Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tình yêu trở lại - Madge Swindells 🔒

28 trả lời, 9.177 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-01-10 17:36:40Ct.Ly>
Tình yêu trở lại
Tác giả: Madge - Swindells


Nhờ các bạn đánh dùm nha
Các bạn liên lạc với sis Ct.Ly nhá


- TuanThanh1991 - Trang  30 - 49

- Kimbao13 đánh máy: trang 50 - 69  hoàn tất

- Trang 70 - 89

- Hương Thầm : trang 90 - 109


- Trang 110 - 129

- trang 150 - 169

- trang 170 - 189

- trang 190 - 203

- nhoc2207 : trang 204- 223 hoàn tất

- Topolino đánh máy: trang 352 -362 hoàn tất

- Topolino đánh máy: trang 362 -365 hoàn tất

- Thiên Thần đánh trang 386 - 399 hoàn tất


- Thiên thần : trang 386 à 409
hoàn tất

-Nguyễn Quang : trang 410 à 437 hoàn tất

- TuanThanh1991 - Trang 502 - 525 (hoàn tất)

-
- Thiên thần : trang 526 - 553







Tình Yêu Trở lại


Tác giả: Madge Swindells




Trang 50 - 51


Nào gần đấy nhưng dưới thung lũng cô trông thấy một dãy mái nhà. Cô đi tới rìa đồi ngó xuống, hóa ra đó là một ngôi nhà nhỏ có sân phía trước và khu vệ sinh phía sau.Ở bên trái là một túp lều bằng sắt xiêu vẹo, cạnh đấy là một khu đất có rào chắc để nhốt gia súc.

Anna quay trở lại xe và lái xuống thung lũng. Tới sân, cô cố hết sức phanh gấp theo kiểu Simon thường làm nhưng chẳng thấy có con gà nào chạy tán loạn cả. Cũng không có cô hầu gái nào lon ton chạy ra, thậm chí đến tiếng sủa của một con chó cũng không có nốt. Khu nhànhư bị bỏ hoang từ lâu lắm rồi. Anna trèo xuống khỏi xe, đóng sầm cửa lại và đứng bối rối cho tới khi Jacob lái chiếc xe tải tới nơi và đỗ lại đằng sau cô. Mặt trời rọi vào khuôn mặt của ông ta, phản chiếu những giọt mồ hôi lóng lánh. Ông ta đưa tay áo lên lau trán.
- Đường sá tệ quá, cônhỉ. – Jacob nói. Anna cố giấu một nụ cuời trước giọng nói chân chất của ông ta. Một tiếng rống từ khu đất rảo vọng ra như báo điềm gở.
- Những con bò đang bị đau, còn nơi nay thì trông cứ như là hoang mạ cấy. Không biết… - cô dừng lại, cố gắng che đậy sự hoang mang của mình.
Trong bãi đất rào, sự hoang vắng lên tới tột độ. Mươi con bò, những bầu vú căng phình vì sữa, ngẩng đầu lên nhìn Anna bằng những cặp mắt buồn rầu. Dường như chúng đã đứng đó từ đêm hôm trước.
- Anh ấy thật quá đáng! – Cô buột miệng thốt ra và ngay sau đó lại ân hận vì những lời nói hấp tấp của mình. Jacob chắn chắn sẽ về thuật lại ở nhà cho mà xem. – À, nhưng mà anh ấy có đi săn cá voi cơ mà nhỉ. – Cô phân trần với Jacob. – Ai đó phải chịu trách nhiệm. – Côlầm bẩm một mình trong khi nhanh nhẹn với tay cầm chiếc xô đang nằm úp trên mặt đất, đem tới hứng dưới bụng con bò gần nhất.
- Nào Jacob, hãy xách xô đi lấy nước cho lũ lợn đi nào!
- Nhưng thưa cô…
- Cháu biết là phải đi xa đấy, bác Jacob ạ, nhưng ở gần đây cháu chẳng thấy một cái vòi nước nào cả.
Jacob quay đi, mặt song sỉa.
- Phải có ai đó ở đây chứ nhỉ. – Anna nói to. – Anh ấy không thể bỏ mặc nơi này mà đi được, người ta bắt mất bò chứ còn. Mình biết chắc Simon không làm như vậy.

Khi những con bò đã được vắt sữa, cô lùa chúng vào bãi đất rào và xem xét các vết trầy xước trên da chúng. Đột nhiên có tiếng ầm ầm vọng ra từ chuồng bò. Anna nghe rõ tiếng con Wagter gầm gừ và tiếng kêu tắc nghẹn của ai đó. Cô nín thở chạy lại gần, trông thấy một người đàn ông say rượu nằm trên một đống nôn mửa, đang cố sức gạt con chó ra xa.
- Này. – Anna gọi to, cố nhìn kỹ vào mặt cái hình thù hôi hám ấy. – Ông là ai?
- Jan. – Ông ta càu nhàu.
Cô cúi xuống phía trên người đàn ông, suýt nôn ọe. Mùi hôi hám lưu cữu trên người lão nông dân, mùi rượu vang chua loét, mùi thuốc lá, mùi khói bếp va rác rưởi hào lẫn với nhau tạo thành một thức mùi thật kinh khủng.
Anna vui mừng khi nghe thấy tiếng chân Jacob tiến lại gần.
- Ông làm việc ở đây à? – Cô hỏi, trong bụng thầm mong không phải vậy.
- Đốc công. – Ông ta cười nham nhở, chiếc răng duy nhất, nâu xỉn và sứt sẹo, nhô ra từ giữa hàm trên. Khuôn mặt ông ta vàng vọt và nhãu nhĩ. Anna đoán chừng ông ta chính gốc mang dòng máu Hottentot, một trong số ít thổ dân còn sót lại chưa tuyệt chủng ở vùng Nam Phi này.
- Đốc công của trang trại này ư? Thật nực cười! - Cô ngờ vực. - Hãy ném ông ta vào chuồng bò đi Jacob, phải thế thì ông ấy mới tỉnh rượu được.
Người đàn ông say xỉn bị lôi đi xềnh xệch xuống dưới sườn đồi và bị ném vào chuồng bò làm bùn ở đó bắn lên tung tóe. Ông ta nằm đó một lát, vẻ hài lòng nhưng rồi lại vùng dậy, người phủ đầy bùn, miệng thổi phì phì, tấn công Jacob một cách điên dại. Jacob tóm cổ ông ta nhấc bổng lên dễ dàng như một con chó bắt một con thỏ và ném ông ta trở lại chuồng bò. Lần này, Jan đứng lên vẻ ngoan ngoãn phục tùng, hoàn toàn tỉnh rượu, lủi nhanh về túp lều của ông ta nằm cách chuồng bò một đoạn.

Anna quay trở lại, lấy hết can đảm để tiến vào trong nhà. Gió
0
Trang 52 - 53
nổi lên, cánh cửa đu đưa cọt kẹt trong gió. Chắc trong nhà chẳng có gì đáng giá nên Simon không khóa cửa bao giờ. Khi cô nhìn thấy Jacob đang từ trên đồi đi xuống, cô mạnh dạn đẩy cửa bước vào.
Sau một thoáng lóa mắt vì tia nắng rọi trên bức tường quét vôi trắng xóa làm cho Anna không thể nhìn thấy gì, khi mắt cô đã điều chỉnh quen với bóng tôi lờ mờ thì cô thấy mình đang đứng trong một căn nhà tồi tàn. Ngoài chiếc lò sưởi cũ kỹ, căn phòng hoàn toàn trống rỗng. Những bức tường đen sì vì khói, sàn nhà bằng xi măng gồ ghề, những vết nứt tựa như lòng sông bị xói mòn. Trần nhà là những thanh xà nặng nề, thấp lè tè tưởng chừng như với tay là tới, những bức tường dày nặng nề được làm bằng những tảng đá và bùn trét lại, lỗ chỗ hàng nghìn tổ kiến. Góc phòng treo một cái chảo rán đen sì. Không có chạn bát và chậu rửa, tệ hơn nữa là không hề có lấy một vòi nước. Đây rõ là một căn nhà cũ lắm rồi, Anna nghĩ bụng. Một nửa căn bếp trước chắc đã từng là lò bánh mì bởi vì có một ống khói to chiếm tới nửa mái nhà, những tấm tôn múi quây lại một cách thô thiển. Những thanh xà nhà chắn chắn đã được trục với từ một vụ đắm tàu cách đây tới trăm năm có lẽ. Càng nghĩ, Anna càng thấy căng thẳng. Một lát sau, cô lấy hết can đảm để thám hiểm nốt phần còn lại của ngôi nhà. Có hai phòng ngủ, một phòng khách và một căn phòng nhỏ nữa nối liền với bếp, chắc là phòng để thức ăn. Trong phòng ngủ đầu tiên có một chiếc giường bằng sắt phủ chăn và đệm. Một chiếc mắc áo đóng vào tường có treo một bộ quần áo đàn ông. Ở phòng ngủ thứ hai có hai chiếc áo sơ mi khô còng queo treo bên cạnh một chiếc điện thoại. Không có nhà vệ sinh cũng như phòng tắm, không điện, thậm chí đến nước cũng không. Những ô cửa sổ thì vỡ nham nhở khiến cả căn nhà hết sức lạnh lẽo.
Khi Anna nghe tiếng Jacob gõ vào cánh cửa, cô cố gắng lấy lại bình tĩnh.
- Tôi dỡ các thứ đồ trên xe xuống, cô chủ nhé. - Giọng ông ta lộ rõ vẻ sốt ruột. - Tôi còn phải quay về.
Cái ý nghĩ bị bỏ lại một mình trong khung cảnh lạnh lẽo này khiến cô thất vọng. Nhưng bây giờ đây đã là nhà của mình rồi, cô tự nhủ. Của cô và Simon. Cô phải cải tạo lại để nó dễ chịu hơn. Việc đầu tiên là xây một nhà vệ sinh, cô quyết định và đi ra ngoài tìm nước.
Cuối cùng, cô cũng tìm thấy một cái máy bơm đặt bên cạnh cối xay gió đằng sau bụi cây khuynh diệp cách nhà tới một trăm yard (1). Trong sân nhà thì chỉ có một phi nước ngọt với mấy máng dẫn nước tù những mái nhà xung quanh.
Trước khi đêm xuống, Jacob và Jan đã khuân hết đồ đạc của cô vào trong nhà và căn phòng ngủ lúc trước trống trơn giờ chất đầy những chiếc thùng gỗ. Ngôi nhà trở nên ấm cúng hơn. Giường, tủ và bàn trang điểm được kê tạm trên mặt sàn gồ ghề. Mẹ cô còn gói ghém cho cô cả một ít dụng cụ làm vườn. Anna xếp tất cả ra chiếc ghế dài.
Bây giờ cô mới thấy mệt và đói.
- Cháu nghĩ là bác có thể về được rồi đấy. - Cô ngượng nghịu nói với Jacob. - Bác chỉ cho cháu cách nhóm lò với.
Điều đó không khó, nhưng trong lò bừa bộn quá, Jacob tìm được một chiếc đèn bão và một cái búa ở chuồng bò. Ông ta treo đèn lên một cái móc trên trần nhà.
- Cô nên cầm diêm của tôi. - Ông ta lúng túng móc từ trong túi ra một ít diêm. - Tôi đã nhốt gà vào chuồng, sáng mai cô nhớ thả chúng ra nhé. Con mèo của cô tôi cũng đã đem vào trong nhà. - Ông ta quay đi với vẻ buồn rầu và căng thẳng.
- Cháu cám ơn bác, bác Jacob. - Cô ngồi xuống một chiếc thùng trong góc phòng, lắng nghe tiếng xe tải đi xa dần. Cô thấy lạnh nhưng lại sợ phải đứng dậy. Cuối cùng, cô cố gắng tự trấn an mình: "Nào Anna, đừng sợ!" và xách chiếc đèn bão trong tay, cô đi từ phòng này sang phòng khác, hy vọng tìm được màn cửa để che cửa sổ lại.
Gió lạ nổi lên, phả vào trong nhà những làn gió lạnh cắt da cắt thịt. Nến tắt phụt, ngọn lửa trong đèn rung rinh, và Anna bắt đầu nói chuyện một mình. "Trước tiên là phải thu xếp lại cho căn bếp gọn gàng, những việc còn lại thì đơn giản hơn".
Dường như cảm nhận được nỗi buồn của Anna, con Wagter chui vào trong gầm giường, nằm rên rỉ trong đó khi Anna lần lượt mở các thùng gỗ ra.
Tới hơn mười giờ, chợt cô nghe thấy có tiếng động từ phía

(1) yard: thước Anh (1 yard = 0,914 mét)
0
trang 54 - 55
chuồng gà, tiếng những con gà mái kêu cục cục và vỗ cánh phành phạch, tiếng những bước chân nặng nề. Wagter phi ra cửa trong khi Anna co rúm người lại ở góc bếp. Nhưng khi cô nghe thấy tiếng một trong những con gà mái quý giá của mình bị vặn cổ thì cơn giận bùng lên thay thế nỗi sợ hãi.
Cô lao ra khỏi nhà chạy trên những bậc đá dẫn tới chuồng gà, cũng vừa lúc Jan chui ra, cầm một con gà chết trong tay.
- Ông là đồ ăn cắp! - Anna bật khóc thổn thức và giằng con gà lại. Cô vung búa nện vào đầu Jan làm cho lão ngã lăn từ trên bậc đá xuống dưới đất.
Anna ngồi phịch xuống bậc đá, òa khóc nức nở. Jan là người duy nhất trong vòng mười dặm trở lại đây và cô đã giết chết ông ta. Cô thấy lạnh cóng, không dám đi xuống dưới.
Một lát sau Jan ngồi dậy, xoa tay vào gáy và cười nhăn nhở.
- Cô chủ trẻ ơi, tôi đói quá. - Ông ta rên rỉ. - Cô đừng sợ, chỉ là già Jan muốn tìm cái ăn thôi mà.
- Tôi không sợ lão. - Cô vặn lại. - Wagter, đuổi lão ta đi!
Con chó lao tới, cắm phập răng vào cẳng chân của Jan khiến Jan gào tướng lên, vội vàng ba chân bốn cẳng chạy đi với con Wagter tớp tớp phía sau. Rõ ràng là cô không được an toàn ở đây vì tên ăn trộm này, Anna nghĩ. Cô khệ nệ bê những chiếc rương to và nặng chặn vào cửa. Anna gần như phát khóc vì vui mừng khi tìm thấy một chiếc thùng đựng đầy thức ăn dự trữ. Có cả bánh bích quy cho chó và một hộp cá cho con mèo Ming, nhưng con mèo đã biến đi đâu mất tăm. Cho tới nửa đêm, gió tây nam thổi mạnh làm tung những bọt nước biển vào trong nhà. Anna nghe rõ tiếng vật vã của gió, cố gắng không nghĩ tới Simon giờ đang ở tít ngoài khơi trong cơn bão tố, đuổi theo con cá voi chết tiệt trên chiếc thuyền câu bé xíu. Thật điên rồ! Ngọn lửa trong chiếc đèn bão nhỏ dần và tắt hẳn. Không gian tối đen và trống rỗng. Anna bật khóc o vì bất lực. Đá văng giày ra xa, cô choàng lên mình một tấm chăn chiên, nóng lòng mong tới sáng.
Những tiếng động khả nghi và nỗi sợ hãi vì cô đơn độc khiến Anna không tài nào ngủ được. Cô nghe có tiếng những con cừu cái gọi con và tiếng những con cừu non đáp lại. Một con cừu non không trả lời tiếng gọi của mẹ nó, có lẽ nó bị lạc hoặc chết rồi cũng nên. Cô cũng vậy, lạc lõng và bị bỏ rơi hoàn toàn. Một lúc lâu sau, cô rơi vào trạng thái lơ mơ nửa thức nửa ngủ. Chợt cô trông thấy một khuôn mặt ló vào từ cửa sổ, nhìn cô chằm chằm. Vài giây sau, Jan bỏ đi và cô thấy rùng mình ớn lạnh. Cô quyết định việc đầu tiên sẽ làm vào sáng hôm sau là chữa lại cửa sổ và mua khóa gắn ở cửa ra vào.
*

* *

Già Jan tỉnh dậy vào lúc nửa đêm với cổ họng bỏng rát và cái đầu nặng trịch. Già rón rén đi vòng quanh ngôi nhà và nhòm vào từng ô cửa sổ để tìm xem cô chủ trẻ có rượu vang hay không. Khắp nhà chất đầy những thứu vô giá trị, nhưng rượu vang thì lại không có lấy một chai. Một lát sau, già loạng choạng đi tới chỗ giếng khoan và nhúng cả đầu xuống nước. Làn nước lấp lánh ánh bạc và khi già ngẩng lên, già ngỡ ngàng trông thấy những gốc rạ trong thửa ruộng lúa mì như những thanh bạc thỏi, sáng ngời dưới ánh trăng. Mắt già hoa lên và đầu óc mụ đi bởi vẻ đẹp kỳ diệu của nó.
"Già Jan đáng thương ơi, - già lẩm bẩm một mình. - Không có gì để ăn, cũng chẳng có gì để uống". Già sực nhớ tới điếu thuốc quấn bằng lá gai dầu đang hút dở vẫn còn nằm trong túi. Già thò tay vào lôi nó ra, khum tay châm lửa và rít lên lập bập từng hơi với một vẻ thèm khát. Và già bắt đầu thấy nguôi ngoai cảm giác thèm rượu, trạng thái căng thẳng thần kinh dần tiêu đi. Dòng máu nóng lại chảy trở lại huyết quản của già, ấm nóng và dễ chịu lạ lùng. Già cảm thấy như làn da của mình được hồi sinh, móng chân móng tay mọc nhanh như những chồi non trong mùa xuân nảy mầm. Đột nhiên, già nhớ lại một điệu hát xa xưa hồi già còn trai trẻ. Già cất lên mộng giọng hát du dương và bắt đầu nhảy múa, cặp mông gầy còm của già đung đưa theo nhịp hát. Tiếng hát đánh động một con cú. Rít lên the thé, nó bỏ rơi con mồi và bay vút lên trời tối đen. Già Jan giật mình ngã ngồi xuống đất. Già thốt ra một câu chửi thề và dứ nấm đấm về phía con chim, sứ giả báo điềm gở. Già rít nốt điếu thuốc cho tới khi nó hóa thành tàn rồi ngả người xuống một gốc cây, nhắm mắt lại và mỉm cười vu vơ, lắng nghe tiếng lanh canh rộn rã
0
Trang 56 - 57
của làn nước bắn lên từ giếng khoan và tiếng gió xao động trong vòm lá. Cuối cùng, già nghĩ tới cô chủ trẻ xinh đẹp tuyệt trần, người khiến già nhớ lại mẹ của mình. Mặc dù chưa một lần được trông thấy mẹ nhưng già biết chắc một điều rằng mẹ của già rất đẹp. Khi già hình dung ra cặp mắt xanh mở to và làn da trắng mịn của cô gái, già không hề giận dữ vì cô đã dùng búa đánh vào đầu già. Nói đúng ra, cô không hề có lỗi khi bảo vệ đàn gà mái của mình. Tự dưng, già cảm thấy mình sẽ sẵn sang vui lòng chết vì cô. Và già chìm vào giấc ngủ, một giấc ngủ hoàn toàn thanh thản.
Anna bị đánh thức trước lúc bình minh bởi tiếng động phát ra từ phòng bên cạnh. Cô lăn khỏi giường trong nỗi khiếp sợ, lần mò tìm diêm trong khi Wagter gầm gừ. Khi tia lửa léo lên, cô trông thấy một cặp mắt sáng rực và con mèo của cô, trông rất dữ tợn, đang ngậm một con chuột chết trong mồm. Anna kêu ré lên, đánh rơi que diêm xuống đất. Wagter lao ra, con mèo bỏ chạy sang căn phòng trống bên cạnh. Cô đóng sầm cửa lại và đứng run bắn lên vì sợ hãi. Nhưng cô cũng thấy nhẹ lòng. Vậy là Ming đã được an toàn. Hơn nữa, nó lại còn tự kiếm ăn được. Anna dò dẫm đi về phía giường, ngón chân vấp phải những chiếc thùng ngổn ngang trên sàn. Cô ngã người xuống tấm mền, nhưng cơn buồn ngủ tan biến khi cô nghe thấy tiếng kêu, giờ đã yếu ớt hơn của con cừu lạc mẹ. Cô mong sao mình có thể cứu giúp được con cừu đó như thể làm vậy thì tức là cô đã tự cứu giúp cho chính bản thân mình. Cuối cùng, nghĩ rằng không gì có thể tồi tệ hơn là nằm trong bong tối mà hình dung ra những điều khủng khiếp, cô quyết định trở dậy và đi tìm con cừu.
Ở ngoài trời, Anna cảm thấy dễ chịu hơn và nỗi sợ hãi của cô cũng mất hẳn. Từ trên một đỉnh đồi, trong những tia sang nhẹ nhàng đầu tiên của buổi ban mai, cô trông thấy những hình dáng trắng mờ đang chạy lung tung trong một thung lũng. Cô cũng nghe rõ hơn tiếng kêu của con cừu non, nhưng khi cô đi xuống gần đám cừu đó thì chúng liền tản ra như những cụm bông trôi dạt trong sương mù buổi sớm. Cô càng đuổi theo thì chúng càng chạy xa hơn. Một sự tìm kiếm vô vọng! Cô ngồi xuống tảng đá dưới một bụi cây, ngủ gà ngủ gật chờ buổi sáng. Chợt cô tỉnh ngủ hẳn và trông thấy ánh hồng đã hửng lên đằng đông. Những cánh đồng trở nên đẹp một cách khó tin. Sương mù đã rút về thung lũng, những đỉnh đồi tắm trong làn ánh nắng rực rỡ. Cô tự hỏi cái gì đã làm mình thức giấc và cô nhận ra đó chính là sự tĩnh mịch. Đàn cừu cụm lại với nhau, đứng im phăng phắc, cùng nhìn qua vai về một hướng. Giờ thì cô đã trông rõ con cừu nuon của mình. Nó chỉ chừng ba ngày tuổi, rất dễ nhận ra bởi một vết đốm màu vàng ở trên lưng. Nó rất yếu, lảo đảo chạy từ con cừu này sang con cừu khác đòi bú. Mỗi lần như vậy, nó chỉ nhận được một cú đá. Chỉ có nó là không hề để ý đến mối nguy hiểm đang oai vệ đi lại giữa những bụi cây. Đó là một con linh miêu, tai nó cụp xuống, đuôi thì vươn ra trong khi nó thu mình lại và di chuyển rất nhanh về phía bầy cừu.
Anna thất đảm: đã quá muộn để bảo vệ lũ cừu. Cô nhảy những bước dài, chân vấp vào sườn dốc gồ ghề, vừa lao xuống dưới thung, cô vừa huơ mạnh hai tay và la hét ầm ĩ. Bầy cừu quay lại nhìn cô vẻ cảnh giác và bắt đầu chen lấn xô đẩy nhau tạo thành một quang cảnh hỗn loạn. Trong khi đó, con linh miêu vẫ tiếp tục tiến lại gần. Anna cúi rạp người xuống, nhặt lên một hòn đá và ném mạnh về phía con vật. Trượt. Nhưng con vật cũng dừng sựng lại, quay sang gầm gừ với cô. Cô nhặt tiếp một hòn đá và lại ném. Lần này, hòn đá rơi trúng vào mông nó. Vừa bực tức lại vừa sợ hãi, nó quay đầu bỏ chạy, miệng vẫn gầm gừ. Và trong đôi mắt màu vàng của nó lấp đầy nỗi thù hận. Đó là một con linh miêu béo tốt và khỏe mạnh, rõ rang là nó đã tọng vào bụng rất nhiều cừu của trang trại Modderfontein.
Con linh miêu chạy nhanh lên đồi và chẳng mấy chốc nó khuất hẳn sau những bụi cây. Anna liền lao về phía con cừu non, tóm lấy hai chân sau của nó và kéo mạnh về phía mình và kẹp vào nách. Con cừu non be lên một tiếng nghe thật đáng thương và rồi không chống cự lại nữa, nó tin cậy nép sát vào lòng Anna.
Khi trở về nhà, cô rất ngạc nhiên thấy già Jan đang làm việc say sưa, không hề tỏ vẻ mệt mỏi hay đau đớn gì sau cú ngã đêm qua. Già đã vắt sữa xong cho những con bò và đã gạn kem ra khỏi sữa. Anna lấy một bình váng sữa đem cho con cừu non uống, nhưng cô sớm thấy mệt mỏi vì cứ phải nhúng tay vào váng sữa và đút vào mồm cho nó bú. Thứ mà cô cần bây giờ là một bình sữa có núm vú bằng cao su. Cô định bụng sẽ vào làng mua một cái. Lại còn những
0
Trang 58 – 59
bức tường đen thui, những khung cửa sổ gãy nát, sàn nhà gồ ghề và cả những đống rác rưởi ở khắp nơi nữa chứ. Anna cảm thấy hết sức chán nản. Quá nhiều thứ cần phải sửa chữa, cô nghĩ, nhưng Simon chắc sẽ rất hai lòng khi anh trở về nhà mà thấy một căn nhà gọn gàng sạch đẹp. Cô moi từ trong túi ra số tiền mà cha đã cho và ngồi xuống liệt kê những thứ cần phải mua. Cô thấy hoang mang trước số lượng những thứ đó.
Anna không nén nổi nỗi nhớ nhà. Cô nhớ cha, nhớ mẹ kinh khủng, nhưng phải tự xoa dịu mình bằng viễn cảnh Simon sẽ trở về nhà và đứa con của họ sẽ ra đời ở đây. Cô yêu Simon biết bao mặc dầu lối cư xử của anh kỳ quặc. Và cô cũng không hiểu nổi tại sao anh yêu trang trại đến thế, làm việc hăng say vì nó thế mà lại để cho nó dơ dáy bẩn thỉu đến nhường này.
Mặc dù tự cô đặt ra cho mình nhiệm vụ cải tạo lại ngôi nhà nhưng Anna vẫn cảm thấy bế tắc quá. Lại vừa nghĩ them ra một việc nên cô cầm bút ghi thêm hai cái chuồng lợn mới vào bảng liệt kê những việc cần làm.
Hai tuần kế tiếp lấp đầy công việc.Những bức tường được cọ sạch và sơn vôi, chuồng ga được quét sạch mạng nhện, sàn bếp được láng lại bằng xi măng, xà nhà được đánh bong loáng. Sàn nhà và mái nhà vốn dốc về phía thung lũng, khoảng cách giữa chúng lại thấp nhưng có thêm thảm và màn cửa, ngôi nhà thay đổi một cách diệu kỳ. Khi công việc kết thúc, Anna cảm thấy tự hào về ngôi nhà cổ kính của mình.
Già Jan giúp cô cày xới và rào giậu một khoảng ruộng để trồng rau, nhưng già cũng đặt ra một vấn đề khiến Anna trăn trở hàng ngày. Già đã được sinh ra ở Modderfontein, cha mẹ già cũng vậy. già không biết gia đình già đã sống ở đây lần hồi kiếm ăn từ đất và biển được bao lâu rồi. Già cũng không được dạy dỗ, không được đi học bao giờ. Già cũng không biết lái máy cày. Già được nuôi ăn ở đây chỉ có mỗi một nhiệm vụ là hầu hạ người ta. Ngoài ba bữa cơm, già còn được trả công mộc cốc vại lớn rượu vang ngọt, thứ làm cho già thường xuyên ở trong tình trạng nửaa tỉnh nửa say. Già làm việc để đổi lấy quyền được sống trên mảnh đất này và nuôi một vài con gà, cũng hôi hám y như già vậy, trong túp liều lụp xụp của mình. Anna đồ chừng già còn được trả công rất bèo cộng thêm một bao tải ngô và những đầu thừa đuôi thẹo của một con cừu sau khi mổ. Ngày của già trôi qua là những quãng thời gian giữa hai chén rượu. Anna cho rằng đó chính là nếp sống của cả chủ lẫn tớ. Cô định bụng sẽ làm cho nó thay đổi.
Mặc dù có khổ người nhỏ thó và khuôn mặt nhàu nhĩ xấu xí, song già Jan lại là một người làm việc rất cừ. Nhưng già lại ở bẩn tới mức không thể nào mà đứng gần cho được. Cuối cùng, Anna lấy hết can đảm nói với già:
- Này Jan, nếu chau mua cho già mấy bộ quần áo mới thì già có chịu tắm không?
Già Jan nhìn lên cười nhăn nhở.
- Cô chủ bảo sao cơ? – Trán già cau lại trong khi cố gắng để hiểu ra vấn đề.
- Jan, già hôi lắm! – Cô nói. – Già phải tắm đi thôi!
Già Jan cười một cách ngỡ ngàng, lại có người để ý xem mình có tắm hay không ư? Nhưng Anna vẫn kiên trì thuyết phục.
“Người da trắng toàn nghĩ tới những điều phù phiếm”, già lẩm bẩm. Nhưng việc cô chủ nói chuyện với già, lại còn hứa hẹn mua cho già những bộ quần áo mới nữa làm cho già xao xuyến. Già lại nhăn nhở:
- Vâng, cô chủ ạ.
Mấy hôm sau, Anna vào làng mua cho Jan vài cái quần bằng vải kaki và mấy chiếc áo. Cô đọc được một tờ thông báo về cuộc bán đấu giá sắp diễn ra gần đây. Cô liền tới đó và mua được tám con gà tây, sau con ngỗng cái và một tá gà mái đẻ với giá khá rẻ.
Ngày trôi qua với hàng núi công việc, nhưng khi đêm xuống, những nỗi sợ hãi lại ập đến với Anna: Simon giờ đang ở đâu? Liệu anh ấy có trở về? Nhỡ anh ấy chết đuối ngoài biển thì sao nhỉ? Cũng có thể anh không muốn lấy cô nữa vì giờ đây cô không có một xu dính túi. Bây giờ thì còn ai cần đến cô nữa chứ! Chắc chắn không phải cha mẹ cô rồi. Chứng cớ là mẹ cô đã không hề gọi điện tới. Cô đang bị bỏ rơi trong nghèo túng cơ cực. Không có ai ở đây bên cạnh cô cả. Mỗi một tiếng động, tiếng cành cây gẫy, tiếg lá xào xạc trong lùm cây khuynh diệp, tiếng hú của những con khỉ đầu chó đều gây cho Anna cảm giác cô đơn tột đỉnh nơi tận cùng của thế giới này.
Tồi tệ nhất là nỗi sợ cho tương lai, vì đến giờ thì cô phải
0
Trang 60 – 61
công nhận là cha đã đúng. Vùng đất này sinh lợi quá ít và số lúa mì mà Simon trồng thi mọc yếu ớt lơ thơ. Anna đã tiêu hết phân nửa số tiền mà cha đã cho và cô định bụng sẽ để dành một trăm bảng còn lại cho đứa bé. Tắt nến đi để tiết kiệm, cô nằm cuộn tròn trong bong tối và cầu mong cho trời mau sáng.
Khi lao động là nơi ẩn náu khỏi lo âu phiền muộn thì một núi công việc khổng lồ cũng sẽ được hoàn thành chỉ trong khoản thời gian rất ngắn ngủi. Chẳng bao lâu, Anna đã làm xong tất cả những công việc mà cô đặt ra. Cô quay sang xem xét kỹ lại toàn bộ trang trại. Một buổi sáng cô bảo Jan thắng yên con ngựa Vixen và cưỡi đi khắp trang trại.
Đó là một cuộc tham quan đầy thất vọng. Ngoài thửa ruộng bé xíu trồng lúa đại mạch ra, cô chỉ tìm thấy tới năm mươi xác cừu bị linh miêu giết. Anna quyết định lùa số cừu còn lại, quay chúng vào, nhốt những con đang chửa và đang cho sữa vào trong bãi cỏ linh lăng.
Buổi sáng ngày 30 tháng 7, vào lúc mười giờ, gió đổi hướng và bắt đầu thổi tới từ phía Tây Bắc báo hiệu trời sắp mưa. Không gian không còn đượm hương vị mặn mòi của biển nữa mà ngặp ngụa mùi hôi thối của khu lò mổ cá voi khiến Anna thấy khó chịu vô cùng. Họ đang mổ cá. Anna nín thở vì nghĩ rằng vậy là Simon sắp về. Cô đứng yên, bối rối và phấn khởi. Rồi cô bật khóc to và quay đầu chạy thật nhanh về nhà, tự hỏi liệu mình còn đủ thời gian để tắm gội và thay đồ trước khi Simon về tới hay không.
Chẳng bao lâu sau, cô đã ngồi trong bồn tắm đặt trên sàn bếp, hì hụi kỳ cọ khắp người. Cô chỉ dừng lại khi nhận ra sự thay đổi trên cơ thể mình. Mặc dầu mới chỉ có bầu được ba tháng nhưng eo lưng của cô đã không còn nữa và bụng thì đã phính hẳn lên. Anna bồi hồi nhớ lại cái đêm cô đã ở cùng Simon và cô đang mong đợi giờ khắc được đoàn tụ lại với anh. Trông anh ấy bây giờ ra sao nhỉ, cô tự hỏi: “Ôi Simon, Simon yêu quý!” – Cô thì thầm thành tiếng và bỗng chốc, một niềm ham muốn dâng đầy trong cô. Cô mường tượng ra vẻ mặt vui mừng của Simon khi anh trông thấy sự thay đổi ở căn nhà và được hưởng bầu không khí gia đình ấm áp. Nên nấu món gì bây giờ nhỉ? Anna quyết định sẽ thịt một trong số những con gà mái quý giá của mình.
Quấn một chiếc khăn tắm quanh người, cô đi nhanh vào phòng ngủ và lo lắng nhìn vào gương. Cô gần như phát khóc lên khi trông thấy khuôn mặt sần sủi đỏ ửng và hai mí mắt sưng húp của mình. Lại còn tóc nữa chứ, cứ ẹp xuống chẳng ra hình thù gì cả. Cô thở dài và ướm thử chiếc váy xanh đẹp nhất của mình vào người nhưng nó quá nhỏ. Cô đã từng thon thả như vậy sao? Trong nỗi hoang mang ngày một tăng, cô thử lại tất cả số quần áo cũ của mình nhưng chẳng có cái nào vừa cả. Cô sực nhớ ra hòm quần áo bầu cũ mà mẹ đã gói ghém cho cô, cô mở tung ra lục lọi.
Tới trước bữa trưa thì nồi luộc gà đã sủi trên bếp. Anna trông cũng đã khá hơn vì cô đã bện lại tóc quấn lên quanh đầu, thoa một chút phấn vào má và mặc một chiếc váy bầu in hoa xinh xắn. Anna dành hết phần còn lạ của ngày hôm đó đi tới đi lui từ tấm gương trong phòng ngủ ra ngoài bãi đất rào nơi Jan đang xây hai cái chuồng lợn mới, rồi lại trở vào bên bếp lò. Khi mặt trời ló đã lặn, cô bắt tay vào làm những việc lặt vặt khác trong nhà, tâm trạng nặng nề vì thất vọng. Cô nhốt đàn gà mái và con cừu non lại, lùa lũ gà tay vào chuồng, thắp nến lên và ngồi xuống ghế. Thỉnh thoảng Anna lại tưởng rằng mình nghe thấy tiếng xe tải của Simon đi vào trong sân. Cô vội vã lao ra cửa để rồi lại thất vọng quay vào. Cuối cùng, cô ngủ thiếp đi trên ghế và chỉ tỉnh giấc khi nghe thấy tiếng mưa rơi lộp độp ngoài khung cửa sổ. Lúc này đã là nửa đêm, Anna thấy lạnh. Và với một tâm trạng buồn rầu chán nản, cô lên giường đi ngủ.
*
* *

Khi Simon rời khỏi khu lò mổ thì trời đã chạng vạng tối. Anh đi ra xe, khắp người ướt sũng và lạnh cóng. Anh cười tủm tỉm vỗ nhẹ vào túi, năm mươi bảng nặng trũi trong đó khiến nah cảm thấy rất vững dạ. Vận may đang ở trong tầm tay anh và tất cả những gì anh cần bây giờ là mưa. Anh đã thuyết phục được lão giám đốc ngân hang đa nghi chết tiệt đó là trang trại Modderfontein sẽ được mùa lớn trong năm nay. Anh nóng lòng muốn quay về nhà nhưng vẫn còn một vấn đề nữa cần phải giải quyết: chuyện giữa anh và Anna. Giờ thì chắc Anna và người cha cổ hũ của cô ấy đã có đủ thời gian để suy nghĩ về món tiền hồi môn của Anna. Simon tin chắc rằng cuộc nói chuyện sắp tới sẽ được xuôi chèo
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-26 15:54:20Ct.Ly>
204 - 205

được một con số không. Simon không gia nhập quân đội. Cũng có vài người tên Simon Smit nhưng không phải từ Vịnh Saldanha. Simon cũng vậy, đã biến đi đâu mất tăm.

Ba tuần trôi qua, Anna quyết định rằng cô sẽ không ngồi trong trang trại mà suy nghĩ vẩn vơ nữa. Kurt đã đi rồi, nhưng điều đó không có nghĩa là những giấc mơ của cô cũng đã kết thúc. Cô sẽ tự mình khai trương công việc phân phối thực phẩm. Kệ xác Kurt. Cô đi dạo quanh các trang trại gần nhà, sau đó thì đi ra xa hơn và cô nhận thấy Kurt đã nói đúng. Đó quả là một cơ hội để làm giàu. Cô có thể mua được gia súc với giá rẻ gần như cho không ở những vùng xa xôi hẻo lánh và nếu đưa chúng tới gần thành phố để vỗ béo thì sẽ thu được một khoản lợi nhuận đáng kể. Nhưng cô không muốn biến Modderfontein thành một nơi vỗ béo gia súc. Đó là trang trại của Simon và cô sẽ trông nom nó chu đáo cho tới khi anh quay trở về. Thay vào đó, cô mua vài mẫu đất trồng cỏ tốt trên bình nguyên Đất Mũi và hỏi thuê một vài nơi để gửi hàng.

Khi đã lên kế hoạch xong xuôi, cô cảm thấy tràn trề hy vọng, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm lắm. Nghiên cứu kỹ hơn, cô nhận thấy rằng muốn có nguồn hàng luôn sẵn sàng thì yếu tố cần thiết là phải có một dãy nhà kho và một khu nhà lạnh ở gần bến cảng.

Hai tuần sau, Anna tìm được một khu vực nhà xưởng bỏ hoang ở gần Woodstock rất thích hợp với yêu cầu của cô nhưng cuộc đàm phán chưa thành công.

Tới đầu tháng Ba, cô nghe đồn rằng Công ty Xuất khẩu táo Aegis đang chuẩn bị giải thể. Họ có một dãy nhà kho nằm ngay bên ngoài bến cảng và rất gần ga xe lửa với đường tránh tàu riêng. Nhưng người thanh toán đồi một giá cắt cổ là mười hai nghìn bảng. Nếu cô mua khu nhà đó thì cô sẽ cạn sạch cả tiền và không còn lấy một xu để bắt đầu kinh doanh. Cô tính sẽ đi vay bảy mươi lăm phần trăm của số tiền đó để mua khu nhà, bởi vì, cô viện lý lẽ, dù sao cô vẫn có dãy nhà kho đó cũng như trang trại được thừa kế từ chú Acker làm tài sản thế chấp. Vì vậy, cô điền vào những tờ khai xin vay vốn và đính kèm theo nó một bản kế hoạch giải thích ý định khai trương Công ty Tạp hóa Cross Ship Southern.

Đúng lúc này một tiếng còi vang lên. Người lễ tân nôn nóng đứng bật dậy trong tiếng sột soạt của vải lụa và mùi nước hoa phảng phất, đưa Anna vào phòng Hội đồng.

Năm vị giám đốc của Hiệp hội ngồi đối diện với Anna quanh một chiếc bàn gỗ sang trọng, ba trong số đó biết cô, Louis le Grange, Frikkie Deldenhuys và Cobus Fourie. Họ không chỉ là các giám đốc của Hiệp hội này mà còn là những nông dân làm ăn rất phát đạt, sở hữu những gia tài kếch sù. Cô đã gặp họ một vài lần cùng với cha mình. Tất cả bọn họ đều xấp xỉ ngoài năm mươi, chắc nịch, vạm vỡ và cô nhận thấy mình thật thảm hại trước mặt bọn họ. Le Grange giới thiệu Anna với hai người còn lại, Martin Sommers và Clive Duncan. Vẻ mặt của họ rất điềm tĩnh, còn ánh mắt thì sắc lạnh như thép. Chắc chắn họ đã nghe được những chuyện đồn đại xung quanh việc cô lấy chồng rồi. Chà, Anna đến đây không phải để thăm hỏi xã giao, cô đến đây để vay sáu nghìn bảng.

- Tôi có đủ tiền để mua khu nhà đó. – Anna hăm hở bắt đầu. – Họ đòi mười hai nghìn bảng nhưng có lẽ sẽ giảm xuống chín nghìn. Tuy nhiên, quý vị đều biết rằng công việc kinh doanh thực phẩm cần tới rất nhiều vốn. Tôi cần vay một khoản tiền là sáu nghìn bảng. Khu nhà đó nằm ở một vị trí rất lý tưởng, có đường tránh tàu riêng và kho lạnh rất rộng.

Không thấy những người đàn ông nói năng gì, cô vội vã trình bày tiếp:

- Có lẽ tôi không cần phải kể ra đây cho các ông nghe là các nước đồng minh và lực lượng quân đội của chúng ta cần nhiều thực phẩm và đồ dùng dự trữ cho các tàu thuyền đậu trong các vũng tàu quanh Đất Mũi này như thế nào. – Anna ngồi xuống cuối dãy bàn. – Tuyến đường biển quan trọng này cần phải được cung cấp đầy đủ hoa quả, rau tươi, trứng, thịt… - Cô dừng lại và nhìn ra xung quanh. Những khuôn mặt vẫn rất bình thản nhưng đã thoáng chút ngờ vực.

- Chúng tôi đã có trong tay những hợp đồng cung cấp thực phẩm cho quân đội. – Anna vội vã hơn. – Tôi chắc rằng ông le Grange đây biết rõ rằng tôi có, à chúng tôi có sự đảm bảo cho khoản vay này.

Geldenhuys đang cau mày, ông ta hắng giọng và nói:

- Thưa cô Smit, tại sao loại công việc kinh doanh đó lại cần nhiều tiền đến vậy?


206 – 207


Anna tin chắc vào điều này.

- Vấn đề là phải mua được hàng hóa đúng thời điểm và dự trữ sẵn trong kho để khi tàu cần ăn hàng là có ngay. – Cô háo hức trình bày thật cặn kẽ kế hoạch của mình.

Geldenhuys nhìn sang bốn người kia như thể đây chỉ là một trò tiêu khiển.

- Cô gái trẻ than mến ơi, tôi không thể gọi trang trạng nuôi gà của cô là công việc kinh doanh thực phẩm được. – Ông ta ngoác miệng ra cười. – Thôi được rồi, vậy là cô đã thành công trong việc kiếm chút lợi nhuận từ nuôi gà và chú cô đã để lại cho cô một trang trạng nuôi cừu ở vùng Tây Nam Phi, nhưng rõ ràng là cô chưa hề có chút kinh nghiệm nào trong lĩnh vực kinh doanh mới mẻ này cả. Tôi nghĩ là không.

- Nhưng tôi vay tiền có tài sản thế chấp là chính khu nhà đó và cả trang trại của tôi nữa. Thiết nghĩ các ông không cần quan tâm tới việc tôi có kinh nghiệm kinh doanh hay không.

Le Grange lắc đầu:

- Cô ơi, không thể như thế được. Chúng tôi không ngồi đây cho cô vay tiền để rồi lại đi thu hồi khu nhà và trang trại của cô. Công việc của chúng tôi là hướng dẫn cho cô cách làm ăn, và nếu chúng tôi mà cảm thấy rằng cô… - Ông ta hắng giọng và nhìn sang bốn người kia để tìm sự ủng hộ nhưng họ không tỏ ra sẵn sàng cho lắm.

- Nếu như chúng tôi nhận thấy rằng cô cắn miếng to hơn là cô có thể nhai và sau đó lại không tiêu hóa được thì chúng tôi sẽ ngăn cản cô bằng việc không cho cô vay tiền.

Anna đỏ bừng mặt, rủa thầm cho cả lũ bọn họ cuốn xéo xuống địa ngục.

- Ông le Grange ạ, tôi sẽ vẫn tiến hành công việc kinh doanh của mình dù các ông có cho tôi vay tiền hay không. – Cô lạnh lùng nói. – Xin đừng quan tâm tới việc tôi có thể làm được hay không làm được. Ông có thể thu hồi khu nhà nếu như có vấn đề gì xảy ra, nó trị giá còn hơn sáu nghìn bảng đấy.

- Cô ơi, chúng tôi không muốn đi làm cái công việc mua bán tài sản thế chấp đâu, chúng tôi chỉ muốn cho vay tiền mặt và thu lại được cả gốc lẫn lãi. – Le Grange nói một cách nghiêm nghị. – Vả lại, luật pháp nước ta rất khoan dung đối với phụ nữ. Chín trong số mười trường hợp khiến chúng tôi không thể khởi kiện được phái yếu. Cô có thể sẽ dựa dẫm vào điều này, cô gái ạ.

Đây là điều mà Anna chưa hề chuẩn bị. Một lũ đàn ông già khọm và ngu ngốc. Họ sinh ra trong cảnh giàu sang, luôn chỉ biết hưởng thụ cuộc sống mà không bao giờ dám thử sức mình vào những lĩnh vực khó khăn cả. Anna nheo mắt lại và đưa cằm ra phía trước với vẻ hết sức quả quyết.

- Cũng có khối đàn ông vỡ nợ ra kia kìa. – Cô gầm gừ.

- Điều ấy rất dễ vảy ra, Anna ạ. – Le Grange cảnh báo. – Chúng tôi chỉ muốn quan tâm tới những tình khả thi của kế hoạch của cô mà thôi.

- Sẽ có hàng trăm tàu thuyền qua lại nơi này. – Anna kêu lên. – Ở các vũng tàu và cả ở Simontown nữa, và tất cả những tàu thuyền đó đều cần tới thực phẩm. Đây là một công việc kinh doanh kiếm được rất nhiều lợi nhuận, nhất là trong thời buổi này.

- Vậy ra cô coi chiến tranh là một thời cơ để kiếm lời đấy à? – Geldenhuys mỉa mai.

Anna ngượng chín cả người, cô cắn môi.

- Tôi đã gây dựng nên trại gà từ rất lâu trước khi chiến tranh xảy ra, vậy tại sao tôi không thể thúc đẩy công việc kinh doanh tiến xa hơn được nhỉ?

- Thưa cô Smit, - Fourie nói một cách sống sượng. – Tôi nghĩ rằng chồng cô, ông Simon Smit, đã nhập ngũ. Cô lại có hai đứa con sinh đôi, giờ khoảng mười tám tháng tuổi. Ngoài ra, cô còn phải trông nom trại gà và cả trang trại của chồng cô trong lúc anh ta cắng mặt. Cô không thấy như vậy là quá nhiều đối với cô à? – Ông ta cau mày. – Cô nói cô có người cộng tác, vậy ông ta đâu?

Lúc này mà mất bình tĩnh là mất tất cả. Anna gắng gượng mỉm cười:

- Tôi chắc là tôi vẫn còn nhớ, ông Fourie ạ, rằng ông có sáu đứa con, bat rang trại ở vùng Stellenbosch,  cổ phần trong nhà máy sản xuất rượu vang của địa phương, ba tòa ống trong thành phố và ngoài ra còn là giám đốc của Hiệp hội này. Đã có ai nói với ông như vậy là quá nhiều đối với ông chưa?


208 – 209

Fourie bực tức giở báo soàn soạt. Lúc này tất cả bọn họ đều đã trở nên giận dữ. Cô nổi cáu, đẩy ghế ra sau và đứng dậy.

- Tôi đã trình bày với các ông tất cả mọi điều. – Anna bảo họ. Cô lấy ra từ tập tài liệu của mình một số mớ giấy tờ và quẳng chúng lên mặt bàn. – Đây là những con số, các ông ạ. Tôi đã liệt kê ra đây tất cả tài sản của tôi. Vì tương lai của mình, tôi sẽ tự biết phải làm gì. Tôi không đến đây để xin lời khuyên mà là để vay tiền. Các ông có chấp nhận hay không là tùy ở các ông.

Le Grange vội vã chạy theo cô trong lúc cô đang đi về phía cầu thang.

- Anna, cô hãy biết điều. – Ông ta bảo cô. – Chúng tôi có những quy tắc và luật lệ. Tôi sẽ không nhượng bộ những mong muốn của cô đâu nhưng tôi có thể mách nước cho cô thế này: cô hãy bảo cha cô tới ký giấy bảo lãnh và tôi cam đoan là cô sẽ vay được tiền.

- Tự bản thân tôi cũng đã có đủ điều kiện để đảm bảo rồi. Tôi thấy chẳng còn lý do gì mà phải làm phiền tới cha tôi cả. – Cô nói với một phong thái đường hoàng chững chạc nhất mà cô có thể tạo ra.

Bảy ngày sau có một bức thư đáng sợ được gửi tới. Anna chẳng ngạc nhiên gì khi đọc thấy nó thông báo rằng đơn xin vay vốn của cô đã bị bác bỏ. Bức thư tuyên bố một cách ngắn gọn rằng các quy định của Hiệp hội không cho phép cấp vốn cho bất cứ một phụ nữ nào không có sự bảo lãnh của nam giới.

Thế đấy! Cô mất thêm ba ngày nữa để tìm ra một giải pháp cho khu nhà đó.

“Chúng ta không thể thất bại được” – Tối hôm đó cô nói với Acker trong khi tắm cho hai đứa trẻ. Thật buồn cười vì giờ đây lũ trẻ đã lấp đầy tất cả thế giới của cô và chính chúng đã tạo ra cho cô sức mạnh. Vì chúng, cô sẽ thành công; cô sẽ đảm nhận vai trò của cả người cha lẫn người mẹ; cô sẽ đảm bảo cho chúng một tương lai tốt đẹp nhất; không điều gì có thể cản đường cô được. “Chúng ta sẽ có khu nhà đó”, cô bảo chúng với một vẻ hết sức trang nghiêm. “Các con có thể tin tưởng vào mẹ”.


210 - 211

Sau bữa tối của ngày tiếp theo, khi hai đứa trẻ đã ngủ và Lena đã quay trở về túp lều nhỏ của mình ở phía bên kia đập nước, Anna lấy ra một quyển vở, ngồi xuống bậc thềm ngoài cửa với cây đèn bão đặt ở bên cạnh.

Không gian thật là trong trẻo, lũ ve sầu kêu rả rích nghe thật run rẩy và khẩn nài; những con ếch kêu ộp oạp dưới hẻm núi; mặt trăng tròn to treo lơ lửng ngày trên những đỉnh đồi. Anna miệt mài với những con số. Biết làm gì bây giờ? Mua khu nhà đó bằng tất cả số tiền mặt mà cô có để rồi sau đó bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng hay là để cơ hội hiếm hoi này tuột khỏi tay? Làm thế nào để kiếm thêm tiền được nhỉ? Nếu như cô bán trại gà thì sẽ thu được bao nhiên tiền? Cô lại viết, viết điên cuồng, việt nguệch ngoạc, viết mãi. Sự mạo hiểm vượt quá khả năng tài chính của cô nhưng cô sợ phải do dự. Những đêm dài cô độc đang gặm nhấm lòng can đảm của cô, và cô biết càng chờ lâu thì cô sẽ càng mất đi khả năng để bắt đầu lại từ đầu. Viễn cảnh sẽ phải sống suốt đời ở Modderfontein, một mình với hai đứa trẻ và Jan làm cô khiếp sợ. Chẳng lẽ cuộc đời này trải ra trước mắt cô như một án tù hay sao? Cô tin chắc rằng Simon sẽ không quay trở lại. Cha cô đã về nhưng không muốn liên lạc với cô. Kurt thì biến đi đâu mất. Cô chỉ còn lại một mình, bị bỏ rơi hoàn toàn. Sẽ chẳng có ai thèm quan tâm tới cô nữa. Cô sẽ chết dần chết mòn mất thôi.

- Lạy chúa, không thể như vậy được, - cô lẩm bẩm thành tiếng khi những ý nghĩ tối tăm đó chụp xuống đầu cô. Tốt hơn hết là cứ nên thử, cô nhất quyết phải đấu tranh để có nhiều tiền và có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng cô vẫn còn sợ hãi khi phải dấn bước vào một con đường chỉ có thể tiến mà không thể lùi. Nhỡ mình thất bại thì sao nhỉ? Sẽ chẳng có một ai khuyên bảo hay nâng đỡ mình đâu. Có lẽ một mình mình thì không thể đảm đương nổi công việc. Nếu mất hết tiền thì sao? Cô đứng dậy và bước xuống con đường mòn. Dù gì đi chăng nữa cô quyết định vẫn sẽ tiến hành. Cô sẽ mặc cả mua khu nhà đó với giá chín nghìn bảng, đó là điều đầu tiên cô sẽ làm vào sáng ngày mai.

Một giờ sau cô trông thấy có ánh sáng trên những đỉnh đồi đang tiến lại gần phía cô. Một, không phải, hai chiếc xe tải. Ai mà lại đến đây vào giờ này nhỉ?

Đó là Kurt. Khi cô trông thấy anh, cơn giận bỗng trào lên trong lòng cô khiến cô không thể kiềm chế được.

210 – 211
- Lạy Chúa, anh biến đi đằng nào thế? – Cô la lên trước khi anh kịp nhảy xuống khỏi xe. – Anh đi đâu lâu vậy? Anh thật là độc ác, vô trách nhiệm, vô tâm… - Cô khóc òa lên và chạy vào bếp trong một tâm trạng mừng mừng tủi tủi.

- Nào, anh xin lỗi. Thôi được rồi, nín đi nào!

- Anh thôi đi, em không phải là đồ con nít. – Cô giận dữ đáp lại.

- Em đang làm anh bối rối quá đấy.
Cô vẫn vừa cười vừa khóc. Bỗng chốc, gánh nặng như được trút khỏi vai cô, cô hít một hơi dài và cố mỉm cười.

- Dù sao thì em cũng rất mừng khi lại trông thấy anh. – Cô lẩm bẩm và choàng tay ôm lấy vai Kurt. – Thế anh đi đâu lâu vậy? Mà tại sao lại có hai chiếc xe tải?

- Phải ăn trước đã rồi mới nói chuyện được. – Anh nói. – Cả ngày nay bọn anh chẳng có gì vào bụng rồi.

- Anh đã gặp may đấy. Vẫn còn thịt cừu hầm và bia lạnh trong thùng đá.

- Nhưng anh đã ở đâu vậy? – Anna vẫn kiên trì hỏi khi cô mang thịt cừu từ trong chạn ra và đặt lên bếp lò. – Anh mất tích tới hơn một tháng trời. Em đã cố tìm anh nhưng cuối cùng phải bỏ cuộc. – Cô ngừng lại, nhớ tới nỗi thống khổ của ngày hôm ấy.

- Thì anh đang trên đường trở về nhà như chúng ta đã thỏa thuận mà. – Anh đáp. Nhìn anh, Anna nhận thấy nhiều thay đổi: bờ vai vẫn rộng, làn da vẫn nâu, nhưng trông anh gầy đi nhiều quá.

- Anh bị một cơn sốt rét hạ gục trên đường về. – Kurt tiếp tục. – Rồi bọn anh lại đâm vào một con trâu và trục xe bị gãy. Ôi chao, thật là một chuyến đi tệ hại, hết tại họa này tới tai họa khác.

- Anh thì cứ nhởn nhơ, chẳng màng tới việc em có lo lắng hay không nữa.

Trông anh có vẻ rất hài lòng.

- Anh không thể bay vù về đây cùng với lô đồ đạc của chú em được. À mà quên đấy. – Anh đứng vụt dậy, đi nhanh ra xe, mở cửa sau và huýt sáo gọi. – Wolfie, ra đây nào!

- Ôi chúa ơi, con chó của chú Acker này. Nó vẫn còn sống ư? Xem nào, nó phải đến hai chục tuổi rồi ấy chứ.

Nghe có tiếng chó lạ ỉ eo, Wagter lon ton chạy ra và thế là bắt đầu diễn ra một cuộc huyên náo với những tiếng gầm gừ và ăng ẳng cho tới khi Kurt kéo Wagter ra và đánh cho nó một cái. Hai con chó cụp đuôi lẩn vào trong bếp nơi chúng vẫn tiếp tục ngờ vực theo dõi nhau.

- Đừng lo, chúng sẽ còn đánh nhau nhiều nhưng rồi mọi việc sẽ ổn thỏa cả thôi.

Một người đàn ông nhỏ thó, gầy còm và xấu xí xuất hiện. Anh ta có lẽ là người da đen lai Hốt-ten-tô hay Trung Quốc gì đó, Anna nghĩ vậy khi liếc nhìn sang phía người đàn ông. Anh ta có bộ mặt nhăn nheo và nứt nẻ như một tấm da khô.

- Đây là Hennessy, người lái xe của anh, của chúng ta, Anna ạ. – Kurt vỗ vỗ vào vai Hennessy. – Người lái xe cừ nhất châu Phi.
Một lúc lâu sau, khi Hennessy đã được cho ăn và tìm một chỗ ngủ và họ thì cũng đã ăn xong bữa ăn đêm thì Anna mới kể cho Kurt nghe về khu nhà mà cô muốn mua và nỗi thất vọng của cô khi cô không vay được tiền.

- Nghe em kể thì khu nhà đó giống như một tòa lâu đài vậy. – Kurt nói.

- Đối với chúng ta thì nó còn có ích hơn cả một tòa lâu đái ấy chứ. – Cô cau mày. – Thật không may là năm lão già ngu ngốc đó lại xếp ý tưởng của em vào một xó.

- Em là một cô gái khờ khào, Anna ạ. – Cuối cùng Kurt mới nói. – Em làm mọi chuyện lộn tùng phèo. Nhẽ ra em phải mua khu nhà đó trước và khi em đã là chủ của nó thì em có thể lấy nó thế chấp để vay vốn. Em sẽ thấy mọi việc rất đơn giản cho xem. Đừng lo, ngày mai chúng ta sẽ tới xem nó.

Anna tiếp tục miêu tả khu đất mà cô đã thuê để vỗ béo đàn gia súc. Cô cũng kể về lũ bò thiến và lũ lợn mà cô đã mua cùng đàn cừu mà có người đang dạm bán khiến cô phải nghĩ tới việc thuê thêm đất.

Nhìn Anna, anh không khỏi không khâm phục sự dũng cảm của cô, nhưng trông cô cũng thật mệt mỏi và muộn phiền. Có những quầng thâm dưới hai mắt của cô, da cô xám xịt và quanh cô toát lên một vẻ gì đó thật buồn mà trước đây anh chưa thấy bao giờ.

- Nào, em đã kể cho anh nghe tất cả những chuyện bình thường rồi, bây giờ hãy kể về những chuyện quan trọng đi. – Anh nói khi cuối cùng cô cũng kết thúc những con số và sự kiện.

- Chuyện gì cơ?

212 – 213

- Simon ấy! Simon đâu rồi?

- Anh ấy bỏ đi rồi. – Cô trả lời thẳng thừng và tiếp tục kể về những chuyện đã xảy ra giữa cô và Simon. – Em không hiểu đó là vì trang trại, vì anh hay là vì anh ấy nghĩ em đã giết chết đứa bé hoặc cố tình để cho nó chết. – Cô buồn rầu nói.

- Anh không cho là Simon hiểu được anh ta đang nghĩ gì. – Kurt đáp. – Thế chuyện gì đã xảy ra với đứa trẻ vậy?

Mặt cô nóng bừng.

- Lại cả anh nữa! – Cô giận dữ nói.

- Chỉ vì em là một kẻ nói dối thật vụng về. – Anh vặn lại.

- Đứa trẻ vẫn còn sống, em thề như vậy đấy. Nhưng Sophie không xứng đáng được làm mẹ. Có thế thôi!
Anh giơ cao tay lên.

- Thôi thôi, anh xin thua. Anh không muốn đánh nhau đâu. – Anh nói một cách nhẹ nhàng, cho rằng cô đã đem đứa trẻ tới một trại tế bần nào đó.

Đột nhiên, co khóc nức lên và ngã sụp xuống ghế khiến Kurt vô cùng bối rối, không hiểu mình đã làm gì để gây ra chuyện này. Anh cúi xuống bên cô, vòng tay qua người ôm cô vào lòng. – Sao vậy em? Anh đã làm điều gì không phải à? – Anh vuốt nhẹ mái tóc của cô và lau mắt cho cô bằng một cái khăn lau bếp.

- Đừng có đưa miếng giẻ bẩn thỉu ấy vào mắt em nữa. – Cô kêu ca.

Anh ném chiếc khăn xuống sàn.

- Em xin lỗi. – Cô thổn thức. – Chỉ vì Simon lại không cư xử được như anh. Được vậy thì đơn giản biết bao, nhưng anh ấy chỉ luôn nghĩ xấu về em thôi. Tại sao cuộc sống lại quá đơn giản và bình yên với anh mài lại khó khăn với Simon đến vậy?

- Thế thì em hãy thay đổi đi. – Anh dụ dỗ.

- Em không biết tại sao mình lại ngu ngốc đến thế. – Cô vẫn khóc. – Khi anh ấy đấm em, em đã không chảy một giọt nước mắt, thậm chí cả khi anh ấy bỏ đi nữa. Rồi khi em không tìm thấy anh, chỉ có một mình em xoay xở, cha em đã trở về nhưng lại không tìm em… Ôi, còn nhiều chuyện khác nữa! Em đã rất bình tĩnh, vậy mà bây giờ anh đang ở đây thì em lại tự biến mình thành một con ngốc.

Anh đưa cô vào giường, an ủi dỗ dành cho tới khi cô kể hết ra những tháng ngày đau khổ mà cô đã phải chịu đựng. Cuối cùng, cô ngước lên mỉm cười bẽn lẽn.

- Giờ anh đã ở đây rồi, anh có thể giải quyết được mọi việc. – Cô nói và mỉm cười lần nữa.

Nhìn cô, Kurt nghĩ thầm: thật là tuyệt vời khi ta có thể nói ra mọi điều day dứt và tin tưởng trao gánh nặng của mình cho một người tin cậy. Anna có thể tin cậy anh. Anh sẽ bảo vệ cô trong suốt quãng đời còn lại. Làm sao mà một cô bé con ngốc nghếch lại có thể xoay xở được nếu thiếu đi sự chăm nom của người khác cơ chứ? Cuối cùng thì anh cũng tìm ra được lẽ sống cho mình ở cùng đất Nam Phi xa xôi này. Để thành công trong việc kinh doanh – điều đó quá dễ dàng với anh, anh tin tưởng vào khả năng và kinh nghiệm của mình; nhưng còn tìm được điều mình khát khao mong ước thì quả là một vấn đề không đơn giản chút nào. Nhưng vì Anna anh sẽ bắt đầu lại từ đầu. Chính cô đã cho anh niềm hy vọng trong cơn tuyệt vọng. Anh thực sự yêu cô và tin tưởng rằng cùng với thời gian và lòng kiên nhẫn, cô cũng sẽ học được cách yêu anh. Anh cúi xuống và chạm nhẹ môi mình vào vai Anna. Đột nhiên, lần đầu tiên trong nhiều tháng nay, một nỗi khát khao trào dâng trong anh. Anh bắt đầu cảm thấy như thể mình được sống lại. Đấy không đơn thuần chỉ là tình dục mà còn là sự hồi sinh: anh cần được cảm nhận, được vuốt ve và được chiêm ngưỡng cái đẹp. Anna chính là một sợi dây kéo anh trở lại với đời thường. Nhờ cô mà anh lại một lần nữa được tận hưởng niềm vui của cuộc sống.

- Hừ hừ… - Cô rên lên – Em thích được vuốt ve lắm. Em mong mình là mèo quá. Em đã kể cho anh nghe Simon bắn chết con mèo của em chưa nhỉ?

- Thôi thôi, không nói chuyện ấy nữa. – Anh đáp lại và tiếp tục trìu mến mơn trớn lưng, ngực và cặp đùi trắng nõn mềm mại của cô. Có một vết xước nhỏ khiến anh đau nhói trong lòng. Cô ấy mới yếu đuối và dễ bị tổn thương làm sao. Anh sẽ yêu thương và bảo vệ cô trong nốt phần đời còn lại. Bên cạnh anh, cô ấy sẽ luôn được an toàn.

Anh cố kìm nén nỗi say mê của mình lại, hôn nhẹ lên khắp người cô. Cô mới xinh đẹp làm sao, làn da mềm mại mượt như nhung, cặp mắt đen thoáng chút quầng thâm trông vẫn thật quyến rũ. Khi anh chạm tay vào ngực cô, hai núm vú cương cứng lên và
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-27 21:06:27Ct.Ly>
214 -215

chuyển màu sẫm lại. Cô cựa mình lien tục, miệng rên khe khẽ. Anh muốn đưa cô đi khỏi đây, xây cho cô một ngôi nhà ngay cạnh biển rồi ngày ngày ngắm nhìn cô chân không trên bờ cát, mái tóc tung bay trong gió. Thật đẹp biết bao!
 
Nhìn cô, tự dưng anh cảm thấy vô cùng bối rối; những tình cảm trái ngược nhau đan xen trong lòng anh. Anh muốn bảo vệ vẻ đẹp mà cô đang cẩu thả phung phí nhưng một phần khác trong anh lại muốn tàn phá vẻ đẹp ấy đi; anh muốn gài bẫy cô, muốn chiếm đoạt cô và muốn cô thuộc về anh mãi mãi.
 
Cô lại cựa mình, mở choàng cặp mắt ngái ngủ. “Đừng dừng lại”, cô nói. Dục vọng bỗng chốc trào lên, nhấn chìm anh xuống dưới đáy và xua khỏi đầu óc anh những suy nghĩ tỉnh táo. Bản năng thức dậy, anh thèm khát cô gái xinh đẹp và bướng bỉnh này.
 
Con người có thể làm nên những thay đổi thật kỳ diệu, Anna nghĩ vậy vào sáng hôm sau. Những giấc mơ của cô đã trở nên thực tế hơn, tương lai cũng trải ra trước mắt cô sáng sủa hơn. Thậm chí đến cả ngôi nhà dường như cũng vui tươi trở lại và có một cảm giác ấm áp trong lòng cô đã nhen nhóm.
 
*
*    *
 
Trong đêm, thời tiết thay đổi. Cho tới sáng những đám mây nặng đã sà xuống thấp và một đám sương mù dày đặc đã bao trùm khắp không gian. Khi Anna đánh thức Kurt dậy vào lúc chín giờ sáng bằng một tách cà phê nóng thì trời đã đổ mưa phùn.
 
- Đêm qua thật tuyệt, - cô buồn rầu nói, - và em cũng rất yêu anh. Nhưng em không thể ly dị được vì Madeleine đang ở trong trại tập trung. Vì thế, tốt hơn hết là chúng ta nên giữ gìn tình cảm trong lòng cho tới khi chiến tranh kết thúc nhé.
 
- Đêm qua thật là đặc biệt. Anh chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc đến thế. – Anh lẩm bẩm, bực bội vì sự thay đổi đột ngột của cô. Anh đưa mắt ra ngoài cửa sổ nơi những giọt mưa phùn đã bám đầy ô kính.
 
- Kurt, em nói vậy có đúng hay không?
 
Miệng anh mím lại thành một đường chỉ bướng bỉnh.
 
- Kurt, vì Chúa, anh không nhớ tới cái hôm anh đến đây và nói chuyện về Madeleine à? Anh đã nói là không thể cưới em được, có đúng vậy không nào?
 
Anh rên rỉ và trùm chiếc gối lên đầu.
 
Ôi chào, đàn ông! Cô thở dài.
 
- Vậy nhé, chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi thôi. – Cô vẫn kiên trì với chủ đề này trong lúc theo anh vào bếp nơi anh cạo râu với nước nóng. – Chúng mình hứa với nhau nhé, Kurt. Như một bản thỏa ước ấy! Chúng mình sẽ giữ kín tình cảm trong lòng cho tới cuối cuộc chiến tranh này nhé! Quên đêm qua đi, anh có hứa như vậy không hả Kurt?
 
*
*    *
 
Trên chặng đường dài dằng dặc tới Cape Town, họ vạch ra một kế hoạch tỉ mỉ cho sự hợp tác sắp tới; Kurt giữ năm mươi phần trăm và Anna giữ năm mươi phần trăm cổ phần. Mỗi người sẽ trả năm nghìn bảng và Anna sẽ cho Kurt vay phần của anh, anh sẽ trả dần mỗi tháng là hai trăm năm mươi bảng. Ngoài ra anh sẽ thanh toán cả tiền lãi với mức lãi suất hiện hành – đó là điều mà anh cứ khăng khăng đòi thực hiện cho được bất chấp sự phản đối của Anna. Kurt sẽ điều hành việc tiêu thụ hàng, còn Anna sẽ trông nom việc mua gia súc và vỗ béo chúng. Cả hai đều sẽ được thưởng mức lương như nhau.
 
Anna rất mong họ sẽ mua được khu nhà đó nhưng khi nhìn Kurt ngó nghiêng vào từng xó xỉnh, xem xét kỹ lưỡng từng vết nứt trên tường, mặt mỗi lúc một nghiêm lại thì cô lại lo lắng tự hỏi không biết việc mua bán có xong xuôi hay không. Có vẻ như anh đã thất vọng, thậm chí còn nổi giận nữa và anh chẳng chút e dè biểu lộ điều đó ra mặt. Người môi giới càng lúc càng căng thẳng. Kurt còn cẩn thận kiểm tra mái nhà, hầm chứa khiến Anna cứ sốt cả ruột.
 
216 – 217


Cuối cùng anh bước ra sân trước, lẳng lặng ném lên toàn bộ khu nhà một cái nhìn khinh khỉnh như thể đây là lần cuối cùng anh tới xem nó và nói:
 
- Có lẽ phải tìm chỗ khác thôi. Khu nhà này cũ quá rồi, cần phải sửa chữa nhiều lắm thì mới sử dụng được mà thời gian thì không cho phép.
 
Anna quắc mắt nhìn anh.
 
- Tôi hiểu, ông Friedland ạ. – Người môi giới trả lời. – Nhưng tôi cho rằng ông nên suy nghĩ lại. Khu nhà này rất vững chãi, quả thực là rất vững chãi đấy và tôi chắc rằng khách hàng của tôi tức là chủ của khu nhà này sẽ đáp ứng được yêu cầu sửa chữa của ông thôi. Ông cũng biết đấy, những người thanh toán cho công ty giải thể vốn rất sắc sảo mà, mọi việc đều có thể giải quyết được hết.
 
Kurt khinh khỉnh lắc đầu.
 
- Vấn đề không phải là tiền, anh bạn ạ, mà là thời gian. Thời gian là tiền bạc và chúng tôi cần có một khu nhà có thể sử dụng được ngay.
 
- Vậy thì ông cứ đề nghị, - người môi giới kiên trì thuyết phục. – Đừng băn khoăn về chi phí sửa chữa. Thị trường xây dựng hiện nay đang rất tĩnh, ông có thể thuê được một đội thợ giỏi ngya trong sáng ngày mai, họ sẽ làm việc cật lực.
- Đây không đơn thuần chỉ là thợ xây. – Kurt nhún vai và chìa tay ra trong một cử chỉ thất vọng. – Chúng tôi cần cả những kỹ sư điện lạnh nữa, ở Đất Mũi này có không hay tôi phải tới tận Johannesburg?
 
- Tôi dám chắc với ông là có. Tôi có thể mời được một kỹ sư điện lạnh tới đây trước tám giờ sáng ngày mai.
 
Trông Kurt có vẻ bối rối.
 
- Chà, tôi không biết đấy…, - anh bắt đầu. – Thôi được rồi, chúng tôi sẽ mua khu nhà này với giá bảy nghìn bảng, trả tiền ngay mặc dù vẫn còn nhiều rắc rối lắm. Nếu như nó không có đường ray riêng thì tôi đã không phải băn khoăn nhiều đến thế.
 
Người môi giới rút soạt ra một giấy tờ và bắt đầu viết nguệch ngoạc lên đó.
 
- Hãy ký vào đây, thưa ông. – Anh ta nói với một vẻ hết sức cung kính và Anna bực bội nhận thấy rằng Kurt mới cao tay làm sao.
 
Kurt lưỡng lự một chút rồi cũng ký vào tờ giấy một chữ ký hết sức bay bướm. Rồi anh quay sang phía Anna. – Nào đi thôi Anna, chúng ta còn tận bốn khu nhà nữa cần phải xem xét mà chúng ta không thể đi cả ngày được.
 
Anna đi ra xe trong một tâm trạng bối rối. Làm sao mà anh ấy dám cơ chứ? Đây là khu nhà duy nhất có đường tránh tàu riêng được rao bán trong khu vực này mà.
 
- Anh làm hỏng be bét hết mọi việc mất thôi. – Cô cằn nhằn khi họ đã đi xa. – Bảy nghìn bảng, thật là buồn cười! Nó đáng giá gấp đôi như thế.
 
- À, cứ chờ xem. – Kurt chỉ trả lời cô hết sức ngắn gọn.
 
Khi họ vừa về tới trang trại thì chuông điện thoại réo vang, một sự kiện hiếm thấy ở Modderfontein này. Anna vội vàng chạy tới nhấc ống nghe lên, băn khoăn tự hỏi không biết ai gọi tới. Hóa ra đó là người môi giới – anh ta nhắn với cô rằng đề nghị của họ đã được chấp nhận. Nếu như cô vẫn còn quan tâm và có thể thanh toán trong một thời hạn sớm nhất thì khu nhà sẽ là của cô. Cô đặt ống nghe xuống và nhìn chằm chằm vào Kurt, cảm thấy rất nối rối.
 
Anh bật cười to trước khi cô kịp nói điều gì.
 
- Bài học kinh doanh đầu tiên, em yêu ạ. Mọi vật đều luôn không đáng giá như bề ngoài cảu nó đâu. Giờ bài học thứ hai trong phương pháp và trình tự kinh doanh là em sẽ quay trở lại Công ty Bảo hiểm Table Mountain và hỏi vay bảy lăm phần trăm số tiền mua nhà đi. Hãy làm như vậy với mọi ngôi nhà mà em muốn mua và đảm bảo với họ rằng em sẽ trả đủ cả gốc lẫn lãi theo mức lãi suất hiện hành. Chúng ta sẽ đi hai xe bởi vì anh muốn xem khu trang trại mà em đã thuê nữa.
 
- Chúng ta thuê chứ. – Cô chữa lại.
 
- Anh xin lỗi. – Anh nói và đột nhiên toét miệng ra cười. Lần đầu tiên Anna thấy Kurt thực sự vui sướng.
 
- Em thật là thông minh, Anna ạ. – Anh bảo cô như vậy trong bữa ăn đêm hôm đó. – Rồi em sẽ thấy chúng ta làm thành một cặp bài trùng tuyệt đến thế nào.
 
216 – 217


Khoản vay là sáu nghìn bảng, chính bằng số tiền mà Anna xin vay từ lần đầu tiên, sẽ có trong vòng mười ngày nữa. Anna và Kurt cùng nhau ký một bản cam kết chung. Kurt đưa cho cô một nghìn bảng, số tiền mà anh đã dành dụm được, trong số năm nghìn bảng mà anh nợ cô. Từ lúc đó trở đi, cảm giác buồn rầu và thất vọng đè trĩu lên Anna mờ dần, thay vào đó là tâm trạng vô cùng nhẹ nhõm. Chẳng có gì phải đau khổ cả, tự cô sẽ định đoạt số phận mình, cô không cần phải chịu đựng mặc cảm bị bỏ rơi nữa. Sớm sớm, cô sẽ trở dậy và ra khỏi giường với một nụ cười tươi sáng.
 
Cái gì, cô tự hỏi, đã làm cho bầu trời trong sáng hơn, làm cho ánh sáng ban ngày huyền ảo hơn và làm cho những công việc buồn tẻ nhàm chán trở nên dễ chịu hơn vậy? Đó, tất nhiên là men say của sự thành công.
 
23
 
Khu nhà mới của họ vẫn chưa được sửa sang xong khi những đơn đặt hàng mua thịt, trứng, gia cầm ào ào đổ tới. Anna thuê Hendricks, một cậu thanh niên trẻ vừa rời ghế nhà trường từ trong làng tới để giúp cô viết hóa đơn và kiểm tra chất lượng hàng bán ra. Nguồn dự trữ của họ ngày càng ít dần khiến Anna cứ phải suots ngày lùng sục khắp vùng để hỏi mua hàng. Cô cũng thường xuyên phải tiếp xúc với những người bán buôn có uy tín và phải trả họ những giá cắt cổ. Kurt nhắc nhở cô rằng nếu cứ như vậy mãi thì họ sẽ bị thiệt hại đáng kể.
 
- Chiến tranh mới chỉ bắt đầu thôi, - anh nói. – Có rất nhiều tàu bè đỗ lại quanh Đất Mũi này và nếu được phục vụ tốt thì lần sau họ sẽ lại tìm đến chúng ta. Mình cần phải chộp lấy từng hợp đồng khi có thể.
 
Anna bắt đầu dậy từ lúc năm giờ mỗi sáng. Sauk hi xem xét công việc trong trang trại xong rồi, cô dành ra cả ngày để đi tìm nguồn hàng. Một buổi tối khi trở về nhà, mệt mói rã rời, cô trông thấy Koos van Niekerk, đốc công trại gà, đang đợi gặp cô.
 
- Gì thế? – Cô hỏi kèm theo một tiếng thở dài.
 
- Chuyện là thế này, - anh ta căng thẳng gõ ngón tay lên mũ. – Ở nước ngoài người ta nuôi gà theo phương thức mới. Họ nhốt gà trong những cái lồng nhỏ không lớn hơn chuồng chim là mấy. Thưa cô chủ, điều này tránh cho lũ gà khỏi chạy lung tung.
 
- Gà mà béo thì chẳng đẻ được. – Anna ngắt lời.
- À, nhưng mà thưa cô chủ, vấn đề là ở chỗ này: họ cho gà ăn chủ yếu bằng thức ăn có chưa protein thôi.
 
- Không cho ăn ngô à?
 
Anh ta lắc đầu.
 
- Chúng ta có thể biết chắc được khi nào một lứa gà có thể xuất chuồng, nhưng chúng ta không bao giờ biết được lứa nào sẽ đẻ trứng. Với những chiếc chuồng nuôi gà nhốt này – họ gọi như vậy, cô có thể lựa chọn được những con kém chất lượng để loại ra ngay. Ngoài ra, họ còn để đèn mười tiếng mỗi ngày để cho lũ gà ngu ngốc tưởng nhầm rằng lúc nào cũng là mùa hè. Lại còn có hơi ấm nữa chứ.
 
- Hơi ấm á?
 
Anh ta mỉm cười tự tin.
 
- Tất cả đều trong cuốn sách này.
 
Anna tò mò cầm lấy quyển tạp chí.
 
- Theo anh, chúng ta sẽ được gì nếu đầu tư vào dây chuyền này?
 
- Thưa cô chủ, với cùng một số gà mái đó, chúng ta sẽ tăng gấp đôi sản lượng.
 
Cô nhún vai vẻ không tán thành.
 
- Chà, có lẽ chúng ta nên thử xem sao.
 
- Cũng không đơn giản đâu cô ạ. Dãy chuồng gà đáng giá khoảng năm silinh mỗi cái, rồi lại còn hệ thống giữ nhiệt, hệ thống ánh sáng nữa. – Anh ta dài giọng ra.
 
Anna cau mày.
 
- Đó là cả một vấn đề đấy, Koos ạ. Chúng ta không thể lấy lại được những gì đã bị mất đâu.
 
- Tôi mong cô nghĩ kỹ, cô chủ ạ. Cô đang nhìn sự việc hết sức thiển cận. Dãy chuồng nuôi gà nhốt sẽ tồn tại được ít nhất là mười lăm năm.
 
- Chà, tôi cho là anh có lý đấy. Để vài ngày rồi tôi sẽ nghĩ them nhé. – Anna dừng lời, mong Koos sớm đi khỏi.
 
- Cô cứ nghĩ đi, thưa cô. Nhưng nếu cô không chuyển sang phương pháp mới này ngay thì rồi những khác cũng sẽ làm, tới lúc đó cô sẽ không thể cạnh tranh về giá được đâu, đặc biệt là vào mùa đông. Hoặc là đầu tư cho dãy chuồng nuôi gà nhốt hoặc là bị phá sản, cô hãy nghĩ đi. – Anh ta từ tốn quay đi, tay vẫn gõ gõ lên mũ.
 
220 – 221


Anh ta mới táo bạo làm sao! Anna cố mỉm cười rồi đóng sầm cửa lại. Cô đi vào nhà, mở sách ra xem. Cô miệt mài hàng giờ với những bức tranh minh họa rõ ràng chụp hình những con gà mái trong dãy nhà tù dài dằng dặc của chúng. Một ý tưởng thật phi thường! Tại sao cô không tự mình nghĩ ra nhỉ?
 
Sáng hôm sau, cuộc ghét thăm đầu tiên của Anna là tới một trang trại cách Vịnh Saldanha ba giờ đi xe, nằm dọc bờ biển phía tây thuộc vùng Sorubaai. Cô nghe nói nhà van der Merwe đang muốn bán đàn gia súc của họ. Không thể trách họ được, Anna nghĩ bụng trong lúc nhìn ra quang cảnh tiêu điều bị tàn phá bởi hai năm hạn hán ở vùng này.
 
Bà vợ là một người èo lả, bị héo hon đi vì những tháng năm lao động cực nhọc và vì một cuộc sống mọn hèn; chồng của bà ta, một người đàn ông béo phị, mặt đỏ gay, tiếp đón Anna ở cửa với một tâm trạng bực bội cáu gắt.
 
- Tôi cứ nghĩ là họ cử tới đây một người mia hàng của Công ty Southern Chandlers cơ. – Ông ta giận dữ nói.
 
- Là tôi đây. – Anna nói khẽ với một nụ cười căng thẳng.
 
- Tôi không muốn buôn bán trao đổi với phụ nữ. – Ông ta nói rồi quay ngoắt đi,
 
- Thế ông còn muốn buôn bán với ai nữa nào, hả ông van der Merwe? – Cô hỏi với vào trong dãy hành lang tối om nhưng không thấy có tiếng đáp lại. Vài giây sau, bà vợ lò dò bước ra, tay bưng một chiếc khay trên có một cốc nước, một tách cà phê và một vài cái bánh quy.
 
- Mời cô vào bếp uống nước. – Bà ta ngượng ngùng nói.
 
Anna xúc ba thìa đường đổ đầy vào tách cà phê đen đặc, khuấy đều lên và uông một cách khoan khoái.
 
- Bà có gì để bán không?
 
- Chẳng có gì cả. – Người đàn bà dùng mu bàn tay gạt nước mắt. – Đàn gia súc đang chết đói, cô hiểu không? Vỗ béo được chúng cũng phải mất vài tháng.
 
- Bà hãy vào nói với chồng bà rằng tôi là người mua hàng duy nhất của Công ty Southern Cross Chandlers. Ông ấy chỉ có thể giao dịch được với tôi thôi hoặc là không ai cả. Tôi sẽ trả giá cao. – Cô mỉm cười để làm dịu tình trạng căng thẳng.
 
Cuối cùng, ông nông dân cũng quay trở lại, khuôn mặt càng đỏ hơn, điệu bộ thì lúng túng.
 
- Tôi không có ý thiếu tôn trọng cô. – Ông ta nặng nề nói. – Có lẽ thời thế đã thay đổi rồi. Trước đây tôi vẫn nghĩ là đàn bà thì biết gì mà buôn với bán.
 
Đó là một chuyến đi bộ dài và đơn điệu dọc theo những tảng cát mênh mông và những đồng cỏ xơ xác. Bầy cừu gầy trơ xương nhưng chúng có thể hồi phục lại nếu được chăn thả tốt. Đàn bò cái thì vô cùng thiểu não, hầu như không đáng giá gì, còn những con lợn thì không thích hợp cho việc làm thịt hun khói. Thật là kinh khủng!
 
Sauk hi viết nguệch ngoạc vào một cuốn sổ, cô nói:
 
- Năm trăm bảng chô tất cả.
 
Ông nông dân cau mày khó chịu.
 
- Như vậy thì ngang với ăn cướp à, thưa cô. Chỉ riêng đàn cừu thôi cũng đáng giá chừng ấy tiền rồi, đàn bò cái cũng thế. Tất cả những gì mà chúng cần bây giờ là một chút cỏ khô.
 
- Tôi rất tiếc, ông van de Merwe ạ. – Cô nghiêm nghị nói. – Đó chỉ là đề nghị của tôi thôi, tất nhiên ông không buộc phải chấp nhận. Có lẽ ông muốn một giá cao hơn?
 
Ông ta lầm lì lắc đầu, dường như quá phiền muộn và thất vọng mà không nói nên lời.
 
Anna trao cho ông một tấm các như cô vẫn thường làm trong lúc đi giao dịch.
 
- Xin hãy gọi cho tôi nếu ông đồng ý với lời đề nghị của tôi. Nếu như tôi không có đó thì ông cứ để lại lời nhắn cho Hendricks là người trực điện thoại của công ty tôi.
 
Trong một lúc lâu, họ nặng nhọc bước đi trong yên lặng. Anna lấy tay che mắt cho cát khỏi bay vào. Gió thôi vun cát lại xung quanh chân làm cô đau rát. Tới gần ngôi nhà, người nông dân mới lại lên tiếng:
 
- Thôi được rồi, tôi sẽ đồng ý như thế này: lúc này mà bán gia súc thì hết sức khó khăn nên tôi chấp nhận với giá bảy trăm bảng. – Ông ta thở dài.
 
222 – 223


- Tôi không ở đây để mặc cả. – Anna bảo ông ta. – Tôi trả ông cái giá như vậy là đã cao hơn thị trường hiện nay rất nhiều rồi. Tôi còn phải cân nhắc tới chi phí vận chuyển và thời gian vỗ béo chúng nữa. Ông có thể chấp nhận giá đó hoặc là từ chối, tùy ông thôi. Chúc ông một buổi sáng tốt lành, ông van der Merwe.
 
Cô ngó vào trong nhà cảm ơn bà vợ về tách cà phê rồi lái xe đi, trong lòng chắc mẩm rằng ông nông dân này rồi cũng sẽ làm theo cách mà những người nông dân khác vẫn làm trong thời gian qua. Ngày mai ông ta sẽ gọi điện tới để mặc cả thêm một lần nữa và ngày tiếp theo sẽ chấp nhận lời đề nghị của cô cho mà xem.
Tới bốn giờ chiều Anna mới đến được trang trại thứ bảy và cũng là trang trại cuối cùng trong ngày. Lúc này người cô đã mệt lử, tinh thần không còn được hăng hái nữa. Trang trại này, cũng giống như những nơi khác trong vùng, khô rang với những đàn cừu gầy xơ xác. Ông Myburgh, người chủ trang trại, đã gần bảy mươi tuổi và bà vợ của ông cũng chẳng trẻ hơn là bao. Họ đang mong muốn một sự nghỉ ngơi muộn mằn và đã có kế hoạch dời tới sống ở Stellenbosch cùng với những người bà con của họ.
 
Hai ông bà già này biết rõ gia cảnh nhà Anna tới ba thế hệ. Anna luôn ngạc nhiên với những con người thích tọc mạch vào chuyện của người khác. Đối với Anna, những người không quen biết được chia làm hai loại: một là hữu dụng và một là vô dụng. Cả hai loại người ấy đều không làm cô quan tâm.
 
- Kể ra thì chúng tôi vẫn có thể duy trì trang trại được một thời gian nữa đấy, - Myburgh nói với cô, - nhưng thời tiết đã theo chu kỳ rồi; vài năm mưa thuận gió hòa rồi lại vài năm thiên tai khắc nghiệt. Thế là tôi quyết định rút lui trước khi trang trại này biến thành sa mạc như những nơi khác trong vùng Springbok này.
 
Anna vểnh tai lên nghe.
 
- Trời hạn đã ba năm rồi, - ông già thở dài. – Gia súc thì chết dần chết mòn và các chủ trại thì cứ dần vỡ nợ. Người ta lũ lượt kéo nhau ra thành phố tìm việc làm. Thật khốn khổ! Nếu như cô muốn mua cừu gầy để đem đi vỗ béo thì hãy đi lên mạn trên của vùng này, sẽ không vô ích đâu cô Smit ạ. – Myburgh tiếp tục. – Nhưng cô phải nhanh chân lên kẻo chúng chết mất trước khi cô kịp tới đó.
 
Lời đề nghị của cô được chấp thuận ngay lập tức bởi vì ông già đang nóng lòng muốn tận hưởng những năm tháng cuối đời trong cảnh yên bình.
 
Mãi tới hơn tám giờ tối Anna mới về đến nhà, gần như kiệt sức. Căn nhà ấm cúng, bếp lửa reo vui. Lena dang hâm thịt cừu và bánh bao, và một cốc rượu vang nóng đang chờ Anna về.
 
Anna cúi người xuống bên cũi và hôn vào trán hai đứa trẻ chúc chúng ngủ ngon. Cô sung sướng nghĩ thầm, mọi mệt mỏi cực nhọc vì các con cũng thật đáng giá.
 
*
*    *
 
Hai ngày sau, Anna rời nhà lên đường tới Springbok từ bốn giờ sáng nhưng mãi tới gần trưa cô mới tới nơi. Xung quanh cô chỉ toàn những thửa ruộng nứt nẻ khô cằn vì hạn hán, trông xa tựa như những mảnh khổng lồ của trò chơi xếp hình. Những con quạ đáng ghê tởm lượn lờ trên vùng đất hoang tàn, chờ một con cừu ngã gục là lao xuống rỉa thịt rỉa xương ngay.
 
Vượt qua cánh cổng có tấm biển đề “J.H. Firth”, Anna ngoặt xe đi thêm một dặm đường nữa để vào tới khu nhà của trang trại, chỉ thấy những ô cửa sổ vỡ nát, những bức tường tróc lở loang lổ và một cái đập nước khô queo. Ngôi nhà đã bị bỏ hoang. Cô xuống xe đứng im nhìn quang cảnh tiêu điều, cố gắng chế ngự một cảm giác buồn bã đang dâng dần trong lòng. Đây đã có thể là số phận của cô nếu như cô không tìm thấy nước ở Modderfontein. Cô mường tượng ra cảnh mình và Simon cùng với lũ trẻ lủi thủi dắt díu nhau đi nài xin những người nông dân khác để họ ban cho một chút công việc dư thừa.
 
Trang trại tiếp theo chẳng khác hơn là bao nhưng vẫn còn có người ở, và ở đây có rất nhiều cừu – những con cừu đầu gục xuống, xương sườn nhô ra, lần tìm từng ngọn cỏ. Không gian sặc mùi xác súc vật thối rữa khiến cô nôn nao. Thiên nhiên trả thù con người thật khắc nghiệt.
 
Chủ trang trại, ông Willis Grobbelaar, là một người dàn ông còn rất trẻ, mái tóc vàng hoe, cặp mắt đượm vẻ cay đắng. Bà vợ héo hon vì tuyệt vọng. Hai đứa con, hai bản sao của cha mẹ chúng, đứng im lặng cắn móng tay, nhìn Anna ngờ vực.
 
Cô tự hỏi liệu mình có nên rời khỏi đây không nhỉ. Kiếm lời
0
Trang 62 - 63
mát mái hơn. Anna chắc đang mong anh lắm đây. Bụng cô ấy giờ có lẽ đã lùm lùm rồi. Anh lại cười tủm tỉm. Có thể nói vận may đã giúp anh đâm trúng con cá voi ấy. Anh sẽ dành số tiền đó để mua một chiếc xe mới toanh. Ba tuần ngoài biển đã giúp anh giải quyết được rất nhiều việc.
Anh lái xe đi mà chẳng chú ý gì tới đường sá cả vì đang mải mê hồi tưởng lại cuộc săn đuổi thú vị trên chiếc thuyền câu bé tí xíu của mình. Suốt hai tuần lễ, họ đã đuổi theo nó trên mặt biển đầy dông bão và sóng cồn, và chính anh là người đã phóng lao trúng vào người con cá khiến nó chết ngay lập tức. Đó mới chính là cuộc sống của anh. Đã có lúc anh nghĩ tới việc bán trang trại để đầu tư hoàn toàn cho nghề săn cá. Nhưng ai them mua Modderfontein cơ chứ! Suy nghĩ này khiến Simon cụt hứng và làm giảm hết nhiệt tình của anh. Anh trấn tĩnh lại và lái xe từ tốn hơn cho đến khi tới được Fonteinebleu.
Anh đỗ xe ở một góc khuất ngoài rìa sân và lẻn đến bên hông nhà tới cửa sổ phòng Anna. Anh gõ nhẹ vào cánh cửa nhưng không có tiếng đáp lại. Ngay đến cái cũi chó cũng hoàn toàn trống trơn. Simon thấy ngạc nhiên và thất vọng. Anh bước ra phía cửa chính và gõ mạnh vào cánh cửa. Phải mất một lúc Simon mới thấy Jacob đi ra, tay dụi dụi vào căp mắt nhấp nháy vì ngái ngủ.
- Tôi muốn nói chuyện với Anna. – Simon nói với vẻ hung hăng hòng che giấu sự bối rối ngượng ngập của mình.
Jacob cấu kỉnh ra hiệu cho Simon đi vào phòng khách. Simon ngồi xuống ghế và dỏng tai lên nghe ngóng. Anh nghe có tiếng gõ nhẹ vào cánh cửa mở ra. Những giọng nói thì thào như bị bóp nghẹt. Vài giây sau, Andre đi nhanh vào phòng, tay nắm chặt một khẩu sung vung lên hết sức dữ dằn.
- Cút ngay! Cút ngay ra khỏi nhà tao và đừng bao giờ quay lại! – Trông Andre thật khắc nghiệt và lạnh lung, cặp mắt xanh của ông lóe lên, mặt trắng bệch đi vì giận dữ.
Simom thầm hỏi tại sao một người đàn ông lạnh lung đến vậy lại có thể sinh ra một người con gái hiền dịu như Anna được nhỉ.
- Tôi phải nói chuyện với cô ấy. – Giọng anh trở nên khản đặc.
Khẩu súng khẽ nhích lên, Simon nhìn chằm chằm vào nòng súng.
- Cút!
Simon bước lùi lại.
- Cô ấy đâu?
- Cút ngay!
Simon quay gót bước nhanh ra, đóng sầm cánh cửa lại sau lưng. Anh lưỡng lự không biết nên làm gì tiếp, cảm thấy buồn rầu và thất vọng. Cho đến bây giờ anh mới hiểu ra anh nhớ mong Anna biết chừng nào. Anh quyết định đánh thức một gia nhân nào đó dậy để hỏi thăm nhưng gõ cửa mãi mà chẳng thấy air a cả. Cuối cùng, anh từ bỏ ý định đó và leo lên xe ra về.
Về tới Modderfontein thì nỗi bực của Simon lên tới đỉnh điểm vì anh phải treo lên trèo xuống tới năm lần để mở đóng cổng. Cơn mưa mà anh chẳng mong đợi giờ đã trở nên nặng hạt hơn, rơi xuống ào ào như trút từ một bể chứa nước khổng lồ ở trên cao làm thành một màn mưa dày đặc, nện xuống đất không hề thương tiếc làm trôi hết lớp đất màu phía trên và vùi dập những chồi non mới nhú. “Đúng là trời hành mình!” – Anh hét to vào bong đêm trống trải. Lẽ ra phải đắp gờ xung quanh những triền đồi này từ lâu rồi nhưng anh không có tiền. Đất đai đang bị xói mòn đi trước mắt anh và chiếc xe của anh cứ bị trượt bánh trên những ổ gà to sụ.
Khi Simon lên tới đỉnh đồi và nhìn xuống ngôi nhà, anh giật mình khi trông thấy những chuồng lợn được cọ rửa sạch sẽ. Lúc đầu, chưa định thần lại được, Simon nghĩ rằng cơn mưa đã làm việc này. Anh phanh xe và chạy tới gần để xem xét kỹ hơn nhưng chẳng thấy có một con lợn nào trong đó, đến cả phân lợn cũng không có nốt. Chẳng có nhẽ Jan đã bỏ mặt trang trại, ăn trộm lơn mang đi rồi hay sao? Hay là kẻ trộm đã tới đây? Nhưng sao phân lợn cũng biến đi đâu mất? Bụng anh đau quặn khi nghĩ tới lũ bò. Anh lao nhanh xuống dưới chân đồi và ngó vào chuồng bò.
Lạy chúa! Chuồng bò sạch như lau như ly, cỏ khô đầy ắp. Những con bò nằm yên một chỗ, đang tóp tép nhai lại trong mồm. Thật kinh ngạc nếu Jan làm điều này, nhất là khi anh đi vắng. Anh lại gần ngôi nhà, sửng sốt trông thấy cửa bếp cài then kín mít. Anh giơ chân lên định đạp vào cánh cửa nhưng lại trông thấy cửa sổ có treo rèm. Cũng lúc ấy anh nghe thấy tiếng Wagter sủa ăng ẳng. Đột nhiên anh hiểu ra rằng Anna đang hiện diện ở đây. Điều này khiến anh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-28 16:58:06kimbao13>
Trang 64 - 65
choáng váng.
- Anna! Anna! – Anh gọi to và chạy tới bên cửa sổ phòng ngủ.
Một que diêm lóe lên, rồi một ngọn nến leo tắt lắt hắt ánh sáng qua rèm cửa.
Anna đang rất cảnh giác. Hình như là Jan gọi cô: có điều gì đó xảy ra chẳng? Rồi cô chợt nhớ ra Simon và một buổi tối đáng buồn. Cô kéo tung tấm rèm cửa sổ ra. Đúng là Simon rồi, nhưng sao trông anh lạ quá. Vầng hào quang rực rỡ ở mái tóc đỏ bao quanh đầu đã biến đi đâu? Giờ đây, mái tóc của Simon ướt rượt dính ép xuống đầu. Lần đâu tiên Anna trông thấy vẻ hung ác trong con người anh. Khuôn mặt hoang dại, mái dầu phẳng lỳ. Ở anh toát lên vẻ thô thiển lỗ mãng mà lúc trước cô không thấy.
Simon nhìn cô cười nhăn nhở. Cô mở hẳn cửa sổ ra.
- Ôi, Simon. – Cô thốt lên.
Một cơn gió lùa vào thổi tắt ngọn nến. Anna vội vàng đóng cửa sổ lại và dò dẫm lần tìm bao diêm trong khi hang ngàn ý nghĩ lộn xộn cứ dấy lên trong tâm trí cô. Người đàn ông này là ai vậy? Cô hầu như không biết anh ta! Niềm đam mê điên rồ nào đã đưa cô tới căn nhà xa lạ này nhỉ? Xỏ vội tắm áo choàng vào người, cô hấp tấp chạy tới mở cửa. Simon bước vào trong nhà, lắc người như một con chó khiến những giọt nước đọng trên người anh bắn tung tóe vào mặt Anna. Cô kêu thét lên: “Ôi, lạnh quá!” và rồi hai người đứng im, nhìn chòng chọc vào nhau bối rối.
- Anh vừa từ trang trại Fontainebleu về. – Simon nói, cái tên đó khiến Anna co rúm người lại. Nghe nó xa lạ như một thế giới khác vậy.
- Mẹ em bảo sao? – Cô lắp bắp.
- Anh không gặp bà, còn cha em thì suýt bắn chết anh. – Simon bước tới và nắm chặt lấy hai vai Anna.
Cảm giác kỳ diệu lại quay trở lại khiến Anna không thể cưởng nổi. Cô nép sát vào người anh, ngửi thấy mùi quen thuộc và cảm nhận được hơi ấm từ cơ thể anh, cảm nhận được cánh tay chắc khỏe của anh đang ôm ghì cô vào lòng.
- Tại sao em lại đến đây? – Simon hỏi.
Anna cảm thấy bối rối. Chẳng lẽ anh không hiểu hay sao?
- Em còn biết đi đâu nữa? – Cô bật khóc.
Simon siết chặt người Anna, đặt lên trán cô một nụ hôn âu yếm.
- Anna tội nghiệp! Tội nghiệp em quá! Họ đuổi em đi à?
- Không. – Anna thận trọng đáp. Cô biết giải thích ra sao được nhỉ? – Em buộc phải lựa chọn, anh hiểu không?
Simon thở dài, lột đám quần áo ướt ra khỏi người, chỉ dừng lại một phút để liếc mắt quanh căn bếp.
- Trông được đấy. – Anh nhận xét.
Anna cảm thấy thất vọng, cô mong đợi nhiều hơn thế.
- Em đã láng xi măng lại sàn nhà.
- Hừm, anh thấy rồi. Có nước nóng không em?
Cô chỉ tay vào lò.
- Xà nhà cũng được đánh bóng lại.
- Tuyệt lắm.
- Anh không thích à?
- Anh sẽ xem kỹ vào sáng mai.
Anna hụt hẫng, cô thấy bực bội.
- Toàn bộ căn nhà này đã được em sửa sang lại rồi.
- Chắc phải tốn bộn tiền đấy nhỉ? – Anh hỏi. – Em lấy đâu ra tiền vậy?
- Cha cho em ít tiền. – Cô cảm thấy như mình có lỗi.
- Bao nhiêu?
- Hai trăm bảng.
Simon khịt mũi.
- Có thế thôi à? Và em đã tiêu gần hết rồi chứ gì?
Cô gật đầu.
- Chúng mình không thể sống trông một cái chuồng lợn.
Một sự im lặng bao trùm khá lâu khi Simon trần truồng đứng giữa nhà, đưa mắt nhìn lên những thanh xà bóng nhoáng lấp lánh trong ánh nến. Rồi anh nhún vai, xách một xô nước nóng đổ ào vào bồn tắm khiến nước bắn tung tóe cả ra sàn. Anh cao lớn nên choáng gần hết căn bếp. Bờ vai vạm vỡ của anh chập chờn trong ánh nến. Cô cảm thấy bất an nhưng không hiểu tại sao. Anh ấy rất dịu dàng mà, cô tự nhủ.
- Này Anna, - anh nói trong khi cúi gập người trên bồn tắm
0
Trang 66 - 67
- Cuộc sống ở đây rất cực nhọc. Anh hy vọng là em hiểu em đang làm gì. Không có tiền, chỉ có lúa mì và cừu thôi, và mình phải luôn cầu mong cho mưa thuận gió hòa.
- Nhẽ ra anh nên nghĩ tới điều đó trước khi anh hỏi cưới em mới phải. – Cô cay đắng trả lời và dằn dỗi quay trở lại giường.
Một lúc lâu cô nằm nghe những tiếng động trong bếp. Simon đang hì hục làm nguội con gà và cắt bánh mì. Cuối cùng, cô nghe tiếng bước chân đi dọc hành lang.
- Chúa ơi, thật là dễ chịu quá! – Anh nói và cúi xuống phía trên Anna nhưng cô nằm im giả vờ ngủ. – Chẳng cần phải giận dỗi như vậy, anh chỉ nói với em sự thật thôi. Đúng là một cuộc sống cực khổ đang đợi em phía trước, nhưng mẹ anh đã sống được nên anh nghĩ em cũng sẽ sống được.
Nằm xuống bên Anna, anh nhẹ nhàng đưa tay vuốt má cô. Khuôn mặt của anh dịu hẳn, ngập tràn yêu thương.
- Anh có thật lòng yêu em không? – Cô không thể ngăn mìnhh ỏi câu hỏi cũ rich đó.
- Tất nhiên là có chứ. Anh chẳng thể nghĩ được gì khác ngoài em kể từ khi chúng mình quen nhau.
Ôm cô sát vào lòng, Simon nhẹ nhàng hôn cô vào cổ và má rồi lướt môi đi khắp làn da mịn màng của cô. Rồi anh kéo mạnh làn áo ngủ của cô ra, nhưng Anna giữ chặt lấy gấu áo, quấn nó xung quanh đầu gối.
- Đừng mà, Simon, em ngượng lắm! – Cô không biết nên khóc hay nên cười.
- Ngượng gì cơ chứ. – Anh tóm lấy cô bẻ quặt ra sau, tay kia kéo váy ngủ của cô qua đầu. Ngực cô đã lớn hơn lúc trước khá nhiều, trắng ngần trong ánh nến. Anh tham làm vùi đầu vào đó.
Anna thở dài. Dù sao, giờ cô đã là của anh dù muốn hay không, và anh cũng là của cô. Anh sẽ đòi hỏi cô thường xuyên hơn. Cô đưa tay ra ôm chặt lấy anh, kéo anh xuống, hôn vào cổ, vào cằm và vai trong khi anh dịu dàng ân ái với cô.
- Em rất yêu anh. – Cuối cùng cô nói. – Em sẽ luôn yêu anh. Anh có mong đứa bé ra đời không? Chúng mình sẽ là một gia đình hạnh phúc phải không anh?
Cô chờ câu trả lời của anh nhưng không thấy anh nói thêm câu nào để trấn an cô cả. Simon đã thiếp vào giấc ngủ ngon lành.
7
Anna thức dậy vào buổi sáng hôm sau vì một tia sáng gay gắt chiếu qua rèm cửa sổ. Cô thu mình rúc sâu vào dưới chăn và áp sát người vào lưng Simon đang tỏa hơi nóng như một cái lò sưởi nhưng anh cứ cựa quậy liên hồi và lẩm bẩm: “Trời đã sáng rồi hay sao? Dậy pha cà phê đi thôi!” – Rồi anh vội nói thêm: “Được chứ hả em yêu?” và thò tay to lớn vỗ nhẹ vào mông cô.
Đây chính là sự khác biệt mà của cải vật chất tạo ra, cô nghĩ. Người giàu thì đặt vợ mình lên bệ để tôn thờ trong khi những người nghèo thì biến các bà vợ của họ thành nô lệ. Cô trườn ra khỏi giường, mặc váy và đi vào bếp.
Cô đã bị muộn. Đám “con cưng” của cô đang làm loạn ở bên ngoài, còn Wagter thì đang gầm gừ đòi ra. Anna chạy ra ngoài sân, thả cho đàn gà mái, ngỗng cái và gà tây ra khỏi bãi đất nào. Hansi, con cừu non của cô, thì lẽo đẽo theo sau cô và kêu lên những tiếng be be tội nghiệp.
Khi Simon nhìn ra ngoài cửa sổ, anh trông thấy một cô gái béo mập, mặt đỏ gay gắt, quấn quanh người một cái váy bằng vải tuýt cũ mèm, đi đi lại lại trên mảnh sân rải đá cuội với một bầy nào ngỗng, nào gà, nào cừu và cả một con chó bám lẵng bẵng đằng sau. Anh bật ra một câu chửi thề, cô gắng chế ngự nỗi bực dọc đang ngày càng lớn dần. Làm sao mà anh có thể chiếm được con chim non xinh đẹp nhất vùng của một gia đình giàu có nhất vùng để rồi ba tuần sau đó khi trở về nhà anh lại gặp một mụ đàn bà thô kệch và bất tài hơn bất cứ một thôn nữ nào mà anh quơ tay là có thể nắm được hang nắm, lại còn được thêm một ít đất đi theo làm của hồi môn. Anh xỏ chân vào giày và loạng choạng bước ra sân, tay vẫn dụi mắt vì ngái ngủ.
- Em chưa nuôi gà tay bao giờ à? – Anh cáu kỉnh hỏi.
- Chưa, nhưng sao cơ? – Cô ngạc nhiên ngẩng lên và bắt gặp một bộ mặt cau có.
- Bởi vì bất kỳ một thằng ngu nào cũng có thể nhận ra là em không biết nuôi gà tây. – Anh đáp. – Chúng chỉ là những con chim hoang mà thôi: chúng đậu trên cành cây để ngủ, đi lang thang ngoài
0
trang 68 - 69
đồng để kiếm sâu bọ và làm tổ ở những chỗ bí mật. Anh đánh cuộc là em đã làm chuồng cho chúng phải không?
Anh cười khẩy và chắp tay sau lưng đi quanh một vòng để ngó nghiêng. Thỉnh thoảng, Anna lại nghe thấy một tiếng cười cụt lủn. Anh quay lại, vẫn cười nhăn nhở trong khi Anna mặt trắng bệch đi vì tức giận.
- Vậy làm sao anh có thể nhặt trứng của chúng? – Cô hỏi.
- Người đời ơi, đây chính là một vấn đề lớn. – Anh chậm rãi đáp. – Đa số phụ nữ vùng này đều nuôi một cô gái nhỏ chỉ để chạy theo lũ gà và theo dõi chúng thôi. Thế mẹ em cũng không nuôi gà tây à?
- Không. – Anna bối rối. – Mẹ em chẳng nuôi gà bao giờ.
- Mẹ anh cũng đã từng nuôi một con bé con mà bà nhặt được khi người ta bỏ rơi nó ngoài ruộng. Suốt ngày nó chỉ chạy theo lũ gà để nhặt trứng mà thôi. – Anh dừng lời khi nghĩ tới Sophie rồi bước nhanh vào nhà.
Anna giận dữ đi theo sau anh.
- Có thể là em không biết cách nuôi gà nhưng chắc chắn là em chăm sóc lũ cừu tốt hơn anh. Em đã tìm thấy hàng đống xác cừu nằm chết ngoài kia kìa và còn cứu đuwocj một con suýt nữa thì bị linh miêu ăn tươi nuốt sống.
- Nhưng như thế còn tốt hơn để cho chúng ỉa đầy sân – Simon cự lại.
Chắn chắn là họ không thể cãi nhau ngay trong bữa sáng đầu tiên này, Anna buồn rầu nghĩ vậy nên cố hết sức để tự kiềm chế.
- Em đã lừa cừu vào trong bãi cỏ linh lăng rồi. – Cô nhẹ nhàng nói. – Em sẽ thả chúng ra khi nào chúng khỏe hơn.
Simon quay phắt lại nhìn chòng chọc vào cô bằng cặp mắt khắc nghiệt.
- Tại sao em không lo chăm nom nhà cửa bếp núc như những người vợ khác mà lại cứ đi nhúng mũi vào việc đàn ông vậy?
- Việc của đàn ông à? – Anna nổi cáu. – Lạy Chúa tôi, khi em tới đây, vú của những con bò suýt nữa vỡ tung ra vì căng sữa, lợn thì bị bỏ đói đến mấy ngày trời, còn Jan thì nằm say như chết trong chuồng bò ấy… - Cô hét to và bặm môi lại. – Nào nói thẳng ra nhé – Cô tiếp tục. – Em không thể nào chịu nổi một trang trại được quản lý tồi như vậy. Em đã trông nom nó khi anh ở ngoài biển, giờ anh đã về thì tự đi mà trông nom lấy nhé. – Rồi cô nói thêm. – Nếu anh không thích sự sắp xếp này thì cứ nói, chúng ta chia tay nhau trước khi quá muộn.
Simon ngửa cổ lên cười to.
- Em chẳng có thể gì mà ra điều kiện như vậy cả. – Anh nói. – Trông em kìa, bụng phình ra như một quả lựu chin nấu ấy. Thế em định đi đâu?
- Em sẽ cho đứa bé đi làm con nuôi và bắt đầu lại từ đầu. – Giọng Anna lạnh tanh.
Simon nhìn cô chăm chú. Dường như anh đã đánh giá cô quá thấp thì phải. Cô có rất nhiều nét giống với người cha già cổ hủ của cô, giống cái thói bướng bỉnh ngoan cố và tâm tính ác hiểm của ông ta. Nhưng anh không thể không ngưỡng mộ ý chí gan góc của cô được. Được rồi, một ngày nào đó anh sẽ bẻ gẫy được nanh vuốt sắc nhọn của cô. Lúc đó chắc chắn cha cô sẽ mủi lòng và sẽ cho cô một vài mẫu ruộng.
- Thôi được rồi, vậy em cứ làm những gì em thích. – Anna nói. – Nhưng nói đúng ra đã làm việc đến gãy cả cổ cũng chỉ vì trang trại này thôi. Còn cỏ linh lăng là để dành cho lũ bò sữa.
- Thế thì trồng thêm chứ có sao. – Anna bình tĩnh trở lại.
Anna xúc một chậu ngô vãi ra khoảng đất phía sau sân. Khi những con ngỗng cái và gà tây đã mổ xong đến hạt ngô cuối cùng thì lũ ngỗng lạch bạch đi ra bể nước và lũ gà tây thì sắp hàng một nối đuôi nhau đi lên đồi. Anna vội vã trở vào trong bếp chuẩn bị bữa sáng với trứng mà lũ gà mái của cô đã đẻ, bánh mì cắt lát dày do cô tự nướng lấy và bơ mặn mà già Jan làm. Cô trải khăn lên mặt chiếc bàn gỗ, họ ngồi xuống ghế trong phòng khách. Simon không thể nhận ra rằng Anna rất thạo việc nhà. Xét cho cùng thì vợ vẫn hơn. Anh đột ngột đưa tay kéo cô sát vào mình.
- Simon, em còn nhiều việc phải làm lắm. – Anna phản đối.
- Xem kìa, trời đang mưa cơ mà. – Anh nói và kéo cô vào phòng ngủ. – Chả có ai lại đi làm việc ngoài đồng lúc trời đang mưa cả.
*
* *

Tuần trăng mật của Anna kéo dài được ba ngày. Ngoài việc
0
Trang 338 - 339
 
ttrên một ngọn sóng dâng cao họ trông thấy Perry nổi lên như một xác chết. - Kéo anh ta vào đi! - Otto la lên, trong đầu anh nghĩ: Tại sao cái thằng cha trời đánh này lại ngoi lên kiểu ấy chứ? Hắn có thể bị gãy cổ như chơi nếu ngoi lên đúng vào dưới gầm thuyền.
   Ba người bọn họ kéo mạnh đoạn dây thừng cho tới khi Perry nổi lên như một con cá voi béo húp bên cạnh mạn thuyền. Con thuyền suýt lật khi họ đỡ anh ta vào. Otto cố hết sức bình sinh để điều khiển con thuyền. Trong khoảnh khắc con thuyền lún sâu vào khoảng lõm giữa hai đợt sóng, họ không còn nhìn thấy ngọn hải đăng đâu nữa. Xung quanh họ chỉ còn là những tảng nước lấp lánh trông như những ngọn núi bằng thủy tinh xanh biếc.
   - Chẳng còn làm gì được nữa rồi. - Người đặt đường dây nói.
Anh ta đang lóng ngóng với tấm kính trước của chiếc mũ lặn trên đầu Perry.
   - Nhanh lên! Quỷ tha ma bắt anh đi! - Otto la lên. - Bơm tiếp đi! - Anh hét lên với hai người Xhosa lúc này đã bỏ mặc chiếc bơm để lao ra tát nước. - Anh dẫn đường đi, - Otto bảo người đặt đường dây. - Tấp thuyền vào vịnh Ba Mỏ Neo! Chúng ta không kịp về bến đâu.
   Một giây sau Otto nới lỏng được tấm kính. Perry đã gần như bất tỉnh. Otto rút chiếc mũ sắt ra khỏi đầu Perry. Lần tay vào túi đựng đồ và rút ra một chai rượu mạnh, anh đổ một chút vào giữa cặp môi tím tái.
   Perry ngộp thở, mở mắt ra và nói:
   - Đừng lo cho tôi. Tôi ổn rồi. Anh có nghĩ chúng ta về bờ kịp hay không?
   - Chắc chắn là về kịp rồi. Chúng ta đang tấp thuyền vào trong vịnh. Chuyện gì xảy ra với anh vậy? Anh ở dưới ấy lâu quá.
   - Tôi bị nước cuốn đi.
   - Lẽ ra anh không nên ngoi lên theo kiểu như thế Perry ạ. Tôi đã được chứng kiến nhiều thợ lặn bị gãy cổ vì ngoi lên ngay dưới đáy thuyền.
   - Chẳng còn cách nào khác anh bạn ạ. - Perry nhăn mặt lại khi một đợt sóng nhô lên bắn nước tung tóe vào người họ. - Otto ơi! Hãy giúp tôi thoát khỏi cái nơi chó chết này đi! Nếu thuyền bị chìm thì tôi chết mất. Cứ mỗi lần tôi định tìm đường lên thuyền là tôi lại bị nước cuốn đi, có một lần dòng xoáy nước đã cuốn tôi đi xa tới ba trăm dặm ấy. Ở dưới kia biển động ghê quá. - Anh nói tiếp khi Otto kéo đôi ủng nặng trịch ra khỏi chân anh và bắt đầu cởi tới bộ đồ lặn dày cộp. - Như một vụ tự sát vậy. Chừng nào mà tôi còn sống thì tôi sẽ không bao giờ xuống dưới ấy nữa... - Anh ngừng lời khi con thuyền va mạnh vào một con sóng và chao nghiêng đi.
   - Quay thuyền lại! - Otto lao tới bánh lái và hướng mũi tàu về phía bờ khi một đợt sóng khác ụp nhào xuống đầu họ.
   - Hình như có dòng xoáy ngầm ở dưới kia đấy, - Perry la lên, - chỉ cách chúng ta có một tẹo thôi. Lúc đang ở dưới biển, tôi chỉ cầu mong sao cho mình không bị va phải những tảng đá chết tiệt ấy đấy. Lẽ ra các anh nên kéo tôi lên sớm hơn mới phải.
   - Anh không ra hiệu.
   - Tất nhiên là có rồi. Liên hồi ấy chứ. Các anh không nhận ra vì sóng ngầm đấy mà. Lạy Chúa! Tôi đã nghĩ là mình chết đến nơi rồi. - Đột nhiên anh nghiêng người qua một bên và nôn thốc nôn tháo.
   Một trong hai người Xhosa đang cố la hét để át đi tiếng ầm ầm của gió: '' Sai đường tồi, ông ơi, sai đường rồi. ''
   - Anh có biết những tảng đá nằm ở đâu không? - Otto hỏi to.
   Hẽm núi dẫn vào trong vịnh đang ở đâu đó bên phải mạn thuyền, nhưng những tảng đá đã bị che khuất sau những tầng nước. Anh chàng Xhosa đưa tay chỉ, nhưng đúng lúc đó một đợt sóng lớn khủng khiếp ụp nhào xuống rồi nhấc bổng họ lên. Trong một phút, quá hoảng sợ, tất cả bọn họ đều cảm thấy như mình bị tóm lên trời bởi một cánh tay khổng lồ. Cơn sóng rút đi, con thuyền rơi bụp xuống một dải cát, ngay bên dưới một gờ bê tông cao ngăn cách những ngôi nhà trên bờ với biển.
   Họ ngồi im sững sờ đến vài phút. Rồi Otto đứng dậy.
   - Kỳ lạ! - Người đặt đường dây lẩm bẩm. - Kỳ lạ quá nhỉ!
   - Chao ôi, trời giúp chúng ta rồi! - Otto reo lên, đưa tay gạt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên mặt. - Về được bờ rồi, yên ổn rồi. Có ai làm sao không hả?
   - Không, ông ạ.
   - Anh ổn chứ, Perry?
   Perry đang phải chống chọi với cơn đau nhức ở hai bàn tay



Trang 340 - 341
 
bởi vì khi mà sự tê cứng mất đi thì anh mới nhận ra những cơn đau khủng khiếp. Các ngón tay của anh phồng rộp khi anh cố bám vào sợi dây thừng ở dưới biển, lớp da ở lòng bàn tay trầy đi hết và có mấy đốt xương bị gãy.
   - Đưa cho anh ta thêm một ít rượu đi. - Otto nói. Khắp người Perry đầy những vết tím tái.
   - Chỉ là những vệt thâm tím thôi mà, chẳng có gì bị gãy ngoại trừ mấy đốt ngón tay. - Otto bảo Perry nhưng anh đang vã mồ hôi, kêu lên tiếng kêu thảm thiết như một con thú bị dồn vào bước đườn cùng và sau đó anh bắt đầu rên rỉ.
   - Chúng tôi sẽ đưa anh tới bác sĩ. - Otto bảo anh.
   - Tôi cóc cần bác sĩ! Tôi chỉ cần thêm một chút cái thứ rượu chết tiệt kia thôi! Này lũ con hoang, lấy rượu ra nhanh lên trước khi tao kịp đá văng đầu của chúng mày đi!
   Vừa lớn tiếng chửi rủa, Perry vừa nhăn nhó chịu đựng những cơn đau đang dồn dập tấn công.
   - Có lẽ tôi quay trở lại nước Anh thôi. - Đêm hôm đó Perry nói với Simon và Otto trong một quán rượu nhỏ nơi họ tới để ăn mừng sự trở về an toàn từ cơn bão biển gớm ghiếc. - Các anh cứ việc ở đây mà hưởng ánh mặt trời và những bữa rượu rẻ tiền. Còn tôi, tôi sẽ trở về nhà và sống như ngày xưa thôi.
   Suốt mấy ngày liền họ cố gắng thuyết phục Perry trong khi đi tìm người thay thế, nhưng Perry vẫn rất cương quyết. Anh rời đi trên chuyến tàu biển đầu tiên cập bến, và họ chẳng tìm được một thợ lặn lành nghề nào trong khắp cả một vùng rộng lớn của Nam Phi.
                                        *
                               
                                   *        *
 
   Anna đang ở trong bãi cỏ giúp lũ trẻ luyện ngựa khi Vera Mankowitz tới để đón Paul về Constantia. Anna không mong chờ cô ta vì Kurt đã tránh đề cập tới vấn đề này. Anh để mặc cho Vera tự xoay xở theo cách tốt nhất mà cô ta có thể.
   Anna quan sát người đàn bà trẻ có vẻ rất đoan trang đang nghiêng người qua dãy hàng rào và vẫy tay với bọn họ. Một kẻ kình địch khác chăng? Anna nghĩ bụng, nhưng người này cô có thể loại bỏ một cách dễ dàng. Rõ là cô ta không thuộc tầng lớp của cô rồi. Cô yêu Paul như yêu chính hai đứa con đẻ của mình vậy, cô hiểu rõ khát vọng mãnh liệt của nó. Nó cũng giống cô, cũng là một kẻ sống sót. Kurt thật khắc nghiệt khi bắt nó đi khỏi nơi này.
   - Cô có muốn cưỡi ngựa không? - Cô hỏi Vera một cách đầy dụng ý. Trong giây lát cô hình dung ra tảng ''mỡ lợn'' kia phải cố đến thế nào để giữ thăng bằng trên lưng ngựa. Cô ta sẽ rơi xuống đất và tan chảy trong ánh mặt trời.
   - Tôi chưa bao giờ thử cả, thật không may. - Cô ta nói với vào.
   - Thật à? Cô không biết cưỡi ngựa à? Tiếc quá nhỉ! Paul thích cưỡi ngựa lắm đấy.
   - Có lẽ cậu ấy sẽ dạy tôi. - Cô gái vừa nói vừa mỉm cười, và trước sự khó chịu của Anna, Paul cũng cười đáp lại.
   - Nhưng cũng chẳng được. - Anna tiếp tục. - Tất cả khu chuồng trại của Constantia đều trống trơn, làm gì có con ngựa nào.
   - Paul có thể giữ con ngựa con của mình, cả chó hay bất cứ thứ gì mà cậu ấy thích. - Đôi mắt nây của Vera rạng rỡ sau cặp kính gọng thép dày cộp. - Có phải vậy không Paul? - Cô ta sôi nổi nói to nhưng Paul không trả lời.
   - Vấn đề là, - giọng của Anna nghe có vẻ khắc nghiệt hơn, - phải có một ai đó biết cách chăm sóc chúng chứ.
   - Chà, nếu như Paul không thể chăm sóc các con vật của mình thì cậu ấy không xứng đáng được nuôi chúng.
   - Tất nhiên là cháu biết cách mà.
   - Cậu có dạy tôi không hả Paul? Tôi chưa bao giờ nuôi ngựa hoặc nuôi chó cả.
   Paul không trả lời. Cậu đưa cặp mắt tò mò nhìn Vera. Anna đã báo trước cho cậu biết về việc Kurt thuê người để trông nom cậu và cậu đã hy vọng một ai đó già dăn hơn, giống như một cô giáo hơn là người đàn bà phúng phính đầy mụn nhọt với cặp kính dày cộp này. Ở cô ta có một vẻ gì đó như rất ham sách vở. Trong mắt cô ta sáng bừng một nhiệt tình ham hiểu biết. So với cậu, cô ta chỉ là một đứa trẻ, cậu kết luận như vậy. Paul cảm thấy mình vô cùng già dặn, già
 
0
Trang 342 - 343
 
dặn hơn hai đứa trẻ ''sinh đôi'', già dặn hơn bất cứ cậu bé nào trong trường. Cậu hiểu rõ những trò chơi của người lớn nhưng lại không muốn tham gia vào bất kỳ trò nào cả. Cậu không hiểu tại sao, nhưng bất cứ ai muốn làm thân với cậu đều phải rút lui trong thất bại. Nếu như một người đàn bà cố tỏ ra yêu thương cậu, hay một đứa trẻ muốn được kết bạn với cậu thì họ sẽ tỏ ra hết sức ủy mị, thậm chí còn đáng thương hại nữa là đằng khác. Nhưng họ càng cố đi xa hơn thì họ lại càng trở nên gớm guốc hơn, như trường hợp của Madelein. Chỉ có mình cô Anna là thành công bởi vì cô ấy rất cứng rắn và nghiêm khắc, chỉ thỉnh thoảng mới tỏ ra niềm nở. Cậu chưa bao giờ nghĩ ra điều này, cậu không hiểu được rằng chiến tranh đã khiến cho cậu sợ hãi với những trò mạo hiểm mới. Mọi chuyện đều đã được chôn sâu trong tiềm thức của cậu rồi. Tất cả những gì cậu biết bây giờ là tình bạn thật đáng sợ và cũng hết sức nhạt nhẽo vô vị. Vera là một người đàn bà đơn giản với một bộ óc chứa đầy kiến thức, và cô ta đang muốn truyền đạt hết cho cậu. Cậu có thể sẽ trở thành một con chuột trong phòng thí nghiệm, nhưng cô ta không tỏ ra nguy hiểm.
   - Có thể. - Một lúc sau Paul mới đáp, rồi cậu quay đi, cho ngựa chạy nước kiệu sang đầu kia bãi cỏ nơi hai đứa trẻ đang chờ.
   Anna quay sang Vera:
   - Mời cô vào nhà uống một chút trà. - cô nói nhanh.
   Vera mỉm cười.
   - Cám ơn, nhưng tôi muốn được quan sát Paul trước đã. Tôi sẽ vào sau.
   Anna chậm rãi đi trở vào nhà, trong lòng rối bời. Kurt đã thắng, cô buồn rầu nghĩ. Nhưng liệu có bao giờ anh ấy hiểu được rằng Paul đâu cần tới cánh bánh mì kẹp nho khô kia chứ.
 
*
 
                                 *              *
 
   Một buổi tối Chủ nhật, như thường lệ, Otto và Simon đang ngồi trong văn phòng của mình đặt kế hoạch làm việc cho tuần tới. Vấn đề rắc rồi của họ vẫn là lo tiền để trả cho công nhân và mua số sơn mà họ cần.
   - Bây giờ mà bỏ cuộc thì cũng không được. - Đột nhiên Otto nói. - Chúng ta phải với cho bằng được số ni-ken đó. Cậu thử nghĩ mà xem, số ni-ken ấy nằm im dưới đáy biển, chỉ  chờ được vớt lên. Khỉ thật! Simon, đó là ni-ken của chúng ta mà. Ôi Chúa ơi, giá mà Perry...
   - Đúng vậy, nếu được thế thì còn gì bằng.
   Otto nhìn trừng trừng vào Simon. - Cậu nói dối.
   - Thôi câm đi, Otto! Cậu đừng có mà phỉnh phờ mình nữa đi. Mình đã trông thấy cái bản mặt của các cậu lúc các cậu đạt được vào bờ rồi. - Simon đổ vào miệng một chút bia rồi nói tiếp. - Cậu nói đúng, đó là ni-ken của chúng ta và chúng ta đang cần tiền, nhưng chính mình sẽ là người lặn xuống. Mình rất giỏi môn đó. Mình đã lặn từ khi còn là một thằng nhóc cơ. Mẹ mình thường sai mình lặn xuống biển để mò tôm cho bữa tối và mình không được phép về nhà cho đến khi mò được. Cậu bạn ơi, nước lúc nào cũng lạnh buốt. - Anh uống một ngụm đầy bia từ lon. - Phải thừa nhận rằng mình không biết nhiều về các trang thiết bị phục vụ cho việc lặn nhưng mình sẽ học.
   Otto thở dài và lắc đầu:
   - Thật chó má, - anh nói. - Mình lại chẳng biết tí gì về sửa chữa tàu thuyền cả. Cậu lại là một thiên tài về máy móc động cơ. Chúng ta sẽ sạt nghiệp mất thôi nếu như cậu để mình điều hành đám thợ da đen ấy. - Anh nghĩ một thôi một hồi rồi lại lắc đầu. - Không, không thể như vậy được. Mình sẽ là người lặn xuống dưới ấy cho đến khi chúng ta tìm được người thay thế Perry .
   Simon im lặng. Anh chưa từng trải qua những gì mà Otto đã phải chịu đựng dưới biển nhưng cũng được nghe kể nhiều về cảm giác ấy rồi. Họ đang hoạt động rất có quy củ trong lĩnh vực sơn và sửa chữa tàu thuyền, và nếu như không vì cần tiền để đầu tư mua sắm trang thiết bị thì họ đâu đến nỗi khốn khổ thế này.
   - Thôi được rồi, nhưng cậu phải hứa với mình là sẽ tin tưởng vào khả năng dự báo thời tiết của mình cơ. - Anh nói. - Mình biết rõ về biển và quy luật hoạt động của thủy triều ở vùng biển này. - Suy cho cùng, anh nghĩ, thì Otto cũng không thể gặp nguy hiểm ở một
 
Trang 344 - 345
 
chỗ nước cạn như vậy.
 
*
 
                                  *            *
 
   Edwina dè dặt để chồng hóa đơn lên mặt bàn. Otto vô cùng xấu hổ khi phải trông thấy cô buồn bã tới dường kia. Từ nhiều tháng nay gia đình anh đã phải từ bỏ lối sống sung túc; thậm chí tới mức những thứ tối cần thiết nhiều khi cũng vượt quá khả năng tài chính của họ. Anh biết rằng cô chỉ đưa ra những tờ hóa đơn khi mà cô không còn cách nào khác; thường thì cô cất chúng rất kỹ. Anh đứng dậy và đặt một tay lên vai cô.
   - Đừng lo, em yêu, mọi việc rồi sẽ ổn cả thôi. Trong vòng hai năm nữa chúng ta sẽ được đền bù lại quãng thời gian phải chi tiêu tằn tiện này.
   Cô mỉm cười, trông xanh xao và ủ rũ. Tóc tai cô rối bời còn quần áo thì xơ xác. Cô cũng đã cố gắng tìm cho ra một người giữ trẻ có thể trông nom được hai bé gái để cô rảnh rang ra ngoài kiếm việc làm nhưng chẳng có ai là đạt yêu cậu của cô cả. Những phụ nữ khác, một khi muốn đi làm thì đều phải bỏ con lại cho những vú em da đen nhưng Edwina lại không muốn thế. Rosemary mới được mười tám tháng và Margaret thì cũng chỉ hơn ba tuổi. Cô không thể nghĩ tới việc giao chúng cho một bàn tay thiếu kinh nghiệm chăm sóc.
   - Bọn anh sẽ trở lại với ni-ken vào sáng ngày mai nếu như thời tiết tốt. Mọi việc rồi sẽ ổn cả thôi mà. - Anh chờ đợi những lời hỏi han nhưng Edwina chẳng buồn để ý đến việc ngụp lặn ấy.
   Sự việc xấu hơn là mình tưởng. Otto nghĩ bụng khi anh nằm trên giường đêm hôm đó. Nhưng có lẽ vài hôm nữa thì mình sẽ quen thôi mà.
   Anh đã lầm. Mọi việc dường như còn tồi tệ hơn anh hình dung rất nhiều. Cảm giác bị cô lập khi anh mặc vào người bộ đồ lặn thật là khủng khiếp, anh sẽ không thể nào gỡ nó ra được khi không có người giúp đỡ. Như là người bị cầm tù vậy! Khi họ chụp chiếc mũ sắt ấy lên đầu anh và chuẩn bị siết ốc vít ở mặt kính thì anh chỉ muốn cất tiếng van xin họ đừng làm như vậy, nhưng lời nói không bật ra được và anh chỉ còn biết đưa cặp mắt buồn rười rượi nhìn về phía chân trời. Anh đứng lên, kéo lê đôi chân nặng trịch trong bộ đồ lặn. Tom ra ý động viên khi chiếc thuyền quay mũi sang bên. Anh muốn nói một điều gì đó nhưng không thể. Giọng nói của anh cứ lùng bùng sau tấm kính mờ đục và mọi liên lạc giữa anh với thế giới bên ngoài bây giờ duy nhất là một sợi dây thừng. Áp lực của nước làm tai anh ù đi và đau nhức. Anh dừng lại một chút để chỉnh van, rồi bằng một nỗ lực vô cùng to lớn anh rời tay khỏi chiếc thang, nhìn lên mặt nước lúc này tự như trần nhà màu trắng sủi bọt đang lùi xa dần. Anh chạm chân xuống đáy biển, cúi gập người ra phía trước và chạm tay xuống đất. Lớp trầm tích dâng lên quanh anh thành một đám mây dày đặc rồi lại từ từ lắng xuống. Tiếng không khí rít bên tai anh và một mùi hôi nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Lạy Chúa! Làm sao mà Perry lại có thể chịu đựng được mà không hề ca thán nhỉ? Lần lặn sau anh sẽ bắt lũ mọi rợ chết tiệt trên kia phải tắm trước khi chúng chạm tay vào máy bơm mới được. Không khí mà bọn chúng bơm xuống cho anh thở nồng nặc mùi mồ hôi lưu cữu. Hai tay anh bắt đầu lạnh buốt vì những dòng chảy ở vùng Nam Cực này quanh năm giá băng ngay cả trong mùa hè. Chẳng mấy chốc những ngón tay của anh bắt đầu tê cóng.
   Lúc này nỗi sợ hãi lại càng trở nên tồi tệ hơn. Khắp người vã đầy mồ hồi và run bắn, anh trông thấy hàng tấn nước biển chỉ trực đè anh bẹp gí và những mối nguy hiểm thì đang lẩn lút quanh quẩn đâu đây. Anh gần như không cưỡng lại được sự thôi thúc muốn nổi lên trên mặt nước.
   - Lạy Chúa, xin Người hãy cho con thêm sức mạnh để vượt qua thử thách này. - Anh buộc mình phải nghĩ tới Edwina và những đứa con đang trông đợi anh mang tiền trở về. - Không có ni-ken, - anh nói to với chính bản thân mình, giọng anh nghe thật kỳ quặc, the thé và ngân vang, - gia đình mình sẽ chết chìm mất thôi.
   Anh chậm chạp quay người lại, nhìn đường dẫn không khí, một ống cao su dày được gia cố thêm bằng một tấm lưới sắt bao bên ngoài đang dập dờn theo sóng biển. Anh thận trọng để không bị vướng vào đó. Sợi dây thừng quấn chặt lấy cổ tay anh - sợi dây nối anh với cuộc sống! Ba người trên thuyền kia sẽ kéo sợi dây đó để đưa anh lên mặt nước trong nháy mắt. Ý nghĩ đó khiến anh vững lòng hơn. Anh nhìn xuống hai bàn tay mình: trông chúng lúc này



Trang 346 - 347
 
trắng bệch và nhỏ nhoi vô cùng. Từng đàn cá con bơi lội xung quanh những con cá mập. Đã đến lúc phải đi thôi, nhưng hai đầu gối của anh yếu ớt chỉ chực khuỵu xuống. Rồi chợt thấy rằng đó chỉ là do mình quá hoảng sợ, anh lấy lại can đảm, cố gắng nhấc chân lên bước trên mặt đất gồ ghề trong một cuộc tìm kiếm ni-ken chán ngắt và dài đằng đẵng.
   Mấy phút sau anh tìm đc ống ni-ken lớn đầu tiên. Anh kéo mạnh vào sợi dây thừng và chờ đợi. Rồi anh trông thấy đáy của con thuyền, một bóng đen to tướng, từ từ tiến lại làm bọt sủi tung ở phía trên chiếc mũ sắt của anh, thấy rõ cả những mái chèo đang khua nước. Một chiếc giỏ được thả xuống. Otto đổ đầy ni-ken vào đó rồi nhìn nó từ từ được kéo lên trên. Cứ như vậy, anh nhặt từng thỏi ni-ken sáng loáng lên trong nước bỏ vào giỏ. Cuối cùng, đống ni-ken đó cũng hết, anh bắt đầu đi tìm một đống mới. Anh hướng mắt về phía tảng đá lớn nơi anh biết chắc có xác tàu nằm. Ở đó chắc chắn có rất nhiều ni-ken, nhưng không phải hôm nay. Ôi không! Một ngày nào đó khi anh vững tâm hơn và thành thạo hơn với công việc này. Anh ngoặt về phía nam, năm phút sau lại trông thấy một đống ni-ken khá lớn. Con thuyền lại tiến đến, chiếc giỏ lại được thả xuống.
   Ngày trôi qua một cách chậm chạp. Otto cầu mong cho nó chóng hết để được lên trên. Đồng hồ chỉ ba giờ đúng, anh khóa van lại và từ từ ngoi lên mặt nước. Vài giây sau, anh đã trèo được vào thuyền. Tom vội vã tháo tấm kính trước mặt anh ra.
   - Chúa ơi, tôi đã làm được. - Otto nói, hít một hơi thật sâu làn không khí trong lành và mát rượi.
   - Tom này, có lẽ lần sau anh nên chú ý tới những người điều khiển máy bơm hơn. - Anh nói. - Mùi hôi thối khiến tôi suýt chết ngạt đấy. - Anh chửi thề một câu khiến Tom há hốc miệng ra vì kinh ngạc. Trước đây Otto chưa bao giờ chửi bậy cả. - Tôi cần phải được thở không khí trong lành, - anh nói thêm.
   Tom sững sờ nhìn anh.
   - Tôi không bao giờ nghĩ về chuyện ấy cả, - anh nói. - Perry chẳng ca thán bao giờ.
   Lúc này khi đã được an toàn, người Otto bắt đầu run bắn. Hai bàn tay anh tê cóng, thâm tím và nhăn nheo. Sau đó, khi sức sống đã trở lại với chúng thì cũng là lúc những cơn đau bắt đầu dội lên. Cho tới bốn giờ chiều hôm đó thì anh cảm thấy đau buốt tới từng đầu dây thần kinh. Chân tay anh bắt đầu giật mạnh như một con rối, một bên mắt bắt đầu co cứng lại. Simon từ xưởng tàu trở về kêu lên.
   - Trời đất ơi, nhìn cậu kìa! Hãy từ bỏ công việc ấy đi, vì Chúa!
   Anh đưa cho Otto một chai rượu brandy. Otto dốc thẳng vào miệng một ngụm thật lớn. Khi dòng rượu cay nồng chạy xuống tới cổ họng, nó khiến anh cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Anh rót ra một cốc thật đầy.
   Edwina ngạc nhiên khi trông thấy Otto trở về nhà sớm hơn thường lệ. Cô nhận rõ có điều gì đó không ổn.
   - Cái gì vậy hả? Chuyện gì xảy ra thế?
   - Chẳng có gì đâu. - Anh ngắt lời và giận dữ quay về phía cô.
   - Nhưng anh làm sao vậy?
   - Lạy Chúa, cô câm ngay đi cho tôi nhờ, đừng có mà rên rỉ như thế nữa!
   Trước đây anh chưa bao giờ nói với cô bằng giọng như vậy. May sao căn nhà họ ở lại có hai phòng và cô có thể đi sang phòng bên cạnh để đặt hai đứa bé gái lên giường. Cô nán lại đó lâu hơn thường lệ để đọc cho Margaret nghe một vài câu chuyện.
   Khi cô trở lại phòng khách thì Otto đang ngồi uống rượu whisky nguyên chất, và nhìn vào chai cô có thể đoán ra được anh đã uống khá nhiều. Chẳng giống với Otto tẹo nào .
   - Nếu như anh cứ uống rượu với cái bụng trống rỗng thế kia thì anh sẽ bệnh mất thôi. Anh có muốn ăn trứng rán không? Em xin lỗi, nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta có hiện giờ. Hay món ốp-lết nhé?
   - Đừng có xin lỗi nữa đi, - anh gầm gừ. - Khi cô xin lỗi trông cô thật đáng ghét. Tại sao cô không nói thẳng toẹt ra rằng chúng ta chỉ còn mỗi trứng để ăn vì tôi không đưa đủ tiền cho cô hả?
   - Em có ca thán gì đâu! - Cô nhẹ nhàng nói, trong lòng hết sức lo ngại.
   - Vâng, nhưng tôi lại muốn cô ca thán cơ, - anh hét lên. - Như vậy tôi còn thấy dễ chịu hơn đấy.
   Anh rót thêm rượu ra cốc nhưng Edwina đã nhoài người ra lấy cốc rượu khỏi tay anh. Đặt chiếc cốc lên mặt lò sưởi, cô nói:
 
Trang 348 - 349
 - Hãy ăn trước đã, rồi sau đó cứ việc mà uống đến sáng. Nhưng dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa thì rượu cũng chẳng giúp ích được gì đâu.
   - Em nói sai rồi, - anh lẩm bẩm. Rượu cực kỳ có ích vì hàng triệu đầu dây thần kinh đang đau nhức của anh trở nên tê dại đi một cách dễ chịu bởi chất gây ngủ có trong rượu. Trạng thái căng thẳng dần biến mất khỏi tay, chân và lưng anh. Anh biết là anh đã say rồi, nhưng thà say còn hơn phải chịu đựng cảm giác sợ hãi, sợ hãi những ngày tháng đang trải ra trước mắt anh với tám tiếng đồng hồ mỗi ngày dưới đáy biển. Bốn trăm tám mươi phút mà dài như cả trăm năm ấy. Anh cũng biết rằng anh phải tiếp tục làm ít nhất là cho tới khi những thỏi ni-ken được vớt hết lên.
   - Mong sao mình có thể chết được, - anh lẩm bẩm. Thình lình anh ném mạnh chiếc cốc vào bức tường đối diện. Chiếc cốc vỡ tan thành từng mảnh nhỏ, cào rách cả lớp giấy dán tường rồi rơi vung vãi xuống đất. Trước sự ngạc nhiên của anh, Edwina lẳng lặng lấy chổi và bắt đầu quét dọn những mảnh vỡ.
   - Ôi Chúa ơi, - anh lắp bắp. - Anh xin em, anh xin em đừng làm như vậy. - Anh giằng lấy chiếc chổi từ tay cô và bắt đầu nhặt nhạnh những mảnh vỡ, một mảnh cứa sâu vào tay anh bật máu.
   Đột nhiên Edwina không còn giữ được bình tĩnh nữa.
   - Lạy Chúa, Otto, anh say mất rồi! - Cô khóc nức lên. - Thôi cứ để nó ở đấy đi, em sẽ không ca thán gì đâu. Hãy để em làm việc đó, chỉ có điều xin anh hãy nói cho em nghe chuyện gì đã xảy ra.
   Nhưng Otto đã đi vào phòng trong và chẳng bao lâu anh lăn ra ngủ say như chết.
   Đối với Otto cuộc đời này đã biến thành một cơn ác mộng, nhưng anh lại quá xấu hổ khi phải thừa nhận điều đó với người khác, đặc biệt là với Edwina và Simon. Làm sao một người lớn như anh lại có thể sợ nước đến thế? Nhất lại là một cựu thủy thủ. Anh đã từng phải đối mặt với hàng tá tàu ngầm của Đức trong cái bộ đồ lặn đáng sợ ấy. Mặc dù đã hỏi ở rất nhiều công ty trên khắp thế giới nhưng họ vẫn không thể tìm được một thợ lặn lành nghề nào muốn tới làm việc ở Nam Phi. Mà không có ni-ken thì họ sẽ bị phá sản. Anh cần phải lấy lại tinh thần. Ngày mai, anh sẽ tới chỗ xác tàu.
   Sớm hôm sau khi Otto lặn được xuống đáy biển, anh trông thấy những con cá mập bơi sát qua, một con còn huých mạnh vào người làm anh lảo đảo chới với trong nước. Anh quỳ xuống rút dao ra, định bụng nếu con vật có quay trở lại sẽ đâm thẳng vào bụng nó. Nhưng con cá mập chỉ lảng vảng ngoài xa. Hôm nay nước trong một cách khác thường. Otto xúc đầy mấy giỏ ni-ken trước khi dấn bước về phía những mỏm đá cao. Với chiếc thuyền dài đi theo lơ lửng phía trên đầu, Otto thận trọng bước dọc những tảng đá thấp và bắt đầu trèo vào nơi xác tàu đang nằm.
   Chiếc tàu thủy cũ nằm lật nghiêng giữa một đám những tảng đá lởm chởm kéo dài tới tận ngọn hải đăng. Bên dưới nó là tàn tích của những xác tàu còn cũ kỹ hơn nhiều. Có một vết cắt dài và sâu ở phần thân tàu, nhưng ở phía dưới đuôi thì hầu như còn nguyên vẹn. Những chỗ khác đã bị phá nát bởi sức mạnh của những dòng chảy ngầm. Anh rón rén bước vào phía trong.  Ni-ken nằm rải rác nhưng không nhiều lắm, áng chừng chỉ đủ cho vài ngày làm việc thôi. Phần còn lại có lẽ ở trong khoang tàu. Anh do dự bước qua lỗ thủng đen ngòm để trèo vào bên trong. Một đám mù trầm tích dâng lên che khuất tầm nhìn của anh. Anh thấy chân mình trượt trên một vật gì đó trợn như tuột đang quằn quại. Khi đám trầm tích đã lắng xuống, anh nhìn thấy hàng chục, hàng trăm con cá chình đang bò lúc nhúc giữa những mảnh vỡ. Anh có thể hiểu được tại sao và đột nhiên cảm thấy buồn nôn. Một điều gì đó ở nơi này khiến anh ghê sợ. Anh giật dây ra hiệu rồi bước ra ngoài những tảng đá. Khi chiếc giỏ được thả xuống, anh quay trở vào, vội vã nhặt ni-ken xếp đầy giỏ.
   Phía bên ngoài, những con cá mập vẫn đang lởn vởn như thể chờ đợi. Giống như lũ kền kền đang chờ đợi một người chết vậy, Otto nghĩ bụng.
   Đến lần thứ ba sau khi chiếc giỏ được kéo lên thì anh không thể chịu đựng được nữa. Anh đóng van để cho mình nổi lên trên mặt nước. Hai chân hai tay dang ra như cánh đại bàng, anh va mạnh vào mũi thuyền, vai đau nhói như bị trật khớp. Khó khăn lắm họ mới kéo được anh lên thuyền.
   - Chuyện gì vậy? - Tom hỏi khi họ đã tháo được tấm kính chắn trước mặt anh ra.
   - Cá mập. Otto đáp. - Và cả cá chình nữa, hàng trăm con.
   - Tôi chưa bao giờ nghe nói cá mập tấn công thợ lặn cả,
0
Trang 350 - 351
 
chúng sợ bọt bong bóng lắm. Nhưng anh phải cẩn thận những ngón tay anh với lũ cá chình nhé!
   - Được rồi. - Otto nói và rùng mình.
   - Chà, tôi cho như vậy là đủ cho ngày hôm nay rồi, có phải vậy không? - Tom hỏi tiếp nhưng Otto cảm thấy ngượng nên vẫn khăng khăng đòi xuống tiếp.
   Bây giờ, chẳng còn thấy bóng dáng con cá mập nào nữa nhưng lần lặn thứ hai này còn tồi tệ hơn lần đầu khi anh buộc mình phải trèo vào bên trong xác tàu và làm đầy những chiếc giỏ với thứ kim loại chết tiệt ấy. Một lần nữa, đám cá chình lại bò nhung nhúc quanh chân anh.
   Chiều hôm đó, vừa về đến nhà là Otto vớ ngay lấy chai rượu. Chẳng kịp chào hỏi vợ con lấy một câu, anh nuốt chửng từng ngụm rượu lớn và cứ uống mãi cho tới giờ lên giường đi ngủ. Những cơn ác mộng ập đến ngay khi anh vừa chợp mắt. Anh rên rỉ, vật vã chân tay, thậm chí một lần còn đấm cả vào người Edwina như thể đấm vào một kẻ thù vô hình vậy.
   Ngày hôm sau, trong cơn liều lĩnh tuyệt vọng, Edwina dốc hết tất cả số rượu họ có trong nhà xuống cống. Và khi Otto quay trở về tối hôm đó, anh thấy tủ rượu trống trơn.
   - Em đổ hết đi rồi. - Edwina nghiêm nghị nói. - Chẳng còn tí rượu nào trong nhà nữa đâu. - Anh đã trở thành một gã nát rượu mất rồi.
   Otto trừng trừng nhìn Edwina với vẻ thất vọng. Cô ấy đâu thấu hiểu những gì mà anh sẽ còn phải chịu đựng cho tới khi công việc này kết thúc cơ chứ. Không, anh có thể nhìn thấy trên khuôn mặt của cô rằng cô sẽ không bao giờ hiểu được. Anh quay đi, lẳng lặng rời khỏi nhà và chỉ trở về vào lúc nửa đêm. Từ hôm đó anh dành hết những buổi tối của mình lê la ngoài quán rượu.
 
 
38
 
   Cô đang ở trong một đường hầm. - một đường hầm dài dằng dặc, tối đen, lạnh lẽo mà có lẽ phải đi tới hàng ngàn năm trời mới hết được. Một lát sau cô bắt đầu khóc. Một người y ta đi ngang qua và nói:
   - Đừng như vậy, bà Friedland. Bà hãy vui lên đi nào, rồi bà sẽ thấy khá hơn. Bà cũng biết điều ấy mà, phải không nào?
   Khá hơn ư! Cô cay đắng nghĩ thầm. Có mà càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn thì có! Cô lấy khăn mùi soa chấm nhẹ vào mắt rồi đứng lên đi tới bên chiếc gương treo phía trên chậu rửa, nhìn chằm chằm vào hình của mình hiện lên trong đó. Cô khinh bỉ nhìn mái tóc bạch kim trắng xóa mọc lam nham, chỉ còn lại một chút màu vàng ở đầu ngọn tóc; cặp mắt xanh đờ đẫn vô hồn cùng hai hàng lông mi rũ xuống trông thật thảm hại. Nếu như tâm trạng cô có khá lên thì bộ dạng cô cũng sẽ vẫn tang thương như thế thôi. Cô thở dài, với lấy chiếc lược và cố gắng làm một điều gì đó với mái tóc bết quánh. Nhưng không có dầu gội đầu, cô chẳng thể làm gì hơn. Một lát sau cô đành quay trở lại giường.
   Cô có một vài quyển sách bên mình, những quyển sách mà cô đã yêu cầu Kurt mang tới cho cô, và anh rất nhiệt tình trong việc này. Anh sẵn sàng đem đến cho cô bất kỳ thứ gì mà cô muốn ngoại trừ điều mà cô khao khát nhất - đó là tình yêu. Những cuốn sách này chỉ như một ngõ cụt mà cô đành phải lao vào kể từ ngày cô đặt chân tới nơi này. Một phụ nữ Do Thái và ngôi nhà của cô ta; Nhiệm vụ thiêng liêng; Tự học tiếng Pháp; Tự học tốc ký... Có lúc nào cô muốn mình trở thành người viết tốc ký đâu cơ chứ, cô tự hỏi rồi thất vọng nhìn đống sách to đùng.
   Cô cảm thấy các bác sĩ, y tá ở đây, cả Anna và Kurt nữa đều đang cùng nhau âm mưu hủy hoại cuộc đời cô và họ đã thành công với kiểu điều trị dồn dập ấy. Tuy nhiên, không hiểu sao ở sâu trong tiềm thức của cô, có một cái gì đó đã mách rằng họ sẽ không bao giờ hủy hoại cô được. Họ đã hủy hoại được Madeleine Grass, một cô gái thành Vienne tóc vàng xinh đẹp, vô tư và giao thiệp rộng; họ đã hủy hoại được Mimi, một con điếm biết ca hát chuyên mua vui cho bọn lính từ chiến trường miền Đông trở về; có thể họ cũng đã hủy hoại được cả Maria Grass nữa?
   Cô nằm im trên giường, mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà và suy nghĩ về Madeleine Friedland neé Grass. Cô căm thù cái ngày cô tự đặt cho mình biệt danh mỹ miều ấy, cô không nhớ rõ khi nào. Trước đó cô chỉ là Maria Grass, một con bé mười lăm tuổi tóc tai bù xù với một tính cách vô cùng nhạy cảm nhưng lại thiếu tự tin vào bản thân mình. Một hôm, cô đang đứng trong phòng khách thì nghe
0
trang 386 - 399

lùng vặn lại
- Ồ có đấy, theo một cách nào đó. Tôi tham gia vào các hoạt động cảu trường rất đều đặn. Không hiểu chị đã biết rằng gia đình tôi là người sáng lập ra ngôi trường này chưa nhỉ. Thực tế thì trường này là của chúng tôi mặc dầu cũng có một vài gia đinh khác tham gia vào hội đồng nhà trường. - Anna đứng lên và bắt đầu đi đi lại lại trên thảm. Nỗi căm giận ngày càng dâng cao như một trân lụt trong huyết quản của cô khi phải đối mặt với Edwina. Cô không thể không hình dung ra cảnh Edwina đang ở trên giường cùng với chồng mình.
- Chúng ta có rất nhiều điểm tương đồng - Cô tiếp tục. - Simon đã biến cả hai chúng ta thành trò cười, duy nhất chỉ có một điều khác biệt là tôi đã cưới anh ấy. - Cô nhún vai. - Có lẽ chị cho rằng tôi bị điên, nhưng thực sự tôi vẫn còn rất yêu anh mặc dầu anh ấy luôn có những mối tình trăng hoa. Tôi sẽ không bao giờ đồng ý li dị cả. Không bao giờ mặc dù anh ấy đã có một lần đề nghị. - Cô vội vã nói thêm và liếc nhìn về phía Edwina, lúc này đang ngồi ngay đơ trên ghế, khuôn mặt như hóa đá.
- Anh ấy luôn làm trái tim phụ nữ tan vỡ. Anh ấy kể với tôi rằng Otto đã phát hiện ra chuyện cảu hai người, nhưng cả Otto lẫn Simon đều không quyết định được ai sẽ là người phải có trách nhiệm với chị. Vì vậy họ đã tung đồng xu và Simon đã thắng. Anh ấy kể với tôi mọi chuyện, như vậy quả cũng không galang cho lắm, phải không nào?
Edwina vùi mặt xuống lòng bàn tay, bắt đầu khóc nức nở.
- Đúng vậy, anh ấy không phải là người galang. - Anna nói tiếp, và trong vài giây cô dừng lại trước mặt Edwina, nhìn chằm chằm xuống người đàn bà tội nghiệp.
Edwina ngước lên và khẽ rùng mình.
- Tôi yêu chồng tôi. - Cô nói khẽ. - Đó chỉ là vì...
- Chị không phải nói với tôi, Simon cũng đã kể hết cả rồi. Chị cần một ai đó chăm sóc cho mình chứ gì?
- Tại sao chị lại nói với tôi tất cả chuyện ấy? - Edwina tuyệt vọng nhìn lên.
- Tôi chỉ muốn giải tỏa bớt căng thẳng trong mối quan hệ của tôi và chị thôi. Tôi muốn chị biết rằng ở đây chị rất được an toàn, tất nhiên trừ khi... - Lời đe dọa không được nói ra treo lơ lửng nặng nề giữa hai người. - Tôi chỉ muốn cảnh abso chị hãy tránh xa Simon
Anna đột ngột rời đi trong tiếng sột soạt cảu tà áo lụa, để lại sau lưng mùi nước hoa thơm lừng.
Sau cuộc hẹn gặp hôm đó, Edwina dành tới vài tháng cố kiếm tìm một nơi dạy khác, nhưng cô không tìm được.
Kể từ lúc đó trở đi, Edwina sống trong niềm khắc khoải mong tới ngày cô có thể đưa hai đứa con trở về quê nhà. Nhưng mỗi năm trôi qua, mục tiêu ấy lại càng trở nên xa vời hơn bởi vì giá nhà đất ở Anh mỗi ngày một tăng cao và số tiền cô dành dụm được mỗi ngày ít ỏi. Với lại, cô còn cần nhiều hơn là một ngôi nhà để bắt đầu lại từ đầu với hai cô con gái đang tuổi ăn tuổi lớn. Ít ra thì ở Stellenbosch này ba mẹ con cô cũng được an toàn mặc dù chẳng có nhiều tiền để mà tiêu pha xa xỉ.
Ngược lại, lũ trẻ rất hạnh phúc. Margaret bắt đầu nâu rám và trở nên cứng cáp hơn. Con bé thường xuyên để chân trần nhảy trên vùng thảo nguyên rộng lớn. Cho tới năm mười một tuổi, nó đã nói tiếng Nam Phi hết sức trôi chảy và thực sự gắn bó với cuộc sống hoang dã, với những con ngựa, với công việc đồng áng và những thứ mà Edwina chẳng mấy quan tâm. Hiếm khi cô thấy nó ở nhà trừ những lúc đi ngủ hoặc đem về nhà những thứ đồ linh tinh mà nó kiếm được. Hai chị em nó giờ đã có tới ba con rùa, hai con chó, một bụi cây xinh xinh và một bộ sưu tập nào chim, nào bọ cạp, nào dế và thậm chí cả những con mèo rừng. Margaret ước ao một con ngựa còn Rosemary lại muốn có một cây đàn piano, nhưng cả hai mong muốn đó lại là những điều hết sức hão huyền. Edwina đau lòng khi phải nói "không" với chúng. Cô cũng biết rằng thật khó đối với lũ trẻ khi phải chấp nhận rằng họ là gia đình duy nhất trong vùng không có xe ô tô, không có vườn rộng và những con ngựa, là những người duy nhất không bao giờ được đi nghỉ. Chúng hiểu rằng đối với chúng bây giờ đủ để tồn tại đã là điều đáng quý lắm rồi. Tuy vậy, Edwina cũng cố chắt bóp dành dụm để trả tiền cho những giờ học nhạc của Rosemary, và Margaret thì phải tới làm việc cho một trại ngựa trng vùng nơi người ta sẽ dạy miễn phí cho nó những kiến thức về ngựa.
Điều phiền toái lớn nhất đối với Edwina là "người đàn bà đó" dường như đã trùm chiếc bóng oai phong cảu cô ta xuống cuộc đời cảu mẹ con cô. Sau gần hai năm dạy học, Edwina đề nghị được tăng lương nhưng hội đồng nhà trường đã bác bỏ đề nghị của cô với lý do cô không đủ trình độ chuyên môn và không biết nói tiếng Nam Phi. Cô bắt đầu học vào ban đêm. Khi nhà trường tổ chức những hoạt động xã hội thì cô luôn là người thừa. Và khi cô vay được một khoản tiền nhỏ từ hội xây dựng địa phương và ngỏ ý muốn mua đứt ngôi nhà đang ở thì hội đồng nhà trường đã từ chối không bán. Hội đồng nhà trường, hay là Anna, đã trở thành một vật trở ngại lớn đối với mọi nguyện vọng của cô.
Tồi tệ hơn cả là tình bạn cảu Acker với Margaret. Ít nhất ba lần trong một năm Margaret và Rosemary được mời đến dự những buổi tiệc tổ chức ngoài vườn hoặc những buổi tiệc sinh nhật mà Edwina buộc phải chịu đựng sự hổ thẹn bẽ bàng khi phải cuốc bộ cùng hai đứa trẻ đi một quãng đường dài tới hai dặm đến Fontainebleu, trong khi những gia đình khác chạy xe phóng vụt qua. Thường xuyên từ chối ở lại, cô để lũ trẻ ở cổng, sau đó quay trở lại đón chúng, để rồi ba mẹ con lại phải mệt nhọc lê bước trên cùng quãng đường ấy về nhà. Cô muốn ngăn cản Margaret kết bạn với Acker nhưng lại không nỡ làm vậy. Nhưng cuối cùng tình bạn của hai đứa trẻ ấy cũng chấm dứt mà không cần cô can thiệp.
Một hôm trên đường đi dạo trên núi, Margaret chợt nghe có tiếng nổ, rồi cô bé trông thấy một con chim ưng nhao xuống. Tim đập thình thịch vì hoảng sợ, cô bé chạy lại nơi đó, nghĩ rằng mình sẽ tìm thấy con vật đã chết. Nhưng không, nó lại đang co rúm người lại giữa những bụi cây rậm rạp trong khi Acker và ba cậu bạn nữa đang cố sức kéo nó ra.
- Các anh không được giết nó - Cô bé rít lên the thé. - Acker, tại sao anh lại làm vậy? Các anh... tất cả các anh... Em sẽ không nói chuyện với anh nữa. - Cô bé ngồi phệt xuống đất và óa lên khóc nức nở. Acker đẩy các bạn ra, tóm lấy con chim ưng và liệng nó vào vạt váy của Margaret. Cô bé vội đỡ lấy con vật, cánh của nó gãy nát trên đầu gối của cô.
- Em hãy giữ lấy đồ chết tiệt này nếu em muốn - Cậu bé nói, mặt trông có vẻ ngượng ngùng. Rồi cậu quay đi, oai vệ bước giữa những người bạn. Tháng kế tiếp, cô bé không được mời tới bữa tiệc sinh nhật của anh em nhà Acker.
Con chim đã được chữa lành với sự chăm sóc chu đáo của viên bác sĩ thú y trong vùng cùng với một khoản lệ phí dáng kể. Vài tuần sau đó nó đã đậu được trên một chiếc sào đằng sau chiếc đài trong phòng khách, ăn ngấu nghiến những mẩu thịt vụn, cho tới một ngày viên bác sĩ thú y thông báo rằng vết thương của nó đã lành. Margaret đem nó lên đỉnh núi và thả cho nó bay đi
Nhưng vết thương lòng của Margaret, tuy vậy, lại không dễ lành được như thế; cô bé bắt đầu trở nên ít nói hơn, sống khép mình và quan tâm nhiều tới những con vật yêu quý của cô hơn là kết bạn.

*
*      *

Chẳng bao lâu sau căn bệnh cũ của ông André van Achtenburgh lại tái phát. Vì Anna và Katie đang ở Knysma nên Acker bào Jacob lái xe đưa ông đi cấp cứu. Trông ông thật xanh xao, yếu ớt và hoang mang khi ông được đưa đến khoa tiết tiệu trên một cái cáng.
Acker đã mười lăm tuổi, nhưng trông cậu già dặn hơn thế nhiều vì cậu đã cao tới sáu foot với đôi vai rộng và cặp mắt xanh sâu thẳm.
Những cô y tá trẻ cứ cười khúc khích, nhìn cậu tỏ ý tán tỉnh. Acker nán lại bên giường bệnh suốt cả ngày, trò chuyện với ông về những kế hoạch mà họ đã phác ra cho trang trại. Khi ông André đã ngủ thiếp đi thì cậu gọi cho Jacob tới và bảo bác lái xe đưa cậu về nhà để cậu gọi điện cho mẹ.
- Ông sắp chết, mẹ ạ, con vừa được biết. Mẹ phải về nhà ngay đi.
Họ hẹn gặp nhau tại bệnh viện vào lúc mười giờ nhưng khi tới nơi thì ông André đã được đưa đi chụp X-quang và họ phải ngồi đợi trong căn phòng trống trải suốt một giờ đồng hồ, lòng trĩu nặng vì phiện muộn. Cuối cùng, ông cũng trở về phòng trên một chiếc xe đẩy. Lòng Anna nhói đau khi trông thấy sức khỏe của cha mình suy sụp hẳn đi trong vài ngày qua.
Vị bác sĩ kéo Acker ra một chỗ, ông ta cho rằng cậu là một người đã trưởng thành.
- Tôi sợ ràng phải báo một tin xấu cho gia đình.
Acker gật đầu. Cậu biết rằng ông André sẽ chết.
- Khối u đã bịt kín ống dẫn từ thận ra, do vậy André không đi tiểu được và ông ấy sẽ chết khi thận bị ứ nước và vỡ ra.
Acker nhìn ông bác sĩ chằm chằm.
- Liệu có thể cắt bỏ khối u đi hay cho chạy thận nhân tạo được không ạ?
- Kéo dài cuộc sống cảu những người bênh ung thư sẽ chỉ đem đến cho họ những cơn đau khủng khiếp khi tế bào ung thư lan ra tới những bộ phận khác. Chúng tôi cố tránh điều đó.
- Được bao lâu nữa? - Acker hỏi.
- Khoảng năm ngày, có thể là bảy... - Bác sĩ nhún vai vẻ xin lỗi.
- Không thể như vậy được. - Acker lẩm bẩm - Ngày hôm qua ông tôi vẫn còn đi dạo được mà.
- Nhưng ngày hôm nay thì không thể đâu - Ông bác sĩ e ngại lắc đầu. Rồi ông nói thêm. - Ông áy sẽ rơi vào trạng thái hôn mê kéo dài khoảng mười ngày.
- Liệu chúng tôi có thể đưa ông về được không ạ? - Acker ngần ngại hỏi. - Chúng tôi không muốn ông chết ở một nơi xa lạ.
- Thế nào cũng được thôi. Còn bây giờ... xin cậu thứ lỗi cho... - Vị bắc sĩ rời đi, thời giờ hạn hẹp của ông còn phải chia cho nhiều bệnh nhân khác nữa.
André vẫn đang ngồi chờ. Trông ông buồn rầu hết sức, nhưng rồi khuôn mặt ông sáng bừng lên khi ông hay rằng mình có thể về nhà.
Đêm muộn hôm đó Anna bật khóc nức nở khi Acker thông báo cho cô về lời chẩn đoán cảu ông bác sĩ.
- Lẽ ra con nên nói với mẹ sớm hơn mới phải. - Cô vừa nói vừa khóc như mưa như gió.
- Nhưng con biết là mẹ sẽ khóc, - cậu đáp, - và như vậy thì ông biết mất.
Tất nhiên là cậu nói đúng. Acker đã trưởng thành thật rồi. Anna nghĩ. Cậu là người đáng tin cậy nhất, cậu luôn quan tâm giúp đỡ mọi người. Cô buồn bã đi về giường và nằm khóc suốt đêm. Cuộc sống này sẽ không còn được như xưa nữa nếu như không có cha. Sáng hôm sau cô phải dành tới nửa giờ đồng hồ để lau mắt bằng thuốc trước hi dám đối diện với cha. Từ lúc đó trở đi, Acker ở lại luôn ben cạnh ông ngoại, đau khổ nhìn ông đang mỗi lúc một yếu dần.
André, kinh ngạc vì thấy sức khỏe của mình cứ giảm đi trông thấy, bắt đầu tưởng tượng ra mọi đủ điều. Có lúc ông cho là mình đang bị đầu độc, nhưng có lúc ông lại nghĩ rằng người ta bỏ mặc cho ông chết đói hoặc không cho ông uống loại thuốc thích hợp. Cuối cùng, ông nắm lấy tay Acker và nói:
- Ông sắp nằm xuống rồi cháu ạ. Ông sợ phải đi ngủ lắm vì như thế thì ông sẽ không bao giờ được trở dậy nữa.
Sau bảy đêm bệnh nặng trầm trọng thì ông André yếu lắm rồi.
- Acker ơi, ông sắp chết, có pahir không cháu?
Acker quay mặt đi.
- Mặc dầu ông không hiểu tại sao - Ông nói tiếp khi không thấy Acker trả lời. - Ông không thấy đau đớn ở đâu cả, chỉ có cảm giác không được thoải mái lắm thôi. Nhưng ông mệt lắm.
Ông mỉm cười, nhưng trông mặt buồn rười rượi.
Nhìn ông, Acker cố gắng kiềm chế bản thân mình khỏi xúc động.
- Ông đừng bỏ cuộc đời này ông ngoại ạ. - Cậu nói.
- Ngày nay người ta thường thế, - ông André bắt đầu ca cẩm. - Cư xử như thể những người già là con trẻ vậy; lúc nào cũng nói dối họ. Cháu đã biết một điều gì đó Acker ạ, nhưng cháu lại không nói cho ông nghe. Ông có thể nhìn thấy điều ấy trong mắt của cháu, và cả mắt mẹ cháu nữa. - Ông thở dài.
- Thật là lạ, nhưng ông chả thấy mình già hơn tuổi ba mươi là bao, - ông tiếp tục. - Có lẽ là do gần đây ông cứ hay nhớ lại thời trai trẻ của mình. - Ông mím chặt môi lại. - Nếu mà bây giờ có được trở lại thời ấy thì ông thực sự không có gì phải ta thán cả. Ông đã có một cuộc đời tươi đẹp, nhưng vẫn có một điều sai lầm.
Ông nhắm nghiền mắt lại khiến trong giây lát Acker cứ tưởng là ông đã ngủ, nhưng rồi André lại mở mắt ra. Một lúc sau ông chìa tay ra và nắm chặt lấy tay cậu.
- Thời gian là vậy đấy cháu ạ, cháu chỉ có thể nhìn lại xem mình đã làm được và không làm được những gì. Không thể làm hơn thế được. Ông đã phạm một sai lầm rất lớn, cậu bé ạ, điều đó đã khiến ông phiền lòng trong suốt nhiều năm qua.
Acker cố nuốt một cục nghèn nghẹn trong cổ họng. Cậu yêu ông biết bao, yêu hơn cả cha mình, thậm chí còn hơn cả mẹ nữa. Ý nghĩ là ông sẽ ra đi mãi mãi khiến cậu không thể nào chịu nổi.
- Acker này, - ông khẽ khàng nói tiếp. - Ngày xưa ông đã tính cho cháu đi làm con nuôi đấy, vậy mà bây giờ cháu đã trở thành điều tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất mà ông có được trong cuộc đời của mình.
Bàn tay yếu ớt run rẩy siết chặt tay cậu một lần nữa.
- Chắc cháu cũng biết rằng ngày xưa ông đã kiên quyết chống lại Simon, kiên quyết ngăn cản đám cưới của cha mẹ cháu. Nhưng mẹ cháu lại kiên quyết hơn. Sau đó, Simon đi chiến đấu trở về, nó đã trưởng thành hơn rất nhiều, nó không muốn phải chịu ơn nhà ngoại. Nó không muốn sống ở đây. Giá mà ngày xưa ông cư xử khác đi thì giờ đây bố mẹ cháu đã có thể được hạnh phúc hơn rồi.
Điều đáng lo là về mẹ cháu, mẹ cháu luôn là một cô gái dịu dàng dễ mến. Nó thực sự không cứng rắn tới vậy đâu, mặc dầu lúc nào nó cũng tỏ ra như vậy. Cháu phải trông nom mẹ cháu khi ông đã đi xa nhé.
- Ông đừng nói vậy, ông ngoại. - Acker nói, mắt nhìn chằm chằm vào bức tường trước mặt.
- Cháu biết không Acker, ông thường suy nghĩ về cuộc đời này và dường như ở đó có nhiều bài học đạo đức hơn chúng ta được dạy rất nhiều. Chỉ gắng sống sao cho tốt, sao cho trong sạch, lương thiện thôi chưa đủ. Cháu phải tốt với cả chính bản thân mình nữa. Cháu phải tìm hiểu Acker Smit là người như thế nào trước khi quá muộn. Cháu hãy cứ sống theo cách mà cháu muốn. Mẹ cháu đã không làm được điều đó, mẹ cháu không biết mình là ai và ông đau lòng khi phải chứng kiến mẹ cháu không được hạnh phúc.
- Ông ơi, tại sao ông không ngủ đi. - Acker nài nỉ. - Ông đã không ngủ nhiều đêm rồi. Ông kiệt sức mất.
- Không đâu - Ông André bướng bỉnh đáp. - Cháu hãy dìu ông sang xe lăn đi Acker. Ông còn ít thời gian lắm, ông không muốn ngủ đâu. Lúc này đây ông không mong gì hơn là được thức.
Ông cứ nằng nặc đòi được quấn vào một chiễ chăn đơn và được đẩy xe ra ngoài ban công.
- Ông bị nhiễm lạnh mất thôi. - Acker lo ngại
- Với tình trạng của ông thế này thì chuyện đó đâu thành vấn đề - André nhẹ nhàng nói. - Nào bây giờ cháu hãy đi đi. Đi ngủ đi! Ông muốn ngooifd dây một mình để ngắm nhìn những chùm nho dưới ánh trăng. Ông luôn yêu chúng mà; rồi lại còn được nghe tiếng cú kêu và ếch nhái ộp oạp dưới sông, được nghe tiếng lá cây xào xạc trong gió nữa. Đời là thế đấy, Acker. Đời là thế!
Acker mệt mỏi rã rời, ngủ thiếp đi cho tới lúc bình minh. Cậu sực tỉnh trong nỗi sợ hãi và chạy ngay sang phòng ông ngoại. Ông André đã chết từ lúc nào. Người ông đã lạnh cứng, trông chẳng còn lại chút gì giống với ông André nữa. Một xác chết cứng đơ, lạnh ngắt trong một dáng ngồi đáng sợ.
Cậu bế bổng ông lại giường và bắt đầu thổn thức khóc. Cậu cảm thấy như mọi thống khổ của nhân loại lúc này đang đổ dồn hết xuống đầu cậu. Một lát sau cậu gọi mẹ tới và đi ra ngoài, để mẹ lại một mình với ông ngoại. Cậu hít một hơi thật sâu. Chao ôi, không khí mới thơm tho ngọt ngào làm sao, trong lành và mát rượi; những chùm nho mới được thu hoạch một nửa. Vậy là ông André đã bỏ lỡ tất cả rồi. Cậu đi xuyên qua vườn nho, xuyên qua những khu rừng rồi leo lên sườn núi.
- Ôi trời, - cậu thì thầm. - Giá mà mình hiểu được. Một ngày nào đó sẽ đến lượt mình không còn được chạm tay vào lá hoa và cây cỏ nữa. - Cậu vòng quanh một thân cây, áp người vào đó. Rồi cậu bước lùi trở lại, ngồi bệt xuống đất, vùi mặt vào lòng bàn tay. Cậu cầu xin, đe dọa, căm ghét và tự an ủi mình, trong khi mặt trời dần lên cao rồi lại lặn đi, và bóng đêm ập tới.

42

Mưa như trút nước, khuấy tung mặt đất lên thành một vũng bùn. Simon đang đứng trên miệng một cái hố rộng mà anh đã đào trong suốt mấy ngày qua cùng với sự trợ giúp của năm công nhân khác nữa. Anh đưa mắt buồn rầu nhìn quanh quất. Trời đã không mưa mấy tháng nay rồi, vậy tại sao lại không thể chờ thêm một tuần nữa cho tới khi miệng hố rắn chắc trở lại?
Ngay lúc này đây bờ đất đang trượt lại xuống dưới hố; họ sẽ phải bắt đầu lại từ đầu khi nào mưa ngớt. Số phận của anh là vậy - một cuộc vật lộn bát tận với thiên nhiên, nhưng Chúa biết, họ cần mưa tới mức nào.
Anh cúi xuống, vốc lên một nắm đất và chà xát giữa những ngón tay. Nếu như mưa như bình thường thì đó chỉ là đất màu nhưng hôm nay lại có lẫn cả đá sỏi nữa. Lớp đất tơi lọt qua kẽ tay anh rơi xuống, để lại trên lòng bàn tay ba viên đá, nước mưa bắn vào tung tóe.
Simon đã chuẩn bị ném chúng đi khi ánh mắt của anh bất chợt vấp phải một trong số đó. Trông nó hệt như một mảnh thủy tinh xù xì to cỡ hạt đậu. Kim cương! Không thể như vậy được! Anh chưa bao giờ nghe nói có kim cương ở Namaqualand cả, mặc dầu vậy đây đúng là kim cương rồi. Anh biết chắc điều đó mà. Anh đăm chiêu đặt nó vào túi áo và liếc xung quanh xem có ai để ý.
Anh đuổi tất cả đám công nhân về lán trại, nói rằng sẽ chẳng có việc gì làm cho tới khi mưa tạnh, rồi đi tới cửa hàng gần nhất đểmua một cái sàng lớn.
- Thăm dò à? - Viên quản lý pha trò.
- Không, để xây dựng ấy mà. - Anh đáp.
Khi trở về anh thấy bối rối. Liệu mình có nên gọi những công nhân kia tới không nhỉ? Công việc sàng đất dưới hố sẽ nhanh hơn rất nhiều, nhưng chác chắn họ sẽ đưa chuyện. Cuối cùng anh quyết định sẽ làm việc này một mình và ở lại dưới trời mưa suốt cả ngày, sàng đất, kiểm tra, xem xét, trong lòng nửa mừng nửa lo rằng đó chỉ là viên kim cương duy nhất. Nhưng cho tới cuối ngày thì anh đã có năm viên cả thảy và một trong số đó to bằng móng tay cái của anh.
Anh lái xe về nhà, ướt sũng, kiệt quệ.
Đã năm năm kể từ ngày Simon chuyển tới sống ở Namaqualand. Trong thời gian đó càng ngày anh lại càng thấy yêu mảnh đất này; nó là một nơi tàn nhẫn khắc nghiệt, nơi con người phải đem hết tài trí và lòng dũng cảm ra đọ sức với những thế lực siêu phàm. Đây cũng chính là mảnh đất mà ở đó Simon có thể hàn gắn lại được những vết thương lòng, lấy lại được niềm kiêu hãnh sau vụ để mất Modderfontein và xóa đi mặc cảm tội lỗi về cái chết của Otto.
Phải mất tới vài tháng để anh biết được điều đó, tin tức đến quá chậm trên một tờ báo gói một món đồ nông cụ mà anh đã đặt mua ở Cape. Anh lái xe suốt đêm hôm đó để tới Cape Town, gặp gỡ với những người chủ mới của doanh nghiệp trục vớt, thăm mộ otto và cuối cùng là lái xe về Fontainebleu mà lòng chẳng thấy phấn khởi tẹo nào. Hai đứa trẻ sinh đôi mừng quýnh lên khi gặp cha của chúng.
Sau đó, anh gọi điện đi khắp nơi hỏi tin tức về Edwina nhưng vô ích cho tới khi Acker bất chợt đi vào phòng và nghe được, bèn nói:
- Nhưng mà, Chúa ơi, may quá cha à, cô Edwina bay giờ đang dạy học ở trường con đấy. Họ đang sống trong một ngôi nhà nhỏ mà mẹ đã mua được tù dinh thự nhà Joubert ở phía sau khu chuồng ngựa.
- Mẹ con đã mua nhà cho họ à? - Simon kinh ngạc.
Khi anh hỏi lại Anna thì cô chỉ cười và nói:
- Đó là điều duy nhất em có thể làm được khi anh vắng mặt mà, anh thân yêu.
Simon gọi điện cho Edwina sau giờ cô lên lớp, nhưng cô bảo anh hãy tránh xa cô ra và đặt điện thoại xuống trước khi anh kịp hỏi han điều gì. Anh trút một hơi thở dài nhẹ nhõm và đưa hai đứa trẻ đi chơi.
Kể từ ngày đó anh làm việc cả ngày lẫn đêm để gây dựng trang trại với hi vọng sẽ thu được một nửa lợi nhuận từ phần mà ông André đã hứa chia cho anh để anh bắt đầu lại với một trang trại nào đó ở Malmesbury. Ít nhất một lần trong đời anh có được một tiền đồ tươi sáng. Anh thở dài.
Mấy ngày kế tiếp, Simon sàng sẩy đất đá một mình ở dưới mưa cho tới khi anh bị một trận cúm đánh gục, và anh đã có hơn hai chục viên kim cương trong túi. Đã có vẻ như một mỏ quặng đặc biệt dồi dào. Anh định bụng sẽ kiểm tra xem gia đình nhà van Achtenburgh có quyền khai thác hay không trước khi tin tức bị rò rỉ ra ngoài. Rồi anh sẽ đưa túi kim cương này cho Anna và để mặc cô ấy xoay xở với công việc mà theo anh là chán ngắt: tìm thị trường cho chúng.

*
*    *

Tháng Hai là thời gian mà Anna yêu thích nhất trong năm, vì từ lúc này trở đi những giàn nho sẽ lúc lỉu những chùm trĩu nặng, bóng loáng và bầu không khí vui nhộn sẽ bao trùm lên khắp trang trại Fontainebleu, lan tới tất cả mọi người. Những người trong gia đình, những người làm công và cả những người nấu bếp sẽ chạt đi chạy lại táo tác như phát khùng. Có quá nhiều việc phải làm. Hàng ngày, từng toán nông dân da đen, những người lang thang và tụi học sinh trong làng sẽ đổ xô đến, đi lại như mắc cửi trên lỗi đi giữa những giàn nho để giúp việc thu hoạch. Kho chứa sẽ lại được mở cửa, những chùm nho giống Hanepoot và Waltham Cross ngon nhất sẽ được bọc bằng những tờ giấy mềm và xếp vào khay chờ xuất khẩu sang châu Âu. Loại nho dùng để nấu rượu vang thì được chuyển tới nhà máy rượu và loại nho dành cho tiêu dùng thường ngày thì được chất lên những chiêc xe tải chở ra bán ngoài chợ.
Nhưng năm nay bầu không khí tươi vui đó có phần kém đi nhiều bởi tâm trạng đau buồn vầ cái chết của ông André.
Anna nhốt mình cả ngày trong phòng làm việc, cố gắng tìm hiểu để nắm vững những công việc mà ông André đang tiến hành cùng với Acker. Lúc Simon đến, cô cũng đang ở đó.
Trông anh ấy mới mệt mỏi làm sao, cô nghĩ, và có vẻ chán nản nữa. Anh mặc bộ quần áo bằng vải kaki nhàu nát bẩn thỉu. Tuy nhiên, ở tuổi ba mươi tám, anh đang ở đỉnh cao của sự sung túc. Bờ vai rộng, làn da gần như cháy đen vì nắng, trông anh đẹp trai hơn bao giờ hết.
Trông thấy anh, cô giật mình và buột miệng thốt lên:
- Ôi Chúa ơi, trông anh... - cô định nói "đệp trai quá" nhưng rồi cố nén lại, thay vào đó cô chỉ nói "mệt mỏi quá". - Ở nhà đã cố gắng liên hệ với anh mà không được, anh đã ở đâu vậy?
- Bận. - Anh thoái thác.
- Cha mất rồi, mấy mẹ con em vừa chôn cất cha ngày hôm qua. - Cô nói bằng một giọng vô cảm.
- Trời ơi, anh xin lỗi. Lẽ ra anh phải có mặt ở nhà lúc đó. Anh thực sự xin lỗi. Anh là một thằng con không ra gì. Anh và cha đã bắt đầu không mấy dễ dàng, nhưng mọi chuyện đang tiến triển tốt mà.
- Em biết - Cô đáp. - Cha yêu anh lắm đấy. Cha đã nói như vậy với em trước khi mất. - Cô quay mặt đi, mắt chớp chớp, nhìn chăm chú qua ô cửa sổ ra ngoài quanh cảnh thu hoạch nho bên ngoài.
- Chúng ta đã có một mùa thu hoạch đặc biệt tốt. - Cô nói tiếp. - Cả lúa mì và nho. Công việc của anh thế nào?
Anh đặt chiếc túi lên bàn.
- Cái này là của em - Anh không trả lời thẳng vào câu hỏi của cô.
- Một món quà à? - Mặt cô sáng bừng lên.
- Không.
- Ồ! - Cô cắn chặt môi lại.
- Nói đúng ra nó là của em, từ trang trại.
Cô vẫn nhìn chằm chằm vào chiếc túi.
- Nào, em mở ra đi. - Anh nôn nóng.
Cô mở túi ra và thấy trong đó đầy đá.
- Kim cương thô à? - Cô phân vân - Anh bảo nó từ Luembe à?
- Đúng vậy.
Cô tãi những viên đá ra bàn và lướt ngón tay trên đó.
- Năm mươi viên. Em không thể tin nổi. Anh nhìn viên này này. - Cô cầm viên lớn nhất lên, viên kim cương mà anh đã tìm thấy trong ngày thứ năm. - Viên này mới to làm sao. Em thậm chí còn không biết mình có quyền được khai thác hay không nữa.
- Em có, hay ít nhất là André có. Anh đã kiểm tra rồi. Đó là nguyên nhân vì sao anh vắng mặt hai ngày qua.
Đọt nhiên cô kêu lên và ôm choàng lấy Simon:
- Giàu rồi, giàu rồi, chúng ta giàu rồi!
An nhẹ nhàng gỡ tay cô ra.
- Ý em là em giàu rồi - Anh nói - Còanh, anh vẫn chỉ là một kẻ vô công rồi nghề mà thôi.
Chẳng mất nhiều thời gian để tin đồn lan thổi ra khắp làng. Anna van Achtenburgh-Smit lại gặp hên một lần nữa và đã trở thành một nữ triệu phú tới mấy lần với một mỏ khai thác đá dồi dào, nơi mà người ta có thể đào lên được vô số kim cương chỉ với một cây thuổng; rằng cô đã bán quyền khi thác mỏ ấy lấy một triệu bảng; rằng đó là mỏ kim cương lớn nhất châu Phi. Những câu chuyện đôi mách lan nhanh như những đám cháy trên thảo nguyên, cứ bị thổi phồng ra và tô vẽ thêm đến nỗi không bao lâu sau người ta chẳng còn nhớ nó được bắt đầu như thế nào.
Sự thực là Anna đã có một cuộc đàm phán hết sức có lợi cho gia đình cô. Cô đã cho thuê khu mỏ với giá là mười phần trăm doanh thu, nhưng sự vui mừng của cô tắt ngấm khi giữa cô và Simon lại nổ ra một cuộc tranh cãi còn gay gắt hơn tất cả những lần trước cộng lại. Anna năn nỉ Simon nhận một nửa lợi tức từ trang trại kim cương đó theo như các điều khoản của hợp đồng, nhưng Simon lại khăng khăng từ chối vì cho rằng hợp đồng đó chỉ đề cập đến cừu karakul chứ không phải kim cương. Anna có cảm giác như Simon cứ hằn học phá ngang cô và cố tình làm cho cô đau khổ. Trong khi đó, Simon lại nặng với suy nghĩ số tiền không kiếm mà có thật là vô nghĩa. Anh muốn thành đạt theo cách của riêng mình. Cuối cùng anh chấp nhận một nửa khoản tiền thu được từ việc bán cừu, thuê một túp lều nhỏ trong làng mở dịch vụ sửa chữa nông cụ và phương tiện đi lại.
Anna nổi giận đùng đùng khi cô biết chuyện. Tại sao anh ấy lại làm một điều ngu xuẩn khiến cho cô và cả lũ trẻ nữa phải xấu hổ như vậy thế nhỉ? Cô thì ở đây trong một ngôi nhà rộng lớn và trống trải còn Simon lại sống trong một túp lều đi thuê ở vùng ngoại ô. Cuộc cãi vã của họ lâu và gay gắt hơn bao giờ hết. Cuối cùng Simon bảo cô hãy xéo xuống địa ngục và Anna chỉ còn biết nhìn theo chiếc xe cũ mèm rời nhà đi vào làng.
Kể từ lúc đó trở đi cô phát hiện ra rằng của cải đối với cô chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa. Cô cho lắp đặt một hệ thống điều hòa không khí và lò sưởi ở Fontainebleu, một việc mà cô cho còn do dự chần chừ từ nhiều năm qua. Cô xây thêm một cánh nhà nữa cho trường học của con em những nông dân trong vùng và thuê thêm một giáo viên. Nhưng điều đó vẫn chẳng thấm tháp gì so với gia tài kếch sù của Anna.
Anna trở thành mục tiêu quyên góp của vô số tổ chức từ thiện. Hầu như không có buổi tối nào trôi qua mà khoogn cs tiếng chuông cửa rung lên tới vài lần cho tới khi cô quyết định thuê một thư ký riêng để giải quyết những phiền toái khó chịu này.
Anna không bao giờ có thể quên được cái năm đầu tiên ở Modderfonein, khi àm cô chỉ có một mình và không xu dính túi, phải chống chọi với biết bao khó khăn để tồn tại. Cho đến hôm nay, cô đã trở nên giàu có và quyền thế hơn, song lại cảm thấy bất an và cay đắng hơn trước nhiều. Thời gian trôi qua, vết thương lòng lại càng nhức nhối. Sâu thẳm trong lòng cô vẫn là một Anna Smit không có bạn bè mặc dầu vị thế hiện tại đã đem lại cho cô biết bao mối quan hệ. Dạo này, cô hiếm khi được ở một mình mà luôn bị quấy rầy bởi những hội từ thiện, những tổ chức quyên tiền và các trường học. Song họ càng cố làm thân với cô bao nhiêu thì lại bị cô xa lánh bấy nhiêu vì đối với Anna mọi cánh tay chìa ra đều là những cánh tay xin xỏ chứ không phải cánh tay bè bạn. Chẳng chóng thì chầy rồi cô cũng nhận ra được họ cần gi ở cô. Cô bắt đầu trở nên hoài nghi hơn, cô hoài nghi ngay chính bản thân mình. Suy cho cùng thì cô là ai? Anna Smit tội nghiệp. Sự giàu có của cô đã trở thành một rào cản và cô đã nổi tiếng khắp vùng là một người đàn bà cay nghiệp vì Anna đã học được cách sử dụng uy thế của mình như một thứ vũ khí đối với tất cả mọi người.
Đối với Kurt, Anna là một nỗi thất vọng lớn. Tình bạn thân thiết của họ khi xưa cứ mất dần. Từ hôm thất bại trong việc thuyết phục Anna lấy mình, Kurt bây giờ đã nhận ra rằng Anna là một con người tự phụ, bảo thủ và khoe mẽ.
Năm 1956 Kurt đã bước sang tuổi bốn mươi tám, cái tuổi mà con người phải quét hết mọi ảo tưởng khỏi đầu óc mình. Paul đã mười tám tuổi, đang học ở nước ngoài. Kurt chỉ còn lại có một mình. Anh quyết định sẽ lấy vợ, nhưng lấy ai? Anh buộc phải công nhận rằng mình trở nên già cỗi và khó thay đổi. Nhà của anh bây giờ giống hệt một viện bảo tàng, chứa đầy những bộ sưu tập tranh, tượng và thảm vô giá trị. Anh căm ghét cái ý nghĩ rằng có một người đàn bà xa lạ nào đó sẽ đến đây thay đổi mọi thứ, trưng bày chó mèo, cây cảnh khắp nhà cùng với biết bao đồ tế nhuyễn khác nữa.
Suy nghĩ của anh hướng về Vera Mankowitz, cô gia sư trước kia của Paul. Cô ta giờ đã ba mươi mốt tuổi nhưng vẫn là một bà cô không chồng - một bà cô tròn trĩnh, luôn mỉm cười và bị ám ảnh bởi những cuốn sách. Cô ta đòi hỏi ở cuộc đời rất ít nhưng cũng chẳng làm được gì nhiều cho cuộc đời. Cô ta sống trong nhà anh nhiều năm rồi nhưng không bao giờ làm phiền đến ai, không bao giờ có ý định giảm cân và cũng chả buồn quan tâm nhiều tới ngoại hình của mình.
Anh từ bỏ việc theo đuổi Anna và lấy Vera.
Bây giờ Anna chỉ còn lại một mình. Mặc dầu đã bước sang tuổi ba mươi bảy, cô vẫn còn là một phụ nữ gây ấn tượng mạnh
tira
0
  Trang 352 - 353
 
thấy mẹ cô nói chuyện với một người hàng xóm. '' Nó làm tôi thất vọng quá! Không có hoài bão, chẳng có đầu óc gì, ngay cả đến ngoại hình cũng chẳng ưa nhìn chút nào. Gả chồng được cho nó là hay lắm rồi, mong gì kiếm được việc cho nó làm. Ai cần tới nó cơ chứ? Nó giống hệt như cha nói vậy. Khi ông ấy bỏ đi tôi đã nói:  '' Thật là thoát nợ! '' . Nhưng rồi lại tới con bé này. ''
   Ngày lại ngày, Maria lớn lên và nhận ra rằng cô đã trở thành nỗi thất vọng của mẹ. Điều này đến với cô chẳng đột ngột tẹo nào, nó ngấm dần vào cô mỗi lúc cô nhìn mẹ. Cô bèn dốc hết số tiền để dành ra nhuộm vàng mái tóc bạch kim của mình. Hóa ra nó rất hợp với cô nên các cậu trai trong trường đã bắt đầu để ý tới cô. Lần đầu tiên trong đời cô được hẹn hò. Ba tháng tiếp theo làm cô mất tới hơn hai chục bảng và năm sau đó cô đã đoạt vương miện trong một cuộc thi sắc đẹp. Kể từ đó trở đi không điều gì có thể níu giữ cô được, và cô đã có thể áp đảo tinh thần của mẹ cũng như bất kỳ ai mà cô tiếp xúc. Cho tới khi chiến tranh xảy ra.
   Ngày tháng trôi đi, Madeleine nhận thấy rằng cô không còn ở trong đường hầm nữa; bây giờ cô là một con nhộng nằm trong tổ kén, lơ lửng giữa quá khứ và tương lai. Thời gian vô tận!
   Cô đã ngủ thiếp đi và đã tỉnh dậy. Giờ đây sự chán nản muộn phiền đã tan biến, cô lại bắt đầu đi đến thẩm mỹ viện, chăm chút sửa sang những móng tay. Mái tóc của cô bây giờ có một màu nâu sáng dễ chịu. Cô bắt đầu vạch kế hoạch cho tương lai, cố gắng hình dung ra cách để thoát khỏi đau khổ, nhưng tương lai vẫn khiến cô lo sợ.
   - Cô đã khá hơn rồi đấy Madeleine ạ, - bác sĩ Warring bảo cô một hôm sau đó ba tháng. - Khá hơn chúng tôi tưởng rất nhiều.
   Cô cười to. Tiếng cười của cô đã mang một âm sắc mới. Cô đã vững tâm hơn mặc dầu trong mắt cô vẫn còn rất nhiều nỗi sợ hãi mà cô đã phải cố sức để che giấu. Sau tất cả những điều khủng khiếp trong chiến tranh, những điều mà cô đã thuật lại một cách tỉ mỉ và sinh động thì bác sĩ Warring không thể hình dung ra được điều gì tồi tệ hơn thế. Cô ấy không phát điên lên đã là một phép màu kỳ diệu rồi. Một lần nữa ông kinh ngạc trước khả năng hồi phục của cô. Không chút nghi ngờ, ông biết rằng cuối cùng cô sẽ chiến thắng, nhưng với điều kiện là không được để Madeleine quay lại với những người căm ghét cô.
   Chiều hôm đó cô đang ngồi ngoài vườn thì một người phục vụ đẩy xe mang trà tới. Ở anh ta chẳng có vẻ gì là đe dọa cả nhưng có một điều gì đó trong cặp mắt kia khiến cô phải liếc nhìn ra sau. Đột nhiên cô trông thấy một người đàn ông khác hẳn: khuôn mặt lấm tấm mồ hôi và cặp mắt độc ác. Khi cô nhìn kỹ hơn, đầu của hắn chợt thay đổi hẳn, đen ngòm với một hình dạng hoàn toàn khác. Một con quạ thối tha! Cái mỏ của hắn mở ngoác ra kêu quàng quạc trong khi tay hắn chuyển cho cô lọ đường. Madeleine cố nén một tiếng kêu hoảng sợ; cô buộc mình phải nhìn người phục vụ với bộ dạng thực của anh ta. Mình không điên, cô nghĩ, đó chỉ là ảo giác. Rồi cuối cùng mình cũng sẽ xua đuổi được hình ảnh gớm ghiếc ấy ra khỏi đầu thôi mà.  Cô quyết định nói lại chuyện này với bác sĩ Warring.
   Chiều muộn hôm đó cô cố gắng giải thích.
   - Những khuôn mặt người giống như những cái mặt nạ mà người ta dùng để che đậy bản chất thực của họ. Khi tôi nhìn vào, những chiếc mặt nạ đó tan chảy đi và tôi trông thấy những thứ khủng khiếp, những vẻ mặt độc ác, đôi khi là cả mặt thú vật nữa... Tôi chưa bao giờ nói với ai chuyện này cả. - Cô kết thúc chẳng đâu và với đâu.
   - Vậy cô hãy vẽ chúng ra, - ông nói. - Cô hãy lôi chúng ra ánh sáng đi. Hãy vạch trần những bộ mặt ấy.
   Ông quyết định sẽ thuê một giáo viên mỹ thuật. Rồi ông thở dài, giá mà tất cả các bệnh nhân của ông đều có một người chồng giàu có như cô gái này thì việc điều trị bệnh sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
 
*
 
                                   *          *
 
Simon đau lòng khi trông thấy Otto cư xử với Edwina một cách tồi tệ. Đó chẳng phải là sai lầm mà anh đã phạm phải với Anna trước chiến tranh hay sao? Lòng trắc ẩn của anh với Edwina đã khiến anh tìm những cơ hội để nói tốt về cô với Otto. Anh cũng tìm cách giúp đỡ họ bằng những món quà tặng là thực phẩm mang tới từ trang trại, hoa quả theo mùa, đôi khi là cả một con lợn sữa - nhưng thường xuyên là trứng. Trong công việc, anh chia cho Otto phần nhiều số
 
Trang 354 - 355
 
tiền mà họ kiếm được. Suy cho cùng Otto là người bạn thân thiết nhất của anh, còn Edwina là người phụ nữ mà anh kính trọng. Anh đau lòng khi trông thấy hai người bọn họ vỡ mộng, người nọ căm ghét người kia.
   Sau lần Edwina đổ hết rượu xuống cống, Otto hiếm khi ở nhà vào buổi tối. Cô chịu đựng sự phản bội cuối cùng này bằng một thái độ dửng dưng lãnh đạm. Cô lờ anh đi khi trông thấy anh trở về với cặp mắt đỏ ngầu, cô không muốn phải hỏi xin tiền của anh mặc dầu cô cần tiền một cách khủng khiếp.
   - Em không còn hiểu được anh ấy nữa. - Cô giãi bày tâm sự với Simon. - Anh ấy không còn là người đàn ông mà em đã lấy làm chồng. Có vẻ như chúng em đã trở thành hai người xa lạ, căm ghét nhau mà vẫn phải sống với nhau. - Cô không đả động tí gì về chuyện say sưa của Otto cả, cô không muốn bất cứ ai biết được điều ấy.
   Nhiều tháng trôi qua, Simon và Edwina dần xích lại gần nhau hơn. Cô cần một bờ vai chắc khỏe để nương tựa. Còn anh thì lại yêu thích tính nết hiền hậu dịu dàng và vẻ yếu đuối cần được che chở của cô.
   Năm mới được báo trước tới gần một tháng bởi thời tiết quá tuyệt vời. Một tuần trước ngày sinh nhật của Edwina, không khí trở nên vô cùng ấm áp. Gió từ vùng đồi núi thổi về đem theo cả hương thơm của lá hoa cây cỏ.Edwina dành nhiều ngày ngồi trên bãi biển cho tới khi làn da của cô và lũ trẻ nâu rám lên. Lúc trời chạng vạng tối, những người da đen thường tụ tập nhau lại hát hò trước biển. Họ chơi ghi ta bập bùng và hát những bài hát nghe thật kỳ quặc, Những buổi tối chứa đựng nhiều khoái lạc! Những đêm dài không yên tĩnh! Edwina, một bông hoa tiều tụy trên bờ biển lạnh giá, bắt đầu run rẩy; cô vuốt phẳng những cánh hoa của mình và trở thành nạn nhân của những khát vọng thầm kín. Otto chẳng bao giờ có nhà.
   Cô quyết định tổ chức một bữa tiệc nho nhỏ vào ngày sinh nhật của mình, một bữa tiệc chỉ có ba người vì cô cũng chẳng còn quen biết ai cả. Cô hối lộ bà chủ nhà già nua khó tính để bà ta cho phép cô được toàn quyền sử dụng căn bếp suốt buổi chiều hôm đó. Tới bảy giờ thì lũ trẻ đã lên giường đi ngủ, còn cô cùng với Simon ngồi đợi Otto trở về.
   Cuối cùng, Simon tình nguyện đi ra ngoài để tìm Otto nhưng Edwina từ chối và bật khóc nức nở. Simon ôm chặt lấy cô bằng hai cánh tay vạm vỡ để an ủi. Chợt anh nghe thấy cô thì thầm:
   - Hãy làm tình với em đi, Simon! Em xin anh đấy! Em đã muốn thế từ lâu lắm rồi nhưng Otto chẳng bao giờ thèm ngó ngàng tới em, hàng tháng nay rồi. Em chỉ muốn được yêu thôi mà!
   Simon nhẹ nhàng vuốt tóc Edwina, lau mặt cho cô bằng chiếc khăn mùi soa của anh. Anh đang lâm vào một tình thế thật khó xử. Chưa lần nào anh lại có suy nghĩ ấy trong đầu. Dù gì đi nữa thì cô ấy vẫn là vợ của Otto kia mà, cô ấy cũng chỉ như một người em gái của anh thôi. Vậy mà lúc này cô ấy đang cởi bỏ hết váy áo ra trước mặt anh với một vẻ hết sức tin cậy. Nhìn thấy khoảng ngực trắng nõn nổi bật trên làn da rám nắng, bỗng dưng một dục vọng trong anh bị khuấy động. Chân cô hơi bị vòng kiềng nhưng nhược điểm ấy dường như lại càng khiến anh mủi lòng hơn. Edwina thật nhỏ bé, mong manh và yếu ớt.
   Cuối cùng, anh hỏi:
   - Em có thỏa mãn không?
   - Sao cơ? Ồ có chứ. - Cô mỉm cười sung sướng. - Anh không biết à?
   - Không. - anh nói, nhắm mắt lại và ôm chặt cô vào lòng. Anh nhớ tới cơ thể rắn chắc của Anna, mường tượng lại hình ảnh của cô trước chiến tranh. Hai bầu ngực căng cứng, cặp mắt xanh như hồ nước sâu. Ôi Chúa! Anh rên lên khi nỗi khát khao chảy tới từng đầu ngón tay mình. Quỷ tha ma bắt Anna xuống địa ngục đi! Anh đâu phải là một thằng điếm đực, cũng đâu phải là một con ngựa giống. Nếu như cô ấy không còn coi anh là chồng nữa thì giữa họ chẳng còn chút hy vọng nào cả. Khát vọng của anh tan chảy. Anh cảm nhận được Edwina đang cựa quậy, và cặp mắt của cô mở to ra chứa đầy vẻ dò hỏi. Một kẻ thay thế tội nghiệp. Quả là anh có yêu thương Edwina, nhưng đó chỉ là tình yêu của một người anh trai muốn che chở bảo vệ cho em gái của mình. Đúng là như vậy. Lạy Chúa! Anh sẽ không bao giờ lặp lại hành động này nữa. Anh nhắm chặt mắt lại và hình dung về Anna, nhiều năm trước, bên bờ sông, thèm khát anh, dẫn dắt anh, đòi hỏi anh nhiều hơn anh có thể đáp ứng. Lúc ấy anh mới ngốc nghếch làm sao. Còn cô, ngồi khỏa thân bên bờ nước, trông cô thật xinh đẹp, quyến rũ, say đắm, nồng nàn.
 
   Trang 356 - 357
 
Anh sẽ không bao giờ có thể quên được ngày hôm ấy. Cuối cùng, cảm thấy như người mình bị nổ tung ra, anh vùi mặt xuống gối, không muốn đối diện với thực tại.
   - Ôi Chúa ơi, anh mới tuyệt làm sao! - Một lát sau có tiếng Edwina thì thầm như vậy.
 
*
                                    *      *
Simon nhanh chóng trở nên mệt mỏi với cuộc tình vụng trộm cùng Edwina. Người đàn bà tẻ ngắt này luôn đeo bám lấy anh và không lúc nào anh có thể thỏa mãn hết tất cả những nhu cầu cần được giúp đỡ của cô: nào là đi lại, nào là mua sắm, cả tình dục nữa; và trên hết anh luôn phải an ủi để cô được yên lòng. Edwina có quá nhiều đòi hỏi. Sẽ là một trận lụt nước mắt nếu như anh đến muộn trong bữa ăn tối, là những cơn thịnh nộ mỗi khi anh vắng mặt hơi lâu, và cô còn tỏ ra ganh tị khi anh về thăm hai đứa trẻ sinh đôi nữa. Simon có cảm giác là cô đã nhắm vai trò của anh với vai trò của Otto trong khi Otto lại được rảnh rang ở một nơi nào đó. Ngoài ra , mặc cảm tội lỗi trong anh lớn dần. Anh bắt đầu tự hỏi mình nên kết thúc ra sao vấn đề phức tạp này, một vấn đề mà lẽ ra không nên có từ lúc bắt đầu mới phải. Những phương cách giải quyết đã tuột khỏi tay anh bởi vì một buổi tối Otto đột ngột trở về nhà sớm hơn thường lệ.
   Một khuôn mặt trắng bệch nhìn họ, rồi Otto bỏ đi.
   - Ôi Chúa ơi, chúng ta phải làm gì bây giờ? - Edwina ngồi dậy với một vẻ mặt khiếp đảm. Cặp mắt xanh biếc của cô dạo này lấp lánh hơn, đôi má hồng hào hơn và mái tóc vàng cũng trở nên óng ả hơn. Nhưng Simon đã cảm thấy ngán đến tận cổ. Anh vội vàng chộp lấy quần lót và quần dài.
   Thôi nào, Edwina, em biết là anh sẽ che chở em mà, - anh nói, nghiến răng kèn kẹt. - Đừng tỏ ra ngốc nghếch như vậy! - Nhưng có lẽ chính anh mới là một kẻ ngốc.
   - Với hai đứa con nhỏ, cô rền rĩ. - Em sẽ xoay xở ra sao đây?
   - Ôi Chúa ơi!. - Anh vỗ nhẹ vào vai cô. - Xem kìa, em đừng lo lắng thế. Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi. Anh sẽ đi tìm Otto để nói chuyện với cậu ấy. - Anh xỏ tay vào áo sơ mi.
   - Anh sẽ nói chuyện gì với anh ấy? - Cô hỏi khẽ.
   - Anh sẽ nói với cậu ấy những gì cần phải nói. - Chúa Jesus ơi, cái mớ bòng bong này là thế nào vậy?
   - Anh vẫn yêu em chứ, phải không?
   - Theo một cách nào đó. - Anh lẩm bẩm.
   - Thế anh có định cưới em không?
   Người đàn bà bé nhỏ này luôn có một cái đầu hết sức tỉnh táo ngay cả trong những cơn khủng hoảng- Simon liếc nhìn cô, bối rối.
   - Anh phải nói thật, Edwina ạ. Anna đã từ chối ly dị với anh, nhưng điều đó sẽ không ngăn cản anh chăm sóc em và... - Lời nói của anh gần như nghẹn lại - sống cùng em.
   Trong một thoáng khuôn mặt của cô biểu lộ sự sửng sốt đến tột độ.
   - Ôi, Otto tội nghiệp, - cô bắt đầu. - Anh có trông thấy vẻ mặt của anh ấy lúc đó không? Em không muốn để mất anh ấy. Liệu anh ấy có tha thứ cho em không nhỉ? - Cô rền rĩ.
   - Anh làm sao bieeys được, khỉ thật! - Anh đi ra, đóng sầm cánh cửa sau lưng.
   Simon không phải tìm đâu xa bởi Otto đang ngồi ngay ở bậc thang cuối cùng của cổng ra vào, đầu gục xuống lòng bàn tay.
   - Bây giờ mà đánh nhau thì chẳng hay ho chút nào. - Simon bắt đầu cảm thấy căm ghét bản thân mình một cách thậm tệ. - Chúng ta hãu nói chuyện như những người văn minh nhé!
   Otto đứng dậy.
   - Những người văn minh không nói chuyện ở bậu cửa thế này. Mình sẽ mời cậu đi uống rượu. Đi nào!
   Họ chậm chạp bước đi cạnh nhau trong im lặng. Simon cố gắng tìm cách để thanh minh nhưng anh không nghĩ ra được điều gì.
   - Thật lạ. - Otto bắt đầu, - nhưng hôm nay mình về sớm hơn ngày thường là để nói với cô ấy rằng mình vô cùng ân hận. Mình vẫn chưa nói với cậu, nhưng chúng ra đã có gần năm nghìn bảng thu được từ việc vớt ni-ken rồi. Không tồi phải không nào?
   Sự bình thản trong giọng nói của Otto khiến Simon cay đắng. Anh chỉ muốn ngồi thụp xuống đất và khóc thật to. Tiếc là anh đã
 
   Trang 358 - 359
 
không nghĩ tới điều này từ trước. Họ đi tới một quán rượu, ngồi xuống hai chiếc ghế đẩu sát cạnh tường, tranh luận xem ai sẽ là người trả tiền. Khi rượu được mang tới, họ nâng cốc lên nhưng tránh nhìn vào mắt nhau.
   - Chà, chúng ta uống vì cái gì bây giờ nhỉ? - Otto hỏi. - Chúng ta đã là những người bạn thân thiết trong suốt một thời gian dài, và cậu đã một lần cứu mình thoát chết. Chúa ơi, đó quả là một điều kỳ diệu. Chúng ta uống vì nó vậy.
   - Đừng thương hại mình, cậu bạn ạ. - Otto tiếp tục, mắt vẫn nhìn đăm đăm vào cốc rượu. - Edwina thuộc loại phụ nữ luôn phải đeo bám lấy người khác, mà mình thì lại bỏ đi, hay ít ra là cô ấy cảm thấy thế. Mình đáng bị như vậy. - Đột nhiên anh vươn thẳng người ra và cười nhăn nhở. Vỗ mạnh vào vai Simon, anh nói tiếp. - Mình sẽ thu xếp để ly dị cho ổn thỏa, chúng ta thì vẫn cứ là bạn. Cư xử nhe vậy đã văn minh chưa?
   - Này thôi, cậu đừng có mà vội vàng như thế. - Simon ngắt lời. - Cậu không thể rũ bỏ năm năm trời hạnh phúc chỉ bở vì... - anh loay hoay tìm từ, - chỉ bởi vì một sai lầm nhất thời.
   - Một sai lầm nhất thời ư? - Điều đó dường như làm Otto thấy buồn cười. - Là bao lâu vậy?
   - Vài tháng. - Simon nói khẽ.
   - Quả thực cũng không nhiều lắm. Mình đã phát hiện ra sớm, phải không?
   - Otto này, mình muốn cậu biết rằng mình vô cùng ân hận...
   - Cậu nói câu ấy là ngu lắm, Simon. Thôi uống đi! - Anh gọi người phục vụ quán tới và yêu cầu thêm một chầu rượu nữa.
   Simon ngồi im, vụng về tìm lời để nói nhưng không được nên anh đành uống một hơi cạn ly và gọi thêm cốc khác.
   - Cậu phải hiểu tại sao mà mình lại bình tĩnh như vậy. - Otto tiếp tục, giọng nói của anh đã bắt đầu ríu lại. - Qảu thực là trình độ hóc vấn của mình không đủ để cư xử trong trường hợp này. Mình có nên đề nghị đánh nhau với cậu vì cô ấy không hả?
   - Thôi nào, cậu đừng lố bịch như thế nữa đi.
   - Phải, cậu nói đúng, Simon ạ. - Otto đáp. - Cô ấy đâu phải là một thiên thần.
   - Mình không có ý ấy. - Simon phân bua, cố tìm cách bảo vệ cho Edwina.- Ý mình là... Ôi Chúa ơi, mình cũng chẳng biết là mình muốn nói gì nữa. - Anh lại ra hiệu cho người phục vụ.
   - Đến lượt mình. - Otto bảo anh.
   - Cô ấy vẫn còn yêu cậu lắm đấy, - Simon nói khi họ đang ở chầu rượu thứ sáu. - Đó chính là nguyên nhân bắt đầu của sự việc. Mình đã cố bảo vệ cuộc hôn nhân chết tiệt của cậu. Nghe có vẻ tức cười quá phải không? Lúc đó, cô ấy luôn miệng nhắc tới cậu.
   - Thứ lỗi cho mình, - Otto nói, - nhưng hôm nay chính mắt mình lại trông thấy cô ấy yêu cậu cơ mà. Chắc là lúc này cậu đang mong mỏi được thế chỗ của mình lắm nhỉ?
   - Ôi, mình không nghĩ vậy, - Simon lắp bắp. - Mình định nói với cậu hàng trăm lần rồi, rằng thực tế cậu đã cư xử với cô ấy như một thằng con hoang ấy.
   - Mình biết mình là đồ con hoang, - Otto nói, lưỡi líu cả lại. - Cô ấy đã nói điều này với mình nhiều lần lắm rồi. Cô ấy cũng gọi cậu là đồ con hoang chứ?
   - Thỉnh thoảng. - Simon thừa nhận.
   - Không ai, không một ai có thể sống theo cách Edwina mong muốn được cả. Cậu không biết thế nào là trở nhà mà không mang đủ tiền về đâu, cậu sẽ phải nhìn vào cặp mắt xanh chứa đầy vẻ bi thương đấy.Nào, cậu uống đi, chúng ta đã mệt mỏi quá rồi.
   - Đến lượt mình, - Simon đáp, nhưng cứng cỏi quá. Một lần mình đã phạm phải một sai lầm tồi tệ. Anna không thể tha thứ cho mình. Cô ấy là vậy đấy, không bao giờ hạ thấp những tiêu chuẩn mà cô ấy đã đặt ra, không bao giờ chịu nhượng bộ. - Giọng anh cũng bắt đầu ríu lại. Tự dưng anh muốn kể hết ra mọi chuyện. Chuyện về Sophie, chuyện về đứa bé. - Bỏ mặc cho nó chết chỉ vì nó là một mối nhục lớn. Cô ấy đã khiến mình ghê sợ khi nói với mình điều ấy. Vì thế mình đã nhập ngũ. Cô ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho mình về chuyện Sophie, và mình cũng sẽ không bao giờ tha thứ cho cô ấy về chuyện đứa bé.
 
   Trang 360 - 361
 
   Otto rùng mình.
   - Edwina và mình thì lại khác, - Otto tiếp lời. - Mình không nói sai đâu, cô ấy đã từng là một tiểu thư hết sức đài các. Cha cô ấy một mục sư xứ Kent, cô ấy chưa bao giờ là một phụ nữ sôi nổi và nồng nhiệt cả. Với cậu thế nào?
   - Cũng vậy. - Simon đáp. - Cô ấy có vẻ khá lãnh đạm.
   - Chính xác. - Otto cố gắng tìm lời. - Chúng ta hãy nói thẳng ra nhé, cậu có thực sự muốn cô áy không?
   - Không, dù sao cô ấy vẫn là vợ cậu cơ mà.
   - Cô ấy cũng là của cậu...dù có nói gì đi nữa. - Anh cười to với vẻ vô cảm. - Mình cũng không còn muốn cô ấy nữa, nhưng trong hai ta phải có một người có trách nhiệm với Edwina.
   - Otto, vì Chúa, cậu câm ngay đi!
   - Mình có thể rút lui trong danh dự và để cậu điều hành công việc kinh doanh một mình.
   Má Simon giật mạnh.
   - Khi mình nói với Edwina rằng Anna sẽ không bao giờ đồng ý để mình ly dị thì Edwina không tỏ vẻ tha thiết với việc phải sống trong tội lỗi.
   - Không, Edwina sẽ không bao giờ thích như vậy đâu. Vậy chúng ta hãy tung đồng xu nhé? Người nào thua sẽ phải có trách nhiệm với Edwina.
   - Thôi được rồi. - Simon ủ ê.
   - Không được gian lận đâu đấy. - Otto giao hẹn và lôi từ trong túi ra một đồng xu.
   Simon đã thắng. Anh thấy nhẹ cả người tới từng lỗ chân lông, giống như một cơn gió ẩm ướt thổi lan trên một vùng đất khô cằn.
   Otto có vẻ choáng váng.
   - Chúng mình về nhà uống rượu đi. - Anh rủ Simon..
   Edwina khiếp đảm nhìn hai người đàn ông loạng choạng dìu nhau vào đi văng, người nọ dựa vào người kia. Otto lôi ra hai chiếc cốc và đổ đầy vào đó rượu whisky nguyên chất mà họ mang từ ngoài quán về. Nhìn thấy hai người, cô phát buồn nôn.
   - Các anh đúng là đồ con hoang... - Cô bắt đầu. - Một lũ con hoang!
   Nhưng bà chủ nhà đã tới và gõ mạnh vào cửa, than phiền về những tiếng ồn.
   - Em không thể nói lời xin lỗi được Otto ạ, - cô nói vài phút sau khi Simon đi khỏi. - Anh cư xử với mẹ con em thật là tồi tệ. Nhưng em vẫn yêu anh và sẵn sàng bắt đầu lại từ đầu nếu như anh hứa với em là sẽ bỏ rượu và không ném vào mặt em những lời lăng mạ nữa trong suốt phần đời còn lại.
   - Anh sẽ không làm thế một lần nào nữa, nhưng em cũng đừng nên hy vọng ở anh điều gì cho tới khi anh kết thúc công việc vớt ni-ken. - Rồi anh kể cho cô nghe về nỗi sợ hãi của mình, về đám cá chình trườn lổm ngổm giữa đám xương người chết, về hàng tấn nước chỉ chực đè bẹp lên anh, về sự mong manh của đường dây dẫn khí.
   Khi anh kể xong, cô thốt lên:
   - Ôi, Otto tội nghiệp của em! Lạy Chúa! Tha lỗi cho em nhé, em đã không hiểu anh rồi!
   Lần thứ hai trong buổi tối hôm đó, Edwina thấy mình được nhấc bổng lên giường...
 
39
 
Sáng hôm sau Simon lái xe về Fontainbleau. ANh quyết định bỏ qua các thủ tục chia tay, viện cớ rằng buổi tối hôm trước đã là một lời chào tạm biệt quá dài dòng rồi. Họ chẳng còn gì để nói với nhau nữa.
   Anh đỗ xe lại trên đỉnh một con đèo và nhìn lại đằng sau. Lại một sai lầm nữa! Anh đã phải bỏ lại quá nhiều thứ sau lưng mình: một thành phố xinh đẹp nằm lọt giữa biển và núi; những người bạn mà anh quen; toàn bộ tiền bạc của anh nữa; và tồi tệ cả là hy vọng được sánh kịp địa vị của Anna cũng bị tuột đi nốt! Tất cả bây giờ đã trở thành vô nghĩa, một lần nữa mặc cảm tội lỗi vì đã bán Modderfontein lại dâng lên trong anh.
   Anna đang ngồi cộng sổ sách trong phòng làm việc. Cô ngẩng lên và mỉm cười căng thẳng. Anh quyết định sẽ nói toàn bộ câu chuyện với cô, chính xác tới từng chi tiết đã xảy ra trong đó. Anh thấy mình phải có trách nhiệm đưa ra được một lời bào chữa xác đáng cho việc đã từ bỏ sự nghiệp của mình, nhưng anh lại không chuẩn bị cho cơn tam bành nổ ra sau đó.
   - Anh là đồ chó đẻ. - Cô la lên, mặt cô méo xệch đi tới độ
0
e đánh xong phần chị Ly đưa cho e rồi đó ạ 
0
trang 400 - 407

Khuôn mặt hầu như không có một nếp nhăn nào cả, mái tóc vẫn đen nhánh chưa một sợi bạc. Trông cô chỉ như mới ngoài ba mươi, nhưng có một vẻ gì đó rất lạnh lùng bao quanh người cô, làm cho vẻ đẹp của cô giảm đi rất nhiều. Chỉ khi ở với lũ trẻ thì cô mới là một phụ nữ đáng yêu và đầy cảm xúc. Cô yêu chúng tới độ mù quáng, bên chúng cô mới thấy một niềm vui rộn lên trong lòng. Cô chiều chuộng hai đứa trẻ, đặc biệt là con gái. Cô còn có thể làm gì được hơn với tất cả số của cải mà cô đang có nào?
Chỉ duy nhất có một người biết cách sử dụng tối đa sự giàu có của gia đình. Đó chính là Katie, vì càng lớn cô bé càng tỏ ra yêu thích của cải. Cô khoe của như gà trống khoe đuôi, không bao giờ mặc một bộ quần áo nào tới lần thứ hai, và cứ sáu tháng lại đổi xe ô tô, đổi luôn cả người lái. Cô tổ chức những buổi dạ tiệc linh đình và vùi mình vào những cuộc chè chén ngông cuồng. Nhiều lời đàm tiếu về những trò chơi trội của cô bắt đầu lan truyền và đó thường là những lời đàm tiếu hết sức bất lợi đối với thanh thế của cô.
Tuy nhiên, mẹ và con gái lại là đôi bạn không rời nhau nửa bước. Trong khi Acker tỏ ra phớt lạnh với cả gia tài kếch sù đó lẫn những kỳ vọng mà Anna đặt vào cậu thì Katie lại luôn đeo bám lấy mẹ. Hai mẹ con cùng nhau đoạt giải trong các cuộc đua ngựa, cùng nhau lập kế hoạch giải trí và mua sắm, cùng tham gia các buổi khiêu vũ. Katie trở thành cô gái ăn diện nhất vùng. Cô bé cũng rất xinh đẹp, thông minh, hoạt bát nhưng cũng hết sức kiêu căng ngạo mạn và hư hỏng tới độ không thể uốn nắn lại được. Cô thích mình là trung tâm của mọi sự chú ý; trong các buổi dạ tiệc, hội họp, cô luôn được yêu cầu đứng lên hát, và nếu mẹ cô cũng có mặt ở đó thì cô sẽ thuyết phục mẹ lên đệm đàn. Anna không thích trình diễn trước đông người nhưng cũng chiều theo ý Katie. Chẳng bao lâu sau hai mẹ con họ luôn được mọi người mời mọc. Họ trở thành niềm ganh tị của tất cả phụ nữ trong thị trấn, đặc biệt là Edwina, cô không khỏi ghen ghét khi so sánh tương lai của Katie với tương lai của hai cô con gái nhà mình. Nhìn thấy Katie đoạt giải trong các cuộc thi tiếng Anh, dẫn đầu trong các hoạt động của trường, thậm chí còn trình diễn các bản nhạc giao hưởng trong tòa Thị chính, cô không khỏi chạnh lòng. Thật không thể chịu nổi! Katie nhanh nhảu, thông minh, xinh đẹp và được trau dồi kỹ năng về nhạc lý. Con bé cũng alf một kẻ hợm mình thái quá, nó khinh người tới độ không bao giờ thèm bắt chuyện với Edwina và Margaret. Katie làm lu mờ tất cả đám con gái trong vùng và nếu so sánh Margaret với nó thì cũng chỉ thất hết sức lố bịch bởi vì Margaret rụt rè nhút nhát, lại quá tròn trĩnh so với tuổi của nó và có một mái tóc vàng hoe lúc nào cũng rối bù. Con gái cô thường gặp khó khăn trong giao tiếp và mọi cảm xúc luôn bị che giấu của nó chỉ dành cho đám súc vật mà nó yêu như điên như dại.

*
*       *

Margaret đang có hai điều bất hạnh lớn. Điều đầu tiên là cô bé phát hiện ra mình không thích mẹ. Đành rằng cô rất yêu bà bởi vì  bà là mẹ đẻ của cô, nhưng còn thích - đó lại là chuyện khác.
Edwina vẫn không thể nào thích nghi được với vùng đất Nam Phi này. Cô học thổ ngữ đủ để giao tiếp đươc với mọi người nhưng lại cố tình nói ấp úng để sau cùng người ta đề nghị chuyển sang nói tiếng An với cô. Mặc dầu Edwina nói tiếng Pháp và Đức hết sức trôi chảy nhưng cô lại gặp vấn đề với việc học tiếng và học cách sống của nguời Nam Phi. Cô cho rằng với nguồn gốc Anh của mình, cô vẫn ưu việt hơn tất cả những người khác sống trên mảnh đất này. Họ giàu có, nhưng cô là người Anh; họ đi lại trên những chiếc xe hơi đắt tiền, nhưng cô vẫn là người Anh; họ ăn mặc theo mốt mới nhất, nhưng quần áo của cô vẫn là loại vải tốt, bền và được may ở Anh. Cô níu lấy nguồn gốc Anh của mình như một người đắm thuyền níu lấy đám băng nổi.
Edwina giữ khoảng cách với những người phụ nữ khác nên cô không có bạn, nhưng cô lại có rát nhiều mối quen biết và đã trở thành nguồn chuyện ngồi lê đôi mách chính ở trong thị trấn. Người ta e ngại miệng lưỡi châm chọc cảu cô, e ngại những lời nhận xét cay độc của Edwina về những yếu điểm của người khác.
Giờ đã là một quả phụ rồi nhưng cô tự xây bao quanh mình một thành lũy kiên cố vì cô căm ghét đàn ông và không muốn bị dính vào một vụ tai tiếng nào nữa. Nhu cầu của cô rất ít, cô chỉ chú tâm vào việc tích trữ tiền để dành, số tiền mà chỉ nhích lên được ít một theo từng năm tháng. Cô luôn miệng nói với hai con về việc "trở về nhà".
Khi hai cô bé gái bước vào tuổi dậy thì, Edwina bắt đầu lo lắng rằng chúng sẽ lấy chông ở đây và làm hỏng kế hoạch áy của cô. Do vây, năm 1957 khi Margaret trong mười bốn tuổi thì cô bé vẫn chỉ có hai bộ váy áo đồng phục, một đôi giày đế bằng và vài đôi tất sợi. Cô bé không bao giờ được phép bước ra khỏi nhà vào buổi tối, không được phép hẹn hò và cũng không bao giờ được đến một hiệu ăn hoặc đi tới rạp hát để xem trình diễn âm nhạc. Margaret không mấy quan tâm, nhưng việc bị quản thúc khát khe cũng khiến cô bé khó chịu.
Nỗi bất hạnh thứu hai là khi Margaret phasthieenj ra rằng cô cũng sẽ không thể trở thành một bác sĩ thú y được. Mỗi buổi sớm cô bé đặt ra với bản thân mình vấn đề nghề nghiệp tương lai, cô nhận thấy rằng mẹ đang nóng lòng chờ tới ngày Margaret có thể đem lương về phụ mẹ. Càng học lâu bao nhiêu càng tốn kém bấy nhiêu; cô bé chỉ có thể tham gia khóa học một năm ở trường sư phạm mà thôi. Lần đầu tiên trong đời Margaret mới cảm nhận được sự cơ cực của cảnh nghèo khó và cô hiểu ra được nỗi ám ảnh để dành tiền của mẹ. Cô bé bắt đầu làm việc chăm chỉ hơn trong các khu chuông trại, dành dụm tiềm cho những giờ học cưỡi ngựa. Có thể vài năm nữa mọi việc sẽ khác, cô hy vọng như vậy.

*
*  *

Katie lại có một nỗi lo kiểu khác - bời vì khi mà con người ta từ sáng đến đêm chỉ chăm chú theo đuổi một mục đích là tìm kiếm niềm vui thì rồi sẽ đến lúc người ta cũng phải phát chán lên và mệt mỏi nữa. Những người nông dân có thể ra về, nghỉ ngơi vào lúc năm giờ chiều, còn Katie lại phải dành tất cả những giờ cô thức để chăm chút cho bản thân. Cô bắt đầu cảm thấy bất an và muốn tìm một nguồn vui mới. Cuối cùng, cô quyết định chọn một trường trung học ở Thụy Sĩ, nơi mà những tiểu thư khuê các con của những tỉ phú dầu mỏ và những ngôi sao điện ảnh ghi tên nhập học.
Cô bé bắt đầu năn nỉ Anna đồng ý để cô đi. Cô biết rằng không phải học phí đắt đỏ là điều Anna e ngại mà chính là sự vắng mặt cảu cô ở nhà. Do vậy Katie chuẩn bị những lý lẽ hết sức hoàn hảo để thuyết phục mạ trong vòng có hai mươi tư giờ đồng hồ Anna đã đành phải ưng thuận với một vẻ hết sức rầu rĩ.
Lúc đầu, Anna rất thất vọng vì điều đó, nhưng rồi cô lý luận rằng lũ trẻ phải được hưởng những gì tốt đẹp nhất mà tiền có thể đem lại. Vả lại cũng chỉ một hoặc hai năm là cùng rồi bọn chúng sẽ lại trở về nhà. Cô quyết định thảo luận chuyện này với Acker, nên sai Flora đi gọi cậu bé tới phòng làm việc.
Như thường lệ, trông cậu như một kẻ lang thang. Điều đó khiến Anna khó chịu
- Quần con bị rách rồi, - cô bực bội nói, - và nhìn áo sơ mi của con kìa, nó mới bẩn thỉu làm sao. Con khong có thứ gì khả dĩ hơn để mặc hay sao?
- Có chứ, mẹ, - cậu bé đáp kèm với một nụ cười. - Nhưng mà để làm gì đâu bởi vì hôm nay con làm việc ở trong chuồng ngựa cả ngày cơ mà.
- Có chuyện gì à?
- Vâng, con ngựa cái của Katie bị mệt, nhưng mọi việc sẽ ổn cả thôi.
Đó là câu trả lời quen thuộc của cậu.
- Nào, bây giờ con hãy ngồi xuống, - Anna nói rồi gọi to: "Vào đi" khi có tiếng Flora gõ nhẹ vào cửa. Flora đã già. Một ngày nào đó họ sẽ phải cho bà ta về nghĩ hưu thôi. Già Jan đang sống trong một túp lều nhỏ của trang trại, còn Jacob thì chỉ có thể đi tập tễnh quanh vườn hoặc xém tỉa đám cây ăn quả. Nơi này đã trở thành một trại dưỡng lão mất rồi. Cô nhìn Flora khó nhọc đặt chiếc khay xuống bàn.
- Cà phê à mẹ?
Acker đang vội nên muốn tìm cách thoái thác, nhưng nhìn mặt mẹ cậu đoán đây là một câu chuyện quan trọng, có một điều gì đó đang khiến mẹ phiền lòng. Cậu giấu giếm sự nôn nóng của mình và ngồi xuống.
- Acker này, mẹ đã nghĩ rất nhiều về việc con cứ phí thời gian lang thang ngoài trang trại. Suy cho cùng thì con là một học sinh xuất sắc ở trường cơ mà.
- Ôi mẹ ơi, con có lanh thang đâu nào, - cậu bé lắc đầu lia lịa. - Con đang trông nom tài sản gia đình mình đấy chứ, cả trang trại ở Malmesbury nữa, rồi lại còn Modderfontein, nhà máy rượu, cừu karakul...
- Thôi được rồi, được rồi, - cô ngắt lời con trai. - Vấn đề là bất cứ một người quản lý nào cũng có thể làm được điều đó. Còn con, con cần phải ra học ơ nước ngoài.
Acker ngả người ra sau và hít một hơi thật dài. Vậy là đã đến lúc rồi. Cậu biết chuyện Katie đang thuyết phục mẹ để được sang Thụy Sỹ - điều đó tốt thôi với lũ con gái, còn cậu, cậu có nhiều việc khác còn quan trọng hơn.
- Mẹ muốn con theo học ngành kinh tế, - Anna vẫn tiếp tục nói. - Một ngày nào đó con sẽ được thừa kế trang trại này, cả mỏ kim cương, cả một nửa tập đoàn phân phối thực phẩm Southern Cross cùng với mười bốn công ty khác nữa. Sẽ là rất khó khăn nếu như con không có một nền tảng kiến thức vững vàng.
Acker thở dài. Từ nhiều năm trước cậu đã biết rằng sẽ có một ngày giữa cậu và mẹ có cuộc nói chuyện này; những lời cậu nghĩ không hoàn toàn đúng với những lời mẹ đang nói. Không hiểu mẹ có nhận ra được vực thẳm ngăn cách giữa hai mẹ con không nhỉ? Vì trong khi mẹ có quá nhiều hoài bão và khát vọng thì cậu lại chẳng có tí khái niệm gì về những thứ đó cả. Mọi quan tâm của cậu chỉ dành cho trang trại này, và dù là nó có thuộc về cậu hay thuộc về bất cứ ai khác thì cũng chẳng màng, chừng nào mà cậu vẫn còn được gắn bó với mảnh đất nơi cậu đã lớn lên này. Nhưng làm sao có thể giải thích được điều đó với mẹ mà không làm mẹ đau lòng nhỉ? Cuối cùng, cậu chỉ biết nói có mỗi một câu đơn giản:
- Không, mẹ ạ, con thích được ở nhà hơn.
- Nhưng mà Acker – Anna cố gắng thuyết phục – Con thử nghĩ xem. Con sẽ cộng tác với Paul trong công việc kinh doanh, mà nó thì được học hành đến nơi đến chốn. Nó đang học ở đại học Cambridge đấy.
Acker thở dài:
- Mẹ ơi, con ước sao mẹ con mình gần gũi nhau hơn để có thể hiểu được nhau. Nếu như mẹ biết tính con thì mẹ đã không bao giờ mong con bước vào đường kinh doanh ấy đâu. Con không quan tâm.
Anna cắn chặt môi, vẻ phật ý.
- Vậy thế con muốn làm gì? Cô nôn nóng hỏi lại
Đặt hai bàn tay lên đầu gối, Acker buồn bã nhìn chằm chằm xuống thảm. Cậu luôn là một con người không biết đối đáp nhanh nhảu và Anna thường xuyên phải nổi nóng với cậu. Lúc này cậu đang chần chừ để tìm câu trả lời. Anna cho rằng đó chính là nguyên nhân tại sao cô lại ít muốn trò chuyện với cậu. Suốt hai năm qua cô và con trai hầu như không có cuộc trò chuyện nghiêm túc nào cả trừ những khi họ bàn luận với nhau những công việc của trang trại.
- Ôi chao, con đã lớn lắm rồi đấy – Cô nói.
Khổ người cậu to lớn kềnh càng, cao bằng Simon, bề ngang thậm chí còn to hơn. Trông cậu như một khối đã granit chắc nịch, hình thù gai góc, cằm và mũi chìa ra, hai bàn tay to lớn tới độ có thể nhấc bổng cả một con bò đực.
- Acker này, con có nghĩa vụ và bổn phận với gia đình mình. Con sẽ là người trông nom gia sản này, cả em Katie và bản thân con nữa.
Acker đứng lên, mỉm cười. Rồi cậu cúi người về phía trước, hôn nhẹ vào má mẹ.
- Mẹ ơi, mẹ bỏ phí thời giờ mất rồi, - cậu nói và so vai lại. – Con là một người nông dân. Đó là một điều không thể thay đổi được.
Anna biết rằng sẽ không thể làm cho cậu thay đổi ý kiến. Nó giống hệt cha nó, bướng bỉnh, kiêu hãnh và không thể nào chịu nổi!

*
*  *

43

Nghe thấy tiếng chuông reo vang, Katie chỉ muốn hét tướng lên bởi cơn giận cố nén. Ngôi trường ở Thụy Sĩ này không hề giống với những điều cô mong muốn một tẹo nào mặc dầu cô đã cố gắng hết sức mình đề cư xử một cách nề nếp và lần đầu tiên trong đời cô chịu khép mình vào kỷ luật của nhà trường. Cô bực bội với những giới hạn mà họ đặt ra cho cô: Lúc cô muốn đi trượt tuyết thì đó lại là giờ đọc sách, và cô phải mặc vào người bộ váy áo buổi tối điệu đà đáng ghét khi mà cô chỉ muốn được thoải mái trong chiếc áo len dài tay cùng một cái quần bò. Cô nhớ da nhớ diết chiếc xe hơi của mình cùng với người tài xế, nhớ những đêm chạy xe hết tốc lực vòng quanh trang trại. Cô đã được tự do đến vậy, thế mà cô đã đổi lấy điều đó lấy những luật lệ lặt vặt tầm thường ở đây cùng với tình bạn của những cô gái đoan trang gia giáo không mấy thân thiện. Trên tất cả những thứ đó, cô ghét tiếng chuông thậm tệ bởi vì nó chi phối cuộc sống của cô, làm tan những giấc mộng huyền ảo và xói vào từng đầu dây thần kinh khiến trong huyết quản của cô dâng trào từng cơn giận dữ.
- Quỷ tha ma bắt nó đi. – Cô cằn nhằn, đá mạnh vào một chiếc ghế. Cô chỉ muốn chạy thật nhanh ra khỏi ngôi trường này, bắt một chiếc xe buýt dông thẳng ra sân bay và mua vé chuyến bay sớm nhất để về nhà. Nhưng trở về chỉ sau sáu tháng là điều không thể nghĩ tới được vì cô quá tự phụ để chấp nhận rằng mình thất bại.
Có tiếng gõ cửa khe khẽ; một người hầu gái được cử đến để tìm cô.
- Vào đi. – Cô nói to.
Người hầu gái mặc một bộ đồng phục màu xanh khắc khổ, vẻ mặt của cô ta cũng khắc khổ không kém.
- Xin cô thứ lỗi, thưa cô, nhưng cô đã bị muộn giờ học nhạc rồi ạ. Ngài O’Carrol đang đợi.
Lẩm bẩm sau hơi thở, Katie vớ lấy cuốn sách nhạc rồi hối hả bước dọc dãy hành lang, đi xuống những bậc thang rộng lát đã cẩm thạch sáng bóng và băng qua gian tiền sảng tới phòng học nhạc. Đóng sầm cánh cửa sau lưng, cô đập mạnh cuốn sách xuống nóc cây đàn pianô.
Ngước mắt nhìn lên, Michael có thể thấy rõ là cô bé đang tức giận. Anh cau mày. Một kỳ nghỉ ngắn ở Ailen có lẽ sẽ có lợi cho cô bé hơn, bởi vì tất cả lũ con gái nhóc tì ở ngôi trường này đều coi cô bé là điều gì đó xấu xa nhất. Nhưng cô bé lại có một chất giọng thật tuyệt vời mặc dù chưa được huấn luyện đúng cách. Thật là uổng! Katie thậm chí còn không thèm bận tâm tới việc luyện âm nữa.
- Thôi nào, cô Smit, trong một buổi sáng đẹp trời như thế này thì nên giữ một tâm trạng thoải mái mới phải chứ. Tôi đề nghị em hãy nhặt quyển sách kia lên và đặt nó xuống trở lại một cách nhẹ nhàng hơn.
- Em mong cho thầy cuốn xéo đi. – Cô bé đáp, hất tung mái tóc đỏ tuyệt đẹp qua vai.
Katie nhìn chằm chằm vào cặp mắt xanh sâu thẳm. Trong giây lát, cô cảm thấy nao núng. Tất cả các cô gái trong trường này đều như phát điên lên vì thầy giáo dạy nhạc người Ailen hết sức đẹp trai này. Katie lại căm ghét anh ta. Nghe đồn rằng anh ta là một nhà soạn nhạc nhưng lại đang phải kiếm sống bằng việc dạy nhạc trong khi chờ đợi sự thành công.
Nhìn cô bé, Michael chỉ muốn bạt tai một cái thật mạnh, nhưng anh cần việc làm. Chính là lỗi của mình nên giờ đây anh mới phải gánh lấy nhiệm vụ nặng nề ba giờ một tuần với cô bé bướng bỉnh này, vì khi Katherine Smit vừa mới tới trường thì anh đã quá đỗi vui sướng vì cuối cùng cũng tìm thấy một tài năng âm nhạc. Anh đã phải thuyết phục người thư ký của nhà trường viết thư cho cha mẹ của cô bé thông báo với họ về năng khiếu kỳ lạ của cô con gái rượu của họ và đề xuất ý kiến là cô bé cần phải được luyện tập. Mẹ của cô bé trả lời ngay lập tức và kể từ lúc đó mối phiền phức bắt đầu. Katie nổi đóa lên. Những giờ học nhạc bắt đầu bị gián đoạn bởi những cuộc đi chơi trượt tuyết. Anh đã cố gắng thuyết phục, chỉ ra rằng giọng hát tuyệt vời của cô sẽ đem lại cho cô cả một gia tài kếch sù và đem đến cho mọi người những giây phút thư giãn.
- Em đã có một gia tài kếch sù rồi và em chỉ cần chăm chút cho bản thân mình được thoải mái mà thôi. – Cô là một cô gái nhỏ bướng  bỉnh, chỉ muốn làm mọi việc theo ý của mình.
Nhìn thấy nụ cười chế nhạo của ông thầy, Katie chỉ muốn cào cấu cho hắn ta không thể cười được nữa.
- Nhặt nó lên đi, Katherine, - anh lập lại – và đặt nó xuống nhẹ nhàng thôi.
Katie nhặt cuốn sách lên nhưng không đặt xuống nhẹ nhàng mà lấy hết sức bình sinh đập thẳng xuống mái tóc đen nhánh bồng bềnh của thầy giáo.
- Em đã nói với thầy rằng em có thể làm được mọi chuyện mà, - cô rít lên. Phải thế chứ, cô bé nghĩ, mình không thể chịu đựng thêm một giờ học nào nữa với thằng cha ngu ngốc này.
Chợt nhận ra vẻ mặt của thầy, cô bé định co cẳng bỏ chạy. Nhưng đã muộn. Vẫn ngồi sâu trong chiếc ghế bành, anh tóm lấy khuỷu tay cô bé, kéo mạnh về phía mình. Katie chỉ còn biết quay lại, nhìn và cười khẩy.
- Em kêu lên bây giờ - Cô rít lên, nhưng bàn tay của anh đã giơ lên phát mạnh vào mông cô bé.
- Đồ con hoang! Ông sẽ bị đuổi việc vì chuyện này cho xem. – Katie cấu xé và vùng vẫy chống lại.

tira
0
Trang 408 - 409

- Tôi biết chắc điều ấy, - anh vừa nói vừa thở hổn hển, - nhưng như vậy cũng đáng.
Rồi anh thả cô bé ra làm cho cô bé ngã bổ chửng xuống dưới sàn nhà.
- Cô gái giàu có tội nghiệp, cô cứ việc hưởng những gì mà tiền có thể đem lại - Anh ói, - Tại sao cô không kêu cứu đi.
- Tôi không cần phải ai có ai giúp mới chống lại được với thầy - Cô bé thở dốc. - Tự tôi sẽ làm điều đó.
- Nói hay lắm, thưa cô Smit, - nụ cười chế nhạo lại quay trở lại với khuôn mặt của anh, rồi anh nói thêm - Bây giờ đến lượt cô đấy.
Có tiếng bước chân vội vã chạy tới cửa phòng.
Lúc này khi cơn nóng giận đã nguội đi, Michael lại thấy hối hận vì hành động của mình. Thật là ngu xuẩn nếu để mất việc làm chỉ vì một con nhóc mà mình ghét cay ghét đắng. cả hai người đều như bị đông cứng giữa phòng. Cánh cửa bật mở.
Đó là cô giáo dạy tiếng Anh, một người mà Katie chẳng ưa tẹo nào. Vẻ mặt khó đăm đăm của cô ta xoắn lại trong một cái nhìn ngờ vực và ghen tị. Thật là dễ dàng biết được cô ta đang nghĩ gì, tự dưng Katie muốn chọc tức cô ta. Dù sao thì Michael cũng sẽ bị đuổi việc cơ mà.
Cô bé giả bộ đỏ bừng mặt lên, vội vã vuốt thẳng váy áo và hất tóc ra sau lưng. Rồi cô sờ soạng ra xung quanh đẻ tìm quyển sách trong khi nghe rõ những tiếng cười khúc khích của các cô gái đang lấp ló ngoài cửa.
Michael lướt nhanh những ngón tay trên những phím đàn.
- Em đã sẵn sàng chưa hả? - Anh hỏi và ít nhất một lần cảm thấy không tự tin vào chính bản thân mình.
Đồ chó đẻ!
- Rồi ạ, thưa thầy, - cô ngoan ngoãn đáp lại và cất tiếng hát véo von.

*
*   *

Anna nhớ Katie hơn là cô tưởng rất nhiều. Hai năm trời đằng đẳng trải ra trước mắt cô dài như vô tận. Mới có vài tháng mà nỗi muộn phiền đã ngày một lớn hơn. Thêm nữa, Acker rất ít khi ngồi lại cùng mẹ. Thằng bé thường xuyên đi tới những trang trại khác của gia đình và khi trở về lại dành ra nhiều buổi tối ở trong chuồng ngựa hoặc xem xét sổ sách kế toán. Nó đã trở thành một người đàn ông vững chãi và độc lập, cô đã có thể tin tưởng vào nó về mọi điều trừ tình bầu bạn. Pald lại đang học ở Cambridge, Kurt dạo này cũng ít ghé Fontainebleu, còn Simon thì vẫn sống trong ngôi nhà thuê ngoài thị trấn. Anna chẳng bao giờ tới đó để thăm anh cả. Fontainebleu dường như rộng ra và trống trải hơn bao giờ hết.

*
*    *

Mọi chuyện bắt đầu hết sức tình cờ, thoạt tiên chỉ là để giết thời gian, nhưng vài tuần sau đó Anna càng trở nên gắn bó với việc chăm sóc lũ trẻ nhỏ trong ngôi trường làng. Cô vẫn luôn là một người yêu trẻ và bởi vì Katie đã đi nên cô cảm thấy thân thiết với đám con cái của những người nông dân hơn. Cô nhận ra rằng càng lo lắng cho "những đứa trẻ của mình" theo như cách cô gọi bọn chúng bao nhiêu thì sự cô đơn trống trải trong cô ngày càng tan nhanh bấy nhiêu, cho tới khi cô bận rộn tới mức không còn thời giờ để mà chán nản nữa. Cô thành lập một văn phòng giới thiệu việc làm cho những đứa trẻ đã tốt nghiệp, sau đó quyết định đứng ra tổ chức một câu lạc bộ sau tốt nghiệp tại một căn nhà bỏ hoang mà cô đã mua và cho sửa sang lại. Mọi nỗi òoài nghi, ác cảm của dân làng đối với cô dần dần bị xóa bỏ, người ta đặt cho cô cái biệt danh trìu mến là "dì Anna". Được yêu mến là cảm giác thật dễ chịu mà Anna ít khi được biết tới, cô bắt đầu thấy có một tình cảm ấm áp nhen nhóm trong lòng. Đêm đến, cô thậm chí còn không cần tới những viên thuốc an thần kia nữa.
Những người nông dân rất tán thành câu lạc bộ sau tốt nghiệp, vì nhờ có nó mà họ có thể xa lánh được những quán rượu, nhưng văn phòng giới thiệu việc làm thì lại không được ủng hộ chút nào. Người ta lo sợ rằng nó sẽ khuyến khích giới trẻ thoát ly khỏi cuộc sống đồng ruộng để đi tìm việc ngoài thành phố - điều đó sẽ
tira
0
526 - 531
 
cũng phải thừa nhận rằng những gian hàng của mình chỉ thu hút được những khách hàng thuộc thành phần có thu nhập thấp trong xã hội chứ chưa có được những khách hàng đáng mặt anh tài. Song anh sẽ là thằng ngu nếu như gọi điện lại cho cô ta.
Nhưng anh đã làm vậy vào tối ngày hôm sau.
- Thôi được rồi, vậy thì cô muốn gì nào?
Cô nhoẻn cười.
- Tôi chảng muốn gì cả, mà chính là anh muốn đấy. Chúng ta có thể thảo luận với nhau về những điều mà tôi đã tìm hiểu được trong một bữa ăn tối.
- Bữa trưa – Anh quát vào ống nói.
- Không, bữa tối. – Cô nhẹ nhàng đáp lại.
Một sự im lặng kéo dài. Rồi Paul lại lên tiếng:
- Vậy thì tối thứ Bảy tuần sau nhé. Tôi không thể gặp cô sớm hơn được đâu.
- Anh chờ máy nhé, để tôi xem lại thời gian biểu của mình đã. – Rosemary chặn lại. – Tôi nghĩ rằng, thứ Bảy tuần này thì thích hợp hơn đấy. – Cô bảo anh.
Paul đặt ống nghe xuống và nhìn trừng trừng ra ngoài cửa sổ trong mấy phút đồng hồ. Tất cả những gì mà đồ con hoang này cần là bòn rút của cải của người khác mà thôi, anh nghĩ, nhưng cô ta trẻ quá, lại là người thân trong gia đình và rất gần gũi với Anna. Anh nói to thành tiếng: “ Mình sẽ tránh cô ta như tránh một bệnh dịch”, làm cho cô thư kí đang đứng gần đó đợi lệnh phải giật mình.
 
56
 
Có lầm vào một mùa đông khắc nhiệt thì mới biết qu‎ trọng một mùa xuân ấm áp. Katie giờ mới thấm thía được điều đó. Bên ngoài căn hộ của họ là một con mương kè bê tông và bên kia con mương ấy, đi qua một sườn dốc dài chừng năm thước là tới bãi đất hoang. Nó đã bị lấp đầy gạch vụn từ ba tháng trước nhưng cô vẫn chịu khó dọn quang một khoảng rộng để trồng vài luống hành. Và sau đó tuyết đã phủ kín mọi vật. Bây giờ không gian lại bừng thức dậy và tỏa ánh sang lấp lánh, một vài mầm xanh vượt lên và dãy hàng rào lộ ra trắng xóa. Lòng Katie tràn ngập vui sướng khi cô mở rộng khung cửa sổ trèo qua đó ra ngoài. Rồi cô vội vã đi tới vườn ươm cây ở ngoài rìa một ngôi làng, trích ra một phần trong số tiền đi chợ hàng ngày để mua mấy khóm đỗ quyên và oải hương đang nở rộ những bông hoa.
- Cô lấy đâu ra thời gian để chăm sóc chúng? CÒn phải luyện giọng nữa chứ! – Michael hỏi cô khi anh trở về nhà nhưng không tỏ ‎ trách móc gì cả mà chỉ đứng yên bên cửa sổ và nhìn say sưa về phía những luống hoa. Phong thái của anh tự dưng khiến cho cô nảy ra một ‎ nghĩ lạ lung: Michael đang nhìn những bông hoa ấy cứ như thể đây là lần đầu tiên (hay là lần cuối cùng) anh ấy được nhìn thấy chúng vậy. Suy nghĩ đó làm cho cô sững sờ, và cô thấy lạnh cả người. Tại sao nó lại xen vào cuộc sống đã bình lặng trở lại của cô thế nhỉ? Cô gạt nó sang một bên.
- Trông chúng rất đáng yêu, phải không? – Cô nói.
- Một tháong mong manh của cõi thiên đường. – Michael vội vã quay đi, và cô nghe tháy tiếng cánh cửa đóng sầm.
Chúa ơi, anh ấy có điên không nhỉ? Không, tất nhiên là không rồi. Cô tiếp tục chiêm ngưỡng những bông hoa của mình từ trong căn phòng sang rực ánh ban ngày vì những tấm rèm cửa nặng nề đã được cô kéo tung ra hết. Cô đã bỏ phí mất một nagỳ, nhưng như vậy thì có sao nào? Cô cũng đã tiêu đi gần hết số tiền đi chợ của một tháng, và từ giờ đến cuói tuần họ sẽ phải ăn trứng và khoai tây rán. Cô cừoi to và đi vào trong bếp.
Sau đó, trong bữa tối, cô nói:
- Tại sao anh lại làm tất cả những điều này cho tôi thế hả?
Michael ngẩng lên, hơi giật mình.
- À… Katie… Tôi cũng thường tự hỏi mình như vậy, nhưung không phải là vì cứ bị ăn mãi hai món trứng và khoai tây rán thế này đâu, tôi cam đoan đấy. – Anh cười lớn.
- Anh hãy nói cho tôi biết đi. – Cô vẫn kiên trì hỏi tiếp.
Anh vươn tay ra và véo vào tai cô.
- Có thể là vì tôi muốn chứng tỏ cho mọi người biết rằng cô bó Katie nhờ có tôi mà trở thành một ca sĩ nổi tiếng đấy.
- Anh hãy nghiêm túc đi nào, có được không?
- Tại sao, tại sao, tại sao… luôn là những câu hỏi. Phụ nữ cũng giống hệt như trẻ con vậy. Tôi đã nói với cô khi trước rồi mà, tôi ghét làm một việc gì đó nửa chừng lắm.
- L‎ do đó bây giờ không còn được chấp nhận nữa rồi. – Cô phụng phịu.
- Vậy thì cô hãy nghĩ ra một l‎ý do nào khác hộ tôi đi.
- Anh nói vậy nghĩa là sao?
- Nghĩa là tôi chẳng biết trả lời câu hỏi của cô ra sao cả. Có thể là vì cô đã đem lại cho tôi cuộc sống mới chăng.
- Còn gì nữa không?
- Ôi, Katie, cô thôi nhõng nhẽo đi được không nào?
Môi cô gái trề ra
- Thôi được rồi, thế này vậy nhé: Chúng ta sẽ trao đổi thông tin. Cô nói cho tôi biết nguyên nhân khiến cô bỏ nhà ra đi, sau đó tôi sẽ nói cho cô biết tại sao tôi lại làm vậy.
Mặt Katie đỏ bừng lên, cô cắn môi và chạy vào bếp pha trà.
Cô ấy là một cô gái thật đáng yêu, anh nghĩ thầm, giá mà mọi chuyện khác đi thì anh đã ngỏ lời cầu hôn với cô ấy rồi. Anh tự hỏi không biết điều gì đã khiến cho cô bé phải xấu hổ tới mức như vậy. Chà, nhưng cũng dễ dàng tìm ra thôi. Anh có mấy người bạn đang dạy trong trường Âm nhạc ở Cape Town. Anh viết thư nhờ họ điều tra hộ
Những cây hoa xuân lớn dần, trổ bông rồi héo đi, nhưng Katie chẳng còn tâm trí nào để trồng loại khác nữa. Có một điều gì đó không ổn, cô biết vậy. Anh ấy gầy quá, và tại sao anh ấy cứ mải miết làm việc thế nhỉ? Cô hầu như không thấy anh ngủ bao giờ, cứ thư thể làm vậy là anh sẽ bỏ phí đi thời gian vậy. Ở anh có vẻ gì đó rất buồn. Hơn thế nữa, anh lại chẳng chịu ăn uống gì cả. Lại còn những viên thuốc mà anh cứ lúc nhớ lúc quên nữa chứ.
Một hôm, cô lấy tất cả những viên thuốc từ phòng tắm ra và đi thẳng tới chỗ dược sĩ.
- Cha của tôi đã chết – Cô nói dối. – Tôi muốn quảng hết những thứ thuốc mà tôi không cần đi. Ông có thể xem giúp tôi được không ạ?
Ông bắt đầu phân loại chúng.
- Cô có thể vứt hết chúng đi được rồi đấy. Cha cô đã chết vì bệnh ung thư phải không?
- Không. – Cô nói. – Bị đau tim ạ.
- Ồ, có thể đó chỉ là một chứng bệnh mà người ta hay mắc phải khi đã bi ung thư rồi. Cô hiểu chứ?
Cô gật đầu, quá bối rối nên không nói được thành lời.
- Loại này là thuốc giảm đau, - ông ta tiếp tục, - loại này là thuốc chống nôn. Cô có thể giữ lại. Còn nếu cô bị sốt mùa hè thì có thể dùng loại này. Tôi xin chia buồn vì cái chết của cha cô.
Katie hầu như không thể nhớ nổi những gì xảy ra tiếp theo trong ngày hôm đó. Cô cứ đi lang thang trong bãi đất hoang, rồi lại đi ra phố. Màn đem buông xuống, cô trở về nhà, người tê cóng đi vì buồn bã.
Chắc chắn không phải Michael rồi! Michael của cô không bệnh. Một con người với một cá tính hóm hỉnh đến thế, cặp mắt sang ngời đến thế và sức sang tạo bền bỉ đến thế. Đột nhiên cô nhận ra một điều, rằng mình đã yêu anh, yêu từ lâu rồi.
 
57
 
Cuối cùng thì thứ Bảy cũng đến, Paul và Rosemary tới nhà hàng Angliotti nơi Paul rõ ràng là khách quen; anh chăm chú nghiên cứu những kết quả mà cô đã tìm hiểu được và không ngừng cau mày nhăn mặt. Chứng cứ chỉ ra rõ ràng rằng: Hình ảnh Better Buys đã bị đánh giá thấp, “giá rẻ” là thông điệp duy nhất mà nó có thể chuyển tới cho khách hàng. Vấn đề cốt lõi là, Rosemary phân tích, Better Buys cần phải chú trọng tới cả vệ sinh thực phẩm, chất lượng hàng hóa và tiết kiệm thời gian nữa. Phải thừa nhận rằng giá cả phải chăng cũng là một yếu tố quan trọng thu hút khách hàng, nhưng đó chỉ là gián tiếp mà thôi. Cô cũng đề nghị một chiến dịch quảng cáo mới hình ảnh của cô là một người vợ nội trợ đảm đang, hiền thục.
- Tôi tò mò muốn biết, - cuối cùng anh mới nói – tại sao cô lại làm chuyện này?
Cô mỉm cười.
- Một việc làm có được không? Một chức danh như là nhân viên phụ trách đối ngoại chẳng hạn? Việc này tôi rất thạo đấy.
- Thật vậy à? – Anh vươn tay qua bàn nắm chặt lấy tay cô; trong giây lát cô thực sự choáng váng bới sự mạnh mẽ trong tính cách của anh.
Cô lắp bắp:
- Tôi muốn được là một phần của anh. – Nhưng lời nói vừa được thốt ra là cô đã cảm thấy vô cùng ân hận.
- Tại sao? – Anh nghiêm nghị hỏi lại
Rosemary phá lên cười như để khỏa lấp đi sự bối rối:
- Anh không biết à? – Giọng nói của cô lộ vẻ hăm hở thái quá. Cô cố gắng lấy lại sự tự tin của mình. – Tuần trước anh đã được nhắc đến trên tờ Phụ nữ như là một doanh nhân có triển vọng được xếp hang thứu hai ở nước ta trong lĩnh vực bán lẻ đấy.
Paul cau mày quay trở lại chăm chú với đĩa thức ăn của mình.
- Với lại, - cô tiếp tục, dường như khong thể ngăn được những lời huyên thuyên cứ buột ra khỏi miệng. – Hình ảnh quảng cáo của tôi bây giờ xấu quá rồi.
Paul thực sự tức giận, anh lờ cô đi trong suốt phần còn lại của bữa ăn. Tuy vậy lúc anh đưa cô trở về nhà đêm hôm đó anh bất ngờ ôm chặt lấy cô và hôn cô, nhưng đó là một hành động khủng khiếp mà anh chẳng muốn tẹo nào.
- Tôi sẽ gặp lại cô. – Anh nói.
Kể từ hôm đó, Paul thường xuyên gọi điện cho Rosemary nhưng chỉ bàn luận với cô những vấn đề về công việc, về thị trường và về nhân sự. Anh cũng thường xuyên đưa cô tới dự nhưunxg buổi tiệc công việc và giới thiệu cố với tư cách là “cô Better Buys”. Cô còn giúp anh viết cả những bản thuyết trình, nhưng anh vẫn luôn tỏ ra nghiêm túc và chỉ quan tâm vào công việc mà thôi. Cô bắt đầu cảm thấy thất vọng với tất cả những gì mà cô đã kỳ vọng ở anh.
- Mẹ chẳng hiểu tại sao mà con phải chán nản đến thế nhỉ, - Edwina lại nói. – Suy cho cùng thì anh ta cũng chẳng trả them cho con được đồng nào. Con nên dành thì giờ của mình cho việc học tập thì hơn.
 
*
 
*     *
 
Đó là buổi lễ khai trương siêu thị mới nhất của Paul. Như thường lệ, việc này đã trở thành một “sự kiện trọng đại” với một nghi thức cắt băng khánh thành long trọng và sau đó là một buổi tiệc rượu có kèm vũ hội. Lần đầu tiên Rosemary được đích thân một vị giám đốc mời tới dự một buổi lễ như vậy và cô ngạc nhiên khi thấy mình luôn được Paul giữ lại cạnh anh trong suốt buổi lễ ồn ào ấy.
- Tôi mời cô đi ăn trưa nhé. – Paul gợi ý khi cửa hang đã bắt đầu đi vào hoạt động bình thường.
Anh dẫn cô tới một nhà hàng nhỏ nằm trên Vịnh Hout trông thẳng ra biển. Họ ăn món tôm hùm tươi nướng, sau đó đi dạo dọc trên bờ cát dài và ngồi xuống một tảng đá, ngắm nhìn đám ngư dân đang hò nhau kéo lên những mẻ lưới đầy ắp.
Một lúc sau, Paul lên tiếng:
- Tôi cho rằng cô đang thắc mắc tại sao tôi không giao việc cho cô phải không?
Rosemary nhún vai nhìn đi chỗ khác.
- Tôi đang định đề nghị với cô một vị trí mới, -anh tiếp tục. – Đó là một dự án dài hạn, tiền thưởng sẽ rất cao, hầu như chẳng phải làm việc gì vất vả cả, cũng chẳng mất nhiều thì giờ. – Anh dừng lời và cau có nhìn xuống bãi cát. – Tôi nói thẳng ra với cô luôn nhé, không cần phải vòng vo màu mè gì nhé. Tôi không muốn cô hiểu nhầm ‎ tôi.
Cô cảm thấy honag mang bối rối, cặp mắt như muốn díp lại bởi loại rượu vang lạ. Hôm nay, vì một lý do nào đó, Paul đã làm cho cô hoảng sợ.
- Tôi nghĩ về chuyện này đã hang tuần nay rồi. – Paul tiếp tục. – Tôi không thể nhớ nổi bữa ăn tối hôm đó và những gì mà cô đã nói khi ấy.
Rosemary cố gắng vắt óc nhưng không thể nhớ ra mình đã nói những gì.
- Tôi đã hai mươi sáu tuổi rồi, - anh bạt lên một tiếng cười cụt lủn. – Tiền mặt thì không có nhiều, nhưng giá trị tài sản thì lên tới cả triệu bạc. Vấn đề là, mọi người trong công ty của tôi khuyên tôi nên lấy vợ. Họ nghĩ rằng Better Buys sẽ có uy tín hơn nếu có được hình ảnh của một tổ ấm gia đình trong đó. Tôi vẫn luôn mong ước có một người vợ đảm đang trong công việc nội trợ và họ gợi ý tôi nên chọn người ở ngay bên mình.
Anh vốc lên tay một nắm đá cuội và bắt đầu ném mạnh từng viên ra biển như thể ném, từng ít một, sự giận dữ của mình xuống mặt biển êm đềm.
Rosemary bắt đầu cảm thấy chóng mặt. Có thật là anh ta đang đề nghị chuyện đó không nhỉ? Mắt cô nhức nhối vì căng thẳng.
 
tira
0
532-533
 
Giá mà anh ta nói thẳng toẹt ra luôn.
- Tôi cũng đã nói chuyện với cô Anna rồi, - anh tiếp tục – Cô ấy rất đồng tình với ý kiến đó. Vấn đề là, tất cả mọi người đều cho rằng đã đến lúc tôi nên lấy vợ, và tôi cũng… - Anh ngừng lại. – Tôi đã nghĩ rất nhiều. Nhìn xung quanh, tôi chỉ thấy có cô là người thích hợp, và tôi đã chọn…
Rosemary lúc này mới có thể lên tiếng nổi.
- Vậy sao…?
Nhưng anh đã tóm lấy tay cô siết chặt.
- Chờ đã, - anh nói. – Tôi muốn cô hiểu một điều rằng tôi sẽ không bao giờ yêu cô cả, tôi cũng sẽ không thể giả bộ thích cô được đâu. Chúng ta sẽ không có con. Tôi đang đề nghị với cô một thương vụ: cùng làm việc, cùng giải trí, cùng quản lý  những cửa hang… Chúng ta sẽ làm thành một cặp tuyệt đẹp: cả hai đều tàn nhẫn, đều tham vọng. Tôi sẽ không để cô phải thiếu tiền.
Lần đầu tiên anh nhìn thẳng vào cô, cặp mắt đen như than đá ấy đã chiếu thẳng vào mắt cô một cái nhìn thật dữ dội. Không có tình yêu trong đó, mà chỉ là sự giễu cợt và khinh bỉ.
- Tôi chấp nhận. – Cô nói. Sau này, cô nghĩ, một khi họ đã lấy nhau rồi thì cô sẽ có thể tiếp cận anh một cách dễ dàng hơn, và rồi từ từ Paul sẽ phải yêu cô say đắm.
Anh lắc mạnh tay cô.
- Theo phong tục thì anh phải hôn tôi đấy. – Cô lắp bắp.
- Rosemary. – anh đáp, vẻ quở trách, - đừng bắt đầu một hành động sai lầm như vậy đi.
 
              *
       *                     *
 
Đám cưới được tổ chức ở Fontainebleu và trở thành một trong những sự kiện lớn nhất trong năm. Ạcker là người trao quà tặng cho cô dâu, còn Margaret thì chuẩn bị một bữa tiệc thật linh đình.
Lễ cưới bắt đầu vào lúc mười giờ sang. Một vị đại diện pháp luật của địa phương đã tới đây để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho hai người tại phòng khách lớn trông thẳng ra vườn nho. Paul tỏ ra thô tục, cục cằn, và rõ ràng là rất khó chịu khi người ta tuyên bố rằng hai người là vợ chồng. Anh hôn nhanh một cái nhưu mổ vào má cô rồi vội vã bỏ ra ngoài.
Bữa tiệc bắt đầu ngay sau đó và diễn ra trong suốt ngày hôm ấy. Vào lúc hoàng hôn. Khi mà tất cả mọi người chẳng ai có dấu hiệu gì là sắp ra về cả thì Acker đã ra lệnh chuẩn bị thêm những xiên thịt cừu nướng và sai người khuân ra thêm vô số nhưunxg thùng rượu vang để tăng cường. Ban nhạc được thuyết phục ở lại thêm với một mức bồi thường tăng lên gấp đôi và những bong đèn đủ màu sắc rực rỡ được thắp vôi trên những ngọn cây to trong sân. Bữa tiệc kéo dài tới tận nửa đêm, nhưng trước đó khá lâu Rosemary và Paul đã ra sân bay, nơi họ đáp một chuyến bay lên đường tới Johannesburg. Từ đó họ sẽ thuê một chuyến phi cơ đặc biệt để bay tới Đảo Thiên Đường.
Đối với Rosemary hòn đảo này thật đúng với tên gọi của nó: những bờ cát trắng phau, một vùng biển hẻo lánh nơi cô có thể thả mình bơi lội giữa những khóm san hô, một khách sạn yên tĩnh mà chủ nhân cử nó là một cặp vợ chồng già người Bồ Đào Nha nhận nấu ăn luôn cho họ.
Sáng sáng, họ dậy thật sớm, chạy lao ra ngoài biển, sau đó đi lang thang khắp đảo. Họ trở về vào quãng chin giờ, bụng đói meo, ăn ngấu nghiến một bữa điểm tâm ngon lành. Rồi họ ra khơi trên một chiếc thuyền có đáy bằng kính, đem theo cả mặt nạ và ống thông hơi, lặn xuống thám hiểm đáy biển. Bữa trưa thường có cá và bít tết được chuẩn bị ngay trên bãi biển, có cả rượu vang ướp lạnh và sa lát trộng thịt nữa. Chiều xuống, họ nằm lười biếng dưới những bong râm, tỉnh dậy vào lúc bốn giờ và lại đi lang thang cho tới khi bầu trời tối hẳn. Trở về nhà, Paul dạy cô chơi cờ, đánh bài và họ cùng nhau ăn món mực bút, tôm hùm và sò huyết. Vào lúc nửa đêm, lơ mơ vì ruôự vang và bầu không khí ấm áp trong phòng, họ lên giường đánh một giấc thật say cho tới sáng.
Duy nhất có trở ngại đối với  Rosemary trong kỳ ngỉ tuyệt vời này. Sự thiếu vắng tình dục trong tuần trăng mật đã khiến cô cảm thấy bất an. Cô vẫn là một trinh nữ, mặc dầu không nồng nhiệt và đa tình như chị gái của mình nhưng cô cũng hiểu được rằng tình dục và đám cưới luôn đi cùng với nhau. Edwina không bao giờ thảo luận với
tira
0
Trang 410 -437

Nguyễn Quang đánh máy


đẫn tới việc khan hiếm nhân công lao động. Anna đã nhận được vài
lá thư chỉ trích.
Tiếp đến. cô bắt đầu quan tâm tới việc cải thiện môi trường
sống trong nhà tù và cô nhi viện. Rồi chỉ thêm một bước nhỏ nữa để
thâm nhập vào các hoạt động chính trường Cô quyết định sẽ ra ứng cứ
một cách độc lập trong cuộc bầu củ nghị viện sắp tới, và những quan
điểm về tự do của cò đã bắt đầu được nhiều người biết đến
Chính quyền thị trấn và những người nông dân thuộc phái
hữu kiên quyết chống lại cô. Đến đay thì không còn là vấn đề giết
thời gian nữa rồi, Anna đã tự đặt mình vào thế cưỡi trên lưng hổ;
những lời mời mọc không còn ào tới nhà cô nữa, chẳng bao lâu sau
tới lượt các tố chức từ thiện, và cò đã bị một vài bà vợ của những
người nông dân công khai làm ri.hục.
Suốt từ sáng sớm cho tới tối mịt' Anna bị ám ảnh với việc lập kế
hoạch hết sức ti mi cho chiến địch của mình. CÔ quyết tâm ngồi vào
được một ghế trong hội đồng thị trấn vào cuộc bầu cử sẽ diễn ra trong
vòng chín tháng nữa. Do vậy cô rất phiền lòng khi Vera Frieớland gọi
điện đến đề nghị được tới thăm cò vào ngày Chủ nhật.
- Vậy các bạn hãy tới đay nghi cuối tuần đi - Cô đáp và nói
thêm với vẻ giả dối. - Như vậy thật tưyệt.
Kỳ nghi cuối tuần là một điều khó chịu ngay từ buổi tối đầu
tiên. Anna mủi lòng, ý thức được sự đơn độc của mình khi trông thấy
cảnh Vera và Kurt ngồi ăn với nhau ờ phía bàn bên kia. CÔ buồn lắm
nhưng vẫn phải cố tỏ ra vui vẻ, cười to hon và uống rượu nhiều hon
Kun èó vẻ thích thú với việc tâng bốc vẹm để làm cho Anna phải
đau khố.
Vera, em đọc nhiều, - anh hỏi. - vậy em nghĩ sao về sự gia
tăng tội phạm trong giới thanh niền ngày nay hả?
- Vera đỏ lzmg mặt vì sung sướng, đáp lời Kut1 bằng một bài
giải thích thật đài.
Sau bữa ãn, cò ta thẹn thùng xin lồi và đi về phòng ngủ.
- Anh đã sợ rằng chúng ta lại có khuynh hướng nói chuyện
làm ãn. - Kurt nói. - Điều đó sẽ làm Vcra phiền lòng
- Văng. - Anna đáp, trong lòng vui mừng vì cô ta đã đi khỏi -
Paut thế nào?

Kurt cau mày buồn bã.
- Đó chính là nguyên nhân tại sao bọn anh lại muốn đến gặp
em. Paut bỏ học rồi
Họ đang ngồi nơi phòng l(hách, tụm lại với nhau ở phía trước
lò sưởi, nhưng hơi ấm từ đó đường như chỉ lan ra được có vài thước
trong đêm dòng dặc biệt lạnh giá này. Kurt im lặng nhấp từng ngụm
rượu nhỏ trong khi Anna kiên nhẫn chờ đợi.
- Thằng bé là nỗi thất vọng lớn đối với Vera, - cuối cùng anh
thốt lên. - Anh không thể nói rằng mình thực sự gần gũi với Paut,
nhưng còn Vera, cò ấy đã dành hết cả cuộc đời mình cho nó.
MỒ'i thương cảm của Anna lại hướng về Paut.
- Có thể là nó không muốn bị biến thành một Sản phẩm của
Vera chàng - CÕ nói.
Anh đua mắt nhìn sang cô.
' - Bọn anh cần được em giúp đỡ. Em luôn có ảnh hường lớn
đối với thằng bé mà. Bọn anh muốn thuyết phục nó quay trở lại
Cambridge để hoàn thành khóa học của nó.
- Nhưng Paut muốn làm gì?
' - Ôi chao. toàn là điều vớ vẩn. Em hãy cứ dọi mà nghe nó
nói. N'g'ày mai nó sẽ đến đây ăn trưa đấy.
Anna đau nhói trong lòng vì Paut chẳng hề gọi điện cho cô.
Hai cô cháu luôn yêu thương nhau mặc đầu trong những năm qua
Vera đã cố hết sức để ngăn không cho nó tới trang trại Fontainebleu
này. Anna đi về giường vào lúc mười một giờ và nằm thao thức tới
hơn một tiếng đồng hồ mà vẫn không ngủ được. Cô ngồi dậy, lùa tay
vào ngăn kéo tìm lọ thuốc ngủ lấy ra hai viên. Sáng hôm Sau, cò tỉnh
giấc từ lúc bình minh, đầu đau như búa bổ. CÔ nằm yên trên giường.
bấm đốt ngón tay tính số của cái mà mình đang có để tự trấn an rồi
sau đó mới dám trở dậy để đối mặt với một ngày mới.
đổ
' $l‘ $l&lt;
Paut đến muộn trong bữa ăn trưa. Tói một giờ rưỡi mà Kurt vẫn
phải đi đi lại lại ngoài sân. mắt liên tục liếc vào đồng hồ, vẻ mặt xanh

xao lạnh lẽo. Paut tới trên chiếc mỏ tô của mình, nó rê xe quay ngược
trở lại và lú ga ầm ĩ trước khi dừng hẳn. Rồi nó bỏ mũ bảo hiểm ra,
nhìn Kurt một thoáng với vẻ gần như căm thù trong ánh mắt.
Anna hé rèm nhìn trộm ra ngoài từ phòng làm việc và nhận
thấy rằng Paut già hơn rất nhiều so với tuổi mười tâm của nó. Thằng
bé đã trở thành một người đàn ông thấp lùn, to bè, chắc nịch, da nâu
rám, mái tóc đen nhánh và cặp mắt xếch ngược. Nó hệt như một
người CÔ-đắc vậy. CÔ bực bội khi phải tham gia vào một vở kịch gia
đình trong kỳ nghỉ cuối tuần. CỒ cảm thấy như mình có trách nhiệm
trong khi lồi lại không phải do cố gây ra. Suy cho cùng. đó là mâu
thuẫn cá nhân giữa Kurt và con trai anh ấy cơ mà. CÔ trông thấy Paut
dứt mắt khỏi cha, ấn sâu hai tay vào trong túi chiếc áo da của nó và
thờ ơ đặt bước lên những bậc thang dẫn vào tiền Sảnh. Nghẹn ngào
đến tức thở, Anna vội vã đi ra.
Thằng bé chào đón Anna trịnh trọng hơn thường lệ, rồi nó nói:
- Cháu đến đúng giờ chứ ạ? - như thể đợi chờ một câu phủ nhận.
- Ôi chao, giờ nào mà chả được. - Anna đáp. Co đi vào phòng
ăn, rung chuông báo hiệu bữa trưa và đứng yên trong căn phòng
trống trải, chờ vợ chồng nhà Friedland vào cùng.
Trời lạnh buốt. CÔ rùng mình nhìn ra ngoài quang cảnh mùa
dông buồn hiu hắt bên ngoài, những cành sồi khẳng khiu trơ trụi,
những vườn nho hoang vắng thê lương Sương mù che khuất những
đình núi. tràn xuống cả thung lũng.
Năm phút sau Paut vào, cậu bước tới cạnh cô bên cửa sổ.
- Thứ mà nơi này cần, - cậu nói, - là một cuộc sống sôi động
hơn. Một trung tâm mua bán và giải trí chẳng hạn.
- Đừng có bắt đâu nữa đi, - Kurt từ ngoài cửa nói vọng vào,
Anna nghe rõ sự tức giận trong giọng nói của anh. CÔ thắc mắc
không hiểu diều gì đang xảy ra với họ, nhlmg cũng chẳng mất nhiều
thời gian để tìm hiểu ra vấn dề.
Tói giữa bữa an, Paut dột ngột nói:
- Cha đã kể cho cô Anna nghe về những kế hoạch của con
hay chưa?
- Những giấc mơ ngày, ý con muốn hỏi thế phải không? -
Kul1 mỉm cười. - Chưa.

- Thõi nào, bây giờ đang bữa ăn mà. - Vera chen vào
- Vậy Sao? - Paut cau có nhìn cô ta. Cậu có vẻ do dự, rồi nói
tiếp. - Quý thặt! Lai cả cô nữa. - Cậu liếc nhanh về phía Anna và lần
đầu tiên cô nhận thấy rằng thằng bé là một cá thể cứng cỏi. Paut
không còn là một cậu bé con nữa mà dã trở thành một gã trai cúng
đầu. sắc sảo, chỉ thích làm mọi việc theo ý của mình CÔ tự hỏi
không hiểu Vera có nhận ra được diều này không nhi? Tại sao họ lại
phí thời gian để mà thuyết phục nó thế?
- Cái lão này đang cố bắt cháu phải học nốt? - Paut nói, khoát
tay về phía Kurt.
– Sao con dám? - Vera rít lên the thé, hai chấm đỏ hiện lên
trên má cô ta. Câi lão ấy là cha con đấy, con phải xưng hô cho
dúng cách chứng
- CÔ câm mồm đi. Vera. - Paut sưng sỉa.
- Ban đêm cô có ngủ được không? - Một lát sau cậu lại đột
ngột quay sang hỏi Anna.
- Có, - cô đáp, trong đầu thoáng nghĩ tới lọ thuốc nhỏ màu
vàng trong ngăn kéo bàn của mình.
- Cháu lại không, - Paut rầu rĩ nói tiếp. - Cháu cứ nằm trên
giường, suy nghĩ và tính toán. Cháu vạch ra những kế hoạch cho
riêng mình. Cháu biết rõ là mình phải làm cái gì. Bây giờ tất cả
những gì mà cháu cần là một sự khởi đầu. - Cặu nhìn Anna, một nụ
cười đột ngột hiện ra rồi lại đột ngột biến đi. - Cô cho cháu vay tiền
nhé. - Trong Paut mới tư phụ và vênh váo làm sao. - Làm như vậy bõ
công lắm cô ạ. Cô cũng biết là cháu sẽ không thừa kế tài Sản của gia
đình cháu cũng như công việc kinh doanh của tập đoàn Tất cả sẽ là
của Acker hết.
Anna suýt ngã bố chửng ra sau vì sự trơ tráo của thằng bé.
- Paut ạ, có một diều mà cô nghĩ là cháu nên biết, - mãi sau
cô mới nói được. - Acker cũng sẽ không tham gia vào công việc kinh
doanh ấy đâu. Nó muốn trở thành nông dân. - CÔ cười buồn - Nếu
như Acker là diều mà cháu lo ngại thì hãy quên nó đi.
- Không phải vậy đãu. thưa quý bà. - Cặu bắt đầu tấn công dữ
dội vào dĩa thức ăn của mình.
Ăn uống kiểu kia thì cắn dứt lưỡi có ngày. Anna thầm nghĩ Vera

không dạy nó cách thức cư xử hay sao? Cõ liếc trộm về phía cô ta.
Khuôn mặt của Vera ửng đỏ, cò ta đang nhìn Paut như bị thôi miên. '
- Chà. dù sao thì, - Anna nói tiếp, cố tỏ ra vui vẻ. - Cô đồng ý
với cha cháu rằng cháu phải học hành đến nơi đến chốn trước đã.
- Cháu không có thời gian. - Paut lầm bầm.
Anna nhìn cái mũi tròn to, cái cổ cục súc và cái miệng ẩn
đầy nhục dục.
- Vậy châu muốn làm gì?
- Cháu muốn có trong tay năm mươi nghìn bâng, - cậu nói
thẳng toẹt - Nếu như cô không cho cháu vay tiền thì cháu sẽ xoay
chỗ khác vậy.
- Chuyện quý quái gì đang diễn ra ở đây vậy hả? - Anna phát
khùng lèn. - Có ai đó nói cho tôi biết với được không?
- Nó muốn mua một cửa hàng nhỏ. Ôi trời ơi. con trai tôi,
người chủ của một cửa hàng nhỏ không có học vấn. Nó sẽ bắt đầu ở
đây và cũng sẽ kết thúc ở đây mất thõi. Con hãy quên đi. Paut! Thời
đại của các siêu thị đã đến gần rồi. Không có bằng cấp, con thậm chí
sẽ không kiếm nỗi một công việc tử tế ấy chứ Con điên mất rổi.
- Hừm, mọi việc cũng không đến nỗi tồi tệ như vậy đâu. -
Arma lẩm bẩm.
- Cháu muốn, - Paut bắt đầu, - cháu muốn mua cố phần ở
năm hoặc sáu của hàng nhỏ. Cháu rất thích công việc bán lẻ. - Cặu
điĩmg dậy và bắt đầu di đi lại lại quanh phòng. - Cô thì giàu có, giàu
không thể chịu nổi. Cả mấy người kia cũng vậy Tất cả các người
đều không để ý tới tiền. CỒ Anna ạ, kiểu gì thì cháu cũng sẽ làm
được thõi, nhưng có sự hậu thuẫn thì cháu sẽ thành công nhanh hơn.
- Nhlmg việc gì mà phải vội vã đến thế? - Anna hỏi.
- Có thể là cô không thích như vậy. cỏ đứng về phe họ mà;
cũng có thể là cô không tiện nói thẳng rà. - Cậu dấm mạnh nắm tay
xuống bàn làm cốc đĩa va vào nhau kêu loàng xoảng một chiếc cốc
đổ kềnh xuống và một vệt bẩn màu đỏ sậm từ từ loang ra trên tấm
khăn trải bàn. Anna cầm lọ muối lên, xúc một thìa đầy rắc vào dó.
- cô nghĩ là cháu hỏi vay nhiều ư? - Paut gầm gừ. - Ôi chúa ơi,
Anna, chi chiếc xuyến cô đang đeo trên tay kia thôi ccmg đủ.
Đó là chiếc xuyến làm từ năm chục viên kim cương đầu tiên

của Luembe - nó luôn nhắc Anna nhớ tới Simon và cái hôm anh
mang túi kim cương về quẳng lên mặt bàn của cỏ. Một kỷ niệm thật
chẳng vui vẻ. Anna từ từ gỡ nó ra khỏi tay. vươn người qua bàn và
liệng nó xuống cạnh đĩa thức ăn của Paut.
- Nó là của cháu. - CÔ nói.
Tới lúc này thì Paut có vẻ ngường ngượng
- Tà't nhiên là cháu chi nói ti dụ vậy thôi. - Cặu nhón tay cầm
chiếc xuyến lên như thể nó là một con rắn và đưa trả lại nhưng Anna
chỉ cười và quay mặt đi.
Kurt tức tối đứng bật dậy.
- Đừng có mà bò về xin xỏ tao khi mà mày thất bại đấy nhé. -
Anh quát lên và bỏ ra ngoài
Vera liếc nhìn cả hai người, nửa giặn dữ, nửa đau đớn Cô ta
vội vã đi theo chân Kurt.
- Ra chuồng ngựa với cô đi, - Anna rủ. - CÔ mới có một con
ngựa giống mới, cô đang muốn huấn luyện nó.
Đó là một tạo vật tuyệt đẹp. nhtrưg căng thẳng; nó cứ giậm chân
hết từ bên nọ sang bên kia, và mắt thì đáo đi đảo lại liên hồi. Paut tò mò
nhìn nó, thán phục làn da căng mượt và bốn cái chân thon
- Cháu cưỡi nó nhé?
Paut là một kỵ sĩ cừ khôi, nhìn cậu, Anna không khỏi không
ngưỡng mộ cách điều khiển ngựa của cậu. ĐỒ'i với Paut, thách thức
mới nào cũng cần phải được chinh phục. Kurt rõ ràng đang phí thời
gian để thuyết phục thằng bé. Tuy vậy, cô cũng thấy áy náy vì họ đã
tin tưởng vào cô biết bao. Nhưng họ có quyền gì mà lôi cô vào cuộc
chứ, cô buồn bã nghĩ thầm. Từ nhiều năm nay họ đã cố tình tách
Paut ra khỏi cò cơ mà.
Chú ngựa giống chồm lên đá lung tung, đầu nó lúc lắc và mắt
thì đảo lia lịa. Già lan tập tễnh bước lại gần Được hưởng một khoản
tiền trợ cấp hàng năm kha khá, già tự thấy mình phải có trách nhiệm
trông nom gia đình. Già để ý tới mọi hành động của từng thành viên
trong nhà bất kể già có được mời tới hay không. l-làng ngày, già đi
tản bộ xung quanh trang trại. trên người khoác bộ com-lê đen sang
trọng, thắt cà vạt đen, đeo một chiếc cổ áo trắng tinh hồ cl’mg, đội
một chiếc mũ cao và cầm trong tay cây ba toong làm từ gỗ mun, cây

gậy mà ngày xưa đã từng thuộc về ông già André quá cố. Đứa trẻ
nào mà giở thói nghịch ngợm thì cây gậy này sẽ bay tới nằm trên
mỏng của nó ngay lập tức.
- Ghìm đầu nó xuống! - Già hét to, huơ huơ cây gậy lên - Con này dũ
lắm đấy, lẽ ra cô chủ không nên mua nó mới phải - Già ném về phía Anna
một cái nhìn quàu quạu rồi tập tễnh bỏ đi, miệng cằn nhằn không ngót.
Một giờ sau con ngựa đã phi nước kiệu xung quanh bãi cỏ,
ngoan ngoãn vâng lời từng hiệu lệnh của người cưỡi ngựa. Paut cũng
vậy, sự hung hàng của cậu đường như cũng đã xẹp xuống. Mãi tới
khi hai cô châu trở vào trong phòng rồi, Anna mới nói:
- Paut này, cò có một điều kiện.
- Ôi quỷ Oi, - Paut quay lại nhìn cô, - sao cô giống cha cháu thế.
CỒ tảng lờ:
- Nếu như cháu thất bai thì cháu phải quay lại trường để học
cho xong Rồi sau đó, - cô nói tiếp, - khi khóa học kết thúc, cháu sẽ
phải tiếp quản công việc kinh doanh của tập đoàn.
- Lạy Chúa, mọi người ai cũng ăn nói to tát gớm nhỉ. Thế cô
có giàu được ngay từ lần đầu tiên hay không?
Anna quyết định sẽ không thèm quan tâm tới sự khiếm nhã
của thằng bé.
- Điều gì đã khiến cô nghĩ rằng Kurt cho cháu tiếp quản công
việc kinh doanh?
- Một nửa tập đoàn là của cô, - cô mim cười - Nếu như Kurt
không cho, thì cô sẽ cho cháu một cơ hội. ì
Cặu phá lên cười: w
- Thật không cô? l
- Thặt. - CÔ đâp.
Đột nhiên, Paut giơ tay ôm choàng lấy người Anna.
- CÕ ơi, trông cô vẫn còn xinh lắm. Vậy mà cứ thui thủi ở đây
một mình. Rồi cò sẽ biến thành một bà già ngồi trong tủ kính mất
thôi
Anna nghiêm mặt nhìn thằng bé. .
- Cô đừng nhìn cháu như thế. - Cậu khoái trá cười to. - Cháu.
rất ngưỡng mộ cô mà. Cháu sẽ rất vui nếu được hộ tống cỏ cho tới
khi nào cô tìm được người thích hợp.

Thằng quý nhỏ! Rồi nó sẽ khá thôi, cô nghĩ. Cái mặt dày mày dạn
kia sẽ giúp cho nó vượt qua tất cả mọi trở ngai trên đường đời
&gt;l&lt;
&gt;l&lt; &gt;l&lt;
Quả là cô không thực lòng muốn họ tới chơi vào kỳ nghi cuối
tuần ấy, nhưng khi gia đình nhà Friedlanớ di rồi thì căn nhà lại
đường như trống trải gấp bội. Chuông đồng hồ, cứ mười lăm phút
một lần lại gióng lên những tiếng nhạc đều đều buồn tẻ. rồi không
gian lại chìm trở lại trong một sự tĩnh lặng đáng sợ.
Anna căng thẳng bước quanh phòng khách, không biết làm gì
cho qua buổi tối đơn độc này, rồi cô quyết định lập kế hoạch cho
việc vận động trong cuộc bầu cử sắp tới. CÔ nghĩ chuẩn bị kỹ lưỡng
thì vẫn hơn. Cô lấy ra một vài tờ giấy và cây bút chì rồi ngồi xuống
bên lò sưởi.
"Hãy bầu cho Anna van Achtenbungh-Smit!" Một câu nói rập
khuôn sáo rỗng. Cồ gạch dòng chữ đi. “Hãy cùng Anna Smit cái
cách đồng ruộng!" Nghe có được không nhỉ? CÔ bật cười khúc
khích. “‘Hãy bầu cho Anna và cùng nhau bước vào thời đại mới!".
- Ôi trời ơi, họ sẽ cãi nhau đến phát điên mất thôi, - Anna nói
to thành tiếng Gần đây, cô đã bắt đầu có thói quen nói chuyện một
mình. - Sự đơn độc sẽ giết chết mình mất thôi, - cô nói tiếp
Cả hai điều đều đúng.
44
Dưới sự lãnh đao của một người thuộc phái báo thủ, ông
Conrad Pietersen, một ủy ban được lặp ra nhằm mục đích thuyết
phục Anna không tham gia tranh cử. Cuộc gặp mặt đầu tiên được
diễn ra vào lúc tâm giờ tối tại văn phòng của tòa soạn báo Ngôt' sao
Sielienbosch. Pietersen sở hữu tòa báo này cùng với những xưởng in
và một mạng lưới các cửa hàng buôn bán tạp phẩm.
Sáu người đàn ông ngồi quây quanh một chiếc bàn, đầu bàn
là Pietersen. khuôn mặt đó ừng bóng nhẫy, xương quai hàm bạnh ra
và cặp mắt thì trố l‘ồi.

0
Trang 502 - 503
Đang đứng đó; chính là người con gái mà hình ảnh của cô ta đã khắc sâu trong tâm trí anh trong suốt năm qua, nhưng bây giờ trông cô ấy mới xanh xao làm sao, và có vẻ như đang rất sợ hãi một điều gì đó. Cặp mắt to màu nâu dường như trở nên to hơn trên khuôn mặt gầy guộc. Tay cô gái túm chặt lấy một cái to đùng và chiếc áo khoác bằng lông thú ướt đẫm nước mưa chụp quanh bờ vai trông hệt như một con thú sắp chết đuối đang bíu chặt vào người cô ấy. Váy áo của cô ta ướt sũng dính chặt vào da thịt khiến cho tất cả mọi người đều nhận thấy rằng cô ta không mặc áo nịt ngực. Dường như cũng hiểu được rằng tất cả đám đàn ông trong quán đang dán mắt vào người mình cô ta lại càng căng thẳng hơn. Rồi cô ta hắt hơi một tiếng thật lớn.
Cô ta do dự bước về phía người chủ quán, thì thầm một điều gì đó với ông này. Đầu tiên nét mặt của ông ta biểu lộ sự nghi ngờ, nhưng sau đó lại có vẻ hài lòng. Ông ta không thể tin nổi vào vận may của mình.
Michael đứng lên và đi lại phía quầy bar. Anh yêu cầu thêm một vại nữa và đứng yên nghe ngóng.
-          Này đây, hãy uống đi trước khi cô bắt đầu, - người chủ quán bảo cô như vậy. – Lẽ ra cô nên mặc áo mưa mới phải, một cái áo lông thú không thích hợp một trận mưa rào đâu. Cô bị cảm chết mất thôi. – Rồi ông ta rót ra một chút rượu lúa mạch vào chiếc cốc thủy tinh và đưa nó cho cô.
Cô ta gật cái đầu đang tê cứng, hàm răng cứ va vào nhau lập cập trông thật tội nghiệp. Những ngón tay thuôn dài của cô siết chặt lấy chiếc cốc, cô đưa nó lên mội nhấp từng ngụm nhỏ. Vẻ mặt rất buồn, nhưng cô vẫn là một người con gái xinh đẹp nhất mà anh từng gặp trong cuộc đời minh. Mái tóc màu đỏ rực của cô ướt sũng chảy nhỏ giọt phía sau lưng, cặp mắt trong veo một màu nâu hổ phách, làn da mịn trắng ngà và cô có một dáng vẻ cực kỳ quý phái của những phụ nữ quý tộc người Castillian được miêu tả sinh động trên những bức tranh cổ Tây Ban Nha.
Cô ấy đang làm gì ở London vậy nhỉ? Anh tự hỏi.
Một lát sau cô cam đoan với người chủ quán rằng mình đã phục hồi sức khỏe, rồi đi ngang qua anh tới bên cây đàn piano. Cô bắt đầu dạo đàn và hát những khúc nhạc mà cô ngân lên nghe mới khủng khiếp làm sao, quá ngột ngạt đối với bầu không khí vui vẻ, sôi động ở quán này. Dường như cũng nhận ra được điều đó, cô gái chuyển sang chơi những bản nhạc đồng quê của phương Tây nhưng chúng lại quá giản dị đối với sở thích của khách hang. Giọng cô đuối dần đi. Trông cô thật đau khổ khi nhận thấy rằng chẳng ai muốn nghe cô hát cả.
Một lát sau cô bắt gặp cái nhìn của người chủ quán, ông ta nhoẻn miệng cười. Một người đàn ông thật tử tế, Michael nghĩ bụng, trong lòng anh cảm thấy bối rối vô cùng. Mặt cô gái đỏ bừng lên vì ngượng, cô đang định đứng lên thì nhận thấy có một bàn tay siết chặt lấy vai cô, đẩy cô ngồi trở lại ghế.
-          Một cuộc hội ngộ thật kinh khủng phải không thưa cô Smit?
Mắt cô gái ngước lên, Michael không kìm nổi một niềm đam mê đang trào dâng trong lòng.
-          Cô nên dành nhiều tâm trí hơn cho các giờ học nhạc, cô Smit ạ. Tôi có thể gọi cô là Katie được không?
Cô quắc măt lên nhìn người đàn ông cao gầy râu ria lởm chớm và rất xa lạ đang đứng trước mặt.
-          Tôi không quen ông, - cô gắt lên.
-          Michael O’Carrol đây mà. Chắc là cô chưa quên ông thầy giáo dạy nhạc khốn khổ của mình ở Zurich chứ? Người tình đầu tiên của cô theo như lời cô nói với bà hiệu trưởng ấy. Bà ta đã thật ngu ngốc khi tin vào những lời dối trá ấy.
-          Tên tôi là Veronic Smit – cô nói. – Ông đã lầm tôi với ai rồi. -  cô lo ngại liếc qua và nhìn về phía đằng sau.
-          Lầm ư? – anh cười to. – không bao giờ, Katie Smit ạ. Tôi có thể nhận ra chất giọng của tôi ở bất cứ đâu. Chất giọng mũi rên rỉ, một sự pha tạp giữa giọng hát của một người hát rong Triều Tiên và một con bò cái đang đau đẻ.
Mặt cô đỏ bừng lên, cô vùng vằng quay đi chỗ khác nhưng anh đã giữ chặt lấy khuỷu tay của cô.
Katie, có chuyện gì đã xảy ra với cô vậy? Chí khí quật cường của cô khi xưa đâu rồi hả cô gái? Tôi thích thấy cô nổi giận như một con bò tót trên đấu trường hơn là co gúm người lại như một
0
Trang 504 - 505
-          con chó bị đánh thế này.
Katie liếc nhìn sang phía người chủ quán.
-          Tôi xin anh hãy đi đi! Tôi cần có việc làm. Nếu không tôi sẽ gọi ông kia tới giúp sức đấy.
-          Thôi đi, có đừng để ý tới con lợn già ấy mà làm gì. Tôi sẽ ra chúc mừng ông ta.
Anh ngồi xuống và bắt đầu đạo nhạc, mười ngón tay dài rám nắng lướt nhanh trên những phím đàn, hết khúc nhạc này đến khúc nhạc khác vang lên dào dạt: jazz, pop và cả những giai điệu xưa cũ. Cô hầu như không thể tin nổi đây lại là ông thầy giáo nghiêm nghị của mình khi xưa. Hồi còn ở trường anh chỉ toàn chơi nhạc cổ điển.
Những cuộc đối thoại chợt ngưng lại. Cả căn phòng trở nên im phăng phắc. Anh dường như chờ đợi những tràng vỗ tay.
-          Nào; - anh nói và bật ngón tay tanh tách.
Khi anh ta làm vậy trông anh mới đáng ghét làm sao, Katie nghĩ thầm.
-          Trước đây có đã từng trình diễn bản Wiegenlies của Schubert tuyệt lắm cơ mà. Chúng ta thử lại nhé! – cô lắc đầu.
-          Tôi phải quay trở lại quầy bar thôi. – cô nói.
-          Nào cô gái, can đảm lên đi. -  Và anh bắt đầu dạo lên những hợp âm đầu tiên.
Một vài tiếng vỗ tay lẻ tẻ nổi lên, nhưng Michael chỉ hơi quay đầu lại, một bên lông mày đen như bút vẽ khẽ nhướn lên.
-          Nếu như các vị muốn cô Katie hát thì các vị hãy vỗ tay to hơn đi. Cô ấy là một cô gái tài năng và rất kiêu hãnh đấy.
Katie ngượng chin cả người, cô giấu mặt vào lòng bàn tay.
-          Cút đi. – Cô rít lên the thé qua những kẽ tay.
-          Katie, hãy nghe lời khuyên chân thành của tôi, nếu như cô muốn đi hát để kiếm miếng ăn thì hãy biến những cơn giận dữ thành lời ca tiếng hát.
Anh vẫn tiếp tục chơi và cô cất giọng run run bắt đầu hát.
-          Cha mẹ ơi, - anh lẩm bẩm. – y như còi báo động máy bay oanh tạc trong chiến tranh vậy. Tôi không thể tin được rằng đây chính là cô nữa.
Rõ rang có một sự nỗ lực lớn hơn trong tiếng hát của cô, nỗi tức giận đã xua tan đi sự căng thẳng. Cô tiểu thư này đúng là đang gặp phải chuyện gì không hay rồi.
-          Cô có một tài năng thiên bẩm hiếm có đấy, Katie ạ, - anh nói, - Không ai có thể phủ nhận được điều đó, nhưng vấn đề là phải có thời gian cho nó được phát triển.
-          Khi nào mà anh thôi biến tôi thành con ngốc thì tài năng của tôi sẽ phát triên. – Cô đáp lại rồi hối hả đi về phía quầy bar. Cô thấy rõ được vẻ chế nhạo trong nụ cười của anh ta và tệ hơn nữa, có cả một chút thương hại trong đó. Cô cầu mong sao ở đây hiện ra một cái lỗ nẻ để cô có thể chui tọt xuống. Nhưng thay vào đó cô buộc mình vẫn phải mỉm cười trong lúc lau chùi cốc chén. Đây là đêm đầu tiên cô ở đây, và cũng sẽ là đêm cuối cùng, cô tự thề với mình như vây.
Tới giờ đóng cửa, anh ta vẫn ngồi lỳ ở đó.
-          Ông hãy bảo anh ta đi đi. – cô the thé nói với người chủ quán.
-          Đã đến giờ đóng cửa rồi ạ. – ông ta vui vẻ hét vọng vào trong đám khói thuốc lá và xì gà dày đặc.
-          Tôi sẽ đợi bên ngoài. – Michael nói to và đi ra.
Đồ trơ tráo. Katie rủa thầm. Tại sao anh ta lại cứ nghĩ rằng mình muốn nói chuyện với anh ta thế nhỉ?
Cô rời đi bằng cửa sau, vội vã hướng về phía g axe điện ngầm để bắt chuyến cuối cùng trở về căn phòng dơ bẩn của mình trong một nhà trọ rẻ tiền có tên là Chalk Fam.
Vậy là một việc làm nữa lại tuột khỏi tay cô, một chuyến đi nữa vô ích. Tất cả lại trở về con số không tròn trịa. Bọn đàn ông là thế, chúng cứ gương những cặp mắt đăm đăm của chúng lên chiếu thẳng vào người cô và trong ánh mắt ấy cô có thể nhìn thấy rõ hình ảnh của mình hiện lên là một con điếm da đen. Cô đã bỏ chạy, nhưng sự nhơ nhuốc ấy vẫn đeo bám theo cô. Cô đã tới thành phố London này được hai năm rồi và trong khi cô không bao giờ cho phép mình được nhớ về quê nhà thì có lại luôn mơ tưởng những ánh mặt trời chói chang ấm áp ở đó. Thời tiết ảm đạm của London thật đáng chán và căn phòng dơ dáy của cô thật kinh khủng, nhưng đó là tất cả những gì có có thể có được với bốn bảng mười xu một tuần. Một tấm gương cũ kỹ treo móc trên tường phản chiếu lại một căn phòng tối

0
trang 506 - 507

tăm chật hẹp, làm cho nhiều khi cô có cảm tưởng rằng mình đang sống trong một xác tàu chìm dưới đáy biển sâu.
Chính căn phòng ấy đã khiến cho cô quyết tâm quay trở lại làm việc vào ngày hôm sau, them cả lời hứa mà một lần Michael đã nói với cô nhiều năm về trước: “hãy rèn luyện cùng tôi, rồi sẽ có ngày cô trở thành một ngôi sao sang”.
Cô biết rằng nhớ lại lời khoe khoang khoác lác ngu xuẩn ấy của anh ta là một chuyện nực cười. Giờ đây, đi hát để kiếm được miếng ăn đã là điều nhục nhã lắm rồi. Cô cảm thấy mệt mỏi vô cùng, nhưng lại không thể từ bỏ.
Michael đã có mặt trong quán rượu, đúng như cô nghĩ; anh ta dường như coi sự hiện diện của cô là một tín hiệu báo rằng cô muốn gặp lại anh ta. Khi anh ngả người qua quầy rượu để yêu cầu vại bia thứ ba thì cô rít lên khe khẽ:
-          Tôi quay lại đây chỉ vì tôi cần có việc làm.
-          Tôi cũng chẳng nghĩ ra được một lý do nào khác khiến cô có mặt ở nơi này. Cô bị phá sản rồi à?
-          Đúng vậy. – cô gắt gỏng.
-          Thế còn bậc phụ huynh giàu có của cô?
-          Tôi bỏ nhà đi. – cô nói them với vẻ khiêu khích. - từ nhiều năm nay rồi.
Sau đó anh quay trở lại cái góc quen thuộc của mình và ngồi ở đó trong suốt buổi tối còn lại. Người chủ quán không một lần nào đề nghị cô gái hát.
Tới mười một giờ đêm cô cầm lấy áo khoác và khăn choàng, lưỡng lự một lúc rồi đi theo Michael ra phố. Trời đang mưa rả rich, vỉa hè trơn trượt dưới những bước chân, phố xá chìm trong tĩnh lặng.
-          Tôi ghét cái lạnh này lắm. – Katie lên tiếng.
-          Hưm. – anh đáp lại và đó là tất cả những gì họ nói với nhau trên đường đi bộ trở về nhà trọ của cô gái.
-          Cô không thể sống ở một nơi như thế này được. – anh nói sau một thoáng liếc nhìn quanh căn phòng. – hãy thu xếp đồ đạc của cô đi!
Anh gọi một chiếc taxi và cô líu ríu đi theo anh, chẳng buồn tò mò hỏi xem họ sẽ đi đâu. Trông cô bé như một con mèo bị lạc ấy, anh nghĩ thầm, trong long cảm thấy xúc động vì hoàn cảnh đáng thương của cô gái.
Căn hộ của Michael nằm trong một toà nhà đồ sộ trên đại lộ East Heath quay lưng ra một bãi đất hoang rất rộng mọc đầy cỏ dại. Nó rộng rãi, tiện nghi tới mức đáng ngạc nhiên với những món đồ gồ cổ kính, rèm cửa bằng nhung dày và có cả hệ thống sưởi trung tâm.
Katie đi vào một góc phòng và ngồi bệt xuống sàn nhà ngay bên cạnh lò sưởi.
-          Ôi, cảm giấc ấm áp này mới dễ chịu làm sao! – Cô thốt lên.
Nhận thấy vẻ bối rối ngượng ngùng của Katie, anh để cô ngồi đó rồi quay trở lại làm việc. Và khi tâm trí anh đã đắm chìm vào những giai điệu mà anh vừa tìm thấy thì anh mải mệ đến độ quên hẳn đi sự hiện diện của cô gái trong căn hộ của mình.
Thời gian thường trôi thật nhanh khi anh làm việc. Đột nhiên hôm nay anh lại gặp được tứ nhạc của mình. Nó không còn lẩn trốn anh nữa. Anh vui sướng dạo lên những giai điệu tuyệt vời đó với một tình cảm thật mãnh liệt đánh liều với sự giận dữ của những người hang xóm. Chợt anh nhớ ra rằng trong nhà không chỉ có mình anh mà còn có một cô gái nữa – cô Katherine van Achtenburgh – Smit hư hỏng, xấu tính, tự cao tự đại và bang quang với tài năng của chính mình, đang nằm co ro phía trước lò sưởi. Chà, anh đã khuyến cáo cô ta từ nhiều năm trước rồi mà; tài năng là phải được chia sẻ cho tất cả mọi người, còn nếu bỏ phí nó đi thì sẽ là tai hoạ. Không sớm thì muộn, rồi cô ấy sẽ phải đối mặt với vấn đề đó. Anh quay ra tìm cô gái. Katie đang ngủ rất say, chân thò ra gần sát lò sưởi, hai bắp chân gầy gò đỏ ửng lên. Anh khẽ chửi thề. Điều mà cô bé cần bây giờ là một sự chăm sóc dịu dàng, được ăn uống đầy đủ và được dạy dỗ tới nơi tới chốn. Trên tất cả cô cần có thời gian, mà thời gian là điều mà anh vô cùng thiếu. Anh thở dài, đi về phía tủ đựng đồ dự phòng, lôi ra mấy tâm chăn mềm và ném phịch xuống người Katie nhưng cô vẫn ngủ tít. Anh cúi xuống, lay mạnh người cô và khi cô mở mắt thì anh nói:
-          Giấc ngủ say cần một cái gường tốt.
Mặt cô đỏ bừng, anh trông thấy một vẻ sợ hãi dâng lên trên đó, vì vậy anh ôm đống chăn đứng dậy.
-          Cô cứ lên gường của tôi mà ngủ. Đó là điều mà tôi ghét

0
trang 508 - 509

nhất đấy. – rồi nắm lấy khuỷu tay cô gái, anh lôi cô xềnh xệch tới bên chiếc giường còn bỏ trống.
Khi anh quay trở lại mười phút sau đó, đem theo một cốc sữa to và một đĩa bánh mì kẹp thịt thì cô đang ngồi yên trên giường, cặp mắt mở lớn với một cái nhìn dữ dội. Trông cô ta như đang chờ để vào phòng nhổ răng ấy. Anh có ý định cưỡng bức cô ta đâu. Lũ đàn bà, anh kết luận, giống nhau hết, thật kinh khủng. Đều là điếm cả.
- Xin tiểu thư thứ lỗi nhé vì tôi không có ý định dụ dỗ tiểu thư đâu. – Anh nói. – tôi mệt mỏi lắm rồi và nói thực đó cũng không phải là phong cách của tôi. Nhưng tôi sẽ dạy cô hát nếu như cô không phản đối. Về phần cô, cô cứ việc đi làm để mà kiếm sống. Như vậy được chứ? – Anh nhếch mép cười khẩy nhưng không giấu nổi niềm đam mê hiện rõ trong mắt.
“Tại sao” – Anh nghe thấy khi vừa đặt chân ra tới cửa.
Trong giây lát, anh đứng im và suy nghĩ: bởi vì ngoài anh ra bây giờ chẳng còn ai có thể giúp đỡ cô bé được, vả lại ai bảo cô lại cứ đi ngang qua cuộc đời bình lặng của anh. Nhưng anh lại cao giọng trả lời:
-          Tôi ghét làm việc gì không tới nơi tới chốn lắm. Chúng ta đang tiến hành công việc rất suôn sẻ ở Geneva cho tới cái ngày cô dựng lên mọi chuyện rồi bỏ chạy. – Rồi anh đóng sấm cánh cửa lại trước khi bỏ ra ngoài.
 
53
Vùng Đất Mũi giữa mùa đông những cơn mưa xối xả đổ xuống đã hai mươi sáu ngày liên tiếp; những con sông nước tràn lên cả hai bờ; một vài trang trại trong miền đầm lầy Đất Mũi đã ngập trong biển nước, thế nhưng mưa vẫn tiếp tục rơi làm cho những người nông dân đã phải thốt lên những lời than vãn ai oán.
Fontaiebleu bốc lên mùi ẩm ướt xen lẫn với mùi gỗ thông cháy đượm, mùi thịt cừu hầm âm ỉ trên bếp lò. Acker rất ít khi có mặt ở nhà bởi vì những cây cầu và những đập nước cần phải được thường xuyên giám sát. Margaret chia đôi quỹ thời gian của mình ra vừa để trông nom ngôi nhà lại vừa giám sát chuồng trại.
Vào buổi sáng ngày thứ Bảy cô chuẩn bị một miếng bít tết thật to và một chiếc bánh pa-tê nhân bầu dục. Acker đang sửa chữa một cây cầy bắc qua con sông dẫn sang khu nhà của những người làm công. Người anh chắc sẽ ướt sũng và tê cóng khi quay về.
Acker trở về nhà rất muộn, bùn đất từ trên người anh chảy thành giọt xuống dưới sàn bếp. Cô giúp anh cởi ủng và vải mưa rồi treo chúng ra ngoài phòng tiệm.
Acker vươn người ra ôm choàng lấy cô, tay xoa xoa vào cái bụng căng tròn của vợ. Cô đã có mang đã tới tháng thứ năm.
-          Thế nào hả bà mẹ? Bà mẹ khỏe không?
-          Em khỏe mà. – Cô mỉm cười e thẹn. – không còn những triệu chứng nghén buổi sáng, không còn những cơn đâu nhức mệt mỏi. Em chưa bao giờ thấy khỏe đến như vậy. Em phải thường xuyên nhìn vào gương để tự nhắc nhở rằng mình đang có mang.
Acker dụi mắt khi anh trông thấy chiếc bánh pa-tê khổng lồ được mang tới phòng ăn.
-          Flora, bác đã gọi bà chủ ra ăn trưa chưa? – Margaret hỏi.
-          Bà chủ bảo không đói, thưa cô Marg. – giọng của bà nấu bếp lên bổng xuống trầm, cố gắng thể hiện ý chê trách trong lời nói của mình. – bà chủ bị đau đầu. – bà ta khịt mũi. – bà ấy nói muốn được ở một mình.
Acker thở dài.
-          Ôi thôi nào, anh không phải lo lắng về mẹ mình đến thế. – Margaret càu nhàu. – bà ấy đang muốn làm mình làm mẩy để khiến cho người khác cảm thấy như mình có lỗi đấy mà.
-          Em không công bằng rồi. – acker nói. Không ai được phép chê trách mẹ anh cả
Anna bây giờ sống tách biệt với mọi người ở chái nhà phía đông nhưng bà không còn hay gắt gỏng như trước nữa.
Ăn gần xong bữa trưa thì họ trông thấy một hình người bé nhỏ rẽ vào khúc ngoặt trên con đường dẫn tới khu nhà chính của trang trại Fontainebleu. Hầu như không ai mấy bước chân tới gần con đường thường chỉ dùng để lái xe vào trong nhà này cả; những người làm công trường đi tắt qua vườn nho để sang khu định cư của người da đen nằm ở phía bờ sông bên kia.
-          Anh nghĩ đấy là ai? – Margaret hỏi và nhóm người dậy để nhìn cho rõ hơn.


trang 510 - 511

-          Ai mà biết được. có lẽ người nào đó muốn tới xin việc chăng.
-          Trong thời tiết này ư? Như vậy thì ngu ngốc quá chừng.
Hình người nhao ra phía trước như muốn chống chọi lại với sức mạnh của gió và những cơn mưa quất tới tấp vào mặt.
-          Đó là một người phụ nữ da đen. – Margaret bực bội nói.- lạ thật!
Mười phút sau họ nghe thấy tiếng chuông lanh lảnh vọng vào tận giữa nhà, rồi tiếng bước chân của Jacob nệ thình thịch qua dãy hàng lang đi ra mở cửa. Chẳng bao lâu sau đó ông ta hiện ra trước cửa phòng ăn.
-          Có người muốn gặp bà van Achtenburgh-Smit, thưa cậu chủ. – Jacob nói và nhìn mặt ông ta họ có thể nhận rõ ràng có điều gì đó không ổn.
-          Ai vậy? – Margaret hỏi.
-          Sophie Jasmine. – Ông ta khiếp sợ trả lời.
-          Người đàn bà kinh khủng đó ư? – Margaret thở dốc.
Cô vội vã đi ra cửa trước nơi Sophie đang đứng dựa lưng vào tường, người ướt sũng và trông rất kiệt quệ. Cặp mắt vô hồn của bà ta hướng về phía Margaret. Bà ta ho sù sụ rồi nói:
-          Tôi muốn gặp bà chủ.
-          Bà chủ đang bị ốm. – Margaret nghiêm nghị trả lời. – nếu như bà cần tiền, bà có thể hỏi xin chồng tôi.
-          Không, tôi phải gặp bà Anna Smit. – Người đàn bà da  đen vẫn khăng khăng. Bà ta cúi gập người như muốn quỵ xuống vậy. – cô chủ có cái gì đó cho Sophie này ăn với không? – Bà ta rên rỉ.
Margaret gọi Jacob tới:
-          Hãy dẫn Sophie ra phía sau nhà và bảo Flora mang tới cho bà ta ít thịt cừu.
Cô quay trở lại phòng ăn và dừng một lúc trước lò sưởi, cố gắng làm ấm người mình lên.
-          Em chưa gặp bà ta lần nào cả. – Cô nói. – Tất nhiên là em đã nghe chuyện về bà ta rồi. Thật không thể tin được rằng đó lại là mẹ đẻ của Katie. Bà ta thật…thật kinh khủng.
Acker cau mày nhìn vợ, vẻ quở trách:
-          Em không cần phải bảo bà ta ra phía sau nhà như vậy.
-          Nhưng người bà ta hôi hám lắm. – Margaret cự lại.
Acker cảm thấy bất an. Chính ngọn đuốc của tình mẫu tử ở người đàn bà này đã đốt cháy rụi hạnh phúc của gia đình câu mặc dầu từ trước đó đã nảy sinh nhiều khúc mắc.
-          Anh sẽ bảo mẹ. – Anh nói rồi vội vã đi tới bên cánh cửa ngăn cách khu nhà chính với chái nhà phía đông và mở nó ra bằng chiếc chìa khóa dự phòng mà anh giữ cho những trường hợp khẩn cấp.
-          Mẹ ơi, con Acker đây. – Anh gọi to. Nơi này tối quá. Ngoài trời vốn đã ảm đạm lắm rồi nhưng tất cả các cánh cửa ở đấy vẫn bị đóng kín. – Mẹ ơi! – Anh gọi tiếp, bước vào dãy hàng lang tối om và gõ nhẹ vào cánh cửa phòng ngủ.
-          Đi đi. – Một giọng nói nghèn nghẹt vọng ra. Anh mở cửa và trông thấy Anna đang nằm trên giường, quấn quanh mình bằng một tấm áo ngủ cũ kỹ và phủ trên trán một tấm vải flanen sũng nước.
-          Người mẹ lạnh cóng rồi đây này. – Anh nói và cầm lấy tay mẹ. – Tại sao mẹ không đốt lửa lên mà sưởi? – Anh đứng dậy, lần tìm bao diêm nhóm lửa vào những khúc gỗ được xếp gọn ghẽ bên trong lò sưởi.
-          Nếu mẹ muốn sưởi thì mẹ đã nhóm lửa lên rồi. – bà ngồi dậy nhìn chằm chằm vào con trai.- Đầu mẹ đang đau như búa bổ. – bà nói thêm như thể giải thích cho moi chuyện.
-          Sophie đang ở đây, bà ta muốn gặp mẹ.
Người Anna bật lên.
-          Con bò cái ấy! Mụ ta lại đến để vòi tiền đây mà. Mẹ chờ mụ đã suốt năm năm nay rồi.
-          Con đã cho bà ta vào bếp, bà ta đang ăn. Mẹ có muốn gặp không? – Acker lo ngại nhìn mẹ.
-          Có, mẹ sẽ gặp. – Bà nắm chặt lấy tay Acker. – Mọi việc ổn cả chứ? Ý mẹ muốn hỏi công việc của trang trại.
Anh gật đầu, trong lòng thầm mong nói ra được một câu gì đó hay làm được một việc gì đó để có thể đưa mẹ trở lại với gia đình, nhưng sau một lúc lưỡng lự nơi ngưỡng cửa, anh chỉ biết thở dài rồi đi ra.
Sophie rõ ràng là tới đây với một mục đích nào đó, nhưng khi Flora đưa bà ta tới bên một cánh cửa và bỏ mặc bà ta ở đó rồi đi khỏi thì người Sophie cứ run bắn lên.
-          Cô muốn gì? – Anna lên tiếng – Cô nghĩ là những chuyện mà cô đã gây ra còn ít hay sao?


trang 512 - 513

Sopia gương cặp mắt thận trọng nhìn Anna rồi bước hẳn vào trong.
-          Cô đến đây muộn năm năm. – Anna nói tiếp. – Tôi đã chờ cô từ lâu lắm rồi. Đúng vậy, tôi biết chắc rằng một ngày nào đó cô sẽ tới đây tìm tôi. Cô nghĩ rằng tôi là một mỏ vàng vô tận cho cô khai thác để ngăn cô không tố cáo tôi tội bắt cóc trẻ con phải không? Tôi hiểu rõ cô mà, Sophie, cả con người và bản chất của cô. Nhưng cô đến đây đã quá muộn rồi.
Anna lạnh lùng nhìn người đàn bà da đen khốn khổ, hai nắm tay siết chặt lại cho tới khi những móng tay sắc nhọn đâm thọc vào lòng bàn tay. Bà căm ghét Sophie, không chỉ bởi những điều mà mụ đã gây ra cho  gia đình bà mà còn vì những gì mà mụ ta đã tự biến mình thành một vết nhơ đối với tiết hạnh phụ nữ và một ảnh hưởng xấu đối với xã hội. Bà nhìn cặp mắt thất thần, những đường nét tàn tạ, những cử chỉ thô thiển, lòng không động một chút trắc ẩn nào. Nhưng hôm nay ở Sophie có một điều gì đó khác lạ.
-          Tôi đến để hỏi thăm tin tức của Katie. – Bà ta lưỡng lự mào đầu. chính cô là người đã hủy hoại cuộc đời nó, làm hỏng cuộc hôn nhân của nó, khiến cho nó phải bỏ chạy khỏi gia đình của mình. Vậy mà bây giờ cô còn dám vác mặt tới đây để thăm nó ư? Ôi, tôi không thể trả lời được. – bà dừng lại, hít một hơi thật sâu, cố gắng tự chủ. – Có thể là nó đã chết đói rồi, cũng có thể đã trở thành gái mại dâm như cô…Tôi đã bỏ bao công sức mà vẫn chưa tìm thấy nó. – Bà ngừng lời, lấy tay gạt nước mayws và bắt đầu đấm ngực thùm thụp. – Đó là lỗi của cô. Cô là một con điếm già say xỉn thật ghê tởm.
Sophie dường như không muốn hiểu.
-          Vậy thì nó sẽ ra sao nếu như không có nơi ăn chốn ở, và không có tiền?
-          Tôi làm sao biết được? – Anna nổi xung lên. Trong giây lát cả hai người đàn bà đều như bị kẹp chặt trong một mối lo sợ giống nhau, nhưng chỉ có Sophie là hiểu rõ được sự nguy hiểm thực sự ẩn chứa trong một môi trường xa lạ và thù địch; con bé sẽ từ từ trượt dốc, và cứ thế trượt mãi…trượt mãi…
Bà ta ngồi phịch xuống ghế, Anna có thể ngửi được sự sợ hãi của người đàn bà da đen này. Đó là một thứ mùi hôi hám, bẩn thỉu và khó chịu.
-          Cô cút đi, cút đi! – Anna hét lên. – Cô sẽ không moi được gì từ tôi đâu. Tôi mặc xác cô muốn làm gì thì làm.
-          Tôi đến đây chỉ để cảm ơn bà thôi, bà chủ ạ. – Sophie đáp – Tôi cảm ơn vì bà đã cứu sống được con gái tôi và nuôi nó khôn lớn.
-          Chắng đến lượt cô phải cảm ơn tôi. – Anna giận dữ ngắt lời. – Cô không đáng làm một người mẹ. Cô đã tự đánh  mất cái quyền đó của mình khi bỏ rơi con bé trong chuồng gà. Nó đã gần như chết đi sống lại. Phải mất ba tuần lễ mới vực được nó dậy.
Nhưng Sophie không nghe, bà ta vẫn huyên thuyên nói tiếp:
-          Tôi thường liếc nhìn Katie khi ngồi trong phiên tòa, thầm nghĩ rằng nó là một đứa trẻ may mắn – nó có tất cả mọi thứ và đó chính là điều mà tôi căm ghét ở các người. tôi chẳng bao giờ hiểu nổi, nhưng nếu biết trước chuyện đó thì tôi thà chết chứ không bao giờ rắp tâm hại nó cả.
-          Cô là một con người thật đáng ghê tớm – Anna nhìn những giọt nước mắt chảy ngoằn ngoèo xuống cặp má héo tàn và nói. – Vì thế mà Katie đã bỏ chạy. Nó sẽ không bao giờ quay về nếu như cô vẫn còn lởn vởn quanh đây.
Người đàn bà da đên nao núng.
-          con gái của tôi được nuôi dưỡng thành một cô gái da trắng lịch sự tao nhã -  đó chính là điều mà tôi hằng mơ ước. nó là một con người hoàn toàn tự do; nó có thể làm bất cứ điều gì mà nó muốn, sống ở bất cứ nơi nào mà nó thích; và nó có thể ngẩng cao đầu mà tự hào về chính bản thân mình. Khi nào bà tìm thấy nó, thì xin hãy nói với nó rằng tôi tự hào về nó. Nó đã có tất cả những gì mà tôi khi xưa mong muốn mình có được.
Bà ta đứng dạy đi tới bên khung cửa kiểu Pháp mở nó ra. Một luồng gió lạnh có vương lẫn khói chợt ùa vào trong phòng. Anna vội vã khóa trái cửa lại rồi chạy vào vớ lấy một tờ báo, quạt lấy quạt để vào trong lò sưởi cho tới khi ngọn lửa cháy đượm dần lên. Ngó ra ngoài cửa sổ bà trông thấy Sophie đang hối hả đi xuyên qua vườn nhỏ. Bà quay trở lại bên lò sưởi, thu mình ngồi yên ở đó.
Bốn giờ chiều hôm ấy già Jan từ đâu xồng xộc chạy vào nhà


trang 514 - 515

-          Cậu chủ đâu rồi? – Già hỏi Margaret.
Cô đi tới phòng làm việc gọi chồng mình ra.
-          Già ra ngoài làm gì trong lúc này mưa bão thế này hả Jan? Tuổi cao rồi, già phải cẩn thận chứ.
-          Đó là Sophie, cậu chủ ạ. Cô ta bị ngã xuống sông. Chết đuối là cái chắc rồi! Bọn con trai đang chia nhau ra tìm vớt cô ta nhưng chưa tìm được. Nước dâng cao quá. – Già chỉ tay vào chỗ thắt lưng. – Càng lúc càng cao. – Già hổn hển thở không ra hơi, rồi sau đó lại nói tiếp. – Chúng nó vẫn đang đi tìm.
Acker cầm lấy một đoạn dây thừng rồi hối hả ra phía sông. Margaret cũng lấy ủng và áo mưa xuống và chạy theo anh.
Dòng nước dưới sông đang cuồn cuộn chảy điên cuồng như một cơn thác lũ, nó lao từ trên triền đồi xuống cuốn theo cả những thân cây to. Acker buộc chặt đầu dây thừng quanh bụng mình và cột đầu kia vào một gốc cây đứng cạnh bên sông. Anh lội xuống dòng nước xiết, lần mò quanh chỗ cây cầu và lặn cả xuống dưới lòng sông. Mười phút sau, phải cố hết sức anh mới lại ngoi được lên bờ.
-          Khủng khiếp quá, - anh lẩm bẩm – Chân mình bước đi còn không vững nữa. có lẽ bà ta đã bị nước cuốn đi xa rồi. Chết đuối! Thật kinh khủng!
Anh chia những cậu thanh niên trai tráng ra làm hai nhóm để tìm kiếm dọc hai bên bờ sông, và một giờ sau lúc trời đã nhọ mặt người mà vẫn chưa tìm thấy Sophie đâu thì anh gọi to, bảo mọi người thôi không tìm kiếm nữa.
Câu chuyện nhanh chóng lan ra rằng Sophie đã tự trẫm mình xuống dòng nước lũ. Ba cậu trai cam đoan rằng họ đã trông thấy bà ta nhảy xuống sông và sau  đó xác của bà ta được tìm thấy cách đó tới hai dặm.
Khi Anna nghe được tin này, bà rùng mình: “Chính ta đã giết chết người đàn bà đó”.
 
**********
 
Ngồi trong văn phòng ốp gỗ ấm áp của mình ở đối diện với phòng hội đồng, viên chủ bút của tờ Ngôi sao Stellenbosch đang phì phèo một điếu xì gà thơm phức và nhấm nháp từng ngụm cà phê nóng bỏng. Hơi ấm trong phòng làm rối bù mái tóc mới sấy của hắn. Viên chủ bút mân mê hàng ria mép và mỉm cười, thích thú tận hưởng cảm giác dễ chịu. Bên tay phải của hắn là máy liên lạc nội bộ nối trực tiếp với máy của Adele, thư ký và cũng là nhân tình của hắn; một ả đàn bà chân dài, ngực nở, tinh quái như một con khỉ. Bên trái hắn lại là đường dây cá nhân mà thông qua đó hắn có thể nói chuyện với người vợ trẻ mới cưới nhưng đang mang bầu của hắn. Ôi chao, đó đúng là sự thực chứ không phải là một giấc mộng. Hắn nhấn nút gọi Adele, cô ta vội vã chạy vào, rót thêm cà phê và chăm cho hắn một điếu thuốc mới. Cô ta cũng không quên quệt đôi môi đỏ chót của mình lên má hắn trước khi lẳng lặng biến mất.
Viên chủ bút lim dim cặp mắt, nhâm nhi hương vị êm ái của cuộc sống phong lưu mới có được nhờ Anna van Achtenburgh- Smit kể từ khi bà ta mua lại tờ báo này. Với mức lương tăng gấp ba lần so với trước, hắn đã có đủ khả năng gom tiền lại mua một chiếc Mercedes mới cóng. Chính nhờ có chiếc xe này mà hắn đã tán tỉnh được Tina, cô vợ hiền lành ít nói nhưng cũng rất quyến rũ và nồng nhiệt của hắn. Hắn cũng đã lựa chọn được cho mình một cô thư ký thích hợp đủ để làm cho hắn hài lòng. Và hắn cũng vừa tậu được một ngôi nhà mới – một biệt thự xinh đẹp nằm trên đỉnh một ngọn đồi trông thẳng xuống thị trấn. Ngôi nhà rất đắt tiền, hắn đã phải trích ra mười phần trăm tiền lương hàng tháng để trả góp để có được nó. Phải thừa nhận rằng các khoản chi để mua xe, mua nhà, sắm sanh đồ đạc và quần áo cho vợ đã ngốn gần sạch sô tiền hắn có, nhưng hắn tin rằng chẳng bao lâu sau rồi hắn sẽ lại tích cóp được một khoản mới. Annh thích hắn, ủng hộ mọi ý định của hắn.
Cuộc đời này mới tốt đẹp làm sao, lòng hắn tràn ngập một cảm giác lâng lâng êm ái. Hắn nhấn một ngón tay  được cắt giũa móng một cách tỉ mẩn của mình lên máy bộ đàm. Adele nhanh chóng xuất hiện.
-          Khóa cửa lại, - hắn nói, nháy mắt với cô ta trông thật dâm đãng. – vẫn còn đủ thời gian trước khi vào họp…
-          Nhưng thưa ngài Rose…
Sự phản đối không được ghi trong hợp đồng lao động. Cô ta

trang 516 - 517

đành khóa cửa lại và vừa sưng sỉa mặt mày vừa cởi bỏ chiếc váy ngắn của mình ra.
Cuộc họp diễn ra sau đó là với Anna van Achtenburgh- Smit và chỉ mất có nửa giây đồng hồ để người đàn bà này phá hỏng cả thế giới tươi đẹp của hắn. Không một chủ bút nào trên khắp đất nước này lại có được một mức lương cao như của hắn cả, nhưng bây giờ chỉ cần hắn kiếm được một việc làm mới với đồng lương đủ sống cũng là may mắn lắm rồi.
-          Nhưng thưa bà van Achtenburgh- Smit, - hắn lắp bắp,- Xin bà hãy cân nhắc lại, vợ tôi đang có mang, tôi lại vừa mới mua một căn nhà mới, rồi còn bao nhiêu khoản nợ nữa…Tôi biết làm sao đây? – và khi cơn bàng hoàng đã tạm lắng xuống hắn mới nhận thức được rằng như vậy là hắn đã lâm vào tình trạng vỡ nợ, nhưng đến lúc này thì Anna đã đi được nửa con đường trở về trang trại Fontainebleu rồi.
54
 
Rosemary nhoẻn miệng cười duyên nhìn hình ảnh của mình phản chiếu trong gương; cô trông thấy một đôi mắt trong veo màu xanh hơi xếch, một khuôn mặt hình trái xoan với làn da mịn màng hơi xanh, một mái tóc nâu óng ả. Cô biết rằng mình luôn được ca ngợi là một sắc đẹp mỹ miều nhưng như vậy vẫn chưa làm cho cô cảm thấy thực sự hài lòng.
Ở tuổi mười tám, cô nhận thấy rằng cuộc đời này mới buồn tẻ làm sao. Cô không muốn trở thành cô nuôi dạy trẻ và chẳng hài lòng với những mối quan hệ xã hội của mình một tẹo nào.
Thật là không công bằng, hàng ngày cô vẫn nghĩ bụng, Margaret – bà chị béo trúc béo tròn của cô, người mà sở thích lớn nhất là cọ rửa chuồng ngựa thì lại vớ được một đám bở nhất Đất Mũi. Còn cô, một cô gái xinh xắn nhất nhà thì lại chẳng có một chút tương lai nào cả. Những cậu con trai con những gia đình nông dân suốt ngày cứ quanh quẩn bên cô thì chẳng có cậu nào khả dĩ cả. đẹp trai đấy, lịch lãm đấy nhưng lại nghèo rớt mùng tơi. Phân bón và thùng đựng sữa không phải là những thứ để dành cho cô.
-          Con xong chưa hả Rosemary? – Tiếng gọi nôn nóng của mẹ cắt đứt dòng suy nghĩ đang tuôn chảy của cô bé.
Họ đang sửa soạn để tới dự lễ rửa tội cho con trai của Margaret tên là Otto. Thật là chán! Acker và Margaret chắc sẽ lại rủ rỉ với nhau bên hạnh phúc mới nhất của họ; cô Anna chắc chắn sẽ nôn nóng muốn được quay trở lại với cái vỏ bọc cứng ngắc của mình; và mẹ cô sẽ lại rơi vào một tâm trạng cáu kỉnh mà bà thường có mỗi khi ở gần Anna.
Cô chẳng có thứ gì thích hợp để mặc cho buổi lễ này cả, nhưng điều đó đâu thành vấn đề. Cô lôi ra một bộ váy bằng len có hai màu xanh trắng, cổ và tay áo viền đăng ten. Mặc bộ váy này trông cô có vẻ rất thùy mị dễ thương, nhưng nó không phải là hình ảnh mà cô muốn tạo nên cho mình.
-          Rosemary!
-          Con ra đây, mẹ. – Cô hét to đáp lại.
Một đám đông khác thường đã tụ tập trong nhà thờ từ bao giờ, những người nông dân đi cùng với gia đình của họ; những cặp mắt lúng liếng đưa tình và những bộ mặt đỏ au bóng nhẫy. cô lờ tất cả bọn họ đi.
Lần đầu tiên cô thấy Anna có người đi kèm hộ tống: một chàng đẹp trai, da ngăm đen, người chắc nịch, trông có vẻ rất là hung hăng, Rosemary nhận xét rằng anh ta giống hệt đấu sĩ người La Mã cổ đại mà cô vừa được xem tuần trước ngoài rạp chiếu bóng.
Buổi lễ diễn ra trong nửa tiếng đồng hồ, rồi tất cả mọi người đi ra xe và lái về Fontainebleu để tham dự một bữa tiệc chiêu đãi. Acker và Margaret đón Rosemary.
-          Người đi cùng với cô Anna là ai vậy? – Cô hỏi Margaret.
-          Con trai của Kurt đấy mà. Kurt là bạn làm ăn với cô ấy. Rosemary há hốc miệng.
-          Vậy thì chắc là giàu lắm nhỉ. – cô nói.
-          Chị không cho là vậy đâu. – Margaret tiếp tục, - nhưng anh ta rất có triển vọng. Anh ta đã tách mình ra khỏi công việc kinh doanh của gia đình và tự lập nên doanh nghiệp của riếng mình. Anh ta hiện đang điều hành một hệ thống bán lẻ có tên là Better Buys. Nghe đồn ràng có Anna đứng sau hậu thuẫn.
Đứa trẻ bắt đầu khóc nên câu chuyện chấm dứt ở đó.
Khi chiếc xe dừng lại trong sân, Margaret liếc nhìn qua vai

trang 518 - 519

, cảm thấy căng thẳng và khó chịu với những tiếng ọ ẹ của đứa trẻ.
-          Thôi quên đi, Rosemary. Anh ta là người Do Thái đấy. người Do Thái chỉ thích lấy người Do Thái thôi.
-          Anh cũng không nghĩ rằng cậu ta thuộc loại người muốn lập gia đình đâu. – Acker nói thêm vào.
Rosemary có vẻ bối rồi.
-          Anh chị đang nói chuyện gì thế hả?. – Cô gắt lên.
Fontainebleu tràn ngập hoa tươi và rượu sâm banh.
-          Chó chết. – Rosemary vừa lẩm bẩm vừa liếc nhìn xuống bộ váy cũ kỹ của mình. – Ôi trời ơi, thật là tai họa. – Tuy nhiên cô vẫn không quên liếc nhìn ra xung quanh và nhận thấy rằng anh chàng đẹp trai kia cũng đang mải mê nhìn mình.
Trông cô ấy mới tự nhiên làm sao, Paul nghĩ bụng. Biết có người đang ngắm, Rosemary lại càng hoạt bát hản lên. Tiếng cười giòn tan thỉnh thoảng lại rộ lên trong đám khách. Cô bé có một đôi chân thật tuyệt, vừa thon dài, vừa mềm mại với làn da rám nắng mịn màng trên đôi xăng đan màu trắng cao gót. Anh thích bộ váy cô đang mặc, trông nó thật đứng đắn. Anh cũng nhận thấy rằng cặp mắt của cô chốc chốc lại liếc về phía anh, mi mắt hơi nheo lại – một cách gây ấn tượng đối với người khác phái của cô thiếu nữ, Paul cho là như vậy. Đột nhiện, anh ngoác miệng ra cười và quyết định đi tới chỗ cô gái.
-          Xin chào Rosemary, tôi là Paul Friedland, chúng ta cũng hơi có quan hệ với nhau đấy. – Anh bắt đầu.
Cô bé quay đầu lại và nhoẻn miệng cười, một tư thế thật hoàn hảo nếu như nhìn vào gương.
-          chào anh. – Cô nói khẽ.
-          Em đã bao giờ làm người mẫu chưa?. – Paul hỏi.
-          Ồ chưa. – Cô trả lời và lại nhoẻn cười, trong lòng thầm nghĩ đây quả là một cách làm quen kỳ lạ - Tôi là cô giáo dạy trẻ.
-          Em rất hợp với nụ cười dễ thương ấy, - anh nhận xét hoàn toàn thật lòng. – Còn ánh mắt nóng bỏng dữ dội thì tôi cam đoan không phải là phong cách của em.
Trong giây lát Rosemary cảm thấy mình như bị mất thăng bằng; mắt cô tối sầm và miệng thì há to.
-          Tôi không có ý xúc phạm em đâu. – Anh vỗ nhẹ vào cánh tay của cô gái. – Tôi đang đi tìm một khuôn mặt, một khuôn mặt đẹp, - anh nói thêm như để xoa dịu cô gái, - nhưng phải là người chưa làm mẫu bao giờ để quảng cáo cho Better Buys. Nếu như tôi tìm được một cô gái thích hợp thì tôi sẽ ký hợp đồng có thời hạn là mười lăm năm, như vậy nghĩa là cô ấy sẽ không được phép làm mẫu cho bất kỳ một nơi nào khác. Còn nếu như em không quan tâm tới vấn đề này thì xin hãy quên những điều tôi vừa nói đi nhé.
Tôi không quan tâm tới việc làm mẫu đâu, cô nghĩ thầm, mà tôi quan tâm tới vấn đề khác cơ. Anh chàng này rõ ràng là đã bị công việc kinh doanh ám ảnh mất rồi.
-          Tôi chỉ muốn dành trọn cuộc đời của mình cho việc dạy học. – Cô nói dối. – Và tất nhiên là tôi còn đang học thêm vào buổi tối nữa. Sau đó tôi định sẽ…
-          Em cứ suy nghĩ đi. – Paul tỏ ý không quan tâm tới những kế hoạch của cô. Anh đặt tay lên vai cô gái trong chốc lát. – Hãy báo cho tôi biết nếu như em quan tâm. Còn bây giờ thì xin lỗi…
Ít nhất trong một lần trong đời cô đã sai rồi. Anh ta chỉ cần khuôn mặt của cô, cho việc quảng cáo, cho những túi cam túi quýt, và những đồ thực phẩm đông lạnh…
Cô bước nhanh tới chỗ một cậu con trai rụt rè mà cô quen biết từ trước, giả bộ như chính cậu ta mới là người đàn ông mà cô đang quan tâm, nhưng mọi suy nghĩ của cô vẫn hướng về Paul Friedland. Chẳng nghi ngờ gì nữa anh ta đúng là “Ông Thiện” rồi, cô kết luận, và chỉ có công việc mới là con đường đúng nhất để đến được với anh ta mà thôi.
Mình thật ngu ngốc quá chừng, cô vẫn thường tự nhiếc móc mình như vậy sau đó ba tháng khi mà cô không còn gặp lại được Paul kể từ sau buổi lễ rửa tội.
Đầu tiên là một người thợ nhiếp ảnh đến nhà cô và xoay vần suốt hai giờ đồng hồ để chụp ảnh cho cô những bức ảnh quảng cáo.
Tiếp đó, đến lượt một ông luật sư đạo mạo và sau một vài câu tranh luận chả đi tới đâu, cô ký vào chỗ có một dòng kẻ chấm chấm. Vậy là trong vòng mười lăm năm tới cô sẽ phải có mặt bất cứ lúc nào được yêu cầu ngoài giờ lên lớp và không được làm mẫu cho bất

trang 520 - 521

kỳ công ty nào khác. Đổi lại cô sẽ nhận được mỗi tháng một khoản tiền là một trăm năm mươi rand. Khoản tiền ấy còn cao hơn cả mức lương mà cô nhận được bằng việc dạy học.
Nhưng chẳng bao lâu sau cô đã cảm thấy hối hận về bản hợp đồng ấy vì cô cho rằng việc đóng giả làm một bà nội trợ nhếch nhác sẽ làm hỏng đi hình ảnh đẹp đẽ của mình. Chẳng có một chút nóng bỏng gợi tình nào trên khuôn mặt ló ra từ sau những chậu quần áo bẩn thỉu, và cũng chẳng thấy đâu nụ cười quyến rũ giữa một bầy con nhếch nhác. Mà đó lại là tất cả những gì mà Better Buys yêu cầu.
Khi cô đem chuyện này ra ta thán với mẹ thì Edwina bật cười ầm ĩ.
-          Hình ảnh gì cơ chứ? Con là một cô giáo dạy trẻ và một ngày nào đó cũng sẽ phải đi lấy chồng. Rồi con cũng sẽ trở thành một người đàn bà như thế thôi mà. Tất nhiên, những điều đó chẳng làm hại gì tới con cả, trừ phi con xuất hiện trước công chúng với những bộ biniki nhỏ xíu hay một thứ đồ hóa trang kinh khủng nào đó…
Thời gian sau Rosemary cũng có một vài lần cố gắng tiếp cận Paul nhưng không thành công. Anh ta luôn có vô số những bậu sậu xung quanh mình, và có vẻ như lảng tránh không muốn gặp lại.
55
Trong suốt mấy tuần liền Rosemary cố gằng tìm ra cho bằng được một cái cớ để họp mặt gia đình. Nghe nói sinh nhật của Anna là vào tháng Hai nên cô đã thuyết phục Margaret tổ chức một bữa tiệc chúc mừng bất ngờ, Paul chắc chắn sẽ không từ chối tới dự.
Mượn chiếc xe của Margaret, cô lái lên Cape Town mua một bộ váy màu xanh ngọc lục bảo bằng lụa. Nó khêu gợi một cách táo bạo tới mức lúc đầu cô đã hơi do dự. Phía sau chiếc váy hầu như không che được một phần lưng của cô; nó bám sát lấy người theo từng đường cong nhỏ; cổ áo khoét sâu để lộ ra cả một khoảng ngực trắng ngần; và có một dải khăn nhỏ thắt lỏng điệu đàng ở phía dưới cằm.
Cuối cùng thì ngày đó cũng tới. Rosemary không muốn bị cản trở bởi một cậu bạn trai nào đi hộ tống nên Margaret đành phải cử Jacob tới đón cô.
Những người phụ nữ trợn tròn con mắt khi cô bước vào, còn đám đàn ông thì quay ra tò mò chiêm ngưỡng. Ngoài việc quá lộ liễu ra, còn thì chiếc váy này quả thực đã làm tăng thêm vẻ quyến rũ cho cặp mắt trong xanh biếc và mái tóc đen nhánh mới nhuộm của cô. Một chàng trai con nhà nông dân vụng về bước tới bên cô nói rằng trông cô hệt như một minh tinh vừa bước từ màn bạc xuống và đi thẳng tới Fontainebleu vậy.
Khi Paul tới sau đó gần một tiếng đồng hồ thì anh gần như bị Rosemary bắt mất hồn. Cặp mắt của anh cứ hút về phía cô gái nhưng lại không nhận ra cô là ai mặc dầu ở cô có một nét gì đó thật là quen thuộc.
-          Ôi Paul, anh bị xoắn mất lưỡi rồi ư? – Cô cười phá lên với vẻ đắc ý.
-          Rosemary? – Anh nghi ngờ hỏi lại, - Chúa ơi! Tôi gần như không nhận ra em được nữa. Cái tạp đề của em đâu rồi? – Anh cau mày. – Tôi hy vọng rằng em không có ý định giữ mãi màu tóc này chứ, và dáng người của em nữa…Ôi gầy quá. Tại sao em không thể là chính mình được thế hả Rosemary? – Rồi anh lãnh đạm gật đầu. – Chúc em một buổi tối vui vẻ, - và bỏ đi.
Rosemary quá đỗi sửng sốt. Tại sao mà anh ta lại dám liệng cô xuống địa vị của một bà nội trợ chỉ cốt để phù hợp với cái công việc kinh doanh chết tiệt của anh ta cơ chứ? Cô uống cạn ly sâm banh của mình và định bám theo Paul nhưng Margaret đã chặn cô lại.
-          Bộ váy này…- cô lẩm bẩm. – Như vậy đã là quá đủ rồi Rosemary ạ. Làm sao mà em lại thế? Em không định gây nên một vụ tai tiếng đấy chứ? Đấy có phải là điều mà em muốn không?
-          Em đã phát ốm lên khi cứ bị hình dung ra là đang mặc tạp đề với vô số những núm vú cao su và thuốc giặt tẩy xung quanh mình rồi. – Rosemary cáu kỉnh đáp lại và uống cạn một ly rượu nữa.
Margaret chăm chú nhìn em, rồi sau đó cười mỉm.
-          Ôi Rosemary, chị đã bảo với em rồi mà, rằng Paul không phải người thích hợp với em đâu. Anh ta không có trái tim mà trong lồng ngực của anh ta chỉ có một cái máy tính mà thôi.
Có tiếng trẻ con khóc ré lên, Margaret vội vã chạy đi.
Kể từ lúc đó buổi tối trở thành cơn ác mộng. Rosemary chẳng còn nhận thức được mình đã uống hết bao nhiêu ly rượu sâm banh nữa và cô đã bắt đầu cảm thấy chuếnh choáng. Cô bỏ ra

trang 522 - 523

ngoài, đem theo cả chiếc cốc của mình, loạng coạng bước xuống những bậc thang dẫn xuống chỗ có một chiếc ghế dài trong vườn hồng. Paul đang ngồi đó, mắt nhìn chăm chú lên vầng trăng và những ngọn núi phía xa xa.
Có thể là cô đã hình dung ra sự coi thường của anh chàng, cô nghĩ vậy và đặt một bàn tay lên vai Paul, hỏi khẽ.
-          Anh đang nghĩ gì mà mải mệ đến vậy?
Anh ngước mắt nhìn lên, cười mỉm. coi đó là một lời mời mọc, Rosemary ngồi xuống, gần sát anh trong một khoảng cách mà cô có đủ can đảm.
-          Tôi đang nghĩ, - Anh trả lời, - rằng nếu như tôi mà tiến hành việc tự đóng gói bột giặt thì tôi sẽ hạ giá bán ra được ít nhất là mười xu một gói.
-          Chúa ơi. – Cô cau mày nhìn anh. – Anh đang ngồi ngắm trằng ngắm núi mà đầu lại nghĩ tới những gói xà phòng giặt ư?
Trong giây lát, cặp mắt của Paul lướt nhanh trên cơ thể đang tuổi dậy thì của cô gái trẻ. Khuôn ngực phập phồng và hàng mi run rẩy. Chợt anh nhe răng ra cười toe cười toét.
-          Sức mạnh của quảng cáo, tôi cho là như vậy. Mỗi lúc trông thấy em, tôi lại không thể ngăn mình khỏi nghĩ tới những chậu giặt và những gói thuốc tẩy.
Người Rosemary đờ ra vì kinh sợ. Gã đàn ông này quả đúng là một con quái vật. – một quái vật tàn ác, hung bạo, xấc xược…rượu sâm banh lại càng làm tăng thêm nỗi thất vọng và sự bực tức của cô. Nếu như trong trường hợp khác thì cô đã phá lên cười vui vẻ nhưng lúc này cô chỉ có thể thở dốc, tự dung cô thấy cánh tay cầm cốc của mình đưa lên và cô hắt cả chỗ rượu còn lại trong đó vào mặt của con quái vật ấy. Cô nghe thấy một tiếng cười khoái trá nổi lên trong lúc gã đàn ông quay lưng đi trở vào trong nhà.
Ôi chao, hắn ta mới khủng khiếp làm sao. Cô vẫn ngồi lại trong khu vườn tràn ngập hoa hồng, người run bắn và một cơn buồn nôn dâng lên từ dưới dạ dày. Cô muốn đứng dậy nhưng không tài nào nhấc người lên nổi. Cuối cùng, cô nhoài người vào giữa một bụi hồng, nôn thốc nôn tháo, trong lòng cảm thấy ngượng vì sự say xỉn của mình, về bộ váy cũng như những âm mưu mà cô đã tự mình nghĩ ra. Cô thèm được làm một con cua, bò vào trong hang và ẩn sâu trong đó mãi mãi. “Ôi, ôi, ôi”, cô rên lên.
Anna, người đã bỏ ra ngoài đi dạo trong vườn vì chán ghét những trò vô vị được tổ chức trong ngày sinh nhật của mình, đã nghe thấy toàn bộ câu chuyện và sau cùng là những tiếng thổn thức nho nhỏ của cô gái. Tiếng khóc ấy đã làm sống dậy trong lòng bà những mỗi thýõng cảm mà bấy lâu nay bà không còn cảm thấy được nữa. Bà lặng lẽ bước tới bên cô gái lúc này đang gục người xuống ghế trong một tư thế thật khổ sở, đầu kẹp vào giữa hai lòng bàn tay.
-          Rosemary, có chuyện gì thế cháu? – Bà hỏi mặc dầu đã hiểu rõ được câu chuyện, nhưng trong lòng vẫn vẩn lên một ý nghĩa: Tại sao mình lại phải lo lắng cho con gái của “người đàn bà đó” nhỉ?
-          Cô đi đi, - Rosemary thổn thức. – cháu rất tiếc đã làm mất bụi hồng của cô, nhưng cháu xin cô hãy đi đi.
-          Vớ vẩn…như vậy tức là cháu đã bón phân cho hoa rồi đấy. – Anna nói. – Cháu có thể tới đây và làm như vậy hàng đêm nếu cháu muốn.
Rosemary nghi ngờ nhìn lên. Cô chưa bao giờ nói chuyện trực tiếp với Anna nhưng đã được nghe rất nhiều điều về người đàn bà này do Margaret kể lại. Lòng trắc ẩn không bao giờ được nhắc tới cả. cô rùng mình.
-          Hãy vào đây với tôi. – Anna nói tiếp. Bà vòng tay ôm ngang người cô gái, vực cô lên và dìu cô đi vòng ra phía sau vườn nho tới phòng ngủ của mình. Bà lấy khăn lau mặt cho cô gái và gọi Flora tới. Họ hì hụi cho Rosemary uống một thứ thuốc có mùi thật kinh khủng khiến cho cô nôn thốc nôn tháo hết tất cả những gì còn sót lại trong bụng. Sau đó, người cô lả đi nhưng không còn thấy cảm giác khó chịu nữa. Cô thiếp vào một giấc ngủ say.
Sáng hôm sau Rosemary thấy mình tỉnh dậy trong phong ngủ dành cho khách và Margaret đang rửa mặt cho cô. Cô rên lên khi cố cử động cái đầu.
-          Thật là xấu hổ! – Chị của cô cằn nhằn. – Từ giờ trở đi em đừng có uống một thứ gì đó tới quá hai cốc nhé! Chị đã gọi điện cho mẹ bảo rằng em bị ngộ độc thức ăn và mẹ đã mắng chị một trận té tát đấy.
Rosemary lầm bầm cảm ơn.


trang 524 - 525

-          Anna muốn gặp em. Em hãy cư xử cho đúng mực nhé – Margaret nói trước khi rời đi. – Đừng quên đấy.
Anna đang ở trong bãi cỏ luyện tâp cho một con ngựa đen tuyền mới mua được. Nhìn bà, Rosemary thầm nhận xét rằng sự hiếu động và vẻ nóng nảy của con vật thật giống với tính cách của Anna. Cô leo lên ngồi vắt vẻo trên dãy hàng rào, chờ cho buổi luyện tập kết thúc.
-          Cháu không phải là một người bán hàng tinh ý. – Anna nghiêm nghị bắt đầu. – Cháu không bao giờ được phép tạo cho mình một vẻ ngoài quyến rũ nếu như khách hàng của cháu căm ghét cái đẹp. Điều gì sẽ xảy ra nếu như anh ta chỉ thích những bộ óc thông minh? Và cả sự quyết tâm nữa. Cháu sẽ không bao giờ có được Paul bằng những mưu mẹo gợi tình đâu.
Bà thúc mạnh vào sườn con ngựa làm cho con vật giận dữ nhảy chồm lên.
Hai má của Rosemary nóng rực, cô vui mừng vì Anna không nhìn thấy mặt cô trong lúc đang phải cố hết sức để ghìm con ngựa lại.
-          Bán hàng là phải hiểu được tâm lý của người mua, phải biết trao cho người mua những gì mà anh ta muốn với những thứ mà mình đang có. Trong trường hợp của cháu…người mua không biết rõ anh ta muốn gì nhưng trong tiềm thức anh ta cảm nhận được nó và sẽ chộp ngay lấy nếu cháu đưa ra đúng thứ anh ta muốn. Tôi đã rút ra được kinh nghiệm này từ công việc kinh doanh của mình đấy. – Bà nói thêm.
Đột nhiên, bà mỉm cười. Đó là lần đầu tiên Rosemary trông thấy nụ cười của bà và cô thực kinh ngạc. Cô tự hỏi mình rằng tại sao cô lại không nhận ra Anna đẹp tới nhường này nhỉ. Chắc có lẽ bởi vì sự cau có mà bà luôn đeo trên bộ mặt của mình. Cặp mắt của bà biếc xanh, sâu thẳm, tạo cho người ta cái cảm giác rằng nếu  nhìn lâu thì sẽ bị lạc trong đó. Rosemary ghen tị nghĩ thầm. Hai hàng lông mày thanh tú gần như gặp nhau trên đầu sống mũi thẳng tắp và đâm xiên sang hai bên thái dương. Khuôn miệng đầy đặn và khêu gợi, chiếc cổ mềm mại và mịn màng. Suối tóc dày óng mượt đổ thẳng xyoongs hai bên vai. Tuy vậy Anna cũng phải hơn bốn chục tuổi rồi, Rosemary nhanh nhẹn nhẩm tính.
-          Paul đang muốn tìm kiếm tình yêu của một người đàn bà mạnh mẽ có thể giúp đỡ được nó trong công việc. – Bà bật lên một tiếng cười cụt lủn. – Cháu cần phải thay thế vẻ quyến rũ ở ngoại hình của mình bằng một tấm lòng nhiệt tình và sự quyết tâm cao độ đối với công việc. Hãy nghe theo lời khuyên của tôi, rồi cháu sẽ có được một chàng trai tuyệt vời đấy.
Liệu giữa Paul và Anna có chuyện gì đó với nhau không nhỉ, Rosemary thầm nghĩ. Cô ấy chắc chắn còn lộng lẫy và quyến rũ hơn vô khối thiếu nữ đang tuổi thanh xuân khác.
Cặp mắt của cô đã để lộ dòng suy nghĩ đó.
-          Đừng có mà ngu ngốc tới vậy, Rosemary. – Anna thình lình nói. – Hãy về nhà đi, và suy nghĩ bằng cái đầu của mình.
 
**********
 
Rosemary nôn nóng chờ cho kỳ nghỉ học tới gần. Ngày đầu tiên trong kỳ nghỉ ấy, cô lên đường đi tới Better Buys ở Stellenboseh – sự thất bại lớn nhất của Paul. Như thường lệ cửa hàng vắng ngơ vắng ngắt, chỉ có một vài bóng dáng nghèo xác nghèo xơ đi lại ở bên trong. Họ tới đây để tìm mua hàng đại hạ giá. Hôm sau cô lại đi tới cửa hàng ở Bellville và cho tới ngày cuối cùng của tuần thứ hai thì cô đã đi được hết lượt những cửa hàng của Paul ở vùng Đất Mũi. Ngay sau đó cô nhận được một cú điện thoại giận dữ của anh gọi tới bảo cô hãy tránh xa các cửa hàng ấy ra và thôi không được làm cho các khách hàng của anh tò mò nữa.
-          Anh buồn cười thật đấy, - cô vặn lại. – Anh chẳng hiểu khách hàng của mình tẹo nào. Anh thậm chí còn không cần biết họ muốn gì nữa. Anh không thể nghĩ ra được điều gì xa hơn việc hạ giá bán hàng à? Ngoài ra, - cô nói tiếp, - tôi phỏng vấn họ ở ngoài cửa hàng của anh cơ mà, và anh đâu có sở hữu cái vỉa hè ấy phải không nào? – Cô ném phịch điện thoại xuống.
Paul thì lại đặt ống nghe một cách thận trọng hơn. Cô ta nghĩ cô ta là cái quái quỷ gì thế nhỉ? Một đứa con gái mới lớn, ngu ngốc, lại muốn dạy cho mình bài học về thị trường ư? Mặc dù vậy anh

0
làm xong hết rồi đó...

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-01-03 17:01:02Ct.Ly>
Tình yêu trở lại - Madge Swindells

Đã đem vào thư viện

Cảm ơn các bạn Ct.Ly, kimbao13, Thiên thần, Topolino , nhoc2207, Nguyễn Quang, TuanThanh1991

Và cảm ơn PhongAn đã gửi cuốn truyện này cho thư viện VNthuquan.net

Chúc tất cả hiệp sĩ một năm mới vạn sự như ý


0