Diễn Đàn » Tin Tức Âm Nhạc - New Release

Tiểu sử nghệ sĩ ca nhạc kịch

10 trả lời, 1.523 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 14:28:15Ct.Ly>
Nguyễn Hưng





Nguyễn Hưng là con của vũ sư Ánh Tuyết, nổi tiếng từ đầu thập niên 60 tại Việt Nam với lớp huấn luyện khiêu vũ và vũ dân tộc.

Bà đã có công đào tạo nhiều vũ sư tài giỏi cho đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Trong số đó có người con trai út của bà là Nguyễn Hưng, từng đoạt giải Kim Khánh về khiêu vũ do nhật báo Trắng Đen tổ chức vào năm 1972 với thể điệu Cha Cha Cha khi mới lên 17 tuổi. Nguyễn Hưng đến với ca nhạc không bằng giọng hát của mình mà với bộ trống, một nhạc cụ anh rất mê thích được mẹ anh mua cho. Với bộ trống đầu tiên trong đời, Nguyễn Hưng với tên thật là Nguyễn Từ Hưng đã gia nhập ban nhạc trẻ The Radiations đi trình diễn nhiều nơi trong suốt 2 năm.


  Trong biến cố tháng 4 năm 1975, Nguyễn Hưng từng cộng tác với một số đoàn hát như đoàn xiếc Độc Lập, Bông Sen... cùng với một số vũ trường ở Sàigòn vì chưa hề có một căn bản nào về thanh nhạc. Một thời gian ngắn sau anh được giáo sư Duy Tân chỉ dẫn và khi qua đoàn Bông Sen 2, anh cũng như tất cả diễn viên khác đã được theo học những khóa luyện thanh và nhạc lý. Nhờ vào đó anh đã có được một mớ hành trang để đến với sinh hoạt ca nhạc sau này. Cho đến khoảng năm 1982 - 1983, Nguyễn Hưng trở lại với nghề dạy khiêu vũ.


  Nguyễn Hưng đặt chân đến Toronto, Canada vào năm 1992 do sự bảo lãnh của người vợ sang đây từ trước là Thục Hiền. Vào năm 1994, trong một dịp sang Toronto trình diễn, nữ ca sĩ Phương Hồng Quế mà anh từng quen biết trước kia, đã khuyến khích Nguyễn Hưng sang Cali thăm dò tình hình vì đây có nhiều cơ hội để phát triển ngành ca hát. Cùng với Phương Hồng Quế, Nguyễn Hưng sang Cali và tham dự đêm ra mắt CD của nữ ca sĩ Phi Phi tại vũ trường Đêm Màu Hồng ở Nam Cali vào tháng 3 năm 1994.

Đêm đó anh đã lên sân khấu hát giúp vui 2 nhạc phẩm: "Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang" và "Đưa Em vào Cõi Chết" là những nhạc phẩm từng được trình bày qua tiếng hát Elvis Phương và Thái Châu cũng là hai giọng anh rất ưa thích và công nhận là có chịu phần nào ảnh hưởng.

Đêm đó cũng có mặt cô Tô Thủy của trung tâm Thúy Nga và cô đã mời anh hợp tác, một điều anh không ngờ tới.

Hiện nay Nguyễn Hưng đang đầu tư thật nhiều vào người con trai tên Nguyễn Hưng Long, cũng có năng khiếu ca hát và khiêu vũ giống như anh.

Và anh cũng rất biết ơn người vợ của anh là Thục Hiền, hiện đang điều hành một tiệm ăn ở Toronto.



trước 75


sau 75






Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-26 10:09:01Ct.Ly>
Tiểu Sử Quang Lê





Là một ca sĩ trẻ, cùng gia đình định cư ở Mỹ từ năm 10 tuổi, Quang Lê đã chọn và biểu diễn thành công dòng nhạc quê hương. Nhạc sĩ lão thành Châu Kỳ đã từng khen Quang Lê là ca sĩ trẻ diễn đạt thành công nhất những tác phẩm của ông…

  Quang Lê rất hạnh phúc và anh xem lời khen tặng đó là sự khích lệ rất lớn để anh cố gắng nhiều hơn nữa trong việc diễn đạt những bài hát của nhạc sĩ Châu Kỳ cũng như những bài hát về tình yêu quê hương đất nước. Sinh năm 1980, được xếp vào một trong những ca sĩ trẻ thành công, nhưng Quang Lê luôn khiêm tốn cho rằng thành công thường đi chung với sự may mắn, và điều may mắn của anh là được lớn lên trong tiếng đàn của cha, giọng hát của mẹ. Tiếng hát, tiếng đàn của cha mẹ anh như quyện lấy nhau, như một sợi dây vô hình kết nối mọi người trong gia đình lại với nhau. Những âm thanh ngọt ngào đó chính là dòng nhạc quê hương mà Quang Lê trình diễn ngày hôm nay. Quang Lê cho biết: Mặc dù sống ở Mỹ đã lâu nhưng hình ảnh quê hương không bao giờ phai mờ trong tâm trí Quang Lê, nên mỗi khi hát những nhạc phẩm quê hương, những hình ảnh đó lại như hiện ra trước mắt. Có lẽ vì thế mà giọng hát của Quang Lê như phảng phất cái không khí êm đềm của cố đô Huế.

   Quang Lê là con thứ 3 trong gia đình gồm 6 anh em và một người chị nuôi. Từ nhỏ, Quang Lê thường được người chung quanh khen là có triển vọng. Cậu bé chẳng hiểu có triển vọng là gì, chỉ biết là mình rất thích hát, và thích được cất tiếng hát trước người thân, để được khen ngợi và cổ vũ. Đầu những năm 1990, Quang Lê theo gia đình sang định cư tại bang Missouri, Mỹ. Một hôm, nhân có buổi lễ được tổ chức ở ngôi chùa gần nhà, một người quen của gia đình đã đưa Quang Lê đến để giúp vui cho chương trình sinh hoạt của chùa, và anh đã nhận được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Quang Lê nhớ lại, người nghe không chỉ vỗ tay hoan hô mà còn thưởng tiền nữa. Đối với một đứa trẻ 10 tuổi, thì đó quả là một niềm hạnh phúc lớn lao, khi nghĩ rằng niềm đam mê của mình lại còn có thể kiếm tiền giúp đỡ gia đình.

  Say mê ca hát từ nhỏ, và niềm say mê đó đã cho Quang Lê những cơ hội để đi đến con đường ca hát ngày hôm nay. Có sẵn chất giọng Huế ngọt ngào, Quang Lê lại được cha mẹ cho theo học nhạc từ năm lớp 9 đến năm thứ 2 của đại học khi gia đình chuyển sang sống ở California. Anh từng đoạt huy chương bạc trong một cuộc thi tài năng trẻ tổ chức tại California. Thời gian đầu, Quang Lê chỉ xuất hiện trong những sinh hoạt của cộng đồng địa phương, mãi đến năm 2000 mới chính thức theo nghiệp ca hát. Nhưng cũng phải gần 2 năm sau, Quang Lê mới tạo được chỗ đứng trên sân khấu ca nhạc của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Và từ đó, Quang Lê liên tục nhận được những lời mời biểu diễn ở Mỹ, Canada, Úc, Pháp....
  Quan điểm của anh là khi dự định làm một việc gì thì hãy cố gắng hết mình để đạt được những điều mà mình mơ ước. Quang Lê cho biết anh toàn tâm toàn ý với dòng nhạc quê hương trữ tình mà anh đã chọn lựa và được đón nhận, nhưng anh tiết lộ là những lúc đi hát vũ trường, vì muốn thay đổi và để hòa đồng với các bạn trẻ, anh cũng trình bày những ca khúc Techno và cũng nhảy nhuyễn không kém gì vũ đoàn minh họa.

  Hiện nay Quang Lê sống cùng gia đình ở Los Angeles, và vẫn thường xuyên được thưởng thức những món ăn Huế do chính tay người mẹ nấu. Đôi khi anh cũng ăn hamburger và một số món ăn của các nước Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan.




Quang Lê Như Quỳnh




Quang Lê - Mai Thiên Vân




Quang Lê - Mai Thiên Vân







Quang Lê - Hà Phương
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-26 10:09:34Ct.Ly>
Ca Sĩ Ý Lan




Ý Lan tên thật là Lê Thị Ý Lan, sinh ngày 1.1.1958 tại Sài Gòn. Thân phụ của Ý Lan là tài tử lão thành Lê Quỳnh và thân mẫu là nữ danh ca Thái Thanh. Ngày còn bé, chị em ý Lan được mọi người chú ý, thầy cô yêu mến vì có mẹ Thái Thanh là ca sĩ nổi tiếng. Đi đến đâu, ai cũng bảo con gái mẹ Thái Thanh đấy ư và dành cho chị em nhiều tình cảm. Được theo mẹ đến các phòng trà, sân khấu xem mẹ hát nên âm nhạc như ngấm vào người chị từ bao giờ chẳng biết. Ngay từ năm sáu tuổi, chị đã nghỉ ngày, Ý Lan nghêu ngao hát những ca khúc của người lớn.

Từ bé tôi vẫn được mẹ đưa đến phòng trà, nơi mẹ hát hàng đêm, nhưng từ khi tôi 12-13 tuổi, cái tuổi bắt đầu “tò mò” với cuộc sống chung quanh, mẹ không cho tôi đến phòng trà chơi nữa. Dù là một ca sĩ rất nổi tiếng nhưng mẹ không muốn tôi đi theo con đường ca hát, vì cảm thấy cuộc đời nghệ sĩ quá truân chuyên. Mẹ tôi chỉ muốn con mình là một công chức, có chuyên môn nghề nghiệp, làm giờ hành chính và thời gian còn lại dành cho gia đình. Vì vậy tôi gần như không được chuẩn bị gì cho nghề ca hát của mình sau này, tôi không có thời gian học hành bài bản về âm nhạc hoặc luyện giọng. Những gì Ý Lan có là do bản năng, do gen di truyền từ bố mẹ và là do sự thôi thúc của ước mơ - ước mơ được hát. Khi hát, tôi hát với những gì từ rung động của con tim mình, có thể nói những cảm xúc dạt dào, tinh tế khi diễn tả những giai điệu âm nhạc là thế mạnh của Ý Lan và có lẽ đó cũng là điều đã hấp dẫn khán giả.
Vốn thương mẹ nên Ý Lan đã cất niềm đam mê ca hát vào trong lòng, học hành rất nghiêm túc. Điểm số các môn học của Ý Lan rất cao. Chị chọn nghề bác sĩ làm mục tiêu vì thích câu “Lương y như từ mẫu” Dù không được đi hát nhưng niềm đam mê vẫn luôn có trong máu của ý Lan. Không được hát trên sân khấu thật, chị leo lên bàn ăn cơm để đứng hát. Các chương trình văn nghệ trong trường phổ thông đều có sự tham gia của ý Lan. Một lần, chị đại diện trường Nguyễn Bá Tòng tham gia cuộc thi ca hát giữa các trường. Hôm đó, Ý Lan đã trình bày ca khúc của Quê hương của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Lần đó, chị gây sửng sốt cho nhạc sĩ Ngọc Chánh, trưởng ban nhạc Shortguns ngày xưa. Ông tưởng chừng như đang nghe tiếng hát của Thái Thanh. Sau đêm nhạc đó, nhạc sĩ nhờ nghệ sĩ ưu tú Kim Cương đến nhà xin mẹ cho Ý Lan đi hát. Thế nhưng Thái Thanh từ chối vì muốn con gái chú tâm vào chuyện học hành. Năm 19 tuổi, cuộc đời Ý Lan rẽ sang một bước ngoặt đầy bất ngờ khi chị quyết định lấy chồng trước sự ngỡ ngàng của nhiều người trong gia đình. Dù mẹ ra sức ngăn cản nhưng bản tính “cứng đầu”, chị vẫn làm theo tiếng gọi của tình yêu.

Lúc ấy, mình còn quá trẻ nên chỉ nghĩ đã yêu thì phải lấy nhau thôi. Có lẽ mẹ Thái Thanh nghĩ con gái lấy chồng sẽ từ bỏ ý định theo nghề hát nên bà đã gật đầu đồng ý
Bắt đầu sự nghiệp ca hát ở tuổi 33 Năm 1980, chị rời Việt Nam với đứa con gái đầu lòng và bụng bầu gần đến ngày sinh đến ngày sinh nở. Sống trên đất khách, nhờ vốn tiếng Anh và tiếng Pháp, chị nhanh chóng tìm được công việc quản lý nhà hàng trong khách sạn Four Seasons của Mỹ. Có thời điểm, Ý Lan làm hai công vịêc ở hai nơi, một ngày làm hơn 14 giờ là chuyện thường. Những tưởng, cuộc sống đã dập tắt lửa ca hát trong chị, nào ngờ... Năm 1989, trung tâm Diễm xưa mời Ý Lan thu hai bài hát Bao giờ biết tương tư và Mười năm tình cũ. Lần này, chị gật đầu vì khao khát được hát một lần.
Mùa Xuân năm 22 tuổi, trong ba ngày Tết, tôi ngồi nghe những bản hòa âm đầu tiên có giọng hát của mình. Mẹ tôi cười tủm tỉm, vì biết con gái mình đã có thể nối nghiệp mẹ một cách vững chãi. Mẹ tôi vẫn luôn dạy: “Đừng nhận hát bừa một ca khúc nào nếu con tim mình chưa thật rung cảm. Nếu giả vờ yêu để hát thì cảm xúc đó không thật”. Có lẽ tôi chịu ảnh hưởng nhiều ở mẹ.



Khi album vừa phát hành, chị nghe một người bạn nói: “33 tuổi mới bắt đầu đi hát làm sao nổi tiếng được”. Trước lời nhận xét như vậy, chị không buồn hay nản chí. Với Ý Lan, đi hát vào độ tuổi ấy không phải để được nổi tiếng hay mưu sinh mà đơn giản là để thoả mãn đam mê được ca hát đã giấu kín suốt mấy chục năm qua. Chỉ bốn tháng sau khi đĩa phát hành, tiếng hát Ý Lan trở nên nổi tiếng như một hiện tượng ở thị trường hải ngoại. Nhạc sĩ Ngọc Chánh đã đàn khi chị hát bài Quê hương năm xưa, cố công tìm để mời chị hát ở vũ trường Ritz, California, Mỹ và chị đã nhận lời. Ngày xuất hiện trên sân khấu, chị rất giản dị với váy đầm kiểu nữ sinh, áo sơ mi trắng, khuôn mặt không hề đánh phấn hay kẻ mắt chỉ đánh son môi đỏ. thấy vậy, Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, bác ruột của chị, nói với Thái Thanh: “Em phải khuyên bé Lan chăm chút quần áo một tí khi ra sân khấu. Chứ ăn mặc kiểu nữ sinh thế này không được đâu”. Thế nhưng, phong cách giản dị của Ý Lan vẫn gây ấn tượng mạnh với khán giả. Tên tuổi chị vụt sáng trong làng văn nghệ ở hải ngoại. Các bầu show ở khắp nơi liên tục mời chị. Ban đầu đi hát, Ý Lan có chồng đi theo hộ tống. Sau đó cuộc hôn nhân đổ vỡ, bố chị thương con gái, đã tháp tùng để chăm sóc.
Không phải vì đi hát hay trở thành ngôi sao nổi tiếng mà vợ chồng chia tay. Sự rạn nứt đã có từ lâu nhưng đến lúc mâu thuẫn không thể giải quyết được thì chia tay là điều không tránh khỏi. Tôi có thể chịu đựng tất cả nhưng không chịu đựng chuyện động tay chân và những lời nói xúc phạm. Tôi quyết định chia tay vì muốn yên ổn và để con cái không bị tổn thương tâm lý
Tìm lại hạnh phúc nhờ âm nhạc

Giữa những chuyến đi hết mình cho âm nhạc, chị gặp người chồng thứ hai của cuộc đời mình. Đến nay, Ý Lan đã thể hiện hơn 1000 ca khúc và đã có hơn 60 CD riêng nhưng cảm xúc với âm nhạc vẫn chưa bao giờ nguôi. Chưa bao giờ đứng trên sân khấu mà chị không đặt trọn cảm xúc vào từng lời ca tiếng nhạc. Khán giả tìm đến chị, không chỉ đơn thuần là nghe hát mà nghe chị tâm sự. Cũng chính điều này đã tạo cho chị động lực hoàn thành ước mơ, đó là luôn được cất tiếng hát, phục vụ cho khán giả yêu nhạc khắp nơi.
Tôi cho rằng càng gắn bó với nghề thì mình càng có nhiều cơ hội để vun đắp sự rung cảm. Tôi hát và cảm thấy suất diễn nào cũng đầy lửa. Nói như mẹ tôi, tuổi tác không làm ảnh hưởng đến trái tim yêu của người ca sĩ. Bà vẫn hát hay và cảm âm nhạy bén, như thời còn son trẻ. Tôi thừa hưởng ở bố mẹ tôi điều này. Quan trọng hơn hết là tôi được hát cho những khán giả yêu mến mình. Mỗi khi đứng trước khán giả, tôi cảm nhận trong không gian ấy đang tràn đầy tình cảm ấm áp thiêng liêng giữa những người ruột thịt và chúng tôi đang sống trong niềm khao khát hạnh phúc.


20 NĂM TIẾNG HÁT Ý LAN

Hai mươi năm đã trôi qua cũng là 20 năm tiếng hát Ý Lan gắn liền với khách mộ điệu bằng những âm hưởng nồng nàn, say đắm. Dù không nhìn thấy cô trên sân khấu, không nghe cô cất tiếng hát, nhưng dường như thanh âm vẫn ngân vang đâu đó thật gần gũi trong tâm tưởng của những người hằng yêu mến giọng ca đặc biệt ấy. Sự mềm mại trong cách nhả chữ, cách luyến láy và đôi khi có một chút dỗi hờn pha lẫn thiết tha. Thật khó mà diễn tả cho trọn vẹn tiếng hát Ý Lan. Dù là một người khó tính đến đâu cũng sẽ bị chinh phục hoàn toàn sau khi nghe cô trình bày một ca khúc. Có lẽ giọng ca phải là thiên phú chứ không thể chỉ là sự điêu luyện. Cô đã được sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc thế nhưng sự thừa hưởng ấy dường như chỉ riêng dành cho Ý Lan phần nhiều. Đến với âm nhạc muộn màng và khá tình cờ nhưng lại là một sự tình cờ may mắn, không phải chỉ cho riêng cô mà cho mọi người. Nếu không có sự tình cờ ấy làm sao có được tiếng hát Ý Lan mà từ nay và mãi đến sau này chắc chắn sẽ chiếm được một chỗ đứng thật vững vàng trong lòng khán giả. Có thể nói từ khi thành danh cô luôn chiếm giữ vị trí hàng đầu. Thế giới của âm nhạc muôn màu, muôn vẻ, bao nhiêu năm qua đã có biết bao tiếng hát sau cô lần lượt đến với khán giả thế nhưng thật khó có giọng ca nào có thể thay thế được chỗ đứng của cô. Không chỉ nghe Ý Lan hát, nhìn Ý Lan trình diễn thì thấy quả thật có một sự đồng bộ thật thú vị. Cô có một phong cách rất riêng biệt và gợi cảm. Sự gợi cảm của Ý Lan không gắn liền với hình ảnh bốc lửa mà trái lại như một chất men, mềm mại và rất tình tứ lẫn cuốn hút và làm cho sự thưởng thức dường như sâu lắng hơn, dễ chịu hơn. Có rất nhiều người đưa ra nhận xét đôi khi nghe một bài hát, nhìn một cô ca sĩ trình diễn, người ta cảm thấy vẫn hay, vẫn lôi cuốn nhưng dường như thiếu một sự hoàn hảo hoặc có một điều gì đó chưa thật sự trọn vẹn, có một chút gì đó chưa thật sự thuyết phục. Nhưng ngược lại nhìn và nghe Ý Lan trình diễn thì cái cảm giác đến với mọi người thật tròn đầy. Khi cô dứt tiếng hát cái âm hưởng mà cô để lại vẫn còn mênh mang như tiếng đàn, tiếng nhạc và như thế cách cô chinh phục khán giả thì chỉ có một mình Ý Lan mới có được. Cô hát thật đắm đuối và thả mình vào âm nhạc trọn vẹn…Quả thật khó chối từ một lời ca ngợi về tiếng hát Ý Lan. Trên sân khấu Ý Lan là một trong những ca sĩ rất kỷ lưỡng trong sự lựa chọn trang phục và luôn tạo hình ảnh mới lạ. Những chiếc áo cô mặc trang nhã nhưng lại rất sang trọng và các kiểu tóc cũng thay đổi theo y phục và theo từng nhạc phẩm cô trình diễn. Có thể nói hình ảnh của Ý Lan rực rỡ, khả ái trên sân khấu cộng với tiếng hát truyền cảm lạ lùng đã đưa cô lên hàng đầu trong nền âm nhạc hải ngoại. Cố nghệ Sĩ Trường Kỳ 3 năm về trước thuở còn sinh tiền đã từng viết về cuộc đời và tiếng hát Ý Lan, ông viết: “Chắc có ít người ngờ thấm thoát đã được 17 năm kể từ khi Ý Lan đến với thế giới ca nhạc hải ngoại và trở thành một tiếng hát có được một chỗ đứng cao. Trong suốt thời gian đó, ngoài một giọng hát tốt, Ý Lan còn chinh phục được khán giả bằng nghệ thuật trình diễn điệu nghệ của cô. …..Và cô đã thành công để cho đến nay luôn là một tên tuổi xứng đáng được coi như tiêu biểu cho sinh hoạt ca nhạc hải ngoại 17 năm theo đuổi con đường nghệ thuật và tuy đã đạt được đến đỉnh cao trong nghề nghiệp, nhưng Ý Lan vẫn luôn nuôi dưỡng niềm hạnh phúc nơi cô là sẽ được hát mãi mãi, vì “dù sau này có già không ai nghe mình nữa thì vẫn được hát cho mình nghe. Vì còn hát được là còn hạnh phúc”… Cuộc sống riêng tư của Ý Lan cũng có những tháng ngày thăng trầm, có khi hạnh phúc đến rồi lại đi. Thế nhưng những năm tháng gần đây và trong hiện tại cô đã tìm gặp được hạnh phúc đích thực của cuộc đời mình bên người chồng rất yêu qúy cô và may mắn nhất của Ý Lan là các con lớn của cô đều đã thành danh. Có một thời gian cô đã phải chiến đấu với bệnh tật và cuối cùng giai đoạn đen tối đó cũng qua đi, vì cô đã thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Hình như may mắn luôn mĩm cười với Ý Lan cũng bởi cô là một nghệ sĩ rất có lòng.Cùng với Ca sĩ Thái Hà hai người đã thành lập Y Lan Sweet Dreams Foundation để gây qũy giúp đỡ những người bệnh hoạn và những người nghèo khổ. Cô cũng là một người mẹ phải chu toàn bổn phận với 6 con và luôn luôn bận rộn với gia đình riêng sau những lần đi hát. Là một ca sĩ với rất nhiều show diễn chẳng những tại hải ngoại mà tại Việt Nam cô cũng là một ca sĩ rất được ái mộ...









Cùng chồng và mẹ là ca sĩ Thái Thanh

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-26 10:09:50Ct.Ly>


Ca sĩ Khánh Hà


Khánh Hà là một ca sĩ rất nổi tiếng khi còn ở Việt Nam. Cô sinh ra tại Đà Lạt nhưng chỉ vài tháng sau cùng với gia đình dọn vào Sài Gòn. Trong thời gian ở Sài Gòn, cô cùng với gia đình thay đổi chỗ ở nhiều lần. Lúc còn nhỏ cô học ở trường Charles De Gaulle, một thời gian sau vào nội trú tại trường tiểu học ở Thủ Đức cùng với Lan anh và Thúy Anh. Lên trung học, cô theo học trường Nguyễn Bá Tòng đến năm đệ Tam, và cùng một lúc theo học ở Centre Culturel Francais và Hội Việt Mỹ. Khánh Hà đi hát lần đầu tiên khi lên 16 tuổi trong một chương trình văn nghệ phụ diễn Xổ Số Kiến Thiến Quốc Gia tại rạp Thống Nhất với bài "Chiến Sĩ Của Lòng Em" và đó là kỷ niệm đáng nhớ nhất của cô.

  Vào năm 1969, cô xuất hiện lần đầu tiên với loại nhạc trẻ trong chương trình "Hippies À GoGo" do Trường Kỳ tổ chức hàng tuần tại vũ trường Queen Bee trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Cũng trong năm đó, cô chính thức đến với nhạc trẻ cùng Anh Tú, sau khi được tay trống Dũng khuyến khích và đã gia nhập ban nhạc The Flowers đi trình diễn tại các club Mỹ. Vào cuối năm 1969, cô gia nhập The Blue Jets cùng với Anh Tú và Thuý Anh. Sau đó, cô cùng một số anh em thành lập ban nhạc Uptight vào năm 1972. Khánh Hà qua Mỹ trong một trường hợp khá đặc biệt, thời kỳ cô hát tại night club "Đêm Màu Hồng" trên đường Nguyễn Huệ, vào khoảng tháng đầu năm 1975, trong số những người khách Hoa Kỳ thích giọng ca của cô có một ký giả tên George, mà cô gọi là một "quý nhân" cho biết là tình hình Việt Nam rất nguy ngập nên đã đề nghị làm giấy tờ để cô rời khỏi Việt Nam với tư cách một du khách. Khánh Hà nhận lời và đến Hoa Kỳ ngay từ tháng 03 năm 1975.

  Vào những năm 1986-1987, Khánh Hà khai thác một chương trình ca nhạc riêng ở các nơi như Sea Palace, cafe Tùng ở Monterey Park và sau đó là vũ trường "Chez Moi". Cô chính thức chuyển qua nhạc Việt Nam từ năm 1980, đánh dấu sự ra đời của băng nhạc "Gọi Giấc Mơ Xưa", phát hành vào năm 1981 do chính cô thực hiện với sự giúp đỡ về kỹ thuật của Tùng Giang. Khánh Hà xuất hiện lần đầu tiên trong Video "Hè 1990" do Tô Chấn Phong và Lưu Huỳnh thực hiện, chính trong dịp này Khánh Hà và Tô Chấn Phong quen biết nhau và đã sống chung với nhau cho đến hôm nay. Ngoài những video do chính trung tâm Khánh Hà thực hiện, cô đã cộng tác lần đầu tiên với chương trình Thúy Nga còn hoạt động ở Paris. Hiện nay Khánh Hà vẫn thường xuyên xuất hiện trên băng Thúy Nga, Asia và bận rộn điều hành trung tâm Khánh Hà. Tên tuổi Khánh Hà đã bước lên hàng đầu của nền ca nhạc hải ngoại cho nên ước muốn "nghỉ hát sớm" của cô có thể sẽ còn rất lâu mới thành sự thật.









Khánh Hà - Bằng Kiều



Ba chị em Lưu Bích - Khánh Hà - Thuý Anh



Lưu Bích
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-26 10:10:02Ct.Ly>





Đôi song ca Lưu Bích Tô Chấn Phong lừng danh một thuở


Lưu Bích sinh ngày 28-12-1968, định cư tại Hoa Kỳ từ 1975.

Lưu Bích đã từng đến với quý khán thính giả rất lâu. Cô được sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ. Cha cô là nghệ sĩ Lữ Liên trong ban tam ca AVT nổi tiếng một thời và cho tới nay. Anh chị em của cô là những ca sĩ rất nổi tiếng như Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh trong khi cô còn rất nhỏ. Vào lúc đó, cô không biết gì về âm nhạc và kể cả khi cô định cư tại Hoa Kỳ, cô cũng không nghĩ mình sẽ là ca sĩ.

Với sự khuyến khích từ anh chị của mình, nhất là sự hướng dẫn của Khánh Hà, cô đã bước vào nghề ca hát và góp phần vào sự nổi tiếng của gia đình cô. Lưu Bích bắt đầu đi trình diễn cùng với ban nhạc The Uptight năm 1983-1984. Tuy nhiên, đỉnh cao danh vọng chưa đến với cô vào thời điểm này. Những ngày đầu tiên, Lưu Bích là người chơi keyboard chính và là ca sĩ phụ họa cho ban nhạc. Khán thính giả rất ít khi thấy cô trình diễn cho tới những năm gần đây. Và khi cô xuất hiện, thành công đã đến với cô thật nhanh chóng.

Sự xuất hiện của cô trên hầu hết những băng video của Trung tâm Thúy Nga cũng như rất nhiều CD đã mang tên tuổi cô lên hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Cô vẫn thường xuyên hát tại các vũ trường tại Nam và Bắc California. Cô thâu một số CD với Tô Chấn Phong và Lan Anh do Trung Tâm Khánh Hà thực hiện. Và cô cũng đã phát hành một số CD của riêng mình và nhanh chóng được nhiều khán thính giả ái mộ. Bây giờ cô đã trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp và hoàn toàn trưởng thành, chắc chắn cô sẽ còn thành công hơn trong lĩnh vực ca hát và làm rạng danh thêm cho gia đình của cô.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 06:53:56Alyshaa>


Cách đây 14 năm, Lưu Bích đã được khán thính giả để ý ngay sau lần xuất hiện trên một chương trình “”Paris By Night” vào năm 1992 với nhạc phẩm "If I Can Have You".
Từ đó đến nay cô vẫn luôn được coi như là một trong những khuôn mặt xinh xắn và khả ái nhất của nền tân nhạc Việt Nam hải ngọai.
Thêm vào yếu tố ngoại hình thuận lơi đó là một tiếng hát dễ thương càng ngày càng được cô trau chuốt.
    Thế đứng của Lưu Bích là một thế đứng đặc biệt của một tiếng hát không gây ồn ào sôi nổi lúc ban đầu rồi chìm dần sau một thời gian.
Đó cũng chẳng phải là một giọng ca được xưng tụng như một hiện tượng hay một danh ca. Nhưng tiếng hát Lưu Bích thật sự là một tiếng hát có khả năng tồn tại nơi tâm hồn người nghe một cách lâu dài.
    Sau 14 năm, tên tuổi của Lưu Bích vẫn là một tên tuổi tạo được nhiều cảm mến nơi khán thính giả trong nước & hải ngoại
Lưu Bích qua Hoa Kỳ -75, khi cô mới được gần 7 tuổi. Thoạt đầu cô ở San Francisco cùng với gia đình.
Gần một năm sau cô mới xuống nam California.
  Lưu Bích cho biết thời kỳ trong lớp tuổi "teenager" của mình, cô đã không có được một cuộc sống vui tươi và hồn nhiên như những bạn bè cùng trang lứa khi còn học ở bậc trung học.
  Vì khi mới được 15 tuổi cô đã bắt đầu đi làm thu ngân viên cho một ngân hàng vào mỗi cuối tuần.
    Lưu Bích từng học nhạc khi ở college trong gần 3 năm. Sau đó cô được ông anh Tuấn Ngọc chỉ dẫn thêm ở nhà để có thể chơi nhạc vào mỗi cuối tuần.
Cô bước chân vào lãnh vực ca nhạc trong vai trò sử dụng keyboard phụ cho ban nhạc gia đình là Uptigh vào năm 88 &đã cùng ban nhạc này đi lưu diễn ở rất nhiều nơi trong nước Mỹ và Canada.
Lưu Bích cho biết cô được sinh hoạt trong lãnh vực ca nhạc là nhờ rất nhiều ở sự khuyến khích của anh chị cô là Tuấn Ngọc và Khánh Hà.
  Sau một thời gian sinh hoạt với ban nhạc gia đình, nhận thấy Lưu Bích rất có năng khiếu về ca hát nên mẹ cô và Khánh Hà khuyên cô nên ngưng sử dụng keyboard để tập luyện trở thành một ca sĩ.
Quả thật, khả năng ca hát của Lưu Bích đã được mọi người công nhận ngay sau khi cô đứng hát một mình trên sân khầu lần đầu tiên vào năm 94 với nhạc phẩm
“Chuyện Tình Không Suy Tư” của Tâm Anh.
Lưu Bích thú nhận cô đã rất hồi hộp trong lần xuất hiện này.    Thời gian đó Lưu Bích đang làm cho phòng trà “Chez Moi” do Khánh Hà khai thác và vẫn còn sử dụng keyboard, cho nên vốn liếng bài bản trình bày chưa có nhiêu.

  Tuy sinh trưởng trong một gia đình toàn là nghệ sĩ nổi danh nhưng Lưu Bích tự nhận là mình không chịu ảnh hưởng đặc biệt của một ai, ngoài sự được chỉ dẫn của các anh chị.
Lý do Lưu Bích cho biết là muốn trình bày theo một lối riêng của mình, vì “khi muốn trở thành ca sĩ, cần phải có lối đi riêng biệt thì khán giả mới nhớ đến”, như cô quan niệm.
  Lối đi riêng biệt của mình được Lưu Bích diễn tả là phải “rất là nồng nàn và phải để hết feeling vào bản nhạc”.
Cái nồng nàn đó không những đã được Lưu Bích diễn tả qua tiếng hát mà còn được thể hiện qua gương mặt, qua ánh mắt và nụ cười rất dễ gây cảm tình của cô.
  Do đó những nhạc phẩm do Lưu Bích trình bày trở nên có hồn hơn, có một chiều sâu hơn.
Đặc biệt nhất là với những nhạc phẩm do chính cô sáng tác, điển hình như nhạc phẩm “Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay” mà cô rất ưng ý.
Mặc dù rời Việt Nam từ khi còn nhỏ, nhưng Lưu Bích không những không gặp trở ngại gì với tiếng Việt.
  Trái lại cô còn có khả năng sáng tác những nhạc phẩm lời Việt với lối sử dụng ngôn ngữ rất thành thạo.
Là một người sống nhiều về nội tâm,
Lưu Bích nhận thấy đa số những nhạc phẩm tình cảm đều diễn tả tâm trạng của người đàn ông trong tình yêu. Bởi vậy cô muốn chính mình diễn tả tâm sự của người phụ nữ trong những nhạc phẩm cô soạn.
Như tâm sự của chính cô được cô đưa vào nhạc phẩm “Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay”.
Nhạc phẩm này Lưu Bích sáng tác 1995 là thời gian cô đang ngụp lặn trong tình yêu với tất cả nồng nàn và say đắm.
  Lưu Bích cho biết cô đã sáng tác ca khúc này khi đang chơi piano trong lúc trời mưa bên ngoài và cũng trong lúc cô “đang cần tình yêu” như chính Lưu Bích tâm sự.
Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay” cũng là sáng tác đầu tiên của cô được thu thanh trên CD.
  Ngoài ra Lưu Bích còn có một số sáng tác khác như "Nụ Hôn Khó Quên", “Hãy Sống Trong Phút Giây”, “Tình Một Chiều”,
.. Chỉ căn cứ vào tựa đề những nhạc phẩm của cô, người ta dễ dàng biết được tâm hồn lãng mạn và quan niệm trong tình yêu của cô, một người rất có tâm hồn nghệ sĩ.
    Cũng chính vậy cô đã tạo cho mình được thành công trong vấn đề chọn lựa bài bản.
    Hơn nữa Lưu Bích nhận thấy đời sống trong xã hội hiện thời đã quá căng thẳng nên cô tránh hát những nhạc phẩm với nội dung quá đau khổ vì không tạo được nơi người nghe một niềm hy vọng nào.
    Lưu Bích còn có thói quen lái xe ra bờ biển ngồi một mình cho đầu óc cô được thảnh thơi, thoải mái.
  Những lúc đó chính là những lúc cô hoạch định những dự án liên quan đến lãnh vực nghề nghiệp của cô.
Ngoài ra, Lưu Bích còn có cái thú lái xe chạy vòng vòng nghe nhạc
. Những lúc đó thật sự Lưu Bích đã được sống trong một thế giới hoàn toàn chỉ có cô và âm nhạc, không còn chút vướng bận gì với xã hội chung quanh.
    Nhờ những khoảng thời gian đối với Lưu Bích rất là quí báu đó cô đã có thêm nhiều cảm hứng để sáng tác hoặc tự nhận xét về những ưu cũng như khuyết điểm cuả minh
    Là một con người giầu tình cảm và dễ xúc động, Lưu Bích thường hướng tâm hồn mình về những kỷ niệm đã qua.
Từ thời kỳ thơ ấu thiếu hồn nhiên đến những thất bại trong tình yêu của thời niên thiếu
      Bây giờ cô đã phần nào quên được sự thất vọng trong tình yêu ngày nào vì cho rằng "trên đời nhờ chữ "quên" mà người ta mới có thể sống được".
Lưu Bích đã cố quên và cô đã sống được để ít ra sau đó cô đã lại có dịp sống trong tình yêu.
  Người ta có thể nói thẳng Lưu Bích là một thiếu nữ sống với rất nhiều suy tư, nhất là về Tình Yêu và Hạnh Phúc.
Những buổi sáng sau khi chạy bộ, ngồi trầm ngâm trước ly cà phê hay hướng mắt về một phương trời xa xôi trên bãi biển Long Beach chính là những lúc đầu óc cô luôn đặt những câu hỏi về cuộc sống và về thân phận con người.
      Những người quen biết đã gọi Lưu Bích là một “cô bé triết gia”, luôn tìm cách dung hòa giữa lý trí phương Tây và tình cảm phương Đông.
    Ngoài suy tư về hạnh phúc và tình yêu đôi lứa,
    Lưu Bích còn nhận ra được niềm hạnh phúc lớn lao trong tình yêu gia đình mà cả nhà đã dành trọn vẹn cho cô.
  Những thất bại về tài chánh trong quá khứ sau một thời gian bước chân ra đời cũng thường nằm trong sự hồi tưởng của Lưu Bích. Cô nhìn lại quá khứ mình để luôn cố gắng vươn lên, để luôn luôn thấy trước mắt mình những tia sáng hy vọng.
  Cuộc sống của Lưu Bích hiện nay có thể coi như một sự đền bù phần nào những thiếu thốn trước kia, về tinh thần cũng như về vật chất.
  Phân tách kỹ hơn về Lưu Bích, người ta còn nhận thấy nơi cô một sự quan sát bén nhậy. Từ đó cô đã nhìn cuộc đời bằng một cái nhìn bàng bạc mầu sắc triết lý.
Cô cho biết có thời gian cũng thường một mình lái xe đến đủ mọi nơi để ngắm nhìn sinh hoạt của những người chung quanh.   
Cô đóng vai một người đứng ngoài lề để quan sát cách họ sống để suy nghĩ vẩn vơ về cuộc sống của từng người, về sự phù du của cuộc đời sau khi nhắm mắt xuôi tay.
  Nhìn lại mình, Lưu Bích tự nhận thấy sự may mắn cũng đã dành cho cô một chỗ quan trọng trong cuộc sống như cô tâm sự
"Em nhìn lên thì chả bằng ai... nhưng khi nhìn xuống cuộc đời thì em còn hơn nhiều người...
    Tới bây giờ em nghĩ là em rất may mắn".
Cũng do đó cô sống theo một quan niệm là "Có hai bàn tay, một bàn tay mình làm ra và một bàn tay để giúp người khác", trong Tình Yêu hay trong công việc làm ăn cũng vậy.
    Khi trả lời câu hỏi sau này khi lập gia đình, tình trạng này có ảnh hưởng đến phương diện nghề nghiệp hay không vì nhiều người cho rằng sự ngưỡng mộ nơi khán giả sẽ bớt đi khi một người nữ ca sĩ đang được mến mộ có gia đình;
      Lưu Bích cho rằng điều này có phần đúng, tuy nhiên "tới tuổi nào thì cũng phải thay đổi đời sống của mình, không thể nào sống mãi như thế này, không thể sống độc thân hoài...".
Và trên phương diện này, Lưu Bích cũng rất mong có được sự may mắn.

theo Thegioi nghesi

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 13:53:51Ct.Ly>
Tiểu Sử Bằng Kiều




Tên: Nguyễn Bằng Kiều
  Sinh ngày: 13/07/73
  Nơi Sinh: Hà Nội
  Tên gọi ở nhà: "Bầu"
  Nhạc cụ sử dụng: kèn, guitar, bass, trống, keyboard
  Favorite food: Bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc & crawfish
  Favorite sport: Đá bóng (soccer)
  Favorite color: Màu đen,và xanh da trời
  Favorite song: Nhiều lắm
  Favorite singer: Michael Jackson và Marc Anthony




  Bằng Kiều sinh trong gia đình có truyền thống nghệ thuật, mẹ là nghệ sĩ sân khấu Lưu Nga, đã từng tham gia trong các lĩnh vực kịch nói, chèo, cải lương, ngâm thơ...Bố là bác sĩ nhưng cũng tham gia nghệ thuật rất hăng say. Bằng Kiều tham gia phong trào văn nghệ từ khi còn học tiểu học, nhưng đến năm 1989 mới chính thức học nghệ thuật chuyên nghiệp tại Nhạc Viện Hà Nội. Bằng Kiều học chính là kèn Basson (một loại kèn bè bass trong dàn nhạc giao hưởng) nhưng vì đam mê ca hát và nhạc nhẹ nên đã tự lập một ban nhạc gồm toàn những bạn bè đang học trong NVHN để thỏa mãn lòng đam mê đứng trên sân khấu của mình. Ban nhạc đầu tiên đó là "Chìa Khóa Vàng" sau đó được ban nhạc "Hoa Sữa" là một ban nhạc đàn anh gồm rất nhiều các nhạc sĩ trẻ đầy tài năng như: Ngọc Châu, Vũ Quang Trung, Ngọc Hưng, Lương Ngọc Minh..v.v đã giúp đở và tạo điều kiện cho Bằng Kiều được ca hát thật nhiều, và dìu dắt BK đến những bức thang đầu tiên trong làng ca nhạc chuyên nghiệp. Với "Hoa Sữa" BK đã hát ở tất cả các tụ điểm ca nhạc, vũ trường, cho sinh viên các trường đại học..v.v ở Hà Nội trong suốt những năm từ 1990 đến 1996.

  Năm 1997 BK đã được Mỹ Linh mời thâu hát song ca các ca khúc: Nếu Điều Đó xảy ra, Giọt Sương Trên Mí Mắt, Trái Tim Không Ngủ Yên trong album "Chiều Xuân" của Mỹ Linh, và BK được khán giả khắp nơi yêu mến từ Trái Tim Không Ngủ Yên của nhạc sĩ Thanh Tùng. Sau đó năm 1998 BK lập nhóm "Quả Dưa Hấu" gồm BK, Anh Tú, Tuấn Hưng và Tường Văn, cũng gặt hái rất nhiều thành công đến năm 2000 thì "Quả Dưa Hấu" tan rả và BK tiếp tục sự nghiệp solo đến nay. Album thì rất nhiều trên thị trường nhưng album BK tự tay thực hiện và tâm đắc nhất cho đến nay chỉ có "Chuyện Lạ". Trong album này có 4 bài do BK sáng tác đó là "Chuyện Lạ" (viết khi anh mới quen với Trizzie Phương Trinh), Dòng Sông Sao, Chỉ Là Như Thế và Lại Đây Với Anh..

  Bằng Kiều lấy vợ và sang định cư ở Mỹ năm 2002 và vào năm 2003 Bằng Kiều và Trizzie Phương Trinh đã có với nhau hai đứa con trai tên Beckam Bằng Phương 3 tuổi và Colin Bằng Anh vừa mới chào đời tháng 8 năm 2006.




Từ ngày qua Mỹ Bằng Kiều đã cho ra 3 tác phẩm CD "Anh Sẽ Nhớ Mãi " vào cuối năm 2003, "Mắt Biếc " vào giữa năm 2004 với những tình khúc vượt thời gian như "Thà như giọt mưa", "Như Chiếc Que Diêm", "Xin còn gọi tên nhau", "Phôi Pha"..v.v đã được giới thưởng ngoạn cũng như các nhạc sĩ Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên và Phạm Duy đánh giá cao về phẩm chất và CD "Vá Lại Tình Tôi" vào năm 2005 do trung tâm Thúy Nga sản xuất. Bằng Kiều và gia đình hiện nay đang sinh sống tại thành phố Huntington Beach, California và là ca sĩ độc quyền của trung tâm Thúy Nga.

Source: BangKieu






Bằng Kiều & Khánh Hà




Bằng Kiều & Minh Tuyết



Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 13:59:34Ct.Ly>
Việt Dzũng 1 Nghệ Sĩ Với Tài Năng Vượt Bực

Duy Khiêm C/N 200/03/09

Tiểu Sử :




Tên thật : Nguyễn Ngọc Hùng Dũng
Ngày sinh : 08/09/1958
Nơi sinh : Sài Gòn, Việt Nam
Những trường đã theo học : Lasalle Taberd (Sài Gòn), Wood River High School (Nebraska), University of Nebraska at Omaha (UNO), University of Houston (Texas).
Nhạc khí sử dụng : Piano, Guitar
Sở thích : Âm nhạc
Màu ưa thích : Màu đen, màu xanh
Con số ưa thích : 13
Thức ăn ưa thích : Hải sản và các thức ăn khác.
Môn thể thao ưa thích : Thich xem football trên truyền hình ...

Suốt hơn 30 năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở Hải Ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mane dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.



Cũng chính biến cố 30/04/1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tỵ nạn Subic ở Phi Luật Tân. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca :

 ... “Thuyền trôi xa ... về đâu ai biết ? Thuyền có về ... ghé bến tự do ? Trời cao xanh ... hay trời oan nghiệt Trời có buồn ... hay trời vẫn làm ngơ ?

 ... Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ ... ?”.

Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò. Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương.

Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát uỷ lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v.. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.

Giờ đây (tháng 06/1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở Trung Học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tỵ nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tỵ nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tỵ nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ.

Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường Trung Học St Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield. Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp Trung Học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đoạ đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây :

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay ... Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày ...

Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ... .

Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình ... ”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.

Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là : “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.

Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, toà tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân ... Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên toà sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này.

Ngày 01/04/1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo ...Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tỵ nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tỵ nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thuỵ Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc ... Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tỵ nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tỵ nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, uỷ lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt Hải Ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American-Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 07/1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon. Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới : anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood ... VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư. Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thuý, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh ... cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở Hải Ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung ... Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn Phụng ... Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA ; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10/1994.

Bốn năm sau (1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106,3 FM ; 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang ... Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn cầu bất cứ lúc nào. (http://www.RadioBolsa.com)

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) ...

Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem ...

Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD : Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương ...

Sau 20 năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở Hải Ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau :

“Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của nhữNg rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm. Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995)

Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là :

Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thuỵ Sĩ) ngày 03/04/2004

Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17/09/2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 09/09/2005.

Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 09/2005)

Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita.

Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi ...

Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện ... Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở Hải Ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở Hải Ngoại được tiếng là luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới" (phát hành 27/02/2004), "Tiếng Hát Trái Tim" (thu hình 20/03/2004), "Mùa Hè Rực Rỡ 2005" (thu hình 22/07/2005). Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”(phát hành 24/06/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tỵ nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa.

Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đoá Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 "Vinh Danh Nhật Trường" và Asia 51 "Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến" ... đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/09/2006 tờ báo Công An Thành Hồ đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Duy Khiêm (20/10/2006)

* Tài liệu tham khảo để viết bài này :

Tuyển Tập Nghệ Sĩ, Trường Kỳ, Canada, 1995
Vẻ Vang Dân Việt, Tuyển tập IV, Trọng Minh, USA, 1998
Tác Giả Việt Nam, Lê Bảo Hoàng sưu tập, USA, 2005
Tạp chí Hồn Việt, Thế Kỷ 21, Phụ Nữ Diễn Đàn, USA
Website :
http://kicon.com/radiobolsa/kminh/radiobolsa/bio01.htm  
http://www.RadioBolsa.com
http://www.SBTN.net
source : http://www.huongduong.com.au/article_1330.html 

****



Nhạc sĩ Việt Dzũng


Việt Dzũng sanh ngày 8 tháng 9, năm 1958 tại thành phố Sài Gòn. Cha là bác sĩ dân biểu Nguyễn Ngọc Bảy, của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, và mẹ là bà Nguyễn Thị Nhung, giáo sư trường Nữ trung học Gia Long. Việt Dzũng có tất cả ba anh chị em, hiện sinh sống tại vùng Thung Lũng Hoa Vàng, miền Bắc California.

Việt Dzũng là học sinh trường trung học LaSan Taberd và là một học sinh xuất sắc. Việt Dzũng thụ huấn nhạc cũng tại Taberd, là thành phần trong ban nhạc trường, đóng góp tích cực trong các buổi liên hoan vào những dịp lễ lạc. Trong một lần đại diện trường để tranh giải tài năng trẻ, Việt Dzũng đã thắng giải tiếng hát Nam có triễn vọng nhất trong năm.





Năm 1975, Việt Dzũng cùng bà nội và 36 người Việt Nam, vượt biên trên con tàu dài 15-feet. Tại trại tỵ nạn, với số vốn tiếng Anh sẵn có, Việt Dzũng là thiện nguyện viên cho trại trong công việc dịch thuật, giúp đỡ cho đồng bào đồng hương hội nhập đời sống mới. Vào những ngày cuối cùng trại đóng cửa, chàng trai trẻ 17 tuổi Việt Dzũng được Toà Giám Mục thuộc giáo phận thành phố Springfied, tiểu bang Missouri bảo trợ. Năm đầu tiên tại Hoa Kỳ, Việt Dzũng là cậu thiếu niên sống trong một gia đình foster care (Gia đình bảo trợ cho các thanh thiếu niên vị thành niên mồ côi hoặc vô gia đình). Cũng như mọi thiếu niên tỵ nạn khác, Việt Dzũng tiếp tục đi học, và là học sinh tại trung học St. Agnes trong tỉnh. Năm sau Việt Dzũng đoàn tụ với gia đình, và dời về tỉnh Wood River, tiểu bang Nebraska.


Việt Dzũng - Một nghệ sĩ đa dạng Việt Dzũng sanh ngày 8 tháng 9, năm 1958 tại thành phố Sài Gòn. Cha là bác sĩ dân biểu Nguyễn Ngọc Bảy, của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, và mẹ là bà Nguyễn Thị Nhung, giáo sư trường Nữ trung học Gia Long. Việt Dzũng có tất cả ba anh chị em, hiện sinh sống tại vùng Thung Lũng Hoa Vàng, miền Bắc California.

Việt Dzũng là học sinh trường trung học LaSan Taberd và là một học sinh xuất sắc. Việt Dzũng thụ huấn nhạc cũng tại Taberd, là thành phần trong ban nhạc trường, đóng góp tích cực trong các buổi liên hoan vào những dịp lễ lạc. Trong một lần đại diện trường để tranh giải tài năng trẻ, Việt Dzũng đã thắng giải tiếng hát Nam có triễn vọng nhất trong năm.

Năm 1975, Việt Dzũng cùng bà nội và 36 người Việt Nam, vượt biên trên con tàu dài 15-feet. Tại trại tỵ nạn, với số vốn tiếng Anh sẵn có, Việt Dzũng là thiện nguyện viên cho trại trong công việc dịch thuật, giúp đỡ cho đồng bào đồng hương hội nhập đời sống mới. Vào những ngày cuối cùng trại đóng cửa, chàng trai trẻ 17 tuổi Việt Dzũng được Toà Giám Mục thuộc giáo phận thành phố Springfied, tiểu bang Missouri bảo trợ. Năm đầu tiên tại Hoa Kỳ, Việt Dzũng là cậu thiếu niên sống trong một gia đình foster care (Gia đình bảo trợ cho các thanh thiếu niên vị thành niên mồ côi hoặc vô gia đình). Cũng như mọi thiếu niên tỵ nạn khác, Việt Dzũng tiếp tục đi học, và là học sinh tại trung học St. Agnes trong tỉnh. Năm sau Việt Dzũng đoàn tụ với gia đình, và dời về tỉnh Wood River, tiểu bang Nebraska.

Trong thời gian là học sinh tại trường trung học Wood River, Việt Dzũng cùng một người bạn Mỹ thành lập một ban nhạc lấy tên là "Firebirds" (Chim Lửa). Cuối tuần, hai chàng trai trẻ đi trình bày nhạc Đồng quê Mỹ (American country music) tại các quán nhạc trong tỉnh, và về sau tại khắp tiểu bang Nebraska. Vernon Larsen và Việt Dzũng trở thành một cặp song ca có tiếng trong tỉnh nhỏ này, và họ được mời trình diễn trong ngày lễ tốt nghiệp cuối năm của trường trung học tỉnh Wood River. Việt Dzũng chơi đàn và hát rất truyền cảm. Nhiều người Mỹ rất ngạc nhiên lẫn thích thú được chứng kiến một người Việt Nam trình bày nhạc của John Denver, The Beatles, The Eagles ...

Năm 1978, Việt Dzũng nộp một bài hát cho một cuộc tranh tài nhạc của tiểu bang Iowa - Iowa Grand Ole Opry - và đã thắng giải nhất trong mục "Tác giả bài hát hay nhất." Anh được một hãng dĩa nhạc đề nghị bảo trợ sản xuất một album nhạc Đồng Quê, nhưng VD từ chối vì lúc đó anh muốn học cho xong bằng cử nhân tại đại học Omaha, Nebraska.

Cùng thời gian này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt và các bài hát đầu tiên là:" Sau ba năm tỵ nạn tại Hoa Kỳ" và " Một Chút Quà Cho Quê Hương". Vào thời gian đó người Việt tỵ nạn bắt đầu có tin tức người thân tại quê nhà, và những thùng quà gói ghém tình thương được gởi về. Bài nhạc rất phù hợp với tâm trạng mọi người Việt hải ngoại, vì thế bài MCQCQH đã nổi tiếng tức thời trong cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới .

Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đầy

Từ thành công đó Việt Dzũng dời hẳn về California với ước vọng có cơ hội gần Cộng Đồng người Việt, hầu thăng tiến trong bước đường sáng tác nhạc Việt Nam.

Thời gian đầu, Việt Dzũng làm báo, cộng tác cho tờ Người Việt, lúc đó là tuần báo, giữ mục song ngữ, giới thiệu lịch sử VN cho thế thệ trẻ tỵ nạn. Một thời gian sau, Việt Dzũng giữ chức vụ chủ bút cho tờ nguyệt san Nhân Chứng. Trong thời gian này người Việt tại quận Cam chứng kiến sự phát triễn những cây viết mới tại hải ngoại, đó là các nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, Lê Giang Trần, thi sĩ Cao Đồng Khánh vvv...

Dù rất thành công với tờ Nhân Chứng, Việt Dzũng khg quên nghệ thuật đầu tiên anh yêu thích đó là Âm Nhạc. Việt Dzũng đi trình diễn thường xuyên cho cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới. Tuyển tập ca khúc / Album "Kinh Tỵ Nạn" ra đời trong thời gian này và được cộng đồng đón nhận nồng nàn. Có hơn 100,000 băng đã được thính giả khắp nơi trên thế giới mua.

Năm 1985, Viet Dzũng sản xuất băng nhạc tiếng Anh đầu tiên với tựa là "Children of the Ocean" (Con cháu của Đại Dương), gồm nhiều bài hát của chính anh, cùng với sự cộng tác của các nhạc sĩ người Việt, Hoa. Viêt Dzũng cũng là nhạc sĩ VN đầu tiên được các nhà phê bình tại các tờ báo lớn như tờ the Orange County Register, tờ Los Angeles Times, tờ Austin American Statesman, có bài báo đề cập đến. Tờ Austin American-Statesman viết: "Việt Dzũng là một nhạc sĩ tỵ nạn đã hội nhập được với đời sống mới nhưng không quên nguồn gốc của mình."

Bắt đầu thập niên 90, cộng đồng người Việt tại quận Cam đã trưởng thành mạnh mẽ. Khu tiểu Sài Gòn là một chốn du lịch cần phải thăm viếng khi người Việt khắp năm châu có dịp ghé qua miền Nam California. Chợ, các tiệm ăn, tiệm sách, dãy phố với các hàng quán tạp hoá, cũng như các tiệm thuốc Bắc, tiệm băng nhạc là nơi tập trung người Việt trong vùng vào dịp cuối tuần. Sinh hoạt báo chí mở rộng; Cộng đồng có tờ nhật báo "Người Việt", cũng như vô số tờ tuần báo, nguyệt báo và các báo chợ. Những người Việt tỵ nạn đến từ năm 75 tính ra cũng gần 20 năm, các người Việt đến vào thời kỳ vượt biển Đông cũng được trên dưới 15 năm. Không những thế, số người tỵ nạn hàng năm tới quận Cam gia tăng đều. Với số lượng người Việt đông đảo như thế, sự thành lập của làn sóng phát thanh Little Saigon đã đến đúng lúc.

Năm 1993, Đài Little Saigon Radio bắt đầu chương trình phát thanh hàng ngày, và mời Việt Dzũng cộng tác. Việt Dzũng nghiễm nhiên trở thành xướng ngôn viên đầu tiên cho đài phát thanh hàng ngày tại quận Cam. Phải nói là VD đã cách mạng hóa lối phát thanh của đài Việt Ngữ.

Trước đây tại Việt Nam, đài phát thanh có nhiều chương trình, từ âm nhạc, kịch nghệ, cho tới thi văn, sử ký ... vvv nhưng các xướng ngôn viên, các vị giữ đề mục giới thiệu chương trình một cách nghiêm trang. Việt Dzũng đã áp dụng lối trình bày chương trình theo các show Mỹ. Tại các đài phát thanh Mỹ, mỗi người Deejay có lối điều khiển, trình bày chương trình riêng biệt. Các chương trình phát thanh buổi sáng, không chỉ thuần vào một đề mục mà có thể là bất cứ chuyện gì . Ngoài phần giới thiệu nhạc, ca sĩ hay tác giả bản nhạc, các Deejay có khi mang những tin tức thời sự, tin tức "từ thành đến tỉnh" ra bàn. Tùy câu chuyện và tùy hứng, đôi lúc họ bàn tán nghiêm chỉnh, có khi lại pha trò, cười đùa, tạo một không khí vui nhộn, cởi mở. Các chương trình radio phải hay, lý thú, vì phải cạnh tranh nhau với số thính giả vào buổi sáng, thời gian thính giả nghe đài radio nhiều nhất. (Buổi tối mọi người thường xem truyền hình hơn là nghe đài radio.)

Tại miền Nam California, chương trình phát thanh Việt ngữ đã có từ đầu năm 80, nhưng chỉ giới hạn vào tối thứ sáu và cuối tuần, trong một vài giờ đồng hồ mà thôi. Chương trình phát thanh hàng ngày là một mạo hiểm, và cộng đồng nao nức đón chờ sự mạo hiểm này. Cộng Đồng đã không thất vọng! Tiếng nói của Việt Dzũng mở đầu chương trình bằng lời chào đón thính giả bằng tiếng Anh rồi băng tiếng Việt, nhuyễn nhừ, ra dáng một anh xướng ngôn viên lành nghề không kém gì đài bạn. Nhờ hấp thụ hai nền văn hoá Việt Mỹ, lối nói chuyện của Việt Dzũng tự nhiên và cởi mở. Chương trình buổi sáng của VD đa dạng gồm ca nhạc, phỏng vấn nghệ sĩ, và những mẫu chuyện, từ nghiêm túc đến chuyện đó đây, linh tinh, lang tang... Phải nó hai người xướng ngôn viên Việt Dzũng và Minh Phượng đã là những người tiên phong, làm bạn đồng hành cho rất nhiều người Việt làm việc tại tư gia, hay trên đường đi đến sở làm, và cho các thính giả lớn tuổi. Việt Dzũng đã tạo sự thân mật gần gũi giữa xướng ngôn viên - tức những người có tiếng tăm, tiếng nói - với thính giả. Ngoài thính giả lớn tuổi chỉ thích nghe đài phát thanh bằng tiếng Việt, chương trình đa dạng, vui nhộn của VD cũng đã lôi kéo được một số thính giả trẻ tuổi.

Lối cải cách phát thanh này, về sau được các đài phát thanh bằng tiếng Việt bắt chước, ngay cả các chương trình Á Châu quốc tế như đài VOA và BBC cũng sửa đổi chương trình của mình cho phù hợp với thế hệ đời nay.

Sau bốn năm với đài Little Saigon Radio, Việt Dzũng đã thành lập đài phát thanh Radio Bolsa. Chương trình cũng được phát thanh tại tỉnh San Jose và tại Houston, Texas.

Cùng với chương trình phát thanh hàng ngày, Việt Dzũng còn hợp tác với các báo như Hồn Việt, và các báo tại các tiểu bang khác. Ngoài ra, từ năm 1996 Việt Dzũng còn cộng tác với Asia Video. Anh làm MC cho các chương trình chủ đề, viết và giới thiệu các chương trình cùng các tài năng mới tại hải ngoại. Asia Video có một số khán giả đông đảo cạnh tranh với Thúy Nga Paris trong cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới . Tuy Thúy Nga Paris có từ đầu những năm tỵ nạn, và có tiếng với những chương trình live rất công phu và nghệ thuật, nhưng Asia Video được tiếng giới thiệu và nâng đỡ các tài năng mới tại hải ngoại. Các ca sĩ Như Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ, Lâm Nhật Tiến, Loan Châu, Sheila, Thanh Trúc đều bắt đầu sự nghiệp tại Asia. Hiện nay Asia là nơi dụng võ của các ca nhạc sĩ Trish Thùy Trang, Cardin Nguyễn... vvv. Asia Video đã sản xuất những chương trình chủ đề đầy tình người, không có chủ đích thương mãi, nhưng lại rất thành công như Asia Video về "Người Lính", vinh danh các chiến sĩ Cộng Hoà, Asia Video "Hành trình tìm Tự Do". Trong video HTTTD, khán giả rất xúc động khi Việt Dzũng trở lại các đảo Phi Luật Tân, nơi người Việt thuyền nhân đã trải qua con đường gian lao để đến bến bờ tự do.

Từ một anh chàng tuổi trẻ tóc dài, ca Nam Nhạc Sĩ Việt Dzũng, đã trưởng thành với cộng đồng. Dù đứng trên sân khấu, hay ngồi trong quán cà phê với bạn bè, Việt Dzũng với cây nạn gỗ, là một hình ảnh vui vẻ, hăng say với công việc. Anh không ngừng tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam. Cộng Đồng VN hải ngoại biết đến Việt Dzũng không chỉ qua dòng nhạc đấu tranh, một thời gắn liền với tên tuổi của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh, mà còn thân quen với một VD là xướng ngôn viên, cười đùa thoải mái với thính giả, và một VD là phóng viên nhà báo, hăng hái tường trình những biến chuyển liên quan tới Việt Nam, hay cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy, đừng quên nhạc sĩ VD còn có những bản nhạc tình rất được giới trẻ yêu thích: Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Tình như cây Cà Rem ... Với giọng hát nhẹ nhàng, anh chàng ca sĩ Việt Dzũng rất thích trình bày nhạc tình.

Việt Dzũng là một đóng góp tích cực và liên tục trong Cộng Đồng qua nhiều giai đoạn trong quá khứ. Chắc chắn VD sẽ tiếp tục việc làm của mình trong những năm tháng kế tiếp.

Nguồn: forums.vietbao.com - tvmt [/align] [/align]



Trong thời gian là học sinh tại trường trung học Wood River, Việt Dzũng cùng một người bạn Mỹ thành lập một ban nhạc lấy tên là "Firebirds" (Chim Lửa). Cuối tuần, hai chàng trai trẻ đi trình bày nhạc Đồng quê Mỹ (American country music) tại các quán nhạc trong tỉnh, và về sau tại khắp tiểu bang Nebraska. Vernon Larsen và Việt Dzũng trở thành một cặp song ca có tiếng trong tỉnh nhỏ này, và họ được mời trình diễn trong ngày lễ tốt nghiệp cuối năm của trường trung học tỉnh Wood River. Việt Dzũng chơi đàn và hát rất truyền cảm. Nhiều người Mỹ rất ngạc nhiên lẫn thích thú được chứng kiến một người Việt Nam trình bày nhạc của John Denver, The Beatles, The Eagles...


Năm 1978, Việt Dzũng nộp một bài hát cho một cuộc tranh tài nhạc của tiểu bang Iowa - Iowa Grand Ole Opry - và đã thắng giải nhất trong mục "Tác giả bài hát hay nhất. " Anh được một hãng dĩa nhạc đề nghị bảo trợ sản xuất một album nhạc Đồng Quê, nhưng VD từ chối vì lúc đó anh muốn học cho xong bằng cử nhân tại đại học Omaha, Nebraska.


Cùng thời gian này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt và các bài hát đầu tiên là: " Sau ba năm tỵ nạn tại Hoa Kỳ" và " Một Chút Quà Cho Quê Hương". Vào thời gian đó người Việt tỵ nạn bắt đầu có tin tức người thân tại quê nhà, và những thùng quà gói ghém tình thương được gởi về. Bài nhạc rất phù hợp với tâm trạng mọi người Việt hải ngoại, vì thế bài MCQCQH đã nổi tiếng tức thời trong cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới.


Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá

Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay

Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may

Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đầy



Từ thành công đó Việt Dzũng dời hẳn về California với ước vọng có cơ hội gần Cộng Đồng người Việt, hầu thăng tiến trong bước đường sáng tác nhạc Việt Nam.



Thời gian đầu, Việt Dzũng làm báo, cộng tác cho tờ Người Việt, lúc đó là tuần báo, giữ mục song ngữ, giới thiệu lịch sử VN cho thế thệ trẻ tỵ nạn. Một thời gian sau, Việt Dzũng giữ chức vụ chủ bút cho tờ nguyệt san Nhân Chứng. Trong thời gian này người Việt tại quận Cam chứng kiến sự phát triễn những cây viết mới tại hải ngoại, đó là các nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, Lê Giang Trần, thi sĩ Cao Đồng Khánh vvv...



Dù rất thành công với tờ Nhân Chứng, Việt Dzũng khg quên nghệ thuật đầu tiên anh yêu thích đó là Âm Nhạc. Việt Dzũng đi trình diễn thường xuyên cho cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới. Tuyển tập ca khúc / Album "Kinh Tỵ Nạn" ra đời trong thời gian này và được cộng đồng đón nhận nồng nàn. Có hơn 100, 000 băng đã được thính giả khắp nơi trên thế giới mua.


Năm 1985, Viet Dzũng sản xuất băng nhạc tiếng Anh đầu tiên với tựa là "Children of the Ocean" (Con cháu của Đại Dương), gồm nhiều bài hát của chính anh, cùng với sự cộng tác của các nhạc sĩ người Việt, Hoa. Viêt Dzũng cũng là nhạc sĩ VN đầu tiên được các nhà phê bình tại các tờ báo lớn như tờ the Orange County Register, tờ Los Angeles Times, tờ Austin American Statesman, có bài báo đề cập đến. Tờ Austin American-Statesman viết: "Việt Dzũng là một nhạc sĩ tỵ nạn đã hội nhập được với đời sống mới nhưng không quên nguồn gốc của mình. "


Bắt đầu thập niên 90, cộng đồng người Việt tại quận Cam đã trưởng thành mạnh mẽ. Khu tiểu Sài Gòn là một chốn du lịch cần phải thăm viếng khi người Việt khắp năm châu có dịp ghé qua miền Nam California. Chợ, các tiệm ăn, tiệm sách, dãy phố với các hàng quán tạp hoá, cũng như các tiệm thuốc Bắc, tiệm băng nhạc là nơi tập trung người Việt trong vùng vào dịp cuối tuần. Sinh hoạt báo chí mở rộng; Cộng đồng có tờ nhật báo "Người Việt", cũng như vô số tờ tuần báo, nguyệt báo và các báo chợ. Những người Việt tỵ nạn đến từ năm 75 tính ra cũng gần 20 năm, các người Việt đến vào thời kỳ vượt biển Đông cũng được trên dưới 15 năm. Không những thế, số người tỵ nạn hàng năm tới quận Cam gia tăng đều. Với số lượng người Việt đông đảo như thế, sự thành lập của làn sóng phát thanh Little Saigon đã đến đúng lúc.


Năm 1993, Đài Little Saigon Radio bắt đầu chương trình phát thanh hàng ngày, và mời Việt Dzũng cộng tác. Việt Dzũng nghiễm nhiên trở thành xướng ngôn viên đầu tiên cho đài phát thanh hàng ngày tại quận Cam. Phải nói là VD đã cách mạng hóa lối phát thanh của đài Việt Ngữ.


Trước đây tại Việt Nam, đài phát thanh có nhiều chương trình, từ âm nhạc, kịch nghệ, cho tới thi văn, sử ký... vvv nhưng các xướng ngôn viên, các vị giữ đề mục giới thiệu chương trình một cách nghiêm trang. Việt Dzũng đã áp dụng lối trình bày chương trình theo các show Mỹ. Tại các đài phát thanh Mỹ, mỗi người Deejay có lối điều khiển, trình bày chương trình riêng biệt. Các chương trình phát thanh buổi sáng, không chỉ thuần vào một đề mục mà có thể là bất cứ chuyện gì. Ngoài phần giới thiệu nhạc, ca sĩ hay tác giả bản nhạc, các Deejay có khi mang những tin tức thời sự, tin tức "từ thành đến tỉnh" ra bàn. Tùy câu chuyện và tùy hứng, đôi lúc họ bàn tán nghiêm chỉnh, có khi lại pha trò, cười đùa, tạo một không khí vui nhộn, cởi mở. Các chương trình radio phải hay, lý thú, vì phải cạnh tranh nhau với số thính giả vào buổi sáng, thời gian thính giả nghe đài radio nhiều nhất. (Buổi tối mọi người thường xem truyền hình hơn là nghe đài radio. )


Tại miền Nam California, chương trình phát thanh Việt ngữ đã có từ đầu năm 80, nhưng chỉ giới hạn vào tối thứ sáu và cuối tuần, trong một vài giờ đồng hồ mà thôi. Chương trình phát thanh hàng ngày là một mạo hiểm, và cộng đồng nao nức đón chờ sự mạo hiểm này. Cộng Đồng đã không thất vọng! Tiếng nói của Việt Dzũng mở đầu chương trình bằng lời chào đón thính giả bằng tiếng Anh rồi băng tiếng Việt, nhuyễn nhừ, ra dáng một anh xướng ngôn viên lành nghề không kém gì đài bạn. Nhờ hấp thụ hai nền văn hoá Việt Mỹ, lối nói chuyện của Việt Dzũng tự nhiên và cởi mở. Chương trình buổi sáng của VD đa dạng gồm ca nhạc, phỏng vấn nghệ sĩ, và những mẫu chuyện, từ nghiêm túc đến chuyện đó đây, linh tinh, lang tang... Phải nó hai người xướng ngôn viên Việt Dzũng và Minh Phượng đã là những người tiên phong, làm bạn đồng hành cho rất nhiều người Việt làm việc tại tư gia, hay trên đường đi đến sở làm, và cho các thính giả lớn tuổi. Việt Dzũng đã tạo sự thân mật gần gũi giữa xướng ngôn viên - tức những người có tiếng tăm, tiếng nói - với thính giả. Ngoài thính giả lớn tuổi chỉ thích nghe đài phát thanh bằng tiếng Việt, chương trình đa dạng, vui nhộn của VD cũng đã lôi kéo được một số thính giả trẻ tuổi.


Lối cải cách phát thanh này, về sau được các đài phát thanh bằng tiếng Việt bắt chước, ngay cả các chương trình Á Châu quốc tế như đài VOA và BBC cũng sửa đổi chương trình của mình cho phù hợp với thế hệ đời nay.


Sau bốn năm với đài Little Saigon Radio, Việt Dzũng đã thành lập đài phát thanh Radio Bolsa. Chương trình cũng được phát thanh tại tỉnh San Jose và tại Houston, Texas.


Cùng với chương trình phát thanh hàng ngày, Việt Dzũng còn hợp tác với các báo như Hồn Việt, và các báo tại các tiểu bang khác. Ngoài ra, từ năm 1996 Việt Dzũng còn cộng tác với Asia Video. Anh làm MC cho các chương trình chủ đề, viết và giới thiệu các chương trình cùng các tài năng mới tại hải ngoại. Asia Video có một số khán giả đông đảo cạnh tranh với Thúy Nga Paris trong cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới. Tuy Thúy Nga Paris có từ đầu những năm tỵ nạn, và có tiếng với những chương trình live rất công phu và nghệ thuật, nhưng Asia Video được tiếng giới thiệu và nâng đỡ các tài năng mới tại hải ngoại. Các ca sĩ Như Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ, Lâm Nhật Tiến, Loan Châu, Sheila, Thanh Trúc đều bắt đầu sự nghiệp tại Asia. Hiện nay Asia là nơi dụng võ của các ca nhạc sĩ Trish Thùy Trang, Cardin Nguyễn... vvv. Asia Video đã sản xuất những chương trình chủ đề đầy tình người, không có chủ đích thương mãi, nhưng lại rất thành công như Asia Video về "Người Lính", vinh danh các chiến sĩ Cộng Hoà, Asia Video "Hành trình tìm Tự Do". Trong video HTTTD, khán giả rất xúc động khi Việt Dzũng trở lại các đảo Phi Luật Tân, nơi người Việt thuyền nhân đã trải qua con đường gian lao để đến bến bờ tự do.


Từ một anh chàng tuổi trẻ tóc dài, ca Nam Nhạc Sĩ Việt Dzũng, đã trưởng thành với cộng đồng. Dù đứng trên sân khấu, hay ngồi trong quán cà phê với bạn bè, Việt Dzũng với cây nạn gỗ, là một hình ảnh vui vẻ, hăng say với công việc. Anh không ngừng tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam. Cộng Đồng VN hải ngoại biết đến Việt Dzũng không chỉ qua dòng nhạc đấu tranh, một thời gắn liền với tên tuổi của nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh, mà còn thân quen với một VD là xướng ngôn viên, cười đùa thoải mái với thính giả, và một VD là phóng viên nhà báo, hăng hái tường trình những biến chuyển liên quan tới Việt Nam, hay cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy, đừng quên nhạc sĩ VD còn có những bản nhạc tình rất được giới trẻ yêu thích: Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Tình như cây Cà Rem... Với giọng hát nhẹ nhàng, anh chàng ca sĩ Việt Dzũng rất thích trình bày nhạc tình.


Việt Dzũng là một đóng góp tích cực và liên tục trong Cộng Đồng qua nhiều giai đoạn trong quá khứ. Chắc chắn VD sẽ tiếp tục việc làm của mình trong những năm tháng kế tiếp.

Minh Thanh

Đăng nhập để trả lời
0


Tiểu sử nữ nghệ sĩ Giao Linh


Bước vào lãnh vực tân nhạc từ mấy thập niên qua, tiếng hát Giao Linh đã đi vào lòng khán thính giả mộ điệu bằng những âm thanh ngọt ngào truyền cảm qua những nhạc phẩm tình cảm phổ thông. Lần trình diễn đầu tiên góp vui cho chương trình văn nghệ của đoàn "Kim Hoàng - Như Mai", Giao Linh đã đoạt huy chương vàng vào năm1966 khi đại diện cho đoàn văn nghệ Air Việtnam. Cơ hội này mở ra cho người nữ ca sĩ khả ái một tương lai đầy hy vọng trong làng tân nhạc Việt Nam. Sau lần trình diễn đó, nhạc sĩ Thu Hồ giới thiệu Giao Linh với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả "Chiều Biên Giới". Được sự hướng dẫn tận tình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và Ngọc Sơn, Giao Linh đã thành công ngay trong bước đầu dưới ánh đèn sân khấu. Có một thời gian, hầu như không một chương trình văn nghệ hay Đại Nhạc Hội nào thiếu bóng Giao Linh. Cả tại phòng trà hay vũ trường cũng có sự xuất hiện của cô. Đó là chưa kể sự đóng góp của cô trên những chương trình phát thanh hoặc truyền hình. Trong ánh sáng muôn màu của sân khấu hay dưới ánh đèn mờ ảo của vũ trường, người nữ ca sĩ duyên dáng nổi bật trong chiếc áo dài đã ru hồn khán giả bằng những bài ca tuyệt vời như: Lòng Mẹ, Mùa Sao Sáng, Tiếng Xưa, Màu Tím Pensée, Những Đóm Mắt Hỏa Châu... Mang bản chất nghệ sĩ, Giao Linh sống rất trọn vẹn cho tình yêu và gia đình, thích làm người vợ hiền và người nội trợ. Về hôn nhân, Giao Linh "mong muốn lúc nào người chồng cũng lịch sự, vui tính, luôn luôn chiều chuộng và hết lòng với vợ". Yêu thích cuộc sống bình thường, đạm bạc. Yêu màu tím và thích con số 7. Giao Linh tên thật là Đỗ Thị Sinh, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1949, cô rời Việt Nam năm 1982. Giao Linh đã lưu diễn tại nhiều quốc gia trên thế giới như : Pháp, Đức, Bỉ, Áo, Úc, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển...




Giao Linh từng cùng với chồng đứng ra thành lập một trung tâm video vào khoảng giữa thập niên 90 với tất cả lòng đam mê và sự tận tình, tuy nhiên có thể do thiếu phương tiện và điều kiện nên trung tâm của vợ chồng cô đã không có thể hoạt động tiếp. Tuy nhiên có điểm cần ghi nhận là nhờ trung tâm đó, một số giọng ca mới đã được giới thiệu với khán thính giả để sau đó trở thành những khuôn mặt khá quen thuộc.

Gia đình Giao Linh hiện cư ngụ tại San Jose, là nơi cô đã có thời gian cộng tác với vũ trường Lido. Những ngày gần đây hoạt động của Giao Linh có phần giảm sút. Một phần có thể cô đã mỏi mệt sau trên 35 năm mang tiếng hát mình để đem lại nguồn vui cho người thưởng thức. Phần khác có thể cô muốn nhường bước cho lớp trẻ tiếp nối con đường nghệ thuật. Nhưng dù sao, tiếng hát giao Linh cũng đã trải qua một thuở vàng son đối với những người yêu nhạc.


Hiện giờ, Giao Linh đã trở về VN,



Giao Linh tên thật là Đỗ Thị Sinh, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1949. Là một người yêu mến nghệ thuật bẩm sinh
 
Bước vào lãnh vực tân nhạc từ mấy thập niên qua, tiếng hát Giao Linh đã đi vào lòng khán thính giả mộ điệu bằng những âm thanh ngọt ngào truyền cảm qua những nhạc phẩm tình cảm phổ thông. Lần trình diễn đầu tiên góp vui cho chương trình văn nghệ của đoàn "Kim Hoàng - Như Mai", Giao Linh đã đoạt huy chương vàng vào năm1966 khi đại diện cho đoàn văn nghệ Air Việtnam. Cơ hội này mở ra cho người nữ ca sĩ khả ái một tương lai đầy hy vọng trong làng tân nhạc Việt Nam. Sau lần trình diễn đó, nhạc sĩ Thu Hồ giới thiệu Giao Linh với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả "Chiều Mưa Biên Giới". Được sự hướng dẫn tận tình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và nhạc sĩ Ngọc Sơn, Giao Linh đã thành công ngay trong bước đầu dưới ánh đèn sân khấu. Có một thời gian, hầu như không một chương trình văn nghệ hay Đại Nhạc Hội nào thiếu bóng Giao Linh. Cả tại phòng trà hay vũ trường cũng có sự xuất hiện của cô. Đó là chưa kể sự đóng góp của cô trên những chương trình phát thanh hoặc truyền hình. Trong ánh sáng muôn màu của sân khấu hay dưới ánh đèn mờ ảo của vũ trường, người nữ ca sĩ duyên dáng nổi bật trong chiếc áo dài đã ru hồn khán giả bằng những bài ca tuyệt vời như: Lòng Mẹ, Mùa Sao Sáng, Tiếng Xưa, Màu Tím Pensée, Những Đóm Mắt Hỏa Châu... Mang bản chất nghệ sĩ, Giao Linh sống rất trọn vẹn cho tình yêu và gia đình, thích làm người vợ hiền và người nội trợ. Về hôn nhân, Giao Linh "mong muốn lúc nào người chồng cũng lịch sự, vui tính, luôn luôn chiều chuộng và hết lòng với vợ". Yêu thích cuộc sống bình thường, đạm bạc. Yêu màu tím và thích con số 7.  Cô rời Việt Nam năm 1982. Giao Linh đã lưu diễn tại nhiều quốc gia trên thế giới như : Pháp, Đức, Bỉ, Áo, Úc, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển...
Giao Linh từng cùng với chồng đứng ra thành lập một trung tâm video vào khoảng giữa thập niên 90 với tất cả lòng đam mê và sự tận tình, tuy nhiên có thể do thiếu phương tiện và điều kiện nên trung tâm của vợ chồng cô đã không có thể hoạt động tiếp. Tuy nhiên có điểm cần ghi nhận là nhờ trung tâm đó, một số giọng ca mới đã được giới thiệu với khán thính giả để sau đó trở thành những khuôn mặt khá quen thuộc.
Gia đình Giao Linh hiện cư ngụ tại San Jose, là nơi cô đã có thời gian cộng tác với vũ trường Lido. Những ngày gần đây hoạt động của Giao Linh có phần giảm sút. Một phần có thể cô đã mỏi mệt gần 40 năm mang tiếng hát mình để đem lại nguồn vui cho người thưởng thức. Phần khác có thể cô muốn nhường bước cho lớp trẻ tiếp nối con đường nghệ thuật. Nhưng dù sao, tiếng hát giao Linh cũng đã trải qua một thuở vàng son đối với những người yêu nhạc.










Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 14:44:54Ct.Ly>
Nghệ sĩ Hương Lan




Ca sĩ Hương Lan tên thật là Trần Ngọc Ánh, sinh ngày 9 tháng 5 năm 1956 tại Sài Gòn, là con cả trong một gia đình có 5 người con. Cha của cô là nghệ sĩ Hữu Phước, một nghệ sĩ cải lương nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam thập niên 1960. Nghệ danh Hương Lan của cô được ghép từ chữ Hương trong Thanh Hương và chữ Lan trong Út Bạch Lan, nghệ danh của hai ca sĩ thân thiết với gia đình
Do ảnh hưởng của cha, cô khởi nghiệp ca hát bằng thể loại vọng cổ. Năm 1961, khi chỉ mới 5 tuổi, cha bà đã đưa cô lên sân khấu và cùng diễn trong vở cải lương Thiếu phụ Nam Xương, lần đầu tiên ghi dấu ấn trong cuộc đời ca hát của cô
Năm 1966, cô chuyển sang tân nhạc dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Trúc Phương. Ca khúc tiêu biểu của cô là Ai ra xứ Huế của Duy Khánh nhận nhiều sự chú ý và mến mộ bởi chất giọng ngọt ngào và thanh khiết. Cô được hầu hết các nhật báo cũng như tạp chí ở Sài Gòn lúc bấy giờ mệnh danh là “thần đồng”.
Cuối năm 1974, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã có những cuộc thương thảo nhằm thực hiện tuyển tập thu băng đầu tiên mang tên “Tiếng hát Hương Lan”, trong bộ băng nhạc nổi tiếng Shotguns nổi tiếng thời bấy giờ. Tuy nhiên, dự án này không thể thực hiện do thời cuộc đầu năm 1975.
 
    Hương Lan nổi bật trong loại nhạc trữ tình lãng mạn. Cô đã vào nghề ca hát hầu hết cuộc đời của cô và đã trở thành một trong những nghệ sĩ hàng đầu tại hải ngoạị Theo thời gian, Hương Lan đã thích hát một số bản nhạc sáng tác trước 1975 và một số nhạc sau 1975. Nhưng mục đích chính của cô vẫn là thể loại nhạc quê hương, dân tộc.
    Năm 1978, Hương Lan sang Pháp định cư, cũng như nhiều ca sĩ khác phải làm nhiều việc để nuôi sống mình và nuôi dưỡng niềm đam mê nghệ thuật. Đâu có ca sĩ nào luôn ở trên đỉnh cao của sự hãnh tiến. Hương Lan phải làm ngay cả những việc chẳng ăn nhập gì với nghệ thuật như cuốn chả giò, bán quần áo,… chỉ với ước mơ được hát trở lại. Niềm đam mê ca hát theo cô bé Hương Lan từ lúc nhỏ, được nung nấu trong suốt cuộc đời cô. Hương Lan bắt đầu thực hiện mơ ước ở những phòng trà, mặc dù mỗi tuần chỉ hát vào ngày thứ bảy. Và từ đó, cô trở thành ca sĩ đầu tiên trên sân khấu Thúy Nga Paris.
    Hương Lan rất quý mến khán thính giả tại San Jose mặc dù họ rất chọn lọc và luôn đòi hỏi rất cao ở những nghệ sĩ trình diễn tại đâỵ Vì thế, Hương Lan luôn tập luyện để làm vừa lòng những người đang ái mộ cô.


Hương Lan là ca sĩ hải ngoại đầu tiên trở về quê hương, được cấp giấy phép biểu diễn cũng như phát hành băng đĩa trong nước. Hương Lan tên thật là Trần Ngọc Ánh, sinh năm 1956 tại Sài Gòn và lớn lên tại đây cho đến khi sang Pháp vào năm 1978. Cô là con cả trong một gia đình có 5 người con, ngoài một người con riêng của thân phụ cô là nghệ sĩ Hữu Phước với người vợ không chính thức trước đó, khi ông còn là một giáo viên tiểu học. Một người em gái cô là Hương Thanh cũng hoạt động trong lãnh vực nghệ thuật, hiện đang cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Lê, nổi tiếng trong ngành dân nhạc tại Châu Âu. Thời gian Hương Lan mới mở mắt chào đời , gia đình cô ở trong một hoàn cảnh túng thiếu nên rất vất vả về mặt kinh tế. Lúc đó, thân phụ cô mới đi hát được vài năm, tiếng tăm chưa có là bao.

Năm 1961, khi Hương Lan chỉ vừa tròn 5 tuổi, cha cô là cố nghệ sĩ Hữu Phước đã mang cô lên sân khấu và vở cải lương "Thiếu Phụ Nam Xương" ghi dấu đầu tiên trong cuộc đời ca hát của cộ Năm 1966, Hương Lan bắt đầu chuyển sang hát tân nhạc và bài hát đầu tiên của cô là "Ai Ra Xứ Huế" của Duy Khánh. Giọng hát ngọt ngào và lối trình diễn điêu luyện của cô đã làm bao nhiêu người ngưỡng mộ.
Hương Lan được chỉ dẫn vọng cổ bởi nhạc sĩ Sáu Tửng, thân phụ nhạc sĩ Huỳnh Anh. Thầy Sáu Tửng, khi đó sống chung với gia đình cô, đã có công chỉ dẫn nhiều cho cô về nhịp nhàng, trong khi thân phụ cô chỉ dẫn cách diễn trên sân khấu. Nhưng thật ra Hương Lan cho biết, cô học thẳng trên sân khấu nhiều hơn là học ở bố. Nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất cô thừa hưởng nơi người bố nổi danh là cách sắp chữ và lối hành văn bên ngành cải lương. Do từng hành nghề giáo viên, nên Hữu Phước rất kỹ lưỡng về cách phát âm cuả người miền Nam.

Khi lên 9 tuổi, Hương Lan đã phải chứng kiến sự chia tay giữa bố mẹ vào năm 1965, với lý do đến từ “sự lả lướt của mấy ông nghệ sĩ, nên má em không thích. Từ đó, gia đình Hương Lan lâm vào tình trạng khó khăn nên cô phải đi hát phụ với bố để giúp gia đình. Thời gian này, Hương Lan càng lúc càng gây được nhiều chú ý nơi khán thính giả qua các vai trong các vở cải lương như Thầy Cai Tổng Bồi, Lan Và Điệp. Cũng như sau này là Đôi Mắt Người Xưa, Bóng Chim Tăm Cá, vv…
Lên 10 tuổi, Hương Lan bắt đầu chuyển qua Tân Nhạc, sau khi được nhạc sĩ Trúc Phương nhận ra khả năng của giọng hát cô, và nhất là trước đó cô rất thích tiếng hát của Hoàng Oanh. Trước lời đề nghị của Trúc Phương, thân phụ cô bằng lòng để cô theo học nhạc. Dù là một nghệ sĩ cải lương tên tuổi, nhưng Hữu Phước có một chủ trương rất cởi mở để cho rắng “Nghề nào cũng là nghề, cũng là sân khấu”.
Thế là kể từ năm 66, Hương Lan bắt đầu chuyển qua tân nhạc trong hình ảnh một cô bé mặc váy đầm xòe trên những chương trình Đại Nhạc Hội Duy Ngọc tổ chức thường xuyên tại rạp Quốc Thanh. Với hai nhạc phẩm “tủ” đầu tiên là Những Đồi Hoa Sim và Ai Ra Xứ Huế, “Bé Hương Lan” đã gây nhiều ngạc nhiên cho khán giả. Đặc biệt sau đó, “Bé Hương Lan” đã được khán giả nhiệt liệt hoan nghênh mỗi khi xuất hiện cùng với bố trong vở “Lan Và Điệp” qua những đoạn tân cổ giao duyên. Hai năm sau, Hương Lan đã được mời ký hợp đồng với hãng đĩa Việt Nam để thu thanh những ca khúc tân nhạc cùng một số bản cải lương. Sau khi mãn hợp đồng với hãng đĩa Việt Nam vào năm 70, cô sang hợp tác với trung tâm băng nhạc Trường Sơn do nhạc sĩ Duy Khánh chủ trương trong hai năm. Trước khi về với Trường Sơn, Hương Lan đã bớt xuất hiện trên sân khấu để chỉ chú tâm theo đuổi việc học hành khi bắt đầu bước chân vào ngưỡng cửa trung học trường Nguyễn Bá Tòng. Nhưng vì quá đam mê nghệ thuật nên việc học vấn của Hương Lan đã chấm dứt rất sớm, khi cô mới học hết năm Đệ Ngũ. Và cũng kể từ năm 72, Hương Lan trở thành một ca sĩ tân nhạc độc lập, được mời thu thanh trên rất nhiều băng nhạc chung với nhiều nghệ sĩ khác, ngoài phần thỉnh thoảng vẫn thu một số băng cải lương. Cũng vào thời gian này, tiếng hát của “Bé Hương Lan” trở thành quen thuộc với những thính giả đài phát thanh, đặc biệt qua những chương trình ca nhạc của nhạc sĩ Châu Kỳ. Sở dĩ có một thời gian khá dài, Hương Lan vắng bóng trên sân khấu cải lương vì cô ở trong lứa tuổi cô cho là lỡ cỡ, “không đóng được vai đào và cũng không đóng được vai con nít”, như cô kể. Hương Lan chỉ trở lại với cải lương vào năm 73, khi được 17 tuổi.

Hương Lan lập gia đình với Chí Tâm vào năm 1976. Sau đó cô hoạt động trong lãnh vực cải lương hơn một năm với những buổi trình diễn tại Sài Gòn và các tỉnh qua một số soạn phẩm như Tình Yêu Và Bạo Chúa, Cây Sầu Riêng Trổ Bông, vv…
Năm 1978, Hương Lan sang Pháp định cư, cũng như nhiều ca sĩ khác phải làm nhiều việc để nuôi sống mình và nuôi dưỡng niềm đam mê nghệ thuật. Đâu có ca sĩ nào luôn ở trên đỉnh cao của sự hãnh tiến. Hương Lan phải làm ngay cả những việc chẳng ăn nhập gì với nghệ thuật như cuốn chả giò, bán quần áo,… chỉ với ước mơ được hát trở lại. Niềm đam mê ca hát theo cô bé Hương Lan từ lúc nhỏ, được nung nấu trong suốt cuộc đời cô. Hương Lan bắt đầu thực hiện mơ ước ở những phòng trà, mặc dù mỗi tuần chỉ hát vào ngày thứ bảy.
Hương Lan trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1994 cùng với những nghệ sĩ hải ngoại Quốc Anh, Đức Huy và Thảo My, theo lời mời của một công ty điện toán Úc nhằm tổ chức những chương trình văn nghệ để quảng cáo cho những sản phẩm của công ty này với mục đích đưa những sản phẩm đó vào thị trường Việt Nam. Cô nghĩ rằng niềm ao ước được trở lại hát ở quê hương có cơ hội thành hình vì cho là “dù sao cũng có cả một kỷ niệm, cả một tuổi thơ ở Việt Nam” như cô tâm sự.

Năm1996, Hương Lan chính thức được phép trình diễn trước khán giả tại quê nhà.
Hiện nay Hương Lan là hội viên danh dự của Hội Những Bệnh Nhân Nghèo ở Sài Gòn. Trong những năm qua cô đã đứng ra tổ chức nhiều chương trình ca nhạc lấy tên là “Đêm Hương Lan Với Người Nghèo tại Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bình Phước, Sài Gòn,…. Tất cả tiền lời của những lần tổ chức đó, cô đã trao cho Hội Những Bệnh Nhân Nghèo để dùng vào việc chữa trị cần thiết. Ngoài ra cô cũng đã thực hiện một đêm hát ở Phú Yên để gây quỹ cho các trẻ em tàn tật và một chương trình Cây Mùa Xuân cho trẻ em nghèo ở Bình Phước là nơi vợ chồng cô có một trang trại rộng 13 mẫu tây, trong đó có một vườn trái cây gồm xoài, nhãn, mãng cầu, sầu riêng, chôm chôm, vv…và 2 ao nuôi cá, mỗi ao rộng gần 2000m vuông. Ngoài ra vợ chồng cô còn có một ngôi nhà trong cư xá An Phú Đông.
Ngoài những chương trình có mục đích từ thiện, Hương Lan thường đi hát hàng đêm tại các tụ điểm. Cô thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình ca nhạc ở một số phòng trà trong đó có phòng trà Văn Nghệ là nơi cô thường xuất hiện nhất. Từ năm 2003, Hương Lan đã chính thức quay về với sân khấu cải lương trong vở Hoa Đồng Cỏ Nội của đoàn Trần Hữu Trang, diễn tại rạp Hưng Đạo, trong khi đã thu thanh rất nhiều cổ nhạc trên những chương trình video.
Tháng 11/2009, sau gần 3 năm thực hiện, album "Chỉ Hai Đứa Mình" được Hương Lan tâm huyết đã được phát hành. Album gồm những ca khúc không mới nhưng đã gắn liền với tên tuổi của Hương Lan, được xem như một món quà tri ân của Hương Lan dành cho khán giả yêu mến giọng hát của mình.

Hương Lan cho biết, sau album này chị sẽ thực hiện một album mới do nhạc sĩ Đức Trí biên tập, hòa âm và chọn lọc.







Nghệ sĩ Hương Lan.


Mới được 3-4 tuổi, tôi đã rành cả sáu câu vọng cổ, rành cả những điệu thức hát cải lương dù chưa biết chữ. Má thấy tôi lanh lợi, bèn dạy hát theo kiểu truyền khẩu một số vai con nít trong các vở tuồng đang ăn khách của gánh hát cha tôi thời đó, như "Thầy cai tổng Bồi", "Lan và Điệp"...

Năm 1962, tôi lên 5, bắt đầu được hát trên sân khấu, hôm đó gánh Thanh Minh - Thanh Nga căng một tấm băng rôn rất to ngoài cửa rạp, trên đó chạy nguyên hàng chữ: "Vở tuồng có sự tham gia của thần đồng Hương Lan, ái nữ của nghệ sĩ Hữu Phước". Dưới dàn micro treo, chỗ đứng của tôi kê một cái hộp gỗ đựng quần áo diễn của mọi người trong đoàn cao ngất ngưởng. Tôi đứng trên cái hộp ấy, miệng ngậm cái núm vú cao su, cứ khi nào nhạc nổi lên thì tôi nhả vú ra để ca, ca xong tôi lại kéo cái núm vú ngậm tiếp. Đời tôi bắt đầu biết đến sân khấu từ những chuyện tức cười như thế. Sau lần ra mắt thành công ở gánh hát Thanh Nga, nội may cho tôi một chiếc áo dài và thường xuyên dắt tôi đi hát ở các phòng trà. Các bà, các cô ngày xưa đi nghe hát thường đem theo một cái quạt giấy, hễ thấy ai hát hay thì cuộn tiền vào nan quạt rồi thảy lên sân khấu thưởng cho người ta. Nội tôi kể, cứ khi nào tôi hát xong là có thể thu được một ôm quạt giấy đầy tiền. Nhiều hôm đếm được mấy chục đồng, trong khi chỉ cần trăm bạc là đã mua được một chiếc xe hơi loại xịn. Nhưng tiền ấy chúng tôi không đem về nhà một đồng nào, nội đem cho hết những người chơi nhạc, nội bảo: "Nội dẫn con tới đây không phải để kiếm tiền đâu con ạ".

Năm 1968, tôi bắt đầu chuyển sang hát tân nhạc, không phải vì tôi không thích cải lương mà vì lúc đó, tôi đã lớn, sao làm thần đồng được nữa? Ngày đó ở Sài Gòn, tôi nổi danh với những bài nhạc tình buồn lãng mạn như Ai ra xứ Huế, Những đồi hoa sim... Mới 15-16 tuổi, tôi đã được hát trong Đại nhạc hội, đã ký được hợp đồng thâu đĩa hát. Nhưng những ngày tháng đó không kéo dài, trước giải phóng không lâu, gia đình tôi có chuyện, ba má tôi lục đục rồi chia tay. Mười chị em mà tôi là chị Hai phải sẻ làm đôi, năm đứa theo ba, năm đứa theo má. Giải phóng miền Nam năm 1975, tôi tham gia đoàn văn công giải phóng TP HCM, được đóng những vở cải lương rất hay như Tình yêu và bạo chúa, Cây sầu riêng trổ bông. Nhưng đến năm 1978, cả gia đình tôi sang Pháp định cư. Đó mới là những tháng ngày cơ cực nhất của đời tôi. Hồi đó công việc của tôi khá vất vả, đi bán rau, bánh kẹo, quần áo, cuốn thuê chả giò cho người ta trong những khu chợ nhỏ ở ngoại ô thành Paris.
Năm 1984, tôi bắt đầu đứng hát trên sân khấu Thúy Nga Paris. Bài đầu tiên tôi hát là Ngày về của Hoàng Giác. Rồi tiếp đó là những tuyệt phẩm nhạc tình quê hương như Còn thương rau đắng mọc sau hè, Em đi trên cỏ non, Chiếc áo bà ba, Điệu buồn phương Nam... Tôi gửi vào đó tình yêu của tôi với quê hương, nơi tôi đã từ đó mà ra đi, giống như một cây non bị tách rời gốc rễ.




Nếu nói rằng trong đời tôi có điều gì hài lòng nhất, thì đó là những ngày tháng cuối của cuộc đời ca hát này, tôi được về lại Việt Nam và hát cho những người dân bình dị nghe những tình ca về quê hương xứ sở. Tôi từng được hát trên những sân khấu hoành tráng và hiện đại ở khắp các nước có người Việt sinh sống như: Pháp, Mỹ, Australia, Canada... Những sân khấu tràn ngập ánh sáng và âm thanh hiện đại bậc nhất, những khán giả sành điệu mặc đồ lịch sự và thơm nức nước hoa nhưng không ở đâu làm tôi bật khóc như đã khóc với một bà má nghèo trên phà Cần Thơ hồi năm 1997. Hôm đó tôi đi hát ở Cần Thơ về, 2 giờ sáng mà vẫn phải qua phà để đi về Vũng Tàu vì sáng mai phải ghi hình sân khấu cải lương sớm. Sương giăng trắng trên sông Hậu, tôi ngồi trong ôtô chờ đến lượt qua phà, bỗng có một bà má đi ngược lại phía tôi, ra hiệu cho lái xe quay kính xe xuống. Bà nói với tôi: "Con ơi, con có biết má đã phải bán mấy giạ thóc để lấy tiền đi nghe con hát không?". Tôi bật khóc nhìn bà má nghèo đầu trần, chân đất, sau đêm xem hát đang đi bộ về nhà. Tôi xin bà nhận lấy chút tiền mà bà nhất định không chịu, bà nói: "Má trả cái công con hát cho má nghe, được nghe con hát là má sướng rồi, đói khổ có sao đâu". Chính từ bà má vô danh tôi đã gặp đó, tôi chợt thấy như mình đang có hàng vạn bà má nghèo như thế mà tôi chưa hề được gặp, tôi quyết định phải dùng tiếng hát của mình để làm việc tốt giúp họ.

Cho đến giờ tôi đã làm được 5 đêm Hương Lan hát cho người nghèo ở các tỉnh Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bình Phước, Tây Ninh. Sắp tới sẽ là Kiên Giang và những nơi nào tôi có thể đến được. Trước đêm diễn một ngày, tôi đem vé đi bán khắp các nơi, có nơi họ ký sổ vàng từ thiện cho cả chục triệu đồng. Tiền vé thu được tôi kết hợp với Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP HCM thuê bác sĩ xuống tận nơi phẫu thuật thay thủy tinh thể cho những người già, chữa bệnh cho con trẻ. Tôi đã cùng chồng, cũng là một Việt kiều về Việt Nam sinh sống, đầu tư một mảnh đất 20 mẫu ở Bình Phước để giúp những hộ dân nghèo sống quanh đó. Xa quê rồi mới thấy, quê hương đối với mình đôi khi chỉ cụ thể như một món ăn thôi, như trong lời bài hát mà tôi thường hát: Ai cách xa cội nguồn, ngồi một mình, nhớ lũy tre xanh rào quanh khung trời kỷ niệm chợt thèm rau đắng nấu canh.

Hương Lan
(Theo Nông Thôn Ngày Nay)

📎 huonglan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-09-12 15:00:25Ct.Ly>
Tiểu Sử nữ nghệ sĩ  Y Phụng


 

  "Làm con của vua, sướng quá chứ..." Nhưng làm con của ông vua nghệ sĩ cải lương Minh Phụng vẫn khổ... vẫn phải đi từng bước gian nan, từng ngày, từng tháng... mới có được tên nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh Y PHỤNG ngày hôm nay. Và chính sự cố gắng, học hỏi... cộng với niềm đam mê, chịu vượt qua những cơn đau, nỗi buồn đã giúp cho Y Phụng thành công rất nhiều ở những lãnh vực nghệ thuật mà cô đã đi qua.
   Thừa hưởng giòng máu nghệ sĩ của bà ngoại và cha, Y Phụng đã biết yêu ánh đèn sân khấu từ năm lên sáu tuổi. Dù chỉ là vai "đào con", cầm đuốc đi ra đi vô, vài phút đồng hồ trong vở tuồng Khói Rừng Quê Mẹ, nhưng khán giả của đoàn cải lương Tiếng Hát Quê Hương lúc bấy giờ đều thích thú trước lối diễn xuất thật dễ thương, hồn nhiên của bé Y Phụng. Thời đó, trước khi mở màn hát cải lương, các buổi hát thường có phần phụ diễn ca nhạc, Y Phụng cũng đã được cha mẹ khích lệ tập dượt đứng hát một mình những bài thiếu nhi như Mùa Xuân Em Đi Hái Hoa...






    Năm lên tám, vì muốn con gái đi học đàng hoàng, nghệ sĩ Minh Phụng và Kiều Tiên chỉ cho Y Phụng bước lên sân khấu ở Sài Gòn vào dịp Hè lúc trường học nghĩ và sau đó là phải rời sân khấu không được theo đoàn lưu diễn đó đây ở dưới các miền tỉnh xa xôi. Năm lên 11, 12 tuổi... ba mẹ khuyến khích cô theo học trong trường nhịp điệu Ba lê và thể dục, dụng cụ ở trường Hưng Đạo. Càng học, càng yêu thích... và năm 14 tuổi, qua những băng ca nhạc Video từ hải ngoại "tuồn" về trong nước, hình ảnh sống động nóng bỏng của Madonna, Linda Trang Đài... càng làm cháy bỏng những đam mê thao thức của Y Phụng từ bao lâu. Những bước chân di động quyến rũ, những động tác đưa tay mời gọi ru ngủ đất trời... trên màn ảnh nhỏ của các thần tượng âm nhạc đã là những "dấu ấn" trong tim, trong đầu của Y Phụng, và cũng có thể nói của rất nhiều khán giả trẻ thời bấy giờ ở Việt Nam.
   Sau nhiều lần trốn học bỏ lớp, bị cha mẹ biết được rầy la cấm đoán dữ lắm, Y Phụng phải khai thiệt và xin cha mẹ cho đi hát. Cả đời làm nghệ sĩ, Minh Phụng và Kiều Tiên hiểu được những vinh quang và nhọc nhằn của nghề nghiệp này, cho nên sau những lần khuyên răn chỉ bảo mà Y Phụng vẫn một mực xin cha mẹ cho đi hát, gia đình đành chấp thuận với một điều kiện: "Trong vòng một năm con đi hát thành công thì thôi, còn hát không ra gì, con phải... về nhà đi học đàng hoàng".





    Thế là mỗi chiều mới có 5, 6 giờ là Y Phụng đã chuẩn bị thay đổi y phục chưng diện kỹ lưỡng thật đẹp để có mặt kịp tại sân khấu.Thời gian đầu đi hát, tuy là hát chùa không tiền nhưng lòng vẫn vui như Tết, chỉ mong sao tới chiều lè lẹ để chưng diện thay đồ. Tuy là con của nghệ sĩ Minh Phụng có nhiều điều kiện ưu tiên, nhưng cha mẹ cô vẫn tập cho con mình bước đi bằng chính bước chân vững chãi của mình mà không hề dựa uy, ỷ thế vào ai. Vẫn phải có mặt thật sớm để làm ca sĩ "dàn lót" kéo giữ cho những ngôi sao tới trễ. Có đêm buồn hiu hắt vì ngồi đến phút cuối mà vẫn không được diễn phải đi về. Tuy chưa có tên tuổi gì cả, nhưng sau vài lần trình diễn đầu tiên ở rạp Lao Động, do bầu Duy Ngọc phụ trách, tiết mục Y Phụng được nhiều bạn bè để ý, yêu thích. Lần lần, sau những lần giới thiệu tên Y Phụng, cô càng lúc đón nhận rất nhiều tràng pháo tay thật dữ dội. Chỉ một thời gian ngắn ngủi, nhiều tụ điểm ca nhạc đã mời Y Phụng về hát.
   Rồi ở những tỉnh thành xa xôi, bầu show cũng bắt đầu mời đi hát. Lúc đó khổ lắm, vì không có tên tuổi nên hát đã lãnh ít tiền mà còn bị coi thường. Ca sĩ ngôi sao đi tỉnh được ngủ ở khách sạn, còn các ca sĩ như Y Phụng, Văn Phi Thông, Minh Thuận... phải ngủ ở rạp hát cho đỡ chi phí nhà tổ chức. Nấu ăn phải tự mang nồi lò xo bếp điện về mua gạo nấu ăn, tắm người này căng màn ra cho người kia tắm và làm gì có phòng tắm ở những nơi trình diễn đồng quê hẻo lánh. Từ hát chùa, tiền lương của Y Phụng được trả hai ngàn đồng, rồi ba ngàn... "Hai, ba ngàn đâu có nhiều gì anh. Chưa đủ tiền đổ xăng đó, nhưng cầm được tiền đi hát, em hạnh phúc không thể tả". Cầm được hai, ba ngàn... Y Phụng hí ha hí hửng tặng ngay ba một ngàn, mẹ một ngàn, bà ngoại một ngàn... thật là hãnh diện vì đây là số tiền đi làm bằng chính tài năng sức lực của mình.
   Thời điểm đó, một cô bé mới 14, 15 tuổi, mặc quần áo hơi hở hang táo bạo và trình diễn oai nhạc Mandonna. Linda Trang Đài tuy được nhiều bạn trẻ hoan nghênh, nhưng hầu hết giới báo chí ở Sài Gòn lúc bấy giờ không thể nào chấp nhận được. Những bài viết lên án, phê bình nặng tay... nêu thẳng tên Y Phụng, tưởng đâu lần đó đã làm chùn chân cô bé và dập tắt những ước mơ. Vì sợ báo chí "đánh lây", nhiều sân khấu tụ điểm khác không dám mời Y Phụng cộng tác nữa. Sân khấu duy nhất còn lại "dám" để cô ở lại là rạp Lao Động của ông bầu Duy Ngọc. Tình cảm đó, Y Phụng hứa với lòng sẽ có ngày trả lại.
   Tuy bị mấy bài báo "dập" te tua, nhưng cũng chính sự ồn ào đó đã làm nhiều người để ý thêm đến tên Y Phụng là ai? Con bé đó làm gì mà báo chí hôm qua nói nhiều dữ vậy?... Vậy đi coi thử ra sao cho biết. Cứ vậy, Y Phụng và rạp Lao Động lại có thêm mỗi ngày một số khán giả mới. Trong số những khán giả này, có cả Xuân Cường, Xuân Kỳ, những nhà đạo diễn làm phim đang đi tìm những khuôn mặt mới lạ và ăn ảnh, ăn đèn. Với ca khúc You're My Heart You're My Soul, Y Phụng đã tạo thành cơn sốt nóng bỏng hàng đêm cho giờ trình diễn của cô. Thế là Y Phụng được mời góp mặt trong một vai phụ, rất phụ... trong bộ phim Những Cánh Hoa Hoang Dại, và dù chỉ có xuất hiện một hai cảnh (sau khi bị cắt hết năm sáu cảnh quay) nhưng khuôn mặt Y Phụng lại để nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng rất nhiều khán giả coi phim lúc đó. Và may mắn thay, sự xuất hiện đó của Y Phụng dù rất ngắn nhưng cũng lọt vào được mắt xanh của nhà đạo diễn phù thủy hàng đầu Việt Nam: Lê Dân.
   Chính lẽ Dân mời Y Phụng thủ ngay vai chánh trong phim Riêng Chỉ Có Anh bên cạnh các ngôi sao thời đó như Lê Tuấn Anh, Diễm Hương. Tuy là một ca sĩ chưa có tên tuổi gì và tiếng hát chẳng bao nhiêu nhưng không hiểu sao đạo diễn Lê Dân một mực chọn vai chánh cho Y Phụng. Lúc ấy, y Phụng chỉ mới 15, 16 tuổi. Lần đầu được đóng vai chánh bên cạnh hai ngôi sao lớn, Y Phụng mừng lắm, nhưng trong kịch bản đòi hỏi Y Phụng phải cắt đi mái tóc dài của mình, cô bé khăng khăng từ chối và quyết định trả lại kịch bản cho đạo diễn. Đến nước này, mẹ cô nghệ sĩ Kiều Tiên ra lệnh nếu con không cắt tóc đóng phim, sẽ bị ngưng hát luôn. Hai chữ "cấm hát" quả là một đau khổ lớn nhất trong đời, nên sau những giờ phút vất vả khóc lóc, cũng phải đành cắt bỏ mái tóc dài yêu quý.
   Bộ phim Riêng Chỉ Có Anh ra mắt được sự hưởng ứng mạnh mẽ của khách mê phim thời đó. Và cũng nhờ cuốn phim này, hàng loạt kịch bản mới của nhiều nhà làm phim ồ ạt gởi tới Y Phụng. Từ đó mối duyên điện ảnh đã gắn chặt cùng Y Phụng rất mặn nồng. Mỗi khi đi diễn dù ở Sài Gòn hay ở các tỉnh, diễn viên điện ảnh rất được khán giả yêu mến.
   Những tấm "băng-rôn", khi thấy tên Lý Hùng, Lê Tuấn Anh, Việt Trinh, Y Phụng... đều được khán giả mua vé vào xem để được gặp mặt, được chuyện trò... Thời đó, những năm 1994, 1995... quả là thời hoàng kim của giới làm phim ảnh ở Sài Gòn. Y Phụng có lần nhận lời quay cho 3, 4 cuốn cùng một lúc, xong bối cảnh phim này, đạo diễn phải cho diễn viên chạy show đi quay cho một bộ phim khác, tuy bận rộn với điện ảnh, nhưng Y Phụng vẫn không bỏ quên sân khấu ca nhạc. Lúc này chỗ đứng của cô trong lòng người hâm mộ đã ở thật cao không như một năm về trước. Không còn những buổi hát chùa ngồi chờ thâu đêm. Giã từ những lần đi tỉnh bị ngủ ngoài rạp hát...

***


Trên những chương trình video, dễ nhận thấy Y Phụng là một thiếu nữ trẻ trung, dạn dĩ và lanh lợi. Khi tiếp xúc với cô, những cá tính ấy lại càng được bộc lộ rõ hơn qua tiếng cười, giọng nói và những câu trả lời của cô. Tuy mới chỉ xuất hiện trên 6, 7 chương trình video của trung tâm Asia, gần đây nhất là Asia 55 “Hát Với Thần Tượng”, nhưng Y Phụng đã được khán thính giả coi như một khuôn mặt quen thuộc. Điều này có lẽ một phần nhờ cô là con của cặp vợ chồng nghệ sĩ cải lương tên tuổi Minh Phụng và Kiều Tiên. Mặt khác, Y Phụng dạn dĩ nhờ xuất hiện trên sân khấu cải lương cùng với bố mẹ từ khi còn nhỏ xíu để sau đó bị ánh đèn mầu quyến rũ đến nỗi bỏ học khi mới hết lớp 9 trường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Từ đó, Y Phụng theo đuổi hẳn nghiệp cầm ca với một khả năng đa dạng, từ nhạc trẻ qua đến cải lương và nhạc quê hương

Cô thiếu nữ tên thật là Nguyễn Mỹ Thể cho biết cô sinh năm 1979 tại Sài Gòn. Cô đã được ba mẹ hướng dẫn đến với bộ môn cải lương từ khi mới lên 5, lên 6, trong những vai đào con nhân vật do thân phụ cô thủ diễn, chẳng hạn như vai con nuôi của thi sĩ Hàn Mạc Tử do Minh Phụng đóng mà cho đến nay cô vẫn còn nhớ như in.

Sau một thời gian tham gia vào bộ môn cải lương, Y Phụng chuyển sang nhạc trẻ vì say mê với những âm thanh mới mẻ trong lãnh vực tân nhạc, thích hợp với lứa tuổi cô lúc đó. Ngoài ra, cũng vì yêu thích thời trang nên Y Phụng đi theo thể loại nhạc trẻ trung này. Cô chỉ còn đến với cải lương qua những lần hát để thu video cho một số trung tâm ở hải ngoại về Việt Nam thực hiện. Nói vậy nhưng Y Phụng thú nhận là hát nhạc trẻ nhưng trong xe cô đầy băng đĩa cải lương. Y Phụng còn cho biết là cô rất say mê tiếng hát của Hương Lan và Tuấn Vũ trong những nhạc phẩm quê bương. Cô đã không giấu diếm khi cho biết “Lớn lên, thích ăn mặc thời trang nên đi theo nhạc trẻ chứ thực sự thì cái gốc của con là cải lương và loại nhạc quê hương mà con rất thích.”



Sau nàyqua tới Mỹ, Y Phụng lại càng nhận ra khả năng đi sâu vào lòng người của bộ môn nghệ thuật bố mẹ cô đã theo đuổi suốt cuộc đời. Thí dụ trong những lần cô đi hát ở một số tiểu bang xa, cô được nhiều khán giả lớn tuổi biết tới vì là con của Minh Phụng “nên người ta muốn đi xem con. Bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ là cải lương đã thấm sâu vào tâm hồn người dân của mình. Như ba con bây giờ đã ngoài 60, nhưng vẫn chiếm được cảm tình của những khán giả trẻ mặc dù họ không biết cải lương như thế nào.”

Y Phụng còn đưa ra nhận xét của mình khi so sánh về thành phần khán giả trong hai lãnh vực tân nhạc và cải lương…. Theo cô, tình cảm yêu mến của khán giả dành cho những ngôi sao cải lương lâu dài hơn những ngôi sao ca nhạc.

Có một thời gian theo đuổi nghệ thuật cải lương nên cô đã có dịp chứng kiến những tình cảm đậm đà của những khán giả lớn tuổi dành cho nghệ sĩ: “Họ thương những nghệ sĩ cải lương từ khi họ còn nhỏ cho đến khi lớn tuổi. Họ vẫn trân trọng ngồi xem, thậm chí còn tặng quà hay tiền bạc cho nghệ sĩ cải lương dù họ biết nghệ sĩ cải lương có người rất giầu, có nhà có cửa. Họ cảm thấy thương và trao tình cảm của họ cho nghệ sĩ cải lương nhiều hơn người hâm mộ điện ảnh và ca nhạc.”

Như với trường hợp của chính cô, khi đã bước vào lãnh vực nhạc trẻ với những bộ y phục thời trang, nhưng khi cất tiếng hát một câu vọng cổ, Y Phụng đã cảm nhận được cái hồn dân tộc một cách mạnh mẽ. Cô kể:

“Hồi còn ở Việt Nam, có lần con được mời đi diễn tại 8 nước bên Âu Châu. Thời đó con hát nhạc của cô Lynda Trang Đài hay là Madonna mà không phải nhạc quê hương. Con ăn mặc cũng hơi gợi cảm, trẻ trung tí xíu. Nhưng đặc biệt khi con hát một câu vọng cổ thì mấy bà bác, bà ngoại lên cho tiền hay tặng hoa. Và con cảm thấy một câu vọng cổ, một câu cải lương thấm sâu vô hồn dân tộc mình hơn!...” Qua những lời tâm sự của Y Phụng, khán thính giả đã dễ dàng nhận ra càng ngày cô càng thấy thấm thía với ý thức trở về nguồn gốc của mình, bộ môn cải lương. Qua tiểu khúc cải lương “Cô Gái Bán Sầu Riêng” của sọan giả Viễn Châu, thật sự Y Phụng đã thể hiện được những điều cô muốn nói khi xuất hiện cùng với thần tượng của mình là ba Minh Phụng trong chương trình video “Hát Với Thần Tượng” của trung tâm Asia mới phát hành vào trung tuần tháng 7 vừa qua.

Khi còn ở Việt Nam, không những Y Phụng từng xuất hiện trên sân khấu cải lương và ca nhạc, cô còn nhiều lần đúng trước ống kính thu hình khi bước vào lãnh vực điện ảnh. Nhờ có thân hình đẹp do theo học múa ballet và thể dục nhịp điệu thường xuyên trong một thời gian dài cùng với lối trang phục bắt mắt, Y Phụng đã có một vai phụ trong cuốn phim một thời rất nổi tiếng ở Việt Nam là Cánh Hoa Hoang Dại. Qua cuốn phim này, dù cô chỉ đảm nhiệm một vai trò rất nhỏ, nhưng đạo diễn Lê Dân đã nhận biết được khả năng diễn xuất của cô để giao cho cô vai chính trong phim Riêng Chỉ Có Anh do ông đạo diễn vào khỏang năm 1992. Mặc dù lúc đóù cô chưa có tên tuổi mà chỉ còn là một ca sĩ trẻ hát “lót” cho các ngôi sao nổi tiếng: ca sĩ nào đến trễ thì cô ra hát đểå “câu giờ”, nếu họ đến đúng giờ thì nhiều khi cô phải ngồi từ 6 giờ chiều đến 12 giờ khuya cũng không hát được bài nào! Lời tâm sự sau đây của cô sẽ khiến mọi người thông cảm cho hoàn cảnh của những nghệ sĩ chưa có tên tuổi vào những năm đầu thập niên 90 ở Việt Nam: “Lúc đi hát, con ăn mặc sexy, chỉ có mấy người trẻ cỡ tuổi teen của con hồi xưa là thích thôi. Người lớn thì họ không thích, chỉ biết con là con của Minh Phụng... Nhưng mà con Minh Phụng vẫn phải đi hát lót. Đi tỉnh thì tụi con đâu có được tiền. Bên Việt Nam mình chỉ xin đi hát vì chưa nổi tiếng. Thời đó con với bà ngọai phải ngủ ở sân khấu vì khách sạn rất ít. Khách sạn có máy lạnh chỉ dành cho các ngôi sao thôi. Anh em nghệ sĩ tụi con thì ngủ ở sân khấu. Ăn thì bà ngọai mang cái réchaud theo để nấu ăn. Còn tắm thì con còn nhớ con với ca sĩ Minh Thuận căng cái tấm màn ra để tắm nước giếng, chứ sợ người ta bu tới coi... ”. Thời kỳ khổ cực như vậy kéo dài khoảng một năm cho đến khi Y Phụng bước vào lãnh vực điện ảnh cùng một lúc vẫn tiếp tục đi hát.
Để phù hợp với vai chính của kịch bản phim Cánh Hoa Hoang Dại, đạo diễn Lê Dân đề nghị Y Phụng cắt bỏ mái tóc dài của mình nhưng vì vẫn còn mê hát nên cô không muốn cắt tóc ngắn. Đến khi mẹ cô dọa sẽ không cho tiếp tục đi hát, Y Phụng mới nghe lờøi. Và cô không ngờ sau khi diễn xuất cùng với tài tử Lê Tuấn Anh trong phim đó, cô đã trở thành nổi tiếng ngay. Từ đó đã có rất nhiều kịch bản phim đã dành cho cô. Và chính điện ảnh đã tạo cho Y Phụng một vị trí vững vàng sau trên 40 bộ phim có sự góp mặt của cô, cùng thời kỳ với những ngôi sao điện ảnh như Lý Hùng, Việt Trinh, Diễm Hương, v.v....

Đặc biệt với cuốn phim Đời Vũ Nữ, hình ảnh một cô vũ nữ với nếp sống buông thả của Y Phụng đã gây được ấn tượng rất mạnh nơi khán giả khiến cô càng nổi danh thêm...

Y Phụng mới qua Mỹ được vài năm nay sau khi cô thành hôn với một Việt kiều trẻ tuổi tên Đạt vào năm 2003. Trước khi xây dựng cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, Y Phụng chưa có một khái niệm gì về cuộc sống bên này. Điều mong ước của cô là chỉ mong muốn được tiếp tục họat động trong lãnh vực nghệ thuật: “ Được đi theo nghề là con sung sướng nhất. Rất yêu thích nghề ca hát và diễn viên điện ảnh, con mong sau này được như ba con, sáu mươi mấy tuổi mà vẫn được khán giả yêu thương...”


Y Phụng và chồng

Y Phụng cho biết khi còn ở trong nước, cô vẫn thường xuyên theo dõi sinh hoạt ca nhạc ở hải ngoại qua những chương trình video, đặc biệt là những chương trình do trung tâm Asia thực hiện. Trong đó những nhạc phẩm của Trúc Hồ rất được cô yêu thích với một nghệ thuật hòa âm Y Phụng cho là mới lạ. Cô cũng từng biết Trúc Hồ khi nhạc sĩ này về Việt Nam và được nhạc sĩ Bảo Chấn giới thiệu với đoàn làm phim Nụ Hôn Đầu Đời do co đóng vai chính, trong đó cô trình bầy một nhạc phẩm của Bảo Chấn.
Sau một thời gian cư ngụ ở nam California, qua một người bạn làm đạo diễn hiện cộng tác với trung tâm Asia, cô đã có dịp gặp lại Trúc Hồ và được nhạc sĩ này mời đến thử giọng với hai nhạc phẩm Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa và Ai Khổ Vì Ai cùng một câu vọng cổ. Ngay sau lần thử giọng đó, Y Phụng đã được trung tâm Asia mời cộng tác.

Y Phụng xuất hiện lần đầu trên Asia 49 “Những Bài Hát Hay Nhất thế Kỷ” với Yêu Một Mình. Kế đó là Hàn Mạc Tử, trình bầy chung với Thanh Thúy, trong chương trình đặc biệt Nhật Trường “Anh Không Chết Đâu Anh”... Tiếp theo là Đừng Xa Em Đêm Nay (với Thảo My) trong “Những Tình Khúc Sau Cuộc Chiến”, rồi Em Hậu Phương-Anh Tiền Tuyến (với Mạnh Đình trong “Huyền Thoại Lê Minh Bằng”, qua đến chương trình Asia 53 “Mầu Sắc Của Tình Yêu” với liên khúc Chuyện Tình Không Suy Tư / Phố Đêm trình bầy với Thiên Kim. Qua đến chương trình “Bước Chân Việt Nam” thì Y Phụng đã được khán thính giả dành cho rất nhiều cảm tình trong tiết mục Đò Dọc, đồng diễn với Kim Tiểu Long.

Ngay sau khi xuất hiện lần đầu tiên trên Asia 49 “Những Bài Hát Hay nhất Thế Kỷ”, Y Phụng đã được một nhà sản xuất phim ảnh trẻ tuổi để ý và mời xuất hiện trong Trái Tim Lạc Lối, trong đó Y Phụng thủ vai một ca sĩ. Phim đã hoàn tất, nhưng ngày phát hành chưa được ấn định. Y Phụng tỏ ra rất tin tưởng ở khả năng diễn xuất của mình trong cuốn phim đầu tiên của cô ở hải ngọai. Cô hy vọng đó sẽ là bước nối tiếp cho cô đến với những tác phẩm điện ảnh khác trong những ngày sắp tới.

Với những bước đầu nhiều may mắn tại hải ngoại, người thưởng thức mong sẽ có dịp được thấy Y Phụng phô diễn tài nghệ của mình trong các bộ môn nghệ thuật như tân nhạc, cải lương cũng như điện ảnh.

Source: Tiểu Minh Tinh, ThanhTung





📎 126499CN..hung400
Đăng nhập để trả lời
0