng để giúp Luyến thêm nghị lực chống trả mọi nỗi đắng cay mà Luyến sẽ phải chịu, để tiếp thêm cho Luyến niềm tin đi tiếp cuộc đời. Nhưng không vì thế mà bức chân dung của Cản được thay đổi trong nhận thức của Luyến. Đối với Cản, Luyến hoàn toàn không hề có tình yêu. Hắn ta muốn gì ở mình? Hay lại ngựa quen đường cũ? Luyến tự hỏi và vặn thật to ngọn đèn, mở cửa. Cản nhanh nhẹn lách vào như một cái bóng. Tấm thân lực lưỡng xù lên trong chiếc áo mưa bạt. Luyến khẽ rùng mình. Không hiểu vì đợt gió lạnh chợt ùa vào phòng hay vì sự xuất hiện của Cản? Thoáng nhìn thấy tờ giấy và cây bút để trên bàn, nhìn đôi mắt to loáng ướt của Luyến, Cản như hiểu hết những điều gì vừa xảy ra. Tự nhiên một ý nghĩa thoáng vụt trong đầu Cản, giúp Cản có ngay một tình thế ứng xử: - Nguy rồi, Luyến ơi. - Vừa cởi áo mưa, Cản vừa nhìn thẳng vào đôi mắt Luyến. - Đảng uỷ và ban quan trị đã biết hết mọi chuyện. Hôm vừa rồi, ông Trần Sinh, bí thư huyện uỷ và ông Toại về kiểm tra đợt chống úng của xã ta, chính ông Điền và ông Thiển đã báo cáo với các ông ấy việc của chúng mình… Chân tay Luyến rã rời. Gương mặt đang đỏ hồng bỗng tái nhợt. Luyến ngồi phệt xuống giường, đôi mắt nhìn Cản trừng trừng như trước mắt chị không phải là Cản mà là một khoảng trống rỗng nào đó. Rồi toàn thân Luyến run lên. Luyến khép chặt hai cánh tay trước ngực như cố chặn lại những tiếng đập thình thịch đang dội lên từng hồi. Những giọt nước mắt lã chã lăn dài trên má. Dù đã tự nhủ với mình rằng chỉ sáng mai thôi, chị sẽ gặp ông Điền để nói hết tất cả. Thế mà bây giờ, khi vừa nghe Cản nói, Luyến đã thấy run sợ vô cùng. Như một người đàn ông tự biết mình phải làm gì lúc này, Cản sẽ sàng ngồi xuống bên Luyến, đưa bàn tay to ráp và cứng như sắt nguội vuốt nhẹn trên người Luyến. - Luyến ơi, không việc gì phải sợ hãi. Hãy nghĩ đến con… - Cản nói lắp bắp, hơi phả đầy mùi rượu. - Không phải con anh… - Ồ… - Cản ngớ ra, đôi mắt chợt dại đi, đau đớn. Anh nuốt nước bọt, cố trấn tĩnh. - Nhưng mà tôi thấy có trách nhiệm… Em có thể không cho tôi nhận con. Nhưng ít ra em cũng phải cho tôi cái quyền đi lại chăm sóc… - Anh về đi. Khuya rồi. Không bao giờ tôi khai ra anh đâu. - Giọng Luyến lạnh và nghiêm. Chị mở toang cửa như muốn chấm dứt câu chuyện. Cản đứng dậy đóng chặt cửa lại, đôi mắt đỏ đọc ánh lên cái nhìn thèm khát. - Tôi van Luyến… Hãy thương… - Như một con thú, Cản xấn tới ôm ghì lấy Luyến. Một cuộc vật lộn. Tiếng bàn ghế xô đập. Tiếng chai lọ đổ vỡ. Tiếng thở dốc. Nhưng Luyến làm sao chống trả được với cái thân hình lực điền của Cản? Thôi đành phó mặc. Cản thổi phụt ngọn đèn, ôm xốc cái thân hình mềm nhũn, nóng hôi hổi của người đàn bà lên. *** Có tiếng đập cánh phành phạch rồi tiếng gáy eo éo của một chú gà trống nhà ai. Cản choàng tỉnh mắt. Thực ra anh đâu có ngủ! Cản cố nằm ráng thêm một lát nữa để tận hưởng cái cảm giác dịu ngọt kỳ lạ mà anh đã trải qua. Luyến đã ngủ thiếp đi từ lúc nào. Hơi thở nồng nàn ấm nóng. Cánh tay trần êm ái và mát lịm. Từng khắc thời gian trôi qua. Cản ước chừng đến hai giờ sáng. Mưa vẫn đều đều gõ trên mái ngói, tuy đã thưa dần. Đã đến giờ rồi. - Cản thầm nghĩ và nhẹ nhàng gỡ cánh tay Luyến, với quần áo mặc vội. Cũng bằng động tác nhẹ nhàng như thế, Cản luồn tay xuống đáy gối, khẽ rút ra một chùm chìa khoá. Tất cả mọi mưu toan dày công sắp đặt của Cản từ chiều là để đạt được cái mục đích này. Với bản tính nhạy cảm của một người quen tính toán xoay xoả, nhìn cánh đồng trắng nước, Cản đã lường trước một trận đói ghê gớm nhất định sẽ xảy ra. Thế mà mới hơn chục ngày trước đây, Cản đã ngốc nghếch và khờ khạo bán đổ đi sáu tạ thóc. Năm đứa con, hai bố mẹ già với một mụ vợ lười chảy thây sẽ sống sao qua nổi tháng ba khủng khiếp sắp tới? Cản chợt nghĩ đến Luyến, đến cái kho thóc giống đầy ắp của hợp tác xã. Bây giờ thì Cản chỉ còn việc hành động. Có biết, Luyến cũng không thể nói ra. Cái giọt máu của Cản gieo trong người Luyến không thể cho phép Luyến phản bội anh được. Nhẹ nhàng hơn cả một con mèo già. Cản mở hé cánh cửa, biến mất trong khoảng mưa tối bịt bùng. Có lẽ luồng gió lạnh ùa qua khe cửa đã đánh thức Luyến. Chị vùng trở dậy và hốt hoảng như mình đang sống giữa cơn mơ. Cảm giác ấy qua đi rất nhanh, rồi sự lồ lộ da thịt đã vụt kéo Luyến trở về thực tại. Cản đi đâu? Luyến mở trừng mắt nhìn vào đêm tối, thoáng một nghi ngờ. Bằng linh tính, Luyến bắt đầu xâu chuỗi lại những việc làm của Cản, như cố dựng lên một bức chân dùng hoàn chỉnh nhất về Cản… Khi ánh đèn bật lên, việc đầu tiên là Luyến soi tìm chùm chìa khoá. Nhưng vô ích. Đúng hắn rồi. Cái thằng Sở Khanh ấy đã lừa dối Luyến. Phải chặn bàn tay hắn lại, không thể chần chừ. Luyến lấy đèn pin, khoác khẩu K44 vào người, mở cửa đi về phía kho thóc. Một bóng đen vụt lao ra từ cửa kho thóc giống trên vai lù lù một khối lớn. Ánh đen pin của Luyến rọi thẳng vào mặt hắn. - Đứng lại! - Luyến khẽ quát. Bóng đen vẫn cố chạy. Rốp. Tiếng quy-lát kéo mạnh. Luyến đưa súng lên ngang tầm. - Đứng lại, không tôi bắn. Cản rã rời, vứt bao lúa đánh phịch và đứng như trời trồng. - Anh hèn lắm. - Giọng Luyến run lên vì căm giận và khinh bỉ. Cản đứng rũ, cả khuôn mặt chìm trong khoảng tối của chiếc mũ bạt. - Em hãy thương lấy tôi và con… - Tiếng Cản khản đặc và phều phào. - Chỉ một lần này thôi… Có ai biết đâu mà. - Tôi sẽ lập biên bản, báo cáo với ban quản trị. - Đừng. Đừng làm thế… Tôi làm việc này chính là vì em, vì con… Em và con sẽ sống ra sao trong cái vụ đói kém này… Luyến bỗng cảm thấy rã rời, bàn chân chỉ chực khuỵu xuống. Cản tiến lại gần. Như một phản xạ bản năng, Luyến rùng người nhảy lùi lại, hét lên: - Đừng đến gần người tôi. - Tự nhiên Luyến thấy lợm giọng, nhổ vội một bãi nước bọt. - Giả dối thế là đủ rồi. Anh vác bao lúa này trả lại nhà kho ngay bây giờ. Cản ngoan ngoãn làm theo. Bao lúa đè trĩu trên vai, gồ lên như bóng một con lạc đà. VI Sau những ngày mưa như trút nước, trời lại nắng như đổ lửa. Cánh đồng như người vừa ốm dậy, lử lả, phờ phạc. Nước rút dần nhưng rất chậm. Những chân ruộng cao nhất, nước chỉ còn ngập ngang gốc rạ, gặp nắng, lúa chín ửng lên rất nhanh. Hại nhất là những chân ruộng trũng. Những cánh lúa ngập phẳng băng, coi như mất trắng. Khi mưa đã đứng, những hạt bùn bắt đầu lắng xuống, làm thành một tấm áo giáp bám quanh cây lúa, suốt từ gốc đến chót đầu bông. Nước lắng trong và cạn dần, phơi ra ngọn lúa màu nâu xỉn nằm rạp lên nhau, bết nước và bùn. Gặp nắng gắt, lúa thối rữa rất nhanh. Khắp các ngả đồng, đâu đâu cũng một mùi tanh thum thủm của bùn và chất hữu cơ thối ủng. Cũng có những cánh đồng ngập phẳng nhưng lúa đã chín, hợp tác tháo khoán cho xã viên gặt mò. Ngâm mình trong nước, cố ngẩng đầu lên, mặc cho sóng đánh vào má vào mắt, tay trái quờ trong nước, cố túm lấy vài cổ bông, tay phải cầm liềm cắt. Cứ thế một ngày cũng được vài gánh. Hạt lúa đã trương ủng, nhiều hạt đã nứt nanh trắng dài, nhưng còn hơn là ngồi nhịn đói. Công việc cứu lúa của hợp tác xã chỉ còn tập trung vào những đồng lúa mới ngập lút ngang cổ bông hoặc còn phơ phất những búp lá. Nhưng số người tham gia vào chiến dịch này mỗi ngày một thưa dần. Ban đầu còn có các bà trung niên, các chị nạ dòng, sau rồi chỉ còn có các ông lực điền, một số thanh niên quá cỡ hoặc còn "lôm côm" đứng ngoài tổ chức. Sức người có hạn. Tát mãi, đào đắp mãi cũng rã rời. Nhưng nguy hại hơn là người ta thấy khối người suốt đợt chống úng không tát được một gầu nước mà cũng chẳng làm sao. Khối người đá gà một hai buổi rồi rủ nhau ngược tàu lên tận Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái mua ngô sắn. Người ta kháo nhau mạn trên ấy sắn tươi chỉ năm hào một cân, nhưng ở chợ nhà rẻ nhất cũng đồng rưỡi. Thấy trước nguy cơ của cái đói, nên những người có vốn, có sức, lại tháo vát nhanh nhẹn đã tính chuyện mua trữ lương thực, buôn tại gốc, bán tại ngọn kiếm lời. Nhưng vẫn còn những người nhiệt tình gắn bó thực sự với những cánh đồng. Ngoài các đảng viên, ngoài đám thanh niên trong các chi đoàn - lực lượng nòng cốt trong tất cả các phong trào của hợp tác xã - còn có những xã viên bình thường. Ấy là những người như ông Trạc mà cả cuộc đời không còn biết làm một việc gì khác ngoài cầm cày, cầm cuốc. "Ai lười thì mặc xác họ, chứ mình rời khỏi mảnh ruộng là chết đói. Ông bà mình xưa cực khổ mà đố có dám bỏ làng. Làm ruộng gặp năm mất mùa đói kém thì cực thật. Nhưng còn hơn là đi xin cơm thiên hạ". Ông Trạc nói với mọi người thế và quả thực, trong suốt những ngày mưa bão, ông tịnh không vắng mặt trên đồng một buổi nào. Thế mà rồi chính ông Trạc lại sổ toẹt ngay cái thứ triết lý của ông. Vào ngày thứ bảy của đợt úng, ông bỗng đùng đùng quát Thắm: - Con Thắm hôm nay ở nhà. Không có tát tủng gì hết. Thắm đã sắp gầu ra sân, nghe bố quát, không hiểu có chuyện gì. - Đập mẹ cái gầu đi. Ngồi nhà chơi cho sướng thân. Mặt ông Trạc đỏ tía như ông vừa nốc một chai rượu mạnh. Đôi mắt xếch đỏ ngầu long lên những tia dữ. Thắm biết bố bữa sáng có tợp một chén hạt mít, nhưng thỉnh thoảng những bữa có thức ăn ông vẫn uống trước khi ra đồng. Suốt bữa cơm ông không nói một câu nào. Ngồi uống nước xỉa răng trên phản ông cũng đăm chiêu như thế. Ông ngồi rất lâu, trầm ngâm và hút thuốc lào vặt như cố nán chờ một ai đó hoặc đang nghiền ngẫm một điều gì. Rồi ông chống hai tay lên đùi thở như hắt ra, nặng nề đứng dậy. Như mọi buổi sáng, Thắm cứ tưởng bố sẽ vác mai ra đồng, nào ngờ vừa thấy Thắm lịch kịch chuẩn bị gầu cuốc, ông đã long đôi mắt, làm toáng lên. Một chén hạt mít có thấm tháp gì mà sao ông cụ lại nóng nảy đến thế? Mặc. Ông già chắc đang giận dữ chuyện gì đó thôi. - Chi đoàn con hôm nay bắt đầu chiến dịch "Nghiêng đồng đổ nước". Con phải đi… - Thắm nói phụng phịu và xỏ gầu vào cán cuốc, toan bước đi. Nhảy đại ba bước từ trong nhà, ông Trạc vươn tay giật lấy chiếc gầu ném vào thành bể. - Nghiêng nghiêng cái… - Ông Trạc văng một câu chửi tục. - Hoài sức mà làm đầy tớ chúng nó. Tiếng ông oang oang khiến bà Trạc đang vớt bèo ngoài ao vội vã tất tả chạy về, đứng ngơ ngác nhìn. - Ông nói ai? Có chuyện gì mà ông làm ầm lên thế? - Tôi nói những thằng ban quản trị. Người ta làm mửa mật mà chúng nó định cướp không. Phải bỏ tù hết những thằng ấy. Thắm thừa cơ vác cuốc chạy vút ra ngoài đường. Thắm vừa chạy vừa thở dốc, trống ngực dội lên từng hồi tưởng như muốn vỡ. - Thắm! Nghe tiếng gọi quen thuộc, Thắm đứng chựng ngay lại. - Ôi, anh Đạt. Em sợ hết hồn. Thắm ngoẹo đầu với một cử chỉ vừa nũng nịu vừa sợ hãi rất đáng yêu, ngước đôi mắt nhìn chàng trai cao lớn trong bộ quân phục màu cỏ úa, và cũng không quên liếc nhìn về phía ngõ nhà như sợ bố mình sẽ đuổi theo. - Có chuyện gì? - Bố em say rượu hay sao ấy. Ông già quật nát cái gầu dây. Đạt nhìn Thắm, cắn môi, hàng ria mép phớt phớt nâu động đậy. Anh đang nhìn ngắm Thắm nhiều hơn là nghe cô nói. - Ghét chưa. Như ông cụ non. - Thắm nhìn Đạt rồi bật tiếng cười. - Thế là chúng mình không có gầu để tát với nhau ư? - Đi mượn. Để em sang nhà thím Cản. Thím ấy đi Thái Nguyên mua sắn. Vẫn còn một cái gầu treo ở bếp. Đạt định dắt tay Thắm. Nhưng cô hốt hoảng rụt tay lại và vội nhìn quanh. - Bạo thế. Cái ông nỡm này. Người ta cười cho đấy. Mắt Đạt nhìn Thắm si mê và ngây ngất. Tấm lưng tròn lẳn. Bộ ngực nở. Gương mặt đỏ hồng còn vương nỗi sợ hãi. Và đôi môi tươi đỏ kia sao muốn cắn vô cùng. Đạt dám chắc Thắm đẹp nhất xã. Không. Đẹp hơn tất cả những cô gái mà anh đã gặp, chả thế mà suốt tuần qua anh phải nghĩ nát óc để lừa ông đại đội trưởng, nhảy xe về với Thắm. Và sáng nay, anh tình nguyện làm một anh xã viên, một thành viên tiên tiến của chi đoàn để được cùng đi tát nước gầu dây. *** Sự thay đổi đột ngột trong thái độ của ông Trạc cũng có cái nguyên cớ của nó. Chiều hôm qua, lúc ông đi làm đồng về, ông nghe phong thanh nói ban quản trị quyết định sẽ gặt tập trung toàn hợp tác xã trong vụ mùa này. Như vậy là mười lăm đội sản xuất, không kể đội mất ít hay mất nhiều, đều gặt tập trung về một sân kho. Sau khi thu hoạch xong toàn bộ diện tích, căn cứ vào sản lượng thực tế, phương án ăn chia, một phần sẽ chia cho số ngày công, nhưng phần lớn là dành phân theo định mức, nhân khẩu. Thoạt nghe thì có vẻ công bằng. Nhưng càng nghĩ, ông Trạc càng thấy vô lý. Thế ra đánh hoà cả làng? Thằng làm mửa mật cũng như đứa lười thối thây. Người còng lưng tát nước sà sã ngoài đồng cũng như kẻ ranh ma bỏ ruộng nhảy tót lên tàu đi buôn sắn? Đội mất ít cũng như đội mất nhiều. Chuyện ngược đời. Đứa nào nghĩ ra cái trò ấy? Cho đến buổi tối, khi Cản sang chơi thì ông Trạc mới rõ cái anh đầu trò ra vụ này chính là Cơ. - Trong buổi họp chúng tôi cũng đấu ghê lắm. Nhưng không lại. Mà ông ấy lý luận cứng ra phết nhé. - Cản trợn mắt, vung tay bắt chước điệu bộ của Cơ. - "Chúng ta phải coi đây như là một biện pháp có tính chất tạm thời, nhưng rất cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Diện tích lúa mất trắng của hợp tác xã không được thu hoạch lên tới tám trăm mẫu trên hai nghìn bốn trăm mẫu gieo cấy nhưng lại chủ yếu tập trung vào năm đội sản xuất có xướng đồng thấp nhất. Nếu vẫn phân phối theo cái kiểu đội nào cấy đâu hưởng đấy thì sẽ có đội hai cân một công, đội chỉ vài ba lạng…". - Thì mọi năm cũng vậy chứ sao? Ngay vụ chiêm xuân vừa rồi, đội mình bị sâu nặng một công chỉ một cân hai, trong khi đội Tám, đội Mười ba lúa tốt, họ vẫn hưởng cân rưỡi. Ấy thế. Đội mình vụ này chỉ mất tám mẫu dưới cánh đồng sâu, còn hầu như nguyên vẹn. Cay nhất là đội Ba, đội Bốn, đội Mười hai. Ruộng nó tập trung hầu như hết ở phía đường Sáu Tư, là khu vực huyện khoanh vùng chôn nước. Đội Bốn may ra còn vớt vát được bốn mươi mẫu ở cánh đồng Tiên và cánh Con Cá, chứ đội Ba chỉ còn độc mười lăm mẫu quanh làng là được gặt… Ông Trạc ngồi thừ. Gay go nhỉ? Mười lăm mẫu cho ba bốn trăm miệng ăn. Có mà cháo cũng không đủ. Cản đảo mắt liếc nhìn ông Trạc và như đọc được những ý nghĩ ấy. - Nhưng ý huyện đã quyết sẽ trợ cấp cho hơn trăm mẫu phía nam đường Sáu Tư. Số lương thực ấy đập vào ba đội mất nặng nhất, coi như hoà. Hà cớ gì phải tập trung tất cả các đội nữa? Tôi đã phát biểu thẳng với ban quan trị như thế. - Cản nhích lại gần ông Trạc, giọng nhỏ lại. - Vấn đề là tay Cơ đang ngấp nghé vào huyện uỷ đợt này. Mấy bài báo hôm nọ chính là để gây thanh thế. Cũng may là có đợt bão này, chứ không thì cánh ông Thiển, ông Loã đã làm cho mất mặt với xã viên. "Bán trăm công họ mua danh một người". Thâm hiểu thế đấy.. - Thảo nào… - Biết đội ông Thiển, ông Loã mất nặng, tay Cơ vội nghĩ kế lấy lòng bằng cách phân phối đều toàn hợp tác xã. Nhưng cánh ông Thiển đâu có chịu. Họ tạm thời thoả thuận cách giải quyết ấy, nhưng thâm tâm họ lại nghĩ khác… Ông Trạc lim dim mắt gật gù: - Ra ý đồ cá nhân ghê gớm thật… - Chỉ thiệt nhất là những gia đình nhiều công điểm như nhà bác với nhà ông Hai Sắc, ông Năm Ngũ, bà Khiển. Hơn nghìn công nhưng ăn chia kiểu này khéo không nổi dăm tạ… - Bậy. Dăm tạ là thế nào? Dù có thất thu, bét ra tôi cũng phải nhận về tấn rưỡi. - Ông Trạc trừng mắt, vung chiếc xe điếu lên. - Làm ăn kiểu này là không có được với tôi. Cản đứng dậy làm như định về nhưng lại ngồi xuống. - Ác nhất là gặt theo kiểu này thì các đội không còn có cơ xoay xoả được gì nữa. Vụ vừa rồi chia công khai, đội ta được cân hai, chia riêng trong đội sáu lạng nữa, vị chi cân tám. Rút sản lượng mỗi sào chục cân mỗi nhà cũng thêm vài tạ. Bây giờ thì hết đường. Họ gặt tập trung hết về một sân kho. Một cân thóc cũng khó mà lấy nổi. Ông Trạc trợn tròn mắt. Cục bướu trước sống mũi gồ lên. - Ghê gớm thật. Cản ghé tai ông Trạc cười hề hề. - Ý chủ nhiệm đã quyết. Đố bác làm gì nổi. - Đừng có thách thằng này. Cần thì ngồi tù, chứ nhất định không chịu mất tấn lúa. Thời đại nào cũng vậy, có làm thì phải có phần. Ăn chặn của nhau là không xong. Cản đã đi ra ngoài ngõ, vẫn nghe thấy tiếng ông Trạc văng tục. Có thế chứ. Gặt được cây lúa của đội Mười này đâu có phải chuyện dễ. Cản tự cười thầm, thuận đường đi rẽ vào nhà ông Năm Ngũ. Cứ thế bằng cách vận động ngấm ngầm, chỉ trong một tối, Cản đã vận động được hơn chục người sẵn sàng chống lại những quyết định của Cơ. Đằng nào thì Cản cũng nhận kỷ luật. Có thể sẽ phải ra khỏi Đảng, nếu Luyến tố giác tất cả mọi chuyện. Đã mấy hôm nay, Cản bày mưu tính kế đến nát nước. Thật không hiểu nổi tâm địa người đàn bà. Vừa ngủ với mình đấy mà rồi lại lật mặt ngay được. Hay hòn máu Luyến đang mang trong người không phải là của Cản? À, mà có thể như thế lắm. Ai chứ tay Cơ hắn còn nể gì? Hai người xưa nay vẫn bênh nhau chằm chằm. Đợt nào Luyến vằng nhau với Biền là Cơ cũng nhảy vào bênh. "Phải liêm khiết như cô Luyến". "Làm việc tận tuỵ, trong sạch như cô Luyến, hợp tác xã ta chỉ có một". Ở hội nghị nào Cơ cũng nêu gương Luyến. Rõ ràng phải có sự thông đồng. Thế nên Cơ mới ghét mình. Cuộc họp đội trưởng nào hắn cũng cố tình tìm mọi khuyết điểm của mình để chỉ trích. Thấy đội mình vụ này được ăn, hắn tức tối tìm cách phá. Cứ việc động đến đội Mười này. Phế cái chức đội trưởng của thằng Cản này cũng không dễ đâu. *** Đội sản xuất số Ba và số Bốn chính là hai đội sản xuất thuộc cái xóm Lẻ của Thiển, Loã, và Biền. Cái xóm chỉ thuần một dòng họ Đào Hữu ấy nằm hơi tách khỏi thôn Thanh Giang. Một dòng họ lớn có ngót nghìn khẩu, hơn hai trăm nóc nhà mái ngói san sát kết thành một khối quanh ngôi nhà thờ họ Đào Hữu cũ kỹ và lâu đời. Theo gia phả họ Đào Hữu để lại, thì Ông Tổ của dòng họ này vốn là một tỳ tướng của Trần Nhật Duật, một tướng tài của nhà Trần đã có công ba lần đánh bại giặc Nguyên. Qua nhiều đời, nhiều cuộc phân ly loạn lạc, tới đời Quang Trung, Nguyễn Huệ, một chi nhánh của dòng họ Đào dời về Thanh Giang lập nghiệp. Nếu nghe ông Đào Hữu Sửu, trưởng tộc họ kể lại thì lịch sử dòng họ này còn oanh liệt vẻ vang nhiều nữa. Chỉ tính vài chục năm trở lại đây, thì đúng là đời nào dòng họ Đào Hữu cũng có người làm to. Làm quan thời Tây thì có ông tri phủ Đào Hữu Tề, ông tham tán Đào Hữu Du, ông chánh tổng Đào Hữu Tòng. Làm quan thời cách mạng thì có ông trung tá đã về hưu Đào Hữu Khải, ông phó chủ tịch Đào Hữu Liêu. Riêng loại uý, tá mới thăng cấp trong thời chống Mỹ hay kỹ sư, bác sỹ, thậm chí phó tiến sĩ, họ Đào Hữu đã chiếm tám mươi ba người, quá nửa số trí thức, sĩ quan toàn xã. Kể về trình độ học vấn, văn hoá thì quả là Thanh Giang - và đặc biệt là xóm Lẻ - so với Thanh Minh, Thanh Cao, có vượt trội hơn hẳn. Nhưng xét về mặt sản xuất thì Thanh Giang cũng lại yếu hơn về mọi mặt. Có nguyên nhân khách quan là do đồng đất Thanh Giang trũng hơn, dân Thanh Giang có nghề thợ mộc, nghề thêu ren, sống bằng cơm thiên hạ nhiều hơn là đồng đất quê mình. Nhưng nguyên nhân chủ quan thì chủ yếu lại do đội ngũ cán bộ và cái tư tưởng bè phái, dòng họ, cái đầu óc quan chức quá nặng nề. Suốt từ ngày sát nhập hợp tác xã, dòng họ Đào Hữu vẫn mang một nỗi uất ức ngấm ngầm là tại sao cơ cấu cán bộ các ban ngành trong xã, người Thanh Giang ít hơn hai thôn kia? Và chỉ toàn giữ chức phó: phó bí thư đảng uỷ Đào Hữu Thiển, phó chủ nhiệm Đào Hữu Loã, phó chủ tịch phụ trách công an xã Đào Hữu Xuyến, phó bí thư xã đoàn Đào Hữu Thảng… - Làm đếch gì cái chức phó. Quá bằng làm đầy tớ cho chúng nó. - Ông Đào Hữu Sửu đã nói thẳng trước mặt Thiển và Loã cái hôm ăn giỗ họ khiến Loã và Thiển chỉ biết cúi gằm mặt xuống không nói một lời. - Không biết các anh nghĩ thế nào mà để họ bắt nạt thế cũng chịu. Cơ không nghe được câu nói ấy, nhưng nỗi uất ức ngấm ngầm của người xóm Lẻ Thanh Giang thì anh hiểu. Cho nên cái ý nghĩ của Cản cố gán ghép cho Cơ kể ra cũng có phần đúng. Phân phối ăn chia theo mức nhân khẩu toàn hợp tác xã trong cái vụ mùa úng lụt này cũng là một dịp để Cơ tranh thủ lòng dân xóm Lẻ, tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác của Thiển và Loã. Nhưng đó mới chỉ là một lý do rất nhỏ, Cơ có nghĩ đến, song nó cũng chỉ như sự gia giảm thêm mà thôi. Trách nhiệm của người chủ nhiệm trước bữa cơm hàng ngày của chín nghìn dân, trên địa bàn của mười lăm đội sản xuất buộc anh không thể giải quyết cách nào khác hơn được. Đó là một biện pháp có tính chất cứu chữa, nó vi phạm tới nguyên tắc phân phối theo lao động, nó sẽ bị các đội sản xuất có lúa mất ít phản ứng, thậm chí chống đối. Bởi làm theo cách này, các đội sản xuất sẽ không thể khai khống để khai man sản lượng, ăn trộm thóc để dấm dúi chia riêng như các vụ trước được nữa. Hạn chế những hiện tượng tiêu cực, đồng thời lại đáp ứng được một nguyên tắc hết sức bức thiết trong hoàn cảnh này là đảm bảo đời sống cho tất cả mọi gia đình và chuẩn bị mọi điều kiện để bắt đất bù đắp lại trong vụ đông sắp tới. Đó là mục đích cuối cùng phải đạt tới. Tất nhiên vấn đề tổ chức, vấn đề sử dụng lao động có thể cồng kềnh, lãng phí. Nhưng đó cũng là những nhược điểm tất yếu của những biện pháp có tính bức thiết và táo bạo. Cơ đã trình bày, giải thích cặn kẽ mọi ý đồ của mình trong cuộc họp thường vụ đảng uỷ và cuộc họp ban quản trị mở rộng. Đúng như dự đoán của Cơ, ý kiến phản đối mạnh mẽ nhất lại là của các đội trưởng các đội có diện tích mất không đáng kể. - Tôi không đồng ý với chủ trương của ban quản trị. - Chị Yên, đội trưởng đội Bảy, một người phụ nữ vốn rất từ tốn, dịu dàng vừa nghe Cơ nói xong đã đứng bật dậy. - Chúng tôi sẽ giải thích với xã viên thế nào khi họ biết rằng trong suốt đợt chống úng, đội Ba và đội Bốn chỉ vẻn vẹn năm mươi bảy người tham gia trong hai ngày đầu, trong khi riêng đội Bảy chúng tôi, một trăm bốn tám người ròng rã be tát suốt đợt? - Đúng đấy. Làm vậy là không khuyến khích người lao động, cào bằng tất cả, người chăm cũng như người lười. - Đội trưởng đội Mười lăm nói oang oang như người cãi nhau. - Cứ để cho đội nào gặt riêng đội ấy như mọi vụ. Hợp tác xã đề nghị huyện trợ cấp riêng cho các đội có ruộng ở phía nam đường Sáu Tư. Mọi người tranh nhau bàn cãi, thảo luận. Đội trưởng các đội Ba, Bốn, Chín, Mười một, Mười ba, ban đầu chỉ ngồi im, sau rồi cũng nhảy vào cuộc. Ai cũng cố giành phần lợi cho đội mình. Chỉ riêng Cản là ngồi thu mình một góc hút thuốc lào vặt và đưa cái díp to gộc tỉ mẩn nhổ từng sợi râu một. Có một vấn đề mà Cản thấy không đội trưởng nào đề cập đến, nhưng cứ nhìn vào đôi mắt của họ, cứ liếc qua những vẻ mặt lo lắng đang chụm đầu vào nhau thì thào to nhỏ. Cản biết rằng, chín ông bà đội trưởng của chín đội "được mùa" kia đều cùng có chung một ý nghĩ như mình: "Ông Cơ làm cách này thì các đội hết đường xoay xoả. Lúa gặt toàn bộ về sân kho, dân quân kiểm soát, canh gác, sản lượng bao nhiêu nó sờ sờ ra đấy, chẳng làm cách nào mà chấm mút được nữa". Loã kéo ghế về phía Cơ, che tay lên miệng, nói nhỏ: - Ta cứ quyết thôi, anh ạ. Bàn tán cũng thế thôi. Nếu huyện chấp nhận ta mất bảy mươi phần trăm, ta sẽ ưu tiên cho các đội bị thiệt thòi. Ông Trần Sinh đã hứa rồi. Mình cũng nên tranh thủ nhà nước đợt này để bồi dưỡng khích lệ xã viên. - Đôi mi mắt hùm hụp của Loã khé nhướng lên, hai luồng ánh sáng rọi xoáy vào Cơ, rồi khép lại rất nhanh. - Cũng phải giữ thế điều hoà giữa nhà nước và tập thể. Chứ sau bài báo của ông Đặng Hoài và cái chỉ tiêu sáu trăm tấn thóc, xã viên họ xì xào ghê lắm. Cứ từng lúc một, Loã lái Cơ vào cái quỹ đạo mà Loã cùng với Thiển đã vạch sẵn. Nếu Cơ có khuynh hướng hướng thượng, muốn được lòng cấp huyện, chuộng thành tích thì Loã và Thiển lại thực tế hơn, muốn củng cố uy tín của mình từ dưới cơ sở bằng cách tìm mọi cơ hội để khai thác nhà nước làm lợi cho xã viên. Cái ý định khai tăng diện tích thiệt hại để được huyện trợ cấp đã sớm hình thành từ hôm Trần Sinh về kiểm tra, bây giờ đang được Loã triển khai thực hiện. Qua thống kê từ các đội sản xuất đưa lên, toàn hợp tác xã trong trận mưa bão vừa rồi, diện tích bị mất trắng 582 mẫu, bị ảnh hưởng nặng, thu hoạch không đáng kể 470 mẫu. Cứ cho tất cả mất bốn mươi phần trăm thì Thanh Bình vẫn thuộc diện huyện không phải trợ cấp cứu đói. Nhưng nếu cứ thật thà báo cáo những số liệu trên với huyện thì Thanh Bình sẽ được cái gì? Khen vì thành tích chống bão lụt ư? Được khen ho hen chẳng còn. Chẳng ai đến mức ngờ nghệch như thế trong khi các hợp tác xã trong huyện người ta nhận hàng chục tấn gạo, bột mì, người ta tổ chức hàng đoàn xe đi mua sắm theo giá chỉ đạo. Mạnh dạn đưa ra con số bảy mươi phần trăm lúa bị mất, Loã tự nhận cái việc giơ đầu chịu báng về phần mình. Nhưng làm lợi cho xã viên, cho phong trào thì Loã chẳng sợ. Cơ chỉ ậm ừ: - Việc ấy sẽ bàn sau. Bây giờ phải tập trung vào khâu chỉ đạo thu hoạch lúa. Loã biết rằng Cơ cố tình lảng tránh. Cơ hoảng sợ cái con số bảy mươi phần trăm mà Loã gợi ý. Loã nhún vai tự cười thầm. Ở đời này chẳng có thằng đếch nào trung thực cả. Đừng có cao đạo, bịp đời. *** Sân kho thôn Thanh Cao được chọn làm nơi thu hoạch chung toàn xã. Nếu như mọi vụ, mười lăm đội sản xuất gặt về sáu sân kho khu vực, tự quản lý, phân phối lấy sản phẩm của mình thì nay tất cả đều thu về một mối. Việc quản lý và phân phối sản phẩm do ban chỉ đạo thu hoạch bao gồm các đội trưởng, thư ký đội sản xuất, các uỷ viên ban quản trị, ban kiểm soát, dưới sự điều hành trực tiếp của chủ nhiệm Cơ. Một tiểu đội dân quân - cũng từ các đội cử lên - được hưởng ngày công như những xã viên giỏi - có nhiệm vụ ngày đêm canh gác, bảo quản toàn bộ khu vực sân kho. Lập, người trợ lý tin cậy của Cơ, sau một đêm tính toán đã đưa ra hai số liệu rất đáng chú ý: So với phương thức thu hoạch theo đội, phương thức thu hoạch tập trung toàn xã sẽ lãng phí tới sáu mươi phần trăm nhân lực. Thời gian thu hoạch sẽ chậm hơn từ mười đến mười lăm ngày. - Có thể chia ra thành ba cụm để giảm khoảng cách từ ruộng tới sân kho, rút bớt được ba mươi phần trăm số nhân lực lãng phí trên đường. - Lập đề nghị. Cơ gạt đi ngay. - Cậu lại hữu khuynh rồi. Vấn đề là ở mục đích đạt được. Tiết kiệm được sáu mươi phần trăm nhân lực thì sẽ mất đi một trăm tấn lúa. Đằng nào hơn. Kiên quyết tới mức cực đoan, Cơ dốc toàn tâm trí thực hiện bằng được những kế hoạch đã vạch ra. Chiếc Honđa của Cơ lại lao vun vút trên những con đường trục. Sáng tinh mơ Cơ đã đảo một vòng qua các đội, sục vào từng nhà đội trưởng đội phó. Đông viên khích lệ. Giao nhiệm vụ. Gắt gỏng. Phê bình gay gắt. Buổi trưa, Cơ tạt qua văn phòng hợp tác xã, giải quyết các công việc hành chính, giám sát kiểm tra bộ phận kế hoạch lập tiến trình sản xuất, nghiệm thu sản phẩm, dự tính phân phối. Buổi chiều và buổi tối, Cơ dành hết cho công việc ở sân kho, đôn đốc đội bảo vệ quản lý chặt chẽ sản phẩm. Mùa gặt diễn ra một cách hết sức tấp nập, nhộn nhịp, nhưng sao vẫn có cảm giác bức bối, nặng nề. Từng dòng xã viên đan chéo, đi ngược chiều nhau trên khắp các con đường trong xã. Đội Mười bốn, Mười lăm từ mãi Thanh Minh cuối xã, kéo xe bò ngang liềm lộc cộc đi ngược bốn cây số lên gặt những cánh đồng của đội Sáu, đội Bảy. Đội Ba, đội Bốn từ xóm Lẻ Thanh Cao hành quân từng đoàn dài vượt qua những cánh đồng thum thủm mùi lúa thối rữa của đội mình để đến những cánh lúa đồng cao vàng óng của đội Chín, đội Mười. - Vui thật. Đúng là khung cảnh của chủ nghĩa xã hội! - Anh chàng Phiệt, thợ sủa chữa xe đạp ở đầu chợ Ba Thôn mỗi lần thấy một toán xã viên kéo xe đi qua lại nhếch miệng cười lắc đầu, buông một câu lơ lửng không ra ngợi khen cũng không ra chế giễu. - Vui cái khỉ mẹ gì? Cứ làm như đi ăn cướp. - Một người vừa từ trong quán cắt tóc gần đó đi ra, nghe Phiệt nói vội dừng lại, trừng mắt… - A, bố Trạc. Sao bố không đi gặt? - Phiệt cười hề hề nheo nheo con mắt. - Vui chứ bố. Sản xuất lớn mà lại. Điều binh khiến tướng cứ như đèn cù. Bố thử đến sân kho Thanh Cao mà xem. Lúa chất cao ngất. Máy tuốt chạy ầm ầm. Đứng trên tầng hai trụ sở hợp tác Thanh Cao cũ nhìn xuống vui quá ngày hội… "Thằng này thở toàn giọng ỡm ờ". - Ông Trạc nhổ một sợi tóc lẫn vào miệng, toan đi không thèm bắt chuyện. - Nghĩ mà ức cho đội Mười của bố. Mỡ treo mèo nhịn đói. Lúa cứ dày như mâm xôi mà xã viên không được gặt. - Phiệt đổi giọng. Ông Trạc đã thấy ức lên tận cổ. Những đường gân hai bên thái dương nổi chằng từng đường, giận giật. "Lại định giở giọng khiêu khích". Ông lừ mắt muốn vặc một câu, nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Nhưng Phiệt nào có chịu tha ông. Đi một quãng rồi, ông vẫn còn nghe Phiệt nói với lão cắt tóc bên cạnh: - Toàn những thằng hèn bỏ mẹ. Phải tay tôi thì cứ cho mỗi đứa một cán mai xem có đứa nào dám đến gặt. A, nó khích ông. Nó chế giễu ông. Hừ, cứ để rồi xem. *** Cái điều ghê gớm ấy không ngờ đã xảy ra. Buổi sáng khi Cơ và Lập đang cự nự với Loã và Biền về bản báo cáo tổng kết những thiệt hại trong đợt mưa bão vừa qua để kịp gửi lên huyện thì có người hớt hải chạy đến. - Ới các ông ban quản trị ơi! Đánh nhau to quá. Có người chết ở cánh đồng Bà Chúa. - Người đàn bà mặt cắt không còn giọt máu vừa thở vừa nói đứt quãng. - Làm sao? Ai? - Đội Ba của bác Loã với đội Mười. - Người đàn bà lấy khăn vuông che mặt ngồi phịch xuống ghế. - Ghê gớm quá. Toàn những đòn xóc với liềm hái… - Ông Cản đâu? Đội trưởng đội Mười đâu mà lại để xã viên gây sự dưới đồng? - Cơ nói như quát. Loã đứng bật dậy, đôi mắt thất thần. Anh vụt nghĩ đến con gái và vợ. - Phải gọi dân quân ngay. Cơ đã hiểu ra mọi chuyện. Anh quay sang Lập: - Anh Lập sang ngay sân kho huy động tất cả lực lượng bảo vệ ở đó. Mà không, để lại ba người. Còn tất cả mang theo súng xuống ngay cánh đồng Bà Chúa. Tôi với anh Loã, ta xuống đồng ngay bây giờ. Chiếc Honđa rú máy chở Cơ và Loã chồm chồm nhảy trên con đường đầy vết chân trâu. Từ khắp các ngả đồng, xã viên nghe tin rùng rùng kéo đến đồng Bà Chúa. Lác đác có mấy người đàn bà hốt hoảng chạy ngược lại. Loã nhận ra vợ anh. - Kìa mẹ nó. Thế cái Lanh đâu? - Còn ở dưới đó. Các ông không huy động dân quân xuống thì có người chết bây giờ. - Đã có ai làm sao chưa? - Ông Năm Ngũ bị chiếc đòn xóc vào đầu. Máu ra ghê quá. Không thể đi Honđa được nữa, Cơ và Loã bỏ xe đi bộ. Vừa đi vừa chạy. Nhìn thấy Xuyến, xã đội trưởng, đeo trễ bên hông khẩu súng ngắn đang lội qua mương. Cơ vừa vẫy tay rối rít vừa gọi khản cả giọng. Đã nhìn thấy một đám đông đến hơn trăm người lố nhố, quần nhau trên một vạt ruộng. Ở trong làng, đàn bà con gái, trẻ con tiếp tục chạy ra, ai cũng cầm trên tay một vật gì đó. Một người đàn bà, tóc xoã xượi chạy ngược trở lại phía làng, vừa chạy vừa giơ tay làm loa, cố gào lên: - Ới làng nước ơi. Người đội Ba họ đánh chết ông Trạc với ông Hai Sắc rồi… Người đàn bà ấy cố gào thét vậy thôi, thực ra ông Trạc, ông Hai Sắc và hơn chục người đàn ông của đội Mười chẳng ai việc gì cả. Chỉ có một người là ông Năm Ngũ vì quá hăng hái quyết chặn không cho xã viên đội Ba xuống gặt, nên đã bị cánh thanh niên trẻ cho một đòn xóc vào đầu, đang nằm bất tỉnh trên bờ ruộng. Cánh đội Mười núng thế đang tìm cách chuồn nhưng cánh trẻ đội Ba hăng tiết đang vây chặt lấy. Hay bên đánh nhau bằng đòn gánh, đòn càn, rượt đuổi nhau trên những vạt lúa. Một tiếng súng nổ đanh chói. Xuyến đã chạy gần tới nơi, giơ khẩu K54 vẩy một phát lên trời. Cánh đàn ông đội Mười hoảng quá định tháo chạy. Nhưng đối phương đâu chịu buông tha. Thấy có dân quân tiếp viện, lại thêm người của đội Bốn gần đó vừa tới, dân xóm Lẻ hăng lên nhất tề cầm liềm, cầm đòn gánh lao tới. Thấy anh em, chồng con mình bị đánh, một số đàn bà con gái đội Mười buộc lòng phải vào cuộc. Họ cũng cầm đòn gánh xông tới, vốc từng mảng bùn ném tới tấp. - Tất cả dừng lại! Tất cả giải tán! - Cơ vừa thở dứt hơi vừa gào tưởng rách cổ họng. Xuyến lại bắn một phát súng chỉ thiên nữa. Cũng lúc ấy Cản và chín tay súng dân quân cũng vừa đến kịp. - Giải tán! Đề nghị bà con xã viên đội Mười giải tán hết! - Cản huơ hai tay lên như đuổi vịt, cố gào thật to. Anh đã khéo chọn thời điểm để xuất hiện. Mấy người đàn ông đội Mười ào chạy. Cả một số đàn bà con gái cũng ào chạy. - Trói gô cổ những thằng chủ mưu lại. - Xuyến dõng dạc ra lệnh. Nhưng thoáng cái, những người đàn ông đội Mười đã lủi hết. Chỉ còn một mình ông Trạc bị vây giữa vòng người. Ông cắm phập cái đòn xóc xuống ruộng, sâu đến nửa sải tay, đôi mắt long lên như hai cục lửa. - Trói đi! Các người đã cướp lúa, cướp ruộng, thì đây… Ông Trạc giật tung vạt áo đã rách bươm để lộ một tảng ngực nâu bóng màu gạch lục và nhổ ra một bãi nước bọt đầy máu. Cơ và hai người dân quan tay lăm lăm dây thừng cùng sấn tới. Nhưng thật bất ngờ. Đúng lúc ấy, một hòn đá cú đậu từ một chỗ nào đó lao thẳng vào đầu Cơ. Trời đất bỗng tối sầm lại. Cơ đưa hai tay ôm lấy đầu, nhưng máu vẫn phụt trào ra. Anh lảo đảo ngã gục ngay xuống chân bờ ruộng. VII Suốt một tuần lễ Luyến cố tránh mặt mọi người. Chị đóng chặt cửa phòng, nằm bẹp trên giường như ốm. Càng nằm, cái thai trong bụng càng hoạt động khoẻ. Dường như nó cố nhắc nhở Luyến không được một phút nguôi quên hạnh phúc nhưng cũng là nỗi đau khổ của người mẹ. Luyến để hàng giờ chuyện thầm với con. Và cũng để hàng giờ để lo lắng buồn chán cho thân phận mình… Lá đơn viết cho đảng uỷ, Luyến để trong tủ. Đã mấy lần chị quyết định nộp cho ông Điền mà rồi không tài nào bước đi nổi. Biết nói thế nào? Liệu mình có đủ nghị lực để chịu đựng cái nhìn nghiêm khắc và đầy trách móc, khinh bỉ của bác ấy? Và cái gì sẽ xảy ra khi lá đơn này chuyển đến tay nhiều người khác, nhất là những kẻ không thể hiểu nổi mình, không xứng đáng để mình cảm phục. Những câu hỏi nặng trĩu trong đầu Luyến. Nhưng rồi Luyến vẫn phải quyết định. Không còn con đường nào khác. Buối tối ấy, Luyến đã tìm đến nhà ông Điền. Giữ đúng lời hứa với Cản, Luyến không thèm kể lại những hành động thấp hèn cái đêm Cản bày mưu ăn trộm thóc trong kho hợp tác. Vất vả lắm, Luyến mới đưa nổi lá đơn cho ông Điền và kể hết với ông cảnh ngộ, suy nghĩ của mình. Câu chuyện chân thật, rành rẽ như cuộc đời của Luyến. Duy có một điều Luyến cố ý giấu ông Điền. Ấy là người cha của đứa trẻ Luyến đang mang trong người. Luyến đã nói khác rằng một lần vào trong Kim Lũ có việc, khi về trời tối chẳng may gặp phải một kẻ xấu giữa đồng. Thực ra Luyến không hề muốn dính líu gì đến Cản, một kẻ mà cho đến bây giờ Luyến vẫn khinh ghét, và lại Cản cũng chẳng đáng có tội khi mà chính Luyến tự cảm thấy không hề ân hận bởi những hành động mà Cản đã gây ra. Luyến chấp nhận mọi kỷ luật nặng nề nhất đối với mình và cam chịu dư luận để được có quyền làm mẹ, có nguồn gửi mọi yêu thương, hi vọng. Giống như cái tâm trạng đã trải qua năm năm trước đây, khi nghe Cơ và Vy trình bày rõ mối quan hệ của họ, ông Điền thực sự đau xót và buồn. Nhưng riêng với Luyến lần này, ông có thêm một niềm thông cảm sâu sắc. Một đảng viên mẫu mực, trong sáng và liêm khiết. Tám năm làm thủ kho hợp tác nhưng không hề để thiếu hụt một cân thóc, một cân đạm, không hề có một điều tai tiếng, nghi ngờ. Thế mà cho đến bây giờ, chỉ vì một lầm lỡ đáng tiếc… Kẹp đôi kính lão, ông Điền đọc lại lá đơn một lần nữa. Rồi ông thở dài nhìn Luyến hồi lâu như đắn đo cân nhắc một điều gì. - Nếu đi nạo trên bệnh viện thì cháu có thấy ảnh hưởng tới sức khoẻ lắm không? Tim Luyến bỗng thót lại. Dường như những lời nói của ông Điền như một thứ kim nhọn sắc chích vào da thịt. Luyến nuốt nước bọt khan như muốn nuốt cả dòng nước mắt. Bác mà cũng nhẫn tâm thế ư? Chẳng lẽ hành động của cháu xấu xa tồi tệ đến mức phải hoàn toàn xoá bỏ đi mọi dấu vết để khỏi ảnh hưởng, liên luỵ đến bác và các đồng chí? Luyến muốn nói to lên những điều ấy, muốn hét lên cho hả nỗi uất ức, đau đớn. Nhưng kìa, sao bác ấy vẫn ngồi lặng, mái đầu điểm bạc như cúi thấp xuống và đôi bàn tay gầy cứ rung lên như sắp để tuột khỏi lá đơn đang cầm. - Cháu đã nghĩ kỹ rồi, bác ạ. - Luyến đã bình tĩnh lại sau một phút trấn tĩnh. - Vì đứa con cháu, cháu có thể đổi tất cả… Lá đơn vẫn rung lên trong tay người bí thư già. Nhưng cả gương mặt, dáng ngồi của ông thì lại giữ nguyên trong một tư thế bất động. Suốt mười mấy năm tham gia công tác Đảng, ông chưa bao giờ phải đối diện với một tình thế éo le như thế này. Đời cô ấy sẽ còn gì nữa nếu cô ấy không giữ được giọt máu kia? Vì đứa con… Tiếng nói ấy đã chạm vào cái phần sâu kín nhất trong con người mà ông lâu nay vì quen nghĩ đến bao chuyện lớn lao, to tát, ông đã quên lãng đi. Im lặng rất lâu. Cho đến lúc lau khô nước mắt, kịp ngẩng lên thì lại đến lượt Luyến bàng hoàng kinh ngạc: Ông Điền vẫn ngồi đó. Đôi mắt mở to nhưng không biết nhìn đi đâu cả. Một làn nước rất mỏng, như nước mắt, rỉ ra hai bên khoé. *** Chuyện ấy không chỉ làm cho ông Điền buồn mà ông đau xót như thể chính ông vừa mất đi một cái gì. Thực lòng, với Luyến, ông có một tình cảm yêu mến, thông cảm đặc biệt. Hãy cố thuyết phục. Hậu quả sẽ tai hại biết bao nếu câu chuyện vỡ lở. Danh dự của Luyến, uy tín của đảng bộ sẽ bị thương tổn nghiêm trọng. Và rồi đảng bộ sẽ mất đi một đảng viên vô cùng liêm khiết, trong sạch, hết lòng tận tâm với công việc của hợp tác xã. Vì lẽ đó, ông Điền nán chờ đợi. Chỉ cần Luyến chấp nhận lời khuyên của ông, như trước đây ông đã từng thu xếp cho Cơ và Vy, thì mọi chuyện sẽ lại ổn thoả. Và, lại một lần nữa, ông sẽ mãi mãi im lặng, sẽ giấu kín mọi điều, mặc dù trong thâm tâm nhiều lúc ông vẫn tự cắn rứt, tự giày vò mình vì cái hành động cố tình che giấu sự thật. Nhưng rồi ông đành thất vọng. Luyến không hề có ý định thay đổi quyết định của mình. Đối với cô, đứa con là tất cả. Ông Điền buộc lòng phải thông báo với thường vụ đảng uỷ tất cả câu chuyện về Luyến. Cuộc họp đảng uỷ vắng Cơ vì anh đang nằm viện. Ai cũng đau xót và tiếc cho Luyến. Riêng Thiển còn thêm sự bực bội, phẫn nộ. Ông Điền đề nghị khai trừ lưu Đảng sáu tháng và xét chiếu cố hoàn cảnh của Luyến, vả lại đây là một khuyết điểm thuộc phạm vi sinh hoạt, không nên đánh giá về mặt phẩm chất đạo đức. - Như thế là đồng chí hữu khuynh. Cố tình dung túng bao che cho những hành vi truỵ lạc. - Thiển không ngần ngại, phê phán thẳng thắn ông Điền. - Tôi đồng ý như lá đơn của chị Luyến. Chúng ta phải sử dụng hình thức kỷ luật cao nhất là khai trừ vĩnh viễn chị Luyến ra khỏi Đảng. Bốn uỷ viên thường vụ có mặt hôm đó, chia thành hai phe đối lập. Ngần ủng hộ ông Điền. Tấn ủng hộ Thiển. Hình thức kỷ luật đối với Luyến tất nhiên phải căn cứ theo đề nghị của chi bộ và đảng uỷ. Nhưng nếu ý kiến của thường vụ vẫn không nhất trí thì cũng khó quyết định được. Ngay buổi chiều hôm sau, Thiển gọi Luyến lên văn phòng đảng uỷ. Với một thái độ hết sức lạnh lùng và nghiêm khắc, anh ra sức truy bức bắt Luyến phải khai người đã lợi dụng chị. Mấu chốt của vấn đề chính là chỗ này. Ai ngủ với cô ấy. Có thể là Cơ lắm chứ? Chẳng phải ngẫu nhiên Cơ có cảm tình đặc biệt với một người đàn bà chưa chồng? Những ý nghĩ ấy khiến Thiển càng tin rằng đã đến lúc anh tóm gáy được đối thủ, quật hắn lấm lưng trắng bụng ngay giữa thanh thiên bạch nhật. - Chúng tôi không thể tin những điều chị nói. Không có một kẻ nào đêm hôm dám làm nhục chị giữa đồng. Chị đừng ngại. Chúng tôi sẽ hết sức giữ kín cho chị, nếu chị không muốn người đó phải liên luỵ. Vấn đề là đảng uỷ phải biết được người đó để có biện pháp giáo dục. - Không cần thiết, anh ạ. Tôi chịu tất cả mọi kỷ luật… - Ồ, không… Nếu chị thành thật, chị có thể được giảm nhẹ hình thức kỷ luật. Tôi biết chị rất khó nói… vì người ấy đang có chức có quyền… Nhưng đảng uỷ sẽ xử lý một cách thận trọng, tránh cho chị mọi sự liên luỵ… - Tôi đã nói hết rồi. Anh không nên nghi ngờ người này người khác. Tôi không hề có tình ý hoặc bị người nào lợi dụng cả. Đêm tối giữa đồng… - Chị vẫn không thành thật. Xét về mặt sinh lý, không thể có thai trong một trường hợp bị ép buộc… - … - Chị đã có quan hệ với ai? Hay chị đã lợi dụng người đó? - Có phải đồng chí muốn hỏi cung tôi không? - Với tư cách phó bí thư đảng uỷ, tôi bắt buộc chị phải nói. - Thế thì tôi sẽ không bao giờ nói cho anh biết người đó. Chỉ cần mình tôi là đủ. Tại sao anh lại cứ truy bức tôi những điều không cần thiết? Để làm gì? Anh không thể hiểu nổi tôi đâu. Tôi cần có một đứa con. Tôi cần một niềm vui an ủi, một chỗ nương dựa. chẳng lẽ đó là một tội lỗi, là xấu xa đồi truỵ ư? Anh nhẫn tâm quá. Tôi không ngờ tâm hồn anh lại cằn cỗi, trơ như gỗ đá mất rồi… Luyến oà khóc và bỏ chạy ra ngoài như chạy trốn một thứ bệnh dịch. *** Gửi xe đạp xong, ông Điền chưa vào bệnh viện ngay. Khoác chiếc xà-cột, ông chầm chậm đảo một vòng qua mấy hàng nước tìm mua một món quà gì đó trước khi vào thăm Năm Ngũ và Cơ. Cuộc xô xát vừa xảy ra ở Thanh Bình làm cho ông Điền thật đau đầu. Chỉ trong vòng buổi chiều, tin đã lan khắp huyện. Có người còn nói phóng lên: "Thanh Bình tranh cướp ruộng gặt, đánh nhau có người chết". Huyện phải tức tốc cử cán bộ xuống điều tra. Cũng may Cơ và Năm Ngũ đều bị thương không đến nỗi quá nặng, chỉ nằm viện dăm bữa nửa tháng sẽ khỏi. Lên gặp Cơ lần này, ngoài chuyện viếng thăm ra, ông còn muốn bàn thêm với anh về chuyện Luyến. - Cơ sự đã thế này, bắt buộc thường vụ phải có quyết định sớm. Ý chú thế nào? - Sau khi kể lại tất cả câu chuyện, ông Điền hỏi Cơ. Vòng băng trắng bao quanh đầu Cơ, chạy xuống chấm mắt khiến ông Điền không thấy được hai đốm sáng ấm áp và đượm buồn đang nhìn ông với tất cả lòng biết ơn và cảm phục. Vẫn như năm năm về trước, tâm hồn ông vẫn tràn đầy lượng bao dung của một người cha. Đôi mắt chớp liên tục như một thói quen cố hữu; cái nhìn điềm tĩnh và dịu dàng; giọng nói chậm chạp đến rời rạc… Con người ông vậy đó. Giản dị, phúc hậu, thương người. Vậy mà Cơ, trong nhiều lần tiếp xúc, bàn bạc công việc với ông lại luôn luôn có một ý nghĩ độc địa: "Loại người như cụ cổ hủ rồi. Lúc nào cũng cân nhắc, dè dặt, không dám quyết một cái gì. Bây giờ không phải lúc thích hợp với những người đức độ, hiền lành theo kiểu nhu nhược mà phải là một con người hành động, một con người dám quyết, dám chịu trách nhiệm". Cơ khẽ xoay người, cắn răng nén một cơn đau từ cái đầu quấn băng trắng toát đang dội lên như muốn vỡ tung, rồi anh chậm rãi nói với ông Điền: - Tôi đồng ý như cách giải quyết của bác. Chúng ta phải đánh giá một cách toàn diện con người Luyến, khẳng định những nét bản chất… - Ấy đấy. Tôi cũng nghĩ như chú… - Bác nên báo cáo lại toàn bộ sự việc với tổ chức huyện uỷ, tranh thủ thêm sự ủng hộ của các anh ấy. Tôi tin rằng anh Trần Sinh, anh Toại, anh Quyền sẽ ủng hộ chúng ta. Ông Điền gật gù. Ý kiến của Cơ đã giúp ông thêm tự tin. - Còn một vấn đề nữa. Cô Luyến cũng muốn thôi chức thủ kho ngay trong đợt này. Cơ định ngồi dậy. Nhưng vết thương bỗng nhói lên và anh vội đưa tay ôm lấy đầu. Tôi không đồng ý đâu. Không ai có thể làm thủ kho tốt hơn cô ấy được. Khi nào cô Luyến nghỉ đẻ, sẽ bố trí một nười khác tạm thay thế. Ông Điền nắm chặt bàn tay Cơ. Một tay đưa chiếc gối kê cao cho anh đỡ mỏi. Nhìn gương mặt hốc hác, nước da xanh tái đã bắt đầu hằn rõ những vết nhăn hai bên gò má, thêm một lần ông lại yên tâm về cái việc ông đã làm hơn năm năm về trước. Tự nhiên cái ý nghĩ vẫn vẩn vơ trong đầu ông mấy hôm nay bỗng trở thành cụ thể: Vùi dập hắt hủi một con người thật dễ dàng. Nhưng cứu giúp họ, phát huy ở họ những mặt tốt, những năng lực sẵn có làm lợi cho dân, cho Đảng, đó mới là một công việc phức tạp, khó khăn. *** Ông Điền đã về rồi mà Cơ vẫn chưa hết bâng khuâng, xao động. Nhắm mắt lại, nhưng nào anh có ngủ. Vẫn như bao lần gặp gỡ, tâm sự với Cơ, không bao giờ ông Điền nhắc lại chuyện cũ. Cả hôm nay, câu chuyện của Luyến như sự lặp lại tình cờ câu chuyện đã từng xảy ra năm năm trước, vậy mà ông vẫn cố né tránh, như đã quên tất cả. Nhưng Cơ thì vẫn luôn buộc mình phải nhớ. Nhớ lại với nỗi ân hận giày vò và cả niềm nuối tiếc rạo rực. Như một ánh hào quang, một ánh chớp bỗng nhiên rực sáng cả bầu trời, một luồng gió mát thổi lộng trong một chiều hè oi nồng… Mỗi lần nhớ lại kỷ niệm ấy, Cơ đều có cảm giác như vậy. Ngày Cơ làm chủ nhiệm hợp tác xã Thanh Cao, Vy là đội trưởng đội khoa học kỹ thuật. Một cô gái hồn nhiên, nhí nhảnh và vô tư. Như bao cô gái trong làng, Vy cũng có một tình yêu tươi mát, mơ mộng và thật dân dã giản dị. Vy yêu Thanh từ ngày cô vẫn còn đang học lớp bảy. Thanh học trên Vy ba lớp. Chưa kịp học hết lớp mười, Thanh đã tình nguyện đi bộ đội. Họ cưới nhau một năm sau đó, trong một dịp Thanh về nghỉ phép trước khi đi chiến trường. Tuần trăng mật của cặp vợ chồng trẻ chỉ vẻn vẹn được năm ngày. Rồi xa biền biệt ba bốn năm trời. Vy mến Cơ, với một tình cảm kính nể và cảm phục. Gần bốn mươi, nhưng Cơ vẫn chẳng kém gì các chàng trai. Cơ năng động xông xáo và luôn hoà mình với lớp trẻ. Năm ấy phong trào bèo dâu của Thanh Cao dẫn đầu toàn tỉnh. Vy được mời đi báo cáo kinh nghiệm ở khắp các hội nghị do huyện đoàn, tỉnh đoàn tổ chức. Cơ say phong trào thanh niên, coi đội khoa học kỹ thuật như đứa con cưng của hợp tác xã. Anh sẵn sàng chi tiết cho Đoàn mua đủ các loại sách khoa học kỹ thuật, sách văn nghệ, lôi cuốn hầu hết nam nữ thanh niên trong làng. Nhiều cô gái trong đó có Luyến, có Vy trở thành đối tượng Đảng. Vy được chi bộ phân công Cơ trực tiếp giúp đỡ. Những tình cảm trong sáng vô tư ban đầu giữa Vy và Cơ dường như không được như trước nữa. Vy cảm thấy điều ấy và e sợ. Nhưng Cơ thì ý thức rõ hơn. Anh đã yêu. Cái tình yêu thật mới mẻ nồng cháy mà anh chưa hề có trong đời. Vy lảng tránh mà anh thì đuổi bắt. Và rồi cái kinh nghiệm từng trải của người đàn ông đã giúp anh đến đích. Nghiệt ngã thay, Vy là vợ bộ đội mà Cơ thì đã có năm con. Biết mình lầm lỡ, Vy đau khổ, hối hận, Vy oán trách Cơ và tìm cách lẩn trốn. Người tin cậy duy nhất mà Vy có thể gửi gắm niềm tâm sự của mình là ông Điền. Vy đã thú nhận. Thực sự đau khổ vì hối hận. Ông Điền đã giữ kín câu chuyện. Ông phân tích, khuyên bảo, an ủi Vy, nhưng ông cũng thật nghiêm khắc, kiên quyết với Cơ. Cái việc làm tưởng như bao che, dung túng ấy thực ra chứa đựng cả sự nhân đạo, và thực ra trong hoàn cảnh ấy, một phần, chính ông đã làm vì công tác hậu phương. Ông nghĩ đến Thanh, đến hạnh phúc của Thanh và Vy khi anh trở về. …Như một cuốn phim hồi ức, những kỷ niệm, những hình ảnh nối tiếp hiện về làm Cơ quên bẵng đi cái vết thương nhức nhối, nóng giần giật trên đầu. Cái gì đã xảy ra với Vy vào cái tháng 9 năm 1975 ấy, khi Thanh từ chiến trường phía Nam trở về? - Câu hỏi ấy như nỗi ám ảnh trong Cơ suốt ba năm, nay lại nhói lên. Hình như đã có một điều gì đó hết sức hệ trọng? Tại sao Thanh chỉ ở nhà chưa đầy hai ngày, rồi lại bỏ nhà đi biền biệt? Bảy năm đi chiến trường, hoà bình mới về thăm nhà, có gì mà phải vội vàng đến thế? Cơ như chợt nhìn thấy cái dáng tội nghiệp lặng lẽ của Vy. Đôi mắt to đen lúc nào cũng u buồn chợt ánh lến nỗi sợ hãi hoặc xuyên nhói như ánh thép lạnh mỗi khi nhìn thấy Cơ. Gần đây nhất là cái buổi chiều Cơ đi thăm đồng. "Anh đừng nhắc đến chuyện ấy nữa. Tởm lắm". "Tại sao anh lại cứ muốn làm khổ tôi mãi?". Những lời ấy sao mà tàn nhẫn, ác độc? Đừng. Đừng nên nghĩ về tôi như thế, Vy ơi. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn yêu Vy. Yêu hơn cả bao giờ… Một bàn tay lạnh giá động vào má Cơ làm anh vội mở choàng mắt. Loã. Cơ nhăn mặt khó chịu nhưng anh cố làm ra vẻ như đang đau đớn. - Sức khoẻ anh thế nào? Khá rồi chứ? - Loã khẽ nhướng đôi mí mắt hùm hụp, nhìn Cơ đầy thông cảm. - Vết khâu đã co miệng rồi. Chỉ một tuần nữa là ra viện được. - Anh cứ yên tâm tĩnh dưỡng cho khoẻ. Công việc gặt hái ở nhà chỉ vài ngày nữa là xong hết. Loã kể về tình hình thu hoạch, về nỗi vất vả của anh, của các đồng chí trong ban quản trị, trong cái vụ mùa thất bát này. - Gặt về mới thấy lúa xấu quá, anh ạ. Những cánh trỗ sau tưởng cứu được thì lại toàn trấu. Bông to mà nhấc lên nhẹ xồm xộp. Giỏi lắm đổ đồng cũng chỉ hai mươi cân. - Loã nhăn mặt, lắc đầu rồi như thuận tay rút từ trong túi áo ra một tờ giấy cuộn tròn. - Huyện mới có công văn thúc gửi báo cáo lên gấp. Ý kiến trao đổi với anh hôm nọ, em đã nhất trí cả, về xin ý kiến thường vụ. Cũng được bảy mươi phần trăm diện tích không được thu hoạch, anh ạ. Anh xem qua rồi ký cho một cái. Hai tay giữ hai mép giấy, Loã căng hai tờ giấy khổ rộng viết kín hai mặt trước mặt Cơ. Thoáng nhìn qua thì đó là một bản báo cáo hết sức khoa học và tỉ mỉ: Tình hình trước khi mưa bão. Tình trạng sau khi mưa bão. Tổng diện tích gieo cấy. Số diện tích bị mất trắng. Số diện tích thu hoạch không đáng kể. Số diện tích bị ảnh hưởng tới năng suất. Những biện pháp phòng cứu đã thực hiện. Những kiến nghị… Cơ nhíu mày cố nhớ lại. Hình như tất cả những số liệu đều tăng lên khá nhiều so với số liệu thực tế mà anh nắm được. Tất cả đã được tính toán khá chính xác đúng khớp với con số bảy mươi phần trăm được tô đậm ở cuối trang giấy. - Ta nên xem lại tỉ lệ cho nó phù hợp với thực tế một chút, anh ạ. Đành rằng mình cũng phải nghĩ đến xã viên trong vụ đói sắp tới. Nhưng làm sao bảo đảm được nguyên tắc cân bằng giữa quyền lợi nhà nước và quyền lợi tập thể. Mình chỉ sợ huyện… - Chính anh Trần Sinh khi xuống kiểm tra tình hình úng lụt cũng đã công nhận rằng vụ này chúng ta mất nặng. Lại thêm hơn trăm mẫu phía nam đường Sáu Tư nữa. Ông huyện nào dám nghi ngờ cái tinh thần cách mạng của Thanh Bình. Có ai dám tuyên bố trước đông đảo cán bộ chủ chốt hàng huyện rằng Thanh Bình sẽ đóng góp cho nhà nước sáu trăm tấn lương thực trong năm nay? Đấy, được mùa, chúng ta có thể đóng góp hơn sáu trăm tấn nữa ấy chứ. Nhưng ai học được chữ ngờ. Leo cau đến buồng mà rồi còn ngã. Họp ban quản trị vừa rồi, chúng tôi vừa thấy buồn vừa tiếc cho anh… Bàn cãi mãi xem sáu mươi hay bảy mươi phần trăm? Tiếc rằng đang lúc nước sôi lửa bỏng thì anh đi viện. Thôi, thế tuỳ ý kiến anh… Tôi sẽ báo cáo lại với huyện để chờ đồng chí chủ nhiệm chúng tôi xuất viện sẽ lên làm việc trực tiếp với các anh… - Loã cuộn tròn bản báo cáo, giọng bỗng lạnh và chùng hẳn xuống. - Là mình cũng dè chừng lo xa trước. Chẳng có chuyện gì giấu được huyện đâu… - Có gì mà phải giấu diếm. Mình làm ăn thẳng thắn, thật thà. Mà cái chuyện ước tính thu hoạch xưa nay anh còn lạ gì. Có đâu như lọ nước mắm vại dưa hành mà đong đếm. Tính trên diện tích thì có thể khá hơn, nhưng thực tế thì bảy mươi phần trăm vẫn còn thấp. Có ở nhà thì anh mới rõ. Ngay sau hôm anh bị thương, chúng tôi đã cho người đi khắp các cánh đồng đo tính, xác minh lại cụ thể từng thửa, từng cánh bị mất. Thực tế có nhiều cánh hồi anh còn ở nhà tưởng có thể cứu được. Nhưng nắng lên, lúa thối ủng hoặc đâm mộng. Chưa kể mòng két về phá hoại. Xã viên chán nản kêu ca ghê lắm… Sau những lời nói của Loã, cái phút yên lặng mới thật nặng nề. Cơ cố gượng dậy cầm bút. Chữ ký run rẩy như chính tâm trạng anh lúc này. Gương mặt Loã rạng lên. Chiếc răng vàng bên khoé miệng được đôi môi mở hé ra, lấp lánh. - Chết mệt với cái vụ gặt này. À, anh đã biết chuyện cô Luyến chưa? Ầm lên khắp xã từ hôm qua. Cái lão Trạc đợt này thì mới đẹp mặt. Cô em gái tự nhiên phễnh bụng ra. Tôi đã bảo mà. Cái món ấy mà không nắm lập trường quan điểm vững vàng rồi cũng có ngày sa ngã như chơi… Cơ quay mặt vào tường. Tự nhiên anh thấy gai người. Hình như vết thương trong đầu lại đang tấy sốt lên. *** Cái tin về Luyến lan đi nhanh thật. Như hết thảy mọi sự kiện đặc biệt ở làng. Chỉ trong vòng khoảng thời gian nhai giập bã miếng trầu, khắp làng trên xóm dưới, trên chợ dưới đồng, ai cũng biết. - Tội nghiệp cô ấy. Khôn ba năm, dại một giờ. Người như thế mà ông giời không có mắt. - Các cụ, các bà gặp nhau chép miệng, thương hại nói vậy. Các cô các chị thì có vẻ thông cảm, hiểu biết hơn. - Chỉ tiếc cho chị ấy. Đang là đảng viên… - Ôi dào. Dễ đảng viên là thần là phật, chứ không phải là người. Đá cũng phải có lúc đổ mồ hôi. Đẻ thì nuôi chứ sao… Cánh nam giới được dịp bày ra đủ thứ chuyện tếu, đôi khi đến tục tĩu làm các bà, các chị nhăn mặt, nhổ nước bọt phì phì, phát đen đét vào lưng vào gáy các ông, nhưng rồi lại vẫn cứ thích nghe. Cũng có một vài lời bóng gió, dè bỉu, khích bác của một vài người đã từng va chạm với Luyến trong chuyện nhập kho, xuất kho hay trong đời sống sinh hoạt. Luyến đã chủ động đón nhận và chấp nhận dư luận từ lâu, nhưng chị cũng không khỏi sợ hãi, hoảng hốt và hổ thẹn mỗi khi gặp một ánh mắt nhìn soi mói, mỗi khi qua trước đám đông, hoặc thoáng thấy vài ba người đang chụm đầu vào nhau to nhỏ, thì thào. Đau đớn nhất vẫn là ông Trạc. Có lẽ ông là người cuối cùng biết tin về Luyến. Buổi trưa, khi xuống bà Điền ăn giỗ, ông còn cao hứng kể cho mọi người nghe chuyện cái hôm dân quân giải ông lên huyện, huyện đã "tiếp" ông như thế nào? Và ông đã đối đáp, lý sự ra sao mà ngay buổi sáng hôm sau "các đồng chí" trên huyện đã phải để ông về nhà. Cho đến khi bà Điền gọi ông ra một chỗ vắng rỉ tai cho ông biết câu chuyện của Luyến thì ông tỉnh hẳn rượu, choáng váng, đau xót đến lặng người. Từ nhà bà Điền về, ông Trạc cun cút đi trên con đường lát gạch, mặt cúi gằm xuống, không dám ngẩng nhìn ai. Đau xót quá. Mặt ông như úp một chiếc mo dày. Cả đời ông, chưa bao giờ ông thấy nhục nhã như bây giờ. Qua sân kho hợp tác, nơi đang ầm ầm tiếng máy tuốt, thì thụp tiếng đập lúa, ông bỗng giật mình khi thấy một đám đông xúm quanh khoảng sân ngôn ngang rơm thóc. Giữa vòng người, anh Thống hề, một người đàn ông bé choắt, nổi tiếng trong các tiết mục hài hước gây cười, vớ tấm khăn đỏ của ai, thắt múi ngang người, vừa đảo mông vừa uốn lưng, hai tay múa lượn đang cố bắt chước cái giọng Thị Mầu ỏn ẻn, ỡm ờ trong một điệu chèo. "…Này chị em ơi…". Tiếng đồng thanh cùng nổi lên: Sao? "Này chị em ơi. Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa… thế gian thường tình. Đó chị em ơi… Không chồng… ấy mấy chồng, thế mà không chồng… mà í ì i chửa í…". Cái giọng khàn khàn chua loét bị gẫy ngang. Tiếng cười ngặt nghẽo. Tiếng vỗ tay bồm bộp. Mặt ông Trạc tím lại như quả bồ quân chín. Từng âm thanh, từng tiếng động cứ đuổi riết theo ông như hàng trăm mũi kim chích vào tim đau buốt. Vừa về đến nhà, ông Trạc đã nằm vật ra phản. Và cứ thế ông nằm lì cho đến chiều tối. Trăng đã lên. Trăng cuối thu như múi bưởi vàng mọng trên nền đĩa xanh men ngọc. Khắp xóm vương vấn mùi khói bếp, thoang thoảng mùi cơm mới, mùi rơm rạ thơm nồng. Và tiếng trẻ đùa dưới trăng. Tiếng gọi nhau í ới. Tiếng xe bò lộc cộc lăn bánh trên đường gạch. Một ngày hối hả và bận rộn đang lắng dần đi. Mâm cơm đã dọn giữa sân. Nhưng vẫn chỉ có một mình thằng Thiết với con chó vàng ngồi chầu hẫu nhìn nhau. Thằng con út ông Trạc giống ông như đúc. Nó chính là thủ phạm đã phóng hòn đá củ đậu vào giữa mặt Cơ hôm nào. Trong bếp, hai mẹ con Thắm vẫn đang rì rầm to nhỏ. Họ đang bàn tính với nhau xem đã nên báo cáo cho ông Trạc biết chưa. - Thôi, cứ để mặc bố mày. Ông ấy đang phẫn chí, đụng đến rồi nát nhà. - Bà Trạc đứng dậy, bê xoong cơm ra sân. Thắm cũng đứng lên theo, sẽ sàng đi đến bên ông Trạc. - Thầy ơi, mời thầy dậy xơi cơm. Ông Trạc trở mình. Suốt từ lúc xế buổi, hình như ông vẫn nằm trong một tư thế bất động. Lầm lũi như một cái bóng, ông xách bình rượu từ trong nhà ra, ngồi xuống mâm cơm, lặng lẽ uống. Bà Trạc đưa mắt nhìn con gái, rồi lại nhìn chồng. - Ông uống in ít chứ. Trưa nay đã đi uống rượu rồi… Dằn mạnh cái chén xuống mâm làm rượu sánh ra ngoài đến gần nửa, ông Trạc trừng mắt, dằn từng tiếng: - Thì việc gì đến bà. Tôi uống của đứa nào? Ba mẹ con im thít. - Con Thắm tí nữa viết cho tao cái đơn. - Đơn gì ạ? - Thắm ngừng nhai, hỏi lí nhí. - Đơn xin ra hợp tác. Người ta đã dồn đến cái nước này, không sống được. Cả Thắm và bà Trạc cùng sững người. - Con không viết gì hết. Thầy đừng có nghĩ đến chuyện ra vào. Thằng Thiết nó còn đang đi học. Anh chị Thoại đang ở trong Lâm Đồng. Anh Thức còn đang ở bộ đội. Thầy mà ra thì uỷ ban họ tư giấy gọi tất cả về, không có cho ai đi đâu hết. - Thì cứ việc mà tư giấy. Thằng Thoại, thằng Thức nó đi bộ đội, đóng góp xương máu rồi. Tao đếch sợ thằng nào. Thắm bỗng ôm mặt oà khóc. - Thầy chẳng thương chúng con gì cả. Thầy mà ra hợp tác thì chúng con còn mặt mũi nào trông thấy làng nước. Con là đoàn viên, là bí thư chi đoàn… - Không có đoàn đủng gì hết. Kệ thây chúng nó. Ra. Hôm nay tao sẽ viết đơn. - Con không cho thầy viết đâu. Để bao giờ con đi khỏi cái nhà này đã. - Giọng Thắm bướng bỉnh. - A, mày láo. Câm ngay. - Đôi mắt ông Trạc vằn đỏ, long sòng sọc. Thuận tay với lấy cái bát, ông đang định vung lên thì bà Trạc cuống quýt ngăn lại. - Tôi van ông. Ông điên rồi hay sao? Hai mươi năm trời hợp tác, người ta sống được thì mình cũng sống được… - Sống? Hả? - Ông Trạc cười gằn, ngửa cổ tu hết chén rượu rồi lại rót đầy chén. - Bà bảo sống là thế nào? Sống để người ta đè đầu cưỡi cổ mình? Cái thời đế quốc phong kiến nó đi một nhẽ. Chứ thời buổi dân chủ này, ức hiếp nhau như thế, uất không chịu được. Mà tôi có phải là người lười biếng hay phá phách phản động gì? Hai thằng con đi bộ đội, một thằng phục viên xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới, một thằng đang ở biên giới, sống chết không biết lúc nào. Hơn sáu mươi mà hàng ngày vẫn theo đít con trâu, quần quật ngoài đồng. Cả bà với con Thắm, thằng Thiết, bốn lao động, bốn miệng ăn mà vẫn chầy chật. Làm mười mà không được ăn một. Năng suất bảy tấn, mười tấn, báo cáo láo hết. Thử hỏi rằng hợp tác xã yêu tiên, yêu đãi ở chỗ nào? Thế mà khối đứa giàu to. Chúng nó dựa quyền dựa chức bóc lột xã viên để làm giàu. Cám thóc chăn nuôi, chúng nó dấm dúi chia nhau. Để rồi đăng ảnh vợ con lên báo. Thằng Loã mấy năm làm chủ nhiệm Thanh Giang đã xây một nhà mái bằng to hơn khách sạn. Thằng Biền kế toán trưởng nhà ngói năm gian, tủ chè, sập gụ. Lão Sếnh, trưởng lò ngói cất liền một lúc hai dãy nhà. Thằng Cơ, xe Honđa chạy như chó dái… Đứa nào dính một tí cán bộ cũng rủng rỉnh đàng hoàng. Từ thằng thư ký đội quèn đến thằng đội trưởng đều ăn chặn của xã viên. - Gớm ông. Vạ mồm vạ miệng… - Bà Trạc hốt hoảng nhìn quanh. - Thôi, ông ăn đi cho nó dọn. Ba mẹ con cùng buông đũa. Chỉ còn một mình ông Trạc. Bóng ông với bóng bình rượu đổ dài, có lúc díp lại với nhau. - Ra hợp tác xã. Chỉ cần ba sào ruộng là sống vung vinh. Khối cơm khối rượu… - Con với u không có ra vào gì hết. - Từ nãy Thắm vẫn ấm ức, giọng Thắm nghẹn lại, nhưng thật quả quyết, dứt khoát. Ông Trạc ngước đôi mắt lờ đờ nhìn Thắm. Bàn tay ông giơ lên, như vẩy vào không khí. - Ờ, ba mẹ con mày cứ ở. Tao ra. Mẹ cái thằng tao nói phét. Phen này tao ra thật cho chúng nó biết tay. Cứ thế, ông Trạc vừa uống vừa nói. Chẳng có ai nghe ông cả. Thắm len lén đi ra ngõ. Nhưng ông Trạc đã nhìn thấy, gọi giật giọng: - Thắm! Thắm hốt hoảng quay lại. - Thầy bảo gì kia ạ? - Ra ngoài kho mời cô Luyến vào đây. Bảo thầy cháu mời cô vào ngay. Thắm ù chạy ra ngõ hun hút ánh trăng. Thế là thầy đã biết rồi. Cô Luyến ơi, làm sao bây giờ? Thắm nức nở khóc. Nghĩ thương cô Luyến quá. Cô làm sao mà chịu đựng nổi cơn sấm sét sắp sửa ập xuống kia. Khi hai cô cháu đã về đến nhà thì ông Trạc vẫn ngồi giữa sân bên mâm rượu, nhưng ông không uống nữa. Nhìn thấy em gái, ông Trạc lẳng lặng vào nhà lấy chiếu ra trải giữa hè. - Cô ngồi xuống đây. Mấy người đàn bà len lén, phấp phỏng, thần kinh giãn căng hết sức hết mức vì sợ hãi, lo âu. - Nào, cô kể cho anh nghe cái chuyện cô đã bôi gio trát trấu vào mặt anh như thế nào? Lạ quá. Giọng ông bỗng chua chát và giễu cợt, như thể giọng của một người nào khác. Nó hoàn toàn xa lạ với tính cách nóng nảy và thẳng thắn của ông khiến cả Thắm và bà Trạc đều ngạc nhiên không ngờ. Hai mẹ con níu lấy tay nhau, cùng khép nép ngồi xuống thềm hè, hồi hộp và sợ hãi chờ đợi một trận lôi đình sẽ xảy ra. Luyến bỗng ôm mặt khóc nức nở. Đôi vai rung lên từng đợt. - Anh chị và cháu tha thứ cho em. - Lâu lắm Luyến mới nói được. - Cái số phận khốn nạn của em đã xui em tới cái bước này… Không khí bỗng lặng đi như nhà có đám. Ông Trạc chống cùi tay lên đùi, bàn tay xoè ra đỡ lấy mớ tóc rễ tre rối bù. Từ trong đôi hốc mắt mờ tối, nước rỉ ra, hoen trên gò má gồ ghề. Không ai biết ông đang khóc. VIII Chiếc xe Scôđa màu trắng sữa lăn bánh chậm dần rồi rẽ vào bến đỗ. Khách lục tục xuống bến. Ba thanh niên, hai nam và một nữ, cùng ngồi chung ở hàng ghế giữa, cố chùng chình nán lại, xuống sau cùng. Chàng thanh nhiên có sống mũi dọc dừa, cái miệng nhỏ, vận bộ quân phục màu cỏ úa. Đôi kính râm sẫm màu to quá khổ che gần hết nửa khuôn mặt. Hai người kia có dáng dấp của một cặp tình nhân: Người nam dáng cao lênh khênh, mặt dài và gẫy, mắt nhỏ, vận chiếc áo thun trắng có sọc đỏ và chiếc quần bò, đũng, gối đã sờn bạc đúng mốt thời trang bắt đầu thịnh hành ở các thành phố lớn. Cô gái cũng tỏ ra con người biết ăn diện. Mái tóc dài xoã ngang vai, ôm lấy khuôn mặt tròn đỏ hồng và lấm tấm những mụn trứng cá. Chiếc áo sơ-mi rất kiểu, cổ ve rộng, xẻ sâu, để lộ một khoảng ngực trắng nõn. Phần thân áo thắt đáy, ôm lấy vòng mông quá nở. Chiếc quần gin màu cánh gián chật căng hai đùi, hơi loe phía dưới phủ kín đôi gốc gộc mười phân. Chàng thanh niên mặc áo thun chụp chiếc mũ mỏ vịt lên mái tóc dài xoã gáy, nháy mắt với chàng thanh niên mặc quân phục. - Bắt đầu chứ, Đạt? Tao giao hẹn bắt đầu từ giờ không được lúc nào quên vai trò của mình. Đạt nhoẻn cười, cầm lấy chiếc gậy, ngửa mặt khua khua một vòng khiến cô gái bỗng cười ré lên. - Khỉ gió các ông tướng. Để xuống dưới bến đã. Vừa xuống khỏi xe, họ đã lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Cái mốt ăn mặc khá tân kỳ là lạ mắt của đôi trai gái làm cho những người ở cái bến xe quê mùa và cổ lỗ tò mò, lạ lẫm, háo hức hoặc dè bỉu đã đành. Nhưng còn cái anh chàng bộ đội kia, trông người như thế mà đã hỏng mắt sao? Thương binh hay lại táy máy nghịch đạn pháo? Người ta xì xào chỉ trỏ. Một bà hàng nước hỏi với ra: - Chú bộ đội ấy làm sao thế hỉ? Chàng thanh niên mặc áo thun, vừa khoác ba lô, vừa cầm gậy dắt bạn, mặt tỉnh khô trả lời: - Bị đau mắt. Viêm thuỷ tinh thể nặng. Sắp mù rồi. Cô gái, dường như không chịu được cái cảnh ấy, đi chậm lại, lấy nón che mặt, hí hức cười. - Phải chờ gặp người quen, nhắn ông già mày lên đón. Dò dẫm đi bộ thì đến bao giờ? - Giá gặp cái Thắm ở đây thì hay quá nhỉ? - Cô gái bỗng ao ước. - Gặp Thắm thì hết chuyện. còn đau với ốm đ. gì nữa? Cốt nhất là phải tin cho ông già. Mà bà già thì lại càng hay. Phải phủ đòn cân não ngay từ đầu. Đúng không? Đạt cười hề hề, đồng ý với lời đề nghị của bạn. Cả ba cùng vào một quán nước. Ngứa mắt quá, mà Đạt không dám gỡ kính. Anh chỉ sợ một người quen nào trông thấy. Thật may cho họ. Vừa lúc ấy thì Loã đạp xe từ trong huyện đi ra. Loã vừa lên huyện nhận chỉ tiêu trợ cấp lương thực cứu đói cho hợp tác xã Thanh Bình. Loã nhận ra Quân, con trai Biền, và Hoà, con gái Cơ. - Các trường vào học cả rồi. Sao chúng mày vẫn còn ở đây? - Bọn cháu vừa mới tập quân sự xong. Được nghỉ thêm mấy tuần. - Quân nhanh nhảu trả lời, rồi chìa bao thuốc lá Mo mời Loã. - Với lại Đạt nó đang bị đau mắt. Nguy kịch lắm… Đến bây giờ Loã mới nhận ra Đạt, con trai ông Điền. Đạt đeo kính râm, lại ngồi khuất sau cột nên Loã không để ý. - Làm sao? - Loã định doài tay giật cái kính, nhưng Đạt đã giữ chặt lại. Quân trí trá: - Nó nhức. Viêm thuỷ tinh thể có mủ, chú ạ. Đợt này khéo đơn vị cho về hẳn… - Thế thì lên đây chú đèo về. Đạt bỗng co người lại. Về đột ngột, coi như hỏng. Còn gì là tác động tâm lý? Phải gây cho ông bà già một trạng thái phấp phỏng lo ngại… Chợt nghĩ đến vai trò của mình, Đạt bấm vào sườn Quân một cái, rồi vớ cái gậy, chọc chọc đứng dậy sờ soạng bước đi. Quân hiểu ý, lấy tay kéo Đạt ngồi xuống. - Còn choáng. Không được ngồi xe bây giờ đâu. - Quân quay sang nói với Loã. - Nhờ chú về báo cho thầy u nó biết lên đón. Loã đã ngồi lên xe, nghĩ thế nào lại quay lại. - Này, chú bảo thằng Quân với cái Hoà, ăn mặc thế kia, về làng là không có được đâu. Thằng Quân sửa ngay cái tóc đi. Con em cán bộ mà ăn mặc lố lăng là dân người ta chửi vào mặt chúng tao. - Xin chấp hành. - Quân giơ tay hét to lên khi Loã vừa đi khỏi và quay lại véo vào má Hoà. - Bồ đã nghe rõ chưa? Đối với các ông Khốt-ta-bít nhà quê ta là cứ phải cắt tóc trắng hếu, mặc quần ống què. *** Quân và Hoà thuộc loại thanh niên "trí thức" của xã Thanh Bình. Quân học hết lớp mười thi hai năm không đỗ đại học, đành phải vào bộ đội. Nhưng đó cũng chỉ là một nước đi trong cả một hệ thống bài bản đã được vạch sẵn. Do tài khôn khéo của Biền, chỉ chưa đầy ba tháng sau, Quân đã được xuất ngũ với đầy đủ những thứ giấy tờ hợp lệ. Vẫn cay cú với việc học hành của con trai, Biền gửi Quân ra Hà Nội học một lớp dạy tư với quyết tâm sắt đá là bằng mọi cách Quân phải vào được đại học. Thế rồi Quân đỗ thật, điểm lại cao, điềm nhiên vào học trường Bách Khoa. Cái kiểu đút lót chạy chọt của Biền "trên tài" đến mức nào, dân Thanh Bình chỉ có biết lè lưỡi lắc đầu, chứ không thể mường tượng ra nổi. Con người có cái vẻ bề ngoài khờ khạo đù đờ đã nhiều phen làm người ta choáng váng, bây giờ lại một lần nữa làm người ta thực sự bái phục. Dĩ nhiên với lối chiều con quá đáng như Biền, và cái vốn kiến thức hạn hẹp đầy những lỗ hổng của Quân, trường Đại học Bách Khoa giống như một lâu đài lừng lững và bí ẩn mà tình cờ Quân lọt vào được nhưng không tài nào lần ra lối cầu thang để bước tiếp nữa. Ngay từ năm thứ nhất Quân đã phải lưu ban. Đến năm thứ hai tình hình lại càng mờ mịt. Chán nản, tự ti, và bi quan, Quân đâm ra bỏ học và chơi bời lêu lổng. Theo điều lệ của nhà trường, học sinh không được lưu ban đến lần thứ hai. Mặc dù Biền đã trổ hết tài, dắt theo bạc triệu mỗi lần ra Hà Nội, nhưng Quân cũng không thể có riêng một trường hợp ngoại lệ. Biền giấu kín không dám hở điều này với ai, ngay cả với vợ. Nếu để con về thì nhục quá. Một lần nữa, Biền lại tỏ ra một người cha hết lòng tận tuỵ với con cái. Anh chuyển cho Quân sang học một trường sửa chữa ô tô, ở ngay Hà Nội. Còn Hoà? Số phận đối với cô trơn chảy và cởi mở hơn. Học hết lớp mười, Hoà đỗ vào trường Cao đẳng Nông nghiệp. Đối với con gái, Cơ tỏ ra khắt khe và nghiêm khắc. Nhưng trái lại, Soi lại ngấm ngầm chiều chuộng. Mỗi lần bán một lứa lợn, chị lại giấu chồng, dúi cho con gái vài trăm bạc. Tiếng là học sinh, quần là áo lượt, nhưng cái sự ăn uống kham khổ thì cực gấp mấy ở nhà. Mỗi lần nghe con gái kể về bữa ăn tập thể: bát canh rau muống võng vãnh vài cọng trong suốt không có một váng mỡ, rá cơm nguội ngắt toàn hạt bo bo, Soi lại thương đứt ruột. Từ một cô bé thuần phác, giản dị, đượm cái vẻ dân dã hiền lành. Hoà biết ăn diện và khôn ra rất nhanh. Sợ béo, tiền mẹ cho, nhưng Hoà không dám ăn uống thêm, chỉ để dành may quần áo. Mỗi đợt về nhà Hoà lại có thêm một sự thay đổi. Mái tóc dài chấm lưng cắt ngang vai, rồi uốn thêm mấy búp trước trán. Những bộ quần áo mốt mới nhất của Hà Nội được Hoà tiếp thu rất nhanh và lại mang cái văn minh ấy về làng khiến có người bĩu môi nhăn mũi, lườm nguýt kiểu như mắc một thứ bệnh dị ứng, nhưng đa số lớp trẻ thì lại trầm trồ thán phục, khen Hoà "chịu chơi" và biết làm tôn vẻ đẹp của mình. Mà đúng là Hoà có đẹp lên thật. Co người cô đẫy, căng với những đường nét khoẻ khoắn khêu gợi. Cái vẻ quê mùa biến đi rất nhanh. Cho đến bây giờ thì Hoà hoàn toàn nhập cuộc và không hề thua kém một cô gái biết ăn diện nào. Hoà là đối tượng theo đuổi của nhiều chàng trai thuộc đủ các tầng lớp biết ăn chơi và có trí thức. Nhưng dường như cái ý thức và tập tục làng quê vốn đã hoà tan trong dòng máu ngay từ khi Hoà còn nằm trong võng ru, nghe à ơi, tiếng cò bay lả, nhìn một làn khói bếp mỏng manh vương vấn quanh luỹ tre làng… khiến Hoà dễ dàng lựa chọn và chấp nhận tình yêu của Quân. Khác với Thắm và Đạt, Hoà và Quân yêu nhau không cần trải qua bước e ấp thăm dò buổi đầu. Dường như họ không có vận tốc ban đầu. Họ không bị ngăn cấm bởi những con mắt của nông thôn nghìn đời quen trói buộc, bị vây bủa tù túng quanh những luỹ tre, gốc đa, giếng nước, sân đình. Cuộc sống đô thị đa dạng, phóng khoáng, những đường phố nườm nượp xe cộ, những công viên mênh mông rợp những tán cây, huyền bí đủ cho họ thoả sức đưa tình yêu tới những xứ sở chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng và ảo mộng. Học tại trường sửa chữa ô tô, Quân tỏ ra tiến bộ rất nhanh trong việc tiếp thu những mánh lới làm ăn. Quân kiếm được tiền và vẫn được bố trợ cấp hàng tháng một khoản "học bổng" khá hậu hĩnh khiến anh và Hoà càng có điều kiện "tiêu xài xả láng" theo như cách nói của họ. Chuyến đi hôm nay nằm trong chương trình "về nhà nhận thêm viện trợ", để bù vào sự thiếu hụt kinh tế mà tuần trước họ vừa tổ chức một cuộc đi thăm một người bạn sau mấy tháng nghỉ hè. Gặp Đạt ngoài bến xe thị xã, đôi tình nhân thực lòng thương hại cảnh ngộ của anh binh nhất hẩm hiu và ngờ nghệch. Thế là không ngần ngại, Quân bày cho anh chàng binh nhất một ngón đòn tâm lý, khiến Đạt phải bái phục sát đất. *** Nhận được tin Loã báo, bà Điền cuống lên chạy đi tìm chồng. - Thằng Đạt nguy rồi, ông ơi. Mắt nó đang sắp hỏng, không còn nhìn thấy gì nữa. - Bà gặp nó ở đâu? - Ông Điền hơi sửng sốt, nhưng cố trấn tĩnh lại. - Chú Loã vừa gặp nó trên bến xe. Nó không đi được, phải nhờ thằng Quân, cái Hoà dắt. Con nó nhắn ông lên đón nó về. A, lại một màn kịch nữa đây. Đến bây giờ thì ông Điền đã mang máng hiểu ra và ông thấy hơi yên tâm. Nó định giở trò gì? Hết đau tim, nhức cột sống, choáng đầu, giờ lại mù mắt? Ông muốn bật cười khi nghĩ đến những trò hết sức láu cá nhưng cũng rất ngây thơ ngờ nghệch của Đạt trong mấy tháng gần đây. Mới hai mươi tuổi đầu, nó làm sao lừa ông nổi. Nói đúng ra thì lần đầu ông có tin. Nhưng rồi ông bắt đầu đặt câu hỏi khi thấy cu cậu hay về luôn. Bộ đội gì mà cứ được nghỉ luôn xoành xoạch như đi công trường? Ông kiểm tra giấy tờ. Đủ cả. Giấy nghỉ phép, đơn khám bệnh, giấy điều trị ở trạm xá có chữ ký của thủ trưởng đơn vị, của trạm xá, dấu ấn đàng hoàng. Ông viết thư cho Thái. Và lá thư của Thái mà ông nhận được gần đây đã giúp ông hiểu tất cả. Thì ra đã tám tháng nay, Thái đã chuyển công tác về sư đoàn bộ, nên ông ít có dịp gặp Đạt. Ở đơn vị độc lập, quen tự do, phóng khoáng, cậu ta bắt đầu học đòi kết bạn với những thanh niên chơi bời ở chỗ gần đơn vị đóng quân. Dựa vào thế thủ trưởng sư đoàn là bạn thân của bố, Đạt bắt đầu coi thường ý thức tổ chức kỷ luật, thường xuyên đi phép quá hạn, bỏ trốn đơn vị về nhà… Ông Điền đã cảm nhận ra con đường dẫn đến sự hư hỏng của Đạt. Nhưng ông tự nhủ mình phải hết sức kiên nhẫn giáo dục con. Những bài "chính trị" tại nhà được mở dành riêng cho Đạt mỗi khi Đạt trốn về. Ông giảng giải về đạo đức, về lý tưởng thanh niên, về nghĩa vụ đối với Tổ quốc… Nhưng người nghe hình như không chú ý gì lắm. Đạt ngồi vuốt tóc, thờ ơ và lãnh đạm, nghĩ đi đâu đâu, đôi mắt nhìn qua khung cửa sổ như con chim trong lồng, luôn luôn khao khát khoảng sáng của bầu trời. Và lần này? Anh chàng sẽ đóng tiếp vai kịch gì đây? - Nó có chân thì nó khắc về được. Không đón rước gì hết. Để nó về đây tôi xem. - Ông Điền trả lời vợ một cách dứt khoát. Quả nhiên, cho đến chiều tối thì Đạt tự đi bộ về thật. Hai người bạn "cố tri" tháp tùng anh trên suốt chặng đường hơn bốn cây số. Đáng lý họ định về sớm hơn. Nhưng chẳng lẽ hơn bốn cây số đường nắng chang chang và cứ sờ soạng dắt díu nhau thì mệt quá. Nên họ cố đợi hoàng hôn xuống. Vác gậy cuốc một mạch đến đầu làng, rồi bắt đầu chống gậy dò dẫm. Lúc ấy ông Điền đang ở nhà. Anh chàng Quân khoác chiếc ba lô chạy vào ném uỵch giữa giường, hốt hoảng báo tin: - Đơn vị cho thằng Đạt về, bác ạ. Nó bị đau mắt nặng. Cháu phải dắt suốt từ bến xe. Bà Điền hốt hoảng chạy ra ngõ. Ngoài ngõ lố nhố hơn chục đứa trẻ đang bu quanh Đạt. Anh chàng ngước đôi kính đen lên trời, một tay khuờ khoạng vào khoảng không trước mặt, tay kia chống gậy dò dẫm từng bước. Phải cố nín lắm ông Điền mới nhịn được cười, khi nhìn thấy hai mẹ con dắt díu nhau đi vào trong sân. Bà Điền mếu máo sụt sịt. Còn Đạt thì cứ dọ dẫm y như một anh xẩm. Khi Đạt đã ngồi bình tĩnh xuống chiếc ghế giữa nhà rồi, và ông bạn cố tri cùng lũ trẻ đã về hết, ông Điền mới kéo ghế ngồi trước mặt Đạt. - Thế nào? Đau mắt ra làm sao? Chỉ chờ có thế, Đạt đã vội rên lên hừ hừ. - Đau lắm. Bác sĩ bảo viêm thuỷ tinh thể có mủ. Mắt trái còn năm phần mười. Mắt phải bốn phần mười. Đơn vị cho về điều trị dài hạn… - Bỏ kính ra tao xem. - Ới ới, đau lắm. - Đạt la lên thất thanh khi ông Điền vừa sờ vào cặp kính. Nhưng rồi cặp kính cũng phải bỏ ra. Duy chỉ có điều nó cứ nhắm tịt mắt lại. - Mắt thế kia thì làm sao? Bây giờ cho đi sang nhà ông Trạc ngay liệu đã đi được chưa? Ông Điền đã đoán trúng tim đen anh chàng. Đạt giật thót người lại. Ông già đã biết tất cả rồi ư? Nhưng đã trót thì phải trét. Đạt đưa tay vào túi áo ngực lấy ra một xếp giấy. - Không tin, thầy cứ xem giấy tờ. - Giấy tờ của mày tao còn lạ gì. Toàn chữ ký giả và dấu bằng củ khoai. - Ông Điền trừng mắt. Đã đến lúc phải dồn cho cu cậu khai rõ sự thật. - Thôi, đóng kịch thế là đủ rồi. Vì sao mà trốn đơn vị về? Mày đào ngũ hay đã vi phạm kỷ luật? - Đấy, thầy cứ không tin. - Đạt vẫn nhắm tịt mắt, quay sang phía mẹ cầu cứu. - Thì thầy nó cứ để con nghỉ ngơi tĩnh dưỡng đã nào. Mắt nó đau như thế… - Nó đang lừa bà và tôi mà bà vẫn chịu được. - Giọng ông Điền bắt đầu run lên. Ông đã liếc mắt nhìn thấy chiếc gậy ở đầu gường. - Rồi thiên hạ người ta chửi vào mặt. Ai bảo mày bêu riếu tao bằng cái trò mất dạy này suốt từ bến xe về đây? Nhìn cái mắt mày thế kia… Đạt phụng phịu, lầm bầm: - Sắp mù… Không thương lại còn… - A. Mù hả? Để tao xem mày mù đến mức nào? Nhoài người về phía đầu giường, ông Điền vớ lấy chiếc gậy, khua lên một vòng, bổ xuống. Như một con sóc, Đạt nhảy phóc hai bước, lao ra cửa. Đã phán đoán từ trước, nên cái gậy ông Điền giơ cao mà bổ xuống rất nhẹ, chỉ khẽ vang lên một tiếng cộc rất nhỏ khi chạm phải thành bàn. Vậy mà tưởng như ông đã dùng hết tất cả sức lực đến mức cạn kiệt. Vừa buông gậy ra, ông ngồi phệt xuống ghế, toàn thân rã rời. - Đấy, bà xem. Mắt nó có làm sao đâu. Nó lừa dối cả tôi và bà. *** Mưu kế bị bại lộ. Đạt nghĩ không còn cách nào khác là phải nói thẳng với bố hết mọi điều: - Con chán đời bộ đội lắm rồi. - Đạt nói khi hai bố con đã ngồi đối diện với nhau trước bàn và không khí giữa họ đã trở lại hoà dịu. - Chán? Thì chính mày tự nguyện, chứ bố mẹ đâu có ép. Đang học dở lớp chín, mày đùng đùng đòi đi bằng được… - Vâng. Tại con tất cả. Đến bây giờ con mới thấy ân hận là không nghe lời thầy u cứ tiếp tục học hết lớp mười. Nhưng ngày ấy thì đúng là con háo hức, hăm hở. Bạn bè con nhiều đứa cũng chung ý nghĩ như vậy. Học hết lớp mười làm gì? Đi trung cấp thì không muốn. Lương bốn năm chục bạc thì sống sao nổi. Chỉ có con đường ở nhà sản xuất hoặc đi bộ đội. Ở nhà thì thầy biết rõ quá rồi đấy. Văn hoá lớp chín lớp mười cũng vứt đi, ai người ta thèm sử dụng. Chị Vy đấy, đội trưởng đội kỹ thuật, đối tượng Đảng, bây giờ cũng chỉ là một xã viên trơn. Người ta dùng đủ mọi hình thức để lợi dụng thanh niên, biến họ trở thành một thứ xung kích trong các đợt chống hạn, đào mương, làm thuỷ lợi… Nhưng không ai nghĩ đến chuyện bồi dưỡng đãi ngộ thích đáng cho họ cả. Không có lấy một cây đàn, một quả bóng, một tủ sách, một chỗ tối thiểu để họ sinh hoạt giải trí. Thanh niên mà sống như cụ già. Quần hơi loe một chút là bị đánh giá, thành kiến. Cái đáng đánh giá ở họ là những việc làm thì hầu như không ai đếm xỉa đến. Con hỏi thầy, tám năm nay, ở xã này, đã có những ai là thanh niên được kết nạp vào Đảng. Ông Điền bỗng sững người. Ông không dám nhìn vào đôi mắt vừa nãy còn nhắm tịt mà bây giờ sáng rực như hai ngọn đèn pha của con trai. Hừ, nội bộ Đảng. Ai nói cho nó biết? Lần đầu tiên ông nghe một câu hỏi mà suốt mấy năm trời ông không hề nghĩ đến. Đúng. Đúng quá. Tám năm nay đảng bộ Thanh Bình không kết nạp được một thanh niên nào. Không phải lỗi tại ông. Quyết định là ở các chi bộ… Không muốn trả lời con ngay. Vả lại, tối nay ông có ý định để cho "anh chàng" bộc lộ hết tư tưởng, nên ông vờ như không quan tâm đến câu hỏi. - Con xung phong đi bộ đội, một phần do ý thích, nhưng một phần cũng để tìm một lối thoát khỏi nông thôn. - Đạt nói tiếp. - Nhưng bây giờ con lại thấy ân hận. Đi bộ đội trong thời bình là một công việc hết sức chán: ăn, chơi, rồi luyện tập. Và kỷ luật thì đúng là hết sức quân sự. Đây không phải là một nghề nghiệp. Mà đã đến lúc con cần có một nghề nghiệp… - Nghề nghiệp gì? Mày định theo gót thằng Quân? Tụ tập nhau để đi ăn cắp? Câu hỏi lạnh lùng và đầy vẻ chế giễu của ông Điền bỗng làm Đạt tự ái. Dưới ánh đèn, gương mặt Đạt bỗng đỏ hồng lên. Anh nuốt nước bọt khan và cố trấn tĩnh lại. - Thầy đừng nói thế. Con sẽ xin xuất ngũ và về nhà sản xuất. Ông Điền bỗng cười khẩy, đứng dậy. - Cứ quanh co, dối trá mãi. Mày vừa nói đã chán ngấy cuộc sống nông thôn… Nghe người ta nói mày đang yêu con Thắm. Và tất cả mọi mưu kế của mày chỉ là để được về gặp nó. Có đúng không? Cái điều mà Đạt rất muốn nói ra nhưng thật khó khăn thì nay đã được ông Điền tháo gỡ. Không cần úp mở chút nào, anh đã thú nhận tất cả. - Vâng, con yêu cô ấy. Con muốn thầy u cưới cho con… - Đã đến mức cưới rồi ư? - Ông Điền bật cười ngồi xuống ghế và nhìn thẳng vào cậu con trai lúc này đang cúi đầu, hai tay đan vào nhau với một tâm trạng hết sức bối rối xúc động. - Lấy vợ thì có thể được. Nhưng với cái Thắm thì không ổn đâu. - Sao ạ? - Bố cô ta vừa viết đơn xin ra hợp tác xã. Tất nhiên cô ta và bà mẹ không đồng ý. Nhưng với một người như ông Trạc, đang cố tình chống lại phong trào hợp tác xã, đi ngược lại đường lối của chủ nghĩa xã hội thì gia đình ta không thể làm thông gia được. - Nhưng Thắm có làm gì? - Im lặng tức là tán thành tư tưởng của bố. Là bí thư chi đoàn, trước hiện tượng tiêu cực như vậy phải đấu tranh bằng được chứ? Phẩm chất người đoàn viên sẽ thể hiện ở chỗ này. Cuộc đấu tranh quan điểm giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản thể hiện ở chỗ này. Nhưng cô Thắm đã không làm điều đó. Cô ấy đã để cho bố viết đơn xin ra hợp tác xã, gây một dư luận xấu trong quần chúng xã viên. Đáng lẽ hợp tác xã sẽ cử cô ấy đi học lớp kỹ thuật sắp tới, nhưng vì chuyện này, xã đã đồng ý để lại… Đạt ngồi rũ. Hai tay đưa lên đỡ lấy cái đầu đang nóng rần rật. Có một cái gì vướng trong cổ, cứ đẩy lên, nhưng rồi vẫn bị nghẹn tắc lại. Rồi đột ngột anh vùng đứng lên, đi lại trong phòng. - Thật là vô lý. Tại sao mọi việc cứ trút hết lên đầu cô ấy? Con nghĩ đáng lẽ thầy phải bênh vực, bảo vệ Thắm. Làm sao mà có thể ngăn ông Trạc không viết đơn được khi ông không chịu được cách làm ăn này? Chính hợp tác xã đã dồn ông ấy vào tình cảnh này. Thầy xem đã có ai gắn bó hết lòng và làm việc quên mình vì hợp tác như thế? Ngót hai mươi năm trần lưng trên những luống cày, da đen cháy lại đến mức không còn chỗ cho nắng nhuộm thêm được nữa. Thế nhưng cũng chẳng hơn gì những người chây lười không chịu làm việc. Người ta cào bằng tất cả. Người khoẻ cũng như người yếu. Người chăm cũng như người lười. Chưa nói đến những kẻ chỉ sống bằng sự khôn ngoan cơ hội. Họ coi hợp tác như một phương tiện làm giàu, một cái mỏ vô tận để đục khoét. Họ xây nhà, đóng giường, sắm tủ và làm giàu một cách quá dễ dàng. Tiền của ở đâu ra? Tất nhiên là do công sức của những người xã viên cần cù và hiền lành như ông Trạc. Thầy đọc sách báo thì rõ. Hầu hết những nơi phong trào hợp tác sút kém, xã viên chán nản bất bình là do đội ngũ cán bộ ở đó sống không trong sạch, lợi dụng chức quyền để biến tài sản tập thể thành tài sản của riêng mình. Ở hợp tác xã ta có chuyện đó không? Có. Hình thức là một hợp tác xã tiên tiến, nhưng đời sống xã viên không hơn gì những hợp tác xã xung quanh. Nội bộ cán bộ bè phái, lủng củng. Ông Trạc đã dám chống lại những tiêu cực đó. Ra hợp tác cũng là bước cùng. Con nghĩ thầy trốn tránh, dung túng những hiện tượng tiêu cực. Thầy sống liêm khiết, trong sạch và không hề muốn va chạm, không muốn ai mất lòng. Nhưng có ai biết, có ai ủng hộ cách sống của thầy? Và xét về một phương diện nào đó thì đó là một thứ đạo đức cũ kỹ lỗi thời. Sống cho riêng mình thì được, chứ không thể sống cho tất cả mọi người. Thầy đã già rồi. Thầy không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu… Ông Điền ngả người bên thành giường, một tay bóp trán, mắt khép nhẹ như ngủ. Ban đầu ông còn nghi ngờ. Và bây giờ thì ông bỗng thấy bàng hoàng khi ông hầu như đã có một khái niệm trọn vẹn về đứa con trai của mình. Nó thực sự không còn là một đứa trẻ như ông vẫn nghĩ. Những điều nó nói đúng cả. Sở dĩ cho đến bây giờ người ta vẫn tín nhiệm ông làm bí thư đảng uỷ, chính là vì không còn ai hơn ông có thể đảm nhiệm được cái chức năng hoà giải, thủ lĩnh của phái ôn hoà giữa hai phe phái kình địch nhau trong xã. "Thầy đã già rồi. Thầy không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu". Lời nói của đứa con hay chính là lời thú nhận của ông đó? Ông Điền bỗng chép miệng, buông một tiếng thở dài. *** Lại một đêm trăng như bao đêm trăng thơ mộng ở làng quê. Thiên nhiên vốn rất công bằng. Thiên nhiên luôn dành ánh trăng trong ngần nhất cho những nơi còn thiếu ánh đèn. Trăng càng về khuya càng sáng, soi rõ từng đám cỏ gà đẫm sương bò lan trên mặt đường. Con đường ven hồ, chạy thẳng giữa hàng phi lao cao vút. Gió thổi vù vù trong những tán lá, bật lên những âm thanh thoảng nhẹ như tiếng sáo diều. Đạt và Thắm sánh vai nhau đi giữa hàng cây. "Con đường thanh niên" - trai gái trong làng đặt tên cho nó như vậy - đối với họ, từ mấy tháng nay đã trở nên quen thuộc và thân thiết vô cùng. Cứ mỗi lần bị ông Điền "bắt" lên đơn vị, Đạt lại tìm cách đi vòng qua nó cố nhìn lại cái nơi mà hai đứa ngồi đêm qua, những nhánh phi lao mà Thắm đã bẻ, vô tình thả trôi trên mặt hồ… và anh đứng bần thần nhìn suốt con đường, thầm hẹn với nó một ngày sẽ về lại… Lời thầm hẹn ấy, không bao giờ Đạt nguôi khuây. Anh có thể làm tất cả mọi điều mà cái tuổi hai mươi làm được. Đi bộ hai mươi cây số trong một buổi chiều nhỡ xe; năn nỉ nài xin với thủ trưởng đơn vị; hì hụi, tỉ mẩn khắc một con dấu trạm xá bằng củ khoai để dối bố, nhận làm khoán một công việc suốt một ngày chủ nhật; và hôm qua đây, đeo kính, chống gậy sờ soạng như một người mù… Tất cả những việc ấy, lúc quyết tâm sắt đá, khi láu lỉnh ranh ma, cũng chỉ cốt đạt được mục đích cuối cùng: về với Thắm, về với con đường và hàng cây quen thuộc. Tình yêu bắt đầu từ bao giờ? Mới tám tháng trước đây, đối với Đạt nó vẫn còn xa lạ và mơ hồ như biển đối với người chưa gặp biển, như trái cấm đối với người chưa hề nếm quả. Đạt chế giễu và coi thường những chàng si tình. Đạt không tin trên đời lại có một anh chàng Trixtan nào đó vì quá yêu mà đã bôi nhọ mặt mày, thay đổi giọng nói giả làm anh chàng ngớ ngẩn để chỉ cốt đến gặp nàng Ydơ tóc vàng(*) Thế rồi một lần về phép, tình cờ trong một đám cưới, Đạt gặp lại Thắm. Cô bé mà hai năm trước Đạt vẫn coi thường, "chẳng có gì đặc biệt" ấy, đã làm anh sững sờ. Thắm đứng hát giữa hội hôn, mạnh dạn, hồn nhiên và tươi tắn. Dưới ánh đèn măng-sông, gương mặt trái xoan trắng hồng, cái miệng thật duyên dáng, lúc tròn vo, lúc chúm chím. Và đôi mắt bồ câu đen như hạt huyền mỗi lần nhìn về phía Đạt lại làm anh giật thót người, tim đập như gõ trống. Đạt bắt đầu say. Không phải vì bài hát "Người ơi người ở đừng về" mà chính vì người hát nó. Nhưng làm quen bằng cách nào? Đạt dát. Đã hai tối Đạt đến nhà ông Trạc, đứng thập thò ngoài ngõ, rồi lại quay về. Phải nghĩ ra một cách nào đó cho thật tự nhiên. Từ đơn vị Đạt liền viết một lá thư cho Thắm, nhờ Thắm chép cho bài hát đêm hôm ấy, cái bài hát mà Đạt đã quá thuộc. Chỉ mấy ngày sau, Đạt đã nhận được thư của Thắm. Không ngờ cô gái bắt trúng mạch Đạt. Chỉ giả vờ. Biết rồi còn nhờ chép. - Thư Thắm viết thế. Tuy vậy Thắm vẫn chép cho Đạt bài hát ấy. Đạt nhảy bổ về nhà để thanh minh. Anh lại có cớ để được gặp Thắm. Tuổi hai mươi bắt gặp tình yêu như dầu gặp lửa. Cả hai cùng chứa ẩn sẵn một năng lượng tiềm tàng, chỉ gặp nhau là bùng cháy. Cho đến bây giờ thì anh chàng Đạt đã làm những công việc mà ngay cả Trixtan cũng chưa làm nổi. Mặc dù ông Điền tỏ ra hết sức cứng rắn với quyết định của mình, nhưng làm sao ngăn được tình yêu của Đạt đối với Thắm. - Mặc ông già. Nếu không cho cưới, thì anh sẽ không lên đơn vị nữa. - Đạt nói với Thắm khi hai người đi dến đoạn đường rẽ. - Ông già rất sợ anh đào ngũ. Thế nào cũng phải nhượng bộ. Thắm lo lắng: - Nhưng thầy em cũng không đồng ý thì sao? - Thì cả hai đứa sẽ trốn vào Lâm Đồng xây dựng khu kinh tế mới. - Không được đâu. Thầy em ra hợp tác. Em phải ở lại nhà làm giúp u lấy công điểm… - Hôm thầy viết đơn xin ra hợp tác, đáng lẽ em phải thuyết phục mới phải… Em là bí thư chi đoàn. Để thế mang tiếng chết… - Đấy, cả anh cũng còn trách em. Anh chưa hiểu tính thầy em đấy thôi. Nóng mắt lên thì có trời cản. Em với u, hai mẹ con nói thầy em như van lạy… Mà cũng tại cách làm ăn của hợp tác mình kia. Các ông quản trị thắt xã viên ghê quá… Họ cùng im lặng. Đạt buồn bã ngước nhìn trời. Một đám mây chợt kéo qua vầng trăng, phủ một khoảng tối trên đầu họ. - Ối, con rắn. Thắm nép vào người Đạt. Hơi thở nồng nàn thơm say quyện với mùi lá chanh toả ra từ mái tóc. Họ ngồi xuống mép cỏ. Đạt áp nhẹ bàn tay lên gương mặt sáng như vầng trăng, nhìn sâu vào đôi mắt bồ câu đen như hạt huyền, giọng nồng nàn: - Anh không đợi được nữa đâu. Cưới đi… Thắm cong ngón tay, ấn nhẹ vào trán Đạt, mắt lúng liếng một vòng. - Trốn bộ đội thì đừng có hòng. Em ra điều kiện nhé. Từ lần sau hai tháng mới được về một lần. - Thế thì khó quá. Nửa tháng thôi. Thắm giả vờ nghiêm, ngồi thẳng lại. - Phải rèn luyện gian khổ cho quen. Bắt đầu từ bây giờ. Hai, ba… - Và hai tay thu trước ngực, chân hơi co lại. Thắm nhìn thẳng vào mặt hồ lúc này đã tràn ngập ánh trăng. Cái cô bé thật quái quỷ. Cứ nghĩ ra đủ mọi thứ trò để giỡn anh mãi. Đạt cứ ngồi thần ra mà ngắm cái điệu bộ vờ nghiêm, tức cười của Thắm. Cố nghĩ một câu nói đùa cho Thắm bật cười mà không được. Sức nhớ tới cái máu hơi buồn của Thắm. Chỉ khẽ môt ngón tay chọc dưới làn da cổ dưới cằm là Thắm đã cười rũ như nắc nẻ. Rất khẽ khàng, Đạt luồn tay qua eo lưng tròn lẳn. Thắm giật bắn người, hất vội tay Đạt, bật cười khanh khách, ngã hẳn vào lòng anh. *** Tiếng cười con gái vang lên trong đêm thanh giúp ông Trạc tìm ra cái nơi mà ông đang phải đến. Suốt từ tối, không thấy Thắm ở nhà, ông Trạc đã bồn chồn bực bội. Tin tối qua Đạt giả vờ đau mắt trốn về, làm ông càng tin rằng hai đứa đã đi với nhau. - Tôi nghe người ta nói ông Điền nhất định không cho thằng Đạt lấy con Thắm nhà mình. - Bà Trạc mách chồng. - Đâu như ông ấy sợ mang tiếng. Bây giờ ai người ta thèm làm thông gia với ông? Ông Trạc sôi tiết lên: - Dễ tôi mang ngay con gái đến không có thất hiếu. Ông ấy là cái thá gì mà khinh tôi? Tôi thì ỉa vào. Con Thắm sẽ lấy khối đứa còn gấp vạn. - Nhưng tôi nghe con Thắm nhà ta say thằng Đạt lắm. Hai đứa cứ dính lấy nhau như nhựa. Ông phải xem thế nào… - Nó mà về đây thì tôi chặt chân. Một chợ mấy hàng dầu. Một đầu cầu mấy con chó chết. Cô nó đấy. Đã nhục nhã đeo mo vào mặt. Giờ lại đến nó, hả? Bà Trạc nghĩ chồng nói phải. - Nó về, ông cứ dần cho một trận. Con gái hơ hớ. Hay gì cái thói đi đêm về hôm. Khôn ba năm dại một giờ. Nhỡ có thế nào… - Tại bà tuốt. Dướng nó, nó sinh nhờn. - Ông Trạc bắt đầu dồn vợ. - Ông bảo tôi dướng nó cái gì? Thanh niên nó cũng phải đi họp đi hành, hát hò đàn đúm. - Bà Trạc chép miệng thở dài. - Mà cũng còn cái trò vè gì cho chúng nó giải trí? Chẳng nhẽ chưa tối đã tắt đèn đi ngủ? - Cứ tắt đèn đi ngủ cho nó đỡ tốn dầu. Họp hành nhiều sinh lắm chuyện. Như tôi đây, bây giờ không có họp hành gì hết. Họ không giải quyết đơn tôi cũng cóc cần. Tôi không thèm làm hợp tác cho họ biết tay. - Chứ tập thể họ lại sợ ông à? Họ không giả ruộng thì ông ăn bằng gì? Mẹ con tôi làm công điểm nuôi mồm cũng không đủ. - Tôi không dính dáng đến quyền lợi hợp tác của mẹ con bà là được. Phần tôi, tôi đã có cách. Mải mê nói chuyện trong ngoài hợp tác, đã đến lúc thằng Thiết hò hét đuổi bắt nhau chán chê ngoài sân kho giả vờ thất thểu về bảo bố không tìm đâu ra chị Thắm thì đã hết giờ đài. - Thế này thì nguy rồi. - Ông Trạc hầm hầm đi ra ngõ. - Tôi mà tìm thấy nó đi với thằng ấy thì tôi cứ xé xác. Dưới ánh trăng rờ rỡ, ông Trạc như người bị ma đuổi. Đi hút xuống tận gốc đa đình, rồi ông vòng trở lại con đường ra nhà kho. Cứ đến gần mỗi bụi cây hay một góc xó xỉnh nào, ông lại chắp hai tay phía sau, đi rón rén. Đôi mắt đục mờ hơi quáng, nghiêng ngó nhìn, còn đôi tai lúc vểnh bên này, lúc vểnh bên kia nghe ngóng. Tiếng chó sủa ăng ẳng suốt dọc đường ngõ xóm, nơi ông đi qua. Đôi lúc bực mình, ông nhặt một hòn gạch ném, nhưng chúng chỉ hoảng chạy một đoạn, có con cáu tiết len lén đuổi theo ông, suýt nữa thì bập được một nhát vào bắp chân. Không thấy bóng dáng Thắm đâu cả. Nó ở bờ bụi nào? Lửa bốc hừng hực trong đầu ông Trạc. Con với cái. Một tiếng cười chợt bật lên phía bên kia hồ. A, đúng nó rồi. Theo con đường phi lao hun hút, ông Trạc bước bươn bả. Thắm và Đạt đâu có biết ông Trạc đang đến gần. Họ áp đôi môi nóng rực vào nhau, say đắm nhìn vào mắt nhau, ngây ngất trong niềm hạnh phúc rạo rực. Cho đến khi cái bóng lù lù của ông Trạc đến gần… - Thầy em. - Thắm hốt hoảng kêu lên. - Con Thắm phải không? - Tiếng ông Trạc run trong cổ họng. Thắm vụt đứng dậy. Ông Trạc cúi xuống giật phắt chiếc dép cao su, sấn tới. Thắm bật chạy. Chiếc dép lao tới, rơi tùm xuống nước. Ông Trạc vừa định đuổi theo con, thì cái bóng bộ đội của Đạt đã lừng lững trước mặt. - Xin bác bình tĩnh… Như một con gấu say mồi, ông Trạc túm lấy cổ áo quân phục của Đạt. Đôi mắt mở trừng trừng như hai cục lửa áp sát vào mặt anh, giọng ông rít qua kẽ răng: - Anh là ai? Bộ đội đào ngũ phải không? Thắm hốt hoảng quay phắt lại. Một sức mạnh vô hình nào đó bất ngờ làm cô trở nên dũng cảm lạ thường: Không còn nghĩ đến nguy hiểm gì nữa, Thắm lăn xả vào, giữ tay bố: - Thầy, con xin thầy. Anh ấy không có tội gì… - A… - Ông Trạc há hốc miệng kinh ngạc. - Con van thầy… Tại con tất cả… Do con tất cả… - Thắm cứ giữ chặt lấy tay bố, miệng lắp bắp. Ông Trạc từ từ buông xuôi hai tay. Ông nhìn con gái, rồi lai nhìn Đạt, và cảm thấy mình bất lực. IX Cơn gió đầu mùa đột ngột tràn đến, như một cuộc thăm dò thử sức của thiên nhiên với cường độ trung bình và nhiệt độ không thấp hơn nhiều lắm. Vậy mà Trần Sinh đã cảm thấy lạnh ghê người. Dấu hiệu của tuổi tác được xác nhận bằng sức chịu đựng và độ nhạy cảm trước sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Đầu mùa đông năm nay, Trần Sinh buồn bã nhận ra rằng con người không thể cưỡng nổi quy luật của tuổi già. Mặc thêm chiếc áo đại cán, quàng khăn phu-la kín cổ, Trần Sinh uể oải đi xuống nhà bếp. Cái bếp ăn tập thể duy nhất còn tồn tại trong huyện, sở dĩ vẫn còn duy trì được ba mươi hai người ăn chính là do công sức của ông. Giá cả đắt đỏ, đồng lương thực tế của cán bộ mỗi tháng chỉ vừa đủ đi hai buổi chợ. Một bếp ăn tập thể dù có tài tổ chức xoay xoả đến đâu, với hai mươi tư đồng mỗi người cũng không có cách nào cải thiện bữa ăn khá hơn được. Một số người có gia đình ở gần chịu khó đạp xe đi về hai buổi. Một số khác tổ chức thành từng nhóm nấu ăn riêng. Cực nhất là những cán bộ sống xa gia đình vợ con như Trần Sinh. Ông không thể tách khỏi bếp ăn tập thể vì thì giờ, phương tiện, điều kiện không cho phép nấu bếp riêng đã đành, nhưng điều cơ bản vẫn là vì ý thức trách nhiệm và tính gương mẫu của người cán bộ lãnh đạo không cho phép ông làm như vậy. Nhiều người công tác lâu ở huyện đều thừa nhận rằng, so với những bí thư huyện uỷ trước đây, Trần Sinh thuộc vào loại người sống nhiều bằng lí trí. Là một bí thư huyện uỷ, nhưng ông vẫn tự nguyện sống một cuộc sống vật chất kham khổ như mọi người. Vợ con, gia đình ở cuối huyện, hàng tháng ông mới đảo qua một lần. Dường như ông luôn tự kiềm chế bản thân mình, luôn luôn tự đặt cho mình những tiêu chuẩn rất cao để vượt lên, để phấn đấu. Có người lại cho rằng, với cái vẻ bề ngoài rất đạo mạo, trí thức, tác phong sinh hoạt khuôn mẫu mực thước, cộng với khả năng diễn đạt trôi chảy, có sức lôi cuốn, Trần Sinh như vốn sinh ra để làm chính trị. Thực tế, quá trình hoạt động của ông ba mươi năm qua dường như cũng đã định sẵn cho ông một hướng đi. Từ một cán bộ công tác địch vận, sau hoà bình, Trần Sinh tham gia công tác huyện đoàn, tỉnh đoàn, đi học trường chính trị, rồi về làm bí thư huyện uỷ cho đến nay. Ngay từ ngày về công tác ở huyện, ước mơ lớn nhất của ông là hết kế hoạch năm năm này sẽ phấn đấu đưa huyện Giang Thuỷ trở thành một huyện dẫn đầu toàn tỉnh về mọi mặt. Mơ ước ấy nhiều khi cháy bỏng như một tham vọng, cuốn hút như một đam mê. Vốn là một người kín đáo, ít khi ông thổ lộ những dự định của mình. Nhưng ông đâu chỉ muốn dừng lại ở đó. Huyện tiên tiến hàng đầu của tỉnh, tất nhiên bí thư huyện uỷ sẽ phải là linh hồn của nó. Cái ghế thường vụ tỉnh uỷ khoá đại hội tới chắc chắn trong tầm tay. Và rồi rất có thể ông sẽ bật tường trở lại tỉnh uỷ. Ông sẽ nhận một chức nào đó trong thường vụ. Biết đâu vì cơ cấu thay đổi hay vì một dịp may nào đó, rất có thể ông còn đi xa nữa… Con đường trước mặt thênh thang rộng mở. Vấn đề là ông có đủ sức phất cái Giang Thuỷ này lên không? Còn chần chừ gì nữa, cờ đã đến tay rồi? Đất đai màu mỡ, nhân lực dồi dào, người dân Giang Thuỷ vốn cần cù, hết lòng tin tưởng ở đường lối nông nghiệp của Trung ương. Giang Thuỷ lại có nhiều nghề thủ công truyền thống, có một cơ sở vật chất dồi dào đủ để phát triển nhiều ngành nghề thủ công và nông nghiệp địa phương… Tất cả những điều kiện cơ bản ấy lại được cái khí thế đi lên sản xuất lớn chắp thêm cánh, mở ra một tương lai phát triển xán lạn khiến có lúc Trần Sinh như bị choáng ngợp. Không còn nghi ngờ gì nữa, đã đến lúc đưa phong trào nông nghiệp Giang Thuỷ tiến vọt, tiếp cận với nền sản xuất hiện đại. Phải bắt lấy một số điển hình tiên tiến, nhân nhanh phong trào. Vân Xuyên, Tú Nguyệt, Thanh Bình trở thành những lá cờ đầu. Có thể nơi đó là những sản phẩm do ông tạo ra trong ba năm qua. Và trong số ba điển hình tiên tiến ấy, Thanh Bình chính là nơi ông đặt nhiều hi vọng hơn cả. Bởi vì ông tin ở năng lực và sức bật của Cơ. Khao khát vươn tới, luôn tự đặt yêu cầu cao cho mình, đó là bản lĩnh của những người anh hùng. Ở hội nghị huy động lương thực vụ mùa vừa qua, Cơ đã chứng tỏ lòng tin của ông đối với Cơ là đúng. Vậy mà bây giờ, cái hợp tác xã Thanh Bình mà Trần Sinh đã đặc biệt hi vọng ấy đang làm cho ông hết sức đau đầu. Gây rối đánh lộn nhau làm chủ nhiệm vỡ đầu. Đảng viên sa ngã. Xã viên xin ra hợp tác… Toàn những chuyện tày trời. Không thể hiểu được. Không thể dung thứ được. Lát nữa ông Điền và Cơ lên đây, mình sẽ không thể tha thứ, không thể dung túng. Trần Sinh chém mạnh tay vào không khí như thể ông đang cáu kỉnh với một ai đó, và rẽ vào nhà ăn tập thể. Gian nhà rộng mênh mông, xếp thẳng tắp bốn dãy bàn, chỉ có duy nhất một thanh niên trẻ đang ngồi trước một bát mì đã nguội ngắt, đọc mê mải một cuốn sách dày cộp. Đó là Sơn, anh kỹ sư nông nghiệp vừa mới ra trường, tạm thời điều sang công tác bên huyện đoàn. - Cậu đọc cuốn gì mà mê mải thế? Ăn đi đã, không có mì vữa hết ra kìa. Sơn ngẩng lên nhìn Trần Sinh cười ngượng ngập, đôi tai chợt đỏ hồng. - Cháu đang đọc cuốn "Chuyện thường ngày ở huyện". Liếc nhìn cuốn sách dày đến nửa gang tay, Trần Sinh đã phát ngại. Ừ, tuổi trẻ các cậu thì đọc được chứ chúng tớ thì chịu. Bao nhiêu công văn chỉ thị, nghiền ngẫm cho hết cũng đã mụ đầu. Sức đâu mà đọc. Trần Sinh mở chiếc lồng bàn bưng bát mì nguội ngắt, những sợi mì trương nở hết mức, bết vào nhau thành một tảng sánh, đến ngồi cùng bàn với Sơn vừa uể oải xúc một thìa vừa lơ đãng hỏi: - Sách của nước nào? Tiểu thuyết hay sách khoa học kỹ thuật? - Của Liên Xô, bác ạ. Tác giả Ôveskin vốn là một nhà báo nổi tiếng. Cuốn sách viết dưới dạng kí sự. - Lý sự à? Sao cậu không tìm đọc những cuốn sách về nông nghiệp, về công tác Đoàn của cậu có hay hơn không? Những tay nhà văn nhà báo là chúa hay nói dông dài lý sự. Chuyện về một huyện có gì để viết mà làm một cuốn dày cộp thế kia? Đúng là các ông ấy chẳng có việc gì để làm. Cứ trực tiếp chỉ đạo một huyện cụ thể xem có bở hơi tai ra không? Sơn suýt bật cười khi Trần Sinh hiểu nhầm cuốn sách thuộc loại sách Lý sự. Nhưng anh đã kịp kìm lại. Cái vẻ bẽn lẽn ngượng ngập của Sơn đã biến mất. Anh đặt cuốn sách lên bàn. Những điều mà anh đã thu nhận được trong cuốn sách, tự nhiên thôi thúc anh muốn giãi bày tất cả: - Bác đọc rồi sẽ thấy. Hay lắm bác ạ. Máctưnôp là một bí thư huyện uỷ tuyệt vời… Anh ta hiểu biết về các nông trang, công việc đồng áng, như một nông dân thực thụ. Câu chuyện ấy xảy ra từ những năm năm mươi, nhưng đối chiếu tình hình ở ta hiện nay thật không khác gì mấy. Ôveskin giỏi ở chỗ là ông dám nói thẳng tất cả sự thật. Cái tốt, cái chưa tốt của các nông trang. Nhiều chuyện cũng tiêu cực, tham ô móc ngoặc, hoặc bệnh giáo điều, quan liêu giấy tờ, xa rời sản xuất, chạy theo thành tích cũng hệt như chúng ta bây giờ… Cậu này định ám chỉ ai? - Trần Sinh nhìn Sơn với cái nhìn chẳng có chút thiện cảm nào. - Tí tuổi, học ba quyển sách đã nói độc giọng sách vở. - Sao lại như ta bây giờ được? Mỗi nước có một thời kỳ quá độ khác nhau chứ. Họ tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đã kinh qua tư bản chủ nghĩa. Còn chúng ta, cậu đừng quên là ta đi thẳng từ phong kiến lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội. - Mặc dù cái món mì suông chẳng lý thú gì, Trần Sinh cũng phải cố ăn cho xong bát, rồi đứng dậy để tránh phải tranh luận với một anh chàng kỹ sư non choẹt mà lại thích tranh luận. - Ồ, bác. Bác đọc rồi sẽ thấy. Đúng là nông nghiệp mình đang giẫm phải con đường mà chính Liên Xô đã thoát ra từ những năm sáu mươi. Nếu chúng ta chịu rút kinh nghiệm, dám mạnh dạn thay đổi cách nghĩ cách làm như họ, có phải nhanh hơn bao nhiêu không? Cháu nói ví dụ như vấn đề tổ chức, vấn đề sử dụng cán bộ. Thử hỏi rằng có chủ nhiệm hợp tác xã nào của huyện ta đã qua các lớp quản lý kinh tế, đã có trình độ trung cấp nông nghiệp? Và một loạt cán bộ có trình độ trung cấp mà các hợp tác xã gửi đi đào tạo hoặc do nhà nước đào tạo, đã được sử dụng như thế nào? Cháu mới về công tác ở huyện đoàn hai tháng, nhưng xuống các hợp tác xã mới thấy lực lượng thanh niên có văn hoá, có trình độ hiểu biết, mình chưa biết sử dụng, bồi dưỡng họ, để lãng phí quá… Trần Sinh mỉm cười, vỗ vai Sơn, rồi chỉ vào bát mì, ý nhắc anh hãy thực hiện xong cái nghĩa vụ với cái cái dạ dày đang sôi ùng ục của mình đã. - Cậu mới về. Chưa hiểu gì về cơ sở đâu. Nếu không có trận bão lụt vừa rồi thì chúng ta hoàn toàn khẳng định rằng chủ trương lên sản xuất lớn của chúng ta là đúng đắn. Thiên tai nó phá mình ghê quá… Còn chuyện tổ chức quản lí là một vấn đề phức tạp. Trước hết cậu hãy cố gắng làm tốt những công việc mà cô Thoa đã giao… - Báo cáo bác. - Sơn ngập ngừng, nhưng rồi anh nhìn thẳng vào Trần Sinh mạnh dạn. - Xin bác cho cháu về một hợp tác xã nào hoặc sang uỷ ban nông nghiệp. Chứ công tác đoàn, cháu cảm thấy không có khả năng… Trần Sinh chợt nhớ sáng nay ông hẹn làm việc với chủ nhiệm và bí thư Thanh Bình. Ông vội xua tay, bước ra khỏi nhà ăn: - Miễn bàn. Tổ chức đã cân nhắc rồi. Thanh niên trẻ mà không làm công tác đoàn thì để cho ai? *** Khi Trần Sinh về đến phòng thì đã thấy Toại đang đứng chờ ông ngoài hành lang. - Ông chờ mình lâu chưa? Gió mùa mà ông mặc phong phanh thế, chịu sao nổi. - Sinh tròn mắt ngạc nhiên khi thấy Toại chỉ mặc một chiếc sơ-mi như ngày thường. - Tôi có thấy lạnh gì đâu? - À à… - Sinh bật cười. - Lạnh là do mình đã có tuổi. Ông kém mình hơn chục tuổi. Thảo nào… Hai người vào trong phòng. Trần Sinh pha trà rồi cả hai ngồi xuống hai chiếc ghế xa-lông mây đối diện nhau. - Hôm qua anh lên tỉnh họp, tình hình có gì mới không? - Toại ấp chén trên tay đưa lên gần miệng thở hít cái mùi trà thơm phức, hỏi. - Trận bão vừa qua gây thiệt hại ghê gớm. - Trần Sinh ngã người, hai tay dang ra hai bên thành ghế, vừa nói vừa lắc đầu. - Toàn tỉnh mất tới sáu mươi phần trăm diện tích không được gặt. Đau nhất là Đạo Tú, Viên Đình rồi đến Giang Thuỷ mình. Theo thông báo của Trung ương, kể cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tổng số diện tích ngập lụt lên tới một triệu rưỡi héc-ta. Gần một trăm năm nay mới lại có một trận bão lụt ghê gớm như bây giờ. Thực tại thật đáng lo, nhưng phải suy nghĩ cho tương lai. Tình hình trước mắt là phải nhanh chóng cứu trợ cho những vùng ngập nặng. Tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để giành thắng lợi trong vụ đông tới. Đồng chí bí thư tỉnh uỷ nhấn mạnh vụ đông này có một tầm quan trọng đặc biệt. Phải dốc hết sức để bắt đất phải bù lại những thiệt hại đã mất. Vấn đề tiêu nước, gấp rút chuẩn bị đất để trồng hoa màu là nhiệm vụ trọng yếu trong tháng cuối năm này… - Còn tình hình thời sự? Vấn đề người Hoa có giải quyết êm thoả? - Toại bồn chồn, nhấp nhổm trên ghế, chén nước trên tay đã nguội lạnh, nhưng anh vẫn chưa uống. Trần Sinh rít một hơi thuốc lào, chành miệng thở khói, lắc đầu: - Căng thẳng lắm. Tình hình biên giới phía bắc căng thẳng như thế nào báo chí đã đăng rồi. Mình muốn giải quyết một cách ôn hoà, nhưng họ không muốn… Toại chép miệng thở dài: - Chao, đất nước mình sao mà gian truân vất vả thế là cùng. Không lúc nào hết thiên tai địch hoạ… Cả hai cùng im lặng. Toại chống tay bóp trán, còn Trần Sinh thì ngả hẳn người vào thành ghế xa-lông như cảm thấy toàn thân rã rời. Lúc sau, Toại nhìn đồng hồ nói với Trần Sinh: - Vẫn chưa thấy các vị Thanh Bình đến. Anh hẹn họ tám giờ phải không? Anh Sinh này, tôi cảm thấy số liệu báo cáo của Thanh Bình vừa qua cao hơn nhiều so với thực tế. Cứ cho rằng so với các xã trong huyện thì Thanh Bình thuộc diện úng nặng. Nhưng so với Tú Nguyệt, Hoa Thành thì bằng thế nào được. Ruộng Tú Nguyệt, Hoa Thành trũng nhất huyện, thế mà nó cũng chỉ mất bảy mươi phần trăm, bằng Thanh Bình… - Nó bị mất trắng năm mươi héc-ta ở phía nam đường Sáu Tư. - Tôi tính cả rồi. - Toại giở sổ tay, nhìn lại những số liệu anh đã tổng hợp được. - Diện tích của Thanh Bình vụ này gieo cấy là… Trần Sinh nhìn đồng hồ, xua tay như ông đã hiểu tất cả. - Phải tin ở cơ sở, ông ạ. Đời nào Thanh Bình dám khai tăng diện tích để đòi nhà nước trợ cấp. Tay Cơ thì tôi hiểu rõ lắm. Về ý thức xã hội chủ nghĩa thì bọn mình không thể nghi ngờ hắn được. Có anh chủ nhiệm nào dám tuyên bố sẽ đóng góp cho nhà nước 600 tấn thóc nghĩa vụ trong một năm? Ngay cái thằng Vân Xuyên giàu như thế mà vẫn kỳ kèo từng tấn lương thực. Qua hội nghị huy động lương thực vừa rồi tôi đánh giá được từng anh. Anh nào có tư tưởng tiên phong của giai cấp công nhân, anh nào có tư tưởng nông dân tư hữu? Không thể có hai thái cực trong một con người. Làm cán bộ lãnh đạo là phải có lòng tin vào cơ sở, tin ở quần chúng. Mặc dù hiện nay Thanh Bình đang có những bê bối đáng tiếc nhưng mình vẫn tin ở nó. Toại vẫn không chịu. - Hôm vừa rồi đi thăm đồng, tôi rất chú ý tới những diện tích ngập úng của họ. Giang Thanh mất nặng, chứ Thanh Minh, Thanh Cao thuộc loại đồng cao nhất xã, hầu như không bị ảnh hưởng cơn bão số chín. Có lẽ vụ đánh lộn xảy ra chính là do việc tổ chức gặt tập trung toàn xã. Xã viên những hộ được mùa họ không chịu. - Lát nữa cậu Cơ lên đây, chúng ta sẽ nghe kỹ hơn về vụ này mới có kết luận được. Mình chỉ lưu ý với ông một điều, với Thanh Bình, phương pháp của chúng ta là rất cứng rắn nghiêm khắc với những sai lầm lệch lạc của họ, nhưng đồng thời cũng phải hết sức động viên nâng đỡ họ. Tôi đã bàn với anh Quyền và các anh phụ trách các ngành vật tư. Huyện sẽ cho thêm Thanh Bình sáu máy công nông, ba máy bơm dầu, gấp rút xây dựng trạm bơm điện Thanh Giang. Về phân bón, thuốc trừ sâu, tuy có khó khăn, nhưng chúng ta vẫn phải đủ khả năng thoả mãn những yêu cầu của họ. Cho cả ba mươi xã thì mình không đủ sức, nhưng với ba hợp tác xã điểm thì hoàn toàn làm được. - Trần Sinh bỗng chống hai tay lên thành ghế, nhoài người về phía trước, đôi mắt sáng rực và giọng nói trở nên sôi nổi. - Phải tạo nên một điển hình tiên tiến để chứng tỏ quy mô hợp tác xã đã thực sự phát huy những ưu thế và tiềm năng của đất đai, nhân lực. Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, chúng ta phải bằng mọi cách thực hiện được. Đó không phải chỉ là quyết tâm suông mà thực tế phải diễn ra như vậy. Những Vũ Thắng, Định Công là những dẫn chứng rất hùng hồn sinh động, chứng tỏ tính chất ưu việt của nền sản xuất lớn. Riêng với Thanh Bình, tôi đặt rất nhiều hi vọng. Bởi lẽ đó là sự hợp lực của ba hợp tác xã tiên tiến trước đây. Bởi lẽ cậu Cơ là một chủ nhiệm thực sự có năng lực, có ý thức cầu thị, có hoài bão làm ăn lớn. Chúng mình phải biết nắm lấy, bồi dưỡng và nhân lên… Tôi thì lại suy nghĩ có điểm khác anh. - Toại thầm nghĩ. - Cái lối tạo điển hình của anh không ổn đâu. Tập trung tất cả máy móc, vật tư cho một hợp tác xã để làm gì? Cố tạo ra một hình mẫu mà thực tế không thể có trong hoàn cảnh hiện nay để làm gì? Cái gì trái quy luật sẽ bị đào thải. Anh không thể mang tích phân vi phân để nhồi nhét vào đầu óc một người vừa thoát khỏi mù chữ để tạo nên một con người có trí thức. Không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn được đâu. Cả anh và tôi, chúng ta đều mắc bệnh giáo điều như nhau, nhưng anh thì lại quá say sưa với nó, nhìn nhận nó như là một giải pháp hữu hiệu. Thực tế phong trào của chúng ta đang ở đâu? Sau cái phút say sưa choáng ngợp bởi viễn cảnh đi lên sản xuất lớn, nhìn lại chúng ta thấy gì? Một loạt tài sản của hợp tác xã nhỏ sau 15 năm chắt chiu xây dựng bị phân tán, phá huỷ. Lại xây dựng hàng loạt công trình mới cho phù hợp với quy mô lớn. Hầu hết các hợp tác xã đều hình thành những phe cánh đối lập để cố giành cho phe mình cái chức chủ nhiệm và những chức vụ có quyền thế. Đất đai tập trung, phạm vi điều hành rộng, nhưng trình độ năng lực cán bộ vẫn có vậy, công cụ lao động cũng chỉ có vậy. Thực tế là chúng ta đã đi ngược lại cái quy luật: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cứ suy từ ba hợp tác xã Tú Nguyệt, Vân Xuyên và Thanh Bình mà anh đang cố tạo thành những điển hình tiên tiến thì đủ rõ. Cho đến ngày thứ ba của cơn bão số chín, trong số chín máy bơm đi-ê-zen của ba hợp tác xã chỉ có bốn chiếc hoạt động. Hỏng bu-gi. Thiếu dầu. Thiếu công nhân vận hành. Máy móc không được bảo quản tu sửa, vứt lăn lóc ngoài trời từ vụ này đến vụ kia, sờ đến cái nào cũng hỏng. Bao nhiêu máy móc, của cải nhà nước đầu tư đều đã gặp trường hợp tương tự. Nguyên nhân chính là chúng ta chưa tạo được ra một cơ chế đồng bộ: máy móc phải đi đôi với con người sử dụng, với thiết bị sửa chữa và thay thế. Cái mà chúng ta phải đầu tư cho các hợp tác xã là trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, là cơ cấu cây trồng cụ thể cho từng cánh đồng, từng thời vụ, tập trung sức tối đa cho công tác thuỷ lợi, tạo ra một cơ chế quản lý mới… thì chúng ta lại coi nhẹ. Anh có nhớ, về vấn đề này tôi đã tranh luận với anh bao nhiêu lần trong các cuộc họp thường vụ? Riêng cái điển hình Thanh Bình của anh, theo tôi, cái đỉnh điểm của nó đã qua rồi. Nó đang ở thời điểm khủng hoảng về phương hướng. Nội bộ Thanh Bình đang có vấn đề. Một trong những sai lầm lớn nhất của anh là đã đẩy Tin đi Lâm Đồng. Cơ có nhiều mặt tốt, nhưng vì quá say thành tích, cậu ấy đang ở trong một tình thế bị cô lập. Để thoát khỏi tình trạng này, Cơ chỉ còn cách tranh thủ sự ủng hộ của huyện, nhất là của anh. Phải nên tỉnh táo trong cách nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đồng chí bí thư ạ… - Mình tin rằng chỉ qua vụ đông này Thanh Bình sẽ lại hồi sức. - Trần Sinh vẫn tiếp tục cái dòng suy nghĩ lạc quan của mình. - Cay cú nhất của cậu Cơ là đã không có dịp thực hiện cái chỉ tiêu 600 tấn kỷ lục. Mà không cay cú sao được. Một mình anh chàng vận động viên cừ khôi đã đến giai đoạn nước rút giành chức vô địch mà lại bị chuột rút. Đến như mình trong suốt mấy ngày mưa lớn cứ rã rời không ăn ngủ được. Khổ thế. Làm cái anh chỉ đạo, đã say rồi thì lại đam mê quá mê gái. Trần Sinh ngả người trên ghế, bật cười khà khà vì câu ví von khôi hài của mình. *** Lúc đó Cơ đang trên đường lên huyện. Ông Điền đã đạp xe đi trước anh một tiếng đồng hồ. Hai người hẹn sẽ gặp nhau ở trước cổng huyện uỷ. Chiếc Honđa sau khi thoát khỏi đoạn đường đá lổn nhổn bị trận mưa lớn cày xới lên, bon rất êm trên đường nhựa. Mùa gặt đầy biến cố đã qua rồi. Vết thương trên trán Cơ cũng đã lành. Nhưng những thử thách lớn nhất đối với anh vẫn còn đang ở phía trước. Sẽ có điều gì xảy ra trong cuộc gặp gỡ giữa bí thư huyện uỷ với anh và ông Điền sáng nay? Anh như tưởng tượng thấy gương mặt đầy thất vọng của Trần Sinh, đôi mắt nheo nheo nhìn anh vừa trách móc, vừa buồn bã: "Mình thật sự không ngờ. Cậu làm ăn thế nào mà để Thanh Bình sa sút tới mức này? Cậu có biết bọn mình đặt ở cậu bao nhiêu hi vọng không?". Tất cả những điều xảy ra đối với tôi thật quá bất ngờ, anh Sinh ạ. - Cơ thầm nói với con người mà anh đang tưởng tượng. - Về chuyện cô Luyến, bác Điền sẽ trình bày rõ với anh. Chuyện tưởng như liên quan tới cả một đảng bộ, nhưng thực ra chỉ là một trường hợp rất đáng thương của một người đàn bà. Hai chuyện kia, thực ra chỉ là một. Ông Trạc chắc là anh đã biết. Một người nóng nảy, tính khí thất thường và hay bất mãn. Việc ông Trạc cùng xã viên đội Mười không cho đội Ba gặt lúa toàn là do sự hiểu lầm chủ trương của ban quản trị. Có người tung tin đồn là vụ này hợp tác xã lấy thóc của những đội không mất chia cho các đội thất thu. Nghĩ rằng không được ăn thì phải đạp đổ, xã viên đội Mười kéo nhau ra gặt lén và ngăn không cho người của đội Ba đến gặt. Tôi bị thương cũng là một sự trả giá cho chủ trương táo bạo của mình. Từ việc xung đột trên đồng, việc ông Trạc bị xã bắt giải lên huyện, cộng với nỗi uất ức, buồn bực về em gái, ông Trạc đã viết đơn xin ra hợp tác xã. Lá đơn ấy biểu lộ sự bất mãn của riêng ông, chứ không hoàn toàn được sự đồng tình của vợ và con gái. Phải phân chia rành rẽ như vậy để thấy rằng đây là hành vi bất mãn của một cá nhân đơn độc, chứ hoàn toàn không có vấn đề quần chúng xã viên… Sắp xếp lại từng chi tiết, cân nhắc từng lời nói, dần dần Cơ đã hình thành một dàn ý có sẵn. Anh tin chắc rằng sự chuẩn bị của mình sẽ không thừa khi ngồi đối diện với một con người sắc sảo, già dặn và có tài lí luận như Trần Sinh. Nhớ lại buổi chiều hôm qua, khi ban quản trị mời ông Trạc lên văn phòng trao đổi về lá đơn của ông, Cơ lại thấy hoang mang. Không biết cách giải quyết của anh như vậy có đúng không? Liệu huyện uỷ có đồng ý hay lại cho rằng mình có tư tưởng hữu khuynh, thoả hiệp? Khó xử nhất là thái độ của ông Trạc. Suốt cả buổi ông chỉ ngồi yên lặng. Bộ mặt lầm lì như trơ ra, không hề có một rung động, một phản ứng nào trước những lời nói lúc an ủi động viên, lúc cương quyết đe doạ. Cơ đã dùng gần nửa tiếng đồng hồ để ôn lại với ông suốt quá trình từ ngày xây dựng hợp tác xã đến nay, về tính ưu việt và những đóng góp lớn lao của hợp tác xã trong kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu không có hợp tác xã thì không thể có được cuộc sống như ở nông thôn bây giờ. Hầu hết các gia đình đều có nhà ngói, giường tủ bàn ghế. Con cái chúng ta đi học cấp ba đều có xe đạp. Nhiều gia đình có đài, giường mô-đéc, tủ buýp-phê. Đội sản xuất nào cũng có nhà trẻ, lớp mẫu giáo. Đường làng ngõ xóm được mở rộng. Đồng ruộng vuông vức như bàn cờ. Hệ thống tưới tiêu triệt để. Năng suất lúa mỗi ngày một cao. Đã chấm dứt từ lâu cái cảnh kéo cày thay trâu, còng lưng cuốc đất. Nhưng cái quý giá nhất mà hợp tác xã mang lại là cái tình người. Những cụ già độc thân, những gia đình neo đơn, gia đình liệt sĩ bộ đội đều được hợp tác hết lòng giúp đỡ. Từ ngày có hợp tác xã, đã có ai bị đói rách, bị hắt hủi? Đã có ai xin ra hợp tác xã… - Bây giờ tôi xin ra. - Gương mặt lầm lì của ông Trạc không hề biến đổi. - Theo chính sách của Đảng và Nhà nước, ra vào hợp tác xã là tự nguyện. Tôi thấy kiểu làm ăn bây giờ không hợp với tôi nữa. Ông Trạc không giải thích, thậm chí cũng không hề to tiếng. Ông vẫn cứ lầm lầm giữ bộ mặt khó hiểu. Biết làm thế nào được? Cơ đành phải trao đổi với các đồng chí lãnh đạo xã để báo cáo với huyện là đồng ý chấp nhận của ông Trạc. …Đúng giờ hẹn. Cơ gặp ông Điền ở cổng huyện uỷ. Hai người vừa qua dãy nhà khối văn phòng đã nghe tiếng gọi giật giọng ở phía sau. Cơ nhận ra Mạch từ bên kia sân uỷ ban đi lại. - Chào ông Cơ. Đã khoẻ hẳn rồi chứ? A, cả cụ Điền. Các vị lên gặp anh Trần Sinh đấy hả? - Vẫn bộ mặt phương phi lúc nào cũng đỏ au và nụ cười rất cởi mở hồn nhiên, Mạch xoè bàn tay phốp pháp ra bắt tay hai người. - Căng quá nhỉ? Vụ này Thanh Bình mất đau quá. Hôm vừa rồi cậu Loã lên nộp báo cáo, bọn mình mới chột dạ không ngờ Thanh Bình lại mất tới bảy mươi phần trăm… Cơ liếc nhìn ông Điền và gương mặt anh hơi tái đi. Cả ông Điền và Cơ, ngay trong phút ấy, đều thoáng nhói lên một nỗi ân hận dằn vặt, giống như tâm trạng của những người vừa làm một việc mà lương tâm mình không cho phép. Mạch vỗ vai Cơ, vẻ thông cảm: - Đành phải bù lại ở vụ chiêm xuân tới thôi. Mình hết sức đấu tranh ủng hộ các ông vào danh sách các xã được cứu đói. Xong rồi. Đợt đầu Thanh Bình sẽ nhận được 50 tấn gạo và bột mì vào cuối tháng mười hai tới. Các ông cũng chuẩn bị để lên Hà Bắc nhận một nghìn tấn sắn tươi nữa. Không biết chừng mất mùa mà dân Thanh Bình lại no… - Mạch cười hề hề nhìn xoáy vào mắt Cơ, ranh mãnh như đọc rõ từng ý nghĩ trong đầu anh. - Hôm nào có sắn, mì, mời anh Mạch xuống thăm Thanh Bình một chuyến để chia sẻ lộc nhà nước. - Cơ nói một cách lấy lòng. - Có chứ. Nhất định mình sẽ xuống. - Mạch quay sang ông Điền cười xin lỗi, rồi kéo Cơ ra chỗ gốc nhãn gần đó, giọng nhỏ lại: - Hôm tay Loã mang báo cáo lên, mình biết ngay rằng các ông không phải những tay khờ. - Mạch chúm miệng, nheo mắt nhìn Cơ như muốn nói: "Các cậu khôn lõi đời, nhưng sao qua nổi mắt thằng Mạch này?", rồi Mạch lại vỗ vào vai Cơ. - Nhưng cũng phải thế thôi. Lo cho dân cũng chính là ích nước. Hôm nọ Loã cũng hẹn mình xuống… Đôi lợn giống các cậu để cho mình khảnh ăn quá… Cơ chợt hiểu ra cái bắt tay vồ vập, câu chuyện làm quà của Mạch khiến người nghe cứ giật mình thon thót. Chậc. Cũng phải có đi có lại. Nguyên việc Mạch giúp Thanh Bình cũng gấp trăm lần như thế. - Để mình nói với trại chăn nuôi đổi lấy đôi khác, anh ạ. - Hôm nọ ông Loã cũng đã nói rồi. - Mạch lại cười. - Nhưng mình cứ nghĩ phiền các ông quá. Thôi được. Để hôm nào mình bảo cháu nó xuống… Cơ định quay đi, nhưng Mạch vẫn níu lấy: - Còn chuyện này thuộc về tập thể, nhưng mình cũng xin cầm đèn chạy trước ô tô. Tình hình đói kém này, năm tới chắc chắn cán bộ nhân viên cánh mình vẫn còn bị cắt hai tháng lương thực nữa. Không còn cách nào hơn là sản xuất tự túc, chứ không nhẽ lại về ăn cơm vợ con? Xin đặt vấn đề trước với ông, vụ chiêm xuân tới, ông dành cho phòng bọn mình hai mẫu ruộng được không? - Tưởng gì. Chứ đất đai đối với Thanh Bình chúng tôi thì không lo. - Cơ tỏ ra hết sức dễ dãi. - Chúng tôi sẽ cày bừa sẵn cho các anh. Các anh chỉ việc điều quân xuống cấy một buổi là xong. Mạch cười tít, cầm tay Cơ rung mãi. Chính anh cũng không ngờ cái chuyện xin xỏ đất đai giống má bây giờ lại dễ dàng đến thế. *** Bốn người ngồi trong bộ ghế xa-lông mây, quanh chiếc bàn tròn. Thái độ lạnh lùng của bí thư huyện uỷ làm cho Cơ cảm thấy lo lắng. Anh không biết rằng, chính Trần Sinh cũng cảm thấy khó xử từ lúc anh có mặt. Tinh ý sẽ nhận ra trong ánh mắt của ông, trong cái nhìn trách móc, bực bội vẫn có sự thương hại, thông cảm. Tay chủ nhiệm ngồi trước mặt Trần Sinh kia, chính là một hình ảnh khác của ông, chính là sản phẩm của ông đó. Cơ lên làm chủ nhiệm Thanh Bình ngay sau ngày ông về nhận bí thư huyện uỷ Giang Thuỷ sáu tháng. Đáng lý ra, cái chân chủ nhiệm ấy là của Tin, chủ nhiệm Thanh Minh. Nhưng Tin là "môn đệ" trung thành của Mẫn, bí thư huyện uỷ cũ. Mà giữa Mẫn và Sinh lại như mặt trăng với mặt trời. Tin lại tỏ ra bướng bỉnh, muốn độc lập làm theo ý mình tới mức gần như là coi thường cấp huyện. Nhân tỉnh đang thiếu uỷ viên Ban Kinh tế mới, thế là Sinh "đẩy" Tin đi một cách êm gọn, chóng vánh. Chọn được một người như Cơ cắm ở một hợp tác xã tiên tiến để thực hiện những ý đồ chỉ đạo của mình, đó là điều làm cho Trần Sinh yên tâm tin tưởng. Nhưng ông vẫn là một người sống nặng về lý trí, ít khi bộc lộ những tình cảm của mình một cách bồng bột. Vì vậy khi nghe ông Điền và Cơ trình bày tất cả những sự việc đã xảy ra ở Thanh Bình một tháng qua thì ông bừng bừng giận dữ. Yêu cho vọt, ghét cho ăn. Ông luôn luôn tâm niệm câu ngạn ngữ đó. - Tôi không hiểu các anh làm ăn như thế nào mà lại xảy ra những chuyện hết sức vô chính trị như vậy? - Trần Sinh ngồi nhỏm trên ghế, giật phắt cặp kính ra khỏi mắt, bàn tay nắm lại, dằn xuống cuốn sổ để mở trên bàn, giật phắt cặp kính ra khỏi mắt, bàn tay nắm lại, dằn xuống cuốn sổ để mở trên bàn. - Cách giải quyết của các anh như vậy là hữu khuynh, vô nguyên tắc. Phong trào của Thanh Bình sút kém, đi xuống, các anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước huyện uỷ… Cơ không ngờ Trần Sinh lại phẫn nộ đến như vậy. Anh đưa mắt cho ông Điền, rồi nhìn Toại như cầu cứu. Ông Điền bình tĩnh và như có phần tự tin hơn. Lật giở tập hồ sơ nhìn lướt qua một lần nữa rồi ông cẩn thận đặt trước mặt Trần Sinh: - Xin đồng chí xem giúp lại biên bản của chi bộ Thanh Cao và ý kiến của đảng uỷ chúng tôi. Về vấn đề đồng chí Luyến, thực ra toàn đảng uỷ chúng tôi đã thảo luận rất kỹ. Có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Nhưng đa số ý kiến đều thống nhất nhận định đây là một khuyết điểm thuộc về sinh hoạt… - Tôi đề nghị các đồng chí về xem xét lại. - Trần Sinh gạt tập hồ sơ sang một bên. - Các đồng chí quan niệm như vậy là hạ thấp tiêu chuẩn một người đảng viên. Dù thanh minh bào chữa thế nào đi nữa chúng ta cũng không thể lừa dối được quần chúng. Khuyết điểm sinh hoạt? Một bí thư đảng uỷ lâu năm như đồng chí mà lại quan niệm đơn giản thế thôi ư? Đối với những đảng viên mắc khuyết điểm như cô Luyến phải thẳng thắn khai trừ khỏi Đảng, chứ không thể gượng nhẹ. Có như thế chúng ta mới giữ được Đảng trong sạch, vững mạnh. Vấn đề thứ hai, - Trần Sinh quay sang Cơ - trường hợp lão Trạc, các đồng chí giải quyết như vậy là hoàn toàn sai nguyên tắc. Lý lịch lão ta như thế nào? - Thành phần gia đình bần nông. Vào hợp tác xã năm 59, ngay khi mới thành lập. Có hai con đi bộ đội, một hiện đang tại ngũ. - Toại trả lời thay Cơ và ông Điền. Ông Điền bổ sung thêm: - Từ ngày vào hợp tác xã luôn luôn là một xã viên tích cực. Số ngày công luôn cao nhất đội. - Thế mà tư tưởng đã biến chất nhanh quá. - Trần Sinh đan hai bàn tay trước bụng, lắc đầu thất vọng. - Việc làm của lão Trạc rõ ràng là có hệ thống với một chủ định hẳn hoi. Vụ gây rối trên đồng đánh anh Cơ bị thương chính là do lão ta lôi kéo, kích động quần chúng. Rất tiếc là hôm đưa lão ta lên huyện, tôi đi họp vắng. Các đồng chí bên công an huyện xử lý quá vội vàng, đơn giản. Tôi không đồng ý với nhận định của đồng chí Cơ coi đây là một hành động bất mãn có tính chất đơn lẻ. Các đồng chí thử tưởng tượng, nếu hợp tác xã nào cũng có những người như lão Trạc thì phong trào hợp tác hoá sẽ như thế nào? Nguy hại lớn nhất là sẽ tạo một làn sóng hoang mang, thiếu lòng tin trong quần chúng, lôi kéo những xã viên khác. - Hôm về Thanh Bình vừa rồi, tôi đã có dịp tiếp xúc với ông Trạc. - Toại nói. - Tôi nghĩ, chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan, công bằng. Việc ông Trạc xin ra hợp tác xã, có một nguyên nhân quan trọng là khâu quản lý. Các đồng chí ở Thanh Bình phải nghiêm khắc nhìn lại những sai lầm của mình. Cái gì đã dẫn tới sự phản ứng của quần chúng? - Về điểm này các đồng chí ở Thanh Bình sẽ kiểm điểm sâu sắc hơn. Nhưng riêng việc các đồng chí chấp thuận đơn của ông Trạc là các đồng chí đã khuyến khích những hành động chống đối. Không thể giải quyết đơn giản như vậy được. Để một người ra hợp tác xã lúc này tức là chúng ta có tội với phong trào. Tức là chúng ta thừa nhận một khuynh hướng không lành mạnh của tâm lý nông dân… - Chúng tôi đã giải thích, thuyết phục nhiều lắm… - Phải kết hợp giữa biện pháp thuyết phục, giải thích với biện pháp chính quyền. Phải đưa lão ta đi tập trung giáo dục một thời gian. Toại phản đối: - Không được. Làm như vậy thô bạo quá. Điều lệ hợp tác xã quy định xã viên có quyền… - Có quyền phá hợp tác xã ư? - Trần Sinh đỏ bừng mặt, vùng đứng dậy đi lại trong phòng. - Riêng cái chuyện gây rối đánh cán bộ bị thương đã đủ để cho chúng ta áp dụng những biện pháp chính quyền một cách hợp lý. Tại sao chúng ta lại bỏ qua câu chuyện đó để lão ta nhơn nhơn thoả sức phá hoại? Trần Sinh bước nhanh về chỗ để máy điện thoại, quay số: - A lô. Cho tôi xin công an huyện… Ai đó, anh Khoa đấy phải không? Tôi, Trần Sinh đây. Hả? Chiều nay hai giờ anh đến gặp tôi một chút nhé. Có chuyện tôi cần làm việc với anh… Cả ba người còn lại cùng nhìn nhau im lặng. Toại khẽ lắc đầu. Cơ rút khăn tay chấm mồ hôi đang rịn ra trên trán. Trần Sinh đặt ống nói xuống, đi lại ngồi vào ghế. - Tôi sẽ cho lập lại hồ sơ về vụ đánh người bị thương tật đó. - Giọng ông bỗng trầm hẳn xuống. Vầng trán hói đầy những nếp nhăn như sóng. - Không có biện pháp nào tốt hơn được. Chúng ta đành phải chấp nhận một biện pháp hơi thô bạo, nhưng ít ra nó cũng giúp chúng ta đạt được mục đích là ngăn chặn kịp thời những tư tưởng không lành mạnh trong phong trào nông nghiệp hiện nay. Một hợp tác xã tiên tiến như Thanh Bình, không thể có những hiện tượng tiêu cực như vậy được. Tôi đề nghị đảng uỷ và ban quản trị Thanh Bình phải kiểm điểm sâu sắc những khuyết điểm trong thời gian qua. - Trần Sinh nhìn thẳng vào Cơ, ánh mắt ông đã trở nên dịu dàng hơn. - Nhiệm vụ của các đồng chí trong thời gian tới là phải tập trung toàn bộ lực lượng cho chiến dịch trồng màu vụ đông và vụ chiêm xuân tới. Bằng mọi biện pháp phải đạt thắng lợi một vụ đông cao nhất, phải phấn đấu trở thành ngọn cờ đầu toàn huyện, toàn tỉnh… Lúc tiễn Cơ và ông Điền ra về, Trần Sinh vỗ vai Cơ nói nhỏ: - Thường vụ huyện uỷ vẫn đặt nhiều hi vọng ở cậu. Gắng làm thật tốt. Cơ nhìn đồng chí bí thư huyện uỷ đầy biết ơn và tin cậy. *** Ba ngày sau, một bưu tá mang đến cho ông Trạc một phong bì có dấu của phòng công an huyện. Ban đầu ông Trạc còn kinh ngạc, nhưng sau thì ông hiểu tất cả. Lặng lẽ thu xếp quần áo vào trong chiếc túi xách. Ông nói với vợ: - Tôi có việc phải đi ít ngày, có thể một hai tuần, hoặc lâu hơn cũng nên… Bà Trạc và mọi người xung quanh đều tưởng ông nhàn rỗi, muốn đi tung tẩy cho đỡ buồn. Chỉ riêng Thắm là mang máng cảm thấy có chuyện gì không hay. Từ hôm ông Trạc xin ra hợp tác xã, nhất là từ cái đêm ông bắt gặp Thắm với Đạt ở bờ hồ và tuyệt đối nghiêm cấm Thắm không được quan hệ với Đạt nữa, cái phần tươi mát hồn nhiên ở Thắm như khô héo đi dần. Thắm hay né tránh những đám đông, tránh giáp mặt những cán bộ đảng viên trong xã. Có đêm nghĩ buồn tủi, Thắm lại lặng lẽ khóc thầm. Ông Trạc đi trong một buổi sáng mùa đông trời xám màu chì. Gió bấc thổi hun hút, bứt dần những chiếc lá bàng trên cây, để trơ những cành gầy guộc khô khẳng. Lần đầu tiên nhìn cánh đồng làng, ông bỗng nao nao một nỗi xao xuyến bối hồi. Mấy mươi năm gắn bó với từng thửa ruộng từng cánh đồng, có ai ngờ bây giờ ông lại rời xa tất cả? Cánh đồng của ông kia, ngày xưa ông đã từng kéo cày cho nhà chánh tổng Đào Hữu Tòng suốt bốn vụ liền để gán nợ. Cánh đồng Sậu, cánh Cửa Giải xưa đầy lau lác, thảng hoặc mới cầy được một vụ lúa, giờ ăn chắc hai vụ. Và cánh đồng Bà Chúa, chỗ cái gò Ông Sư ấy là bốn sào ruộng ông được chia ngày cải cách. Cái bờ ruộng còng queo đầy những hang cua và những lỗ trẻ con đào chuột đã được thay bằng những đoạn bờ thẳng băng từ lâu rồi, vậy mà nhắm mắt lại, ông vẫn cứ mường tượng ra được. Ngày lập hợp tác xã, ông là người viết đơn đầu tiên. Ngót chục năm liền hợp tác xã làm ăn khấm khá. Lúa tốt, xã viên no, đồng ruộng cải tạo lại, bờ vùng bờ thửa vuông chằn chặn, cứ nhìn mà thích mắt. Đúng là làm ăn hợp tác xã có hơn trước. Bao nhiêu công to việc lớn, từ chuyện đào máng Mười, đào mương Hữu Nghị tiêu nước cho cả mấy xã, chuyện dựng nhà trẻ, mẫu giáo, làm sân kho chuồng trại, chuyện san lấp đồng, cải tạo mặt bằng đồng ruộng, đưa giống mới vào đại trà,… cho tới chuyện phân phối ăn chia, sắp xếp người đi đánh giặc, người ở nhà,… Tất tật mọi chuyện, hợp tác lo toan thu xếp cả… Công bằng mà nói, không có hợp tác, cái làng Thanh Cao của ông đâu được thế này? Bốn trăm nóc nhà, tranh tre vách đất, chỉ ngót nghét chục năm đổ lại đây, đã lên nhà ngói san sát. Đến như ông, cả thời trai trẻ làm lụng đầu tắt mặt tối cũng không nuôi nổi vợ con, thế mà ngay trong năm chiến tranh phá hoại ác liệt nhất, cũng quất lên được năm gian nhà ngói… Những điều Cơ nói với ông hôm nào đúng cả. Hợp tác xã đang mang lại cho gia đình ông một đời sống khấm khá… Nhưng đấy là chuyện từ mấy năm về trước. Chứ cách làm bây giờ bắt đầu phú quý giật lùi. Ồ, loáng cái mà đã hai chục năm trời. Hai chục năm làm anh xã viên, có bao giờ mình nghĩ đến chuyện ra hợp tác? Thế mà nay… Ông Trạc bỗng thấy bùi ngùi. Ông có cảm giác rằng những cánh đồng Bà Chúa, Cửa Ông, Cửa Giải kia, chúng cũng lo toan buồn tủi như con người vậy. Chúng đang nhìn ông bằng con mắt trách móc, hờn giận. Ông nỡ bỏ chúng tôi mà đi ư? Chúng tôi có lỗi gì đâu. Vắng ông, chúng tôi đến khô cằn đi mất. Ai sẽ cày xới, bón phân, chăm bẵm? Ồ, mình đâu có phải là cái thằng ăn cháo đái bát. - Ông Trạc như thầm nói với những cánh đồng. - Xa cái cày, con trâu, nhiều lúc chân tay cứ như thừa… Còn vài năm cuối cùng, mình cũng muốn gắn bó với hợp tác lắm chứ… Nhưng mình hận quá. Cách làm ăn ở Thanh Bình thế này mình không chịu nổi. Mình rất muốn chăm bẵm cày xới, muốn đổ mồ hôi, sức lực nhiều nữa, nhưng đất đai, cây lúa đâu còn là của chính mình? X Đoàn tàu Thống Nhất 3 như một con cuốn chiếu khổng lồ mệt nhọc trườn qua đèo Hải Vân. Ngay dưới chân con tàu, bên mé trái là biển. Nghe thấy tiếng sóng vỗ ầm ào, cảm thấy làn gió biển ẩm mát và vị mặn của muối, nhưng nhìn ra vẫn chỉ thấy mờ mịt một màu trắng đục và từng dải mây la đà vờn quanh thân tàu. Không thể phân biệt được đâu là trời, đâu là biển. Lúc ấy là năm giờ sáng. Sau một tiếng reo của ai đó, cả tàu đã ùa dậy, tràn hết ra những ô cửa sổ để được ngắm biển. Hoà cũng ở trong số những người háo hức và hiếu kỳ ấy. Sau một đêm ngủ chập chờn và đầy những lo âu, sợ hãi, hối hận, qua ánh đèn vàng vọt, trông Hoà càng hốc hác phờ phạc. - Anh Quân, anh Quân, đèo Hải Vân đây này. Giọng cô gái ẩn chứa một niềm háo hức say mê không kìm giữ được của những người dễ xúc động trước một vẻ đẹp, một kỳ quan hay một cái gì đó mà họ thường được nghe nhắc đến với tất cả niềm khao khát, ngưỡng vọng. Quân ngủ mê mệt. Mảnh ni-lông trải dưới sàn tàu bị cuốn lại, một nửa người Quân bị đút hẳn vào trong gầm ghế. - Kìa, anh Quân, đèo Hải Vân này. Dậy mà xem! Quân ẩy bàn tay Hoà, lầu bầu cáu kỉnh với cái giọng của người đang ngủ say bị người khác phá giấc. - Đèo với đọt. Yên cho người ta ngủ. Những giây phút hồn nhiên ngắn ngủi sau một ngày lầm lì, buồn bã và hối hận của Hoà vụt tắt đi ngay. Cô lặng lẽ ngồi bên cửa tàu, mở to đôi mắt nhìn vào cái khoảng trống mênh mông của trời, nước. Tại sao mình lại bỏ trường đi theo Quân? Sau kỳ nghỉ hè, mình đã hoàn thành đợt thi một cách trôi chảy, có thể nói là tốt đẹp nữa cơ. Tiếp theo ba tuần lao động và luyện tập quân sự, mình sẽ đi thực tập sáu tháng. Rồi ra trường. Thoát khỏi đời học sinh vô tư, vui vẻ, nhưng cũng thật sự nhọc nhằn và gò bó. Thế mà mình lại nói dối trường, bịa ra một bức điện khẩn với lý do bố mình bị tai nạn để trốn hai tuần lao động, đi theo Quân. Đi Sài Gòn. Chỉ riêng cái điều ấy đã hấp dẫn mình ghê gớm. Nghe nói Sài Gòn to và đẹp lắm. Có những ngôi nhà cao mười sáu tầng. Có chợ Bến Thành chất ngất từng núi hàng hoá và đủ các thứ hoa quả lạ miền Nam. Con gái Sài Gòn thì ăn diện hết sảy. Tất cả những mốt hiện đại nhất của Hà Nội đối với Sài Gòn đều trở nên quê kệch và lỗi thời. Không cần đắn đo suy tính, mình đồng ý ngay với Quân. Đi Sài Gòn. Bỏ hai tuần lao động và tập quân sự thì đã sao? Mình có lý do chính đáng. Ở Sài Gòn, Quân có người dì ruột. Hai đứa tha hồ xả láng. Quân nói: hai đứa sẽ còn đi tắm biển Vũng Tàu nữa. Nhưng sao mình vẫn cảm thấy quá vội vạng, bồng bột. Dám nói dối trường bỏ đi chơi trong cái năm học cuối cùng có tính chất quyết định cả ba năm học. Nếu trường phát hiện ra, tội nhẹ nhất cũng là treo bằng tốt nghiệp hoặc không phân công công tác. Và nếu bố biết? Bố nghiêm khắc lắm. Bố sẽ không tha thứ cho mình đâu. Ngay chuyện quan hệ với Quân, bố cũng nhiều lần ngăn cấm. Bố nói đúng chăng? "Cái tạng thằng Quân không hợp với con đâu". "Không hợp ư". Mình cũng mang máng nghĩ thế. Quân tháo vát, ngang tàng và "chịu chơi". Bố mẹ chiều, gia đình có, nên Quân mới ăn tiêu thế. Chuyến đi này mình cảm thấy thế nào ấy. Quân mang hẳn một ba lô và một túi du lịch nặng. Thứ gì? Ngửi toàn mùi thuốc lá. Hay là Quân đi buôn? Quân đã bỏ học rồi ư? Mình vội vã và liều lĩnh quá. Đi Sài Gòn? Biết thế nào mà tin. Mẹ thường nói: làm thân con gái, sẩy một bước là hỏng cả đời. "Không, mẹ cứ tin ở con. Con yêu Quân. Nhưng con không đến nỗi mù quáng và nhẹ dạ đâu…". Những ý nghĩ cứ cồn lên trong đầu Hoà, khi bồng bềnh chơi vơi như những làn mây đang vấn vít quanh tàu, khi xao động như những đợt sóng biển, khi lại dồn dập giằng xé như tiếng bánh xe trên đường sắt. Hoà không thể ngờ rằng cô đang bị lôi kéo vào một con đường đầy nguy hiểm. Giống như một đầu máy trên con đường lăn xuống vực, nhưng nó còn cố kéo theo cả một toa tàu. Nửa tháng trước đây, trong một đợt xuống nhà máy sửa ô tô thực tập, Quân đã thông đồng cùng một vài công nhân xấu lấy trộm nhiều phụ tùng hiếm quý tuồn ra ngoài. Bị bảo vệ nhà máy phát hiện, Quân bỏ trốn lên Lạng Sơn, ở nhờ nhà một người quen. Và bây giờ, anh quyết định bỏ trường, rủ Hoà vào Sài Gòn. Đã sáng rồi. Tít ngoài khơi xa, một màu hồng nhẹ cứ lan dần. Bình minh đang lên trên biển. Hoà định lay Quân dậy. Nhưng nhìn cái dáng nằm co quắp và mệt mỏi của anh, cô lại buồn bã thở dài, với tay lấy chiếc túi xách, tìm lược chải đầu. Bàn tay Hoà như bị hẫng khi với phải một khoảng trống không. Chiếc túi xách du lịch đựng quần áo tư trang của Hoà đã biến đi đâu mất. - Anh Quân, anh Quân. Mất túi du lịch rồi. Quân vùng trở dậy, ngơ ngác nhìn quanh, mấy giây sau mới hiểu sự việc. Cả toa tàu nhớn nhác xem lại hành lý đồ đạc và cùng cảm thông chia buồn với người đồng hành hẩm hiu. - Tại em tất cả. Đã bảo tối qua đưa xuống gầm ghế lại không nghe. - Quân bực bội vừa nói vừa bật lửa châm thuốc lá. Hoà gục đầu trên bàn. Đến lúc này cô mới có dịp điểm lại cái món gia tài mà cô dành dụm tiền mẹ cho để may sắm trong hai năm vừa qua. Một áo len màu hoàng yến. Một quần lụa Nhật. Hai chiếc quần gin màu be và màu trắng sữa. Năm áo sơ-mi may theo mốt mới nhất của Hà Nội. Tiếc nhất là chiếc quần gin trắng sữa và chiếc áo cổ Jên. Mấy đứa bạn cùng phòng cứ phát ghen lên mỗi khi Hoà diện bộ quần áo ấy đi với Quân. Thế là hết. Chỉ vì một chuyến đi dại dột và hết sức vớ vẩn. Hoà bỗng oà khóc. Đôi vai tròn rung lên thổn thức theo nhịp lăn của con tàu. - Thôi, khóc gì nữa. - Quân đặt tay lên vai Hoà. - Vào Sài Gòn sẽ tính sau. Hoà vùng hất mạnh tay Quân, giọng ấm ức và bực bội: - Tại anh tất cả. Không đi nữa đâu. Dứt khoát là em sẽ quay lại. Nhưng đoàn tàu vẫn cứ chạy. Nó đang lao xuống dốc. Những bụi cây hai bên đường bị con tàu thổi tốc lên, vật vã, đổ dạt về phía sau. *** Tàu dừng ở ga Đà Nẵng nửa tiếng để thay đầu máy. Hành khách tấp nập xuống ga tắm rửa, ăn uống. Nhưng Hoà chẳng thiết gì nữa. Cô vẫn ngồi bên cửa sổ, đôi mắt đỏ hoe, buồn bã nhìn sang đoàn tàu Thống Nhất từ Sài Gòn ra cũng vừa dừng lại ở ga, như cố tìm một người quen nào đó. Một anh bộ đội từ trên toa tàu đối diện bước xuống. Khuôn mặt với những đường nét dứt khoát: cằm vuông, mũi thẳng, trán cao, đôi mắt sáng, trầm tĩnh nhưng đượm buồn. Nước da nâu dầu dãi gió nắng càng tạo cho gương mặt nét rắn rỏi, dày dạn của người đã trải qua nhiều thử thách, gian khổ. Vắt qua vai chiếc khăn mặt, tay cầm ca quân dụng, bàn chải, anh đang đưa mắt tìm nơi rửa mặt. Ban đầu Hoà ngờ ngợ, rồi sau thì Hoà tin chắc anh bộ đội ấy chính là Thanh, chồng chị Vy cùng làng. - Chú Thanh, anh Thanh! - Hoà tíu lên, cô cũng không biết mình nên gọi bằng chú hay bằng anh nữa. Anh bộ đội như vẫn không nghe thấy Hoà gọi. Hoà chạy bổ ra cửa tàu. Gặp Quân đang bưng lên một ca nước. - Em vừa nhìn thấy chú Thanh ở tàu Thống Nhất 2. Quân giữ tay Hoà lại. - Đừng xuống. Chú ấy biết chúng mình đi Sài Gòn, rồi lại ầm làng lên. Nhưng Hoà đã giằng khỏi tay Quân, chạy bổ xuống sân ga. Cái ý nghĩ mơ hồ suốt hai ngày qua cứ âm ỉ trong cô như một niềm day dứt, như một ước muốn, bây giờ lại bùng lên, quyết liệt. Thanh không nhận ra cô gái gọi mình. Anh đã đi xa hàng chục năm biền biệt nên không thể biết được các cô gái mới lớn. - Em là Hoà… con anh Cơ… - Hoà xưng hô lộn xộn và cô cảm thấy lúng túng thực sự khi phải lựa chọn một cách gọi cho phù hợp. Cái tên người mà Hoà gợi lên, như một mũi dao khoét vào vết thương tưởng đã liền da của Thanh, đau buốt. - Kìa, anh làm sao thế? - Không. Tôi hơi đột ngột… - Thanh cố trấn tĩnh lại, nói lảng. - Hoà vào trong này công tác phải không? - Em… Em định vào Nha Trang thăm một đứa bạn. Nhưng vừa gặp một người quen nói là nó đã chuyển ra Bắc rồi. Đành phải quay lại… May quá lại gặp anh. Anh cho em cùng về với nhé… - Nhanh trí, Hoà đã bịa ra một câu chuyện hoàn toàn hợp lý. Cô cũng đã biết cách khéo léo giấu biến anh bạn đồng hành của mình đi. Thế là Hoà đã quyết định. Cô sẽ trở về trường. Hoà đi lại toa tàu của mình để thông báo điều đó với Quân. Nhưng không thấy Quân đâu cả. Túi du lịch và ba lô của Quân cũng không còn chỗ cũ nữa. Khách ngồi chung ghế cho biết bạn của cô vừa bị công an hỏi giấy. Khám thấy trong hành lý của anh có hàng cấm, họ đã mời anh ta xuống ga rồi. Hoà bủn rủn cả người. Cô chạy thất thểu vào trong ga, ngó tìm khắp các gian phòng. Quân đã bị công an dẫn đi đâu? Bằng cách nào để giúp Quân bây giờ? Tàu Thống Nhất 3 đã rúc còi chuyển bánh, đi tiếp về hướng nam. Tàu Thống Nhất 2 cũng đang rúc còi gọi khách. Làm cách nào bây giờ? Bỏ Quân lại một mình ư? Những ý nghĩ cứ như canh hẹ làm Hoà hốt hoảng, ngơ ngác như người mất hồn. Ở lại tìm anh ấy. Nhưng tìm ở đâu? Và nhỡ không gặp? Hoà nhìn lại mình. Chỉ có hai bàn tay trắng. Không có cả một đồng xu nào nữa. Hồi còi cuối cùng báo hiệu giờ chuyển bánh. Thanh chạy đến gọi Hoà giật giọng: - Cô Hoà, lên tàu thôi. Cô tìm gì ở đó? - Em vừa mất chiếc túi du lịch. - Hoà nói không kịp nghĩ và cô oà khóc. Hai người trở lại chỗ Thanh thì vừa lúc đoàn tàu rời ga. - Thôi, nín đi. Tôi sẽ đưa cô về đến tận nhà. Lần sau đi đâu xa, đừng đi một mình. Cô bạo thật đấy. Thanh an ủi Hoà và xếp lại đồ đạc trên chiếc giường nằm của anh cho Hoà có một chỗ ngồi thoải mái. Cho đến hết ngày hôm sau ấy, tâm trạng Hoà đã trở nên vui vẻ. Sự ân cần chu đáo của Thanh đã hoàn toàn làm cô tin cậy. Hoà kể cho anh nghe về cơn bão số chín, số mười và mùa gặt ở làng, về tình hình hợp tác xã, những người mà anh muốn biết. - Anh Thanh tệ thật đấy. Sáu năm đi biền biệt. Giải phóng miền Nam xong, về nhà thăm vợ chưa được hai ngày, rồi lại đi miết từ ấy đến giờ. Chị Vy buồn ghê lắm. Nếu em là chị Vy thì em phải căm thù anh. Anh có một người vợ tuyệt vời mà không biết. Em cam đoan rằng chưa có ai làm em cảm phục và yêu mến đến thế… - Hoà bật cười. - Con gái bọn em bây giờ không thể kiễn nhẫn chịu đựng như thế được đâu? Con trai các anh sắt đá thật đấy, khó hiểu thật đấy. Hay là anh không còn yêu chị Vy nữa? Đôi mắt cô gái mở to nhìn Thanh vừa ngây thơ khó hiểu vừa trách móc. Thanh quay đi lảng tránh đôi mắt ấy. Tồi tệ lắm ư? Biết nói thế nào để cô hiểu được tôi, Hoà ơi! Cô nhìn cuộc đời bằng đôi mắt ngây thơ trong sáng thế kia thì làm sao hiểu được mặt trái tàn nhẫn và cay đắng của nó. Chính bố cô đấy. Bố cô đã phá huỷ của tôi tất cả niềm tin mà suốt những năm ở chiến trường tôi nhen nhúm hi vọng. Đó chính là một phần của cuộc đời tôi đó. Đó chính là ngọn lửa không bao giờ tắt, lúc cháy âm thầm, lúc rực sáng trong tâm hồn người lính suốt chặng đường máu lửa. Tôi không yêu Vy ư? Chắc Hoà sẽ không hỏi tôi điều ấy, nếu cô biết rằng chúng tôi đã yêu nhau với một tình yêu trong sáng và mãnh liệt đến mức nào. Cô sẽ phải bối rối và sững sờ nếu cô được nhìn thấy bức ảnh của Vy ngày Vy tiễn tôi đi nhập ngũ mà cho đến bây giờ, lúc nào nó cũng nằm trong túi áo ngực tôi đây. Bức ảnh đã mờ vì thời gian và mưa gió mà chỉ có riêng tôi mới nhận ra được. Tôi đã mang nó theo suốt dọc con đường Trường Sơn những năm đánh Mỹ, suốt cả cuộc chiến đấu với bọn Pôn Pốt hai năm vừa rồi. Cô bảo tôi sắt đá và tàn nhẫn ư? Bảy năm, đi biền biệt. Hoà bình, chỉ về nhà chưa trọn hai ngày. Cô không thể hiểu điều đó đâu. Cả bố cô cũng không thể hiểu được điều đó. Ngày trở về làng, tôi háo hức và sung sướng lắm chứ. Tôi sẽ gặp mẹ, sẽ gặp Vy của tôi, người vợ mà suốt bảy năm tôi chỉ được nhìn ngắm, chuyện trò qua tấm ảnh đã hoen ố, phai mờ. Tôi biết rằng Vy sẽ đợi tôi. Vy sẽ chung thuỷ và tin cậy như tôi vẫn hằng nghĩ. Hoà có biết không? Mọi chuyện sẽ rất tốt đẹp, nếu không có đêm ấy? Tôi sẽ sống hai tháng đầy hạnh phúc bên người vợ trẻ như hết thảy những người lính sáu năm sống gian khổ chịu đựng, tính mạng luôn treo trên đầu sợi tóc, bỗng được trở về nếp nhà thân thuộc với tất cả sự dịu ngọt, êm đềm của cuộc sống hoà bình. Nhưng cái đêm ấy… Một đêm khủng khiếp nhất đời tôi. Đúng. Không có cái đêm nào khủng khiếp hơn, ngay cả những lần tôi bị vùi dưới bom B52, ngay cả những lần tôi trườn vào bốt giặc vô tình đụng phải dây mìn tự động. Đáng lẽ Vy không nên nói điều đó. Đáng lẽ Vy nên để một vài hôm nữa hay cứ để tôi sống trọn những ngày phép ngắn ngủi. Nhưng Vy không nỡ vì không đành lòng lừa dối tôi. Có lẽ vì Vy quá tin và yêu tôi đó chăng? Nhưng mà Vy cũng tàn nhẫn quá. Đúng cái lúc tôi ôm Vy vào lòng thì Vy bỗng oà khóc nức nở. Có chuyện gì? Tôi gặng hỏi ba bốn lần. Hay là tôi đã làm gì để Vy phật ý? "Anh tha lỗi cho em… Em không xứng đáng với anh… Em đã…". Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in câu nói và cái vẻ mặt đau khổ cùng cực của Vy lúc ấy. Ai? Với ai? Tôi thét lên như một con thú trúng đạn. Lúc ấy trông tôi có lẽ gớm ghiếc lắm. Vy run bắn lên và khó nhọc lắm mới nói được tên cái con người ấy. Hoà có biết không? Con người đó chính là bố cô. Ông ấy đã cướp đi của tôi tất cả những gì tôi đã chắt chiu gửi gắm suốt bảy năm trời. Một người lính như tôi, đã trả giá cả đời mình để cuối cùng đón nhận một sự thật phũ phàng, tàn nhẫn đến thế ư? Ai cho những kẻ như bố cô cái quyền phá hoại hạnh phúc, lòng tin của một người lính? Họ đã bị mất mát một sợi tóc nào cho cuộc chiến tranh này? Thế mà chúng tôi đã hi sinh máu mình, tuổi thanh xuân của mình cho cả họ nữa. Không cần phải suy nghĩ, tôi xách khẩu súng ngắn lao vào trời đêm. Hoà ơi, cô có biết tôi đi đâu không? Hình như lúc ấy cô đang ngồi học bên bàn, còn mẹ cô đang làm một việc gì đó, hình như khâu vá thì phải. Tôi ngồi rất lâu bên hàng rào chờ đợi. Chỉ cần bố cô thoáng xuất hiện trước mũi súng… Cũng may mà điều ấy đã không xảy ra. Hình như bố cô đi đâu vắng? Hình như cái vẻ mặt khắc khổ của mẹ cô bên đèn, cái dáng ngồi chăm chú của cô bên bàn học đã làm lòng tôi mềm nhũn, toàn thân rã rời. Và chiều hôm sau tôi đi. Kết thúc đột ngột đợt nghỉ phép dài hai tháng. Tôi lại lao vào cuộc chiến đấu chống quân Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam với tất cả sự đau khổ, liều lĩnh và căm thù. Bị thương hai lần, tôi tưởng mình sẽ chết. Và cũng chẳng tiếc gì cuộc sống. Thế nhưng cuộc đời vẫn cứ bắt tôi phải nhìn thẳng vào cái mặt trái phũ phàng của nó. Vết thương không cho phép tôi ở lại quân đội nữa. Và bây giờ, cô bé ơi, tôi kể hết những điều đã xảy ra, liệu cô có tin không? Liệu cô có tin không khi biết rằng tôi đang trở về làng với lòng khoan dung tha thứ? Chiến tranh không chỉ phơi bày tội ác trên bãi chiến trường, mà nó còn khoét những vết thương làm hậu phương ta rỉ máu. Phải thêm hai năm nữa, từ cái đêm khủng khiếp ấy, tôi mới cảm nhận hết cái điều ấy. Tìm lại một tình yêu chẳng hề dễ dàng đâu, Hoà ạ. Nếu như những năm qua tôi đã sống không chỉ cho riêng mình, thì bây giờ, tôi lại phải tự vượt lên mình để đi tiếp con đường mà tôi đã chọn… …Cô gái không hề biết người chiến sĩ đang thầm nói chuyện với mình. Hình như cái bản tính hồn nhiên, tâm hồn trong sáng đầy tin yêu của cô chưa đủ mẫn cảm để hiểu rằng tại sao Thanh lại yên lặng lâu như vậy? Anh ngồi hút thuốc lá liên tục, đôi mắt trầm tư nhìn vào khoảng không vô định. Tàu lao qua những hầm tối bịt bùng. Rồi những cánh rừng thưa, những vùng đồi cằn lúp xúp cây bụi. Đêm tối đã ập xuống. Gió lạnh tràn qua khe cửa toa tàu khiến tất cả hành khách vốn quen nắng ấm phương nam, không chịu nổi sự thay đổi đột ngột của thời tiết, đều xuýt xoa vì rét. Thanh trải thêm chiếc tăng dù cho Hoà đắp. Còn anh chỉ khoác cho mình chiếc áo mưa bạt. Suốt đêm Thanh ngồi tựa mình vào thành tàu, không ngủ. Bên cạnh anh, nhịp thở đều đều của cô gái thật thanh thản, vô tư. Không. Không thể tha thứ được. - Thanh chợt choàng tỉnh sau một lần lắc dữ dội của con tàu. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu anh là sự trả thù. Tại sao mình không thể trả thù? Hắn ta cướp của mình cái phần thiêng liêng nhất của tình yêu. Con gái hắn đó… Thanh nhìn lại gương mặt cô gái như một vừng sáng mờ ảo trong khoảng mờ tối của con tàu. Một cánh tay trần vươn ra ngoài, cũng mịn màng, mờ ảo như một vệt sáng… Cô ta sẽ cùng đi với mình hai ngày nữa. Nếu tàu trục trặc dọc đường, có thể lâu hơn. Không có một đồng xu dính túi. Quần áo, đồ đạc mất cắp dọc đường. Một tù binh với cái nghĩa nào đó… Ồ, tại sao mình lại không thể rửa cái vết nhục ấy? Thanh bóp trán. Những ngón tay như hai gọng kìm siết hai bên thái dương. Và anh cố nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn thấy cái khoảng trắng mịn màng kia… Tàu vẫn lắc lư, mệt mỏi và nặng nhọc lăn bánh. Hành khách chừng như đã ngủ cả. Chỉ có riêng Thanh, những ý nghĩ đang như một con thú vùng vẫy trong đầu. Gương mặt Hoà, mệt mỏi và phờ phạc, nhưng vẫn không xoá nổi vẻ ngây thơ hồn nhiên, cứ chập chờn ẩn hiện. Và đôi mắt, một đôi mắt trong sáng, ngay thật và tin cậy cứ mở to nhìn Thanh không chớp. Thật đáng xấu hổ. Mình chỉ là một thằng đê tiện. - Thanh tự phỉ nhổ mình và anh vụt đứng dậy, đi ra hành lang toa tàu. Nghĩ cho cùng, hắn cũng như mình, có những cái tầm thường, những ham muốn, dục vọng như hết thảy người đời. Chỉ có điều là mình sống trong một môi trường khắc nghiệt và gian khổ. Hàng ngày mình không phải tiếp xúc, đối diện với những cám dỗ vật chất, những khao khát, thèm muốn, mà lòng tin luôn luôn bị thời gian công phá, sự thuỷ chung đôi khi trở nên vô định, mơ hồ… Cần phải biết tha thứ… Mà chính mình cũng đang cần được tha thứ. Vy có lỗi gì đâu? Tình yêu của Vy đối với mình vẫn nguyên vẹn như cái ngày nào… Những ý nghĩ làm cho lòng Thanh dịu lại. Anh bồi hồi nhận ra đêm đã đi qua và con tàu đang đưa anh về với đồng bằng. *** Cánh đồng Bà Chúa, nơi hơn một tháng trước đây từng xảy ra cuộc xô xát dữ dội giữa những người gặt lúa, bây giờ lại đen đặc những người. Đây là cánh đồng cao duy nhất làng có thể trồng màu được đúng thời vụ. Mọi năm vào cữ này, các xứ đồng xung quanh đất đều đã khô nỏ. Năm nay mưa lớn, nước lưu lâu quá. Ba chiếc máy bơm thi nhau chạy suốt ngày để kịp lấy đất làm vụ đông mà vẫn không xuể. Phải cướp lấy thời gian. Cánh đồng nào khô trước được tranh thủ trồng khoai tây, khoai lang và các loại rau xanh ngay. Cánh đồng Bà Chúa được chọn làm nơi đột phá cho chiến dịch vụ đông. Từng đoàn xe bò lũ lượt chở phân, giống từ trong làng ra. Những mô đất cao, thậm chí cả những bờ ruộng lớn, tạm thời được đào khoét để lấy đất khô lót ổ trồng khoai tây. Đất ruộng còn ướt quánh, nhiều chỗ nước võng vãnh rãnh cày. Trồng một luống khoai tây trên nền đất ướt, công sức, thời gian bỏ ra nhiều nhất là khâu "sản xuất" đất khô. Ở khu đất của đội Mười, không khí làm màu cũng náo nức đông vui chẳng kém gì những đội bên cạnh. Các cô gái vừa làm vừa bàn tán với nhau về một đám cưới của một đôi trai gái nào đó sắp tổ chức nay mai. - Tay Vịnh ấy à? Còn bé tí tẹo. Sao bảo còn non tuổi, xã họ chưa cho đăng ký? - Cô gái to béo từ bên kia bờ ruộng hỏi với sang. - Xì! Bé à? Cho mày thì mày cũng thích mê. - Cô gái mắt xếch vênh mặt lên cười chế giễu. - Vịnh nó đi bộ đội đợt tới đấy. Cưới chạy mà. Đủ tuổi đi bộ đội là cưới vợ được liền. Tao ấy à, có anh nào hỏi là xin giơ hai tay ngay… Câu đùa táo bạo khiến các cô gái cùng cười ran đồng. Chỉ có mình Vy là yên lặng. Giữa đám trẻ, nhiều lúc Vy lủi thủi như một bà lão. Ba mươi tuổi, đã già gì đâu? Nước da trắng. Cái mũi dọc dừa và đôi mắt to, đen láy, Vy còn giữ mãi vẻ đẹp của thời con gái. Vậy mà sao Vy cứ sống lặng lẽ, u buồn, như tất cả cái vẻ đẹp trời phú cho kia đối với Vy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Những người quen biết Vy, từ cái thời Vy còn học trường phổ thông cấp ba phố huyện, lâu ngày gặp lại, tưởng như mình đã gặp một cô Vy nào khác. Còn đâu cái vẻ hồn nhiên sôi nổi? Còn đâu đôi mắt nhìn trong sáng và đầy tin yêu với con người? Người trong làng, không có ý niệm rõ ràng về sự đột biến thì lại cho rằng tất cả là do sự xa chồng. Đàn bà ai mà chả vậy. Xa chồng biền biệt chín năm trời. Vô sinh, vô dưỡng. Đến là hoa cũng héo… Không ai biết được cái cõi lòng sâu thẳm của Vy. Ngày trước và bây giờ. Ngày trước, một cô Vy như thế. Bây giờ, một cô Vy như thế. Một khi lòng tin trong ta sụp đổ, ta sẽ thành một con người khác hẳn. Năm năm trước, Vy đã một lần gục ngã, nhưng rồi Vy vẫn còn hi vọng, tin tưởng. Nhưng sau cái đêm khủng khiếp ấy thì Vy gục ngã hoàn toàn. Biết tin ai? Ai có thể hiểu Vy được nữa, nếu không phải là Anh? - Chị Vy ơi! - Có tiếng reo từ trên đầu bờ mương làm Vy sửng sốt quay lại. Vy nhận ra Thắm đang quảy gánh khoai giống tất tả chạy đến. - Chị mà đoán trúng thì em mất không cho chị gánh khoai tây này. - Thắm đặt gánh khoai xuống, tay vung lên, mắt lúng liếng đến tinh nghịch. Mấy cô gái cùng chạy ào đến. - Cái gì thế? Một gánh khoai tây hả? - Cô gái mắt xếch, chưa biết mô tê ra sao đã liến láu. Thắm giơ tay lên: - Không phải chuyện của chúng mày. Trẻ con. - Tao đoán nhớ. - Cô gái to béo chưa chi đã cười tít cả mắt. - Anh chàng Đạt lại giả vờ mù trốn về để xin cưới cô Thắm. Thắm đỏ bừng mặt, cầm đòn gánh vung lên, vừa đuổi mấy cô bạn vừa bật buồn cười. Chẳng biết cái cô gái này sẽ giở trò gì? Vy đưa mắt nhìn Thắm dè dặt và đôi môi khẽ nở một nụ cười nhợt nhạt. Thắm quay lại, làm bộ trang nghiêm: - Nghiêm chỉnh đấy, chị Vy ạ. Chị mà không đoán được thì em sẽ… - Bắt-đền-một-đôi-kính-râm. - Các cô gái cùng chụm lại, đồng thanh hô thật to, rồi bấm nhau chạy tán loạn. Nhìn vẻ mặt Vy ngơ ngác, tự nhiên Thắm thấy thương. Cô quàng hai tay ôm lấy cổ Vy, hôn vào má Vy đánh chụt, rồi nói thật to: - Ông Thanh ông ấy về, bà nỡm ạ! Cái tin của Thắm, vừa như một tiếng reo, vừa như một tiếng sét, khiến chân tay Vy bủn rủn. Vy ngồi bệt xuống bờ ruộng, đôi mắt to như không còn khả năng tri giác. Bằng cái thực tế quá cay đắng, phũ phàng đã trải qua, Vy như cảm thấy trước một cơn dông bão nữa đang sắp đổ ập lên đầu. *** Chẳng có một cơn dông bão nào cả. Đúng hơn là một cơn dông bão hạnh phúc. Người trả lại hạnh phúc cho Vy, nhen lại lòng tin ở cuộc đời cho Vy, chính là Thanh. Sẩm tối Vy mới từ ngoài đồng về. Vy đếm từng bước chân nặng nề và lo âu dọc cái ngõ nhỏ hun hút hàng rào râm bụt. Cái dáng đi ấy, những bước chân ấy, lập tức gõ vào tim Thanh những nhịp nhức buốt. Buổi chiều, anh đã được mẹ kể hết về cô dâu thảo, đã nghe mẹ trách móc anh đủ điều. Lời mẹ như khoét thêm nỗi day dứt, ân hận, như bồi đắp thêm cho anh lòng khao khát hàn gắn. Bây giờ Vy đang về với anh kia. Nhưng sao Vy vẫn âm thầm lặng lẽ. Giống như cặp vợ chồng mới cưới, suốt cả buổi tối, giữa đám bà con làng xóm đến thăm, họ chỉ dè dặt nhìn nhau bằng đôi mắt thăm dò. Nhưng rồi khuya… Khi làng xóm đã ngủ yên. Và dường như chỉ còn mình họ thức, họ mới nói với nhau tất cả. - Vy ơi, còn giận anh nữa không? Hãy tha lỗi cho anh. Vy ngạc nhiên lắm. Anh có lỗi gì đâu… Em mới là người gây nên tội. Và em đã nhẫn nhục chịu đựng. - Lẽ ra anh phải biết tha thứ từ cái-đêm-khủng-khiếp ấy… Đâu phải lỗi tại chúng ta… Nếu không có giặc Mỹ và những ngày xa cách… Nước mắt Vy chảy giàn giụa. Vy chợt nhớ lại… Không hiểu tại sao, đêm ấy, tự nhiên em lại nói ra… Hình như có gì xui khiến, thúc giục… Lúc ấy em thấy tin và không thể dối anh điều gì. Con người anh thế nào đó khiến em không nỡ và không thể lừa dối. Bây giờ, sau gần ba năm, em càng tin rằng mình đã hành động đúng. Em không hề dại dột. Trước sau rồi anh sẽ hiểu… sẽ tha thứ… Giả dụ đêm ấy em không nói ra… Chắc bây giờ con chúng mình đã đi mẫu giáo rồi… Nhưng như thế… em sẽ ân hận, day dứt suốt đời. Suốt đời em sẽ không bao giờ dám nhìn thẳng vào mắt anh. Vy ấp cả gương mặt đẫm ướt vào ngực anh mà khóc vì sung sướng. Lần đầu tiên sau chín năm đằng đẵng, Vy lại thấy cuộc đời trở nên đáng sống, trở nên tin yêu lạ lùng. - Sao anh không viết thư cho em? - Vy hỏi và cắn vào đôi môi anh. - Anh muốn thử thách mình cho đến giây phút cuối cùng… Vả lại, đâu biết rằng còn sống mà trở về. Đánh nhau với thằng Pôn Pốt cũng ác liệt chẳng kém gì thằng Mỹ. Bàn tay Vy lần xoa trên người anh và Vy đếm được mười lăm vết sẹo. - Thế còn vết sẹo nào tại em? - Vy hỏi ngập ngừng. Vy cũng không biết tại sao lại hỏi điều ấy. - Tại bọn Mỹ tất cả. Vết sẹo của chúng mình… chính em đã xoá sạch rồi… Vy sung sướng quá. Vy hôn lên khắp người anh, đến nghẹn thở. XI Văn phòng ban quản trị hợp tác xã Thanh Bình đóng ở trụ sở ban quản trị hợp tác xã Thanh Cao cũ, ngay gần lối vào chợ Ba Thôn, trung tâm của xã. Hai căn phòng rộng ở tầng dưới, một phòng là nơi làm việc của bộ phận kế toán, tài vụ, một phòng của bộ phận kế hoạch. Tầng trên là nơi giành làm việc của chánh phó chủ nhiệm và nơi hội họp. Bộ phận kế hoạch đứng đầu là phó chủ nhiệm Đào, một phụ nữ hiền lành chậm chạp. Người của hợp tác xã Thanh Minh cũ. Thực ra, bố trí Đào vào chân ấy là vì cơ cấu, phải có nữ trong ban quản trị, phải có đủ người của ba hợp tác xã cũ, chứ năng lực và trình độ Đào làm sao mà với tới công việc ấy được. "Đầu não" điều hành kế hoạch của toàn hợp tác xã hầu như tập trung trong tay Lập. Công bằng mà nói, so với tất cả cán bộ của hợp tác xã. Lập thuộc loại cán bộ trẻ, có năng lực và là người có công trong phong trào xây dựng hợp tác xã Thanh Minh trước đây. Làm nhân viên trong ban kế hoạch đã bảy tám năm, anh thuộc làu các xứ đồng, nhớ vanh vách diện tích từng thửa ruộng, từng loại giống, năng suất, sản lượng mỗi loại ruộng trong từng vụ, từng năm. Chủ nhiệm Tin nhanh chóng đưa Thanh Minh trở thành lá cờ đầu của huyện là do anh có đầu óc tổ chức, biết dựa vào những người như Lập. Cơ cũng đã kế thừa được những mặt tốt đó. Anh khai thác Lập, coi Lập như người cộng tác đắc lực nhất của mình. Cả Đào, Lập và hầu hết cán bộ của phòng kế hoạch lúc này đều ra đồng. Thực hiện chỉ thị của bí thư huyện uỷ Trần Sinh, Cơ đã dốc hết tâm trí và thời gian của mình trực tiếp chỉ đạo bộ phận kế hoạch để giành một vụ đông thắng lợi. Cán bộ được cử đi nhiều nơi tìm mua giống. Hôm qua Lập vừa đi Hải Hưng về, chở theo một xe tải khoai tây. Hân vào Kim Bôi mua giống dây khoai lang. Nghe Trần Sinh gợi ý và thấy báo chí tuyên truyền rộng rãi về phong trào trồng đậu tương trên nền đất ướt, Cơ háo hức muốn thay đổi cơ cấu giống vụ đông và khắc phục tình trạng đất ướt bằng cách mạnh dạn nhận hai tấn giống đậu tương do huyện phân phối để trồng hai trăm mẫu đậu tương vụ đông này. - Nên cân nhắc lại, anh Cơ ạ. - Lập cố thuyết phục Cơ. - Từ thời các cụ ngày xưa, đã có ai trồng như vậy. Đậu tương là loại cây họ đậu, ưa đất khô, pha cát hoặc đất mùn. Nó chỉ cho năng suất khi trồng ở đất tơi xốp. Vậy là cậu bảo thủ, không tin ở khoa học. - Cơ nghĩ. - Mình phục cậu khi nói đến cây lúa cây khoai, chứ cây đậu tương thì cả cậu và mình đều abc như nhau. Nhưng mình hơn cậu ở chỗ tìm tòi, tham khảo sách báo. Cơ lục tìm trong ngăn tủ một tờ báo chìa cho Lập. - Cậu đọc đi. Họ phân tích có cơ sở khoa học hẳn hoi, chứ không còn là chuyện giả định. Cả huyện Yên Lãng năm ngoái đều trồng đại trà… Ông Trần Sinh năm ngoài khoái cái kinh nghiệm này lắm. - Tôi đã đọc rồi - Lập gạt tờ báo sang một bên. - Báo chí là một chuyện. Mình phải xuất phát từ tình hình cụ thể đồng đất của mình. Tôi không tin cái anh chàng viết báo này. Trung Quốc có một dạo chẳng tuyên truyền rùm beng về chuyện cấy dày, lúa tốt đến mức đứa trẻ con nằm trên mà không dẹp. Láo toét. Đậu tương trồng trên đất ướt cũng là trái khoa học. Nếu anh muốn thì cũng chỉ nên thí nghiệm một vài mẫu để chuẩn bị cho vụ sau, chứ không nên mạo hiểm… Lập phân tích cũng có lý. Kinh nghiệm đồng áng, cung cách làm ăn nhiều khi mình kém cậu ta. Mà xưa nay Lập đâu phải là anh chuyên bàn lùi. Lời khuyên của Lập làm Cơ thấy chờn. Anh quyết định trồng thí nghiệm năm mẫu. Công việc làm vụ đông ban đầu có vẻ khí thế, rầm rộ. Nhưng chỉ vài ngày sau không khí đã xẹp đi. Khó khăn nhất vẫn là khâu đất. Xã viên xuống đồng ai cũng ngán ngẩm. Đất còn nhão nhoét. Từng luống cày cứ dính bết vào nhau. Thời tiết đang trở lạnh, gió nam lên chỉ có mà ăn… lá. Cả phòng kế hoạch lại chạy như con thoi xuống đồng đốc thúc các đội huy động nhân lực làm kịp thời vụ, thành thử cái phòng rộng mênh mông bây giờ chỉ lổng chổng mấy bộ bàn thế. *** Ngược hẳn với phòng kế hoạch, phòng kế toán tài vụ đang trong thời kỳ nhộn nhịp nhất trong năm, cứ tấp nập như một cơ quan hành chính thực sự. Chính cái hoạt động hối hả, bận rộn của nó đã tạo nên cái không khí của một hợp tác xã quy mô lớn, ăn ra làm nên. Suốt hai dãy bàn dọc đối diện nhau sáu nhân viên của phòng đang ngồi hí hoáy tính toán, ghi chép. Ở bàn sát lối vào, một cô gái đang ngồi căng mắt gõ từng tiếng mổ cò trên chiếc máy chữ Ôptima mới cứng, trước một bản thống kê dài dằng dặc những con số. Căn phòng chỉ yên tĩnh được chốc lát và luôn luôn có các thư ký đội mang đến nộp bổ sung một vài hoá đơn chứng từ, hoặc trình bày, hỏi ý kiến một vấn đề gì đó. Ở chiếc bàn chính giữa, quay mặt nhìn thẳng ra cửa, trưởng kế toán Biền, người còm rom và khù khờ ngồi lút giữa những chồng sổ sách, biên lai, hoá đơn bày la liệt. Đôi mắt nhỏ lờ đờ nấp sau cặp kính trắng làm cho khuôn mặt bé choắt càng trở nên nhợt nhạt, khờ khạo. Duy chỉ có cái mũi nhọn làm người ta liên tưởng đến con chim bói cá. Suốt ngày lù đù ngồi trên cọc tre giữa ao, nhưng chỉ cần thấy bóng một con tép, nó đã lao vụt xuống như một mũi tên. Vẻ bề ngoài ấy chỉ có lợi cho Biền mỗi khi giao dịch, tiếp xúc với những người lạ. Người ta dễ đánh giá sai về anh, cho rằng anh chưa đủ năng lực và sự từng trải để làm kinh tế. Sự chủ quan, coi thường của đối phương bao giờ cũng là điểm yếu để Biền tìm cách đánh gục. Xét về họ hàng, thì Biền là anh em con chú con bác với Loã và là cháu Thiển. Họ Đào Hữu vốn có cái truyền thống liên kết dòng họ cố hữu từ xưa. Nên mặc nhiên ba anh em chú cháu phải liên kết với nhau như môi với răng vậy. Riêng đối với Biền, anh còn có ý thức lôi kéo, nâng đỡ anh em trong họ hơn cả Loã và Thiển. Khi biết Luyến một mực từ chức thủ kho, Biền đến bàn ngay với Loã và Thiển đưa Đào Hữu Thảng về thế chân. Thảng là thương binh, lại là đảng viên, hai lý do ấy đủ để cho Cơ không thể không chấp nhận. Thành tích lớn nhất của Biền và Loã đạt được trong vụ mùa vừa qua là bản báo cáo về tình hình úng lụt và dự toán thu hoạch của hợp tác xã Thanh Bình. Cái con số bảy mươi phần trăm ấy đã được huyện chấp nhận và nghiễm nhiên Thanh Bình trở thành một xã thuộc diện nhà nước cứu đói. Bây giờ, sau khi tính toán toàn bộ năng suất và tổng sản lượng thu hoạch trong vụ mùa, chính Biền cũng không ngờ rằng số lượng thóc lại nhiều đến thế. Trước đợt mưa bão, ước tính đổ đồng mỗi sào một trăm cân. Qua hai đợt mưa bão, năng suất thực thụ vẫn đạt bảy mươi. So với những năm thu hoạch bình thường, không đến nỗi quá thấp. Vậy mà được nhà nước trợ cấp thêm năm mươi tấn gạo, bột mì và vài trăm tấn sắn tươi nữa chứ. Mất mùa mà dân Thanh Bình lại no. - Biền thầm đắc chí nói với Loã và mấy anh em thân cận trong nhà. - Cái lợi này xã viên Thanh Bình chưa biết đâu. Chúng tôi không như ai đó chỉ biết mưu lợi cho mình, lấy mồ hôi, công sức xã viên làm bước thang danh vọng. Chuyện này mà vỡ lở ra, huyện, tỉnh biết thì tù chứ chơi. Chánh phó chủ nhiệm, kế toán, kế hoạch, tất tật đều ra toà. Biền là người đầu tiên biết được điều này. Và anh cũng là người có đủ trí lực, tài cán để thu xếp việc này êm đẹp. - Anh đi viện giữa cái lúc nước sôi lửa bỏng. Tai hại quá. Ở nhà mỗi mình chú Loã, trăm công nghìn việc đổ tất lên đầu… Có anh ở nhà thì nó lại một nhẽ… Ấy, cái báo cáo tình hình úng lụt và xin huyện trợ cấp hồi chú Loã mang lên viện cho anh ký… cũng có chút sai lệch so với thực tế. Kể ra nếu huyện biết được thì cũng rầy rà… Thế nên phải báo cáo để anh cho phương hướng… Để khớp với con số bảy mươi phần trăm ta đã báo cáo lên huyện, có lẽ trong sổ sách, giấy tờ ta cũng phải điều chỉnh chút ít… Nghe Biền báo cáo, tất nhiên Cơ hốt hoảng và lo sợ. Cơ là người chịu trách nhiệm trước huyện về mọi hoạt động sản xuất và kinh tế của hợp tác xã. Biền nắm được thóp Cơ. Nhưng tiến thoái đường nào? Anh đã ký vào bản báo cáo gửi lên huyện, chứ không phải chúng tôi. Anh đã bị dư luận xã viên phản đối ầm lên sau vụ tuyên truyền ầm ĩ trên đài báo vì tự ý phóng ra con số sáu trăm tấn thóc nghĩa vụ, anh còn nhớ chứ? Cũng may mà trận lụt vừa rồi nó đã cứu anh, làm cho xã viên ngơ đi. Bây giờ anh lại không nhận năm mươi tấn lương thực và vài trăm tấn sắn nhà nước cứu đói ư? Bạo gan nhỉ? Lý do nào? Làm thế chỉ có bằng "lạy ông tôi ở bụi này". Mà xã viên đời nào để cho ông làm như vậy. Hàng chục năm nay Thanh Bình luôn hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ lương thực cho nhà nước. Chưa đau đã rặn, chưa tung đã hứng. Tịnh không bao giờ chắc lép với nhà nước một cân thóc nào nhé. Bây giờ, trời làm mất mùa, nhà nước trợ cấp lại, cũng là chuyện dĩ nhiên. Cơ không thể có cách nào khác là phải chấp thuận cái phương án do Biền và Loã đưa ra. Anh trách Lập: - Cậu biết sao không nói với mình trước? - Thì ông Loã, ông Biền chuẩn bị báo cáo với nhau, tôi đâu có biết. Hôm qua Loã lên bệnh viện thăm anh về, ông ấy nói rằng anh lo cho xã viên vụ giáp hạt tháng ba tới lắm. Rằng anh nhắn ban quản trị cố làm sao xin được huyện trợ cấp… Cơ chỉ biết ngậm bồ hòn trong miệng. Biết làm sao được, đã đâm lao thì phải theo lao… Một cuộc họp kín tất cả cán bộ của hợp tác xã, có sự tham gia của đảng uỷ, chính quyền được triệu tập. Thay mặt ban quản trị Cơ đã báo cáo lại tình hình thu hoạch vụ mùa và công bố một vài số liệu dưới mực sự thật do Biền cung cấp để mọi người có khái niệm rằng vụ mùa này thực tế Thanh Bình có bị thiệt hại nặng, nhưng không quá trầm trọng. Rằng do quá bi quan trong trận bão lụt số mười, ban quản trị cũng không tính toán chính xác số diện tích bị mất và huyện cũng quan liêu không xác minh lại, nên Thanh Bình vẫn được xếp vào diện những xã được nhà nước trợ cấp. Rằng để khó gây phiền toái về sau, nhất là tránh tiếng xã Thanh Bình lợi dụng mất mùa để bòn rút nhà nước, đề nghị cán bộ, đàng viên tuyệt đối giữ bí mật… vân vân… Cũng lại chính Biền đã khéo tham mưu với Cơ và Loã để tránh sự nghi ngờ của huyện và để bớt tập trung dư luận xã viên, cần phải tổ chức chia thóc thành nhiều đợt. Theo tính toán của Biền, đợt một, toàn hợp tác xã sẽ chia bình quân nhân khẩu, mỗi người năm cân một tháng theo kiểu trợ cấp. Đợt hai sẽ chia theo lao động với phương án dự chia một phẩy năm cân một công. Đợt ba và bốn lại chia theo nhân khẩu số lương thực nhà nước cứu đói. Vậy là, theo báo cáo lên huyện, bình quân nhân khẩu trong vụ mùa của hợp tác xã chỉ có tám ki-lô-gam lương thực. Nhưng thực tế, mỗi người dân Thanh Bình thu nhập cao hơn nhiều. Sự tính toán khôn khéo đến tài tình ấy, trừ Biền ra, không ai có thể làm được. Đến như Cơ, mặc dù trong thâm tâm luôn day dứt, dằn vặt, mà cũng đành tặc lưỡi… Từ lâu Cơ đã không ưa Biền. Biền khôn khéo, lọc lõi quá. Đánh hơi thấy lợi là hắn sẵn sàng lao vào. Làm lợi cho tập thể nhưng hắn cũng lợi dụng để chấm mút. - Nghĩ về Biền như vậy, nhưng Cơ cũng không thể nào bác bỏ, phê phán. Bởi lẽ Biền làm tất cả những việc này là vì tập thể. - Biền thường kín đáo rỉ tai nhiều người thế. - Xã viên no, đó là cái mục tiêu duy nhất mà mọi cán bộ, những người đầy tớ của nhân dân, phải phấn đấu. Cơ có thể chụp mũ cho Biền: "Quá coi nặng lợi ích tập thể mà quên mất lợi ích nhà nước" thì Biền sẽ đập lại thẳng cánh: "Anh thử ngẫm xem, anh phát biểu hùng hồn trong các cuộc họp trên huyện, trên tỉnh, anh tâng bốc trên đài, báo là vì nhà nước hay vì anh? Cái lợi ích nhà nước mà anh nói thực ra là chỉ do đầu óc thành tích, cá nhân nó đẻ ra mà thôi. Trong khi dân còn đứt bữa, thế mà mỗi lần cán bộ trên huyện trên tỉnh về, mỗi lần có đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm, anh bắt tôi chi hàng trăm bạc tiếp khách. Đến như bữa tiệc với tay nhà báo Đặng Hoài ở trên phố Vạn, tôi nào có nhìn thấy cái miếng thịt chó của lão Nghệ vàng đen ra làm sao mà anh vẫn bắt tôi chi hai trăm đồng…". Dĩ nhiên là Biền nghĩ thế thôi, chứ những điều ấy vẫn chưa xảy ra. Biết xoáy vào những chỗ yếu của Cơ, thả phóng cho Cơ trong chuyện tài chính, chi tiêu, kiềm chế và lái Cơ vào quỹ đạo của mình, đó là cái bản lĩnh của một kế toán sừng sỏ không hề kinh qua một trường lớp nào, nhưng liền chục năm vẫn trụ vững ở cái ghế kế toán trưởng của mình. …Một người đàn bà đội cái nón rách bươm, nửa dưới ống quần xoắn tít lại, ngắn cũn cỡn như hai chiếc ruột gà bút máy, tất tả đi vào. Ngơ ngác một thoáng, rồi chị ta bước lại chỗ Biền ngồi. - Bá cáo bác, nhà em có chuyện này muốn nhờ bác làm ơn làm phúc xem lại giúp… - Chuyện đàn vịt nhà chị vào phá lúa hợp tác phải không? - Bác nói oan cho em quá… Có được đàn vịt thì đã phúc đức. Có mặt trời kia, em nói sai em chết… Chả là hôm ấy thằng cháu nhà em nó đuổi tám con vịt… - Tôi biết rồi. Các ông kiểm soát đã lập biên bản. Con chị cố tình lùa vịt vào phá lúa. - Ối giời, các bác nói quá. Cái ruộng ấy, nước ngập lút, hợp tác xã đã bỏ không gặt. - Người đàn bà nhìn quanh như muốn tìm người thanh minh. - Bác trừ của em ba mươi công… em lấy gì nuôi các cháu… Biền gỡ kính đứng dậy: - Không phải nói lôi thôi. Nội quy hợp tác đã quy định rồi. Chị gặp ông Cơ mà thắc mắc. Tôi cũng chỉ có biết chấp hành. Người đàn bà năn nỉ một lúc nữa, nhưng mặt Biền cứ lạnh tanh. Bực mình, chị cầm nón đứng dậy, mặt đanh lại, mắt rơm rớm như chực khóc: - Các ông ác độc vừa vừa. Thằng bé nó vừa lùa mấy con vịt qua cái ruộng ngập thối bỏ đi mà nỡ phạt người ta thế à? Thử hỏi rằng cái vụ gặt vừa rồi, các ông đã rải suốt dọc đường mấy chục tấn thóc? Lúa rơi vãi đầy đồng người ta đi mót, đi quét, các ông cũng cấm. Để mộng, để thối ra thì không sao, nhưng xã viên động đến là phạt. Làm việc cho dân nó cũng phải một vừa hai phải thôi chứ. Hách dịch quá cái thời xưa… - Này, chị kia. Đừng có vơ đũa cả nắm nhé. Chủ trương gặt tập trung vừa rồi là do ông chủ nhiệm. Muốn thắc mắc thì đến xin gặp hẳn hoi. Đừng có hồ đồ. Nói láo tôi sẽ gọi dân quân gô cổ lại… - Tôi thách đấy. Nhà anh có đưa tôi lên trung hương tôi cũng chẳng sợ. Cây ngay không bao giờ bị chết đứng. Thời buổi dân chủ đừng có cả vú lấp miệng em. Chứ tôi nói không phải à? Có tám con vịt ranh mà phạt của người ta dững ba mươi công… San sát một hồi, rồi người đàn bà xách nón đi thẳng. Biền bực bội đeo kính toan ngồi vào bàn làm việc thì lại có một người khách nữa. Đó là một anh bộ đội trạc ngoài ba mươi tuổi, đeo lon trung uý. - Xin lỗi đồng chí. Đồng chí Loã, phó chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi ngành nghề có ở đây không ạ? Biền đưa đôi mắt nhỏ lờ đờ nhìn người khách và nhận ngay ra cái vẻ khôn ngoan hiểu đời qua khuôn mặt sáng sủa, đẹp trai với đôi mắt sáng và rất linh hoạt của anh ta. - Đồng chí cần gặp anh Loã có việc gì? - Dạ, chúng tôi đến liên hệ công tác. Biền mời khách sang phòng khách bên cạnh. Qua giấy giới thiệu công tác, anh biết người trung uý tên là Nguyễn Trọng Cường, thuộc một đơn vị hậu cần đóng ở trong tỉnh. - Ngoài anh Loã ra, đồng chí có thể gặp ai trong ban quản trị? - Dạ, không. Tôi muốn gặp riêng đồng chí Loã… Biền liếc nhìn người khách một lần nữa. Có chuyện gì với chú Loã? Vui hay buồn? - Thế thì đồng chí phải chịu khó đợi. Anh Loã lên tỉnh hợp đồng thuê xe đi mua sắn từ hôm qua. Có lẽ chiều nay sẽ về. *** Chuyến đi lên tỉnh của Loã thật vất vả. Theo kế hoạch phân phối của tỉnh, bốn huyện phía nam, trong đó có Giang Thuỷ được lên mua sắn theo giá thoả thuận tại vùng lòng hồ sông Đà. Bốn huyện mất mùa nặng cùng dồn lên mua sắn tại một địa điểm. Chỉ mường tượng ra cái cảnh hàng chục hợp tác xã tranh nhau đi vào các làng bản lùng mua sắn đã đủ biết giá sắn sẽ tăng vọt lên đến mức nào. Nhận được giấy phân phối của huyện, Loã bàn ngay với Cơ tìm cách xoay hướng khác. Lên Mai Châu, Đà Bắc, đường xa hơn vài chục cây số, nhưng nhất định giá sắn sẽ rẻ. Và Loã lại một lần nữa giơ đầu chịu báng. Anh lên huyện vận động Mạch viết cho một lá thư riêng gửi trưởng ty lương thực. Tất nhiên Mạch dễ dàng đồng ý ngay vì một tuần trước đây, Loã đã thân chinh bắt đôi lợn giống đẹp nhất trại chăn nuôi cho con trai Mạch lai về. Có lá thư của Mạch trong tay, Loã tin chắc rằng mọi chuyện êm đẹp. Trưởng ty lương thực với Mạch vốn là bạn thân, hai người lại đang sắp sửa trở thành thông gia với nhau. Nhưng thật xúi quẩy. Trưởng ty lương thực đi họp vắng. Hai anh phó ty ở nhà nguyên tắc cứng đơ. Loã nói bã bọt mép nhưng không ăn thua. Công việc thứ hai là sang công ty vận tải số ba hợp đồng thuê xe cũng không được kết quả. Cái tay giám đốc xí nghiệp, năm ngoái Loã đã được tiếp xúc. Ấy là vụ hợp đồng xe chở ba mươi khối gỗ giá cung cấp từ cảng Sơn Tây về xây dựng nhà trẻ và sửa chữa trại chăn nuôi. Đợt ấy, hợp tác xã phải biếu không một con lợn sáu mươi cân và ba yến nếp. Thế mà lần này, khi Loã gợi lại, hắn vẫn cố tình làm như không có cái vụ chở gỗ ấy. - Xin các bác cố gắng giúp đỡ. Chúng tôi đã hợp đồng mua và cho người dỡ rồi. Chỉ xin các bác cho ba xe trong một tuần. - Loã bóc bao thuốc lá Sông Cầu, vừa cười vừa nói lấy lòng. - Chỗ xí nghiệp với hợp tác xã chúng tôi, dù sao cũng đã có quan hệ tốt đẹp. Đợt các bác chở gỗ giúp năm ngoái, thật chúng tôi cảm kích quá. Giám đốc xí nghiệp thản nhiên cầm thuốc châm lửa, giọng vẫn đều đều nhát gừng: - Không còn xe đâu, anh ạ. Chúng tôi đang phải chạy kế hoạch cho nông trường Tháng Tám. Rút xe cho các anh, nông trường nó kiện cho bỏ xừ. Loã nghĩ đã đến lúc phải dùng con bài kinh tế. Thằng cha lại vòi vĩnh đây. Đằng nào cũng của tập thể. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. - Tết nhất sắp đến nơi… Chắc các bác cũng phải lo bồi dưỡng cho anh em… Vụ này tuy mất mùa nhưng nhờ trời hợp tác xã chúng tôi cũng không đến nỗi. Với lại cái khoản lợn… Chúng tôi xin đảm bảo với bác là… sẽ tạo mọi điều kiện để anh em xí nghiệp tăng chuyến hoàn thành kế hoạch cho nông trường… Chỉ cần các bác bố trí cho ba ngày… Kỳ kèo, vận động mãi, giám đốc xí nghiệp mới thò ra hai chiếc xe đang nằm ngoài bãi chờ bảo dưỡng và dẫn Loã xuống gặp tài xế. Thoáng nhìn hai chiếc I-pha rách tã bẹp gí một góc, Loã đã ngao ngán. Xe cộ thế kia làm sao vượt nổi dốc Cun? Vô phúc đang lên dốc, chết máy thì chỉ có một là khóc hai là đâm xuống vực. Tay lái xe với vẻ láu cá và ngang tàng, như đoán được ý nghĩ của Loã, liền vỗ vào vai anh: - Ông cứ yên trí. Trông nó thế nhưng mà bon lắm. Khối anh Gát còn phải gọi bằng bố. Chỉ có điều là chạy ngay bây giờ thì khí nặng hào đấy. Phải thay lại bộ phanh sau và sửa lại bộ phận điện. Hợp tác ông anh giàu, chi ra một thiên, chúng em xin sẵn sàng phục vụ. Loã lặng lẽ rút lui ngay. Anh gặp lại giám đốc xí nghiệp nài nỉ một lần nữa. Cuối cùng tay giám đốc hứa với anh, một tuần sau anh trở lại. Một tuần thì còn nói làm gì? Ăn nhau lúc này là ở cái thời gian. Khối anh nó cũng đánh hơi thấy mạn Mai Châu, Đà Bắc sắn rẻ chứ đâu riêng gì mình? Trâu chậm chỉ có uống nước đục. Lại lếch thếch đạp xe về Ty lương thực. May quá, trưởng ty đã đi họp về. Xoè cái thư của Mạch là ông ta giải quyết ngay. Nhất thân nhì thế có khác. Có lệnh rồi, làm sao xoay được xe đây? Có người mách Loã một vài nơi có xe. Công ty xây dựng. Xí nghiệp cầu đường. Liên hiệp chế biến nông sản. Đạp rã rời, nhưng đều không kết quả. Loã ra về với nỗi thất vọng và sự mệt mỏi rã rời. Vừa trông thấy Loã phờ phạc dựa xe đạp ngoài cổng văn phòng, Biền đã chạy ra hỏi dồn: - Thắng lợi chứ, chú Loã? Liệu hôm nào có xe? Loã cởi cúc áo bông, lấy mũ phe phẩy quạt, lắc đầu chán nản: - Đi bốn năm nơi mà không chỗ nào nó chịu ký hợp đồng. Lấy được lệnh rồi, nhưng chẳng đào đâu ra xe. Bực nhất là cái thằng xí nghiệp vận tải ô tô. Năm ngoái, lúc mình cho nó lợn, gạo, chính tay giám đốc đã hứa lần sau cần xe, các anh cứ đến đặt vấn đề, chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ. Ấy thế mà nói bã bọt mép, hắn mới thò ra hai chiếc xe tã rách. - Bây giờ thì đào đâu ra xe tốt. Cốt được việc cho mình… - Được việc thì còn nói chuyện gì. Ra xem xe tôi thấy ngán quá. Tay lái xe lại gạ tôi bồi dưỡng trước cho nó một nghìn. Tôi biết tỏng cái trò ma mãnh ấy, vội tìm cách chuồn ngay. Trung uý Cường đợi Loã suốt cả buổi trưa, thoảng nghe câu chuyện đã hiểu hết sự tình. Cho đến lúc hai người gặp nhau, Loã nhận ra ngay đồng chí trung uý mà mình đã gặp ở hàng nước ngay đầu thị xã. - Ấy chết, đồng chí xuống công tác… Mặc dù đã quen biết sơ sơ, trung uý Cường vẫn thận trọng đưa trình giấy tờ cho Loã. Anh cười tủm tỉm, nói nhỏ: - Hôm qua, lúc anh làm việc với giám đốc xí nghiệp vận tải, tôi cũng đang làm việc ở đó. Họ ngại không muốn ký hợp đồng vì họ biết là có chạy cho các anh vài chuyến sắn cũng chẳng sơ múi gì. Hợp tác xã đang mất mùa, các anh không đủ sức để hẩu với họ. Chứ tôi biết là họ vẫn còn xe. - Thảo nào… Trông cái mắt tay giám đốc, tôi đã nghi ngay. Giữa hai đơn vị kinh tế tập thể, quốc doanh với nhau mà họ tệ quá. Cường rút một điếu thuốc lá, dỗ dỗ trên vỏ bao, mỉm cười một cách ý nhị và đầy thông cảm: - Hôm nay đơn vị cử tôi đến trao đổi với các đồng chí một số công việc, nhưng thấy các đồng chí bí về chuyện xe cộ, nên tôi cũng xin mạnh dạn đề xuất… Loã ngồi sát vào thành bàn, đôi mí mắt hùm hụp giương hết cỡ, nhìn Cường chăm chú. - Xin đồng chí cứ nói. - Tình cảm giữa bộ đội và dân chắc đồng chí đã hiểu. Hợp tác xã ta mất mùa, chúng tôi cũng buồn lắm chứ. Dân không no, thì quân cũng chẳng thể yên tâm đánh giặc. Hôm qua, khi biết các đồng chí gặp khó khăn về xe cộ, tôi đã về trao đổi thống nhất với các đồng chí lãnh đạo đơn vị. Chúng tôi có một số xe tải. Nếu các đồng chí thấy cần, chúng tôi có thể giúp vài chuyến… Đôi mắt Loã vụt sáng lên, hàm răng ám khói thuốc lào phô ra hết cỡ. Anh xoè bàn tay ngắn cũn, thô ráp chụp vội lấy bàn tay Cường kéo lại phía mình. - Cám ơn các đồng chí quá. Các đồng chí đúng là cứu tinh của chúng tôi. Cường vẫn cười tủm tỉm với một thái độ hết sức khiêm tốn. Chờ cho Loã bình tĩnh trở lại, anh mới cúi sát về phía Loã, nói nhỏ: - Còn một vấn đề nữa, xin trao đổi với anh… Giọng Cường trở nên thầm thì, khiến Loã phải chú ý lắm mới nghe rõ. Câu chuyện của họ có vẻ rất quan trọng và bí mật, khiến Biền ở phòng bên thỉnh thoảng lại liếc đôi mắt nhỏ lờ đờ nhưng rất tinh nhạy qua ô cửa, cố phán đoán nội dung câu chuyện qua nét mặt của từng người. Khoảng một giờ sau thì Loã đứng dậy đi sang phòng bên máy Biền ra ngoài hiên. Hai người lại thì thào với nhau một lúc lâu nữa. Câu chuyện của họ có vẻ tâm đắc lắm. Biền vừa nghe vừa gật gù. Còn Loã thì chốc chốc lại hoa tay lên như đang thu hái một cái gì đó. Hết giờ làm việc buổi chiều đã lâu mà họ còn nán lại. Loã nói với Cường khi cả ba cùng về thôn Thanh Giang. - Xin anh Cường cứ hết sức tự nhiên. Anh Biền với tôi là anh em thúc bá. Ở xã Thanh Bình này, ai mà chẳng biết họ Đào Hữu… Tối ấy trung uý Cường được lưu ngủ lại nhà Biền. Một con vịt bầu nặng vừa đúng hai cân được thịt để làm cơm khách. Vui quá, chỉ có ba người mà cũng hết một chai "cuốc lủi". *** Càng về khuya trời càng tối bịt bùng, gió mùa đông bắc thổi ràn rạt mang theo những hạt mưa bụi nhỏ li ti như những hạt băng lạnh buốt. Làng xóm yên ắng như tờ. Những con chó lắm mồm nhất cũng đã nằm co quắp ở một chỗ kín nào đó, ngủ li bì. Khoảng một giờ sáng, có hai cặp đèn ô tô rọi thẳng vào làng. Tiếng động cơ rì rì bỗng dội lên trong đêm vắng. Một tiếng chó sủa. Rồi hàng chục tiếng chó sủa tru tréo kéo thành một chuỗi đuổi dọc theo anh đèn. Hai chiếc xe tải thùng gỗ, mui bạt che kín, như hai con vật cổ quái bò trên con đường lát gạch, vượt qua trước cửa nhà thờ họ Đào Hữu. Từ trong căn nhà bên cạnh đường, một bóng đen lao vụt ra, tiến lại phía ánh đèn, giơ tay làm hiệu. Người ngồi cạnh tài xế trên chiếc xe đi đầu nhận ra cái dáng bé nhỏ của Biền trong chiếc áo mưa bạt quá rộng. Ánh đèn xe vụt tắt. Tất cả lại chìm trong đêm tối bịt bùng. Sáu người đàn ông nữa từ trong nhà đi ra. Trong toán này có thêm Loã, Cản và Thảng. Họ cùng kéo đến chỗ chiếc xe đi đầu. Tài xế và người áp tải chiếc xe thứ hai cũng đi lại. Cả nhóm cùng ngồi chụm dưới gốc cây xà cừ. Ánh lửa thuốc lá chốc chốc lại loé lên đủ soi rõ hai đốm sáng ở phía trên, nằm đối xứng nhau qua gờ nổi sống mũi. Người ngồi áp tải trên buồng lái chiếc xe đi đầu, mặc dù đã thay đổi quân phục bằng bộ xi-vin màu tối nhưng vẫn dễ nhận ra giọng nói. Đó là Cường. Nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đeo trên tay, Cường nói với Loã và Biền. - Bây giờ là một giờ hai mươi rồi. Xin các anh cho giải phóng xe ngay. Tất cả đúng như trong hợp đồng. Mọi chuyện chúng ta sẽ bàn bạc với nhau sau. Loã và Biền gật đầu. Toán người lập tức tản ra, nhảy lên hai thùng xe. Những chiếc bao tải trĩu nặng trên vai người đi vào trong xóm. Thêm mấy người đàn bà dáng ngái ngủ và mệt mỏi cùng ra giúp sức với họ. Chỉ một giờ sau, hai chiếc thùng xe trống trơn. Một xoong cháo gà đã được nấu sẵn tại nhà Thảng. Mấy người đàn ông mệt mỏi bơ phờ ngồi húp cháo xì xụp và chỉ nói với nhau bằng ánh mắt. Biền cầm đôi đũa gạt qua miệng hai cái, rồi đặt ngang miệng bát, nhìn mọi người, nói: - Bây giờ thế này. Hai đồng chí lái xe sẽ ngủ lại đây, anh Cường và anh… - Biền chỉ người áp tải thứ hai, một thanh niên có đôi mắt lì lợm và một vết sẹo dài trên má. - Hai anh sẽ lại đằng tôi để hội ý tiếp. Còn ông Cản với Nha, cậu Tiễn thì về nhà chuẩn bị quân. Sáng mai, đúng tám giờ, cơm nước xong, chú Loã sẽ dẫn xe lên Đà Bắc lấy sắn. Theo sự phân công của Biền, mọi người tản đi rất nhanh. Cản đã ra đến ngõ, Biền sực nhớ một chuyện, vội chạy ra theo. - Suýt quên khuấy đi mất. Tôi đã bàn với ông Loã rồi. Ông phải lo cho cái khoản gỗ lát. Mai Châu, Đà Bắc là kho gỗ lát. Công việc mua dỡ sắn, ông cứ để ông Loã với anh em người ta lo. Cốt nhất là ông phải lùng cho được mấy quýp lát chun. - Có giấy tờ gì không? - Cản có vẻ ngần ngại. - Cần gì giấy tờ. Vào nhà dân hỏi thì thiếu giống… Mỗi xe ông cứ lát cho tôi vài tấm xuống dưới thùng xe, rồi chất sắn lên. Ngại nhất là qua trạm kiểm soát dốc Cun. Nhưng thấy mình chở sắn, chẳng ai hỏi gì đâu. Muốn chắc chắn, ông cầm sẵn mấy bao thuốc này đi. Dúi cho bọn phòng thuế mỗi anh một bao là xong hết… Cản cầm thuốc đút vào túi áo, hỏi thêm: - Thế còn tiền nong? - Ông Loã sẽ lo. Có gì hai ông bàn bạc thêm với nhau… Cố gắng chuyến này mỗi anh dựng một cái tủ… Hai người chia tay nhau. Biền đứng lại đợi Loã và hai người khách, rồi bốn người đàn ông cùng đi về cái ngõ có chiếc cổng gạch với hai tấm cánh cửa gỗ ván kín như bưng nhà Biền. Họ ngồi quanh bộ xa-lông gỗ gụ đen bóng và chạm đục kiểu cổ. Biền mở cánh tủ buýp-phê lấy ấm chén, phin cà phê và một bao thuốc lá ba số năm còn nguyên chưa bóc. Cường ngồi chăm chú nhìn từng cử chỉ hết sức nhanh nhẹn, khéo léo, sự chuẩn bị hết sức chu đáo của chủ nhân và đưa mắt cho người đồng sự như thầm nói: Chúng ta đang đứng trước một đối thủ hết sức lọc lõi ranh ma. Từng giọt cà phê sánh đặc giỏ xuống chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt. Chiếc đồng hồ quả lắc treo tường điểm binh boong ba tiếng. Biền liếc mắt ra hiệu cho Loã, rồi rút chùm chìa khoá mở cánh tủ bên lấy ra một gói giấy đặt trước mặt Cường. - Công việc của chúng ta thế là đã hoàn hảo. Xin gửi lại anh toàn bộ số tiền như đã giao ước. Anh đếm lại đi cho. Cường nâng tách cà phê, nhấp một ngụm nhỏ, khẽ mỉm cười gạt gói tiền sang phía anh thanh niên ngồi bên: - Chú đếm đi! Những tờ giấy bạc năm mươi đồng mới cứng đỏ lựng dưới ánh đèn. Cường vẫn giữ nụ cười tủm tỉm trên môi, quay sang Loã: - Lần đầu tiên làm việc với anh, tôi đã thấy mến anh ngay. Hợp tác nào cũng được vài cán bộ tháo vát năng nổ như anh với anh Biền thì phong trào may ra mới lên được. Tôi đã từng giao dịch với nhiều hợp tác xã. Có nhiều ông chủ nhiệm hẳn hoi mà cứ lù đù như gà mờ… - Chúng tôi đã làm là dứt khoát phải tác phong công nghiệp. - Loã dụi điếu thuốc lá vừa hút được vài hơi vào cái gạt tàn, với tay cầm lấy điếu cày. - Thời buổi bây giờ, ăn nhau ở cái đầu. Hôm anh đến đặt vấn đề, chỉ một phút sau là tôi quyết ngay. Trại chăn nuôi của chúng tôi đang thiếu cám trầm trọng. Có nguy cơ phải giảm số lượng. Có số bột này thì đàn lợn của chúng tôi không những giữ vững mà còn tiếp tục phát triển. Chưa có ý kiến chủ nhiệm, nhưng một mình tôi dám quyết. Mà đã quyết là phải đúng… Loã rít thuốc đến hõm má, rồi thở khói cuồn cuộn, như đang tung trước mặt đối phương một đám hoả mù. Anh thanh niên đã đếm tiền xong, quay sang nói với Cường: - Còn thiếu năm trăm đồng tiền xe. Không kịp để cho Cường phản ứng, Loã tiếp ngay: - Ấy, chuyện này thì như chúng tôi đã bàn với anh Cường. Công vận chuyển số bột coi như không tính. Vì đằng nào các anh cũng phải đưa xe về để đón người của chúng tôi đi lấy sắn. Cường giãy nảy: - Các anh làm như vậy thì chúng tôi mất hai chuyến xe không. Năm mươi lít xăng cộng với tiền bồi dưỡng lái xe. Chúng tôi lấy đâu ra? - Các anh thông cảm cho. Hợp tác chúng tôi đang mất mùa. Với lại tôi vừa xem kỹ. Bột của các anh xấu quá. Nếu là bột mì thì chúng tôi sẵn sàng trả thêm cho các anh một trăm đồng một tạ. Nhưng đây là loại bột lương khô quân đội. - Biền nói chậm và rõ từng tiếng, vừa đủ cho Cường nghe, vừa đủ để Biền nhận ra gương mặt anh ta bỗng tái nhợt và đôi mắt đang bối rối nhìn xuống. - Loại bột này chúng tôi xếp vào loại cám. Chỉ có thể cho trại chăn nuôi hợp tác xã, chứ không làm việc gì khác được. Số tiền kia là chúng tôi đã tính cả tiền xe rồi. Thêm một lần nữa Loã thầm phục tài Biền. Anh ấy đã điểm trúng huyệt Cường làm hắn ta choáng váng ngồi lặng đi thế kia. Mới hay vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Nhưng Biền vẫn không chịu buông tha. Anh tiếp tục bồi thêm một đòn nữa: - Vả lại nếu các anh đồng ý chuyển séc thì chúng tôi cũng không tiếc năm trăm đồng bồi dưỡng lái xe thêm. Nhưng một lúc xoay được món tiền mặt như thế thì gay quá. Chúng tôi đang chết dở không biết lấy tiền đâu ngày mai lên Đà Bắc lấy sắn đây. - Thấy chừng như đòn đã đủ, Biền cười, dịu giọng: - Với lại, chúng ta còn tiếp tục làm ăn lâu dài với nhau cơ mà. Đợt tới, các anh có hàng, chúng tôi cứ là xin hợp đồng ngay. Cường ngồi yên, gương mặt nhợt nhạt như người mất máu. Anh có cảm giác như vừa bị một cú đòn trời giáng, nhưng vẫn phải im lặng không dám kêu. - Các đồng chí có cần lấy giấy biên nhận thanh toán? - Biền chợt hỏi. Tôi lấy cái biên lại của các anh làm cóc khô gì? Cường bực bội nghĩ và cầm bọc tiền nhét vào túi áo ngực. Nhưng rồi chợt nhớ ra cái vai kịch của mình, anh ta vội làm vẻ kinh ngạc: - Cần chứ. Không có biên lai giấy tờ, hoá chúng tôi là những kẻ làm ăn bất chính à? Họ cùng ký vào giấy biên nhận, với bên mua là hợp tác xã Thanh Bình và bên bán là đơn vị hậu cần X. Mỗi bên cầm một bản, cẩn thận cất vào trong cặp. XII Thanh dắt xe đạp uể oải đi tới chiếc cổng sắt sơn xanh trước toà nhà uỷ ban nhân dân tỉnh. Đây là lần thứ ba trong vòng mười ngày nay, anh đã dắt xe đến đây. Hai lần trước anh chỉ dừng xe ít phút, rồi đi ngay. Còn lần này? Lại đạp xe thất thểu ba mươi cây số về không ư? Mười ngày, mình đã bốn lần đạp xe lên tỉnh. Đi gõ cửa chín cơ quan nài nỉ xin việc nhưng chẳng nơi nào thèm nhận. Đi đâu nữa? Thanh tự thấy thương hại mình. Không ngờ mười năm ở chiến trường, mười lăm vết thương và cái chức thượng uý bộ binh nó lại làm hại anh như vậy. Ở đâu người ta cũng hỏi hai câu hỏi: Lương bao nhiêu? Làm nghề gì? Và người ta lạnh nhạt lắc đầu: Lương cao thế mà lại không có nghề nghiệp, cơ quan chúng tôi nhận sao được. Đấy, cái giá của mười năm đời lính. Ngày cầm hồ sơ giấy tờ từ đơn vị về tỉnh đội. Thanh chủ quan tới mức ảo tưởng rằng với cái hồ sơ đầy những chiến tích này, anh sẽ không cần phải đi xin xỏ đâu hết. Các cơ quan tự khắc họ sẽ đổ xô đến, cố nài xin, giành giật anh bằng được. Vấn đề nan giải nhất của anh lúc bấy giờ là tự anh phải chọn một trong hai hướng: về phục viên, tham gia công tác ở hợp tác xã hay chuyển ngành vào làm ở một cơ quan nhà nước. Về phục viên ư? Đó chẳng phải là cái mơ ước đã đeo đẳng trong anh suốt những năm ở chiến trường gian khổ? Ngày Vy tiễn anh đi, sau cái tuần trăng mật ngắn ngủi nhưng vô cùng hạnh phúc mà cho mãi đến bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, anh lại thấy nguyên vẹn cái cảm giác rạo rực bồi hồi của tuổi hai mươi nồng cháy và si mê, anh đã cầm bàn tay Vy ủ nóng mãi trong tay mình, nhìn thẳng vào đôi mắt ướt nhoà đang đau đớn đến tuyệt vọng: "Đừng khóc nữa em. Đánh giặc xong, anh sẽ về với em. Nhất định anh sẽ không đi xa nữa đâu". Lời hẹn ấy, anh thầm nhắc lại bao nhiêu lần, trước những giờ xuất kích, trong những đêm hành quân xuyên rừng, những chiều mắc võng nằm lơ mơ dưới tán rừng săng lẻ… Còn có nơi nào đáng mơ tưởng hơn một luỹ tre làng, một mái nhà yên ấm thấp thoáng mái tóc mẹ già và cái dáng dịu dàng của người vợ trẻ? Đó chính là cái ước mơ đích thực của người lính. Đánh giặc xong, buông cây súng rồi, cái nơi mà ta sẽ gắn bó trọn đời, sẽ sinh con đẻ cái, sẽ chắt chiu những ước muốn và dự định, chính là cái làng quê đã nuôi dưỡng ta ngay từ lúc còn nằm trên tay mẹ bằng tiếng ru kẽo kẹt khô buồn của rặng tre già, tiếng lích chích ríu ran của đàn chim sẻ từ trên mái rạ chợt sà xuống nong thóc của mẹ, tiếng sáo diều những chiều hây hay gió nồm, tiếng mẹ à ơi ngắt quãng chập chờn hình bóng con cò đơn chiếc… Quê hương! Suốt những năm ở chiến trường chưa bao giờ Thanh nguôi quên. Anh nhớ như in từng đoạn bờ mương, hàng phi lao mới trồng, cánh đồng ngát thơm hương lúa mới và những buổi chiều mùa gặt hối hả nhộn nhịp trên sân phơi hợp tác. Anh cảm nhận thấy cái vị mặn của giọt mồ hôi ròng ròng chảy thấm vào kẽ mắt cay xè, thấm vào đôi môi khô khát trong những trưa nắng chói chang gập lưng kéo xe bò lúa cao ngất nặng nhọc đi trên con đường đá dăm nhức gan bàn chân… Tất cả những cái đó, không phải chỉ là tình cảm hời hợt của một anh chàng nhạc sĩ hay một hoạ sĩ nào đó nhìn cuộc sống nông thôn dưới một góc độ của một người ngoài cuộc, yêu nghệ thuật hơn là yêu cuộc sống thực, mà chính là một mảnh của cuộc đời Thanh. Đó là ngọn lửa cháy âm ỉ trong tiềm thức, gợi dậy một tình yêu và niềm khao khát trở về làng. Thế rồi Thanh đã trở về làng. Cái tháng 9 năm 1975 ấy, với cơn dông bão khủng khiếp đêm ấy, đã làm sụp đổ tất cả, thổi tắt phụt cái ngọn lửa anh vẫn hằng nhen nhóm gìn giữ. Cái làng quê của anh đã khác đi rồi. Anh không còn Vy nữa. Người ta đã cướp đi của anh những gì thiêng liêng nhất mà bảy năm qua anh đã không tiếc máu mình để chiến đấu vì nó. Lại thêm ba năm nữa. Ba năm cùng cực và đau khổ. Ngoài cái mục đích đuổi hết bọn Pôn Pốt, anh không còn nơi nào để mà nhớ mong, để mà thả tâm hồn trở về trong những đêm buồn đến não nề. Quê hương còn có ý nghĩa gì nữa khi đó là nơi đã để lại cho ta nỗi đau đớn nhất? Cũng may, thời gian vô cùng nhân hậu. Thời gian làm nguôi khuây vết thương lòng và lòng vị tha giúp anh tỉnh táo nhìn nhận lại mọi việc. Bây giờ, tình yêu của Vy đã bù lại cho anh tất cả những mất mát. Anh đã sống lại cái tuần trăng mật mà mười năm qua tưởng rằng đã mất đi vĩnh viễn. Nhưng Vy có đủ sức giữ anh lại bên mình mãi không? Sau những ngày bị con thuyền tình cảm buông trôi trên dòng sông thơ mộng đến huyền ảo tình cảm vợ chồng, Thanh bắt đầu phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống sắp tới. Về phục viên ư? Một tuần la cà thăm viếng chú bác họ hàng. Thanh đã nghe quá nhiều những câu chuyện về hợp tác xã, đã hiểu rõ cái tâm trạng chán nản và mệt mỏi của hết thảy xã viên, đã chứng kiến cái cảnh lãn công, làm ăn hời hợt đúng nghĩa vụ đông xuân có tính bản lề giữa hai vụ lúa. Kỳ lạ nhất là ông Trạc, cậu của Thanh, một người mà chỉ nhìn đôi bàn tay thô ráp sần chai, bắp tay cuồn cuộn như chão bện, bàn chân to bè với những móng chân tím đen vì nhuộm bùn, bắp chân ăn màu ánh chất đồng điếu… cũng đủ biết rằng ông đã cầm biết bao chiếc cày, lội biết bao cây số trên những cánh đồng mà ông đã thuộc như lòng bàn tay. Cái người nông dân suốt đời yêu đến không còn biết nghĩ đến nơi nào khác ngoài cái làng quê của mình ấy nữa, mà bây giờ đã chán cả những thửa ruộng mà ông đã tưới ướt mồ hôi. - Cậu ra hợp tác, anh ạ. - Ông Trạc đã thông báo với Thanh bằng cái giọng ráo hoảnh khi anh đến thăm ông vào một buổi tối. - Hôm nọ huyện họ gọi cậu lên bắt đầu học tập mất một tuần. - Tại cậu đánh chủ nhiệm chứ gì? - Thanh mỉm cười, nói giỡn ông Trạc. - Láo. Tao có đánh tay Cơ cái nào? Căn bản là ở dư cái đơn xin ra hợp tác xã. Nói là đi học tập cho nó lịch sự, chứ thực tế là đi cải tạo đầu óc, anh hiểu chưa? Buồn cười lắm. Họ phát cho cậu một cuốn điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bảo câu học. Cậu bảo cái điều lệ này tôi đã thuộc hết rồi. Mọi điều ghi trong đó là đúng hết. Bác Hồ đã ký vào đó rồi. Cấm anh nào được làm sai. Thế mà từ ngày Bác mất đi, ở dưới họ làm bát nháo cả. Không tin, tôi xin kể hết các ông nghe chuyện nhỡn tiền ở hợp tác xã Thanh Bình chúng tôi. Thế là cậu kể hết. Từ chuyện bầu đội trưởng đội phó thế nào, đại hội xã viên bầu ban quản trị ra sao. Rồi chuyện hợp nhất ba làng, đấu đá nhau cốt gài người của mình vào thế nào. Vì sao ông Tin phải bật đi Lâm Đồng? Vì sao xã Thanh Bình bây giờ chia làm ba phái? Phái nắm kinh tế, đứng đầu là ông chủ nhiệm. Phái nắm công tác Đảng, đứng đầu là ông phó bí thư phụ trách tổ chức. Phái trung gian dĩ hoà vi quý là ông bí thư… Rồi chuyện tham ô móc ngoặc, lợi dụng của công để làm giàu cho mình, chuyện thổi phồng thành tích cố làm rùm beng trên báo chí. Hợp tác xã tiên tiến ở đâu, chứ ở Thanh Bình dân chúng tôi không có nhận… Bao nhiêu chuyện cậu kể hết, các vị cán bộ huyện cứ tròn mắt mà nghe. Cậu bảo: Tôi ra hợp tác xã không phải vì tôi chống đối chính sách của Đảng và nhà nước. Hai thằng con tôi nó đi bộ đội, con gái tôi làm bí thư chi đoàn. Tôi vẫn khuyến khích chúng nó phục vụ. Nhưng tôi thì tôi dứt khoát xin ra đợt này. Bao giờ cán bộ hợp tác xã gương mẫu, xã viên làm ăn phấn khởi thì tôi lại vào. Chứ ở mà để cho họ chèn ép bắt nạt tôi thì tôi không chịu được. - Ông Trạc cười hà hà dương dương tự đắc như người vừa thắng cuộc. - Thế mà họ phải chịu cái lý sự của cậu, đồng ý để cậu về. Câu chuyện của ông Trạc làm Thanh thấm buồn. Anh băn khoăn: - Nhưng hợp tác xã không trả ruộng cho cậu thì cậu làm cách nào để sống? Ông Trạc bặm môi, gật gù không trả lời Thanh ngay. Vê một điếu thuốc đặt vào nõ, xoa hai chân xếp bằng tròn, rồi ông cầm chiếc xe điếu dứ dứ trước mặt Thanh: - Thế là anh vẫn quan liêu vấn đề. Cậu hỏi anh, khối anh xã viên một năm nó cóc có ngày công nào, sao nó vẫn sống được, hả? Nó không ra hợp tác, nhưng nó có còn là người hợp tác nữa đâu, hả? Chẳng cần một sào ruộng nào hết, mà vẫn ung dung. Cậu làm bằng vạn nó, cuối cùng thì vẫn thế. Hả? Anh bảo sao? - Ông Trạc bật cười lớn, châm lửa, đôi mắt cười cợt như đang cố giấu một âm mưu gì đó mà ông chưa thể tiết lộ. - Rồi anh sẽ thấy. Cậu đã có cách. Nếu mà đợt này anh phục viên về nhà, có muốn thì rồi cậu sẽ bày cách cho. Phục viên về nhà để rồi sẽ theo cách bày vẽ của ông Trạc? Thanh nghĩ buồn chua chát. Lẽ nào hợp tác xã - niềm tự hào của những người lính những năm sáu mươi, nơi duy nhất để những người lính như anh tin cậy gửi gắm cha mẹ vợ con trước khi đi chiến trường, bây giờ lại sa sút đến thế? Thanh gặp gỡ một số cán bộ đảng viên, cố tìm ở họ một lời giải đáp hộ mình: về phục viên hay xin chuyển ngành? Nhưng rồi chính đội ngũ cán bộ Thanh Bình lại làm cho anh thất vọng. Mười năm nay, vẫn những con người ấy. Ông Điền, bí thư đảng uỷ từ ngày Thanh còn ở nhà, con người rất tốt bụng hiền lành, rất liêm khiết, trong sạch, nhợt nhạt và giáo điều tới mức hầu như không có năng lực và bản lĩnh riêng, bây giờ vẫn giữ cái chức vụ ấy. Ông Thiển, ông Tấn, chị Ngần, ông Cơ, chị Đào, ông Loã, ông Biền. Vẫn là những cán bộ chủ chốt của mười năm trước đây. Có khác chăng mỗi kỳ đại hội đảng bộ, hội đồng nhân dân xã, đại hội xã viên… họ lại đổi chỗ cho nhau từng nhiệm kỳ. Dù muốn hay không, con người cũng không thể cưỡng lại nổi quy luật sinh học. Những người cán bộ của những năm sáu mươi ấy, dù không muốn bây giờ họ cũng già đi. Trình độ sản xuất, trình độ thâm canh, trình độ khoa học kỹ thuật ngày một phát triển. Sự giác ngộ của người xã viên đã khác, quy mô hợp tác xã mở rộng, điều kiện xã hội đã thay đổi. Nhưng vẫn những người lãnh đạo mà trình độ văn hoá, phẩm chất chính trị, trình độ tổ chức quản lý hầu như không được bồi dưỡng, nâng cao, thậm chí có những mặt bảo thủ, lạc hậu so với phong trào, tình trạng quan liêu bè phái, cơ hội, giáo điều ngày một nặng nề trong điều kiện thiên tai liên tiếp, lối sản xuất bao cấp, trì trệ không khuyến khích người lao động, không gắn trách nhiệm người xã viên với sản phẩm của họ… cộng với một đội ngũ cán bộ không được thường xuyên đổi mới, chưa thực sự đủ phẩm chất và năng lực để đảm nhận những công việc quản lý rất phức tạp… đã dẫn đến những khủng hoảng tất yếu, kéo phong trào hợp tác xã chững lại và đi xuống. Những đơn vị gọi là tiên tiến như Thanh Bình cũng không thoát khỏi tình trạng đó. Về phục viên hay xin một công việc nào đó, ở một cơ quan nào đó, sống thảnh thơi nhàn tản một cuộc đời công chức? Vào hết tuần đầu của đợt nghỉ, tự nhiên Vy hỏi Thanh điều ấy. - Ý em thế nào? - Hay là xin làm việc ở cơ quan cho nó đỡ vất vả, phức tạp. Về nông thôn nhiều chuyện rắc rối lắm. Sức anh không làm nổi đâu. Vy mà cũng khuyên anh thế? Thanh ngạc nhiên vô cùng. Mười năm xa đã quá đủ rồi. Cứ tưởng Vy sẽ giữ rịt anh bên mình, không cho đi đâu nữa. Nhưng đêm ấy Vy đã nói hết với anh mọi chuyện và anh cũng thấy mình không thể làm được công việc gì có ích trong cái cơ cấu tổ chức ở Thanh Bình hiện giờ. Vy đấy, đã từng đi học lớp kỹ thuật. Đã có một thời sôi nổi nhiệt tình bao nhiêu. Đã từng là kiện tướng đội bèo dâu nổi tiếng toàn huyện. Cuối cùng vẫn là Vy bây giờ, một xã viên bình thường, tính tình già trước tuổi, mệt mỏi và chán nản tất cả. Thắm đấy, Thắm bước vào đời trong sáng, vô tư và sôi nổi biết bao. Thắm có trình độ văn hoá, nhưng người ta không cử cô đi học lớp kỹ thuật chỉ vì bố cô ra hợp tác xã. Là một bí thư chi đoàn, nhưng cô chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là đi đôn đốc tập hợp các bạn thanh niên mỗi lần xã có công việc đột xuất cần đội xung kích cho một chiến dịch thuỷ lợi, một đợt chống úng, chống hạn nào đó… Và tay Phiệt sửa chữa xe đạp ở chợ Ba Thôn. Thương binh chống Mỹ loại ba. Chỉ vì cái tính nói năng bốp chát, không được sử dụng mà sinh bất mãn, tiêu cực, mở hiệu sửa chữa xe đạp. Và bao thanh niên khác, tốt nghiệp phổ thông về nhà sản xuất, nhưng rồi không chịu được cái cảnh buồn tẻ nặng nề ở nông thôn, vội tìm mọi cách chuồn đi các cơ quan, công trường xí nghiệp… Tám năm, đảng bộ Thanh Bình không kết nạp đảng viên trẻ nào. Chẳng lẽ ý thức giác ngộ cách mạng, phẩm chất năng lực của lớp trẻ Thanh Bình yếu kém tới mức ấy ư? Hay vì lớp cán bộ già sợ cái mới, họ không chịu nổi tuổi trẻ đầy năng động và sáng tạo? Có về phục viên nữa không? Ngày ở chiến trường mình đã thề với bạn bè rằng đánh xong giặc mình sẽ về làm ruộng, không đi đâu hết. Chẳng lẽ mới thấy khó khăn phức tạp đã đầu hàng rồi ư? Lại thêm những đêm nữa, Thanh tự đấu tranh với mình. Nhưng rồi thực tế hàng ngày diễn ra trước mắt làm anh hoàn toàn thất vọng. Anh sẽ làm được gì với cái tính thẳng mực tàu của mình ở cái xã mà đồng chí bí thư đảng uỷ chỉ có thể tồn tại được khi nào ông vẫn còn giữ nét tính cách tròn trĩnh hiền lành đến mức nhiều khi phải tự phủ nhận mình? Gương tay Phiệt đó. Mà anh thì không có gan mua sắm một bộ đồ nghề như thế, dù nó chẳng đáng giá bao tiền. Vào ngày thứ mười của đợt nghỉ phép, Thanh đạp xe lên tỉnh. Và bây giờ, anh đang đứng trước cánh cổng lớn uỷ ban nhân dân tỉnh, nơi thứ mười mà anh đến gõ cửa xin việc. *** Toà nhà bốn tầng cửa sổ sơn xanh đứng bề thế giữa trung tâm thị xã. Đối với những người ít có việc ra tỉnh thì toà nhà đối với họ là một công trình kiến trúc đồ sộ và vĩ đại lắm. Nhưng đối với Thanh, một người đã đi suốt rừng Trường Sơn, đã từng ở hàng tháng trời trong dinh Độc Lập và các cao ốc của Sài Gòn thì ngôi nhà bốn tầng kia chẳng mảy may có một ấn tượng ghê gớm nào. Hai lần trước đây, anh đã cố tình quay xe không bước qua chiếc cổng sắt vì tính anh vốn tự trọng. Đi nhờ vả một đồng chí phó chủ tịch tỉnh? Chỉ nghĩ đến điều ấy đã thấy xấu hổ. Nhưng biết làm sao? - Tôi xin gặp đồng chí Phó Chủ tịch Đào Hữu Liên. - Thanh đưa giấy tờ cho người thường trực và đứng đợi, cố mường tượng ra con người mà anh cần gặp ấy như thế nào? To béo? Chậm chạp? Đôi mắt trầm tĩnh có hai cái bọng chảy xệ phía dưới? Thanh lắc đầu. Nếu vậy thì lại đến hỏng việc. Cái tính tự ái cố hữu của Thanh lại chực bùng lên. Hèn quá. Phải đi nhờ vả một người không quen biết chỉ vì ông ta là người cùng xã và có chức quyền? Người thường trực trả lại Thanh giấy tờ. Anh ta nhìn Thanh một lần nữa và cầm lấy ống nói: - Alô! Văn phòng đâu. Cô Bích đấy à? Cô bảo với anh Hoàng là có một đồng chí bộ đội… Người thường trực đang nói nửa chừng thì Thanh đã ngăn lại: - Xin lỗi… thôi không cần… Tôi… xin cám ơn đồng chí. Thanh hấp tấp nói và vội vã dắt xe đi ra cổng khiến người thường trực ngớ ra không hiểu có chuyện gì. Một chiếc com-măng-ca đỗ xịch trước cánh cổng sắt. Cửa xe mở ra và một thanh niên trắng trẻo chạc ba nhăm tuổi nhưng dáng người đã béo quá sớm bước xuống, quay đầu mỉm cười bắt tay mấy người ngồi trên xe. Chiếc xe rồ máy chuyển bánh. Người đàn ông vừa đi vừa ngoái lại giơ tay vẫy. Anh ta không để ý rằng Thanh cũng đang dắt xe đạp cắm cúi đi ra cổng. Họ đâm sầm vào nhau và cùng đứng chựng lại. Thanh nhận ra người đàn ông trước. - Tâm, cậu làm việc ở đây hả? Người thanh niên mở tròn mắt ngạc nhiên mà không thể nhận ra. - Thanh đây. Thanh 10A đây. Cậu không nhận ra à? - À… Nhớ chứ. - Tâm đưa bàn tay mềm oặt cho Thanh bắt, mặc dù đôi mày anh ta vẫn nhíu lại như vẫn đang lọc tìm trong trí nhớ của mình. - Cậu già và đen đi ghê quá. Vẫn ở quân đội hả? Vào chỗ mình chơi đã. Mình công tác ở trong uỷ ban. Thanh cố tìm cách từ chối, nhưng Tâm nhất định bắt anh phải cùng vào một quán nước. Mềm mỏng và khéo léo, đối với bạn bè bao giờ cũng xởi lởi vồn vã, nhưng chẳng hề thân với ai, cái đức tính ấy của Tâm ngày còn học ở trường phổ thông ai chẳng biết. Tâm khéo léo giới thiệu về mình với giọng đầy phô trương khoe mẽ. So với bạn bè cùng lớp, Tâm quả là một người may mắn. Rồi về công tác ở ban kế hoạch tỉnh. Năm ngoái mới được đề bạt phó trưởng ty lao động. - Tội quá nhỉ. Cậu đi xin việc bây giờ thật không may. Đang kỳ giảm biên chế. Mình là phó ty lao động nhưng mình cũng không thể bố trí việc cho cậu được. - Tâm tỏ ra thương hại khi Thanh trót kể về mình. - Thượng uý, lương chín mươi đồng. Nhưng không có nghề ngỗng gì thì khó đấy. Thời buổi bây giờ, người ta đang cần những người có bằng cấp nghề nghiệp. Chứ ông nghề gì? Nghề nghiệp đánh nhau, ha ha… - Tâm vỗ đánh đét vào đùi Thanh rồi bá vai anh mà cười đến chảy nước mắt. - Tính toán sai lầm rồi ông ơi. Cái lương của ông như thế, ai người ta dám nhận? Thanh trả tiền toan đứng dậy. Mặt anh đã nóng bừng bừng không chịu nổi cái giọng giễu cợt của bạn. - Nhưng mà mình khuyên ông một điều: Phải kiên trì mới được. Về nhà sản xuất thì buồn chết. Có chỗ này đang cần người, mình có thể giới thiệu cho ông được. Tạm thời phải làm chân tiếp phẩm thôi vậy. Chỗ ấy mà họ nhận thì cũng làm ăn được… Cậu không có quyền chế giễu mình như vậy. - Thanh trừng mắt nhìn Tâm như muốn nói. - Cuộc đời vẫn có những kẻ may mắn như cậu và những kẻ ngờ nghệch như mình. Nhưng nếu không có những kẻ ngờ nghệch thì làm sao cậu có thể ung dung mà chuồn vào toà nhà bốn tầng kia? - Thanh định nói thẳng vào mặt Tâm những lời ấy, nhưng rồi anh tự kìm lại. Dù sao bạn bè lâu ngày gặp lại, cậu ấy có thể chưa hiểu… Tâm vẫn vô tư đến thật thà: - Cậu có biết đường vào Trường Cao đẳng Nông nghiệp tỉnh không? Con gái ông Cơ, chủ nhiệm hợp tác xã cậu đang học ở đấy… Thanh chợt nhớ đến Hoà. Hôm xuống tàu, anh rủ Hoà cùng về, nhưng Hoà tỏ ra lúng túng nói rằng cô phải về trường để kịp đi thực tập. Hoà rất cảm động trước sự giúp đỡ tận tình của Thanh và đã ghi cho anh địa chỉ. Tâm lấy giấy bút toan vẽ đường, nhưng Thanh đã xoè tay ngăn lại. - Cảm ơn. Không cần… Tâm lại tròn xoe mắt nhìn Thanh. Đến lúc này anh mới nhận ra gương mặt bạn đã đỏ tía như người uống rượu. *** Ông Trạc cầm trên tay chiếc roi dâu, vừa đi vừa vung vẩy. Bên cạnh ông, con bò cái béo mượt lông vàng mượt đủng đỉnh bước, thỉnh thoảng nó lại liếc đôi mắt đen ánh đầy sợ sệt nhìn sang cái roi ở tay ông, cố sải chân bước nhanh hơn. Trời đã về chiều. Vầng mặt trời của một ngày đầu đông tuy nhờ nhạt yếu ớt vẫn đủ sức làm đám mây xám mầu chì giãn mỏng để rọi chiếu xuống mặt đất, những chùm sáng lung linh rẻ quạt, tạo nên cái ánh nắng vàng mơ bảng lảng khói sương kỳ ảo. Thỉnh thoảng cả con bò, cả ông Trạc lại lọt vào một vùng nắng. Ông Trạc bỗng thấy con bò của ông đẹp lạ lùng. Cả người nó như phủ một lớp nhung mịn ánh, vàng thắm suốt từ đầu xuống lưng, xuống mông, rồi nhạt dần xuống bụng, xuống khoeo, nổi bật bốn khoanh màu trắng dưới ống chân thon thả, trông như “cô nàng” diện những đôi tất thật đỏm dáng. Cái lúc ấy dẫu “cô nàng” có cố tình phá bĩnh bước uể oải hoặc rất muốn dừng lại ngắt một ngọn cỏ xanh bên đường, ông Trạc cũng không nỡ giơ roi lên. Ừ, nó đâu phải là một con vật đơn thuần mà chính là cục vàng của ông đó. Sáng nay, sau bữa cơm rượu thịnh soạn ở nhà Hai Yểng, nó đã thực sự là của ông. Cái điều mà đã hơn hai mươi năm trời, ông không hề nghĩ đến, nói đúng hơn là ông đã quên đi, tưởng như không hề có, thì bây giờ lại trở nên cụ thể vô cùng. Ông có một con bò. Nó đang bước đi bên ông. Đôi mông nục nạc. Cái bụng tròn căng nây nẩy hai hàng vú. Nếu đúng theo lời Hai Yểng nói thì ba tháng nữa nó sẽ đẻ cho ông một chú bê non. Rồi một năm nữa chú bê lại trở thành bê mẹ. Và mẹ của con bê mẹ ấy lại đẻ một bê con nữa… Chà. Cái giống bò mới tuyệt chứ. Mỗi năm một lứa. Chẳng cần phải cám bã rau bèo như cái anh lợn. Chỉ cần cỏ. Mà cỏ thì thiếu giống ngoài đồng. Ông với nó sớm chiều đi vòng các bờ mương hợp tác, như đi dạo. Chẳng một tiếng gió nào đến tai. Chẳng cần ăn quen của anh nào. Cứ đằng thằng ra, một năm ông sẽ có một con bò. Ba nghìn đồng là rẻ. Nếu có thêm sào ruộng và một cái cày nữa thì sao? Ồ, thế thì to chuyện. Ông với nó, hai mẫu ruộng, một năm làm dễ ợt. Phải biết là lắm thóc nhé. Nhưng đấy là của cái chuyện nằm mơ, hợp tác đời nào lại cấp cho ông ruộng? Muốn thành địa chủ à? Thôi, chẳng dại. Chỉ cần nó là đủ. Mình nuôi nó, nó nuôi mình… Những ý nghĩ vớ vẩn khiến ông Trạc quên bẵng đi cái cơn nghiện thuốc lào từ nãy vẫn làm ông nhạt mồm nhạt miệng. Ông bỗng mỉm cười nhớ cái tay Hai Yểng, người củ mỉ hiền lành mà chơi rất quân tử. Cũng là chuyện tình cờ. Một lần vào Miếu Thôn chơi, ông Trạc gặp Hai Yểng. Nghe Hai Yểng nói chuyện nuôi bò, ông mê quá. Ông lân la xem bò của hắn. Rồi ướm giá. Ba nghìn. Hắn hét ghê quá. “Tưởng ông nói hạ, tôi mách với tay đội trưởng đội tôi vào mua về vực thử. Chứ giá ấy cao quá. Với lại đồng tôi trũng, chỉ có anh trâu mới kham nổi”. Ông nói với Hai Yểng như thế và làm ra vẻ thích thì xem chơi, chứ cũng chẳng màng. Nhưng rồi Hai Yểng cứ xoắn lấy. Hạ liền mấy giá còn hai nghìn rưởi. Mua được. - Ông nghĩ. Nhưng tiền đâu? Về bàn riêng với vợ. Năm tạ lúa trót bán hồi đầu vụ còn được hơn nghìn bạc. Biết Luyến vẫn còn hơn nghìn gửi tiết kiệm, ông bảo Luyến cho giật tạm. Thế là ông quyết. Chiều hôm qua ông lẳng lặng giắt hai nghìn rưởi bạc vào Miếu Thôn. Cái tay Hai Yểng thế mà chơi quân tử. Có người giả hắn hai nghìn sáu, nhưng hắn giữ tiếng với ông, không bán. Sáng nay hắn sai vợ thịt một con gà mái ghẹ, chỉ có hai người mà hết một chai. Lúc giao tiền. Hai Yểng lại bớt cho ông hai chục bạc, gọi là gia vốn lấy may. Xử như thế thì được quá. Chỉ riêng hai bữa cơm cũng tốn quá năm chục. Bây giờ con bò đã là của ông Trạc. Ông sẽ chẳng còn dính líu gì đến hợp tác. Không cày cuốc mà lại hoá hay. Các anh cứ việc làm hợp tác, cứ việc sản xuất lớn hay gì gì đó. Mặc… Nhưng mà phải coi chừng. Trồng khoai tây, trồng đỗ tương mà đất vẫn còn ướt dề dề thế kia thì chỉ có mà ăn lá. Đã đến con đường rẽ về làng. Trời vẫn còn sớm quá. Mà cái màu lông con bò của ông nó lại cứ vàng lồ lộ thế kia. Không ổn. Ông không muốn để người ta biết ông dắt bò về làng. Cái làng Thanh Cao ông còn lạ gì. Họ lại không nhao lên mà bàn tán, ông chớ kể. - Họ… ọ… ọ… - Ông nói với con vật bằng một giọng thật dịu dàng, nhưng hình như nó không hiểu. Khác với những con trâu đã từng quen với cái thứ ngôn ngữ riêng biệt ấy từ cái thuở chúng vẫn còn là chú nghé con theo mẹ đi cày, con bò của ông chưa hề làm quen với công việc đồng áng, nên nó lại cứ tưởng ông đang mắng mỏ gì đó, vì thế càng cố sải chân bước. - Họ… ọ… ọ… - Ông vượt lên phía đầu, ngăn con vật lại. Sợ quá, con bò xoay ngang định chạy. - Cái đồ… dốt như bò… Dừng lại… Họ… - Ông thiết cái thừng thật căng khiến con bò đứng sững. - Họ… Ngoan nào… Nghỉ tí đã nào… Gặm cỏ đi. Để tối tao với mày sẽ về… Thái độ âu yếm của ông Trạc làm cho con bò bớt sợ sệt. Nó đứng lơ mơ nhìn quanh một lúc, rồi cúi xuống bờ để gặm cỏ. Thèm thuốc quá, ông Trạc lấy một cọng rạ sót dưới ruộng, vê đất dẻo thành một cái điếu rồi ngồi xuống vệ cỏ giở bọc thuốc ra hút. Vừa lúc ấy có tiếng phanh xe đạp làm ông giật mình quay lại. - Cậu. Sao cậu lại ngồi ở đây? - Thanh vẫn ngồi trên yên xe nhìn ông Trạc và nhận ra cái thừng bò trên tay ông. - Bò của ai mà cậu lại dắt thế? Ông Trạc bật cười: - À… Bò của cậu… Cái chuyện cậu nói với anh dạo nọ… Thanh như đã hiểu ra. Anh dựa xe vào gốc phi lao bên cạnh và ngồi xuống bên ông Trạc. - Cậu mua bò thật đấy à? - Chứ lại bỡn… Cậu đã nói là làm. Anh thử đoán con bò bao nhiêu tiền? Thanh cười lắc đầu: - Cháu chịu. Trông tướng con bò này không biết có cày được đồng mình không? - Ruộng đâu mà cày. Cậu nuôi chơi. Dưỡng già mà lại… Được dịp, ông bắt đầu khoe với Thanh con bò quý tử của mình, kể cho anh nghe những mánh lới trong nghề nuôi bò, cứ hệt như ông đã sống bằng cái nghề này lâu lắm. Anh đã về phục viên, cũng nên mua lấy một con bò mà nuôi. Mẹ anh sẽ phụ thêm vào lấy công làm lãi. Một năm thu ba nghìn bạc, gần tấn lúa. Làng mình đất hẹp người đông. Vườn tược không có, chỉ có cách này là thượng sách. Cậu đã nghĩ nát nước ra rồi. Làm ăn chính đáng mà có lãi thì chỉ có nuôi bò. Chứ đi buôn thì cậu cháu anh đều không có tài. Mà nghề phụ thì có cái gì? Cả đời cầm cuốc cầm cày, tay như dùi đục. Xếp cuốc cày là treo niêu. Đấy, cậu tính thế đấy. Anh bảo làm cách nào mà một năm kiếm được ba nghìn? Làm hợp tác thì cứ gọi là đến mùng thất… Nghe ông Trạc nói, Thanh nghĩ càng thấy buồn. Cho đến hôm nay thì anh chẳng còn thiết gì đến chuyện xin chuyển ngành nữa. Gặp Tâm lúc trưa, anh đã dứt khoát với mình. Về nhà sản xuất vậy thôi. Thanh lên xe về làng. Đạp một quãng, quay lại, vẫn thấy cái dáng ông Trạc với con bò lừng lững trên bờ đê, khảm vào chân trời phía tây vàng vọt và ảm đạm. Có một cái gì xót xa, nhức nhối trong lòng Thanh. Bức tranh buồn thảm kia, ngày ở chiến trường có bao giờ anh nghĩ tới? Có bao giờ anh nghĩ rằng ông cậu hiền lành và suốt đời yêu mảnh ruộng như chính bản thân mình kia lại có một buổi chiều nhản tàn như chiều nay, ngồi lặng lẽ ve vuốt con bò riêng của ông với ánh mắt dịu dàng, âu yếm đến thế. Đừng. Chớ vội bi quan mà phủ nhận tất cả. - Thanh tự an ủi mình. - Con đường mương rợp bóng phi lao này, cánh đồng vuông vức từng ô thửa như bàn cờ kia, những mái ngói san sát còn chưa kịp phủ lớp rêu mốc của làng anh kia nữa… Sẽ chẳng thể có như bây giờ, nếu không có một quan hệ sản xuất cụ thể. Hãy trở lại những năm chống Mỹ. Một xã Thanh Bình của anh đã đóng góp cho chiến trường hơn năm trăm người lính và tám năm liền mỗi năm đóng góp cho nhà nước hơn năm trăm tấn thóc. Hầu hết những trai làng khoẻ mạnh đẹp đẽ nhất đã phải buông tay cày tay cuốc, cầm lấy khẩu súng. Làng chỉ còn người già và phụ nữ. Có gia đình rặt mấy người đàn bà. Sau mùa gặt, muốn lớp cái bếp, dọi chái nhà cũng phải nhờ đến ông đội trưởng. Hợp tác xã không chỉ lo đời sống kinh tế mà thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy trong đời sống, sinh hoạt, trong những sự cố bất chợt, những khi tối lửa tắt đèn. Và còn thiên tai bão lụt? Cái quãng đê ông Trạc với con bò của ông đang đứng kia, đợt lũ năm 69, năm 72 tưởng đã không thể cứu nổi. Máy bay Mỹ quần đảo trên trời nhưng hàng nghìn xã viên vẫn đầm mình nước cứu đê, cứu lúa. Trận bão trái mùa vẫn còn để dấu vết trước mặt Thanh kia nữa. Một ông Trạc dù có phép lạ như Sơn Tinh cũng làm sao mà cứu nổi thửa ruộng của mình. Công bằng mà nói, dẫu sao đội ngũ cán bộ đảng viên Thanh Bình, những người lính xung kích trên mặt trận này, đã phần nào làm tròn nhiệm vụ lịch sử của họ. Chưa ai hiểu thấu và dự tính trước được con đường đi của sản xuất tập thể tiến lên chủ nghĩa xã hội. Không có một mô hình hợp tác xã có sẵn nào cho họ cả. Họ làm việc với vốn hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa xã hội, với kinh nghiệm sống và sự thông minh tháo vát trong khuôn khổ tâm lý nông dân. Thế thì làm sao họ lại không có quyền tự hào để nói với Thanh: “Chúng tôi có những sai lầm, kém cỏi, như các đồng chí cũng có lúc sai lầm trong một trận đánh, một chiến dịch. Nhưng chúng tôi đã chiến đấu hết sức mình trên cái mặt trận vô cùng khó khăn và phức tạp này. Chúng tôi đã làm được khá nhiều việc. Bây giờ hoà bình rồi. Các đồng chí đã trở về. Hợp tác của chúng ta hiện giờ như thế đấy. Nào, xin mời các đồng chí chung sức cùng chúng tôi…”. Thanh sẽ làm gì? Mua một con bò như ông Trạc ư? Đứng ngoài hợp tác để nhìn ngắm những cánh đồng? Tự mình phủ nhận những điều đã khao khát, ấp ủ suốt mười năm chiến đấu? Khác nào một người đi suốt chiều dài sa mạc để tìm đến một ốc đảo, nhiều cây xanh và nước ngọt. Anh ta vẫn còn dư sức, nhưng chỉ biết thoả thuê uống nước mà không biết chăm tưới cho những cây xanh kia. Chúng cũng đang héo khát và đang cần được tưới tắm để xanh thêm nữa. Cái gì sẽ xảy đến với ốc đảo khi những cây xanh kia chết đi? Muốn tất cả chỉ là cát trắng ư? XIII Một đợt gió mùa vừa rét vừa mưa dầm dề làm cho công việc trên đồng hầu như ngừng hẳn lại. Sau mấy ngày ra quân vụ đông đầy khí thế rầm rộ, xã viên bắt đầu thấy chán nản, những khu đất cao như cánh đồng Bà Chúa đã được trồng khoai tây kín, nhưng nó vẫn chỉ chiếm một diện tích ít ỏi chừng hai mươi phần trăm số diện tích hợp tác xã định gieo trông vụ đông này. Nguyên nhân vẫn là do đất. Đất ướt lại cộng thêm mưa dầm, dù sốt ruột mấy cũng không làm cách nào được. Buổi sáng, Cơ và Lập khoác áo mưa đi thăm đồng. Gió thổi vù vù trong hàng phi lao, mưa bay chéo mặt, mù trắng khắp đồng. Những luống khoai tây trồng đợt đầu đã đội lớp trấu trên mặt, nhú lên những mầm dài, gặp mưa xanh mơn mởn. - Giá trời đừng mưa có phải đồng mình đã phủ kín khoai tây rồi không? - Cơ lội xuống bới một cục đất to đang nằm đè lên một mầm khoai, rồi quay lại thở dài, nói với Lập. - Trời này không biết lúc nào ngớt. Ta phải xoay chuyển phương án mất, anh ạ. - Lập nói chậm rãi, đôi mày nhíu lại như dính liền nhau trên sống mũi. Hai ngày nay anh đang nghĩ đến một phương án mới nhưng chưa tiện trao đổi với Cơ. Tính Lập vốn thận trọng. Anh không muốn nói ra những điều mà bản thân anh chưa nghĩ chín. - Mình cũng đang nghĩ như cậu. Hay là ta lại triển khai cái anh đậu tương. Hai tấn giống mình lĩnh của huyện về để đó, không trồng mang tiếng chết. Hôm qua ông Loã đến trao đổi với mình để hai tấn đỗ tương cho tổ chăn nuôi làm đậu phụ. Làm hướng ấy thì lãi lớn đấy. Có bã cho lợn ăn mà bán đậu phụ cũng lãi vài nghìn… - Làm đậu phụ thì lãi quá rồi. Nhưng huyện mà biết thì không xong đâu. Tôi vẫn cứ lo cái vụ khai diện tích ứng lụt vừa rồi. Ông Loã với ông Biền làm liều quá. Nhận 50 tấn lương thực cứu đói, nghĩ mà buồn. Cơ im lặng. Lập đang nghĩ đến cái điều mà suốt tháng nay, mỗi lần nghĩ đến, anh lại thẫn thờ, bủn rủn. Lo âu phấp phỏng, nhưng mà anh cán bộ có lương tâm thì lại buồn lo dằn vặt. - Tôi biết cái thế của anh cũng khó. Một đằng nhà nước, một đằng xã viên. Làm lợi cho nhà nước tức là anh thêm một tội nữa để người ta gạt anh ra khỏi đảng uỷ đợt tới. Dựa cớ vào đói kém, họ sẽ kích động xã viên lên án anh chỉ chạy theo thành tích, cô lập anh với quần chúng. Nhưng nếu anh làm lợi cho xã viên, tức là anh đã chịu sự chi phối của họ. Huyện có biết, anh bị kỷ luật trước. Cả hai trường hợp, anh đều trúng kế của ông Loã, ông Thiển… Cơ thầm biết ơn người cộng sự đắc lực và tin cậy đã hiểu khá tường tận những rối rắm, uẩn khúc trong nội bộ Thanh Bình và tỏ ra rất thông cảm với anh. Có được một người bạn chân tình như Lập thật quý, chỉ tiếc rằng Lập không có khả năng và điều kiện để giúp anh được. Cơ nhớ lại buổi họp thường vụ đảng uỷ gần đây nhất. Khi Cơ và ông Điền một lần nữa đưa ra ý kiến đề nghị của chi bộ Thanh Minh để thường vụ xét kết nạp Lập, thì lập tức Thiển đã gạt đi: “Cứ để anh Lập phấn đấu thêm một thời gian nữa. Có dư luận quần chúng cho rằng gần đây anh Lập tung ra những tin không hay về một số cán bộ đảng viên, nhằm làm giảm uy tín của quần chúng đối với Đảng. Chúng tôi đang cho xác minh lại…”. Ban đầu Cơ ngạc nhiên. Nhưng sau rồi anh cũng hiểu ra. Đúng. Lập có phản đối chuyện để Thảng thay Luyến giữ chức thủ kho. Lập không tin quan hệ giữa kế toán trưởng Biền và thủ kho Thảng là trong sáng, vô tư. Lập đề nghị cứ để Luyến tiếp tục công việc của chị. Sự thẳng thắn chân tình ấy chỉ càng làm cho Lập bị thành kiến, bị cánh Thiển, Loã gây khó dễ… Cơ quay lại câu chuyện dang dở: - Bây giờ họ lại đang định lặp lại phương án dùng đỗ giống để làm đậu phụ. May mà hôm qua, mình gạt đi ngay. - Thế anh định trả lại giống cho huyện? Cơ lại im lặng. Chính mình đã nhận kế hoạch với huyện. Vân Xuyên, Tú Nguyệt chỉ dám nhận hai tạ, nhưng mình đăng ký lên hai tấn. Anh Trần Sinh hứa cho thêm mười tấn đạm. Trả lại sao tiện? Lập tỏ ra kiên quyết: - Anh cứ để giống đó. Tôi sẽ lên báo cáo tình hình khó khăn của hợp tác xã mình với huyện. Do mưa. Mình chưa chuẩn bị kịp đất. Xin huyện phân phối lại số giống cho các hợp tác xã khác. Mình chỉ nên tập trung thí nghiệm năm mẫu đã gieo… Hai người rẽ về phía cánh đậu tương gieo thí nghiệm. Khu đồng vắng tanh teo. Phía bờ mương trước mặt, một con bò vàng đang mải miết gặm cỏ. Cạnh đó, người chủ nó quàng áo mưa xám, đội nón trùm hụp ngang mặt đứng trầm tư như một hình nộm bù nhìn vẫn thường gặp trên những cánh đồng ngô mới gieo. - Ông Trạc mới mua bò, anh biết chưa? - Lập chỉ tay về phía người chăn bò, nói với Cơ. - Cứ thế kia mà lại nhàn. Nhiều nơi họ đang phát triển nuôi bò kiểu này. Mỗi năm một lứa bò cũng kiếm vài nghìn bạc… Cơ buồn bã lắc đầu: - Mình đã cố thuyết phục mà ông ấy không chịu. Nhưng không thể trả ruộng cho ông ấy được. Cũng đành để vậy chứ biết làm thế nào. - Để vậy ư? - Lập nói chậm rãi như nói với chính mình. - Phải thay đổi một cung cách làm ăn như thế nào để những người như ông Trạc thấy gắn bó với đồng ruộng, với hợp tác xã hơn nữa. Tôi nghĩ việc làm của ông Trạc phản ánh tâm trạng của nhiều xã viên ta hiện giờ. Họ bắt đầu nghi ngờ, bắt đầu chán nản, không thiết tha với công việc hợp tác như trước nữa. Không phải lỗi tại họ. Cái chính là do cách làm ăn của mình không khuyến khích, động viên họ một cách tích cực. Vụ mùa vừa rồi riêng đội tôi có tới mười sáu người bỏ đi buôn sắn, chạy chợ. Tâm lý của nông dân là thế. Họ luôn luôn nghĩ đến một lợi ích vật chất rất cụ thể. Ai làm cho cái niêu cơm của họ đầy, người ấy sẽ tạo được uy tín, được lòng tin. Đừng đánh giá họ chỉ biết vật chất đơn thuần. Có ai còn nghi ngờ về sự đóng góp lớn lao của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ? Bây giờ dẫu sao cũng đang trong thời kỳ hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những biện pháp áp dụng trong thời chiến là tích cực thì bây giờ đã lỗi thời, thậm chí có tác dụng tiêu cực trở lại. Ví dụ chuyện phân phối ăn chia theo nhân khẩu thời kỳ chống Mỹ, bây giờ phải chuyển sang phân phối theo lao động đã bắt đầu bộc lộ những nhược điểm lớn. Chúng ta đặt ra hàng trăm định mức để đánh giá ngày công, thoạt xem thì có vẻ khoa học. Nhưng công việc nhà nông nó không đơn giản, có quy trình công nghệ rạch ròi như công nghiệp. Một cái bu-lông làm sai ren, không đủ tiêu chuẩn, bộ phận nghiệm thu họ phát hiện thấy ngay. Nhưng những công việc đắp bờ, tát nước, cày bừa… thì không thể có một dụng cụ đo lường nào nghiệm thu chính xác được. Đội trưởng đội Một nghiệm thu theo cách này, nhưng đội Hai lại nghiệm thu theo cách khác. Đã có nhiều trường hợp đội trưởng, thư ký hẩu với anh xã viên nào, hoặc quan hệ họ hàng thân cận thì phóng điểm lên. Tuỳ thuộc vào quan hệ thân sơ hoặc hiềm khích ganh tị mà ban chỉ huy đội có thể tăng công hay giảm điểm. Ban quản trị chúng ta không thể quản được khâu đó. Đó chính là một nguyên nhân dẫn tới sự không công bằng. Tâm lý người nông dân kỳ lạ lắm. Một ông khách quen đến chơi, họ bắt gà mua rượu làm cơm ngay. Nhưng nếu ông hợp tác chia thiếu cho họ một cân thóc hoặc nắm rơm thôi là có chuyện… - Thế cho nên cần phải giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ tập thể… Lập mỉm cười lắc đầu vì câu nói rất “bài bản” của Cơ. - Anh làm như vậy thì có muôn đời cũng không vào. Vấn đề là phải làm cho họ nhìn thấy cái bồ thóc của họ ngày càng đầy. - Quay nhìn thẳng vào Cơ, đôi mắt Lập thẳng thắn và đầy quả quyết. - Tôi đã nghĩ kỹ rồi, nếu cứ làm theo cách chúng ta đã làm thì từ nay đến hết thời điểm nông lịch, chúng ta không thể hoàn thành được bảy trăm mẫu cây vụ đông, trong đó có ba trăm mẫu khoai tây. Đất ướt chỉ là một nguyên nhân, nhưng không cơ bản. Nếu anh dám quyết chia ruộng cho xã viên, khoán giống, khoán phân, khoán sản lượng cho họ, tôi dám chắc chỉ trong mười ngày, chúng ta sẽ làm xong toàn bộ diện tích. Ý kiến của Lập táo bạo quá, khiến Cơ cảm thấy sửng sốt. - Làm như vậy là sai chính sách… - Anh có thể cho tôi có tư tưởng muốn quay về lối làm ăn cá thể, tôi vẫn nói. - Lập khoát tay, giọng sôi nổi. - Anh hãy nhìn ông Trạc kia. Vì sao cả cánh đồng vắng tanh mà mình ông Trạc vẫn khoác áo mưa dắt bò đi chăn? Đơn giản quá. Bỏ tiền ra mua bò, không thể buộc nó cả ngày trong chuồng được. Cánh đồng này cũng vậy. Nếu khoán cho từng gia đình, giao định mức cho họ, còn bao nhiêu họ hưởng, thì tự khắc họ sẽ tranh nhau làm. Chúng ta cần nhiều thóc, nhiều khoai, nhưng chúng ta lại tự ý bó lấy mình, không dám mạnh dạn thay đổi một cách nghĩ cách làm… - Mạnh dạn kiểu của cậu, tức là đưa nông dân quay lại con đường tư bản chủ nghĩa. Không được đâu. Huyện họ biết thì rắc rối, lôi thôi ngay. Cậu có biết phong trào ba khoán của Vĩnh Phú hồi nào không? Bí thư tỉnh uỷ bị cách chức chỉ vì làm trái đường lối hợp tác xã… Như bị giội một gáo nước lạnh, những dự định mà Lập vẫn nung nấu trong đầu, bỗng nhiên xẹp hẳn xuống. Lập thấy thất vọng về Cơ. Nhất nhất cái gì anh cũng lo sợ, dè dặt thế thì tôi không thể giúp gì cho anh được đâu, anh Cơ ạ. Giá còn anh Tin ở nhà, anh ấy nhất định sẽ làm theo cách này. Anh ấy là một người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm. Còn anh? Thì ra anh cũng chỉ là một người luôn luôn chỉ biết cách làm theo những bài bản có sẵn. Thấy thái độ của Lập đột ngột thay đổi, Cơ bỗng áy náy. Anh nói một lời an ủi: - Ý kiến của cậu có những điểm đáng suy nghĩ. Để mình bàn trong ban quản trị xem sao. *** “Giang Thuỷ ngày… Gửi đồng chí Cơ, hợp tác xã Thanh Bình. Tôi nghe nói Thanh Bình có ý chần chừ không muốn gieo trồng đậu tương trên nền đất ướt. Nếu quả như vậy thì tôi rất buồn. Vấn đề trồng đậu tương trên nền đất ướt là một vấn đề rất mới mẻ, nhưng đã được thực tế và khoa học chứng minh rằng đó là một tiến bộ mới trong việc mạnh dạn thay đổi cách làm ăn và cơ cấu cây trồng vụ đông. Không còn phải nghi ngờ gì nữa, đó là một biện pháp tiên tiến để chúng ta xoá bỏ thế độc canh, biến những vùng đất trũng chỉ quen trồng hai vụ lúa thành nơi trồng ba vụ, đồng thời đưa loại cây họ đậu vào cơ cấu loại cây cải tạo đất cho vùng đất thịt nặng của huyện. Mấy năm trước, việc trồng khoai tây trên nền đất ướt bị nhiều người hoài nghi, phản đối. Nhưng thực tế đã chứng minh thế nào? Chính Thanh Bình là hợp tác xã đi đầu huyện ta về mặt này. Trong tình hình giống rất thiếu và quý, huyện đã mạnh dạn phân phối cho Thanh Bình một số lượng lớn giống đậu tương. Như vậy chứng tỏ sự quan tâm đầu tư của huyện cho Thanh Bình là rất lớn. Thanh Bình có thể đi đầu trong mũi nhọn khoa học kỹ thuật này được không? Có thể mở ra cho toàn huyện một khả năng phong phú về một loại cây vụ đông rất kinh tế và có giá trị nhiều mặt được không? Huyện uỷ và uỷ ban nhân dân huyện đang rất mong chờ các đồng chí giải đáp. Báo để đồng chí biết. Đại hội huyện đảng bộ lần thứ 12 sẽ chính thức khai mạc vào ngày 25 tháng Giêng. Huyện uỷ sẽ công văn cho các đảng bộ. Chúc Thanh Bình một vụ đông thắng lợi. Bí thư huyện uỷ TRẦN SINH” Cơ đọc lá thư đến lần thứ ba. Ý của anh Trần Sinh rõ quá rồi. Thư riêng, nhưng thực chất là một chỉ thị. Lẽ nào mình lại phụ lòng tin cậy của anh ấy? Cơ chống tay lên bàn, đỡ lấy vầng trán đang cồn lên những nếp nhăn. Giống như người mới tập bơi đang đứng trước con sông rộng. Dùng dằng mãi ở bên này tức là mãi mãi mình sẽ không sang được bên kia bờ, nơi mà anh vẫn khao khát mơ tưởng, vẫn suy nghĩ về nó như là một vùng đất lạ đầy sức quyến rũ. - Hoà, bác Sinh có nhắn gì bố nữa không? - Cơ hỏi con gái lúc cô đang từ dưới bếp đi lên. - Không ạ. Bác ấy chỉ hỏi con về tình hình trồng đậu tương ở hợp tác xã mình. Con nói, cháu có nghe bố cháu nhắc đến, nhưng hình như ban quản trị có nhiều ý kiến phản hồi. Hoà trả lời bố, rồi đi vào buồng thay áo. Cô đang có ý định sang rủ Thắm đến nhà Thanh chơi. Mặc chiếc áo mới, Hoà lại nhớ cái hôm cô cùng Thanh xuống ga Hàng Cỏ. Thanh mở chiếc ba lô cóc, lấy ra hai mét vải lụa đen, hai mét ka-tê hoa rất đẹp, đưa cho Hoà: - Hoà vào trong hiệu may bộ quần áo mặc tạm. Sắp đi thực tập, cũng phải có bộ quần áo để thay đổi. Đừng ngại, anh coi Hoà như em gái… - Đừng. Anh đừng làm thế. Để mang về làm quà cho chị Vy chứ. Ở trường em vẫn còn quần áo. Với lại rồi mẹ em sẽ cho tiền… - Hoà giãy nảy, không chịu nhận. - Mẹ anh và Vy cũng có quà đây rồi. Hoà cứ cầm lấy. Cứ coi đây là món quà của anh mười năm xa nhà… Nhìn gương mặt bỗng buồn rượi của Thanh, Hoà thấy không nỡ. - Thôi, thế này nhé. Em xin anh vải may một chiếc áo. Còn mét lụa đen này dành để may quần cho chị Vy. Nhưng mà em bảo. Anh đừng nói gì với thầy u em là em vào Đà Nẵng nhé. Cứ coi như em với anh không gặp nhau gì hết. Biết em mất quần áo, thầy em nhất định không tha đâu. Hoà chia tay Thanh để về trường. Chiếc áo hoa vải ka-tê ấy là chiếc áo đẹp nhất của Hoà bây giờ. Hôm kia, về huyện thực tập, anh chàng Sơn kỹ sư nông nghiệp cứ nhìn Hoà đến… lác mắt. Đã ra đến cửa, vẫn thấy bố ngồi trước lá thư với cái dáng đăm chiêu, mệt mỏi, Hoà đi lại gần bàn, ngập ngừng hỏi: - Thầy ạ, hình như hợp tác mình định trồng cả hai tấn đậu tương trên nền đất ướt, hả thầy? Cơ ngước mắt nhìn con gái. Cho đến lúc này anh mới chợt nhớ ra con gái mình đang học Cao đẳng Nông nghiệp sắp ra trường. - Con thấy thế nào? - Đừng, thầy ơi. - Hoà nói ngay, không cần nghĩ ngợi. - Đó là một việc làm mạo hiểm, chưa có cơ sở khoa học. Bọn con nghiên cứu sinh thái và đời sống cây đậu tương rất kỹ. Đậu tương là một loại có giá trị dinh dưỡng cao và rất kinh tế. Lâu nay nhân dân ta mới quen trồng trên đất đồi bãi có lượng mùn và phù sa nhiều. Thật ra nó có thể sinh trưởng rất tốt ở vùng đồng bằng. Chủ trương đưa cây đậu tương thành cây chủ đạo trong vụ đông là rất đúng. Nhưng không phải đất nào, thời tiết nào cũng trồng được. Trồng trên nền đất ướt là không có cơ sở khoa học. Vì đất nén chặt, bó lấy rễ, khiến cây đậu tương không phát triển được. Đất mình như thế kia, không trồng nổi đậu tương vụ này đâu, thầy ạ. Hoà dừng lại đột ngột vì thấy Cơ mệt mỏi lắc đầu. Cô bỗng thấy lúng túng vì cảm thấy những điều mình nói có gì như sách vở quá. Và Hoà đứng dậy. - Thầy ơi, con đi sang nhà chị Vy chơi một lúc. Từ hôm anh Thanh về, thầy đã gặp anh ấy chưa? Cơ giật thót người, gai lạnh khắp sống lưng. Cũng may lúc ấy Hoà đã đi rồi, nên không nhận ra những nét thay đổi trên mặt Cơ. Anh đã gặp Thanh một lần trên văn phòng đảng uỷ, hôm Thanh lên nộp giấy tờ sinh hoạt. Hình như cả hai người đều có ý né tránh nhau. Thanh đỏ nhừ mặt vờ không nhìn thấy Cơ và quay sang nói chuyện với ông Điền. Nhưng cái ánh mắt sắc lạnh của Thanh lướt qua người Cơ lúc ấy cũng đủ làm Cơ cảm thấy bủn rủn. Thanh đã biết mọi chuyện. Ánh mắt anh đã nói với Cơ điều đó. Nhưng sao Vy lại đột ngột trở nên tươi tắn và hạnh phúc thế? Vy như rũ bỏ cái lốt vẫn mang trên mình trở lại cô Vy của mấy năm về trước. Đôi má đã dậy hồng. Đôi mắt Vy bây giờ không còn u buồn và sợ sệt như những lần gặp Cơ trước đây. Hình như Vy không sợ phải lẩn trốn Cơ nữa? Hình như Vy nhìn Cơ có phần thách thức và chế giễu nữa? Khó hiểu quá. Chẳng lẽ Vy đã nói hết với Thanh rồi? Không thể có chuyện ấy. Một con người như Thanh đã chịu quá nhiều mất mát đau khổ… Không, Cơ không tin. *** Sang nhà Thắm, chỉ cần đi rẽ con đường dọc làng, nhưng Hoà lại vòng sang mãi Thanh Giang. Cái ý nghĩ phải tạt qua nhà Quân bất chợt đến với Hoà không thể nào cưỡng nổi. Tình yêu, chính trong những lúc sóng gió, mới giúp cho người ta nhận ra cái ý nghĩa thiêng liêng của nó. Dường như nó là cái điểm chốt để thử thách những cặp tình nhân, buộc họ phải bộc lộ hết mình. Giống như ngọn lửa nóng nghìn độ, nung chảy những tạp chất để vàng ròng lộ ra chói rực, tinh nguyên. Những người yêu hời hợt, không thể có cái chất vàng ròng ấy. Suốt từ hôm lạc Quân ở ga Đà Nẵng, Hoà sống trong một tâm trạng đau khổ và dằn vặt. Hoà đã tự oán trách mình bao nhiêu lần vì cái tội bạc tình, lỡ bỏ anh dọc đường giữa lúc anh gặp hoạn nạn. Bạn bè có đứa bảo Hoà yêu Quân chỉ là do cảm tính. Hoà cũng nhận thấy điều đó. Thích thì yêu. Vả lại anh ấy người cùng làng. Cái quan niệm “trâu ta ăn cỏ đồng ta” đối với các cô gái vốn xuất thân từ nông thôn như Hoà vốn bền vững lắm. Hoà chưa bao giờ mường tượng sau này hai đứa sẽ sống như thế nào. Có hợp tính nết nhau hay không. Chỉ biết rằng Hoà yêu Quân với tất cả sự say mê bỏng cháy của mối tình đầu. Mình chỉ tạt qua năm phút để hỏi thăm về tin tức anh ấy thôi. Có người nói đã gặp anh ấy ở Sài Gòn, không biết có đúng không? - Hoà nghĩ và đưa tay gõ cánh cổng gỗ nặng trịch. Biền đang hí húi cùng vợ con đun nấu gì dưới bếp. Mùi rượu thơm sực, xen mùi cám bã ủ chua nồng xộc vào mũi cay xè khiến Hoà bật ho nhẹ. Ban đầu Biền tỏ ra lúng túng, nhưng chỉ một phút sau, khi biết người đến thăm là con gái ông Cơ, người yêu của con trai mình, thì anh lại hoàn toàn lấy lại thế chủ động và tư thế đĩnh đạc cần thiết của ông bố chồng tương lai. - Cháu đến chơi đấy à? Có chuyện gì thế? - Dạ… Cháu đến hỏi thăm anh Quân… Lâu nay không biết… Biền bật cười lớn. Đôi mắt nhỏ tít lại như hai sợi chỉ. - À, tưởng nó vẫn đến chỗ cháu… - Dạ, từ hôm anh ấy đi Sài Gòn, cháu… Biền chột dạ, thoáng nghĩ đến lá thư của trường Quân và nhà máy sửa chữa ô tô báo về cho biết Quân đã can tội ăn cắp vật tư nhà nước bán cho con phe và hiện đã trốn khỏi trường. Nhà trường đề nghị gia đình tìm Quân về giúp và mời gia đình lên trao đổi hình thức xử lý… Nhưng ý nghĩ ấy chỉ làm Biền ngẩn ra một giây, rồi anh lại cười xoà, chối nguây nguẩy: - Đâu? Làm gì có chuyện ấy. Đang thực tập, trường ai người ta cho đi Sài Gòn? Nó mới chuyển lên nhà máy ô tô Vĩnh Phú cháu ạ… Hôm kia vừa viết thư về cho bác. Còn cháu? Sao bảo đang về thực tập ở huyện? Xuống hợp tác xã nào đấy? Xin về đây mà tham mưu giúp bố về cái khoản đậu tương, cháu ạ. Gieo đậu tương như gieo mạ thì quả tình chúng tao chưa thấy bao giờ đâu đấy. Biền lại bật cười khà khà. Tiếng cười ấy cho đến lúc ra khỏi cánh cổng gỗ nặng trịch rồi, Hoà vẫn như thấy nhói ở bên tai. Bác ấy chế giễu, nhưng sao gặp bố mình bác ấy lại tỏ ra ủng hộ việc trồng đậu tương đến thế. Hoà thấy ông Biền là một người khó hiểu. Tại sao bác ấy lúng túng khi nghe mình nhắc đến chuyện Quân đi Sài Gòn? Đúng là có chuyện gì rồi? Cả Quân nữa? Anh ấy đối với mình nhiều lúc khó hiểu quá. Hai bố con, trông bề ngoài thì khác nhau mà tính nết lại giống nhau lạ lùng. Hoà buồn rũ. Nếu không gặp Thắm thì cô không biết cái tối thứ bảy này mình nên đi đâu, làm gì. - Đi sang nhà chị Vy chơi với tao đi. - Hoà rủ bạn. Thắm thừ người ra một lúc, có vẻ lưỡng lự, rồi ghé tai Hoà nói nhỏ: - Nhưng mà đằng ấy phải sang rủ anh Đạt cùng đi với người ta cơ. Hoà đẩy Thắm ra, tròn xoe mắt: - Đạt lại mới về hả? Sao bảo hai ông già cùng cương quyết cắt? Thắm hốt hoảng nhìn lên nhà trên, nơi ông Trạc đang ngồi vót nan dưới ngọn đèn dầu. - Nói sẽ chứ. Bố tao vẫn cấm không cho gặp. Nhưng chúng tao vẫn… Anh Đạt đã lung lay được ông cụ rồi… Để mặc bạn đứng ngẩn ra với cái tâm trạng vô cùng thèm muốn, ganh tị về mối tình đầy trắc trở nhưng rất quyết liệt của mình, Thắm chạy ù vào buồng thay áo, nói thật to với ông Trạc: - Thầy ơi, con với Hoà sang chơi bên anh Thanh một lúc. Và Thắm lại chạy ào ra, kéo tay bạn. Hai cô gái đi suốt lối ngõ râm bụt mờ tối. Họ líu ríu cười nói và thả dọc lối đi mùi bồ kết thoảng thơm của tóc con gái. - Tết này cưới đi. Tao sẽ nhận mua thuốc lá cho. - Anh Đạt cũng cứ giục tao thế. Nhưng eo ơi. Cưới. Nghĩ cứ buồn cười thế nào ấy… - Buồn cười à? Thích thì có. Đúng là thích rồi, cô ơi… Tiếng đấm lưng nhau thùm thụp. Tiếng chân đuổi nhau. Một chuỗi cười giòn khanh khách. - Ừ, thích đấy. Thì đã sao nào. *** Thanh tiếp ba người với một tâm trạng hết sức thoải mái và thích thú. Dường như họ đã mang đến cho anh một điều gì đó rất tươi trẻ, sôi động mà bấy lâu anh thiếu vắng, trông đợi. Anh phát hiện ra rằng, ở anh, cái tuổi mười tám, hai mươi không hẳn đã đi qua vĩnh viễn. Nấp dưới cái vẻ bề ngoài từng trải và dầu dãi vẫn là một trái tim sôi nổi, dễ cảm nhận và hoà đồng với lớp trẻ. Vì thế câu chuyện giữa anh và Đạt, Thắm, Hoà không hề có sự ngăn cách về tuổi tác. Thanh đã kể cho những người bạn trẻ của mình về những năm tháng ở chiến trường, những kỷ niệm không thể nào quên của người lính. Câu chuyện đã gây cho Đạt những xúc động mạnh, khiến anh cứ tròn mắt nhìn Thanh không chớp, đến nỗi khi liếc nhìn bắt gặp cái gương mặt thuồn thuỗn đến ngây ra ấy, cô bỗng phá lên cười. - Thế mà có người lại phải sắm kính râm mới chết chứ. Nghe kể chuyện thì thích đến ngây người, mà vẫn cứ trốn về… Ánh mắt nồng nàn của Thắm chạm vào má Đạt nóng rực. Anh lúng túng ngượng ngùng để bật ra câu nói làm cả nhà cười ồ: - Anh Thanh đi bộ đội được đánh nhau chứ đằng này suốt ngày như ngồi tù trong doanh trại. Trốn về là tại Thắm cả đấy. Hoà cười ngặt nghẽo đến chảy nước mắt, ôm lấy vai Thắm. - Thấy chưa? Tại cô tất cả. Bây giờ chỉ còn cách là xây dựng một doanh trại bộ đội ở đầu đường “thanh niên” ngoài kia… Thanh nhìn Đạt, rồi lại nhìn Thắm. Anh bỗng nhớ lại tình yêu với Vy ngày nào. Ngày ấy anh và Vy cũng tươi trẻ và trong sáng như thế kia. Có điều Vy kín đáo và dút dát hơn Thắm bây giờ. Chắc chắn cái tuổi của Thắm và Đạt sẽ không phải trải qua chiến tranh nữa. Các bạn quả là những người hạnh phúc… - Thế hai cô chú đã quyết tâm với nhau chưa? - Thanh hỏi. - Anh nghe nói cả ông Trạc và ông Điền đều không đồng ý. Nguyên do là vì ông Trạc xin ra hợp tác xã. Cô Thắm là bí thư chi đoàn mà lại không thuyết phục nổi ông cụ à? - Thuyết phục ấy à? Em không bị thầy em thuyết phục là đã giỏi lắm rồi. - Thắm nói một cách bạo dạn. - Đấy, khối người trong chi bộ cũng cứ phê bình em hệt như anh ấy. Đến huyện còn không thuyết phục được nữa là em. Thời đại bây giờ khác rồi. Không thể giải thích thuyết phục bằng lý thuyết suông được đâu. Thầy em ấy mà? Lý luận vững ra phết đấy nhé. Anh mà nói chuyện với ông cụ là cũng dễ bị thua như bỡn. Chà, lý luận cứng lắm. - Thanh tự nhủ. - Đúng là thanh niên bây giờ họ khác. Nếu chỉ quen nghĩ theo cách cũ thì không hiểu họ được. - Nhưng cô chú cũng phải thuyết phục các cụ để bảo vệ tình yêu của mình chứ? - Cũng chẳng thuyết phục bằng lý luận được đâu, anh ơi. Phải bằng hành động thôi. Chúng em yêu nhau chính đáng. Em nói với thầy là nếu thầy không đồng ý con sẽ không lấy ai cả. Có vẻ như là thầy em đã bắt đầu hoang mang rồi đấy. - Chiều hôm kia, ông cụ sang nhà em chơi. - Đạt nói chen. - Bố em bảo suốt cả buổi chiều ông cụ chỉ ngồi hút thuốc lào vặt. Ông cụ muốn nói một câu chuyện gì đó… - Chuyện gì nào? - Thắm nguýt yêu Đạt. - Thế hoá ra cọc đi tìm trâu à? - Mình nói dối mình chết. Thì trâu với cọc đằng nào chẳng buộc vào nhau… Lại một chuỗi cười giòn tan. Từ lúc nào Vy đã ngồi bên Thắm. Chị vừa nhìn Thanh một cách âu yếm vừa lấy tay chấm mắt vì không thể nhịn được cười. Thanh chìa bàn tay ra cho Đạt: - Thôi được. Anh sẽ nhận là đại sứ để điều đình giúp cô chú. Chỉ cần xong, các cậu phải lo một món quà cho ông mối. Thắm nhanh nhảu chìa tay nắm lấy tay Thanh, nhưng lại liếc Đạt trêu chọc. - Xong ngay. Chúng em sẽ kỷ niệm ông anh một đôi kính râm… Đạt đưa tay lên xoa vai, lắc đầu chịu thua cô bạn gái của mình. Thắm lại quay sang Hoà: - Bây giờ đến lượt Hoà. Anh Thanh phải bắt nó khai hết. Hoà hoảng hốt, quay nhìn bạn như thầm nói: “Thôi, tao van mày. Đừng nhắc đến chuyện ấy, chán lắm”. Và Hoà buồn thực sự. Gương mặt cô bỗng ỉu xìu như tấm bánh đa gặp nước. Cái tình yêu của Thắm và Đạt thật nồng cháy và trong sáng bao nhiêu. Hoà thoáng nghĩ đến Quân và cảm thấy mối tình của mình sao chông chênh mỏng manh như một ngôi nhà xây trên cát. - Thôi. Chuyện Hoà để khi khác. Anh chỉ muốn nói với Hoà về công tác sắp tới. Sắp ra trường, Hoà có nghĩ đến chuyện về công tác ở hợp tác mình không? - Em cũng đang suy nghĩ. - Hoà nói nhỏ sau một lúc im lặng. - Về hợp tác, được gần nhà cũng có cái hay. Nhưng mà không khí ở quê mình buồn tủi lắm, anh ạ. Chẳng có phương tiện văn hoá vui chơi gì cho thanh niên cả. Tất cả mọi việc đều chỉ dồn cho sản xuất. Em lại phải sống như một bà già mất. Với lại rồi cái kiến thức của em liệu hợp tác xã có sử dụng không? Anh cứ nhìn chị Vy đấy… Vy bỗng giật thót người. Câu nói vô tình của Hoà đã chạm vào cái vết thương nhức nhối nhất của Vy. Vy hốt hoảng nhìn Thanh, đôi mắt đầy lo âu, hồi hộp. Thanh như đoán được tâm trạng của vợ. Chính anh cũng vừa qua một cơn sốc. Vết thương lòng chợt nhói lên khi Hoà vừa nhắc đến chuyện ấy. Nhưng anh đã trấn tĩnh được mình. Anh nói với Hoà, nhưng cũng là để an ủi mình: - Rồi quê mình cũng phải khác đi, Hoà ạ. Chính lớp trẻ các em mới là những người có đủ tri thức và năng lực để xây dựng nông thôn mới. Vy giấu gương mặt mình sau tấm lưng Thắm và lặng lẽ ngắm nhìn chồng. Có bao điều ở anh mà Vy chưa hề biết tới: Câu chuyện về những ngày gian khổ ở chiến trường biên giới Tây Nam mà anh vừa kể; những tình cảm rất tự nhiên và độ lượng của anh đối với Hoà… Đôi mắt Vy chợt mờ đi. Và Thanh, anh không thể biết rằng sau cái vầng tối bị che khuất bởi ngọn đèn, đôi mắt mở to, nhoà lệ của người vợ đang nhìn anh với tất cả tình yêu nồng nàn và sự biết ơn, tin cậy. *** Cuộc họp ban quản trị bất thường để bàn về biện pháp khẩn trương dứt điểm công việc gieo trồng vụ đông được tổ chức tại hội trường lớn hợp tác xã Thanh Bình. Ông Điền và Thiển, Tấn thay mặt cho đảng uỷ và chính quyền cũng được mời dự. Cơ thay mặt ban quản trị báo cáo lại toàn bộ công việc gieo trồng đã được tiến hành từ đầu vụ. Tính cho đến hôm nay, mười lăm đội sản xuất mới trồng được một trăm mẫu khoai tây, bốn mươi mẫu khoai lang và năm mẫu đậu tương, một số bắp cải, su hào. Tiến độ sản xuất một tuần nay đã bị chậm lại tới mức hầu như không tiến triển. Lý do: đợt mưa rét vừa rồi làm cho đất càng ướt thêm; xã viên lường trước kết quả vụ đông nên tỏ ra chán nản không muốn ra đồng. - Bằng mọi cách chúng ta phải thực hiện đủ chỉ tiêu bảy trăm mẫu cây trồng vụ đông. - Cơ nói. - Mười tấn giống khoai tây mua từ Hải Hưng về vẫn chưa sử dụng đến. Cộng với số khoai tây do xã viên để giống đủ đảm bảo cho chúng ta trồng thêm hai trăm mẫu nữa. Số dây lang, đã hợp đồng mua từ Hoà Bình về. Phân đạm, phân hữu cơ dư thừa. Nói tóm lại, về điều kiện phân, giống, chúng ta có đủ khả năng thực hiện vượt mức kế hoạch. Khó khăn nhất vẫn là vấn đề huy động nhân lực. Trồng khoai tây trên nền đất ướt đòi hỏi nhiều nhân lực để sản xuất đất khô và chuẩn bị mùn, trấu, tro bếp… - Tôi xin ý kiến. - Loã giơ tay cắt ngang lời Cơ. - Còn hai tấn đậu tương giống do huyện cấp. Kế hoạch đồng chí Cơ đã nhận với huyện sẽ trồng năm mươi hát a đậu tương, tức là khoảng một trăm năm mươi mẫu. Vậy chúng ta phải có biện pháp xử lý số đậu tương này. Hoặc là tiếp tục trồng. Hoặc trả lại huyện. Hoặc để sản xuất đậu phụ và cung cấp bã cho chăn nuôi… - Vấn đề đậu tương tôi xin được báo cáo như sau. - Cơ đưa tay ra hiệu xin phép được tiếp tục trình bày. - Đây là một loại giống mới xuất hiện trong cơ cấu cây trồng vụ đông này. Trồng đậu tương trên nền đất ướt lại là một vấn đề hết sức mới mẻ. Chúng ta chưa làm bao giờ. Song kinh nghiệm của Nguyên Lãng đã chứng minh là có thể trồng được cho năng suất cao. Thực hiện chỉ thị của tỉnh, huyện ta đã nhận trồng năm trăm héc-ta, trong đó hợp tác xã ta được chọn làm mũi nhọn để tiến hành, nhằm sản xuất giống cho huyện trong năm sau. - Cơ lấy từ trong cuốn sổ công tác ra lá thư của Trần Sinh giơ lên cho mọi người trông thấy. - Đây là lá thư của đồng chí bí thư huyện uỷ mới viết cho tôi. Đồng chí ấy rất quan tâm đến vấn đề này và tỏ ý hi vọng rất nhiều ở hợp tác xã ta. Xin các đồng chí hiểu cho rằng đây là một vấn đề rất khó và mới. Nhưng chúng ta phải tin tưởng ở sự lãnh đạo của huyện. Theo ý tôi, chúng ta cần mạnh dạn đi đầu trong hoạt động khoa học kỹ thuật. Hôm qua, tôi và đồng chí Lập vừa đi thăm năm mẫu đậu tương mới gieo. Đậu lên rất đều. Rất khả quan. Để giảm bớt nhân lực và đảm bảo thời vụ, chúng ta sẽ trồng thêm một trăm rưởi mẫu đậu tương nữa. Các đồng chí cho ý kiến… Hai phút. Rồi năm phút. Không có ý kiến phát biểu. Loã vỗ vai Cản, lúc đó đang nửa thức nửa ngủ: - Phát biểu đi. Chỉ thị của bí thư huyện uỷ thì cứ việc mà làm. Biền đưa mắt nhìn Thiển, rồi rụt rè giơ tay: - Vấn đề mới quá. Chúng tôi chưa ai có kinh nghiệm, nên chưa dám có ý kiến. Đồng chí chủ nhiệm cứ quyết theo chỉ thị của bí thư huyện uỷ cho. Lập vụt đứng lên giữa những con mắt ngạc nhiên của mọi người. - Ban kế hoạch chúng tôi đã bàn bạc kỹ với đồng chí chủ nhiệm về việc này. Chúng tôi không tán thành hợp tác xã ta trồng đậu tương trên nền đất ướt. Hoàn toàn trái cơ sở khoa học. Đành rằng báo chí đã nói đến. Nhưng không phải bao giờ báo chí, cũng chỉ ra những vấn đề đúng. Có tiếng ồn ào. Một vài tiếng cười từ phía góc Cản và Loã đang ngồi. Lập nói tiếp: - Theo ý tôi, chỉ nên trồng năm mẫu để thí nghiệm, rút kinh nghiệm cho vụ sau. Số giống còn lại trả lại huyện hoặc xin giữ lại cho vụ sau, khi đất của chúng ta đã được cày nỏ. Nhân đây tôi cũng xin đề xuất. Biện pháp duy nhất hiện nay để có thể làm kịp thời vụ và đảm bảo diện tích cây trồng là chúng ta hãy mạnh dạn chia ruộng cho các hộ xã viên, chia giống, chia phân đạm cho họ và khoán sản lượng trên diện tích đã trồng. Làm như vậy, xã viên hoàn toàn chủ động trước thời tiết, tận dụng sức lao động của các gia đình và khuyến khích xã viên đầu tư công sức, phân bón để tăng sản lượng… Qua nghiên cứu tiến độ sản xuất mấy ngày nay, chúng tôi thấy xã viên ra đồng ngày một giảm. Thời gian trên đồng thường chỉ bảo đảm cho chúng ta hoàn thành kế hoạch thời vụ quy định. Vấn đề là thế này: tôi làm cho anh thì tôi không thể làm hết sức mình. Nhưng tôi làm nuôi tôi thì đó lại là chuyện khác. Những vụ trước đây sở dĩ chúng ta vẫn thực hiện theo cách khoán việc mà vẫn thu được kết quả là vì điều kiện làm đất thuận lợi, xã viên tin có làm sẽ có ăn. Vụ này do mưa bão, đất ướt, ảnh hưởng đến tâm lý xã viên khiến họ chán nản, thiếu tin tưởng. Không thay đổi hình thức phù hợp, chúng ta sẽ tự bó tay mình… Lập trình bày một cách sôi nổi và mạnh mẽ. Đôi mắt sáng rực, đầy tự tin và say mê. Dường như tất cả những nung nấu của anh lâu nay như được bung ra với một tình cảm không thể cưỡng nổi. Nhiều đội trưởng sản xuất phát biểu tán thành ý kiến của Lập. - Tôi thấy đề nghị của anh Lập là rất hay đấy ạ. - Chị Hoàn, đội trưởng đội Năm vẫn ngồi yên chỗ, nói to lên. - Chỉ có làm như thế mới mong kịp thời vụ. Chứ ở đội tôi, có vận động thế nào bà con cũng ngại ra đồng. Đồng chí Lập nói là không có gì thiết thân tới họ, không đúng hẳn đâu. Xã viên lo lắm chứ. Ai chẳng muốn có vài tạ khoai để phòng giáp hạt tháng ba tới. Nhưng đất ướt dề dề thế kia, làm ăn ẽo ợt thế kia, người nọ dựa dẫm người kia, mình có làm ốm ra cũng chẳng được hưởng hơn cân nào. Đấy, họ nghĩ thế đấy. Thế thì làm sao mà ban quản trị đòi hỏi họ làm hết sức mình được. Từ nãy đến giờ, Thiển vẫn ngồi chống tay đỡ cằm, đôi mắt thâm trầm nhíu lại như đang giả vờ ngủ. Kinh nghiệm cho thấy, những ý kiến của Lập hầu như đều có liên quan đến một quyết định mới của Cơ sắp sửa đưa ra. Nhưng chuyện này thì không thể được. Lập trường quan điểm có vấn đề. Thoắt cái, Thiển đã hoàn toàn thay đổi trạng thái. Anh đưa đôi mắt sắc lạnh nhìn khắp lượt, rồi nói chậm rãi: - Nếu tôi không nhầm thì đồng chí Lập vừa đưa ra một hình thức phát canh thu tô mới. Các đồng chí nên nhớ, hợp tác xã không phải như bọn địa chủ trước đây, cho nông dân cấy rẽ ruộng để rồi bóc lột sức lao động của họ. Làm như vậy, chúng ta sẽ khuyến khích tư tưởng tư hữu, vốn in sâu trong đầu óc nông dân, lại bừng dậy. Đó là một cách làm hoàn toàn trái với chủ nghĩa xã hội… Lập ngồi nín lặng. Sự chụp mũ của Thiển khiến mặt anh nóng bừng bừng. Nhưng Cơ đã lường trước được mọi việc, nên anh ra hiệu ngăn Lập lại. Cậu làm hỏng hết việc. Cậu không nhớ chuyện vào Đảng của cậu trầy trật thế nào ư? Những điều cậu trao đổi với mình trong buổi chiều thăm đồng hôm qua, sao cậu lại nói tuột ra ở đây? Thẳng thắn đôi khi trở thành một tai hoạ. Rồi chuyện xét kết nạp cậu lại rắc rối cho mà xem. Hôm qua, chính mình cũng nói với cậu những lời tương tự như Thiển vừa rồi. Về nhà, suy nghĩ kỹ, mình thấy chỉ có cách ấy mới tháo gỡ được những khó khăn hiện giờ… Nhưng cậu thấy không, cái ý kiến tốt đẹp cậu đưa ra đã bị người ta buộc cậu phạm một sai lầm về quan điểm lập trường… Cái nhìn của Cơ như đã nói với Lập như vậy. Và Lập hiểu ý, cố trấn tĩnh lại, ngồi xuống. - Tôi cho rằng đồng chí Lập đã đưa ra một đề xuất rất đáng để chúng ta cùng suy nghĩ, thảo luận. - Cơ đã khôn khéo bào chữa cho Lập. - Hãy gác lại vấn đề lập trường quan điểm để bàn sau. Cái chính là chúng ta xem xem biện pháp đồng chí Lập đưa ra có lợi về kinh tế không. Nó có giải quyết được vấn đề về năng suất, nhân lực, thời vụ và chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra không? Nếu thực sự nó có lợi thì chúng ta sẵn sàng ủng hộ. Như hầu hết những cuộc họp ở Thanh Bình, tự nhiên đã hình thành sẵn hai luồng tư tưởng ý kiến đối lập. Phe ủng hộ Thiển có thêm Loã, Biền và Cản. Hầu hết các đội trưởng đều ủng hộ Lập và Cơ. Riêng ông Điền, Tấn và một vài người khác vẫn là phe trung gian, không tỏ chính kiến của mình. Ông Điền ngồi trầm ngâm ở hàng ghế đầu, hết sức chăm chú lắng nghe từng ý kiến, và thâm tâm ông, cũng thầm nhận thấy ý kiến của Lập rất nên ủng hộ. Nhưng cương vị bí thư đảng uỷ không thể cho phép ông tỏ thái độ ủng hộ. Vả lại cái bản tính ngại va chạm, không thích tranh luận khiến ông dễ có cơ sở để im lặng. Mãi gần chiều tối, cuộc họp mới đi tới kết luận, mặc dầu phe áp đảo vẫn không thể giành ưu thế tuyệt đối. - Vậy là chúng ta tạm thời nhất trí hai vấn đề lớn. - Cơ tổng kết cuộc họp. - Một là tiếp tục trồng hết số đậu tương giống do huyện cung cấp. Hai là các đội sản xuất vẫn tiếp tục huy động xã viên trồng màu trên một nửa số diện tích do hợp tác xã giao cho đội. Số diện tích còn lại, sẽ giao cho từng lao động nhận khoán với hợp tác xã. Đối với những gia đình có nhiều nhân lực, hợp tác xã sẽ cho mượn thêm ruộng ngoài kế hoạch để trồng thêm. Cơ chưa nói dứt, Thiển đã chen ngay: - Xin đồng chí Cơ phải rạch ròi cho chỗ này: Ý kiến của thường vụ vẫn chưa nhất trí việc giao ruộng cho xã viên trồng màu, vì vấn đề này có liên quan đến đường lối chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng. - Và Thiển quay sang ông Điền. - Anh Điền có ý kiến gì thêm không? Ông Điền khẽ mỉm cười mệt mỏi. Cử chỉ ấy hầu như không nói lên điều gì cả. Nhưng Thiển đã vội kết luận: - Đó, riêng tôi và đồng chí bí thư, chúng tôi vẫn chưa thông suốt vấn đề. Nhưng đây là chủ trương của ban quản trị. Các đồng chí đã quyết thì các đồng chí phải chịu trách nhiệm. *** Họp xong, Lập ở lại chờ Cơ. Hai người dắt xe đi chậm dọc con đường qua chợ. - Cậu phát biểu mạnh quá. - Cơ nhìn Lập, giọng trách móc. - Đành rằng cậu đúng, nhưng không khéo. Ở đời, những kẻ hay nghĩ quanh co bao giờ cũng nhìn người khác bằng con mắt soi mói nghi ngờ. Cái tội quan điểm lập trường lệch lạc của cậu sẽ bị thành kiến mãi cho mà xem… - Cái tính tôi nó như vậy. Tôi không giấu mình được. - Đấy, thế cho nên mình trầy trật mãi mà không thể đấu tranh để bênh vực nổi cậu. Phấn đấu gần chục năm rồi… - Biết làm sao được, anh? Ngay cả anh, có thể anh cũng nghĩ sai về tôi, nhưng tôi vẫn cứ nói thẳng. Cái quyết định trồng một trăm rưỡi mẫu đậu tương của anh, không ổn đâu. Rồi anh xem. Đồng chí bí thư huyện uỷ có thể sẽ rất ca ngợi anh vì sự dũng cảm đi vào cái mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huyện giao. Nhưng rồi anh sẽ thấy tác hại của nó… - Cậu vẫn hoài nghi? - Cơ lắc đầu cười. - Hiện giờ thì chưa thể khẳng định cậu hay mình đúng. Chúng ta đành chờ thời gian trả lời. Nhưng có điều này thì mình đúng hơn cậu - đó là tư tưởng tiến công, tin tưởng ở quyết tâm của mình. - Ồ… Anh mới có một vế của người làm cách mạng. Có tư tưởng tiến công, có lòng tin nhưng chưa có tri thức và cơ sở khoa học. Lâu nay chúng ta vẫn sống bằng lòng tin và quyết tâm thuần tuý quá nhiều, nên chúng ta đã gặp không ít thất bại, cay đắng. Anh có nhớ một thời kỳ chúng ta hăng hái lao vào chiến dịch cấy dày không? “Cấy thưa thừa đất. Cấy dày lúa chất đầy kho”. Khẩu hiệu của chúng ta hồi ấy là thế Và rồi có nơi cấy hai trăm khóm một mét vuông. Trong khi đó lượng phân vẫn không tăng. Kết quả là cây lúa như nén hương và hàng loạt cánh đồng không được thu hoạch. Cơ bật cười, vỗ vai Lập: - Cậu so sánh như thế không đúng đâu. Anh Trần Sinh nhiều lần tâm sự với mình: Làm cách mạng tránh sao được những thiếu sót. Huống chi chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, hoàn toàn không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, hoàn toàn không có một mô hình nào có sẵn. Phải tự mày mò tìm ra đường đi cho mình. Ăn nhau là ở chỗ anh có dám tiến lên hay không. Càng ngẫm, càng thấy đúng. Năm 1975 có ai ngờ rằng chúng ta thắng Mỹ nhanh như vậy? Thậm chí cả mình và cậu, có lúc còn hoài nghi, bi quan… - Tôi không hiểu lắm về quy luật chiến tranh. Nhưng tôi cho rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội, có những vấn đề khó khăn phức tạp riêng của nó mà chúng ta không thể lấy những kinh nghiệm ba mươi năm đã qua để áp dụng được. Trong chiến đấu, tinh thần, ý chí có ý nghĩa quyết định. Có tinh thần, có ý chí, tự khắc sẽ tìm ra cách đánh hay, táo bạo. Nhưng trong kinh tế, chỉ có tinh thần không thì không đủ, thậm chí có thể gây những thiệt hại nghiêm trọng. Bằng tinh thần và quyết tâm, anh có thể dễ dàng gieo trồng được một trăm năm mươi mẫu đậu tương trên nền đất ướt. Nhưng có thu hoạch được hay không lại còn phụ thuộc vào thời tiết, thời vụ, vào sự thích hợp giữa sinh thái cây trồng và chất đất, chế độ nước và cách chăm bón. Tôi nghĩ rằng anh bị ám ảnh bởi lá thư của đồng chí bí thư huyện uỷ và những thành tích, những lời hứa hẹn quá nhiều… Giống như tâm trạng của những người bị người khác đoán trúng ý nghĩ mình, hiểu quá rõ về mình mà người đó lại nói toẹt ra tất cả, không cần che đậy, úp mở, ban đầu Cơ choáng váng như có một luồng điện chạy suốt qua gáy rồi sau người anh lại nóng bừng bừng, gương mặt đỏ tía lên, những đường gân xanh bên thái dương nổi hẳn, giần giật. - Cậu hiểu thế không đúng đâu. Mình có ý kiến riêng của mình chứ. Đâu phải sợ lá thư của anh Sinh. Mình làm việc vì tập thể, chứ không phải vì thành tích… Cố kiềm chế lại nhưng giọng Cơ vẫn run lên. Câu chuyện của họ đột ngột dừng lại đó. Lập buồn bã cúi đầu đi chậm lại. Và nghĩ: “Rồi anh sẽ hiểu tôi. Bây giờ anh còn đang say sưa, cay cú. Nhưng tôi biết rằng anh làm mà không tự tin vào công việc của mình. Anh làm vì một cái gì khác hơn là sự thôi thúc và cái bản lĩnh vốn có ở anh. Rồi anh sẽ phải trả giá đắt về những việc làm đó. Chỉ tiếc rằng, một người có năng lực hết lòng vì công việc chung như anh, lẽ ra phải tránh được những điều đáng lẽ không nên có”. *** Phải hai tháng sau Cơ mới hiểu ra những điều Lập nói trong cái buổi chiều nặng nề ấy. Một trăm năm mươi mẫu đậu tương gieo trồng trên nền đất ướt của hợp tác xã Thanh Bình không cho thu hoạch một hạt đậu nào. Chính Cơ đã phải đau đớn lệnh cho các đội cày lật một trăm năm mươi nhăm mẫu đậu ngay từ khi chúng chưa kịp vàng lá, để chuẩn bị đất cho vụ chiêm xuân. Bù đắp lại thất bại thảm hại này, Cơ lại thu được hai thắng lợi không ngờ: Trong kỳ đại hội lần thứ mười hai của huyện đảng bộ Giang Thuỷ, Cơ đã trúng cử uỷ viên ban chấp hành với tỷ lệ số phiếu khá cao. Thắng lợi này nhờ vai trò tích cực và có ý nghĩa hầu như quyết định của bí thư huyện uỷ Trần Sinh. Lúc ấy, một trăm năm mươi nhăm mẫu đậu tương của Thanh Bình chưa đến kỳ ra hoa. Cả cánh đồng đậu tương xanh mướt vì được bón quá nhiều đạm. Chỉ riêng cái màu xanh ấy đã là một tờ chứng chỉ đầy sức thuyết phục để đưa Cơ vào danh sách những người có tài năng và uy tín lớn tiêu biểu cho sức vươn lên mạnh mẽ, sức chiến đấu dồi dào của một tổ chức Đảng vững mạnh ở vùng trọng điểm lúa. Thắng lợi thứ hai, thực sự là sự ứng cứu táo bạo của Lập. Do việc chia ruộng, khoán giống, khoán sản phẩm cho các gia đình xã viên, nên chỉ trong vòng hơn một tuần, bảy trăm mẫu khoai tây, khoai lang và rau xanh các loại đã được trồng xong. Suốt từ sáng tinh mơ cho đến chiều tối, trên những cánh đồng màu, không lúc nào vắng người. Trồng khoai tây trên nền đất ướt, xã viên Thanh Bình đã có nhiều kinh nghiệm. Tốn nhân lực, tốn phân bón, nhưng gặp thời tiết thuận lợi vẫn rất chắc ăn. Nhiều gia đình, đầu vụ phải bán giống đi, thấy hợp tác xã chia đất, lại đổ xô đi mua thêm giống. Gặp trời rét ngọt, khoai tây lên như thổi, cái biện pháp chữa cháy này không ngờ đưa lại cho Thanh Bình một vụ đông bội thu quá sức nghĩ của mọi người. Diện tích gieo trồng bù lại một trăm năm nhăm mẫu đậu tương mất trắng, vẫn vượt kế hoạch. Người ta dễ quên ngay đi cái tội lớn của ban quản trị là đã đổ hai tấn đậu tương giống, hàng chục tấn đạm và bao nhiêu nhân lực ra đồng. Xã viên bảo nhau: - Mắc sai lầm mà biết sửa nhanh như thế thì xã viên cũng được nhờ. Giá mà cứ cái đà này, các ông quản trị cho xã viên mình dấn lên vụ chiêm xuân nữa thì bồ bịch ở đâu mà chứa hết thóc. Cả xã Thanh Bình nuôi hi vọng vào vụ chiêm xuân. XIV Nhà Cản sáng trưng ánh đèn. Chiếc đài đặt trên nóc tủ buýp-phê đang đọc một bài bình luận lên án những thủ đoạn thâm độc và âm mưu chuẩn bị chiến tranh biên giới. Tiếng loa mở to hết cỡ, khiến giọng đọc của phát thanh viên thỉnh thoảng lại ré lên, xen kẽ những tạp âm lục bục, xèn xẹt như tiếng một cơn giông vừa lướt qua. - Vặn đài nhỏ lại một chút. - Thiển nói với chủ nhân đang tất bật chuẩn bị tách chén pha nước. Tiếng loa nhỏ lại, ấm và trầm. Mấy người đàn ông ngồi chụm quanh hai chiếc bàn kê nối, chăm chú lắng nghe, quên cả chiếc điếu bát vừa nãy còn sắp lượt chuyền tay nhau. - Kiểu này mình lại mệt đây. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai. “Ai ơi chớ vội làm giàu. Thằng Tây nó cút, thằng Tàu nó sang”. Nhất định rồi nó đánh mình đấy. - Một người nào đó bình luận. Nhưng không ai hưởng ứng. Đám mây chiến tranh lởn vởn lướt qua. Khiến những gương mặt trầm hẳn lại, căng thẳng, đượm buồn. Một người đàn bà bụng chửa, mặt cúi gầm, len lén đi vào sân, lẫn ngay vào khoảng tối đầu nhà. Ai cũng nhận ngay ra Luyến, đối tượng của cuộc họp chi bộ tối nay. Những đảng viên khác cũng lục tục kéo đến. Có thêm ông Điền, Cơ, rồi Thanh. Mười một đảng viên chi bộ xóm Đình đã có đủ mặt, Thiển giơ tay ra phía đèn, nheo mắt nhìn đồng hồ. - Cho họp đi thôi, ông Tạ ơi. Tiếng đài vụt tắt. Hơn chục gương mặt đảng viên hướng về phía Tạ, phụ trách tín dụng xã, bí thư chi bộ xóm Đình. - E hèm… Xin báo cáo với các đồng chí trong chi bộ. Cuộc họp của chúng ta hôm nay đặc biệt có hầu như gần đủ mặt các đồng chí trong ban thường vụ đảng uỷ cùng tham dự. - Tạ giới thiệu ông Điền, Thiển và Cơ. Chiếc kính trắng bị gãy ở giữa, được nối lại bởi một đoạn dây thép, khiến sống mũi ông bỗng gồ lên như một cục bướu và hai mắt kính thì cứ loang loáng hết quay nhìn về phía các đại biểu lại nhìn ra cử toạ. - Cũng xin hân hạnh được giới thiệu với các đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Thanh, thượng uý quân đội nhân dân Việt Nam, người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống bọn phản động Pôn Pốt vừa từ chiến trường trở về tham gia sinh hoạt với chi bộ chúng ta… Tiếng vỗ tay lộp bộp. Ông Tạ dừng lại một lát, rồi nói tiếp: - Như vậy là chi bộ ta được tăng cường thêm một đảng viên từ chiến trường mới trở về. - Giọng ông bỗng trầm hẳn xuống và nét mặt đượm buồn thực sự. - E hèm… Nhưng cũng thật đáng buồn. Cùng với việc đón nhận một đảng viên mới, chúng ta lại phải buộc lòng làm cái công việc khai trừ một đảng viên của chi bộ chúng ta ra khỏi Đảng. - Ông Tạ đưa cặp kính về phía góc nhà, nơi Luyến đang ngồi trên chiếc ghế tựa, cạnh mấy người phụ nữ, tay che mặt, dáng nhẫn nhục, chịu đựng. - E hèm… Chuyện đồng chí Luyến, không nói các đồng chí cũng đều biết cả. Chi bộ ta đã họp kiểm điểm nhiều lần và đề nghị hình thức kỷ luật khai trừ lưu Đảng chín tháng. Nhưng tổ chức huyện uỷ không chấp nhận và đã quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Luyến với hình thức cao nhất là khai trừ vĩnh viễn. Chương trình họp của chúng ta hôm nay gồm hai phần. Một là công bố quyết định của huyện uỷ về hình thức kỷ luật đồng chí Luyến. Hai là đánh giá tình hình công tác chi bộ trong tháng qua và bàn biện pháp thực hiện chỉ thị của đảng uỷ. Sau đây, tôi xin giới thiệu đồng chí Cản, phó bí thư chi bộ lên đọc quyết định của huyện uỷ về việc kỷ luật đồng chí Luyến. Phòng họp yên lặng nặng nề. Cản mở bao lấy kính đeo lên mắt, rồi cầm lấy tờ giấy đánh máy, đứng dậy. Không ai nhận ra lớp da mặt bì bì của Cản lúc này bỗng sạm lại và bàn tay thoáng rung rất nhẹ. Trớ trêu thay, Cản đang làm cái công việc mà bản thân anh tự lấy làm xấu hổ. Anh chính là người gây nên tấn bi kịch này, một cách có ý thức, có tính toán kỹ lưỡng. Hơn ba tháng trước đây, khi Luyến nộp đơn xin ra khỏi Đảng, Cản đã từng phấp phỏng lo sợ hàng tuần lễ. Nhất định Luyến sẽ tố cáo Cản, cả về quan hệ sinh hoạt, cả về lợi dụng Luyến để ăn trộm thóc trong kho hợp tác xã. Cản tin chắc mọi chuyện sẽ diễn ra như vậy. Như một kẻ phạm pháp bị bắt quả tang, Cản chờ đợi cái ngày sẽ ra toà. Nhưng rồi vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Câu chuyện của Luyến lan đi khắp xã. Và người ta nói rằng Luyến bị một kẻ xấu lợi dụng một lần chị đi đâu đó về khuya. Không ai nhắc đến Cản, thậm chí nghi ngờ, xì xào bàn tán về Cản. Thế có nghĩa là Luyến rất yêu anh. Cản tự hỏi và bắt đầu thấy yên tâm. Anh muốn thử lại tình yêu của Luyến. Nhưng khác với hai lần trước, Luyến đã tỏ ra căm thù và khinh ghét anh thật sự. Thế là làm sao? Cản không tài nào giải thích nổi sự rắc rối khó hiểu và đầy mâu thuẫn của người đàn bà. Yêu hay không yêu? Tại sao lại vừa che giấu bảo vệ, vừa căm thù, ghét bỏ? Cản băn khoăn dằn vặt, nhưng anh hoàn toàn không lo sợ nữa. Anh đã có một nơi trú ẩn vô cùng an toàn và kín đáo là lòng tốt và sự chịu đựng tuyệt vời của Luyến. Luyến tự gánh chịu tất cả mọi hậu quả, không cần cầu xin, không cần thanh minh. Nhưng chính điều đó mới làm Cản dằn vặt và xấu hổ. Cản đóng vai một người ngoài cuộc với cái dáng thật vụng về, giả tạo. Như con sói già đội lốt dê mẹ trong một câu chuyện cổ. Rất may là không phải ai cũng như con dê con thông minh. Người ta bận trăm nghìn thứ việc, có ai hơi đâu đi bới lông tìm vết. Cản hắng giọng hai ba lần, đưa tờ giấy lại gần đèn, giọng khàn và khó nhọc. Trạng thái tâm lý ấy rất phù hợp với cương vị mà Cản đang đảm nhiệm với tâm trạng chung của mọi người: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN GIANG THUỶ Căn cứ…………………… Căn cứ…………………… Căn cứ…………………… Phòng họp đang lặng đi, chợt dội lên tiếng sụt sịt của phụ nữ. Mọi người dồn mắt về phía góc phòng, nơi Luyến ngồi. Luyến vẫn ngồi yên như đã hoá đá. Người phụ nữ đang khóc lặng lẽ bên cạnh Luyến là Sáng, thư ký đội Tám, bạn của Luyến. Không ai nhận ra cái nụ cười chua chát vẫn đọng trên môi Luyến suốt từ lúc Cản cầm tờ giấy đứng dậy. Tâm hồn Luyến lúc này bình yên thư thái vô cùng. Bởi Luyến đã đón nhận, đã tự định cho mình cái hình thức kỷ luật này từ sáu tháng trước đây. Đối với Luyến dường như cuộc đời đã sắp đặt sẵn. Không phải là định mệnh và cũng không phải là cái gì khó giải thích nổi. Hạnh phúc có bao giờ chia đều cho tất cả mọi người? Một người lính ngã xuống ở chiến trường trong kia, ít nhất sẽ có một người mẹ, một người vợ, một người yêu ở ngoài này tự bắt trái tim mình nén chịu một nỗi đau khổ. Bao nhiêu người mẹ? Bao nhiêu người vợ? Bao nhiêu người yêu? Luyến chỉ là một trong số bao nhiêu đó. Hầu như tất cả mọi người đều vượt lên trên nỗi mất mát đau khổ ấy, sống xứng đáng với những người ngã xuống. Luyến cũng đã vượt lên, sống xứng đáng với anh ấy theo cách riêng của Luyến: Tám năm làm thủ kho, trong tay giữ hàng nghìn tấn lúa, hàng trăm tấn đạm… nhưng không bao giờ Luyến để thiếu hụt. Không bao giờ Luyến để cho người khác lợi dụng, mua chuộc. Giữ được của cải cho tập thể, nhưng Luyến lại không giữ nổi mình. Những người phụ nữ sống hạnh phúc không thể hiểu nổi Luyến đâu. Còn những người đàn ông, hoặc là họ quá vô tâm, hoặc là họ sẽ đánh giá Luyến theo cái góc độ đàn ông của họ. Luyến không thể thanh minh bào chữa cho mình. Nhẫn nhục, cam chịu sự phỉ báng của người đời hay đó chính là sự giải thoát, tháo cởi sợi dây vô hình buộc trói hiện tại và níu kéo tương lai của Luyến? Tự Luyến không giải thích nổi, nhưng chị biết rằng mình đang sống với một hi vọng ngày càng lớn dần lên, và tâm hồn Luyến trở nên thanh thản như một người nhịn khát đi suốt sa mạc đã nhìn thấy cái khoảng xanh lấp lánh của ốc đảo phía trước mặt. Nhưng sao cái nụ cười chua chát kia cứ đọng mãi trên môi Luyến như một nét cố hữu? “Tôi chấp nhận hình thức kỷ luật của Đảng. Nhưng tôi không chấp nhận tư cách cái con người đang đọc tờ quyết định kia đâu. Anh ta có quyền gì được làm điều ấy? Chính anh ta phải bị khai trừ khỏi Đảng trước tôi kia”. Luyến không nghe những lời Cản đọc. Chị dửng dưng ngồi đó. Và bỗng chợt đờ đẫn lắng nghe, nói đúng hơn là cảm nhận, cái bàn tay nhỏ xíu đang động cựa trong mình. “Chỉ có con là hiểu mẹ thôi, con bé bỏng và đáng thương của mẹ. Con có nghe người ta đang nói gì không? Cái con người ấy. Không. Con không hề có một người cha như vậy. Con không có liên quan gì đến ông ta. Chỉ có con và mẹ”. *** - Tôi nghĩ rằng chúng ta đang làm một công việc quá tàn nhẫn. Một hình thức kỷ luật quá nặng nề, hầu như vô lý với một đảng viên rất đáng tin cậy mà hầu như lòng trung thành và phẩm chất đã được thử thách liên tục nhiều năm. Tôi mới về, nhưng đã được nghe quần chúng đánh giá, bình phẩm khá nhiều về đồng chí Luyến. Tám năm làm thủ kho, có ai gặp đồng chí Luyến tham ô, ăn cắp một cân thóc nào không? - Thanh nhìn khắp lượt mọi người. Đôi mắt bị ánh đèn phản chiếu, lung linh hai ngọn lửa như soi rọi vào từng khuôn mặt, cố tìm một câu trả lời. - Đồng chí Thanh nói đúng đấy. Kỷ luật đồng chí Luyến như vậy là oan ức quá. - Sáng lấy tay chấm mắt, giọng uất ức. - Chắc mọi người còn nhớ đợt nhập phân đạm vừa rồi… Câu nói của Sáng làm mọi người cùng nhớ lại cái “sự kiện phân đạm” hai tuần trước đây. …Lúc ấy Luyến đã buông màn đi nằm. Có tiếng ô tô ì ì từ ngoài đường cái. Rồi ánh đèn pha rọi một vệt sáng loà trước cửa nhà kho. Luyến vùng trở dậy. Sao xe chở đạm từ ngoài ga Giáp Bát bây giờ mới về? Hai chiếc xe vận tải đã đỗ lù lù trước mặt. - Bác Sán, bác Cộc đấy phải không? Sao bây giờ mới về? - Ôi dào. Mãi bốn giờ các bác ấy mới xuất kho. Làm ăn vật vờ bỏ mẹ. Cũng phải đấm mồm chúng nó mới được lĩnh hôm nay đấy. Xe chạy ngang đường lại chết máy. Hai đồng chí lái xe đây hôm nay cũng nhược người với hợp mình. Suốt từ trưa đã ăn uống gì đâu. Thôi, cô mở kho cho các đồng chí lái xe… Thấy Cộc, Sán, hai nhân viên chạy vật tư của hợp tác xã, cùng hai lái xe, người nào cũng mặt đỏ gay, miệng phả đầy hơi rượu, dáng vội vã tất bật, giục Luyến mở cửa kho để giải phóng xe nhanh, Luyến đã thấy nghi ngờ. Cho đến khi thận trọng kiểm tra kỹ một vài bao đạm thì Luyến đã có thể khẳng định rằng các bao đạm đều bị rút bớt ruột. - Bà chị, nhanh tay cho một chút. Xe hợp đông đến tám giờ, mà bây giờ vẫn nằm ì đây. Hợp tác có chịu trả tiền nằm đợi cho chúng tôi không? Theo chiến thuật “mềm và rắn” như họ đã bàn bạc, Sán với Cộc thì nằn nì nói khó với Luyến, còn hai lái xe thì thỉnh thoảng lại đưa ra mấy lời doạ dẫm, gây sức ép. - Muộn hay không là do ở các anh. Chúng tôi chỉ biết mười một giờ xe mới về tới kho. - Luyến thấy không thể non tay với dân “xế” này được. - Theo thủ tục nhập kho, đề nghị cứ cân lại từng bao. - Ấy, chị Luyến ơi. Bao nhà nước, có cân lạng hẳn hoi. Chị cứ đếm từng bao một, chúng em khuân vào kho là được rồi. - Bà chị kỹ tính quá đấy. Để sức mà dưỡng thai, chứ hơi đâu mà bày vẽ cho nó cực thân. Công hợp tác chỉ có tám lạng thôi… Với lại phân chứ có phải bánh đâu mà ăn bớt được. Ông Sán, ông cứ khuân ù vào đi, để chúng tôi còn phải đánh xe về xí nghiệp. - Cô Luyến, làm khó dễ cho nhau làm gì. - Cộc biết làm căng không có lợi, vội kéo Luyến ra một chỗ tỉ tê. - Chỉ mấy ngày nữa cô bàn giao cho anh Thảng để nghỉ đẻ. Trách nhiệm đâu do chúng tôi với anh Thảng chịu. Tội gì ôm rơm cho nó rặm bụng… Cô cứ kiểm tra từng bao. Tôi đảm bảo mỗi bao năm mươi cân. Đúng một trăm năm mươi bao thì cô ký nhận… - Bác Cộc ạ, thà mất thời gian một tí, nhưng nó sòng phẳng, minh bạch vẫn hơn. Đành rằng đạm từ kho nhà nước xuất ra, có bao bì hẳn hoi, không ai dám cân thiếu. Nhưng bác thông cảm: Xuất cho xã viên, người ta cứ nhè vào cháu mà lấy ra từng cân từng lạng… Không thuyết phục nổi Luyến, bốn người buộc lòng phải xuống thang. Họ thú nhận rằng một số bao có bị thiếu chút ít, do sơ suất lúc nhận từ ngoài kho Giáp Bát, một số bao khác do anh em lái xe đề xuất bồi dưỡng dọc đường… Thay mặt nhóm, Cộc đưa cho Luyến một tập giấy bạc. - Xin cô hết sức thông cảm với anh em chúng tôi. Cũng là sự sơ suất, chứ chẳng ai muốn thế. - Cộc ngoẹo đầu khổ sở. - Thời buổi khó khăn nên cũng đành đánh liều mà cấu véo của tập thể chút ít… Ban nãy, anh em chúng tôi cứ cân nhắc mãi… Biết cô rất kỹ tính trong chuyện này… Nhưng mà thế này. Để anh em chúng tôi đỡ áy náy, xin cô vui lòng nhận giúp một chút quà. Gọi là tấm lòng thành của anh em chúng tôi mừng cô sắp sinh cháu bé… Thủ đoạn mua chuộc kiểu Cộc đang làm, không phải lần đầu tiên Luyến gặp. Tám năm làm thủ kho, bao nhiêu lần Luyến đã chứng kiến những cảnh tương tự. Có người nài xin van vỉ. Có người khúm núm nịnh nọt. Có người doạ nạt đe noi. Tất cả những thủ đoạn ấy đều bị Luyến khước từ. Bây giờ cũng vậy. Luyến buồn bã gạt gói tiền lại trả Cộc và nhìn thẳng vào ông ta, giọng dứt khoát: - Bác Cộc ạ. Tiền bạc của cải thì ai cũng muốn. Cháu cũng chẳng phải loại người gỗ đá mà không biết như thế. Nhưng đây là tài sản của tập thể. Lúa hợp tác đỏ hoe ngoài đồng vì thiếu phân. Xã viên phải bỏ hai ba chục bạc mua một cân đạm ngoài. Thiếu hụt một cân đạm nào là chúng ta có tội với xã viên, với hợp tác xã… Thái độ kiên quyết của Luyến cuối cùng đã thắng. Ngay đêm ấy, Luyến mời đại diện ban kiểm soát ra cân lại từng bao. Một trăm năm mươi bao, bao nào cũng hụt khoảng bốn năm cân đạm. - Tôi đề nghị chi bộ khiếu nại với huyện. Khối người còn đáng kỉ luật gấp trăm lần đồng chí Luyến mà vẫn chẳng sao. - Sáng thở dài buồn bã. - Xét giữa công và tội thì Luyến chẳng phải kỉ luật gì hết… - Nói như đồng chí Sáng cũng chưa hẳn đã đúng. - Thanh nói tiếp. - Đồng chí Luyến có khuyết điểm. Khuyết điểm này cả quần chúng xã viên đều biết. Và chính đồng chí Luyến đã viết đơn, báo cáo với đảng uỷ. Ngày xưa thì đó là một tội lớn, làng sẽ bắt ngả vạ, cạo đầu trọc bôi vôi hay một hình thức nào đó nhằm chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ. Nhưng đó là thứ đạo đức cổ hủ, tàn dư phong kiến. Xin hỏi các đồng chí thường vụ đảng uỷ: Chúng ta có nên phê phán cái hình phạt dã man đó không? - Đồng chí Thanh không có quyền chất vấn thường vụ đảng uỷ. - Thiển định đứng dậy nhưng không tìm thấy dép, một chân anh khua đại sang phía Cản làm Cản giật mình ngoảnh sang, nhưng không hiểu có chuyện gì. - Chúng ta chỉ biết chấp hành quyết định của huyện đảng bộ. Đây không phải là chỗ để chất vấn. Thanh vẫn đứng đó. Nhìn gương mặt Thiển, anh không chịu nổi. - Vậy chúng ta bầu ra thường vụ để làm gì? Để chỉ biết máy móc thực hiện quyết định của cấp trên thôi ư? Sao các đồng chí không dám đấu tranh bênh vực một đảng viên bị oan ức? Chỉ những người đã chịu đựng những hi sinh mất mát ngoài chiến trường mới thông cảm hết với những hi sinh lớn lao của những người phụ nữ ở hậu phương. Đáng lẽ các đồng chí phải hiểu những điều đó hơn những người lính chúng tôi. Đế quốc Mỹ đã để lại bao nhiêu tội ác trên đất nước chúng ta, trong đó có sự mất mát của những người mẹ, người vợ, người yêu… Đồng chí Luyến là một trong những trường hợp đó. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại cách đánh giá đạo đức của một con người. Chúng ta dễ dàng xuê xoa với một lối làm việc quan liêu bảo thủ, trì trệ, dễ dàng tha thứ một thái độ chầy lười lao động, một hành động tham ô ăn cắp của công, dễ dàng bỏ qua một lối sống vô trách nhiệm làm thiệt hại của tập thể hàng triệu đồng, nhưng chúng ta lại quá khắt khe, vùi dập những người có phẩm chất và năng lực, nhưng có thể mắc sai lầm này nọ trong sinh hoạt. Tại sao chúng ta không làm trong sạch Đảng bằng cách khai trừ những kẻ cơ hội, thoái hoá về tư tưởng và sa đoạ về phẩm chất, mà tôi biết trong đảng bộ của chúng ta có không phải ít. Đồng chí Luyến có làm hại đến ai? Danh dự của Đảng ư? Điều này cũng không đến mức độ phải khai trừ khỏi Đảng. Hình thức kỷ luật quá nặng nề đối với một người như đồng chí Luyến chỉ có thể làm người ta hiểu sai về Đảng của chúng ta. Tôi đề nghị chi bộ ta nên có kiến nghị với tổ chức huyện uỷ, khai trừ lưu Đảng chín tháng đồng chí Luyến là hợp lý, hợp tình. Phòng họp nổi lên tiếng xì xào bàn tán. Ông Điền từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe Thanh nói. “Đúng. Phải có cái nhìn như vậy. - Ông nghĩ. - Cậu đã nói trúng ý mình. Chính mình và Cơ cũng đã đề đạt hướng giải quyết như vậy với anh Trần Sinh và tổ chức huyện uỷ. Nhưng chúng mình cũng chưa thực quyết tâm bảo vệ ý kiến của mình”. Ông Điền che tay lên miệng, ghé sát vào Cơ: - Cậu thấy Thanh nó nói thế nào? Đúng quá đi chứ. Bọn mình còn chưa có ý thức trách nhiệm trong chuyện này đâu… Cơ chỉ khẽ gật đầu. Những lời nói của Thanh vẫn còn làm anh xúc động, bàng hoàng. Đến bây giờ thì anh hiểu vì sao Vy lại đột nhiên đổi khác. Thực sự sống một đời sống nội tâm mới, như một cô Vy của hơn mười năm về trước. Một vài ý kiến trong đó hăng hái nhất là Sáng và mấy người phụ nữ, đều ủng hộ ý kiến của Thanh và đề nghị chi bộ gửi biên bản cuộc họp lên tổ chức huyện uỷ đòi giảm nhẹ hình thức kỷ luật Luyến. Đột nhiên Luyến bật khóc. Không phải Luyến oan ức. Luyến khóc vì quá xúc động trước cái tình người. Thiển khó chịu. Anh xé sổ tay viết mấy chữ cho ông Điền. “Anh Điền ạ, không thể để cuộc họp diễn biến theo hướng này. Cậu Thanh là cái gì mà cậu ta lại lợi dụng cuộc họp để công kích đảng uỷ? Phải chấp hành quyết định của huyện uỷ. Sẽ giải quyết tư tưởng với cậu Thanh sau. Anh nên chấm dứt vấn đề ở đây. Nếu không cậu Thanh có thể sẽ kích động đảng viên, gây tâm lý bất bình nguy hiểm”. Ông Điền nhìn sang phía Thiển, gặp cái ánh mắt sắc lạnh của anh, ông chợt như hiểu ra cương vị của mình. Ông đứng lên, dè dặt và không tự tin, nói: - Đồng chí Thanh mới về, nên chưa hiểu hết vấn đề. Thường vụ chúng tôi cũng đã thảo luận nhiều về trường hợp đồng chí Luyến. Tất nhiên huyện uỷ cũng đã có cân nhắc kỹ. Chúng ta nên chấp hành quyết định của huyện đảng bộ và đề nghị các đồng chí kết thúc vấn đề ở đây. Thanh vụt đứng lên: - Vậy thì xin phép các đồng chí. Tôi họp ở đây cũng như thừa. Phản ứng của Thanh xảy ra nhanh quá khiến mọi người đều sửng sốt. Màu áo quân phục thoạt vụt qua khoảng sáng đèn, lẫn vào đêm mưa. *** Hành động bỏ dở cuộc họp chi bộ giữa chừng của Thanh đã gây một dư luận trong đảng bộ và trong quần chúng nhân dân xã Thanh Bình. Những người chỉ quen nhìn hiện tượng để đánh giá thì cho rằng Thanh quá ỷ thế mười năm tham gia chiến trường mà coi thường chi bộ, coi thường đảng uỷ. Hành động ấy rõ ràng là biểu hiện thiếu ý thức tổ chức, không có tinh thần xây dựng. Người ta xâu chuỗi lại những hoạt động trong suốt mấy tháng về địa phương của Thanh: không yêu và không có ý thức xây dựng quê hương; việc về sản xuất là do tình thế bắt buộc vì không có cơ quan nào nhận; không chịu tham gia lao động ở đội sản xuất (chỉ trừ mấy buổi đi trồng khoai giúp vợ khi hợp tác chia ruộng khoán cho các gia đình); lần đầu tiên sau hai tháng mới tham gia sinh hoạt chi bộ nhưng đã tự ý bỏ dở cuộc họp… và đi đến kết luận: Thanh đã bắt đầu thoái hoá, tiêu cực. Những người có vẻ thông cảm với Thanh hơn, đồng ý với những ý kiến và quan niệm của anh thì lại không dám ủng hộ anh một cách công khai, mạnh mẽ. Trong tư tưởng của họ, họ vẫn chưa hề chấp nhận được cái cách đấu tranh, cách phản ứng quá táo bạo và quyết liệt của anh. Thanh có phần nào như lạc lõng, xa lạ giữa những người đồng chí, giữa quê hương mình. Nhưng anh vẫn tự tin và thấy cần phải sống như vậy. Ngay hôm sau cuộc họp chi bộ, Thanh đã lên gặp ban tổ chức huyện uỷ. Anh trình bày ý kiến của mình về việc kỷ luật Luyến, về phản ứng của anh trước quyết định của huyện uỷ và đề nghị huyện uỷ xem xét lại. Buổi chiều, vừa về đến nhà, Vy đưa cho Thanh mảnh giấy mời gặp của thường vụ đảng uỷ, có chữ ký của phó bí thư phụ trách tổ chức Đào Hữu Thiển. Cuộc gặp gỡ chỉ có hai người, trong văn phòng đảng uỷ. - Chúng ta sẽ tâm sự với nhau như những người đồng chí. - Thiển đưa bao thuốc lá mời Thanh và kéo ghế lại gần bàn… - Mình có lỗi là từ ngày cậu về, mình chưa đến thăm cậu được. Bận quá. Bao nhiêu công việc cứ bù đầu… “Anh nói dối. Công việc đảng hay công việc riêng tư nào? Anh không muốn đến với tôi, cứ nói thẳng ra như thế hay hơn”. - Anh nghĩ. - Mình biết. Mười năm qua là cả một thử thách ghê gớm đối với cậu. Lành lặn mà trở về được như thế này thật là một điều kỳ lạ mà người ta chỉ có thể giải thích bằng sự may rủi. Mình ngày xưa cũng thế. Kháng chiến chống Pháp có kém phần gian khổ, ác liệt so với kháng chiến chống Mỹ đâu? Về mặt gian khổ thì có thể hơn, chắc chắn hơn. Một tháng liền bọn mình phải ăn rau tàu bay, đêm mò vào bốt địch để khoắng đồ hộp của tụi Lê-Dương… Bây giờ nghĩ lại thấy cũng ghê. Nhưng xét cho cùng sự cống hiến của bọn mình cũng chẳng thấm tháp gì so với hàng triệu người… Chẳng có gì đáng để cho mình ỉ thế công thần, khoe khoang thành tích… “Anh nói vòng vo để ám chỉ tôi. Tôi có khoe khoang cậy thế gì với anh đâu? Đã bao giờ tôi giơ lưng cho người ta đếm đủ mười lăm vết thương? Và cả cái vết thương không có sẹo ở trong tim tôi nữa? Có ai biết đâu? Anh hiểu sai tôi rồi. Cứ nói thẳng cái điều anh muốn nói ra đi”. - Mình nói vậy để chúng ta nhất trí với nhau rằng: chiến đấu, đó là một nghĩa vụ đối với Tổ quốc, cũng như sản xuất vậy thôi, ở cương vị nào cũng là phục vụ cả. Cậu đã về địa phương tham gia sản xuất, đó là điều rất hay. Chúng mình đang rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của những đảng viên lâu năm, đã trải qua chiến đấu như cậu. Trong tình hình đảng bộ ta hiện nay, vấn đề quan trọng là toàn đảng bộ phải đoàn kết, nhất trí quan điểm… “Anh muốn nói đoàn kết theo kiểu xuôi chiều? Và nhất trí quan điểm tức là thủ tiêu đấu tranh?” - Không nắm vững vấn đề này, chúng ta sẽ tạo nên bè phái, tạo nên sự chống đối trong Đảng. Rất tiếc rằng những ý kiến trong cuộc họp chi bộ của cậu đã gây nên dư luận không tốt trong cả quần chúng nữa. Cậu để mình nói hết. Mình hoàn toàn tán thành quan niệm của cậu về đấu tranh. Nhưng đấu tranh phải có tổ chức và phải biết phương pháp mềm dẻo, tế nhị. Trường hợp cô Luyến, không thể có hình thức kỷ luật nào khác hơn được. Là đảng viên, tại sao cô ấy lại không thể tự đấu tranh với bản thân mình? Cậu thử tưởng tượng, quần chúng sẽ nghĩ về đảng bộ ta như thế nào nếu chúng ta không kiên quyết với những khuyết điểm của cô ấy? - Đồng chí đã nói hết chưa? - Suốt từ nãy Thanh vẫn ngồi im lặng, cố nghe Thiển nói. Nhưng bây giờ thì Thanh không đủ kiên nhẫn để nghe thêm nữa. - Trước hết anh quan niệm sai về tôi. Tôi không hề cậy thế có mười năm chiến trường ở sau lưng. Tôi chỉ là một đảng viên bình thường có trách nhiệm phải làm tròn nghĩa vụ của mình. Anh vừa nói đến vấn đề đoàn kết. Tính tôi thích thẳng thắn. Tôi xin nói với anh rằng, theo tôi biết, hiện nay đảng bộ mình đang có nhiều vấn đề bất đồng, đang tạo thành hai ba phe cánh chống đối nhau, nhưng trong các báo cáo gửi lên cấp trên thì các anh lại cố ý che phủ bởi cái danh từ đoàn kết nhất trí. Giữa anh và Cơ, các anh có đoàn kết với nhau không? Không thể đoàn kết theo cái kiểu để các anh biến tôi thành cái đuôi của phe này hoặc phe khác. Về trường hợp đồng chí Luyến, như tôi đã nói quá đủ rồi. Các anh cổ hủ và thành kiến lắm. Các anh quá nhẫn tâm với một người đồng chí mà cuộc đời trĩu nặng một tấn bi kịch. Người phụ nữ nào muốn như vậy? Tự đấu tranh với bản thân mình ư? Kẻ nào nói như vậy chỉ là lừa dối. Không ai có quyền bắt người khác phải sống khác con người. Chính bản thân tôi đã từng chịu một mất mát ghê gớm, anh có biết không? Không, anh không biết đâu. Anh là người cộng sản, nhưng anh lại sống dửng dưng đến mức trái tim cũng không còn biết rung động. Tôi khác anh ở chỗ là tôi đã biết tha thứ… Thanh đưa tay vò mái tóc, khép mắt lại để che đi cái ánh nhìn đau đớn. Anh muốn nói thẳng ra cái điều mà năm năm nay đã bị che kín đi. Nhưng rồi chợt nghĩ đến Vy, anh vội kìm lại. Để làm gì? Vô ích… Chỉ mình anh biết và anh đã tha thứ. Phản ứng của Thiển cũng không kém phần quyết liệt. Thiển đứng hẳn dậy, mở tung cánh cửa và lên án Thanh một thôi dài về quan điểm lập trường, về sự cố tình đánh giá đảng uỷ hoàn toàn lệch lạc. - Anh đã bôi nhọ đảng uỷ với một thái độ đầy bất mãn và khinh miệt. Cái hành động bỏ về giữa cuộc họp chi bộ của anh chính là sự vô tổ chức, phá hoại kỷ luật của Đảng. - Anh chớ vội chụp mũ. Nếu đảng bộ chỉ là riêng mình anh thì đúng đấy. Tôi phản đối anh. Chính xác anh đã tước quyền đảng viên của tôi trong cuộc họp. Lối lãnh đạo độc đoán và quan liêu ấy, thực chất là thủ tiêu tính chiến đấu. Ban thường vụ các anh phải chịu trách nhiệm trước Đảng về tất cả những hậu quả ấy. Tại sao các anh lại cứ muốn đưa ra khỏi Đảng một đảng viên thực sự có phẩm chất như đồng chí Luyến, trong khi các anh vẫn dung túng hàng chục đảng viên thoái hoá và mất phẩm chất mà quần chúng đã từng góp ý? Tại sao tám năm nay các anh không kết nạp được một đảng viên trẻ nào? Thanh niên họ xấu quá ư? Hay chính vì các anh đã quá lạc hậu, lỗi thời? Anh phụ trách tổ chức, anh hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều đó. Cuộc trao đổi đã biến thành một cuộc giằng co mà cả hai người đều kích động và nóng nảy. Đó chính là nỗi thất vọng lớn nhất đối với Thanh từ ngày anh xuất ngũ trở về nhà. XV Tình yêu ! Cho đến bây giờ vẫn chưa có ai đưa ra một định nghĩa trọn vẹn và đầy đủ nào về khái niệm có ý nghĩa trường cửu của đời sống con người ấy. Nhưng về một phương diện nào đó, đó chính là một thử thách quyết liệt để khẳng định lòng quyết tâm sắt đá của cặp tình nhân. Về phương diện này thì cả Đạt và Thắm đều có dư thừa. Một chàng trai hai mươi tuổi và một cô gái mười tám khi đã say nhau thì họ có thể vượt qua tất cả. Mặc dù đã cố dùng mọi biện pháp: động viên, khuyên nhủ, mắng chửi, đe nẹt, hứa hẹn… ông Điền vẫn không thể nào thuyết phục nổi con trai. Hơn cả một con chiên ngoan đạo, Đạt không hề sai một lần hẹn nào với Thắm. Bằng mọi mưu mẹo vốn rất có sẵn ở lứa tuổi anh, chỉ một hai tuần anh lại có mặt ở nhà. Người kiên quyết chống phá nhất, chính là người đầu tiên hoan mang lo lắng và có tư tưởng thoả hiệp, đó là ông Trạc. Ông bị vợ thúc ép bằng mọi hình thức: cầu xin, van vỉ, giận dỗi, đá thúng đụng nia… Từ ngày ông ra hợp tác, trong gia đình đã bắt đầu thành hai phe, mặc dù chưa rõ rệt. Nhưng cho đến giai đoạn tình yêu của Thắm chín muồi thì hầu như ông hoàn toàn bị cô lập. Cả ba mẹ con nhiều hôm cứ về đến nhà là mặt chảy thượt ra. Họ tạo thành một cuộc chiến tranh lạnh không tuyên bố, không thời hạn. Ông bắt đầu hoang mang. Kiểu này là mọi chuyện lại đổ hết lên đầu ông thôi. Giữ con gái lớn trong nhà như ủ trấu dưới bếp. Thật là vô phúc cho ông, nếu con Thắm lại đổ đốn như cô Luyến. Ông nghe ngóng bên nhà ông Điền. Bà mẹ chiều con, nhưng ông bố vẫn không hề lay chuyển. Từ hoang mang dẫn đến lo ngại. Nỗi lo cứ tăng dần lên mỗi lần ông thấy cái anh chàng Đạt cứ ngang nhiên xuất hiện ở làng. Cấm làm sao nổi chúng nó gặp nhau? Ông bắt đầu bàn với vợ tìm cách đánh tiếng cho nhà bên kia. Thôi, cho họ “rước” đi, sớm ngày nào hay ngày ấy. Ông Trạc đến chơi nhà ông Điền. Một hành động hiếm có ở một con người khí khái như ông. Biết làm sao được. Quýt làm cam chịu. Con dại, cái mang. Nhưng thật cực. Suốt gần một buổi chiều ngồi hút gần hết gói thuốc lào Vĩnh Bảo mà ông vẫn không thể nào nói ra được cái chuyện ấy. Suy cho cùng thì ông đâu có nệ cổ. Thế này là cọc đi tìm trâu rồi còn gì? Tự mình sang đặt vấn đề với nhà trai về công việc của con cái hai bên kia mà? Vậy mà khó quá, chịu không tài nào nói ra được. Và ông Điền cũng không chịu gợi ra mới ác chứ? Ông Trạc cảm thấy bẽ mặt, thấy buồn vô cùng. “Chỉ vì mình ra hợp tác ư? Ai bảo tôi đã ra hợp tác? Ruộng đất, khổ phần của tôi vẫn còn đó. Hợp tác xã đã tuyên bố khai trừ tôi bao giờ? Hả? Hai mươi năm tôi làm cật lực. Bây giờ tôi “nghỉ hưu”. Mua con bò về thả chơi. Ông làm bí thư mà cái bụng ông cũng cạn hẹp thế thì giáo dục ai được?”. Ông Trạc nghĩ thế và hận ông Điền lắm. Còn ông Điền? Thực tình ông thấy khó nghĩ. Một bên là tình cảm và đòi hỏi chính đáng của con trai. Một bên là cương vị bí thư đảng uỷ của ông. Thông gia với một người vừa nộp đơn xin ra hợp tác xã? Riêng điều ấy đã khó giữ được uy tín và lập trường, quan điểm? Thông gia hay thông đồng tiếp tay cho những người muốn đi ngược lại đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội? Cho đến cái tháng áp tết thì ông Điền nhận được một “tối hậu thư”. Đạt về nhà lần này mang theo cả ba lô, đồ đạc như đã sẵn sàng xuất ngũ. Tối hôm ấy anh không đi đâu cả. - Con muốn thưa chuyện với thầy. - Đạt chủ động kéo ghế ngồi đối diện với ông Điền, gương mặt trở nên nghiêm nghị và rắn rỏi. - Con đã xin phép đơn vị về lần này để cưới vợ. - Lấy ai? - Ông Điền trừng mắt tỏ vẻ ngạc nhiên. - Thầy biết rồi đấy. Cô Thắm con ông Trạc. Nếu tết này thầy u không cho con cưới Thắm thì từ nay con sẽ ở nhà không trở lại đơn vị nữa. Cái tối hậu thư ấy làm cho ông Điền cả đêm không ngủ. Ông biết tính con trai ông. Nó đã nói thì nó sẽ làm, không thể ngăn cản được. Mặc nhiên ông phải đứng trước hai điều cần chọn: làm thông gia với ông Trạc hay làm bố của một kẻ đào ngũ. Tất nhiên là ông phải lựa chọn hướng thứ nhất. Cái chiến thuật lấn dần từng bước để rồi dồn ép đối phương bắt buộc phải đầu hàng của Đạt đã hoàn toàn thắng lợi. Ông Điền đạo diễn cho vợ và hai em trong họ đứng ra thu xếp mọi chuyện. Công việc được tiến hành chóng vánh. Bởi vợ chồng ông Trạc không phải là những người khó tính, nhiêu khê gì. Lễ ăn hỏi được tiến hành ngay. Lễ cưới ấn định vào ngày mồng bốn tết. Lần này thì đích thân ông Điền lên hẳn đơn vị để trình bày hoàn cảnh và xin phép cho Đạt nghỉ nửa tháng để tổ chức cưới. Đơn vị Đạt mặc dù đang ở trong tình trạng báo động, tình hình biên giới phía Bắc đang có nhiều hướng xấu đi, nhưng trước đề nghị tha thiết của ông Điền và lại có thư của thủ trưởng sư đoàn, nên đã đồng ý cho Đạt nghỉ phép. *** - Ăn kem đã, anh Đạt ơi! - Vừa xuống tàu điện, Thắm đã cầm tay Đạt kéo về phía một quần bán kem cạnh Bờ Hồ. - Quê quá. Mùa đông ai lại đi ăn kem. Buốt răng chết. Chúng mình sẽ vào Phú Gia. - Ứ. Nhưng mà em thích. - Thắm nguẩy hai bím tóc, nghiêng cặp mắt to đen nhìn Đạt hờn dỗi. Ánh mắt như có sức thôi miên khiến Đạt không thể từ chối một điều gì. Anh nhìn Thắm âu yếm. Giữa phố phường Hà Nội. Thắm như tách biệt hẳn những người xung quanh. Áo len màu xanh nước biển, quần lụa đen, dép nhựa. Thắm giản dị và có phần quê mùa so với những cô gái tóc xoã ngang vai, áo thun chẽn hoặc áo bu-dông đỏ chói, áo len đủ kiểu rực rỡ và sang trọng, quần loe bó sát hai đùi. Nhưng mà Thắm đẹp và đáng yêu quá. Nếu Thắm mà được ăn diện như tất cả các cô gái Hà Nội kia, Thắm sẽ vượt rất xa họ. Hãy cứ nhìn nước da và đôi mắt xem. Con gái đồng chiêm, suốt ngày dầm mưa dãi nắng ngoài đồng mà nước da vẫn sáng hồng, đôi má căng mịn. Và đôi mắt, cứ đen láy, biêng biếc lúc nào cũng mở to trong sáng và thơ ngây. Ngày hôm nay Thắm vui và hạnh phúc quá. Hôm qua cô đã lên tận đơn vị Đạt đóng quân, để cùng anh về Hà Nội sắm đồ cưới. Lần đầu tiên hai đứa đã chi tiêu một khoản tiền lớn quá sức tưởng tượng. Thắm cố thuyết phục Đạt phải mua bộ com-lê thật đẹp. Hôm ấy nhất định Đạt phải thắt cra-vát nữa. Không thể mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình đi đón dâu được đâu. Hoà bình rồi. Chú rể bộ đội cũng cần phải diện một tí chứ. Còn Thắm? Chiếc áo len xanh nước biển này đẹp lắm rồi. Quần lụa đen Thắm có rồi. Chỉ cần một chiếc sơ-mi trắng nữa. Nhưng Đạt cũng không chịu nhượng bộ Thắm dễ dàng. Anh mua cho Thắm một chiếc quần Âu màu cà-phê sữa và một đôi guốc cao mười phân. - Đừng mua. Em không mặc đâu. Đi làm đồng suốt. Có lúc nào mà mặc. - Thắm giãy nảy làm mấy cô mậu dịch viên cứ nhấm nháy nhau cười thương hại. - Với lại… - Thắm ghé tai Đạt nói nhỏ - Với lại… ít nữa có con thì bỏ đi à? Đạt đỏ bừng mặt. Vì xấu hổ. Nhưng cũng vì thích thú nữa. Cuối cùng thì họ cũng dàn xếp được với nhau. Đạt vẫn nhất quyết mua cho Thắm chiếc quần Âu, dù Thắm chỉ mặc một ngày cưới. Cả một ngày nhưng họ chỉ đi được quanh mấy phố Bờ Hồ, cửa hàng Bách hoá Tổng hợp và chợ Đồng Xuân. Đạt tìm mua một bộ chữ bằng bọt xốp cắt lồng hai chữ T và Đ thật đẹp. Đạt còn mua cho Thắm một bông hồng trắng muốt, cả lá và cành cùng trắng, làm bằng lụa thêu kim tuyến. Ngày cưới, Thắm sẽ cài bông hoa lên mái tóc, như một biểu tượng của hạnh phúc. Mải mê mua sắm, lúc họ về tới bến xe khách thị xã thì chuyến ô tô cuối cùng cũng vừa chạy. Quay trở lại Hà Nội hay tìm nhà một người quen ngủ lại? Ở thị xã này họ dễ dàng tìm ra một vài người quen, nhưng họ không muốn. Nếu chỉ có một mình Thắm thì cô đã cuống lên không biết xử trí ra sao. Nhưng bây giờ thì Thắm đã có Đạt bên cạnh. Thắm lại cho cái việc lỡ xe này là một điều thích thú. - Chúng mình sẽ ngồi cả đêm nay ở bến xe. Lúc nào buồn ngủ thì em sẽ dựa vào lưng anh. - Thế còn cái túi du lịch thì phần kẻ cắp… - Ừ nhỉ? - Thắm bật cười phá lên và cô kéo chiếc túi du lịch ngắm lại bông hoa của mình. - Hay là chúng mình đi bộ? Tảng sáng đến nhà thôi mà… Đến bây giờ Đạt mới sực nhớ ra cái biện pháp anh vẫn quen dùng mỗi khi anh muốn về với Thắm mà bị nhỡ xe. - Đi! - Đạt xách túi du lịch và cầm tay Thắm. Thắm thích thú vì lời đề nghị của mình không ngờ lại thành một sáng kiến. Thắm cầm một quai túi du lịch và hai người đi dọc con đường thị xã lúc này vừa mới lên đèn. Nhưng mà họ cũng chẳng phải đi bộ lâu. Đạt dừng lại trước cửa ca-bin một chiếc xe tải đỗ cạnh đường, hỏi người tài xế, xoè ra tờ năm mươi đồng mới cứng và hai người lập tức cùng trèo lên buồng lái. Thắm ngồi dựa đầu vào vai Đạt, mơ màng nghĩ đủ thứ chuyện cho ngày hạnh phúc sắp tới của mình. “Cưới xong anh sẽ phải lên đơn vị. Ồ, không thể ở nhà mãi với vợ được đâu, ông ơi. Đào ngũ là em sẽ cắt. Nhưng mà xa nhau thế cũng buồn nhỉ? Em sẽ lên thăm anh mỗi tháng một lần. Em biết đường rồi mà. Bạn của anh có vẻ cũng mến em lắm. Hôm qua các anh ấy làm em xấu hổ quá. Cái anh Đoàn, trung đội trưởng, tếu thật, cứ bảo em tảo hôn mới ức chứ. Em bảo em hai mốt tuổi rồi, bằng tuổi anh Đạt. Anh ấy bảo: “Đã thiếu tuổi còn khai gian. Tao là uỷ ban, tao sẽ không cho chúng mày đăng ký”. Không cho đăng ký mà được. Thứ ba tuần sau chúng mình sẽ đi đăng ký nhé. Hôm ấy anh sẽ đi trước, chờ em ở uỷ ban. Chứ hai đứa cùng đi thì xấu hổ chết… Từ nay đến hôm cưới còn gần nửa tháng nữa. Lâu quá. Em chỉ thương u. Đáng lẽ em phải ở nhà giúp u vài năm nữa. Em đi rồi, chỉ còn một mình u làm hợp tác, lấy đâu ra thóc. Thầy thì đã có con bò, chẳng phải lo. Sau tết, con bò của thầy sẽ đẻ đấy. Hay là chúng mình xin thầy con bê con, nuôi. Buồn cười nhỉ, em mà đi chăn bò ấy à? Có mà thiên hạ họ chửi cho. Không. Em còn trẻ. Suốt đời em sẽ làm xã viên hợp tác. Nhưng cứ thu hoạch kiểu này thì cực quá. Rồi chúng mình sẽ có con. Anh đi bộ đội, thầy u bên ấy cũng già rồi, mình em làm hợp tác, lấy gì nuôi con? Em sẽ chóng già đi lắm đấy. Phụ nữ nông thôn mà, đời con gái ngắn và chỉ gói trọn trước khi lấy chồng… Thôi, chẳng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Bà cụ non. Cứ biết rằng em đang sung sướng lắm. Tối qua, anh có nhớ không? Nếu ở nhà cô Vy xem tivi thì em chẳng được biết công viên Thống Nhất nó như thế nào. Mình đi sớm thế mà các ghế đá họ đã ngồi chật. Buồn cười nhỉ, họ cũng yêu nhau như chúng mình. Ghét nhất anh. Anh làm môi em còn đau đây này…". Thắm đưa tay lên xoa môi. Và cô lần tìm tay Đạt đưa lên môi mình cắn mạnh làm cho Đạt giật thót người. Loáng cái đã đến thị trấn phố huyện. Người lái xe bỏ họ lại dốc đầu đê. Từ đây về đến nhà phải đi bộ tám cây số. Bình thường Thắm chỉ đi hết hai tiếng. Nhưng có gì phải vội vã? Con đường trước mặt chỉ có hai người. Hoàn toàn thuộc về riêng hai người. *** Luyến ngồi chong đèn bên bàn. Tất cả sổ sách, chứng từ, phiếu xuất nhập kho trong các ô tủ được Luyến lôi ra chất đầy trên bàn. Suốt từ ngày hợp tác lên hợp nhất, đã hai lần Luyến đề nghị ban quản trị cho tổng kiểm tra lại các kho xem thiếu đủ ra sao, những chứng từ hoá đơn nào không cần thiết thì niêm phong cất đi hoặc huỷ, nhưng chẳng ai chịu cùng Luyến làm việc đó. Tính Luyến vốn cẩn thận. Tất cả các loại giấy tờ đều được sắp xếp lại theo từng loại, nên tuỳ thời gian quyết toán dài, giấy tờ chất từng đống, nhưng từng số liệu, từng loại sổ sách vẫn không hề bị rối. Ngày mai Luyến sẽ chính thức bàn giao tất cả sổ sách giấy tờ này cho Thảng. Công việc bàn giao kho suốt ba ngày nay Luyến đã làm xong. Mệt. Nhưng mà Luyến rất vui. Bởi vì so với các số liệu trong sổ sách thì tất cả các kho đều khớp hoặc thừa, không có chuyện thiếu hụt. Kho thóc giống, thừa ra một tấn tám. Kho thóc thịt thừa ba tấn ba. Kho phân đạm thừa bốn tạ bảy. Lý do cũng dễ hiểu: thóc, phân để trong kho bao giờ cũng dôi ra vì chúng luôn hút ẩm. Nhập một tấn thóc khô để ba tháng khi xuất sẽ dôi ra hai mươi cân. Ấy là chưa kể những ngày thu hoạch, nhiều khi phải nhập thóc ướt, bao giờ hợp tác xã cũng định ra một tỉ lệ khấu hao có lợi cho nhà kho. Mới tính sơ ba năm, riêng thóc, Luyến đã làm lợi hợp tác xã hơn ba tấn. Số thóc ấy, vào tay những thủ kho ranh ma thì hợp tác xã không thể nào có được. Chỉ còn ngày mai nữa là xong. Luyến sẽ trả lại cả cái phòng này cho hợp tác xã, chị lại về ở với gia đình ông Trạc. Ông bà Trạc muốn Luyến dọn về trước tết để còn lo đám cưới Thắm. Anh em dẫu giận nhau đến không muốn nhìn mặt, nhưng nghĩ thương Luyến, ông Trạc cũng không nỡ hắt hủi. Đêm càng khuya càng lạnh. Luyến đang định tắt đèn đi ngủ thì có tiếng khúc khích cười ở đầu nhà. Luyến nhận ra tiếng Thắm và Đạt. - Sao chúng mày về khuya thế? Mười hai giờ đêm rồi còn gì? - Chúng cháu bị nhỡ xe. Cô có biết không, chúng cháu định đi bộ… Luyến đỡ cho Thắm chiếc túi du lịch đặt lên giường, tròn mắt nhìn hai người… - Đi bộ suốt từ bến xe thị xã về đây? - Suýt nữa, cô ơi. Thế này nhá… Và Thắm bắt đầu thao thao kể về cuộc hành trình của mình. Căn phòng ríu ran tiếng cười nói và ấm sực lên vì sự có mặt của họ. Thắm mở túi du lịch khoe với Luyến tất cả những đồ cưới mà họ vừa mua sắm: màn tuyn, quần áo, giày, guốc, bánh kẹo,… Có cả một bông hoa hồng trắng muốt. Luyến nhìn bông hoa Thắm nâng niu, ve vuốt trên tay mà không giấu nổi tiếng thở dài. Mình không bao giờ có được bông hoa ấy… - Còn đây là quà của cô… - Lúc sau, Luyến đi lại mở tủ lấy ra một xấp vải hoa đã được may thành vỏ chăn, đưa cho Thắm. - Ôi, hết ý rồi, anh Đạt ơi. Vỏ hoa này bây giờ thì không tài nào mua được đâu. Chúng mình phải cám ơn cô Luyến đi… Đạt tỏ ra bẽn lẽn và dè dặt, nhưng Thắm thì lại nói như khướu. - Bây giờ cô phải cho chúng cháu ăn một cái gì đã. Sau đó cháu sẽ ngủ đây với cô, về khuya quá, thầy cháu chửi chết. Còn anh Đạt thì phải về nhà. Đạt mỉm cười, nói thầm với Thắm: - Anh cũng ngủ lại đây. - Giời ơi, em cấm. - Thắm giơ nắm tay lên mà hàm răng lại trắng muốt đến duyên. Họ hí húi nhóm bếp vừa rán vừa ăn bánh mì - bột mì do nhà nước "cứu đói" cho hợp tác xã Thanh Bình mà Luyến được chia. Cho đến lúc Thắm đưa tiễn Đạt về, cũng là lúc các chú gà trống thức giấc, cất loạt gáy đầu tiên. Trời tối nhờ nhạt. Và gió. Càng về khuya sương xuống càng dày. Không gian mờ ảo như hoà lẫn mọi vật vào nhau. Cả Thắm và Đạt cũng như hoà lẫn vào nhau. Họ đứng dưới gốc cây gạo già. - Thôi, anh về đi… Khuya rồi… Cô Luyến em mắng chết… - Thắm nói như nài nỉ, nhưng ánh mắt, hơi thở, bàn tay Thắm thì lại càng níu giữ, càng sôi nổi, nồng nàn hơn trước. Đạt không nói, chỉ quàng tay qua vai Thắm, ghì siết. Cả thân hình Thắm nóng hổi, toả ra cái hơi ấm nồng nàn và mùi thơm con gái đến say người. Và, đôi môi Thắm mới ngọt ngào, mềm ấm làm sao. Đạt cảm thấy cổ mình khô khát, bỏng rộp. Thắm! Đạt thầm gọi và anh hôn Thắm đến nghẹt thở. Chỉ mấy ngày nữa Thắm sẽ là của anh. Mãi mãi. Nhưng lâu quá. Bây giờ đối với anh, mỗi ngày dài như thế kỷ. Chợt hiện lên một khoảng trắng đến mịn màng. Dường như khuôn ngực Thắm, bờ vai Thắm đang phát ra cái thứ anh sáng kỳ ảo. Đạt ấp cả gương mặt mình lên cái vùng sáng kỳ ảo ấy. - Đừng… Đừng làm thế… - Thắm run lên không phải vì lạnh. - Rồi cô chợt bật cười, rất khẽ: - Kìa, thầy em kìa. Bây giờ anh không sợ ông cụ nữa ư? *** Đạt đi rồi mà Thắm vẫn không hết bàng hoàng. Thắm đứng tựa người vào gốc gạo rất lâu để trấn tĩnh lại. Tim Thắm đập thình thịch như gõ trống và đầu óc thì cứ chơi vơi bồng bềnh như Thắm vừa trải qua một giấc mơ. Thắm áp bàn tay lên đôi má nóng rực và lim dim đôi mắt mường tượng lại những giây phút kỳ diệu vừa qua… Nhưng kìa. Hình như có tiếng người? Có tiếng những bước chân thình thịch và tiếng một vật gì đó rơi tùm xuống nước. Rồi tiếng ùng ục, tiếng khoả nước rất mạnh hệt như hai con trâu đang quần nhau dưới ao. Tim Thắm bỗng giật thót. Linh tính như báo cho cô có điều gì chẳng lành. Những tiếng động ở đằng kia, chính là nơi Đạt vừa đi tới. Quên hết cả mọi nỗi sợ hãi, như một phản xạ tự nhiên, Thắm chạy ào về phía có tiếng ùm ũm dưới nước. Trong bóng đêm mờ mờ Thắm thấy hình như có hai người đang quần nhau dưới ao. Cả một góc ao, nước sủi lên sùng sục. Tiếng đấm, đạp. Cả hai bóng người sáp vào nhau. Cái bóng to lớn chồm lên đưa cả hai bàn tay chẹn lấy cổ người kia đè xuống nước. Tiếng sặc nước ằng ặc. Cái bóng người nhỏ hơn chợt vùng trở dậy. Đúng là Đạt rồi. Thắm líu lưỡi và run cầm cập đến không thể kêu thành tiếng. Một bóng đen khác đang vác một vật gì đó trắng mờ giống bao phân đạm từ trong phía nhà kho chạy qua. Nhìn thấy Thắm, bóng đen quăng phịch cái bao xuống đất. Thắm quay lại, vừa kịp nhận ra cái bóng của Thảng. - Ối làng xóm ơi. Bọn ăn cắp… Thắm chưa kịp kêu dứt, một đầu gậy đã vụt lia đến. Và Thắm nằm gục ngay mép bờ ao, không còn biết gì nữa. *** Nghe tiếng kêu, nhưng mãi lúc lâu sau, Luyến mới cầm đèn tìm đến nơi. Nhìn thấy Thắm và Đạt, chị oà khóc nức nở. Thắm nằm trên mép bờ ao. Một mảng đầu bết máu. Máu chảy đỏ bầm cả một vạt áo len xanh màu da trời. Cả người Đạt bê bết đầy bùn. Anh nằm gục mặt lên bờ ao, ngay phía dưới Thắm. Từ hai ống chân trở xuống vẫn còn dầm dưới nước. Có lẽ vừa rồi anh đã cố lết từ ao lên để đến với Thắm, nhưng không còn đủ sức. Khi trời sáng rõ, xem xét kỹ lại nhà kho, người ta phát hiện ra một mảng ngói trên nóc nhà kho phân đạm đã bị dỡ. Cửa kho vẫn khoá y nguyên. Nhưng một vệt phân đạm trắng lại rắc suốt từ trong kho ra đến ngoài cửa và kéo dài thêm một quãng nữa. XVI Suốt cả mùa xuân, Thanh Bình sống trong một không khí dồn dập những công việc chi viện cho biên giới và chuẩn bị mọi tình huống cho môt cuộc chiến tranh đang có nguy cơ lan rộng. Chiến tranh biên giới phía bắc mở ra vào hai giờ ba mươi sáng ngày 17 tháng hai năm 1979. Cơn dông bão của tử thần chiến tranh bỗng ập đến, gợi lại cái khung cảnh chết chóc dã man của những năm chống Mỹ đã qua mà người ta tưởng vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Lại những đợt trai làng rầm rập cầm súng, khoác áo lính lên biên giới, những đợt nữ thanh niên tình nguyện, tiếp tục được gửi lên các tỉnh áp sát vùng chiến sự để xây dựng phòng tuyến. Những chiếc hầm đã bị bỏ quên hoặc bị phá, được khôi phục lại. Công việc đồng áng có phần lắng đi. Xã viên có nhắc đến cái cách làm ăn mới của vụ đông vừa qua - cách khoán ruộng về từng gia đình đã mang lại những kết quả không ngờ, cứu vãn một vụ đông thất thu trông thấy nhưng trong bối cảnh ngổn ngang bao nhiêu điều phải lo này, người ta cũng dễ dàng tự bằng lòng chấp nhận cái nếp làm ăn quen thuộc. Và rồi đám mây chiến tranh cũng tan đi. Mùa hè ập đến giải thoát cái không khí mùa xuân 1979 ngột ngạt. Lúa đã chín. Bắt đầu mùa gặt. *** Mới qua một tuần đầu vụ mà chủ nhiệm Cơ đã gầy xọp đi, da đen sạm và đôi mắt trũng sâu lúc nào cũng đỏ đọc, nhập nhèm vì thức khuya nhiều, vì bụi phấn lúa. So với cái ngày Cơ chững chạc đầy hào hứng tự tin đọc bản báo cáo dài trước trăm người ở hội trường huyện năm ngoái thì bây giờ Cơ xấu trai đi nhiều lắm. Chiếc Honđa xanh gửi mua hồi miền Nam mới giải phóng, Cơ đã bán đi vì không chịu nổi tiền xăng và công sửa chữa. Bây giờ thì anh lại trở về với cái xe đạp. Suốt ngày đội nắng chang chang, lóc cóc đạp vòng các xứ đồng, đi lại giữa ba sân kho, giải quyết các công việc của hợp tác xã ở bất kỳ chỗ nào mà anh thấy tiện. Sau thời kỳ hoang mang dao động bởi một loạt những dự định, toan tính của mình bị sụp đổ, triển vọng của vụ mùa này lại bắt đầu nhen lên trong Cơ những hi vọng mới, lấy lại cho anh lòng tự tin vốn có. Giống như người vừa ốm dậy, Cơ cảm thấy hồi sức nhanh chóng. Những tham vọng, ước muốn ngày nào tưởng đã bị thiên tai, sự đố kị, hiềm khích trong nội bộ Thanh Bình… vùi dập đi, giờ lại bắt đầu trỗi dậy. "Vụ mùa này, mình sẽ lấy lại lòng tin cậy của huyện uỷ đối với Thanh Bình. - Cơ nghĩ - Sáu trăm tấn lương thực không phải chuyện nói suông cho vui đâu. Đã hứa với anh Trần Sinh là mình quyết làm. Mình sẽ chứng tỏ sức vươn lên của Thanh Bình bằng thực lực, chứ không phải chỉ là chuyện chuộng thành tích, chơi trội. Tay Đạm Vân Xuyên vẫn có vẻ chủ quan, coi thường Thanh Bình lắm. Thì bây giờ mình cũng có kém cạnh gì hắn. Mình cũng huyện uỷ viên. Ăn nhau bây giờ là anh nào dám vượt lên, có quyết tâm đi xa… ". Thế mới biết cái tham vọng của Cơ còn lớn lắm. Nhưng rút kinh nghiệm những ngày qua, bây giờ anh kín đáo hơn. Không ồn ã, khoa trương, Cơ ngấm ngầm bắt tay thực sự vào việc. Anh sâu sát các đội sản xuất, lăn lộn với đồng ruộng nhiều hơn. Nhưng ngày hôm nay, khác hẳn thường lệ, Cơ không đi thăm đồng. Lúa ngoài đồng tốt mà sao sản lưởng thấp; không đội nào vượt năng suất dự định. Vì sao? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh mãi trong đầu Cơ mấy hôm nay. Buổi sáng, ăn cơm xong, Cơ đạp thẳng xe xuống nhà Lập. - Có chuyện này mình muốn bàn với ông. Lập ngạc nhiên nhìn Cơ, nhưng anh không đoán được điều gì. - Ông còn nhớ mấy khu đồng bọn mình gặt thử để ước tính năng suất không? - Có. Tôi có ghi lại số liệu. - Lập lật giở sổ tay, đọc một mạch. - Cánh đồng Chằm gặt thử một sào ba, tính ra một trăm bốn ba cân một sào. Cánh đồng Con Cá một trăm hai bảy cân. Cánh Bà Chúa một trăm năm mốt… Ước tính đổ đồng toàn diện tích vụ này là chín mươi sáu cân. So với con số giao khoán cho các đội là tám nhăm cân thì chúng ta sẽ vượt mười một cân một sào… - Đấy, mình cũng ước tính như vậy. - Cơ mệt mỏi tựa người vào thành ghế, bỏ kính chấm mắt. - Nhưng thực tế việc thu hoạch của các đội ở ba sân kho một tuần vừa qua ông có thấy không? Không có cánh đồng nào đạt năng suất như bọn ta khảo sát. Nhiều đội hụt quá mức so với kế hoạch giao. Chẳng lẽ chúng ta ước tính sai? Hôm gặt thử lúa còn xanh. Bây giờ lúa chín hơn. Vô lý. Các đội ăn cắp bằng cách nào? - Anh có kiểm tra lại các tổ dân quân không? - Hoàn toàn tin tưởng. Mình đảm bảo, không xã viên nào ăn cắp được một cân thóc. Bốn giờ chiều các thư ký đội đổi chéo cho nhau, bắt đầu cân nhập kho và chia thóc cho các gia đình. Sáu giờ chiều đội nào chưa nhập xong cũng đề nghị ách lại. Suốt đêm mỗi nhóm dân quân ba người chia nhau trực gác ở mỗi sân. Lúa lọt đi đằng nào? - Thế mà vẫn có cách đấy. - Lập nói - Hoàn toàn chỉ là sự lặp lại của các mùa gặt trước. Anh có nhớ vụ mùa vừa rồi? Toàn hợp tác gặt chung về một sân kho. Mười sáu dân quân thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Hợp tác trực tiếp cử người đến từng đội cân nhập thóc vào kho và phân phối cho các gia đình. Chúng ta còn làm tới mức bí mật người cân nhập cho các đội trong từng ngày như việc phân giám thị cho các phòng thi vào trường đại học. Vậy mà sau vụ, vợ tôi nó khoe được đội chia lậu cho năm nhăm cân thóc khô. Thế đấy. Cách làm ăn của chúng ta hiện nay sẽ dẫn đến những hậu quả tất yếu ấy. Hợp tác giao sản lượng cho mỗi đội, mất mùa thì hợp tác chịu, được mùa tội gì họ nộp thêm. Số thóc dư ra, họ tìm mọi cách để chia riêng. Bằng cách ăn cắp tập thể. Tôi chưa tìm ra hình thức ăn cắp của mỗi đội. Nhưng tôi tin chắc rằng nhất định có. Vả lại cũng không còn cách nào khác được. Trừ phi anh dám làm theo cách trồng vụ đông vừa rồi… Thoáng nhìn vẻ mặt Cơ, Lập thôi không nói nữa. Từ cái buổi chiều Cơ và Lập va nhau về lập trường quan điểm ấy, mỗi ngày Lập càng cảm thấy Cơ xa mình thêm. Không phải Cơ không nhận ra vấn đề. Vụ khoai tây vừa rồi, chính xã viên đã cứu Cơ thoát khỏi cái thất bại thảm hại của một trăm năm nhăm mẫu đậu tương và đỡ cho cái chức huyện uỷ mà Cơ vừa trúng cử khỏi mất uy tín. Cơ là một người thông minh. Cơ hiểu ra điều đó. Cơ tin cậy và gắn bó với Lập thêm. Nhưng khi Lập bàn với Cơ tiếp tục làm theo cách ấy trong vụ chiêm xuân này thì Cơ lại thoái thác. Cơ sợ làm trái đường lối hợp tác xã. Sợ huyện uỷ. Và sợ nhất là cái chức huyện uỷ viên của Cơ bị mất. Con người ta là một mớ mâu thuẫn, nhưng không phải là không thể hiểu nổi. "Anh có cái nhược điểm lớn nhất suốt đời nó sẽ làm hại anh. - Lập nghĩ - Anh có năng lực, hết lòng lo nghĩ cho tập thể. Nhưng anh không tách nổi cái bóng của anh ra khỏi khối tập thể ấy. Anh muốn trùm lên họ cái bóng của mình. Nhưng thực ra anh lại chỉ là cái bóng của những kẻ hãnh tiến, cơ hội khác. Chừng nào có đủ bản lĩnh, vứt bỏ cái bóng cá nhân đầy ham muốn những thành tích và địa vị của mình, anh sẽ giúp ích thực sự cho những người lao động…". - Phải kiên quyết ngăn chặn cái tệ nạn ăn cắp tập thể, giấu sản lượng này thôi, ông ạ. - Cơ như người ngủ gà, choàng tỉnh dậy, nói một cách kiên quyết. - Để làm gì? Anh không bịt nổi lỗ rò, trong lúc khắp nơi nước đã tràn ứ lên kia. Lập muốn nói thẳng những suy nghĩ của mình: "Theo tôi, vấn đề không phải chỉ là bịt lỗ rò, mà đã đến lúc chúng ta phải thay đổi phương thức quản lý. Muốn nạn ăn cắp tập thể, giấu sản lượng này chấm dứt, chúng ta phải có cách làm ăn mới. Làm sao cho người xã viên thấy hạt lúa làm ra thực sự là của họ…". - Ông đừng lý luận suông nữa. - Cơ nóng nảy chặn ngang. - Phải bắt tay vào hành động. Tôi sẽ bàn với ban kiểm soát, chiều nay ta cử người xuống kiểm tra đột xuất cả ba sân kho, lập biên bản tại chỗ. Phải bí mật không cho đội trưởng và thư ký các đội biết. Chiều nay ông với tôi sẽ xuống sân kho Thanh Cao. *** Chiều đến, người, lúa, từ các ngả đồng dồn về cả làng. Những chiếc xe bò xếp lúa cao chất ngất được hàng chục xã viên bám xung quanh vừa đẩy vừa hò reo, lao băng băng về các sân kho. Người cầm càng chiếc xe bò cuối cùng là một cô gái. Đôi xà cạp tay đã được tháo ra để lộ hai cánh tay trần trắng hồng chắc nịch. Dưới vành nón, cả gương mặt được giấu hẳn trong chiếc khăn vuông hoa màu xanh, chỉ để lộ ra đôi mắt to đen, không thể đoán được người và tuổi. Bảy cô gái đội Mười, cô nào cũng chắc khoẻ, nhưng ướt đẫm mồ hôi, choài người trên xe lúa, đi như chạy. Chiếc xe vượt hết cả một đoàn xe dài, lao ngoặt vào cổng sân kho Thanh Cao. Vừa đặt càng xe xuống, cô gái đã bỏ nón, đứng tựa vào chiếc máy tuốt lúa vừa ngừng, cởi chiếc khăn hoa xanh và ngửa mặt lắc lắc cho mái tóc chảy xoà trên vai với một cử chỉ hết sức duyên dáng. Thắm! Tất cả những chàng trai có mặt trên sân kho lúc ấy đều cùng đổ dồn mắt lại. Chỉ hai tháng gần đây, Thắm mới bộc lộ hết vẻ đẹp ở tuổi dậy thì của mình. Làn da căng hây hẩy. Khuôn ngực rắn chắc. Đôi bờ vai tròn căng. Lúc cười hay những lúc buồn, khuôn mặt đều có sức quyến rũ riêng, khiến người khác không thể không thán phục, trầm trồ. Tuổi trẻ thật kỳ diệu. Sau cái đêm ở bờ ao nhà kho, ai cũng tưởng Thắm không thể sống nổi. Chiếc gậy tre già đã làm đứt băng một mảng tóc, làm rạn vỡ một mảnh xương đầu. Thắm nằm mê man ở phòng cấp cứu bệnh viên ba ngày. Rồi hơn một tháng ở phòng điều trị. Riêng Đạt vết thương không nặng lắm. Chỉ sau tết mấy ngày, Đạt đã trở lại đơn vị một cách bình thường. Hôm ấy, nếu không có sức khoẻ, có lẽ Đạt đã nằm gục dưới đáy ao, không thể gượng lên bờ nổi. Hành động dũng cảm của Thắm và Đạt đã giúp hợp tác xã tìm ra thủ phạm của vụ ăn cắp phân đạm. Kẻ chủ mưu không phải ai xa lạ, chính là Thảng, thủ kho mới vừa thay Luyến. Lợi dụng thời gian bàn giao sổ sách, kho tàng còn đang kiểm tra, xác định lại, Thảng đã cùng với một đứa em họ tổ chức ăn cắp phân đạm của hợp tác xã. Lễ cưới của Thắm và Đạt đành hoãn lại. Cô dâu tương lai suốt một tháng ròng nằm bệnh viên. Còn Đạt, anh nhận được điện khẩn của đơn vị. Một tuần trước ngày giặc mở cuộc tấn công xâm lược, đơn vị Đạt đã nhận lệnh hành quân gấp lên biên giới. Mùa xuân qua đi. Rồi tiếp đến mùa hè. Thắm vẫn chưa nhận được tin tức gì của Đạt, trừ một lá thư duy nhất trước khi anh lên biên giới. Cái ngày Đạt chia tay Thắm để lên biên giới, anh giấu bức điện khẩn không cho Thắm biết. Thắm nằm trên giường bệnh, trắng toát những vòng băng trên đầu. Những vết khâu chưa liền chỉ. Cái đầu nặng trịch tưởng không phải của Thắm và lúc nào cũng nhức buốt như có ai cầm một mũi dùi khoan sâu vào trong óc. Anh ngồi bên Thắm cả một ngày. Đôi mắt cứ nhìn Thắm đau đáu, thương và yêu như rứt từng khúc ruột. "Đừng nhìn em như thế, anh". Thắm bóp bàn tay anh, nhưng không thể quay đi để không nhìn vào đôi mắt ấy. "Em có đau lắm không?". Thắm khẽ lắc đầu cho anh yên lòng. Nhưng ngay lúc đó Thắm phải nhắm mắt, cắn môi lại. Anh đặt bàn tay lên đầu Thắm. Lạ quá, đầu Thắm dịu đi ngay. Tưởng như vết thương không còn nữa. "Anh lại về với em chứ?". Thắm hỏi điều ấy, như là đã cưới nhau rồi ấy. "Anh sẽ về cưới em, khi nào em ra viện. Đừng buồn khi thấy anh về muộn. Nhất định anh sẽ về mà". Thắm nhìn sâu vào đôi mắt mở to rưng rưng mà thương anh quá. Con trai mà cũng khóc ư? Thắm cười định đùa anh mà không nỡ. Hình như anh rất muốn hôn Thắm. Bệnh viện đông người quá. Ước gì lúc đó chỉ có hai đứa thôi… Thế rồi anh đi. Cho mãi tới ngày ra viện Thắm mới nhận được thư anh. Lá thư ấy Thắm đã thuộc lòng. "Thắm vô cùng thương yêu! Thế là anh đành lỗi hẹn. Không phải tại anh đâu. Chiến tranh đã không cho chúng mình cưới nhau mùa xuân này. Em biết không? Tình hình biên giới đang rất căng thẳng. Đơn vị anh được lệnh sáng sớm mai sẽ lên đường. Đi đâu, vẫn chưa biết, nhưng bọn anh háo hức và sẵn sàng lắm. Thắm đừng lo anh sẽ lại "vô kỷ luật" như những ngày chỉ có ăn rồi luyện tập đến phát phiền ở đơn vị trước kia đâu. Nếu như mấy tháng trước anh chỉ có ý nghĩ xin xuất ngũ để về với em thì bây giờ anh đã nhận ra rằng ý nghĩ ấy là quá ích kỷ, tầm thường… Đất nước mình sao cơ cực và vất vả thế, Thắm ơi. Vừa qua một trận thiên tai, bão lụt. Và bây giờ lại tiếp đến chiến tranh biên giới. Chẳng ai lại muốn như thế đâu. Anh càng không muốn xa em một ngày. Nhớ em vô cùng. Những lúc nhớ em quá, anh lại giở tấm ảnh mà hôm chúng mình chụp chung với nhau trên thị trấn, để ngắm và trò chuyện đấy. Em đã ra viện chưa? Sức khoẻ ra sao? Anh cứ lo em xanh và gầy đi mất. Rồi cái vết thương trên đầu nữa, có còn nhức buốt không? Đừng lo lắng gì về anh và đừng hay khóc nhé. Thỉnh thoảng em hãy đến thăm lại "con đường thanh niên" của chúng mình. Gốc đa, cây bàng đầu xóm và cây gạo già đáng yêu… Em nhớ gìn giữ những đồ cưới. Nhất định anh sẽ về. Không lâu nữa đâu. Chúng mình sẽ cùng nhau đi đăng ký…". "Anh sẽ về… Chúng mình sẽ cùng nhau đi đăng ký". Mỗi ngày, Thắm chờ mong khắc khoải, cái ngày đó. Cuộc chiến tranh ba mươi ngày đã kết thúc rồi. Đạt bây giờ ở đâu? - Cô Thắm có thư đây này. - Anh bưu tá xã dắt chiếc xe đạp lạch cạch vào sân kho, nhác trông thấy Thắm đã nói oang oang và cúi xuống cái túi buộc đằng sau xe, rút ra một lá thư giơ lên. Thắm chạy bổ về phía người bưu tá. - Thư của ai đấy, chú ơi? - Thư bộ đội. Nó hẹn sau vụ gặt sẽ về tổ chức cưới… - Người bưu tá nói một câu pha trò. Thắm ngồi phịch xuống đống rơm, đưa lá thư lên che mặt. Không phải thư Đạt. Một sức nặng khủng khiếp hơn gấp nhiều lần chiếc xe bò lúa vừa rồi như đè trĩu người Thắm xuống. *** Đã đến giờ chia lúa. Theo lịch, đội trưởng và thư ký của năm đội sản xuất ở sân kho Thanh Cao đổi chéo nhau tản về năm góc sân. Nơi để lúa của từng đội. Năm đội phó, tay lăm lăm quyển vở, chiếc bút, đã đứng sẵn ở góc sân kho đội mình, dưới những giàn cây, đóng bằng tre cao lênh khênh như bộ khung của một căn hầm chữ A. Cản kéo Hoạt, thư ký đội Mười đi lại phía Sáng và Nụ, thư ký của đội trưởng đội Tám. - Cô Sáng ơi, ta hội ý một chút. Bốn người cùng chụm đầu ngay giữa sân kho. Cản đưa mắt nhìn quanh, rồi đưa cho Sáng một tờ giấy: - Đội ta hôm nay gặt cánh Bãi Dài. Sáu mẫu ba. Cánh này lúa tốt. Ước tính mỗi sào dôi tới hai mươi cân. Hôm nay cô cân cho một tấn hai. Đây, danh sách các gia đình nhận gửi. Sáng kẹp tờ giấy vào giữa cuốn sổ đã lên danh sách dự chia của từng hộ gia đình thuộc đội Mười. - Còn đây là danh sách của đội em. Hôm nay chúng em chỉ gửi vào chín gia đình. Các anh cân cho chín tạ. Cản liếc qua tờ danh sách Sáng đưa. Đôi mày rậm cau hẳn lại. - Không được. Cô làm như thế này là không ổn. Sao lại chỉ gửi vào chín gia đình? Mỗi gia đình một tạ. Nhiều quá. Kiểm soát họ phát hiện ra ngay. Hai ba chục cân thì còn lấy cớ là nhầm lẫn. Chớ một tạ thì nói ai nghe… Sáng ngẩn ra một lúc, thầm phục Cản có kinh nghiệm. - Ừ nhỉ. Em không nghĩ ra. Anh để em bổ sung thêm chín gia đình. Mỗi gia đình gửi năm mươi cân thôi. Sáng ngồi thụp xuống sân, kê sổ lên đùi, hí hoáy viết. - Các ông bà đội trưởng thư ký ơi. Cân thóc đi, chứ cứ ngâm tôm nhau mãi thế này a? - Có làm thì làm luôn đi, không có khuya rồi, ông Cản ơi! Tiếng mấy bà phụ nữ nhao nhao, nửa sốt ruột, nửa bỡn cợt, trêu chọc. Xã viên túm tụm lại năm góc sân, quanh năm đống lúa chất cao như núi. Tiếng các thư ký đội trưởng từng mã cân vang lên nhất loạt: - Bà Trạc, mã một, năm mươi tám cân. - Chị Cu Đợt, ba mươi hai cân. - Nào, xúc thêm vào… Được rồi. Bà Luân bé, mã hai, sáu mươi tư cân… Những đống lúa cao có ngọn vơi đi dần. Quang gánh, xe bò tấp nập chở lúa từ sân kho về các xóm. Cơ, Lập và Xuyến đạp xe đến sân kho đúng cái lúc các gia đình đang nhộn nhịp gánh thóc về. Dựa xe đạp ngay trước cửa ra vào, Cơ gọi hai người dân quân đang giữa phiên gác lại: - Các cậu tạm giữ lúa của các gia đình lại cho tôi một chút. Ông Lập đến đội Bảy, ông Xuyến đội Chín. Tôi đội Mười. Ta kiểm tra ngay danh sách dự chia và cân thử một số gia đình. Ba người đi về ba góc sân kho. Nhác trông thấy bóng Cơ, mấy người xã viên đội Mười đã vội vã chạy lại chỗ Sáng: - Ông chủ nhiệm đến, cô Sáng ơi. Cả Nụ, Sáng và đội phó Tự cùng nhìn nhau thất sắc. - Cô Sáng cho tôi xem danh sách dự chia hôm nay. Cơ cầm tờ giấy Sáng đưa, nhắc chiếc kính râm trên mắt, lướt đọc. Rồi anh nói to với xã viên: - Xin bà con xã viên thông cảm. Để đảm bảo công bằng và tránh những nhầm lẫn, hôm nay ban quản trị sẽ kiểm tra lại số thóc của một số gia đình. Bây giờ tôi xin đọc số lúa của từng gia đình được chia. Ai thấy không đúng với con số mà đội đã công bố, xin cho ý kiến. Bà Trạc, sáu mươi nhăm cân. Ông Thành, một trăm mười bảy căn. Chị Cu Đợt, mười tám cân. Bà Luân bé tám mươi tư cân… Một số xã viên tranh thủ lúc Cơ mải đọc, vội gánh thóc đi. Nhưng tất cả đều bị dân quân chặn lại ở cửa sân kho. Tiếng nhao nhao phản đối. Cả ba góc sân, người dồn lại vây kính. Những gia đình đã được chia thóc đều nháo nhác, hoang mang. Những người còn chờ xếp lượt thì thở phào nhẹ nhõm. - Bây giờ xin năm gia đình có tên sau đây cho phép được cân lại số thóc được chia. Một là bà Trạc. Hai là ông Năm Ngũ. Ba là bà Luân bé… Cơ đọc to tên từng người. Thắm đã nhanh chân gánh thóc ra khỏi sân kho, cũng được gọi trở lại. Cô bê từng thúng thóc đặt lên giá cân mà lòng nặng trĩu. "Bản thân cháu đâu có muốn thế này, chú ơi. - Thắm nhìn Cơ với con mắt vừa sợ hãi vừa lo lắng, thầm nói với anh. - Nhưng đây là chủ trương của đội. Cháu là bí thư chi đoàn, nhưng cháu làm sao mà đấu tranh nổi. Với lại tất cả các đội trong hợp tác xã đều làm thế. Nói ra thì chẳng còn mặt mũi nào hàng ngày đi làm với đội. U cháu, rồi các chú bác, các cô… tha hồ mà chửi rủa. Với lại không làm cách này thì làm sao có đủ lúa ăn?". Sáng cũng đang nhìn Cơ với đôi mắt van vỉ: "Đừng làm quá với xã viên, anh Cơ ạ. Cực chẳng đã, bà con mới bày trò ra thế này. Chẳng phải riêng đội này đâu. Chỉ sợ ban quản trị không đi kiểm tra được khắp… Em là đảng viên, nhưng em cũng buộc lòng phải theo đuôi quần chúng. Lúc nào cũng đấu tranh, chặn hết mọi ngả đường của xã viên thì chúng em còn sống với ai?". Từ lúc nào, Vy đã quảy đôi quanh thúng từ nhà ra và len vào gần sát chỗ chia thóc. Thoáng thấy Vy, Cơ đã chột dạ. Khác hẳn bao lần trước, đôi mắt bồ câu của Vy đang nhìn thẳng vào anh. Lạnh lùng và trách móc: "Tôi cũng nhận cho đội gửi lúa hôm nay đấy. Tiếc rằng tôi ra muộn chưa cân kịp. Chẳng phải ăn cắp của ai đâu. Mồ hôi xã viên đổ ra cả. Không lấy trước ban quản trị các anh cũng chia nhau xà xẻo hết…". Những đôi mắt nhìn Cơ, lo sợ, thanh mình, oán trách, giận dữ. Năm gia đình đã kiểm tra xong. Cái kết quả đáng buồn làm Cơ vừa sửng sốt vừa đau xót. Tổng số lúa của năm gia đình dôi ra so với danh sách dự chia của hợp tác xã là hai tạ bảy. Cơ tuyên bố số thóc cân thừa của từng gia đình và lấy giấy lập biên bản. Ở hai góc sân kho đội Bảy và đội Chín đằng kia, Lập và Xuyến cũng đang thu được những kết quả tương tự. Cả ba đội sản xuất cùng bị lập biên bản tại sân kho. Hai đội Sáu và Tám, do không bị kiểm tra, vì thế coi như vô tội. Còn ở hai sân kho Thanh Minh và Thanh Giang nữa? Đến bây giờ thì Cơ đã hiểu ra rằng vì sao sản lượng thu hoạch từ đầu vụ đến nay lại thiếu hụt nhiều so với mức mà Cơ và Lập dự tính đến như vậy. *** "Đây là đài truyền thanh hợp tác xã Thanh Bình. Toàn thể bà con xã viên chú ý. Hiện nay chúng ta đang bước sang tuần thứ hai của vụ gặt. Tình hình thu hoạch ở ngoài đồng khá tốt. Các đội đều có ý thức gặt nhanh, dứt điểm từng khu một, tận thu lúa vương vãi, tránh lãng phí. Nhưng điều đáng lo ngại nhất là tình hình ở các sân kho. Một hiện tượng rất tiêu cực đang lan tràn trong hợp tác xã ta. Nó chứng tỏ tinh thần làm chủ xã hội chủ nghĩa của một số đội sản xuất, một số cán bộ đảng viên, đoàn viên rất yếu kém, cần phải được kịp thời uốn nắn, giáo dục. Sau đây chúng tôi xin thông báo lại về cuộc kiểm tra đột xuất của ban quản trị tại các sân kho chiều hôm nay. Để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, chiều nay, 25 tháng năm, ban quản trị phối hợp cùng ban kiểm soát hợp tác xã đã kiểm tra đột xuất việc cân và phân phối lúa của các đội cho các gia đình xã viên. Trong số chín đội trên tổng số mười lăm đội toàn hợp tác xã được kiểm tra, chúng tôi đã phát hiện thấy sự gian lận ở bảy đội và đã tiến hành lập biên bản ngay tại sân kho. Ban quản trị hợp tác xã nhiệt liệt biểu dương tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của hai đội 11 và 15 thuộc sân kho Thanh Minh và phát động một phong trào thi đua học tập đội 11 và 15. Bảy đội sản xuất đã bị lập biên bản vì tội tham ô tập thể: Đó là: Đội 7, đội 9, đội 10 của sân kho Thanh Cao. Đội 14 ở sân kho Thanh Minh. Đội 1, đội 2, đội 5 ở sân kho Thanh Giang. Tổng số thóc bảy đội nói trên cố tình cân tăng lên cho xã viên là hai nghìn ba trăm linh năm cân. Theo chúng tôi biết, số thóc này sẽ được gửi về các gia đình xã viên phơi, sau đó các đội sẽ chia riêng cho từng lao động. Hành vi trên đây, rõ ràng là sự ăn cắp tập thể, vi phạm tài sản của hợp tác xã. Ban quản trị chúng tôi thông báo cảnh cáo bảy đội sản xuất số 1, số 2, số 5, số 7, số 9, số 10, và số 14; cảnh cáo toàn bộ cán bộ đảng viên có liên quan đến việc tham ô của bảy đội sản xuất đó. Sau đây là danh sách những cán bộ bị cảnh cáo: 1 - Ông Nguyễn Văn Hạ, đội trưởng đội 1. 2 - Bà Nguyễn Thị Sáng, thư ký đội 8. 3 - Ông Đào Hữu Lạc, thư ký đội 3. 4 - Ông Đào Hữu Chất, đội phó đội 5. 5 - ……………………………………. ………………………………………… *** Để kịp ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực đang lan tràn khắp các đội, ban quản trị đã đề ra một biện pháp khá quyết liệt: tăng cường kiểm tra việc nhập thóc và chia thóc cho các gia đình xã viên từng ngày. Việc chia và giám sát mã cân của từng đội do ban quản trị trực tiếp cử người và đổi chéo theo quy mô toàn xã, chứ không theo quy mô thôn như cũ. Đội trưởng thư ký đội của Thanh Cao sẽ sang Thanh Giang hoặc xuống Thanh Minh. Và ngược lại. Bằng biện pháp này, hiện tượng ăn cắp thóc tại sân kho đã hạn chế hẳn. Nhưng người nông dân bao giờ cũng rất thông minh khi họ đứng ủ dột trước cái bồ thóc của mình. Sau hôm bị lập biên bản ở sân kho mấy ngày, đội Mười chuyển về gặt ở cánh đồng Bãi Mơ, ngay sát xóm Đình. Buổi trưa nắng loá vàng mắt. Đội trưởng Cản hất ngược cái nón ra phía sau, bươn bả đi từ sân kho xuống đồng. Chốc chốc anh lại quay nhìn về phía sân kho, rồi về phía con đường sau làng từ đồng chạy thẳng vào xóm. Mười bảy xe lúa đã được xếp sẵn, đứng xếp hàng dọc bờ mương. Cản đi suốt mười bảy xe lúa, một lần nữa kiểm tra quyết định của mình, rồi ra lệnh: - Mười hai xe đầu đi thẳng về sân kho hợp tác. Ông Năm Ngũ chỉ huy năm xe sau cho tôi. Nếu không thấy tôi vẫy nón thì ông cứ việc làm theo kế hoạch. Mười bảy xe lúa lộc cộc lăn bánh trên con đường rợp bóng phi lao. Cản ngồi xệp xuống vệ cỏ, thong thả lấy chiếc điếu cày tra thuốc. Tiếng điếu rít rong róc. Khói thuốc trắng xoá tan nhoà trong nắng. Cơn say mê làm người Cản lâng lâng. Anh lơ mơ nghĩ đến Luyến. Và cái mẫu ruộng của đội tít Đồng Sâu mà Cản đã đứng ra xin cho văn phòng uỷ ban nhân dân huyện, chỗ Mạch, để cấy lúa, tự túc lương thực. Những ý nghĩ cứ đan xen trong đầu như làn khói thuốc đang vẩn vơ trước mặt. "Hôm qua mình đánh bạo sang chơi ông Trạc giả vờ xem con bê. Kì thực mình muốn nhìn mặt thằng bé quá. Có người bảo thằng bé giống mình như lột. Thế mà đã có lúc mình nghi ngờ Luyến. Tội nghiệp cho cô ấy. Lạ thật. Sao Luyến lại cố tình giấu mọi người cái thằng bố nó. Cái hôm Luyến đẻ, suốt một ngày mình không làm ăn gì được. Nóng ruột quá. Ờ, hai tháng mười ngày rồi còn gì? Luyến đẻ đúng cái hôm ông Mạch kéo quân xuống cấy. Bày ra cho nó có chuyện chứ cấy gặt gì mấy bà cán bộ bắp chân trắng ợt, chưa lội xuống đã rú lên vì đỉa. Mình làm tất. Bốn vợ chồng con cái dọn cỏ năn hai ngày cật lực. Rồi làm cỏ, bón phân. Sắp được gặt rồi, tay Mạch có cho quân xuống hay lại để mình làm đầy tớ nốt? Thằng cha ăn như ranh. Thế mà vẫn trúng huyện uỷ viên, vẫn làm thư ký uỷ ban. Tay Cơ cũng phải nịnh hắn mệt. Một mẫu, hắn cho mình ba sào. Tạ rưỡi thóc. Ăn thua mẹ gì? Ờ, cái thằng bé giống mình nhất là đôi mắt. Không lẫn được. Kháu. Ngoan. Luyến đẻ xong lại đẫy ra. Nhưng sao Luyến lại thù ghét tôi thế. Cứ nhìn đôi mắt là tôi lại run sợ. Tôi có làm gì đâu. Sau này muốn hay không, con nó vẫn phải nghĩ đến tôi. Hôm ấy, tôi xem trộm thằng bé lúc Luyến ra ao giặt. Muốn bế con một lúc mà không dám… Tốp xe bò đầu tiên đã đi qua đoạn đường rẽ. Cản đứng dậy đưa tay che mắt nhìn. An toàn rồi. Không có gì trở ngại cả. Năm chiếc xe bò do Năm Ngũ dẫn đầu đi chậm lại. Rồi đột ngột cả năm chiếc xe cùng tách ra, rẽ về phía xóm Đình. Ổn rồi. Nhanh lên. Cản thầm kêu. Bây giờ thì năm chiếc xe ráng hết sức, lao băng băng. Chiếc đi đầu đã vào tới đầu xóm. Rồi cả năm chiếc đều mất hút sau rặng tre. Cản thở phào, lại ngồi xuống vệ cỏ, hút thuốc lào. *** Thanh dắt xe đạp đi vào chiếc ngõ gạch quen thuộc. Mùi rơm mới vương đầy lối ngõ thơm bâng khuâng đến nao lòng. Mười năm rồi, lần đầu tiên, anh mới được gặp lại cái hương vị ngọt ngào của mùa gặt. Con đường bảng lảng ánh trăng. Khói bếp buổi chiều còn ngưng đọng mãi trên vòm tre, mái bếp, thoang thoảng mùi cơm mới. Những cọng rơm vàng rải khắp ngõ, vướng vào bánh xe, níu lấy bàn chân. Và tiếng xe bò lộc cộc chở rơm về. Hai thúng lúa nặng đầy trĩu đòn gánh tre, nhún nhảy trên vai một cô gái nào đó vừa đi vượt qua. - Anh Thanh phải không? - Cô gái chợt dừng lại, quay đòn gánh trở vai, nghiêng khuôn mặt trắng ngà lại phía Thanh, bật cười thành tiếng. - Ối, ông thợ mộc. Em lại cứ tưởng ai. Anh mà không về gặt giúp chị Vy đợt này thì em sẽ xui chị Vy li dị… Thanh níu lấy thừng quang của Thắm, hỏi dồn dập: - Gặt cánh nào thế, em? Chị Vy có ở ngoài sân kho không? - Chị Vy đang chờ lĩnh thóc. - Thắm đẩy tay Thanh, giọng trách móc. - Anh ra gánh giúp chị ấy đi. Giời ơi. Anh chẳng hiểu gì cả. Tuần vừa rồi chị ấy cứ ốm lên ốm xuống. Lúc nào cũng chỉ muốn sang cây khế nhà em… Thanh vội vã dắt xe về nhà. Ngay lúc này, anh chỉ muốn quăng chiếc xe đạp vào đâu đó, rồi chạy thật nhanh ra sân kho để gánh đỡ cho Vy. Đã nửa tháng nay Thanh bắt đầu theo đuổi một nghề mới. Ở nhà mãi, không có việc gì làm, vừa buồn, vừa túng. Có một người bạn ở đầu huyện thạo nghề mộc rủ anh cùng làm. Và anh đã nhận lời. Cái buổi sáng đầu tiên nhập nghề mộc, Thanh đội chiếc mũ cối trên đầu, kéo chụp gần kín mặt, len lén dắt xe ra ngõ, mà sao anh thấy buồn bã và xấu hổ đến thế. Chẳng khác gì một kẻ đào ngũ. - Thanh chạnh nghĩ - Mười năm đi chiến trường, bây giờ coi như giũ sạch. Mình cũng như tay Phiệt chữa xe đạp ở chợ Ba Thôn kia thôi. Khác chăng là tay Phiệt nó công khai mở hiệu. Còn mình thì vụng trộm, lén lút, nói dối cả mẹ, cả vợ để đi xoay xở kiếm ngoài. Ồ, sao mình không dám nói thật với Vy? Nói ra, chắc gì Vy đã đồng ý để mình đi? "Anh là đảng viên, là bộ đội xuất ngũ, làm thế người ta cười". Thế nào Vy cũng nói thế. Đành vậy. Việc hợp tác đang kì giáp hạt, có gì mà làm? Một công vài lạng thóc, mệt người mà chẳng bõ. Những việc mình muốn làm thì chẳng ai khuyến khích, chẳng ai cho phép. Phiền nhất là chuyện sinh hoạt Đảng. Đi làm nghề tự do là tự thoát ly khỏi tổ chức. Không ai cho phép một đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ để đi kiếm ngoài… Khó thế. Chuyện này mà bung ra. Ông Thiển sẽ đập mình thẳng cánh. Chưa biết chừng bị khai trừ cũng nên. Cái lần mình vặc nhau với ông Thiển trên văn phòng đảng uỷ, ông ta quên thế nào được? Những ý nghĩ làm đầu Thanh nặng trĩu, bàn chân như có đá tảng, không muốn bước. Hay thôi, ở nhà. - Thanh tặc lưỡi, toan quay xe về. Nhưng rồi nghĩ tới những ngày sắp tới, đến cái trách nhiệm làm cha mà anh sắp đảm nhiệm, Thanh lại không đành. Túng quá. Ở nhà chơi tràn mấy tháng rồi. Ăn đẽo vợ mãi ư? Bảy tháng nữa Vy sẽ nằm cữ. Trăm thứ phải lo sắm. Trông vào hạt lúa, đủ làm sao? Thằng Họp nó trách mình hồi mới giải phóng không tranh thủ mua mấy cái đài, cái Honđa cũng đúng. Mình nghĩ đơn giản quá. Tưởng kinh tế ngày một khá lên, ai ngờ… Và thế là Thanh trở thành một ông thợ mộc. Hai tuần, thời gian chưa đủ để anh bước qua thời kỳ tập sự. Nói đúng hơn là anh mới chỉ làm cái công việc điếu đóm tạp vụ: pha gỗ, bào phá, đục đẽo những mộng mẹo đơn giản… Tuy vậy, tiền thu nhập, bạn anh vẫn hào phóng chia đều. Thanh cảm kích tấm lòng của bạn, nhưng nghĩ đến Vy và vụ gặt, anh vẫn phải buông cưa đục để về làng. Mình thật điên rồ mà bỏ đi trong lúc này. - Thanh tự dằn vặt mình khi anh bước vào trong ngõ. - Một mình em với cả một mùa gặt. Đã ba tháng rồi, phải không? Anh chỉ lo em vất vả quá. Lo cho con của chúng mình… Nhưng em biết đấy, anh ở nhà thì cũng có giúp được gì cho em đâu? Anh sẽ không thể chịu nổi khi thấy những ngày này em vẫn phải ngồi trước mâm cơm trơ trụi một đĩa cà, bát nước canh rau muống. Ở nhà mãi bấn quá. Cái nghề thợ mộc chẳng lý thú gì nhưng ít ra nó cũng giúp chúng mình những ngày sắp tới… Có tiếng người lao xao ở trong sân. Thanh dừng lại. Nhà làm gì mà đông người thế kia? Lại chất đầy cả rơm và thóc. Hơn một chục người đang hì hụi cào rơm đánh đống, xúc thóc cân đong tíu tít. Thấy tiếng xe đạp lách tách, ông Năm Ngũ và những người xã viên đội Mười cùng dừng tay, lo lắng nhìn ra ngõ. Khi nhận ra Thanh họ mới thở phào nhẹ nhõm. - Tưởng ai, hoá chú Thanh. Thế nào, ông thợ mộc, thu nhập khớ chứ? Thanh không trả lời câu hỏi của ông Năm Ngũ. Anh dựa xe vào hàng rào, hỏi ngay: - Thóc ở đâu thế này? Tôi tưởng hợp tác gặt cả về sân kho? - À… à… Thóc phần trăm. Cánh tớ đổi công gặt giúp. - Ông Năm Ngũ ngẩn ra một lúc, rồi cũng nhanh trí tìm được câu trả lời. - Chú đi lâu quá. Bà với cô Vy làm không xuể. Này, tớ có ít gỗ lát, hôm nào chú dựng cho cái tủ buýp-phê nhá. Mới học nghề mà đã nức tiếng khắp xã rồi đấy. - Ông Năm Ngũ huơ tay ra hiệu cho mọi người cứ việc làm thật nhanh, còn để mặc ông ứng phó. Tớ biết chỗ này đang rất cần thợ mộc. Gỗ pha thành khí cả rồi. Làm liên tục phải hai tháng mới hết việc. Tay này nó cũng cầu kỳ. Cốt nhất là kén thợ giỏi. Cơm nuôi ba bữa, rượt thịt đang hoàng. Mỗi ngày nó xin nộp ba chục. Kể ra giá ấy làm được. Dựng một tủ buýp-phê ba buồng cánh cong, chân Đức, chạy chân khảm xung quanh, cứ tính cho nửa tháng. Bộ xa-lông thẳng mất hai mươi ngày nữa. Cái sập gỗ mít gọi cho mười ngày. Thế mà cứ nhẩn nha kéo cho hai tháng. Đút túi ngon hai nghìn rưởi bạc. Hời quá, còn gì… Ông Năm Ngũ cười khà khà vỗ vào vai Thanh, rề rà không dứt câu chuyện. Thanh nhìn đống lúa chất ngất, ước đến hai tấn, nhìn mấy bà xã viên vừa hối hả, vừa vụng trộm, rồi lại nhìn ông Năm Ngũ, và anh bỗng thấy nghi ngờ. Phải vất vả lắm, Thanh mới dứt được ông Năm Ngũ. Anh vào nhà thay chiếc áo bộ đội sờn. trong lúc vừa sắp quanh thúng, để ra sân kho, Thanh vừa hỏi mẹ: - U ơi, lúa ở đâu mà họ gặt về nhà ta nhiều thế? Bà Thanh kéo con trai vào trong nhà, nói thì thào: - Se sẽ cái mồm. Lúa của hợp tác. Đội gặt trộm hợp tác xã về gửi ở nhà mình… - Sao u lại cho người ta làm như vậy? - Thanh bỗng nói ầm lên - Nhà con nó có biết chuyện này không? Bà Thanh vội víu lấy con trai, giọng van vỉ: - Khổ quá. Se sẽ cái mồm. Mấy ông quản trị biết thì chỉ có mà đi tù… Thanh xách đôi quang thúng vùng vằng bỏ ra sân. - Hợp tác đã có sân kho. Sao các ông bà không mang ra đó? Làm ăn kiểu như thế đến loạn hết cả. Tôi không đồng ý làm như thế này đâu. Tôi sẽ gọi quản trị đến lập biên bản… - Chú Thanh. - Ông Năm Ngũ đã đứng sát bên Thanh. Bàn tay to lớn và chắc nịch của ông như một hòn đá tảng đè trĩu một bên vai anh. - Đừng làm ầm lên. Chúng tao không có ai xấu cả đâu. Cũng là mồ hôi nước mắt của mình mà phải làm dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy. Nhưng Thanh hình như không nghe ông nói gì. Anh vùng thoát khỏi bàn tay to nặng, hầm hầm đi ra ngõ. - Con với cái. Thế này có khổ thân tôi không? - Bà Thanh nghẹn ngào nói trong nước mắt. - Cứ để xem anh ấy xử sự thế nào. Rồi chúng ta sẽ liệu. - Tiếng ông Năm Ngũ khô gằn, lạnh lùng, rờn rợn như tiếng gió rít qua một khe đá. XVII Năm bao lúa căng ních được khuân từ trong sân nhà Cản ra chiếc xe com-măng-ca đít vuông của uỷ ban nhân dân huyện đỗ sát ngay cổng. - Hai cô gái, một cô tóc phi-dê chớm vai, dáng người mảnh như liễu, một cô thấp đậm, tóc búi cao mãi đỉnh, cả hai, mặt cùng đỏ dừ, ì ạch mãi không nâng nổi một đầu bao lúa. Ở đầu kia, Mạch có khoẻ hơn, hai bắp tay ngắn ngủn của anh trương căng hết mức nhưng cũng chỉ rê nổi đầu bao lúa nhích đi một đoạn: - Nào, các cô để chúng tôi. Trông tướng các cô chỉ có cấy gặt trên đường nhựa được thôi. - Cản và anh lái xe đã khuân hết bốn bao lúa, trở lại khuân nốt bao cuối cùng. Hai cô gái đứng tránh ra, che tay lên miệng vừa xấu hổ vừa thở dốc. Hai người đàn ông nhấc bổng bao lúa, chạy uỳnh uỵch. Năm bao lúa đã nằm gọn trong thùng xe như năm con bò mộng. Mạch xoa hai tay vào nhau, cười khục khục đến rung cả hai tảng má: - Phơi khô rồi cũng được bốn tạ. Bây giờ ông nhà nước có bắt tự túc lương thực ba tháng nữa cánh ta vẫn cứ bình chân như vại. Thế nào, các bà thợ gặt? Vụ mùa, làm tiếp một mẫu nữa nhé. - Ôi, cháu sợ lắm. - Cô gái phi-dê rụt cổ lại, đôi mắt mở tròn còn nguyên nỗi sợ hãi, tưởng như cô vẫn đang nhìn thấy những con đỉa bơi ve ve trước mặt. Cô gái thấp đậm có vẻ hăng hái: - Cháu xin đăng ký tiếp tục. Nhưng cháu ra hẹn nhá. Cháu sẽ nhận chẻ lạt nhổ mạ và nấu nước hôm gặt… Mạch lại cười khục khục, tít cả đôi con mắt: - Chịu chúng mày. Làm ruộng như cánh ta thì có làm cả đời cũng được. Nhổ mạ quân ông Cản. Cấy cũng xã viên ông Cản. Đến lúc gặt chỉ việc đánh ô tô xuống chở lúa về. Ông Cản ơi. Tôi xin gửi ông hai bà "xã viên đường nhựa" này. Ông cứ thấy cái ruộng nào đỉa nhiều nhung nhúc thì thả vào cho quen… Hai cô gái cùng ôm nhau, ré lên vì sợ hãi. Cản chỉ đứng mỉm cười nhìn họ, như một người vừa ban phát cho kẻ khác những giọt mồ hôi bằng vàng và bây giờ đang đứng chiêm nghiệm xem những giọt vàng ấy hoà vào trong máu của họ như thế nào? Trong nhà, ba mâm cỗ có ngọn đã được dọn ra. Món tiết canh vịt cuối cùng do chính tay Loã hãm. Tiếng băm bổi côm cốp trên phiến thớt gỗ nghiến nghe thật vui tai. Dưới bếp, vợ Cản béo ục ịch, ngồi kiễng hai chân trên cái mông nung núc, mắt nheo lại vì khói, tay khua chiếc que đời cho khoanh rơm vần nồi cơm cháy rần rật. Cạnh đó, một cô gái trẻ nữa, người cơ quan Mạch, mặc chiếc áo hoa tím bó sát lấy người, đôi cánh tay trần đang đảo đôi đũa trên chảo lạc rang như múa. - Lạc rang đã được chưa đấy, cô Huệ ơi. - Giọng Loã gọi đầy hào hứng - Nhớ nướng cho vài củ hành nữa nhé. Bà Cản khoăng khoắng cái tay lên một tí cho các anh ấy còn về huyện… Biền dắt xe đạp vào sân. Cái túi xách bên ghi-đông xe nặng trĩu thò ra ba cổ chai lớn, sóng sánh một thứ nước trong vắt. - Rượu Chuôn chính cống đây, anh Mạch ạ. Tôi biết anh chỉ thích cái khoản cuốc lủi này. - Biền giơ chai rượu lên lắc lắc. Đôi mắt nhỏ lờ đờ như đã bị cái thứ nước đang sủi tăm kia làm mờ đi. - Cánh ông Cơ, ông Thiển, ông Điền bận gì mà mãi chưa thấy mặt. - Loã nói với Cản. - Ông Điền báo mệt không đến. Tôi đã cho cháu sang gọi rồi. - Ôi dào. Có ăn của ai mà sợ. Anh em trên huyện người ta về gặt lúa. Người ta đãi mình còn làm bộ làm tịch. Hai đứa trẻ, con Cản, suýt soát năm sáu tuổi, ngồi chồm hỗm xem Loã đánh tiết canh, thỉnh thoảng lại liếc nhìn mấy cái chân vịt, nuốt nước bọt ực ực. Cản lừ mắt: - Đi chơi ngay. Thằng Củng đưa em sang ngay nhà bà Thà. - Này. - Loã nhón hai cái chân vịt đưa cho chúng. - Thôi, đi chơi. Cấm được bén mảng. Hai đứa bé, mỗi đứa một cái chân vịt, chạy phóng ra ngõ. Có thêm Thiển. Rồi hai cán bộ cơ quan Mạch cùng đến với Cơ. Ba gian nhà trên của Cản đầy ắp tiếng cười nói. Ba đĩa tiết canh đông sánh, được tô điểm thêm bởi những miếng gan vịt thái mỏng bay đáng lẽ phải được đặt giữa mâm, nhưng vì thiếu chỗ nên phải tạm đặt ra ngoài chiếu. Loã rửa tay, chùi qua vào vạt áo, rồi trịnh trọng xoa hai tay vào nhau: - Để mời anh Mạch. Mời các anh, các cô, ta liên hoan gọi là mừng thành tích sản xuất của văn phòng uỷ ban huyện… - Để cảm ơn hợp tác xã và đội Mười đã cấy gặt giúp chúng tôi mới đúng chứ. - Mạch, không khách sáo, nói một cách khôi hài, rồi tự thưởng thức bằng một chuỗi cười khục khục trong cổ họng. Chủ và khách ngồi vừa kín ba mâm. Tiếng đũa bát va lanh canh. Tiếng chạm chén. Tiếng cười nói. Mấy cô gái không quen uống rượu cứ ngồi nhìn nhau không biết bắt đầu như thế nào trong khi nồi cơm chưa chín. Cản sực nhớ ra, vội mở khoá tủ bê ra một bình rượu mơ. - Suýt nữa quên khuấy đi mất. Có món này dành riêng cho các cô. Mơ chùa Hương chính cống đấy nhé. Cô nào mà thích của chua thì hợp lắm. Không khí bữa liên hoan thật chan hoà, vui vẻ. Đúng lúc hơi men đã bốc lên mặt mấy người đàn ông, thì từ ngoài hiên, bà cụ Thích còng lưng trên chiếc gậy trúc đi vào. Bà cụ Thích sống độc thân, con cái không có. Mấy năm nay, hàng năm cụ vẫn được hợp tác điều hoà lương thực. Ngày mùa, cụ đi quét lúa vãi hoặc phơi thóc cho đội. - Tôi là tôi có sắc mắc với bác Cản về chuyện chia lúa của đội vừa rồi. - Vừa vào đến cửa, không cần chào hỏi, bà cụ đã nói ngay. - Có đông đủ các ông bà quản trị với lại các ông bà huyện ở đây tôi cũng sắc mắc. Là vì chuyện không công bằng. Suốt vụ này tôi phơi lúa cho đội. Hà cớ làm sao hôm vừa rồi, đội gặt lúa về nhà bà Thanh mà lại không chia cho tôi? Cản tái mặt. Anh bỏ đũa, lập cập chạy ra. - Bà cứ về đi. Mọi chuyện sẽ giải quyết sau. Hôm nay… - Không có nay mai gì hết. Tôi đã sắc mắc với nhà bác nhiều rồi. Cái của hương hoả của đội, tưởng cũng nên bố thí cho cái gái già này chứ? - Gớm bà, tôi đã bảo… - Cản gắt ầm lên, lôi xềnh xệch bà cụ ra ngoài ngõ. - Bà cứ về đi. Rồi tôi sẽ nghiên cứu giải quyết… Mọi người trong nhà không hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, hoặc cố tình như không hiểu. Chỉ có riêng Cơ, mới thoáng nghe bà cụ nói, anh đã vỡ lẽ tất cả. Miếng cơm trên miệng bỗng đắng bã. Cơ đã ân hận vì anh nể Mạch mà đến đây. - Có chuyện gì thế, ông Cản? - Mạch giương đôi mắt đỏ hoe nhìn Cản chòng chọc. Cản cười luế loá: - À… Bà cụ bị thần kinh… Sống độc thân, con cái không có, thỉnh thoảng bà cụ vẫn sinh lẩn thẩn thế đấy mà… *** Hai chiếc xe com-măng-ca, một chiếc màu trắng sữa, một chiếc màu xanh rêu có gắn biển đỏ vòng trước cổng Uỷ ban nhân dân xã Thanh Bình, rồi chạy rẽ về phía nhà ông Điền. Trên xe trắng chở ba người mặc quần áo công an. Xe kia có hai anh bộ đội. Lúc ấy ông Điền đang nằm trên võng thiêm thiếp ngủ. Ban nãy ông có ý từ chối bữa liên hoan ở nhà Cản vì cảm thấy người không được khoẻ. Cái bệnh dạ dày thâm niên thỉnh thoảng lại hành hạ ông như người giả cách. Vả lại, tính ông xưa nay rất ngại những cuộc liên hoan chè chén đông người. Hình như có một lúc nào đó ông nhìn thấy Đạt. Anh đi một chiếc xe ô tô thẳng từ biên giới về, quần áo đầy bụi đường, gương mặt hốc hác đen sạm. Đạt đặt chiếc ba lô bên cạnh ông. Một ba lô nặng đầy toàn cau với thuốc lá sợi Lạng Sơn. - Con mua về để tổ chức cưới Thắm đấy, thầy ạ. - Đạt nói, đôi mắt đượm buồn, trách móc. - Lần này thì thầy phải cưới cho con. Con chỉ được ở nhà ba hôm, rồi lại phải lên biên giới ngay… Tiếng người nói lào xào trên đầu làm ông Điền sực tỉnh. Đúng là Đạt về thật. Ông Điền toan reo lên, nhưng rồi kịp nhận ra mình lầm. Trước mặt ông là hai người bộ đội lạ mặt. Người quen mà ông nhận ra đầu tiên là đồng chí trưởng phòng công an huyện. Có chuyện gì xảy ra với Đạt rồi chăng? Trưởng phòng công an huyện giới thiệu mấy người cùng đi với ông Điền. Đó là hai cán bộ thuộc phòng bảo vệ kinh tế Ty Công an và hai đồng chí bộ đội thuộc đơn vị hậu cần X. Họ ngồi chụm đầu quanh chiếc bàn nước nói chuyện khá lâu. Nét mặt ông Điền chuyển dần từ trạng thái ngạc nhiên sửng sốt sang hoang mang bối rối và cuối cùng là một vẻ mặt đầy nghiêm trọng, lo âu. - Đồng chí không biết gì về hai chiếc ô tô vận tải ấy cả sao? - Đồng chí trưởng phòng bảo vệ Ty công an bắt đầu đưa ra những câu hỏi. - Không. Tôi hoàn toàn không rõ. - Hình như vào đợt ấy, hợp tác xã mình có thuê xe đi chở sắn ở Đà Bắc? - Có. Chúng tôi có thuê hai chiếc xe chở trong một tuần. - Ai đứng ra thuê xe? - Anh Loã và anh Biền. Đồng chí bộ đội đeo quân hàm đại uý lấy trong cặp ra tấm ảnh chụp một trung uý bộ đội. - Đồng chí đã tiếp xúc với người này lần nào chưa? - Không. Tôi không được biết. - Đồng chí cũng nghe anh Loã và anh Biền nhắc đến đồng chí trung uý nào có cái tên Nguyễn Trọng Cường? - Dạ không. - Đồng chí có biết hai mươi tấn bột quân lương đã được phân phối như thế nào không? - Trưởng phòng công an huyện hỏi thêm. - Bây giờ tôi mới được nghe các đồng chí nói đến. - Cả anh Cơ cũng không biết? - Tôi không rõ. Nhưng chắc là anh Cơ cũng không biết gì về chuyện này. - Đồng chí có thấy ngoài trại chăn nuôi có loại bột lạ nào không? - Hoàn toàn không có. Chúng tôi vẫn chỉ dùng cám và gạo để nấu cho lợn. - Xin hỏi thêm đồng chí. Giữa anh Cơ, anh Thiển, anh Loã, anh Biền có mối quan hệ như thế nào? Ông Điền đưa tay bóp trán. Ông biết lúc này mình phải hoàn toàn nói rõ sự thật. - Xin nói thật với các đồng chí. Trong ban lãnh đạo chúng tôi, thực sự vẫn còn rất nhiều vấn đề. Đồng chí Loã, đồng chí Thiển và đồng chí Biền vốn có quan hệ anh em họ hàng… Trưởng phòng bảo vệ kinh tế xem đồng hồ và nói với mọi người: - Tạm thời như vậy, các đồng chí ạ. Ta tiến hành thôi. Ông Điền cùng mọi người lên xe ô tô. Hai chiếc xe chạy thẳng vào xóm Đình và đỗ xịch trước cổng nhà Cản, ngay sau chiếc xe của văn phòng Uỷ ban huyện. Trong nhà Cản, tiệc rượu đang đến cuộc tàn. Sự đến thăm đột ngột của những người khách, ngay lập tức đã làm cho cái chất men say trong mỗi người chẳng còn có ý nghĩa gì nữa. Đồng chí trưởng phòng công an huyện trịnh trọng đọc lệnh của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Loã, Biền, Cản đứng rũ như những thằng hình nộm, mặt cắt không còn giọt máu. Một giờ sau, cả ba chiếc xe com-măng-ca cùng rời xã Thanh Bình. Trên chiếc xe đi đầu, ngoài Cản, Loã, Biền ra còn có thêm Thảng vừa được tạm tha sau vụ ăn cắp phân đạm, và hai người nữa. Tất cả mỗi người đều mang một chiếc vòng số tám ngay phía trước bụng. *** - Bây giờ thì ông mới biết thân nhé. Làm việc với những hạng người ấy thì có ngày rũ tù. Tôi đã bảo đừng có ăn uống chè chén gì với họ cả. Họ thả cho mình ăn một thì họ lợi dụng ăn mười. Cái món cám lợn hồi năm ngoái ấy, ông có biết không? Nhà Biền, nhà Loã có nuôi hai ba nái lợn, ăn không hết cám, phải mang bán đi. Họ vừa thí cho mình vài tạ thì đã ầm lên. Ông mang tiếng là làm chủ nhiệm, nhưng vợ con ông đã được cái gì nào? Cũng đầu tắt mặt tối, làm trẹo xương sườn chứ chẳng ăn không của đứa nào. Cái ông nhà báo chụp ảnh tôi cũng chẳng có gì quá đáng lắm đâu… - Im cái mồm đi. Đừng có lải nhải rác tai… Cơ đột nhiên vùng khỏi chõng, ném đánh bịch cái quạt xuống sân. Chị Soi vội im bặt. Chiếc giần đảo mãi những vòng tròn, nhưng những hạt thóc trên mặt gạo vẫn cứ toãi ra, không thèm chụm lại. Dưới khoảng tối của vòm nhãn, Cơ ngồi như một cái bóng. Trăng lúc mờ, lúc bỗng vằng vặc. Không một làn gió. Sau cái vụ Loã và Biền bị bắt, bao nhiêu chuyện vỡ bung ra. Cơ không ngờ rằng, lợi dụng vụ mua sắn trên Đà Bắc, bọn Loã đã thông đồng với một tên giả danh bộ đội, giả mạo giấy tờ với cái tên trung uý Nguyễn Trọng Cường, để tổ chức tiêu thụ hai mươi tấn bột lương thực khô mà chúng tìm cách ăn cắp được của một đơn vị bộ đội hậu cần. Liều lĩnh và thủ đoạn hơn nữa là Biền đã bàn với Loã lấy tiền mặt của hợp tác xã và lợi dụng danh nghĩa mua cho trại chăn nuôi, nhưng kỳ thực chúng đã lén lút phân tán với nhau. Rồi chuyện gỗ lát. Đi mua sắn, nhưng kỳ thực, Loã và Cản đã dùng xe của hợp tác xã chở về nhà vài chục mét khối gỗ lát. Thật đáng buồn là Cơ cũng nhẹ dạ dính vào chuyện đó. Hai tấm cánh tủ lát chun Loã nhượng lại với giá "mua tại gốc" vẫn gác trong buồng kia. Nhưng đau xót nhất đối với Cơ vẫn là chuyện tài chính sổ sách của hợp tác xã mà Biền là người trực tiếp quản lý. Sau mấy ngày làm việc sơ bộ của ban kiểm tra huyện, số tiền mà hợp tác xã chi sai nguyên tắc từ ngày hợp nhất tới nay đã lên tới bốn mươi sáu nghìn đồng, trong đó nhiều khoản không có chứng từ hoá đơn cụ thể hoặc bị tẩy xoá, không ăn khớp với nhau… Riêng phần chi phí tiếp khách lên đến hai mươi tư nghìn, hầu hết do Cơ ký duyệt. Qua các chứng từ sổ sách, ban kiểm tra tạm thời xác định thủ đoạn tham ô của Biền thành mấy loại: 1) Cố tình đánh mất chứng từ hoá đơn gốc, rồi khai vống một số liệu nào đó do mình tự nghĩ ra. 2) Lấy khoản này đập sang khoản khác để lợi dụng những sơ hở trong việc đối chiếu quyết toán sổ sách. 3) Rút tiền mặt hoặc tiền séc của hợp tác xã để mua hàng nhà nước dưới danh nghĩa hợp tác xã. 4) Sửa chữa, thay đổi các giấy biên nhận, chứng từ, nhất là trong cái khoản chi có tính chất linh động ngoài nguyên tắc… "Muốn hay không mình vẫn là người chịu trách nhiệm về toàn bộ sự việc". - Những ý nghĩ cứ xoáy trong đầu Cơ. - Mình không đủ sức hay nói đúng hơn là mới làm được một phần chức năng của người điều hành sản xuất đơn thuần, mà chưa làm được nhiệm vụ của một người đứng đầu một đơn vị kinh tế. Mình đã bỏ qua khâu then chốt là quản lý kinh tế toàn diện một cơ sở sản xuất với hơn năm nghìn lao động, hơn năm trăm héc-ta đất canh tác và hàng chục ngành nghề khác nhau với tổng thu nhập hàng năm gần hai triệu đồng. Bao nhiêu vấn đề đặt ra mình chưa thể với tới: hạch toán chi thu hàng năm, kế hoạch đầu tư, cơ cấu sản xuất, kế hoạch sử dụng nhân lực, đất đai… Tóm lại, mình vẫn chỉ là một anh nông dân có chút kinh nghiệm và có nhiệt tình. Và thế là mình dễ dàng bị đưa vào tròng. Dễ dàng bị bóp mũi khi gặp những con cáo già ranh ma như Biền và Loã. Hai mươi tư nghìn đồng tiếp khách, bằng hơn trăm tấn thóc. Nó đã bịa ra một con số kinh khủng. Cái hôm gặp Đặng Hoài trên phố huyện, mình ký phiếu chi một trăm đồng. Tại sao bây giờ thành ba trăm? Cái lần tiếp đoàn tham quan huyện Giang Thành, duyệt chi năm trăm đồng, nay thành tám trăm. Cái thằng quỷ quyệt. Vì sao nó sẵn sàng chi bất cứ lúc nào, nếu mình muốn? Tại mình cả thôi. Mình thích những người đến xem mình làm, nghe mình nói. Minh không muốn để họ phải thất vọng…". Cơ ôm lấy đầu. Cái đầu như muốn vỡ tung ra thành nhiều mảnh. Chị Soi liếc nhìn chồng, cám cảnh. Không muốn nói, nhưng rồi ấm ức mãi, không chịu được. - Cũng tại ông cả thôi. Ông tin người ta quá. Hai tấm gỗ lát trong buồng kia kìa. Mai ông mang sang mà giả người ta… Choang! Cái điếu bát đang từ trên chõng bay vọt ra giữa sân, rơi vỡ tan trước mặt Soi. Vệt nước đen đặc chảy loang vào đống gạo, khai nồng nặc. Chị Soi bàng hoàng ngồi sững. Rồi chị bỗng gục mặt trên đầu gối oà khóc. - Anh không làm được việc thì nghỉ cho người khác làm. Chứ cái nước này, không chỉ xã viên mà cả mẹ con tôi cũng khổ… *** Sự xuất hiện đột ngột của Thanh - mà Cơ không bao giờ nghĩ tới - đã cứu vãn vợ chồng Cơ khỏi một trận xung đột, chưa biết chừng sẽ dẫn tới những hậu quả không ngờ. Cơn giận dữ trong Cơ đã nhanh chóng tan đi. Nhưng thay vào đó là một tâm trạng bối rối, lúng túng hết sức. Giống như tâm trạng của những kẻ phản bội bạn bè, nay chợt gặp lại người bạn cũ. Thanh đến có việc gì? Anh ta biết chuyện rồi sao? Cơ không dám nhìn thẳng vào đôi mắt Thanh, mặc dù hình như Thanh cũng cố tình lảng tránh. Trong lúc Cơ vào nhà chuẩn bị pha nước - thực ra đó là một cách để anh cố tạo ra một vẻ tự nhên thích hợp - Thanh có dịp đưa mắt quan sát cái cơ ngơi của Cơ. Vẫn bốn gian nhà ngói cũ. Cái bếp mới sửa lại. Một chiếc giếng khơi mới đào sát dãy hàng rào duối. Thanh như chợt nhớ lại. Cái hàng rào! Chính cái lỗ hàng rào ngay cạnh giếng đó. Mình đã ngồi suốt tiếng đồng hồ đợi. Cái vật bằng thép trong tay lúc ấy tưởng chừng như bỏng cháy. Qua cái lỗ hàng rào kia, mình nhìn thấy Hoà đang ngồi học bên bàn và vợ Cơ hình như đang khâu vá… Thanh lắc đầu quay nhìn đi nơi khác… Chuyện cũ. Nhắc lại làm gì? Mình đã tha thứ từ lâu rồi. Trong một hoàn cảnh nào đó, như Cơ, có thể mình cũng mắc một sai lầm tương tự…. Không phải ngẫu nhiên Thanh đến gặp Cơ hôm nay. Cũng không phải chàng trai nào cũng dễ dàng gặp kẻ tình địch của mình - chỉ trừ phi họ đến với một con dao. Buổi tối hôm ấy, sau cái lúc làm ầm lên với ông Năm Ngũ và mấy bà xã viên đội Mười gặt thóc về sân kho nhà mình. Thanh tưởng có thể đến gặp bất cứ một anh cán bộ nào, tưởng ngay lúc gặp Vy anh đã trút lên đầu chị tất cả nỗi bực bội, giận dữ… Nhưng không. Chỉ đi chừng ba bước ra khỏi cái ngõ đất, cơn bực bội của Thanh đã xìu đi, như chiếc bong bóng bị xẹp hơi. "Chúng tao không ai xấu cả đâu. Cũng mồ hôi nước mắt của mình mà phải dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy". - Chỉ một câu nói của ông Năm Ngũ đủ làm cho Thanh xót xa ân hận về thái độ ban nãy của mình. Không có ai xấu cả đâu… Đúng. Không có ai xấu cả. Cả mẹ mình, cả Vy, cả ông Trạc và ngót ba chục cán bộ đảng viên bị cảnh cáo vì đợt kiểm tra bất thường ở sân kho hợp tác vụ gặt vừa rồi. Tất cả những người xã viên, ai cũng muốn sống trong sạch bằng chính mồ hôi và sức lực của mình. Nhưng tại sao họ phải làm điều đó? Cái điều mà người ta gọi là tham ô ăn cắp đó? Lần đầu tiên, từ ngày trở về làng, Thanh bắt đầu suy nghĩ về câu hỏi ấy như người trong cuộc. Muốn hay không, Thanh vẫn phải đối diện với những vấn đề đang diễn ra trong cái làng nhỏ của anh hàng ngày. Nó liên quan đến đời sống của gia đình anh, của con anh sau này nữa. Nó buộc anh phải có một thái độ ứng xử. Ủng hộ những hiện tượng ăn cắp tập thể ư? Phải đối ư? Là một đảng viên, mình phải chọn một trong hai cách đó. Không có con đường thứ ba nào cho mình cả. Có lúc mình đã bỏ đi làm thợ mộc. Vì túng tiền. Nhưng đó chỉ là một lý do. Mình muốn trốn tránh. Mình không chịu nổi cái cách làm ăn trì trệ và không công bằng này. Người lao động không được hưởng thụ đúng với cái giá trị mà giọt mồ hôi họ đã nhỏ. Người ta đánh giá sự cống hiến của con người không phải ở sự nỗ lực làm việc của họ mà dựa theo những tiêu chuẩn đạo đức rất cũ kỹ, lỗi thời. Ông Trạc đấy. Cô Luyến đấy. Người ta chỉ biết khai thác lòng tin của người khác, sức lao động của người khác mà không thực lòng tin họ, không bồi dưỡng chăm lo cho họ. Lớp trẻ của Thanh Bình đấy. Những Thắm, những Hoà, và cả Vy nữa. Họ đã được gì? Thanh lại muốn buông xuôi hết cả. Hãy cứ để cho nước chảy bèo trôi. Hãy cứ để cho người ta ăn cắp những của cải của họ. Không có ai xấu cả đâu. Cũng chẳng có ai khờ khạo mãi đâu. Người nông dân họ khắc tự có cách phân phối sòng phẳng những sản phẩm do họ làm ra. Hãy cứ để những kẻ cơ hội, những kẻ giáo điều, những kẻ tham những, những kẻ thích thành tích, địa vị… sống theo cái cách của chúng. Làm sao cấm được chúng xây nhà, đóng giường, sắm tủ, móc ngoặc, tham ô, đọc báo cáo láo và nhận chức quyền khi mà cái cách quản lý, cách làm ăn hiện giờ luôn tạo cho chúng những điều kiện thuận lợi nhất, khi mà sản phẩm mồ hôi nước mắt của những con người lao động thực chất đã trở thành những thứ vô chủ mà chúng là những kẻ giữ tay hòm chìa khoá? Mình sẽ có cách sống riêng của mình: mũ ni che tai, giả làm ngơ đi, như điếc. Nhưng mười năm cầm súng để làm gì? Mình giữ cái danh hiệu đảng viên để làm gì? Hai mươi năm mẹ mình, gia đình mình đi theo con đường làm ăn tập thể, chẳng lẽ chỉ là một bước nhầm lẫn thôi ư? Không. Không thể lẫn lộn, quàng xiên. Không có con đường nào khác cho người nông dân, nếu họ vẫn thiết tha với chủ nghĩa xã hội. Thực tế hai mươi năm qua đã chứng tỏ cái được và cái chưa được của đường lối hợp tác hoá. Lên xuống thăng trầm là do cách quản lý, cách làm ăn. Hợp tác xã Thanh Bình đang ở trong vùng gió quẩn. Đừng phủ nhận sự tồn tại của nó. Hãy bằng mọi cách đưa nó thoát khỏi vùng gió ấy. Mình không thể hờ hững, phó mặc được đâu. Mình không thể lẩn tránh được chính ngôi nhà mình đang ở, cái làng mình đang sống. Nó là của mình, của Vy, của các con mình. Không có cách nào làm tốt hơn được ư? Thanh nhớ đến mùa trồng khoai tây. Có ai ăn cắp đâu? Người ta làm vì tập thể và vì mình. Cái lối làm ăn đó, sao không tiếp tục? Và Thanh quyết định đến gặp Cơ tối nay. - Tôi đến gặp anh có chút việc. Không phải việc riêng giữa tôi và anh. - Thanh bắt đầu câu chuyện, chủ động nhìn thẳng vào mặt Cơ. Bốn mắt họ gặp nhau. Nhưng Cơ vội quay đi. Cơ có cảm giác đôi mắt Thanh như hai ngọn đèn sáng chói rọi chiếu vào Cơ và nhìn thấy rõ tất cả. - Hôm vừa rồi, bà con đội Mười có gặt một tí lúa về nhà tôi. Cái chuyện này nói ra cũng chẳng làm gì. Nhưng tôi nghĩ anh nên biết… - Bằng một giọng nói chậm rãi và đầy tự tin, Thanh kể cho Cơ nghe những điều anh thấy, anh biết về hợp tác xã từ ngày anh về làng, những suy nghĩ của anh về cung cách làm ăn của hợp tác xã. Cái tấm màn ngăn cách giữa Cơ và Thanh cứ vén dần lên. Chừng giữa câu chuyện, Cơ có thể nhìn Thanh mà không cần phải ngần ngại, dè dặt. Anh gật đầu tán đồng, nhíu mày suy nghĩ hoặc khẽ mỉm cười trước một câu nói khôi hài. - Tôi cũng có suy nghĩ đến những điều anh nói. Thực ra đối với các anh, chúng tôi có lỗi. Đáng lẽ chúng tôi phải sống tốt hơn, làm tốt hơn nữa… Thanh hiểu câu nói của Cơ theo hai nghĩa. Và anh tin rằng Cơ thực lòng nghĩ như vậy. - Anh có biết ông Năm Ngũ nói thế nào lúc tôi gắt ầm lên khi biết đội gặt trộm lúa về nhà tôi không? "Chúng tao không có ai xấu cả đâu. Cũng là mồ hôi nước mắt của mình mà phải dấm dúi thế này cũng cực lắm đấy". - Ông ấy nói thế. Đúng là cái kiểu làm ăn của chúng ta bây giờ đã buộc xã viên phải làm những điều mà họ không muốn. Ông cậu tôi, anh biết rồi đấy, có ai yêu đồng ruộng như ông cụ, thế mà bây giờ buộc phải đi chăn bò. Chúng ta mới chú ý đến cái vế "mình vì mọi người" mà coi nhẹ hoặc quên đi vế sau "mọi người vì mỗi người". Không chú ý đúng mức đến quyền lợi của người lao động thì chúng ta không thể tạo ra năng suất đâu. Tôi không hiểu vì sao vụ đông vừa rồi, các anh có cách làm rất hay, xã viên phấn khởi, đất ướt, nhưng thu hoạch vẫn khá. Thế mà vụ chiêm xuân các anh lại không tiếp tục? Thanh đã nói đúng cái điều mà gần đây Cơ vẫn thường nghĩ. Cơ nhớ đến Lập. Từ hôm Cơ cho công bố quyết định cảnh cáo bảy đội sản xuất và hai mươi tám cán bộ đảng viên qua loa truyền thanh của hợp tác xã. Lập giận Cơ thực sự. "Anh làm như vậy rồi ai sẽ cộng tác, làm việc với anh? Chúng ta không theo đuôi quần chúng, nhưng cũng đừng nên quá tả. Ăn cắp tập thể, đó không phải chỉ là một hiện tượng đạo đức đơn thuần. Nó đặt ra một vấn đề bắt chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá lại cách quản lý, cách phân phối, định giá sức lao động…". Lập không muốn nhắc lại hướng đề xuất mà đã nhiều lần anh nói với Cơ. Nhưng Cơ biết, vấn đề khoán sản phẩm tới các gia đình vẫn là điều mà Lập ấp ủ. - Anh Lập là người rất hăng hái với cách làm ăn này. - Cơ không ngần ngại bộc bạch nỗi tâm sự của mình. - Tôi không phản đối. Vụ đông vừa qua, nếu chúng tôi không mạnh dạn làm theo cách ấy, thì tháng ba vừa rồi xã viên ta nhiều nhà sẽ gặp khó khăn lớn. Nhưng không phải cái gì mình thấy hay, thấy tốt đều có thể làm được… Đây là một vấn đề mới mẻ mà chúng ta mới nghĩ đến, chứ chưa hề có văn bản nghị quyết nào đề cập. Đường lối xây dựng hợp tác xã không cho phép chúng ta quay lại con đường cũ… - Anh sợ trách nhiệm phải không? - Thanh bỗng đột ngột nhìn thẳng vào Cơ, hỏi. Vẫn cái ánh mắt như Cơ đã gặp ban đầu, nhưng lần này thì anh không lảng tránh. Anh không trả lời Thanh. Đôi mắt anh đã nói điều đó. - Chúng ta thử thí điểm chỉ đạo một đội sản xuất chẳng hạn. Làm ngay vụ này. Nếu tốt sẽ triển khai ra toàn hợp tác xã. Ý kiến của Thanh đã làm cho Cơ chú ý. Đội sản xuất nào sẽ làm việc đó? Cơ nghĩ đến đội Mười. Dù Cản có được tha cũng không thể trở lại làm đội trưởng được nữa. Liệu Thanh có chịu thay Cản không? - Nhưng tôi lo huyện sẽ biết chuyện. Đồng chí bí thư huyện uỷ là người rất kiên quyết trong vấn đề này… Thanh đột nhiên trở nên hăng hái. Anh mở bung cúc áo, như cái nóng ngột ngạt đang làm anh không thể nào chịu được. - Huyện biết thì đã sao? Biết đâu họ sẽ ủng hộ. Mà nếu họ không giúp gì cho chúng ta thì hãy cứ để mặc chúng ta tự lo liệu lấy. Tôi còn lạ gì các vị ấy. Quan liêu và giáo điều đang trở thành một thứ bệnh nguy hiểm. Nó đang níu kéo nền sản xuất của chúng ta lại. Anh có biết hồi tôi đi tìm việc chuyển ngành, tôi đã gặp gỡ tiếp xúc những người như thế nào không? Suốt ngày họ ngồi bàn giấy chẳng có việc gì để làm, chụm lại với nhau tán gẫu. Thế mà lúc tôi đến, họ làm như đang bận họp. "Đồng chí đợi đó, chúng tôi đang bận họp". Tôi chờ tới mức nhẫn nhục. Tất cả những anh cán bộ tổ chức gặp tôi đều hỏi những câu tưởng như họ đã bảo nhau cùng học thuộc: "Lương đồng chí bao nhiêu? Làm nghề gì. Đã đảng viên chưa?". Có lần bực mình, tôi đã nói thẳng với họ: "Tôi làm nghề đánh nhau". Cơ phá lên cười. Anh bắt đầu bị hấp dẫn bởi Thanh. - Anh Thanh ạ, nếu anh thay anh Cản… - Cơ bỏ lửng giữa câu. Dường như anh muốn bật đèn xanh. Nhưng anh vẫn đủ khôn ngoan để không bị ràng buộc vào trách nhiệm của mình. - Thì tôi sẽ giao khoán ruộng cho xã viên ngay từ vụ này. Cơ cúi đầu suy nghĩ. Anh nhận thấy ở con người Thanh có một cái gì mà anh không thể với tới được. XVIII Đại hội hợp tác xã Thanh Bình sẽ họp vào cuối tháng năm. Nhưng có một vấn đề quan trọng nhất mà trong khâu chuẩn bị đại hội vẫn chưa có hướng giải quyết. Đó là vấn đề nhân sự. Ai sẽ thay chức phó chủ nhiệm của Loã? Ai sẽ thế chân kế toán trưởng của Biền? Trong một cuộc họp ban thường vụ đảng uỷ. Cơ giới thiệu Thanh và Lập trong danh sách ứng cử phó chủ nhiệm. Nhưng liền bị phản đối. Lập chưa phải là đảng viên. Ai cũng cho việc giới thiệu Lập là một việc khôi hài. Giống như ngày xưa, một quan viên chưa vọng sáu mươi mà đã đòi ngấp nghé chiếu tiên chỉ. Còn Thanh? Chính ông Điền là người ngạc nhiên nhất về Cơ. Cơ biết rõ quan hệ giữa anh và Thanh quá đi chứ? Chuyện cũ. Quên làm sao được. Đối với Thanh, ông Điền cũng còn có gì tránh né, mặc cảm nữa là Cơ. Mà hình như Thanh cũng đã linh tính dự đoán ra điều đó. Ông Điền cố để ý nhiều lần và nhận ra đối với Cơ và ông, Thanh không có vẻ tự nhiên, đôi khi anh tỏ ra lạnh nhạt. Thiển không những phản đối Thanh mà còn chỉ trích, lên án anh như một đảng viên mất phẩm chất. Dĩ nhiên thái độ của Thanh ở cuộc họp chi bộ kỷ luật Luyến, những lời nói xúc phạm đến tập thể đảng uỷ trong buổi gặp gỡ giữa Thanh và Thiển ở văn phòng đảng uỷ được Thiển phân tích và trích dẫn lại không sót một chi tiết nào. - Nhưng đó mới chỉ là một biểu hiện. - Thiển nói. - Điều nguy hại hơn là ý thức trách nhiệm của đảng viên ở đồng chí Thanh hầu như không còn nữa. Coi thường đảng uỷ. Không chịu ghép mình vào tổ chức. Có tư tưởng địa vị công thần… Suốt từ thời gian về địa phương đến nay, đồng chí ấy tham gia lao động sản xuất rất ít. Các đồng chí thử tưởng tượng: Một đảng viên mà bỏ đi làm thợ mộc kiếm tiền. Ý thức xây dựng quê hương ở chỗ nào? Giới thiệu một đảng viên như vậy vào ban quản trị, quần chúng xã viên sẽ đánh giá đảng bộ chúng ta ra sao? Cơ hầu như không thanh minh. Anh nghĩ rằng bây giờ chưa ai trong đảng uỷ có thể hiểu Thanh được. Mỗi người đều giới thiệu thêm một vài người khác, với những quan hệ, cách suy nghĩ gần gũi với mình. Nhưng không ai được thường vụ nhất trí một cách tối đa, chủ yếu nhất ở họ vẫn là năng lực làm việc. Tạm thời vấn đề nhân sự của hợp tác xã phải đợi sau kết quả đại hội đảng bộ xã Thanh Bình. Cũng giống như tất cả những lần đại hội trước đây, điều mà các đảng viên quan tâm nhiều nhất cũng lại là vấn đề nhân sự. Những ai sẽ vào đảng uỷ khoá này? Thực chất tất cả vấn đề là ở đó. Bởi đó là sự phản ánh mối tương quan lực lượng giữa "phe cấp tiến" và "phe bảo thủ", giữa lớp trẻ và lớp già, giữa thôn này và thôn kia, giữa những dòng họ lớn có vai vế, giữa những người có thâm niên giữ các chức quyền trong xã… Bởi vì đó chính là sự sắp xếp, về mặt tổ chức, tất cả những đầu mối có tính chất then chốt trong xã, ở phương diện chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã. Có được một cái phiếu đảng uỷ viên mới mong nghĩ tới các chức bí thư, thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, chủ nhiệm, bí thư xã đoàn, trưởng cửa hàng hợp tác xã mua bán… và những chức danh chủ chốt khác… Cho nên có thể nói, thời gian trước ngày đại hội đảng bộ ở Thanh Bình chính là cái đoạn chạy đua nước rút trong môn chạy việt dã vậy. Các cầu thủ sẽ phải huy động tất cả sức lực và tài năng, âm mưu và thủ đoạn để đi tới cái đích của mình. Tất nhiên, vai trò của những người cổ động sẽ cực kỳ quan trọng. Người có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn này chính là phó bí thư phụ trách tổ chức Đào Hữu Thiển. Cái họ Đào Hữu của Thiển vừa trải qua một cơn khủng hoảng nặng nề. Đào Hữu Loã, Đào Hữu Biền, Đào Hữu Thảng đang nằm trên trại cải tạo Dốc Cun. Nỗi ân hận lớn nhất của Thiển là anh quá chủ quan, không kịp thời nhắc nhở, phát hiện những việc làm sai trái của họ mà uốn nắn, đe nẹt, để xảy ra những hậu quả rất đau xót. - Đợt này anh làm thế nào thì làm. Cả họ trông vào anh. Chỉ có anh là người khôn ngoan tháo át. Một người làm quan cả họ được nhờ. Xưa đã thế, bây giờ càng thế. Từ chuyện lo cho con cháu mình đi học, miễn giảm nghĩa vụ công dân, phân phối điều hoà lương thực… Nhất nhất mọi quyền lợi, nếu không có người của mình thì họ tha hồ bóp mũi. Tao thấy tay Cơ nó có chủ ý ngầm triệt họ Đào Hữu mình ghê lắm. Thằng Biền, thằng Loã đổ là do ở nó cả. Cốt nhất kỳ này phải nắm cho kỳ được cái khâu kinh tế… Ông Đào Hữu Sửu, trưởng họ, hôm vừa rồi đến chơi đã nói với Thiển như vậy. Đứng về quan điểm cách mạng mà xét thì cái quan niệm của ông Sửu thật cổ hủ. Nhưng Thiển không dám cãi lại bậc cha chú. Và suy cho cùng thì cũng phải. Anh không tạo ra được một lực lượng ủng hộ mình thì những anh khác nó sẽ tìm cách lật anh. Từ xưa tới giờ, cái xã Thanh Bình ba bè bảy bối này có bao giờ đoàn kết? Cứ nói đảng uỷ lãnh đạo toàn diện, thế nhưng bao nhiêu thành tích, một mình tay Cơ thu hết về phía hợp tác xã. Vai trò của Thiển bị mờ nhạt. Huyện, tỉnh nhắc đến Thanh Bình là nhắc đến hợp tác xã, chứ có ai nhắc đến đảng uỷ, chính quyền? Công lao của Thiển, của Tấn, của ông Điền,… cuối cùng thành công cốc. Chỉ béo bở tay Cơ. Vào huyện uỷ dễ ợt… Có ai biết được Thiển đã nghĩ gì, làm gì trong những ngày này? Xã viên Thanh Bình, trừ xóm Lẻ Thanh Giang, còn hầu như người ta chẳng chú ý lắm công việc bầu bán sẽ diễn ra rất quyết liệt sắp tới. Duy chỉ có một nơi có vẻ thính nhạy nhất với mọi diễn biến chính trị trong xã và dự đoán một cách khá tinh tường những điều sẽ xảy ra, ấy là hiệu chữa xe đạp của Phiệt. - Kỳ này cánh ông Thiển có vẻ yếu thế tợn. Ba vị đi nhà đá. Không biết chân ông Loã, ông Biền ai sẽ thay? - Mấy người đàn ông vừa ngồi chờ bơm vá xe vừa bàn tán. - Nghe đâu ông Xuyến sẽ làm phó chủ nhiệm. Cũng họ Đào Hữu nhà ông Thiển cả thôi. Ai vào đấy? - Người có bộ râu quai nón chép miệng như buộc lòng mà phải góp chuyện. Phiệt tỏ ra hiểu biết: - Ăn nhau là ở đại hội kỳ này. Ông Điền sẽ về hưu, ông Thiển lên bí thư. Giữa ông Thiển và ông Cơ ăng-ti nhau. Anh nào nắm bên Đảng, anh ấy thắng. - Ông Cơ huyện uỷ, có thế hơn. - Một thanh niên đội cái mũ mỏ vịt, đang dùng cơ-lê siết cái ốc trục sau, tỏ ý đồng tình. - Huyện uỷ viên còn lãnh đạo cả bí thư đảng uỷ nữa cơ. Ông Sửu vừa nãy thấy ở hàng cắt tóc, giờ đã xuất hiện như có phép lạ, gập đánh phạch cái quạt giấy dài đến nửa sải tay, trợn tròn đôi mắt sáng quắc nhìn anh thanh niên chòng chọc, nói giận dữ: - Lãnh đạo thì cũng có năm bảy đường chứ. Vào huyện uỷ nhờ viết báo láo à? Một trăm rưởi mẫu đậu tương đi tong vì ông ấy. Vụ gặt vừa rồi, chẳng có đội sản xuất, chẳng có anh cán bộ đảng viên nào không bị ông ấy cảnh cáo. Làm việc trái lòng dân đến thế không bỏ phiếu cũng hoài… Phiệt nháy mắt cho người có bộ râu quai nón và mỉm cười đầy ngụ ý. Đợi cho ông Sửu đi khỏi, Phiệt mới hất hàm về phía ông già có tấm lưng dài thuỗn trong chiếc áo tơ tằm vàng ngà lụng thụng, ngất ngưởng che cái quạt như cái lọng trên đầu, nói nhỏ với mấy người còn lại: - Không khéo mà ông Cơ gay đấy chứ không? Không thể chơi với họ Đào Hữu xóm Lẻ Thanh Giang được đâu. *** Ông Điền là người duy nhất đi vận động cho mình trong đợt bầu cử đảng bộ sắp tới. Không phải ông lo mình không trúng phiếu. Ông lo mọi người sẽ không đồng ý để ông nghỉ. Mặc dù ông đã đề đạt nguyện vọng với đảng uỷ và rồi cả tổ chức huyện uỷ. Nhưng vẫn không được chấp nhận. Ai cũng muốn giữ ông lại, cố thuyết phục ông, nói về ông với những lời đẹp đẽ và đầy ngưỡng vọng. Chỉ có riêng một người khi được ông thổ lộ nguyện vọng, lập tức đã đồng ý với ông ngay. - Bác nghỉ là phải. Bác làm bí thư đảng uỷ mười bảy năm rồi. Mệt mỏi quá rồi. - Thanh rót một chén trà Thái Nguyên cho ông Điền và nhìn ông với đôi mắt đầy thông cảm. Đối với ông Điền, anh hoàn toàn không có thành kiến gì. Trái lại Thanh lại rất mến phục ông về đức tính liêm khiết trong sạch. Hơn mười năm anh đi xa làng trở về, ngôi nhà ông vẫn như thế. Một ngôi nhà gỗ cổ ba gian, mái lợp ngói, thấp tè, cánh cửa bức bàn, mỗi lần đến chơi Thanh cứ phải khom người như sợ đụng phải mái ngói. Ba người con trai ông đều đi bộ đội. Người con trai cả đã hi sinh ở chiến trường đường Chín năm sáu chín. Đạt, anh con trai út, suốt từ ngày xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía bắc vẫn không có tin tức gì. - Mấy năm nay làm việc, tôi cảm thấy quá sức lực của mình. - Ông Điền muốn giãi bày tất cả niềm tâm sự. - Sức khoẻ giảm sút một phần. Nhưng cái chính yếu là mình không còn đủ năng lực để đảm đương công việc. Mà sự bảo thủ, trì trệ là một tội lớn trong lúc này. Biết mình không còn đủ sức làm việc mà vẫn tham quyền cố vị lại càng có tội lớn với Đảng với dân. Khoá trước, tôi đã nói với các anh ấy xin nghỉ. Nhưng rồi cả anh Thiển, anh Cơ, anh Tấn đều động viên giữ lại. Chú có biết thằng Đạt nó bảo tôi thế nào không? "Bố đã già rồi. Bố không đủ sức lực và thời gian để nghĩ và sống khác được đâu". - Ông Điền bỗng bật cười. Nụ cười làm cho những nếp nhăn trên mặt ông sâu hơn và trông ông già thêm mấy tuổi. - Cái thằng trẻ người mà nó nói ghê không? Không ai cưỡng được tuổi già. Mình có muốn trẻ lại cái cách nhìn, cách nghĩ, cũng chỉ có mức độ. Tôi đã nghiệm thấy cái tuổi của mình không thể đáp ứng được những vấn đề mới mẻ đang đặt ra hiện giờ. Mình cố làm tức là không tin lớp trẻ, tức là cố ý kéo lịch sử lùi lại. Nhà nước đặt ra cái tuổi hưu là có cơ sở khoa học lắm chứ. - Năm nay bác sáu mấy tuổi rồi? - Sáu mươi bảy. - Thế thì bác nghỉ là đúng quá rồi. Cũng phải dành thời gian để nghỉ ngơi dưỡng sức. - Nhưng phải có lớp người như các chú thay thế. Chú có trình độ văn hoá. Hiểu biết nhiều. Cần phải mang vốn kiến thức ấy đóng góp với địa phương… Tôi thấy hình như chú vẫn chưa hài lòng với cách làm ăn của xã mình. Chưa thực sự bắt đầu… Thanh ngồi yêu lặng, xoay xoay mãi chiếc chén trên tay. "Cảm ơn bác, bác đã nói với cháu những điều rất thẳng thắn chân thành. Cháu không giấu mình đâu. Cháu cố tình bộc lộ những thái độ của mình. Tính cháu vốn như vậy. Không thể giấu nổi mình. Không thể sống khác những điều mình nghĩ. Có lẽ vì thế mà cháu không thích những người kín đáo, thâm trầm quá. Giá bác nói những điều ấy sớm hơn, thì cháu đã chẳng bỏ đi làm thợ mộc, đã chẳng để phí hoài mấy tháng vừa qua. Và cũng không đến nỗi mang tiếng là một anh đảng viên biến chất, vô tổ chức. Cháu có lỗi không tìm đến bác. Nhưng cháu cũng có quyền trách bác đấy. May mà bây giờ bác cháu mình ngồi lại với nhau. Cháu rất cảm ơn bác. Và cháu cũng muốn nói thẳng". Thanh nhìn ông Điền, cái nhìn kính trọng và biết ơn nhưng cũng đượm phần trách móc. - Bác nói đúng. Cháu chưa thực sự bắt đầu. Tất nhiên có những nguyên nhân của nó. Trong đó bác có nghĩ rằng có phần về phía bác không? Bác quá dè dặt và thận trọng, nếu không nói là quá tròn trĩnh khuôn mẫu… Những lời nói thẳng thắn của Thanh làm ông Điền xúc động. Ông nghĩ tới những điều Vy đã nói với ông. Thanh vẫn chưa biết rằng chính ông đã thu xếp chuyện giữa Cơ và Vy. Như vậy đối với Thanh, dù sao ông cũng có khuyết điểm. Tự nhiên ông Điền muốn nói hết, nói thẳng những điều ấy. Ông phải xin lỗi Thanh, đương nhiên. *** Kết quả bầu cử đảng uỷ của đảng bộ xã Thanh Bình, đã làm tất cả mọi người sửng sốt. Dù ông Điền hết sức thiết tha xin rút khỏi danh sách ứng cử, ông vẫn trúng phiếu. Và lại một khoá nữa ông được cử giữ chức bí thư của đảng uỷ. Còn Cơ? Chính Cơ cũng không thể tin điều đó. Bất ngờ quá. Tổ chức huyện uỷ và bí thư Trần Sinh lại càng không tin điều đó. Cơ đã bị loại khỏi danh sách đảng uỷ, mặc dù giữa ông Điền và anh chỉ chênh nhau hai phiếu. Lần đầu tiên ở huyện Giang Thuỷ, một huyện uỷ viên do ban chấp hành huyện uỷ trực tiếp giới thiệu ứng cử tại một đảng bộ, lại không trúng cử. Ngay sau khi nhận điện thoại của trưởng ban tổ chức huyện uỷ gọi trực tiếp từ Thanh Bình về, Trần Sinh đã lệnh cho lái xe đưa ông xuống ngay nơi tổ chức đại hội. Ban chấp hành đảng uỷ mới còn chưa ra mắt. Số phiếu chưa chính thức công bố. "Ai tổ chức đạo diễn ra cái trò này? Không còn nghi ngờ gì nữa, nội bộ ở đảng bộ Thanh Bình đang có vấn đề nghiêm trọng. Bất chấp cả những ý đồ của huyện uỷ, ở đây, một số phần tử đang tìm cách thao túng các đảng viên nhằm vô hiệu hoá vai trò và sự lãnh đạo của huyện uỷ". Ý nghĩ ấy nung nấu trong đầu Trần Sinh trên suốt đoạn đường từ huyện xuống Thanh Bình. Gương mặt ông đỏ bừng, lầm lì, cau có. Vừng trán loáng bóng như có quết sơn dầu. Ông giữ mãi vẻ mặt ấy suốt từ lúc bước chân xuống xe vào phòng họp. Hội ý với ban tổ chức huyện uỷ. Gặp gỡ đoàn chủ tịch, với ban chấp hành đảng uỷ cũ. Đề nghị ban kiểm phiếu kiểm tra lại kết quả bỏ phiếu. Nói chuyện với toàn bộ đảng viên có mặt dự đại hội… Tất cả những hoạt động ấy của Trần Sinh đều vô hiệu. Cuộc bầu cử hoàn toàn hợp lệ và không ai có quyền thay đổi. Trần Sinh mệt mỏi đến rã rời, gieo người xuống ghế xe, đóng sầm cửa lại. Ông kiên quyết từ chối bữa liên hoan mà đại hội đã chuẩn bị sẵn. Cái ý đồ mà ông mất bao nhiêu tâm lực, công sức nhen nhúm, xây dựng, cái mẫu hình do chính ông tạo ra, nuôi dưỡng và ký thác, hi vọng, đã bắt đầu đổ vỡ. Trên đường về, Trần Sinh tự lên án mãi cái tính chủ quan của mình. Rồi ông cáu bẳn, trách cứ cả trưởng ban tổ chức huyện uỷ, cùng ngồi trên xe lúc ấy. Nếu lường trước được sự việc, đâu đến nỗi này? Nhưng ông đã nhầm. Ông chưa hề nằm trong cái "chăn" Thanh Bình. Ông vẫn chỉ là một người ngoài cuộc. Rồi ông sẽ còn sửng sốt, sẽ còn thất vọng… *** Những lực lượng ở Thanh Bình đã dàn thế trận. Mọi cương vị chủ chốt trong xã hầu như không thay đổi. Xuyến đã thay chân Cơ trong thường vụ. Ban chấp hành đảng uỷ giới thiệu một danh sách mười hai người ra ứng cử ban quản trị hợp tác xã. Tất nhiên vẫn có Cơ và Xuyến. Nhưng có thêm một nhân vật lần đầu tiên nhảy từ lĩnh vực chính trị sang lĩnh vực kinh tế. Đó là phó bí thư đảng uỷ Đào Hữu Thiển. Sau cuộc bầu cử đảng uỷ, thường vụ đã nhận định rằng Cơ rất có thể được huyện uỷ rút về huyện hoặc cử đi học. Bởi ông Trần Sinh không đời nào lại chịu thí một quân "át chủ bài" như vậy khi biết rằng ở cuộc bầu cử ban quản trị sắp tới, số phận Cơ lại càng rất mỏng manh. Vì thế Thiển sẽ là người đảm nhiệm cái cương vị của Cơ. Bây giờ thì người ta đã bắt đầu dự đoán trước được những gì sẽ xảy ra trong cuộc đại hội đại biểu xã viên toàn hợp tác xã Thanh Bình. Một người như Thiển, suốt mấy khoá đại hội không bao giờ chịu nhận một chân phó chủ nhiệm, tự nhiên sang tranh cử với Cơ, chắc chắn phải có vấn đề. Ở hiệu sửa chữa xe đạp của Phiệt, người ta đã nói toạc ra, như sự việc đã xong xuôi cả rồi. - Đợt này ông Thiển làm chủ nhiệm. Ông Cơ huyện sẽ rút về cho đi học quản lý kinh tế. Chứ đời nào huyện dám để thế. Ông Trần Sinh sao chịu nổi một cú đấm vỗ mặt nữa. Nhưng… Trần Sinh vốn là một người kiên định, quyết liệt. Ông không hề có ý định rút Cơ đi đâu hết. Ông chỉ công nhận có Cơ mới xứng đáng làm chủ nhiệm hợp tác xã lá cờ đầu của huyện. Ngay sau cuộc bầu cử đảng uỷ Thanh Bình, Trần Sinh đã cho gọi Cơ lên gặp riêng và nghe anh trình bày hết mọi chuyện. Chưa bao giờ Cơ lại tỏ ra chán chường, đau khổ, và yếu đuối như những ngày này. Anh vừa giống như một người leo cao bị ngã đau, vừa giống như một con chim bị tên bắn hụt. Hầu như tất cả sức lực ý chí cùng những tham vọng, dự định mà lâu nay anh vẫn có dư thừa đều bị sụp đổ, tan vỡ như bong bóng xà phòng. Mình sẽ xin với anh Trần Sinh cho rút khỏi công tác ở Thanh Bình. Trên đường lên gặp Trần Sinh, Cơ thầm phác một kế hoạch: Nội bộ Thanh Bình đến mức như thế này thì mình không thể nào làm việc được nữa. Đợt bầu chủ nhiệm tới, nhất định cánh Thiển sẽ tìm cách lật mình bằng được. Mình sẽ xin đi học một lớp bổ túc văn hoá nào đó hay một lớp trung cấp chính trị. Rồi sau đó xin về công tác ở huyện… Cơ đã mạnh dạn trình bày với Trần Sinh những suy nghĩ ấy. Với tấm lòng hết sức chân thành, ngay thật, Cơ cũng nói hết với đồng chí bí thư huyện uỷ tất cả nội tình ở Thanh Bình trong thời gian vừa qua. Từ chuyện sáu trăm tấn lương thực, chuyện bức ảnh Soi, và bài báo của Đặng Hoài, chuyện khai man diện tích úng lụt để xin huyện trợ cấp cứu đói, chuyện ông Trạc xin ra hợp tác xã, chuyện vụ trồng đỗ tương bị thất bại, chuyện Cơ khui ra một loạt vụ ăn cắp tập thể trong mùa gặt vừa rồi dẫn đến việc hai mươi tám cán bộ đảng viên và bảy đội sản xuất bị cảnh cáo, cho đến chuyện gần đây nhất là cánh Loã, Biền dính dáng đến bột quân lương bị đi tù… - Tất cả vẫn là do cái tư tưởng nông dân. - Trần Sinh như vỡ lẽ khi nghe Cơ trình bày hết sự tình. Lòng bừng bừng giận dữ, ông đi lại trong phòng, bàn tay nắm chặt lại như đấm vào không khí. - Đúng. Phải đập tan cái tư tưởng nông dân. Để như vậy thì đời nào xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội? Ở Thanh Bình hiện giờ đang có những phần tử núp dưới danh nghĩa Đảng để chống lại chủ nghĩa xã hội. Về phương diện Đảng, huyện uỷ sẽ có biện pháp kiên quyết loại trừ ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội đó. Riêng về hợp tác xã, huyện vẫn lấy Thanh Bình làm điểm chỉ đạo. Ông không được đi đâu hết. Đừng có tư tưởng dễ ăn khó bỏ, tư tưởng đầu hàng thoả hiệp. Huyện uỷ quyết định ông tiếp tục đặc trách hợp tác xã Thanh Bình. - Báo cáo anh… Nhưng việc chọn chủ nhiệm là do đại hội xã viên… - Cơ rụt rè nhắc Trần Sinh. Mặc dù đồng chí bí thư đã tiếp cho anh thêm niềm tin và sức mạnh, nhưng anh vẫn cảm thấy chống chếnh lo ngại. - Dù Thanh Bình có tổ chức đại hội hợp tác xã hay không thì quyết định của huyện uỷ vẫn phải được thực hiện. Trần Sinh khẳng định dứt khoát. Và ông đã làm đúng như vậy. Chỉ mấy ngày sau, ông viết một lá thư gửi riêng cho bí thư đảng uỷ xã Thanh Bình. "Kính gửi anh Điền. …Thường vụ huyện uỷ đã quyết định anh Cơ sẽ ăn lương trong biên chế của huyện và chỉ định trực tiếp phụ trách phong trào hợp tác xã Thanh Bình. Bằng mọi giá, chúng ta phải xây dựng Thanh Bình thành một điển hình xuất sắc toàn tỉnh về phong trào hợp tác xã nông nghiệp. Đó là ý đồ chỉ đạo của thường vụ, thực hiện nghị quyết của đại hội huyện đảng bộ lần thứ mười hai vừa rồi. Tôi biết nội bộ Thanh Bình đang có vấn đề nghiêm trọng. Cách làm việc thẳng thắn, kiên quyết của anh Cơ rất có thể làm cho xã viên bất bình. Trong tình hình có nhiều tiêu cực hiện nay, cách làm đó cần được ủng hộ. Nó biểu hiện tính chiến đấu cao, kiên quyết ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, ngăn cản con đường nông nghiệp đi lên sản xuất lớn. Anh có trách nhiệm thực hiện ý đồ của thường vụ trong việc này. Hi vọng rằng, anh sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ…". Bí thư huyện uỷ TRẦN SINH Quyết định của huyện uỷ đã tạo thành một dư luận xôn xao khắp xã Thanh Bình. Cả những xã viên bình thường, không hề quan tâm đến chuyện bầu bán bao giờ cũng bắt đầu bàn tán. *** Vào một buổi sáng, trước ngày đại hội ba hôm, tự nhiên thấy xuất hiện những tờ giấy, kích thước không đều nhau, được viết bằng nhiều thứ mực, kể cả nhọ nồi, dán khắp trên những bức tường, gốc cây ở những nơi đông người qua lại, đặc biệt là ở chợ Ba Thôn và trụ sở uỷ ban, văn phòng hợp tác xã Thanh Bình. Những dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng thứ bút tre tự làm hoặc bằng đầu quản bút học trò. Phần lớn các bài viết đều ngắn, có chỗ vô nghĩa, khó hiểu, nếu không phải là dân Thanh Bình thì không thể đoán nổi, nhưng lại tạo được vần vè dễ thuộc: "Điển hình tiên tiến đâu đâu Xã viên bụng đói nhìn nhau khóc thầm Mình ông con số sáu trăm Ông đưa lên báo ông vào uỷ viên". "Một trăm năm mươi mẫu Đậu tương đổ ra đồng Tương không có kho cá Chỉ vớ bở mình ông". "15 đội cảnh cáo 15 đội tham ô Cán bộ đảng viên đều xấu hết Riêng ông trong sạch ra trò Ông phóng ảnh bà bằng cái mo Kiện tướng chăn nuôi bằng cám kho…". Những tờ giấy thật quái ác, tất cả đều nhằm vào Cơ. Đến buổi trưa, những tờ giấy ấy đều được ông Điền và Thiển cho người xé đi. Nhưng hầu như trong xã Thanh Bình, ai cũng đã thuộc. *** Như một ngày hội lớn, hội trường hợp tác xã Thanh Bình suốt từ sáng sớm đã tấp nập, nhộn nhịp. Hai chiếc loa đại gắn trên hai đầu nóc nhà, một chiếc nữa gắn tít trên ngọn cây gạo, quay ba hướng về ba thôn, mở oang oang. Nói. Hát. Ngâm thơ. Độc tấu. Giọng con trai, con gái, cao, trầm, liên tục không lúc nào nghỉ. Đại biểu xã viên do các đội sản xuất bầu ra, lục tục khắp nơi trong xã về dự họp. Trong số các đại biểu, người ta thấy có Thanh. Anh đã chính thức được bầu làm đội trưởng đội Mười, thay Cản. Các đại biểu trẻ đều là nữ thanh niên. Các cô ăn diện thật đẹp, áo sơ-mi trắng, hoặc áo màu, áo hoa, quần lụa đen. Thắm nổi bật lên giữa đám thanh niên thôn Thanh Cao với chiếc sơ-mi màu hoa cà, cổ lá sen, tóc buộc thành hai bím rủ xuống hai bờ vai, khiến gương mặt càng tươi trẻ, xinh xắn. Sau mấy tháng lặng lẽ và u buồn, hoặc cố tình lẩn tránh khỏi đám đông, Luyến lại xuất hiện. Dường như sau kỳ sinh nở, Luyến đã trở thành một người khác. Chị đẫy ra, da căng và mịn hơn. Bộ ngực tròn đầy như nổi lên cái khả năng tràn trề của một người mẹ. Sau mấy lần Cơ đến thuyết phục Luyến trở lại công việc của mình, Luyến đã chấp nhận. Và hai mẹ con Luyến lại dọn ra ở căn phòng đầu chái nhà kho cũ. - Cô Luyến. Cô gửi bé cho ai rồi? Sao cô không cho em đi họp? - Nhìn thấy Luyến đi cùng với Sáng, Thắm kéo mấy cô bạn tíu tít chạy lại. - Cô gửi mẹ mày. Cho đi để nó phá hội nghị à? Các cô bạn cùng phá lên cười. - Cu Tí ghê lắm nhé. - Thắm khoe với các bạn. - Cho cái gì ăn được là Tí ta đút ngay vào miệng. Hôm qua đang ăn cái kẹo, tớ mới giật ra đưa cho cái lược. Cu Tí biết bị lừa, liền quẳng ngay đi, hai chân đập phành phạch xuống giường, miệng khóc mà cấm có tí nước mắt nào… Luyến nhìn Thắm, lặng lẽ cười, như là lần đầu tiên chị biết đến những đức tính đáng yêu của con mình. Đúng thế đấy. Bé khôn lắm nhé. Ba tháng mà đã biết đủ điều. Chỉ cần đi vắng một lúc, khi về, bé đã ôm chầm lấy, bàn tay nhỏ xíu áp vào má như trách, rồi bé rúc đầu vào ngực tìm núm vú, vừa bú vừa nhìn mẹ, tít mắt cười. Bé thương mẹ mà. Có ai dạy đâu mà đã sớm biết thế?... Tiếng loa đang hát bỗng ngừng bặt. Rồi một giọng nam trầm: - A lô… Sắp đến giờ khai mạc đại hội, ban tổ chức chúng tôi đề nghị các đại biểu xã viên khẩn trương về ngay hội trường để chúng ta kịp làm việc. Hai chiếc bản đen lớn được khênh ra dựng ở ngay lối cửa chính ra vào. Các xã viên đều kéo nhau đổ dồn đến xem danh sách những người ứng cử. Tên Cơ được viết ngay trên đầu bảng, đứng đầu danh sách mười hai người ứng cử ban quản trị: - VŨ ĐÌNH CƠ, uỷ viên ban chấp hành huyện đảng bộ Giang Thuỷ, do huyện trực tiếp chỉ định giữ chức chủ nhiệm. Cả hai tấm bảng đều không có tên Đào Hữu Thiển. - Sao bảo ông Thiển được thường vụ giới thiệu sang làm chủ nhiệm? - Người ta xì xào hỏi nhau. - Ông Thiển xin rút để tập trung phiếu cho ông Cơ rồi. - Còn bầu gì nữa? Ông Cơ coi như không phải bầu. Huyện đã trực tiếp chỉ định. - Nói lạ. Phép vua thua lệ làng. Phải bầu chứ. Hợp tác xã chứ đâu có phải một phòng ban nào của huyện? Thanh đang đứng giữa đám đông, nghe hết những lời bàn tán. Chính anh cũng không hiểu liệu Cơ có phải bầu không? Thanh đi vào hội trường tìm Lập. *** Từ hôm Thanh được bầu làm đội trưởng đội Mười, tự nhiên Thanh và Lập trở thành đôi bạn thân. Tình bạn, đôi khi thật kỳ lạ. Có những người biết nhau nhưng suốt cả thời thơ ấu, rồi một phần tuổi thanh niên, không hề chơi bời với nhau. Vậy mà do một sự tình cờ nào đó, họ bỗng gặp nhau ở những sở thích, những say mê, và cao hơn là những thiên hướng, mục đích, lý tưởng, và họ bỗng trở nên đôi bạn tri kỷ. Thanh và Lập cũng vậy. Giữa hai người hầu như không có chung nhau một kỉ niệm nào. Thanh ở Thanh Cao, còn Lập ở Thanh Minh. Ngày học ở trường cấp ba phố huyện, Lập học trên Thanh hai lớp. Hai người thỉnh thoảng đi về cùng đường với nhau, biết nhau, nhưng ít khi họ cùng nhau trò chuyện. Mười năm Thanh ở chiến trường, chưa bao giờ Thanh nghĩ đến Lập. Ngày về xuất ngũ, Thanh cũng không nghĩ rằng anh lại có thể quen thân được với Lập. Nghe xã viên nói Lập tháo vát, giỏi công việc đồng áng, và là "cố vấn số một" của hợp tác xã trong công tác lập kế hoạch, điều hành sản xuất, Thanh cũng chỉ biết vậy. "Anh Lập nếu là đảng viên thì đáng giữ chức chủ nhiệm từ lâu rồi. Cái vụ đông vừa rồi, không có anh Lập thì xã viên đói to…". - Một lần tâm sự về đội ngũ cán bộ Thanh Bình, Vy bỗng nói với Thanh. A, thế ra Lập chính là "tác giả" của hình thức khoán sản phẩm vụ đông vừa rồi? Thanh bắt đầu chú ý đến Lập. Anh la cà thăm dò trong xã viên, nhất là lớp thanh niên trẻ và phần nào hiểu ra cảnh ngộ và con người Lập. Một con người có trình độ văn hoá, có hiểu biết khá sâu sắc về nông thôn, yêu thích cái mới, sẵn sàng bất bình với lối làm ăn cũ kiểu cò con, với những mánh khoé cơ hội, chuộng thành tích, vụ lợi. Tính Lập thẳng thắn và hình như có phần quá tự tin về mình. Anh không né tránh những cuộc đụng độ, sẵn sàng đấu tranh để bênh vực quyền lợi xã viên, bảo vệ những việc làm đúng. Người ta đã kể ra khá nhiều trường hợp Lập công khai đốp chát với Biền, với Loã, và đôi khi cả với Cơ, với Đào trên văn phòng ban quản trị. Có người cho đó là chỗ yếu nhất của Lập: Anh không biết sống khôn ngoan. Những con người ngay thẳng, có bản sắc riêng như vậy, hầu như luôn gặp trắc trở trong cuộc đời. - Thanh nghĩ về Lập. - Cho đến bây giờ thì Thanh hiểu ra việc phấn đấu vào Đảng của Lập trầy trật tám năm nay chưa xong, cũng là lẽ đương nhiên. Lý lịch Lập không có vấn đề gì rắc rối. Nhưng chính con người Lập, tính cách và năng lực của anh lại là một trở lực khó chấp nhận đối với một đảng bộ mà những nhân tố tiêu cực, cái chất phi đảng vẫn còn tồn tại và trở thành một lực lượng áp đảo. Giá như anh cứ củ mì, lì xì vô thưởng vô phạt hoặc khéo léo mềm mỏng, biết lấy lòng tất cả, thì chắc mọi việc đã xong xuôi từ lâu. Nhưng khốn thay, anh lại sắc cạnh, có bản lĩnh riêng biệt. Anh tự khẳng định mình và cũng muốn mọi người cùng nhìn nhận như vậy. Thế thì đời nào cánh ông Thiển, ông Loã, ông Biền lại chấp nhận một cách dễ dàng sự có mặt của Lập trong đảng bộ? Ngay như ông Điền, hoặc Cơ, những người phần nào ủng hộ Lập, cũng chưa thật đã vô tư, công tâm, và dũng cảm trong việc nhìn nhận và đánh giá Lập. Họ ủng hộ anh như ủng hộ một xu thế hơn là một con người cụ thể. Có lẽ vì vậy mà họ cũng chưa thật hết lòng? Thanh bắt đầu có cảm tình với Lập. Và thật bất ngờ. Sau cái buổi tối Thanh đến gặp Cơ, Lập đã chủ động tìm đến Thanh, như một người bạn. - Tối qua ông đến chỗ anh Cơ phải không? - Ông Cơ nói với ông hả? Lập nhìn Thanh, như thầm kiểm tra lại những ước đoán của mình. Anh nói như vui chuyện: - Ông nên nhận chức đội trưởng đợt này đi. Xã viên đang trông ở ông cả đấy. Về phục viên, không tham gia công tác, chán chết… Thanh bật cười: - Nhưng tham gia công tác như ông thì vui nỗi gì? Có ai hiểu và hết lòng hợp tác với ông đâu… - Mình khác… Rồi sớm muộn cũng có người hiểu mình… - Lập ngẩn ra một lúc. Gương mặt thoáng một nét buồn. Nhưng rồi anh trở lại vẻ hào hứng: - Riêng ông, ông có nhiều lợi thế. Nói thật, mấy tháng qua, mình chờ đợi ông ghê lắm. Nhưng thấy ông cứ đi lên đi xuống khắp cơ quan tỉnh huyện để xin chuyển ngành, rồi lại bỏ đi làm thợ mộc, mình thất vọng ghê lắm… Thanh lảng tránh cái nhìn của Lập. Tự nhiên, mặt anh bỗng nóng ran. Cậu ấy không lấy lòng mình đâu. Cậu ấy nói thực lòng. Một con người như thế kia mà sao mình không biết tìm đến? Thanh trải chiếu ra hè. Sực nhớ ra nửa chai rượu còn thừa hôm nhà có giỗ, Thanh bảo Vy đi rang mẻ lạc. Hai người bạn cùng uống rượu suông dưới trăng. Hình như có một chén rượu, người ta sẽ sống thật mình hơn, có thể nói với nhau những điều mà lúc bình thường không ai nói. Thanh giãi bày hết với Lập những tâm tư, khúc mắc từ ngày anh về làng. Lập tâm sự với anh những điều anh hiểu biết về hợp tác xã, phân tích, đánh giá từng cán bộ chủ chốt trong xã, về dự định, mơ ước của anh… - Tôi với ông có nhiều điểm trùng hợp. - Thanh gật gù tán đồng. - Đáng lẽ ngay từ ngày xuất ngũ, tôi phải tìm đến ông mới phải… - Vẫn chưa muộn. Ông cứ nhận chức đội trưởng đội Mười đi. Mình sẽ tình nguyện làm cố vấn cho… Họ nắm tay nhau, cùng nhìn trăng, cùng bàn tính về những kế hoạch, những dự định cho vụ mùa tới… …Bây giờ thì họ đã trở nên thân thiết với nhau lắm rồi. Càng tiếp xúc với Lập, Thanh càng thừa nhận Lập đúng là một "chuyên gia" nông nghiệp giỏi. - Mình không hiểu danh sách đề ngoài kia là như thế nào? Ông Cơ có phải bầu nữa không? - Thanh tìm thấy Lập từ phía sau cánh gà sân khấu hội trường, khi anh đang tíu tít chuẩn bị cho giờ khai mạc đại hội, kéo anh ra một chỗ ghé tai hỏi nhỏ. - Có chứ. Phải bầu theo điều lệ hợp tác xã. Nhưng đó là trên danh nghĩa thôi. Có trúng phiếu hay không thì ông Cơ vẫn là chủ nhiệm. - Trường hợp không trúng phiếu thì tuyên bố với xã viên như thế nào? Lập chưa nghĩ đến điều ấy. Cho nên anh có phần lúng túng, trả lời theo sự phỏng đoán: - Lúc ấy buộc phải tuyên bố một số phiếu nào đấy. Chẳng hạn số phiếu tối thiểu. Ý chỉ đạo của anh Trần Sinh là như vậy. Thanh bẻ ngón tay khục khục, khẽ lắc đầu: - Gay go đấy. Qua đại hội đảng bộ vừa rồi, mình biết ông Cơ đang bị cô lập ráo riết. Cậu có thấy những tờ truyền đơn về ông Cơ vừa rồi không? Tất cả đều tập trung vào hai điểm: Đó là bệnh thành tích và thái độ kiên quyết chống tiêu cực. Người ta không cần phân biệt phải trái đúng sai, chỉ biết rằng nếu ông Cơ tiếp tục làm chủ nhiệm thì xã viên sẽ bị bóp chặt hơn nữa. Vụ mùa tới sẽ chẳng đội nào tơ hào được một cân thóc nào hết. Lập buồn bã thở dài: - "Phe đối lập" biết cách sử dụng sự bất bình của xã viên để kích động họ. - Lập đặt bàn tay lên vai Thanh. - Với cách làm ăn này, tất yếu mọi việc sẽ phải xảy ra như vậy. Ông Cơ chỉ là sản phẩm của ông Trần Sinh. Chỉ có cậu mới có thể góp phần gỡ thế bí hiện giờ. Cậu vẫn nhớ chuyện chúng mình đã bàn buổi tối hôm ấy chứ. Bắt đầu từ vụ này nhé. Nhất định chúng mình sẽ làm ăn được… Có tiếng xe ô tô. Thanh và Lập cùng nhìn ra. - Huyện đã xuống rồi kìa. - Lập sực nhớ vai trò ban tổ chức của mình, vội đứng dậy đi lo chuẩn bị mọi thủ tục. Đoàn đại biểu của huyện về dự đại hội hợp tác xã Thanh Bình có Toại, Mạch, và ba người nữa, trong đó có Hoà, con gái Cơ, cán bộ trẻ nhất của phòng nông nghiệp huyện. *** Phải đến gần mười giờ, đại hội mới có thể khai mạc được. Hội trường đông chật xã viên. Khói thuốc mù mịt như hun khói. Toại ngồi trên hàng ghế đầu, cạnh Thiển và Cơ. Suốt ba hôm nay Cơ buồn đến ủ dột. Những tờ truyền đơn như những lưỡi dao sắc mỏng cứa lách vào tim anh. Anh đau xót, rã rời nhiều hơn là uất ức, căm tức. Toại biết khá rõ những sự việc vừa xảy ra ở Thanh Bình và anh rất thông cảm với tâm trạng của Cơ hiện giờ. Anh chỉ ngạc nhiên không hiểu vì sao Thiển lại xin rút khỏi danh sách đảng uỷ đã đề cử? - Để tập trung phiếu, anh ạ. - Thiển nói với Toại, vẻ mặt thản nhiên như đó là chuyện đương nhiên thuộc về trách nhiệm của anh. - Để anh Cơ lo công việc hợp tác phù hợp hơn. Anh Cơ đã có nhiều kinh nghiệm quản lý kinh tế. Tôi với anh Điền cứ lo công tác đảng cũng đủ bơi ra rồi… "Mọi vấn đề phức tạp ở Thanh Bình là do ông Thiển hết. Ông ta cố tình hạ uy tín Cơ để thay chân chủ nhiệm". - Nhận định ấy của anh có còn đúng nữa không trong tình hình này? Có phải Thiển muốn lật Cơ cái chức chủ nhiệm, hay chính là do uý tín của Cơ đã giảm sút trong cán bộ đảng viên và quần chúng Thanh Bình? - Toại tự đặt ra những câu hỏi, nhưng anh chưa tìm được câu trả lời? Tình hình ở Thanh Bình quá phức tạp. Anh chưa đủ những cứ liệu để phân tích, đánh giá, tìm ra những nguyên nhân của nó. Cần phải chờ đợi ở đại hội này. Lập thay mặt ban tổ chức lên tiến hành các thủ tục. Danh sách chủ tịch đoàn gồm mười ba người được gọi lên. - Tất cả đại hội đều nhất trí với danh sách chủ tịch đoàn do ban tổ chức chúng tôi đề cử chứ ạ? Tiếng vỗ tay rời rạc khắp hội trường. Ông Điền, Cơ, Tấn, Đào,… và những người có tên vừa được đọc, lần lượt lên ngồi trước dãy bàn phủ vỏ chăn hoa dành cho đoàn chủ tịch đại hội. Khi Đào vừa đứng lên giới thiệu Cơ đọc báo cáo tổng kết thì từ giữa hội trường, một người cao to vụt đứng dậy, lừng lững như pho tượng hộ pháp. Mọi người nhận ra Kiểng, xã viên đội Ba xóm Lẻ, nổi tiếng nát rượu và hay gây gổ. Không hiểu vì sao anh ta lại được bầu đi dự đại hội? Nhìn bộ mặt tái nhợt, đôi mắt xếch đỏ vằn, cái đầu ngất nghểu dính vào cổ một cách lỏng lẻo, ai cũng đoán rằng ít nhất anh ta cũng đã làm một chai bố trước khi đến đây. - Tôi là tôi có ý kiến… - Giọng Kiểng lè nhè cố kéo dài ra, đôi mắt lấc láo đảo quanh như tìm kiếm ai, rồi chòng chọc nhìn vào đoàn chủ tịch, tưởng đang đếm từng người. - Tôi đề nghị đó… cái gì thì cũng phải bầu. Phiếu phiếc cho đàng hoàng. Chứ thế kia, đọc luế loá, rồi vỗ tay lẹt đẹt, rồi lên, ngồi chẻm choẹ… Không được. Tôi không có tán thành. - Kiểng bắt đầu hoa tay, khoát một vòng rộng. - Có các quí vị đồng chí thường vụ huyện, uỷ ban huyện ở đây, tôi hỏi cách làm ăn luế loá như thế có coi được không? Dân chủ ở chỗ nào? Hả, các vị? Bà con xã viên nghĩ thế nào? Phải bầu. Chủ tịch đoàn hay chủ tịch đội cũng phải bầu tuốt tuột. Hớ hớ… - Kiểng bỗng bật cười. Một nụ cười ngây ngô, nhưng thật khôi hài. Cả hội trường cười ồ lên. Nhiều tiếng nhao nhao từ cái góc Kiểng đang đứng nổi lên: - Đúng đấy. Ông Kiểng nói chí phải. - Phải bầu thôi. Làm ăn cho nó đàng hoàng. Từ phía cuối hội trường, có ý kiến phản đối: - Ông Kiểng gàn bỏ mẹ. Bầu thế thì có đến sang năm… - Ai bảo gàn? Hả? A dua để họ bóp mũi cho à? Đã phát biểu xong rồi, nhưng Kiểng vẫn chưa chịu ngồi xuống. Anh ta vênh vênh mặt nhìn sang hai bên và cứ giữ mãi cái nụ cười giễu cợt trên môi. Ông Điền doài người sang nói gì với Cơ, rồi đứng dậy giơ tay ra hiệu mời Kiểng ngồi xuống. - Anh Kiểng đề nghị cũng có lý. Nhưng đại hội chúng ta phải thông cảm. Bây giờ là mười giờ rồi. Chương trình đại hội khá dài. Chúng ta phải nghe đọc báo cáo tổng kết, phương hướng kế hoạch, phải thảo luận, rồi bầu ban quản trị mới. Phải khẩn trương lắm thì chúng ta mới kết thúc trong ngày hôm nay được. Tôi đề nghị trong số mười ba người trong chủ tịch đoàn chúng tôi đây, đại hội không nhất trí ai xin cứ phát biểu. - Không có được. - Kiểng lại khoát tay. Lần này thì Kiểng huơ cả hai tay lên. - Chúng tôi không thắc mắc ai. Xứng đáng cả. Nhưng mà phải bầu. Mười giờ chứ một trăm giờ cũng cứ là phải bầu. Thế mới gọi là dân chủ chứ. Xã viên cử chúng tôi lên đây là chúng tôi phải có đảm bảo. Không làm đúng quy lát, lần sau ai bầu chúng tôi đi đại hội? Hôm nay không xong thì kéo dài hai ba ngày. Một tháng cũng được. Làm lùi xùi, quí vị đồng chí huyện uỷ sẽ phê bình chúng ta chứ. Toại quay nhìn xuống, lắc đầu. Tiếp theo Kiểng, lại những tiếng nhao nhao ủng hộ và phản đối. Cái không khí nhộn nhạo và như sắp sửa hỗn loạn dưới kia đã khiến Toại dự đoán trước một tình hình rất phức tạp sẽ có thể xảy ra. "Tình hình sẽ rất phức tạp. Không thể làm căng được. Đề nghị các anh cho bầu bằng cách giơ tay biểu quyết". - Toại viết vội một mảnh giấy chuyển lên cho ông Điền và Cơ. Lại đấu tranh. Lại phản đối. Cả hội trường ồn ào như buổi họp chợ. Người ta giới thiệu thêm những người vào chủ tịch đoàn. Một dãy dài hơn hai chục người nữa. Phân tích. Đấu tranh. Nên để ai, bỏ ai? Sẽ lấy bao nhiêu người vào đoàn chủ tịch? Phải gần hai tiếng sau mới nhất trí được một danh sách 22 người đưa ra bầu theo cách lần lượt giơ tay biểu quyết từng người. Làm theo cách này lại càng phức tạp. Hai trăm sáu nhăm đại biểu, đếm đến bao giờ? Những ai sẽ được cử vào ban đếm? Nhưng không còn cách nào khác được. Lần lượt tên từng người được xướng lên. Những cánh tay giơ lên. Có người giơ cả hai tay. Có người đang giơ tay thì bị người đằng sau kéo giật xuống. Nhốn nháo. Hỗn loạn. Khói thuốc. Hơi người. Bức bối. Ngột ngạt. Mười ba đại biểu trên đoàn chủ tịch lần lượt rút về chỗ ngồi cũ của mình. Chỉ còn một mình Cơ, chị Đào, và ông Điền. Bỗng từ ngoài đường xuất hiện một đoàn người đi vào. Dẫn đầu là một ông già râu dài, đầu quấn chiếc khăn nhiễu đỏ, quần đùi nâu, áo tơ tằm vàng ngà, tay cầm chiếc quạt dài gần nửa thước, xoè ra như cái lọng, vừa đi vừa lắc lư phe phẩy. Theo sau là vài ông bà cũng trạc tuổi ấy. Rồi mấy chị nạ dòng, bế, dắt theo mấy đứa trẻ. Đoàn đại biểu nào đến chào mừng đại hội thế kia? Mọi người nhận ra ông trưởng họ Đào Hữu đi đầu và bố mẹ, vợ con của Loã, Biền, Thảng và mấy cán bộ đảng viên có liên quan đến vụ tham ô móc ngoặc đang bị xử lý. Ông Sửu trông có dáng một kép già trong cách gánh phường chèo cũ. Từ cách ăn mặc, điệu bộ, cái vẻ mặt nửa tỉnh nửa say, đều có một cái gì không bình thường. Như đã chuẩn bị, bố trí sẵn, ông Sửu dẫn "đoàn đại biểu" đi thẳng cửa chính hội trường. Cuộc biểu quyết bị dừng lại. Mọi người cùng xô đẩy để nhìn cho rõ cái "đoàn đại biểu" kỳ cục kia. Vì hiếu kì, tò mò. Vì đắc chí, chờ đợi. - Tôi là tôi có ý kiến. Đại hội này là phải tống cổ một số tên tham nhũng, hách dịch, gây mất đoàn kết, vu cáo cán bộ xã viên, lợi dụng mồ hôi nước mắt của xã viên để ngoi lên kiếm chác địa vị. - Ông Sửu nói oang oang. Cái quạt giấy dài nửa thước gấp lại, huơ lên như chiếc gậy của một vị thủ lĩnh. Vợ Biền, một người đàn bà có bộ mặt mỏng như diệp cày, tay bế con, nhảy thách lên, giơ tay lên phía bàn chủ tịch, xỉa xói: - Nó kia kìa. Chồng tôi phải đi tù cũng là vì nó. Chồng tôi hết lòng vì dân, làm lợi cho xã viên từng hạt thóc, nhưng các người đâu có biết. Cái vụ mùa năm ngoái ấy. Không có cái thằng Biền với thằng Loã, cứ để mặc cho nó lấy bình tích thì xã viên chỉ có mà treo mõm tuốt tuột. Ấy thế mà nó sổ toẹt công lao của người ta. Nó đổ hàng tấn đậu tương ra đồng, nhưng có ai dám động đến cái lông chân. Nó vung tiền ra tiếp đãi khách khứa chén thù chén tạc để rồi đổ vấy giết hại người ta. Cái món gỗ lát ấy, cứ vào trong buồng nhà nó mà khám… Cái giọng lè nhè của Kiểng chợt giật lên: - Lôi cổ nó xuống. Đã bầu bán xong đâu mà nó đã chễm chệ trên kia? Láo. Không coi đại hội này ra gì cả, hả? - Lên lôi cổ nó xuống! - Giọng ông Sửu như ra lệnh. Nhưng Cơ vẫn đứng đấy. Tất cả cán bộ đảng viên, kể cả Toại, Mạch, đều kéo lên cái sàn cao, nơi kê bàn chủ tịch. Họ cũng hò hét đến khản cả giọng, kêu gọi hãy giữ trật tự, không được gây hỗn loạn. Họ bàn nhau tìm cách đối phó. Một tổ dân quân do Xuyến phụ trách được phái ngay đi lấy súng. Ông Sửu lừ mắt một lần nữa. Hơn chục người đàn ông sát khí đằng đằng, xô ghế đứng dậy, nhất tề xông lên chỗ Cơ. - Không được làm thế. Anh Cơ không có tội. - Kìa anh Cơ, trốn đi kìa… - Những tiếng phụ nữ hét lên. Cả hội trường như bị một sức mạnh vô hình kéo xô về phía trước. Các cô gái bỗng nép sát vào nhau, sợ hãi, hoảng hốt. Người ta đứng hẳn lên ghế, la ó, hò hét, hưởng ứng, phản đối. - Cứ lôi cổ nó xuống, dần cho một trận. - Dân quân đâu? Ới các ông dân quân. Để cho bọn người xóm Lẻ họ phá đại hội thế này à? - Trói lão Sửu với thằng Kiểng lại. Bọn ấy định phá hợp tác. Một người cao lớn bỗng lừng lững đứng dậy, chắn ngang trước mặt những người định đi lên phía đoàn chủ tịch. Đó là ông Năm Ngũ. Phía sau ông có Thanh và gần một chục thanh niên, bộ đội phục viên. - Đứng lại. Về hết chỗ cũ. Các người định phá hợp tác phỏng? Lập tức, mấy người đàn ông khác cũng đùng đùng kéo lại, kết thành một phe đối lập. - Đánh giập đầu những đứa vu khống, phá rối. - Dân quân đâu? Trói gô cổ thằng Kiểng lại. - Đứa nào bảo đánh giập đầu, hả? Thằng Kiểng đây. Đứa nào muốn trói, hả? Kiếng nắm tay giơ lên, giáng vào mặt ông Năm Ngũ. Lập tức, hàng chục người cùng xô vào nhau. Tiếng la hét. Tiếng khóc. Tiếng ghế chạm nhau chát chúa. Một cuộc ẩu đả hỗn loạn. - Tất cả giải tán. - Xuyến quăng chiếc xe đạp trước cửa, chạy ùa vào, cầm khẩu súng ngắn huơ lên, hét vỡ cả giọng. Nhưng hình như không ai nghe thấy. Cuộc ẩu đả mới bắt đầu vào phút quyết liệt nhất. Thanh nhảy đại khỏi đám đông, giật khẩu súng AK từ tay cô gái vừa thở đứt hơi chạy đến. Anh kéo quy lát đánh rốp, chĩa mũi súng ra phía cửa, siết cò. Năm phát liên thanh làm cho trời đất như sập xuống. Cả hội trường bỗng chết lặng. XIX Đại hội hợp tác xã Thanh Bình không thành công. Ban quản trị cũ, có bổ sung Xuyến thay chân phó chủ nhiệm Loã, lại tiếp tục làm việc. Công việc đồng áng vẫn diễn tiến theo cái nhịp điệu mùa màng bận rộn của nó. Tháng sáu, trời nắng gắt gao nhưng mạ vẫn xanh mơn mởn. Những cánh đồng đã bừa ngả bằng phẳng, nước lấp loá hàng trăm mảnh gương xếp liền nhau. Những cánh đồng trước mặt Thanh, sau hơn mười năm, bây giờ mới lại được anh nhìn ngắm với trọn vẹn một tình yêu của người đang sống vì nó, cho nó. Đi thăm đồng, nhận mặt từng khu, từng thửa ruộng, đó là công việc đầu tiên của một đội trưởng mới. Ai cũng biết như vậy. Nhưng Thanh không chỉ dừng lại ở đó. Anh mượn bản đồ giải thửa của hợp tác xã, căn lại từng khu ruộng của đội mình, rồi tiến hành phân loại tốt xấu theo chất đất và năng suất từ nhiều vụ trước. Căn cứ vào sản lượng của hợp tác xã giao cho đội vụ này, anh lại định sản lượng cho từng cánh đồng, trên cơ sở đã phân loại. Cuối cùng là dự tính số ruộng sẽ chia cho từng lao động. Ở cánh đồng nào? Mấy sào? Đội chi bao nhiêu cân đạm. Bao nhiêu công điểm? Và xã viên sẽ phải giao nộp cho đội bao nhiêu cân thóc? Công việc này được Thanh tiến hành chủ yếu trong cái "văn phòng đội", tức là nhà của Thanh, có sự bày vẽ, tham mưu của Lập, trưởng kế hoạch của hợp tác xã, nhưng đang tình nguyện kiêm thêm chức trưởng kế hoạch của đội Mười - theo cách gọi đùa của Thanh - mà không hề đòi hỏi công điểm, đãi ngộ. Thanh bận rộn, vất vả nhưng lại có niềm say mê hào hứng của một người đang tìm tòi, nghiên cứu thí nghiệm. Công việc chiếm nhiều thời gian nhất và buộc anh phải hoàn thành trước khi cắm cây mạ xuống đồng, là phải khẩn trương đo tính xong từng thửa ruộng của đội. Người ta bắt đầu chú ý đến việc làm của Thanh: suốt ngày anh cầm cái thước dây cùng cô thư ký đội vác một bó cọc theo sau lần lượt đi đo từng thửa ruộng và đánh dấu từng đoạn trên hai bờ đối diện. Dóng theo hai đầu cọc ấy, sáng hôm sau lập tức xuất hiện một cái bờ ngăn. Người theo dõi việc làm của Thanh một cách chăm chú và hội hộp nhất là Cơ. Sau những biến cố ghê gớm vừa qua. Cơ trở nên thâm trầm, lặng lẽ, lúc nào cũng xét nét, hoảng hốt; lúc nào cũng hoài nghi, thủ thế. "Sớm muộn rồi mình cũng phải xin anh Trần Sinh cho đi học. - Cơ luôn tâm niệm. - Tổ chức giao cho làm chủ nhiệm ngày nào thì mình làm ngày đó, chứ chẳng thể lâu được. Mình muốn làm việc, nhưng người ta không để cho mình yên. Đành rằng mình có những sai lầm. Mình quá ham thành tích, quá bốc đồng, nhiều khi hỏng việc. Nhưng thực lòng mình muốn cái hợp tác xã Thanh Bình này của mình trở thành một điển hình mẫu mực. Xã viên no, phấn khởi mà đóng góp cho nhà nước được nhiều. Nhưng họ cố phá. Họ không để cho mình yên. Họ khơi sâu những nhược điểm của mình với động cơ hoàn toàn cá nhân, không xây dựng". Nhiều lúc Cơ cảm thấy mình như đang bị kẹp giữa một cái bàn ép. Một bên là lực lượng chống đối do Thiển đứng đầu, sẵn sàng lúc nào cũng có thể lật Cơ. Một bên là Trần Sinh mà sự tự ái, tín nhiệm bây giờ đã trở thành một tai hoạ. Cái hợp tác xã Thanh Bình của Cơ bây giờ không còn như hai năm trước đây nữa rồi. Nó giống như một chồi măng bị mấy thứ gió xoáy vặn, thứ gió nào cũng ra sức uốn nó theo chiều thổi của mình. Làm sao uốn được nó cho thẳng? Làm sao giữ cho nó khỏi trồi trụt, suy giảm như trước mùa năm bảy tám? Nhiệm vụ của Cơ thật nặng nề. Cơ không chèo chống nổi. Không tin ở sức mình có thể làm nổi những việc đó, chứ đừng nói gì đến hoài bão đưa Thanh Bình trở thành lá cờ đầu toàn tỉnh. "Ôi, cái máu bốc đồng, lửa rơm của mình mới tai hại chừng nào. - Có những đêm Cơ nằm thở dài, tự trách mình. - Mình quá say sưa với thắng lợi. Mình quá ham thành tích. Chính anh Trần Sinh đã làm cho cái bệnh ấy của mình thêm trầm trọng. Mình như một anh chàng lẻo khoẻo chỉ gánh được bốn mươi cân mà cứ đòi chất đầy một tạ. Cái hợp tác xã Thanh Bình của mình cũng thế. Hợp nhất ba hợp tác xã nhỏ, chẳng phải là gộp ba thằng bé con thành ông khổng lồ. Tiếc rằng bây giờ mình mới vỡ ra điều đó. Muộn rồi. Mình đã phung phí quá nhiều sức lực để thu lấy cái kết quả bi đát vừa rồi. Phải làm lại. Nhưng ai sẽ đứng ra làm người chữa cháy? Mình ư? Thiển? Xuyến? Bác Điền? Vẫn những bộ mặt cũ, những cái đầu mà ý nghĩ đã mòn sáo, trì trệ lắm rồi. Lập và Thanh ư? Rất có thể. Họ đang làm gì dưới đồng? Chia ruộng cho từng hộ xã viên. Mỗi khoảnh một hai sào. Cánh đồng rộng thênh giờ lại chia ô như những mụn vá. Bao nhiêu công sức mấy chục năm mới phá được cái bờ, bây giờ lại đắp lên, ngăn ra, mỗi người một khoảnh. Theo cách làm ấy rồi sẽ đi đến đâu? Thụt lùi trở lại trước năm năm tám ư? Trở lại tư hữu? Phá bỏ hợp tác xã? Cơ bỗng giật thót người, hệt như một tín đồ ngoan đạo bỗng thấy một kẻ vô thần đang liều lĩnh chạm đến bàn thờ thánh. Không. Cơ đã kịp tỉnh táo nghĩ lại. Không ai có quyền phá bỏ hợp tác xã. Con đường duy nhất để nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là con đường hợp tác xã như anh Trần Sinh đã nói. Không thể phủ nhận được những thành quả lớn lao mà hợp tác xã đã mang lại trong hai mươi năm qua. Không thể để Thanh làm như vậy được. Huyện sẽ biết ngay lập tức. Mình làm ngơ, tức là đã ngấm ngầm ủng hộ. Không có cái gì qua nổi mắt anh Trần Sinh đâu…". Cơ nghĩ vậy. Và anh đã đến khẩn khoản yêu cầu Thanh hãy chờ đợi thêm vài vụ tới. - Anh hoảng rồi phải không? - Thanh mỉm cười nhìn Cơ và tự nhiên anh thấy thương xót như anh đã từng thương xót những thằng bạn ngày ở chiến trường vì không chịu được thử thách, gian khổ, đã có những ý nghĩ muốn đào ngũ. - Tôi đã họp bàn với xã viên và bị bà con thúc ép ghê lắm. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ cố gắng làm thật kín. Nhưng những cái bờ ngăn chia mỗi thửa ruộng thành từng khoảnh kia, giấu ai được? - Ông không thể để xã viên đắp bờ như thế kia được đâu. - Cơ lại gặp Thanh, khi anh thấy những cái bờ xuất hiện. - Khổ lắm. Cuối cùng huyện biết thì tôi vẫn là anh giơ đầu chịu báng trước tiên. - Cơ nhăn mặt một cách khổ sở. Cái phong thái kiêu hãnh, tự tin trước đây đâu mất rồi? Thanh không ngờ khi bị dồn ép, vây bủa, người ta lại có thể dễ dàng đánh mất đi cái bản lĩnh của mình? Cơ có khác gì con chim vừa thoát khỏi mũi tên của người đi săn. Chỉ một làn cây cong, nó cũng hoảng hốt, lo sợ. Và thế là tự Cơ đi phá hết những bờ ngăn của đội Mười, vào một buổi sáng tinh mơ. Thay vào những cái bờ, xuất hiện những hàng cọc. Nhưng có gia đình xã viên vẫn muốn bón thêm phân, muốn bừa cho kỹ, họ vẫn cứ đắp bờ lên. Nhưng rồi cho đến lúc cấy thì những bí mật của đội Mười hoàn toàn bị khám phá. Sự việc đầu tiên người ta thấy là có nhiều gia đình tự gánh phân của nhà mình ra bón cho ruộng hợp tác. Đó là một sự lạ chưa ai từng gặp. Và những bà thợ cấy, mọi vụ mặt trời lên bằng con sào mới đủng đỉnh ới nhau ra đồng thì bây giờ dậy sớm từ lúc còn mờ đất, quẩy vội gánh mạ đã được nhổ sẵn từ tối qua xuống đồng cấy cắm cúi một mạch cho đến chiều tối. - Anh đội Mười nó khoán ruộng theo cái lối trồng khoai tây vụ vừa rồi. - Người ta kháo nhau. Người ta thúc ép các ông bà đội trưởng. Và rồi một vài đội ở thôn Thanh Cao, rồi thôn Thanh Giang rục rịch bắt chước làm theo. *** Thiển ngồi ở phòng khách huyện uỷ, kiên nhẫn chờ đợi. Có dễ đến hai tiếng rồi, kể từ lúc anh đến đây. Thèm thuốc quá, nhưng không tìm đâu ra điếu. Anh lục tìm trong túi áo lấy một mảnh giấy cũ cuộn hình sâu kèn, rồi nạp thuốc, hút. Khói thuốc cuộn tròn từng bối, vẩn vơ mãi không tan. Nghĩ đến cuộc gặp Trần Sinh sắp tới, tự nhiên anh thấy ngại. Ông ấy không ưa mình. Nhất là từ kỳ đại hội đảng bộ. Tay Cơ không trúng cử là do mình đạo diễn. Cũng không ngờ là tình hình lại xoay chuyển đến thế. Chỉ thiếu hai phiếu nữa thì hắn trúng. Ức mà phải chịu. Đến như ông Sinh ba đầu sáu tay thế mà cũng phải bó tay. Bằng vỗ vào mặt ông ấy còn gì? Giá Loã, Biền nó khôn ngoan hơn, đừng đính đến cái vụ lương khô thì mình đâu đến nỗi cực. Để ông Điền bí thư tiếp khoá này dù sao cũng là một bước nhượng bộ. Cái kỳ đại hội hợp tác xã thì mình dở. Rút khỏi danh sách ứng cử là đúng. Vừa được tiếng, vừa đỡ ôm rơm rặm bụng. Nhưng để ông Sửu với Kiểng làm mạnh quá, lộ liễu quá, hỏng việc. Ai bảo ông Sửu kéo một đoàn trẻ con, đàn bà lên làm gì? Nhưng mà thôi, nghĩ đến, ích gì. Mọi tội mình vẫn hứng chịu. Ông Sinh vẫn cứ nhè mình mà trù dập, thành kiến… Ờ, bây giờ thì ông mới hiểu tay Cơ. Nó đã phản ông rồi. Ông nuôi ong tay áo đấy chứ đừng có tưởng. Tỉnh mà biết chuyện này thì cái chức bí thư huyện uỷ cũng khó mà giữ nổi. Thiển lại thấy hào hứng và nóng lòng muốn gặp Trần Sinh. Xin báo cáo với đồng chí bí thư huyện uỷ, có chuyện rất nghiêm trọng tôi muốn nói. Vâng. Anh Sinh ơi, người ta đã phản anh rồi. Cái người mà anh đã hết lòng che chở, nâng đỡ ấy. Bây giờ thì anh sẽ hiểu tôi. Tôi oan ức còn hơn cả Thị Kính… Cánh cửa phòng họp phía đầu hành lang bên kia bỗng mở. Thiển hồi hộp đưa mắt nhìn từng người từ trong phòng họp đi ra. Chủ tịch Quyền, phó chủ tịch Lân, rồi Toại. Kia rồi, bí thư huyện uỷ đi ra với một người cao gầy, tóc bạc trắng, có vẻ một cán bộ trên tỉnh hay trung ương mới về. Họ đang tranh luận một vấn đề gì đó rất sôi nổi. Thiển rời phòng khách đi ra hành lang. - Báo cáo anh, tôi có chuyện muốn được gặp anh một chút. Trần Sinh nhận ra Thiển. Ông chau mày, thoáng một chút khó chịu. Nhưng rồi ông lại mỉm cười, nụ cười không nói lên ý nghĩa gì. - Gặp mình hả? - Dạ. Tôi đã đợi anh hai tiếng. Từ lúc các anh vừa họp… Trần Sinh hơi nhún vai. Ông mỉm cười quay sang bắt tay người cùng đi. - Xin lỗi anh. Mời anh về phòng khách nghỉ trưa. Chiều nay ta làm việc tiếp. À, nhân tiện xin giới thiệu, đồng chí Thiển, phó bí thư đảng uỷ xã Thanh Bình, nơi mà chúng tôi dự định mời anh về nghiên cứu cái đề tài "Bước đi của một hợp tác xã lên sản xuất lớn" của anh. - Trần Sinh giới thiệu khách với Thiển - Đồng chí Lê Đoàn, chuyên viên Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. Thiển bắt tay, chào người khách, rồi đi theo Trần Sinh. - Chuyện có lâu lắm không? Ta vào tạm trong này ngồi mấy phút. Hai người quay trở lại phòng họp. Trần Sinh nhìn đồng hồ vẻ sốt ruột và không muốn phí thì giờ. - Có chuyện gì thế, đồng chí Thiển? - Dạ, tôi muốn hỏi ý kiến anh… Đường lối xây dựng hợp tác xã hiện nay có cho phép hợp tác xã chia ruộng cho xã viên tự sản xuất lấy không ạ? - Đồng chí bảo sao? Ở đâu có chuyện đó? - Trần Sinh chợt nhổm lên, nhìn Thiển chằm chằm - Đó là một hình thức quay lại con đường tư bản chủ nghĩa. Phá hợp tác xã. Ở Thanh Bình có chuyện đó hả? - Tôi tưởng anh đã biết chuyện rồi? - Thiển hỏi lại. Anh có nghệ thuật kích thích sự tò mò của người khác. - Anh nói cụ thể cho tôi biết xem Thanh Bình đang làm những cái gì? - Trần Sinh đã sốt ruột lắm. Ông dỗ mãi điếu thuốc trên bàn nhưng không hề nghĩ đến việc châm lửa. - Tôi thấy có trách nhiệm phải báo cáo thành thực với huyện uỷ về việc này. Bởi vì chính đảng uỷ chúng tôi cũng không hề được hỏi ý kiến. Ban đầu chúng tôi cũng cứ nghĩ rằng huyện uỷ đã có chủ trương và anh Cơ là người được giao trách nhiệm thực hiện. Nhưng nếu như anh nói vừa rồi thì đây là một việc làm rất nguy hiểm… Ở Thanh Bình chúng tôi hiện đang có tình trạng các đội chia ruộng cho gia đình xã viên tự cày cấy… Thiển đã kể lại một cách chi tiết tất cả những việc làm đang diễn ra ở hợp tác xã Thanh Bình. Tất nhiên, câu chuyện được nhìn nhận dười một góc độ đầy bi quan lo lắng cho nguy cơ một sự phục hồi hình thức phát canh thu tô đã bị xoá bỏ từ lâu. Thiển cũng không quên nhắc đến vai trò nòng cốt của Thanh và Lập với cái ổ phát sinh đầu tiên là đội Mười. - Quan điểm của anh Cơ thế nào? - Dạ, tôi không được rõ. Vì mấy lần, thay mặt đảng uỷ, tôi trao đổi với anh Cơ, nhưng anh ấy đều tìm mọi cách lảng tránh. Trần Sinh tựa người vào thành ghế. Đôi ánh mắt bao trùm lấy Thiển như muốn đo lường sự trung thực của những lời nói vừa rồi. Ông vốn có thành kiến với Thiển. Ông không ưa những người có đôi mắt một mí và khuôn mặt quá ngắn. Nó có gì gian giảo và đầy những mưu mô. Ông cho rằng chính Thiển là người đã tổ chức đánh gục Cơ trong thời gian vừa rồi. Cần phải kiểm tra lại. Chớ vội kết luận. - Ông nghĩ vậy. Đó chính là một cách tự an ủi mà ông vẫn thường dùng mỗi khi cảm thấy hoang mang thất vọng một điều gì. Đúng là ông đang hoang mang thất vọng. Thất vọng ghê gớm. Cái điển hình Thanh Bình mà ông đã dành hết tâm sức để chăm lo, vun đắp, lại tan rã một cách ghê gớm như thế ư? Người chủ nhiệm mà ông hết lòng tin tưởng, hi vọng lại nỡ phản ông sao? - Không. Tôi không tin. - Trần Sinh bỗng nắm tay đấm xuống bàn, vụt đứng dậy. Cả người ông như dồn về phía trước. Ông nhìn Thiển trừng trừng, đôi mắt như lồi hẳn ra, rực lên những tia dữ dội - Chính anh sẽ phải chịu trách nhiệm về những lời nói của mình… Thiển khẽ nhếch miệng cười giễu cợt. Chưa bao giờ nhìn đồng chí bí thư huyện uỷ tức giận mà Thiển lại thấy vui mừng như bây giờ. *** Sự kiện ông Trạc và con bò của ông đi bừa ruộng hợp tác làm cho mọi người hết sức kinh ngạc. - A, thì ra cuối cùng ông Trạc cũng không thể thi gan mãi với hợp tác xã được. Chuyện ra vào đâu phải dễ. Hợp tác xã nắm đằng chuôi. Đói thì đầu gối cũng phải bò. Già đời rồi còn dại. Họ không trả ruộng, vặn răng ra mà sống ư? - Có người nói như vậy. Nhưng đó là suy diễn của những người nông cạn. Con bò của ông Trạc mới mua về mấy tháng đã trông thấy lãi bạc nghìn. Chỉ tính riêng con bê mới đẻ đã gần hoà vốn. Ăn đứt không con mẹ. Làm hợp tác, bao giờ mới kiếm được món tiền ấy? Những người hiểu biết cam đoan rằng ông Trạc có đầu óc tính toán làm ăn vào loại nhất xã. Dại? Cứ bán cái dại của ông đi mà ăn. Nhưng sao tự nhiên ông lại xuống thang. Đi bừa ruộng hợp tác xã? Dễ hiểu quá. Đội Mười đã khoán sản phẩm. Bà Trạc với Thắm được chia hai định suất. Mẫu rưỡi ruộng. Ông lại "hợp tác" với hai mẹ con làm chung mẫu rưỡi ruộng ấy. Con bò của ông mặc nhiên trở thành một "công cụ" lao động lợi hại mà cả hợp tác không ai có. Các gia đình khác, hợp tác bừa cho thế nào cầy thế ấy. Riêng ông Trạc mang bò của mình bừa lại, ruộng ngấu như quấy cám. Hết chê. Thế là chính ông là người thức thời. Ông ra hợp tác giả vờ. Cũng giống như những anh chàng tạm nghỉ mất sức. Thấy cơ quan loạc choạc, thủ trưởng gây khó dễ, liền xin cái giấy hội đồng giám định y khoa cho tạm nghỉ việc kiếm ngoài một vài năm, đến khi thấy thủ trưởng mới về thay, đời sống cán bộ lên, lại xin làm việc trở lại. Mới hay rằng, khi người ta thích làm việc trở lại thì hăng thật. Cứ trông ông Trạc bừa ruộng mà thèm. - Vắt, vắt… vào… - Diệt này… Họ… Một mình ông với con bò mà làm náo nhiệt cả khu đồng. Con bò vàng béo tròn căng, duyên dáng như một cô thôn nữ, đủng đỉnh kéo chiếc bừa đi dọc hàng vè. Công việc đối với chị chàng thật mới mẻ và có phần nặng nhọc. Bởi mấy tháng này, chị chàng chỉ có một việc duy nhất là đẻ một chú bê và hàng ngày theo ông Trạc đi khắp các bờ ruộng bờ mương để kiếm cỏ non. Bởi thế, có những lúc chị chàng lại đứng đờ ra giữa ruộng hoặc đáng lẽ ông Trạc hô diệt thì lại vắt. - Diệt này… Kìa, diệt cơ mà… Rõ ngốc như… bò. Ông mắng, rồi vung cái roi lên. Nhưng không bao giờ ông đánh nó. Nó là cục vàng của ông. Cứ tưởng ông chỉ cần nuôi cho nó đẻ, chứ bây giờ nó lại giúp ông bừa ruộng thì đúng là nó còn quý hơn vàng. Trên bờ, chú bê con có bộ lông ánh tơ màu nâu nhạt tung tăng đùa giỡn với một con châu chấu, đưa cái mõn xinh xinh ngắt một ngọn cỏ, rồi ngẩn ra nhìn mẹ đang đủng đỉnh bừa ruộng. - Bê… ê… e… - Tiếng chú ngân dài như tiếng trẻ làm nũng mẹ. Rồi thoắt một cái, chú phốc chạy lên bờ mương. Một người đi xe đạp từ trên đường cái rẽ xuống đồng, nhìn thấy chú bê con liền xuống xe đạp, cúi vuốt nhẹ lên đầu nó một cách âu yếm, rồi dắt xe đi về phía ông Trạc. - Chào bác. Bác có con bò đẹp quá. - Không dám. Chào chú. - Ông Trạc dừng bò ngay đầu ruộng, nhìn người khách đi đường. "Ai thế nhỉ, quen quá. Hình như mình đã gặp cái lần chống úng năm ngoái". - Ông Trạc thầm nhớ lại. - A, chào đồng chí. Đồng chí mới từ trên huyện về phải không? Toại cũng đã nhận ra ông Trạc. - Bác. Thế mà tôi lại cữ ngỡ ai… Hai người ngồi trên bờ ruộng cùng hút thuốc lào. - Sao bảo bác ra hợp tác rồi cơ mà? - Toại tảng lờ làm như không biết. - Sao chú biết, hả? - Ông Trạc tròn xoe mắt nhìn Toại. Ông không ngờ mình lại nổi tiếng đến thế. - Hà, hà… Ra giả vờ thôi, chú ạ. Chứ hợp tác mà làm ăn như thế này thì tôi lại vào. Toại làm như ngơ ngác không hiểu: - Làm ăn như thế này là thế nào, hở bác? - À… Đấy, chú trông còn bò của tôi thì chú biết. Nó vốn là con bò cảnh. Ngày tôi ra hợp tác xã, mua nó cốt để dưỡng già. Nhưng từ ngày thằng Thanh, cháu gọi tôi bằng cậu, đi bộ đội về, thay ông Cản làm đội trưởng, nó liền nghĩ ra cách làm ăn mới này. Chú bảo có hay không nhé. Đội cày bừa xong, chia cho mỗi lao động bảy sào rưỡi. Tự cấy, từ chăm bón, sau này tự gặt. Giao nộp trả đội số thóc đội khoán. Thưa bao nhiêu thì hưởng, thiếu phải bù. Tôi có bò. Tôi bừa lại cho kỹ. Bón thêm phân. Ruộng của tôi, ắt tốt hơn, có đúng không? Chú tính, một mẫu rưỡi của hai mẹ con con Thắm nhà tôi, đội họ khoán cho chín mươi cân một sào. Nhưng bình tình này, tôi sẽ thu đứt một tạ rưỡi, hai tạ, bằng ruộng phần trăm. Vậy là tôi lãi to, phải không? - Nhưng mà bác có bò làm đất thêm. Những gia đình khác thì sao? - Dĩ nhiên là họ phải thu hoạch kém hơn. Nhưng bét ra cũng phải tạ hai. Coi như ruộng của mình, tha hồ bón phân, chăm sóc. Tranh thủ chiều hôm gà gáy, làm gì mà chẳng tốt? Chứ nói thực với chú, vụ chiêm xuân vừa rồi, làm ăn theo kiểu cha chung không ai khóc, ấm ớ hội tề lắm. Gặt về, đội nào cũng ăn trộm thóc. Ông Cơ đổ đảng uỷ vừa rồi cũng vì cái tội làm găng với xã viên quá. Nhiều cán bộ đảng viên bị ông ấy cảnh cáo, họ thù ra mặt… Toại chỉ biết gật gù. Anh thầm biết ơn ông Trạc đã cho anh bao nhiêu điều bổ ích. Giá có anh Trần Sinh ở đây, chắc khó thuyết phục được anh ấy. Nhất định anh ấy sẽ không tin, sẽ cho rằng mình không vững vàng trong đường lối, có tư tưởng quay lại chế độ tư bản. Chiều hôm qua, lúc kể lại chuyển Thiển lên gặp, ông ấy gắt ầm lên, đề nghị mình lấy ô tô xuống ngay Thanh Bình kiểm tra, nắm tình hình để thường vụ có kế hoạch xử lý. Con người ông ấy cực đoan tới mức bảo thủ. Yêu hết mức mà ghét cũng hết đường. Mới sáng qua còn ca ngợi hết lời hợp tác xã Thanh Bình và chủ nhiệm Cơ với đồng chí chuyên viên Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. Thế mà ngay buổi chiều đã lập tức thay đổi, và đề nghị Lê Đoàn huỷ kế hoạch nghiên cứu Thanh Bình để chuyển sang Vân Xuyên. Cũng may mà mình đã từ chối không đi ô tô. Đi kiểm tra khoán, tốt nhất là đi xe đạp. Cứ tảng lờ như khách vãng lai, la cà vào chỗ các xã viên thì mới có thể tìm thấy sự thật… Và quả nhiên Toại đã tìm thấy sự thật. Thanh Bình đang khoán ruộng. Nhưng đó là một cơ chế làm ăn mới hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của xã viên. Toại ủng hộ chính sách làm ăn này. Chia tay ông Trạc, Toại dắt xe, ngược trở về cánh dộc mạ tìm Thanh. Anh muốn gặp người đội trưởng mới, một thượng uý phục viên, để tìm hiểu kỹ về cung cách làm ăn của đội Mười. Và để hiểu thêm một mẫu người, biết đâu đó chẳng phải là một nhân vật đại diện cho một giai đoạn mới ở nông thôn? Thanh đang nhổ mạ với các xã viên. Công việc này không phải là nhiệm vụ của đội trưởng sản xuất. Cả ngày hôm nay anh đã cùng với đội phó và thư ký đội hoàn thành công việc đo đạc và chia ruộng khoán cho các lao động. Tranh thủ ít phút buổi chiều để nhổ chục mạ cho Vy, sáng mai xuống đồng sớm. Một mình Vy với bảy sào rưỡi ruộng. Có mang bốn tháng. Anh không phụ giúp, Vy sẽ vất vả lắm. Toại đã nhận ra chiếc áo màu xanh rêu và chiếc mũ bộ đội đang lúi húi trên ruộng mạ. Nhưng anh không gọi. Anh muốn có được một lúc nhìn ngắm cái quang cảnh bận rộn và tấp nập trên đồng. Khu ruộng mạ buổi chiều đông vui quá. Cả trẻ con, người già cũng tranh thủ ra ruộng giúp gia đình trong cái công việc mất khá nhiều thời gian này. Những tia nắng cuối ngày loá chói trên những chóp nón, nhuộm hồng những khuôn mặt, những cánh tay… Vy từ dưới đồng quảy đôi quang chành đi rẽ về khu ruộng mạ. Thấy người đàn ông để xe đạp xuống vệ cỏ, và cứ đứng nhìn như dò xét, như tò mò, Vy cảm thấy ngờ ngợ, vội đi vòng một bờ ruộng, đến chỗ chồng. - Đã cấy xong rồi hả em? - Thanh mỉm cười nhìn vợ, khi Vy đến gần. Vy lội xuống ruộng, kéo áo Thanh thì thầm: - Anh này, hình như có ông cán bộ huyện về kiểm tra… Từ nãy giờ vẫn cứ thấy đứng trên bờ dò xét. Em trông quen mặt, nhưng không nhớ tên. Anh phải làm thế nào không có huyện họ phát hiện ra thì gay lắm… Thanh quay lại nhìn. Đã thấy Toại đang xắn quần lội ruộng đến gần. - Hai vợ chồng ông đội trưởng làm ăn vui quá nhỉ? - Toại cười niềm nở, ý muốn bảo: "Tôi biết hết cả rồi". Thanh nhận ra ông phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp mà anh được biết hôm họp đại hội hợp tác xã. "Họ phát hiện nhanh lắm. Nhưng tốt nhất là cứ lờ đi. Để họ nhúng vào rồi sẽ hỏng việc". Một ý nghĩ lướt nhanh qua đầu Thanh và lập tức anh có ngay một bộ mặt thật thản nhiên thích hợp. - Chào đồng chí. Không ngờ đồng chí cũng xuống thăm đồng? - Ông phê bình khéo quá. Ông tưởng huyện chúng tôi chỉ biết ngồi bàn giấy thôi à? - Toại cười rất thoải mái, chìa tay ra. Không kịp để Thanh từ chối, anh đã nắm lấy bàn tay đầy bún đất của Thanh rung mãi và cứ nhìn Thanh chằm chằm như thầm đối chiếu từng đường nét giữa người mà anh đang gặp với một gương mặt mà anh vẫn mường tượng trong đầu. - Ông biết mình chứ? Mình là Toại, phụ trách nông nghiệp huyện. - Chợt thấy mình có lỗi với Vy, Toại quay sang phía Vy mỉm cười chào - Đừng ngạc nhiên gì nhé. Mình vừa nói chuyện với ông Trạc đang bừa trên kia. Ông giỏi lắm. Kéo được cụ Trạc vào lại hợp tác xã là đủ thấy cái cách làm ăn của ông hấp dẫn đến mức nào rồi. Tối nay mình có ý định ở lại với ông, được không? - Toại quay sang Vy - Thế nào cô Vy? Cô không lên án tôi chứ? Vy cười e thẹn: - Em không dám. Chỉ sợ anh nói đùa thôi ạ… Thanh bắt đầu có cảm tình với Toại. Ở con người Toại, từ lời nói, cử chỉ, ánh mắt,… đều toát lên một cái gì sôi nổi, chân thành. *** Phòng họp huyện uỷ đã có đủ mặt ban thường vụ. Mọi người đang có vẻ chờ đợi một ai đó. Chủ tịch Quyền mở cặp lấy tờ báo hôm qua đọc lại, chốc chốc lại ngước mắt qua phía trên cặp kính trắng nhìn về phía cửa ra vào. Toại kéo ghế ra ngồi cạnh chị Miên phó chủ tịch, ngay sát cửa sổ. Anh vẫn đang tiếp tục câu chuyện về chuyến đi kiểm tra đột xuất hợp tác xã Thanh Bình. Chị Miên nghe chăm chú và thỉnh thoảng lại mỉm cười khẽ gật đầu. Đôi mắt đen ánh như bị Toại thôi miên, cứ chớp liên hồi. Trần Sinh suốt từ lúc vào phòng vẫn không chịu ngồi. Ông chắp tay ra phía sau, trầm ngâm đi lại trong cái góc hẹp bị chắn bởi những chiếc ghế mây. Những ý nghĩ của ông luôn bị ngắt quãng vì câu chuyện của Toại, cái câu chuyện về khoán sản phẩm ở hợp tác xã Thanh Bình ấy, làm ông cảm thấy bực bội. Thỉnh thoảng ông dừng lại, ném về phía Toại những tia nhìn sắc lạnh, như muốn nói: "Mình không ngờ là cậu lại thích thú với cái lối phát canh thu tô ấy một cách lộ liễu như vậy. Cậu lại bắt đầu tuyên truyền cho cô Miên. Đừng nên đi quá đà như vậy. Hãy cảnh giác với tư tưởng của mình. Thời kỳ quá độ không bao giờ đơn giản đâu. Chúng ta phải coi chừng chính mình. Có biết bao nhiêu thứ cạm bẫy vô hình của chủ nghĩa tư bản giăng mắc xung quanh. Chỉ cần đi chệch đường một chút là ngay lập tức anh sẽ bị sa lưới, không thể nào thoát ra được". Chủ tịch Quyền đã đọc hết tờ báo, sốt ruột nhìn đồng hồ, hỏi Trần Sinh: - Còn đợi đến bao giờ nữa? Anh có tin chắc là họ sẽ đến không? - Không đến, ngay hôm nay tôi sẽ ký lệnh cách chức tất cả. - Trần Sinh bỗng giận dữ, vung một tay lên. Và ông bắt đầu trút hét những gì vừa nghĩ trong đầu. - Qua báo cáo của anh Toại, chúng ta đã kết luận được rằng, vấn đề khoán, một hình thức phát canh thu tô mới, ở hợp tác xã Thanh Bình là có thực. Chúng ta muốn gặp ban lãnh đạo Thanh Bình chỉ là để xác định rõ trách nhiệm thuộc về cấp uỷ đảng hay ban quản trị mà thôi. Điều cần khẳng định có tính nguyên tắc là chúng ta phải coi hiện tượng Thanh Bình như một căn bệnh rất nguy hiểm. Nó đang phá vỡ tất cả những thành quả hai mươi năm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của một điển hình tiên tiến đã từng có một thời kỳ là niềm tự hào của toàn huyện đảng bộ chúng ta. Chúng ta sẽ phải kiểm điểm một cách nghiêm khắc và có biện pháp xử lý kịp thời. Có nên báo cáo với tỉnh uỷ không? Đó là vấn đề chúng ta cần cân nhắc thận trọng. Bởi vì chắc chắn tỉnh uỷ và ban bí thư sẽ không thể bỏ qua cái sai lầm có tính chất vi phạm đường lối này của chúng ta. Tôi hoàn toàn phản đối ý kiến của đồng chí Toại. Để cho Thanh Bình thí nghiệm thử một cách làm mới ư? Nhưng nếu nó là một dịch bệnh lây lan nhanh chóng ra toàn huyện thì sao? Không. Phải dập. Đó là một ổ vi trùng gây bệnh nguy hiểm. Không dập, sẽ đến lúc bó tay không cứu vãn nổi tình thế… Toại bỏ dở câu chuyện với chị Miên, kéo ghế ngồi quay lại phía bàn. - Thường vụ chúng ta sẽ phải bàn kỹ vấn đề này, anh Sinh ạ. Nhưng tôi e rằng với cách nghĩ của anh, liệu chúng ta có mắc phải bệnh giáo điều, máy móc quá không? Đành rằng ban bí thư chưa có chỉ thị về vấn đề này, nhưng nhiệm vụ của chúng ta, có phải lúc nào cũng thực hiện một cách máy móc những nghị quyết của trung ương đâu? Thế nào là thực hiện có sáng tạo, phù hợp với thực tế sản xuất? Trung ương không thể bày vẽ cụ thể cho chúng ta từng vụ việc mà tự chúng ta phải có trách nhiệm đóng góp, làm phong phú, sinh động thêm đường lối của Đảng. Anh vội kết luận Thanh Bình đang phát canh thu tô là quá võ đoán. Tôi đề nghị ban thường vụ chúng ta cần phải xuống ngay Thanh Bình để nghiên cứu cách làm ăn của đội Mười. Tại sao xã viên lại phấn khởi làm việc như vậy? Tại sao một người như ông Trạc, đã nhất quyết xin ra hợp tác xã, đã trù tính cho mình cả một cách sống tự do chắc chắn và hợp pháp như vậy, giờ lại tình nguyện trở lại hợp tác xã, gắn bó với đồng ruộng hơn cả những ngày trước đây? Có phải cách làm ăn mới của đội Mười đã bắt trúng nguyện vọng của xã viên không? Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở năng suất ngày càng cao, hay chúng ta chỉ máy móc tuân lệnh theo một nguyên tắc cứng nhắc? Cái gì làm lợi cho dân, cho chủ nghĩa xã hội, thì cái đó là mục đích của chúng ta. Chớ vội quy kết lập trường quan điểm. Bởi vì sự quy kết bao giờ cũng là sản phẩm của sự quan liêu, võ đoán,… Chúng ta cứ báo cáo toàn bộ sự thật với tỉnh uỷ và ban bí thư. Chúng ta cứ thử để cho Thanh Bình làm vụ mùa này xem sao. Chưa chi đã lo đi chệch sang con đường tư bản tức là chúng ta tự bó tay mình. Thực tế phong trào nông nghiệp của chúng ta mấy năm nay đã phản ánh điều đó… - Tôi xin hỏi đồng chí Toại, - Trần Sinh mỉm cười chế giễu - giả dụ, không phải chỉ một hợp tác xã Thanh Bình thí nghiệm theo lối khoán kia, mà là cả toàn quốc, nghĩa là tất cả các hợp tác xã đều đạp theo kiểu phát canh thu tô ấy, thì tình hình nông nghiệp nước ta rồi sẽ đi đến đâu? - Như vậy rõ ràng là một bước lùi. - Không đợi Toại trả lời, chủ tịch Quyền đã nói ngay. Và ông cười hà hà nhìn khắp lượt, dường như ông rất thích thú với sự phát hiện của mình. - Đúng. Một bước lùi. - Toại hơn ngẩn người, thầm nhắc lại ý của Quyền. Nhưng ngay lập tức, anh lấy lại được sự tự tin ban đầu. - Nhưng đó là một bước lùi cần thiết. Nói đúng hơn, đó là một sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn nông nghiệp chúng ta, phù hợp với quy luật của của một nước nông nghiệp lạc hậu. Thực ra nếu nông nghiệp của chúng ta cứ phát triển theo quy luật bình thường của chủ nghĩa xã hội thì cần khoán làm gì? Không có khoán vẫn hơn chứ? Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Còn chúng ta phải là có làm có hưởng, "tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ". Thế mới đúng. Theo tôi, khoán như anh Thanh Bình đang làm chính là một cách thực hiện hợp tác hoá có chiếu cố đến tính chất, đặc điểm của người nông dân Việt Nam. Tức là họ vốn sản xuất nhỏ, manh mún, thủ công, trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, kém, cán bộ chưa đủ sức quản lý, điều hành một đơn vị sản xuất có quy mô lớn, xã viên chưa có ý thức làm chủ cao, chưa quen kỷ luật lao động tự giác… Chúng ta có hai thế mạnh đó là nhân lực và đất đai, nhưng chúng ta chưa triệt để sử dụng sức lao động còn dư thừa và sử dựng còn lãng phí quá, nhất là lao động phụ. Đất đai bỏ hoang hoá quá nhiều, do nông dân không thiết tha với ruộng đất. Đó. Nếu chúng ta cứ máy móc hô hào tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách chung chung, bất chấp quy luật thì nông nghiệp của chúng ta sẽ bị kìm hãm, không tiến lên được. Các đồng chí thử ngẫm mà xem. Sau chiến thắng năm 1975, chúng ta quá say sưa trong ánh hào quang chiến thắng, chúng ta quá nóng vội muốn đốt cháy giai đoạn… Sẽ tiếp tục xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa Toại và Trần Sinh, nếu như lúc đó không có sự xuất hiện của ông Điền, Tấn và Cơ, bộ phận lãnh đạo chủ chốt của xã Thanh Bình. Ba người bước vào phòng với một tâm trạng vừa hoang mang vừa lo lắng. Cứ nhìn nét mặt họ cũng đủ biết. Cơ đưa mắt chào mọi người, nhưng lảng tránh không dám nhìn Trần Sinh. Ông Điền cứ đội cả chiếc mũ cối, để cả quai chiếc xà-cột chéo qua ngực hấp tấp ngồi xuống chiếc ghế do chị Miên vừa đưa lại. Còn Tấn thì lại đứng ngây ra ở cửa, không biết mình nên ngồi vào chỗ nào. - Chúng ta bắt đầu làm việc. - Trần Sinh đặt lại chiếc cặp trước mặt mình, quay một vòng từ trái qua phải, nhìn mọi người. Ánh mắt của ông khi lướt qua gương mặt đỏ nhừ, mồ hôi dính bết trên món tóc trước trán của Cơ, bỗng thoáng một nét chua xót, hệt như ánh mắt của người cha khi nhìn đứa con đã từng được nuông chiều, từng là nơi ký thác, gửi gắm những dự định, hi vọng của đời mình, nay bỗng trở nên hư hỏng, khó bảo. Trần Sinh nói tiếp: - Hôm nay, ban thường vụ huyện uỷ mời ban lãnh đạo xã Thanh Bình gồm có đồng chí Điền, bí thư đảng uỷ, đồng chí Tấn, chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, và đồng chí Cơ, huyện uỷ viên, chủ nhiệm hợp tác xã lên để trình bày trước thường vụ về tình hình khoán ruộng của Thanh Bình, bây giờ xin mời ba đồng chí. Chúng tôi sẵn sàng nghe. Ba người ngồi gọn về một phía, như ba bị cáo. Họ đưa mắt cho nhau. Mặc dù lúc nãy, trên đường đi, họ đã bàn với nhau khá kĩ về kề hoạch đối phó, những vấn đề cần trả lời và phân công trách nhiệm chính cho Cơ, nhưng lúc này trước một phòng họp quá nghiêm trang, như đang trong một phiên toà, với đủ mặt cả ban thường vụ huyện uỷ, thì họ lại cảm thấy những vấn đề mà họ đã sắp xếp có gì như không ổn. - Xin mời đồng chí Điền. - Chủ tịch Quyền nhắc. Ông Điền bối rối đứng dậy. Trần Sinh vẫy tay ra hiệu: - Xin đồng chí cứ ngồi tự nhiên. Chúng ta hãy nói thẳng thắn với nhau với tư cách những đảng viên… - Xin báo cáo với đồng chí. - Ông Điền vẫn đứng nói - Đảng uỷ chúng tôi đã phân công để đồng chí Cơ trình bày toàn bộ vấn đề. Mọi người đều đổ dồn mắt vào Cơ. Ánh mắt của Toại đầy khích lệ: "Cứ nói thẳng ra đi. Mình biết ông đã bật đèn xanh cho cậu Thanh rồi. Mình hoàn toàn ủng hộ ông". - Về chuyện đội Mười, chắc đồng chí Toại đã nói lại với các đồng chí rõ cả rồi. - Cơ nói chậm. Đó cũng là một cách để tự trấn tĩnh. - Khuyết điểm lớn nhất là cho đến trước khi đồng chí Toại xuống kiểm tra Thanh Bình, đảng uỷ và ban quản trị chúng tôi vẫn còn chủ quan về tình hình thay đổi ở đội Mười. - Cơ lại đưa mắt về phía Trần Sinh như để thăm dò phản ứng. Không thấy có dấu hiệu gì, anh yên tâm hơn. - Chúng tôi cho rằng đây là một hiện tượng tự phát… - Tự phát à? - Trần Sinh bỗng nheo mắt cười giễu cợt. Ông quay sang ông Điền. - Đảng uỷ Thanh Bình, trừ đồng chí Thiển ra, còn các đồng chí đều cho rằng đây là một hiện tượng tự phát phải không? - Báo cáo đồng chí. Như đồng chí Cơ đã trình bày, chúng tôi có khuyết điểm là đã chủ quan… Nụ cười giễu cợt trên môi Trần Sinh vụt tắt. Ông đột ngột đập tay xuống bàn, xô ghế đứng dậy, không kiềm chế nổi cơn giận dữ: - Cho đến bây giờ mà các đồng chí vẫn còn cố tình quanh co giấu diếm. Tôi nhắc cho các đồng chí biết rằng, không phải chỉ có đội Mười mà ở cả các đội Ba, đội Một của Thanh Giang, và toàn thôn Thanh Cao của đồng chí Cơ đều đã có khoán. Đồng chí Cơ chắc biết rõ anh Lập, anh Thanh hơn tôi chứ? Các đồng chí đã mắc thêm tội cố tình che giấu Đảng… Đúng lúc ấy thì cánh cửa đột ngột mở. Một người tay cầm chiếc mũ bộ đội không sao, mặc quần áo màu rêu ló vào. Gương mặt ướt đẫm mồ hôi, mái tóc bết lại, còn rõ vệt hằn vành mũ xung quanh. - Anh là ai? Có việc gì? - Trần Sinh quay phắt lại, hỏi giật giọng. - A, Thanh! Xin mời vào. - Toại nhận ra Thanh trước tiên và không kìm nổi một tiếng reo. Thanh bước vào phòng, trước sự ngạc nhiên của mọi người. Không có ghế cho anh. Nhưng anh không để ý đến điều đó. - Xin lỗi các đồng chí. Tôi đến hơi đường đột. Nhưng tôi thấy có trách nhiệm phải đến. Chắc các đồng chí đang bàn đến chuyện khoán sản phẩm ở Thanh Bình? Thanh chợt ngừng lại. Vì bỗng thấy không khí trong phòng im lặng đến kinh ngạc. Tất cả mọi cặp mắt đều chĩa vào anh. Một thoáng lúng túng. Nhưng rồi Thanh trấn tĩnh lại ngay. - Xin các đồng chí hiểu cho… Các đồng chí trong đảng uỷ, chính quyền và ban quản trị Thanh Bình không hề có khuyết điểm gì cả. Tất cả mọi sự việc là do tôi. Tôi xin nhận trách nhiệm trước xã viên, trước Đảng. Vẫn im lặng. Không ai nói gì sau khi Thanh đã đột ngột kết thúc. Hình như mọi người đang chờ anh nói tiếp. PHẦN VIẾT THÊM Cuối tháng Bảy. Đồng mướt xanh lúa con gái. Mặc cho bao sự kiện dồn dập diễn ra ở làng, lúa vẫn cứ mướt xanh. Các cụ già với những kinh nghiệm lão nông từng trải đêm đêm thường nhìn sao - kỳ thực chẳng ngày nào các cụ không nhìn đồng - và nói: "Năm nay lúa sẽ tốt không kém gì các vụ mùa bão lụt vừa qua". Bao nhiêu người phấn khởi. Bao nhiêu người hi vọng. Chỉ riêng ông Điền, sau một buổi đi họp trên huyện về, tự nhiên nằm bệt ba ngày không trở dậy. Ông cố giấu vợ, một mình nén chịu nỗi đau đớn khủng khiếp nhất của một người cha: Đạt, đứa con trai út của ông đã hi sinh trong cuộc chiến tranh biên giới vừa rồi. Chập chờn giữa những cơn đau thắt lòng, hình ảnh một vùng biên giới trập trùng hiện lên. Những đỉnh núi mờ sương. Những bản làng thấp thoáng mái nhà sàn chênh vênh trên sườn núi. Sông Lô. Những bờ lau. Con đường số Bốn, đèo Chữ Chi, đèo Bông Lau, đèo Tài Hồ Xìn,… Bộ đội mũ nan tre, áo trấn thủ, súng đạn lỉnh kỉnh. Những đoàn dân công đốt đuốc đi đêm, miên man như một dòng nước cuốn. Rồi chiến dịch Đông Khê, chiến dịch đường số Bốn. Hàng trăm lính lê-dương Pháp kéo cờ trắng ra hàng… Tuổi trẻ của ông đó. Những năm tháng đẹp nhất của đời người, ông đã gửi lại cái vùng đất thiêng liêng đó. Và bây giờ, con trai ông… Ôi, ông cứ tưởng rằng ngày ấy ông đã để lại cho con cả một khoảng trời biên giới vĩnh viễn xanh cái màu lam chàm kỳ ảo, cả một con đường số Bốn uốn lượn theo dòng sông Kỳ Cùng quanh năm ngan ngát hương hồi, chạy mãi lên đồng Thất Khê, Đông Khê, suốt mùa thơm lừng hương cốm… Trong cái hành trang người lính ít ỏi của Đạt, mà người ta đã chuyển về cho ông Điền, có tấm ảnh chụp chung giữa Đạt với Thắm và một cuốn lịch khổ rộng. Trên những tờ giấy có in ngày tháng sẵn, Đạt đã ghi vội những ý nghĩ của mình. Đó là một hình thức viết nhật ký của những người lính. Gần một tháng sống trên biên giới, theo như những dòng ghi trong lịch, Đạt chỉ đủ thời gian dành cho riêng mình như vậy. Đó chính là tài sản vô giá nhất đối với ông Điền. Nhưng ông đã trao lại cho Thắm. Đó là tài sản của Thắm, ông nghĩ vậy. * Ngày 5 tháng Hai. Sáu giờ sáng. Ô tô sư đoàn đón ngay trước nhà. Thế là từ nay không thể "trốn về" với em được nữa rồi, Thắm ơi. Xe chạy một ngày qua Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng. Có phải con đường ngày trước thầy đã từng qua: Phủ Thông - Đèo Giàng - Đèo Gió…? Xe đi như trong mây. Sương dăng nhoà không nhìn rõ núi. Gió rét như cắt, vỗ vào mặt. Rét thế này u và Thắm đi cấy thì cực lắm đây… * Ngày 8 tháng Hai. Qua đèo Mã Phục. Đúng là ngựa cũng phải phục. Quảng Yên rồi Trùng Khánh. Thị trấn biên giới đông vui ghê. Nhớ Thắm quá. Không hiểu Thắm đã ra viện chưa? Phải một ngày leo núi mới tới nơi đóng quân. Mệt. Thế mà những ngày luyện tập trước đây mình cứ coi thường. * Ngày 12 tháng Hai. Có vẻ như tình hình ngày thêm căng thẳng. Nhận điện của sư đoàn: "Sẵn sàng chiến đấu". * Ngày 16 tháng Hai. Lại chuyển địa điểm. Gần biên giới hơn. Ngay sát một đồn biên phòng. Nhìn rõ cả một vùng đất phía bên kia. Núi trập trùng. Đất khô cằn. Và hình như không có dân. Im ắng đến dễ sợ. * Ngày 29 tháng Hai. Một tuần khủng khiếp. Giặc chết như ngả rạ. Khắp rừng núi xác trương thối. Phải rút về mạn Phục Hoà. Thắm ơi, em đang làm gì bây giờ? * Ngày 2 tháng Ba. Không thể liên lạc được với sư đoàn nữa. Nghe tin địch đã chiếm được thị xã Cao Bằng và đang tiến lên Quảng Hoà. Đơn vị mình bị bao vây rồi. * Ngày 10 tháng Ba. Chiếc máy bộ đàm bị hỏng. Được chuyển sang đơn vị chiến đấu. Khoái quá. * Ngày 13 tháng Ba. Suốt đêm qua không ngủ. Rét run người. Cả đêm cứ nghĩ đến Thắm. Nhớ cả thầy, u và cái làng Thanh Cao quá. Thế là anh vẫn chưa viết thư cho em được. Thắm ơi! Không biết có còn được trở về với em nữa không? Không. Anh sẽ về. Em hãy tin điều đó… Cuốn "nhật ký" dừng ở đó. Những ngày tiếp không có một dòng chữ nào. Chỉ vương những vết đất. Và những vết máu. Thắm đã thuộc những dòng nhật ký ngắn ngủi đó, một mảnh đời hết sức đẹp đẽ và không thể chết của Đạt, như Thắm đã thuộc lá thư anh gửi trước ngày lên biên giới. Tất cả những lá thư tình. Tất cả những gì của Tình Yêu sẽ sống mãi. Đã bao lần Thắm ngồi một mình lặng ngắm tấm ảnh hai đứa qua làn nước mắt nhạt nhoà. Anh vẫn đó, bên Thắm. Đôi mắt sáng trầm tĩnh, cố làm ra vẻ người lớn, nhưng vẫn không giấu nổi cái nét rất trẻ con nơi đôi môi nhỏ chúm lại, lúc nào cũng muốn bật cười. Cả hôm nay. Cái buổi chiều mùa thu trời cao xanh đến không cùng. Và đồng mướt xanh như không gì có thể xanh hơn. Thắm lại ngồi một mình bên bờ mương, lặng ngắm hình ảnh ANH trong tâm trí. Cánh đồng này và mảnh đất biên giới ANH nằm lại đó xa nhau vời vợi, tưởng như không bao giờ Thắm đến đó được, thế mà Thắm đã từng đến suốt những tháng qua. Cũng như suốt những năm tháng qua, tất cả những người yêu, người vợ ở Thanh Bình không chỉ sống cho riêng mình. Họ đã sống cả cái phần của những người đi xa, những người đã mất. Cánh đồng của chúng mình đó. Vì nó mà đám cưới của chúng mình đành hoãn lại. Vì nó mà chúng mình không bao giờ còn được cưới nhau nữa. Nhưng, anh Đạt ơi, cũng vì nó, em sẽ sống xứng đáng với ANH hơn. Vũng Tàu, tháng Năm Quảng Bá, tháng Mười, 1982 H.M.T -------------------------------- (*) Trixtan và Ydơ: truyện dân gian Pháp.
Đặng Văn Sinh
Công ty Vẹt
Truyện ngắn
Thời còn trẻ, lúc nào Cao Học Ngâm cũng tự nhận mình là người Hà Nội để lòe thiên hạ. Thực ra quê hắn là một làng bán sơn địa miền trung châu mang đậm dấu ấn của nền văn minh đá ong. Bên kia sông Cái, đối diện với bãi chuối làng Hạ là khoảng không xa vời, nhìn đến ngút tầm mắt trong cái màn sương bàng bạc của buổi chiều mưa bụi. Ngã ba Hạc Trì nhập nhòa lẫn vào muôn ngàn ngọn sóng xô đẩy những tiếng vỗ cánh nhè nhẹ của đàn nhạn nước từ chín mươi chín chóp núi vùng Đất Tổ, sắp theo hình mũi tên, lặng lẽ bay qua.
Ông thân sinh là nhà nho nhưng Học Ngâm lại mù đặc thứ chữ vuông đầy tính biểu tượng. Hình như đầu óc hắn có vấn đề. Bởi lẽ, lúc ấy, Hán học tuy đã vào thời mạt vận nhưng không ít bạn bè cùng lứa đọc thuộc lòng Tam Tự Kinh, thì trái lại, hắn chỉ viết được mỗi cái tên nguệch ngoạc như gà bới.
Lúc mới lọt lòng mẹ, ông bố nhìn thấy thằng con trán thấp, đầu bẹp, lưng dài, chân tay ngắn, lắc đầu bảo :
- Tướng thằng này mai sau chỉ là phường làm mướn, nếu gặp may được chức quan nhỏ khó tránh khỏi vòng lao lý...
Để hãm bớt phần nào cái tương lai chẳng mấy tốt lành mà quẻ tiên thiên Sơn địa bác với đường chủ mệnh nằm ở hào sáu đầu** đã ngầm chỉ ra, ông đồ có ý định đặt tên cho cậu con thứ là Hối. Chữ "hối" bên trái có bộ "tâm đứng", bên phải có chữ "mỗi" hàm ý con người luôn luôn phải tu tỉnh, sửa những điều sai trái của mình mỗi ngày. Được khoảng hai tháng, cu Hối bị bệnh phỏng trân châu, mụn nước vỡ loang ra khắp người , bỏng rát, làm hắn khóc xoe xóe như bị đồng cô bóng cậu về ốp. Bà Nhiêu Cảnh bên làng Vẽ bày cho cách ngâm thằng bé vào nước vỏ só pha với mật kỳ đà. Môn thuốc của con mẹ lang băm tỏ ra khá hiệu nghiệm. Sang ngày thứ ba thì Hối khỏi bệnh nhưng từ đấy da hắn chuyển sang màu nâu sẫm, thậm chí có vùng còn đen bóng chẳng khác gì mực tàu của ông bố mỗi khi viết chữ Nho. Bà mẹ hắn lúc ấy đã đã trạc tam tuần, nhìn thằng con vai u, nước da quái dị buột miệng bảo chồng :
- Khỏi phải tìm tên nữa, theo tôi, cứ đặt nó là thằng Ngăm.
Ông bố ngẫm nghĩ một lúc rồi khẽ gật đầu :
- Cũng được, nhưng tên chữ thì gọi là "Ngâm", nghĩa là đọc thơ văn diễn cảm, có ngữ điệu chứ không phải ám chỉ nước da "ngăm ngăm" như bà nghĩ.
Hơn chục năm sau, khi đã choai choai, Học Ngâm giỏi đánh giậm và hay ăn cắp vặt, nhất là trứng gà. Trong xóm, nhà nào có gà đẻ là hắn rình rập thó cho bằng được dăm quả đút túi áo hoặc nhét giỏ cá mang ra đồng mút sống. Mãi sau này mọi người mới vỡ lẽ, đó là bài thuốc chữa bệnh da đen hắn học được từ một gã thày Tàu chuyên nghề bẫy chim ngói ở Miễu Cò. Một lần Học Ngâm chõm được ổ trứng của bà Sáo Sậu, lẻn ra đến bờ ao thì bị tóm. Ông chủ nhà vừa thua bạc về, đang cay cú, tức mình quật cho tay đạo chích mấy hèo rồi điệu sang giao cho thầy đồ. Chuyến ấy hắn bị một trận nhừ tử nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Mút trứng sống lâu ngày đã thành nghiện, thỉnh thoảng không được tráng miệng vài quả là hắn ta ăn không ngon ngủ không yên.
Chưa đầy mười lăm, Học Ngâm đã sớm nổi máu gió trăng. Mùa hè, vào lúc chạng vạng, hắn hay lảng vảng dọc đường làng giả đò thả ống lươn hoặc cắm hóc*** cá chuối để nhìn trộm đàn bà con gái tắm truồng. Làng Hạ Lôi lắm ao chuôm, xung quanh trồng toàn tre gai. Gã đánh giậm lẩn khuất như ma, luồn từ bụi này sang bụi khác, phóng cặp mắt đùng đục, đảo loang loáng như mắt linh miêu làm chị em sợ hết hồn.
Hôm ấy Học Ngâm sang đánh giậm ở cồn Mắt Quỷ. Mắt Quỷ là bãi cát bồi nằm lệch về phía hữu ngạn sông Sọc Dưa. Dải phù sa này hẹp nhưng vô cùng màu mỡ, dân Hạ Lôi chuyên trồng ngô và dâu tằm. Dịp ấy vào đầu tháng ba. Cả một rừng ngô xanh thẫm đang trổ cờ rì rào trước làn mưa bụi cuối xuân. Dưới sông sóng vỗ lao xao. Trên cao, bầy chuồn chuồn ngủ màu lá úa cắn đuôi nhau, chao đi chao lại như mắc cửi. Một con giang to đùng, mỏ dài như cặp kìm thợ rèn, từ bụi dừa nước, nghe tiếng mõ giậm oàm oạp vội cất mình bay lên. Nó vừa sải cặp cánh kềnh càng vừa lầu bàu chửi gã phá đám bằng thứ âm thanh kèn kẹt làm lũ chuồn chuồn hoảng hồn vội giạt ra, xô nhau, ẩn vào vườn chuối.
Vào đúng lúc ấy, Học Ngâm từ dưới rộc bước lên, thoáng nhìn thấy bóng áo nâu non, trống ngực hắn tự nhiên đập thình thịch. Người phụ nữ lom khom vơ cỏ xếp vào quang, đôi lúc ngừng tay sửa những sợi tóc mai lòa xòa trên má lấm tấm mồ hôi. Đấy là chị Hồi, một phụ nữ nạ dòng nổi tiếng làng Hạ vì có "thành tích" chưa đầy chục năm đã lần lượt tiễn hai ông chồng về chốn "cửu tuyền", cho dù cả hai đều khỏe như vâm và chẳng hề có bệnh tật gì. Chị Hồi xấp xỉ ba mươi, người tầm thước, lưng eo, mông nở, có đôi gò má cao quá mức bình thường, và, đặc biệt lúc nào cũng ửng đỏ như là vừa nhấp vài ngụm rượu. Học Ngâm đảo mắt liếc quanh, cổ họng như bị ai bóp nghẹt, cứ nuốt nước bọt khan. Người thiếu phụ giả bộ cắm cúi cắt cỏ nhưng thỉnh thoảng lại liếc ngang thả cái nhìn đong đưa ... Về khoản ấy thì gã trống choai này khá tinh ý. Hắn khẽ khàng vứt đồ nghề vào rãnh ngô, lẳng lặng tiến lại gần chị cắt cỏ. Chị Hồi nhìn trước nhìn sau rồi cũng quẳng liềm, vạch cây ngô lần vào giữa ruộng...
Nhưng cuộc tình vụng trộm của Học Ngâm với người đàn bà nạ dòng chẳng kéo dài được bao lâu. Đúng chín ngày sau, chị Hồi chết đuối sau vụ lật thuyền ở vụng Giải. Mấy ả muộn chồng chuyên ngồi lê đôi mách bảo chị Hồi mắc chứng loạn tình, loại bệnh này ở dương gian vô phương cứu chữa nên hai đức lang quân yểu mệnh gọi xuống âm phủ đoàn viên.
Tất nhiên là làng Hạ Lôi không biết tí gì về mối quan hệ bí mật giữa Học Ngâm với người đàn bà quá cố. Buổi chiều, sau khi cánh phu đò vớt được xác chị Hồi đưa về làm ma thì đêm hôm ấy gã đánh giậm ra bờ sông làm chiếc thuyền bẹ chuối, trên để bát cơm quả trứng (vừa mới xoáy được ở quán bà Phó Đam) cùng mớ giấy tiền và ba nén nhang thả xuống nước tiễn hồn cố nhân. Vậy là cũng xong một kiếp người. Hắn gục mặt vào hai bàn tay, nước mắt lã chã rơi...
Sự học đối với gã đánh giậm lúc ấy chẳng có gì là hệ trọng. Thậm chí hắn sẵn sàng quẳng sách vở vào bếp nếu không có ngọn roi mây của ông bố dữ đòn. Học Ngâm có trí nhớ không tồi nhưng đầu óc lại ù lỳ, hoàn toàn thiếu khả năng suy nghĩ mạch lạc. Các thày giáo chẳng hiểu vì sao đều nhất loạt coi hắn như một học trò cá biệt, còn bọn con gái thì luôn dè chừng vì cặp mắt hắn lúc nào cũng như muốn lột trần người ta ra mà xăm xoi. Vào dịp cuối hè năm Mùi, lớp tổ chức cắm trại ở Ba Vì bên xứ Đoài. Nửa đêm, anh chàng lần mò sang dãy lều con gái sờ soạng, bị đám nữ sinh tóm được. Họ châm nến soi rõ mặt kẻ tội đồ sau đó trói lại trình ông đốc trường. Học Ngâm bị trận đòn nhớ đời của mấy anh em nhà cô nữ sinh bị hắn sờ ti. Chuyện ấy cũng khốn nạn chẳng kém gì hình phạt đuổi học ngay sau đó. Hắn nhục quá chẳng còn dám vác mặt về làng Hạ, đành nhắm mắt đưa chân, dông thẳng ra thành phố, hy vọng tìm được việc làm kiếm miếng ăn độ nhật.
Lang thang đầu đường xó chợ gần một tháng, Học Ngâm xin vào làm phu hồ cho một đội thợ ngõa. Lúc ấy mới bắt đầu thời kỳ hòa bình, nhiều công trình tiêu thổ kháng chiến giờ cần được tái thiết. Công việc khá nhiều, nhân lực lại hiếm, thành thử, loại dân lưu tán như hắn không đến nỗi chết đói. Đối với gã đánh giậm, cuộc đời từ đây đã sang trang mới. Thời kỳ bị kiềm tỏa bởi ông bố gia trưởng vĩnh viễn lùi vào quá khứ. Hắn trở thành kẻ tự do nhất trần đời nếu so với hoàn cảnh trước đây.
Tuy nhiên, chưa đầy một năm đánh vật với vôi vữa, ăn ở nhếch nhác, thu nhập lại thấp, Học Ngâm đã chán đến tận mang tai, đang tính nước chuồn thì dịp may đến bất ngờ. Cô con gái ông trưởng phòng tổ chức liếc mắt đưa tình với chàng trai làng Hạ. Cô này cũng là gái quê nhưng thuộc thành phần õng ẹo, hành xử với thiên hạ theo kiểu trưởng giả học làm sang. Công bằng mà nói nàng ta có gương mặt không xấu với chiếc mũi khá duyên dáng, đặc biệt là cặp mặt đa tình, lúc nào cũng liếc trai lem lém. Nhũ danh cha mẹ đặt cho là Khuê, nhưng từ khi lên thành phố, để cho ra vẻ là tiểu thư chốn kinh kỳ, cô bèn thêm cho mình mỹ tự "Mộng" thành Hồ Thị Mộng Khuê. Đến đây cần phải mở ngoặc thêm vài dòng cước chú, nếu không bạn đọc sẽ đặt câu hỏi, vì sao, con một gia đình cán bộ, xuất thân từ thành phần cơ bản thuộc giai cấp công nông mà bỗng chốc phải lòng gã thợ xây cha căng chú kiết. Nguyên do Học Ngâm là tay dẻo mỏ, thuộc trường phái mồm miệng đỡ chân tay và có tài bắt chước. Ở nhà, bị ông bố đè nén, bây giờ như chim xổ lồng, gã thề quyết chí lập thân bằng mọi giá. Qua một thời gian làm nghề phụ vữa, tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội, Học Ngâm cóp nhặt đủ kiểu đầu Ngô mình Sở vốn kiến thức táp nham, sau đó gã chế biến, xào xáo theo phong cách Trạng Lợn rồi tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà vận dụng làm điểm nhấn cho những cuộc nói chuyện tào lao. Thói láu cá ấy, sau này nghĩ lại, chính hắn cũng phải tự khâm phục mình. Từ đấy, mỗi khi đám đông chạm đến đề tài sở trường là Học Ngâm thao thao bất tuyệt, hót có ngọn có ngành bằng chất giọng tuy thớ lợ đôi chút nhưng lại hàm chứa sự uyên bác rởm, khiến cho những người vốn ghét cay ghét đắng hắn cũng phải gật đầu tán thưởng. Với ông bạn cựu đánh giậm làng Hạ Lôi, đấy có vẻ như là một thứ năng khiếu trời cho. Sau này, trong cuộc đời dài dằng dặc của kiếp người, cho dù đã mấy lần lên voi xuống chó, hắn đều nghiệm ra, khoa lợi khẩu đã hơn một lần cứu hắn thoát khỏi vòng lao lý.
Vậy là nàng Mộng Khuê không phải người đẹp đầu tiên bị Học Ngâm cho ăn quả đắng bằng mấy ngón tài vặt. Cũng bởi cái liếc mắt đưa tình của cô con gái rượu mà ông bố trưởng phòng tổ chức ký quyết định cho gã phụ nề đi học trung cấp xây dựng. Lúc này lại đẻ ra một khó khăn. Nếu chuyển trình độ học vấn sang ngang theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục thì thực chất Học Ngâm chưa tốt nghiệp cấp hai. Ông trưởng phòng lại phải một phen làm trò xiếc để gã con rể tương lai được vào khoa dự bị.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa. Cho dù ba năm tòng học khá vất vả vì vốn kiến thức vừa hụt hẫng vừa chắp vá, cuối cùng Học Ngâm cũng có được mảnh bằng tốt nghiệp hạng trung bình. Thời ấy, loại nhân viên kỹ thuật quốc doanh như hắn đắt chẳng khác gì tôm tươi. Ông trưởng phòng tổ chức, lúc này đã là phó bí thư đảng ủy, không bỏ lỡ thời cơ, làm văn bản xin đích danh hắn về phòng kỹ thuật công ty. Hiển nhiên, từ đây, Hành Ngâm có thể nói lời chia tay với cánh phu hồ, chính thức bước vào "bàn giấy", làm anh cán bộ chỉ tay năm ngón. Oai ra phết. Khổ một nỗi, như trên đã nói, anh chàng kỹ thuật viên mới ra lò vốn sẵn bệnh phong tình, mà phòng kỹ thuật lại có nhiều em trẻ, đẹp, hơn hẳn cô nàng Mộng Khuê giờ chẳng biết ăn phải thứ gì mà đã phát phì ra như chiếc thùng tô nô. Từ lâu, tình cảm của Học Ngâm đối với con gái ông phó bí thư vốn đã bàng bạc như sương chiều thu trên mặt hồ Tây, cứ chập chờn, chập chờn vừa loãng vừa mỏng, nay lại được chất xúc tác từ đám giai nhân trí thức khiến hắn lờ đi chuyện cưới xin mà cứ chơi bài lửng lơ con cá vàng.
Chưa đầy hai tháng sau khi về công ty, Học Ngâm bị dính đòn vì dám cả gan thộp ngực cô Bòng. Nàng nhân viên can vẽ tái xanh mặt mày ( không biết thật hay giả), hét toáng lên, chẳng kể gì đến thể diện gái trinh. Hắn bị cơ quan cảnh cáo về tư cách đạo đức, tác phong sinh hoạt đồi trụy rồi tống xuống đơn vị sản xuất, tiếp tục nghề vôi vữa . Bị đày đọa ở công trường đến năm thứ hai, Học Ngâm nhờ được ông bố một người bạn chuyển cho về tỉnh H. Tuy nhiên, cái án kỷ luật nằm trong hồ sơ cứ như lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu nên lúc nào hắn cũng nơm nớp lo sợ. Hắn giả vờ rập khuôn theo những nguyên tắc giáo điều nhiều khi rất vô lý của đám đông, chấp nhận kiểu sống lá mặt lá trái, thậm chí còn hạ mình phục vụ vô điều kiện ông trưởng phòng kỹ thuật để gây dựng niềm tin.
Công việc đầu tiên tạo được chút ấn tượng với các vị lãnh đạo là Học Ngâm tham gia vào nhóm thiết kế hội trường nhân dân. Đó là một tòa nhà cố tình nới rộng chiều ngang, được lai ghép theo mẫu kiến trúc công nông binh của nước Nga Xô viết với kiểu dáng đền thờ cổ Hy Lạp nhưng lại để cho bốn mái diềm khá kệch cỡm chìa ra trông vừa nặng nề vừa tức mắt. Tất nhiên đấy không phải là tác phẩm riêng của một ai mà là công trình tập thể dưới sự chỉ đạo của ông trưởng ty xuất thân từ thành phần cố nông đã qua khóa đào tạo sáu tháng sơ cấp xây dựng. Có điều sau này, khi nhóm thiết kế tản mát mỗi người một nơi, hắn lại tự động đóng nhãn "Made in Hoc Ngam" vào "công trình kiến trúc nổi tiếng" ấy mà chẳng thèm bận tâm đến chuyện bản quyền theo Công ước Berne. Với những người ngoại đạo, Học Ngâm thường giở khoa bịp bằng những thuật ngữ chuyên môn như Baroc, Rocchocho, classics hoặc Tân cổ điển, Hậu hiện đại, công năng, đơn nguyên vv... làm đám cử tọa chẳng có chút khái niệm gì về ngành kiến trúc, xây dựng cứ nghển cổ ra mà nghe, bái phục "ông anh" là bậc tài hoa.
Sau vài công trình xây dựng vụn vặt, đại loại như mấy dãy nhà cấp bốn bệnh viện X, khu tập thể hai tầng nhà máy Y ngăn ra từng ô như chuồng chim, hoặc trụ sở HTX mua bán huyện Z, Học Ngâm được xếp vào loại cán bộ có chuyên nhưng thiếu hồng. Hồng ở đây là phẩm chất cách mạng được cụ thể hóa bằng danh hiệu đảng viên. Chuyện này đối với chàng cựu đánh giậm khó bằng lên trời. Đến lúc ấy các nhà tổ chức rất tinh tường và mẫn cán mới thật sự sờ đến cái lý lịch rất không bình thường của hắn. Mấy năm trước, việc Học Ngâm được đi học làm ông chủ tịch xã gần như phát điên lên, không phải vì thành phần gia đình ( Nhà hắn xếp loại trung nông), mà cái chính là, có kẻ nào đó dám vượt quyền địa phương, chứng nhận vào lý lịch một thằng vô tổ chức, từng có thành tích bất hảo để hắn ta chui vào cơ quan Nhà nước. Vậy là hồ sơ của Học Ngâm bị ủy ban xã "ngâm"lại.
Mọi cánh cửa dẫn đến con đường vào đảng gần như đã khép kín. Hắn hiểu rất rõ, thời buổi này, nếu không có mác "đỏ" thì suốt đời chỉ là con tốt đen cho dù anh có tài giỏi cách mấy. Sau nhiều đêm mất ngủ, Học Ngâm chủ động xin xuống đội sản xuất của công ty xây dựng để "tự rèn luyện" đồng thời viết đơn đi học tại chức nhằm nâng cấp mảnh bằng đang mỗi ngày một mất thiêng bởi hằng năm công ty lại được bổ sung hàng loạt kỹ sư trẻ mới ra trường.
*
Vào thời điểm Học Ngâm suy sụp tinh thần nhất thì hắn lại quyết định lập gia đình. Người tình trăm năm của hắn, cô Bích Toan vốn là gái quê nhưng cũng thuộc loại mỏng mày hay hạt, tổ trưởng công đoàn, đã hăm tám xuân xanh vậy mà có vẻ như vẫn còn kén chọn. Cuộc tìm hiểu kết thúc chóng vánh bằng một lễ cưới giản dị . Cặp uyên ương được bố trí ở một gian nhà cấp bốn trong khu lán trại công trường vừa chật vừa nóng bức. Có điều, chuyện ấy chẳng mấy quan trọng. Cái chính là chàng trai làng Hạ đã có vợ. Cuối cùng thì hạnh phúc gia đình cũng nằm trong tầm tay. Ở đời, con người ta mất cái này thì được cái khác. Đó là lẽ thường.
Trong khi Học Ngâm đang thi tốt nghiệp những môn cuối cùng thì ở nhà Bích Toan sinh một tiểu thư. Con bé khóc ba ngày ba đêm liền. Hình như có chuyện thần giao cách cảm thật. Tại trường đại học, hắn ta chẳng nhận được tin tức gì mà bụng dạ nóng như lửa đốt đành nhờ một thằng bạn đèo xe đạp ra ga mua vé về thị xã H. Nhìn thấy bố, đứa trẻ sơ sinh chẳng những không nín mà còn gào to hơn. Cả nhà rối lên. Bà mẹ vợ vật vã khóc cho là ma làm, bắt phải mời thầy cúng giải hạn. Vừa lúc ấy, ông phó chủ nhiệm công ty xách một túi đường sữa đến thăm. Lạ thay, vừa nhìn thấy vị lãnh đạo có bộ râu quai nón, con bé toét miệng cười...
Đứa lớn chưa đầy ba tuổi, Bích Toan lại đẻ một thằng con trai. Kịch bản cũng lặp lại y hệt lần trước, nghĩa là chỉ khi ông sếp phó biết tin, mang quà đến thăm, cậu quý tử họ Cao mới nín khóc. Lúc này, Học Ngâm đã được làm phó trưởng phòng kỹ thuật công ty cho dù hắn vẫn chưa phải đảng viên. Cô Toan, sau khi sinh nở, người mỗi ngày một nhuận sắc, xinh xẻo như gái còn son. Ban chủ nhiệm chiếu cố đến hoàn cảnh khó khăn, điều về phòng tài vụ. Đến lúc này người thiếu phụ trẻ mới bộc lộ hết tài ngoại giao của mình. Chẳng biết cô ta giở những chiêu gì mà chưa đầy một năm đã có quyết định chuyển về phòng kế toán ủy ban huyện, còn ông chồng kỹ sư được kết nạp đảng , sau đó lên chức phó chủ nhiệm công ty.
Đến đây thì ai cũng thấy, cuộc đời Học Ngâm đang lên hương. Hắn bắt đầu học bài lên xe xuống ngựa theo tác phong của các đại gia. Hắn hòa nhập một cách dễ dàng vào hệ thống vận hành của guồng máy quản lý và nhanh chóng phát hiện ra, làm quan, dù là loại quan tép riu cũng cần phải có nghệ thuật , rằng quyền lực và các mối quan hệ có đi có lại là điều kiện tối cần thiết để làm giầu bằng con đường tắt. Đời người thì ngắn, đời làm quan lại càng ngắn, nếu không tranh thủ thời cơ, đến khi về vườn sẽ trắng tay. Thế nhưng, trong cái môi trường làm việc nửa dơi nửa chuột này, đâu chỉ mình Học Ngâm biết tính toán. Xem ra, thiên hạ còn khối kẻ lõi đời. Bởi vì, từ lâu, công ty đã hình hành mấy phe cánh luôn gầm ghè rình rập, chỉ đợi đối phương sơ hở là lập tức thọc dao găm vào sườn nhau. Người đời thường nói, quan trường như chiến trường, quả không sai, ngồi chưa nóng chỗ, cái ghế phó chủ nhiệm của Học Ngâm đã bị chiếu tướng, vì trong số các lãnh đạo công ty, chỉ hắn có bằng đại học. Ông chủ nhiệm, trình độ học vấn mới qua lớp bảy bổ túc, tạo nên sự chênh lệch đáng kể trong tương quan lực lượng. Hắn lại mới nhiễm thói hách dịch, thích ăn to nói lớn, đắc tội với không ít đồng nghiệp, tuy trong đầu rỗng tuếch. Vậy là một chiến dịch tẩy chay phó chủ nhiệm kỹ thuật được ngấm ngầm sắp đặt. Hắn thuộc loại ngựa chẳng còn non nhưng háu đá, sẵn sàng lao vào cuộc tao ngộ chiến, còn thắng hay bại thôi thì đành nhờ vào số phận.
Không may cho Học Ngâm, vào thời điểm nhạy cảm này, vợ hắn, nàng Bích Toan, trưởng phòng kế toán, dính vào vụ B35 cùng với khá nhiều quan chức địa phương, tham ô hàng chục ngàn tấn thóc lấy tiền chia nhau. Vụ việc vỡ lở, kho nhà nước rỗng không mà tiền mua thóc đổi hạt đã giải ngân, đến hạn không giải trình nổi, cả dây lốc nhốc kéo nhau vào trại tạm giam, trong đó có ông cựu phó chủ nhiệm râu xồm, đang là chủ tịch ủy ban nhân dân huyện K. Đến lúc ấy Học Ngâm mới cay đắng nhận ra, hai đứa con hắn, thực ra chẳng có đứa nào là con hắn. Đứa đầu có lẽ là máu mủ của lão phó chủ nhiệm công ty, còn đứa sau, chỉ trời mới biết là sản phẩm của ông sếp nào mặc dù lúc nó ra đời gã rậm râu cũng vác mặt đến thăm.
Bích Toan cùng đồng bọn bị khởi tố sau gần sáu tháng giam cứu. Ra tòa, cô ta và gã nhân tình lĩnh mức án mười hai năm. Hành Ngâm mất mặt với đám đồng liêu, bất chấp đạo nghĩa vợ chồng, viết đơn ly dị khi vợ vừa nhập trại cải tạo. Hơn một năm sau, hắn lấy vợ mới. Người nâng khăn sửa túi cho ông phó chủ nhiệm lần này là một nhà giáo chuyên dạy thể dục ở trường trung học có bà mẹ kém chồng mười tuổi. Cái cảnh con rể hơn tuổi mẹ vợ đẩy Học Ngâm vào thế khó xử nên ít khi hắn dám dàn mặt nhạc mẫu. Cô giáo Vân Thê thuộc type phụ nữ không phải là kém nhan sắc nhưng vì cách đây ít lâu, do nhẹ dạ cả tin, đánh đu với một gã thợ vẽ bịp bợm, bị lừa, gây ra tai tiếng nên mất giá. Vân Thê thương hoàn cảnh của ông phó chủ nhiệm, chấp nhận gá nghĩa Châu Trần nhưng dứt khoát không đồng ý nuôi hai đứa con riêng của chồng. Anh chàng đã một lần bị cắm sừng không biết làm thế nào đành phải về quê lạy van ông bố mở lượng hải hà cưu mang hai cháu. Tất nhiên, ông đồ già không hề biết, cái gọi là gia đình của hắn trước đây chỉ là một thứ tổ ba vạ cho lũ tu hú vô gia cư hứng lên vào đẻ trứng nhờ. Ghét con thì ghét thật nhưng dù sao những đứa cháu vẫn là máu mủ nhà mình, ông phải đổi giận làm lành.
Năm năm qua, thực sự là những chuỗi ngày tháng căng thẳng đối với Học Ngâm, vì hắn vừa phải tìm cách khắc phục nền tài chính eo hẹp sau bi kịch gia đình, vừa phải chống chọi với các thế lực kình địch trong công ty lúc nào cũng nhòm ngó cái ghế phó chủ nhiệm như cú nhòm nhà bệnh.
Đúng là người tính không bằng trời tính. Ngay từ lúc mới chào đời, quẻ tiên thiên đã chỉ ra đường quan lộ của chàng trai làng Hạ bị đứt đoạn quả không sai. Hắn bị công nhân tố giác sau vài phi vụ thông đồng với tay đội trưởng rút ruột công trình xây dựng. Ông trưởng phòng kế hoạch cùng với đoàn thanh tra của tỉnh còn phát hiện ra chuyện gian lận vật liệu trong quá trình thi công trụ sở ngân hàng nông nghiệp. Bằng chứng khá rõ ràng, Học Ngâm không cãi được cho dù hắn là kẻ rất to mồm mỗi khi biện bác. Trong cuộc họp đảng ủy, hắn bị phe lấy "hồng" làm tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất cán bộ, biểu quyết khai trừ khỏi đảng, đề nghị cách chức phó chủ nhiệm, chuyển hồ sơ sang viện kiếm sát yêu cầu truy tố về tội lợi dụng chức quyền tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Với tội danh ấy, theo Bộ luật Hình sự, hắn có thể phải "nhập kho"****, ngồi bóc lịch giết thời gian ít nhất bảy niên.
Học Ngâm như kẻ mất hồn, chạy xuôi chạy ngược tìm thày thợ giải cứu, hy vọng may ra thoát khỏi kiếp cơm tù. Mấy hôm sau, có một người đàn ông trạc bốn mươi đến gặp hắn vào buổi tối. Anh ta trước đây ở đội xây dựng, một năm đói quá, nhà lại đông con, phải đạp xe sang núi Gôi mua sắn khô ăn độn, chẳng ngờ, về đến cầu Ngà thì bị quản lý thị trường vồ được. Chuyến ấy người công nhân khốn khổ đáng ra mất trắng mà lại còn bị phạt nữa, thật may, gặp xe ông phó chủ nhiệm vừa đi công tác về chớm đến đầu cầu. Sau một hồi dàn xếp, cánh thuế vụ nể đồng chí lãnh đạo công ty, tha cho. Nhớ ơn ấy, anh ta gợi ý Học Ngâm đến gặp cậu mình là ông Dương Đăng. Ông này là nhân sĩ, nghỉ hưu từ lâu, chẳng chức tước, quyền hành gì, thậm chí còn không là đảng viên nữa, nhưng tiếng nói lại rất có trọng lượng với bí thư, chủ tịch tỉnh. Bất chấp liêm sỉ của bậc quân tử (tuy rằng nhân vật chính của chúng ta chưa bao giờ có cái đó), Học Ngâm quỳ sụp xuống vừa lạy vừa khóc, cầu xin ân nhân cứu mạng.
Căn cứ theo lời thoán của hào lục ngũ***** trong quẻ Bác mà suy thì số hắn chưa đến nỗi phải đáo tụng đình. Hơn nữa, ông Dương Đăng là người giàu lòng vị tha, biết thừa Học Ngâm có tội nhưng vẫn trổ hết tài thuyết khách cứu hắn. Vậy là tay cựu phó chủ nhiệm thoát khỏi bộ quần áo sọc nhưng buộc phải về hưu non kèm theo những lời răn đe khá nặng nề từ những quan chức đầu ngành.
Về vườn vài năm, gặp thời đất nước mở cửa, ngửi thấy mùi kinh tế thị trường, Học Ngâm làm hồ sơ xin thành lập công ty xây dựng. Nói là công ty nhưng thực ra chỉ là một đội thợ nề chuyên sửa chữa lặt vặt . Vốn đi vay, nhân lực thuê theo thời vụ, việc làm buổi có buổi không, thu nhập chẳng đáng là bao mà thuế thì tháng nào phòng tài chính cũng cho người đến tróc làm ông giám đốc phát hoảng, chưa đầy một năm đã phải vội xin giải thể. Sau đận ấy, Học Ngâm còn mở vài công ty nữa với nhiều loại ngành nghề kể cả nghề hút bể phốt nhưng đều thất bại. Cuối cùng Học Ngâm quyết định thành lập Công ty kinh doanh Chim cảnh. Có lẽ, sau mấy chục năm lăn lộn trường đời đầy gió bụi, giờ hắn mới tìm được cái nghề đúng sở trường. Công ty Chim cảnh có tên chính thức "HanhngamVet Co.,Ltd" của hắn không nhập loại hàng sặc sỡ, lòe loẹt từ Hongkong, Macau hay Thailand mà có một đội ngũ kỹ thuật viên sành nghề chuyên săn bắt và thuần hóa các dòng vẹt bản địa. Hắn là người đầu tiên phát hiện ra vẹt Việt Nam là loài chim bắt chước giỏi nhất trần đời. Sau khi được tiêm loại chế phẩm kích thích vào tuyến yên do một gã ma cô vốn là đệ tử làm ăn của Học Ngâm từ biên giới phía “nước lạ” tuồn về, lũ vẹt đột nhiên xuất hiện khả năng kỳ lạ. Chúng không chỉ biết nhắc lại một số từ ngữ có âm tiết phức tạp mà còn ứng khẩu "sáng tác" những câu văn vần đại loại như là thơ câu lạc bộ phường nhưng thanh điệu thì chưa được chuẩn cho lắm. Với mặt hàng có một không hai trên đời đó, Học Ngâm trở thành nhà sản xuất độc quyền khu vực Đông Nam Á, doanh thu mỗi ngày một tăng. Ông chủ công ty còn xây dựng dự án mời chuyên gia nước ngoài dạy vẹt tiếng Ăng lê, tiếng Pháp và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ để xuất khẩu hàng sang thị trường Âu châu quảng bá cho nền công nghiệp sinh vật cảnh nước nhà.
Chẳng biết vì doanh nghiệp làm ăn có lãi, đóng góp ít nhiều vào ngân sách tỉnh hay bởi tài bẻm mép, biết làm đẹp lòng các vị lãnh đạo, Học Ngâm được cơ cấu vào một hội đồng tư vấn địa phương mà nội dung hoạt động chính là, mỗi năm một lần họp để... vỗ tay, sau khi nghe ông tổng thư ký đọc bài tổng kết mùi mẫn rồi kéo nhau ra quán Bốn Mùa đánh chén. Chưa hết, cũng do tài lobby politician trong những cuộc chén chú chén anh bằng tiền chùa như thế, một quan chức có tầm cỡ nghe bùi tai còn mạnh dạn đề cử hắn vào chức chủ tịch "Hội chim, chó cảnh". Lại một lần nữa đời lên voi, ông giám đốc công ty tư nhân trong cơn phấn khích, đặt in hai ngàn năm trăm tấm danh thiếp, kê khai tất cả chức tước, thành tích cũng như các loại giải thưởng, kể cả hai giải khuyến khích của CLB thơ ngách 16, phường BL...
Chỉ trong chưa đầy năm năm, cô giáo giảng dạy môn thể dục thể thao đã sinh cho Học Ngâm hai ái nữ. Cô nào cũng giống bố như đúc, nghĩa là làn da ngăm ngăm nhuộm vỏ só, khuôn mặt vừa thô vừa to quá cỡ cùng với cặp mắt tròn tựa hai hòn bi ve lúc nào cũng lờ đờ như mắt chuột khói. Tuy chỉ số thông minh của các cô bé này chỉ ở mức khiêm tốn nhưng Học Ngâm luôn tự huyễn hoặc mình là vợ chồng hắn đã sinh ra những nữ thần đồng. Hắn không tiếc tiền, mời đủ các loại thầy đến nhồi nhét vào đầu con gái rượu hầu hết các môn học thời thượng, còn việc chúng tiêu hóa ra sao thì hãy cứ đợi đấy . Nghe nói, gần đây, một trong hai đứa đã có triệu chứng rối loạn tiền đình ...
Công ty đang "liên tục phát triển" thì đầu tháng trước, ông giám đốc tự nhiên mắc căn bệnh quái lạ, bị ngất xỉu trên đường đi thăm một mối hàng. Tại bệnh viện, các bác sỹ chẩn đoán là viêm bọng đái. Nói chung loại bệnh này dễ chữa, thậm chí không cần phải mổ. Thế nhưng, sau năm ngày điều trị theo phác đồ bằng những loại thuốc đặc hiệu, bệnh hắn không những không đỡ mà còn có nguy cơ mỗi ngày một nặng. Ông giám đốc đau quá kêu rống lên như lợn bị chọc tiết, bệnh viện quyết định can thiệp bằng dao kéo. Hóa ra, trong tế bào bàng quang của Học Ngâm đã nhiễm một loại virus của bệnh dại từ loài vẹt hoang dã lây sang. Đây là chủng siêu vi lần đầu tiên được phát hiện ra ở Việt Nam nên các thầy thuốc nội địa, trong đó có những vị giáo sư tiến sỹ nổi tiếng, sau khi hội chẩn cũng phải lắc đầu. Căn bệnh bí hiểm này có chữa được không chắc còn phải chờ vào sự tiến bộ của nền y học thế giới trong tương lai, nhất là các nhà khoa học đã từng đoạt giải Nobel./.
ĐVS
[*] Một trong 64 quẻ "Dịch" gồm hai quẻ đơn, trên là Cấn(một vạch liền ở trên, hai vạch đứt ở dưới), dưới là Khôn(ba vạch đứt)
** Hào thấp nhất của quẻ dịch mà là hào âm( vạch đứt) gọi là hào sáu đầu
*** Một kiểu câu cá chuối qua đêm ở làng quê
**** Vào trại giam ( tiếng lóng)
***** Hào thứ năm của quẻ dịch mà là hào âm (vạch đứt) gọi là hào Lục ngũ, ở đây là quẻ Sơn Địa Bác(山地剝).
Công ty Vẹt
Truyện ngắn
Thời còn trẻ, lúc nào Cao Học Ngâm cũng tự nhận mình là người Hà Nội để lòe thiên hạ. Thực ra quê hắn là một làng bán sơn địa miền trung châu mang đậm dấu ấn của nền văn minh đá ong. Bên kia sông Cái, đối diện với bãi chuối làng Hạ là khoảng không xa vời, nhìn đến ngút tầm mắt trong cái màn sương bàng bạc của buổi chiều mưa bụi. Ngã ba Hạc Trì nhập nhòa lẫn vào muôn ngàn ngọn sóng xô đẩy những tiếng vỗ cánh nhè nhẹ của đàn nhạn nước từ chín mươi chín chóp núi vùng Đất Tổ, sắp theo hình mũi tên, lặng lẽ bay qua.
Ông thân sinh là nhà nho nhưng Học Ngâm lại mù đặc thứ chữ vuông đầy tính biểu tượng. Hình như đầu óc hắn có vấn đề. Bởi lẽ, lúc ấy, Hán học tuy đã vào thời mạt vận nhưng không ít bạn bè cùng lứa đọc thuộc lòng Tam Tự Kinh, thì trái lại, hắn chỉ viết được mỗi cái tên nguệch ngoạc như gà bới.
Lúc mới lọt lòng mẹ, ông bố nhìn thấy thằng con trán thấp, đầu bẹp, lưng dài, chân tay ngắn, lắc đầu bảo :
- Tướng thằng này mai sau chỉ là phường làm mướn, nếu gặp may được chức quan nhỏ khó tránh khỏi vòng lao lý...
Để hãm bớt phần nào cái tương lai chẳng mấy tốt lành mà quẻ tiên thiên Sơn địa bác
- Khỏi phải tìm tên nữa, theo tôi, cứ đặt nó là thằng Ngăm.
Ông bố ngẫm nghĩ một lúc rồi khẽ gật đầu :
- Cũng được, nhưng tên chữ thì gọi là "Ngâm", nghĩa là đọc thơ văn diễn cảm, có ngữ điệu chứ không phải ám chỉ nước da "ngăm ngăm" như bà nghĩ.
Hơn chục năm sau, khi đã choai choai, Học Ngâm giỏi đánh giậm và hay ăn cắp vặt, nhất là trứng gà. Trong xóm, nhà nào có gà đẻ là hắn rình rập thó cho bằng được dăm quả đút túi áo hoặc nhét giỏ cá mang ra đồng mút sống. Mãi sau này mọi người mới vỡ lẽ, đó là bài thuốc chữa bệnh da đen hắn học được từ một gã thày Tàu chuyên nghề bẫy chim ngói ở Miễu Cò. Một lần Học Ngâm chõm được ổ trứng của bà Sáo Sậu, lẻn ra đến bờ ao thì bị tóm. Ông chủ nhà vừa thua bạc về, đang cay cú, tức mình quật cho tay đạo chích mấy hèo rồi điệu sang giao cho thầy đồ. Chuyến ấy hắn bị một trận nhừ tử nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Mút trứng sống lâu ngày đã thành nghiện, thỉnh thoảng không được tráng miệng vài quả là hắn ta ăn không ngon ngủ không yên.
Chưa đầy mười lăm, Học Ngâm đã sớm nổi máu gió trăng. Mùa hè, vào lúc chạng vạng, hắn hay lảng vảng dọc đường làng giả đò thả ống lươn hoặc cắm hóc*** cá chuối để nhìn trộm đàn bà con gái tắm truồng. Làng Hạ Lôi lắm ao chuôm, xung quanh trồng toàn tre gai. Gã đánh giậm lẩn khuất như ma, luồn từ bụi này sang bụi khác, phóng cặp mắt đùng đục, đảo loang loáng như mắt linh miêu làm chị em sợ hết hồn.
Hôm ấy Học Ngâm sang đánh giậm ở cồn Mắt Quỷ. Mắt Quỷ là bãi cát bồi nằm lệch về phía hữu ngạn sông Sọc Dưa. Dải phù sa này hẹp nhưng vô cùng màu mỡ, dân Hạ Lôi chuyên trồng ngô và dâu tằm. Dịp ấy vào đầu tháng ba. Cả một rừng ngô xanh thẫm đang trổ cờ rì rào trước làn mưa bụi cuối xuân. Dưới sông sóng vỗ lao xao. Trên cao, bầy chuồn chuồn ngủ màu lá úa cắn đuôi nhau, chao đi chao lại như mắc cửi. Một con giang to đùng, mỏ dài như cặp kìm thợ rèn, từ bụi dừa nước, nghe tiếng mõ giậm oàm oạp vội cất mình bay lên. Nó vừa sải cặp cánh kềnh càng vừa lầu bàu chửi gã phá đám bằng thứ âm thanh kèn kẹt làm lũ chuồn chuồn hoảng hồn vội giạt ra, xô nhau, ẩn vào vườn chuối.
Vào đúng lúc ấy, Học Ngâm từ dưới rộc bước lên, thoáng nhìn thấy bóng áo nâu non, trống ngực hắn tự nhiên đập thình thịch. Người phụ nữ lom khom vơ cỏ xếp vào quang, đôi lúc ngừng tay sửa những sợi tóc mai lòa xòa trên má lấm tấm mồ hôi. Đấy là chị Hồi, một phụ nữ nạ dòng nổi tiếng làng Hạ vì có "thành tích" chưa đầy chục năm đã lần lượt tiễn hai ông chồng về chốn "cửu tuyền", cho dù cả hai đều khỏe như vâm và chẳng hề có bệnh tật gì. Chị Hồi xấp xỉ ba mươi, người tầm thước, lưng eo, mông nở, có đôi gò má cao quá mức bình thường, và, đặc biệt lúc nào cũng ửng đỏ như là vừa nhấp vài ngụm rượu. Học Ngâm đảo mắt liếc quanh, cổ họng như bị ai bóp nghẹt, cứ nuốt nước bọt khan. Người thiếu phụ giả bộ cắm cúi cắt cỏ nhưng thỉnh thoảng lại liếc ngang thả cái nhìn đong đưa ... Về khoản ấy thì gã trống choai này khá tinh ý. Hắn khẽ khàng vứt đồ nghề vào rãnh ngô, lẳng lặng tiến lại gần chị cắt cỏ. Chị Hồi nhìn trước nhìn sau rồi cũng quẳng liềm, vạch cây ngô lần vào giữa ruộng...
Nhưng cuộc tình vụng trộm của Học Ngâm với người đàn bà nạ dòng chẳng kéo dài được bao lâu. Đúng chín ngày sau, chị Hồi chết đuối sau vụ lật thuyền ở vụng Giải. Mấy ả muộn chồng chuyên ngồi lê đôi mách bảo chị Hồi mắc chứng loạn tình, loại bệnh này ở dương gian vô phương cứu chữa nên hai đức lang quân yểu mệnh gọi xuống âm phủ đoàn viên.
Tất nhiên là làng Hạ Lôi không biết tí gì về mối quan hệ bí mật giữa Học Ngâm với người đàn bà quá cố. Buổi chiều, sau khi cánh phu đò vớt được xác chị Hồi đưa về làm ma thì đêm hôm ấy gã đánh giậm ra bờ sông làm chiếc thuyền bẹ chuối, trên để bát cơm quả trứng (vừa mới xoáy được ở quán bà Phó Đam) cùng mớ giấy tiền và ba nén nhang thả xuống nước tiễn hồn cố nhân. Vậy là cũng xong một kiếp người. Hắn gục mặt vào hai bàn tay, nước mắt lã chã rơi...
Sự học đối với gã đánh giậm lúc ấy chẳng có gì là hệ trọng. Thậm chí hắn sẵn sàng quẳng sách vở vào bếp nếu không có ngọn roi mây của ông bố dữ đòn. Học Ngâm có trí nhớ không tồi nhưng đầu óc lại ù lỳ, hoàn toàn thiếu khả năng suy nghĩ mạch lạc. Các thày giáo chẳng hiểu vì sao đều nhất loạt coi hắn như một học trò cá biệt, còn bọn con gái thì luôn dè chừng vì cặp mắt hắn lúc nào cũng như muốn lột trần người ta ra mà xăm xoi. Vào dịp cuối hè năm Mùi, lớp tổ chức cắm trại ở Ba Vì bên xứ Đoài. Nửa đêm, anh chàng lần mò sang dãy lều con gái sờ soạng, bị đám nữ sinh tóm được. Họ châm nến soi rõ mặt kẻ tội đồ sau đó trói lại trình ông đốc trường. Học Ngâm bị trận đòn nhớ đời của mấy anh em nhà cô nữ sinh bị hắn sờ ti. Chuyện ấy cũng khốn nạn chẳng kém gì hình phạt đuổi học ngay sau đó. Hắn nhục quá chẳng còn dám vác mặt về làng Hạ, đành nhắm mắt đưa chân, dông thẳng ra thành phố, hy vọng tìm được việc làm kiếm miếng ăn độ nhật.
Lang thang đầu đường xó chợ gần một tháng, Học Ngâm xin vào làm phu hồ cho một đội thợ ngõa. Lúc ấy mới bắt đầu thời kỳ hòa bình, nhiều công trình tiêu thổ kháng chiến giờ cần được tái thiết. Công việc khá nhiều, nhân lực lại hiếm, thành thử, loại dân lưu tán như hắn không đến nỗi chết đói. Đối với gã đánh giậm, cuộc đời từ đây đã sang trang mới. Thời kỳ bị kiềm tỏa bởi ông bố gia trưởng vĩnh viễn lùi vào quá khứ. Hắn trở thành kẻ tự do nhất trần đời nếu so với hoàn cảnh trước đây.
Tuy nhiên, chưa đầy một năm đánh vật với vôi vữa, ăn ở nhếch nhác, thu nhập lại thấp, Học Ngâm đã chán đến tận mang tai, đang tính nước chuồn thì dịp may đến bất ngờ. Cô con gái ông trưởng phòng tổ chức liếc mắt đưa tình với chàng trai làng Hạ. Cô này cũng là gái quê nhưng thuộc thành phần õng ẹo, hành xử với thiên hạ theo kiểu trưởng giả học làm sang. Công bằng mà nói nàng ta có gương mặt không xấu với chiếc mũi khá duyên dáng, đặc biệt là cặp mặt đa tình, lúc nào cũng liếc trai lem lém. Nhũ danh cha mẹ đặt cho là Khuê, nhưng từ khi lên thành phố, để cho ra vẻ là tiểu thư chốn kinh kỳ, cô bèn thêm cho mình mỹ tự "Mộng" thành Hồ Thị Mộng Khuê. Đến đây cần phải mở ngoặc thêm vài dòng cước chú, nếu không bạn đọc sẽ đặt câu hỏi, vì sao, con một gia đình cán bộ, xuất thân từ thành phần cơ bản thuộc giai cấp công nông mà bỗng chốc phải lòng gã thợ xây cha căng chú kiết. Nguyên do Học Ngâm là tay dẻo mỏ, thuộc trường phái mồm miệng đỡ chân tay và có tài bắt chước. Ở nhà, bị ông bố đè nén, bây giờ như chim xổ lồng, gã thề quyết chí lập thân bằng mọi giá. Qua một thời gian làm nghề phụ vữa, tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội, Học Ngâm cóp nhặt đủ kiểu đầu Ngô mình Sở vốn kiến thức táp nham, sau đó gã chế biến, xào xáo theo phong cách Trạng Lợn rồi tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà vận dụng làm điểm nhấn cho những cuộc nói chuyện tào lao. Thói láu cá ấy, sau này nghĩ lại, chính hắn cũng phải tự khâm phục mình. Từ đấy, mỗi khi đám đông chạm đến đề tài sở trường là Học Ngâm thao thao bất tuyệt, hót có ngọn có ngành bằng chất giọng tuy thớ lợ đôi chút nhưng lại hàm chứa sự uyên bác rởm, khiến cho những người vốn ghét cay ghét đắng hắn cũng phải gật đầu tán thưởng. Với ông bạn cựu đánh giậm làng Hạ Lôi, đấy có vẻ như là một thứ năng khiếu trời cho. Sau này, trong cuộc đời dài dằng dặc của kiếp người, cho dù đã mấy lần lên voi xuống chó, hắn đều nghiệm ra, khoa lợi khẩu đã hơn một lần cứu hắn thoát khỏi vòng lao lý.
Vậy là nàng Mộng Khuê không phải người đẹp đầu tiên bị Học Ngâm cho ăn quả đắng bằng mấy ngón tài vặt. Cũng bởi cái liếc mắt đưa tình của cô con gái rượu mà ông bố trưởng phòng tổ chức ký quyết định cho gã phụ nề đi học trung cấp xây dựng. Lúc này lại đẻ ra một khó khăn. Nếu chuyển trình độ học vấn sang ngang theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục thì thực chất Học Ngâm chưa tốt nghiệp cấp hai. Ông trưởng phòng lại phải một phen làm trò xiếc để gã con rể tương lai được vào khoa dự bị.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa. Cho dù ba năm tòng học khá vất vả vì vốn kiến thức vừa hụt hẫng vừa chắp vá, cuối cùng Học Ngâm cũng có được mảnh bằng tốt nghiệp hạng trung bình. Thời ấy, loại nhân viên kỹ thuật quốc doanh như hắn đắt chẳng khác gì tôm tươi. Ông trưởng phòng tổ chức, lúc này đã là phó bí thư đảng ủy, không bỏ lỡ thời cơ, làm văn bản xin đích danh hắn về phòng kỹ thuật công ty. Hiển nhiên, từ đây, Hành Ngâm có thể nói lời chia tay với cánh phu hồ, chính thức bước vào "bàn giấy", làm anh cán bộ chỉ tay năm ngón. Oai ra phết. Khổ một nỗi, như trên đã nói, anh chàng kỹ thuật viên mới ra lò vốn sẵn bệnh phong tình, mà phòng kỹ thuật lại có nhiều em trẻ, đẹp, hơn hẳn cô nàng Mộng Khuê giờ chẳng biết ăn phải thứ gì mà đã phát phì ra như chiếc thùng tô nô. Từ lâu, tình cảm của Học Ngâm đối với con gái ông phó bí thư vốn đã bàng bạc như sương chiều thu trên mặt hồ Tây, cứ chập chờn, chập chờn vừa loãng vừa mỏng, nay lại được chất xúc tác từ đám giai nhân trí thức khiến hắn lờ đi chuyện cưới xin mà cứ chơi bài lửng lơ con cá vàng.
Chưa đầy hai tháng sau khi về công ty, Học Ngâm bị dính đòn vì dám cả gan thộp ngực cô Bòng. Nàng nhân viên can vẽ tái xanh mặt mày ( không biết thật hay giả), hét toáng lên, chẳng kể gì đến thể diện gái trinh. Hắn bị cơ quan cảnh cáo về tư cách đạo đức, tác phong sinh hoạt đồi trụy rồi tống xuống đơn vị sản xuất, tiếp tục nghề vôi vữa . Bị đày đọa ở công trường đến năm thứ hai, Học Ngâm nhờ được ông bố một người bạn chuyển cho về tỉnh H. Tuy nhiên, cái án kỷ luật nằm trong hồ sơ cứ như lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu nên lúc nào hắn cũng nơm nớp lo sợ. Hắn giả vờ rập khuôn theo những nguyên tắc giáo điều nhiều khi rất vô lý của đám đông, chấp nhận kiểu sống lá mặt lá trái, thậm chí còn hạ mình phục vụ vô điều kiện ông trưởng phòng kỹ thuật để gây dựng niềm tin.
Công việc đầu tiên tạo được chút ấn tượng với các vị lãnh đạo là Học Ngâm tham gia vào nhóm thiết kế hội trường nhân dân. Đó là một tòa nhà cố tình nới rộng chiều ngang, được lai ghép theo mẫu kiến trúc công nông binh của nước Nga Xô viết với kiểu dáng đền thờ cổ Hy Lạp nhưng lại để cho bốn mái diềm khá kệch cỡm chìa ra trông vừa nặng nề vừa tức mắt. Tất nhiên đấy không phải là tác phẩm riêng của một ai mà là công trình tập thể dưới sự chỉ đạo của ông trưởng ty xuất thân từ thành phần cố nông đã qua khóa đào tạo sáu tháng sơ cấp xây dựng. Có điều sau này, khi nhóm thiết kế tản mát mỗi người một nơi, hắn lại tự động đóng nhãn "Made in Hoc Ngam" vào "công trình kiến trúc nổi tiếng" ấy mà chẳng thèm bận tâm đến chuyện bản quyền theo Công ước Berne. Với những người ngoại đạo, Học Ngâm thường giở khoa bịp bằng những thuật ngữ chuyên môn như Baroc, Rocchocho, classics hoặc Tân cổ điển, Hậu hiện đại, công năng, đơn nguyên vv... làm đám cử tọa chẳng có chút khái niệm gì về ngành kiến trúc, xây dựng cứ nghển cổ ra mà nghe, bái phục "ông anh" là bậc tài hoa.
Sau vài công trình xây dựng vụn vặt, đại loại như mấy dãy nhà cấp bốn bệnh viện X, khu tập thể hai tầng nhà máy Y ngăn ra từng ô như chuồng chim, hoặc trụ sở HTX mua bán huyện Z, Học Ngâm được xếp vào loại cán bộ có chuyên nhưng thiếu hồng. Hồng ở đây là phẩm chất cách mạng được cụ thể hóa bằng danh hiệu đảng viên. Chuyện này đối với chàng cựu đánh giậm khó bằng lên trời. Đến lúc ấy các nhà tổ chức rất tinh tường và mẫn cán mới thật sự sờ đến cái lý lịch rất không bình thường của hắn. Mấy năm trước, việc Học Ngâm được đi học làm ông chủ tịch xã gần như phát điên lên, không phải vì thành phần gia đình ( Nhà hắn xếp loại trung nông), mà cái chính là, có kẻ nào đó dám vượt quyền địa phương, chứng nhận vào lý lịch một thằng vô tổ chức, từng có thành tích bất hảo để hắn ta chui vào cơ quan Nhà nước. Vậy là hồ sơ của Học Ngâm bị ủy ban xã "ngâm"lại.
Mọi cánh cửa dẫn đến con đường vào đảng gần như đã khép kín. Hắn hiểu rất rõ, thời buổi này, nếu không có mác "đỏ" thì suốt đời chỉ là con tốt đen cho dù anh có tài giỏi cách mấy. Sau nhiều đêm mất ngủ, Học Ngâm chủ động xin xuống đội sản xuất của công ty xây dựng để "tự rèn luyện" đồng thời viết đơn đi học tại chức nhằm nâng cấp mảnh bằng đang mỗi ngày một mất thiêng bởi hằng năm công ty lại được bổ sung hàng loạt kỹ sư trẻ mới ra trường.
*
Vào thời điểm Học Ngâm suy sụp tinh thần nhất thì hắn lại quyết định lập gia đình. Người tình trăm năm của hắn, cô Bích Toan vốn là gái quê nhưng cũng thuộc loại mỏng mày hay hạt, tổ trưởng công đoàn, đã hăm tám xuân xanh vậy mà có vẻ như vẫn còn kén chọn. Cuộc tìm hiểu kết thúc chóng vánh bằng một lễ cưới giản dị . Cặp uyên ương được bố trí ở một gian nhà cấp bốn trong khu lán trại công trường vừa chật vừa nóng bức. Có điều, chuyện ấy chẳng mấy quan trọng. Cái chính là chàng trai làng Hạ đã có vợ. Cuối cùng thì hạnh phúc gia đình cũng nằm trong tầm tay. Ở đời, con người ta mất cái này thì được cái khác. Đó là lẽ thường.
Trong khi Học Ngâm đang thi tốt nghiệp những môn cuối cùng thì ở nhà Bích Toan sinh một tiểu thư. Con bé khóc ba ngày ba đêm liền. Hình như có chuyện thần giao cách cảm thật. Tại trường đại học, hắn ta chẳng nhận được tin tức gì mà bụng dạ nóng như lửa đốt đành nhờ một thằng bạn đèo xe đạp ra ga mua vé về thị xã H. Nhìn thấy bố, đứa trẻ sơ sinh chẳng những không nín mà còn gào to hơn. Cả nhà rối lên. Bà mẹ vợ vật vã khóc cho là ma làm, bắt phải mời thầy cúng giải hạn. Vừa lúc ấy, ông phó chủ nhiệm công ty xách một túi đường sữa đến thăm. Lạ thay, vừa nhìn thấy vị lãnh đạo có bộ râu quai nón, con bé toét miệng cười...
Đứa lớn chưa đầy ba tuổi, Bích Toan lại đẻ một thằng con trai. Kịch bản cũng lặp lại y hệt lần trước, nghĩa là chỉ khi ông sếp phó biết tin, mang quà đến thăm, cậu quý tử họ Cao mới nín khóc. Lúc này, Học Ngâm đã được làm phó trưởng phòng kỹ thuật công ty cho dù hắn vẫn chưa phải đảng viên. Cô Toan, sau khi sinh nở, người mỗi ngày một nhuận sắc, xinh xẻo như gái còn son. Ban chủ nhiệm chiếu cố đến hoàn cảnh khó khăn, điều về phòng tài vụ. Đến lúc này người thiếu phụ trẻ mới bộc lộ hết tài ngoại giao của mình. Chẳng biết cô ta giở những chiêu gì mà chưa đầy một năm đã có quyết định chuyển về phòng kế toán ủy ban huyện, còn ông chồng kỹ sư được kết nạp đảng , sau đó lên chức phó chủ nhiệm công ty.
Đến đây thì ai cũng thấy, cuộc đời Học Ngâm đang lên hương. Hắn bắt đầu học bài lên xe xuống ngựa theo tác phong của các đại gia. Hắn hòa nhập một cách dễ dàng vào hệ thống vận hành của guồng máy quản lý và nhanh chóng phát hiện ra, làm quan, dù là loại quan tép riu cũng cần phải có nghệ thuật , rằng quyền lực và các mối quan hệ có đi có lại là điều kiện tối cần thiết để làm giầu bằng con đường tắt. Đời người thì ngắn, đời làm quan lại càng ngắn, nếu không tranh thủ thời cơ, đến khi về vườn sẽ trắng tay. Thế nhưng, trong cái môi trường làm việc nửa dơi nửa chuột này, đâu chỉ mình Học Ngâm biết tính toán. Xem ra, thiên hạ còn khối kẻ lõi đời. Bởi vì, từ lâu, công ty đã hình hành mấy phe cánh luôn gầm ghè rình rập, chỉ đợi đối phương sơ hở là lập tức thọc dao găm vào sườn nhau. Người đời thường nói, quan trường như chiến trường, quả không sai, ngồi chưa nóng chỗ, cái ghế phó chủ nhiệm của Học Ngâm đã bị chiếu tướng, vì trong số các lãnh đạo công ty, chỉ hắn có bằng đại học. Ông chủ nhiệm, trình độ học vấn mới qua lớp bảy bổ túc, tạo nên sự chênh lệch đáng kể trong tương quan lực lượng. Hắn lại mới nhiễm thói hách dịch, thích ăn to nói lớn, đắc tội với không ít đồng nghiệp, tuy trong đầu rỗng tuếch. Vậy là một chiến dịch tẩy chay phó chủ nhiệm kỹ thuật được ngấm ngầm sắp đặt. Hắn thuộc loại ngựa chẳng còn non nhưng háu đá, sẵn sàng lao vào cuộc tao ngộ chiến, còn thắng hay bại thôi thì đành nhờ vào số phận.
Không may cho Học Ngâm, vào thời điểm nhạy cảm này, vợ hắn, nàng Bích Toan, trưởng phòng kế toán, dính vào vụ B35 cùng với khá nhiều quan chức địa phương, tham ô hàng chục ngàn tấn thóc lấy tiền chia nhau. Vụ việc vỡ lở, kho nhà nước rỗng không mà tiền mua thóc đổi hạt đã giải ngân, đến hạn không giải trình nổi, cả dây lốc nhốc kéo nhau vào trại tạm giam, trong đó có ông cựu phó chủ nhiệm râu xồm, đang là chủ tịch ủy ban nhân dân huyện K. Đến lúc ấy Học Ngâm mới cay đắng nhận ra, hai đứa con hắn, thực ra chẳng có đứa nào là con hắn. Đứa đầu có lẽ là máu mủ của lão phó chủ nhiệm công ty, còn đứa sau, chỉ trời mới biết là sản phẩm của ông sếp nào mặc dù lúc nó ra đời gã rậm râu cũng vác mặt đến thăm.
Bích Toan cùng đồng bọn bị khởi tố sau gần sáu tháng giam cứu. Ra tòa, cô ta và gã nhân tình lĩnh mức án mười hai năm. Hành Ngâm mất mặt với đám đồng liêu, bất chấp đạo nghĩa vợ chồng, viết đơn ly dị khi vợ vừa nhập trại cải tạo. Hơn một năm sau, hắn lấy vợ mới. Người nâng khăn sửa túi cho ông phó chủ nhiệm lần này là một nhà giáo chuyên dạy thể dục ở trường trung học có bà mẹ kém chồng mười tuổi. Cái cảnh con rể hơn tuổi mẹ vợ đẩy Học Ngâm vào thế khó xử nên ít khi hắn dám dàn mặt nhạc mẫu. Cô giáo Vân Thê thuộc type phụ nữ không phải là kém nhan sắc nhưng vì cách đây ít lâu, do nhẹ dạ cả tin, đánh đu với một gã thợ vẽ bịp bợm, bị lừa, gây ra tai tiếng nên mất giá. Vân Thê thương hoàn cảnh của ông phó chủ nhiệm, chấp nhận gá nghĩa Châu Trần nhưng dứt khoát không đồng ý nuôi hai đứa con riêng của chồng. Anh chàng đã một lần bị cắm sừng không biết làm thế nào đành phải về quê lạy van ông bố mở lượng hải hà cưu mang hai cháu. Tất nhiên, ông đồ già không hề biết, cái gọi là gia đình của hắn trước đây chỉ là một thứ tổ ba vạ cho lũ tu hú vô gia cư hứng lên vào đẻ trứng nhờ. Ghét con thì ghét thật nhưng dù sao những đứa cháu vẫn là máu mủ nhà mình, ông phải đổi giận làm lành.
Năm năm qua, thực sự là những chuỗi ngày tháng căng thẳng đối với Học Ngâm, vì hắn vừa phải tìm cách khắc phục nền tài chính eo hẹp sau bi kịch gia đình, vừa phải chống chọi với các thế lực kình địch trong công ty lúc nào cũng nhòm ngó cái ghế phó chủ nhiệm như cú nhòm nhà bệnh.
Đúng là người tính không bằng trời tính. Ngay từ lúc mới chào đời, quẻ tiên thiên đã chỉ ra đường quan lộ của chàng trai làng Hạ bị đứt đoạn quả không sai. Hắn bị công nhân tố giác sau vài phi vụ thông đồng với tay đội trưởng rút ruột công trình xây dựng. Ông trưởng phòng kế hoạch cùng với đoàn thanh tra của tỉnh còn phát hiện ra chuyện gian lận vật liệu trong quá trình thi công trụ sở ngân hàng nông nghiệp. Bằng chứng khá rõ ràng, Học Ngâm không cãi được cho dù hắn là kẻ rất to mồm mỗi khi biện bác. Trong cuộc họp đảng ủy, hắn bị phe lấy "hồng" làm tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất cán bộ, biểu quyết khai trừ khỏi đảng, đề nghị cách chức phó chủ nhiệm, chuyển hồ sơ sang viện kiếm sát yêu cầu truy tố về tội lợi dụng chức quyền tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Với tội danh ấy, theo Bộ luật Hình sự, hắn có thể phải "nhập kho"****, ngồi bóc lịch giết thời gian ít nhất bảy niên.
Học Ngâm như kẻ mất hồn, chạy xuôi chạy ngược tìm thày thợ giải cứu, hy vọng may ra thoát khỏi kiếp cơm tù. Mấy hôm sau, có một người đàn ông trạc bốn mươi đến gặp hắn vào buổi tối. Anh ta trước đây ở đội xây dựng, một năm đói quá, nhà lại đông con, phải đạp xe sang núi Gôi mua sắn khô ăn độn, chẳng ngờ, về đến cầu Ngà thì bị quản lý thị trường vồ được. Chuyến ấy người công nhân khốn khổ đáng ra mất trắng mà lại còn bị phạt nữa, thật may, gặp xe ông phó chủ nhiệm vừa đi công tác về chớm đến đầu cầu. Sau một hồi dàn xếp, cánh thuế vụ nể đồng chí lãnh đạo công ty, tha cho. Nhớ ơn ấy, anh ta gợi ý Học Ngâm đến gặp cậu mình là ông Dương Đăng. Ông này là nhân sĩ, nghỉ hưu từ lâu, chẳng chức tước, quyền hành gì, thậm chí còn không là đảng viên nữa, nhưng tiếng nói lại rất có trọng lượng với bí thư, chủ tịch tỉnh. Bất chấp liêm sỉ của bậc quân tử (tuy rằng nhân vật chính của chúng ta chưa bao giờ có cái đó), Học Ngâm quỳ sụp xuống vừa lạy vừa khóc, cầu xin ân nhân cứu mạng.
Căn cứ theo lời thoán của hào lục ngũ***** trong quẻ Bác mà suy thì số hắn chưa đến nỗi phải đáo tụng đình. Hơn nữa, ông Dương Đăng là người giàu lòng vị tha, biết thừa Học Ngâm có tội nhưng vẫn trổ hết tài thuyết khách cứu hắn. Vậy là tay cựu phó chủ nhiệm thoát khỏi bộ quần áo sọc nhưng buộc phải về hưu non kèm theo những lời răn đe khá nặng nề từ những quan chức đầu ngành.
Về vườn vài năm, gặp thời đất nước mở cửa, ngửi thấy mùi kinh tế thị trường, Học Ngâm làm hồ sơ xin thành lập công ty xây dựng. Nói là công ty nhưng thực ra chỉ là một đội thợ nề chuyên sửa chữa lặt vặt . Vốn đi vay, nhân lực thuê theo thời vụ, việc làm buổi có buổi không, thu nhập chẳng đáng là bao mà thuế thì tháng nào phòng tài chính cũng cho người đến tróc làm ông giám đốc phát hoảng, chưa đầy một năm đã phải vội xin giải thể. Sau đận ấy, Học Ngâm còn mở vài công ty nữa với nhiều loại ngành nghề kể cả nghề hút bể phốt nhưng đều thất bại. Cuối cùng Học Ngâm quyết định thành lập Công ty kinh doanh Chim cảnh. Có lẽ, sau mấy chục năm lăn lộn trường đời đầy gió bụi, giờ hắn mới tìm được cái nghề đúng sở trường. Công ty Chim cảnh có tên chính thức "HanhngamVet Co.,Ltd" của hắn không nhập loại hàng sặc sỡ, lòe loẹt từ Hongkong, Macau hay Thailand mà có một đội ngũ kỹ thuật viên sành nghề chuyên săn bắt và thuần hóa các dòng vẹt bản địa. Hắn là người đầu tiên phát hiện ra vẹt Việt Nam là loài chim bắt chước giỏi nhất trần đời. Sau khi được tiêm loại chế phẩm kích thích vào tuyến yên do một gã ma cô vốn là đệ tử làm ăn của Học Ngâm từ biên giới phía “nước lạ” tuồn về, lũ vẹt đột nhiên xuất hiện khả năng kỳ lạ. Chúng không chỉ biết nhắc lại một số từ ngữ có âm tiết phức tạp mà còn ứng khẩu "sáng tác" những câu văn vần đại loại như là thơ câu lạc bộ phường nhưng thanh điệu thì chưa được chuẩn cho lắm. Với mặt hàng có một không hai trên đời đó, Học Ngâm trở thành nhà sản xuất độc quyền khu vực Đông Nam Á, doanh thu mỗi ngày một tăng. Ông chủ công ty còn xây dựng dự án mời chuyên gia nước ngoài dạy vẹt tiếng Ăng lê, tiếng Pháp và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ để xuất khẩu hàng sang thị trường Âu châu quảng bá cho nền công nghiệp sinh vật cảnh nước nhà.
Chẳng biết vì doanh nghiệp làm ăn có lãi, đóng góp ít nhiều vào ngân sách tỉnh hay bởi tài bẻm mép, biết làm đẹp lòng các vị lãnh đạo, Học Ngâm được cơ cấu vào một hội đồng tư vấn địa phương mà nội dung hoạt động chính là, mỗi năm một lần họp để... vỗ tay, sau khi nghe ông tổng thư ký đọc bài tổng kết mùi mẫn rồi kéo nhau ra quán Bốn Mùa đánh chén. Chưa hết, cũng do tài lobby politician trong những cuộc chén chú chén anh bằng tiền chùa như thế, một quan chức có tầm cỡ nghe bùi tai còn mạnh dạn đề cử hắn vào chức chủ tịch "Hội chim, chó cảnh". Lại một lần nữa đời lên voi, ông giám đốc công ty tư nhân trong cơn phấn khích, đặt in hai ngàn năm trăm tấm danh thiếp, kê khai tất cả chức tước, thành tích cũng như các loại giải thưởng, kể cả hai giải khuyến khích của CLB thơ ngách 16, phường BL...
Chỉ trong chưa đầy năm năm, cô giáo giảng dạy môn thể dục thể thao đã sinh cho Học Ngâm hai ái nữ. Cô nào cũng giống bố như đúc, nghĩa là làn da ngăm ngăm nhuộm vỏ só, khuôn mặt vừa thô vừa to quá cỡ cùng với cặp mắt tròn tựa hai hòn bi ve lúc nào cũng lờ đờ như mắt chuột khói. Tuy chỉ số thông minh của các cô bé này chỉ ở mức khiêm tốn nhưng Học Ngâm luôn tự huyễn hoặc mình là vợ chồng hắn đã sinh ra những nữ thần đồng. Hắn không tiếc tiền, mời đủ các loại thầy đến nhồi nhét vào đầu con gái rượu hầu hết các môn học thời thượng, còn việc chúng tiêu hóa ra sao thì hãy cứ đợi đấy . Nghe nói, gần đây, một trong hai đứa đã có triệu chứng rối loạn tiền đình ...
Công ty đang "liên tục phát triển" thì đầu tháng trước, ông giám đốc tự nhiên mắc căn bệnh quái lạ, bị ngất xỉu trên đường đi thăm một mối hàng. Tại bệnh viện, các bác sỹ chẩn đoán là viêm bọng đái. Nói chung loại bệnh này dễ chữa, thậm chí không cần phải mổ. Thế nhưng, sau năm ngày điều trị theo phác đồ bằng những loại thuốc đặc hiệu, bệnh hắn không những không đỡ mà còn có nguy cơ mỗi ngày một nặng. Ông giám đốc đau quá kêu rống lên như lợn bị chọc tiết, bệnh viện quyết định can thiệp bằng dao kéo. Hóa ra, trong tế bào bàng quang của Học Ngâm đã nhiễm một loại virus của bệnh dại từ loài vẹt hoang dã lây sang. Đây là chủng siêu vi lần đầu tiên được phát hiện ra ở Việt Nam nên các thầy thuốc nội địa, trong đó có những vị giáo sư tiến sỹ nổi tiếng, sau khi hội chẩn cũng phải lắc đầu. Căn bệnh bí hiểm này có chữa được không chắc còn phải chờ vào sự tiến bộ của nền y học thế giới trong tương lai, nhất là các nhà khoa học đã từng đoạt giải Nobel./.
ĐVS
** Hào thấp nhất của quẻ dịch mà là hào âm( vạch đứt) gọi là hào sáu đầu
*** Một kiểu câu cá chuối qua đêm ở làng quê
**** Vào trại giam ( tiếng lóng)
***** Hào thứ năm của quẻ dịch mà là hào âm (vạch đứt) gọi là hào Lục ngũ, ở đây là quẻ Sơn Địa Bác(山地剝).