Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Bóng Đêm Bao Trùm - Tập truyện ngắn thế giới 🔒

15 trả lời, 6.186 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-28 20:30:26Ct.Ly>

Bóng Đêm Bao Trùm

Tập truyện ngắn thế giới

Dịch giả: Di Li tuyển dịch



*****


Truyện đang scan, nhờ các bạn đánh giúp một tay nhá

Chúc vui


****


Phần I  (trang 3 - 53 )= Nhoc2207 hoàn tất

Phần II( 54 - 119 ) nhoc 2207 hoàn tất 

Phần III ( 120 - 154 ) đã gửi nhoc 2207

Phần IV ( 155 - 220) Hoalacocay  hoàn tất
0
                    BÀI HỌC

                   Fernando Sorrentino (Ác-hen-ti-na)

Sau khi tốt nghiệp trường trung học, tôi xin vào làm một chân văn phòng ở Công ty Bảo hiểm Buenos Aires. Công việc mới không hề dễ chịu chút nào và xung quanh tôi toàn những người tính tình khó ưa.

Đó là một tòa nhà mười tầng có bốn cái thang máy. Ba trong số đó là dành cho cán bộ công nhân viên, không phân biệt cấp bậc, vị trí trong công ty. Cái thứ tư được trải thảm đỏ chót với ba cái gương soi được trang trí một cách cầu kì là dành riêng cho giám đốc công ty, các thành viên của ban giám đốc và giám đốc điều hành. Điều này có nghĩa là chỉ bọn họ mới có quyền sử dụng cái thang máy màu đỏ, nhưng nó cũng chẳng cản trở việc chúng tôi sử dụng ba cái thang còn lại.

Tôi chưa bao giờ dám đưa mắt nhìn ông giám đốc hay các thành viên ban, nhưng lần nào cũng vậy, từ đằng xa tôi luôn bắt gặp ánh mắt của giám đốc điều hành đang nhìn ai đó. Ông ta khoảng chừng năm mươi tuổi với điệu bộ bệ vệ của một nhà quý tộc. Tôi thấy ông ta nửa giống một quí ông Áchentina thời xưa, nửa giống một vị quan tòa cực kì liêm khiết của tòa án tối cao. Mái tóc muối tiêu, bộ ria mép cắt tỉa gọn gàng, bộ com-lê chỉnh tề và thái độ nhã nhặn khiến tôi vốn ghét cay ghét đắng mấy ông sếp cũng phải thấy kính trọng ngài Fernando. Đó là cách người ta gọi ông: "Ngài" cộng với tên thánh của ông mà không gọi tên họ, một kiểu gọi vừa suồng sã, lại vừa tôn kính như đối với một vị vua thời phong kiến.

Ngài Fernando và các nhân viên của ông chiếm toàn bộ tầng thứ năm của tòa nhà. Bộ phận của chúng tôi làm việc ở tầng ba, nhưng từ khi tôi trở thành thứ nhân viên ít quan trọng nhất ở đây, họ đẩy tôi xuống tầng một để tiện chạy mấy việc lặt vặt. Trên tầng mười chỉ có mấy ông già hay cáu bẳn với mấy bà tính tình khó chịu có thể nổi khùng vì bất cứ chuyện gì. Mỗi ngày tôi phải lên đó để nộp một tập báo cáo về những nhiệm vụ mà bộ phận của tôi sẽ thực hiện trong ngày hôm đó.

Vào một buổi chiều, sau khi đã lên tầng mười để gửi công văn, tôi chuẩn bị về nhà. Tôi đợi thang máy. Tôi đã mặc áo khoác, đầu tóc chải gọn gàng. Tôi chỉnh lại chiếc cà-vạt và nhìn vào gương. Trên tay là cặp tài liệu bằng da.

Đột nhiên tôi thấy ngài Fernando đứng bên cạnh, hình như ông cũng đang đợi thang máy.

Tôi chào ông với vẻ tôn kính nhất có thể: "Xin chào, thưa ngài Fernando". Ngài Fernando chào lại một cách giản dị. Ông bắt tay tôi và nói: "Rất vui được gặp anh, anh bạn trẻ. Tôi thấy là anh đã có một ngày làm việc hoàn hảo và giờ anh đang chuẩn bị tận hưởng một sự nghỉ ngơi xứng đáng".

Tôi cảm thấy sự mỉa mai trong thái độ và lời nói của ông và điều đó khiến tôi lo lắng.

Đúng lúc đó, một trong những chiếc thang máy phục vụ cho những "người bình dân" dừng lại. Cánh cửa tự động mở ra. Tôi ấn tay vào nút giữ cho cửa mở và nói với ngài Fernando. "Xin mời ngài" - "Không, không thể thế được, anh bạn trẻ", ngài Fernando đáp lại bằng một nụ cười. "Cậu vào trước đi".

"Không, thưa ngài, tôi không thể. Tôi sẽ vào sau" - "Vào đi anh bạn", ông có vẻ mất kiên nhẫn, "Xin mời". Từ "xin mời" có vẻ ép buộc khiến tôi phải chấp nhận như một mệnh lệnh. Tôi hơi cúi đầu và bước vào thang máy. Ngài Fernando bước theo sau tôi.

Cánh cửa khép lại. "Ngài xuống tầng năm ạ, thưa ngài Fernando?". "Tôi xuống tầng trệt. Tôi cũng chuẩn bị về nhà giống anh. Tôi nghĩ là tôi cũng có quyền được nghỉ ngơi một chút chứ nhỉ, anh không nghĩ vậy sao?". Tôi chẳng biết phải nói gì. Sự xuất hiện của ông, mà lại ở quá gần tôi như thế này khiến tôi thấy vô cùng bất tiện. Tôi buộc bản thân mình phải chịu đựng một cách nhẫn nhịn bằng cách kéo dài sự im lặng suốt từ tầng chín xuống đến tầng trệt. Tôi chẳng có gan ngước nhìn ngài Fernando, thay vào đó tôi dí mắt vào mũi giầy của mình.

"Anh đang làm ở bộ phận nào, anh bạn trẻ?" - "Bộ phận quản lí sản phẩm, thưa ngài". Tôi chợt nhận thấy rằng ngài Fernando còn lùn hơn cả tôi.

"À". ông xoa cằm bằng ngón trỏ và ngón cái, "Sếp trực tiếp của cậu là ông Biotti, nếu tôi không nhầm" - "Vâng, thưa ngài. Đúng là ông Biotti". Tôi vô cùng căm ghét ông Biotti, tôi thấy ông ta đúng là một tên đần độn kiêu căng khoác lác, nhưng tôi không dám thổ lộ ý nghĩ này với ngài Fernando.

"Và ông Biotti không dạy cậu cách tôn trọng những nguyên tắc trong nội bộ công ty sao?"

"Sao, sao cơ thưa ngài?"

"Tên cậu là gì?"

"Roberto Kriskovich".

"Ồ, một cái tên Ba Lan"

"Không, thưa ngài, nó không phải tiếng Ba Lan. Đó là tên Croatia".

Cuối cùng chúng tôi cũng xuống đến tầng trệt. Ngài Fernando đứng cạnh cửa giờ bước lùi sang một bên nhường đường cho tôi ra trước.

"Xin mời", ông yêu cầu.

"Không, thưa ngài", tôi trả lời. Tôi thấy vô cùng sợ hãi. "Tôi sẽ ra sau".

Ngài Fernando nhìn xoáy vào tôi.

"Thôi nào anh bạn. Tôi xin anh đấy, anh hãy ra ngoài đi"

Quá sợ hãi, tôi đành vâng lời.

"Học hỏi không bao giờ là quá muộn, anh bạn ạ", ông nói khi bước ra phố cùng tôi. "Có muốn đi uống cà phê với tôi không".

Vậy là chúng tôi rẽ vào một quán ăn tự phục vụ ở góc phố. Ngài Fernando đi trước còn tôi theo sau. Ở đó tôi cảm thấy mình có thể đối mặt với giám đốc điều hành mà chẳng có gì ngoài một cái bàn ngăn cách giữa hai chúng tôi.

"Cậu làm việc cho công ty được bao lâu rồi?"

"Tôi bắt đầu làm từ tháng mười hai năm ngoái, thưa ngài"

"Nói cách khác là cậu làm ở đây chưa đầy một năm"

"Đến tuần tới là được chín tháng, chưa ngài Fernando"

"Còn tôi đã làm ở cái công ty này hai mươi bảy năm". Ông lại nhìn tôi chằm chằm.

Khi đó tôi cảm thấy ông đang chờ đợi một phản ứng của tôi, tôi đành gật gù cố tỏ thái độ khâm phục.

Ông rút từ túi áo một chiếc máy tính nhỏ.

"Hai mươi bảy năm, nhân với mười hai tháng, tổng cộng là ba trăm hai mươi tư tháng. Ba trăm hai mươi tư chia cho chìn bằng ba mươi sáu. Vậy có nghĩa là tôi làm việc ở đây lâu gấp ba mươi sáu lần cậu. Gì nữa nhỉ, cậu chỉ là một nhân viên bình thường còn tôi là giám đốc điều hành. Cuối cùng, cậu mới mười chín, hai mười tuổi, còn tôi đã năm mươi hai. Đúng không?"

"Vâng, vâng thưa ngài"

"Ngoài ra cậu đang theo học đại học đúng không?"

"Vâng thưa ngài Fernando, tôi học văn học, chuyên ngành tiếng Hi Lạp và Latin"

Ông nhăn mặt như thể vừa bị xúc phạm. Ông nói: "Mặt khác, tôi cũng có bằng kinh tế và đã tốt nghiệp với điểm số rất cao"

Tôi cúi đầu như để thể hiện rằng mình quá là kém cỏi.

Ông tiếp tục: "Và cậu không cho rằng tôi xứng đáng nhận được sự tôn trọng đặc biệt sao?"

"Có chứ thưa ngài"

"Vậy tại sao cậu dám bước vào thang máy trước tôi? Và như thế chưa đủ táo tợn, cậu lại cả gan đi ra trước cả tôi?"

"Dạ thưa ngài, tôi không muốn tỏ thái độ xấc láo hay ương ngạnh. Nhưng do ngài đã khăng khăng nên tôi..."

"Tôi có khăng khăng hay không đó là việc của tôi. Nhưng lẽ ra cậu nên nhận ra rằng dù trong bất kì tình huống nào cậu cũng không nên vào thang máy trước tôi. Hoặc đi ra trước khi tôi bước ra. Hay tệ hại hơn là cãi lại tôi. Tại sao cậu lại nói rằng tên cậu là tiếng Croatia khi tôi bảo cậu đó là tiếng Ba Lan?"

"Nhưng đó thực sự là một cái tên Croatia, cha mẹ tôi sinh ra ở Split, Nam Tư"

"Tôi không cần biết bố mẹ cậu sinh ra hay không sinh ra ở đâu. Khi tôi đã nói đó là tiếng Ba Lan thì đó chính là tiếng Ba Lan, cậu không được phép cãi lại tôi"

"Tôi xin lỗi, thưa ngài. Tôi sẽ không bao giờ làm thế nữa"

"Rất tốt. Vậy là bố mẹ cậu sinh ra ở Split, Nam Tư?"

"Không thưa ngài. Họ không sinh ra ở đó"

"Vậy ở đâu?"

"Ở Krakow, Ba Lan"

"Lạ thật!". Ngài Fernando dang hai cánh tay có vẻ ngạc nhiên. "Làm sao cậu lại có một cái tên Croatia trong khi bố mẹ cậu là người Ba Lan nhỉ?"

"Thực ra là do có nội chiến nên cả hai bên ông bà nội ngoại tôi đã di cư từ Nam Tư sang Ba Lan. Và bố mẹ tôi sinh ra ở Ba Lan"

Khuôn mặt ngài Fernando sa sầm lại với vẻ buồn bã.

"Tôi lớn tuổi hơn cậu nhiều và tôi cho rằng tôi không phải là một thằng ngốc. Hãy nói cho tôi biết, anh bạn, làm thế nào cậu có thể nghĩ ra việc thêu dệt nên một câu chuyện trí trá như thế? Làm sao  cậu có thể cho rằng tôi sẽ tin vào cái câu chuyện hoang đường vớ vẩn ấy. Chẳng phải trước đó cậu đã nói rằng bố mẹ cậu sinh ra ỏ Split sao?"

"Vâng thưa ngài, nhưng vì ngài đã nói rằng tôi không được cãi lại ngài nên tôi đã thừa nhận là bố mẹ tôi sinh ra ở Krakow"

"Dù thế nào đi nữa, cậu đã nói dối tôi"

"Việc cậu nói dối cấp trên cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng và còn hơn thế nữa, những thông tin sai lệch sẽ ảnh hưởng tới phúc lợi của công ty"

"Đúng như vậy, thưa ngài. Tôi hoàn toàn đồng ý với những điều ngài vừa nói"

"Cậu bé, tôi vẫn muốn được thấy chút giá trị của con người cậu, giờ tôi thấy cậu cũng dễ bảo và biết lẽ phải đấy. Nhưng tôi muốn cậu vượt qua bài kiểm tra cuối cùng. Chúng ta đã gọi hai cốc cà phê. Vậy ai sẽ là người trả tiền?"

"Tôi rất vui lòng được làm điều đó"

"Cậu lại nói dối tôi rồi. Với cái đồng lương còm cõi của cậu, cậu không thể cảm thấy vui vẻ khi phải trả tiền cho cốc cà phê của giám đốc điều hành được, nhất là khi cậu biết rằng tiền lương vị giám đốc điều hành của cậu trong một năm bằng số tiền cậu kiếm trong hai nắm. Vậy nên tôi yêu cầu cậu không được nói dối tôi và hãy nói sự thật. Có đúng là cậu muốn trả tiền cho cốc cà phê của tôi không?

"Không, thưa ngài Fernando, sự thật là tôi không muốn làm như vậy"

"Nhưng mặc dù sự thật là cậu không muốn, cậu có sẵn sàng làm việc đó không?"

"Có, thưa ngài Fernando. Tôi sẵn sàng làm việc đó"

"Vậy thì hãy đứng dậy và làm đi. Trả tiền đi và đừng bắt tôi phải mất thêm thời gian nữa, lạy Chúa!".

Tôi gọi phục vụ đến và trả tiền cho hai cốc cà phê. Chúng tôi đi ra phố, ngài Fernando đi trước. Cuối cùng chúng tôi cũng đến lối vào ga xe điện ngầm.

"Rất tốt, anh bạn, giờ tôi phải đi rồi. Thành thật mà nói tôi rất hy vọng cậu tiếp thu được bài học của tôi và nó sẽ có ích cho cậu về lâu dài".

Ông bắt tay tôi rồi đi xuống cầu thang ga xe điện.

Như tôi đã nói đấy, tôi không hề thích công việc này. Vào khoảng cuối năm, tôi xin một công việc ít buồn tẻ hơn ở công ty khác. Trong hai tháng làm việc cuối cùng của tôi ở công ty bảo hiểm, tôi cũng nhìn thấy ngài Fernando đôi lần, nhưng luôn từ đằng xa, vì vậy tôi không bao giờ được nhận thêm bất kì một bài học nào của ông nữa.

(dịch từ trang http://www.short-stories.co.uk/)
0
                    CÀ PHÊ

                                               Gary Markell (Mỹ)

- Sao anh không thử viết cái gì đó mới?

- Cái này hoàn toàn mới.

Martin không nhìn lên, những đầu ngón tay đặt trên bàn phím lâu đến mức chúng đã bắt đầu truyền những tín hiệu đau nhức lên bộ não. Mắt anh vẫn dán vào con trỏ máy tính đang nằm ở trang thứ 11 của câu chuyện đã bắt đầu từ hàng tháng trước.

- Anh phải hiểu ý em muốn nói đến những đề tài thực sự mới mẻ chứ?

Regan thổi làn hơi nước đang bốc lên nghi ngút từ cốc cà phê được pha chế theo một công thức riêng của cô, bao gồm ca cao nóng, đường, kem đánh, kẹo dẻo và chỉ vừa đủ một thìa cappuccino để có thể gọi đó là cà phê. Đối với khứu giác của Martin thì chỉ riêng mùi của cái hỗn hợp đó cũng đủ để đánh thức cả thần chết và mỗi lần làn hơi từ chiếc cốc bay lên theo chiều gió, Martin đều co rúm người lại. Martin nghe thấy Regan đang húp sùm sụp cái thứ đồ uống hổ lốn đó.

- Anh thì lúc nào cũng bắt đầu với những thứ đã bắt đầu từ hồi nào rồi. Đám ý tưởng cũ rích ấy làm anh trở nên trì trệ.

Regan đặt cốc xuống chiếc bàn tròn thuộc diện đồ cổ của Martin. Dù đang dán mắt vào màn hình, nhưng Martin vẫn có thể liếc thấy nước từ đáy cốc đang vón cục lại thành vòng tròn. Con trỏ trên máy tính rung rinh. Regan lại tiếp tục nói. Martin có thể dám chắc như vậy bởi miệng cô ta không ngừng mấp máy và tay chân huơ lên theo thói quen khi cần nhấn mạnh một luận điểm nào đó.

Martin đưa bàn tay phải đang đặt trên bàn phím ra sau tai, đó là động mạch cảnh, Martin đọc được điều này từ một cuốn sách. Giọng nói đã từng rất dịu dàng của Regan, chuyện quái quỷ gì vậy, giờ đây, vẫn là giọng nói đó nhưng nó như hàng ngàn con dao đang cắt Martin thành từng mảnh nhỏ. Đã từ lâu nay, Martin không viết được cái gì nên hồn. Chồng hóa đơn đang ngày một dày thêm mà văn không ra thì tiền cũng chẳng đến. Nhưng nghệ thuật không phải là cái gì có thể nhồi nhét, nghệ thuật đến khi nó phải đến. Sao cô ta không nhận ra điều đó?

Tiếc lách cách phát ra từ chiếc thìa bạc đang gõ vào cốc, dấu hiệu Regan đang tỏ ra sốt ruột. Chắc hẳn cô ta vừa hỏi Martin một câu gì đó. Regan vốn không quan tâm gì nhiều đến sự tương tác trong một cuộc nói chuyện, chỉ cần một phản ứng như cái gật đầu ừ hữ cũng đủ để cô ta tiếp tục. Lách cách - cô ta đang chờ đợi. Lách cách - Martin sẽ phải trả lời ngay bây giờ. Lách cách - Martin sẽ phải suy nghĩ về câu trả lời.

- Anh có nghe thấy gì không?

Lách cách. Cô ta đặt chiếc cốc xuống cạnh cái vòng tròn nước đã đọng lại từ trước, hai vòng tròn nối với nhau tạo thành hình số tám. Regan đặt mạnh chiếc thìa bạc vào cốc khiến nước văng tung tóe và với tay lấy chồng hóa đơn trên bàn làm việc của Martin. Cô ta nhặt một chiếc phong bì, huơ huơ trước mặt anh.

- Từ ngân hàng đấy. Anh nghĩ chúng ta có thể lờ họ thêm bao lâu nữa?

Regan chộp lấy cái mở thư đang cắm trong ống đựng bút khiến đám bút rơi lã chã xuống sàn nhà. Một vài chiếc ngừng vòng lăn của chúng lại khi chạm phải vòng tròn nước hình số tám trên mặt bàn. Martin nhìn đống bút dưới sàn nhà, rồi nhìn sang chiếc cốc bị lật úp trên bàn. Regan gần như hét lên:

- Anh có đang nghe không đấy?

- Không - Martin chạm tay vào cốc cà phê bên cạnh máy tính, cà phê đen hiệu Max Well, không đường, không kem - điều duy nhất mà Regan làm đúng ý anh.

- Vậy à? - Regan hỏi lại một cách cảnh giác, có vẻ pha chút ngạc nhiên.

- Không - Martin lặp lại.

Ánh mắt Regan tóe lên như ánh sáng phản chiếu từ cái mở thư hình dao găm nhỏ làm bằng chất thép không gỉ. Sau khi xé phong bì, Regan vứt toẹt con dao lên đống lộn xộn trên bàn. Martin nhìn thật nhanh xuống vật vừa hạ cánh và đang nảy trên mặt sàn. "Chúa ơi! Cô ta đúng là kẻ đáng ghét. Làm sao mình có thể sống với cô ta suốt 12 năm trời nhỉ?". Nhưng có một điều thật mới mẻ, Regan đang khóc. Theo trí nhớ của Martin thì Regan rất hiếm khi rơi nước mắt, điều đó trái ngược với tính cách của cô ta. Tiếng sụt sịt đã hóa thành tiếng khóc nức nở. Trong giây phút, Martin bỗng thấy cảm thông với cô ta, nhưng ý nghĩ ấy trôi qua thật nhanh khi Regan ném những chiếc hóa đơn lên mặt bàn khiến tách cà phê của cô ta đổ tung tóe.

- Anh không thèm quan tâm - Regan gào lên - Cuộc sống của chúng ta sắp đi đến địa ngục, nhưng mọi chuyện vẫn bình thường đối với anh.

Nét mặt Regan bỗng thay đổi hẳn, nụ cười khác lạ hiện trên khuôn mặt cô ta:

- Cà phê của anh thế nào?

Martin thoáng nhìn cốc cà phê:

- Regan. Có việc này... Tôi muốn li dị.

Cà phê trong miệng Regan phun ra thành chùm. Kéo chiếc khăn giấy, Martin lau nước vung vãi trên màn hình máy tính. Như kẻ đã hóa điên, Regan chộp lấu cái mở thư và cắm phập xuống mặt bàn, chỉ cách bàn tay Martin chừng một xăng-ti-mét.

- Bỏ nó đấy.

Martin vẫn tiếp tục công việc dọn dẹp của mình.

- Tôi bảo là bỏ đấy.

Regan ném mạnh cốc nước xuống sàn nhà, cà phê và gốm vỡ văng khắp nơi, chỉ có chiếc quai là còn nguyên vẹn, bởi nó vẫn bị nắm chặt trong bàn tay cô ta. Regan từ từ thả chiếc quai xuống, máu từ những kẽ tay rỏ ra ròng ròng.

- Không cần phải li dị đâu. Anh thấy đấy, tôi đã cho thuốc độc vào cà phê rồi.

Ngụm và phê xuống đến cổ họng Martin thì ngừng lại. Cô ta đã cho gì vào? Asen hay drano? Choáng ngợp trong cơn thịnh nộ, Martin đứng phắt dậy, cái mở thư hình dao găm trong may Martin giờ đang nằm thật sâu giữa ngực Regan. Cô ta gập người làm đôi, máu ướt đẫm bộ đồ ngủ màu hồng phớt. Regan đổ sụp xuống, cố vươn bàn tay vấy đầy máu đến gần Martin, khẽ mấp máy và cuối cùng một dòng máu trào ra từ khóe miệng. Cơn thịnh nộ điên cuồng đã rời bỏ Martin, chỉ còn lại sự sợ hãi. Trong tận sâu thẳm, Martin vẫn thấy đó là cái giá mà cô ta xứng đáng phải nhận. Nhưng còn thuốc độc thì sao? Martin thấy mềm nhũn cả người. Martin bỗng nhận ra tay mình đang chạm vào hộp khăn giấy. Trước thi thể của Regan, trước vũng máu, kể cả asen, drano hay cái chết tiệt gì đó đang chảy trong mạch máu, tất cả những gì Martin có thể nghĩ đến đó là lau sạch những vết cà phê trên bàn. Có lẽ Regan đã đúng khi nói rằng Martin là kẻ sạch sẽ đến bệnh hoạn. Martin không muốn cho cô ta cười lần cuối.  Martin nhìn hình ảnh mình trong gương. "Tôi sẽ không cho cô được thỏa mãn". Martin vòng tay qua cổ nơi có động mạch cảnh. Chiếc quai tách sắc sắc nhọn như trêu người. Máu tuôn ròng ròng trên cổ Martin. "Sẽ không còn bao lâu nữa... không lâu nữa". Martin nhìn xác người vợ, bàn tay cô ta chỉ vào những vệt máu trên mặt sàn, có vẻ là những chữ cái. Hình ảnh trước mắt Martin mờ dần đi trước dòng chữ Regan để lại:

THUỐC ĐỘC. CỐC CỦA TÔI.
0
CHUYẾN ĐI CỦA SARA

Lilly Sommer (Australia)

Sara cảm thấy con tày Plymouth Sound đang rung chuyển. Cô chợt nhớ tới nụ cười của mẹ và cái mùi quen thuộc từ chiếc áo khoác cũ của cha. Họ đều đã chết cách đây một năm và giờ cô đang một mình trên một đại dương mênh mông xa lạ. Giọng nói của mẹ lại dội về, y như mới chỉ ngày hôm qua. "Lẽ ra con nên lấy chồng từ lâu rồi". Cái giọng cằn nhằn quen thuộc từ khuôn miệng dịu dàng lúc nào cũng cố gắng mỉm cười. "Con chờ Daniel, mẹ ak. Con đã chờ anh ấy mười năm rồi. Anh ấy đã hứa sẽ trở về từ New South Wales để cưới con và chắc chắn anh ấy sẽ về".

Những là thư vẫn đến, in dấu hơi nước muối từ những cuộc hành trình dài dằng dặc và mang theo hương vị của những vùng đất xa lạ. Sara có thể nghe thấy giọng anh qua những bức thư. "Daniel đã đi lâu quá rồi, Sara", mẹ cô dịu dàng, "Mọi thứ luôn luôn thay đổi mà nó lại là người thích phiêu lưu". Còn Sara thì lại nghĩ. Không, Daniel là một nửa của cô. Anh ấy sẽ trở về với cô. Nụ cười chân thành của anh, đôi mắt ấm áp của anh và những cái vuốt ve đầy âu yếm. Cô biết rằng anh cũng đang chờ đợi cô. Sau khi những người thân duy nhất của Sara đã ra đi, cô chỉ còn lại mỗi mình Daniel, và rồi một ý nghĩ chợt đến. Cô sẽ đi tìm anh, sẽ cùng anh xây dựng một cuộc sống mới ở New South Wales. Trước khi đi, Sara gửi thư cho anh theo địa chỉ cuối cùng mà cô nhận được và ghi nhớ tên con tàu mà anh đã kể với cô.

Biển oằn mình và suốt cả ngày Sara chỉ nhìn thấy sóng. Cái ý nghĩ thú vị về giây phút đoàn tụ với Daniel và câu nói: "Em là một nửa của anh, Sara" luôn đến với cô. Những chiếc xuồng nhỏ đưa cô và các hành khách cập bến vào thành phố.

Nơi này không giống như quê nhà, ồn ào và thô tục. Daniel không có ở đó, không chờ đợi như cô nghĩ. Cô tìm đến khách sạn Queen. Bức thư cuối cùng của Daniel cũng đã gửi cách đây hơn một năm rồi, và đã được gửi đi từ khách sạn này. Nhưng khi cô chìa cho họ xem bức thư, những người phục vụ khách sạn nói anh đã đi lâu rồi. Họ cũng không biết gì về anh và khi cô đã bắt đầu rơi lệ, họ chỉ cho cô sang một khách sạn khác. Tuy nhiên kết quả vẫn như vậy. Anh không có ở đó. Liệu có chuyện gì xảy ra với anh không nhỉ? Những câu hỏi cứ luẩn quẩn trong đầu mà Sara không thể trả lời được, nhưng có một điều cô biết chắc là cô sẽ không từ bỏ việc đi tìm anh. Trong suốt sáu tháng trời, Sara sống bằng những đồng tiền cô mang theo, gia tài ít ỏi thừa kế từ cho mẹ mà cô đã nghĩ rằng sẽ dùng để mua nhà cho cả hai. Daniel vẫn bặt vô âm tín và mỗi ngày nỗi thất vọng cứ lớn dần trong cô. Bây giờ Sara phải chuyển sang một nhà trọ khác, tồi tàn và kém sạch sẽ hơn. Cô tự hỏi không biết bố mẹ cô sẽ nghĩ gì khi thấy cô trong hoàn cảnh này và những ý nghĩ về họ khiến cô buồn hơn bao giờ hết. Một lần nọ, khi nỗi tuyệt vọng khiến cô đứng giữa phố chờ đợi một sự kết thúc từ những chiếc xe tải vùn vụt chạy qua, cô bị một người đàn ông lôi tuột lên hè để hỏi xem có chuyện gì.

- Có một người đang làm việc cho tôi - Người đàn ông lạ mặt nói sau khi nghe hết chuyện của Sara - Anh ta có vẻ giống Daniel.

Những tia hy vọng yếu ớt hiện lên khuôn mặt cô.

- Tôi có một nông trại ở phía tây. Hãy đi cùng tôi và làm việc trên nông trại. Tôi sẽ trả lương cho cô và chu cấp nơi ăn chốn ở trong một năm. Nếu người đàn ông này chính là Daniel thì cô có thể cưới anh ta và ở lại.

Sara suy nghĩ nhanh chóng. Số tiền của cô đã hết và đây chính là một lời mời hợp lí.

- Đất nước này quá rộng lớn để tìm thấy một người nào đó - Ông ta nói - Đặc biệt là khi anh ta không muốn bị người khác tìm thấy.

Cô ngước mắt nhìn người đàn ông. Ông ta lớn tuổi hơn cô, có khuôn mặt trung thực và đôi mắt xanh như bầu trời.

Họ đi đến miền Tây bằng xe ngựa và Sara ngồi lọt thỏm giữa hàng đống túi và thùng gỗ. Nông trại ở mãi tận cùng miền Tây, cô lập với những vùng đất khác và hoàn toàn không giống quê nhà cô. Đêm xuống, bóng tối dường như trêu chọc cô bằng những bóng ma không có thực. "Daniel, tình yêu của em", cô thì thầm. "Daniel, anh vẫn đang chờ em đấy chứ?".

- Thật là buồn mỗi khi ta cô đơn - Người đàn ông cất tiếng, giọng ông trầm trầm trong bóng tối dầy đặc - Nỗi cô đơn và lạnh giá đang gặm nhấm tâm hồn cô.

Người đàn ông này cảm thấy những gì mà cô đang cảm thấy ư? Ông ta có hiểu không? Cô cảm nhận được một tình bạn ấm áp đang lớn dần lên. Jack Reilly đã sống ở miền Tây mười hai năm cùng với các thổ dân. Và bây giờ ông có hai người da trắng cùng làm việc, một trong số đó là Daniel, giúp đỡ ông làm nhà kho và hàng rào. Ông nói rằng mình đã gần như quên mất cách nói chuyện với một phụ nữ da trắng như thế nào rồi. Và ông nhìn đi chỗ khác khi nói với cô điều đó. Khi họ về tới nhà, cô thấy nó rộng hơn cả sự tưởng tượng của mình. Jack Reilly chỉ cho cô đường ranh giới hút tầm mắt với một vẻ tự hào hơi mắc cỡ. Sau đó ông đi tìm Daniel. Sara đứng đó, sợ hãi nhìn theo, đầu óc quay cuồng với niềm hy vọng và nỗi khát khao. Jack Reilly quay trở lại và cô đọc được câu trả lời trong đôi mắt ông trước khi ông cất lời.

- Đi rồi - Ông nói - Hai tuần trước, về phía Bắc. Không có lý do gì cả. Một số người không cần lí do. Cô thấy đấy, những chuyến đi là niềm đam mê của họ và những cái đích làm cho họ thất vọng.

Rồi chừng như muốn làm cho cô thấy dễ chịu hơn, ông khoát tay.

- Cũng có thể đó không phải là anh ta.

Một thời gian dài sau đó, Sara hoàn toàn câm lặng. Cô những muốn mang bọc hành lí tiến theo từng bước chân của Daniel vì cô chắc chắn đó là anh, nhưng cô cũng lại vướng vào hợp đồng làm việc một năm với Jack. Tháng đầu tiên là tồi tệ nhất. Mặt trời như thiêu đốt và những con ruồi đen bám lấy cô như keo. Những con rắn nâu trơn tuột luôn xuất hiện giữa đường làm cô phải hét lên. Nhưng rồi cô quen dần với hoàn cảnh và nỗi cô đơn của người phụ nữ da trắng duy nhất trong vùng. Cô bắt đầu chấp nhận cuộc sống mới và thậm chí trong nhiều ngày quên mất Daniel. Vào buổi tối. Jack Reilly và Sara thường ăn cùng nhau, trong im lặng, vì Jack vốn là một người ít nói. Nhưng có một sự hài lòng dễ chịu khi ông cảm ơn cô vì tách trà vừa pha.

- Cô không phải là người phụ nữ bình thường, Sara ạ - Một tối nọ ông đã nói như vậy - Tôi có thể lục tìm trong các thành phố suốt một năm trời cũng không tìm đâu ra một người phụ nữ giống như cô.

Cô nhận ra rằng điều này có nghĩa là Jack muốn ngỏ lời cưới cô. Sara cảm thấy sợ hãi vì cô đến đây để tìm Daniel chứ đâu phải là Jack Reilly. Cô yêu Daniel chứ không yêu Jack. Nhưng Daniel có thể ở đâu bây giờ trên đất nước rộng lớn này. Anh giống như một ảo ảnh, luôn biến mất mỗi khi cô tưởng chừng như sắp nắm được trong tay. Vài tuần trôi qua, cái ý nghĩ rằng mình sẽ cưới Jack Reilly dần trở nên quen thuộc và cô bắt đầu chấp nhận nó. Trước Giáng sinh, hai người đã chính thức kết hôn. Cô nghĩ, mình không tìm thấy Daniel nhưng lại tìm thấy Jack, điều đó là quá đủ.

Vài năm sau, một thị trấn mới mọc lên và gần như hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Jack. Bây giờ Sara không còn là người phụ nữ da trắng duy nhất trong vùng nữa. Đã có một trường học và những đứa con của Jack Reilly và Sara cũng học ở đó. Vào chủ nhật, cả gia đình họ đi lễ nhà thờ và hát thánh ca. Mỗi lần như vậy, qua mái đầu của đứa bé nhất, Sara thấy Jack liếc nhìn mình và cô đọc thấy tình yêu sâu đậm trong mắt ông. Cô cũng đang hạnh phúc và chẳng còn ý nghĩ nào vè Daniel lọt vào óc cô được nữa.

Một buổi sáng, Jack Reilly phải ra khỏi thị trấn. Ông hôn cô như thường lệ và sau đó lên ngựa phóng đi trong ánh bình minh. Sara trở về với những công việc thường ngày và đột nhiên cảm thấy hình như có người nào đó đang đứng trong sân. Cô quay lại và nhìn thấy một người đàn ông mặc chiếc áo jacket cũ và đội mũ. Hàng ria mép của anh ta dày và đen. Anh ta thận trọng nhìn cô như thể đã quá quen với sự thiếu thiện cảm rồi. Khi thấy cô quay ra nhìn, anh ta mỉm cười, nụ cười cố gắng làm người khác hài lòng.

- Thưa bà, tôi đang thất nghiệp. Liệu ở đây có việc gì dành cho tôi được không?

- Tôi xin lỗi... - Cô bắt đầu từ chối.

- Bất cứ việc gì thưa bà - Anh ta nhắc lại - Tôi còn một người vợ và bốn đứa con nhỏ trên phía Bắc. Ở đó đang hạn hán và tôi cần công việc.

Cô đành đi tìm một ít gỗ cho anh ta ngồi chẻ. Từ cửa sổ bếp, cô nhìn ra ngoài với một cảm giác không yên. Đôi vai anh ta có vẻ gì đó quen thuộc. Giống như một bài hát thuộc dở dang, nhớ được một hai từ rồi bỗng nhiên chẳng nhớ được gì nữa... nhưng đột nhiên, một tia sáng lóe lên. Daniel. Đó chính là Daniel.

Cô đứng đó nhìn anh. Cô không nghe thấy đứa nhỏ đang gọi léo nhéo trong nhà. Cô không còn là Sara Reilly nữa. Cô lại trở thành Sara trẻ trung đang đắm mình trong tình yêu với Daniel. Cả căn bếp như nghiêng đi và cô phải túm lấy bậu cửa sổ. Sau khi chẻ xong đống gỗ, Daniel bước lại gần cửa. Sara tìm mấy đồng xu và đi về phía anh ta, vừa đưa vừa run rẩy. Anh ta cầm tiền và mỉm cười. Nhưng tại sao anh không nhận ra cô nhỉ? Tại sao anh lại không ôm cô trong vòng tay thật chặt và thề rằng sẽ không bao giờ hết yêu cô?

- Cám ơn bà.

- Nhà anh ở đâu?

Anh ta ngạc nhiên.

- Trên phía Bắc.

- Không, trước đó cơ?

Anh ta nhùn vai vẻ hơi khó chịu trước câu hỏi.

- Ở khắp nơi. Tôi đi bất cứ nơi nào mà cơn gió mang tôi tới.

- Thế còn vợ anh, anh không nhớ cô ấy ư? - Cô nói, giọng run rẩy.

Anh ta lại nhún vai.

- Tôi yêu cô ấy, dĩ nhiên là tôi yêu cô ấy. Cô ấy là một nửa của tôi. Nhưng bà thấy đấy, thưa bà, tôi là người đàn ông không thích bị ràng buộc.

Những lời lẽ cứ trơn tuột trên lưỡi anh và cô hiểu rằng anh đã thực sự quên cô. Jack Reilly nói đúng, đối với một số người đàn ông thì các chuyến đi là tất cả. Những con đường chính là nhà của họ. Chuyến đi của Sara cũng rất dài. Nhưng không giống như Daniel, cô cần có một cái đích và dường như cô đã đạt được cái đích ấy.

Daniel với lấy cái mũ và nhét những đồng xu vào túi. Sara nhìn anh bước đi. Cô cảm thấy mình như được hồi sinh. Nếu như không có Daniel, cô sẽ không bao giờ tìm thấy Jack. Ra đến cổng, Daniel đột nhiên dừng bước, ngoái đầu lại và cau mày như thể đang nhớ ra điều gì đó. Như có điều gì thúc đẩy, Sara giơ tay lên.

- Cám ơn - Cô nói to - Cám ơn, Daniel.

Daniel lưỡng lự, cánh tay nửa như giơ lên rồi sau đó đôi mắt anh dõi về phía chân trời, sẵn sàng bước tới.
0
CON CHIM LỬA

Tim Imbody (Mỹ)

Tôi kéo cần cho dừng tàu và nhảy lên bờ. Lúc đi về phía sau chiếc lán nhỏ bằng gỗ, tôi hơi khó chịu vì một mùi cháy khét xộc vào mũi. Tôi chợt nghe thấy tiếng rên rỉ, rồi những lời ai oán thảm thiết não nùng. Tôi hướng về phía âm thanh như đang vang lên từ dưới địa ngục...

Tôi giữ chặt tay và báng súng, không ngớt nguyền rủa những thằng ngốc ngự trong hộ đồng thành phố đã cắt giảm ngân sách và bắt chúng tôi phải hành động đơn lẻ mà không có bạn đồng hành đi cùng.

Tôi đang thực thi nhiệm vụ sau khi cú gọi nặc danh vào số 911, thế rồi tôi phải tự mình chuẩn bị đủ thứ. Saudi, người điều vận của tôi nói qua radio.

- Tớ không biết có chuyện gì xảy ra, Wayne ạ. Người gọi chỉ nói rằng: hãy đưa cảnh sát đến nhà kho phía sau sân vận động ngay lập tức, và hắn cúp máy ngay sau đó.

- Có lẽ sau vụ này tôi phải được thưởng một kỳ nghỉ phép dài ngày chứ nhỉ?

- Chắc chắn rồi - Saudi đáp - Cô là một phụ nữ tuyệt vời và tôi biết rằng cô luôn thực hiện những gì mà tôi yêu cầu.

Tôi vòng ra phía góc tối và đứng khựng lại. Trước mặt tôi là một dòng khói đen xì, những đường viền của nó rực sáng như đốm than sắp tàn trong đêm lửa trại. Một người đàn ông quãng chừng trên dưới tám mươi đang ngồi cạnh những làn khói chờn vờn. Tóc ông ta trắng và bết lại, khuôn mặt khắc khổ hằn dấu ấn của tuổi tác, sắc đỏ sẫm trên làn da của người đàn ông mách bảo tôi rằng đây hẳn là một người Mỹ gốc da đỏ. Vừa đu đưa người, ông ta vừa rên lên bằng một giọng tang tóc như quỷ ám làm tôi nổi da gà.

Tôi tiến sát đến ông già và hỏi:

- Có chuyện gì xảy ra ở đây vậy?

Ông già ngước nhìn lên, đôi mắt mở to sợ hãi.

- Người Trời - Ông ta nói bằng âm điệu Anh nằng nặng - Họ đã quay trở lại, mang theo lửa và sự chết chóc.

Tôi nhớ lại, cô bạn thân của tôi cũng rơi vào tình trạng này. Cô ấy sưu tầm các vật cổ và luôn tưởng tượng ra những kẻ đang vây quanh nhà. Tôi không để ý đến điều đó và vẫn có lòng ngưỡng mộ những tác phẩm nghệ thuật của người xưa.

- Người trời là ai? - Tôi hỏi bằng giọng bình tĩnh - Và tại sao họ lại mang theo lửa và sự chết chóc?

- Họ đến từ bầu trời - Ông già trả lời - Họ sẽ báo thù vì những nỗi đau buồn và mất mát mà nhân dân của tôi phải gánh chịu do bàn tay của người da trắng. Họ sẽ tưới lửa lên những kẻ nào không chịu tin vào điều đó.

Tôi cố gắng nghe cho hết câu chuyện kì cục của ông già, sau đó mở máy điện đàm và gọi về cho tổng đài. Lão này hoặc là xuất hiện từ thời đồ đá hoặc là hóa điên mất rồi. Nhưng đột nhiên một làn khói đen ở đâu xộc vào mắt tôi. Tôi hít thở và ngửi thấy một mùi thơm quen thuộc, mùi thịt bò nướng.

Bất thình lình, tôi cảm thấy kinh hoàng đến tận xương tủy khi nhận thấy rằng cái mùi mà tôi đang ngửi thấy là mùi thịt cháy. Tôi đứng bật dậy, tay đặt lên báng súng.

- Cái gì vậy? - Tôi hỏi ông già, khi nhìn thấy một đống thu lu đen sì.

- Vợ tôi đấy, bà Jane - Người đàn ông trả lời không chút lưỡng lự - Bà ấy không tin, và Thần Chim Lửa đã tìm đến. Bà ấy bị bao phủ bởi đôi cánh của nó.

- Thật là điên rồ - Tôi vừa nói vừa tiến lại chỗ ông già, vén tay áo lên như thường lệ mỗi khi làm nhiệm vụ - Ông đã bị bắt, ông bạn già quẫn trí của tôi ạ. Tôi không tin tí nào vào cái con chim Lửa và người Trời của ông đâu. Ông có quyền được giữ im lặng. Bất kì những gì ông nói...

Đột nhiên một tia sáng màu da cam chói lòa chiếu xuống một vùng nhỏ giữa chiếc lán và tường của sân vận động. Khi chùm sáng xuất hiện, tôi nghe thấy một âm thanh. Nó giống tiếng kêu của những con chim khổng lồ thời tiền sử. Tiếng kêu của nó choe chóe như đang bực tức. Sự khiếp hãi làm cho làn da tôi rùng rùng như có kiến bò, và... tôi đã nhìn thấy con chim Lửa. Trông nó giống như một con thằn lằn, ngón cánh khổng lồ đang bốc cháy với đôi cái rộng đến 15 feet. Mắt nó vàng rực, cháy sáng và khi nó há miệng cất tiếng kêu lần nữa, tôi nhìn thấy chiếc lưỡi nó đỏ lòm, bốc lửa. Nó thở phù phù về phía tôi và một mùi kinh khủng của thịt thối rữa và sulphur bốc lên.

- Anh đã thấy gì chưa? - Ông già hét lên, quỳ sụp xuống - Tôi đã kể cho anh nghe sự thật rằng người Trời đã đến đây. Nào bây giờ anh đã tin chưa?

Tôi rút súng ra khỏi bao và bắn cả thảy sáu phát. Tôi nhìn thấy sáu viên đạn đập vào bộ lông đang bốc cháy của nó và cảm giác những viên đạn chết người đang tan ra dưới sức nóng của con quái vật. Sau đó con chim lửa sà xuống, đôi cánh cháy lửa phủ lên tôi như con gà mái bao lấy lũ gà con. Tôi cảm thấy quần áo, tóc, da bị bắt lửa một cách nhanh chóng và khi ý niệm về cái chết xuyên qua đầu óc đang quay cuồng, tôi chợt nhận ra rằng: Mình đã tin.
0
CUỘC GỌI BÍ ẨN

Tanushree Todder (Ấn Độ)

Tiếng chuông điện thoại reo vang, có thể là điện thoại nhà. Tôi dò dẫm trong bóng tối để nhấc chiếc máy để ở góc phòng.

- Có phải số máy 898960 đấy không? - Đầu dây bên kia vang lên một giọng nam giới trầm và ấm.

- Vâng, đúng ạ - Cố nén sự bực bội trong lòng, tôi trả lời một cách miễn cưỡng.

Một chút im lặng thoáng qua, giọng nói lại tiếp tục.

- Xin lỗi đây có phải nhà bà Dastoor?

Thật là một câu hỏi ngớ ngẩn, nếu số điện thoại đúng thì nhà cũng phải đúng chứ sao. Sẵn chiếc bút trên tay, tôi chuẩn bị ghi lời nhắn. Hình như cuộc gọi này là của bà chủ nhà, vậy thì tôi cần phải lịch sự một chút. Nhưng tôi đã nhầm, đầu dây bên kia lại cất lên.

- Tôi biết em.

- Xin lỗi, tôi không nhận ra anh.

- Bởi vì em không biết tôi - Vẫn là cái giọng tự tin và có phần trêu đùa ấy.

Tôi chắc rằng đây không phải là điện thoại của bà Dastoor, mà có lẽ là một người bạn lâu ngày không gặp hay một đồng nghiệp cố tình chơi trò tinh nghịch. Tôi cố gắng lục lọi trí nhớ để tìm kiếm một giọng nói tương tự nhưng vô ích, thực sự người này hoàn toàn xa lạ. Tôi bắt đầu lên tiếng cảnh báo.

- Nếu anh không nói rõ tên thì tôi sẽ cúp máy.

Nhưng đầu dây bên kia chỉ có tiếng cười vang lên khe khẽ, không chần chừ tôi dập máy luôn. Đồng hồ đã điểm số 10. Tôi có kìm cơn ngáp ngủ và tự nhắc mình giờ này chưa phải đã muộn lắm. Chuông cửa phòng reo. Chắc là Kalpna, người bạn cùng phòng của tôi. Vừa bước chân vào phòng, Kalpna đã liếc xéo sang phòng ngủ khóa chặt của bà Dastoor.

- Có ai gọi điện đến không? - Vừa hỏi Kalpna vừa nhìn vào đĩa thức ăn đã nguội ngắt.

Hy vọng sẽ giải tỏa được câu chuyện khó hiểu lúc nãy, tôi dò hỏi.

- Cậu đang chờ người gọi điện đến à?

- Không hẳn vậy.

Tôi lại tiếp tục.

- Vừa rồi có một cú điện thoại nhưng anh ta không muốn cho biết tên nên mình đã dập máy.

Kalpna tủm tỉm cười, và không nói không rằng cứ tiếp tục bữa tối. Tôi chắc rằng cô ấy đang đợi người đàn ông này gọi điện và có lẽ anh ta đã nhầm lẫn vì giọng chúng tôi giống nhau.

Cú điện thoại thứ hai lại vang lên vào một ngày chủ nhật buồn tẻ.

- Xin chào, có phải em đấy không?

- Xin lỗi anh đang gọi số nào vậy? - Tôi hỏi lại mặc dù đã nhận ra giọng anh ta ngay sau đó.

- Không phải gọi nhầm đâu, đây là số của em. Xin đừng dập máy.

Bà Dastoor đã ngủ và đây sẽ là trò tiêu khiển cho một ngày nghỉ nhàn rỗi.

- Em có thích nghe nhạc không?

Thật là một cách nói khéo léo để mở đầu câu chuyện. Tôi đang dịnh trả lời thì một giọng ngái ngủ bỗng cắt ngang.

- Xin chào.

Tôi đặt vội ống nghe xuống. Đó chính là giọng bà Dastoor trên ống nghe. Bà ta có một chiếc máy nối tiếp trong phòng ngủ, tại sao tôi có thể quên được nghỉ. Tiếng pip pip cho thấy bà Dastoor đang quay số, may ra bà ta không phát hiện ra.

Ngày hôm sau anh ta lại gọi đến, lúc đó đã khá muộn.

- Thật là thúc vị khi được ngắm em vào lúc này - Đó không phải là một câu hỏi mà chính xác là một lời khẳng định.

- Ngắm ư? - Tôi cười khẩy.

- Đúng vậy, buồng ngủ và phòng khách chỗ em vẫn sáng.

Tôi giật mình và ngẩng đầu lên quan sát. Rất có thể anh ta đang ở trong một tòa nhà cao tầng nào đó quanh đây. Vào lúc này tôi có thể nhìn rõ bất cứ căn hộ nào ở tòa nhà đối diện nếu tôi tắt đèn phòng khách và tôi đã làm như vậy theo phản xạ.

- Em không thể tắt đèn đi ngủ khi em còn đang gọi điện thoại - Anh ta dài giọng với một điệu cười châm chọc.

Tôi đang phân vân không biết có nên nói rõ về tính cách của bà chủ nhà và bảo anh ta đừng gọi nữa hay không thì đột nhiên anh ta hỏi.

- Thế bà ấy đối xử với em có tốt không?

- Ai? - Tôi không muốn chơi trò bóng gió như anh ta.

- Bà Dastoor, bà chủ nhà của em ấy.

Anh ta trả lời có vẻ tự nhiên rồi tiếp tục trò chuyện rất thoải mái cứ như thể chúng tôi đang làm quen bên tách trà. Tôi tìm cớ để buông máy.

- Đã hơn mười giờ, và tôi đang chờ điện thoại của nhà gọi đến.

- Nếu em đã nói vậy thì chào tạm biệt, nhưng anh sẽ gọi lại.

Tuy nhiên tối hôm sau anh ta không gọi lại. Người lạ mặt đó đã gieo vào lòng tôi một cảm giác khó tả nhưng thực sự là gì nhỉ, anh ta nói rằng thích nghe giọng nói của tôi, anh ta muốn nói chuyện với tôi. Chỉ có thế thôi.

Bẵng đi một thời gian, tưởng chừng như tôi đã quên biến những cú điện thoại kỳ quặc đó thì bỗng một hôm giọng nói quen thuộc lại xuất hiện. Rất nhẹ nhàng, tôi hỏi anh ta.

- Có lẽ anh muốn nói chuyện với bạn em?

Đầu dây bên kia thảng thốt.

- Bạn nào?

- Thế anh không biết sao, bọn em có hai người ở đây, vì thế không biết anh muốn nói chuyện với ai?

- Tôi vẫn thấy em đi làm một mình mỗi sáng - Anh ta hơi ngập ngừng.

Tôi phải để cảm giác đó lắng xuống bởi nó làm tôi phát ốm khi nghĩ đến. Tôi đang bị theo dõi. Dường như cảm nhận được suy nghĩ của tôi, anh ta lái sang chuyện khác.

- Thế em đang làm ở đâu?

- Đó không phải chuyện của anh - Tôi nói vẻ lạnh nhạt rồi cúp máy luôn.

Tôi bắt đầu tưởng tượng ra một kẻ lạ mặt đang lẩn khuất đâu đây và cảm thấy lo sợ. Không thể giữ kín lâu hơn được nữa, tôi đem chuyện đó kể với Kalpna. Sau khi bắt tôi thuật lại tỉ mỉ từng câu đối thoại với người lạ mặt, Kalpna đã tìm ra giải pháp tạm ổn.

- Nếu anh ta theo dõi cậu vào các buổi sáng, hãy cố gắng tìm hiểu xem hắn là ai, còn mình sẽ lo phần còn lại - Sau đó Kalpna chép miệng tỏ vẻ nuối tiếc - Giá mà mình ở nhà lúc hắn gọi đến.

Sáng hôm sau, tôi cố gắng giả vờ không chú ý gì. Bước lững thững tới nơi làm việc, tôi luôn có cảm giác như ai đó đang tình mò. Tôi bắt đầu để ý những người đứng trên các ban công nhà cao tầng nhưng tuyệt nhiên họ không có vẻ gì khả nghi cả. Nhưng lúc tiến lại gần một tòa nhà đối diện bến xe buýt, đột nhiên tôi cảm thấy ai đó đang nhìn mình chằm chặp. Tôi quay phắt lại và kịp nhận ra một thanh niên trẻ vừa giấu khuôn mặt mình ra phía sau tờ báo và biến mất. Tối hôm đó, Kalpna muốn biết tên tòa nhà và số tầng của anh ta nhưng tôi không chắc liệu người đó có phải đối tượng điều tra của tôi hay không. Có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên lắm chứ... Đột nhiên chuông đồng hồ điểm mười tiếng và cùng lúc đó Kalpna hét lên.

- Chúc mừng sinh nhật.

Ôi trời ơi! Tại sao tôi lại có thể quên được nhỉ. Cô bạn thân đã dành cho tôi những điều bất ngờ nhất. Ngay khi ấy, chuông điện thoại reo vang. Kalpna lao về phía chiếc máy, chắc mẩm có người gọi đến chúc mừng sinh nhật. Tôi kiên nhẫn chờ cô ấy trò chuyện một cách sôi nổi và thân mật qua điện thoại suốt gần nửa tiếng đồng hồ. Chẳng khó khăn gì tôi cũng đoán được người đang ở đầu dây bên kia là ai và phía bên này, Kalpna đang giả vờ là tôi. Nhưng cuối cùng rồi cuộc đàm thoại chấm dứt, Kalpna quay sang cười hớn hở.

- Anh ta hai mươi lăm tuổi, là một kỹ sư, giàu có, rất muốn gặp cậu...

Nhận thấy vẻ mong ngóng của tôi, Kalpna trêu đùa và nói tiếp:

- Dù sao anh ta cũng sẽ không gọi lại nữa đâu.

Tôi tò mò hỏi.

- Cậu đã nói với anh ta những gì?

- Rằng cậu đang kỷ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi lăm của mình.

Quả thật anh ta không bao giờ gọi lại nữa.
0
ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA NHỮNG CÂU CHUYỆN TÌNH

Tyler Hart (Mỹ)

Quần áo vứt bừa bãi trong phòng ngủ. Bình thường hộp đồ trang sức của cô là một mớ lộn xộn những đôi khuyên tai, vòng cổ, bông tẩy trang mà sau mỗi lần sử dụng đều bị quăng vèo vào bồn rửa. Chúng luôn dây đầu những vệt đỏ của mĩ phẩm và có vẻ như đang chờ đợi được dùng lại. Đôi chân cô cứ trượt tới trượt lui trên hai bàn đạp ga và phanh. Khéo mà không nhấc lên được mất. Cô vừa nghe thấy mấy tay cảnh sát khu vực đang rôm rả bàn tán với những lời lẽ chổng mông vào pháp luật. Laurie đang có tâm trạng hết sức tồi tệ. Tụi bạn luôn trêu chọc chiếc chân giả  của cô. Chính ô tô của cô cũng đã bị lãnh vài vết vì nó và cô lấy điều đó ra để đùa cợt trong những bức thư vừa viết. Một vài bức thư gửi cho bạn bè, vài cái cho gia đình trừ Drew. Cô may mắn làm quen với anh qua dịch vụ kết bạn trên thư. Họ là hai người Mỹ tình cờ gặp nhau trên đoạn giao của hai con đường mòn.

"Mình không thể tin được mình đang làm gì thế này", cô tự nhủ khi cho xe lùi vào điểm đỗ. Trời không mưa nhưng hơi u ám, mùi vị không khí nhắc nhở những điều mới mẻ của một mùa xuân đang đến gần. "Vẫn còn thời gian để thoát ra khỏi cái này". Cô bước ra khỏi xe ô tô và hướng về phía sân bay. Cô lại nghe thấy giọng nói của Michael, như vọng đến từ một không gian xa xôi nào đó. Họ đã gắn bó với nhau cho đến tận lúc anh quỳ gối trước cô với một hộp nhẫn đang mở và những lời tình tứ ngọt ngào. Cuối cùng thì ngày ấy cũng đến, họ đứng trong nhà thờ để chuẩn bị nói với Chúa và cả thế giới rằng họ sắp thành vợ chồng. Nhưng rồi cô đã vĩnh viễn bỏ trốn ngay sau đó, cô không thể ngăn lại những gì chuẩn bị tuôn ra từ miệng mình.

- Em không thể trở thành vợ của anh được - Cô nói một cách đơn giản  và thế là mọi chuyện kết thúc.

Điều gì đã làm tình cảm trong họ tan vỡ? Lòng kiên nhẫn của anh dường như đã cạn kiệt. Anh muốn nhiều thứ hơn ngoài cuộc sống, nhiều hơn là một câu chuyện tình.

Một giọng nói vô cảm phát ra từ chiếc loa phòng chờ thông báo rằng chuyến bay mang số hiệu 218 bay thẳng từ New Orlean tới sắp hạ cánh. Laurie ngồi ở chỗ dễ thấy nhất và chờ đợi. Cô quẳng chiếc cốc chứa nước giải khát vào đống rác mà chùi cườm tay ướt đẫm vào ống quần jeans. "Bình tĩnh nào Laurie", cô tự ra lệnh, "không có gì đáng lo cả". Nhưng cô không những lo mà còn sợ hãi nữa.

Sáng sớm hôm đó, cô đã mất vài giờ đồng hồ để tắm rửa và gội mớ tóc dài mà màu sắc và sự rực rỡ của nó luôn tạo nên điểm nổi bật nhất ở cô. Phần tóc mái màu đen bóng láng phía trước được kéo ra sau và cột thành một túm gọn gàng dưới gáy bằng chiếc nơ lụa trắng. Cơ thể cô mỡ màng như đem theo mùa xuân tới. Duy nhất chỉ có một thứ trên đó làm cô hoảng sợ.

Drew đã trở thành người bạn tâm tình của cô, chia sẻ với cô những nụ cười và từng giọt nước mắt. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu cô không giấu anh một chút gì đó riêng tư, nhưng cô đang quá mong đợi một điều ấm áp để khỏa lấp khoảng trống trong lòng. Đã quá lâu rồi kể từ khi cô hẹn hò cùng Michael. Có những đường rám hằn trên lòng bàn tay cô sau cái ngày Michael để lại viết thương trong trái tim Laurie. "Drew không phải là Michael, anh ấy sẽ không làm mình đau khổ", cô tự nhắc nhở mình. "Nhưng mình không thể đoán được điều gì sẽ xảy ra nếu anh ấy không thích thấy mình như thế này? Mình không thể chịu đựng được điều đó. Điều gì sẽ xảy ra nếu như mình quá lùn hoặc quá cao, và không phải là mẫu người mà anh ấy tưởng tượng".

Cô cố gắng đi đi lại lại một cách lãnh đạm nhưng gần như liên tục bị vấp vào đôi săng đan bằng da mà cô vừa mua nhằm tạo một ấn tượng dễ coi. "Lẽ ra mình không nên rước cái thứ này về", cô tự trách mắng mình, chiếc khóa của đôi săng đan cứ điềm nhiên cứa vào mắt cá chân. Cô chưa biết là sẽ đón anh bằng cách nào giữa cái đám đông khổng lồ kia. Laurie bíu chặt lấy tay vịn cho đỡ lo lắng. Cô nhìn thấy một tay chơi rock kiểu Manson với những hình săm trên cánh tay, nhìn đã thấy nồng nặc mùi whiskey và rừng rú. Người phục vụ sân bay tiến về phía cửa để giúp hành khách tiếp theo. Cô ta chìa tay để đẩy chiếc xe lăn nhưng anh ta mỉm cười khước từ. Đó là một anh chàng đẹp trai, có chiếc cằm rắn chắc, khỏe mạnh và đôi mắt lấp lánh. Chắc chắn anh ta không hề phàn nàn về chiếc ghế của mình. Laurie bước về phía người phục vụ để hỏi xem liệu cô ta có thể tìm giúp Drew Jacobs không. Cô ta ngoắc đầu về phía người đàn ông đang ngồi trên xe lăn và khi cô liếc nhìn về phía anh, anh nở một nụ cười. Cô gần như muốn chạy. Anh ấy không phải là chàng hoàng tử quyến rũ mà cô mong đợi, cô không nghĩ chiếc ghế đó có thể vừa vặn trên lưng một con ngựa được. Chúa ơi, Drew, tại sao anh lại không kể gì với cô về điều đó trong những bức thư nhỉ? "Này, bé con, có muốn đấuu vật không đấy?". Drew giễu cợt, đôi mắt anh đang cười. Anh hôn tay cô và nói với cô rằng anh đã mong chờ cuộc gặp gỡ này ngay từ lần đầu tiên. Đột nhiên Laurie không còn thấy lo lắng về ngoại hình của mình nữa.
0
DÒNG ĐỜI

Lisa Pynes (Mỹ)

Một sớm mùa xuân, các hành khách đi trên chuyến tàu C.Worthy đang tận hưởng hơi ấm dịu nhẹ bao phủ xung quanh họ. Tất cả trẻ em và phụ nữ đều lên boong tàu trong thời tiết ấm áp này. Đã gần một tuần trôi qua kể từ khi tất cả mọi người, trừ đàn ông, được phép lên boong vì thời tiết quá thất thường nên rất nguy hiểm. Tuy nhiên họ đã cố gắng chịu đựng, vì để đến được đất Mỹ thì chuyến đi này là một thử thách.

Tất cả những người lên tàu với tinh thần hăng hái đều có lý do cả. Họ hy vọng một sự tự do tôn giáo, được đoàn tụ với những người thân và bạn bè đã sang đó từ trước hay chỉ đơn giản là mơ ước được bắt đầu một cuộc sống mới ở đất nước còn nguyên sơ này, mà họ cho rằng sẽ có đầy triển vọng và cơ hội cho họ. Đã hơn ba tuần kể từ khi con tàu giong buồm từ nước Anh. Viên thuyền trưởng dự tính chỉ còn hai ngày nữa là họ sẽ đặt chân đến Châu Mỹ.

"Có lẽ thời tiết sẽ đẹp trở lại", Anna nửa nghĩ trong đầu nửa cầu nguyện trong khi đang ngắm nhìn cậu con trai nhỏ I-an. Cậu bé đang chơi cùng những đứa trẻ khác trên boong tàu và Anna biết chắc rằng con trai cô đã cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Đôi má nhợt nhạt của cậu bé bắt đầu ửng đỏ và đôi mắt xanh thẳm sáng lấp lánh như những đợt sóng biển dưới ánh mặt trời. Anna nhờ một người phụ nữ khác trông chừng I-an để đi xuống dưới nhà phụ giúp chuẩn bị bữa ăn duy nhất trong này. Hôm nay, cũng như mọi ngày, kể từ khi khẩu phần ăn bị thu hẹp lại, bữa ăn sẽ có súp đặc và những khoanh cá to. Tối hôm đó, I-an gối đầu lên vạt áo mẹ nó và lại hỏi một cách buồn rầu:

- Cha vẫn ở trên thiên đường hả me?

- Chắc chắn rồi, con yêu của mẹ - Anna thì thầm xoa dịu.

- Có phải đó là nơi chúng ta chuẩn bị đến không, có phải mẹ con mình đang trên đường đi gặp cha không?

I-an kể cho Anna rằng nó đã hỏi Thomas, một người đàn ông trẻ trên tàu rằng nước Mỹ trông như thế nào. Thomas khẳng định.

- Nó giống như thiên đường.

Sau khi dỗ dành cậu bé I-an đang buồn ngủ rũ ra bằng một bài cầu nguyện và một bài hát, Anna nghĩ đến cuốc sống mới mà cô và con trai sắp đối mặt ở chân trời xa lạ cho đến khi chính cô cũng bắt đầu rơi vào giấc ngủ khóc nhọc.

Những giấc mơ ám ảnh Anna cả đêm, những giấc mơ về cuộc sống của cô cách đây không lâu, những hồi ức về người chồng lúc còn sống. Đây không phải là lần đầu tiên kể từ cái chết của anh cách đây ba năm Anna mơ thấy chồng mình. Lại một lần nữa cô đứng trên ô cửa tay bế I-an và nhìn thấy người đàn ông của cô cưỡi ngựa băng qua đường. Anh nhìn người vợ xinh đẹp và đứa con trai bé bỏng trong chốc lát để rồi không bao giờ quay lại nữa. Cô sẽ chẳng còn được nhìn thấy gương mặt cương nghị và trìu mến. Anna nhảy bật khỏi giường, ánh mắt kinh hãi, trống ngực đập thình thịch. Cô giật mình tỉnh dậy đúng vào lúc nghe thấy một tiếng nổ long trời y như có động đất. Khi cô kịp túm lấy bàn chân I-an thì một bên con tàu bắt đầu sụp xuống và một bức tường nước khổng lồ đổ ập vào trong. Vùng vẫy chống lại sức nước, Anna nhanh chóng túm lấy bậc thang dẫn lên boong tầu. Cánh tay của I-an quấn chặt quanh cổ mẹ, cậu bé cũng đang gắng sức trốn chạy sự dữ dội của nước và miệng hét lên những tiếng kinh hoàng.

Trên boong tàu, những người đàn ông trở nên điên cuồng. Con tàu cứu hộ của C.Worthy đang cố gắng áp sát hết sức có thể và những người đàn ông cuống lên túm lấy những sợi dây thừng và ròng rọc giữa hai con tàu. Mặt biển dậy sóng nên con tàu dập dềnh lên xuống. Anna giữ chặt cậu con trai nhỏ đang run lẩy bẩy và cuối cùng cũng lên được con tàu cứu hộ. Anna ngất đi trước khi kịp nhìn thấy một chàng trai trẻ kéo cô khỏi sợi dây thừng đến chỗ an toàn và giữ chặt thân hình đã lả đi trong vòng tay và bộ ngực rắn chắc. Thomas đã hy vọng đến một lúc nào đó số phận sẽ gắn kết cuộc đời anh với người phụ nữ Anh dũng cảm, dễ thương và cậu bé tóc vàng tò mò của cô. Vẫn giữ chắc Anna, Thomas chỉ lo rằng con tàu mà họ vừa rời khỏi sẽ đổ nhào xuống và nhấn chìm tất cả xuống lòng biển đang giận dữ.

Cuối cùng họ cũng lên được một con tàu khác. Những người đàn ông nâng cơ thể mềm nhũn không còn sức sống ra khỏi cánh tay bảo vệ của Thomas. Anna tỉnh dậy đúng vào lúc con tàu C.Worthy chao đảo lần cuối cùng trên mặt biển, kết thúc cuộc hành trình của nó cũng như của những hành khách còn lại trong đó có Anna.

Khi những tia nắng mặt trời của buổi sớm mai rọi lên mặt biển thanh bình, Anna nhìn thấy những phần còn lại của C.Worthy. Biển cả không chỉ nhấn chìm con tàu mà còn nhấn chìm luôn cả ước mơ và hy vọng của những con người đang trên đường đi tìm Thế giới mới.
0
P155-220
ĐIỀU KHÔNG THỂ NÓI
Fiona Golbe (Anh)
Chàng nhìn thấy nàng từ phía sau và nhận ra ngay lập tức. Chàng đuổi kịp nàng và tự hỏi mình có nên mỉm cười hay không, điều đó không hề giống mười lăm năm trước đây. Nàng không nhìn thấy chàng vì còn mãi ngắm thứ gì đó qua cửa kính nên chàng khẽ đụng nhẹ vào tay nàng.
-Chào Amanda – Chàng lịch sự và biết rằng mình chưa bao giờ mắc lỗi, không phải chỉ bây giờ mà sau ngần ấy năm đón nàng ở bến xe, câu lạc bộ hay những bữa tiệc – Peter đây.
Khi nhắc đến tên chàng, tim nàng đập rộn lên. Nàng nhớ đến mùa hè đầu tiên họ ở bên nhau. Khi ấy cả hai mới mười tám tuổi và nằm bên bờ sông Cliveden, chàng gối đầu lên người nàng, tay bện vào những cọng cỏ và nói rằng sẽ không thể sống thiếu nàng.
-Thật ngạc nhiên khi em vẫn còn nhận ra anh.
-Thật vậy sao – Nàng cười gượng gạo.
-Anh vẫn ở Luân Đôn.
Nàng nhìn chàng. Chàng vẫn như xưa, tóc không bị hói như nhiều người đàn ông khác nhưng bờ vai có vẻ rộng hơn và khuôn mặt dường như tròng hơn.
-Anh về chịu tang bố - Chàng tiếp tục nói – Ông bị một cơn đau tim đột ngột và chuyện này xảy ra rất nhanh.
-Em xin chia buồn với anh – Nàng nói bằng giọng khách sáo và nhớ lại trước kia chàng thường xuyên bị bố đánh cho tới tận năm mười sáu tuổi.
-Cám ơn em – Chàng cũng không cảm thấy đau xót thực sự mà còn cho rằng mẹ chàng sẽ hạnh phúc hơn khi không có bố ở bên cạnh.
-Em cũng ở Luân Đôn – Nàng vuốt tóc ra sau tai với một động tác quen thuộc mà chàng không thể quên được – Em về dự đám cưới của chị Becky vào ngày mai.
-Thật thú vị - Chàng mỉm cười và nhớ đến cô chị béo lùn tẻ nhạt của Amanda. Chính nàng cũng có cảm giác rằng đám cưới đó chỉ để chị mình quên đi những mối quan hệ bất hạnh.
-Còn gia đình em, họ ổn cả chứ?
-Vâng – Nàng biết rằng trước đây chàng thường ghen tị với ba mẹ nàng, những người giàu có luôn coi các chuyến du lịch nước ngoài như một thứ đồ trang sức.
-Em có vội lắm không?
-Không, em đang giết thời gian.
-Vậy chúng ta đi uống cà phê nhé?
 
Họ tới một quán nhỏ năm khuất trong góc phố và ngồi hàng giờ bên nhau.
-Peter, cuối cùng thì anh có trở thành phóng viên không? – Nàng hỏi, nhớ lại những nơi mà họ mong ước được đến như Ai Cập, Ma-rốc và Braxin.
-Em có tin không, bây giờ anh là luật sư đấy.
Nàng nhìn trang phục của chàng và tin những gì anh nói, chúng khác xe với những bộ đồ chàng mặc khi còn là sinh viên.
-Anh yêu thích công việc của mình chứ?
-Thế còn em? – Chàng hỏi lại mà không trả lời câu hỏi của nàng. Em có trở thành họa sĩ nổi tiếng không?
Chàng vẫn luôn ngưỡng mộ những bức tranh nàng vẽ, đặc biệt là bức tranh nàng tặng khi chàng mới hai mươi tuổi mà bây giờ chàng vẫn còn giữ nó như một kỉ vật.
-Ồ, không – Nàng cưới ngập ngừng và tự hỏi không biết chàng còn giữ những bức tranh của mình không. Những năm gần đây nàng đã không còn vẽ nữa.
Chàng ngắm mái tóc của nàng, suông thẳng và thả nhẹ trên bờ vai. Chàng nhận ra đã có vài sợi bạc nhưng trông nàng vẫn đẹp như xưa.
-Vậy giờ em làm gì?
-Không có gì đặc biệt – Nàng cười – Em đang sắp xếp.
Nàng không muốn nói với chàng về những công việc tạm thời, rằng nàng đang hy vọng có một vị trí lâu dài nhưng điều đó thật khó.
-Thế em không vẽ nữa a?
-Em chỉ trang trí nhà cửa thôi – Nàng nói đùa và chàng mỉm cười tế nhị khi nghe nàng trả lời như vậy.
Nàng nhớ như in những buổi tối họ dành cho nhau trong căn phòng nhỏ mà họ thuê vào những kì nghỉ cuối tuần. Chàng đã ngồi hàng giờ để ngắm những búc tranh của nàng.
-Anh hiện đang sống ở khu nào của Luân Đôn?
-Phía Bắc – Một căn hộ ba phòng xin xắn ở Hampstea, đó cũng là nơi mà lúc nào chàng cũng mong có người bấm chuông cửa – Còn em?
-Phía Nam, đó là căn hộ mà em thuê – Nàng nghĩ đến căn phòng nhỏ của mình với những bức tường ẩm ướt, nằm trên khu phố cổ Clapham – Nhưng em dự định mua một căn hộ nhỏ, vì vậy em phài về để sắp xếp một số công việc.
Nàng chợt nhớ ra những bức thư của chàng mà vô tình nàng tìm thấy trong phòng ngủ, chỉ mới hôm qua thôi.
-Ôi Peter, em không thể hiểu được tại sao ngày ấy em lại ra đi.
Chàng nhìn nàng và nghĩ đến buổi tối mà nàng không trở về căn phòng nhỏ.
-Ngày đó chúng ta còn quá trẻ. Những người trẻ tuổi thường làm như vậy.
Chàng nói nhưng biết rằng điều đó không phải là sự thật. Chàng không đáng bị đối xử như vậy. Chàng lại nghĩ đến những bức thư mà chàng gửi cho bố mẹ nàng, chàng đã viết để cầu xin nàng quay trở lại, nhưng vô ích.
-Em nghĩ là anh nói đúng – Nàng cố giấu vẻ thất vọng của mình vì dường như chàng không hề hối tiếc – Thôi, em phải đi đây.
-Sao em vội vã vậy?
-Em vội – Nàng cố kìm không để nước mắt tự do tuôn chảy mặc dù ước ao được như vậy – Em phải về giúp mẹ chuẩn bị đám cưới.
-Anh hiểu – Chàng nói dù biết rằng điều đó không phải sự thật. Anh có thể cho em số điện thoại của anh được không? Chúng ta sẽ gặp nhau chứ?
-Vâng.
Chàng viết số điện thoại vào sau tờ hóa đơn. Nàng gấp lại và cho vào ví.
-Cám ơn anh. Chào anh, Peter.
-Tạm biệt em, Amanda.
Nhiều năm sau, nàng vẫn thường xuyên kiểm tra tờ hóa đơn và tin rằng số điện thoại của chàng vẫn còn ở đó.
CUỘC HÔN NHÂN ĐƯỢC DÀN XẾP
Lý Dị Vân (Trung Quốc)
Một buổi chiều tháng mười một, bà Lâm dạo bước trên phố với chiếc cặp lồng bằng thép không rỉ. Trong cặp lồng là giấy chứng nhận chính thức từ cơ quan của bà. “Chúng tôi xác nhận đồng chí Lâm Mỹ chính thức nghỉ hưu danh dự - Nhà máy Ngôi sao đỏ Bắc Kinh”. Những nét chữ màu vàng trên tờ giấy đã chứng nhận điều đó.
Tờ giấy không nói rằng xưởng quần áo Ngôi sao đó đã đi đến phá sản, nhưng nghỉ hưu danh dự có nghĩa là bà Lâm sẽ không được nhận tiền lương hưu. Phá sản không phải là một từ chính xác dành cho những doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước. Cụm từ “Tổ chức lại nội bộ” là sau đó đã bị bỏ đi trong giấy chứng nhận và như vậy, tiền lương hưu của bà Lâm bị giữ lại được coi là tạm thời.
-Luôn có một con đường để đi lên núi – Bà Vương, hàng xóm của bà Lâm nói vậy sau khi được thông báo về tình cảnh của bà.
-Và luôn có một cái xe Toyota ở nơi nào có đường đi.
-Cô cứ tiếp tục đi, cô Lâm. Tôi biết cô là người lạc quan mà. Hãy luôn tích cực rồi cô sẽ tìm được chiếc Toyota của mình.
Nhưng nơi nào trên Trái đất này bà có thể tìm được con đường để lấp đầy khoản tiết kiệm đang teo tóp dần? Trong vài ngày, bà Lâm cứ tiếp tục cộng, trừ, nhân, chia và bà cho rằng khoản tiết kiệm của mình sẽ duy trì được trong vong hai năm nữa nếu như bà có thể bỏ qua một bữa ăn bằng cách chui lên giường ngay sau khi mặt trời lặn và nằm cuộn tròn trong quần áo để không phải cung cấp nhiên liệu cho cái lò sưởi không bao giờ cảm thấy thỏa mãn trong suốt mùa đông dài lê thê của phương Bắc.
-Đừng lo – Bà Vương nói khi họ gặp nhau ở chợ. Nhìn xuống cái củ cải duy nhất mà bà Lâm mua cho bữa tối, bà chắp hai bàn tay như cầu Phật – Cô có thể kiếm một người nào đó.
-Lấy chồng á? – Bà Lâm đỏ mặt.
-Cô đừng có bảo thủ như thế. Năm nay cô bao nhiêu tuổi rồi?
-Năm mươi mốt.
-Cô còn trẻ hơn tôi. Tôi đã năm tám tuổi rồi, nhưng tôi không cổ hủ như cô. Cô phải biết rằng bây giờ không phải chỉ có mình bọn trẻ là độc quyền về hôn nhân đâu nhé.
-Đừng biến tôi thành trò cười cho thiên hạ chứ.
-Tôi nói nghiêm túc đấy, cô Lâm ạ. Có rất nhiều người già góa vợ trong thành phố. Tôi chắc rằng cũng có những người giàu có, ốm yếu cần một ai đó để chăm sóc cho họ.
-Chị muốn nói rằng, tôi có thể tìm công việc trông nom cho người già? – Bà Lâm hỏi.
Bà Vương thở dài và giúi bà Lâm một cái.
-Đầu óc của cô để đâu rồi. Không phải ngo trông nom mà la một người vợ. Bằng cách đó, ít nhất cô có thể thừa kế một ít tài sản khi chồng cô chết.
Bà Lâm há hốc miệng. Bà chưa từng có chồng và viễn cảnh một người chồng chết làm bà thấy sợ. Bà Vương đã quyết tâm theo đuổi kế hoạch của mình và trong một thời gian ngắn, bà đã tìm được cho bà Lâm một đám.
-Bảy mươi sáu tuổi. Huyết áp cao và tiểu đường. Vợ mới chết. Sống một mình trong căn hộ ba buồng ngủ. Tiền lương hưu hai nghìn tệ một tháng. Hai con trai đã kết hôn và làm việc cho chính phủ, lương cao – Bà Vương nói, ngạc nhiên vì bà Lâm vẫn không mảy may xúc động – Thôi nào, cô Lâm, cô có thể tìm được ở đâu một ông chống tốt hơn thế? Ông lão ấy chẳng bao lâu nữa sẽ chết còn mấy anh con trai giàu có cũng chẳng tiếc gì chỗ tiết kiệm mà ông lão đã cho cô. Tôi nói cho cô nghe nhé. Đấy là gia đình có tư cách nhất mà tôi từng biết. Nhưng trong số rất nhiều người phụ nữ khác, họ chỉ chọn mình cô. Tại sao? Vì cô chưa từng kết hôn và không có con cái gì cả. Mà tiện đây tôi cũng muốn hỏi sao trước đây cô không lấy chồng nhỉ? Cô chưa từng nói cho tôi biết lí do đâu đấy.
Bà Lâm mấp máy miệng:
-Tại vì…
-Nếu cô không muốn thì cũng không cần phải kể cho tôi đâu. Dù sao họ cũng không thích những người đã có một lũ con cháu. Chính tôi cũng không tin vào mấy bà mẹ kế đâu. Ai có thể đảm bảo họ sẽ không tuồn của cải về cho con cháu họ chứ. Nhưng cô là một người rất tốt. Tôi đã nói với họ rằng, nếu chỉ còn một người trung thực duy nhất còn lại trên thế giới này thì người đó chính là cô, cô Lâm ạ. Cô còn lưỡng lự gì nữa?
-Sao họ không thuê người chăm sóc cho ông ấy? – Bà Lâm hỏi, nghĩ về hai người con trai mà rất có thể sẽ sớm trở thành con bà – Tính về lâu về dài thì sẽ rẻ hơn nhiều.
-Cô có biết mấy con bé bán hàng ngoài chợ thế nào không? Bọn nó lười biếng và lúc nao cũng rình ăn trộm tiền của các ông chồng. Chúng bỏ mặc ông chồng già ngồi trên đống phân cả ngày. Thuê mấy đứa như thế chỉ chóng đẩy ông ta đến chỗ chết mà thôi.
Bà Lâm buộc phải đồng ý với điều đó, quả thực, tìm một người phụ nữ lớn tuổi là sự lựa chọn khôn ngoan. Được bà Vương hộ tống, bà Lâm đến dự buổi phỏng vấn với hai anh con trai và những cô vợ của họ. Sau một giờ hỏi han, hai anh con trai nhìn nhau và hỏi bà Lâm có cần thời gian để suy nghĩ về cuộc hôn nhân này không. Không cần phải nghĩ nhiều, bà chuyển về ngôi nhà mới trong vòng một tuần sau đó. Chồng của bà, ông Đường đau ốm hơn bà nghĩ. “Bệnh Alzheimer”, một cô cháu gái nói với bà trong bữa tối của lễ cưới.
Bà Lâm gật đầu, không biết đó là bệnh gì nhưng đoán rằng nó có liên quan đến não. Bà đỡ chồng bằng cả hai tay và dẫn ông đến bàn, giúp ông ngồi và lau nước dãi trên cằm ông.
Bà Lâm đã trở thành một người vợ, một người mẹ và một người bà. Bà không còn nhớ từ năm nào trong cuộc đời bà, mọi người bắt đầu gọi bà là bà Lâm thay vì cô Lâm. Không sao cả, bà hoàn toàn thấy mình đủ tư cách cho cái danh xưng ấy.
Cứ hàng tuần, một anh con trai lại ghé qua kiểm tra và để lại số tiến đủ cho tuần tới. Ông Đường là một người lặng lẽ, luôn ngồi trên chiếc ghế tựa bên cửa sổ, tự đắm chìm vào sự im lặng không đáy của mình. Thỉnh thoảng, ông lại hỏi bà Lâm về người vợ của ông. Đã được anh con trai dặn trước, bà Lâm trả lời rằng vợ ông đang ở trong viện. Bà ta đã đỡ hơn và sẽ sớm trở về nhà. Nhưng trước khi bà trả lời, dường như ông Đường đã quên mất câu hỏi của mình và quay lại trầm ngâm như cũ, không hề có dấu hiệu gì là đang nghe. Bà chờ đợi thêm những câu hỏi khác và cuối cùng phải bỏ cuộc. Bà vặn to vô tuyến và đi lại quanh nhà, quét tước, lau chùi, giặt giũ. Rồi bà ngồi trên chiếc ghế trường kỉ, xem chương trình ca kịch. Không giống như chiếc ti vi 12 inch trước đây của bà, luôn bắt bà phải đi đi lại lại mỗi khi muốn chuyển kênh (và chỉ có tất cả sáu kênh nhờ cái ăng-ten làm từ hai chiếc đũa sắt), máy truyền hình của ông Đường đúng là một nhà ảo thuật với vô số kênh, tất cả đều tuân lệnh theo một chiếc điều khiển. Choáng váng vì những sự lựa chọn mà ba đang có và bởi thú vui được chuyển từ sự lựa chọn này sang sự lựa chọn khác, bà Lâm nhanh chóng nhận thấy cỗ máy này không có lợi cho bà. Dù bà đang xem chương trình nào, bà cũng luôn lo lắng rằng bà đang bỏ lỡ một chương trình thú vị khác. Sau vài ngày sống một cuộc sống mới, bà Lâm ngạc nhiên phát hiện ra rằng bà không còn nghiện vô tuyến giống như suốt mười năm vừa rồi nữa. Liệu cuộc hôn nhân đã có sức mạnh khiến một thói quên được hình thành lâu dài lại có thể được vứt bỏ trong một thời gian ngắn?
Bà Lâm tắt vô tuyến. Ông Đường không chú ý đến sự im lặng đang tràn ngập trong căn phòng. Bà nhận ra rằng không thể đổ lỗi cho cái vô tuyến, mà chính là vì sự hiện diện của ông Đường khiến bà không thể tập trung. Bà cầm một quyển tạp chí và he hé mắt nhìn ông Đường từ đằng sau những trang báo. Mười phút chuyển thành hai mươi phút và bà vẫn tiếp tục quan sát ông mặc dù ông nhất quyết không quay sang nhìn bà. Một mối nghi ngờ kì quặc đang lớn dần lên trong bà rằng ông Đường không ốm. Ông biết bà hiện diện ở đó và đang bí mật quan sát bà. Ông biết rõ người vợ sống với ông suốt năm mươi tư năm đã rời bỏ ông và bà Lâm là người vợ mới của ông nhưng ông từ chối thừa nhận bà. Ông giả vờ mất trí và chờ đợi bà đóng vai một người làm thuê. Nhưng bà Lâm quyết không chịu thua. Ông ta là chồng còn bà là vợ. Giấy kết hôn giấu dưới gối của bà. Nếu ông Đường đang muốn thử thách lòng kiên nhẫn của bà thì bà sẵn sàng chứng minh. Bà đặt cuốn tạp chí xuống và táo bạo nhìn thẳng vào mặt ông Đường, cố gắng khiến ông bối rối. Vài phút trở thành một giờ đồng hồ và đột nhiên bà Lâm kinh hãi nhận ra rằng bà cũng đang mất trí. Bà nhìn ông Đường, vẫn ngồi im như thể một bức tượng. Ông bị bệnh thực, bà tự nhủ và cảm thấy xấu hổ vì đã nghi ngờ ông một cách vô căn cứ. Một người không có khả năng tự vệ cũng khác nào một đứa trẻ sơ sinh. Bà bước nhanh vào bếp và quay trở lại với một cốc sữa.
-Đến giờ uống sữa rồi – Bà nói, vuốt ngực ông Đường cho đến khi ông bắt đầu nuốt.
Ba hôm trước, bà đã tiêm cho ông một liều insulin. Chỉ khi đó, bà mới bắt gặp một thoáng sự sống còn lại trong con người ông. Thỉnh thoảng khi có giọt máu ứa ra lúc bà rút ống tiêm, bà dùng ngón tay để lau thay vì bông gòn, cảm giác lạ lùng rằng máu đang thắm vào cơ thể bà.
Hàng ngày bà Lâm tắm rửa cho ông Đường vài lần, vào buổi sáng và trước khi đi ngủ hoặc bất cứ khi nào ông bị ướt hay tự dây bẩn. Phòng tắm riêng là thứ mà ba Lâm thích nhất trong cuộc hôn nhân này. Suốt đời, bà chỉ đi nhà tắm công cộng, chen lấn với những thân thể trơn tuột dưới dòng nước đang xối từ những vòi hoa sen han gỉ. Bây giờ thì bà đã có hẳn một buồng tắm cho chính mình. Bà sẽ không bao giờ để lỡ cơ hội sử dụng nó nữa.
Ông Đường là người đàn ông duy nhất mà bà Lâm nhìn thấy trần truồng hoàn toàn. Lần đầu tiên cởi quần áo của ông ra, bà không thể kìm được việc nhìn trộm ông một cái, và một cái nữa vào chỗ đó của ông, đang lấp ló sau đám lông lơ thơ. Bà tự hỏi khi ông còn trẻ thì trông nó như thế nào, nhưng ngay tức thì bà gạt những ý nghĩ không trong sạch đó ra khỏi đầu óc. Thân thể trần trụi đầy cám dỗ làm trái tim bà ngập lên một cảm giác ngọt ngào mà bà chưa bao giờ được cảm thấy. Thế rồi bà kỳ cọ cơ thể ông bằng bàn tay của một người mẹ.
Một tối tháng hai, bà Lâm dẫn ông Đường ra chiếc ghế nhựa ở giữa phòng tắm. Bà cởi khuy áo paiama và ông gập cánh tay lai theo sự chỉ dẫn của bà. Đầu ông ngoẹo lên vai bà. Bà di chuyển chiếc vòi tắm để xả nước ấm lên khắp cơ thể ông, che một tay lên trán ông để nước khỏi bắn vào mắt.
Lúc bà Lâm đang ngồi xổm trên sàn để mát xa chân cho ông thì chợt thấy ông chạm vào vai mình. Ba ngước nhìn lên và thấy ông đang nhìn chằm chằm vào mắt bà. Bà bật khóc và quay lưng lại.
-Bà là ai? – Ông Đường cất lời.
-Ông Đường, vẫn là ông đấy ư?
-Bà là ai? Tại sao bà lại ở đây?
-Tôi sống ở đây mà.
Bà Lâm nhìn thấy một sự minh mẫn bất thường trong đôi mắt của ông Đường và cảm thấy tim mình thắt lại. Đó là những tia sáng minh mẫn của một con người đã cận kề với cái chết. Bà Lâm cũng đã nhìn thấy những tia sáng như vậy cách đây hai năm bên giường của ông thân sinh ra bà, chỉ vài giờ trước khi ông qua đời. Bà nghĩ tốt hơn hết là đi gọi bác sĩ nhưng đôi chân bà dán chặt trên nền gạch và đôi mắt thì dán vào khuôn mặt của ông Đường.
-Tôi không biết bà. Bà là ai?
Bà Lâm nhìn xuống chân tay mình. Bà đang mặc một chiếc áo choàng ponso màu vàng nhạt và đi đôi ủng cao su màu xanh lá cây, trang phục của bà khi phục vụ ông trong buồng tắm.
-Tôi là vợ ông – Bà nói.
-Bà không phải là vợ tôi. Vợ tôi là Sujane. Sujane đâu rồi?
-Sujane không còn ở với chúng ta nữa. Tôi là vợ mới của ông mà.
-Bà nói dối – Ông Đường đứng dậy – Sujane đang ở trong bệnh viện.
-Không – Bà Lâm đáp lời – Họ đã nói dối ông.
Ông Đường không nghe bà nữa. Ông đẩy bà Lâm. Cánh tay ông đột nhiên khỏe vô cùng. Bà Lâm giữ chặt lấy ông nhưng ông trở nên hoang dại với một sức mạnh không điều khiển được. Bà túm lấy đôi tay của ông, lòng không hiểu nổi tại sao bà lại phải đánh nhau với chồng vì một người đàn bà đã chết. Nhưng ông ta vẫn cứ khua vào không khí rồi chấp chới hai bước, và trượt ngã xuống vũng nước ngẩu bọt xà phòng.
Không ai chú ý đến bà Lâm trong lễ tang. Bà ngồi ở một góc và nghe người ta nói về cuộc đời ông Đường, một nhà vật lý tài giỏi và một người thầy vĩ đại, một người chồng, người cha, người ông hết sức mẫu mực. Người ta bắt tay thân nhân của người quá cố và lờ đi người đàn bà đang đứng ở cuối hàng.
Tôi không giết ông ấy. Bà Lâm tưởng tượng ra mình đang nói với tất cả những người có mặt ở đó. Ông ấy đã chết trước khi ngã xuống. Nhưng bà không nói sự thật cho bất cứ ai cả, thay vào đó lại thừa nhận sự lơ đễnh của mình. Dù sao thì cũng sẽ không ai tin bà hết, vì chỉ có bà là người duy nhất nhìn thấy những tia sáng ấy trong mắt ông, những tia le lói cuối cùng trước khi chìm vào đêm tối vĩnh cửu.
 
CUỘC GẶP TÌNH CỜ
Joyce Begg (Australia)
Con tàu bỗng chốc trở nên đông nghịt người, phần lớn là khách du lịch và sinh viên. Joan cảm thấy vô cùng may mắn vì đã đặt vé trước. Ngồi cạnh Joan là một cô gái gầy gò đang có vẻ như trầm tư suy nghĩ. Cô ta mặc chiếc váy da nâu cùng áo khoác kẻ sọc đen. Đối diện cô gái là một anh thanh niên với gương mặt đờ đẫn như thiếu ngủ lâu ngày. Còn bên cạnh anh ta là một người đàn ông trạc tuổi Joan, ăn mặc rất bảnh bao với một chiếc đồng hồ vàng sáng lấp lánh trên tay.
Khi con tàu lăn bánh khỏi sân ga, cũng là lúc Joan rút từ trong túi ra một cuốn sách. Mọi khi, trong những chuyến đi, Joan thường hay đan áo, đó cũng là cách để quan sát xung quanh mà không bị ai để ý. Nhưng lần này, bà quyết định để lại cuộn len trong va li. Đến trang sách thứ mười, bà ngừng đọc và bắt đầu nhìn quanh theo thói quen. Giữa lối đi có một đôi nam nữ trẻ tuổi, mà nhìn mái tóc bạch kim cùng gương mặt và đôi chân vạm vỡ của họ, Joan đoán là người Bắc Âu. Chiếc túi xách khổng lồ của họ báo hiệu một chuyến du lịch đầy thú vị ở phía trước. Đột nhiên, người đàn ông đeo chiếc đồng hồ vàng đứng dậy.
-Tôi sẽ mang cho cô một tách cà phê nhé?
Joan hơi giật mình:
-Vâng, tốt quá. Cám ơn anh.
Năm phút sau ông ta quay lại với hai chiếc cốc nhựa và gói bánh qui bơ trên tay,
-Tôi e rằng sẽ là một bữa ăn chán ngắt. Nhưng có còn hơn không.
Đề tài cho câu chuyện giữa hai người là một số nhãn hiệu bánh quy nổi tiếng. Càng nói chuyện, Joan càng có ấn tượng sâu sắc rằng ông hẳn là người đi du lịch khá nhiều. Không phải vì ông cố tình liệt kê những nơi đã đến, mà bởi những lời trích dẫn khéo léo về một nhà hàng ở Singapore hay quán kem nổi tiếng nào đó ở Boston. Bà bỗng chú ý đến mái tóc sẫm màu được cắt tỉa gọn gàng, chiếc áo sơ mi xám rất hợp với cái cà vạt màu xanh nước biển. Mặc dù không thể nhìn thấy nhưng bà cũng dám chắc đôi giày hẳn phải được đánh xi bóng loáng. Nhưng điều khiến bà băn khoăn là ông đang làm gì trên con tàu này. Người như ông phải ngồi máy bay mới phải. Dường như đọc được ý nghĩ ấy, người đàn ông tựa lưng vào ghế và ngắm nhìn cảnh vật đang chuyển động qua khung cửa sổ.
-Chắc cô chỉ thích đi tàu, phải không?
Joan chưa từng nghĩ về điều đó, đơn giản vì bà chỉ là thư kí của một trường cấp hai, tranh thủ những ngày nghỉ giữa học kì để đến thăm cô con gái đang ở kì ở cữ. Và mặc dù chồng bà chẳng để bà phải đói khổ kể từ khi ông qua đời trong một tai nạn xe hơi, bà cũng chưa từng cho phép mình mua một chiếc vé máy bay. Bà nghĩ một lúc rồi nói:
-Chẳng phải người ta vẫn thường nói rằng trên những chuyến tàu có rất nhiều câu chuyện lãng mạn đó sao?
Hai người chợt nhìn ra cửa sổ khi Joan nhắc đến hai từ “lãng mạn”.
-Tôi không biết người ta là ai, nhưng họ nói đúng đấy. Tôi cũng thường đi du lịch bằng xe lửa mỗi khi có thể, như một phương pháp thư giãn để khi cần, tôi vẫn có thể làm việc được.
Ngay lập tức, Joan nhìn thấy chiếc cặp da cùng máy tính xách tay mà ông đã xếp gọn gàng bên cạnh.
-Đừng để tôi làm phiền nếu anh phải làm việc.
Ông cười và nghiêng người:
-Tôi là Bannerman, Richard Bennerman.
Joan không chớp mắt:
-Rosa King.
-Không biết tôi có đoán đúng không, nhưng chắc cô làm kinh doanh thời trang?
Joan vô cùng thích thú với ý nghĩ này và tự kiềm chế không để một nụ cười hiện ra trên gương mặt:
-Thực ra, tôi làm trong ngành giáo dục.
Bỗng nhiên, ông trở nên vô cùng điềm đạm, như thể nghĩ rằng bà phải là một giáo sư văn học Anh, hay một chức vụ gì đó tương đương, có lẽ cũng bởi cả cuốn sách nữa. Cô gái bên cạnh Joan nhắc chiếc headphone ra khỏi tai để vuốt lại mái tóc. Không gian chợt như bị xé nát bởi những tạp âm loảng xoảng. Còn anh thanh niên bị đánh thức cũng ngọ nguậy với vẻ khó chịu.
Từ lúc ấy, hai người bắt đầu nói về chủ đề âm nhạc, từ opera cho đến ca sĩ Frank Sinatra và cả nhạc cổ điển nữa. Họ nói chuyện rất hào hứng và ăn ý đến mức Joan thấy hối hận vì đã không nói thật rằng Opera chỉ tạo cảm hứng cho những giấc ngủ ngắn. Cuối cùng, ông cũng kể về đời tư của mình. Ông nói rằng mình đã li dị và khi ông gợi ý một cách hết sức tế nhị về việc tái hôn thì Joan đã không hề phải đóng kịch. Bà là một phụ nữ góa chồng và trong giây phút bà bỗng cảm thấy vui thích vì điều đó. Họ không nhắc tới những đứa con và bà cũng đoán rằng những đứa con không hiện hữu trong cuộc đời ông, chúng không hề phù hợp với hình ảnh một thương nhân quốc tế. Con tàu dừng lại ở sân ga của thị trấn. Hai người Bắc Âu rời khỏi tàu, sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu kì thú, cô gái gầy gò và chàng thanh niên thiếu ngủ vẫn ở lại, chờ tiếp tục cuộc hành trình. Có một cậu bé rõ ràng là đang tìm người nhà, cuối cùng cậu dừng lại trước ghế ngồi của Joan.
-Ông đây rồi, mẹ nói là khách sạn bên cạnh nhà vẫn còn nhiều phòng lắm. Và nếu ông muốn ăn sandwich thì phải nhanh lên thôi.
-Chào Joe, bảo với mẹ là ông xuống ngay đây.
Ông dõi theo bước chân của cậu bé rồi lịch sự nói với Joan.
-Rất vui được gặp cô, cô King.
Ông lấy hành lý từ trên giá xuống, mãnh giấy treo trên chiếc va li đung đưa trước mắt Joan. Trước khi ông bước đi, bà chỉ kịp đọc thấy cái tên Roy Baneis. Gần đến cửa, ông quay lại nhìn bà và thoáng cười buồn. Joan ngạc nhiên đến nỗi không thể cười đáp lại. Cho đến khi bà kịp định thần thì ông dã rời khỏi tàu. Không, lẽ ra bà phải là người đầu tiên bước ra khỏi tàu và bà tin rằng mình có thể đương đầu với mọi thứ. Bà đã đi đến một quyết định…
Ông dừng lại khi nhìn thấy Joan, chiếc cặp da đập vào chân ông một cách vụng về.
-Tôi quên không đưa cho anh thứ này – Bà trao cho ông mảnh giấy ghi tên trên hành lý – Card của tôi đây.
Ông cúi xuống đọc rồi cười phá lên, Joan cũng cười. Tiếng cười cứ vang mãi cho đến khi hòa cùng tiếng còi của tàu đang lăn bánh…
 
CƠN BÃO LÒNG
Dapushta Deeray (Ấn Độ)
Bên ngoài, cơn bão vẫn tiếp tục gào thét tưởng như không bao giờ dứt. Tiếng gió rít ghê người cùng với những thân cây va vào nhau kêu răng rắc làm cô rùng mình. Dường như bụi bay khắp nơi, cô có thể thấy được cái cảm giác sàn sạn trên đôi môi khô nẻ của mình khi cố gắng chốt chặt các then cửa sổ và cửa ra vào, chúng xuyên qua họng và chất đầy trong phổi. Thật là một đêm kinh khủng. Ngay sau đó, một trận mưa như trút nước ầm ầm đổ xuống kéo theo một vệt sáng chọc thủng bầu trời. Đèn trong nhà lờ mờ rồi tắt lịm. Mọi thứ chìm vào bóng tối. Cô lầm bầm nguyền rủa rồi vội vã đi tìm cây nến. Tại sao vào những dịp như thế này Akash luôn đi vắng nhỉ? Giá như anh ấy có nhà vào một đêm như đêm nay thì hay biết bao, họ sẽ có thời gian để gần gũi nhau hơn. Cô tự nhủ: “Đôi lúc mất điện lại đem đến điều thú vị cho những cặp vợ chồng không có thời gian dành cho nhau hay quá mệt mỏi vào những lúc họ muốn ân ái”. Cô thở dài và cố nhớ lại lần cuối cùng họ ở bên nhau, đã lâu quá rồi.
Chồng cô, Akash rất hiếm khi có thời gian rảnh rỗi, ít ra là từ sau khi anh bỏ nghề và đầu tư vốn để xây dựng nông trường. Đó là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu nhưng tuyệt nhiên anh không ngại một chút nào hết. Đó là niềm đam mê, là tham vọng và tình yêu thực sự của anh. Không biết từ bao giờ cô đã trở thành một vị trí rất mờ nhạt trong cuộc đời anh, có lẽ nông trường đã lấy đi toàn bộ sức mạnh cũng như lòng nhiệt thành của con người Akash. Cô thực sự không muốn thế chút nào khi cảm thấy mình đã bị cô lập hoàn toàn. Anh chỉ thỏa mãn nhu cầu và sự ham muốn khi cần thiết. Đứa con trai duy nhất của họ đang đi học xa. Còn cô, cô còn lại gì cho bản thân? Hạn hữu lắm cô mới có cơ hội giúp anh vài việc để làm cho nông trường thêm thịnh vượng, nhưng đối với cô, công việc đó đem lại sự nhàm chán nhiều hơn là thích thú. Cô không bao giờ quan tâm đến cây cối hay động vật, vậy mà đó lại là công việc của anh. Chính điều đó đã làm họ phải xa nhau những hai mươi lăm cây số. Anh chẳng mấy khi về nhà, vì thế cô thường sống trong nỗi trống trải và cô đơn. Người hàng xóm gần nhất của họ cũng cách xa đến hàng cây số. Thỉnh thoảng lắm cô mới được nghe thấy âm thanh của những chiếc xe tải nặng trịch chạy trên đường, nó như đánh thức cô rằng một xã hội văn minh vẫn còn đang tồn tại và không xa đây lắm.
Mới tám giờ tối mà cô có cảm giác như đã quá nửa đêm vì ánh nến chập chờn ở góc nhà. Đột nhiên có tiếng gõ cửa vang lên, đưa cô trở về với thực tại. “Ai thế nhỉ?”. Ngoài trời mưa vẫn đổ, tiếng gõ cửa lại lộc cộc. Cô định gọi người giúp việc nhưng sau lại thôi. Cầm cây nến trên tay, cô dò dẫm đi ra cửa. Tiếng gõ cửa lại tiếp tục và lần này thì gấp gáp hôn. Đã ghé mắt sát lỗ cửa nhưng cô chẳng tài nao nhìn thấy gì ngoài một khoảng đen tối mò. Không còn cách nào khac, cô đành mở then cài mà cánh tay run run vì sợ. Một người đàn ông với thân hình ướt sũng hiện ra nơi ngưỡng cửa. Anh ta nói ngay.
-Tôi xin lỗi vì đã tự tiện vào đây nhưng xe của tôi bị hỏng trên đường mà quanh đây không còn nơi nào có người ở ngoại trừ nhà bà.
Có cái gì đó xuất hiện trong giọng nói của người đàn ông mới đến, nó vừa gần gũi vừa có phần xa lạ. Cô nâng cây nến để nhìn cho rõ mặt anh ta hơn, và bất chợt kêu lên:
-Manok? Manoj Trivedi?
Người đàn ông cũng vô cùng ngạc nhiên và nhìn chằm chằm vào mặt cô.
-Meera, có phải em đấy không? – Anh cất lên thảng thốt khi bước vào phòng.
-Đợi em lấy khăn và bộ quần áo khô cho anh – Cô mỉm cười dịu dàng rồi vào phòng ngủ lấy chiếc khăn và bộ đồ của Akash.
Cuộc sống đôi khi cũng đầy sự ngạc nhiên đến thú vị, không hẳn chỉ toàn những phút giây buồn tẻ. Anh đã từng là người yêu của cô, từng là niềm đam mê thời tuổi trẻ và họ đã thề sẽ ở bên nhau mãi mãi. Đã có lúc Trái đất dường như không còn tồn tại, trong giây phút ngây ngất và đắm say của tình yêu, họ những tưởng sẽ yêu thương nhau trọn đời. Tại sao lời thề ấy lại bị trôi vào quên lãng? Phải chăng chỉ đơn giản là vì định mệnh. Họ chia tay nhau mỗi người một ngã. Vì muốn theo đuổi sự nghiệp của mình, anh đã chuyển tới sống tại một thành phố khác, còn cô ở lại quê nhà. Sự xa cách đã làm họ ít có cơ hội gần gũi nhau hơn và những là thư cứ thưa dần. Cuối cùng cả cô lẫn Manoj đều nhận thấy tình cảm ngày càng phai nhạt, nỗi đam mê và những cảm xúc ngày xưa giờ đã tan biến tự lúc nào. Họ đã chia tay nhau như thế và cuộc hôn nhân của cô với Akash đặt dấu chấm hết cho mối tình lãng mạn đó.
Giờ cô lại mỉm cười khi nghĩ về Manoj, cố gắng tưởng tượng xem cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu cưới anh. Phải chăng anh đã làm tan vỡ giấc mơ tuyệt đẹp bằng ngự trị nơi trái tim cô. Manoj vừa lau người vừa nói.
-Anh làm phiền em quá.
Cô không phản ứng gì mà chỉ nhận xét.
-Anh mập ra nhiều đấy.
Manoj quay sang nhìn cô.
-Em cũng không thay đổi nhiều ngoại trừ nét mặt hơi có phần phiền muộn. Hãy nói cho anh biết tại sao lại như vậy? Em luôn là cô gái vui vẻ, hay cười và vô tư lự kia mà.
-Em già rồi, Manoj.
-Già ư?
Khuôn mặt cô ánh lên niềm vui sướng và hạnh phúc khi anh nói rằng trông cô chẳng thay đổi gì cả. Quả thực sắc đẹp của cô dường như đã bị chôn vùi trên mảnh đất cằn cỗi này và thật xót xa khi có một người chồng không nhận biết được điều đó như Akash. Cô chợt bừng tỉnh.
-Em lấy cho anh một ít đồ uống nhé, Manoj. Anh dùng gì nhỉ, Whisky hay Soda?
Nói đoạn, không cần anh trả lời, cô đi vào bếp và mang ra cho anh đủ thứ đồ uống rồi lại ngồi yên trên tấm thảm. Manoj cũng ngồi duỗi chân trên nền nhà. Trong mắt anh có cái gì đó mơ màng khi nhìn lên trần, đôi bàn tay xếp chéo ra phía sau đầu. Cái bóng khổng lồ của anh in trên tường trông ngồ ngộ. Nét mặt Manoj trông có vẻ đăm chiêu. Anh trầm ngâm.
-Anh và em còn vĩ đại hơn cả cuộc đời này.
Cô nhìn anh cười.
-Điều gì đã làm anh ứng khẩu thành thơ vậy?
-Em và cơn mưa trong đêm.
Bên ngoài trời vẫn mưa không dứt. Mưa rơi lộp bộp trên những tấm chắn cửa.
-Anh có muốn một ít bánh sandwich không?
-Tốt quá. Anh cũng đang đói lắm rồi. Thật là bất ngờ khi bà chủ nhà của mình đêm nay lại chính là người yêu năm xưa.
Cô quay vội đi để tránh cái nhìn của anh rồi trở lại với một chiếc bánh phết bơ, vài quả trứng luộc và mấy lát dưa chuột. Cô chợt nhớ lại kỷ niệm năm nào.
-Anh còn nhớ chuyến dã ngoại trên đồi Rocky không? Những chiếc bánh Sandwich ướt sũng và trà lạnh ấy mà.
-Có chứ, chúng ta đã như ở trên thiên đường vậy, mọi thứ thật tuyệt vời, dù chỉ là những chiếc bánh sandwich ướt sũng và trà lạnh.
Cô băn khoăn.
-Hồi ấy anh có thực sự yêu em không hay đó chẳng qua chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ?
-Anh cho rằng lí do chúng ta chia tay là vì đã xa nhau trong một thời gian quá dài.
-Em không nghĩ thế.
-Hãy nói cho anh biết em có hạnh phúc không?
-Về mặt nào đó thì có nhưng đối với em chẳng bao giờ tồn tại niềm hạnh phúc lớn lao hay nỗi thất vọng tràn trề, có thể nói rằng em hạnh phúc.
-Anh không hiểu.
-Anh sẽ không bao giờ hiểu, Manoj ạ. Thế anh đã bao giờ hài lòng với cuộc sống của mình hay chưa?
-Chưa thực sự hài lòng lắm.
-Thế nên anh không hiểu hết giá trị của hạnh phúc. Có lẽ chúng ta không nên đề cập đến chủ đề này nữa. Còn anh hiện giờ sống ra sao? Vợ con thế nào?
Manoj châm điếu thuốc rồi rút từ trong ví ra một bức ảnh, một phụ nữ trẻ đẹp đang bồng trên tay đứa trẻ bụ bẫm, xinh xắn. Anh giải thích:
-Đây là con trai anh, Anuj và mẹ nó.
-Cô ấy đẹp quá.
-Nhưng em biết không, cô ấy yêu con và công việc hơn anh. Lily là một phụ nữ năng động, cứng rắn, thông minh và thành đạt. Em có biết điều gì sẽ xảy ta khi người phụ nữ như vậy lấy người chồng gia trưởng như anh không?
-Ý anh là… - Cô bỏ lửng câu nói một cách ý nhị.
-Đúng vậy, anh đã quyết định chia tay trước khi mọi việc trở nên quá tồi tệ, cô ấy có cuộc sống riêng của mình và anh cũng vậy. Cuộc sống của anh chưa bao giờ thực sự hạnh phúc cả. Chỉ một năm sau khi Anuj ra rời, dường như anh không còn tồn tại với cô ấy nữa. Anh đã cố níu kéo những gì có thể nhưng không được. Để cho cô ấy tự do là lối thoát duy nhất.
Anh rít một hơi thuốc rồi lại yên lặng. Cô cố phá vỡ cái khoảnh khắc nặng nề đó.
-Em cũng có con trai.
-Nó ở đây à?
-Không, nó ở ký túc xá.
-Chắc em buồn và cô đơn lắm nhỉ?
-Vâng, rất buồn.
Đây là lần đầu tiên cô thừa nhận điều đó.
Ngoài trời mưa cũng đã ngớt nhưng hơi lạnh vẫn luồn vào trong phòng. Họ cứ yên lặng như để hồi tưởng về một quá khứ xa xôi với những kỉ niệm đẹp đẽ mà họ đã đánh mất trong tầm tay. Cô những muốn thồ lộ cùng anh về cuộc đời mình, cái cuộc đời từa tựa giống cuộc đời anh. Và thế là cô mang tập album ra và say sưa kể cho anh nghe. Cô mải miết nói còn anh ngắm nhìn cô say đắm như thuở nào. Cô vẫn đẹp. Khuôn mặt đáng yêu đó thuộc về cô gái mà anh đã từng yêu cách đây hai mươi năm. Cô gái ấy đã chế ngự trái tim anh. Không kìm được cảm xúc đang dâng trào, anh ôm chầm lấy cô, còn cô cũng buông người theo vòng tay của anh, đôi môi cô run rẩy như sắp nhận được nụ hôn đầu đời. Nhưng đột nhiên cô cảm thấy dường như anh đang cố gắng cắt đứt sợi dây vô hình kéo họ xích lại gần nhau, cô khẽ đẩy anh ra và nói.
-Em chuẩn bị giường cho anh nhé, cũng khá muộn rồi còn gì.
-Không, ở đây anh thấy rất thoải mái, chỉ còn vài tiếng nữa thôi mà.
Cô đứng dậy.
-Vậy thì chúc anh ngủ ngon nhé. Em cũng cần phải chợp mắt một chút.
Nhưng giấc ngủ đâu có đến với họ dễ dàng như thế. Nhất là Meera, cô phải cố dằn lòng để khỏi rơi vào vòng tay anh một lần nữa.
Những tia nắng mặt trời đầu tiên rọi qua tấm rèm cửa làm cô chói mắt. Theo thói quèn, cô với ngay chiếc đồng hồ để trên bàn. Đã 9 giờ sáng rồi. Cô bật dậy và vươn vai, một nụ cười chợt thoáng trên gương mặt cô. Buổi sáng hôm nay thật trong lành và mát mẻ, ánh nắng chan hòa như quyện vào những đám may đang lửng lờ trôi. Không còn một dấu tích gì của cơn bão ngày hôm qua nữa. Cô chợt nhớ ra rằng chồng cô sẽ trở về sau vài tiếng đồng hồ nữa và cô sẽ phải giải thích về sự hiện diện của người lạ mặt trong nhà, nhưng dù sau đó không phải là vấn đề quan trọng. Cô bước xuống phòng khách và gọi lớn:
-Manoj, anh ở đâu?
Đáp lại tiếng gọi của cô là một sự im lặng đáng sợ. Cô tìm anh khắp nhà và gọi tên anh nhưng vô ích. Một tờ giấy nhỏ đặt trên bàn: “Cám ơn em vì những gì đã làm cho anh, nếu có dịp anh sẽ quay trở lại. Manoj”. Anh đã ra đi và mang theo cả niềm hy vọng nhỏ bé của cô. Tất cả chỉ còn thoáng qua như giấc mơ. Co đã khóc, khóc nhiều lắm, khóc cho hiện tại, cho quá khứ và cho cả tương lai nữa. Nhưng chỉ một lúc sau, cô lại trở về là chính mình, một người phụ nữ trầm lặng và nhẫn nhịn. Mọi dấu vết của đem qua đã bị xóa sạch. Cô đang chờ Akash trở về.
 
Charlie Fish sinh ra ở Mount Kisco, New York, và sau đó di chuyển giữa các vùng New England và Anh cũ vài lần trước khi định cư ở London. Kể từ khi kết thúc khóa luật vào năm 2002, anh đã làm nhiều công việc khác nhau nhưng không có việc nào liên quan đến luật.
Ngoài công việc sáng tác, sở thích của anh còn bao gồm bơi lội, làm việc tình nguyện, chơi ô chữ và đã từng dành được những phần thưởng lớn. Anh cũng đồng thời là biên tập mảng văn xuôi trên trang web www.short-stories.co.uk
 
CHẾT VÌ Ô CHỮ HAY CHỮ M CHO KẺ GIẾT NGƯỜI(1)
Tác giả: Charlie Fish (Mỹ)
Hôm nay là một ngày nóng nực và tôi cảm thấy căm ghét vợ mình.
Chúng tôi đang chơi trò ô chữ. Thật chán không bút nào tả xiết. Tôi năm nay bốn mươi hai tuổi và tất cả những gì tôi có thể được phép làm trong một trưa chủ nhật nóng cháy da là chơi ô chữ.
Lẽ ra tôi có thể ra ngoài, tập thể thao, tiêu tiền, gặp gỡ mọi người. Có lẽ từ sáng thứ năm đến giờ, tôi chưa được nói chuyện với ai ngoại trừ vợ mình. À không, sáng thứ năm tôi có nói vài câu với người đưa sữa.
Những chữ cái tôi xếp không khớp.
Tôi mới được có 24 điểm. Tôi đang phải xếp chữ “Khởi đầu”(Begin). Tôi đặt chữ N lên ngôi sao màu hồng nhỏ xíu.
Tôi quan sát thái độ tự mãn của vợ tôi khi cô ta xếp lại các chữ cái. Tôi thấy ghét cô ta. Nếu cô ta không quanh quẩn ở nhà thì tôi đã có thể làm những công việc ưa thích của mình rồi. Tôi sẽ trèo lên ngọn Kilimanjaro. Tôi có thể xem bộ phim Bom Tấn mới nhất của Hollywood. Tôi có thể tham gia cuộc thi đua thuyền vòng quanh thế giới Vendee Globe trên một con thuyền buồm dài gần hai mét có tên là New Horizon. Tôi không chắc lắm nhưng chắc chắn tôi sẽ làm một việc gì đó thật thú vị.
Cô ta bắt đầu xếp chữ “điềm gở”(JINXED). Cô ta xếp chữ J lên ô điểm thưởng. 30 điểm. Cô ta lạ thắng lại. Có lẽ tôi nên giết chết cô ta mới phải.
Giá như tôi có chữ D thì tôi có thể xếp chữ “Kẻ giết người” (Murder). Đó sẽ là một dấu hiệu.
Tôi bắt đầu cắn góc chữ U của tôi. Đó là một thói quen xấu, tôi biết thế. Tất cả các chữ cái đều bị tôi gặm nhắm đến sờn cả ra. Tôi xếp chữ “Nóng hơn” (Warmer) vào ô 22 điểm và lại tiếp tục gặm chữ U.
Khi tôi nhặt các chữ cái đựng trong túi lên, tôi bất chợt nảy ra ý nghĩ rằng, các chữ cái sẽ mách bảo cho tôi biết tôi phải làm gì. Nếu chúng đủ chữ “Giết người” (KILL) hay “đâm chết” (STAB) hoặc tên của cô ta, hoặc bất cứ chữ gì tương tự, thì tôi sẽ thực hiện điều đó ngay lập tức. Tôi sẽ kết liễu cô ta.
Các chữ cái mà tôi nhặt được có các chữ MIHZPA, cộng thêm cả chữ U ở trong miệng tôi nữa. Mẹ kiếp.
Ánh nắng mặt trời rọi qua cửa sổ. Tôi có thể nghe thấy tiếng lũ côn trùng đang vo ve ngoài cửa. Tôi hy vọng rằng đó không phải là những con ong. Thằng em họ Harold của tôi đã nuốt phải một con ong hồi nó chín tuổi. Sau đó cổ họng nó sưng phồng lên và nó chết. Tôi hy vọng rằng nếu đấy là những con ong thì chúng sẽ bay thẳng vào cổ họng vợ tôi.
Cô ta đang xếp chữ “Đổ mồ hôi” (SWEATIER) bằng tất cả các chữ cái còn lại của cô ta. Cô ta được 24 điểm cộng thêm 50 điểm thưởng nữa. Nếu như trời không quá nóng để có thể dịch chuyển thì tôi đã bóp cổ cô ta ngay lúc này rồi.
Mồ hôi càng lúc càng ướt đẫm người tôi. Trời này cần một cơn mưa để làm sạch không khí. Ngay khi ý nghĩ đó vọt qua óc thì tôi đã tìm được ngay một từ hợp lý “Ẩm ướt” (HUMID). Tôi xếp từ này lên ô điểm thưởng, sử dụng chữ D của từ JINXD. Chữ U văng ra một ít nước bọt khi tọi đặt nó xuống. Tôi thắng 22 điểm. Tôi hy vọng rằng những chữ cái này sẽ làm cô ta kinh tởm.
Cô ta cũng nói với tôi rằng thật kinh tởm. Và vì một vài lý do, tôi càng căm ghét cô ta.
Cô ta xếp chữa “Quạt” (FAN), chữ F để lên ô đúp, sau đó đứng dậy đặt ấm nước và bật điều hòa.
Hôm nay là một ngày nóng nhất trong vòng mười năm trở lại đây và vợ tôi thì đi cắm nước sôi. Đó là lý do tại sao tôi lại ghét cô ta. Tôi xếp chữ “vù vù” (ZAPS), chữ Z cũng để ở ô đúp, cùng lúc đó cô ta bị điện giật từ ổ cắm điều hòa. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút.
Cô ta ngồi xuống kèm theo một tiếng thở dài nặng nề và lại bắt đầu sắp xếp các con chữ. Những tiếng cách cách lại nổi lên. Tôi cảm thấy một cơn giận ghê gớm đang lớn dần lên. Nó như một liều độc dược đang ngắm dần từ bên trong ra khắp da thịt tôi. Và khi chất độc đó lan ra đến các đầu ngón tay tôi sẽ nhảy dựng lên, hất tất cả các chữ cái xuống sàn và sẽ đánh cho cô ta một trận.
Cơn giận đã lan ra mười đầu ngón tay. Tim tôi đập mạnh. Người tôi vã mồ hôi. Tôi nghĩ rằng khuôn mặt mình lúc này hẳn là đang co giật. Sau đó, tôi hít thở, thở rất sâu và ngồi lại vào ghế của mình. Ấm nước bắt đầu reo. Và âm thanh của nó càng khiến tôi cảm thấy nóng nực.
Cô ta xếp chữ “sẵn sàng” (READY) vào ô đúp 18 điểm, sau đó tự đi pha cho mình một tách trà. Không, tôi không muốn uống trà.
Tôi thừa cơ đó lén giấu một ô trống trong túi đựng chữ cái và ném vào đó một chữ V. Cô ta nhìn tôi nghi ngờ. Cô ta cầm tách trà ngồi xuống, đặt tách lên bàn trong khi tôi xếp một từ tám chữ cái “Lừa đảo” (CHEATING), sử dụng chữ A trong từ “Sẵn sàng” (READY). 64 điểm, bao gồm cả 50 điểm thưởng, điều đó nghĩa là tôi đã thắng cô ta.
Cô ta hỏi rằng tôi có chơi ăn gian không đấy.
Tôi thực sự vô cùng căm ghét cô ta.
Cô ta xếp chữ “bỏ qua” (IGNORE) vào ô gấp ba với 21 điểm. Điểm của cô ta đang là 153, còn tôi là 155.
Hơi nước bốc lên từ tách trà khiến tôi phát ngốt. Tôi đang cố gắng xếp được chữ nào liên quan đến việc giết người từ những chữ cái mà tôi bốc được, nhưng cuối cùng chữ tốt nhất mà tôi có thể xếp là từ “đi ngủ” (SLEEP).
Vợ tôi lúc nào cũng ngủ. Cô ta ngủ trong khi hàng xóm sát vách đang cãi nhau ấm ấm, trong khi họ đập phá cửa nhà, đập phá tivi và một con lật đật cùng tỷ thứ khác bay vèo vèo ra ngoài. Và rồi hôm sau cô ta cằn nhằn tôi vì cái tội cáu kỉnh do thiếu ngủ.
Giá mà có cách nào đó giúp tôi thoát khỏi cô ta.
Tôi phát hiện ra một cơ hội để thắng điểm. Tôi xếp chữ “nổ tung” (EXPLODES), sủ dũng chữ X của từ JINXED. 72 điểm. Rồi cô ta sẽ thấy.
Khi tôi đặt chữ cái cuối cùng xuống, có một tiếng nổ kinh hoàng phát ra từ bộ phận điều hòa.
Tim tôi đập rộn lên, không phải vì tiếng nổ đó, mà vì mặc dù không tin vào điều đó, nhưng tôi vẫn phải khẳng định rằng đó không phải sự ngẫu nhiên. Đó là do các con chữ cái gây ra. Trước đó, tôi đã xếp từ “Lừa đảo” khi tôi chơi gian và từ “vù vù” rồi sau đó vợ tôi bị điện giật. Những chữ cái đã trở thành sự thật. Những chữ cái này đang lựa chọn tương lai cho chúng. Và cả trò chơi này có tên “điềm gở” (JINXED).
Vợ tôi bắt đầu xếp sang chữ “dấu hiệu” (SIGN), với chữ N đặt vào ô thưởng ba 10 điểm.
Tôi phải thử mới được.
Tôi phải xếp một chữ gì đó và xem liệu điều đó có trở thành sự thật không. Một thứ gì đó mà tôi không nghĩ đến, để chứng minh rằng các con chữ này sẽ trở thành hiện thực. Tôi bốc được các chữ cái ABOYFWE. Như vậy nghĩa là tôi sẽ có rất nhiều sự lựa chọn. Tôi bắt đầu gặm nhấm chữ B một cách điên cuồng.
Tôi xếp chữ “bay” (FLY)(2) sử dụng chữ L từ EXPLODES. Tôi ngã người ra sau ghế và nhắm mắt lại, chờ đợi một cảm giác được nâng lên từ chiếc ghế. Chờ bay.
Thật ngốc nghếch. Tôi mở mắt. Có một con ruồi. Một con côn trùng đang vo ve trên bàn ô chữ. Nó bị thu hút bởi hơi ấm đang tỏa ra từ tách trà. Điều đó chẳng chứng minh được gì. Lũ ruồi có thể xuất hiện ở đây bất cứ lúc nào.
Tôi cần phải xếp một chữ gì đó đơn giản. Một chữ gì đó không thể hiểu sai đi được. Một chữ gì đó dứt khoát vá quyết định. Một chữ gì đó kết thúc. Một chữ gì đó liên quan đến chết chóc.
Vợ tôi lại xếp chữ “cẩn thận” (CAUTION), dành một ô trống cho chữ N.
Những chữ cái bốc được của tôi chỉ còn chữ AQWEUK, cộng với chữ B đang ngậm trong miệng. Tôi đang bị chi phối bởi sức mạnh của các con chữ và vô cùng thất vọng vì không thể điều khiển được chúng. Có lẽ tôi lại phải chơi gian thôi. Tôi cần các chữ cái nào có thể xếp cd từ “giết” (SLAY) hay “cắt cổ” (SLASH). Ý nghĩ này bắt đầu tấn công tôi. Một từ hoàn hảo. Một từ kinh khủng, nguy hiểm và mạnh mẽ.
Tôi xếp chữ “động đất” (QUAKE)(3) vào ô 19 điểm.
Tôi phân vân không biết liệu sức mạnh của một cơn động đất sẽ tương xứng với bao nhiêu điểm. Tôi có thể cảm thấy những luồng run rẩy đang trào dâng trong huyết quản. Tôi đang điều khiển định mệnh. Tôi đang dùng mánh khóe với số phận.
Vợ tôi xếp chữ “chết” (DEATH) vào ô 34 điểm ngay khi căn phòng bắt đầu rung chuyển.
Tôi há hốc miệng vì ngạc nhiên và vì sự thật đang bắt đầu thành hình. Chữ B tôi đang ngậm trong miệng bắn vào cổ họng tôi. Tôi cố gắng ho. Mặt tôi đỏ lên, rồi chuyển sang màu tái xanh. Cổ họng tôi sưng tấy. Cơn động đất đã lên đến đỉnh điểm.
Tôi ngã lăn ra. Còn vợ tôi đang ngồi nguyên đó, thản nhiên chứng kiến.
 
BÁN CON
Samruam Singh (Thái Lan)
Xong việc gửi thư cho Yai Phloy, Lung Maa không biết sẽ phải nói gì với con. Tim ông đau nhói vì biết rằng những lời mà Yai Phloy thốt ra khi đó hoàn toàn chỉ là dối trá. Nhưng ông còn biết làm gì bây giờ? Dù thế nào, ông cũng phải để con gái đi với Yai Phloy thôi. Không những ông tự biến mình thành kẻ đê tiện bằng cách thừa nhận công khai với mọi người rằng ông túng thiếu đến mức phải bán đi đứa con gái của mình mà còn để cho Yai Phloy tiếp tục trò lừa gạt điêu luyện của mụ. Ông chỉ có thể bụng bảo dạ rằng mình đã bị mụ Yai Phloy lừa gạt. Trong bất kì trường hợp nào, một người đàn ông thà chịu nhục vì bị lừa còn hơn cái nỗi nhục nhã vì bán con đi làm đĩ.
Yai Phloy ăn nói xuôi tai lắm. Mụ dễ dàng dụ dỗ mọi người bằng những lời đường mật. Yai Phloy giải thích cặn kẽ rằng bọn trẻ con bây giờ càng ngày càng hư hỏng, đặc biệt là trẻ con thành phố, nhất là ở Bangkok. Nguồn cơn chính là do bố mẹ chúng quanh năm bận rộn với công việc, phấn đấu làm giàu, nên thậm chí chẳng có đủ thời gian để ở nhà với con cái. Thuê được người chăm nom cho bọn trẻ không phải là dễ. Lo nhất là nhiều khi lũ người làm lặn mất tăm mất dạng với đống của cải trong nha. Đấy, vấn đề là ít người giúp việc có thể tin tưởng được. Vậy nên một số người giàu có ở Bangkok đã nhờ Yai Phloy tìm những cô gái đáng tin cậy để làm giúp. Họ sẽ trả lương hậu hĩnh và sau một thời gian thử việc sẽ tăng tiền lương.
Mặc dù không phải người cùng làng, nhưng Lung Maa biết Yai Phloy từ khi mụ còn là một đứa con gái. Hồi ấy, sắc đẹp của mụ nổi danh khắp vùng. Nhiều chàng trai sẵn sàng cạnh tranh để được sỡ hữu mụ, nhưng Yai Phloy vẫn rời khỏi đất quê nghèo, theo chân một tên lừa lọc lên Bangkok. Lâu, rất lâu sau đó, cuối cùng mụ cũng trở lại, như một quý bà Bangkok thực sự, với kiểu cách ngạo mạn và lối sống phô trương. Yai Phloy đi lại Bangkok thường xuyên. Trong số những cô gái cùng đi với mụ lên Bangkok, một số quay trở về với tình cảnh còn nghèo khổ hơn trước khi đi. Còn một số thì mất tích.
Lung Maa biết rất rõ những cô gái đi với Yai Phloy đến Bangkok sẽ phải làm loại công việc gì. Vì một hôm, ông lên trung tâm y tế huyện tiêm phòng. Hai vị bác sĩ ở đó đã dè dặt kể với ông rằng hai, ba cô gái đi với Yai Phloy lên thành phố đã quay trở về với căn bệnh lậu, bệnh nặng đến nỗi trung tâm phải gửi họ lên thành phố điều trị.
Lung Maa cố nén tiếng thở dài khi nghĩ đến đứa con gái sẽ sớm phải chịu chung số phận với những cô gái bất hạnh kia. Ông muốn nói cho nó hiểu, nhưng ông không biết phải nói gì đây.
Paa Saeng, vợ ông vẫn nằm trong bệnh viện vì bệnh đường ruột. Bà đang chờ đợi số tiền sẽ được dùng để trả tiền máu và phẫu thuật, để kéo dài sự sống. Sự tồn tại của bà, dẫu vậy, cũng chỉ là kéo dài thêm nỗi đau đớn mà thôi.
Ông không thể vay mượn tiền của ai được nữa. Số tiền nợ ông gánh trên vai bây giờ đã lên đến 10.000 bạt. Ông đã mắc nợ từ gần mười năm nay rồi. Trong suốt ngần ấy thời gian, mọi nỗ lực của ông chỉ đủ để thu xếp số tiền lãi.
Một năm nọ, tỏi bỗng được giá một cách khác thường, đó chính là lí do đã đẩy ông đến tình cảnh hiện tại. Các lái buôn trực tiếp vào làng, mua với giá 14 đến 15 bạt một kí. Điều đó có nghĩa là Lung Maa sẽ có đủ tiền để nghĩ về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vậy là ông đi vay mượn 10.000 bạt. Ông mua liền ba sào đất bằng số tiền đó cộng với chỗ mà ông đã tích cóp được. Đổi lại, ông phải trả mức lãi là 150 giạ thóc mỗi năm. Ông lên kế hoạch sẽ dùng toàn bộ mùa vụ thu được từ mảnh đất mới mua để trả tiền lãi và dùng số tiền thu được trong mùa khô để trả món nợ gốc.
Nhưng vận may đã không đến. Năm sau, giá tỏi hạ xuống đột ngột, mỗ ký hạ từ 30 đến 50 satang. Ông đã cố thuyết phục các lái buôn bằng cách mang tỏi đến tận kho hàng, mặc dù ông phải mua hạt giống với giá rất cao, tới gần 50 bạt một cân. Năm đó là khởi đầu chu kì xuống dốc của Lung Maa. Mặc dù ông đã cố vùng vẫy, vật lộn bằng cách thử trồng các giống cây khác, nhưng số tiền lãi kiếm được chỉ đủ để nuôi sống gia đình. Rồi sau đó, giá gạo cũng bắt đầu rớt xuống 5 bạt một giạ, buộc ông phải trao lại mảnh đất cho chủ nợ. Nhưng vẫn còn đó khoản nợ trị giá hơn cả mảnh đất mà ông được thừa hưởng từ bố mẹ. Số nợ vẫn đều đặn tăng lên. Giờ ông vẫn cầy cuốc trên bốn sào còn lại mà chẳng có gì là tài sản của riêng mình vì mảnh ruộng đã phải mang đi trả cho chỗ lãi ròng rồi. Hy vọng về một ngày có thể xóa hết nợ đã tan biến.
Nhớ về quá khư, ông bỗng ứa nước mắt, những giọt nước mắt chua xót cho số phận, càng chua xót hơn khi ông nghĩ về tương lai. Một hay hai ngày nữa, con gái ông, dù vẫn đang sống trên đời, sẽ bị đẩy xuống địa ngục trần gian ở Bangkok.
Một, hai tuần nữa, ông sẽ phải đối mặt cái nhìn tàn nhẫn của chủ nợ khi đến gom 200 giạ thóc. Năm nay trời mua ít, vì vậy ông không dám chắc liệu ông có đủ thóc để trả và liệu có còn lại chút thóc nào trong nhà không. Nỗi thống khổ dày vò ông khi nhớ lại lời chủ nợ: “Maa, số tiền ông nợ tôi giờ đã lớn hơn giá trị mảnh đất mà ông thế chấp. Tôi làm gì bây giờ? Nếu vẫn cứ như thế này, tôi sẽ phải đòi đất và nhà của ông. Năm sau con trai tôi đi du học nên tôi sẽ phải chi tiêu rất nhiều. Nên ông cố trả tôi đi, trả chỗ lãi trước cũng được.”
Bây giờ thì con gái ông đã đi với Yai Phloy rồi. Ông cố cầm nước mắt. Từng lời ông nói với con gái chỉ để khuyên con chịu khó nghe lời Yai Phloy. Nếu có chuyện gì, nó nên viết thư cho ông biết. Ông an ủi con rằng nếu có cơ hội ông sẽ lên thăm nó. Lúc trước ông đã nghĩ ra bao nhiêu để nói với con gái nhưng cuối cùng lại chẳng nói được gì. Chỗ 2500 bạt ông nhận từ Yai Phloy cũng gần đủ để trả viện phí cho bà Paa Saeng.
Khi bà trở về nhà và biết rằng con gái bà đã đi theo Yai Phloy, bà chết ngất. Tỉnh lại, bà lại thổn thức. Bà không nói một lời và thậm chí còn không thèm nhìn mặt Lung Maa và năm đứa con còn lại. Lung Maa không biết nói gì, và ông đành trốn tránh sự im lặng bằng việc cột tre quen thuộc.
Tối muộn, khi con cái đã đi ngủ, bà Paa Saeng mới cất giọng nghèn nghẹn.
-Ông Maa, ông có biết mụ Yai Phloy đưa con gái ta đi làm gì không?
-Mẹ nó ạ, tôi biết, nhưng không thể khác được. Bà cũng biết là tôi không còn sự lựa chọn. Bà nằm viện, nếu chúng ta không có tiền trả tiền thuốc, mua máu, truyền dịch và bao nhiêu phụ phí khác, bác sĩ sẽ không đồng ý chữa cho bà. Bà vẫn giận tôi à?
-Không, tôi không giận. Từ lúc sinh ra đến giờ, chẳng có gì là tôi chưa trải qua cả, nhưng tôi thấy buồn quá.
-Bà có biết những chuyện về Yai Phloy không?
-Dân trong làng đều biết quá rõ về mụ ta. Mụ đã mang bán vài đứa con gái của họ rồi. Một số đứa thì được trả giá hơn 500 bạt, số khác thì khoảng 200 đến 300 bạt. Mụ bán bất kì cái gì có thể bán. Mụ làm đĩ từ hồi còn trẻ. Khi không còn bán thân được nữa thì quay ra bán các cô gái trẻ. Bố mẹ chúng đều nợ nần chồng chất.
-Tôi lo cho con. Tôi thấy thương nó quá. Từ khi nó đi, tôi chẳng ngủ được.
-Ông Maa, chuyện đã lỡ rồi, không thay đổi được nữa, vậy nên mình chỉ có thể để mọi chuyện qua đi. Mình phải cùng nhau gánh chịu những lỗi lầm đã gây ra thôi. Hãy coi như nó đã đi lấy chồng. Nhưng… từ giờ đến lúc nó có thể kiếm đủ tiền để giúp đỡ bố mẹ, tôi tự hỏi không biết nó sẽ phải trải qua bao nhiêu đời chồng đây…
 
BÓNG ĐÊM BAO TRÙM
Vicente Rivera (Philippin)
Một đêm tháng tám năm 1941, tôi bước ra khỏi rạp chiếu phim và cảm thấy bóng đêm đã bao trùm, tĩnh lặng và lạnh lẽo. Tôi rùng mình trong khoảnh khắc đứng trên con phố chật hẹp, ngước nhìn bầu trời thăm thẳm đầy ánh sao. Tôi đứng nguyên đó, để mặc những cơn gió đêm thấm qua cơ thể. Tôi lắng tai nghe. Đường phố yên tĩnh. Những ngôi nhà lờ mờ hiện hình thành những bóng đen ma quái đang lởn vởn. Tôi luôn thích đứng trên những đường phố yên tĩnh vào buổi đêm. Và tôi luôn dừng lại trên phố để lắng nghe những âm thanh vô định. Có thể đó là những tiếng kêu khe khẽ quẩn quanh những đường phố vắng và những ngôi nhà đang say giấc.
Tôi sống trong một căn hộ cũ kỹ, đổ nát đối diện rạp chiếu phim. Từ đây, tôi có thể nhìn váo sân giữa, nhìn thấy những căn hộ đơn dành cho người thuê sắp hàng với nhau, mỗi hộ chen chúc cả gia đình. Phòng của tôi, giống như căn hộ tầng trệt khác, cũng trông ra sân giữa. Ba người anh em họ của tôi cũng ở cùng phòng. Ngay khi bước vào sân, tôi nhận ra rằng đèn bàn học của tôi vẫn đang bật sáng, ánh điện hắt cả ra ngoài hành lang. Lúc chập tối, sau bữa cơm chiều, tôi đã vác sách ra định học, song cuối cùng lại mò sang rạp chiếu phim. Có thể tơi đã quên tắt đèn, và những ông anh cũng quên không tắt hộ.
Tôi bước vòng qua vách ngăn phân chia “khu học tập” của tôi và tức thì nhìn thấy một cô gái đang ngồi đọc sách bên bàn. Chúng tôi nhìn nhau, cả hai đều giật mình. Tôi chưa bao giờ gặp cô gái này bao giờ. Cô ta khoảng mười bảy tuổi, mặc váy xanh nhạt. Mái tóc dài của cô suông thẳng xuống bờ vai. Cô ta đang đọc bản chép “Thần thoại Hy Lạp” của tôi.
Đôi mắt cô mở to, thoáng vẻ sợ hãi. Một hồi lâu chẳng ai trong chúng tôi nói câu gì. Cô đẹp rực rỡ với nước da màu ô liu mềm mịn đang sáng rực dưới ánh đèn vàng. Mũi cô nhỏ nhắn và thanh tú. Đôi môi hồng đầy đặn với đường nét rõ ràng. Và còn gì nữa nhỉ? Trông cô ta có vẻ gì đó hơi cô đơn, hơi mất mát?
-Tôi biết – Tôi lên tiếng – Tôi cũng thích cuốn sách đó. Tôi đọc bất kỳ thứ gì tôi có thể tìm thấy trên Trái đất này. Cô ngồi đọc lâu chưa?
-Vâng – Cô nói, mắt không nhìn tôi nữa. Cô từ từ đứng lên và gấp sách lại – Tôi xin lỗi.
-Cô không muốn đọc nữa sao? – Tôi hỏi cô, miệng cố gắng mỉm cười, cố gắng làm cô cảm thấy thoải mái.
-Không – Cô đáp – Cảm ơn anh.
-Ồ vâng – Tôi lấy cuốn sách – Đã muộn rồi. Chắc cô cũng phải đi ngủ. Nhưng cô có thể cầm về đọc cũng được.
Cô hơi lưỡng lự rồi bẽn lẽn cầm cuốn sách. Mắt dán xuống những ngón chân như chưa biết nên đi theo hướng nào.
-Cô sống ở đây à? – Tôi hỏi.
-Vâng.
-Phòng nào?
Cô hất đầu về phía góc cuối cùng, phía bên kia sân, chỗ căn phòng nhỏ hẹp gần khu bếp chung. Đó là căn phòng dành cho người gác cổng: bé xíu, không có cửa sổ mà chỉ có một lỗ thông hơi phía trên cửa.
-Cô ở với ông Mang Lucio à?
-Đó là bác tôi.
-Cô ở đây lâu chưa? Tôi chưa gặp cô bao giờ thì phải?
-Tôi vẫn ở đầy mà. Tôi đã gặp anh rồi.
-Ồ vậy hả. Chúc cô ngủ ngon nhé. Tên cô là gì vậy?
-Maria.
-Chúc ngủ ngon, Maria.
Cô nhánh chóng quay đi, băng ngang qua sân về thẳng phòng mình và đóng cửa mà không hề ngoái lại.
Tôi cởi quần áo, tắt đèn, nằm xuống giường và nghĩ về những điều xa xôi. Tôi mới hai mươi mốt tuổi và lần đầu tiên đi làm. Lương tôi không được nhiều lắm và tôi sống trong một ngôi nhà như sắp đổ ụp lúc nào không biết. Nhưng cuộc sống có vẻ rất ổn. Vào ban đêm, khi những âm thanh ồn ã đã biến mất, khi ta đã nằm yên vị trên giường, thì ta có thể mơ tới những điều tốt đẹp hơn, có thể nhìn lại quá khứ và hướng tới tương lai, sẽ thấy cuộc sống này thật thú vị, cho dù nó có khốc liệt đi chăng nữa. Rồi sau đó, khi màn đêm đã dần giá lạnh, đột nhiên ta sẽ cảm thấy chỉ còn mình ta với thế giới này, trôi dạt vào vùng bí ẩn giữa tỉnh và thức, nỗi cô đơn mơ hồ trỗi dậy đưa ta lọt qua những bức tường với những con người đang say ngủ, đưa ta lang thang tận cùng ngôi nhà, ra tới đường phố, đi khắp hang cùng ngõ hẻm và mọi nơi trên Trái đất.
Một tuần sau đó, tôi gặp lại Maria vào quãng chập tối, lúc tôi đi làm về. Tôi nhìn thấy cô đang bước về phía tôi, chậm rãi, đĩnh đạc. Nhưng tôi không nhận ra Maria mãi cho đến khi cô dừng lại và đối mặt với tôi.
Cô mặc một chiếc váy trắng đã cũ. Cô đi giày thể thao màu nâu mà có lẽ trước đây nó đã từng là màu trắng. Cô dừng lại để ngắm nghía poster phim mới nhất đang dán trước cửa rạp chiếu phim.
-Chào cô – Tôi cố cất giọng bình thường.
Cô mỉm cười rồi nhanh chóng nhìn đi chỗ khác. Cô không nói gì, cũng không nhúc nhích. Tôi có thể cảm thấy về thẹn thùng của cô, nhưng nó không còn vẻ ngượng ngùng, căng thẳng và thận trọng như bữa đầu chúng tôi gặp nhau. Tôi đứng cạnh cô, cũng nhìn tấm poster và cố gắng huýt sáo.
Cô quay đi, hơi lưỡng lự rồi nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong đôi mắt đang mở to ấy lại thoáng một nét buồn bã? Tôi mỉm cười, một cảm giác khao khát xa xôi muốn an ủi cô như thể điều đó sẽ khiến cô cảm thấy ổn hơn.
-Để tôi trả lại anh cuốn sách – Cô nói.
-Cô đọc xong rồi à?
-Vâng.
Chúng tôi bước xuôi con phố đã tối sẫm. Phố Magallanes như mọi con phố khác ở Intramuros, vô cùng chật hẹp với những ngôi nhà cũ kỹ, tróc lỡ, thậm chí trong bóng tối chạng vạng cũng không khả dĩ thêm được chút nào.
Chúng tôi đã về đến nhà và tôi đi theo cô vào trong sân. Tôi đứng chờ trước cửa phòng cô trong khi nó đã được khép lại cẩn thận. Cô quay trở lại hầu như ngay lập tức và đưa cho tôi cuốn “Thần thoại Hy Lạp”. Cô đứng cách xa và không nhìn tôi.
-Tên tôi là Feliz. – Tôi nói.
Thốt nhiên cô mỉm cười. Đó là một điệu cười mủm mỉm, gần như chưa thành hình một nụ cười. Nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy khác lạ, một cái gì đó len lén trỗi lên từ một tình bạn thân thiết.
Tôi bước đi, miệng huýt sáo. Khi về đến cửa phòng, tôi dừng bước và ngoái lại đằng sau. Maria không còn ở đó nữa. Cửa phòng của cô đã đóng im ỉm.
Tháng tám năm 1941 là một tháng nóng nực. Cái oi bức của mùa hè đã ngấm vào không khí, đặc biệt là ở Intramuros. Nhưng giống như những ngày cuối hạ khác, vẫn có những buổi trưa dịu nhẹ và trong lành, bầu trời xanh ngăn ngắt đến độ làm óc bạn lân lâng khi nhìn lâu lên đó. Một ngày nọ tôi bước ra khỏi văn phòng vào buổi trưa như thế. Một ngày công việc ngập đầu như tất cả những ngày khác. Tôi cảm thấy thấm mệt. Tôi bước đi chậm chạp về phía ngoại ô thành phố, nơi mà đường phố có phần đã giãn bớt xe cộ. Những cậy cổ thụ trên hè phố cũng cũ kỹ như những bức tường thành bao quanh nội vi. Đi được nửa đường về phía trường học, tôi lại đổi ý và hướng thẳng đến đại lộ Bonifacio. Tôi cần những cơn gió áo ạt, cần bầu trời rộng lớn. Tôi cần tất cả những gì có thể trong một buồi trưa như thế này.
Khi tôi ra đến con lộ lầy lội, thì nhìn thấy Maria đang ngồi trên chiếc ghế băng đầu tiên. Cô trông thấy tôi trước khi tôi nhận ra cô. Khi tôi bước lại gần, Maria nở nụ cười mỉm quen thuộc, nụ cười nói hết những ý nghĩ trong đầu cô mà không cần phải diễn tả bằng lời.
-Chào cô – Tôi cất lời – Trái đất thật là nhỏ bé.
-Gì cơ?
-Tôi nói là thật vui khi được gặp cô. Cô hay đến đây à?
-Thường xuyên. Tôi cũng hay đi ra ngoài.
-Bác cô có phản đối không?
-Không. Ông ấy chẳng bao giờ đi chơi. Hơn nữa, ông ấy cũng không quan tâm đến chuyện đó.
-Cô đang đi đâu vậy?
-Ồ, đi ra thành. Tôi định ra mấy vườn hoa ở đó, gần cổng Victoria. Anh biết chỗ đấy không?
-Tôi nghĩ là có. Cô định ra đó làm gì?
-Ngồi đó và…
-Và gì?
-Không gì cả. Chỉ ngồi thôi.
Cô im lặng. Một cái gì đó dường như đã xuất hiện giữa hai chúng tôi. Đột nhiên cô trở nên xa cách, hệt như lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Tôi quyết định thay đổi chủ đề.
-Xem nào – Tôi nói vẻ dè chừng – Nhà cô ở đâu?
-Ý anh muốn nhắc đến bố mẹ tôi?
-Ừ, cả anh chị em của cô nữa, nếu có.
-Bố mẹ tôi mất rồi. Chị gái tôi đã đi lấy chồng. Chị ấy sống trên tỉnh. Chẳng còn ai nữa cả.
-Cô sống với bác à?
-Tôi nghĩ thế.
Chúng tôi lại im lặng. Maria không hề lúng túng khi trả lời những câu hỏi của tôi. Giọng nói của cô không cảm xúc, không âm điệu.
-Cô đang đi học à?
-Vâng.
-Lớp mấy?
-Lớp sáu.
-Ở đó có được không?
-Ồ tốt lắm.
-Tôi biết là cô thích đọc sách.
Cô không trả lời. Chiều đã muộn. Những cơn gió thổi từ biển vào đã lịm tắt. Những làn hơi ấm cuối cùng của mặt trời cũng dần bị bao bọc bởi những cơn gió lạnh. Những tán cây và tòa nhà phía đằng xa dường như nhòa vào một tấm màn màu vàng cam. Đó là thời khắc mà tôi yêu thích nhất trong ngày. Tôi và Maria vẫn ngồi cạnh nhau, cố định nghĩa sự im lặng giữa chúng tôi và cái điều khiến chúng tôi ngồi cùng nhau trên một băng ghế đại lộ, một chàng trai và một cô gái, càng lúc càng trở nên lạ lẫm, một điều mà không ai trả lời được, tự nhiên và vô hình như những chiếc bóng dài lúc hoàng hôn xuống.
Những ngày sau đó, thời tiết đã chuyển sang mùa mưa. Đường phố trở nên u ám và xám xịt trong những đợt gió mùa đầu tiên. Không còn những cuộc dạo chơi dứi ánh nắng mặt trời. Tôi cảm thấy lòng mình cũng giá lạnh.
Giờ thì tôi và Maria đã là bạn của nhau mặc dù chúng tôi gặp nhau rất ít. Tôi cũng bắt đầu tập trung vào việc học. Vả lại cũng không có việc gì để làm ở thành phố trong thời tiết như vậy. Tháng chín đến và đi.
Tháng mười một, ánh mặt trời đã xuyên thủng những đám mây u ám và trong vòng ba bốn ngày, thời tiết trở nên dễ chịu. Và tâm trí tôi lúc này di chuyển từ bàn làm việc ra khỏi những bức tường cơ quan, bay tới khu vườn hoa ngoài thành và những băng ghế dưới bóng cây trên đại lộ. Một lần, khi tôi đang làm việc, đầu óc tôi bắt đầu bị phân tán như thỉnh thoảng vẫn thế, nó quay lại thời khắc gặp Maria lần đầu tiên. Và hồi ức rõ ràng và sắc nét đến độ tôi có thể nhìn thấy rõ ánh đèn điện, bóng tối và sự tĩnh lặng bao quanh chúng tôi. Và Maria, với đôi mắt mở to, ánh nhìn buồn bã…
Tháng mười hai, tôi bị lên cơn sốt. Trong thời gian nghỉ ốm, tôi về nhà trên tỉnh. Tôi ở nhà ba ngày. Tôi cảm thấy bứt rứt như thể mình không còn là mình nữa vậy. Tôi cho rằng những người ốm thường phải chịu đựng cảm giác như vậy.
Một cơn mưa như trút nước ào xuống lúc tôi lên tàu trở về Manila. Ngoài cửa sổ, phong cảnh trải dài với những cánh đồng và đồi núi bất tận. Liệu có phải tiếng tàu hỏa va vào đường ray luôn khiến ta cảm thấy u ám? Liệu có phải trong lúc ốm đau, lúc nằm trên giường bệnh, ta cảm thấy như vừa tỉnh giấc sau một cơn mơ và ta buồn bã khi nhớ về những con đường, những ngôi nhà và những con người mà ta quen biết?
Tháng mười hai, chúng tôi đã chứng kiến những trận máy bay oanh tạc đầu tiên.
Một đêm nọ, tôi đi trên những con phố tối om để trở về nhà. Tôi cố gắng cười nhạo mọi thứ, như thể không ai và không có gì đáng để quan tâm nữa.
Tôi về phòng đúng lúc tiếng còi báo động rú lên kinh hoàng. Tôi cởi quần áo và khoác bộ đồ mặc dở vào. Đêm rất tối. Tôi bước ra ngoài hành lang và ngồi xuống chiếc ghế tựa. Tôi nghe xung quanh tiếng chân chạy và tiếng nói, như thể của những người vô hình. Tôi ngồi yên lặng, e dè và lạnh cóng.
-Có phải anh đấy không, Felix?
-Ừ, anh đây, Maria.
Cô đang đứng cạnh ghế, sát vào tường. Giọng cô nhỏ và tan ra trong bóng đêm. Một cơn ớn lạnh chạy qua người tôi. Rất lâu sau cô không nói gì cả.
-Em không thích bóng tối – Cô nói.
-Ồ, xem nào. Lúc ngủ em vẫn tắt đèn chứ?
-Nhưng nó không tối tăm kiểu này – Cô nói khẽ - Bóng đêm bao trùm cả thế giới.
Chúng tôi không nói gì nữa cho đến khi đèn được bật sáng trở lại và cô biến mất.
Không lâu sau đó chiến tranh nổ ra.
Đầu tiên, mọi thứ dường như vô thực. Giống như ta đang sống cùng những cảm xúc trên màn ảnh và ta vừa đóng vai nhân vật vừa đóng vai khán giả. Nhưng tiếng bom nổ là hiện thực, nó va đập vào thính giác một cách phũ phàng.
ở Intramuros, người dân rời khỏi nhà ngay trong đêm đầu tiên của cuộc chiến. Nhiều người chui xuống những hố sâu dưới chân thành ngay khi họ nghe thấy tiếng còi báo động. Tối hôm đó, tôi trở về và thấy khu nhà vắng tanh. Nhưng người gác cổng thì vẫn ở lại. Người anh họ đã gia nhập quân ngũ cũng ở lại. Còn những người thuê khác đã bỏ đi hết.
Tôi hỏi ông Mang Lucio:
-Maria đâu?
-Nó ra đi thành cùng bác gái nó rồi – Ông ta nói vậy – Đêm nay họ lánh tạm ở đó.
Người anh họ của tôi cũng đã nói thế lúc sáng nay, khi chúng tôi chuẩn bị chuyển sang khu Singalong. Bên đó có một ngôi nhà cho thuê. Lý do duy nhất để anh ở lại là vì chúng tôi không chuyển được đồ. Ngày mai, đồ đạc sẽ phải chuyển đi ngay lập tức.
-Thế còn bác, bác Mang Lucio?
-Tôi không biết phải đi đâu nữa.
Chúng tôi ăn thịt lợn đóng hộp, đậu và bánh mì. Chúng tôi ngủ trên nền nhà, dưới những bóng đèn bọc vải đen, ngủ một cách khó nhọc.
Tôi thức dậy sớm. Việc thức dậy trong một ngôi nhà hàng ngày vẫn vang tiếng cười nói nhưng giờ đây trở nên yên ắng đến đáng sợ thật không dễ chịu gì. Trong bếp, mùi thức ăn bay ra và tiềng xoong chảo va vào nhau lách cách.
-Ai đấy – Tôi lên tiếng.
Đó là Maria. Cô đang rang cơm. Cô quay lại và nhìn tôi một hồi lâu. Sau đó, không nói một lời, cô tiếp tục công việc náu nướng.
-Em và bác sẽ đi chứ?
-Em không biết?
-Ông ấy có nói gì với em không?
-Không.
-Bọn anh sẽ chuyển sang khu Singalong.
-Có, em biết.
-Dầu sao, hôm nay anh cũng sẽ về đây. Có lẽ là trưa nay. Vì chúng ta sẽ phải chào tạm biệt nhau nữa.
Cô không nói gì. Tôi giặt giũ xong mọi thứ rồi quay về phòng. Tôi mặc quần áo và đi ra ngoài.
Buổi trưa, tôi về Singalong để ăn cơm. Chúng tôi đã chuyển hết đồ về đấy và mọi người đang tất bật để dọn dẹp nhà cửa. Ngay khi vừa ăn xong bữa trưa, tôi trở lại văn phòng. Chỉ còn vài chiếc xe đậu ở đó. Còi báo động vẫn rú lên liên tục. Ánh mặt trời chói chang và những khuôn mặt người trở nên xanh tái và bơ phờ.
Tối hôm đó, tôi trở về con phố quen thuộc. Tôi bị những người làm công tác báo động tình nguyện chặn lại nhiều lần. Ngôi nhà tối om. Tôi đứng hồi lâu trước cửa nha. Có thứ gì đó vẫn chưa muốn để tôi đi. Một ánh đèn chiếu thẳng vào mặt tôi. Một người tình nguyện.
-Cậu sống ở đây à?
-Tôi từng sống ở đây. Cho tới ngày hôm qua. Tôi đang tìm người gác cổng.
-Để làm gì thế, cậu quên cái gì à?
-Vâng, nhưng tôi cho là mình đã đánh mất nó rồi.
-Ồ, tốt hơn là cậu nên đi khỏi đây, con trai. Nơi này, toàn bộ khu vực này đã được chỉ định phải tản cư. Không còn ai sống ở đây hết.
-Vâng tôi biết – Tôi nói – Không còn ai nữa.
 
(1)   Murder: giết người.
(2)   Fly: còn có nghĩa là con ruồi.
(3)   Quake: còn có nghĩa là run rẩy.
 
 
 
 
 

 

0
KEI ĐI MẤT RỒI

Suzanne Kamata (Mỹ)

- Mình về nhà thôi.

Phải mất vài phút sau tôi mới định thần được xem Arthur muốn nói gì. Về nhà ư, nhà nào mới được chứ? Về căn hộ chật hẹp mà phòng khác đã choán mất một nửa, về ngôi nhà đằng sau bức tường đá xám xịt, nơi tôi đã từng có cuộc hôn nhân buồn thảm hay về nhà mẹ đẻ tôi cách đây nửa vòng Trái Đất? Lúc này đã muộn lắm rồi, chúng tôi cũng đi dạo được nửa chừng hai tiếng đồng hồ và tôi chắc rằng đầu gối Arthur đã mỏi nhừ còn tôi thì lạnh cóng đến hầu như không còn cảm giác.

Tôi lại bắt đầu nghĩ về những lon bia chất đầy trong tủ lạnh và tự nhủ rằng mình mua chúng về là để cho Arthur mặc dù trên thực tế thì tôi đã uống gần hết. Nửa tháng trước đây, tôi đã gọi anh đến để cầu cứu trong lúc đang say bí tỉ.

- Em mất Kei rồi - Tôi bảo anh thế - Em chẳng còn biết phải làm gì nữa.

Mặc dù lúc đó ở Massachusetts mới chỉ là sáu giờ tháng nhưng giọng của Arthur vẫn ấm áp như mọi khi.

- Hãy cứ chờ ở đó, em thân mến ạ, rồi anh sẽ đến ngay.

Tôi luôn thích cái cách mà anh gọi tôi là "Em thân mến". Lần đầu tiên, khi chúng tôi mới gặp nhau ở trường đại học, tôi đã cho rằng điều này có nghĩa tôi là một điều gì đó rất đặc biệt đối với Arthur. Nhưng chẳng bao lâu sao tôi nhận ra rằng gặp ai anh cũng đều gọi như thế hết. Mặc dù vậy tôi vẫn thích nghe thấy anh nói ra từ đó. Chúng tôi cũng từng là hàng xóm của nhau hồi còn ở Columbia. Khi mới gặp anh, tôi cứ tưởng nhầm anh là người vùng California vì mái tóc vàng hoe và nước da rám nắng. Nhưng ngay khi nhìn thấy cái giỏ kì lạ mà anh dỡ ra khỏi thùng xe tôi đã biết ngay là mình lầm.

- Anh là người Lacrosse - Anh lên tiếng trước.

Còn tôi sau khi thu hết dũng khí cũng tự giới thiệu.

- Tôi ở Boston.

Tôi đã gần như yêu anh ngay khi nhận ra sai lầm rằng mình đã kết hôn với Kennedy.

Mối quan hệ giữa chúng tôi hồi ấy đã không thực sự lãng mạn cho lắm. Một lần chúng tôi cùng nhau xem giải bóng đá thế giới trên chiếc sô-pha của Arthur. Chúng tôi uống bia và sau khi mệt phờ đã cùng leo lên giường ngủ, tuy nhiên chẳng làm gì cả.

- Chúng ta là hàng xóm, Stephanie ạ.

Arthur đã nói thế và từ đó chúng tôi là bạn tốt của nhau. Vào những chiều thứ bảy, chúng tôi thường cùng nhau đi mua bán hay xem phim. Sau đó tôi bắt đầu hẹn hò với một anh chàng học cùng lớp tiếng Pháp còn Arthur cũng hay đi chơi với một cô nàng tóc vàng. Vào năm cuối đại học, Arthur đã rủ tôi đi Mexico nghỉ hè cùng anh với lí do bạn gái đang làm thực tập nên không đi được. Rõ ràng Arthur biết thừa rằng cứ thấy đi du lịch là tôi lại háo  hức đến thế nào. Chúng tôi đặt vé máy bay đi Cancun.

Những ngày đầu thật vui vẻ. Chúng tôi khám phá các di tích của người Inca cổ đại, mua những đồ gốm tinh xảo và đi bơi ở sông Gulf. Vào buổi tối, chúng tôi uống bia lạnh Mexico trên bãi biển và bắt đầu ba hoa về những ước mơ điên rồ. Trong chuyến đi này, chúng tôi góp chung tiền, thuê chung một phòng khách sạn, nhưng ngủ riêng giường, trong sạch như anh em ruột. Rồi một đêm, tôi nghe thấy răng Arthur va vào nhau lách cách như đàn. Tôi ngồi dậy bật đèn và nhìn thấy chiếc áo phông của anh đẫm mồ hôi. Tôi cuống cuồng sử dụng vốn tiếng Tây Ban Nha nghèo nàn để gọi cho anh một chiếc taxi đến bệnh viện, rồi ngồi chờ cả đêm ở phòng đợi. Một ông bác sĩ người Mexico gọi tôi lại bảo.

- Mọi chuyện ổn rồi. Cậu ấy sẽ khỏe lại thôi.

Các bác sĩ cho Arthur uống thuốc nhưng mọi việc lại có vẻ  xấu hơn. Tôi gọi điện cho bố mẹ anh ở Massachusetts và bắt đầu nói như mê sảng qua điện thoại. Cuối cùng họ đã phải làm cho tôi bình tĩnh lại mới hỏi được tên của bệnh viện. Hóa ra là Arthur bị dị ứng kháng sinh. Mọi chuyện rồi cũng tốt đẹp. Tôi đã hết sức lo lắng trong suốt thời gian Arthur nhập viện, còn anh thì có vẻ như hàm ơn tôi.

- Anh mắc nợ em một lần đấy, Stephanie ạ.

Hai tháng sau chúng tôi tốt nghiệp và mỗi người có một con đường riêng của mình. Arthur quay trở lại Boston và mở một cửa hàng bán đồ thể thao, còn tôi đến Nhật Bản để dạy tiếng Anh. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng gửi thư và bưu thiếp cho nhau. Tôi kết hôn và sinh con. Chúng tôi đã không gặp nhau trong suốt những năm tháng qua, mãi cho tới khi tôi gọi điện cho anh.

Tôi và Arthur đã phải leo năm tầng gác mới đến phòng của tôi. Không có cầu thang máy, không bình nước nóng, không điều hòa và đó là tất cả những gì tôi nỗ lực mới có được.

- Lão chủ nhà vừa mới ghé đây hôm qua - Tôi kể với Arthur ngay khi chúng tôi vừa bước vào nhà - Hắn nói rằng sẽ không cho thuê nữa. Dường như tất cả mọi người đều muốn tống cổ em ra khỏi cái đất nước này.

- Đấy là em chỉ tưởng tượng vậy thôi.

- Anh sẽ không tin những gì mà em sắp kể cho anh đâu.

Bố mẹ chồng tôi đã kể lể trước tòa về chuyện tôi đã từng làm việc ở quán bar, về thói nghiện bia của tôi. Họ cho rằng tôi là một người mẹ không hoàn hảo, nhưng họ đã nhìn thấy tôi dạy Kei thắt dây giày bao giờ đâu, họ cũng chưa bao giờ chứng kiến tôi và Kei chơi đồ vui trong bếp như thế nào hay khi mẹ con tôi cùng nhau săn tìm những con bọ cánh cứng ở cánh đồng phía sau nhà.

- Đây là  con trai em - Tôi chỉ cho Arthur chiếc khung ảnh treo trên tường.

Arthur nhìn chăm chú vào đôi mắt hình hạnh nhân và mớ tóc quăn nâu. Có lẽ Kei chỉ thừa hưởng duy nhất ở tôi chiếc mũi hếch và nhọn. Có rất nhiều ảnh của Kei ở trong phòng, có cả tấm hình chụp gần đây nhất nhân ngày hội thể thao của trường, rồi một tấm Kei chụp cùng cha nó và người mẹ kế. Mới đầu tôi đã định cắt cô ta ra khỏi tấm hình, cắt cái bàn tay của cô ta đang đặt lên vai Kei, nhưng cuối cùng tôi lại đặt nó xuống dưới đáy tủ thay vì làm vậy.

- Lần cuối cùng em gặp con là khi nào? - Arthur hỏi, giọng dịu dàng.

Cổ họng tôi thắt lại.

- Em cho là khi đưa nó đến trận đấu bóng tháng trước, nhưng ông bà nội Kei lại nói rằng nó không muốn gặp em nữa.

Tôi phải đặt cốc bia xuống để lấy tay chùi mắt. Arthur ôm tôi vào lòng và tôi cảm thấy vòng tay anh rất đỗi an toàn.

- Anh sẽ ngủ lại với em đêm nay chứ? - Tôi hỏi sau khi đã thổn thức một hồi trên ngực áo của anh - Ý em muốn nói là chỉ ôm em khi em ngủ thôi.

Arthur hôn lên trán tôi.

- Chắc chắn là thế rồi.

Tôi đã nghĩ rằng giấc ngủ sẽ đến nhanh khi vòng tay của Arthur ôm chặt quanh người, nhưng tôi đã nhầm. Có động đất và những con chó hoang bắt đầu tru lên. Arthur thì ngủ ngon lành bất chấp mọi thứ. Tôi trở dậy với cái miệng khô đắng và những tiếng ong ong trong óc. Tôi đang nằm một mình trên giường và có thể nghe thấy tiếng dĩa thìa kêu lách cách trong bếp.

- Xin chào - Tôi cố bước ra khỏi giường  và tiến vào bếp.

Arthur cười tươi tắn.

- Xin mời ngồi. Anh đã chuẩn bị bữa sáng cho em rồi đây.

Hồi còn ở trường đại học, thỉnh thoảng Arthur cũng làm cho tôi bữa ăn tối. Tôi không nói gì, chỉ ngồi và nhìn Arthur mở tủ lạnh: không thịt muối, không trứng gà. Anh mở đến chạn bếp: không có nước sốt, không có bột mì để làm bếp. Chỉ có hai tá hộp rỗng không xếp thành hành như những chú lính.

- Của Kei đấy mà.

Cổ họng tôi lại bắt đầu nghẹn đắng. Khi Kei được năm tuổi, ngay trước khi chúng tôi li dị, tôi đã cho nó về Mỹ để gặp ông bà ngoại. Chúng tôi cùng nhau đi siêu thị và Kei cưỡi ngựa máy ở ngoài.

- Làm gì cho em vui được bây giờ nhỉ?

Tôi uể oải nhấc đĩa sa lát:

- Vui ư, điều đó có nghĩa gì đây?

Chúng tôi lại cùng nhau đi xuống phố, thăm các viện bảo tàng địa phương và đi hát karaoke. Tôi cảm giác mình quay trở về thời sinh viên và nghĩ rằng đây là lần đầu tiên trong suốt thời gian vừa qua tôi cảm thấy hạnh phúc. Tôi dựa đầu lên vai Arthur, ôm chặt lấy anh và cảm thấy môi anh ở phía trên. Tôi bắt đầu cởi từng nút quần của Arthur và nghĩ rằng lẽ ra tôi nên làm điều này từ rất lâu rồi.

- Stephanie.

Tôi có thể cảm thấy từng đợt nhấp nhô trên lồng ngực Arthur.

- Anh sẽ giúp em bình tĩnh trở lại, nhưng không phải theo cách mà em nghĩ đâu.

Tôi rời khỏi Arthur và bắt đầu mở nắp một chai bia.

- Em biết sẽ thế nào chứ? - Arthur nâng cằm tôi lên và nhìn sâu vào mắt tôi - Con trai em chẳng mấy chốc sẽ trưởng thành và không còn cần sự quan tâm như một đứa trẻ nữa. Em và nó có thể trao đổi với nhau qua e-mail, rồi khi ấy em sẽ trở thành người bạn tốt nhất của nó.

Tôi gật đầu. Nhưng liệu Kei có biết rằng tôi vẫn còn tồn tịa trên Trái đất này? Liệu nó có cất công đi tìm tôi không?

- Arthur.

- Gì vậy em.

- Em muốn về nhà.

Chúng tôi bắt đầu sắp xếp những thứ cần thiết để quay trở về Mỹ. Chúng tôi đặt vé máy bay, rồi cùng nhau lau chùi căn hộ. Tôi đóng tài khoản lại và chào tạm biệt bạn bé. Tôi để lại mọi thứ đồ đạc ngoại trừ hai tá hộp đậu của Kei.

Nhà chờ sân bay chật ních người. Tôi lắc đầu thật mạnh để cố không suy nghĩ. Tôi là một người mẹ tồi đến nỗi không thể giữ nổi con trai mình. Nếu tôi là một người mẹ tốt thì sẽ không bao giờ bỏ nó ở lại, tôi sẽ phải bị dằn vặt cho đến chết. Một phụ nữ như tôi lẽ ra không nên sinh con để làm gì cả. Tôi không nói bất cứ câu nào thành lời nhưng dường như Arthur đã đọc hết tất cả trong đầu tôi.

- Stephanie - Anh thì thầm - Ôi! Stephanie.

Anh tiến sát lại gần và đưa bàn tay tôi lên sát môi, hơi thở của anh như lướt trên da thịt tôi. Arthur choàng tay lên vai tôi như ban phước lành vậy.

- Anh tha thứ cho em là được rồi.

Máy bay bắt đầu cất cánh và tôi biết rằng chúng tôi đã sẵn sàng.
0
MẢNH KÍNH VỠ

Dennis R.Rushing (Mỹ)

Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đã bị đâm. Tất cả bằng chứng là đây: vết thương đau âm ỉ và đang rỉ máu. Tiếng thở của tôi rít lên nghe òng ọc và điều đó làm tôi kinh hoàng. Tôi biết là mình bị một vết đâm vào phổi, nhưng tôi phải tìm cách để bảo vệ cô ấy. Cô ấy là bạn gái tôi. Đêm hôm đó chúng tôi đã xảy ra xô xát. Lúc ấy tôi đã thề là tôi mong cho cô ấy chết đi. Nhưng đó chỉ là một cuộc cãi nhau của những người đang yêu và những tiếng la hét của chúng tôi chẳng hề làm ai chú ý.

Tôi đã bảo vệ cô ấy thế nào ư? Một kẻ lạ mặt bất ngờ tấn công tôi rồi lôi cô ấy đi. Bây giờ thì tôi vô cùng hối tiếc là đã đẩy cô ấy ra ngoài và đuổi cô ấy đi, bỏ mặc cô ấy trở thành miếng mồi ngon cho kẻ lạ mặt đang nấp trong bóng tối và chỉ chờ cơ hội để thực hiện điều xấu xa. Hắn ta tấn công tôi nhanh đến nỗi tôi không kịp kêu nữa, rồi đâm vào ngực tôi. Tôi còn kịp nghe tiếng rít của không khí  xì ra từ vết thương trước khi hắn bỏ trốn, mang theo cô ấy. Tôi xé chiếc áo khoác ngoài và nhồi một ống tay áo chặn vết thương to tướng đang chảy máu.

Tuy nhiên tôi vẫn nghe tiếng thét của cô ấy. Tôi đã cố hết sức song lại khuỵu xuống vì vết thương đau khủng khiếp. Tôi mụ cả người đi và bám lấy bức tường gạch trơn ướt để cố đứng lên một lần nữa. Vết thương càng lúc càng đau dữ dội. Dựa vào những bức tường của các ngõ hẻm và tòa nhà, tôi lần theo tiếng kêu cứu của cô ấy. Chẳng bao lâu tôi lết tới một hẻm mà tiếng kêu yếu ớt của cô ấy phát ra từ đó. Trên nền đất là chiếc áo sơ mi của cô ấy bị xé ra thành từng mảnh nhỏ. Vì thế tôi biết chắc rằng tên kia đang hãm hiếp cô ấy, tôi bắt đầu hành động nhanh chóng. Tôi nhìn quanh và thấy một mảnh kính cửa sổ bị vỡ. Tôi vồ lấy nó và mảnh kính vỡ cứa một vệt trong lòng bàn tay tôi, máu cứ thế túa ra nhưng tôi vẫn giữ chặt lấy nó. Tôi kêu tô lên trong lúc khập khiễng đi về phía góc sau cùng của ngõ hẻm. Điều này dường như có vẻ cản trở kẻ lạ mặt đang cố gắng làm việc đồi bại kia và tôi đoán trước là hắn muốn bỏ chạy. Tôi tiếp tục lần theo con hẻm và nhận thấy một hình người lờ mờ trong bóng tối đang dựa vào bức tường gạch. Người này đang thở nặng nề và ngay lập tức tôi nghĩ đó là cô ấy nhưng không chắc lắm.

Lúc đó có một âm thanh phát ra từ phía sau đống rác và tôi lập tức rời sự chú ý khỏi cái người đang đứng ở chỗ bức tường. Khi tôi quay người lại phía đống rác, tôi bị trượt chân và ngã ra sau. Khi tôi ngã, bàn tay đang giữ chắc mảnh kính vỡ đã cứa vào một vật gì đó mềm mềm. Một tiếng kêu tắc nghẹn phát ra từ vật thể dưỡi chân tôi và cái kẻ đang cạnh bức tường kia cười phá lên. Tôi ném mảnh kính vỡ về phía đóm kẻ lạ mặt kia rên lên vì đau và vội trèo qua hàng rào. Tôi bắt đầu mất hết tri giác và ngã nhào lên cái vật mềm đằng sau đống rác.

Mùi nước hoa ngòn ngọt phảng phất.

Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên xe cứu thương. Đó là tất cả những gì mà tôi nhớ được.


"Thưa quí tòa. Các ngài vừa nghe lời chứng từ người đàn ông này trước khi đưa ra phán quyết. Xin hãy nhớ rằng, con dao của kẻ giết cô Tammy Braun được tìm thấy không phải cạnh chỗ anh ta đang nằm và thậm chí còn đinh đầy máu của anh ta nữa"

* * *

Ban hồi thẩm rời khỏi phòng xử án và một giờ sau, họ quay lại để đưa ra phán quyết cuối cùng. Họ tìm thấy đầy đủ các chứng cớ về tội giết người, hiếp dâm và người đàn ông bị khép tội tử hình.

Trong suốt ba năm liền, người đàn ông đã cố gắng kháng án và vẫn giữ vững lời khai lúc ra tòa rằng kẻ giết cô Tammy Braun đã chết và thi thể hắn đang ở đâu đó trong con hẻm phía sau hoặc trong một ngôi nhà bỏ hoang ở khu vực xảy ra vụ án mạng. Tuy nhiên, cảnh sát đã chứng minh rằng họ đã hoàn tất việc kiểm tra toàn bộ khu vực đó mà chẳng thấy bất kì chứng cứ nào hay thi thể của kẻ lạ mặt kia. Hơn nữa, những người dân sống ở khu vực này còn nhớ lại rằng họ đã thấy người đàn ông kia và Tammy cãi nhau, rồi anh ta đẩy cô ta xuống đường, miệng hét ầm ĩ.

Sau khi đơn kháng án thứ ba bị bác bỏ, người đàn ông bị đưa lên ghế điện. Lời cuối cùng của anh ta là : "Cái xác của hắn ta vẫn còn ở ngoài kia. Tôi không thể giết cô ấy".

Một ngày sau cái chết của kẻ tử tội, một người đàn ông vô gia cư đi lang thang trong ngôi nhà bỏ hoang, cách con hẻm nơi cô Tammy Braun bị hiếp dâm và giết chết một khối nhà. Khi leo lên thầng hai của tòa nhà, ông ta phát hiện ra một bộ xương người chết, trên đó có một miếng kính lớn găm vào giữa ngực.
0
MÙ QUÁNG

Ann Fischer (Canada)

Chồng tôi, Christopher, đã từng là một nhà dự đoán tài chính. Và mặc dù anh không biết cách cân bằng ngân sách của gia định nhưng các khách hàng vẫn hoàn toàn tin tưởng anh. Anh khiến họ yên tâm và đổi lại, họ trả cho anh rất hậu hĩnh. Chúng tôi có một cuộc sống tốt đẹp, ngoại trừ thỉnh thoảng có vài tì vết trong mối quan hệ giữa hai chúng tôi nhưng không có điều gì là không thể giải quyết được với vài câu nói âu yếm trong phòng ngủ. Tóm lại đó luôn là những xích mích nhỏ về chuyện tiền nong. Phòng tập yoga của tôi giờ đã có lãi, gần đây tôi mới trang trí nó theo một phong cách trung tính, tranh ảnh đơn giản, những chiếc gối lụa màu vàng nhạt và bình hoa bằng đất sét. Cuối cùng thì tôi cũng có thể làm chủ cuộc đời, có thể dồn hết tâm trí và sức lực để đạt được thành công.

Mới lần đầu gặp tôi đã mê anh dẫu rằng chẳng thể gọi đó là tình yêu. Tôi chưa bao giờ hẹn hò với một người đàn ông đẹp trai nhưng rồi tôi quen dần với chuyện đó và nó không khiến tôi thấy phiền hà gì nhiều. Lúc ấy tôi đang cố gắng hàn gắn trái tim tan vỡ và cần một động lực để đi tiếp. Nếu đo không phải là tình yêu thì cũng đủ tốt đẹp lắm rồi và khi anh cầu hôn, tôi đã đồng ý ngay lập tức vì biết rằng đấy là cơ hội cuối cùng của mình.

Mọi chuyện khởi đầu rất tốt đẹp. Tôi vẫn đi làm đều đặn của Christopher kiên trì leo lên từng nấc thang sự nghiệp. Rồi đột nhiên vào một buổi chiều đông u ám, anh đứng dậy và rời khỏi chiếc bàn làm việc của mình ở ngân hàng, nộp đơn xin thôi việc, trở về nhà và nói với tôi rằng anh muốn bắt đầu công việc thiết kế nội thất.

Anh luôn yêu thích việc kết hợp thứ này thứ kia với nhau và có con mắt mỹ thuật về màu sắc, kết cấu, hình khối, nhưng cái ý tưởng biến một sở thích trở thành công việc thì chúng tôi chưa hề thảo luận với nhau. Tôi cho rằng anh đã bị áp lực công việc và có lẽ nên nghỉ ngơi vài tháng, sau đó vứt ngay cái ý tưởng đó ra khỏi đầu. Tôi không thể tin là anh đang nghiêm túc. Nhưng rồi anh có một vài khách hàng (do chị gái tôi có rất nhiều những người bạn giàu có), từ đó anh bắt đầu phác thảo ra những kế hoạch, đặt mua những cuốn catalogue, tìm kiếm những cửa hàng bán đồ nội thất kiểu cũ và biến cái nhà xưởng trống không của chúng tôi thành một studio tạm thời với đầy những bản vẽ của anh ghim trên tường. Sau khi đổ hàng đống công sức và tiền bạc cho công cuộc chuẩn bị này, anh lại gọi cho từng khách hàng và xin lỗi, nói rằng anh không được khỏe và không thể thiết kế không gian sống cho họ được. Sau đó anh lên giường đi ngủ.

Anh đã ở nhà được gần một năm. Mới đầu, anh ngủ cả ngày, rồi mặc nguyên bộ pyjama ngồi xem chương trình của Oprah, thậm chí anh còn không thèm tắm rửa hay cạo râu. Anh còn không muốn quan hệ với tôi nữa, trong khi đời sống tình dục vốn là điều tốt đẹp nhất trong mối quan hệ giữa hai chúng tôi. Sau đó anh lại thay đổi quyết định, anh muốn trở thành một nhà thiết kế trang sức. Tôi cố gắng ủng hộ ý kiến đó. Tôi cảm thấy vui vì có điều gì đó có thể hấp dẫn được anh nhưng phải nói rằng cho đến giờ phút này, tôi cảm thấy cuộc sống giữa tôi và anh rất kỳ quặc, thậm chí là bất công. Đầu tiên, tôi phải đóng cửa phòng tập ở trung tâm và tổ chức lớp học ở bên ngoài. Khi Christopher nghỉ việc, tôi phải tự mình trang trải mọi thứ, ngoài ra không có một nguồn tiền nào khác.

Số người đến học Yoga không phải là ít. Tôi sắp xếp một chỗ trong xưởng. Vẫn còn rất nhiều chỗ để không và cái studio của anh đã ngừng hoạt động nhưng không dễ đẩy Christopher và cái đống lộn xộn của anh ra khỏi đó. Ít nhất thì những ngày này anh cũng chịu thay quần áo, nên tôi không phải giấu giếm anh với mọi người như trước kia nữa. Vào mỗi buổi chiều tôi cho anh một ít tiền để anh đi xem phim. Hình như là anh đã xem rất nhiều phim. Anh chưa bao giờ thích đi một mình nhưng giờ thì mọi chuyện đã khác. Tôi cố không nghĩ đến việc nếu anh không tới rạp chiếu phim thì anh có thể đi đâu. Trí tưởng tượng của tôi khép lại. Đi xem phim một mình thì có vấn đề gì chứ? Giờ anh cũng hút thuốc nên tôi phải trả cả tiền thuốc lá cho anh. Tôi đốt hương trầm khi biết mọi người chuẩn bị đến để cho mùi thuốc tan bớt và việc đó đúng là chẳng thích thú gì.

Điều quan trọng là giờ anh rất cần sự ủng hộ của tôi. Tôi hiểu điều đó. Tôi không thể nghĩ về bản thân mình được. Thế là ích kỷ, phải không? Bởi vì điều đó khiến anh cảm thấy thoải mái hơn. Thoải mái hơn cho chính anh.
0
NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA KHÔNG MUỐN NGHE

(Marcera Carbajo Argentina)

Cô quay mặt đi để tránh ánh nắng đang rọi vào từ cửa sổ. Cô ôm chặt lấy cái gối mà cô đã quẳng sang một bên khi đang ngủ và đá tung chăn cho đến khi nó tuột hẳn khỏi chân cô.

- Em dậy rồi à - Anh nói khi xuất hiện trước ngưỡng cửa buồn ngủ.

- Em sắp dậy... - Cô thì thầm. Cô ước gì có thể được ngủ mãi mãi.

Anh bước lại gần rồi ngồi xuống mép giường khiến nó phát ra tiếng kêu cọt kẹt.

- Em có thể chuẩn bị ít trà được không?

- Anh đun nước hộ em rồi em sẽ làm tiếp.

- Em thấy không khỏe sao?

Cô lại quay về phía cửa sổ chan hòa nắng. Ánh sáng đó nhắc nhở cô rằng còn có những điều đang chờ đợi bên ngoài cái giường này và ngôi nhà này.

- Em mệt quá.

- Em đã ngủ hai tiếng rồi đấy.

Cô nhắc lại với một tiếng thở dài.

- Em mệt.

Anh đi vào bếp và cô có thể nghe thấy tiếng nước xối ào ào xuống chiếc ấm và tiếng bếp ga được bật lên. Rồi anh bật ti vi và cô nghe thấy một đoạn đối thoại bằng tiếng Anh, tiếng cười của những khán giả trong trường quay. Ngay sau đó, ấm nước bắt đầu réo.

- Nước được rồi đấy - Anh nhắc.

Cô vươn dài người trên giường rồi ngồi dậy, hai tay vẫn ôm chặt chiếc gối. Ấm nước vẫn tiếp tục réo. Cô ấn mạnh chiếc gối vào ngực mình.

- Anh tắt bếp hộ em với.

Tiếng réo ngừng lại. Tạ ơn chúa, cô nghĩ, nó sẽ khiến mình hóa điên mất. Cô tìm đôi dép dưới đất rồi đứng lên. Cô đi vào phòng tắm và rửa mặt. Mình nên đi tắm, cô nghĩ, khi đó mình sẽ được khóc một mình. Bước chân cô nặng nề hướng về phía bếp. Anh đang xem hài kịch và thỉnh thoảng cười một mình. Cô hỏi:

- Anh muốn uống trà gì?

- Bạc hà - Anh trả lời mà không liếc mắt về phía cô.

Cô rót trà ra hai cốc rồi ngồi xuống bên cạnh anh và cũng dán mắt vào màn hình.

- Hôm nay em đã mua vé xổ số.

- Sao? - Anh lơ đãng hỏi.

Cô không trả lời.

- Bao giờ người ta sẽ rút thăm?

- Ngày mai. Hai triệu.

- Nhưng với số tiền đó thì họ sẽ thu thuế rất nhiều. Không thể tin được là mình có thể trúng hai triệu?

Anh nhấp một ngụm trà tạo nên tiếng sụp. Đã từ bao giờ mình cảm thấy khó chịu vì cái tiếng động đó nhỉ? Cô tự hỏi. Mới đầu, cô thậm chí còn không để ý, rồi sau đó cô bắt đầu nhận ra tiếng động đó và giờ thì nó làm phiền cô kinh khủng, nó khiến cô bực tức. Anh thật đáng thương, đó không phải là lỗi của anh. Anh luôn phát ra tiếng động khi uống trà. Suốt hai mươi năm qua, lúc nào cũng vậy.

- Anh đừng gây tiếng động khi đang uống chứ.

Anh nhìn cô chằm chằm vài giây, ngạc nhiên hạ giọng.

- Em không khỏe à?

- Em thấy chán.

Anh vẫn tiếp tục xem tivi. Rồi sau vài phút, anh phá lên cười. Tại sao mọi chuyện lại như thế này? Tại sao có quá nhiều điều thay đổi đến vậy?

- Mấy ngày nay em thấy rất buồn chán - Cô nhắc nhở anh và cũng là nhắc bản thân mình.

Vở hài kịch đã kết thúc. Cô quẳng mấy chiếc cốc không vào bồn rửa. Anh chuyển kênh còn cô lại một lần nữa ngồi xuống bên cạnh anh. Đó là một bộ phim tài liệu nói về một ngôi làng gần biển, một thị trấn chài lưới. Thực là một nơi tuyệt vời, cô thầm nghĩ. Cô có thể đến sống ở đó. Nơi đó rất lạnh, người ta phải khoác lên mình những chiếc áo to sụ và khăn quàng cổ để chống lại những cơn gió. Cô sẽ từ bỏ tất cả để  được đi dạo trên bãi biển, cảm nhận cái rét buốt. Và sau đó sẽ uống một tách cà phê nóng, cà phê với quế. Đúng vậy, cô có thể sống theo cách ấy. Sẽ là một ngôi nhà gỗ, giống như những ngôi nhà thường thấy trên phim, nằm kế bên bờ biển và cô sẽ mang theo cây đàn violon của mình. Vào những ngày nắng ráo, cô sẽ chơi đàn bên khung cửa sổ. Những hôm giá rét, cô sẽ nướng bánh mì, uống cà phê trong bếp và đọc một thứ gì đó. Cô sẽ mang theo những chiếc cốc thủ công mà họ đã mua ở Uruguay. Chúng sẽ rất phù hợp với căn bếp mới của cô, cũng như bãi biển và thời tiết lạnh gia đó. Chắc chắn anh sẽ không để ý thấy sự biến mất của những chiếc cốc. Anh chưa bao giờ chú ý đến đồ đạc trong nhà, ngoại trừ vài cãi đĩa nhạc. Có lẽ cô cũng sẽ mang theo vài đĩa nhạc Jazz. Anh sẽ không phát hiện ra chúng. Nhưng... cô sẽ bật chúng ở đâu? Họ chỉ có duy nhất một chiếc máy nghe nhạc. Tivi thì được, cô sẽ mang theo chiếc tivi nhỏ thường đặt trong buồn ngủ của họ. Nhưng để một bộ dàn ở đó đâu có ích gì?

Anh lại chuyển kênh giữa lúc họ đang quay cảnh bến tàu của thị trấn nhỏ. Cô định phản đối nhưng rồi lại nhận ra rằng mình chẳng có đủ năng lượng để làm việc đó. Cô quay sang ngắm nghía căn bếp một cách kỹ càng, cô nhìn màu sơn trên từng bức tường, từng giá sách, hộp đựng gia vị, những cái nồi. Cô thích những cái nồi bằng đồng. Rồi cô bắt đầu tưởng tượng căn bếp này trông sẽ như thế nào nếu như cô lấy đi mọi thứ: những ái đinh để không bám đầy bụi, lớp sơn bạc thếch có in hình những vật dụng đã từng dán lên đó và những thứ được sắp xếp lại trên giá. Cô sẽ chết mất. Nhưng làm gì có ai chết vì lí do đấy, cô tự thuyết phục bản thân. Nhưng cô lại cảm thấy buồn bã hơn trước. Anh bật sang kênh bóng đá. Cô châm một điếu thuốc.

- Em vẫn thấy chán à?

Cô im lặng.

- Vậy thì anh không nên nói chuyện với em thì hơn - Anh quyết định - Khi tâm trạng em thế này thì tốt hơn hết là không nói gì với em.

- Tại sao?

- Tại sao lại thế?

- Tại sao không nói chuyện với em lại tốt hơn? - Cô khăng khăng muốn biết.

Anh không trả lời. Cô gần như nài nỉ.

- Em muốn biết tại sao lại tốt hơn.

- Bởi vì em sẽ nói những điều làm tổn thương anh.

Anh thật đáng thương, cô nghĩ. Anh ấy sợ. Ít ra đó là điều chân thật nhất mà họ từng nói với nhau trong suốt một thời gian dài. Cô đứng dậy và thở dài. Cô rửa mấy chiếc cốc và đặt nó lên một chiếc khăn cho khô. Cô mở tủ bếp để kiểm tra xem còn chút bột nào không.

- Anh có muốn em làm ít bánh chanh không?

- Tuyệt - Anh nói và mỉm cười.
0
NỤ CƯỜI ĐÊM GIÁNG SINH

Eliot Lynn (Mỹ)

Đó là cái đêm trẻ con khó mà ngủ ngay được, là cái đêm mà mọi người đều mong tuyết sẽ rơi và họ sẽ thức dậy vào buổi sáng để đi ra khu vườn lấp lánh những tia nắng sớm như được dát bằng kim cương. Đêm Giáng sinh.

Đúng như mong đợi, tuyết bắt đầu rơi. Nó chậm rãi bao phủ những ngôi nhà và đường phố bằng một lớp chăn dày. Mặt trăng chiếc những dải sáng bạc lên một không gian màu trắng như được kết bởi những giấc mơ. Và, duy chỉ có một người được chứng kiến cảnh tượng ngoạn mục ấy, đó là một chú bé khoảng năm - sáu tuổi. Cậu bé có mái tóc quăn vàng óng có vẻ như chưa bao giờ được cắt tỉa, chúng bao quanh khuôn mặt cậu như một thiên sứ trong bức tranh đó. Đôi mắt cậu có lẽ là xanh nhất trong những đôi mắt xanh và sáng nhất trong những đôi mắt sáng, chúng trong veo như nước hồ thuở khai thiên lập địa. Da cậu hồng hào và mềm mại như da em bé. Cậu bé là hiện thân cho vẻ đẹp được sinh ra từ những giấc mơ của các nhà thơ mà nếu ai có may mắn được nhìn thấy vẻ đẹp ấy một lần sẽ vĩnh viễn không thể nào quên.

Vào một đêm tràn ngập hạnh phúc và hy vọng thế này, cậu bé lại lang thang trong cô đơn và buồn bã. Những giọt nước mắt lấp lánh đông lại trên má cậu và chỉ có chúng mới có thể kể được rằng tại sao cậu bé lại cô đơn trong một khung cảnh đẹp nhường ấy. Tại sao không ai quan tâm đến cậu? Cậu bé không thể trả lời được vì đó cũng chính là điều cậu muốn biết. Cậu bước đi trong tuyết, hy vọng sẽ có ai đó nhìn thấy và cứu giúp cậu. Sẽ có một người nào đó tiến lại gần, ôm cậu vào lòng và nói rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Và có thể, chỉ có thế thôi, một người nào đó sẽ yêu thương cậu. Đó là điều duy nhất cậu bé mong đợi vào đêm giá lạnh này. Đêm nay, những đứa trẻ khác mong sẽ có thêm đồ chơi, búp bê, bút chì màu còn cậu bé chỉ mong có được tình yêu. Chỉ đơn giản có vậy.

Cuối cùng, cậu bé cũng dừng bước, không muốn tiến thêm nữa. Cậu ngước đôi mắt đầy chán nản và ngay trước chỗ cậu đứng là một nhà thờ. Cậu nhớ rằng trước đó cậu cũng đã từng đi nhà thờ và ngôi nhà lờ mờ trước mặt gợi lại cho cậu những kỷ niệm mơ hồ. Cậu bé ngần ngại tiến thêm vài bước nữa rồi áp mặt vào cửa kính. Cậu nhìn thấy khung cảnh bên trong chẳng khác nào thiên đường. Có những ngọn nến đằng sau một người đàn ông đang đứng trên cây thánh giá rất to và hai cây Giáng sinh được trang hoàng lộng lẫy. Nhìn người đàn ông trên cây thánh giá, cậu bé lờ mờ nhớ lại, đã lâu lắm rồi, hình như có người đọc cho cậu những dòng chữ từ một cuốn sách rất to nói rằng người đàn ông trên cây thánh giá sẽ đến vào đêm Giáng sinh. Và ông ấy luôn đến vào mọi đêm Giáng sinh.

Cậu bé cho rằng nếu có người nào giúp đỡ cậu, thì người đó chính là cái ông ở trong này. Ông ấy thương yêu tất cả mọi người. Cho nên cậu bé nằm luôn xuống trước cửa nhà thờ và chìm dần vào giấc ngủ với hy vọng người kia sẽ đến và giúp cậu thoát khỏi cái lạnh và nỗi cô đơn, sẽ sưởi ấm trái tim cậu. Tuyết tiếp tục rơi và những tiếng chuông bắt đầu điểm từ phía xa. Những món quà được xếp dưới gốc cây thông và hình ảnh những quả mận khô ngọt như đường đã nhảy nhót trong đầu lũ trẻ. Nhưng chẳng có cậu bé nào trong một đêm thế này lại ngủ trên bậc thềm nhà thờ dưới bầu trời đông. Cậu bé đang có một giấc mơ ấm áp, những hình ảnh đẹp mang cậu đi xe, rất xa khỏi những bậc thềm lạnh lẽo. Chúng đưa cậu đến chỗ người đàn ông trên cây thánh giá.

Người đàn ông mà cậu bé không biết tên ôm chặt lấy cậu và nói rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Rồi ông trao cho cậu một món quà. Đó là sợi dây chuyền bằng vàng nhỏ xíu có cây thánh giá. Cậu bé nhìn xuống và thấy mớ quần áo cũ cậu đang mặc được thay thế bằng một bộ quần áo màu trắng sáng lấp lánh. Cậu quay đầu ra sau và nhìn thấy lưng mình mọc ra một đôi cánh. Đó là món quà đẹp nhất cậu từng có và cũng là món quà duy nhất. Cậu ngước nhìn người đàn ông và thấy những giọt lệ long lanh trong đôi mắt người. Ông ôm cậu bé thật chặt và nói thầm vào tai cậu rằng cậu phải trở về nhà bây giờ, và rằng ông muốn tất cả mọi người đều được xem món quà của cậu. Cậu bé rời khỏi người đàn ông và trở về nhà.

Khi cậu bước vào nhà, không có ai ở đó. Cậu bước qua bóng tôi dày đặc và nhận thấy mọi thứ đều vương đầy bụi và mạng nhện. Cậu vào phòng khách và nhìn thấy cây Giáng sinh. Nó không phải như trong hồi ức của cậu vì đã ngả sang màu nâu và trụi hết lá. Ngôi sao cũng đã rụng khỏi ngọn cây và nằm trơ trọi trên sàn. Cậu bé quỳ xuống trước cái cây và nhìn thấy ngôi sao. Ánh trăng yếu ớt xuyên qua màn đêm dày đặc làm cho ngôi sao sáng lấp lánh như rơi xuống từ thiên đường. Cậu bé nhặt lên, bỏ vào túi và bước ra ngoài. Sau lưng cậu mơ hồ tiếng kêu khóc đau đớn vọng ra từ ngôi nhà, những âm thanh mà cậu từng nghe trong quá khứ. Một nỗi đau nhói lên trong ngực cậu. Xen lẫn tiếng kêu khóc ầm ĩ, cậu cũng nghe thấy tiếng hát. Đó là giọng hát của một cậu bé đang đón mừng lễ Giáng sinh. Bài hát xua đi nỗi buồn ảm đạm của ngôi nhà trong một khoảnh khắc cô quạnh. Những âm thanh nhỏ dần và cậu bé rời khỏi nhà. Cậu lại lang thang trên những con phố đầy tuyết trắng, và một lần nữa, dừng chân trước nhà thờ. Lần này, cậu không buồn nữa. Cậu cũng không khóc vì không còn cô đơn. Người đàn ông kia đã yêu cậu và đó là tất cả những gì cậu mơ ước trong đêm Giáng sinh này. Cậu bé lại nằm xuống trước thềm nhà thờ để chờ người đàn ông kia đến mang cậu đi.

Sáng hôm sau, một ngày vui nhất trong năm, nhưng lại không có niềm vui nào trong nhà thờ nhỏ bé. Khi những tia nắng đầu tiên ló rạng từ sau chiếc khăn voan lộng lẫy của mặt trời, những người đi lễ nhà thờ nhìn thấy cậu bé. Cậu nằm trên những bậc thềm, tuyết bao phủ trên mình như một bộ lễ phục màu trắng. Cậu bé đã bị chết cóng từ đêm, nhưng ngay cả Thần Chết cũng không thể lấy đi vẻ đẹp của cậu. Người ta nói rằng trông cậu giống như một thiên thần đang ngủ hơn là một đứa trẻ. Cậu bé đã chết nhưng nụ cười còn vương trên khuôn mặt, một tay cậu nắm chặt sợi dây chuyền vàng có cây thánh giá, và trong tay kia là một ngôi sao nhựa nhỏ xíu, bao bọc bởi những tia sáng bạc lấp lánh.


SỰ TRẢ THÙ

Brian Cortes (Mỹ)

Đúng 1 giờ 23 phút tôi ra đến bến xe buýt. Tôi muốn bắt chuyến xe tới vào lúc 1 giờ 21 phút nhưng nhìn đám người đang đứng chờ rất đông, tôi đoán rằng nó chưa đến. Vừa đúng lúc đó chiếc xe buýt xuất hiện. Những hành khách trên xe bắt đầu đứng lên trong khi những người muốn lên xe, trong đó có tôi, xếp thành hành một. Cuối cùng thì người lái xe, một phụ nữ Mỹ gốc Phi, cũng ra hiệu cho chúng tôi lên xe. Cô ta quãng chừng ngoài bốn mươi, tóc ngắn như nam giới. Cô ta đẹo một chiếc vòng cổ màu vàng và sợi dây buộc kính cũng màu vàng.

Tôi lấy chiếc vé ra khỏi túi quần jean. Nó đã được gấp làm đôi và tôi không thể duỗi chiếc vé ra bằng một tay được vì bàn tay kia còn đang cầm cuốn sách. Giữ chắc chiếc vé trong tay, tôi đoán rằng ngón giữa của tôi đang thò ra và nếu một kẻ thiển cận nào để ý sẽ cho rằng tôi đang muốn quấy rối ai đó.

Tôi đưa vé cho người lái xe và nhanh chóng ngồi xuống một chiếc ghế. Chiếc xe gần như chật ních và một số người dị ứng với việc phải ngồi cạnh người lạ hay không muốn ngửi thấy hơi người đặc trưng của những công nhân xây dựng người Mexico cũng buộc phải làm như tôi. Hầu hết những người đi làm bằng vé tháng trên xe buýt là người Mexico và người Việt Nam, họ đều là các công dân lớn tuổi.

Lúc tôi đã ổn định chỗ ngồi và bắt đầu đọc sách thì nhận thấy người lái xe buýt đang tiến về phía mình. Tôi định lờ cô ta đi nhưng lại thay đổi ý định vì bắt gặp ánh mắt giận dữ của cô ta đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi cảm thấy nhiệt độ trong cơ thể đang tăng lên và biết rằng màu da mặt đã chuyển sang đỏ. Cô ta dừng lại trước mặt tôi và nói.

- Anh có biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh lên xe buýt của tôi chỉ để quấy rối người khác. Anh nên đi bộ thì hơn, có hiểu không hả? Tôi sẽ không nhân nhượng đối với những thái độ như vậy trên xe của tôi.

- Tôi đã làm gì nào? - Tôi hỏi với vẻ hoang mang thực sự.

Cô ta quay đi và không trả lời như thể không nghe thấy câu ấy. Tôi mong rằng sẽ tìm thấy điều gì đó trên gương mặt những người khác nhưng chỉ nhận được những cái nhìn thương hại, quy kết, bực tức và giận dữ. Thường thì khi những chuyện như vậy diễn ra trên các phương tiện giao thông công cộng, các hành khách sẽ hỏi xem đã xảy ra chuyện gì, nhưng trong trường hợp này thì chẳng có lời nào cả. Tất cả hành khách thì thầm với nhau và tôi biết chắc rằng họ đang nói về tôi. Một số kẻ còn nhìn tôi chằm chằm từ đầu đến chân... Những người này làm tôi thấy mình mang cảm giác tội lỗi. Nhưng tại sao? Tôi đã làm cái quái gì kia chứ?

Xe buýt bắt đầu lăn bánh được mười phút và hầu hết hành khách vẫn còn đang nói về tôi và những gì mà họ nghĩ rằng tôi đã làm. Một nhóm phụ nữ Việt Nam nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của họ và thỉnh thoảng lại liếc về phía tôi. Một phụ nữ xinh đẹp trên xe buýt nhìn tôi như thể tôi là kẻ sẵn sàng hiếp dâm và sẽ tấn công cô ta bất cứ khi nào có cơ hội. Tôi bắt đầu cảm thấy bực dọc vì bị quấy rầy. Tôi cố gắng nhìn trừng trừng vào những kẻ đang nhìn tôi mà không xuể.

Sau khi xe buýt rời khỏi xa lộ, tôi quyết định sẽ trả thù cho sự xấu hổ ban nãy. Xe buýt lúc này vẫn còn trống một nửa và cuối cùng hành khách đã hết chuyện để nói về tôi. Tôi giả bộ thiu thiu ngủ và tập trung theo dõi lộ trình của chiếc xe. Nó dừng lại. Khi nó bắt đầu tăng tốc, tôi bí mật kéo sợi dây là tín hiệu  báo cho người lái xe dừng ở bến tới. Chiếc xe buýt dừng lại nhưng không có ai xuống xe cũng như không có ai ở bến đõ. Vì thế cô ta cho xe đi tiếp. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi thấy sự thất vọng của cô ta qua những chuyển động của xe buýt, nhưng vẫn chưa đủ. Tôi lại kéo sợi dây thêm một lần nữa. Cô ta dừng lại, lần này lâu hơn. Tôi nghe thấy tiếng người nói ngoài cửa xe "Hẹn gặp lại" và "Tạm biệt". Điều này chứng tỏ có một số người đang chờ xe buýt thật. Tôi hy vọng cô ta sẽ nhận thấy không có hành khách nào muốn xuống xe. Tôi vẫn cảm thấy chưa đủ và lại tiếp tục kéo sợi dây. Tôi cứ làm thế liên tục cho đến khi chiếc xe dừng lại ở cái nơi mà tôi muốn xuống. Và đó là sự trả thù của tôi.

Những gì tôi muốn đã không xảy ra ở hầu hết các bến đỗ vì gần như bến nào cũng có người chờ xe buýt. Tôi bước ra cửa sau của xe buýt, nó đang đóng. Tôi cố gắng đẩy nó ra nhưng vô ích. Tôi hét lên.

- Mở cho cái cửa sau.

Mãi lâu sau người lái xe mới chịu mở nó ra. Tôi nhận thấy cô ta nhìn trừng trừng vào tôi qua gương chiếu hậu giống hệt cái nhìn ban nãy. Tôi xuống xe và cảm thấy không ổn lắm. Tôi hoàn toàn không thích sự trả thù này. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bắt cô ta dừng xe lại chẳng vì lí do gì. Tôi có thể làm điều này cả ngàn lần mà cảm giác xấu hổ vẫn còn, chẳng thể biến mất. Tôi có thể đập vỡ cửa sổ hay thậm chí kính chắn gió của xe buýt đó, nhưng còn sự tông trọng của những hành khách, các nhân chứng của vị việc, đối với tôi như một con người sẽ vĩnh viễn mất đi. Đó chẳng phải là một sự trả thù ngọt ngào.
0
VÀ KHI NHỮNG LÀ THƯ CỦA ANH ẤY ĐÃ
TRỞ NÊN LẠNH NHẠT

Daphne Du Maurier (Anh)

Thưa bà B,

Tha thứ cho tôi vì đã đường đột thế này. Thực ra là tôi đã gặp anh trai bà ở Trung Quốc và sau đó xoay xở được sáu tháng nghỉ phép. Tôi mới chỉ về Anh được vài ngày và tranh thủ cơ hội này để nói với bà rằng liệu bà có vui lòng sắp xếp cho tôi một cuộc hẹn gặp để tôi mang đến cho bà những tin tức về Charlie hay không. Anh ấy vẫn khỏe và gửi cho bà rất nhiều lời nhắn nhủ.

Một lần nữa xin lỗi bà về sự đường đột này.

Kính thư,

X.Y.Z


Ngày 4 tháng 6

Thưa bà B,

Tôi rất vui khi được mời đến dự bữa tiệc cocktail vào thứ sáu này. Bà thật tốt bụng khi đã mời tôi.

Kính thư,

X.Y.Z


Ngày 7 tháng 6

Thưa bà B.,

Tôi không thể không nói với bà rằng tôi đã vui sướng đến thế nào khi ở bữa tiệc của bà hôm qua, và tôi cũng rất hạnh phúc khi được gặp bà. Hẳn là cách cư xử của tôi đã hết sức vụng về và lúng túng bởi vì tôi e rằng sau ba năm ở Trung Quốc, tôi đã thay đổi đôi chút trong giao tiếp. Bà thật tốt đối với tôi và tôi chắc rằng lúc đó mình đã lảm nhảm một cách vô ý thức.

Tuy nhiên thật khó cư xử cho đúng khi đứng trước một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh như bà. Giờ thì tôi đã nói quá nhiều rồi. Bà thực sự cho phép tôi sớm gặp lại bà chứ?

Thân mến.

X.Y.Z


Ngày 10 tháng 8

Thưa bà B,

Chắc chắn là tôi nhận lời mời ăn tối của bà vào tối nay. Bà sẽ không giận tôi vì trang phục nghèo nàn của tôi chứ?

Thân.

X.Y.Z


Ngày 10 tháng 6

Thưa bà B,

Tôi nhớ bà từng nói về vở kịch mà bà thích và tôi đã giữ được hai chỗ trong rạp. Bà hứa là sẽ đến nhé, đúng không nào? Nếu bà đồng ý thì sau đó chúng ta sẽ đi ăn nhẹ và khiêu vũ.

X.Y.Z


Ngày 14 tháng 6

A thân mến,

Em thật sự muốn tôi gọi em là A? Và vài điều em nói tối qua là thật? Nhưng cho dù điều đó có thật hay không thì tôi cũng muốn cảm ơn em về một buổi tối tuyệt vời. Tôi đã hạnh phúc đến nỗi không nhớ được là mình đã xin lỗi em về điệu nhảy rất dở tối hôm qua chưa. Cám ơn em.

X


Ngày 17 tháng 6

A thân mến,

Xin lỗi em. Tôi biết mình đã cư xử y như một người thô lỗ trên điện thoại, nhưng quả là tôi đã thất vọng ghê gớm khi thấy em không muốn gặp tôi nữa. Em sẽ tha thứ cho tôi chứ? Tôi có thể gặp em vào một lúc nào đó vào ngày mai không?

X


Ngày 19 tháng 6

Tôi rất vui vì em đã hoãn lại cuộc hẹn tối hôm đó, vì nếu như em không gọi lại cho tôi để báo điều đó, và nếu như tôi đã không thô lỗ trên điện thoại như thế, thì liệu tôi có thể gặp em vào trưa nay được không.

Tại sao em lại tuyệt với với tôi đến như vậy? Có lẽ là em đã xót thương cho một con người khốn khổ đến từ đầu kia của Trái Đất. Tôi không nghĩ là trong cuộc đời tôi lại có cơ hội nói chuyện với một người như em. Em làm tôi cảm thấy mọi thứ trên cuộc đời này trở nên quý giá hơn. Em biết không. Tôi phải thú nhận với em một điều này. Khi còn ở Trung Quốc, tôi năng đến chỗ Charlie hơn chỉ để ngắm bức ảnh của em ở trên bàn làm việc của cậu ấy.

Tôi tin rằng mình đã ngưỡng mộ bức ảnh đến nỗi không thể tưởng tượng được rằng trên đời này lại tồn tại một người dễ thương nhường ấy. Và sau đó, khi tôi đến đây và chuẩn bị gặp em lần đầu tiên, tôi cảm thấy run rẩy và hồi hộp y như một cậu học trò. Tôi sợ rằng hình ảnh mà tôi hằng tôn thờ sẽ bị vỡ vụn trong khoảnh khắc.

Nhưng khi nhìn thấy em, tôi có thể viết hết trang này đến trang khác chỉ để tả lại khoảnh khắc ấy trông em như thế nào và tôi đã cảm thấy như thế nào. Nhưng mà ai sẽ xem nó đây? Rồi em sẽ lại vứt chúng vào thùng rác và trách mắng tôi ngu ngốc. Không, tôi sẽ không làm phiền em theo cách ấy. Bởi có thể em đã phát ốm lên và quá mệt mỏi vì suốt ngày phải nghe lời khen của những người đàn ông rằng em thật là xinh đẹp. Mặc dầu vậy, chúng ta có thể là bạn của nhau chứ? Những người bạn thật sự.

X


Ngày 22 tháng 6

Em của tôi,

Tôi đã giải thích rất kỹ với em trên điện thoại sáng nay rồi. Tôi đã gọi lại ngay sau khi em cúp máy, nhưng cô hầu gái nói rằng em vừa đi ra ngoài. Nên tôi đành phải viết những dòng này. Em đã không hiểu những điều tôi nói về buổi tối hôm nay. Thật ra ý của tôi chỉ là được nói chuyện với em tuyệt vời đến nỗi tôi cảm thấy thời gian trôi đi trong nhà hát thật lãng phí và vô vị.

Đúng, tôi đồng ý. Tôi thật là vô lý và xuẩn ngốc. Dầu sao, tôi cũng đã tưởng tượng chúng ta sẽ ăn tối ở một nơi nào đó ở Sôh, và sau đó có lẽ em phải trở về nhà. Nhưng dĩ nhiên là tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà em muốn.

À, tôi quên nói cho em rằng tôi sẽ chuyển khách sạn. Dịch vụ ở đây rất tồi và ít không khí riêng tư. Tôi nghĩ là mình sẽ thuê một căn hộ với đầy đủ đồ đạc. Nhưng chúng ta sẽ nói chuyện đó tối nay. Em sẽ không giận tôi chứ, đúng không nào?


Ngày 23 tháng 6

A,

Tôi có thể nói gì bây giờ? Em đang nghĩ gì về tôi? Tôi xấu hổ đến tuyệt vọng về bản thân mình. Không, em đã không trách cứ tôi, dĩ nhiên, nhưng tôi nghĩ là mình bị điên rồi. Tôi đã không trở về khách sạn sau khi chia tay em. Tôi cứ đi bộ cả đêm và đau khổ.

Em sẽ không thể tưởng tượng được sự xấu hổi đầy dằn vặt của tôi. Không biết có lúc nào đó em sẽ thấu hiểu điều đó có ý nghĩa thế nào đối với một người đã sống ba năm trong cô đơn, trong một môi trường lạc hậu ở cái đồn điền đầy những người cu ki, sống như một con thú dữ giữa một bầy thú dữ khác, trong khoảnh khắc đã tìm lại được chính mình khi anh ta được đối xử như một con người bởi một phụ nữ hết sức đáng yêu và đáng ngưỡng mộ. Điều đó đã làm tôi cảm động không chừng.

Phải, tôi bị mất trí rồi. Tôi hành động như thế bởi vì tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được rằng mình lại cư xử theo cách ấy. Em không thể biết em đã làm cho tôi khó xử đến mức nào. Không, em cũng không có cách nào khác được. Em quá dịu dàng. Em quá tuyệt vời. Em là em. Tôi chỉ còn biết tự trách mình mà thôi. Tôi sẽ thực hiện bất cứ hành động rồ dại nào chỉ để em có thể quên được những gì tôi đã nói.

Tôi trân trọng thề trước những người mà tôi yêu quý nhất rằng tôi sẽ không bao giờ chạm vào em một lần nữa. Chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu vậy. Em yêu quý, tôi muốn trở thành bạn của em, một người bạn mà em có thể tin cậy và chia sẻ.

Lời lẽ... lời lẽ. Tôi biết giải thích thế nào bây giờ? A, tôi có cơ hội nào để được tha thứ không? Chỉ một lời của em thôi sẽ kéo tôi ra khỏi vực sâu của nỗi sầu muộn này. Lúc này đây, tôi đang chờ đợi.

Hãy tha thứ cho tối.

X


Ngày 25 tháng 6

Khi tôi nghe giọng em trên máy điện thoại, tôi run đến nỗi gần như không trả lời được. Thật là ngớ ngẩn phải không em?

Nhưng giờ thì không còn điều tồi tệ gì nữa rồi. Điều quan trọng nhất là em đã tha thứ cho tôi, và chúng ta sẽ lại là bạn chứ, đúng không nào? Ngày mai chúng ta sẽ cùng đi về một miền quê nào đó, chỉ để nói chuyện và nói chuyện.

Tôi có quá nhiều điều để nói với em.

Cầu Chúa phù hộ cho em.

X


Ngày 27 tháng 6

A, đây là những bông hoa dành cho em để nhớ về ngày hôm qua. Anh đang tự hỏi liệu em có ý nghĩ nào dù là nhỏ nhất về thời gian ngắn ngủi của ngày hôm qua đã có ý nghĩa đối với anh nư thế nào. Em đã nói rằng em cũng thích những khoảnh khắc ấy, đúng không nào? Anh không thể quên được cái hồ nhỏ bé nơi anh và em đã ngồi đó và mơ mộng.

Anh rất vui sướng khi khung cảnh đồng quê làm em thấy thoải mái, và cả anh cũng thích nó. Em biết không, chúng ta thường có những ý nghĩ giống nhau trong hầu hết mọi chuyên. Nhiều lúc, em yêu, anh thấy trí tuệ của em thật khác thường, giống như của một người đàn ông vậy. Em nhìn nhận vấn đề thẳng thắn và mạch lạc, nhưng mặt khác em lại là một người yếu đuối đến không tưởng tượng được.

Anh đã chuyển về căn hộ mà anh đã nói với em. Phòng khách chỉ cần một thứ duy nhất thôi - đó là bức ảnh của em. Em đã hứa với anh mấy hôm trước rồi đấy nhé.

Anh sẽ điện thoại cho em vào 10 giờ tối nay và chúng ta sẽ đến một nơi nào đó để khiêu vũ. Em sẽ mặc bộ váy màu xanh lá cây, đúng không nào? Anh đã nhìn thấy vài chuỗi hạt có màu đỏ. Anh sẽ mang đến cho em nhé?


Ngày 1 tháng 7

A, em thương yêu, không ổn rồi. Anh không chịu đựng được nữa. Em quá quyến rũ. Anh không phải làm bằng sắt đâu, mà cũng chỉ là người trần mắt thịt thôi. Anh phải làm gì bây giờ?

Anh trân trọng tình bạn giữa chúng ta hơn mọi thứ trên đời, nhưng tại sao em lại không già nua và xấu xí? Như thế có dễ dàng cho anh hơn không?

Em cũng thích anh một chút, đúng không nào? Hay là không phải em ơi? Anh không biết mình đang viết gì nữa. Khi nào anh lại được gặp em?

X


Ngày 5 tháng 7

Em yêu của anh, tối qua em đã làm anh hạnh phúc đến phát điên lên. Anh không thể tin chúng là sự thật, những điều em đã nói ấy. Em bảo anh rằng em thích hoa lan nhỉ. Đây là những cành lan mà anh có thể tìm thấy. Anh sẽ đột nhập vào tất cả các nhà kính trồng hoa ở nước Anh nếu em bảo anh làm thế. Anh sẽ làm bất cứ điều gì em muốn, tặng cho em bất cứ thứ gì em thích, miễn là em để cho anh được gặp em hàng ngày.

Anh sẽ không đòi hỏi bất cứ thứ gì từ em hết, chỉ cần được phép ngồi dưới chân em mà ngưỡng mộ cũng đủ mãn nguyện lắm rồi.

Em quá dễ thương, dễ thương, dễ thương.

X


Ngày 7 tháng 7

Anh không thể sống như thế này. Em nói với anh rằng điều đó là không thể được. Em đang đưa anh vào tình trạng mất trí. Em để cho anh gặp em, rồi lại bảo anh phải đứng đó như một thằng bù nhìn rơm không có tri giác.

Anh đã trực ở điện thoại cả ngày và không nhận được câu trả lời nào từ phía em. Em đang ở đâu, và với ai?

Phải, em cứ cười anh đi. Anh không quan tâm. Dĩ nhiên, anh đồng ý rằng anh không có quyền được hỏi em bất cứ câu hỏi nào. Em tự do tuyệt đối. Khi em chế nhạo anh như thế, anh chỉ muốn bóp nghẹt em, để rồi sau đó lại muốn nói rằng anh yêu em.

Anh cần phải gặp em.

X


Ngày 8 tháng 7

3 giờ sáng

Em yêu,

Thật lố bịch khi viết cho em vào lúc này, phải không em, sau những gì của buổi tối hôm nay? Căn phòng vẫn còn vương lại đầy hình ảnh của em. Anh không thể nghĩ ra cái gì khác được. Giờ thì anh biết rằng cả cuộc đời mình đã chờ đợi giây phút này. Ngủ ngon nhé. Chúa sẽ phù hộ cho em.

Em có yêu anh không?

X


Ngày 9 tháng 7

Cưng của anh,

Dĩ nhiên là được chứ. Chờ em chiều nay khoảng năm - sáu giờ.


Ngày 10 tháng 7

Em yêu,

Không, hãy đến vào ngày mai. Em phải đến. Em phải đến. Anh không thể đợi được đến thứ bảy.

Đầu tiên chúng ta sẽ ăn trưa ở đâu đó rồi quay trở lại đây nhé. Đi mà. Anh yêu em nhiều lắm

X


Ngày 15 tháng 7

Yêu dấu ơi,

Cô hầu gái nhà em sáng nay đã nghe điện thoại lúc em đi ra ngoài nên anh phải giả giọng khác và nói tên khác. Chúng ta không thể đi về vùng ngoại ô đó à? Em có nhớ rằng hồi tháng sáu chúng mình đã đến đó, bên bờ hồ. Sau bữa trưa, chúng ta sẽ cùng đi dạo trong rừng. Anh thấy khu rừng đó trông rất hoang vắng và cô quạnh.

Hãy nói ừ đi nào em yêu. Gọi điện lại cho anh và mình sẽ hẹn nhau ở một chỗ nào đó hơn là anh đến đón em.

Anh của em.

X


Ngày 19 tháng 7

Thế bốn giờ thì sao?

X


Ngày 20 tháng 7

Em yêu quý nhất của anh,

Anh nghĩ là chúng mình nên hẹn nhau ở một nơi khác. Như thế kín đáo hơn. Thật không may ở khu nhà này lại có một gã biết em. Chúng ta sẽ phải cẩn thận hơn.

X


Ngày 21 tháng 7

Thiên thần của anh,

Rất tốt. Anh sẽ đến đón em vào ngày mai bên ngoài câu lạc bộ. Hãy để xe bên ngoài và bật mui ra. Anh sẽ ngồi trong xe và chờ em. Anh gợi ý rằng mình lại về khu ngoại ô đó nhé. Ở đó thì rất khó chạm trán người quen nào.

Nhân tiện, anh đã phát hiện ra cái gã mà em biết đi vắng cả ngày, chỉ đến tối mới về nhà, nên em không cần phải lo lắng về hắn ta khi em đang ở trong nhà anh.

Anh không biết mình có chờ được đến ngày mai hay không. Em biết không, câu hỏi mà em đã hỏi anh? Câu trả lời là Có - một ngàn lần.

Em thật đáng ngưỡng mộ.


Ngày 25 tháng 7

Đúng, anh biết hôm nay em khó chịu và bực bội. Em phải tha thứ cho anh. Nhưng quả thực chỉ được gặp em vài giờ như thế, làm anh thấy buồn. Anh không biết. Hình như lúc nào anh cũng muốn được ở bên em. Cuối tuần này chúng ta không thể đi đâu đó được hay sao? Một nơi nào đó mà chỉ có hai chúng ta.

Chúng ta sẽ rất cẩn thận. Sẽ không ai phát hiện ra đâu. Em nghĩ thế nào, cục cưng của anh?

Anh của em.

X


Ngày 27 tháng 7

Thiên thần,

Em thật tuyệt vời. Thật là một ý tưởng sáng suốt. Hẳn là anh sẽ không bao giờ nghĩ ra anh bạn đang bị ốm ở Devonshire. Được rồi, em cứ tin tưởng vào sự thận trọng của anh. Anh sẽ chờ em ở Paddington và lúc 11 giờ kém 15.


Ngày 5 tháng 8

Cục cưng yêu quý của anh,

Anh không dám gọi cho em vào lúc này bởi vì như thế có vẻ rất kỳ quặc. Những ngày có em thật tuyệt vời, đến nỗi anh không miêu tả bằng lời được. Anh không biết chúng ta sẽ tiếp tục như thế nào như những gì chúng ta đã làm trước đó.

Sau những cuộc gặp vội vã, khốn khổ mà chỉ được ở bên cạnh nhau vài giờ, anh vừa cảm thấy hạnh phúc lại vừa đau đớn. Anh sẽ chờ ở nhà cả ngày cho đến khi nào em đến.

Anh của riêng em.

X


Ngày 7 tháng 8

Hôm qua quả là thiên đường. Ngày mai mấy giờ đây em? Anh nghĩ buổi trưa là an toàn nhất.

X


Ngày 12 tháng 8

Em yêu quý nhất đời,

Về cái ý kiến mà anh đưa ra em nghĩ thế nào? Nếu như em có thói quen năm nào cũng đi Aix để an dưỡng thì tại sao lại tự nhiên làm cho nó khác đi? Em có thể nói rằng em đã chán ngấy Aix và nghe nói có một chỗ nhỏ hơn nhưng cũng tốt và không đắt lắm. Thế là chắc chắn đi được rồi.

Em biết đấy, em yêu, anh có thể đến đó vào ngày 19 này và em có thể gặp anh vài ngày sau đó. Anh cho rằng đây là một ý tưởng khôn ngoan nhất.

Dầu sao thì làm thế cũng không tổn hại gì. Em có thển ói cho anh biết mọi chuyện thế nào vào ngày mai nhé. Hẹn gặp em sau 7 giờ.

X


Ngày 14 tháng 8

Em của anh,

Cứ nghĩ đến việc điều đó sẽ thành sự thật, rằng chúng ta sẽ được ở bên nhau cả ngày lẫn đêm trong ba tuần, có thể sẽ là một tháng, anh lại thấy như một người đang ngủ mơ mà sẽ bất thần bị đánh thức bất cứ lúc nào.

Hãy nói với anh là em cũng đang hạnh phúc đi. Hàng giờ, hàng giờ chúng ta sẽ được ở bên nhau, và không gì có thể chia rẽ chúng ta. Anh sẽ không bao giờ ngừng yêu em dù chỉ là một khoảnh khắc.

Anh của riêng mình em,

X


Ngày 19 tháng 8

Anh vừa mới đi, em yêu a, Anh đang phấn chấn lắm. Chỉ ba ngày cực hình nữa thôi là anh đã được gặp em ở miền Nam, và sau đó...

X


Ngày 26 tháng 9

Em yêu,

Anh vừa về đến nhà được 2 giờ. Anh khó mà tin được rằng chúng ta vừa ở bên nhau những một tháng. Đôi lúc cứ như thể đó là một ngày, đôi lúc lại như đã một năm.

Cám ơn em vì bức thư ngọt ngào, em yêu dấu. Khi nào thì anh lại được gặp em?

X


Ngày 29 tháng 9

Em yêu của anh,

Ngày hôm qua thật dễ thương khi được ở bên cạnh em. Cứ như là chúng ta lại xuống miền Nam một lần nữa. Và cái quán trọ nhỏ ven hồ vẫn như thế, đúng không nào?

Bây giờ, cục cưng của anh, về việc chúng ta gặp gỡ nhau thế này, chúng ta phải hết sức cẩn thận, bởi vì nếu chúng ta bị phát hiện ra và người ta bắt đầu đàm tiếu về chuyện này thì em biết điều gì sẽ xảy ra rồi đấy. Trước hết là chúng ta nên thưa ra hơn. Em hiểu, đúng không nào? Tất cả chỉ vì cuộc sống của em thôi.

X


Ngày 4 tháng 10

Được em yêu, cứ đến thẳng nếu em muốn, khoảng sáu bảy giờ. Nhưng nhớ là đừng mang theo ô tô nhé. Xin lỗi vì đã không gọi điện thoại. Anh nghĩ như thế an toàn hơn.

X


Ngày 9 tháng 10

Em yêu quý nhất,

Em có nghĩ là nếu chúng ta vào rạp hát hay đi khiêu vũ thì sẽ tốt hơn một buổi tối ở đây không? Ý anh là, anh sẽ luôn có cơ hội được nhìn thấy em.

Anh nghe nói ở Wallace vừa mới công chiếu rất rùng rợn. Ý em thế nào? Hãy cho anh biết để anh còn đặt chỗ.

X


Ngày 12 tháng 10

Người yêu của anh,

Em không nên quá vô lí như thế. Dường như em không hiểu hậu quả sẽ như thế nào nếu như chúng ta bị phát hiện ra. Anh đã nghĩ rằng phải hết sức cẩn thận mọi nơi mọi lúc nhưng điều đó dường như vô vọng, hoàn toàn vô vọng. Cuộc sống này dường như chẳng có chỗ nào dành cho hai chúng ta.

Em biết là anh muốn gặp em cũng nhiều như em muốn gặp anh, nhưng thật không đáng nếu như cứ phải lao đầu vào nguy hiểm.

Hôm qua em có tâm trạng không tốt lắm và cố ý hiểu nhầm tất cả những gì anh nói. Anh không có ý gay gắt, nhưng em thì có, đúng không nào? Ngày mai chúng ta sẽ đi ăn trưa và sẽ nói chuyện về những kế hoạch.

Tất cả tình yêu dành cho em.

X


Ngày 16 tháng 10

Xin lỗi em yêu, anh đã chạy ra ngoài khi em gọi điện và khi trở về thì quá muộn để gọi lại. Em đã nhắn anh đi ăn tối vào thứ năm đúng không? Thứ năm thì anh lại không đi được em yêu. Trưa thứ sáu có được không? Chúng ta sẽ đi xem viện bảo tàng.

Nhớ là gọi anh từ câu lạc bộ chứ đừng gọi ở nhà nhé. Những người phục vụ có thể nghe thấy được. Em chẳng có chút ý thức thận trọng gì cả. Sớm gặp lại em.

X


Ngày 24 tháng 10

Em yêu,

Em không thấy là thật điên rồ khi đi vào ngày cuối tuần này hay sao? Chắc chắn chúng ta sẽ lại bị đặt dấu hỏi nghi vấn. Chỉ cần một bước sai lầm thôi là toàn bộ câu chuyện sẽ được truyền đi khắp thế giới. Việc nhắc lại những gì chúng ta đã làm vào tháng bảy không phải là câu trả lời cho cuộc tranh cãi này.

Thật ngớ ngẩn khi nói rằng anh đã thay đổi. Anh vẫn thế, vẫn như trước. Anh mong em không quá yếu đuối và vô lí như thế. Em chẳng thẳng thắn nhìn nhận vấn đề gì cả, em yêu.

Nhân tiện, cái giá mà họ đòi cho chiếc dây chuyền đó thật là một cái giá cắt cổ. Có lẽ chúng ta sẽ tìm một cái khác. Anh sẽ gọi cho em vào cuối tuần này.

X


Ngày 29 tháng 10

Em có nghĩ là về vùng quê đó rất lạnh không? Tốt hơn hết là chúng ta sẽ đi ăn trưa vào thứ bảy này.

X


Ngày 31 tháng 10

Đây là những bông cúc dành cho em. Dĩ nhiên là anh yêu em. Nhưng em không được hành động ngớ ngẩn như thế một lần nữa hoặc là anh sẽ rất giận. Anh không thể chịu đựng được những cung cách như vậy. Hẹn gặp em vào thứ hai.

X


Ngày 5 tháng 11

Em yêu,

Anh sợ rằng tuần này hơi khó. Anh có hàng đống việc phải làm. Anh chỉ có thể tranh thủ được một tiếng vào ngày thứ năm. Nhớ dành thời gian vào buổi trưa nhé.

Anh đang vội quá.

X


Ngày 9 tháng 11

Em yêu,

Tại sao em lại cứ làm cho mọi việc rối tung lên? Anh đã sẵn sàng tận hưởng cuộc gặp gỡ của chúng ta vào buổi trưa và em thì thấy cần thiết phải tra hỏi anh như thể mọi lời nói mà anh thốt ra đều là dối trá.

Đôi khi anh cứ nghĩ là em không hề hiểu anh một tí nào. Có chuyện gì xảy ra vậy? Lúc nào cũng là những cuộc cãi vã không ngớt bất cứ khi nào chúng ta gặp nhau như thế này à? Có đúng thế không nào?

Và tại sao những cuộc cãi vã này toàn là vì lý do ghen tuông? Điều đó thật lố bịch và căng thẳng. Chúng ta không thể trở thành bạn bè mà không có những chuyện vô lý này hay sao?

X


Ngày 13 tháng 11

Được thôi. Một giờ ngày thứ tư. Nhưng đừng đến nhà anh. Anh sẽ gặp em ở chỗ Savoy.

X


Ngày 16 tháng 11

Chỉ viết một dòng để báo cho em rằng anh không gặp em vào tối mai được, sau tất cả mọi chuyện. Rất xin lỗi vì không báo cho em biết từ trước. Sẽ gọi đến câu lạc bộ cho em vào ngày mai.

X


Ngày 18 tháng 11

A thân mến,

Anh rất vui nếu như em chấm dứt cái trò dò la mọi cử động của anh như thế. Nếu anh quyết định ngồi suốt buổi tối để nói chuyện công việc với một người bạn thì đó hoàn toàn là việc riêng của anh. Hãy nhớ rằng đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Em cứ muốn tự biến mình thành ra ngày càng lố bịch như thế à?

Anh,

X


Ngày 20 tháng 11

A thân mến của anh,

Anh đã nhận được tin nhắn cực kỳ không mạch lạc của em trên điện thoại và gần như không hiểu em nói gì. Anh chấp nhận lời xin lỗi của em nhưng liệu chúng ta có cần thiết phải như thế không?

Về việc gặp em, anh không thể nói chính xác là khi nào. Anh đang có quá nhiều việc phải để mắt tới. Anh sẽ cố gắng báo cho em biết sớm.

X


Ngày 24 tháng 11

A thân mến,

Em mới lố bịch làm sao. Đó chỉ là cô phục cụ nhấc máy thôi. Anh đi ra ngoài cả ngày. Không, anh sợ rằng anh không gặp em tối nay được. Anh sẽ báo cho em biết khi nào có thể.

X


Ngày 27 tháng 11

A thân mến,

Tại sao em không thẳng thắn với chính mình và tự thú nhận rằng không phải là vì em có thư muốn gửi cho Charlie mà là em muốn gặp anh? Anh biết quá rõ điều này và chắc chắn sẽ lại có một màn chỉ trích mới với nhiều nước mắt hơn, nhiều căng thẳng hơn.

Anh đủ rồi. Em không nhận ra rằng mọi thứ đã kết thúc rồi hay sao. Anh sẽ không thể thở được chừng nào chưa thoát ra khỏi cái đất nước thừa văn mình, thừa nhục dục này để trở về với cái đồn điền thanh bình và an toàn của anh.

Bây giờ thì em đã biết sự thật.

Tạm biệt.

X


Tin nhắn trên điện thoại gửi đến cho bà B vào ngày 1 tháng 12. "Ông X.Y.Z đã cập bến Trung Quốc ngày hôm nay".

QUÁN CÀ PHÊ

Lucinda Udensi (Mỹ)

Alex Nyte ngồi trên ghế bị cáo trong phòng xử án. Cánh cửa trước mặt cô bật mở và một người đàn ông bước vào phòng. Cô đứng bật dậy làm chiếc còng đang gắn tay cô vào ghế giật mạnh lên. Người đàn ông là luật sư của cô, ông Tyler.

- Tòa vẫn chưa quyết định - Ông ta ngồi xuống ghế.

Alex nhìn quanh phòng và ánh mắt cô chạm phải một phụ nữ ngồi đối diện. Cô ta cũng đang bị khóa tay. Người phụ nữ này có mái tóc nâu vàng và đôi mắt màu nâu sẫm. Cô ta không giống như những tù nhân bình thường khác. Alex quay sang phía luật sư Tyler.

- Có lẽ cô ta cũng vô tội giống như tôi.

***

Một năm trước đây, Alex là một phụ nữ ba mươi lăm tuổi như bao người phụ nữ bình thường khác. Cô sống trong một ngôi nhà ở khu sang trọng nhất của thành phố và là giám đốc điều hành của một công ty quảng cáo thành đạt. Tất cả mọi việc đang rất ổn với Alex.

Một bữa nọ, cô lái xe về nhà sau một ngày làm việc dài và căng thẳng. Lúc đó đã rất khuya và lần đầu tiên Alex để ý thấy một quán cà phê cũ kỹ nằm khuất sau trong góc phố khu nhà cô ở. Quán cà phê rất quen thuộc song Alex không thể rời mắt khỏi nó. Cô tiếp tục lái xe về nhà. Sau bữa tối cô lên giường đi ngủ, nhưng ngay khi vừa chìm vào giấc mộng, Alex lại mơ thấy quán cà phê cô vừa gặp lúc trên đường về. Cô mơ thấy mình bước vào quán và một người phục vụ rất đẹp trai với đôi mắt đen ra hỏi xem cô dùng gì. Đột nhiên mọi thứ bỗng thay đổi. Người đàn ông bắt đầu trở nên nhăn nheo và già đi khủng khiếp. Bắt đầu từ mái tóc của anh ta rồi đến khuôn mặt và cơ thể. Alex bắt đầu hét lên và vùng dậy định chạy khỏi quán. Nhưng người đàn ông đã túm lấy cô và bắt đầu siết cổ cô bằng đôi tay gọng kìm. Alex bừng tỉnh giấc, người ướt đẫm mồ hôi. Cô ra khỏi giường và ngồi đọc báo cho đến sáng.

Hôm sau, Alex không thể nào tập trung vào công việc được. Cô cứ đi tới đi lui trong căn phòng rộng lớn được trang bị đồ đạc tối tân và chìm sâu trong suy nghĩ. Vừa lúc đó Harry, thư ký riêng của cô gõ cửa. Harry là một người đàn ông cao gầy và kể từ khi đến đây làm việc anh ta luôn mời Alex đi chơi cho bằng được. Harry thông báo cho cô về những cú điện thoại và các cuộc hẹn gặp nhưng Alex lơ đãng ngắm nghía đồ đạc trong phòng.

- Mẹ cô vừa gọi và bà muốn biết tại sao cô không gọi điện lại. Ông Luther nói rằng ông ta muốn hẹn gặp cô tại văn phòng và nếu cô hỏi tôi thì tôi có thể trả lời rằng đó không phải là tất cả những gì ông ta muốn ở cô.

Alex quay người lại đối diện với Harry, cô nói giọng cáu kỉnh.

- Không ai hỏi anh, Harry.

Harry nhanh chóng thông báo nốt những gì còn lại và rời khỏi phòng. Alex lại ngồi vào bàn làm việc nhưng rồi ngay lập tức đứng dậy và nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô vẫn mải nghĩ về giấc mơ quái dị kia. Alex lớn lên trong một môi trường tràn ngập mê tín dị đoan và cô luôn tin rằng những giấc mơ sẽ báo hiệu một điều gì đó, chỉ có điều cô không biết ý nghĩa của chúng mà thôi.

Một tuần sau, Alex lại nhìn thấy quán cà phê khi cô trên đường về nhà nhưng lần này thì cô quyết định rẽ vào. Cô đỗ xe cách đó một quãng và đi về phía quán cà phê. Đây cũng là lần đầu tiên cô để ý đến biển hiêu "Cà phê Felix". Cô đẩy cửa vào và chỉ thấy có vài người trong quán. Alex nhận ra mọi thứ trong quán giống hệt giấc mơ của cô. Cô cũng ngồi vào chiếc ghế mà cô từng mơ thấy. Alex ngước nhìn lên và người đàn ông kia xuất hiện trước mặt cô. Lần đầu tiên cô nhìn thấy anh ta có đôi mắt đen láy kỳ lạ.

- Cô dùng gì? - Anh ta hỏi.

Alex nhìn anh ta chằm chằm trong giây lát và nói cô muốn một cái bánh Sandwich kẹp cá hồi xông khói. Cô ăn chiếc bánh một cách vội vàng và nhanh chóng rời khỏi quán cà phê. Alex có thể cảm thấy người đàn ông kia đang theo dõi cô. Cô vội vã trở về nhà. Đêm đó Alex lại nằm mơ, giấc mơ giống hệt lần trước. Nhưng lần này khi giật mình tỉnh dậy, cô bước ra khỏi giường và nhìn ra ngoài cửa sổ. Phía bên kia đường, người phục vụ ở quán cà phê đang nhìn lên cửa sổ nhà cô. Đúng là người đàn ông đã ám ảnh trong những giấc mơ. Alex bắt đầu hoảng loạn. Cô chụp lấy con dao làm bếp và chạy xuống cầu thang trong bộ váy ngủ. Đúng lúc cô bước ra ngoài thì người đàn ông lại biến mất. Khi Alex định quay vào, cô lại thấy thấp thoáng bóng người đàn ông đang chạy về hướng quán cà phê. Alex đuổi theo, tay nắm chặt con dao. Cô đuổi kịp hắn ta và vung con dao lên. Người đàn ông ngã về phía trước. Alex mỉm cười. Cô tiến lại gần và lật hắn lên. Nhưng cô chợt nhận ra ràng đó không phải là người đàn ông nọ mà chỉ là một ông già. Alex nghe thấy tiếng còi hú. Cảnh sát nhanh chóng có mặt tại hiện trường. Cô bị bắt giữ. Sau đó họ thông báo cho cô biết trong khu phố cô ở chẳng hề có quán cà phê nào cũng như người đàn ông mà cô kể không hề tồn tại trên đời.

***

Alex lại quay sang phía luật sư Tyler.

- Có lẽ cô ta cũng vô tội giống tôi.

Tyler nhìn cô ta chằm chằm và thì thào.

- Mà cũng có thể là không.

Lần đầu tiên cô nhận thấy ông ta có đôi mắt đen láy đến kì lạ.

0

Bóng Đêm Bao Trùm- tập truyện ngắn nhiều tác giả

Đã đem vào thư viện

Còn lại 5 câu chuyện ngắn, CtLy sẽ đánh tiếp

Cảm ơn hai bạn hoalacayco và nhoc nhiều nhá,





📎 ATT00008
0