Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nữ sĩ Mộng Tuyết (1918-2007)

2 trả lời, 359 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-08-07 13:15:47Ct.Ly>
Sáng 1/7/2007, thêm một thi sĩ tiền chiến về cõi vĩnh hằng :

Nữ sĩ Mộng Tuyết (1918-2007)

- Sau hơn 1 tháng lâm trọng bệnh, được tận tình cứu chữa tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang, sáng ngày 1/7/2007, lúc 8 giờ 5 phút, nữ sĩ Mộng Tuyết đã đi vào cõi vĩnh hằng.


Nữ sĩ Mộng Tuyết, tên thật là Lâm Thái Úc (Út) sinh ngày 09/11/1918 ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên (Kiên Giang), là hiền thê của cố thi sĩ – giáo sư Văn Chương Đông Hồ Lâm Tấn Phác. Cùng với Đông Hồ và những nhà thơ lững lẫy khác như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Ngân Giang, Anh Thơ... bà đã ghi dấu chân dung thơ của mình trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Bà đã để lại cho đời những tác phẩm: Hà Tiên Thập Cảnh, Gầy Hoa Cúc (Ức viên lệ ký), Dưới Mái trăng non (tuyển tập thơ văn), Hà Tiên xưa và nay (bút ký)...

Đặc biệt, Mười khúc đoạn trường là 10 bài thơ cứu đói vô cùng xúc động do bà sáng tác, thi sĩ Đông Hồ viết bằng bút lông trên giấy tranh thuỷ mặc đưa lên Sài Gòn bán quyên góp tiền gửi ra Hà Nội cứu tế đồng bào miền Bắc trọng nạn đói năm 1945.

-Ở tuổi 90, cả cuộc đời người phụ nữ tài hoa lạ lùng này đã vắt kiệt cho văn chương và cho người bà rất mực yêu thương là phu quân - thi sĩ Đông Hồ. Khi ông tại thế, bà là người bạn thơ tri kỷ, người vợ hiền khiêm tốn luôn tâm kính lùi một bước. Khi ông đau tim ngã xuống trước mặt học trò thân yêu trên giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn, bà là người lưu giữ, sưu tập, nỗ lực đưa những di cảo của ông liên tục đến với người đọc cả nước. Chính bà đã làm hết sức mình để Hà Tiên còn một địa chỉ văn hóa: Nhà lưu niệm Đông Hồ.

66 năm trước, nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” đã nhận xét về thơ bà: “Những lời tuy bình dị mà có một vẻ yêu kiều riêng tưởng ngòi bút đàn ông khó có thể viết ra được”.

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương – ái nữ cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị – người nữ sĩ Mộng Tuyết thương yêu như em ruột, nghẹn ngào nói: “Bà không qua khỏi đâu! Hoa (cháu nữ sĩ Mộng Tuyết) lo đến quẫn trí, hết biết đường tính rồi”. Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương nhờ UBND tỉnh Kiên Giang giúp đưa bà về Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường, đừng để bà mất tại bệnh viện. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Văn Hà Phong đã rời một cuộc họp quan trọng để đến thăm nữ sĩ Mộng Tuyết, sẵn sàng làm theo ý nguyện của gia đình.
Nhà lưu niệm Đông Hồ. Ngôi nhà ấy với cây liễu cổ thụ bốn mùa xanh tươi ở Hà Tiên cả tháng qua khép cửa mong bà trở về. Tôi nhớ những câu thơ đẹp của bà mà 61 năm xưa từng làm nhà phê bình Hoài Thanh rung động:

Mua bốn phương trời mây nước đẹp
Mua nghìn năm cảnh cỏ hoa tươi
Hãy còn thừa thãi, tiêu chưa hết
Mua lấy trần gian, tiếng khóc cười


Nhưng liền theo những câu thơ xanh tươi thiếu nữ ấy, tôi lại quặn lòng vì một câu thơ khác của bà: “Nét mực vừa khô, lệ ướt dầm, lời xưa thêm gợi mối thương tâm…”.
Bà ra đi, để lại cho chúng ta niềm thương tiếc lớn lao về một tấm lòng nhân ái, một nhân cách


Giới thiệu một tác phẩm:

Dương liễu tân thanh

Trân trọng mạc giao hành khách thủ
Đoản trường tình tự kỷ, ân cần.
Lê Bích Ngô



"Dương liễu mười bài" chép gửi anh.
Ly hoài, ai khéo gợi cho mình.
Bích Ngô âu cũng lòng thôn nữ
Chung với nghĩa xưa một mối tình.

"Bên đường, qua lại bao nhiêu khách;
"Riêng bẻ cành xuân đưa tặng nhau.
"Sung sướng Giang Nam chàng phới ngựa,
"Tháng ngày bóng liễu rũ tơ sầu…

"Lả lướt đợi ngày xuân trở lại,
"Ngày xuân trở lại, hỏi bao ngày!
"Năm canh lạnh lẽo kinh sương gió,
"Ngùi ngậm tan xuân hoa rụng đầy …"

Nét mực vừa khô, lệ ướt đầm,
Lời xưa thêm gợi mối thương tâm.
Biệt ly còn bận đời danh sĩ;
Huống chốn buồng the khách chỉ kim.

(Bùi Thụy Đào Nguyên, đưa tin)
Đăng nhập để trả lời
0
Nhớ “Chiếc lá thị thành” của nữ sĩ Mộng Tuyết


Khi viết văn, viết báo, nữ sĩ Mộng Tuyết ký nhiều bút hiệu khác nhau: Hà Tiên cô, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ, Mộng Tuyết thất tiểu muội.

Năm 1939, Mộng Tuyết được bằng khen về thơ của Tự Lực Văn Đoàn với thi phẩm Phấn hương rừng. Bà bắt đầu nổi tiếng từ đó. Năm 1943 bà in chung với Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương tập thơ Hương xuân là tuyển tập thơ nữ đầu tiên ở nước ta.


Nữ sĩ Mộng Tuyết thời xuân xanh.



Thơ bà có nhiều cung bậc, lúc bàng bạc mênh mang như trong Dương liễu tân thanh; khi hồn nhiên, nhí nhảnh với Làm cô gái Huế, Em xấu hổ, Em trả thù; lúc êm đềm, dịu dàng như trong Chữ thập hồng, Mười bài tương tư… “Lời thơ tuy bình dị mà có một vẻ yêu kiều riêng, tưởng ngòi bút đàn ông khó có thể viết ra được” (Hoài Thanh).

Năm 1945, phát xít Nhật đốt thóc thay than, gây ra nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc làm chết 2 triệu đồng bào ta, bà viết Mười khúc đoạn trường kêu gọi cứu đói cho đồng bào miền Bắc. Trong bài thơ Giá gạo Tràng An gửi Vân muội, cô hàng hoa vườn Trí Đức, bà viết:

Cấp báo về đây tự nẻo xa,
Người đang ngắc ngoải đợi chờ ta.
Vốn nghèo biết giúp gì em nhỉ!
Ngã mại kỳ văn, nhĩ mại hoa (1).


Năm 1948, Đông Hồ chủ trương “Phụ trang văn chương” trên tờ nhật báo Sống. Một hôm, trên trang văn chương số 159 ngày 18-9-1948 bỗng xuất hiện bài thơ Chiếc lá thị thành, dưới ký Mộng Tuyết thất tiểu muội, trong đó có mấy câu:

Đây một tờ thư của thị thành
Thả về thăm hỏi chiến khu xanh.
Hỡi anh chiến sĩ mùa thu trước,
Hơn một mùa thu bận chiến tranh.

Lẫm liệt rừng thu gió tải về
Bao tờ lá đỏ chiến công ghi.
Bao tờ lá đỏ đề lời máu,
Thề quyết thành công một chuyến đi…


Thật không ngờ, ngày 3-10-1948, cũng trên trang văn chương ấy có bài thơ trả lời nhan đề Lá thơ rừng của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ từ chiến khu gửi ra, trong đó có mấy câu:

Trời! Cảm động đọc bức thư thành thị
Gởi về thăm và an ủi chiến khu
Dấu lệ rơi trên nét chữ đã mờ,
Lời êm ả, dịu dàng và tha thiết.

…Ngày phục thù lưỡi kiếm cứ lăm le,
Và mỗi buổi trỏ gươm về hướng ấy:
Thề lấy lại thủ đô và thành thị
Để ngàn thu dân Việt nhẹ căm hờn…


Về tình bạn thì nữ sĩ Anh Thơ là một trong những người bạn thân nhất của Mộng Tuyết. Sau khi hai nữ sĩ cùng được giải thưởng về thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1939, Anh Thơ viết thư làm quen với Mộng Tuyết và mời bà ra Bắc Giang chơi (Bắc Giang là quê hương của Anh Thơ). Bấy giờ Mộng Tuyết rất bận, không đi được nên làm bài thơ Đợi gió để phúc đáp:

Gởi Anh Thơ
Mấy vần thơ đợi gió.
Lòng xuân thắm đỏ
Lòng thuyền nho nhỏ
Đợi nước triều lên…

…Khi xuân thắm đượm khắp nơi nơi,
Vạn vật đem xuân trả lại đời
Mà chẳng trả cho thuyền tí gió
Để thuyền thương nhớ những phương trời…

Ở Hà Nội, Anh Thơ có một vườn cây nho nhỏ trồng toàn cây của Mộng Tuyết tặng. Khi Anh Thơ vào Sài Gòn sống với chồng (bác sĩ Bùi Viên Dinh) thì những cây hoa sứ, sói, phát tài trồng ở đây. Sau khi chồng mất, Anh Thơ đem chúng ra Bắc trồng trước nhà mình. Năm 2002, nhân mừng thọ Mộng Tuyết 90 tuổi (2), Anh Thơ cũng lặn lội từ Hà Nội vào Hà Tiên để chúc mừng mặc dù năm ấy bà cũng đã 84 tuổi và không được khỏe. Thật hiếm có tình bạn nào cao đẹp đến thế.

Năm 1969 thi sĩ Đông Hồ từ trần, Mộng Tuyết vô cùng đau xót vì Đông Hồ là người thầy, người anh, người bạn đời mà Mộng Tuyết vô cùng yêu quý. Năm 1996, sau khi xây xong “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” ở Hà Tiên trên nền nhà Trí Đức học xá cũ, Mộng Tuyết bán ngôi biệt thự ở đường Nguyễn Trọng Tuyển (Phú Nhuận, TPHCM) trở về Hà Tiên, sống ở đấy để ngày đêm hương khói cho Đông Hồ. Khi có bạn bè đến thăm, bà thường chỉ vào ngọn núi Tô Châu trước mặt, nơi có mộ của nhà thơ Đông Hồ và nói:

– Tôi sẽ về ở đó với anh Đông Hồ mãi mãi.

Nay thì bà đã toại nguyện. Thọ đến 94 tuổi, nữ sĩ Mộng Tuyết có một cuộc đời đẹp như mơ và trong ngần như tuyết. Những vần thơ réo rắt, du dương, êm đềm, truyền cảm của bà sẽ còn ghi một dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc.
(1) Thơ cổ. Nghĩa là: Ta bán văn, còn em bán hoa (để lấy tiền cứu đói). Nghĩa ở đây khác với nghĩa trong nguyên tác (Tràng An tửu giá cao như mễ. Ngã mại kỳ văn, nhĩ mại hoa).

(2) Lễ chúc thọ sớm một năm vì lúc ấy Mộng Tuyết đã yếu lắm. 



HUYỀN VIÊM
Đăng nhập để trả lời
0
MỘNG TUYẾT
(1918-2007)

Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng


 


Mộng Tuyết tên thật là Lâm Thái Úc (lẽ ra tên Út vì nữ sĩ có sáu người anh, nên sau này có bút hiệu Thất Tiểu Muội); sinh ngày 9 tháng 1 năm 1918 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên.

Năm 1926, sau khi học hết bực Sơ đẳng, nữ sĩ bắt đầu luyện văn ở Trí Đức Học Xá, (do thi sĩ Đông Hồ điều khiển) và sáng tác những bài văn ngắn dưới bút hiệu Thái Nữ Mộng Tuyết, góp lại thành tập Bông Hoa Đua Nở, đăng ở Nam Phong tạp chí năm 1930.

Năm 1935, Mộng Tuyết thường xuyên viết truyện ngắn đăng trên tuần báo Sống (Sài Gòn).
Nhưng năm kế tiếp, nữ sĩ tập làm thơ và gởi dự cuộc thi thơ do tự Lực văn đoàn tổ chức . Tập thơ Phấn Hương Rừng được giải khuyến khích năm 1939 ( Ban Giám khảo gồm nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ , Hoàng Đạo, Thạch Lam Tú Mỡ ).

Năm 1943, Cùng với nữ sĩ Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ in chung một tập thi tuyển Hương Xuân do nhà Nguyễn Du ở Hà Nội xuất bản.
Sáng tác của Mộng Tuyết đã đăng trên các báo: Tiểu Thuyết Thứ Năm , Hà Nội báo, Con Ong, Đông Tây, Trung Bắc Chủ Nhật, Trí Tân, Gió Mùa, Ánh sáng, Nhân Loại Tập San, Bách Khoa, Văn, Văn Học. Nữ sĩ có nhiều bút hiệu: Mộng Tuyết, Hà Tiên Cô, Thất Tiểu Muội, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ…

Nữ sĩ Mộng Tuyết đã từ giã cõi đời vào lúc 8giờ05 ngày 1-7-2007, tại bệnh viện Đa Khoa Kiên Giang, hưởng thọ 89 tuổi.

Đã xuất bản :
·         Đường Vào Hà Tiên ( tùy bút, Bốn phương, Sàigòn, 1960 )
·         Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp (Ký sự lịch sử, Bốn phương, Sàigòn, 1961)
·         Truyện Cổ Đông Tây (1969)
·         Dưới Mái Trăng Non (thơ, 1969)
·         Núi Mộng Giang Hồ (hồi ký, Nxb Trẻ, Tp HCM)

 
Em bị cười
Mơ màng nghe có tiếng người yêu
Réo rắt bên hè thổi khúc tiêu,
Nhanh nhẹn tung chăn , em nhổm dậy
Bàng hoàng ngái ngủ, vội em kêu :
- Anh ơi ! Anh đợi tí! Cho em
Còn sửa sang qua nếp áo xiêm.
Vuốt lại tóc em buông bối rối,
Điểm qua lượt phấn, chút hồng thêm…
Cửa mở. Em tìm chẳng thấy ai
Người yêu em đã phới xa rồi;
Bên rào còn để đôi hoa thắm
Hờ hững cười em mê ngủ thôi !
(Hà Nội báo, số 2, 3-6-36)
 
Em trả thù
- Anh ơi ! Em thích đời thi sĩ
Vui lòng, anh dạy em làm thơ?
- Em đừng chúng chứng, cười anh bảo,
Thơ thẩn gì em? Khéo ngẩn ngơ !…
…Một nàng tiên nữ đẹp như em,
Là một bài thơ, một quả tim.
Là áng hồng son, là gió lướt,
Là hoa xuân thắm, bóng trăng đêm…
…Thi sĩ, em ơi ! đó lại là,
Người đi theo dõi bóng thiên nga,
Ước mơ, yêu thích và ca ngợi,
Những cái mà em đã có thừa !
- Nhưng không, em muốn học làm thơ
Để trả thù anh đã hững hờ :
Rồi phút say sưa anh có lại,
Hôn em…Em sẽ đẩy anh ra.
Bấy giờ, em cũng bảo anh rằng :
"Em bận làm thơ", anh nhớ chăng?
Hôm nọ; bên anh, em nũng nịu,
Lạnh lùng anh cứ mãi nhìn trăng.
(Hà Nội báo,số 7, 29-4-36)
 
Dương liễu tân Thanh
(Trân trọng mạ giao hành khách thủ.
Đoản trường tình tự kỷ ân cần
Lê Bích Ngô)
"Dương liễu mười bài" chép gửi anh.
Ly hoài ai khéo gởi cho mình.
Bích ngô âu cũng lòng thôn nữ
Chung với nghìn xưa một mối tình.
"Bên đừơng, qua lại bao nhiêu khách;
"Riêng bẻ cành xuân đưa tặng nhau.
"Sung sướng Giang-nam chàng phới ngựa,
"Tháng ngày bóng liễu rủ tơ sầu…
“Lả lướt đợi ngày xuân trở lại :
" Ngày xuân trở lại, hỏi bao ngày!
“ Năm canh lạnh lẽo kinh sương gió,
" Ngùi ngậm tàn xuân hoa rụng đầy…"
Nét mực vừa khô, lệ ướt dầm,
Lời xưa thêm gợi nỗi từ tâm.
Biệt ly còn bận đời thi-sĩ;
Huống chốn buồng the khách chỉ kim.
(Phấn Hương Rừng)
 
Vì anh Thọ Xuân
(Để tặng anh Đông Hồ bộ Việt Pháp Tự điển)
Vì ai, đề tặng sách cho ai:
Rồi lại vì ai cảm tạ người ;
Bởi sợ nhà thơ nghèo đến chữ,
Yêu nhau , đưa tặng mấy muôn lời
Tiếng nhà , của sẵn kho vô tận,
Mặc sức tiêu hoang , mặc sức chơi:
Mưa bốn phương trời mây nước đẹp,
Mua nghìn năm cảnh cỏ hoa tươi.
Hãy còn thừa thải, tiêu chưa hết,
Mua lấy , trần gian, tiếng khóc cười .
Trước hết , đã mua rồi một món:
Thành Phương – hương điểm mối tình dài
(Phấn Hương Rừng)
 
MƯỜI KHÚC ĐOẠN TRƯỜNG
1. Giá gạo Tràng An
Nghe nói Trường An giá gạo cao
Đói cơm cửu hạn khát mưa đào
Bà con ta ở miền Trung Bắc
Thóc gạo Đồng  Nai những ước ao
Tổ quốc bâng khuâng hồn nghệ sĩ
Cô em rủ chị học làm thơ
Em vui bẻ mực dầm ngòi thỏ
Chị mãi rừng văn xây lối mơ
Cấp báo về đây tự nẻo xa
Người đang ngoắc ngoải đợi chờ ta
Vốn nghèo biết giúp gì em nhỉ
Ngã mại Kỳ văn nhĩ mại hoa
 
2. Tin miền Bắc
Quốc vận bình minh hằng nắng vàng
Mừng vui chưa dứt tiếng reo vang
Xa xăm những đợi tin miền Bắc
Cơ cẩn kìa đâu tin bỗng sang
Khắp lòng vui lại để lo âu
Đói khát bao nhiêu nỗi thảm sầu
Trời đất chửa tan màu khói lửa
Anh em đang gặp cảnh thương đau
Máu mủ tình kia đã bảo ta
Đưa tay nâng đỡ chị em nhà
Giống nòi chưa chết lòng chưa chết
Non nước hồn vang tiếng thiết tha
 
3. Hồng Hà không phải sông vô địch
Con cháu Rồng Tiên họ một nhà
Ai làm non nước chuyện chia ba
Cho hồn Tổ Quốc bâng khuâng lắm
Tai biến nhìn nhau thêm xót xa
Êm ái Nhà Bè nước chảy chia hai
Gạo cơm Cần đước nước Đồng Nai
Hồng Hà không phải sông vô địch
Mà vẫn bờ sông xương trắng phơi
No ấm miền Nam trong lúc nầy
Bát cơm bữa bữa được bưng đầy
Ai ơi nghĩ nhớ người đang đói
Muỗng cháo cầm hơi đợi phút giây
 
4. Những linh hồn bơ vơ
Trạm Bắc đưa về tin xót xa
Lang thang thê thảm kẻ không nhà
Đồng quê khốn khó tìm ra chợ
Bồng bế con thơ dắt díu già
 
5. Xẻ cháo nhường cơm
Hồng Lạc nguời chung một giống nòi
Có đâu Nam Bắc đất chia hai
Xót tình máu mủ cơn nguy biến
Xẻ cháo nhường cơm ai hỡi ai
Máu chảy ruột mềm đau xót lắm
Rách lành đùm bọc lấy cho nhau
Trong nhà đang có người kêu đói
Xẻ cháo nhường cơm mau hãy mau
Nạn đất tai trời đành đã vậy
Nhưng mà chị ngã hãy còn em
Có rồi nhưng cũng chưa là đủ
Xẻ cháo nhường cơm thêm lại thêm
 
6. Hấp hối đợi chờ
Tai mới nghe qua lòng thổn thức
Xác người xe nhặt mỗi ban mai
Còn bao nhiêu nữa đang quằn quại
Hấp hối chờ cơm hơi mỏn hơi
Gốc rạ cọng rơm vơ mót sạch
Dây khoai củ chuối món cao lương
Vỏ cây dây lá không còn nữa
Đất trụi đồng trơ nuốt thảm thương
Thoi thóp tàn chơ cứu tế
Hột cơm khi đói khi no
Giàu nghéo ai cũng thừa tâm huyết
Nhiều ít nài chi hãy cứu cho
 
7. Cấm yên
Vật uống món ăn đành đã hết
Có tiền không gạo biết đâu mua
Ruộng vườn trống trải đồng không cỏ
Không vụ chiêm không vụ mùa
Mạ mới gieo xong đã gặt liền
Mái tranh không sợi khói vươn lên
Thử thì bất tỉ thanh minh tiết
Để sự trù trung đã cấm yên
 
8. Ai đắp điếm
Làng mạc đìu hiu cảnh não nùng
Bờ ao lặng ngắt tiếng côn trùng
Sân vườn vắng bóng loài gia súc
Cửa ngỏ lều không ôi lạnh lùng
Nhan nhản ngoài đồng xác chết phơi
Xôn xao đàn quạ liệng đen trời
Mùi tanh theo gió bay lan khắp
Hơi sức ai còn đắp điếm ai
Đồng loại còn thương huống ruột rà
Bà con nhau đó có ai xa
Đem lòng ta đói thương người đói
Thì thấy lòng ta bao thiết tha
 
9. Đúc chuông
Nhớ chuyện đời xưa lễ đúc chuông
Xa gần góp lại của thiên môn
Có người sốt sắng mua âm đức
Bạc nén vàng thoi cũng góp luôn
Lửa đỏ nung tan cả vạc đồng
Người quăng đôi xuyến kẻ đôi vòng
Muốn vo quả phúc cho tròn trặn
Gửi cả vào đây vạn ước mong
Nay đã gặp rồi mùa Cứu khổ
Đúc chuông ngày trước phước về đâu
Ai ơi hãy nhớ câu nhà Phật
Một mạng người hơn chín nhịp cầu
 
10. Nạn đói nước Ngô
Nước Việt ngày xưa muốn phục thù
Đem toàn lúa hấp trả về Ngô
Thấy là lúa tốt cho gieo giống
Năm ấy bên Ngô bị mất mùa
Nạn đói làm bại nước Ngô
Gương kia
Còn để tự bao giờ
Nay không hấp giống cho mùa mất
Đốt thóc thay vì đốt củi khô
Giặc đói xâm lăng nước mình
Hột cơm cứu đói ; đạo tinh binh
Ngày đêm hãy gấp đường ra Bắc
Tiếng khải triền vang khúc thái bình
Mười khúc đoạn trường
(Mùa đói năm 1945)
Đăng nhập để trả lời
0