Diễn Đàn » Thể Thao

Võ sư Soshin Nagamine với Karate Okinawa

3 trả lời, 503 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-10-25 15:45:37Ct.Ly>
Võ sư Soshin Nagamine – 10 đẳng, hơn 90 tuổi, là một trong những nhân vật đáng chú ý. Võ đường của ông đặt trong một tiệm bánh – nguồn sinh kế của gia đình. Cũng như bao sư phụ khác, ông truyền sự sống cho võ thuật, nhưng sự sống của gia đình thì không thể trông mong vào võ thuật. Soshin Nagamine được kính trọng của tất cả tất cả cư dân trên đảo và cả những người đến để tinh luyện karate tại võ đường của ông – một võ đường mang tính chất và không khí cổ truyền, hoạt động không vì mục đích thương mại.




Soshin Nagamine


Chứng nhân cuối cùng

Chào đời ngày 13/07/1907, Soshin Nagamine được coi là chứng nhân cuối cùng còn sống của lịch sử môn Karate Okinawa. Ông đã chứng kiến giai đoạn mà Okinawate dưới sự lảnh đạo của Itosu được truyền dạy ở các trường công lập. Ông biết giai đoạn mà Funakoshi, giáo sư nhân sĩ của Okinawa sang Nhật để giới thiệu môn Okinawatecho quần đảo này. Ông đã thấy sự biến chuyển của Okinawate thành môn võ Nhật vớiteên gọi Karate như ngày nay. Soshin Nagamine đã sống gần trọn thế kỷ và ông đã chứng kiến trọn vẹn những biến chuyển của môn Karate ở Okinawa và ở cả nước ngoài. Ông đã đôi ba lần đi Mỹ điều khiển các cuộc tranh tài. Con trai ông dạy karate và sống ở Mỹ. Nhưng đứa cháu nội ông thì sống bên ông ở Okinawa. Mỗi buổi sáng ông thức dậy lúc năm giờ sàng để luyện tập môn võ mà ông đã trọn đời theo đuổi.

Võ sư Ankichi Arakari

Nagamine bắt đầu luyện tập Okinawate ở trường trung học trong lúc đang bị đau dạ dày với nhiều biến chứng. Vào thời đó, vệ sinh không được tốt như bây giờ. Những dịch bệnh thường hoành hành. Mặc dù cơn bệnh làm cho Nagamine rất yếu và đau đớn, ông đã quyết định theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt và tập luyện để tự chữa trị, gia tăng sức khỏe. Người bạn láng giềng Chojin Kuba đã từng học Karate hướng dẫn Nagamine một chương trình luyện tập mang lại kết quả rất tốt. Do vậy, Nagamine quyết định sẽ học hỏi sâu hơn môn karate. Năm 19 tuổi ông học với võ sư Ankichi Arakaki.

Võ sư Arakaki sinh tháng 9 năm 1899 ở shuri trong một gia đình đông con: 11 đứa tất cả. Cha mẹ sống bằng nghề nấu rượu. Thuở nhỏ, Arakaki thông minh nhưng không quan tâm đến sự học bằng hoạt động thể thao ngoại khóa. Arikaki học Karate rất sớm với Shipan Gusukuma và Chomo Hanashino. Sau khi rời trung học, Arakaki học với một sư phụ nổi tiếng là Chosin Chibana. Nhỏ con nhưng khỏe mạnh, vạm vỡ bởi những hoạt động thể thao cơ bắp, Arakaki tập luyện Karate với cả nhiệt tình say mê và sự tập trung cao độ về tinh thần lẫn thể xát. tài sản của gia đình đã giúp ông rất nhiều trong việc chuyên chú học tập này. Năm 22 tuổi, Arakaki di chuyển đến sinh sống ở Kadenna. Ở đây ông học với Chotoku Kyan, một khuôn mặt lớn của Karate trên đảo. Nagamine được 20 tuổi khi ông trở thành đệ tử của Arakaki.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tài sản gia đình khánh kiệt, cha Arakaki quyết định ông phải đi làm để trang trải những món nợ của đình. Arakaki làm việc cật lực. Một cơn bệnh đã quật ngã ông vào tháng 12 năm 1927. Ông trải qua 2 năm cuối đời trong đau bệnh, dù sáng, trưa, chiều vẫn tập luyện cú nhảy Nidan Geri và cú đá Tsumasaki geri. mặc dù còn trẻ, Nagamine rất được những người đương thời kính phục. Nagamine đã kể lại một kỷ niệm . Một ngày kia có chuyện va chạm với một gã to lớn và mạnh hơn nhiều, Nagamine cố gắng giàn xếp để tránh đánh nhau. Nhưng gã kia đã ném ông lăn lông lốc xuống cầu thang. Cuối cùng ông đứng dậy và tung cú đá Tsumasaki geri. Gã kia ngã xuống. Sáu tháng sau, một tờ báo địa phương đăng cáo phó gã kia và cho rằng cú đá là nguyên nhân gây ra cái chết. Nhưng cảnh sát không đá động gì đến sự việc. Nagamine gia nhập cảnh sát năm 1931 ở Kadenna. Ông có một may mắn lớn được học với một võ sư giỏi là Chotoku Kyan.

Võ sư Chotoku Kyan

Sinh tháng 12 năm 1870, Chotoku Kyan là con trai thứ ba trong một gia đình danh giá. Dòng họ kyan là bậc thứ 11 trong vương tộc. Cha Chotoku là Choju kyan ở trong hàng ngũ phục vụ của tướng quân Shokai. Là người có học thức , Choju am tường triết học Trung Hoa, nghệ thuật, văn chương Nhật và trên tất cả ông là một võ sư Karate lão luyện. Năm 12 tuổi, Chotoku theo cha đến Tokyo, ông học những trường phái Trung Hoa trong bốm năm. Cha ông lo ngại sức khỏa yếu ớt của con trai. Choji nghĩ rằng người kế tục của gia đình vương giả phải có tinh thần võ sĩ đạo trong một thân thể cường tráng, khỏa mạn. Choju đã dạy karate cho con trai. Mùa hè hay mùa đông, việc tập luyện luôn diễn ra ngoài trời. Sau khi học ở Tokyo, Chotoku trở về Okinawa, lúc này ông đã 18 tuổi. cha ông quyết định dành nhiều thời gian cho Chotoku tập luyện thêm Karate.
Choku kyan không làm việc gì nữa chừng. Ở Okinawa có 3 võ sư giỏi là Sokon Matsumara sống ở Shuri, Anko Itosu và Penchin Oyadomari ở Naha. Choju đã mời và tập hợp cả ba sư phụ lại để dạy cho Chotoku. Có cả sự tham dự của Nagamine bởi vì Nagamine rất thích Chotoku và hai người rất ăn ý nhau trong những cữ tập đối luyện Karate. Trong khi Chotoku có đặt quyền học tất cả các kỷ thuật lão luyện của ba sư phụ, Nagamine chuyên luyện Tomari te và shuri te. Rất thường trong môn Karate cổ truyền, mỗi sư phụ đưa ra một hình thức riêng biệt phù hợp với tư chất và tinh thần từng đệ tử . với Chotoku Kyan điều cốt yếu phải ghi nhớ là công và thủ không thể tách rời, lùi lại đở một đòn tấn công đồng thời phải tiến tới công kích đối phương trong một chuỗi động tác liên hoàn gần như là một. Nagamine rất thích lặp lại một kỹ thuật của sư phụ Chotoku kyan: chận một đòn tấn công của đối phương bằng một cú chỏ. Dưới thời Minh Trị bắt đầu năm 1868, những lãnh chúa phong kiến mất dần những đặt quyền về đất đai và bổng lộc. Gia đình Kyan cũng lâm vào trình trạng này. Dù vậy, Chotoku không bao giờ từ bỏ Karate. Ngược lại ông còn gắn bó. Ông đã cùng Nagamine học với sư phụ Yara bài quyền Kusanky. Chotoku dạy Karate cho những đứa trẻ trong làng và ở sở cảnh sát Kadenna. Chotoku kyan mất tháng 12 năm 1945 thọ 66 tuổi.


Võ sư Motobu Choki

Năm 1936, Nagamine theo một khóa huấn luyện 6 tháng ở sở cảnh sát Tokyo.Tại đây, Nagamine đã gặp võ sư Choki Motobu. Choki nổi tiếng với khuynh hướng ra đòn rất mạnh tay. Choki sinh tháng 2 năm 1871, con kế của một gia đình quyền quý. Ông là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử karate Okinawa..





Theo truyền thống chỉ người con cả được coi là kế tục người cha và nhận sự giáo dục đầu đủ, di sản, sự quan tâm chăm sóc của gia đình hơn các đứa con khác. Choki được gọi là Saru (người khỉ) vì tốc độ và khả năng bật nhảy cao. Bị từ bỏ trong gia đình, Choki nung nấu ý tưởng trở thành võ sĩ mạnh nhất ở Okinawa. Mỗi khi chiều xuống, Choki đi vào những nơi ăn chơi, gây sự, thách đố những người khác và đánh nhau với họ để chứng minh sức mạnh và lập những kỳ công cho mình. Một lần Choki đụng độ một võ sư Karate tên Harashiki và bị ông sửa trị cho một trận nên thân. Việc này không làm êm thấm được gì ! Trái lại, Choki tiếp tục thách đố và gây sự với tất cả mọi người. Choki đã học và gặt hái được rất nhiều kinh nghiệm trong những trận đánh đường phố này. Cách cư xử của Choki là tàn tích của phong kiến Nhật, theo luân lý võ sĩ đạo các võ sĩ phải chứng minh tài năng của mình qua những trận chiến đấu. Những võ sư thời đại đó đánh giá nghiêm khắc Choki bởi tiếng tăm xấu từ những cuỗ đánh nhau đường phố. Một số không nhận là Choki đệ tử ngoại trừ Kosaku Matsumora ở Tomari. Võ sư Kosaku dạy Choki quyền pháp nhưng từ chối dạy ông kỹ thuật chiến đấu. Choki đã phải học lóm những kỹ thuật đối luyện.


Năm 1921, Choki thắng một cuộc tranh giải ở Osaka khi ông đánh bại một chàng khổng lồ người Nga, vô địch quyền Anh. Nhiều người cho rằng ông đã sử dụng cú đấm lưng bàn tay (uraken), nhưng không thấy được nó được sử dụng như thế nào mà chỉ thấy đối thủ té xuống sàn đài. Bị phản đối, Choki đã dịu đi, bỏ những cuộc gây hấn ngoài đường phố, ông tập trung những năng lực để trở thành một võ sĩ thật sự quan tâm đến sự truyền bá tinh thần truyền thống của Karate Okinawa. Khi Nagamine theo học, Choki đang phê phán những nhà cấp tiến Okinawa đang canh tân môn Karate, thay đổi cả những bài quyền gốc. Để chống lại sự phản bội nguồn gốc này Choki đã quay về Okinawa học tất cả những bài quyền của Karate và Kobudo với Yabu Kentsu. Sau đó Choki đến Tokyo và lao vào cuộc tranh luận để giữ nguyên vẹn bản sắc gốc cho Karate Okinawa.

Choki mất năm 1944 ở naha.


Chi phái Matsubay - Ashi

Sau năm 1945, đau đớn trước sự suy đồi về đạo đức của thanh niên, Nagamine muốn khôi phục lại những truyền thống đạo đức Đông phương và giúp thanh niên tìm lại lý tưởng trong cuộc sống. Một cách tình cờ, Nagamine đọc được quyển ” Karate do kyohan” của giáo sư Funakoshi, ông quyết định cống hiến toàn bộ thời gian cho Karate và việc giáo dục giới trẻ. Được khuyến khích của sở cảnh sát Nagamine bắt đầu tổ chức và khánh thành võ đường năm 1953.

Trước đó, năm 1947, Nagamine đã đặt tên cho chi phái của ông là Matsubayashi Ryu. Bởi vì Sikon Matsubayashi là thầy của dòng họ Kyan và Kosaku Matsumora là thầy của Choki Motobu. Nagamine muốn tôn vinh ký ức về những người thầy của mình để không ai quên những con người đã xây dựng nên truyền thuyết về Karate Okinawa.

ST ! (trích Sổ tay võ thuật)

📎 soshinkarate
Đăng nhập để trả lời
0
Mỗi một võ sinh karate muốn đạt được trình độ chuyên môn cao, điều căn bản kỹ thuật trước nhất là tấn pháp. Tấn pháp quan trọng và cần thiết đối với võ sinh cũng như nền móng vững chắc cho một tòa nhà cao tầng. Bộ tấn Karate bao gồm 19 tấn khác nhau. Mỗi một tấn có khỏang cách khác nhau, hướng của mũi bàn chân, dạng của hai bàn chân, dạng của hai bàn chân đứng trụ tấn. Tất cả đều nhất nhất tuân thủ theo nguyên tắc khoa học, sự tính toán khoa học, giữa trọng tâm con người và khỏang hai chân trọng lượng chịu đựng trên mũi bàn chân.


Mỗi một tấn áp dụng thích nghi cho các đòn kĩ thuật làm tăng thêm sức mạnh của đòn thế bằng khỏang cách tấn công và phản công. Mỗi tấn được ổn định là làm cho trọng tâm con người luôn luôn được thăng bằng, trong di chuyển, cũng như cố định. Hoạt động di chuyển của một tấn là sự chuyển động từ phần thắt lưng trở xuống. Và chúng ta ví con người như đang cầm một bát nước đầy ngang thắt lưng, muốn nước khỏi tràn ra ngoài, chúng ta phải di chuyển trên mặt phẳng nằm ngang. Trọng tâm con người ở Đan Điền nơi tập trung sức mạnh về thể lực cũng như ý lực, chúng ta cố gắng giữ thăng bằng khi di chuyển tấn cũng như biến tấn: là không trồi lên sụt xuống. Khi di chuyển phối các tấn các kỹ thuật khác nhau, chúng ta phi phối hợp 2 tiêu chuẩn: thăng bằng và lanh lẹ, có như vậy chúng ta mới đạt hiệu quả tấn pháp.





Thân pháp: (Tai Kawasi)

Thân pháp Karate nền tảng căn bản ứng dụng kỹ thuật nhuần nhuyễn trong tập luyện giữa tấn pháp và kỹ thuật. Thân pháp rất hữu ích khi thi đấu. Thân pháp là sự phối hợp nhịp nhàng giữa tấn kỹ thuật trong khi tiến (Susumikata), lùi (Motorikata), bước chéo (Ayumi Ashi), bước lướt (Tsugi Ashi), duỗi chân (Okuri Ashi) hoặc vừa bước vừa lướt hoặc quay sau (Ushino Tai Kawasi).
Khi tập luyện phối hợp thân pháp chúng ta luôn luôn:
- Giữ thăng bằng con người.
- Chuyển động thân hình nhẹ nhàng mền mại.
- Luôn luôn giữ đúng tư thế tấn.
- Không được nhấc chân khỏi mặt đất cũng như không được chà sát mạnh vào mặt đất.
- Từ vùng thắt lưng trở xuống chuyển động di chuyển toàn bộ con người không trồi lên thụt xuống, chúng ta luôn luôn di chuyển trên mặt phẳng nằm ngang.

Kỹ thuật Karate:
Karate là một bộ môn có chưng trình huấn luyện kỹ thuật rất phong phú và đa dạng, mỗi một phần của bàn tay, cánh tay, cùi chỏ, đầu gối và chân đều là một vũ khí sắc bén. Mỗi một kỹ thuật Karate đều mang tính khoa học trong tấn công cũng như đỡ đòn. Tùy theo khong cách, vị trí, hình dạng của đối thủ các đòn thế Karate sẽ được sử dụng tưng ứng với hiệu quả năng lực đòn thế cao nhất dù ở góc độ khó nhất. Hiệu năng đòn thế của cánh tay (từ cùi chỏ đến 5 đầu ngón tay) và chân (từ đầu gối đến 5 đầu ngón chân) được võ sinh Karate phát huy tối đa khi tấn đỡ đòn và phản công. Cho dù sử dụng đòn thế nào đi chăng nữa mỗi một võ sinh Karate muốn đạt căn bản chuyên môn phi đạt trình độ kỹ thuật Karate mà tất cả các kỹ thuật Karate đều dựa trên các nguyên lý khoa học về vật lý và tâm lý.
Về nguyên lý vật lý:
1. Tận dụng sức mạnh tối đa
:
Muốn tăng tối đa sức mạnh đòn thế phải dựa trên các yếu tố sau:
- Sức mạnh tỷ lệ thuận với độ co dãn bắp thịt.
- Độ công phá của một sức mạnh tỷ lệ nghịch với thời gian tác dụng.
- Trong các kỹ thuật dùng cách lật tay (dỡ và chặt) dùng cách xoay hay xoắn (trong các cú đấm) xoay vặn hông (trong các cú đá) để tạo vận tốc ban đầu.

2. Về tập trung sức mạnh
Các kỹ thuật Karate tập trung sức mạnh để tăng hiệu năng kỹ thuật cần phải đúng lúc và đúng chỗ.
- Dùng mặt phẳng tiết diện nhỏ tiếp xúc thì cú đánh tác dụng càng mạnh càng uy lực.
- Vận dụng nhiều bắp thịt thì sức mạnh càng lớn.
- Muốn tập trung tối đa sức mạnh trong cơ thể phi tập trung vận dụng các bắp thịt đồng chiều đỡ, sử dụng hiệu nghiệm sự hợp lực của các sức cho các bắp thịt khác nhau tác dụng.
- Vận dụng sức mạnh tối đa theo trình tự vận chuyển cơ bắp như bắp thịt ở bụng và ở hông rồi đến tay chân.
- Dùng phản học để ổn định hỗ trợ và tăng sức mạnh đòn thế khi phát ra.

3. Về hơi thở:

Điều hoà hơi thở đúng lúc sẽ tăng sức mạnh đòn thế và tránh gây nguy hiểm cho bản thân. Đối với bộ môn Karate nhiều người quan niệm đó là một môn võ chuyên dùng ta không, với quan niệm này người ta chưa hiểu rõ nghĩa chữ Karate và tất cả các kỹ thuật của bộ môn. Trên cở thể con người được chia thành 3 vùng rõ nét: vùng cao, giữa và thấp. Các kỹ thuật Karate đều áp dụng cho 3 vùng đó trong đó có đòn chân. Riêng đòn chân Karate cũng phong phú đa dạng không kém gì đòn tay kể cả trong tư thế nằm, tuỳ theo khong cách và vi trí dạng hình của đối thủ mà võ sinh Karate sẽ vận dụng đòn thế kỹ thuật tay hay chân để thích ứmg đem lại hiệu quả năng lực đòn thế cao nhất.

Nguyên lý tâm lý:Sức mạnh kỹ thuật không phải là yếu tố quyết định mà nó còn phi phụ thuộc vào yếu tố tâm lý. Nếu một võ sinh Karate đạt được những yếu tố nguyên lý này thì sẽ đem lại thành công trong thi đấu cũng như đời sống.
- Tâm bình
- Trí sáng
- Sự hợp nhất giữa tâm trí và ý trí.

ST !
Đăng nhập để trả lời
0
Năm 1930, thầy Kenwa Mabuni (Chưởng môn Hệ phái Shito Ryu) và Chojun Miyagi (Chưởng môn Hệ phái Goju Ryu) đã thành lập nhiều Câu lạc bộ Karatedo lớn ở Osaka (Nhật Bản). năm 1935, thầy Gichin Funakoshi xuất bản cuốn sách “Karatedo Kyohan” tạo bước phát triển vững chắc của Karate trong làng võ thuật Nhật Bản. Năm 1936, thầy đã thành lập Hệ phái Shotokan Ryu. Sau này, thầy Hironiri Ohtsuka cũng thành lập Hệ phái Wado Ryu. Bốn hệ phái lớn của Karatedo/


1) Hệ phái Shotokan Ryu (Tùng Đào Quán Lưu):


“Đòn đỡ cũng là đòn tấn công dưới sự bộc phát của cường lực (Kime) cao nhất”.

a) Sức mạnh: Tốc độ càng nhanh thì sức càng mạnh, cường lực càng dũng mãnh mới xuyên phá được mục tiêu như khi luyện công phá. Bạn phải tập trung sức mạnh bàn tay (hoặc chân) và khi va chạm phải xuyên suốt bất kỳ vật cản nào mới mang lại hiệu quả. Trong đối kháng hiện đại, khi một đòn đấm thuận vào trung tâm cơ thể đối phương, bạn dùng bàn chân trước để xoay mũi chân sau về trước, tay cùng chiều với chân đấm ra chuyển thân mình thành tấn trước, vai nghiêng 450 khi chân chạm đất trước mặt. Hiệu quả của nó là ở cường lực xuyên phá. Trong đối kháng truyền thống, lúc đối phương đang lao nhanh vào tấn công bạn là thời điểm bạn sử dụng sức mạnh tối đa, chỉ cần một kỹ thuật đá ngang (Yoko geri) cho hai lực nghịch cộng lại sẽ có hiệu quả tốt. Đỡ bằng nắm đấm (Ken) để ngăn chặn đòn tấn công của đối phương trực tiếp là lấy sức mạnh để phá vỡ sức mạnh.


b) Tốc độ:
Đỡ nhanh nhẹn, nhu nhuyễn. Nó thuần về kỹ thuật tay mở (Sho), không va chạm trực tiếp, để linh hoạt dự bị cho những kỹ thuật phản công ngay sau khi đỡ. Đồng thời, bạn phải phối hợp tốt di chuyển thân pháp nhanh nhẹn để thực hiện kỹ thuật.

Những kỹ thuật căn bản nhưng được tập luyện thường xuyên như: Jodan age uke, Chudan uchi uke, Gedan Barai để được chuẩn xác phương hướng, phát lực hiệu quả. Sau đó, bạn tăng tốc độ, di chuyển theo đòn tấn công của đối phương. Những kỹ thuật này được biến thế qua kỹ thuật tay mở. Dạng này cũng được áp dụng trong các quyền thức các bài quyền nhập môn chủ yếu là nắm tay. Khi quá trình luyện tập lâu hơn, theo trình độ tăng tiến, bàn tay mở sẽ áp dụng nhiều hơn. Đòn đỡ của Shotokan Ryu là Tốc độ + Sức mạnh = Kime.


2) Hệ phái Wado Ryu (Hòa Đạo Lưu):
“Đòn đỡ cũng là điều kiện để tấn công”. Đòn đỡ luôn là động tác dự bị tấn công, nó sẽ không thực hiện nếu không nhằm mục đích tấn công. Đòn đỡ muốn có hiệu quả phải trên cơ sở đòn tấn công của đối phương nương theo chiều tấn công, không cản lại bằng những kỹ thuật Nagashi (dòng chảy), Inashi (đã qua) và Nori (cưỡi) để làm giảm lực tấn công của đối phương.

Khi đỡ đòn, kỹ thuật rất đa dạng, nhiều bộ vị trên cơ thể được sử dụng triệt để, tiến thoái xoay chuyển được chia đều cho toàn thân để nương một cực nhỏ chống đối lại cực lớn với phương pháp “Tam vị nhất thể” (3 trong 1). Ví dụ: đối phương tấn công một đòn đấm vào mặt, bạn sẽ nương theo đòn ấy chia đều khoảng cách cho các kỹ pháp: chuyển vị tức là thay đổi vị trí chân, chuyển thể tức là xoay chuyển toàn thân bằng hông và chuyển kỹ tức là làm biến đổi kỹ pháp. Nếu được vậy, bạn sẽ không chỉ vận dụng nhiều kỹ thuật ở đôi tay mà là của kỹ thuật toàn thân.

Trong tập luyện, bạn luôn ý thức ”Phòng ngự là tấn công và tấn công cũng là phòng ngự”, không sử dụng kỹ thuật đơn điệu mà phải sáng tạo.


3) Hệ phái Shito Ryu (Mịch Đông Lưu):
“Quán tưởng (nhìn thấy) đối phương để có kỹ thuật phù hợp”. Hệ phái này chú trọng các động tác nhanh nhẹn, tư thế đối kháng với tấn cao di động hữu hiệu, ít sử dụng lực, không cứng nhắc nguyên tắc mà sáng tạo phù hợp theo thể tạng mỗi người. Quan điểm của Hệ phái Shito Ryu theo phương châm:


a) Rakka (Cánh hoa rơi):
Đón đỡ đòn tấn công của đối phương đến như hứng đỡ cánh hoa đang rơi xuống mặt đất.

b) Ryusui (Dòng chảy):
 Khi đỡ đòn tấn công của đối phương, ta phải nương theo lực đánh của họ như dòng nước chảy chứ không đỡ trực tiếp.

c) Ten-i (Hoán vị):
Đòn tấn công của đối phương đến, chúng ta di chuyển thích hợp theo một trong tám hướng với đòn tấn công đó.

d) Kussin (Ẩn thân):
 
Đòn tấn công của đối phương đến, chúng ta hóa giải bằng cách co duỗi thân thể, tạo khoảng cách an toàn mà đòn tấn công không thể va chạm được, ngay sau đó trở về vị trí cũ để phản công.

e) Hangeki (Phản kích):
 Phòng ngự và tấn công là một (Công phòng nhất thể), các bạn hóa giải được từ dự đoán được đòn tấn công của đối phương và phản công ngay cử động đầu tiên.

Tất cả phương pháp hóa giải của Hệ phái Shito Ryu được tập luyện từ kỹ thuật căn bản đến quyền thức, luôn ước lượng tốc độ, sức mạnh đối phương để áp dụng kỹ thuật có lợi thế cho ta. Nếu bạn cảm thấy tình huống khoảng cách không có lực, hãy áp dụng “Cánh hoa rơi”. Bạn hãy luôn soi rọi, tìm kiếm kẻ hở của đối phương để có kỹ thuật phù hợp.

4 )Hệ phái Okinawa Goju Ryu (Cương Nhu Lưu):
Quan niệm của hệ phái này là “Chuyển động tròn” tức ứng dụng trong phòng ngự hoặc tấn công muốn có hiệu quả tốt, phải xoay chuyển liên động của các thành phần thân thể: hông, vai, cánh tay, chân v.v…Để hóa giải, bạn ứng dụng quán tính Moment (↑↔↓M=F. d ) vào kỹ thuật để lực mạnh nhất phát sinh vào giai đoạn giữa, khi lực va chạm đến sẽ bị triệt tiêu. Trong Goju Ryu, kỹ thuật được ước lượng tốc độ và sức mạnh, những sức mạnh không có lợi sẽ bị loại bỏ dần, kết hợp với các kỹ thuật nhu để cương nhu được nhuần nhuyển tạo ra sức mạnh tối đa. Hệ phái này chú trọng những điểm nhấn về các động tác nhanh-chậm-thả lỏng kết hợp sự điều khí hít thở cơ bụng, các kỹ thuật ngắn gọn, chặt chẽ. Phương pháp tập luyện có 3 cách:

a) Luyện kỹ thuật Hachisabaki (Tám tám):
 Cánh tay xoay chuyển theo hình số 8 tạo sự linh hoạt cho chân và hông. Phương pháp di chuyển 4 phương hướng chính 900 và 4 hướng chếch 450.

b) Kakie (Quái thủ):
Tạo sự niêm dính của hai cánh tay.

c) Sanchin (Tam chiến):
 Bài quyền giúp tấn pháp kiên cố để phát triển toàn diện.

Karatedo có trên một trăm hệ phái, mặc dù có rất nhiều hệ phái khác nhau nhưng tất cả đều theo một hệ thống võ thuật thế giới.

Đến năm 1940, Karatedo được tôn vinh ở Nhật Bản, trở thành bộ môn tiêu biểu nhất trong làng võ thuật nước này, rất nhiều trường Trung, Đại học đã thành lập Câu lạc bộ riêng. Karatedo không những được giới trẻ yêu thích để phát triển thân thể cường tráng, giáo dục tinh thần và thể chất mà còn đến với giới trung niên, các em thiếu niên như một phương cách gìn giữ sức khỏe. Môn võ này cũng rất tiện ích cho người phụ nữ nào muốn có một thân hình thon thả và để tự vệ khi cần thiết.

Cũng vào năm này, thầy Choji Suzuki (Tổ sư của Karatedo Việt Nam) – Thuộc Hệ phái Takeno Uchi Ryu (Trúc Chi Nội lưu) của dòng thiền Soto (Tào Động) ở Nagasaki truyền thụ với mục đích “làm giàu tri thức, giàu ứng xử và giúp người là giúp mình”. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc vào năm 1945, thầy tình nguyện ở lại Việt Nam dạy những bài võ Karatedo truyền thống đầu tiên mang tính chiến đấu thực dụng cho bộ đội, tự vệ ở Liên khu bốn, sau đó chuyển công tác về Liên khu năm.

Đến năm 1956, thầy thành lập Đạo đường Linh Trường Không Thủ Đạo (Suzucho Karatedo Dojo Noen Ryu) tại Huế, Suzucho là họ và tên ghép của người sáng lập nhưng cũng có nghĩa là “Tiếng chuông vang xa”.

Hệ thống giảng dạy của hệ phái này là phương pháp Tewaza, Ashiwaza, Ukewaza, Ozodosad… cùng 9 bài quyền Yen và Maki nhằm mục đích “làm giàu tri thức, giàu ứng xử và không vì danh lợi cá nhân, quyền lực, được, mất, thực, hư ở cõi người” với tôn chỉ truyền thống: “Nhân ái, Trí tuệ, Dũng cảm” để rèn luyện tinh thần và thể chất, hành xử quang minh, chính trực, công bằng và cao thượng. Lấy sự chính trực và lòng chân thật làm hành trang đi tới Đạo.

Với môn quy rất nghiêm khắc, người nhập môn phải chuẩn mực đạo đức, tôn trọng Đạo đường (Dojo), nghi thức, trung thực với mọi người, không chửi thề, thậm chí không hút thuốc lá, uống rượu. Họ được tôi luyện để bình thản với thắng, thua ở đời thường bằng một niềm tin, thấu đáo mọi lẽ, với khát vọng, ước ao đã hoạch định để hành động nổ lực đến mục đích mong muốn, nhằm vươn tới Chân – Thiện – Mỹ.

Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu có độ dày hoạt động khá lâu và nhất là thầy Chưởng môn sống gắn bó hơn nữa cuộc đời mình với Việt Nam – Nơi có truyền thống văn hóa lịch sử hào hùng nên hấp thụ nền văn hóa ở đây. Vì thế, môn võ này mặc nhiên trở thành Karatedo Việt Nam, có lực lượng môn sinh đông đảo nhất.

Hiện nay hơn bốn vạn người tập luyện hằng ngày với năm khu vực của sáu mươi tư tỉnh, thành. Ngoài ra, hệ phái còn có trên mười Phân đường đã phát triển ở các quốc gia khác như Australia, Mỹ, Canada và Đông âu…

Thời gian qua, Karatedo Việt Nam đã gặt hái nhiều thành quả vẻ vang với rất nhiều huy chương vàng, bạc ở các giải Khu vực, Châu lục và Thế giới mang vinh quang về cho Tổ quốc. Tổ chức Hệ phái hoạt động theo truyền thống của cố Chưởng môn đời thứ nhất: Choji Suzuki, được sự bảo trợ của Uỷ ban Thể dục Thể thao Việt Nam.

Chưởng môn bổ nhiệm Trưởng tràng thành lập Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và các Ban Chuyên môn. Chưởng môn có thể bãi miễn nếu Trưởng tràng và Ban Chấp hành làm việc không hiệu quả. Hiện nay, Hệ phái này đã chuẩn hóa kỹ thuật hài hòa với bốn Lưu phái chính là Shotokan Ryu (Tùng Đào Quán Lưu), Wado Ryu (Hòa Đạo Lưu), Shito Ryu (Mịch Đông Lưu) và Okinawa Goju Ryu (Cương Nhu Lưu) để cải tiến phương pháp huấn luyện và luyện tập được phát triển trên diện rộng. Môn võ này có thể hoà trộn, thẩm thấu Karatedo Hiện đại và Karatedo Truyền thống để trở thành Karatedo Việt Nam nhưng nét đặc trưng của Suzucho Ryu – Nền móng của tự vệ truyền thống sẽ không lẫn vào đâu được.

Ngày 18-3-2007, Hệ phái Suzucho Ryu đã tiến hành Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2007-2012) tại TP.Hồ Chí Minh, đã thống nhất 9 chương trình hành động cụ thể của nhiệm kỳ này với tinh thần đoàn kết, trí tuệ, sáng tạo, chủ động hội nhập và phát triển. Đại hội đã thông qua sửa đổi môn quy, quyết định kể từ nay hệ phái có tên gọi là Suzucho Karatedo Ryu (Linh Trường Không Thủ Đạo Phái), phù hiệu hệ phái theo đúng mẫu cũ (Sư huynh Hạ Quốc Huy thiết kế từ tháng 3-1973)

Tổ sư Suzucho Karatedo Ryu : Choji Suzuki (Phan Văn Phúc).

Chưởng môn đời thứ hai: Tokuo Suzuki (Phan Văn Minh Đức).

Học trò xuất sắc của thầy Choji Suzuki là: Lê Văn Thạnh, hiện Trưởng tràng Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu – Phó Chủ tịch Liên đoàn Karatedo Lâm thời Việt Nam – Trọng tài Quốc gia – Huấn luyện viên Đội tuyển Karatedo Việt Nam – Trưởng Bộ môn Karatedo tỉnh TT Huế

Lê Công – Phó Trưởng tràng Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu – Phó Chủ tịch Liên đoàn Karatedo Lâm thời Việt Nam – Huấn luyện viên Trưởng Đội tuyển Karatedo Việt Nam – Trọng tài Quốc gia; Phó Trưởng tràng Ngô Văn Thanh, Phó Trưởng tràng Nguyễn Tấn Kiệt và Tổng thư ký Nguyễn Ngọc Thạo…

Ngoài ra, còn có các cao đồ và môn đồ như Henry Nguyễn Xuân Dũng, Hạ Quốc Huy, Trần Đình Tùng, Khương Công Thêm, Hoàng Như Bôn, Nguyễn Bá Kiều, Trần Định, Dương Đình Vinh, Nguyễn Chí Trí, Tôn Vĩ Đại, Trương Dẫn, Nguyễn Đình Kỉnh, Phan Hữu Bốn, Nguyễn Thông, Trương Đình Hùng, Lê Văn Phước, Hoàng Công Minh, Nguyễn Đình Anh Tuấn, Nguyễn Thành Tự, Nguyễn Phi Hổ, Huỳnh Văn Muôn, Lê Văn Lộc, Lê Văn Thọ, Hồ Vũ Sang, Vũ Kim Anh, Nguyễn Nguyệt Ánh, Nguyễn Đình Sơn, Dương Phước Hùng, Võ Ngọc Tín, Dương Đình Hội, Nguyễn Kính, Hoàng Mai Sơn, Phạm Hồng Hà, Hà Thị Kiều Trang, Nguyễn Thị Thảo Quyên, Hồ Thu Nguyệt Hằng, Nguyễn Hoàng Ngân v.v…đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển Karatedo Việt Nam ngày nay.
Đăng nhập để trả lời
0
Trong tất cả các môn võ, không thể thiếu phần khởi động cho cơ thể

Khởi động là giúp cho cơ thể sẵn sàng cho những động tác đòi hỏi sức lực của cơ bắp hay sự mềm mại của thân thể . Không tập những thế khởi động kỹ, người mới tập rất dễ có những chấn thương nguy hiểm (có thể dẫn đến tàn phế -suốt đời không tập võ được). Những người đã đạt tới trình độ võ thuật cao thì cơ thể lúc nào cũng sẵn sàng cho mọi động tác, có thể ứng chiến và đối phó với mọi tình huống

Nhiều người coi thường những thế khởi động đơn giản mà chỉ thích những thế võ đẹp . Nhưng nên nhớ rằng, tập võ mà không có căn bản thì thà đừng tập, nếu không sẽ có hại cho cơ thể về sau này

Những người thường cũng có thể luyện tập những thế này mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và buổi tối thì cơ thể sẽ tráng kiện, dẻo dai, giúp cơ thể đề phòng bệnh tật rất hữu hiệu

Khi tập nên tập nhẹ nhàng trước, sau đó thì mạnh dần lên, đừng đột ngột dùng lực mạnh mà tổn hại cho gân bắp và các khớp xương

1. KHỞI ĐỘNG ĐẦU CỔ


- Lắc cổ : Đứng thẳng người, hay tay chống vào hông, hai chân mở ra, khoảng cách giữa hai bàn chân bằng chiều rộng của vai . Xoay đầu nhẹ qua phải ngó về phía sau, khi không xoay được nữa thì ngừng lại (Hai vai không di chuyển), quay qua trái . Tập khoảng 10 lần thì tăng tốc độ lên dần, tập khoảng 30 đến 50 lần . Khi xoay cổ mắt mở ra nhìn thẳng về hướng xoay . Lúc mới đầu sẽ rất chóng mặt, nhưng thời gian sau sẽ quen .

B- Gập cổ: Cũng giống động tác trên, nhưng thay vì quay qua trái phải thì ngẩng đầu lên và cúi xuống

C- Xoay cổ: Xoay tròn đầu xung quanh cổ, từ trái sang phải khoảng 10-30 lần thì quay ngược lại .

Ba động tác trên đây giu;p cho cơ cổ thêm rắn chắc, giúp máu huyết vùng cổ và đầu lưu thông dễ dàng hơn . Khi tập mở mắt, sẽ giúp cho mắt tập quan sát những vật thể chung quanh một cách nhanh chóng, sau này khi tập võ sẽ có thể nhìn thấy cảnh vật chung quanh trong mọi lúc, mọi tình thế . Giúp cho người tập làm quen với sự mất thăng bằng của bộ não, sau này dù có nhảy xoay người, đá xoay người, lăn lộn cũng không bị chóng mặt hoa mắt (những người hay bị say xe, say sóng tập cũng có thể giúp làm giảm bớt phần khó chịu khi phải đi xe đi tàu)

Nhớ đừng tập quá mạnh sẽ làm chấn thương xương sống vùng cổ thì nguy hiểm (có thể dẫn đến bại liệt nếu chấn thương vùng sống cổ nặng). Cảnh giác cho mọi người biết, nhưng không có nguy hiểm nếu tập từ từ.

2 KHỞI ĐỘNG VAI.

A- Xoay vai 1: Hai chân đứng rộng bằng vai, đứng thẳng, tay trái đặt trên vai phải, cánh tay phải xuôi thẳng theo người . Xoay tay từ trước ra sau, mới đầu chậm sau đó nhanh dần, đừng xoay nhanh quá 2 vòng mỗi giây, bởi vì khi xoay tay quá nhanh và mạnh sẽ làm bể những tĩnh mạch nhỏ ở dưới da, làm thành những chấm đỏ li ti . Nếu thấy hiện tượng này thì cũng đừng lo lắng, khoảng 1 tuần thì nó sẽ tự biến mất . Xoay khoảng 20-50 vòng thì xoay ngược lại . Sau đó thì đổi tay (đổi bên)

B- Xoay vai 2: Đứng hai chân rộng bằng vai, lưng thẳng, hai tay đưa về phía trước ngang ngực, quay hai tay ngược chiều nhau, lúc đầu làm chậm cho quen, sau khi quen rồi thì nhanh dần, tập khoảng 10-30 lần thì đổi chiều quay .

C- Xoay vai 3: Đứng như trên, hai tay co lại, các đầu ngón tay chạm vào vai (các đầu ngón tay của bàn tay phải đặt lên vai phải và bên trái cũng vậy). Xoay tròn khớp vai . Tập khoảng 10-20 lần thì đổi chiều xoay

D- Giãn cơ ngực: Đứng như trên, hai tay đưa ra phía trước, kéo mạnh hai cùi chỏ về phía sau lưng (giống như đang thúc cùi chỏ về phía sau), sau đó quạt hai cánh tay về phía sau .

Các động tác trên giúp khởi động khớp vai, các cơ bả vai và cơ ngực

3 KHỞI ĐỘNG TAY.

A- Lắc Cổ Tay Ngang: Đưa hai tay ra phía trước, thả lỏng cơ bắp của cả cánh tay, cổ tay, và bàn tay . Lắc bàn tay theo chiều ngang

B- Lắc Cổ Tay Dọc: Cũng giống như trên, nhưng lắc bàn tay lên xuống theo chiều dọc

C- Xoay Cổ Tay: Tay trái nắm ngay phía cánh tay phải, sát ngay cổ tay, tay phải nắm lại, xoay tròn cổ tay phải từ trái sang phải, khoảng 10 lần thì đổi chiều . Sau đó thì đổi tay

D- Xoay Khuỷu Tay: Hai tay đưa xéo về phía trước khoảng 45 độ, giữ phần từ vai xuống cùi chỏ nguyên vị trí, xoay cánh tay (từ cùi chỏ xuống bàn tay) xung quanh khuỷu tay, tập khoảng 10 lần, sau đó quay ngược lại

4 HÔNG , BỤNG.

- Xoay Hông 1: Hai tay chống hông, xoay hông từ trái sang phải, khi xoay hông giữ hai chân thẳng, cổ và đầu giữ thẳng, mắt nhìn thẳng về phía trước, tập khoảng 10 lần thì đổi chiều

B- Xoay Hông 2: Hai chân đứng rộng bằng hai lần chiều rộng của vai, hai chân giữ cho thẳng, hai tay đưa thẳng lên đầu . Xoay hông, thân người và tay theo chiều kim đồng hồ, từ hông trở xuống thì giữ nguyên . Khoảng 10 lần thì đổi chiều xoay .

C- Vặn Hông: Đưa hai tay về phía trước, ngang vai . Quay người về bên trái, hai chân vẫn giữ cho thẳng . Từ hông trở xuống không xoay, vai và tay đưa hết mức ra sau, sau đó đưa qua bên phải . Tập khoảng 10 - 20 lần

D- Gập Người 1: Chụm hai chân lại với nhau, hay bàn tay đan lại, đặt sau gáy, người đứng thẳng, sau đó gập người xuống cho trán đụng vào ống quyển chân hay đầu gối, cố gắng giữ lại ở tư thế đó vài giây rồi mới đứng thẳng lại . Tập khoảng 10-20 lần

E- Gập Người 2: Hai chân đứng rộng bằng hai lần chiều rộng của vai, hai bàn tay đan lại với nhau đặt sau gáy, đứng thẳng người . Cúi gập người về phí chân trái cố gắng cho trán đụng chân, sau đó đứng thẳng lên và gập người về bên phải . Tập như vậy khoảng 10-20 lần

Những động tác trên giúp cho cơ hông, cơ bụng, cơ lưng được mạnh khỏe, giúp giữ cho bụng thon

5 ĐẦU GỐI , CỔ CHÂN.

A- Xoay đầu gối: Chụm hai chân lại, hai tay đặt trên hai đầu gối, xoay hai đầu gối cùng lúc và cùng chiều với nhau . Tập khoảng 10-20 lần thì đổi chiều .

B- Ấn đầu gối: Tư thế bắt đầu cũng giống như trên, hai tay đặt trên hai đầu gối . Ấn vào đầu gối hai cái, sau đó ngồi xuống, rồi đứng lên như tư thế ban đầu . Tập khoảng 10-20 lần

C- Xoay cổ chân: Đứng trên một chân trái, chân phải vắt ngang đùi trái, tay phải nắm bắp chân phải chỗ gần cổ chân, tay trái nắm mũi bàn chân phải, dùng tay trái để xoay tròn cổ chân phải, khoảng 10-20 lần thì quay ngược lại . Sau đó đổi chân

6 GIÃN CHÂN.

A- Dãn chân 1: Đứng rộng hai chân (khoảng bằng 2-3 lần chiều rộng của vai), hai tay đặt trên hai đầu gối, ngồi về phía bên phải, chân trái duỗi thẳng mũi bàn chân hướng thẳng lên trời, tay trái ấn xuống đầu gối trái vài lần, rồi đứng lên như lúc ban đầu, sau đó ngồi xuống về bên trái, chân phải duỗi thẳng mũi bàn chân hướng thẳng lên trời, tay phải ấn xuống đầu gối phải vài lần, rồi đứng lên như thế ban đầu . Tập khoảng 10-20 lần cho mỗi bên

B- Dãn chân 2: Đứng rộng hai chân (khoảng bằng 2-3 lần chiều rộng của vai), hai tay đặt trên hông, lưng thẳng mắt nhìn thẳng về phía trước . Nhíc chân dần dần ra hai bên (chiều rộng giữa hai chân càng ngày càng rộng) đến khi không ra thêm được nữa thì ngừng lại khoảng 30 giây đến vài phút .

C- Dãn chân 3: Từ tư thế B ngồi xuống đất (hai chân mở rộng), cố gắng cho chân không thu hẹp lại, cúi người về phía trước, hai tay duỗi thẳng về phía trước, sau đó ngồi thẳng lưng lên (hai chân vẫn mở rộng), tiếp tục cúi xuống ......... tập khoảng 10-20 lần

D- Dãn chân 4: Từ tư thế C, nghiêng người về bên trái cho đầu đụng đầu gối trái, nghiêng về bên phải cho người đụng đầu gối phải . Tập khoảng 10-20 lần

E- Dãn chân 5: Từ tư thế D, đưa hai chân về phía trước, hai tay đan lại với nhau đặt sau gáy, cúi gập người xuống phía trước cho trán đụng đầu gối . Tập khoảng 10-20 lần

7 TAY , CHÂN.

Sau phần dãn chân ở trên thì coi như bạn đã sẵn sàng cho buổi tập rồi, nhưng cơ thể lúc đó chưa có nóng đâu , sau đây là vài động tác làm nóng người đổ mồ hôi

A. Đấm Trung Đẳng: Đứng Trung Bình Tấn (hay còn gọi là Kị mã tấn), Hai tay nắm chặt đặt ngay cục xương hông hai bên, lòng bàn tay ngửa lên trời, tay trái đưa ra trước ngang vai, lòng bàn tay úp xuống đất, chỉnh cho nắm tay nằm gần đường giữa người . Đấm mạnh tay phải ra đồng thời kéo tay trái về . Nhớ là khi rút tay nào về thì lòng bàn tay ngửa lên đặt ngay hông, còn tay đấm ra thì lòng bàn tay úp xuống, tay nằm giữa người . Tập từ từ, đến khi quen tay thì hay đấm nhanh . Đấm đơn khoảng 20-30 lần . Sau đó thì đấm hai tay luân phiên nhau (tay trái đấm một cái, tay phải đấm một cái), tập khoảng 10 lần . Cứ tăng lên đấm liên tục ba lần, bốn lần, năm lần . Khi đấm năm lần liên tục x 10 lần, tổng cộng là bạn đã đấm được 150 cái rồi

B. Đấm liên hoàn: Cũng như trên, nhưng đấm ba vị trí: Thượng đẳng, Trung đẳng và Hạ đẳng .

C. Hất chân phía trước: Chân trái trước, chân phải phía sau, khoảng cách từ chân trái tới chân phải khoảng 2-3 chiều rộng của vai . Hai tay đưa ra hai bên để giữ thăng bằng trong thời gian đầu - sau khi đã quen rồi thì không cần . Hất chân phải lên phía trước, hất mạnh nhưng đừng quá sức, chân giữ thẳng nhất là đầu gối, đừng ham hất cao mà cong đầu gối lại . Mới đầu thì mũi bàn chân cao khoảng ngang vai, nhưng sau này thì đầu gối đập vào vai . Tập khoảng 10-50 lần thì đổi chân .


Bây giờ coi như bạn đã thật sự sẵn sàng cho các buổi tập võ rồi . Có thêm vài động tác nữa dùng để luyện những đòn thế đặc biệt, thường dùng cho các cấp đai cao.

ST
Đăng nhập để trả lời
0