Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Z28 - Người Đẹp Qui Tô - Người thứ tám 🔒

5 trả lời, 9.205 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-11-29 17:41:12Ct.Ly>
Chương VI

Biến cố nửa đêm về sáng

        Nhưng nụ cười khoan khoái của Văn Bình vội tắt ngúm. Chàng lại nghe Buru thét "cứu tôi với, cứu tôi với". Trong đêm khuya âm u, tiếng kêu cứu của Buru làm máu chàng đông lạnh trong động mạch. Tuy vậy, chàng vẫn không nhúc nhích. Chàng chỉ cất tiếng hỏi:
-  Rắn cắn hả ?
Buru đáp, giọng hớt hơ hớt hải:
-  Không.
-  Tại sao anh kêu ?
-  Nó đánh tôi.
-  Ai đánh ?
-  Nó chứ còn ai nữa. Tôi vừa đi đến đây, đứng lại để thở thì nó quất vào vai tôi.
-  Còn đau nữa không ?
  
Văn Bình không quan tâm đến tiếng rên rỉ của Buru. Đại tá Pít cho hắn đi theo để giúp đỡ, nhưng trên thực tế hắn là gánh nặng cho chàng. Nằm dưới đất, Vích-kỵ bắt đầu cựa quậy, chàng dựng hắn ngồi lên, dựa lưng vào gốc thông. Hơi thở hắn đã đều đặn. Chàng ghé sát tai hắn :
-  Phải anh là Vích-ky không ?
Hắn gật đầu. Chàng lại hỏi:
-  Anh cùng đi với kỹ sư Doarê ?
-  Phải. Còn anh ? Anh cũng quen Doarê ?
-  Quen thân.
-  Doarê có trao cho anh vật gì không ?
-   
Vích-ky ngó chàng trân trân nhưng không đáp. Dường như hắn muốn quan sát tường tận tướng mạo chàng. Lát sau hắn mới nói, giọng đắn đo :
-  Không.
Nghẫm nghĩ một phút, hắn tiếp :
-  Yêu cầu anh dìu tôi vào trong làng. Tôi có chuyện cần nói riêng với anh.
-  Chuyện gì ?
Mắt Vích-ky mở rộng :
-  Chuyện đại tá Pít, nếu tôi không lầm, anh là người của đại tá Pít. Anh là đại tá z.28.
 
  Văn Bình đinh ninh trong điệp vụ này, ở xa quê hương cả chục ngàn cây số, cái tên z.28 sẽ được xếp trong viện bảo tàng. Nhưng tại sao Vích-ky lại biết chàng là z.28 ? Đại tá Pít đã nói là Vích-kỵ bị mất liên lạc vô tuyến với trung ương C.I.A. và được coi là biệt tích. Vì Vích-ky biệt tích nên chàng được đặc phái đến biên giới Equatơ.


Chàng không nói nửa lời. Có lẽ hắn cũng biết chàng kín miệng nên suốt dọc đường, từ khu "bệnh viện" đến khu Nam của làng Dua, nơi hai cha con mục sư Fêlin và Rita tạm nghỉ, hắn không hỏi gì nữa.
Căn nhà trống trải đã bớt phần nào lạnh lẽo nhờ đóng lửa vừa đốt. Chắc đó là công đầu của Côcô, vì Fêlin bị thương nặng. Rita sốt li bì, duy có nàng còn khỏe. Thấy chàng, Côcô mừng rơn. Nàng loay hoay nhường chỗ cho chàng ngồi sưởi bên lửa như thể chàng là người rất thân. Vch ky gieo mình nặng nề xuống nền đất cứng. Mùi thịt nướng thơm lừng căn nhà. Khi ấy Văn Bình mới nhìn thấy hai đùi thịt lớn vàng rộm đang chảy mỡ lèo xèo trên bếp lửa.
"Mục sư" Fêlin vui vẻ giải thích :
-  Xin ông tha lỗi. Bụng đói cồn cào, tôi đang than thở không biết kiếm gì ăn thì con hươu này chạy qua, tôi đành tặng nó một phát đạn. Tự tay tôi cạo lông làm thịt, các ông dùng chút đỉnh cho khỏe.

Không đợi mời thêm, Buru xà xuống, rút dao cắt thịt nhai ngấu nghiến. Tuy mệt mỏi, Vích-ky ngoạm đùi thịt lại không mỏi mệt chút nào. Côcô âu yếm rót cho Văn Bình một miếng nạc thật ngon lành. Chàng chỉ ăn qua loa rồi đứng dậy săn sóc Rita. Nàng đã hạ cơn sốt, song da còn nóng, chàng luồn tay vào trong áo thấy mồ hôi ướt dầm. Chàng lấy áo đắp cho nàng, qua bóng tối, cặp mắt của nàng rực sáng như có hào quang.

Đêm đã khuya, Buru gục đầu vào vách ngủ ngoan ngoản như đứa trẻ. Fêlin nằm gối đầu trên bá súng. Khuôn mặt hắn vẫn còn những nét hung hãn nhưng so sánh với lúc hắn chĩa súng đoạt xe, hắn có vẻ hiền hậu khác thường. Ngồi bên, Côcô cũng ríu mắt, tuy nhiên, mỗi lúc liếc trộm Văn Bình, nàng lại nóng rực châu thân và hết buồn ngủ như vừa uống ly cà-phê đặc. Ở góc, Rita ngáy đều đều. Tiếng ngáy của nàng nghe êm tai khiến Văn Bình đâm ra buồn ngủ.

      Nhưng chàng không hề chợp mắt vì Vích-ky hẹn nói chuyện quan trọng. Hắn tì vai vào thành cửa, hút thuốc lá, tận ngần phun khói ra ngoài sân. Văn Bình lại gần hắn. Tuy lai Á đông, Vích-ky vẫn có cốt cách tây-phương, nếu hắn không thấp lùn, người ta dễ lầm hắn là dân Bắc-Âu. Ngực hắn phồng tròn như trái banh da bơm căng, bắp thịt cánh tay nổi cuồn cuộn, bụng thót lại, ngón tay to vuông, cằm vuông, cồ chắc nịch như cậy cột nhà, toàn thân Vích-ky toát ra sự cường tráng tột độ. Cặp mắt thành thạo của Văn Bình đã chiếu cố đặc biệt đến sống bàn tay và đầu ngón tay của hắn, đại tá Pít cho biết hắn thắt đai đen đệ tam đẳng nhu đạo song Văn Bình đoán thấy tài nghệ của Vích-ky còn cao hơn đệ tam đẳng nhiều.
Hắn cười nửa miệng với chàng :
-  Anh không tin tôi. Tôi biết.
Văn Bình cũng cười nửa miệng, đáp lại:
-  Thì anh cũng vậy, anh không tin tôi.
-  Ai bảo anh như vậy ?
-  Vì anh chưa đòi tôi xuất trình chứng minh thư.
-  Ha, ha... tôi có cảm tưởng là anh chủ tâm nói đùa. Nhân viên trong làng điệp báo thế giới không ai không biết đến z.28. Tôi phục vụ cho C.I.A. từ hơn 10 năm nay, tôi chưa được hân hạnh gặp anh bằng xương bằng thịt, song chân dung anh đã được treo đầy trong tổng hành doanh C.I.A., nhân viên C1A. hoạt động tại Nam-Mỹ càng phải quen mặt anh hơn nữa vì GRU và Quốc Tế Tình Báo sở đã treo giải thưởng khổng lồ để lấy mạng anh. Lăn lộn trong nghề đã lâu, tôi đánh hơi thấy anh không tin tôi. Đáng tiếc là đường dây liên lạc với Hoa-thịnh-đốn đã bị gián đoạn, nếu không....
-  Anh liên lạc lần cuối với đại tá Pít hôm nào ?
-  Trước khi anh lên đường. Họ tưởng tôi đã chết nên nhờ anh đến gặp Doarê. Nhưng, như anh đã thấy, tôi còn sống nhăn răng, sở dĩ tôi không liên lạc với trung ương vì hai lý do : thứ nhất, đại tá Pít dặn tôi hạn chế truyền tin đến mức tối thiểu vì sợ địch nghe được, thứ hai, điện đài của tôi đã vỡ nát khi tôi được phi cơ thả xuống gần vòng đai căn cứ 4Q. Tôi tiếp xúc với Doarê và hộ tống ông ta xuống làng Dua. Tại căn cứ 4Q, tôi ráng liên lạc với đại tá Pít song toàn thể hệ thống vô tuyến điện đã bị hư hỏng, kho chứa đồ phụ tùng thay thế cũng bị níu đè xẹp lép. Dọc đường đến làng Dua, Doarê bị thương. Tôi đưa ông ta vào bệnh xá rồi trèo qua đỉnh núi ở hướng Nam, đến đài truyền tin của căn cứ 4Q, với hy vọng nối lại liên lạc với trung ương. Đài truyền tin này cũng bị tàn phá hoàn toàn, tôi đến nơi thì nhân viên phụ trách đài đã chết vùi dưới đống đá vụn, tôi lục tìm mãi mới thấy một cái điện đài ngắn tầm, bình điện lại gần cạn, tuy nhiên, tôi đã liên lạc được với C.I.A. qua trung gian đài tiếp vận ở Qui-tô.
-  Và C.I.A. cho anh biết là tôi được phái đến đây.
-  Phải. Họ nói rõ anh là Z.28.
-  Còn vấn đề tài liệu ?
-  Tôi còn sống nên vấn đề này không được đặt ra.
-  Nghĩa là từ phút này trở đi, nhiệm vụ mà C.I.A. trao cho tôi được chấm dứt.
-  Không hẳn thế. Trung ương chỉ ra lệnh cho tôi cấp tốc trở về tổng hành doanh.
-  Với tài liệu ?
-  Dĩ nhiên, không lẽ trở về tay không ?
-  Nghĩa là anh đã nắm trong tay cuộn băng nhựa ghi tài liệu của kiểm soát Doarê.
-  Nếu tôi đáp không, anh vẫn không có quyền hỏi vặn, vì như tôi đã xác nhận, tôi còn tiếp tục điệp vụ của C.I.A.. Nhưng anh và tôi là đồng nghiệp nên tôi trả lời là "có" để anh yên tâm.
-  Anh giấu cuộn băng ghi âm ở đâu ?
-  Sáng mai, sau khi lên máy bay, tôi sẽ cho anh biết.
-  Lên máy bay nào ?
-  À, tôi quên chưa thông báo với anh là sáng sớm mai, họ sẽ cho phi cơ đáp xuống làng Dua đón chúng ta.
-  Ai hứa là có phi cơ đến đón ?
-  Trung ương C.I.A..
-  Phi cơ lớn hay nhỏ ?
-  Trên nguyên tắc, phi trường làng Dua có thể tiếp nhận được phi cơ cánh quạt cỡ trung bình. Trung ương cho biết thời tiết sáng mai sẽ đẹp hơn, hoa tiêu có thể hạ cánh. Tôi hy vọng là phi cơ C.l. A khá lớn để mọi người cùng lên một thể. Tôi không thích đi một mình, vả lại, về phương diện an ninh, tôi cũng có thể đi một mình.
-  Tóm lại, anh vẫn còn nghi ngờ tôi, cho nên tôi cũng phải nghi ngờ anh. Trong nghề này, nghi ngờ là điều kiện cần thiết để sinh tồn phải không anh ? Nhưng nói cho đúng, tôi không nghi ngờ anh đâu, vì tôi đã biết rõ anh là đại tá
Văn Bình z.28. Tuy nhiên, tôi không thể tin cậy người đàn ông lạ cùng đi với anh và ba người đang chờ anh tại đây.
-  Buru cũng là nhân viên C.I.A..
-  Nhưng còn cô gái tự xưng là Rita ?
-  Nàng là em ruột của kiểm soát Doarê.
-  Đại tá Pít cho anh biết ?
-  Không. Tình cờ chúng tôi gặp nàng dọc đường. Nàng đang bị bọn mọi da đỏ tra khảo thì chúng tôi đến cứu.
-  Hừ.... ai cấm nàng tạo ra cuộc tra khảo với sự đồng lõa của bọn mọi da đỏ ? Ai cấm nàng không là nhân viên GRU hoặc Quốc Tế Tình Báo sở ?
-  Vậy nàng là Rita giả hiệu ?
-  Tôi không quyết đoán nàng là Rita giả hiệu. Nhưng trước khi có Rita giả hiệu, anh phải biết rõ là có Rita thực thụ hay không ? Theo chỗ tôi hiểu, Doarê không hề có em gái. Hoặc ít ra là trong hồ sơ của C.I.A., Doarê đã khai là không có em gái hiện sống tại tây bán cầu. Vả lại, nàng đã xuất trình giấy tờ nào chứng minh Doarê là anh ruột chưa ?
-  Chưa.
-  Trời đất ơi, tôi tưởng anh đã bạc đầu trong nghề, ngờ đâu anh lại ngây thơ như vậy.
Văn Bình lặng người, má đỏ bừng như cậu học sinh bị thày bắt quả tang "quay phim" trong giờ thi. Vích-ky vẫn dấm dẳn:
-  Anh tha lỗi cho tôi đã quá nặng lời. Nhưng đặt vào hoàn cảnh tôi, anh sẽ thấy tôi không còn cách nào khác. Công việc tôi làm liên hệ đến tính mạng nhiều người, và nhất là liên hệ đến sự tồn vong của C.I.A. nên tơi phải riết róng đôi khi trở thành lố bịch.
-  Anh ngờ vực rất đúng. Tôi mới có lỗi.
-  Hừ... tôi chỉ mới nhắc đến trường hợp cô gái kiều diễm tự xưng là Rita. Nhưng còn Côcô ? Còn Fêlin ? Nếu tôi nghe không lầm thì chính Fêlin đã chĩa súng, đòi anh phải nộp xe hơi cho hắn ?
-  Hắn đoạt xe hơi trong lúc tinh thần bấn loạn. Mỗi khi thần kinh bị căng thẳng cực độ, nhiều người đều có phản ứng rồ dại như Fêlin. Nhưng sau đó hắn đã tỉnh ngộ.
-  Về phần anh, chừng nào anh tỉnh ngộ ?
-  Anh đã vượt quá ranh giới của tình đồng nghiệp. Bình sinh, tôi không ưa người lạ chơi trèo.
-  Tôi xin lỗi anh lần nữa. sở dĩ tôi nóng mặt vì tôi thấy anh tin cậy Fêlin một cách vô lý và vô nguyên tắc.
-  Anh lầm. Tôi chưa hề tin cậy hắn. Ngay từ khi gặp hắn, tôi đã biết hắn là mục sư giả hiệu.
-  Tại sao anh chưa khám xét đồ đoàn của hắn ?
-  Hắn chẳng có gì cả.
-  Có chứ. Cái túi vải to tướng, hai cha con cùng gối đầu lên trên. Khi vào đây, tôi đã để ý đến. Tôi xin phép anh trước, nếu anh lịch sự đối với người đẹp, không muốn lục soát thì tôi sẽ xung phong đảm nhiệm.
Văn Bình thở dài:
-  Tùy anh. Dầu sao anh cũng là vai chính.
Vích-ky nín lặng nhìn ra xa. vầng trăng đã chìm sau rặng núi đen ngòm. Sương gần sáng lạnh buốt như pha tuyết. Vích-ky nhún vai ném điếu thuốc lá rồi nói:
-  Chào anh, tôi đi ngủ đây.


     Hắn bước lại góc phòng, dựa lưng vào tường. Trong giây lát, hắn đã cất tiếng ngáy đều. Mọi người trong nhà đều ngáy như hắn. Riêng tiếng ngáy của Buru lớn hơn bò rống. Văn Bình không muốn ngủ, chàng linh tính nhiều biến cố quan trọng sắp xay ra, và chàng cần tỉnh táo để đối phó kịp thời. Vích-ky nói là công vụ của chàng đã hết, tuy vậy, chàng lại có cảm tưởng là nó mới bắt đầu, những khó khăn lớn lao hơn những khó khăn đã gặp trên đường đến căn cứ 4Q cũng sắp xảy ra..


       Chàng cảm thấy lạnh. Chàng đã cởi áo vét đấp chọ Rita nên trên mình chỉ còn cái sơ-mi lụa ngắn tay mỏng tanh. Tuy trời lạnh, chàng đoán hàn thử biểu chỉ xuống đến 5 hay 6 độ là cùng, ở độ lạnh này, chàng dư sức ở trần nhảy ùm xuống sông tắm. Chàng từng bắt chước bọn trẻ ở Bắc-Âu vùng vẫy dưới biển trong khi nước bị đông cứng, hàn thử biểu tụt dưới không độ gần đốt ngón tay. Sở dĩ chàng coi thường khí lạnh vì cơ thể trữ sẵn nhiệt lượng, một nhiệt lượng vô tận xử dụng bao nhiêu cũng không cạn.

      Nhưng đêm nay chàng lại cảm thấy lạnh. Sự kiện này chứng tỏ tạng phủ chàng không bình thường. Không bình thường vì chàng vừa phải che miệng ngáp. Ngáp một lần đã là chuyện lạ đối với người quen thức thâu đêm suốt sáng như chàng, phương chi chàng cứ ngáp liên hồi, ngáp muốn trẹo quai hàm như kẻ nghiện á phiện đòi thuốc. Chàng chưa trị xong bệnh ngáp thì bệnh ríu mắt hiện ra, mí mắt chàng bỗng dưng dính chặt lấy nhau như bị may bằng chỉ ni- lông. Chàng vận công lên quai hàm và mắt bởi vậy giấc ngủ quái gỡ chỉ xâm chiếm được một phần cơ thể, tay chân chàng mỏi rã rời xong óc chàng vẫn chưa mất hết sáng suốt.

        Chàng nghe nhiều tiếng động lạ nhưng chàng không phân biệt được từ đâu phát ra. Chàng quan sát chung quanh, lửa đã tắt ngúm. Fêlin nằm cách chàng một quãng ngắn, tuy trời tối om, chàng vẫn lờ mờ thấy hắn cuộn tròn bên khúc cây dài khẳng khiu. Côcô nằm úp mặt vào chân tường, ở góc phòng đối diện, Rita đang rên khừ khừ và Buru đang ngáy như kéo gỗ.

       Văn Bình thoáng thấy Fêlin nghển cổ trong bóng đêm. Rồi hắn nhổm dậy, vểnh tai thăm dò động tĩnh, trước khi bò nhè nhẹ về phía chàng. Chàng nín hơi chờ hắn bò tới. Nhưng hắn bỗng nằm ép xuống nền nhà lồi lõm. Vì từ bên trái chàng vọng lại một âm thanh khả nghi. Dường như có ai gọi chàng. Một tiếng kêu rất nhỏ. Con ma ngủ đang xâm chiếm cơ thể chàng một cách thâm độc đã khiến thính giác thường ngày bén nhậy của chàng yếu hẳn. Chàng chỉ nghe loáng thoáng "ông z.28 ơi, ông z.28 ơi" chứ không biết ai kêu.

      Chàng đoán là Fêlin kêu. Hắn cần gặp mặt chàng vào lúc nửa đêm về sáng này làm gì ? Chàng toan lên tiếng vì nhận thấy trong giọng hắn một vẻ tuyệt vọng ghê gớm, như thể hắn sắp chết và chàng là ân nhân cứu sống.

     Nhưng chàng chưa kịp lên tiếng và trườn lại gần hắn thì toàn gian nhà đã tràn ngập tiếng kêu the thé làm rợn tóc gáy:
-  Chết tôi rồi !

Tiếng kêu này là của Rita. Tiếp theo tiếng kêu là tiếng ằng ặc, chắc nàng bị siết cổ. Văn Bình lao mình qua đống gỗ. trong chớp mắt, chàng đã đến góc nhà. Chàng nghe tiếng "huỵch" lớn, rồi tiếng Rita :
-  Bắt lấy nó !

       Côcô trở mình ú ớ. Văn Bình biết Fêlin còn thức, song hắn lại nằm yên, giả vờ ngủ say. Buru đã lóp ngóp bò dậy, châm lửa vào bậc đèn dầu hỏa. Tuy nhiên, Vích-ky đã đốt đèn trước Buru. Hắn cầm đèn cầy cháy leo lét, giơ lên cao, rồi hỏi, giọng sang sảng
-  Chuyện gì thế ?
Rita xoa cổ, giọng hổn hển :
-  Không biết ai chẹn cuống họng làm tôi suýt nghẹt thở. May quá, tôi hất hắn ngã và kêu cứu, nếu không....

        Văn Bình đã đến bên nàng. Dưới ánh sáng vàng ệch, nàng ngồi thở dốc, mặt xanh mét, tay còn run bần bật. Chờ nàng hoàng hồn, chàng mới hỏi:
-  Cô có nhận diện được kẻ bóp cổ cô không ?
Đang suýt soa kêu đau, Rita bỗng bật cười:
-  Trời tối thui, cách một thước không nhìn rõ mặt, em nhìn thấy diện mạo kẻ gian sao được ?

        Câu hỏi của chàng có vẻ ngây ngô nên mọi người, nhất là Buru cười rộ theo. Riêng chàng không cười. Không phải vì chàng cảm thấy tự ái bị va chạm. Mà vì chàng nêu ra câu hỏi ngây ngô ấy với một ý định rõ rệt. Mọi người cười rộ một cách thành thật và vui vẻ song giác quan thứ 6 của chàng lại đoán quyết rằng tất cả chỉ là giả tạo.
Vích-ky lại kêu thất thanh :
-  Nó đây rồi. Nó núp ngoài sân...

       Vích-ky nhào ra hàng hiên. Hắn mập thù lu nhưng khi động dụng hắn lại xê dịch nhanh nhẹn không thua con sóc trên cành cây. Vừa thấy hắn cầm ngọn nến đứng giữa nhà, hắn đã vọt như chớp ra ngoài.

Văn Bình rượt theo hắn. Tuy nhiên, chàng không chạy ra xa, đến tảng đá lớn, chàng thụp xuống, ngồi đó chàng vẫn có thể kiểm soát sự việc xảy ra trong nhà. Vích-ky kêu tên chàng, giọng hoảng hốt:
-Anh Văn Bình ?
Chàng không đáp lại, Vích-ky lại thét:
-  A, mày chạy trốn đằng trời cũng không thoát khỏi tay tao.
Vích-ky chạy thình thịch xuống con đường dốc. Buru dừng lại ở lưng chừng dốc, thở phì phò rồi hỏi lớn :
-  Thấy chưa ?
Vích-ky lủi thủi trở lên, giọng bực bội:
-  Nó lủi đâu mất rồi. Khiếp, nó trốn lẹ như chuột, tôi đuổi đã nhanh mà không cách nào kịp. Anh có nhìn thấy hắn không ?
Buru lắc đầu, ra vẻ tiếc rẻ :
-  Không. Nếu tìm thấy, tôi đã tặng hắn một viên kẹo đồng.
Vích-ky vịn vai Văn Bình, chân hơi khập khiễng :
-  Có lẽ tôi đạp nhằm gai, chân đau lắm. Suýt nữa tôi đã thộp cồ được tên khốn kiếp hành hung cô Rita.
Nhìn khẩu súng lủng lẳng ở lưng Vích-ky, Văn Bình cười nửa miệng :
-  Súng đây, anh để làm gì ?
Vích-ky hừ một tiếng rồi cởi dây lưng đeo súng, phân bua :
-  Nếu trong nòng có một viên, chỉ một viên thôi, tôi cũng dư sức bắn hắn ngã quỵ. Nhưng khốn nỗi súng tôi lại rỗng không.

Hắn cười xòa rồi trở vào nhà. Bên ngoài, chân trời đông bắt đầu ửng hồng. Trong vòng nửa giờ, trời sẽ hết tối. Phi cơ của C.I.A. sẽ hạ cánh, chở mọi người, trong số có chàng, về thủ đô Qui-tô. Chàng sẽ ngủ một giấc đã đời đến chiều, tắm rửa thơm tho, vứt hết công việc cho Vích-ky, rồi chờ hoàng hôn buông xuống, lên phòng ăn lộng lẫy của đại khách sạn Qui-tô ở lầu 7, phóng tầm mắt nhìn xuống thành phố. Khách sạn Qui-tô do chánh phủ quản nhiệm gồm 250 phòng đầy đủ tiện nghi sang trọng, thảm trải hành lang bằng len dầy, vô cùng êm ái, nệm giường còn êm ái hơn nhiều, giống cái có mặt trong phòng ăn đều thuộc thành phần thượng lưu quý phái, thích đàn ông đẹp và khỏe, chứ không thích tiền. Chàng sẽ làm qụen một cô gái thật kiều diễm, và sánh vai nàng vào phòng đánh bạc trong đại khách sạn, chàng sẽ đặt hàng đống tiền cho người đẹp lác mắt, sau khi cá cắn câu, chàng mời nàng đến hộp đêm Tallyho nghe nhạc. Đèn ở đây thắp rật ít, lại lù mù, thuận tiện cho trai gái yêu đương, quang cảnh nên thơ với chỗ ngồi và vách tường bằng tre, trên quầy rót rựợu nghiễu nghện cái lọng lớn phủ rơm tha thướt và nên thơ bậc nhất là những cái mặt nạ vẽ nhiều mầu sặc sỡ giống thú lạ kỳ của dân mọi da đỏ bản xứ, và cái lò sưởi bằng củi đốt bập bùng xua đuổi khí lạnh ban đêm vì câu lạc bộ dạ lạc này mở cửa từ 5 giờ chiều đến 4 giờ sáng. Chỉ tiếc là không có giàn nhạc sống, nhưng bù lại, có sàn nhảy khá rộng, khá bóng, chàng sẽ khiêu vũ say sưa....

Nhưng ước vọng thần tiên của chàng đã bị thực tế chối bỏ một cách tàn nhẫn. Vì chàng đang nghĩ đến lúc ôm cô gái đẹp vào lòng trong căn phòng đóng kín thì Vích-ky đã thét đứt quãng như bị rắn độc cắn :
-  Văn Bình, Văn Bình !

Hắn đứng sững như người mất hồn, hai tạy lục túi rối rít. Lục hết túi quần, hắn lục túi áo. Lục xong túi áo, hắn trở lại lục túi quần. Túi áo, túi quần lục xong, hắn xáo tung cái mền len rách trên sàn nhà, thậm chí còn lấy móng tay cào xuống xi-măng nữa. Vừa cào, hắn vừa gọi:
-  Văn Bình, Văn Bình !
Chàng cất tiếng hỏi:
-  Anh làm gì thế ?
Hắn nói, giọng đau khổ như muốn khóc :
-  Tôi đang tìm. Đang tìm cuộn băng tài liệu.
-  Anh cất ở đâu ?
-  Trong mình. Tôi giấu trong túi áo trong.
-  Cuộng băng lớn hay nhỏ.
-  Nhỏ. Bằng phần tư cuộn băng cát-sét. Khi ngủ sợ mất nên tôi nằm sấp.
-  Có thể cuộn băng rơi ra ngoài trong khi anh rượt theo tên gian.
-  Tôi không tin. Tôi có cảm tưởng là nó bị đánh cắp trong phòng này. Hồi nãy ăn thịt nướng xong tôi bỗng mỏi mệt và buồn ngủ lạ thường.
-  Khi thức dậy, anh có kiểm soát lại không ?
-  Không. Tiếng kêu của cô Rita làm tôi mất tinh thần, tôi cuống quýt đốt đèn, và ngay sau đó tôi lại nhìn thấy một bóng đen lực lưỡng lấp ló ngoài sân. Đến khi trở vào tôi mới sực nhớ thì cuộn băng đã không cánh mà bay.

       Buru đã châm lửa vào đống củi khô giữa nhà, cháy đỏ rực. Hắn phồng má thổi lửa và ngồi xuống hợ tay, không nói nửa lởi. Không khí căn phòng trống trở nên nghẹt thở. Vích-ky đấm hai bàn tay vào nhau, giọng dữ dằn :
-  Trong số người ở đây có một tên ăn cắp, một kẻ làm tay sai cho địch. Vì quyền lợi chung, tôi yêu cầu được khám xét từng người.

Văn Bình đứng thẳng, giang rộng cánh tay :
-  Mời anh khám xét tôi trước.
Vích-ky nhăn mặt:
-  Tôi không ưa khôi hài.
-  Nghĩa là anh không nghi tôi ?
-  Dầu sao anh và tôi là một. Chúng ta đều là nhân viên C.I.A., anh lấy trộm cuộn băng của Doarê làm gì ?
-  Cám ơn anh.
Buru quay mặt lại, giọng đay nghiến :
-  Tôi không cám ơn, vì lẽ tôi không cho phép anh khám xét. Chắc hai cô Rita và Côcô cũng đồng ý với tôi. Việc lục soát đàn bà dản tới lạm dụng. Tôi không chịu nồi cảnh chướng tai gai mắt như thế.
Côcô xen vào :
-  Ông đừng ngại cho tôi. Tôi sẳn sàng cho ông Vích-ky khám xét, miễn hồ không quá đáng.
Vích-ky lớn tiếng hỏi Buru :
-  Côcô đã thỏa thuận, còn anh, anh còn tiếp tục giữ ý kiến cũ nữa không ?
Buru gằn giọng :
-  Cho đến khi nào tôi bị đánh bất tỉnh.
-  Anh định gây sự cả với tôi ư ?
-  Nói nhiều lời vô ích. Anh ráng quật tôi ngã vì nếu hai chân còn đứng vững, tôi sẽ không tha anh.
Lời nói thách thức của Buru làm Văn Bình bực bội. Bệnh tự ái hão và ham đánh lộn đã biến hắn thành chướng ngại cho chàng. Quần thảo với Rita mảnh mai, hắn còn thất điên bát đảo, chẳng hiểu hắn có phép mầu nào để dám đọ quyền với đai đen nhu đạo Vích-ky.
Vích-ky cười nhạt, nhắc lại:
-  Tôi cho anh một phút để rút lại ý kiến. Bộ mã khòng khèo của anh, chỉ một cái búng nhẹ là lăn kềnh, chúng ta là bạn, không nên đấm đá nhau vì một chuyện không đâu, hơn nữa, hai phụ nữ có mặt ở đây sẽ cười chê chúng ta.
-  Anh đã hậm họe, bêu xấu tôi trước mặt phụ nữ, tôi chỉ chịu rút lui ý kiến nếu anh công khai tạ lỗi.
Vích-ky nhượng bộ :
-  Vâng, tôi xin thành thật tạ lỗi.
-  Vậy thì thôi, việc vừa xảy ra được xếp bỏ.

Dứt lời, Buru ngồi xuống khêu cho lửa cháy to. Vích-ky có vẻ ngạc nhiên :
-  Ơ kìa, anh phải để cho tôi lục soát chứ !
Buru cau mày :
-  Lục soát gì ?
-  Trong người anh. Tôi phải lục soát mọi người ở đây, không riêng gì anh. Vả lại, cách đây một phút, chính anh cũng đã đồng ý. Vì vậy, tôi mới xin lỗi anh.

      Buru vẫn ngồi chỗng mông, thổi lửa phù phù. Hắn thản nhiên quay đít về phía Vích-ky. Thái độ vô lễ của hắn làm Văn Bình đỏ mặt. Song chàng đứng yên vì đã đoán trước Buru ăn đòn. Bướng bỉnh một cách ngu xuẩn và đáng ghét như hắn thì ăn đòn đáng đời. Chàng còn mong Vích-ky nện hắn rõ đau cho hắn cạch luôn đến già.

       Vích-ky cúi xuống, tóm cồ áo Buru xách lên. Buru lơ lửng trên cánh tay lực lưỡng của Vích-ky vừa đạp lung tung, vừa la oai oái:
-  Làm cái trò gì thế, Vích-ky ?
Vích-ky quay Buru một vòng rồi dộng hắn ngã nhào vào đống củi đang cháy :
-  Đồ bú-dù, đã chịu ngoan chưa ?

Tên cúng cơm Buru bị mắng bú-dù là đúng. Thật vậy, hắn cứ xử lố bịch không kém con khỉ. Hắn bị xô nằm vắt vẻo ngang khúc gỗ đỏ ối, nếu không quẩy mình nhanh nhẹn để ngồi dậy, quần áo và râu tóc hắn đã bị cháy xém. Hắn hùng hồ xông vào đánh Vích-ky. Hắn khoa tay, toan đấm giữa mặt Vích-ky, nhưng lần lữa đã ngã chồng kềnh sau khi bị khều chân một cách nhẹ nhàng như đùa bỡn. Buru lóp ngóp bò dậy song xương sống bị đau rần khiến hắn không thể đứng lên và miệng hắn không dám cãi bướng nữa.

Vích-ky vuốt từ cổ xuống chân Buru. Trong người Buru không giấu gì hết. Vích-ky ngó hắn bằng cặp mắt thương hại
-  Quả anh là người điên tàn... Anh không lấy cuộn băng thì việc gì lại không cho lục soát ?
Buru nhổ bẹt bãi nước bọt, giọng khinh khỉnh :
-  Cám ơn.

Vích-ky không nói gì, quaỵ về phía Fêlin. Văn Bình theo dõi từng cử chỉ nhỏ của Vích-ky, và đặc biệt lưu ý đến lối đánh đỡ chững chạc và sắc bén của hắn. Tiếc là hắn cùng ở trận tuyến với chàng, chớ nếu hắn là nhân viên GRU hoặc Quốc Tế Tình Báo sở, chàng sẽ tìm được một đối phương ngang ngửa.
Vích-ky chưa kịp nói, Fêlin đã lên tiếng trước :
-  Mời ông cứ tự nhiên.

Vích-ky xoa nắn bộ vét-tông mục sư nhầu nát của Fêlin, vẻ mặt nghiêm trọng, Fêlin hỏi:
-  Ông đã tìm thấy gì chưa ?
Vích-ky đáp :
-  Chưa. Tôi hy vọng người lấy trộm không phải là ông.
Côcô nói:
-  Ông khám xét cha tôi xong rồi, giờ đến lượt tôi.
Vích-ky lắc đầu :
-  Chưa xong cô ạ. Tôi còn muốn mở cái túi vải ông Fêlin dùng để gối đầu.

Văn Bình nhận thấy mặt Fêlin hơi tái. Tuy vậy, chàng chưa thể kết luận hắn tái mặt vì sợ hãi hay vì quá mỏi mệt. Hắn nghĩ ngợi vào giây đồng hồ ngắn ngủi rồi buông thỏng :
-  Mời ông.
Nhưng Vích-ky vừa mở miệng túi ra, hắn vội cản lại:
-  Thong thả.
Vích-ky luồn tay vào trong túi vải:
-  Ông không cho phép lục soát ?
-  Không. Tôi rất sẳn sàng, vả lại, đứng trước người to con và giỏi võ như ông thì không cho phép tôi cũng phải cho phép. Sở dĩ tôi ngăn lại là vì muốn ông nhẹ tay, sợ thất lạc hoặc hư hỏng một số đồ vật quý giá đựng trong túi.
-  Vâng, tôi sẽ hết sức thận trọng.

Trời đã sáng mờ mờ. Sự thiếu ngủ, thiếu ăn uống và thiếu điều tiện nghi in rõ trên nét mặt mọi người. Fêlin dựa vai Côcô thở ra một cách uể oải. Vích-ky lấy trong túi ra hai gói vuông bọc vải ở ngoài. Hắn hỏi Côcô :
-  Gói này đựng gì hả cô ?
Côcô đáp :
-  Ông mở ra sẽ biết.
Vích-ky nhún vai tháo gỡ lớp băng nhựa lớn được dán trên miệng gói. Cái gói được mở ra, bên trong chỉ thấy một đống đá cứng nhiều mầu, to nhỏ đủ cỡ. Fêlin giải thích :
-  Đây là quặng mỏ. Quặng mỏ kim cương. Tôi phục vụ theo khế ước cho một đại công ty kim cương. Tôi đến vùng biên giới Equatơ để tìm mỏ kim cương. Xin nói trước rằng những viên đá đựng trong gói không hẳn là quặng kim cương, còn phải chờ sự phân chất và sự xác nhận của phòng thí nghiệm nữa.

Vích-ky mở gói thứ hai. Gói này vuông vức, nên ngay từ khi chưa mở, Văn Bình đã biết đó là gói sách. Vích-ky hỏi:
-  Đựng sách phải không ?
Fêlin đáp.
-  Sách. Nhưng không phải là sách thông thường. Mà là sách đại quý. Trong gói có ba quyển sách cả thảy, tuy là sách cũ nhưng trị giá ca chục ngàn đô-la
-  Cả chục ngàn mỹ kim một cuốn ? Trừ phi là sách từ thời thượng cồ.
-  Cũng gần như vậy. Châu Mỹ la-tinh1 theo nền văn minh in-cạ từ ngày xửa ngày xưa : nền văn minh này đã bị tiêu diệt, chỉ còn lại một số di tích. Ba quyển sách này được đào thấy trong một ngôi mộ in-ca.
-  Ở đâu ?
-  Ở đâu, đề nghị ông không nên hỏi, vì tôi chuyên sống bằng nghề này, tôi không thể tiết lộ bí mật nghề nghiệp.
-  Vậy ông là mục sư giả hiệu ?
-  Không hẳn là giả hiệu, vì đã theo học mục sư ở chủng viện, nhưng thay vì làm mục sư, tôi đã làm nghề tìm quặng mỏ, nghề bắn thú và nghề buôn cổ thư.
-  Ông sợ tôi cạnh tranh hả ?
-  Dĩ nhiên.

Vích-kỵ cằn nhằn trong miệng trong khi Fêlin dán mắt vào ba quyển sách dầy, bìa và giấy bằng da thú đã nhậu nát, chữ viết bên trên lem nhem và nhòa nét, song dẫu còn rõ cũng khó thể hiểu nghĩa. Vích-ky toan đặt xuống đất song Fêlin đã la lớn :
-  Không được. Bẩn hết cả, ông ơi !

Vích-ky lật cuốn thứ nhất ra coi. Mùi da cũ mủn nát xông lên làm khó thở, Côcô phải bịt mũi, lảng ra chỗ khác. Vích- ky vẫn thản nhiên như không, ngón tay chậm rãi lật từng tờ một, mỗi cuốn sách cồ gồm từ 10 đến 15 tờ đóng giằng lại vào nhau ở gáy bằng một sợi dây đồng mềm, tờ nào cũng dày cộm và gấp đôi. Vích-ky bỗng ậ lên một tiếng ngắn, rồi bất chấp lời phản đối của Fêlin, đặt phịch quyển sách quý xuống nền đất ướt bẩn, hơn thế nữa, hắn còn giựt tung nhiều tờ ra khỏi gáy.
Quang cảnh diễn ra trước mật mọi người đã chứng tỏ Vích-ky có lý và có tài khám xét sắc bén. Nhiều gói nhỏ, dẹt, đựng một thứ bột trắng nhuyển từ gáy sách vuột ra. Văn Bình buột miệng :
-  Thuốc phiện trắng !

Buru chồm dậy như bị đàn ong đốt đít. Hắn vồ lấy đống gói nhỏ đựng bột trắng, đưa vội lên mũi rồi hít hà :
-  Cha mẹ ơi, đúng rồi, đúng rồi, thuốc phiện trắng !
Hắn quay sang "mục sư" Fêlin :
-  Té ra đây mới là nghề thật của "cha".
Fêlin đáp, mặt hơi tái nhưng vẫn lạnh lùng :
-  Tôi có mạo nhận là mục sư chính cống đâu ! Đời sống mỗi ngày một thêm khó khăn, làm một nghề chưa đủ ăn, tất phải kiếm thêm nghề khác.

Buru quắc mắt:
-  Ông đừng quên rằng nhập nội lén lút bạch phiến vào châu Mỹ là một tội nặng.
Fêlin cười nửa miệng :
-  Thưa ông, tôi không quên. Nhưng sự khắc nghiệt này chỉ có hiệu lực trên đất Hoa-kỳ, còn đây là châu Mỹ la-tinh, cho dẫu tôi bị quan thuế tóm cổ thì chỉ đến tịch thu thuốc là cùng, còn lâu tôi mới bị lôi ra tòa, phạt tù. Đáng tiếc các ông không phải là quan thuế của nước Equatơ để có thẩm quyền bắt tôi.

Hắn bình thản quơ lấy đống gói thuốc phiện trắng, nhét vào túi áo vét-tông đen, và nói:
-  Khám xét xong rồi, phiền ông trả hết lại cho tôi.
Vích-ky chận tay hắn :
-  Chưa được. Còn quyển thứ ba nữa.

Vích-ky vừa lột lớp giấy bọc ngoài thì "bụp" một tiếng nhẹ, một vật tròn rớt ra, lăn xuống vũng nước nhỏ dưới chân hắn. Dưới ánh sáng rạng đông pha trộn với ánh lửa củi, Văn Bình thấy rõ vẻ mặt hớn hở như bắt được của của Vích-ky. Hắn lượm cái vật tròn rồi la lớn :
-  Cuộn băng, cuộn băng tài liệu !

Văn Bình nhìn cái vật tròn lấp loáng trong bàn tay Vích-ky. Nó tròn như hộp ruy-băng máy chữ, song đường kính chỉ bằng phân nửa. Nó màu kaki, như màu nước sơn quân xa, ở đầu có nút bấm, thoạt trông Văn Bình biết ngay là băng ghi âm mật mã do C.I.A. chế tạo đặc biệt, quay trên máy thông thường không phát được thành tiếng.

Vích-ky xòe rộng bàn tay, phân bua với Văn Bình :
-  Phiền anh cho biết cái này có phải là băng ghi âm mật mã không ?
Văn Bình nín thinh không đáp. Vích-ky chồm tới, miệng quát tháo :
-  Đồ ăn cắp !

Fêlin đã đứng dậy, xốc khẩu súng trường lên. Hai chân hắn bị thương, hắn không có mảy may hy vọng chế ngự được gã khổng lồ Vích-ky; cho dẫu hắn lành lặn, tài nghệ của hắn cũng chỉ là trò đùa đối với một võ sĩ đai huyền đen gìà dặn và cường tráng như Vích-ky. Nhưng hắn vẫn liều mạng dùng bá súng làm khí giới quét mạnh ngang hông Vích-ky.

Vích-ky cười hà hà, vung tay gạt, khẩu súng nặng nề bắn vào chân tường. Văn Bình đinh ninh Vích-ky sẽ buông tha Fêlin hoặc quá lắm thì cũng tát nổ đom đóm mắt cho cạch đến già. Chàng đinh ninh như vậy nên không sửa soạn can thiệp. Đến khi chàng biết lầm thì đã muộn. Đòn Vích-ky phóng ra không phải đòn cảnh cáo. Mà là đòn thù. Đòn chết.

Hắn bước xéo lên, chém cạnh bàn tay vào màng tang Fêlin. Từ đỉnh vai xuống rái tay bên dưới có 3 huyệt : huyệt trên đỉnh tai là kasumi, theo nhu đạo, điểm trúng là táng mạng vì dây thần kinh tại đó tượng đối rất mỏng manh, nhiều khi chỉ điểm nhẹ cũng làm nạn nhân điếc tai tức khắc, huyệt ở rái tai cũng là huyệt chết, tụy nhiên người thiếu kinh nghiệm khó thể điểm trúng và chỉ gây ra sự man, nhu đạo gọi là huyệt yên miên, huyệt nằm ngay giữa lỗ tai. Thiếu Lâm quyền đặt tên là huỳnh phong xào nhĩ ít nguy hiểm hơn, nạn nhân bị điếc tai hoặc bất tỉnh mà thôi. Cách điểm huyệt của Vích-ky bắt Văn Bình nồi gai ốc. Rõ ràng hắn tấn công huyệt kasumi của Fêlin. Lệ thường, võ sĩ điểm huyệt có hạng như Vích-ky chỉ cần đánh bằng đầu ngón tay, vậy mà hắn xử dụng cả sống bàn tay, và chém hơi nghiêng, điều này chứng tỏ hắn cố tình chạm mạnh vào khúc dây thần kinh thính giác, và cố tình hạ thủ gã mục sư giả hiệu buôn bạch phiến lậu và đánh cắp cuộn băng tài liệu tối mật.

Không riêng Văn Bình, Côcô cũng biết Fêlin bị Vích-ky đánh đòn chết. Vì vậy nàng rú lên. tiếng rú của nàng làm Fêlin bủn rủn, và trong đường tơ kẻ tóc, miếng atêmi ghê gớm của Vích-ky bị trượt xuống huyệt huỳnh phong xảo nhĩ. Fêlin lăn kềnh, tuy nhiên, hắn chỉ bị bại liệt chứ chưa tắt thở. Đoán được thâm ý của Vích-ky, Văn Bình phóng lại.

Song Vích-ky đã hành động trước khi Văn Bình can thiệp kịp. Hắn phi mũi giầy nhọn vàọ hạ bộ Fêlin. Thế là hết. Cho dẫu Fêlin mặc quần lót bằng kẽm cũng bị trọng thương, phương chi yếu huyệt của hắn chỉ được bảo vệ bằng một lớp vải mỏng, hắn lại mất quá nhiều sức. Fêlin nẩy người lên rồi nằm thẳng băng.

Vích-ky ngồi thụp xuống rồi kêu thất thanh :
-  Khổ quá, khổ quá, tôi đã giết chết Fêlin.
  
Văn Bình tưởng Côcô khóc thét. Nhưng không, nàng vẫn ngồi bất động, đôi mắt nhìn ra ngoài một cách khó hiểu. Dường như nàng quên bẳng vụ án mạng vừa xảy ra, và nạn nhân là người được nàng gọi là "cha". Cha như thế nào, chàng chưa biết, song ít ra nàng cũng có liên hệ khá chặt chẽ với Fêlin.
Văn Bình lắc vai Vích-ky :
-  Tại sao anh lại làm như vậy ?
Vích-ky thở dài, giọng buồn rầu :
-  Chính tôi cũng không hiểu nữa. Có lẽ tôi điên mất. Như có thể một sức mạnh bí mật nào xui khiến tôi ghét hắn, thù hắn và giết hắn. Anh tha lỗi cho tôi, cuộn băng ghi âm của kiểm soát Doarê đã khiến tôi trở thành kẻ tàn bạo.
Buru trề môi:
-  Hừ, anh bạn nói dễ nghe nhỉ ? Khi không, dùng độc thủ giết người mà chỉ xin lỗi thôi ư ?
Vích-ky nghiêm nét mặt:
-  Anh là thằng ngu. Tôi xin lỗi vì lẽ ra tôi nên giữ hắn sống, mang về Hoa-thịnh-đốn, lôi ra tòa rồi lên ghế điện. Tội của hắn là tội phản quốc. Theọ tập tục nghề nghiệp, tôi có quyền giết hắn, dẫu hắn vô tội, tôi giết cũng chẳng ai mó đến lỗ chân lông tôi, huống hồ hắn có tội đầy mình. Một lần nữa, tôi lập lại anh là thằng ngu. Anh thử đối đáp lại xem. Anh là nhân viên C.I.A. thật đấy, nhưng cái đồ C.I.A. hạng bét ấy tôi có thể giết hàng tá như chơi.

Văn Bình nhận thấy Vích-ky đã mất lương tri. Rõ ràng là hắn gây sự với Buru, và chờ Buru phản ứng để giải quyết bằng độc thủ. Chàng sợ Buru thất thố, may thay, trận đòn hồi nãy cộng thêm cái chết thê thảm của gã mục sư giả hiệu đã làm hắn tỉnh ngộ. Hắn im thin thít, không phản đối nửa lời, thậm chí không có cả cử chỉ tức giận nữa. Đột nhiên Buru nhủn như con chi chi.

Cuộc đấu khẩu giữa Vích-ky và Buru bị cắt đứt vì ngoài trời có tiếng động cơ máy bay. Buru bỗng reo mừng như đứa trẻ :
-  Phi cơ, phi cơ sắp đến !
Vích-ky gõ ngón tay vào khớp xương vai Buru, giọng đàn anh:
-  Đừng mừng vội, chú em. Không được lên máy bay đâu.
Buru năn nỉ:
-  Tội nghiệp quá, ông anh không cho về thì chỉ ngày nay tôi chết.
Vích-ky cười:
-  Giờ đây, còn lộn xộn nữa thôi ?
Buru cười theo :
-  Thôi, em sợ mất mật rồi.

        Mặt trời chưa mọc chứ giá mặt trời đã mọc cũng không xuyên qua nồi màn sương dầy đặc, tầng tầng lớp lớp. Từ khi địa chấn xảy ra, màn sương mỗi lúc một thêm dầy đặc, giữa trưa vạn vật vẫn trắng xóa một mầu, ánh nắng chỉ lởn vợn trên các đỉnh núi cao bao quanh thung lũng lòng chảo. Không hiểu sao sáng hôm ấy bức tường sa mù lại sụp dần, phi cơ nặng chưa thể hạ cánh song trực thăng cỡ nhỏ có nhiều hy vọng đáp xuống miễn hồ hoa tiêu quen thuộc địa hình, địa vật, và được trang bị dụng cụ điện tử thích hợp.

       Vích-ky chạy vội ra sân, trong chớp mắt, hắn đã đồ xăng thành vệt dài song song rồi đốt lửa. Văn Bình không rõ hắn lấy bi-đông xăng ở đâu ra. Chàng mới vác được Rita lên vai, tay giắt Côcô thì lửa đã sáng rực. Tiếng trực thặng kêu ầm ầm trên đầu. Trực thăng sơn mầu trắng, không vẽ ngôi sao trắng của không lực Mỹ, cũng không vẽ số... như thường lệ. Văn Bình toan hỏi Vích-ky nhưng hắn đã lăng xăng đến cửa trực thăng để đón hai nhân viên phi hành lực lưỡng từ trên nhảy xuống.

        Văn Bình thấy rõ hai nhân viên phi hành lực lưỡng mặc đồ bay đen, cổ quấn phu-la đỏ hối hả phóng xuống đất như thể bị ai rượt đuổi. Người thứ nhất đứng lại khi thấy Vích-ky và giơ hai ngón tay lên thành chữ V. Quân nhân phương Tây thường giơ ngón tay chữ V chào nhau, chúc mừng hoặc báo hiệu chiến thắng. Và Vích-ky cũng giơ tay chào lại, nhưng lại chào bằng một ngón cái bẻ quặp. Đứng hơi xa Văn Bình không thấy rõ nét mặt của nhân viên phi hành và Vích-ky song giác quan thứ sáu cho chàng biết là họ không cười.
Buru cười, Côcô cười, song Văn Bình không bụng dạ nào cười nổi. Rita mảnh dẻ nhưng khi nằm vắt vẻo trên vai chàng, nàng trở nên nặng khác thường. Nàng càng nặng hơn vì sau một ngày lặn lội, một đêm khát nước giữa trăm ngàn nguy hiểm, chàng đã thấm mệt. Chàng không thể nhoẻn miệng cười theo thói quen thiên phú vì những sự việc đang diễn ra trước mắt nhuốm đượm một bí mật kinh khủng. Chàng lái phi cơ thành thạo, chàng thuộc lòng mọi kiểu phi cơ lớn nhỏ, cánh quạt hoặc phản lực trên thế giới, vậy mà chàng không biết kiểu chiếc trực thăng nhẹ đang đậu chềnh ềnh trên bãi cỏ dưới sương mù trắng xóa. Chàng nhủ thầm "có lẽ đây là trực thăng cứu cấp của C.I.A...."

Vích-ky bắc loa miệng gọi:
-  Nhanh lên, kẻo thời tiết sắp sửa xấu lại.

Văn Bình dấn bước đến gần trực thăng. Đến cửa, chàng dừng lại, toan hạ Rita xuống thì một họng súng lạnh ngắt đã được dí sát lưng :
-  Ông nội, đứng yên cho người ta lục soát.

Kẻ ra lệnh cho chàng là người Mỹ chính cống, sinh trưởng ở vùng Nam ruộng nương cò bay thẳng cánh, và nhan nhản bò rừng, vì giọng hắn khàn như nói bằng mũi. Chàng đứng yên. Tuy vậy, chàng vẫn hỏi lại:
-  Các anh điên hả ? Bắt tôi đứng như phồng đá để làm gì ?
-  Hừ, anh điên thì có. Chúng tôi cần anh đứng yên trong một phút để xem anh có mang khí giới trong mình không ?

Văn Bình quay sang Vích-ky. Chàng tưởng hắn được thảnh thơi, ngờ đâu hắn còn khổ hơn chàng. Chàng vác Rita trên vai nên không phải giơ tay trong khi Vích-ky phải ngoan ngoãn chắp tay lên đầu, bộ điệu vô cùng thiểu não.

Buru còn ngơ ngác thì một nhân viên phi hành đã gõ bá súng vào đỉnh đầu :
-  Cậu này nữa, què tay rồi hả ?
Buru quắc mắt:
-  Đồng nghiệp với nhau cả, định chơi xỏ nhau ư ?

Sự phản đối bằng miệng của Buru đã được đáp lại bằng trái đấm ác liệt vào xương sống. Gã phi công có lối đánh gọn gàng và lợi hại của kẻ được huấn luyện tinh vi về cận chiến và đã hấp thụ nhiều kinh nghiệm sống. Buru khuỵu xuống. Trái đấm dữ dội của gã phi công vừa đánh tan thành kiến của Văn Bình đối với C.I.A. Mỹ. Chàng thường chê C.I.A. chỉ có một số ít nhân viên hành động am tường quyền cước, còn hầu hết đều là công chức thịt mỡ bèo nhèo, bụng to bự, trói gà không chặt. Giờ đây, chàng mới biết họ "chịu chơi", tỷ lệ võ sĩ trong tổng số nhân viên không thua Sở Mật Vụ của ông Hoàng, cơ quan điệp báo thứ nhất trên thế giới mà toàn thể nhân viên, từ nữ thư ký văn phòng đến chuyên viên cơ khí đều nắm vững bí quyết cận vệ chiến.

        Gã phi công dựng Buru dậy rồi xách hắn nhẹ như con nhái bén trao cho bạn hắn đang đứng xoạc chân trên nền trực thăng để giắt mọi người lên. Văn Bình trèo lên sau cùng. Trong chớp mắt, trực thăng đã biến dạng sau màn sương trắng xóa.

       
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-11-29 18:40:14Ct.Ly>
VII

Trên biển mênh mông

  Tứ phía chỉ thấy màu trắng. Màu trắng rợn người của vải liệm xác chết. Trực thăng được sơn màu trắng, hầu hết dụng cụ, máy móc bện trong cũng được sợn trắng nên quang cảnh làm rợn người hơn, bất giác Văn Bình liên tưởng đến tòa nhà thấp nhỏ, trắng xóa ở cuối bệnh viện, tường trắng xóa, những xác chết nằm thành hàng dài sóng sượt trên kẽm trắng xóa, phủ vải trắng xóa đến mặt, chờ thân nhân đến nhận.

    Không khí trong nhà xác thường được điều hòa. Hòa lẫn với hơi người chết, không khí này luôn luôn lạnh ngắt. Không khí trong phi cơ trực thăng đang bay là là trên vùng biên giới Equatơ cũng lạnh ngắt không kém không khí trong nhà xác mặc dầu phía Đông đã ửng hồng, mặt trời đi vắng nhiều ngày đã hân hoan trở lại với vùng rừng núi bị trận động đất kinh khủng tàn phá.

       Cả hai gã phi công đều trạc tuồi bằng nhau. Nét mặt và thân hình họ còn khá trẻ, song căn cứ vào những nếp nhăn li ti ở mép và đuôi mắt, Văn Bình đoán biết họ phải xấp xỉ tứ tuần, vả lại, người trên ba mươi khó có thể có lối đấm già dặn như chàng được chứng kiến tận mắt hồi nãy. Tuy cả hai có nước da trắng đỏ của người Mỹ, và nói giọng nói quen thuộc của người Mỹ miền Nam, Văn Bình vẫn chưa tin họ là người Mỹ chính cống. Một gã ngồi ngay ngắn trong ca-bin, chăm chú điều khiển phi cơ, gã thứ hai ở lại phía sau, lăng xăng bưng cà-phê nóng cho mọi người uống.
Hắn vỗ vai Văn Bình, giọng thân mật:
-    Đừng giận nhé, anh bạn !
Nói đoạn, hắn cười hà hà. Vích-ky tợp một ngụm cà-phê đặc, khói bốc nghi ngút rồi giải thích :
-    Tôi quên chưa nói rõ, anh tha lỗi giùm cho. Tuy đây là máy bay nhà, chúng ta là người nhà nhưng theo chỉ thị đặc biệt của trung ương mà hai phi công triệt để tuân hành, họ phải lục soát trước khi trực thăng cất cánh. Vì trên nguyên tắc họ chỉ chở một mình tôi, họ chưa biết anh là ai, họ càng có lý do để nghi ngờ hai cô Rita và Côcô nữa.
Văn Bình hỏi Vích-ky :
-    Tại sao anh lại giơ tay cho họ khám ?
Vích-ky lấy tay quẹt giọt cà-phê đọng trên mép :
-    Vì tôi không muốn rềnh rang mất thời giờ. Phe địch có thể thọc gậy bánh xe bất cứ lúc nào.
-    Anh tin là địch sẽ ra mặt ?
-    Như tôi đã nói với anh, trong số những người cùng đi với chúng ta, tôi chỉ có thể tin anh mà thôi. Cho đến khi nào có bằng chứng tôi mới thay đổi thái độ.

       Gã phi công nằm trên sàn phi cơ, dựa lưng vào đống áo bơm hơi cứu cấp, phì phèo điếu xì-gà to bằng ngón chân cái. Dường như hắn không quan tâm đến ai. Rita vẫn còn mệt, nhưng so sánh với lúc còn ở làng Dua, nàng có vẻ tỉnh táo hơn. Hai mắt nàng nhìn bâng khuâng vào khoảng không trắng xóa. Nàng không thay đồi thế ngồi cũng không thay đồi lối nhìn, tâm hồn nàng như lạc lõng đâu đâu. Côcô cũng ngồi im như pho tượng, mắt đỏ hoe, mỗi khi Văn Bình nhìn nàng, nàng đều tìm cớ né tránh như thể nàng sợ luồng nhỡn tuyến xuyên phá của chàng sẽ bắt nàng òa khóc hoặc bộc bạnh nỗi niềm đau đớn.

      Buru bị ăn đòn liên tiếp nên lần này thấm mệt thật sự. Hắn ngồi bệt, mặt gục vào khoảng giữa hai đầu gối. Có lẽ hắn đã ngủ say. Hắn ngủ say là hơn, nếu không hắn có thể lãnh thêm nhiều quả thôi sơn nữa.
Trực thăng chỉ bay là là mặt đất một quãng ngắn rồi gia tăng độ cao. Căn cứ vào chân trời ửng hồng sau lưng, Văn Bình biết là phi cơ đang bay ra bờ biển. Chàng hỏi Vích-ky :
-    Mình về Qui-tô ?
Vích-ky gật đầu :
-    Phải.
-    Sắp đến chưa ?
-    Khoảng một giờ nữa.

       Vích-ky lim dim ngủ. Văn Bình có cảm tưởng hắn không muốn nói chuyện với chàng. Chàng bèn nhẩn nha thả khói thuốc lá thành vòng tròn.

        Đột nhiên, chàng bắt gặp đuôi mắt nhìn trộm của gã phi công đang hút xì-gà. cả hai tên phi công đều to con, song tên này to con hơn, hắn lại có đôi lông mày rậm như con sâu róm nằm vắt vẻo trên mắt. Mắt hắn cũng sâu hơn, và sáng hơn, và nhất là trong tia sáng có chất hung hãn và thâm độc. Không phải hắn mới bắt đầu nhìn trộm, từ khi nằm dài, vắt chân chữ ngũ đốt điếu xì-gà, chốc chốc hắn lại liếc chàng. Thấy chàng lồm cồm đứng lên, hắn giơ tay ngăn lại, giọng thân mật gượng gạo :
-    Anh cần gì ? Tôi có thể giúp anh được không ?
Chàng đáp :
-    Không. Tôi cần gặp anh bạn đang ngồi lái.
-    Thời tiết mỗi lúc một xấu, bạn tôi phải tìm hướng bằng dụng cụ điện tử phức tạp, nên để yên cho anh ta làm việc.

        Văn Bình không lạ gì kỹ thuật lái phi cơ trong đêm tối và sa mù. Lái phản lực cơ nhanh như tên bắn chàng còn coi như trò chơi huống hồ lái trực thăng. Dụng cụ điện tử phức tạp thật đấy, nhưng không phức tạp đến nỗi hoa tiêu phải tập trung tư tưởng. Máy đã điều khiển hộ người tất công việc của người được giảm thiểu.

Vích-ky cũng đứng dậy, vẻ mặt lo lắng :
-    Anh muốn nói chuyện với phi công trưởng ?
Văn Bình đáp thỏng :
-    Tôi có cảm tưởng là phi cơ bay lạc đường.
Gã phi công trợn mắt:
-    Ai bảo với anh là chúng tôi bay lạc đường ?
-    Thủ đô Qui-tô ở phía Nam, song trực thăng lại bay về phía Tây, nghĩa là ra biển.
-    Anh nói đúng, chúng ta đang bay về phía Tây, nhưng không ra biển, chỉ đến giáp bờ biển thì quay lộn lại. Vì lẽ thủ độ Qui-tô nằm lọt trong trung tâm điểm của một trận bão. Hết động đất đến hỏa diệm sơn phun lửa, hết phun lửa đến bão lớn. Trung ương đã uống thuốc liều khi cử chúng ta lái trực thăng đến rước các anh. Anh đừng quên chúng tôi có thể hy sinh tánh mạng cho anh được sống. Trực thăng cũng có thể đâm nhằm phi cơ nặng bay ngược chiều. Nếu anh biết lái phi cơ, anh sẽ hiểu rõ tình hình hơn.
-    Về khoản lái phi cơ, anh đừng ngại. Tôi đã có cả chục ngàn giờ bay chính thức.
-    À, té ra anh cũng là phi công như bọn tôi. Tuy vậy anh cũng chưa hội đủ tư cách để lái trực thăng này. Vì nó không giống mọi trực thăng anh từng điều khiển. Nó là sản phẩm tồng hợp giữa phi cơ phản lực nhẹ và phi cơ lên thẳng nặng.

      Văn Bình nhận thấy chiếc trực thăng đang bay không giống những chiếc quen tên, quen mặt trong kỹ nghệ hàng không. Nó được gắn cánh quạt khổng lồ phía trên, và bốc từ mặt đất lên nhẹ nhàng và gọn ghẽ như trực thăng, song khi đạt được độ cao cần thiết, nó lại xếp cánh quạt và xòa hai cánh tam giác ra.
Trực thăng từ từ hạ thấp. Văn Bình hỏi gã phi công phụ :
-    Các anh bay theo tín hiệu dưới đất đánh lên phải không ?
Gã phi công gật đầu :
-    Phải. Tuy nhiên công việc điều khiển máy bay an toàn là của chúng tôi, anh không chết đâu mà sợ. Mỗi người một nhiệm vụ, xin ông đừng xía vào địa bàn hoạt động của chúng tôi.
Giọng hắn có vẻ gay gắt, Vích-ky vội dàn xếp :
-    Thôi, tôi can hai anh. Anh nói đúng, mỗi người có một nhiệm vụ. Nhưng chúng ta là đồng nghiệp, tôi thiết tưởng câu nói của anh bạn Văn Bình không lấy gì làm quá đáng.

        Gã phi công phụ nín lặng song hắn vẫn chắn ngang lối đi vào ca-bin phi hành. Văn Bình có thể quạt hắn ngã bằng atêmi, không hiểu sao chàng lại nhẫn nhục. Vì chàng có linh tính là một chuyện quan trọng - còn quan trọng gấp trăm lần tác phong đáng ghét của gã phi công phụ C.I.A. - sắp xảy ra, và chàng cần dành dụm sinh lực để có thể đối phó hữu hiệu vào phút chót.

         Trực thăng cứ hạ thấp, hạ thấp mãi. Thoạt đầu, nó hạ từ từ, nhưng dần dà nó tuột xuống mạnh mẽ : động cơ đang nồ dòn bỗng ho sặc sụa rồi câm lặng.
Vích-ky lớn tiếng :
-    Cái gì vậy ?
Gã phi công trưởng cũng lớn tiếng đáp, qua hơi gió thổi vù vù :
-    Hỏng máy.

          Trực thăng lạng sang tả, sang hữu, bập bềnh như con thuyền nan trên biển sóng dữ. Đột nhiên Văn Bình nhìn thấy cảnh yật bên dưới. Đó không phải là núi đồi trùng điệp của vùng biên giới. Cũng không phải là những thửa ruộng khô cằn và những đồn điền trồng cà-phê và mía của vùng nội địa, gần thủ đô Qui-tô.
Mà là biển rộng trắng xóa một mầu.

Vích-ky kêu thất thanh :
-    Biển, biển trời ơi, làm ăn nỗi gì mà phi cơ lại bay lạc ra biển ?

        Phi công trưởng vẫn dán mình trên ghế, vận dụng kinh nghiệm bản thân và sự chính xác của máy móc để giữ cho trực thăng khỏi mất thăng bằng và đáp xuống. Chắc phi cơ đã rời đất liền từ lâu vì Văn Bình đã phóng tầm mắt tứ phía mà không trông thấy bờ biển đâu cả.

      Buru ngã vập mặt xuống sàn trực thăng và lồm cồm tỉnh dậy. Hắn là hiện thân của sự xui xẻo, hễ nơi nào có tai nạn là có hắn. Trực thăng nghiêng hẳn sang bên. Rita phải tựa vào vai Văn Bình để khỏi tuột trong phi cơ trong khi Côcô mím môi, hai tay nắm chặt lấy thân ghế sắt. Rita thở hồn hển hỏi viên phi công phụ :
-    Tại sao các ông không đánh điện xin cấp cứu ?
Phi công phụ đáp
-    Rồi.
-    Có lẽ ông lầm. Tôi chưa nghe thấy.
-    Đó là nhiệm vụ của chúng tôi, không can dự đến cô.
-    Nhưng lại can dự đến tính mạng của tôi và mọi người trên phi cơ. Tôi đã học qua lớp vô tuyến điện phi hành. Nếu ông cho phép, tôi sẽ sẳn sàng giúp đỡ.
-    Yêu cầu cô ngồi yên.
-    Tôi không thể ngồi yên chờ chết. Hành động của các ông thật ám muội. Các ông có đúng là nhân viên trung ương tình báo Mỹ không, hay là...

         Gã phi công phụ xấn đến tát giữa mặt Rita. Bàn tay kếch xù của hắn in đỏ trên má trái mũm mĩm của nàng. Nàng dộng đầu vào vách trực thăng. Cùng lúc ấy, sàn phi cơ nghiêng 45 độ, chốt cửa được Văn Bình mở hờ từ nãy, cánh cửa bật ra ngoài, gió thổi vào ào ào. Văn Bình thuận tay kéo viên phi công phụ làm hắn mất trớn nhào qua khung cửa trống. Vặn Bình xử dụng đòn chết thật lẹ đến nỗi viên phi công phụ lao đầu ra ngoài không khí Vích-ky mới nhìn thấy. Hắn thét lớn một tiếng :
-    Chết!

        Tiếng thét ngắn của hắn đã bị tiếng máy và tiếng gió khỏa lấp. Văn Bình ngáng chân làm chướng ngại vật vì suýt nữa Côcô bị nạn. Nàng vuột tay khỏi thân ghế cuộn tròn trên sàn, chỉ cách khung cửa hãi hùng trong gang tấc.

       Nàng ôm lấy chân Văn Bình. Trực thăng bắt đầu lấy lại được quân bình. Màn sương giãn rộng ra, để lộ mặt biển sóng vỗ rập rình, trong giây lát trực thăng bay là là sát mặt nước, bọt trắng li ti bắn lên làm Văn Bình bỏng da thịt, như thể ngồi trên chảo mỡ sôi sùng sục. Tuy nhiên, phi công không đáp thẳng xuống mặt biển. Vì ngay trước mắt, một giẻo đất nhỏ vừa hiện ra. Có lẽ đây là một tiểu đảo san-hô. Loại tiểu đảo san-hô này mọc lên và lặn xuống hàng năm như trò quỷ thuật dọc bờ biển tây bộ Nam-Mỹ.

        Tiểu đảo san-hô chỉ rộng bằng sân chơi của một trường tiểu học, mặt đất gập ghềnh, lồi lõm một màu xám ảm đạm, trông như nền đất trên nguyệt cầu. Văn Bình đinh ninh trực thăng chỉ rung chuyển mạnh trong khoảnh khắc rồi đậu lại trên mặt san-hô cứng như xi-măng phi đạo, trái lại, chàng nghe "bụp" một tiếng lớn. Nền đất không cứng mà lại mềm nhũn. Trong phút bối rối, phi công đã hạ xuống bải lầy, bùn ngập lún bánh xe.

         Không riêng Văn Bình, mọi người đều tái mặt. Phi công lảo đảo đứng dậy trên ghế. Miệng hắn lẩm bẩm :
-    Bùn... bùn... cẩn thận kẻo trực thăng sụt xuống thì bị chôn sống hết.

         Văn Bình từng bị mắc kẹt trong bùn nên đoán biết được những nguy hiểm đang chờ đợi. Cách đây không lâu, chàng bị lạc trong rừng lim gần biên giới Lào-Miến, đột nhiên hai chân đang bước đều bị chôn cứng trong bùn, may thay, đó là bùn do mủn lá thâm niên gây ra, và may thay trong tầm tay chàng có hàng hà sa số rễ lim dai bền nên chàng thoát chết. Nếu không nắm được rễ cây, chàng cũng khó thể bỏ mạng, vì ngay từ thế chiến thứ hai, hoạt động tại Âu châu trong hàng ngũ o.s.s. chàng đã học qua phương pháp chống kẹt bùn tại trường đào tạo biệt kích điệp báo.
Vích-ky níu vai Văn Bình, giọng băn khoăn :
-    Anh tính sao ?

         Văn Bình nhìn ra ngoài. Mặt bùn sắp mấp mé ngưỡng cửa trực thăng. Cho dẫu người trong trực thăng nín thở, ngồi như phỗng đá, sức nặng của trực thăng vẫn làm lớp bùn dâng lên, và chẳng bao lâu nữa, bùn sẽ tràn vào, toàn thể sẽ chết ngập. Giá phi công sáng suốt, bình tĩnh và tinh mắt, hắn đã lái trệch sang bên phải và trực thăng đã hạ xuống nền san-hô. Vũng bùn rộng bằng cái ao nhỏ, trực thăng rớt tõm giữa ao, cách bờ chừng 5, 6 mét. 5, 6 mét không lấy gì làm xa, nhưng vượt qua bằng chân không phải dễ.

        Trừ phi...

         Phi công quay lại hỏi Vích-ky :
-    Đến bờ chỉ 6 mét là cùng. Tôi có thể nhảy xa được gần 6 mét. Nhưng phải có bàn đạp lấy trớn. Nếu nhún mạnh thì trực thăng lún xuống mất. Anh có nhảy qua nồi không ?
Vích-ky lắc đầu, ngao ngán :
-    Anh nhỏ bé hơn tôi còn không vượt được, phương chi tôi lại béo thù lù... Cho dẫu tôi thoát lên bờ thì mình tôi an toàn, mọi người sẽ chết.

Hắn ngó Văn Bình bằng cặp mắt khẩn cầu :
-    Tôi tin là anh có thể cứu chúng tôi.

         Văn Bình chưa kịp đáp thì Buru đã buông ra một tiếng chửi đổng tục tĩu. Miệng hắn độc như miệng rắn hoa, há ra là nói bậy, bất kể người nghe là ai. Tuy nhiên, hắn chửi đổng không phải để biểu lộ sự bực tức. Hắn chửi đổng để báo tin những giọt bùn đen ngòm đầu tiên đã chui qua kẽ hở vào phi cơ. Trực thăng đáp xuống nghiêng, phía đuôi mấp mé mặt bùn trong khi ca-bin phi hành còn cách xa gần hai mét.

Văn Bình nhún vai đeo cuộn giây thừng ni-lông đoạn nhẹ nhàng men lên nắp ca-bin phi hành. Vích-ky hỏi:
-    Liệu anh nhảy qua được vũng bùn không ?
Văn Bình đáp :
-    Có thể. Trên bờ không có thân cây hoặc tảng đá lớn nào cả nên tôi dự định nắm một đấu dây, đầu kia buộc chặt vào nốc trực thăng. Sau đó, từng người một sẽ lần lượt bám đường dây đi từ trực thăng lên bờ. Chúng ta không cần hấp tấp vì theo tôi ước đoán, phải từ 15 phút đến nửa giờ nữa, trực thăng mới lún hết xuống bùn được.

Buru reo lên, giọng khoái trá :
-    Đúng lắm, đúng lắm.
Song chỉ nửa phút sau, hắn đã xụ mặt:
-    Anh giữ một đầu dây e không xong. Sức nặng sẽ làm anh toét các ngón tay, rồi anh phải buông ra. Thú thật với anh, tôi không muốn là người bị rớt xuống bùn.
Văn Bình cười
-    Yên tâm. Anh sẽ được cứu trước tiên.
Viên phi công hỏi:
-    Còn hai cô này ? Không lẽ anh Buru là đàn ông khỏe mạnh mà lên bờ trước hai người đàn bà yếu đuối ?
Côcô xen vào bằng tiếng thở dài buồn bã :
-    Các ông lên bờ trước thì hơn. Vì không hiểu cô Rita nghĩ sao, riêng tôi, tôi không thể chuyền tay trên dây thừng từ đây sang bờ được.

         Lời nói của Côcô làm Văn Bình toát bồ hôi. Nàng nhận xét rất đúng. Muốn đi dây từ trực thăng lên bờ phải là lực sĩ được tập luyện, với cánh tay vô cùng dẻo dai. Vì hai chân chơi vơi trên không, chỉ có thể xê dịch bằng hai tay. Nhưng Văn Bình không dám trì hoãn thêm nữa. Chàng hy vọng ba người đàn ông ra khỏi trực thăng sẽ làm sức nặng giảm bớt, và trong khi đó chàng sẽ tìm cách cứu thoát Côcô và Rita. Chàng bèn nhún vai, vẻ mặt vui vẻ :
-    Không sao. Tôi sẽ có kế hoạch.

          Tuy chàng hết sức rón rén, sàn phi cơ cũng tròng trành. Trong loáng mắt chàng đã trèo lên nốc. Rita và Côcô nhìn theo chàng, dường như cả hai đều muốn nói thầm với chàng bằng mắt những nói u uẩn dằn giấu dưới đáy lòng.

         Bầu trời bắt đầu quang đãng. Sương mù tan nhiều nên vòm trời trở nên cao hơn, tròn hơn và rộng hơn, chân trời Đông vàng rộm ánh nắng. Mặt biển trắng xóa một mầu, tứ phía toàn nước là nước, chỉ trông cảnh trời nước bao la Văn Bình cũng hoảng kinh.

         Trên tiểu đảo san-hô không có bóng cây, đến cả những cây kè lùn hoặc bụi rong cũng không thấy. Mặt đất gồm toàn sỏi trắng xám lổn nhổn. Khi sóng biển nương theo gió vỗ vào bờ đảo, Văn Bình thấy cả giẻo đất san-hô đang rung rinh như sắp sửa xụp xuống.

           Khoảng cách từ nóc trực thăng đến bờ ao vùn không lấy gì làm xa và nếu chàng được phép đạp chân thật mạnh lấy trớn nhảy lên thì phép phi thân sẽ giúp chàng bay bỗng nhẹ nhàng. Nhưng nếu chàng đạp chân thật mạnh vào mái trực thăng, bùn sẽ tràn vào xối xả. Chàng bèn nín thở cho thân thể nhẹ đi, đoạn áp dụng lối tấn "tiền cung hậu tiển" trong Thạch Đầu quyền, chân trước hơi cong, chân sau duỗi thẳng. Phép tấn này hòa hợp với phép vận chân khí sẽ có thể đưa chàng sang bên kia bờ.

         Chàng cứ nín thở, rồi hít hơi đầy ngực thở thán khí ra, rồi tiếp tục nín thở, cứ xen kẽ ba động tác nhịp nhàng này một hồi lâu. Nhiệt lượng toàn thân chạy dồn dập từ thượng bộ đến hạ bộ, tập trung vào bắp đùi và bàn chân. Như động cơ phản lực của hỏa tiển được đốt cháy, đẩy hỏa tiển lên không gian, nhiệt lượng tập trung theo phép phi thân đã tạo trớn cho hai chân Văn Bình mặc dầu chàng vẫn đứng nguyên vị trí trên trần trực thăng.

        Vút một tiếng nhẹ như tiếng gió thổi, Văn Bình đã cất mình khỏi nóc trực thăng, bay lướt qua vũng bùn đen ngòm và hạ xuống nhẹ nhàng trên bờ ao san-hô. Chàng lăn tròn một vòng trước khi đứng dậy. Nét mặt chàng không hề biến đổi, chàng tháo cuộn dây đeo trên vai ra, cột lại thành dây lát-sô của giới cao-bồi giữ bò rừng tây bộ Mỹ châu, quay thử nhiều vòng rồi quăng mạnh về phía trực thăng. Sợi dây như được thoa chất cồn dính, ngay trong phút đầu đã quấn chặt lấy trục cánh quạt. Vích-ky ló cổ ra khỏi ca-bin phi hành, dùng dao cắt đứt sợi dây, buộc thành nhiều vòng nhằng nhịt quanh thân ghế trực thăng.
Văn Bình giật kéo để thử mực độ kiên cố trước khi cất tiếng gọi lớn :
-    Buru, anh khánh thành cầu nồi đi !

        Buru bò ra ngoài, hai tay chụp lấy sợi dây, từ từ tụt xuống. Nóc phi cơ cao hơn bờ, sợi dây lại đựợc kéo thật căng, Buru di chuyển nhẹ nhõm và dễ dàng hơn sự dự tính của Văn Bình. Trong vòng nửa phút đồng hồ, hắn đã đặt chân lên nền đất san-hô. Hắn trút ra tiếng thở phào khoan khoái.

        Tiếp theo đến viên phi công. Vích-ky tuột dây sau cùng. Thân thể hắn nặng nề song hắn chuyền tay gọn gàng như con mèo làm xiếc. Văn Bình trao đầu dây cho Vích-ky rồi nói:
-    Giờ đây, tôi quay lại trực thăng để cứu hai cô gái. Phiền anh cầm chặt đầu dây.
Vích-ky hỏi, giọng sửng sốt:
-    Anh bế từng người một ư ?
Chàng đáp
-    Phải. Vì tôị đã nghĩ kỹ, không có lối thoát thân nào khác. Từ nãy đến giờ, trực thăng đã lún xuống thêm, nhưng cũng phải gần một mét nữa mới ngập được đến nóc, trong thời gian này, tôi hy vọng đưa hai cô gái ra khỏi.

          Dứt lời, chàng nắm dây thừng thoăn thoắt leo ngược lên trực thăng. Côcô và Rita đều chờ sẵn trên mái, thời tiết bình thường mà cả hai đều run cầm cập. Họ run vì sợ hơn là vì lạnh. Một cuộc giằng xé diễn ra trong lương tâm chàng. Giữa Rita và Côcô, chàng sẽ cứu ai trước ? Chàng chìa tay cho Rita nắm vì nhận thấy nàng còn mệt mỏi. Chàng nói với Côcô :
-    Cô chịu khó đợi vài ba phút. Rita phải sang bờ trước vì sức lực quá suy yếu.
Côcô đáp :
-    Ông nói đúng. Rita cần được đưa sang bờ trước em. Nàng đáng sống hơn em nhiều.
Văn Bình lặng thinh. Rita rút tay lại:
-    Thôi, anh hãy đưa Côcô sang trước. Nàng đáng sống hơn em nhiều.

        Cả hai đều nhường cho nhau sang trước. Đúng ra, người nào cũng muốn sang trước, sự nhường nhịn chỉ là một hình thức của sự tranh giành và giận lẫy. Văn Bình đành hăm dọa :
-    Trực thăng sắp ngập bùn, và chúng ta sẽ bị chết ngạt, tôi không thể nán thêm lại đây nữa... Yêu cầu hai cô quyết định ngay. Tôi vẫn giữ ý kiến hồi nãy, Rita còn mệt mỏi nên cần được cứu trước.
Côcô trề môi:
-    Anh nói rất đúng. Rita không những đáng cứu mà cũng đáng yêu hơn nữa.
Rita cũng chanh chua không kém :
-    Cô nói sai. Cô đẹp hơn tôi, cô dễ thương hơn tôi nên cô đáng được hưởng quyền ưu tiên.

        Văn Bình đành giơ hai cánh tay lên trời, ra dáng tuyệt vọng :
-    Mời hai cô xuống chân, mực bùn đang dâng lên, chẳng bao lâu nữa sẽ tràn qua nóc, khi ấy tôi có ba đầu sáu tay cũng không thể tiếp cứu, không khéo tôi sẽ bỏ mạng luôn tại đây với các cô. Tôi kêu gọi sự thông cảm của hai cô. Nào, ai muốn sang trước thì chìa tay cho tôi nắm.

        Chàng đinh ninh Côcô sẽ chìa tay trước vì nàng ghen hơn Rita một bậc. Cách cư xử của Rita có vẻ quý phái hơn nhiều. Chàng chưa biết rõ đời sống thật của hai người, nhưng căn cứ vào ngôn ngữ và cử chỉ, chàng cảm thấy Rita là cô gái có học, còn Côcô dường như dạn dầy và lọc lõi sau nhiều năm lăn lộn.
Nhưng sự thật xảy ra trước mắt làm chàng sửng sốt. Dĩ nhiên Côcô chìa tay. Song nàng chỉ chìa tay ra sau Rita. Kết quả là hai cô gái cùng chìa tay, đòi Văn Bình đưa sang bên kia bờ. Mọi việc đều quay lại khởi điểm, chàng phải tự lấy quyết định thật nhanh vì mực bùn không chờ đợi chàng lâu nữa.

         Chàng bèn phóng ra hai atêmi. Cả hai, Rita lẫn Côcô đều lãnh đòn vào huyệt trên đầu. Côcô gục trước tiên, mấy tích tắc đồng hồ sau, Rita mới chịu bất tỉnh. Rita ngã chặn lên bụng Côcô. Văn Bình xuất chiêu nhanh như điện xẹt nên hai cô gái bị mê man mà không có thời giờ tìm hiểu nguyên nhân. Lối xử trí miễn cưỡng này sẽ giúp Văn Bình thoát khỏi lưới ghen tuông vô lý của hai cô gái. Sau khi lên bờ, họ sẽ không biết chàng đã cứu aí trước, ai sau, và cả hai đều tin tưởng được chàng đáp ứng nồng nhiệt.

        Viên phi công và Vích-ky vẫn chăm chú theo dõi hành động của Văn Bình trong khi Buru quay lưng về phía trực thăng bị ngập bùn, nhẩn nha nhìn ra biển rộng, miệng phì phèo thuốc lá. Hắn có thái độ phớt tỉnh kỳ quặc khiến người có tánh nhẫn nhục nhất cũng phải khinh ghét.

        Viên phi công hơi cau mày khi thấy Văn Bình vung đòn, đánh mê hai cô gái trên nóc trực thăng và nhanh nhẹn cặp Rita vào nách, tuột dây sang bờ. Nét mặt của Vích-ky không thay đổi, tuy nhiên, trong cặp mắt sáng quắc của hắn hiện lên một tia đỏ.

        Văn Bình đặt Rita nằm dài trên đất san-hô rồi quay trở lại trực thăng. Suýt nữa Côcô rớt xuống bùn. Trong cơn mê, nàng quẫy mình, hai chân buông thỏng vào khoảng không, chỉ chờ một phần mười giây đồng hồ mất thế thăng bằng là nàng bật khỏi nóc trực thăng.

        Bùn đã mấp mé cửa ca-bin phi hành. Văn Bình xốc Côcô lên vai. Chàng tuột được nửa đường thì Côcô tỉnh dậy. Chàng đã tính sai sức chịu đựng của nàng. Chàng không ngờ Côcô được luyện tập ngoại công, khiến lớp da của nàng dầy hơn lớp da người thường, do đó chàng trù liệu nàng ngất 10 phút thì nàng chỉ ngất trong 5 phút. Con ngươi tỉnh cơn mê đột nhiên nặng hơn, Côcô lại vùng vẫy nên sức nặng đeo lấy sợi dạy ni-lông được gia tăng gấp bội. Văn Bình vội co chân để khỏi vướng bùn. Đứng trên bờ, viên phi công nhìn thấy mối nguy trước tiên. Hắn giằng đầu dây ni-lông trong tay Vích-ky và nâng lên cao, đặt vào xương vai hắn.

        Hắn phải là lực sĩ có sức khỏe phi thường mới gánh đỡ được hai khối xương thịt của Văn Bình và Côcô mà vai không gẫy lìa. Vích-ky ghì một bên vai để chia xẻ gánh nặng với hắn. Trong nháy mắt Văn Bình thoát hiểm. Nhưng vì hai đầu dây trở nên cao bằng nhau nên Văn Bình không thể tiếp tục tuột xuống bờ như trước nữa. Chàng bèn bấm ngón tay vào yếu huyệt sau lưng cho Côcô mê man lại rồi quập nàng quanh cổ để hai tay chàng được tự do chuyền trên sợi dây.

         Chàng hạ chân xuống bờ và khuỵu xuống. Chàng xử dụng tối đa sức lực và nguyên khí của cơ thể nên bị mệt nhoài. Vích-ky đỡ Côcô và giải huyệt cho nàng.

        Văn Bình gượng đứng dậy, miệng nhoẻn cười biểu lộ sự cám ơn. Thật vậy, nếu viên phi công không tinh mắt và nhanh trí, và nếu hắn non nớt về võ thuật, Văn Bình đã phải buông thả Côcô, mặc nàng chìm lỉm dưới bùn và chết ngập. Chàng đeo nàng trên vai thì chàng sẽ chết theo nàng. Cho nên chàng không còn cách nào, ngoài cách hy sinh nàng để tìm sự sống.

        Miệng cười thân thiện của chàng bỗng tắt ngúm.

        Vì viên phi công không cười lại. Hắn chằm chằm ngó chàng bằng cặp mắt không thân thiện chút nào.
Kèm với cặp mắt không thân thiện này là một miệng súng lục dữ dằn. Và tiếng quát cộc lốc :
-    Tại sao anh hạ thủ bạn tôi ?
0
VIII

Ngư thuyền của Tử Thần


         "Bạn tôi" là gã phi công phụ mà Văn Bình vừa lừa xô qua khung cửa trống. Có lẽ hắn đã biết nội vụ ngay sau khi trực thặng đáp xuống tiểu đảo san-hô. Nếu phi cơ không mắc kẹt trong ao bùn, hắn đã dùng súng uy hiếp chàng từ nãy. Hắn đã dằn lòng chờ đợi. Hắn đã cứu chàng sau khi chàng an toàn, hắn mới quay sang hỏi tội.
         Chàng giả vờ bối rối:
-    Tôi hạ thủ ai ?

        Chàng hy vọng hắn hớ hênh để cướp súng. Song hắn tỏ ra khôn như ranh, chàng toan tiến lên thì hắn đã lùi lại, miệng súng vẫn không rời ngực chàng nửa li:
-    Anh đóng trò hơi vụng về. Anh đã thừa cơ cửa mở để hất thằng bạn thân của tôi xuống biển. Giờ đây, chắc nó đã chết. Tội ác của anh không thể tha thứ được.
Văn Bình chống chế :
-    Giữa anh và tôi có sự hiểu lầm. Bọn anh Ịà nhân viên C.I.A., tôi làm thuê cho C.I.A., chúng ta nếu chưa là bạn thiệt thì cũng không thể là kẻ thù, do đó vấn đề tôi giết bạn anh không thể được đặt ra. Sự thật là bạn anh vô ý bị mất thăng bằng và bị gió mạnh hớp xuống, tôi nhoài người định nắm chân giữ lại nhưng không kịp, và giá tôi vuột tay, tôi cũng đã rớt xuống biển, và chết đuối như bạn anh.
-    Nói láo. Trước mặt tôi có một tấm kiếng lớn, tôi ngồi lái mà vẫn theo dõi được mọi việc xảy ra phía sau. Tôi thấy rõ anh xô hắn. Anh còn chối nữa không ?
-    Anh đừng bắt nọn. Nếu anh thấy rõ, anh đã có phản ứng.
-    Hừ... lý luận chạy tội của anh hơi yếu. Tôi chỉ có phản ứng nếu anh là nhân viên điệp báo tầm thường. Đằng này thế võ anh dùng để hạ thủ thằng bạn đáng thương của tôi lại thuộc loại tinh vi, nhu đạo đai đen đệ tam trở lên mới quán triệt được tinh túy. Nghĩa là về võ thuật, anh hơn tôi một bậc. Tôi đành phải nén giận.
-    Thành thật ngợi khen anh. Anh sắp lảy cò chưa, xin báo trước để tôi chuẩn bị ?
-    Anh dư biết là tôi chưa giết anh. Vì nếu muốn giết, tôi đã có thể buông sợi dây thừng ra để anh rớt xuống bùn.
-    Anh sẽ mang tôi về Mỹ ?
-    Hừ... Anh lại đóng trò nữa rồi. Nói thật đi, anh bạn, dầu sao chúng mình cũng là cáo già trong nghề. Tôi đã đọc thấu tâm can anh trong cặp mắt ngay sau khi anh trèo lên trực thăng. Phi cơ cất cánh được 10, 15 phút, anh đã biết chúng tôi không bay về Qui-tô, mà là hướng thẳng ra biển, và anh nẩy ra ý định cướp đoạt phi cơ nhưng không kịp đấy thôi.
-    Ha ha... anh đã vô tình thú nhận anh không phải là nhân viên C.I.A..
-    Tôi không vô tình mà là cố tình thú nhận. Thà tôi nói toạc móng heo. Vì nếu úp mở, anh cũng chẳng tha tôi. Tôi phải rút súng ra trước, vì nếu tôi chậm phản ứng, anh sẽ ra tay hạ thủ.
Vích-ky bật la lên :
-    Trời ơi, té ra... té ra....
Gã phi công cười gằn :
-    Té ra anh đã bị chúng tôi lôi vào cạm bẩy dễ dàng. Phải, chúng tôi chỉ là nhân viên C.I.A. giả hiệu. Còn anh nữa, từ nãy đến giờ anh cười nói phây phây, bắt đầu từ giờ phút đồng hồ này trở đi, phiền anh giơ tay lên đàng hoàng. Bì đạn của toi còn đủ 8 viên, viên nào cũng tốt nguyên, chạm cò nhẹ nhàng là nổ, anh đừng tí toe mà thiệt mạng vô ích.

       Vích-ky tái mặt đứng yên.

        Gã phi công lùi lại hai bước, Văn Bình, Vích-ky và Buru đều lọt trong tấm bắn của hắn. Buru càu nhàu, chắc hắn  đang chửi đổng, song như thường lệ, hắn chỉ dám lầm bầm không dám lớn tiếng. Vừa lầm bầm, hắn vừa giơ tay lên một cách ngoan ngoãn.

      Vích-ky đã nhảy xô lại. Nhưng hắn chưa chạm được bàn tay cầm súng thì gã phi công đã đạp hắn ngã nhào. Vích-ky là võ sĩ có hạng mà bị đánh ngã chớp nhoáng. Văn Bình không thể trù trừ thêm nữa, Vích-ky vừa nằm chổng bốn vó trên đất, chàng đã phóng ra một ngọn cước tuyệt diệu, theo thế thượng đơn thối của Thạch Đầu quyền Trung quốc.

        Thạch Đầu quyền là một trong các bộ quyền nhập môn của phái Thiếu Lâm, thạch đầu là "đá" nên bộ quyền này lấy cứng làm căn bản. Thế thượng đơn thối nhằm đá hất một chân lên thật cao để chặt gãy cườm tay, bắt gã phi công buông súng, đồng thời bàn tay trái của Văn Bình chụm kín 5 ngón xỉa mạnh vào hông địch. Dụng ý của chàng là đâm xuyên yếu huyệt của địch dưới nách. Lối phát chưởng bằng năm ngón chụm kín và ngửa lên được gọi là "cân la thủ", Văn Bình đã đào luyện đến mực độ cao siêu, khả dĩ chọc thủng mặt bàn gỗ dầy.

      Tuy nhiên, kế hoạch phản công táo bạo của chàng chỉ thắng lợi phân nửa. Gã phi công trúng cước vào cồ tay, phải nhả súng song hắn đã kịp thời né gọn khiến cân la thủ cực hiểm của Văn Bình đã phóng vào khoảng không, và trong khoảnh khắc, chàng bị hỗng chân. Tuy vừa tránh thoát miếng đòn thập tử nhất sinh, gã phi công vẫn còn đủ bình tĩnh và sáng suốt để khoèo ngang đầu gối làm Văn Bình loạng choạng.
Nhưng chàng chỉ loạng choạng chứ không ngã. Điều làm chàng ngạc nhiên là gã phi công mũi lõ, da trắng hồng, và giọng nói tếch-xát khèn khẹt chính cống lại am tường quyền cước Trung Hoa. Mới đặt chân đến biên giới Equatơ, chàng đã ngạc nhiên trong cuộc chạm trán bọn mọi da đỏ bán khai đấu võ Tàu. Không phải võ Tàu học lỏm mà là võ Tàu chân truyền được giảng dạy đúng quy củ.

        Gã phi công còn làm chàng ngạc nhiên hơn khi hắn đáp lễ chàng bằng quyền Thạch đầu bộ pháp, thủ pháp, thân pháp và yêu pháp của hắn đều chững chạc, chứng tỏ hắn được thụ giáo những võ sĩ Trung Hoa nồi tiếng. Chàng ghi nhận thấy nơi hắn một nhược điểm : ấy là nhãn phập của hắn chưa được sắc bén. Nhãn pháp nghĩa là cách dò xét, theo dõi, tấn công đối phương bằng luồng mắt, muốn có nhãn pháp xảo diện phải mất nhiều công phu.

         Nhược điểm về nhãn pháp của gã phi công là lợi điểm quan trọng của Văn Bình, vì không những chàng có cặp mắt xuyên thấu như quang tuyến X, chàng còn có thể dùng mắt làm bàn cân đo sức lực nặng nhẹ và tài nghệ cao thấp của địch. Gã phi công đành rằng có lối đánh đỡ Thiếu Lâm chân truyền song lại thiếu kinh nghiệm và thiếu kình lực.

        Vì vậy cú đấm móc của hắn không làm Văn Bình nao núng mặc dầu hắn đã vận hết tài sức, hòng đánh gẫy xương sườn non của chàng. Chàng nhẹ nhàng hoành tay gạt, và nâng đầu gối lên. Cũng là một thế cước Thạch Đầu, nhưng vì chàng ra đòn quá nhậm lẹ, đòn lại nặng như quả tạ ngàn cân đè xuống nên gã phi công không thể nào ngăn chặn hữu hiệu.

        Hắn kêu hự một tiếng rồi ngã vật. Văn Bình trườn theo tặng thêm một cái đá bằng mũi giầy. Mục tiêu của chàng là kết thúc luôn cuộc đời của gã phi công lộn xộn. Ngọn cước hiểm độc này đủ sức phá nát óc hắn và đưa hồn hắn xuống âm phủ tức khắc. Nhưng mũi giầy của chàng đã trượt ra ngoài tuy chàng nhắm rất chính xác. Và ngay khi ấy, chàng đã tìm ra nguyên nhân. Vích-ky vừa dùng gót chân cứu gã phi công khỏi chết.
Vừa cản đòn, hắn vừa la lớn :
-    Không nên giết hắn !

         Gã phi công muốn chồm dậy song cơn đau đã kéo hắn ngã nhoài. Hắn nằm dán xuống nền đất san-hô miệng rên hừ hừ. Văn Bình trách Vích-ky :
-    Anh nhân đạo một cách vô ích. Hắn là điệp viên địch, nếu cho hắn sống, mọi bí mật của ta sẽ bị bại lộ.
Vích-ky cười:
-    Kể ra chúng mình chẳng có gì là bí mật cả. Địch giả phi công C.I.A. đến rước sự việc này chứng tỏ địch đã biết tôi có cuộng băng của kỹ sư Doarê. Địch lừa ta lên trực thăng và đáp xuống đây tất đã có kế hoạch hẳn hòi. Theo tôi nghĩ, có lẽ tàu ngầm địch đang lảng vảng đâu đây, sửa soạn ngoi lên để bắt chúng mình. Chính vì vậy tôi mốn hắn sống. Dĩ nhiên giữ hắn sống là để bắt hắn cung khai, sau đó, anh muốn băm vằm hắn thành bùn tôi cũng không ngăn cản.

Buru chêm vào một câu ngỗ ngược :
-    Cậu bé Vích-ky nói đúng... Tôi và cậu không khác mặt trăng mặt trời, không thể gần nhau, nhưng tôi phải thành thật khen là cậu lý luận rất xác đáng. Thằng cha phi công là sợi dây liên lạc duy nhất giữa ta và tiềm thủy đĩnh của địch, giết hắn đi thì ta trở về đất liền bằng cách nào ? Chẳng lẽ chắp cánh vào nách mà bay về Qui-tô. Đề nghị nắn xương, xoa thịt cho hắn khỏe lại rồi hỏi hắn cách thức liên lạc với tàu ngầm.

        Vích-ky trợn mắt khi nghe Buru gọi xách mé là "cậu bé". Hắn giơ nắm tay kếch xù lên nhưng Buru đã lỉnh ngay ra sau lưng Văn Bình.

      Văn Bình cúi xuống, xốc nách cho gã phi công đứng dậy rồi thét vào tai hắn :
-    Chừng nào tàu ngầm nồi lên ?
Gã phi công thở hổn hển :
-    Tàu ngầm nào ? Làm gì có tàu ngầm ?
-    Vậy người ta đến đây đón anh bằng gì ? Tàu đánh cá hay thủy phi cơ ?
-    Hừ... cái trò dọa dẫm con nít của các anh không làm tôi sợ đâu. Dầu tôi bị thương, thân cô, thế cô, tôi vẫn nắm phần chủ động. Không có tôi, các anh sẽ chết đói, chết khát trên giẻo đất san-hô này.
Dứt lời, hắn nhắm nghiền mắt. Văn Bình biết là hắn giã vờ nghỉ khỏe để khỏi bắt gặp luồng mắt sắc nhọn như mũi dao mổ xẻ của chàng. Chàng nhận thấy hắn có vẻ bối rối. Tại sao hắn lại bối rối ?

       Văn Bình thả cho gã phi công đứng thẳng một mình. Song không rõ vì đau đớn thật sự hay giả vờ, hắn loạng choạng không vững như người say rượu. Văn Bình bèn xóc ngón tay, nhưng chỉ dùng riêng ngón giữa của bàn tay phải thọc nhanh vào khoảng đùi non gần bẹn của đối phương. Trên đùi non, theo Thiếu Lâm tự, có huyệt ma-cốt, chạm vào thì gây ra bất tỉnh. Huyệt này rất dễ điểm, võ sĩ Trung Hoa thường chụm 5 đầu ngón tay lại theo phép ưng trạo công, không cần đánh trúng, chỉ đụng bên ngoài huyệt thì hạ bộ nạn nhân cũng bị tê liệt. Nếu điểm huyệt ma- cốt sâu hơn thì có thể làm thần kinh hệ nạn nhân bị rung chuyển dữ dội. Mục đích đánh huyệt ma-cốt bằng một ngón tay của Văn Bình nhằm khiến gã phi công thành đống thịt vô nghị lực, hầu dễ khai thác.

         Nhưng một lần nữa, Vích-ky lại đoán biết ý định của chàng. Tuy hắn đứng hơi xa, hắn vẫn luôn luôn theo dõi phản ứng của chàng. Chàng vừa hươi bàn tay, hắn đã chặn lại. Cánh tay hắn vươn ra nhẹ nhàng và khoan thai nhưng kình lực tuôn tỏa cuồn cuộn khiến chàng phải kiêng dè. Hắn ở cùng phe với chàng, chứ nếu hắn là nhân viên của địch thì chàng phải vất vả lắm mới có hy vọng triệt hạ được hắn.
Văn Bình trừng mắt:
-    Thái độ của anh thật khó hiểu. Hai lần tôi điểm huyệt hắn, hai lần anh đều tìm cách gỡ đòn. Yêu cầu anh giải thích nguyên nhân.
         Vích-ky gằn giọng :
-    Tôi không có bổn phận phải giải thích với anh, vì tôi là người chỉ huy điệp vụ, còn anh chỉ là phụ tá. Nếu anh bất bình, anh sẽ khiếu nại sau này với trung ương C.I.A. và ông Sì-mít. Tôi không chấp nhận cho anh giết gã phi công. Một lần nữa, tôi yêu cầu anh để mặc hắn cho tôi xử trí.

       Trong khi ấy Văn Bình quay lưng lại, không để ý đến gã phi công đang oằn oại trên đất, mặt nhăn nhó vì đau đớn. Đột nhiên, mắt hắn hết nhăn nhó, hắn nhảy vụt lên như có pháp thuật, nắm tay thôi sơn của hắn choang vào gáy Văn Bình. Chàng đã dụng tâm giết hắn nên vai hơn rùn xuống, tiếng gió lạ vừa khởi lên sau lưng, chàng liền đánh lui bằng cùi trỏ.

       Độc hiểm của Văn Bình trúng giữa mỏ ác gã phi công. Hắn vập mặt xuống nền đất san-hô sau khi kêu lên được một tiếng "oái" ngắn ngủi thảm thiết.

       Vích-ky trở tay không kịp, vội quỳ xuống nâng mặt nạn nhân ngửa lên, bấm ngón tay cái vào mắt. Tròng mắt đã bất động hoàn toàn. Hắn ngẩng nhìn Văn Bình bằng luồng nhỡn tuyến đục ngầu :
-    Sát nhân, anh là đồ sát nhân ! Tôi có cảm tưởng là anh cố tình giết hắn.
Văn Bình cười nhạt:
-    Tôi cũng có cảm tưởng là anh cố tình cứu hắn.
-    Vì tôi có trách nhiệm trong vụ này. Công việc xong xuôi, anh trở về Sài-gòn, còn tôi phải ở lại. Thái độ sát nhân có dụng ý của anh không thể tha thứ được : thứ nhất, chúng ta không biết đến khi nào tàu ngầm của địch nồi lên, và nổi lên tại đâu để chuẩn bị đối phó hữu hiệu, thứ hai, hắn còn sống, ta có thể dùng hắn làm con tin bắt địch phải nhượng bộ. Hừ.... nếu tôi chưa biết rõ về anh, tôi đã có ý nghĩ anh là đại tá Z.28 giả hiệu... vì chỉ có kẻ mạo nhận danh nghĩa Z.28 mới hành động hấp tấp và ngu xuẩn như anh.
-    Anh muốn đấu võ với tôi ?
-    Không. Tôi lên tiếng phản đối, chứ không xử dụng quyền cước. Tôi không sợ thua anh đâu, anh đừng tưởng lầm.

       Dầu tôi biết anh giỏi võ, tôi cũng hầu tiếp như thường, tôi không phải hạng người bỏ chạy trước đối thủ hùng mạnh. Sở dĩ tôi nhịn anh là vì đường về Hoa-thịnh-đốn còn dài, chúng ta đang mắc kẹt trên hòn đảo cô quạnh này, chưa tìm ra phương tiện thoát hiểm, tiềm thủy đĩnh của địch lại sắp sửa ghé lên. Nếu tôi đi người không, có lẽ tôi đã không ngần ngại. Nhưng hiện giờ....
-    Hiểu rồi. Anh vừa nhắc đến cuộn băng của kỹ sư Doarê ?
-    Anh riễu tôi phải không ? Anh trêu tức tôi, tôi không động lòng đâu. Tôi là kẻ có nhiều tự ái, nhưng lại rất sáng suốt, giờ phút này, tự ái của cá nhân tôi chỉ là hạt bụi vô cùng nhỏ bé trước cuộn băng nhựa. Bằng mọi cách, tôi phải mang cuộn băng mật mã về nộp cho ông Sì-mít. Giờ phút này, anh chửi tôi, anh khạc nhổ vào mặt tôi, anh hành hung tôi, tôi cũng ráng nhịn.
Văn Bình giơ cao nắm tay :
-    Tôi không thèm chửi anh, hoặc khạc nhổ vào mặt anh, nếu anh tiếp tục lên giọng thầy đời, tôi sẽ tặng anh quả đấm.
Vích-ky nhún vai:
-    Trái thôi sơn của anh khét tiếng trong võ lâm từ nhiều năm nay, tôi rất lấy làm vinh dự được bái lãnh. Đây, tôi xin lấy hai cô Rita và Côcô làm chứng. Sau khi về đến Hoa-thịnh-đốn an toàn, chúng ta sẽ giao đấu với nhau, giao đấu bằng quyền, hoặc bằng võ khí, tôi đều sẳn sàng.

         Côcô từ nãy giờ ngồi bần thần nhìn ra khơi sóng vỗ bập bùng bỗng quay ngoắt lại, giọng căm hờn :
-    Vâng, tôi xin làm chứng. Nhưng tôi lại sợ là tôi không còn được sống sau khi về đến Mỹ nữa.
-    Tại sao ? Cô sợ tàu ngầm của địch chở chúng ta đi mất tích ư ? Đó chỉ mới là giả thuyết. Biết đâu trong ít phút nữa ta sẽ gặp máy bay nhà đến cứu ?

         Lời nói của Vích-ky bỗng ứng nghiệm ngay như trong truyện giải trí hoang đường. Hắn chưa dứt câu thì từ hướng Đông vọng lại tiếng rừ rừ quen thuộc, tiếng động cơ máy bay. Hướng Đông là hướng đất liền, có lẽ phi cơ từ căn cứ trên đất liền bay đến.

        Bầu trời đã trở nên quang đãng, những đám mây đen cuối cùng đã tan hết. Tuy nhiên ở phía Tây, phía thẳng ra biển Thái Bình rộng mênh mang, sương mù vẫn còn ngự trị, kết thành nhiều lớp dầy cộm bay là là trên mặt nước

        Một chấm đen xuất hiện trên không trung bát ngát, Buru thấy trước tiên. Hắn rú lên trong cơn sung sướng :
-    Đúng rồi, đúng rồi, máy bay... máy bay cứu cấp của chánh phủ Equatơ.
       Máy bay mỗi lúc một lớn. Đang vui mừng, Buru vụt có thái độ hốt hoảng :
-    Nguy quá, nguy quá, làm cách nào báo hiệu cho phi công biết bọn mình bị kẹt trên đảo ?

         Hắn xoay vòng tròn nhìn Vích-ky. Vích-ky chắp tay sau đít, đứng im như phỗng đá. Văn Bình cũng không hé răng. Hắn nắm vai Vích-ky lắc mạnh :
-    Anh đã nghĩ ra phương kế chưa ?
Vích-ky chưa kịp đáp, Buru đã bỏ hắn ra, reo lớn :
-    Tôi nghĩ ra rồi. Chúng mình sẽ đốt lửa làm hiệu.
Hắn hỏi Văn Bình :
-    Anh có quẹt máy trong túi không ?

        Văn Bình lắc đầu. Trước khi chuyền dây từ trực thăng qua ao bùn lên bờ, chàng đã bỏ lại mọi vật dụng cồng kềnh. Vích-ky và Buru cũng làm như chàng. Hai cô gái thoạt đầu còn quyến luyến những đồ tùy thân, rốt cụộc đều không mang theo. Cho dẫu có đồ để nhóm lửa cũng vô ích, vì hòn đảo bập bềnh trên biển rộng, bọt nước bắn lên tung tóe cũng đủ làm tắt, chứ chưa nói đến những trận gió từ tứ phía liên tiếp thổi lại nữa.

        Vích-ky cổi phăng áo vét mặc trên người. Hắn ngó quanh quất tìm cách biến cái áo màu trắng cháo lòng thành lá cờ cấp cứu nhưng trên nền đất trắng chỉ có những hòn sỏi san-hô lổn nhổm. Hắn ngoảnh nhìn chiếc trực thăng đã lún gần hết trên ao bùn đen sì, mặt đầy vẻ tiếc nuối.

        Phi cơ chỉ còn cách tiểu đảo một quãng ngắn. Nếu dùng viễn kính, hoa tiêu có thể nhìn thấy những người bị nạn mắc kẹt trên giẻo đất san-hô. Vích-ky cầm cái áo phất thành vòng tròn, miệng kêu rối rít:
-    Lạy Trời, lạy Trời cho phi công nhìn thấy !

         Có lẽ Trời đi vắng nên không nghe được tiếng cầu khẩn tha thiết của Vích-ky. Bằng chứng là phi cơ không tiến thẳng đến đảo san-hô mà lại bay vụt lên cao rồi đột ngột rẽ trái. Hồi nãy phi cơ là cái chấm đen, giờ đây nó lại trở thành chấm đen như cũ. Tiếng máy rừ rừ ấm áp cũng biến theo vào màn sương mù. Niềm hy vọng vừa chớm nở đã tan biến như bọt sà-phòng. Vích-ky quăng áo vét, thở dài chán nản, rồi ngồi phịch xuống đất.

          Mọi người lại bâng khuâng gậm nhấm những ý nghĩ riêng. Rita đùa nghịch với đống vỏ sò xanh xám, diện mạo nàng vẫn ung dung như thể không có chuyện quan trọng xảy ra. Cô gái vô tư lự đùa nghịch trên bãi biển mùa hè cũng khó thể ung dung bằng nàng.

         Liếc nàng, Văn Bình có cảm tưởng nàng đã tách ra khỏi hiện tại, đang lùi về quá khứ. Cách Rita ba thước, Côcô nhẩn nha lấy cái gọt móng tay xúc đất chơi. Được muỗng nào, nàng lại tung hất qua vai, và cười nho nhỏ một mình.
Bỗng Rita giẫy nẫy :
-    Ơ kìa, làm cái gì thế ?

Văn Bình đoán Buru phá thối nên chẳng buồn quay lại. Chàng đã đứt hơi nhiều lần vì hắn. Nhưng tiếng Côcô đã léo xéo phía sau, bắt chàng phải chú ý :
-    Người ta lỡ tay một chút mà cũng làm toáng lên. Vâng, em có lỗi, em xin kính cẩn xin lỗi chị.
Rita gằn giọng :
-    Tôi không thích phụ nữ hàm hồ.
Côcô trả đũa :
-    Tôi cũng vậy. Tôi không thích phụ nữ thâm độc.

           Theo kinh nghiệm, nam nữ sống trên đảo vắng thường sinh ra ghen tuông, nam đông hơn nữ thì phái nam châm ngòi xung đột. Nhưng ở đây, phái nữ lại phát động ghen tuông. Một muỗng đất san-hô của Côcô đã rớt vào áo Rita. Sạu một đêm thử thách, y phục của Rita đã nhàu nát, không phải là đồ dạ hội lộng lẫy đắt tiền may tại một tiệm danh tiếng Ba Lê để nàng phải gìn giữ cẩn trọng. Nàng bực tức chẳng qua vì Côcô là cái gai đâm vào mắt nàng, và dường như Côcô cũng thích gây gỗ với Rita.

        Văn Bình biết sắp nổ lớn song không dám can thiệp. Lời nói hòa giải của chàng có thể sẽ bị hiểu lầm là bỏ thêm dầu vào lửa. Hai cô gái ghen tuông phần nào cũng do chàng mà ra. Chàng không nhớ đã làm những gì khiến hai cô gái rung động mãnh liệt. Dầu sao chàng cũng cảm thấy hối hận. Chàng hy vọng hai cô gái tình địch chỉ giao đấu bằng miệng, và để dành quyền cước cho một dịp khác.

         Nhưng ngay từ giây phút đầu tiên, trận chiến đã trở nên gay cấn. Rita không thèm đáp, ném vỏ sò xuống biển, vẻ mặt khinh khỉnh.
Côcô bĩu môi:
-    Đồ hèn.
           Chết rồi, phi cơ oanh kích đã thả xuống mục phiêu một trái bom dò đường. Tuy là dò đường nhưng là trái bom hạng nặng ngàn kí-lô.
Rita chồm dậy :
-    Cô bảo là ai hèn ?
Côcô cười nhạt:
-    Dĩ nhiên là tôi bảo cô hèn. Tôi chửi cô hèn nhưng cô sẽ không dám đối lại. Vì cô tự cho cô là phụ nữ trí thức thượng lưu. Vả lại, cô sợ tôi. Cô chạm đến tôi, tôi chỉ búng nhẹ là cô ngã kềnh, chàng ta sẽ cười chê, không phải người đẹp quý phái.
Buru vỗ tay đôm đốp :
-    Thôi, tôi xin hai cô. Sắp chết đến nơi mà còn ganh tị. Hai cô nên hà tiện hơi sức để lát nữa còn phải đối phó với các đồng chí tàu ngầm sô viết.
Côcô trợn mắt:
-    Chuyện riêng giữa đàn bà chúng ta, đàn ông không được quyền xía vô. Phải, chúng ta ganh tị, nhưng không phải ganh tị vì anh.
-    Tôi xấu trai, đời nào các cô lại ganh tị vì tôi. sở dĩ tôi mau miệng là vì....

         Buru không thể nói hết câu vì một hòn sỏi cứng đã rớt trúng miệng hắn. Một tia máu đỏ ri rỉ chảy ra mép. Hắn hùng hồ xăn tay áo song Vích-ky đã ngăn cản :
-    Yêu cầu anh ngồi xuống, đàn bà họ hục hặc nhau thì mặc kệ người ta, không liên quan đến anh. Nếu anh ngo ngoe, tôi sẽ làm anh rụng nốt mớ răng sún còn lại.

         Rita thích chí cười vang. Buru tiu nghỉu ngồi yên, tay áo đưa lên miệng chấm máu. Trong khi ấy, hai cô gái lần lượt đứng lên, đối diện nhau. Văn Bình không lạ gì tài nghệ của Rita, nàng từng đánh ngã Buru tất Côcô chỉ có thể là cái bao cát cho nàng tập đấm. Nghệ thuật ném hòn sỏi của nàng cũng làm cho chàng chột dạ. Nàng khó thể là cô em gái hiền lành của kỹ sư điện tử Doarê. Sự thật nàng là ai, đến căn cứ 4Q với mục đích gì ? Và nàng là đồng minh hay là kẻ thù của chàng ? Văn Bình chưa hết ngạc nhiên về Rita lại ngạc nhiên về thế xuất chiêu dũng mãnh và thần tốc của Côcô. Té ra kẻ nửa cân người tám lạng, Côcô không phải là liễu yếu đào tơ tầm thường nhu chàng lầm tưởng.

         Ngón atêmi đầu ngón tay chụm lại của Côcô vừa ngầm báo với Văn Bình nàng là võ sĩ nhu đạo có hạng. Xoẹt một tiếng nhẹ, Rita nghiêng đầu tránh, ngón tay của Côcô xé toạc một mảnh áo vai của Rita. Hai người ôm ghì lấy nhau, và cả hai đều dùng các thế khóa cực hiểm nhu đạo để chẹn họng nhau. Côcô túm được cổ áo của Rita nhưng nàng chựa kịp ấn vào động mạch gần yết hầu thì Rita đã quẫy mình, chém ngang gáy Côcô. May thay đòn hiểm này trượt xuống xương quai xanh vì nếu rớt đúng huyệt kôchu ở đốt xương sống thứ nhất, Côcô sẽ khó vẹn toàn tính mạng. Cho dẫu Côcô tránh thoát thì miếng atêmi cũng chạm huyệt đà-cốt trên cổ, và huyệt này cũng là tử huyệt.

          Văn Bình thở phào vì Côcô đá chân trái, nhằm trung bộ của đối phương trong khi Rita dùng chân phải để tấn công hạ bộ Côcô.

           Cả hai đều bị trúng đòn. Rita loạng choạng. Côcô cũng loạng choạng theo. Nhưng cả hai lại tiếp tục lăn xả vào nhau, tiếp tục thi thố đòn hiểm.

          Văn Bình không thể tiếp tục giữ vai trò bàng quang được nữa. Chẳng nhiều thì ít, chàng đã liên hệ đến trận đòn thù giữa hai cô gái lạ. Nếu chàng mặc họ giao đấu, một trong hai người sẽ chết, hoặc ít ra cũng bị thương. Chàng bèn tiến lên, nắm tay Côcô kéo ra, đồng thời dùng thân làm mộc ngăn Rita đánh tiếp. Chàng không ngờ Côcô vùng vằng, tông khuỷu tay vào ngực chàng. Chàng chưa tránh xong đòn của Côcô thì Rita đã xỉa ngón tay nhọn hoắt suýt nữa làm da mặt chàng rách toạc.
Sau cùng, chàng đã xô được mỗi người ra một nơi. Côcô tức tối nắm vạt áo chàng :
-    A, anh đứng về phe nó phải không ?
Văn Bình vội la :
-    Không, không.

          Rita thừa cơ khoèo chân, Côcô ngả ngửa. Côcô nhẩy xô đến, Vích-ky đành phải gia nhập cuộc chiến. Hắn ôm cứng lấy Côcô mặc dầu bị nàng cấu xé dữ dội. Đến khi mệt nhoài nàng mới buông Vích-ky ra, ngồi bệch xuồng thở hồng hộc như kéo bễ. Tuy vậy, nàng vẫn không quên hăm dọa Rita :
-    Giữa hai đứa mình, phải có một đứa chết.
        Rita xông lại, toan đấu nữa nhưng bị Văn Bình giang tay, giọng nghiêm khắc :
-    Lần này là lần cuối, tôi thành thật van xin hai cô, nếu cô nào không nghe, miễn cưỡng tôi phải trừng trị. Khi ấy đừng trách tôi là thằng đàn ông vũ phu.

           Cuộc xung đột giữa hai cô gái ghen tuông tạm chấm dứt vì ở chân trời vừa nồi lên thân hình gọn nhỏ của một con tàu biển.

            Vích-ky lấy tay che ánh sáng bị mặt nước phản chiếu rực rỡ để nhìn cho rõ. Rồi hắn lẩm bẩm :
-    Tàu Nga.... đúng là tàu đánh cá sô viết.

        Con tậu đen sì chỉ còn cách tiểu đảo san-hô từ 3 đến 5 trăm thước. Trong khoảng xa này, nếu không bị sóng biển che lấp và ánh sáng phản chiếu thì có thể nhìn thấy rõ ràng, tuy nhiên Văn Bình chỉ đảo mắt ra ngoài khơi là biết ngay Vích-ky nói đúng. Nhân viên C.I.A. hoạt động tại hải ngoại đều phải học thuộc hình thù của mọi loại tàu biển sô viết. Dọc bờ biển châu Mỹ la-tinh, Liên Sô có rất nhiều tàu nhỏ, bề ngoài được trang bị là tàu đánh cá, nhưng bên trong là những trạm quan sát gián điệp của GRU và KGB.

          Con tàu đánh cá đang lừ lừ rẽ sóng tiến đến hải đảo san-hô thuộc loại thông thường, trang bị động cơ chạy dầu cặn trên dưới 500 mã lực, mũi và đuôi tàu được gắn thêm những phiến thép dầy, dụng cụ truyền tin vô cùng tối tân giấu kín trong khoang, khi cần có thể được mang ra xử dụng trong vòng một vài phút, phi cơ quan sát bay bên trên không tài nào khám phá ra, đôi khi tàu đánh cá còn có máy phát tín hiệu đặc biệt nhằm phá rối hệ thống radar của phi cơ quan sát nữa.

           Mọi người đều đứng ngay, trong khoảnh khắc những mối xích mích được quên bẵng. Rita không còn thái độ dữ dằn nữa mặc dầu Côcô đứng gần nàng, gần như chạm vai. Vẻ mặt của Côcô đang đỏ gay đã đổi sang xanh tái. Buru bặm môi, dáng điệu suy tư và lo sợ. Vích-ky tỏ ra bình tĩnh nhất trong bọn, tuy nhiên, Văn Bình nhận thấy hắn luôn luôn thay đổi vị trí của tay chân, như thể nội tâm đang bị giằng xé mãnh liệt.

          Con tàu đánh cá đến gần thêm nữa, gần thêm nữa. Khoảng cách từ 500 mét được thu ngắn còn trên dưới 100 mét. Trong khoảng cách này, nó trở nên đồ sộ và hung hãn, màu đen tương phản tàn nhẫn với màu nước biển xanh xanh và màu san-hô trăng trắng, khiến chàng có cảm tưởng nó là con thủy thú khổng lồ từ đáy đại dương ghê rợn hiện lên mang theo ám hiệu của Tử Thần.

         Trên thực tế, Văn Bình cũng đã nhìn thấy những ám hiệu cuủa Tử Thần. Tàu không treo cờ nên chưa biết thuộc quốc tịch nào song chàng đã biết rõ là của hải quân Liên Sô, đúng hơn là của sở Mật Vụ GRU, và trong chốc lát, thuyền trưởng sẽ ra lệnh thượng kỳ.

           Nếu có đồng hồ đo sự lo sợ của mọi người thì Văn Bình là người làm kim đồng hồ chạy loạn nhất. Tuy vậy, trông ngoài mặt, chàng vẫn thản nhiên như không, miệng chàng vẫn cười mỉm, mắt chàng vẫn bắn những tia rí rõm, da mặt chàng vẫn không đổi khác. Đó là do chàng vận dụng nghị lực, và nhất là vận dụng nguyên khí, nếu không tay chân chàng đã run lẩy bẩy, trống ngực đập thin thình. Sự lo sợ của chàng có lý do rất chính đáng : từ nhiều năm nay, ảnh chàng, tướng mạo chàng, hồ sơ về chàng, một trong các hồ sơ cá nhân đầy đủ chi tiết nhất thế giới - đã nằm chềnh ềnh trong văn phòng giám đốc GRU và KGB ở Mạc-tư-khoa. Riêng GRU đã chiếu cố đến chàng một cách hết sức đặc biệt, hồ sơ của chàng đã được cập nhật hóa hàng năm, kèm theo các hình chụp mới. Hàng năm, cứ đến mùa thu là các chánh sở GRU nhóm họp tại thủ đô Liên Sô để rút được kinh nghiệm, và một phần của nghị trình nhóm họp tối mật được dành cho việc cứu xét các "hồ sơ hải ngoại thuộc ưu tiên số 1 chưa giải quyết".

         Hoạt động hải ngoại của GRU được chia làm nhiều mức ưu tiên. Ưu tiên số 1 là việc loại trừ các nhân viện gián điệp được coi là lợi hại nhất đối với khối xã hội chủ nghĩa. Văn Bình được hân hạnh liệt vào bảng ưu tiên số 1 liên tiếp trọng nhiều năm : nghĩa là liên tiếp trong nhiều năm nhân viên sô viết được lệnh hạ sát chàng nếu không thể bắt sống được chàng. Dĩ nhiên, họ không thể bắt sống được chàng, nên biện pháp duy nhất của nhân viên sô viết là giết.

            Các hồ sơ thuộc mức "ưu tiên số 2" đựợc tập trong trong văn phòng tồng giậm đốc nhưng phần thực hiện lại được giao riêng cho một ban mang cái tên rất hiền lành là "ban giải quyết các vụ ối đọng hải ngoại". Một trong số các tàu đánh cá trá hình của Liên Sô có mặt trên ngũ đại dương thuộc quyền điều động của "ban giải quyết các vụ ối đọng hải ngoại", nếu con tàu sắp sửa vớt chàng thuộc ban này thì tính mạng chàng còn mong manh hơn sợi chỉ mành treo tảng đá ngàn cân nữa.

          Nhưng chàng đã hết lối lùi. Tiểu đảo san-hô chỉ nhỏ bằng chiếc mù soa hỉ mũi, chàng không tìm ra nơi nào ẩn núp an toàn. Chàng vẫn có thể nhảy đại xuống biển. Song nhảy xuống biển rồi đi đâu ? Bờ biện xa lắc xa lơ, chàng không có hy vọng bơi đến nơi, vả lại tàu đánh cá chỉ nã một phát súng là chàng tan xác. Chi bằng lì lợm chờ đợi...

            Con tàu đánh cá lại gần thêm nữa, gần thêm nữa....

           Nó rẽ sóng phăng phăng, bọt nước trắng bắn tung tóe che khuất cả luồng khói dầu cặn đen sì. Từ nãy đến giờ, Văn Bình không hề thấy bóng con chim biển nào, đột nhiên hàng chục con cò đen, cổ dài ngoằng, mỏ trắng lông lấm chấm đen từ sau màn bọt nước bay vụt tới, lượn nhiều vòng trên tiểu đảo san-hô, thả xuống những tiếng kêu kỳ dị.

         Tàu đánh cá giảm tốc độ rồi quay mũi. Một ngôi sao đỏ chói hiện lên ở đầu tàu. Không ai có thể lầm được nữa, đúng con tàu này là của Liên Sô.

        Nhưng bóng người vạm vỡ mặc đồng phục xanh thợ máy đã đứng đầy trên boong, tay chỉ chỏ huyên thiên. Rồi đến giọng nói oang oang :
-    Bị nạn phải không ?

           Giọng nói oang oang này là của người Nga. Vích-ky có vẻ thất vọng song hắn vẫn lên tiếng trả lời.
Trời bỗng tối sầm. Những đám mây hồng rực rỡ vừa ra khỏi màn sương dầy đặc ậm đạm đã rũ nhau tan biến trong chớp mắt. Ánh sáng ban ngày trên mặt biển rộng mênh mông đang được thay thế bằng những tia vàng hoàng hôn mặc dầu đồng hồ mới chỉ giờ xế trưa.

          Tàu đánh cá buông neo ngay sát bờ đảo. Và cuộc tiếp cứu được tiến hành ngay tức khắc.

          Gió biển thổi dữ dội, mặt biển cũng cuộn sóng dữ dội. Sườn tàu vừa ghé sát bờ đã bị đẩy ra. Loa vi âm trên boong được mở hết độ lớn song không át nổi tiếng gió thét và tiếng sóng gầm. Sau những phút ngậm miệng, thần biển đột ngột vùng dậy gieo rắc sự kinh hoàng và tàn phá trên mặt biển bao la...

         Con tàu thuộc loại nhỏ nên bị lay chuyển dữ dội. Thuyền trưởng phải là tay đi biển cừ khôi nếu không con tàu đã bị chìm lỉm nhiều lần. Có lẽ nó đã lênh đênh ngoài khơi từ mấy ngày qua, và đã là nạn nhân của trận động đất và trận bão tiếp theo, bằng cớ là vỏ tàu đã bị méo mó nhiều chỗ, lan can sắt trên boong tàu bị gãy phăng một phía, phía còn lại thì quăn queo như thể một bàn tay khổng lồ nắn từng thanh thép mà bẻ cong.

          Hai ngọn đèn pha từ hông tàu chiếu xuống bờ sáng rực. Thuyền trưởng hét lên :
-    Bắn dây mau lên !

           Phụt một tiếng, khẩu súng nhỏ giấu dưới đống lưới cá vừa được dỡ lên, khạc ra một mũi dùi dài và nhọn hoắt, trông như cây lao của lực sĩ thế vận. Đuôi cây lao có lỗ tròn như lỗ kim may, một sợi dây thừng ni-lông được luồn sẵn. Mũi dùi của cây lao cắm phập vào nền đất san-hô rắn chắc. Một cây lao khác được phóng tiếp, trong giây lát, hai sợi dây ni-lông đã buộc chặt mạn tàu vào hòn đảo san-hô.
Thuyền trưởng lại hô :
-    Nắm dây mà lên !
           Buru hấp tấp dành trước, nhưng thuyền trưởng đã quát tháo :
-    Đàn ông chưa được phép. Đàn bà lên trước !

             Buru tẽn tò nhường chỗ cho Rita và Côcô. Văn Bình lên sau cùng. Từ khi Rita đặt chân đầu tiên lên sàn tàu sô viết đến khi Văn Bình rời hòn đảo nhỏ xíu bềnh bồng trên biển cả, hơn một giờ đồng hồ dài giằng dặc đã trôi qua. sở dĩ cuộc cứu cấp mất nhiều thế giới vì hai người đàn bà lóng cóng ngã lên ngã xuống nhiều lần, con tàu chạy ra chạy vào nhiều lần làm dây ni-lông tuột đứt, thủy thủ phải vất vả cắm lại mũi dùi.

        Những tia nước bắn xối xả vào Văn Bình. Chàng có cảm giác như kim nhọn xuyên thấu da thịt làm chàng tê buốt. Sàn tàu tròng trành, suýt nữa chàng té ngã. Chàng chưa kịp đứng vững thì một quả đấm từ bên hông quạt tới, trúng cằm chàng. Đòn thôi sơn được tung ra khá mạnh khiến chàng loạng choạng. Chàng nhận ra kẻ đánh lén là một thủy thủ râu ria xồm xoàm. Nhưng chàng không đánh trả, phần nào vì tay chân chàng bắt đầu rời rã sau nhiều giờ phút vận sức, phần khác vì chàng không muốn cho địch biết chàng giỏi võ. Chàng lồm cồm vịn cột bườm, một trái thôi sơn khác lại vèo tới. Và lần này thì chàng khuỵu thật sự, không phải giả vờ. Tên thủy thủ vừa đánh chàng là võ sĩ săm-bô có hạng. Săm-bô là môn võ ruột của dân Nga la tư, sở mật vụ GRU và KGB từ sau thế chiến thứ hai đã rút gọn những miếng tuyệt diệu của võ săm-bô làm thành cận vệ chiến nhập môn giảng dậy cho nhân viên điệp báo sô viết.
Chàng nghe gã thuyền trưởng ra lệnh cho tên thủy thủ :
-    Thôi, người ta ngã rồi, mày còn đánh gì nữa ? Đỡ người ta dậy.

           Văn Bình được xốc nách dìu vào ca-bin. Chàng tưởng chỉ có mình chàng bị đánh phủ đầu, khi đến nơi, chàng mới thấỵ cả Vích-ky lẫn Buru nằm sóng sượt trên sàn tàu, đang được hai thủy thủ dội nước lạnh vào mặt cho tỉnh lại. Thì ra tất cả đều bị đánh. Ngoại trừ hai người đàn bà.

           Nếu Văn Bình lên tàu sớm hơn 5 phút, chàng còn chứng kiến nhiều chuyện lạ hơn nữa. Vích-ky đặt chân lên boong cùng một lúc với Buru. Giữa tiếng sóng gầm và gió rú, Vích-ky lon ton chạy ngay về phía gã thuyền trưởng.

         Thuyền trưởng trạc 45, mặt vuôn chữ điền, lông mày sâu róm một đống thù lù trên làn da bánh mật lấp la lấp lánh tia sáng của cặp mắt soi mói. Hắn cao gần hai mét, miệng mím chặt, dường như từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay chưa hệ biết cười. Thật ra hắn có cười song chỉ cười nửa miệng. Khi hắn hé môi, cái răng cửa bịt vàng sáng lóe, tạo cho hắn một vẻ anh chị gớm ghiếc. Tuy nhiên, điều làm hắn thêm gớm ghiếc là vết thẹo dài ngoằng nằm vắt vẻo trên má. Vết thẹo này mang hình thù kỳ dị, nó giống như cặp sừng trâu cong veo châu đầu vào nhau.

       Bộ đồng phục của hắn cũng kỳ dị không kém, áo vét thì chật ních tưởng như thở nhẹ là đứt bùng các đường chỉ khâu trong khi quần rộng thùng thình, ống quần trên 30 phân quét lòa xòa trên mặt thuyền đầy nước và đất bùn bẩn thỉu. Hắn đội cái mũ lưỡi trai cũng màu xanh đậm như màu quần áo, trên mũ được đính ngôi sao đỏ tí xíu, dấu hiệu chứng tỏ hắn là ông chúa trên tàu đánh cá.

        Tuy là tàu đánh cá nhưng Văn Bình lại không nhìn thấy thùng cá nào. Thậm chí cả mùi tanh tưởi, mùi cố hữu của mọi con tàu đánh cá, cũng không có nữa. Như thể con tàu đã được chùi rửa và phun thuốc trừ hôi kỹ lưỡng, hoặc giả nó chỉ mang theo lưới cá làm gì, những lưới cá mới toanh quanh năm, chưa được quăng xuống nước, chứ đừng nói là chứa cá nữa.

         Văn Bình lên tàu sau cùng nên không thể biết rằng Vích-ky và Buru dành nhau để tiếp xúc với thuyền trưởng. Ngoài mặt, họ không tỏ vẻ hối hả, nhưng nhìn cách chạy như bị ma đuổi của họ, người kém trí cũng không thể lầm lẩn. Vích-ky gặp thuyền trưởng trước Buru. Thuyền trưởng cất mũ cát-két, vuốt chùm tóc lơ thơ trên cái trán hói bóng loáng, miệng hô một tiếng ngắn. Vích-ky đứng khựng. Thuyền trưởng lập lại, Vích-kỵ vẫn tỏ vẻ không hiểu. Thuyền trưởng to tiếng gắt ngậu xị, Vích-ky quay lưng lại, chỉ Văn Bình đang chờ trên bờ tiểu đảo và Buru vừa nhảy xuống sàn tàu trơn trợt. Thuyền trưởng khum bàn tay làm loa quanh tai để nghe được rõ, mặt hơi cau ra vẻ chú ý đặc biệt. Nhưng chỉ nửa phút sau, hắn trợn mắt, méo miệng, gạt cánh tay lông lá vào ngực Vích-ky.

        Thuyền trưởng quật đòn khá mạnh song Vích-ky vẫn không bị trọng thương. Hắn chỉ rên lên một tiếng khẽ, hai chân tiếp tục đứng vững. Thuyền trưởng lẩm bẩm chửi rủa và đánh tiếp. Vích-ky lùi lại, tuy vậy hắn không trả đòn. Hắn lớn giọng với thuyền trưởng, nếu hồi nãy giọng hắn đượm thân mật thì khi ấy, giọng hắn trở nên hách dịch, như thượng cấp ban lệnh cho thuộc viên, cử chỉ kẻ cả của Vích-ky chỉ có tác dụng đổ thêm dầu vào lửa, hắn mới tuôn ra được mấy tiếng thì hai thủy thủ đã bẻ quẹp tay hắn ra sau lưng, và thuyền trưởng lên gối vào bụng hắn. Bị đánh thật đau, hắn chưa chịu ngất, thuyền trưởng phải lên gối lần nữa, hắn mới ngã vùi như đống giẻ rách xuống nền tàu.

         Buru cũng nhi nhô với thuyền trưởng. Vừa nói hắn vừa khoa chân múa tay, nhưng hắn không chỉ trỏ huyên thuyên như Vích-ky. Thuyền trưởng đạp Vích-ky một cái nên thân. Lúc ấy Vích-ky đang nằm dài như con cá sắp bị làm thịt. Buru nhổ nước bọt, rồi thuận chân đạp theo. Nhưng nếu thuyền trưởng chỉ đạp vào mông thì Buru lại chơi hiểm, đạp vào đầu. Suýt nữa, nếu thuyền trưởng không ngăn chặn kịp thời thì Vích-ky đã bị thương nặng ở sọ. Hoặc hắn có thể thiệt mạng.

          Vích-ky bị mê man. Buru quạy ra cãi vã tay đôi với viên thuyền trưởng. Rốt cuộc hắn cũng bị đo ván như Vích-ky. Hắn đau hơn Vích-ky vì thuyền trưởng ra đòn nặng hơn. Chưa hết, khi hắn nằm mọp, thuyền trưởng còn ngoắt tay ra hiệu cho hai tên hộ pháp nện gót giầy săng-đá tới tấp xuống lưng hắn nữa. Hắn không bị gẫy xương sống thì thật là vận hên tột đỉnh.

          Vích-ky và Buru bị đánh ngất nên Văn Bình được tiếp đón bằng thôi sơn chỉ là chuyện đáng đến đã đến. Chàng ngồi dựa lưng vào ghế sắt gắn chìm trong sườn tàu. Hai cô gái mặt xanh mét, tóc rũ rượi, ngồi đối diện chàng. Tuy nhiên, chàng nhận thấy cả hai được đối xử tử tế, chỉ bị xô đẩy chứ không bị hành hung, cả hai đều nhìn chàng với vẻ trìu mến khác thường. Côcô mấp máy trên môi:
-    Anh ngồi sang đây.

        Văn Bình không nhúc nhích vì sợ Rita phản đối. Nhưng Rita đã nhích sang bên. Chàng đã hiểu vì sao nàng chấp thuận. Vì chàng sẽ ngồi cạnh nàng. Côcô cười mỉm : mặt nàng mất vẻ cau có đầy thù hận. Hai cô gái tình địch đã làm lành được với nhau rồi chăng?

       Trên sàn tàu, Vích-ky và Buru đang lần lượt tỉnh dậy. Tuy ở gần đường xích đạo, nước biển lại lạnh ngắt. Những tia nước bắn tung tóe vào mặt Văn Bình tạo cho chàng cái cảm giác run rẩy của những buổi sáng trong động lang thang trên đồi núi Hoa-Nam.
Vừa mở mắt, Buru đã cất tiếng the thé :
-    Chính hắn... chính hắn....
Thuyền trưởng quát:
-    Câm miệng.
Buru nghển cổ :
-    Anh không chịu nghe tôi, đến khi mang lụy vào thân thì đừng trách.
Thuyền trưởng đạp lưng Buru :
-    Tao đã bảo câm miệng mà mày cứ tuôn ra ong ỏng như máy hát dĩa. Lần này là lần cuối, tao cảnh cáo mày, khi nào tao hỏi mày mới được mở miệng, nếu mày còn lắc xắc, tao sẽ ra lệnh cho bọn thủy thủ lấy kềm bẻ hết răng.

          Nghe nói bẻ hết răng, Buru im thin thít, nhưng mắt hắn vẩn lấm lét ngó Văn Bình. Dường như hắn muốn nói gì với chàng. Chàng chỉ ngất đi trong khoảnh khắc mà quá nhiều chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Hồi nãy Buru đã nói gì với thuyền trưởng ? Tại sao hắn lại bị thuyền trưởng hạ đo ván ? "Chính hắn... chính hắn", những tiếng này ám chỉ ai và có ý nghĩa gì?

        Sự ngạc nhiên của Văn Bình đã gia tăng vì Vích-ky chống tay đứng dậy, và nói với viên thuyền trưởng, giọng đủ nghe nhưng quyết liệt:
-    Tại sao anh dám đánh tôi ? Anh không biết tôi là ai ư ? Hậu quả tai hại sẽ xảy ra cho anh, cho gia đình anh nếu anh tiếp tục bướng bỉnh, không tuân theo lệnh tôi.
Thuyền trưởng nhăn mặt:
-    Tuân theo lệnh anh ?
-    Phải. Vì tôi mới là thượng cấp của anh.
-    Ha... ha.... anh tự nhận là thượng cấp , thằng cha mặt bú rù kia cũng tự nhận là thượng cấp của tôi, rồi lát nữa người đàn ông và hai người đàn bà đang ngồi trong ca-bin này cũng tự nhận như vậy, rốt cuộc tôi có 5 thượng cấp cả thảy.
-    Anh đừng lý luận ngu xuẩn... Trong só 5 người này, chỉ có một người là bạn anh.
-    Và người này không phải là anh.
-    Ai bảo với anh như thế ?
-    Thằng bú rù.
-    Hắn là nhân viên C.I.A.. Nhân viên gián điệp Mỹ chính cống, tên hắn là Buru. Còn tôi là Vích-ky...
Buru bỗng chồm tới:
-    Đúng, anh là Vích-ky, đặc phái viên C.I.A. do Hoa-thịnh-đốn gửi tới trung tâm 4Q. Chính anh mới là gián điệp Mỹ chính cống.
         Vích-ky xoay tay toan đánh Buru nhưng gã thuyền trưởng lực lưỡng đã chắn ngang. Giọng hắn oang oang:
-    Tôi đã bảo mà các anh không thèm nghe. Anh Buru, anh là C.I.A. phải không ?
Buru đáp :
-    Không.
Vích-ky cướp lời:
-    Dĩ nhiên, hắn phải trả lời "không". Vì hắn chẳng dại gì trả lời "có" trên con tàu của Liên Sô. Trả lời "có" nghĩa là tự ký vào bản án tử hình, anh sẽ giết chết hắn và quăng xác hắn xuống biển cho cá mập ăn.
Thuyền trưởng dậm gót giầy cồm cộp :
-    Câm miệng, câm miệng....

Một tên thủy thủ dựa lưng vào cửa ca-bin quật cho Vích-ky một phát đau điếng bằng roi gân bò. Bị đánh bất thần, Vích-ky uặn người rên rỉ. Buru cười:
-    Đáng kiếp.
Một ngọn roi gân bò khác giáng xuống vai Buru :
-    Đã bảo câm miệng mà cứ bô bô !

       Đến lượt Buru gục xuống. Phát roi gân bò để lại một vệt dài rớm máu trên cổ hắn.
Thuyền trưởng quay về phía Văn Bình, giọng nói hách dịch bỗng trở nên ngọt ngào :
-    Tên anh là gì ?
-    Là gì, anh đã biết.
-    Trong bọn anh, ai là Đôbin ?

         Văn Bình vụt hiểu. Bài toán đầy ắp con số nhức đầu vụt trở nên một câu đố tầm thường. Gã thuyền trưởng con tàu đánh cá do thám sô viết được lệnh tiếp xúc với một người tên là Đôbin. Đôbin có lẽ là tên của một trong hai viên hoa tiêu trực thăng. Điều mà gã thuyền trưởng chưa biết là cả hai viên hoa tiêu đã thiệt mạng. Lúc chạm mặt trên boong tàu, thuyền trưởng đã hô mật khẩu nhưng cả Vích-ky lẩn Buru đều không biết. Sự việc phải đến đã đến : vì thù riêng, vì muốn bảo vệ mạng sống, nhiệm vụ mà nhân viên điệp báo của mọi quốc gia đều phải làm tròn với bất cứ thủ đoạn nào, hoặc vì một lý do thầm kính mà Văn Bình chưa phăng ra, Vích-ky và Buru đều vỗ ngực tự xưng là Đôbin và người này đổ cho người kia là nhân viên tình báo trung ương C.I.A..

         Gã thuyền trưởng hỏi chàng "trong bọn anh, ai là Đôbin", điều này có nghĩa là hắn đang bối rối, chàng không thể không lợi dụng cơ hội để làm hắn bối rối thêm. Chàng bèn giả vờ nhìn quanh quất rồi đáp nhỏ :
-    Là tôi.
Mắt gã thuyền trưởng rực sáng. Hắn bước lại gần Văn Bình, quan sát chàng từ đầu đến chân :
-    Anh có mang theo giấy tờ nào chứng minh anh là Đôbin không ?
Chàng đáp, thản nhiên :
-      Có.
Buru phá lên cười, quên hẵn nỗi đau đớn do roi gân bò gây ra :
-    Ha, ha, tấn tuồng vui ghê !
Gã thuyền trưởng quắc mắt:
-    Anh cười gì ?
Buru vẫn cười:
-    Tôi chẳng cười gì cả.
        Sực nghĩ ra sự ngu xuẩn của mình, gã thuyền trưởng quát Văn Bình, bắt chàng ngồi xuống. Hắn dõng dạc ra lệnh cho bọn thủy thủ võ trang tiểu liên :
-    Chúng mày hãy canh gác cẩn thận. Đứa nào ngo ngoe thì bắn gãy giò.

        Gã thụyền trưởng đẩy cái tủ đựng thuốc cấp cứu sang bên, phía sau là ô cửa vuông. Hắn luồn tay vào, lấy ra cái hộp sắt. Trong hộp sắt có cuốn sổ nhỏ bia bằng da thuộc màu đen. Đó là cuốn sổ ghi mật mã. Hắn kéo ghế lại bàn đặt máy truyền tin ở góc ca-bin. Hắn giơ cuốn sổ mật mã, viết hí hoáy bằng bút chì trên giấy trắng, đoạn mở điện cho máy chạy. Trước khi đặt ngón tay vào cần mã tự, hắn lẩm bẩm một mình :
-    Hừ, có 3 thằng... thằng nào cũng xưng là Đôbin... hai thằng lại tố cáo lẫn nhau là gián điệp Mỹ, không khéo mình điên đến nơi.

      Văn Bình chăm chú theo dõi từng cử chỉ của gã thuyền trưởng. Trên nguyên tắc, để bảo toàn bí mật công tác, hắn không được phép liên lạc - dầu bằng vô tuyến điện mật mã - với trung ương, trừ phi trong trường hợp bất khả kháng. Trung ương tình báo sô viết có thể không biết rõ về các bọn đồng hành của chàng, nhưng không thể không biết rõ về chàng. Nghĩa là chân tướng của chàng sắp sửa bị bại lộ... Chàng phải hành động ngay, nếu không....

         Gã thuyền trưởng đã đeo mũ nghe vào đầu. Văn Bình nhổm đít, toan đứng dậy song một tên cầm súng sau lưng chàng đã gằn giọng :
-    Ngồi xuống.

        Chàng đành ngồi xuống. Nhưng chàng vừa ngồi xuống thì Buru đã hấp tấp đứng lên. Hắn đứng lên mà chẳng làm nên cơm cháo gì vì một bá súng đã rơi vào ót, hắn loạng choạng trước khi dộng đầu vào ghế sắt. Gã thuyền trưởng vẩn say sưa với bức mật điện vừa viết xong, không quan tâm đến quang cảnh ồn ào sau lưng.
Bỗng hắn văng tục rồi nói:
-    Quái lạ, quái lạ, tại sao máy không chạy ?

         Hắn mở, tắt, mở, tắt bằng cách nhấn nút liên tiếp trên máy. Một làn hơi khét từ trong máy truyền tin bốc ra. Gã thuyền trưởng hắt xì một tiếng làm tờ giấy đặt trước mặt bay vèo như bị gió thổi, rồi lẩm bẩm :
-    Quái lạ, quái lạ, máy có mùi khét.
Mồ hôi toát đầy trán, hắn cất tiếng gọi một thuộc viên đang lấp ló ngoài cửa ca-bin :
-    Nè mày, máy có mùi khét... dây điện bị cháy thì bỏ mẹ....

       Mùi khét đột nhiên gia tăng. Một luồng khói trắng xanh xông vào mũi miệng gã thuyền trưởng. Hắn bịt miệng ho sặc sụa, tuy vậy hắn vẫn không ngớt văng tục. Ngưòi Nga sinh trựởng ở miền biển có thể cạnh tranh với các chú con Trời về biệt tài văng tục nên tuy thông làu tiếng Nga, kể cả tiếng lóng, Văn Bình cũng chỉ hiểu được lõm bõm gã thuyền trưởng chửi những gì. Vả lại, chàng không có thời giờ suy luận nữa vì đến lượt chàng ngồi gần hắn bị hơi khói khét lẹt làm tối tăm mặt mũi. Chàng nghe Rita nói:
-    Cúi đầu xuống, anh.

         Gã thuyền trưởng lảo đảo đứng dậy, mặt đỏ phừng phừng. Bọn thuộc viên chạy rậm rập từ ngoài vào ca-bin, con tàu rung rinh như muốn chìm. Thủy thủ đoàn gồm từ 10 đến 12 tên vì hầu hết công việc trên tàu được làm bằng máy, cơ hội tập trung nhân viên này là cơ hội bằng vàng cho chàng. Nếu chàng tóm được gã thuyền trưởng, chàng có thể bắt bọn thủy thủ quăng súng.

       Mắt chàng bị khói trắng che kín, chàng chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ. Toàn ca-bin bị tràn ngập khói trắng, một thứ khói khét lẹt, tức ngực và ngứa cổ họng. Một thứ khói kỳ lạ bắt nước mắt, nước mũi chảy ra dầm dề. Chàng ngửi thấy một mùi hăng hắc đặc biệt, đây là mùi một hóa chất riêng được dùng để chế tạo một loại bom nhỏ như bút chì nguyên tử, có tác dụng tạo ra khói trắng và phá hoại các hệ thống điện tử. Nhân viên hành động C.I.A. thường được cấp phát loại bom nhỏ này để phá hoại các cơ xưởng sản xuất máy móc điện tử tinh vi tại Đông-Đức.

        Xẹt... xẹt... nhiều tiếng xẹt nồi lên. Rồi bùng.... bùng... bộ máy truyền tin đồ sộ, kiên cố trở thành đống sắt vô dụng trong chớp mắt.

         Gã thuyền trưởng đã ra đến ngưỡng cửa ca-bin. Hắn rút súng lục cầm tay. Buru vịn vào tàu, toan đứng lên thì bị gã thuyền trưởng nhắm cánh tay lảy cò. Viên đạn lệch khỏi mục tiêu nhưng đã đủ cho Buru xanh mặt, buông mình

Bỗng đoàng đoàng...
Hai phát súng nồ liên tiếp.
Rồi tiếng người kêu thét...
0
IX
Người đẹp Qui-tô


      Đó là tiếng kêu của Vích-ky. Tiếng kêu đau đớn chứng tỏ hắn bị trúng đạn. Văn Bình không ngờ ngoài chàng ra đã có nhiều người khác lợi dụng tình thế hỗn độn trong ca-bin để triệt hạ thuyền trưởng và bọn thủy thủ sô viết. Buru đã chùn gân nhưng còn Vích-ky. Không lẽ một tay võ nghệ cừ khôi, giàu kinh nghiệm trận mạc như hắn lại chịu khoanh tay. Cho nên hắn đã thót dậy, phóng cước vào lưng gã thuyền trưởng.
Ngọn đá của Vích-ky phát ra như cuồng phong, nếu trúng đòn, thuyền trưởng có thể gẫy xương sống và ngã sấp. Nhưng Vích-ky đã bị một tên thủy thủ tinh mắt nhìn thấy, chĩa súng bắn. Hắn bắn bừa không kịp nhắm nên viên đạn bay hú họa chạm mũi giầy của Vích-ky, do đó ngọn cước bị trệch khỏi lưng viên thuyền trưởng gặp hên.

        Ngay khi ấy, khẩu súng trên tay gã thuyền trưởng nồ đoàng. Hắn có thời gian nhìn kỹ mục phiêu hơn tên thủy thủ, song chẳng hiểu sao viên kẹo chì 9 li của hắn lại chỉ xuyên thủng vạc áo Vích-ky và giựt theo một miếng thịt. Vích-kỵ kêu thét, không phải vì viên đạn trúng hiểm huyệt, mà chính vì hắn muốn gia tăng sức lực bản thân và làm đối phương rối loạn tinh thần. Nhưng một tên thủy thủ chực sẵn phía sau đã choảng cho hắn một phát bá súng thừa sống thiếu chết vào trũng gáy.

         Lần này hắn đo ván luôn không ngóc dậy được nữa. Gã thuyền trưởng lách sang bên, nhường lối cho hai thuộc viên mang bình chữa lửa vào trong ca-bin. Trong nháy mắt, làn tuyết thán khí trắng xóa hăng xè đã dập tắt được những ngọn lửa nhỏ vừa nhú lên trong máy.
Quang cảnh trong ca-bin đã trở lại bình thường.

          Thuyền trưởng chỉ Buru và Vích-ky, ra lệnh cho thuộc viên, giọng bực bội:
-    Trói lại.

          Nghiễm nhiên Văn Bình được hưởng đặc ân của tình báo sô viết. Thuyền trưởng cho phép chàng ngồi đàng hoàng trên ghế, trong khi cặp bài trùng "lắm chuyện" Buru-Vích-ky bị trói nghiến bằng dây lưới cá ni-lông vào chân ghế sắt. Dây ni-lông dao sắc cắt mới đứt, giỏi nội ngoại công cũng không bứt nổi, vì càng cựa quậy nó càng ăn sâu vào da thịt.

         Con tàu đánh cá lừ lừ ra khơi. Giữa biển rộng mông mênh, Văn Bình cảm thấy lẻ loi vì không thấy bóng thuyền bè nào hết. Dường như sau cơn bão lớn, mọi thuyền bè đều cặp bến.

         Thuyền trưởng đứng im như phỗng đá trên sàn tàu. Văn Bình biết hắn đang suy nghĩ. Cái máy truyền tin là sợi dây liên lạc duy nhất giữa con tàu đánh cá cô đơn trên đại dương và trung ương điệp báo sô viết. Sợi dây móc nối vo hình này đã bị cắt đứt.

Văn Bình nghe loáng thoáng tiếng lẩm bẩm của gã thuyền trưởng :
-    Quái lạ, quái lạ, đứa nào là thủ phạm nhỉ ?

        Văn Bình biết gã thuyền trưởng đang băng khoăng về nguyên nhân máy vô tuyến bị nổ cháy. Trong hai người đàn bà và ba người đàn ông lạ có mặt trên tàu, phải có ít nhất một người là thủ phạm. Giây phút này, chắc gã thuyền trưởng đang tìm cách trả lời cho câu hỏi rối beng "thủ phạm của vụ phá hoại là ai ?" Văn Bình suýt phì cười khi nghe hắn hỏi một mình hai tiếng "quái lạ" quen thuộc. Hễ mở miệng là hắn thốt ra tiếng "quái lạ".

        Bỗng gã thuyền trưởng quay lại. Hắn nhìn qua khung cửa vào ca-bin, luồng nhỡn tuyến ngừng lại hồi lâu trước Vích-kỵ và Buru đoạn ngoắt một tên thủy thủ đứng gần. Tên thủy thủ vâng dạ một cách kính cẩn rồi ra hiệu cho Côcô theo hắn lên boong. Hắn dẫn Côcô đi xuyên qua phòng máy dầu cặn đến ca-bin riêng của thuyền trưởng.

        Côcô thản nhiên bước theo hắn. Mặt nàng trở lại lì lợm như thường lệ. Nàng không tỏ ra sợ hãi như trước nữa. Mọi người nhìn nàng khuất sau cánh cửa gỗ. Văn Bình đoán là gã thuyền trưởng kêu nàng lên hỏi cung. Sau nàng chắc chắn sẽ đến lượt những người khác. Chắc chắn là gã thuyền trưởng sẽ tìm đủ cách khám phá ra trong bọn ai là nhân viên C.I.A..

        Văn Bình chờ đợi không lâu. Độ nửa giờ sau, Côcô được áp giải trở về ca-bin. Tên thủỵ thủ hất hàm gọi Rita. Đợi tên thủy thủ ra khỏi ca-bin, Văn Bình hích cùi tay vào ngực Côcô, và hỏi nàng bằng giọng rất nhỏ song đủ nghe :
-    Thuyền trưởng hỏi cô những gì ?
Sau khi trông trước trông sau, nàng đáp :
-    Hắn hỏi em ai là Đôbin. Em đáp không biết. Hắn hỏi đi hỏi lại cả chục lần như vậy, em cũng đáp đi đáp lại cả chục lần hắn vẫn không tin. Sau đó hắn hỏi em có phải em gài lựu đạn vào máy truyền tin hay không, em liền bảo hắn là đồ ngu, hắn nổi giận toan đánh em, em sửng cổ thách hắn, chẳng hiểu sao hắn lại không dám làm dữ nữa. Hắn đổi sang giọng ngọt ngào, vỗ về em, xin lỗi em, rồi yêu cầu em tố cáo trong bọn mình ai là nhân viên C.I.A.. Không cần suy nghĩ, em nói ngay là Vích-ky. Em ghét thằng mập ấy nhất, em chỉ mong cho gã thuyền trưởng khệnh cho Vích- ky một chập.
-    Cô thù hắn là chuyện dĩ nhiên. Vì dầu sao hắn cũng đã giết cha cô.
-    Anh lầm.
-    Nghĩa là ông Fêlin không phải cha cô.
-    Không phải.
-    Vậy cô là... gì của Fêlin ?
-    Chẳng là gì hết.
-    Tại sao cô lại đi với Fêlin ?
-    Vì hoàn cảnh bất khả kháng.
-    Thế nào là hoàn cảnh bất khả kháng ?
-    Em không thể giải thích. Đúng hơn, trong hiện tình, em chưa thể giải thích, sau này anh sẽ rõ.
-    Tốt hơn cô nên giải thích ngay bây giờ.
Côcô nín lặng.
       Văn Bình ghé sát tai nàng, giọng khẩn khoản :
-    Thật ra cô là ai ?
Côcô đáp :
-    Rồi đây anh sẽ rõ.
-    Tôi xin chờ. Nhưng ngay từ bây giờ tôi cần biết cô có liên hệ ra sao với những quặng mỏ kim cương tìm thấy trong hành lý của Fêlin ?
-    Em có thể lấy danh dự nói với anh là em không có liên hệ.
-    Kể cả gói bạch phiến lậu ?
-    Vâng. Kể cả gói bạch phiến lậu.
-    Những vật này là của Fêlin ?
-    Hắn làm nghề buôn lậu ?
-    Có lẽ thế.
-    Cô gặp hắn tại đâu ?
-    Qui-tô. Ô kìa, em đã quyết định không nói, tại sao anh cứ tra hỏi em ? Vâng, em đã gặp hắn tại thành phố Qui-tô. Chẳng giấu gì anh, em ở trong danh sách những người hiện bị công an F.B.I. tầm nã. Em phải trốn xuống Nam-Mỹ. Em đã làm đủ nghề để sinh sống. Em ca hát, nhảy múa, làm đủ việc để kiếm tiền, Fêlin cần một người quen đường dẫn hắn lên vùng biên giới nên em đi theo, ngoài ra em chẳng được biết gì nữa.
-    Công an Mỹ truy nã em về tội gì ?
-    Tham gia hoạt động của một số tồ chức chính trị tả khuynh.
-    Cộng sản ?
-    Không, vả lại, anh không hiểu sâu thì hơn.
-    Fêlin đến vùng biên giới để làm gì ?
-    Em không biết, và em cũng không hỏi hắn. Hắn yêu cầu em làm hướng đạo và trả em một số tiền khá lớn nên em nhận lời.
-    Trả bao nhiêu ?
-    Một ngàn mỹ kim. Trong lúc này, một đô-la đối với em đã là quý giá, huống hồ hắn chi những một ngàn đô-la. Giá hắn chỉ trả em một vài trăm, em cũng đi ngay, không ngần ngại.
-    Fêlin đi đến đâu ?
-    Căn cứ 4Q.
-    Hắn gặp ai trong căn cứ ?
-    Em không biết. Vì khi đến vòng đai của trung tâm 4Q thì đột nhiên em bị sốt, chân em lại bị sưng vù vì dẫm nhằm gai độc
-    Cô có giầy tại sao lại đạp gai độc ?
-    Điều đó cũng làm em thắc mắc không ít. Nếu là gai nhọn thì phải là gai sắt mới có thể đâm xuyên qua đế giầy của em. Em đã kiểm soát lại và không thấy lỗ thủng nào do dùi nhọn gây ra cả. Tự dưng gan bàn chân em sưng vù và thâm tím, em không tài nào cất bước được nữa, em đành phải ở lại trên sườn núi.
-    Fêlin vào căn cứ một mình ?
-    Như em đã nói, em không hiểu hắn đi đâu nữa. Hắn dặn em chờ và em nằm trên tảng đá chờ hắn một đêm. Đến gần sáng hắn trở lại và vượt núi xuống thung lũng. Được nửa đường thì đụng phải anh.
-    Quặng mỏ kim cương và gói bạch phiến được cất trong túi hành trang từ khi nào ?
-    Khi Vích-ky khám phá ra em mới biết.
-    Tại sao Fêlin lại cải trang làm linh mục ?
-    Có lẽ để dễ di chuyển trong vùng. Hắn rất ít nói, và hay gắt gỏng song tâm địa rất tốt. Trong thời gian em ở bên hắn, hắn không hề có cử chỉ sàm sỡ. Luôn luôn hắn đối xử với em đúng đắn, đến nỗi nhiều khi em có cảm tưởng hắn là nhà tu thật sự. Em...

         Côcô ngưng bặt.

         Nàng ngưng bặt sau khi nhận thấy Vích-ky đang lắng tai nghe. Nàng nói rất nhỏ nhưng hắn vẫn có thể nghe được nếu hắn nín thở và tập trung tư tưởng. Văn Bình để ý đến Vích-ky từ nãy. Chàng biết hắn ngồi im, không cử động tay chân, lưng quay lại, song vành tai mở rộng, cố gắng thu những lời nói của Côcô vào thính giác. Chàng đã biết từ đầu đến cuối, biết mà vẫn thản nhiên như không. Chàng nghĩ rằng tấn tuồng đang diễn đến màn chót, chàng không cần tiếp tục thận trọng nữa.

       Lý do thứ hai khiến Côcô ngưng bặt là sự hiện diện của hai tên thủy thủ. Một tên ló đầu qua khung cửa ca-bin. Tên thứ hai vừa áp giải Rita về. Người được kêu lên thẩm cung kế tiếp là Vích-ky. Hắn cười mỉm ra vẻ thỏa mận khi được tên thủy thủ nắm vai áo kéo đứng dậy. Hắn không còn bị trói vào cột sắt nữa, nhưng hai bàn tay của hắn lại bị kẹp cứng trong cái mơ-nốt sáng loáng. Tàu đánh cá của GRU có khác ! Mọi dụng cụ cần thiết đều có đủ, kể cả xiềng chân và còng tay...

        Vích-ky vừa ra khỏi, Buru ngước mặt lên và nhăn răng cười. Hắn cười với Rita. Thấy Rita nghiêm trang, hắn liền quay ra cười với Văn Bình. Chàng cũng phớt tỉnh, hắn đành phải lên tiếng trước :
-    Chà, hai người nói chuyện ngon quá ta !
Côcô nhíu lông mày :
-    Nói chuyện gì mà ngon ?
-    Chuyện gì thì cô đã biết. Cô cũng nên biết thêm là Vích-ky đã theo dõi cuộc trò chuyện từ đầu đến cuối.
-    Còn anh ?
-    Tôi cũng vậy. Dầu sao, tai tôi cũng thính hơn tai nhiều người. Tôi đồng ý với cô là chúng ta nên loại trừ thằng khốn kiếp Vích-ky.
Rita chép miệng :
-    Anh chỉ nói mà không làm.
        Bị người đẹp mắng, Buru xịu mặt. Rita quay sang phía Văn Bình, nghiêm giọng :
-    Gã thuyền trưởng đã căn vặn em nhiều về anh. Thật ra em mới quen anh, và em đã khai với hắn như vậy. Nhưng hắn không tin. Hắn nghi anh phá nổ máy truyền tin. Hắn đang sai nhân viên ráp gấp một điện đài khác. Nghĩa là từ giờ đến chập tối, hắn sẽ có thể liên lạc được với trung ương của hắn. Và em tin là hắn sẽ hạ sát anh.

        Văn Bình đáp :
-    Hắn sẽ không hạ sát tôi đâu, cô đừng ngại. Nạn nhân của hắn sẽ là Vích-ky. Vì lẽ giản dị Vích-ky là đặc phái viên chính thức của C.I.A..
-    Cho dẫu Vích-ky là đặc phái viên C.I.A. chính cống, cũng chưa nguy hiểm bằng anh. Trung ương GRU sẽ hạ lệnh thủ tiêu anh đầu tiên. Nhưng anh ơi, đó chỉ mới là giả thuyết. Anh còn đóng kịch với em làm gì nữa ? Hơn ai hết. Anh đã biết Vích-ky có mặt trên con tàu đánh cá này không phải là nhân viên C.I.A..

         Văn Bình hơi giật mình. Thật ra, chàng đã đóng kịch, chàng cũng chẳng lạ gì những vai kịch mà các bạn đồng hành đang đóng với chàng, tuy nhiên, chàng đã đánh giá Rita quá thấp, chàng ngờ vực Rita song chàng không hề ngờ vực nàng là...

          Lời nói của Rita làm cả Buru lẫn Côcô bàng hoàng. Côcô trố mắt nhìn cô bạn gái tình địch. Buru vươn vai như muốn giật phăng những vòng dây ni-lông kiên cố.
         Rita bình thản nói tiếp :
-    Em nói đúng hay sai hả đại tá Văn Bình z.28 ?
Văn Bình đáp :
-    Tôi chưa thể trả lời là đúng hay sai vì sự suy luận của cô có vẻ tiểu thuyết quá.
-    Anh Văn Bình, chúng ta không còn thời giờ để tiếp tục tấn trò mèo vờn chuột vô ích này nữa. Anh đã biết Vích-ky chỉ là kẻ địch giả hiệu.
-    Trí tưởng tượng của cô hơn hẳn tôi nhiều bậc. Cô là ai ? Cô là ai mà quen Vích-ky ?
-    Em không hề quen cũng như anh không hề quen Vích-ky. Em rất ngạc nhiên về thái độ này của anh. Anh sợ hả ? Anh sợ trong số những người trong ca-bin này có vành tai của địch hả ? Dầu sợ, anh cũng chẳng còn lối thoát nào khác nữa. Lẽ ra em phải giữ im lặng đến phút chót, phút hạ màn. Nhưng em không thể ngậm miệng nhìn anh chết dưới tay gã thuyền trưởng hung bạo. Vì vậy, em phải nói, và em không ngần ngại nói hết sự thật, dầu em sẽ gặp hiểm nguy. Em là ai, rồi anh sẽ biết. Nhưng ngay từ phút này, anh phải thành thật đồng ý với em rằng Vích-ky không phải là đặc phái viên C.I.A. có nhiệm vụ đến căn cứ 4Q móc nối với kỹ sư Anbe Doarê.
-    Tại sao cô dám đoan quyết hắn là nhân viên C.I.A. giả mạo ?
-    Hừ... anh muốn điều tra em hả ? Thôi, để em nói hết, Vích-ky thật sự đeo vòng sơ-men ở cổ tay trái. Vích-ky giả mạo này cũng đeo đủ số vòng bạch kim ở cổ tay trái, nhưng... nhưng hắn lại quên một điều căn bản khiến người kém quan sát vẫn có thể phăng ra hắn đội lốt. Vích-ky chính hiệu chuyên đeo đồng hồ ở cườm tay phải, vòng sơ- men ở cườm tay trái, vì vậy trên cườm tay trái không thể nào có một vệt trắng. Nam-Mỹ là xứ nắng quanh năm, đeo đồng hồ vài ba ngày là nơi đeo trắng hếu trong khi da tay nâu sẫm. Nếu hắn là Vích-ky giả hiệu, vệt da trắng hếu chỉ có thể có trên cườm tay phải, đằng này hắn lại có trên cườm tay trái. Giờ đây, anh đã hoàn toàn đồng ý với em chưa ?

        Văn Bình nín thinh. Không cần Rita giải thích, chàng đã biết. Chàng đã biết ngay từ khi gặp Vích-ky (giả hiệu) gần căn cứ 4Q. Nhưng chàng giả vờ không biết để theo dõi hành động của hắn, chờ đến phút chót mới ra tay.
        Giọng Rita vẫn đều đều như tiếng mục sư trên tòa giảng :
-    Anh ghê gớm lắm, anh qua mặt được Vích-ky chứ đừng hòng qua mặt em. Anh đã phăng ra chân tướng của Vích- ky nên mới chủ tâm xô tên hoa tiêu ra khỏi trực thăng trong khi bay, đến khi đáp xuống thì tìm đủ cách loại trừ tên hoa tiêu mặc dầu Vích-ky tìm đủ cách che chở. Chẳng qua anh chặt lông, chặt cánh của Vích-ky. Hắn tưởng anh lỡ tay, nhưng em, em đã thấy rõ là anh cố tình. Tội nghiệp cho gã Vích-ky giả hiệu dại dột....

        Lời nói của Rita đưa Văn Bình đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chàng ngạc nhiên vì nàng đã nói đúng, rất đúng, đúng đến nỗi chàng không còn giiữ được bình tĩnh nữa. Dầu nàng là ai, nàng vẫn là đối thủ đáng gờm của chàng. Nàng là nhân viên điệp báo đồng minh hay là nhân viên GRU, Quốc Tế Tình Báo sở, chàng cũng lo ngay ngáy.

        Vì nàng đã có cặp mắt thông thiên nhìn thấu bề sâu ruột gan chàng...
        Nàng chưa chịu buông tha Văn Bình. Chàng còn bối rối thì nàng đã nói tiếp :
-    Anh giết hai tên phi công với hai mục đích rõ rệt. Thứ nhất, chặt lông, chặt cánh của Vích-ky; thứ hai, quan trọng hơn, là ngầm hại hắn. Hắn không biết mật khẩu liên lạc với thuyền trưởng, vì đã có hai tên phi công. Vì nguyên tắc an ninh, thuyền trưởng chỉ có nhiệm vụ liên lạc với kẻ nào nói trúng mật khẩu. Hai tên phi công bị chết, Vích-ky trở thành bơ vơ, tính mạng hắn cũng bị đe dọa không kém tính mạng mọi người. Hắn không còn cách nào khác ngoài cách xuất đầu lộ diện, công khai tuyên bố là nhân viên GRU. Vì Buru phá quấy, Vích-ky bị ăn đòn đau, nhưng sớm muộn gã thuyền trưởng sẽ tin hắn. Ý em đã quyết, còn anh, anh tính sao?

       Văn Bình chỉ đáp bằng cái nhún vai. Chàng không thể nói thành tiếng vì hai tên thủy thủ khác vừa dõng dạc kêu tên chàng :
-    Đại tá Z.28.

Buru và hai người đàn bà đều nhìn chàng, vẻ mặt lo sợ. Nhưng chàng vẫn thản nhiên như không. Tên thủy thủ cầm súng bước vào ca-bin hất hàm với Văn Bình :
-    Ông là đại tá Văn Bình ?
-    Không phải.
Tên thủy thủ quay sang hỏi Buru :
-    Ông này chính là đại tá Văn Bình ?
Buru trề môi:
-    Thằng mập Vích-ky nói láo. Trong bọn chúng ta không có ai là đại tá, và không có ai mang tên Văn Bình cả.
Tên thủy thủ ngẫm nghĩ một phút rồi chỉ Văn Bình :
-    Ông này theo tôi.

         Văn Bình ngoan ngoãn đứng dậy. Chàng nhận thấy tia mắt của Rita vụt sáng. Dường như nàng đang tìm cách ra hiệu cho chàng. Có lẽ nàng nghĩ rằng nếu muốn áp đảo đối phương trên tàu đánh cá thì đây là cơ hội thuận lợi nhất. Hai gã thủy thủ đều được  trang  bị súng tiểu liên nhưng ở trong ca-bin chật chội, những dụng cụ giết người tân tiến này trở nên kềnh càng bất tiện. Hơn nữa, chàng không tin đối phương là nhà thiện xạ. Trong trường hợp phản công, chàng có thể hành động nhậ lẹ, và nhất là hành động thật lặng lẽ. Chàng chỉ cần vung tay, hai phát atêmi trúng yết hầu sẽ đưa hồn hai tên thủy thủ xuống địa ngục.

          Rồi với hai khẩu tiểu liên và băng đạn còn đầy, chàng dư sức chế ngự gã thuyền trưởng và bọn thuộc viên. Đó là chưa nói đến khẩu tiểu liên thứ nhì mà một trong ba người, Buru, Rita hoặc Côcô có thể xử dụng để triệt hạ phe địch.

         Tuy vậy, chàng vẫn ngoan ngoãn đứng dậy. Chàng không tỏ cử chỉ nào khiến Rita có thể hiểu lầm là chàng cướp súng. Vì chàng muốn chờ đợi thêm một thời gian nữa. Chàng phải gặp gã thuyền trưởng và chạm mặt Vích-ky.

       Con tàu đánh cá sô viết trông vỏ ngoài nhỏ nhắn, tưởng gặp sóng lớn là đắm, nhưng bên trong lại khá rộng rãi, kiên cố, và được thiết trí đầy đủ tiện nghi tân tiến. Ca-bin riêng của thuyền trưởng phía sau phòng máy dầu cặn không thua kém phòng ngủ hạng nhất trên tàu biển thương mãi là bao: về kích thước nó rất hẹp, song so sánh đồ đạc nó lại không thiếu thứ gì, từ cái giường xếp mở lật vào vách tàu đến cái bàn làm việc xinh xắn trên đặt một số máy móc điện tử. Một thủy thủ đội ca-lô trắng đang cặm cụi với đống bộ phận rời của máy truyền tin. Văn Bình liếc nhìn và nhận thấy công cuộc gắn ráp của hắn sắp hoàn thành. Trong một giờ đồng hồ nữa, thuyền trưởng sẽ có thể liên lạc điện đài với trung ương GRU ở Mạc-tư-khoa.

          Thời tiết chỉ thoáng đẹp được một lát rồi xấu lại như cũ. Những tảng băng khổng lồ nâng con tàu lên cao trong khi gíó lớn thổi vù vù. Chàng phải vịn lan can tàu mới giữ được thăng bằng trên sàn gỗ tròng trành.

         Thuyền trưởng ngồi dựa vào vách, miệng ngậm điếu xì-gà Ha-van lớn bằng ngón chân cái. Vích-ky đã được mở còng, vẻ mặt hớn hở. Thấy chàng vào, Vích-ky đứng dậy, giọng ngọt ngào :
-    Chào anh bạn đại tá Z.28. Anh bạn đã biết tôi là Vích-ky giả hiệu. Bọn anh tìm đủ mọi cách phỉnh gạt thuyền trưởng, nhưng giờ đây tôi đã nắm chủ động, thuyền trưởng đã tin tôi. Anh đã chịu thú nhận anh là Z.28, nhân viên C.I.A. chưa ?
        Văn Bình cười nhạt:
-    Tôi có hai điều cần xác định. Thứ nhất, Z.28 không phải là nhân viên C.I.A. mà là cộng sự viên thân cận của ông Hoàng, tổng giám đốc sở Mật Vụ Nam Việt. Thứ hai, tôi không phải là Z.28 chính cống. Mà là Z.28 giả hiệu. Cũng như anh là Vích-ky, nhân viên giao liên C.I.A. giả hiệu vậy.

          Vích-ky chồm dậy nhưng thuyền trưởng đã vung tay cản hắn lại. Vích-ky hậm hực ngồi xuống. Thuyền trưởng nghiêm giọng nói với Văn Bình :
-    Ông Z.28, ông đừng hòng lừa tôi. Tôi đã biết rõ ông là nhân viên C.I.A.
-    Ông đã biết rõ thì còn hỏi tôi làm gì nữa ?
-    Để ông tự ý cung khai. Vì nhân đạo, tôi không muốn áp dụng những phương pháp khác.
-    Chẳng hạn tra tấn ?
-    Dĩ nhiên. Hẳn ông đã đoán biết con tàu đánh cá này chính là một khoái đỉnh trang bị dụng cụ truyền tin điện tử và võ khí bí mật của hải quân sô viết.
-    Ông khỏi phải dạy. Thuộc viên của tôi chỉ có 13 người nhưng người nào cũng am tường nghệ thuật tra tấn. Nếu ông không chịu nói, chúng ta sẽ tiếp tục tra tấn đến chết. Biển rộng mênh mông, vứt ông xuống thì trong chốc lát ông sẽ tan thành nhiều mảnh và chui gọn vào bụng cá, cho dẫu xác ông còn nguyên thì cũng không đời nào tìm thấy.

          Văn Bình không đáp vì vành tai chàng vừa nhận được một âm thnh quen thuộc. Đó là tiếng máy bay. Mặc dầu phi cơ còn xa, tiếng gió và tiếng sóng lại mạnh, chàng vẫn nghe rõ mồn một như chàng đang đứng giữa phi trường. Có lẽ vì tiếng động cơ máy bay lúc này là tia hy vọng cuối cùng trên đại dương bao la nên nó vang dội thật lớn.

         Gã thuyền trưởng cũng nghe tiếng máy bay như chàng. Hắn ra lệnh như quát cho tên cận vệ cầm súng lăm lăm đứng án ngữ bên cửa ca-bin :
-    Bảo chúng nó kiểm soát lại xem trên boong đã được ngụy trang chu đáo chưa ? Cẩn thận đấy, có lẽ là máy bay địch.

          Tiếng phi cơ mỗi lúc một gần, và càng bay đến gần, phi cơ càng hạ thấp. Chắc hoa tiêu đã nhìn thấy con tàu đánh cá lẻ loi. Nếu là phi cơ C.I.A. tất hoa tiêu phải bay lượn trên tàu và liên lạc vô tuyến với người trên tàu. Hệ thống liên lạc vô tuyến của tàu đánh cá đã bị tê liệt, hoa tiêu sẽ nghi ngờ và sẽ báo cáo về đất liền để xin chỉ thị...

          Và thuyền trưởng không còn cách nào khác ngoài cách thủ tiêu chàng cho phi tang....

          Nếu muốn thoát chết, chàng phải phản công ngay từ bây giờ. Tên cận vệ cõ trang đã trèo lên boong trên, trong ca- bin chỉ còn gã thuyền trưởng và Vích-ky. cả hai đều giỏi võ, tuy nhiên, chàng tin tưởng là có thể đoạt phần thắng trong trận đấu xáp lá cà.

         Vích-ky đã đọc được ý định lật ngược thế cờ trong cặp mắt sáng rực của chàng nên vội bước lại. Một đợt sóng lớn bằng ngôi nhà hai tầng xô vào mạn tàu. Con tàu đánh cá mảnh khảnh lạng sang bên, Vích-ky không quen hoạt động trên mặt nước nên bị mất thăng bằng, suýt nữa ngã chúi vào người gã thuyền trưởng.

        Văn Bình bèn phóng bàn chân trái, đồng thời xỉa năm ngón tay ra đằng trước. Vích-ky hốt hoảng gồng cánh tay lên đỡ. Trong cơn hấp tấp, hắn không kịp quan sát thế đánh hiểm độc của Văn Bình. Chàng chỉ đánh dưới thượng bộ, còn đòn chính được tập trung vào bàn chân trái. Sàn tàu nghiêng gần 45 độ nên ngọn cước của Văn Bình không  hoàn toàn trúng đích. Chàng chỉ có thể làm bắp chân của hắn tê liệt trong chốc lát.

       Vích-ky khuỵu xuống. Chàng không còn thời giờ tiếp tục đối phó với hắn nữa vì gã thuyền trưởng đã rút súng khỏi túi áo. Mặt biển chuyển động mạnh mẽ song hắn vẫn giữ được quân bình như đang ngồi trong ghế xa-lông phòng khách. Cử chỉ lấy súng của hắn có vẻ nhanh nhẹn và gọn gàng, điều này chứng tỏ hắn có khả năng và kinh nghiệm tác xạ, nếu hắn lảy cò, chàng sẽ khó có hy vọng thoát chết.

        Ngọn cước thần tốc chân phải, Văn Bình để dành cho gã thuyền trưởng. Hắn chưa nắm chặt khẩu súng Tôkarếp đen sì trong lòng bàn tay kếch xù thì đòn chân của Văn Bình đã vèo tới. Hắn né không kịp, khẩu súng bị đá văng vào cái máy truyền tin đang được ráp dở trên bàn. Tên thủy thủ ngồi sau bàn cũng rút súng. Nhưng hắn đã phản ứng quá muộn.

        Gã thuyền trưởng rút súng nhanh như điện xẹt mà còn bị Văn Bình hóa giải dễ dàng, huống hồ tên thủy thủ chậm nhự rùa bò. Trước khi rút súng, hắn đẩy lùi cái ghế sắt ra sau để khỏi vướng, nghĩa là hắn đã dại dột để mất một phần mười giây đồng hồ, hắn lại để mất thêm một phần mười giây khác với khẩu súng mắc kẹt trong bao vải đeo dưới nách, và thời gian rềnh ràng này của hắn đã quá đủ cho Văn Bình tống vào mặt hắn một trái thôi sơn, du hồn hắn vào giấc ngủ mê man.

         Hai địch thủ của chàng là Vích-ky và gã thuyền trưởng chỉ mới bị hóa giải, chứ chưa bị triệt hạ. Vích-ky đáng ngại hơn vì hắn là điệp viên hành động chuyên nghiệp, số vốn võ thuật của hắn cũng khá phong phú. Muốn loại hắn ra khỏi vòng chiến, Văn Bình phải tốn phí nhiều cố gắng.

         Vì vậỵ, chàng phải đánh gục gã thuyền trưởng trước. Và chàng phải đạt mục đích thật nhanh, nếu không Vích-ky sẽ có thể can thiệp.

        Gã thuyền trưởng còn loạng choạng, mắt tóe đom đóm thì Văn Bình đã chém cạnh bàn tay vào cổ. Hắn né sang bên, song phát atêmi của Văn Bình vẫn rớt trúng khớp xương vai. Miếng đòn trời giáng của chàng đã làm gân vai của hắn đứt lìa. Hắn ngã lộn vào vách tàu, miệng chỉ kịp kêu "ối" một tiếng ngắn. Thoạt gặp hắn, Văn Bình đinh ninh hắn rất giỏi võ, nhưng đến khi so tài, chàng mới rõ hắn chẳng biết gì hết, ngoài cái thân hình chắc nịch và nắm tay to tướng tưởng như có thể đấm nát sọ dừa của đương kim vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới. Gã thuyền trưởng chưa chết, nhưng vết thương bại liệt này đã biến tay chân hắn thành những khúc cây bất động. Trừ phi hắn có phép hô phong hoán vũ, hắn mới có thể khuất phục được Văn Bình.

         Hạ xong gã thuyền trưởng, Văn Bình dồn hết sức lực vào phát atêmi bằng đầu ngón tay vào ngực Vích-ky. Một cuộc đấu atêmi kinh khủng diễn ra giữa hai cao thủ nhu đạo.

       Trước đó mấy phút, sóng gió cũng đã diễn ra hãi hùng trong ca-bin ở gần mũi thuyền, nơi Côcô, Rita và Buru bị canh giữ. Ngoài trời, trên boong tàu được phủ kín bằng lưới đánh cá ngụy trang, và ở mạn tàu đầy vết tàn phá loang lỗ của trận bão vừa qua, những đợt sóng lớn mỗi phút một lớn thêm ào ào kéo tới, tiếng sóng ào ào hòa trộn với tiếng gió ào ào, tạo ra hàng chục, hàng trăm âm thanh quái dị khiến người cứng bóng vía cũng bủn rủn.

       Cơn giận dữ của thần Hà Bá đã giúp cơ hội cho Buru châm ngòi phản công thắng lợi. Côcô và Rita vẫn ngồi trên ghế. Ngoài cửa ca-bin, một tên thủy thủ cầm tiểu liên đứng gác. Bọt nước bắn rát, hắn quay mặt vào trong ca-bin vẫn không tránh khỏi những tia li ti buôn buốt. Hắn đành cúi gập mặt xuống ngực và kéo xụp mũ kết. Hắn quên bẵng trong giây phút, nhiệm vụ canh phòng tù nhân.

       Buru lặng lẽ nhìn Côcô. Trong lúc ấy Rita cũng choàng dậy. Nàng tỉnh khô như thể chưa bao giờ nàng mỏi mệt. Nếu có Văn Bình ở đó, chàng sẽ tưởng nàng vừa được chích thuốc khỏe đặc biệt hoặc nàng đã giả vờ mỏi mệt. Rita mấp máy đôi môi ra hiệu cho Buru. Và Côcô chỉ ngón tay ra cửa ca-bin.
Những cử chỉ thầm lặng của ba tù nhân trong ca-bin như có chất điện làm tên thủy thủ giật bắn người.
Nhưng hắn đã để tuột khẩu tiểu liên xuống sàn tàu. Giá không có cảnh sóng gió ồn ằo điếc tai thì tiếng kêu của khẩu súng nặng nề có thể báo động toàn thể thủy thủ. Thành thử ra tiếng kêu thật lớn mà chỉ như tiếng động của cây tăm tre rớt xuống nền gạch. Buru thường ngày chậm chạp, vụng về, vậy mà khi cần triệt hạ đối thủ nhanh nhẹn và giỏi dắn, hắn lại tỏ ra nhanh nhẹn và giỏi dắn không thua các võ sĩ thượng thặng về khinh công.

        Hắn bay vụt ra cửa ca-bin nhẹ nhàng như chiếc lá bay. Tên thủy thủ chỉ biết bị Buru tấn công sau khi đánh tuột khí giới và lãnh cú đá ác liệt vào mạng mỡ. Buru đá mạnh đến nỗi nạn nhân ngã lộn ra sau hai vòng như diễn viên đu bay trong rạp xiếc, không kịp kêu cứu. Hắn cũng không kịp đứng dậy nữa vì sức cuốn của trận cuồng phong trên biển rộng, cộng với sức đẩy của ngọn cước katatê, đã xô luôn hắn xuống biển. Hắn chới với, toan bám lấy mạn tàu song sức người có hạn, không thể cưỡng lại sức thiên nhiên, và trong chớp mắt hắn đã biến dạng dưới làn nước xanh đục.

         Buru lượm khẩu tiểu liên nhảy lên boong. Hai cô gái vọt theo. Những vòng dây trói trên mình Buru đứt rơi lả tả. Thì ra hắn giã vờ. Hắn đã thủ sẵn lưỡi dao bén, chờ cơ hội thuận tiện cắt đứt dây thừng ni-lông, rồi cầm đầu cuộc phản công chiếm đoạt chiếc tàu đánh cá gián điệp sô viết.

        Thủy thủ đoàn gồm trên 10 thì phần đông bận việc tíu tít ở tầng dưới và trong phòng máy. Bởi vậy, ba người không gặp trở ngại nào trên đường đến phòng máy, tọa lạc gần ca-bin của thuyền trưởng.
Đám thủy thủ đang tập trung sự quan sát vàọ các bộ phận điều khiển tàu. Khác với tàu đánh cá thông thường, loại tàu gián điệp trá hình này được điều khiển hầu như bằng máy. Buru đếm bằng mắt được cả thảy 7 tên. Hắng nâng miệng súng tiểu liên ngang ngực, giọng nhỏ đủ nghe song vẫn làm mọi người giật mình :
-    Giơ tay lên đầu, các cha nội !
          Cả bọn líu ríu tuân lệnh. Ngoại trừ tên già nhất, cho lẽ là chỉ huy trưởng phòng máy, râu ria xồm xoàm, cánh tay để trần xâm tràm loạn xạ, hai má hóp đầy thẹo ngang thẹo dọc, chứng tích của nhiều năm tháng giang hồ anh chị. Hắn giơ tay một cách chậm chạp như cố tình khệnh khạng để ước lượng tình thế.
Buru bước lại, thét vào tai hắn :
-    Muốn ăn đạn hả ?
         Tên râu xồm quay nửa người lại, bàn chân khèo cho Buru mất thăng bằng. Hắn không ngờ Buru đã tính trước nên tránh đòn không mấy khó khăn. Và Buru không trả lời bằng tiếng quát hoặc bằng đòn bá súng. Mà là bằng đạn chì.

        Đẹt một tiếng, viên đạn bay khỏi nòng, xuyên qua hông, trúng tim nạn nhân. Tên râu xồm chỉ huy phòng máy rịm người xuống, hai bàn tay xòe ra như thể cầu thủ khuôn thành đang rình bắt gắn quả da.
Rồi hắn xỉu luôn.
        Những tên thủy thủ còn lại không dám nhúc nhích. Rita hỏi Buru :
-    Lấy giây trói họ lại nhé ?

         Buru lắc đầu. Hắn ra lệnh cho nàng đứng tránh ra, rồi vẻ mặt tỉnh bơ, hắn lia một loạt đạn. Bọn thủy thủ ngã rạp như trái chín rụng. Buru giết người một cách chóng vánh và tàn nhẫn khiến ai nhìn thấy cũng bàng hoàng. Dường như hắn đã quen giết người nên đống xác nóng hổi lần lượt nằm chồng chất lên nhau không làm hắn mảy may xúc động.

        Con tàu tròng trành sang tả, sanh hữu dưới vòm trời thấp, mây xám và sương mù che kín. Buru giao một khẩu súng cho Rita rồi dặn :
-    Cô đứng gác ở cầu thang.
Côcô tự ý cầm lấu khẩu tiểu liên dựng sát vách tàu, và lên đạn kêu soạch. Nàng nói:
-    Anh cùng đi với cô Rita, còn tôi cứu đại tá Văn Bình.
       Buru gạt phắt:
-    Không được. Vích-ky và gã thuyền trưởng rất giỏi võ. Gã thuyền trưởng lại có súng. Cô nhường việc này cho tôi. Từ tầng dưới lên boong, có hai cầu thang, mỗi cô nên chặn một lối. Hễ đứa nào ló mặt ra là bắn chết, đừng tình cảm vụn vặt mà hỏng việc.

        Nói đoạn, hắn xăm xăm bước về phía ca-bin riêng của thuyền trưởng.

        Tiếng động cơ máy bay nồi lên từ xa, trong khoảnh khắc lấn át tiếng gió gào, sóng réo. Buru ngẩng đầu nhìn nền trời đùng đục. Hắn không thấy phi cơ. Nhưng hắn biết chắc là phi cơ đang từ đất liền bay tới.
Mặt hắn đang tươi cười bỗng sa sầm. Nhưng hắn lại nhoẻn miệng cười. Diện mạo hắn xấu xí như khỉ đột nên cái cười vui vẻ của hắn tạo ra cảm tưởng là hắn đang mếu.

         Buru vướng mũi giầy trong lưới cá. Hắn cúi xuống gỡ. Khi đứng dậy, hắn suýt đụng phải tên cận vệ vừa từ ca-bin của thuyền trưởng phom phom chạy tới.

         Tên cận vệ phải vẹo người mới tránh khỏi chạm vai. Thoạt tiên, tên cận vệ tưởng Buru là bạn đồng nghiệp. Nhưng hắn chỉ lầm trong một phần trăm phút đồng hồ. Hắn hạ khẩu súng đeo trên cai xuống, miệng hỏi:
-    Đi đâu ?

         Buru quật nòng tiểu liên vào cổ tên cận vệ. về chiều cao cũng như về sức nặng, Buru không thể so sánh cân xứng với đối thủ, nhưng cách né đòn trái khoáy của tên cận vệ chứng tỏ bọn thủy thủ chỉ là khổng lò đất sét. Nòng súng thép nằm gọn trên yết hầu tên cận vệ, hắn rú ằng ặc rồi ngã khuỵu.

         Sau khi hạ thủ tên cận vệ, Buru sồng sộc chạy vào ca-bin thuyền trưởng. Tuy có súng trong tay, hắn không dám can thiệp vì Văn Bình và Vích-ky đang quấn chặt lấy nhau, vị trí mỗi người thay đổi luôn luôn trên sàn tàu rập rình, viện đạn có thể trật mục tiêu. Bởi vậy, hắn vừa nâng súng lên ngắm vội bỏ xuống. Hắn ngây người theo dõi cuộc quần thảo ác liệt giữa hai người.

        Văn Bình đã dồn được Vích-ky vào góc. Trên sàn ca-bin, gã thuyền trưởng và tên cận vệ đang nằm co quắp, Vích-ky áp lưng vào võ tàu, toàn thân hơi hạ xuống, hai tay vươn ra, mông quặp vào phía trong như móng chim ưng. Hắn đang vận dụng phép ưng cầm thủ để chống lại cuộc tấn công bén nhọn của Văn Bình.

         Mới đầu Buru tỏ vẻ ngạc nhiên vì Văn Bình và Vích-ky đều xuất thủ họặc đỡ đòn rất chậm. Chậm như thể đùa bỡn. Chậm như thể hai người đã kiệt sức. Nhưng sau một vài giây đồng hồ quan sát, Buru không dám khinh nhờn nữa. Cả hai có thế đánh rất chậm nhưng rất lợi hại.

        Vì họ không đấu bằng quyền mà là bằng chưởng, cả hai đều vận kình lực lên tay để móc mắt, bóp cổ đối phương. Đột nhiên Văn Bình quật cánh tay trái vào trung bộ của Vích-ky. Tuy là quật cánh tay nhưng đòn lại đánh ra nhẹ nhàng. Vích-ky nâng cánh tay lên đỡ, và hắn cũng đỡ nhẹ nhàng. Hai cánh tay vẫn ghìm nhau, mặt Vích-ky dần dần đỏ bừng, hắn thở phì phò như kéo bễ, bồ hôi chảy đầy trán.

      Thì ra cả hai đang "ăn thua đủ" với nhau bằng phép tha-thủ. Thế đánh này hết sức giản dị, thoạt nhìn tưởng như bất cứ ai cũng thực hành được. Nhưng, tri dị hành nan, trong hàng vạn môn sinh của trường võ, nhiều lắm là hai, ba người đạt tới trình độ hữu hiệu của tha-thủ pháp. Căn bản của phép thạ-thủ là tấn công và phòng vệ bằng kình lực, chuyển kình lực vào cánh tay mình ép cho cánh tay đối phương xụp xuống. Trong trường hợp đối phương ráng sức kháng cự, xương tay có thể bị dập nát. Và không riêng gì xương tay, tạng phủ cũng có thể bị rung chuyển dữ dội, và nạn nhân sẽ gục chết, ngoài da không thấy một vết thương nhỏ, song tim, phổi, gan, ruột bị rách toang, những đường dây thần kinh hoàn toàn bị tê liệt.
Phép tha-thủ là một trong những phép bí truyền của môn phái Võ Đang ở Trung Hoa. Văn Bình là cao thủ về ngạnh công - một bộ môn làm cho da thịt võ sĩ cứng rắn như sắt - lại ham trau dồi nghệ thuật nên đã cất công sang tận Trung quốc, mày mò tìm đến một hòn núi nhỏ ở miệt Tây-Nam để học hỏi bí quyết chân truyền về ngạnh công của phái Võ Đang. Tục truyền sư tổ của phái Võ Đang là Trương Tam Phong, họ Trương cũng thuộc đại phái Thiếụ Lâm mà ra, song lại chuyên về kình lực trong khi Thiếu Lâm chuyên về quyền cước. Núi Võ Đang tọa lạc trong Hồ Bắc, mấy chục năm chiến tranh liên tục làm cho đường sá nhiêu khê, hiểm trở, Văn Bình không thể đến tận nơi; tuy nhiên, chàng lại có cơ hội may mắn gặp được một người cháu thuộc hàng chút chít của võ sĩ Trương Tùng Khê. Trương Tùng Khê là một trong các đồ đệ của Trương Tam Phong, nổi danh về ngạnh công và tha-thủ pháp. Cuộc tao ngộ này đã giúp Văn Bình đạt được tiến bộ nhanh chóng và vững chắc trong nghệ thuật ngạnh công và trong nhiều năm đã thành vô địch.

         Điều làm chàng ngạc nhiên không ít là Vích-ky lại am hiểu ngạnh công không thua các võ sự Võ Đang chân truyền. Hắn cũng ngạc nhiên như chàng, song sự ngạc nhiên này không hiện được trên mặt vì thần sắc hắn đã thay đồi hoàn toàn, hơi thở hồng hộc của hắn đã chuyển qua khò khè và đứt quãng.
Vích-ky lùi sát vách tàu, chân rùn xuống, cánh tay phải lớn như thân cây chuối nồi gân cuồn cuộn, mạch máu căng cứng như muốn phá tung làn da nâu để nhảy ra ngoài. Trong những giây đồng hồ đầu tiên, tay hắn đè tay Văn Bình nghiêng tréo. Thắng lợi sơ khởi này làm hắn phấn chấn, hắn vận hết hơi sức vào gân tay, đè mạnh thêm nữa, mạnh thêm nữa.

       Hắn tin tưởng tài tha-thủ của hắn trội hơn Văn Bình và hắn chỉ cần nhấn mạnh thêm nữa là phần thắng chắc chắn sẽ đến với hắn. Hắn có đủ lý do để hy vọng và tin tưởng, vì trông mã ngoài, hắn to con hơn Văn Bình: làn da đồng hun của hắn chứng tỏ hắn quen với mưa nắng và tập luyện thường trực, làn da của Văn Bình cũng nhuộm màu nâu, song lại màu nâu quí phái của người thừa tiền chỉ biết nằm dài tắm nắng trên bãi biển.

       Nhưng Vích-ky biết một mà không biết hai. Hắn giỏi tha-thủ nhưng chưa biết rằng một số ít võ sư tha-thủ thuyết luân có tài hút sức lực của đối phương. Văn Bình giả vờ đuối sức để lừa Vích-ky gia tăng sức lực. Chàng chờ hắn gia tăng sức lực tối đa mới quật ngược lại. Như trái bóng liệng vào tường, càng liệng mạnh bao nhiêu thì nó càng dội ra xa bấy nhiêu. Vích-ky gia tăng sức lực tối đa nhưng không điều động được nó vì Văn Bình đã "dĩ độc trị độc" dùng sức lực của Vích-ky để hại Vích-ky.

         Mặt Văn Bình vẫn không xuy xuyển, mặt chàng vẫn phát ra tia sáng ngạo nghễ pha lẫn rí rỏm, miệng chàng vẫn cười mĩm. Vích-ky không dám ngó chàng nữa, hắn phải cúi đầu xuống để vận khí. Nhưng như nước sông chảy ra biển, chảy nhiều đến mấy cũng bị đại dương thu gọn, hắn càng vận khí, thân thể và tâm thần hắn càng kiệt quệ. Văn Bình hừ một tiếng nhẹ, Vích-ky bị xô bắn vào vách tàu. Hắn loạng choạng rồi ngã mọp, miệng hộc máu tươi.

         Văn Bình đã nhìn thấy Buru nhưng không nói gì hết. Buru cũng khựng người như bị sét đánh. Tài tha-thủ độc nhất vô nhị của Văn Bình làm hắn bàng hoàng. Hắn đã biết Văn Bình là cao thủ nội công, song hắn không ngờ chàng lại có thể triệt hạ một võ sĩ có hạng như Vích-ky dễ dàng đến thế.

         Nằm dài trên nền ca-bin, Vích-ky vẫn tuôn máu miệng ồng ộc. Tuy còn sống, gã thuyền trượng cũng chỉ còn là đống xương thịt mễm nhũn, sống không khác chết là bao. Văn Bình không thèm quan tâm đến tiếng than van của gã thuyền trưởng. Chàng cúi xuống hỏi Vích-ky:
-    Anh giết hắn ?

        "Hắn" là Vích-ky thực thụ, nhân viên giao liên C.I.A., người đeo vòng sơ-men kỳ cục, Văn Bình không nói rõ, nạn nhân nằm trên sàn tàu cũng đã biết rõ ý nghĩa của câu hỏi ngắn ngủi. Hắn gật đầu :
-    Hắn ngu như bò. Hắn chết là chuyện dĩ nhiên.
-    Anh giết hắn tại đâu ?
-    Bên ngoài căn cứ 4Q.
-    Bắn lén ?
-    Hừ, anh đừng vội khinh tôi. Tôi thua anh thật đấy, song về tư cách chưa chắc ai hơn ai. Hắn đang trèo núi thì đụng phải tôi. Hắn không thiếu can đảm song tài nghệ của hắn lại quá thấp kém nên tôi chỉ mất vài phút đồng hồ để bịt miệng hắn.
-    Anh là sĩ quan GRU ?
-    Trung tá hiện dịch. Tên thật tôi là Svốp. Theọ nguyên tắc, tôi không được phép cho người lạ, nhất là kẻ địch, biết được tên thật của tôi. Nhưng tôi đang hấp hối. Trúng đòn tha-thủ của anh, tôi khó có hy vọng sống sót. Nếu anh truyền kình lực cho tôi, tôi có thể phục hồi được một phần nguyên khí nhưng trong trường hợp này, tôi vẫn bị thương tật suốt đời, người ham hoạt động như tôi mà phải sống trên giường, trong căn phòng kín, ăn uống phải có người đút thì chết sướng hơn... Vì thế, tôi yêu cầu anh đừng truyền kình lực cho tôi nữa... Trong nghề gián điệp này, chúng ta không tha kẻ địch song một khi kẻ địch bị thua, chúng ta không thể có cử chỉ tàn nhẫn. Nhân danh trung tá Hồng Quân, tôi yêu cầu anh....
-    Nếu đó là lời yêu cầu về phương diện nhân đạo, tôi xin sẳn sàng.
-    Tôi sẽ cho anh biết một tin quan trọng, vô cùng quan trọng, nếu anh cam kết làm tròn công việc sau đây.
-    Anh cứ nói đi.
-    Tôi phục vụ cho cơ quan GRU ở châu Mỹ la-tinh từ 6 năm nay và mới được thuyên chuyển đến Qui-tô 8 tháng nay, tôi tứ cố vô thân, tại Liên Sô tôi không còn ai, cha mẹ đã mất sớm, anh em cũng thất tán. Tôi chỉ có một người thân, rất thân sống tại Qui-tô. Người ấy sẽ lâm vào cảnh túng thiếu sau khi tôi chết.
-    Anh cần tôi săn sóc cho người ấy phải không ? Anh yên tâm, tôi xin long trọng cam kết với anh. Anh muốn tôi trao cho người ấy bao nhiêu tiền ? Bao nhiêu tiền tôi cũng không từ chối... Nếu tôi không có đủ, tôi sẽ liên lạc với C.I.A..
-    Không nên. Chuyện này cần được giữ kín giữa anh và tôi. Vì liên lạc với C.I.A. sẽ bị lộ. Điệp vụ do C.I.A. ủy thác cho anh đã được phúc trình cho chúng tôi. Cho nên chúng tôi đã biết rõ đường đi nước bước của anh.
-    Hiện tôi có trên dưới năm chục ngàn đô-la...
-    Tôi không đòi một số tiền lớn hơn thế. Xin anh đưa tận tay người ấy ba chục ngàn. Vâng, ba chục ngàn cũng quá đủ rồi. Trước khi từ giả cõi đời, tôi xin cám ơn anh.
-    Người ấy là đàn bà ?
-    Phải. Người yêu của tôi. Chúng tôi dự định làm lễ thành hôn sau khi tôi quay về Qui-tô. Địa chỉ của nàng được ghi trên mảnh giấy để trong bóp phơi của tôi.
-    Hình dáng nàng ra sao ?
-    Trong bóp-phơi có cả ảnh của nàng. Thôi chào anh... À, còn cuộn băng nhựa của kỹ sư Anbe Doarê....
-    Anh có thể nhường cuộn băng nhựa cho tôi được không ?
-    Người yêu của tôi được anh giúp đỡ thì xả thân tôi cũng không tiếc huống hồ chỉ là một cuộn băng mật mã. Tôi rất muốn tặng anh món quà này để anh khỏi phải trở về tay không, nhưng đáng tiếc là...
-    Nó đã bị mất ?
-    Vâng, nó đã bị mất.
-    Anh đã tìm thấy nó trong hành trang gã mục sư giả hiệu Fêlin.
-    Đó chỉ mới là cuốn một.
-    Nghĩa là có cả thảy hai cuốn ?
-    Vâng, hai cuốn cả thảy. Vì điều kiện an ninh, kỹ sư Doarê chế tạo hai cuốn, ghi bằng sơn chữ A hoặc chữ B. Cuốn A là cuốn giả. Cuốn B mới là cuốn thật.
-    Fêlin đánh cắp cuốn A hay B ?
-    Cuốn A.
-    Còn cuốn B ?
-    Cả hai cuốn đều bị mất trộm đêm ấy. Tôi có cảm giác là bị ai cho ngửi thuốc mê, loại thuốc mê làm bằng chất thảo mộc trong rừng Equatơ, rồi ngủ thiếp đi. Trong khi tôi mê man, người lạ này đã lấy luôn hai cuộn băng mật mã. Tôi lục trong hành trang của Fêlin như anh đã thấy, chỉ tìm được cuốn giả.
-    Ai đã trộm cuốn thật ?
-    Tôi không biết. Thoạt đầu tôi nghi kẻ trộm là anh. Nhưng giờ đây, tôi đã biết rõ anh không phải là thủ phạm. Thủ phạm có thể là Fêlin. Nhưng tôi không tin Fêlin ăn trộm. Thủ phạm phải là một trong ba người có mặt đêm ấy : Buru, Rita và Côcô.
Buru trợn mắt:
-    Mày nói nhảm ! Mày dám nghi cả tao nữa ư ? Để tao giáng cho mày một đòn hết đời.
Văn Bình cản tay Buru :
-    Anh không được làm tàng, ở đây, người chỉ huy là tôi. Nếu anh có cử chỉ táng tận, tôi sẽ hạ anh đo ván.
-    Nhưng hắn đã bôi nhọ thanh danh tôi.
-    Làm nghề này, thanh danh chỉ là trò đùa vô nghĩa. Vích-ky sắp chết, yêu cầu anh cầm súng đứng gác ngoài cửa, tôi cần căn dặn Vích-ky một vài điều nữa. Buru thở dài không nói nửa lởi. Văn Bình hỏi Vích-ky - Svốp :
-    Anh còn giữ cuốn băng giả trong mình không ?
Svốp thều thào :
-    Còn.
Lưỡi hắn bắt đầu líu lại. Văn Bình nhìn thẳng vào mắt hắn :
-    Đêm qua, tôi đã thấy rõ anh giết Fêlin. Anh cố ý giết hắn. Hắn bò lại phía tôi, sửa soạn nói với tôi điều gì chắc là quan trọng lắm, và anh đã nhìn thấy, anh mượn cớ Fêlin ăn trộm tài liệu để đánh đòn chết. Anh giết hắn vì hắn đã nhận diện được anh là Vích-ky giả hiệu phải không ?
Vích-ky - Svốp húng hắn ho. Giòng máu ở mép ngừng chảy đựợc một lát, lại tiếp tục chảỵ. Hắn đã kiệt sức trông thấy. Hắn cố nằm nghiêng để bớt tức ngực. Tròng mắt hắn đã bắt đầu lờ đờ. Văn Bình hỏi hắn :
-    Anh còn muốn dặn cô bạn của anh tại Qui-tô điều gì nữa không ?
Mắt Svốp bỗng sáng lên. Môi hắn mấp máy ra hiệu cho Văn Bình cúi sát miệng hắn. Bàn tay run rụn của Svốp từ từ nhấc lên. Nhưng chỉ giơ được nửa chừng lại rụp xuống, mồ hôi lạnh toát đầy trán hắn. Văn Bình lấy khăn chấm khô giòng máu trên miệng, giọng thân mật:
-    Anh cần lấy cái gì ?
Svốp đáp nhẹ như gió thoảng :
-    Trong túi.
-    Lấy bóp-phơi ?
-    Không. Nếu anh thương tôi, xin anh trao luôn cho người yêu tôi kỹ vật này.
-    Kỷ vật nào ?

       Lời nói của Svốp tắt nghẽn trong cuống họng. Hắn muốn nói song đàm đã chặn cứng khí quản. Nước mắt nóng hồi của viên trung tá gián điệp sô viết trào ra như suối. Hắn khóc. Khóc như đàn bà. Văn Bình đột nhiên mủi lòng. Chàng không hiểu tại sao lại rung động trước cái chết của gã đàn ông lạ. Chàng rung động khi thấy đàn bà đẹp chết là chuyện còn có thể hiểu được. Đằng này chàng lại rung động khi thấy kẻ địch chết... và kẻ địch là đàn ông.

      Mắt Vích-ky-Svốp dừng lại trên cườm tay phải. Văn Bình chợt hiểu. Trên cườm tay phải của hắn có cái đồng hồ Citizen do Nhật Bản chế tạo. Đặc điểm của đồng hồ đeo tay Citizen là nó không có lò so như mọi đồng hồ thông thường, nó chỉ gồm 12 chân-kinh vậy mà máy chạy rất tốt và ít khi sai giờ. Gần đây, giới chơi đồng hồ trên thế giới thích dùng kiểu điện tử, chạy bằng bin ôxít-bạc, một năm mới phải thay. Đồng hồ Citizen là một trong các kiểu đồng hồ chạy bằng "pin". Văn Bình cũng có cảm tình với kiểu đồng hồ nó chạy bằng "pin", vừa nhẹ, bền, không thấm nước, ít hư, vừa rẻ, khá thích hợp với những người hành động.

Văn Bình đặt ngón tay lên mặt chiếc đồng hồ Citizen vỏ vàng óng ánh :
-    Anh muốn tôi đưa cho nàng cái đồng hồ này ?
Hắn gật đầu, mặt lộ vẻ sung sướng :
-    Vâng. Cám ơn anh. Chúng tôi mua một cặp, nàng đeo cái vuông, tôi đeo cái tròn : đó là quà cưới thiêng liêng của hai đứa tôi.
Svốp ngừng một phút để lấy hơi. Đoạn hòi:
-    Anh có nhận lời giúp tôi không ?
Văn Bình nắm chặt tay hắn :
-    Tôi xin hứa.

        Nụ cười nở rộng trên môi Svốp. Hắn rướn lên rồi nằm vật xuống. Tắt thở.

       Văn Bình ngoảnh nhìn Buru. Gã đàn ông có gương mặt xấu như khỉ đột đang cúi đầu, tay vòng làm dấu thánh giá. Trong khi ấy Côcô cầm tiểu liên đã chạy đến cửa ca-bin. Nàng hỏi Buru :
-    Thanh toán xong chưa ?
Buru đáp "rồi". Văn Bình mân mê trong bàn tay cái đồng hồ Citizen và cuộn băng giả, đoạn thờ thẩn bước ra ngoài. Côcô trao khẩu tiểu liên cho chàng :
-    Mọi thủy thủ trên tàu đều bị loại khỏi vòng chiến. Giờ đây mình là chủ. Rita đang canh chừng trên boong xem còn tên nào sống sót không.
Văn Bình hơi ngạc nhiên :
-    Cô đã bắn súng ?
Nàng cười:
-    Nếu không bắn súng thì làm cách nào triệt hạ được hơn mười tên thủy thủ lực lưỡng, hả anh ?
-    Tại sao tôi không nghe tiếng nồ ?
-    Chính em cũng không rõ nguyên nhân. Đầu súng không thấy gắn ống cao su hãm thanh, em bắn ra cả tràng mà không nghe tiếng nồ. Em cứ tương đạn chì không dè lại là đạn thuốc mê, bọn thủy thủ trúng đạn là ngã lăn chiêng.
-    Chết ?
-    Không. Họ chỉ mê man. Nhưng chắc là mê man lâu. Để được an toàn, yêu cầu anh trói họ lại.

          Vòm trời không xà xuống thấp như hồi nãy nữa. Những đám sa mù nặng nề dày đặc cũng đã tan bớt. Không gian đã trở lại quang đãng phần nào. Chiếc phi cơ từ phía Đông bay tới đang lượn vòng trên cao.

        Có lẽ hoa tiêu phát giác ra chàng nên khi chàng vừa bước lên boong thì phi cơ quay lại. Phi cơ bay mỗi lúc mỗi thấp. Văn Bình thấy rõ gương mặt bầu bĩnh của phi công. Và trong khoanh khắc, hoa tiêu đã đáp chiếc thủy phi cơ nhỏ xuống mặt biển bồng bềnh.

           Buru không reo mừng như thường lệ. Hắn lầm lì nhìn Văn Bình. Hiểu ý hắn, chàng bèn vỗ vai, giọng an ủi:
-    Buồn bã làm gì thêm tổn thọ. Không lấy được cuộn băng ghi âm thì thôi.
Buru nhíu mày :
-    Đâu được ? Nhiệm vụ của anh là cứu kỹ sư Doarê và tiếp nhận cuộn băng. Doarê đã chết, cuộn băng đã mất tăm, về Hoa-thịnh-đốn anh sẽ ăn làm sao, nói làm sao với họ ?
-    Cũng chẳng sao. Chúng mình đang có đủ thời giờ lấy lại.
-    Anh nghi ai ?
-    Một trong hai cô gái.
-    Rita hay Côcô ?

           Văn Bình không đáp vì Côcô đã đến gần. Phi cơ vừa đáp xuống biển là của C.I.A. địa phương. Dầu muốn dầu không, công việc của chàng đã chấm dứt. Chấm dứt cùng với những nguy hiểm chết người rình rập, bao vây chàng từ lúc chàng dấn vào xa lộ 14, tiến đến căn cứ điện tử 4Q giữa cảnh hoang tàn ghê rợn của trận động đất và bão táp không tiền khoáng hậu ở châu Mỹ la-tinh. Tuy vậy, công việc chỉ chấm dứt chứ chưa hoàn tất.

        Vì Văn Bình chưa nắm được trong tay cuộn băng kỳ lạ của kỹ sư Doarê.

       Chàng hơi nhăn mặt khi nhận thấy người đàn ông ngồi cạnh hoa tiêu thủy phi cơ là đại tá Pít, thuộc trung ương C.I.A.. Lẽ ra, được gặp lại bạn thân sau những giờ phút căng thẳng, Văn Bình phải biểu lộ niềm hoan hỉ. Chàng còn có thêm lý do để hoan hỉ cực độ vì lát nữa đây, hoặc đêm nay đây, chàng sẽ được tận hưởng thời khắc thần tiên với gìaì nhân trong thành phố tình ái Qui-tô...

         Vậy mà Văn Bình không hoan hỉ. Nhưng chàng chỉ nhăn mặt thoáng qua rồi quay trở lại vui vẻ.
Chàng mỉm cười với đại tá Pít đang giơ tay vẫy chàng. Đại tá Pít ở xa không thể nhìn thấy. Nhưng trong số những người đứng trên boong con tàu đánh cá sô viết đã có một người tinh mắt nhìn thấy.
Người ấy đã nhìn thấy Văn Bình cười gượng.
Tại sao Văn Bình Z.28 cười gượng ?

Thái độ lạ lùng khó hiểu này sẽ được giải thích trong đoạn chót của "Người đẹp Qui-tô".
0
 Đoạn kết


           " o, O, O" là ba con số dêrô này là những con số được viết trên một tấm bảng ở một ngọn đồi cách mặt biển khoảng hai ngàn thước. Ba con số dêrô này báo hiệu cho du khách biết đó là vị trí của đường xích đạo, con đường tưởng tượng được vẽ trên mọi bản đồ địa cầu, cách xa thủ đô Qui-tô, xứ Equatơ 15 dặm về phía Bắc.

          Du khách ghé Qui-tô không thể không dành 5 đô-la để trả tiền cuốc tắc-xi đến thăm con đường xích đạo ngăn đôi bậc bán cầu và nam bán cầu. Người ta tưởng lầm Qui-tô ở đường xích đạo nên nóng chảy mỡ, sự thật khác hẳn, nếu là người sợ lạnh thì ban đêm phải choàng áo len, và ban ngày thì khí hậu quanh năm rất dịu hiền, cũng dịu hiền như khí hậu miền đất phía Bắc con sông Bến Hải ở Việt Nam.

   Chiếc thủy phi cơ C.I.A. chở Văn Bình và các bạn đồng hành vể Qui-tô. Dọc đường không gặp trở ngại cỏn con nào, kể cả những trở ngại bất ngờ về thời tiết. Khi chàng đặt chân xuống phi trường Marátcan Sucơrê thì trời vừa chạng vạng tối.

          Qui-tô hoàng hôn đẹp như trong bức tranh thủy mạc Tàu. Thành phố nằm gọn trong lòng chảo, tứ phía có núi cao bao bọc, xa xa hai miệng núi lửa nhô lên, tưởng như muốn chạm vòm trời óng ánh nắng vàng.

          Trước khi hạ cánh, phi cơ đã bay qua đường xích đạo, bên trên tấm bảng đề chữ o, ó, ó'. Văn Bình dựa lưng vào ghế, mắt lim dim, chàng ngủ thật sự, chứ không phải ngủ giả vờ. Mọi người có vẻ cũng ngủ thật sự như chàng sau nhiều giờ đồng hồ mỏi mệt và khẩn trương. Đại tá Pít loay hoay với cuốn sổ tay đặt trên đùi và điếu thuốc tắt ngúm trên môi. Chàng không trò chuyện với Văn Bình vì thấy bạn bơ phờ, mới ngả mình đã ngủ say và ngáy tròn trịa.

           Về đến trung tâm thành phố, Văn Bình mới tỉnh hẳn. Thủ tục an ninh và quan thuế tại phi trường được rút ngắn triệt để, trên thực tế, trừ Côcô ra, không ai có hành lý và nhân viên kiểm soát chẳng buồn xét giấy tờ chứ đừng nói là xét hành lý nữa. Có lẽ đại tá Pít đã thông báo từ trước cho sở Mật Vụ bản xứ. Nhưng cũng có thể nhân viên kiểm soát mắc bệnh... lười. Trèo lên tắc-xi, Văn Bình lại ngủ tiếp. Nhưng lần này chàng ngủ giả vờ. Vì từ phi trường về trung tâm thành phố, quang cảnh đẹp. Qui-tô chia thành 2 khu riêng biệt, khu cổ thành và khu tân lập, cách phi trường 20 và 10 phút đồng hồ tắc-xi. Cũng như Sài-gòn, thủ đô Qui- tô cũng có con đường Độc-Lập, với công trường rộng lớn và một nhà thờ lớn. Sông Qui-tô lại khác Sài-gòn ở điểm có những con đường hai bên trồng cây cao ngất, cành lá xum xuê và được săn sóc, nâng niu, chứ không bị chặt tay chặt chân, hoặc bứng rễ một cách tàn bạo, để nhường chỗ cho xe hơi.
Đại tá Pít là nhân viên C.I.A. Mỹ nên phòng trọ của "phái đoàn" được thuê trong khu tân lập đầy đủ tiện nghi, và nhất là ở sát nách đại sứ qụán Mỹ. Tuy nhiên, đại tá Pít lại không lấy phòng trong khách sạn Alcron, được coi là sang trọng bậc nhất mà lại đến một lữ quán hạng nhì, lữ quán Lutecia, chỉ gồm 18 phòng.  

        Sau khi tắc-xi đậu lại trước sân, mọi người bước vào phòng khách vắng tanh, Văn Bình mới hiểu lý do. Thì ra C.I.A đã thuê trọn 18 phòng trong lữ quán. Tuy nó thuộc hạng nhì, lữ quán Lutecia lại được dân sành ẩm thực tôn làm "số dách", chủ nhân theo học bên Pháp nên món ăn ngon tuyệt trần, đối xử lại đúng cung cách quốc tế. Nhưng Văn Bình không quan tâm đến thực đơn mặc dầu chàng đói meo, chàng cũng không quan tâm đến những căn phòng khang trang đầy ắp không khí cao nguyên và ánh nắng, cầu thang gỗ chạm trổ đánh si bóng loáng, những bức danh họa bản xứ treo đầy tường, quầy rượu kín đáo mà lộng lẫy, và đặc biệt là sân trước trồng toàn cây nho và những loại trỗ bông quanh năm làm mặt tiền của tòa nhà đồ sộ luôn luôn tươi tắn.

         Chàng chỉ quan tâm đến địa chỉ người đàn bà bạn lòng của Vích-ky-Svốp.

        Chàng vừa tắm rửa qua loa, và thay quần áo xong thì trời tối hẳn. Theo lời hẹn với đại tá Pít, chàng phải xuống nhà dùng bữa. Mọi ngựời sẽ ngủ đêm ở Qui-tô, chờ sứ quán liên lạc với Hoa-thịnh-đốn, rồi sáng sớm lên đường về Mỹ. Lẽ ra đại tá Pít muốn lên đường trong đêm nhưng khốn nỗi nhân viên phi trường làm không làm việc. Hễ mặt trời tắt là hoạt động phi trường cũng tạm ngừng.

         Mặt trời tắt, hoạt động điệp báo lại không ngừng. Vì vậy, Văn Bình lẻn ra cửa sau, nhảy qua tường xuống đường. Chàng gặp xe buýt chạy rần rần nhưng lại vòng qua một hẻm tròn, ra đường lớn và vẫy tắc-xi. Tắc-xi ở Qui-tô không có đồng hồ tính tiền, nhưng được cái may là trong túi chàng còn một xấp đô-la nên tài xế rồ ga chạy liền không mè nheo. Tài xế cười toét miệng vì theo thông lệ, mỗi cuốc xe 15 phút trong thành phố đáng giá 5 sucờrê - tiền Qui-tô - nghĩa là khoảng 30 xu Mỹ - Văn Bình đã ấn vào tay gã tài xế những 5 đô-la. Với 5 đô-la, hắn có thể lái đến trăm cây số giờ huống hồ chàng chỉ dặn hắn "chạy nhanh hơn chút nữa" và hứa tặng thêm một tờ 5 đô-la khác.

        Chàng ung dung dựa lưng vào nệm xe, không ngả người về phía trước, gần tài xế, để liếc nhìn trong kiếng chiếu hậu như thường lệ mỗi khi đi tắc-xi lạ. Chàng không cần quan sát đằng sau vì cảm thấy vô ích. Nếu có người bí mật rượt theo chàng đã có thể đoán biết là ai. Như người cho quà Giáng Sinh bắt đến nửa đêm 24 mới được mở giấy bọc ngoài, chàng không muốn nhìn ngay vào thực tế, sợ tấn kịch mất thú vị.

       Tắc-xi phóng qua đại lộ Colon, con đường nỗi tiếng ở Nam-Mỹ với những cửa hiệu bán kỷ vật, đặc biệt là thảm dệt bằng tay rẻ tiện mà đẹp, và mặt nạ ông Địa bằng gỗ nhẹ, sơn vẽ nhiều màu sặc sỡ. Đến một ngã ba, Văn Bình ra hiệu cho tài xế thắng lại, và ném xuống băng trước tờ giấy 10 đô-la Mỹ. Tuy hứa 5, chàng đã cho hắn 10. Hắn cám ơn rối rít bằng hai thứ tiếng Bồ đào nha và Tây ban nha :
-    Obờrigađô (obrigado), Gờraxiát...(gracias)

        Dưới ánh hoàng hôn, căn nhà trệt ở đầu hẻm tạo ra một cảnh tượng êm dịu. Tuy đường hẻm này không xa trung tâm thành phố mà mọi âm thanh của xã hội văn minh lại biến dạng. Tứ bề vắng vẻ, song không làm du khách cảm thấy cô đơn. Sự vắng vẻ ở đây gần giống với sự vắng vẻ của đôi trai gái tâm đầu ý hợp hẹn nhau tại một địa điểm không bóng người bén mảng tới.

       Văn Bình nhẩm trong miệng "Ambatô, Ambatô". Ambatô là tên nàng. Tên của người đẹp Qui-tô. Không rõ vì ngẫu nhiên hay tiền định mà tên nàng lại trùng với tên một thôn chợ nên thơ của dân da đỏ bản xứ. 100 cây số phía Tây Qui-tô. Chợ Ambatô chỉ họp những ngày thứ hai trong tuần : đối với Qui-tô, nó cũng như Đà lạt với Sài-gòn, nó tọa lạc trên sườn núi cao vắt vẻo, khí hậu mát rợi, dân nhà giàu xây cất những biệt thự xinh đẹp để nghỉ ngơi mùa hè, từ Qui-tô đến chợ Ambatô phải qua một xa lộ tối tân ngoằn ngoèo giữa những ngọn đồi xanh um, hai bên là hỏa diệm sơn, với những tòa nhà làm bằng phún thạch màu xám nhạt. Văn Bình đã nghe nhiều người ca tụng Ambatô, phụ nữ địa phương thường phơi trần bộ ngực chắc nịch, cặp giò của họ chuyên leo trèo nên có sức dai bền độc nhất vô nhị, đàn ông thiếu luyện tập dễ bị hụt hơi, hoặc vô phúc có thể quá mệt mà... chết. Chàng thầm hẹn với lòng sẽ không lỡ cơ hội ghé thăm chợ Ambatô : thứ nhất, để so tài với giai nhân trường túc, thứ nhì, để mua những chiếc mũ rơm thổ sản đẹp nhất thế giới, tục gọi là mũ Panama....

         Nhưng trước khi ghé thăm chợ Ambatô, Văn Bình đã được ghé thăm người đẹp mang tên Ambatô. Chàng chắc mẫm là nàng rất đẹp, vì có đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nàng mới chinh phục được gã sĩ quan gián điệp sô viết không tim Vích-ky-Svốp, và khi sắp từ giã cõi đời Svốp đã dành toàn vẹn cảm tình cho nàng....

         Căn nhà trệt của Ambatô nằm lọt giữa khu vườn trồng cây ăn trái, rộng gần một mẫu tây. Hàng rào bao quanh nhà bằng cọc gỗ sơn xanh, Văn Bình chỉ rún nhẹ là nhảy qua dễ dàng. Song chàng không thể đến nhà người đẹp bằng thủ đoạn trèo tường khoét vách. Chàng sửa soạn một nụ cười thật tươi, chờ cửa phòng khách mở hé, để làm món quà sơ kiến với Ambatô.

          Chàng bước nhẹ trên con đường trải đá sỏi lạo xạo. Có lẽ Qui-tô sống dưới thời thanh bình thịnh trị như thời Nghêu Thuấn bên Tàu, không có gian phi, nên cánh cổng đồ sộ đã mở toác hoác, cửa phòng khách mới đụng nhẹ cũng mở toác hoác.

        Phòng khách được bầy biện đơn sợ nhưng sang trọng. Trên tường treo rải rác mấy bức họa thiếu phụ khỏa thân. Không thấy ai, Văn Bình đằng hắn rồi tiến thẳng vào trong.

         Bên trong là phòng ăn, kiêm phòng làm việc. Chàng đinh ninh người đẹp Ambatô mới tắm xong - đàn bà đẹp thường tắm buổi chiều để lấy sức thức khuya - chỉ mặc áo choàng mỏng lét, và đang ngồi gỡ tóc trước bàn trang điểm.

        Tuy nhiên, khi vào đến phòng trong, chàng không gặp người đẹp Ambatô nũng nịu và si mê.
        Người đón chàng là một gã đàn ông trung niên, da mặt răn rúm như trái táo tàu khô.
        Thấy Văn Bình, hắn đứng dậy, giọng nghiêm nghị pha lẫn sửng sốt:
-    Chào ông, ông là ai ?

          Gã đàn ông trung niên là người tây phương trăm phần trăm, không phải là dân Nam-Mỹ lai giống. Hắn mặc bộ com- lê bằng hàng sẫm sọc, may tréo, sơ-mi xanh, thắt cà-vạt đen, trông ảm đạm và đáng ghét. Thoạt gặp, chàng đã có ác cảm với hắn. Giấc mộng đang nở hoa rực rỡ trong lòng chàng bỗng tàn lụi một cách thê thảm.
         Chàng đáp bằng tiếng Tây ban nha :
-    Chào ông. Tôi muốn gặp Ambatô, cô Ambatô.
Gã đàn ông trung niên khựng một giây, đoạn chỉ ghế mời chàng :
-    Ông là bạn của Ambatô ?
-    Thưa không. Một người bạn nhờ tôi đến gặp nàng để trao một đồ vật. Xin ông tha lỗi cho sự đường đột của tôi. Ông là... gì của Ambatô ?
-    Là cha. Ambatô là con gái tôi. Bạn ông tên là gì ?
-    Vích-ky.
-    Vích-ky ? Con tôi có nhiều bạn trai, nhưng không có ai tên là Vích-ky.
-    Svốp.
-    Svốp hả ? Bạn ông là Svốp. Nếu là Svốp, tại sao ông lại nói là Vích-ky. Vâng, Svốp là bạn thân của con tôi. Nhưng đáng tiếc là nó đi vắng. Nó đi vắng từ hôm qua, đến mai hoặc mốt nó mới trở về. Nếu không có gì trở ngại, xin ông cứ đưa đồ vật ấy cho tôi. Khi nó trở về, tôi sẽ trao lại cho nó.

         Không khí bên ngoài nên thơ bao nhiêu thì không khí trong nhà lại tẻ lạnh bấy nhiêu. Văn Bình có cảm giác căn phòng ấm cúng này là khu nghĩa trang rộng mênh mang trồng toàn nhân thảo sặc mùi xác chết thối rữa như chàng đã mục kích trên đường đến căn cứ định mạng 4Q. Gã đàn ông trung niên có những nét khắc khổ và những cử chỉ cứng nhắc làm chàng bực dọc. Chàng muốn quay ra nhưng một mãnh lực ghê gớm bắt chàng lưu lại.
          Gã đàn ông trung niên lại nói:
-    Đâu, đồ vật của Svốp đâu, xin ông đưa cho tôi.

        Văn Bình rút trong túi ra cái đồng hồ Citizen 12 chân-kinh xinh xắn, đặt trên bàn. cặp mắt khô ráo của gã đận ông trung niên vụt sáng rực. Như đứa trẻ thèm đồ chơi, hắn chộp lấy và không quan tâm đến luồng nhỡn tuyến sắc như dao cạo của Văn Bình, hắn bỏ luôn vào túi trong vét-tông.

       Hắn từ từ bước ra cửa, ngụ ý đuổi khéo Văn Bình. Nhưng chàng vẫn ngồi yên trên ghế, bắt chân chữ ngũ, phì phèo thuốc lá. Hắn phải lên tiếng một cách miễn cưỡng :
-    Thành thật cám ơn ông. Svốp còn dặn con gái tôi điều gì nữa à ?
Chàng lắc đầu :
-    Không. Svốp chỉ dặn là cái đồng hồ này phải được trao tận tay cho Ambatô.
-    Tôi là cha ruột nó. ông đưa cho tôi, cũng như đưa tận tay nó.
-    Thưa, Svốp đã chết. Tôi phải làm đúng di ngôn của người đã khuất.
Gã trung niên hơi tái mặt. Văn Bình đứng dậy :
-    Tại sao ông tái mặt ? Sự thay đồi này chứng tỏ ông không phải là cha ruột của Ambatô.
-    Ông không được buông lời hỗn xược. Nếu tôi không phải là cha ruột của Ambatô thì tôi là ai ?
-    Là ai, tôi không cần biết. Yêu cầu anh trả cái đồng hồ gia bảo lại cho tôi.
-    Về phần tôi, tôi ra lệnh anh phải ra khỏi căn nhà này.
-    Đồ khốn. Mày là đồ khốn. Mày không phải là cha ruột của Ambatô.

         Văn Bình đã có dụng ý rõ rệt trong cách xưng hô. Từ "ông" chàng hạ ngay xuống "anh" và "mày". Dụng ý của chàng là chọc tức đối phương và hắn đã xập bẫy một cách dễ dàng. Bị gọi xách mé bằng mày, hắn trợn mắt xỉa xói:
-    Chính mày mới là đồ khốn.
       Văn Bình tát trái vào mặt hắn. Chàng chỉ đánh nhẹ, chứ nếu dùng tận lực, gã trung niên đã nhào xuống ghế xa-lông. Dầu sao cái tát hạ nhục cũng làm hắn giận sôi sùng sục. Hắn luồn tay vào túi rút súng. Văn Bình có đủ thời giờ phóng cước song lại đứng im.

        Khẩu súng 9 li đã giúp hắn phục hồi phong độ tự tôn. Hắn nhìn chàng, sẵng giọng :
-    Tôi định tha chết cho anh, nhưng thái độ quá trớn của anh bắt buộc tôi phải hành động. Khôn hồn giơ tay lên.
       Văn Bình cười nhạt:
-    Ái chà, cha ruột của cô Ambatô cũng có súng hả ? cất giùm cái võ khí nguy hiểm ấy đi, kẻo đạn cướp cò thì mệt...
-    Anh lầm. Người giàu kinh nghiệm như tôi không thể nào để súng cướp cò. Anh chưa tin tôi, tôi sẽ biểu diễn anh coi chơi. Cách xa 15 mét, tôi có thể bắn xẻ đôi cái nút bấc đấy, anh bạn ạ.
-    Té ra anh đội lốt ông thân của Ambatô ?
-    Dĩ nhiên. Mãi đến phút này anh mới khám phá ra ư ? Tội nghiệp.
-    Ông thân của Ambatô ở đâu ?
-    Đồ ngu. Trên cõi đời này làm đếch gì có "ông thân của Ambatô".
-    Nàng không có cha ?
-    Đồ ngu. Ambatô chỉ là mật khẩu. Trên cõi đời này làm gì có cô gái mang tên Ambatô. Đồ ngu. Ambatô là tên một cái chợ của dân mọi da đỏ, không phải tên người.
-    Trời ơi, tôi đã bị lừa ! Anh là đồng nghiệp của Svốp phải không ?
-    Phải. Không những là đồng nghiệp, tôi còn là thượng cấp trực tiếp của Svốp nữa. Theo kế hoạch, hắn phải về Qui- tô trình diện tôi với cuộn băng nhựa của kỹ sư Doarê. Nhưng hắn đã chết dọc đường. Nếu tôi không lầm, hung thủ là anh. Anh giết được Svốp, song ngược lại, Svốp lại khôn ngoan đưa anh vào chỗ chết. Chúng tôi đã có ước hẹn với nhau rằng kẻ lạ nào hỏi thăm cô Ambatô chính là thù địch. Bất đắc dĩ tôi phải hạ sát anh. Tuy nhiên, trước khi bắn lũng bụng anh, tôi xin thành thật cám ơn anh.
-    Cám ơn ?
-    Vâng. Cám ợn anh đã mất công lao khó nhọc mang cuốn băng đáng giá chục triệu đô-la về tận đây trao tận tay cho chúng tôi. Svốp đã chết nhưng chết vinh quang, chết trong sự toàn thắng sau khi hoàn thành công tác.
-    Cuộn băng được giấu trong ruột đồng hồ ư ?
-    Thì còn giấu ở đâu nữa ? Tôi mắng anh ngu là đúng. Cuộn băng này không bằng chất nhựa dẻo mà là bằng thép mỏng li ti, tất cả công trình của Doarê và đồng bọn được ghi lại trong cuộn thép nhỏ hơn sợi tóc này. Thôi, phiền anh quay lưng lại để khỏi sợ. Tôi bắn sau lưng, anh chết ngon lành hơn.
-    Thong thả, trước phút vĩnh biệt cõi đời, tôi xin anh ban một ân huệ.
-    Ồ, tôi sẳn sàng chấp thuận ước nguyện cuối cùng của anh. Anh muốn gì ? cầu kinh, xưng tội, uống rượu mạnh để lấy can đảm, hoặc nhắn nhủ lại với gia đình ?
-    Không. Tôi chỉ xin anh mở vỏ đồng hồ để xem kỹ bên trong.
-    Xạo.
-    Xạo hay không, sau khi mở đồng hồ ạnh sẽ thấy rõ. Anh sẽ thấy rõ là cuộn băng từ thạch vi ti đã biến mất. Tôi đã cẩn thận cất giấu giùm anh trước khi đến đây.
-    Trời, anh nói thật hả ?
-    Tôi đã bảo anh mở đồng hồ ra coi, anh lại lừng khừng. Bộ anh cho tôi là nhân viên mới tập tễnh vào nghề hả?

          Bàn tay gã trung niên run lẩy bẩy. Hắn lật mặt sau chiếc đồng hồ Citizen do Nhật chế tạo, nửa muốn mở, nửa không, cử chỉ lần khần dại dột của hắn đã tạo dịp may cho Văn Bình phản công bằng cước pháp thần tốc. Hắn bị đá trúng hông, oằn oại rồi khuỵu ngã. Chàng tưởng hắn là đối thủ cừ khôi, phải phối hợp đòn chân và đòn tay mới hòng triệt hạ được. Chàng không dè hắn đã té nhào ngay sau cú đá móc khởi đầu. Thì ra gã trung niên chỉ là nhân viên văn phòng, không quen nếp sống điệp báo hành động.
Gã trung niên vừa dộng đầu vào tường và nằm thẳng cẳng trên nền phòng thì Văn Bình nghe tiếng mở cửa và tiếng đạn nhảy lên nòng súng kêu "soạch" khô khan sau lưng. Trong những trương hợp tương tự, chàng thường đối pho nhanh như chớp xẹt, hoặc phóng mình rạp xuống tránh đạn, hoặc quay ngoắc lại, xử dụng thần cước để hóa giải kẻ địch.Nhưng lần này chàng lại phớt tỉnh, không thèm có cử chỉ nào hết.
Kẻ địch chưa kịp lên tiếng thì chàng chặn họng :
-    Chào anh. Tôi chờ anh đã lâu. Anh Buru thân yêu ơi, anh định bắn tôi ư?

         Người vừa xô cửa và nạp đạn vào nòng súng chính là Buru, hỗn danh "bú-rù", nhân viên văn phòng hướng đạo ăn lương C.I.A. do đại tá Pít giới thiệu với Văn Bình, và từng dẫn chàng vượt biên giới Côlômbi - Equatơ trên đường đến căn cứ 4Q, đồng thời tháp tùng chàng như bóng với hình qua bao thử thách đầy nguy hiểm chết chóc.

      Hai người đứng cách nhau khoảng 4 thước. Văn Bình từ từ xây mặt lại, Buru cầm khẩu súng sáu đen sì trong tay, vẻ mặt hơi sửng sốt khi nghe Văn Bình gọi đích danh nhưng trong loáng mắt đã trở lại bình tĩnh lạnh lùng của kẻ sát nhân chuyên nghiệp. Lối cầm súng và thế đứng của hắn không còn lỏng lẻo và vụng về như trong thời gian hắn cùng đi với Văn Bình nữa.
Hắn nghiến răng :
-    À, anh đã biết rõ về tôi !
Văn Bình nhún vai:
-    Biết rõ lắm chứ ! Tôi đã biết rõ anh không phải là một nhân viên hướng đạo tình báo hạng xoàng. Anh đóng tuồng rất giỏi, nhưng anh Buru ơi, chẳng may anh lại gặp tôi.
-    Ngậm miệng. Anh còn nói nữa, tôi sẽ bắn nát lưỡi.
-    Tôi không tin anh bắn nát lưỡi tôi trong lúc này. Vì anh còn cần cái lưỡi của tôi cho anh biết nơi cất giấu cuộn băng tài liệu.
-    Đúng. Tôi đang cần cái lưỡi của anh. Nếu anh chịu nói, tôi sẽ cho phép anh ra đi nguyên vẹn.
-    Hừ hừ.... tại sao anh là nhân viên C.I.A. đồng minh của tôi, mà lại dùng súng bức bách tôi nộp tài liệu?
-    Anh thừa biết tôi chỉ là nhân viên C.I.A. giả hiệu. Tôi là nhân viên Tình Báo sở, trà trộn trong hàng ngũ C.I.A.. Tôi đi theo anh với nhiệm vụ đoạt lại cuộn băng. Giờ đây tôi đã thành công.
-    Cám ơn anh đã thú nhận thành thật. Nhưng giá anh không thú nhận tôi cũng sẽ nói là ngay trong những giờ đồng hồ đầu tiên trên xa lộ 14 gần cây cầu gẫy, tôi đã khám phá ra anh là nhân viên Tình Báo Sở. Anh quen đường như quen đồ đạc trong nhà, vậy mà anh đã dẫn tôi đi lạc. Anh cố tình đi lạc vì anh muốn cho Svốp có thời giờ gặp kỹ sư Doarê và đoạt cuộn băng trước tôi. Anh ẩu đả với cô Rita, giả vờ múa võ vụng về nhưng đến khi anh chẳng may trượt ngã xuống vực, anh lại xử dụng phép nhuyễn công để quặp lấy rễ cây. Nhuyễn công là một bộ môn của khinh công được dậy trong trường Tình Báo Sở, nhân viên trung cấp trở lên mới được theo học, và nó đòi hỏi nhiều công phu rèn luyện. Phải am tường bộ cầm nã thủ Thiếu Lâm và tốt nghiệp đệ nhị đẳng đai huyền đen mới được Tình Báo Sở đưa vào khóa học nhuyễn công, cho nên vô hình chung anh đã xuất đầu lộ diện.
-    Giỏi lắm, tôi xin ngợi khen anh. Nhưng dầu sao anh cũng đã thua tôi, anh nên khai thật để bảo toàn tính mạng.
-    Anh Buru ạ, trong khi ngồi tắc-xi, tôi đã nhìn phía sau và thấy bóng anh trong xe hơi phía sau. Anh đến đây sau tôi độ vài ba phút nhưng núp bên ngoài, hơi thở dồn dập của anh đã lọt vào tai tôi. Tôi luyện công nhiều năm nên tai nghe hơi thở người lạ rất thính. Anh đến đây nhưng không vào phòng là vì tin tưởng đồng nghiệp của anh đoạt được cuộn băng. Rốt cuộc anh phải ra tay vì đồng nghiệp của anh bị tôi đánh ngã và cuộn băng không còn trong chiếc đồng hồ Citizen nữa.
Buru tiến lên một bước, giọng dấm dẳng :
-    Tôi không thích nghe anh phô trương thành tích. Cuộn băng ở đâu, anh đưa cho tôi.
-    Thong thả một chút, anh Buru. Anh nên bình tĩnh nghe tôi nói nốt. Nếu lần này anh thoát chết, lần sau anh nên thận trọng hơn nữa. Lần sau, nếu phải gọi điện thoại báo tin cho đồng nghiệp thì nên dùng điện thoại bên ngoài. Hồi nãy, anh gọi qua điện thoại của khách sạn, tuy anh đã đóng cửa phòng chặt chẽ, tôi vẫn nghe được. Và không riêng gì tôi, cả đại tá Pít cũng nghe được. Và trên thực tế, đại tá Pít còn nghe rõ hơn tôi. Vì anh Buru ơi, C.I.A. đã đặt máy ghi âm bí mật trong khách sạn Lutecia.
Buru quát lớn :
-    Câm họng, câm họng, nếu không tôi bắn.

         Buru chưa kịp bắn thì tiếng súng đã nổ. Người bắn Buru là đại tá Pít. Tuy đã có vợ, có con, vòng bụng gia tăng, cử chỉ mỗi ngày một thêm chậm chạp, Pít vẩn còn bắn nhanh và bắn trúng đích như hồi còn trẻ. Chàng nả luôn hai phát liên tiếp. Phát thứ nhất trúng cườm tay cầm súng, Buru nhăn mặt, buông võ khí, và quay lạng nửa vòng. Nhưng phát thứ hai đã xuyên qua yết hầu hắn. Hắn bắt Văn Bình "câm họng" song lại phải câm họng trước, và câm họng ngàn thu.

         Sự can thiệp kịp thời của đại tá Pít không làm Văn Bình kinh ngạc. Ngược lại, Pít có vẻ sửng sốt sau khi Buru ngã sóng soài trên vũng máu đỏ lớn. Chàng đứng sững trong khi Văn Bình điềm nhiên hút thuốc lá. Cả hai người đều không quan tâm đến hai xác chết nóng hổi.
Mấy phút sau, đại tá Pít mới hỏi Văn Bình :
-    Tại sao anh lại biết chúng tôi gắn loa vi âm bí mật trong phòng Buru tại lữ quán Lutecia ?
Văn Bình đáp :
-    Vì anh thuê luôn cả 18 phòng. Các anh thiếu gì tiền mà phải chui rúc vào khách sạn hạng nhì, phải không anh ? Và các anh cần gì phải mướn trọn khách sạn ? Việc đầu tiên của tôi khi vào phòng là nhấc điện thoại lên nghe. Không cần có dụng cụ thính thị điện tử, tôi chỉ nghe qua là biết, vả lại, anh không ghi âm điện đàm của Buru, anh cũng dư biết hắn là nhân viên của địch. Nếu tôi không lầm, anh đã khám phá ra chân tướng hắn từ trước khi nhờ tôi rời Mễ- tây-cơ đi Nam-Mỹ.
Giọng đại tá Pít có vẻ ngượng ngùng :
-    Anh không lầm chút nào. Anh suy dẫn rất đúng.
-    Ở Nam-Mỹ, C.I.A. thiếu gì cộng sự viên, tại sao anh lại dùng Buru ?
-    Buru là một phần quan trọng trong hệ thống C.I.A. ở Côlômbi và Equatơ. Chúng tôi nghi ngờ hắn nhưng chưa có cơ hội thử lại đáp số bài toán. Nên phải tạo điều kiện cho hắn xuất đầu lộ diện.
Hai người đã ra đến phòng ngoài. Văn Bình bèn hỏi đột ngột:
-    Trong hai cô gái, Rita và Côcô, ai là nhân viên trung ương tình báo Mỹ ?
Đại tá Pít khựng lại, một giọt mồ hôi lóng lánh trên mũi tuy trời mát lạnh :
-    Trời ơi !
-    Rita hay Côcô, nói đi ?
-    Cả hai. Cuộc động đất làm chúng tôi mất hết liên lạc với căn cứ 4Q, do đó chúng tôi phải cử nhiều nhân viên dùng đường bộ đến đó. Rita mạo nhận là em gái của Doarê theo chỉ thị của ông Sì-mít. Trên thực tế, Doarê có một cô em út khá xinh xắn. ông Sì-mít nghĩ rằng trong trường hợp Buru ám hại anh, Rita sẽ có thể giúp anh đắc lực. Cũng có thể Buru bắt cóc Rita và khi ấy hắn phải lộ diện.
-    Côcô cũng được ông Sì-mít phái đến biên giới ?
-    Không. Nàng chỉ là mật báo viên, chưa phải là nhân viên chính thức như Rita. Côcô liên hệ đến một vài vụ phạm pháp bên Mỹ, nàng làm việc cho chúng tôi với hy vọng được giảm tội sau khi tự ý hồi hương.
-    Fêlin ?
-    Cũng vậy. Hắn lợi dụng C.I.A. để buôn lậu song chúng tôi nhắm mắt làm ngơ, vì trong quá khứ hắn đã cung cấp được khá nhiều tin tức đáng giá.
-    Rita và Côcô có biết nhau là nhân viên của ông Sì-mít không ?
-    Không. Họ cũng không biết gì về anh và Buru. Họ chỉ được trao một nhiệm vụ hạn chế và phụ thuộc.
-    Tuy vậy, nhiệm vụ hạn chế và phụ thuộc của họ còn quan trọng hơn nhiệm vụ của tôi nhiều. Bằng chứng là trong suốt thời gian ở biên giới, trên trực thăng và trên biển, họ đã liên lạc vô tuyến với trung ương C.I.A., nghĩa là với anh.
-    Anh đã khám phá ra máy vô tuyến ?
-    Dĩ nhiên. Giấu trong đế giày của Rita. Ban đêm nàng cáo ốm, nằm riêng một mình là để tiện liên lạc vô tuyến. May mà Buru mù tịt, nếu hắn phăng ra thì giờ đây chúng tôi đã nằm yên trong lòng đất.
Đại tá Pít nói:
-    Lần này nữa, tôi lại thua anh. Đáng tiếc là Rita và Côcô không thể gặp anh. Nói cho đúng, họ rất muốn gặp anh, nhưng vào phút chót, trước khi tôi lái xe theo anh và Buru đến đây, một sự kiện bất thường đã xảy ra trong lữ quán Lutecia.
-    Ẩu đả ?
-    Phải. Tôi chưa hiểu nguyên nhân, nhưng loáng thoáng những lời họ nói với nhau một cách hằn học trước khi xử dụng nhu đạo thì nguyên nhân xâu xa có lẽ là anh.
-    Là tôi ?
-    Họ ghen vì anh. Họ bắt đầu xé quần xé áo nhau sau khi tôi xuống cầu thang. Dọc đựờng, tôi được nhân viên báo cáo bằng vô tuyến rằng là cả hai đều bị thương nơi mặt. Anh đào hoa thật, tôi thèm muốn rệu nước miếng.
-    Đừng nói xạo. Giá hoa hậu sắc đẹp thế giới thoát y trước mặt anh và đòi lên giường, anh cũng lắc đầu lia lịa, tôi đã hiểu tài anh. vả lại, anh đang bận, tôi cũng đang bận, chúng mình nên đi ngay vào vấn đề, không nên đánh trống lảng nữa.
-    Khổ quá, tôi đánh trống lảng ra sao ?
-    Anh ráng hiểu lấy. Vụ này do anh bố trí từ đầu đến cuối. Anh tổ chức lộn xộn tại Mễ-tây-cơ để gián tiếp thông báo cho địch biết sự hiện diện của tôi và điệp vụ tôi sẽ thực hiện cho các anh tại nam bán cầu. Suýt nữa, tôi đã bỏ mạng. Tiền công của vụ này được thanh toán cho ông Hoàng ở Sài-gòn chưa ?
-    Dường như chưa. Lát nữa, có phi cơ về Hoa-thịnh-đốn, anh sẽ giáp mặt ông Sì-mít và thảo luận về việc này.
-    Không được. Bạn là bạn, còn công việc là công việc, business is business, người Mỹ các anh thường nói dứt khoát như vậy, phải không anh ?

         Đại tá Pít nín lặng. Ngoài vườn gió thổi rạt rào, hương thơm của một loài hoa lạ bay thoảng vào mũi làm Văn Bình ngây ngất. Chàng đinh ninh công việc xong xuôi, được khoát tay Rita hoặc Côcô la cà đến các hộp đêm uống rượu đã đời rồi về kéo một giấc vụ sơn đã đời. Nhưng sự vắng mặt của họ lại hên cho chàng. Vì họ chưa phải là siêu giai nhân. Thành phố Qui-tô thiếu gì hỏa diệm sơn nhan sắc, đêm còn dài, xương sống của chàng còn dẻo, sức lực của chàng còn tràn trề...

       Xe hơi của đại tá Pít là một chiếc 124 mui trần. Loại xe đua này của hãng Fiat ngốn đường nhanh kinh khủng, chàng rất ưa thích. Nhưng chàng lại mở cửa chiếc Simca 1000 cà tàng của Buru đậu khuất dưới một cây cồ thụ đồ sộ bên đường.
Pít vội nắm cánh tay chàng, giọng khần khoản :
-    Anh lên xe tôi chứ ?
Văn Bình lắc đầu :
-    Không.
-    Anh trở về lữ quán Lutecia không ?
-    Không. Tôi đi chơi.
-    Trời đất, ông Sì-mít đang đợi anh.
-    Cám ơn. Để ông Sì-mít thảo luận với ông Hoàng tiện hơn. Công việc xong xuôi, anh cũng phải cho tôi du hí với các em Qui-tô nữa chứ !
Nói đoạn, Văn Bình trèo lên xe Simca. Đại tá Pít tiếp tục năn nỉ:
-    Anh không còn thương tôi nữa ư ?
Văn Bình nhăn mặt:
-    Kỳ cục. Tình bạn giữa chúng mình vẫn vậy từ bao năm nay. Tại sao anh lại có ý nghĩ sai lầm là tôi hết thương anh ?
-    Vì cuộn băng của kỹ sư Anbe Doarê. Giờ này, anh vẫn chưa đưa lại cho tôi.
-    Tôi không mang theo mình, và đang cất giữ tại một nơi an toàn.
-    Anh hại tôi, anh bạn Z.28 ơi Tôi thú nhận là không hoàn toàn thành thật với anh. Nhưng vì tình bạn thâm niên, anh đừng cố chấp. Với lại.... như anh đã rõ, tôi chỉ là thiên lôi, chỉ đâu đánh đó, mọi việc đều do ông già Sì-mít sắp đặt, tôi là cấp nhỏ, đâu dám phê bình. Tôi về Hoa-thịnh-đốn tay không, ông già Sì-mít khó tính sẽ giết tôi mất.

         Đại tá Pít nói bằng giọng khổ sở như khóc. Văn Bình vỗ vai bạn an ủi:
-    Anh yên tâm, ông Sì-mít không dám giết anh đâu : thứ nhất, anh là cộng sự viên tin cậy anh hoàn toàn tuân lệnh, thứ hai, ông Sì-mít còn cần đến anh làm trung gian giữa C.I.A. và Z.28. Anh cứ báo cáo thẳng là nếu ông già lộn xộn, Z.28 sẽ không nộp cụộn băng tài liệu nữa. Và trong trường hợp ông già tiếp tục lộn xộn, Z.28 sẽ không ngần ngại dạm bán cho Quốc Tế Tình Báo sở, giá cả lại gấp chục, gấp trăm lần số tiền chết đói hứa trả cho ông Hoàng.
-    Ấy chết, nói nhỏ một chút, anh z.28, ông Sì-mít cho gắn máy vi âm trong xe hơi thì khốn. Tôi lạy anh... điều kiện của anh ra sao ?
-    Phiền anh trình với ông Sì-mít rằng thằng z.28 chỉ là "thiên lôi, chỉ đâu đánh đó", mọi việc đều do ông Hoàng xếp đặt, hắn là cấp nhỏ, đâu dám phê bình, phản đối.
-    Thôi, anh đừng diễu tôi nữa, nếu ông Sì-mít không giết tôi thì tôi cũng vỡ tim mà chết.
-    Ồ, tim anh còn tốt kinh khủng, còn lâu mới vỡ. Cái hạng đàn ông râu quặp như anh, chập tối đã phải đóng cửa kín mít ở nhà hầu hạ mẹ đĩ thì sống lâu trăm tuồi thì cũng chưa mỏi tim... Nhưng thôi, tôi không dám bắt anh chờ thêm nữa. Tôi nhận lời làm việc cho C.I.A. trong hoàn cảnh bất khả kháng, ông Hoàng chưa đánh điện xác nhận tôi đã phải tất tả lên đường. Giờ đây, tôi đi nhảy đầm cho dẻo chân. Đúng 3 giờ sáng, chúng mình sẽ gặp nhau tại lữ quán Lutecia. Từ giờ phút này, hẹn anh phải liên lạc với Sài-gòn. Tôi chỉ nộp cuộn băng tài liệu sau khi được ông Hoàng cho phép. Nếu ông Sì-mít không "gài" tôi, tôi đã giữ thái độ sòng phẳng tuyệt đối. Chuyến này, ông già sẽ mất nhiều tiền hơn, tại vì ông già toan hà tiện.

          Chiếc Simca cổ lỗ sĩ rùng mình như cửa xe sắp bung khỏi sườn sắt. Văn Bình vẫy tay từ biệt đại tá Pít. Phụ tá hành động của ông tổng giám đốc C.I.A. đứng thần người giữa đường, mặt ngẩn tò te như cậu con trai khờ khạo bị giai nhân cho "leo cây" một cách đột ngột và tàn nhẫn.

NGƯỜI THỨ TÁM
0
Đã đem vào thư viện






0