P155-220
ĐIỀU KHÔNG THỂ NÓI
Fiona Golbe (Anh)
Chàng nhìn thấy nàng từ phía sau và nhận ra ngay lập tức. Chàng đuổi kịp nàng và tự hỏi mình có nên mỉm cười hay không, điều đó không hề giống mười lăm năm trước đây. Nàng không nhìn thấy chàng vì còn mãi ngắm thứ gì đó qua cửa kính nên chàng khẽ đụng nhẹ vào tay nàng.
-Chào Amanda – Chàng lịch sự và biết rằng mình chưa bao giờ mắc lỗi, không phải chỉ bây giờ mà sau ngần ấy năm đón nàng ở bến xe, câu lạc bộ hay những bữa tiệc – Peter đây.
Khi nhắc đến tên chàng, tim nàng đập rộn lên. Nàng nhớ đến mùa hè đầu tiên họ ở bên nhau. Khi ấy cả hai mới mười tám tuổi và nằm bên bờ sông Cliveden, chàng gối đầu lên người nàng, tay bện vào những cọng cỏ và nói rằng sẽ không thể sống thiếu nàng.
-Thật ngạc nhiên khi em vẫn còn nhận ra anh.
-Thật vậy sao – Nàng cười gượng gạo.
-Anh vẫn ở Luân Đôn.
Nàng nhìn chàng. Chàng vẫn như xưa, tóc không bị hói như nhiều người đàn ông khác nhưng bờ vai có vẻ rộng hơn và khuôn mặt dường như tròng hơn.
-Anh về chịu tang bố - Chàng tiếp tục nói – Ông bị một cơn đau tim đột ngột và chuyện này xảy ra rất nhanh.
-Em xin chia buồn với anh – Nàng nói bằng giọng khách sáo và nhớ lại trước kia chàng thường xuyên bị bố đánh cho tới tận năm mười sáu tuổi.
-Cám ơn em – Chàng cũng không cảm thấy đau xót thực sự mà còn cho rằng mẹ chàng sẽ hạnh phúc hơn khi không có bố ở bên cạnh.
-Em cũng ở Luân Đôn – Nàng vuốt tóc ra sau tai với một động tác quen thuộc mà chàng không thể quên được – Em về dự đám cưới của chị Becky vào ngày mai.
-Thật thú vị - Chàng mỉm cười và nhớ đến cô chị béo lùn tẻ nhạt của Amanda. Chính nàng cũng có cảm giác rằng đám cưới đó chỉ để chị mình quên đi những mối quan hệ bất hạnh.
-Còn gia đình em, họ ổn cả chứ?
-Vâng – Nàng biết rằng trước đây chàng thường ghen tị với ba mẹ nàng, những người giàu có luôn coi các chuyến du lịch nước ngoài như một thứ đồ trang sức.
-Em có vội lắm không?
-Không, em đang giết thời gian.
-Vậy chúng ta đi uống cà phê nhé?
Họ tới một quán nhỏ năm khuất trong góc phố và ngồi hàng giờ bên nhau.
-Peter, cuối cùng thì anh có trở thành phóng viên không? – Nàng hỏi, nhớ lại những nơi mà họ mong ước được đến như Ai Cập, Ma-rốc và Braxin.
-Em có tin không, bây giờ anh là luật sư đấy.
Nàng nhìn trang phục của chàng và tin những gì anh nói, chúng khác xe với những bộ đồ chàng mặc khi còn là sinh viên.
-Anh yêu thích công việc của mình chứ?
-Thế còn em? – Chàng hỏi lại mà không trả lời câu hỏi của nàng. Em có trở thành họa sĩ nổi tiếng không?
Chàng vẫn luôn ngưỡng mộ những bức tranh nàng vẽ, đặc biệt là bức tranh nàng tặng khi chàng mới hai mươi tuổi mà bây giờ chàng vẫn còn giữ nó như một kỉ vật.
-Ồ, không – Nàng cưới ngập ngừng và tự hỏi không biết chàng còn giữ những bức tranh của mình không. Những năm gần đây nàng đã không còn vẽ nữa.
Chàng ngắm mái tóc của nàng, suông thẳng và thả nhẹ trên bờ vai. Chàng nhận ra đã có vài sợi bạc nhưng trông nàng vẫn đẹp như xưa.
-Vậy giờ em làm gì?
-Không có gì đặc biệt – Nàng cười – Em đang sắp xếp.
Nàng không muốn nói với chàng về những công việc tạm thời, rằng nàng đang hy vọng có một vị trí lâu dài nhưng điều đó thật khó.
-Thế em không vẽ nữa a?
-Em chỉ trang trí nhà cửa thôi – Nàng nói đùa và chàng mỉm cười tế nhị khi nghe nàng trả lời như vậy.
Nàng nhớ như in những buổi tối họ dành cho nhau trong căn phòng nhỏ mà họ thuê vào những kì nghỉ cuối tuần. Chàng đã ngồi hàng giờ để ngắm những búc tranh của nàng.
-Anh hiện đang sống ở khu nào của Luân Đôn?
-Phía Bắc – Một căn hộ ba phòng xin xắn ở Hampstea, đó cũng là nơi mà lúc nào chàng cũng mong có người bấm chuông cửa – Còn em?
-Phía Nam, đó là căn hộ mà em thuê – Nàng nghĩ đến căn phòng nhỏ của mình với những bức tường ẩm ướt, nằm trên khu phố cổ Clapham – Nhưng em dự định mua một căn hộ nhỏ, vì vậy em phài về để sắp xếp một số công việc.
Nàng chợt nhớ ra những bức thư của chàng mà vô tình nàng tìm thấy trong phòng ngủ, chỉ mới hôm qua thôi.
-Ôi Peter, em không thể hiểu được tại sao ngày ấy em lại ra đi.
Chàng nhìn nàng và nghĩ đến buổi tối mà nàng không trở về căn phòng nhỏ.
-Ngày đó chúng ta còn quá trẻ. Những người trẻ tuổi thường làm như vậy.
Chàng nói nhưng biết rằng điều đó không phải là sự thật. Chàng không đáng bị đối xử như vậy. Chàng lại nghĩ đến những bức thư mà chàng gửi cho bố mẹ nàng, chàng đã viết để cầu xin nàng quay trở lại, nhưng vô ích.
-Em nghĩ là anh nói đúng – Nàng cố giấu vẻ thất vọng của mình vì dường như chàng không hề hối tiếc – Thôi, em phải đi đây.
-Sao em vội vã vậy?
-Em vội – Nàng cố kìm không để nước mắt tự do tuôn chảy mặc dù ước ao được như vậy – Em phải về giúp mẹ chuẩn bị đám cưới.
-Anh hiểu – Chàng nói dù biết rằng điều đó không phải sự thật. Anh có thể cho em số điện thoại của anh được không? Chúng ta sẽ gặp nhau chứ?
-Vâng.
Chàng viết số điện thoại vào sau tờ hóa đơn. Nàng gấp lại và cho vào ví.
-Cám ơn anh. Chào anh, Peter.
-Tạm biệt em, Amanda.
Nhiều năm sau, nàng vẫn thường xuyên kiểm tra tờ hóa đơn và tin rằng số điện thoại của chàng vẫn còn ở đó.
CUỘC HÔN NHÂN ĐƯỢC DÀN XẾP
Lý Dị Vân (Trung Quốc)
Một buổi chiều tháng mười một, bà Lâm dạo bước trên phố với chiếc cặp lồng bằng thép không rỉ. Trong cặp lồng là giấy chứng nhận chính thức từ cơ quan của bà.
“Chúng tôi xác nhận đồng chí Lâm Mỹ chính thức nghỉ hưu danh dự - Nhà máy Ngôi sao đỏ Bắc Kinh”. Những nét chữ màu vàng trên tờ giấy đã chứng nhận điều đó.
Tờ giấy không nói rằng xưởng quần áo Ngôi sao đó đã đi đến phá sản, nhưng nghỉ hưu danh dự có nghĩa là bà Lâm sẽ không được nhận tiền lương hưu. Phá sản không phải là một từ chính xác dành cho những doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước. Cụm từ
“Tổ chức lại nội bộ” là sau đó đã bị bỏ đi trong giấy chứng nhận và như vậy, tiền lương hưu của bà Lâm bị giữ lại được coi là tạm thời.
-Luôn có một con đường để đi lên núi – Bà Vương, hàng xóm của bà Lâm nói vậy sau khi được thông báo về tình cảnh của bà.
-Và luôn có một cái xe Toyota ở nơi nào có đường đi.
-Cô cứ tiếp tục đi, cô Lâm. Tôi biết cô là người lạc quan mà. Hãy luôn tích cực rồi cô sẽ tìm được chiếc Toyota của mình.
Nhưng nơi nào trên Trái đất này bà có thể tìm được con đường để lấp đầy khoản tiết kiệm đang teo tóp dần? Trong vài ngày, bà Lâm cứ tiếp tục cộng, trừ, nhân, chia và bà cho rằng khoản tiết kiệm của mình sẽ duy trì được trong vong hai năm nữa nếu như bà có thể bỏ qua một bữa ăn bằng cách chui lên giường ngay sau khi mặt trời lặn và nằm cuộn tròn trong quần áo để không phải cung cấp nhiên liệu cho cái lò sưởi không bao giờ cảm thấy thỏa mãn trong suốt mùa đông dài lê thê của phương Bắc.
-Đừng lo – Bà Vương nói khi họ gặp nhau ở chợ. Nhìn xuống cái củ cải duy nhất mà bà Lâm mua cho bữa tối, bà chắp hai bàn tay như cầu Phật – Cô có thể kiếm một người nào đó.
-Lấy chồng á? – Bà Lâm đỏ mặt.
-Cô đừng có bảo thủ như thế. Năm nay cô bao nhiêu tuổi rồi?
-Năm mươi mốt.
-Cô còn trẻ hơn tôi. Tôi đã năm tám tuổi rồi, nhưng tôi không cổ hủ như cô. Cô phải biết rằng bây giờ không phải chỉ có mình bọn trẻ là độc quyền về hôn nhân đâu nhé.
-Đừng biến tôi thành trò cười cho thiên hạ chứ.
-Tôi nói nghiêm túc đấy, cô Lâm ạ. Có rất nhiều người già góa vợ trong thành phố. Tôi chắc rằng cũng có những người giàu có, ốm yếu cần một ai đó để chăm sóc cho họ.
-Chị muốn nói rằng, tôi có thể tìm công việc trông nom cho người già? – Bà Lâm hỏi.
Bà Vương thở dài và giúi bà Lâm một cái.
-Đầu óc của cô để đâu rồi. Không phải ngo trông nom mà la một người vợ. Bằng cách đó, ít nhất cô có thể thừa kế một ít tài sản khi chồng cô chết.
Bà Lâm há hốc miệng. Bà chưa từng có chồng và viễn cảnh một người chồng chết làm bà thấy sợ. Bà Vương đã quyết tâm theo đuổi kế hoạch của mình và trong một thời gian ngắn, bà đã tìm được cho bà Lâm một đám.
-Bảy mươi sáu tuổi. Huyết áp cao và tiểu đường. Vợ mới chết. Sống một mình trong căn hộ ba buồng ngủ. Tiền lương hưu hai nghìn tệ một tháng. Hai con trai đã kết hôn và làm việc cho chính phủ, lương cao – Bà Vương nói, ngạc nhiên vì bà Lâm vẫn không mảy may xúc động – Thôi nào, cô Lâm, cô có thể tìm được ở đâu một ông chống tốt hơn thế? Ông lão ấy chẳng bao lâu nữa sẽ chết còn mấy anh con trai giàu có cũng chẳng tiếc gì chỗ tiết kiệm mà ông lão đã cho cô. Tôi nói cho cô nghe nhé. Đấy là gia đình có tư cách nhất mà tôi từng biết. Nhưng trong số rất nhiều người phụ nữ khác, họ chỉ chọn mình cô. Tại sao? Vì cô chưa từng kết hôn và không có con cái gì cả. Mà tiện đây tôi cũng muốn hỏi sao trước đây cô không lấy chồng nhỉ? Cô chưa từng nói cho tôi biết lí do đâu đấy.
Bà Lâm mấp máy miệng:
-Tại vì…
-Nếu cô không muốn thì cũng không cần phải kể cho tôi đâu. Dù sao họ cũng không thích những người đã có một lũ con cháu. Chính tôi cũng không tin vào mấy bà mẹ kế đâu. Ai có thể đảm bảo họ sẽ không tuồn của cải về cho con cháu họ chứ. Nhưng cô là một người rất tốt. Tôi đã nói với họ rằng, nếu chỉ còn một người trung thực duy nhất còn lại trên thế giới này thì người đó chính là cô, cô Lâm ạ. Cô còn lưỡng lự gì nữa?
-Sao họ không thuê người chăm sóc cho ông ấy? – Bà Lâm hỏi, nghĩ về hai người con trai mà rất có thể sẽ sớm trở thành con bà – Tính về lâu về dài thì sẽ rẻ hơn nhiều.
-Cô có biết mấy con bé bán hàng ngoài chợ thế nào không? Bọn nó lười biếng và lúc nao cũng rình ăn trộm tiền của các ông chồng. Chúng bỏ mặc ông chồng già ngồi trên đống phân cả ngày. Thuê mấy đứa như thế chỉ chóng đẩy ông ta đến chỗ chết mà thôi.
Bà Lâm buộc phải đồng ý với điều đó, quả thực, tìm một người phụ nữ lớn tuổi là sự lựa chọn khôn ngoan. Được bà Vương hộ tống, bà Lâm đến dự buổi phỏng vấn với hai anh con trai và những cô vợ của họ. Sau một giờ hỏi han, hai anh con trai nhìn nhau và hỏi bà Lâm có cần thời gian để suy nghĩ về cuộc hôn nhân này không. Không cần phải nghĩ nhiều, bà chuyển về ngôi nhà mới trong vòng một tuần sau đó. Chồng của bà, ông Đường đau ốm hơn bà nghĩ.
“Bệnh Alzheimer”, một cô cháu gái nói với bà trong bữa tối của lễ cưới.
Bà Lâm gật đầu, không biết đó là bệnh gì nhưng đoán rằng nó có liên quan đến não. Bà đỡ chồng bằng cả hai tay và dẫn ông đến bàn, giúp ông ngồi và lau nước dãi trên cằm ông.
Bà Lâm đã trở thành một người vợ, một người mẹ và một người bà. Bà không còn nhớ từ năm nào trong cuộc đời bà, mọi người bắt đầu gọi bà là
bà Lâm thay vì
cô Lâm. Không sao cả, bà hoàn toàn thấy mình đủ tư cách cho cái danh xưng ấy.
Cứ hàng tuần, một anh con trai lại ghé qua kiểm tra và để lại số tiến đủ cho tuần tới. Ông Đường là một người lặng lẽ, luôn ngồi trên chiếc ghế tựa bên cửa sổ, tự đắm chìm vào sự im lặng không đáy của mình. Thỉnh thoảng, ông lại hỏi bà Lâm về người vợ của ông. Đã được anh con trai dặn trước, bà Lâm trả lời rằng vợ ông đang ở trong viện. Bà ta đã đỡ hơn và sẽ sớm trở về nhà. Nhưng trước khi bà trả lời, dường như ông Đường đã quên mất câu hỏi của mình và quay lại trầm ngâm như cũ, không hề có dấu hiệu gì là đang nghe. Bà chờ đợi thêm những câu hỏi khác và cuối cùng phải bỏ cuộc. Bà vặn to vô tuyến và đi lại quanh nhà, quét tước, lau chùi, giặt giũ. Rồi bà ngồi trên chiếc ghế trường kỉ, xem chương trình ca kịch. Không giống như chiếc ti vi 12 inch trước đây của bà, luôn bắt bà phải đi đi lại lại mỗi khi muốn chuyển kênh (và chỉ có tất cả sáu kênh nhờ cái ăng-ten làm từ hai chiếc đũa sắt), máy truyền hình của ông Đường đúng là một nhà ảo thuật với vô số kênh, tất cả đều tuân lệnh theo một chiếc điều khiển. Choáng váng vì những sự lựa chọn mà ba đang có và bởi thú vui được chuyển từ sự lựa chọn này sang sự lựa chọn khác, bà Lâm nhanh chóng nhận thấy cỗ máy này không có lợi cho bà. Dù bà đang xem chương trình nào, bà cũng luôn lo lắng rằng bà đang bỏ lỡ một chương trình thú vị khác. Sau vài ngày sống một cuộc sống mới, bà Lâm ngạc nhiên phát hiện ra rằng bà không còn nghiện vô tuyến giống như suốt mười năm vừa rồi nữa. Liệu cuộc hôn nhân đã có sức mạnh khiến một thói quên được hình thành lâu dài lại có thể được vứt bỏ trong một thời gian ngắn?
Bà Lâm tắt vô tuyến. Ông Đường không chú ý đến sự im lặng đang tràn ngập trong căn phòng. Bà nhận ra rằng không thể đổ lỗi cho cái vô tuyến, mà chính là vì sự hiện diện của ông Đường khiến bà không thể tập trung. Bà cầm một quyển tạp chí và he hé mắt nhìn ông Đường từ đằng sau những trang báo. Mười phút chuyển thành hai mươi phút và bà vẫn tiếp tục quan sát ông mặc dù ông nhất quyết không quay sang nhìn bà. Một mối nghi ngờ kì quặc đang lớn dần lên trong bà rằng ông Đường không ốm. Ông biết bà hiện diện ở đó và đang bí mật quan sát bà. Ông biết rõ người vợ sống với ông suốt năm mươi tư năm đã rời bỏ ông và bà Lâm là người vợ mới của ông nhưng ông từ chối thừa nhận bà. Ông giả vờ mất trí và chờ đợi bà đóng vai một người làm thuê. Nhưng bà Lâm quyết không chịu thua. Ông ta là chồng còn bà là vợ. Giấy kết hôn giấu dưới gối của bà. Nếu ông Đường đang muốn thử thách lòng kiên nhẫn của bà thì bà sẵn sàng chứng minh. Bà đặt cuốn tạp chí xuống và táo bạo nhìn thẳng vào mặt ông Đường, cố gắng khiến ông bối rối. Vài phút trở thành một giờ đồng hồ và đột nhiên bà Lâm kinh hãi nhận ra rằng bà cũng đang mất trí. Bà nhìn ông Đường, vẫn ngồi im như thể một bức tượng. Ông bị bệnh thực, bà tự nhủ và cảm thấy xấu hổ vì đã nghi ngờ ông một cách vô căn cứ. Một người không có khả năng tự vệ cũng khác nào một đứa trẻ sơ sinh. Bà bước nhanh vào bếp và quay trở lại với một cốc sữa.
-Đến giờ uống sữa rồi – Bà nói, vuốt ngực ông Đường cho đến khi ông bắt đầu nuốt.
Ba hôm trước, bà đã tiêm cho ông một liều insulin. Chỉ khi đó, bà mới bắt gặp một thoáng sự sống còn lại trong con người ông. Thỉnh thoảng khi có giọt máu ứa ra lúc bà rút ống tiêm, bà dùng ngón tay để lau thay vì bông gòn, cảm giác lạ lùng rằng máu đang thắm vào cơ thể bà.
Hàng ngày bà Lâm tắm rửa cho ông Đường vài lần, vào buổi sáng và trước khi đi ngủ hoặc bất cứ khi nào ông bị ướt hay tự dây bẩn. Phòng tắm riêng là thứ mà ba Lâm thích nhất trong cuộc hôn nhân này. Suốt đời, bà chỉ đi nhà tắm công cộng, chen lấn với những thân thể trơn tuột dưới dòng nước đang xối từ những vòi hoa sen han gỉ. Bây giờ thì bà đã có hẳn một buồng tắm cho chính mình. Bà sẽ không bao giờ để lỡ cơ hội sử dụng nó nữa.
Ông Đường là người đàn ông duy nhất mà bà Lâm nhìn thấy trần truồng hoàn toàn. Lần đầu tiên cởi quần áo của ông ra, bà không thể kìm được việc nhìn trộm ông một cái, và một cái nữa vào chỗ đó của ông, đang lấp ló sau đám lông lơ thơ. Bà tự hỏi khi ông còn trẻ thì trông nó như thế nào, nhưng ngay tức thì bà gạt những ý nghĩ không trong sạch đó ra khỏi đầu óc. Thân thể trần trụi đầy cám dỗ làm trái tim bà ngập lên một cảm giác ngọt ngào mà bà chưa bao giờ được cảm thấy. Thế rồi bà kỳ cọ cơ thể ông bằng bàn tay của một người mẹ.
Một tối tháng hai, bà Lâm dẫn ông Đường ra chiếc ghế nhựa ở giữa phòng tắm. Bà cởi khuy áo paiama và ông gập cánh tay lai theo sự chỉ dẫn của bà. Đầu ông ngoẹo lên vai bà. Bà di chuyển chiếc vòi tắm để xả nước ấm lên khắp cơ thể ông, che một tay lên trán ông để nước khỏi bắn vào mắt.
Lúc bà Lâm đang ngồi xổm trên sàn để mát xa chân cho ông thì chợt thấy ông chạm vào vai mình. Ba ngước nhìn lên và thấy ông đang nhìn chằm chằm vào mắt bà. Bà bật khóc và quay lưng lại.
-Bà là ai? – Ông Đường cất lời.
-Ông Đường, vẫn là ông đấy ư?
-Bà là ai? Tại sao bà lại ở đây?
-Tôi sống ở đây mà.
Bà Lâm nhìn thấy một sự minh mẫn bất thường trong đôi mắt của ông Đường và cảm thấy tim mình thắt lại. Đó là những tia sáng minh mẫn của một con người đã cận kề với cái chết. Bà Lâm cũng đã nhìn thấy những tia sáng như vậy cách đây hai năm bên giường của ông thân sinh ra bà, chỉ vài giờ trước khi ông qua đời. Bà nghĩ tốt hơn hết là đi gọi bác sĩ nhưng đôi chân bà dán chặt trên nền gạch và đôi mắt thì dán vào khuôn mặt của ông Đường.
-Tôi không biết bà. Bà là ai?
Bà Lâm nhìn xuống chân tay mình. Bà đang mặc một chiếc áo choàng ponso màu vàng nhạt và đi đôi ủng cao su màu xanh lá cây, trang phục của bà khi phục vụ ông trong buồng tắm.
-Tôi là vợ ông – Bà nói.
-Bà không phải là vợ tôi. Vợ tôi là Sujane. Sujane đâu rồi?
-Sujane không còn ở với chúng ta nữa. Tôi là vợ mới của ông mà.
-Bà nói dối – Ông Đường đứng dậy – Sujane đang ở trong bệnh viện.
-Không – Bà Lâm đáp lời – Họ đã nói dối ông.
Ông Đường không nghe bà nữa. Ông đẩy bà Lâm. Cánh tay ông đột nhiên khỏe vô cùng. Bà Lâm giữ chặt lấy ông nhưng ông trở nên hoang dại với một sức mạnh không điều khiển được. Bà túm lấy đôi tay của ông, lòng không hiểu nổi tại sao bà lại phải đánh nhau với chồng vì một người đàn bà đã chết. Nhưng ông ta vẫn cứ khua vào không khí rồi chấp chới hai bước, và trượt ngã xuống vũng nước ngẩu bọt xà phòng.
Không ai chú ý đến bà Lâm trong lễ tang. Bà ngồi ở một góc và nghe người ta nói về cuộc đời ông Đường, một nhà vật lý tài giỏi và một người thầy vĩ đại, một người chồng, người cha, người ông hết sức mẫu mực. Người ta bắt tay thân nhân của người quá cố và lờ đi người đàn bà đang đứng ở cuối hàng.
Tôi không giết ông ấy. Bà Lâm tưởng tượng ra mình đang nói với tất cả những người có mặt ở đó. Ông ấy đã chết trước khi ngã xuống. Nhưng bà không nói sự thật cho bất cứ ai cả, thay vào đó lại thừa nhận sự lơ đễnh của mình. Dù sao thì cũng sẽ không ai tin bà hết, vì chỉ có bà là người duy nhất nhìn thấy những tia sáng ấy trong mắt ông, những tia le lói cuối cùng trước khi chìm vào đêm tối vĩnh cửu.
CUỘC GẶP TÌNH CỜ
Joyce Begg (Australia)
Con tàu bỗng chốc trở nên đông nghịt người, phần lớn là khách du lịch và sinh viên. Joan cảm thấy vô cùng may mắn vì đã đặt vé trước. Ngồi cạnh Joan là một cô gái gầy gò đang có vẻ như trầm tư suy nghĩ. Cô ta mặc chiếc váy da nâu cùng áo khoác kẻ sọc đen. Đối diện cô gái là một anh thanh niên với gương mặt đờ đẫn như thiếu ngủ lâu ngày. Còn bên cạnh anh ta là một người đàn ông trạc tuổi Joan, ăn mặc rất bảnh bao với một chiếc đồng hồ vàng sáng lấp lánh trên tay.
Khi con tàu lăn bánh khỏi sân ga, cũng là lúc Joan rút từ trong túi ra một cuốn sách. Mọi khi, trong những chuyến đi, Joan thường hay đan áo, đó cũng là cách để quan sát xung quanh mà không bị ai để ý. Nhưng lần này, bà quyết định để lại cuộn len trong va li. Đến trang sách thứ mười, bà ngừng đọc và bắt đầu nhìn quanh theo thói quen. Giữa lối đi có một đôi nam nữ trẻ tuổi, mà nhìn mái tóc bạch kim cùng gương mặt và đôi chân vạm vỡ của họ, Joan đoán là người Bắc Âu. Chiếc túi xách khổng lồ của họ báo hiệu một chuyến du lịch đầy thú vị ở phía trước. Đột nhiên, người đàn ông đeo chiếc đồng hồ vàng đứng dậy.
-Tôi sẽ mang cho cô một tách cà phê nhé?
Joan hơi giật mình:
-Vâng, tốt quá. Cám ơn anh.
Năm phút sau ông ta quay lại với hai chiếc cốc nhựa và gói bánh qui bơ trên tay,
-Tôi e rằng sẽ là một bữa ăn chán ngắt. Nhưng có còn hơn không.
Đề tài cho câu chuyện giữa hai người là một số nhãn hiệu bánh quy nổi tiếng. Càng nói chuyện, Joan càng có ấn tượng sâu sắc rằng ông hẳn là người đi du lịch khá nhiều. Không phải vì ông cố tình liệt kê những nơi đã đến, mà bởi những lời trích dẫn khéo léo về một nhà hàng ở Singapore hay quán kem nổi tiếng nào đó ở Boston. Bà bỗng chú ý đến mái tóc sẫm màu được cắt tỉa gọn gàng, chiếc áo sơ mi xám rất hợp với cái cà vạt màu xanh nước biển. Mặc dù không thể nhìn thấy nhưng bà cũng dám chắc đôi giày hẳn phải được đánh xi bóng loáng. Nhưng điều khiến bà băn khoăn là ông đang làm gì trên con tàu này. Người như ông phải ngồi máy bay mới phải. Dường như đọc được ý nghĩ ấy, người đàn ông tựa lưng vào ghế và ngắm nhìn cảnh vật đang chuyển động qua khung cửa sổ.
-Chắc cô chỉ thích đi tàu, phải không?
Joan chưa từng nghĩ về điều đó, đơn giản vì bà chỉ là thư kí của một trường cấp hai, tranh thủ những ngày nghỉ giữa học kì để đến thăm cô con gái đang ở kì ở cữ. Và mặc dù chồng bà chẳng để bà phải đói khổ kể từ khi ông qua đời trong một tai nạn xe hơi, bà cũng chưa từng cho phép mình mua một chiếc vé máy bay. Bà nghĩ một lúc rồi nói:
-Chẳng phải người ta vẫn thường nói rằng trên những chuyến tàu có rất nhiều câu chuyện lãng mạn đó sao?
Hai người chợt nhìn ra cửa sổ khi Joan nhắc đến hai từ “lãng mạn”.
-Tôi không biết người ta là ai, nhưng họ nói đúng đấy. Tôi cũng thường đi du lịch bằng xe lửa mỗi khi có thể, như một phương pháp thư giãn để khi cần, tôi vẫn có thể làm việc được.
Ngay lập tức, Joan nhìn thấy chiếc cặp da cùng máy tính xách tay mà ông đã xếp gọn gàng bên cạnh.
-Đừng để tôi làm phiền nếu anh phải làm việc.
Ông cười và nghiêng người:
-Tôi là Bannerman, Richard Bennerman.
Joan không chớp mắt:
-Rosa King.
-Không biết tôi có đoán đúng không, nhưng chắc cô làm kinh doanh thời trang?
Joan vô cùng thích thú với ý nghĩ này và tự kiềm chế không để một nụ cười hiện ra trên gương mặt:
-Thực ra, tôi làm trong ngành giáo dục.
Bỗng nhiên, ông trở nên vô cùng điềm đạm, như thể nghĩ rằng bà phải là một giáo sư văn học Anh, hay một chức vụ gì đó tương đương, có lẽ cũng bởi cả cuốn sách nữa. Cô gái bên cạnh Joan nhắc chiếc headphone ra khỏi tai để vuốt lại mái tóc. Không gian chợt như bị xé nát bởi những tạp âm loảng xoảng. Còn anh thanh niên bị đánh thức cũng ngọ nguậy với vẻ khó chịu.
Từ lúc ấy, hai người bắt đầu nói về chủ đề âm nhạc, từ opera cho đến ca sĩ Frank Sinatra và cả nhạc cổ điển nữa. Họ nói chuyện rất hào hứng và ăn ý đến mức Joan thấy hối hận vì đã không nói thật rằng Opera chỉ tạo cảm hứng cho những giấc ngủ ngắn. Cuối cùng, ông cũng kể về đời tư của mình. Ông nói rằng mình đã li dị và khi ông gợi ý một cách hết sức tế nhị về việc tái hôn thì Joan đã không hề phải đóng kịch. Bà là một phụ nữ góa chồng và trong giây phút bà bỗng cảm thấy vui thích vì điều đó. Họ không nhắc tới những đứa con và bà cũng đoán rằng những đứa con không hiện hữu trong cuộc đời ông, chúng không hề phù hợp với hình ảnh một thương nhân quốc tế. Con tàu dừng lại ở sân ga của thị trấn. Hai người Bắc Âu rời khỏi tàu, sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu kì thú, cô gái gầy gò và chàng thanh niên thiếu ngủ vẫn ở lại, chờ tiếp tục cuộc hành trình. Có một cậu bé rõ ràng là đang tìm người nhà, cuối cùng cậu dừng lại trước ghế ngồi của Joan.
-Ông đây rồi, mẹ nói là khách sạn bên cạnh nhà vẫn còn nhiều phòng lắm. Và nếu ông muốn ăn sandwich thì phải nhanh lên thôi.
-Chào Joe, bảo với mẹ là ông xuống ngay đây.
Ông dõi theo bước chân của cậu bé rồi lịch sự nói với Joan.
-Rất vui được gặp cô, cô King.
Ông lấy hành lý từ trên giá xuống, mãnh giấy treo trên chiếc va li đung đưa trước mắt Joan. Trước khi ông bước đi, bà chỉ kịp đọc thấy cái tên Roy Baneis. Gần đến cửa, ông quay lại nhìn bà và thoáng cười buồn. Joan ngạc nhiên đến nỗi không thể cười đáp lại. Cho đến khi bà kịp định thần thì ông dã rời khỏi tàu. Không, lẽ ra bà phải là người đầu tiên bước ra khỏi tàu và bà tin rằng mình có thể đương đầu với mọi thứ. Bà đã đi đến một quyết định…
Ông dừng lại khi nhìn thấy Joan, chiếc cặp da đập vào chân ông một cách vụng về.
-Tôi quên không đưa cho anh thứ này – Bà trao cho ông mảnh giấy ghi tên trên hành lý – Card của tôi đây.
Ông cúi xuống đọc rồi cười phá lên, Joan cũng cười. Tiếng cười cứ vang mãi cho đến khi hòa cùng tiếng còi của tàu đang lăn bánh…
CƠN BÃO LÒNG
Dapushta Deeray (Ấn Độ)
Bên ngoài, cơn bão vẫn tiếp tục gào thét tưởng như không bao giờ dứt. Tiếng gió rít ghê người cùng với những thân cây va vào nhau kêu răng rắc làm cô rùng mình. Dường như bụi bay khắp nơi, cô có thể thấy được cái cảm giác sàn sạn trên đôi môi khô nẻ của mình khi cố gắng chốt chặt các then cửa sổ và cửa ra vào, chúng xuyên qua họng và chất đầy trong phổi. Thật là một đêm kinh khủng. Ngay sau đó, một trận mưa như trút nước ầm ầm đổ xuống kéo theo một vệt sáng chọc thủng bầu trời. Đèn trong nhà lờ mờ rồi tắt lịm. Mọi thứ chìm vào bóng tối. Cô lầm bầm nguyền rủa rồi vội vã đi tìm cây nến. Tại sao vào những dịp như thế này Akash luôn đi vắng nhỉ? Giá như anh ấy có nhà vào một đêm như đêm nay thì hay biết bao, họ sẽ có thời gian để gần gũi nhau hơn. Cô tự nhủ:
“Đôi lúc mất điện lại đem đến điều thú vị cho những cặp vợ chồng không có thời gian dành cho nhau hay quá mệt mỏi vào những lúc họ muốn ân ái”. Cô thở dài và cố nhớ lại lần cuối cùng họ ở bên nhau, đã lâu quá rồi.
Chồng cô, Akash rất hiếm khi có thời gian rảnh rỗi, ít ra là từ sau khi anh bỏ nghề và đầu tư vốn để xây dựng nông trường. Đó là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu nhưng tuyệt nhiên anh không ngại một chút nào hết. Đó là niềm đam mê, là tham vọng và tình yêu thực sự của anh. Không biết từ bao giờ cô đã trở thành một vị trí rất mờ nhạt trong cuộc đời anh, có lẽ nông trường đã lấy đi toàn bộ sức mạnh cũng như lòng nhiệt thành của con người Akash. Cô thực sự không muốn thế chút nào khi cảm thấy mình đã bị cô lập hoàn toàn. Anh chỉ thỏa mãn nhu cầu và sự ham muốn khi cần thiết. Đứa con trai duy nhất của họ đang đi học xa. Còn cô, cô còn lại gì cho bản thân? Hạn hữu lắm cô mới có cơ hội giúp anh vài việc để làm cho nông trường thêm thịnh vượng, nhưng đối với cô, công việc đó đem lại sự nhàm chán nhiều hơn là thích thú. Cô không bao giờ quan tâm đến cây cối hay động vật, vậy mà đó lại là công việc của anh. Chính điều đó đã làm họ phải xa nhau những hai mươi lăm cây số. Anh chẳng mấy khi về nhà, vì thế cô thường sống trong nỗi trống trải và cô đơn. Người hàng xóm gần nhất của họ cũng cách xa đến hàng cây số. Thỉnh thoảng lắm cô mới được nghe thấy âm thanh của những chiếc xe tải nặng trịch chạy trên đường, nó như đánh thức cô rằng một xã hội văn minh vẫn còn đang tồn tại và không xa đây lắm.
Mới tám giờ tối mà cô có cảm giác như đã quá nửa đêm vì ánh nến chập chờn ở góc nhà. Đột nhiên có tiếng gõ cửa vang lên, đưa cô trở về với thực tại.
“Ai thế nhỉ?”. Ngoài trời mưa vẫn đổ, tiếng gõ cửa lại lộc cộc. Cô định gọi người giúp việc nhưng sau lại thôi. Cầm cây nến trên tay, cô dò dẫm đi ra cửa. Tiếng gõ cửa lại tiếp tục và lần này thì gấp gáp hôn. Đã ghé mắt sát lỗ cửa nhưng cô chẳng tài nao nhìn thấy gì ngoài một khoảng đen tối mò. Không còn cách nào khac, cô đành mở then cài mà cánh tay run run vì sợ. Một người đàn ông với thân hình ướt sũng hiện ra nơi ngưỡng cửa. Anh ta nói ngay.
-Tôi xin lỗi vì đã tự tiện vào đây nhưng xe của tôi bị hỏng trên đường mà quanh đây không còn nơi nào có người ở ngoại trừ nhà bà.
Có cái gì đó xuất hiện trong giọng nói của người đàn ông mới đến, nó vừa gần gũi vừa có phần xa lạ. Cô nâng cây nến để nhìn cho rõ mặt anh ta hơn, và bất chợt kêu lên:
-Manok? Manoj Trivedi?
Người đàn ông cũng vô cùng ngạc nhiên và nhìn chằm chằm vào mặt cô.
-Meera, có phải em đấy không? – Anh cất lên thảng thốt khi bước vào phòng.
-Đợi em lấy khăn và bộ quần áo khô cho anh – Cô mỉm cười dịu dàng rồi vào phòng ngủ lấy chiếc khăn và bộ đồ của Akash.
Cuộc sống đôi khi cũng đầy sự ngạc nhiên đến thú vị, không hẳn chỉ toàn những phút giây buồn tẻ. Anh đã từng là người yêu của cô, từng là niềm đam mê thời tuổi trẻ và họ đã thề sẽ ở bên nhau mãi mãi. Đã có lúc Trái đất dường như không còn tồn tại, trong giây phút ngây ngất và đắm say của tình yêu, họ những tưởng sẽ yêu thương nhau trọn đời. Tại sao lời thề ấy lại bị trôi vào quên lãng? Phải chăng chỉ đơn giản là vì định mệnh. Họ chia tay nhau mỗi người một ngã. Vì muốn theo đuổi sự nghiệp của mình, anh đã chuyển tới sống tại một thành phố khác, còn cô ở lại quê nhà. Sự xa cách đã làm họ ít có cơ hội gần gũi nhau hơn và những là thư cứ thưa dần. Cuối cùng cả cô lẫn Manoj đều nhận thấy tình cảm ngày càng phai nhạt, nỗi đam mê và những cảm xúc ngày xưa giờ đã tan biến tự lúc nào. Họ đã chia tay nhau như thế và cuộc hôn nhân của cô với Akash đặt dấu chấm hết cho mối tình lãng mạn đó.
Giờ cô lại mỉm cười khi nghĩ về Manoj, cố gắng tưởng tượng xem cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu cưới anh. Phải chăng anh đã làm tan vỡ giấc mơ tuyệt đẹp bằng ngự trị nơi trái tim cô. Manoj vừa lau người vừa nói.
-Anh làm phiền em quá.
Cô không phản ứng gì mà chỉ nhận xét.
-Anh mập ra nhiều đấy.
Manoj quay sang nhìn cô.
-Em cũng không thay đổi nhiều ngoại trừ nét mặt hơi có phần phiền muộn. Hãy nói cho anh biết tại sao lại như vậy? Em luôn là cô gái vui vẻ, hay cười và vô tư lự kia mà.
-Em già rồi, Manoj.
-Già ư?
Khuôn mặt cô ánh lên niềm vui sướng và hạnh phúc khi anh nói rằng trông cô chẳng thay đổi gì cả. Quả thực sắc đẹp của cô dường như đã bị chôn vùi trên mảnh đất cằn cỗi này và thật xót xa khi có một người chồng không nhận biết được điều đó như Akash. Cô chợt bừng tỉnh.
-Em lấy cho anh một ít đồ uống nhé, Manoj. Anh dùng gì nhỉ, Whisky hay Soda?
Nói đoạn, không cần anh trả lời, cô đi vào bếp và mang ra cho anh đủ thứ đồ uống rồi lại ngồi yên trên tấm thảm. Manoj cũng ngồi duỗi chân trên nền nhà. Trong mắt anh có cái gì đó mơ màng khi nhìn lên trần, đôi bàn tay xếp chéo ra phía sau đầu. Cái bóng khổng lồ của anh in trên tường trông ngồ ngộ. Nét mặt Manoj trông có vẻ đăm chiêu. Anh trầm ngâm.
-Anh và em còn vĩ đại hơn cả cuộc đời này.
Cô nhìn anh cười.
-Điều gì đã làm anh ứng khẩu thành thơ vậy?
-Em và cơn mưa trong đêm.
Bên ngoài trời vẫn mưa không dứt. Mưa rơi lộp bộp trên những tấm chắn cửa.
-Anh có muốn một ít bánh sandwich không?
-Tốt quá. Anh cũng đang đói lắm rồi. Thật là bất ngờ khi bà chủ nhà của mình đêm nay lại chính là người yêu năm xưa.
Cô quay vội đi để tránh cái nhìn của anh rồi trở lại với một chiếc bánh phết bơ, vài quả trứng luộc và mấy lát dưa chuột. Cô chợt nhớ lại kỷ niệm năm nào.
-Anh còn nhớ chuyến dã ngoại trên đồi Rocky không? Những chiếc bánh Sandwich ướt sũng và trà lạnh ấy mà.
-Có chứ, chúng ta đã như ở trên thiên đường vậy, mọi thứ thật tuyệt vời, dù chỉ là những chiếc bánh sandwich ướt sũng và trà lạnh.
Cô băn khoăn.
-Hồi ấy anh có thực sự yêu em không hay đó chẳng qua chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ?
-Anh cho rằng lí do chúng ta chia tay là vì đã xa nhau trong một thời gian quá dài.
-Em không nghĩ thế.
-Hãy nói cho anh biết em có hạnh phúc không?
-Về mặt nào đó thì có nhưng đối với em chẳng bao giờ tồn tại niềm hạnh phúc lớn lao hay nỗi thất vọng tràn trề, có thể nói rằng em hạnh phúc.
-Anh không hiểu.
-Anh sẽ không bao giờ hiểu, Manoj ạ. Thế anh đã bao giờ hài lòng với cuộc sống của mình hay chưa?
-Chưa thực sự hài lòng lắm.
-Thế nên anh không hiểu hết giá trị của hạnh phúc. Có lẽ chúng ta không nên đề cập đến chủ đề này nữa. Còn anh hiện giờ sống ra sao? Vợ con thế nào?
Manoj châm điếu thuốc rồi rút từ trong ví ra một bức ảnh, một phụ nữ trẻ đẹp đang bồng trên tay đứa trẻ bụ bẫm, xinh xắn. Anh giải thích:
-Đây là con trai anh, Anuj và mẹ nó.
-Cô ấy đẹp quá.
-Nhưng em biết không, cô ấy yêu con và công việc hơn anh. Lily là một phụ nữ năng động, cứng rắn, thông minh và thành đạt. Em có biết điều gì sẽ xảy ta khi người phụ nữ như vậy lấy người chồng gia trưởng như anh không?
-Ý anh là… - Cô bỏ lửng câu nói một cách ý nhị.
-Đúng vậy, anh đã quyết định chia tay trước khi mọi việc trở nên quá tồi tệ, cô ấy có cuộc sống riêng của mình và anh cũng vậy. Cuộc sống của anh chưa bao giờ thực sự hạnh phúc cả. Chỉ một năm sau khi Anuj ra rời, dường như anh không còn tồn tại với cô ấy nữa. Anh đã cố níu kéo những gì có thể nhưng không được. Để cho cô ấy tự do là lối thoát duy nhất.
Anh rít một hơi thuốc rồi lại yên lặng. Cô cố phá vỡ cái khoảnh khắc nặng nề đó.
-Em cũng có con trai.
-Nó ở đây à?
-Không, nó ở ký túc xá.
-Chắc em buồn và cô đơn lắm nhỉ?
-Vâng, rất buồn.
Đây là lần đầu tiên cô thừa nhận điều đó.
Ngoài trời mưa cũng đã ngớt nhưng hơi lạnh vẫn luồn vào trong phòng. Họ cứ yên lặng như để hồi tưởng về một quá khứ xa xôi với những kỉ niệm đẹp đẽ mà họ đã đánh mất trong tầm tay. Cô những muốn thồ lộ cùng anh về cuộc đời mình, cái cuộc đời từa tựa giống cuộc đời anh. Và thế là cô mang tập album ra và say sưa kể cho anh nghe. Cô mải miết nói còn anh ngắm nhìn cô say đắm như thuở nào. Cô vẫn đẹp. Khuôn mặt đáng yêu đó thuộc về cô gái mà anh đã từng yêu cách đây hai mươi năm. Cô gái ấy đã chế ngự trái tim anh. Không kìm được cảm xúc đang dâng trào, anh ôm chầm lấy cô, còn cô cũng buông người theo vòng tay của anh, đôi môi cô run rẩy như sắp nhận được nụ hôn đầu đời. Nhưng đột nhiên cô cảm thấy dường như anh đang cố gắng cắt đứt sợi dây vô hình kéo họ xích lại gần nhau, cô khẽ đẩy anh ra và nói.
-Em chuẩn bị giường cho anh nhé, cũng khá muộn rồi còn gì.
-Không, ở đây anh thấy rất thoải mái, chỉ còn vài tiếng nữa thôi mà.
Cô đứng dậy.
-Vậy thì chúc anh ngủ ngon nhé. Em cũng cần phải chợp mắt một chút.
Nhưng giấc ngủ đâu có đến với họ dễ dàng như thế. Nhất là Meera, cô phải cố dằn lòng để khỏi rơi vào vòng tay anh một lần nữa.
Những tia nắng mặt trời đầu tiên rọi qua tấm rèm cửa làm cô chói mắt. Theo thói quèn, cô với ngay chiếc đồng hồ để trên bàn. Đã 9 giờ sáng rồi. Cô bật dậy và vươn vai, một nụ cười chợt thoáng trên gương mặt cô. Buổi sáng hôm nay thật trong lành và mát mẻ, ánh nắng chan hòa như quyện vào những đám may đang lửng lờ trôi. Không còn một dấu tích gì của cơn bão ngày hôm qua nữa. Cô chợt nhớ ra rằng chồng cô sẽ trở về sau vài tiếng đồng hồ nữa và cô sẽ phải giải thích về sự hiện diện của người lạ mặt trong nhà, nhưng dù sau đó không phải là vấn đề quan trọng. Cô bước xuống phòng khách và gọi lớn:
-Manoj, anh ở đâu?
Đáp lại tiếng gọi của cô là một sự im lặng đáng sợ. Cô tìm anh khắp nhà và gọi tên anh nhưng vô ích. Một tờ giấy nhỏ đặt trên bàn:
“Cám ơn em vì những gì đã làm cho anh, nếu có dịp anh sẽ quay trở lại. Manoj”. Anh đã ra đi và mang theo cả niềm hy vọng nhỏ bé của cô. Tất cả chỉ còn thoáng qua như giấc mơ. Co đã khóc, khóc nhiều lắm, khóc cho hiện tại, cho quá khứ và cho cả tương lai nữa. Nhưng chỉ một lúc sau, cô lại trở về là chính mình, một người phụ nữ trầm lặng và nhẫn nhịn. Mọi dấu vết của đem qua đã bị xóa sạch. Cô đang chờ Akash trở về.
Charlie Fish sinh ra ở Mount Kisco, New York, và sau đó di chuyển giữa các vùng New England và Anh cũ vài lần trước khi định cư ở London. Kể từ khi kết thúc khóa luật vào năm 2002, anh đã làm nhiều công việc khác nhau nhưng không có việc nào liên quan đến luật.
Ngoài công việc sáng tác, sở thích của anh còn bao gồm bơi lội, làm việc tình nguyện, chơi ô chữ và đã từng dành được những phần thưởng lớn. Anh cũng đồng thời là biên tập mảng văn xuôi trên trang web www.short-stories.co.uk
CHẾT VÌ Ô CHỮ HAY CHỮ M CHO KẺ GIẾT NGƯỜI(1)
Tác giả: Charlie Fish (Mỹ)
Hôm nay là một ngày nóng nực và tôi cảm thấy căm ghét vợ mình.
Chúng tôi đang chơi trò ô chữ. Thật chán không bút nào tả xiết. Tôi năm nay bốn mươi hai tuổi và tất cả những gì tôi có thể được phép làm trong một trưa chủ nhật nóng cháy da là chơi ô chữ.
Lẽ ra tôi có thể ra ngoài, tập thể thao, tiêu tiền, gặp gỡ mọi người. Có lẽ từ sáng thứ năm đến giờ, tôi chưa được nói chuyện với ai ngoại trừ vợ mình. À không, sáng thứ năm tôi có nói vài câu với người đưa sữa.
Những chữ cái tôi xếp không khớp.
Tôi mới được có 24 điểm. Tôi đang phải xếp chữ “Khởi đầu”(Begin). Tôi đặt chữ N lên ngôi sao màu hồng nhỏ xíu.
Tôi quan sát thái độ tự mãn của vợ tôi khi cô ta xếp lại các chữ cái. Tôi thấy ghét cô ta. Nếu cô ta không quanh quẩn ở nhà thì tôi đã có thể làm những công việc ưa thích của mình rồi. Tôi sẽ trèo lên ngọn Kilimanjaro. Tôi có thể xem bộ phim
Bom Tấn mới nhất của Hollywood. Tôi có thể tham gia cuộc thi đua thuyền vòng quanh thế giới Vendee Globe trên một con thuyền buồm dài gần hai mét có tên là New Horizon. Tôi không chắc lắm nhưng chắc chắn tôi sẽ làm một việc gì đó thật thú vị.
Cô ta bắt đầu xếp chữ “điềm gở”(JINXED). Cô ta xếp chữ J lên ô điểm thưởng. 30 điểm. Cô ta lạ thắng lại. Có lẽ tôi nên giết chết cô ta mới phải.
Giá như tôi có chữ D thì tôi có thể xếp chữ “Kẻ giết người” (Murder). Đó sẽ là một dấu hiệu.
Tôi bắt đầu cắn góc chữ U của tôi. Đó là một thói quen xấu, tôi biết thế. Tất cả các chữ cái đều bị tôi gặm nhắm đến sờn cả ra. Tôi xếp chữ “Nóng hơn” (Warmer) vào ô 22 điểm và lại tiếp tục gặm chữ U.
Khi tôi nhặt các chữ cái đựng trong túi lên, tôi bất chợt nảy ra ý nghĩ rằng, các chữ cái sẽ mách bảo cho tôi biết tôi phải làm gì. Nếu chúng đủ chữ “Giết người” (KILL) hay “đâm chết” (STAB) hoặc tên của cô ta, hoặc bất cứ chữ gì tương tự, thì tôi sẽ thực hiện điều đó ngay lập tức. Tôi sẽ kết liễu cô ta.
Các chữ cái mà tôi nhặt được có các chữ MIHZPA, cộng thêm cả chữ U ở trong miệng tôi nữa. Mẹ kiếp.
Ánh nắng mặt trời rọi qua cửa sổ. Tôi có thể nghe thấy tiếng lũ côn trùng đang vo ve ngoài cửa. Tôi hy vọng rằng đó không phải là những con ong. Thằng em họ Harold của tôi đã nuốt phải một con ong hồi nó chín tuổi. Sau đó cổ họng nó sưng phồng lên và nó chết. Tôi hy vọng rằng nếu đấy là những con ong thì chúng sẽ bay thẳng vào cổ họng vợ tôi.
Cô ta đang xếp chữ “Đổ mồ hôi” (SWEATIER) bằng tất cả các chữ cái còn lại của cô ta. Cô ta được 24 điểm cộng thêm 50 điểm thưởng nữa. Nếu như trời không quá nóng để có thể dịch chuyển thì tôi đã bóp cổ cô ta ngay lúc này rồi.
Mồ hôi càng lúc càng ướt đẫm người tôi. Trời này cần một cơn mưa để làm sạch không khí. Ngay khi ý nghĩ đó vọt qua óc thì tôi đã tìm được ngay một từ hợp lý “Ẩm ướt” (HUMID). Tôi xếp từ này lên ô điểm thưởng, sử dụng chữ D của từ JINXD. Chữ U văng ra một ít nước bọt khi tọi đặt nó xuống. Tôi thắng 22 điểm. Tôi hy vọng rằng những chữ cái này sẽ làm cô ta kinh tởm.
Cô ta cũng nói với tôi rằng thật kinh tởm. Và vì một vài lý do, tôi càng căm ghét cô ta.
Cô ta xếp chữa “Quạt” (FAN), chữ F để lên ô đúp, sau đó đứng dậy đặt ấm nước và bật điều hòa.
Hôm nay là một ngày nóng nhất trong vòng mười năm trở lại đây và vợ tôi thì đi cắm nước sôi. Đó là lý do tại sao tôi lại ghét cô ta. Tôi xếp chữ “vù vù” (ZAPS), chữ Z cũng để ở ô đúp, cùng lúc đó cô ta bị điện giật từ ổ cắm điều hòa. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút.
Cô ta ngồi xuống kèm theo một tiếng thở dài nặng nề và lại bắt đầu sắp xếp các con chữ. Những tiếng cách cách lại nổi lên. Tôi cảm thấy một cơn giận ghê gớm đang lớn dần lên. Nó như một liều độc dược đang ngắm dần từ bên trong ra khắp da thịt tôi. Và khi chất độc đó lan ra đến các đầu ngón tay tôi sẽ nhảy dựng lên, hất tất cả các chữ cái xuống sàn và sẽ đánh cho cô ta một trận.
Cơn giận đã lan ra mười đầu ngón tay. Tim tôi đập mạnh. Người tôi vã mồ hôi. Tôi nghĩ rằng khuôn mặt mình lúc này hẳn là đang co giật. Sau đó, tôi hít thở, thở rất sâu và ngồi lại vào ghế của mình. Ấm nước bắt đầu reo. Và âm thanh của nó càng khiến tôi cảm thấy nóng nực.
Cô ta xếp chữ “sẵn sàng” (READY) vào ô đúp 18 điểm, sau đó tự đi pha cho mình một tách trà. Không, tôi không muốn uống trà.
Tôi thừa cơ đó lén giấu một ô trống trong túi đựng chữ cái và ném vào đó một chữ V. Cô ta nhìn tôi nghi ngờ. Cô ta cầm tách trà ngồi xuống, đặt tách lên bàn trong khi tôi xếp một từ tám chữ cái “Lừa đảo” (CHEATING), sử dụng chữ A trong từ “Sẵn sàng” (READY). 64 điểm, bao gồm cả 50 điểm thưởng, điều đó nghĩa là tôi đã thắng cô ta.
Cô ta hỏi rằng tôi có chơi ăn gian không đấy.
Tôi thực sự vô cùng căm ghét cô ta.
Cô ta xếp chữ “bỏ qua” (IGNORE) vào ô gấp ba với 21 điểm. Điểm của cô ta đang là 153, còn tôi là 155.
Hơi nước bốc lên từ tách trà khiến tôi phát ngốt. Tôi đang cố gắng xếp được chữ nào liên quan đến việc giết người từ những chữ cái mà tôi bốc được, nhưng cuối cùng chữ tốt nhất mà tôi có thể xếp là từ “đi ngủ” (SLEEP).
Vợ tôi lúc nào cũng ngủ. Cô ta ngủ trong khi hàng xóm sát vách đang cãi nhau ấm ấm, trong khi họ đập phá cửa nhà, đập phá tivi và một con lật đật cùng tỷ thứ khác bay vèo vèo ra ngoài. Và rồi hôm sau cô ta cằn nhằn tôi vì cái tội cáu kỉnh do thiếu ngủ.
Giá mà có cách nào đó giúp tôi thoát khỏi cô ta.
Tôi phát hiện ra một cơ hội để thắng điểm. Tôi xếp chữ “nổ tung” (EXPLODES), sủ dũng chữ X của từ JINXED. 72 điểm. Rồi cô ta sẽ thấy.
Khi tôi đặt chữ cái cuối cùng xuống, có một tiếng nổ kinh hoàng phát ra từ bộ phận điều hòa.
Tim tôi đập rộn lên, không phải vì tiếng nổ đó, mà vì mặc dù không tin vào điều đó, nhưng tôi vẫn phải khẳng định rằng đó không phải sự ngẫu nhiên. Đó là do các con chữ cái gây ra. Trước đó, tôi đã xếp từ “Lừa đảo” khi tôi chơi gian và từ “vù vù” rồi sau đó vợ tôi bị điện giật. Những chữ cái đã trở thành sự thật. Những chữ cái này đang lựa chọn tương lai cho chúng. Và cả trò chơi này có tên “điềm gở” (JINXED).
Vợ tôi bắt đầu xếp sang chữ “dấu hiệu” (SIGN), với chữ N đặt vào ô thưởng ba 10 điểm.
Tôi phải thử mới được.
Tôi phải xếp một chữ gì đó và xem liệu điều đó có trở thành sự thật không. Một thứ gì đó mà tôi không nghĩ đến, để chứng minh rằng các con chữ này sẽ trở thành hiện thực. Tôi bốc được các chữ cái ABOYFWE. Như vậy nghĩa là tôi sẽ có rất nhiều sự lựa chọn. Tôi bắt đầu gặm nhấm chữ B một cách điên cuồng.
Tôi xếp chữ “bay” (FLY)(2) sử dụng chữ L từ EXPLODES. Tôi ngã người ra sau ghế và nhắm mắt lại, chờ đợi một cảm giác được nâng lên từ chiếc ghế. Chờ bay.
Thật ngốc nghếch. Tôi mở mắt. Có một con ruồi. Một con côn trùng đang vo ve trên bàn ô chữ. Nó bị thu hút bởi hơi ấm đang tỏa ra từ tách trà. Điều đó chẳng chứng minh được gì. Lũ ruồi có thể xuất hiện ở đây bất cứ lúc nào.
Tôi cần phải xếp một chữ gì đó đơn giản. Một chữ gì đó không thể hiểu sai đi được. Một chữ gì đó dứt khoát vá quyết định. Một chữ gì đó kết thúc. Một chữ gì đó liên quan đến chết chóc.
Vợ tôi lại xếp chữ “cẩn thận” (CAUTION), dành một ô trống cho chữ N.
Những chữ cái bốc được của tôi chỉ còn chữ AQWEUK, cộng với chữ B đang ngậm trong miệng. Tôi đang bị chi phối bởi sức mạnh của các con chữ và vô cùng thất vọng vì không thể điều khiển được chúng. Có lẽ tôi lại phải chơi gian thôi. Tôi cần các chữ cái nào có thể xếp cd từ “giết” (SLAY) hay “cắt cổ” (SLASH). Ý nghĩ này bắt đầu tấn công tôi. Một từ hoàn hảo. Một từ kinh khủng, nguy hiểm và mạnh mẽ.
Tôi xếp chữ “động đất” (QUAKE)(3) vào ô 19 điểm.
Tôi phân vân không biết liệu sức mạnh của một cơn động đất sẽ tương xứng với bao nhiêu điểm. Tôi có thể cảm thấy những luồng run rẩy đang trào dâng trong huyết quản. Tôi đang điều khiển định mệnh. Tôi đang dùng mánh khóe với số phận.
Vợ tôi xếp chữ “chết” (DEATH) vào ô 34 điểm ngay khi căn phòng bắt đầu rung chuyển.
Tôi há hốc miệng vì ngạc nhiên và vì sự thật đang bắt đầu thành hình. Chữ B tôi đang ngậm trong miệng bắn vào cổ họng tôi. Tôi cố gắng ho. Mặt tôi đỏ lên, rồi chuyển sang màu tái xanh. Cổ họng tôi sưng tấy. Cơn động đất đã lên đến đỉnh điểm.
Tôi ngã lăn ra. Còn vợ tôi đang ngồi nguyên đó, thản nhiên chứng kiến.
BÁN CON
Samruam Singh (Thái Lan)
Xong việc gửi thư cho Yai Phloy, Lung Maa không biết sẽ phải nói gì với con. Tim ông đau nhói vì biết rằng những lời mà Yai Phloy thốt ra khi đó hoàn toàn chỉ là dối trá. Nhưng ông còn biết làm gì bây giờ? Dù thế nào, ông cũng phải để con gái đi với Yai Phloy thôi. Không những ông tự biến mình thành kẻ đê tiện bằng cách thừa nhận công khai với mọi người rằng ông túng thiếu đến mức phải bán đi đứa con gái của mình mà còn để cho Yai Phloy tiếp tục trò lừa gạt điêu luyện của mụ. Ông chỉ có thể bụng bảo dạ rằng mình đã bị mụ Yai Phloy lừa gạt. Trong bất kì trường hợp nào, một người đàn ông thà chịu nhục vì bị lừa còn hơn cái nỗi nhục nhã vì bán con đi làm đĩ.
Yai Phloy ăn nói xuôi tai lắm. Mụ dễ dàng dụ dỗ mọi người bằng những lời đường mật. Yai Phloy giải thích cặn kẽ rằng bọn trẻ con bây giờ càng ngày càng hư hỏng, đặc biệt là trẻ con thành phố, nhất là ở Bangkok. Nguồn cơn chính là do bố mẹ chúng quanh năm bận rộn với công việc, phấn đấu làm giàu, nên thậm chí chẳng có đủ thời gian để ở nhà với con cái. Thuê được người chăm nom cho bọn trẻ không phải là dễ. Lo nhất là nhiều khi lũ người làm lặn mất tăm mất dạng với đống của cải trong nha. Đấy, vấn đề là ít người giúp việc có thể tin tưởng được. Vậy nên một số người giàu có ở Bangkok đã nhờ Yai Phloy tìm những cô gái đáng tin cậy để làm giúp. Họ sẽ trả lương hậu hĩnh và sau một thời gian thử việc sẽ tăng tiền lương.
Mặc dù không phải người cùng làng, nhưng Lung Maa biết Yai Phloy từ khi mụ còn là một đứa con gái. Hồi ấy, sắc đẹp của mụ nổi danh khắp vùng. Nhiều chàng trai sẵn sàng cạnh tranh để được sỡ hữu mụ, nhưng Yai Phloy vẫn rời khỏi đất quê nghèo, theo chân một tên lừa lọc lên Bangkok. Lâu, rất lâu sau đó, cuối cùng mụ cũng trở lại, như một quý bà Bangkok thực sự, với kiểu cách ngạo mạn và lối sống phô trương. Yai Phloy đi lại Bangkok thường xuyên. Trong số những cô gái cùng đi với mụ lên Bangkok, một số quay trở về với tình cảnh còn nghèo khổ hơn trước khi đi. Còn một số thì mất tích.
Lung Maa biết rất rõ những cô gái đi với Yai Phloy đến Bangkok sẽ phải làm loại công việc gì. Vì một hôm, ông lên trung tâm y tế huyện tiêm phòng. Hai vị bác sĩ ở đó đã dè dặt kể với ông rằng hai, ba cô gái đi với Yai Phloy lên thành phố đã quay trở về với căn bệnh lậu, bệnh nặng đến nỗi trung tâm phải gửi họ lên thành phố điều trị.
Lung Maa cố nén tiếng thở dài khi nghĩ đến đứa con gái sẽ sớm phải chịu chung số phận với những cô gái bất hạnh kia. Ông muốn nói cho nó hiểu, nhưng ông không biết phải nói gì đây.
Paa Saeng, vợ ông vẫn nằm trong bệnh viện vì bệnh đường ruột. Bà đang chờ đợi số tiền sẽ được dùng để trả tiền máu và phẫu thuật, để kéo dài sự sống. Sự tồn tại của bà, dẫu vậy, cũng chỉ là kéo dài thêm nỗi đau đớn mà thôi.
Ông không thể vay mượn tiền của ai được nữa. Số tiền nợ ông gánh trên vai bây giờ đã lên đến 10.000 bạt. Ông đã mắc nợ từ gần mười năm nay rồi. Trong suốt ngần ấy thời gian, mọi nỗ lực của ông chỉ đủ để thu xếp số tiền lãi.
Một năm nọ, tỏi bỗng được giá một cách khác thường, đó chính là lí do đã đẩy ông đến tình cảnh hiện tại. Các lái buôn trực tiếp vào làng, mua với giá 14 đến 15 bạt một kí. Điều đó có nghĩa là Lung Maa sẽ có đủ tiền để nghĩ về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vậy là ông đi vay mượn 10.000 bạt. Ông mua liền ba sào đất bằng số tiền đó cộng với chỗ mà ông đã tích cóp được. Đổi lại, ông phải trả mức lãi là 150 giạ thóc mỗi năm. Ông lên kế hoạch sẽ dùng toàn bộ mùa vụ thu được từ mảnh đất mới mua để trả tiền lãi và dùng số tiền thu được trong mùa khô để trả món nợ gốc.
Nhưng vận may đã không đến. Năm sau, giá tỏi hạ xuống đột ngột, mỗ ký hạ từ 30 đến 50 satang. Ông đã cố thuyết phục các lái buôn bằng cách mang tỏi đến tận kho hàng, mặc dù ông phải mua hạt giống với giá rất cao, tới gần 50 bạt một cân. Năm đó là khởi đầu chu kì xuống dốc của Lung Maa. Mặc dù ông đã cố vùng vẫy, vật lộn bằng cách thử trồng các giống cây khác, nhưng số tiền lãi kiếm được chỉ đủ để nuôi sống gia đình. Rồi sau đó, giá gạo cũng bắt đầu rớt xuống 5 bạt một giạ, buộc ông phải trao lại mảnh đất cho chủ nợ. Nhưng vẫn còn đó khoản nợ trị giá hơn cả mảnh đất mà ông được thừa hưởng từ bố mẹ. Số nợ vẫn đều đặn tăng lên. Giờ ông vẫn cầy cuốc trên bốn sào còn lại mà chẳng có gì là tài sản của riêng mình vì mảnh ruộng đã phải mang đi trả cho chỗ lãi ròng rồi. Hy vọng về một ngày có thể xóa hết nợ đã tan biến.
Nhớ về quá khư, ông bỗng ứa nước mắt, những giọt nước mắt chua xót cho số phận, càng chua xót hơn khi ông nghĩ về tương lai. Một hay hai ngày nữa, con gái ông, dù vẫn đang sống trên đời, sẽ bị đẩy xuống địa ngục trần gian ở Bangkok.
Một, hai tuần nữa, ông sẽ phải đối mặt cái nhìn tàn nhẫn của chủ nợ khi đến gom 200 giạ thóc. Năm nay trời mua ít, vì vậy ông không dám chắc liệu ông có đủ thóc để trả và liệu có còn lại chút thóc nào trong nhà không. Nỗi thống khổ dày vò ông khi nhớ lại lời chủ nợ:
“Maa, số tiền ông nợ tôi giờ đã lớn hơn giá trị mảnh đất mà ông thế chấp. Tôi làm gì bây giờ? Nếu vẫn cứ như thế này, tôi sẽ phải đòi đất và nhà của ông. Năm sau con trai tôi đi du học nên tôi sẽ phải chi tiêu rất nhiều. Nên ông cố trả tôi đi, trả chỗ lãi trước cũng được.”
Bây giờ thì con gái ông đã đi với Yai Phloy rồi. Ông cố cầm nước mắt. Từng lời ông nói với con gái chỉ để khuyên con chịu khó nghe lời Yai Phloy. Nếu có chuyện gì, nó nên viết thư cho ông biết. Ông an ủi con rằng nếu có cơ hội ông sẽ lên thăm nó. Lúc trước ông đã nghĩ ra bao nhiêu để nói với con gái nhưng cuối cùng lại chẳng nói được gì. Chỗ 2500 bạt ông nhận từ Yai Phloy cũng gần đủ để trả viện phí cho bà Paa Saeng.
Khi bà trở về nhà và biết rằng con gái bà đã đi theo Yai Phloy, bà chết ngất. Tỉnh lại, bà lại thổn thức. Bà không nói một lời và thậm chí còn không thèm nhìn mặt Lung Maa và năm đứa con còn lại. Lung Maa không biết nói gì, và ông đành trốn tránh sự im lặng bằng việc cột tre quen thuộc.
Tối muộn, khi con cái đã đi ngủ, bà Paa Saeng mới cất giọng nghèn nghẹn.
-Ông Maa, ông có biết mụ Yai Phloy đưa con gái ta đi làm gì không?
-Mẹ nó ạ, tôi biết, nhưng không thể khác được. Bà cũng biết là tôi không còn sự lựa chọn. Bà nằm viện, nếu chúng ta không có tiền trả tiền thuốc, mua máu, truyền dịch và bao nhiêu phụ phí khác, bác sĩ sẽ không đồng ý chữa cho bà. Bà vẫn giận tôi à?
-Không, tôi không giận. Từ lúc sinh ra đến giờ, chẳng có gì là tôi chưa trải qua cả, nhưng tôi thấy buồn quá.
-Bà có biết những chuyện về Yai Phloy không?
-Dân trong làng đều biết quá rõ về mụ ta. Mụ đã mang bán vài đứa con gái của họ rồi. Một số đứa thì được trả giá hơn 500 bạt, số khác thì khoảng 200 đến 300 bạt. Mụ bán bất kì cái gì có thể bán. Mụ làm đĩ từ hồi còn trẻ. Khi không còn bán thân được nữa thì quay ra bán các cô gái trẻ. Bố mẹ chúng đều nợ nần chồng chất.
-Tôi lo cho con. Tôi thấy thương nó quá. Từ khi nó đi, tôi chẳng ngủ được.
-Ông Maa, chuyện đã lỡ rồi, không thay đổi được nữa, vậy nên mình chỉ có thể để mọi chuyện qua đi. Mình phải cùng nhau gánh chịu những lỗi lầm đã gây ra thôi. Hãy coi như nó đã đi lấy chồng. Nhưng… từ giờ đến lúc nó có thể kiếm đủ tiền để giúp đỡ bố mẹ, tôi tự hỏi không biết nó sẽ phải trải qua bao nhiêu đời chồng đây…
BÓNG ĐÊM BAO TRÙM
Vicente Rivera (Philippin)
Một đêm tháng tám năm 1941, tôi bước ra khỏi rạp chiếu phim và cảm thấy bóng đêm đã bao trùm, tĩnh lặng và lạnh lẽo. Tôi rùng mình trong khoảnh khắc đứng trên con phố chật hẹp, ngước nhìn bầu trời thăm thẳm đầy ánh sao. Tôi đứng nguyên đó, để mặc những cơn gió đêm thấm qua cơ thể. Tôi lắng tai nghe. Đường phố yên tĩnh. Những ngôi nhà lờ mờ hiện hình thành những bóng đen ma quái đang lởn vởn. Tôi luôn thích đứng trên những đường phố yên tĩnh vào buổi đêm. Và tôi luôn dừng lại trên phố để lắng nghe những âm thanh vô định. Có thể đó là những tiếng kêu khe khẽ quẩn quanh những đường phố vắng và những ngôi nhà đang say giấc.
Tôi sống trong một căn hộ cũ kỹ, đổ nát đối diện rạp chiếu phim. Từ đây, tôi có thể nhìn váo sân giữa, nhìn thấy những căn hộ đơn dành cho người thuê sắp hàng với nhau, mỗi hộ chen chúc cả gia đình. Phòng của tôi, giống như căn hộ tầng trệt khác, cũng trông ra sân giữa. Ba người anh em họ của tôi cũng ở cùng phòng. Ngay khi bước vào sân, tôi nhận ra rằng đèn bàn học của tôi vẫn đang bật sáng, ánh điện hắt cả ra ngoài hành lang. Lúc chập tối, sau bữa cơm chiều, tôi đã vác sách ra định học, song cuối cùng lại mò sang rạp chiếu phim. Có thể tơi đã quên tắt đèn, và những ông anh cũng quên không tắt hộ.
Tôi bước vòng qua vách ngăn phân chia “khu học tập” của tôi và tức thì nhìn thấy một cô gái đang ngồi đọc sách bên bàn. Chúng tôi nhìn nhau, cả hai đều giật mình. Tôi chưa bao giờ gặp cô gái này bao giờ. Cô ta khoảng mười bảy tuổi, mặc váy xanh nhạt. Mái tóc dài của cô suông thẳng xuống bờ vai. Cô ta đang đọc bản chép
“Thần thoại Hy Lạp” của tôi.
Đôi mắt cô mở to, thoáng vẻ sợ hãi. Một hồi lâu chẳng ai trong chúng tôi nói câu gì. Cô đẹp rực rỡ với nước da màu ô liu mềm mịn đang sáng rực dưới ánh đèn vàng. Mũi cô nhỏ nhắn và thanh tú. Đôi môi hồng đầy đặn với đường nét rõ ràng. Và còn gì nữa nhỉ? Trông cô ta có vẻ gì đó hơi cô đơn, hơi mất mát?
-Tôi biết – Tôi lên tiếng – Tôi cũng thích cuốn sách đó. Tôi đọc bất kỳ thứ gì tôi có thể tìm thấy trên Trái đất này. Cô ngồi đọc lâu chưa?
-Vâng – Cô nói, mắt không nhìn tôi nữa. Cô từ từ đứng lên và gấp sách lại – Tôi xin lỗi.
-Cô không muốn đọc nữa sao? – Tôi hỏi cô, miệng cố gắng mỉm cười, cố gắng làm cô cảm thấy thoải mái.
-Không – Cô đáp – Cảm ơn anh.
-Ồ vâng – Tôi lấy cuốn sách – Đã muộn rồi. Chắc cô cũng phải đi ngủ. Nhưng cô có thể cầm về đọc cũng được.
Cô hơi lưỡng lự rồi bẽn lẽn cầm cuốn sách. Mắt dán xuống những ngón chân như chưa biết nên đi theo hướng nào.
-Cô sống ở đây à? – Tôi hỏi.
-Vâng.
-Phòng nào?
Cô hất đầu về phía góc cuối cùng, phía bên kia sân, chỗ căn phòng nhỏ hẹp gần khu bếp chung. Đó là căn phòng dành cho người gác cổng: bé xíu, không có cửa sổ mà chỉ có một lỗ thông hơi phía trên cửa.
-Cô ở với ông Mang Lucio à?
-Đó là bác tôi.
-Cô ở đây lâu chưa? Tôi chưa gặp cô bao giờ thì phải?
-Tôi vẫn ở đầy mà. Tôi đã gặp anh rồi.
-Ồ vậy hả. Chúc cô ngủ ngon nhé. Tên cô là gì vậy?
-Maria.
-Chúc ngủ ngon, Maria.
Cô nhánh chóng quay đi, băng ngang qua sân về thẳng phòng mình và đóng cửa mà không hề ngoái lại.
Tôi cởi quần áo, tắt đèn, nằm xuống giường và nghĩ về những điều xa xôi. Tôi mới hai mươi mốt tuổi và lần đầu tiên đi làm. Lương tôi không được nhiều lắm và tôi sống trong một ngôi nhà như sắp đổ ụp lúc nào không biết. Nhưng cuộc sống có vẻ rất ổn. Vào ban đêm, khi những âm thanh ồn ã đã biến mất, khi ta đã nằm yên vị trên giường, thì ta có thể mơ tới những điều tốt đẹp hơn, có thể nhìn lại quá khứ và hướng tới tương lai, sẽ thấy cuộc sống này thật thú vị, cho dù nó có khốc liệt đi chăng nữa. Rồi sau đó, khi màn đêm đã dần giá lạnh, đột nhiên ta sẽ cảm thấy chỉ còn mình ta với thế giới này, trôi dạt vào vùng bí ẩn giữa tỉnh và thức, nỗi cô đơn mơ hồ trỗi dậy đưa ta lọt qua những bức tường với những con người đang say ngủ, đưa ta lang thang tận cùng ngôi nhà, ra tới đường phố, đi khắp hang cùng ngõ hẻm và mọi nơi trên Trái đất.
Một tuần sau đó, tôi gặp lại Maria vào quãng chập tối, lúc tôi đi làm về. Tôi nhìn thấy cô đang bước về phía tôi, chậm rãi, đĩnh đạc. Nhưng tôi không nhận ra Maria mãi cho đến khi cô dừng lại và đối mặt với tôi.
Cô mặc một chiếc váy trắng đã cũ. Cô đi giày thể thao màu nâu mà có lẽ trước đây nó đã từng là màu trắng. Cô dừng lại để ngắm nghía poster phim mới nhất đang dán trước cửa rạp chiếu phim.
-Chào cô – Tôi cố cất giọng bình thường.
Cô mỉm cười rồi nhanh chóng nhìn đi chỗ khác. Cô không nói gì, cũng không nhúc nhích. Tôi có thể cảm thấy về thẹn thùng của cô, nhưng nó không còn vẻ ngượng ngùng, căng thẳng và thận trọng như bữa đầu chúng tôi gặp nhau. Tôi đứng cạnh cô, cũng nhìn tấm poster và cố gắng huýt sáo.
Cô quay đi, hơi lưỡng lự rồi nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong đôi mắt đang mở to ấy lại thoáng một nét buồn bã? Tôi mỉm cười, một cảm giác khao khát xa xôi muốn an ủi cô như thể điều đó sẽ khiến cô cảm thấy ổn hơn.
-Để tôi trả lại anh cuốn sách – Cô nói.
-Cô đọc xong rồi à?
-Vâng.
Chúng tôi bước xuôi con phố đã tối sẫm. Phố Magallanes như mọi con phố khác ở Intramuros, vô cùng chật hẹp với những ngôi nhà cũ kỹ, tróc lỡ, thậm chí trong bóng tối chạng vạng cũng không khả dĩ thêm được chút nào.
Chúng tôi đã về đến nhà và tôi đi theo cô vào trong sân. Tôi đứng chờ trước cửa phòng cô trong khi nó đã được khép lại cẩn thận. Cô quay trở lại hầu như ngay lập tức và đưa cho tôi cuốn
“Thần thoại Hy Lạp”. Cô đứng cách xa và không nhìn tôi.
-Tên tôi là Feliz. – Tôi nói.
Thốt nhiên cô mỉm cười. Đó là một điệu cười mủm mỉm, gần như chưa thành hình một nụ cười. Nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy khác lạ, một cái gì đó len lén trỗi lên từ một tình bạn thân thiết.
Tôi bước đi, miệng huýt sáo. Khi về đến cửa phòng, tôi dừng bước và ngoái lại đằng sau. Maria không còn ở đó nữa. Cửa phòng của cô đã đóng im ỉm.
Tháng tám năm 1941 là một tháng nóng nực. Cái oi bức của mùa hè đã ngấm vào không khí, đặc biệt là ở Intramuros. Nhưng giống như những ngày cuối hạ khác, vẫn có những buổi trưa dịu nhẹ và trong lành, bầu trời xanh ngăn ngắt đến độ làm óc bạn lân lâng khi nhìn lâu lên đó. Một ngày nọ tôi bước ra khỏi văn phòng vào buổi trưa như thế. Một ngày công việc ngập đầu như tất cả những ngày khác. Tôi cảm thấy thấm mệt. Tôi bước đi chậm chạp về phía ngoại ô thành phố, nơi mà đường phố có phần đã giãn bớt xe cộ. Những cậy cổ thụ trên hè phố cũng cũ kỹ như những bức tường thành bao quanh nội vi. Đi được nửa đường về phía trường học, tôi lại đổi ý và hướng thẳng đến đại lộ Bonifacio. Tôi cần những cơn gió áo ạt, cần bầu trời rộng lớn. Tôi cần tất cả những gì có thể trong một buồi trưa như thế này.
Khi tôi ra đến con lộ lầy lội, thì nhìn thấy Maria đang ngồi trên chiếc ghế băng đầu tiên. Cô trông thấy tôi trước khi tôi nhận ra cô. Khi tôi bước lại gần, Maria nở nụ cười mỉm quen thuộc, nụ cười nói hết những ý nghĩ trong đầu cô mà không cần phải diễn tả bằng lời.
-Chào cô – Tôi cất lời – Trái đất thật là nhỏ bé.
-Gì cơ?
-Tôi nói là thật vui khi được gặp cô. Cô hay đến đây à?
-Thường xuyên. Tôi cũng hay đi ra ngoài.
-Bác cô có phản đối không?
-Không. Ông ấy chẳng bao giờ đi chơi. Hơn nữa, ông ấy cũng không quan tâm đến chuyện đó.
-Cô đang đi đâu vậy?
-Ồ, đi ra thành. Tôi định ra mấy vườn hoa ở đó, gần cổng Victoria. Anh biết chỗ đấy không?
-Tôi nghĩ là có. Cô định ra đó làm gì?
-Ngồi đó và…
-Và gì?
-Không gì cả. Chỉ ngồi thôi.
Cô im lặng. Một cái gì đó dường như đã xuất hiện giữa hai chúng tôi. Đột nhiên cô trở nên xa cách, hệt như lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Tôi quyết định thay đổi chủ đề.
-Xem nào – Tôi nói vẻ dè chừng – Nhà cô ở đâu?
-Ý anh muốn nhắc đến bố mẹ tôi?
-Ừ, cả anh chị em của cô nữa, nếu có.
-Bố mẹ tôi mất rồi. Chị gái tôi đã đi lấy chồng. Chị ấy sống trên tỉnh. Chẳng còn ai nữa cả.
-Cô sống với bác à?
-Tôi nghĩ thế.
Chúng tôi lại im lặng. Maria không hề lúng túng khi trả lời những câu hỏi của tôi. Giọng nói của cô không cảm xúc, không âm điệu.
-Cô đang đi học à?
-Vâng.
-Lớp mấy?
-Lớp sáu.
-Ở đó có được không?
-Ồ tốt lắm.
-Tôi biết là cô thích đọc sách.
Cô không trả lời. Chiều đã muộn. Những cơn gió thổi từ biển vào đã lịm tắt. Những làn hơi ấm cuối cùng của mặt trời cũng dần bị bao bọc bởi những cơn gió lạnh. Những tán cây và tòa nhà phía đằng xa dường như nhòa vào một tấm màn màu vàng cam. Đó là thời khắc mà tôi yêu thích nhất trong ngày. Tôi và Maria vẫn ngồi cạnh nhau, cố định nghĩa sự im lặng giữa chúng tôi và cái điều khiến chúng tôi ngồi cùng nhau trên một băng ghế đại lộ, một chàng trai và một cô gái, càng lúc càng trở nên lạ lẫm, một điều mà không ai trả lời được, tự nhiên và vô hình như những chiếc bóng dài lúc hoàng hôn xuống.
Những ngày sau đó, thời tiết đã chuyển sang mùa mưa. Đường phố trở nên u ám và xám xịt trong những đợt gió mùa đầu tiên. Không còn những cuộc dạo chơi dứi ánh nắng mặt trời. Tôi cảm thấy lòng mình cũng giá lạnh.
Giờ thì tôi và Maria đã là bạn của nhau mặc dù chúng tôi gặp nhau rất ít. Tôi cũng bắt đầu tập trung vào việc học. Vả lại cũng không có việc gì để làm ở thành phố trong thời tiết như vậy. Tháng chín đến và đi.
Tháng mười một, ánh mặt trời đã xuyên thủng những đám mây u ám và trong vòng ba bốn ngày, thời tiết trở nên dễ chịu. Và tâm trí tôi lúc này di chuyển từ bàn làm việc ra khỏi những bức tường cơ quan, bay tới khu vườn hoa ngoài thành và những băng ghế dưới bóng cây trên đại lộ. Một lần, khi tôi đang làm việc, đầu óc tôi bắt đầu bị phân tán như thỉnh thoảng vẫn thế, nó quay lại thời khắc gặp Maria lần đầu tiên. Và hồi ức rõ ràng và sắc nét đến độ tôi có thể nhìn thấy rõ ánh đèn điện, bóng tối và sự tĩnh lặng bao quanh chúng tôi. Và Maria, với đôi mắt mở to, ánh nhìn buồn bã…
Tháng mười hai, tôi bị lên cơn sốt. Trong thời gian nghỉ ốm, tôi về nhà trên tỉnh. Tôi ở nhà ba ngày. Tôi cảm thấy bứt rứt như thể mình không còn là mình nữa vậy. Tôi cho rằng những người ốm thường phải chịu đựng cảm giác như vậy.
Một cơn mưa như trút nước ào xuống lúc tôi lên tàu trở về Manila. Ngoài cửa sổ, phong cảnh trải dài với những cánh đồng và đồi núi bất tận. Liệu có phải tiếng tàu hỏa va vào đường ray luôn khiến ta cảm thấy u ám? Liệu có phải trong lúc ốm đau, lúc nằm trên giường bệnh, ta cảm thấy như vừa tỉnh giấc sau một cơn mơ và ta buồn bã khi nhớ về những con đường, những ngôi nhà và những con người mà ta quen biết?
Tháng mười hai, chúng tôi đã chứng kiến những trận máy bay oanh tạc đầu tiên.
Một đêm nọ, tôi đi trên những con phố tối om để trở về nhà. Tôi cố gắng cười nhạo mọi thứ, như thể không ai và không có gì đáng để quan tâm nữa.
Tôi về phòng đúng lúc tiếng còi báo động rú lên kinh hoàng. Tôi cởi quần áo và khoác bộ đồ mặc dở vào. Đêm rất tối. Tôi bước ra ngoài hành lang và ngồi xuống chiếc ghế tựa. Tôi nghe xung quanh tiếng chân chạy và tiếng nói, như thể của những người vô hình. Tôi ngồi yên lặng, e dè và lạnh cóng.
-Có phải anh đấy không, Felix?
-Ừ, anh đây, Maria.
Cô đang đứng cạnh ghế, sát vào tường. Giọng cô nhỏ và tan ra trong bóng đêm. Một cơn ớn lạnh chạy qua người tôi. Rất lâu sau cô không nói gì cả.
-Em không thích bóng tối – Cô nói.
-Ồ, xem nào. Lúc ngủ em vẫn tắt đèn chứ?
-Nhưng nó không tối tăm kiểu này – Cô nói khẽ - Bóng đêm bao trùm cả thế giới.
Chúng tôi không nói gì nữa cho đến khi đèn được bật sáng trở lại và cô biến mất.
Không lâu sau đó chiến tranh nổ ra.
Đầu tiên, mọi thứ dường như vô thực. Giống như ta đang sống cùng những cảm xúc trên màn ảnh và ta vừa đóng vai nhân vật vừa đóng vai khán giả. Nhưng tiếng bom nổ là hiện thực, nó va đập vào thính giác một cách phũ phàng.
ở Intramuros, người dân rời khỏi nhà ngay trong đêm đầu tiên của cuộc chiến. Nhiều người chui xuống những hố sâu dưới chân thành ngay khi họ nghe thấy tiếng còi báo động. Tối hôm đó, tôi trở về và thấy khu nhà vắng tanh. Nhưng người gác cổng thì vẫn ở lại. Người anh họ đã gia nhập quân ngũ cũng ở lại. Còn những người thuê khác đã bỏ đi hết.
Tôi hỏi ông Mang Lucio:
-Maria đâu?
-Nó ra đi thành cùng bác gái nó rồi – Ông ta nói vậy – Đêm nay họ lánh tạm ở đó.
Người anh họ của tôi cũng đã nói thế lúc sáng nay, khi chúng tôi chuẩn bị chuyển sang khu Singalong. Bên đó có một ngôi nhà cho thuê. Lý do duy nhất để anh ở lại là vì chúng tôi không chuyển được đồ. Ngày mai, đồ đạc sẽ phải chuyển đi ngay lập tức.
-Thế còn bác, bác Mang Lucio?
-Tôi không biết phải đi đâu nữa.
Chúng tôi ăn thịt lợn đóng hộp, đậu và bánh mì. Chúng tôi ngủ trên nền nhà, dưới những bóng đèn bọc vải đen, ngủ một cách khó nhọc.
Tôi thức dậy sớm. Việc thức dậy trong một ngôi nhà hàng ngày vẫn vang tiếng cười nói nhưng giờ đây trở nên yên ắng đến đáng sợ thật không dễ chịu gì. Trong bếp, mùi thức ăn bay ra và tiềng xoong chảo va vào nhau lách cách.
-Ai đấy – Tôi lên tiếng.
Đó là Maria. Cô đang rang cơm. Cô quay lại và nhìn tôi một hồi lâu. Sau đó, không nói một lời, cô tiếp tục công việc náu nướng.
-Em và bác sẽ đi chứ?
-Em không biết?
-Ông ấy có nói gì với em không?
-Không.
-Bọn anh sẽ chuyển sang khu Singalong.
-Có, em biết.
-Dầu sao, hôm nay anh cũng sẽ về đây. Có lẽ là trưa nay. Vì chúng ta sẽ phải chào tạm biệt nhau nữa.
Cô không nói gì. Tôi giặt giũ xong mọi thứ rồi quay về phòng. Tôi mặc quần áo và đi ra ngoài.
Buổi trưa, tôi về Singalong để ăn cơm. Chúng tôi đã chuyển hết đồ về đấy và mọi người đang tất bật để dọn dẹp nhà cửa. Ngay khi vừa ăn xong bữa trưa, tôi trở lại văn phòng. Chỉ còn vài chiếc xe đậu ở đó. Còi báo động vẫn rú lên liên tục. Ánh mặt trời chói chang và những khuôn mặt người trở nên xanh tái và bơ phờ.
Tối hôm đó, tôi trở về con phố quen thuộc. Tôi bị những người làm công tác báo động tình nguyện chặn lại nhiều lần. Ngôi nhà tối om. Tôi đứng hồi lâu trước cửa nha. Có thứ gì đó vẫn chưa muốn để tôi đi. Một ánh đèn chiếu thẳng vào mặt tôi. Một người tình nguyện.
-Cậu sống ở đây à?
-Tôi từng sống ở đây. Cho tới ngày hôm qua. Tôi đang tìm người gác cổng.
-Để làm gì thế, cậu quên cái gì à?
-Vâng, nhưng tôi cho là mình đã đánh mất nó rồi.
-Ồ, tốt hơn là cậu nên đi khỏi đây, con trai. Nơi này, toàn bộ khu vực này đã được chỉ định phải tản cư. Không còn ai sống ở đây hết.
-Vâng tôi biết – Tôi nói – Không còn ai nữa.
(1) Murder: giết người.
(2) Fly: còn có nghĩa là con ruồi.
(3) Quake: còn có nghĩa là run rẩy.