<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-26 03:06:40Lachieuthu>
Phủi sạch phong trần: Chứng kiến lịch sử
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Trong những ngày nghỉ, những người bạn và tôi đi thăm một bảo tàng lịch sử. Tôi ngộ ra những rất nhiều điều mới trong chuyến thăm này và muốn chia sẻ về kinh nghiệm này.
Để cho người của thời nay có thể đắm chìm trong sự từ bi bao la và rộng lớn của Thần, Phật, các chư Thần đã an bài chi tiết trong một triệu năm qua. Khi trái đất lần trước được tạo ra cách đây hai trăm triệu năm, vài chư Thần đã gieo hạt giống của những cây trên thế giới của họ xuống trái đất, trong khi đó những chư Thần khác thì đặt những loài sinh vật trên trái đất. Một vài vật chất tự nó là một mảnh vỡ còn lại sau khi một vụ hủy diệt. Ví dụ, nó có thể là một phiến đá to hay một mảnh của tinh cầu chứa nhiều sinh mệnh, sau đó được đặt vào trái đất. Vì chúng đến từ thiên đàng, chúng tương đối khó bị mục nát và vì thế chúng hóa thạch.
Tôi tin rằng những hóa thạch được an bài một cách có chủ ý bởi các chư Thần với mục đích để lại những di vật cho người ngày nay để khi họ nhìn thấy hóa thạch, họ sẽ bị xúc động bởi sự khó khăn của cuộc sống thời đó.
Những khủng long lớn bây giờ trở thành những hóa thạch đang nằm lặng yên nơi đó, kể cho chúng ta về cách và vì sao mà chúng đã thật sự sống. Mặc dù con người ngày nay hiểu chúng [bằng những cách] khác nhau, những khủng long thật sự đã được thuần hóa bởi loài người thời đó, và quan hệ của chúng với loài người trong thời đó cũng chỉ giống như quan hệ của chúng ta đối với trâu, ngựa ngày nay vậy. Các bạn thấy rằng, loài người vào thời đó cao vài mét. Trứng của khủng long thật sự là có [hương] vị hơn trứng gà ngày nay và con người thời đó đã có thể thường xuyên ăn 4 hay 5 cái trứng khủng long.
Vậy tại sao con người đã trở nên tuyệt chủng cùng với khủng long? Đó là vì nguồn tài nguyên trên trái đất là có giới hạn và những loài người và khủng long to lớn thời đó tiêu thụ quá nhiều. Vì thế, nhiều tai nạn đã xảy ra để loại trừ họ, bao gồm cả việc chuyển dịch các khối lục địa, sự phun trào của núi lửa và những niên kỷ băng tuyết.
Các nhà địa chất học ngày nay biết rằng cách đây hàng chục triệu năm, trái đất đã trãi qua nhiều niên kỷ băng tuyết. Một vài loại sinh vật thoát khỏi được những tai nạn. Thật sự thì, đây là điều được an bài bởi các chư Thần. Hãy nghĩ về nó. Cây bạch quả ngày nay được biết như một “hóa thạch sống” nó thật sự sống sót qua những niên kỷ băng tuyết. Theo truyền thuyết cổ xưa, đó là cây bắt nguồn từ thế giới của một vị Bồ Tát. Một ngày nọ, khi một Đại Bồ Tát đang giảng Pháp cho các vị tiểu Bồ Tát khác, bà có đề cập rằng có một trách nhiệm thần thánh để tạo cơ hội cho loài người tương lai trên trái đất để khi Đại Pháp của vũ trụ được truyền dạy tại đây, con người có thể hiểu được nó. Bà bảo họ rằng điều này sẽ cần một thời gian dài (thời gian trên trái đất) để có thể dần dần đặt nền móng. Nếu một sinh mệnh có thể đóng góp vào điều này, thì sinh mệnh đó sẽ làm được điều có ích nhất trong vũ trụ cho tất cả các chúng sinh.
Vào lúc Bà nói điều này, một cái lá rơi từ trên cây bạch quả xuống. Bồ Tát giữ nó trong tay bà và nói một cách nhân từ, “Nếu con muốn đi, ta có thể gửi con đến, nhưng con phải biết rằng môi trường ở đó là cực kỳ khắc nghiệt. Ta có thể lo cho con nếu con giữ được chính niệm và không bao giờ làm đánh mất chúng!” Cái lá đồng ý, vì thế Bồ Tát búng nhẹ tay bà và cái lá biến thành một hạt giống và rơi trên trái đất. Vài năm sau, nó lớn thành một cái cây to, sinh sôi nẩy nở và trở thành một loài [sinh vật]. Bạch quả luôn giữ lời Bồ Tát trong tâm và rất tốt với những sinh mệnh khác. Những cái cây đã tạo những lá chắn [bảo vệ] cho chim chóc và những loài thú nhỏ những loài mà thích chơi và xây tổ gần chúng. Khi nhiệt độ giảm và bão tuyết đến, chúng bắt đầu lo lắng cho những con chim và thú nhỏ. Tuy nhiên, nhiều chim và thú nhỏ đã chết vì lạnh và những cái cây rất buồn. Truớc khi những con chim và thú nhỏ chết, chúng cảm ơn những cái cây vì lòng tốt và sự bảo vệ của chúng. Những cái cây nói rằng đó chỉ là ân đức của Bồ Tát. Những chư Thần mà an bài những khó khăn này đã bị xúc động khi nghe thấy. Vì thế các chư Thần đã tạo nên những đoạn nứt trong những tảng băng trôi ở trong khu vực đó, và vì những cái cây có thể chịu lạnh (như an bài bởi Bồ Tát từ lúc đầu), chúng có thể sống sốt qua các niên kỷ băng tuyết và vì thế chứng kiến được sự từ bi rộng lớn của Thần Phật.
Khi tôi nhớ lại điều này, tôi nghĩ về hóa thạch bạch quả. Mặc dù chúng đã trở thành hóa thạch, văn lộ vẫn còn đó, phong cốt vẫn còn đó. Bất luận là chúng được con người gia công hay trang điểm thế nào, khi chúng vẫn còn được đặt một cách thẳng đứng trên mặt đất, những dấu vết đã kể lại cho con người lịch sử tang thương và tạo hóa của Thần Phật. Nếu một người có thể hiểu được ý nghĩa này, họ sẽ nói: ” Chúng ta đến bằng nhiều con đường [khác nhau] chỉ vì thời điểm này. Khi chúng ta trượt xuống, chúng ta biết rằng sẽ có thống khổ. Ngày nay, chúng ta sử dụng những phương cách cũ để hướng dẫn con người hiểu được [rằng] mọi thứ đã xảy ra trên trái đất là được an bài cho thời điểm này. Chúng ta đến đây là vì Pháp. Ngay cả nếu chúng ta bị tan ra thành từng mảnh, chúng ta sẽ vẫn chỉ ra lịch sử cho con người. Bấy giờ điều ước chúng ta đã được thực hiện.
Tôi không cầm được nước mắt khi sờ vào những hóa thạch cổ xưa này. Nó là điều gì như thể tôi đã nhìn thấy bầu trời cổ xưa, trái đất cổ xưa và những sinh mệnh sống cổ xưa. Sau một lúc, tôi tỉnh thức từ giấc mơ giữa ban ngày và quay về lịch sử của thời kỳ văn minh này.
Những học sinh gọi sự phát triển của loài người là ” Tam bộ khúc: Mông muội – dã man – văn minh”. Dường như buổi triễn lãm bên trong những phòng [triễn lãm] là những mẫu miếng chứng kiến lại những gì mà tổ tiên của chúng ta đã trao lại và chứng kiến quá trình mà làm sao những vị Thần đã dẫn dắt con người bước đi đến ngày hôm nay trong thế giới con người. Chúng [đang] kể chuyện, từng bước một.
Tôi đã ngạc nhiên khi nhìn thấy những công cụ bằng đá trong thời kỳ [đồ] Đá, những đồ vật bằng đồng thiết của thời Hạ, Thương, những đồ vật bằng thiết của thời đại Tần, Hán, những đồ đồng thời Tống, Nguyên, những đò vật bằng sứ thời đại Minh, Thanh. Phong cách các dạng , hưng thịnh với tổng quan rộng lớn! Mặc dù chúng được làm bởi bàn tay con người, nhiều thứ trong chúng giống như những thứ đến từ các cảnh giới và thế giới khác nhau từ Thiên đàng. Ví dụ, cả 2 cái vạc cổ từ thời nhà Thương và một cái đĩa to tròn với những văn hoa của những đám mây trên trời. Đây là điều được trao lại cho con người bởi vì các chư Thần muốn giúp loài người tiến về phía trước để tạo nên nền văn minh, và đó cũng là vì các chư Thần muốn tặng những đồ vật từ Thiên giới của họ như là một phần của lịch sử và đặt một con đường cho Đại Pháp vũ trụ. Các chư Thần ban trí huệ cho những ai có chuẩn mực đạo đức cao và điểm hóa họ về cách làm sao để tạo ra những đồ vật từ những vật liệu trên trái đất. Cùng lúc đó, nó cũng giúp con người sống một cách phong phú và đa dạng trong khi chờ đời thời điểm Đại Pháp được phổ truyền.
Nói về phong phú và đa dạng, nghề thủ công và nghệ thuật dân gian được truyền từ đời này đến đời kia, như là dệt, đồ gốm, giấy, điêu khắc đá, gỗ,… tất cả có cùng một nguồn gốc và phục vụ cùng một mục đích. Đây là tất cả những trí huệ của các chư Thần khác nhau. Nếu không có các chư Thần, sẽ không có con người, chưa nói đến nền văn minh.
Thật sự là, tất cả mọi thứ trên trái đất là đến vì Pháp! Và điều này bao gồm cả những triễn lãm của bảo tàng. Mỗi một triễn lãm có một lịch sử riêng của nó, bất luân là lịch sử nào. Không kể là mỗi thứ được tạo ra lâu dài như thế nào bằng những con đường [khác nhau] cho đến ngày hôm nay, đến thời điểm Đại Pháp được phổ truyền trong thế giới con người, những nổ lực của chúng không phải là vô ích.
Khi chúng tôi ra khỏi bảo tàng, tôi vẫn tự hỏi rằng tại sao môi trường lịch sử và văn hóa ở vùng này là mạnh mẽ như vậy. Vùng này không giống như là Hoàng Hà, nơi mà nền văn minh Trung Hoa bắt nguồn. Tôi nghĩ rằng nó là vì các chư Thần thấy được tiềm năng con người ở vùng này và biết rằng họ có nhiều khă năng đắc Pháp. Vì thế, họ để lại nhiều di vật mà có thể làm như những kiến chứng của lịch sử. Tất nhiên, có nhiều nguyên nhân khác mà tôi chưa ngộ ra được.
Vì vô lượng các chư Thần đã trao tặng những thứ của họ, không phải con người ngày nay là đại diện từ những thế giới đó? Họ đã trãi qua bao nhiêu lần luân hồi trong thế giới con người chỉ vì được cứu độ bởi Đại Pháp ngày nay. Vì khi họ được cứu, không phải là những thế giới mà họ đại diện và những chúng sinh mà sống ở đó được cứu độ hay sao?
Nói một cách khác, là những sinh mệnh đã đắc Pháp, chúng ta – những đệ tử Đại Pháp – phải thực hiện sứ mệnh của mình. Đây là niềm tin to lớn nhất được đặt vào chúng ta bởi vô lượng các chư Thần từ thời tiền cổ xa xưa. Đây là hy vọng của tất cả các chúng sinh đang mong chờ cả hàng nghìn năm. Đây là sự thệ ước rất quan trọng mà chúng ta đã ký kết trước khi chúng ta đến thế giới con người.
Nhìn lại những viên gạch xanh lục và những cái chuông, tôi [lập thế tay] song thủ hợp thập và nghĩ trong tâm, “Mặc dù các bạn đã trãi qua bao nhiêu sóng gió trong thế giới tự nhiên, trãi qua những thăng trầm trong thế giới con người, cuối cùng các bạn cũng mang sự thật của lịch sử đến ngày hôm này, và các bạn là những kiến chứng của thời kỳ không thể nào quên được trong lịch sử loài người.”
Hãy trân quý điều này, hỡi những đứa con của các chư Thần! Đừng từ chối sự thật mà bạn đang tìm kiếm trong hàng nghìn năm. Các bạn đã trãi qua nhiều gian khổ chỉ chờ đợi thời điểm này đến. Các bạn biết rằng chỉ có từ bi thật sự [mới] có thể ở lại vĩnh viên trong vũ trụ mới.
Phủi sạch phong trần: Khung chủ hạ phàm
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Lời của tác giả:
Bài viết này nằm trong hồi ức của tôi. Đây là sự hồi tưởng lại nhiều cảnh giới khác nhau trong quá trình đi xuống thế giới con người. Điều được mô tả ở đây thật khó cho những người không tu luyện tưởng tượng ra được. Đối với họ, nó quả thật ‘bất khả tư nghị’. Nhiều người cũng đã từng kinh nghiệm được những hồi ức tương tự. Nhưng do thời gian quá lâu dài và bị vùi sâu trong cõi người thường, họ chỉ coi những kinh nghiệm ấy là chuyện thần thoại.
Vào một buổi sáng ngày 23 tháng Tư, khi đang ngồi đả tọa (tập bài công pháp thứ 5) như thường lệ, tôi tiến nhập vào trạng thái ‘định’. Tôi đã trông thấy một cảnh tượng thật đáng nhớ. Tôi muốn chia sẻ với các bạn đồng tu và những người có tiền duyên về điều mà tôi đã thấy.
Toàn bộ thiên thể có nhiều tầng cấp khác nhau. Lấy ví dụ, một nguyên tử được cấu thành bởi hạt nhân và âm điện tử (electron). Nhiều nguyên tử cấu thành nên một phân tử. Các phân tử là đơn vị cơ bản của vật chất. Các chủng vật chất khác nhau cấu thành nên Trái đất này. Nhiều tinh cầu tổ hợp thành Thái dương hệ. Dải ngân hà (Milky Way) được cấu thành bởi nhiều thiên hệ khác nhau giống như Thái dương hệ của chúng ta đây.
Một tiểu vũ trụ được cấu thành bởi nhiều thiên hà (galaxy), như chúng ta đã biết ngày nay. Nhân loại về cơ bản đã công nhận điều này. Tuy nhiên đối với người tu luyện, Sư Phụ đã nói với chúng ta rằng ba ngàn (tam thiên) tiểu vũ trụ như vậy cấu thành nên một vũ trụ tầng thứ nhì, và ba ngàn vũ trụ tầng thứ nhì cấu thành nên một vũ trụ tầng thứ ba, và cứ như vậy… Hàng ngàn tầng vũ trụ như vậy cấu thành nên một thiên thể (celestial body). Và hàng ngàn thiên thể như vậy cấu thành nên một đại khung thiên thể (cosmic space). ‘Tam giới’ mà tôn giáo đề cập tới có phạm vi đối ứng nằm trong Dải ngân hà của chúng ta. Chúng ta có thể thấy Tam giới này nhỏ bé như thế nào. Điều mà nhân loại có thể hiểu được chỉ nhỏ bé đến mức thật đáng thương!
Tại sao tôi lại đề cập đến không gian vũ trụ tại đây? Bởi vì bài viết này sẽ bắt đầu từ một đại khung thiên thể. Thực ra, ngay cả tầng vũ trụ ấy cũng chỉ như một giọt nước trong đại dương khi so sánh với hồng khung thiên thể rộng lớn bao la. Bí ẩn của thiên thể sẽ vĩnh viễn là điều không thể hiểu được.
Ở một tầng thứ cực cao, những đại giác giả có nhiều “hài tử” xung quanh các đại khung thiên thể của Ngài. Những “hài tử” này không phải là trẻ con. Họ trông như thiếu niên và cũng là những giác giả. Những đại giác giả cảm thấy rằng các Ngài có thể tạo ra mọi thứ. Thực ra, còn có các cấp bậc cao hơn cả đại giác giả. Khi Ngài muốn tạo ra một thiên thể, Ngài tập hợp những “hài tử” từ các đại khung trong tầng thứ của Ngài lại. Ngài giảng Pháp cho chúng nghe và nói với chúng, đại ý rằng: “Ta muốn tạo ra một đại khung thiên thể ở bên dưới và cần các vị thần để khai thiên tịch địa, quản lý chúng sinh và duy hộ Pháp này. Nhưng ta muốn nói với các con rằng một khi các con đi xuống cảnh giới đó, các con sẽ không thể quay trở về. Tất cả ký ức tại cảnh giới này sẽ bị tẩy sạch một khi các con đi xuống. Chỉ có trí huệ và năng lực duy hộ Pháp tại tầng thứ đó là còn tồn tại. Vì sự phồn vinh của chúng sinh và vũ trụ, và để duy hộ Pháp tại tầng thứ đó, các con hãy xuống ngay đi! Vào thời điểm then chốt, các con sẽ thấy một điềm lành, điều các con không thể thấy được tại cảnh giới này. Những vấn đề của các con sẽ được giải quyết vào lúc ấy.” Ngài nói xong với một vẻ mặt nghiêm trọng. Vì Ngài biết rằng chúng sẽ không thể trở lại thiên thượng trừ phi chúng tu luyện. Sự kiện một vị thần giáng hạ xuống là không thể xem thường. Thường thì chỉ những vị thần đã phá vỡ luật lệ của thiên thượng mới bị đánh hạ xuống. Vào lúc ấy, nhiều vị thần đã được bao quanh bởi công và đi xuống. Thực sự là rất dễ dàng cho một đại giác giả tạo ra một đại khung thiên thể vĩ đại. Đây là biểu hiện của trí huệ và năng lực của các đấng đại giác giả.
Để tôi miêu tả một vài điều về những đại khung thiên thể như vậy. Có ba vị nữ Phật, những giác giả được bao quanh bởi công của vị đại giác giả đó và đi xuống tầng thấp hơn khi đại khung được tạo ra. ‘Cái vỏ’ bao quanh ấy trở thành vật chất tại cảnh giới thấp hơn khi họ đi xuống. Mặc dù cái vỏ này được tạo ra bởi công, chúng lại trở thành vật chất của cảnh giới thấp hơn kia. Để tạo ra một thiên thể, cái vỏ này cần phải được đả khai. Họ phải đập vỡ cái vỏ này bằng tất cả năng lực của mình. Đây là bước đầu tiên để họ trở thành chủ của đại khung thiên thể đó. Điều này giống như một con gà con cần đập vỡ vỏ trứng để chui ra. Ba vị nữ Phật phải hiển lộ thần thông và hợp sức để phá vỡ cái vỏ. Những mảnh vỡ tự nhiên trở thành vật chất cơ bản cho đại khung thiên thể và các chúng sinh tại đó.
Để tôi miêu tả về ba vị nữ Phật theo một ngôn ngữ đơn giản nhất và tạm gọi họ là những ‘đại tỷ’, ‘nhị tỷ’ và ‘tiểu muội’. Đại tỷ có trí huệ và kiến thức to lớn nhất. Nhị tỷ có tâm từ bi vĩ đại nhất và tiểu muội sở hữu thần thông mạnh mẽ nhất. Đó là những trọng điểm khác nhau khi tạo ra những đại giác giả trong đại khung thiên thể này. Ngoài ra, sinh mệnh trong vũ trụ thật là phong phú và phồn vinh. Đó là tại sao mà ngoại hình, tính cách và năng lực của những vị thần được tạo ra có sự khác biệt, thậm chí tại cùng một tầng thứ. Bởi vì có những nhân tố phụ diện ở tầng thứ này nên cũng tồn tại một tình trạng can nhiễu. Đó là lý do các sinh mệnh biết trân quý những gì họ đạt được. Tất cả họ có khả năng duy hộ cũng như tận tâm tận lực với vũ trụ này. Họ cũng nhận được sự kính trọng từ các vị thần khác. Họ tiếp tục tạo ra những thiên thể khác nhau và các chúng sinh bên dưới họ, hết tầng này đến tầng khác, làm cho vũ trụ của họ cực kỳ phong phú và phức tạp.
Thời gian cứ thế trôi qua. Một ngày nọ, họ trông thấy một thứ bất thuần khi họ đang ngắm nhìn bầu trời bằng Phật nhãn. Họ vô cùng ngạc nhiên vì điều đó. Họ sử dụng thần thông để thanh lý nó, nhưng nó lại xuất hiện trở lại ngay sau đó. Dường như nó có căn nguyên từ một tầng thứ rất cao. Tình huống tương tự cũng xuất hiện tại những đại khung thiên thể khác mà họ đã tạo ra, mặc dù chúng sinh không thể phát hiện ra nó. Sau đó, tâm tính của các chúng sinh bị biến dị. Đây chính là điều mà họ lo lắng nhất, bởi vì nó báo hiệu đại khung mà họ đã tạo ra có nguy cơ bị giải thể. Đây là điều đáng lo nhất vì họ đã tự thân dùng Phật lực và hao tốn vô vàn tâm huyết để tạo ra những thiên thể cũng như các chúng sinh này. Để duy hộ Pháp, những nữ Phật này có thể hy sinh và từ bỏ mọi thứ. Vào thời khắc nguy nan ấy, họ nhìn thấy, bằng trí huệ và công lực của họ, một đám mây giáng hạ từ trên thiên thượng. Rồi họ nghe được tiếng pháp nhạc vô cùng mỹ diệu, giống như cánh cửa thiên đường đã mở ra. Sau khi bầu trời được trang hoàng bởi những đóa hoa đẹp đẽ một cách kỳ lạ, một vị cự Phật ngồi trên đài sen lớn dần dần hạ xuống từ không trung. Lúc ấy, họ nhớ lại những điều mà đại giác giả đã nói với họ trước khi đi xuống. Họ bèn dẫn những vị thần khác quỳ xuống trước vị cự Phật vừa hạ thế.
Vị cự Phật nói bằng một thanh âm trong trẻo: “Vì vũ trụ đã phát sinh biến dị, ta sẽ đi xuống cõi người chính Pháp và cứu vãn vũ trụ cũng như toàn thể chúng sinh. Những ai muốn cứu vãn đại khung và chúng sinh có thể cùng ta xuống nhân gian.” Vào lúc ấy, trên bàn tay của vị cự Phật xuất hiện một vật tương tự như một quyển sách. Nhiều vị thần từ các đại khung thể hệ khác nhau đã thể hiện sự thờ ơ và các vị thần đã chọn ba vị nữ thần làm đại diện cho họ. Do đó, ba người họ bước tới trong thế hợp thập và nói: “Chúng con nguyện ý theo Ngài đi xuống nhân gian. Để cứu vãn đại khung và chúng sinh, chúng con không quan tâm điều gì sẽ xảy ra với chúng con.” Cuốn sách của vị cự Phật tự động ghi lại những gì họ nói. Điều này đã tạo ra một thệ ước thần thánh là ‘trợ Sư chính Pháp, cứu độ chúng sinh, thanh trừ tà ác và duy hộ Đại Pháp’. Những vị thần khác cũng ký lời thệ ước của họ. Chính Pháp là chính lại hết thảy những gì đã biến dị.
Nhiều nhân tố bất chính từ các tầng thứ khác nhau đã hình thành nên một thế lực. Họ muốn duy hộ tư niệm của họ và do đó đã cẩn thận an bài rất nhiều thứ, thậm chí cả mỗi một niệm của chúng sinh. Để tác động vào quá trình Chính Pháp, họ đã lợi dụng những vị thần này, những người có lòng từ bi với chúng sinh cũng như mong muốn đắc Pháp, và đã ký kết nhiều điều ước với họ. Những điều ước này tuyên bố rằng họ phải chịu nhiều ma nạn hay thậm chí bị can nhiễu với môi trường tu luyện khi Đại Pháp hồng truyền nơi cõi người để đạt viên mãn.
Thật không đơn giản khi đi xuống các tầng thứ thấp hơn. Họ sẽ bị mê ảo và trí huệ cũng như thần thông của họ sẽ dần dần bị phong bế. Thật đáng thương cho những vị thần này. Vị đại tỷ đã từng ký kết một điều ước với ma vương, đó là dùng ‘ nhân tình’ để tạo ra khổ nạn cho con người và can nhiễu đến sự tu luyện của các học viên Đại Pháp. Lúc ban đầu, cô không có ‘nhân tình’ mạnh mẽ. Sau này, cô đã mắc lỗi về quan hệ nam nữ. Khi cô muốn vãn hồi từ lỗi lầm này thì nhiều vị thần từ vũ trụ cũ không để cho cô đi bởi vì cô đã ký kết một điều ước với họ. Họ sử dụng những chúng sinh mà đã có sự oán giận với cô qua nhiều kiếp luân hồi, và dùng ‘tình’ để bức hại cô. Cô đã phải chịu đựng rất nhiều thống khổ vào thời gian đó. Sau này, cô liên tục phủ định điều ước của cô với tà ác. Với sự trợ giúp của một bằng hữu, cô đã gặp được người tiểu muội. Với sự hợp tác cùng tiểu muội, cô đã hoàn toàn thoát khỏi sự bức hại của tà ác.
Khi họ tiếp cận với tiểu vũ trụ của chúng ta, họ đã bị tách nhau trong một thời gian. Sau này, họ lần lượt chuyển sinh vào cõi người và đã khai sáng nền văn minh của nhân loại cùng với Sư Phụ. Cùng lúc ấy, họ đã tạo duyên phận cho sự tu luyện và cứu độ chúng sinh của mình.
Tái bút:
Nội dung của bài viết này là những tình huống mà tôi đã thấy tại tầng thứ hữu hạn của cá nhân tôi. Tôi không hề thêm bất cứ điều gì vào trong bài viết này.
Phủi sạch phong trần: Lục địa Atlantis cổ xưa
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Từ khi còn nhỏ, tôi đã vô cùng thích thú với các phát hiện về khảo cổ và địa lý. Đặc biệt, tôi rất chú ý tới những nghiên cứu về sự thịnh suy của các nền văn minh và bài học có thể rút ra từ đó. Tôi luôn cởi mở và “cầu tiến” khi chấp nhận những thành quả nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực. Việc chú tâm đến sự thịnh suy của các nền văn minh để rút ra bài học đã trở thành sở thích của tôi, và cho phép tôi viết nhiều bài viết về đời sống và lịch sử. Nhiều lần, khi tôi cảm thấy rằng tôi không có gì để viết, trong vòng vài ngày, những ý tưởng mới hay cảm hứng lại thúc giục tôi cầm bút để viết ra suy nghĩ của bản thân về đời sống và lịch sử. Một cảm giác về trách nhiệm đến từ tận đáy lòng đã giúp tôi liên tục viết bài. Mỗi khi đối mặt với những chướng ngại hay chỉ trích, đầu tiên tôi sẽ hướng nội để tìm kiếm. Sau khi đã loại bỏ những ý niệm bất chính và ích kỷ của bản thân, tôi sẽ cười và tiếp tục viết ra những hiểu biết của mình…
Trong một số tờ báo hay tạp chí khoa học phổ biến bằng Hoa ngữ, có thể tìm thấy vài câu viết về nền văn minh đã mất Atlantis. Hôm nay, tôi sẽ nói ngắn gọn về thảm họa đã từng hủy diệt nền văn minh Atlantis.
Các nhà khoa học hiện đại tin rằng có một lục địa tên là Atlantis đã từng tồn tại ở một nơi nằm giữa bờ biển phía Đông của Châu Mỹ và Tây Âu. Một nhà triết học Hy Lạp từng nói rằng nền văn minh Atlantis là một đế chế hùng mạnh trên biển, một hạm đội hải quân lớn mạnh đã từng tấn công đảo Crete thời Hy Lạp cổ đại. Là người tu luyện, chúng ta đã học được từ những bài giảng của Sư Phụ rằng đã từng có một nền văn minh vô cùng tiên tiến ở phương Tây. Dựa trên những gì tôi biết, đế chế đó thực sự rất hùng mạnh ở thời kỳ đỉnh cao của sự thịnh vượng. Làm sao mô tả nó đây? Để tôi nói thế này: Đối với họ, nền văn minh hiện đại của chúng ta không thể được coi là tiên tiến, và thậm chí họ còn coi chúng ta ở dưới mức “kém phát triển.”
Các thành phố của họ được làm bằng pha lê với độ trong và tinh khiết rất cao, thường thấy nhất là kim cương. Y phục mà họ mặc không được làm từ vải thông thường mà được tạo ra bởi linh cảm của những sinh vật sống nơi biển sâu hay trên mặt đất. Mọi thứ ở vùng đất đó, từ cảnh giới tồn tại của các sinh vật cho tới văn hóa của họ đều được truyền cấp bởi Thần dựa trên tiêu chuẩn đạo đức của con người.
Những người này thực sự đã đạt tới cảnh giới siêu phàm thoát tục. Khi tâm tính của họ phù hợp với tiêu chuẩn, nhiều điều có thể xảy ra chỉ bằng ý chí. Lấy ví dụ, để tiêu diệt những tên cướp biển, họ cử một lực lượng hải quân ra biển và không phải chịu mất mát nào ngay cả khi đối mặt với gió mạnh và sóng dữ, trong khi tàu của những tên cướp biển thì bị lật và chìm nghỉm ngay cả khi mặt nước vẫn phẳng lặng.
Đó là một nền văn minh Thần truyền chân chính; nó thực sự cho phép xã hội và đạo đức thăng tiến cùng nhau. Con người chiểu theo các quy tắc được thiết lập bởi Thần. Tất nhiên, mọi thứ rơi rớt xuống quả Địa cầu này đều sẽ bị hư hoại. Theo thời gian, một số quan hệ xã hội đã phát triển, dẫn tới va chạm và xung đột giữa người với người. Nếu con người có thể dàn xếp những vấn đề này đúng đắn, Thần sẽ ban cho họ trí tuệ, và họ sẽ được hưởng “đãi ngộ” cũng như sự huy hoàng mà những tộc người khác không có. Lấy ví dụ, cũng như trường hợp một người biết cách tạo ra một chiếc xe đạp, anh ta sẽ có thể tận hưởng sự tiện lợi và thỏa mãn mà chiếc xe mang lại cho anh ta.
Họ đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong du hành không gian. Họ lái những chiếc phi thuyền không gian được vận hành bằng một thứ nhiên liệu đặc biệt để có thể bay sang các tinh cầu khác và để lại dấu của họ (họ khắc lên đá để minh chứng rằng họ đã từng đến đó). Tôi không thể nói nhiều hơn được nữa, xin thứ lỗi cho tôi.
Sự phát triển của Vũ trụ là để cho ngày hôm nay, chỉ vài năm trong khoảng thời gian hiện tại này. Vũ trụ đã trải qua một lịch sử rất lâu dài và vô số nền văn minh đã trải qua nhiều loại thử thách cũng như khổ nạn. Mục đích sự tồn tại của họ là vì sự hồng truyền của Đại Pháp Vũ trụ ngày hôm nay và giúp con người lựa chọn, hoặc là đứng về phía Chính Pháp hoặc là chống lại Chính Pháp. Không ai xứng đáng trở thành kẻ thù của Đại Pháp. Nhưng họ phải lựa chọn, đây là vấn đề tồn vong của mỗi sinh mệnh.
Do đó, nền văn minh hiện đại đã bắt đầu phát triển và trở nên thịnh vượng. Vì sân khấu chính của vở kịch vĩ đại sẽ diễn ra tại Trung Quốc, Thần đã an bài một cách có hệ thống nền văn hóa Đông phương với nội hàm thâm sâu và một lịch sử văn minh khá dài. Họ cũng đã để nó kế thừa nền văn minh trước đó để nó có một xuất phát điểm tương đối cao. Ngược lại, nền văn minh Tây phương không phải là sân khấu chính của vở kịch vĩ đại, và sự phát triển của nó đã theo một hướng khác trong khi con người chờ đợi sự phổ truyền của Đại Pháp. Nói cách khác, nền văn minh Tây phương đóng vai trò phụ trợ nền văn minh Đông phương. Do vậy, xã hội Tây phương không được phép kế thừa nền văn hóa tiền sử phát triển cao độ của họ. Vậy thì phải làm gì với nền văn minh trước đó? Làm cho nó biến mất.
Nhưng làm một nền văn minh phát triển cao độ lập tức biến mất không phải là dễ, không phải là vì Thần không có bản sự, mà là vì mọi thứ mà Thần làm đều phải có một “lý do”. Nếu không có lý do, họ không thể làm điều đó, nếu không họ cũng có thể bị rớt xuống.
Vào thời điểm mà nền văn minh Atlantis biến mất, đạo đức của nhân loại đã trượt dốc mau chóng – sự đố kỵ giữa người với người trở nên nghiêm trọng và họ có thể làm bất cứ điều gì chỉ để thỏa mãn dục vọng ích kỷ của bản thân. Ngoài ra, họ cảm thấy rằng họ có năng lực lớn hơn cả Thần và không còn kính trọng Thần nữa; họ trở nên vô cùng ngạo mạn và đi khắp nơi để xâm chiếm các quốc gia khác.
Vào buổi trưa một ngày đẹp trời, những ngọn hồng thủy cao hơn 100 mét đột ngột xuất hiện phía chân trời, kèm theo những trận giông bão dữ dội, đồng thời đáy biển chuyển động lên xuống vô cùng mạnh mẽ. Trước khi con người kịp phản ứng, cả thành phố làm bằng pha lê đã chìm xuống đáy Đại Tây Dương. Tất cả sự huy hoàng của nền văn minh Atlantis đã trở thành một huyền thoại đẹp đẽ. Khi thời gian trôi qua, nhân loại đã dần dần quên mất nó.
Trong thế kỷ cuối cùng, một số nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích của nền văn minh này qua nhiều phương cách tiếp cận khác nhau, và những sự phán đoán cũng như giả thuyết lại bắt đầu lan truyền trong thế giới con người…
Phủi sạch phong trần: Nam Cực băng giá
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Vào ngày 12 tháng Năm [năm 2008], một trận đại địa chấn đã xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên. Một nửa Trung Quốc đã bị rung chuyển trong cơn địa chấn, và trận động đất cũng gây ra lở núi. Những tiếng gào khóc và sự hãi hùng đã làm rung động cả thế giới!
Người ta vô cùng chú ý đến sự an toàn của các nạn nhân và những mất mát trong vùng xảy ra địa chấn. Sau thảm họa, bản tính lương thiện và quan tâm tới người khác mà con người quên mất từ lâu nay đã trở lại. Người dân tại những khu vực khác đều chìa tay giúp đỡ và viện trợ cho các nạn nhân, điều đó thật là cảm động. Đây là nghĩa cử phản ánh trái tim lương thiện của con người. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã nhân cơ hội này để tự ca ngợi chính mình. Điều mà người dân không biết là ĐCSTQ đã dự báo trước được trận địa chấn, nhưng nó không nói cho dân chúng biết để duy trì cái gọi là “ổn định”. Sau khi trận địa chấn xảy ra, ĐCSTQ đã từ chối nhận sự trợ giúp từ các đội cứu hộ quốc tế, đồng thời bưng bít sự thật rằng thảm họa đã được dự báo trước. Cũng đáng chú ý là rất nhiều trường học đã bị sụp đổ trong cơn địa chấn trong khi các tòa nhà của chính phủ thì không. Hơn mười ngàn học sinh và giáo viên đã tử vong trong những đống đổ nát, còn số người thương vong thì không sao đếm xuể.
Tại đây, chúng ta bày tỏ lời chia buồn sâu sắc đến những sinh mệnh bất hạnh và sự phá hoại trong thảm họa. Mặt khác, chúng ta cần thấy rõ ràng rằng ĐCSTQ luôn đặt “Đảng tính” lên trên nhân tính. Để duy trì cái gọi là “ổn định”, mạng sống của con người không phải là chủ yếu đối với nó. Thậm chí ngay cả khi ĐCSTQ cố gắng giải cứu các nạn nhân, nó đã làm điều đó nhằm duy trì sự thống trị.
Nếu con người từ bỏ tính lương thiện và tình thương của mình, sự lãnh đạm trước tổn thất về nhân mạng sẽ hoàn toàn thế chỗ. Bởi vì mọi người đều muốn bảo vệ lợi ích của mình. Nếu điều này cứ tiếp diễn, kết quả là người người sẽ coi nhau như thù địch. Con người ban đầu là chủ nhân của quả địa cầu. Nếu con người tiếp tục hành xử như thế này, sự phát triển của xã hội sẽ mất đi tính hài hòa vốn có. Thêm nữa, ĐCSTQ đã đàn áp tất cả các tôn giáo sau khi nó giành được chính quyền. Điều này đã cắt đứt mối liên hệ của người dân Trung Quốc với nền văn hóa truyền thống của họ. Nghiêm trọng hơn, ĐCSTQ đã phá hủy sự kính ngưỡng của người dân Trung Quốc đối với thần thánh. Người ta không còn tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi là con người sẽ đi về đâu sau khi họ chết. Điều này thậm chí còn tệ hơn cả cuộc bức hại Pháp Luân Công kể từ năm 1999.
Giờ đây, cả đất nước đang đau thương vì những mất mát về nhân mạng trong trận địa chấn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng kể từ khi giành được chính quyền năm 1949, ĐCSTQ đã sát hại tổng cộng 80 triệu người trong nhiều cuộc vận động [chính trị] khác nhau. Hôm nay, ĐCSTQ lại đang bức hại các học viên Pháp Luân Công, những người tu tập theo các nguyên lý Chân, Thiện và Nhẫn. Hơn 3.000 học viên Pháp Luân Công đã được xác nhận là bị bức hại đến chết. Chân tướng cuộc bức hại tàn bạo này vẫn chưa được tiết lộ đầy đủ.
Nền văn minh Trung Hoa đã trải qua 5.000 năm huy hoàng. Triều đại này nối tiếp triều đại khác, nhưng tinh hoa của nền văn hóa truyền thống Trung Hoa vẫn được truyền thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác. Kể từ khi ĐCSTQ giành được quyền lực, điều đầu tiên nó làm là cắt đứt mối liên hệ với nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm lịch sử. ĐCSTQ coi tất cả các nhân tố thuộc nền văn hóa truyền thống Trung Hoa là “mê tín” và xóa bỏ chúng. Sau đó nó nhồi nhét văn hóa Đảng vào đầu óc dân chúng, và bắt nhân tính phải tồn tại cùng Đảng tính. Nói trắng ra, ĐCSTQ muốn người dân thay thế nhân tính bằng Đảng tính. Trong khuôn khổ có hạn của bài viết này, tôi không muốn đào sâu thêm vào các chi tiết. Ai có hứng thú có thể đọc cuốn sách ‘Cửu bình Cộng sản Đảng’ [1] và ‘Giải thể văn hóa Đảng’ [2].
Bây giờ hãy trở lại chủ đề chính của bài viết.
Những thảm họa như là động đất và lũ lụt thường được coi là “thiên tai”, và nhân loại hiện đại nghĩ rằng chúng chẳng có quan hệ gì với đạo đức phẩm hạnh của con người. Người ta không nghĩ rằng chính sự bại hoại của con người mới là nguyên nhân gây ra tai họa.
Tuy nhiên, nếu các bạn đã từng đọc những cuốn cổ sử như “Sử Ký” hay “Tư Trì Thông Giám” thì sẽ phát hiện ra rằng khi một triều đại đến thời mạt, nhiều tai họa bèn phát sinh; hoặc là khi một vị Hoàng đế hoang dâm vô đạo thì sẽ xuất hiện nhiều cảnh tượng dị thường nơi nhân gian. Khi tai họa ập tới, những bậc quân vương có thiện tâm sẽ trì giới, cử hành nghi thức bái thiên địa, hướng vào đó mà sám hối, hứa sẽ yêu thương dân chúng, đồng thời đại xá thiên hạ. Điều này cho thấy cổ nhân Trung Quốc hiểu được mối liên hệ giữa đạo đức con người và các hiện tượng tự nhiên.
Hôm nay, tôi muốn kể một câu chuyện rất cảm động mà đã xảy ra từ rất lâu, rất lâu rồi.
Ngày nay, nói đến châu Nam Cực, chúng ta đều biết rằng đây là một vùng đất băng giá, gió thổi rất mạnh, không có thực vật sinh sống ngoại trừ địa y và rong rêu. Cũng có chim cánh cụt sống ở đó nữa. Vùng đất này rất giàu khoáng sản, và một số trạm nghiên cứu khoa học đã được xây dựng tại đây, trong thế kỷ 20 vừa qua.
Đó là tất cả những thông tin mà chúng ta thu thập được cho tới thời điểm này. Quan sát kỹ hơn, chúng ta có thể nghĩ đến một tấm bản đồ về châu Nam Cực thời cổ đại. Trên tấm bản đồ này thể hiện châu Nam Cực với ranh giới rất rộng lớn (Vì Nam Cực là châu lục ở tận cùng cực Nam trái đất, nó được bao phủ bởi một lớp băng tuyết dày và khó mà phân biệt được ranh giới của nó. Tuy nhiên, tấm bản đồ này được vẽ trước khi châu Nam Cực được phát hiện. Người vẽ tấm bản đồ này tuyên bố rằng ông đã tham khảo từ một tấm bản đồ cổ hơn, thứ thể hiện ranh giới châu Nam Cực trước khi bị bao phủ bởi băng tuyết.
Do vậy, hôm nay chúng ta sẽ nói về nền văn minh từng một thời tồn tại trên lục địa Nam Cực.
Châu Nam Cực từng nằm cạnh đảo Sumatra thuộc Indonesia, gần với đường Xích đạo.
Nền văn minh trên lục địa này từng trải qua những thời kỳ thịnh suy khác nhau. Trong nền văn minh gần đây nhất, khi nó lên đến đỉnh cao, có khoảng hai mươi quốc gia, hàng chục dân tộc và một chủng tộc cơ bản. Tất nhiên, cũng có một số chủng tộc khác ở trên các lục địa khác nữa.
So với nền văn minh của nhân loại ngày nay, nền văn minh thời bấy giờ phát triển hơn rất nhiều. Vì chuẩn mực đạo đức của nhân loại thời ấy rất cao, người ta không cần tiêu hao nhiều sức lực để duy trì sự phát triển của xã hội. Lấy ví dụ, khi người ta gieo trồng vụ mùa, một khi hạt giống được gieo xuống đất, họ không cần phải gieo lại trong ba hay năm năm tiếp theo. Trái cây trông rất to và giàu dinh dưỡng. Theo thuật ngữ ngày nay, ngũ cốc mà họ trồng là những loại thức ăn “hữu cơ”. Nếu chủ nhân mảnh đất trồng trọt phát sinh tư tâm hay ý niệm bất hảo, những điều xấu sẽ xảy đến với vụ mùa của ông ta, chẳng hạn như chúng khô héo rồi chết. Bất cứ ai thấy cảnh này đều biết rằng đây là lúc mà người chủ mảnh đất cần chú ý hơn nữa đến hành xử đạo đức của bản thân mình. Cũng như câu nói của người vùng Đông Bắc [Trung Quốc]: “Người không coi trọng đức thì chẳng ai ưa.”
Mặc dù năng lượng mà họ sử dụng trong công nghiệp cũng từ than đá và dầu mỏ, nhưng công nghệ của họ cho phép tận dụng triệt để nguồn khoáng sản mà không gây ô nhiễm.
Cũng có sự khác biệt giữa các cá nhân. Có một khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Tuy nhiên, khoảng cách này hoàn toàn khác với “khoảng cách giàu nghèo” ngày nay. Để tôi miêu tả thế này: Người bần cùng nhất vào thời đó không chỉ sở hữu rất nhiều của cải, mà họ còn có tiêu chuẩn đạo đức rất cao. Họ hài lòng với những gì mình có và không ganh tỵ với người giàu chút nào. Những người giàu, nói một cách tương đối, quan tâm rất nhiều đến người nghèo. Họ không bao giờ coi thường người khác.
Về cơ bản, tình huống chung là như vậy.
Ở tại lục địa đó, có một vị quốc vương của quốc gia lớn nhất. Vị quốc vương này đặc biệt có năng lực cai trị quốc gia, nhưng ông luôn biết cách chọn người hiền để làm các việc. Ông thường hướng nội [tâm] và tự tìm kiếm những thiếu sót của chính mình. Ông cũng rất quan tâm đến dân chúng. Dần dần, đất nước của ông trở nên hùng mạnh nhất trên toàn cõi lục địa.
Một ngày nọ, quốc vương cùng đoàn tùy tùng đi du ngoạn và quan sát điều kiện sinh sống của dân chúng. Họ đi lang thang trong thành. Vừa đi được một lúc, họ nghe nói rằng một vị tiên nhân đắc đạo sẽ tới đây và dạy người ta phương pháp chế tạo vật thể bay trên không trung.
Quốc vương hỏi đoàn tùy tùng: “Các ngươi có biết tại sao ta dẫn các ngươi ra ngoài không? Bởi vì ta muốn các ngươi nghe điều mà họ vừa nói. Đêm hôm trước, ta có giấc mộng rằng một vị tiên nhân sẽ tới đây để chỉ bảo ta cách cai trị đất nước một cách từ bi và chú trọng tìm kiếm bên trong chính mình. Những điều chúng ta nghe được hôm nay chẳng phải tương hợp với giấc mộng của ta là gì.”
Quốc vương và đoàn tùy tùng tiếp tục rảo bước. Một lúc sau, họ cảm thấy đói và bước vào một tửu quán. “Rượu” vào thời đó khác hẳn với thứ rượu của chúng ta ngày nay. Thứ rượu đó không chỉ giúp giải khát mà còn có tác dụng giải trừ sự mệt mỏi; uống hoài mà không say. Để tránh dân chúng nhận ra mình, quốc vương đeo một tấm mạng che mặt trước khi ông rời khỏi cung điện. Do quán rượu rất đông khách, quốc vương cùng đoàn tùy tùng ngồi trong một góc khuất. Họ gọi đồ ăn và bắt đầu ăn. Rồi có hai cô gái xinh đẹp bước vào. Họ trông giống như người ngoại quốc bởi vì cách phục sức của họ rất lạ. Vì còn một chiếc bàn trống bên cạnh quốc vương, hai cô gái ngồi tại đó, gọi đồ ăn và tán gẫu. Quốc vương có thể nghe được những gì họ nói. Họ nói rằng họ tới vương quốc này để kiếm chồng và nói: “Ai cũng nói rằng dân chúng tại vương quốc này có tiêu chuẩn đạo đức rất cao, và đàn ông ở đây phẩm chất thật tuyệt vời.” “Nếu ta không thể tìm được một tấm chồng lý tưởng, ta thà sống độc thân trong phần đời còn lại còn hơn là lấy một người không xứng đáng.” “Này, ta nghe nói rằng một vị tiên nhân đang tới đây. Nếu ta có thể gặp người đó, ta sẽ rất hài lòng dẫu ta có sống độc thân suốt cuộc đời.” Nghe cuộc trò chuyện của họ, quốc vương có nhiều cảm xúc đan xen lẫn lộn…
Sau bữa ăn, quốc vương cùng đoàn tùy tùng hồi cung. Hai ngày sau, có người báo rằng một người tự xưng là “tiên nhân đắc đạo” muốn bái kiến quốc vương. Quốc vương truyền chỉ cho nghênh tiếp người đó. Khi gặp mặt vị tiên nhân, quốc vương chào bằng nghi lễ trang nghiêm, đồng thời thỉnh vị tiên nhân chỉ giáo cho cách bay lên không trung. Vị tiên nhân nói: “Kỳ thực, mọi người đều có khả năng bay lên được. Hiện tại quốc dân có chuẩn mực đạo đức rất cao, đồng thời phương tiện bay cũng đã khá tiên tiến rồi. Tuy nhiên, mọi người vẫn chưa thể giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Đối với một sinh mệnh, nếu có tiêu chuẩn đạo đức cao thì sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc với không nhiều đau khổ. Nhưng họ không thể tận hưởng phúc khí mãi mãi được, cũng như tiêu chuẩn đạo đức của họ cũng không thể duy trì cao mãi mãi được. Hôm nay ta tới đây là để nói với quốc vương cùng thần dân rằng có rất nhiều phương pháp để thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Hôm nay ta sẽ truyền cho quốc vương một phương pháp.”
Rồi vị “tiên nhân” hiển hiện cho quốc vương xem hình tượng thật của mình, hình tượng của một vị Phật. Do quốc vương có một căn cơ rất tốt nên ông bèn nhớ lại một số nhân duyên kiếp trước của mình.
Tại một cảnh giới không cách quá xa Tam giới, Phật Thích Ca Mâu Ni đã an bài để tới thế giới con người từ rất sớm và đặt cơ sở cho văn hóa tu luyện; đồng thời giúp duy trì những giá trị đạo đức trong xã hội nhân loại để đức Chuyển Luân Thánh Vương có thể truyền Đại Pháp của vũ trụ trong tương lai. Ngoài ra, khi Phật Thích Ca Mâu Ni tới, đó là một nền văn minh tiền sử có trước nền văn minh nhân loại ngày nay của chúng ta. Mục đích là để kết duyên với chúng sinh và lựa chọn đệ tử khi Ngài truyền Pháp [của Phật giáo] trong chu kỳ văn minh nhân loại thời mạt kiếp này (Mặc dù người được chọn làm đệ tử đã được an bài trước bởi thiên thượng, nhưng để tránh sai lệch, quan hệ nhân duyên vẫn cần được tái thiết lập trong thế giới con người). Quốc vương đã có công lao to lớn khi hoằng dương Phật Pháp, đồng thời ông cũng rất tinh tấn trong tu luyện. Trước khi lâm chung, vị tiên nhân (Phật Thích Ca Mâu Ni) đã nói với quốc vương rằng trong nền văn minh kế tiếp, ông sẽ lại trở thành đệ tử của Ngài và tên ông sẽ là “Mục Kiền Liên.”
Sau 1.000 năm thịnh vượng, do chuẩn mực đạo đức không còn tốt nữa nên vương quốc bắt đầu suy tàn.
Vị quốc vương cuối cùng của vương quốc không còn tin vào Thần nữa. Ông cũng rất ích kỷ và hà khắc với dân chúng. Trái lại người vợ của ông, Hoàng hậu, là người có đạo đức và phẩm hạnh khá cao. Trên thực tế, đây là an bài của Thần để tiếp tục kéo dài nền văn minh này. Nhưng quốc vương, với nhiều chiêu thuật khác nhau, cũng khiến Hoàng hậu trở nên tự tư và trở thành một người hoàn toàn khác. Nhưng dẫu sao Hoàng hậu vẫn còn tính chính trực và bà đã ảnh hưởng đến hai người thị nữ (hầu gái) rất nhiều. Những năm sau đó, không những quốc vương không tin vào Thần nữa mà ông còn bất kính với Thần. Đây là thời điểm để chuyển sang một chương mới trong lịch sử. Để lưu lại tài nguyên thiên nhiên cho chu kỳ văn minh tiếp theo và cũng để dạy cho nhân loại một bài học, ngay sau khi quốc vương bất kính với Thần lần thứ hai, đột nhiên mặt đất như nứt ra và bầu trời tưởng chừng như sắp sụp xuống. Một trận hồng thủy cao hàng chục mét đã ập vào bờ và hủy diệt mọi thứ. Ngoài ra, hơn mười núi lửa đồng thời phun trào kèm theo địa chấn dữ dội. Ngay lập tức, nền văn minh hàng vạn năm lịch sử đã biến mất trong ngọn lửa giận dữ của Mẹ thiên nhiên. Bản khối đại lục trôi nhanh về phương Nam. Từ trên bầu trời, những quặng khoáng sản rơi xuống như mưa. Đó là sự an bài của Thần để biến lục địa [Nam Cực] thành một kho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Vì những tài nguyên này sẽ được nhân loại tương lai sử dụng nên chúng phải bị phong bế. Nếu dùng phương thức khác để phong bế thì nhân loại sẽ không thể khai thác được những tài nguyên này. Do vậy, Thần đã lợi dụng điều kiện khí hậu [lạnh giá] ở Nam Cực. Ngoài ra, Thần còn làm cho băng tuyết dày hơn và gió mạnh hơn ở Nam Cực. Kết quả là, châu lục bị phong bế trong những lớp băng tuyết dày để khi thời gian tới, khi nhân loại phát hiện ra châu Nam Cực, dẫu nhân loại có biết về những tài nguyên này thì họ cũng không biết quá nhiều cho tới khi nhân loại khai thác những tài nguyên này vào đúng thời điểm. Đó là nguyên nhân tại sao Nam Cực lạnh hơn Bắc Cực.
Lại nói về Hoàng hậu, sau khi chủ nguyên thần của bà rời khỏi thân thể, bà vẫn nhớ về dân chúng và hoàn cảnh sống của người dân nơi mảnh đất ấy. Vị Thần quản lý vùng này do cảm kích trước ân đức của bà với mảnh đất và đã an bài cho bà trở thành Nữ vương của mỹ nhân ngư (người cá) nơi đại dương sâu thẳm. Hai người thị nữ trước đây của bà nay trở thành hai mỹ nhân ngư hầu hạ bà.
Thế giới của mỹ nhân ngư thậm chí còn mỹ diệu hơn cung điện pha lê trong truyền thuyết. Bà trở thành nữ vương ở đó trong năm trăm năm. Sau đó bà đã được chuyển sinh đi một nơi khác. Vì dung lượng bài viết có hạn, tôi sẽ không đi vào chi tiết ở đây.
Tái bút: Vị quốc vương đã đắc Pháp rồi tu hành và vị Hoàng hậu có phẩm hạnh mà tôi đã đề cập ở trên không phải là cùng một người. Nhưng trong kiếp này, họ đều đã đắc Đại Pháp. Còn về hai người thị nữ, một người đã đắc [Đại] Pháp còn người kia đã minh bạch chân tướng về Đại Pháp (biết được sự thật về cuộc bức hại Pháp Luân Công).
Phủi sạch phong trần: Điều người lái buôn nhìn thấy trên sa mạc hàng nghìn năm trước
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Khi những người lái buôn đi ngang qua sa mạc, dọc theo dòng sông Nile tới biển Địa Trung Hải với lạc đà chở đầy hàng hóa, họ thường dừng lại và ngắm nhìn những kim tự tháp với sự kinh ngạc. Con người đã đánh mất nguồn gốc và chức năng thực sự của các kim tự tháp trong một thời gian dài.
Những kim tự tháp vĩ đại là bằng chứng của nền văn hóa tiền sử. Nền văn minh nhân loại đã xuất hiện không chỉ một lần trong lịch sử Trái đất. Các nền văn minh này không phải cùng một thời kỳ; và nhân loại tại mỗi thời kỳ văn minh cũng trông khá khác nhau. Trong một thời kỳ rất lâu trước thời kỳ nền văn minh hiện tại, đã từng có những con người cao năm mét (16 feet). Khoa học của họ rất tiên tiến, và ngành thiên văn học của họ cũng vậy. Tương tự như vậy, tại nơi mà hiện nay là sa mạc, vào thời điểm đó có núi non được bao phủ bởi những lùm cây và hoa lá.
Vậy tại sao họ đã xây dựng các kim tự tháp? Khoa học của họ có thể được coi là khoa học cơ giới, tức là họ sử dụng các thiết bị cơ giới để thuận tiện hóa cuộc sống hàng ngày. Họ cũng kiêu hãnh với khoa học vũ trụ tiên tiến của họ, và cử những tàu vũ trụ có người lái ra ngoài không gian để khám phá và du hành. Để làm điều này, họ cần một hệ thống định vị, và các kim tự tháp đã được xây dựng với mục đích này. Vậy tại sao đỉnh của một kim tự tháp lại chỉ vào sao Sirius (Thiên Lang)? Lý do là văn hóa của họ có nguồn gốc từ “Thiên Lang tinh”.
Khi mà khoa học và đạo đức cấu thành nền văn hóa trên các tinh cầu xung quanh sao Sirius trở nên bất cân xứng, con người đã xung đột với nhau và không còn đạt đến tiêu chuẩn cơ bản để làm người. Vì tài nguyên trên các tinh cầu ấy đã bị cạn kiệt, con người tại đó bắt đầu di chuyển sang những địa điểm khác trong vũ trụ. Mặc dù họ đã khám phá ra rằng quả Địa cầu có một môi trường thân thiện với sự sống, các sinh mệnh cao tầng trong vũ trụ không thể cho phép họ tới Trái đất một cách đông đúc, bởi vì họ là những người được xác định là sẽ bị đào thải. Nhưng, theo cách riêng của họ, họ đã truyền nền văn hóa và khoa học của họ cho con người trên Trái đất. Để vinh danh nguồn gốc của họ, đỉnh của kim tự tháp đã được xây dựng chỉ về hướng sao Sirius.
Con người ngày nay chỉ cao dưới hai mét và chúng ta đang xây dựng những tòa nhà chọc trời. Nhưng vào thời đó, những người cao năm mét có thể sử dụng các thiết bị cơ giới vĩ đại hơn và khá dễ dàng cho họ khi di chuyển những khối đá lớn. Kết quả là, việc xây dựng các kim tự tháp không quá khó khăn đối với họ. Trong lịch sử, các kim tự tháp đã để lại một điều ẩn đố cho nhân loại ngày nay.
Vào thời đó, khi những người xây dựng tập trung tâm trí vào quá trình kiến tạo kim tự tháp, và khi tâm tính đạo đức của họ đạt đến một trình độ nhất định, điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Lấy ví dụ, nếu họ trở nên lo lắng vì không thể nhấc nổi một vài tảng đá khồng lồ, ngày hôm sau họ sẽ thấy rằng những khối đá vẫn còn nguyên vị trí cũ.
Nhiều năm sau khi việc xây dựng những kim tự tháp vĩ đại hoàn tất, đạo đức của con người đã trượt dốc tới một mức độ mà không được phép tiếp tục như vậy nữa. Cả lục địa đã chìm xuống đáy đại dương và nền văn minh cùng nhân loại thời đó kết thúc. Sau này, với sự vận động của các bản khối đại lục, một bản khối đại lục đã trồi lên từ đáy đại dương cho tới khi nó vượt khỏi mặt nước biển. Sự vận động này mang theo rất nhiều cát, và vì khu vực này có khí hậu nhiệt đới và nhiều gió, một sa mạc đã hình thành. Để một nền văn minh có thể phát triển ở đó, Thần đã dùng thần lực để “rút và đào” lên một con sông, sông Nile.
Một nền văn minh đã phát triển mới tại khu vực này. Con người thời ấy nhận thấy rằng các kim tự tháp có thể bảo tồn thi thể rất tốt, cho nên họ đã đặt thi thể của người chết trong các đại kim tự tháp và xây dựng nhiều kim tự tháp nhỏ hơn phỏng theo các đại kim tự tháp kia. Chính điều này đã làm đau đầu các nhà sử học và con cháu của họ.
Ngày nay, đứng trước sa mạc lâu đời này, chúng ta thấy rằng không phải tất cả đều là an bài của những sinh mệnh tại cao tầng. Đương nhiên, có những an bài tốt và có những an bài mang tính phản diện, tất cả đã tạo nên những sự hỗn loạn trong lịch sử. Khi ai đó biết được sự thật lịch sử về các kim tự tháp vĩ đại và tiết lộ nó cho nhân loại hiện nay, con người sẽ bắt đầu nhìn nhận những kiến trúc kỳ lạ mà vẫn đứng vững giữa sa mạc rộng lớn trong hàng nghìn năm này theo một cách mới.
Phủi sạch phong trần (phần 1): Đại vũ trụ thuở sơ khai
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Lời mở đầu: Khi viết loạt bài “Câu chuyện có thật về luân hồi”, tôi nhận thấy rằng chúng ta, các học viên Đại Pháp cùng với Sư Phụ vĩ đại đã thực sự sáng tạo ra sự huy hoàng bất tận của lịch sử loài người và vũ trụ. Tâm trí tôi đã được đả khai từng chút một sau khi tôi viết những bài này. Do vậy, các bài viết không đi theo thứ tự niên đại. Tôi viết một cách tùy ý về những gì tôi thấy rõ ràng. Mặc dù các bài viết nhấn mạnh về tiền duyên của tôi đối với Pháp trong hàng ngàn năm và sự đấu tranh nội tâm của tôi, chúng thiếu sự tập trung về chính kiến của các nhân vật và các sự kiện lịch sử. Các bài tôi viết tuy là những câu chuyện thú vị nhưng không khởi nhiều tác dụng chứng thực Pháp. Kể từ bài viết này, tôi sẽ viết về lịch sử chân thực và chính kiến của người tu luyện. Đây không chỉ là lịch sử loài người mà còn bao gồm lịch sử của nhiều tầng thứ khác nhau (tất nhiên nằm trong sự hiểu biết tại tầng thứ hữu hạn của tôi). Chúng giúp phủi sạch phong trần, trả lại lịch sử chân thực để bày tỏ chính kiến của người tu luyện, đó chính là chủ đề mà loạt bài này tập trung vào.
Hãy để tôi bắt đầu bằng việc nói về chuyện Bàn Cổ khai [mở] thiên địa và Nữ Oa tạo ra nhân loại. Khi những vị Thần sáng tạo ra hạt bụi mà chúng ta gọi là “trái đất” này, họ cũng an bài hoàn cảnh thích hợp để sản sinh ra nhiều thể sinh mệnh khác nhau. Rất nhiều vị Thần đã phối hợp và cùng tham gia vào quá trình này. Dần dần, màu xanh [cây cỏ] xuất hiện trên trái đất chưa từng có sự sống này. Sau đó là rừng rậm và muông thú xuất hiện. Bởi vì trái đất này được tạo ra cho sự hồng truyền của Pháp Luân Đại Pháp ngày hôm nay, các vị Thần đã an bài mọi việc hết sức cẩn thận từ trước khi nhân loại được tạo ra. Sau khi con người xuất hiện, những an bài này còn tỉ mỉ và thận trọng hơn nữa.
Lúc ấy, nhiều vị Thần ở tầng thứ rất cao vô cùng quan tâm đến sự việc trên trái đất. Họ phân thành hai nhóm: một nhóm khởi tác dụng chính diện, một nhóm muốn lợi dụng sự kiện Đại Pháp hồng truyền thế gian để bảo vệ những điều ích kỷ của họ, và an bài mọi thứ theo tư tâm. Tất nhiên, những sự việc này đã xảy ra từ xa xưa, xa xưa lắm rồi. Khi ấy, cả hai nhóm Thần đều tự mình xuống trái đất để “khảo sát” từ trên không trung (Họ đã xuống tận trái đất nhưng thấy rằng nó quá dơ bẩn nên họ đã quan sát nó từ trên không trung). Các vị Thần đến đây như những đợt sóng. Khi hồi tưởng lại cảnh tượng những ngày ấy, lòng tôi tràn đầy cảm xúc. Những vị Thần muốn trở thành đệ tử Đại Pháp thời Chính Pháp đã tới để xem địa phương nào họ nên xuống. Họ thậm chí còn tìm kiếm các vùng đất hay ngọn núi làm họ nhớ lại điều họ từng thấy tại cao tầng (Khi những nơi thuộc tầng thứ cao này bị giải thể, các vị Thần mà tạo ra trái đất đã lấy các mảnh vỡ này và ghép vào trái đất). Họ biết rằng một ngày nào đó, họ sẽ khai sáng văn hóa nhân loại cùng đấng Giác Giả khai truyền Đại Pháp. Họ cũng biết rằng các chủng văn hóa nhân loại đều tương ứng với đặc điểm của các sinh mệnh thượng giới; đồng thời hoàn cảnh địa lý mỗi địa phương trên trái đất có liên quan trực tiếp đến con người và văn hóa nơi đó. Do vậy, nhiều vị Thần đã xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định nơi chốn và thời điểm mà họ chuyển sinh thành người. Những vị Thần muốn nhân sự kiện Đại Pháp hồng truyền để bảo vệ tư lợi của họ cũng muốn tìm kiếm địa điểm thích hợp. Họ đã lợi dụng lý “tương sinh tương khắc” của cựu vũ trụ để an bài những sinh mệnh khởi tác dụng phụ diện bên cạnh các đệ tử Đại Pháp chân chính trong tương lai.
Bầu trời lúc ấy tràn ngập những tia sáng nhiều màu sắc. Đó là đủ các vị Thần. Một số trông giống như cụ già 70 tuổi, một số trông như đứa trẻ mới vài tuổi. Một ngày, trên không trung xuất hiện một lão Long Vương. Bộ râu của ông dài tới vài dặm và ông cũng rất vui tính. Dùng ngôn ngữ của con người, ông giống như một “lão ngoan đồng”. Một vị Thần trông giống như đứa trẻ 3 tuổi đến hỏi ông: “Nhi lão Long Vương sao không ở tại Long Cung mà lại đến tham dự sự kiện náo nhiệt này? Nước ở nhân gian rất dơ bẩn, và biển thì không mỹ lệ như ở trên thiên thượng. Hơn nữa một khi xuống nhân gian, binh tướng mà ông có sẽ chỉ là tôm cua nơi đại dương thôi.” Lão Long Vương vừa mỉm cười vừa vẫy vẫy bộ râu như thể ông không quan tâm tới điều đó. Ông nói: “Binh tôm hay tướng cua đều là tốt cả, đó là nhân gian mà. Hơn nữa, khi đức Phật Chủ xuống nhân gian hồng truyền Đại Pháp, thật vinh hạnh khi được có mặt cùng đức Phật Chủ tại nơi đây! Nếu ta ở lại trên thiên thượng và không đồng hóa với Đại Pháp, tất cả mọi thứ thuộc về ta sẽ không thể phục hồi được. Sau khi suy xét kỹ lưỡng, ta đã quyết định xuống xem, tìm một nơi chốn tại nhân gian để an thân, chờ đợi sự hồng truyền của Đại Pháp và lắng nghe Đại Pháp bằng chính đôi tai của ta!” Nói đến đó, lão Long Vương rơi lệ. Nhìn những vị Thần khác, ông muốn nói rất nhiều điều nhưng sau đó đã quyết định thôi…
Sau khi nhân loại được tạo ra trên quả địa cầu nhỏ như hạt bụi này, đại hý đài lịch sử bắt đầu mở màn. Biết bao nhiêu vở kịch kinh tâm động phách đã diễn ra trong vô vàn năm đã qua. Nhưng tấm màn này giờ đây đang chuẩn bị đóng lại. Các vị Thần thuộc cả hai nhóm đều phải chứng kiến nó ngay bây giờ. Nhưng khi chân tướng chưa được hé lộ, cơ hội vẫn còn đó. Hãy trân quý từng phút từng giây! Mỗi sinh mệnh vẫn có cơ hội, hoặc là đồng hóa với Đại Pháp, hoặc là đối kháng với Đại Pháp. Khi chân tướng đại hiển, phong trần được phủi sạch, tôi hy vọng rằng không ai trong chúng ta phải hổ thẹn vì sự lựa chọn của mình!
Lúc ấy Lão Long Vương muốn bày tỏ điều gì? Hãy đợi bài viết tiếp theo của tôi.
Phủi sạch phong trần (phần 2): Nỗi buồn của Long Vương
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Người ta nói rằng từ rất xa xưa, trong một đại phạm vi tầng thứ trên thiên thượng, có một vị Long Vương. Vị Long Vương này đích thị là “Long Vương”, khi ông là vua rồng và là vương ở tầng thứ của ông. Rất nhiều, rất nhiều năm đã trôi qua, và không có thứ “tình” thuộc tầng thứ thấp trong thế giới của ông. Ở đó không có cảm giác thống khổ hay buồn bã, mà chỉ có sự vui vẻ và hạnh phúc. Ông có rất nhiều đứa “con” và chúng sinh trong thế giới của ông. Thỉnh thoảng, ông lại mở một đại Pháp hội với vương và chủ của các thế giới khác để bàn cách quản lý những vấn đề trong phạm vi tầng thứ của họ.
Dần dần, ông phát hiện rằng thế giới của ông không còn thuần tịnh và mỹ lệ như trước nữa. Mọi thứ được làm bằng vàng trên thiên thượng, nhưng ông thấy rằng mọi thứ trong thế giới của ông đã trở nên ảm đạm hơn, dù chúng vẫn làm bằng vàng ròng. Ông cũng nhận thấy rằng chúng sinh của ông đã mất đi sự vô tư vô ngã (Thời gian dường như là ngắn với chúng ta, nhưng vô số kiếp đã trôi qua trước khi sự kiện này phát sinh). Họ thường ăn cắp vật phẩm và dấu diếm mọi thứ. Thân thể họ không còn thuần khiết và trong suốt như thuở ban đầu nữa.
Lúc ấy, lão Long Vương vô cùng buồn bã. Nỗi buồn này không phải là nỗi buồn nơi nhân gian vốn bị ảnh hướng bởi “tình”. Đây là sự lo toan cho bản thân và chúng sinh, có chút gì đó bất lực, bởi vì ông biết rằng sự tình này liên quan đến nhiều điều nằm ngoài khả năng của ông. Ông mở một hội nghị gồm vương và chủ của nhiều thế giới thuộc các tầng thứ khác nhau, và tất cả họ đều có cảm giác tương tự. Nhiều vị vương chủ nói: “Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết bằng cách Chính Pháp từ tầng thứ thấp nhất. Nhưng tầng thứ thấp nhất là nơi bất hảo nhất, mê nhất và nhiều thống khổ nhất. Hơn nữa, rất khó để chúng ta có thể quay trở về.” Khi họ đang bàn bạc vấn đề, một cự Phật cùng tiếng âm nhạc mỹ diệu, Pháp Luân và hoa sen dần dần hạ xuống từ tầng thứ cao nhất, nằm ngoài phạm vi mà họ có thể nhìn thấy. Nhiều thiên nữ bắt đầu rải hoa. Cảnh tượng thật tráng lệ ngoài sức mô tả.
“Chuyển luân thủ trung nã
Liên hoa cước hạ thải
Uy nghiêm chấn thiên địa
Từ bi diệu chúng sinh”
Diễn nghĩa:
“Pháp Luân xoay chuyển trong bàn tay
Hoa sen dưới bàn chân Ngài
Uy nghiêm chấn động cả trời đất
Ngài từ bi soi sáng chúng sinh”
Tất cả các đấng vương chủ đều mau chóng quỳ xuống dưới chân Ngài. (Đây là lần đầu tiên trong lịch sử điều như vậy xảy ra. Trước đây, các vương chủ này đều kính trọng lẫn nhau và tôn trọng chúng sinh của họ, nhưng họ chưa từng quỳ xuống trước một vị Phật nào. Tuy nhiên, khi nhìn thấy đức Pháp Luân Thánh Vương, họ đã quỳ xuống theo bản năng). Họ nghe được thanh âm trong trẻo và vang dội của vị cự Phật:
“Vũ trụ mang mang lịch vạn kiếp
Chúng sinh biến dị thiên địa biệt
Vi cứu thương vũ tiến Tam giới
Tiễu tức hồng nguyện vĩnh bất diệt!”
Diễn nghĩa:
“Vũ trụ mênh mang đã trải qua hàng vạn kiếp
Chúng sinh biến dị, trời đất sai biệt
Để cứu chúng sinh, hãy tiến vào Tam giới
Hoàn thành hồng nguyện vĩnh viễn bất diệt!”
Đức Pháp Luân Thánh Vương nói lại một lần nữa: “Ta sẽ xuống thế gian con người để cứu độ tất cả chúng sinh. Ai phát nguyện đi cùng ta có thể ký một thệ ước. Sau khi Chính Pháp xong, mọi thứ sẽ trở nên trường tồn bất diệt.” Lão Long Vương mau chóng nói: “Con nguyện ước đi cùng Ngài.” Một số vương và chủ khác cũng bày tỏ mong muốn đi xuống thế gian. Khi những lời này được nói ra, một cuộn giấy trông giống như Thánh chỉ của Hoàng Đế thời xưa xuất hiện và tự động ghi lại những gì họ nói. Một số vị Thần ngại ngần và sợ phải đi xuống thế giới con người. Sau đó, lão Long Vương cùng một số vị Thần bắt đầu đi xuống nhân gian. Lúc đầu, họ chỉ quan sát và lựa chọn nơi họ sẽ chuyển sinh. Trong khi quan sát, lão Long Vương gặp các vị Thần và mọi việc xảy ra như đã được kể trong bài viết trước.
Phủi sạch phong trần: Thanh thiên bích thủy
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
‘Thanh thiên’ là bầu trời trong xanh không một gợn mây, ‘bích thủy’ là dòng nước màu xanh lam thuần chính.
Ngày hôm qua, sau khi làm việc, tôi đi ngang qua một cây cầu nhỏ. Lúc bình thường, tôi cảm thấy thư thái vào mùa xuân, với hoa nở, nước trôi, núi non ngay trước mắt và làn gió nhẹ mát. Tuy nhiên vào năm nay, tôi mang một tâm trạng nặng nề. Ngày nay, trong xã hội hiện đại này, núi non không còn giống như quá khứ, bầu trời và mặt đất cũng như vậy.
Đó là bởi vì con người ngày nay chỉ nhìn thấy và cảm nhận được sự trừng phạt từ thiên nhiên: hiện tượng ấm lên toàn cầu, sa mạc hóa, ô nhiễm và dịch bệnh. Bài viết này mô tả những hiện tượng trên, điều đã được công bố trên rất nhiều website tại Trung Quốc.
Hôm nay, tôi muốn nói về điều này từ góc độ tu luyện và những an bài trong lịch sử.
Từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện từ Đài Phát thanh Trung ương Trung Quốc nói rằng các nhà khoa học đã tìm thấy một kiến trúc lớn tại Ai Cập, gần biển Địa Trung Hải. Trong kiến trúc này, có một con thuyền gỗ hơn 1.000 năm tuổi được bảo tồn một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, không lâu sau khi kiến trúc này được mở ra, con thuyền đã nhanh chóng bị hư hoại. Điều này làm các nhà khoa học nghiên cứu về không khí thời cổ đại.
Từ góc độ tu luyện, mọi thứ có thể được giải thích một cách rõ ràng. Nếu con người ta thờ Thần kính Phật, bái Thiên tế Địa, trọng Đức hành Thiện, thanh tâm quả (ít) dục, mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp, không xuất hiện các dịch bệnh kỳ quái và thọ mạng con người sẽ được kéo dài. Sẽ không có sự ô nhiễm không khí nghiêm trọng nào. Tại Trung Quốc, dưới sự kiểm soát của tà đảng Trung Cộng, ô nhiễm và phá hoại môi trường thiên nhiên đã trở nên vô cùng nghiêm trọng trong suốt 50 năm qua.
Đôi lúc, tôi nhớ lại những ngày khi tôi [chuyển sinh] sống vào thời cổ đại. Tôi có một cảm giác rất tốt đẹp về môi trường thiên nhiên vào lúc ấy. Bầu trời trong xanh hơn, không khí trong sạch hơn, nước ngọt hơn, lương thực bổ dưỡng hơn, và con người có đạo đức cao thượng hơn. Các không gian khác và những hiện tượng thần kỳ thường xuyên xuất hiện…
Bởi vì con người phải trải qua luân hồi chuyển sinh, nên họ có khả năng chuyển sinh thành động vật, thực vật và các loại vật chất,… Nếu một cá nhân có rất nhiều đức và rất nhiều phúc phận, người đó sẽ mang lại lợi ích cho môi trường xung quanh. Có rất nhiều ghi chép trong lịch sử mô tả điều này. Một đất nước sẽ có ít tai họa nếu Quốc vương, chẳng hạn như dưới thời Trinh Quán [1], yêu thương dân chúng và thường tự xét mình để phản tỉnh. Ngược lại, tai họa thường xảy đến với một đất nước mà từ Vua đến dân đều tiêu pha xa xỉ, người tốt bị bức hại hay người tu Phật bị phản đối, chẳng hạn như người La Mã đã phải chịu đựng bệnh dịch hạch và sự sụp đổ nền văn minh chỉ vì bức hại những người Cơ Đốc giáo.
Đạo đức của nhân loại đã trượt dốc vô cùng nhanh chóng. Khi người ta làm điều xấu, dù chủ động hay bị động, họ sẽ sản sinh ra nghiệp lực. Các bạn có thể tưởng tượng được hậu quả khi những người có tội nghiệp nghiêm trọng chuyển sinh thành cây cỏ, không khí hoặc đồ ăn. Nếu bạn có thể quan sát bằng công năng, bạn sẽ thấy nghiệp lực và bệnh độc lan tràn khắp mọi nơi. Theo tiêu chuẩn không khí vào thời cổ, không khí ngày ngày nay đã trở thành “độc khí” và không còn phù hợp cho môi trường sinh sống của con người.
Vào đầu những năm 1980, lương thực được trồng từ hạt giống là rất quý giá và giàu chất dinh dưỡng. Nhưng con người muốn cải thiện chất lượng của chúng và bắt đầu khuyến khích các loại tạp chất mới. Họ đã thôi sử dụng phân bón từ vật nuôi và bắt đầu sử dụng phân hóa học. Do vậy tuy lương thực đã gia tăng về số lượng nhưng thổ nhưỡng bắt đầu bị thoái hóa. Ngũ cốc chỉ phát triển được khi dùng phân bón hóa học. Dinh dưỡng thấp là cái giá phải trả cho sự tăng lên về số lượng. Thân thể con người cũng phát sinh biến dị sau khi ăn loại lương thực này.
Con người đã phá hoại không khí thật nghiêm trọng (khí nhà kính, bụi bẩn, hóa chất và loại ô nhiễm không khí khác). Đất cũng tương tự như vậy. Một khối lượng phân hóa học rất lớn, chất nhựa, đồng cỏ héo khô, nạn chặt phá rừng, sự xâm lấn của sa mạc và sạt lở đất là những hậu quả. Ô nhiễm nguồn nước và cạn kiệt nguồn nước mặt cũng là những vấn đề nan giải.
Khi tôi nhìn vào những ngọn núi và dòng sông cạnh nhà tôi, tâm tôi thật nặng nề. Sông núi đã mất đi vẻ đẹp của chúng. Cây cổ thụ đã bị chặt phá để trồng cây mới. Ô nhiễm nước ngày càng tồi tệ.
Mọi thứ trong thế giới này đều có sự sống và có quá trình tồn tại sinh mệnh của riêng chúng. Từ góc độ tu luyện, mọi thứ đều được an bài bởi các sinh mệnh cao tầng. Nhân loại đã bị trừng phạt nặng nề bởi sự tham lam, dục vọng và thiếu hiểu biết của mình.
Những ai đã từng ghé thăm các danh sơn đều nói rằng ngọn núi này, ngọn núi kia đẹp đẽ phi thường và chúng được tạo ra bởi Thần. Khi họ thấy những sông hồ mỹ lệ, họ cũng có chung cảm giác ấy.
Vào lúc đương sơ khi tạo ra quả địa cầu này, Thần đã tính toán rằng đây sẽ là nơi mà con người tu luyện, vì vậy họ đã tạo ra núi, sông và nền văn hóa. Chúng khiến quả địa cầu phồn vinh hơn.
Tại sao những ngọn núi lại hùng vĩ như vậy? Cổ nhân có câu: “Ngũ Nhạc [2] quy lai bất khán sơn, Hoàng Sơn [3] quy lai bất khán Nhạc.” (Đến Ngũ Nhạc rồi thì không muốn xem núi nào nữa, đến Hoàng Sơn rồi thì lại không muốn xem Ngũ Nhạc.”
Người Trung Hoa có câu thành ngữ “thương hải tang điền” (bể khơi hóa thành ruộng dâu). Người ta thường dùng câu thành ngữ này để miêu tả sự biến hóa của trời đất. Tuy nhiên, mọi thứ đều nằm trong sự an bài và khống chế của Thần.
Thần đã sử dụng các vật chất trên quả địa cầu để tạo ra núi với hình dạng tương tự như núi trên thiên thượng, và đó là lý do tại sao những ngọn núi này lại hùng vĩ như vậy. Mục đích mà Thần tạo ra núi non là để thiết lập một văn hóa tu luyện để khi họ hạ thế và đắc Đại Pháp của vũ trụ!
Trong con mắt của Thần, quả địa cầu cũng giống như một cái bảng vẽ. Với trí tuệ và năng lực của mình, Thần đã vẽ nên một bức tranh theo đặc điểm cảnh giới nơi họ ở, bao gồm đủ loại núi và sông. Mục đich là cấp một nền văn hóa cho con người, để họ lý giải được truyền thống của chính họ và tìm thấy sự tinh túy trong văn hóa của họ.
Một số vị Thần đã xuống quả địa cầu để tạo ra các sinh vật khác nhau, và một số thì tạo ra môi trường sống, chẳng hạn như nước và không khí. Một vị Đạo đã tạo ra một ngọn núi chiểu theo ngọn tiên sơn nơi ông sống trên thiên thượng, và ngọn núi này trông thật hùng vĩ một cách tự nhiên. Chúng ta thường nghe nói rằng một ngọn núi nào đó là nơi tu Đạo của vị Phật hay Bồ Tát nào đó. Tất cả đều đã được an bài chứ không phải ngẫu nhiên. Cái gọi là “ngẫu nhiên” là tuyệt đối không tồn tại.
Mục đích của tất cả những điều này là để khi Đại Pháp hồng truyền, con người sẽ có khả năng lý giải được nội hàm của Đại Pháp. Mọi thứ trên thế gian này đều đến vì Pháp. Đặc biệt, với trí tuệ và thần lực, một số vị Thần đã tạo ra quả địa cầu bằng những vật chất còn sót lại sau một vụ nổ vũ trụ. Nhân loại nghĩ rằng quả địa cầu này thật lớn, nhưng Thần lại thấy nó cực kỳ nhỏ bé.
Lý do mà Thần tạo ra những ngọn núi trên quả địa cầu là để nhắc nhở con người hãy nhớ tới vẻ đẹp của thiên thượng , sự hùng vĩ của tự nhiên, và duy trì đạo đức. Ngày nay, con người đã tàn phá thiên nhiên và quả địa cầu chỉ vì quyền lợi ích kỷ của mình. Điều này làm mất cân bằng sinh thái và phá hoại những an bài của Thần. Thần sẽ trừng phạt con người vì điều này, và đó là lý do tại sao nhiều thiên tai nhân họa đã diễn ra.
Thần là từ bi, nhưng cũng không thể dung túng một nhân loại đã bại hoại về đạo đức đến mức độ này. Cách duy nhất để nhân loại lấy lại sự hài hòa giữa con người và tự nhiên chính là cải thiện tiêu chuẩn đạo đức. Nếu không, nhân loại sẽ tự hủy hoại chính mình, đặc biệt tại thời khắc Đại Pháp hồng truyền nơi thế gian này.
Nếu nhân loại muốn trở lại với cảnh “thanh thiên bích thủy”, họ phải thiện đãi Đại Pháp, hoàn toàn đoạn tuyệt với thứ văn hóa “đấu với Trời, đấu với Đất” của tà đảng Trung Cộng, thành lập tư tưởng kính Thần bái Thiên và toàn diện đề cao chuẩn mực đạo đức. Khi đạo đức nhân loại đã đề cao đến một trình độ nhất định, Đại Pháp sẽ tái tạo càn khôn và đưa mọi thứ tốt đẹp trở lại.
Chúng ta đang chờ đợi điều này.
Chú thích:
[1] ‘Trinh Quán’(626-649): niên hiệu dưới thời vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân (599 –649)
[2] ‘Ngũ Nhạc’ (ngũ đại danh sơn): Năm ngọn núi là danh thắng tại Trung Quốc, gồm: Thái Sơn ở tỉnh Sơn Đông, Hành Sơn ở tỉnh Hồ Nam, Hoa Sơn ở tỉnh Thiểm Tây, Hằng Sơn ở tỉnh Sơn Tây và Tung Sơn ở tỉnh Hà Nam.
[3] ‘Hoàng Sơn’: một dãy núi ở phía nam tỉnh An Huy, đông Trung Quốc. Dãy núi này nổi tiếng vì có cảnh quan đẹp và là chủ đề cho tranh thủy mặc và văn học Trung Quốc.
Phủi sạch phong trần: Độc bộ thời không
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Giới thiệu: Mới đây, tôi tham dự một hôn lễ và gặp nhiều người thân ở đó. Tôi đã không nhận ra nhiều người trong số họ, mặc dù lần cuối chúng tôi gặp nhau mới chỉ cách đây vài năm. Một số người thân của tôi đang phải chịu đựng bệnh tật và trông rất khác. Một số họ thì ở trong trạng thái rất tồi tệ vì các vấn đề gia đình. Thậm chí một người thân của tôi đã thắt cổ tự vẫn! Thế giới quanh ta luôn thay đổi, và người ta có rất nhiều điều để lo lắng. Khi tôi giảng chân tướng Đại Pháp cho họ, một số họ không tin tôi, và một số thì miễn cưỡng đồng ý. Nhưng cũng có một số người thực sự chấp nhận Đại Pháp và thậm chí còn trở thành đệ tử Đại Pháp.
Một người chỉ có thể sống được khoảng 100 năm. Trong suốt cuộc đời, anh ta có thể chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Con người luôn nói về những điều này. Một số người thậm chí còn viết thành sách để lưu lại cho các thế hệ mai sau. Thời gian và không gian mà trí tuệ con người nhận thức được thật là hữu hạn. Thêm vào đó, vì các chủng quan niệm của con người, nhiều nhận thức chân chính đã bị bóp méo và được lưu lại cho các thế hệ sau này, thậm chí tới hàng trăm năm sau. Những hiện tượng này cho thấy sự thiếu khả năng và vô tri của con người. Thậm chí còn có người “bị lá che mắt nên chẳng thấy rừng”. Họ ngoan cố cho rằng “con người là sinh mệnh có trí tuệ và năng lực cao nhất”. Nhìn từ góc độ người tu luyện, điều này thật nực cười. Chứng kiến những người thân của mình mau chóng già đi chỉ sau vài năm ngắn ngủi, tôi cảm thấy thời gian trôi qua thật nhanh, tựa như nước chảy.
Tôi thử lấy ví dụ này: Nếu một cụ già 100 tuổi nhìn thấy một thứ đồ chơi mà ông từng chơi hồi còn nhỏ, ông sẽ có cảm giác phấn khích xen lẫn bùi ngùi. Một ngày nọ, khi đang tản bộ một mình trên con đường nhỏ, tôi bỗng nhiên trông thấy một cục đá. Nó nằm ngay gần tôi, và tôi nhận ra rằng nó đến từ thượng giới, tại tầng thứ khác với tầng thứ tôi từng ở. Nước mắt chảy dài xuống má tôi. Nhiều ký ức bỗng chốc hiện về. Vì thế tôi đã quyết định đặt bút tả lại cảm giác này.
Có lẽ các đồ trang sức vàng bạc trong tay chúng ta, hoặc những vật dụng khác là đã từng được chúng ta nhìn thấy hay sử dụng khi chúng ta chuyển sinh xuống các tầng thứ thấp hơn trong những đời trước. Chúng đến từ những tầng thứ bị giải thể trong vô số vụ nổ vũ trụ. Sau đó, Thần đã mang chúng đến địa cầu, mục đích là cấp cho nhân loại tài nguyên phong phú để họ sử dụng. Ý nghĩa sâu xa hơn nữa, đó là chúng được sử dụng để làm nền cho sự hồng truyền của Đại Pháp ngày nay. Ngoài ra, các đệ tử Đại Pháp hoàn toàn có thể trở về làm các sinh mệnh thượng giới, do vậy những thứ này cũng được trở lại thượng giới cùng với họ, đây cũng là một chủng hình thức thăng hoa và quá trình đề cao. Để tôi lấy một ví dụ khác. Mỏ ngọc Hòa Điền ở tỉnh Tân Cương, Trung Quốc là bắt nguồn từ rất nhiều tiên đài tại một tầng thứ trên thượng giới. Sau này tầng thứ thượng giới ấy bị tiêu hủy, và các tiên đài này bị rải xuống khắp nhân gian (hay có thể nói rằng chúng được Thần mang đến nhân gian) và trở thành loại ngọc cực kỳ nổi tiếng ấy. Tôi đã từng trông thấy chúng rất nhiều lần khi tôi còn ở trên thượng giới. Tôi cũng từng thấy chúng khi luân hồi chuyển sinh nơi nhân gian (tôi đã đề cập đến trong các bài viết trước, xin xem: Câu chuyện có thật về luân hồi: Thông linh bảo ngọc).
Vạn vật đều có sinh mệnh. Khi dần dần phá trừ cái “mê” này, chúng ta sẽ có cảm giác “bước đi một mình giữa thời không” (độc bộ thời không). Mỗi cá nhân đều có cảnh giới và tầng thứ của riêng mình, vì thế mỗi người đều có nhận thức và cảm ngộ riêng về mỗi sự vật. Hãy trân quý mỗi đồ vật chúng ta gặp phải, cho dù chúng có phương thức biểu hiện như thế nào. Rất có khả năng chúng đã phải trải qua gian nan vô hạn trong nhiều kiếp để được ở đây với chúng ta. Hãy luôn giữ tâm từ bi và cứu độ tất cả!
http://phapluan.org/book/zfl_html/index.html
http://chanhkien.org/
http://minhhue.net/news/
http://falundafa.org/
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Trong những ngày nghỉ, những người bạn và tôi đi thăm một bảo tàng lịch sử. Tôi ngộ ra những rất nhiều điều mới trong chuyến thăm này và muốn chia sẻ về kinh nghiệm này.
Để cho người của thời nay có thể đắm chìm trong sự từ bi bao la và rộng lớn của Thần, Phật, các chư Thần đã an bài chi tiết trong một triệu năm qua. Khi trái đất lần trước được tạo ra cách đây hai trăm triệu năm, vài chư Thần đã gieo hạt giống của những cây trên thế giới của họ xuống trái đất, trong khi đó những chư Thần khác thì đặt những loài sinh vật trên trái đất. Một vài vật chất tự nó là một mảnh vỡ còn lại sau khi một vụ hủy diệt. Ví dụ, nó có thể là một phiến đá to hay một mảnh của tinh cầu chứa nhiều sinh mệnh, sau đó được đặt vào trái đất. Vì chúng đến từ thiên đàng, chúng tương đối khó bị mục nát và vì thế chúng hóa thạch.
Tôi tin rằng những hóa thạch được an bài một cách có chủ ý bởi các chư Thần với mục đích để lại những di vật cho người ngày nay để khi họ nhìn thấy hóa thạch, họ sẽ bị xúc động bởi sự khó khăn của cuộc sống thời đó.
Những khủng long lớn bây giờ trở thành những hóa thạch đang nằm lặng yên nơi đó, kể cho chúng ta về cách và vì sao mà chúng đã thật sự sống. Mặc dù con người ngày nay hiểu chúng [bằng những cách] khác nhau, những khủng long thật sự đã được thuần hóa bởi loài người thời đó, và quan hệ của chúng với loài người trong thời đó cũng chỉ giống như quan hệ của chúng ta đối với trâu, ngựa ngày nay vậy. Các bạn thấy rằng, loài người vào thời đó cao vài mét. Trứng của khủng long thật sự là có [hương] vị hơn trứng gà ngày nay và con người thời đó đã có thể thường xuyên ăn 4 hay 5 cái trứng khủng long.
Vậy tại sao con người đã trở nên tuyệt chủng cùng với khủng long? Đó là vì nguồn tài nguyên trên trái đất là có giới hạn và những loài người và khủng long to lớn thời đó tiêu thụ quá nhiều. Vì thế, nhiều tai nạn đã xảy ra để loại trừ họ, bao gồm cả việc chuyển dịch các khối lục địa, sự phun trào của núi lửa và những niên kỷ băng tuyết.
Các nhà địa chất học ngày nay biết rằng cách đây hàng chục triệu năm, trái đất đã trãi qua nhiều niên kỷ băng tuyết. Một vài loại sinh vật thoát khỏi được những tai nạn. Thật sự thì, đây là điều được an bài bởi các chư Thần. Hãy nghĩ về nó. Cây bạch quả ngày nay được biết như một “hóa thạch sống” nó thật sự sống sót qua những niên kỷ băng tuyết. Theo truyền thuyết cổ xưa, đó là cây bắt nguồn từ thế giới của một vị Bồ Tát. Một ngày nọ, khi một Đại Bồ Tát đang giảng Pháp cho các vị tiểu Bồ Tát khác, bà có đề cập rằng có một trách nhiệm thần thánh để tạo cơ hội cho loài người tương lai trên trái đất để khi Đại Pháp của vũ trụ được truyền dạy tại đây, con người có thể hiểu được nó. Bà bảo họ rằng điều này sẽ cần một thời gian dài (thời gian trên trái đất) để có thể dần dần đặt nền móng. Nếu một sinh mệnh có thể đóng góp vào điều này, thì sinh mệnh đó sẽ làm được điều có ích nhất trong vũ trụ cho tất cả các chúng sinh.
Vào lúc Bà nói điều này, một cái lá rơi từ trên cây bạch quả xuống. Bồ Tát giữ nó trong tay bà và nói một cách nhân từ, “Nếu con muốn đi, ta có thể gửi con đến, nhưng con phải biết rằng môi trường ở đó là cực kỳ khắc nghiệt. Ta có thể lo cho con nếu con giữ được chính niệm và không bao giờ làm đánh mất chúng!” Cái lá đồng ý, vì thế Bồ Tát búng nhẹ tay bà và cái lá biến thành một hạt giống và rơi trên trái đất. Vài năm sau, nó lớn thành một cái cây to, sinh sôi nẩy nở và trở thành một loài [sinh vật]. Bạch quả luôn giữ lời Bồ Tát trong tâm và rất tốt với những sinh mệnh khác. Những cái cây đã tạo những lá chắn [bảo vệ] cho chim chóc và những loài thú nhỏ những loài mà thích chơi và xây tổ gần chúng. Khi nhiệt độ giảm và bão tuyết đến, chúng bắt đầu lo lắng cho những con chim và thú nhỏ. Tuy nhiên, nhiều chim và thú nhỏ đã chết vì lạnh và những cái cây rất buồn. Truớc khi những con chim và thú nhỏ chết, chúng cảm ơn những cái cây vì lòng tốt và sự bảo vệ của chúng. Những cái cây nói rằng đó chỉ là ân đức của Bồ Tát. Những chư Thần mà an bài những khó khăn này đã bị xúc động khi nghe thấy. Vì thế các chư Thần đã tạo nên những đoạn nứt trong những tảng băng trôi ở trong khu vực đó, và vì những cái cây có thể chịu lạnh (như an bài bởi Bồ Tát từ lúc đầu), chúng có thể sống sốt qua các niên kỷ băng tuyết và vì thế chứng kiến được sự từ bi rộng lớn của Thần Phật.
Khi tôi nhớ lại điều này, tôi nghĩ về hóa thạch bạch quả. Mặc dù chúng đã trở thành hóa thạch, văn lộ vẫn còn đó, phong cốt vẫn còn đó. Bất luận là chúng được con người gia công hay trang điểm thế nào, khi chúng vẫn còn được đặt một cách thẳng đứng trên mặt đất, những dấu vết đã kể lại cho con người lịch sử tang thương và tạo hóa của Thần Phật. Nếu một người có thể hiểu được ý nghĩa này, họ sẽ nói: ” Chúng ta đến bằng nhiều con đường [khác nhau] chỉ vì thời điểm này. Khi chúng ta trượt xuống, chúng ta biết rằng sẽ có thống khổ. Ngày nay, chúng ta sử dụng những phương cách cũ để hướng dẫn con người hiểu được [rằng] mọi thứ đã xảy ra trên trái đất là được an bài cho thời điểm này. Chúng ta đến đây là vì Pháp. Ngay cả nếu chúng ta bị tan ra thành từng mảnh, chúng ta sẽ vẫn chỉ ra lịch sử cho con người. Bấy giờ điều ước chúng ta đã được thực hiện.
Tôi không cầm được nước mắt khi sờ vào những hóa thạch cổ xưa này. Nó là điều gì như thể tôi đã nhìn thấy bầu trời cổ xưa, trái đất cổ xưa và những sinh mệnh sống cổ xưa. Sau một lúc, tôi tỉnh thức từ giấc mơ giữa ban ngày và quay về lịch sử của thời kỳ văn minh này.
Những học sinh gọi sự phát triển của loài người là ” Tam bộ khúc: Mông muội – dã man – văn minh”. Dường như buổi triễn lãm bên trong những phòng [triễn lãm] là những mẫu miếng chứng kiến lại những gì mà tổ tiên của chúng ta đã trao lại và chứng kiến quá trình mà làm sao những vị Thần đã dẫn dắt con người bước đi đến ngày hôm nay trong thế giới con người. Chúng [đang] kể chuyện, từng bước một.
Tôi đã ngạc nhiên khi nhìn thấy những công cụ bằng đá trong thời kỳ [đồ] Đá, những đồ vật bằng đồng thiết của thời Hạ, Thương, những đồ vật bằng thiết của thời đại Tần, Hán, những đồ đồng thời Tống, Nguyên, những đò vật bằng sứ thời đại Minh, Thanh. Phong cách các dạng , hưng thịnh với tổng quan rộng lớn! Mặc dù chúng được làm bởi bàn tay con người, nhiều thứ trong chúng giống như những thứ đến từ các cảnh giới và thế giới khác nhau từ Thiên đàng. Ví dụ, cả 2 cái vạc cổ từ thời nhà Thương và một cái đĩa to tròn với những văn hoa của những đám mây trên trời. Đây là điều được trao lại cho con người bởi vì các chư Thần muốn giúp loài người tiến về phía trước để tạo nên nền văn minh, và đó cũng là vì các chư Thần muốn tặng những đồ vật từ Thiên giới của họ như là một phần của lịch sử và đặt một con đường cho Đại Pháp vũ trụ. Các chư Thần ban trí huệ cho những ai có chuẩn mực đạo đức cao và điểm hóa họ về cách làm sao để tạo ra những đồ vật từ những vật liệu trên trái đất. Cùng lúc đó, nó cũng giúp con người sống một cách phong phú và đa dạng trong khi chờ đời thời điểm Đại Pháp được phổ truyền.
Nói về phong phú và đa dạng, nghề thủ công và nghệ thuật dân gian được truyền từ đời này đến đời kia, như là dệt, đồ gốm, giấy, điêu khắc đá, gỗ,… tất cả có cùng một nguồn gốc và phục vụ cùng một mục đích. Đây là tất cả những trí huệ của các chư Thần khác nhau. Nếu không có các chư Thần, sẽ không có con người, chưa nói đến nền văn minh.
Thật sự là, tất cả mọi thứ trên trái đất là đến vì Pháp! Và điều này bao gồm cả những triễn lãm của bảo tàng. Mỗi một triễn lãm có một lịch sử riêng của nó, bất luân là lịch sử nào. Không kể là mỗi thứ được tạo ra lâu dài như thế nào bằng những con đường [khác nhau] cho đến ngày hôm nay, đến thời điểm Đại Pháp được phổ truyền trong thế giới con người, những nổ lực của chúng không phải là vô ích.
Khi chúng tôi ra khỏi bảo tàng, tôi vẫn tự hỏi rằng tại sao môi trường lịch sử và văn hóa ở vùng này là mạnh mẽ như vậy. Vùng này không giống như là Hoàng Hà, nơi mà nền văn minh Trung Hoa bắt nguồn. Tôi nghĩ rằng nó là vì các chư Thần thấy được tiềm năng con người ở vùng này và biết rằng họ có nhiều khă năng đắc Pháp. Vì thế, họ để lại nhiều di vật mà có thể làm như những kiến chứng của lịch sử. Tất nhiên, có nhiều nguyên nhân khác mà tôi chưa ngộ ra được.
Vì vô lượng các chư Thần đã trao tặng những thứ của họ, không phải con người ngày nay là đại diện từ những thế giới đó? Họ đã trãi qua bao nhiêu lần luân hồi trong thế giới con người chỉ vì được cứu độ bởi Đại Pháp ngày nay. Vì khi họ được cứu, không phải là những thế giới mà họ đại diện và những chúng sinh mà sống ở đó được cứu độ hay sao?
Nói một cách khác, là những sinh mệnh đã đắc Pháp, chúng ta – những đệ tử Đại Pháp – phải thực hiện sứ mệnh của mình. Đây là niềm tin to lớn nhất được đặt vào chúng ta bởi vô lượng các chư Thần từ thời tiền cổ xa xưa. Đây là hy vọng của tất cả các chúng sinh đang mong chờ cả hàng nghìn năm. Đây là sự thệ ước rất quan trọng mà chúng ta đã ký kết trước khi chúng ta đến thế giới con người.
Nhìn lại những viên gạch xanh lục và những cái chuông, tôi [lập thế tay] song thủ hợp thập và nghĩ trong tâm, “Mặc dù các bạn đã trãi qua bao nhiêu sóng gió trong thế giới tự nhiên, trãi qua những thăng trầm trong thế giới con người, cuối cùng các bạn cũng mang sự thật của lịch sử đến ngày hôm này, và các bạn là những kiến chứng của thời kỳ không thể nào quên được trong lịch sử loài người.”
Hãy trân quý điều này, hỡi những đứa con của các chư Thần! Đừng từ chối sự thật mà bạn đang tìm kiếm trong hàng nghìn năm. Các bạn đã trãi qua nhiều gian khổ chỉ chờ đợi thời điểm này đến. Các bạn biết rằng chỉ có từ bi thật sự [mới] có thể ở lại vĩnh viên trong vũ trụ mới.
Phủi sạch phong trần: Khung chủ hạ phàm
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Lời của tác giả:
Bài viết này nằm trong hồi ức của tôi. Đây là sự hồi tưởng lại nhiều cảnh giới khác nhau trong quá trình đi xuống thế giới con người. Điều được mô tả ở đây thật khó cho những người không tu luyện tưởng tượng ra được. Đối với họ, nó quả thật ‘bất khả tư nghị’. Nhiều người cũng đã từng kinh nghiệm được những hồi ức tương tự. Nhưng do thời gian quá lâu dài và bị vùi sâu trong cõi người thường, họ chỉ coi những kinh nghiệm ấy là chuyện thần thoại.
Vào một buổi sáng ngày 23 tháng Tư, khi đang ngồi đả tọa (tập bài công pháp thứ 5) như thường lệ, tôi tiến nhập vào trạng thái ‘định’. Tôi đã trông thấy một cảnh tượng thật đáng nhớ. Tôi muốn chia sẻ với các bạn đồng tu và những người có tiền duyên về điều mà tôi đã thấy.
Toàn bộ thiên thể có nhiều tầng cấp khác nhau. Lấy ví dụ, một nguyên tử được cấu thành bởi hạt nhân và âm điện tử (electron). Nhiều nguyên tử cấu thành nên một phân tử. Các phân tử là đơn vị cơ bản của vật chất. Các chủng vật chất khác nhau cấu thành nên Trái đất này. Nhiều tinh cầu tổ hợp thành Thái dương hệ. Dải ngân hà (Milky Way) được cấu thành bởi nhiều thiên hệ khác nhau giống như Thái dương hệ của chúng ta đây.
Một tiểu vũ trụ được cấu thành bởi nhiều thiên hà (galaxy), như chúng ta đã biết ngày nay. Nhân loại về cơ bản đã công nhận điều này. Tuy nhiên đối với người tu luyện, Sư Phụ đã nói với chúng ta rằng ba ngàn (tam thiên) tiểu vũ trụ như vậy cấu thành nên một vũ trụ tầng thứ nhì, và ba ngàn vũ trụ tầng thứ nhì cấu thành nên một vũ trụ tầng thứ ba, và cứ như vậy… Hàng ngàn tầng vũ trụ như vậy cấu thành nên một thiên thể (celestial body). Và hàng ngàn thiên thể như vậy cấu thành nên một đại khung thiên thể (cosmic space). ‘Tam giới’ mà tôn giáo đề cập tới có phạm vi đối ứng nằm trong Dải ngân hà của chúng ta. Chúng ta có thể thấy Tam giới này nhỏ bé như thế nào. Điều mà nhân loại có thể hiểu được chỉ nhỏ bé đến mức thật đáng thương!
Tại sao tôi lại đề cập đến không gian vũ trụ tại đây? Bởi vì bài viết này sẽ bắt đầu từ một đại khung thiên thể. Thực ra, ngay cả tầng vũ trụ ấy cũng chỉ như một giọt nước trong đại dương khi so sánh với hồng khung thiên thể rộng lớn bao la. Bí ẩn của thiên thể sẽ vĩnh viễn là điều không thể hiểu được.
Ở một tầng thứ cực cao, những đại giác giả có nhiều “hài tử” xung quanh các đại khung thiên thể của Ngài. Những “hài tử” này không phải là trẻ con. Họ trông như thiếu niên và cũng là những giác giả. Những đại giác giả cảm thấy rằng các Ngài có thể tạo ra mọi thứ. Thực ra, còn có các cấp bậc cao hơn cả đại giác giả. Khi Ngài muốn tạo ra một thiên thể, Ngài tập hợp những “hài tử” từ các đại khung trong tầng thứ của Ngài lại. Ngài giảng Pháp cho chúng nghe và nói với chúng, đại ý rằng: “Ta muốn tạo ra một đại khung thiên thể ở bên dưới và cần các vị thần để khai thiên tịch địa, quản lý chúng sinh và duy hộ Pháp này. Nhưng ta muốn nói với các con rằng một khi các con đi xuống cảnh giới đó, các con sẽ không thể quay trở về. Tất cả ký ức tại cảnh giới này sẽ bị tẩy sạch một khi các con đi xuống. Chỉ có trí huệ và năng lực duy hộ Pháp tại tầng thứ đó là còn tồn tại. Vì sự phồn vinh của chúng sinh và vũ trụ, và để duy hộ Pháp tại tầng thứ đó, các con hãy xuống ngay đi! Vào thời điểm then chốt, các con sẽ thấy một điềm lành, điều các con không thể thấy được tại cảnh giới này. Những vấn đề của các con sẽ được giải quyết vào lúc ấy.” Ngài nói xong với một vẻ mặt nghiêm trọng. Vì Ngài biết rằng chúng sẽ không thể trở lại thiên thượng trừ phi chúng tu luyện. Sự kiện một vị thần giáng hạ xuống là không thể xem thường. Thường thì chỉ những vị thần đã phá vỡ luật lệ của thiên thượng mới bị đánh hạ xuống. Vào lúc ấy, nhiều vị thần đã được bao quanh bởi công và đi xuống. Thực sự là rất dễ dàng cho một đại giác giả tạo ra một đại khung thiên thể vĩ đại. Đây là biểu hiện của trí huệ và năng lực của các đấng đại giác giả.
Để tôi miêu tả một vài điều về những đại khung thiên thể như vậy. Có ba vị nữ Phật, những giác giả được bao quanh bởi công của vị đại giác giả đó và đi xuống tầng thấp hơn khi đại khung được tạo ra. ‘Cái vỏ’ bao quanh ấy trở thành vật chất tại cảnh giới thấp hơn khi họ đi xuống. Mặc dù cái vỏ này được tạo ra bởi công, chúng lại trở thành vật chất của cảnh giới thấp hơn kia. Để tạo ra một thiên thể, cái vỏ này cần phải được đả khai. Họ phải đập vỡ cái vỏ này bằng tất cả năng lực của mình. Đây là bước đầu tiên để họ trở thành chủ của đại khung thiên thể đó. Điều này giống như một con gà con cần đập vỡ vỏ trứng để chui ra. Ba vị nữ Phật phải hiển lộ thần thông và hợp sức để phá vỡ cái vỏ. Những mảnh vỡ tự nhiên trở thành vật chất cơ bản cho đại khung thiên thể và các chúng sinh tại đó.
Để tôi miêu tả về ba vị nữ Phật theo một ngôn ngữ đơn giản nhất và tạm gọi họ là những ‘đại tỷ’, ‘nhị tỷ’ và ‘tiểu muội’. Đại tỷ có trí huệ và kiến thức to lớn nhất. Nhị tỷ có tâm từ bi vĩ đại nhất và tiểu muội sở hữu thần thông mạnh mẽ nhất. Đó là những trọng điểm khác nhau khi tạo ra những đại giác giả trong đại khung thiên thể này. Ngoài ra, sinh mệnh trong vũ trụ thật là phong phú và phồn vinh. Đó là tại sao mà ngoại hình, tính cách và năng lực của những vị thần được tạo ra có sự khác biệt, thậm chí tại cùng một tầng thứ. Bởi vì có những nhân tố phụ diện ở tầng thứ này nên cũng tồn tại một tình trạng can nhiễu. Đó là lý do các sinh mệnh biết trân quý những gì họ đạt được. Tất cả họ có khả năng duy hộ cũng như tận tâm tận lực với vũ trụ này. Họ cũng nhận được sự kính trọng từ các vị thần khác. Họ tiếp tục tạo ra những thiên thể khác nhau và các chúng sinh bên dưới họ, hết tầng này đến tầng khác, làm cho vũ trụ của họ cực kỳ phong phú và phức tạp.
Thời gian cứ thế trôi qua. Một ngày nọ, họ trông thấy một thứ bất thuần khi họ đang ngắm nhìn bầu trời bằng Phật nhãn. Họ vô cùng ngạc nhiên vì điều đó. Họ sử dụng thần thông để thanh lý nó, nhưng nó lại xuất hiện trở lại ngay sau đó. Dường như nó có căn nguyên từ một tầng thứ rất cao. Tình huống tương tự cũng xuất hiện tại những đại khung thiên thể khác mà họ đã tạo ra, mặc dù chúng sinh không thể phát hiện ra nó. Sau đó, tâm tính của các chúng sinh bị biến dị. Đây chính là điều mà họ lo lắng nhất, bởi vì nó báo hiệu đại khung mà họ đã tạo ra có nguy cơ bị giải thể. Đây là điều đáng lo nhất vì họ đã tự thân dùng Phật lực và hao tốn vô vàn tâm huyết để tạo ra những thiên thể cũng như các chúng sinh này. Để duy hộ Pháp, những nữ Phật này có thể hy sinh và từ bỏ mọi thứ. Vào thời khắc nguy nan ấy, họ nhìn thấy, bằng trí huệ và công lực của họ, một đám mây giáng hạ từ trên thiên thượng. Rồi họ nghe được tiếng pháp nhạc vô cùng mỹ diệu, giống như cánh cửa thiên đường đã mở ra. Sau khi bầu trời được trang hoàng bởi những đóa hoa đẹp đẽ một cách kỳ lạ, một vị cự Phật ngồi trên đài sen lớn dần dần hạ xuống từ không trung. Lúc ấy, họ nhớ lại những điều mà đại giác giả đã nói với họ trước khi đi xuống. Họ bèn dẫn những vị thần khác quỳ xuống trước vị cự Phật vừa hạ thế.
Vị cự Phật nói bằng một thanh âm trong trẻo: “Vì vũ trụ đã phát sinh biến dị, ta sẽ đi xuống cõi người chính Pháp và cứu vãn vũ trụ cũng như toàn thể chúng sinh. Những ai muốn cứu vãn đại khung và chúng sinh có thể cùng ta xuống nhân gian.” Vào lúc ấy, trên bàn tay của vị cự Phật xuất hiện một vật tương tự như một quyển sách. Nhiều vị thần từ các đại khung thể hệ khác nhau đã thể hiện sự thờ ơ và các vị thần đã chọn ba vị nữ thần làm đại diện cho họ. Do đó, ba người họ bước tới trong thế hợp thập và nói: “Chúng con nguyện ý theo Ngài đi xuống nhân gian. Để cứu vãn đại khung và chúng sinh, chúng con không quan tâm điều gì sẽ xảy ra với chúng con.” Cuốn sách của vị cự Phật tự động ghi lại những gì họ nói. Điều này đã tạo ra một thệ ước thần thánh là ‘trợ Sư chính Pháp, cứu độ chúng sinh, thanh trừ tà ác và duy hộ Đại Pháp’. Những vị thần khác cũng ký lời thệ ước của họ. Chính Pháp là chính lại hết thảy những gì đã biến dị.
Nhiều nhân tố bất chính từ các tầng thứ khác nhau đã hình thành nên một thế lực. Họ muốn duy hộ tư niệm của họ và do đó đã cẩn thận an bài rất nhiều thứ, thậm chí cả mỗi một niệm của chúng sinh. Để tác động vào quá trình Chính Pháp, họ đã lợi dụng những vị thần này, những người có lòng từ bi với chúng sinh cũng như mong muốn đắc Pháp, và đã ký kết nhiều điều ước với họ. Những điều ước này tuyên bố rằng họ phải chịu nhiều ma nạn hay thậm chí bị can nhiễu với môi trường tu luyện khi Đại Pháp hồng truyền nơi cõi người để đạt viên mãn.
Thật không đơn giản khi đi xuống các tầng thứ thấp hơn. Họ sẽ bị mê ảo và trí huệ cũng như thần thông của họ sẽ dần dần bị phong bế. Thật đáng thương cho những vị thần này. Vị đại tỷ đã từng ký kết một điều ước với ma vương, đó là dùng ‘ nhân tình’ để tạo ra khổ nạn cho con người và can nhiễu đến sự tu luyện của các học viên Đại Pháp. Lúc ban đầu, cô không có ‘nhân tình’ mạnh mẽ. Sau này, cô đã mắc lỗi về quan hệ nam nữ. Khi cô muốn vãn hồi từ lỗi lầm này thì nhiều vị thần từ vũ trụ cũ không để cho cô đi bởi vì cô đã ký kết một điều ước với họ. Họ sử dụng những chúng sinh mà đã có sự oán giận với cô qua nhiều kiếp luân hồi, và dùng ‘tình’ để bức hại cô. Cô đã phải chịu đựng rất nhiều thống khổ vào thời gian đó. Sau này, cô liên tục phủ định điều ước của cô với tà ác. Với sự trợ giúp của một bằng hữu, cô đã gặp được người tiểu muội. Với sự hợp tác cùng tiểu muội, cô đã hoàn toàn thoát khỏi sự bức hại của tà ác.
Khi họ tiếp cận với tiểu vũ trụ của chúng ta, họ đã bị tách nhau trong một thời gian. Sau này, họ lần lượt chuyển sinh vào cõi người và đã khai sáng nền văn minh của nhân loại cùng với Sư Phụ. Cùng lúc ấy, họ đã tạo duyên phận cho sự tu luyện và cứu độ chúng sinh của mình.
Tái bút:
Nội dung của bài viết này là những tình huống mà tôi đã thấy tại tầng thứ hữu hạn của cá nhân tôi. Tôi không hề thêm bất cứ điều gì vào trong bài viết này.
Phủi sạch phong trần: Lục địa Atlantis cổ xưa
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Từ khi còn nhỏ, tôi đã vô cùng thích thú với các phát hiện về khảo cổ và địa lý. Đặc biệt, tôi rất chú ý tới những nghiên cứu về sự thịnh suy của các nền văn minh và bài học có thể rút ra từ đó. Tôi luôn cởi mở và “cầu tiến” khi chấp nhận những thành quả nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực. Việc chú tâm đến sự thịnh suy của các nền văn minh để rút ra bài học đã trở thành sở thích của tôi, và cho phép tôi viết nhiều bài viết về đời sống và lịch sử. Nhiều lần, khi tôi cảm thấy rằng tôi không có gì để viết, trong vòng vài ngày, những ý tưởng mới hay cảm hứng lại thúc giục tôi cầm bút để viết ra suy nghĩ của bản thân về đời sống và lịch sử. Một cảm giác về trách nhiệm đến từ tận đáy lòng đã giúp tôi liên tục viết bài. Mỗi khi đối mặt với những chướng ngại hay chỉ trích, đầu tiên tôi sẽ hướng nội để tìm kiếm. Sau khi đã loại bỏ những ý niệm bất chính và ích kỷ của bản thân, tôi sẽ cười và tiếp tục viết ra những hiểu biết của mình…
Trong một số tờ báo hay tạp chí khoa học phổ biến bằng Hoa ngữ, có thể tìm thấy vài câu viết về nền văn minh đã mất Atlantis. Hôm nay, tôi sẽ nói ngắn gọn về thảm họa đã từng hủy diệt nền văn minh Atlantis.
Các nhà khoa học hiện đại tin rằng có một lục địa tên là Atlantis đã từng tồn tại ở một nơi nằm giữa bờ biển phía Đông của Châu Mỹ và Tây Âu. Một nhà triết học Hy Lạp từng nói rằng nền văn minh Atlantis là một đế chế hùng mạnh trên biển, một hạm đội hải quân lớn mạnh đã từng tấn công đảo Crete thời Hy Lạp cổ đại. Là người tu luyện, chúng ta đã học được từ những bài giảng của Sư Phụ rằng đã từng có một nền văn minh vô cùng tiên tiến ở phương Tây. Dựa trên những gì tôi biết, đế chế đó thực sự rất hùng mạnh ở thời kỳ đỉnh cao của sự thịnh vượng. Làm sao mô tả nó đây? Để tôi nói thế này: Đối với họ, nền văn minh hiện đại của chúng ta không thể được coi là tiên tiến, và thậm chí họ còn coi chúng ta ở dưới mức “kém phát triển.”
Các thành phố của họ được làm bằng pha lê với độ trong và tinh khiết rất cao, thường thấy nhất là kim cương. Y phục mà họ mặc không được làm từ vải thông thường mà được tạo ra bởi linh cảm của những sinh vật sống nơi biển sâu hay trên mặt đất. Mọi thứ ở vùng đất đó, từ cảnh giới tồn tại của các sinh vật cho tới văn hóa của họ đều được truyền cấp bởi Thần dựa trên tiêu chuẩn đạo đức của con người.
Những người này thực sự đã đạt tới cảnh giới siêu phàm thoát tục. Khi tâm tính của họ phù hợp với tiêu chuẩn, nhiều điều có thể xảy ra chỉ bằng ý chí. Lấy ví dụ, để tiêu diệt những tên cướp biển, họ cử một lực lượng hải quân ra biển và không phải chịu mất mát nào ngay cả khi đối mặt với gió mạnh và sóng dữ, trong khi tàu của những tên cướp biển thì bị lật và chìm nghỉm ngay cả khi mặt nước vẫn phẳng lặng.
Đó là một nền văn minh Thần truyền chân chính; nó thực sự cho phép xã hội và đạo đức thăng tiến cùng nhau. Con người chiểu theo các quy tắc được thiết lập bởi Thần. Tất nhiên, mọi thứ rơi rớt xuống quả Địa cầu này đều sẽ bị hư hoại. Theo thời gian, một số quan hệ xã hội đã phát triển, dẫn tới va chạm và xung đột giữa người với người. Nếu con người có thể dàn xếp những vấn đề này đúng đắn, Thần sẽ ban cho họ trí tuệ, và họ sẽ được hưởng “đãi ngộ” cũng như sự huy hoàng mà những tộc người khác không có. Lấy ví dụ, cũng như trường hợp một người biết cách tạo ra một chiếc xe đạp, anh ta sẽ có thể tận hưởng sự tiện lợi và thỏa mãn mà chiếc xe mang lại cho anh ta.
Họ đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong du hành không gian. Họ lái những chiếc phi thuyền không gian được vận hành bằng một thứ nhiên liệu đặc biệt để có thể bay sang các tinh cầu khác và để lại dấu của họ (họ khắc lên đá để minh chứng rằng họ đã từng đến đó). Tôi không thể nói nhiều hơn được nữa, xin thứ lỗi cho tôi.
Sự phát triển của Vũ trụ là để cho ngày hôm nay, chỉ vài năm trong khoảng thời gian hiện tại này. Vũ trụ đã trải qua một lịch sử rất lâu dài và vô số nền văn minh đã trải qua nhiều loại thử thách cũng như khổ nạn. Mục đích sự tồn tại của họ là vì sự hồng truyền của Đại Pháp Vũ trụ ngày hôm nay và giúp con người lựa chọn, hoặc là đứng về phía Chính Pháp hoặc là chống lại Chính Pháp. Không ai xứng đáng trở thành kẻ thù của Đại Pháp. Nhưng họ phải lựa chọn, đây là vấn đề tồn vong của mỗi sinh mệnh.
Do đó, nền văn minh hiện đại đã bắt đầu phát triển và trở nên thịnh vượng. Vì sân khấu chính của vở kịch vĩ đại sẽ diễn ra tại Trung Quốc, Thần đã an bài một cách có hệ thống nền văn hóa Đông phương với nội hàm thâm sâu và một lịch sử văn minh khá dài. Họ cũng đã để nó kế thừa nền văn minh trước đó để nó có một xuất phát điểm tương đối cao. Ngược lại, nền văn minh Tây phương không phải là sân khấu chính của vở kịch vĩ đại, và sự phát triển của nó đã theo một hướng khác trong khi con người chờ đợi sự phổ truyền của Đại Pháp. Nói cách khác, nền văn minh Tây phương đóng vai trò phụ trợ nền văn minh Đông phương. Do vậy, xã hội Tây phương không được phép kế thừa nền văn hóa tiền sử phát triển cao độ của họ. Vậy thì phải làm gì với nền văn minh trước đó? Làm cho nó biến mất.
Nhưng làm một nền văn minh phát triển cao độ lập tức biến mất không phải là dễ, không phải là vì Thần không có bản sự, mà là vì mọi thứ mà Thần làm đều phải có một “lý do”. Nếu không có lý do, họ không thể làm điều đó, nếu không họ cũng có thể bị rớt xuống.
Vào thời điểm mà nền văn minh Atlantis biến mất, đạo đức của nhân loại đã trượt dốc mau chóng – sự đố kỵ giữa người với người trở nên nghiêm trọng và họ có thể làm bất cứ điều gì chỉ để thỏa mãn dục vọng ích kỷ của bản thân. Ngoài ra, họ cảm thấy rằng họ có năng lực lớn hơn cả Thần và không còn kính trọng Thần nữa; họ trở nên vô cùng ngạo mạn và đi khắp nơi để xâm chiếm các quốc gia khác.
Vào buổi trưa một ngày đẹp trời, những ngọn hồng thủy cao hơn 100 mét đột ngột xuất hiện phía chân trời, kèm theo những trận giông bão dữ dội, đồng thời đáy biển chuyển động lên xuống vô cùng mạnh mẽ. Trước khi con người kịp phản ứng, cả thành phố làm bằng pha lê đã chìm xuống đáy Đại Tây Dương. Tất cả sự huy hoàng của nền văn minh Atlantis đã trở thành một huyền thoại đẹp đẽ. Khi thời gian trôi qua, nhân loại đã dần dần quên mất nó.
Trong thế kỷ cuối cùng, một số nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích của nền văn minh này qua nhiều phương cách tiếp cận khác nhau, và những sự phán đoán cũng như giả thuyết lại bắt đầu lan truyền trong thế giới con người…
Phủi sạch phong trần: Nam Cực băng giá
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org] Vào ngày 12 tháng Năm [năm 2008], một trận đại địa chấn đã xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên. Một nửa Trung Quốc đã bị rung chuyển trong cơn địa chấn, và trận động đất cũng gây ra lở núi. Những tiếng gào khóc và sự hãi hùng đã làm rung động cả thế giới!
Người ta vô cùng chú ý đến sự an toàn của các nạn nhân và những mất mát trong vùng xảy ra địa chấn. Sau thảm họa, bản tính lương thiện và quan tâm tới người khác mà con người quên mất từ lâu nay đã trở lại. Người dân tại những khu vực khác đều chìa tay giúp đỡ và viện trợ cho các nạn nhân, điều đó thật là cảm động. Đây là nghĩa cử phản ánh trái tim lương thiện của con người. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã nhân cơ hội này để tự ca ngợi chính mình. Điều mà người dân không biết là ĐCSTQ đã dự báo trước được trận địa chấn, nhưng nó không nói cho dân chúng biết để duy trì cái gọi là “ổn định”. Sau khi trận địa chấn xảy ra, ĐCSTQ đã từ chối nhận sự trợ giúp từ các đội cứu hộ quốc tế, đồng thời bưng bít sự thật rằng thảm họa đã được dự báo trước. Cũng đáng chú ý là rất nhiều trường học đã bị sụp đổ trong cơn địa chấn trong khi các tòa nhà của chính phủ thì không. Hơn mười ngàn học sinh và giáo viên đã tử vong trong những đống đổ nát, còn số người thương vong thì không sao đếm xuể.
Tại đây, chúng ta bày tỏ lời chia buồn sâu sắc đến những sinh mệnh bất hạnh và sự phá hoại trong thảm họa. Mặt khác, chúng ta cần thấy rõ ràng rằng ĐCSTQ luôn đặt “Đảng tính” lên trên nhân tính. Để duy trì cái gọi là “ổn định”, mạng sống của con người không phải là chủ yếu đối với nó. Thậm chí ngay cả khi ĐCSTQ cố gắng giải cứu các nạn nhân, nó đã làm điều đó nhằm duy trì sự thống trị.
Nếu con người từ bỏ tính lương thiện và tình thương của mình, sự lãnh đạm trước tổn thất về nhân mạng sẽ hoàn toàn thế chỗ. Bởi vì mọi người đều muốn bảo vệ lợi ích của mình. Nếu điều này cứ tiếp diễn, kết quả là người người sẽ coi nhau như thù địch. Con người ban đầu là chủ nhân của quả địa cầu. Nếu con người tiếp tục hành xử như thế này, sự phát triển của xã hội sẽ mất đi tính hài hòa vốn có. Thêm nữa, ĐCSTQ đã đàn áp tất cả các tôn giáo sau khi nó giành được chính quyền. Điều này đã cắt đứt mối liên hệ của người dân Trung Quốc với nền văn hóa truyền thống của họ. Nghiêm trọng hơn, ĐCSTQ đã phá hủy sự kính ngưỡng của người dân Trung Quốc đối với thần thánh. Người ta không còn tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi là con người sẽ đi về đâu sau khi họ chết. Điều này thậm chí còn tệ hơn cả cuộc bức hại Pháp Luân Công kể từ năm 1999.
Giờ đây, cả đất nước đang đau thương vì những mất mát về nhân mạng trong trận địa chấn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng kể từ khi giành được chính quyền năm 1949, ĐCSTQ đã sát hại tổng cộng 80 triệu người trong nhiều cuộc vận động [chính trị] khác nhau. Hôm nay, ĐCSTQ lại đang bức hại các học viên Pháp Luân Công, những người tu tập theo các nguyên lý Chân, Thiện và Nhẫn. Hơn 3.000 học viên Pháp Luân Công đã được xác nhận là bị bức hại đến chết. Chân tướng cuộc bức hại tàn bạo này vẫn chưa được tiết lộ đầy đủ.
Nền văn minh Trung Hoa đã trải qua 5.000 năm huy hoàng. Triều đại này nối tiếp triều đại khác, nhưng tinh hoa của nền văn hóa truyền thống Trung Hoa vẫn được truyền thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác. Kể từ khi ĐCSTQ giành được quyền lực, điều đầu tiên nó làm là cắt đứt mối liên hệ với nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm lịch sử. ĐCSTQ coi tất cả các nhân tố thuộc nền văn hóa truyền thống Trung Hoa là “mê tín” và xóa bỏ chúng. Sau đó nó nhồi nhét văn hóa Đảng vào đầu óc dân chúng, và bắt nhân tính phải tồn tại cùng Đảng tính. Nói trắng ra, ĐCSTQ muốn người dân thay thế nhân tính bằng Đảng tính. Trong khuôn khổ có hạn của bài viết này, tôi không muốn đào sâu thêm vào các chi tiết. Ai có hứng thú có thể đọc cuốn sách ‘Cửu bình Cộng sản Đảng’ [1] và ‘Giải thể văn hóa Đảng’ [2].
Bây giờ hãy trở lại chủ đề chính của bài viết.
Những thảm họa như là động đất và lũ lụt thường được coi là “thiên tai”, và nhân loại hiện đại nghĩ rằng chúng chẳng có quan hệ gì với đạo đức phẩm hạnh của con người. Người ta không nghĩ rằng chính sự bại hoại của con người mới là nguyên nhân gây ra tai họa.
Tuy nhiên, nếu các bạn đã từng đọc những cuốn cổ sử như “Sử Ký” hay “Tư Trì Thông Giám” thì sẽ phát hiện ra rằng khi một triều đại đến thời mạt, nhiều tai họa bèn phát sinh; hoặc là khi một vị Hoàng đế hoang dâm vô đạo thì sẽ xuất hiện nhiều cảnh tượng dị thường nơi nhân gian. Khi tai họa ập tới, những bậc quân vương có thiện tâm sẽ trì giới, cử hành nghi thức bái thiên địa, hướng vào đó mà sám hối, hứa sẽ yêu thương dân chúng, đồng thời đại xá thiên hạ. Điều này cho thấy cổ nhân Trung Quốc hiểu được mối liên hệ giữa đạo đức con người và các hiện tượng tự nhiên.
Hôm nay, tôi muốn kể một câu chuyện rất cảm động mà đã xảy ra từ rất lâu, rất lâu rồi.
Ngày nay, nói đến châu Nam Cực, chúng ta đều biết rằng đây là một vùng đất băng giá, gió thổi rất mạnh, không có thực vật sinh sống ngoại trừ địa y và rong rêu. Cũng có chim cánh cụt sống ở đó nữa. Vùng đất này rất giàu khoáng sản, và một số trạm nghiên cứu khoa học đã được xây dựng tại đây, trong thế kỷ 20 vừa qua.
Đó là tất cả những thông tin mà chúng ta thu thập được cho tới thời điểm này. Quan sát kỹ hơn, chúng ta có thể nghĩ đến một tấm bản đồ về châu Nam Cực thời cổ đại. Trên tấm bản đồ này thể hiện châu Nam Cực với ranh giới rất rộng lớn (Vì Nam Cực là châu lục ở tận cùng cực Nam trái đất, nó được bao phủ bởi một lớp băng tuyết dày và khó mà phân biệt được ranh giới của nó. Tuy nhiên, tấm bản đồ này được vẽ trước khi châu Nam Cực được phát hiện. Người vẽ tấm bản đồ này tuyên bố rằng ông đã tham khảo từ một tấm bản đồ cổ hơn, thứ thể hiện ranh giới châu Nam Cực trước khi bị bao phủ bởi băng tuyết.
Do vậy, hôm nay chúng ta sẽ nói về nền văn minh từng một thời tồn tại trên lục địa Nam Cực.
Châu Nam Cực từng nằm cạnh đảo Sumatra thuộc Indonesia, gần với đường Xích đạo.
Nền văn minh trên lục địa này từng trải qua những thời kỳ thịnh suy khác nhau. Trong nền văn minh gần đây nhất, khi nó lên đến đỉnh cao, có khoảng hai mươi quốc gia, hàng chục dân tộc và một chủng tộc cơ bản. Tất nhiên, cũng có một số chủng tộc khác ở trên các lục địa khác nữa.
So với nền văn minh của nhân loại ngày nay, nền văn minh thời bấy giờ phát triển hơn rất nhiều. Vì chuẩn mực đạo đức của nhân loại thời ấy rất cao, người ta không cần tiêu hao nhiều sức lực để duy trì sự phát triển của xã hội. Lấy ví dụ, khi người ta gieo trồng vụ mùa, một khi hạt giống được gieo xuống đất, họ không cần phải gieo lại trong ba hay năm năm tiếp theo. Trái cây trông rất to và giàu dinh dưỡng. Theo thuật ngữ ngày nay, ngũ cốc mà họ trồng là những loại thức ăn “hữu cơ”. Nếu chủ nhân mảnh đất trồng trọt phát sinh tư tâm hay ý niệm bất hảo, những điều xấu sẽ xảy đến với vụ mùa của ông ta, chẳng hạn như chúng khô héo rồi chết. Bất cứ ai thấy cảnh này đều biết rằng đây là lúc mà người chủ mảnh đất cần chú ý hơn nữa đến hành xử đạo đức của bản thân mình. Cũng như câu nói của người vùng Đông Bắc [Trung Quốc]: “Người không coi trọng đức thì chẳng ai ưa.”
Mặc dù năng lượng mà họ sử dụng trong công nghiệp cũng từ than đá và dầu mỏ, nhưng công nghệ của họ cho phép tận dụng triệt để nguồn khoáng sản mà không gây ô nhiễm.
Cũng có sự khác biệt giữa các cá nhân. Có một khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Tuy nhiên, khoảng cách này hoàn toàn khác với “khoảng cách giàu nghèo” ngày nay. Để tôi miêu tả thế này: Người bần cùng nhất vào thời đó không chỉ sở hữu rất nhiều của cải, mà họ còn có tiêu chuẩn đạo đức rất cao. Họ hài lòng với những gì mình có và không ganh tỵ với người giàu chút nào. Những người giàu, nói một cách tương đối, quan tâm rất nhiều đến người nghèo. Họ không bao giờ coi thường người khác.
Về cơ bản, tình huống chung là như vậy.
Ở tại lục địa đó, có một vị quốc vương của quốc gia lớn nhất. Vị quốc vương này đặc biệt có năng lực cai trị quốc gia, nhưng ông luôn biết cách chọn người hiền để làm các việc. Ông thường hướng nội [tâm] và tự tìm kiếm những thiếu sót của chính mình. Ông cũng rất quan tâm đến dân chúng. Dần dần, đất nước của ông trở nên hùng mạnh nhất trên toàn cõi lục địa.
Một ngày nọ, quốc vương cùng đoàn tùy tùng đi du ngoạn và quan sát điều kiện sinh sống của dân chúng. Họ đi lang thang trong thành. Vừa đi được một lúc, họ nghe nói rằng một vị tiên nhân đắc đạo sẽ tới đây và dạy người ta phương pháp chế tạo vật thể bay trên không trung.
Quốc vương hỏi đoàn tùy tùng: “Các ngươi có biết tại sao ta dẫn các ngươi ra ngoài không? Bởi vì ta muốn các ngươi nghe điều mà họ vừa nói. Đêm hôm trước, ta có giấc mộng rằng một vị tiên nhân sẽ tới đây để chỉ bảo ta cách cai trị đất nước một cách từ bi và chú trọng tìm kiếm bên trong chính mình. Những điều chúng ta nghe được hôm nay chẳng phải tương hợp với giấc mộng của ta là gì.”
Quốc vương và đoàn tùy tùng tiếp tục rảo bước. Một lúc sau, họ cảm thấy đói và bước vào một tửu quán. “Rượu” vào thời đó khác hẳn với thứ rượu của chúng ta ngày nay. Thứ rượu đó không chỉ giúp giải khát mà còn có tác dụng giải trừ sự mệt mỏi; uống hoài mà không say. Để tránh dân chúng nhận ra mình, quốc vương đeo một tấm mạng che mặt trước khi ông rời khỏi cung điện. Do quán rượu rất đông khách, quốc vương cùng đoàn tùy tùng ngồi trong một góc khuất. Họ gọi đồ ăn và bắt đầu ăn. Rồi có hai cô gái xinh đẹp bước vào. Họ trông giống như người ngoại quốc bởi vì cách phục sức của họ rất lạ. Vì còn một chiếc bàn trống bên cạnh quốc vương, hai cô gái ngồi tại đó, gọi đồ ăn và tán gẫu. Quốc vương có thể nghe được những gì họ nói. Họ nói rằng họ tới vương quốc này để kiếm chồng và nói: “Ai cũng nói rằng dân chúng tại vương quốc này có tiêu chuẩn đạo đức rất cao, và đàn ông ở đây phẩm chất thật tuyệt vời.” “Nếu ta không thể tìm được một tấm chồng lý tưởng, ta thà sống độc thân trong phần đời còn lại còn hơn là lấy một người không xứng đáng.” “Này, ta nghe nói rằng một vị tiên nhân đang tới đây. Nếu ta có thể gặp người đó, ta sẽ rất hài lòng dẫu ta có sống độc thân suốt cuộc đời.” Nghe cuộc trò chuyện của họ, quốc vương có nhiều cảm xúc đan xen lẫn lộn…
Sau bữa ăn, quốc vương cùng đoàn tùy tùng hồi cung. Hai ngày sau, có người báo rằng một người tự xưng là “tiên nhân đắc đạo” muốn bái kiến quốc vương. Quốc vương truyền chỉ cho nghênh tiếp người đó. Khi gặp mặt vị tiên nhân, quốc vương chào bằng nghi lễ trang nghiêm, đồng thời thỉnh vị tiên nhân chỉ giáo cho cách bay lên không trung. Vị tiên nhân nói: “Kỳ thực, mọi người đều có khả năng bay lên được. Hiện tại quốc dân có chuẩn mực đạo đức rất cao, đồng thời phương tiện bay cũng đã khá tiên tiến rồi. Tuy nhiên, mọi người vẫn chưa thể giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Đối với một sinh mệnh, nếu có tiêu chuẩn đạo đức cao thì sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc với không nhiều đau khổ. Nhưng họ không thể tận hưởng phúc khí mãi mãi được, cũng như tiêu chuẩn đạo đức của họ cũng không thể duy trì cao mãi mãi được. Hôm nay ta tới đây là để nói với quốc vương cùng thần dân rằng có rất nhiều phương pháp để thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Hôm nay ta sẽ truyền cho quốc vương một phương pháp.”
Rồi vị “tiên nhân” hiển hiện cho quốc vương xem hình tượng thật của mình, hình tượng của một vị Phật. Do quốc vương có một căn cơ rất tốt nên ông bèn nhớ lại một số nhân duyên kiếp trước của mình.
Tại một cảnh giới không cách quá xa Tam giới, Phật Thích Ca Mâu Ni đã an bài để tới thế giới con người từ rất sớm và đặt cơ sở cho văn hóa tu luyện; đồng thời giúp duy trì những giá trị đạo đức trong xã hội nhân loại để đức Chuyển Luân Thánh Vương có thể truyền Đại Pháp của vũ trụ trong tương lai. Ngoài ra, khi Phật Thích Ca Mâu Ni tới, đó là một nền văn minh tiền sử có trước nền văn minh nhân loại ngày nay của chúng ta. Mục đích là để kết duyên với chúng sinh và lựa chọn đệ tử khi Ngài truyền Pháp [của Phật giáo] trong chu kỳ văn minh nhân loại thời mạt kiếp này (Mặc dù người được chọn làm đệ tử đã được an bài trước bởi thiên thượng, nhưng để tránh sai lệch, quan hệ nhân duyên vẫn cần được tái thiết lập trong thế giới con người). Quốc vương đã có công lao to lớn khi hoằng dương Phật Pháp, đồng thời ông cũng rất tinh tấn trong tu luyện. Trước khi lâm chung, vị tiên nhân (Phật Thích Ca Mâu Ni) đã nói với quốc vương rằng trong nền văn minh kế tiếp, ông sẽ lại trở thành đệ tử của Ngài và tên ông sẽ là “Mục Kiền Liên.”
Sau 1.000 năm thịnh vượng, do chuẩn mực đạo đức không còn tốt nữa nên vương quốc bắt đầu suy tàn.
Vị quốc vương cuối cùng của vương quốc không còn tin vào Thần nữa. Ông cũng rất ích kỷ và hà khắc với dân chúng. Trái lại người vợ của ông, Hoàng hậu, là người có đạo đức và phẩm hạnh khá cao. Trên thực tế, đây là an bài của Thần để tiếp tục kéo dài nền văn minh này. Nhưng quốc vương, với nhiều chiêu thuật khác nhau, cũng khiến Hoàng hậu trở nên tự tư và trở thành một người hoàn toàn khác. Nhưng dẫu sao Hoàng hậu vẫn còn tính chính trực và bà đã ảnh hưởng đến hai người thị nữ (hầu gái) rất nhiều. Những năm sau đó, không những quốc vương không tin vào Thần nữa mà ông còn bất kính với Thần. Đây là thời điểm để chuyển sang một chương mới trong lịch sử. Để lưu lại tài nguyên thiên nhiên cho chu kỳ văn minh tiếp theo và cũng để dạy cho nhân loại một bài học, ngay sau khi quốc vương bất kính với Thần lần thứ hai, đột nhiên mặt đất như nứt ra và bầu trời tưởng chừng như sắp sụp xuống. Một trận hồng thủy cao hàng chục mét đã ập vào bờ và hủy diệt mọi thứ. Ngoài ra, hơn mười núi lửa đồng thời phun trào kèm theo địa chấn dữ dội. Ngay lập tức, nền văn minh hàng vạn năm lịch sử đã biến mất trong ngọn lửa giận dữ của Mẹ thiên nhiên. Bản khối đại lục trôi nhanh về phương Nam. Từ trên bầu trời, những quặng khoáng sản rơi xuống như mưa. Đó là sự an bài của Thần để biến lục địa [Nam Cực] thành một kho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Vì những tài nguyên này sẽ được nhân loại tương lai sử dụng nên chúng phải bị phong bế. Nếu dùng phương thức khác để phong bế thì nhân loại sẽ không thể khai thác được những tài nguyên này. Do vậy, Thần đã lợi dụng điều kiện khí hậu [lạnh giá] ở Nam Cực. Ngoài ra, Thần còn làm cho băng tuyết dày hơn và gió mạnh hơn ở Nam Cực. Kết quả là, châu lục bị phong bế trong những lớp băng tuyết dày để khi thời gian tới, khi nhân loại phát hiện ra châu Nam Cực, dẫu nhân loại có biết về những tài nguyên này thì họ cũng không biết quá nhiều cho tới khi nhân loại khai thác những tài nguyên này vào đúng thời điểm. Đó là nguyên nhân tại sao Nam Cực lạnh hơn Bắc Cực.
Lại nói về Hoàng hậu, sau khi chủ nguyên thần của bà rời khỏi thân thể, bà vẫn nhớ về dân chúng và hoàn cảnh sống của người dân nơi mảnh đất ấy. Vị Thần quản lý vùng này do cảm kích trước ân đức của bà với mảnh đất và đã an bài cho bà trở thành Nữ vương của mỹ nhân ngư (người cá) nơi đại dương sâu thẳm. Hai người thị nữ trước đây của bà nay trở thành hai mỹ nhân ngư hầu hạ bà.
Thế giới của mỹ nhân ngư thậm chí còn mỹ diệu hơn cung điện pha lê trong truyền thuyết. Bà trở thành nữ vương ở đó trong năm trăm năm. Sau đó bà đã được chuyển sinh đi một nơi khác. Vì dung lượng bài viết có hạn, tôi sẽ không đi vào chi tiết ở đây.
Tái bút: Vị quốc vương đã đắc Pháp rồi tu hành và vị Hoàng hậu có phẩm hạnh mà tôi đã đề cập ở trên không phải là cùng một người. Nhưng trong kiếp này, họ đều đã đắc Đại Pháp. Còn về hai người thị nữ, một người đã đắc [Đại] Pháp còn người kia đã minh bạch chân tướng về Đại Pháp (biết được sự thật về cuộc bức hại Pháp Luân Công).
Phủi sạch phong trần: Điều người lái buôn nhìn thấy trên sa mạc hàng nghìn năm trước
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Khi những người lái buôn đi ngang qua sa mạc, dọc theo dòng sông Nile tới biển Địa Trung Hải với lạc đà chở đầy hàng hóa, họ thường dừng lại và ngắm nhìn những kim tự tháp với sự kinh ngạc. Con người đã đánh mất nguồn gốc và chức năng thực sự của các kim tự tháp trong một thời gian dài.
Những kim tự tháp vĩ đại là bằng chứng của nền văn hóa tiền sử. Nền văn minh nhân loại đã xuất hiện không chỉ một lần trong lịch sử Trái đất. Các nền văn minh này không phải cùng một thời kỳ; và nhân loại tại mỗi thời kỳ văn minh cũng trông khá khác nhau. Trong một thời kỳ rất lâu trước thời kỳ nền văn minh hiện tại, đã từng có những con người cao năm mét (16 feet). Khoa học của họ rất tiên tiến, và ngành thiên văn học của họ cũng vậy. Tương tự như vậy, tại nơi mà hiện nay là sa mạc, vào thời điểm đó có núi non được bao phủ bởi những lùm cây và hoa lá.
Vậy tại sao họ đã xây dựng các kim tự tháp? Khoa học của họ có thể được coi là khoa học cơ giới, tức là họ sử dụng các thiết bị cơ giới để thuận tiện hóa cuộc sống hàng ngày. Họ cũng kiêu hãnh với khoa học vũ trụ tiên tiến của họ, và cử những tàu vũ trụ có người lái ra ngoài không gian để khám phá và du hành. Để làm điều này, họ cần một hệ thống định vị, và các kim tự tháp đã được xây dựng với mục đích này. Vậy tại sao đỉnh của một kim tự tháp lại chỉ vào sao Sirius (Thiên Lang)? Lý do là văn hóa của họ có nguồn gốc từ “Thiên Lang tinh”.
Khi mà khoa học và đạo đức cấu thành nền văn hóa trên các tinh cầu xung quanh sao Sirius trở nên bất cân xứng, con người đã xung đột với nhau và không còn đạt đến tiêu chuẩn cơ bản để làm người. Vì tài nguyên trên các tinh cầu ấy đã bị cạn kiệt, con người tại đó bắt đầu di chuyển sang những địa điểm khác trong vũ trụ. Mặc dù họ đã khám phá ra rằng quả Địa cầu có một môi trường thân thiện với sự sống, các sinh mệnh cao tầng trong vũ trụ không thể cho phép họ tới Trái đất một cách đông đúc, bởi vì họ là những người được xác định là sẽ bị đào thải. Nhưng, theo cách riêng của họ, họ đã truyền nền văn hóa và khoa học của họ cho con người trên Trái đất. Để vinh danh nguồn gốc của họ, đỉnh của kim tự tháp đã được xây dựng chỉ về hướng sao Sirius.
Con người ngày nay chỉ cao dưới hai mét và chúng ta đang xây dựng những tòa nhà chọc trời. Nhưng vào thời đó, những người cao năm mét có thể sử dụng các thiết bị cơ giới vĩ đại hơn và khá dễ dàng cho họ khi di chuyển những khối đá lớn. Kết quả là, việc xây dựng các kim tự tháp không quá khó khăn đối với họ. Trong lịch sử, các kim tự tháp đã để lại một điều ẩn đố cho nhân loại ngày nay.
Vào thời đó, khi những người xây dựng tập trung tâm trí vào quá trình kiến tạo kim tự tháp, và khi tâm tính đạo đức của họ đạt đến một trình độ nhất định, điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Lấy ví dụ, nếu họ trở nên lo lắng vì không thể nhấc nổi một vài tảng đá khồng lồ, ngày hôm sau họ sẽ thấy rằng những khối đá vẫn còn nguyên vị trí cũ.
Nhiều năm sau khi việc xây dựng những kim tự tháp vĩ đại hoàn tất, đạo đức của con người đã trượt dốc tới một mức độ mà không được phép tiếp tục như vậy nữa. Cả lục địa đã chìm xuống đáy đại dương và nền văn minh cùng nhân loại thời đó kết thúc. Sau này, với sự vận động của các bản khối đại lục, một bản khối đại lục đã trồi lên từ đáy đại dương cho tới khi nó vượt khỏi mặt nước biển. Sự vận động này mang theo rất nhiều cát, và vì khu vực này có khí hậu nhiệt đới và nhiều gió, một sa mạc đã hình thành. Để một nền văn minh có thể phát triển ở đó, Thần đã dùng thần lực để “rút và đào” lên một con sông, sông Nile.
Một nền văn minh đã phát triển mới tại khu vực này. Con người thời ấy nhận thấy rằng các kim tự tháp có thể bảo tồn thi thể rất tốt, cho nên họ đã đặt thi thể của người chết trong các đại kim tự tháp và xây dựng nhiều kim tự tháp nhỏ hơn phỏng theo các đại kim tự tháp kia. Chính điều này đã làm đau đầu các nhà sử học và con cháu của họ.
Ngày nay, đứng trước sa mạc lâu đời này, chúng ta thấy rằng không phải tất cả đều là an bài của những sinh mệnh tại cao tầng. Đương nhiên, có những an bài tốt và có những an bài mang tính phản diện, tất cả đã tạo nên những sự hỗn loạn trong lịch sử. Khi ai đó biết được sự thật lịch sử về các kim tự tháp vĩ đại và tiết lộ nó cho nhân loại hiện nay, con người sẽ bắt đầu nhìn nhận những kiến trúc kỳ lạ mà vẫn đứng vững giữa sa mạc rộng lớn trong hàng nghìn năm này theo một cách mới.
Phủi sạch phong trần (phần 1): Đại vũ trụ thuở sơ khai
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Lời mở đầu: Khi viết loạt bài “Câu chuyện có thật về luân hồi”, tôi nhận thấy rằng chúng ta, các học viên Đại Pháp cùng với Sư Phụ vĩ đại đã thực sự sáng tạo ra sự huy hoàng bất tận của lịch sử loài người và vũ trụ. Tâm trí tôi đã được đả khai từng chút một sau khi tôi viết những bài này. Do vậy, các bài viết không đi theo thứ tự niên đại. Tôi viết một cách tùy ý về những gì tôi thấy rõ ràng. Mặc dù các bài viết nhấn mạnh về tiền duyên của tôi đối với Pháp trong hàng ngàn năm và sự đấu tranh nội tâm của tôi, chúng thiếu sự tập trung về chính kiến của các nhân vật và các sự kiện lịch sử. Các bài tôi viết tuy là những câu chuyện thú vị nhưng không khởi nhiều tác dụng chứng thực Pháp. Kể từ bài viết này, tôi sẽ viết về lịch sử chân thực và chính kiến của người tu luyện. Đây không chỉ là lịch sử loài người mà còn bao gồm lịch sử của nhiều tầng thứ khác nhau (tất nhiên nằm trong sự hiểu biết tại tầng thứ hữu hạn của tôi). Chúng giúp phủi sạch phong trần, trả lại lịch sử chân thực để bày tỏ chính kiến của người tu luyện, đó chính là chủ đề mà loạt bài này tập trung vào.
Hãy để tôi bắt đầu bằng việc nói về chuyện Bàn Cổ khai [mở] thiên địa và Nữ Oa tạo ra nhân loại. Khi những vị Thần sáng tạo ra hạt bụi mà chúng ta gọi là “trái đất” này, họ cũng an bài hoàn cảnh thích hợp để sản sinh ra nhiều thể sinh mệnh khác nhau. Rất nhiều vị Thần đã phối hợp và cùng tham gia vào quá trình này. Dần dần, màu xanh [cây cỏ] xuất hiện trên trái đất chưa từng có sự sống này. Sau đó là rừng rậm và muông thú xuất hiện. Bởi vì trái đất này được tạo ra cho sự hồng truyền của Pháp Luân Đại Pháp ngày hôm nay, các vị Thần đã an bài mọi việc hết sức cẩn thận từ trước khi nhân loại được tạo ra. Sau khi con người xuất hiện, những an bài này còn tỉ mỉ và thận trọng hơn nữa.
Lúc ấy, nhiều vị Thần ở tầng thứ rất cao vô cùng quan tâm đến sự việc trên trái đất. Họ phân thành hai nhóm: một nhóm khởi tác dụng chính diện, một nhóm muốn lợi dụng sự kiện Đại Pháp hồng truyền thế gian để bảo vệ những điều ích kỷ của họ, và an bài mọi thứ theo tư tâm. Tất nhiên, những sự việc này đã xảy ra từ xa xưa, xa xưa lắm rồi. Khi ấy, cả hai nhóm Thần đều tự mình xuống trái đất để “khảo sát” từ trên không trung (Họ đã xuống tận trái đất nhưng thấy rằng nó quá dơ bẩn nên họ đã quan sát nó từ trên không trung). Các vị Thần đến đây như những đợt sóng. Khi hồi tưởng lại cảnh tượng những ngày ấy, lòng tôi tràn đầy cảm xúc. Những vị Thần muốn trở thành đệ tử Đại Pháp thời Chính Pháp đã tới để xem địa phương nào họ nên xuống. Họ thậm chí còn tìm kiếm các vùng đất hay ngọn núi làm họ nhớ lại điều họ từng thấy tại cao tầng (Khi những nơi thuộc tầng thứ cao này bị giải thể, các vị Thần mà tạo ra trái đất đã lấy các mảnh vỡ này và ghép vào trái đất). Họ biết rằng một ngày nào đó, họ sẽ khai sáng văn hóa nhân loại cùng đấng Giác Giả khai truyền Đại Pháp. Họ cũng biết rằng các chủng văn hóa nhân loại đều tương ứng với đặc điểm của các sinh mệnh thượng giới; đồng thời hoàn cảnh địa lý mỗi địa phương trên trái đất có liên quan trực tiếp đến con người và văn hóa nơi đó. Do vậy, nhiều vị Thần đã xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định nơi chốn và thời điểm mà họ chuyển sinh thành người. Những vị Thần muốn nhân sự kiện Đại Pháp hồng truyền để bảo vệ tư lợi của họ cũng muốn tìm kiếm địa điểm thích hợp. Họ đã lợi dụng lý “tương sinh tương khắc” của cựu vũ trụ để an bài những sinh mệnh khởi tác dụng phụ diện bên cạnh các đệ tử Đại Pháp chân chính trong tương lai.
Bầu trời lúc ấy tràn ngập những tia sáng nhiều màu sắc. Đó là đủ các vị Thần. Một số trông giống như cụ già 70 tuổi, một số trông như đứa trẻ mới vài tuổi. Một ngày, trên không trung xuất hiện một lão Long Vương. Bộ râu của ông dài tới vài dặm và ông cũng rất vui tính. Dùng ngôn ngữ của con người, ông giống như một “lão ngoan đồng”. Một vị Thần trông giống như đứa trẻ 3 tuổi đến hỏi ông: “Nhi lão Long Vương sao không ở tại Long Cung mà lại đến tham dự sự kiện náo nhiệt này? Nước ở nhân gian rất dơ bẩn, và biển thì không mỹ lệ như ở trên thiên thượng. Hơn nữa một khi xuống nhân gian, binh tướng mà ông có sẽ chỉ là tôm cua nơi đại dương thôi.” Lão Long Vương vừa mỉm cười vừa vẫy vẫy bộ râu như thể ông không quan tâm tới điều đó. Ông nói: “Binh tôm hay tướng cua đều là tốt cả, đó là nhân gian mà. Hơn nữa, khi đức Phật Chủ xuống nhân gian hồng truyền Đại Pháp, thật vinh hạnh khi được có mặt cùng đức Phật Chủ tại nơi đây! Nếu ta ở lại trên thiên thượng và không đồng hóa với Đại Pháp, tất cả mọi thứ thuộc về ta sẽ không thể phục hồi được. Sau khi suy xét kỹ lưỡng, ta đã quyết định xuống xem, tìm một nơi chốn tại nhân gian để an thân, chờ đợi sự hồng truyền của Đại Pháp và lắng nghe Đại Pháp bằng chính đôi tai của ta!” Nói đến đó, lão Long Vương rơi lệ. Nhìn những vị Thần khác, ông muốn nói rất nhiều điều nhưng sau đó đã quyết định thôi…
Sau khi nhân loại được tạo ra trên quả địa cầu nhỏ như hạt bụi này, đại hý đài lịch sử bắt đầu mở màn. Biết bao nhiêu vở kịch kinh tâm động phách đã diễn ra trong vô vàn năm đã qua. Nhưng tấm màn này giờ đây đang chuẩn bị đóng lại. Các vị Thần thuộc cả hai nhóm đều phải chứng kiến nó ngay bây giờ. Nhưng khi chân tướng chưa được hé lộ, cơ hội vẫn còn đó. Hãy trân quý từng phút từng giây! Mỗi sinh mệnh vẫn có cơ hội, hoặc là đồng hóa với Đại Pháp, hoặc là đối kháng với Đại Pháp. Khi chân tướng đại hiển, phong trần được phủi sạch, tôi hy vọng rằng không ai trong chúng ta phải hổ thẹn vì sự lựa chọn của mình!
Lúc ấy Lão Long Vương muốn bày tỏ điều gì? Hãy đợi bài viết tiếp theo của tôi.
Phủi sạch phong trần (phần 2): Nỗi buồn của Long Vương
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Người ta nói rằng từ rất xa xưa, trong một đại phạm vi tầng thứ trên thiên thượng, có một vị Long Vương. Vị Long Vương này đích thị là “Long Vương”, khi ông là vua rồng và là vương ở tầng thứ của ông. Rất nhiều, rất nhiều năm đã trôi qua, và không có thứ “tình” thuộc tầng thứ thấp trong thế giới của ông. Ở đó không có cảm giác thống khổ hay buồn bã, mà chỉ có sự vui vẻ và hạnh phúc. Ông có rất nhiều đứa “con” và chúng sinh trong thế giới của ông. Thỉnh thoảng, ông lại mở một đại Pháp hội với vương và chủ của các thế giới khác để bàn cách quản lý những vấn đề trong phạm vi tầng thứ của họ.
Dần dần, ông phát hiện rằng thế giới của ông không còn thuần tịnh và mỹ lệ như trước nữa. Mọi thứ được làm bằng vàng trên thiên thượng, nhưng ông thấy rằng mọi thứ trong thế giới của ông đã trở nên ảm đạm hơn, dù chúng vẫn làm bằng vàng ròng. Ông cũng nhận thấy rằng chúng sinh của ông đã mất đi sự vô tư vô ngã (Thời gian dường như là ngắn với chúng ta, nhưng vô số kiếp đã trôi qua trước khi sự kiện này phát sinh). Họ thường ăn cắp vật phẩm và dấu diếm mọi thứ. Thân thể họ không còn thuần khiết và trong suốt như thuở ban đầu nữa.
Lúc ấy, lão Long Vương vô cùng buồn bã. Nỗi buồn này không phải là nỗi buồn nơi nhân gian vốn bị ảnh hướng bởi “tình”. Đây là sự lo toan cho bản thân và chúng sinh, có chút gì đó bất lực, bởi vì ông biết rằng sự tình này liên quan đến nhiều điều nằm ngoài khả năng của ông. Ông mở một hội nghị gồm vương và chủ của nhiều thế giới thuộc các tầng thứ khác nhau, và tất cả họ đều có cảm giác tương tự. Nhiều vị vương chủ nói: “Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết bằng cách Chính Pháp từ tầng thứ thấp nhất. Nhưng tầng thứ thấp nhất là nơi bất hảo nhất, mê nhất và nhiều thống khổ nhất. Hơn nữa, rất khó để chúng ta có thể quay trở về.” Khi họ đang bàn bạc vấn đề, một cự Phật cùng tiếng âm nhạc mỹ diệu, Pháp Luân và hoa sen dần dần hạ xuống từ tầng thứ cao nhất, nằm ngoài phạm vi mà họ có thể nhìn thấy. Nhiều thiên nữ bắt đầu rải hoa. Cảnh tượng thật tráng lệ ngoài sức mô tả.
“Chuyển luân thủ trung nã
Liên hoa cước hạ thải
Uy nghiêm chấn thiên địa
Từ bi diệu chúng sinh”
Diễn nghĩa:
“Pháp Luân xoay chuyển trong bàn tay
Hoa sen dưới bàn chân Ngài
Uy nghiêm chấn động cả trời đất
Ngài từ bi soi sáng chúng sinh”
Tất cả các đấng vương chủ đều mau chóng quỳ xuống dưới chân Ngài. (Đây là lần đầu tiên trong lịch sử điều như vậy xảy ra. Trước đây, các vương chủ này đều kính trọng lẫn nhau và tôn trọng chúng sinh của họ, nhưng họ chưa từng quỳ xuống trước một vị Phật nào. Tuy nhiên, khi nhìn thấy đức Pháp Luân Thánh Vương, họ đã quỳ xuống theo bản năng). Họ nghe được thanh âm trong trẻo và vang dội của vị cự Phật:
“Vũ trụ mang mang lịch vạn kiếp
Chúng sinh biến dị thiên địa biệt
Vi cứu thương vũ tiến Tam giới
Tiễu tức hồng nguyện vĩnh bất diệt!”
Diễn nghĩa:
“Vũ trụ mênh mang đã trải qua hàng vạn kiếp
Chúng sinh biến dị, trời đất sai biệt
Để cứu chúng sinh, hãy tiến vào Tam giới
Hoàn thành hồng nguyện vĩnh viễn bất diệt!”
Đức Pháp Luân Thánh Vương nói lại một lần nữa: “Ta sẽ xuống thế gian con người để cứu độ tất cả chúng sinh. Ai phát nguyện đi cùng ta có thể ký một thệ ước. Sau khi Chính Pháp xong, mọi thứ sẽ trở nên trường tồn bất diệt.” Lão Long Vương mau chóng nói: “Con nguyện ước đi cùng Ngài.” Một số vương và chủ khác cũng bày tỏ mong muốn đi xuống thế gian. Khi những lời này được nói ra, một cuộn giấy trông giống như Thánh chỉ của Hoàng Đế thời xưa xuất hiện và tự động ghi lại những gì họ nói. Một số vị Thần ngại ngần và sợ phải đi xuống thế giới con người. Sau đó, lão Long Vương cùng một số vị Thần bắt đầu đi xuống nhân gian. Lúc đầu, họ chỉ quan sát và lựa chọn nơi họ sẽ chuyển sinh. Trong khi quan sát, lão Long Vương gặp các vị Thần và mọi việc xảy ra như đã được kể trong bài viết trước.
Phủi sạch phong trần: Thanh thiên bích thủy
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
‘Thanh thiên’ là bầu trời trong xanh không một gợn mây, ‘bích thủy’ là dòng nước màu xanh lam thuần chính.
Ngày hôm qua, sau khi làm việc, tôi đi ngang qua một cây cầu nhỏ. Lúc bình thường, tôi cảm thấy thư thái vào mùa xuân, với hoa nở, nước trôi, núi non ngay trước mắt và làn gió nhẹ mát. Tuy nhiên vào năm nay, tôi mang một tâm trạng nặng nề. Ngày nay, trong xã hội hiện đại này, núi non không còn giống như quá khứ, bầu trời và mặt đất cũng như vậy.
Đó là bởi vì con người ngày nay chỉ nhìn thấy và cảm nhận được sự trừng phạt từ thiên nhiên: hiện tượng ấm lên toàn cầu, sa mạc hóa, ô nhiễm và dịch bệnh. Bài viết này mô tả những hiện tượng trên, điều đã được công bố trên rất nhiều website tại Trung Quốc.
Hôm nay, tôi muốn nói về điều này từ góc độ tu luyện và những an bài trong lịch sử.
Từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện từ Đài Phát thanh Trung ương Trung Quốc nói rằng các nhà khoa học đã tìm thấy một kiến trúc lớn tại Ai Cập, gần biển Địa Trung Hải. Trong kiến trúc này, có một con thuyền gỗ hơn 1.000 năm tuổi được bảo tồn một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, không lâu sau khi kiến trúc này được mở ra, con thuyền đã nhanh chóng bị hư hoại. Điều này làm các nhà khoa học nghiên cứu về không khí thời cổ đại.
Từ góc độ tu luyện, mọi thứ có thể được giải thích một cách rõ ràng. Nếu con người ta thờ Thần kính Phật, bái Thiên tế Địa, trọng Đức hành Thiện, thanh tâm quả (ít) dục, mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp, không xuất hiện các dịch bệnh kỳ quái và thọ mạng con người sẽ được kéo dài. Sẽ không có sự ô nhiễm không khí nghiêm trọng nào. Tại Trung Quốc, dưới sự kiểm soát của tà đảng Trung Cộng, ô nhiễm và phá hoại môi trường thiên nhiên đã trở nên vô cùng nghiêm trọng trong suốt 50 năm qua.
Đôi lúc, tôi nhớ lại những ngày khi tôi [chuyển sinh] sống vào thời cổ đại. Tôi có một cảm giác rất tốt đẹp về môi trường thiên nhiên vào lúc ấy. Bầu trời trong xanh hơn, không khí trong sạch hơn, nước ngọt hơn, lương thực bổ dưỡng hơn, và con người có đạo đức cao thượng hơn. Các không gian khác và những hiện tượng thần kỳ thường xuyên xuất hiện…
Bởi vì con người phải trải qua luân hồi chuyển sinh, nên họ có khả năng chuyển sinh thành động vật, thực vật và các loại vật chất,… Nếu một cá nhân có rất nhiều đức và rất nhiều phúc phận, người đó sẽ mang lại lợi ích cho môi trường xung quanh. Có rất nhiều ghi chép trong lịch sử mô tả điều này. Một đất nước sẽ có ít tai họa nếu Quốc vương, chẳng hạn như dưới thời Trinh Quán [1], yêu thương dân chúng và thường tự xét mình để phản tỉnh. Ngược lại, tai họa thường xảy đến với một đất nước mà từ Vua đến dân đều tiêu pha xa xỉ, người tốt bị bức hại hay người tu Phật bị phản đối, chẳng hạn như người La Mã đã phải chịu đựng bệnh dịch hạch và sự sụp đổ nền văn minh chỉ vì bức hại những người Cơ Đốc giáo.
Đạo đức của nhân loại đã trượt dốc vô cùng nhanh chóng. Khi người ta làm điều xấu, dù chủ động hay bị động, họ sẽ sản sinh ra nghiệp lực. Các bạn có thể tưởng tượng được hậu quả khi những người có tội nghiệp nghiêm trọng chuyển sinh thành cây cỏ, không khí hoặc đồ ăn. Nếu bạn có thể quan sát bằng công năng, bạn sẽ thấy nghiệp lực và bệnh độc lan tràn khắp mọi nơi. Theo tiêu chuẩn không khí vào thời cổ, không khí ngày ngày nay đã trở thành “độc khí” và không còn phù hợp cho môi trường sinh sống của con người.
Vào đầu những năm 1980, lương thực được trồng từ hạt giống là rất quý giá và giàu chất dinh dưỡng. Nhưng con người muốn cải thiện chất lượng của chúng và bắt đầu khuyến khích các loại tạp chất mới. Họ đã thôi sử dụng phân bón từ vật nuôi và bắt đầu sử dụng phân hóa học. Do vậy tuy lương thực đã gia tăng về số lượng nhưng thổ nhưỡng bắt đầu bị thoái hóa. Ngũ cốc chỉ phát triển được khi dùng phân bón hóa học. Dinh dưỡng thấp là cái giá phải trả cho sự tăng lên về số lượng. Thân thể con người cũng phát sinh biến dị sau khi ăn loại lương thực này.
Con người đã phá hoại không khí thật nghiêm trọng (khí nhà kính, bụi bẩn, hóa chất và loại ô nhiễm không khí khác). Đất cũng tương tự như vậy. Một khối lượng phân hóa học rất lớn, chất nhựa, đồng cỏ héo khô, nạn chặt phá rừng, sự xâm lấn của sa mạc và sạt lở đất là những hậu quả. Ô nhiễm nguồn nước và cạn kiệt nguồn nước mặt cũng là những vấn đề nan giải.
Khi tôi nhìn vào những ngọn núi và dòng sông cạnh nhà tôi, tâm tôi thật nặng nề. Sông núi đã mất đi vẻ đẹp của chúng. Cây cổ thụ đã bị chặt phá để trồng cây mới. Ô nhiễm nước ngày càng tồi tệ.
Mọi thứ trong thế giới này đều có sự sống và có quá trình tồn tại sinh mệnh của riêng chúng. Từ góc độ tu luyện, mọi thứ đều được an bài bởi các sinh mệnh cao tầng. Nhân loại đã bị trừng phạt nặng nề bởi sự tham lam, dục vọng và thiếu hiểu biết của mình.
Những ai đã từng ghé thăm các danh sơn đều nói rằng ngọn núi này, ngọn núi kia đẹp đẽ phi thường và chúng được tạo ra bởi Thần. Khi họ thấy những sông hồ mỹ lệ, họ cũng có chung cảm giác ấy.
Vào lúc đương sơ khi tạo ra quả địa cầu này, Thần đã tính toán rằng đây sẽ là nơi mà con người tu luyện, vì vậy họ đã tạo ra núi, sông và nền văn hóa. Chúng khiến quả địa cầu phồn vinh hơn.
Tại sao những ngọn núi lại hùng vĩ như vậy? Cổ nhân có câu: “Ngũ Nhạc [2] quy lai bất khán sơn, Hoàng Sơn [3] quy lai bất khán Nhạc.” (Đến Ngũ Nhạc rồi thì không muốn xem núi nào nữa, đến Hoàng Sơn rồi thì lại không muốn xem Ngũ Nhạc.”
Người Trung Hoa có câu thành ngữ “thương hải tang điền” (bể khơi hóa thành ruộng dâu). Người ta thường dùng câu thành ngữ này để miêu tả sự biến hóa của trời đất. Tuy nhiên, mọi thứ đều nằm trong sự an bài và khống chế của Thần.
Thần đã sử dụng các vật chất trên quả địa cầu để tạo ra núi với hình dạng tương tự như núi trên thiên thượng, và đó là lý do tại sao những ngọn núi này lại hùng vĩ như vậy. Mục đích mà Thần tạo ra núi non là để thiết lập một văn hóa tu luyện để khi họ hạ thế và đắc Đại Pháp của vũ trụ!
Trong con mắt của Thần, quả địa cầu cũng giống như một cái bảng vẽ. Với trí tuệ và năng lực của mình, Thần đã vẽ nên một bức tranh theo đặc điểm cảnh giới nơi họ ở, bao gồm đủ loại núi và sông. Mục đich là cấp một nền văn hóa cho con người, để họ lý giải được truyền thống của chính họ và tìm thấy sự tinh túy trong văn hóa của họ.
Một số vị Thần đã xuống quả địa cầu để tạo ra các sinh vật khác nhau, và một số thì tạo ra môi trường sống, chẳng hạn như nước và không khí. Một vị Đạo đã tạo ra một ngọn núi chiểu theo ngọn tiên sơn nơi ông sống trên thiên thượng, và ngọn núi này trông thật hùng vĩ một cách tự nhiên. Chúng ta thường nghe nói rằng một ngọn núi nào đó là nơi tu Đạo của vị Phật hay Bồ Tát nào đó. Tất cả đều đã được an bài chứ không phải ngẫu nhiên. Cái gọi là “ngẫu nhiên” là tuyệt đối không tồn tại.
Mục đích của tất cả những điều này là để khi Đại Pháp hồng truyền, con người sẽ có khả năng lý giải được nội hàm của Đại Pháp. Mọi thứ trên thế gian này đều đến vì Pháp. Đặc biệt, với trí tuệ và thần lực, một số vị Thần đã tạo ra quả địa cầu bằng những vật chất còn sót lại sau một vụ nổ vũ trụ. Nhân loại nghĩ rằng quả địa cầu này thật lớn, nhưng Thần lại thấy nó cực kỳ nhỏ bé.
Lý do mà Thần tạo ra những ngọn núi trên quả địa cầu là để nhắc nhở con người hãy nhớ tới vẻ đẹp của thiên thượng , sự hùng vĩ của tự nhiên, và duy trì đạo đức. Ngày nay, con người đã tàn phá thiên nhiên và quả địa cầu chỉ vì quyền lợi ích kỷ của mình. Điều này làm mất cân bằng sinh thái và phá hoại những an bài của Thần. Thần sẽ trừng phạt con người vì điều này, và đó là lý do tại sao nhiều thiên tai nhân họa đã diễn ra.
Thần là từ bi, nhưng cũng không thể dung túng một nhân loại đã bại hoại về đạo đức đến mức độ này. Cách duy nhất để nhân loại lấy lại sự hài hòa giữa con người và tự nhiên chính là cải thiện tiêu chuẩn đạo đức. Nếu không, nhân loại sẽ tự hủy hoại chính mình, đặc biệt tại thời khắc Đại Pháp hồng truyền nơi thế gian này.
Nếu nhân loại muốn trở lại với cảnh “thanh thiên bích thủy”, họ phải thiện đãi Đại Pháp, hoàn toàn đoạn tuyệt với thứ văn hóa “đấu với Trời, đấu với Đất” của tà đảng Trung Cộng, thành lập tư tưởng kính Thần bái Thiên và toàn diện đề cao chuẩn mực đạo đức. Khi đạo đức nhân loại đã đề cao đến một trình độ nhất định, Đại Pháp sẽ tái tạo càn khôn và đưa mọi thứ tốt đẹp trở lại.
Chúng ta đang chờ đợi điều này.
Chú thích:
[1] ‘Trinh Quán’(626-649): niên hiệu dưới thời vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân (599 –649)
[2] ‘Ngũ Nhạc’ (ngũ đại danh sơn): Năm ngọn núi là danh thắng tại Trung Quốc, gồm: Thái Sơn ở tỉnh Sơn Đông, Hành Sơn ở tỉnh Hồ Nam, Hoa Sơn ở tỉnh Thiểm Tây, Hằng Sơn ở tỉnh Sơn Tây và Tung Sơn ở tỉnh Hà Nam.
[3] ‘Hoàng Sơn’: một dãy núi ở phía nam tỉnh An Huy, đông Trung Quốc. Dãy núi này nổi tiếng vì có cảnh quan đẹp và là chủ đề cho tranh thủy mặc và văn học Trung Quốc.
Phủi sạch phong trần: Độc bộ thời không
Tác giả: Tiểu Liên
[Chanhkien.org]
Giới thiệu: Mới đây, tôi tham dự một hôn lễ và gặp nhiều người thân ở đó. Tôi đã không nhận ra nhiều người trong số họ, mặc dù lần cuối chúng tôi gặp nhau mới chỉ cách đây vài năm. Một số người thân của tôi đang phải chịu đựng bệnh tật và trông rất khác. Một số họ thì ở trong trạng thái rất tồi tệ vì các vấn đề gia đình. Thậm chí một người thân của tôi đã thắt cổ tự vẫn! Thế giới quanh ta luôn thay đổi, và người ta có rất nhiều điều để lo lắng. Khi tôi giảng chân tướng Đại Pháp cho họ, một số họ không tin tôi, và một số thì miễn cưỡng đồng ý. Nhưng cũng có một số người thực sự chấp nhận Đại Pháp và thậm chí còn trở thành đệ tử Đại Pháp.
Một người chỉ có thể sống được khoảng 100 năm. Trong suốt cuộc đời, anh ta có thể chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Con người luôn nói về những điều này. Một số người thậm chí còn viết thành sách để lưu lại cho các thế hệ mai sau. Thời gian và không gian mà trí tuệ con người nhận thức được thật là hữu hạn. Thêm vào đó, vì các chủng quan niệm của con người, nhiều nhận thức chân chính đã bị bóp méo và được lưu lại cho các thế hệ sau này, thậm chí tới hàng trăm năm sau. Những hiện tượng này cho thấy sự thiếu khả năng và vô tri của con người. Thậm chí còn có người “bị lá che mắt nên chẳng thấy rừng”. Họ ngoan cố cho rằng “con người là sinh mệnh có trí tuệ và năng lực cao nhất”. Nhìn từ góc độ người tu luyện, điều này thật nực cười. Chứng kiến những người thân của mình mau chóng già đi chỉ sau vài năm ngắn ngủi, tôi cảm thấy thời gian trôi qua thật nhanh, tựa như nước chảy.
Tôi thử lấy ví dụ này: Nếu một cụ già 100 tuổi nhìn thấy một thứ đồ chơi mà ông từng chơi hồi còn nhỏ, ông sẽ có cảm giác phấn khích xen lẫn bùi ngùi. Một ngày nọ, khi đang tản bộ một mình trên con đường nhỏ, tôi bỗng nhiên trông thấy một cục đá. Nó nằm ngay gần tôi, và tôi nhận ra rằng nó đến từ thượng giới, tại tầng thứ khác với tầng thứ tôi từng ở. Nước mắt chảy dài xuống má tôi. Nhiều ký ức bỗng chốc hiện về. Vì thế tôi đã quyết định đặt bút tả lại cảm giác này.
Có lẽ các đồ trang sức vàng bạc trong tay chúng ta, hoặc những vật dụng khác là đã từng được chúng ta nhìn thấy hay sử dụng khi chúng ta chuyển sinh xuống các tầng thứ thấp hơn trong những đời trước. Chúng đến từ những tầng thứ bị giải thể trong vô số vụ nổ vũ trụ. Sau đó, Thần đã mang chúng đến địa cầu, mục đích là cấp cho nhân loại tài nguyên phong phú để họ sử dụng. Ý nghĩa sâu xa hơn nữa, đó là chúng được sử dụng để làm nền cho sự hồng truyền của Đại Pháp ngày nay. Ngoài ra, các đệ tử Đại Pháp hoàn toàn có thể trở về làm các sinh mệnh thượng giới, do vậy những thứ này cũng được trở lại thượng giới cùng với họ, đây cũng là một chủng hình thức thăng hoa và quá trình đề cao. Để tôi lấy một ví dụ khác. Mỏ ngọc Hòa Điền ở tỉnh Tân Cương, Trung Quốc là bắt nguồn từ rất nhiều tiên đài tại một tầng thứ trên thượng giới. Sau này tầng thứ thượng giới ấy bị tiêu hủy, và các tiên đài này bị rải xuống khắp nhân gian (hay có thể nói rằng chúng được Thần mang đến nhân gian) và trở thành loại ngọc cực kỳ nổi tiếng ấy. Tôi đã từng trông thấy chúng rất nhiều lần khi tôi còn ở trên thượng giới. Tôi cũng từng thấy chúng khi luân hồi chuyển sinh nơi nhân gian (tôi đã đề cập đến trong các bài viết trước, xin xem: Câu chuyện có thật về luân hồi: Thông linh bảo ngọc).
Vạn vật đều có sinh mệnh. Khi dần dần phá trừ cái “mê” này, chúng ta sẽ có cảm giác “bước đi một mình giữa thời không” (độc bộ thời không). Mỗi cá nhân đều có cảnh giới và tầng thứ của riêng mình, vì thế mỗi người đều có nhận thức và cảm ngộ riêng về mỗi sự vật. Hãy trân quý mỗi đồ vật chúng ta gặp phải, cho dù chúng có phương thức biểu hiện như thế nào. Rất có khả năng chúng đã phải trải qua gian nan vô hạn trong nhiều kiếp để được ở đây với chúng ta. Hãy luôn giữ tâm từ bi và cứu độ tất cả!
http://phapluan.org/book/zfl_html/index.html
http://chanhkien.org/
http://minhhue.net/news/
http://falundafa.org/